BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
***
DƯƠNG MINH TÚ
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI BIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
***
DƯƠNG MINH TÚ
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI BIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐÀO THANH BÌNH
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đã trực tiếp thực hiện nghiên cứu luận văn dưới sự
hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn. Số liệu trong luận văn được lấy từ các
nguồn đáng tin cậy. Các kết quả, dẫn giải được tác giả thực hiện độc lập,
không sao chép từ các nguồn khác và chưa từng được công bố./.
Học viên
Dương Minh Tú
MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ............................ 4
1.1. Tổng quan về tài chính doanh nghiệp. ...................................................... 4
1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp ......................................................... 4
1.1.2. Vai trò của tài chính trong doanh nghiệp ............................................... 4
1.1.3. Các mối quan hệ tài chính ..................................................................... 6
1.2. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp ............................................... 7
1.2.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp ......................................... 7
1.2.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp ...................................... 13
1.2.3. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp ................................... 15
1.3. Các phương pháp phân tích ........................................................................ 16
1.3.1. Phương pháp so sánh .......................................................................... 16
1.3.2. Phương pháp thay thế liên hoàn .......................................................... 17
1.3.3. Phương pháp tỷ lệ ............................................................................... 18
1.4. Nguồn tài liệu phân tích tài chính doanh nghiệp ..................................... 18
1.5. Nội dung và quy trình phân tích ............................................................. 20
1.5.1. Phân tích khái quát tinh hình tài chính của doanh nghiệp thông qua các
báo cáo tài chính. .............................................................................................. 20
1.5.2. Phân tích các chỉ số tài chính ............................................................... 24
1.5.3. Đánh giá rủi ro tài chính ..................................................................... 28
1.5.4. Phân tích tổng hợp tình hình tài chính ................................................. 29
1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp. .................... 30
1.7. Các hướng tác động cải thiện tình hình tài chính doanh nghiệp. ................. 34
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 ....................................................................................... 39
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẨN THƯƠNG MẠI BIA HÀ NỘI .......................................... 40
2.1. Giới thiệu về công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội ............................. 40
2.2. Phân tích thực trạng tình hình tài chính của công ty Cổ phần Thương mại Bia
Hà Nội .............................................................................................................. 48
2.2.1 Phân tích khái quát các báo cáo tài chính ............................................. 48
2.2.2. Phân tích chỉ số tài chính .................................................................... 66
2.2.3. Phân tích tổng hợp tài chính ................................................................ 78
2.3. Đánh giá tổng quát tình hình tài chính của công ty cổ phần thương mại Bia
Hà Nội. ............................................................................................................. 84
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 ....................................................................................... 86
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI BIA HÀ NỘI .......................................... 87
3.1. Căn cứ của việc đề xuất các biện pháp ...................................................... 87
3.1.1. Đánh giá chung về tình hình tài chính công ty ...................................... 87
3.1.2. Định hướng phát triển của công ty thời gian tới .................................... 88
3.2. Một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính Công ty Cổ phần Thương mại
Bia Hà Nội ........................................................................................................ 89
3.2.1: Giải pháp 01: Kiểm soát chặt chẽ chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp. .................................................................................................... 89
3.2.2: Giải pháp 02: Giảm lượng hàng hóa tồn kho bằng cách điều chỉnh chính
sách bán hàng.................................................................................................... 95
3.2.3. Một số giải pháp bổ trợ ...................................................................... 101
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 ..................................................................................... 103
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 1044
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội 42 Bảng 2.1: Bảng cân đối kế toán (phần Tài sản) Công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội……………………………………………………………………………. 49
Bảng 2.2: Bảng cân đối kế toán (phần Nguồn vốn) Công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội ........................................................................................................... 52 Bảng 2.3: Phân tích cơ cấu các nguồn thu công ty Cổ phần .................................. 56 Thương mại Bia Hà Nội ....................................................................................... 56 Bảng 2.4: So sánh lợi nhuận gộp và doanh thu thuần của công ty ......................... 57 cổ phần Thương mại Bia Hà Nội. ......................................................................... 57 Bảng 2.5: Phân tích các loại chi phí của Công ty cổ phẩn Thương mại Bia Hà Nội 59
Bảng 2.6: So sánh tỷ lệ chi phí và doanh thu thuần của công ty ............................ 61 Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội ......................................................................... 61 Bảng 2.7: Tình hình lợi nhuận của công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội ....... 62 Bảng 2.8: Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo tình hình thu chi của công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội ………………………………………………........ .64 Bảng 2.9: Phân tích tình hình lưu chuyển tiền từ hoạt động .................................. 65 kinh doanh của công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội ..................................... 65
Bảng 2.10: Phân tích các chỉ số khả năng sinh lời của công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội ........................................................................................................... 67 Bảng 2.11: Bảng so sánh chỉ tiêu ROS của công ty Bia Hà Nội với các công ty trong cùng nhóm ngành ................................................................................................. 68 Bảng 2.12: Bảng so sánh chỉ tiêu BEP của công ty Bia Hà Nội với ...................... 69 các công ty trong cùng nhóm ngành ...................................................................... 69 Bảng 2.13: Bảng so sánh chỉ tiêu ROA của công ty Bia Hà Nội với ..................... 70
các công ty cùng nhóm ngành ............................................................................... 70 Bảng 2.14: Bảng so sánh chỉ tiêu ROE của công ty Bia Hà Nội với ...................... 71 các công ty trong cùng nhóm ngành...................................................................... 71 Bảng 2.15: Phân tích các chỉ số về khả năng quản lý tài sản ................................. 72 công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội ............................................................. 72 Bảng 2.16: Phân tích các chỉ số về khả năng thanh toán của ................................. 75 công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội .............................................................. 75
Bảng 2.17: Phân tích chỉ số nợ của công ty cổ phần Thương mại .......................... 77
Bia Hà Nội ........................................................................................................... 77 Bảng 2.18: Phân tích khả năng thanh toán lãi vay của công ty cổ phần Thương mại
Bia Hà Nội ........................................................................................................... 78 Bảng 2.19: Bảng phân tích đẳng thức Du-Pont 1 .................................................. 78 Bảng 2.20: Bảng phân tích đẳng thức Du-Pont 2 .................................................. 80 Bảng 2.21: Bảng phân tích đẳng thức Du-Pont 3 .................................................. 81 Sơ đồ 2.2: Sơ đồ Du-Pont năm 2011 | 2012 công ty cổ phần ................................. 83 Thương mại Bia Hà Nội năm 2011 – 2012 ........................................................... 83 Bảng 2.22: Bảng tổng hợp các chỉ số cơ bản của công ty cổ phần ......................... 84
Thương mại Bia Hà Nội năm 2011 – 2012 ........................................................... 84 Bảng 3.1: So sánh sự biến động giữa doanh thu thuần và chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp của Công ty cổ phẩn Thương mại ....................................... 89 Bia Hà Nội ........................................................................................................... 89 Bảng 3.2: Bảng phân bổ chi phí bán hàng của Công ty cổ phần ............................ 90 Thương mại Bia Hà Nội ...................................................................................... 90 Bảng 3.3: Bảng phân bổ chi phí quản lý doanh nghiệp của Công ty cổ phần Thương
mại Bia Hà Nội ..................................................................................................... 91 Bảng 3.4: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sau khi ...................................... 94 thực hiện giải pháp 1 ........................................................................................... 94 Bảng 3.5: Một số chỉ tiêu cơ bản sau khi thực hiện giải pháp 1 ............................. 95 Bảng 3.6: Tình hình hàng tồn kho của Công ty cổ phần ........................................ 96 Thương mại Bia Hà Nội ...................................................................................... 96 Bảng 3.7: Tác động của hàng tồn kho đối với khả năng thanh toán nhanh của công
ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội ........................................................................ 96 Bảng 3.8: Phân bổ hàng hóa tồn kho theo sản phẩm của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội năm 2012 ........................................................................................... 97 Bảng 3.9: Ước lượng hàng hóa tồn kho của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội năm 2012 .............................................................................................................. 98 Sơ đồ 3.1: Kênh phân phối sản phẩm của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội 98 Bảng 3.10: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sau khi thực hiện .................... 99
giải pháp 2 ............................................................................................................ 99 Bảng 3.11: Một số chỉ tiêu cơ bản sau khi thực hiện đồng bộ 2 giải pháp ........... 100
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, những biến động của thị
trường và điều kiện kinh tế chính trị trong nước và quốc tế luôn mang lại
những cơ hội nhưng cũng không ít những rủi ro cho doanh nghiệp. Vì vậy để
có được những quyết định đúng đắn trong quá trình sản xuất kinh doanh, các
nhà quản lý đều quan tâm đến vấn đề tài chính. Trên cơ sở phân tích tài chính
sẽ biết được tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu, sự vận động của tài sản và
nguồn vốn, khả năng sinh lời cũng như khả năng thanh toán của doanh
nghiệp. Thông qua các kết quả phân tích tài chính, có thể đưa ra quyết định về
tài chính trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và từ đó có thể đưa ra các quyết
định tài chính đúng đắn.
Phân tích tài chính là vấn đề hết sức quan trọng trong việc đánh giá tình
hình doanh nghiệp. Thông qua việc phân tích tài chính cho phép đánh giá
được khái quát và toàn diện các mặt hoạt động của doanh nghiệp, thấy rõ
những điểm mạnh, những điểm yếu và những thách thức của doanh nghiệp.
Nhận thấy tầm quan trọng trên em đã chọn đề tài: “Phân tích và đề
xuất giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty cổ phần
thương mại Bia Hà Nội”
Trong quá trình thực hiện luận văn, em đã nhận được sự giúp đỡ từ các
thầy cô, sự ủng hộ động viên của gia đình và bạn bè. Em xin gửi lời cảm ơn
đặc biệt tới giáo viên hướng dẫn TS. Đào Thanh Bình đã tận tâm giúp đỡ và
hướng dẫn em hoàn thành luận văn.
Do kinh nghiệm thực tiễn còn ít và kiến thức còn hạn chế nên luận văn
không tránh khỏi sai sót. Em kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các
thầy cô để luận văn được hoàn chỉnh.
2
2. Mục đích của đề tài
Có 3 mục đích chính:
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tài chính doanh nghiệp và phân tích
tài chính doanh nghiệp.
- Phân tích, đánh giá tình hình tài chính của công ty cổ phần thương
mại Bia Hà Nội qua 3 năm (từ năm 2010 đến năm 2012) để nhận diện điểm
mạnh, điểm yếu, những hạn chế còn tồn tại.
- Đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế về tình hình tài
chính và nâng cao vị thế tài chính của công ty.
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Chủ yếu là sử dụng phương pháp định lượng, trên cơ sở thu thập dữ
liệu thực tế, tác giả đã tính toán các chỉ tiêu, chỉ số để có sự so sánh, đánh giá
và lí giải nguyên nhân thay đổi của các chỉ tiêu chỉ số.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu:
Lý thuyết về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh
nghiệp. Nghiên cứu thực trạng tình hình tài chính doanh nghiệp của công ty
cổ phần thương mại Bia Hà Nội trong giai đoạn 2010 – 2012 và đưa ra giải
pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính.
- Phạm vị nghiên cứu:
Nghiên cứu tình hình tài chính của công ty cổ phần thương mại Bia Hà
Nội thông qua các báo cáo tài chính, báo cáo quản trị… So sánh đối chiếu với
một số công ty cùng ngành để có những diễn giải, đánh giá khách quan.
5. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
- Cơ sở khoa học:
Phân tích tài chính là một vấn đề lý thuyết đã được nghiên cứu từ rất
lâu. Đây là một công cụ quan trọng trong hệ thống quản lý doanh nghiệp. Cụ
3
thể, phân tích tài chính là cơ sở khoa học để đưa ra quyết định tài chính. Các
thông tin tài chính của một doanh nghiệp có vai trò quan trọng không chỉ với
chủ sở hữu doanh nghiệp mà còn hữu ích đối với các bên liên quan như nhà
đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế…
- Cơ sở thực tiễn:
Các doanh nghiệp trong nước đang có xu hướng cổ phần hóa. Ở nước
ta hiện nay, việc phân tích tài chính doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng
mức, các doanh nghiệp hầu như chưa xây dựng được số liệu trung bình
ngành. Chính vì vậy, việc phân tích tài chính doanh nghiệp gặp khá nhiều khó
khăn.
Là một công ty mới được thành lập năm 2006, công ty cổ phần thương
mại Bia Hà Nội gặp rất nhiều khó khăn, trong đó có việc quản lý tài chính.
Trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu tài chính, so sánh với đối thủ cạnh tranh trực
tiếp sẽ giúp nhà quản trị của công ty định vị được vị thế của công ty trên thị
trường. Mặt khác, việc kiểm soát các chỉ tiêu tài chính sẽ giúp nhà quản trị
công ty đưa ra các quyết định mang tầm chiến lược trong dài hạn.
6. Kết cấu của luận văn
Nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết chung về tài chính doanh nghiệp và phân
tích tài chính doanh nghiệp.
Chương 2: Phân tích thực trạng tình hình tài chính của công ty cổ phần
thương mại Bia Hà Nội.
Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của
công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội.
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về tài chính doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là tổng hòa các mối quan hệ kinh tế, tiền tệ
gắn liền với việc tạo lập, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính trong
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nền
kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền
kinh tế hàng hóa tiền tệ.
Khi tiến hành hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp nào cũng cần có
một lượng vốn tối thiểu nhất định và quá trình hoạt động kinh doanh nhìn từ
góc độ tài chính cũng là quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ
tiền tệ của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của hoạt động kinh
doanh. Trong quá trình đó có sự chuyển dịch giá trị của các quỹ tiền tệ với
biểu hiện là các luồng tiền tệ đi vào và đi ra khỏi chu kỳ kinh doanh của
doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp xét về bản chất là các mối quan hệ phân phối
dưới hình thức giá trị, gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ
của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh.
Tài chính doanh nghiệp xét về hình thức là phản ánh sự vận động và
chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc
sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò của tài chính trong doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động
của doanh nghiệp và được thể hiện ở những điểm sau:
5
- Tài chính doanh nghiệp huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của
doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục.
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu
vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh
nghiệp cũng như cho đầu tư phát triển.Việc thiếu vốn sẽ khiến cho các hoạt
động của doanh nghiệp gặp khó khăn không triển khai được. Do vậy, việc
đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành bình thường,
liên tục phụ thuộc rất lớn vào tổ chức huy động vốn của tài chính doanh
nghiệp.
- Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vai trò này được thể hiện ở chỗ:
+ Việc đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn phụ thuộc rất lớn vào việc đánh giá,
lựa chọn đầu tư từ góc độ tài chính.
+ Việc huy động vốn kịp thời, đầy đủ giúp cho doanh nghiệp chớp được cơ
hội kinh doanh .
+ Lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp có thể
giảm bớt được chi phí sử dụng vốn, góp phần rất lớn tăng lợi nhuận của
doanh nghiệp.
+ Huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể tránh được
thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay từ đó
giảm được tiền trả lãi vay góp phần rất lớn tăng lợi nhuận sau thuế của doanh
nghiệp.
- Tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích để giám sát, kiểm tra
thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp để có thể kịp thời đưa ra các quyết định để điều chỉnh phù hợp.
6
1.1.3. Các mối quan hệ tài chính
Căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể có
các mối quan hệ tài chính sau:
Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước
Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp
vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành
sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận. Đồng thời, mối quan hệ tài chính
này cũng phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh
trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp được thể hiện thông
qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo
luật định.
Mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với thị trường tài chính
Các quan hệ này được thể hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn
của doanh nghiệp. Với thị trường tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng, các
doanh nghiệp nhận được các khoản tiền vay để tài trợ cho các nhu cầu vốn
ngắn hạn và ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay và tiền lãi
trong thời hạn nhất định. Với thị trường vốn, thông qua hệ thống các tổ chức
tài chính trung gian khác, doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để
đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn bằng cách phát hành các chứng khoán. Ngược
lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả mọi khoản lãi cho các chủ thể tham gia
đầu tư vào doanh nghiệp bằng một khoản tiền cố định hay phụ thuộc vào khả
năng kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua thị trường tài chính, các doanh
nghiệp cũng có thể đầu tư vốn nhàn rỗi của mình bằng cách kí gửi vào hệ
thống ngân hàng hoặc đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác.
Đối với những doanh nghiệp có cổ phiếu niêm yết trên sàn chứng khoán, tình
hình tài chính doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết tới giá của cổ phiếu
7
niêm yết. Thông thường, nếu tình hình tài chính doanh nghiệp thực sự tốt thì
giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó có xu hướng tăng và ngược lại.
Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác
Các thị trường khác như thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức
lao động,... Là chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải
sử dụng vốn để mua sắm các yếu tố sản xuất như vật tư, máy móc thiết bị, trả
công lao động, chi trả các dịch vụ... Đồng thời, thông qua các thị trường,
doanh nghiệp xác định nhu cầu sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung
ứng, để làm cơ sở hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp
thị...nhằm làm cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp luôn thỏa mãn nhu
cầu của thị trường.
Mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp
Đây là mối quan hệ tài chính khá phức tạp, phản ánh quan hệ tài chính
giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa các bộ phận quản lý, giữa các
thành viên trong doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn.
1.2. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là tổng hợp các phương pháp phân tích dùng để phân
tích và đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện tại, cũng như dự đoán tình
hình tài chính trong tương lai giúp các đối tượng quan tâm đưa ra các quyết
định hợp lý và phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm.
Mỗi một đối tượng sử dụng thông tin tài chính quan tâm đến những khía
cạnh khác nhau về tài chính doanh nghiệp, nhưng tất cả đều để phục vụ cho
những mục đích của mình. Ví dụ:
Đối với người quản lý doanh nghiệp
Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là
tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị
8
cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa. Mặt khác, nếu doanh nghiệp
không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản lý doanh nghiệp phải
giải quyết ba vấn đề quan trọng sau đây :
Thứ nhất : Doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với loại hình
sản xuất kinh doanh lựa chọn. Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn của
doanh nghiệp.
Thứ hai : Nguồn vốn tài trợ là nguồn nào?
Để đầu tư vào các tài sản, doanh nghiệp phải có nguồn tài trợ, nghĩa là phải
có tiền để đầu tư. Các nguồn tài trợ đối với một doanh nghiệp được phản ánh
bên phải của bảng cân đối kế toán. Một doanh nghiệp có thể phát hành cổ
phiếu hoặc vay nợ dài hạn, ngắn hạn. Nợ ngắn hạn có thời hạn dưới một năm
còn nợ dài hạn có thời hạn trên một năm. Vốn chủ sở hữu là khoản chênh lệch
giữa giá trị của tổng tài sản và nợ của doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra ở đây là
doanh nghiệp sẽ huy động nguồn tài trợ với cơ cấu như thế nào cho phù hợp
và mang lại lợi nhuận cao nhất. Liệu doanh nghiệp có nên sử dụng toàn bộ
vốn chủ sở hữu để đầu tư hay kết hợp với cả các hình thức đi vay và đi thuê?
Điều này liên quan đến vấn đề cơ cấu vốn và chi phí vốn của doanh nghiệp.
Thứ ba : Nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày
như thế nào?
Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ
đến vấn đề quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính ngắn
hạn gắn liền với các dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ. Nhà quản lý tài chính
cần xử lý sự lệch pha của các dòng tiền.
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi khía cạnh về tài chính doanh
nghiệp, nhưng đó là những vấn đề quan trọng nhất. Phân tích tài chính doanh
nghiệp là cơ sở để đề ra cách thức giải quyết ba vấn đề đó.
9
Nhà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài
chính và dựa trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các
quyết định vì lợi ích của cổ đông của doanh nghiệp. Các quyết định và hoạt
động của nhà quản lý tài chính đều nhằm vào các mục tiêu tài chính của
doanh nghiệp : đó là sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tránh được sự
căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng cạnh tranh và chiếm được thị
phần tối đa trên thương trường, tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận và
tăng trưởng thu nhập một cách vững chắc. Doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động
tốt và mang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các quyết định của nhà quản lý
được đưa ra là đúng đắn. Muốn vậy, họ phải thực hiện phân tích tài chính
doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp là những người
có nhiều lợi thế để thực hiện phân tích tài chính một cách tốt nhất.
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khả
năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả
năng sinh lãi, nhà quản lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói
chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai. Từ đó,
họ có thể định hướng cho giám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị trong
các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự
báo tài chính. Cuối cùng phân tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát các
hoạt động quản lý.
Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian
hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro. Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện
tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng
của các doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp Cổ phần, các cổ đông là người đã bỏ vốn đầu tư
vào doanh nghiệp và họ có thể phải gánh chịu rủi ro. Những rủi ro này liên
10
quan tới việc giảm giá cổ phiếu trên thị trường, dẫn đến nguy cơ phá sản của
doanh nghiệp. Chính vì vậy, quyết định của họ đưa ra luôn có sự cân nhắc
giữa mức độ rủi ro và doanh lợi đạt được. Vì thế, mối quan tâm hàng đầu của
các cổ đông là khả năng tăng trưởng, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị
chủ sở hữu trong doanh nghiệp. Trước hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu tư và
nguồn tài trợ. Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, về
kết quả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh
lợi và triển vọng phát triển của doanh nghiệp; từ đó đưa ra những quyết định
phù hợp. Các nhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất
có một điều kiện là giá trị hiện tại ròng của nó dương. Khi đó lượng tiền của
dự án tạo ra sẽ lớn hơn lượng tiền cần thiết để trả nợ và cung cấp một mức lãi
suất yêu cầu cho nhà đầu tư. Số tiền vượt quá đó mang lại sự giàu có cho
những người sở hữu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức
và cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề được các nhà đầu tư
hết sức coi trọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ. Ta biết rằng
thu nhập của cổ đông bao gồm phần cổ tức được chia hàng năm và phần giá
trị tăng thêm của cổ phiếu trên thị trường. Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ
và vốn chủ sở hữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanh
nghiệp tăng vốn đầu tư vừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ
phiếu (EPS). Hơn nữa các cổ đông chỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy mô
doanh nghiệp khi quyền lợi của họ ít nhất không bị ảnh hưởng. Bởi vậy, các
yếu tố như tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ phần,
mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị
trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệu
quả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu tư xem xét trước tiên khi thực
hiện phân tích tài chính.
