ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHẠM THỊ NGA
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
Ở NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................................... 1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN .............. 8
1.1. Việc làm cho người lao động ở nông thôn .................................................................. 8
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản .................................................................................... 8
1.1.2. Đặc điểm của việc làm ở nông thôn ............................................................... 13
1.1.3. Đặc điểm của lực lượng lao động ở nông thôn ....................................... 17
1.2. Giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn ............................................. 21
1.2.1. Khái niệm giải quyết việc làm ......................................................................... 21
1.2.2. Các nhân tố tác động tới giải quyết việc làm cho người lao động
1.2.3. Vai trò của giải quyết việc làm đối với sự phát triển kinh tế - xã
ở nông thôn........................................................................................................ 22
hội ở nông thôn...................................................................................... 32
1.2.4. Quan điểm của Đảng và quy định của Nhà nước ta về giải quyết
1.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn ..................... 37
1.3.1. Kinh nghiệm của Nghệ An............................................................................... 37
1.3.2. Kinh nghiệm của Thái Bình ............................................................................. 40
1.3.3. Kinh nghiệm của Thanh Hoá ........................................................................... 41
1.4. Một số kết luận rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn ....................................... 42
việc làm cho người lao động ở nông thôn ............................................. 33
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
NGƢỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN .................. 44
2.1. Các nhân tố tác động tới giải quyết việc làm cho người lao động ở nông
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ............................................................................................. 44
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ................................................................................. 49
2.2. Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động ở nông
thôn tỉnh Thái Nguyên .................................................................................... 44
2.2.1. Khái quát chung về dân số, lao động và việc làm ....................................... 57
2.2.2. Tình hình giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn
thôn tỉnh Thái Nguyên .................................................................................... 57
tỉnh Thái Nguyên ............................................................................................. 71
2.3. Đánh giá chung về hoạt động giải quyết việc làm cho người lao động ở
2.3.1. Những kết quả đạt được ................................................................................... 79
2.3.2. Những tồn tại về việc làm và giải quyết việc làm ở nông thôn
nông thôn tỉnh Thái Nguyên .......................................................................... 79
Thái Nguyên và nguyên nhân ........................................................................ 91
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN ..................................................................................... 97
3.1. Phương hướng giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn tỉnh
3.1.1. Hoàn thiện các quy định, chính sách về việc làm và giải quyết
Thái Nguyên...................................................................................................... 97
việc làm ................................................................................................. 97
3.1.2. Đa dạng hoá các ngành, nghề trong nông nghiệp, nông thôn................ 98
3.1.3. Phát triển các hình thức hợp tác về giải quyết việc làm cho
người lao động ở nông thôn ................................................................ 100
3.1.4. Nâng cao năng lực của người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho người lao động
việc làm ............................................................................................... 102
3.2.1. Nâng cao thể lực và trí lực cho người tìm việc làm .................................. 103
3.2.2. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh nhằm
ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên ..................................................................... 103
3.2.3. Hoàn thiện cơ cấu việc làm thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh
khuyến khích tự tạo việc làm trong nông thôn ......................................... 107
3.2.4. Lồng ghép hiệu quả các chương trình, dự án liên quan tới giải
tế nông nghiệp ................................................................................................ 110
3.2.5. Tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn qua xuất khẩu lao động ........ 120
3.2.6. Cung cấp thông tin việc làm qua các trung tâm dịch vụ việc làm ...... 122
3.2.7. Hoàn thiện chính sách và đổi mới lãnh đạo quản lý về lĩnh vực
quyết việc làm trên địa bàn tỉnh .................................................................. 117
giải quyết việc làm gắn với phát triển thị trường lao động ................. 125 KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 127
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 129
QUY ƢỚC VIẾT TẮT
CMKT: Chuyên môn kỹ thuật
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HTX: Hợp tác xã
LĐNT: Lao động nông thôn
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm và giải quyết việc làm là một vấn đề kinh tế - xã hội có tính toàn
cầu, là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Ngày nay, quan niệm về
phát triển hàm chứa sự tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội;
xoá đói giảm nghèo, giảm thiểu thất nghiệp… Có việc làm giúp cho bản thân
người lao động có thu nhập ổn định cuộc sống, làm lành mạnh hoá các quan hệ
xã hội.
Ở nước ta hiện nay, theo Niên giám thống kê năm 2009 của Tổng cục
Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), dân số Việt Nam là 86.024.600 người trong
đó, nông thôn chiếm 70,43 % (60.588.600 người) và 75,6% lực lượng lao động
(32,7 triệu trong 43 triệu lao động cả nước) và gần 90% số người nghèo của cả
nước vẫn đang sống ở nông thôn. Tỷ lệ thời gian nhàn rỗi ở nông thôn chiếm
19,3%, thất nghiệp ở thành thị 5,1%. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng nhận định: “Tỷ trọng nông nghiệp còn quá cao. Lao động thiếu
việc làm còn nhiều. Tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp”.
Ngày nay, trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, lao động nước ta có nhiều cơ
hội tìm kiếm việc làm. Người lao động có thể vươn lên làm giàu bằng chính sức
lực của mình. Tuy nhiên, cũng rất nhiều thách thức đặt ra cho người lao động
Việt Nam nói chung và lao động trong nông thôn nói riêng, đó là chất lượng
nguồn lực lao động. Người lao động không biết nghề, không được đào tạo nghề,
đào tạo không đến nơi đến chốn thì rất khó có cơ hội tìm được việc làm. Mặt
khác, kinh nghiệm ở một số nước cho thấy khi gia nhập WTO, ngành dễ bị tổn
thương nhất là nông nghiệp, bộ phận dân cư dễ bị tổn thương nhất là nông dân,
khu vực dễ bị tổng thương nhất là nông thôn. Thất nghiệp, thiếu việc làm đang
và sẽ diễn biến rất phức tạp, cản trở quá trình vận động và phát triển kinh tế đất
nước. Vì vậy, tạo việc làm cho người lao động là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết
cho từng ngành, từng địa phương và từng gia đình. Giải quyết việc làm cho
1
người lao động trong sự phát triển của thị trường lao động, một mặt, nhằm phát
huy tiềm năng lao động, nguồn lực to lớn ở nước ta cho sự phát triển kinh tế - xã
hội, mặt khác, là hướng cơ bản để xoá đói giảm nghèo có hiệu quả, là cơ sở để
cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần giữ vững an ninh chính
trị và trật tự an toàn xã hội, tạo động lực mạnh mẽ thực hiện sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là tiền đề quan trọng góp phần tích cực
vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát
triển, tiến kịp khu vực và thế giới. Vì vậy, quan tâm giải quyết, ổn định việc làm
cho người lao động luôn là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước ta
hết sức quan tâm.
Thái Nguyên, quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra hàng loạt vấn đề bức
xúc liên quan đến việc làm và chính sách giải quyết việc làm. Đây là tiền đề
quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần tích cực vào sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Thái Nguyên.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ
trương, đường lối thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nhiều việc làm cho người lao động,
giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông
thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định:
“Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi để
khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của
các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động. Triển khai có hiệu quả
Chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm [20, tr.123].
Chính vì vậy, quan tâm đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động
ở nông thôn luôn là vấn đề mang tính cấp bách đối với cả nước nói chung và tỉnh
Thái Nguyên nói riêng.
2
Thái Nguyên có diện tích đất tự nhiên không lớn với 3.541,1 km2, chiếm
1,13% diê ̣n tích cả nướ c . Phía bắc giáp tỉnh Bắc Kạn , phía tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía đông giáp tỉnh La ̣ng Sơn , Bắc Giang, phía nam giáp thủ đô Hà Nội . Thái Nguyên có gần 1,1 triê ̣u dân , gồm 8 dân tô ̣c , chủ yếu là ngườ i Kinh (chiếm khoảng 75%). Mâ ̣t đô ̣ dân số khoảng 260 ngườ i/km2, cao i phía bắc . Tuy nhiên , dân cư phân bố không đều , nhất trong các tỉnh miền nú , trong khi đó ở vù ng thành thi ̣ , đồng vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt
bằng dân cư rất dày đă ̣c . Nơi có mâ ̣t đô ̣ dân cư cao nhất là thành phố Thái Nguyên (1.300 ngườ i/km2), nơi có mâ ̣t đô ̣ dân cư thấp nhất là huyê ̣n Võ Nhai (khoảng 80 ngườ i/km2) [33, tr.54-55]. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, kinh tế phát triển không đồng đều giữa các vùng miền, chất lượng lao động nông
thôn thấp, hầu hết là lao động phổ thông, phần lớn chưa qua đào tạo. Vấn đề bảo
đảm việc làm cho người lao động ở nông thôn đã và đang là một thách thức lớn
trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên.
Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2010 - 2015
đã nêu: "Chương trình giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo, kết quả còn hạn
chế, chất lượng và tỷ lệ lao động được đào tạo thấp; đói giáp hạt vẫn diễn ra, tỷ
lệ hộ nghèo cao hơn so với trung bình cả nước đặc biệt là miền núi" [21, tr.38-
39]. Do vậy, vấn đề “Giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn tỉnh
Thái Nguyên hiện nay” được chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ với hy vọng đưa
ra một số giải pháp góp phần giải quyết việc làm cho người lao động ở nông
thôn tỉnh Thái Nguyên, nhằm đáp ứng phần nào những đòi hỏi cấp bách của địa
phương.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Giải quyết việc làm là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhiều
quốc gia. Do vậy, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về lao động, việc
làm trong và ngoài nước. Tiêu biểu như:
- Nguyễn Hữu Dũng, Trần Hữu Trung (2007), “Về chính sách giải quyết
việc làm ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Đinh Đăng Định (chủ biên), “Một số vấn đề lao động, việc làm và đời
sống người lao động ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Lao động, Hà Nội 2008.
3
- Đỗ Minh Cương (2007), “Dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay”,
Nông thôn mới, Hà Nội.
- Nguyễn Quang Hiển (2007), “Thị trường lao động Việt Nam. Thực
trạng và giải pháp”, Nxb Thống kê, Hà Nội.
Cũng đã có rất nhiều bài báo, tạp chí nghiên cứu viết về thực trạng lao
động, vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta như:
+ Nguyễn Sinh Cúc, “Giải Quyết việc làm ở nông thôn và những vấn đề
đặt ra”, Tạp chí Con số và Sự kiện, số 50, 2008.
+ Nguyễn Hữu Dũng, “Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá
trình đô thị hoá, công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí Lao động và
xã hội, số 267, 2007.
+ Vũ Đình Thắng, “Vấn đề việc làm cho lao động nông thôn”, Tạp chí
Kinh tế và Phát triển, số 23, 2007.
+ Bùi Văn Quán,“ Thực trạng lao động - việc làm ở nông thôn và một số
giải pháp cho giai đoạn 2006 - 2010” Báo Lao động và Xã hội, 2006.
+ Vũ Văn Phúc, “Giải quyết việc làm sử dụng hợp lý nguồn nhân lực ở
nông thôn hiện nay”, Tạp chí Châu Á - Thái Bình Dương, 2007.
Các tác giả đều cho rằng vấn đề việc làm cho người lao động và thất nghiệp
là một trong những vấn đề toàn cầu, từ đó đề ra phương pháp tiếp cận tổng quát về
chính sách việc làm, hệ thống khái niệm về lao động, việc làm, đánh giá thực
trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam. Từ đó, các công trình đã đề xuất hệ thống các
quan điểm, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm, đồng thời khuyến
nghị, định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm trong công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả mới chỉ phân
tích vấn đề lao động, việc làm và thất nghiệp trên phạm vi cả nước nói chung hoặc
trên địa bàn nông thôn Việt Nam nói riêng chứ chưa nghiên cứu cụ thể các vấn đề
trên đối với từng địa phương cụ thể. Do đó, hệ thống giải pháp mà các tác giả đưa
ra mang tính tổng quát, vĩ mô chưa sát với thực tế từng tỉnh.
Ngoài ra, cũng có một số đề tài luận văn thạc sĩ, tiến sĩ viết về vấn đề việc
làm ở một số tỉnh: Hưng Yên, Thái Bình, Ninh Bình, Kiên Giang... với những
4
cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, do xuất hiện nhiều
vấn đề mới (quá trình đô thị hoá làm giảm diện tích đất nông nghiệp, nhiều chính
sách mới của Đảng và nhà nước liên quan tới nông nghiệp, nông thôn…) làm
cho hệ thống những quan điểm, phương hướng, giải pháp mà các tác giả đưa ra
trong những công trình này tỏ ra không còn phù hợp.
Mặt khác, hiện nay chưa có đề tài, công trình khoa học nào luận giải về
vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn tỉnh Thái
Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
Để thực hiện đề tài khoa học này, tác giả có lựa chọn và kế thừa một số
kết quả nghiên cứu đã công bố của các tác giả nói trên về những vấn đề lý luận
liên quan tới các vấn đề: lao động, việc làm, thất nghiệp và giải quyết việc làm ở
nông thôn. Đồng thời, tác giả kết hợp khảo sát thực tiễn ở nông thôn tỉnh Thái
Nguyên để phân tích, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế
của địa phương dựa trên cơ sở những đường lối, quan điểm, chủ trương phát
triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Thái Nguyên đề ra trong
những năm tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn từng bước phác thảo bức tranh việc làm ở nông thôn tỉnh Thái
Nguyên thời gian qua và luận giải hệ thống giải pháp phù hợp nhằm giải quyết
các vấn đề việc làm trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về việc làm và các nhân tố ảnh
hưởng đến vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay. Từ đó làm cơ sở cho
việc phân tích tình hình giải quyết việc làm ở nông thôn Thái Nguyên.
- Đánh giá đúng thực trạng giải quyết việc làm ở nông thôn tỉnh Thái
Nguyên, tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng.
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết có hiệu quả vấn đề
việc làm cho người lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới.
5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là việc làm và các vấn đề liên
quan tới giải quyết việc làm trên địa bàn nông thôn tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung: Tập trung vào vấn đề việc làm và giải quyết việc làm
ở nông thôn.
- Giới hạn không gian: Đề tài chỉ giới hạn nội dung nêu trên trong khuôn
khổ địa bàn nông thôn tại tỉnh Thái Nguyên.
- Giới hạn thời gian: Nội dung nghiên cứu bao gồm: khảo sát thực trạng
trong giai đoạn 2006-2010 và luận giải hệ thống giải pháp cho giai đoạn 2011-2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các văn
kiện Đại hội Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương các khoá. Đồng thời,
đề tài cũng kế thừa và sử dụng có chọn lọc một số đề xuất và các số liệu thống kê
trong một số công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả trong nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử để nghiên cứu. Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: hệ thống, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, phân tích, bảng biểu...để
làm sáng tỏ vấn đề.
6. Những đóng góp khoa học của luận văn
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho người
lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006-2010.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho người
lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới.
6
- Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức
năng, sở, ban, ngành có liên quan đến việc hoạch định chính sách, chiến lược
giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên cũng như
các địa phương khác có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về việc làm và giải quyết việc
làm cho người lao động ở nông thôn.
Chƣơng 2: Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho người lao
động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên.
Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm
cho người lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên.
7
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC LÀM
VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN
1.1. Việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
* Khái niệm việc làm
Điều 13, Chương 2 (việc làm) Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994 qui định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra
nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Khái
niệm này được vận dụng trong các cuộc điều tra về thực trạng lao động và việc
làm hàng năm của Việt Nam và được cụ thể hoá thành ba dạng hoạt động sau:
- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền
hoặt hiện vật.
- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân bao gồm: sản xuất
nông nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng, hoặc hoạt động
kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần.
- Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới
hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó bao gồm: sản xuất nông nghiệp
trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng, hoạt động
kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc
quản lý. Theo khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai
điều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và
cho các thành viên trong gia đình.
Hai là, hoạt động đó phải đúng luật, không bị pháp luật cấm.
Hai tiêu chí này có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của
một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động chỉ tạo ra thu
nhập như vi phạm pháp luật như: trộm cắp, buôn bán ma tuý, mại dâm… không
8
thể được công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích
nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm - chẳng hạn
như công việc nội trợ của phụ nữ cho chính gia đình mình. Nhưng nếu người phụ
nữ đó cũng thực hiện các công việc nội trợ tương tự cho gia đình người khác thì
hoạt động của họ lại được thừa nhận là việc làm vì được trả công.
Điểm đáng lưu ý là tuỳ theo phong tục, tập quán của mỗi nước và pháp
luật của các quốc gia mà người ta có một số quy định khác nhau về việc làm. Ví
dụ: mại dâm của phụ nữ được coi là việc làm ở Hà Lan vì được pháp luật bảo hộ
và quản lý. Những người tham gia trong lĩnh vực này cũng được coi như một bộ
phận của lực lượng lao động và cũng có tiếng nói của mình như những thành
viên tham gia trong những ngành lao động khác. Tuy nhiên ở Việt Nam, hoạt
động đó bị coi là vi phạm pháp luật và không được thừa nhận là việc làm. Số
lượng việc làm và loại hình việc làm phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế và phát triển mở rộng của các ngành nghề trong nền kinh tế. Hơn nữa, sự
phát triển của lực lượng sản xuất và ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học - công
nghệ là tác nhân quan trọng cho phát triển công ăn, việc làm. Một tác nhân quan
trọng vừa dẫn tới khả năng gia tăng việc làm là hội nhập và hợp tác sản xuất -
kinh doanh với các đối tác nước ngoài.
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, khoa học công nghệ phát triển
mạnh mẽ được ứng dụng nhanh chóng vào sản xuất và tất cả các lĩnh vực khác
nhau của đời sống kinh tế - xã hội đã làm cho khối lượng công việc có yêu cầu
về mặt kỹ thuật cao tăng nhanh chóng. Mặt khác, năng suất lao động tăng đã làm
ảnh hưởng rất lớn tới “cầu” lao động và “cơ cấu” lao động. Nếu người lao động
không tự nâng cao tay nghề, nâng cao trình độ của mình theo kịp với yêu cầu của
sản xuất kinh doanh, phân công lao động xã hội không phát triển, không tạo
được nhiều việc làm mới cho người lao động thì tình trạng thất nghiệp, thiếu
việc làm là điều khó tránh khỏi.
Trong nông nghiệp, lao động mang tính thời vụ, do vậy vào thời kỳ mùa
vụ, khối lượng công việc nhiều, tăng đột biến. Tuy nhiên, lúc nhàn rỗi, khối
lượng công việc giảm đột ngột, thậm chí có lúc người nông dân không có việc
9
làm. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, dân số ở khu vực nông thôn vẫn tăng
nhanh, đất canh tác không tăng thậm chí có xu hướng giảm xuống vì nhiều lý do:
đô thị hoá, đất ở… tăng, mặt khác với khả năng ứng dụng máy móc, tiến bộ khoa
học công nghệ… làm cho năng suất lao động tăng nhanh, giải phóng một lượng
lao động lớn ra khỏi ngành nông nghiệp. Nếu không tạo đủ công ăn việc làm cho
người nông dân, đặc biệt trong lúc nông nhàn với thu nhập được người nông dân
chấp nhận, sẽ dẫn đến hiện tượng nông dân di chuyển đến các thành phố và các
khu công nghiệp tìm kiếm việc làm gây nhiều vấn đề phức tạp cho việc quản lý
lao động, quản lý xã hội, tình trạng xóm liều, phố liều, tệ nạn xã hội gia tăng.
* Khái niệm thất nghiệp: Trong kinh tế học, thất nghiệp là tình trạng
người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm (từ Hán - Việt
thất: mất mát, nghiệp: việc làm). Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao
động có khả năng lao động, không có việc làm và đang có nhu cầu tìm kiếm việc
làm. Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên
tổng số lực lượng lao động xã hội.
Cũng có quan điểm cho rằng: thất nghiệp là hiện tượng gồm những người
mất thu nhập, do không có khả năng tìm được việc làm trong khi họ còn trong độ
tuổi lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc và đã đăng kí ở cơ quan môi
giới về lao động nhưng chưa được giải quyết.
Như vậy, những người thất nghiệp tất yếu phải thuộc lực lượng lao động
hay dân số hoạt động kinh tế. Một người thất nghiệp phải có 3 tiêu chuẩn sau:
+ Đang mong muốn và tìm việc làm.
+ Có khả năng làm việc và nằm trong độ tuổi lao động theo qui định của
pháp luật.
+ Hiện đang chưa có việc làm.
Với cách hiểu như trên, không phải bất kì ai có sức lao động nhưng chưa
làm việc đều được coi là thất nghiệp. Do đó, một tiêu chí quan trọng để xem xét
một người được coi là thất nghiệp thì phải biết được người đó có muốn đi làm
hay không. Bởi lẽ, trên thực tế nhiều người có sức khoẻ, có nghề nghiệp song
10
không có nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu dựa vào “nguồn dự trữ” như kế thừa
của bố mẹ, nguồn tài trợ…
* Phân loại thất nghiệp
- Xét về nguồn gốc: thất nghiệp có thể chia thành:
Thất nghiệp tự nhiên: Là loại thất nghiệp khi thị trường lao động ở trạng
thái cân bằng.
Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không
ngừng của ngành lao động giữa các vùng, giữa các loại công việc hoặc giữa các
giai đoạn khác nhau của cuộc sống.
Thất nghiệp cơ cấu: Là loại thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối giữa
cầu - cung lao động trong một ngành hoặc một vùng nào đó.
Thất nghiệp chu kỳ: là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị tổng sản
lượng của nền kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh, tổng giá
trị sản xuất giảm dần, hầu hết các nhà sản xuất giảm sản lượng cầu đối với các
đầu vào, trong đó có lao động. Đối với loại thất nghiệp này, những chính sách
nhằm khuyến khích tăng cầu thường mang lại kết quả tích cực.
- Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp có thể chia thành:
Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó
người lao động không muốn làm việc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh
con), thất nghiệp loại này thường gắn với thất nghiệp tạm thời.
Thất nghiệp không tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công nào
đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy
thoái, cung lớn hơn cầu về lao động.
Ngoài thất nghiệp hữu hình (thất nghiệp tự nguyện và không tự nguyện)
còn tồn tại thất nghiệp trá hình: Là hiện tượng xuất hiện khi người lao động được
sử dụng ở dưới mức khả năng mà bình thường người lao động sẵn sàng làm việc.
Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của một ngành nào đó thấp. Thất
nghiệp loại này thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động.
- Xét theo hình thức thất nghiệp có thể chia thành:
Thất nghiệp theo giới tính: Là loại thất nghiệp của nam hoặc nữ.
11
Thất nghiệp chia theo lứa tuổi: Là loại thất nghiệp của một lứa tuổi nào
đó trong tổng số lực lượng lao động.
Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ: Là hiện tượng thất nghiệp xảy ra
thuộc vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi…)
Thất nghiệp chia theo ngành nghề: Là loại thất nghiệp xảy ra ở một ngành
nghề nào đó.
Ngoài các loại thất nghiệp nêu trên, người ta có thể chia thất nghiệp theo
dân tộc, chủng tộc, tôn giáo…
* Khái niệm thiếu việc làm:
Theo ILO, người thiếu việc làm là người trong tuần lễ tham khảo có số
giờ làm việc dưới mức quy định cho người có đủ việc làm và có nhu cầu thêm
việc làm.
Theo một số chuyên gia về chính sách lao động việc làm thì cho rằng:
Người thiếu việc làm là những người đang làm việc có mức thu nhập dưới mức
lương tối thiểu và họ có nhu cầu làm thêm.
Từ khái niệm người thiếu việc làm trên có thể hiểu như sau: Người thiếu
việc làm là người lao động đang có việc làm nhưng họ làm việc không hết thời
gian theo pháp luật quy định hoặc làm những công việc mà tiền lương thấp không
đáp ứng đủ nhu cầu cuộc sống, họ muốn tìm thêm việc làm để bổ sung thu nhập.
ILO cũng khuyến nghị các nước dùng khái niệm người thiếu việc làm hữu
hình (nhìn thấy được) và người thiếu việc làm vô hình (khó xác định).
Thiếu việc làm hữu hình: Là khái niệm dùng để chỉ hiện tượng người lao
động làm việc có thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm đang tìm kiếm
thêm việc làm và sẵn sàng để làm việc.
Tình trạng thiếu việc làm hữu hình được biểu thị bởi hàm số sử dụng thời
gian lao động như sau:
Số giờ làm việc thực tế
K = x 100%
Số giờ quy định
(Tính theo ngày, tháng, năm)
12
Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian
thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp. Nguyên
nhân của tình trạng này là do tay nghề hoặc kỹ năng của người lao động thấp,
không sử dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động không tốt, tổ
chức lao động kém. Thước đo khái niệm thiếu việc làm vô hình là mức thu nhập
thấp hơn mức lương tối thiểu.
Nguyên nhân của thiếu việc làm
- Do nền kinh tế kém phát triển, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu
người thấp và giảm dần do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá.
- Do lực lượng lao động tăng quá nhanh, trong khi đó số chỗ làm việc mới
tạo ra quá ít, do trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề của người lao động còn
thấp kém.
- Do tính chất thời vụ, thời tiết khí hậu, do chính sách đầu tư chưa hợp lý,
sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được…
* Khái niệm nông thôn: là khái niệm dùng để chỉ phần lãnh thổ của một
nước hay một đơn vị hành chính mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng
lớn, dân cư chủ yếu làm nông nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm của việc làm ở nông thôn
Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc
trong lĩnh vực nông nghiệp. Có nhiều loại việc làm diễn ra ở nông thôn, phản
ánh tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn. Nhưng việc làm
của người lao động ở nông thôn lại gắn với đặc điểm của lực lượng lao động ở
đây, với điều kiện tự nhiên nơi họ sinh sống.
Việc làm của người lao động ở nông thôn là những hoạt động lao động
trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội
của một bộ phận lực lượng lao động sinh sống ở nông thôn để mang lại thu nhập
mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Việc làm của người lao động ở nông thôn gắn liền với môi trường, điều
kiện sinh sống và làm việc của người lao động. Và chính môi trường điều kiện
đó đã ảnh hưởng đến việc làm của họ, thậm chí quyết định việc làm của họ.
13
Người lao động ở nông thôn thường làm việc trong những ngành nông, lâm, thủy
sản - những loại việc làm có thể khai thác tài nguyên tự nhiên chính nơi họ sinh
sống. Ví dụ người sống ở rừng núi hay làm nghề rừng, người sống ở vùng duyên
hải hay làm nghề biển... Việc làm của họ phần nhiều phụ thuộc vào điều kiện tự
nhiên và sức lao động của chính mình. Trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp
lạc hậu việc làm của người lao động ở nông thôn càng mang tính thủ công, nặng
nhọc và có thu nhập thấp. Khi kinh tế nông thôn vẫn chủ yếu là nông nghiệp, ở
đó ẩn chứa nhiều nguy cơ thiếu việc làm hữu hình. Vì vậy, đa dạng hóa ngành
nghề, mở nhiều loại hình việc làm, phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn là
phương hướng chủ yếu giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn.
* Các loại việc làm của người lao động ở nông thôn
Các loại việc làm của người dân là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt thành
thị với nông thôn. Nếu như ở thành thị, dân cư tập trung làm việc trong các
ngành thủ công, công nghiệp và buôn bán là chính, thì ở nông thôn dân cư chủ
yếu sản xuất nông nghiệp và những ngành gắn với nông nghiệp, kinh tế nông
thôn. Các loại việc làm ở nông thôn rất phong phú và đa dạng với hàng trăm
ngành nghề khác nhau. Tuy nhiên có thể phân chúng thành các loại việc làm
thuần nông và việc làm phi nông nghiệp.
Việc làm thuần nông: Là những hoạt động lao động trong lĩnh vực trồng
trọt và chăn nuôi. Trải qua nhiều năm phát triển, hiện nay chăn nuôi và trồng trọt
vẫn là công việc chính của nhà nông ở nước ta. Trong đó trồng trọt chiếm 73%;
chăn nuôi chiếm 27%. Trong trồng trọt cây lương thực vẫn chiếm 78,2% diện
tích cơ cấu cây trồng, cây rau màu và cây công nghiệp chỉ chiếm 21,8%... [6,
tr.25]. Bên cạnh đó, chăn nuôi ở nông thôn phần lớn chỉ để tận dụng thức ăn dư
thừa và cung cấp phần nào nhu cầu thực phẩm ở nông thôn.
Như vậy, có thể nói lao động trong trồng trọt và chăn nuôi là việc làm
chính của người lao động ở nông thôn. Thế mạnh của lĩnh vực này là người lao
động được kế thừa kinh nghiệm sản xuất của ông cha để lại. Người lao động ở
nông thôn lớn lên đã theo cha mẹ ra đồng làm việc nên họ thường quan niệm
rằng không cần phải qua trường lớp đào tạo. Kiến thức nghề nông được tích lũy
14
dần trong quá trình người lao động tham gia sản xuất từ nhỏ với tư cách là người
lao động phụ của gia đình. Bên cạnh đó, loại công việc này còn nhiều hạn chế:
Thứ nhất, sản xuất bị chi phối trực tiếp bởi các quy luật của tự nhiên như:
gió, mưa, nắng, nhiệt độ, thổ nhưỡng... dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc
không được nâng cao.
Thứ hai, người lao động chỉ làm việc theo kinh nghiệm, ít có cải tiến, sáng
tạo. Quá trình đó cứ diễn ra như thế từ ngàn năm làm cho tiến trình phát triển
kinh tế xã hội ở nông thôn diễn ra một cách chậm chạm.
Thứ ba, loại công việc này có tính chất mùa vụ nên lao động ở nông thôn
sẽ thiếu việc làm trong những lúc nông nhàn. Mặt khác, cùng với quá trình đô thị
hóa, đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng làm cho người nông dân bị
mất tư liệu sản xuất và với trình độ học vấn, tay nghề thấp họ sẽ gặp khó khăn
trong tìm kiếm việc làm và phải làm những công việc nặng nhọc với mức lương
rẻ mạt... Như vậy, trong quá trình CNH, HĐH, người lao động làm việc trong
lĩnh vực thuần nông là những người có nguy cơ bị thiếu việc làm và bị thất
nghiệp cao nhất.
Việc làm phi nông nghiệp: Là lĩnh vực rộng lớn, gồm tất cả các ngành
nghề ngoài nông nghiệp ở nông thôn. Cùng với sự hình thành và phát triển của
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước các loại ngành nghề ở nông thôn
phát triển đã tạo nên sự phong phú, đa dạng về việc làm cho người lao động ở
đây. Hiện nay đã có nhiều loại hình công việc ngoài nông nghiệp ra đời và phát
triển mạnh. Bên cạnh sự phát triển của các làng nghề truyền thống như sản xuất
đồ gỗ, gốm sứ, thêu ren, đồ thủ công mỹ nghệ... nhiều ngành nghề chế biến
nông, lâm, thủy sản mới xuất hiện, như: sấy thóc, sơ chế và chế biến cà phê, chế
biến hạt điều, vải, chế biến rau quả, thủy sản, súc sản. Hoạt động gia công cơ khí
xuất hiện phục vụ sửa chữa đồ gia dụng, nông cụ, sửa chữa máy móc nông
nghiệp. Đặc biệt cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, dịch vụ ở nông
thôn cũng phát triển mạnh mẽ. Nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đời sống trước
đây chỉ có ở thành thị thì nay đã có ở nông thôn như: dịch vụ vệ sinh nông thôn,
dịch vụ cung cấp nước sạch... Nhiều việc làm trước đây bị xã hội coi rẻ và cấm
15
đoán như: giúp việc gia đình, chạy chợ... thì nay đã được công nhận như một
nghề. Tất cả những biến đổi đó đã tạo ra nhiều loại hình công việc làm phong
phú, đa dạng thị trường việc làm cho người lao động ở nông thôn.
Việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn có vai trò tích cực trong phát triển
kinh tế xã hội ở nông thôn:
- Phát triển ngành nghề ngoài việc đem lại việc làm ổn định, thường
xuyên cho người lao động trong lĩnh vực đó, còn có khả năng thu hút thêm lao
động nhàn rỗi ở nông thôn. Ngoài ra sự phát triển của nó lại nảy sinh những
ngành nghề mới, những hoạt động dịch vụ liên quan tạo thêm nhiều chỗ làm mới
cho người lao động.
- Loại việc làm này thường đưa lại thu nhập ổn định và cao hơn cho người
lao động. Hiện nay thu nhập của các hộ chuyên ngành nghề ở nông thôn thường
cao hơn khoảng 4 lần so với thu nhập bình quân của hộ lao động nông nghiệp
thuần. Điều đó giúp tăng tỉ lệ hộ giàu, tăng tích lũy, tạo điều kiện cho nâng cấp
và xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống cho người lao động ở nông thôn.
- Việc làm phi nông nghiệp có vai trò to lớn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Các ngành nghề ở nông thôn sử dụng nông sản hàng hóa làm nguyên vật
liệu đã hình thành nên hệ thống dịch vụ đầu vào, đầu ra, đưa lại giá trị gia tăng
cho sản phẩm nông nghiệp. Mặt khác do yêu cầu của công việc, người lao động
làm việc trong các ngành nghề ít nhiều phải có tay nghề và đòi hỏi phải có tay
nghề ngày càng cao. Điều đó bắt buộc người lao động phải không ngừng học tập,
rèn luyện giúp nâng cao chất lượng nguồn lao động ở nông thôn.
Việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn hiện nay đang phát triển phong
phú, đa dạng. Tuy nhiên sự phát triển của loại việc làm này cũng gặp khó khăn
do hạn chế về trình độ tay nghề của người lao động, về công nghệ cũng như giới
hạn về khả năng quản lý của chủ hộ sản xuất kinh doanh, về nguồn vốn cũng như
phong tục tập quán. Người dân có nghề phi nông nghiệp vẫn chưa mạnh dạn bỏ
ruộng để tập trung sản xuất ngành nghề.
16
Tóm lại, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển ngành nghề ở
nông thôn, nhưng so với việc làm thuần nông thì sự phát triển gia tăng của việc
làm phi nông nghiệp hiện nay đang chiếm ưu thế và đang trong xu thế phát triển.
Bởi vì so với lĩnh vực thuần nông, lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn ít gặp
những giới hạn của tự nhiên, ngược lại nó còn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sự
phát triển của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nếu như việc làm thuần
nông ngày càng bị thu hẹp thì việc làm phi nông nghiệp đang trong xu thế phát
triển mở rộng do chính sự phát triển của một nền nông nghiệp hàng hóa đưa lại.
Mặt khác, nông thôn Việt Nam đang ngày càng phát triển, điều đó tạo ra thị
trường rộng lớn cho sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế công, nông nghiệp, dịch
vụ và cơ cấu lao động tiến bộ ở nông thôn.
1.1.3. Đặc điểm của lực lượng lao động ở nông thôn
Lực lượng lao động ở nông thôn là một bộ phận của lực lượng lao động cả
nước sinh sống và làm việc tại khu vực nông thôn; cũng như lực lượng lao động
chung của cả nước, lực lượng lao động nông thôn (hay còn gọi là dân số hoạt
động kinh tế) ở nông thôn là một bộ phận dân số có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên có
việc làm hay không có việc làm và đang tìm kiếm việc làm.
Lực lượng lao động ở nông thôn của nước ta có những đặc điểm sau:
Một là, lực lượng lao động ở nông thôn nước ta hiện nay đang chiếm tỷ
trọng lớn trong lực lượng lao động cả nước và tăng với qui mô lớn so với lực
lượng lao động ở thành thị. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, dân số nước ta
năm 2009 là 86.024.600 người, đứng thứ 12 trên thế giới, trong đó nông dân
chiếm tỷ lệ 71% dân số [52, tr.35-36]. Lực lượng lao động ở nông thôn hiện nay
chủ yếu làm việc trong các ngành nông - ngư - nghiệp, một bộ phận không nhiều
hoạt động trong lĩnh vực du lịch, tiểu thủ công nghiệp. Thời gian lao động trung
bình ở nông thôn hiện nay mới chỉ chiếm khoảng 65 - 70%, còn lại là thời gian
nông nhàn [7, tr.21], trong khi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang diễn ra mạnh
mẽ đòi hỏi phải giảm bớt lao động nông nghiệp để chuyển sang công nghiệp,
dịch vụ.
17
Như vậy, lực lượng lao động hiện nay ở nước ta phần lớn nằm ở nông
thôn và hàng năm khu vực này lại được tiếp nhận một lực lượng lao động trẻ, có
sức khỏe và trình độ văn hóa. Điều này tạo ra thuận lợi trong việc tiếp thu, ứng
dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế
khu vực nông thôn, là nguồn lực to lớn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp nông thôn.
Tuy nhiên, lực lượng lao động ở nông thôn gia tăng sẽ tạo sức ép việc làm
ở khu vực nông thôn. Bởi vì, lực lượng lao động tăng lên trong khi đất canh tác lại
giảm dần do quá trình đô thị hóa, dẫn đến diện tích canh tác trên đầu người giảm,
thời gian sử dụng ngày công trong nông nghiệp thấp, người lao động phải làm
những công việc có thu nhập thấp gây ra hiện tượng thiếu việc làm ở nông thôn.
Hai là, lực lượng lao động ở nông thôn hiện nay đang chuyển dịch theo
hướng giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp và tăng tỷ trọng trong các
ngành công nghiệp và dịch vụ.
Ở nước ta, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2009, dân số khu vực
thành thị là 25.466.000 người, tăng 3,21% so với năm trước, chiếm 29,6% tổng
dân số, dân số khu vực nông thôn là 60.558.600 người, tăng 0,18% so với năm
trước và chiếm 70,4% tổng dân số [52, tr.35].
Trên phạm vi cả nước từ 2005 đến 2009, tỉ trọng lao động làm việc trong
khu vực I (nông, lâm, thủy sản) giảm từ 57,1% năm 2005 xuống còn 51,9% năm
2009, bình quân hàng năm giảm gần 1,3%. Tỉ trọng lao động làm việc trong khu
vực II (công nghiệp) tăng từ 18,2% năm 2005 lên 21,4% năm 2009, bình quân
hàng năm tăng gần 0,8%%. Tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực III (dịch
vụ) tăng từ 24,7% năm 2005 lên 26,5% năm 2009, bình quân hàng năm tăng
0,45% [52, tr.34]. Lao động ở nông thôn cũng không nằm ngoài xu hướng vận
động chung đó. Đặc biệt từ khi thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng, người
lao động ở nông thôn đã có sự độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Nền sản
xuất nông thôn đã có sự chuyển hướng từ thuần nông, tự túc, tự cấp sang sản
xuất hàng hóa, ai giỏi nghề gì làm nghề ấy, đa dạng nhiều ngành nghề. Ngoài
18
trồng trọt, chăn nuôi người lao động có thể làm việc trong các ngành nghề khác
tại các xí nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương.
Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình
chuyển dịch về cơ cấu lao động trên càng được thúc đẩy nhanh chóng. Việc ứng
dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, một mặt đã tạo ra nhiều ngành nghề ở
địa phương, kéo theo sự xuất hiện của nhiều loại hình dịch vụ có khả năng thu
hút lao động lớn. Mặt khác, do ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, năng
suất lao động của nông nghiệp sẽ không ngừng tăng lên, vai trò quan trọng của
nông thôn là cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn dân, cung cấp nguyên vật
liệu cho công nghiệp ngày càng được đảm bảo cho phép giải phóng lao động
nông nghiệp sang làm các ngành nghề khác. Như vậy, song song với quá trình
rút lao động ra khỏi sản xuất nông nghiệp cũng đồng thời diễn ra quá trình thu
hút lực lượng lao động ở nông thôn vào các ngành công nghiệp và dịch vụ. Đó là
xu hướng vận động phù hợp với xu hướng phát triển tiến bộ nhưng yêu cầu đặt
ra là phải chuẩn bị lực lượng lao động ở nông thôn đáp ứng được yêu cầu của lao
động ngành nghề, tạo ra sự đồng bộ giữa kỹ năng, trình độ của người lao động
với cơ hội việc làm.
Ba là, lực lượng lao động ở nông thôn có nhiều đặc tính phù hợp với sự
phát triển nhưng còn nhiều hạn chế.
Nông thôn là nơi sinh sống và làm việc của đại đa số dân cư Việt nam.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nông thôn Việt nam đã tạo nên những truyền
thống, bản sắc văn hóa quí báu làm nên những phẩm chất tốt đẹp của con người
nơi đây. Đó là tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, lòng yêu nước, trung
thành với Đảng với cách mạng, sự cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất v.v...
đó là những lợi thế to lớn của lực lượng lao động trong phát triển kinh tế, xã hội
ở nông thôn và tham gia phân công lao động quốc tế.
Tuy nhiên bên cạnh đó lực lượng lao động nông thôn còn có nhiều điểm
hạn chế, đó là:
- Lực lượng lao động ở nông thôn có sự phân bố không đều giữa các vùng
các ngành. Do ngành nông nghiệp của chúng ta chủ yếu thiên về trồng trọt nên
19
phần lớn lực lượng lao động tập trung ở những nơi có điều kiện tự nhiên thuận
lợi cho việc cấy trồng làm cho vùng đồng bằng đất chật người đông thiếu việc
làm trong khi đó vùng rừng núi có diện tích đất đai rộng lớn nhưng dân cư thưa
thớt, không đủ lao động để phát triển nghề rừng.
- Lực lượng lao động ở nông thôn thường hạn chế về sức khỏe, thể lực.
Do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên có năng suất thấp bấp
bênh nên thu nhập của người lao động thấp hơn thu nhập của người lao động ở
thành thị. Hơn nữa, do hạn chế nhiều mặt về thông tin, thiếu hiểu biết về chế độ
dinh dưỡng cho cuộc sống cho nên người lao động ở nông thôn không có điều
kiện để nâng cao chất lượng cuộc sống. Cho nên thể lực, tầm vóc và tuổi thọ
trung bình của người lao động ở nông thôn thường thấp hơn người lao động ở
thành thị. Khu vực nông thôn cũng chưa được tạo điều kiện để nâng cao các yếu
tố khác của chất lượng nguồn lao động như văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ
cũng như nhận thức về công ăn việc làm, tinh thần ý thức trách nhiệm để có việc
làm và làm việc có năng suất chất lượng hiệu quả. Hạn chế này của lực lượng lao
động ở nông thôn hiện nay đang được khắc phục cùng với sự phát triển của nông
thôn và quá trình rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
- Lực lượng lao động ở nông thôn thường có trình độ học vấn và trình độ
tay nghề chưa cao. Nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận: ở nông thôn dân trí
thấp hơn hai lần so với thành thị; nhân tài thấp hơn 8,6 lần, đào tạo nghề thấp
hơn 10 lần, lao động trí óc ở nông thôn cũng chỉ chiếm 4,4% trong khi đó ở
thành thị là 30%, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề ở nông thôn mới chỉ 10%
trong khi đó chung cả nước là 25% [6, tr.27]. Do điều kiện sản xuất ở nông thôn
còn ở trình độ thấp thô sơ lạc hậu, người lao động thường làm theo kinh nghiệm
nên không có điều kiện nâng cao tay nghề. Mặt khác, người lao động có trình độ
cao thường muốn tìm cho mình một chỗ làm việc ở thường ngoài nông thôn, có
thu nhập cao, có điều kiện hưởng thụ nhiều kết quả của sự phát triển xã hội. Họ
thường tìm việc làm ở thành phố chứ ít khi làm việc ở nông thôn. Lực lượng lao
động còn lại ở nông thôn thường là những người không có điều kiện đi làm ở nơi
20
khác, mới ở lại nông thôn làm việc. Vì vậy, cần phải đào tạo và tập huấn tay
nghề cho họ để nâng cao chất lượng nguồn lao động ở khu vực này.
Tóm lại, lực lượng lao động ở nông thôn nước ta chiếm phần lớn trong lực
lượng lao động cả nước. Đó là nguồn lực to lớn có vai trò quan trọng trong phát
triến kinh tế xã hội ở nông thôn nói riêng và trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước nói chung. Tiềm năng của lực lượng lao động ở nông thôn
là hết sức to lớn. Tuy nhiên tiềm năng đó chưa được khai thác và phát huy đầy
đủ. Lực lao động ở nông thôn đông nhưng chưa mạnh. Chính vì vậy cần phát
triển kinh tế xã hội, tạo việc làm sử dụng nguồn lao động ở nông thôn một cách
đầy đủ, sát hợp với trình độ người lao động để khai thác phát huy nguồn nhân
lực ở nông thôn đồng thời phải có chiến lược bồi dưỡng phát triển lực lượng lao
động cho khu vực này.
1.2. Giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn
1.2.1. Khái niệm giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc
làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng
và xã hội.
Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai khai thác triệt để tiềm năng của
một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả. Chính vì
vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao
động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình. Trong
đó, có quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản thân và
gia đình góp phần xây dựng quê hương đất nước.
Giải quyết việc làm có thể được hiểu ở một số khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng.
Trong đó, tư liệu sản xuất là một trong hai yếu tố quan trọng và không thể thiếu
của quá trình sản xuất. Do đó, nó sẽ thúc đẩy quá trình sản xuất, tạo thêm công
ăn, việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, tư liệu tiêu dùng là nhân tố góp
phần quan trọng trong việc tái sản xuất sức lao động ( nhân tố không thể thiếu
của quá trình sản xuất), góp phần hoàn thiện quá trình sản xuất, tạo việc làm.
21
Thứ hai, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động. Số lượng lao động
phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động và
sự di chuyển của lao động, chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phát triển của
giáo dục đào tạo, y tế, thể dục thể thao và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng,
Thứ ba, thực hiện các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả
cao, các giải pháp về quản lý thị trường, kỹ thuật... làm nhằm nâng cao hiệu quả
của việc làm, các công cụ quản lý, kích thích tạo việc làm, quản lý nhà nước về
giải quyết việc làm, bảo vệ quyền lao động và thành quả lao động của con người.
Chỉ khi nào trên thị trường người lao động và người sử dụng lao động gặp
gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm được hình thành. Giải quyết việc làm
cần phải được xem xét cả phía người lao động, người sử dụng lao động và vai trò
của nhà nước.
Vì vậy, “giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế, xã
hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động có thể có việc làm” [16, tr.18].
1.2.2. Các nhân tố tác động tới giải quyết việc làm cho người lao động ở
nông thôn
1.2.2.1. Vai trò của Nhà nước
Với xuất phát điểm thấp, bản thân những người lao động ở nông thôn
không đủ khả năng để tự giải quyết công ăn việc làm cho chính mình trong quá
trình hội nhập, để góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở
nông thôn cần thiết phải có sự hỗ trợ của nhà nước từ nhiều mặt. Vai trò của nhà
nước ảnh hưởng tới việc làm của người lao động nông thôn thông qua việc xây
dựng chiến lược phát triển đất nước, quy hoạch phát triển đô thị, trợ giúp vốn,
phát triển nguồn nhân lực…
Qua quy hoạch phát triển các ngành, quy hoạch phát triển các vùng nông
nghiệp, nông thôn, gắn với chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn
các ngành hỗ trợ nhau và tạo điều kiện cho nhau phát triển, tạo nhiều việc làm
cho người lao động nông thôn. Ngoài ra, thông qua các chính sách, các chương
trình, dự án của mình, nhà nước đã tác động tới việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đào
tạo nguồn nhân lực, hướng dẫn, khuyến khích người lao động phát triển ngành,
22
nghề, tạo việc làm, tạo vốn cho đầu tư phát triển ngành, nghề: thông qua đền bù
đất, qua vay ưu đãi, qua luật đầu tư, qua việc tạo lập môi trường kinh doanh, môi
trường pháp lý ổn định, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
1.2.2.2. Quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Qui mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người
hoặc thu nhập bình quân đầu người.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy
mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ
trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %.
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:
y = dY/Y × 100 (%)
Trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng.
Như vậy có thể thấy, quy mô nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng có tác
động tích cực tới quy mô việc làm trong nền kinh tế quốc dân.
Thứ nhất, khi nền kinh tế quốc dân được tái sản xuất mở rộng sẽ góp phần
mở rộng quy mô nền kinh tế nói chung và nền sản xuất nông nghiệp nói riêng.
Từ đó, tạo điều kiện thu hút việc làm, góp phần giải quyết việc làm cho người
lao động ở nông thôn.
Thứ hai, tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất để tạo thêm việc làm,
giảm thất nghiệp và nâng cao mức sống của nhân dân vì nền kinh tế đạt tốc độ
phát triển cao sẽ thúc đẩy nhu cầu mở rộng quy mô đầu tư mới, tái đầu tư mở
rộng, từ đó tăng nhu cầu về việc làm. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ được giải quyết
có kết quả khi có mức tăng dân số hợp lý.
Tăng trưởng kinh tế có vai trò quan trọng, song không phải sự tăng trưởng
nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội như mong muốn. Sự tăng trưởng
kinh tế quá mức như hiện nay có thể dẫn nền kinh tế đến trạng thái “quá nóng”,
lạm phát sẽ xảy ra, làm cho nền kinh tế thiếu bền vững; còn sự tăng trưởng kinh
tế quá thấp sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Vì vậy,
cần tăng trưởng kinh tế hợp lý sẽ đảm bảo cho nền kinh tế ở trạng thái tăng
23
trưởng bền vững. Đó là sự tăng trưởng kinh tế đạt mức tương đối cao và ổn định
trong thời gian tương đối dài gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái và tiến bộ
xã hội.
1.2.2.3. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Trước hết, cùng với quá trình CNH, HĐH một bộ phận lực lượng lao động
trong nông nghiệp sẽ được rút ra khỏi sản xuất nông nghiệp. Do ứng dụng thành
tựu khoa học công nghệ hiện đại, sử dụng máy móc trong sản xuất, làm cho năng
suất lao động trong nông nghiệp tăng, thời gian lao động trong nông nghiệp giảm
xuống, cho phép một bộ phận lao động trong nông nghiệp chuyển sang làm các
ngành nghề khác.
Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước là hướng cơ bản tạo ra cầu lao động ngày
càng lớn cho khu vực nông thôn. Lịch sử phát triển của các nước trên thế giới đã
khẳng định không có công nghiệp thì không có cách nào khác để tạo thêm công
ăn việc làm. Điều đó đặc biệt có ý nghĩa đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế
giới, đặc biệt là đối với các nước đang có tỷ lệ thất nghiệp trong nông nghiệp
cao. Theo lý thuyết của Walt Rostow, hầu hết các nước đang phát triển và đang
trong quá trình công nghiệp hóa nằm ở trong khoảng giai đoạn 2 (giai đoạn
chuẩn bị cất cánh) và giai đoạn 3 (giai đoạn cất cánh). Về mặt cơ cấu kinh tế,
phải bắt đầu hình thành được những ngành công nghiệp chế biến có khả năng
thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng. Ngoài ra, sự chuyển tiếp từ giai đoạn 2
sang giai đoạn 3 đi kèm với sự thay đổi của những ngành chủ lực, đóng vai trò
đầu tàu. Ðiều này nghĩa là, trong chính sách cơ cấu, cần xét đến trật tự ưu tiên
phát triển những ngành, lĩnh vực có khả năng đảm trách vai trò đầu tàu kinh tế
trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau. Điều này có thể được chứng minh rất
rõ trong “lý thuyết nhị nguyên” của A. Lewis.
Lý thuyết này cho rằng ở các nền kinh tế có hai khu vực kinh tế song song
tồn tại: khu vực truyền thống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và có đặc trưng là
rất trì trệ, năng suất lao động rất thấp (năng suất lao động biên tế xem như bằng
không) và lao động dư thừa; khu vực công nghiệp hiện đại có đặc trưng năng
suất lao động cao và có khả năng tự tích lũy. Do lao động dư thừa nên việc
24
chuyển một phần lao động thặng dư từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công
nghiệp không gây ảnh hưởng gì đến sản lượng nông nghiệp. Do có năng suất lao
động cao và tiền công cao hơn nên khu vực công nghiệp thu hút lao động dư
thừa từ khu vực nông nghiệp chuyển sang, và do lao động trong khu vực nông
nghiệp quá dư thừa và tiền công thấp hơn nên các ông chủ công nghiệp có thể
thuê mướn nhiều nhân công mà không phải tăng thêm tiền công, lợi nhuận của
các ông chủ ngành càng tăng; giả định rằng toàn bộ lợi nhuận sẽ được đem tái
đầu tư thì nguồn tích lũy để mở rộng sản xuất trong khu vực công nghiệp ngày
càng tăng lên.
Như vậy, có thể rút ra từ lý thuyết này một nhận định là để thúc đẩy sự
phát triển, các quốc gia đang phát triển cần phải mở rộng khu vực công nghiệp
hiện đại bằng mọi giá mà không quan tâm đến khu vực truyền thống. Sự tăng
trưởng của khu vực công nghiệp tự nó sẽ thu hút hút hết lượng lao động dư thừa
trong nông nghiệp chuyển sang và từ trạng thái nhị nguyên, nền kinh tế sẽ
chuyển sang một nền kinh tế công nghiệp phát triển.
Lý thuyết nhị nguyên của Lewis tiếp tục được nhiều kinh tế gia nổi tiếng
(như G. Ranis, J Fei, Harris) khác tiếp tục nghiên cứu và phân tích. Luận cứ của
họ xuất phát từ khả năng phát triển và tiếp nhận lao động của khu vực công
nghiệp hiện đại. Khu vực này có nhiều khả năng lựa chọn công nghệ sản xuất,
trong đó có công nghệ sử dụng nhiều lao động nên về nguyên tắc có thể thu hút
hết lượng lao động dư thừa của khu vực công nghiệp. Nhưng việc di chuyển lao
động được giả định là do chênh lệch về thu nhập giữa lao động của hai khu vực
kinh tế trên quyết định (các tác giả giả định rằng thu nhập của lao động công
nghiệp tối thiểu cao hơn 30% so với lao động trong khu vực nông nghiệp). Như
vậy, khu vực công nghiệp chỉ có thể thu hút lao động nông nghiệp khi có sự dư
thừa lao động nông nghiệp và chênh lệch tiền công giữa hai khu vực đủ lớn.
Nhưng khi nguồn lao động nông nghiệp dư thừa ngày càng cạn dần thì khả năng
duy trì sự chênh lệch về tiền lương này sẽ ngành một khó khăn. Ðến khi đó, việc
tiếp tục di chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp sẽ làm giảm sản
lượng nông nghiệp và làm cho giá cả nông sản tăng lên, và kéo theo đó là mức
25
tăng tiền công tương ứng trong khu vực công nghiệp. Sự tăng lương của khu vực
công nghiệp này đặt ra giới hạn về mức cầu tăng thêm đối với lao động của khu
vực này. Như thế, về mặt kỹ thuật, mặc dù khu vực công nghiệp có thể thu hút
không hạn chế lượng lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp chuyển sang thì
về mặt thu nhập và độ co giãn cung cầu thì khả năng tiếp nhận lao động từ khu
vực nông nghiệp của khu vực công nghiệp là có hạn.
Một hướng phân tích khác dựa trên lý thuyết nhị nguyên là phân tích khả
năng di chuyển lao động từ nông thôn (khu vực nông nghiệp) ra thành thị (khu
vực công nghiệp) mà Todaro là một điển hình. Quá trình dịch chuyển lao động
chỉ diễn ra suôn sẻ khi tổng cung về lao động từ nông nghiệp phù hợp với tổng
cầu ở khu vực công nghiệp. Sự di chuyển lao động này không những phụ thuộc
vào chênh lệch thu nhập mà còn vào xác suất tìm được việc làm đối với lao động
nông nghiệp.
Một cách tổng quát, khi phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hai
lĩnh vực sản xuất vật chất quan trọng nhất của nền kinh tế các nước đang phát
triển, các lý thuyết nhị nguyên đã đi từ việc cho rằng chỉ cần tập trung vào phát
triển công nghiệp mà không quan tâm đến sự phát triển của khu vực nông
nghiệp, đến việc chỉ ra những giới hạn của việc này và như vậy, khu vực nông
nghiệp cũng cần được quan tâm thích đáng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.
Như vậy, có thể nói CNH, HĐH tạo cơ hội việc làm cho người lao động
nông thôn, bởi lẽ:
Thứ nhất, quá trình CNH, HĐH với việc đổi mới và sử dụng nhiều trang
thiết bị hiện đại, đó là điều kiện tiên quyết cho việc tạo lập ra những khối lượng
lớn việc làm cho người lao động. Vì việc sử dụng máy móc là cơ sở thiết lập ra
những xí nghiệp vừa và nhỏ và là cơ sở để nâng cao năng suất lao động, tạo việc
làm và thu nhập.
Thứ hai, các khu công nghiệp là nơi có khả năng thu hút lao động rất lớn,
đặc biệt là thanh niên ở nông thôn. Hiện nay, những ngành công nghiệp như giày
da xuất khẩu, may công nghiệp… là những ngành đưa lại khối lượng việc làm
26
lớn cho lực lượng lao động trẻ ở nông thôn, giúp giảm bớt sức ép về việc làm ở
khu vực này. Các khu công nghiệp mọc lên đồng thời cũng làm xuất hiện những
vùng chuyên canh cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp và nhu yếu phẩm
cho đội ngũ công nhân. Điều đó giúp phát triển và mở rộng sản xuất nông nghiệp
hàng hoá ở những vùng lân cận. Hệ thống dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản
phẩm nông nghiệp không ngừng được phát triển. Sản xuất được gắn liền với chế
biến, lưu thông và tiêu thụ, sản xuất ngay tại nông thôn làm hình thành cơ cấu
công - nông nghiệp - dịch vụ ở khu vực này. Sự chuyển dịch đó của cơ cấu kinh
tế đã tạo ra nhiều loại việc làm, thu hút khối lượng lao động lớn ở nông thôn.
Người nông dân có thể chuyển hoá từ lao động thuần nông sang lao động ở các
ngành nghề khác nhau hay kết hợp vùa làm nông vừa làm kinh tế dịch vụ phong
phú và đa dạng.
Thứ ba, CNH, HĐH làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới ở khu vực nông
thôn nhờ ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới. Hiện nay có rất
nhiều ngành nghề mới ở nông thôn như: chế biến, bảo quản rau, củ, quả… nhờ
ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, có khả năng thu hút lao động rất lớn.
Đó là nơi đến của lực lượng lao động rút ra từ lĩnh vực thuần nông.
Quá trình tạo việc làm cho người lao động tăng lên cùng với tốc độ phát
triển của CNH, HĐH. Thông thường, vốn đầu tư xây dựng các ngành công
nghiệp càng lớn, càng cho phép tạo ra nhiều nơi làm việc và thu hút nhiều lao
động nông nghiệp chuyển sang. Như vậy, cùng với quá trình rút một bộ phận lao
động ra khỏi sản xuất nông nghiệp, quá trình CNH, HĐH cũng thu hút ngày càng
lớn bộ phận lao động và các ngành công nghiệp và dịch vụ, làm cho cung - cầu
lao động ở khu vực nông thôn dịch chuyển theo hướng ngày càng thu hẹp khối
lượng cầu lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và mở rộng cầu lao động trong
các ngành công nghiệp và dịch vụ.
Quá trình CNH, HĐH làm xuất hiện những khu kinh tế, khu công nghiệp
hay các khu chế xuất, từ đó hình thành các trung tâm kinh tế và thúc đầy quá
trình đô thị hoá phát triển mạnh mẽ. Quá trình đó đòi hỏi phải dành một bộ phận
27
lớn đất đai để xây dựng, làm cho đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử
dụng ngày càng nhiều.
Sự giảm sút một bộ phận khá lớn đất nông nghiệp đã và đang diễn ra cũng
là một tất yếu khách quan cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,
nhưng nó cũng kéo theo những vấn đề kinh tế - xã hội khác ảnh hưởng tới đời
sống của người lao động, nhất là người lao động nông thôn. Người nông dân sẽ
thiếu tư liệu sản xuất để lao động. Trong điều kiện đất nông nghiệp được chuyển
giao cho các hộ nông nghiệp sử dụng lâu dài, việc thu hồi đất sẽ ảnh hưởng đến
kế hoạch làm ăn lâu dài, ổn định, tự chủ về nhiều mặt, trong đó có vấn đề việc
làm của nhiều hộ gia đình. Thậm chí một bộ phận lớn người lao động sẽ mất việc
làm và nơi ở, phải di dời đến chỗ ở mới, tìm việc làm mới, ngành nghề mới. Vì
vậy, tìm kiếm việc làm phù hợp để ổn định đời sống là nhu cầu bức thiết của bộ
phận lao động này.
Mặt khác, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thực chất là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ
trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Như vậy, lao động trong những ngành thu
hẹp sản xuất sẽ buộc phải chuyển nghề, tính chất ổn định của nghề nghiệp sẽ
giảm đi, sự bấp bênh và yêu cầu chuyển đổi tăng lên cùng với sự đòi hỏi cao về
trình độ nghề nghiệp trong những lĩnh vực đó.
1.2.2.4. Quá trình đô thị hoá
Quá trình đô thị hoá là quá trình gia tăng và lớn lên của hệ thống đô thị,
quá trình biến từng vùng nông thôn thành đô thị là nguyên nhân cơ bản làm giảm
đất canh tác trong nông nghiệp.
Hiện nay, quá trình đô thị hóa cùng sự phát triển khá nhanh các khu - cụm
khu công nghiê ̣p tại nhiều vùng nông thôn đã khiến cho nhiều gia đình nông dân mất đất, mất ruô ̣ng khi quỹ đất được dùng phục vụ cho chủ trương này . Trong
, cải
khi đó , phần lớ n các gia đình nông dân sử du ̣ng tiền đền bù phu ̣c vu ̣ cho những nhu cầu trướ c mắt (như: xây dựng cơ bản phu ̣c vu ̣ cho đờ i sống gia đình thiê ̣n điều kiê ̣n s inh hoa ̣t, thâ ̣m chí sa đà vào các tê ̣ na ̣n xã hội ...) mà không biến nguồn tiền đó thành vốn đầu tư lâu dài cho sản xuất , kinh doanh, để tăng cường
28
viê ̣c làm, tăng thu nhâ ̣p đảm bảo đờ i sống ổn đi ̣nh lâu dài . Do đó vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh không những không gia tăng mà còn có nguy cơ giảm sú t nghiêm tro ̣ng , thâ ̣m chí không còn vốn để đầu tư khiến cho không ít gia đình phải tha phương kiếm kế sinh nhai . Hâ ̣u quả là tình tra ̣ng lao đô ̣ng nông thôn bi ̣ mất viê ̣c làm, thiếu viê ̣c làm đã trở nên khá phổ biến.
Bên cạnh đó có thể nhận thấy, trong xu thế phát triển của nền kinh tế, các
cơ sở hạ tầng ngày càng được phát triển: đường giao thông, bến cảng, trung tâm
thương mại… cũng góp phần làm giảm đất canh tác trong nông nghiệp, nông dân
mất ruộng đất. Ở các nước đang phát triển, công nghệ ứng dụng trong lĩnh vực
nông nghiệp còn chậm và khá lạc hậu, phương thức canh tác theo lối truyền
thống vẫn là chủ yếu, do vậy, đất đai là yếu tố hết sức cơ bản và cần thiết đối với
sản xuất nông nghiệp và khả năng tạo việc làm cho người lao động nông thôn.
Nhiều đất, khả năng tạo việc làm cho lao động nông nghiệp lớn, ít đất, khả năng
tạo việc làm cho lao động nông nghiệp sẽ giảm đi.
Chính vì vậy, đô thị hoá đã đẩy nhanh quá trình phân công lao động, tạo
cơ sở hạ tầng thuận lợi cho sản xuất phát triển, tuy nhiên đối với các nước đang
phát triển có mức thu nhập trung bình thấp, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật,
tay nghề của người lao động thấp, không đủ khả năng khai thác những thuận lợi
của quá trình đô thị hoá tạo ra, để giải quyết công ăn việc làm cho mình. Do vậy,
quá trình đô thị hoá càng diễn ra nhanh chóng, nguy cơ thất nghiệp và thiếu việc
làm trong nông nghiệp, nông thôn càng gia tăng. Vì vậy, trong quy hoạch phát
triển đô thị, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn (đặc biệt là
những người “mất” đất canh tác) là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách.
1.2.2.5. Khả năng đáp ứng của người lao động
Ở các nước đang phát triển, trình độ văn hoá, khoa học công nghệ… của
lao động nông nghiệp, nông thôn thường rất thấp. Do vậy, khi tiến hành CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng và phát triển đô thị, phát triển các ngành
phi nông nghiệp gắn liền với nền kinh tế thị trường, cơ hội tìm kiếm việc làm
của người lao động nông nghiệp ở các đô thị là rất khó khăn. Ngay cả trong quá
trình sản xuất nông nghiệp hiện nay - thời đại khoa học công nghệ - lao động
29
nông nghiệp cũng đòi hỏi phải được đào tạo. Cùng với tiến trình đô thị hoá,
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đặt ra những yêu cầu mới cho người lao
động, đòi hỏi người lao động phải nâng cao năng lực, trình độ của mình. Nếu
người lao động nông nghiệp nói riêng, người lao động trong các ngành nói
chung không được đào tạo và đào tạo lại đáp ứng yêu cầu mới thì tự họ sẽ mất
công ăn việc làm, cơ hội tìm kiếm việc làm sẽ rất khó khăn, tình trạng thất
nghiệp và thiếu việc làm là không thể tránh khỏi.
Thực trạng về lao động và việc làm ở các nước đang phát triển đã chứng
minh: lao động có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn giỏi đang rất thiếu,
trong khi lao động thủ công và lao động có tay nghề thấp lại thừa với số lượng
lớn. Do vậy, muốn giải quyết được công việc cho người lao động ở nông thôn
cần thiết phải quan tâm tới việc đào tạo, đào tạo lại đội ngũ lao động nông
nghiệp nói riêng và lao động xã hội nói chung theo cơ cấu lao động hợp lý, phù
hợp với từng giai đoạn đô thị hoá, CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn.
1.2.2.6. Vốn đầu tư cho phát triển các ngành, nghề ở nông thôn
Vốn đầu tư có ý nghĩa to lớn đối với việc làm của người lao động: vốn
dùng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm máy móc, thiết bị, đào tạo
đội ngũ người lao động… Đặc biệt trong điều kiện ngày nay, để phát triển sản
xuất đòi hỏi phải đổi mới nhanh chóng máy móc, thiết bị, tích cực ứng dụng tiến
bộ khoa học - công nghệ, hơn nữa hoạt động trong nền kinh tế thị trường cạnh
tranh khốc liệt, tính rủi ro cao. Vốn lớn đem lại lợi thế cho doanh nghiệp và
người sản xuất, thực tế là: muốn phát triển một ngành, nghề nào đó đều cần phải
có một lượng vốn đầu tư tương ứng cho một chỗ làm mới.
Các nước đang phát triển phần lớn là các nước có xuất phát điểm thấp đặc
biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Nền kinh tế thị trường tuy có thể tạo
ra nhiều cơ hội cho người lao động có việc làm nâng cao thu nhập, ổn định đời
sống. Song, tình trạng đói, nghèo, thiếu vốn đầu tư đã làm hạn chế việc mở rộng
cơ sở sản xuất hoặc phát triển các ngành, nghề mới, thu hút lao động nông
nghiệp bị giải phóng ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp (mất đất, thiếu đất để canh tác
do đô thị hoá, CNH, HĐH…) hoặc một bộ phận lao động nông thôn thiếu việc
30
làm lúc thời vụ nông nhàn. Do đó, nếu để lao động nông thôn tự lo vốn để giải
quyết việc làm cho mình là rất khó khăn. Để giải quyết vấn đề việc làm cho lao
động nông thôn trong quá trình phát triển cần phải có sự trợ giúp về vốn của các
chủ thể kinh tế bên ngoài khu vực nông thôn.
Tuy nhiên một thực tế cho thấy, vốn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
của Việt Nam thời gian qua được đánh giá là vừa thiếu lại vừa yếu .Theo Viện
Nghiên cứu, quản lý kinh tế trung ương, giai đoạn 2003 - 2007, con số đầu tư
vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam là 113 nghìn tỷ đồng, chỉ
chiếm 8,7% tổng vốn đầu tư của Nhà nước, chỉ đáp ứng được 17% nhu cầu của
khu vực nông nghiệp. Cả nước có 39.414 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp, nông thôn, chiếm 30% số doanh nghiệp toàn quốc. Tuy nhiên số
doanh nghiệp thật sự hoạt động trong lĩnh vực nông - lâm, thủy sản chỉ là 1.454
doanh nghiệp, với tổng nguồn vốn đầu tư 32,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 6% tổng số
vốn của khu vực doanh nghiệp nông thôn và 0,9% tổng số vốn của doanh nghiệp
cả nước. Trong đó, chỉ 12,9% doanh nghiệp có vốn đầu tư hơn mười tỷ đồng.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực nông nghiệp, nông thôn cũng rất hạn
chế. Giai đoạn 1998 - 2008, có 966 dự án FDI đầu tư vào nông nghiệp, nông
thôn với tổng số vốn hơn 4,7 tỷ USD, chiếm 10% dự án trong lĩnh vực nông
nghiệp và chỉ chiếm 3,3% số dự án FDI đầu tư trong cả nước [7, tr.25]. Những
con số đó phần nào nói lên thực trạng đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn của
Việt Nam trong tình hình hiện nay còn rất thiếu và yếu.
Mặc dù thời gian qua, Nhà nước, Chính phủ đã triển khai nhiều chương
trình về chính sách nông nghiệp, nông thôn, nhưng kết quả vẫn chưa như mong
muốn. Nguyên nhân lớn nhất là các chính sách vẫn chưa đủ mạnh để khuyến
khích các doanh nghiệp về với nông thôn. Bởi điều đầu tiên khi đầu tư mà các
doanh nghiệp tính đến là lợi nhuận thì khu vực kinh tế nông thôn chưa đáp ứng
được. Thị trường eo hẹp, sức mua yếu, trong khi cả đầu vào và đầu ra cho sản
phẩm hàng hóa đều khó khăn như lao động tay nghề thấp, nguyên liệu không ổn
định, cộng với chi phí giá thành vận tải, điện nước lại ở mức cao. Hơn nữa, mặt
bằng kinh doanh cũng không dễ dàng, trong khi nhiều doanh nghiệp đòi hỏi có
31
vùng nguyên liệu lớn thì đất đai ở khu vực nông thôn lại phân tán nhỏ lẻ, khó
tích tụ... Hàng loạt những khó khăn trên đã trở thành những rào cản trên con
đường về nông thôn của không ít doanh nghiệp, dù có thiện chí và tâm huyết.
1.2.3. Vai trò của giải quyết việc làm đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội ở nông thôn
Giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn có một vai trò rất
quan trọng. Hiện nay, nước ta đang tiến hành quá trình đẩy nhanh CNH, HĐH
đất nước. Mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chỉ tiêu phấn đấu đến năm
2020 Việt Nam về căn bản trở thành một nước công nghiệp. Quá trình CNH,
HĐH nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, xây dựng một
cơ cấu kinh tế hợp lý, quá trình này tất yếu sẽ mang lại những đổi thay sâu sắc
cho toàn bộ nền kinh tế nói chung và đời sống kinh tế của người dân nói riêng.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo quá trình chuyển dịch cơ cấu
lao động. Khi đó sẽ xuất hiện những hoạt động sản xuất mới, một số hoạt động
sản xuất cũ sẽ được thay thế, thất nghiệp cơ cấu phát sinh. Vì vậy, cần thiết phải
tạo việc làm cho lao động trong nông thôn nhằm giảm thất nghiệp cơ cấu.
Ngày nay, trong quá trình CNH, HĐH, các khu công nghiệp lớn sẽ hình
thành và phát triển, thu hút lao động có chất lượng cao. Người lao động ở nông
thôn muốn có việc làm ổn định cần phải đáp ứng đòi hỏi về mặt trình độ của
công nghệ mới. Đây chính là cơ hội mới để lao động trong nông thôn tiếp cận
với cơ hội đào tạo và phát triển. Người lao động ở nông thôn có việc làm ổn định
sẽ ổn định được cuộc sống của họ và gia đình họ, tránh được các yếu tố rủi ro
trong quá trình tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên, một thực tế hiện nay là người lao
động ở Việt Nam nói chung và người lao động ở nông thôn nói riêng chưa đáp
ứng các yêu cầu của quá trình CNH, HĐH (còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên
môn, về trình độ ngoại ngữ, về tác phong và kỷ luật lao động...). Do đó, cơ hội
tìm kiếm việc làm của người lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng
còn nhiều hạn chế.
Chính vì vậy, tạo việc làm cho lao động ở nông thôn sẽ giúp họ được tiếp
cận với cơ hội đào tạo, phát triển, nâng cao trình độ, có thêm cơ hội tìm kiếm
32
việc làm, tăng thu nhập, cải thiện mức sống, giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi và
trách nhiệm của mình trong xã hội.
Bên cạnh đó, giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn góp
phần quan trọng trong việc xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn. Một thực tế cho
thấy hiện nay ở hầu hết nông thôn Việt Nam là vào những thời điểm nông nhàn,
người lao động chủ yếu đi tìm kiếm việc làm thêm ở khu vực thành thị như:
buôn bán, phụ xây, xếp dỡ hàng hoá… hầu hết là những công việc thiếu tính ổn
định và thu nhập thấp. Do vậy, nếu có các chính sách giải quyết việc làm cho
người lao động ở nông thôn kịp thời, hiệu quả sẽ góp phần làm giảm áp lực xã
hội (trợ cấp hộ nghèo….), đồng thời giảm bất ổn xã hội (tệ nạn xã hội, tâm lý bất
mãn, tiêu cưc…). Mặt khác, còn góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống,
nâng cao năng lực cho người lao động, tạo cơ hội cho người lao động vươn lên,
cải thiện giai tầng xã hội…
Như vậy, giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lao động ở nông thôn là vấn
đề cấp thiết vì giải quyết việc làm hiệu quả nó chính là cơ sở cho sự tiến bộ,
công bằng xã hội và khắc phục các tệ nạn nảy sinh trong xã hội, đảm bảo ổn định
và an toàn xã hội. Nó tạo cho người lao động có cơ hội độc lập về kinh tế và phát
triển các mối quan hệ xã hội, đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế -
xã hội ở nước ta hiện nay.
1.2.4. Quan điểm của Đảng và quy định của Nhà nước ta về giải quyết
việc làm cho người lao động ở nông thôn
1.2.4.1. Quan điểm của Đảng
Trong sự nghiệp lãnh đạo của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam chúng ta
luôn coi trọng yếu tố con người bởi vì con người vừa là trung tâm, vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho
người lao động luôn là một trong những chỉ tiêu định hướng cho sự phát triển
kinh tế - xã hội.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), đánh dấu bước chuyển
biến trong nhận thức và quan niệm về vấn đề việc làm của Đảng và Nhà nước đã
xác định: “Nhà nước cố gắng tạo thêm việc làm và có chính sách để người lao
33
động tự tạo ra việc làm bằng cách khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, khai
thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác, kể cả kinh tế tư bản tư
nhân”. Đây là khâu đột phá có tính cách mạng về việc làm ở nước ta; Nhà nước
không bao cấp toàn bộ về việc làm mà chuyển dần sang việc Nhà nước kết hợp
với người lao động, gia đình và xã hội.
Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng nêu: “Kết hợp lao động tại chỗ
với phân bố lại lao động theo vùng lãnh thổ, xây dựng các khu kinh tế mới, hình
thành các cụm kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nhỏ ở nông thôn, ở các thị trấn, thị tứ
đồng thời mở rộng xuất khẩu lao động, đa dạng hoá việc làm có thu nhập để thu
hút người lao động”.
Và “Phấn đấu tạo thêm nhiều việc làm, kể cả cho những người dôi ra
trong quá trình sắp xếp lại sản xuất, kinh doanh và bộ máy quản lý, chú trọng
đào tạo lại nghề nghiệp và giúp một phần vốn cần thiết ban đầu”.
Quan điểm trên của Đảng đã góp phần xã hội hoá vấn đề giải quyết việc
làm cho người lao động, thực hiện quyền lao động và quyền có việc làm của
người lao động theo quy định của Hiến pháp 1992.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII nêu vấn đề việc làm trong cơ chế thị
trường đã được nhận thức rõ hơn và phát triển lên một tầm cao mới. Đại hội đã
vạch rõ: “Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo
pháp luật, phát triển dịch vụ việc làm. Tiếp tục bố trí lại dân cư và lao động trên
địa bàn cả nước, tăng dân cư trên địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh
quốc phòng. Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu. Giảm đáng kể tỷ lệ
thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn”.
Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Giải quyết việc làm
là một trong những chính sách xã hội cơ bản của quốc gia. Bằng nhiều biện
pháp, hằng năm tạo ra hàng triệu việc làm mới, tận dụng số ngày công lao động
chưa được sử dụng đến nhất là trên địa bàn nông thôn” [18, tr.210]. Như vậy
đến Đại hội lần thứ IX của Đảng vấn đề việc làm đã được nhận thức một cách
sâu sắc và toàn diện trong mối quan hệ với các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã
34
hội. Chính sách việc làm phải được khai thác một cách tối đa nguồn lực con
người Việt Nam chúng ta.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nêu: “Khuyến
khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình
doanh nghiệp để thu hút nhiều lao động. Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc
làm cho nông dân, nhất là những nơi đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô
thị hoá và công nghiệp. Phát triển các dịch vụ phục vụ đời sống của
người lao động ở các khu công nghiệp. Tiếp tục thực hiện chương trình
xuất khẩu lao động, tăng tỷ lệ lao động xuất khẩu đã qua đào tạo, quản lý
chặt chẽ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động” [19, tr.203].
Đến nay, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã
khẳng định “Đẩy mạnh phát triển thị trường lao động. Tiền lương, tiền công phải
được coi là giá cả sức lao động, được hình thành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước. Chế độ hợp đồng lao động được mở rộng, áp dụng phổ
biến cho các đối tượng lao động. Đổi mới tổ chức và hoạt động của các trung
tâm dịch vụ việc làm của Nhà nước; khuyến khích tổ chức các hội chợ việc làm;
phát triển các tổ chức dịch vụ tư vấn, sàn giao dịch, giới thiệu việc làm đi đôi với
tăng cường quản lý của Nhà nước; ngăn chặn các hành vi lừa đảo và các hiện
tượng tiêu cực khác [20, tr.213].
