BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Hồng Thấm
TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP
VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Hồng Thấm
TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP
VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
TỈNH LONG AN
Chuyên ngành : Địa lý học
Mã số : 60 31 05 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS ĐẶNG VĂN PHAN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các số liệu,
nội dung trong luận văn là trung thực.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2013.
Tác giả luận văn
Trần Hồng Thấm
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi dã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của
thầy cô giáo, người thân trong gia đình, đồng nghiệp và bạn bè. Tôi xin bày tỏ lời
cảm ơn chân thành tới những người đã quan tâm giúp đỡ và động viên tôi trong quá
trình thực hiện luận văn này.
Xin gởi lời cảm ơn đến thầy giáo – PGS.TS Đặng Văn Phan – Trường Đại học
Dân lập Cửu Long đã nhiệt tình định hướng, dẫn dắt và góp ý đến cuối cùng cho
luận văn này.
Đặc biệt, xin gởi lời cảm ơn đến Chi cục thống kê tỉnh Long An, Sở Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Long An, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Long
An, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các huyện thuộc vùng Đồng Tháp
Mười tỉnh Long An, Phân viện Quy hoạch và Phát triển Nông nghiệp miền Nam –
Tp. Hồ Chí Minh… đã cung cấp nguồn tài liệu quý báu để tôi hoàn thiện nhanh
chóng luận văn này.
Cảm ơn những người thân, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, ủng hộ, tạo
điều kiện để tôi có đủ thời gian và nghị lực hoàn thành luận văn đúng thời hạn.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2013.
Tác giả luận văn
Trần Hồng Thấm
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các hình
2TMỞ ĐẦU2T ................................................................................................................. 1
2TChương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN2T 2TVỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ
Danh mục các bảng
2T1.1. Cơ sở lí luận2T ........................................................................................................ 8
2T1.1.1. Tổng quan về Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ........................................... 2T 8
2T1.1.2. Vai trò của sự lựa chọn các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
NÔNG NGHIỆP2T ................................................................................... 8
2T1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ................... 2T 13
2T1.2. Cơ sở thực tiễn2T .................................................................................................. 17
2T1.2.1. Một số hình thức Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trên thế giới2T ................ 17
2T1.2.2. Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Việt Nam2T ....................... 25
2T2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp vùng Đồng Tháp
đối với phát triển nông nghiệp2T ................................................................ 11
2T2.2.1. Vị trí địa lí2T ............................................................................................... 29
2T2.2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên tự nhiên2T .............................................. 31
2T2.2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội2T ........................................................................ 43
2T2.3. Thực trạng Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp vùng Đồng Tháp Mười .................. 2T 55
2T2.3.1. Hoạt động của các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh
Mười tỉnh Long An2T .......................................................................................... 29
2T2.3.2. Thực trạng sử dụng đất vùng Đồng Tháp Mười2T ..................................... 56
2T2.3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp của vùng2T ...................... 59
2T2.3.4. Tình hình sản xuất nông nghiệp của vùng Đồng Tháp Mười2T .................... 63
Long An2T .................................................................................................. 55
2T2.3.5. Mức độ tổ chức các hình thức lãnh thổ nông nghiệp vùng Đồng Tháp
2T2.3.6. Cánh đồng mẫu lớn – một trong những hình thức sản xuất nông
Mười tỉnh Long An ................................................................................. 2T 82
2T2.3.7. Nông nghiệp và nông thôn mới – những thành tựu đạt được2T ................. 92
2T2.3.8. Những tồn tại và thách thức trong khai thác tài nguyên, xây dựng cơ
nghiệp mới, mang lại hiệu quả kinh tế cao ............................................. 2T 89
2T3.1. Những căn cứ ban đầu2T ....................................................................................... 95
2T3.1.1. Kế hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Long An đến 2020.... 2T 95
2T3.1.2. Giải pháp phát triển nông – lâm - ngư nghiệp tỉnh Long An .................. 2T 96
2T3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp vùng
sở hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng Tháp Mười2T ........... 93
2T3.2.1. Phân vùng nông nghiệp ........................................................................ 2T 97
2T3.2.2. Phân nhóm sản phẩm nông nghiệp ....................................................... 2T 99
2T3.2.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp trong
Đồng Tháp Mười tỉnh Long An2T ...................................................................... 97
2T3.2.4. Đầu tư và phát triển nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp
nền kinh tế thị trường theo hướng hiện đại và bền vững ................... 2T 100
2T3.2.5. Liên kết nông – công – dịch vụ, chuyên môn hóa sản xuất2T ............... 119
2T3.2.6. Đầu tư nâng cấp và xây mới hệ thống cơ sở hạ tầng .......................... 2T 120
2T3.2.7. Đầu tư vốn, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến và đào tạo nhân lực .. 2T 123
2T3.2.8. Tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ, đổi mới tổ chức, hoàn
và cơ chế quản lí hiệu quả2T .................................................................. 114
2T3.2.9. Xây dựng cánh đồng mẫu lớn trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa ... 2T 127
2T3.2.10. Hoàn thiện chương trình nông nghiệp, nông dân và nông thôn mới2T .. 129
2T3.2.11. Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp và bảo vệ môi trường ................ 2T 130
2TKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ2T ............................................................................. 131
2TTÀI LIỆU THAM KHẢO2T ................................................................................... 134
2TPHỤ LỤC2T
thiện cơ chế chính sách và hình thành các dự án đầu tư .................... 2T 125
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
ĐTM : Đồng Tháp Mười (thuộc Long An)
“ĐTM” : Đồng Tháp Mười (thuộc Đồng bằng sông Cửu Long)
GTSX : Gía trị sản xuất
HTX : Hợp tác xã
KT-XH : Kinh tế - xã hội
KH-CN : Khoa học - công nghệ
TCLTNN : Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
DANH MỤC CÁC BẢNG
2TBảng 2.1. Thống kê diện tích các loại đất của vùng phân theo huyện – thị2T ...................... 33
2TBảng 2.2. Mực nước đỉnh lũ một số vị trí trong vùng Đồng Tháp Mười2T .......................... 39
2TBảng 2.3. Diễn biến diện tích rừng của vùng Đồng Tháp Mười qua các năm2T ................. 41
2TBảng 2.4. Số đơn vị hành chính, diện tích, dân số và mật độ dân số trung bình của
2TBảng 2.5. Mật độ dân số và bình quân đất nông nghiệp Đồng Tháp Mười2T 45
2TBảng 2.6. Dân số trung bình năm 2011 phân theo giới tính, thành thị - nông thôn theo
Đồng Tháp Mười2T ................................................................................................... 44
2TBảng 2.7. GDP và ngành sản xuất chính của các huyện vùng ĐTM2T ................................ 47
2TBảng 2.8. Diện tích tưới của các công trình thủy lợi tỉnh Long An đến năm 20092T .......... 50
2TBảng 2.9. Hiện trạng sử dụng đất của vùng phân theo huyện – thị2T .................................... 57
2TBảng 2.10. GTSX và cơ cấu GTSX nông lâm ngư nghiệp vùng Đồng Tháp Mười2T ......... 60
2TBảng 2.11. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi vùng Đồng Tháp Mười2T ........................... 72
2TBảng 2.12. Số hợp tác xã của vùng Đồng Tháp Mười, năm 20112T ....................................... 86
2TBảng 3.1. Quy mô sản xuất ngành chăn nuôi2T ..................................................................... 107
2TBảng 3.2. Quy mô sản xuất ngành lâm nghiệp Đồng Tháp Mười2T ................................... 108
2TBảng 3.3. Một số chỉ tiêu quy hoạch phát triển sản xuất thủy sản đến năm 20202T .......... 112
đơn vị hành chính của vùng2T .................................................................................. 46
DANH MỤC CÁC HÌNH
2THình 2.1. Bản đồ hành chính vùng đồng Tháp Mười thuộc tỉnh Long An2T ............ 30
2THình 2.2. Lượng mưa theo tháng, năm 2009 2T .......................................................... 37
2THình 2.3. Lưu lượng nước ngầm khai thác của vùng Đồng Tháp Mười2T ................ 38
2THình 2.4. Cơ cấu ngành sản xuất chia theo nông hộ2T .............................................. 61
2THình 2.5. Biểu đồ phân bố diện tích rừng vùng Đồng Tháp Mười năm 20112T ............... 75
2THình 3.1. Bản đồ phân vùng nông nghiệp vùng Đồng Tháp Mười2T ........................ 98
2THình 3.2. Mô hình phát triển bền vững2T ................................................................ 131
DANH MỤC SƠ ĐỒ
2TSơ đồ 3.1. Mối liên kết 4 nhà trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ2T ........................ 129
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sản xuất nông nghiệp là một bộ phận không thể thiếu trong tổng thể KT-XH
của vùng ĐTM tỉnh Long An nói riêng và toàn tỉnh nói chung. Phát triển nông
nghiệp bền vững và xây dựng chương trình nông thôn mới và phát huy vai trò chủ
thể của người nông dân trong nền kinh tế thị trường và hội nhập, là nhiệm vụ chiến
lược góp phần tăng trưởng kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự xã
hội, an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái.
Xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững theo hướng coi trọng chất
lượng và gia tăng giá trị, gắn sức sản xuất với công nghiệp chế biến và kết nối chặt
chẽ với thị trường tiêu thụ. Tập trung đầu tư xây dựng các vùng chuyên canh cây
trồng, vật nuôi xác định là nông sản hàng hóa chủ lực có lợi thế cạnh tranh, trên cơ
sở sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất.
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xây dựng cơ cấu phát
triển cân đối, hài hòa và vững chắc trong cơ cấu ngành nông nghiệp và các ngành
liên quan: nông nghiệp – thủy sản, nông nghiệp – lâm nghiệp, trồng trọt – chăn
nuôi, dịch vụ nông nghiệp hợp lí, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế
biến và ngành nghề nông thôn, xây dựng mô hình canh tác tối ưu nhằm gia tăng giá
trị sản lượng và lợi nhuận trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp.
Phát triển nông nghiệp phải đi đôi với xây dựng nông thôn mới theo hướng
CNH-HĐH, dân chủ hóa và hợp tác hóa. Đồng thời chú trọng nâng cao dân trí, đào
tạo sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực ở nông thôn, tạo sự phân công lao động mới,
giải quyết việc làm, nâng cao mức sống, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách
về mức sống giữa khu vực nông thôn và khu vực đô thị.
Xây dựng các hình thức sản xuất canh tác trên quy mô lớn, liên kết 4 nhà để
có thể phát triển bền vững cả về mặt KT-XH và cảnh quan môi trường. Đặc biệt chú
trọng ứng dụng công nghệ cao, hệ thống canh tác tối ưu, hướng tới nền nông nghiệp
2
"an toàn" với sản phẩm hàng hóa là nông nghiệp có độ an toàn thực phẩm cao, coi
đây là một bước đột phá trong sản xuất nông nghiệp.
Vùng ĐTM đã từng là một trong những vùng khó khăn nhất trong vấn đề sản
xuất kinh tế và phát triển đời sống nông thôn của cả nước. Nhưng hiện hoạt động
sản xuất nông nghiệp diễn ra với quy mô ngày càng lớn cả về số lượng lẫn chất
lượng, trở thành vùng sản xuất lúa hàng đầu của cả nước, việc phát huy thế mạnh
của các hình thức TCLTNN là một trong những vấn đề quan trọng để cải thiện và
nâng cao GTSX trong nông nghiệp, nhất là trong thời kì hội nhập nền kinh tế thị
trường hiện nay. "Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp vùng Đồng Tháp Mười tỉnh
Long An" sẽ mang lại những kết quả nhất định trong quá trình nghiên cứu, sẽ góp
phần đánh giá lại thực trạng và đưa ra một số giải pháp cho vấn đề phát triển nông
nghiệp của vùng ĐTM tỉnh Long An và cả tỉnh Long An hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đề tài liên quan nông nghiệp ĐTM có:
- Ủy ban nhân dân tỉnh Long An, Quy hoạch vùng sản xuất lúa chất lượng
cao phục vụ chế biến xuất khẩu vùng Đồng Tháp Mười, 2012. Tổng quan nền nông
nghiệp của tỉnh và phân tích khả năng phát triển của cây lúa chất lượng cao ở 25 xã
thuộc 5 huyện thuộc ĐTM tỉnh theo hướng phục vụ chế biến xuất khẩu.
- Hội thảo chuyên đề: “Thực trạng và giải pháp sau 25 năm phát triển Đồng
Tháp Mười” tổ chức tại tỉnh Đồng Tháp 18.08.2012, về những sự thay đổi rất tích
cực và trở thành một trong những vựa lúa lớn nhất cả nước của vùng. Đồng thời nêu
ra một số mặt tiêu cực, những mặt chưa phát huy được của vùng trong quá trình
phát triển kinh tế, từ đó đưa ra một số giải pháp cụ thể cho phát triển vùng.
- Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Long An, Quy hoạch phát
triển nông – lâm – ngư nghiệp tỉnh Long An đến năm 2020, 2012. Thực trạng phát
triển nông nghiệp của tỉnh và quy hoạch phát triển đến năm 2020, trong đó đề cập
đến sự hoạt động và phát triển của một số huyện thuộc ĐTM của tỉnh qua thực
trạng phát triển, các bảng số liệu thống kê, những đặc điểm tự nhiên...
3
- Uỷ ban nhân dân tỉnh Long An, Nghiên cứu Quy hoạch Tổng thể Phát triển
Kinh tế - xã hội Tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, 2012. Giới
thiệu tổng thể phát triển KT-XH tỉnh, hoạt động kinh tế của từng ngành và các
vùng: Vùng Đồng Tháp Mười, Vùng phía Tây, Vùng hạ.
- Uỷ ban nhân dân tỉnh Long An, Sơ kết thực hiện “Cánh đồng mẫu lớn”
năm 2012 và ghi chép sổ tay sản xuất lúa theo VietGAP năm 2012, của tỉnh Long
An được xây dựng tập trung tại vùng ĐTM tỉnh Long An, nhằm xem xét lại tình
hình thực hiện, hoạt động của mô hình sản xuất nông nghiệp này – một trong những
mô hình được đánh giá có hiệu quả nhất trong sản xuất nông nghiệp hiện nay và đưa
ra một số giải phát khắc phục những hạn chế nhất định để có thể nhân rộng hình
thức sản xuất này lớn mạnh hơn.
- “ Đồng Tháp Mười – 10 năm khai thác và phát triển kinh tế -xã hội (1985 –
1995)”, 1997 của Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia – Nêu các
quá trình khai thác, đặc điểm các điều kiện tự nhiên, KT-XH, đưa ra các căn cứ
khoa học nhằm định hướng và một số giải pháp phát triển kinh tế vùng ĐTM.
- “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Đồng Tháp Mười (2001 -
2010)”, 2000 của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp – Phân tích các nguồn
lực, hiện trạng sử dụng chúng của vùng “ĐTM” đưa ra các mục tiêu nhằm định
hướng và đưa ra một số giải pháp phát triển kinh tế vùng “ĐTM”
- “ Xác lập căn cứ khoa học cho quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng
ngập lũ Đồng Tháp Mười – Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp”, 1998 của Trung
tâm Nghiên cứu miền Nam - Phân tích các nguồn lực, xác lập căn cứ khoa học cho
vùng ngập lũ “ĐTM” đưa ra các phương án phát triển KT-XH trên những căn cứ
khoa học đề xuất đến năm 2020
- Báo cáo chuyên đề “Đánh giá khả năng đất đai để phát triển nông – lâm
nghiệp của vùng Đồng Tháp Mười”, 1998 của Trung tâm Bản đồ Tài nguyên tổng
hợp – Nêu tổng quan về vị trí, đặc điểm tự nhiên, KT-XH và phân tích, đánh giá các
điều kiện tự nhiên tác động đến sử dụng đất, thực trạng sử dụng đất và xác lập căn
cứ khoa học định hướng phát triền tài nguyên đất vùng “ĐTM”.
4
- Các “Văn bản báo cáo tình hình phát triển nông – lâm – ngư nghiệp của
tỉnh Long An” vào các năm 2005, 2010, 2011 cùng với “ Kết quả tổng điều tra
Nông thôn, Nông nghiệp và thủy sản năm 2006 và năm 2011”– của Phòng Nông
nghiệp trực thuộc Tổng cục Thống kê tỉnh Long An – Nêu các giá trị về: số lượng,
chất lượng, thuộc tính, cấu trúc… của các vật nuôi, cây trồng, cơ sở vật chất, kĩ
thuật hạ tầng… nhận xét: nguyên nhân và kết quả về mức độ tăng trưởng, sự chênh
lệch giữa các đối tượng và qua một số năm theo đơn vị hành chính huyện, tỉnh, xã.
- Các “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội” của các huyện thuộc
vùng ĐTM tỉnh Long An đến năm 2010 bao gồm Mộc Hóa, Tân Thạnh, Đức Huệ
và đến năm 2020 gồm Tân Hưng, Vĩnh Hưng và Thạnh Hóa – Phân tích, đánh giá,
định hướng và đưa ra những phương án cụ thể để phát huy các nguồn lực để góp
phần phát triển KT-XH địa phương hiệu quả hơn.
- “Niên giám Thông kê”, 2005 và 2011 của các huyện trong vùng Đồng tháp
Mưởi tỉnh Long An của Phòng Thống kê các huyện thiết lập - Thống kê các chuỗi
dữ liệu số và số hóa các dữ liệu phân theo từng lĩnh vực tự nhiên, dân cư và KT-XH
theo đơn vị hành chính huyện và xã.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
- Đánh giá tiềm năng phát triển nông – lâm – ngư nghiệp và các hình thức tổ
chức lãnh thổ nông – lâm – ngư nghiệp các huyện vùng ĐTM tỉnh Long An.
- Đưa ra một số giải pháp để phát huy hiệu quả hoạt động các hình thức
TCLTNN góp phần xây dựng phát triển nền nông nghiệp toàn diện, bền vững, tạo
bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, gia tăng giá trị, sản
lượng, lợi nhuận và thu nhập trên một đơn vị diện tích trên cơ sở nâng cao năng
suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh các sản phẩm ngành nông nghiệp trong
thời gian tới; thay đổi bộ mặt nông thôn trong nền kinh tế thị trường.
3.2. Nhiệm vụ
Đề tài tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
5
- Thông qua nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng
nội dung phát triển các hình thức TCLTNN của Việt Nam và tỉnh Long An, nhằm
định hướng phát triển các hình thức TCLTNN vùng ĐTM thuộc tỉnh Long An.
- Phân tích tiềm năng, hiện trạng phát triển các hình thức TCLTNN của vùng
ĐTM thuộc tỉnh Long An.
- Trên cơ sở lý luận về TCLTNN nhằm xây dựng phát triển nông nghiệp của
tỉnh và vùng ĐTM tỉnh Long An, đưa ra một số giải pháp phát triển hình thức
TCLTNN vùng ĐTM thuộc tỉnh Long An.
4. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu sâu các vấn đề có liên quan đến TCLTNN, phát
triển nông nghiệp theo cơ cấu ngành, các hình thức sản xuất nông nghiệp, mối liên
hệ giữa nông nghiệp và nông thôn. Qua đó, đánh giá những tác động tích cực và
tiêu cực của các hoạt động sản xuất nông nghiệp, để có những giải pháp hiệu quả
cho ngành và cải thiện chất lượng cuộc sống người làm nông nghiệp, phát triển nền
nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao trong thời kì mới.
Về không gian: giới hạn trong phạm vi địa bàn phát triển nông nghiệp các
huyện: Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Đức Huệ, Thủ
Thừa (4 xã Bắc Thủ Thừa) và Bến Lức (3 xã ở Tây sông Vàm Cỏ) tỉnh Long An.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu sâu về Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
vùng ĐTM thuộc tỉnh Long An trong giai đoạn 2000 - 2020
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu tổng quan các cơ sở lý luận và thực
tiễn cho việc TCLTNN phát triển ngành nông nghiệp vùng ĐTM tỉnh Long An
trong mối liên hệ phát triển nông nghiệp và tình hình phát triển KT-XH của tỉnh
trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế thế giới. Phân tích tiềm năng, hiện trạng và đề
xuất một số giải pháp cho các hình thức sản xuất nông nghiệp, phát triển nông
nghiệp với hiệu quả kinh tế cao cho vùng ĐTM tỉnh Long An.
6
5. Các phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu sử dụng
Trong suốt quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp khác
nhau, bổ sung, hỗ trợ nhau tạo điều kiện để hoàn thành luận văn có cơ sở khoa học.
5.1. Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
Dựa trên cơ sở các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài có được trong quá trình
tìm hiểu, thu thập liên quan đến nội dung đề tài: tài liệu nghiên cứu về tỉnh Long
An, vùng “ĐTM”, vùng ĐTM tỉnh Long An, các số liệu thống kê của tỉnh, huyện
qua các năm, các loại bản đồ, các ảnh chụp về lãnh thổ... nhằm thống kê, mô tả, so
sánh, đối chiếu, tổng hợp để đưa ra một cái nhìn tổng thể, xác thực mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố sản xuất của ngành
nông nghiệp, các hình thức sản xuất phân hóa theo lãnh thổ, hiện trạng phát triển
nền nông nghiệp... đưa ra giải pháp cụ thể cho sự phát triển nền nông nghiệp cho
vùng ĐTM của tỉnh và tỉnh nhà trong thời gian sắp tới.
5.2. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Là phương pháp đặc thù của nghiên cứu địa lý nói chung và địa lý nông
nghiệp nói riêng. Phương pháp này xuyên suốt trong quá trình tìm hiểu, khảo sát,
nghiên cứu. Một số nội dung được xúc tích hơn, dễ so sánh, rõ ràng hơn nhờ sự hỗ
trợ của các bản đồ, biểu đồ qua các bản đồ về thực trạng sản xuất nông nghiệp nhằm
đưa ra những giải pháp cho TCLTNN cho vùng ĐTM tỉnh Long An.
5.3. Phương pháp thực địa
Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp này luôn được coi trọng nhằm có
được cái nhìn thực tế về đặc trưng lãnh thổ nghiên cứu.
5.4. Phương pháp khai thác phần mềm của hệ thống thông tin
Các chương trình phần mềm xử lý các thông tin như Excel, Word,
Mapinfo… được sử dụng để xử lý, phân tích kết quả điều tra và thể hiện qua các
bảng thống kê, các bản đồ, biểu đồ, sơ đồ… thể hiện trong đề tài.
Nguồn số liệu sử dụng trong luận văn: được thu thập từ: niên giám thống kê của
tỉnh Long An và 6 huyện thuộc ĐTM của tỉnh, từ các báo cáo tổng kết tình hình
7
phát triển KT-XH của ngành và các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan
như đã nêu ở phần tài liệu tham khảo.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hóa, làm rõ và đánh giá các nội dung: các nhân tố ảnh hưởng, hiện
trạng TCLTNN và những giải pháp cụ thể cho quá trình phát triển nông nghiệp đạt
hiệu quả kinh tế cao nhất nhưng vẫn đảm bảo duy trì môi trường sinh thái và vấn đề
an sinh xã hội dần cải thiện và ổn định.
Sưu tầm, phân tích, tổng hợp và rút ra một số bài học kinh nghiệm, kế thừa
và phát huy những thế mạnh và hạn chế những điểm yếu trong quy hoạch phát triển
ngành nông nghiệp cho vùng ĐTM của tỉnh nói riêng và cả tỉnh Long An nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn: ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, mục lục, phụ lục
và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp.
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng Tổ chức lãnh thổ nông
nghiệp vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả Tổ chức lãnh thổ nông
nghiệp vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An.
8
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Tổng quan về Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
- Tổ chức lãnh thổ là gì?
Theo E.B. Alaev “ Khái niệm tổ chức lãnh thổ xã hội, trong nghĩa rộng của từ
này bao gồm những vấn đề liên quan đến phân công lao động theo lãnh thổ, phân bố
các lực lượng sản xuất, có sự khác biệt về vùng trong quan hệ sản xuất, mối quan hệ
tương hỗ giữa xã hội và thiên nhiên, cũng như các vấn đề chính sách về vùng KT-
XH. Ở một nghĩa hẹp hơn, nó bao gồm các phạm trù như tổ chức lãnh thổ hành
chính của nhà nước, quản lí vùng về sản xuất, sự hình thành các thành tạo lãnh thổ
về tổ chức – kinh tế, sự xác định các khách thể vùng của quản lí, sự phân vùng
KT-XH...”
“Tổ chức lãnh thổ xã hội là sự kết hợp các cơ cấu lãnh thổ đang hoạt động (bố
trí, sắp xếp dân cư, các hoạt động sản xuất, sử dụng tài nguyên thiên nhiên…), được
liên kết lại bởi các cơ cấu quản lí với mục đích tái sản xuất cuộc sống cua3 xã hội
phù hợp với các mục đích và trên cơ sở các quy luật kinh tế hiện hành trong hình
thái KT-XH đó.”
Ở Việt Nam “Tổ chức không gian” KT-XH và “Tổ chức lãnh thổ” KT-XH gần
như đồng nghĩa trong khoa học địa lý. Chúng tôi hiểu tổ chức lãnh thổ KT-XH dưới
hai khía cạnh:
Thứ nhất, tổ chức lãnh thổ như toàn bộ quá trình hay hành động của con người
nhằm phân bố các cơ sở sản xuất và dịch vụ, phân bố dân cư, sử dụng tự nhiên, có
tính đến các mối quan hệ, liên hệ của chúng, các sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng.
Các hành động này thực hiện phù hợp với các mục tiêu của xã hội và trên cơ sở các
quy luật kinh tế hoạt động trong hình thái KT-XH ấy. Mục tiêu cơ bản của tổ chức
lãnh thổ là nhằm tiết kiệm lao động xã hội nhờ cải thiện cơ cấu sản xuất-lãnh thổ
của nền kinh tế và cải thiện cơ cấu tổ chức sản xuất của đất nước hay của từng vùng
9
cụ thể. Tổ chức lãnh thổ cũng nhằm phát triển tổng hợp, có hiệu quả cao nền sản
xuất, nâng cao đời sống nhân dân, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên. Có thể nói, tổ
chức lãnh thổ KT-XH là một biện pháp quan trọng nhằm phát triển bền vững.
Thứ hai, tổ chức lãnh thổ KT-XH còn được hiểu như sự kết hợp của các cấu
trúc lãnh thổ đang hoạt động: cấu trúc lãnh thổ quần cư, cấu trúc không gian xã hội,
cấu trúc không gian sản xuất, cấu trúc không gian sử dụng tự nhiên…Ở đây không
thể bỏ qua một số nội dung phân vùng và cả quy hoạch vùng. Đó là xác định các tỷ
lệ và quan hệ hợp lý về phát triển KT-XH giữa các ngành trong một vùng, giữa các
vùng nhỏ trong vùng lớn, giữa các vùng lớn trong một quốc gia và trên mức độ nào
đó có xét đến các mối liên kết giữa các quốc gia. Các cấu trúc này được thống nhất
lại bởi các cơ cấu quản lý quá trình tái sản xuất xã hội. Theo cách hiểu này, thì khi
nghiên cứu tổ chức lãnh thổ KT-XH của một vùng nhất định, ta phải nghiên cứu các
cấu trúc không gian thành phần. Cũng với cách tiếp cận tổ chức lãnh thổ như vậy thì
cấu trúc của một vùng (lãnh thổ) còn bao gồm các điểm, các “cực”, các nút và các
dải, các tuyến lực và một không gian bề mặt. Các yếu tố đó có quan hệ, sức hút lan
toả và ảnh hưởng lẫn nhau.
Một sơ đồ tổ chức mới cho lãnh thổ nước nhà cần tôn trọng nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của cả nước, tạo ra được tính gắn
kết, tính không chia cắt của quốc gia. Điều đó phải được thể hiện trong mọi đường
lối chính sách, kinh tế cũng như chính trị xã hội.
- Đảm bảo sự gắn bó, đặc biệt theo chiều ngang giữa các địa phương, các tỉnh,
giữa Trung ương và địa phương.
Theo Lê Bá Thảo một sơ đồ tổ chức lãnh thổ mới nhất thiết phải đề cập đến
các vấn đề sau: “Đánh giá các nguồn nội lực của Việt Nam xét về mặt phân bố
không gian. Lập các kịch bản biểu diễn khuynh hướng và các thách thức cần vượt
qua. Nếu có điều kiện cần phân tích luôn các khuynh hướng chính của các địa
phương, trong đó chú ý tới các sự mất cân bằng hiện nay và dự kiến sự tiến triển
của chúng trong tương lai, thí dụ đến năm 2020. Các hành động cần thực hiện trước
mắt và lâu dài”
10
- Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp (TCLTNN) là gì?
TCLTNN là một hình thức của tổ chức KT-XH.
Theo K.I. Ivanov (1974), TCLTNN được hiểu là hệ thống liên kết không gian
của các ngành, các xí nghiệp trong nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên cơ sở, quy
trình kĩ thuật mới nhất, chuyên môn hóa, tập trung hóa, liên hợp hóa và hợp tác hóa,
cho phép sử dụng hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh tổng về điều kiện tự nhiên,
kinh tế, lao động và đảm bảo năng suất lao động xã hội cao nhất. Vậy:
- Phân công lao động theo lãnh thổ cùng với việc kết hợp với tự nhiên, kinh tế,
lao động là cơ sở đề hình thành các mối liên hệ qua lại theo không gian.
- Khía cạnh ngành và khía cạnh lãnh thổ quyện chặt với nha trong quá trình tổ
chức lãnh thổ.
- Các đặc điểm không gian của sản xuất phần lớn bắt nguồn từ tính chất của
việc khai thác và sử dụng các điều kiện sản xuất hiện có.
- Hiệu quả là tiêu chuẩn hàng đầu trong việc TCLTNN.
TCLTNN không phải là bất biến. Nói cách khác hình thái kinh tế - xã hội nào
thì có kiểu TCLTNN tương ứng như thế. Hiện nay, TCLTNN gắn bó mật thiết với
cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, một cuộc cách mạng phát triển rất mạnh mẽ
và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
TCLTNN liên quan chặt chẽ với hệ thống lãnh thổ nông nghiệp. Đây là các
phân hệ sản xuất và chế biến nông phẩm có mối quan hệ khắng khít với nhau. Hệ
thống lãnh thổ nông nghiệp bao gồm: nhóm xí nghiệp liên quan trực tiếp đến đất đai
và nhóm xí nghiệp liên quan gián tiếp đến đất đai và nhóm xí nghiệp có liên quan
đến cả hai đặc điểm này tùy theo từng thời kì.
Ở nhiều nước kinh tế phát triển đã hình thành các hệ thống lãnh thổ nông
nghiệp, trong đó phẩm biến rộng rãi nhất là các hệ thống lãnh thổ sản xuất và chế
biến các sản phẩm chăn nuôi. Ví dụ như các hệ thống lãnh thổ sản xuất thịt sữa và
các hệ thống lãnh thổ sản xuất và chế biến sữa ở các nước Tây Âu, Bắc Mĩ.
Quá trình xuất hiện các hệ thống lãnh thổ nông nghiệp mới và đang hoàn thiện
các hệ thống lãnh thổ nông nghiệp hiện có trong điều kiện hiện nay không chỉ tiêu
11
biểu cho ngành chăn nuôi. Quá trình này, ngày càng xâm nhập sâu vào ngành trồng
trọt, nhất là các phân ngành sản xuất các sản phẩm phải qua chế biến công nghiệp.
Việc hình thành các hệ thống lãnh thổ trong ngành trồng trọt cũng dựa trên cơ sở
chuyên môn hóa theo giai đoạn, tập trung hóa, hợp tác hóa và liên hợp hóa sản xuất.
Các hệ thống lãnh thổ nông nghiệp không những không mâu thuẫn, mà còn
làm rõ thêm nội dung và cấu trúc của các hình thức TCLTNN với tất cả các mối liên
hệ qua lại phức tạp của chúng. Trong các loại hệ thống lãnh thổ thì các hệ thống
lãnh thổ sản xuất vật chất đóng vai trò chủ đạo.
Mặt khác, người ta coi các hình thức TCLTNN như một hệ thống động, phức
tạp, có nhiều thông số bao gồm một số hệ thống nhỏ có mối liên hệ với nhau. Mỗi
thành phần chủ yếu của hệ thống do các thành phần ở cấp thấp hơn chi phối. Đến
lượt mình, thành phần này lại bị các thành phần cấp thấp hơn nữa quyết định… Từ
đó muốn tìm tình trạng tối ưu của hệ thống thì phải xem xét các thành phần ở cấp
thấp chứ không phải chỉ nghiên cứu những thành phần chủ yếu của nó.
Như vậy, có thể khẳng định rằng việc phát hiện và dự báo các hệ thống lãnh
thổ nông nghiệp có quan hệ hữu cơ với nghiên cứu vấn đề TCLTNN.
1.1.2. Vai trò của sự lựa chọn các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
đối với phát triển nông nghiệp
Tổ chức lãnh thổ nói chung và TCLTNN nói riêng có nội dung rất rộng bao gồm về
nhiều mặt, từ sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Tất cả những hoạt động đó diễn ra
ở các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp, ở một số hình thức tổ chức lãnh thổ nhất
định. Vì vậy, muốn có các hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp trước hết phải
hình thành nên các hình thức TCLTNN – tổ chức ra các cơ sở sản xuất kinh doanh nông
nghiệp. Trong hệ thống nông nghiệp có nhiều hình thức TCLTNN khác nhau. Mỗi hình
thức có vai trò, vị trí và thích hợp với những điều kiện sản xuất khác nhau. Vì vậy, các
hình thức TCLTNN có vai trò rất quan trọng. Cụ thể:
- Lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp thích hợp cho
phép khai thác một cách đầy đủ và hợp lí nhất các nguồn lực của nông nghiệp, làm cho
sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao. Ngược lại, nếu lựa chọn các hình thức sản
12
xuất kinh doanh nông nghiệp không thích hợp sẽ cản trở quá trình khai thác các nguồn
lực, không đáp ứng yêu cầu thường xuyên và khắt khe của sản xuất nông nghiệp.
- Thực tế nền nông nghiệp nước ta cũng các nước xã hội chủ nghĩa những năm gần
đây là những minh chứng sống động về sự chọn không thích hợp các loại hình sản xuất
kinh doanh nông nghiệp. Việc xóa bỏ tính độc lập của hình thức kinh tế hộ nông dân và
thay vào đó là xây dựng các HTX sản xuất nông nghiệp kiểu cũ, các doanh nghiệp nhà
nước trong nông nghiệp theo mô hình kế hoạch hóa tập trung đã ảnh hưởng nghiêm
trọng đến hoạt động của ngành cũng như của từng loại hình sản xuất kinh doanh nông
nghiệp. Nước ta đã và đang được đổi mới bằng việc lựa chọn và xây dựng các mô hình
sản xuất nông nghiệp theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường.
Một số nguyên tắc cơ bản khi lựa chọn và tổ chức các hình thức TCLTNN:
- Đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả của các loại hình sản xuất kinh doanh nông
nghiệp đã được lựa chọn. Đây là nguyên tắc quan trọng và cơ bản nhất khi lựa chọn và tổ
chức các loại hình sản xuất nông nghiệp. Vì hiệu quả là tiêu chuẩn để đánh giá mọi hoạt
động sản xuất của các loại hình sản xuất nhất định về mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong đó, hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn đánh giá cao hoạt động kinh tế, là mục tiêu trực
tiếp của hoạt động sản xuất. Việc lựa chọn cũng như tổ chức các loại hình sản xuất có
liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của chúng:
+ Hiệu quả kinh tế như việc sử dụng các nguồn lực và hiệu quả cuối cùng, được
xem xét và đánh giá trong nhiều năm liên tục.
+ Hiệu quả xã hội được xem xét trên phạm vi rộng, liên quan đến các vấn đề xã hội,
nhưng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp nhất là
trong quá trình đổi mới các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước.
+ Hiệu quả môi trường có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
trong hoạt động của các loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp. Vì sản xuất nông nghiệp
luôn gắn liền với môi trường cả môi trường tự nhiên lẫn môi trường nhân văn. Lựa chọn
các loại hình sản xuất nông nghiệp phù hợp với các điều kiện cụ thể đạt hiệu quả cao về
môi trường cho phép giải quyết hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội.
13
Vì vậy, chúng ta cần phân tích các nhân tố ảnh hưởng tìm ra loại hình thích hợp với
các nhân tố và điều kiện cụ thể. Các nhân tố gồm: điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, đặc
điểm kinh tế kĩ thuật của ngành sản xuất, trong đó lưu ý tới đặc điểm kinh tế kĩ thuật của
ngành và về quy mô sản xuất.
- Các loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phải là tổ chức kinh tế tự chủ, là các
đơn vị kinh tế độc lập, có quyền sở hữu, sử dụng tài sản, lựa chọn hình thức phương
hướng sản xuất kinh doanh, chủ động tổ chức các hoạt động sản xuất và phân phối phù
hợp với mục đích sản xuất nhẳm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội cao, quyền lựa chọn các đối
tác hợp tác, liên kết, liên doanh có hiệu quả nhất.
- Phù hợp với các đặc điểm kinh tế, xã hội của nông nghiệp, nông thôn nước ta: do
nông nghiệp nông thôn nước ta chủ yếu là sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất kĩ thuật còn
thấp… Vì vậy, bên cạnh xây dựng các loại hình doanh nghiệp: đa thành phần, đa sở hữu,
phải chú ý đến hoạt động của 10 triệu hộ nông dân, từng bước chuyển các hộ nông dân
sang hình thức kinh tế trang trại. Lựa chọn các mô hình sản xuất nông nghiệp và tiếp tục
chuyển đổi các doanh nghiệp nông nghiệp là yêu cầu cần thiết.
- Đảm bảo tính thống nhất trên 3 mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ
phân phối của các hình thức sản xuất nông nghiệp. Sự thống nhất có tính nguyên tắc này
cần được lưu ý không chỉ trong lựa chọn mà còn đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất,
nhất là đổi mới các doanh nghiệp từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang cơ chế
kinh tế thị trường, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến TCLTNN.
Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng đến TCLTNN:
- Nông nghiệp có những đặc điểm đặc thù khác với các ngành sản xuất khác.
Thứ nhất, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, tư liệu sản xuất đặc
biệt, quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp. Quy mô sản xuất, trình độ phát
triển, mức độ thâm canh và phướng hướng sản xuất và TCLTNN lệ thuộc vào số
lượng, chất lượng của đất đai.
Đất đai sử dụng trong nông nghiệp với tư cách như tư liệu sản xuất gồm độ phì
tự nhiên và độ phì kinh tế. Việc sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt đối với độ phì
14
kinh tế. Tuy nhiên, việc duy trì và nâng cao độ phì kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó chủ yếu là đầu tư thêm vốn, lao động, trang bị thêm các phương tiện sản
xuất hiện đại, áp dụng rộng rãi các thành tựu khoa học kĩ thuật và kinh nghiệm sản
xuất tiên tiến vào nông nghiệp. Nếu biết sử dụng cải tạo, bảo vệ và bồi dưỡng hợp
lí, đất đai không những không hao mòn, không giảm đi trong quá trình sử dụng mà
còn tốt hơn – độ phì nhiêu, độ màu mỡ ngày càng tăng lên.
Đất đai vừa là tư liệu sản xuất, vừa là đối tượng lao động. Là đối tượng lao
động khi ruộng đất chịu tác động của trực tiếp của con người thông qua các biện
pháp canh tác. Là tư liệu lao động khi con người thông qua đất đai tác động lên cây
trồng, cung cấp các yếu tố dinh dưỡng để cây trồng sinh trường và phát triển
Khi nghiên cứu TCLTNN không thể bỏ qua các đặc điểm nói trên. Sự ra đời
và hoạt động của một xí nghiệp nông nghiệp nào đó, trước hết phải gắn liền với tư
liệu sản xuất này. Khi xác định quy mô, cơ cấu sản xuất của các hình thức
TCLTNN, cần chú ý đến mối tương tác từ các đặc điểm của sản xuất nông nghiệp.
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống – là cây trồng, vật
nuôi, phát sinh, tồn tại và sinh trưởng, phát triển theo quy luật sinh học. Do đó
trong quá trình sản xuất, chúng luôn đòi hỏi sự tác động thích hợp của con người
và của tự nhiên để sinh trưởng và phát triển. Vì thế có hàng loạt vấn đề cần được
nghiên cứu giải quyết để đạt năng suất cây trồng, vật nuôi cao và không ngừng nâng
cao chất lượng sản phẩm. Để kinh doanh có hiệu quả, cần xây dựng quy trình sản
xuất phù hợp cho từng loại, giống cây trồng, vật nuôi trên tiêu chuẩn kinh tế - kĩ
thuật được xác định, các quy trình sản xuất cần được tổ chức thực hiện nghiêm túc.
- Trong nông nghiệp, thời gian lao động không trùng với thời gian sản xuất và
điều đó nảy sinh ra tính mùa vụ.
Thời gian lao động là khoảng thời gian mà lao động có tác dụng đối với sản
phẩm, thời gian sản xuất là thời gian sản phẩm đang trong quá trình sản xuất. Thời
gian sản xuất gồm cả thời gian mà lao động không có tác động đối với sản phẩm.
15
Khác với các ngành sản xuất khác, đối tượng lao động của sản xuất nông
nghiệp là cây trồng, vật nuôi. Quá trình sinh học của chúng diễn ra thông qua hàng
loạt các giai đoạn và tuân theo quy luật của tự nhiên.
Chu trình sản xuất các sản phẩm nông nghiệp tương đối dài và không giống
nhau. Trong nông nghiệp, thời gian sản xuất bao giờ cũng dài hơn thời gian lao
động cần thiết để sản xuất ra sản phẩm, cả trồng trọt lẫn chăn nuôi. Thời gian nông
nhàn và thời gian bận rộn thường xen kẽ nhau. Ở mỗi loại cây trồng vật nuôi các
giai đoạn sinh trưởng và phát triển diễn ra trong những khoảng thời gian khác nhau
của mùa vụ sản xuất, hình thức và mức độ tác động trực tiếp của con người tới
chúng cũng khác nhau. Cùng một loại cây trồng vật nuôi ở những vùng có điều kiện
khí hậu, thời tiết khác nhau thường có mùa vụ và thời vụ khác nhau. Tất nhiên trong
giai đoạn hiện nay bằng nhiều biện pháp kinh tế - tổ chức, người ta đã hạn chế được
tính thời vụ tới mức thấp nhất.
- Tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp có xu hướng dẫn đến tính thời vụ
trong việc sử dụng các yếu tố sản xuất, nhất là sức lao động và công cụ lao động.
Trong nông nghiệp, thời gian sản xuất khó có thể rút ngắn trở lại. Việc sử dụng
những thành tựu khoa học kĩ thuật (giống cây trồng, vật nuôi cho thu hoạch nhanh,
cải tiến điều kiện chăm sóc…) cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, nhưng cũng chỉ
đạt ở mức độ nhất định do đối tượng trong sản xuất nông nghiệp là những cơ thể
sống, chúng sinh trưởng và phát triển theo những quy luật của tự nhiên.
Vì vậy cần xây dần dựng cơ cấu kinh tế hợp lí, cần lựa chọn cơ cấu cây trồng,
vật nuôi có thời gian lao động và thời gian lao động và thời gian sản xuất phù hợp
với điều kiện cụ thể của lãnh thổ trong quá trình thực hiện phân bố sản xuất nông
nghiệp, phải có kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt các khâu chăm sóc, thu hoạch, bảo
quản, chế biến, tiêu thụ nông sản…
Sản xuất nông nghiệp thường có chu kì dài và phần lớn tiến hành ngoài trời
trên không gian ruộng đất rộng lớn, lao động và tư liệu lao động luôn bị di động và
thay đổi theo thời gian và không gian. Đặc điểm này có ảnh hưởng lớn đến việc tổ
chức sản xuất, điều hành sản xuất, nghiệm thu công việc trong mỗi quá trình lao
16
động để tạo ra sản phẩm cuối cùng trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông
nghiệp, nên cần không ngừng tìm kiếm và hoàn thiện những hình thức, những biện
pháp tổ chức kinh tế trong việc trang bị kĩ thuật, định mức kinh tế - kĩ thuật, tổ chức
lao động khoán và thù lao thích hợp để khắc phục những mặt ảnh hưởng đó.
- Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nhất là đất đai và khí
hậu – bắt nguồn từ đối tượng lao động nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi. Chúng
chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi có đủ năm yếu tố cơ bản của tự nhiên là
nhiệt độ, nước, ánh sáng, không khí và chất dinh dưỡng, trong đó yếu tố này không
thể thay thế yếu tố kia. Chúng kết hợp và tác động đồng thời trong một thể thống
nhất, chỉ cần thay đổi một yếu tố sẽ ảnh hưởng đến các yếu tố còn lại, sẽ ảnh hưởng
trực tiếp tới nông nghiệp.
- Mỗi yếu tố và sự kết hợp của các yếu tố sẽ thay đổi từ nơi này sang nơi khác.
Những thay đổi ấy phụ thuộc vào tính quy luật của lãnh thổ và theo thời gian. Đất,
nhiệt độ, nước là tài nguyên nông nghiệp quyết định khả năng nuôi trồng trong từng
lãnh thổ và khả năng áp dụng cho các quy trình kĩ thuật để sản xuất ra nông phẩm.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp có liên quan với quá trình sản xuất sinh vật và
quá trình tạo nên các sản phẩm hữu cơ. Sản phẩm nông nghiệp có khả năng tái sản
xuất. Vì vậy, quá trình tái sản xuất trong nông nghiệp đã tạo ra nhiều sản phẩm với
số lượng gấp hành chục, hàng trăm, hàng ngàn lần so với sản phẩm ban đầu.
A.N. Rakitnikov (1972) nhận xét, các hình thức sản xuất nông nghiệp liên
quan chặt chẽ với cảnh quan tự nhiên. Vì thế, khi nghiên cứu TCLTNN cần tính
toán đầy đủ các điều kiện tự nhiên và điều kiện sinh thái đối với cây trồng, vật nuôi.
