BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MAI THỊ QUẾ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THỊ HƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình tham gia khóa đào tạo, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ từ quý lãnh đạo, thầy, cô và
đồng nghiệp. Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến:
Ban Giám Hiệu trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Tâm lý – Giáo dục, Phòng Sau Đại học
và quý thầy cô giảng dạy đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Ban Giám Hiệu trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu, đồng nghiệp, bạn bè đã đã tạo điều kiện giúp đỡ, khích
lệ, động viên tôi trong quá trình học tập.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Trần Thị Hương đã tận tâm, nhiệt tình, chu đáo
trong việc hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do khả năng và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên khó tránh khỏi
những sai sót. Tác giả kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn thêm của quý thầy, cô và các anh chị đồng
nghiệp.
Bà Rịa, ngày 15 tháng 11 năm 2010
Người thực hiện luận văn
Mai Thị Quế
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CB Cán bộ
CBQL Cán bộ quản lý
CB, VC Cán bộ, viên chức
CĐSP Cao đẳng Sư phạm
CNH, HĐH Công nghiệp hoá – Hiện đại hóa
BD Bồi dưỡng
ĐH Đại học
ĐT Đào tạo
ĐTB Điểm trung bình
ĐNGV Đội ngũ giảng viên
HS, SV Học sinh, sinh viên
GD - ĐT Giáo dục và Đào tạo
GD Giáo dục
GV Giảng viên
NNL Nguồn nhân lực
NCKH Nghiên cứu khoa học
QLGD Quản lý giáo dục
SV Sinh viên
ThS Thạc sĩ
TS Tiến sĩ
UBND Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong thế kỷ hội nhập và cạnh tranh - thế kỷ XXI, tất cả các quốc gia đều tìm kiếm con đường
phát triển cho riêng mình: dựa vào nguồn vốn đầu tư, dựa vào tài nguyên, dựa vào lợi thế địa lý, chính
trị, kinh tế. Song có thể nói rằng, hầu hết các quốc gia đều thống nhất: nguồn lực con người là quan
trọng nhất và giáo dục (GD) là con đường cơ bản nhất để phát huy nguồn lực con người, phục vụ cho
sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia.
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng công tác giáo dục - đào tạo và khoa học - công
nghệ. Quan điểm “Con người Việt Nam vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã
hội” đã trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng ta để chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH); thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ và văn minh. Để đạt được mục tiêu ấy, giáo dục - đào tạo (GD - ĐT) có vai trò đặc biệt quan
trọng là “Quốc sách hàng đầu”.
“Chất lượng giáo dục có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội” và “đội ngũ nhà
giáo là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục” [13]. Chỉ có quản lý, xây dựng, phát triển, nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo mới nâng cao chất lượng giáo dục.
Chỉ thị 40 - CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư Trung ương (TW) Đảng đã nêu: “Phát
triển GD - ĐT là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn
Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (CBQL GD) là lực lượng nòng cốt, có
vai trò quan trọng” [1] . Như vậy, phát triển GD - ĐT đã trở thành chiến lược cách mạng mang tính
thời đại sâu sắc và đội ngũ nhà giáo và CBQL GD là lực lượng cách mạng quan trọng, quyết định
thắng lợi sự nghiệp đổi mới GD, góp phần phát triển đất nước.
Trong sự nghiệp GD - ĐT của nước nhà thì giáo dục Đại học đóng vai trò quan trọng trong hệ
thống giáo dục quốc dân. Chất lượng giáo dục Đại học phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó đội ngũ
giảng viên là yếu tố rất quan trọng đóng vai trò quyết định trong truyền thụ và định hướng toàn bộ hoạt
động tiếp thu lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp của người học; ĐNGV đồng thời là lực
lượng trực tiếp tác động, định hướng sự phát triển phẩm chất, nhân cách của người học. Vì vậy, một
vấn đề hàng đầu nhằm duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của các trường CĐ, ĐH là
vấn đề đội ngũ giảng viên (ĐNGV) và quản lý phát triển đội ngũ giảng viên. Đặc biệt đối với các
trường sư phạm, chất lượng của đội ngũ giảng viên sẽ trực tiếp quyết định và ảnh hưởng lâu dài đến
chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non và phổ thông. Bởi vậy, để phát triển GD - ĐT, vấn đề then chốt
là phải xem trọng công tác xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, chuẩn về trình độ đào tạo,
đồng bộ về cơ cấu, giỏi về chuyên môn, tinh thông về nghiệp vụ, mẫu mực về nhân cách. Điều này tùy
thuộc rất nhiều vào công tác quản lý giáo dục (QLGD), từ việc hoạch định chính sách, tạo ra cơ chế,
qui trình quản lý cho đến việc giám sát, kiểm tra trong quá trình quản lý .
Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu được thành lập trên cơ sở nâng cấp từ trường Trung học Sư
phạm Bà Rịa – Vũng Tàu theo quyết định số: 4025/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 02 tháng 10 năm 2000
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo đó, trường có nhiệm vụ, vai trò quan trọng trong việc đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ thầy cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ở các bậc
học Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non. Bên cạnh đó, nhà trường tiếp tục phát triển đa dạng hóa các
loại hình đào tạo, hợp tác liên kết với một số trường đại học lớn nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình
độ đại học và cao đẳng đáp ứng nhu vầu học tập của người dân và yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại
hóa (CNH – HĐH) của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trong những năm qua, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu đã
có nhiều đóng góp trong thành tích chung của ngành GD-ĐT của tỉnh nhà với tư cách là "chiếc máy
cái" của ngành GD& ĐT Bà Rịa – Vũng Tàu. Song, trước yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh
tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ giảng viên nhà trường chưa đáp ứng được yêu cầu thực
tiễn đòi hỏi. Để khắc phục vấn đề này, đòi hỏi phải có sự đổi mới trong công tác quản lý phát triển đội
ngũ giảng viên.
Xuất phát từ yêu cầu nêu trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên trường
Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa – Vũng Tàu” làm luận văn thạc sỹ.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý đội ngũ
giảng viên Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu, đề tài góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ giảng
viên Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu đáp ứng yêu cầu đổi mới GD hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 . Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý đội ngũ ở Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Công tác quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu đã đạt được một số
kết quả trong việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng giảng viên. Tuy nhiên, trong
giai đoạn mới, công tác này vẫn còn những bất cập và chưa đáp ứng được yêu cầu mới. Trên cơ sở
khảo sát, đánh giá đúng thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên, có thể đề xuất các giải pháp phát triển
đội ngũ giảng viên nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới
giáo dục ở trường Cao đẳng Sư phạm.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Sư phạm.
5.2. Khảo sát thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu.
5.3. Đề xuất các giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu trong giai
đoạn mới.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
6.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Quan điểm hệ thống - cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt dựa
vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận. Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ
thống để tìm quy luật phát triển. Qua cách tiếp cận quan điểm này người nghiên cứu tìm hiểu được mối
liên hệ chặt chẽ giữa quản lý đội ngũ giảng viên với quản lý các hoạt động khác của nhà trường. Quản
lý đội ngũ giảng viên là một công tác quản lý quan trọng trong toàn bộ hệ thống quản lý chung của nhà
trường. Thông qua việc nghiên cứu, sẽ phát hiện ra những yếu tố mang tính bản chất, tính quy luật của
sự vận động và phát triển đội ngũ giảng viên Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu.
6.1.2. Quan điểm lịch sử - logic
Quan điểm lịch sử - logic tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của giáo dục trong những
khoảng thời gian và không gian cụ thể, với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để phát hiện cho được
quy luật tất yếu của quá trình giáo dục. Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không
gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, từ đó phát hiện ra
những mối liên hệ đặc trưng về quá khứ - hiện tại - tương lai của đối tượng nghiên cứu và trình bày
công trình nghiên cứu theo một trình tự logic phù hợp.
6.1.2. Quan điểm thực tiễn
Cơ sở lý luận phải được minh chứng và hoàn chỉnh thông qua các sự kiện và hoạt động thực
tiễn. Thực tiễn giáo dục là gốc, động lực, tiêu chuẩn, mục đích của toàn bộ quá trình nghiên cứu khoa
học. Qua khảo sát sẽ phát hiện những cứu phát hiện ra những mặt mạnh, mặt yếu của đội ngũ giảng
viên, phát hiện những mâu thuẫn, những khó khăn, cản trở công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng
viên và nguyên nhân của nó để từ đó đề ra các giải pháp nhằm cải thiện thực trạng đáp ứng được yêu
cầu mới trong giai đoạn hiện nay.
6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích - tổng hợp, hệ thống hoá và nghiên cứu tài liệu nhằm xây dựng cơ sở lý
luận của đề tài.
6.2. 2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Thu thập thông tin thông qua phiếu hỏi ý kiến của giảng viên và cán bộ quản lý trong trường
nhằm tìm hiểu thực trạng về đội ngũ giảng viên; thực trạng công tác quản lý đội ngũ giảng viên; những
giải pháp mà nhà trường đã áp dụng để phát triển đội ngũ giảng viên; tính khả thi của các giải pháp và
những đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý đội ngũ giảng viên của Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng
Tàu.
6.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Trao đổi, xin ý kiến trực tiếp của cán bộ quản lý, giảng viên và ý kiến phản hồi sinh viên về giảng
viên nhằm thu thập thêm thông tin và làm rõ hơn những vấn đề từ phiếu điều tra.
6.2.2.3. Phương pháp quan sát
Thu thập thông tin trên cơ sở quan sát trực tiếp các hoạt động sư phạm, quan sát hoạt động quản
lý của cán bộ quản lý để có thông tin đầy đủ hơn về thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên.
6.2.2.4. Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục và đào tạo nhằm đánh giá đúng
thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giảng viên cũng như khảo nghiệm, kiểm định tính khả thi của các
giải pháp đề xuất.
6.3. Nhóm phương pháp toán thống kê
Xử lý kết quả điều tra và số liệu thu được bằng các phương pháp thống kê toán học thông qua các
phần mềm máy tính nhằm định lượng kết quả nghiên cứu.
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chất lượng của đội ngũ giáo viên là điều kiện quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục, vì vậy
vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là trung tâm của các chương trình cải cách, cải tổ, đổi
mới GD. Đối với các trường đại học, cao đẳng trong giai đoạn hiện nay, việc nghiên cứu phát triển đội
ngũ giảng viên là một vấn đề hết sức quan trọng. Điều này không chỉ đúng với Việt Nam mà đã được
chứng minh ở nhiều nước có nền giáo dục phát triển với nhiều bài học đi trước như Hoa Kỳ, Úc, Liên
minh Châu Âu...
Những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, củng cố hệ
thống sư phạm đã được đề ra trong các Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Trung ương 2 khóa VIII,
Nghị quyết 14 của Chính phủ về đổi mới cơ bản toàn diện GD ĐH Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020,
Nghị quyết Đại hội Đảng IX, X, Chiến lược phát triển GD 2001 – 2010, Chỉ thị 40 của Ban Bí thư
Trung ương về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL GD và mới đây nhất là chỉ
thị 296/CT-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2010 về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 –
2012.
Những năm gần đây, sự tăng nhanh về số lượng các trường đại học và cao đẳng trong cả nước
dẫn đến tình trạng mất cân đối về nhiều mặt, trong đó có đội ngũ giảng viên. Nhằm làm sáng tỏ những
vấn đề lý luận cũng như thực tiễn GD của Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý và
phát triển nguồn nhân lực GD và đã đạt được một số thành công ở một số mặt nhất định như:
- “Đầu tư cho đội ngũ giảng viên là đầu tư cho chất lượng” của Nguyễn Kim Hồng [20]
- “Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu phát triển nguồn lực” của Phan Văn Kha [22]
- “Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển đội ngũ GV” của Bùi Văn Quân [30];
- “Về nội dung quản lý đội ngũ GV ĐH, CĐ trong thời kỳ đổi mới” của Dương Đức Báu [3];
- “Thực trạng và một số giải pháp xây dựng đội ngũ GV các trường ĐH, CĐ” của Phạm Văn
Thanh [36];
- “Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐT nguồn nhân lực tại trường ĐH” của Nguyễn Ánh
Hồng [19];
Nhiều đề tài nghiên cứu có tính chuyên đề đi sâu các vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý xây
dựng và phát triển độ ngũ GV như:
- “Các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ GV trường ĐH Giao thông Vận tải theo hướng
chuẩn hóa” của Phạm Văn Toàn [39];
- “Nghiên cứu khoa học của giảng viên ĐH – một yếu tố đảm bảo chất lượng ĐT” của Nguyễn
Ngọc Lan [25];
- “Logic nội dung và các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài về giải pháp quản lý GD” của Nguyễn
Phúc Châu [8].
Ngoài những công trình nghiên cứu và báo cáo khoa học nêu trên, có nhiều luận văn ThS được
công bố đã đề xuất được những giải pháp khả thi về quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ GV phù hợp
hoàn cảnh thực tế tại các địa bàn cụ thể như:
- “Thực trạng và biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí
Minh”, tác giả Nguyễn Kỷ Trung [41].
- “Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm ĐăkLăk”, tác
giả Phạm Văn Luật [27].
- “Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Cao đẳng Sư phạm Phú Yên”,
tác giả Lê Bạt Sơn [33].
Những công trình nghiên cứu kể trên đã tập trung hệ thống hóa những cơ sở lý luận chung và
khảo sát thực trạng về đội ngũ giảng viên ở các địa phương khác nhau.
Ở trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa – Vũng Tàu, việc nghiên cứu thực trạng đội ngũ, từ đó đề
xuất một số giải pháp quản lý xây dựng và phát triển đội ngũ là vấn đề mới, chính vì vậy tác giả chọn
nghiên cứu đề tài “Thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa – Vũng
Tàu”.
1.2 . Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý trường học
1.2.1.1. Quản lý
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng
một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể
nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra
[44].
Có thể xem Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng tới khách thể thông qua việc thực hiện
các chức năng quản lý, bằng những công cụ và phương pháp mang tính đặc thù nhằm đạt được mục
tiêu chung của toàn hệ thống.
1.2.1.1. Quản lý giáo dục
Công việc quản lý đã xuất hiện tất yếu do yêu cầu của việc tổ chức lao động chung. Quản lý ra
đời là để tạo ra hiệu quả hoạt động cao hơn so với việc làm riêng lẻ của các cá nhân có chung mục tiêu
hoạt động.
Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp, huy động các lực lượng giáo dục và xã hội
nhằm thực hiện có hiệu quả công việc giáo dục; không chỉ là sự nghiệp của các nhà trường, của ngành
GD - ĐT mà là sự nghiệp chung của cả xã hội. [26]
Quản lý giáo dục là quản lý quá trình giáo dục – đào tạo, là quản lý hoạt động của người dạy,
người học và quản lý các tổ chức sư phạm ở các cơ sở khác nhau trong việc thực hiện các kế hoạch,
chương trình GD - ĐT nhằm đạt được cá mục tiêu GD - ĐT đặt ra.
Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối,
điều chỉnh, giám sát, … một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục
vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Quản lý trường học
Trường học là cơ sở giáo dục mang tính nhà nước, trực tiếp giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp
tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho
đất nước.
Quản lý, lãnh đạo nhà trường là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của
học sinh, hoạt động phục vụ việc dạy và việc học của cán bộ, nhân viên trong trường. Nhà trường là
đơn vị cơ sở trực tiếp giáo dục - đào tạo, là cơ quan chuyên môn của ngành giáo dục - đào tạo, hoạt
động của nhà trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp, nên việc quản lý, lãnh đạo chặt chẽ, khoa học
sẽ bảo đảm đoàn kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có
chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục [26].