1.2.4.2. Các quy định pháp lý của Nhà nước
Từ quan điểm trên, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các chính sách và
cơ chế quản lý cho phù hợp với sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần;
tạo nhiều việc làm mới, đáp ứng nhu cầu việc làm và nâng cao đời sống cho
người lao động. Quyết định số 136/HĐBT ngày 9/10/1989 của Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) là dấu mốc có tính lịch sử nhằm giải quyết việc làm
cho người lao động dôi dư do sắp xếp lại tổ chức sản xuất khu vực Nhà nước,
chuyển ra ngoài làm việc.
Ngày 1/7/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
126/1998/QĐ-TTg về việc quyết định chương trình mục tiêu quốc gia về việc
làm đến năm 2000.
35
Ngày 27/11/2009, Chính phủ đã phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao
động nông thôn đến năm 2020. Theo đề án, từ nay đến năm 2020 bình quân mỗi
năm sẽ đào tạo cho hơn 1 triệu lao động nông thôn (LĐNT), trong đó, đào tạo và
bồi dưỡng cho 100.000 cán bộ và công chức xã. Để từ đó, nâng cao chất lượng
và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, để tăng thu nhập lao động nông
thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Song song với
việc đào tạo nghề để án cũng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã có bản lĩnh
chính tri, vững vàng, có trình độ, năng lực, phẩm chẩt đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ quản lý hành chính , quản lý điều hành kinh tế, phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Theo dự tính thì tổng kinh phí
thực hiện Đề án vào khoảng 25.980 tỷ đồng. Đề án được chia làm 3 giai đoạn
thực hiện. Giai đoạn đầu từ năm 2009 - 2010, tiếp tục dạy nghề cho khoảng
800.000 LĐNT và thí điểm các mô hình dạy nghề cho LĐNT với khoảng 18.000
người, tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề theo các mô hình này tối thiểu đạt
80%; giai đoạn 2011-2015, tiếp tục đào tạo nghề cho khoảng 5,2 triệu LĐNT và
đào tạo, bồi dưỡng công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành và thực thi công vụ cho
khoảng 500.000 lượt cán bộ, công chức xã; đề án sẽ đào tạo nghề cho 6 triệu
LĐNT vào giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề ở giai đoạn
này tối thiểu đạt 80%.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác đào tạo nghề cho nông dân
trong giai đoạn hiện nay, ngay từ đầu năm 2009 (trước khi triển khai Quyết định
1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đào
tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020) Hội Nông dân tỉnh đã chủ động
xây dựng Kế hoạch đào tạo nghề cho nông dân giai đoạn 2009 - 2013 (Kế hoạch
số 15/KH-HND của Đảng đoàn Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên ngày 05/6/2009
về việc Thực hiện chương trình của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 7
khóa X về đào tạo nghề cho nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên), định
hướng đến năm 2020 theo chương trình hành động số 25 của Ban chấp hành
Đảng bộ tỉnh khoá XVII thực hiện Nghị quyết TW 7 khoá X của Ban chấp hành
36
Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trình Ban Thường vụ
tỉnh uỷ và được phê duyệt tại Kết luận số 721-TB/TU của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy, trong đó giao cho Hội Nông dân tỉnh thực hiện tuyên truyền chính sách dạy
và học nghề cho cán bộ, hội viên, nông dân trong tỉnh, khảo sát nhu cầu học
nghề của nông dân và đào tạo nghề cho theo nhu cầu. Mục tiêu mỗi năm đào tạo
cho 1000 hội viên, nông dân với nhóm ngành chủ yếu là nông nghiệp trong đó
chú trọng đào tạo các ngành Chăn nuôi thú y, Chế biến chè an toàn, kỹ thuật
trồng trọt và nhóm phi nông nghiệp chủ yếu là tin học và may công nghiệp.
1.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn
1.3.1. Kinh nghiệm của Nghệ An Nghệ An là một tỉnh có diện tích tự nhiên là 16 487,29km22 dân số là
3.003.000 người. Trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 1.477.687
người, đa số là lao động ở khu vực nông thôn với 1.335.743 người chiếm hơn
90% lực lượng lao động của tỉnh [1, tr.52].
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Nghệ An luôn xác định
công tác giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và việc làm cho người
lao động ở nông thôn nói riêng là một trong những nội dung quan trọng, góp phần
tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và địa phương.
Để thực hiện mục tiêu đó Sở Lao động Thương binh và Xã hội đã tham
mưu tập trung xây dựng các chương trình, đề án, chính sách và giải quyết việc
làm, được Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An phê duyệt và phối hợp chỉ đạo đạt kết
quả tốt. Từ năm 2006 - 2010, thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã
hội chuyển dịch cơ cấu kinh tế lồng ghép các chương trình dự án đầu tư, phát triển
các loại hình doanh nghiệp, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các làng
nghề, trang trại, các tổng đội thanh niên xung phong xây dựng kinh tế. Nghệ An
đó tạo thêm việc làm cho trên 130.000 lao động (trung bình mỗi năm giải quyết
việc làm cho 2,6 đến 2,7 vạn người, trong đó tạo việc làm mới tập trung cho trên
30.000 lao động) và nâng tỉ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn từ
37
73,93% năm 2001 lên 77,71% năm 2004 [1, tr.87]. Để đạt kết quả đó, tỉnh Nghệ
An đó thực hiện đồng bộ các chủ trương và biện pháp như sau:
- Công tác giải quyết việc làm đã được toàn tỉnh xác định là một trong
những nội dung chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, được các
cấp các ngành quan tâm, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc và được sự đồng tình ủng
hộ của các tầng lớp nhân dân.
- Nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ
quan đoàn thể và các tầng lớp nhân nhân về lĩnh vực lao động việc làm, dạy
nghề và xóa đói giảm nghèo có nhiều chuyển biến sâu sắc phù hợp với cơ chế thị
trường và đáp ứng phần nào yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH quê hương toàn
tỉnh đó quán triệt và thực hiện tốt hơn chủ trương phát triển kinh tế gắn liền với
giải quyết việc làm, dạy nghề và xóa đói giảm nghèo trước yêu cầu hội nhập và
phát triển kinh tế - xã hội.
- Tập trung nghiên cứu, tổng kết thực tiễn các phong trào, xây dựng phát
triển các mô hình, cách làm hiệu quả trong công tác giải quyết việc làm, có nhiều
cơ chế chính sách thông thoáng khuyến khích thu hút các nhà đầu tư, các chủ
doanh nghiệp trong và ngoài nước đến Nghệ An; Đồng thời xúc tiến đẩy nhanh
tiến độ dạy nghề và xuất khẩu lao động, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức trong công tác giải quyết việc làm.
- Cụ thể, trong những năm qua Nghệ An đó thực hiện tốt công tác giải
quyết việc làm cho người lao động nhất là cho người lao động ở nông thôn trong
các lĩnh vực sau:
+ Trong nông nghiệp, tiến hành chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi,
đầu tư thâm canh, phát triển các vùng chuyên canh nguyên vật liệu cho công
nghiệp chế biến như: dứa, sắn, mía, chè công nghiệp cây ăn quả... Phát triển các
hỡnh thức kinh tế trang trại, tổng đội thanh niên xung phong kinh tế hợp tác,
kinh tế hộ gia đỡnh để thu hút lao động, tạo nhiều việc làm. Bên cạnh đó tỉnh đó
đầu tư phát triển nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và xuất khẩu thủy hải sản, dịch
vụ, du lịch phát triển vùng kinh tế ven biển giải quyết nhiều việc làm cho người
lao động ở khu vực này.
38
+ Khuyến khích, thu hút đầu tư tạo điều kiện thuận lợi về vốn, địa điểm,
thủ tục đăng ký để thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển có chính
sách khuyến khích, ưu tiên thu hút các doanh nghiệp lớn, có chất lượng cao đầu
tư vào Nghệ An. Hiện nay tỉnh đó thu hút đầu tư và phát triển trên 1.800 doanh
nghiệp, tạo việc làm cho gần 15.000 lao động [1, tr.104].
+ Trợ giúp về nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm để mở rộng ngành nghề tiểu
thủ công nghiệp, phát triển làng nghề, tạo việc làm cho người lao động ở nông
thôn. Hiện nay cả tỉnh có trên 100 làng nghề và 12 đơn vị được UBND tỉnh
quyết định công nhận làng nghề, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 4.000
lao động. Cơ cấu lao động của tỉnh đó được chuyển dịch theo hướng giảm lao
động ở khu vực nông thôn, tăng lao động làm việc trong công nghiệp và dịch vụ.
+ Tạo việc làm qua quĩ quốc gia hỗ trợ việc làm: Bằng nguồn vốn chương
trỡnh mục tiờu quốc gia, từ năm 2001 đến 2005, mỗi năm tỉnh đó triển khai trờn
100 dự án cho vay giải quyết việc làm với số tiền trên 40 tỷ đồng, giải quyết việc
làm ổn định cho khoảng 30.000 lao động [1, tr.103].
+ Công tác xuất khẩu lao động được chỉ đạo triển khai có hiệu quả. Bên
cạnh việc áp dụng chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo ngoại ngữ, giáo dục, định
hướng cho vay vốn tín dụng, thực các chính sách khuyến khích, thu hút các đơn
vị xuất khẩu lao động, tỉnh đó chỉ đạo các huyện, thành thị, xây dựng được nhiều
mô hỡnh liờn kết xuất khẩu lao động có hiệu quả giữa chính quyền xó phường,
thị trấn với các doanh nghiệp và đơn vị cung ứng xuất khẩu lao động. Tính đến
ngày 31 tháng 12 năm 2008 trên địa bàn tỉnh đó có 58 đơn vị xuất khẩu lao
động, gần 40.000 lao động đang làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Thành quả
do xuất khẩu lao động mang cho các gia đình lao động ở nông thôn ở Nghệ An
nói riêng và cho toàn tỉnh nói chung là vô cùng to lớn, góp phần giải quyết việc
làm và đưa lại nguồn thu nhập từ ngoại tệ cho tỉnh.
+ Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, nhất là đào tạo nghề cho lao động
nông nghiệp nông thôn, miền núi. Hiện nay tỉnh đó có 13 trường, 24 trung tâm
dạy nghề công lập và 9 cơ sở dạy nghề ngoài công lập với cơ cấu ngành nghề đa
dạng phong phú phù hợp với yêu cầu của cơ chế thị trường. Từ đó có chính sách
39
khuyến khích phát triển các cơ sở dạy nghề tư nhân, ngoài công lập, các doanh
nghiệp và các làng nghề, đa dạng hóa phương thức đào tạo, phù hợp với yêu cầu
phát triển sản xuất trong từng khu vực kinh tế. Bên cạnh việc tuyển sinh đào tạo
tập trung dài hạn, ngắn hạn, truyền nghề tại các làng nghề, hoạt động liên kết đào
tạo nghề tại các cơ sở sản xuất, các vùng dân tộc cũng được quan tâm mở rộng.
Nhờ vậy, qui mô đào tạo tăng nhanh, năm 2004 là 34.352 người đến năm 2008
đó tăng lên 49.520 người. Chất lượng dạy nghề của tỉnh đó phần nào đáp ứng
yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp và thị trường lao
động. Hơn 80% học sinh sau học nghề đều có việc làm và tự tạo được việc làm
ổn định [1, tr.92].
1.3.2. Kinh nghiệm của Thái Bình
Thái Bình là tỉnh nông nghiệp “đất chật người đông” với diện tích tự nhiên 1546,01 km2, dân số 1,83 triệu người, mật độ dân số 1.188 người/km2, gấp
1,18 lần so với các tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông hồng và 5,7 lần so với cả
nước, có 915 ngàn người trong độ tuổi lao động, chiếm 50% dân số của tỉnh, số
dân ở nông thôn chiếm 93,7%, thu nhập bình quân đầu người thấp mới đạt
3.889.000 đông/người/năm vào năm 2003 [17, tr.45]. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành
thị còn cao, chiếm 4,82% (năm 2004), tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông
thôn cũng chỉ đạt 79,19%. Vì vậy, tình trạng không có việc làm và thiếu việc làm
ở cả thành thị và nông thôn còn rất lớn. Trong những năm qua, tỉnh Thái Bình đã
tập trung vào thực hiện chương trình giải quyết việc làm thu được kết quả và
kinh nghiệm như sau:
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tạo mở việc làm, khôi phục phát
triển làng nghề truyền thống, du nhập ngành nghề mới, thu hút đầu tư nước
ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu lao động..
- Chú trọng công tác đào tạo nghề cho người lao động, khuyến khích tư
nhân và các tổ chức xã hội mở cơ sở đào tạo nghề cho nông dân.
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
40
- Xây dựng hệ thống cơ chế chính sách đầu tư thông thoáng để tạo nên sức
hút đầu tư, lựa chọn đầu tư phát triển những ngành nghề có công nghệ phù hợp
với khả năng, trình độ của người lao động
- Thông qua các tổ chức chính trị - xã hội phát động các phong trào phát
triển kinh tế như: Cho vay vốn, phổ biến kinh nghiệm sản xuất, chuyển giao kỹ
thuật, công nghệ mới trong nông nghiệp... đã tạo được nhiều việc làm cho người
lao động.
1.3.3. Kinh nghiệm của Thanh Hoá
Thanh Hoá là một tỉnh nông nghiệp là chủ yếu, với dân số hơn 3,6 triệu
người, 80% dân số sống ở nông thôn, nguồn lao động dồi dào (hơn 2 triệu người)
chiếm trên 50% dân số trung bình của tỉnh [32, tr.50]. Tuy có số lượng lao động
đông nhưng chất lượng nguồn lao động còn thấp chưa đáp ứng với yêu cầu trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thanh Hoá còn là tỉnh nghèo, chậm
phát triển, tài nguyên thiên nhiên đa dạng nhưng không nhiều và khó khai thác,
thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu. Hàng năm, toàn tỉnh có trên 3 vạn
người đến tuổi lao động chưa có việc làm, chưa kể số lao động của năm trước
chuyển sang, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn rất lớn, mới sử dụng 70% quỹ
thời gian làm việc trong năm.
Để giảm sức ép lao động và việc làm, những năm qua Thanh Hoá đã tập
trung vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu kinh tế
nông thôn. Xây dựng và phát triển các vùng nguyên liệu phục vụ cho công
nghiệp chế biến như: mía đường, vùng cây nguyên liệu sản xuất giấy; bảo vệ,
chăm sóc, trồng rừng; đầu tư đánh bắt xa bờ; đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ, hải sản,
phát triển chăn nuôi gia súc gia cầm; khôi phục làng nghề truyền thống và phát
triển ngành nghề mới; phát triển thương mại dịch vụ... Hàng năm đã tạo ra việc
làm mới cho trên 10 vạn lao động, là một trong những tỉnh có nhiều kinh nghiệm
trong việc giải quyết việc làm cho người lao động. Cụ thể như sau:
- Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh cùng các cấp, các
ngành trong tỉnh luôn xác định giải quyết việc làm là một chương trình kinh tế-
41
xã hội quan trọng, coi đó là yếu tố quan trọng góp phần quyết định sự thành công
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh.
- Cùng với cả nước, Thanh Hoá đã xây dựng được các văn bản pháp quy
tạo điều kiện cho việc thực hiện các quan hệ lao động trong cơ chế thị trường,
thuê mướn lao động, sử dụng lao động dược dễ dàng hơn.
- Các tổ chức chính trị như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ... đã tích tham gia giải quyết việc làm,
xoá đói giảm nghèo, hướng dẫn nông dân phát triển sản xuất.
- Thông qua giải quyết việc làm, các chương trình kinh tế - xã hội đã được
thực hiện có hiệu quả thiết thực. Huy động được các nguồn lực đa dạng, đầu tư
cho phát triển kinh tế, tạo mở việc làm.
- Đã phát triển nhiều hình thức, mô hình tổ chức giải quyết việc làm phong
phú, đa dạng ở các cấp, các ngành, các địa phương, đã xuất hiện nhiều những điển
hình, nhân tố mới, góp phần tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động.
- Tập trung đào tạo nghề cho người lao động, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, đặc biệt là ở các lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi, khôi phục ngành nghề
truyền thống, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia mở cơ sở dạy nghề.
1.4. Một số kết luận rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn
Từ sự phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động và giải quyết việc
làm ở một số địa phương trong nước thời gian qua, có thể rút ra bài học kinh
nghiệm và vận dụng cho giải quyết việc làm, trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội ở nước ta nói chung và ở Thái Nguyên nói riêng như sau:
- Nhà nước cần phải có những chính sách vĩ mô về vai trò quản lý nhà
nước để chống thất nghiệp, thiếu việc làm, giải quyết việc làm cho người lao
động. Từ đó, đề ra những giải pháp và chính sách đúng đắn, đồng bộ, đồng thời
đảm bảo được những điều kiện để thực thi
- Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện: Đẩy mạnh
thâm canh tăng năng suất cây trồng vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với sự phát triển đa dạng các ngành
nghề sử dụng nhiều lao động thu hút lao động, phân công lại lao động, tạo việc
42
làm tại chỗ ở nông thôn.
- Đa dạng hoá các hình thức giải quyết việc làm: Phát triển kinh tế - xã hội
tạo mở việc làm, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, đẩy mạnh
phát triển tiểu thủ công nghiệp, nâng cao đời sống của nông dân, phát triển hệ
thống dịch vụ và chất lượng tìm việc làm của người lao động. Xã hội hoá giải
quyết việc làm, huy động tổng hợp các nguồn lực và sự tham gia rộng rãi của các
tổ chức, đoàn thể chính trị xã hội và toàn thể nhân dân.
- Đào tạo nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động đáp
ứng nhu cầu thị trường lao động, nhất là các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, yêu cầu
chất lượng cao và khu vực thu hút nhiều lao động.
- Phát triển hệ thống sự nghiệp về lao động - việc làm như các trung tâm
dịch vụ việc làm, cơ sở dạy nghề, các tổ chức xuất khẩu lao động.
- Trên cơ sở phát huy nội lực trong nước, mở rộng hợp tác quốc tế để
tranh thủ và sử dụng có hiệu quả sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm cho
giải quyết việc làm.
Tùy vào điều kiện tự nhiên, văn hoá, kinh tế - xã hội của mỗi địa phương,
mà có những giải pháp giải quyết việc làm khác nhau. Tuy nhiên, trong xu thế
toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Thái Nguyên cần tham khảo và vận dụng
sáng tạo những kinh nghiệm của các tỉnh, nhất là những tỉnh có điều kiện kinh tế -
xã hội tương đồng để giải quyết tốt việc làm cho người lao động ở nông thôn.
43
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1. Các nhân tố tác động tới giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở
nông thôn tỉnh Thái Nguyên
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Thái Nguyên là trung tâm chính tri ̣, kinh tế , văn hoá củ a vù ng Viê ̣t Bắc nói riêng và vùng núi Đông Bắc nói chung . Vớ i hê ̣ thống đườ ng bô ̣, đườ ng sắt, đườ ng sông hình dẻ qua ̣t mà thành phố Thái Nguyên là đầu nú t , nơi đây trở thành cửa ngõ g iao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng
đồng bằng Bắc Bô ̣ . Thái Nguyên còn có tiềm năng rất lớn về tài nguyên thiên
nhiên, du li ̣ch, nguồn nhân lực. Đó thực sự là những nhân tố quan tro ̣ng , tạo nền tảng để Thái Nguyên phát huy thế và lực mới trong sự nghiệp công nghiệp hóa ,
hiê ̣n đa ̣i hóa.
Vị trí địa lý: Thái Nguyên có diện tích đất tự nhiên không lớn với 3.541,1 km2, chiếm 1,13% diê ̣n tích cả nướ c . Phía bắc giáp tỉnh Bắc Kạn , phía tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc , Tuyên Quang, phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn , Bắc Giang, phía
nam giáp thủ đô Hà Nô ̣i.
Địa hình: Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc - Nam,
thấp dần xuống phía Nam và chấm dứ t ở Đè o Khế . Cấu trú c vù ng nú i phía Bắc (castơ) tạo thành nhiều hang động , thung lũng chủ yếu là đá phong hoá mạnh 1.590m, các vách núi
nhỏ. Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo vớ i đỉnh cao nhất dựng đứng và kéo dài theo hướng T ây Bắc - Đông Nam. Ngoài hai dãy núi kể
trên, tỉnh còn có dãy Ngân Sơn (bắt đầu từ Bắc Ka ̣n cha ̣y theo hướ ng Đông Bắc - Tây Nam đến huyê ̣n Võ Nhai ) và dãy núi Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Là tỉnh trung du , miền nú i, nhưng đi ̣a hình tỉnh Thái Nguyên không phứ c tạp lắm nếu so với các tỉnh trung du , miền nú i khác trong vù ng. Đây là điều kiê ̣n
44
thuâ ̣n lơ ̣i cho tỉnh trong quá trình phát triển sản xuất nông - lâm nghiê ̣p nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Khí hậu: khí hậu của Thái Nguyên chia làm 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Lươ ̣ng mưa trung bình khoảng 2.000 mm/năm, cao nhất vào tháng 8 (400 mm) và thấp nhất vào tháng 1 (dướ i 50 mm).
Do đi ̣a hình thấp dần từ vù ng nú i cao xuống vù ng nú i thấp, trung du, đồng bằng theo hướ ng Bắc - Nam, nên khí hâ ̣u Thái Nguyên vào mù a đông đươ ̣c chia thành 3 vùng rõ rệt: vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai ; vùng lạnh
, Đồng Hỷ , Phú Bình , Phổ Yên , thị xã Sông Công và
vừ a gồm các huyê ̣n Đi ̣nh Hoá, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai; vùng ấm gồm các huyê ̣n Đa ̣i Từ (tháng 6: thành phố Thái Nguyên . Nhiê ̣t đô ̣ chênh lê ̣ch giữa tháng nóng nhất 28,90C) vớ i tháng la ̣nh nhất (tháng 1: 15,20C) là 13,70C. Tổng số giờ nắng trong năm dao đô ̣ng trong khoảng 1.300 - 1.750 giờ , phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm.
Tài nguyên thiên nhiên:
Tài nguyên đất
Đất núi: chiếm 48,4% diê ̣n tích tự nhiê n, nằm ở đô ̣ cao trên 200m so vớ i mực nướ c biển , hình thành do sự phong hóa trên đá mácma , đá biến chất và đá trầm tích . Đất núi thích hợp cho phát triển lâm nghiệp , trồng rừ ng đầu nguồn , rừ ng phòng hô ̣, rừ ng kinh doanh và trồng các cây đă ̣c sản, cây ăn quả , cây lương thực phu ̣c vu ̣ nhân dân vù ng cao.
Đất đồi: chiếm 31,4% diê ̣n tích tự nhiên , chủ yếu hình thành trên cát kết , bô ̣t kết, phiến sét và mô ̣t phần phù sa cổ . Đất đồi tại một số vùng n hư: Đa ̣i Từ , Phú Lương,... nằm ở đô ̣ cao 150 - 200m, đô ̣ dốc 5 - 200, phù hợp cho sự sinh trưở ng củ a cây công nghiê ̣p và cây ăn quả lâu năm.
Đất ruộng: chiếm 12,4% diê ̣n tích tự nhiên , đây là loa ̣i đất có sự phân hoá phứ c ta ̣p. Mô ̣t phần phân bố do ̣c theo các con suối , rải rác không tập trung , chịu tác động lớn của chế độ thuỷ văn khắc nghiệt (lũ đột ngột, hạn hán,...), khó khăn
cho viê ̣c canh tác.
45
Điều đáng lưu ý Nguyên khá lớ n , , diê ̣n tích đất chưa sử du ̣ng ở Thái
chiếm 22,18% diê ̣n tích đất tự nhiên . Diê ̣n tích đất này có khả năng phát triển lâm nghiê ̣p , nhất là mô hình trang tra ̣i vườ n rừ ng . Đây là tiềm năng , đồng thờ i ai thác , sử du ̣ng hiê ̣u quả cũng là nhiệm vụ lớn đặt ra cho tỉnh trong việc kh
nguồn tài nguyên này.
Tài nguyên rừng: là tỉnh miền núi với diện tích đất lâm nghiệp 152 nghìn
ha (chiếm 43% diê ̣n tích đất tự nhiên toàn tỉnh ), Thái Nguyên có lợi thế trong khai thác và phát triể n kinh tế rừ ng . Tuy nhiên, diê ̣n tích rừ ng củ a Thái Nguyên ngày càng bị thu hẹp , tài nguyên rừng đang bị suy giảm đáng kể . Vầu, nứ a và các loại đặc sản rừng , dươ ̣c liê ̣u và đô ̣ng vâ ̣t rừ ng bi ̣ giảm sú t nghiêm tro ̣ng . Thực tra ̣ng này đă ̣t ra cho tỉnh Thái Nguyên nhiê ̣m vu ̣ rất nă ̣ng nề trong viê ̣c bảo vê ̣, trồng mớ i rừ ng.
Tài nguyên khoáng sản : trong lòng đất Thái Nguyên chứ a đựng những
nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú , đa da ̣ng. Theo tài liê ̣u điề u tra củ a Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh , Thái Nguyên có tiềm năng rất lớn về khoáng
sản, phân bố tâ ̣p trung ta ̣i các huyê ̣n Đa ̣i Từ , Phú Lương, Đồng Hỷ và Võ Nhai.
Khoáng sản nhiên liệu : sau Quảng Ninh , Thái Nguyên được đán h giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ 2 trong cả nướ c, đáp ứ ng nhu cầu cho ngành sản xuất vâ ̣t liê ̣u xây dựng , nhiê ̣t điê ̣n và các nhu cầu khác không chỉ trong tỉnh Thái Nguyên.
Khoáng sản kim loại : Thái Nguyên là tỉnh già u tài nguyên kim loa ̣i đen , kim loa ̣i màu, kim loa ̣i quý hiếm. Đến năm 2004, toàn tỉnh đã đăng ký 39 mỏ và điểm quă ̣ng sắt , vớ i tổng trữ lươ ̣ng trên 50 triê ̣u tấn , trong đó nhiều mỏ có trữ lươ ̣ng 1 - 5 triê ̣u tấn. Hàm lượng Fe đạt 58,8 - 61,8%, đươ ̣c xếp vào loa ̣i có chất lươ ̣ng tốt. Riêng mỏ Tiến Bô ̣ (Đồng Hỷ) có trữ lượng 24,1 triê ̣u tấn . Tổng trữ lươ ̣ng quă ̣ng sắt thăm dò khoảng 36,6 triê ̣u tấn. Về titan, tỉnh đã đăng ký gần 20 điểm mỏ , tổng trữ lươ ̣ng (gốc + sa khoáng) khoảng 20 triê ̣u tấn, trong đó mỏ Cây Châm (Phú Lương) có trữ lượng khoảng 4,8 triê ̣u tấn.
: chì kẽm , thiếc, Kim loại mà u : cũng khá phong phú với các chủng loại
vonfram. Trong đó , chì kẽm có 19 mỏ và điểm quă ̣ng, tâ ̣p trung ở 2 khu vực :
46
vùng Lang Hít (Đồng Hỷ) trữ lươ ̣ng trên 130 nghìn tấn; vùng Nam Đại Từ , trữ lươ ̣ng trên 23 nghìn tấn. Thiếc tâ ̣p trung ở vù ng La Bằng , phía tây Núi Pháo, trữ lươ ̣ng dự kiến 11,3 nghìn tấn Sn và 2.982 tấn Bi . Thiếc sa khoáng tâ ̣p trung ở vùng Phục Linh . Qua đánh giá sơ bô ̣ , trữ lươ ̣ng thiếc sa khoáng C 1 + C2 vào khoảng 1.130 tấn SnO2 (caxiterit), nhưng triển vo ̣ng (P) có thể đạt khoảng 6.000 tấn. Đặc biệt, vùng Hà Thượng (Núi Pháo - Đa ̣i Từ ) đã phát hiê ̣n thấy mỏ đa kim vớ i trữ lươ ̣ng thăm dò khoảng 110 triê ̣u tấn , trong đó có nhiều loa ̣i như : WO3, CaF2, Au, Cu, Bi,... Mỏ đa kim này được đánh giá là một trong các mỏ có trữ lươ ̣ng lớ n nhất thế giớ i.
Kim loại quý hiếm : có vàng với 20 mỏ và điểm quặng , trong đó có 10
điểm quă ̣ng vàng gốc.
Khoáng sản phi kim : Thái Nguyên có rất nhiều khoáng sản phi kim phục
vụ cho công nghiệp xây dựng như : đá vôi (trữ lươ ̣ng thăm dò gầ n 200 triê ̣u tấn, dự tính còn hàng trăm triê ̣u tấn chưa đươ ̣c thăm dò ); đá vôi trơ ̣ dung (mớ i thăm dò tại mỏ Núi Voi, trữ lươ ̣ng 8,38 triê ̣u tấn); đá vôi ốp lát (mỏ La Hiên, trữ lươ ̣ng ặng ở Định Hoá ). Bên ca ̣nh đó , 35 triê ̣u tấn ), ngoài ra còn có nhiều điểm qu đôlômít có 3 mỏ đã được thăm dò ở Đồng Hỷ , Võ Nhai với trữ lượng trên 100 triê ̣u tấn. Sét (xi măng), tổng trữ lươ ̣ng đã thăm dò hơn 60 triê ̣u tấn, tâ ̣p trung ở vùng Cúc Đường (La Hiên) và Khe Mo (Đồng Hỷ). Sét cao lanh có ở nhiều nơi ,
trữ lươ ̣ng đã thăm dò 356.937 tấn, trong đó có mô ̣t mỏ sét (cao lanh) trữ lươ ̣ng lớ n, chất lươ ̣ng cao đươ ̣c phát hiê ̣n ở Đa ̣i Từ , dự đoán trữ lươ ̣ng trên 20 triê ̣u tấn. Loại sét này có thể phục vụ cho sản xuất gốm sứ , gạch chịu lửa ,... Sét (gạch ngói) đã đăng ký 12 mỏ và điểm, trong đó đa số đã đươ ̣c thăm dò , tổng trữ lươ ̣ng trên 30 triê ̣u m3. Ngoài ra, Thái Nguyên còn có trữ lượng cát , cuô ̣i, sỏi khá lớn, phân bố chủ yếu trên sông Cầu và sông Công.
. Tài nguyên du lịch : Tài nguyên du lịch của Thái Nguyên rất đa dạng Trong đó, hồ Nú i Cốc vớ i diê ̣n tích 25 km2 cùng nhiều đảo lớn nhỏ trong lòng hồ đã mở ra tiềm năng du li ̣ch lớ n nhất tỉnh. Khu du li ̣ch hồ Nú i Cốc cách thành phố Thái Nguyên 20 km về phía tây , vớ i phong cảnh sơn thuỷ hữu tình đã trở thành khu du li ̣ch lớ n nhất củ a tỉnh , thu hú t đông đảo du khách đến tham quan , nghỉ
47
, đồng thờ i mang la ̣i cho tỉnh khoản thu
dưỡng, kéo theo sự ph át triển của các loại hình dịch vụ du lịch , tạo thêm nhiều viê ̣c làm cho ngườ i dân đi ̣a phương không nhỏ . Ngoài ra, Thái Nguyên còn có bãi đá cổ Thần Sa , Mái Đá Ngườm , nơi đươ ̣c coi là cái nôi của người tiền cổ. Cùng với đó, hang Phươ ̣ng Hoàng, suối Mỏ Gà , thác Mưa Roi (huyê ̣n Võ Nhai ), thác Bảy Tầng , cây đa nghìn tuổi (huyê ̣n Đi ̣nh Hóa),... là những tiềm năng du lịch lớn của tỉnh.
Thái Nguyên còn có tài nguyên du li ̣ch nhân văn khá lớ n vớ i nhiều di tích lịch sử, công trình kiến trú c, nghê ̣ thuâ ̣t, phong tu ̣c, tâ ̣p quán, lễ hô ̣i, truyền thống văn hóa đă ̣c sắc củ a đồng bào các dân tô ̣c thiểu số ,... Thái Nguyên là nơi có truyền thống cách mạng lâu đời , thủ đô kháng chiến - "Thủ đô gió ngàn " trong
kháng chiến chống thực dân Pháp . An toàn khu (ATK) vớ i nhiều đi ̣a danh như : đồi Tỉn Keo - nơi Chủ ti ̣ch Hồ Chí Minh đã sống và làm viê ̣c ; khu nhà làm viê ̣c . của Bộ Chính trị , Bô ̣ Quốc phòng ,... là những di tích lịch sử vô cùng quý giá Bên ca ̣nh đó , vớ i vi ̣ trí là trung tâm văn hoá củ a các dân tô ̣c thiểu số miền nú i, có Bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam, Thái Nguyên có lợi thế lớ n để phát triển đa da ̣ng các loa ̣i hình du li ̣ch . Nhân di ̣p kỷ niê ̣m 115 năm ngày sinh Chủ ti ̣ch Hồ Chí Minh , Đảng bô ̣ và nhân dân Thủ đô Hà Nội tặng thủ đô kháng chiến Nhà tưở ng niê ̣m Hồ Chí Minh (công trình văn hoá - lịch sử có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối vớ i thế hê ̣ hôm nay và mai sau).
Vị trí địa lý thuận lợi , nguồn tài nguyên đa da ̣ng , phong phú , tiềm nămg du li ̣ch sinh thái , du li ̣ch li ̣ch sử , du li ̣ch về nguồn đầy hấp dẫn ,... tiếp tu ̣c khai thác, phát huy hiệu quả những lợi thế, tiềm năng này trong phát triển kinh tế - xã hô ̣i, Thái Nguyên sẽ tiến nhanh , tiến ma ̣nh, tiến vững chắc trên con đườ ng công nghiê ̣p hoá, hiê ̣n đa ̣i hoá.
Đến năm 2006, tỉnh đã thăm dò và đă ng ký 10 mỏ và điểm than đá , tổng
71,9 triê ̣u tấn . Trong đó , đáng kể nhất là than
trữ lươ ̣ng đã đươ ̣c thăm dò là antraxit vớ i các mỏ : Núi Hồng (sản lượng khai thác khoảng 300 nghìn tấn/năm), Khánh Hoà (khoảng 180 nghìn tấn/năm); Bá Sơn (35 nghìn tấn/năm). Trữ lươ ̣ng than mỡ chiếm số lươ ̣ng lớ n vớ i mỏ Phấn Mễ (100 nghìn tấn/năm) và mỏ Làng Cẩm (25 nghìn tấn/năm).
48
Kết cấu hạ tầng: Hê ̣ thống giao thông thuâ ̣n lơ ̣i ta ̣o điều kiê ̣n cho Thái Nguyên đẩy ma ̣n h giao lưu kinh tế , văn hóa - xã hội với các địa phương khác trong vù ng và cả nướ c. Hê ̣ thống đườ ng bô ̣ củ a tỉnh có tổng chiều dài 2.753 km. Quốc lô ̣ 3 từ Hà Nô ̣i đi Bắc Ka ̣n , Cao Bằng cắt do ̣c tỉnh Thái Nguyên , chạy qua thành phố Thái Nguyên - cử a ngõ phía nam nối Thái Nguyên vớ i Hà Nô ̣i , các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và các tỉnh, thành phố trong cả nước. Các quốc lộ 37, 1B,
279 cùng với hệ thống tỉnh lộ , huyê ̣n lô ̣ là những ma ̣ch máu quan tro ̣ng nối Thái Nguyên vớ i các tỉnh trong vù ng . Tuyến đườ ng sắt Hà Nô ̣i - Quán Triều là đầu mối giao lưu quan tro ̣ng giữa vù ng đồng bằng sông Hồng vớ i Khu công nghiê ̣p Sông Công, Khu gang thép Thái Nguyên và thành phố Thái Nguyên . Hê ̣ thống đườ ng thuỷ có 2 tuyến sông chính đi Hải Phòng và Hòn Gai (Quảng Ninh), rất thuâ ̣n lơ ̣i cho viê ̣c vâ ̣n chuyển hàng hoá từ Thái Nguyên đến hai cảng lớ n Hải Phòng và Cái Lân (Quảng Ninh).
, những tiềm năng quan tro ̣ng đưa Thái
Vớ i vi ̣ trí trung tâm vù ng Viê ̣t Bắc, Thái Nguyên còn là nơi hội tụ văn hoá của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc , đầu mối hoa ̣t đô ̣ng văn hoá , giáo dục của cả vùng núi phía Bắc . Vớ i 5 trườ ng đa ̣i ho ̣c thuô ̣c Đa ̣i ho ̣c Thái Nguyên , 14 trườ ng cao đẳng , trung ho ̣c chuyên nghiê ̣p và da ̣y nghề , Thái Nguyên là trung tâm đào ta ̣o khoa ho ̣c và giáo du ̣c lớ n thứ ba cả nướ c (sau Hà Nô ̣i và Thành phố Hồ Chí Minh ). Đó là những tiền đề Nguyên trở thành trung tâm chính tri ̣, kinh tế, văn hoá củ a Viê ̣t Bắc và vù ng nú i Đông Bắc trong hiê ̣n ta ̣i và tương lai.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Mô hình phát triển kinh tế của Thái Nguyên
- Về kinh tế: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lầ n thứ XVI xác đi ̣nh mu ̣c tiêu đến năm 2010: "Phát huy cao độ mọi nguồn lực, đẩy ma ̣nh công nghiê ̣p hoá , hiê ̣n đa ̣i hoá , tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sự nghiệp đổi mới và phát triển tỉnh Thái Nguyên". Bám sát mục tiêu này , trong 5 năm (2006 - 2010), Đảng bô ̣, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu vượt qua
nhiều thử thách, giành được những thành tựu rất quan trọng.
49
Thành tựu kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010. Được sự quan tâm, tạo
điều kiện của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung
ương cùng với sự nỗ lực vươn lên của toàn đảng bộ, chính quyền và nhân dân các
dân tộc trong tỉnh nên trong 5 năm (2006 - 2010), Thái Nguyên đã giành được
nhiều thành tựu quan trọng, có nhiều chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra. Cụ thể
tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt trên 11%; công nghiệp, xây
dựng tăng gần 15%; tổng thu ngân sách về trước kế hoạch 2 năm với tổng số thu
năm 2010 đạt trên 2500 tỷ. Điều quan trọng hơn trong giai đoạn 2006 - 2010 cơ
cấu kinh tế của tỉnh Thái Nguyên đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tích
cực tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Đến năm 2010 kinh tế ngành
công nghiệp xây dựng chiếm trên 41%, ngành dịch vụ chiếm gần 37% còn lại trên
21% là ngành kinh tế nông, lâm nghiệp và thuỷ sản. Sản xuất nông - lâm nghiê ̣p và thuỷ sản phát triển theo hướ ng đổi mớ i cơ cấu cây trồng, vâ ̣t nuôi, cơ cấu mù a vụ và sản xuất hàng hoá . Tố c đô ̣ tăng trưở ng giá tr ị sản xuất nông - lâm nghiê ̣p bình quân đạt gần 4,5%/năm, vươ ̣t mu ̣c tiêu Nghi ̣ quyết Đa ̣i hô ̣i Đảng bô ̣ tỉnh lần thứ XVII đề ra . Sản lượng lương thực bình quân đạt 337 kg/ngườ i/năm. Đề án phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè giai đoạn 2006 - 2010 đươ ̣c triển khai có hiệu quả . Trong 5 năm qua, tỉnh Thái Nguyên đã trồng thêm gần 4.000 ha,
nâng diê ̣n tích chè củ a tỉnh lên trên 16 nghìn ha, trong đó có 1.500 ha chè giống mớ i. Sản lượng chè búp tươi tăng từ 66,4 nghìn tấn (năm 2006) lên trên 100 nghìn tấn (năm 2010), bình quân tăng 8,55%/năm. Chất lươ ̣ng sản phẩm chè đươ ̣c giữ vững và có uy tín trên thi ̣ trườ ng [12, tr.10].