Cách mạng khoa học – kĩ thuật trong nông nghiệp:
Dưới tác động của của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, nền nông nghiệp đã
và đang trở thành một ngành sản xuất tiên tiến, một dạng sản xuất kiểu công nghiệp,
đưa nông nghiệp lên giai đoạn cơ khí, đẩy mạnh các quá trình liên kết, nâng cao vai
trò của khoa học và biến nó thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong nông nghiệp,
tạo ra bước tiến lớn trong việc phát triển và phân bố nông nghiệp, trong TCLTNN
và tổ chức quản lí hoạt động nông nghiệp.
17
Ảnh hưởng của các hình thức tổ chức sản xuất KT-XH trong nông nghiệp đến
TCLTNN. Các hình thức sản xuất xã hội có mối quan hệ gắn bó mật thiết với phân
công lao động theo lãnh thổ - là những lò xo của một bộ máy phức tạp về sự phân
bố nền sản xuất xã hội theo lãnh thổ.
Các hình thức sản xuất chuyên môn hóa, tập trung hóa, liên hợp hóa và hợp tác
hóa có ý nghĩa thực tiễn trong giải quyết các vấn đề của TCLTNN. TCLTNN là một
phạm trù lịch sử. Hơn nữa, bất kì hình thức tổ chức sản xuất nào cũng đều liên quan
với phân bố sản xuất theo lãnh thổ và ngược lại. Vì vậy, các hình thức tổ chức sản
xuất xã hội hiện nay có ảnh hưởng rõ rệt tới việc TCLTNN.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Một số hình thức Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trên thế giới
Các loại hình TCLTNN rất phong phú và đa dạng với nhiều hình thức từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
1.2.1.1. Hộ nông dân
Hộ nông dân là hình thức trong sản xuất kinh doanh trong nông lâm ngư
nghiệp bao gồm một nhóm người có cùng huyết tộc hoặc quan hệ huyết tộc sống
chung trong một máy nhà, có chung các nguồn thu nhập, tiến hành các hoạt động
sản xuất nông nghiệp với mục đích phục vụ nhu cầu cho các thành viên trong hộ.
Hộ nông dân là một trong những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong
nông lâm ngư nghiệp, lấy nông, lâm, ngư nghiệp là hoạt động chính. Hộ nông dân
có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Hiện nay ở Việt Nam, hộ nông dân vẫn
là chủ thể kinh tế chủ yếu trong kinh tế nông thôn.
Những đặc trưng cơ bản của hộ nông dân:
- Mục đích sản xuất của hộ nông dân là sản xuất ra nông lâm sản phục vụ cho
nhu cầu của chính họ. Hộ chỉ sản xuất ra cái họ cần. Khi sản xuất không đủ tiêu
dùng họ thường điều chỉnh nhu cầu, khi sản xuất dư thừa họ có thể đem sản phẩm
dư thừa để trao đổi trên thị trường nhưng đây không phải là mục đích chính của họ.
- Sản xuất của, hộ nông dân dựa trên công cụ sản xuất thủ công, trình độ canh
tác lạc hậu, trình độ khai thác tự nhiên thấp.
18
- Hộ nông dân có sự gắn bó giữa các thành viên về huyết thống, hôn nhân, có
lịch sử và truyền thống lâu đời… gắn bó với nhau trên quan hệ sở hữu, quan hệ
quản lí và quan hệ phân phối. Tổ chức sản xuất có tính ưu việt và tính đặc thù.
- Hộ nông dân còn là đơn vị tái tạo nguồn lao động. Sự tái tạo bao gồm việc
sinh, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, truyền nghê, đào tạo nghề… Đây cũng là
những đặc trưng của hộ nông dân.
Vai trò của hộ nông dân:
- Với những đặc trưng về sự gắn bó của các thành viên về các mặt sở hữu,
quản lý và phân phối nên rất phù hợp với đặc điểm sinh thái học của sản xuất nông
nghiệp, có vai trò quan trọng trong việc sản xuất nông sản đáp ứng nhu cầu xã hội.
- Hộ nông dân có vai trò quan trọng trong việc khai thác các nguồn lực, trước
hết là nguồn nhân lực của hộ và ruộng đất đã được nhà nước giao. So với trang trại,
hiệu quả sử dụng các nguồn lực của hộ có kém hơn, nhưng với bản tính cần cù, chịu
khó khi các nguồn lực được giao cho hộ quản lí và tổ chức sử dụng, các hộ nông
dân đang có vai trò quan trọng trong việc khai thác các nguồn lực để sản xuất nông
sản đáp ứng nhu cầu sản xuất của xã hội.
- Những hộ kinh tế tự chủ, hộ nông dân từng bước thích ứng với cơ chế thị
trường, áp dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất, thực hiện liên
doanh, liên kết. Vì vậy, các hộ nông dân đã có vai trò quan trọng trong tiến trình
chuyển nông nghiệp sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hướng CNH-HĐH.
- Là thành phần chủ yếu ở nông thôn, hộ có vai trò quan trọng trong xây dựng
các cơ sở hạ tầng, khôi phục văn hóa địa phương và xây dựng nông thôn mới.
1.2.1.2. Trang trại
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp, có
mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc
quyền sở hữu của chủ thể độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và
các yếu tố sản xuất tập trung trên quy mô tương đối lớn, với tư cách tổ chức quản lí
tiến bộ và trình độ kĩ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường.
19
Trang trại là đơn vị sản xuất hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp là
chủ yếu (theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm, ngư nghiệp). Nếu có hoạt động chế biến
và tiêu thụ sản phẩm thì đó là những hoạt động kết hợp với sản xuất nông nghiệp.
Những đặc trưng cơ bản của trang trại:
- Mục đích của sản xuất trang trại là sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu của xã
hội. Vì vậy, quy mô sản xuất hàng hóa của trang trại phải đạt mức độ tương đối lớn,
có sự khác biệt với hộ sản xuất hàng hóa nhỏ.
- Tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập.
Vì vậy, trang trại hoàn toàn tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ lựa
chọn phương hướng sản xuất, quyết định kĩ thuật và công nghệ… đến tiếp cận thị
trường và tiêu thụ sản phẩm...
- Tổ chức sản xuất của trang trại tiến bộ hơn, trang trại có nhu cầu cao hơn
nông hộ về ứng dụng tiến bộ kĩ thuật và thường xuyên tiếp cận thị trường, kết hợp
giữa chuyên môn hóa với phát triển tổng hợp, đòi hỏi các trang trại phải ghi chép,
hoạch toán kinh doanh, tổ chức sản xuất khoa học trên cơ sở những kiến thức nông
học, kinh tế thị trường, phải tiếp cận với thị trường, để biết được thị trường cần loại
sản phẩm, số lượng, chất lượng, giá cả và thời điểm cung cấp như thế nào… Vì vậy,
tiếp cận thị trường là yêu cầu cấp thiết của trang trại.
Vai trò của trang trại:
- Là hình thức sản xuất nông nghiệp chủ yếu của nền sản xuất hàng hóa, trang
trại có vai trò quan trọng trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm cung cấp cho
xã hội. Trang trại là tế bào kinh tế quan trọng đế phát triển nông nghiệp nông thôn,
thực hiện phân công lao động xã hội.
- Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất lấy việc khai thác tiềm năng và lợi
thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm phương thức sản xuất chủ yếu. Vì vậy, nó
cho phép huy động, khai thác đất đai, sức lao động và các nguồn lực khác một cách
đầy đủ hợp lí và có hiệu quả. Nhờ vậy, trang trại góp phần tích cực vào thúc đẩy
tăng trưởng và phát triển nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
20
- Trang trại có kết quả và hiệu quả sản xuất cao góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục
tình trạng manh mún, tạo vùng chuyên môn hóa, tập trung hóa cao, đẩy nhanh nông
nghiệp sang sản xuất hàng hóa.
- Qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại tạo ra nhiều loại nông sản
nhất là các loại nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp. Vì vậy, trang trại sẽ thúc
hoạt động sản xuất công nghiệp phát triển, nhất là công nghiệp chế biến dịch vụ sản
xuất ở nông thôn phát triển. Trang trại là đơn vị sản xuất quy mô lớn hơn hộ nông
dân, nên khả năng ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ vào
sản xuất, nậng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
- Với cách thức tổ chức sản xuất và quản lí kinh doanh tiên tiến, trang trại là
nơi tiếp nhận và truyền tải các tiến bộ KH-CN đến hộ thông qua chính hoạt động
sản xuất của mình.
- Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại làm tăng hộ giàu trong nông thôn,
tạo thêm việc làm và tăng thu nhập, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng
nông thôn, là tấm gương cho các hộ nông dân với cách thức tổ chức kinh doanh tiên
tiến và có hiệu quả. Tất cả những điều đó góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề
KT-XH nông thôn.
Các điều kiện ra đời và phát triển của trang trại trong nền kinh tế thị trường:
- Các điều kiện về môi trường kinh tế và pháp lí: có sự tác động tích cực và
phù hợp của Nhà nước, quỹ ruộng đất cần thiết và chính sách tập trung ruộng đất,
sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến,sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng, trước
hết là giao thông, thủy lợi, sự hình thành vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn
hóa, sự phát triển nhất định của các hình thức tổ chức liên kết kinh tế trong nông
nghiệp, môi trường pháp lí thuận lợi cho trang trại ra đời và phát triển.
- Các điều kiện đối với trang trại và chủ trang trại: chủ trang trại là người có ý
chí và quyết tâm làm giàu từ nghề nông và có sự tích lũy nhất định về kinh nghiệm
sản xuất, tri thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh, sự tập trung nhất định về
21
quy mô các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền vốn; Quản lí sản xuất kinh
doanh của trang trại phải dựa trên cơ sở hoạch toán và phân tích kinh doanh.
Các loại hình trang trại:
- Dựa vào tính chất sở hữu, có các loại hình trang trại:
+ Trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu trong nông, lâm, ngư
nghiệp với các đặc trưng, được hình thành từ hộ nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ,
mỗi gia đình là chủ thế kinh doanh có tư cách pháp nhân do chủ hộ hay người có uy
tín, năng lực trong gia đình đứng ra quản lí.
+ Trang trại ủy thác cho người nhà, bạn bè quản lý sản xuất kinh doanh từng
việc theo từng thời vụ hay liên tục nhiều vụ, quy mô trang trại nhỏ. Ở nhiều nước
hình thức này trở nên phổ biến, đặc biệt là các nước và vùng lãnh thổ châu Á như ở
Đài Loan 75% chủ trang trại gia đình áp dụng hình thức này.
- Xét về hướng sản xuất có các loại hình trang trại sau:
+ Trang trại sản xuất cây thực phẩm, thường ở những vùng sản xuất thực
phẩm trọng điểm xung quanh đô thị, khu công nghiệp, gần thị trường tiêu thụ.
+ Trang trại sản xuất cây công nghiệp: chè, cà phê, cao su, mía... thường phát
triển ở những vùng cây công nghiệp, gắn với hệ thống chế biến.
+ Trang trại sản xuất cây ăn quả nằm ở vùng cây ăn quả tập trung có cơ sở chế
biến và thị trường tiêu thụ rộng lớn.
+ Trang trại nuôi trồng sinh vật cảnh thường phát triển gần các khu đô thị, các
khu du lịch lớn, thuận tiện cho việc tiêu thụ.
+ Trang trại nuôi trồng đặc sản: trăn, rắn,ba ba, dê, cây dược liệu... nằm ở
những nơi thuận lợi cho nuôi trồng và tiêu thụ.
+ Trang trại chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò... gia súc: lợn và gia cầm. Có thể
chăn nuôi tổng hợp hoặc chuyên môn hóa theo từng loại gia súc.
+ Trang trại kinh doanh nông, lâm nghiệp tổng hợp thường phát triển ở vùng
trung du, miền núi có điều kiện về đất đai và hạn chế về thị trường tiêu thụ.
+ Trang trại kinh doanh nông, công nghiệp, dịch vụ đa dạng nhưng hoạt động
nông nghiệp vẫn là chủ yếu.
22
1.2.1.3. Hợp tác xã nông nghiệp
Hợp tác xã nông nghiệp là một trong những hình thức cụ thể của kinh tế hợp
tác trong kinh tế nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những hộ nông dân cá nhân,
pháp nhân có cùng nhu cầu và nguyện vọng, tự nguyện liên kết để phối hợp giúp đỡ
nhau phát triển kinh tế hoặc đáp ứng tốt hơn nhu cầu về đời sống mỗi thành viên, tổ
chức và hoạt động theo các nguyên tắc luật pháp quy định, có tư cách pháp nhân.
Đặc trưng của HTX nông nghiệp:
- Tự nguyện gia nhập và ra khỏi HTX nông nghiệp theo luật HTX và điều lệ
HTX nông nghiệp. Các xã viên có quyền hạn và nghĩa vụ như nhau, dù cổ phần
đóng góp không giống nhau. Tự quản, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh
doanh. Có tư cách pháp nhân và bình đẳng trước pháp luật. Nhằm phục vụ cho hoạt
động sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân.
Vai trò của HTX nông nghiệp:
- Đây là hình thức kinh tế tập thể của hộ nông dân, vì vậy hoạt động của HTX
có ý nghĩa to lớn, tích cực đến hoạt động sản xuất của hộ nông dân. Nhờ có hoạt
động của HTX nông nghiệp các yếu tố đầu vào và các khâu dịch vụ cho hoạt động
sản xuất nông nghiệp được cung cấp kịp thời, đầy đủ và đảm bảo chất lượng, các
khâu sản xuất tiếp theo được đảm bảo làm cho hiệu quả sản xuất của hộ nông dân
được nâng lên.
- Thông qua hoạt động dịch vụ vai trò điều tiết sản xuất của HTX nông nghiệp
được thực hiện, sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng tập trung, tạo
điều kiện hình thành các vùng tập trung chuyên môn hóa.
- Đây còn là nơi tiếp nhận những trợ giúp của nhà nước tới hộ nông dân, hoạt
động của HTX nông nghiệp là cầu nối giữa Nhà nước và hộ nông dân một cách có
hiệu quả. HTX ở những vùng chuyên môn hóa còn là hình thức thể hiện mối liên hệ
công nông (gắn kết sản xuất nguyên liệu và chế biến nông sản).
+ Trong một số trường hợp, khi có nhiều tổ chức tham gia hoạt động dịch vụ
cho hộ nông dân hoạt động của HTX là đối trọng buộc các đối tượng phải phục vụ
tốt cho hộ nông dân.
23
Các hình thức của HTX nông nghiệp:
- HTX nông nghiệp làm dịch vụ: về hình thức, đây là tổ chức kinh tế trong
nông nghiệp tách ra làm chức năng dịch vụ cho nông nghiệp. Bao gồm: dịch vụ các
yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp (các HTX cung ứng vật tư, giống...); Dịch
vụ các khâu sản xuất cho nông nghiệp (HTX làm đất, tưới nước...); Dịch vụ quá
trình tiếp theo của quá trình sản xuất nông nghiệp (HTX chế biến, tiêu thụ..) và tổ
chức với mục đích phục vụ sản xuất nông nghiệp hộ nông dân là chủ yếu.
- HTX sản xuất kết hợp với dịch vụ: loại hình này tồn tại dưới dạng các HTX
chuyên môn hóa theo sản phẩm, sẽ gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ, trong đó trực
tiếp sản xuất là hộ nông dân, HTX hợp đồng bao tiêu chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
- HTX sản xuất nông nghiệp: nhằm mục đích tạo ra quy mô sản xuất thích hợp
chống lại sự chèn ép của tư thương, tạo ra những ưu thế mới ở những ngành khó
tách riêng, khai thác những ưu đãi của chính phủ đối với các doanh nghiệp lớn, khai
thác những nguồn lực cần đầu tư lớn...
1.2.1.4. Thể tổng hợp nông nghiệp
Theo I.F. Mokomel, tổ hợp nông nghiệp là kết hợp theo lãnh thổ các xí nghiệp
giống nhau về tính chất của cùng một kiểu. Điều này phản ánh được tổ chức sản
xuất của nền nông nghiệp trong quá khứ, một phần ở hiện tại, nhưng không chấp
nhận được trong tương lai.
Theo K.I. Ivanov, thể tổng hợp nông nghiệp như là sự phối hợp giữa các xí
nghiệp nông nghiệp có mối liên hệ qua lại và liên kết với nhau về mặt lãnh thổ cũng
như của các xí nghiệp nông nghiệp và các xí nghiệp công nghiệp cho phép trên cơ
sở các quy trình kĩ thuật mới nhất, sử dụng đầy đủ nhất điều kiện tự nhiên, vị trí địa
lí kinh tế và các điều kiện kinh tế hình thành trong lịch sử để đạt năng suất lao động
xã hội cao nhất.
Một số quan niệm về các thể tổng hợp nông nghiệp:
- Các yếu tố quyết định diện mạo của thể tổng hợp nông nghiệp gồm vị trí địa
lí, điều kiện tự nhiên – kinh tế, chuyên môn hóa theo giai đoạn của xí nghiệp nông
nghiệp, các mối liên hệ thuận chiều và ngược chiều của các xí nghiệp nông nghiệp
chế biến nông sản.
24
- Các xí nghiệp nông nghiệp có xu hướng phân bố liền nhau về mặt lãnh thổ
nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao.
- Cơ sở cấu trúc của các thể tổng hợp nông nghiệp là các xí nghiệp nông
nghiệp và các xí nghiệp công nghiệp chế biến.
Các thể tổng hợp nông nghiệp có thể chia thành:
- Các thể tổng hợp mà những sản phẩm hàng hóa sản xuất ra trước hết đo các
điều kiện tự nhiên phân bố mang tính chất đới quyết định.
- Các thể tổng hợp nông nghiệp ngoại thành, hình thành xung quanh các thành
phố, các trung tâm công nghiệp, do nhu cầu thực phẩm dân cư thành phố chi phối,
các yếu tố kinh tế đóng vai trò chủ đạo, quy mô của thể tổng hợp nông nghiệp cũng
khác nhau tùy thuộc vào quy mô dân số thành phố, các trung tâm công nghiệp.
Có thể nói thể tổng hợp nông nghiệp là một trong những hình thức tổ chức sản
xuất theo lãnh thổ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Và còn là bộ khung để tạo nên các
vùng nông nghiệp.
1.2.1.5. Vùng nông nghiệp
Vùng nông nghiệp là những lãnh thổ sản xuất nông nghiệp tương đối đồng
nhất về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, được phân chia với mục đích phân bố hợp lí
và chuyên môn hóa đúng hướng các hoạt động sản xuất nông nghiệp dựa trên cở sở
sử dụng đầy đủ và có hiệu quả nhất các điều kiện sản xuất của các vùng trong cả
nước cũng như trong nội bộ từng vùng.
Các hình thức TCLTNN có liên quan mật thiết với nhau nhưng không thể thay
thế nhau. Vùng nông nghiệp là sự biểu hiện tổng hợp của các hình thức sản xuất
nông nghiệp khác nhau, được coi như một lãnh thổ có sự lập lại các kiểu sản xuất
tương đối giống nhau hoặc các kiểu sản xuất khác nhau nhưng liên hệ mật thiết.
Vận dụng lí luận các nước vào thực tiễn sinh động trong sản xuất nông nghiệp
nước ta, có thể thấy nổi lên một số hình thức TCLTNN cụ thể. Đó là xí nghiệp nông
nghiệp (các nông trường, HTX, thậm chí có các trang trại), thể tổng hợp nông
nghiệp với các vành đai xung quanh thành phố, các vùng chuyên canh (cây công
nghiệp, cây lương thực), khu nông nghiệp công nghệ cao và vùng nông nghiệp sinh
25
thái. Trên đó, Vùng ĐTM của tỉnh Long An có những điều kiện đưa những hình
thức TCLTNN vào hoạt động sản xuất nông nghiệp với hiệu quả kinh tế cao trong
nền kinh tế thị trường hiện nay.
1.2.2. Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Việt Nam
1.2.2.1. Hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân nước ta từ sau 1954 đến nay có nhiều biến đổi, từ chỗ được
chia ruộng đất để canh tác trong từng hộ nông dân (1954 - 1960) đến khi trở thành xã
viên tiến hành lao động tập thể trong các HTX nông nghiệp (1960 - 1980), chuyển sang
chế độ khoán 100 (1981 - 1987), chế độ khoán 10 (1988 - 1993) và các hộ nông dân thực
sự tự chủ từ 1994 đến nay.
Trải qua các giai đoạn khác nhau, sự biến đổi của kinh tế hộ nông dân ở nước ta có
khác nhau, nhưng cũng nhờ những biến đổi đó, vị trí của hộ nông dân đã được khẳng
định trở lại. Kinh tế hộ nông dân đã và đang được tạo những điều kiện thuận lợi để phát
triển. Vì vậy, năng lực sản xuất của hộ nông dân từng bước được nâng lên. Gồm:
- Hộ nông dân tự cấp, tự túc: đa phần là các hộ nghèo, chiếm 30% trong tổng số hộ
nông dân. Họ là các hộ sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, những hộ
sống ở vùng đồng bằng, trung du nhưng thiếu đất, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm làm ăn…
Đây là những hộ cần được giúp đỡ trên nhiều phương diện.
- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ: có thể là những hộ khá ở nông thôn đã có
nhiều điều kiện sản xuất nhất định, sản xuất đủ ăn và có sản phẩm dư thừa đem bán. Đây
là những hộ đang trong quá trình chuyển từ tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa.
- Số khác là hộ nằm trong vùng chuyên môn hóa. Đây là những hộ có tỉ suất hàng
hóa cao trong sản xuất nông sản, nhưng qui mô đất đai nhỏ chưa đủ điều kiện trở thành
các trang trại, tuy tính chất sản xuất gần giống như trang trại. Đây là những hộ nông dân
cần được tạo điều kiện về nguồn lực, nhất là đất đai để chuyển hộ sang sản xuất hàng hóa
theo mô hình trang trại.
Trong xu thế phát triển nông nghiệp tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo
hướng CNH-HĐH vai trò của kinh tế hộ nông dân được phát huy. Tuy nhiên trong điều
kiện của cơ chế kinh tế mới, trong đó:
26
- Các hộ nông dân sản xuất tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hóa nhỏ. Số
hộ này ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn là chủ yếu. Họ được thụ hưởng
những lợi ích từ các chủ trương, chính sách ưu đãi của Nhà nước, nhưng quy mô sản
xuất nhỏ, nhưng diện tích đất nông nghiệp nhỏ không có điều kiện trở thành các chủ
trang trại – những nhà sản xuất hàng hóa co quy mô lớn hơn.
- Các hộ nông dân sản xuất tụ cung, tự cấp chuyển sang các hộ có tỷ suất hàng hóa
cao, nhưng chưa phải là các trang trại (tập trung ở đồng bằng sông Hồng, vùng trung du
và miền núi trồng cây công nghiệp chuyên môn hóa). Chủ hộ là những người có trình độ,
có kinh nghiệm sản xuất nhưng quỹ đất hạn hẹp không đủ điều kiện trở thành trang trại.
- Các hộ sản xuất có tỷ suất hàng hóa cao trở thành những trang trại. Đây là những
hộ hiện chưa phải là trang trại, những sẽ phát huy ưu thế của quá trình tập trung đất đai
trong những năm tới, mở rộng quy mô để trở thành trang trại.
- Có một số hộ nông dân nhưng có nghề phụ nhờ chính sách chuyển dịch cơ cấu
kinh tế tạo được cơ sở phát triển ngành nghể ổn định sẽ chuyển hẳn sang kinh doanh
ngành nghề ở nông thôn.
1.2.2.2. Trang trại
Ở nước ta hiện nay, phần lớn các nông hộ là các hộ nông dân tiểu nông. Tuy nhiên
trên thực tế đã và đang hình thành các hộ sản xuất hàng hóa theo kiểu trang trại. Các
trang trại không những xuất hiện ở những vùng sản xuất hàng hóa mà còn ở vùng sản
xuất hàng hóa chưa phát triển, ở vùng có diện tích đất bình quân theo đầu người cao., mà
còn ở vùng có bình quân diện tích đất trên đầu người thấp.
Vùng trung du và miền núi: là từ những hộ vùng đồng bằng lên xây dựng vùng
kinh tế mới, các hộ vốn là thành viên của nông lâm trường, hoặc tư nhân đến sản xuất
kinh doanh, theo phương thức nông lâm kết hợp, chuyên trồng cây ăn quả, cây công
nghiệp, chăn nuôi đại gia súc… và chuyên trồng cây lâm nghiệp.
Vùng ven biển: khu vực miền Bắc, miền Đông Nam Bộ và ĐBSCL tương đối phát
triển với các hộ kinh doanh lớn chuyên về nuôi trồng hải sản, hộ có vốn ít có sự kết hợp
với nuôi trồng hải sản với sản xuất nông nghiệp.
27
Vùng đồng bằng: đã xuất hiện các trang trại trồng trọt và chăn nuôi, nhưng quy mô
nhỏ trong đó có sự kết hợp với các ngành nghề phi nông nghiệp.
Kinh tế trang trại trở thành nhân tố mới cho sự phát triển ở nông thôn. Phát triển
kinh tế trang trại là động lực mới nối tiếp và phát huy động lực kinh tế hộ, là điểm đột
phá trong bước chuyển sang sản xuất hàng hóa. Các trang trại đã tạo ra khối lượng nông
sản hàng hóa từng bước đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Quá trình chuyển đổi kinh tế hộ nông dân sang kinh tế trang trại trở thành xu thế
nhưng vẫn còn những khó khăn về: quỹ đất hạn hẹp, nhận thức phát triển kinh tế trang
trại chưa cao, quy hoạch và định hướng phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung
chưa tốt, thị trường nông sản chưa thật ổn định, sản phẩm làm ra khó tiêu thụ, quan hệ
giữa các hộ nông dân và các tổ chức thương mại, doanh nghiệp chế biến chưa thỏa đáng.
Trình độ công nghệ thấp ảnh hưởng chất lượng nông sản, khả năng cạnh tranh thấp,
không thích ứng với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Các chính sách vĩ mô
của Nhà nước chưa tác động đồng bộ và kịp cho yêu cầu sản xuất, chưa thực sự khuyến
khích hộ nông dân phát triển theo hướng trang trại.
Xu hướng phát triển trang trại trong thời gian tới là: khuyến khích các hình thức
phát triển kinh tế trang trại, nhất là trang trại gia đình. Khuyến khích mọi hình thức kinh
doanh trang trại, nhưng tập trung vào các lâm trại, các trang trại chuyên môn hóa cây
công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc.. của vùng trung du và miền núi. Vùng
đồng bằng, khuyến khích các trang trại chăn nuôi lợn, gia cầm, gắn sản xuất nông nghiệp
với chế biến… Vùng ven biển, khuyến khích các trang trại nuôi trồng thủy hải sản.
1.2.2.3. Hợp tác xã nông nghiệp
Từ 1997 đến nay các địa phương đều tiến hành chuyển đổi các HTX theo Luật hợp
tác xả và chỉ thị 68 CT/TW Ban chấp hành trung ương… nhưng do tình hình thực tiễn ở
mổi địa phương có sự khác nhau, vận dụng khác nhau và còn nhiều bất cập:
- Chưa có sự chuyển đổi thích hợp cho tất cả các HTX trong từng địa phương:
HTX loại khá thì sự chuyển đổi chưa triệt để, chưa tạo cơ sở vững chắc cho HTX tồn tại
và làm tốt chức năng giúp đỡ hộ nông dân sản xuất phát triển. Các HTX trung bình, yếu,
không mạnh dạn giải thể hoặc tạo cơ sở kinh tế cho giải thể.
28
- Chuyển đổi HTX theo phong trào, cơ sở kinh tế để tồn tại và hoạt động hiệu quả
không có. Chưa có chính sách kinh tế vĩ mô tạo tiềm lực cho HTX vừa cạnh tranh trong
kinh doanh theo cơ chế thị trường vừa làm chức năng phục vụ cho nền kinh tế hộ.
1.2.2.4. Nông trường quốc doanh
Ở Việt Nam, nông trường quốc doanh được thành lập chủ yếu ở vùng trung du,
trên các cao nguyên hay các vùng mới khai hoang. Các nông trường quốc doanh
hiện nay đó có sự thay đổi về hình thức và chức năng. Nhiều nông trường được giao
đất đai, vườn, rừng cho các hộ gia đình.
1.2.2.5. Vùng nông nghiệp
Ngay sau khi đất nước thống nhất, một chương trình phân vùng quy hoạch
đã được triển khai trên phạm vi cả nước với quy mô lớn theo quan điểm tổng
hợp, kết hợp phát triển ngành gắn với quy mô không gian lãnh thổ dưới sự chỉ
đạo trực tiếp của chính phủ. Trên cơ sở đó đất nước được chia thành 7 vùng nông
nghiệp là: Trung du và miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ,
Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và ĐBSCL. Hệ thống 7
vùng này là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phát triển lâm nghiệp, hình thành
các vùng chuyên môn hóa tập trung như (lúa gạo, đậu tương ở ĐBSH; cà phê,
cao su ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; trâu, bò, chè, hoa quả cận nhiệt ở Trung và
miền núi phía Bắc…)
Trong từng vùng nông nghiệp lại chia ra làm các tiểu vùng và trong các tiểu
vùng nhỏ đó cũng có những nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, KT-XH,…
Như vậy, để nghiên cứu TCLTNN vùng ĐTM thuộc tỉnh Long An, đề tài đã
xây dựng dựa trên cơ sở lí luận vững chắc về TCLTNN nói chung, đó là khái niệm
về TCLTNN đặc điểm của TCLTNN, vai trò của TCLTNN với sự phát triển kinh tế
và các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTNN. Ngoài cơ sở lí luận được chọn lọc, đề tài
sử dụng cơ sở thực tiễn về các hình thức TCLTNN trên thế giới và ở Việt Nam, từ
đó áp dụng vào lãnh thổ nghiên cứu.
29
Chương 2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP
VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI TỈNH LONG AN
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp vùng Đồng
Tháp Mười tỉnh Long An
2.2.1. Vị trí địa lí
Vùng ĐTM tỉnh Long An là vùng đồng bằng trũng thấp nằm ở phía Tây của
tỉnh Long An, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam và Nam giáp Đồng Tháp và
0 dài từ 10P
0 P56’B xã Tân Hòa,Tân Thạnh, Long An đến 11P
PB ở rạch Long Khốt,
P30’ Đ trên sông Vàm
’ P02P 0 P12’ Đ đến 106P
0 Hưng Điền A, Vĩnh Hưng, Long An, từ 105P
Tiền Giang, phía Đông giáp sông Vàm Cỏ Đông và quốc lộ 1A. Tọa độ địa lí trải
Cỏ Đông xã Bình Đức, Bến Lức, Long An.
Tổng diện tích đất tự nhiên đạt gần non phân nửa toàn vùng “ĐTM” của
ĐBSCL 299.442 ha trong tổng số 629.171 ha của khu vực “ĐTM” vùng ĐBSCL
(chiếm 46,7%) và chiếm 66,6% diện tích tỉnh Long An.
Theo địa giới hành chính, vùng ĐTM thuộc tỉnh Long An bao gồm các huyện:
Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Đức Huệ và một phần
các huyện Bến Lức, Thủ Thừa. Đây là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp của
tỉnh Long An với các nông sản chính: lúa, cá – tôm, tràm, cây ăn trái, cây công
nghiệp ngắn ngày và sản phẩm chăn nuôi (thịt gia cầm, trứng). Các sản phẩm có tỉ
trọng hàng hóa cao, cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước.
Vùng có đường biên giới với Campuchia dài 137,7km thuộc các huyện Tân
Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Thạnh Hóa, Đức Huệ với các cửa khẩu như cửa khẩu
quốc tế Bình Hiệp – huyện Mộc Hóa, cửa khẩu quốc gia Mỹ Qúi Tây huyện Đức
Huệ, 2 cửa khẩu phụ là Hưng Điền huyện Vĩnh Hưng và Tân Hưng huyện Tân
Hưng, tạo điều kiện trao đổi hàng hóa với Campuchia và xa hơn nữa là các nước
Đông Nam Á. Tương lai, vị trí địa lí đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển
kinh tế của tỉnh, giao lưu KT-XH với các tỉnh ĐBSCL và mở rộng giao lưu với các
tỉnh của Campuchia.
30
Hình 2.1. BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI THUỘC TỈNH
Nguồn: Tác giả
Tỉ lệ: 1:350
31
Phía Đông là các huyện trong tỉnh Long An có điều kiện phát triển kinh tế
tương đối ổn định – vùng bản lề nối liền với Tp. HCM và các tỉnh Đông Nam Bộ,
thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Nhất là tuyến quốc lộ 1A là tuyến huyết
mạch nối các tỉnh Đông Nam Bộ về ĐBSCL; Hệ thống đường thủy quốc gia trên
sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, kênh Lagrange, Nguyễn Văn Tiếp… các hoạt
động vận chuyển phần lớn hàng hóa, vật tư từ ĐBSCL lên Đông Nam Bộ và ngược
lại đều ngang qua ĐTM.
Từ đó, vùng sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi đẩy mạnh phát triển KT-XH trong
hiện tại và tương lai. Có điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, tương
đối thuận lợi trong việc buôn bán quốc tế, sớm tiếp thu và ứng dụng những thành
tựu khoa học trong sản xuất và quản lý trong nền kinh tế hàng hóa.
Nhưng chất lượng các nguồn lực hiện tại của vùng còn thấp: nguồn vốn đầu tư,
nhân lực, xây dựng cơ sở hạ tầng khá tốn kém, tình hình buôn lậu qua biên giới
chưa kiểm soát được, hàng năm bị ảnh hưởng lũ, một số vùng đất phèn có độc tố
cao, thiếu nước ngọt… là những nhân tố tác động làm hạn chế quá trình phát triển.
2.2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên tự nhiên
2.2.2.1. Địa hình
Về mặt cảnh quan, đây là vùng trũng nội địa rộng lớn chịu ảnh hưởng trực tiếp
của chế độ thủy văn sông Mê-Công, nơi hứng lũ chảy tràn của phần hạ lưu sông vào
mùa mưa.
Vùng thuộc phần cảnh quan ven rìa của khu vực ĐTM, là vùng chuyển tiếp
giữa vùng đất cao hay thềm phù sa cổ với vùng đất thấp hay phù sa mới, phổ biến
dạng địa hình “gò” hay “giồng”, mặt địa hình cũ của phù sa cổ bị xâm thực mạnh
mẽ. Độ cao địa hình cao nhất khoảng 4m. Các giồng cát có dạng thẳng liên tục hoặc
không liên tục, chạy song song với nhau theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, chiều
dài khoảng 10km, rộng khoảng 1m.
Cảnh quan vùng trũng với địa hình khá bằng phẳng, độ cao 0,5 – 3m, là vùng
ngập úng, đất đai chua phèn, chứa nhiều vật chất hữu cơ, có mặt than bùn. Địa hình
bị chia cắt bởi hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây cùng với hệ thống kênh rạch
32
chằng chịt.
2.2.2.2. Thổ nhưỡng
Thềm phù sa cổ phía Bắc giáp với biên giới Campuchia – nơi đất xám được
hình thành, với địa hình cao 1 – 1,6m trên mực nước biển, tập trung chủ yếu ở Đức
Huệ, Mộc Hóa và Vĩnh Hưng, diện tích 72498 ha chiếm 24,21% toàn vùng ĐTM và
76,53% trong tổng số 94.721 ha của tỉnh Long An. Thành phần chủ yếu là cát, sét,
không chứa các độc tố quan trọng như sa cấu nhẹ, giữ nước kém nên dễ bị bạc màu
và nghèo chất dinh dưỡng, cần bón phân tăng độ phì khi canh tác. Là khu vực thuận
lợi để phát triển nông nghiệp, thường sử dụng trồng trồng các cây công nghiệp: mía,
lạc hoặc hoa màu: khoai lang, sắn, đậu…
Đất phèn có diện tích lớn nhất trong vùng là 176.808 ha chiếm 59,04% toàn
vùng ĐTM và 84,82% trong tổng số 208.449 ha của tỉnh Long An, với những hạn
chế về đặc tính l í hóa, chiếm tỉ trọng quan trọng trong quỹ đất và là mối quan tâm
hàng đầu của nhiều kế hoạch khai thác vùng ĐTM. Trong đó, đất phèn hoạt động
chiếm phần lớn quy mô diện tích so với đất phèn tiềm tàng - chủ yếu là trên tầng
pyrite xuất hiện cạn. Đất có thành phần cơ giới nặng, sét chiếm 50-60%, dễ nứt nẻ
khi khô và bết dính khi ướt, hàm lượng hữu cơ cao, khoáng chất thấp, nghèo đạm
và lân. Vì thế, khi sử dụng cần quan tâm đến:
33
Bảng 2.1. Thống kê diện tích các loại đất của vùng phân theo huyện – thị
Tân
Vĩnh
Mộc
Tân
Thạnh
Đức
Thủ
Bến Lức
Hưng
Hưng
Hoá
Thạnh
Hoá
Huệ
Thừa
TOÀN VÙNG Số Nhóm và loại đất Diện tích Tỷ lệ TT (ha) (%)
111
0.04
111
I Nhóm đất cát
111
111
1 Đất cát giồng
176803
59.04
33947
13322
23477
35103
33931
20612
4634
11777
II Nhóm đất phèn
28865
9.64
1426
12302
12124
2103
263
647
IIa Đất phèn tiềm tàng
Đất phèn tiềm tàng sâu
5
5
2 - mặn
Đất phèn tiềm tàng
822
1210
9774
55
11861
nông 3
604
11092
2350
2048
258
647
16999
Đất phèn tiềm tàng sâu 4
147938
49.40
33947
13322
22051
22801
21807
18509
4371
11130
Iib Đất phèn hoạt động
Đất phèn hoạt động sâu
5 - mặn
Đất phèn hoạt động
47085
14991
3527
11363
2100
7024
5585
1795
700
6 nông
34
Đất phèn hoạt động
100853
18956
9795
10688
20701
14783
12924
2576
10430
7 sâu
31799
10.62
505
5984
4162
7163
3732
5196
5057
III Nhóm đất phù sa
5857
3732
2080
45
8 Đất phù sa gley
Đất phù sa có tầng
25942
505
5984
4162
7163
3116
5012
9 loang lổ
Nhóm đất lầy và than
174
0.06
174
IV bùn
174
174
10 Đất than bùn phèn
72498
24.21
14512
23375
17526
1500
15464
121
V Nhóm đất xám
49598
8327
15128
14543
1064
10536
11 Đất xám trên phù sa cổ
Đất xám đọng mùn
22900
6185
8247
2983
436
4928
121
12 gley
14130
4.72
712
810
2092
3313
3138
2803
503
758
VI Đất khác
14130
712
810
2092
3313
3138
2803
503
758
13 Đất líp
3928
1.31
62
945
964
1094
481
188
194
VII Sông rạch
299442
100.00
49738
38452
50328
42578
46826
43092
10521
17907
Nguồn: Phân viện Quy hoạch – Thiết kế Nông nghiệp (Điều tra bổ sung xây dựng bản đồ đất Long An tỷ lệ 1:100000)
Tổng diện tích tự nhiên
35
+ Đất phèn tiềm tàng: 28865 ha phân bố ở các khu vực trũng, thấp, đọng nước
thường xuyên khiến cho việc khuếch tán oxi vào đất bị chặn lại, đất thường ở trạng
thái khử, có hàm lượng chất hữu cơ cao hơn so với các loại đất khác, đất bị lầy –
thụt và ẩm, độ PH từ 4,5 – 5,5, ngập nước thường xuyên, hạn chế trong khai thác
thủy lợi – do dễ gây tình trạng hóa chua trong đất. Bên cạnh đó, quá trình chuyển
hóa của Fe và Al sẽ ảnh hưởng lớn khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng và khoáng
chất của cây trồng.
+ Đất phèn hoạt động: 147938 ha phân bố dọc theo các hệ thống kênh đào,
điển hình kênh Bo Bo, hoặc các khu vực cao bị tiêu thoát nước mạnh. Do ảnh
hưởng chế độ thủy văn và khí hậu với hai mùa ngập lũ và khô hạn luân phiên xảy
3+
2+
2-
ra, quá trình oxi hóa và thủy phân làm phân hóa và thúc đẩy sự phèn hóa của đất
P, FeP
P, SOP
+ P…, thiếu lân, P, HP
phèn hoạt động. Đất chua, chứa nhiều độc chất AlP
hoạt động của vi sinh vật yếu dẫn đến tình trạng khoáng hóa chậm, tầng chứa
jarosite xuất hiện nông, sự mao dẫn bề mặt của các độc chất đủ để gây thiệt hại cho
cây trồng, nhất là mùa khô.
+ Đất phèn ít có diện tích khoảng 130000 ha phân bổ ở nam Vĩnh Hưng, Nam
Mộc Hóa, Bắc Tân Thạnh và một phần ở Đức Huệ, nằm ven sông nên dễ thoát
nước, rửa phèn hoặc ven rìa vùng phù sa cổ có tầng sinh phèn mỏng. Trong đó,
vùng phèn ít 3 xã huyện Bến Lức là vùng thơm đặc sản đang hình thành vùng
chuyên canh lớn của tỉnh.
+ Đất phèn nhiều phân bố sâu giữa ĐTM, vùng Bắc Đông, kênh Bo Bo. Đất
ngập sâu nhiều tháng, khó tiêu nước, thiếu nước ngọt, tầng sinh phèn dày. Đất
hoang hóa chiếm phần lớn với các thực vật đặc trưng: tràm, năn, đưng, bàng… phần
nhỏ diện tích dùng sạ lúa nổi. Nên hoạt động sản xuất nông nghiệp sẽ phụ thuộc rất
lớn vào nguồn nước ngọt. Và, nguồn lợi về lâm, thủy sản cũng rất đa dạng có vai trò
làm sạch không khí, cải tạo môi sinh, khôi phục đa dạng sinh thái cho vùng…
Đất phù sa chiếm diện tích 31799 ha chiếm 10,62% toàn vùng ĐTM và chiếm
42,91% trong tổng số 74.099 ha của tỉnh Long An chủ yếu là đất phù sa sông Vàm
Cỏ nằm sát cạnh sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây làm thành dải hẹp kéo dài; đất
36
phù sa gley ở những trũng thấp giữa vùng phù sa hoặc chuyển tiếp với bưng phèn;
đất phù sa có nền phèn là vùng đất chuyển tiếp, kế cận vùng phèn ở trung tâm
ĐTM, được cung cấp phù sa sau các trận lũ hàng năm, là nhóm đất khá thuận lợi
cho sản xuất nông nghiệp, trở thành vùng sản xuất lúa ổn định với năng suất cao.
Đất cát giồng là loại đất đặc trưng ở ĐBSCL – chứng tích của quá trình biển
lùi ở đồng bằng châu thổ này. Các giồng đất rải rác thành hình vòng cung hay rẻ
quạt, phân bố Mộc Hóa với diện tích 111 ha chiếm 0,04% diện tích vùng ĐTM.
Thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha và thịt nhẹ, hàm lượng cát từ 60 – 75%, càng
xuống sâu tỉ lệ cát càng cao. Đất có sa cấu tơi xốp, hàm lượng dinh dưỡng kém, tỉ lệ
khoáng cao nên đất dễ bị nghèo kiệt dinh dưỡng. Đây là loại đất có sa cấu tốt cho
các loại hoa màu có củ, cây họ đậu nhưng độ phì kém, giữ nước kém.
Đất mặn chủ yếu phân bố ở Thủ Thừa và Bến Lức, do ảnh hưởng của nước
ngầm mặn hoặc quá trình xâm nhập mặn xảy ra vào mùa khô với diện tích nhỏ.
Đất than bùn 174 ha tương đương 0,06% tổng diện tích đất, ở phía Nam.
Như vậy, trên tổng thể diện tích đất thuận lợi để canh tác nông nghiệp rất hạn
chế, nhóm đất phù sa chiếm diện tích rất thấp, chủ yếu là đất phèn và đất xám – vấn
đề hàng đầu trong sử dụng cải tạo đất cho vùng.
2.2.2.3. Khí hậu
0 ẩm. Nền nhiệt độ cao và khá ổn định quanh năm trung bình 25 – 28P
PC; nắng nhiều
P,
2 trung bình 6,5 – 7,0 giờ/ngày; tổng bức xạ hàng ngày tại Mộc Hóa đạt 428 cal/cmP
2 P; tổng bức xạ hàng năm tại Mộc Hóa 156,8 cal/cmP
P, Tân An
2 Tân An 441 cal/cmP
P. Đây là những điều kiện thuận lợi cho sản xuất và gieo trồng các loại
2 160,8cal/cmP
Khí hậu của vùng mang đặc tính nhiệt đới ẩm gió mùa và cận xích đạo nóng
cây nhiệt đới ngắn ngày, cho phép thâm canh – tăng vụ có năng suất cao.
Trong năm có 2 hướng gió chính: gió Tây Nam từ tháng V – XI mang nhiều
mưa; gió Đông Bắc từ tháng XII – I khô và hanh; và trong khoảng thời gian từ
thành XI – IV có sự hoạt động của gió chướng làm tăng quá trình xâm nhập mặn.
Lượng mưa trung bình năm biến đổi theo không gian có xu hướng giảm dần từ
Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam, lượng mưa tương đối ổn định qua nhiều năm
đạt 1300 – 1700mm; Phân bố mưa theo mùa: mùa mưa bắt đầu từ khoảng tháng V –
37
XI, chiếm 91 – 95% tổng lượng mưa trong năm, số ngày mưa đạt 104 – 116
ngày/năm với khoảng thời gian này sẽ đảm bảo đủ cho khoảng 1,0 – 1,5 vụ cây
ngắn ngày, các tháng I, II, III hầu như không mưa, cường độ mưa lớn làm dư thừa
nước gây chảy tràn làm rửa trôi, xói mòn đất, các vùng thấp kết hợp với lũ và đỉnh
triều cao gây úng ngập đồng ruộng; Độ ẩm không khí cao và khá ổn định, ít biến đổi
mm
350
300
250
200
150
100
50
0
05
04
06
07
08
03
10
09
11
02
01
12 Jan. Feb. Mar. Apr. May Jun. Jul. Aug. Sep. Oct. Nov. Dec.
Moc Hoa Mộc Hóa
Tan An TânAn
qua các năm, trung bình đạt khoảng 79 – 84,3%.