Quản lý trường học là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý – người hiệu trưởng đến
tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, đồng thời huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn
nhân lực, vật lực, tài lực, ... nhằm tạo động lực thúc đẩy mọi hoạt động giáo dục của nhà trường đạt
mục tiêu đề ra, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội.
1.2.2. Quản lý đội ngũ giảng viên
1.2.2. 1. Nguồn nhân lực và Quản lý nguồn nhân lực
* Nguồn nhân lực
Nhân lực là “ sức người, về mặt dùng trong lao động sản xuất ”[45]
Nguồn nhân lực là một khái niệm cơ bản, là đối tượng nghiên cứu của môn khoa học Quản lý tổ
chức: Môn quản trị học. Từ góc độ quản trị học, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn tài nguyên nhân
sự và các vấn đề nhân sự trong tổ chức cụ thể. Nguồn nhân lực chính là vấn đề nguồn lực con người,
nhân tố con người trong một tổ chức cụ thể nào đó. Điều này cũng có nghĩa là “ Nguồn nhân lực phải
được thừa nhận là nguồn vốn và là tài sản quan trọng nhất của mọi loại hình quy mô tổ chức ” [9]
Theo UNESCO “Con người vừa là mục đích, vừa là tác nhân của sự phát triển” và “Con người
được xem như là một tài nguyên, một nguồn lực hết sức cần thiết” [36]. Ngân hàng thế giới quan niệm
có hai loại vốn: “Vốn con người và vốn vật chất, trong đó sự phát triển vốn con người quyết định sự
phát triển của mọi vốn khác” [9]
* Quản lý nguồn nhân lực
Quản lý NNL là tìm mọi cách tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên trong tổ chức hoàn thành
tốt các mục tiêu chiến lược và kế hoạch của tổ chức, tăng cường cống hiến của mọi người theo khả
năng, phù hợp với chiến lược của tổ chức, đạo đức và xã hội [18].
Quản lý NNL là một chức năng quản lý của nhà quản lý, thể hiện trong việc lựa chọn, đào tạo,
xây dựng và phát triển các thành viên của tổ chức do mình phụ trách.
1.2.2.2. Đội ngũ giảng viên và Quản lý đội ngũ giảng viên
* Đội ngũ
Theo từ điển tiếng Việt: “Đội ngũ là tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại thành một lực lượng”;
“Đội ngũ là số đông người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực
lượng.” [45]
Đội ngũ là một tập hợp những cá nhân có liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định, có
tính chỉnh thể, có những thuộc tính và những quy luật tích hợp. Đội ngũ hàm chứa yếu tố sức mạnh và
có những yêu cầu chặt chẽ về cơ cấu, kỷ cương và chất lượng công việc. Ví dụ như đội ngũ công nhân,
đội ngũ các nhà khoa học, đội ngũ trí thức,...
Tóm lại, đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện
một chức năng hay nhiều chức năng, có thể có cùng nghề nghiệp hoặc không cùng nghề nghiệp nhưng
cùng có chung một mục đích nhất định.
* Đội ngũ giảng viên
Giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các trường Đại học và cao đẳng
[31]. Ở đây cần phân biệt khái niệm giảng viên – nhà giáo với khái niệm giảng viên – một chức danh
của giảng viên trường ĐH -CĐ là những người đủ tiêu chuẩn ngạch bậc của giảng viên.
Tiêu chuẩn các ngạch công chức bậc đại học (Ban hành kèm theo Quyết định số 538/TCCT –
BCTL ngày 18/12/1995 của Ban Tổ chức – Cán bộ chính phủ) đã quy định chức trách, yêu cầu, hiểu
biết và trình độ của giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp , trong đó ghi rõ: Giảng viên là
công chức chuyên môn đảm nhận việc giảng dạy và đào tạo của trường ĐH, CĐ thuộc một chuyên
ngành đào tạo của ĐH CĐ.
Giảng viên phải là những nhà giáo có đầy đủ các yêu cầu về phẩm chất đạo đức, năng lực giảng
dạy, trình độ chuyên môn và các yêu cầu khác đảm bảo được nhiệm vụ đào tạo ở bậc ĐH, CĐ.
Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục là một trong những lực lượng đông đảo trong đội
ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Nhà nước [15].
Đội ngũ giảng viên có vai trò nòng cốt trong sự phát triển của nhà trường bởi vì đội ngũ giảng
viên quyết định chất lượng sản phẩm tạo ra, là uy tín của trường đối với xã hội.
Như vậy, có thể hiểu: đội ngũ giảng viên là tập hợp những nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo
dục trong các nhà trường đại học và cao đẳng, họ gắn kết với nhau nhằm thực hiện mục tiêu chung của
ngành GD - ĐT và hoàn thành mục tiêu của các nhà trường đại học, cao đẳng nơi họ công tác. Lao
động của đội ngũ giảng viên là lao động trí óc, lao động khoa học, lao động đặc thù nhằm tạo ra sản
phẩm đặc biệt là con người đã được giáo dục và đào tạo.
* Chất lượng đội ngũ giảng viên
Chất lượng là tổng thể những thuộc tính khẳng định sự tồn tại của một con người, một sự vật, sự
việc và phân biệt nó với những con người, sự vật, sự việc khác.[63]
Chất lượng đội ngũ giảng viên là tổng thể những thuộc tính bản chất của đội ngũ được thể hiện
thông qua các yếu tố: Số lượng giảng viên, Cơ cấu giảng viên, Trình độ giảng viên, Năng lực giảng
viên, Phẩm chất giảng viên.
Giữa các yếu tố luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể mang tính hệ thống
nhằm thúc đẩy quá trình tồn tại, phát triển của đội ngũ giảng viên. Đồng thời trên cơ sở các yếu tố nêu
trên để xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đạt chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư
phạm, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, đồng thời bố trí cơ cấu phù hợp giữa
các đơn vị trong nhà trường.
* Quản lý đội ngũ giảng viên
Quản lý đội ngũ giảng viên là việc xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên vững mạnh cả về số
lượng và chất lượng, có đầy đủ phẩm chất trí tuệ, năng lực và trình độ chuyên môn để hoàn thành tốt
các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục và nghiên cứu khoa học.
1.3. Lý luận về đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm
1.3.1 Vị trí, vai trò, mục tiêu của trường Cao đẳng Sư phạm
Theo Quyết định số 38/QĐ ngày 15/01/1981 của Bộ giáo dục quy định về tổ chức trường CĐSP
(Điều I, Chương I) là một đơn vị cơ sở của ngành GD thuộc hệ thống GD đại học của nước CHXHCN
Việt Nam. Trường CĐSP đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Từ sau Cách
mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngành sư phạm nước ta đã phát triển nhanh chóng, cùng với sự
trưởng thành của dân tộc, của nền GD cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do
Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Bên cạnh hệ thống trường đại học Sư phạm, Trung học
Sư phạm,... thì hệ thống trường CĐSP đã đáp ứng kịp thời và hiệu quả nhiệm vụ ĐT, BD đội ngũ giáo
viên các môn học ở các cấp học, từ Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học đến CĐ, ĐH và trên ĐH.
Mục tiêu của trường CĐSP là đào tạo chuẩn mực, chất lượng cao cho giáo viên có trình độ cao
đẳng ở các cấp học, ngành học nhằm cung cấp NNL cho các trường từ mẫu giáo đến trung học cơ sở.
Bồi dưỡng chuẩn hóa và nâng chuẩn cho cán bộ và giáo viên từ mầm non đến trung học cơ sở nhằm
tạo điều kiện cho các nhà quản lý giáo dục và giảng viên không ngừng nâng cao trình độ, tiếp cận được
với những kinh nghiệm tiên tiến trong việc tổ chức giảng dạy và học tập ở nhà trường. Đa dạng hóa các
hình thức và ngành nghề đào tạo nhằm phục vụ rộng rãi nhu cầu phát triển nguồn nhân lực có trình độ
cao đẳng cho xã hội. Nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của giảng viên và chất
lượng trong hoạt động đào tạo của nhà trường.
1.3.2. Vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm
1.3.2.1. Vai trò của đội ngũ giảng viên trường sư phạm
Vai trò của nhà giáo đã được Luật giáo dục 2005 ghi rõ tại Điều 15 như sau: “Nhà giáo giữ vai trò
quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục; Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu
gương tốt cho người học” [31].
Khi nói đến vai trò của một giảng viên thường được xác định bởi ba chức năng chính: 1) Nhà
giáo; 2) Nhà khoa học; 3) Nhà hoạt động xã hội
Giảng viên là những người trực tiếp thực hiện và quyết định việc đổi mới, nâng cao chất lượng
đào tạo nhằm cung cấp cho xã hội NNL có trình độ khoa học kỹ thuật, tay nghề cao. Họ còn là những
người trực tiếp tham gia nghiên cứu khoa học. Vì vậy chỉ khi nào chú trọng tới nâng cao chất lượng
ĐNGV mới có thể nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường và đáp ứng yêu cầu xã hội.
Có thể nói, cũng như trong tất cả các trường sư phạm ở các bậc học, đội ngũ GV trường sư phạm
là lực lượng trực tiếp thực hiện công tác GD - ĐT và xây dựng trường sư phạm, là nguồn lực – một
trong ba nguồn lực quan trọng, có vai trò quyết định cho sự vận hành và bảo đảm chất lượng GD - ĐT
theo mục tiêu đã xác định.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “cán bộ giảng dạy ở các trường ĐHSP, CĐSP… là thầy của
những người thầy… nhưng để thực hiện được vai trò vẻ vang của mình trước hết: “Thầy phải xứng
đáng là thầy, thầy phải được lựa chọn cẩn thận vì không phải ai cũng làm thầy được.” [40].
Đội ngũ GV là lực lượng chủ yếu, giá trị cơ bản cũng như vốn quý nhất của trường ĐH và CĐ,
với tri thức tài nghệ và kinh nghiệm, sự hiểu biết sâu sắc về bản chất quá trình ĐT, là nhân vật trung
tâm trong trường sư phạm quyết định chất lượng và hiệu quả GD - ĐT, góp phần hình thành mô hình
nhân cách nhà chuyên môn có trình độ cao theo mục tiêu ĐT bằng giảng dạy, giáo dục và tổ chức cuộc
sống cho sinh viên.
1.3.2.2. Nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm
Tại Điều 27, Điều lệ trường Cao đẳng ban hành kèm theo Thông tư số 14/2009/TT – BGDĐT
ngày 25/08/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi nhiệm vụ của giảng viên, gồm 7 nhiệm vụ:
1) Giảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước. Thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quy chế tổ chức hoạt động của
trường và các quy định khác do Hiệu trưởng ban hành.
2) Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà trường
quy định; viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy học tập theo sự phân công của trường,
khoa, bộ môn;
3) Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp giảng dạy và
nghiên cứu khoa học;
4) Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng chuyển giao công nghệ theo
sự phân công của trường, khoa, bộ môn;
5) Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người học, hướng dẫn người học trong học tập, nghiên cứu
khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo đức tác phong, lối sống;
6) Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng
đào tạo;
7) Hoàn thành tốt các công tác khác được trường, khoa, bộ môn giao.
Ngoài 7 nhiệm vụ đã được ghi trong Điều lệ, đội ngũ giảng viên nói chung và đội ngũ giảng viên
trường Cao đẳng sư phạm nói riêng phải luôn phấn đấu, tu dưỡng để trở thành những nhà giáo mẫu
mực, đồng thời có nhiệm vụ giáo dục cho sinh viên lý tưởng nghề nghiệp, từ đó nhận thức đúng đắn về
nghề nghiệp, vai trò, vị trí của mình trong tương lai.
1.4. Những yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm
1.4.1. Yêu cầu về phẩm chất
Phải có lý tưởng, tình cảm và đạo đức nghề nghiệp cao thượng, trong sáng; Yêu thương, quý
trọng các thế hệ học trò. Mỗi giảng viên phải đích thực là những tấm gương sáng để các thế hệ sinh
viên noi theo. Điều đó đòi hỏi GV phải không ngừng tự rèn luyện, tự cải tạo như Bác Hồ đã từng dạy:
“Chúng ta cần phải chính tâm, tu thân…” và “… muốn cải tạo xã hội thì phải cải tạo mình” [40].
1.4.2. Yêu cầu về năng lực Sư phạm
Năng lực sư phạm là bộ phận không thể thiếu được trong cấu trúc nhân cách của nhà sư phạm,
được biểu hiện ở năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực tự hoàn thiện. Năng lực sư phạm là
tổng hợp những đặc điểm tâm lý của cá nhân, đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sư phạm và quyết
định sự thành công trong việc nắm vững các hoạt động ấy.
Năng lực sư phạm của nhà giáo trước hết là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học và giáo
dục đạt kết quả với chất lượng cao; là tổ hợp hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thể hiện năng lực sư
phạm; khả năng lĩnh hội và vận dụng sáng tạo tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó trong những trường hợp cụ
thể, kể cả những xu hướng nghề nghiệp sư phạm tích cực, bao gồm: khả năng khơi dậy ở sinh viên say
mê học tập, khát khao hướng thiện; khả năng định hướng, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển, điều chỉnh,
vận động, cổ vũ cho người học và quá trình học tập, rèn luyện của người học; khả năng truyền đạt, sử
dụng ngôn ngữ, quan sát, phán đoán, đánh giá,...; khả năng giao tiếp, sự khéo léo trong ứng xử sư
phạm; có lòng yêu nghề, có hứng thú giảng dạy và giáo dục cho học sinh; tích cực cải tiến, đổi mới
hoạt động dạy học, làm cho học sinh hứng thú trong việc tìm tòi, khám phá cái mới, cái đẹp, phát huy
được tài năng và khả năng sáng tạo của con người.
Về trình độ chuyên môn, giảng viên phải đạt chuẩn về trình độ theo quy định. Có kiến thức vững
vàng, sâu rộng về chuyên môn trong đó kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết thực tế và kinh nghiệm,
giữa nhận thức và thực hành. Hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trên cơ sở hệ thống tri thức mà người
giảng viên được trang bị. Đồng thời GV cần có kiến thức rộng rãi về xã hội và về các ngành khoa học
khác làm phong phú và sâu sắc hơn cho nội dung giảng dạy.
Về trình độ nghiệp vụ, Giảng viên phải có kiến thức cơ bản về khoa học giáo dục đại học; Các kiến
thức cơ bản về tâm lý học dạy học, đặc điểm tâm lý người học, lý luận và phương pháp, kỹ năng dạy
học đại học; Các phương pháp cơ bản về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
Giảng viên phải sử dụng thành thạo các kỹ năng về xây dựng đề cương chi tiết môn học và soạn
thảo các bài giảng cụ thể; Các kỹ năng sư phạm cơ bản về phương pháp đánh giá kết quả học tập của
sinh viên, phương pháp dạy học, phát triển chương trình giáo dục đại học, cách sử dụng các phương
tiện kỹ thuật tiên tiến vào dạy học; Các kỹ năng phân tích, tổng hợp và đánh giá quá trình dạy học; kỹ
năng đọc, viết, trình diễn và giao tiếp trong quá trình dạy học; Các kỹ năng tổ chức và quản lý trường
đại học (cấp bộ môn, khoa), quản lý sinh viên theo quy định và nhiệm vụ của giảng viên.