11
Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp
Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp
thực hiện nhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của
doanh nghiệp thì phân tích tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung
cấp tín dụng thương mại cho doanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng
trả nợ của doanh nghiệp.
Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệp
được xem xét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn. Nếu là những khoản
cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán
nhanh của doanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với
các món nợ khi đến hạn trả. Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người cho
vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà
việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này.
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm
của họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ chú
ý đặc biệt đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành
tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức
thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay
tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này là
khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro. Như vậy, kỹ
thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản
nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều
quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp
đi vay.
Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp,
họ phải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng
12
hay không, họ cần phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện
tại và trong thời gian sắp tới.
Đối với người lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp,
người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông
tin tài chính của doanh nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động
của doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính
của người lao động. Ngoài ra trong một số doanh nghiệp, người lao động
được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định. Như vậy, họ cũng
là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với
doanh nghiệp.
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của
Nhà nước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các
hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân
thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch
toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách
hàng...
Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là
phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua
một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử
dụng thông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp
khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp,
tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra quyết định tài chính,
quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp.
13
Phân tích tình hình tài chính là công cụ để đánh giá kết quả hoạt động
kinh doanh của công ty bằng cách kết hợp, vận dụng các chỉ tiêu kinh tế kỹ
thuật trong một thời gian nhất định, mà thông thường là từ hai đến ba năm
năm. Qua sự phân tích đánh giá này để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hoạt
động kinh doanh có hiệu quả hay không hiệu quả. Nhằm đưa ra các giải pháp,
dự báo để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty tài chính.
Phân tích tình hình tài chính của công ty tài chính là công cụ quan trọng bậc
nhất của các nhà quản trị để họ có thể đưa ra các giả pháp và dự báo và cũng
được các nhà phân tích, nghiên cứu ngoài ngân hàng sử dựng với mục đích
nghiên cứu thông tin về hoạt động kinh doanh của công ty.
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh
doanh và tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều tác động đến tình hình
tài chính của doanh nghiệp. Qua phân tích tình hình tài chính có thể đánh giá
được đầy đủ, chính xác tình hình phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn;
vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp trên cơ sở đó đề ra biện
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
- Phân tích tình hình tài chính là công cụ để đánh giá hoạt động của công ty.
1.2.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Thông qua quá trình phân tích tình hình tài chính của công ty tài chính
có thể đánh giá được sự thành công của công ty đó trong thời gian qua. Bằng
các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật như lợi nhuận, doanh thu, năng suất lao động
của thời kỳ phân tích các nhà quản trị thấy được tốc độ phát triển và tính chất
bền vững ổn định của các lĩnh vực hoạt động của công ty trong thời gian qua.
Mục tiêu của việc kinh doanh trong lĩnh vực tài chính là lợi nhuận. Sự
gia tăng lợi nhuận ngày càng cao và bền vững thể hiện hiệu quả hoạt động của
công ty. Tuy nhiên hiệu quả này cũng có thể đánh giá trên từng thời kỳ chiến
14
lược. Do vậy phân tích tình hình tài chính chúng ta có thể thấy được ý đồ
chiến lược của công ty có được thực hiện hay không.
- Phân tích tình hình tài chính là công cụ để đánh giá lại chiến lược
kinh doanh của mình và đề ra chiến lược kinh doanh mới.
Một chiến lược kinh doanh được hoạch định có thể là hoàn toàn đứng
đắn, có thể vẫn còn nhiều sự thiếu sót. Qua việc phân tích tình hình tài chính
công ty sẽ xem xét chiến lược kinh doanh của mình đề ra có đúng đắn, phù
hợp với nền kinh tế không, có điểm nào sai, thiếu sót cần điều chỉnh lại
không.
Bất cứ công ty nào để định hướng cho hoạt động kinh doanh của mình
thì công ty đó cũng phải chủ động đề ra lĩnh vực kinh doanh chủ yếu cho
mình, các mục tiêu dài hạn, ngắn hạn mà mình cần đạt trong kỳ nhất định. Và
sau một quá trình hoạt động các công ty đều phải kiểm tra chứng thực xem
mình đã thực hiện mục tiêu đó đến đâu và vì sao lại hoàn thành hay chưa
hoàn thành mục tiêu đó.
Qua phân tích tình hình tài chính các công ty tài chính sẽ còn nhận biết
các lĩnh vực đầu tư của công ty chọn lựa có thích hợp với xu thế phát riển
chung của nền kinh tế không, công ty có cần thay đổi định hướng đầu tư hay
không hay phải tiếp tục phát triển theo định hướng đã chọn.
- Phân tích tài chính là công cụ để công ty soi rọi lại mình, tìm ra
những mặt mạnh cần phát huy và những mặt yếu cần củng cố.
Kết quả tài chính thể hiện toàn bộ các hoạt động kinh doanh của công ty.
Qua phân tích tình hình tài chính, chúng ta có thể đánh giá được khả năng
quản trị của công ty, trình độ cán bộ công nhân viên, mức độ hiện đại của cơ
sở vật chất và công nghệ, nó có thích hợp cho sự phát triển của công ty hay
không, những mặt nào phát huy tác dụng, mặt nào đang cấp bách.
15
Qua phân tích chi tiết các chỉ tiêu tài chính bằng phương pháp hiện đại
có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn, có
những sách lược, chiến lược phát huy mặt mạnh, hạn chế hoặc xóa bỏ những
mặt yếu kém của công ty.
- Phân tích tài chính là công cụ kiểm soát sự đúng đắn của các hoạt
động kế toán.
Các chỉ tiêu tài chính, các số liệu thể hiện ở Bảng tổng kết tài sản, Báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ… Qua việc
phân tích tình hình tài chính có thể phát hiện ra việc hạch toán của nhân viên
kế toán có chính xác hay không, có trung thực hay không?
- Phân tích tài chính là công cụ để đánh giá tính chất lành mạnh hoặc
yếu kém của một công ty về mặt tài chính.
Đây là mục tiêu cao nhất, vừa là vai trò của phân tích tài chính. Qua
phân tích tài chính vạch ra được thực trạng về tình hình tài chính của công ty
hiện tại mạnh hay yếu? Có đạt tỷ lệ sinh lời hay không, đảm bảo khả năng
thanh toán hay không, có vi phạm pháp luật hay không, có gây hậu quả gì xấu
cho tương lai hay không?
1.2.3. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
- Nhận dạng những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn về mặt
tài chính theo các tiêu chí:
+ Hiệu quả tài chính (Khả năng sinh lợi và khả năng quản lý tài sản)
+ Rủi ro tài chính (Khả năng thanh toán, khả năng quản lý nợ)
+ Tổng hợp hiệu quả và rủi ro tài chính (Cân đối tài chính, các đòn bẩy
và đẳng thức Du Pont)
- Tìm hiểu nguồn gốc và giải thích nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất các giải pháp tận dụng điểm mạnh và thuận lợi, khắc phục
điểm yếu và khó khăn nhằm cải thiện vị thế tài chính của doanh nghiệp.
16
1.3. Các phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và
biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện phát sinh, mối quan hệ bên
trong và bên ngoài, các luồn dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài
chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính trong doanh
nghiệp.
Có rất nhiều phương pháp phân tích khác nhau được sử dụng trong phân
tích tài chính như: phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp liên
hệ cân đối, phương pháp loại trừ, phương pháp thay thế liên hoàn, phương
pháp phân tích tương quan. Trong đó ba phương pháp được sử dụng phổ biến
nhất là: phương pháp so sánh, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp
tỷ lệ.
1.3.1. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong
phân tích hoạt động kinh doanh.
Điều kiện so sánh được là các chỉ tiêu được sử dụng so sánh phải đồng
nhất. Để đảm bảo tính thống nhất người ta cần phải xem xét mức độ đồng
nhất có thể chấp nhận được, độ chính xác cần phải có, thời gian phân tích
được cho phép.
Kỹ thuật so sánh:
So sánh bằng số tuyệt đối: Biểu hiện khối lượng quy mô, khối lượng
giá trị của một chỉ tiêu kinh tế nào đó đó trong thời gian và địa chỉ cụ thể. Nó
có thể tính bằng thước đo hiện vật, giá trị. Số tuyệt đối là cơ sở để tính các trị
số khác.
So sánh bằng số tương đối: Là biểu thị dưới dạng phần trăm, số tỷ lệ
hoặc hệ số. Sử dụng số tương đối có thể đánh giá được sụ thay đổi kết cấu của
hiện tượng kinh tế.
17
Quá trình phân tích theo kỹ thuật của phương pháp so sánh có thể thực
hiện theo ba hình thức:
So sánh theo chiều dọc: Là quá trình so sánh nhằm xác định tỷ lệ quan
hệ tương quan giữa các chỉ tiêu từng kỳ của báo cáo kế toán – tài chính, nó
còn gọi là phân tích theo chièu dọc (cùng cột của báo cáo).
So sánh theo chiều ngang: là quá trình so sánh nhằm xác định tỷ lệ và
chiều hướng biến động của kỹ trên báo cáo kế toán tài chính (cùng hàng trên
báo cáo), nó còn gọi là phân tich theo chiều ngang.
So sánh xác định xu hướng và tính liên hệ của các chỉ tiêu: Các chỉ tiêu
riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo được xem trên mối quan hệ
với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung và nó có thể được xem xét nhiều kỳ(
từ 3 đến 5 năm hoăc lâu hơn) để cho thấy rõ xu hướng phát triẻn của các hiện
tượng nghiên cứu.
Các hình thức sử dụng kỹ thuật so sánh trên thường được sử dụng trong
phân tích báo cáo tài chính – kế toán, nhất là bảng cân đối kế toán, báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
1.3.2. Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định mức độ ảnh
hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích(đối tượng
phân tích). Quá trình thực hiện phương pháp thay thế liên hoàn bao gồm ba
bước sau:
Bước 1: Xác định đối tượng phân tích: Là mức chênh lệch chỉ tiêu kỳ
phân tích so với kỳ gốc.
Bước 2: Lần lượt thay thế các nhân tố kỳ phân tích và kỳ gốc.
Bước 3: Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng
phân tích bằng cách lấy kết quả thay thế lần sau so sánh với kết quả thay thế
18
lần trước ta được mức độ ảnh hưởng của nhân tố mới, tổng đại số các mức
ảnh hưởng của các nhân tố bằng đối tượng phân tích.
1.3.3. Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng
tài chính trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ lệ, cố nhiên là sự biến
đổi của các đại lượng tài chính. Về nguyên tắc phương pháp tỷ lệ yêu cầu
phải xác định được các ngưỡng, các định mức, để nhận xét, đánh giá tình hình
tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá
trị các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân
thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục
tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh
toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu.
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ từng bộ phận
của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theo giác độ
phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ
mục tiêu phân tích của mình.
1.4. Nguồn tài liệu phân tích tài chính doanh nghiệp
Để phân tích tài chính doanh nghiệp, nguồn tài liệu chủ yếu là các báo
cáo tài chính như: bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập (còn gọi là bảng kết
quả hoạt động kinh doanh), báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Bên cạnh đó, còn sử
dụng các báo cáo khác của doanh nghiệp, như báo cáo quản trị, để nắm bắt
được định hướng phát triển của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài sản
và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm cụ thể trong quá trình hoạt
động kinh doanh.
19
Kết cấu của bảng cân đối kế toán gồm hai phần:
Phần tài sản: Cho biết cơ cấu và giá trị của các tài sản của doanh
nghiệp tại thời điểm xem xét.
Phần nguồn vốn: Cho biết cơ cấu và giá trị của các nguồn vốn tài trợ
cho các tài sản đó
Điều này giải thích vì sao bảng cân đối kế toán luôn tuân thủ đẳng thức
kế toán của doanh nghiệp:
Tổng tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu.
Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Về bản chất, đây là một bảng tổng kết các khoản thu nhập của doanh
nghiệp trong suốt một thời kỳ kế toán (thường là một năm), nó cho biết sự
phân phối lợi nhuận này cho các chủ thể liên quan của doanh nghiệp là chủ
nợ, nhà nước, cổ đông ưu đãi, cổ đông đại chúng và các chủ nguồn lực khác.
Báo cáo bao gồm hai phần:
Phần I: Liệt kê tóm tắt các khoản thu nhập và chi phí của doanh nghiệp
theo một trình tự nhất định để đi tới xác định lãi ròng của các cổ đông.
Phần II: Giới thiệu các số liệu về cổ phần.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để xem xét và dự đoán khả năng về số
lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai; dùng để
kiểm tra lại các đánh giá, dự đoán trước đây về các luồng tiền; kiểm tra mối
quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác
động của thay đổi giá cả.
Ngoài các nguồn dữ liệu trên, cần sử dụng các văn bản pháp quy có liên
quan, các dữ liệu về nền kinh tế nói chung và ngành kinh tế nói riêng, các dự
liệu về đối thủ cạnh tranh trực tiếp… để nắm bắt kịp thời và đầy đủ các thông
tin về môi trường kinh doanh. Các chính sách tiền tệ hay thuế của Nhà nước
20
sẽ tác động trực tiếp tới tình hình tài chính doanh nghiệp. Trong quá trình
phân tích tài chính doanh nghiệp, cần có sự so sánh các chỉ tiêu với các đối
thủ cạnh tranh và trung bình ngành để có cái nhìn toàn diện về thực trạng tài
chính của doanh nghiệp, từ đó có những chủ trương, giải pháp phù hợp với
thực tiễn.
1.5. Nội dung và quy trình phân tích
1.5.1. Phân tích khái quát tinh hình tài chính của doanh nghiệp thông
qua các báo cáo tài chính.
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ cung cấp cái
nhìn tổng quát nhất về tình hình tài chính trong kỳ sản xuất kinh doanh là khả
quan hay không khả quan. Qua đó chủ doanh nghiệp có thể đánh giá được
hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời dự báo được khả năng
phát triển hay suy thoái của doanh nghiệp, trên cơ sở đó có hướng giải quyết
thích hợp.
1.5.1.1. Phân tích bảng cân đối kế toán
Nội dung phân tích:
- Phân tích biến động của Tài sản và Nguồn vốn
- Phân tích cơ cấu tài sản: phân tích biến động tài sản và phân tích tính
hợp lý của cơ cấu tài sản.
- Phân tích cơ cấu nguồn vốn: phân tích biến động nguồn vốn và tính
hợp lý của cơ cấu nguồn vốn.
- Phân tích cân đối tài sản – nguồn vốn: phân tích mối quan hệ cân đối
giữa tài sản và nguồn vốn.
Mối quan hệ cân đối tài sản và nguồn vốn
Do sự vận động của tài sản tách rời với thời gian sử dụng của nguồn
vốn, do đó nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố của tài sản và nguồn vốn
21
sẽ chỉ ra sự an toàn trong tài trợ và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Mối quan
hệ đó thể hiện cân đối tài chính của doanh nghiệp.
Nghiên cứu cân đối tài chính nhằm mục đích phát hiện những nhân tố
hiện tại hoặc tiềm tàng của sự mất cân đối tài chính.
Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn thể hiện sự tương quan về cơ cấu
và giá trị các tài sản của doanh nghiệp, đồng thời cũng phản ánh tương quan
về chu kỳ luân chuyển tài sản và chu kỳ thanh toán nguồn vốn. Mối quan hệ
này giúp nhà phân tích đánh giá được sự hợp lý giữa nguồn vốn huy động và
việc sử dụng chúng trong đầu tư, mua sắm, dự trữ.
Cân đối tài chính:
Tài sản ngắn hạn Nợ ngắn hạn
Tài sản dài hạn Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu
Trong trường hợp này, toàn bộ dài hạn được tài trợ vừa đủ từ nợ dài hạn
và vốn chủ sở hữu. Tài sản ngắn hạn nên được tài trợ bởi nguồn vốn ngắn
hạn, tài sản cố định nên được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn. Nhưng trong thực
tế thường xảy ta các trường hợp phổ biến sau:
- Trường hợp 1: Nguồn vốn dài hạn (nợ dài hạn + vốn chủ sở hữu)
không đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn, phân thiếu hụt được bù đắp bằng một
phần nợ ngắn hạn. Cân bằng tài chính trong trường hợp này không tốt vì
doanh nghiệp luôn chịu áp lực về thanh toán nợ ngắn hạn. Doanh nghiệp cần
điều chỉnh để tạo ra cân bằng tài chính mới theo hướng bền vững.
- Trường hợp 2: Nguồn vốn dài hạn không những đủ để tài trợ cho tài
sản dài hạn mà còn tài trợ một phần cho tài sản ngắn hạn. Cân bằng tài chính
này được đánh giá là tốt và an toàn do không phải chịu áp lực trả nợ ngắn
hạn.
22
1.5.1.2. Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh
Nội dung phân tích:
- Phân tích doanh thu:
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bộ số tiền thu được
hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán
sản phẩm hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng trong một khoảng thời
gian nhất định .
Mục tiêu của phân tích doanh thu:
• Nghiên cứu biến động của doanh thu trong doanh nghiệp.
• Chỉ ra nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của doanh thu.
• Đưa ra giải pháp để làm tăng trưởng doanh thu.
Nhiệm vụ của phân tích doanh thu:
• Phản ánh chính xác tổng doanh thu trong kỳ kinh doanh cũng như
doanh thu thuần của doanh nghiệp.
• Phản ánh những biến động trong kết quả kinh doanh của doanh nghiệp,
ngay trong kỳ và giữa các kỳ từ đó phản ánh uy tín kinh doanh và phản
ánh quy mô khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp.
• Chỉ rõ và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới doanh thu và
sự biến động doanh thu giữa các kỳ.
• Làm cơ sở xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch doanh thu, kết cấu doanh thu
hay các phương án kinh doanh cũng như giúp hay lập các chỉ tiêu kinh
tế khác.
- Phân tích chi phí:
Chi phí sản xuất kinh doanh thường được phân loại theo một số tiêu chí,
chẳng hạn có thể phân loại chi phí theo yếu tố và khoản mục, hoặc theo chi
23
phí biến đổi hoặc chi phí cố định. Trong phân tích tài chính, bên cạnh các tiêu
chí truyền thống trên, người ta còn chia chi phí thành hai loại là chi bằng tiền
và chi phi tiền. Chi bằng tiền là thuật ngữ biểu thị tất cả các khoản chi mà
doanh nghiệp thực hiện bằng tiền trong năm. Nói cách khác, đây là khoản
thực chi của doanh nghiệp cho vật tư, nguyên vật liệu, công lao động, điện
nước… Những khoản chi này làm cho lượng tiền mặt của công ty giảm
xuống, và đây chình là phần thu nhập được phân phối cho người lao động và
các nguồn lực khác.
Khi phân tích chi phí, cần lưu ý tới yếu tố khấu hao. Khấu hao là sự
khấu trừ vào doanh thu hàng năm nhằm hai mục đích:
Thứ nhất, sự khấu trừ này phản ánh mức độ hao mòn tài sản cố định vào
quá trình sản xuất trong năm, nhằm tập hợp chi phí làm cơ sở cho việc tính
toán tổng chi phí hoạt động, từ đó xác định lợi nhuận của doanh nghiệp trong
kỳ. Với mục đích này, khấu hao là một khoản chi của doanh nghiệp. Tuy
nhiên, do tài sản cố định được mua trước khi sản xuất kinh doanh nên khấu
hao thực chất là khoản chi phi tiền.
Thứ hai, sự khấu trừ này là để thu hồi lại từng phần vốn đầu tư bàn đầu
vào tài sản cố định. Với mục đích này, khấu hao về mặt tài chính không phải
là khoản chi mà là một khoản thu của doanh nghiệp.
- Phân tích lợi nhuận:
Lợi nhuận là kết quả thu được sau khi đem tổng doanh thu trừ đi tổng
chi phí và nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp. Nếu kết quả được thể hiện một
cách trung thực, nó sẽ phản ảnh chính xác tình trạng lỗ hay lãi của doanh
nghiệp trong niên độ kế toán. Tuy nhiên, đây không phải thước đo chuẩn xác
để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp do một số doanh nghiệp cố tinh
báo lỗ để tránh các nghĩa vụ thuế với cơ quan quản lý nhà nước.
24
- Phân tích lỷ lệ chi phí/doanh thu:
Phân tích tỷ lệ chi phí/doanh thu để so sánh tốc độ tăng (giảm) của chi
phí so với doanh thu. Nếu tốc độ tăng của chi phí cao hơn tốc độ tăng của
doanh thu có nghĩa là doanh nghiệp quản lý chi phí chưa tốt, ảnh hưởng trực
tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu tốc độ tăng doanh thu cao
hơn so với tốc độ tăng chi phí thì đó là cơ sở để doanh nghiệp gia tăng lợi
nhuận.
1.5.1.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Nội dung phân tích: Phân tích dòng tiền tệ trong mối liên hệ giữa các
hoạt động: Hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính.
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh: Đây là các lưu chuyển phát
sinh hoặc liên quan trực tiếp đến việc sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ
theo chức năng của doanh nghiệp. Thuộc về nhóm này, trong báo cáo thu
nhập, là doanh thu, EBIT, khấu hao, chi bằng tiền, thuế thu nhập, lãi trước cổ
tức ưu đãi và cổ tức. Ngoài ra, thuộc về nhóm này trong bảng cân đối kế toán
có biến động của khoản phải thu, khoản phải trả, hàng tồn kho và nợ định kỳ.