Hình 2.2. Lượng mưa theo tháng, năm 2009
Nguồn: Niên giám thống kê Long An năm 2009
Những đợt hạn trong khoảng thời gian tháng V – VIII xảy ra ở hầu hết các
năm dao động có 8 đợt hạn kéo dài từ 5 ngày đến 10 ngày - sự bấp bênh khi sản
xuất nông nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào nước mưa mà không có sự hỗ trợ của các
công trình thủy lợi điều tiết nước và bố trí thời vụ gieo trồng hợp lí.
UNguồn nước mặt:
2.2.2.4. Tài nguyên nước
- Nguồn nước ngọt từ sông Tiền chảy qua các kênh tạo nguồn dẫn vào phần
đất của vùng ĐTM với lưu lượng lớn hơn so với năm 2000. Chất lượng nước đã cải
thiện về độ PH và thời gian chua phèn giảm rõ rệt.
- Các khu vực được hưởng lợi là Bắc Tân Thạnh, Đông Nam Mộc Hóa, Thạnh
Hóa, Bắc Thủ Thừa… số liệu quan trắc về chất lượng nước các kênh chính của địa
phương gần như ngọt quanh năm.
38
- Nguồn nước của sông Vàm Cỏ Đông, đặc biệt lượng nước bổ sung vào mùa
khô của Hồ Dầu Tiếng đã tiếp ngọt vào sâu trong nội đồng của huyện Đức Huệ, Bắc
2 P, lưu lượng nước trung Bắc – Đông Nam, dài 260 km, diện tích lưu vực là 8500 kmP
3 P/s, là sông duy nhất nối các nguồn nước của hệ thống sông Đồng Nai. bình đạt 96mP
huyện Bến Lức. Bắt nguồn từ vùng đồi cao 150m ở Campuchia, chảy theo hướng Tây
2 Vàm Cỏ Đông, diện tích lưu vực 4400kmP P, dài 150km, hệ số uốn khúc là 1,80, từ
- Sông Vàm Cỏ Tây bắt nguồn từ vùng đồi thấp gần như song song với sông
Mộc Hóa trở xuống lòng sông sâu và rộng, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thủy triều,
là lưu vực nối với sông Tiền qua các hệ thống kênh đào, không kín và không có
nguồn - đường tiêu nước quan trọng vào mùa mưa, là ngõ dẫn nước mặn từ biển
Đông ở mùa khô vào ĐTM
- Hệ thống kênh đào chằng chịt được nạo vét và mở rộng, một số công trình
ngăn mặn: đê, đập, cống xây dựng dọc theo hệ thống sông Vàm Cỏ để tiêu chua và
UNguồn nước ngầm:U
ngăn mặn góp phần quan trọng trong khai hoang và sản xuất nông nghiệp.
- Nguồn nước ngầm, theo kết quả nghiên cứu một số giếng khoan ở Đức Huệ,
Thủ Thừa, Mộc Hóa… cho thấy nguồn nước ngầm tương đối dồi dào. Ởmột số vùng
cao của Đức Huệ nguồn nước ngầm ở độ sâu từ 2 – 3m dùng cho sinh hoạt và sản
m3/ngày/đêm
5 0 6 . 7 5 1
2 9 1 . 5 5 1
3 9 5 . 3 4 1
6 6 9 . 8 2 1
2 7 5 . 9 9
2 3 5 . 2 8
9 2 8 . 9 2
8 2 3 . 2 2
180 160 140 120 100 80 60 40 20 0
Tân Hưng
Vĩnh Hưng
Mộc Hóa
Tân Thạnh
Thạnh Hóa
Đức Huệ
Thủ Thừa
Bến Lức
xuất. Các nơi khác, nước ngầm có phẩm chất tốt ở độ sâu từ 140 – 200m.
Hình 2.3. Lưu lượng nước ngầm khai thác của vùng Đồng Tháp MườiU
39
Lũ lụt:
Vào mùa lũ, lũ lên chậm và rút chậm làm ảnh hưởng đến tính mùa vụ trong sản
xuất nông nghiệp. Khu vực ngập lũ sâu >100 cm và thời gian ngập lũ >5 tháng là
49.923 ha phân bố ở 4 huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh. Khu vực
ngập nông >60 - 100cm là dải đất dọc theo biên giới thuộc huyện Vĩnh Hưng, Tân
Hưng, Mộc Hóa, Nam Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Bắc Thủ Thừa và 3 xã phía đông sông
Vàm Cỏ Đông huyện Bến Lức.
Bảng 2.2. Mực nước đỉnh lũ một số vị trí trong vùng Đồng Tháp Mười
(*) Mộc Hóa Tân Hưng Vĩnh Hưng
Đỉnh lũ (m) Năm Tân ChâuP
2,00 1999 4,20 2,76 2,64
3,27 2000 5,06 4,32 4,14
2,87 2001 4,75 3,85 3,70
2,89 2002 4,82 3,75 3,55
1,76 2003 4,06
2,35 2004 4,40 3,72 3,07
2,39 2005 4,35 3,52 3,14
2,14 2006 4,17 3,27 2,82
1,99 2007 4,08 3,00 2,62
(*)
Nguồn: Sở Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn Long An, P
P thuộc tỉnh Đồng Tháp
1,86 2008 3,77 2,70 2,40
Vào mùa cạn, dòng chảy trên hai dòng chính của vùng cực nhỏ, nước nguồn
càng nhỏ thì thủy triều càng xâm nhập sâu vào kênh rạch nội đồng, gây nhiễm mặn
cho đất và nước. Trên sông Vàm Cỏ Tây vào đến Tuyên Nhơn, Vàm Cỏ Đông đến
Hiệp Hòa với 4g/lít vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa kéo dài từ 2 đến 4 tháng.
Ngoài ra còn khoảng 180000 ha đất bị nhiễm phèn tập trung chủ yếu ở Mộc
Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Thạnh, vùng Bắc Bến Lức, Thủ Thừa.
Như vậy đây là vùng có nguồn nước dồi dào từ sông tiền cung cấp đủ phục vụ
cho sinh hoạt và sản xuất nhưng vùng vẫn là nơi thiếu nước ngọt trong mùa khô;
40
Nước ngầm có chất lượng cao và dồi dào ở tầng sâu 200m, phục vụ cho sinh hoạt và
tưới hỗ trợ cho rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày.
Chế độ thủy văn trong nội đồng khá phức tạp do chế độ bán nhật triều ở biển
Đông, lượng nước thượng nguồn sông Mê Công và Vàm Cỏ, chế độ mưa trong nội
đồng. Nên hình thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa toàn vùng bị ngập sâu hầu hết diện tích,
mùa cạn thì đồng khô cỏ cháy, chỉ còn nước ở các kênh trục; Sự xuất hiện của nước
phèn vào đầu mùa mưa trên diện rộng và xâm nhập mặn vào mùa khô.
Bên cạnh đó, đây là vùng chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu và nước biển
dâng, nguồn nước mặt còn phụ thuộc vào việc xây dựng – quản lí – vận hành các
công trình thủy điện – thủy lợi ở thượng và trung lưu sông Mê Công. Việc này có ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất nông lâm ngư nghiệp của vùng.
2.2.2.5. Tài nguyên sinh vật
Thảm thực vật tự nhiên và cây trồng khá đa dạng do kiến tạo vùng là một
“đồng lụt kín” nay là “nửa hở”, thảm thực vật tự nhiên khá phong phú và tiêu biểu
trên vùng đất hoang hóa và vùng đất canh tác: cỏ cháo, lau, năng, tràm gió, bàng,
năng, lúa ma… Nhưng trong quá trình khai thác, để sản xuất nông nghiệp, các quần
thể nguyên sinh gần như biến mất, chỉ còn lại các quần thể thứ sinh, hoặc dưới tác
động của các công trình thủy lợi, nhiều loài thực vật hoang dại có giá trị thích nghi
lâu đời của vùng: tràm, sen, súng, bàng… bị thu hẹp dần.
Tràm và bạch đàn là các loại cây ưu thế, là thành phần chính trong tài nguyên
rừng của vùng. Tràm có nguồn gốc tự nhiên, mọc thành quần thể rộng lớn trến đất
chua phèn, ưa sáng nên sinh trưởng nhanh và mạnh, có giá trị về môi trường và giá
trị kinh tế cao, có thể khai thác sau 6 – 10 năm trồng. Trong hệ sinh thái này trên
những vùng ngập nước là nơi cư trú của nhiều. Bạch đàn là cây chịu phèn, ngập
nước trong thời gian ngắn.
Theo số liệu năm 1995, diện tích rừng khu vực “ĐTM” đạt 34.948 ha, trong đó
vùng ĐTM của tỉnh Long An chiếm 23.848 ha, chiếm 67,2% diện tích rừng toàn
khu vực, hầu hết là rừng tràm non phân bố dọc theo đầu nguồn sông Vàm Cỏ. Diện
tích rừng trồng ngày càng tăng ở các vùng hoang hóa, khu dân cư.
41
Tổng diện tích rừng của vùng gỉam liên tục qua từ 67.764,2 ha năm 2005
chiếm 98,56 % còn 43.536 ha 99,23% của toàn tỉnh Long An năm 2011 diện tích
rừng giảm. Huyện có diện tích rừng giảm nhiều nhất là Thạnh Hóa, Tân Hưng, Tân
Thạnh, Mộc Hóa nguyên nhân chính là do chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng
tràm sang trồng lúa. Bên cạnh đó, Đức Huệ và Thủ Thừa diện tích rừng tăng lên
đáng kể do tỉnh tiến hành xóa bỏ một số dự án treo và khuyến khích khôi phục lại
nguồn rừng.
Bảng 2.3. Diễn biến diện tích rừng của vùng Đồng Tháp Mười qua các năm
Tổng diện tích rừng (ha)
2005 2011 2011/2005 2008
Tân Hưng 12722,5 9145,6 5917,0 - 6805,0
Vĩnh Hưng 3651,0 2098,0 2117,0 - 1534,0
Mộc Hóa 7796,3 7087,0 4046,0 - 3749,5
Tân Thạnh 8199,0 6511,9 4440,0 - 3759,0
Thạnh Hóa 19196,0 16095,0 13237,0 - 5958,1
280,9 Đức Huệ 10454,0 7898,5 10734,0
Bến Lức 496,5 126,2 790,0 293,5
Thủ Thừa 5248,9 3579,2 2255,0 2993,9
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Long An
Tổng 67764,2 52543,1 43.536 - 24225,1
Dưới tác động của chương trình khai hoang mở rộng diện tích đất nông
nghiệp, cháy rừng vào mùa khô, thời gian ngập nước kéo dài ở một số nơi, tài
nguyên rừng của vùng ngày càng sụt giảm.
Động vật hoang dã hầu như còn rất ít vì hầu hết thảm rừng tự nhiên bị thu hẹp.
Hiện tại chỉ còn các loài cá, tôm (cá lóc, cá trê, cá rô, cá sặc, cá trèn, cá thát lát…
riêng trên sông Vàm Cỏ Tây đã có 61 loài cá, sông Vàm Cỏ Đông có 55 loài cá),
lươn, rùa, ong và 84 loài chim nước (phân bố tại rừng ngập nước Láng Sen và trung
tâm dược liệu nghiên cứu ĐTM).
Hướng phát triển tổng hợp lâm – ngư kết hợp du lịch sinh thái, nhằm khôi
phục lại môi trường, sẽ góp phần tích cực gia tăng số lượng và chủng loại sinh vật.
42
UThuận lợi:
2.2.2.6. Đánh giá chung
- Phần lớn diện tích có độ phì tiềm tàng khá cao trên đất phù sa và đất phèn
sâu, khi có nước ngọt có thể trồng nhiều loại cây trồng: lúa, đay, ngô, đậu, rau… có
năng suất và chất lượng cao.
- Nguồn nước mặt dồi dào, chất lượng khá tốt có thể khai thác đáp ứng cho
yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp.
P/năm vào bồi dưỡng cho đất và làm sạch môi trường, tăng thêm
3 khoảng 8 triệu mP
- Tận dụng mặt lợi của lũ hàng năm đưa lượng phù sa trung bình hàng năm
nguồn thủy sản…
- Khí hậu thích hợp với nhiều loại cây trông nhiệt đới, nhất là các cây ngắn
ngày ưa sáng, cho phép tăng vụ (3 vụ/năm) và áp dụng kĩ thuật thâm canh tăng năng
suất có hiệu quả.
- Thủy sản khá phong phú, nhất là cá nước ngọt, diện tích mặt nước lớn, một
số thủy vực rừng tràm, đầm nước ngọt, bàu sen… có thể phát triển thủy sản có hiệu
quả kể cả đánh bắt và nuôi trồng.
- Đất phèn ngập nước, ẩm và nhiệt cao cho rừng tràm sinh trưởng phát triển có
UKhó khăn:
sinh khối lớn.
- Tác động của lũ hàng năm làm ngưng trệ sản xuất ở những nơi ngập lũ sâu,
gây ngập úng đồng ruộng, đặc biệt là việc thu hoạch và bảo quản lúa hè thu, cản trở
tối đa việc sử dụng nguồn tài nguyên đất, bồi lắp kênh mường, hư hại cơ sở hạ tầng,
thiệt hại về người, nhất là gia tăng vốn đầu tư và hạn chế năng lực sử dụng của các
công trình xây dựng cơ bản của vùng ngập lũ.
- Đất phèn trong điều kiện thiếu nước ngọt trong mùa khô, đặc biệt là đất phèn
nông phân bố những nơi thiếu nước ngọt hoặc rút nước chậm ở các địa hình trũng
thấp: Bo Bo, Bắc Đông… dễ gây chết cây trồng hoặc giảm năng suất, đầu tư cao.
- Xâm nhập mặn theo sông Vàm Cỏ ngày càng gia tăng về độ sâu, nồng độ
mặn, thời gian ảnh hưởng. Nếu muốn kiểm soát cần đắp đê, xây cống rất tốn kém.
- Nguồn lợi thủy sản và lâm nghiệp đã và đang suy giảm nghiêm trọng do môi
43
trường thay đổi và việc khai thác cạn kiệt của con người.
2.2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.3.1. Khái quát tình hình phát triển nông nghiệp tỉnh Long An
Mười năm 2001 - 2010 là giai đoạn kinh tế tỉnh Long An phát triển khá toàn
diện với mức tăng trưởng cao (2001 - 2005 GDP tăng bình quân: 9,30%/năm, 2006
- 2010 tăng: 11,8%/năm), cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng GDP
khu vực công nghiệp - xây dựng (từ: 21,7% năm 2000 lên: 33,20% năm 2010), song
khu vực kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (năm 2000:
48,5% và năm 2008 là: 38,77%) trong tổng thể nền kinh tế.
Một số kết quả cụ thể như sau:
- Tuy đất sản xuất nông nghiệp đến ngày 01/01/2010 giảm: -20.292,56 ha so
với năm 2000, sản xuất nông nghiệp - ngư nghiệp gặp nhiều rủi ro bởi dịch bệnh
gây hại vật nuôi và lúa, tôm… nhưng tổng GTSX nông - lâm - ngư nghiệp năm
2009 đạt 6.86,10 tỷ đồng (giá 1994) tăng hơn năm 2000 là: 2.285,4 tỷ đồng.
- Sản lượng lúa ước đạt năm 2010: 2,304 triệu tấn so với năm 1986 chỉ là:
549,8 nghìn tấn (tăng gấp 4,0 lần), riêng giai đoạn 2001 - 2010 tăng 754.200,0 tấn.
- Sản lượng nuôi thủy sản năm 2009 gấp 7,2 lần năm 1986, tương ứng GTSX
ngư nghiệp cũng tăng 8,59 lần.
- Tính đến năm 2009 tỉnh Long An có 06 cây trồng xếp thứ nhất về diện
tích - sản lượng so với 63 tỉnh (thành phố) cả nước là: đay, khoai mỡ, lúa nếp,
dưa hấu và tràm cừ. Riêng huyện Tân Hưng có mức bình quân sản lượng lúa trên
đầu người đạt 6.844,0 kg/người/năm, xếp thứ 2 sau huyện Hòn Đất -Kiên Giang.
Bên cạnh đó:
- Nông - lâm - ngư nghiệp phát triển nhưng thiếu bền vững, nhất là nuôi tôm
nước lợ và trồng tràm cừ. Năng suất của phần lớn cây trồng - vật nuôi có tăng
nhưng vẫn thấp hơn mức bình quân của cây trồng - vật nuôi cùng loại được nuôi
trồng ở ĐBSCL (điển hình như: lúa năm 2009 của tỉnh Long An đạt: 4,66 tấn/ha,
ĐBSCL: 5,29 tấn/ha, mía Long An: 68,70 tấn/ha - ĐBSCL là:76,9 tấn/ha, …).
- Chất lượng của khá nhiều loại nông thủy sản hàng hóa sản xuất tại tỉnh Long
An còn thấp, giá thành cao nên sức cạnh tranh kém trên thị trường. Những cây
44
trồng truyền thống là hàng hóa đặc sản nổi tiếng của tỉnh Long An đã và đang bị
thu hẹp diện tích.
- Đặc biệt, tiềm năng và lợi thế về vị trí địa lý kinh tế, tài nguyên đất -
nước để xây dựng phát triển nông - lâm - ngư nghiệp hàng hóa còn chưa được
tận dụng khai thác phát huy, nhất là nuôi thủy sản nước ngọt ở vùng ĐTM,
trồng rau đặc sản địa phương, sản xuất lúa gạo đặc sản, trồng thanh long xuất
khẩu, chăn nuôi heo siêu nạc, gà - vịt trang trại theo phương thức bán công
nghiệp đảm bảo an toàn sinh học, …
- Phần lớn các cây trồng, vật nuôi và tràm cừ sản xuất thiếu gắn với thị
trường và công nghiệp chế biến nên thường bị động trong tổ chức phát triển sản
xuất và tiêu thụ nông lâm thủy sản hàng hóa.
UDân cư
2.2.3.2. Đánh giá dân số và nguồn lao động vùng Đồng Tháp Mười
Mối quan hệ giữa dân số - lao động với bình quân đất nông nghiệp là đặc trưng
cần lưu ý đối với quy hoạch phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp.
Bảng 2.4. Số đơn vị hành chính, diện tích, dân số và mật độ dân số trung bình
của Đồng Tháp Mười
P)
Số xã
Số phường, thị trấn 8 Diện tích 2 (kmP 2754,8411 Dân số trung bình (người) 369.728 Mật độ dân số 2 (người/kmP P) 134 Tổng số 71
1 496,7081 48.205 97 Tân Hưng 11
1 384,7290 49.848 130 Vĩnh Hưng 9
1 501,9245 69.830 139 Mộc Hóa 12
1 425,9527 76279 179 Tân Thạnh 12
1 468,3728 54.113 116 Thạnh Hóa 10
1 431,7493 59.603 138 Đức Huệ 10
0 24,8333 5.758 230 Thủ Thừa 4
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Long An
0 20,5714 6.092 290 Bến Lức 3
45
Dân số vùng ĐTM của tỉnh Long An tính đến năm 2011 đạt 369.728 người
năm 2011 tăng 102.590 người so với năm 1993 (trung bình mỗi năm tăng thêm chỉ
đạt 21 người) với 90.625 hộ dân, bình quân mỗi hộ dân có 3,81 nhân khẩu. Trong
đó, số hộ hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản là 70562 hộ chiếm 77,9% (với
55.314 hộ tập trung ở khu vực nông thôn và 15248 hộ phân bố ở thành thị, tương
đương tỉ lệ 78,4% và 21,6%); trong công nghiệp – xây dựng có 5108 hộ chiếm
2 Mật độ dân số trung bình của vùng đạt 97 người/kmP
Pnăm 1993, đạt tỉ lệ thấp
2 nhất trong khu vực “ĐTM” (Tiền Giang 694 người/kmP
P, Đồng Tháp 346
2 người/kmP 2 người/kmP
P) [42], Tài nguyên đất Đồng Tháp Mười, Phan Liêu], đến 2011 đạt 134 2 P, chưa bằng ½ mật độ dân số trung bình của tỉnh Long An 323 người/kmP
P
5,6%, dịch vụ có 14955 hộ chiếm 16,5%.
P, gấp 1,85 lần so
2 Mật độ dân số cao nhất là huyện Tân Thạnh 179 người/kmP 2 với huyện Vĩnh Hưng 97 người/kmP
P. Dân số khu vực đô thị có 50.328 người (chiếm
và chỉ chiếm 25,49% dân số của toàn tỉnh mặc dù chiếm 66,6% diện tích của tỉnh.
13,6% dân số), dân số nông thôn 319.400 người (chiếm 86,4%). Tỷ lệ tăng dân số
(2005-2011) là 2,5%/năm, riêng năm 2011 so với 2010 chỉ tăng 2,23%. Cơ sở hạ
tầng phục vụ đời sống dân cư ở các xã vùng sâu và biên giới còn gặp nhiều khó
khăn, cần được quan tâm đầu tư phát triển.
Bảng 2.5. Mật độ dân số và bình quân đất nông nghiệp Đồng Tháp Mười
P)
P/người)
2 (mP
Huyện Ghi chú Số TT Bình quân đất nông nghiệp trên dân số nông thôn 2011 Mật độ dân số 2 (người/kmP
Long An
Dân số nông thôn 2011 (người) 1191864 319400
Bình quân 6 huyện là: 9.219 2 P/người mP
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Long An và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An
43.050 40.139 53.581 70.691 48.787 54.281 4.675 4.196 323 134 97 130 139 179 116 138 290 230 3.031 8.206 10.165 8.529 8.317 5.277 8.050 6.835 136 243 ĐTM 1 Tân Hưng 2 Vĩnh Hưng 3 Mộc Hóa 4 Tân Thạnh 5 Thạnh Hóa 6 Đức Huệ 7 Bến Lức 8 Thủ Thừa
46
2 ĐTM là: 9219 mP
P/người, gấp 7,13 lần mức bình quân của 4 huyện vùng Hạ (của 4
2 huyện vùng Hạ chỉ có: 1050 mP
P/người, cho thấy tiềm năng sản xuất nông nghiệp
So sánh mức bình quân đất nông nghiệp trên dân số nông thôn ở 6 huyện vùng
trong vùng còn khá lớn, bình quân 1 hộ có 2,53 ha canh tác đất lúa trong khi bình
quân của tỉnh là 0,1 ha/hộ.
Do vậy, quy hoạch sản xuất nông nghiệp nói riêng và quy hoạch tổng thể KT-
XH tỉnh Long An nói chung cần đặc biệt quan tâm để có phương án sử dụng tối ưu
UNguồn lao động
nguồn nhân lực cho vùng trong thời gian sắp tới.
Đây vẫn là một vùng đất mới khai thác, lực lượng lao động còn mỏng và chất
lượng nguồn lao động còn thấp.
Bảng 2.6. Dân số trung bình năm 2011 phân theo giới tính, thành thị - nông thôn
theo đơn vị hành chính của vùng
Theo giới Theo thành thị và nông thôn Huyện Tổng số Thành thị Nông thôn Nam Nữ
Tân Hưng 48.205 51,59 48,41 10,69 89,31
Vĩnh Hưng 49.848 51,31 48,69 19,47 80,53
Mộc Hóa 69.830 51,02 48,98 23,26 76,74
Tân Thạnh 76.279 51,22 48,78 7,32 92,68
Thạnh Hóa 54.113 53,17 46,83 9,84 90,16
Đức Huệ 59.603 50,02 49,98 8,92 91,08
Thủ Thừa 5.758 44,04 55,96 18,8 81,2
Bến Lức 6.092 41,74 58,26 31,12 68,88
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Long An
Tổng số 369.728 51,23 49,77 13,6 86,4
- Số người trong độ tuổi lao động là 211.755 người, chỉ chiếm 27,69% lực
lượng lao động toàn tỉnh và trung bình mỗi hộ có 2,43 lao động/hộ dân. Trong đó,
lực lượng lao động tham gia hoạt động nông lâm thủy sản là 162.476 người (chiếm
47
76,8%), hoạt động công nghiệp 16.104 người (chiếm 7,6%), hoạt động thương mại -
dịch vụ và các hoạt động khác là 33175 người (chiếm 15,6%).
Nhìn chung, lao động nông nghiệp có xu hướng giảm chuyển sang công
nghiệp và dịch vụ, tốc độ giảm bình quân là 1,26%/năm nhưng nguồn nhân lực tập
trung chủ yếu khu vực nông lâm nghiệp - thủy sản, việc chuyển dịch cơ cấu lao
động diễn ra chậm. Bình quân đất nông nghiệp trên lao động khá cao 1,25 ha/lao
động, nên sản xuất nông nghiệp còn thiếu nguồn lao động.
Ngoài ra, do sản xuất nông nghiệp mang tính độc canh cao, kết hợp với lũ theo
mùa nên lao động có tính thời vụ rất cao, nên bố trí chuyển đổi cây trồng trong
tương lai cần đảm bảo tạo điều kiện áp dụng cơ giới hóa để giảm bớt lao động nặng
nhọc và tạo việc làm cho lao động trong lúc nông nhàn và trong mùa lũ.
- Thu nhập của dân cư còn thấp do điều kiện tự nhiên không thuận lợi và sản
xuất bị hạn chế, chỉ sản xuất lúa hoặc tràm, ngưng sản xuất trong mùa lũ, khả năng
thu hút đầu tư tại chỗ hạn chế, người dân ít mạo hiểm trong chuyển đổi cơ cấu cây
trồng vật nuôi.
Bảng 2.7. GDP và ngành sản xuất chính của các huyện vùng ĐTM
GDP GDP/người Huyện Ngành chính Sản phẩm chính (triệu đồng) (nghìn đồng)
Tân Hưng 739206 4352,7 Nông nghiệp Lúa gạo
Vĩnh Hưng 880065 19580,5 Nông nghiệp Lúa gạo
Mộc Hóa 956720 20699,7 Nông nghiệp Lúa gạo
Lúa gạo, lợn, Tân Thạnh 1006773 14260,2 Nông nghiệp gia cầm
Nông nghiệp, công Thạnh Hóa - - Lúa gạo nghiệp, dịch vụ
Đức Huệ 654752 11743,8 Nông nghiệp Thịt trâu
Thủ Thừa 1297000 18659,2 Nông nghiệp Lúa gạo
Nguồn: Niên giám thống kê các huyện thuộc vùng ĐTM - 2009
- - Bến Lức Nông nghiệp Mía
48
- Chất lượng lao động: Cùng với hàng loạt các chương trình khuyến nông về
áp dụng kĩ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp như chương trình “3 gỉam, 3 tăng”,
mô hình “1 phải, 5 giảm”, mô hình tiết kiệm tưới nước, liên kết 4 nhà… đã làm chất
lượng nguồn lao động trong vùng tang lên đáng kể trong vài năm trở lại đây.
Nhưng nguồn nhân lực của vùng, chất lượng còn hạn chế, chưa có lực lượng
lao động chuyên sâu, theo thống kê số người trong độ tuổi lao động và trên tuổi lao
động của cả vùng là 211.755 người, trong đó số người chưa qua đào tạo chiếm
91,7%, tỷ lệ lao động qua đào tạo hiện nay còn rất thấp 8,3%. Đây là một nguyên
nhân ảnh hưởng đến phát triển kinh tế vì nhân lực là nhân tố quan trọng hàng đầu
của lực lượng sản xuất.
Do đó, nên phải xem nguồn nhân lực hiện có là quý giá; song cần phải đào tạo,
tập huấn chuyển giao kỹ thuật, từng bước trang bị kỹ năng lao động, nâng cao mặt
bằng dân trí, trình độ chuyên môn cho người lao động, để họ có khả năng tiếp thu
và ứng dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất.
UHệ thống giao thông
2.2.3.3. Đánh giá hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ nông lâm ngư nghiệp
Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, hệ thông giao
thông trong vùng đã từng bước hình thành và phát huy tác dụng phục vụ phát triển
KT-XH, cùng với các cơ sở hạ tầng khác như điện, đô thị hóa… có nhiều khởi sắc
về số lượng và chất lượng ở đường xã, đường liên thông và đường nội đồng đã đánh
thức tiềm năng và xóa đi ấn tượng về một vùng sâu, vùng xa xôi, hẻo lánh, chậm
phát triển tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư vè khu vực nông thôn,
tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo và giải quyết nhiều vấn đề KT-XH khác.
- Về đường thủy: Được đánh giá là khá phát triển và khai thác tương đối có
hiệu quả. Vùng đã có các tuyến giao thông thủy quốc gia nối Tp. HCM và các
tỉnh ĐBSCL, ngoài các tuyến đường thủy ra, các sông lớn như Vàm Cỏ Đông,
2 giao thông thủy: 1.051,0 km cắm mốc chỉ giới, mật độ: 0,59 km/kmP
P đã đáp ứng
Vàm Cỏ Tây, còn có hệ thống kênh tạo nguồn, cấp I… Tổng chiều dài đường
49
khá tốt việc vận chuyển hàng hóa và hành khách với chi phí thấp hơn vận tải
đường bộ nhưng chất lượng và an toàn chưa cao.
- Về đường bộ: xét vai trò của giao thông đường bộ phục vụ sản xuất nông -
lâm - ngư nghiệp hàng hóa phát triển theo cơ chế kinh tế thị trường ở vùng vẫn
còn nhiều hạn chế. Năm 2011, tổng số xã có đường ô tô đến trụ sở Ủy ban nhân
dân xã là 66/71 xã (đạt 92,95%, năm 2006 đạt 75,32%) còn lại 3 xã ở huyện Tân
Hưng, 1 xã ở Thạnh Hóa, 1 xã ở Bến Lức. Chất lượng đường nông thôn cũng được
nâng cấp với tốc độ khá nhanh có 23/71 xã (đạt 32,40%) có đường được bê tông
hóa (năm 2006 có 11/71 xã đạt 15,49%). Số xã có đường trục xã, liên xã đã bê
tông hóa là 32/71 (đạt 45,07%) xã. Hệ thống giao thông đến các ấp cũng được
nâng cấp, phát triển mạnh để ô tô có thể đi đến, nhiều tuyến đường trong khu dân
cư, xóm, ấp… được bê tông hoặc rải sỏi.
+ Gồm các tuyến chính: Quốc lộ 62 dài: 76,0 km chạy từ Tân An đi Thạnh
Hóa - Tân Thạnh - Mộc Hóa; Tuyến Đông N1 từ chân cầu Đức Huệ, chạy theo
kênh 61 – hết đoạn kênh T7 đi Tân Thành (Tân Hồng – Đồng Tháp) có chiều dài
44,9km; Tuyến N2 (quốc lộ 1B) chạy song song tuyến N1, từ ngã năm Bo Bo (kênh
Bo Bo – kênh 61 – Trà Cú Thượng) theo kênh Mỹ Xuyên – Thạnh Hóa – Tân
Thạnh theo kênh Nguyễn Văn Tiếp ra Thị xã Cao Lãnh (Đồng Tháp), dài 30,2 km.
+ Các tuyến đường tỉnh lộ, huyện lộ, liên huyện đang được nâng cấp và xây
mới nhưng vùng hầu như còn thiếu đường giao thông đồng ruộng. Do đặc thù ngập
lũ sâu nền đầu tư giao thông bộ rất tốn kém và rất dễ hư hỏng, chưa kể đến việc tiêu
thoát lũ. Đây là vấn đề cần có sự kết hợp để có một quy hoạch thống nhất và đồng
bộ nhằm đạt hiệu quả cao hơn. Thực tế bất cập về giao thông đường bộ đã gây cản
UHệ thống điện
trở đáng kể cho thu hút đầu tư vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp cho vùng.
Phát triển nhanh mạng lưới điện ở nông thôn đã tạo điều kiện điện khí hóa
nông thôn, nông nghiệp và phục vụ đời sống. Nguồn điện cung cấp cho tỉnh Long
An gồm 03 tuyến: lưới truyền tải điện 220KV Phú Lâm - Cai Lậy, lưới truyền tải
điện 220KV Cai Lậy - Phú Mỹ và lưới truyền tải cấp điện áp 110KV. Với ĐTM
50
điện lưới quốc gia đã cấp cho 100% số xã, 98% số ấp. Số hộ có điện/tổng số hộ:
chiếm tỷ lệ 97,67%. Riêng ở nông thôn: chiếm tỷ lệ 97,19% (các hộ này năm trong
2 ấp thuộc huyện Tân Hưng và Đức Huệ).
Đây là chuyển biến rất tích cực trong chương trình đưa điện về nông thôn.
Điện từng bước được sử dụng cho công nghiệp, nhất là chế biến nông – lâm – thủy
sản, bơm nước, chạy máy tuốt… tạo bước chuyển phát triển mới trong sản xuất và
đời sống dân cư trong vùng. Song điện lượng sử dụng cho sản xuất nông nghiệp và
UHệ thống thủy lợi
thủy sản vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ.
(*)
P
PDiện tích đất
Bảng 2.8. Diện tích tưới của các công trình thủy lợi tỉnh Long An đến năm 2009
Tỷ lệ % so với Năng lực tưới Số Tên huyện trồng cây đất trồng cây CTTL (ha) TT hàng năm (ha) hàng năm
1 Tân Hưng 32.913,77 30.330,00 92,15
2 Vĩnh Hưng 30.407,08 26.873,00 88,38
3 Mộc Hóa 36.973,49 27.350,00 73,97
4 Tân Thạnh 28.307,75 24.877,00 87,88
5 Thạnh Hóa 20.853,11 19.804,00 94,97
6 Đức Huệ 25.676,48 23.032,00 89,70
7 Bến Lức 6526,64 17.154,00 88,68
8 Thủ Thừa 5396,40 17.410,00 99,00
(*)
Nguồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Long An, P
PSở Tài nguyên và Môi trường Long An.
- Trong đó, 05 huyện vùng ĐTM có: 168,0 ô có bờ bao lửng vùng hưởng lợi
thực tế đến năm 2008 là 40.388,0 ha. Trong đó: Tân Hưng: 12.900,0 ha, Vĩnh
Hưng: 11.624,0 ha, Tân Thạnh: 10.430,0 ha, Mộc Hóa: 4.512,0 ha và Thạnh Hóa:
922,0 ha. Các huyện còn lại có đê bao khép kín.
- Các công trình thủy lợi đã xây dựng mới chỉ đáp ứng yêu cầu cấp nước tưới
cho sản xuất lúa, đay, dưa hấu, đậu phộng Đông Xuân và rau luân canh trên đất lúa.
51
Năng lực tiêu và ngăn mặn hoạt động đạt mục tiêu khi tiến hành xây dựng công
trình theo thiết kế.
- Các bờ bao kiểm soát lũ cả năm và kiểm soát lũ tháng 8 của vùng ĐTM
chiếm tỷ lệ thấp, toàn vùng có 1105km, bao được 40.350 ha do các huyện quản lí.
- Năm 2011, toàn tỉnh đã có 83 trạm bơm nước phục vụ sản xuất nông lâm ngư
nghiệp trên địa bàn xã, bình quân mỗi xã có 0,5 trạm bơm nước. Riêng ĐTM đã có
64/71 xã có trạm bơm nước, có 76/83 trạm bơm nước của toàn tỉnh (các huyện Tân
Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Vĩnh Hưng, Đức Huệ đạt 100% xã có hệ
thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh, còn lại 7 xã của Thủ
Thừa và Bến Lức chưa có các trạm bơm nước nhưng hệ thống thủy lợi (sông, kênh,
rạch) vẫn đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh. Tổng chiều dài kênh, mương trên
địa bàn là 3693,45 km.
- So sánh diện tích tưới với đất trồng cây hàng năm của một số huyện có tỷ lệ
thấp nên hệ số sử dụng đất và năng suất lúa rất thấp do phải canh tác nhờ nước mưa
nên rất bị động về nước và rất khó áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào thâm canh.
- Hiện trạng hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi thủy sản nói chung và nuôi tôm
nước lợ nói riêng hầu như chưa đáp ứng cả về số lượng cũng như tính năng công
trình theo mục tiêu nuôi thủy sản. Đây được xem là hạn chế đối với thủy lợi của
vùng đến nay.
2.2.3.4. Đánh giá một số vấn đề xã hội ở vùng Đồng Tháp Mười
Hệ thống trường học các cấp ở khu vực nông thôn đã được xây mới, nậng
cấp và cơ bản xóa xong tình trạng trường tạm, lớp tạm.
- Đến 2011, có 71/71 số xã có trường tiểu học, đạt 100% (năm 2006 đạt
98,59%). Số xã có trường trung học cơ sở cũng tăng lên từ 52/71 năm 2006 xã đến
61/71 xã năm 2011 và có 3/14 trường trung học phổ thông của toàn tỉnh nằm ở đơn
vị cấp xã. Các lớp mẫu giáo, nhà trẻ đã phát triển, mở rộng đến thôn ấp, tạo điều
kiện thuận lợi cho học sinh không phải đi học xa, giảm tình trạng bỏ học, nhất là
vùng sâu, vùng xa. Trên đó, phong trào xây dựng và nâng cấp các trường học kiên
cố và bán kiên cố, xóa trường tạm, lớp tạm đạt nhiều kết quả khả quan hơn.
52
Y tế tiếp tục tăng cường khá toàn diện, thực sự trở thành tuyến chăm sóc
sức khỏe ban đầu cho dân cư
- Hệ thống y tế phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng cơ sở y tế, đội ngủ y
bác sĩ và cả cơ sở vật chất. Đến 2011, có 71/71 xã có trạm y tế, năm 2006 cũng là
100%.
- Tổng số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế có 63/71 xã bằng 88,73% tổng số xã.
Hầu hết các trạm y tế đã được kiên cố hóa hoặc bán kiên cố trên dưới 40%, trung
bình có 1,8 bác sĩ trên 10000 dân.
- Tuy nhiên, tuyến y tế xã hoạt động hạn chế, người bệnh không đủ tiền chi phí
cho điều trị, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn cao, ảnh hưởng đến tăng
trường thể trạng và sức khỏe cũa trẻ, đó là một nghịch lí cần giải quyết.
Cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã có những cải thiện
song vẫn là vấn đề bức xúc ở nhiều vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa.
- Vùng vẫn còn nhiều hạn chế về vệ sinh môi trường ở nông thôn qua hệ thống
thoát nước thải tập trung và thu gom rác sinh hoạt trên địa bàn đạt tỉ lệ rất thấp.
- Theo thống kê năm 2011, tòan vùng có 65 xã chiếm 91,54% tổng số xã (các
huyện đều đạt 100% trừ Mộc Hóa và Thủ Thừa) và 45.712 hộ dân đạt 57% toàn
vùng có hệ thống cung cấp nước sạch sinh hoạt tập trung, 37/65 xã và 43/82 ấp của
toàn tỉnh Long An có xây dựng hệ thống thoát nước chung, đây là kết quả khả quan
trong công tác vệ sinh môi trường của vùng.
- Các hoạt động thu gom rác thải trên địa bàn nông thôn còn thấp có 19/71 xã
và 37/330 ấp của vùng có thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn.
Mạng lưới thông tin văn hóa phát triển nhanh góp phần cải thiện đời sống
tinh thần của nhân dân.
- Nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng xã, ấp tiếp tục được đầu tư xây dựng,
cung cấp các địa điểm cho nhân dân trong ấp tham gia dự họp và sinh hoạt văn hóa.
Đến năm 2011, toàn vùng có 65/71 xã có điểm bưu điện văn hóa, đạt 91,54% tổng
số xã, 100% các xã có hệ thống loa truyền thanh phát tin và số ấp văn hóa cũng gia
tăng 193 ấp (2006 là 82 ấp)
53
2.2.3.5. Đánh giá tình hình liên kết nông - công nghiệp – dịch vụ
- Hệ thống các cơ sở chế biến nông lâm thủy sản phát triển cả về số lượng lẫn
chất lượng, năng lực phục vụ, từng bước gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông
sản ở nông thôn.
- Số lượng các cơ sở chế biến nông sản tăng nhanh trong những năm gần đây
và hầu hết các xã đều có các cơ sở chế biến nông phục vụ hoạt động sản xuất. Năm
2011, 58/71 xã có hộ/cơ sở chế biến nông sản, 273 số hộ/cơ sở chuyên chế biến
nông sản (năm 2006 chỉ có 187 hộ/cơ sở); 36 xã có hộ/cơ sở chuyên chế biến lâm
sản phân bổ rải đều trên tất cả các huyện của vùng, riêng số xã có hộ/cơ sở chuyên
chế biến thủy sản chỉ có tại Thạnh Hóa (3 xã), Đức Huệ (2 xã) và Vĩnh Hưng (1 xã).
Có 2 xã có cụm hoặc khu công nghiệp thuộc Tân Thạnh và Thạnh Hóa.
- Nhìn chung, công nghiệp chế biến của vùng còn rất yếu kém, điển hình với
sản lượng lúa bình quân 2,16 triệu tấn nhưng công nghiệp xay xát gạo chỉ thực hiện
chưa đầy 1 triệu tấn, phần còn lại phải vận chuyển ra ngoài tỉnh. Diện tích trồng
tràm cừ hơn 50000 ha nhưng chưa có cơ sở công nghiệp chế biến gây trở ngại cho
khâu tiêu thụ.
- Đồng thời, các chợ vùng nông thôn đã kiên có hóa từng bước, nhưng tỉ lệ chợ
trên địa bàn xã đạt tiêu chuẩn còn thấp so với yêu cầu. Năm 2011, có 23 xã có chợ,
chiếm 32,39% tổng số xã của vùng. Các chợ được xây dựng kiên cố, bán kiên cố
trên địa bàn xã cũng tăng lên so với năm 2006 là 21,32% tăng lên 28,6% vào 2011.
- Thống kê xã có cơ sở bán giống cây trồng vật nuôi chỉ chiếm tỉ phần nhỏ của
tỉnh 13 cơ sở (tỉnh là 37); cung ứng giống thủy sản 6/20 xã của tỉnh; số cửa hàng
bán vật tư cho sản xuất 59/139 xã của tỉnh; số cơ sở cung cấp vật tư cho sản xuất
nông lâm thủy sản trên địa bàn xã là 209/417 cơ sở toàn tỉnh, trung bình mỗi xã có
3,1 cơ sở cung cấp vật tư cho sản xuất nông lâm thủy sản trên địa bàn; số cơ sở thu
mua sản phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn xã phần lớn được chuyển về tập trung
ở Mộc Hóa với 122 cơ sở, Thạnh Hóa với 57 cơ sở, còn các huyện khác rất ít hoặc
không có cơ sở thu mua nào.
54
- Vấn đề kho chứa các sản phẩm nông nghiệp là rất quan trọng nhất là trong
mùa thu hoạch tập trung, được phân hóa rải đều ở các huyện có từ 1 đến 2 kho
chứa. Các cơ sở và cửa hàng sữa chữa, bảo trì máy móc thiết bị phục vụ sản xuất
cũng được quan tâm đầu tư đạt 68,6% cho mỗi xã trên địa bàn huyện.
- So với yêu cầu hiện trạng cơ giới hóa nông nghiệp còn thấp, nhất là máy làm
đất, máy tuốt đến mùa phải thuê từ các tỉnh khác Bến Tre, Trà Vinh – những nơi
này có mùa vụ khác với ĐTM.
- Năm 2011, toàn vùng có 5225 chiếc máy kéo lớn có công suất từ 12CV đến
35 CV trở lên (bình quân 0,065 chiếc/hộ nông dân); có 5046 chiếc máy kéo nhỏ có
công suất 12CV trở xuống (bình quân 0,063 chiếc/hộ nông dân); máy gieo sạ có
1322 chiếc (bình quân 0,016 chiếc/hộ nông dân), nhiều nhất là Tân Thạnh 848
chiếc; máy bơm nước có 39438 chiếc (trung bình 0,49 chiếc/hộ nông dân); máy gặt
đập liên hợp 1187 chiếc; máy tuốt lúa có 703 chiếc; …
- Hệ thống tín dụng mở rộng và tăng nhanh, tạo điều kiện thuận lợi cho dân cư
tiếp cận nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống. Trong đó, có các chi
nhánh tín dụng mở ra trên địa bàn xã rất ít, hầu như không có chỉ tập trung ở trung
tâm hành chính huyện.
- Hoạt động thương mại trong chuỗi giá trị từ sản xuất đến thu mua - tiêu thụ
nông – lâm - thủy sản hàng hóa chưa theo kịp yêu cầu bởi trên thực tế đảm nhận
khâu thu mua chủ yếu là thương lái quy mô nhỏ, kinh doanh thiếu tính chuyên
nghiệp, ít vốn và thiếu thông tin thị trường được cập nhật. Các chợ nông thôn, Trung
tâm thương mại huyện ở khu vực bán hàng nông thủy sản tươi sống rất nhỏ hẹp, lầy lội
và mất vệ sinh nên khó có thể gia tăng sức tiêu thụ.
Các nông sản hàng hóa là đặc sản nổi tiếng của Long An như: gạo nàng thơm
Chợ Đào, dứa Bến Lức, thanh long Châu Thành, khoai mỡ… và các tiềm năng nuôi
thủy sản nước ngọt nhất là cá đồng ở các huyện vùng ĐTM của tỉnh Long An đang
bị mai một dần hoặc vẫn chỉ là tiềm năng do trên địa bàn tỉnh còn thiếu vắng các
nhà doanh nghiệp hoạt động thương mại có tâm huyết, giàu năng lực thực sự về vốn
55
và kỹ năng quản trị kinh doanh kết nối được các kênh tiêu thụ lớn ở thị trường trong
nước và xuất khẩu.