1.5. Lý luận về công tác quản lý đội ngũ giảng viên
1.5.1. Ý nghĩa của công tác quản lý đội ngũ giảng viên
Đội ngũ cán bộ, GV là nguồn nhân lực chính của trường sư phạm. Quản lý đội ngũ GV có tầm
quan trọng đặc biệt. Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 đã xác định: “đổi mới chương trình
giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo là các giải pháp trọng tâm; đổi mới quản lý giáo dục là khâu đột
phá”. Thông qua công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng viên mà chủ thể quản lý có thể ổn định về
số lượng, cơ cấu đội ngũ GV, tạo một bộ máy làm việc với hiệu quả cao, phát huy khả năng, năng lực
của mọi thành viên trong đội ngũ, xây dựng thành một tập thể sư phạm đoàn kết, có văn hóa, có phẩm
chất chính trị vững vàng, làm cho mọi thành viên trong đội ngũ luôn sẵn sàng tiếp cận với những đổi
mới trong chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo theo yêu cầu của ngành học và của xã
hội.
1.5.2. Chức năng của công tác quản lý đội ngũ giảng viên
Theo Tiến sĩ Hồ Văn Liên: “Trong quá trình điều hành, người quản lý tiến hành nhiều hoạt động
khác nhau. Nghiên cứu những hoạt động này người ta đã cố gắng tách riêng từng hoạt động ra, dựa
trên tính tương đối độc lập của mỗi hoạt động. Mỗi hoạt động tương đối độc lập được tách ra trong
hoạt động quản lý được gọi là chức năng quản lý.”[26] Có thể nói, chức năng quản lý là hình thái biểu
hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý. Chức năng quản lý nảy sinh
và là kết quả của quá trình phân công lao động, là bộ phận tạo thành hoạt động quản lý tổng thể, được
tách riêng, có tính chất chuyên môn hóa.
Tất cả các nhà quản lý đều thực hiện 4 chức năng: Hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
Bốn chức năng đó thực chất là một chuỗi công việc kế tiếp nhau theo một cấu trúc vòng khép
kín mà người ta gọi là chu trình quản lý. Trong quá trình quản lý, chu trình này luôn được lặp lại.
1.5.2.1. Chức năng hoạch định
Hoạch định là chức năng đầu tiên của quá trình quản lý. Nó có vai trò quan trọng là xác định
phương hướng hoạt động và phát triển của tổ chức, xác định các kết quả cần đạt được trong tương lai.
Hoạch định là một quá trình gồm các bước: Dự báo, xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch thực hiện
mục tiêu.
a. Dự báo
Dự báo là công việc bắt đầu của chức năng hoạch định. Nó có nhiệm vụ tìm ra hướng hoạt động
và phát triển của nhà trường trên cơ sở nắm vững đường lối phát triển kinh tế - xã hội - giáo dục của
Đảng và Nhà nước, của địa phương, hiểu biết thị trường (hàng hóa, lao động ...), nhu cầu đào tạo, sự
cạnh tranh và đặc biệt là phân tích kỹ về điểm mạnh và điểm yếu của nhà trường về đào tạo, sản xuất,
về cán bộ, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn...chỉ trên cơ sở phân tích kỹ nhu cầu và khả năng người quản lý
mới có thể xác định được đúng phương hướng hoạt động và phát triển của nhà trường nói chung và
ĐNGV nói riêng.
Trong dự báo công tác quản lý đội ngũ giảng viên, cần chú ý về số lượng, cơ cấu giảng viên
theo từng loại chức danh chuyên môn; yêu cầu về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo từng
loại chức danh chuyên môn.
Dự báo có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tương lai. Vì vậy, để cho dự báo được
chính xác hơn, cần loại trừ tính chủ quan của người dự báo.
Dự báo quản lý đội ngũ giảng viên là một trong những cơ sở cần thiết, quan trọng và có ý nghĩa
to lớn trong việc xây dựng kế hoạch tổng thể, dài hạn của nhà trường, giúp nhà quản lý thoát khỏi tư
duy kinh nghiệm, trực giác và là một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển
giáo dục của nhà trường.
b. Xác định mục tiêu
Dựa vào kết quả đoán định phương hướng phát triển, người quản lý xác định mục tiêu quản lý
ĐNGV đủ và đồng bộ, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật và cải thiện đời sống.
Theo Đại từ điển tiếng Việt: “mục tiêu là đích đặt ra cần đạt phải đạt tới đối với một công tác,
nhiệm vụ.”[45] Mục tiêu quản lý trường học là trạng thái được xác định trong tương lai của nhà trường
hoặc một số yếu tố cấu thành nó.
Mục tiêu quản lý đội ngũ giảng viên là “xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên của trường
có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, tiêu
chuẩn hóa về trình độ, bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế hệ giảng viên của nhà trường.”[16] Theo
phân tích của các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục, có thể cụ thể hóa yêu cầu về số lượng,
chất lượng và cơ cấu đội ngũ giảng viên như sau:
- Đủ về số lượng
Mục tiêu về số lượng giảng viên ở trường CĐ, ĐH phải đảm bảo theo yêu cầu mà Chiến lược
phát triển giáo dục 2001-2010 đã nêu là 20 sinh viên/giảng viên. Trong đó, với các ngành khoa học tự
nhiên là từ 10-15 sinh viên/giảng viên, các ngành khoa học xã hội là 20-25 sinh viên/giảng viên. Ngoài
ra, các trường CĐ, ĐH cũng phải căn cứ Hướng dẫn cách xác định số sinh viên, học sinh quy đổi trên 1
giảng viên, giáo viên quy đổi ban hành theo Công văn 1325/BGDĐT-KHTC ngày 09/02/2007 của Bộ
GD-ĐT, để xây dựng biên chế đội ngũ giảng viên.
- Đạt chuẩn về chất lượng
Chuẩn về chất lượng đội ngũ giảng viên cũng được quy về ba khía cạnh chung, đó là: chuẩn về
trình độ chuyên môn sư phạm (học vấn); chuẩn về nghiệp vụ sư phạm và chuẩn về đạo đức tư cách
người thầy.
- Đồng bộ về cơ cấu
Cơ cấu đội ngũ giảng viên được xét trên các sự tương thích về giới nam nữ, về giảng dạy theo bộ
môn, về tuổi đời, trình độ nghiệp vụ sư phạm (người có tay nghề cao và người bình thường).
Ngoài ra, khi xây dựng tiêu chuẩn giảng viên cần dựa vào tiêu chuẩn chung của cán bộ quy định
tại Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ III, khóa VIII, và tiêu chuẩn cụ thể từng chức
danh do Bộ GD&ĐT quy định.
Mục tiêu có các vai trò làm nền tảng cho hoạch định, nhằm xây dựng hệ thống quản lý và quyết
định toàn bộ diễn biến của tiến trình quản lý. Vì vậy, khi xác định mục tiêu quản lý đội ngũ giảng viên,
người hiệu trưởng cần đáp ứng các yêu cầu: đảm bảo tính liên tục và kế thừa; phải rõ ràng bằng các chỉ
tiêu định lượng là chủ yếu; nên có sự kỳ vọng và tiên tiến để thể hiện được sự phấn đấu của các thành
viên; cần xác định mục tiêu trọng tâm để tập trung các nguồn lực; xác định rõ thời gian thực hiện và có
các kết quả cụ thể.
c. Xây dựng kế hoạch
“Kế hoạch là điều vạch ra với các mục tiêu và cách thức để đạt được mục tiêu trong thời gian
nhất định.” [45]
Nếu chỉ tuyên bố về các mục tiêu đã lựa chọn thì nó vẫn chỉ là những ước muốn và hy vọng, mặc
dù có tính toán, nghiên cứu kỹ lưỡng. Muốn biến các mục tiêu thành hiện thực thì phải lập kế hoạch.
Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực (nhân lực-vật lực-tài lực) và thời
gian, không gian...cần cho việc hoàn thành các mục tiêu.
Tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi người quản lý phải tìm ra đủ các nguồn lực và điều kiện để
thực hiện mỗi mục tiêu. Nó cũng không cho phép tập trung các nguồn lực và điều kiện cho việc thực
hiện mục tiêu này mà bỏ mục tiêu khác đã lựa chọn. Cân đối giữa hệ thống mục tiêu và các nguồn lực
và điều kiện thực hiện chúng, hay nói khác đi, cân đối giữa yêu cầu và khả năng đòi hỏi người quản lý
phải nắm vững khả năng mọi mặt của tổ chức mình, kể cả các tiềm năng có thể có, thấu hiểu từng mục
tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu.
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, các phương tiện quản lý, đặc biệt là các nguồn thông tin khác từ
công tác điều tra và nghiên cứu; hiệu trưởng xây dựng kế hoạch cụ thể cho công tác quản lý đội ngũ
giảng viên, trong đó thể hiện được các nội dung về quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, sự quan tâm đãi
ngộ, sự sàng lọc, đào tạo bồi dưỡng, công tác phối hợp quản lý đội ngũ giảng viên,... và các điều kiện
về nguồn lực khác, để đảm bảo cho công tác quản lý đội ngũ giảng viên đạt đến mục tiêu về số lượng,
chất lượng, cơ cấu. Nội dung của kế hoạch quản lý đội ngũ giảng viên phải xác định và đảm bảo chắc
chắn về các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực), lựa chọn các phương án và biện pháp tối ưu để thực
hiện tốt kế hoạch đề ra. Kế hoạch phải thể hiện cụ thể, rõ ràng, phản ánh được hoạt động chung của
nhà trường ở từng thời điểm nhất định (từng năm, từng học kỳ, từng tháng,..), đồng thời cho thấy được
trách nhiệm của từng thành viên trong nhà trường.
Sản phẩm quan trọng của chức năng hoạch định là kế hoạch. Có ba loại kế hoạch: kế hoạch chiến
lược (giải quyết mục tiêu chiến lược); kế hoạch chiến thuật (giải quyết mục tiêu chiến thuật); kế hoạch
tác nghiệp (giải quyết mục tiêu tác nghiệp). Vì vậy, kế hoạch được xây dựng chặt chẽ, khoa học sẽ
mang tính khả thi cao. Đây cũng đòi hỏi sự đầu tư thỏa đáng về trí tuệ, thời gian của nhà quản lý nhằm
đáp ứng yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên cho nhà trường theo mục tiêu đề ra.
1.5.2.2. Chức năng tổ chức
Tổ chức là một khâu trong chu trình quản lý, là một chuỗi hoạt động diễn ra trong một giai đoạn
của quá trình quản lý.
Hoạt động tổ chức trước hết và chủ yếu là xây dựng cơ cấu tổ chức: xác định các bộ phận cần có,
thiết lập mối quan hệ ngang và dọc của các bộ phận, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
từng bộ phận: xây dựng qui chế hoạt động.
Một cơ cấu tổ chức được coi là hợp lý khi nó tuân thủ nguyên tắc thống nhất trong mục tiêu. Mỗi
cá nhân đều góp phần công sức vào các mục tiêu chung của tổ chức, đạt mục tiêu đó với mức chi phí
tối thiểu cho bộ máy và cho mọi hoạt động.
Việc ổn định cơ cấu, giao nhiệm vụ, quyền hạn cho các bộ phận luôn đi đôi với việc xác định
khối lượng công việc và kéo theo sự phân phối nguồn lực, thiết lập bộ máy quản lý và thực hiện
chuyên môn hóa cho các bộ phận của tổ chức.
Tổ chức ĐNGV thực hiện trước hết là việc xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định vai trò nhiệm vụ
của các đơn vị và giảng viên trong nhà trường nhằm bảo đảm sự phù hợp, ăn khớp giữa các hoạt động.
Tổ chức ĐNGV giúp nhà quản lý xác định được biên chế và sắp xếp con người phù hợp với khối
lượng công việc. Tạo điều kiện cho các giảng viên hoạt động tự giác, sáng tạo.
Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý đội ngũ giảng viên, trước hết người hiệu trưởng phải
xác định và phân loại các hoạt động cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu về đảm bảo số lượng,
chất lượng và cơ cấu đội ngũ giảng viên (như đã nêu trong kế hoạch); hình thành cơ cấu tổ chức, như
việc thành lập các khoa, phòng, các bộ phận chuyên môn khác,...như thế nào cho phù hợp với điều kiện
thực tế và nhu cầu phát triển của nhà trường; phân nhiệm và phân quyền rành mạch cho các bộ phận,
tránh chồng chéo để họ chủ động và phát huy tốt vai trò trách nhiệm của mình trong quản lý con người,
quản lý hoạt động chuyên môn; ràng buộc các bộ phận theo chiều dọc và chiều ngang trong các mối
quan hệ về trách nhiệm, quyền hạn và thông tin.
Như vậy, nội dung của chức năng tổ chức quản lý đội ngũ giảng viên bao gồm việc xây dựng cơ
cấu tổ chức quản lý của nhà trường (đảm bảo các nguyên tắc tầm quản lý được, tính đẳng cấu, rành
mạch, tiết kiệm và chuyên môn hóa); xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đảm bảo
chất lượng và đồng bộ về cơ cấu; xây dựng các mối quan hệ trong tổ chức; phân công và tổ chức lao
động cho đội ngũ giảng viên một cách khoa học, tối ưu.
1.5.2.3. Chức năng chỉ đạo
Sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu đã được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng, sắp
xếp thì phải có người lãnh đạo dẫn dắt, điều khiển. Đó là quá trình tập hợp, liên kết các thành viên
trong tổ chức; theo sát hoạt động của bộ máy, điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh công việc hợp lý, nhịp
nhàng; động viên, khuyến khích các thành viên hoàn thành nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu của tổ
chức. Nó kết nối, thẩm thấu và đan xen vào hai chức năng trên.
“Chỉ đạo là hướng dẫn theo đường hướng, chủ trương nhất định.” [63]
Chỉ đạo là thể hiện tính tích cực của người chỉ huy trong hoạt động của mình. Chỉ đạo thực hiện
kế hoạch là có sự theo dõi và giám sát công việc để chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận và các hoạt động
đội ngũ giảng viên diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp được các lực lượng giáo dục trong một
tổ chức và phối hợp tối ưu với nhau.
Trong khi thực hiện kế hoạch có thể có một số vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn cần phải điều
chỉnh cho hợp lý hơn. Người quản lý bám sát hiện trường, phân tích nhanh chóng các vấn đề thực tiễn
để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa, bù đắp, chỉnh lý kế hoạch để hoạt động giáo dục đạt hiệu quả tối ưu.
Muốn chỉ đạo tốt người quản lý cần thu thập thông tin chính xác, biết phân tích, xử lý các nguồn
thông tin và đưa ra các quyết định đúng đắn. Điều đó nếu thực hiện tốt sẽ nâng cao uy tín của người
lãnh đạo, còn ngược lại thì sẽ làm giảm uy tín. Nguồn thu tập thông tin quan trọng đó là kiểm tra, kiểm
kê, thanh tra, đánh giá .
Trong quản lý đội ngũ giảng viên, chức năng chỉ đạo có thể coi là quá trình quyết định, là kỹ
năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định quản lý của hiệu trưởng đối với đối tượng quản lý.
Điều quan trọng là người Hiệu trưởng phải thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm
vụ, bảo đảm thiết thực và cụ thể với khả năng và trình độ của từng thành viên trong tổ chức. Năng lực
quản lý của Hiệu trưởng có ý nghĩa quyết định đối với việc chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực.
Người hiệu trưởng phải biết cách tập hợp các thành viên trong nhà trường, trong đó chú trọng đến đội
ngũ giảng viên, làm sao cho mối quan hệ giữa các bộ phận, cá nhân trong nhà trường liên kết chặt chẽ,
thống nhất về ý chí hành động; đồng thời phải biết động viên lực lượng này nỗ lực phấn đấu hoàn
thành mục tiêu chung và mục tiêu về quản lý đội ngũ giảng viên.