Trong những năm gần đây, Thái Nguyên đã và đang tập trung thực đẩy
mạnh công tác cải cách hành chính, công tác quy hoạch giải phóng mặt bằng và
thu hút đầu tư. Do có những quyết sách đúng đắn và sự vào cuộc quyết liệt của
cả hệ thống chính trị nên kết thúc năm 2010 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có
tổng số trên 3000 doanh nghiệp và có khoảng 500 dự án được cấp phép đăng ký
đầu tư vào Thái Nguyên. Cũng trong thời gian trên tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn
toàn tỉnh giảm trên 3%/năm, tạo việc làm mới hàng năm cho cho khoảng 16.000
lao động [12, tr.25].
50
Hoạt động thương mại với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đã đảm
bảo cung ứng đầy đủ hàng hoá phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân
dân. Các loại hình dịch vụ trên các lĩnh vực tài chính , ngân hàng, bảo hiểm y tế , giáo du ̣c, thể du ̣c - thể thao, giao thông, bưu chính - viễn thông,... phát triển khá. Tốc đô ̣ tăng trưở ng bình quân củ a khu vực di ̣ch vu ̣ đa ̣t 9,4%/năm. Tỷ trọng chi đầu tư trong tổng chi ngân sách tăng từ 29,85% (năm 2006) lên 34,51% (năm 2010).
Kết cấu ha ̣ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được đầu tư : Sau 5 năm thực hiê ̣n
, kết cấu ha ̣ tầng củ a tỉnh đã có
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII những chuyển biến đáng kể . Vớ i những chính sách thu hú t đầu tư thông thoáng , bình quân mỗi năm tỉnh đã huy động trên 1.600 tỷ đồng cho đầu tư phát triển , trong đó chủ yếu triển khai thực hiê ̣n 7 chương trình, 10 đề án và 14 công trình trọng điểm. Tỉnh đã chuyển hơn 300 ha đất nông ng hiê ̣p thành đất công nghiê ̣p , xây dựng mớ i 01 khu công nghiê ̣p tâ ̣p trung và hình thành 11 cụm công nghiệp nhỏ [13, tr.15]. Mô ̣t số đi ̣a phương như thành phố Thái Nguyên , thị xã Sông Công, huyê ̣n Phổ Yên , huyê ̣n Đồng Hỷ bướ c đầu xây dự ng kết cấu ha ̣ tầng kỹ thuâ ̣t cho đô thi ̣ mớ i.
Hê ̣ thống giao thông tiếp tu ̣c đươ ̣c đầu tư phát triển . Các trục đường chính đươ ̣c đầu tư mở rô ̣ng , hình thành mạng lưới giao thông nối liền giữa các vùng , thuâ ̣n lơ ̣i cho viê ̣c đi l ại, lưu thông hàng hoá giữa các đi ̣a phương trong tỉnh và các tỉnh bạn.
Công tác cấp nướ c sa ̣ch phu ̣c vu ̣ cho sinh hoa ̣t ở thành thi ̣
, nông thôn và miền nú i đươ ̣c quan tâm thoả đáng . Tỷ lệ hộ nông thôn , miền nú i đươ ̣c dù ng nướ c sạch theo chương trình mục tiêu quốc gia đạt 66%. Hê ̣ thống lướ i điê ̣n đươ ̣c nâng cấp , cải tạo . Đến năm 2010, toàn tỉnh có 85% số hô ̣ đươ ̣c sử du ̣ng điê ̣n. Mạng lưới bưu chính - viễn thông ngày càng đươ ̣c đầu tư và phát triển, mâ ̣t đô ̣ điê ̣n thoa ̣i tăng từ 4,5 máy/100 dân (năm 2006) lên 9 máy/100 dân (tính đến tháng 6-2010).
Văn hoá - xã hội được quan tâm đầu tư phát triển : Trong 5 năm (2006 - 2010), lĩnh vực văn hoá - xã hội cũng đã đạt được những tiến bộ đáng kể . Mục tiêu xoá đói, giảm nghèo hoàn thành vượt mức Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh
51
lần thứ XVII đề ra. Đến cuối năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 5% (theo chuẩn cũ). Bình quân mỗi năm tạo trên 1,2 vạn chỗ làm mới [13, tr.24].
Mạng lưới y tế đã cơ bản đáp ứng nhu cầu khám, chữa bê ̣nh cho nhân dân. 100% xã, phườ ng, thị trấn đã có bác sĩ . Giáo dục - đào ta ̣o phát triển cả về loa ̣i hình và quy mô, từ ng bướ c nâng dần chất lươ ̣ng. Cơ sở vâ ̣t chất trườ ng lớ p đươ ̣c quan tâm đầu tư , thực hiê ̣n có hiê ̣u quả chương trình kiên cố hoá trườ ng lớ p và đề án xoá phòng học tạm . Trong 5 năm (2006 - 2010), tỉnh đã xây dựng 1.569
phòng học, trong đó đã xoá xong phòng học tạm cho 36 xã đặc biệt khó khăn , xây dựng 351 phòng học mới [13, tr.27].
Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá " tiếp tu ̣c đươ ̣c đẩy ma ̣nh và nâng cao chất lươ ̣ng . Năm 2010, toàn tỉnh có 85% gia đình đươ ̣c công nhâ ̣n gia đình văn hoá , 67% xóm, phố đươ ̣c công nhâ ̣n xóm , phố văn hoá [13, tr.30]. Phong trào thể du ̣c - thể thao phát triển rô ̣ng khắp , cơ sở vâ ̣t chất phục vụ phát triển thể dục - thể thao đươ ̣c quan tâm đầu tư , các môn thể thao
thành tích cao được chú ý phát triển.
Trên cơ sở kết quả đã đạt được, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã xác định: “Tích cực triển khai
thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng các cấp; tập trung mọi nguồn lực đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, chú trọng phát triển nông
nghiệp, nông thôn; đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng các khu, cụm
công nghiệp, các khu du lịch dịch vụ, tổ chức thành công Festival Trà Quốc tế,
từng bước hình thành vùng kinh tế trọng điểm Bắc Thủ đô Hà Nội’’ [22, tr.225].
Mục tiêu cụ thể hàng năm Thái Nguyên có tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 12% trở
lên, các chỉ tiêu xuất khẩu, thu ngân sách, giá trị công nghiệp, thu nhập bình
quân đầu người... tăng 20% trở lên. Thái Nguyên đã đề ra 9 nhóm giải pháp để
thực hiện trong đó ngay trong năm 2011 sẽ tập trung vào các nhóm giải pháp
trọng yếu như: Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách để huy động mọi nguồn lực
cho đầu tư, phát triển; đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng; tiếp tục đầu tư
kết cấu hạ tầng, chỉnh trang đô thị; tổ chức thực hiện thành công Nghị quyết
52
Trung ương VI về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn; tiếp tục thực hiện công
cuộc cải cách hành chính...
Các chỉ tiêu chủ yếu:
- Tốc đô ̣ tăng trưở ng GDP bì nh quân 12 - 13%/năm. Trong đó , công nghiê ̣p - xây dựng tăng bình quân 15 - 16%/năm, nông - lâm nghiê ̣p tăng bình quân 6%/năm, dịch vụ tăng bình quân 12%/năm. Giá trị sản xuất công nghiệp
tăng bình quân 22%/năm [22, tr.227].
- Sản lượng lươn g thực (có hạt) tăng bình quân 5%/năm; sản lượng chè tăng bình quân 6%/năm; đô ̣ che phủ rừ ng đa ̣t 55%; ngành chăn nuôi, thuỷ sản tăng bình quân 6,5 - 7,5%/năm. Kim nga ̣ch xuất khẩu trên đi ̣a bàn tăng bình quân 17%/năm. Thu ngân sách bình quân tăng từ 19%/năm trở lên. Củng cố vững chắc kết quả phổ câ ̣p giáo du ̣c tiểu ho ̣c đú ng đô ̣ tuổi và giáo du ̣c trung ho ̣c cơ sở , từ ng bướ c phổ câ ̣p giáo du ̣c trung ho ̣c , phấn đấu có 50% trườ ng đa ̣t chuẩn quốc gia . Giải quyết viê ̣c làm mớ i cho 15 nghìn lao động/năm. Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân trên 2%/năm. Giảm tỷ lệ sinh bình quân 0,15o/oo/năm [22, tr.230].
2.1.2.2. Mô hình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Thái Nguyên
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đưa ra quan
điểm về xây dựng nông thôn mới, cụ thể: “Quy hoạch phát triển nông thôn gắn
với phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch
vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. Triển khai chương trình xây dựng
nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững
chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những nét văn hoá đặc sắc của
nông thôn Việt Nam. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi
trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông
thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động.
Triển khai có hiệu quả Chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn
mỗi năm” [20, tr.123].
Đến nay, việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) đã
được tỉnh Thái Nguyên xây dựng thành chương trình hành động, ra các chỉ thị,
53
nghị quyết, văn bản hướng dẫn thực hiện, tập huấn và kiện toàn. Tỉnh Thái
Nguyên phấn đấu đến năm 2015 sẽ có 30 xã đạt tiêu chí nông thôn mới.
Hai điểm khác biệt của chương trình xây dựng nông thôn mới
Thứ nhất, việc thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM
chỉ thực hiện từ cấp xã trở xuống, không có đề án, dự án liên xã, liên huyện. Đó
là một chương trình của dân, do dân và vì dân, vì vậy phải do nhân dân làm là
chính. Nếu thực hiện theo cách chỉ lập dự án rồi chờ chuyển ngân sách về để làm
thì hoàn toàn trái ngược với quan điểm, chủ trương chỉ đạo. Cần triển khai
chương trình như một cuộc vận động để nhân dân tổ chức thực hiện, Nhà nước
chỉ hỗ trợ và thực hiện những công việc thuộc về Nhà nước. Phần công việc
thuộc về Nhà nước chính là thực hiện 6 công trình cứng hoá như nhà văn hoá xã,
thuỷ lợi, đường...
Thứ hai, xây dựng NTM không chỉ là xây dựng cơ sở hạ tầng, những
công trình công cộng, những con đường, con kênh... mà phải tạo được sự thay
đổi ở mỗi hộ gia đình từ nhà cửa, vườn tược thậm chí thay đổi cả từ nhà vệ sinh
của người dân nông thôn. Khi đó, chúng ta sẽ thay đổi được nếp sống của mỗi
gia đình, mỗi xóm bản theo hướng tích cực. Nhìn tổng thể, xây dựng NTM
không chỉ làm thay đổi về hạ tầng cơ sở mà còn tạo sự chuyển biến trong tư duy,
nhận thức của người dân, đó chính là vấn đề lâu dài và rất quan trọng. Trong thời
gian tới, tỉnh cần ưu tiên đầu tư cho những xã điểm về xây dựng NTM, qua đó
sớm hình thành những mô hình hoàn thiện để nhân rộng.
Gợi mở về hướng đi trong sản xuất nông nghiệp của địa phương, tỉnh Thái
Nguyên cho rằng cần phát huy thế mạnh của tỉnh trong nông nghiệp. Tuy nhiên,
không nên nôn nóng chạy theo xu hướng phải tìm ra loại cây gì, con gì xa lạ mà
hãy nâng tầm chính những cây con trên địa bàn của mình theo hướng nâng cao
năng suất, chất lượng, đối với Thái Nguyên đó chính là cây chè. Dù là nước có
sản lượng chè lớn trên thế giới song nếu đánh giá chất lượng theo thang điểm 10
thì chè Việt Nam mới đạt 3.5 điểm. Thái Nguyên có diện tích chè lớn thứ 2 trên
toàn quốc. Nếu tiếp tục đầu tư thâm canh để tăng năng suất, chất lượng theo
54
hướng VietGap và được sự giám sát chặt chẽ thì chắc chắn chè Thái Nguyên sẽ
vươn xa.
Về chăn nuôi, Thái Nguyên là một trong những tỉnh có thế mạnh để mở
rộng và phát triển chăn nuôi ở vùng trung du theo hướng công nghiệp, an toàn
dịch bệnh và hiệu quả cao. Qua đó, địa phương cần nỗ lực sớm dập tắt dịch lở
mồm long móng trên đàn gia súc đã diễn ra hơn 2 tháng qua. Được biết, dịch xảy
ra trên diện rộng với 9/9 huyện thành thị, 152/180 xã phường của tỉnh Thái
Nguyên có dịch.
Điểm nổi bật trong xây dựng nông thôn mới ở Thái Nguyên
Là một trong hai xã điểm đầu tiên ở huyện Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên)
triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, La Bằng đã chọn cho riêng
mình một hướng đi mới, đó là: tập trung phát triển kinh tế hợp tác, xây dựng,
nâng cao giá trị thương hiệu cho chè đặc sản La Bằng. Từ cách làm này, tuy mới
triển khai nhưng hiện xã đã hoàn thành 10/19 chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới...
Với truyền thống thâm canh, sản xuất chè, nhiều năm qua, La Bằng đã trở
thành vùng chè đặc sản nổi tiếng ở Thái Nguyên, chẳng kém các vùng chè Tân
Cương, Trại Cài. Cây chè đã trở thành cây làm giàu chủ lực của địa phương. Tuy
vậy, nhiều năm qua, chè La Bằng vẫn chưa thực sự có chỗ đứng trên thị trường,
giá trị sản xuất thấp. Do vậy, để thay đổi phương thức sản xuất chè, xây dựng
thương hiệu chè La Bằng trên thị trường chính là điều kiện cơ bản tiến tới thực
hiện thành công các tiêu chí của chương trình xây dựng nông thôn mới.
Từ chủ trương này, xã chỉ đạo thành lập hợp tác xã (HTX) chè La Bằng.
Ban đầu HTX có 9 xã viên ở 9/10 thôn trong toàn xã và hầu hết xã viên là những
người có nhiều kinh nghiệm làm chè. Thông qua HTX, các xã viên được tham
gia các lớp tập huấn IPM trên cây chè để sản suất chè sạch, chè an toàn; được tập
huấn kỹ thuật chế biến chè chất lượng cao và được bao tiêu sản phẩm. Bình
thường như hiện nay, người làm chè trong xã chỉ bán được từ 100.000 đến
150.000 đồng/kg chè búp khô nhưng sản phẩm do HTX chế biến, đóng gói đã
bán được với mức giá từ 250 - 300 nghìn đồng/kg. Trong dịp Tết và đầu xuân
chè đặc sản của HTX chè La Bằng còn lên tới hơn 400.000 đồng/kg. Điều quan
55
trọng nhất khi người nông dân tham gia HTX là họ đã thay đổi được cách nghĩ,
cách làm chè đặc sản, khắc phục cơ bản phương thức sản xuất manh mún, tự
phát [31, tr.25].
Hoạt động hiệu quả của HTX chè La Bằng đã trở thành mô hình điểm
trong việc hình thành các tổ đội hợp tác sản xuất tại xã La Bằng. Đến nay, ở hầu
hết các xóm của xã đều có các đội hợp tác, tổ đổi công tự nguyện. Bà Nguyễn
Thị Hải - Chủ nhiệm HTX chè La Bằng cho biết thêm: những tổ hợp tác tạo ra
tinh thần đoàn kết, thi đua sôi nổi giữa các thôn xóm, các tổ đội. Người dân tự so
sánh kết quả thi đua bằng chính giá trị của mỗi sản phẩm chè do các tổ đội làm
ra. Có thể nói, thực tiễn hoạt động của tổ đội sản xuất giúp bà con rất nhiệt tình
hưởng ứng thực hiện các cuộc vận động. Điển hình là việc góp công, góp của
xây dựng các công trình phục vụ dân sinh; phong trào tự nguyện hiến đất làm
đường...
Việc hình thành HTX chè La Bằng và các tổ đội sản xuất hợp tác, cùng
nhau xây dựng thương hiệu cho chè La Bằng chính là “điểm nhấn” của chương
trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương. Năm 2010, cây chè đã đem lại giá
trị sản xuất cho đồng bào các dân tộc ở La Bằng hơn 42 tỷ đồng. Để tiếp tục
nâng cao giá trị của cây chè, cùng với việc thúc đẩy hợp tác, liên kết sản xuất, La
Bằng đang khẩn trương hoàn thành các thủ tục cuối cùng để được công nhận là
làng nghề sản xuất chè, làng văn hoá chè. Đó chính là cơ sở để tạo ra một thương
hiệu chè La Bằng vững mạnh trên thị trường, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Để xây dựng thành công mô hình nông thôn mới, xã đã tranh thủ lồng ghép, sử
dụng có hiệu quả các nguồn vốn để hoàn thiện hệ thống giao thông, thuỷ lợi, cơ
sở hạ tầng nông thôn. Hiện tại, một số chỉ tiêu chủ yếu đã đạt chuẩn nông thôn
mới như: đường giao thông trên địa bàn xã cứng hoá đạt hơn 60%, số hộ sử dụng
điện lưới quốc gia đạt 99%, hệ thống trường từ mầm non tới trung học cơ sở đều
được công nhận chuẩn quốc gia từ năm 2010, nhà ở kiên cố của các hộ dân đạt
gần 100%, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới chỉ còn dưới 17%... Xã phấn đấu đến
hết năm 2012 sẽ cơ bản hoàn thành các tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới bằng
các giải pháp cụ thể: Cải tạo trên 16 km đường giao thông nông thôn, duy trì
56
chuẩn quốc gia ở các trường học, xây dựng mới trung tâm văn hoá, thể thao với tổng diện tích 10.000 m2, nâng thu nhập bình quân lên 22 triệu đồng/người/năm,
cao bằng 1,2 lần mức thu nhập bình quân chung đối với khu vực nông thôn của
tỉnh [31, tr.27]. Các chương trình, dự án này đang được triển khai đồng bộ, quyết
liệt với sự tham gia hưởng ứng tích cực của cả cộng đồng dân cư, tạo nên diện
mạo mới, nhịp sống mới trên quê hương cách mạng anh hùng.
2.2. Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở
nông thôn tỉnh Thái Nguyên
2.2.1. Khái quát chung về dân số, lao động và việc làm
2.2.1.1. Tình hình dân số, lao động
* Tình hình dân số
Dân số : Thái Nguyên có gần 1,1 triê ̣u dân , gồm 8 dân tô ̣c , chủ yếu là ngườ i Kinh (chiếm khoảng 75%). Mâ ̣t đô ̣ dân số khoảng 260 ngườ i/km2, cao nhất trong các tỉnh miền nú i phía bắc . Tuy nhiên , dân cư phân bố khô ng đều , , trong khi đó ở vù ng thành thi ̣ , đồng vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt
bằng dân cư rất dày đă ̣c . Nơi có mâ ̣t đô ̣ dân cư cao nhất là thành phố Thái Nguyên (1.300 ngườ i/km2), nơi có mâ ̣t đô ̣ dân cư thấp nhất là huyê ̣ n Võ Nhai (khoảng 80 ngườ i/km2).
* Tình hình lao động
- Về quy mô lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên
Qua số liệu bảng 2.1 cho chúng ta thấy, lực lượng lao động nói chung tăng
đều từ các năm 2003 đến năm 2009. Trong đó lực lượng lao động so với dân số
vẫn tăng đều về số lượng. Từ năm 2003 đến năm 2009 bình quân lực lượng lao
động ở Thái Nguyên năm 2003 là 55,66%, tỉ lệ này tăng vào năm 2009 với
64,71%; và như vậy mỗi năm lực lượng lao động ở Thái Nguyên tăng từ 6,5 đến
7,4 vạn người. Điều đó cho thấy sự dồi dào về nguồn lực ở nông thôn Thái
Nguyên. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình đô thị hoá, lực lượng lao động
nông thôn có xu thế giảm dần về cơ cấu. Năm 2003 chiếm 90,6% lực lượng lao
động, đến năm 2009 con số này là 88%.
57
Bảng 2.1: Quy mô dân số và lực lƣợng lao động ở nông thôn Thái Nguyên
Đơn vị tính: người
Năm
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
Chỉ tiêu
Dân
số
1.035.000 1.074.000 1.100.000 1.123.000 1.145.000 1.178.000 1.213.000
trung bình
576.266.
615.402
648.120
676.832
707.266
746.145
784.932
Lực lượng lao động
55,66
57,30
58,92
60,27
61,77
63,34
64,71
% lực lượng lao động
522.096
555.708
582.659
605.764
629.466
660.338
690.740
Lực lượng LĐ nông thôn
90,6
90,3
89,9
89,5
89,0
88,5
88,0
% LLLĐ nông thôn/ tổng số LL lao động
Nguồn: [52, tr.12-14].
- Về cơ cấu lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên
+ Theo độ tuổi:
Lực lượng lao động ở Thái Nguyên nói chung, lực lượng lao động ở nông
thôn Thái Nguyên nói riêng phần lớn là lao động trẻ. Năm 2009, số lao động có
độ tuổi từ 15 đến 24 được bổ sung vào lực lượng lao động chung là 17%, số lao
động có độ tuổi từ 25 đến 34 chiếm đến 26,3%. Đây là thế mạnh của lực lượng
lao động nông thôn Thái Nguyên; vì lực lượng lao động này có nhiều ưu thế
trong đó ưu thế về sức khoẻ, trình độ văn hoá, dễ dàng tiếp thu những kiến thức
và tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ trong sản xuất kinh doanh, phát
triển mạnh kinh tế ở khu vực nông thôn (Bảng 2.2).
58
Bảng 2.2: Cơ cấu lực lƣợng lao động ở nông thôn Thái Nguyên
theo nhóm tuổi năm 2009
Đơn vị tính: Người
Độ tuổi
35-44 tuổi 25-34 tuổi 45-54 tuổi
Tổng số LĐ 690.740 % so với tổng số 15-24 tuổi 11.742 17,0 55-59 tuổi 181.664 194.097 102.229 63.548 26,3 14,8 28,1 9,2 Trên 60 tuổi 31.774 4,6
Nguồn: [52, tr.23-24]. Số lao động ở độ tuổi từ 35 đến 44 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 28,1%. Đây phần lớn là lao động chính, trụ cột trong gia đình, họ có nghề nghiệp và cuộc sống ổn định; số lao động này chiếm tỉ lệ lớn là một thuận lợi cho công tác giải quyết việc làm.
+ Theo trình độ học vấn
Bảng 2.3: Lực lượng lao động ở Thái Nguyên chia theo trình độ học vấn
Đơn vị tính: Người, %
Trong đó
Năm
Tổng số (%)
Không biết chữ
Tiêu chí
Đã tốt nghiệp tiểu học
Đã tốt nghiệp THCS
Đã tốt nghiệp THPT
Chƣa tốt nghiệp tiểu học
Năm 2005 Lực lượng lao động chung toàn tỉnh
Thành thị
Nông thôn
Năm 2007 Lực lượng lao động chung toàn tỉnh
Thành thị
Nông thôn
Năm 2009 Lực lượng lao động chung toàn tỉnh
Thành thị
Nông thôn
138.114 21.31% 6117 9,31% 131.913 22,64% 186.577 26,38% 9110 11,71% 140.623 22,34% 16.655 21,10% 30.288 10,44% 150.236 21,75%
316.347 48.81% 23.129 35,2% 293.310 50,34% 323.574 45,75% 21.200 27,25% 321.908 51,14% 38.874 49,25% 79.783 27,50% 367.819 52,35%
136.688 21.09% 33.886 51,57% 102.839 17,65% 133.815 18,92% 46.166 59,34% 117.962 18,74% 17.712 22,44% 175.958 60,65% 137.457 19,90%
48.608 7.5% 2346 3,57% 46.263 7,94% 49.155 6,95% 965 1,24% 41.230 6,55% 4.310 5,46% 3.249 1,12% 30.047 4,35%
8360 1.29% 237 0,35% 8332 1,43% 14.145 2% 357 0,46% 7.742 1,23% 1.421 1,80% 1.044 0,36% 11.397 1,65%
648.120 100% 65.707 100% 582.659 100% 707.266 100% 77.800 100% 629.466 100% 784.932 100% 290.120 100% 690.740 100% Nguồn: [52, tr.29-30].
59
Qua bảng 2.3 cho thấy, lực lượng lao động ở Thái Nguyên nhìn chung có
trình độ học vấn những năm gần đây tương đối khá. Năm 2005, số lao động chưa
biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học chiếm 8,79% và giảm dần đến năm 2009
còn 7,26%. Số người lao động đã tốt nghiệp trung học cơ sở chiếm tỉ lệ cao nhất
48,81% năm 2005 và 49,25% năm 2009; có thể nói đây là phần lớn học sinh đã
học hết trung học cơ sở, không có điều kiện học lên trung học phổ thông nên nó
đã bổ sung cho lực lượng lao động hàng năm. Số lao động đã tốt nghiệp trung
học phổ thông đã giảm do số người đi học đại học, cao đẳng, công nhân kỹ thuật
để làm việc trong các khu công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng.
So sánh hai khu vực nông thôn và thành thị, chúng ta thấy rằng lực lượng
lao động ở thành thị có trình độ học vấn cao hơn ở khu vực nông thôn. Số lao
động chưa biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học ở thành thị có 4.293 người thì ở
nông thôn đối tượng này là 41.444 người. Số lao động có trình độ học vấn cao ở
khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ thấp hơn so với thành thị.
Tuy nhiên, trong những năm qua, nhờ những thành tựu to lớn của ngành
giáo dục Thái Nguyên, trình độ học vấn của người lao động ở Thái Nguyên đã
từng bước được cải thiện. Số lao động có trình độ học vấn thấp có xu hướng
giảm dần, trong khi số lao động có trình độ học vấn cao tăng thêm rõ rệt cả về số
lượng và tỷ lệ (bảng 2.4).
+ Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật:
Qua bảng 2.4, ta thấy tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở Thái Nguyên tuy
chưa cao nhưng đã tăng đáng kể. Năm 2005, tỷ lệ lao động đã qua dào tạo ở
trình độ sơ cấp, học nghề chiếm 14,30%, nhưng đến năm 2009 đã tăng lên là
21% (tăng 6,7% so với năm 2005). Điều đó cho thấy xu hướng chuyên môn hóa
trong lao động sản xuất ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên ; từ đó tạo cơ sở cho việc
nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, nông thôn.
So sánh giữa hai khu vực thành thị và nông thôn, ta thấy rằng, trình độ
chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên cũng
được cải thiện qua các năm. Năm 2005, đại đa số lao động ở nông thôn là không
có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm đến 82,4% nhưng giảm xuống còn 72,1%
60
năm 2007 và 63,2% vào năm 2009, trong khi đó số lao động có trình độ chuyên
môn đào tạo từ sơ cấp, học nghề tăng từ 13,5% năm 2005 lên đến 20,7% năm
2009, tăng 7,2%.
Bảng 2.4: Lực lƣợng lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
Đơn vị tính: người
Tổng số Trình độ CMKT Không có CMKT Sơ cấp học nghề
Tổng - khu vực Công nhân kỹ thuật có bằng trở lên
Năm 2005
Tổng số cả tỉnh 648.120 510.070 92.681 45.368
Tỷ lệ % 78,7 14,3 7 100
Thành thị 29.846 14.074 21.537 65.461
Tỷ lệ % 45,6 21,5 32,9 100
Nông thôn 582.659 480.111 78.660 23.889
Tỷ lệ % 82,4 13,5 4,1 100
Năm 2007 Tổng số cả tỉnh 707.266 526.304 120.235 10.726
Tỷ lệ % 73 17 10 100
Thành thị 31.410 17.062 29.083 77.555
Tỷ lệ % 40,5 22 37,5 100
Nông thôn 72.389 629.466 453.844 103.232
Tỷ lệ % 11,5 72,1 16,4 100
Năm 2009 Tổng số cả tỉnh 784.932 533.754 164.836 86.343
Tỷ lệ % 68 21 11 100
Thành thị 94.192 35.783 21.664 36.735
Tỷ lệ % 38 23 39 100
Nông thôn 690.740 436.548 142.983 111209
Tỷ lệ % 63,2 20,7 16,1 100
Nguồn: [52, tr.18-20].
61
Tuy nhiên, số lao động có trình độ kỹ thuật ở Thái Nguyên hiện nay vẫn
tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị. Năm 2009, nếu số lao động tại thành thị là
94.192 người thì có tới 36.735 công nhân có bằng cấp kỹ thuật trở lên (chiếm
39%), trong khi đó số lao động này ở nông thôn chỉ chiếm 16,1% . Điều này
phản ánh trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật ở nông thôn của tỉnh Thái Nguyên
còn nhiều hạn chế.
2.2.1.2. Tình hình việc làm giai đoạn 2007 - 2009
* Tình hình việc làm: Số lao động có việc làm ở thành thị và nông thôn
Thái Nguyên trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.5
Bảng 2.5: Việc làm phân theo thành thị và nông thôn
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Đơn
Chỉ tiêu vị T. thị N. thôn T. thị N. thôn T. thị N. thôn tính
Tổng số Người 61.107 448.124 68.738 468.258 74.713 499.875
So với tổng số % 12 88 12,8 87,2 13 87
chung
1. Nông, lâm, Người 6.911 352.897 6.943 368.331 7.974 357.410
ngư nghiệp
So với tổng số % 11,31 78,75 10,1 78,66 10,75 71,5
khu vực
2. Công nghiệp Người 16.340 44.812 18.834 53.194 19.575 88.778
xây dựng
So với tổng số % 26,74 10 27,4 11,36 26,2 17,76
khu vực
3. Dịch vụ Người 37.855 47.501 42.961 46.544 47.106 53.686
So với tổng số % 61,95 10,6 62,5 9,94 63,05 10,74
khu vực
Nguồn: [52, tr.19-20].
62
Qua bảng 2.5 cho ta thấy: Lao động có việc làm thường xuyên ở Thái
Nguyên tăng liên tục qua các năm 2007, 2008, 2009. Cụ thể:
+ Năm 2007, lực lượng lao động có việc làm là 509.231, chiếm 72% lực
lượng lao động chung toàn tỉnh, trong đó khu vực thành thị là 61.107 người,
chiếm 12%, khu vực nông thôn là 448.124 người, chiếm 88%.
+ Năm 2009, con số này đã tăng lên là là 574.570 người, chiếm tỷ lệ
73,2% lực lượng lao động chung toàn tỉnh, trong đó khu vực nông thôn 499.875
người chiếm 87%, khu vực thành thị 74.713 người, chiếm 13%.
Qua khảo sát 3 năm gần đây có thể thấy một số đặc điểm về việc làm phân
theo thành thị và nông thôn ở Thái Nguyên như sau:
+ Thứ nhất, lao động có việc làm ở khu vực thành thị có xu hướng tăng
(từ 12% năm 2007 lên 12,8% năm 2008, đến năm 2009, con số này đã đạt 13%).
Cùng với đó là xu hướng giảm của lao động có việc làm ở khu vực nông thôn
(88% năm 2007 xuống 87% năm 2009).
Nguyên nhân của tình trạng trên là do trong những năm gần đây, cùng với
cả nước, Thái Nguyên tích cực thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
tích cực: tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành
nông nghiệp. Bên cạnh đó, tỉnh cũng thực hiện tích cực việc chú trọng nâng cao
hiệu quả hoạt động trong các ngành kinh tế nói chung và trong lĩnh vực nông
nghiệp nói riêng. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói trên tất yếu dẫn đến việc
chuyển dịch cơ cấu lao động: một bộ phận không nhỏ lao động nông thôn di cư
ra khu vực thành thị kiếm việc làm, do đó tỷ lệ việc làm ở khu vực thành thị liên
tục tăng, còn ở nông thôn giảm xuống. Bên cạnh đó, cùng với quá trình đô thị
hoá nông thôn, một số hộ nông dân bám mặt đường lớn có cơ hội chuyển sang
buôn bán hoặc làm các lĩnh vực khác ngoài nông nghiệp.
+ Thứ hai, Việc làm ở nông thôn Thái Nguyên đang có sự chuyển biến
tích cực theo xu hướng CNH, HĐH của cả nước: việc làm trong nông, lâm, ngư
nghiệp ở khu vực nông thôn đang có xu hướng giảm dần (Năm 2007 chiếm
78,75%, đến năm 2009 tỷ lệ này giảm xuống còn 71,5%. Việc làm trong ngành
công nghiệp, xây dựng ở khu vực nông thôn tăng từ 10% năm 2007 lên 17,76%
63
năm 2009; Lao động trong ngành dịch vụ tăng từ 10,6% năm 2007 lên 10,74%
năm 2009.
Từ sự phân tích trên cho thấy lao động ở nông thôn Thái Nguyên vẫn
chiếm tỷ lệ cao, nhưng chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo. Đây là
những khó khăn trong quá trình giải quyết việc làm trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tình hình việc làm ở 3 huyện điều tra nghiên cứu được thể hiện như sau:
Bảng 2.6: Thực trạng việc làm 12 tháng qua của các hộ điều tra năm 2010
Việc làm 12 tháng qua
Đủ việc làm
Tổng số
Thiếu việc làm
Không có việc làm
Cơ
Cơ
Cơ
Loại hộ
Huyện
T. số
T. số
T.số
Cơ cấu (%)
T.số
cấu (%)
cấu (%)
cấu (%)
Tổng số
152
100
9
100
185
100
100
24
Giầu
30
8,3
-
-
32
17,3
19,7
2
Phổ
Yên
TB
99
62,5
-
-
114
61,6
65,2
15
Nghèo
23
29,2
9
100
39
21,1
15,1
7
Tổng số
65
100
12
100
106
100
100
29
Giầu
14
10,3
-
-
17
16,0
21,5
3
Đaị
Từ
TB
40
38,0
-
-
51
48,1
61,5
11
Nghèo
11
51,1
12
100
38
35,8
17,0
15
Tổng số
57
100
8
100
99
100
100
34
Giầu
5
2,9
-
-
6
6,0
87,7
1
Phú Lương
TB
43
35,3
3
37,5
58
58,6
75,5
12
Nghèo
9
61,8
5
62,5
35
35,4
15,8
21
Tổng số
274
100
29
100
390
100
100
87
Giầu
49
6,9
-
-
55
14,1
17,9
6
Tổng
số
TB
182
43,7
3
10,3
223
57,2
66,4
38
Nghèo
43
49,4
26
89,7
112
28,7
15,7
43
Nguồn: [42, tr.33-35].
64
2.2.1.3. Tình hình thất nghiệp, thiếu việc làm
Bảng 2.7: Tình hình thiếu việc làm của lực lƣợng lao động
ở nông thôn Thái Nguyên
Đơn
Tiêu chí 2003 2005 2007 2009 vị
tính
Lực lượng lao động ở nông Người 522.096 582.659 629.466 690.740 thôn
Lực lượng lao động ở nông Người 460.698 511.575 564.517 613.446 thôn có việc làm
Lực lượng lao động ở nông Người 61.398 71.084 64.949 77.294 thôn thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp % 11,76 12,20 9,60 11,19
Nguồn: [42, tr.15-17].
Qua bảng 2.7, ta thấy tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên từ
năm 2003 là 11,76% tăng lên 12,20% năm 2005, nhưng có xu hướng giảm mạnh
vào năm 2007 là 9.60% và lại tăng trở lại vào năm 2009 với 11,19%.
Qua thực tế ở Thái Nguyên lực lượng lao động ở nông thôn có nguy cơ
thất nghiệp cao hơn so với lực lượng lao động ở thành thị. Thực tế tình trạng
thiếu việc làm hay còn gọi là bán thất nghiệp của lực lượng lao động ở nông thôn
cũng ảnh hưởng tới thu nhập và đời sống của người lao động, lãng phí nguồn lực
lao động xã hội ở khu vực này.
Từ năm 2006 đến năm 2010 chương trình giải quyết việc làm của tỉnh đã
tạo việc làm mới và việc làm thêm cho 62.767 lượt người với kết quả này đã góp
phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị từ 4,42% (năm 2006) xuống
còn 3,91% (năm 2010); Nâng tỷ lệ sử dụng thời gian ở khu vực nông thôn từ
74,86% (năm 2006) lên 76,5% năm 2010, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động
của tỉnh (lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp chuyển dần sang khu vực
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ).
65
Bảng 2.8: Tình hình thất nghiệp ở thành thị và sử dụng thời gian
lao động ở nông thôn Thái Nguyên
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010
Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị 4,42 4,26 4,17 3,94 3,91 (%)
Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động 74,86 76,23 75,33 75,78 76,5 trong khu vực nông thôn (%)
Nguồn: [42, tr.19]
Bảng số liệu 2.8 cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị có xu
hướng giảm từ 4,42% năm 2006, xuống 4,17 năm 2008 và đến năm 2010, con số
này giảm xuống chỉ còn 3,91%.
Như vậy, từ năm 2006 đến năm 2010, thông qua chương trình giải quyết
việc làm của tỉnh đã tạo việc làm mới và việc làm thêm cho 62.767 lượt người
với kết quả này đã nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn từ
74,86 (năm 2006) lên 76,5% (năm 2010) (bảng 2.8) và góp phần từng bước
chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh (lao động việc làm trong khu vực nông
nghiệp chuyển dần sang khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ).
66
Về sử dụng thời gian lao động thường xuyên ở các hộ điều tra:
Bảng 2.9: Tình hình sử dụng thời gian lao động của lao động thƣờng xuyên
ở các hộ điều tra trong 12 tháng qua ( năm 2010)
Tổng số lao động Tổng số ngày
Tổng số hộ thực tế
tham gia Tổng số lao động Huyện điều tra làm việc 12 (ngƣời) (hộ) Tổng số ngày có nhu cầu làm thêm Tổng số ngày thực tế làm việc và số ngày có nhu cầu làm thêm hoạt động kinh tế tháng qua Tỷ lệ thời gian thực tế đƣợc sử dụng (%) (ngày) (ngƣời)
Phổ Yên 185 528 511 119.954 20.438 140.392 85,44
Đại Từ 106 261 247 58.789 11.976 70.765 83,0
99 227 216 49.132 16.435 65.567 74,9 Phú Lương
Tổng số 390 1016 974 227.875 48.849 276.724 82,34
Nguồn: [42, tr.25-28].
Từ bảng 2.9 ta thấy, vùng đồng bằng (đại diện là huyện Phổ Yên) có tỷ lệ
sử dụng thời gian lao động (85,44%) cao hơn các huyện trung du và miền núi
(đại diện là huyện Đại Từ: 83% và huyện Phú Lương: 74,9%)
Qua phân tích thực trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở Thái Nguyên
trong những năm qua nổi lên một số đặc điểm sau:
- Tỷ lệ thất nghiệp ở Thái Nguyên có xu hướng giảm dần nhưng còn ở
mức cao.
- Số người thiếu việc làm ở nông thôn còn rất lớn, độ tuổi có tỷ trọng
thiếu việc làm cao nhất là 15-24 tuổi, 25-34 tuổi.
- Mỗi năm, dân số và lao động tăng thêm trên 12 ngàn người đây là khó
khăn trong giải quyết việc làm.