2.3. Thực trạng Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp vùng Đồng Tháp Mười
2.3.1. Hoạt động của các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh
UHộ nông dân:
Long An
- Theo điều tra thời điểm 01/7/2006, toàn tỉnh có 266.983 hộ sống ở nông thôn và
hộ sản xuất nông, lâm, thủy sản ở thành thị, so với năm 2001 tăng 17.049 hộ (bình quân
một năm tăng 3.409 hộ)
- Nhân khẩu bình quân một năm giảm, năm 2001 là 4,52 người/hộ, năm 2006 là
4,22 người/hộ, lao động bình quân trong một hộ gia đình năm 2006 là 2,47 người/hộ so
2 2 ha, các huyện vùng hạ chỉ có 3.348mP P/hộ - huyện Châu P/hộ - huyện Cần Giuộc, 5.169 mP
với năm 2001 là 2,49 người/hộ. Đất sản xuất nông nghiệp bình quân cho một hộ là 1,13
Thành. Do vậy, sản xuất kinh doanh nông nghiệp của hộ có quy mô nhỏ đang được xem
là hạn chế đối với phát triển nông nghiệp hàng hóa theo cơ chế kinh tế thị trường bởi đất
ít, vốn nhỏ, số lượng sản phẩm không đủ lớn, nông hộ thường ít quan tâm đến đầu tư
thay đổi công nghệ và công cụ quản lí, đặc biệt là các sản phẩm hàng hóa của từng hộ
UKinh tế trang trại:
sản xuất rất khó cạnh tranh trên thị trường
- Hiện trạng kinh tế trang trại theo báo cáo ngày 02/7/2009 của Chi cục Phát
triển nông thôn tỉnh Long An, tính đến ngày 01/8/2008 toàn tỉnh có: 3.336 trang
trại, trong đó: trồng trọt: 2.767 trang trại, chăn nuôi: 487 trang trại, lâm nghiệp: 31
trang trại và 15 trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp.
- Một số chỉ tiêu bình quân về kinh tế trang trại năm 2008 như sau: Diện tích
đất sử dụng: 5,7 ha/trang trại. Vốn đầu tư: 144,6 triệu đồng/trang trại. Lao động: 7,0
người/trang trại
- Phân loại kinh tế trang trại năm 2008: 61,4% số trang trại đạt loại khá, loại
trung bình: 36,53%, xếp loại yếu có: 2,07% so với tổng số trang trại.
- Số trang trại được cấp giấy chứng nhận rất ít: 57 trang trại, chiếm: 1,71%.
56
- So sánh các chỉ tiêu tổng hợp về kinh tế trang trại đều tăng đáng kể (ngoại trừ
trang trại lâm nghiệp). Đặc biệt, tổng số vốn đầu tư cho tỷ trọng tăng 275,139 tỷ
đồng, vốn đầu tư 1 trang trại tăng 81,5 triệu đồng và thu nhập bình quân 1 trang trại
cũng tăng 36,5 triệu đồng. Đến 01/07/2006 với 2.994 trang trại đã cho thu nhập trước
thuế: 203.548,4 triệu đồng với trang trại trồng trọt: 179.664,9 triệu đồng; trang trại
chăn nuôi: 16.029,1 triệu đồng; trang trại lâm nghiệp: 1.364,6 triệu đồng; trang trại
thủy sản: 3.881,6 triệu đồng và trang trại kinh doanh tổng hợp: 2.503,2 triệu đồng.
- Thực tế hoạt động của loại hình kinh tế trang trại đã góp phần làm thay đổi
cơ cấu cây trồng vật nuôi, tích cực áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm
tăng năng suất, chất lượng và sử dụng tài nguyên đất nước hợp lý đem lại hiệu quả
kinh tế cao hơn. Kinh tế trang trại là tiền đề cho việc mở rộng quy mô sản xuất, gia
tăng tỷ trọng nông sản hàng hóa có chất lượng, tạo việc làm, tăng thu nhập và thực
hiện CNH-HĐH nông nghiệp.
Kinh tế hợp tác trong nông - lâm - ngư nghiệp:
- Tính đến 31/12/2008 kinh tế hợp tác tỉnh Long An có các loại hình sau đây:
+ Tổ hợp tác: 6.712 thu hút 85.311 thành viên
+ HTX nông nghiệp: 25 HTX với tổng số 1.018 xã viên (bình quân 1 HTX có
41 xã viên). Phân loại đánh giá hoạt động sản xuất - kinh doanh có: 10 HTX xếp
loại khá (chiếm 40%); 12 HTX xếp loại trung bình (chiếm 48%) và 3 HTX xếp
loại yếu (chiếm 22%).
- Sáu tháng đầu năm 2009 đã thành lập thêm 02 HTX với 60 xã viên. Cuối năm
2011, toàn tỉnh có 2.361 tổ hợp tác, 78 HTX và 01 Liên hiệp HTX, trong đó có 34
HTX nông nghiệp (chiếm 43,59%), 44 HTX phi nông nghiệp (chiếm 56,41%).
Tổng số xã viên tham gia HTX là 40.298 xã viên.
Đây là loại hình kinh tế hợp tác rất quan trọng. Có chính sách mới tháo gỡ khó
khăn để tổ hợp tác và HTX phát triển mạnh song trên thực tế loại hình kinh tế hợp tác
nhất là HTX nông nghiệp phát triển chậm, hiệu quả chưa cao.
2.3.2. Thực trạng sử dụng đất vùng Đồng Tháp Mười
Đất nông nghiệp của vùng đạt 262131 ha chiếm 87,53% tổng diện tích tự
nhiên của vùng, chia thành đất trồng lúa nước chiếm 77,36%, đất lâm nghiệp 48330
57
ha chiếm 18,43%, đất trồng cây lâu năm chiếm 0,02%, đất nuôi trồng thủy sản
chiếm 0,005% và 9479 ha đất nông nghiệp khác chiếm 0,036%. Trong giai đoạn
2006 đến 2011 xu hướng biến động đất nông nghiệp rất đa dạng tùy thuộc vào từng
loại đất, từng vùng trong đó quan trọng nhất là đất sản xuất nông nghiệp.
Đất trồng cây hàng năm đạt 207.525 ha năm 2011 tăng 20.972 ha gấp 1,11 lần so
với năm 2006. Trong đó, đất trồng lúa, vì đây là cây trồng chủ lực và liên quan trực
tiếp đến an ninh lương thực quốc gia, đất trồng lúa được xem là quan trọng nhất và
chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu cây trồng hàng năm. Năm 2011 diện tích trồng lúa đạt
202.786 ha tăng 30.214 ha so với năm 2006 gấp 1,18 lần. Chủ yếu tập trung tại 5
huyện trung tâm ĐTM (Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Mộc Hóa)
với 25 xã nằm trong diện quy hoạch vùng lúa chất lượng cao cho vùng nói riêng và
cả tỉnh nói chung tới giai đoạn 2020 với diện tích tự nhiên 105.536 ha.
Đất trồng cây lâu năm đạt 6.023 ha (2011) tăng 355 ha gấp 1,06% so với 2006.
Các huyện vùng Đồng tháp Mười
Diện tích
TT Chỉ tiêu
Tân
Vĩnh
Mộc
Tân
Thạnh
Đức
Bến
Thủ
(ha)
Hưng
Hưng
Hóa
Thạnh
Hóa
Huệ
Lức
Thừa
TỔNG DIỆN TÍCH ĐẤT
299,442
49,671
38,473
50,192
42,595
46,837
43,175
12,539
15,960
TỰ NHIÊN
1
Đất nông nghiệp
262,131
43,761
34,234
44,565
37,307
39,275
37,099
11,251
14,639
1.1 Đất lúa nước
202,786
36,999
31,225
39,565
30,559
20,635
21,114
9,053
13,636
Trong đó: đất trồng lúa 2
194,578
36,999
31,225
37,079
28,920
20,635
19,177
8,526
12,017
vụ trở lên
Đất trồng cây lâu
6,023
399
208
272
1,740
358
1,754
957
335
1.2
năm
1.3 Đất rừng phòng hộ
1,569
-
10
142
-
1,417
-
-
-
1.4 Đất rừng đặc dụng
2,000
1,200
-
800
-
-
-
-
-
1.5 Đất rừng sản xuất
38,738
4,717
2,107
3,104
4,440
11,820
10,734
1,219
597
Đất nuôi trồng thuỷ
1.6
1,536
381
261
265
231
141
164
22
71
sản
2
Đất phi nông nghiệp
37,311
5,910
4,239
5,627
5,288
7,562
6,076
1,288
1,321
Nguồn Tổng cục thống kê tỉnh Long An, năm 2011.
Bảng 2.9. Hiện trạng sử dụng đất của vùng phân theo huyện – thị
58
Đất lâm nghiệp đạt 48330 ha vào năm 2011 so với năm 2006 giảm 12024 ha
(giảm 12,48%). Nguyên nhân đất lâm nghiệp giảm chủ yếu là do ở một số vùng do
việc đô thị hóa, công nghiệp hóa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ lâm nghiệp
sang nông nghiệp.
Đất nuôi trồng thủy sản, toàn vùng có 1536 ha năm 2011 so với năm 2006 tăng
642 ha, gấp 1,72 lần.
Chất lượng đất được đánh giá bằng các chỉ tiêu lí hóa và còn thông qua khả
năng sử dụng đất. Trên cơ sở đó đất của vùng chia thành 2 nhóm đất lớn: đất không
phèn và đất phèn. Trong nhóm đất không phèn chia thành:
- Đất phù sa là đất có độ phì nhiêu cao, ít hoặc không có yếu tố hạn chế. Hạn
chế chỉ thấy trên đất phù sa gley và đất phù sa trên nền phèn, nó thường ngập nước
sâu và có phản ứng chua. Chiếm 10,61% cơ cấu sử dụng đất.
- Đất xám thì hình thành trên phù sa cổ, địa hình thường cao, thành phần cấp
hạt thô, đã trãi qua một quá trình xói mòn và rửa trôi rất lâu đời nên các chất dinh
dưỡng rất nghèo; đất xám trên địa hình thấp, dinh dưỡng khá nhưng thường xuyên
bị ngập nước trong mùa mưa, phản ứng chua. Chiếm 24,21% cơ cấu sử dụng đất.
- Đất phèn là loại đất trở ngại nhất so với các loại đất khác trong vùng, nó chứa
các chất độc hại cho cây trồng. Chiếm 59,04% cơ cấu sử dụng đất.
- Thực tế chuyển đổi loại hình sử dụng đất giữa đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp
và đất nuôi thủy sản đã đang và sẽ tiếp tục diễn ra nhằm tận dụng yếu tố môi trường
tạo ra nông thủy sản hàng hóa có lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
- Ở vùng ĐTM: hiện nay 01 ha tràm trồng 6 - 7 năm chỉ bán được 20,0 -
25,0 triệu đồng, tiền lãi của 1 năm trồng tràm < 1,0 triệu đồng trong khi trồng lúa
chỉ có 4 tháng/vụ có lãi và thu nhập cao hơn trồng tràm. Do đó, khi tràm hết chu
kỳ lại trồng trên đất phèn hoạt động sâu (Sj2), có nước ngọt quanh năm nông dân
và cán bộ đều cho rằng nên chuyển sang trồng lúa theo chủ trương hạn chế giảm
quỹ đất lúa và nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. (Diện tích tràm hội
đủ các điều kiện sẽ chuyển từ năm 2010 đến 2020 khoảng: 4.000 - 5.000 ha).
59
- Đất trồng lúa ở các huyện ĐTM có hệ số quay vòng đất lúa cao nhất là Đức
Huệ 2,23 lần/năm, từ 1,70 lần/năm (Thạnh Hóa) đến 2,11 lần/năm (Tân Thạnh)
còn các huyện Mộc Hóa - Vĩnh Hưng - Tân Hưng giao động từ 1,73 lần/năm -
1,87 lần/năm trong trường hợp xây dựng bờ bao kiểm soát lũ và trạm bơm điện có
thể tăng hệ số quay vòng đất lên 1,95 lần/năm - 2,0 lần/năm vào 2020 (tăng thêm
0,1 - 0,15 vòng/năm) ở các huyện còn lại.
2.3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp của vùng
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn là chính sách lớn của Đảng
và nhà nước ta trong thời kì đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước,trong đó trọng tâm là
CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2006 – 2010 trong Nghị quyết Đại hội X
của Đảng khẳng định: “ Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, giảm
nhanh tỉ trọng làm nông nghiệp, tăng tỉ trọng làm công nghiệp và dịch vụ.”
Chuyển dịch trong cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp:
Tốc độ tăng GTSX nông - lâm - ngư nghiệp 5 năm (2001 - 2005) đạt khá:
9,26%/năm, 6 năm tiếp theo (2006 - 20011) tăng 7,58%/năm. Trong đó, nông
nghiệp tương ứng là: 8.83%/năm và 9,12%, lâm nghiệp: 5,92% và -0,07%, thủy sản
tăng cao trong 5 năm (2001 - 2005): 22,81% nhờ tăng diện tích nuôi thủy sản, sau
đó tăng chậm lại trong 6 năm (2006 - 2011): 0,44%.
Cơ cấu GTSX nông - lâm - ngư nghiệp chuyển đổi chậm, trong đó GTSX nông
nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao khi so sánh năm 2000 với năm 2011 như sau: 76,3%
- 91,7%, kế đến là lâm nghiệp: 19,7% - 5,0% và thấp nhất là ngư nghiệp: 4,0% -
3,3% so với tổng GTSX.
Tăng trưởng GTSX và chuyển dịch GTSX nội bộ ngành nông nghiệp, lâm
nghiệp và thủy sản trong vùng từ năm 2000 đến năm 2011:
- Tăng trưởng GTSX và chuyển dịch cơ cấu GTSX nông nghiệp:
+ GTSX ngành trồng trọt tăng khá ổn định, 5 năm (2001 - 2005) tăng 5,2
%/năm và 6 năm (2006 - 2011) tăng 5,3%/năm, tương ứng chăn nuôi tăng chậm:
2,0%/năm (2001 - 2005) và tăng khá cao ở 6 năm tiếp theo: 8,4%/năm.
60
Tốc độ tăng bình
quân (%/năm)
Năm
Năm
Năm
HẠNG MỤC
ĐVT
2000
2005
2011
2001 -
2006 -
2005
2009
I. GTSX nông
nghiệp
1. Theo giá 1994
Tỷ đồng
1327,527
2067,037
3205,095
9.26
7.58
- Nông nghiệp
Tỷ đồng
1079,880
1648,720
2783,285
8.83
9.12
- Lâm nghiệp
Tỷ đồng
187,221
249,542
248,552
5.92
-0.07
- Ngư nghiệp
Tỷ đồng
60,4
168,8
173,3
22.81
0.44
2. Theo giá hiện
hành
Tỷ đồng
1.835,006
4.165,558
16.000,680
- Nông nghiệp
Tỷ đồng
1400,720
3419,807
14831,660
- Lâm nghiệp
Tỷ đồng
361,460
567,338
799,795
- Ngư nghiệp
Tỷ đồng
72,8
178,4
514,4
Trong đó: Cơ cấu
GTSX
%
100.0
100.0
- Nông nghiệp
%
76.3
82.1
91.7
- Lâm nghiệp
%
19.7
13.6
5.0
- Ngư nghiệp
%
4.0
4.3
3.3
Nguồn: Niên giám thống kê các huyện Vùng Đồng Tháp Mười
Bảng 2.10. GTSX và cơ cấu GTSX nông lâm ngư nghiệp vùng Đồng Tháp Mười
+ Trong GTSX ngành trồng trọt, cây ngắn ngày có tốc độ tăng GTSX cao nhất,
trong đó lúa là cây chủ lực chiếm tỷ trọng cao trong ngành trồng trọt có GTSX tăng
khá ổn định: 4,6%/năm. GTSX ngành trồng trọt luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng
GTSX nông nghiệp, năm 2005: 77,16 %, và năm 2011: 65,26%, chăn nuôi tuy có tăng
GTSX nhưng vẫn chỉ chiếm tỷ lệ tương ứng: 11,8% - 15,1% chứng tỏ lợi thế về chăn
nuôi của vùng ĐTM chưa được tận dụng phát huy triệt để.
- Tăng trưởng GTSX và chuyển dịch cơ cấu GTSX lâm nghiệp:
+ GTSX lâm nghiệp tăng không ổn định, giai đoạn 2001 - 2005 tăng: 5,92
%/năm nhưng 6 năm sau (2006 - 2011) tăng giảm không ổn định (2006 tăng 1,4%,
61
2007 giảm -1,0%, 2008 giảm -1,9% và 2009 tăng +1,1%, 2010 là -0,24% và 2011
là 1,27%), đặc biệt GTSX trồng và nuôi rừng giảm mạnh (2007 giảm 30,4%, 2008
giảm 28,2%, …).
+ GTSX khai thác gỗ và lâm sản chiếm tỷ trọng cao, năm 2011 đạt: 782,161
tỷ đồng (chiếm: 97,80%), trồng và nuôi rừng: 4,792 tỷ đồng (chiếm 1,91%) và
dịch vụ lâm nghiệp: 12,214 tỷ đồng (chiếm: 1,52%) so với tổng GTSX lâm nghiệp
(theo giá hiện hành).
- Tăng trưởng GTSX và chuyển dịch cơ cấu GTSX ngư nghiệp:
+ GTSX ngư nghiệp tăng trưởng thiếu ổn định, 5 năm (2001 - 2005) tăng rất
cao, đạt: 22,81%/năm nhưng 6 năm sau chỉ tăng 0,44%/năm. Điều này cho thấy ngư
nghiệp phát triển kém bền vững. Trong tổng GTSX ngư nghiệp, mức tăng chủ yếu là
nuôi trồng thủy sản, còn khai thác thủy sản lại giảm: từ 45,06% (2000) chỉ còn
31,89%. Cơ cấu GTSX nuôi thủy sản năm 2000: 54,94%, đến năm 2011 đã là:
66,92% chứng tỏ chuyển đổi GTSX ngư nghiệp là rất đáng ghi nhận, giai đoạn 2011 -
2020 nuôi thủy sản tiếp tục tăng lên 75 - 80% GTSX ngư nghiệp và sẽ là ngành sản
xuất chính.
Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề các hộ nông dân có nhiều tiến bộ:
- Số hộ nông thôn tại thời điểm 2011 là 83914 hộ dân (trung bình mỗi hộ có
3,8 nhân khẩu), tăng 13749 hộ so với năm 2006 (trung bình mỗi hộ có 4,1 nhân
khẩu, tăng nhanh nhất ở các huyện Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Đức Huệ…
2006
2011
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
Hình 2.4. Cơ cấu ngành sản xuất chia theo nông hộ
62
- Trong giai đoạn 2006 – 2011 cơ cấu ngành nghề của các hộ có sự chuyển
dịch theo hướng tích cực: giảm số lượng và tỷ trọng số hộ sản xuất nông lâm ngư
nghiệp và tăng số lượng tỷ trọng số hộ sản xuất công nghiệp xây dựng và dịch vụ.
- Cơ cấu ngành sản xuất chia theo hộ có sự thay đổi theo hướng tích cực phù
hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra khá nhanh nhất là khu vực I, tỉ
trọng thay đổi rất thấp từ 2006 đến 2011 giảm 10,7%. Điểm đáng quan tâm là các
huyện phía Bắc ĐTM tỷ trọng hộ công nghiệp – xây dựng và dịch vụ hầu như
không thay đổi. Đây là những nơi mà các hộ sản xuất nông lâm ngư nghiệp không
thay đổi chiếm đa số (trên 80%).
- Cơ cấu hộ phân theo thu nhập cũng có sự thay đổi, chuyển dịch tương tự theo
ngành nghề. Năm 2011, hộ có nguồn thu nhập chính từ nông lâm ngư nghiệp chiếm
87% tổng số hộ, từ công nghiệp và xây dựng là 8% tổng số hộ, từ dịch vụ là 5%
tổng số hộ, năm 2006 tương ứng với tỉ lệ là 89,3%; 4,5% và 6,2 tổng số hộ.
Cơ cấu ngành nghề của lao động nông thôn cũng có sự chuyển dịch nhanh
hơn cơ cấu ngành nghề của hộ:
- Sự chuyển dịch này có liên quan tới cơ cấu ngành nghề của hộ nông thôn và
qui mô và tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động trong khu vực này. Năm 2011, số
người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người trên độ tuổi lao
động (trừ học sinh, sinh viên) là 211755 người, tăng 32133 người so với năm 2006.
Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động trong cơ cấu ngành thể hiện như sau: nông lâm
ngư nghiệp có 162476 người chiếm 76,8%, công nghiệp – xây dựng có 16104 người
chiếm 7,6% và dịch vụ 33175 người chiếm 15,6% vào năm 2011, tương ứng năm
2006 là 82,1%; 5,3% và 12,6%.
Trình độ chuyên môn của lao động nông thôn bước đầu có những khởi sắc,
đã được nâng lên từng bước nhưng còn rất chậm so với yêu cầu:
- Về đào tạo nghề cho nông dân, Nghị quyết Đại hội X nhấn mạnh việc chú
trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và lao động nông thôn, nhất là các
khu vực nhà nước thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ tầng và cơ sở phi nông nghiệp.
Qua đó, nhiều chính sách và Chương trình đào tạo nghề cho nông dân được thực
63
hiện và tổ chức rộng rãi. Với sự hỗ trợ của nhà nước các chương trình đào tạo nghề
miễn phí, trình độ chuyên môn kĩ thuật của người lao động được nâng lên. Năm
2011, số người trong độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật từ sơ cấp trở
lên chiếm tỷ lệ rất thấp 8,3%, lao động chưa qua đào tạo chiếm 91,7% tương ứng tỉ
lệ năm 2006 đạt 3% và 97%.
2.3.4. Tình hình sản xuất nông nghiệp của vùng Đồng Tháp Mười
2.3.4.1. Ngành nông nghiệp
Diện tích đất nông nghiệp của vùng đạt 262.313 ha năm 2011. Do đặc thù của
vùng chịu ảnh hưởng của ngập lũ, dịch bệnh, xâm nhập mặn và tác động của biến
đổi khí hậu… dẫn đến thời tiết thất thường ảnh hưởng lớn đến quy luật sản xuất
nông nghiệp. Và, sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp đo quá trình công nghiệp
hóa, đô thị hóa diễn ra với quy mô ngày càng mở rộng. Song với chủ trương chính
sách khuyến khích sản xuất nông sản hàng hóa qua các hình thức tổ chức sản xuất
phù hợp với đặc trưng: hộ nông dân, trang trại, HTX… của vùng kết hợp các mô
hình sản xuất: cánh đồng mẫu lớn, VAC, VAR, sự chủ động sáng tạo của các hộ
nông dân, chủ trang trại nên sản xuất của ngành nông nghiệp đạt khá nhiều kết quả.
Đánh giá thực trạng sản xuất ngành trồng trọt của vùng Đồng Tháp Mười
Ngành trồng trọt của vùng luôn chiếm tỉ trọng cao so với các ngành khác trong
nông – lâm - ngư nghiệp: năm 2000 là 80,6%, 2005 là 80,2% và năm 2011 là
72,8%. Cơ cấu cây trồng chính bao gồm vụ Đông Xuân, Hè Thu là chủ yếu, chuyên
trồng tràm, rau đậu, chuyên một số cây trồng phù hợp đặc trưng từng huyện: chuyên
cây khoai mỡ (Thạnh Hóa), ngô (Đức Huệ, Mộc Hóa), đay (Thạnh Hóa, Mộc Hóa),
mía – lạc – chanh (Đức Huệ), dứa – chanh (Bến Lức)…
Về tăng vụ cây hàng năm:
Diện tích cây hàng năm tăng qua liên tục các năm (chi tiết Phụ lục bảng 11)
chủ yếu do thâm canh, tăng vụ, chuyển đổi cây trồng… Diện tích cây trồng hàng
năm đạt cao nhất đạt 337.068 ha vào năm 2011, so tốc độ tăng bình quân trong 10
năm từ 2001 đến 2011 tăng 1,53%/năm, giai đoạn 2001 – 2006 tốc độ tăng chỉ đạt
0,97%/năm nhưng 5 năm tiếp theo 2006 – 2011 tốc độ tăng nhanh và đạt gấp đôi so
64
với gia đoạn trước 2,09%/năm, so với năm 2000 tăng 67.016,5 ha. Trong các loại
cây trồng có tốc độ tăng nhanh nhất là bắp 17,04%/năm, đậu phộng 13,52%/năm,
rau dưa thực phẩm 10,08%/năm so với năm 2001.
Hệ số quay vòng trên đất lúa canh tác cũng gia tăng năm 2011 đạt 2,23
lần/năm, kết hợp với diện tích cây gieo trồng hàng năm cho thấy tiềm năng của
vùng đã được tận dụng triệt để. Năng suất lúa Đông Xuân ở các huyện đất phèn rất
cao, tăng gần như liên tục qua các năm từ 4,86 tấn/ha năm 2000 lên 6,22 tấn/ha năm
2011 năm (Năng suất vụ Đông Xuân năm 2000 đạt 5,78 tấn/ha – Tân Thạnh, 5,38
tấn/ha – Tân Hưng, 5,17 tấn/ha – Vĩnh Hưng, 3,70 tấn/ha – Thạnh Hóa đến năm
2011 tương ứng là 6,79 tấn/ha, 6,41 tấn/ha, 6,42 tấn/ha, 6,17 tấn/ha). Nguyên nhân
là do được gieo trồng sau khi lũ rút được thừa hưởng một lượng phù sa khá lớn và
màu mỡ, là mùa vụ có thới tiết khá lí tưởng để cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt
và là cây truyền thống nên nông dân tích lũy nhiều kinh nghiệm.
Huyện Đức Huệ trong vùng canh tác thêm vụ lúa Hè Thu nhưng năng suất
thấp và rất bấp bênh do khí hậu thời tiết không thuận lợi, hạn đầu vụ và ngập cuối
vụ. Năng suất năm 2000 chỉ 2,10 tấn/ha đến năm 2002 đạt 2,27% tấn/ha. Bến Lức
năng suất rất thấp 2,0 tấn/ha năm 2000 xuống còn 1,59 tấn/ha. Đây là đối tượng
chuyển đổi cây trồng chính trong thời gian tới.
Về phát triển sản xuất ngành trồng trọt:
- Trồng trọt không những là ngành sản xuất chính của riêng nông nghiệp mà
còn của chung nền kinh tế của vùng ĐTM. Các loại cây hàng năm chính của vùng là:
lúa, bắp, mía, đậu phộng, đay, mè, rau đậu, khoai mỳ, cói, khoai lang… trong đó cây
lúa được xem là cây trồng chủ lực. Qua 10 năm (2000 - 2010) năng suất tăng, chứng
tỏ giải pháp ứng dụng khoa học – công nghệ trong thâm canh tăng năng suất cây trồng
mang lại kết quả.
- Diện tích đất trồng lúa năm 2011 đạt 335.009 ha, tăng 63561 ha so với năm
2001, năng suất đạt 5,50 tấn/ha tăng 1,50 tấn/ha so với năm 2000, tốc độ tăng sản
lượng lúa tăng nhanh bình quân đạt 4,73%/ năm. Trong đó,
65
+ Vụ lúa Đông Xuân là vụ có diện tích, năng suất, sản lượng chủ lực của tỉnh.
Năng suất vụ Đông Xuân của vùng đạt 4,58 tấn/ha năm 2001 tăng lên 6,22 tấn/ha năm
2011, cao nhất là huyện Tân Thạnh 6,79 tấn/ha, Vĩnh Hưng 6,42 tấn/ha, Tân Hưng
6,41 tấn/ha, Mộc Hóa 6,35 tấn/ha. Sản lượng lúa cũng tăng nhanh từ 1.037.378 tấn năm
2001 lên 1.841.532 tấn năm 2011.
+ Vụ lúa Hè Thu diện tích tăng nhanh do chuyển từ diện tích trồng tràm sang
trồng lúa, một số vùng có diện tích tăng do nằm trong hệ thống đê bao ngăn lũ, ngăn
mặn hiện nay dần phát huy tác dụng, bên cạnh áp dụng khoa học – công nghệ mới vào
sản xuất hiệu quả hơn. Năng suất tăng từ 2,58 – 4,71 tấn/ha giai đoạn 2001– 2011
+ Sản lượng bình quân lượng thực theo đầu người năm 2011 đạt 5300
kg/người/năm tăng 1277 kg/người/năm so với năm 2005. Sự gia tăng sản xuất lúa
phát triển một cách toàn diện cả về số lượng và chất lượng của vùng góp phần đáng
kể vào việc gia tăng sản lượng lúa của tỉnh Long An, đảm bảo an ninh lương trong
và ngoài tỉnh, góp phần gia tăng xuất khẩu gạo.
- Ngoài lúa là cây trồng chính, nông dân trong vùng còn chú trọng phát triển
các loại cây ngắn ngày, từng bước đưa các cây trồng luân canh với lúa, nhằm đa
dạng hóa cây trồng như: mía, đay, khoai mỡ, rau…
+ Mía thích hợp trên vùng đất phèn, ngập nông, đất đã lên líp tập trung ở các
huyện Đức Huệ, Thủ Thừa và Bến Lức với diện tích 11.480 ha năm 2011 giảm so
với năm 2001 là 2488 ha, tốc độ tăng bình quân là 2,96%/năm, năng suất đạt 70,19
tấn/ha tăng so với năm 2001 là 47,36 tấn/ha, tốc độ tăng bình quân là 4,30%/năm.
Nhìn chung năng suất ngày càng cao, diện tích cây mía tương đối ổn định, nhưng
diện tích này sẽ giảm theo hàng năm do nông dân sản xuất không hiệu quả (do lúc
thu hoạch giá bán không ổn định), chuyển đổi quy hoạch các khu công nghiệp và
chuyển đổi sang đất trồng cây lâu năm là chanh.
+ Cây đay trồng luân canh trên đất lúa ở vụ hè thu chủ yếu ở Thạnh Hóa, Mộc
Hóa, Tân Thạnh và diện tích rất nhỏ ở Đức Huệ và Thủ Thừa. Diện tích đay có
nhiều biến động trong giai đoạn 2001 – 2011, do yếu tố đầu ra và đầu vào của sản
phẩm không ổn định là nguyên nhân chủ yếu, diện tích 4.098 ha năm 2001 giảm
xuống còn 3.300 ha năm 2011, riêng diện tích năm 2007 có diện tích canh tác lớn
66
nhất qua các năm 8.839 ha. Trong những năm tới khi nhà máy bột giấy Phương
Nam đi vào hoạt động bình thường thì cây đay hè thu sẽ phát triển mạnh về quy mô,
thay đổi giống cho phù hợp với nhu cầu nguyên liệu của nhà máy.
+ Cây khoai mỡ là cây trồng chuyên canh truyền thống của huyện Thạnh Hóa
có diện tích khá lớn trong 5 năm trở lại đây diện tích khoai mở từ 2.000-3.000 ha,
đặc biệt năm 2011 diện tích khoai mỡ đạt 3.205 ha, năng suất bình quân 9,2 tấn/ ha,
sản lượng đạt 29.453 tấn. Đáng lưu ý là cây khoai mỡ có khả năng phát triển tốt, tỷ
lệ sản phẩm hàng hóa cao, có giá cả hợp lý. Các cây này sẽ được mở rộng diện tích
một khi hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, đất được cải tạo và nông dân được trang bị
đầy đủ kiến thức về kỹ thuật canh tác và ổn định được thị trường.
+ Cây khóm diện tích hiện nay có quy mô nhỏ, năm 2011 có 1.311 ha, năng
suất 8,92 tấn / ha, sản lượng 11.695 tấn, khóm hiện nay phân bố ở Bến Lức (16,7
tấn/ha), Thủ Thừa (8,75 tấn/ha), Thạnh Hóa (3,1 tấn/ha) và Đức Huệ chỉ trồng 2
năm gần đây nhưng năng suất cũng khá cao (5,4 tấn/ha), cung cấp nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến.
+ Cây lạc tập trung diện tích trên huyện Đức Huệ là chủ yếu, ở Mộc Hóa và
Tân Hưng rất ít, có năm thì sản xuất có năm không với diện tích đạt 123 ha, sản
lượng 322 tấn, năng suất 2,63 tấn/ha năm 2011 tăng với tỉ lệ tương ứng 70 ha, 221
ha, 0,72 tấn/ha so năm 2001. Lạc được trồng ở nơi có đất xám, thành phần cơ giới
nhẹ, được xem là thích hợp cho việc trồng cây lạc, cung cấp nội vùng, xuất khẩu.
+ Mè diện tích gieo trồng đạt 1821 ha năm 2011 tăng 1817 ha so với năm 2002
(mới bắt đầu trồng mè), năng suất thu hoạch đạt 4,8 tạ/ha, tập trung gieo trồng ở
Tân Hưng và Đức Huệ diện tích, năng suất không ổn định, chủ yếu là mè đen.
+ Rau dưa thực phẩm diện tích đạt 5694 ha, năng suất 14,39 tấn/ha, sản lượng
81954 tấn năm 2011 tương ứng tỉ lệ năm 2001 đạt 402 ha, 16,37 tấn/ha và 6580 tấn.
Từ năm 2003 về sau đã đưa dưa hấu vào nhóm rau đậu, nên diện tích và sản lượng
nhóm cây trồng này tăng nhanh. Thời gian tới, nông dân đang dần phát triển và đầu
tư vào sản xuất rau sạch nhiều hơn nhưng chưa nhiều và tỉnh Long An đang quy
hoạch vùng rau an toàn cho khoảng 10000 ha đất nông nghiệp cho toàn tỉnh, trong
67
vùng ĐTM chủ yếu tập trung tại huyện Mộc Hóa và Vĩnh Hưng – đây cũng là vùng
rau dưa thực phẩm lớn nhất của vùng tương ứng với diện tích 1046 ha và 1635 ha.
+ Ngoài ra, còn có các loại cây trồng khác như: khoai mì, khoai lang… với
diện tích và sản lượng không lớn tập trung chủ yếu ỏ Đức Huệ, Thạnh Hóa, Bến
Lức (thêm cói), Thủ Thừa.
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng:
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng của ngành trồng trọt diễn ra chậm, cây lúa vẫn
chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu ngành trồng trọt chiếm 99,09% so với tổng diện tích
cây trồng hành năm khác.
- Thêm vào đó, trong năm 2011, do giá tràm trong những năm qua quá thấp
nên người nông dân phá tràm chuyển sang trồng lúa làm cho diện tích trồng lúa tăng
lên rất nhiều bao gồm Tân Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa. Riêng nhóm
rau dưa thực phẩm được trồng trên tất các huyện trong vùng.
- Cây lâu năm chuyển đổi đúng hướng trên cơ sở phát huy lợi thế về điều kiện
sinh thái thích nghi với một số cây trồng. Cây xoài, chuối trồng ở vườn nông hộ
tăng, đặc biệt cây chanh mới đưa vào trồng chủ yếu trên đất phèn lên líp từ năm
2000 nhưng đã trở thành cây chủ lực ở 2 huyện Bến Lức và Đức Huệ (vùng trồng
tập trung với sản lượng lớn nhất cả nước và đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao).
Những hạn chế - yếu kém của ngành trồng trọt
- Các cây trồng truyền thống là những đặc sản nổi tiếng của ngành trồng trọt
(gạo Huyết rồng, dứa, đậu phộng, cải ngọt và rau gia vị luôn có thị trường tiêu thụ
và được xem là nông sản có lợi thế cạnh tranh cao trên thị trường trong nước, nhất
là ở các tỉnh thành Nam bộ. Song sản xuất lại thiếu ổn định, thậm chí một số cây
trồng rơi vào tình trạng suy giảm mạnh cả diện tích và sản lượng.
- Phần lớn các loại sản phẩm hàng hóa ngành trồng trọt trong đó có cả nông
đặc sản truyền thống như: gạo, dứa… còn có chất lượng thấp và không ổn định,
thậm chí là giảm so với trước năm 2000, giá thành cao đã ảnh hưởng đến lợi ích
kinh tế và thu nhập của nông dân giảm sức cạnh tranh khi tiêu thụ trên thị trường.
68
- Tình trạng "trồng - chặt" cây lâu năm vẫn xảy ra gây lãng phí đầu tư trồng
mới và kiến thiết cơ bản (dứa 2005: 1.415,0 ha đến 2009 giảm chỉ còn: 444,0 ha)
- Giá thành của phần lớn sản phẩm của ngành trồng trọt (lúa, mía…) thường
cao hơn sản phẩm cùng loại sản xuất ở các vùng chuyên canh khác, nên sức cạnh
tranh kém và lợi nhuận thấp hơn.
- Các nông sản hàng hóa chủ lực của ngành trồng trọt còn thiếu sự gắn kết giữa
sản xuất - thu mua - chế biến + bảo quản - tiêu thụ (điển hình là đay, mía, rau). Việc
kết nối giữa người sản xuất với các kênh phân phối chưa hình thành một cách vững
chắc và được quản lý thống nhất, hầu như chưa có nông sản nào của ngành trồng
trọt được sản xuất theo hợp đồng kinh tế (ngoại trừ một diện tích trồng đay năm
2007 nhưng nông hộ trồng đay lãnh hậu quả thất bại nặng nề…).
- Quá trình sản xuất ngành trồng trọt đã qua nhiều năm nên hình thành được các
vùng chuyên canh cây trồng (đậu phộng ở huyện Đức Huệ, rau ở Mộc Hóa, dứa - mía
- chanh ở huyện Bến Lức, Đức Huệ, khoai mỡ ở huyện Thạnh Hóa, đay ở 2 huyện
Mộc Hóa - Thạnh Hóa, lúa - gạo trên tất cả các huyện trong vùng) song lại ít được
đầu tư một cách đồng bộ - toàn diện để hình thành hàng hóa ngành hàng phát triển
trong cơ chế kinh tế thị trường.
Nguyên nhân chính đối với hạn chế - yếu kém của ngành trồng trọt
- Đất sử dụng cho trồng trọt các năm qua liên tục bị thu hẹp và luôn đặt
trong tình trạng bị động trong sử dụng do phát sinh các dự án xây dựng Khu -
Cụm Công nghiệp, đô thị, đất ở nông thôn, xây dựng hạ tầng kỹ thuật so với quy
hoạch được duyệt.
- Đặc biệt, tại các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước đã xảy
ra tình trạng ô nhiễm môi trường đất - nước do nước rác thải chưa qua xử lý của
các cơ sở công nghiệp xả trực tiếp ra ruộng - vườn và kênh - rạch dẫn đến đất
trồng trọt bỏ hoang, bỏ vụ hoặc sản xuất đạt năng suất thấp.
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển trồng trọt tuy đã được cải thiện
song vẫn còn không ít bất cập. Trong đó, đáng kể nhất là: thủy lợi, giao thông
69
đồng ruộng, lưới điện và cấp điện áp… Đồng thời, tỷ lệ các nguồn vốn đầu tư
vào sản xuất ngành trồng trọt còn chưa tương xứng.
- Các dự án ưu tiên đầu tư phát triển một số ngành hàng chủ lực đối với
ngành trồng trọt tỉnh Long An như: Vùng lúa chất lượng cao, Vùng rau an toàn…
vẫn chưa được ngành chức năng tổ chức triển khai thực hiện nhằm huy động đầy
đủ, kịp thời các nguồn lực đầu tư sản xuất trồng trọt đạt kết quả cao.
- Sự hỗ trợ các cơ quan ban ngành chức năng của tỉnh, huyện đặt trong mối
quan hệ cộng đồng trách nhiệm với nông hộ, trang trại phát triển ngành trồng trọt
theo hướng sản xuất hàng hóa nông sản hàng hóa còn chưa nhiều và ít hiệu quả.
- Tuy thời gian qua hoạt động chuyển giao KH-CN và tiến bộ kỹ thuật thông qua
nhiều kênh, nhất là khuyến nông có những tiến bộ nhất định. Song, thực tế sản xuất
ngành trồng trọt cho thấy lao động trực tiếp trồng trọt vẫn thiếu thông tin có độ tin cậy
cao nên nông dân còn lúng túng, bị động trong sản xuất hàng hóa.
- Đặc biệt, các tồn tại hạn chế đối với ngành trồng trọt ở tỉnh Long An được xác
định có một nguyên nhân là còn thiếu các cơ chế chính sách thực sự khuyến khích, hỗ
trợ phát triển các cây trồng là hàng hóa chủ lực theo hướng năng suất, chất lượng,
hiệu quả và sức cạnh tranh cao.
- Theo báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VIII trình đại
hội lần thứ IX nêu hạn chế yếu kém là: tổ chức sản xuất nông nghiệp, xây dựng các
vùng chuyên canh, xây dựng thương hiệu, liên kết “4 nhà” chưa thực hiện tốt. Thiếu
cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ
nông nghiệp. Hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu”.
- Ngoài ra, còn phải kể đến các nguyên nhân khách quan là: giá phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu tăng cao, giá thuê nhân công cũng tăng mạnh
trong khi giá bán sản phẩm hàng hóa luôn biến động hoặc khó tiêu thụ làm giảm
lợi nhuận và thu nhập (điển hình là đay năm 2007,…) khí hậu thời tiết diễn biến
thất thường (hạn, lũ lụt, mặn,… và loại đất phát sinh ít thuận lợi cho trồng trọt
chiếm: 68,85% diện tích tự nhiên.
70
Tóm lại: do canh tác còn nặng về khai thác độ phì tự nhiên, mức đầu tư thâm
canh chưa cao nên hiệu quả kinh tế hạch toán từ sản xuất lúa chưa đem lại kết quả
như mong muốn. Trong tương lai phải nghiên cứu bố trí lại cơ cấu mùa vụ sản xuất
kết hợp với thâm canh: xây dựng vùng lúa chất lượng cao, phát triển mạnh mô hình
cánh đồng mẫu lớn, áp dụng các biện pháp canh tác tiên tiến, ứng dụng giống mới
năng suất và chất lượng cao, để tạo bước phát triển bền vững trong nông nghiệp,
mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn và đáp ứng nhu cầu thị trường.
Đánh giá thực trạng sản xuất ngành chăn nuôi của vùng Đồng Tháp Mười
GTSX của ngành chăn nuôi ngành càng phát huy hiệu quả của mình nhưng giá
trị gia tăng chưa lớn và có xu hướng giảm, trong năm 2000 đạt 306,148 tỷ đồng,
năm 2005 tăng lên 523,173 tỷ đồng, đến năm 2011 giảm đáng kể xuống còn
263,006 tỷ đồng. Nhưng cơ cấu GTSX của ngành chăn nuôi có xu hướng gia tăng từ
12,4% năm 2000 lên 15,1% năm 2011, chứng tỏ chăn nuôi ngày càng được quan
tâm đầu tư ổn định sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
Quy mô đàn gia súc gia cầm:
+ Chăn nuôi ở ĐTM có quy mô nhỏ, nhưng đã sự phát triển hơn so với trước
đây, chủ yếu là khu vực kinh tế gia đình nông hộ và sự ra đời một số trang trại trong
thời gian gần đây, chủ yếu là chăn nuôi heo và gia cầm, trâu bò ít có điều kiện phát
triển, chịu ảnh hưởng của ngập lũ, ngoài việc chịu ảnh hưởng của môi trường và thị
trường tiêu thụ nên phát triển chăn nuôi gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng
chuồng trại, thời gian nuôi, cơ cấu các loại gia súc gia cầm. Đây là một hạn chế cần
nghiên cứu trong khai thác sử dụng tài nguyên phát triển kinh tế.
Thống kê diễn biến đàn gia súc - gia cầm giai đoạn 2001-2011:
+ Nhìn chung, đàn trâu có chiều hướng giảm và biến động do ảnh hưởng của
điều kiện ngập lũ, diện tích đất hoang giảm, máy móc được thay thế dần sức kéo
trâu bò và nuôi trâu bò dễ bị rủi ro do dịch bệnh, không nơi nhốt, thức ăn mùa lũ…
năm 2000 có 10125 con, năm 2005 giảm còn 5893 con, năm 2011 tăng lên thêm
2513 con. Đàn trâu tăng chủ yếu là đàn trâu thịt vỗ béo nhập từ Campuchia, các hộ
71
nuôi từ 4 đến 6 tháng là xuất chuồng - mô hình chăn nuôi hiệu quả với mục tiêu tận
dụng những ưu thế và kinh nghiệm sẵn có để gia tăng thu nhập cho kinh tế hộ.
+ Đàn bò tăng mạnh do thị trường tiêu thụ thịt bò có chiều hướng tốt, chính
sách khuyến khích phát triển đàn bò của Nhà nước trong giai đoạn 2001-2005 (bình
quân: +34,21%/năm) từ 4320 con năm 2000 tăng lên 18810 con năm 2005, năm
2011 giảm còn 16393 con. Bò nuôi theo hướng lấy thịt, chủ yếu là nuôi bò vỗ béo
mà nguồn chính là nhập bò từ Campuchia. Trong tương lai, phát triển đàn bò thịt và
một số bò sinh sản để gia tăng sản phẩm hàng hóa, tăng thu nhập cho nông dân là
định hướng đúng cho sự phát triển đại gia súc của vùng.
+ Đàn heo phát triển tốt và tăng đều ở các năm từ 2000-2005 với mức tăng là
13,86%/năm, tuy nhiên sang giai đoạn 2005-2015 đàn heo giảm liên tục, từ 91728
con năm 2005 giảm xuống còn 71308 con năm 2011; nhìn chung đàn heo toàn vùng
có xu hướng giảm.
+ Đàn gia cầm tăng khá biến động, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2000 –
2005 là -17,61% năm, giai đoạn 2005-2011 tốc độ tăng trưởng là 154,79% năm từ
453771 con năm 2005 tăng lên 124159100 con năm 2011. Trong đó, đàn vịt tăng từ:
621599 con năm 2000 còn 251632 con năm 2005; năm 2011 đạt 1237300 con.
+ Đàn dê được nuôi ở tất cả các huyện với quy mô nhỏ từ 200 đến 800 con
mỗi huyện, tổng đàn dê năm 2005 là 3010 con đến 2011 giảm còn 2573 con.
+ Sản phẩm chăn nuôi tăng đều qua các năm gồm thịt hơi các loại: 42352 tấn
năm 2000, năm 2005 tăng thêm 4973 tấn, năm 2011 tăng thêm 31623 tấn; bình
quân thịt hơi: 213 kg/người/năm, thịt hàng hóa chiếm khoảng 55%. Sản lượng trứng
gia cầm năm 2011 là: 98,3 triệu quả tăng 1,16 lần so với năm 2000. Sản lượng sữa
cũng tăng liên tục năm 2011 đạt 11474 tấn tăng gấp 12,83% so với năm 2000.
