- 1 -
MĐẦU
Những kỹ thuật điều khiển truyền thống như điều khiển Tích phân tlệ(PI)
hay điều khiển Vi tích phân tỉ lệ(PID) được ng dụng thành ng trong điều
khiển những quá trình tuyến tính. Gần đây, điu khiển tiên đoán hình
(MPC) cũng thực hiện thành ng trong điều khiển những hthống tuyến tính.
Tuy nhiên, khoảng 90% những qtrình sinh hc và hoá hc là phi tuyến cao
và hầu hết chúng là những hệ MIMO.Khi hệ thống là phi tuyến và/hoặc MIMO,
những kỹ thuật truyền thống trên thường mắc phải sai sót khi điều khiển những
hthống như thế. Ngày nay, những hệ thống được dùng trong ng nghiệp đòi
hỏi độ tự quản cao và những kỹ thuật trên không khnăng để đạt được điều
này.
Cần phải đạt được những đòi hỏi điều khiển tăng nhanh trong những hệ thống
điều khiển động phức tạp dưới những thay đổi quan trọng đã làm cho vic dùng
những kthuật thông minh như mạng nơron, lôgic mvà thuật giải di truyền
trong những hthống điều khiển trở nên hấp dẫn. Những lý do chính đằng sau
điều này là khả năng của chúng có thể “học” để xp xỉ hàm và phân loại mẫu và
tiềm năng của chúng trong thực thi phần cứng song song đsộ, phương pháp
điều khiển thông minh phỏng theo quá trình x thông tin không rõ ràng ra
quyết định điều khiển của con người cũng như bắt chước quá trình tiến hoá sinh
học đtạo ra giải pháp tối ưu. i cách khác, chúng khả năng thực thi (cả
phần mềm và phần cứng) nhiều chức năng cần thiết đ điều khin hệ thống với
độ tự quản cao.
Sơ đồ hệ thống điều khiển được mô tả như sau:
Hình i. Sơ đồ điều khiển đối tượng phi tuyến
Như vậy, đây có hai bộ điều khiển:
- 2 -
Điều khiển Feedforward : là b điều khiển neuro-m cung cấp những n
hiệu điều khiển chính đlái đối tượng phi tuyến theo đúng quỹ đạo setpoint.
Bđiều khiển này bđiều khiển m ứng dụng khả năng học của mạng
nơron để tinh chỉnh những thông số của nó.
Điều khiển Feedback: bù tín hiệu, cung cấp những tín hiệu điều khiển
hiệu chỉnh cần thiết để điều chỉnh và loại nhiễu trong những lân cận nhỏ
xung quanh quỹ đạo điều khiển. Bộ điều khiển này cũng là b điều khiển mờ
nhưng ứng dụng thuật giải di truyền để tinh chỉnh thông số của nó.
Kết quả mô phỏng cho thấy đồ điều khiển trên đã lái đối tượng phi tuyến đi
xuyên suốt khoảng công tác của nó với độ chính xác cao.
Phần sau đây sẽ đcập đến đối tượng phi tuyến và những kỹ thuật điều khiển
được thiết lập trong luận văn.
Trong bối cảnh hiện thời, việc sản xuất năng lượng đối mặt với rất nhiều vấn
đề khó khăn. Trong số đó, điều quan trọng nhất là: tuổi thọ của thiết bị chính tại
những tổ hợp ng ng, đầu tài chính không chắc chắn cho những tổ hợp
mới, việc cạnh tranh giữa những nhà sản xuất ng lượng độc lập đthoả mãn
đòi hi năng lượng của người dùng những áp lực để đạt được những yêu cu
quảnnghiêm ngt đsdụng tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên ti thiểu
ảnh hưởng đến môi trường.
Việc vận hành của tổ hợp ng lượng nhiên liệu than (NLNLT), loại tổ hợp
được dùng rộng rãi nhất cho việc sản xuất năng ợng, đã b tác động mạnh.