- Trên 86% dân số và lao động ở khu vực nông thôn, trình độ mọi mặt
nhìn chung còn thấp so với thành thị. Trình độ giáo dục phổ thông của lực lượng
67
lao động ở nông thôn được nâng lên, nhưng trình độ chuyên môn còn thấp và
phân bổ giữa các vùng không đồng đều.
* Hậu quả của tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm:
- Theo kết quả điều tra từ phiếu điều tra của 3 huyện (xem bảng 2.6)
100% hộ có lao động không có việc làm hoặc thiếu việc làm đều dẫn đến đói
nghèo và những hộ giàu đều có đủ việc làm. Để lý giải thực trạng trên cần xuất
phát từ thực trạng nông thôn Thái Nguyên hầu như không có các làng nghề
truyền thống, do đó giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn là rất khó
thực hiện. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với xu hướng đô thị hoá
nông thôn, một số khu công nghiệp được mở rộng tới nông thôn như khu công
nghiệp Sông Công, Phổ Yên. Tuy nhiên, một bất cập đó là trình độ của người lao
động ở khu vực nông thôn lại chưa đủ đáp ứng do đó ít có cơ hội để tham gia
làm việc. Kết quả là những người này hầu như chọn những công việc nặng nhọc,
thu nhập thấp, hoặc chỉ làm những công việc nông nghiệp đơn thuần, hoặc
không có việc làm.
- Do tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, mức thu nhập của họ hầu như
chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu. Do vậy, không có điều kiện nâng cao
trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó. Bên cạnh đó, thì
trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục,
sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái
Khi hết thời vụ trong thời gian nông nhàn có tới 40% số lao động là nam
giới, độ tuổi từ 18 - 50, đã di cư ra khu vực thành thị tìm thêm việc làm. Hiện
nay, đa phần lao động nông thôn di cư đi làm ăn nơi khác là những người nghèo,
tự tìm việc làm để duy trì và nâng cao đời sống của bản thân và gia đình họ. Vì
vậy, việc lao động nông thôn di cư đi nơi khác nhìn chung đều góp phần cải
thiện đời sống, giảm bớt đói nghèo và sức ép về lao động, việc làm và các nhu
cầu khác cho khu vực nông thôn, đặc biệt là một số vùng đất chật người đông,
tạo thêm nhiều ngành nghề mới.
Bên cạnh những mặt tích cực di chuyển lao động tự do ở nông thôn đã đang
gây ra một số tác động tiêu cực: Do đa phần lao động nông thôn không được qua
đào tạo về chuyên môn kỹ thuật nên hầu hết lực lượng này chấp nhận làm các
68
công việc đơn giản, cơ bắp (nghề tự do, nghề phục vụ gia đình, thợ xây, đạo xích
lô, cửu vạn, bốc vác, đào đãi vàng...), lao động di cư hầu như không khai báo tạm
trú tạm vắng với địa phương đã gây cản trở cho việc quản lý hộ khẩu, quản lý kế
hoạch hoá gia đình... hơn nữa họ có những thói quen tuỳ tiện đã làm phức tạp
thêm vấn đề trật tự an ninh, dễ bị mắc các tai tệ nạn xã hội. Trong số những người
đi lao động tự do có tới 10% số người bị nghiện hút, mắc các bệnh xã hội như:
giang mai, lậu, HIV/AIDS. Sau đó họ trở lại địa phương làm mất trật tự an ninh xã
hội và gây lây nan bệnh truyền nhiễm cho gia đình và cộng đồng.
* Nguyên nhân thất nghiệp và thiếu việc làm hiện nay ở Thái Nguyên:
Thông qua thực trạng việc làm của người lao động Thái Nguyên nói
chung và ở nông thôn nói riêng có thể thấy, trong những năm qua đã có nhiều
chuyển biến tích cực, góp phần tạo ra sự ổn định, phát triển và nâng cao đời sống
cho người lao động ở nông thôn. Tuy nhiên, đến năm 2009, số người thiếu việc
làm ở khu vực nông thôn Thái Nguyên vẫn còn 77.294 người. Sở dĩ còn những
tồn tại trên là do những nguyên nhân sau:
Một là, Thái Nguyên còn ở tình trạng sản xuất hàng hóa thấp, đời sống vật
chất, tinh thần của một bộ phận dân cư, đặc biệt là khu vực nông thôn vùng sâu,
vùng xa còn gặp nhiều khó khăn và chưa ổn định. Người lao động không có điều
kiện để học nghề, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, còn nhiều hạn chế về
kiến thức sản xuất hàng hoá và kinh tế thị trường, chưa đáp ứng được yêu cầu
sản xuất, nhất là ở các nghề mới xuất hiện trong những năm gần đây thuộc các
ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ. Hiện nay ở một số công việc đòi hỏi trình
độ cao nhiều doanh nghiệp ở Thái Nguyên không tuyển được lao động tại địa
phương vì trình độ không đáp ứng yêu cầu. Điều này dẫn đến khó khăn trong
việc tìm kiếm việc làm. Mặt khác, kinh nghiệm và kiến thức làm ăn của người
lao động nhất là người lao động ở khu vực nông thôn chưa theo kịp những đòi
hỏi nghiệt ngã của cơ chế thị trường. Họ luôn là những đối tượng thua thiệt trong
cạnh tranh. Cơ hội để họ đứng vững và phát triển sản xuất kinh doanh ngành
nghề là rất khó, nên đa số lao động ở khu vực nông thôn là làm nông nghiệp, dẫn
đến tình trạng thiếu việc làm ở khu vực này.
Hai là, quỹ đất ở một số vùng nông thôn đã bị thu hẹp do nhà nước thu
69
hồi đất nông nghiệp, đất ở các khu vực nông thôn phục vụ cho nhu cầu xây dựng
các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,
nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất là
tất yếu, phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phù hợp với lao động trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhưng việc thu hẹp đất ở khu vực đất nông
thôn, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp, làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã
hội rất bức xúc ở nhiều địa phương, trong đó có vấn đề việc làm của những
người lao động sau khi bị thu hồi đất. Kết quả điều tra tình hình nông dân mất
đất do đô thị hoá và phục vụ các công trình phúc lợi từ năm 2006 - 2010 được
phản ảnh qua bảng 2.10: Tính từ năm 2006 đến năm 2010, Thái Nguyên đã có 23
xã có diện tích đất bị thu hồi để phục vụ cho các mục đích sử dụng trên, lên tới
1.400 ha, với 5.470 hộ bị mất đất, dẫn đến 18.900 lao động nông nghiệp bị mất
việc, bình quân 1 ha đất bị thu hồi sẽ làm cho trên 13 lao động nông nghiệp bị
mất việc.
Bảng 2.10: Tình hình nông dân mất đất do đô thị hoá và phục vụ
các công trình kinh tế, phúc lợi tỉnh Thái Nguyên từ năm 2006-2010
TT Chỉ tiêu Số lƣợng Đơn vị tính
1 Xã 23
2 3 4 Hộ ha Lao động 5.470 1.400 18.900
Lao động 5.679
Lao động 2.835
Lao động 10.386 Tổng số xã lấy đất để phục vụ nhu cầu công cộng Tổng số hộ bị lấy đất Tổng diện tích đất bị lấy Tổng Số lao động bị mất việc do thu hồi đất Trong đó: - Số lao động đã bố trí được việc làm - Số lao động đang được đào tạo chuyển đổi nghề - Số lao động thất nghiệp không bố trí được việc làm
Nguồn: [31, tr.40 - 43].
Khi những lao động nông thôn bị thu hồi đất họ rất ít cơ hội được cấp lại
đất để tiếp tục sinh sống bằng nghề cũ dẫn tới hàng chục nghìn người, chủ yếu là
70
nông dân không có hoặc thiếu việc làm, không có hoặc giảm thu nhập. Điều
đáng chú ý là trong số những người mất việc này, nhóm người bị ảnh hưởng
nhiều nhất là từ 35 tuổi trở lên (chiếm khoảng 50%) là nhóm người ở độ tuổi gặp
nhiều khó khăn trong việc đào tạo lại nghề, chuyển đổi nghề mới. Đa số những
hộ dân bám các mặt đường lớn thường chuyển sang buôn bán, chạy chợ và làm
thuê nhiều việc như: vận tải, vận chuyển, thợ mộc, thợ nề... và còn số thì đóng
gạch, làm thuê ở nơi khác.
Nhưng nhìn chung các công việc của họ đều thất thường. Trước thực
trạng đó, các cấp uỷ đảng, chính quyền đã đề ra nhiều giải pháp, cùng các ban,
ngành, đoàn thể nghiên cứu, tìm tòi, học tập du nhập nghề mới vào, vận động
người dân chuyển sang làm các nghề như sản xuất mây tre đan, thảm cói, thêu
ren... Những chi phí cho lớp học nghề hoặc việc cung cấp nguyên liệu, bao tiêu
sản phẩm hoàn toàn do chính quyền phối hợp với các doanh nghiệp đứng ra đảm
nhiệm. Nhưng khi tiến hành phát động trong dân thì chỉ có trên 15% số lao động
đăng ký tham gia học nghề và chỉ có khoảng 10% làm nghề với mức thu nhập
thấp (khoảng 300.000đ/tháng), Thời gian sau do thu nhập thấp một số người lại
bỏ nghề. Vì vậy, số lao động thất nghiệp không bố trí được công ăn việc làm
ngày một tăng lên, trong 5 năm đã có 10.386 lao động thất nghiệp do mất đất
không bố trí được việc làm. Đây là vấn đề rất bức xúc hiện nay.
Ba là, chính sách đầu tư chưa hợp lý: ở Thái Nguyên, tuy đã có nhiều cơ
chế chính sách tạo hành lang pháp lý để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài
nước tham gia phát triển kinh tế-xã hội trong tỉnh. Nhưng hệ thống chính sách
chưa đồng bộ, do đó trong những năm qua chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư
để phát triển công nghiệp, thu hút lao động. Môi trường pháp lý, hệ thống thông
tin thị trường lao động chưa hoàn thiện nên chưa tạo điều kiện tốt để phát triển
nguồn nhân lực tạo việc làm cho lao động ở nông thôn.
Bốn là, Đầu ra sản phẩm còn nhiều ách tắc: Nếu chỉ tạo ra nhiều sản phẩm
mà không chú ý việc tiêu thụ sản phẩm thì sản xuất không thể phát triển. Hiện
nay, ở Thái Nguyên mạng lưới dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, chính sách hỗ trợ đầu
71
ra cho thị trường tiêu thụ, sản phẩm cho nông dân còn hạn chế, do đó khó tạo ra
nhu cầu việc làm ổn định.
Năm là, khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm tại tỉnh Thái
Nguyên còn hạn chế, nhất là khu vực nông thôn. Nông thôn Thái Nguyên không
chỉ thiếu khoa học công nghệ, thiếu vốn, thị trường hạn hẹp do mức thu nhập
thấp của nông dân, mà cơ sở hạ tầng cũng chưa phát triển. Từ trước đến nay,
những dự án đầu tư cho Thái Nguyên chủ yếu là những dự án nhỏ, thí điểm,
chính vì vậy chưa thu hút được nhiều lao động cho khu vực này. Hạn chế về cơ
sở hạ tầng, dịch vụ thông tin thị trường lao động và những biến động về việc sắp
xếp sản xuất cũng góp phần gây khó khăn trong giải quyết việc làm cho người
lao động.
2.2.2. Tình hình giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn
tỉnh Thái Nguyên
2.2.2.1. Tình hình tạo việc làm
* Công tác xuất khẩu lao động
Công tác xuất khẩu lao động nông thôn của Thái Nguyên, từ năm 2006 đến
nay đã đưa được 9.398 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài chủ yếu là ở
hai thị trường Đài Loan và MaLaysia. Trong đó, Công ty Kinh doanh tổng hợp
luôn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động xuất khẩu lao động của tỉnh.
Bảng 2.11: Kết quả hoạt động xuất khẩu lao động cho lao động nông thôn
giai đoạn 2006-2010
Chỉ tiêu ĐV 2006 2007 2008 2009 2010
Số lao động được GQVL qua Người 1690 1810 2015 2346 2875 xuất khẩu lao động
Số doanh nghiệp tham gia DN 14 19 22 27 32 tuyển chọn
Nguồn: [47, tr.25].
72
Số lao động tham gia xuất khẩu đã làm tăng thu nhập cho một số gia đình
nông thôn. ở một số gia đình có tiền do người thân gửi về đã trở thành điều kiện
cơ bản để gia đình mở mang kinh tế, tạo thêm việc làm.
, do
Những kết quả do xuất khẩu lao đô ̣ng mang la ̣i là rõ ràng và hiê ̣u quả đó Đảng ta đã triển khai đề án "Đẩy mạnh xuất khẩu lao đô ̣ng, góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững ta ̣i các huyê ̣n nghèo giai đoa ̣n 2009-2015". Dự án đươ ̣c Chính phủ phê duyệt năm 2008, theo đó mu ̣c tiêu cu ̣ thể là từ năm 2009 đến 2015 đưa đươ ̣c khoảng 100.000 ngườ i ở các huyê ̣n này đi làm viê ̣c ở nướ c ngoài. Nhà nước và các doanh nghiệp hỗ trợ người lao động thuộc hộ nghèo , ngườ i dân tô ̣c ít ngườ i về ho ̣c phí đào ta ̣o nghề , giáo dục định hướng , chi phí ăn ở , đi la ̣i trong thờ i gian ho ̣c tâ ̣p và các khoản chi phí thủ tu ̣c cho ngườ i lao đô ̣ng trướ c khi đi làm viê ̣c ở nướ c ngoài . Bên ca ̣nh đó , ngườ i lao đô ̣ng và doanh nghiê ̣p cũng sẽ đươ ̣c hưở ng các chính sách tín du ̣ng ưu đãi . Đây là chủ trương thứ ba mang tính bướ c ngoă ̣t củ a Đảng ta trong công tác xuất khẩu lao đô ̣ng.
Đi làm viê ̣c ở nướ c ngoài không chỉ mang la ̣i lơ ̣i ích cho cá nhân và gia
đình ho ̣ mà còn góp phần giảm tỷ lê ̣ thất nghiê ̣p trong xã hô ̣i . Nhờ những số tiền tích cóp , nhiều ngườ i trở về nướ c đã trở thành các nhà đầu tư , gây dựng nên doanh nghiê ̣p, tạo việc làm cho lao động địa phương , đóng góp vào sự phát triển của đất nước . Không chỉ có vâ ̣y , xuất khẩu lao đô ̣ng còn giú p mô ̣t bô ̣ phâ ̣n lao đô ̣ng tiếp câ ̣n v ới máy móc và công nghệ tiên tiến , cung cách quản lý hiê ̣n đa ̣i , rèn luyện tác phong công nghiệp để biến họ thành lao động có chất lượng . Vì vâ ̣y, xuất khẩu lao đô ̣ng hiê ̣n đươ ̣c coi là ngành kinh tế đối ngoa ̣i mang la ̣i nhiều lơ ̣i ích to lớ n cả kinh tế và xã hô ̣i , là giải pháp tạo việc làm quan trọng mang tính chiến lươ ̣c củ a nướ c vì một mặt, xuất khẩu lao động đã và đang tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, xuất khẩu lao
động còn góp phần nâng cao tri thức, kỹ năng lao động, giúp người lao động
từng bước thích nghi trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Thời gian qua công tác xuất khẩu lao động trên địa bàn Thái Nguyên tuy
đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng còn nhiều hạn chế cần phải khắc
phục là:
73
- Hiện nay chưa có doanh nghiệp nào đủ mạnh để trực tiếp xuất khẩu lao
động với thị trường nước ngoài mà chủ yếu dựa vào các Trung tâm xúc tiến việc
làm của Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Trung tâm xúc tiến việc làm của
các đoàn thể... Các trung tâm này chỉ làm chức năng mô giới.
- Chưa hình thành được trung tâm đào tạo đội ngũ lao động có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật, ngoại ngữ đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.
- Sự phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng trong tổ chức triển khai
chính sách xuất khẩu lao động chưa tốt.
* Công tác đào tạo nguồn nhân lực nông thôn
Thái Nguyên là tỉnh có lao động ở nông thôn chiếm trên 70% so với tổng
số lao động, đa phần là lao động phổ thông chưa qua đào tạo. Những năm qua
mặc dù gặp rất nhiều khó khăn như: cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thô sơ, lạc
hậu không được thường xuyên đổi mới, đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng,
yếu về chất lượng, công tác thông tin thị trường còn nhiều bất cập... nhưng các
trung tâm dịch vụ việc làm đã từng bước khắc phục khó khăn, tìm mọi biện pháp
để triển khai các hoạt động dịch vụ, tư vấn, đào tạo nghề cho người lao động.
Năm 2003, Quỹ khuyến công được hình thành để thực hiện hỗ trợ cho
công nghiệp nông thôn phát triển. Từ năm 2003-2009 đã hỗ trợ cho 77 dự án, với
tổng số tiền 2.400 triệu đồng, trong đó kinh phí khuyến công địa phương cấp
theo kế hoạch hàng năm là 2.250 triệu đồng và kinh phí khuyến công trung ương
hỗ trợ 150 triệu đồng; đào tạo nghề từ năm 2006-2009 cho 2.593 lao động.
Ngoài ra các ngành như: Lao động, Thương binh - Xã hội 2006 - 2009 đã đào
tạo 2.393 lao động; Chi cục Phát triển nông thôn 2006-2009 đã đào tạo 3.140
người; Trung tâm Hỗ trợ phát triển hợp tác xã - doanh nghiệp vừa và nhỏ từ năm
2006-2009 đã tham gia đào tạo được 177 người... [31, tr.37]. Tỉnh đã thành lập
một số trung tâm đào tạo nghề như: Trung tâm Khuyến công, Trung tâm Dạy
nghề Hội phụ nữ tỉnh, Trung tâm Dạy nghề và giới thiệu việc làm của Liên đoàn
lao động tỉnh... ngoài ra các huyện còn tổ chức các Trung tâm Dạy nghề và các
xã trong toàn tỉnh đều có trung tâm học tập cộng đồng để tổ chức dạy nghề cho
lao động ở nông thôn.
74
Bảng 2.12: Kết quả tƣ vấn, đào tạo nghề giải quyết việc làm nông thôn
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009
9.025 10.041 11.303 11.635
Tổng số người được tư vấn, đào tạo nghề, giải quyết việc làm Số lao động được tuyển thông qua hội chợ 0 0 983 805
Nguồn: [47, tr.20]
Năm 2009, Sở Lao động Thương binh và Xã hội đã hướng dẫn các đơn vị
thành lập 3 trung tâm dạy nghề công lập, thẩm định và cấp giấy phép cho 6 cơ sở
dạy nghề, cấp 6.361 văn bằng nghề, gồm 3.360 bằng nghề và 3.501 chứng chỉ
nghề cho các trường và các cơ sở nghề. Đào tạo dạy nghề tại cộng đồng cho trên
14.700 lượt người, tăng 0,2% so với năm 2006.
Kết quả công tác đào tạo nghề đã góp phần nâng cao tỷ lệ đào tạo nghề
lên 25%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 17,5%. Chất lượng học sinh tốt
nghiệp các trường dậy nghề, đã từng bước đáp ứng yêu cầu thị trường lao động.
Qua đó đã tạo điều kiện cho người lao động tìm được việc làm, có thu nhập cao,
ổn định cuộc sống.
2.2.2.2. Tình hình thực thi các cơ chế, chính sách giải quyết việc làm
* Thực hiện các chương trình quốc gia về giải quyết việc làm
Trong những năm qua, Thái Nguyên đã triển khai thực hiện chương trình
quốc gia về giải quyết việc làm , đồng thời cùng với nhiều chương trình, dự án
được đầu tư như: Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản; chương trình phát
triển cơ sở hạ tầng nông thôn; chương trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông -
lâm - ngư nghiệp… đã góp phần tích cực trong việc giải quyết việc làm cho lực
lượng lao động Thái Nguyên nói chung và lực lượng ở nông thôn nói riêng.
Chương trình vay vốn quỹ quốc gia giải quyết việc làm được sử dụng đúng mục
đích đã phát huy được hiệu quả. Công tác xuất khẩu lao động đã có chuyển biến
tích cực, thị trường xuất khẩu lao động được mở rộng. Đến nay trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên đã có một số đơn vị được cấp phép xuất khẩu lao động trực tiếp và
các trung tâm dịch vụ việc làm, các doanh nghiệp tham gia công tác dịch vụ xuất
khẩu lao động. Kết quả là, bình quân mỗi năm Thái Nguyên tạo việc làm mới
cho 41.700 lao động, trong đó xuất khẩu lao động đi làm việc ở nước ngoài
75
4.500 người/năm, lao động đi làm việc ở tỉnh ngoài khoảng 13.400 người, mỗi
năm số lao động được giải quyết việc làm tại chỗ hàng vạn lao động và số lao
động ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng [47, tr.30]. Thực hiện
đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước về công tác giải quyết việc làm,
nhất là giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn. Tỉnh ủy, ủy ban
nhân dân tỉnh và các cấp, ban ngành trong tỉnh đã tổ chức tốt, phối hợp thực hiện
công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm góp phần tích cực chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động phát triển sản xuất, tạo nhiều chỗ làm mới, giảm
tỉ lệ thất nghiệp và nâng tỉ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn.
Bảng 2.13: Vốn quốc gia thực hiện chƣơng trình xoá đói giảm nghèo
và giải quyết việc làm ở Thái Nguyên (2003-2009)
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm
Tổng 7 năm
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
CTr dự
2003 - 2009
án đầu tƣ
Tổng số
26.300 29.700 33.800 37.300 47.800 47.200 53.200 275.300
Dự án thực hiện
4.000
6.000
8.000 10.000 18.000 15.000 18.000
79.000
2.700
2.700
2.800
3.000
3.000
3.500
4.000
21.700
Đào tạo cán bộ xã làm XĐGN
1.500
1.800
2.000
2.200
7.500
dẫn nông,
Hướng khuyến khuyến lâm
1.000
1.500
2.000
4.500
trợ
phát ngành
Hỗ triển nghề
2.600
3.000
3.000
2.800
3.000
3.200
3.500
21.100
trợ
trung tiến
Hỗ tâm xúc việc làm
17.000 18.000 20.000 20.000 21.000 22.000 23.500 141.500
Bổ sung quỹ vay giải quyết việc làm
Nguồn: [28, tr.12-13].
76
* Thực hiện các chính sách và chương trình giải quyết việc làm cho người
lao động ở nông thôn
Bằng những cơ chế chính sách của nhà nước, với sự phối hợp của các
ngành, các cấp trong vấn đề giải quyết việc làm và sự năng động, sáng tạo của
người lao động, giai đoạn 2006-2010 chương trình giải quyết việc làm, đã giải
quyết được 78.917 chỗ việc làm mới. Bình quân mỗi năm đã tạo được 15.784
chỗ việc làm mới (xem bảng 2.14).
Bảng 2.14: Kết quả giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn
tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006-2010
Đơn vị tính: Người
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 Cộng
3562 3125 2943 2435 2300 14365
Lao động được giải quyết việc làm thông qua vay vốn 120
2352 3298 3836 4872 5900 20258
Lao động ký HĐLĐ tại các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế và khu vực hành chính sự nghiệp
Lao động tự tạo việc làm 1930 2382 3060 2450 3750 13572
80 1305 1783 1560 1300 6028
Lao động được GQVL thông qua XKLĐ
5966 5845 5078 4905 3900 25694
Lao động được GQVL thông qua các chương trình khác: trang trại, tổ sản xuất, HTX, trồng rừng.v.v...
Cộng 13890 15955 16700 16222 16150 78917
Nguồn: [47, tr.34]
- Trong 5 năm, từ 2006-20010, vốn vay từ quỹ quốc gia giải quyết việc
làm theo Nghị Quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Chính Phủ), thông qua các dự án nhỏ đã đem lại hiệu quả tích cực trong giải
quyết việc làm nhất là các dự án hỗ trợ cho người lao động thiếu việc làm ở nông
77
thôn, đã giải quyết việc làm cho 12.065 lượt người, (bình quân mỗi năm giải
quyết việc làm cho 3.016 lao động). Trong đó:
+ Số lao động được thu hút làm việc ở lĩnh vực chăn nuôi là 4.050 lượt
người.
+ Số lao động được thu hút vào làm việc ở lĩnh vực trồng trọt là 2.257
lượt người.
+ Số lao động được thu hút vào làm việc ở lĩnh vực sản xuất hàng tiểu thủ
công nghiệp xuất khẩu là 2.223 lượt người,
+ Số lao động được thu hút vào làm việc ở lĩnh vực sản xuất vật liệu xây
dựng là 2.070 lượt người.
+ Số lao động được thu hút vào các lĩnh vực khác là 1.465 lượt người.
Đây là tín hiệu đáng mừng đã cho thấy Nhà nước cần ưu tiên cho vay vốn
giải quyết việc làm để khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, nhằm tạo
thêm nhiều việc làm, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, hạn chế các
tệ nạn xã hội phát sinh... nâng cao mức sống cho người lao động, đặc biệt là khu
vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Ngoài tín dụng theo “Quỹ 120” đã nêu trên, các ngân hàng của tỉnh, nhất
là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; nay là Ngân hàng chính sách
xã hội đã cho các hộ dân cư nông thôn vay vốn. Đến nay, các tổ chức tín dụng
Nhà nước đã cho các hộ nông thôn vay hàng trăm tỷ đồng. Chỉ riêng Ngân hàng
chính sách xã hội tỉnh Thái Nguyên 3 năm qua (2008-2010) doanh số cho vay là:
2.451 dự án/5.573 hộ với tổng số tiền là 48,4 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho
17.561 lao động [22, tr.54].
- Số lao động chủ động tự tìm việc làm:
Thời gian qua, công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông
tin đại chúng được quan tâm. Do đó, nhận thức của người lao động về giải quyết
việc làm được nâng cao, người lao động đã chủ động tìm việc làm tại chỗ, giảm
dần tỉnh trạng trông chờ vào sự bố trí sắp xếp của nhà nước như trước đây. Cùng
với sự tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, các hình thức tổ,
nhóm tuyên truyền giúp nhau làm kinh tế, tạo việc làm ở nhiều địa phương cũng
78
được phát triển và thu hút nhiều lao động. Thông qua việc làm trên số lao động
chủ động tự tìm việc làm là 9.822 lượt người.
- Số lao động đăng ký hợp đồng lao động tại các doanh nghiệp trong các
thành phần kinh tế và khu vực hành chính sự nghiệp.
Số lao động ký hợp đồng vào làm việc trong các doanh nghiệp quốc doanh
và khu vực hành chính sự nghiệp hiện nay không nhiều, do các doanh nghiệp nhà
nước đang tiến hành chuyển đổi hình thức sở hữu và khu vực hành chính sự
nghiệp phải khoán biên chế. Do đó, doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng vai trò
lớn trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động. Trong 4 năm qua các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong tỉnh đã thu hút 14.358 lao động.
Trong những năm qua, do được sự quan tâm của Chính phủ, các ban,
ngành Trung ương và sự chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp, sự phối hợp
chặt chẽ của các ngành, đoàn thể đã có nhiều chương trình được triển khai nhằm
tạo việc làm cho người lao động như: Vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh
của các đơn vị và của người lao động, chương trình di dân kinh tế mới trong và
ngoài tỉnh, chương trình 5 triệu ha rừng, Chương trình 135 cho các xã đặc biệt
khó khăn, chương trình kiên cố hóa kênh mương, nâng cấp đường giao thông
nông thôn... đã tạo cho việc làm mới là 21.794 lao động.
2.3. Đánh giá chung về hoạt động giải quyết việc làm cho ngƣời lao
động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên
2.3.1. Những kết quả đạt được
* Giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên
theo các ngành kinh tế
+ Ngành nông nghiệp:
Được xác định là ngành kinh tế trọng điểm của Thái Nguyên với 75% dân
số sống bằng nông nghiê ̣p , trong những năm qua , ngành nông nghiệp đã đẩy mạnh chuyển di ̣ch cơ cấu cây trồng , vâ ̣t nuôi, tăng cườ ng áp du ̣ng các biê ̣n pháp khoa ho ̣c - kỹ thuật vào sản xuất , kết hơ ̣p vớ i phát huy tối đa thế ma ̣nh về điều kiê ̣n khí hâ ̣u , thổ nhưỡng củ a tỉnh . Nhờ đó , ngành nông nghiệp Thái Nguyên đã
79
đa ̣t được nhiều kết quả tốt, đóng góp quan tro ̣ng vào sự nghiê ̣p phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đờ i sống củ a phần lớ n hô ̣ nông dân trên đi ̣a bàn.
Lực lượng lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên chủ yếu làm việc trong
lĩnh vực nông nghiệp. Trong những năm qua ngành nông nghiệp Thái Nguyên đã
có bước phát triển tương đối ổn định và theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm khai
thác tiềm năng thế mạnh của tỉnh. Trong những năm qua, Thái Nguyên đã tích
cực đẩy ma ̣nh chuyển di ̣c h cơ cấu cây trồng , vâ ̣t nuôi: "Chuyển di ̣ch cơ cấu cây trồng, vâ ̣t nuôi là mô ̣t trong những biê ̣n pháp thực hiê ̣n chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiê ̣p . Vớ i lơ ̣i thế về điều kiê ̣n tự nhiên , nguồn nhân lực , Thái Nguyên xác định nhữ ng cây trồng , vâ ̣t nuôi chính như chè , cây ăn quả , lơ ̣n, bò thịt, bò sữa, trâu thi ̣t, gia cầm và cá sẽ ta ̣o điều kiê ̣n cho ngành nông nghiê ̣p chuyển di ̣ch theo hướ ng sản xuất hàng hoá . Trồng cây lương thực sẽ đảm bảo an ninh lương . Trên tinh thần đó , ngành đã thực trên đi ̣a bàn và mô ̣t phần sản xuất hàng hoá thực hiê ̣n quy hoa ̣ch chuyển đổi cơ cấu cây trồng , vâ ̣t nuôi đến năm 2010 và
khoanh vù ng sản xuất nông , lâm sản hàng hoá , tạo vùng nguyên liệu phục v ụ công nghiê ̣p chế biến" [22, tr.50].
Trong những năm qua (2000 - 2009), nhờ đẩy ma ̣nh thực hiê ̣n những chủ
trương, chính sách đúng đắn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiê ̣p hoá, hiê ̣n đa ̣i hoá, sản xuất nông - lâm nghiê ̣p củ a tỉnh đã đa ̣t đươ ̣c kết quả cao. Tốc đô ̣ tăng trưở ng giá tri ̣ sản xuất nông nghiê ̣p đa ̣t bình quân 4,5 - 5%/năm; sản lượng lương thực (có hạt) tính theo đầu người tăng từ 326 kg (năm 2003) tăng lên 657kg (năm 2009). Tổng giá tri ̣ sản xuất ngành nông - lâm - thuỷ sản chiếm gần 40%% GDP củ a tỉnh, thu hú t và giải quyết viê ̣c làm cho khoảng trên 80% lao đô ̣ng củ a tỉnh, cung ứ ng khối lươ ̣ng nguyên liê ̣u khá lớ n cho công nghiê ̣p chế biến nông - lâm sản, tạo điều kiê ̣n thú c đẩy sản xuất công nghiê ̣p phát triển , góp phần xoá đói, giảm nghèo, tăng thu nhâ ̣p cho các hô ̣ nông dân [41, tr.24].
Thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, trong những
năm qua, các cấp Hội Nông dân, Phòng Kinh tế, Trạm Khuyến nông, Trung tâm
Giống cây trồng thành phố thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nhằm giới thiệu
các loại giống cây trồng cho năng suất chất lượng cao. Đồng thời, tư vấn cho các
80
hộ có nhu cầu mở rộng kinh doanh, sản xuất, mạnh dạn đưa cây trồng mới vảo sản
xuất. Bên cạnh đó, tỉnh còn đẩy mạnh công tác hỗ trợ vốn để nông dân đầu tư phát
triển những loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, khuyến khích các doanh nghiệp
đầu tư, hợp tác với nông dân thông qua các hợp đồng bao tiêu nông sản, chuyển
giao kỹ thuật… Đầu tư, ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất luôn được
ngành Nông nghiệp thành phố quan tâm, chỉ đạo thực hiện theo hướng nông
nghiệp đô thị. Nhiều mô hình sản xuất mới như trang trại trồng chè, cây ăn quả,
sản xuất chè sạch, rau an toàn, cây cảnh, hoa tươi… được hình thành và sản xuất
có hiệu quả, góp phần tạo ra diện mạo nông thôn mới. Cây chè, đã và đang tiếp
tục khẳng định là cây trồng có thế mạnh đem lại hiệu quả kinh tế cao. Giá trị sản
phẩm trên 1 ha đất nông nghiệp trồng trọt tăng từ 25 triệu đồng/1ha năm2005 lên
56 triệu đồng/1ha năm2010. Giá trị sản phẩm trên 1 ha chè, cây ăn quả tăng từ 45
triệu đồng/1 ha năm 2005 lên 72 triệu đồng/1ha năm 2010 [55, tr.33].
Kết quả bước đầu của việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông
nghiệp là các mô hình chuyển đổi sang sản xuất cây trồng giá trị kinh tế cao đã thu
được hiệu quả như: Mô hình ứng dụng công nghệ sản xuất hoa tươi chất lượng
cao, trồng trong nhà lưới tại xã Quyết Thắng và phường Túc Duyên cho thu từ 90
đến 900 triệu đồng/ha/vụ. Đề án phát triển sản xuất và tiêu thụ rau an toàn được
triển khai thực hiện với tổng diện tích là 10 ha, bước đầu hướng vào thói quen
trồng và sử dụng rau an toàn của người dân thành phố. Đối với Đề án phát triển
vùng chè đặc sản Tân Cương, đã chuyển đổi cơ cấu giống đạt 40% giống mới, đưa
diện tích trồng chè lên trên 1.200 ha, trong đó có trên 1 nghìn ha cho thu hoạch,
giá trị sản phẩm chè đạt 60 triệu đồng/ha, sản lượng chè búp tươi đạt trên 11 nghìn
tấn; tạo việc làm cho 6.900 lao động, với mức thu nhập bình quân đạt 1,2 đến 1,5
triệu đồng/tháng. Cùng với đó, thành phố còn thực hiện chương trình cấp I hóa
giống lúa, đưa các giống lúa lai vào gieo cấy, nhờ đó năng suất lúa bình quân 45
tạ/ha (năm 2005) tăng lên trên 70 tạ/ha (năm 2010) [41, tr.25].
Hàng năm, thực hiện sự chỉ đạo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, tỉnh đã đưa giống lúa mới năng suất, chất lượng cao vào trình diễn, qua đó
chọn ra được những chủng loại giống phù hợp với tập quán canh tác của địa
81
phương như Syn6, Bio404 và một số giống lúa mới có năng suất, chất lượng cao
vào sản xuất đại trà, dần thay thế giống lúa truyền thống. Do đó, năng suất sản
lượng lương thực có hạt không ngừng tăng, giá trị sản xuất nông nghiệp trung
bình mỗi năm tăng từ 5 đến 8% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài việc đưa các
giống mới có năng suất, chất lượng cao vào gieo trồng, việc chuyển đổi sang sản
xuất cây cảnh không cần diện tích sản xuất lớn nhưng phù hợp với điều kiện phát
triển đô thị và mang lại thu nhập khá cao. Nhiều hộ có vườn cây cảnh có giá trị
từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng như gia đình: ông Ngừ, ông Kiểu, ông Giang
(phường Phú Xá); ông Đầm, ông Cường (phường Tân Thành); ông Hải, ông Ký
(phường Tân Thịnh); ông Hồng, ông Thoa (phường Thịnh Đán)… [17, tr.20].
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên năm 2005, 2010
Cơ cấ u ngành Cơ cấ u ngành
nông nghiê ̣p năm 2005 nông nghiê ̣p năm 2010
Nguồn: Sở Nông nghiê ̣p và Phá t triển nông thôn Thá i Nguyên
+ Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Trong giai đoạn 2006 - 2010 cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Nguyên đã có sự
chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tích cực tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng
và dịch vụ. Đến năm 2010 kinh tế ngành Công nghiệp Xây dựng chiếm trên
41%, ngành dịch vụ chiếm gần 37% còn lại trên 21% là ngành kinh tế Nông,
Lâm nghiệp và Thuỷ sản. Trong những năm gần đây Thái Nguyên đã và đang
tập trung thực đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, công tác quy hoạch giải
82
phóng mặt bằng và thu hút đầu tư. Do có những quyết sách đúng đắn và sự vào
cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị nên kết thúc năm 2010 trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên đã có tổng số trên 3000 doanh nghiệp và có khoảng 500 dự án
được cấp phép đăng ký đầu tư vào Thái Nguyên. Cũng trong thời gian trên tỷ lệ
hộ nghèo trên địa bàn toàn tỉnh giảm trên 3%/năm, tạo việc làm mới hàng năm
cho cho khoảng 16.000 lao động...
Trên cơ sở kết quả đã đạt được, Ban chấp hành đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã xác định: “Tích cực triển khai thực hiện
Nghị quyết của đại hội Đảng các cấp; tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, chú trọng phát triển nông nghiệp, nông
thôn; đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, các
khu du lịch dịch vụ, tổ chức thành công Festival Trà Quốc tế, từng bước hình
thành vùng kinh tế trọng điểm Bắc Thủ đô Hà Nội”. Mục tiêu cụ thể hàng năm
Thái nguyên có tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 12% trở lên, các chỉ tiêu xuất khẩu,
thu ngân sách, giá trị công nghiệp, thu nhập bình quân đầu người... tăng 20% trở
lên. Thái Nguyên đã đề ra 9 nhóm giải pháp để thực hiện trong đó ngay trong
năm 2011 sẽ tập trung vào các nhóm giải pháp trọng yếu như: Tiếp tục hoàn
thiện cơ chế chính sách để huy động mọi nguồn lực cho đầu tư, phát triển; đẩy
mạnh công tác giải phóng mặt bằng; tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng, chỉnh trang
đô thị; tổ chức thực hiện thành công Nghị quyết Trung ương VI về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn; tiếp tục thực hiện công cuộc cải cách hành chính...
Thái Nguyên là địa phương có nhiều khu công nghiệp được đầu tư xây
. Trong đó , Khu công nghiê ̣p gang thép Thái
dựng sớ m nhất trong cả nướ c Nguyên (đươ ̣c xây dựng từ những năm 1960) - nơi sản xuất thép từ quă ̣ng duy nhất ở Viê ̣t Nam - đang đươ ̣c đầu tư chiều sâu . Khu công nghiê ̣p Sông Công đươ ̣c Chính phủ quyết đi ̣nh thành lâ ̣p từ năm 1999 vớ i diê ̣n tích 320 ha, đã thu hút 17 dự án (tỷ lệ lấp đầy đạt 50% diê ̣n tích củ a giai đoa ̣n I ). Ngoài ra, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt quy hoạch 02 cụm công nghiệp tại thành phố Thái
Nguyên và 23 cụm công nghiệp tại các huyện , thị xã với tổng diện tích 440 ha. "Cải thiệ n Cùng với đó , tỉnh Thái Nguyên đã và đang tích cực thực hiện đề án
83
môi trườ ng đầu tư ", tiếp tu ̣c cải cách thủ tu ̣c hành chính theo cơ chế "mô ̣t cử a", , chính sách ưu đãi đầu tư . Số lao động được sử dung là ban hành các cơ chế 320.000 người, bình quân mỗi doanh nghiệp sử dụng gần 100 lao động, chưa kể
số lao động thời vụ. Nếu năm 2001 giá trị sản xuất công nghiệp mới đạt 2.822 tỷ
đồng, thì năm 2004 đa ̣t 4.448 tỷ đồng, tăng 57,6% so vớ i năm 2001. Với những kết quả đạt được như trên, có thể nói ngành công nghiệp Thái Nguyên đóng vai
trò quan trọng trong việc thu hút một lượng lớn lao động, giải quyết việc làm,
tăng thu nhập, góp phần ổn định xã hội trên địa bàn tỉnh.