Những hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đối với ngành chăn nuôi.
- Tỷ trọng GTSX ngành chăn nuôi tăng rất chậm (năm 2000: 12,4% đến năm
2011: 15,1% tăng có 2,7% qua 11 năm) và chăn nuôi chưa thực sự trở thành ngành
sản xuất chính trong nông nghiệp tỉnh Long An.
- Quy mô đàn vật nuôi và sản lượng sản phẩm chăn nuôi diễn biến không ổn
định, luôn tăng - giảm qua các năm chứng tỏ ngành chăn nuôi phát triển kém bền
72
vững, tiềm ẩn không ít rủi ro do dịch bệnh, thức ăn, giá tiêu thụ sản phẩm và địa bàn
được phép chăn nuôi đang bị thu hẹp.
- Chất lượng sản phẩm chăn nuôi được ngành thú ý và các cơ quan quản lý
chất lượng thực phẩm tiến hành kiểm tra, giám sát và trên thực tế có được cải
thiện từng bước đáp ứng theo yêu cầu vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm.
- Giá thành các sản phẩm chăn nuôi luôn ở mức cao, tỷ lệ lãi trên chi phí thấp
nên ngành chăn nuôi thu hút ít được các nguồn lực đầu tư phát triển, đặc biệt giá
bán sản phẩm thịt tươi (heo, gà, vịt) có mức giao động lớn đã làm không ít người
chăn nuôi thua lỗ thậm chí phá sản khi vật nuôi bị dịch bệnh.
- Chăn nuôi heo trang trại, gà, bò sữa ở các gia trại - trang trại nhưng chưa chú
trọng đầu tư các công trình xử lý phân - nước thải được xem là đối tượng gây ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng, nhất là khi dịch bệnh xảy ra.
Ngoài chăn nuôi bò sữa đã gắn bó khá chặt chẽ giữa sản xuất với thu mua, bảo quản
và chế biến, còn chăn nuôi heo, trâu, bò thịt, gà, vịt phát triển thiếu gắn kết giữa các
khâu trong chuỗi giá trị sản phẩm của ngành hàng.
Năm
Hạng mục
Số TT
Đơn vị tính
2000
2005
2011
Tốc độ tăng bình quân (%/năm) 2000 - 2005
2005 - 2011
1996 - 2000
I Quy mô đàn
1 Đàn trâu tổng số
con
10125
5893
8406
-4.11
-10.26
6.10
6377
871
700
-4.66
-32.84
-3.58
-
Trong đó : - Cày kéo
2 Đàn bò tổng số
4320
18810
16393
9.38
34.21
-2.27
-
Trong đó :
492
55
683
1.76
-35.48
52.17
-
- Cày kéo
11289
15710
5.66
-
- Bò lai sind
3 Đàn heo tổng số
41331
91728
71308
7.99
17.29
-4.11
-
-
- Heo nái
4429
8475
11884
7.19
13.86
5.80
-
- Heo thịt
36818
83129
59424
8.47
17.69
-5.44
-
4
1195353 453771 124159100
6.61
-17.61 154.79
Đàn gia cầm tồng số
Bảng 2.11. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi vùng Đồng Tháp Mười
a Đàn gà tổng số
573754 202139
1043800
10.18
-18.83
31.47
-
Trong đó : - gà đẻ
81768
27614
487933
6.45
-19.52
61.39
-
b Đàn vịt tổng số
621599 251632
1237300
3.85
-16.55
30.40
-
Trong đó : - vịt đẻ
36329
29561
412433
3.21
-4.04
55.16
-
18220
5565
-17.94
5 Đàn dê
II
Sản phẩm chăn nuôi
73
1 Thịt hơi các loại
tấn
42352
47325
78948
2.58
2.25
8.90
856
603
4005
-5.19
-6.76
37.10
- Thịt trâu
-
565
2363
25.91
33.15
- Thịt bò
-
- 100.00
30451
39720
52182
4.38
5.46
4.65
- Thịt heo
-
-
- Thịt gia cầm
10480
4639
22631
-1.69
-15.04
30.23
2 Sản lượng sữa
tấn
894
8363
11474
20.10
56.39
5.41
3 Trứng gia cầm
84216
40580
98300
-4.45
-13.59
15.89
1000 quả
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Thống kê Long An
Nguyên nhân chính của hạn chế - yếu kém của ngành chăn nuôi.
+ Dịch bệnh gây hại đàn vật nuôi liên tiếp xảy ra (dịch cúm gia cầm H5N1 xảy
ra và đầu tiên vào cuối năm 2003 tại tỉnh Long An, dịch lở mồm long móng, dịch
heo tai xanh) và còn tiềm ẩn nguy cơ tái phát dịch bệnh.
+ Giá bán các loại thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y tăng cao trong khi giá bán
sản phẩm chăn nuôi tăng chậm và diễn biến phức tạp nhất là lúc dịch bệnh xảy ra.
Khi dịch bệnh xảy ra, tiêu thụ sản phẩm (gà thịt, trứng, heo thịt) gặp nhiều trở ngại.
+ Thịt nhập khẩu bán với giá thấp (thịt heo, thịt gà, thịt bò) năm 2008 lên đến
hàng trăm nghìn tấn đã ảnh hưởng đến giá và sức tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi sản
xuất ở tỉnh Long An và cả nước.
+ Ngập lũ tại các huyện ĐTM là nguyên nhân đưa đến chăn nuôi theo thời vụ
ở vùng ngập lũ, khó có thể phát triển chăn nuôi trang trại, nhất là với gia súc, còn
các huyện vùng Hạ bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn.
+ Chăn nuôi ở hộ gia đình quy mô nhỏ ở ngay trong khu dân cư là loại hình,
rất phổ biến và không ít hộ chăn nuôi tận dụng phụ phẩm trồng trọt phương thức
74
nuôi chăn thả tự nhiên đối với trâu, bò nên năng suất chăn nuôi không cao, khó
quản lý dịch bệnh và vệ sinh thú y.
+ Địa bàn chăn nuôi bị thu hẹp nhất là từ năm 2004, khi xảy ra dịch cúm gia
cầm H5N1, các ngành chức năng ban hành các văn bản cấm nuôi ở đô thị và các
yêu cầu phải cách ly với dân cư, trong khi đó quá trình xây dựng khu - cụm công
nghiệp, xây dựng khu tái định cư - đô thị hóa dẫn đến địa bàn chăn nuôi bị thu hẹp
và áp lực về đầu tư xử lý môi trường, di dời gây khó khăn cho chăn nuôi.
- Các nguồn lực ít đầu tư vào phát triển chăn nuôi do lợi nhuận thấp lại dễ gặp
rủi ro, muốn chăn nuôi bò sữa hoặc phát triển chăn nuôi trang trại gia cầm, heo…
người chăn nuôi thiếu đất và rất khó có đủ vốn đầu tư. Thiếu các dự án đầu tư và
quy hoạch chi tiết phát triển từng loại vật nuôi, cơ chế chính sách thực sự khuyến
khích loại hình chăn nuôi trang trại, chăn nuôi tạo ra sản phẩm chất lượng cao.
- Trên địa bàn thiếu các cơ sở giết mổ gia súc gia cầm, trang thiết bị tiên tiến -
đồng bộ có quy mô vừa và chưa có các nhà máy chế biến thực phẩm hiện đại mà
nguyên liệu là các sản phẩm chăn nuôi nên rất bị động khi tiêu thụ với số lượng lớn.
- Chất lượng nhân lực cho phát triển sản xuất chăn nuôi hàng hóa rất bất
cập, phần lớn các Phòng Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn huyện đều còn
thiếu cán bộ học chuyên ngành về chăn nuôi - thú y. Hệ thống thú y cơ sở (xã)
cũng chưa đáp ứng yêu cầu trong khi người trực tiếp chăn nuôi luôn thiếu thông
tin liên quan đến chăn nuôi.
Tóm lại: Chăn nuôi gia súc, gia cầm chủ yếu ở hộ gia đình, quy mô nhỏ, kỹ
thuật và chuồng trại còn giản đơn, nên năng suất và chất lượng đàn ở mức trung
bình. Các kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến chưa được áp dụng rộng rãi trong sản xuất,
nên thời gian nuôi kéo dài, hệ số tiêu tốn thức ăn cao, dẫn đến giá thành sản phẩm
chăn nuôi cao, lãi và thu nhập còn thấp. Do vậy, để chăn nuôi trở thành ngành sản
xuất hàng hóa quan trọng trong nông nghiệp cần tiếp tục đầu tư toàn diện hơn về
chất lượng giống, phương thức nuôi và các biện pháp kỹ thuật và phòng chống dịch
bệnh, sẽ góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển nhằm giải quyết nhu cầu
thực phẩm tại chổ, từng bước đưa chăn nuôi phát triển thành một ngành sản xuất
hàng hóa quan trọng của vùng.
75
2.3.4.2. Ngành lâm nghiệp
Đánh giá tình hình phát triển ngành lâm nghiệp:
- Trong những năm qua, ngành lâm nghiệp phát triển chậm và giảm tỷ trọng
liên tục trong cơ cấu GTSX của khu vực I: giảm từ 19,7% năm 2000 xuống còn
13,6% năm 2005, xuống 5,0% năm 2011 và sẽ còn giảm tiếp tục nếu không có
những giải pháp hiệu quả, phát triển ngành trong thời gian tới.
- Đến ngày 31/12/2009 rừng được trồng của vùng đạt 46767,5 ha: phân bố tập
trung ở 6 huyện vùng ĐTM: Thạnh Hóa: 16.095,02 ha (34,62%), Đức Huệ 7.715,9
ha (16,68%), Tân Hưng: 7.130,94 ha (15,34%), Mộc Hóa: 5.766,2 ha (12,40%), Tân
Thạnh: 5.343,5 ha (11,49%), Thủ Thừa: 3.275 ha (7,04%), Vĩnh Hưng: 1.441,0 ha
(3,11%).
- Đến năm 31/12/2011 có sự thay đổi đáng kể giảm xuống còn 43539,1 ha:
Thạnh Hóa: 13237,9 ha (30,4%), Đức Huệ 10374,9 ha (24,7%), Tân Hưng: 5917,5
ha (13,6%), Mộc Hóa: 4046,9 ha (9,3%), Tân Thạnh: 4440 ha (10,2%), Thủ Thừa:
%
35
30.4
30
24.7
25
20
13.6
15
10.2
9.3
10
5.2
4.9
5
1.8
0
Đức Huệ Thủ Thừa Thạnh Hóa Bến Lức Tân Thạnh Mộc Hóa Vĩnh Hưng Tân Hưng
2255 ha (5,2%), Vĩnh Hưng: 2117 ha (4,9%), Bến Lức 709 (1,8%).
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Long An
Hình 2.5. Biểu đồ phân bố diện tích rừng vùng Đồng Tháp Mười năm 2011
76
- Rừng sản xuất được trồng phủ kín các huyện thuộc vùng ĐTM của tỉnh.
- Rừng phòng hộ trồng ở 8 huyện trong đó: diện tích rừng phòng hộ nhiều nhất
là Thạnh Hóa: 1.391,95 ha, Tân Thạnh: 412,0 ha, Mộc Hóa: 141,6 ha, Vĩnh Hưng:
10,0 ha, Đức Huệ mỗi huyện 7,0 ha…
- Rừng đặc dụng 2.003,0 ha gồm có:
(Xem Phụ lục Bảng 13)
+ Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Láng Sen thuộc huyện Tân Hưng;
đây là Dự án thuộc chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tài trợ nhằm
mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước
(theo Quyết định số: 229/QĐ-UBND khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Láng
Sen có diện tích tự nhiên: 3.381 ha) nhưng đến 31/12/2009 chỉ có 1.200 ha.
+ Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát triển dược liệu ĐTM huyện Mộc Hóa
có diện tích tự nhiên: 800 ha và huyện Đức Huệ: 3,0 ha.
- Sản phẩm của lâm nghiệp chủ yếu là tràm cừ khai thác chặt chọn hoặc khai
thác trắng sử dụng làm vật liệu xây dựng .
- Công nghiệp chế biến lâm sản chưa phát triển, quy mô nhỏ với kỹ thuật giản
đơn, sản xuất một số vật dụng gia đình hoặc đóng sửa tàu ghe nhỏ.
- Như vậy, để lâm nghiệp phát triển tốt, đạt theo các mục tiêu kinh tế và môi
trường, cần có quy hoạch lại, có các chính sách xác đáng và tổ chức thực hiện phù
hợp với điều kiện thực tế tại địa phương, để diện tích rừng được ổn định khoảng 9 -
10 nghìn ha rừng tập trung, nhằm tạo lập cân bằng sinh thái vùng đất phèn.
- Hạch toán chi phí trồng tràm trong chu kỳ 6 năm cho thấy: Tổng chi phí
trồng tràm trong 1 chu kỳ là 63 triệu đồng /ha, doanh thu từ sản phẩm cừ tràm 90
triệu đồng/ ha (6.000 cây cừ), tận thu gỗ củi 0,7 triệu đồng, bình quân 1 năm lợi
nhuận thu được chỉ 4,6 triệu đồng/ha. Tuy hiệu quả mang lại còn thấp, song cây
tràm vẫn có điều kiện phát triển vì phần lớn khu vực trồng tràm là những vùng đất
có địa hình thấp, trũng, đất phèn nặng phù hợp với sinh thái của cây tràm.
77
Những hạn chế, yếu kém của ngành lâm nghiệp:
- Phát triển rừng thiếu bền vững, tình trạng “trồng - chặt” thường xuyên xảy ra
gây thiệt hại cho các đối tượng đầu tư trồng và phát triển rừng.
- Năng suất và sinh khối rừng đã có phần được cải thiện theo hướng tích cực song
vẫn còn thấp so với diện tích rừng tràm trồng sử dụng giống tốt, chăm sóc đúng kỹ thuật.
- Cháy thường xuyên xảy ra gây thiệt hại đối với rừng (năm 2004, cháy rừng
gây thiệt hại 485,0 ha, năm 2005: 554,0 ha, năm 2007: 3.172,0 ha...).
- Tình trạng chặt phá rừng phòng hộ, rừng đặc dụng vi phạm luật bảo vệ rừng
vẫn xảy ra.
- Những năm 2006, 2007, 2008, 2009 và năm 2010 hiệu quả kinh tế từ rừng
tràm đạt rất thấp do sản phẩm (cừ, củi tràm) khó tiêu thụ và giá bán thấp nên hơn
20.000,0 ha rừng tràm sản xuất đã bị chặt chuyển sang trồng lúa,...
Nguyên nhân của các yếu kém đối với sản xuất lâm nghiệp:
- Các chương trình, dự án, kế hoạch phát triển lâm nghiệp triển khai còn chưa
được quan tâm đúng mức và chưa có được sự đồng thuận cao của các cấp chính
quyền (xã, huyện, tỉnh) và các ngành chức năng.
- Điển hình là ”khai hoang trồng cây nông nghiệp lấp kín Đồng Tháp Mười” từ
năm 1987, làm thủy lợi ngọt hóa, nước ngọt dẫn đến đâu, rừng bị phá đến đó để
chuyển thành đất ruộng lúa.
- Nguồn nhân lực cho phát triển sản xuất lâm nghiệp theo hướng trồng rừng
thâm canh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới còn bất cập, số lượng cán
bộ có chuyên môn kỹ thuật về lâm nghiệp làm việc tại các phòng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn huyện trồng rừng tập trung (Thạnh Hóa, Đức Huệ, Tân
Hưng, Mộc Hóa) rất thiếu.
- Vốn đầu tư cho phát triển sản xuất lâm nghiệp rất ít (kể cả vốn ngân sách,
vốn tín dụng và vốn tự có).
- Khoa học - kỹ thuật trong lĩnh vực lâm nghiệp còn ít được nghiên cứu ứng dụng
vào sản xuất - chế biến lâm sản. Người dân trồng rừng theo phương thức quảng canh
còn chiếm tỉ lệ lớn, cơ sở hạ tầng phục vụ lâm nghiệp còn thiếu và không đồng bộ.
78
- Thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp, nhất là tràm cừ, củi hoặc sản phẩm
được tiêu thụ với giá rất rẻ dẫn đến sản xuất rừng không có lãi khiến cho các hộ nông dân
3 - Vùng có trên 43.000 ha rừng tràm, hàng năm khai thác trên 80.000 m P
P gỗ
chặt tràm chuyển sang trồng lúa hoặc cây trồng khác (khoai mỡ, khoai mỳ, dứa, ...).
nhưng lại chưa có nhà máy chế biến các loại lâm sản. Đây là điều bất hợp lý cần
sớm có giải pháp mời gọi các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến xây dựng
nhà máy với cơ chế chính sách thật sự hấp dẫn.
- Hậu quả rừng bị thu hẹp còn phải kể đến vấn đề bảo vệ rừng kém, thường
xuyên cháy rừng vào mùa khô, mất rừng nên lũ lụt gia tăng, mất cân bằng sinh học…
ảnh hưởng liên đới đến sản xuất nông nghiệp, khai thác thủy sản tự nhiên sau mùa lũ.
2.3.4.3. Ngành thủy sản
Đánh gía tình hình phát triển của ngành thủy sản:
- Cơ cấu GTSX của ngành thủy sản có xu hướng giảm tỉ trọng trong khu vực I,
nhưng không đáng kể từ 4,0% năm 2000 xuống còn 3,2% năm 2011. Nhưng GTSX
của ngành có sự thay đổi đáng kể qua các năm từ 72,8 tỷ đồng năm 2000 lên 178,4
tỷ đồng năm 2005, tăng nhanh đến năm 2011 là 514 tỷ đồng. Đây là một trong
những lợi ích hình thành từ các mô hình sản xuất kinh doanh trong sản xuất nông –
lâm – thủy sản nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất kinh doanh.
- Tổng sản lượng thủy sản năm 2010 toàn vùng đạt 19.968,9 tấn. Trong đó,
diện tích nuôi thủy sản năm 2010 là 2.177,9 ha và sản lượng thủy sản nuôi đạt
17493,9 tấn, chiếm 57,34% sản lượng thủy sản nuôi trồng của tỉnh Long An. Sản
lượng thủy sản khai thác năm 2010 là 2.475 tấn, chiếm 35,69% sản lượng khai thác
thủy sản nước ngọt của toàn tỉnh.
+ Nuôi trồng thủy sản
Sản xuất nuôi trồng thủy sản có quy mô nhỏ, chủ yếu là hộ gia đình là chính.
Mặt khác, do đặc thù vùng ĐTM nằm trong vùng ngập lũ hàng năm, môi trường
nước trong nội đồng chịu ảnh hưởng nặng của chua phèn nên nuôi cá ao hầm kém
phát triển và chỉ hoạt động theo mùa, năng suất nuôi thấp nên hiệu quả mang lại
79
chưa cao. Sản phẩm chủ yếu dùng cải thiện bữa ăn hàng ngày, chưa xác định lấy
thủy sản làm sản phẩm hàng hóa
2 ở hộ gia đình (150 - 200 mP
P/hộ), theo phương thức quảng canh và bán thâm canh và
Diện tích ao hầm nuôi thả năm 2010 đạt 1672 ha, phân tán theo quy mô nhỏ
chỉ có một ít hộ nuôi theo phương thức công nghiệp hoặc mô hình VAC để tận dụng
phụ phẩm của ngành trồng trọt và chăn nuôi kết hợp cho ăn bổ sung thức ăn công
nghiệp nên năng suất vẫn chưa cao. Năng suất bình quân 9,4 tấn cá/ha/năm.
Mô hình nuôi cá tôm kết hợp trên ruộng lúa mang lại nhiều kết quả khả
quan, năng suất đạt bình quân 3,03 tấn/ha/năm, cao nhất có thể đạt là 4 -
5tấn/ha/năm và nuôi các lồng bè ven sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây đã và
3 tra… thể tích đạt 3250 mP
3 P, năng suất đạt 60kg/mP
P/năm
đang phát triển mạnh chủ yếu là nuôi cá lóc bông, cá bống tượng, cá điêu hồng, cá
Khai thác chủ yếu cá nước ngọt là: cá linh, cá thát lát, cá mè vinh, cá lóc, cá
rô, cá tra... Thu hút khoảng 17.598 hộ tham gia nuôi trồng thủy sản tương ứng
khoảng 70.392 lao động, đánh bắt chủ yếu vào mùa nước lũ (lưới đáy, rê, bén…).
Kĩ thuật nuôi của đa số hộ nông dân không thực hiện đúng công tác chuẩn ao
hồ, chọn cá giống, ghép cá, chăm sóc chưa đúng quy trình kĩ thuật… đã làm năng
suất nuôi trồng không cao, thu nhập của nhiều hộ nuôi thủy sản thấp.
+ Đánh bắt thủy sản
Thủy sản đánh bắt dọc theo sông, rạch với quy mô nhỏ dọc theo sông Vàm
Cỏ Tây, Vàm Cỏ Đông… với các loại cá tôm nước ngọt, mặt khác do trữ lượng thủy
sản trên sông, rạch của huyện rất hạn chế, ảnh hưởng môi trường nước phèn nên quy
mô nuôi thủy sản không phát triển mạnh.
Chính vì vậy, việc mở mang nuôi và đánh bắt thủy sản cũng ở một chừng
mực nhất định. Nếu xây dựng cơ sở hạ tầng, đường bờ bao, bảo vệ môi trường và
tác động các yếu tố khoa học - kỹ thuật, con giống thì khả năng trong tương lai thủy
sản sẽ phát triển mạnh hơn.
Tóm lại, với môi trường nước và nguồn thủy sinh vật của vùng khá đa dạng
và phong phú được xem là tiềm năng lớ n cho nuôi thủy sản nước ngọt, nhất là nuôi
cá tôm trong ao, đầm, mương, vườn, ruộng lúa và nuôi theo mô hình VAC, sẽ góp
80
phần quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp – nông thôn. Vì thế, vùng cần
xác định rõ vai trò của ngành thủy sản trong phát triển tổng hợp KT-XH, đây là
ngành kinh tế có nhiều tiềm năng và thị trường tiêu thụ khá ổn định.
Những hạn chế của nuôi trồng và khai thác thủy hải sản: Trong những năm
gần đây khai thác thủy hải sản và nuôi thủy sản của vùng phát triển không ổn định
và kém bền vững, luôn ẩn chứa khá nhiều rủi ro cả về thị trường môi trường và ngư
trường.
- Chất lượng giống và các sản phẩm thủy hải sản tuy có được cải thiện nhưng
còn không ít bất cập bởi hệ thống giám sát kiểm tra chất lượng thủy hải sản mới đi
vào hoạt động và hiệu quả còn hạn chế.
- Lợi thế vượt trội đối với hàng hóa thủy sản nói chung, đặc biệt thủy sản nuôi của
tỉnh Long An nói riêng là ở rất gần thị trường tiêu thụ thủy sản tươi sống lớn nhất cả
nước là Tp. Hồ Chí Minh, chi phí vận chuyển và tỷ lệ hao hụt khi vận chuyển thủy sản
nuôi đến thị trường ở mức thấp, lại bán với giá cao vẫn chưa được tận dụng đạt kết quả.
- Việc kết nối chuỗi giá trị gia tăng đối với hàng thủy sản từ sản xuất - thu
mua - bảo quản - tiêu thụ còn chưa được coi trọng, trên thực tế mạnh ai nấy làm,
thiếu liên kết hợp tác cộng đồng trách nhiệm và cùng chia sẻ lợi nhuận.
Nguyên nhân chính của các hạn chế của nuôi trồng và khai thác thủy hải sản:
Nguyên nhân chủ quan:
- Quy hoạch, dự án đầu tư phát triển ngành thủy sản đã xây dựng còn chưa được
điều tra, khảo sát, phân tích, tính toán có đầy đủ căn cứ khoa học và thực tế dẫn đến
người nuôi và ngư dân hành nghề khai thác thủy sản còn chưa tuân thủ theo quy hoạch.
- Thiếu cơ chế chính sách thực sự tạo động lực và hỗ trợ khuyến khích phát
triển thủy sản và nuôi thủy sản chất lượng cao phát triển bền vững trong cơ chế thị
trường (Long An không được hưởng chính sách hỗ trợ khai thác thủy sản).
- Tỷ lệ đáng kể lao động nuôi thủy sản và một số ít cán bộ kỹ thuật chuyên
ngành thủy sản còn thiếu hiểu biết về khoa học công nghệ, kỹ thuật, thị trường và cả
kinh nghiệm… về phát triển bền vững các loại thủy sản nuôi sao cho phù hợp với
phương thức nuôi ở từng thủy vực thuộc các vùng sinh thái nước lợ - ngọt.
81
- Hoạt động khuyến ngư tuy đã có cố gắng nhưng trên thực tế hiệu quả còn hạn
chế, đặc biệt là số lượng mô hình trình diễn về nuôi thủy sản đạt hiệu quả ở các thủy
vực đặc trưng cho vùng sinh thái nước lợ, nước ngọt còn thiếu hấp dẫn và vẫn chưa
đủ sức thuyết phục đối với người nuôi thủy sản.
- Đề tài nghiên cứu khoa học từ năm 2000 đến năm 2009 về thủy sản nuôi
được chọn nghiên cứu khá nhiều song triển khai sản xuất đại trà gặp nhiều trở ngại.
- Vốn đầu tư nhất là từ nguồn ngân sách cho ngành thủy sản nói chung và nuôi
thủy sản nói riêng ở tỉnh Long An với số lượng rất ít (9 năm vốn đầu tư tổng cộng
là: 119,01 tỷ đồng, bình quân năm: 13,29 tỷ đồng. Tỷ lệ vốn đầu tư thủy sản chỉ là:
0,08% so với tổng đầu tư phát triển) và chỉ tập trung các huyện vùng hạ của tỉnh..
Nguyên nhân khách quan:
- độc tố (ClP
+ P…), đồng thời là địa phương có chất lượng nguồn nước ngọt P, AlP
-2 P, SOR4RP
- Đất đào ao (đầm) nuôi thủy sản chủ yếu trên nền đất phèn, đất mặn có các
nuôi thủy sản kém nhất vùng ĐBSCL. Hơn nữa lại luôn chịu áp lực ô nhiễm nguồn
nước từ các cơ sở công nghiệp, khu - cụm công nghiệp và nước thải các khu dân cư
đô thị. Tỷ lệ diện tích tôm nhiễm bệnh chết chủ yếu do ảnh hưởng của môi trường
nước hàng năm khá cao.
- Nguồn lợi của thủy sản là đối tượng của hoạt động khai thác tại các ngư
trường và nội đồng giảm đáng kể do ít chú ý đến bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản
thậm chí còn sử dụng phương tiện khai thác làm cạn kiệt và hủy diệt môi trường.
- Biến đổi khí hậu - nước biển dâng và chế độ thủy văn ở các vùng nuôi ngư
trường khai thác thủy sản diễn biến thất thường, ít thuận lợi phát triển ngư nghiệp.
- Giá thức ăn nuôi thủy sản liên tục tăng với mức cao đã làm tăng chi phí, giá
thành, giảm lợi nhuận và thu nhập của người nuôi thủy sản.
82
2.3.5. Mức độ tổ chức các hình thức lãnh thổ nông nghiệp vùng Đồng
Tháp Mười tỉnh Long An
2.3.5.1. Hộ gia đình
Kinh tế hộ gia đình đã và đang có vai trò, nghĩa to lớn, đang là một đơn vị sản
xuất phổ biến, nhằm huy động mọi nguồn lực để phát tiển kinh tế ngày càng sôi
động và linh hoạt hơn.
Theo số liệu Niên giám Thống kê tỉnh Long An năm 2011, toàn vùng có
69.772 hộ dân sống ở nông thôn, so với năm 2006 toàn vùng có 68.102 hộ dân sống
ở nông thôn tăng 1670 hộ, trung bình mỗi hộ có 3,85 nhân khẩu. Trong đó, số hộ
hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản là 55.314 hộ (nông nghiệp: 53446 hộ,
lâm ngiệp: 1112 hộ và thủy sản: 756 hộ); hộ công nghiệp xây dựng là 4841 hộ và hộ
dịch vụ là 9617 hộ tương ứng tỉ lệ: 79,27%; 6,95% và 13,78%.
Số người trong độ tuổi lao động khu vực nông thôn là 209.459 người, chiếm
27,63% lực lượng lao động toàn tỉnh và mỗi hộ có 2,43 lao động/hộ dân. Gồm, hoạt
động nông lâm thủy sản là 170.905 người (chiếm 81,59%), công nghiệp 13.891
người (6,6%), thương mại - dịch vụ, hoạt động khác là 24.663 người (11,81%).
Như vậy, nguồn nhân lực tập trung chủ yếu khu vực nông lâm nghiệp - thủy
sản là chính, mang tính chất hàng hóa cao; đây là một thuận lợi lớn trong việc hình
thành vùng chuyên canh cây lúa chất lượng cao.
Chênh lệch lớn về năng suất lao động giữa công nghiệp, dịch vụ và nông
nghiệp. Đây là một trong số các nguyên nhân chính đang làm tăng thêm khoảng
cách cả thu nhập lẫn mức chi tiêu giữa nông thôn và thành thị...
Hộ nông dân thường rất dễ bị tổn thương trước sự chi phối khắc nghiệt của
quy luật thị trường. Vốn tích lũy của các hộ gia đình cũng có sự phân biệt khá rõ
giữa các loại hình sản xuất (vốn tích lũy của các hộ sản xuất phi nông nghiệp vẫn
vượt lên cao hơn các hộ thuần nông).
83
CHÚ GIẢI
UBND tỉnh UBND huyện UBND xã Các điểm dân cư Khu dân cư lớn Khu dân cư nhỏ
Vùng Đồng Tháp Mười
(từ vạch màu đỏ sang phía Tây)
Cấp đường Quốc lộ Tỉnh lộ Mặt nước
Nguồn: Sở Xây dựng
Hình 2.6. Lược đồ Vị trí các trung tâm xã và khu dân cư tỉnh Long An
Khó khăn trong khâu sơ chế và chế biến sau thu hoạch cũng là một cản trở lớn
đối với kinh tế hộ nông dân. Phần lớn các hộ nông dân đều thiếu kỹ thuật và khả
năng sơ chế nông sản sau thu hoạch, thiếu thông tin thị trường, chi phí giao dịch
cao... chưa nâng được thêm giá trị kinh tế đáng kể trong các khâu tiếp theo của quy
trình sản xuất đến tay người tiêu dùng, kể cả mẫu mã, tiếp thị và tiêu thụ, xuất khẩu.
Nhiều hộ nông dân đang rất cần đến những sự trợ giúp đáp ứng đầu vào và đầu
ra của sản xuất, nhưng các HTX hiện nay trong nông nghiệp, nông thôn chưa đáp
ứng đầy đủ, do chưa hoạt động thật hiệu quả và thiết thực.
Thị trường đầu vào của sản xuất nông nghiệp biến động rất bất lợi cho các hộ
nông dân, giá lên cao liên tục, giao thông khó khăn, vốn ít nên khó khăn trong việc
mua giá thấp với khối lượng lớn (mua buôn), mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu những
nhà cung cấp tin cậy và ổn định, và còn thiếu cả thông tin để có cơ hội lựa chọn
phương án tối ưu.
84
Lề lối làm ăn còn nặng về sản xuất nhỏ, manh mún, chưa thích ứng với kinh tế
thị trường kinh tế hộ đang cần có sự hỗ trợ, hợp lực mang tính cộng đồng chặt chẽ
hơn mới hy vọng có được sức mạnh trong cạnh tranh khốc liệt của thương trường
trước xu thế hội nhập ngày một sâu hơn của nền kinh tế quốc dân.
Nhưng khó khăn lớn hiện nay là diện tích đất nông nghiệp đang mất vào các
khu công nghiệp, khu đô thị và giao thông với tốc độ quá nhanh.
Tóm lại, sản xuất - kinh doanh nông nghiệp của hộ có quy mô nhỏ, kĩ thuật
đơn giản, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống để sản xuất, cơ giới hóa nông
nghiệp thấp, chất lượng và số lượng sản phẩm không cao, đầu ra sản phẩm ít, đang
được xem là hạn chế đối với phát triển nông nghiệp hàng hóa theo cơ chế kinh tế thị
trường bởi ít đất, vốn nhỏ, số lượng sản phẩm không đủ lớn, nông hộ thường ít quan
tâm đến đầu tư thay đổi công nghệ và công cụ quản lý, đặc biệt là sản phẩm hàng
hóa của từng hộ sản xuất rất khó cạnh tranh trên thị trường.
2.3.5.2. Trang trại
Hiện trạng kinh tế trang trại theo báo cáo cục Thống kê Long An đến năm
2011, vùng ĐTM có 305/564 trang trại, chiếm 54,07% trang trại nông lâm ngư
nghiệp của toàn tỉnh Long An giảm 2299 trang trại so với năm 2006, tốc độ tăng
bình quân của trang trại là -46,57%/năm. Trong đó có, 305 trang trại trồng trồng cây
hàng năm và 1 trang trại thủy sản đang hoạt động so với năm 2006 có: trang trại
trồng cây hàng năm 2528 trang trại, trồng cây lâu năm 1 trang trại, chăn nuôi 20
trang trại, lâm nghiệp 27 trang trại, nuôi trồng thủy sản 2 trang trại, sản xuất kinh
doang tổng hợp có 26 trang trại.
Tổng diện tích đất sử dụng cho trang trại chiếm 10410 ha, phân thành: trang
trại nông nghiệp có diện tích 5198 ha, đất trồng cây hàng năm 4932 ha và đất trồng
cây lâu năm 168 ha (phân bố ở tất cả các huyện trong vùng), đất lâm nghiệp 68 ha
(Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng), diện tích nuôi trồng thủy sản là 54 ha (Mộc
Hóa). So với năm 2006 tổng diện tích đất nông – lâm- ngư nghiệp là 189050,3 ha,
giảm 183852,3 ha, trung bình mỗi năm giảm 21721,9%/năm. Năm 2006, đất dành
cho cây trồng hàng năm là 188155 ha (phấn bố ở tất các các huyện trong vùng),
85
trồng cây ăn quả 10 ha (Bến Lức), trang trại chăn nuôi 19 ha (trừ Tân Hưng, Tân
Thạnh), trang trại lâm nghiệp 420,7 ha (trừ Vĩnh Hưng và Tân Thạnh), trang trại
thủy sản 20,2 ha, bình quân 10,11 ha/trang trại (Mộc Hóa và Đức Huệ), trang trại
tổng hợp 425,4 ha, bình quân 16,36 ha/trang trại (trừ Tân Hưng).
Về lực lượng lao động thường xuyên của các trạng trại: tổng lao động thường
xuyên là 1317 người gỉam 6575 người so với năm 2006, trung bình mỗi trang trại
có 4,76 lao động. Trong đó, lao động chủ hộ trang trại bình quân có 2,54 chủ
hộ/trang trại; lao động thuê mướn bình quân 2,22 lao động thuê mướn/trang trại.
Tính theo trình độ chuyên môn của các lao động thường xuyên của các trang trại có
1234 lao động chưa qua đào tạo chiếm 93,69%, đã qua đào tạo nhưng không có
bằng cấp chiếm 2,65%, sơ cấp nghề chiếm 1,21%, trung cấp nghề, trung cấp chuyên
nghiệp chiếm 1,5%, cao đẳng chiếm 0,15%, đại học chiếm 0,68%.
Về kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại trong năm 2011, tổng giá trị thu
từ nông - lâm – thủy sản đạt 325033,03 triệu đồng, giảm 198298,97 triệu đồng so
với năm 2006. Trong đó, giá trị thu từ sản xuất nông nghiệp là 321.990,46 triệu
đồng chiếm 99,06% so với 2006 giảm 89.832,54 triệu đồng (trồng trọt: 320.268,94
triệu đồng, chăn nuôi: 1721,52 triệu đồng); giá trị thu từ lâm nghiệp đạt 2 triệu đồng
chiếm 0,06% so với năm 2006 giảm 389,8 triệu đồng; giá trị thu từ thủy sản đạt
3.040,57 triệu đồng chiếm 0,94% so với năm 2006 tăng 1.697,57 triệu đồng. Giá trị
sản phẩm và dịch vụ nông – lâm – thủy sản đạt được là 312.378,92 triệu đồng.
Như vậy, mặc dù số lượng lẫn diện tích các trang trại, lực lượng lao động tham
gia sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp năm 2011 có giảm mạnh so với năm 2006 nên
về GTSX của ngành có giảm nhưng chênh lệch không lớn, riêng ngành lâm nghiệp
còn tăng thêm giá trị. Chứng tỏ, trong hoạt động sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp
của vùng đã có những thay đổi trong phương thức sản xuất, áp dụng khoa học –
công nghệ, liên kết sản xuất tốt hơn… so với trước đây.
86
2.3.5.3. Hợp tác xã
Tổng diện tích đất sản xuất của xã viên các HTX là 1.501ha, bình quân một
HTX có 79 ha, HTX có diện tích cao nhất là 280 ha, HTX có diện tích thấp nhất là
8 ha, chỉ có HTX Hưng Phát – huyện Tân Hưng 0,2 ha.
Tổng số các loại máy móc, phương tiện của HTX là 176 cái, bình quân mỗi
HTX có 9,3 máy các loại, trong đó số lượng máy bơm nước, motơ loại nhỏ là nhiều
nhất (129 cái). Số HTX có các loại máy móc có giá trị như máy gặt đập liên hợp,
máy sấy, trạm bơm chỉ có 10 HTX, chiếm tỷ lệ 47,61%.
4TQuỹ Tín dụng
4TTổng
4TSTT
4THuyện
4TNông nghiệp
4TVận tải
Bảng 2.12. Số hợp tác xã của vùng Đồng Tháp Mười, năm 2011
nhân dân cộng
4T1 Tân Thạnh
4 1 1 6
4T2 Thủ Thừa
3 1 2 6
4T3 Đức Huệ
1 1 2
1 4 Mộc Hóa 1 1 3
4T5 Vĩnh Hưng
1 1 2
6 6 Tân Hưng 1 7
2 7 Thạnh Hoá 1 3
4T8 Bến Lức
4T6
4T7
4T32
4TTổng số
4T19
Nguồn: Liên minh Hợp tác xã tỉnh Long An
1 2 3
Qua các khâu dịch vụ, nhiều HTX nông nghiệp đã đóng vai trò tích cực trong
việc giúp các hộ nông dân hình thành những vùng tập trung theo hướng sản xuất
hàng hoá và tăng giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích, nâng cao hiệu quả sản
xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi.
Phối hợp với tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống đã đẩy mạnh
phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy
mạnh bảo tồn và phát triển các ngành truyền thống.
87
Hướng dẫn chuyển giao ứng dụng tiến bộ, khoa học kỹ thuật vào sản xuất, các
HTX phi nông nghiệp khác như tín dụng, giao thông vận tải, thương mại - dịch vụ,
xây dựng, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển năng động và tự chủ trong
hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, tích cực tìm kiếm thị trường nên doanh
thu, lợi nhuận ngày càng cao, góp phần giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho xã viên
và người lao động trong các HTX.
Các HTX còn đẩy mạnh phong trào thi đua xóa đói, giảm nghèo, xây dựng
nông thôn mới phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng đơn vị như: HTX nông
nghiệp đã gắn phong trào thi đua với việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
trong thâm canh, tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sản xuất rau, củ,
quả theo hướng an toàn.
Sở Khoa học và Công nghệ hướng dẫn, hỗ trợ 06 HTX, tổ hợp tác hoàn thành
hồ sơ, thủ tục xin cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá cho 5 loại nông sản:
khoai mỡ của HTX dịch vụ nông nghiệp Bến Kè - huyện Thạnh Hoá, mè của HTX
nông nghiệp Hưng Phát - huyện Tân Hưng, lúa giống của HTX dịch vụ nông nghiệp
Hậu Thạnh Đông - huyện Tân Thạnh, lúa chất lượng cao của tổ hợp tác Thủy Ngân
- huyện Tân Hưng, gạo huyết rồng của tổ hợp tác nhân giống cây trồng, thuỷ sản và
gia súc xã Thái Trị - huyện Vĩnh Hưng và 3 loại sản phẩm chanh không hạt của
HTX sản xuất dịch vụ nông nghiệp Thuận Bình – huyện Thạnh Hoá.
Tổ chức lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho 931 học viên là cán bộ
chuyên trách kinh tế tập thể, hội viên, đoàn viên, cán bộ quản lý HTX về các chính
sách thuế, đất đai; một số kinh nghiệm trong quản lý điều hành HTX; tập huấn kiến
thức về an toàn vệ sinh thực phẩm; quản lý Quỹ Tín dụng nhân dân và kỹ năng quản
lý hiệu quả; khởi sự doanh nghiệp; tập huấn về kinh tế tập thể và xây dựng nông
thôn mới với tổng số tiền 300 triệu đồng từ nguồn kinh phí hỗ trợ đào tạo, bồi
dưỡng thành lập mới HTX.
Có thể nói, những đóng góp của kinh tế tập thể so với các thành phần kinh tế
khác chưa cao. Song, khu vực kinh tế tập thể này có ý nghĩa xã hội rất lớn góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, thu hút lao động, tạo việc làm, giảm nghèo
88
trong nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt các Quỹ Tín dụng nhân dân đáp ứng nhu
cầu vốn cho nhân dân, thành viên, nhất là các hộ nghèo có điều kiện đầu tư cho sản
xuất, mua giống cây trồng, vật nuôi, máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp. HTX là
nơi hỗ trợ cho kinh tế hộ phát triển hiệu quả, đồng thời đã tạo việc làm thường
xuyên cho hàng chục ngàn lao động tại địa phương.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, kinh tế tập thể của tỉnh vẫn còn những
hạn chế, phần lớn là quy mô nhỏ, nhiều HTX hoạt động đơn thuần, mới chỉ là cung
ứng dịch vụ cho xã viên.
Trình độ năng lực và đội ngũ cán bộ quản lý HTX chưa cao, chưa đáp ứng yêu
cầu với kinh tế thị trường và khả năng hội nhập quốc tế. Lương của cán bộ HTX
còn thấp, thậm chí không có nhất là các HTX nông nghiệp, đa số cán bộ HTX chưa
tham gia được bảo hiểm xã hội, làm nhiều cán bộ chưa thực sự yên tâm công tác.
Nội dung hoạt động của HTX chưa phong phú, chưa thích ứng với cơ chế mới
dẫn đến hiệu quả thấp, khả năng cạnh tranh trong sản xuất, kinh doanh còn hạn chế.
Hầu hết HTX nông nghiệp chưa chủ động quan hệ với các đối tác để liên doanh liên
kết ký hợp đồng tiêu thụ lúa gạo, gia súc, gia cầm… Do không chủ động trong việc
tìm kiếm đối tác tiêu thụ nông sản nên người dân thường bị thương lái ép giá. Vốn
góp của các xã viên còn thấp, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh, do
đó nhiều HTX không có khả năng mở rộng sản xuất.
Nguyên nhân của những hạn chế yếu kém nói trên là do trình độ phát triển
thấp của lực lượng sản xuất. Việc xây dựng mô hình HTX kiểu mới còn nhiều lúng
túng. Các tổ hợp tác, HTX thiếu chủ động, chưa cố gắng nỗ lực vươn lên, chưa huy
động được các nguồn lực tại chỗ để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, chậm thích
ứng với cơ chế thị trường, năng lực tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn còn hạn chế.
Một bộ phận không nhỏ các tổ chức kinh tế tập thể và xã viên còn tư tưởng ỷ lại,
trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước…
Tóm lại, trong hoạt động nông – lâm – ngư nghiệp của vùng ĐTM với các loại
hình tổ chức sản xuất kinh doanh nói trên đã phát huy tốt vai trò của mình đối với
phát triển KT-XH nói chung và phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Tuy
89
nhiên, mỗi loại hình đều gặp những khó khăn và tồn tại nhất định và đang rất cần
những chủ trương, chính sách mang tính đột phá để thúc đẩy các loại hình tổ chức
sản xuất nông nghiệp của vùng phát triển mạnh và hiệu quả hơn, nhằm khai thác
một cách tốt nhất các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển.
2.3.6. Cánh đồng mẫu lớn – một trong những hình thức sản xuất nông
nghiệp mới, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Về hình thức: Hoạt động theo hình thức liên kết 4 nhà theo hướng khép kín từ đầu
vào đến đầu ra. Cụ thể:
- “Cánh đồng mẫu lớn” xã Tuyên Thạnh, huyện Mộc Hóa: Công ty Lương thực
trực tiếp thực hiện hợp tác với Trung tâm Khuyến nông, công ty Cổ phần Dầu khí Đông
Nam Bộ (Đạm Phú Mỹ), Công ty trách nhiệm hữu hạn Hóa Nông Hợp Trí cung ứng đầu
vào: giống lúa xác nhận, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và thu mua lúa cuối vụ dưới
hình thức hợp đồng đầu tư ứng trước không tính lãi, cuối vụ thu mua, thanh toán thu hồi
vốn lại. Hình thức giao nhận tại địa điểm thuận tiện trong cánh đồng triển khai thực hiện.
- Các “Cánh đồng mẫu lớn” còn lại, Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang
trực tiếp thực hiện, cung ứng vật tư đầu vào: giống lúa xác nhận, thuốc bảo vệ thực vật
dưới hình thức đầu tư ứng trước không tính lãi, cuối vụ thu mua, thanh toán thu hồi vốn
lại (do nhà máy xay xát lương thực chưa xây dựng xong nên chỉ thu mua một phần).
Hình thức giao nhận tại địa điểm thuận tiện trong cánh đồng triển khai thực hiện.
- Hình thức tập hợp nông dân: Trên mỗi cánh đồng chia thành nhiều tổ. Các tổ
trưởng thông báo nông dân tập trung để triển khai, tập huấn, thăm đồng, v.v..…
- Hình thức hỗ trợ:
+ Nhà nước: Đầu tư hỗ trợ các nội dung sau: Hoàn chỉnh các cơ sở hạ tầng: giao
thông, thủy lợi, điện,…; Công tác triển khai thực hiện; Công tác thông tin tuyên truyền;
Công tác tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật; Công tác phòng trừ sâu bệnh: bẫy đèn,
pano, áp phích,v.v….