- Lưu chuyển từ hoạt động đầu tư: Đây là các lưu chuyển nảy sinh từ
việc góp vốn liên doanh liên kết, đầu tư dài hạn vào các doanh nghiệp khác,
cũng như việc mua, bán tài sản cố định (như nhà xưởng, đất đai, máy móc
thiết bị).
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: Thuộc về nhóm này gồm có
các lưu chuyển phát sinh do việc huy động vốn như phát hành trái phiếu, vay
ngân hàng, thanh toán nợ và lãi vay, phát hành hoặc mua lại cổ phiếu ưu đãi
và cổ phiếu đại chúng, chi trả cổ tức.
1.5.2. Phân tích các chỉ số tài chính
Về mặt bản chất, chỉ số tài chính biểu thị mối liên hệ giữa các khoản
mục của báo cáo tài chính, có chức năng trợ giúp việc phân tích, đánh giá và
25
dự báo vị thế của doanh nghiệp. Vị thế tài chính thường được đánh giá trên
hai tiêu chí chính là hiệu quả tài chính và rủi ro tài chính.
1.5.2.1. Đánh giá hiệu quả tài chính
a, Các chỉ số khả năng sinh lợi
Một trong những vấn đề quan trọng của việc phân tích tài chính doanh
nghiệp là phải trả lời được câu hỏi doanh nghiệp có khả năng sinh lợi hay
không và ở mức độ như thế nào? Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá tác động
phối hợp của các hoạt động quản lý tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp,
bao gồm các chỉ tiêu sau:
Doanh lợi sau thuế trên doanh thu, ROS
Lãi ròng (NI) ROS = Doanh thu thuần
Chỉ số này cho biết, trong một trăm đồng doanh thu có bao nhiêu đồng
lãi cho chủ sở hữu.
Sức sinh lợi cơ sở, BEP
EBIT BEP = TTS bình quân
Ngoài chủ sở hữu, các chủ thể liên quan đến doanh nghiệp còn bao
gồm: chủ nợ, nhà nước, cổ đông ưu đãi, người lao động…Chỉ số BEP phản
ánh quyền lợi của các đối tượng trên. Chỉ số này cho biết, trung bình trong
một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lãi
cho toàn xã hội.
Tỷ suất sinh lời tài sản, ROA
Lãi ròng (NI) ROA = TTS bình quân
26
Chỉ số ROA cho biết trung bình một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh
nghiệp, trong 1 kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lãi cho chủ sở hữu.
Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu, ROE
Lãi ròng (NI) ROE = VCSH bình quân
Chỉ số ROE cho biết trung bình một trăm đồng vốn đầu tư vào vốn chủ
sở hữu trong một kỳ tại công ty có thể góp phần tạo ra được bao nhiêu đồng
lãi cho chính chủ sở hữu đó. Lợi thế của chỉ số này là nó phản ánh trực tiếp
mức độ sinh lời mà các chủ sở hữu được hưởng trong kỳ.
b, Các chỉ số khả năng quản lý tài sản
Nhóm chỉ số này cho biết mức độ hiệu quả của doanh nghiệp trong việc
sử dụng các tài sản của mình, tức là đánh giá hiệu suất, cường độ, và sức sản
xuất của tài sản trong năm.
Vòng quay hàng tồn kho, VQHTK
Doanh thu thuần VQHTK = HTK bình quân
VQHTK cao là một cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nếu doanh nghiệp tiết
kiệm được chi phí trên cơ sở sử dụng tốt các tài sản khác. VQHTK thấp có
nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có thể do quản lý vật tư, hoặc tổ chức
sản xuất hoặc tổ chức bán hàng chưa tốt.
Kỳ thu nợ bán chịu, KTN
KPT bình quân x 360 KTN = Doanh thu thuần
Kỳ thu nợ dài phản ánh chính sách bán chịu táo bạo, điều này có thể là
dấu hiệu tốt nếu tốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng khoản phải thu.
Nếu vận dụng đúng, chính sách bán chịu là một công cụ tốt để mở rộng thị
phần và làm tăng doanh thu. Kỳ thu nợ dài cũng có thể là do yếu kém trong
27
việc thu hồi các khoản phải thu, doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn, khả năng
sinh lợi thấp. Kỳ thu nợ ngắn có thể do khả năng thu hồi khoản phải thu tốt,
doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn, lợi nhuận có thể cao. Tuy nhiên, một
chính sách bán chịu quá chặt chẽ có thể đánh mất cơ hội bán hàng và cơ hội
mở rộng quan hệ kinh doanh.
Sức sản xuất tài sản ngắn hạn, SSXTSNH
Doanh thu thuần SSXTSNH = TSNH bình quân
Do tài sản ngắn hạn bao gồm tiền, khoản phải thu và hàng tồn kho nên
rõ ràng đối với các doanh nghiệp chỉ số tài chính này có một tầm quan trọng
đặc biệt, nó phản ánh hầu như trọn vẹn tất các mặt quản lý tài chính ngắn hạn
của doanh nghiệp. SSXTSNH cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn có chất lượng
cao, được tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi và giam giữ trong các khâu của
quá trình sản xuất kinh doanh. SSXTSNH cao là một cơ sở để có lợi nhuận
cao nhờ tiết kiệm được chi phí và giảm được lượng vốn đầu tư. SSXTSNH
thấp là do tiền mặt nhàn rỗi, thu hồi các khoản phải thu kém, chính sách bán
hàng quá rộng rãi, quản lý vật tư, quản lý sản xuất và quản lý bán hàng không
tốt.
Sức sản xuất tài sản cố định, SSXTSCĐ
Doanh thu thuần SSXTSCĐ = TSCĐ bình quân
SSXTSCĐ cao chứng tỏ tài sản cố đinh có chất lượng cao, được tận
dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi và phát huy hết công suất. SSXTSCĐ cao là
cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nếu doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí sản
xuất, SSXTSCĐ cao cũng là điều kiện quan trọng để sử dụng tốt tài sản ngắn
hạn. SSXTSCĐ thấp là do nhiều tài sản cố định không hoạt động, chất lượng
tài sản kém hoặc không hoạt động hết công suất.
28
Sức sản xuất tổng tài sản, SSXTTS
Doanh thu thuần SSXTTS = TTS bình quân
SSXTTS cao chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp có chất lượng cao,
được tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi và không bị giam giữ trong các khâu
của quá trình sản xuất kinh doanh. SSXTTS cao là một cơ sở tốt để có lợi
nhuận cao. SSXTTS thấp là do yếu kém trong quản lý tiền mặt, vật tư hàng
hóa, quản lý tài sản cố định, quản lý sản xuất, quản lý bán hàng…
1.5.3. Đánh giá rủi ro tài chính
a, Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của một công ty là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ
nợ ngắn hạn của công ty đó. Trong phân tích tài chính có một số chỉ tiêu
thanh toán sau đây thường được sử dụng:
Khả năng thanh toán hiện hành
TSNH
Khả năng thanh toán hiện hành = Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ số này cho biết, mỗi đồng nợ ngắn hạn có thể được đảm bảo bởi
bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn.
Khả năng thanh toán nhanh
TSNH - HTK Khả năng thanh toán nhanh = Tổng nợ ngắn hạn
Trong số các tài sản ngắn hạn thì hàng tồn kho có tính thanh khoản
thấp nhất, do đó chỉ số này có khả năng đánh giá chặt chẽ hơn khả ngăng
thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
29
Khả năng thanh toán tức thời
Tiền và các khoản tương đương tiền Khả năng thanh toán tức thời = Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ số này đánh giá một cách chặt chẽ nhất khả năng thanh toán ngắn
hạn của doanh nghiệp vì việc trả nợ phải thực hiện trên cơ sở tiền tệ nên đây
là dấu hiệu tốt nhất để đánh giá tính thanh khoản của doanh nghiệp ở thời
điểm hiện tại.
b, Khả năng quản lý vốn vay
Chỉ số nợ
Tổng nợ Chỉ số nợ = Tổng tài sản
Chỉ số nợ cho biết mức độ doanh nghiệp sử dụng vốn vay để tài trợ cho
các tài sản của mình hay phản ánh mức độ doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài
trợ.
Khả năng thanh toán lãi vay, TIE
EBIT TIE = Lãi vay
Chỉ số này cho biêt một đồng lãi vay đến hạn được đảm bảo bởi bao
nhiêu đồng lợi nhuận trước lãi vay và thuế.
1.5.4. Phân tích tổng hợp tình hình tài chính
1.5.4.1. Đẳng thức Dupont thứ nhất
Lãi ròng (NI) Doanh thu thuần Tỷ suất thu hồi tài sản = x Doanh thu thuần TTS bình quân
ROA = ROS SSXTTS x
Đẳng thức này gợi ý rằng, doanh nghiệp có hai hướng để tăng ROA.
Thứ nhất là tăng ROS, thứ hai là tăng SSXTTS. Muốn tăng ROS cần phấn
đấu tăng lãi ròng bằng cách tiết kiệm chi phí, tăng giá bán để có lợi nhuận cao
30
hơn trên mỗi đơn vị sản phẩm. Muốn tăng SSXTTS cần phấn đấu giảm tài
sản, tăng doanh thu bằng cách giảm giá bán, tăng cường hoạt động xúc tiến
bán hàng, chấp nhận lợi nhuận thấp hơn trên mỗi đơn vị sản phẩm.
1.5.4.2. Đẳng thức DuPont thứ hai
Lãi ròng (NI) TTS bình quân Tỷ suất thu hồi VCSH = x TTS bình quân VCSH bình quân
ROE = ROA x TTSbq/VCSHbq
Đẳng thức này cho thấy để tăng ROE có thể tìm cách tăng ROA hoặc
tăng tỷ số TTSbq/VCSHbq. Muốn tăng ROA thì làm theo đẳng thức Dupont
thứ nhất, muốn tăng tỷ số TTSbq/VCSHbq cần giảm VCSH và tăng nợ. Điều
này sẽ làm sẽ làm tăng tỷ số nợ dẫn đến rủi ro cũng sẽ tăng.
1.5.4.3. Đẳng thức Dupont thứ ba
Lãi ròng Doanh thu thuần TTS bq ROE = x x TTS bq VCSH bq DTT
ROE = ROS x SSXTTS x TTS bq/VCSH bq
Đẳng thức này cho ta thấy ROE phụ thuộc vào 3 nhân tố là ROS,
SSXTTS và tỷ số TTS bq/VCSH bq, tuy nhiên các nhân tố này lại có ảnh
hưởng trái chiều nhau tới ROE. Sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn để
xác định ảnh hưởng của 3 nhân tố trên tới ROE đồng thời tìm hiểu nguyên
nhân làm tăng giảm chỉ số này.
1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp. Có ba nhân tố chính ảnh hưởng tới tài chính doanh doanh nghiệp:
Thứ nhất, hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp
Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp ảnh hưởng tới tài chính trên
các khía cạnh: Phương thức hình thành và huy động vốn, chuyển nhượng vốn,
phân phối lợi nhuận và trách nhiệm của chủ sở hữu với các khoản nợ của
doanh nghiệp.
31
Theo luật doanh nghiệp năm 2005, ở nước ta hiện nay có các loại hình
doanh nghiệp chủ yếu sau:
- Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và
tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi mặt hoạt động của
doanh nghiệp. Đặc điểm:
• Phương thức hình thành và huy động vốn: tự có và đi vay.
• Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với hoạt động
kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp.
• Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp hoàn toàn là tài sản của chủ sở
hữu doanh nghiệp.
• Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành
viên hợp danh và có thể có thành viên góp vốn.
Thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu
hạn về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty và
được chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp. Công ty hợp danh không được phép
phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: Gồm có công ty TNHH một thành viên và
công ty TNHH hai thành viên.
Công ty TNHH Một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một
cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu của công ty chịu trách nhiệm về khoản
nợ và tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Tài
sản của chủ sở hữu công ty được tách biệt với tài sản của công ty. Loại hình
công ty này không được phép phát hành cổ phiếu.
32
Đối với công ty TNHH Hai thành viên, hình thức huy động vốn chủ yếu là
góp vốn và đi vay, không được phép phát hành cổ phiếu. Trách nhiệm về nợ
và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp nằm trong phạm vi vốn góp vào công ty.
Lợi nhuận sau thuế thuộc về các thành viên, việc phân bổ lợi nhuận do thành
viên quyết định.
Thứ hai, đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của ngành kinh doanh
Hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp thường được thực hiện
trong một số ngành kinh doanh nhất định. Mỗi ngành kinh doanh có những
đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc tổ chức tài
chính của doanh nghiệp:
+ Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại, dịch vụ thì
vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển của vốn ngắn hạn
nhanh hơn so với các ngành nông nghiệp, công nghiệp. Ở các ngành này thì
vốn dài hạn thường chiếm tỷ lệ cao hơn vốn ngắn hạn, thời gian thu hồi vốn
cũng chậm hơn.
+ Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản
xuất ngắn thì nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các thời kỳ trong năm thường không
có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng
nhờ đó có thể dễ dàng đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh, doanh
nghiệp có chu kỳ sản xuất dài thì phải ứng ra lượng vốn ngắn hạn lớn hơn.
Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất có tính thời vụ thì nhu
cầu về vốn ngắn hạn giữa các thời kỳ trong năm chênh lệch nhau rất lớn, giữa
thu và chi bằng tiền thường không ăn khớp với nhau về thời gian.
Đó là những điều phải tính đến trong việc tổ chức tài chính nhằm đảm bảo
vốn kịp thời, đầy đủ cho hoạt động của doanh nghiệp cũng như đảm bảo cân
đối giữa thu- chi bằng tiền.
33
Thứ ba, môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả yếu tố bên trong và bên ngoài
ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp. Dưới đây xem xét tác động của
môi trường kinh tế tài chính dến hoạt động tài chính của doanh nghiệp
+ Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế
Nếu cơ sở hạ tầng phát triển thì sẽ giảm bớt được nhu vốn đầu tư của
doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi
phí trong kinh doanh.
+ Tình trạng của nền kinh tế
Một nền kinh tế đang trong đà tăng trưởng thì có nhiều cơ hội cho
doanh nghiệp đầu tư phát triển, từ đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tich cực áp
dụng các biện pháp huy động vốn để đáp ứng yêu cầu đầu tư. Ngược lại nếu
nền kinh tế đang trong đà suy thoái thì doanh nghiệp khó có thể tìm được cở
hội tốt để đầu tư
+ Lãi suất thị trường
Là yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Lãi suất thị trường ảnh hưởng dến cơ hội đầu tư, chi phí sử dụng vốn và cơ
hội huy động vốn của doanh nghiệp. Mặt khác lãi suất thị trường ảnh hưởng
gián tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khi lãi suất thị
trường tăng cao thì người ta có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng điều
đó hạn chế đến việc tiêu thụ sản phẩm
+ Lạm phát
Nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao thì việc tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp gặp khó khăn khiến tình trạng tài chính căng thẳng. Lạm phát
cũng làm cho nhu cầu vốn kinh doanh tăng lên tình hình tài chính không ổn
định nên doanh nghiệp cần có những biện pháp tích cực.
+ Chính sách kinh tế và tài chính của nhà nước với doanh nghiệp
34
Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát, điều tiết các hoạt động của
doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế. Thông qua chính sách kinh tế,
pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế…Nhà nước tạo môi tường và hành
lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng dẫn các
hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đi theo quỹ đạo của kế hoạch vĩ mô.
+Mức độ cạnh tranh: Nếu doanh nghiệp hoạt động những ngành nghề
có mức độ cạnh tranh cao đòi hỏi doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn cho việc đổi
mới thiết bị, công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ …
+ Thị trường tài chính và hệ thống các trung gian tài chính
Sự phát triển của thị trường tài chính làm đa dạng hóa các công cụ và
các hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp, chẳng hạn như sự xuất hiện và
phat triển của hình thức thuê tài chính, sự phát triển của thị trường chứng
khoán v.v…Sự phát triển của lớn mạnh của các trung gian tài chính sẽ cung
cấp các dich vụ tài chính ngày càng đa dạng và phong phú cho doanh nghiệp,
như sự phát triển của các ngân hàng thương mại đã làm đa dạng hóa các hình
thưc thanh toán như chuyển khoản, tín dụng, và chuyển tiền điện tử….
+ Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp chỉ có nguồn tài trợ chính để đầu tư ở giới hạn nhất
định bao gồm nguồn vốn tự có và nguồn vốn có khả năng huy động, doanh
nghiệp không thể quyết định đầu tư hay thực hiện các dự án vượt xa khả năng
tài chính của mình. Đây là một yếu tố nội tại chi phối đến việc quyết định đầu
tư của một doanh nghiệp.
1.7. Các hướng tác động cải thiện tình hình tài chính doanh nghiệp.
Để cải thiện tình hình tài chính doanh nghiệp, có hai hướng tác động
chủ yếu sau đây:
35
Thứ nhất, tăng hiệu quả tài chính doanh nghiệp: Hiệu quả tài chính
doanh nghiệp đặc trưng bởi hai nhân tố là khả năng sinh lợi và khả năng quản
lý tài sản.
Đối với khả năng quản lý tài sản cần chú ý đến các chỉ tiêu sau:
Vòng quay hàng tồn kho, VQHTK
Doanh thu thuần VQHTK = HTK bình quân
Hàng tồn kho bao gồm ba thành phần chính là: vật tư nguyên vật liệu,
sản phẩm dở dang và thành phẩm nên mức hàng tồn kho trung bình biểu thị độ
dài quy trình sản xuất của doanh nghiệp. Vòng quay hàng tồn kho thấp có nhiều
nguyên nhân, trong đó có thể là do quản lý vật tư, tổ chức sản xuất hoặc tổ chức
bán hàng chưa tốt. Do đó, để cải thiện tình hình trên cần xác định nguyên nhân
cụ thể do quản lý vật tư, quản lý sản xuất hay quản lý bán hàng để từ đó có biện
pháp thích hợp nhằm cải thiện tình hình.
Kỳ thu nợ bán chịu, KTN
KPT bình quân x 360 KTN = Doanh thu thuần
Kỳ thu nợ dài phản ánh chính sách bán chịu táo bạo của doanh nghiệp,
điều này có thể là dấu hiệu tốt nếu tố độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tẳng
khoản phải thu. Tuy nhiên, kỳ thu nợ dài cũng có thể phản ảnh khả năng thu hổi
khoản phải thu kém, vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng, khả năng sinh lợi
thấp.
Kỳ thu nợ ngắn có thể do khả năng thu hồi khoản phải thu tốt. Tuy
nhiên, chính sách bán chịu của doanh nghiệp quá khắt khe có thể làm mất đi cơ
hội kinh doanh. Do vậy, cần có chính sách bán chịu linh hoạt, sao cho doanh
thu tăng ổn định nhưng phải đảm bảo không có nợ xấu, nợ khó đòi.
Đối với khả năng sinh lợi, cần chú ý đến các chỉ tiêu sau:
36
- Doanh thu:
Theo chuẩn mực kế toán số 14 trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt
Nam: “ Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được
trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông
thường của doanh nghiệp, góp phần làm phát triển vốn chủ sở hữu ”.
Doanh thu của các doanh nghiệp bao gồm doanh thu bán hàng, doanh thu
cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động bất thường.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được
hoặc sẽ thu được từ các giao dịch như bán hàng hoá…bao gồm cả các khoản
phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
Doanh thu còn bao gồm các khoản trợ giá, phụ thu theo quy định của nhà
nước đối với một số hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ được nhà nước cho
phép và giá trị của các sản phẩm hàng hoá đem biếu, tặng hoặc tiêu dùng
trong nội bộ doanh nghiệp.
Doanh thu nội bộ là số tiền thu được do bán hàng hoá, sản phẩm cung
cấp dịch vụ tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty
hay tổng công ty.
Doanh thu hoạt động tài chính là các khoản thu bao gồm:
Tiền lãi: Lãi cho vay; lãi tiền gửi; lãi bán hàng trả chậm; trả góp; lãi đầu tư
trái phiếu; thu nhập từ cho thuê tài sản, cho người khác sử dụng tài sản (bằng
sáng chế, nhãn mác thương mại… ); cổ tức, lợi nhuận được chia; thu nhập về
hoạt động đầu tu mua bán chứng khoán; thu nhập chuyển nhượng, cho thuê
cơ sở hạ tầng; thu nhập về các hoạt động đầu tư khác; chênh lệch lãi do bán
ngoại tệ; chênh lệch lãi chuyển nhượng, vốn…
Doanh thu từ các hoạt động bất thường là các khoản thu từ các hoạt
động xảy ra không thường xuyên như: thu từ việc bán vật tư hàng hóa, tài sản
dôi thừa, công cụ dụng cụ đã phân bố hết…các khoản phải trả nhưng không
37
cần trả, các khoản thu từ việc chuyển nhượng thanh lý tài sản, nợ khó đòi đã
xoá nay thu hồi được, hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho…
- Chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí
về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần tiết khác mà doanh
nghiệp chỉ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ.
Căn cứ vào tính chất kinh tế, chi phí sản xuất kinh doanh được phân
chia thành các yếu tố chi phí cơ bản sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị của các loại
nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, công cụ
dụng cụ xuất dùng cho sản xuất trong kỳ báo cáo.
- Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ chi phí trả cho người lao động
(thường xuyên hay tạm thời về tiền lương (tiền công các khoản phụ cấp, trợ
cấp có tính chất lương, tiền ăn giữa ca và các khoản trích theo lương, kinh phí
công đoàn, BHYT, BHXH trong kì báo cáo.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: bao gồm chi phí khấu hao toàn bộ tài
sản cố định của doanh nghiệp dùng trong sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trong kỳ báo cáo như: điện, nước, điện thoại, vệ sinh và các dịch vụ
khác.
- Chi phí khác bằng tiền: bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh chưa
được phản ánh ở các chỉ tiêu trên, đã chi bằng tiền trong kỳ báo cáo như: tiếp
khách, hội họp, thuê quảng cáo…
Lợi nhuận thuần của doanh nghiệp được xác định bằng cách lấy tổng
doanh thu trừ tổng chi phí. Do vậy, muốn tăng khả năng sinh lợi của doanh
nghiệp có thể tác động theo hai cách cơ bản: một là tăng doanh thu, hai là
giảm chi phí.