,
Nhờ thực hiện triển khai nhiều chính sách , biê ̣n pháp khuyến khích phát triển phù hơ ̣p củ a tỉnh và ngành như : tâ ̣p trung đầu tư chiều sâu , cải thiện môi trườ ng đầu tư , triển khai các chính sách ưu đãi đối vớ i đầu tư trong và ngoài nướ c,... tổng giá tri ̣ sản xuất công nghiê ̣p - tiểu thủ công nghiê ̣p có tốc đô ̣ tăng trưở ng khá. Cùng với đó , sự góp mă ̣t củ a khu vực có vốn đầu tư nướ c ngoài chủ lực là Công ty Natsteel Vina (chiếm khoảng 90% giá trị sản xuất của toàn khu vực), cũng góp phần làm sôi động, phong phú thêm hoa ̣t đô ̣ng sản xuất công nghiê ̣p trên đi ̣a bà n. Vớ i những chủ trương đú ng đắn củ a tỉnh , ngành như đẩy mạnh xây dựng các khu, cụm công nghiệp, tạo thuận lợi về mặt bằng sản xuất và
ưu đãi vốn đầu tư,... khu vực này sẽ có những bướ c bứ t phá trong tương lai, đóng góp nhiều hơn nữa vào giải quyết việc làm cho lao động của tỉnh nói chung và nông thôn nói riêng.
Cơ cấu ngành công nghiê ̣p chuyển di ̣ch theo hướ ng tăng tỷ tro ̣ng ngành
công nghiê ̣p chế biến nông - lâm sản - thực phẩm, dê ̣t may, da giầy, sản xuất vâ ̣t liê ̣u xây dựng, giảm tỷ trọng các ngành công nghiệp hoá chất , cơ khí, luyê ̣n kim. Đây chủ yếu là những ngành sử dụng nhiều lao động, do đó nếu những ngành
này tiếp tục được đầu tư phát triển sẽ góp phần đáng kể trong việc giải quyết
việc làm cho một lượng lớn lao động ở Thái Nguyên.
+ Ngành dịch vụ:
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, hoạt động thương mại - dịch
vụ Thái Nguyên đã có những thay đổi quan trọng , không ngừ ng duy trì và mở rô ̣ng trên nhiều lĩnh vực, nhanh chóng hoà nhâ ̣p vớ i cơ chế thi ̣ trườ ng , góp phần
84
đáng kể trong việc mở rộng quy mô nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mở rộng quy mô đầu tư mới, tăng nhu cầu việc làm, góp phần tạo thêm nhiều
việc làm mới cho người lao động.
Ngoài các doanh nghiệp nhà nước , toàn tỉnh còn có hơn 11 nghìn hộ kinh
doanh trong lĩnh vực thương ma ̣i - du li ̣ch và di ̣ch vu ̣ . Sự tham gia củ a các hô ̣ kinh doanh tư nhân trong lĩnh vực này là lực lươ ̣ng hù ng hâ ̣u ta ̣o sự sầm uấ t, sôi đô ̣ng cho thi ̣ trườ ng toàn tỉnh , kích thích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác cù ng ca ̣nh tranh và phát triển lành ma ̣nh , bình đẳng. Nhờ đó , tổng mứ c luân chuyển hàng hoá trong những năm gần đây tăng ma ̣n h. Sứ c mua củ a ngườ i tiêu dù ng tăng nhanh , khiến tỷ tro ̣ng thương ma ̣i , du li ̣ch và di ̣ch vu ̣ trong GDP củ a tỉnh cũng tăng đáng kể . Tổng mứ c bán lẻ hàng hoá và doanh thu di ̣ch vụ tiêu dùng xã hội năm 2009 đa ̣t 3.691 tỷ đồng, tăng 30,2% so vớ i năm 2006, trong đó khu vực nhà nướ c chiếm trên 10%, khu vực dân doanh chiếm gần 90%. Thành phố Thái Nguyên đã từng bước quy hoạch mạng lưới kinh doanh thương
mại ở 25 chơ ̣, trong đó đã huy đô ̣ng trên 15 tỷ đồng để xây d ựng, nâng cấp chơ ̣ Đồng Quang , tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế dân doanh phát triển
nhằm huy đô ̣ng mo ̣i nguồn lực về vốn , lao đô ̣ng và khả năng kinh doanh củ a nhân dân.
Hoạt động xuất, nhâ ̣p khẩu trên đi ̣a bàn tỉnh đã v à đang có những chuyển biến tích cực . Cơ cấu mă ̣t hàng , thị trường được mở rộng nhanh chóng . Nhiều tiềm năng, thế ma ̣nh củ a tỉnh về cây công nghiê ̣p , cây ăn quả , khoáng sản, may lại hiệu quả thiết thực . Kim mă ̣c,... đươ ̣c khai thác ngày càng nhiều và mang ngạch xuất, nhâ ̣p khẩu đa ̣t khoảng 25 triê ̣u USD/năm (trong đó các doanh nghiê ̣p đi ̣a phương đa ̣t khoảng 13 - 14 triê ̣u USD), chiếm tỷ tro ̣ng lớ n trong cơ cấu kinh tế củ a tỉnh . Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thu hút lao động trong nông nghiệp.
Vớ i những nỗ lực trong thờ i gian qua , ngành thương mại - dịch vụ Thái Nguyên đang cố gắng ta ̣o nên sự sôi đô ̣ng trên thi ̣ trườ ng , khơi dâ ̣y những sản phẩm hàng hoá xuất khẩu thế mạnh của tỉnh . Qua đó , ngành thương mại - dịch vụ Thái Nguyên đã góp phần tạo nên hình ảnh mới cho sự phát triển kinh tế - xã
85
hô ̣i đi ̣a phương , tạo tiền đề vững chắc để Thái Nguyên thực hiện thành công
công cuô ̣c công nghiê ̣p hoá , hiê ̣n đa ̣i hoá , tiến tớ i hô ̣i nhâ ̣p kinh tế quốc tế . Bên cạnh đó góp phần đáng kể trong việc giải quyết việc làm cho một bộ phận không
nhỏ lao động ở nông thôn, tăng thu nhập, từng bước cải thiện đời sống cho lao
động nông thôn.
* Giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thông tỉnh Thái Nguyên
góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Qua 9 năm (2001-2009) Đảng bộ, nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên
đã từng bước đi lên và tự khẳng định mình trong việc phát triển kinh tế - xã hội
và nâng cao đời sống nhân dân. Thắng lợi có ý nghĩa quan trọng nhất là kinh tế
của tỉnh Thái Nguyên đã phát triển với tốc độ khá, thoát ra khỏi nhóm những
tỉnh nghèo của cả nước. Tổng sản phẩm của tỉnh tạo ra hằng năm tăng liên tục.
Cơ cấu kinh tế đã và đang chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH; từng bước nâng
cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Đã từng bước nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho mọi tầng lớp cư dân trong tỉnh; đồng thời, kinh tế 2 vùng
thành thị và nông thôn xích lại gần nhau theo hướng đô thị hóa. Qua 9 năm thực
hiện nhiệm vụ giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn tỉnh Thái
Nguyên bước đầu đã thu được một số kết quả cụ thể như sau:
Một là, nhận thức, quan niệm của người lao động về việc làm đã được
thay đổi cơ bản. Người lao động tự chủ trong việc tự tạo việc làm cho mình và
cho người khác trong các thành phần kinh tế. Người sử dụng lao động được
khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tạo mở việc làm.
Mặt khác, chủ trương tạo việc làm cho người lao động cũng được thay đổi. Nhà
nước tập trung ban hành cơ chế, chính sách, xây dựng hành lang phát luật, tạo
môi trường thận lợi để mọi người tự tạo việc làm cho mình và cho xã hội.
Hai là, trong những năm vừa qua, công tác giải quyết việc làm cho người
lao động ở nông thôn Thái Nguyên được đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy,
chính quyền và các ban ngành trong tỉnh. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Nghị
quyết về giải quyết việc làm cho người lao động; Ủy ban nhân dân tỉnh đã có đề
án về giải quyết việc làm cho người lao động chất lượng cao thông qua hệ thống
86
đào tạo trong địa bàn toàn tỉnh. Phân công một đồng chí phó Chủ tịch UBND
tỉnh làm chủ nhiệm đề án, các ngành Lao động - Thương binh Xã hội, Nội vụ,
Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo tham gia. Đã phát triển và
đa dạng hóa các hình thức kinh doanh tạo nhiều việc làm mới cho lao động của
tỉnh: kinh tế hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ, khôi phục và phát triền làng
nghề truyền thống.
Theo kế hoạch đề ra, mỗi năm Hội đào tạo cho 1000 hội viên, nông dân
với nhóm ngành chủ yếu là nông nghiệp trong đó chú trọng đào tạo các ngành
chăn nuôi thú y, chế biến chè an toàn, kỹ thuật trồng trọt và nhóm phi nông
nghiệp chủ yếu là tin học và may công nghiệp.
Sau khi được tỉnh ủy phê duyệt và UBND tỉnh cấp kinh phí, Hội nông dân
tỉnh Thái Nguyên đã triển khai một cách đồng bộ ngay từ các khâu như: tuyên
truyền, khảo sát nhu cầu, đào tạo…
Song song với công tác tuyên tuyền Hội nông dân tỉnh đặc biệt chú trọng
đến vấn đề khảo sát nhu cầu trước khi đào tạo: Xác định đây là một khâu hết sức
quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả và chất lượng đào tạo, ngay
sau khi tuyên tuyền Hội nông dân tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành tổ chức các
khóa tập huấn cho cán bộ cơ sở Hội về phương pháp điều tra rà soát, khảo sát
nhu cầu dạy nghề đồng thời phát phiếu điều tra tới tận các hộ nông dân. Kết quả
đã tiến hành khảo sát nhu cầu học nghề của 7.700 hội viên, nông dân thí điểm
trên địa bàn 10 xã, phường, thị trấn (năm 2009) và 13.262 hội viên, nông dân
trên 15 xã, phường, thị trấn (6 tháng đầu năm 2010) [17, tr.30].
Ba là, các trung tâm dịch vụ việc làm trên địa bàn tỉnh đã thực hiện tốt
việc giới thiệu việc làm cho các thành phần kinh tế; tổ chức đào tạo nghề cho
người lao động, giúp họ tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm. Các hình thức đào
tạo nghề đã được đổi mới và chất lượng nguồn lao động đã được nâng cao hơn.
Các lớp đào tạo nghề do Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ việc làm Nông
dân Thái Nguyên tổ chức theo hình thức dạy nghề tại chỗ với trình độ đào tạo là
sơ cấp nghề. Đối tượng đào tạo chủ yếu là nông dân nên Trung tâm đã xây dựng
chương tình đào tạo cũng như phương pháp đào tạo sát với trình độ của đối
87
tượng học nghề. Theo đó thời lượng của mỗi lớp dạy nghề là 03 tháng trong đó
1/3 thời lượng là lý thuyết còn 2/3 thời lượng dành cho thực hành, phương châm
đào tạo của Trung tâm là “Cầm tay chỉ việc”, phương pháp dạy linh hoạt, mềm
dẻo: dễ học, dễ nhớ và dễ làm phù hợp với người nông dân.
Nhiều lớp học diễn ra đúng thời điểm tại địa phương đang có dịch bệnh
trên đàn gia súc, gia cầm, giảng viên đã hướng dẫn và cùng với học viên chữa
khỏi nhiều đàn gia súc, gia cầm góp phần giảm thiệt hại về kinh tế cho chính gia
đình các học viên đồng thời học viên trong lớp cũng có được những bài học thực
tế quý báu. Điển hình như lớp Chăn nuôi thú y ở các xã: Vạn Thọ - Đại Từ, Văn
Hán - Đồng Hỷ, Nga My - Phú Bình,...
Năm 2009 và 6 tháng đầu năm 2010, Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên đã tổ
chức được 48 lớp dạy nghề cho các nghề như: Chăn nuôi thú y, Chế biến chè an
toàn, Kỹ thuật trồng trọt và tin học văn phòng cho hội viên, nông dân [17, tr.37].
Bốn là, công tác giải quyết việc làm đã gắn với việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và cơ cấu lao động.
Thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố, trong
những năm qua, các cấp Hội nông dân, Phòng Kinh tế, Trạm Khuyến nông,
Trung tâm Giống cây trồng thành phố thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn
nhằm giới thiệu các loại giống cây trồng cho năng suất chất lượng cao. Đồng
thời, tư vấn cho các hộ có nhu cầu mở rộng kinh doanh, sản xuất, mạnh dạn đưa
cây trồng mới vảo sản xuất. Bên cạnh đó, thành phố còn đẩy mạnh công tác hỗ
trợ vốn để nông dân đầu tư phát triển những loại cây trồng có giá trị kinh tế cao,
khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, hợp tác với nông dân thông qua các hợp
đồng bao tiêu nông sản, chuyển giao kỹ thuật… Đầu tư, ứng dụng khoa học, kỹ
thuật vào sản xuất luôn được ngành nông nghiệp thành phố quan tâm, chỉ đạo
thực hiện theo hướng nông nghiệp đô thị. Nhiều mô hình sản xuất mới như trang
trại trồng chè, cây ăn quả, sản xuất chè sạch, rau an toàn, cây cảnh, hoa tươi…
được hình thành và sản xuất có hiệu quả, góp phần tạo ra diện mạo nông thôn
mới. Cây chè, đã và đang tiếp tục khẳng định là cây trồng có thế mạnh đem lại
hiệu quả kinh tế cao. Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất nông nghiệp trồng trọt tăng
88
từ 25 triệu đồng/1ha năm2005 lên 56 triệu đồng/1ha năm2010. Giá trị sản phẩm
trên 1 ha chè, cây ăn quả tăng từ 45 triệu đồng/1 ha năm 2005 lên 72 triệu
đồng/1ha năm 2010 [31, tr.4].
Kết quả bước đầu của việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông
nghiệp là các mô hình chuyển đổi sang sản xuất cây trồng giá trị kinh tế cao đã thu
được hiệu quả như: Mô hình ứng dụng công nghệ sản xuất hoa tươi chất lượng
cao, trồng trong nhà lưới tại xã Quyết Thắng và phường Túc Duyên cho thu từ 90
đến 900 triệu đồng/ha/vụ. Đề án phát triển sản xuất và tiêu thụ rau an toàn được
triển khai thực hiện với tổng diện tích là 10 ha, bước đầu hướng vào thói quen
trồng và sử dụng rau an toàn của người dân thành phố. Đối với Đề án phát triển
vùng chè đặc sản Tân Cương, đã chuyển đổi cơ cấu giống đạt 40% giống mới, đưa
diện tích trồng chè lên trên 1.200 ha, trong đó có trên 1 nghìn ha cho thu hoạch,
giá trị sản phẩm chè đạt 60 triệu đồng/ha, sản lượng chè búp tươi đạt trên 11 nghìn
tấn; tạo việc làm cho 6.900 lao động, với mức thu nhập bình quân đạt 1,2 đến 1,5
triệu đồng/tháng. Cùng với đó, thành phố còn thực hiện chương trình cấp I hóa
giống lúa, đưa các giống lúa lai vào gieo cấy, nhờ đó năng suất lúa bình quân 45
tạ/ha (năm 2005) tăng lên trên 70 tạ/ha (năm 2010) [31, tr.5].
Cơ cấu lao động và cơ cấu việc làm đã có chuyển biến theo chiều hướng
tích cực. Tỷ trọng trong nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng trong công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ có chiều hướng tăng lên rõ rệt.
Năm là, công tác đầu tư vốn tín dụng cho người nghèo, giúp các hộ nghèo
ổn định và cải thiện đời sống, giải quyết thêm việc làm và việc làm mới cho
người lao động.
Trong những năm qua, tỉnh Thái Nguyên đã ưu tiên nhiều nguồn vốn ưu
đãi thông qua các chương tình, dự án, các tổ chức tín dụng đầu tư đào tạo nghề,
giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Với tư cách pháp nhân đã được
công nhận và trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ đã được quy định tại Luật HTX
cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác đã được ban hành, sau khi chính
thức đi vào hoạt động, HTX Nông, Lâm nghiệp xã Quyết Thắng, đã mở rộng
hình thức tín dụng nội bộ, huy động tiền nhàn rỗi trong nhân dân và xã viên để
89
cho các cá nhân, hộ gia đình trên địa bàn xã vay phát triển kinh tế, hỗ trợ giải
quyết thêm việc làm cho lao động địa phương.
Không chỉ đáp ứng nhu cầu vay vốn phát triển kinh tế của các hộ gia đình,
thời gian qua, HTX Nông lâm nghiệp xã Quyết Thắng còn tạo điều kiện cho
những mô hình kinh tế giải quyết được nhiều việc làm cho lực lượng lao động địa
phương vay vốn. Trong đó phải kể tới trang trại chăn nuôi lợn kết hợp với nuôi thả
cá của Đội chăn nuôi số 1 trực thuộc HTX. Từ chỗ chỉ chăn nuôi với quy mô nhỏ,
bằng nguồn vốn vay từ HTX, đến nay trang trại của đội đã có trên 200 đầu lợn và
5 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản đã tạo việc làm ổn định cho gần 10 lao động
với mức thu nhập bình quân trên 2 triệu đồng/người/tháng [28, tr.9].
Thực hiện theo điều lệ của HTX, trong đó HTX được phép huy động
nguồn vốn nhàn rỗi của xã viên và nhân dân, HTX Nông Lâm nghiệp xã Quyết
Thắng đã thành lập quỹ tín dụng nội bộ nhằm huy động nguồn vốn trong nhân
dân và trên cơ sở đó sử dụng nguồn vốn này cho các tổ chức, cá nhân trên địa
bàn xã vay lại để đầu tư phát triển kinh tế, hỗ trợ giải quyết việc làm cho người
lao động địa phương. Đến nay, quỹ tín dụng nội bộ của HTX đã cho trên 200
lượt hộ gia đình, cá nhân của xã vay với tổng số tiền 3,3 tỷ đồng qua đó đã kịp
thời tháo gỡ những khó khăn về vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
[28, tr.11]. Thực tế cho thấy, bên cạnh một bộ phận lực lượng lao động đã qua
đào tạo tại các trường dạy nghề, các lớp tập huấn và trực tiếp đi làm việc tạo các
khu chế xuất, khu công nghiệp trong nước cũng như xuất khẩu lao động thì hiện
nay ở các vùng nông thôn vẫn còn một số lượng lớn lao động đang hoạt động
trên lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp, kinh doanh dịch vụ thương mại. Chính
vì vậy việc có thêm nhiều nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng sẽ góp phần hỗ trợ
thêm cho lực lượng lao động ở địa phương có cơ hội đầu tư mở rộng sản xuất
kinh doanh, duy trì việc làm ổn định.
Để giải quyết việc làm ổn định tại chỗ cho lao động địa phương trước hết
cần thông qua các tổ chức tín dụng, tiếp tục cho nhân dân được tiếp cận với
những nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển kinh tế cũng là một hướng giải quyết
việc làm ổn định cho lao động tại các vùng nông thôn.
90
Tóm lại, trong 9 năm qua, thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn của
Đảng, cơ chế chính sách của Nhà nước; tỉnh Thái Nguyên đã tạo ra được chuyển
biến cơ bản về nhận thức, phương thức tạo mở việc làm; đã huy động được mọi
nguồn lực cho đầu tư phát triển để tạo việc làm. Chương trình giải quyết việc
làm đã được triển khai thực hiện có kết quả với sự quan tâm của các ngành, các
cấp, các tổ chức đoàn thể, nhờ vậy đã giảm được thất nghiệp, tăng việc làm và
bước đầu chuyển đổi cơ cấu và chất lượng lao động theo hướng tích cực.
2.3.2. Những tồn tại về việc làm và giải quyết việc làm ở nông thôn Thái
Nguyên và nguyên nhân
Cùng với những thành công đạt được thì giải quyết việc làm cho nông
thôn tỉnh Thái Nguyên còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết:
Một là, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm ở nông thôn
Ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng hiện nay đang diễn
ra một xu hướng chung đó là tình trạng tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm
thường chậm hơn tốc độ tăng dân số. Do đó, việc tăng dân số đồng nghĩa với
việc gia tăng lực lượng lao động, tuy nhiên mức tăng trưởng kinh tế chưa đủ tới
mức có thể đáp ứng hết việc làm cho số lao động mới gia tăng. Điều này dẫn đến
một kết quả tất yếu là lực lượng lao động nói chung và ở khu vực nông thôn nói
riêng thiếu việc làm, đời sống không ổn định.
Ở Thái Nguyên hiện nay, việc đẩy nhanh xây dựng các khu công nghiệp,
khu kinh tế sẽ tạo sức ép về việc làm nhất là đối với người lao động ở nông thôn.
Bởi vì xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế sẽ làm cho người nông dân
mất một phần hay toàn bộ đất đai để sản xuất. Từ năm 2001 đến năm 2010 ở
Thái Nguyên sẽ có khoảng hơn 20.000 ha đất nông nghiệp được chuyển đổi mục
đích sử dụng, hàng vạn nhân khẩu nông thôn sẽ không còn đất canh tác dẫn đến
thiếu việc làm và thất nghiệp. Ở những vùng này, người lao động chủ yếu làm
nông nghiệp, không có các ngành nghề khác. Vì vậy, khi bị thu hồi đất người lao
động không có khả năng tìm việc làm mới. Hơn nữa, khi thu hồi đất, người lao
động sẽ nhận được một khoản tiền đền bù; nhưng một bộ phận không nhỏ người
lao động đã dùng số tiền đó để xây nhà, mua sắm đồ dùng đắt tiền, thậm chí tiêu
91
pha hoang phí mà không mua sắm phương tiện để sản xuất, kinh doanh, học
nghề và do đó họ sẽ rơi vào tình trạng hết tiền mà không có việc làm.
Hai là, trình độ người lao động ở nông thôn còn thấp chưa đáp ứng yêu
cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Nguyên đã từng bước
chuyển dịch theo hướng tiến bộ, phù hợp với quá trình CNH, HĐH. Tuy nhiên
tốc độ chuyển dịch cả về GDP và lao động còn chậm. Sự mất cân đối giữa cơ
cấu lao động và cơ cấu kinh tế gây ra tình trạng thừa thiếu lao động giả tạo. Thừa
lao động phổ thông, thiếu lao động có trình độ học vấn cao, lao động đã qua đào
tạo nghề nghiệp. Hơn 70% lao động làm việc trong ngành nông, lâm, thủy sản,
ngành kinh tế còn có năng suất thấp, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên dẫn đến tình
trạng thiếu việc làm. Đa phần đó là những người lao động ở nông thôn, lao động
phổ thông chưa qua đào tạo. Muốn chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải phóng một
phần lao động nông nghiệp, nông thôn thì yêu cầu đặt ra cho Thái Nguyên là
phải đẩy mạnh công tác đào tạo, dạy nghề cho họ. Trong thời kì đẩy mạnh CNH,
HĐH “cầu” lao động tăng. Song đa phần công việc lại đòi hỏi người lao động
phải qua đào tạo, có trình độ chuyên môn ở mức độ nhất định; trong khi hệ thống
đào tạo nghề của tỉnh chưa đáp ứng kịp cả về nội dung lẫn cơ sở vật chất cho nên
người lao động vẫn chưa khai thác được cơ hội tìm kiếm việc làm.
Trong khi nguồn cung về lao động của tỉnh hiện nay chủ yếu là lao động
không có chuyên môn kĩ thuật, thì cầu về lao động lại đòi hỏi lao động có trình
độ chuyên môn kĩ thuật là chủ yếu. Do đó, dẫn đến một thực tế hiện nay là trong
khi những người không có chuyên môn kĩ thuật không tìm được việc làm, thì ở
một số ngành nghề và nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh đang thiếu lao động kĩ
thuật chuyên môn có nghề nghiệp và trình độ phù hợp với yêu cầu của sản xuất
kinh doanh. Những hạn chế về chất lượng lao động dẫn đến hậu quả trực tiếp là
vừa thừa lại vừa thiếu lao động, làm cho tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, và nó là lực
cản quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của tỉnh.
Về cơ cấu đào tạo và cơ cấu phân bố nguồn lao động cũng nhiều bất hợp lý.
Ở Thái Nguyên hiện nay đang thiếu trầm trọng những công nhân lành nghề và lao
92
động kĩ thuật, thừa tương đối sinh viên đại học và cao đẳng. Nguyên nhân của sự
thiếu hụt này là cơ cấu đào tạo không hợp lý, dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu
thợ”. Mặt khác, chúng ta chưa có chính sách khuyến khích dạy nghề và học nghề
đối với lao động; chưa có sự đầu tư thỏa đáng cho đào tạo lao động, chậm đưa ra
định hướng đổi mới lĩnh vực dạy nghề phù hợp với thị trường lao động.
Bên cạnh đó, lao động được đào tạo phân bố theo khu vực mất cân đối
nghiêm trọng. Lực lượng lao động kĩ thuật dồn tụ vào thành phố, các khu công
nghiệp tập trung, còn ở khu vực nông thôn thì lại thiếu nghiêm trọng.
Ba là, thiếu tư duy “người kinh tế” của nông dân trong tự tạo việc làm
Có thể nói, hầu hết người lao động của nước ta hiện nay còn mang thói
quen, tập quán sản xuất nhỏ, thiếu năng động và sáng tạo, ý thức kỷ luật, tác
phong công nghiệp kém; kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm hạn chế, ngại
phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc. Do đó, nguy cơ mất sức
cạnh tranh trên thị trường là rất lớn khi tham gia vào quá trình phân công lao
động quốc tế. Mặt khác, người lao động ở nông thôn còn chưa linh hoạt trong
việc tự tạo cơ hội việc làm cho bản thân và gia đình, họ mang nặng tâm lý sản
xuất nông nghiệp theo mùa vụ, còn lại là trông chờ vào việc đi làm thuê theo
mùa vụ, không ổn định. Họ chưa biết cách tận dụng các nguồn lực sẵn có trong
các hộ gia đình để tự tạo thêm việc làm thông qua phát triển làng nghề, tăng thu
nhập, cải thiện mức sống.
Bên cạnh đó, một hạn chế lớn nhất của lao động ở nông thôn Việt Nam nói
chung và Thái Nguyên nói riêng đó là hạn chế về mặt tri thức thị trường, họ không
nắm rõ các quy luật của nền kinh tế, bên cạnh đó ý thức kỷ luật lao động còn hạn
chế, chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Bốn là, thị trường lao động, việc làm còn manh mún
Thị trường lao động Thái Nguyên đã bước đầu hình thành và phát triển
nhưng tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị có nhiều các khu công nghiệp, khu
chế xuất, ở nông thôn mức độ còn sơ khai và hầu như chưa rõ nét. Công tác đào
tạo, dạy nghề chưa thật sự gắn với nhu cầu sử dụng do thiếu thông tin thị trường
lao động, chưa dạy những cái mà thị trường đang cần, cho nên thừa cả những lao
93
động ngay sau khi đã được đào tạo. Hệ thống thông tin thị trường lao động chưa
hoàn thiện, hệ thống giao dịch việc làm chưa mạnh, chủ yếu vẫn là hình thức
trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động (chiếm trên 80% tổng
số giao dịch). Các chính sách về tiền lương, tiền công nói chung chưa phản ánh
được giá trị theo quy luật của thị trường, chưa khuyến khích người lao động phát
huy hết khả năng và chưa thực hiện được chức năng "kích cầu" để sản xuất.
Trong quá trình đổi mới kinh tế, nền kinh tế nước ta tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần. Do đó, tất yếu sẽ dẫn đến phân bố lại lao động giữa các thành phần
kinh tế.
Trong quá trình củng cố, sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế
tập thể, lao động dôi dư là khá lớn; trong khi đó, khả năng thu hút lao động vào
các thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều
hạn chế do chất lượng lao động thấp. Mặt khác, lao động dôi dư chưa thể hòa
nhập ngay được với thị trường lao động mà cần phải có thời gian đào tạo và đào
tạo lại mới đáp ứng được yêu cầu của công việc mới.
Năm là, quy hoạch phát triển chưa đồng bộ
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên , song chủ yếu vẫn là do những bất câ ̣p, yếu kém trong khâu quy hoa ̣ch và những ha ̣n chế trong khâu đầu tư. Trong khi nhiều tỉnh , thành khác trong cả nước đã xây dựng quy hoạch phát triển công nghiê ̣p - tiểu thủ công nghiê ̣p đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và phát triển từng bước vững chắc theo quy hoạch , thì Thái Nguyên v ẫn chưa xây dựng đươ ̣c quy hoa ̣ch tổng thể phát triển công nghiê ̣p để làm căn cứ cho các ngành hàng, các địa phương xây dựng quy hoạch và chiến lược phát triển . Đồng
thờ i, tỉnh chưa tập trung nguồn vốn để đầu tư có trọng điể m, chưa có những , thiếu những dự án đầu tư lớ n củ a đi ̣a phương . chương trình ta ̣o bướ c đô ̣t phá Viê ̣c tuyên truyền, phổ biến Luâ ̣t doanh nghiê ̣p , Luâ ̣t khuyến khích đầu tư trong nướ c, Luâ ̣t đầu tư nướ c ngoài ta ̣i Viê ̣t Nam , cũng như các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư , cải thiện môi trường đầu tư , cải cách thủ tục hành chính của Trung ương và tỉnh chưa đầy đủ và ki ̣p thờ i đến các doanh nghiê ̣p . Cùng với đó, những châ ̣m trễ trong cải cách thủ tu ̣c hàn h chính, trong sắp xếp, đổi mớ i doanh nghiê ̣p
94
nhà nước; phân cấp quản lý chưa rõ ràng ; tư tưở ng ỷ la ̣i , trông chờ vào sự bao cấp củ a Nhà nướ c, tâm lý thoả mãn, thiếu quyết đoán trong đầu tư phát triển củ a mô ̣t bô ̣ phâ ̣n không nhỏ lãnh đạo doanh nghiệp ,... cũng đang là những rào cản
hạn chế sức bật của ngành công nghiệp Thái Nguyên.
Nhằm phát huy những thành quả đã đa ̣t đươ ̣c
cản để hướng tới sự phát triển bền vững
, đồng thờ i dỡ bỏ mo ̣i rào , Sở Công nghiê ̣p Thái Nguyên đang phối hơ ̣p cù ng Viê ̣n Nghiên cứ u chiến lươ ̣c , chính sách công nghiệp - Bô ̣ Công nghiê ̣p tiến hành xây dựng dự án quy hoa ̣ch phát triển công nghiê ̣p trên đi ̣a bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005 - 2015 có tính đến năm 2020. Mục đích của dự
án này nhằm làm rõ các tiềm năng , nguồn lực và đă ̣c thù củ a tỉnh Thái Nguyên để xây dựng các quan điểm, đi ̣nh hướ ng phát triển cho công nghiê ̣p Thái Nguyên mô ̣t cách đú ng đắn và lâu dài ; xây dựng cơ cấu, mục tiêu phát triển công nghiệp thích ứng với các giai đoạn phát triển. Các mục tiêu phát triển của từng giai đoạn
, hoạch định các chính sách công
là luận cứ khoa học và thực tiễn để hoạch định các kế hoạch 5 năm và các kế hoạch hàng năm phát triển công nghiê ̣p củ a tỉnh. Quy hoa ̣ch công nghiê ̣p cũng là cơ sở phu ̣c vu ̣ cho công tác chỉ đa ̣o quản lý nghiê ̣p củ a các cấp lãnh đa ̣o trong tỉnh . Viê ̣c xây dựng và triển khai dự án nà y sẽ giúp ngành công nghiệp Thái Nguyên tiếp tục bứt phá theo hướng nhanh , mạnh
và bền vững".
Tất cả những vấn đề trên đã và đang đặt ra cho Thái Nguyên phải có chiến
lược quy hoạch phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế tập trung gắn với việc
quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn nhằm mục đích tạo ngành
nghề giúp người lao động ở nông thôn ổn định việc làm.
Sáu là, thiếu đồng bộ trong cơ chế, chính sách giải quyết việc làm
Ở Thái Nguyên hiện nay, một số quy định, chính sách chưa được thực
hiện tốt, chưa phù hợp với thực tế. Những chính sách về tổ chức dạy nghề, đào
tạo lại, hướng dẫn sản xuất, kinh doanh hoặc cho vay vốn với lãi suất thấp từ quỹ
quốc gia giải quyết việc làm… vấp phải nhiều thủ tục phức tạp, rườm rà, do đó
làm hạn chế đối tượng cho vay vốn cũng như số vốn vay. Ở các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế chưa được thực
95
hiện nghiêm túc. Nhà nước chưa có các biện pháp chế tài buộc các chủ doanh
nghiệp phải thực hiện các quy định có tính pháp quy này. Đối với các lao động
nữ ở các doanh nghiệp này thường bị đối xử không bình đẳng, hầu như họ không
được hưởng đúng những quy định về chế độ thai sản, con ốm, mẹ đau mà Bộ
luật Lao động đã quy định và cũng chính họ là đối tượng dễ bị sa thải nhất. Bên
cạnh đó còn thiếu những chính sách đủ mạnh để khuyến khích đầu tư, huy động
mọi nguồn lực, phát triển các thị trường (nhất là thị trường sức lao động) để tăng
trưởng kinh tế và tạo mở việc làm.
96
Chƣơng 3
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG
Ở NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN
3.1. Phƣơng hƣớng giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở nông
thôn tỉnh Thái Nguyên
3.1.1. Hoàn thiện các quy định, chính sách về việc làm và giải quyết
việc làm
Trước tiên, cần xây dựng chiến lược lâu dài về đào tạo việc làm cho lao
động nông thôn gắn với chiến lược con người của thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Mục tiêu của chiến lược đó là giải phóng mạnh mẽ các hình thức lao động giản
đơn tạo thêm việc làm phi nông nghiệp, ít đòi hỏi lao động có kỹ năng cao ngay
tại các địa bàn nông thôn, điều tiết di chuyển lao động ồ ạt từ nông thôn ra thành
phố, coi dạy nghề cho nông dân là một bộ phận của chiến lược con người vì khu
vực nông thôn Thái Nguyên chiếm khoảng 75% lực lượng lao động toàn tỉnh,
trong đó thường xuyên có gần 30% lao động thiếu việc làm, phổ biến là thiếu
mang tính thời vụ.
Trên cơ sở chiến lược lâu dài cần cụ thể hoá cho từng thời kỳ với quy
hoạch và kế hoạch đầu tư vốn, khoa học công nghệ, đào tạo lại cán bộ khoa học
quản lý và công nhân lành nghề phục vụ nông nghiệp nông thôn;
Gắn chiến lược xoá đói giảm nghèo với tạo việc làm cho lao động ở nông
thôn, trở thành bộ phận hữu cơ bảo đảm cho quá trình phát triển bền vững ở nông
thôn. Hoàn thiện bổ sung và xây dựng mới cơ chế chính sách thu hút mạnh các
nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước vào các chương trình và dự án tạo thêm
việc làm, thu hút lao động nông thôn. Tăng cường đầu tư cho nông nghiệp, nông
thôn đi đôi với đổi mới cơ cấu đầu tư. Trong các năm tới cần phải tăng cường đầu
tư cơ bản trong nông nghiệp, nông thôn nhất là đầu tư nâng cấp, hoàn thiện hệ
thống thuỷ lợi, điện, đường, trường, trạm, trại nghiên cứu khoa học kỹ thuật.
Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý quỹ quốc gia giải quyết
97
việc làm. Quỹ quốc gia giải quyết việc làm nhằm tạo ra nguồn lực vật chất để
thực hiện chương trình xúc tiến việc làm, nó là một trong những loại quỹ xã hội
được dùng để tạo thêm chỗ việc làm mới hoặc tạo đủ việc làm, tăng thu nhập cho
người lao động. Quỹ này mang tính chất trợ giúp tạo ra điều kiện ban đầu để
người lao động tự tìm việc làm trong các thành phần kinh tế. Quỹ này chủ yếu là
từ nguồn ngân sách Nhà nước đầu tư cho chương trình phát triển kinh tế xã hội,
từ nguồn viện trợ và hợp tác quốc tế cho chương trình việc làm, từ sự đóng góp
của nhân dân.
Quỹ quốc gia giải quyết việc làm được quản lý và điều hành thống nhất từ
Trung ương, quỹ này quay vòng dùng để cho vay theo dự án nhỏ tạo việc làm
với lãi suất ưu đãi. Việc phân cấp cho địa phương và các tổ chức quần chúng chủ
yếu là theo cơ chế uỷ quyền, nâng cao trách nhiệm của các cấp trong việc thẩm
định xét duyệt và quyết định dự án cho sát đối tượng, đúng mục đích, sử dụng có
hiệu quả. Các dự án được xây dựng có thể đi theo hai kênh:
+ Theo kênh Ủy ban nhân dân tỉnh, huyện.
+ Theo kênh của tổ chức quần chúng (có sự thống nhất trên địa bàn).
Để tiếp tục vận hành quỹ này đạt hiệu quả cần có những cơ chế, chính
sách đủ mạnh để khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất thu hút nhiều lao động.
Áp dụng chính sách ưu tiên khuyến khích phát triển ngành nghề tại nông thôn,
hỗ trợ đầu tư những dự án sản xuất chế biến hàng xuất khẩu, phát triển kinh tế
trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn thu hút được nhiều lao động.
3.1.2. Đa dạng hoá các ngành, nghề trong nông nghiệp, nông thôn
Phát triển và đa dạng hoá các ngành nghề trong nông nghiệp nông thôn
nhằm tạo ra được nhiều việc làm, thu hút được nhiều lao động là hướng đi quan
trọng để tăng cầu về lao động, phát triển thị trường lao động, giải quyết việc làm.
Đối với Thái Nguyên, việc phát triển và đa dạng hoá các ngành nghề ở nông
thôn có nhiều thuận lợi, do điều kiện tự nhiên rất phong phú và đa dạng, nguồn
lao động dồi dào. Phát triển và đa dạng hoá các ngành nghề ở nông thôn Thái
Nguyên phải dựa trên cơ sở khai thác được các lợi thế và tiềm năng sẵn có, sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực về lao động, vốn và khoa học công nghệ. Tạo
98
điều kiện thúc đẩy cho các thành phần kinh tế cùng phát triển, mở rộng và đa
dạng hoá các ngành nghề, đồng thời khuyến khích các hình thức sản xuất kinh
doanh trong nông nghiệp như kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, hợp tác xã,
công ty hợp doanh... trên cơ sở kết hợp hài hoà công nghệ truyền thống với công
nghệ hiện đại nhằm tạo ra được nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao
động, phát triển kinh tế xã hội, ổn định trật tự an toàn xã hội ở nông thôn.