+ Doanh nghiệp: Hỗ trợ ứng trước vật tư đầu vào, tổ chức thu mua lúa cuối vụ; hỗ
trợ cán bộ kỹ thuật hướng dẫn nông dân canh tác theo đúng quy trình kỹ thuật, phòng trừ
sâu bệnh…
90
Kết quả thực hiện:
- Số lượt cánh đồng mẫu lớn: 20 cánh đồng với diện tích: 4.140 ha (vụ đông xuân
và vụ hè thu) trên 1.701 hộ;
- Giống lúa: Cơ cấu giống lúa chủ yếu: OM 4900, OM 6976, OM 7347, OM 4218,
OM 5451, Jasmine 85, VD 20, … Mỗi cánh đồng cơ cấu 2 - 3 giống lúa.
- Cấp giống sử dụng: chủ yếu sử dụng giống cấp xác nhận, cánh đồng mẫu huyện
Tân Hưng, Vĩnh Hưng: 100% sử dụng giống xác nhận. Các cánh đồng còn lại tỷ lệ sử
dụng giống xác nhận 94-98%, riêng “cánh đồng mẫu lớn” xã Tuyên Thạnh, huyện Mộc
Hóa mới triển khai từ vụ đông xuân 2011 - 2012 nên tỷ lệ sử dụng giống xác nhận thấp,
khoảng 20%, còn lại do người dân tự để giống (giống xác nhận 2).
- Mật độ gieo sạ: từ 120-130kg/ha, riêng mô hình Bình Hòa Trung mật độ gieo
sạ chủ yếu từ 80-120kg (chiếm 59% diện tích).
- Thời vụ: nhờ kiên quyết tập trung chỉ đạo nên toàn bộ diện tích đều xuống
giống tập trung, đồng loạt và né rầy theo lịch thời vụ khuyến cáo của ngành nông
nghiệp ở địa phương.
- Công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật :
+ Tập huấn: đã tổ chức 85 cuộc tập huấn cho 4.376 lượt nông dân về các biện
pháp canh tác, chăm sóc đồng ruộng, phòng trừ dịch hại, ghi chép sổ tay sản xuất
lúa, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa...
+ Đặt ống tiết kiệm nước: triển khai tại 47 điểm trong các mô hình (mỗi điểm
đặt 3 ống tiết kiệm nước), diện tích 68,5 ha.
+ Mô hình ứng dụng công nghệ sinh thái: tại cánh đồng huyện Mộc Hóa, Tân
Thạnh triển khai mô hình ứng dụng công nghệ sinh thái với diện tích 16,9ha.
Kết quả thu mua lúa:
- Tổ chức thu mua lúa cho nông dân tham gia chương trình với giá thu mua cao
hơn giá thị trường 100-150đồng/kg, kể cả thu mua lúa tươi cho nông dân trong vụ hè
thu. Vụ đông xuân 2011-2012 thu mua 6.415tấn/sản lượng 14.247 tấn, tỷ lệ 45%.
91
- Số lúa còn lại nông dân tồn trữ chờ giá lên để bán hoặc do thị trường biến
động, giá tăng chậm, không kịp theo diễn biến của thị trường và không thể tổ chức
thu mua hết lượng lúa hàng hóa nên nông dân bán cho thương lái với giá cao hơn.
- Năng suất trung bình 7,3-8,4tấn/ha. Nhìn chung, vụ đông xuân 2011-2012,
năng suất tương đối cao, chi phí sản xuất thấp và giá thành giảm hơn so với bên
ngoài, giá thành bình quân 2.427đ/kg; lợi nhuận dao động 25-27 triệu đồng/ha
Vậy :
- Nhờ triển khai thực hiện trên cơ sở các mô hình của chương trình ‘‘Cùng
nông dân ra đồng’’ đã được triển khai hơn 4 năm nay nên việc xây dựng cánh đồng
mẫu lớn rất thuận lợi, các tiêu chí gần như đảm bảo theo yêu cầu của Cục trồng trọt,
mối liên kết 4 nhà ngày càng chặt chẽ và bền vững trong suốt quá trình từ sản xuất
đến tiêu thụ. Hiệu quả kinh tế ngày càng được nâng cao, góp phần cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần cho nông dân.
- Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số khó khăn như sau:
+ Chính quyền địa phương một số nơi chưa thực sự quan tâm trong việc phối
hợp chỉ đạo thực hiện, chưa chủ động trong triển khai, có tư tưởng giao việc cho
Ban chỉ đạo cấp tỉnh.
+ Một bộ phận nông dân tư tưởng bảo thủ, còn canh tác theo tập quán cũ,
không tuân thủ theo qui trình sản xuất do cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, chưa tham gia
sinh hoạt, hội họp đầy đủ, chưa ghi chép đạt theo yêu cầu Sổ tay tình hình sản xuất
lúa theo hướng VietGAP.
+ Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn chưa hoàn chỉnh.
+ Lực lượng cán bộ kỹ thuật của ngành quá mỏng, kinh phí hỗ trợ triển khai hầu
như không có, thời gian qua chủ yếu nhờ vào lực lượng FF và kinh phí hỗ trợ của Công
ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang, Công ty Lương thực Long An.
+ Các cánh đồng mẫu lớn hiện nay mặc dù đã được bao tiêu toàn bộ sản
phẩm nhưng nếu nhân rộng với qui mô lớn thì việc giải quyết đầu ra của sản phẩm
vẫn là thách thức lớn.
92
2.3.7. Nông nghiệp và nông thôn mới – những thành tựu đạt được
Qua gần 2 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn
mới tình hình kinh tế của vùng có chuyển biến tích cực nhất là trong lĩnh vực nông
nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ngành nông lâm thủy sản tăng qua các năm.
Đời sống vật chất tinh thần người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao,
an ninh trật tự được đảm bảo. Năm 2011, thu nhập bình quân đầu người khu vực
nông thôn là 20.520.000 đồng, tăng 8.460.000 đồng so năm 2008; tỷ lệ hộ nghèo
còn 8,76 %, giảm 7,74% so năm 2009; 13 xã, phường có nhà văn hóa đạt chuẩn;
100% xã có trạm y tế, 98,54% hộ có điện sinh họat, 87,6% hộ được sử dụng nước
hợp vệ sinh. Từ năm 2008 đến năm 2011 có 4.354 hộ được hỗ trợ chính xóa nhà
tạm, nhà dột nát. Các điều kiện sinh hoạt khác cũng được cải thiện rất tốt về sử
dụng chất đốt để đun nấu, hệ thống thoát nước, nhà tắm, xử lí chất thải sinh hoạt...
Nhiều mô hình sản xuất trong nông dân được phát huy hiệu quả và nhân rộng
như mô hình cánh đồng mẫu lớn, mô hình sản xuất thanh long thâm canh rải vụ và
mô hình trồng chanh với quy mô lớn với hình thức trang trại.
Thành tựu:
- Toàn bộ 71 xã đã hoàn thành công tác điều tra đánh giá thực trạng nông thôn
so Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
- 100% đã triển khai công tác lập đề án, lập quy họach xây dựng nông thôn
mới của xã. Trong đó, có 25 xã đã được phê duyệt đề án, 9 xã đã được phê duyệt đồ
án quy hoạch.
- Công tác tuyên truyền, vận động tòan dân xây dựng nông thôn mới được
chú trọng. Báo Long An, Đài Truyền thanh huyện, xã cùng phối hợp Đài tiếng nói
Việt Nam (phía Nam) tuyên truyền xây dựng nông thôn mới, tuyên truyền những
mô hình sản xuất hay hiệu quả trong nông thôn.- Công tác bồi dưỡng kiến thức cho
các cán bộ công chức tham gia thực hiện Chương trình đã tổ chức 27 lớp bồi dưỡng
về nông thôn mới cho hơn 700 cán bộ công chức huyện, xã trong vùng.
- Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp tập trung thực hiện công tác chuyển
giao khoa học kỹ thuật và mô hình liên kết 4 nhà thông qua thực hiện Chương trình
93
cùng nông dân ra đồng xây dựng được 299 điểm trình diễn, 8 mô hình Cánh đồng
mẫu lớn với tổng diện tích 1.679 ha và 1.061 hộ tham gia, chuyển diện tích canh
tác lúa năng suất thấp sang các loại cây hoa màu như: dưa hấu, chanh, ớt, rau các
loại... Chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng kết hợp giữa trồng trọt, chăn nuôi,
thủy sản nhờ đó góp phần làm tăng thu nhập của người dân.
Bên cạnh, tập trung đầu tư các công trình thủy lợi, chuyển giao khoa học kỹ
thuật, thực hiện các mô hình, cánh đồng mẫu lớn, hạn chế dịch bệnh trên gia súc,
gia cầm, tạo điều kiện cho nông dân nắm bắt được kỹ thuật sản xuất mới góp phần
làm giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả và chất lượng sản xuất làm tăng thu
nhập của người dân..
2.3.8. Những tồn tại và thách thức trong khai thác tài nguyên, xây dựng
cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng Tháp Mười
- Xây dựng hệ thống thủy lợi, chuyển ĐTM từ một “đồng lụt kín” thành “đồng
lụt nửa hở” để tập trung cao độ cho sản xuất lúa 2 – 3 vụ/năm, giảm diện tích rừng,
đặc biệt là rừng tràm đã phá vỡ cân bằng sinh thái vốn có và chưa thiết lập một hệ
thống sinh thái mới phát triển theo hướng bền vững, đã và đang vấn đề đang tồn tại
trong việc sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên: đất – nước – sinh vật
(gia tăng ảnh hưởng xấu của lũ, mặn, giảm nguồn lợi thủy sản, tăng dịch bệnh phá
hoại cây trồng…)
- Cơ cấu kinh tế mất cân đối nghiêm trọng, tốc độ tăng trưởng chậm, không ổn
định và có xu thế giảm bởi sản xuất kinh doanh còn nhiều rủi ro, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ít hiệu quả do thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm và chất lượng sản phẩm có
sức cạnh tranh kém.
- Nguồn nhân lực còn rất yếu kém, tỉ lệ lao động chưa qua đào tạo đạt mức cao
có huyện lên tới 98% lao động chưa qua đào tạo.
- Sự tác động hỗ trợ giữa các ngành còn thiếu đồng bộ, nhất là nông – lâm
nghiệp tạo ra nguồn nguyên liệu lớn trong khi công nghiệp, dịch vụ còn quá nhỏ bé,
chậm phát triển đã giảm tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Cơ sở hạ tầng
94
vừa thiếu vừa chưa đồng bộ và chịu ảnh hưởng thiệt hại do lũ lụt hàng năm nên
xuống cấp nên hiệu quả phát huy tác dụng chưa cao.
- Bộ mặt nông thôn vùng sâu chậm đổi mới, nhất là những vùng mới khai
hoang: Thạnh Hóa, Đức Huệ, hay các xã vùng giáp biên giới Camphuchia có thu
nhập thấp nên đời sống khó khăn. Quá trình phân hóa giàu nghèo, tích tụ đất đai
diễn ra quyết liệt hơn.
- Trong mười năm qua, vùng đã đạt tốc độ tăng trường kinh tế khá cao do tập
trung đầu tư lớn cho sản xuất nông nghiệp (khai hoang, tăng vụ, thâm canh). Tiềm
năng để tiếp tục khai thác, phát triển trong thời gian tới không còn nhiều, năng suất
lúa đạt 6,69 tấn/ha, gần như đã tới “ngưỡng”. Nên muốn tăng trưởng sản xuất trồng
trọt, đòi hỏi phải đầu tư theo chiều sâu và đồng bộ mới có thể khai thác hiệu quả.
- Đất hoang hóa còn lại ở những nơi có rất nhiều khó khăn: đất phèn tiềm tàng
nông, có nồng độ độc tố cao, thiếu nước ngọt, ảnh hưởng của mặn… Vì vậy, muốn
đầu tư, khai thác phát triển cần đầu tư nguồn vốn lớn song hiệu quả mang lại thấp.
- Nguy cơ suy thoái môi trường tiềm ẩn đối với ĐTM, bởi phương án kiểm
soát lũ cho vùng là khó khăn nhất ở ĐBSCL, kiểm soát lũ ngắn hạn chưa thật vững
chắc. Thêm vào đó, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, mức độ xâm nhập mặn đến
sớm, thời gian mặn kéo dài và vào sâu trong nội đồng, dịch chuột phá hoại gia tăng,
nông dân trồng 3 vụ lúa thường lạm dụng quá mức phân hóa học và thuốc trừ sâu
nên môi trường có nguy cơ suy thoái gia tăng.
- Lũ lụt luôn gây hậu quả khó lường cho dân sinh và kinh tế. Ví dụ lũ năm
2000 thiệt hại do lũ mang lại hết sức nặng nề và để khắc phục hậu quả thì cần một
thời gian dài (cây trồng, vật nuôi, giao thông, thủy lợi…), đây là thách thức thường
xuyên và cam go cho vùng ĐTM – vùng ngập lũ sâu, diễn biến lũ thất thường của
vùng ĐBSCL. Để phát triển kinh tế - xã cho vùng trong giai đoạn tới cần có mức
đầu lớn về vốn cho xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, hệ thống thủy lợi, giao thông,
hệ thống điện và các cụm dân cư trong vùng ngập lũ…
95
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP
VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI TỈNH LONG AN
3.1. Những căn cứ ban đầu
3.1.1. Kế hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Long An đến 2020
- Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp là bộ phận quan trọng trong tổng thể KT-
XH của tỉnh Long An, phát triển nông nghiệp bền vững, xây dựng nông thôn mới và
phát huy cao độ vai trò của giai cấp nông dân được xác định là nhiệm vụ chiến lược
góp phần tăng trưởng kinh tế, gìn giữ ổn định chính trị, đảm bảo trật tự xã hội và
anh ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái.
- Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp phải thực sự nâng cao đời sống, khai thác
hiệu quả các nguồn lực, xây dựng nền nông nghiệp, phát triển toàn diện tạo ra sản
phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao, phát huy được tiềm năng lợi thế của các vùng
sinh thái, từng ngành hàng nông - lâm - ngư nghiệp mà tỉnh Long An có thế mạnh.
- Động lực thúc đẩy phát triển là ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào
sản xuất gắn với đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí đồng thời tiến hành tổ
chức lại sản xuất theo hướng mở rộng hợp tác liên kết thông qua chuỗi giá trị cùng
với cơ chế chính sách phù hợp.
- Một số chỉ tiêu cụ thể
Nhằm xây dựng nền nông lâm ngư nghiệp phát triển toàn diện, bền vững theo
hướng sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh
tranh cao, gia tăng giá trị và lợi nhuận trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp.
+ Tốc độ tăng GTSX nông - lâm - ngư nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 đạt bình
quân: 4,2% - 4,3%/năm, trong đó sản xuất nông nghiệp tăng: 4,4% - 4,6%/năm,
lâm nghiệp giảm: -2,0% - -2,3%/năm và ngư nghiệp tăng: 4,4% - 4,5%/năm, cơ
cấu GTSX nông nghiệp năm 2015: trồng trọt: 72,0%, chăn nuôi: 22,0%; dịch vụ
nông nghiệp: 6,0%.
+ Giai đoạn 2016 - 2020 tốc độ tăng GTSX nông - lâm - ngư nghiệp đạt bình
quân: 3,9% - 4,0%/năm, trong đó nông nghiệp: 4,0%- 4,1%/năm, lâm nghiệp giảm:
96
-1,8% - -2,0%/năm và ngư nghiệp tăng: 4,0% - 4,1%/năm. Cơ cấu GTSX nông
nghiệp năm 2020: trồng trọt: 68,5%, chăn nuôi: 25,0%; dịch vụ nông nghiệp: 6,5%.
+ Tốc độ tăng GTSX nông - lâm - ngư nghiệp giai đoạn 2011 - 2020 đạt bình
quân là: 4,1% - 4,2%/năm trong đó sản xuất nông nghiệp tăng: 4,20 - 4,35%/năm,
lâm nghiệp giảm: -2,0% - -2,2%/năm và ngư nghiệp tăng: 4,4% - 4,5%/năm.
+ Tổng sản lượng lúa năm 2015 và 2020 ổn định 2,30 triệu tấn/năm.
3.1.2. Giải pháp phát triển nông – lâm - ngư nghiệp tỉnh Long An
Phân vùng phát triển nông lâm ngư nghiệp dựa trên những cơ sở lí luận và
thực tiễn của TCLTNN nhằm đưa ra những căn cứ cơ sở phân vùng hợp lí. Tham
gia vào quá trình phân công lao động xã hội cho vùng sao cho hợp lí nhất và đem lại
hiệu quả KT-XH cao nhất, rút ngắn khoảng cách chênh lệch KT-XH giữa các vùng
với nhau, gắn kết giữa các địa phương…
Đưa ra các phương án quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp:
- Đề ra các giải pháp chung thực hiện quy hoạch nông lâm ngư nghiệp bao
gồm các quy hoạch phát triển và dự án ưu tiên đầu tư.
- Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đáp ứng yêu cầu phát triển nông –
lâm - ngư nghiệp hàng hóa bền vững trong cơ chế kinh tế thị trường, hội nhập
kinh tế khu vực và thế giới; tạo động lực khuyến khích phát triển sản xuất các cây
trồng vật nuôi là nông lâm thủy sản hàng hóa chủ lực của tỉnh Long An.
- Đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới, công nghệ cao vào phát triển
nông lâm nghiệp, nuôi thủy sản nhằm tăng năng suất, chất lượng và nâng cao sức
cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa.
- Đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống công trình kết cấu hạ tầng
kỹ thuật phục vụ phát triển nông – lâm – ngư nghiệp.
- Tiếp tục đổi mới loại hình tổ chức, hoàn thiện cơ chế quản lý sản xuất nông lâm
nghiệp và nuôi thủy sản phù hợp với phương thức sản xuất hàng hóa, hội nhập quốc tế; Xây
dựng thương hiệu hàng hóa, đăng ký xin cấp nhãn hàng hóa và tăng cường hoạt
động thương mại mở rộng thị trường tiêu thụ nông lâm thủy sản hàng hóa chủ lực.
- Tiếp tục phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản với công nghệ, thiết bị
tiên tiến hỗ trợ đắc lực cho sản xuất nông lâm nghiệp; Tiếp tục đầu tư trang bị cơ
97
giới hóa nông nghiệp; Khái toán vốn đầu tư phát triển sản xuất nông lâm ngư
nghiệp đến năm 2020.
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp vùng
Đồng Tháp Mười tỉnh Long An
3.2.1. Phân vùng nông nghiệp
Nhằm phát triển ổn định vững chắc KT-XH, bảo vệ môi trường sinh thái trên
cơ sở khái thác hiệu quả hơn mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên và KT-XH.
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa để
tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế vững chắc hơn, hiệu quả KT-XH – môi trường
bền vững hơn, chống nguy cơ tụt hậu, nhằm biến đổi một bước rõ rệt về cơ cấu
kinh tế theo hướng nông – công – dịch vụ.
Nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho tầng lớp dân cư trong
vùng, chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng sản xuất và hạ tầng xã hội cho các vùng
sâu, biên giới. Mở rộng quan hệ kinh tế với các vùng lận cận trong và ngoài tỉnh
trên cơ sở hợp tác có hiệu quả. Củng cố và tăng cường an ninh quốc phòng.
Thừa kế có chọn lọc nội dung phân vùng "Báo cáo thuyết minh điều chỉnh quy
hoạch sử dụng đất tỉnh Long An đến năm 2010” và công văn số: 279/CV-SKHĐT
của Sở Kế hoạch và Đầu tư đồng thời căn cứ vào 5 yếu tố đặc trưng sau:
+ Phát sinh đất và lý hóa tính đất.
+ Nguồn nước, chất lượng nước và chế độ thủy văn.
+ Tác động của công nghiệp, đô thị hóa đến nông lâm thủy sản.
+ Quy mô đồng ruộng và loại hình tổ chức sản xuất phổ biến liên quan đến xây
dựng nền nông nghiệp hàng hóa và cơ giới hóa nông nghiệp.
+ Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông lâm ngư nghiệp.
Và ứng dụng GIS chồng xếp các yếu tố nêu trên lên bản đồ có cùng tỷ lệ
1/100.000 đã chia không gian lãnh thổ tỉnh Long An thành 4 vùng với các đặc trưng
và các định hướng phát triển nông lâm - ngư - nghiệp đến năm 2020.
98
I
0 5 3 : 1 : ệ l ỉ
T
8 9
Ờ Ư M P Á H T G N Ồ Đ G N Ù V P Ệ I H G N G N Ô N G N Ù V N Â H P Ồ Đ N Ả B
. 1 .
3 h n ì H
ả i g c á T
: n ồ u g N
99
Trong đó, vùng ĐTM thuộc tỉnh Long An nằm trong phân vùng:
+ Vùng I: gồm 4 huyện ĐTM: Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh
và 3 xã phía Tây của huyện Thạnh Hóa có diện tích tự nhiên: 198.000 ha. Định
hướng phát triển "4 cây - 3 con" chính là: lúa cao sản xuất khẩu + lúa đặc sản truyền
thống - tràm cừ - dưa hấu - đay - thủy sản nước ngọt - vịt và heo siêu nạc, nuôi bò
thịt ở dọc theo biên giới Campuchia.
+ Vùng II: gồm Đức Huệ, bắc kênh Thủ Thừa huyện Thủ Thừa, 3 xã phía tây
sông Vàm Cỏ Đông, Bến Lức và các xã còn lại của Thạnh Hóa có diện tích tự
nhiên: 102.944 ha. Định hướng phát triển sản xuất "6 cây - 5 con" chính là: lúa cao
sản - mía - tràm cừ - chanh - khoai mỡ - dưa hấu - nuôi trâu thịt - bò thịt lai sind -
heo siêu nạc - gia cầm + thủy sản nước ngọt theo hướng trang trại nhỏ và vừa.
(Chi tiết ở Phụ lục Bảng 15)
Kết quả phân vùng nông - lâm - ngư nghiệp và định hướng sản xuất các loại
cây con chủ lực của từng vùng là cơ sở khoa học phát triển trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp và nuôi thủy sản đến năm 2015 và 2020.
3.2.2. Phân nhóm sản phẩm nông nghiệp
Nông sản Việt Nam chia thành 4 nhóm:
- Nhóm I: Nông sản xuất khẩu có tính cạnh tranh cao: gạo, điều, cà phê, hồ
tiêu…,
- Nhóm II: Nông sản thay thế hàng xuất khẩu: bông, đậu nành, bắp hạt, sữa,
thịt bò, dầu ăn…,
- Nhóm III: Nông sản hàng hóa có sức cạnh tranh trung bình: cao su, chè, rau
quả…
- Nhóm IV: Nông sản hàng hóa có sức cạnh tranh kém: mía dường, thịt heo,
thịt gia cầm…
Căn cứ vào thực trạng sản xuất kinh doanh: số lượng, chất lượng từng sản
phẩm, vùng sẽ có các nhóm sản phẩm tương ứng:
100
- Nhóm I: bao gồm các sản phẩm chủ lực có thị trường tiêu thụ và chiếm tỷ
trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp của vùng và tỉnh Long An: lúa gạo, bò thịt,
đậu phộng, bắp, khoai mỡ.
- Nhóm II: các sản phẩm có sức cạnh tranh trung bình và kém cần khuyến
khích phát triển với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước: thịt heo, thịt gia cầm, tràm cừ,
thủy sản, đay sợi, rau, dưa hấu, đậu đỗ, trái cây các loại…
3.2.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp trong
nền kinh tế thị trường theo hướng hiện đại và bền vững
Hướng đến một nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền
vững, sản xuất hàng hóa lớn, có kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn hiện đại; cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, đời sống vật chất, tinh thần của
4TMột là4T, xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời
dân cư nông thôn không ngừng nâng lên... với những giải pháp chủ yếu sau:
phát triển công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn.
Tập trung chỉ đạo làm tốt công tác quy hoạch; tổ chức lại sản xuất phù hợp với
điều kiện cụ thể của từng vùng, địa phương; bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo
hướng ổn định diện tích lúa vừa bảo đảm an ninh lượng thực vừa phục vụ xuất
khẩu; hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh lúa chất lượng cao, vùng
chuyên canh cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản, hình thành các trang trại chăn nuôi tập
trung, an toàn dịch bệnh.
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu, thủ
công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề ở nông thôn gắn với sử dụng nguyên liệu và thu
hút nhiều lao động tại chỗ nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
4THai là4T, tiếp tục đầu tư xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng KT-XH theo
động nông thôn.
hướng phục vụ phát triển sản xuất, vận chuyển hàng hóa, đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhu cầu sinh hoạt, học tập, chăm sóc sức khỏe người dân.
Trong đó, ưu tiên đầu tư kiên cố hóa hệ thống thủy lợi, thủy lợi kết hợp với
hoàn thiện hệ thống giao thông, bố trí dân cư, cung cấp nước sinh hoạt cho nông
101
thôn; nâng cấp, xây mới hệ thống điện phục vụ sản xuất nông nghiệp, phục vụ các
cụm công nghiệp, dịch vụ nông thôn; tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống y tế tuyến
huyện, thị, xã, phường; bảo đảm trang thiết bị, nguồn nhân lực theo tiêu chuẩn của
4TBa là4T, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn. Tiếp tục
Bộ Y tế đối với tất cả các trạm y tế xã, phường...
thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo. Thực hiện tốt chính sách an sinh xã
hội, nâng cao chất lượng thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư”, phát triển các phong trào văn hóa, thể thao ở nông
thôn. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề cho người dân theo mục tiêu
nâng cao trình độ dân trí, hiện đại hóa ngành nông nghiệp, cung cấp lao động cho
4TBốn là4T, đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu
các khu công nghiệp, làng nghề và xuất khẩu lao động.
quả ở nông thôn. Khuyến khích, tạo điều kiện cho người dân tham gia phát triển các
loại hình hợp tác sản xuất kinh doanh; xây dựng mô hình doanh nghiệp nông nghiệp
thích hợp gắn với liên kết hoặc tích tụ ruộng đất để hình thành vùng sản xuất hàng
hóa lớn, tạo điều kiện đưa công nghiệp vào phục vụ nông nghiệp. Tổ chức tốt các
hoạt động dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn và tiêu thụ nông sản; khuyến
khích mở rộng các hình thức liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa thông
qua hợp đồng đối với các sản phẩm lúa gạo, cá tra, trái cây; tiếp tục hỗ trợ, tạo điều
kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, nhất là các HTX, tổ hợp, trang trại.
4T Năm là4T, tiếp nhận, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ KH-CN, đào tạo, thu
hút nguồn nhân lực phục vụ quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp, nông
thôn. Tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng công tác khuyến nông, khuyến ngư,
chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ KH-CN vào sản xuất, nhất là công tác giống,
kỹ thuật sản xuất tiên tiến, ứng dụng cơ giới hóa... nhằm nâng cao năng suất, chất
lượng, khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa, góp phần nâng cao thu nhập của
người dân.
Xây dựng đội ngũ công chức, viên chức, cán bộ làm khoa học - kỹ thuật có
trình độ cao. Thu hút người có năng lực ở trong và ngoài nước về công tác tại địa
102
phương. Có chính sách hỗ trợ nhằm giữ chân và phát huy kiến thức đối với các cán
bộ khoa học - kỹ thuật, cán bộ quản lý có trình độ, năng lực phục vụ địa phương.
4T Sáu là4T, thực hiện tốt các chính sách để khai thác các nguồn lực phát triển
nhanh KT-XH nông thôn. Triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách của
Trung ương, đồng thời xây dựng một số chính sách của địa phương nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho phát triển và khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Tăng đầu tư từ ngân sách cho phát
triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, cân đối nguồn thu từ xổ số kiến thiết để hỗ
trợ một phần cho đầu tư xây dựng giao thông nông thôn; chú trọng lồng ghép các
chương trình mục tiêu trong kế hoạch phát triển KT-XH của tỉnh; đẩy mạnh thực
hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.
4TBảy là4T, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy
sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là Hội Nông dân
trong thực hiện các dự án nâng cao đời sống, phát triển nông nghiệp, nông dân,
nông thôn. Củng cố và nâng cao năng lực bộ máy quản lý nông nghiệp cấp huyện,
xã; tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công chức cấp xã,
phường; thực hiện tốt chế độ chính sách cho đội ngũ cán bộ và cộng tác viên cơ sở;
tiếp tục cải cách hành chính và thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở...
3.2.3.1. Vấn đề phát triển nông nghiệp
Nông nghiệp hiện tại và tương lai của vùng ĐTM vẫn là ngành kinh tế có vị trí
số một trong cơ cấu GDP của vùng; trong đó lúa là cây trồng chính. Khai hoang,
thâm canh và tăng vụ nhằm đạt sản lượng 2,9 – 3,0 triệu tấn/năm những năm tiếp
theo. Hoàn thành tốt hơn 105.000 ha chuyên canh sản xuất lúa hàng hóa có phẩm
chất cao trên đất phù sa và có lợi thế thuận lợi về nguồn nước mặt.
Đa dạng hóa cây trồng trên đất lúa từ 10 – 15% diện tích canh tác bằng các cây
màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Tăng diện tích mía, khóm và cây ăn trái… sao
cho tổng diện tích đa dạng hóa sản phẩm và tăng hiệu quả kinh tế cho nông hộ.
Khôi phục và phát triển chăn nuôi heo, vịt, gà… đáp ứng nhu cầu thực phẩm tiêu
dùng và xuất khẩu.
103
- Đầu tư phát triển nông nghiệp trong giai đoạn tiếp theo vẫn phải quan tâm
hướng đầu tư theo chiều sâu, từng bước hoàn thành CNH-HĐH sản xuất nông
nghiệp. Xây dựng nền nông nghiệp sinh thái trên cơ sở áp dụng rộng rãi những tiến
bộ khoa học và công nghệ mới vào sản xuất, tạo ra sản phẩm chất lượng cao với giá
thành hợp lí, đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
- Đặc biệt, đưa các giồng cây trồng vật nuôi mới vào sản xuất có khả năng né
tránh hoặc khắc phục và giảm thiểu ảnh hưởng do lũ gây ra, thích nghi với điều kiện
canh tác đặc thù vùng lũ. Gắn sản xuất trồng trọt với công nghiệp chế biến nhằm tạo
ra những sản phẩm có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và tham gia tích cực
vào chương trình xuất khẩu nông sản.
Một số yếu tố cơ bản để góp phần chuyển đổi hiệu quả hơn: Có thị trường tiêu
thụ sản phẩm; Đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích hoặc một đồng vốn
đầu tư (lãi, thu nhập, hiệu suất đồng vốn,…); Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
vì là một trong những vùng trọng điểm sản xuất lúa gạo của cả nước; Mô hình canh
tác phải phù hợp với điều kiện tự nhiên và tài nguyên của vùng, trước hết là về ngập
lũ, tránh làm suy thoái môi trường.
Về phát triển ngành trồng trọt:
- Xây dựng hệ thống cây trồng hợp lí để sử dụng đầy đủ hợp lí và có hiệu quả
các điều kiện tự nhiên và các nguồn lực sản xuất nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản
phẩm ệ môi trường, trên đơn vị diện tích, chi phí thấp trên một đơn vị sản phẩm,
kinh doanh có lãi, bảo vệ và nâng cao độ phì của đất.
- Các loại cây trồng là mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp của vùng gồm lúa
có năng suất và phẩm cấp cao, lúa đặc sản chất lượng cao, mía, đậu tương, ngô, đay,
khoai mỡ, dứa. Các loại cây ăn quả lâu năm: xoài, nhãn, cam, ổi…
- Đặc biệt chú trọng đẩy mạnh phát triển các cây có lợi thế và là đặc sản truyền
thống của vùng như lúa, dứa, khoai mỡ, mía… Riêng cây đay có tiềm năng phát
triển 45000 – 50000 ha ở Mộc Hóa, Thạnh Hóa và Đức Huệ làm nguyên liệu sản
xuất bột giấy; song đặt ra yêu cầu phải có giống mới, vốn đầu tư, hợp đồng bao tiêu
sản phẩm dài hạn và tổ chức chuyển giao kĩ thuật cho nông dân.
104
- Đa dạng hóa cây trồng trên cơ sở tối ưu về sử dụng đất và lợi nhuận cao.
Trong đó, đa dạng hóa cây trồng, chủ yếu là luân canh cây trồng cạn với lúa (đậu
phộng – bắp, bắp – đậu đỗ), mô hình trồng lúa với nuôi thủy sản, góp phần cải tạo
đất, giảm nhu cầu tiêu dùng nước căng thẳng vào tháng III, IV, V.
- Ngoài lúa, các cây trồng khác như mía, dứa, khoai mỡ… được trồng trên đất
phèn lên líp ở những nơi ngập nước nông, thiếu nước ngọt nhằm tạo nguyên liệu
cho công nghiệp chế biến. Điều này, góp phần tận dụng được diện tích đất mới khai
hoang, góp phần lấp kín vùng đất hoang ở khu vực Mỏ Vẹt – Bo Bo và Bắc Đông.
Địa phương và ngành có điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập cho
hộ nông dân, xóa đi việc độc canh cây lúa hoặc chỉ sản xuất thuần nông dẫn đến
nông thôn chậm phát triển.
- Cung ứng giống cây trồng đạt tiêu chuẩn chất lượng cao cho nông dân gieo
trồng trên 100% diện tích đất trồng trọt. Áp dụng quy trình canh tác kĩ thuật “3
giảm, 3 tăng” - giảm giống, giảm phân bón, giảm thuốc trừ sâu, tăng năng suất,
tăng chất lượng, tăng hiệu quả trên 100% diện tích đất trồng lúa. Tăng cường cơ
giới hóa áp dụng vào các khâu của quá trình canh tác để tăng năng suất, giảm giá
thành, tăng lợi nhuận và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
- Nâng cao và xây dựng cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu sản xuất: thủy lợi nội
đồng, giao thông, cơ giới hóa công nghiệp… tìm kiếm thị trường và triển khai tốt
các dự án đầu tư phát triển ngành trồng trọt.
- Xây dựng hệ thống khuyến nông đủ mạnh và hoạt động có hiệu quả. Vận
động tuyên truyền hình thành các mô hình kinh tế hợp tác trong trồng trọt, hình
thành các câu lạc bộ nông dân giỏi, các hội chuyên ngành để truyền bá khoa học –
công nghệ và cùng nhau hợp tác tạo ra sản phẩm hàng hóa.
Về phát triển ngành chăn nuôi:
- Nhanh chóng triển khai quy hoạch vùng tập trung phát triển chăn nuôi trang
trại, doanh nghiệp phương thức nuôi bán công nghiệp – công nghiệp ở vùng II
(Đức Huệ, Thạnh Hóa, Bắc Thủ Thừa, 3 xã Tây sông Vàm Cỏ Đông huyện Bến
Lức và một số xã Nam huyện Tân Thạnh thuộc vùng ngập lũ nông) nhằm kêu gọi
105
đầu tư phát triển chăn nuôi hàng hóa và tạo điều kiện cho các cơ sở chăn nuôi nằm
trong các khu dân cư di dời đến địa điểm mới gắn với mở rộng quy mô và thay đổi
phương thức nuôi.
- Vật nuôi chủ yếu của vùng là gia cầm và gia súc nhỏ: heo, gà, vịt, bò… Chú
trọng thực hiện kết quả chương trình nạt hóa đàn heo, phát triển chăn nuôi gà thả
vườn (gà Lương Phượng, Tam hoàng phương, gà ta, gà tàu…), gà công nghiệp
chuyên trứng (Isabrown, Hyline), cải tạo đàn vịt chạy đồng, vịt nuôi lấy trứng
thương phẩm nhằm tạo ra thịt, trứng hàng hóa đạt chất lượng, hợp thị hiếu người
tiêu dùng, cung cấp cho nhu cầu trong và ngoài vùng.
- Nhanh chóng cải tạo, nâng cao chất lượng đàn bò thịt, đẩy nhanh công tác
Zebu hóa đàn bò và cho lai tạo với các giống bò thịt có năng suất cao, áp dụng kĩ
thuật nuôi tiên tiến (nuôi nhốt kết hợp bổ sung thức ăn tinh và thức ăn xanh) theo
hướng sản xuất hàng hóa có chất lượng cao. Tiếp tục xây dựng các mô hình khuyến
nông trong phát triển chăn nuôi hàng hóa là thế mạnh của từng huyện.
- Trong công tác khuyến nông, thú y ngành chăn nuôi của vùng, cả tỉnh và
trung ương cố gắng xây dựng, cung cấp và quản lí giống tốt, bảo hiểm gia súc, gia
cầm, vệ sinh môi trường thông qua các trạm thú y và chuyển giao kĩ thuật chăn nuôi
đến từng hộ gia đình, xây dựng các vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh, kiểm dịch
động vật vận chuyển qua cửa khẩu biên giới và qua phạm vi hành chính của tỉnh.
Chủ động phòng chống dịch bệnh xảy ra với các loại vật nuôi.Tổ chức xây dựng các
điểm mẫu chăn nuôi điển hình phổ biến kĩ thuật và hướng dẫn thực hành cho người
chăn nuôi. Ngành thương mại phải đảm bảo giá cả thỏa đáng và kịp thời mua hết số
lượng sản phẩm của ngành chăn nuôi.
- Cân đối đủ thức ăn xanh cho gia súc và kiểm tra giám sát chặt chẽ chất lượng
thức ăn tinh và các chế phẩm bổ sung vào thức ăn chăn nuôi.
- Triển khai các chính sách của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp – Phát
triển Nông thôn, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An đã và sẽ ban hành đối với phát triển
chăn nuôi hàng hóa, nhất là chính sách sử dụng, nghiên cứu áp dụng khoa học –
106
công nghệ chăn nuôi thú y, đào tạo sử dụng nguồn nhân lực của ngành chăn nuôi,
đất đai dành cho chăn nuôi, …
- Tổ chức tốt các kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi đặc biệt là liên kết với
các doanh nghiệp giết mổ chế biến thực phẩm ở TP. Hồ Chí Minh. Nhất là, nhân
rộng mô hình hợp đồng liên kết đầu tư - tiêu thụ sản phẩm giữa các hộ nuôi vị
(chuyên thịt, chuyên trứng) với các doanh nghiệp tạo ra sản phẩm an toàn và đảm
bảo sản xuất tiêu thụ phát triển bền vững.
- Đối với hộ chăn nuôi cần tận dụng đất thổ canh trồng cây thức ăn cho gia súc
cũng như các kĩ thuật ủ cỏ, ủ rơm giải quyết thức ăn xanh trong mùa khô cho bò thịt
nuôi gia đình, đặc biệt chú mô hình VAC để vừa tận dụng được điều kiện chăn
nuôi và bảo vệ môi trường.
- Khuyến khích chăn nuôi gia đình ở mức cao đối với các hộ chăn nuôi giỏi, có
vốn, có kĩ thuật và quản lí, xây dựng các trang trại và trang trại kết hợp chăn nuôi
với trồng trọt và thủy sản để cơ giới hóa ngành chăn nuôi, áp dụng công nghệ chăn
nuôi tiên tiến, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa chất lượng cao và hình thành phong
trào rộng khắp, đạt 90 – 95% số hộ có chăn nuôi gia đình. Và tổ chức sản xuất khép
kín từ khâu giống – thức ăn – chế biến – tiêu thụ sản phẩm để đạt hiệu quả kinh tế
cao và hạn chế rủi ro do biến động về sức tiêu thụ và giá cả trên thị trường.
- Các HTX dịch vụ chăn nuôi, ngân hàng tạo điều kiện vay vốn, tiếp nhận các
tiến bộ khoa học kĩ thuật, tiêu thụ sản phẩm thức ăn, xây dựng chuồng trại, đồng cỏ,
hầm biogas… ít nhất phải đạt 70% số hộ được vay toàn bộ chi phí mua con giống,
xây dựng chuồng.… và hỗ trợ nhau trong sản xuất. Triển khai và hình thành các dự
án chăn nuôi kêu gọi vốn đầu tư cũng như hỗ trợ kĩ thuật cho các hộ chăn nuôi.
107
Bảng 3.1. Quy mô sản xuất ngành chăn nuôi
Hạng mục Toàn vùng 2015 2010 2020
10,170.0 29,100.0 180.0 8,406.0 16,393.0 120.0
Quy mô đàn Trâu (con) Bò (con) UTrong đóU: - Bò sữa Heo (con) Gia cầm (1000con) UTrong đóU: - Đàn gà - Đàn vịt Vật nuôi khác: (Dê,…) 12,025.0 34,000.0 220.0 71,308.0 120,000.0 155,000.0 2,525.0 2,245.0 124,159.1 905.0 835.0 1,043.8 1,620.0 1,410.0 1,237.3 2,000.0 7,250.0 5,565.0
Số TT I 1 2 3 4 5 II Sản phẩm chăn nuôi 1
Thịt hơi các loại (tấn) - Thịt trâu và bò - Thịt heo - Thịt gia cầm - Thịt vật nuôi khác Sữa tươi (tấn)
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường
2 3 Trứng gia cầm (triệu quả) 78,948.0 4,005.0 52,182.0 22,631.0 130.0 11,474.0 98.3 24,938.0 4,612.0 12,360.0 7,939.0 27.0 0.0 17.4 31,148.0 5,389.0 16,610.0 9,110.0 39.0 0.0 23.0
3.2.3.2. Vấn đề phát triển ngành lâm nghiệp
Trên cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên, KT-XH và mục đích yêu cầu phát triển
lâm nghiệp trong vùng. Từng bước củng cố công tác trồng rừng kể cả rừng phòng
hộ và rừng sản xuất, sử dụng hợp lý đất phèn, bưng không thể canh tác các loại cây
nông nghiệp, góp phần tăng tỷ lệ che phủ, khôi phục rừng tràm, là cây đặc trưng cho
vùng Đồng Tháp Mười; đây còn là một biện pháp cải tạo đất và môi trường, hạn chế
tác hại của thiên tai (lũ lụt), đảm bảo khai thác sử dụng tài nguyên hợp lý, hiệu quả,
tạo thêm việc làm cho người lao động.
Phát triển lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường sinh thái và tái
tạo cân bằng sinh thái, nhất là nguồn gien và tái tạo nguồn lợi thủy sản, thúc đẩy các
hoạt động sản xuất khác phát triển, thúc đẩy phong trào trồng cây trong nhân dân…
tạo điều kiện cho các ngành khác: nông nghiệp, du lịch, thủy sản phát triển.
108
Bảng 3.2. Quy mô sản xuất ngành lâm nghiệp Đồng Tháp Mười
Đơn vị: ha
Hiện trạng rừng năm 2011 Quy hoạch sử dụng đất rừng đến 2020
STT HUYỆN
Tổng Tổng Rừng sản xuất Rừng phòng hộ Rừng đặc dụng Rừng sản xuất Rừng phòng hộ Rừng đặc dụng
Toàn 43536 39967 1569 2000 48813 39720 4893 4200 vùng
% 100 91,8 3,6 4,59 100 81,37 10,02 8,61
1 Tân Hưng 5917 4717 1200 6460 3032 28 3400
2 Vĩnh Hưng 2117 2107 10 2120 1980 30
3 Mộc Hóa 4046 3104 142 800 4850 3708 348 800
Tân Thạnh 4440 4440 4362 3962 412 4
Thạnh Hóa 13237 11820 1417 13864 12447 1.416 5
6 Đức Huệ 10734 10734 12367 11167 1.240
7 Bến Lức 790 790 445 445
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An
8 Thủ Thừa 2255 2255 4454 2979 1419
- Sử dụng hiệu quả đất dùng trong lâm nghiệp năm 2011 là 43536 ha, trong đó
có 2000 ha rừng đặc dụng bảo tồn tự nhiên, bảo vệ các khu trú của các loài động vật
và thiên nhiên hoang dã ở khu vực ngập nước Láng Sen, rừng phòng hộ có 1569 ha
(phòng hộ biên giới, phòng hộ lũ lụt, bảo vệ hệ thống giao thông, thủy lợi) là ha,
rừng sản xuất là 39967ha hiện có. Nhằm tăng diện tích rừng vào 2020 lên đến
48813 ha tương ứng: 4200 ha, 4893 ha và 39720 ha.
- Bảo vệ các khu rừng tập trung hiện có, trồng thêm các đai rừng phòng hộ và
cây phân tán dọc theo biên giới, trục giao thông, các bờ kênh với chiều rộng từ 5m
đến 50m và cây phân tán trong nhân dân hàng năm từ 15 đến 16 triệu cây/năm. Góp
phần nâng độ che phủ rừng hiện nay góp phần hạn chế thiên tai, tạo cân bằng sinh
109
thái và giữ gìn tốt môi trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng gỗ cho xây dựng và củi
đốt trong nhân dân địa phương.
- Sử dụng diện tích đất trồng lúa có năng suất thấp trên đất phèn nặng chuyển
sang trồng rừng với mô hình nông – lâm – ngư nghiệp kết hợp.
- Thu hút các hộ nông dân tham gia vào hoạt động lâm nghiệp thông qua việc
giao khoáng rừng và đất rừng cho người lao động nhưng tỉnh và các huyện trong
vùng cần có chính sách cụ thể đối với các hộ tham gia trồng rừng, để họ có điều
kiện tổ chức cuộc sống, lồng ghép các dự án hỗ trợ người lao động phát triển sản
xuất lâm nghiệp vì hiện nay cây rừng chưa có điều kiện cạnh tranh về giá cả so với
các cây trồng nông nghiệp.
- Xây dựng loại hình trang trại lâm nghiệp góp phần gia tăng độ che phủ hàng
năm và làm đa dạng hóa cơ cấu canh tác, góp phần tạo thu nhập kinh tế cao, tức thời
hoặc thường xuyên, đáp ứng thiết thực đời sống người dân, từ đó sẽ động viên
người dân tích cực tham gia phong trào trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng và gắn
bó lâu dài với sản xuất lâm nghiệp.