Đầu tiên, mt NLNLT phải hổ trợ mục tiêu chính của hệ thống năng lượng là
đáp ng yêu cu tải cho năng lượng điện mi thời điểm, điện áp không đổi
và tần số không đổi. Sau đó là việc cạnh tranh giữa tính thiết thực và yêu cầu thị
trường khác đã tăng cường việc dùng NLNLT [Armor 1985]. Cuối cùng, những
yêu cầu nghiêm ngặt trong việc bảo trì kéo dài tuổi thọ của thiết bị chính và
những luật giảm ảnh hưởng đến môi trường cần phải được tuân thủ. Trong đó:
Những yêu cầu vận hành chu kcủa NLNLT trong khoảng tải rộng mặc
cng được thiết kế cho vận hành tải không đổi. Những yêu cầu
biến đổi tải thể đến từ những chiến lược kinh tế được tính toán tại
những trung tâm năng lượng hay từ những dao động tải hệ thống. Vận
hành theo ti tin cậy và hiệu quả sẽ đảm bo việc thon hàng ngày,
hàng tun và theo mùa ca yêu cầu năng lượng điện và những thay đổi tải
ngẫu nhiên không đoán trước cho đến những giới hạn vật lý của tổ hợp.
Việc kéo dài tuổi th thiết blà quan trọng vì nó ti đa việc dùng tài sản,
giới hạn thời gian chết ti thiểu những chi phí vận hành bảo trì.
Nguyên nhân chính của vòng đời ngắn của bất kỳ hệ thống nào vận
hành ứng suất cao. Trong NLNLT, những ng suất nhiệt phụ thuộc vào
những dao đng áp suất và nhiệt đhơi đặc biệt quan trọng. Hầu hết
ng suất nghiêm trng xảy ra trong suốt quá trình khởi động và những
biến đổi tải lớn đột ngột.
- 3 -
Mt NLNLT hiệu suất trong khoảng 30 đến 35%, nghĩa là tốc độ nhiệt
trong khoảng 11400-9800 Btu/KWh. Tốc độ nhiệt chịu ảnh hưởng bởi
nhiều hệ số, chẳng hạn những điều kiện hơi, áp suất bộ ngưng tụ, nhiệt độ
nước làm mát, nhiệt đi trường, khí áp,…Tốc độ nhiệt tăng khi làm
việc tại những tải khác với tải sở. Việc tiêu tn nhiên liệu và giá c
làm cho việc cải tiến tốc độ nhiệt như là một tiêu chun về mặc kinh tế.
Việc trộn không hoàn hảo giữa không khí và nhiên liu sẽ làm vượt q
lượng không khí để tránh việc nhiên liệu không được đốt hết, mà sdẫn
đến việc tạo khói đen và khí CO độc cũng như những lượng nhiên liệu dư
khá nguy hiểm. Bên cạnh đó ợng không khí sẽ dễ hình thành những
chất không mong muốn khác như sunfua dioxit, nitrogen oxit làm
giãm hiệu suất boiler do nhiệt bị tiêu ptrong khí nhiên liệu.
Tcả những yêu cu được đề cập trên đã dn đến việc phát triển những
phương pháp điều khiển linh hoạt và toàn din hơn. Chúng cũng cung cấp
những chức ng cần thiết cho việc vận hành theo tải diện rộng chất lượng cao
đồng thời cũng thomãn những ràng buc trong việc bảo quản và kéo dài
tuổi thọ của thiết bchính, giải phóng chất ô nhim và tiêu tn nhiên liệu dưới
những thay đi vật và nhng điều kiện kinh tế. Do đó, ngay cả khi theo tải
cũng cần xem t việc ổn định tần s và điện áp, những hệ thống điều khiển
hiệu quả hơn cũng cần đưc thiết kế để thoả mãn tối ưu những mục tiêu vận
hành, những xung đột tổng quát đmà NLNLT th vận hành thành công
ới bất kỳ tình hung hoạt động nào.
Bên cạnh đó, dưới những đòi hỏi của thị trường hiện thời, một phương pháp
toàn bcho vận hành điều khiển những tổ hợp năng lượng là rất quan trọng
cho s tồn tại của bt kỳ hệ thống điện o. Khi được ng dụng hoàn ho,
những hthống điều khiển và nhng thiết bcó thể ng cường hiệu suất vận
hành máy, tính n định và tin cy cũng như sự sẵn sàng, thế làm giảm việc
tiêu tn nhiên liệu, chi pvận hành bo trì mà hầu như rất tốn kém trong
một tổ hợp năng lượng. Vì vậy, thật cần thiết để phát triển những hệ thống tự
động hiệu quả và liên quan mt thiết đến toàn b chiến lược và hthống điều
khiển của tổ hợp để giữ chúng vận hành hiệu quả và có li.