38
Thứ hai, giảm thiểu rủ ro tài chính: Thể hiện trên hai tiêu chí:
- Doanh nghiệp cần đảm bảo khả năng thanh toán, bao gồm: khả
năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán
tức thời. Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều phải đối diện với
nghĩa vụ ngắn hạn. Nói cách khác, đây là khả năng doanh nghiệp có thể trang
trải các khoản nợ đến hạn. Điều này đặc biệt quan trọng bởi lẽ nó ảnh hưởng
trực tiếp tới uy tín cũng như toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Một khi doanh nghiệp lâm vào cảnh mất khả năng thanh toán, uy tín
của doanh nghiệp sẽ giảm sút, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều bị
ngưng trệ, đối diện với nguy cơ phá sản. Xét một cách tồng quát:
Tổng tài sản Khả năng thanh toán tổng quát = Nợ phải trả
Nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Chỉ số này cho biết
một đồng nợ của doanh nghiệp được tài trợ bởi bao nhiêu đồng tài sản các loại
và doanh nghiệp sở hữu. Khả năng thanh toán tổng quát được xem là an toàn
khi chỉ tiêu này lớn hơn hoặc bằng một.
- Doanh nghiệp cũng cần đảm bảo khả năng quản lý vốn vay, bao
gồm: chỉ số nợ và thanh toán lãi vay.
Chỉ số nợ cao chứng tỏ doanh nghiệp mạnh dạn sử dụng nhiều vốn
vay trong cơ cấu vốn, đây là cơ sở để có lợi nhuận cao. Chỉ số nợ cao cũng
thể hiện uy tín của doanh nghiệp đối với chủ nợ. Tuy nhiên, chỉ số nợ cao
cũng đồng nghĩa với khả năng thanh toán giảm. Do vậy, doan nghiệp cần phải
đảm bảo cơ cấu vốn thích hợp với ngành nghề sản xuất kinh doanh.
Lãi vay (vay ngân hàng và vay các chủ nợ khác) là nghĩa vụ ngắn hạn
rất quan trọng của doanh nghiệp. Do vậy, việc đảm bảo khả năng thanh toán
lãi vay vô cùng quan trọng. Việc mất khả năng thanh toán lãi vay làm tăng rủi
ro và nguy cơ phá sản của doanh nghiệp.
39
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Nội dung chính của Chương 1 là hệ thống cơ sở lý thuyết về tài chính
doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp. Tác giả đã nêu lên vai trò,
mục tiêu, cũng như nội dung của phân tích tài chính doanh nghiệp. Từ đó chỉ
ra được các nhân tố ảnh hưởng tới tình hình tài chính doanh nghiệp. Trên cơ
sở đó sẽ đề xuất các hướng tác động nhằm cải thiện tình hình tài chính của
doanh nghiệp.
40
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẨN THƯƠNG MẠI BIA HÀ NỘI
2.1. Giới thiệu về công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội
a) Tên, địa chỉ doanh nghiệp
Tên tiếng việt: Công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội.
Tên giao dịch: HANOI BEER TRADING JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: Habeco – Trading
Địa chỉ trụ sở: 183, phố Hoàng Hoa Thám, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình,
TP Hà Nội
Điện thoại: (04) 37.281.476 / (04) 37.281.475
Fax: (04) 37.281.106
Email: habecotrading@vnn.vn
Website: http://biahoihanoi.com.vn
http://biahoihanoi.vn
b) Sự thành lập và các mốc quan trọng trong quá trình phát triển
Công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội được thành lập theo giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh số 0103014976 ngày 08 tháng 12 năm 2006, thay
đổi lần thứ nhất ngày 04 tháng 12 năm 2007, thay đổi lần thứ hai ngày 12
tháng 03 năm 2008, thay đổi lần thứ ba ngày 08 tháng 05 năm 2009 do Sở Kế
hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp. Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh và đăng ký thuế mới số 0102111943 thay đổi lần bảy ngày 21 tháng 07
năm 2011. Tổng số vốn điều lệ ban đầu là 31,23 tỷ đồng, chính thức hoạt
động từ ngày 1/1/2007.
c) Hoạt động kinh doanh chính của công ty
- Kinh doanh bia, rượu, nước giải khát và vật tư, thiết bị, nguyên vật liệu
ngành bia – rượu – nước giải khát;
41
- Kinh doanh nhà hàng, khách sạn (không bao gồm kinh doanh phòng hát
karaoke, vũ trường, quán bar);
- Kinh doanh vận tải hàng hoá;
- Tổ chức hội chợ triển lãm;
- Quảng cáo và các dịch vụ liên quan đến quảng cáo;
- Xuất nhập khẩu các mặt hàng Công ty kinh doanh;
- Dịch vụ uỷ thác xuất nhập khẩu;
- Sản xuất nước uống tinh khiết, nước khoáng đóng chai;
- Kinh doanh phụ phẩm trong sản xuất bia, bao gồm: bã bia;
- Kinh doanh phế liệu, phế phẩm sau quá trình sản xuất bia;
- Kinh doanh nông lâm sản nguyên liệu (trừ lâm sản Nhà nước cấm);
- Kinh doanh thực phẩm tươi sống và chế biến;
- Sản xuất bia, rượu, nước giải khát (không bao gồm kinh doanh quán Bar);
- Mua bán hoá chất (trừ hoá chất Nhà nước cấm);
- Môi giới thương mại;
- Kinh doanh bất động sản;
- Kinh doanh và cho thuê nhà xưởng, văn phòng, kho tàng, bến bãi;
- Dịch vụ tư vấn dự án đầu tư và xây dựng (không bao gồm dịch vụ thiết kế
công trình)
d, Mô hình tổ chức của công ty
42
Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Giám đốc
Phó giám đốc
Phòng kinh doanh
Phòng kế hoạch tổng hợp
Phòng tài chính kế toán
Tổ dịch vụ
Tổ vận chuyển
Bộ phận thị trường đầu tư
Bộ phận kế toán bán hàng
Bộ phận kế toán tổng hợp
Tổ kho
Bộ phận hành chính văn phòng
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội
- Chức năng nhiệm vụ cơ bản của các phòng ban chức năng và các đơn vị:
- Đại hội đồng cổ đông:
Là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty. Đại hội cổ đông có
quyền và nhiệm vụ thông qua định hướng phát triển, quyết định các phương
án, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; quyết định sửa đổi, bổ sung vốn điều lệ
của Công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Ban
kiểm soát; và quyết định tổ chức lại, giải thể Công ty và các quyền, nhiệm vụ
khác theo quy định của Điều lệ Công ty.
43
- Hội đồng quản trị:
Là tổ chức quản lý cao nhất của Công ty có trách quyền quyết định
chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm
của công ty; quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền;
giám sát, chỉ đạo Giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc
kinh doanh hằng ngày của công ty; trình báo cáo quyết toán tài chính hằng
năm lên Đại hội đồng cổ đông; kiến nghị mức cổ tức được trả; quyết định thời
hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh.
- Ban kiểm soát:
Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung
thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh,
trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập BCTC nhằm đảm bảo lợi ích
hợp pháp của các cổ đông. Ban kiểm soát hoạt động độc lập với HĐQT và
Ban Giám đốc.
- Giám đốc:
Giám đốc là người chịu trách nhiệm chính về hoạt động của công ty và
là người đại diện trước pháp luật của Công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà
Nội. Tổ chức triển khai thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị, kế
hoạch kinh doanh do Đại hội đồng cổ đông thông qua. Kiến nghị phương án
bố trí cơ cấu tổ chức và quy chế quản lý nội bộ công ty theo đúng Điều lệ,
Nghị quyết của Đại hội cổ đông và hội đồng quản trị công ty. Giám đốc có
trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng quản trị tình hình hoạt động, tình hình tài
chính, kết quả kinh doanh và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động của công ty
trước Hội đồng quản trị
44
- Phó Giám đốc:
Tham mưu, giúp việc cho Giám đốc trong lĩnh vực: Điều hành hoạt
động các phòng ban chức năng; nghiên cứu mở rộng thị trường, tìm kiếm
khách hàng; quản lý đầu tư dự án và các hoạt động đầu tư hợp tác kinh doanh
- Phòng tài chính- kế toán:
Tham mưu, giúp việc cho Giám đốc về công tác tài chính, kế toán
của Công ty; Phản ánh mọi hoạt động sản xuất dưới dạng giá trị theo đúng qui
định của Nhà nước; Đảm bảo nguồn tài chính cho kinh doanh và đầu tư phát
triển sản xuất; Thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo pháp luật
hiện hành; Chịu trách nhiệm trước Giám đốc về lĩnh vực tài chính và kế toán
của Công ty.
- Phòng Kế hoạch- Tổng hợp:
Là một bộ phận tham mưu của Giám đốc trong việc tổ chức, xây
dựng bộ máy quản lý và công tác quản lý nguồn nhân lực; Tham mưu giúp
Giám đốc trong việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch kinh
doanh, theo dõi và tổng hợp tình hình kinh doanh của công ty; Chịu trách
nhiệm trước Giám đốc về lĩnh vực tổ chức, quản lý nguồn nhân lực của công
ty, kế hoạch và điều hành kinh doanh của công ty; Định hình mô hình, xây
dựng và thường xuyên hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý và đáp ứng yêu cầu
quy hoạch và phát triển kinh doanh của công ty; Xây dựng quy hoạch cán bộ
dài hạn, thực hiện chế độ đào tạo, luân chuyển; Thực hiện theo kế hoạch tổ
chức bộ máy quản lý, quy hoạch cán bộ đã được phê duyệt. Giúp việc cho
Giám đốc về công tác văn phòng và quản trị hành chính, đối nội, đối ngoại.
- Phòng Kinh doanh:
Giúp Giám đốc tổ chức việc bảo quản hàng hoá, vật tư cho kinh doanh, đảm
bảo đúng chất lượng, số lượng, kế hoạch kinh doanh và hiệu quả kinh tế; Đảm
bảo giao hàng đúng chất lượng và số lượng theo kế hoạch kinh doanh cho
45
khách hàng của Công ty; Tổ chức hoạt động kinh doanh keg Bia hơi Hà Nội 2
lít; Chịu trách nhiệm trước Giám đốc về công việc được giao.
Tại thời điểm 31/12/2012, tổng số lao động trong Công ty là 89 người,
trong đó có 38 nữ và 51 nam. Cơ cấu lao động cụ thể như sau:
SỐ LƯỢNG (người) LOẠI LAO ĐỘNG
Đại học và trên đại học 25
Cao đẳng 02
Trung cấp 07
Học vấn 12/12 55
Lao động phổ thông 0
e, Một số sản phẩm chính của công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội
- Bia hơi Hà Nội keg 30 Lít
46
- Bia hơi Hà Nội keg 50
- Bia hơi Hà Nội keg 2Lít
Sản phẩm Bia hơi Hà Nội chiết trong keg 30 lít và 50 lít là sản phẩm
được Tổng công ty cổ phần Bia -Rượu - NGK Hà Nội sản xuất và đóng trong
keg Inox có dung tích loại 30 lít và 50 lít. Trọng lượng cả bì từ 63,5 kg – 65
kg. Trọng lượng tịnh 50 kg +/- 0,5 kg. Bên cạnh việc cung cấp sản phẩm bia
hơi Hà Nội với số lượng lớn và ổn định cho các khách hàng có nhu cầu
thường xuyên, Habeco Trading còn đảm nhận việc cung cấp sản phẩm cho
nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng. Những keg bia hơi nhỏ loại 2lít là
những keg bia được chiết bằng hệ thống thiết bị chiết tự động nhập của nhà
47
sản xuất HUBER – Cộng hoà Liên bang Đức. Dưới sự kiểm tra, giám sát chất
lượng chặt chẽ, cho phép việc cung cấp bia bán lẻ vẫn giữ được chất lượng
cao và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ngoài bia hơi, bia chai và bia lon Hà Nội cũng là các sản phẩm truyền
thống làm nên thương hiệu của công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội.
g, Khái quát về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
Giai đoạn 2010 đến 2012 nền kinh tế trong nước nói chung gặp rất
nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó, lợi nhuận của công ty vẫn duy trì ở mức
ổn định. Tuy nhiên, doanh thu bán hàng của công ty đang có biến động bất lợi
do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Để có cái nhìn thật cụ thể và chi tiết
về tình hình tài chính của công ty giai đoạn 2010 – 2012 cần phải đi sâu phân
tích các biến động để từ đó chỉ ra được những nguyên nhân và đưa ra giải
pháp nhằm nâng cao vị thế tài chính của công ty.
48
2.2. Phân tích thực trạng tình hình tài chính của công ty Cổ phần
Thương mại Bia Hà Nội
2.2.1 Phân tích khái quát các báo cáo tài chính
Để đưa được những nhận định ban đầu về tình hình tài chính của công
ty là tốt hay xấu, khả quan hay không khả quan ta đi vào phân tích khái quát
tình hình tài chính qua các báo cáo tài chính:
2.2.1.1 Phân tích bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài
sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm cụ thể trong quá trình
hoạt động kinh doanh. Báo cáo này bao gồm hai phần là tài sản và nguồn vốn;
phân tích cụ thể như sau:
A. Phân tích cơ cấu tài sản của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội
(2010 -2012)
49
Bảng 2.1: Bảng cân đối kế toán (phần Tài sản) Công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Tăng/giảm
Tăng/giảm 2011
31/12/20
Chỉ tiêu
2012
31/12/2011
31/12/2012
10
%
%
Giá trị
%
Giá trị
%
%
A. Tài sản ngắn hạn
37,94
43,97
46,15
Tiền và khoản tương
24,72 29,25
36,11 39,61
43,21
40,79
11,39
46,08
7,10 19,66
đương tiền
Các khoản phải thu
3,96
4,69
0,83
0,91
0,91
0,86
(3,13)
(79,04)
0,08
9,64
ngắn hạn
Hàng tồn kho
1,59
1,88
1,83
2,01
2,24
0,24
15,09
0,54 29,51
2,37
Tài sản ngắn hạn khác
1,79
2,12
1,31
1,44
2,26
(0,48)
26,82
1,08 82,44
2,39
B. Tài sản dài hạn
62,06
56,03
53,85
Tài sản cố định
31,45 37,21
28,53 31,29
27,37
25,84
(2,92)
(9,28)
(1,16)
(4,07)
Các khoản đầu tư tài
7,50
8,87
7,50
8,23
7,50
7,08
0
0
0
chính dài hạn
Tài sản dài hạn khác
13,50 15,98
15,07 16,51
22,17
20,93
11,63
7,10 47,11
1,57
Tổng Tài sản
84,51
100
91,17
100
105,92
100
7,88
14,75 16,18
6,66
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
50
Nhận xét:
Tổng tài sản của công ty trong giai đoạn 2010 – 2012 có xu hướng tăng
khá mạnh. Năm 2011, tổng tài sản tăng 6,66 tỷ đồng, tương ứng 7,88%. Đến
năm 2012, tổng tài sản tăng thêm 14,75 tỷ đồng, tương ứng 16,18%. Nguyên
nhân là do tiền và khoản tương đương tiền tăng khá mạnh qua các năm. Cụ
thể, năm 2011 tiền và các khoản tương đương tiền của công ty tăng thêm
11,39 tỷ đồng so với năm 2010, tương ứng 46,08%. Năm 2012, lượng tiền và
tương đương tiền của công ty tăng thêm 7,10 tỷ đồng, tương ứng 19.66%. Bên
cạnh đó, tài sản dài hạn khác của công ty tăng cũng khiến cho tổng tài sản của
công ty tăng. Nếu như năm 2011, tài sản khác của công ty tăng 1,57 tỷ đồng
thì đến năm 2012 tài sản khác tăng thêm 7,10 tỷ đồng, tương ứng 47,11%.
Tổng tài sản của công ty trong giai đoạn 2010 – 2012 đã tăng thêm
21,41 tỷ đồng, tương ứng 25,33%. Con số đó nói lên quy mô hoạt động kinh
doanh của công ty đang được mở rộng. Trong bối cảnh nền kinh tế nói chung
gặp nhiều khó khăn, hàng loạt doanh nghiệp phá sản hoặc thu nhỏ quy mô
kinh doanh thì có thể coi đó là tín hiệu tốt. Để có đánh giá sâu sắc về tài sản
công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội cần xem xét cơ cấu và mối tương
quan giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn tại các thời điểm cuối năm 2010,
2011, 2012.
Xét về cơ cầu tài sản, tài sản dài hạn của công ty chiếm tỷ trọng cao
hơn so với tài sản ngắn hạn. Tuy nhiên, tỷ trọng tài sản dài hạn đang có xu
hướng giảm. Năm 2010, tỷ trọng tài sản dài hạn là 62,06%, đến năm 2011 và
2012 tỷ trọng tương ứng là 56,03% và 53,85%. Nguyên nhân là do tài sản cố
định của công ty đang có xu hướng giảm. Năm 2011, tài sản cố định giảm
2,92 tỷ đồng, tương ứng 9,28% ; năm 2012 tài sản cố định giảm 1,16 tỷ đồng,
tương ứng 4,07%. Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng trên là do công ty
chính thức hoạt động từ năm 2007, hầu hết tài sản cố định, máy móc trang
51
thiết bị đều được trang bị mới. Do vậy, trong những năm đầu, giá trị hao mòn
lũy kế của tài sản cố định thường rất nhanh. Bên cạnh đó, tỷ trọng tài sản
ngắn hạn của công ty đang có xu hướng tăng. Nếu như năm 2010, tỷ trọng tài
sản ngắn hạn của công ty chỉ chiếm 37,94% thì đến năm 2011 và 2012 con số
tương ứng lần lượt là 43,97% và 46,15%. Nguyên nhân chính là do tiền và
các khoản tương đương tiền của công ty đang có xu hướng tăng mạnh. Năm
2011, tiền và các khoản tương đương tiền tăng thêm 11,39 tỷ đồng, tương ứng
46,08%; năm 2012 tiền và các khoản tương đương tiền tiếp tục tăng thêm
7,10 tỷ đồng, tương ứng 19,66%. Đây có thể coi là tín hiệu tốt, cho thấy khả
năng thanh toán của công ty đang có xu hướng tăng.
Xem xét kỹ lượng cơ cấu tài sản ngắn hạn nhận thấy, khoản phải thu
của công ty trong giai đoạn 2010 – 2012 đã giảm đáng kể, từ 3,96 tỷ xuống
còn 0,91 tỷ. Điều này nói lên rằng công ty đang quản lý tốt khoản phải thu và
ít bị đối tác chiếm dụng vốn. Tuy nhiên, hàng tồn kho của công ty đang có xu
hướng tăng nhẹ. Nếu như năm 2010, hàng tồn kho của công ty là 1,59 tỷ đồng
thì đến 2012 con số này là 2,37 tỷ đồng. Do mặt hàng chủ đạo của công ty là
bia hơi và bia chai nên xu hướng tăng hàng tồn kho là tín hiệu không tốt. Bởi
lẽ thời hạn sử dụng của những mặt hàng này thường ngắn, nếu để lâu không
tiêu thụ được sẽ dẫn đến tổn thất về doanh thu của công ty.
B. Phân tích cơ cấu nguồn vốn của công ty cổ phần thương mại Bia Hà
Nội (2010 – 2012)
Nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán thể hiện cơ cấu và giá trị của các
nguồn vốn tài trợ cho các tài sản. Trong thực tế, các doanh nghiệp ở các
ngành khác nhau, thậm chí các doanh nghiệp trong cùng một ngành cũng có
cơ cấu vốn cách biệt rất xa, sự cách biệt này, phản ánh một số điều kiện như:
sự dao động của doanh thu, cơ cấu tài sản, thái độ của người cho vay và mức
độ chấp nhận rủi ro của người lãnh đạo.
52
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Bảng 2.2: Bảng cân đối kế toán (phần Nguồn vốn) Công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội
Tăng /giảm 2011 Tăng/giảm 2012
Chỉ tiêu
31/12/2010
31/12/2011
31/12/2012
%
%
%
Giá trị
%
Giá trị
%
Nợ ngắn hạn
17,11
18,19
31,30
29,55
1,08
6,31
13,11
72,07
20,25
19,95
Nợ dài hạn
0,09
0,14
0
0
0,05
55,56
(0,14)
(100)
0,11
0,15
Vốn chủ sở hữu
67,31
72,84
74,62
70,45
5,53
8,22
1,78
2,44
79,65
79,90
TỔNG NGUỒN VỐN
84,51
91,17
105,92
100
6,66
7,88
14,75
16,18
100
100
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
53
Nhận xét:
Tổng nguồn vốn của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội có xu
hướng tăng trong giai đoạn 2010 - 2012. Năm 2011, tổng nguồn vốn của công
ty tăng thêm 6,66 tỷ đồng, tương ứng 7,88%; đến năm 2012 tổng nguồn vốn
tăng thêm 14,75 tỷ đồng, tương ứng 16,18%. Nguyên nhân chính là do năm
2012, nợ ngắn hạn của công ty 72,07 % so với năm 2011. Bên cạnh đó, vốn
chủ sở hữu của công ty năm 2012 tăng thêm 1,78 tỷ, tương ứng 2,44%. Có thể
nói, trong giai đoạn 2010 – 2012, công ty đã mạnh dạn sử dụng vốn vay ngắn
hạn. Ngoài ra, vốn chủ sở hữu tăng là do quỹ đầu tư phát triển của công ty
tăng: năm 2011 quỹ đầu tư phát triển là 23,48 tỷ, đến năm 2012 tăng thêm
5,13 tỷ. Điều này cho thấy công ty đang tập trung cho việc mở rộng thị
trường, phát triển ứng dụng công nghệ.