- Phát triển mô hình nuôi ong lấy mật dưới tán rừng, bảo tồn sinh thái và động
vật hoang dã hướng đến kết hợp phát triển lâm nghiệp và du lịch sinh thái, mô hình
kết hợp trồng rừng với nuôi thủy sản, mô hình vườn rừng, mô hình rừng – ao cá –
lúa Đông Xuân + lúa mùa nổi… cộng với cây lâu năm trong mô hình VAC sẽ tăng
được độ che phủ rừng.
- Xây dựng các nhà máy chế biến lâm sản: đóng tàu, thuyền… với quy mô và
kĩ thuật cao đáp ứng nhu cầu phát triển trong vùng.
- Tăng cường các biện pháp quản lí hành chính về:
+ Thành lập hệ thống kiểm lâm, tăng cường cán bộ chuyên trách lâm nghiệp –
đào tạo đủ số lượng và hỗ trợ sử dụng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cho các cơ quan đơn vị quản lý phát triển lâm nghiệp nhất là các huyện
có diện tích rừng lớn ở Thạnh Hóa, Đức Huệ, Tân Hưng, Tân Thạnh, Mộc Hóa…
+ Các trung tâm khuyến lâm: giáo dục bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong
nhân dân, thực hiện thực nghiệm khoa học và chuyển giao kĩ thuật về giống cây
110
trồng, thiết kế kĩ thuật lâm sinh, nghiên cứu chính sách lâm nghiệp, tăng cường
trang thiết bị và đào tạo cho ngành lâm nghiệp.
+ Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ tài chính đặc thù, khuyến khích phát triển
lâm nghiệp; Thực hiện giao đất – giao rừng có cơ sở pháp lí ổn định lâu dài để
người dân yên tâm sản xuất.
+ Phân ranh giới phát triển lâm nghiệp để tổ chức sản xuất và quản lí bảo vệ
rừng. Quản lí chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sản xuất. Phổ biến rộng rãi quy
hoạch nông lâm ngư nghiệp của tỉnh và các huyện trong vùng để người dân biết rõ
vùng đã được quy hoạch trồng rừng và ổn định quan điểm ổn định diện tích rừng.
- Cơ cấu cây trồng trong lâm nghiệp:
+ Cây trồng tập trung: loại rừng trồng tập trung của vùng chủ yếu là rừng tràm
(Melaleuca leucadendron). Đây là loại cây thích nghi tối ưu với mọi điều kiện lập
địa có ngập nước và mép nước của vùng. Đây là loại cây truyền thống, nguồn giống
nhiều và dễ tạo giống, dễ trồng sẽ phát triển mạnh. Ngoài ra còn có thể trồng keo lá
tràm, bạch đàn và điều… trên những vùng đất bậc thềm phù sa cổ hoặc đất trên đất
có lên líp cao ở một số nơi ven cửa sông, ven sông. Đồng thời, tiếp cận với giống
tràm Úc, Nhật trong dự án tiền phong của JICA (Nhật) đang thực thi có hiệu quả ở
huyện Tân Thạnh.
+ Cây trồng phân tán: tràm cừ, dừa nước, keo lá lớn, sao đen, dầu rái cho các
vùng đất cao, có lên líp, vườn hộ, bờ kênh rạch – sông, ven đường.
- Xây dựng các quy trình sản xuất và quy phạm kĩ thuật phát triển rừng:
+ Chọn giống và tạo giống cây trồng con cho đủ đáp ứng yêu cầu thực thi các
dự án trồng rừng
+ Thực hiện thâm canh trồng rừng: trồng đúng mùa vụ, đúng kĩ thuật, căm sóc,
bón phân và tỉa thưa kịp thời.
+ Đào kênh mương bao ngạn và kênh tiêu dẫn nước với hệ thống cống đủ đẻ
quản lí điều hòa nguồn nước trong rừng cho phù hợp với sinh trưởng của rừng tràm,
đồng thời thực hiện việc kinh doanh tổng hợp nông lâm ngư nghiệp.
111
+ Thực hiện việc khai thác hợp lí tài nguyên rừng hiện còn để đảm kinh doanh
lâu dài liên tục, khai thác đến đâu trồng lại diện tích đó, bảo vệ và chống cháy rừng
vào mùa khô (hạn bà chằng).
+ Đầu tư một số công trình cho bảo vệ và phát triển rừng: nhất là hệ thống
kênh mương, bờ bao, đường giao thông, cống, giếng khoan, chòi canh…
+ Chính quyền các cấp tỉnh, huyện, xã làm việc trực tiếp với chính quyền các
cấp phía Campuchia để xác định chính xác đường biên giới quốc gia, đẻ thực hiện
tốt dự án trồng rừng phòng hộ dọc biên giới.
3.2.3.3. Vấn đề phát triển ngành thủy sản
Phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản gắn liền với bảo vệ môi trường và
tái tạo nguồn lợi thủy sản theo hướng đa dạng hóa mô hình nuôi và phương thức
nuôi để phát triển bền vững và có hiệu quả kinh tế cao.
Tập trung phát triển toàn diện (từ khai thác đến nuôi trồng và dịch vụ) trên cơ
sở những tiềm năng hiện có. Sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, diện tích nước
sông, rạch, ao, hầm, mương vườn, ruộng trũng với những phương thức quảng canh
cải tiến, thâm canh, nuôi bán công nghiệp và công nghiệp, đưa thủy sản thành một
ngành kinh tế quan trọng của vùng.
Phát triển thủy sản gắn liền với phát triển KT-XH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
cơ cấu sản xuất ở nông thôn, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống
nông dân và góp phần xây dựng nông thôn mới.
Giải pháp cụ thể:
- Xây dựng dự án nuôi thủy sản tập trung, bố trí địa bàn, ao hồ, đầm nuôi đảm
bảo kỹ thuật, đặc biệt là chủ động kiểm soát môi trường nước, bờ bao kiểm soát lũ.
Cần kết hợp hài hòa cả hai phương thức: khai thác trong mùa lũ và nuôi trồng trong
mùa cạn, như vậy mới đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của ngành thủy sản.
112
Bảng 3.3. Một số chỉ tiêu quy hoạch phát triển sản xuất thủy sản đến năm 2020
Toàn vùng STT Hạng mục Đơn vị 2010 2015 2020
Tổng sản lượng thủy sản tấn 19.968,9 25487 34393
I Nuôi thủy sản
- Tổng diện tích nuôi thủy sản 2179,9 2956 4202 ha
- Tổng sản lượng thủy sản nuôi 17493,9 22237 31978 tấn
1 Nuôi cá
1.1 Nuôi ao (đầm)
ha 1672 2134 3205 - Diện tích
tấn 15794 19955 28962 - Sản lượng
1.2 Nuôi cá kết hợp với lúa
ha 495 685 777 - Diện tích
tấn 1500 2125 2386 - Sản lượng
1.3 Nuôi cá lồng bè
3 mP 3250 4500 5000 - Thể tích
tấn 195 245 380 - Sản lượng
2 Nuôi tôm càng xanh
ha 12,9 137 220 - Diện tích
tấn 4,9 157 250 - Sản lượng
tấn 2475 3250 2415 II Khai thác thủy sản
Chú ý: Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển nuôi thủy đặc sản: ếch, ba ba,...
Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Long An
tấn 2475 3250 2415 Khai thác thủy sản nội địa
- Tạo điều kiện tốt về mặt tín dụng đầu tư phát triển ngành thủy sản, nâng cao
sản lượng nuôi trồng và đánh bắt.
- Tổ chức khai thác hợp lí và bảo vệ tốt nguồn lợi thủy sản (không đánh bắt cá
con, nghiêm cấm sử dụng xung điện) tránh làm cạn kiệt tài nguyên thủy sản.
113
- Quy định chặt chẽ các ngư cụ không ảnh hưởng đến nguồn lợi cá tôm; quy
định mùa vụ và cường độ khai thác ở một số địa điểm chính nhằm bảo vệ đàn cá
sinh sản, cá non; giáo dục nhận thức cho ngư dân khai thác cần có chọn lọc.
- Khuyến khích các thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh
tế trang trại, kinh tế hộ… tham gia phát triển thủy sản trên các lĩnh vực: ươm giống,
nhân giống, nuôi thả, chế biến và dịch vụ hậu cần thủy sản…
- Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư của tỉnh hỗ trợ nông dân về mặt cung
cấp các thông tin kinh tế, kỹ thuật, tổ chức tập huấn, xây dựng điểm trình diễn để
chuyển giao kỹ thuật cho người nuôi thủy sản. Nghiên cứu giống và sản xuất giống
nhân tạo các loài thủy sản đảm bảo chất lượng cho nông dân nuôi thủy sản, để cung
cấp nuôi trong ao, bè và thả bổ sung vào các vùng trũng được bảo vệ nhằm tăng tốc
độ khôi phục các nhóm thủy sản của vùng.
- Bảo vệ các vùng sinh thái ngập trũng, bảo vệ rừng tràm cùng nguồn lợi các
đen cùng các sinh vật hoang dã khác, xây dựng các khu bảo vệ theo dạng “ Hồ
rừng“ trữ nước phục vụ dân sinh, trồng rừng tràm, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi cá
đen, tăng thêm nguồn nước ngọt, đẩy lùi xâm nhập mặn trong mùa khô.
- Đầu tư đồng bộ cả chiều sâu lẫn chiều rộng cho nuôi cá bè, cá lồng trên sông
Vàm Cỏ (các huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa…) vào cuối tháng 7 đầu
tháng 8 khi nước sông ít nhiễm phèn so với các tháng 5, 6 và đầu mùa mưa sẽ tạo
công ăn việc làm cho người dân.
- Xây dựng các loại hình sản xuất thủy sản nước ngọt một cách đa dạng theo
vùng sinh thái: mô hình nuôi kết hợp với trồng lúa: tôm, cá+ lúa; cây lâu năm +
tôm, cá…; trước hết tập trung đầu tư phát triển thủy sản chuyên canh và thâm canh
trong ao, hồ và kết hợp nuôi thả thủy sản trên ruộng lúa, cá bè, và các mô hình
VAC, RAC mở ra triển vọng tăng trưởng kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác.
- Nếu đảm bảo các yêu cầu về vốn, kĩ thuật lưới cụ và ghe thuyền khai thác
thủy sản trong mùa lũ, các mô hình nuôi kết hợp sẽ góp phần vào xóa đói giảm
nghèo. Đồng thời, khắc phục những hạn chế trong khai thác ngành thủy sản hiện
nay của vùng.
114
- Đa dạng hóa các đối tượng nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái vùng nhiễm
phèn. Trên cơ sở nghiên cứu nguồn nước, thức ăn tự nhiên, theo dõi kết quả thực
nghiệm, tuyển chọn các giống nuôi chính cho vùng có khoảng 25 loài trong đó 16
loài địa phương và 9 loài nhập khẩu.
- Chủ động giải quyết nguồn thức ăn trong thủy sản bằng cách khai thác những
loài có giá trị kinh tế thấp như cá rô phi thường, cá tạp, tép, nhuyễn thể… làm thức
ăn cho cá nuôi bè; chế biến thức ăn bằng các phế phụ phẩm nông nghiệp với cá vụn
tạp, nhuyễn thể. Coi trọng xây dựng việc đầu tư xây dựng các xí nghiệp quy mô nhỏ
sản xuất thức ăn công nghiệp cho nuôi thủy sản, để cân đối nguồn thức ăn công
nghiệp cho nuôi thủy sản. Có như vậy mới có thể đảm bảo thâm canh tăng năng suất
và giữ gìn môi trường.
- Hướng đến chế biến thủy sản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng
thị hiếu của khách hàng, mở rộng thị trường và tạo việc làm, ổn định đời sống nhân
dân vùng nông thôn.
- Tăng cường xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm với
giá cả ổn định.
3.2.4. Đầu tư và phát triển nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp
và cơ chế quản lí hiệu quả
Tiếp tục đổi mới loại hình tổ chức, hoàn thiện cơ chế quản lý sản xuất nông lâm nghiệp
và nuôi thủy sản phù hợp với phương thức sản xuất hàng hóa, hội nhập quốc tế. Đây cũng
chính là nguyện vọng của người nông dân, công nhân, người lao động trong các xí nghiệp,
công ty hiện nay.
Trong những năm qua, Đảng, Chính phủ và hệ thống chính trị đã có chủ trương,
đường lối, cơ chế chính sách nhằm đổi mới lại tổ chức sản xuất nông lâm nghiệp và
nuôi thủy sản nhưng thực tế chuyển biến chậm. Số lượng mới thành lập rất ít nhưng tỷ
lệ các loại hình tổ chức yếu kém không giảm mà còn tăng, đặc biệt là chưa theo kịp nền
sản xuất hàng hóa hội nhập kinh tế thế giới. Cần: rà soát, tổng kết, xây dựng và triển
khai thành lập các mô hình sản xuất mới.
115
- Kinh tế quốc dân rà soát lại từng doanh nghiệp về kết quả sản xuất kinh doanh,
thiết bị, công nghệ, tổ chức quản lí để có thể đầu tư thêm hoặc liên kết để kinh tế quốc
dân thực sự mạnh, năng động.
- Khuyến khích các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh kinh tế hộ, trang trại,
HTX… Đặc biệt, chú trọng các mô hình hợp tác sản xuất, dịch vụ nông – lâm – ngư
nghiệp và công nghiệp chế biến.
- Khuyến khích, tạo điều kiện thành lập các câu lạc bộ sản xuất kinh doanh
chuyên một lại cây trồng vật nuôi (rau an toàn, chanh, thanh long, đậu phộng, bắp,
nuôi cá đồng…) đặt dưới sự hỗ trợ của ngành nông nghiệp kết hợp với hệ thống
chính trị xã, huyện.
- Kinh tế hộ gia đình: Cần:
+ Quan tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình; phát triển du lịch, dịch
vụ, mở rộng giao thương với nước láng giềng Campuchia…và cần quan tâm nhiều
hơn nữa cho công tác giảm nghèo theo hướng nhanh và bền vững; chú trọng phát
triển y tế, văn hóa, giáo dục; quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhất là hạ tầng
về giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch ở khu vực nông thôn phục vụ sinh hoạt và
sản xuất của các hộ gia đình.
+ Quan tâm đến công tác quản lý hoạt động khai thác tài nguyên trên địa bàn
theo hướng phải bền vững, đảm bảo môi trường sinh thái, tránh các tác động tiêu
cực đến đời sống cư dân cũng như những tác động đến hệ thống hạ tầng về giao
thông, thủy lợi. Gắn liền với đảm bảo quỹ đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ
nông dân, phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa.
+ Tạo điều kiện thuận lợi nhất (vốn và tư liệu sản xuất) để kinh tế hộ nông dân
xuất hiện ngày càng nhiều các hộ bứt phá khỏi tình trạng tự cung, tự cấp vươn lên
sản xuất hàng hóa, trong đó phương thức trang trại gia đình phát triển mạnh và ngày
càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (có nhiều
chính sách ưu đãi cụ thể hỗ trợ người dân về vốn, cây, con giống, làm bể bioga…
với những hộ có quy mô chăn nuôi theo mô hình thức trang trại, bán trang trại; quan
tâm có hướng tìm đầu ra cho các sản phẩm nông sản).
116
+ Tăng mức hỗ trợ thiên tai, dịch bệnh cho các hộ nghèo, triển khai bảo hiểm
nông nghiệp kết hợp chặt chẽ với doanh nghiệp và ngân hàng, ưu tiên đặc biệt cho
xã vùng sâu, vùng xa; triển khai bảo hiểm y tế.
+ Đồng thời, cấp tín dụng theo chuỗi để thu hút các doanh nghiệp cho vay mở
rộng sản xuất và thu mua đầu ra cho hộ nông thôn; thay đổi cách tiếp cận trong các
chương trình khuyến nông.
+ Dạy nghề và tạo việc làm cho hộ nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển sản
xuất đặc biệt là sản xuất các loại lương thực, thực phẩm có yêu cầu cao về chất
lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm.
+ Đẩy nhanh tiến độ chuyển giao khoa học kỹ thuật, đưa cơ giới hóa vào sản
xuất, thực hiện CNH-HĐH trong nông nghiệp - nông thôn.
Qua đó, giúp người dân yên tâm hơn trong công tác phát triển sản xuất tạo
thành mối liên kết chặt chẽ từ khâu sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, làm cho kinh tế hộ
gia đình phát triển ngày một khởi sắc, bền vững hơn.
- Kinh tế trang trại: 5TKinh tế trang trại phát triển đã góp phần thu hút được
nhiều nguồn vốn, nhất là nguồn vốn trong dân, tạo thêm việc làm cho người lao
động ở nông thôn - góp phần đẩy mạnh phân công lao động xã hội, sử dụng hiệu
quả nguồn lực, tăng thêm lượng nông sản hàng hóa, góp phần xóa đói giảm nghèo,
gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới. Vì vậy:
- Các ban, ngành và địa phương quán triệt, tuyên truyền rộng rãi các chủ
trương, chính sách trong phát triển kinh tế trang trại. Các huyện tiến hành triển khai
cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại đối với số trang trại đạt theo tiêu chuẩn mới
nhằm tạo điều kiện cho các chủ trang trại yên tâm đầu tư và vay vốn sản xuất, có
điều kiện mở rộng quy mô và đầu tư cơ sở vật chất đạt theo tiêu chí mới.
- Cần quy hoạch phân vùng phát triển kinh tế trang trại, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để mở rộng diện tích cho
các trang trại. Thực hiện đầy đủ các chính sách khuyến khích của các ngành về lĩnh
vực nông nghiệp.
117
- Chú trọng và tiếp tục đầu tư thỏa đáng cho công tác khuyến nông - khuyến
ngư, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn để chuyển giao tiến bộ khoa -
học công nghệ cho trang trại, hộ gia đình, thực hiện các chính sách hỗ trợ của dự án
hơn 105.000 ha lúa chất lượng cao, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, vùng sản xuất tập
trung và gắn với triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
đạt hiệu quả. Đưa các giống cây trồng, vật nuôi có phẩm chất tốt, sản phẩm chất
lượng cao vào sản xuất; áp dụng công nghệ mới bảo quản sản phẩm nông nghiệp;
rút kinh nghiệm và nhân rộng các điển hình thành công.
- Cần có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý sản xuất - kinh doanh
của chủ trang trại, hộ gia đình, đồng thời các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận
lợi cho việc tiếp cận vốn và vay vốn theo các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối
với phát triển kinh tế trang trại.
- Thực hiện quản lý nhà nước đối với quá trình sản xuất - kinh doanh của trang
trại, nhằm định hướng phát triển và bảo đảm công bằng trong sản xuất - kinh doanh,
hạn chế những tiêu cực của loại hình kinh tế trang trại, khắc phục tình trạng phát
triển mang tính tự phát tích tụ ruộng đất tràn lan.
- Các địa phương cần điều tra, phúc tra, cập nhật thông tin hình thành cơ sở dữ
liệu để xây dựng kế hoạch và định hướng phát triển các loại hình kinh tế trang trại
nông thôn, đồng thời cần công bố rộng rãi các quy hoạch liên quan đến phát triển
sản xuất và hướng dẫn để người dân biết thực hiện.
Do trình độ của chủ trang trại, người quản l ý trang trại và đội ngũ lao động
đang làm việc ở trang trại còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất - kinh
doanh trong bối cảnh nền kinh tế thị trường có nhiều thay đổi, đòi hỏi phải nắm bắt
đầy đủ và kịp thời thông tin thị trường, sản phẩm phải bảo đảm chất lượng thỏa mãn
được nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước.
Để phần nào tránh được những bất cập đã nêu, các chủ trang trại rất mong
muốn được sự hỗ trợ của Nhà nước về giống cây trồng, vật nuôi; bồi dưỡng kỹ
thuật; thị trường tiêu thụ và vốn sản xuất. Thực hiện được điều đó, chắc chắn kinh
118
tế trang trại của vùng sẽ có điều kiện phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn trong thời
gian tới
- Kinh tế hợp tác xã: Nhằm củng cố tạo điều kiện để các loại hình kinh tế
hợp tác (tổ đoàn kết sản xuất, HTX…) đã thành lập có thể tiếp tục tồn tại và đi
vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Loại hình kinh tế hợp tác muốn phát triển
bền vững cần làm tốt một số nội dung:
+ Tuyên truyền vận động thật sâu sắc về kinh tế hợp tác để các hộ tự nguyện
tham gia dưới sự lãnh đạo của Đảng và hỗ trợ từ ngành chức năng tại địa phương.
Cần quán triệt nhận thức trong nội bộ cán bộ quản lý, xã viên HTX về sự liên minh,
liên kết của những người sản xuất nhỏ.
+ Tập hợp lực lượng lại để tổ chức sản xuất kinh doanh theo hướng sản xuất
lớn, kinh doanh chuyên nghiệp, nhằm tạo ra giá trị sản phẩm cao, với chi phí thấp
nhất, mang tính cạnh tranh cao trong nền kinh tế thị trường, đem lại lợi nhuận cao
nhất cho tổ hợp tác, HTX của mình. Phải thật sự xem các tổ hợp tác, các HTX là
các công ty, xí nghiệp nhỏ.
+ Có bộ máy quản lý, điều hành năng động, thu hút các cán bộ quản lý, cán bộ
kỹ thuật có trình độ, có năng lực, nhạy bén trong sản xuất kinh doanh. Các xã viên
HTX phải là người quyết định chọn lựa và quyết định bầu chọn cán bộ quản lý cho
đơn vị sản xuất tập thể của mình.
+ Quốc hội khóa XII thỏa thuận sửa đổi Luật Hợp tác xã, đồng thời ban hành
chính sách hỗ trợ một cách thiết thực, nhằm thu hút được đông đảo hộ nông dân tham
gia, kịp thời giải quyết các khó khăn do chủ quan và khách quan gây ra.
+ Có kế hoạch cụ thể hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ về vốn, kĩ thuật,
quản lí mới về sản xuất, bảo quản, chế biến nông sản, xây dựng thương hiệu, nhãn
hiệu hàng hóa, cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường, giới thiệu sản phẩm cho
kinh tế hộ và trang trại, hỗ trợ các HTX rau, củ, quả, đầu tư mở rộng sản xuất, tạo
sản phẩm hàng hóa có chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường.
119
3.2.5. Liên kết nông – công – dịch vụ, chuyên môn hóa sản xuất
Phát triển công nghiệp nông thôn:
- Nâng cao các hoạt động tiểu thủ công, các ngành nghề truyền thống trong
vùng lên một bước ở quy mô sản xuất công nghiệp thông qua sử dụng nghệ mới.
- Đẩy mạnh các ngành công nghiệp mà sản phẩm đáp ứng nhu cầu trực tiếp
của địa phương trên cơ sở tận dụng nguồn lao động và nguyên liệu tại chỗ (công
nghiệp vật liệu xây dựng, chế biến nông – lâm nghiệp, mạng lưới cơ khí nhỏ…).
- Hình thành các vệ tinh công nghiệp chế biến trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với
công nghiệp chế biến trên địa bàn. Cơ giới hóa công tác gieo trồng, thu hoạch, tưới
tiêu, bảo quản.
- Đưa một số ngành nghề mới vào nông thôn, sử dụng nhiều lao động gắn với
hoạt động nông – lâm – ngư nghiệp như các tổ hợp sản xuất nông công nghiệp đang
hình thành trong thời gian gần đây.
- Phát triển các khu và cụm công nghiệp nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế
nông thôn, thay đổi cơ cấu sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp theo hướng công
nghiệp hóa – hiện đại hóa, tạo các ngành công nghiệp mũi nhọn, chủ đạo.
Cần tạo nguồn tài chính thích hợp cho các cơ sở sản xuất thuộc công nghiệp
nông thôn; hình thành các trung tâm đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp, kĩ thuật cho
lượng lượng lao động công nghiệp nông thôn; hình thành hệ thống tiếp thị vừa cung
cấp nguyên liệu, vật tư, thiết bị, công nghệ… vừa giúp tiêu thụ sản phẩm thông qua
lưu thông trong và ngoài vùng; hoàn thiện chương trình điện khí hóa nông thôn…
Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ trong vùng:
- Phát triển tổng hợp các loại hình dịch vụ: dịch vụ thương mại, xuất nhập
khẩu nông sản thực phẩm, cung ứng vật tư kĩ thuật cho công – nông – xây dựng cơ
sở hạ tầng, vận tải, bưu chính viễn thông và tiền tệ. Điều này giúp người sản xuất
tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, đẩy mạnh chương trình xuất khẩu, thực hiện mục tiêu
xây dựng nền kinh tế hàng hóa, hướng ngoại, tạo đầu ra thông thoáng cho sản xuất
phát triển, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
120
- Gia tăng các dịch vụ hoạt động thương mại với Campuchia qua các cửa khẩu
biên giới, mở rộng mối quan hệ nội vùng và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tổ
chức mạng lưới nội và ngoại thương với hình thức khép kín theo mô hình: thu mua
sản phẩm – chế biến xuất khẩu – nhập khẩu – cung ứng vật tư, thiết bị, hàng hóa.
- Xây dựng một số trung tâm thương mại trong vùng, tăng cường hiệu quả hoạt
động của các cửa khẩu vùng biên giới, tạo thành các trung tâm giao dịch đa dạng
hóa, nhưng đúng pháp luật và an ninh quốc gia. Củng cố và phát triển các HTX
thương mại dịch vụ kiểu mới trên địa bàn các huyện thị trong vùng. Phát triển các
chợ nông thôn ở 100% xã, thị trấn, thị tứ… Tổ chức các trạm thu mua sản phẩm,
- Đẩy mạnh mạng lưới giao thông cả đường bộ-thủy – sẽ đưa nền kinh tế vùng
cung ứng vật tư máy móc cho sản xuất.
phát triển một cách toàn diện, thu hút tốt các nguồn đầu tư, tạo điều kiện để KT-XH
phát triển nhanh, xóa chênh lệch phát triển kinh tế giữa vùng sâu, vùng xa, nông
thôn và thành thị. Đầu tư mới phương tiện vận tải để đảm bảo vận tải đường dài,
khối lượng lớn… và nguồn lao động để hạn chế thấp nhất các rủi ro. Khuyến khích
các thành phần kinh tế tham gia vận tải, cơ giới hóa vận chuyển ở nông thôn.
3.2.6. Đầu tư nâng cấp và xây mới hệ thống cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông
- Phát triển mạng lưới giao thông phải gắn kết với trung tâm vùng Đồng Tháp
Mười, các trục quốc lộ, tỉnh lộ. Các trục giao thông chính phải vượt lũ lịch sử năm
2000, khâu vận chuyển hàng hóa và đi lại phải tiện lợi, nhanh chóng.
- Coi trọng các đầu mối giao thông, tuyến trục chính, đường biên giới, đường
nối các tiểu vùng kinh tế và các vùng đông dân; Mở rộng, nâng cấp hệ thống giao
thông nông thôn, theo tiêu chí nông thôn mới. Cải tạo các tuyến, luồng vận tải
chính, củng cố hệ thống cụm và điểm cảng sông hiện có. Tổ chức khai thác các
tuyến vận tải đường thủy hợp lí để thỏa mãn nhu cầu vận tải hàng hóa, hành khách
theo múc độ tăng trưởng KT-XH và an ninh quốc phòng trong vùng. Chú trọng ảnh
hưởng tích cực của hành lang kinh tế giữa ĐTM, thành phố Tân An, Tp. HCM.
121
- Cần phải căn cứ vào định hướng phát triển giao thông của tỉnh Long An,
vùng ĐBSCL để có những bước đi phù hợp, nhịp nhàng và vững chắc. Xác định các
trọng điểm ưu tiên tạo tiền đề cho phát triển trên diện rộng nhằm thu hút vốn đầu tư
từ bên ngoài vào. Tạo hệ thống giao thông thuận lợi, tạo mối quan hệ tương hỗ, hữu
cơ, kích thích hiệu quả của các trung tâm kinh tế - văn hóa – xã hội trong vùng.
- Kết hợp có hiệu quả mục tiêu xây dựng, phát triển thủy lợi với giao thông,
chú trọng phát triển giao thông nông thôn trên các tuyến trục lộ chính phù hợp đặc
điểm riêng của vùng để đảm bảo việc “chung sống với lũ” và sẵn sàng “đón lũ”.
- Về đường bộ:
+ Các trục giao thông huyết mạch chạy từ Tây sang Đông phải là những công
trình kiên cố vượt lũ, mật độ đường liên huyện và xã chỉ hình thành theo ở những
nơi ngập nông < 100m: Hưng Điền – Cái Bát – QL62 đoạn qua thị trấn tân Hưng
dài 67km, Thủ Thừa – Ngã năm Bình Thành đoạn bờ Đông kênh Bo Bo dài 34km.
QL62 từ Tân An đi biên giới (cửa khẩu Bình Hiệp – Mộc Hóa)... Nên cần xây dựng
các tuyến đường đồng ruộng nối với quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ, liên xã nhất là vùng
chuyên canh rau, quả, nuôi thủy sản, vùng tập trung chăn nuôi trang trại.
- Về đường thủy:
+ Mở tuyến vận tải thủy nối miền Đông và miền Tây đi giữa ĐTM trên cơ sở
cải tạo mở rộng các kênh, sông hiện hữu sẽ giảm 50km so với tuyến cũ.
+ Khắc phục tình trạng xuống cấp của mạng lưới vận tải thủy nội vùng: giải
phóng chướng ngại, chống xói lở cho các luồng vận tải chính. Duy tu, nạo vét
bùn,… nhằm khai thác tốt nguồn nước tự nhiên, tăng lợi ích vận tải thủy cho vùng.
+ Nâng cao năng lực vận tải thủy: thay thế dần các phương tiện già cũ, phát
triển đội tàu tư nhân, HTX, củng cố đội tàu quốc doanh chủ lực đi đường dài, phát
triển cơ sở sữa chữa và đóng mới tàu. Có sự phối hợp chặt chẽ giữa giao thông thủy
và bộ, tăng cường quản lí của nhà nước…
- Về thủy lợi: trong quyết định 99/TTG có ghi: “thủy lợi phải sử dụng và khai
thác triệt để, hợp lí nhất nguồn nước sông Mê Công là tài nguyên thiên nhiên to lớn,
đồng thời có biện pháp hạn chế tối đa tác hại do lũ lụt gây ra”.
122
+ Xây dựng thủy lợi phải hoàn chỉnh, gồm các công trình tưới, tiêu, thau chua,
xổ phèn, ngăn mặn, kiểm soát lũ… đảm bảo chủ động tưới tiêu, thâm canh, tăng vụ
và giữ an toàn cho cây trồng (lấy nước từ đầu nguồn sông Tiền tưới nội đồng khu
vực phía Bắc, ngăn mặn trên các cửa sông gắn với dùng nước ngọt đầu mùa lũ cho
tràn qua sông Vàm Cỏ Tây thau chua, rửa mặn nội đồng, đẩy mặn xuống hạ lưu).
+ Tiến hành nạo vét hệ thống kênh mương, sông rạch, đảm bảo thoát lũ nhanh,
giảm ngập úng nội đồng. Áp dụng các biện pháp thủy lợi – canh nông – hóa sinh…
để tiến hành thau chua, rửa mặn, cải tạo đất phèn, nâng cao độ phì nhiêu cho đất.
+ Kết hợp thủy lợi với giao thông, xây dựng các cụm, điểm, tuyến dân cư,
kiểm soát lũ vùng kẹp giữa sông Vàm Cỏ để trồng cây công nghiệp, vùng trung tâm
ĐTM ngập sâu > 1m sẽ đảm bảo canh tác tốt vụ hè thu, xuống giống sớm vụ đông
xuân và tiếp tục chung sống với lũ.
+ Hạn chế tối đa lũ tràn qua biên giới, kiểm soát lũ ở đầu vụ, cuối vụ và tháo
lũ vào đồng ruộng ở thời kì lũ chính vụ, nhằm tránh nâng cao mực nước lũ.
+ Xây dựng đê bao lửng kiểm soát lũ tháng 8 cho 2 vụ lúa Đông Xuân và Hè
Thu, cống ngăn mặn, tháo lũ nội đồng.Và xây dựng cống sau hợp lưu sông Vàm Cỏ
Đông và Vàm Cỏ Tây nhằm đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
+ Lập các trạm bơm điện quy mô nhỏ và vừa cho vùng, đầu tư xây dựng các
công trình thủy lợi phục vụ nuôi thủy sản cho các huyện Vĩnh Hưng, Tân Hưng,
Mộc Hóa, Tân Thạnh, Đức Huệ.
+ Bảo vệ các thị trấn nằm trong vùng ngập sâu: Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc
Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa; các tuyến dân cư quan trọng; xây dựng hồ sinh thái
Láng Sen (Mộc Hóa) để bảo tồn thiên nhiên và sinh thái ĐTM, tạo kiểu khí hậu, giữ
ẩm, cung cấp một phần nước trong mùa khô.
Về kiểm soát lũ cho vùng Đồng Tháp Mười:
- Hạn chế lũ tràn từ trên xuống: lũ tràn là nguyên nhân chính gây ngập lụt, cản
trở việc vận chuyển bùn cát từ sống chính vào nội đồng. Hiện nay, tuyến chống tràn
trực tiếp cho vùng và tuyến quốc lộ N1 và Hồng Ngự - Tân Hồng.
123
- Đặt các cống cầu cạn và đường tràn trên tuyến đường đó để điều khiển lũ tại
các vị trí quan trọng.
- Xây dựng các công trình đầu mối trên các kênh trục để kiểm soát dòng chảy
trong mùa lũ, mùa cạn nhằm mụcđích lợi dụng tổng hợp: rút ngắn thời gian lũ, giảm
bớt ngập lụt, lấy bùn cát, tăng cường việc cấp nước trong mùa cạn.
- Xây dựng các tuyến dẫn lũ và thoát lũ trong nội đồng và đưa phù sa đến các
vùng cần cải tạo: dọc theo sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, Vùng Bắc Đông…
Xâm nhập mặn
- Để chống xâm nhập mặn cần tiếp tục đào các kênh, làm tăng lưu lượng nước
từ sông Tiền chảy vào vùng ĐTM chuyển nước sang sông Vàm Cỏ Tây. Nhưng cần
chú đến mối tương quan giữa vùng với các vùng khác trong và ngoài tỉnh Long An,
tương quan giữa các vùng trong nội đồng.
- Do sự phân hóa về nhu cầu tiêu dùng nước và tính chất của các cửa lấy nước,
cần chia nhỏ hệ thống thủy lợi trong vùng để đảm bảo chủ động tiết kiệm và hiệu
quả trong sử dụng nguồn nước.
- Trồng rừng và nuôi thủy sản
Xây dựng lưới điện phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi thủy sản, hoàn
thành chương trình điện khí hóa nông thôn: cần nâng cấp hệ thống lưới điện hiện
có, đầu tư thêm các trạm biến áp, tăng khả năng tiêu dùng điện phục vụ sản xuất và
sinh hoạt, xây dựng các trạm bơm điện, máy chế biến thức ăn chăn nuôi, thủy sản,
vận hành các thiết bị cơ giới hóa nông nghiệp.
Tóm lại, đầu tư cho gia thông, thủy lợi, lưới điện phục vụ sản xuất nông
nghiệp và nuôi thủy sản luôn có vai trò đặc biệt trong sản xuất của vùng, sẽ vừa là
tiền đề tạo động lực thu hút đầu tư, đổi mới công nghệ, tăng năng suất vật nuôi cây
trồng vừa phải ưu tiên đầu tư đi trước.
3.2.7. Đầu tư vốn, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến và đào tạo nhân lực
Vốn đầu tư được xem như là chiếc “chìa khóa” đảm bảo cho các mục tiêu KT-
XH nói chung và nông nghiệp nói riêng được thực hiện đúng tiến độ và phát huy tác
dụng như mong muốn.
124
+ Giải pháp cân đối nguồn vốn dựa trên huy động nguồn vốn từ nhiều nguồn:
ngân sách, vốn tín dụng, vốn tự có… trong các chương trình lồng ghép: chương
trình khai thác ĐTM, xây dựng cụm tuyến dân cư vùng lũ, 5 triệu ha rừng, giống
nông nghiệp, chăn nuôi bò thịt, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, nuôi thủ sản, điện
khí hóa nông thôn, bêtông hóa kênh mương…
+ Ngoài ra, cần huy động các nguồn vốn hỗ trợ từ bên ngoài cho việc xây
dựng cơ sở hạ tầng: giao thông, điện, nước … cho xây dựng các hệ thống bảo quản
chế biến nông – thủy sản, nhằm đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm nông
sản xuât khẩu, mở rộng sản xuất sản phẩm đặc sản, nhân giống thương phẩm…
+ Khi lập các dự án đầu tư sẽ phân chi tiết các nguồn vốn huy động và quá
trình tổ chức chỉ đạo sẽ có biện pháp huy động vốn một cách linh hoạt, hợp lí.
Nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ mới là con đường đầu tư mang
lại hiệu quả kinh tế nhanh nhất và lợi nhuận cao nhất. Cần chú trọng các lĩnh vực:
- Công tác giống cây trồng vật nuôi: tiến hành thường xuyên, có hệ thống,
quản lí chặt chẽ và xã hội hóa công tác giống: phải có năng suất và chất lượng cao,
chống chịu được các điều kiện ngoại cảnh ở địa phương, kháng sâu bệnh, đạt tiêu
chuẩn hàng nông sản xuất khẩu (nông sản sạch), đưa các hoạt động công nghệ vào
tất cả các khâu từ giống – canh tác – phòng trừ sâu bệnh – bảo quản sản phẩm…
- Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ cho nông dân:
+ Hoàn thiện mạng lưới khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư từ huyện đến
xã; tăng cường đội ngũ cán bộ kỹ thuật cho cơ sở, xây dựng kế hoạch chuyển giao
tiến bộ kỹ thuật kịp thời, trực tiếp đến người sản xuất.
+ Tăng cường và đào tạo kiến thức chuyên môn cho mạng lưới khuyến nông
viên cơ sở có năng lực, nhiệt tình, trách nhiệm trong công việc.
+ Kêu gọi và tạo điều kiện để các doanh nghiệp hoạt động tư vấn chuyển giao
kĩ thuật làm dịch vụ cho nông hộ, nhất là trong lĩnh vực giống cây trồng, vật nuôi.
Tranh thủ sự trợ giúp của các cơ quan nghiên cứu khoa học và chuyển giao kỹ thuật
cấp tỉnh và trung ương (các Trường, Viện nghiên cứu) đóng trên địa bàn tỉnh.
125
Phổ biến quy trình và phương pháp xây dựng cánh đồng mẫu lớn, kiểm soát
dịch bệnh cho gia súc, gia cầm, cây trồng…
Tiếp tục công tác nâng cao dân trí, đào tạo và bố trí sử dụng hợp lí nguồn
nhân lực trong quản lí và sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp nhằm thức hiện tốt các
biện pháp phục vụ sản xuất nông – lâm – ngư như đã nêu trên.
+ Đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục, cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có
tri thức và trình độ văn hóa căn bản, kỹ năng lao động tốt.
+ Phối hợp với các cơ sở đào tạo và trung tâm dạy nghề của tỉnh để nâng cao
kiến thức và chất lượng công tác dạy nghề. Yêu cầu đặt ra là phải có 35% lao động
xã hội được đào tạo chuyên môn và quản lý cho năm 2015 và 55% cho năm 2020.
+ Tăng cường hoạt động thông tin khoa học - kỹ thuật, văn hóa, để nâng cao
kiến thức, hiểu biết về: kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - kỹ thuật cho nhân dân.
+ Mở mang ngành nghề để đón nhận và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực trẻ đã
được đào tạo về làm việc tại huyện với chế độ đãi ngộ hợp lý.
3.2.8. Tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ, đổi mới tổ chức, hoàn
thiện cơ chế chính sách và hình thành các dự án đầu tư
Tìm kiếm và mở rộng thị trường:
- Nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành để tăng sức
cạnh tranh. Thực hiện đồng bộ các khâu: tiếp thị, quảng cáo, hình thành mạng lưới
phân phối, tiêu thụ sản phẩm đáp ứng thị trường và những ưu đãi về vốn và thuế tao
điều kiện cho các đơn vị cá nhân tiêu thụ nông sản nhất là thóc, mía, cá, tràm…
tránh tình trạng rớt giá hoặc ùn tắc trong mùa thu hoạch rộ. Xây dựng mối quan hệ
chặt chẽ giữa các khâu trong quá trình sản xuất từ cung ứng vật tư, nguyên nguyên
liệu, kĩ thuật đến tiêu thụ sản phẩm.
- Tăng cường các hình thức liên doanh, liên kết với các đối tác nhằm tranh thủ
thị trường, mở rộng hoạt động dịch vụ thương mại. Hình thành và xây dựng mối
quan hệ, giao lưu thương mại với các vùng lân cận nhất là Tp. HCM, mạng lưới các
bạn hàng nước ngoài tiêu thụ ổn định, tìm hiểu nhu cầu để có hướng tiêu thụ nông –
lâm – thủy sản đặc sản và trao đổi những mặt hàng cần thiết để phục vụ nhân dân
126
trong vùng. Từng bước hòa nhập vào thị trường trong nước và quốc tế
Về khía cạnh tổ chức cần:
- Làm tốt công tác củng cố các HTX, tổ kinh tế hợp tác, các trang trại, vận
động xây dựng mới tổ chức kinh tế hợp tác trong trồng lúa, trồng tràm, nuôi trồng
thủy sản, nuôi bò, mô hình VAC… nhằm nâng cao năng lực và quy mô sản xuất,
tạo lượng hàng hóa đủ và đa dạng tham gia trên thị trường. Nắm bắt thông tin nhằm
giảm chi phi đầu vào, tạo sức ép cạnh tranh cho sản phẩm có đầu ra ổn định.
- Khuyến khích nông hộ làm ăn giỏi, các nhà đầu tư xây dựng thêm các trang
trại hoặc các công ty trách nhiệm hữu hạn. Đây là cơ sở hình thành nền sản xuất
hàng hóa theo hướng công nghiệp và hiện đại.
- Xây dựng mô hình liên kết kinh tế giữa các cơ sở chế biến, dịch vụ tiêu thụ
sản phẩm với nông hộ và trang trại, trong đó ưu tiên các ngành hàng chủ lực như
lúa, tràm, thủy sản, gia súc…
Về các hoạt động chính sách:
- Đất đai: để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, hình thành nền nông nghiệp
hàng hóa phát triển bền vững cần tích tụ đất đai, có phương án sử dụng đất dành cho
các đối tượng có vốn, kiến thức và làm ăn giỏi… để người có đất và người làm
nông nghiệp gặp nhau, thu hút các doanh nghiệp đầu tư xây dựng trang trại nông
nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Tăng cường về các hoạt động hành chính để sử dụng hợp lí tài nguyên đất
nông nghiệp hiệu quả và bền vững.
- Tín dụng: nhanh chóng thực hiện theo Quyết định số 02/2002/QĐCP cho vay
không thế chấp với hộ và trang trại và nhiều quyết định ban hành nhằm hỗ trợ người
tham gia sản xuất nông nghiệp.
Riêng với các mô hình chuyển đổi thủy sản, rau, bò… cần có những chính
sách đặc thù để xây dựng mới, mở rộng sản xuất, hoàn thiện giải pháp kĩ thuật –
công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao hiệu quả quản lí các sản phẩm mũi nhọn
kinh tế vùng.
127
- Giải quyết cho 100% số HTX, tổ kinh tế hợp tác; với nông hộ cần đạt trên
95% số đối tượng cần vay vốn; vốn cho người nghèo, góp phần xóa đói giảm nghèo
một cách tích cực, sâu rộng và hiệu quả hơn… cũng nên mở rộng cho vay phát triển
dịch vụ, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp khi có dự án. Miễn, giảm thuế doanh
thu cho các cơ sở sản xuất giống cây trồng, vật nuôi và giống thủy sản.
- Trên đó, vùng cần tập trung đầu tư dứt điểm cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
nông – lâm – ngư nghiệp; hỗ trợ đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ đang sản xuất
các ngành chủ lực: lúa, tràm, bò thịt và thủy sản…
- Thiết lập các mô hình mẫu sản xuất cho các nông sản đạt tiêu chuẩn an toàn
thực phẩm, có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; hỗ trợ vốn giải quyết vấn đề
xử lí môi trường trong sản xuất; thiết lập hệ thống các kênh tiêu thụ nông – lâm –
thủy sản là sản phẩm hàng hóa thông qua liên kết hợp tác đầu tư phát triển…
Ngoài việc chủ động tích cực tham gia các chương trình chỉ đạo của trung
ương và tỉnh đã và đang tiến hành trên địa bàn các huyện về lĩnh vực nông nghiệp –
nông thôn: Chương trình giống nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu và đa dạng hóa
cây trồng, lúa gạo xuất khẩu, xây dựng và phòng chống lụt bão…
Ngành nông nghiệp của vùng của vùng cũng thực hiện một số dự án ưu tiên
trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp.
(Chi tiết xem Phụ lục Bảng 19)
3.2.9. Xây dựng cánh đồng mẫu lớn trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa
Đây cũng là những yêu cầu cần giải quyết để phát triển sản xuất cho vùng
ĐTM hiện nay với nhiều lợi thế vượt trội so hơn với các vùng lân cận khác. Cần
thực hiện đầy đủ các tiêu chí của cánh đồng mẫu lớn bao gồm:
- Nằm trong quy hoạch tổng thể nông nghiệp nông thôn – hiện tại ĐTM là
vùng quy hoạch sản xuất lúa chất lượng cao của tỉnh Long An với diện tích quy
hoạch 105.548 ha.
- Cánh đồng mẫu lớn phải có diện tích từ 300-500 ha – hiện nay toàn vùng có
khoảng 160 cánh đồng, quy mô trung bình 278,03 ha/cánh đồng, quy mô nhỏ nhất
là 50 ha/cánh đồng và lớn nhất là 1050 ha/cánh đồng. Những cánh đồng quy mô
128
nhỏ sẽ được thực hiện trước như những mô hình mẫu, sau đó sẽ nhân rộng đối với
những cánh đồng có quy mô lớn.