Để phát triển và đa dạng hoá các ngành nghề trong nông nghiệp cần chú ý
liên doanh, liên kết "bốn nhà" phải đảm bảo chặt chẽ, ổn định và bền vững nhằm
phát huy có hiệu quả nguồn lực về vốn, khoa học công nghệ tạo ra được những sản
phẩm mang tính cạnh tranh và có khả năng tiêu thụ hết trên thị trường. Trên cơ sở
đó có tính định hướng phát triển những ngành phù hợp các vùng kinh tế trên địa
bàn tỉnh. Trong đó đặc biệt quan tâm tới việc định hướng phát triển theo ngành.
Để có bước phát triển kinh tế vững chắc, toàn diện, ổn định và nhảy vọt
để tiến kịp với một số tỉnh, thành phố đang phát triển, Thái Nguyên cần có
những định hướng đúng đắn trong việc xác định phát triển một số ngành phù hợp
với xu hướng là giảm tỷ trọng và lao động trong nông nghiệp, tăng tỷ trọng và
lao động trong công nghiệp và dịch vụ.
- Trước mắt, cần tập trung phát triển các ngành nghề có nhiều tiềm năng,
lợi thế để thu hút nhiều lao động, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân đó
là các ngành trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm - thuỷ hải sản trên cơ sở quy
hoạch và hình thành các khu chuyên canh cây lương thực, cây ăn quả, cây công
nghiệp đặc biệt là cây chè. Đây là một trong những cây thế mạnh của tỉnh đồng
thời cũng đóng góp rất lớn vào việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập của người
dân . Thực hiện được như vậy, một mặt vừa đảm bảo an ninh lương thực và tiêu
thụ sản phẩm ngay trong tỉnh, một mặt tạo nguồn nguyên liệu tập trung phục vụ
cho phát triển ngành công nghiệp chế biến.
- Phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng. Do
đặc thù Thái Nguyên là một tỉnh có ngành công nghiệp rất phát triển điển hình là
khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm, thu hút
tương đối lớn nguồn lao động trên địa bàn tỉnh . Mặt khác, phát triển các ngành
99
tiểu thủ công nghiệp góp phần tiêu thụ sản phẩm chính và các sản phẩm phụ
trong sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp.
- Phát triển các ngành dịch vụ phục vụ sản xuất đời sống, một mặt để cung
ứng vật tư, hàng hoá cho sản xuất và tiêu dùng, mặt khác tiêu thụ sản phẩm cho
nông dân. Đồng thời chú ý phát triển đến các loại hình dịch vụ về tư vấn, tiếp thị,
chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ thuật cho người lao động, dịch vụ bưu chính
viễn thông và phát triển mạng lưới thông tin liên lạc...
- Khôi phục và phát huy các ngành nghề truyền thống, các ngành sử dụng
nhiều lao động vừa tạo ra việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, vừa giữ
gìn được các ngành nghề truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc.
3.1.3. Phát triển các hình thức hợp tác về giải quyết việc làm cho người
lao động ở nông thôn
Thái Nguyên là một tỉnh lớn trong cả nước, đất rộng, người đông, thu
nhập bình quân/đầu người/năm còn rất thấp so với bình quân chung của cả nước.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của cả nước, một số ngành,
lĩnh vực đã có bước phát triển khá tốt tạo tiền đề tăng trưởng kinh tế, đời sống
của nhân dân không ngừng được cải thiện, giải quyết được nhiều việc làm cho
người lao động trong đó có lao động ở nông thôn. Mặc dù vậy Thái Nguyên vẫn
còn là tỉnh nghèo, nền kinh tế của tỉnh vẫn chưa đủ khả năng thu hút hết lực
lượng lao động. Do đó, tăng cường và phát triển các hình thức hợp tác về giải
quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Thái Nguyên hiện nay là một
vấn đề hết sức quan trọng, cần phải quan tâm trên cơ sở tăng cường quan hệ, ký
kết hợp đồng cung ứng lao động và hợp tác phát triển sản xuất kinh doanh tạo
việc làm cho người lao động.
Trong những năm qua, Thái Nguyên đã có nhiều chính sách mở cửa nhằm
khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư trên địa bàn
tỉnh hình thành nên nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất góp phần bước đầu
hình thành nên thị trường lao động, cung - cầu lao động, giải quyết nhiều việc
làm cho người lao động trong đó có lao động ở nông thôn song chưa đáp ứng
được nhu cầu việc làm cho người lao động trong tỉnh. Do đó, trong thời gian tới
100
thị trường lao động Thái Nguyên phải được phát triển theo hướng đa dạng các
hình thức tổ chức và phương thức giao dịch việc làm để các tổ chức và cá nhân
trong tỉnh có khả năng nhận bao thầu cung ứng lao động cho các khu công
nghiệp, khu chế xuất trong và ngoài tỉnh cũng như hợp tác xuất khẩu lao động.
Bên cạnh đó, cần có chính sách khuyến khích, mở rộng và quản lý chặt
chẽ các cơ sở và trung tâm giới thiệu việc làm có hành lang pháp lý thông thoáng
làm tốt vai trò trung gian, thực hiện giao dịch lành mạnh giữa các bên một cách
hiệu quả và chuyên nghiệp trong việc cung ứng lao động.
Đi đôi với việc mở rộng và đa dạng hoá các ngành nghề trong nông
nghiệp, nông thôn nhằm phát huy và sử dụng các nguồn nội lực có hiệu quả là
chủ yếu thì Thái Nguyên cần phải quan tâm và tăng cường hợp tác để phát triển
sản xuất kinh doanh. Thông qua hợp tác sản xuất kinh doanh nhằm thu hút về
vốn, khoa học công nghệ tạo điều kiện để từng bước thực hiện hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn từ đó thúc đẩy chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ trên cơ sở đó tạo điều kiện
đẩy mạnh và phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ hải sản, tạo thêm
nhiều việc làm mới cho lao động ở nông thôn.
Để đạt mục tiêu này, Thái Nguyên cần xây dựng và tạo lập những bước đi
vững chắc:
- Tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tỉnh với các
doanh nghiệp lớn trong khu vực và cả nước. Các doanh nghiệp trong tỉnh cung
cấp các sản phẩm, nguyên liệu cho các nhà máy lớn hình thành nên thị trường
tiêu thụ ổn định. Mặt khác, các doanh nghiệp trong tỉnh có điều kiện học tập và
tiếp cận khoa học công nghệ hiện đại để mở rộng và phát triển sản xuất, tạo
nhiều việc làm cho người lao động.
- Tăng cường hợp tác giữa các vùng kinh tế trên địa bàn tỉnh với các vùng
kinh tế lân cận tạo điều kiện để hỗ trợ nhau cùng phát triển, thúc đẩy quá trình đô
thị hoá tập trung, mở rộng thị tứ từ đó tạo điểm thu hút đầu tư, thu hút lao động,
tạo nhiều việc làm cho người lao động.
101
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện
nay, để mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn đạt hiệu
quả, Thái Nguyên cần tăng cường hợp tác với các đối tác nước ngoài để xuất
khẩu lao động. Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, đây là một lĩnh vực có
tiềm năng lớn đang được khai thác và mở rộng, là hướng quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trước mắt cũng như lâu dài, vừa tạo
nguồn thu ngoại tệ mạnh để phát triển kinh tế - xã hội trong tỉnh vừa đảm bảo
mục tiêu giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn lao động xã hội, đặc biệt là lao
động nông thôn.
Tuy nhiên, để thực hiện tốt công tác này, trước mắt cần: Tăng cường công
tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, bồi dưỡng
thông tin cho người lao động về xuất khẩu lao động. Bên cạnh đó, cần xây dựng
chính sách hỗ trợ người lao động thuộc diện nghèo, diện chính sách có cơ hội để
đi xuất khẩu lao động. Đặc biệt là hỗ trợ thông qua tín dụng vay vốn đối với con
em thuộc diện chính sách và con em các hộ nghèo với chính sách ưu đãi. Coi
trọng công tác đào tạo ngoại ngữ, dạy nghề, huấn luyện tác phong công nghiệp
cho lao động là một trong những giải pháp quan trọng. Sắp xếp lại các doanh
nghiệp làm công tác xuất khẩu lao động, mở rộng liên doanh, liên kết với các
công ty xuất khẩu lao động nhằm tìm kiếm thị trường lao động trong và ngoài
nước, cải tiến công tác tuyển chọn, thông tin về xuất khẩu lao động. Phòng tránh
các tổ chức lợi dụng lừa đảo nông dân để thu lợi bất chính từ xuất khẩu lao động.
3.1.4. Nâng cao năng lực của người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu
việc làm
Để nâng cao năng lực người lao động Thái Nguyên, trước hết, là nâng cao
năng lực trí tuệ, mặt bằng dân trí, trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc, khả
năng thích nghi với các ngành, nghề mới... không ngừng phát triển năng lực cá
nhân và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Do vậy, phải ưu tiên và đầu tư
thích đáng cho công tác giáo dục đào tạo. Đó là con đường cơ bản để nâng cao
năng lực cho nguồn nhân lực. Do đó, cần tiếp tục thực hiện đổi mới chương
trình, nội dung, phương pháp giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo
102
dục toàn diện; bổ sung ngân sách để hỗ trợ xây dựng trường học và mua sắm
thiết bị, dụng cụ phục vụ giảng dạy; thực hiện tốt chương trình đưa tin học vào
nhà trường. Tăng cường xây dựng và hoàn thiện đội ngũ giáo viên, cán bộ quản
lý giáo dục. Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục, khuyến khích sự tham
gia của khu vực tư nhân.
Trong điều kiện hội nhập hiện nay, cần đa dạng hoá loại hình đào tạo, chú
trọng công tác đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ và trình độ
chuyên môn kỹ thuật cho người lao động hiện có để đáp ứng yêu cầu trình độ
công nghệ mới.
- Đào tạo nhân lực cho nông thôn nhằm trang bị cho nông dân các kiến
thức cơ bản về những ngành nghề ở nông thôn thông qua các lớp khuyến nông,
tạo điều kiện cho nông dân đa dạng hoá hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm
giúp người lao động linh hoạt trong chuyển dịch việc làm giữa nông thôn và
thành thị, giữa sản xuất công nghiệp và nông nghiệp nhằm tăng khả năng tạo
việc làm, cải thiện thu nhập.
- Củng cố nâng cao hiệu quả đào tạo tại các trường cao đẳng, trung cấp và
dạy nghề trên địa bàn tỉnh, chú trọng đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị cho các
trung tâm dạy nghề trọng điểm cấp huyện, thị. Đồng thời, tăng cường công tác
rèn nghề, thúc đẩy việc thực hành thực tập trong các trường dạy nghề nhằm nâng
cao kỹ năng, tay nghề cho người lao động.
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho ngƣời lao
động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên
3.2.1. Nâng cao thể lực và trí lực cho người tìm việc làm
* Nâng cao thể lực cho người lao động nông thôn
Nâng cao thể lực cho người lao động là một vấn đề hết sức quan trọng,
nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động. Bởi vì, nếu không có sức khoẻ thì
con người sẽ không trở thành nguồn lực của xã hội được. Để nâng cao thể lực
cho người lao động cần tập trung vào một số giải pháp sau:
+ Cần tăng cường hơn nữa công tác giáo dục sức khoẻ và dinh dưỡng cho
cộng đồng bằng các hình thức truyền thông, giáo dục và thông tin.
103
+ Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại cồng đồng. Tuỳ
điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương mà đưa ra chính sách về
chăm sóc sức khỏe cho phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương.
+ Làm tốt công tác phát triển kinh tế vườn - ao - chuồng (VAC) trong
nhân dân, tăng lượng lương thực, thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày đảm bảo
cung cấp đủ và hợp lý cơ cấu dinh dưỡng hàng ngày.
+ Tăng cường phổ biến kiến thức đối với phụ nữ mang thai và cho con bú,
đề phòng các bệnh còi xương, suy dinh dưỡng, thiếu vitamin ở trẻ…
+ Cần đầu tư xử lý các chất thải làm ô nhiễm môi trường sinh thái, bảo
đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường tự nhiên, bảo vệ đa
dạng sinh học.
* Nâng cao trí lực cho người lao động nông thôn.
Tri thức ngày nay đang trở thành yếu tố sản xuất, lực lượng sản xuất trực
tiếp, động lực thúc đẩy sự phát triển sản xuất theo những mô hình mới, với
những công nghệ mới. Bởi thế, vấn đề đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao trình
độ tay nghề cho người lao động nói chung, lao động ở nông thôn nói riêng là vấn
đề cần thiết, quan trọng trong việc tạo điều kiện để lao động ở nông thôn có cơ
hội duy trì được việc làm và có khả năng đáp ứng được nhu cầu tìm việc làm.
Tuy nhiên, đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề cho lao động
ở nông thôn phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong
từng giai đoạn, gắn với nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế, các vùng kinh
tế, các địa bàn, gắn với cung - cầu của thị trường sức lao động trong nước và
quốc tế.
Để nâng cao chất lượng người lao động ở Thái Nguyên, trước hết, là nâng
cao năng lực trí tuệ, mặt bằng dân trí, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người tiếp
cận giáo dục, không ngừng phát triển năng lực cá nhân. Do vậy, phải ưu tiên và
đầu tư thích đáng cho công tác giáo dục đào tạo. Đó là con đường cơ bản để
nâng cao trình độ trí tuệ cho nguồn nhân lực.
Ở Thái Nguyên hiện nay nhu cầu đào tạo nghề của lực lượng lao động
nông nghiệp nông thôn là rất lớn. Trong khi đó ở Thái Nguyên hiện nay, 85,62%
104
lực lượng lao động nông nghiệp nông thôn chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật
đang đặt ra một nhiệm vụ to lớn và nặng nề cho công tác này. Đặc biệt những hộ
nông dân bị thu hồi đất, các đối tượng chính sách, lao động thuộc các dân tộc
thiểu số, các xã đặc biệt khó khăn, lao động nữ chưa có việc làm... tất cả những
đối tượng trên đang rất cần việc làm. Thực tế đó đòi hỏi phải đẩy mạnh đào tạo
nghề cho người lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên.
Công tác dạy nghề cho người lao động ở nông thôn Thái Nguyên cần phải
đáp ứng các yêu cầu của chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh,
phù hợp với tình hình sinh thái và ngành nghề của địa phương, gắn với nhu cầu
của thị trường, kết hợp với hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư để
xây dựng chương trình dào tạo thiết thực cho hoạt động lao động sản xuất của bà
con nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao dân trí ở nông thôn.
Để đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao trình độ cho người lao động ở
nông thôn Thái Nguyên cần phải tiến hành đồng bộ một số nội dung sau đây:
- Có chiến lược quy hoạch tổng thể các đối tượng và các ngành nghề đào
tạo phù hợp với từng vùng, trong từng thời kỳ để công tác đào tạo được tiến
hành một cách có hệ thống.
- Mở rộng và nâng cấp các Trung tâm đào tạo nghề tại các huyện để tăng
quy mô đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi về đi lại, ăn ở cho các học viên ở nông
thôn tham gia học nghề.
- Đổi mới nội dung chương trình đào tạo cho lao động nông thôn, trong đó
đặc biệt quan trọng là xác định nghề để dạy. Xác định ngành nghề đào tạo phải
căn cứ năng lực đào tạo của các cơ sở dạy nghề, nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao
động, việc làm và sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
Trong thời gian tới Thái Nguyên cần tập trung đào tạo các ngành nghề:
Kỹ thuật sắt, kỹ thuật điện, luyện kim, kỹ thuật điện tử, vận hành xe máy thi
công, khai thác mỏ, xây dựng và công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân
lực cho các khu kinh tế, khu công nghiệp của tỉnh.
Mặt khác, tỉnh phải mở rộng đào tạo đại trà và thường xuyên các ngành
nghề chế biến phục vụ cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn; đào tạo
105
các ngành nghề phi nông nghiệp, các làng nghề, các ngành dịch vụ, đáp ứng nhu
cầu làm việc lúc nông nhàn...
- Cần chú trọng cả đào tạo dài hạn và đào tạo ngắn hạn cho người lao
động ở nông thôn.
+ Đối với ngành nghề dài hạn: Phải trang bị cho học viên kiến thức và kỹ
năng nghề diện rộng hoặc chuyên sâu, có khả năng đảm nhận những công việc
phức tạp, học viên có thể thích nghi với cơ chế thị trường, có thể chuyển đổi
nghề trong nhóm có liên quan và có năng lực vươn lên để đạt trình độ cao hơn.
+ Đối với trường dạy nghề ngắn hạn: Cần trang bị cho học viên một số
kiến thức cơ bản và kỹ năng nghề nhất định về trồng trọt, lâm sinh, thú y, chăn
nuôi, bảo vệ thực vật, sử dụng công cụ máy nông, lâm nghiệp... những kiến thức
về quản lý kinh doanh nông nghiệp, để học viên xây dựng kế hoạch tổ chức sản
xuất hiệu quả, phát triển kinh tế hộ gia đình.
Cần mở rộng và đa dạng hóa loại hình đào tạo này để tạo được cơ hội cho
người lao động ở nông thôn tham gia học tập. Ưu tiên đào tạo các hộ nghèo, các
hộ phải chuyển đổi mục đích sử dụng đát, các hộ vùng sâu vùng xa, vùng khó
khăn, dạy nghề miễn phí cho người tàn tật, có kế hoạch hỗ trợ kịp thời cho
những đối tượng này theo tinh thần Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ.
Trong thời gian trước mắt, Thái Nguyên cần đẩy mạnh đào tạo nghề cho
người lao động theo hướng phục vụ chuyển giao kỹ thuật và sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp: Trồng lúa cao sản, sản xuất ngô đông, chăn nuôi lợn nái ngoại, lợn
siêu nạc, bò lai sin, bò lấy thịt, nuôi trồng thủy sản chất lượng cao... trang bị kỹ
thuật công nghệ hướng vào sản xuất hàng hóa có giá trị lớn trong nông nghiệp.
- Đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề cho người lao động ở nông thôn.
Ở Thái Nguyên, do đặc điểm địa phương có nhiều vùng tiểu sinh thái,
ngành nghề sản xuất đa dạng chính vì vậy cần phải có nhiều hình thức đào tạo
nghề cho người lao động ở vùng nông thôn, như: đào tạo nghề tạo chỗ gắn liền
với tổ chức lại sản xuất kinh doanh và giới thiệu việc làm tại chỗ cho hội viên
nông dân. Hình thức này có thể áp dụng cho các hợp tác xã nông nghiệp nông
106
thôn, các làng nghề. Đối với các vùng núi, vùng sâu vùng xa có thể tổ chức dạy
nghề lưu động cho bà con nông dân về các ngành nghề chăn nuôi bò, lợn, trồng
các loại cây đặc sản... mang kỹ thuật ngành nghề đến với học viên, kết hợp vừa
học vừa thực hành, dạy nghề một cách trực quan sinh động học viên tận dụng
được thời gian lúc nông nhàn, ít tốn kém chi phí đi lại...
Ngoài ra, có thể tổ chức dạy nghề thông qua xây dựng các mô hình sản
xuất điển hình và nhân rộng cho mọi người cùng làm; có thể gắn chương trình
dạy nghề với phong trào nông dân sản xuất giỏi, giúp nhau vượt đói nghèo...
Thực hiện các hình thức đào tạo phi tập trung: đào tạo tại chỗ, mở các lớp tập
huấn ngắn hạn, thực hiện các cuộc hội thảo “tại bờ”, chuyển giao kỹ năng qua
khuyến nông - lâm - ngư, trao đổi kinh nghiệm, thăm quan, học tập các mô hình
cụ thể tại địa phương… Việc thực hiện phối hợp các hình thức đào tạo phong
phú, đa dạng như vậy sẽ đưa lại hiệu quả cao cho công tác dạy nghề.
3.2.2. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh nhằm
khuyến khích tự tạo việc làm trong nông thôn
Phát triển và đa dạng hoá các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh với
nhiều trình độ kỹ thuật và quy mô tổ chức khác nhau, thu hút nhiều lao động là
hướng đi quan trọng tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu lao động
ở nông thôn.
* Phát triển kinh tế hộ gia đình
Kinh tế hộ gia đình có vị trí hết sức quan trọng, tuy nó không phải là
thành phần kinh tế nhưng nó là một hình thức để phân biệt với các hình thức tổ
chức kinh tế khác. Trong kinh tế thị trường, kinh tế hộ phát triển hết sức linh
hoạt, thích ứng nhanh, góp phần phát triển sản xuất, tạo mở nhiều việc làm phù
hợp với mọi lứa tuổi, mọi trình độ của người lao động. Phát triển kinh tế hộ sẽ
tận dụng được các nguồn lực về đất đai, lao động dư thừa, huy động nguồn vốn
nhà rỗi trong dân cư, kinh nghiệm quản lý và ngành nghề nông thôn. Để phát
triển kinh tế hộ gia đình cần thực hiện:
- Có chính sách khuyến khích các hộ gia đình khai hoang phục hoá, mở
rộng thâm canh như miễn giảm thuế, hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi và kỹ thuật
để phát triển sản xuất.
107
- Có chính sách tạo nguồn vốn, cho vay vốn để các hộ gia đình có điều
kiện phát triển sản xuất đồng thời hướng dẫn nông dân phát triển kinh doanh và
làm giàu chính đáng.
- Mở rộng tuyên truyền những mô hình kinh tế hộ gia đình làm ăn có hiệu
quả, thu nhập cao phù hợp với điều kiện của từng vùng để nhân rộng mô hình.
- Mở rộng và phát triển các loại hình dịch vụ như cung ứng vật tư, thuốc
thú ý, thuốc bảo vệ thực vật...; chuyển giao khoa học công nghệ, tiêu thụ sản
phẩm cho hộ gia đình.
- Tạo hành lang pháp lý cho kinh tế hộ gia đình phát triển.
* Phát triển kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại là hệ quả của sự phát triển kinh tế hộ, phù hợp với quy
luật vận động và phát triển của nền kinh tế xã hội. Kinh tế trang trại đã góp phần
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; tạo ra các vùng
chuyên canh tập trung, sản xuất hàng hoá là tiền đề, cơ sở cho việc phát triển
công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm; tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa
công nghiệp và dịch vụ vào nông thôn; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông
thôn. Kinh tế trang trại tạo thêm việc làm, góp phần giải quyết lao động dư thừa
trong nông thôn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống và nâng cao dân trí.
Để kinh tế trang trại phát triển đúng hướng, tỉnh Thái Nguyên cần phải
thực hiện một số nội dung sau:
- Phân vùng quy hoạch gắn với chính sách sử dụng đất đai, tạo điều kiện
cho kinh tế trang trại phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thúc đẩy kinh tế
địa phương phát triển.
- Tăng cường đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật, mở rộng và phát triển sản
xuất thâm canh, có chính sách cho vay vốn ưu đãi để đầu tư phát triển kinh tế
trang trại.
- Hỗ trợ các chủ trang trại tìm kiếm thị trường, mở rộng và ổn định thị
trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá, đặc
biệt là hệ thống giao thông, điện, thuỷ lợi.
108
* Phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã
Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng khẳng định: Tiếp tục đổi mới, tạo
động lực phát triển có hiệu quả các loại hình kinh tế tập thể. Ở nông thôn kinh tế
tập thể, nòng cốt là hợp tác xã có vai trò và có ý nghĩa to lớn trong xã hội. Trong
những năm tới, phát triển mô hình hợp tác xã ở Thái Nguyên vẫn là hướng đi cơ
bản, mang lại nhiều việc làm cho người lao động.
Để phát triển kinh tế tập thể, mà nòng cốt là hợp tác xã, Thái Nguyên cần
thực hiện tốt một số nội dung sau:
- Cải tiến công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp
tác xã nông nghiệp, phi nông nghiệp hiện có. Tạo điều kiện phát triển đa dạng
các hình thức trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, chế biến sau thu hoạch... ở
những nơi có nhu cầu và điều kiện.
- Tiến hành tổng kết và đánh giá nhằm rút ra bài học kinh nghiệm và nhân
rộng những hợp tác xã điển hình đồng thời có kế hoạch chỉ đạo để tổ chức, kiện
toàn và sắp xếp lại một số hợp tác xã theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp.
- Có chính sách ưu đãi nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho hợp tác xã phát
triển vững chắc.
* Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đây là loại hình kinh tế rất phát triển trong điều kiện phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN như hiện nay. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc
biệt là những doanh nghiệp thuộc những ngành đòi hỏi không nhiều vốn nhưng
sử dụng nhiều lao động với trình độ công nhân vừa phải và sử dụng nguyên liệu
tại chỗ được coi là nhân tố chủ yếu để tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển
dịch cơ cấu lao động ở nông thôn.
Để phát triển các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần thực hiện một số
nội dung sau:
- Rà soát quy hoạch phát triển ngành nghề trên địa bàn tỉnh, điều chỉnh
sửa đổi, bổ sung các quy hoạch cho phù hợp với thực tế và xu thế phát triển.
Công bố quy hoạch phát triển đô thị, quy hoạch phát triển các khu công nghiệp,
109
cụm công nghiệp, quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu để người dân và doanh
nghiệp có nhu cầu đầu tư có thông tin đầy đủ và chính xác.
- Xây dựng và ban hành các chính sách khuyến khích phát triển các quỹ
cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng cường khả năng tiếp cận với các nguồn tín
dụng cho các doanh nghiệp. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận với các
nguồn vốn tại các ngân hàng thương mại, tín dụng ưu đãi, tổ chức tín dụng quốc
tế,... hướng dẫn và hỗ trợ cho các doanh nghiệp có khả năng lập được những dự
án khả thi để thuyết phục các ngân hàng cho vay vốn, đồng thời khuyến khích
các doanh nghiệp cùng góp vốn để hình thành các quỹ trợ giúp nhau.
- Bồi dưỡng kiến thức, năng lực tổ chức quản lý và phát triển doanh nghiệp
cho chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý và những người có nguyện vọng thành lập
doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu đào tạo cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Tạo điều kiện về mặt bằng sản xuất, bảo vệ môi trường và đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng phục vụ nhu cầu sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phát triển thị trường, xúc tiến thương mại và đầu tư, phổ biến thông tin
kỹ thuật, công nghệ tới các doanh nghiệp và nâng cao năng lực của các doanh
nghiệp trong việc xác định, lựa chọn và thích ứng với công nghệ.
- Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia liên kết ngành ở mọi cấp và hỗ
trợ phát triển hiệp hội doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích các doanh nghiệp trong hội
nhập và cạnh tranh.
- Thực hiện trợ giúp có trọng điểm về tăng cường khả năng cạnh tranh của
một số ngành mà tỉnh có lợi thế so với các địa phương khác. Đặc biệt ưu tiên
khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển công nghiệp, thủ
công nghiệp, chế biến nông, lâm, thuỷ hải sản, hàng xuất khẩu, các ngành nghề
truyền thống, thu hút nhiều lao động, giải quyết việc làm cho người lao động ở
nông thôn.
3.2.3. Hoàn thiện cơ cấu việc làm thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp
Hiện nay, xét trên bình diện cả nước, kinh tế nông nghiệp, nông thôn Thái
Nguyên còn nhiều hạn chế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật
110
nuôi, cơ cấu mùa vụ còn chậm. Sản xuất chủ yếu là tự cấp tự túc, kinh tế trang
trại chậm được hình thành, kinh tế tư nhân chậm được phát triển, kinh tế hợp tác
xã còn gặp nhiều khó khăn. Giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác thấp
hơn mức bình quân chung của cả nước (19/25 triệu đồng/ha/năm) [55, tr.27].
Vấn đề tiêu thụ sản phẩm cho hàng hoá sản xuất ra còn khó khăn, các dịch vụ
thương mại chưa phát triển... Tất cả những vấn đề trên đã hạn chế sự phát triển
của kinh tế nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên. Người lao động sản xuất trong
ngành nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều khó khăn, lao động vất vả nhưng thu
nhập thấp, khiến nhiều người phải rời quê hương đi tìm việc làm nơi khác.
Mặt khác, cùng với quá trình đô thị hoá, quỹ đất nông nghiệp ở thành phố
nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung ngày càng bị thu hẹp. Theo thống kê,
trung bình mỗi năm diện tích đất nông nghiệp của tỉnh thường bị thu hẹp khoảng
1ha chuyển sang mục đích sử dụng khác [55, tr.30]. Do vậy, để sản xuất nông
nghiệp của tỉnh tiếp tục phát triển cần phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
Trong thời gian tới, để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, tạo nhiều việc
làm, huy động hết tiềm năng nguồn lao động, kinh tế nông nghiệp nông thôn, cơ
cấu kinh tế phải được chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH. Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành nông nghiệp phải trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, đảm bảo
sự phát triển ổn định kinh tế - xã hội trong tỉnh nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả
sử dụng đất đai, lao động, nguồn vốn, tăng giá trị và giá trị lợi nhuận trên diện
tích đất canh tác, nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình nông dân.
Mặt khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn ở Thái
Nguyên phải gắn với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, sản xuất các
loại sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế cao, coi trọng hiệu
quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải tạo ra mối quan
hệ chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm và xuất khẩu, khai thác tốt
lợi thế của từng tiểu vùng sinh thái và phát huy vai trò tích cực của các thành
phần kinh tế, kết hợp hài hoà lợi ích giữa nông dân với cơ sở chế biến, tiêu thụ
sản phẩm.
Muốn đạt được mục tiêu đó cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:
111
Một là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông
nghiệp, đặc biệt coi trọng công tác tuyển chọn giống cây trồng, vật nuôi có năng
suất và chất lượng phù hợp với vùng kinh tế; Thực hiện tốt công tác khuyến
nông, khuyến lâm và khuyến ngư đến từng loại hình kinh tế; Có chính sách
khuyến khích và hỗ trợ người lao động tích cực ứng dụng công nghệ mới trong
sản xuất.
Xác định việc áp dụng khoa học - kỹ thuật là yếu tố quan trọng hàng đầu
nhằm nâng cao chất lươ ̣ng và hiê ̣u quả sản xuất nông nghiê ̣p, ngành đã chỉ đạo tổ chuyển giao công nghê ̣ , tiến bô ̣ chứ c khuyến nông thực hiê ̣n thành công viê ̣c khoa ho ̣c - kỹ thuật đến nông dân; xây dựng và phát triển nhiều chương trình , dự án nghiên cứu, chuyển giao khoa ho ̣c - công nghê ̣ vào sản xuất nông nghiê ̣p, lâm nghiê ̣p, thuỷ sản . Kết quả rõ nét nh ất được thể hiện trong lĩnh vực giống cây trồng, vâ ̣t nuôi, phát triển các giống có tiềm năng cho năng suất , chất lươ ̣ng cao.
100% diê ̣n tích lú a cấy đều là giống lú a cấp I , giống nguyên chủ ng. Hàng năm, hàng nghìn hécta lúa lai, giống lú a thuần năng suất cao đươ ̣c đưa vào thâm canh , , giống chè mớ i có các giống ngô lai có năng suất cao được đưa vào sản xuất năng suất, chất lươ ̣ng tốt đươ ̣c đưa vào sản xuất đa ̣i trà . Đến tháng 6-2009, trên 3.000 ha chè giống mớ i, chè nhập nội được trồng trong dân . Trong lâm nghiê ̣p , ngành đã ứng dụng đưa các giống cây có năng suất cao như : keo lai, lát Mêhico,
bạch đàn đỏ, luồng,... vào trồng đại trà.
Bên ca ̣nh đó , nhiều biê ̣n pháp thâm canh , sản xuất theo công nghệ cao để tạo hàng nông sản an toàn, chất lươ ̣ng cao, có khả năng cạnh tranh và tiêu thụ trên
thị trường trong nước và xuất khẩu đã được chuyển giao đến người dân. Nhiều tiến bô ̣ khoa ho ̣c - kỹ thuật được áp du ̣ng trong canh tác để tăng năng suất lao đô ̣ng như gieo ma ̣ khay, ném mạ thay cấy, làm ngô bầu, bón phân cân đối và sử dụng phân
hoá học hợp lý kết hợp với việc cải tạo đất,... áp dụng công nghệ sản xuất nông sản
sạch như rau sa ̣ch, chè sạch, quả sạch đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Năm 2009, toàn tỉnh đã chuyển giao kỹ thuật bằng tập huấn cho gần 20
lươ ̣t va ̣n hô ̣ nông dân trên các lĩnh vực sản xuất nông , lâm, thủy sản. Ngoài ra, ngành còn phối hơ ̣p vớ i đài truyền hình đi ̣a phương xây dựng phim khoa giáo về
112
kỹ thuật sản xuất chè, luồng, phát triển chăn nuôi để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
cho nông dân ; phối hơ ̣p vớ i Hô ̣i liên hiê ̣p phu ̣ nữ tỉnh , Tỉnh đoàn tổ c hứ c các cuô ̣c thi về công tác bảo vê ̣ thực vâ ̣t và tìm hiểu Luâ ̣t hơ ̣p tác xã nhằm tuyên truyền rô ̣ng rãi các kỹ thuâ ̣t , chính sách về nông nghiệp và Luật hợp tác xã cho nhân dân . Nhiều tin , bài về các điển hình và tuyên tru yền các kỹ thuâ ̣t , chính sách mới được đăng trên báo địa phương, tạp chí của bộ.
khảo nghiệm để đưa vào sản xuất trên diện rộng như
Cũng trong năm 2009, nhiều giống cây , con mớ i ta ̣i đi ̣a phương đươ ̣c : mô hình chè giống mớ i nhập nội 2,1 ha ta ̣i thành phố Thái Nguyên ; khảo nghiệm 7 ha chè giống mớ i phục vụ sản xuất chè chất lượng cao tại Phú Lương; phương án phu ̣c tráng giống chè Trung Du tại vùng chè xanh đặc sản thành phố Thái Nguyên ; dự án hỗ trơ ̣ , dự án hỗ trơ ̣ sản xuất và sử dụng giống lúa nguyên chủng ở các hộ nông dân . Trong lâm phát triển nuôi trồng thuỷ sản khu vực hồ Núi Cốc và sông Cầu
nghiê ̣p có mô hình trồng rừ ng năng suất cao trên diê ̣n tích 30 ha ta ̣i Đa ̣i Từ , mô hình trồng tre Bát Độ lấy măng (22 ha) tại Phú Lương, trồng lát Mêhico xen keo lai 57 ha ta ̣i Phổ Yên . Đồng thời, ngành đã xây dựng nhiều mô hình trình diễn
các biện pháp thâm canh tăng năng suất , đă ̣c biê ̣t là sử du ̣ ng phân bón NPK ,
phân hữu cơ vi sinh kết hơ ̣p vớ i cải ta ̣o đất.
Đến năm 2015, nâng cao hiê ̣u quả sản xuất nông nghiê ̣p vẫn đươ ̣c xác
đi ̣nh là nhiê ̣m vu ̣ tro ̣ng tâm để ổn đi ̣nh chính tri ̣ - xã hội của tỉnh. Do đó, tỉnh cần tâ ̣p trung mọi nguồn lực để phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá , hiê ̣n đa ̣i hoá , tăng giá tri ̣ sản phẩm trên mô ̣t đơn vi ̣ diê ̣n tích , tăng tỷ tro ̣ng cây công nghiê ̣p, cây ăn quả , chăn nuôi, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế ngành . Trong đó, ngành ưu tiên phát triển những sản phẩm đặc sản ở từng vùng để tạo ra các vùng sản xuất hàng hoá tập trung.
Đẩy mạnh công tác đưa các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất , đă ̣c
, chuyển di ̣ch cơ cấu mù a vu ̣ để phát triển nông
biê ̣t là các tiến bô ̣ về giống nghiê ̣p theo hướ ng đa da ̣ng hoá sản phẩm , chuyển dần nền nông nghiê ̣p từ khai - thác tài nguyên tự nhiên là chủ yếu sang nền nông nghiệp dựa vào khoa học
công nghê ̣ là chính.
113
Hai là, tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn tạo điều
kiện thúc đẩy cho việc xây dựng, nâng cấp và mở rộng các cơ sở chế biến, phát
triển vùng nguyên liệu.
Theo báo cáo tổng hợp của bộ phận thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh, tính
đến nay, trong tổng số 143 xã trên địa bàn toàn tỉnh mới có 6 xã đạt trên 10 tiêu
chí, số xã đạt từ 5 đến 9 tiêu chí là 62, còn lại 75 xã đạt dưới 5 tiêu chí so với 19
tiêu chí quy định của Trung ương về nông thôn mới. Tiêu chí chưa đạt của các
xã phần lớn tập trung vào vấn đề về: Giao thông (mới đạt 1 xã); quy hoạch và
thực hiện quy hoạch (mới đạt 2 xã); cơ cấu lao động (mới đạt 3 xã); nhà ở dân cư
(mới đạt 4 xã); thu nhập (mới đạt 5 xã); cơ sở vật chất, văn hóa, môi trường (mới
đạt 10 xã); chợ nông thôn (mới đạt 12 xã)…
Năm 2010, tỉnh đã đồng ý thông qua phân bổ vốn Trung ương hỗ trợ thực
hiện Quyết định 134 kéo dài là 18.000 triệu đồng, chương trình môi trường Quốc
gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là 21.300 triệu đồng, chương
trình xây dựng nông thôn mới năm 2011 của tỉnh là 19.792 triệu đồng cho các
địa phương, đơn vị liên quan. Đồng chí yêu cầu các địa phương, đơn vị sử dụng
kinh phí hiệu quả, đúng mục đích; đồng thời đôn đốc các địa phương, đơn vị kịp
thời thanh toán hỗ trợ tiền tiêu hủy gia súc, gia cầm, hỗ trợ phân bón, giống cây
trồng,… cho nông dân..
Ba là, quy hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng chuyên canh
nhằm phát huy được tiềm năng và lợi thế của từng thuận lợi cho việc xây dựng các rung đầu tư phát triển các cơ sở chế biến. Trong thời gian tới tỉnh tiếp tục tâ ̣p t vùng sản xuất chuyên canh , tăng năng suất, chất lươ ̣ng sản phẩm như : vùng chè chất lươ ̣ng cao, vùng cây ăn quả đặc sản, vùng lúa thâm canh; gắn sản xuất nông nghiê ̣p vớ i chế biến và thi ̣ trườ ng tiêu thụ sản phẩm ở các vùng sản xuất tập trung để chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.
Bốn là, xây dựng và nhân rộng các mô hình kinh tế trang trại sản xuất
hàng hoá tập trung. Phát triển kinh tế tran g tra ̣i gắn vớ i củ ng cố và phát triển quan hê ̣ sản xuất ở nông thôn. Coi đây là vấn đề có ý nghĩa quan tro ̣ng, góp phần đẩy nhanh tốc đô ̣ chuyển di ̣ch cơ cấu kinh tế nông nghiê ̣p củ a tỉnh . Tăng cườ ng
114
đầu tư xây dựng kết cấu ha ̣ tầng, cơ sở vâ ̣t chất kỹ thuâ ̣t thiết yếu để giải quyết , trọng tâm là những nhu cầu cơ bản cho sản xuất và đờ i sống củ a nhân dân đườ ng giao thông nông thôn, thuỷ lợi, hê ̣ thống di ̣ch vu ̣ nông nghiê ̣p.