Xét về cơ cấu tổng thể, vốn chủ sở hữu của công ty luôn chiếm tỷ trọng
rất lớn. Năm 2010 vốn chủ sở hữu chiếm 79,65%, đến năm 2011 và 2012 con
số lần lượt là 79,90 % và 70,45%. Đối với một công ty thương mại như công
ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội, tỷ lệ nói trên có thể nói là khá cao và
tương đối an toàn. Một đặc điểm đáng chú ý trong cơ cấu nguồn vốn của công
ty đó là rất ít sử dụng vốn vay dài hạn. Nợ phải trả chủ yếu của công ty là nợ
ngắn hạn. Nợ ngắn hạn của công ty đang có xu hướng tăng, năm 2011 tăng
6,31%, năm 2012 tăng 72,07 %. Để xem xét tỷ lệ này là an toàn hay mạo
hiểm, cần xem xét mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của công ty.
C. Phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
54
NỢ NH
19,95
TS NH NỢ NH 29,55 %
43,97 % NỢ DH 0,15% TS NH 46,15 %
VỐN CSH VỐN CSH 70,45 % 79,90 % TS DH NỢ DH 53,85 % 56,03 %
31/12/2011 31/12/2012
Nhận xét:
Nhìn vào cơ cấu giữa tài sản và nguồn vốn tại thời điểm 31/12/2011
và 31/12/2012, thấy rằng vố chủ sở hữu không những đủ tài trợ cho toàn bộ
tài sản dài hạn mà còn tài trợ một phần cho tài sản ngắn hạn. Cơ cấu trên có
thể nói là khá an toàn do công ty không phải chịu áp lực trả nợ ngắn hạn.
2.2.1.2. Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Báo cáo thu
nhập)
Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân
tích tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả kinh doanh. Khác
với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển
55
của tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự
tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Như vậy, báo cáo
Kết quả kinh doanh phản ảnh kết quả hoạt động sản xuất-kinh doanh, phản
ảnh tình hình tài chính doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Nó cung
cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng
về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
56
A. Phân tích doanh thu
Bảng 2.3: Phân tích cơ cấu các nguồn thu công ty Cổ phần
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Thương mại Bia Hà Nội
Tăng/giảm
Tăng/giảm 2012
2011
Chỉ tiêu
2010
2011
2012
%
%
%
Giá trị
%
Giá trị
%
Doanh thu thuần về bán
325,25
323,51
389,25
99,00
(1,74)
(0,53)
65,74
20,32
hàng và cung cấp dịch vụ
98,46
98,58
Doanh thu hoạt động tài
3,11
4,58
3,86
0,98
1,47
47,27
(0,72)
(15,72)
chính
0,94
1,39
Thu nhập khác
1,97
0,08
0,06
0,02
(1,89)
(95,94)
(0,02)
(25,00)
0,60
0,03
Tổng Thu nhập
330,33
328,17
393,17
100
(2,16)
(0,65)
65,00
19,81
100
100
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
57
Nhận xét:
Xét trong cả giai đoạn 2010 – 2012 thì tổng thu nhập của công ty tăng
62,84 tỷ đồng, tương đương 19,02 %. Tuy nhiên, năm 2011 ghi nhận sự sụt
giảm về tổng thu nhập. Cụ thể, năm 2011 tổng thu nhập của công ty đã giảm
2,16 tỷ đồng, tương ứng 0,65%. Nguyên nhân là do doanh thu thuần về bán
hàng và cung cấp dịch vụ của công ty năm 2011 đã giảm 0,53%. Bên cạnh đó
thu nhập khác của công ty cũng giảm 1,89 tỷ đồng. Có thể nói, năm 2011 là
năm tương đối khó khăn với công ty trong việc tiêu thụ hàng hóa. Nguyên
nhân là do khó khăn chung của nền kinh tế, người dân thắt chặt chi tiêu nên
sản lượng bán ra của công ty đã bị giảm. Tuy nhiên, đến năm 2012 tình hình
đã được cải thiện đáng kể. Tổng thu nhập của công ty đã tăng them 65 tỷ
đồng, tương ứng 19,81%. Nguyên nhân chính là do doanh thu thuần về bán
hàng và cung cấp dịch vụ của công ty trong năm 2012 đã tăng 20,32%, đạt
mức 389,25 tỷ đồng.
Xét về cơ cấu các nguồn nhập của công ty thì doanh thu thuần về bán
hàng và cung cấp dịch vụ luôn chiếm tỷ trọng trên 98%. Điều này khá hợp lý
bởi đặc thù của công ty là công ty thương mại, hoạt động kinh doanh chủ yếu
là kinh doanh và phân phối bia hơi.
Để đánh giá kĩ hơn về sự biến động của doanh thu thuần của công ty
trong giai đoạn 2010 -2012 cần xem xét mối tương quan giữa doanh thu thuần
và lợi nhuận gộp của công ty.
Bảng 2.4: So sánh lợi nhuận gộp và doanh thu thuần của công ty
ĐVT: Tỷ đồng
cổ phần Thương mại Bia Hà Nội.
Tăng/ giảm
Tăng/ giảm
Chỉ tiêu
Năm 2010
Năm 2011 Năm 2012
2011/2010
2012/2011
(0,53) %
20,32
325,25
323,51
389,25
Doanh thu thuần
14,17%
20,91
Lợi nhuận gộp
43,89
50,11
60,59
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
58
Nhận xét:
Lợi nhuận gộp của công ty có xu hướng tăng trong các năm gần đây.
Năm 2011, lợi nhuận gộp tăng 14,17%; năm 2012 lợi nhuận gộp tăng 20,91%.
Điều đáng nói là trong khi năm 2011, doanh thu thuần của công ty giảm
0,53% thì lợi nhuận gộp của công ty vẫn tăng 14,17%. Nguyên nhân là do
trong năm 2011, giá vốn hàng bán của công ty giảm từ 281,36 tỷ đồng xuống
còn 273,40 tỷ đồng. Mức độ giảm của giá vốn hàng bán lớn hơn rất nhiều so
với mức độ giảm doanh thu thuần chính là nguyên nhân khiến lợi nhuận gộp
của công ty năm 2011 vẫn tăng mặc dụ doanh thu thuần giảm. Đến năm 2012,
tốc độ tăng của doanh thu thuần và lợi nhuận gộp khá đồng đều, đều xấp xỉ
mức 20%. Con số đó phần nào cho thấy tình hình kinh doanh của công ty
đang khá tốt. Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, công ty vẫn
kinh doanh có lãi.
B. Phân tích tình hình chi phí:
Chi phí kinh doanh là một phần tất yếu của bất kì một công ty nào đang
hoạt động để trang trải cho các hoạt động thường nhật. Đối với công ty cổ
phần Bia Hà Nội là doanh nghiệp kinh doanh thương mại thì chi phí quan
trọng đó là giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.
Chúng ta sẽ xem xét kĩ các chi phí này qua bảng sau:
59
ĐVT: Tỷ đồng
Bảng 2.5: Phân tích các loại chi phí của Công ty cổ phẩn Thương mại Bia Hà Nội
Tăng/giảm
Tăng/giảm
%
%
%
2011/2010
2012/2011
Chỉ tiêu
2010
2011
2012
Giá trị
%
Giá trị %
Giá vốn hàng bán 281,36
273,40
328,66
(7,96)
(2,83)
55,26
20,21
90,34
89,44
87,22
Chi phí bán hàng
26,86
29,30
42,68
2,44
9,08
13,38
45,67
8,62
9,58
11,33
Chi phí quản lý
3,23
2,99
5,49
(0,24)
(7,43)
2,50
83,61
1,04
0,98
doanh nghiệp
1,45
Tổng
311,45
305,69
376,83
(6,97)
(2,22)
71,14
23,27
100
100
100
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
60
Nhận xét:
Xét trong cả giai đoạn thì từ năm 2010 đến năm 2012 thì tổng chi phí
của công ty tăng 65,38 tỷ đồng, tương ứng 20,99 %. Tính riêng trong năm
2011, tổng chi phí của công ty giảm 2,22%. Nguyên nhân chủ yếu là do giá
vốn hàng bán của công ty năm 2011 giảm 7,96 tỷ đồng, tương ứng 2,83%.
Đến năm 2012, tổng chi phí của công ty tăng them 71,14 tỷ đồng, tương ứng
23,27%. Nguyên nhân là do giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp trong năm 2012 đều tăng khá mạnh. Xu hướng tăng
mạnh tổng chi phí có thể xem là biểu hiện không tốt, bởi lẽ chúng tác động
đến lợi nhuận của công ty.
Xét về cơ cấu chi phí của công ty, giá vốn hàng bán của công ty luôn
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tổng chi phí nhưng có xu hướng giảm về
tỷ trọng qua các năm: năm 2010 90,34%; năm 2011 89,44%; năm 2012
87,22%. Xét về mặt giá trị, giá vốn hàng bán của công ty trong giai đoạn
2010 – 2012 tăng 47,5 tỷ đồng. Nguyên nhân là do quy mô kinh doanh của
công ty trong giai đoạn này được mở rộng. Mặt khác, yếu tố lạm phát cũng
làm cho giá vốn hàng bán của công ty tăng cao.
Chi phí bán hàng của công ty chiếm tỷ trọng lớn thứ hai sau giá vốn
hàng bán. Nếu như năm 2010, chi phí bán hàng chiếm 8,62 % thì đến năm
2011 và 2012 con số lần lượt là 9,58% và 11,33%. Chi phí bán hàng có xu
hướng tăng qua các năm. Cụ thể, năm 2011 tăng 9,08% ; năm 2011 tiếp tục
tăng 45,67%. Nguyên nhân là do hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty là
sản xuất và phân phối bia nên công tác tiếp thị, quảng cáo, nghiên cứu mở
rộng thị trường luôn được đề cao. Do vậy, chi phí cho các hoạt động bán hàng
tương đối lớn. Mặt khác, trong giai đoạn 2010 – 2012 số lượng nhân viên bộ
phận bán hàng tăng khá lớn khiến áp lực về tiền lương cho bộ phận này cũng
tăng lên.
Chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng lại
có biến động tương đối mạnh. Năm 2012, chi phí quản lý doanh nghiệp tăng
61
2,5 tỷ đồng, tương ứng 83,81%. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí cho bộ phận
quản lý doanh nghiệp như tiền lương cho cán bộ quản lý, mua sắm thiết bị
văn phòng và các chi phí khác cho bộ phận quản lý tăng.
Qua hai bảng tổng thu nhập và tổng chi phí trên ta thấy, tốc độ tăng
tổng thu nhập giai đoạn 2010 - 2012 là 19,02%. Trong khi đó, tốc độ tăng của
chi phí là 20,99. Tuy mức tăng của tổng chi phí lớn hơn đôi chút so với mức
tăng tổng thu nhấp nhưng đó là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp cẩn kiểm soát
các khoản chi một cách chặt chẽ hơn.
Bảng 2.6: So sánh tỷ lệ chi phí và doanh thu thuần của công ty
ĐVT: Tỷ đồng
Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
311,45 305,69 376,83 Tổng chi phí
325,25 323,51 389,25 Doanh thu thuần
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
Tỷ lệ chi phí/DTT (%) 95,76 94,49 96,81
Tỷ lệ chi phí/doanh thu thuần cho biết để tạo ra được một trăm đồng
doanh thu thuần thì công ty phải mất bao nhiêu đồng chi phí. Nếu tỷ lệ này là
100% được hiểu là doanh nghiệp không có lãi do chi phí bỏ ra vừa đúng bằng
doanh thu thuần. Đối với công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội, tỷ lệ chi
phí/doanh thu thuần luôn nhỏ hơn 100%, tuy nhiên luôn ở ngưỡng trên 94%
có thể dự báo lợi nhuận thu về sẽ không cao. Để tìm hiểu kỹ hơn, cần phân
tích chi tiết về lợi nhuận của công ty.
C. Phân tích về lợi nhuận:
Lợi nhuận là vấn đề quan trọng nhất của doanh nghiệp. Dựa vào lợi
nhuận trong nhiều năm mà người ta đánh giá được tình hình hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
62
Bảng 2.7: Tình hình lợi nhuận của công ty Cổ phần Thương mại
ĐVT: Tỷ đồng
Bia Hà Nội
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chỉ tiêu
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp 43,89 50,11 60,59 dịch vụ
16,91 22,41 42,68 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
1,97 0,76 0,49 Lợi nhuận khác
18,88 22,48 16,77 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh 14,29 15,90 12,55 nghiệp
Nhận xét:
Trong khi lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty
có mức tăng khá ổn định thì lợi nhuận sau thuế thu nhập của doanh nghiệp có
nhiều biến động bất thường. Năm 2011, lợi nhuận gộp về bán hàng và cung
cấp dịch vụ của công ty tăng 14,17%, trong khi đó lợi nhuận sau thuế thu
nhập doanh nghiệp tăng 11,27%. Mức tăng trưởng này là tương đối tốt bởi lẽ
giai đoạn này nền kinh tế tồn tại nhiều khó khăn. Đến năm 2012, trong khi lợi
nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng 20,91% thì lợi
nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp lại giảm 21,06%. Đây là con số nghịch
lý, nguyên nhân như đã phân tích ở trên là do chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp của công ty năm 2012 tăng khá bất thường. Điều đó cho
thấy công tác kiểm soát chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của
công ty đang không tốt, dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao.
2.2.1.3 Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo trình bày tình hình số dư tiền đầu
kỳ, các dòng tiền thu vào, chi ra và số dư tiền cuối kỳ của công ty. Báo cáo
63
lưu chuyển tiền tệ giúp phản ánh bổ sung tình hình tài chính công ty mà bảng
cân đối kế toán và báo cáo thu nhập chưa phản ánh hết được. Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ có tác dụng rất quan trọng trong việc phân tích, đánh giá khả
năng tạo ra tiền, khả năng đầu tư, thanh toán, tiềm lực thực sự của công ty
trong xu hướng phát triển, mở rộng hay đi xuống, thấy được năng lực quản lý
dòng tiền của công ty.
64
A. Phân tích chung:
Bảng 2.8: Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo tình hình thu chi của công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội
Năm 2011 Năm 2012
ĐVT: Tỷ đồng Chênh lệch 2012/2011
Chỉ tiêu
Giá trị Giá trị Tuyệt đối Tương đối % Tỷ trọng % Tỷ trọng %
24,68 9,92 84,35 55,51 31,97 88,66 18,96 65,45 7,29 9,04 29,54 91,13
chuyển 14,76 13,01 (1,75) (11,86)
4,58 0,77 15,65 4,31 4,09 2,45 11,34 8,45 (0,49) 1,68 (10,70) 218,18
chuyển 3,81 1,64 (2,17) (56,96)
0 7,18 0 41,18 0 7,56 0 26,10 0 0,38 0 5,29
chuyển (0,38) (5,29) (7,18) (7,56)
11,39 7,09 (4,30) (37,75)
24,72 36,11 11,39 46,08
36,11 43,21 7,10 19,66
29,26 36,06 6,80 23,24
11,10 28,97 I. Hoạt động sản xuất kinh doanh 1.Thu 2. Chi 3. Lưu thuần từ HĐKD II. Hoạt động đầu tư 1.Thu 2. Chi 3.Lưu thuần từ HĐĐT III. Hoạt động tài chính 1.Thu 2. Chi 3.Lưu thuần từ HĐTC IV. Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ V. Tiền tồn đầu kỳ VI. Tiền tồn cuối kỳ Tổng dòng tiền vào Tổng dòng tiền ra 17,87 62,12 Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
Nhận xét:
65
Năm 2012, tổng dòng tiền vào của công ty tăng thêm 6,8 tỷ đồng,
tương ứng 23,24%. Bên cạnh đó, tổng dòng tiền ra tăng thêm 11,1 tỷ đồng,
tương ứng 62,12%. Có thể thấy, tốc độ tăng của tổng dòng tiền ra cao hơn tốc
độ tăng của tổng dòng tiền vào là một dấu hiệu không mấy khả quan. Nguyên
nhân chính là do biến động của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh. Hoạt động
kinh doanh là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu của công ty. Năm 2012,
trong khi dòng tiền thu về từ hoạt động kinh doanh chỉ tăng 29,54% thì dòng
tiền chi ra cho hoạt động kinh doanh tăng 91,13%.
Để tìm hiểu nguyên nhân cụ thể của sự biến động này và nhận xét đúng
hơn tình hình các hoạt động của doanh nghiệp cần phân tích tình hình lưu
chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh.
Bảng 2.9: Phân tích tình hình lưu chuyển tiền từ hoạt động
kinh doanh của công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Tăng (giảm) 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Tuyệt đối Tương đối
21,60 16,71 (4,89) (22,64)
3,08 (0,23) (0,78) (1,04) (1,60) (0,55) 15,26 (7,09)
(5,34) (7,24)
0 0
(2,53) (2,53)
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
14,76 13,01 (1,75) (11,86) I. Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh 1. Tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và kinh doanh 2. Tăng, giảm khoản phải thu 3. Tăng, giảm hàng tồn kho 4. Tăng giảm các khoản phải trả 5. Tăng giảm chi phí trả trước 6. Thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp 7. Tiền thu khác từ họat động kinh doanh 8. Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh Lưu chuyển tiền thuần từ họat động kinh doanh
66
Lưu chuyển tiền thuần giảm là điều không tốt đối với doanh nghiệp.
Lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty đã giảm 11,86% trong
năm 2012. Nguyên nhân chủ yếu là do dòng tiền thu về từ hoạt động cung cấp
dịch vụ và kinh doanh của công ty năm 2012 bị sụt giảm 22,64%.
2.2.2. Phân tích chỉ số tài chính
Để có sự so sánh và cái nhìn khách quan về nhóm chỉ số tài chính. Ta
so sánh các nhóm chỉ số tài chính của công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà
Nội với hai công ty hoạt động cùng ngành khác: Công ty Cổ phần Bia Hà
Nội- Hải Dương (Bia Hải Dương) và Công ty Cổ phần Bia Hà Nội- Hải
Phòng (Bia Hải Phòng)
A. Khả năng sinh lời
Đối với doanh nghiệp mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Lợi nhuận là
một chỉ tiêu tài chính tổng hợp phản ảnh hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu
tư, kinh doanh, tiêu thụ và những giải pháp kỹ thuật, quản lý kinh tế tại doanh
nghiệp. Để nhận thức đúng đắn về lợi nhuận thì không phải chỉ quan tâm đến
tổng mức lợi nhuận mà cần phải đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với vốn, tài
sản, nguồn lực kinh tế tài chính mà doanh nghiệp đã sử dụng để tạo ra lợi
nhuận trong từng phạm vi, trách nhiệm cụ thể. Điều đó được thể hiện cụ thể
qua những chỉ tiêu tài chính sau:
67
Bảng 2.10: Phân tích các chỉ số khả năng sinh lời của công ty cổ phần
ĐVT: Tỷ đồng
Thương mại Bia Hà Nội
Năm Năm Năm
Chỉ tiêu 2011 2012 2010
1. Doanh thu thuần 325,25 323,51 389,25
2. Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) 18,88 22,48 16,77
3. Lợi nhuận sau thuế 15,90 12,55 14,29
4. Tổng tài sản bình quân 87,84 98,55 84,43
5. Vốn chủ sở hữu bình quân 70,08 73,73 65,29
6. Lợi nhuận biên ROS (3/1) 4,39% 4,91% 3,22%
7. Sức sinh lợi cơ sở ( BEP) (2/4) 22,36% 25,59% 17,02%
8. Sức sinh lợi tài sản (ROA) (3/4) 16,93% 18,10% 12,73%
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
9. Sức sinh lợi vốn góp ( ROE) (3/5) 21,89% 22,69% 17,02%
Nhận xét:
Nhìn vào bảng tính trên ta thấy tất cả các chỉ số trên đều dương, có thể
coi đó là dấu hiệu tốt. Tuy nhiên, dễ nhận thấy là năm 2012 các chỉ tiêu ROS,
BEP, ROA, ROE của công ty đều giảm. Để có cái nhìn toàn diện hơn, cần so
sánh các chỉ tiêu đó với các công ty trong cùng nhóm ngành.
Lợi nhuận biên (ROS):
Chỉ số này cho biết trong một trăm đồng doanh thu có bao nhiêu đồng
lãi cho chủ sở hữu, nó được các cổ đông đại chúng rất quan tâm vì phản ánh
quyền lợi của chính họ.
68
Bảng 2.11: Bảng so sánh chỉ tiêu ROS của công ty Bia Hà Nội với các
công ty trong cùng nhóm ngành
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Bia Hà Nội 4,39% 4,91% 3,22%
Lợi nhuận biên ROS Bia Hải Dương 10,13 11,51 10,29
Nguồn: http://finance.vietstock.vn/
Bia Hải Phòng 10,47 10,44 8,92
Nhận xét:
Bia Hải Dương và Bia Hải Phòng là hai công ty có nhiều điểm tương
đồng với công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội. Hai công ty trên đều là
công ty con của Tổng công ty Bia Rượu Nước giải Khát Hà Nội, thị trường
chủ yếu là khu vực phía bắc. Hai công ty trên có mô hình hoạt động và quy
mô khá giống công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội. Tuy nhiên, ROS của
công ty Cổ phần thương mại Bia Hà Nội như vậy là quá thấp so với các công
ty trong cùng nhóm ngành. ROS của công ty năm 2011 tăng không đáng kể,
0,52%. Đến năm 2012, ROS giảm của công ty giảm, còn 3,22%. Nguyên
nhân là do lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2012 đã giảm 3,35 tỷ đồng,
tương ứng 21%. Một nguyên nhân quan trọng khác là do công ty ít mạnh dạn
sử dụng vốn vay và do đó không được khấu trừ thuế do lãi vay. Như đã phân
tích phần cơ cấu nguồn vốn ở trên, vốn vay của công ty (bao gồm cả nợ dài
hạn và ngắn hạn) chỉ chiếm tỷ trọng chưa đến 20% tổng cơ cấu vốn.
Như vậy so với các công ty cùng ngành thì lợi nhuận biên của công ty
đang ở mức rất thấp.