1.5.2..4. Chức năng kiểm tra
“Kiểm tra chỉ một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức
trong quá trình thực hiện quyết định.” [23]
Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Lãnh đạo mà không kiểm tra thi coi
như không lãnh đạo. Theo lý thuyết hệ thống kiểm tra chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản
lý [23]. Kiểm tra trong quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm thực hiện ba chức năng : phát hiện,
điều chỉnh và khuyến khích. Nhờ có kiểm tra mà người cán bộ quản lý có được thông tin để đánh giá
được thành tựu công việc và uốn nắn, điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng nhằm đạt mục tiêu.
Trong quản lý đội ngũ giảng viên, để thực hiện các yêu cầu về kiểm tra, đánh giá nêu trên, người
hiệu trưởng cần phải chú trọng việc rà soát số lượng giảng viên đã đủ theo yêu cầu của quy mô đào tạo
chưa để có giải pháp khắc phục. Lãnh đạo nhà trường phải tăng cường công tác kiểm tra nội bộ trường
học (qua dự giờ thăm lớp) để tác động vào ý thức tự bồi dưỡng của giảng viên và khơi dậy sự giúp đỡ
lẫn nhau của tập thể sư phạm; phát hiện những cá nhân có năng lực, phẩm chất, tạo điều kiện để họ
phấn đấu và cống hiến tài năng và trí lực của mình cho sự phát triển của nhà trường; đồng thời nhắc
nhở, uốn nắn những cá nhân chưa hoàn thành nhiệm vụ để họ khắc phục những hạn chế, vươn lên
trong công tác. Mặt khác, nhà quản lý cần đánh giá được sự mất cân đối trong cơ cấu giảng viên của
trường, để đề xuất các giải pháp tháo gỡ kịp thời.
Một chu trình quản lý, cả bốn chức năng trên phải thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau; phối hợp
bổ sung cho nhau, tạo sự kết nối từ chu trình này sang chu trình sau theo hướng phát triển. Trong đó,
yếu tố thông tin luôn giữ vai trò xuyên suốt, không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản
lý.
1.5.3. Nội dung của công tác quản lý đội ngũ giảng viên
1.5.3.1. Quy hoạch đội ngũ giảng viên
Quy hoạch cán bộ là quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp để tạo nguồn, xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nhằm đảm bảo yêu cầu nhiệm
vụ chính trị trong một thời gian nhất định
Quy hoạch giảng viên là sự chuẩn bị thận trọng, công phu, có tầm nhìn xa, có quan điểm rõ ràng
trong sự đánh giá, lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp đội ngũ, đảm bảo chất lượng, đủ số
lượng, đồng bộ về cơ cấu tổ chức nhằm phục vụ tốt nhất cho quá trình xây dựng và phát triển của nhà
trường trong từng giai đoạn.
Công tác quy hoạch, rà soát, bố trí, sắp xếp tổ chức và ĐNGV có ý nghĩa rất quan trọng trong sự
phát triển của nhà trường. Công tác quy hoạch ĐNGV mang tính kế hoạch rất cao, đó là kế hoạch về sự
tuyển chọn, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng con người bằng công việc, qua công việc. Thông qua quy
hoạch nhằm điều chỉnh, bổ sung về số lượng, chất lượng ĐNGV giúp có được ĐNGV đủ về số lượng,
đồng bộ về cơ cấu và đạt chuẩn về trình độ.
Trong công tác quy hoạch đội ngũ GV cần quán triệt những quan điểm của Đảng, bảo đảm
nguyên tắc tập thể, dân chủ đi đôi với việc phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức,
đơn vị. Quy hoạch đội ngũ GV phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị của nhà trường, trên cơ sở phân
tích, đánh giá thực trạng đội ngũ GV hiện có, dự kiến khả năng phát triển của họ và tính đến khả năng
bổ sung nguồn từ bên ngoài.
Việc bố trí, sử dụng ĐNGV luôn gắn liền với xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy. Quy hoạch, rà
soát, bố trí, sắp xếp tổ chức bộ máy và ĐNGV một cách khoa học, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cụ
thể của nhà trường sẽ luôn mang lại chất lượng mới cho đội ngũ giảng viên và đảm bảo sự đoàn kết
nhất trí trong tập thể lãnh đạo và trong toàn trường. Quy hoạch tổng thể đội ngũ GV cần làm rõ số
lượng, yêu cầu trình độ học vấn, cơ cấu chuyên môn của từng ngành ĐT, làm cơ sở cho việc lập kế
hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng GV trong từng giai đoạn phát triển của nhà trường.
1.5.3.2. Tuyển dụng, sử dụng đội ngũ giảng viên
“Tuyển dụng là công việc xét chọn người thích hợp và nhận vào làm việc.”[45].
Việc tuyển dụng giảng viên phải đảm bảo nhiều yếu tố quan trọng như đảm bảo tính phân cấp
tính công khai, minh bạch trong quy trình tuyển dụng, tiêu chí tuyển dụng hợp lý, đảm bảo tính hợp lý
giữa các bộ môn, đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ giảng viên, để thực hiện
mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Việc bố trí, sử dụng GV là một trong những nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo của
nhà trường. Việc sử dụng GV phải đảm bảo công khai, dân chủ, khách quan, tránh cách làm tùy tiện,
áp đặt. Bố trí, sử dụng GV phải đúng người, đúng việc, đúng chuyên môn, sở trường, bảo đảm tính liên
tục, tính kế thừa, kết hợp chặt chẽ với công tác thi đua, khen thưởng kỷ luật kịp thời, nghiêm minh.
1.5.3.3. Quản lý hoạt động giảng dạy và NCKH của đội ngũ giảng viên
Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên thể hiện ở việc phân công tác tại đơn vị, đảm bảo
công việc luôn thực hiện theo đúng kế hoạch, công tác tổ chức tốt giúp giảng viên hoàn thành được
nhiệm vụ được giao. Trong quá trình tổ chức luôn có sự kiểm tra, giám sát để từ đó có những quyết
định điều chỉnh kịp thời.
NCKH là quá trình đầu tư trí tuệ, công sức để giải quyết một vấn đề đặt ra. Công tác NCKH
được coi là một nhiệm vụ quan trọng trong nhà trường, nhất là đối với giảng viên các trường ĐH, CĐ.
Khác với giáo dục phổ thông, ĐNGV của trường ĐH, CĐ phải tham gia nghiên cứu khoa học. Ngoài ra
còn phải biết hướng dẫn sinh viên bước đầu làm quen với công tác này. Chính vì vậy mỗi giảng viên
cần phải có năng lực nghiên cứu khoa học vững vàng (nắm chắc phương pháp luận NCKH; hướng dẫn
sinh viên biết phát hiện ra những vấn đề cần nghiên cứu …), cần phải hiểu rằng NCKH cũng là để
nâng cao chất lượng đội ngũ.
Có thể thấy, nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản là giảng dạy, và nghiên cứu khoa học. Mức độ hiệu
quả của các hoạt động này cũng là tiêu chí đánh giá chất lượng ĐNGV. Tuy nhiên đây là những nội
dung khó đánh giá chính xác theo định lượng. Hoạt động này chịu nhiều nhân tố tác động, trong đó các
năng lực nội sinh và yếu tố tích cực, tự giác, chủ động tự bồi dưỡng đóng vai trò quan trọng. Chính vì
vậy, trong quản lý hoạt động giảng dạy, cần chú trọng việc giảng viên thực hiện đổi mới nội dung,
chương trình, giáo trình, phương pháp, kỹ năng giảng dạy và giáo dục theo hướng hiện đại và phù hợp
với thực tiễn của đất nước và đặc thù của địa phương. Trong quản lý NCKH cần đánh giá năng lực
nghiên cứu khoa học của giảng viên phải dựa trên tinh thần khoa học, khách quan, đánh giá đúng chất
lượng những sản phẩm trí tuệ của họ sáng tạo ra . Hiện nay khi đánh giá, phân loại giảng viên tiêu chí
năng lực nghiên cứu khoa học đã được quan tâm nhiều hơn để đánh giá một cách đầy đủ về việc thực
hiện nhiệm vụ của giảng viên.
1.5.3.4. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
“Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức hình thành và phát triển hệ thống các tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể
vào đời hành nghề một cách năng xuất, hiệu quả” [42]
Tổ chức Khoa học văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) định nghĩa: “Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng
cao nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức và kỹ
năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”[36]. “Bồi
dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc lạc hậu trong một cấp học,
bậc học và trường học được xác nhận bằng một chứng chỉ.” [35]
Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên thực chất là xây dựng và phát triển
nguồn nhân lực cho giáo dục. Đào tạo và bồi dưỡng là hai mặt của một thể thống nhất, trong đó bồi
dưỡng giảng viên với ý nghĩa đào tạo tiếp tục là yêu cầu cấp thiết để nâng cao trình đọ chính trị,
chuyên môn nghiệp vụ và đổi mới cơ cấu tri thức. Vì vậy người lãnh đạo phải nhận thức đúng đắn mối
quan hệ bản chất giữa “dùng người” và “bồi dưỡng người”, “bồi dưỡng người” là để “dùng người” tốt
hơn nữa, người quản lý phải có tầm nhìn chiến lược, phải coi trọng việc đầu tư trí tuệ cho đội ngũ
giảng viên, CBQL.
Xã hội hiện nay đang hướng đến tới xây dựng “một xã hội học tập” và “học tập suốt đời” thì việc
đào tạo, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng là điều tất yếu và nó phải trở thành nhu cầu của mỗi cá nhân.
Trong bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, công tác đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ giảng viên càng phải được chú trọng hơn lúc nào hết. Chỉ thị số 40-CT/TW, ngày
15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Tiến hành xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào
tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, bảo đảm số
lượng, nâng cao chất lượng, cân đối về cơ cấu, đạt chuẩn, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.” [1]
1.5.3 5. Kiểm tra, đánh giá đội ngũ giảng viên
Công tác quản lý, điều hành luôn song hành cùng với công tác kiểm tra, đánh giá. Kiểm tra, đánh
giá ĐNGV có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng viên. Thực hiện tốt biện pháp
kiểm tra đánh giá không những giúp đánh giá thực chất ĐNGV, mà qua đó còn động viên khuyến
khích ĐNGV nỗ lực vươn lên, giúp tìm ra những phương hướng, biện pháp khắc phục những hạn chế
yếu kém của đội ngũ.
Thông qua kiểm tra, đánh giá giúp lãnh đạo nhà trường tìm ra những nguyên nhân, những ưu
điểm, hạn chế của ĐNGV, làm rõ năng lực, trình độ, kết quả công tác, phẩm chất đạo đức làm căn cứ
bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đề bạt, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chính sách đối với giảng viên cũng
như có những quyết định quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV.
1.5.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý ĐNGV
1.5.4.1. Yếu tố chủ quan
a. Trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý
Quản lý là quá trình ràng buộc và xử lý đối với sự vật trong phạm vi quyền lực; là quá trình tiến
hành chỉnh lý và xử lý về nhân lực, vật lực và các tài nguyên khác nhằm thực hiện mục tiêu xác định.
Lãnh đạo là hoạt động quản lý con người của người lãnh đạo; thống nhất điều khiển và hướng dẫn
người bị quản lý nhằm thực hiện mục tiêu nhất định. Lãnh đạo có thuộc tính nói chung là kế hoạch, tổ
chức, khống chế quản lý.
Quản lý không còn là một chức quyền mà là một chức nghiệp, là một dạng hoạt động có vai trò
quan trọng góp phần tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Lao động quản lý trở thành một ngành lao động
độc lập; bao gồm các yếu tố; con người sử dụng công cụ tác động vào đối tượng nhằm tạo ra (gián
tiếp) sản phẩm hoặc là cải biến đối tượng theo nhu cầu của con người trong một môi trường nhất định.
Đặc điểm của lao động quản lý là loại lao động trí óc sáng tạo, có tính cộng đồng; mang tính gián
tiếp trong quá trình lao động; Là một dạng hoạt động thực tiễn. Bản chất của nó không phải là “biết”
mà là “làm”. Việc chứng minh sự đúng đắn của quản lý không phải là bằng nghiên cứu logic mà là kết
quả thực tế của công việc. Và là loại lao động phức hợp. Đối tượng của quá trình quản lý là một hệ
thống bao gồm nhiều người, nhiều sự vật và sự việc với nhiều quy mô, cấp độ khác nhau và luôn biến
động. Lao động quản lý đòi hỏi người quản lý phải có kiến thức tổng hợp và vận dụng tổng hợp hiểu
biết về nhiều lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật, chính trị, pháp lý, tâm lý, giáo dục, ngoại
giao, văn hoá…
Chính vì vậy hiệu quả quản lý đội ngũ giảng viên, trước tiên phụ thuộc vào nhận thức, trình độ tổ
chức và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ quản lý ở các cấp. Bên cạnh trình độ chuyên
môn, người cán bộ quản lý còn là người có trình độ tổ chức, khả năng xử lý linh hoạt các tình huống
thực tế, là người thức thời, nhạy bén với thời cuộc, khả năng năm bắt tâm lý con người, … điều đó đòi
hỏi cái tâm, cái tầm của nhà quản lý phải cao. Nói cách khác nghệ thuật quản lý của nhà quản lý tác
động rất lớn đến hiệu quả quản lý đội ngũ giảng viên.
b. Trình độ, năng lực, phẩm chất của giảng viên
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ. Con người – nhân tố hàng đầu của sự
phát triển kinh tế xã hội đang được chính phủ các nước dành sự quan tâm đặc biệt. Trong bối cảnh đó
vai trò của nhà trường càng trở nên quan trọng. Nhân tố đầu tiên tạo nên bộ mặt nhà trường lại chính
là ĐNGV, những người được xã hội giao phó trọng trách đào tạo thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai
của xã hội. Từ đó, đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải đáp ứng các yêu cầu về trình độ, năng lực và phẩm
chất tốt.
Hiệu quả của công tác quản lý đội ngũ giảng viên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ trình độ, năng lực,
phẩm chất của đội ngũ giảng viên. Do vậy, quản lý đội ngũ giảng viên phải có những biện pháp kích
thích, tạo động lực cho đội ngũ này luôn phát triển. Bản thân người giảng viên phải có ý chí, hoài bão
vươn lên; không ngừng phấn đấu, học tập, tu dưỡng và rèn luyện nhân cách, thực sự là tấm gương sáng
cho thế hệ trẻ noi theo.
1.5.4..2. Yếu tố khách quan
a. Quan điểm, chủ trương về quản lý giảng viên
Với quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đảng, Nhà nước ta đã có rất nhiều chủ
trương chính sách quan tâm, ưu đãi đối với sự nghiệp GD-ĐT của nước nhà. Điều đó thể hiện qua các
nghị quyết, chỉ thị, quyết định,...về phát triển nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Đây là căn cứ để
các cấp quản lý giáo dục quán triệt và cụ thể hóa bằng các văn bản hướng dẫn thực hiện. Đây cũng là
cơ sở để các nhà quản lý giáo dục hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch về phát triển đội ngũ
giảng viên cho phù hợp với yêu cầu phát triển của nhà trường trong từng thời kỳ.
b. Các điều kiện đảm bảo
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, sự đòi hỏi chất lượng giáo dục ngày
càng cao, để đạt tới mục tiêu thì công tác quản lý đội ngũ giảng viên cũng không thể tách rời các điều
kiện đảm bảo về nội dung chương trình và phương pháp đào tạo; về cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ
thống thông tin phục vụ cho việc triển khai kế hoạch; về các nguồn lực được huy động để thực hiện các
giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên,... Đây không phải là những yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu
quả quản lý ĐNGV nhưng nó những điều kiện hỗ trợ, luôn tác động qua lại bổ sung cho nhau góp phần
nâng cao hiệu quả quản lý
Nhà quản lý cần nhận thức đầy đủ về vai trò của từng yếu tố, phối kết hợp linh hoạt giữa các yếu
tố chủ quan và khách quan nhằm đạt kết quả tối đa nhất trong quá trình quản lý.