Năm là, tăng cường xúc tiến hoạt động thương mại, dịch vụ trong nông
nghiệp nhằm hỗ trợ phục vụ sản xuất như: Cung ứng vật tư kỹ thuật, vận tải, sơ
chế nông sản, đẩy mạnh công tác tìm kiếm thị trường cho sản xuất nông nghiệp,
từng bước làm tốt công tác dự tính, dự báo thị trường.
Góp phần nâng cao sứ c tiêu thu ̣ hàng hoá và bình ổn giá cả trên thi ̣ trườ ng, Sở Thương ma ̣i và Du li ̣ch Thái Nguyên đã tăng cườ ng công tác chỉ đa ̣o , đẩy ma ̣nh thực hiê ̣n quản lý chă ̣t chẽ thi ̣ trườ ng , chống na ̣n buôn lâ ̣u , buôn bán hàng giả, gian lâ ̣n thương ma ̣i . Đồng thời, sở tiến hành phổ biến và hướ ng dẫn - kịp thời các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh thương mại
dịch vụ đến từng doanh nghiệp, hô ̣ kinh doanh thuô ̣c các thành phần kinh tế, cấp giấy phép , giấy chứ ng nhâ ̣n đủ điều kiê ̣n kinh doanh đối vớ i các mă ̣t hàng có điều kiê ̣n.
Từ năm 2000, Sở Thương ma ̣i và Du li ̣ch Thái Nguyên đã tăng cườ ng
công tác xú c tiến thương ma ̣i , tiến hành xây dựng trang website t ĩnh và website . Từ đó , trung tâm có thể khai thác và đô ̣ng ta ̣i Trung tâm xú c tiến thương ma ̣i nắm bắt ki ̣p thờ i các thông tin về thi ̣ trườ ng , xúc tiến thương mại , thông tin giá cả hàng hoá để đáp ứng yêu cầu của các tổ chức kinh tế , phục vụ cho hoạt động
sản xuất, lưu thông hàng hoá trong và ngoài nướ c.
Mục tiêu mà ngành thương mại - dịch vụ đặt ra trong những năm tới là
tổng mứ c bán lẻ tăng bình quân 10 - 15%/năm, kim nga ̣ch xuất khẩu (không kể doanh nghiê ̣p Trung ương ) tăng bình quân 6 - 8%/năm. Để đa ̣t đươ ̣c mu ̣c tiêu , đẩy ma ̣nh xuất này, ngành phải quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ thương mại
khẩu và nâng cao chất lươ ̣ng sản phẩm mă ̣t hàng thế ma ̣nh đáp ứ ng yêu cầu xuất khẩu, nâng cấp và phát triển hê ̣ thống chơ ̣ , trung tâm thương ma ̣i ,... Trong đó , ngành sẽ thực thi những giải pháp cụ thể sau:
115
1. Củng cố và phát triển các kênh lưu thông hàng hoá nhằm đẩy mạnh
viê ̣c tiêu thu ̣ nông sản thực phẩ m cho nông dân , tạo thêm nguồn hàng phong phú, đa da ̣ng, có chất lượng tốt ; mở rô ̣ng liên kết , tạo ra thị trường năng động , trở thành đối tro ̣ng vớ i các trung tâm lớ n khác, kích thích nhau cùng phát triển.
2. Triển khai và thực hiê ̣n tốt quy hoa ̣ch tổng thể về thương ma ̣i - du li ̣ch
, nhâ ̣p khẩu , tâ ̣p trung khai thác cao đô ̣ các mă ̣t hàng
trong giai đoa ̣n đến năm 2010, trên cơ sở bám sát các mu ̣c tiêu củ a tỉnh trong giai đoa ̣n 2001 - 2005: coi tro ̣ng viê ̣c xây dựng các trung tâm thương ma ̣i ta ̣i thành phố Thái Nguyên và một số thị xã, thị trấn; đầu tư xây dựng cơ sở vâ ̣t chất kỹ thuật thương mại như chợ , cử a hàng tự cho ̣n, siêu thi ̣,... đảm bảo cả nô ̣i dung lẫn hình thứ c , tạo sự thu hút và hấp dẫn với người tiêu dùng . Đẩy mạnh và ưu tiên cho công tác xuất truyền thống và có thế ma ̣nh củ a tỉnh như chè , quă ̣ng sắt, đũa tre, dụng cụ y tế , sản phẩm may mặc , giấy, thực phẩm đông la ̣nh (lơ ̣n sữa ), hàng thủ công mỹ nghê ̣ và các hàng hoá nông sản khác , góp phần thực hiện chiến lược tăng tốc xuất, nhâ ̣p khẩu.
3. Xây dựng đô ̣i ngũ cán bô ̣ quản lý nhà nướ c , cán bộ quản lý kinh doanh giỏi, năng đô ̣ng, có chuyên môn sâu, phẩm chất đa ̣o đứ c tốt, đáp ứ ng yêu cầu củ a thờ i kỳ mớ i, thờ i kỳ công nghiê ̣p hoá, hiê ̣n đa ̣i hoá và hô ̣i nhâ ̣p quốc tế.
4. Thực hiê ̣n tốt và triê ̣t để công tác chống buôn lâ ̣u và gian lâ ̣n thương
mại, chống sản xuất - kinh doanh hàng giả , tạo ra thị trường lành mạnh và kích thích hoạt động sản xuất trên địa bàn tỉnh phát triển.
, xúc tiến thương mại , tìm kiếm thị 5. Tăng cườ ng công tác quảng bá
trườ ng, tìm kiếm đối tác đầu tư , đối tác liên doanh, liên kết trong sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Vớ i những nỗ lực trong thờ i gian qua , ngành thương mại - dịch vụ Thái Nguyên đang cố gắng ta ̣o nên sự sôi đô ̣ng trên thi ̣ trườ ng , khơi dâ ̣y những sản phẩm hàng hoá xuất khẩu thế ma ̣nh củ a tỉnh. Qua đó , ngành thương mại - dịch vụ Thái Nguyên đã góp phần tạo nên hình ảnh mới cho sự phát triển kinh tế - xã
116
hô ̣i đi ̣a phương , tạo tiền đề vững chắc để Thái Nguyên thực hiện thành công
công cuô ̣c công nghiê ̣p hoá, hiện đại hoá, tiến tớ i hô ̣i nhâ ̣p kinh tế quốc tế.
3.2.4. Lồng ghép hiệu quả các chương trình, dự án liên quan tới giải
quyết việc làm trên địa bàn tỉnh
Giải quyết việc làm cho người lao động là một chương trình xã hội có tính
chất liên ngành rõ nét, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ với các ngành trong
việc lồng ghép các chương trình hướng và mục tiêu giải quyết việc làm, tăng thu
nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động ở nông thôn, các
chương trình như: Chương trình xoá đói giảm nghèo; chương trình cứu trợ xã
hội; chương trình phát triển dân số kế hoạch hoá gia đình; chương trình phòng
chống tai tệ nạn xã hội; chương trình đào tạo nghề; chương trình phát triển làng
nghề... Để thực hiện phối hợp trong việc lồng ghép các chương trình này đạt hiệu
quả cần làm tốt một số việc sau:
+ Từ tỉnh đến cơ sở phải thành lập hoặc kiện toàn lại ban chỉ đạo giải quyết
việc làm các cấp, có các thành phần tham gia bao gồm ngành lao động thương
binh và xã hội, kế hoạch đầu tư, tài chính, các tổ chức quần chúng (nông dân,
thanh niên, phụ nữ…) do một phó chủ tịch Ủy ban nhân dân làm trưởng ban và
ngành Lao động, Thương binh Xã hội làm phó ban hoặc uỷ viên thường trực.
Trong ban chỉ đạo cần phải phân định giới hạn trách nhiệm và quyền hạn giữa cơ
quan phối hợp với cơ quan điều hành chính. Khi phối hợp thì có sự tham gia liên
ngành, còn khi điều hành, triển khai một chương trình cụ thể phải do một cơ quan
chức năng của Nhà nước thực hiện (ngành Lao động - Thương binh - Xã hội).
+ Có thể thành lập Ủy ban quốc gia giải quyết việc làm để làm chức năng
phối hợp liên ngành và giao cho Bộ Lao động Thương binh và Xã hội điều hành,
quản lý chương trình quốc gia xúc tiến việc làm. Mô hình được minh hoạ như sau:
117
Sơ đồ 3.1: Mô hình quản lý chƣơng trình quốc gia giải quyết việc làm
Ủy Ban quốc gia giải quyết việc làm
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cơ quan thường trực Ủy ban quốc gia và điều hành chương trình)
Ban chỉ đạo của UBND các cấp
Ban chỉ đạo của tổ chức xã hội các cấp (Phụ nữ, Nông dân, Thanh niên….)
Dự án
Dự án
Dự án
Dự án
Quan hệ trực tiếp Quan hệ gián tiếp
Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm ở Thái Nguyên những năm qua đã phát huy
vai trò tích cực trong việc thực hiện lồng ghép các chương tình kinh tế - xã hội
của địa phương như: xóa đói giảm nghèo, chương trình tổ, nhóm giúp nhau làm
kinh tế trong các hội, đoàn thể phụ nữ, thanh niên, Hội Nông dân, thực hiện các
dự án phát triển các dự án cây, con, ngành nghề, tạo vùng nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến theo vùng, lãnh thổ.
Trong những năm tới, để phát huy hơn nữa hiệu quả nguồn vốn này, nhằm
giải quyết nhiều việc làm cho người lao động ở nông thôn, tỉnh Thái Nguyên cần
thực hiện tốt các giải pháp sau:
118
1. Tranh thủ tối đa các nguồn vốn hỗ trợ của ngân hàng cấp trên, đồng
thời chủ động khai thác những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, lãi suất thấp tại các
địa phương, các chương trình dự án tài trợ trong nước, quốc tế có chính sách ưu
đãi, nguồn vốn ngân sách địa phương giành cho chương trình xóa đói giảm
nghèo, tạo việc làm để đảm bảo nguồn vốn vay.
2. Nâng cao vai trò, trách nhiệm, hiệu quả phối hợp giữa các ngân hàng
chính sách xã hội các cấp với lãnh đạo chính quyền địa phương, ngành lao động
thương binh xã hội, các tổ chức chính trị xã hội tham gia hợp đồng ủy thác, các
đơn vị tham gia cho vay vốn, các trung tâm đào tạo, dịch vụ xuất khẩu lao động.
Củng cố kiện toàn ban giải quyết việc làm các cấp; thường xuyên kiểm tra giám
sát việc tổ chức thực hiện, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh sửa chữa những sai
sót trong thực tiễn điều hành, đảm bảo sử dụng nguồn vốn cho vay có hiệu quả,
đúng mục đích.
3. Giữ gìn kỷ cương quản lý, đặt mọi hoạt động của chương trình cho vay
dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của ban chỉ đạo chương trình, cấp ủy đảng và các cấp
chính quyền.
4. Hoàn thiện cơ chế chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế địa
phương, tạo ra sự thông thoáng trong việc triển khai thực hiện ở các cấp, đơn
giản hóa thủ tục hành chính, công khai hóa và thực hiện đúng vai trò của cơ quan
quản lý nhà nước trong quan hệ với các chủ thể kinh tế, giúp các chủ thể này
được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước một cách bình đẳng và có
hiệu quả.
5. Củng cố, nâng cao vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các
điểm giao dịch tại xã, tổ tiết kiệm cho vay vốn. Những tổ hoạt động yếu, tổ
trưởng có ý thức trách nhiệm thấp hay có biểu hiện tiêu cực cần chấn chỉnh, thay
đổi kịp thời. Những tổ trưởng năng lực yếu thực hiện nghiệp vụ chưa đầy đủ,
chính xác, cần phối hợp tập huấn bồi dưỡng.
6. Phối hợp lồng ghép các chương trình, hướng dẫn cách làm ăn để nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn; thực hiện tốt công tác thông tin hai chiều, duy trì lịch
trực báo cáo để kịp thời sơ kết đúc rút kinh nghiệm.
119
7. Làm tốt công tác thẩm định kế hoạch dự án, lựa chọn dự án có tính khả
thi cho vay vốn ưu đãi; đảm bảo các hộ nghèo, khó khăn được vay vốn; đặc biệt
ưu tiên cho vay vốn ưu đãi để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn
hoạt động trên các lĩnh vưc thủ công nghiệp, khai thác vật liệu xây dựng, chế biến
nông sản, dịch vụ, phát triển trang trại, chế biến thức ăn gia súc phục vụ các trang
trại chăn nuôi tập trung, tạo nhiều việc làm cho người lao động khu vực này.
* Giải quyết việc làm cho nông dân mất đất do đô thị hoá và phát triển
khu công nghiệp:
Mất đất đang là một vấn đề xã hội ngày càng trở nên gay gắt, sự ra đời và
phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp của Thái Nguyên, điều đó đã
dẫn đến hàng trăm ha đất nông nghiệp nhường chỗ cho công nghiệp, hàng ngàn
lao động ở nông thôn mất việc làm. Vấn đề đặt ra là phải có giải pháp thiết thực
trong việc giải quyết việc làm cho người nông dân mất đất do đô thị hoá và phát
triển công nghiệp. Vì vậy, tỉnh phải chú trọng hơn nữa việc phát triển các ngành
nghề sản xuất, hỗ trợ vốn, kỹ thuật và đào tạo nghề phục vụ cho việc chuyển đổi
nghề nghiệp trong các khu công nghiệp. Thực hiện chính sách “đổi đất lấy việc
làm ổn định” chứ không chỉ đơn thuần là đổi đất lấy “tiền” và cơ sở hạ tầng như
hiện nay.
3.2.5. Tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn qua xuất khẩu lao động
Công tác xuất khẩu lao động được xác định là công tác mũi nhọn trong
giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Trong những năm tới, để thực hiện mục tiêu từng bước tăng quy mô xuất khẩu
lao động, Thái Nguyên cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:
- Cần phải tuyên truyền sâu rộng Chỉ thị của Bộ Chính trị, Nghị định
Chính phủ và các văn bản hướng dẫn về xuất khẩu lao động trên các phương tiện
thông tin đại chúng và trong các tổ chức đoàn thể; thông báo công khai, cụ thể về
thị trường lao động, số lượng, thời gian, tiêu chuẩn tuyển chọn, điều kiện lao
động, pháp luật về lao động của nước có nhu cầu tuyển lao động cũng như các
chi phí đóng nộp, mức lương và quyền lợi được hưởng để người lao động tìm
hiểu và có kế hoạch lựa chọn tham gia xuất khẩu lao động.
120
- Các ngành, các cấp trong tỉnh như Sở Lao động Thương binh và Xã hội,
Công an tỉnh, ngành Y tế và các ngành liên quan cũng như các cấp chính quyền
địa phương phải phối hợp hoạt động đề xuất giải pháp thực hiện tốt công tác xuất
khẩu lao động trên địa bàn.
- Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, một mặt khai thác các thị trường
truyền thống như: Malaysia, Đài Loan... đồng thời mở rộng xuất khẩu lao động
sang các thị trường có thu nhập cao và có nhu cầu lớn về lao động như đưa người
lao động đi làm nghề nông ở Mỹ hay xuất khẩu lao động sang Châu Âu, Trung
Đông... các thị trường vốn ổn định và đưa lại thu nhập cao cho người lao động.
- Đầu tư thêm cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề trọng điểm, trường
Kỹ nghệ Thái Nguyên, phát triển trung tâm có đủ điều kiện đào tạo đội ngũ lao
động có chất lượng cao nhập cao. Mặt khác phải xây dựng và hoàn thiện chương
trình đào tạo nghề cho người lao động phù hợp với nguồn lao động ở địa phương
để nhanh chóng đào tạo lự lượng lao động có trình độ văn hóa cao, tay nghề
vững chắc, ý thức tổ chức kỷ luật tốt đáp ứng yêu cấu ngày càng cao của phía sử
dụng lao động.
- Cần lập quỹ xuất khẩu lao động để có nguồn hỗ trợ kinh phí đào tạo cho
người nghèo, nhất là người lao động thuộc diện chính sách để họ có đủ điều kiện
đi xuất khẩu lao động. Theo đề nghị của Sở Lao động Thương binh và Xã hội
cần hỗ trợ kinh phí đào tạo cho bình quân một lao động đi xuất khẩu lao động từ
300 đến 500.000 đồng, đảm bảo cho 100% lao động hộ nghèo đi xuất khẩu lao
động nước ngoài được vay vốn tín dụng ưu đãi và đề nghị Ngân hàng Thương
mại bỏ quy định thế chấp 10% vốn vay cho người lao động.
- Coi trọng công tác đào tạo nguồn và giới thiệu người lao động có ý thức
tổ chức kỷ luật, chấp hành tốt các quy định của pháp luật để tham dự đi làm việc ở
nước ngoài. Công tác tạo nguồn và giới thiệu người đi lao động ở nước ngoài phải
gắn với chiến lược mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, phù hợp với quan hệ
cung - cầu và quá trình hội nhập quốc tế của thị trường xuất khẩu lao động.
Để công tác xuất khẩu lao động thực sự là tiền đề cho sự phát triển bền
vững sau này của địa phương thì bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động cần
121
xây dựng chương trình hậu xuất khẩu lao động để một mặt tận dụng nguồn vốn,
tay nghề của người lao động ở nước ngoài về, mặt khác tạo sự ổn định kinh tế xã
hội cho địa phương có xuất khẩu lao động. Chương trình hậu xuất khẩu lao động
cần phát triển theo hướng khuyến khích người đi xuất khẩu lao động trở về đầu
tư kinh doanh những ngành nghề thiết thực, khai thác được tiềm năng lợi thế của
địa phương. Ví dụ: ở Cương Gián có thể mở rộng hơn nữa diện tích nuôi trồng
thủy sản, phát triển nghề nước mắm là nghề truyền thống của xã, hay nghề mộc,
nghề khai thác đá... vừa đưa lại sự phát triển về kinh tế cho địa phương, vừa tạo
việc làm cho lao động trong vùng và những vùng lân cận. Để làm được điều đó,
chính quyền địa phương cần tạo điều kiện về mặt bằng thuận lợi, tạo môi trường
đầu tư và hành lang pháp lý cho người đi xuất khẩu lao động trở về phát triển sản
xuất, kinh doanh, làm giàu chính đáng và đóng góp cho quê hương.
Đối với những người lao động đã được đào tạo nghề như sản xuất điện tử,
cơ khí hay thực phẩm v.v... sau khi đi xuất khẩu lao động trở về có thể được đào
tạo lại và được nhận vào làm việc ở các doanh nghiệp ở địa phương để phát huy
tay nghề và kinh nghiệm vì họ đã được đào tạo và trực tiếp lao động trong môi
trường xã hội công nghệp của nước bạn. Đây sẽ là nguồn nhân lực phục vụ tốt
cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương.
3.2.6. Cung cấp thông tin việc làm qua các trung tâm dịch vụ việc làm
Người lao động ở nông thôn Thái Nguyên cũng như người lao động của
các vùng quê khác trong cả nước còn gặp nhiều hạn chế, nhất là về thông tin,
liên lạc và khả năng nhanh nhạy trong cơ chế thị trường. Vì vậy, vấn đề tự tìm
việc làm, lựa chọn việc làm của họ còn nhiều khó khăn, rất cần đến hoạt động
hướng dẫn, tư vấn về lao động và việc làm của các cơ quan đoàn thể, trong đó có
vai trò to lớn của trung tâm dịch vụ việc làm.
Trung tâm dịch vụ việc làm là nơi tư vấn cho người lao động về chính
sách lao động và việc làm cho người lao động và người sử dụng lao động; đào
tạo ngắn hạn và bổ túc nghề cho người lao động. Có thể nói các trung tâm dịch
vụ việc làm là chiếc cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Tăng cường hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm, mở rộng các giao
122
dịch việc làm là cơ hội để người lao động tìm được việc làm và đem cơ hội việc
làm đến cho người lao động.
Trong những năm qua, hệ thống các trung tâm dịch vụ việc làm ở Thái
Nguyên phát triển chưa đáp ứng đủ yêu cầu của giải quyết việc làm. Hoạt động
của các trung tâm chưa trở thành một hệ thống, kinh phí của các trung tâm còn
hạn hẹp, biên chế còn hạn chế. Điều này đã gây trở ngại lớn cho các hoạt động
của trung tâm.
Trong những năm tới, Thái Nguyên cần đẩy mạnh phát triển hệ thống
trung tâm dịch vụ việc làm, tăng cường hoạt động dịch vụ, giới thiệu việc làm
cho người lao động theo những hướng sau:
- Nâng cao năng lực và hiện đại hóa các trung tâm dịch vụ việc làm, xây
dựng cơ sở vật chất theo hướng hiện đại, ứng dụng Công nghệ thông tin vào hoạt
động dịch vụ việc làm, nâng cấp trang thiết bị dạy nghề, bổ túc nghề cho người
lao động đồng thời nâng cao năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ làm công
tác dịch vụ việc làm.
- Quy hoạch mạng lưới dịch vụ việc làm phù hợp với cơ chế thị trường.
Củng cố các trung tâm dạy nghề, dịch vụ việc làm đã có trên địa bàn tỉnh. Đồng
thời xây dựng mới khuyến khích các tổ chức đoàn thể, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh
niên và các doanh nghiệp tham gia họat động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ
việc làm, xây dựng một số vệ tinh, văn phòng đại diện ở các huyện, thị, các tụ
điểm dân cư phối hợp với các trung tâm dịch vụ việc làm từ huyện đến cơ sở.
- Đa dạng hóa các hình thức hoạt động của các trung tâm dịch vụ viêc làm
như tổ chức giao lưu gặp gỡ giữa người lao động và người sử dụng lao đọng, các
cơ sở dạy nghề, xây dựng trang thông tin về thị trường lao động, tự quảng bá
năng lực hoạt động của trung tâm qua các hội thảo, nâng cao năng lực, trình độ
của đội ngũ cán bộ, mở rộng đội ngũ cộng tác viên, mở rộng các hình thức dịch
vụ việc làm.
- Thực hiện quản lý nhà nước đối với hệ thống các trung tâm dịch vụ việc
làm. Một mặt giám sát sự hoạt động của các trung tâm theo luật định, mặt khác
bổ sung các quy định mới về thành lập và hoạt động của các chi nhánh, quy định
123
hoạt động tài chính... đồng thời tăng thêm nguồn kinh phí để xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật và nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ nhân viên.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng đối
với các Trung tâm dịch vụ việc làm, kiên quyết xử lý kịp thời các hành vi lừa
đảo trong môi giới dịch vụ việc làm.
- Thúc đẩy tổ chức hội chợ việc làm lần thứ nhất ở Thái Nguyên, phát
triển thị trường lao động theo hướng tăng cường các giao dịch trực tiếp giữa
người lao động và người sử dụng lao động, nối cung - cầu lao động trong tỉnh và
trong cả nước, giải quyết việc làm nhanh chóng cho người lao động.
- Tuyên truyền giáo dục và nâng cao nhận thức cho người lao động để
người lao động hiểu và coi các trung tâm dịch vụ việc làm là nơi đáng tin cậy của
họ trong lựa chọn việc làm, học nghề. Cung cấp các dịch vụ việc làm miễn phí đối
với người thất nghiệp, người thiếu việc làm đã đăng ký việc làm, hỗ trợ trực tiếp
để giải quyết việc làm cho các đối tượng "yếu thế" trong thị trường lao động.
* Củng cố hệ thống sự nghiệp về giải quyết việc làm:
Trong những năm qua Thái Nguyên đã đầu tư phát triển 4 trung tâm xúc
tiến việc làm. Các trung tâm xúc tiến này đang đi vào hoạt động và đóng góp
phần đáng kể vào giải quyết việc làm cụ thể cho người lao động, là mô hình phù
hợp với điều kiện của địa phương và đang hoạt động có hiệu quả.
Tuy nhiên, cần phải tiếp tục hoàn thiện mô hình trung tâm xúc tiến việc
làm theo các hướng sau đây:
+ Cần phải có quy hoạch tổng thể các trung tâm xúc tiến việc làm. Tỉnh
cần phải tạo điều kiện hơn nữa để nâng cao chất lượng hoạt động của trung tâm
giới thiệu việc làm.
+ Khuyến khích thành lập các tổ chức giới thiệu việc làm mở rộng đối với
mọi thành phần, mọi cơ quan, đoàn thể để tạo ra sự luân chuyển lao động, việc
làm hiệu quả hơn.
+ Nên giữ hình thức trung tâm giới thiệu việc làm là đơn vị sự nghiệp có
thu, không nên biến các trung tâm thành đơn vị hạch toán. Vì các trung tâm này
làm các chức năng xã hội là chính, phần thu được chủ yếu là giảm một phần
124
gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Có thể bộ khung quản lý của trung tâm Nhà
nước hỗ trợ lương và kinh phí hành chính, không đánh thuế khâu dạy nghề, giảm
thuế phần tổ chức sản xuất, trợ giúp ban đầu mua sắm trang thiết bị dạy nghề,
xây dựng cơ bản…
+ Kiện toàn các trung tâm dịch vụ việc làm, trước mắt là xem xét các điều
kiện cần có để thành lập trung tâm, kiểm tra hiệu quả hoạt động của các trung
tâm, giám sát hoạt động của các trung tâm, hạn chế tình trạng lừa dối, thu lệ phí
cao người cần việc làm, nhất là những người đi xuất khẩu lao động.
3.2.7. Hoàn thiện chính sách và đổi mới lãnh đạo quản lý về lĩnh vực
giải quyết việc làm gắn với phát triển thị trường lao động
Lao động việc làm thuộc chương trình phát triển kinh tế - xã hội rộng lớn,
phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều tổ chức kinh tế - xã hội.
Vì vậy, để hoạt động giải quyết việc làm có hiệu quả cần phải có sự lãnh đạo của
Đảng, quản lý của Nhà nước có ý nghĩa quyết định tới việc tạo mở việc làm mới
cho người lao động. Thực tế trong những năm qua ở Thái Nguyên các cấp ủy
Đảng, chính quyền đã thường xuyên quan tâm đến công tác xoá đói giảm nghèo
và giải quyết việc làm. Tuy vậy, vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, quản lý của
chính quyền đối với giải quyết việc làm còn bộc lộ nhiều thiếu sót tồn tại.
Để khắc phục những yếu kém trong lãnh đạo của cấp ủy Đảng, quản lý
của Nhà nước về việc làm ở Thái Nguyên, trong thời gian tới cần thực hiện tốt
một số giải pháp sau:
* Đối với cấp ủy Đảng:
Một là, từ Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp về công tác giải quyết việc
làm các cấp ủy đảng cần phải cụ thể hoá thành chương trình chiến lược phát triển
kinh tế xã hội, đặc biệt là chiến lược về giải quyết việc làm một cách đúng đắn,
khoa học, phù hợp với thực tiễn của địa phương. Biến Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ các cấp và Nghị quyết về giải quyết việc làm trở thành hiện thực.
Hai là, làm tốt công tác tuyên truyền về công tác giải quyết việc làm,
nhằm chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức xã
hội và trong toàn thể nhân dân về chủ trương đường lối phát triển kinh tế - xã
hội, tạo mở việc làm, khuyến khích, động viên các thành phần kinh tế, các tổ
125
chức xã hội, mỗi gia đình và mỗi người lao động tự tạo việc làm cho mình và
cho xã hội.
Ba là, các cấp ủy đảng phải lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền cụ thể hoá
đường lối Nghị quyết của Đảng thành những chính sách, giải pháp cụ thể để giải
quyết việc làm cho người lao động, gắn giải quyết việc làm với phát triển sản
xuất trên cơ sở khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương.
Các cấp ủy đảng phải lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức chính trị xã hội (Hội
Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh) và các tổ chức xã
hội khác tích cực vận động hội viên, đoàn viên của tổ chức mình đoàn kết giúp
đỡ nhau phát triển sản xuất, tạo mở việc làm.
Bốn là, đưa vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của dảng bộ, chi bộ, là nội dung quan trọng để xem
xét, đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ của chi bộ, đảng bộ.
* Đối với chính quyền:
+ Uỷ ban nhân dân tỉnh tiếp tục xây dựng chương trình giải quyết việc làm
từ nay đến hết năm 2020. Trên cơ sở đó mà thể chế hoá đường lối, Nghị quyết của
Đảng bộ thành những chính sách, giải pháp cụ thể, hữu hiệu để phát triển sản xuất
kinh doanh tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động ở nông thôn.
+ Chính quyền cấp huyện cần phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội
kiểm tra, kiểm soát, thực hiện các chương trình, dự án giải quyết việc làm.
+ Thực hiện công tác cải cách hành chính trong ngành Lao động - Thương
binh Xã hội; Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học với nhiệm vụ quản lý
Nhà nước, nghiên cứu với thực hành và ứng dụng những tiến bộ khoa học - công
nghệ vào lĩnh vực hoạt động của ngành, triển khai chương trình tin học hoá quản
lý hành chính Nhà nước về lao động và việc làm để nâng cao năng lực bộ máy
quản lý đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.
+ Hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm: nâng cao hiệu lực chính
sách, đưa ra các chính sách định hướng nhu cầu việc làm của người nông dân,
thực hiện cơ chế phối hợp các chính sách nhằm giải quyết các mục tiêu kinh tế -
xã hội: giải quyết việc làm kết hợp xoá đói giảm nghèo, phối hợp thực hiện có
hiệu quả các chính sách từ Trung ương đến địa phương.
126
KẾT LUẬN
Việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng và toàn dân, của các cấp, các ngành. Trong
những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp để giải quyết việc làm
cho lao động xã hội, thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội
và các chương trình, dự án giải quyết việc làm. Nhờ đó hàng năm chúng ta đã
giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, cơ cấu lao động đã từng bước
chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ lệ thất nghiệp của lao động thành thị giảm
dần và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn tăng dần. Tuy nhiên, do tốc
độ tăng dân số còn cao, nhất là ở các vùng nông thôn nên hàng năm số người
bước vào độ tuổi lao động khá lớn, số người cần được giải quyết việc làm còn
tồn đọng nhiều. Do đó, ở Thái Nguyên hiện nay, sức ép về việc làm còn rất lớn
và đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết.
Thái Nguyên là một trong những tỉnh nghèo của cả nước, mật độ dân số
tương đối cao, tài nguyên có hạn, tốc độ phát triển kinh tế thấp, tình trạng thất
nghiệp còn khá cao. Vì vậy, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho người
lao động, đặc biệt là lao động ở nông thôn (khu vực chiếm tới hơn 70% lực
lượng lao động toàn tỉnh) là vấn đề hết sức cần thiết.
Khi nghiên cứu vấn đề “Giải quyết việc làm cho người lao động ở nông
thôn tỉnh Thái Nguyên hiện nay”, đề tài xác định: người lao động ở nông thôn
là những người lao động nói chung được quy định trong Bộ luật Lao động nhưng
sinh sống và làm việc ở nông thôn. Công việc của họ gắn liền với điều kiện tự
nhiên nơi họ sinh sống và chịu tác động bởi những đặc điểm kinh tế - xã hôi ở
nông thôn. Chính vì thế, đề tài xuất phát từ việc xem xét từ khái niệm việc làm
nói chung và việc làm của người lao động ở nông thôn nói riêng trong điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội ở nông thôn dưới tác động của CNH, HĐH. Đó là cơ sở
lí luận để nghiên cứu, khảo sát tình hình giải quyết việc làm cho người lao động
nông thôn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới.
127
Đề tài đã đi sâu nghiên cứu thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho
người lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên thời gian qua từ nhiều hướng nhìn
khác nhau, trên cơ sở đó đánh giá những thành tựu đã đạt được, đồng thời chỉ ra
những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động giải quyết việc làm.
Trên cơ sở đó, đề tài đã đưa ra một hệ thống những phương hướng chung và
những giải pháp cụ thể nhằm giải quyết việc làm cho người lao động ở nông
thôn tỉnh Thái Nguyên thời gian tới.
Nâng cao năng lực về mọi mặt, giúp người lao động phát huy hết khả
năng, tạo cơ hội tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập, cải thiện mức sống, góp phần
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung là
mục đích hướng tới của đề tài.
Từ những kết quả đã đạt được nói trên, đề tài có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng có liên quan trong việc hoạch định
các chính sách, chiến lược giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn
tỉnh Thái Nguyên cũng như các địa phương khác có điều kiện kinh tế - xã hội
tương đồng.
128
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Xuân An (2005), Giải quyết việc làm ở Nghệ An. Thực trạng và giải
pháp, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội.
2. Ban Chỉ đạo Điều tra lao động - việc làm Trung ương (2009), Báo cáo kết
quả lao động - việc làm 1 - 7 - 2009, Hà Nội.
3. Ban Chỉ đạo Điều tra lao động - việc làm Thái Nguyên (2009), Báo cáo
nhanh kết quả điều tra lao động - việc làm 2009 tỉnh Thái Nguyên, Thái
Nguyên.
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2009), Số liệu thống kê Lao động
và việc làm ở Việt Nam 2009, Nxb. Lao động và Xã hội, Hà Nội.
5. Bộ môn Kinh tế phát triển - Khoa Kế hoạch và Phát triển, Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân (2005), Giáo trình Kinh tế phát triển, Nxb. Lao động Xã
hội, Hà Nội.
6. Trần Văn Chử, Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải
quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước,
Kỷ yếu khoa học đề tài cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
7. Nguyễn Sinh Cúc (2008), “Giải quyết việc làm ở nông thôn và những vấn
đề đặt ra”, Tạp chí Con số và Sự kiện, (20).
8. Cục Thống kê Thái Nguyên (2005), Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu
tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2006 - 2010, Thái Nguyên.
9. Cục Thống kê Thái Nguyên (2007), Niên giám thống kê 2007, Thái Nguyên.
10. Cục Thống kê Thái Nguyên (2008), Niên giám thống kê 2008, Thái Nguyên.
11. Cục Thống kê Thái Nguyên (2009), Niên giám thống kê 2009, Thái Nguyên.
12. Cục Thống kê Thái Nguyên (2009), Tình hình kinh tế - xã hội Thái Nguyên
năm 2009, Thái Nguyên.
13. Cục Thống kê Thái Nguyên (2009), Thái Nguyên 50 năm xây dựng và phát
triển, Thái Nguyên.
14. Đỗ Minh Cương (2007), “Dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay”,
Nông thôn mới, Hà Nội.
129
15. Nguyễn Hữu Dũng, Trần Hữu Trung (2007), Về chính sách giải quyết việc
làm ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Nguyễn Hữu Dũng (2008), “Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong
quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn”, Tạp chí Lao động Xã hội, (247).
17. Nguyễn Trí Dũng (2010), “Thái Nguyên chủ động dạy nghề cho nông
dân”, Báo Nông nghiệp Thái Nguyên.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2006), Văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng
bộ tỉnh lần thứ XVI, Thái Nguyên.
22. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2011), Văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng
bộ tỉnh lần thứ XVII, Thái Nguyên.
23. Đinh Đăng Định (chủ biên - 2008), Một số vấn đề lao động, việc làm và
đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Lao động, Hà Nội.
24. Nguyễn Mạnh Hà (2006), Giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn
tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
25. Nguyễn Minh Hằng, Lê Huy Đồng (2006), Phân phối và phân hoá giàu
nghèo sau 20 năm đổi mới, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội.
26. Nguyễn Quang Hiển (2007), Thị trường lao động Việt Nam. Thực trạng và
giải pháp, Nxb. Thống kê, Hà Nội.
27. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006), Giáo trình Kinh tế học
phát triển, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
28. Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên (2005), Báo cáo kết quả 5 năm Hội Nông
dân thực hiện chương trình mục tiêu xoá đói, giảm nghèo (2000 - 2005) và
phương hướng, nhiệm vụ (2005 - 2010), Thái Nguyên.
29. Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên (2005), Báo cáo kết quả Hội Nông dân
130
thực hiện phong trào thi đua sản xuất - kinh doanh giỏi, xây dựng điển
hình tiên tiến hộ nông dân thu nhập 50 triệu đồng/năm, Thái Nguyên.
30. Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên (2007), Dự án xây dựng mô hình ổn định
phát triển sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm chè xã Phúc Trìu - Phúc
Xuân, Thái Nguyên, Thái Nguyên.
31. Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên (2007), Báo cáo kết quả thực hiện 3 dự án
phối hợp giữa Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và Hội Nông dân tỉnh
Thái Nguyên, Thái Nguyên.
32. Nguyễn Lan Hương (2008), Thị trường lao động Việt Nam, định hướng và
phát triển, Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội.
33. Lê Văn Kỳ (2006), Phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm ở
Thanh Hoá, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh.
34. Vương Liêm (2006), Về chiến lược con người ở Việt Nam, Nxb. Lao động,
Hà Nội
35. Chu Viết Luân (chủ biên - 2009), Thái Nguyên - Thế và lực mới trong thế
kỷ XXI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
36. C.Mác (1984), Tư bản, tập 1, quyển 1, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
37. C.Mác (1984), Tư bản, tập 2, quyển 2, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
38. C.Mác-Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
39. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 4 (1945 - 1946), Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
40. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 10 (1945 - 1946), Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
41. Trần Nhung, “Thái Nguyên đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng”, Báo
Thái Nguyên điện tử.
42. Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Thái Nguyên (2010), Báo cáo đánh giá
cho vay vốn giải quyết việc làm giai đoạn 2006 - 2010, Thái Nguyên.
43. Nguyễn Văn Phúc (2007), Công nghiệp nông thôn Việt Nam. Thực trạng
và giải pháp, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội.
44. Vũ Văn Phúc (2007), “Giải quyết việc làm sử dụng hợp lý nguồn nhân lực
ở nông thôn hiện nay”, Tạp chí Châu Á - Thái Bình Dương, (42).
131
45. Bùi Văn Quán (2006), “Thực trạng lao động - việc làm ở nông thôn và một
số giải pháp cho giai đoạn 2006 - 2010”, Báo Lao động và Xã hội, tr.259.
46. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1994), Bộ Luật Lao
động, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
47. Sở Lao động Thương Binh và Xã hội (2005), Báo cáo kết quả thực hiện
chương trình giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005 và phương hướng,
giải pháp giai đoạn 2006 - 2010, Thái Nguyên.
48. Vũ Đình Thắng (2007), “Vấn đề việc làm cho nông thôn”, Tạp chí Kinh tế
phát triển, (23).
49. Nguyễn Đăng Thảo, Mối quan hệ giữa chất lượng nguồn nhân lực với phát
triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh.
50. Nguyễn Thị Thơm (2004), Thị trường lao động Việt Nam. Thực trạng và
giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2003 - 2004, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
51. Trần Thị Thu (2008), Tạo việc làm cho người lao động nữ trong thời kỳ
công nghiệp hoá - hiện đại hoá, Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội.
52. Tổng Cục thống kê (2009), Niên giám thống kê 2009, Nxb. Thống kê, Hà Nội.
53. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện Thông tin Khoa
học xã hội, Thị trường lao động trong kinh tế thị trường, Hà Nội.
54. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2005), Dự thảo chương trình mục tiêu
giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010, Thái Nguyên.
55. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2010), Chương trình giải quyết việc
làm tỉnh Thái Nguyên đến hết năm 2010, Thái Nguyên.
56. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2010), Báo cáo quy hoạch phát triển
ngành nghề nông thôn tỉnh Thái Nguyên đến hết năm 2010, Thái Nguyên.