Sức sinh lợi cơ sở (BEP)
Ngoài chủ sở hữu, các chủ thể liên quan đến doanh nghiệp còn bao
gồm: chủ nợ, nhà nước, cổ đông, người lao động và các chủ nguồn lực khác.
Chỉ số ROS nêu trên không phản ánh rõ rệt quyền lợi của các chủ thể này.
BEP cho biết một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo được bao nhiêu
đồng lãi cho toàn xã hội, vì vậy chúng được tất cả các bên hữu quan cùng
69
quan tâm. Lợi thế của chỉ số này là cho phép so sánh khả năng sinh lợi đối với
xã hội của các doanh nghiệp có cơ cấu vốn khác nhau và thuế thu nhập khác
nhau.
Bảng 2.12: Bảng so sánh chỉ tiêu BEP của công ty Bia Hà Nội với
các công ty trong cùng nhóm ngành
Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2010 2011 2012
Nguồn: http://finance.vietstock.vn/
Bia Hà Nội 22,36% 25,59% 17,02% Sức sinh lợi cơ sở Bia Hải Dương 24,53% 31,20 23,52 ( BEP) Bia Hải Phòng 14,07% 15,84% 13,23%
Nhận xét:
Sự biến động của sức sinh lợi cơ sở của công ty cổ phần thương mại
Bia Hà Nội có xu hướng khá tương đồng so với các công ty cùng ngành. Năm
2011, cả ba công ty đều có BEP tăng, trong đó công ty bia Hải Dương có mức
tăng mạnh nhất, 6,67%, tiếp đến là công ty bia Hà Nội, 3,23%. Đến năm
2012, BEP của 3 công ty đều giảm, riêng công ty bia Hà Nội giảm 8,57%.
Nguyên nhân là do trong khi lợi nhuận sau thuế và lãi vay của công ty bia Hà
Nội năm 2012 đã giảm 25,40% thì tổng tài sản bình quân của công ty lại tăng
12,19%.
Sức sinh lợi tài sản-ROA
ROA được tính bằng cách chia lợi nhuận sau thuế cho tổng tài sản bình
quân, vì vậy có thể coi đây là một phần của chỉ số BEP. Điểm khác biệt là chỉ
số này cho biết một trăm đồng vốn đầu tư vào công ty tạo được bao nhiêu
đồng lãi cho chủ sở hữu.
70
Bảng 2.13: Bảng so sánh chỉ tiêu ROA của công ty Bia Hà Nội với
các công ty cùng nhóm ngành
Năm Năm Chỉ tiêu Năm 2010 2011 2012
Nguồn: http://finance.vietstock.vn/
Bia Hà Nội 16,93% 18,10% 12,73% Sức sinh lợi tài sản Bia Hải Dương 21,09% 23,39% 15,41% (ROA) Bia Hải Phòng 12,83% 11,88% 9,92%
Nhận xét:
ROA của công ty Cổ phần thương mại Bia Hà Nội năm 2009 l cao hơn
các công ty cùng ngành và trung bình ngành. Đến năm 2010, R0A đã giảm
mạnh và thấp hơn mức trung bình ngành. Nguyên nhân là do lợi nhuận sau
thuế của công ty đã giảm 21,78%, tương đương 3,98 tỷ đồng, trong khi đó
tổng tài sản bình quân biến động không đáng kể. Đến năm 2011, ROA của
công ty lại có mức tăng khá đáng kế so với trung bình ngành, Nguyên nhân là
do, tốc độ tăng lợi nhuận của công ty nhanh hơn so với tốc độ tăng tổng tài
sản.
Sức sinh lợi vốn chủ sở hữu ROE
Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn đầu tư vào vốn chủ sở hữu tại
công ty có thể góp phần tạo ra bao nhiêu đồng lãi cho chính chủ sở hữu. Lợi
thế của chỉ số này là nó phản ánh trực tiếp mức độ sinh lợi mà các chủ sở hữu
được hưởng trong kỳ. Vì vậy, đây là chỉ số tài chính quan trọng nhất và thiết
thực nhất đối với chủ sở hữu.
71
Bảng 2.14: Bảng so sánh chỉ tiêu ROE của công ty Bia Hà Nội với
các công ty trong cùng nhóm ngành
Chỉ tiêu
Nguồn: http://finance.vietstock.vn/
Sức sinh lợi vốn góp (ROE) Bia Hà Nội Bia Hải Dương Bia Hải Phòng Năm 2010 21,89% 29,11% 20,46% Năm 2011 22,69% 28,44% 16,80% Năm 2012 17,02% 23,21% 13,03%
Nhận xét:
Năm 2011, trong khi công ty bia Hải Dương và công ty Bia Hải Phòng
đều có ROE giảm thì ROE của công ty bia Hà Nội tăng nhẹ, khoảng 0,8%.
Nguyên nhân là do năm 2011, lợi nhuận sau thuế của công ty tăng 11,27% so
với năm 2010, trong khi đó vốn chủ sở hữu bình quân chỉ tăng 7,37%. Năm
2012, cả 3 công ty đều có mức giảm ROE khá lớn, trong đó công ty bia Hà
Nội có mức giảm 5,67%. Nguyên nhân là do năm 2012 trong khi vốn chủ sở
hữu bình quân của công ty tăng them 5,20% thì lợi nhuận sau thuế của công
ty lại giảm 21,07%.
Kết luận, các chỉ tiêu BEP, ROA, ROE của công ty cổ phần thương
mại Bia Hà Nội cao hơn công ty bia Hải Phòng nhưng lại thấp hơn công ty
bia Hải Dương. Năm 2012 ghi dấu sự suy giảm các chỉ tiêu BEP, ROA,
ROE của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội. Ngoài nguyên nhân
khách quan là do nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn, công tác quản lý
của công ty cũng bộc lộ nhiều vấn đề cần sớm khắc phục.
B. Phân tích khả năng quản lý tài sản:
Nhóm chỉ số này cho biết mức độ hiệu quả của công ty trong việc sử
dụng các tài sản của mình, tức là đánh giá hiệu suất, cường độ sử dụng (mức
độ quay vòng) và sức sản xuất của tài sản trong năm. Nói cách khác, các chỉ
số này trả lời câu hỏi: Một đồng tài sản của doanh nghiệp có thể góp phần tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu.
72
Bảng 2.15: Phân tích các chỉ số về khả năng quản lý tài sản
ĐVT: Tỷ đồng
công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội
Năm
Năm
Năm
Chỉ tiêu
Đơn vị
2010
2011
2012
1. Doanh thu thuần
Tỷ đồng
325,25
323,51
389,25
2. Hàng tồn kho bình quân
Tỷ đồng
1,07
1,71
2,09
3. Phải thu bình quân
Tỷ đồng
2,81
2,40
0,87
4. Tài sản ngắn hạn bình quân
Tỷ đồng
32,99
36,07
44,48
5. Tài sản cố định bình quân
Tỷ đồng
35,59
29,99
27,95
6. Tổng tài sản bình quân
Tỷ đồng
84,43
87,84
98,55
7. Vòng quay hàng tồn kho (1/2)
189
186
304
8. Kì thu nợ bán chịu [(3)*360/(1)]
Ngày
2,67
0,80
3,11
9. Sức sản xuất tài sản cố định (1/5)
10,79
13,93
9,14
10. Sức sản xuất tài sản ngắn hạn
9,86
9,02
8,75
(1/4)
11. Sức sản xuất tổng tài sản (1/6)
3,85
3,68
3,95
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
Nhận xét:
Vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay hàng tồn kho cho biết một đồng vốn mà công ty đầu tư vào
hàng tồn kho trong năm góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Hàng tồn
kho là một khoản rất quan trọng đối với một công ty kinh doanh thương mại.
Nó cho biết được hiện tượng bán được hàng hay không, ảnh hưởng trực tiếp
đến doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh. Vòng quay hàng tồn
kho của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội có xu hướng giảm mạnh qua
các năm. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của hàng tồn kho trong giai đoạn
2010 – 2012 cao hơn tốc độ tăng doanh thu. Cụ thể, giai đoạn 2010 – 2012
hàng tồn kho của công ty tăng 95,53%, trong khi đó doanh thu thuần của công
73
ty chỉ tăng thêm 19,68%. Mặc dù hàng tồn kho của công ty chiếm tỷ trọng rất
nhỏ so với doanh thu, nhưng việc gia tăng lượng hàng tồn kho trong những
năm gần đây cũng cần được chú ý.
Kì thu nợ bán chịu
Kì thu nợ bán chịu phản ánh mức độ bán chịu của doanh nghiệp, về bản
chất đây chính là phần doanh thu chưa thu hồi được tính theo ngày. Kỳ thu nợ
bán chịu công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội đang có xu hướng giảm, từ
3,11 ngày năm 2010 xuống còn 0,8 ngày năm 2012. Nguyên nhân là do kỳ
thu nợ bán chịu của công ty giai đoạn 2010 – 2012 đã giảm 69,04%. Qua số
liệu trên có thể thấy rằng, công ty đang quản lý khoản phải thu khá tốt, ít bị
chiếm dụng vốn.
Sức sản xuất tài sản cố định
Đây là chỉ số đo lường mức độ hiệu quả của việc công ty sử dụng tài
sản cố định của mình. Sức sản xuất tài sản cố định của công ty Cổ phần
Thương mại Bia Hà Nội có xu hướng tăng trong giai đoạn 2010 – 2012.
Nguyên nhân là do tài sản cố định bình quân của công ty giảm 21,47%. Điều
đó cho thấy, tài sản cố định của công ty đang được tận dụng đầy đủ, không bị
nhàn rỗi.
Sức sản xuất tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền, khoản phải trả và hàng tồn kho nên rõ
ràng đối với công ty chỉ số tài chính này có một tầm quan trọng đặc biệt. Nó
phản ánh hầu như trọn vẹn tất cả các mặt quản lý tài chính ngắn hạn của công
ty. Trong giai đoạn 2010 – 2012, sức sản xuất tài sản ngắn hạn của công ty có
xu hướng giảm. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn bình
quân trong giai đoạn 2010 – 2012 cao hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần.
Cụ thể, tài sản ngắn hạn bình quân của công ty tăng 34,83%, trong khi doanh
thu thuần của công ty tăng 19,68%. Sức sản xuất tài sản ngắn hạn của công ty
khá tốt, cho thấy tài sản ngắn hạn của công ty được tận dụng đầy đủ, không bị
74
nhàn rỗi và không bị giam giữ trong các khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh.
Sức sản xuất tổng tài sản
Sức sản xuất tổng tài sản được thiết lập để đánh giá tổng hợp khả năng
quản lý tài sản của công ty bao gồm cả tài sản cố định và tài sản ngắn hạn.
Sức sản xuất của tổng tài sản chịu ảnh hưởng của sức sản xuất tài sản cố định
và sức sản xuất tài sản ngắn hạn. Bởi vậy sự thay đổi của các sức sản xuất này
dẫn đến sự thay đổi của sức sản xuất tổng tài sản. Sức sản xuất tổng tài sản
công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội tăng từ 3,85 vòng năm 2010 lên 3,95
vòng năm 2012. Nguyên nhân là do tổng tài sản bình quân của công ty trong
giai đoạn 2010 – 2012 tăng 16,72%. Điều đó cho thấy các tài sản của công ty
có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ. Đây là cơ sở để công ty có lợi
nhuận cao.
B. Phân tích khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là khả năng bảo đảm trả được các khoản nợ đến
hạn bất cứ lúc nào. Khả năng thanh toán của một công ty là kết quả của sự
cân bằng giữa các luồng thu và chi của công ty đó tại một thời điểm cụ thể.
Khả năng thanh toán là điều hết sức quan trọng đối với bất kỳ công ty nào.
Đây là chỉ số mà nhà đầu tư và các nhà tín dụng rất quan tâm. Nó ảnh hưởng
đến quyết định có nên cho công ty vay hay không, hay có nên đầu tư vào
công ty hay không. Bởi vậy mà chỉ số này cần được quan tâm.
Để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi chúng đến
hạn thanh toán, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
75
Bảng 2.16: Phân tích các chỉ số về khả năng thanh toán của
Đơn vị tính: Tỷ đồng
công ty cổ phần Thương mại Bia Hà Nội
31/12/201 31/12/201 Chỉ tiêu 31/12/2010 1 2
1. Tiền 4,72 10,73 5,73
2. Hàng tồn kho 1,59 1,82 2,37
3. Tài sản ngắn hạn 32,06 40,08 48,88
4. Nợ ngắn hạn 17,12 18,19 31,30
5. Tổng tài sản 84,51 91,17 105,92
6. Nợ phải trả 17,21 18,33 31,30
1,87 2,20 1,56 7. Khả năng thanh toán hiện hành (3/4)
1,78 2,10 1,49 8. Khả năng thanh toán nhanh [(3-2)/4]
0,28 0,59 0,18 9. Khả năng thanh toán tức thời (1/4)
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
10. Khả năng thanh toán tổng quát 4,91 4,97 3,38 (5/6)
Nhận xét:
Khả năng thanh toán hiện hành
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành cho biết mối đồng nợ ngắn hạn có
thể được “che chở” bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn
thường bao gồm tiền, khoản phải thu và hàng tồn kho. Trong khi đó, nợ ngắn
hạn bao gồm khoản phải trả, vay ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn và nợ định kỳ.
Từ số liệu trên bảng ta thấy: khả năng thanh toán hiện hành của 3 năm
2010 - 2012 đều lớn hơn 1, có thể coi đó là ngưỡng an toàn. Xét trong cả giai
đoạn 2010 – 2012, khả năng thanh toán hiện hành của công ty đang có xu
hướng giảm. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của nợ ngắn hạn (82,83%) cao
hơn tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn (52,46%).
76
Khả năng thanh toán nhanh
Trong toàn bộ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, khả năng chuyển hoá
thành tiền của các bộ phận là khác nhau. Khả năng chuyển hoá thành tiền của
hàng tồn kho được coi là kém nhất. Ngoài ra, hàng tồn kho khi được sử dụng
cho sản xuất và bán, chứ không phải trả nợ sẽ mang lại giá trị lớn hơn. Do
vậy, để đánh giá khả năng thanh toán một cách khắt khe hơn, có thể sử dụng
hệ số khả năng thanh toán nhanh.
Giai đoạn 2010 - 2012 khả năng thanh toán nhanh của công ty đều lớn
hơn 1 và có thể coi là mức an toàn. Nguyên nhân là do hàng tồn kho của công
ty chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Tuy nhiên, hàng tồn kho của công ty trong cả giai
đoạn 2010 – 2012 đã tăng 49,06%. Do vậy, khả năng thanh toán nhanh của
công ty đang có xu hướng giảm.
Khả năng thanh toán tức thời
Để đánh giá một cách chặt chẽ nhất khả năng thanh toán ngắn hạn
người ta sử dụng chỉ số khả năng thanh toán tức thời. Bởi vì, việc trả nợ phải
thực hiện trên cơ sở tiền tệ nên đây là dấu hiệu tốt nhất để đánh giá tính thanh
khoản của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại. Giai đoạn 2010 – 2012, khả
năng thanh toán của công ty giảm. Nguyên nhân là do lượng tiền chỉ tăng
21,40%, trong khi đó nợ ngắn hạn của công ty tăng 82,83%. Có thể thấy đây
là biểu hiện không tốt, nhất là trong năm 2012, lượng tiền của công ty giảm
46,60% gây ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thanh toán nhanh của công ty.
Khả năng thanh toán tổng quát
Chỉ số này cho biết một đồng nợ của công ty được che chở bởi bao
nhiêu đồng tài sản các loại mà công ty sở hữu. Khả năng thanh toán tổng quát
của công ty trong giai đoạn 2010 đến 2012 giảm từ 4,91 xuông 3,38. Nguyên
nhân là do trong giai đoạn này, tổng tài sản của công ty chỉ tăng thêm
25,30%, trong khi đo tổng nợ của công ty lại tăng đến 81,87%.
Qua việc phân tích nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán của công ty
cổ phần Bia Hà Nội cho thấy, tất cả các chỉ tiêu của nhóm này đều có xu
77
hướng giảm. Riêng khả năng thanh toán nhanh của công ty đang giảm
xuống mức rất thấp, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
D. Phân tích khả năng quản lý nợ
Chỉ số nợ
Chỉ số nợ được định nghĩa như là tỷ số giữa tổng nợ so với tổng tài
sản. Chỉ số này cho biết mức độ doanh nghiệp sử dụng vốn vay để tài trợ cho
các tài sản của mình, tức là phản ánh mức độ doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy
tài trợ.
Bảng 2.17: Phân tích chỉ số nợ của công ty cổ phần Thương mại
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Bia Hà Nội
Chỉ tiêu 31/12/2010 31/12/2011 31/12/2012
1. Tổng nợ 17,21 18,33 31,30
2. Tổng tài sản 84,51 91,17 105,92
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
3. Chỉ số nợ (1/2) 0,20 0,20 0,30
Nhận xét:
Chỉ số nợ của công ty trong giai đoạn 2010 – 2012 đã tăng từ 0,2 lên
0,3. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của tổng nợ (81%) cao hơn tốc độ tăng
của tài sản (25%). Nhìn chung, chỉ số nợ của công ty có thể coi là khà tấp.
Chỉ số nợ thấp chứng tỏ công ty ít mạnh dạn sử dụng nhiều vốn vay trong cơ
cấu vốn. Như đã phân tích trong phần cơ cấu nguồn vốn của công ty, nợ phải
trả của công ty (bao gồm nợ ngắn hạn và dài hạn) các năm chiếm tỷ lệ lần
lượt là: 20,36%, 20,11%, 29,55%. Một đặc điểm đáng lưu ý của công ty trong
cơ cấu nguồn vốn đó là nợ phải trả của công ty chủ yếu là nợ ngắn hạn, nợ dài
hạn chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Chính sách huy động vốn của công ty khiến cho
chỉ số nợ có thể coi là ngưỡng an toàn. Tuy nhiên, nó cũng phản ánh sự thiếu
mạnh dạn sử dụng vốn vay của công ty, do đó có thể đánh mất cơ hội gia tăng
lợi nhuận.
78
Khả năng thanh toán lãi vay
Khả năng thanh toán lãi vay cho biết một đồng lãi vay đến hạn được
che chở bởi bao nhiêu đồng lợi nhuận trước lãi vay và thuế. Hệ số khả năng
thanh toán lãi vay cho biết khả năng đảm bảo chi trả lãi nợ vay của doanh
nghiệp. Đồng thời chỉ tiêu tài chính này cũng chỉ ra khả năng tài chính mà
doanh nghiệp tạo ra để trang trải cho chi phí vay vốn trong sản xuất kinh
doanh.
Bảng 2.18: Phân tích khả năng thanh toán lãi vay của công ty cổ phần
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Thương mại Bia Hà Nội
Chỉ tiêu
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
1. Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
18,88
22,48
16,77
0
0
0
2. Lãi vay
3. Khả năng thanh toán lãi vay (1/2)
-
-
-
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
Nhận xét:
Khác với các công ty cùng ngành, công ty cổ phần Thương mại Bia Hà
Nội trong giai đoạn 2010 - 2012 không sử dụng vốn vay do đó không phải
chịu áp lực trả lãi vay.
Có thể thấy rằng, khả năng quản lý nợ của công ty cổ phần Thương
mại Bia Hà Nội hiện nay khá tốt. Chỉ số nợ khá an toàn, không phải chịu
áp lực trả lãi vay.
2.2.3. Phân tích tổng hợp tài chính
A. Phân tích đẳng thức Du-Pont 1:
Bảng 2.19: Bảng phân tích đẳng thức Du-Pont 1
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
1. Lợi nhuận biên-ROS 4,39% 4,91% 3,22%
2. Sức sản xuất tổng tài sản 3,85 3,68 3,95
3. Sức sinh lợi tài sản-ROA 16,93% 18,10% 12,73%
79
Khi phân tích ROA theo lợi nhuận biên và tổng tài sản để thấy rõ sự
ảnh hưởng của từng nhân tố ta áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn:
Lợi nhuận sau thuế Sức sinh lợi = tài sản (ROA) Tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Sức sinh lợi = x tài sản(ROA) Doanh thu Tổng tài sản
Sức sinh lợi = ROS x SSXTTS tài sản(ROA)
= 4,39 % x 3,85 = 16,90 % ROA 2010
=
4,91 % x 3,68 = 18,07% ROA 2011
ROA 2012 = 3,22% x 3,95 = 12,73%
-5,34% => ROA(2012-2011) =
Ta đặt ROA0= ROA2011 = 18,07 %
ROA1= ROA2012 = 12,73 %
Thực hiện thế lần 1: ROAa= 3,22% x 3,68= 11,85%
Thực hiện thế lần 2: ROAb= ROA1= 3,22% x 3,95 = 12,73%
Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố như sau:
Lợi nhuận biên: ROAa= ROAa – ROA0= 11,85% - 18,07% = -6,22%
Sức sản xuất tổng tài sản: ROAb= ROA1 – ROAa= 12,73% - 11,85% =
0,88%
Từ đây ta thấy trong hai nhân tố thì sức sản xuất tổng tài sản
làm cho tỷ suất sinh lợi tài sản tăng nhiều hơn, lợi nhuận biên làm giảm
tỷ suất sinh lợi tài sản. Do đó, nếu chúng ta muốn tăng tỷ suất sinh lợi tài
sản thì nên tác động vào sức sản xuất tổng tài sản bằng cách phấn đấu
tăng sản lượng bán ra nhằm cải thiện doanh thu.