Chương 2:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG
VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM BÀ RỊA – VŨNG TÀU
2.1. Khái quát tình hình phát triển của trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa – Vũng Tàu
2.1.1. Sơ lược quá trình phát triển của trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu
Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu trước đây là trường THSP Đồng Nai, được thành lập năm
1975 trên cơ sở tiếp quản trường Sư phạm Phước Tuy, trường Lâm – Nông – Súc Phước Tuy và trường
Trung học Huỳnh Tịnh Của.
Năm 1991, Khi thành lập tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trên cơ sở sát nhập Đặc khu Vũng Tàu – Côn
Đảo với ba huyện (huyện Châu Thành, huyện Đất Đỏ và huyện Xuyên Mộc) của tỉnh Đồng Nai. Theo
đó, trường THSP Đồng Nai được đổi tên thành trường THSP Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đến tháng 10/2000, trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu được thành lập trên cơ sở nâng cấp trường
THSP Bà Rịa – Vũng Tàu theo Quyết định số: 4025/2000/QĐ- BGD-ĐT, ngày 02 tháng 10 năm 2000
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tổng số cán bộ, công chức, viên chức nhà trường năm học 2009 – 2010 (tính đến tháng 08/2010)
là 145 người (97 giảng viên), trong đó có 54 trình độ thạc sĩ.
Thành tích: Nhà trường đã đào tạo hàng chục ngàn giáo viên tiểu học và giáo viên THSP cho tỉnh
Đồng Nai (trước 1991) và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nhà trường đã được tặng thưởng Huân chương lao
động hạng III năm 1996, Huân chương lao động hạng II năm 2010, nhiều bằng khen của Chính phủ,
Bộ GD-ĐT, Ủy ban nhân dân Tỉnh.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa – Vũng Tàu
Cơ cấu tổ chức nhà trường gồm: Hiệu trưởng và 2 phó hiệu trưởng; Các phòng chức năng (6
phòng); các khoa và tổ bộ môn trực thuộc (6 khoa, 1 tổ trực thuộc); 01 Trung tâm Ngoại ngữ tin học.
Ngoài hệ thống tổ chức chính quyền, nhà trường còn có các tổ chức Chính trị Xã hội: Đảng bộ
trường, tổ chức Công đoàn trường, Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên, Hội Cựu chiến binh, Hội Tâm lý –
Giáo dục.
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức hành chính của nhà trường
HIỆU TRƯỞNG
CÁC HIỆU PHÓ CHUYÊN MÔN HÀNH CHÍNH
K h o a
K h o a
K h o a
K h o a
K h o a
Í
I
B Ồ
I
N G O Ạ
X Ã H Ộ
I
T ổ C H N H T R
I
Ị
P h ò n g T H I Ế T B
T r u n g t â m N G O Ạ
K h o a T Ự N H I Ê N
K N H T Ế -
Í
P h ò n g Đ À O T Ạ O
T I Ể U H Ọ C
I
D Ư Ỡ N G
N G Ữ
N G Ữ
P h ò n g K Ế H O Ạ C H – T À
I
-
Q U Ả N L Ý
Ị - T H Ư V I Ệ N
Í
- T I N H Ọ C
P h ò n g T Ổ C H Ứ C – C Ô N G T Á C S V
P h ò n g H À N H C H N H – Q U Ả N T R
P h ò n g N G H I Ê N C Ứ U K H Q H Q T
Ị
C H N H
- T I N H Ọ C
2.1.3.Tình hình giáo dục - đào tạo của nhà trường
Nhìn chung, tình hình giáo dục của trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa – Vũng Tàu rất tốt. Công
tác quản lý học sinh, sinh viên rất chặt chẽ, sâu sát. Tình hình tư tưởng, chính trị trong học sinh, sinh
viên khá ổn định; HSSV luôn có ý thức chấp hành tốt nội quy, quy định của nhà trường, chấp hành
Luật giao thông đường bộ, Luật phòng chống ma túy, vv… . Nhiều năm liền trong trường không có tệ
nạn ma túy và các tệ nạn xã hội khác xảy ra.
Sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao của học sinh sinh viên là một hoạt động rất được
nhà trường quan tâm. Bên cạnh sự phối hợp giữa Phòng Tổ chức & Công tác sinh viên với Đoàn
trường còn có sự hỗ trợ, tham gia nhiệt tình của ĐNGV trẻ, nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng cho
HSSV đạt hiệu quả khả quan.
Về quy mô đào tạo, trên cơ sở mục tiêu được xác định, để tồn tại và phát triển, nhà trường đã mở
rộng đào tạo: Đào tạo đa hệ, đa ngành, đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, đào tạo cao đẳng và liên kết
với các trường đại học đào tạo liên thông lên đại học. Đào tạo chính quy song song với đào tạo không
chính quy (vừa làm, vừa học). Những năm vừa qua số lượng học sinh sinh viên chính quy tăng không
nhiều nhưng số lớp tăng nhanh do nhà trường đào tạo thêm 13 mã ngành ngoài sư phạm. Đối với hệ
không chính quy nhà trường đã tổ chức các lớp chuyên tu nhằm hoàn chỉnh kiến thức cho giảng viên
các trường cấp tiểu học trên địa bàn của tỉnh Bà Rịa – vũng Tàu. Ngoài ra nhà trường còn mở một số
lớp trung cấp mầm non, thư viện, kế toán, tin học. Công tác liên kết đào tạo cũng đóng góp phần lớn
cho việc nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân địa phương. Nhà trường đã liên kết
với các trường Đại học trên toàn quốc như ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh, ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Huế,
ĐH Tây Nguyên, … để mở các lớp Đại học chuyên tu, đại học tại chức, đại học từ xa.
Bảng 2.1: Quy mô đào tạo của trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu từ năm học 2007 – 2008
đến năm học 2009- 2010
2009 - 2010 TT Hệ đào tạo
Chính quy tập trung
Không chính quy
(Nguồn: Phòng Tổ chức&CTSV, 2010)
Liên kết 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 CĐ Sư phạm CĐ ngoài SP TC Sư phạm TC ngoài SP Cộng Hệ Cao đẳng Hệ trung cấp Cộng Hệ Đại học Hệ Trung cấp Cộng 2007 – 2008 Sĩ số 976 517 557 0 2050 112 117 229 941 53 994 3.273 Số lớp 37 14 11 0 62 3 3 11 16 1 17 90 2008 – 2009 Sĩ số 781 756 503 28 2068 107 100 207 1197 44 1241 3.516 Số lớp 22 27 11 1 61 3 3 6 25 1 26 93 Sĩ số 701 726 384 69 1880 250 135 285 2160 44 2204 4.369 Số lớp 22 27 9 3 61 5 3 8 31 1 32 101 Tổng cộng
2.2. Khái quát về mẫu nghiên cứu và cách thức xử lý số liệu
Tính đến tháng 8/210, tổng số giảng viên của nhà trường là 97. Tác giả đã phát 89 phiếu trưng
cầu ý kiến cho 89 cán bộ quản lý và giảng viên (Phụ lục 1). Hầu hết các nội dung đề cập trong phiếu
trưng cầu ý kiến thu về được trả lời hợp lệ. Bằng việc xử lý số liệu thông qua phần mềm SPSS, tác giả
đã thu về được số liệu đánh giá định lượng.
* Quy ước về thang điểm khảo sát và cách xác định mức độ đánh giá:
* Thang điểm khảo sát:
- Khảo sát về thực trạng và nguyên nhân:
Tốt, rất thường xuyên, ảnh hưởng rất nhiều = 4;
Khá , khá thường xuyên, ảnh hưởng nhiều = 3;
Trung bình, ít thường xuyên, ít ảnh hưởng = 2;
Yếu, không thực hiện, không ảnh hưởng = 1.
- Khảo sát về tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất
Rất cần thiết và rất khả thi =3;
Cần thiết và khả thi = 2;
Không cần thiết và không khả thi = 1.
* Cách xác định mức độ đánh giá:
- Khảo sát về thực trạng và nguyên nhân:
Dưới 1.5 : yếu, không thực hiện, không ảnh hưởng
Từ 1.5 đến dưới 2.5: trung bình, ít thường xuyên, ít ảnh hưởng
Từ 2.5 đến dưới 3.5: khá, khá thường xuyên, ảnh hưởng nhiều
Trên 3.5 : tốt, rất thường xuyên, ảnh hưởng rất nhiều
- Khảo sát về tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất
Dưới 2: Không cần thiết, không khả thi
Từ 2 đến 2.5: Cần thiết và khả thi
Trên 2.5: rất cần thiết và rất khả thi
2.3. Thực trạng đội ngũ giảng viên trường CĐSP Bà Rịa- Vũng Tàu
2.3.1. Về quy mô
Số lượng giảng viên nhà trường năm học 2009 -2010 là 97 người, trong năm năm trở lại đây, mặc
dù hàng năm nhà trường vẫn tuyển dụng giảng viên nhưng số lượng giảng viên không thay đổi nhiều
do số lượng giảng viên nghỉ việc, chuyển công tác hoặc nghỉ hưu gần tương đương.
Số lượng giảng viên hàng năm khá ổn định do từ năm học 2007 -2008 đến nay số học sinh, sinh
viên không tăng hoặc tăng không đáng kể. Xét về tỷ lệ giữa số lượng sinh viên và GV: 20 sinh
viên/GV. Về tổng thể tỷ lệ này là tương đối phù hợp với yêu cầu của Bộ giáo dục và Đào tạo, trong khi
tỷ lệ trung bình sinh viên/ GV của cả nước là 28 (nguồn: Vụ Kế hoạch – Tài chính, Bộ GD - ĐT).
Nhưng tính theo đầu lớp thì số lượng giảng viên còn thiếu; số lớp đông, trong khi đó nhiều giảng viên
đang đi học sau đại học nên số giảng viên còn lại phải dạy quá tải.
Bảng 2.2: Thống kê số lượng giảng viên
Năm học 2005 -2006 2006 -2007 2007 -2008 2008 -2009 2009 -2010
87 99 103 103 100 Tổng số GV
87 99 101 101 97 - Biên chế
0 0 2 2 3 - Hợp đồng
Tổng số HSSV 1772 2004 2072 2078 1880
Tỉ lệ GV/quy 20,37 20,84 20,51 20,57 19,38 mô HSSV
(Nguồn: Phòng Tổ chức&CTSV, 2010)
Theo ngành học thì có tình trạng vừa thừa, vừa thiếu giảng viên. Ví dụ như Các ngành học thuộc
Khoa Kinh tế - Quản lý, đội ngũ giảng viên còn rất mỏng, thậm chí một số ngành chưa có giảng viên.
Năm học 2009 – 2010 nhà trường không đào tạo các ngành Sư phạm văn, sư phạm Sử - GDCD, sư
phạm GDCD – Địa … thì có thể thừa 4 đến 5 giảng viên, cộng với số giảng viên hoàn thành học nâng
cao trở về thì sẽ thừa 6 đến 7 giảng viên. Đây là một sự lãng phí không nhỏ và là vấn đề rất khó giải
quyết. Đối với các môn chung như khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhà trường đã tổ
chức học ghép lớp, môn giáo dục quốc phòng phải hợp đồng với trường Quân sự tỉnh do nhà trường
chưa có giảng viên dạy bộ môn này.
Bảng 2.3: Tổng hợp số giờ dạy vượt chuẩn và thỉnh giảng năm học 2009 – 2010
0
0
0
0
STT Đơn vị Số giờ mời thỉnh giảng
0
0
690
1 2 3 4 5 6 7 8 Khoa Tự nhiên Khoa Xã hội Khoa Tiểu học Khoa NN – TH Khoa Kinh tế - Quản lý Khoa Bồi Dưỡng Tổ Chính trị - Mác Lênin Bộ môn Giáo dục quốc phòng
(Nguồn: Phòng Đào tạo, 2010)
Số giờ dạy vượt chuẩn -419 3658 5204 7339 2769 141 1937 0 21.048 2.600 3.290 Tổng số:
Tổng số giờ dạy vượt chuẩn và số giờ mời thỉnh giảng trong năm học 2009 -2010 theo bảng
thống kê trên là 24.338 giờ. Như vậy, trung bình mỗi giảng viên dạy 270 giờ/năm (xã hội 260 giờ/năm,
tự nhiên 280 giờ/năm) thì năm học 2009 -2010 nhà trường cần thêm 90 giảng viên (so với thực tế còn
thiếu 25 giảng viên).
Do thiếu nhiều giảng viên nên nhà trường phải bố trí giảng viên cơ hữu dạy vượt giờ lớn so với
quy định và phải lệ thuộc vào giảng viên thỉnh giảng. Điều đó khiến cho kế hoạch giảng dạy ở khoa
luôn bị xáo trộn, công tác quản lý chuyên môn gặp nhiều khó khăn, sinh viên luôn ở trong tình trạng
chờ đợi, có lúc phải chờ mãi vẫn không có giảng viên, có lúc lại phải học dồn cả ngày thứ bảy, chủ
nhật. Những điều trên chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học nói riêng và chất lượng đào
tạo của nhà trường nói chung.
Từ kết quả trên cho thấy, để đảm bảo chất lượng đào tạo, nhà trường phải có kế hoạch, quy hoạch
dài hạn nhằm đảm bảo số lượng, và chất lượng đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu đổi mới của nhà
trường.
2.3.2. Về cơ cấu đội ngũ giảng viên
Bảng 2.4: Cơ cấu về trình độ, chức danh và độ tuổi của đội ngũ giảng viên
Học vị Chức danh Tổng Độ tuổi GV Giảng Tiến Thạc Cử Giáo cộng PGS chính viên nhân sư sĩ sĩ
Dưới 30 8 15 0 0 0 0 23 23
Từ 30 đến 40 22 10 0 0 0 0 32 32
Từ 41 đến 50 11 10 0 0 0 6 15 21
Trên 50 8 13 0 0 0 4 17 21
(Nguồn: Phòng Tổ chức&CTSV, 2010)
49 48 0 0 0 10 87 97 Tổng 0 0 0 51% 49% 10% 90% 100%
Về giới tính, tổng số giảng viên nhà trường là 97 người trong đó giảng viên nam là 49 người
chiếm tỷ lệ 50,5%, giảng viên nữ là 48 người chiếm tỷ lệ 49,5%. Đây là tỷ lệ cân đối, là điều kiện
thuận lợi cho hoạt động đào tạo của nhà trường.
Đội ngũ giảng viên nhà trường hiện nay tương đối đủ về số lượng và ngày càng được trẻ hóa. Tỷ
lệ giảng viên có trình độ thạc sỹ chiếm 51% . Số lượng giảng viên có trình độ thạc sĩ nhiều nhất ở độ
tuổi từ 30 đến 40 và độ tuổi dưới 30. Đây là độ tuổi năng động và có nhiều khả năng thích ứng với sự
đổi mới. Về chức danh, toàn trường chỉ có 10 giảng viên có chức danh giảng viên chính, chưa có giảng
viên nào có chức danh Giáo sư, Phó giáo sư.
Bảng 2.5: Thống kê thâm niên công tác của Đội ngũ giảng viên
Thâm niên công tác Số lượng giảng viên Tỷ lệ %
Dưới 5 năm 18 18.55
Từ 5 đến 10 năm 32 33.00
Từ 11 đến 20 năm 12 12.37
Trên 20 năm 35 36.08
(Nguồn: Phòng Tổ chức&CTSV, 2010)
97 100 Tổng cộng:
Về thâm niên, tỷ lệ giảng viên có thâm niên từ 5 đến 10 năm và trên hai mươi năm chiếm tỷ lệ
cao nhất lần lượt là 33% và 36%. Tỷ lệ trên cho thấy ĐNGV nhà trường tập hợp khá cân đối giữa
những GV lâu năm, giàu kinh nghiệm giảng dạy với ĐNGV trẻ tuy có nhiệt tình, trình độ cao nhưng
còn non yếu về kinh nghiệm giảng dạy. Hai lực lượng này bổ sung cho nhau, tạo điều kiện phát huy sự
kế thừa trong ĐNGV.