- Có hệ thống cơ sở hạ tầng kĩ thuật phục vụ sản xuất lúa hoàn thiện: đê bao,
cống hoàn chỉnh, chủ động tưới, tiêu, có hệ thống giao thông, điện tốt phục vụ cơ
giới hóa, các khâu sản xuât lúa.
- Người nông dân trong vùng tự nguyện tham gia, tự giác, và chủ động thực
hiện mô hình với các hình thức liên kết: tổ hợp tác hoặc HTX. Nông dân được tập
huấn kĩ thuật canh tác lúa chất lượng cao.
- Xác định bộ giống và năng lực cung ứng giống. 100% diện tích phải sử dụng
giống lúa xác nhận. Mật độ xạ từ 80 – 100 kg/ha.
- Làm đất: cơ giới hóa 100%, 100% diện tích được cài ải, cày ngâm lũ, vệ sinh
đồng ruộng. Gieo xạ: xạ hàng đồng loạt, né sâu bệnh hại cây và chủ động nguồn
nước phục vụ sản xuất và bón phân cân đối.
- Không phun thuốc hóa học định kì, khuyến khích ứng dụng công nghệ sinh
học trong quản lí dịch hại. Cơ giới hóa khu thu hoạch 100% diện tích và 100% sản
phẩm được phơi sấy đạt yêu cầu kĩ thuật.
- Mô hình xây dựng trên nền tảng 4 nhà; trong đó có các hình thức liên kết
được thể hiện thông qua hợp đồng giữa các tổ chức, doanh nghiệp với HTX hoặc tổ
hợp tác sản xuất về việc cung ứng vật tư nông nghiệp, dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm.
Liên kết giữa người nông dân với người nông dân là quyết định để tổ chức lại
sản xuất theo hướng “Nông dân nhỏ - cánh đồng lớn”, đồng thời là thị trường tiêu
thụ sản phẩm; doanh nghiệp đáp ứng tốt yêu cầu đầu vào và đầu ra cho sản phẩm;
sự liên kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp để phục vụ nông dân tốt hơn; mục
tiêu là giảm chi phí, hiệu quả giá trị gia tăng sản phẩm trên một đơn vị diện tích.
129
Sơ đồ 3.1. Mối liên kết 4 nhà trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ
Nhà nước
- Các bộ, ngành. - Sở NN và PTNT
- Phòng NN huyện
Khuyến nông
Nhà nông
- Hợp tác xã
Nhà khoa học - Tổ hợp tác Doanh nghiệp thu mua, chế biến, bảo quản và tiêu thụ Nhà khoa học
- Hộ nông dân
Doanh nghiệp cung ứng vật tư nông nghiệp
(Giống, xăng dầu, phân bón, thuốc BVTV)
Thông tin lãnh đạo chỉ đạo Quan hệ hợp đồng
Quan hệ tư vấn và thông tin phản hồi
Gia tăng tổng thu nhập, tăng tính cộng đồng cho nông dân, tính đồng đều giữa
các nông hộ, vật tư đầu vào ổn định và đồng bộ, giảm chi phí sản xuất, cơ giới hóa
cao, sản xuất gắn với thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, nông
hộ và nhà kinh doanh, góp phần bảo vệ môi trường và hoàn thiện bộ mặt nông thôn
mới là những hiệu quả thiết thực từ mô hình Cánh đồng mẫu lớn mang lại.
3.2.10. Hoàn thiện chương trình nông nghiệp, nông dân và nông thôn mới
Xác định đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn là cơ sở và điều kiện
cần thiết để phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn toàn diện theo hướng
hiện đại, hiệu quả, bền vững, tạo nền tảng KT-XH và chính trị vững chắc cho sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông thôn theo hướng gia
tăng giá trị và lợi nhuận, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, tăng tích lũy và tái đầu tư
130
để nông thôn thay đổi tập quán và trình độ sản xuất, tăng thu nhập cuộc sống của
nông dân và bộ mặt nông thôn thay đổi toàn diện cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Tăng cường mạnh mẽ đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các
thành tựu KH-CN tiên tiến trong nông nghiệp, nông thôn, công nghệ chế biến nông
sản thực phẩm sau thu hoạch, dự án đầu tư vào các vùng khó khăn, vùng đặc biệt
khó khăn phát triển sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, phát triển nguồn
nhân lực, nâng cao dân trí nông dân.
Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao nhất các nguồn lực
trong xã hội, kể cả huy động vốn ODA và FDI đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn gắn với phát triển nhanh
kinh tế nông thôn, đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, không ngừng nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của nông dân: hoàn thiện hệ thống thủy lợi, đồng bộ hệ
thống giao thông nông thôn, kết nối với đầu mối giao thông chung của cả nước và
các trung tâm kinh tế lớn; phát triển hạ tầng điện, bảo đảm cung cấp đủ điện cho sản
xuất và sinh hoạt khu vực nông thôn, bảo đảm nhu cầu trị bệnh, học hành…
Triển khai mạnh mẽ, sâu rộng chủ trương thí điểm bảo hiểm nông nghiệp
nhằm hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục và bù đắp thiệt
hại tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra, góp phần bảo đảm ổn định
an sinh xã hội nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển.
Hoàn thiện chương trình dân sinh vùng lũ, nâng cao đời sống vật chất tinh thần
của người dân vùng lũ, không phải di dời chỗ ở trong mùa lũ lụt, hạn chế đến mức
thấp nhất các thiệt hại do lũ gây ra trên cơ sở đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông
thôn, hoàn thành bố trí dân cư vào các cụm và tuyến. Phấn đấu từng bước nâng cao
đời sống nhân dân, không có hộ bị đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo.
3.2.11. Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp và bảo vệ môi trường
- Xây dựng cơ cấu mùa vụ sản xuất trồng trọt hợp lý, sử dụng các giống kháng
sâu rầy, bón phân hữu cơ vi sinh, áp dụng quy trình sản xuất sản phẩm an toàn, tiến
tới sản xuất sản phẩm sạch.
- Về chăn nuôi cần tổ chức khoanh vùng nuôi gia súc, gia cầm có kiểm soát
dịch bệnh, có chuồng trại hợp vệ sinh, xa khu dân cư, tôn trọng nghiêm ngặt quy
131
trình chăn nuôi an toàn dịch bệnh, nuôi trồng thủy sản phải có hệ thống xử lý nước
thải phù hợp với môi trường sinh thái.
- Tối ưu hóa sử dụng tài nguyên đất - nước - khí hậu - thủy văn - sinh vật. Đây
được coi là vấn đề cốt lõi đảm bảo cho nông nghiệp hàng hóa phát triển bền vững.
- Bảo vệ môi trường: sử dụng tối ưu hóa đất - nước, gia tăng độ che phủ bằng
trồng rừng phân tán, cây ăn quả, lâu năm và giảm dần độc canh lúa. Chọn hướng
phát triển trồng trọt là: luân canh lúa - cây trồng cạn, lúa - thủy sản và rau thực
phẩm an toàn, tạo vành đai xanh cho đô thị. Kiểm tra bảo vệ môi trường rộng khắp
và tiến hành thường xuyên, quan tâm đến các dự án phát triển công nghiệp (bắt
buộc phải có các giải pháp xử lý nước thải).
- Né tránh đối đầu với thiên nhiên, tăng cường việc kiểm soát lũ để không phá
vở quy luật khách quan của tự nhiên, “chung sống với lũ”,…
- Tạo ra các khu vực khép kín với hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh có khả năng
kiểm soát lũ và tưới, tiêu chủ động sẽ đem lại hiệu quả trong sản xuất và KT-XH, cụ
thể là: giảm được các thiệt hại do ngập lũ gây ra, chủ động lấy phù sa và vệ sinh
đồng ruộng, tạo thuận lợi phát triển nông nghiệp ở mức độ cao theo hướng đa dạng
hóa cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao hơn hiện nay.
- Phát triển du lịch sinh thái nhằm gìn giữ cảnh quan mang đậm bản sắc văn
hóa vùng sông nước ĐBSCL, góp phần gìn giữ môi trường sống luôn trong lành.
- Gia tăng biện pháp tuyên truyền, vận động đến từng người dân tôn trọng quy
Môi trường
Nông nghiệp \
Xã hội
Dịch vụ
Công nghiệp
luật tự nhiên, có ý thức bảo vệ và chống làm suy thoái môi trường.
Hình 3.2. Mô hình phát triển bền vững
132
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
1. Làm sáng tỏ các nguồn tài nguyên tự nhiên và nguồn nhân lực có thể khai
thác phát triển nông lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn các huyện thuộc ĐTM tỉnh
Long An một cách có căn cứ cơ sở khoa học và thực tế. Cho thấy vị trí vai trò quan
trọng của sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản trong tổng thể KT-XH của huyện.
2. Phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản thông qua các hình thức
TCLTNN trên cơ sở sinh thái cộng với lợi thế về vị trí địa lý, nông sản có tính
truyền thống, theo định hướng nông nghiệp đa canh. Trong đó coi trọng giải pháp
tăng sản lượng, giá trị và lợi nhuận bằng thâm canh, tăng vụ, kết hợp mở rộng diện
tích, đặc biệt là sử dụng công nghệ sinh học là hoàn toàn đúng đắn.
3. Xây dựng hiệu quả hướng phát triển nông lâm nghiệp bền vững nhất khi
phần lớn 100% là đất các huyện trong vùng có vấn đề lại chịu ảnh hưởng ngập lũ,
cơ sở hạ tầng đã cải thiện nhưng thiếu đồng bộ, trình độ lao động thấp, bản thân
kinh tế hộ không phát triển sản xuất quy mô lớn đươc, một số trang trại và HTX
hoạt động kém hiệu quả... Đó là lợi dụng tối ưu các mặt thuận lợi, né tránh các bất
lợi, mà hàng đầu là “chung sống với lũ, khai thác tối đa nguồn lợi từ lũ“, từng bước
cải thiện mọi mặt đời sống KT-XH, năng suất sản xuất xã hội.
4. Cây trồng quan trọng nhất của vùng vẫn là lúa, kế đến là mía, đay nguyên
liệu, khoai mỡ, khóm, đậu đổ,...và cây tràm cừ, nuôi heo, bò, gia cầm, nuôi và khai
thác nguồn thủy sản nước ngọt. Song để có giá trị và lợi nhuận cao phải có công
nghệ và kỹ thuật mới nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, kết hợp sản xuất, chế
biến và tiêu thụ sản phẩm một cách khoa học.
5. Phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp - thủy sản trên cơ sở sinh thái cộng
với lợi thế về vị trí địa lý, nông sản có tính truyền thống, theo định hướng nông
nghiệp đa canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để có sản phẩm nông nghiệp với chất
lượng cao qua mô hình Cánh đồng mẫu lớn.
6. Một số phát triển giải pháp cho sản xuất nông - lâm – ngư nghiệp vừa đảm
bảo các yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của các hình thức tổ chức lãnh thỗ
133
nông nghiệp của vùng hiện nay, về tăng trưởng GTSX, cung cấp nguyên liệu cho
công nghiệp, giải quyết tốt vấn đề an ninh lương thực quốc gia, có sự phát triển hợp
lý giữa trồng trọt và chăn nuôi; phát triển lâm nghiệp và thủy sản.
Kiến nghị
1. Đa phần các huyện trong vùng là những huyện thuần nông với cơ cấu kinh
tế chậm chuyển đổi, lại chồng chất những khó khăn (nghèo tài nguyên, lũ lụt,…),
ngân sách huyện thu không đủ chi. Do vậy, kính đề nghị Chính phủ, tỉnh Long An
quan tâm đầu tư hỗ trợ toàn diện, trước mắt đầu tư nâng cấp đường giao thông, khoa
học công nghệ, vật tư nông nghiệp, bồi dưỡng nguồn lao động, hoàn thiện các cụm
và tuyến dân cư vượt lũ cũng như các công trình kết cấu hạ tầng cơ sở khác.
2. Đề nghị các ngành chức năng của tỉnh Long An hỗ trợ huyện lập dự án và
tổ chức thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi, nâng cao
hiệu quả kinh tế, góp phần giải quyết việc làm - giảm nghèo, đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường.
Trong đó, ưu tiên dự án sản xuất lúa chất lượng cao, lúa thơm, dự án phát
triển chăn nuôi bò - heo và nuôi thủy sản tập trung, dự án phát triển kinh tế thương
mại - dịch vụ, đề án xây dựng trạm bơm điện vùng các huyện ĐTM, chính sách hỗ
trợ người trồng rừng, để đảm bảo ổn định diện tích rừng; đặc biệt là dự án phát triển
kinh tế cửa khẩu, dự án phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản… gắn kết với
các hình thức TCLTNN hiệu quả cao.
3. Để có một định hướng chiến lược phát triển toàn diện, cần có sự phối hợp
với các ngành công nghiệp và dịch vụ, kể cả quốc phòng an ninh, sự tác động hỗ
trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển là hết sức quan trọng. Ngành nông nghiệp và Phát
triển nông thôn các huyện trong vùng phối hợp với các ngành công nghiệp, dịch vụ
triển khai tốt quy hoạch của ngành mình để lãnh đạo huyện có các quyết định phù
hợp trong quá trình xây dựng và phát triển KT-XH.
134
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Long An.
2. Cục thống kê tỉnh Long An (2004), Niên giám thống kê 2003, Long An.
3. Cục thống kê tỉnh Long An (2008), Niên giám thống kê 2007, Long An.
4. Cục thống kê tỉnh Long An (2012), Niên giám thống kê 2011, Long An .
5. Cục thống kê Long An (2012), Niên giám thống kê các huyện Tân Hưng,
Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Đức Huệ 2011,
Long An.
6. Lê Huy Bá (2003), Những vấn đề đất phèn Nam Bộ, Nxb Đại học Quốc
gia Tp. Hồ Chí Minh.
7. Lê Quốc Sử (2001), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xu hướng phát triển
của kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa –
hiện đại hóa từ thế kỉ XX đến thế kỉ XXI trong "Thời đại kinh tế tri
thức", Nxb Thống kê.
8. Lê Thông (chủ biên) (2006), Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam. Tập
sáu, Nxb Giáo dục.
9. Đặng Văn Phan (2008), Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam, Nxb
Giáo dục.
10. Trần Quốc Khánh (2005), Giáo trình Quản trị kinh doanh Nông nghiệp,
Nxb Lao động – Xã hội.
11. Vũ Đình Thắng (2005), Giáo trình kinh tế nông nghiệp, Nxb Giáo dục và
Đào tạo.
12. Phan Liêu (chủ biên) (1998), Tài nguyên đất Đồng Tháp Mười, Nxb
Khoa học Kĩ thuật.
1. Cục thống kê tỉnh Long An (2004), Niên giám thống kê 2002- 2003,
13. Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (1997), Đồng Tháp Mười
– 10 năm khai thác và phát triển (1985 – 1995), Tp. Hồ Chí Minh.
14. Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (1998), Báo cáo chuyên
đề: “Đánh giá khả năng đất đai để phát triển nông – lâm nghiệp
vùng Đồng Tháp Mười”, Tp. Hồ Chí Minh..
15. Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (1998), Báo cáo đề tài
độc lập cấp nhà nước: “Xác lập căn cứ khoa học cho quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười (Long An,
Tiền Giang và Đồng Tháp), Tp. Hồ Chí Minh.
16. Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (2000), Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng Tháp Mười giai đoạn
2001 – 2010, Long An.
17. Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (2003), “Quy hoạch phát
triển Nông – lâm – ngư nghiệp huyện Mộc Hóa đến năm 2010”,
Long An.
18. Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (2012), “Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Tân Hưng đến năm 2020”,
Long An.
19. Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (2012), “Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Hưng đến năm 2020”,
Long An.
20. Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (2012), “Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Thạnh Hóa đến năm 2020”,
Long An.
21. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Long An (2012), Quy
hoạch phát triển nông – lâm – ngư nghiệp tỉnh Long An đến năm
2020, Long An.
135
22. Đinh Phi Hổ (2003), Kinh tế nông nghiệp – Lý thuyết và thực tiễn, Nxb
Thống kê.
23. Thạch Phương – Lưu Quang Tuyến (chủ biên) (1989), Địa chí Long An,
Nxb Khoa học xã hội.
24. Uỷ ban nhân dân tỉnh Long An (2007), “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội 5 năm 2006 – 2010”, Long An.
25. Uỷ ban nhân dân tỉnh Long An (2010), “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội 5 năm 2011 – 2015”, Long An.
26. Uỷ ban nhân dân tỉnh Long An (2012), Nghiên cứu Quy hoạch Tổng thể
Phát triển Kinh tế-xã hội Tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn
đến năm 2030, Long An.
27. Ủy ban nhân dân tỉnh Long An (2012), Quy hoạch vùng sản xuất lúa
chất lượng cao phục vụ chế biến xuất khẩu vùng Đồng Tháp Mười,
Long An.
136
PHỤ LỤC
Diện tích: Ha; Năng suất: Tấn/ha; Sản lượng: Tấn
TT
LOẠI CÂY TRỒNG
Diễn biến qua các năm
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
Tốc độ tăng BQ (%/năm) 2006- 2011
2001- 2005
2001- 2011
A
292004
278322
284558
282220
294418
306400
309437.3
307905.3
322602
337068
339821
359020.5
0.97
2.09
1.53
I
CÂY HÀNG NĂM (HA) CÂY LƯƠNG THỰC (HA)
271482
259576
264530
263996
274768
278174
286896.3
279652
301971
308538
318537
335764
0.49
2.75
1.61
1
Lúa cả năm
- Diện tích
271448
259542
264472
263701
274424
277905
286627
279350
301413
308071
318374
335009
0.47
2.76
1.61
- Năng suất
3.75
4
4.35
4.53
4.74
4.79
4.31
4.94
5.05
4.94
5.08
5.5
5.01
1.17
3.07
- Sản lượng
1018812
1037378
1150175
1194677
1299504
1331958
1235905
1380077
1523070
1616912
1841532
5.51
3.95
4.73
1.1
Lúa Đông Xuân
- Diện tích
163638
164709
156331
153422
152676
154949
159458
157373
159048
164653
167846
173579
-1.09
1.61
0.25
- Năng suất
4.86
4.88
5.33
5.45
5.42
5.69
5.49
5.71
5.78
5.7
6.08
6.22
3.21
1.34
2.27
- Sản lượng
794597
804155
832481
835852
827147
881195
875522
897874
919439
937700
1020350
1080406
2.09
2.98
2.53
1.2
Lúa Hè Thu
- Diện tích
106950
93943
107918
110279
121748
122956
127169
121977
142365
143418
150528
161430
2.83
4.13
3.48
- Năng suất
2.08
2.48
2.94
3.25
3.88
3.67
2.83
3.95
4.24
4.07
3.96
4.71
12.01
1.57
6.66
- Sản lượng
222409
232988
317187
358825
472357
450763
360383
482203
603631
583736
596562
761126
15.18
5.76
10.37
1.3
Lúa Mùa
860
890
223
- Diện tích
2.1
0.26
2.27
- Năng suất
1806
235
507
- Sản lượng
2
Bắp (Ngô)
- Diện tích
34
34
58
295
344
269
269
302
558
467
163
755
51.27
-9.55
16.97
Bảng 11: Diễn biến diện tích – năng suất – sản lượng cây trồng chính (2000 – 2011 vùng Đồng Tháp Mười)
5.29
4.62
4.03
5.1
4.54
4.86
4.46
5.42
5.54
5.25
7.05
6.97
-1.68
7.7
2.9
- Năng suất
180
157
234
1504
1562
1310
1202
1637
3089
2453
1149
5259
48.73
-2.59
20.37
18127
18243
19296
15237
15374
17614
17573
23911
16080
15869
15879
16815
-0.57
-2.05
-1.32
- Sản lượng CÂY CÔNG NGHIỆP
II
Mía
1
- Diện tích
15829
13986
13356
13255
12784
12982
13058
13851
13723
13581
11723
11480
-3.89
-2.02
-2.96
- Năng suất
45.77
22.83
60.38
62.42
63.03
64.92
70.51
66.57
69.46
68.8
69.72
70.19
7.24
1.44
4.3
724496
319277
806432
827434
805816
842742
920736
922074
953257
934348
817291
805781
3.07
-0.61
1.21
- Sản lượng Đậu phộng (Lạc)
2
82
142
162
64
69
113
75
96
123
55.18
-16.95
13.52
- Diện tích
18
53
47
2.7
2.69
2.74
1.66
2.59
2.59
2.64
2.66
2.63
9.74
-9.58
-0.39
- Năng suất
1.72
1.91
1.79
221
382
444
106
179
293
198
255
322
70.3
-24.91
13.08
- Sản lượng
31
101
84
3
Đay
1742
2061
2921
2952
3825
8839
1716
1188
3330
5.95
0.21
3.04
- Diện tích
2188
4098
5803
1.89
2.27
1.68
1.81
0.91
2.09
2
2.16
1.87
11.5
1.56
6.41
- Năng suất
0.97
1.19
1.55
3290
4674
4903
5354
3469
18499
3437
2567
6222
18.13
1.78
9.65
- Sản lượng
2131
4878
9017
4
Cói
61
28
31
57
67
78
28
60
- 19.55
61
12.95
-4.67
- Diện tích
92
106
85
4.43
7
7
8.04
7
7.28
8
8.03
8
2.8
2.42
- Năng suất
6.33
5.24
6.13
270
458
570
224
482
196
217
469
2.05 - 17.91
488
16.11
-2.37
- Sản lượng
582
555
521
6
Mè (Vừng)
97
359
1518
554
1030
538
944
1083
1821
-6.53
- Diện tích
5
0.48
0.4
0.3
0.4
0.44
0.51
0.47
0.46
0.48
8.92
- Năng suất
0.6
47
144
459
221
450
273
445
502
865
1.81
3
III
2395
503
732
2987
4276
10612
4968
4342
4551
12661
5405
6442
34.68
-12.62
8.48
- Sản lượng CÂY HÀNG NĂM KHÁC Rau dưa thực phẩm
1
719
- Diện tích
2142
402
2778
3784
3836
4679
4014
4330
4764
5215
5694
12.36
6.33
9.31
9.04
- Năng suất
8.17
16.37
15.19
14.91
15.45
16.55
14.38
15.28
13.61
14.31
14.39
13.6
-1.53
5.77
- Sản lượng
17496
6580
6500
42184
56427
59281
77416
57712
66156
64820
74613
81954
27.64
4.71
15.61
Khoai lang
2
0
24
0
46
193
94
114
85
75
13
66
143
- Diện tích
0
4.5
0
6.33
5.95
5.94
5.99
6.15
6
5.69
6.89
8.07
- Năng suất
0
108
0
291
1148
558
683
523
450
74
455
1154
- Sản lượng
3
Khoai mỳ (Sắn)
253
77
13
163
299
195
214
215
146
22
124
605
-3.2
-10.42
-6.88
- Diện tích
7.96
6.77
6
6.72
6.41
6.78
6.76
6.23
6.35
6.55
7.2
6.56
-4.77
2.93
-0.99
- Năng suất
2013
521
78
1096
1917
1340
1322
1447
927
144
893
3969
-7.82
-7.8
-7.81
- Sản lượng
4
Khoai mỡ
1970
3146
- Diện tích
11.13
11.04
- Năng suất
21920
34733
- Sản lượng
5
Dưa hấu
4506
4716
- Diện tích
17.32
18.23
- Năng suất
78054
85785
1419
83
526
538
851
1099
1384
1190
684
444
810
1339
76.43
-10.61
25.59
- Sản lượng CÂY LÂU NĂM
B
1419
83
526
538
851
1099
1384
1190
684
444
810
1339
76.43
-10.61
25.59
CÂY ĂN QUẢ
II
1
0
0
0
6
6
4
4
0
0
0
0
28
Thanh Long Diện tích tổng số
0
0
0
54
54
31
31
0
0
0
0
320
Sản lượng
2
83
526
538
845
1093
1415
1380
1190
684
444
810
1311
76.33
-10.56
25.59
Dứa (Khóm) Diện tích tổng số
Sản lượng
3105
2051
4400
5373
18142
24389
30931
25581
17515
8654
6815
11695
51.02
-22.51
8.18
TỔNG
292087
278848
285096
283071
295517
307819
310821
309095
323286
337512
340631
360360
Nguồn: Cục Thống kê Long An và phòng Thống kê các huyện - thành phố
Đơn vị: ha
Bảng 13: Diễn biến diện tích rừng Vùng Đồng Tháp Mười thuộc tỉnh Long An qua một số năm (ngày 31 tháng 12 hàng năm)
Chia ra theo huyện
TT
HẠNG MỤC
Toàn tỉnh Long An
Tân Hưng
Vĩnh Hưng
Mộc Hóa
Tân Thạnh
Thạnh Hóa
Đức Huệ
Bến Lức
Thủ Thừa
I DT RỪNG NĂM 2005
67,764.2
12,722.5
3,651.0
7,796.3
8,199.0
19,196.0 10,454.0
496.5
5,248.9
1 Chia theo loại cây rừng
UTrong đóU: Tràm cừ
65,326.7
12,720.6
3,602.5
6,842.8
8,199.0
19,185.3 8,632.8
496.5
5,248.9
2 Chia theo mục đích sử dụng
- Rừng sản xuất
65,253.4
11,522.5
3,651.0
6,728.3
8,199.0
18,104.5 10,407.8
496.5
5,248.9
- Rừng đặc dụng
2,120.4
1,200.0
920.4
- Rừng phòng hộ
1,374.4
1,091.5
46.2
147.6
3 Chia theo chủ quản lý
- Hộ gia đình
55,558.4
9,222.5
3,651.0
6,532.9
6,987.0
15,641.7 7,659.8
496.5
4,649.9
- Doanh nghiệp NN
9,253.8
3,500.0
1,167.0
1,212.0
3,371.8
3.0
- Doanh nghiệp TN
3,726.5
182.5
2,945.0
559.0
- UBND xã
209.5
96.5
46.2
II DT RỪNG NĂM 2008
52,543.1
9,145.6
2,098.8
7,087.9
6,511.9
16,095.0 7,898.5
126.2
3,579.2
1 Chia theo loại cây rừng
UTrong đóU: Tràm cừ
49,772.2
9,145.6
2,088.9
6,140.3
6,511.9
16,079.5 6,088.9
126.2
3,528.2
2 Chia theo mục đích sử dụng
- Rừng sản xuất
48,792.7
7,945.6
2,088.9
6,146.3
6,099.9
14,733.5 7,860.9
186.2
3,579.2
- Rừng đặc dụng
2,003.0
1,200.0
800.0
3.0
- Rừng phòng hộ
2,030.8
10.0
141.6
412.0
1,361.5
34.6
3 Chia theo chủ quản lý
- Hộ gia đình
39,964.3
6,783.6
2,088.9
5,830.4
5,621.3
12,797.8 5,025.4
126.2
1,457.2
- Doanh nghiệp nhà nước
9,152.6
2,362.0
1,167.0
876.7
3,098.7
3.0
1,645.3
- Doanh nghiệp tư nhân
3,510.7
198.5
2,835.5
476.7
- UBND xã
198.9
10.0
90.5
14.0
34.6
III DT RỪNG NĂM 2011
43,539.1
5,917.5
2,117.0
4,046.9
4,440.0
13,237.9 10,734.9
790.0
2,255.0
1 Chia theo loại cây rừng
13.6
4.9
9.3
10.2
30.4
24.7
1.8
5.2
UTrong đóU: Tràm cừ
30,378.0
3,451.5
436.0
3,113.3
3,844.0
11,323.8 5,164.4
790.0
2,255.0
2 Chia theo mục đích sử dụng
0.0
- Rừng sản xuất
39,573.6
4,717.5
2,107.0
3,105.3
4,028.0
11,845.9 10,724.9
790.0
2,255.0
- Rừng đặc dụng
2,003.0
1,200.0
800.0
3.0
- Rừng phòng hộ
1,962.5
10.0
141.6
412.0
1,392.0
7.0
3 Chia theo chủ quản lý
33,237.1
3,451.5
446.0
4,055.9
3,844.0
11,361.8 7,032.9
790.0
2,255.0
- Hộ gia đình
20,938.0
1,089.5
436.0
2,798.4
2,894.6
8,218.8
3,915.8
790.0
795.0
- Doanh nghiệp nhà nước
7,374.95
2,362.0
1,167.0
940.4
2,902.6
3.0
- Doanh nghiệp tư nhân
4,807.7
240.5
3,107.2
1,460.0
- UBND xã
116.5
10.0
90.5
9.0
7.0
IV
-24,225.1
-6,805.0
-1,534.0
-3,749.5
-3,759.0
-5,958.1
280.9
293.5
-2,993.9
SO SÁNH DIỆN TÍCH RỪNG NĂM 2011/2005
1 Chia theo loại cây rừng
UTrong đóU: Tràm cừ
-34,948.7
-9,269.1
-3,166.5
-3,729.5
-4,355.0
-7,861.4
-3,468.4
293.5
-2,993.9
2 Chia theo mục đích sử dụng
- Rừng sản xuất
-25,679.8
-6,805.0
-1,544.0
-3,623.0
-4,171.0
-6,258.6
317.1
293.5
-2,993.9
- Rừng đặc dụng
-117.4
-120.4
3.0
- Rừng phòng hộ
588.1
10.0
-6.0
412.0
300.5
-39.2
3 Chia theo chủ quản lý
33,237.1
3,451.5
446.0
4,055.9
3,844.0
11,361.8 7,032.9
790.0
2,255.0
- Hộ gia đình
-34,620.5
-8,133.0
-3,215.0
-3,734.5
-4,092.5
-7,422.9
-3,744.1
293.5
-3,854.9
- Doanh nghiệp nhà nước
-1,878.8
-1,138.0
-271.6
-469.3
- Doanh nghiệp tư nhân
1,081.1
58.0
162.1
901.0
- UBND xã
-93.0
10.0
-6.0
9.0
-39.2
0.0
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Long An
UVùng IU: 4 huyện Vùng Đồng Tháp Mười
UVùng IIU: Đức Huệ và Bắc kênh Thủ Thừa H.
Bảng 15: Phân vùng sản xuất phát triển nông – lâm – ngư nghiệp vùng Đồng Tháp Mười
TÊN VÙNG
gồm: Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hóa, Tân Thủ Thừa, 3 xã Tây sông Vàm Cỏ Đông H. Bến
Thạnh, và 3 xã phía Tây huyện Thạnh Hóa. Lức và các xã còn lại của H. Thạnh Hóa CHỈ TIÊU
PHÂN VÙNG (DTTN: 199.800,00 ha) (DTTN: 102.944,00 ha)
- UĐất phènU, Uđất xámU, đất phù sa ven sông - UĐất phènU, đất xám và đất phù sa ven sông I. CÁC YẾU TỐ ĐẶC
Vàm Cỏ Tây và một phần đất líp ở huyện Vàm Cỏ Đông và Uđất lípU đang trồng mía, khoai TRƯNG
Thạnh Hóa. mỳ, chanh, khoai mỡ, dứa,… 1. Phát sinh đất (Soil)
- Nước lấy từ sông Tiền, đầu mùa mưa một - Nguồn nước lấy từ sông Vàm Cỏ Đông (Bổ 2. Nguồn nước, chất lượng và số khu vực còn bị ảnh hưởng phèn ít. sung từ hồ Dầu Tiếng và sông Tiền). chế độ thủy văn. - Ngập lũ từ tháng 8 đến tháng 11 (Mức ngập: - Ngập lũ nông từ tháng 9 đến tháng 11 (Mức
0,8 - 2,0 m) ngập: 0,5 - <1,0 m)
- ÍUt chịu ảnh hưởngU:
U- Rất ít chịu ảnh hưởngU:
+ Diện tích đất nông nghiệp Ugiảm ítU. 3. Tác động của công nghiệp, + Diện tích đất nông nghiệp Ugiảm rất ítU. + Hiện tại đất NN và nước chưa bị ô nhiễm; đô thị hóa đến nông - lâm và song, tiềm ẩn ô nhiễm nếu khu vực xử lý rác ở + Chưa bị ảnh hưởng ô nhiễm môi trường thủy sản. huyện Thủ Thừa đi vào hoạt động và 2 nhà máy bởi các Cơ sở công nghiệp và đô thị hóa.
đường không được giám sát chặt chẽ nước thải.
+ Đồng ruộng có Udiện tích đủ lớn sản xuất
chuyên canhU và thuận lợi cho cơ giới hóa + Đồng ruộng có Udiện tích vừa phảiU tương đối 4. Quy mô đồng ruộng và loại
sản xuất nông nghiệp nhất là đối với lúa thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp hình sản xuất phổ biến liên
hàng hóa xuất khẩu. hàng hóa và cơ giới NN. (Rất khó cơ giới hóa quan đến sản xuất nông
đối với cây trồng trên đất líp) + Thuận lợi cho kinh tế trang trại và doanh nghiệp hàng hóa và cơ giới
nghiệp sản xuất - kinh doanh nông nghiệp + Khá thuận lợi cho phát triển kinh tế trang trại. hóa nông nghiệp.
phát triển.
+ Thủy lợi - giao thông - lưới điện còn thiếu + Thủy lợi - giao thông - lưới điện đã đầu tư
và chưa đáp ứng tốt cho sản xuất nông nhưng cần được cải tạo, nâng cấp đúng với thiết 5. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật nghiệp hàng hóa phát triển bền vững, nhất là kế kỹ thuật, nhất là mở rộng kênh mương, xây phục vụ nông nghiệp. đê bao kiểm soát lũ, giao thông đồng ruộng, dựng đường giao thông đồng ruộng và lưới điện
điện 3 pha phục vụ sản xuất nông nghiệp. 3 pha phục vụ sản xuất nông nghiệp.
1. Lúa gạo xuất khẩu có năng suất, chất 1. Sử dụng đất trồng lúa hàng hóa ở nơi có môi
lượng và sức cạnh tranh cao, mở rộng diện trường đất - nước thích hợp. II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
tích lúa đặc sản huyết rồng trên đất giồng. 2. Tiếp tục duy trì sản xuất mía theo hướng TRIỂN SX NÔNG - LÂM
thâm canh tăng năng suất và tăng chữ đường. 2. Duy trì diện tích tràm cừ trồng thâm canh NGHIỆP VÀ NGƯ
3. Duy trì diện tích trồng thâm canh tràm cừ làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế NGHIỆP ĐẾN NĂM 2020
làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm biến lâm sản ở nơi khó chuyển đổi. II.1. Định hướng chung:
sản ở nơi đất có tầng sinh phèn nông. 3. Chăn nuôi trang trại heo, gà ở các khu vực
4. Nuôi trâu thịt ở huyện Đức Huệ và xem xét ngập nông, giao thông thuận lợi (Thạnh Hóa)
và nuôi trâu, bò thịt ở vùng đất phù sa cổ, phát triển chăn nuôi trang trại: Heo siêu nạc, gà
nuôi vịt chuyên trứng và vịt chạy đồng đất - gà thả vườn ở nơi ngập nông, giao thông
chuyên thịt theo thời vụ. thuận lợi nhất là ở khu vực rừng tràm và mía.
4. Từng bước phát triển bền vững nuôi thủy
sản nước ngọt nhất là các loại cá đồng.
5. Tổ chức sản xuất cá giống đạt chất lượng
cao phục vụ nuôi thủy sản trong tỉnh và Vùng
ĐBSCL.
(04 cây – 03 con) (06 cây - 05 con)
- UCây U: Lúa cao sản xuất khẩu + lúa đặc sản
II.2. Cây, con được xác định là truyền thống (lúa huyết rồng) - Tràm – đay – - UCây U: Lúa cao sản – mía – tràm – chanh –
nông - lâm - thủy sản hàng dưa hấu. khoai mỡ- dưa hấu.
hóa chủ lực. - UConU: Thủy sản nước ngọt, vịt chạy đồng - UConU: Trâu thịt - bò thịt lai Sind - heo siêu
và heo siêu nạc (Nuôi trâu bò thịt ở dọc biên nạc, gia cầm và nuôi thủy sản nước ngọt
Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Long An
giới với CamPuchia)
Bảng 19: Các dự án phát triển nông – lâm – ngư nghiệp vùng Đồng Tháp Mười đến 2020
TT THỜI GIAN DỰ ÁN
I. CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT
Dự án Quy hoạch phát triển vùng sản xuất lúa tập trung chất lượng cao phục vụ chế biến gạo xuất khẩu ở 5
huyện Đồng Tháp Mười tỉnh Long An đến năm 2020.
- Tổng diện tích canh tác lúa: 40.000,0 ha, phân bố ở 5 huyện: Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh,
Thạnh Hóa
- Tạo ra lúa gạo xuất khẩu đạt chất lượng cao và có sức cạnh tranh cao trên thị trường.
- Áp dụng có hiệu quả các giải pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả đối với sản xuất lúa gạo
xuất khẩu. 2012 - 1 - Tăng GTSL, lợi nhuận và thu nhập cho nông dân trồng lúa. 2015
- Cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới một cách đồng bộ hệ thống các công trình thủy lợi.
- Cải tạo đất - xây dựng đồng ruộng thích hợp với cơ giới hóa và thủy lợi hóa đối với canh tác lúa chất lượng
cao.
- Trình diễn, huấn luyện, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.
- Ứng dụng công nghệ mới và dạy nghề cho nông dân trồng lúa chất lượng cao xuất khẩu.
- Đầu tư cơ giới hóa và công nghệ sau thu hoạch đối với sản xuất lúa gạo xuất khẩu.
Dự án đầu tư thâm canh tăng năng suất, chất lượng và nâng cao sức cạnh tranh của sản xuất mía làm nguyên liệu
chế biến đường công nghiệp tỉnh Long An
- Diện tích canh tác mía:
11.000 ha.
- Phân bố ở 3 huyện: Bến Lức, Thủ Thừa, Đức Huệ.
- Năng suất mía bình quân đến năm 2015 đạt: 75,0 tấn/ha và 2020 đạt 82,0 tấn/ha chữ đường ≥ 11 CCS.
- Nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của cây mía với cây trồng khác để giữ được đất sản xuất mía nguyên liệu 2012 - 2 cung cấp cho nhà máy đường. 2015 - Xác định diện tích ruộng mía ổn định và hội đủ điều kiện áp dụng kỹ thuật thâm canh tăng năng suất và chất
lượng mía;
- Đầu tư cải tạo đất, xây dựng đồng ruộng và hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất mía đạt kết quả
cao;
- Áp dụng đồng bộ kỹ thuật canh tác mía tiên tiến (công nghệ cao) vào tất cả các công đoạn (xây dựng đồng
ruộng, giống, chăm sóc, thu hoạch...);
- Đề xuất cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư thâm canh tăng năng suất mía và đạt chữ đường cao.
Dự án đầu tư phát triển ngành hàng chanh trồng ở 2 huyện: Bến Lức - Đức Huệ tỉnh Long An
2015 - - Tổng diện tích chanh: 3.500 – 4.000 ha; 3 2020 - Phân bố ở 2 huyện Bến Lức và Đức Huệ, được trồng trên đất phèn lên líp
Trồng chanh đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của sản phầm chanh hàng hoá trên
thị trường, mang lại lợi nhuận, thu nhập cao và ổn định cho các nhà tham gia chuỗi giá trị gia tăng của ngành
hàng.
- Xác định địa bàn phân bố trồng chanh ổn định đến năm 2020 hội đủ các điều kiện cần và đủ để trồng chanh đạt
năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao;
- Áp dụng thàng công quy trình kỹ thuật trồng chanh theo tiêu chuẩn VietGAP.
- Xác định các nội dung đầu tư ở cả 4 khâu: sản xuất - thu mua - sơ chế + bảo quản - tiêu thụ chanh
Dự án đầu tư bảo tồn, khai thác và phát triển các loại rau đặc sản địa phương sống ở vùng sinh thái đất ngập nước
thuộc các huyện Đồng Tháp Mười tỉnh Long An (súng, sen, điềng điễng, hẹ nước, rau đắng, kèo nèo, rau
nhút…).
- Diện tích : 400 - 500 ha;
- Phân bố ở 6 huyện: Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hoá, Tân Thạnh, Thạnh Hoá, Đức Huệ
- Bảo tồn các loại rau đặc sản địa phương, tránh bị mai một hoặc tiệt chủng; 2016 - 4 - Khai thác, phát triển rau đặc sản thành hàng hoá có giá trị kinh tế cao trong nền kinh tế thị trường gắn với các 2020
món ăn truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc.
- Điều tra khảo sát, xác định địa bàn phân bố và điều kiện sinh thái thích hợp với từng loại rau đặc sản địa
phương;
- Xây dựng quy trình bảo tồn và kỹ thuật khai thác đi đôi với phát triển tiểu vùng trồng loại rau;
- Kết nối chặt chẽ giữa khai thác với tiêu thụ rau đặc sản nhằm đảm bảo quyền lợi của “các nhà” tham gia chuỗi giá trị
gia tăng;
- Đầu tư và tổ chức quản lý phát triển ổn định các loại rau đặc sản địa phương.
Dự án quy hoạch chi tiết phát triển một số cây trồng có lợi thế cạnh tranh cao được trồng trên đất líp huyện
Thạnh Hoá đến năm 2015 (cây khoai mỡ, cây dứa, dưa hấu)
- Diện tích khoai mỡ: 2.500 ha, dứa: 1.000 ha, dưa hấu: 1.000 ha;
- Các xã (thị trấn) huyện Thạnh Hoá
- Tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của 3 loại nông sản hàng hoá được huyện 2013 - 5 Thạnh Hoá ưu tiên phát triển đến năm 2015 2015
- Xác định địa bàn và diện tích trồng, hướng phát triển của từng cây (khoai mỡ, dứa, dưa hấu);
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xây dựng đồng ruộng, cải tạo đất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển
từng cây một cách bền vững;
- Xây dựng mô hình phát triển, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và dạy nghề cho nông dân trồng khoai mỡ, dứa, dưa hấu có kết quả cao
II. CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI (Không kể các dự án đang triển khai thực hiện)
Dự án quy hoạch vùng chăn nuôi heo, gia cầm theo loại hình trang trại – doanh nghiệp an toàn sinh học ở khu
vực ngập lũ nông của Đồng Tháp Mười đến năm 2020.
2014 - - Diện tích tự nhiên: 102.944 ha gồm: 1 2020 + Huyện Đức Huệ,
+ 3 xã phía Tây sông Vàm Cỏ Đông huyện Bến Lức,
+Các xã phía Bắc huyện Thủ Thừa,
+ Các xã phía Đông Nam huyện Thạnh Hóa.
- Hình thành vùng tập trung các trang trại – doanh nghiệp chăn nuôi tạo ra thực phẩm an toàn, gắn với công
nghiệp chế biến.
- Kiểm soát và cấp giấy chứng nhận cho các trang trại – doanh nghiệp chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học.
- Góp phần tạo bước phát triển bền vững trong chăn nuôi hàng hóa với quy mô vừa phải.
- Xác định các địa bàn ưu tiên đầu tư phát triển các trang trại và doanh nghiệp chăn nuôi heo, gia cầm;
- Đầu tư xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các địa bàn tập trung trang trại chăn nuôi theo hướng công
nghiệp nhằm thu hút các nhà đầu tư;
- Hỗ trợ xây dựng mô hình mẫu một số trang trại chăn nuôi áp dụng công nghệ mới đảm bảo an toàn sinh học;
- Tổ chức hội thảo huy động các nguồn lực đầu tư phát triển chăn nuôi;
- Đề xuất cơ chế chính sách thu hút các nguồn vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành chăn
nuôi.
Dự án đầu tư phát triển các trang trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học
- Quy mô: 150-200 trang trại loại vừa;
- Tập trung ở Cần Giuộc, Cần Đước, Tân Trụ, Châu Thành và các huyện vùng Đồng Tháp Mười. 2014 - 2 - Tiếp tục phát triển và nhân rộng loại hình chăn nuôi gia cầm (gà thả vườn, vịt siêu thịt, vịt siêu trứng) loại hình 2020
kinh tế trang trại
- Tăng năng suất, giảm giá thành, nâng cao thu nhập đặc biệt là đảm bảo an toàn sinh học và vệ sinh thực phẩm.
- Điều tra tổng kết đánh giá về các điều kiện cần và đủ đối với các trang trại gia cầm hình thành và phát triển bền
vững.
- Xác định địa bàn ưu tiên phát triển chăn nuôi gia cầm theo loại hình trang trại;
- Hoàn thiện quy trình nuôi và quản lý tổng hợp về chăn nuôi gia cầm trang trại đảm bảo an toàn sinh học;
- Kết nối các trang trại chăn nuôi với các cơ sở thu mua, giết mổ gia cầm hình thành chu trình khép kín từ sản
xuất đến tiêu thụ;
- Cơ chế chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi gia cầm ở loại hình trang trại đảm bảo an toàn sinh học.
III. CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH HÀNG KHÁC TRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Dự án đầu tư phát triển sản xuất nấm từ phụ phẩm nông lâm nghiệp ở một số huyện: Tân Trụ, Châu Thành,
Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Đức Huệ.
- Số hộ: 10.000 hộ trên địa bàn 6 huyện có hệ thống giao thông thuận lợi
- Hình thành một nghề mới trong nông thôn;
- Tận dụng phụ phẩm nông lâm nghiệp và lao động tạo ra sản phẩm hàng hóa; 2014 - 1 - Góp phần tăng thu nhập và hạn chế đốt rơm gây ô nhiễm môi trường. 2020
- Xây dựng ở mỗi huyện từ 3-4 xã sản xuất nấm với sự tham gia của 20-50 hộ làm mô hình trình diễn;
- Hỗ trợ kỹ thuật meo nấm;
- Tận dụng hệ thống thu mua và tiêu thụ sản phẩm nấm;
- Hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật chế biến;
- Đề xuất cơ chế chính sách khuyến khích phát triển.
Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Long An
CẢNH QUAN VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
Cây súng Trung tâm Dược liệu Đồng Tháp Mười
Xóm làng Mùa nước nổi
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
Mô hình trồng lúa “3 giảm, 3 tăng” Mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”
Tham gia lớp bồi dưỡng sản xuất nông nghiệp
Tăng gia sản xuất từng bước mở rộng hình thức sản xuất trong hộ gia đình thành trang trại
Từng bước hình thành những vùng chuyên canh cây trồng