B. Phân tích đẳng thức Du-Pont 2
80
Bảng 2.20: Bảng phân tích đẳng thức Du-Pont 2
Ký
Năm
Chỉ tiêu
Năm 2011 Năm 2012
hiệu
2010
1. Tỷ suất sinh lợi vốn chủ sở hữu
ROE
21,89%
22,69%
17,02%
2. Tỷ suất sinh lợi tài sản
ROA
16,93%
18,10%
12,73%
3. TTS bình quân/ VCSH bình quân
1,29
1,25
1,35
Khi phân tích ROE theo tỷ suất sinh lợi tài sản và TTS bình quân/
VCSH bình quân để thấy rõ sự ảnh hưởng của từng nhân tố ta áp dụng
phương pháp thay thế liên hoàn:
Tỷ suất sinh lợi Lãi ròng
vốn chủ sở hữu = VCSH bình quân
(ROE)
Lãi ròng TTS bình quân
(ROE) = X TTS bình VCSH bình
quân quân
TTS bình quân/ VCSH bình (ROE) = ROA x quân
= 18,10 % x 1,25 = 22,63 % ROE 2011
= 12,73 % x 1,35 = 17,02 % ROE 2012
-5,61 % => ROE(2012-2011) =
Ta đặt ROE0= ROE2011 = 22,63 %
ROE1= ROE2012 = 17,02 %
Thực hiện thế lần 1: ROEa= 12,73% x 1,25= 15,91 %
Thực hiện thế lần 2: ROEb= ROE1= 12,73% x 1,35 = 17,02 %
Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố như sau:
81
Tỷ suất sinh lời tài sản: ROEa= ROEa – ROE0= 15,91% - 22,63% = -6,72%
TTS bình quân/ VCSH bình quân: ROEb= ROE1 – ROEa= 17,02% -
15,91% = 1,11 %
Từ đây ta thấy trong hai nhân tố thì tỷ suất sinh lời tài sản làm
ROE giảm nhiều. Do đó, nếu chúng ta muốn tăng tỷ suất sinh lời vốn chủ
sở hữu ROE thì nên tác động làm tăng ROA bằng cách tiết kiệm chi phí
nhằm tăng lãi ròng.
C. Phân tích đẳng thức Du-Pont 3
Bảng 2.21: Bảng phân tích đẳng thức Du-Pont 3
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
1. Lợi nhuận biên (ROS) 4,39% 4,91% 3,22%
2. Sức sản xuất tổng tài sản 3,85 3,68 3,95
3. Tỷ số TTS bq/ VCSH bq 1,29 1,25 1,35
4. Sức sinh lợi vốn chủ sở 21,89% 22,69% 17,02% hữu (ROE)
Tương tự như trên ta cũng dùng phương pháp thay thế liên hoàn để
nhận ra sự ảnh hưởng của từng nhân tố như sau:
Lãi ròng Doanh thu TTS bq ROE = X X Doanh thu TTS bq VCSH bq
TTS bq ROE = ROS X VQTTS x VCSH bq
ROE 2011 = 4,91% x 3,68 x 1,25 = 22,69 %
ROE 2012 = 3,22% x 3,95 x 1,35 = 17,02 %
-5,67% => ROE(2012-2011) = 17,02% - 22,69% =
Ta đặt ROE0= ROE2011= 22,69%
ROE1= ROE2012= 17,02%
Thực hiện thế lần 1: ROEa= 3,22% x 3,68 x 1,25 = 14,81%
Thực hiện thế lần 2: ROEb= 3,22% x 3,95 x 1,25 = 15,90%
82
Thực hiện thế lần 3: ROEc= ROE1= 3,22% x 3,95 x 1,35= 17,02%
Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố như sau:
Lợi nhuận biên: ROEa= ROEa – ROE0= 14,81% - 22,69% = -7,88%
Sức sản xuất tổng tài sản: ROEb= ROEb – ROEa= 15,90% - 14,81% =
1,09%
Tỷ số TTS/VCSH: ROEc= ROEc – ROEb= 17,02% - 15,90% = 1,12%
Như vậy ta thấy trong ba nhân tố tạo nên sự thay đổi của tỷ suất
sinh lời vốn chủ sở hữu thì sức sản xuất tổng tài sản làm cho ROE tăng
1,09%, tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu làm tăng 1,12% trong khi
đó lợi nhuận biên làm ROE giảm7,88%. Từ đây ta thấy nếu muốn tăng
ROE thì chúng ta nên ưu tiên tác động làm tăng lợi nhuận biên.
Chúng ta sẽ khái quát hoá mối quan hệ và sự ảnh hưởng của từng nhân
tố đến Sức sinh lợi vốn chủ sở hữu qua sơ đồ Du-Pont sau:
83
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ Du-Pont năm 2011 | 2012 công ty cổ phần
ROE = 22,69 | 17,02%
ROA = 18,10 | 12,73%
(*)
TTS bq/VCCSH bq = 1,25 | 1,35
ROS= 4,91%| 3,22%
(*)
SSXTTS = 3,68 | 3,95
/
/
DTT= 323,51| 389,25
Lãi ròng= 15,90| 12,55
DTT= 323,51| 389,25
TTS: 91,17 | 105,92
Thương mại Bia Hà Nội năm 2011 - 2012
Nhìn vào sơ đồ chúng ta thấy rõ mối quan hệ giữa các chỉ số và từ đây
ta thấy được nguyên nhân của sự biến động của các chỉ số. Khi tìm hiểu
nguyên nhân tăng hay giảm của chỉ số ROE ta đi từ trên xuống thấy ROE
chịu ảnh hưởng thay đổi của hai nhân tố là ROA và tỷ số TTS/VCSH. Đi tiếp
thì ta thấy sự thay đổi của ROA lại chịu ảnh hưởng của ROS và sức sản xuất
tổng tài sản. Đi tiếp thì sự thay đổi của ROS lại chịu ảnh hưởng của lợi nhuận
sau thuế và doanh thu thuần, sức sản xuất tổng tài sản chịu ảnh hưởng của
doanh thu thuần và tổng tài sản.
Như vậy nhìn vào sơ đồ Du-Pont năm 2011 và năm 2012 ta thấy chỉ số
ROE giảm là do tỷ lệ giảm ROA lớn hơn tỷ lệ tăng TTS bq/VCCSH bq: ROA
giảm từ 18,10% xuống 12,73% còn tỷ số TTS/VCSH tăng từ 1,25 lên 1,35.
Còn sự sụt giảm của ROA là do mức độ giảm ROS lớn hơn mức tăng
SSXTTS: ROS giảm từ 4,91% xuống 3,22%, SSXTTS tăng từ 3,68 lên 3,95.
ROS giảm là do lãi ròng tăng từ 15,19 tỷ xuông 12,55 tỷ.
84
2.3. Đánh giá tổng quát tình hình tài chính của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội.
Để có đánh giá tổng quát tình hình tài chính của công ty cổ phần
thương mại Bia Hà Nội, cần xem xét bảng tổng hợp các chỉ số, chỉ tiêu tài
chính cơ bản của công ty trong giai đoạn từ 2010 – 2012.
Bảng 2.22: Bảng tổng hợp các chỉ số cơ bản của công ty cổ phần
Thương mại Bia Hà Nội năm 2011 - 2012
Biến động Đánh giá Chỉ tiêu/ chỉ số Đơn vị tính (tăng/ giảm) chung
Tổng tài sản (Tổng nguồn vốn) Tỷ đồng +21,41 Tốt lên
Sức sản xuất tổng tài sản +1,10 Tốt lên
Tỷ đồng +62,84 Tổng thu nhập Tốt lên
Tỷ đồng +65,38 Tổng chi phí Xấu đi
Lợi nhuận sau thuế Thu nhập Tỷ đồng - 1,74 Xấu đi doanh nghiệp
Lợi nhuận biên ROS Xấu đi -1,17 %
Sức sinh lợi cơ sở ( BEP) Xấu đi -5,34 %
Sức sinh lợi tài sản (ROA) Xấu đi -4,20 %
Sức sinh lợi vốn CSH (ROE) Xấu đi -4,87 %
Khả năng thanh toán tổng quát Xấu đi -1,53 %
Chỉ số nợ Xấu đi +0,1 %
85
Qua bảng 2.22, rút ra được một số điểm nổi bật về tình hình tài chính
của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội như sau:
* Ưu điểm:
- Tổng tài sản và tổng nguồn vốn của công ty tăng, chứng tỏ quy mô
sản xuất của công ty đang được mở rộng.
- Cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn của công ty tương đối ổn định và khá an
toàn. Vốn chủ sở hữu của công ty không những đủ tài trợ cho tài sản dài hạn
mà còn tài trợ một phần cho tài sản ngắn hạn.
- Sức sản xuất tổng tài sản (bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài
hạn) của công ty có xu hướng tăng cho thấy chất lượng tài sản của công ty
cao, được tận dụng đầy đủ trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Nhóm chỉ số về khả năng thanh toán (khả năng thanh toán hiện hành,
khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời, khả năng thanh toán
tổng quát) tuy đang có dấu hiệu giảm nhẹ nhưng so với các công ty cùng
ngành thì các chỉ số này vẫn đang ở ngưỡng an toàn.
- Chỉ số nợ của công ty được kiểm soát tốt, công ty không phải chịu áp
lực trả lãi vay ngân hàng.
* Nhược điểm:
- Doanh thu tăng nhưng lợi nhuận sau thuế của công ty lại giảm. Điều
đó cho thấy công tác kiểm soát chi phí của công ty không tốt.
- Nhóm chỉ số về về khả năng sinh lời của công ty (bao gồm ROA,
ROE, ROS, và BEP) đang có xu hướng hướng giảm, đặc biệt ROS đang ở
mức rất thấp so với các đối thủ cạnh tranh.
- Hàng tồn kho có xu hướng tăng. Do đặc trưng của mặt hàng bia hơi,
bia chai thường có thời hạn sử dụng ngắn nên việc gia tăng hàng tồn kho cũng
ảnh hưởng không tốt tới kết quả kinh doanh của công ty.
86
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Căn cứ vào báo cáo tài chính của công ty cổ phần Thương mại Bia Hà
Nội, tác giả đã phân tích khái quát tình hình tài chính của công ty để có cái
nhìn tổng quát về tài chính của công ty giai đoạn 2010 – 2012. Bên cạnh đó,
tác giả tập trung phân tích nhóm chỉ tiêu liên quan đến hiệu quả tài chính và
phân tích rủi ro tài chính của công ty. Tác giả cũng đã phân tích tổng hợp
tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua các đẳng thức Dupont, từ đó
nêu lên mối liên hệ giữa các nhóm chỉ tiêu. Ngoài việc tính toán các chỉ tiêu
thuộc hai nhóm trên, tác giả đã so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong
ngành để có những nhận xét khách quan về tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Trên cơ sở phân tích đó, tác giả đã chỉ ra những ưu điểm cũng như
nhược điểm hiện nay của công ty. Đó cũng là căn cứ để tác giả đưa ra những
giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty trong chương 3.
87
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI BIA HÀ NỘI
3.1. Căn cứ của việc đề xuất các biện pháp
3.1.1. Đánh giá chung về tình hình tài chính công ty
Những kết quả đạt được:
- Thực tế cho thấy rằng công ty là một trong số những doanh nghiệp
đã đáp ứng nhanh với nền kinh tế thị trường, đảm bảo sản xuất và kinh doanh
có lãi.
- Tổng nguồn vốn của công ty không ngừng tăng lên, cùng với sự phát
triển về vốn và quy mô thì công ty ngày càng có được uy tín trên thị trường và
được nhiều bạn hàng tín nhiệm.
- Công ty có khả năng tự chủ về mặt tài chính và độ an toàn về tài
chính rất cao, điều này thể hiện ở cơ cấu tài sản và nguồn vốn. Nguồn vốn chủ
sở hữu chiếm chủ yếu trong tổng nguồn vốn.
- Năm 2012, sản phẩm Bia hơi Hà Nội keg 2lít tiếp tục góp phần đưa
giá trị Bia hơi Hà Nội lên tầm cao mới, đã thâm nhập được vào các nhà hàng
cao cấp với phân khúc thị trường cao hơn.
- Bên cạnh việc tiếp tục củng cố và bảo vệ thị trường Bia hơi Hà Nội
truyền thống, công ty luôn quan tâm đến việc tìm kiếm và phát triển thêm
ngày càng nhiều điểm bán hàng mới Bia hơi Hà nội, cố gắng chiếm lĩnh thị
phần tại Hà Nội, dần xoá bỏ các điểm bán bia cỏ, bia giả trên thị trường.
- Năm 2012, việc kinh doanh cho thuê tại hệ thống nhà kho và nhà điều
hành tại Trung tâm thương mại Habeco Trading 33 tại khu công nghiệp
Thạch Thất, Hà Nội đã góp phần tăng thêm doanh thu và lợi nhuận cho công
ty.
- Việc đầu tư góp vốn tại công ty liên kết: Công ty cổ phần Thương mại
Bia Hà Nội Hưng Yên 89 mang lại một phần lợi nhuận về cho công ty với tỉ
lệ cổ tức chi trả 12%/năm. (tổng số vốn góp là 7,5 tỉ đồng chiếm 25% vốn đầu
tư chủ sở hữu)
88
Những tồn tại:
- Quy mô hoạt động tăng thể hiện ở việc tăng tổng tài sản cũng như
nguồn vốn, doanh thu tăng nhưng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
giảm.
- Tài sản và nguồn vốn chủ sở hữu tăng trong khi đó khả năng sinh lời
giảm, cụ thể là ROS, ROA, ROE giảm. Điều này sẽ không tốt cho công ty.
- Công tác kiểm soát chi phí chưa thực sự tốt, dẫn đến lợi nhuận sau
thuế thu nhập doanh nghiệp giảm.
3.1.2. Định hướng phát triển của công ty thời gian tới
- Tiếp tục nâng cao hiệu quả kinh doanh, phát huy năng lực hiện có,
chủ động đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, thực hiện các giải pháp để giảm chi
phí vận chuyển lưu thông hàng hoá, thực hành tiết kiệm.
- Mở rộng, phát triển thị trường và hệ thống bán hàng tại khu vực Hà
Nội và các tỉnh lân cận. Tập trung phát triển đội ngũ nhân viên thị trường và
chăm sóc khách hàng, đảm bảo độ phủ kín của sản phẩm, đáp ứng yêu cầu
của thị trường, đặc biệt tại khu vực Hà Nội.
- Nâng cao khả năng cạnh tranh, nghiên cứu triển khai, đa dạng hoá
một số mặt hàng kinh doanh, phù hợp với nhu cầu thị trường.
- Tìm kiếm thị trường mới, phát triển mạnh hơn ở các tỉnh thành lân
cận Hà Nội.
- Xây dựng sổ tay thương hiệu Habeco Trading.
- Củng cố và phát triển tiêu thụ thông qua hệ thống Địa chỉ Vàng, đẩy
mạnh thực hiện 10 giải pháp bảo vệ và phát triển thương hiệu nhà phân phối
Bia hơi Hà Nội một cách chủ động, linh hoạt trong từng thời điểm, cho từng
thị trường.
- Tổ chức Ngày hội Bia hơi Hà Nội hàng năm, kết hợp kỉ niệm 05 năm
thành lập công ty.
- Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả vốn lưu động để vừa bảo
toàn vốn vừa đẩy mạnh kinh doanh
89
- Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy của Công ty; giải quyết tốt công
tác sắp xếp lao động và thực hiện phương án đào tạo nhân sự đáp ứng yêu cầu
phát triển của Công ty
3.2. Một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính Công ty Cổ phần
Thương mại Bia Hà Nội
3.2.1: Giải pháp 01: Kiểm soát chặt chẽ chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp.
a, Cơ sở đề ra giải pháp
Giai đoạn 2010 – 2012 ghi nhận sự biến động bất thường giữa doanh
thu và chi phí bán hàng, chi phí quản lý của công ty cổ phần thương mại Bia
Hà Nội. Cụ thể như sau:
Bảng 3.1: So sánh sự biến động giữa doanh thu thuần và chi phí bán
hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp của Công ty cổ phẩn Thương mại
ĐVT: Tỷ đồng
Bia Hà Nội
Tăng/giảm
Tăng/giảm
Chỉ tiêu
2011
2012
2010
2011
2012
Giá trị
%
Giá trị
%
Doanh thu thuần
325,24
323,51 389,25
(1,73)
(0,53)
65,74
20,32
Chi phí bán hàng 26,86
29,30
42,68
2,44
9,08
13,38
45,67
Chi phí quản lý
3,23
2,99
5,49
(0,24)
(7,43)
2,50
83,61
doanh nghiệp
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
Thông thường, sự biến động của doanh thu thuần và chi phí bán hàng,
chi phí quản lý doanh nghiệp tuân theo quy luật đồng biến. Tốc độ tăng giảm
của doanh thu thuần tương ứng với tốc độ tăng giảm của chi phí bán hàng, chi
phí quản lý doanh nghiệp là hợp lý. Năm 2011, trong khi doanh thu thuần
giảm 0,53% thì chi phí bán hàng lại tăng thêm 9,08%. Đây là điều bất hợp lý,
90
cho thấy công tác kiểm soát chi phí bán hàng chưa tốt. Đến năm 2012, trong
khi doanh thu thuần tăng 20,32% thì chi phí bán hàng tăng 45,67% và chi phí
quản lý doanh nghiệp tăng 83,61%. Sự gia tăng bất hợp lý của chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là nguyên nhân dẫn đến lợi nhuận sau
thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty trong năm 2012 giảm.
Để tìm hiểu nguyên nhân sâu xa sự biến động bất thường của chi phí
bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cần xem xét chi tiết các chi phí cấu
thành nên chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Bảng 3.2: Bảng phân bổ chi phí bán hàng của Công ty cổ phần
Thương mại Bia Hà Nội
ĐVT: Tỷ đồng
Tăng/giảm
Tăng/giảm
Chỉ tiêu
2011
2012
2010
2011
2012
Giá trị
%
Giá trị %
Chi phí nhân viên
1,86
2,23
4,84
0,37
19,89
2,61
117,04
BH
Chi phí vật
1,57
1,87
2,13
0,30
19,10
0,26
13,90
liệu,bao bì
Chi phí dụng cụ,
2,09
2,40
2,65
0,31
14,83
0,25
10,41
đồ dung
Chi phí bằng tiền
21,34
22,80 33,06 1,46
6,84
10,26
45,00
khác
26,86
29,30 42,68 2,44
9,08
13,38
45,67
Tổng
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
Qua bảng phân bổ chi phí bán hàng, nhận thấy chi phí bán hàng tăng là
do sự gia tăng của chi phí bằng tiền khác. Chi phí bằng tiền khác là các chi
phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí giới thiệu sản phẩm, quảng cáo,
chi phí hội nghị khách hàng. Năm 2011, trong khi doanh thu giảm 0,53% thì
chi phí bằng tiền khác lại tăng 6,84%. Đến năm 2012, doanh thu tăng 20,32%
thì chi phí bằng tiền khác lại tăng 45%. Điều đó cho thấy công tác quản lý chi
91
phí bằng tiền khác của công ty chưa tốt. Các hoạt động quảng cáo, hội nghị
khách hàng không đem lại lợi ích như kỳ vọng, gây lãng phí. Bên cạnh đó,
một điểm bất thường cần lưu ý là chi phí nhân viên bán hàng. Chi phí nhân
viên bán hàng là các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng như tiền lương,
tiền ăn ca, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn… Năm
2012, chi phí cho nhân viên bán hàng tăng 117,04%, cao hơn rất nhiều so với
tốc độ tăng của doanh thu.
Bảng 3.3: Bảng phân bổ chi phí quản lý doanh nghiệp của Công ty cổ
ĐVT: Tỷ đồng
phần Thương mại Bia Hà Nội
Tăng/giảm Tăng/giảm Chỉ tiêu 2011 2012 2010 2011 2012
Giá trị % Giá trị %
Chi phí cán bộ 0,73 0,92 1,89 0,19 26,03 0,97 105,43 quản lý
Chi phí đồ dung 0,26 0,38 0,59 0,12 46,15 0,21 55,26 văn phòng
Chi phí dự phòng 0,50 0,59 0,98 0,09 50,00 0,39 66,10
Chi phí bằng tiền 1,74 1,10 2,03 (0,64) (36,78) 0,93 84,55 khác
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
3,23 2,99 5,49 (0,24) (7,43) 2,50 83,61 Tổng
Chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty cổ phần Thương mại Bia Hà
Nội năm 2012 tăng 83,61% do hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, chi phí cán
bộ quản lý tăng đột biến 105,43%. Đây là các khoản phải trả cho cán bộ quản
lý như tiền lương, các khoản phụ cấp, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn. Thứ
hai, chi phí bằng tiền khác tăng 84,55%. Đây là các khoản chi cho cán bộ
quản lý tiếp khách, đi công tác, tiền tàu xe…
92
Qua bảng phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp,
thấy rằng chi phí nhân viên bán hàng, chi phí cán bộ quản lý và chi phí bằng
tiền khác đều tăng một cách bất hợp lý. Do vậy, biện pháp đưa ra là phải kiểm
soát chặt chẽ các chi phí nói trên.
b, Nội dung thực hiện
Để kiểm soát chặt chẽ chi phí bán hàng, chi phí quản lý nên áp dụng
hình thức khoán chi phí. Cụ thể, áp dụng mức khoán sao cho tốc độ gia tăng
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp không vượt quá tốc độ gia
tăng của doanh thu thuần.
Năm 2012, tốc độ tăng của doanh thu thuần là 20,32%. Nếu khoán mức
tăng 20,32% đối với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, dự
kiến số tiền tiết kiệm được sẽ là:
+ Chi phí bán hàng
- Chi phí nhân viên bán hàng: 2,23 + 2,23 x 20,32% = 2,68 tỷ đồng
Dự kiến số tiền tiết kiệm được từ chi phí nhân viên bán hàng: 4,84 –
2,68 = 2,16 tỷ đồng.
- Chi phí bằng tiền khác: 22,80 + 22,80 x 20,32% = 27,43 tỷ đồng
Dự kiến số tiền tiết kiệm từ chi phí bằng tiền khác: 30,06 – 27,43 =
2,63 tỷ đồng.