2.3.3. Về chất lượng đội ngũ giảng viên
2.3.3.1. Về phẩm chất chính trị
Phẩm chất chính trị là yếu tố rất quan trọng giúp người giảng viên có bản lĩnh vững vàng trước
những biến động của lịch sử. Trên cơ sở đó thực hiện giáo dục toàn diện, định hướng xây dựng nhân
cách cho sinh viên có hiệu quả. Bên cạnh việc nỗ lực phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, giảng viên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng thể hiện trước hết ở trình độ lý luận, thái độ và khả
năng nhận thức chính trị. Có bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ có niềm tin vào tương lai tươi sáng của
đất nước, có khả năng xử lý được những “tình huống chính trị” nảy sinh trong hoạt động giáo dục.
Thiếu bản lĩnh chính trị khó có thể trở thành nhà giáo dục thực sự.
Công tác bồi dưỡng, rèn luyện chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên được Đảng ủy và Ban
Giám hiệu nhà trường rất cọi trọng, luôn luôn quan tâm đến việc phát triển đảng viên mới trong lực
lượng cán bộ, giảng viên trẻ. Nhờ vậy, từ năm 2006 trở lại đây số lượng giảng viên là đảng viên đã
tăng nhanh. Bên cạnh đó hoạt động của tổ chức Công đoàn cũng có nhiều đóng góp, tác động tốt đến
việc rèn luyện chính trị, tư tưởng của đội ngũ giảng viên. Có 39/89 giảng viên là Đảng viên, chiếm tỷ lệ
40% trên tổng số giảng viên (trong đó có 07 đảng viên đang ở tuổi đoàn viên).
Bảng 2.6: Thống kê về trình độ Lý luận chính trị của giảng viên
(Nguồn Phòng Tổ chức- CTSV, 2010) Về trình độ lý luận chính trị có 9 người đạt trình độ lý luận chính trị cao cấp chiếm tỉ lệ 9,3%, 27
Trong tổng số 97 giảng viên Có Tỷ lệ Trình độ Lý luận chính trị Trung cấp 27 27,8 Cao cấp 9 9,3 Sơ cấp 61 62,9
đạt trình độ lý luận trung cấp chiếm tỉ lệ 27,8%, và 61 người đạt trình độ lý luận chính trị sơ cấp chiếm
tỉ lệ 62,9%.
Bảng 2.7: Thực trạng về phẩm chất chính trị của ĐNGV trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu
Mức độ
ĐTB
TT
Nội dung
4
3
2
1
80
8
1
SL
0
Tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng
1
3.89
và chính sách, pháp luật của Nhà nước
%
89.9
9.0
1.1
0
Nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường
SL
83
6
0
0
3.93
2
lối của Đảng và chính sách, pháp luật của
%
93.3
6.7
0
0
Nhà nước
Tích cực học tập, nghiên cứu, nắm vững các
SL
26
57
6
0
3.22
3
chỉ thị, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp
%
29.2
64
6.7
0
luật của Nhà nước
SL
53
35
0
0
Có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm
4
3.56
sự điều động, phân công của tổ chức
%
59.6
39.3
0
0
5 Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, quy SL
42
47
0
3.47
0
định của pháp luật và điều lệ nhà trường.
%
47.2
52.8
0
0
Qua kết
quả khảo sát về đánh giá phẩm chất chính trị của đội ngũ giảng viên ở bảng 2.7 cho thấy, các tiêu chí:
Tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; Nghiêm chỉnh
chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; Có ý thức tổ chức
kỷ luật, chấp hành nghiêm sự điều động, phân công của tổ chức được đánh giá ở mức tốt (ĐTB từ 3.56
đến 3.93). Kết quả phản ánh trên tương đối chính xác vì nhà trường rất quan tâm đến công tác chính trị
và việc bồi dưỡng phẩm chất chính trị cho đội ngũ giảng viên.Thường xuyên coi trọng và thực hiện có
hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức trong ĐNGV. Bản lĩnh chính trị của ĐNGV nhà
trường tương đối vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Nhiều năm liền nhà trường
được công nhận là đơn vị văn minh, đội ngũ giảng viên nhà trường luôn là lực lượng đi đầu, gương
mẫu trong việc chấp hành chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cả ở cơ quan và nơi cư trú.
Các tiêu chí: Tích cực học tập, nghiên cứu, nắm vững các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; chính
sách, pháp luật của Nhà nước; Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, quy định của pháp luật và
điều lệ nhà trường, nội quy của đơn vị được đánh giá ở mức độ khá (ĐTB từ 3.22 đến 3.47). Nhìn
chung, ĐNGV nhà trường rất có ý thức kỷ luật, nghiêm túc trong học tập chính trị, hưởng ứng, tham
gia đầy đủ và thực hiện có hiệu quả việc triển khai các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước, gương
mẫu, tham gia tích cực các cuộc vận động của Đảng và Nhà nước, gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công
dân, quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường, nội quy của đơn vị . Tuy vậy, trong đội ngũ giảng
viên vẫn còn một số ít hiện tượng thờ ơ với chính trị. Còn có những người chưa nhận thức đầy đủ về
nhiệm vụ chính trị của bản thân, một số giảng viên trẻ đang có xu hướng nặng về chăm lo lợi ích cá
nhân, lo dạy thêm, luyện thi như một ”thợ dạy”, ít quan tâm đến phong trào chung của nhà trường và
xã hội; không dành thời gian cho nghiên cứu tài liệu và làm khoa học. Điều đáng lưu ý là một số giảng
viên trẻ chưa có quan niệm đầy đủ và đúng đắn về chính trị nên thường nhận xét các vấn đề một cách
phiến diện, thiếu khách quan; Các hiện tượng trên chỉ là thiểu số nhưng nếu không kịp thời phát hiện
và điều chỉnh sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng ĐNGV nhà trường.
2.3.3.2. Về đạo đức nghề nghiệp, lối sống, tác phong
Phẩm chất đạo đức là một trong những tiêu chuẩn hàng đầu của nhà giáo nói chung và giảng viên
nói riêng. Nguyên nhân là do đặc thù của hoạt động sư phạm nhằm tạo ra những thế hệ lao động mới,
không những có tri thức khoa học, nắm vững kỹ năng nghề nghiệp mà còn phải có nhân cách, phẩm
chất đạo đức tốt. Điều lệ trường Cao đẳng ban hành kèm theo Thông tư 14/2009 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo thì yêu cầu đầu tiên của người giảng viên trường cao đẳng là phải có phẩm chất, đạo đức, tư
tưởng tốt; có trình độ chuyên môn, sức khoẻ tốt, lý lịch bản thân rõ ràng.
Bảng 2.8: Thực trạng về đạo đức nghề nghiệp, lối sống, tác phong của ĐNGV trường CĐSP
Bà Rịa – Vũng Tàu
Mức độ
TT
Nội dung
ĐTB
4
3
2
1
37
SL
52
0
0
Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo;
3.58
1
tâm huyết với nghề nghiệp
%
58.4
41.6
0
0
SL 59
29
1
0
Giàu lòng nhân ái; đoàn kết, thương yêu; sẵn
3.65
2
sàng giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp.
%
66.3
32.6
1.1
0
SL 43
45
1
0
Tôn trọng nhân cách, đối xử công bằng và bảo
3
3.47
vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học %
48.3
50.6
1.1
0
SL 16
69
4
0
Thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích,
3.13
4
chống tham nhũng, lãng phí
%
18
77.5
4.5
0
SL 41
45
3
0
Sống có lý tưởng, có mục đích, có ý chí vượt
3.43
5
khó vươn lên.
%
46.1
50.6
3.4
0
SL 63
25
0
0
Có lối sống hoà nhập với cộng đồng, phù hợp
3.67
6
với bản sắc dân tộc và sự tiến bộ của xã hội
%
70.8
28.1
0
0
SL 57
31
1
0
Có thái độ lịch sự, trung thực, hợp tác trong giao tiếp;
3.53
7
giải quyết công việc khách quan chu đáo
%
64
38.4
1.1
0
Theo kết quả khảo sát tại bảng 2.8, tác giả có những nhận xét sau:
- Về giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tâm huyết với nghề nghiệp, kết quả khảo
sát cho thấy, tiêu chí này được đánh giá ở mức độ tốt (ĐTB: 3.58). Đội ngũ giảng viên nhà trường bao
gồm một lực lượng khá đông các thầy cô đã gắn bó với nghề, với nhà trường trong nhiều năm, họ rất
yêu nghề, tâm huyết với nghề, có trách nhiệm với học sinh, với nhà trường, có nhiều cống hiến cho sự
phát triển của nhà trường. Lớp giảng viên này luôn là tấm gương cho lớp trẻ noi theo về nghị lực cũng
như lòng yêu nghề, sự tận tụy với nghề, niềm tự hào và ý thức về danh dự của nghề giáo. Tuy nhiên do
sự hạn chế về tuổi tác nên khả năng học tập để nâng cao trình độ của những giảng viên có thâm niên
cao gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn về ngoại ngữ, tin học Cũng có một số giảng viên đã tự
nghiên cứu, học tập và đã đạt những thành công nhất định.
- Đội ngũ giảng viên nhà trường cũng là những người rất giàu lòng nhân ái; đoàn kết, thương yêu
đồng chí, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp. Kết quả khảo sát cũng cho thấy tiêu
chí này được đánh giá ở mức độ tốt (ĐTB: 3.65). Đội ngũ giảng viên nhà trường gồm nhiều thầy cô có
xuất thân từ nhiều miền khác nhau trên cả nước, từ Bắc – Trung - Nam và đã có thời gian dài gắn bó
với nhau, đoàn kết cùng đi lên, xây dựng nhà trường từ những thời kỳ gian khó. Chính vì vậy, ĐNGV
nhà trường là một tập thể rất thân ái, thương yêu, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trong công tác cũng như
trong cuộc sống. Hiện nay, điều kiện, hoàn cảnh sống có nhiều thay đổi và ngày càng được cải thiện
nhưng đội ngũ giảng viên nhà trường vẫn giữ được mối đoàn kết thân ái, điều này thể hiện qua sự hoạt
động của tổ chức công đoàn nhà trường luôn là cầu nối, là đầu mối gắn kết, sẻ chia thông tin trong
ĐNGV.
- Về tôn trọng nhân cách, đối xử công bằng và bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người
học, kết quả khảo sát cho thấy tiêu chí này được đánh giá là khá (ĐTB: 3.47). Qua thực tế công tác, tác
giả nhận thấy, ĐNGV nhà trường không những đoàn kết, thân ái với đồng nghiệp mà còn rất yêu
thương, quý trọng học trò, hết lòng vì học trò, phấn đấu vì một môi trường sư phạm thân thiện. Tuy
nhiên, vẫn còn một số ít giảng viên đối xử chưa công bằng với học sinh trong kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập. Một số giảng viên trẻ chưa mạnh dạn bảo vệ các quyền lợi chính đáng của học sinh, sinh
viên, tạo điều kiện cho các em có môi trường, điều kiện học tập tốt hơn.
- Về thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống tham nhũng, lãng phí, kết quả khảo sát
cho thấy tiêu chí này được đánh giá là khá (ĐTB: 3.13). Trong thực tế của nhà trường, bệnh thành tích
là một vấn đề đã ăn sâu trong tư tưởng, thói quen của mỗi người và đây một vấn đề rất khó giải quyết.
Mặc dù, nhà trường đã tổ chức triển khai và phát động toàn thể cán bộ giảng viên hưởng ứng phong
trào chống bệnh thành tích trong giáo dục nhưng vẫn còn một bộ phận giảng viên ý thức chống bệnh
thành tích chưa cao, vẫn còn các hiện tượng chạy theo kết quả học tập, đánh giá kết quả học không
đúng với thực lực học sinh, sinh viên có điều này là do giảng viên có tư tưởng cào bằng, sợ bị đánh giá.
Về chống tham nhũng và lãng phí và thực hành tiết kiệm, đội ngũ giảng viên nhà trường luôn được
công nhận là một tập thể văn minh, không có hiện tượng tham nhũng xảy ra, tinh thần tiết kiệm, chống
lãng phí luôn được quán triệt trọng ĐNGV. Trong hai năm gần đây, hưởng ứng phong trào học tập theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, ĐNGV nhà trường đã thực hành tiết kiệm có hiệu quả về điện, nước,
giữ gìn, bảo quản dụng cụ, phương tiện dạy học, ... góp phần giúp nhà trường thực hiện tối ưu
nhất nguồn ngân sách.
- Về lý tưởng, như đã đề cập ở trên, ĐNGV nhà trường nhìn chung là những người rất tâm huyết
với nghề, gắn bó với nghề và có luôn có ý thức giữ gìn phẩm chất, danh dự nhà giáo. Vì vậy, có thể thể
nói, GV nhà trường là những người sống có lý tưởng, có ý chí vượt khó vươn lên, có tinh thần phấn
đấu liên tục với động cơ trong sáng. Tuy nhiên, qua khảo sát mức độ đánh giá cho tiêu chí này của đội
ngũ giảng viên nhà trường chỉ ở mức khá (ĐTB: 3.43). Điều này có nguyên nhân ở ĐNGV trẻ, mới
công tác, lương thấp, điều kiện sống còn khó khăn về nhiều mặt nên chưa ổn định về tư tưởng, chưa
thực sự toàn tâm, toàn ý cho công việc. Một số GV muốn bứt phá để đi học nâng cao hoặc có tư tưởng
muốn nghỉ việc và tìm công việc nơi khác lương cao hơn. Chính vì vậy nhà trường cần có những chính
sách quan tâm, hỗ trợ đối với giảng viên trẻ để họ yên tâm công tác.
- Về lối sống, kết quả khảo sát cho thấy, tiêu chí: Có lối sống hoà nhập với cộng đồng, phù hợp
với bản sắc dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ của xã hội của ĐNGV nhà trường được đánh giá ở mức
tốt (ĐTB: 3.67). Trong suốt thời gian 35 năm xây dựng và trưởng thành, ĐNGV nhà trường có truyền
thống là một tập thể đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác.
Hiện nay, trong giai đoạn đất nước có nhiều đổi mới, ĐNGV nhà trường đã có nhiều cố gắng trong học
tập, nghiên cứu để thích ứng với sự tiến bộ của xã hội, có lối sống hoà nhập với cộng đồng, phù hợp
với bản sắc dân tộc, không phô trương, kiểu cách luôn giữ khiêm tốn và giữ tình thân ái với bạn bè
đồng nghiệp. Ngoài công tác giảng dạy, ĐNGV nhà trường cũng là lực lượng tích cực tham gia vào các
phong trào với quần chúng tại địa phương và có mối liên hệ chặt chẽ với nới cư trú.
- Về thái độ, ĐNGV nhà trường luôn có thái độ lịch sự, tôn trọng, trung thực, thân thiện, hợp tác
trong giao tiếp với đồng nghiệp; giải quyết công việc khách quan, tận tình, chu đáo. Qua khảo sát, tiêu
chí này được đánh giá ở mức tốt (ĐTB: 3.53). Tuy nhiên, khả năng và hiệu quả hợp tác giải quyết
công việc của đội ngũ giảng viên nhà trường chưa cao do chưa hình thành thói quen, kỹ năng làm việc
nhóm cũng như giải quyết công việc theo nhóm trong ĐNGV.