Cũng cần lưu ý rằng việc sdng rất nhiều hthống điều khiển và thiết b
dựa trên máy tính với những dụng cụ kỹ thuật số xlý thông tin mạnh mẽ và tin
cậy hơn cho phép những nhà thiết kế tập trung nhiều n trên việc thực thi
những ứng dụng phần mềm đáp ứng những thử thách được đcập phần trên.
tính linh hoạt của phần mềm, và những chi pcho việc phát triển và bảo trì
thể dễ ng cài đặt vào nhng phần cứng mà nó chạy trong đó, những nlực
lớn trong việc thiết kế và phát triển những hệ thống phần mềm toàn diện và
tổng quát đ dễ dàng kết hợp những ng dụng vận hành tiện lợi( dụ, bảo vệ,
điều khiển và t động hoá) để ng cường hiệu suất của những tổ hợp năng
lượng [Garduno and Sanchez 1995, Garcia and Garduno 1998].
- 4 -
Trong luận văn này tác gisẽ thiết kế mt hthống điều khiển toàn bộ. Hệ
thống này skết hợp giữa các lĩnh vực kthuật điều khiển, kỹ thuật phần mềm
kthuật qtrình. Trong đó kỹ thut phần mềm được xem là rất quan trọng
để thiết kế hệ thống điều khiển cho NLNLT.
- 5 -
CHƯƠNG I.
TNG QUAN
1.1 Giới thiệu về mạng nơron và logic m
Vào cuối thập k80 công ty Addison Wesley Publishing Company đã y
xôn xao dư luận khi tung ra thị trường Neural Network (Mạng trí tuthần kinh)
được như một kỹ xo kỹ thuật gia công các thông tin mới, nhanh và chính
xác. Chúng các y tính bắt chước cách sống giống hthống thần kinh, các
máy tính này làm việc khá khác biệt so với các máy tính thông thường. Nơron
Network x nhiều dliệu song song tại cùng mt thời điểm, không phải là
xtừng dliệu một. Chúng xử rất nhiều dliệu đầu vào cùng một lúc,
củng cố ng cường một vài i này, thu nh giảm bt những cái khác. Đa số
chúng đều phải làm theo mt khuôn mẫu cho trước. Chúng tìm kiếm mẫu trong
hàng lot các thí dụ, nhận dạng mẫu, tìm kiếm các mẫu đầy đtừ nguồn dữ liệu
trong hthống, hoặc xây dựng lại mẫu đúng từ cái bị bóp méo. Rất nhiều các
dphải làm với sự am hiểu sáng sưốt và các dliệu khách quan như thị giác,
thính giác các tín hiệu khác. Nhìn chung, các ví dchứng tỏ cách chạy này
có nhiều đặc tính của con người hơn là các máy tính được lập trình sẵn.
Ngày nay, trí tunhân tạo đang phát triển mạnh mnhằm tạo ra cơ sở xây
dựng các hchuyên gia, h trợ giúp quyết định. Trí tunhân tạo đưc xây dựng
trên cơ s mạng nơron nhân tạo và ứng dụng trong thiết kế hệ thống điều khiển
thông minh mà trong đó bộ điều khiển khả năng duy như bộ não ca con
người đang xu hướng mới trong điều khiển tự động. Mạng nơron là sự tái tạo
bằng kỹ thuật những chức năng của hệ thần kinh con người với vô số các nơron
được liên kết truyền thông với nhau trong mạng.
Điều khiển mlà mt phương pháp điều khiển thông minh phỏng theo q
trình xthông tin không ràng ra quyết định điều khiển của con người.
Phương pháp này rất thích hợp để điều khiển các đối tượng phức tạp, không xác
định được hình toán các đối tượng phi tuyến. Tuy nhiên, b điều khiển
mthường được thiết kế bởi quan điểm, cách nhìn riêng của người thiết kế.
Người thiết kế biến sự hiểu biết, kinh nghiệm của mình vqtrình cần điều
khiển thành các biến ngôn ngữ và các qui tắc m mô tả mối quan hệ giữa
chúng. Do đó công việc thiết kế thường mang nặng tính “thử sai”, khi gặp c
đối tượng phức tạp người thiết kế sẽ mất rất nhiều thời gian mà kết quả được
th s không tối ưu. Vấn đtự chỉnh bộ điều khiển mlà mt trong những
vấn đề đã được quan tâm nghiên cứu rất nhiều từ khi điều khiển mờ khẳng định
được là một pơng pháp hiệu quả để điều khiển các đối tượng phức tạp.