Tổng chi phí bán hàng dự kiến giảm được 2,16 + 2,63 = 4,79 tỷ đồng.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp
- Chi phí cán bộ quản lý: 0,92 + 0,92 x 20,32% = 1,11 tỷ đồng
Dự kiến số tiền tiết kiệm được từ chi phí cán bộ quản lý: 1,89 – 1,11 =
0,78 tỷ đồng.
- Chi phí bằng tiền khác: 1,10 + 1,10 x 20,32% = 1,32 tỷ đồng
Dự kiến số tiền tiết kiệm được từ chi phí bằng tiền khác: 2,03 – 1,32 =
0,71 tỷ đồng.
Tổng chi phí quản lý doanh nghiệp dự kiến giảm được: 0,78 + 0,71
= 1,49 tỷ đồng.
93
Như vậy, tổng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp dự
kiến sẽ tiết giảm được nếu thực hiện giải pháp này là 1,49 + 4,79 = 6,28 tỷ
đồng.
Để thực hiện giải pháp này, công ty cần cân đối các khoản chi cho
nhân viên và cán bộ quản lý dựa trên doanh thu. Bên cạnh đó, công ty cần
xem xét lại các chương trình quảng cáo, hội nghị khách hàng để cắt giảm
những chương trình không thực sự mang lại hiệu quả, gây lãng phí. Cán bộ
quản lý của công ty cũng nên hạn chế các chuyến công tác không thực sự cần
thiết.
94
c, Kết quả dự kiến khi thực hiện giải pháp 1
Bảng 3.4: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sau khi
Đơn vị tính: Tỷ đồng
thực hiện giải pháp 1
Năm 2012
So sánh
Trước
Sau giải
Tuyệt
Tương
Chỉ tiêu
giải pháp
pháp
đối
đối (%)
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ
389,25
389,25
0
0
2. Các khoản giảm trừ doanh thu
0
0
0
0
3. Doanh thu thuần về BH và CCDV
(1-2)
389,25
389,25
0
0
4. Giá vốn hàng bán
328,66
328,66
0
0
5. Lợi nhuận gộp về BH và CCDV
60,59
60,59
0
0
6. Doanh thu hoạt động tài chính
3,86
3,86
0
0
7. Chi phí tài chính
0
0
0
0
Trong đó: chi phí lãi vay
0
0
0
0
8. Chi phí bán hàng
42,68
37,89
(4,79)
(11,22)
9. Chi phí quản lý doanh nghiệp
5,49
4,00
(1,49)
(27,14)
38,57
10. Lợi nhuận thuần từ HĐKD
16,28
22,56
6,28
11. Thu nhập khác
0,62
0,62
0
0
12. Chi phí khác
0,13
0,13
0
0
13. Lợi nhuận khác
0,49
0,49
0
0
14. Lợi nhuận kế toán trước thuế
(10+13)
16,77
23,05
6,28
37,45
15. Chi phí thuế TNDN hiện hành
4,22
5,80
16. Lợi nhuận sau thuế TNDN
15,55
17,25
1,70
10,93
Như vậy, bằng việc kiểm soát chặt chẽ chi phí bán hàng và chi phí quản
lý doanh nghiệp, công ty dự kiến tiết kiệm được 6,28 tỷ đồng chi phí bán
95
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Việc này tác động rất tích cực tới lợi
nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty. Dự kiến, lợi nhuận sau
thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội sẽ
tăng thêm 1,70 tỷ đồng, tương đương 10,93%.
Bảng 3.5: Một số chỉ tiêu cơ bản sau khi thực hiện giải pháp 1
Năm 2012
So sánh
Chỉ tiêu
Trước giải pháp Sau giải pháp
Tương đối
3,22%
4,43%
ROS
1,21%
12,73%
17,50%
ROA
4,77%
17,02%
23,40%
ROE
6,38%
Nhận thấy, sau khi thực hiện giải pháp 1, các chỉ tiêu cơ bản ROS,
ROA, ROE đều tăng, riêng ROE có mức tăng cao nhất, 6,38%.
3.2.2: Giải pháp 02: Giảm lượng hàng hóa tồn kho bằng cách điều
chỉnh chính sách bán hàng.
a, Cơ sở đề ra giải pháp
Hàng tồn kho của công ty có xu hướng tăng trong giai đoạn năm 2010
– 2012. Tuy hàng tồn kho chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu tài sản ngắn
hạn của công ty nhưng xu hướng tăng lượng hàng tồn kho là một dấu hiệu
đáng được quan tâm. Lượng hàng hóa tồn kho nếu không kịp thời tiêu thụ sẽ
dẫn tới tình trạng công ty mất đi một khoản doanh thu. Đây cũng chính là một
trong những nguyên nhân khiến nhóm chỉ số về về khả năng sinh lời của công
ty (bao gồm ROA, ROE, ROS, và BEP) đang có xu hướng hướng giảm, đặc
biệt ROS đang ở mức rất thấp so với các đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó,
hàng tồn kho tăng cũng là nguyên nhân khiến khả năng thanh toán nhanh của
công ty giảm, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Chi tiết biến động hàng tồn kho của công ty cổ phần thương mại Bia
Hà Nội được thể hiện qua bảng dưới đây.
96
Bảng 3.6: Tình hình hàng tồn kho của Công ty cổ phần
ĐVT: Tỷ đồng
Thương mại Bia Hà Nội
Tăng/giảm Tăng/giảm
2011 2012 Chỉ tiêu 2010 2011 2012
Giá trị % Giá trị %
Công cụ dụng cụ 0,54 0,45 0,14 (0,09) (16,67) (0,31) (68,88)
Hàng hóa 1,05 1,37 2,23 0,32 30,48 0,86 62,77
Tổng 1,59 1,82 2,37 0,23 14,47 0,55 30,22
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
Năm 2011, lượng hàng tồn kho của công ty tăng 14,47%. Đến năm
2012, lượng hàng tồn kho tiếp tục tăng thêm 30,22%. Nguyên nhân là do
hàng hóa không tiêu thụ được tăng. Năm 2011, lượng bia không tiêu thụ được
tăng 30,48%, đến năm 2012 lượng bia còn tồn đọng tăng 62,77%. Do bia hơi
và bia chai là các mặt hàng có thời gian sử dụng tương đối ngắn, thế nên việc
giải quyết hàng tồn kho của công ty là rất cấp thiết.
Bảng 3.7: Tác động của hàng tồn kho đối với khả năng thanh toán nhanh
Đơn vị tính: Tỷ đồng
của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội
Chỉ tiêu 31/12/2010 31/12/2011 31/12/2012
1. Hàng tồn kho 1,59 1,82 2,37
2. Tài sản ngắn hạn 32,06 40,08 48,88
3. Nợ ngắn hạn 17,12 18,19 31,30
Nguồn: BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
4. Khả năng thanh toán nhanh 1,78 2,10 1,49 [(2-1)/3]
Năm 2012, khả năng thanh toán nhanh của công ty cổ phần thương mại
Bia Hà Nội giảm khá mạnh, từ 2,10 xuống 1,49. Một trong những nguyên
97
nhân khiến khả năng thanh toán nhanh của công ty giảm đó là lượng hàng tồn
kho của công ty năm 2012 tăng thêm 30,22%.
Từ các căn cứ nói trên, yêu cầu cấp thiết đưa ra với công ty lúc này là
giảm lượng hàng tồn kho nhằm tăng doanh thu, tăng khả năng thanh toán
nhanh của công ty.
b, Nội dung thực hiện
Để có giải pháp cụ thể giảm lượng hàng hóa tồn kho cần ước lượng
lượng hàng hóa tồn kho vào thời điểm cuối năm 2012. Căn cứ vào thuyết
minh báo cáo tài chính của công ty cổ phần thương mại bia Hà Nội, ta có
bảng sau:
Bảng 3.8: Phân bổ hàng hóa tồn kho theo sản phẩm của công ty cổ phần
Đơn vị tính: Tỷ đồng
thương mại Bia Hà Nội năm 2012
Sản phầm 31/12/2012 Tỷ lệ (%)
Bia hơi 0,45 20%
Bia lon 0,78 35%
Bia chai 1,00 45%
Nguồn: Thuyết minh BCTC Công ty Cổ phần Thương Mại Bia Hà Nội
Tổng 2,23 100
Theo bảng 3.6, tỷ lệ hàng hóa tồn kho của công ty cao nhất là mặt hàng
bia chai và bia lon. Nguyên nhân một phần là do chính sách cược vỏ áp dụng
với các đại lý khá chặt chẽ. Bên cạnh đó, bia chai và bia lon Hà Nội đang chịu
sự cạnh tranh rất gay gắt với các thương hiệu bia nổi tiếng trên thế giới đang
có mặt tại Việt Nam như Heineken, Carlsberg, Tiger...
Từ bảng 3.6, căn cứ vào mức giá phổ biến trên thị trường trung bình
năm 2012, ước lượng hàng hóa tồn kho của công ty cổ phần thương mại Bia
Hà Nội như sau:
98
Bảng 3.9: Ước lượng hàng hóa tồn kho của công ty cổ phần thương mại
Bia Hà Nội năm 2012
Giá trung bình Số lượng hàng Sản phầm Đơn vị tính (đồng) hóa tồn kho
Bia hơi lít 7.000 64.000 lít
Bia lon thùng 115.000 6.700 thùng
Bia chai thùng 135.00 7.400 thùng
Theo số liệu thống kê của Hiệp hội ngành nghề Bia – Rượu – Nước giải
khát thì nhu cầu của thị trường bia vào các tháng cuối năm thường tăng
khoảng 60 -70%. Do vậy, công ty nên tranh thủ dịp này để đẩy mạnh việc tiêu
thụ sản phẩm bằng các chương trình khuyến mại, giảm giá... Việc này được
thực hiện qua các kênh phân phối của công ty. Kênh phân phối hiện nay của
công ty được mô tả khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 3.1: Kênh phân phối sản phẩm của công ty cổ phần thương mại
Bia Hà Nội
Đại lý các cấp
Sản phầm của công ty Người diêu dùng cuối cùng
Các cửa hàng giới thiệu sản phẩm
Công ty đã sử dụng phương thức tiêu thụ hỗn hợp. Một mặt, công ty
bán sản phẩm cho các khách hàng lớn, thường xuyên (các hộ kinh doanh cá
thể làm đại lý). Mặt khác, mở các quán bia cho người tiêu dùng với tính chất
giới thiệu sản phẩm. Công ty hiện nay bán chủ yếu cho các hộ kinh doanh đã
ký hợp đồng thường xuyên để họ cung cấp tới người tiêu dùng cuối cùng. Các
đại lý, cửa hàng giới thiệu sản phẩm phải cam kết bán đúng sản phẩm của
công ty và được công ty hỗ trợ về mặt lắp đặt biển hiệu quảng cáo.
Theo như dự báo nhu cầu của thị trường bia vào dịp cuối năm, công ty
nên chủ động giải phóng sản phẩm tồn kho bằng cách giảm giá bán. Giả sử
99
công ty áp dụng mức giảm giá 10% với kỳ vọng giảm được 50% lượng hàng
hóa tồn kho thì doanh thu dự kiến thu về ước đạt:
= [7.000 x 32.000 (lít bia hơi) + 115.000 x 3.350 (thùng bia lon) +
135.000 x 3.700 (thùng bia chai)] x 90% = 998 triệu đồng.
Từ đây ta có, các khoản giảm trừ doanh thu là:
= [7.000 x 32.000 (lít bia hơi) + 115.000 x 3.350 (thùng bia lon) +
135.000 x 3.700 (thùng bia chai)] x 10% = 111 triệu đồng.
Bảng 3.10: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sau khi thực hiện
Đơn vị tính: Tỷ đồng
giải pháp 2
Năm 2012
So sánh
Trước
Sau giải
Tuyệt
Tương
Chỉ tiêu
giải pháp
pháp
đối
đối (%)
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ
389,25
390,25
1
0,26
2. Các khoản giảm trừ doanh thu
0
0,11
0,11
3. Doanh thu thuần về BH và CCDV
(1-2)
0,23
389,25
390,13
0,89
4. Giá vốn hàng bán
0,26
328,66
329,51
0,85
5. Lợi nhuận gộp về BH và CCDV
0,05
60,59
60,62
0,03
6. Doanh thu hoạt động tài chính
0
3,86
3,86
0
7. Chi phí tài chính
0
0
0
0
Trong đó: chi phí lãi vay
0
0
0
0
8. Chi phí bán hàng
37,89
(4,79)
(11,22)
42,68
9. Chi phí quản lý doanh nghiệp
4,00
(1,49)
(27,14)
5,49
10. Lợi nhuận thuần từ HĐKD
22,59
6,31
38,76
16,28
11. Thu nhập khác
0
0,62
0
0,62
12. Chi phí khác
0
0,13
0
0,13
13. Lợi nhuận khác
0
0,49
0
0,49
14. Lợi nhuận kế toán trước thuế
16,77
(10+13)
23,08
6,31
37,63
4,22
15. Chi phí thuế TNDN hiện hành
5,81
15,55
16. Lợi nhuận sau thuế TNDN
17,27
1,72
11,06
100
Như vậy, với kỳ vọng giảm 50% sản phẩm tồn kho bằng việc giảm
10% giá bán, kết hợp với kết quả dự kiến của giải pháp 1, lợi nhuận sau thuế
thu nhập doanh nghiệp của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội đã tăng
thêm 1,72 tỷ đồng, tương ứng 11,06%.
Bảng 3.11: Một số chỉ tiêu cơ bản sau khi thực hiện đồng bộ 2 giải pháp
Năm 2012
So sánh
Chỉ tiêu
Trước giải pháp Sau giải pháp
Tương đối
ROS
3,22%
4,29%
1,07%
12,73%
17,88%
ROA
5,15%
17,02%
23,94%
ROE
6,82%
Như vậy, sau khi thực hiện đồng bộ 2 giải pháp trên, về cơ bản đã khắc
phục được các hạn chế còn tồn tại của công ty cổ phần thương mại Bia Hà
Nội. Thứ nhất, nhờ kiểm soát chặt chẽ chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty đã tăng
thêm 1,70 tỷ đồng. Thứ hai, bằng cách giảm giá hàng hóa tồn kho, công ty dự
kiến thu về thêm khoảng 1 tỷ đồng. Kết hợp cả hai giải pháp dẫn đến kết quả
là lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty tăng thêm 1,72 tỷ
đồng. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu cơ bản là ROA, ROE, ROS của công ty đã
được cải thiện đáng kể.
Tuy nhiên, cả hai giải pháp nêu trên đều có những nhược điểm. Nếu
như giải pháp 1 đòi hỏi nhà quản trị phải đối diện với vấn đề kiểm soát chi
phí, đây là vấn đề khá khó thì giải pháp 2 lại phụ thuộc vào nhu cầu thị
trường, nhu cầu thị trường lại bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan. Bên
cạnh hai giải pháp trên, cần một số giải pháp phụ trợ nhằm cải thiện tình hình
tài chính của công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội.
101
3.2.3. Một số giải pháp bổ trợ
- Tiếp tục nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát huy năng lực
hiện có, chủ động đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm lợi thế trên
thị trường. Đồng thời, thực hiện tốt tất cả các khâu trong quá trình sản xuất,
kinh doanh.
- Đối với công tác thị trường: Xây dựng các chính sách bán hàng và
hỗ trợ khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng kinh doanh;
hoàn thiện hệ thống Địa Chỉ Vàng để khách hàng yên tâm tiêu dùng sản
phẩm, tập trung cho công tác xây dựng hình ảnh thương hiệu và giới thiệu
sản phẩm đến tay người tiêu dùng, đặc biệt là các sản phẩm mới.
- Chú trọng khâu quản lý chất lượng, rà soát toàn bộ quy trình vệ sinh
an toàn thực phẩm, vận hành thiết bị để đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng cho
sản phẩm. Triển khai mô hình kiểm soát chất lượng sau bán hàng trên thị
trường đến tận tay người tiêu dùng. Ngoài ra, thiết lập đường dây nóng tiếp
nhận các thông tin khiếu nại về chất lượng kết hợp với việc khảo sát chất
lượng trực tiếp trên thị trường.
- Mở rộng thị trường ngoại tỉnh, thành lập một số kho trung chuyển
tại các tỉnh lân cận như Thường Tín Phú Xuyên, Vĩnh Yên, Nam Định..,
đảm bảo cung ứng đủ hàng cho khách hàng ngoại tỉnh kể vào các thời điểm
cao điểm.
- Bên cạnh cơ chế quản lý vỏ keg chặt chẽ, công ty tiếp tục áp dụng cơ
chế cho cược vỏ keg một cách rộng rãi, linh hoạt, khách hàng muốn cược bao
nhiêu cũng có, và ngược lại, khi không muốn đọng tiền cược tại công ty,
khách hàng có thể trả lại vỏ cho công ty và rút tiền cược ra tại bất cứ thời
điểm nào trong năm...
- Dự kiến mở rộng việc tiêu thụ thêm sản phẩm bia hơi sản xuất tại
Công ty liên kết với Tổng công ty Habeco.
102
- Đầu tư mạnh cho thị trường Quảng Ninh về biển bảng quảng cáo,
chấp nhận hỗ trợ chi phí vận chuyển đường dài để đảm bảo giá bia hơi Hà
Nội tiêu thụ tại Quảng Ninh bằng hoặc chỉ cao hơn tại Bắc Ninh chút ít.
- Dự kiến phương án xây dựng khu tổ hợp văn phòng, thương mại tại
khu đất nằm trên cùng trục đường quốc lộ 23 với nhà máy Bia Mê Linh và
cách nhà máy Bia Mê Linh khoảng 200 mét về phía Bắc.
- Tiếp tục nâng cao hiệu quả kinh doanh, phát huy năng lực hiện có,
chủ động đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, thực hiện các giải pháp để giảm chi
phí vận chuyển lưu thông hàng hoá, thực hành tiết kiệm.
- Mở rộng, phát triển thị trường và hệ thống bán hàng tại khu vực Hà
Nội và các tỉnh lân cận. Tập trung phát triển đội ngũ nhân viên thị trường và
chăm sóc khách hàng, đảm bảo độ phủ kín của sản phẩm, đáp ứng yêu cầu
của thị trường, đặc biệt tại khu vực Hà Nội.
- Củng cố và nâng cấp hệ thống Địa chỉ Vàng, đẩy mạnh thực hiện 10
giải pháp bảo vệ và phát triển thương hiệu Bia hơi Hà Nội một cách chủ
động, linh hoạt trong từng thời điểm, cho từng thị trường.
- Tiếp tục thực hiện phương án đầu tư thay thế cốc bia hơi hiện nay
đang sử dụng tại hệ thống các Địa chỉ Vàng.
- Tiếp tục hoàn thiện và đầu tư nâng cấp bao bì cho loại bia hơi Hà
Nội keg 2 lít. - Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả vốn lưu động để
vừa bảo toàn vốn vừa đẩy mạnh kinh doanh.
- Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy của Công ty; giải quyết tốt công
tác sắp xếp lao động và thực hiện phương án đào tạo nhân sự đáp ứng yêu
cầu phát triển của Công ty.
103
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Căn cứ vào thực trạng tài chính của công ty cũng như mục tiêu phát
triển của công ty tác giả đã đề xuất hai giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài
chính của công ty. Giải pháp thứ nhất là kiểm soát chi phí bán hàng và chi
phí quản lý doanh nghiệp. Giải pháp này nhằm giải quyết mâu thuẫn nội tại
của công ty, đó là trong khi chi phí bán hàng của công ty tăng thì doanh thu
lại giảm. Giải pháp thứ hai là giảm hàng hóa tồn kho nhằm tăng doanh thu.
Đây là cơ sở để tăng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty
và cải thiện các chỉ tiêu tài chính cơ bản ROS, ROA, ROE.
104
KẾT LUẬN
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết
về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp. Đây là vấn đề
không mới nhưng rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp trong bối cảnh
hiện nay. Tác giả đã vận dụng lý thuyết về phân tích tài chính doanh nghiệp
để phân tích thực trạng tình hình tài chính của một doanh nghiệp cụ thể, đó là
công ty cổ phần thương mại Bia Hà Nội. Qua phân tích, tác giả đã chỉ ra
những biến động của các nhóm chỉ tiêu tài chính, lý giải nguyên nhân của sự
biến động đó. Bên cạnh đó, tác giả cũng có những so sánh với các công ty
cùng ngành để có cái nhìn khách quan về thực trạng tài chính của công ty.
Mặt khác, tác giả đã chỉ ra những điểm tích cực cũng như những hạn chế còn
tồn tại trong công tác quản lý tài chính của công ty. Trên cơ sở đó, tác giả đề
xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty. Tác giả
cũng lượng hóa kết quả dự kiến nếu áp dụng các giải pháp đề xuất.
Trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội,
em đã nhận được sự chỉ dạy của các thầy cô, sự giúp đỡ của các bạn bè.
Nhân đây em xin gửi cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giảng dạy ở trường Đại
học Bách Khoa Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giảng dạy ở Viện Kinh tế và
Quản lý.
Học viên
Dương Minh Tú
105
[1] PGS.TS Nguyễn Văn Công, Phân tích báo cáo tài chính, Nhà xuất bản
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
giáo dục Việt Nam, năm 2010.
[2] PGS.TS Phạm Thị Gái, Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Nhà
xuất bản thống kê, năm 2004.
[3] Ths Vũ Việt Hùng, Giáo trình quản lý tài chính, Nhà xuất bản ĐHQG,
năm 2002.
[4] PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang, Phân tích hoạt động kinh doanh, Nhà xuất
bản giáo dục Việt Nam, năm 2011.
[5] PGS.TS Nghiêm Sỹ Thương, Giáo trình Cơ sở quản lý tài chính, Nhà
Xuất bản Giáo dục Việt Nam, năm 2012.
WEBSITE THAM KHẢO
[1] www.gso.gov.vn , Tổng Cục Thống Kê.
[2] www.vba.com.vn, Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam.
[3] biahaiphong.com, Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Hải Phòng.
[4] www.hadubeco.com.vn, Công ty cổ phần Bia Hà Nội – Hải Dương.