2.3.3.3. Về năng lực chuyên môn nghiệp vụ
Bảng 2.9: Thực trạng năng lực chuyên môn nghiệp vụ của ĐNGV trường CĐSP Bà Rịa –
Vũng Tàu
Mức độ
TT
Nội dung
ĐTB
3
2
4
1
SL
58
4
27
0
Nắm vững chương trình, nội dung kiến thức môn học;
1
3.26
thực hiện kế hoạch và chương trình dạy học
30.3
65.2
%
4.5
0
SL
33
48
6
1
2 Khả năng sử dụng và đổi mới phương pháp dạy học
2.41
%
37
6.7
54.2
1.1
SL
51
24
14
0
3 Khả năng tổ chức họat động dạy học – giáo dục
2.89
%
27
15.7
57.3
0
55
26
8
SL
0
Khả năng nắm bắt tâm lý, cảm hóa, thuyết phục,
4
2.80
định hướng cho sinh viên
%
9
61.8
29.2
0
Năng lực biên soạn chương trình, giáo trình, tài
24
61
1
SL
1
5
2.24
liệu dạy học
27
%
1.1
68.5
1.1
31
56
2
SL
0
Năng lực nghiên cứu khoa học và các hoạt động
6
2.39
khoa học - công nghệ khác
%
2.2
34.8
62.9
0
SL
19
64
6
0
Học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
7
3.15
vụ, ngoại ngữ, tin học
%
21.3
71.9
6.7
0
Căn cứ vào kết quả khảo sát tại bảng 2.9 và qua quan sát, phỏng vấn tác tác giả có những nhận
xét sau:
- Về việc nắm vững chương trình, nội dung kiến thức môn học, thực hiện kế hoạch và chương
trình dạy học của giảng viên, kết quả khảo sát cho thấy, tiêu chí này được đánh giá ở mức khá (ĐTB:
3,26). Đây là nội dung rất trọng tâm trong công tác chuyên môn. Đầu mỗi học kỳ các khoa, tổ đều họp
phân công và thống nhất nội dung chương trình giảng dạy. Đa số giảng viên nhà trường đều thực hiện
khá tốt việc nắm vững chương trình, nội dung kiến thức môn học. Tuy nhiên, những ngành đào tạo mới
vẫn còn tồn tại những bất cập ở một số môn học như chưa có giảng viên, chưa có giáo trình và đề
cương môn học, nhà trường phải phân công giảng viên ở ngành khác giảng dạy, giảng viên phải tự tìm
tài liệu, tự xây dựng nội dung chương trình và giảng dạy. Có nghĩa là giảng viên trực tiếp giảng dạy
đảm nhận từ “A đến Z” chưa có sự kiểm tra, đánh giá xem nội dung giảng dạy có đảm bảo hay không,
giảng viên đó có thể dạt tốt môn đó hay không? ... Mặt khác, việc thực hiện kế hoạch và chương trình
giảng dạy đôi lúc còn xáo trộn và chưa kịp tiến độ, do tình trạng thiếu giảng viên ở một số ngành gây
ra khó khăn cho công việc sắp xếp bố trí chuyên môn của giảng viên.
- Về Khả năng sử dụng và đổi mới phương pháp dạy học, đội ngũ giảng viên nhà trường trong vài
năm gần đây đã có nhiều chuyển biến về phương pháp dạy học theo hướng đổi mới nhưng chưa thực
sự hiệu quả. Qua khảo sát, tiêu chí này được đánh giá ở mức trung bình (ĐTB: 2.41). Kết quả này khá
sát với thực tế, nhà trường đã phát động phong trào khuyến khích giảng viên đổi mới phương pháp dạy
học, tổ chức một số hội thảo về việc đổi mới phương pháp dạy học, khuyến khích việc sử dụng các
phương tiện hiện đại hỗ trợ giảng dạy. Bên cạnh đó, một số giảng viên cũng có đề tài nghiên cứu khoa
học về sử dụng và đổi mới phương pháp dạy học. Tuy vậy, nhà trường chưa xây dựng kế hoạch định
kỳ tổng kết, đánh giá hiệu quả việc đổi mới phương pháp dạy học, nêu gương điển hình hoặc rút kinh
nghiệm và lựa chọn hướng giải quyết cho phù hợp với tình hình thực tế. Chính vì vậy, các phương
pháp dạy học thụ động vẫn chiếm ưu thế, tình trạng đọc chép, “chiếu chép” là phổ biến, các hoạt động
nhóm, xêmina, hội thảo, ... có tổ chức nhưng chưa hiệu quả.
- Về khả năng tổ chức hoạt động dạy học – giáo dục của đội ngũ giảng viên, qua khảo sát, nội
dung này được đánh giá ở mức khá (ĐTB: 2.89). Xét trong thực tế, mặc dù còn nhiều khó khăn, hạn
chế trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhưng đội ngũ giảng viên nhà trường luôn nỗ lực và
nhiệt tình trong các hoạt động dạy học. Phấn đấu để học sinh đạt kết qủa cao nhất trong học tập. Qua
những giờ lên lớp, qua những đợt hướng dẫn thực tập sư phạm, các giảng viên đã giúp cho học sinh,
sinh viên không những có được tri thức mà còn được học tập kỹ năng nghiệp vụ sư phạm, tác phong
nhà giáo để sau này các em ra trường có thể đứng vững trên bục giảng. Bên cạnh những ưu điểm đó
cũng có một số hạn chế trong công tác chủ nhiệm lớp. Môi trường tập thể bao giờ cũng phức tạp đòi
hỏi người giáo viên chủ nhiệm lớp phải dành nhiều thời gian, công sức phối hợp với đội ngũ cán bộ lớp
thường xuyên quan tâm theo dõi HSSV từ việc ăn ở, sinh hoạt đoàn thể cho đến học tập. Thực tế cho
thấy trong ĐNGV công tác chủ nhiệm lớp còn chưa chặt chẽ, chưa phối hợp nhịp nhàng với Khoa và
Phòng Tổ chức & Công tác sinh viên. Nhiều giảng viên chưa rõ các quy trình quản lý HSSV và một số
quyền lợi HSSV nên việc hướng dẫn, giải thích cho HS, SV chưa thấu đáo ví dụ như việc nghỉ học,
bảo lưu kết quả học tập, học bổng, rèn luyện, ... để sinh viên phải chạy đi chạy lại khi giải quyết công
việc.
- Về khả năng nắm bắt tâm lý, cảm hóa, thuyết phục, định hướng cho học sinh sinh viên, kết quả
khảo sát cho thấy nội dung này của ĐNGV nhà trường được đánh giá khá (ĐTB: 2.80). ĐNGV lâu
năm, có nhiều kinh nghiệm là những người rất nhạy cảm, nắm bắt và xử lý các tình huống rất tinh tế.
Nhìn chung, khoảng 50% đầu vào của học sinh sinh viên trường cao đẳng sư phạm Bà Rịa- Vũng Tàu
là những em đã không thi đậu đại học, nên về mặt tâm lý các em chưa thực sự hài lòng, nhiều em phải
lựa chọn những ngành học mà mình không yêu thích, các em không có động cơ học tập nên ảnh hưởng
đến kết quả học tập cũng như kết quả đào tạo của nhà trường. Chính vì vậy, ngay từ năm học đầu tiên,
giảng viên là những người có nhiệm vụ nặng nề nhất đó là ổn định tâm lý học sinh, truyền cho các em
lòng yêu nghề, định hướng học tập cho HS, SV, hạn chế thấp nhất những biểu hiện lệch lạc trong tư
tưởng cũng như hành động của HS, SV.
- Về năng lực biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu giảng dạy, theo kết quả khảo sát tiêu chí
này được đánh giá ở mức trung bình (ĐTB: 2.24). Thực tế, việc biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy
của ĐNGV còn rất yếu, chưa có giảng viên biên soạn giáo trình giảng dạy, toàn bộ giáo trình giảng dạy
phần lớn do nhà trường cung cấp và một số ngành sư phạm những năm gần đây tài liệu giáo trình là do
Dự án đào tạo giáo viên Trung học cơ sở của Bộ giáo dục và Đào tạo tài trợ. Về chương trình dạy học,
như đã đề cập ở trên, một số ngành học mới, do yêu cầu cấp thiết giảng viên phải tự biên soạn chương
trình, tự thu thập tài liệu về giảng dạy nhưng những chương trình, những tài liệu đó chỉ mang tính chất
cá nhân chưa có sự kiểm định, cũng như chưa qua một hội đồng khoa học nào. Năm học 2009 -2010,
nhà trường đã phát động và khuyến khích giảng viên biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu giảng
dạy nhưng vẫn chưa có nhiều chuyển biến. Điều này thể hiện sức ì trong ĐNGV, thế hệ giảng viên lâu
năm nhiều kinh nghiệm nhưng còn chậm đổi mới, thế hệ giảng viên trẻ đi học nhiều, thời gian dạy
nhiều không có nhiều thời gian đầu tư cho nghiên cứu, biên soạn tài liệu giảng dạy.
- Tương tự như vậy, về năng lực nghiên cứu khoa học và các hoạt động khoa học công nghệ khác
của đội ngũ giảng viên nhà trường còn hạn chế, kết quả khảo sát đánh giá ở mức trung bình (ĐTB:
2.39). Một số giảng viên trẻ sau khi hoàn thành chương trình đào tạo sau đại học đã rất tích cực và
nhiệt tình tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học và làm NCKH. Tuy nhiên, đối với phần đa giảng
viên, công tác NCKH còn mang tính đối phó. Nhà trường đã quy định định mức lao động NCKH hàng
năm đối với giảng viên nhưng không phát huy tác dụng. Theo quy định, nếu giảng viên không hoàn
thành nhiệm vụ NCKH thì số giờ tiêu chuẩn NCKH sẽ chuyển sang giờ giảng dạy năm học. Thế
nhưng, không phải bất cứ giảng viên nào cũng NCKH được, nhiều giảng viên chưa quen với NCKH,
có giảng viên không bao giờ làm NCKH. Kết quả là phong trào NCKH không được đẩy mạnh, chất
lượng NCKH không được nâng cao, rất nhiều các đề tài NCKH không có tính ứng dụng, khả thi vẫn ra
đời. Tổng kết năm học 2009 – 2010, tổng số giờ tiêu chuẩn cho nghiên cứu khoa học của ĐNGV là
8646 giờ và số giờ đã thực hiện được là 4615 giờ, con số trên cho thấy gần một nửa số giờ tiêu chuẩn
cho NCKH chưa được thực hiện. Xét về số lượng, có 48/84 giảng viên có nhiệm vụ NCKH nhưng
không thực hiện, trong số 36 người có giờ nghiên cứu khoa học thì chỉ có 13 người hoàn thành nhiệm
vụ NCKH. Chính vì vậy, trong thời gian tới nhà trường cần có những điều chỉnh, có kế hoạch phân
công, định hướng về nghiên cứu. Khuyến khích các nhóm nghiên cứu trong đó kết hợp được những
người có kinh nghiệm NCKH với những người mà khả năng NCKH còn non trẻ, tạo cơ hội tập dượt,
học hỏi lẫn nhau, nhằm nâng cao chât lượng NCKH của ĐNGV nhà trường.
- Về học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học của ĐNGV nhà trường,
qua kết quả khảo sát tiêu chí này được đánh giá ở mức độ khá (ĐTB: 3.15). Đây là một kết quả khá sát
với thực tế. Về nâng cao trình độ chuyên môn, từ năm 2005 trở lại đây, lực lượng giảng viên trẻ được
tuyển dụng khá nhiều làm thay đổi bộ mặt nhà trường. Với ưu thế vừa mới ra trường trẻ, khỏe, linh
hoạt và rất mong muốn được nâng cao trình độ. Từ năm 2005 đến nay từ chỗ chỉ có 18 giảng viên là
thạc sỹ đến nay ĐNGV nhà trường đã có 49 thạc sỹ, nhà trường đã tạo điều kiện hết sức để giảng viên
được đi học trong đó ĐNGV trẻ chiếm phần đông. Một số GV vừa đi học, vừa phải đảm nhận nhiệm
vụ giảng dạy nhưng họ vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ có khoảng 1/3 số giảng viên đi học
theo ngân sách của nhà nước và được tài trợ toàn phần các chi phí liên quan đến học tập. Phần lớn
giảng viên đi học theo diện tự túc, chỉ được nhà trường hỗ trợ học phí, chi phí đi lại và tiền tài liệu, số
tiền này lấy từ quỹ phúc lợi của nhà trường. Bên cạnh đó, ngoại ngữ và tin học là công cụ rất cần thiết
để giảng viên tiếp cận tri thức khoa học tiên tiến, tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế nhằm nâng
cao trình độ năng lực giảng dạy và NCKH trong thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin, góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo nhân lực có trình độ cao. ĐNGV nhà trường rất tích cực trong việc nâng cao
trình độ ngoại ngữ, tin học. Hưởng ứng việc sử dụng các phương tiện hiện đại hỗ trợ cho việc dạy học.
Các GV đã tham gia các lớp ngoại ngữ, tin học do nhà trường tổ chức cho cán bộ giảng viên. Có một
số giảng viên tuy không có chứng chỉ tin học nhưng với tinh thần tự học tập, học hỏi nên khả năng sự
dụng máy vi tính và sửa chữa nhỏ rất tốt. Điều này cũng góp phần cải thiện phần nào chất lượng đội
ngũ.Tuy nhiên mặt tích cực này chủ yếu tập trung vào ĐNGV trẻ với nhiều điều kiện thuận lợi về khả
năng học tập, tiếp thu cái mới. ĐNGV lâu năm có nhiều kinh nghiệm nhưng việc học tập để nâng cao
trình độ lên thạc sĩ, tiến sĩ gặp nhiều rất khó khăn, nhất là khả năng về ngoại ngữ.
Bảng 2.10: Tổng hợp trình độ ngoại ngữ, tin học của giảng viên trường CĐSP Bà Rịa –
Vũng Tàu
Đại học Trình độ C Trình độ B Trình độ A
Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ
lượng (%) lượng (%) lượng (%) lượng (%)
Ngoại ngữ 12 12,37 40 41,23 28 20,86 12 12,37
(Nguồn Phòng Tổ chức- CTSV, 2010)
Tin học 9 9,29 0 0 42 49 17 17,52
2.4. Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giảng viên trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu
2.4.1. Công tác quy hoạch ĐNGV
Mức độ thường xuyên
Mức độ hiệu quả
T
Nội dung
ĐTB
ĐTB
T
4
3
2
4
3
2
Bảng 2.11: Thực trạng công tác quy hoạch ĐNGV trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu
10
61
16
1
46
40
2
2
Rà soát, sắp xếp biên
2.89
2.49
1
11.2
68.5
18.0
2.2
1.1
51.7
44.9
2.2
chế tới từng đơn vị
56
27
5
1
23
55
7
1
Dự báo về nhu cầu
2.55
2.13
2
62.9
30.3
5.6
1.1
1.1
25.8
61.8
7.9
giảng viên
1
73
14
1
43
43
2
1
Đảm bảo đủ số lượng
2.83
2.46
3
1.1
82.0
15.7
1.1
1.1
48.3
48.3
2.2
giảng viên
2
31
52
2
29
53
3
4
Đảm bảo sự đồng bộ về
2.58
2.29
4
2.2
34.8
58.4
4.5
2.2
32.6
59.6
3.4
cơ cấu ĐNGV
1
77
9
2
16
68
3
2
Đảm bảo yêu cầu về
2.84
2.10
5
1.1
86.5
10.1
2.2
2.2
18.0
76.4
3.4
chất lượng giảng viên
1 1
Căn cứ vào bảng 2.12 và từ thực tế công tác, tác giả có những phân tích, nhận định về công tác
quy hoạch ĐNGV trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu như sau:
- Về công tác rà soát, sắp xếp biên chế tới từng đơn vị, qua kết quả khảo sát tiêu chí này được
đánh giá là thực hiện khá thường xuyên (ĐTB: 2.89) và hiệu quả đạt ở mức trung bình (ĐTB: 2.49).
Trong nhiều năm qua công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên nhà trường đã được thực hiên nhưng chưa
thực sự sâu sát. Công tác quy hoạch chỉ đơn giản là việc lập kế hoạch theo các mẫu báo cáo khi có yêu
cầu của Bộ GD-ĐT và của Ủy ban nhân dân Tỉnh, nhà trường chưa chủ động trong công tác quy hoạch,
xây dựng kế hoạch ngắn hạn, trung hạn cũng như dài hạn nhằm quản lý, phát triển ĐNGV. Việc rà
soát, sắp xếp biên chế tới từng đơn vị trong nhà trường đã được thực hiện nhưng chưa đạt hiệu quả. Vì
vậy,việc quy hoạch và kế hoạch chiến lược cả về quy mô và quy trình phát triển đội ngũ còn nhiều hạn
chế.
- Về công tác dự báo nhu cầu giảng viên đối với từng môn học, từng ngành học, từng hệ đào tạo,
kết quả khảo sát tiêu chí này được đánh giá là thực hiện khá thường xuyên (ĐTB: 2.55) và hiệu quả đạt
ở mức trung bình (ĐTB: 2.13). Trong thực tế, công tác dự báo ĐNGV nhà trường chưa thực hiện theo
một quy trình nhất định, còn mang đậm tính chủ quan. Nhà trường chưa kết hợp quy trình dự báo từ
trên xuống thông qua các văn bản, chỉ thị của cấp trên với việc dự báo từ dưới lên thông qua phân tích
tình hình thực tế (thực trạng đội ngũ giảng về số lượng và cơ cấu, về dự báo quy mô đào tạo dựa trên
chiến lược phát triển, số CBVC về hưu trong tương lai...), dự báo nhu cầu tuyển dụng và đào tạo trong
các năm sắp tới được rà soát kỹ từ các khoa, các đơn vị. Do đó, mặc dù số lượng giảng viên tương đối
đủ theo quy định, nhưng lại xảy ra tình trạng thiếu - thừa cục bộ trong ĐNGV.
- Về đảm bảo đủ số lượng giảng viên theo quy định trong quy hoạch ĐNGV, kết quả khảo sát tiêu
chí này được đánh giá là thực hiện khá thường xuyên (ĐTB: 2.83) và hiệu quả đạt ở mức trung bình
(ĐTB: 2.46). Trong thực tế, lãnh đạo nhà trường đã có những tính toán, xác định số lượng giảng viên
cho từng giai đoạn nhưng vẫn còn mang đậm tính chủ quan. Việc quy hoạch về số lượng giảng viên
gặp nhiều khó khăn do cơ chế định biên. Việc xác định biên chế dựa theo số lượng sinh viên có mặt
hạn chế là khi số lớp tăng mà số lượng sinh viên không tăng nhiều sẽ dẫn đến việc thiếu giảng
viên.Chính vì vậy nhà trường cần chủ động có những biện pháp tìm kiếm, dự trữ nguồn giảng viên
thông qua việc ký hợp hợp đồng lao động có thời hạn để luôn đảm bảo số lượng giảng viên theo quy
định, tránh việc phụ thuộc hoàn toàn vào biên chế hiện có.
- Công tác quy hoạch để đảm bảo sự đồng bộ về cơ cấu đội ngũ giảng viên cũng chưa được lãnh
đạo nhà trường quan tâm nhiều. Kết quả khảo sát cho thấy, tiêu chí này được đánh giá đạt điểm trung
bình cả về mức độ thường xuyên và mức độ thực hiện (ĐTB: 2.58 và 2.29). Mặc dù cơ cấu giới tính,
độ tuổi của đội ngũ giảng viên nhà trường khá cân đối nhưng sự cân đối này có tính chất ngẫu nhiên
chứ chưa đi theo quy hoạch cụ thể. Về cơ cấu trình độ, đội ngũ giảng viên trẻ có trình độ thạc sĩ cao
hơn số giảng viên lâu năm. Một mặt là do công tác quy hoạch về đào tạo, bồi dưỡng chưa tốt, một mặt
là do sự hạn chế về khả năng nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên lâu năm. Cơ cấu về
ngạch giảng viên còn có sự chênh lệch, giảng viên giữ ngạch giảng viên chính còn ít so với tổng số
giảng viên nhà trường, những giảng viên có đủ điều kiện tham gia thi nâng ngạch giảng viên chính do
tuổi tác nên trình độ ngoại ngữ và tin học bị hạn chế. Nhà trường cần có có kế hoạch bồi dưỡng về ngoại
ngưc và tin học cho giảng viên có thể nâng ngạch.
- Công tác quy hoạch về đảm bảo yêu cầu chất lượng giảng viên cũng chưa thực sự hiệu quả. Qua
khảo sát, tiêu chí này được đánh giá là thực hiện khá thường xuyên (ĐTB: 2.84) và hiệu quả đạt ở mức
trung bình (ĐTB: 2.10).Tình trạng giảng viên đi học hàng loạt do xuất phát từ nhu cầu cá nhân, mang
tính tự phát, không có kế hoạch, sắp xếp của đơn vị dẫn đến tình trạng có những giai đoạn thiếu hụt
giảng viên trầm trọng. Mặt khác, việc thu hút giảng viên trẻ có trình độ về công tác còn gặp nhiều khó
khăn, đặc biệt về tài chính. Việc thanh kiểm tra hoạt động chuyên môn chưa được thực hiện sát sao
cũng như chưa có kế hoạch cụ thể dẫn đến kết quả đánh giá chưa thực sự chính xác và chưa đảm bảo
yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
Công tác quy hoạch ĐNGV của nhà trường còn nhiều hạn chế là do còn nặng về ý chủ quan của
người đứng đầu nhà trường; phần do năng lực, phần do lề lối làm việc quen tùy tiện hoặc ỷ lại … việc
thực hiện phương châm “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” mang tính hình thức.
2.4.2. Công tác tuyển dụng, sử dụng ĐNGV
2.4.2.1. Tuyển dụng giảng viên
Bảng 2.12: Thống kế số lượng giảng viên được tuyển dụng qua các năm học
TT Số lượng
(Nguồn Phòng Tổ chức- CTSV, 2010)
1 2 3 4 5 Năm tuyển dụng 2005 – 2006 2006 – 2007 2007 – 2005 2008 – 2008 2009 – 2010 13 6 8 2 1 TS, TSKH 0 0 0 0 0 Trong đó Thạc sĩ 3 0 1 1 0 Đại học 10 6 7 1 1
Trong năm năm gần đây, từ năm học 2005 – 2006 đến nay nhà trường đã tiếp nhận, tuyển dụng
và hợp đồng 30 giảng viên. Đội ngũ giảng viên được tuyển dụng đa phần là trẻ tuổi, có 05 người đạt
trình độ trên đại học. Đa số giảng viên mới được tuyển dụng còn thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy, số
ít chưa được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm nên gặp không ít khó khăn trong quá trình giảng dạy.
Do thiếu giảng viên nên việc tuyển dụng giảng viên chủ yếu thông qua xét tuyển, hầu hết các
giảng viên được tuyển dụng về trường chỉ xét duyệt thông qua hồ sơ. 100% giảng viên được tuyển
dụng về trường, khi hết thời gian tập sự đều được bổ nhiệm chính thức vào ngạch giảng viên.
ĐTB
Bảng 2.13: Thực trạng về công tác tuyển dụng
TT
Nội dung
ĐT B
Mức độ thường xuyên 1 4
2.38
2.62
1
2.42
2.85
2
2.40
2.91
3
2.33
2.55
4
5 5.6 18 20.2 10 11.2 5 5.6
3 46 51.7 43 48.3 65 73.0 40 44.9
2 37 41.6 25 28.1 10 11.2 43 48.3
3 32 36.0 26 29.2 31 34.8 27 30.3
2 56 62.9 53 59.6 50 56.2 55 61.8
4 1 1.1 7 7.9 4 4.5 3 3.4
2.85
2.98
5
7 7.9
73 82
9 10.1
18 20.2
66 74.2
5 5.6
Thực hiện sự phân cấp trong tuyển dụng Công khai, minh bạch quy trình tuyển dụng Tiêu chí tuyển dụng hợp lý Đảm bảo tính hợp lý giữa các bộ môn Đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng ĐNGV
Mức độ hiệu quả 1 0 0 3 3.4 4 4.5 4 4.5 0 0
1 1.1 3 3.4 4 4.5 1 1.1 0 0
Qua bảng số liệu khảo sát ở Bảng 2.13; Bảng 2.14 và qua trao đổi, phỏng vấn trong cán bộ,
giảng viên, qua thực tế công việc đảm trách, tác giả có một số nhận xét, đánh giá về công tác tuyển
dụng giảng viên như sau:
a. Sự phân cấp trong tuyển dụng
Căn cứ vào kết quả khảo sát ở bảng 2.14, việc công khai quy trình tuyển dụng cũng được thực
hiện khá thường xuyên (ĐTB: 2.62) nhưng mức độ hiệu quả cũng chưa cao chỉ đạt mức trung bình
(ĐTB: 2.438). Có điều này là do trong quá trình tuyển dụng vẫn còn tồn tại cơ chế xin cho, tính cục bộ,
tình cảm cá nhân, … làm giảm tính minh bạch trong quá trình tuyển dụng. Mặt khác, quyền tự chủ
trong tuyển dụng của nhà trường còn bị hạn chế và chỉ tiêu biên chế bị ràng buộc bởi tỷ lệ sinh
viên/giảng viên … nên dễ mất thời cơ tuyển dụng; khi có nguồn để tuyển dụng thì không có chỉ tiêu,
khi có chỉ tiêu thì không còn nguồn để tuyển dụng. Việc thực hiện quy trình tuyển dụng chưa thực sự
được bàn bạc thật dân chủ trong ban lãnh đạo nhà trường.
Sự phân cấp trong tuyển dụng giảng viên còn bộc lộ nhiều hạn chế. Kết quả điều tra cho thấy,
tiêu chí này được đánh giá ở mức độ khá thường xuyên (ĐTB: 2.62) nhưng hiệu quả chỉ đạt mức trung
bình (ĐTB: 2.38). Trong thực tế, theo quy trình tuyển dụng, hiệu trưởng trực tiếp nhận định, phân tích
tình hình giảng viên và đưa ra quyết định số lượng giảng viên và chuyên ngành sẽ tuyển thêm, mà chưa
có sự rà soát và đề nghị từ cấp khoa, tổ. Chính vì vậy hiệu quả phân cấp chưa cao, còn mang nhiều tính
chủ quan, độc đoán. Nhiều giảng viên được tuyển về mặc dù có trình độ cao nhưng không đủ tiết dạy.
Trong khi đó, một số chuyên ngành chưa có giảng viên giảng dạy. Đây chính là hệ quả tất yếu của việc
chưa làm tốt công tác quy hoạch ĐNGV cũng như chưa thực hiện tốt sự phân cấp trong tuyển dụng.
b. Quy trình tuyển dụng
Căn cứ vào kết quả khảo sát ở bảng 2.14, việc công khai quy trình tuyển dụng cũng được thực
hiện khá thường xuyên (ĐTB: 2.85) nhưng mức độ hiệu quả đạt mức trung bình (ĐTB: 2.42). Trường
CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, vì
vậy công tác tuyển dụng phải có sự thông qua và đồng ý của Ủy ban nhân dân tỉnh. Các văn bản làm
căn cứ tuyển dụng bao gồm: Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc
tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; Nghị định
121/2006/NĐ-CP ngày 23/10/2006 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
116/2003/NĐ-CP; Thông tư số 04/2007/TT-BNV ngày 21/6/2007 của Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn
thực hiện một số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 và Nghị định số
121/2006/NĐ-CP ngày 23/10/2006; Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 5/5/2008 của UBND tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu Quy định thẩm quyền quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh Bà Rịa
– Vũng Tàu.
Trên cơ sở đó nhà trường đã thực hiện quy trình tuyển dụng viên chức như sau:
- Hiệu trưởng căn cứ vào số biên chế được duyệt xây dựng phương án tuyển dụng gửi về Sở Nội
vụ;
- Sở Nội vụ trình UBND tỉnh phê duyệt phương án tuyển dụng của nhà trường;
- Nhà trường thông báo về việc tuyển dụng viên chức theo quy định;
- Phòng Tổ chức và Công tác sinh viên (bộ phận Tổ chức cán bộ) trực tiếp phát hành và thu
nhận hồ sơ đăng ký tuyển dụng;
- Nhà trường thành lập Hội đồng và tiến hành xét tuyển viên chức;
- Nhà trường gửi báo cáo kết quả xét tuyển viên chức về Sở Nội vụ và đề nghị Sở Nội vụ xem
xét trình UBND tỉnh quyết định công nhận kết quả;
- Sau khi có Quyết định công nhận kết quả xét tuyển viên chức của UBND tỉnh; Hiệu trưởng ra
quyết định về việc tuyển dụng viên chức; thực hiện việc ký kết hợp đồng lao động theo Nghị định
116/2003/NĐ-CP;
- Phân công viên chức về các để thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng các đơn vị
phòng – khoa. Đồng thời phân công người hướng dẫn thực hiện thử việc đối với viên chức;
- Đánh giá kết quả thử việc và ra quyết định về việc bổ nhiệm chính thức vào ngạch viên chức.
Hiệu quả việc thực hiện quy trình tuyển dụng chỉ ở mức trung bình là do trong quá trình tuyển
dụng vẫn còn tồn tại cơ chế xin cho, tính cục bộ, tình cảm cá nhân,… làm giảm tính minh bạch trong
quá trình tuyển dụng. Mặt khác, quyền tự chủ trong tuyển dụng của nhà trường còn bị hạn chế và chỉ
tiêu biên chế bị ràng buộc bởi tỷ lệ sinh viên/giảng viên … nên dễ mất thời cơ tuyển dụng; khi có
nguồn để tuyển dụng thì không có chỉ tiêu, khi có chỉ tiêu thì không còn nguồn để tuyển dụng. Việc
thực hiện quy trình tuyển dụng chưa thực sự được bàn bạc thật dân chủ trong ban lãnh đạo nhà trường.
c. Tiêu chí tuyển dụng
Kết quả khảo sát cho thấy việc đảm bảo tiêu chí tuyển dụng hợp lý được thực hiện ở mức khá
thường xuyên (ĐTB: 2.94), mức độ hiệu quả thực hiện đạt mức trung bình (ĐTB: 2.40). Các tiêu chí
tuyển dụng của nhà trường chủ yếu căn cứ theo quy định của Nghị định 116/2003/NĐ-CP của Chính
phủ, ưu tiên các ứng viên có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao, có nhiều thành tích trong
hoạt động phong trào, các ứng viên thuộc các đối tượng ưu tiên như anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân, con liệt sĩ, thương – bệnh binh, ngoài ra còn nhà trường còn ưu tiên các ứng viên có hộ khẩu trong
tỉnh và đã có thời gian hợp đồng làm việc với nhà trường. Mặc dù vậy, trong quá trình xét tuyển vẫn
tồn tại tính chủ quan, ưu ái cá nhân nên nhiều khi một số tiêu chí tuyển dụng bị bỏ qua vì vậy việc tính
công bằng trong tuyển dụng đôi lúc vẫn còn hạn chế.
d. Tính cân đối giữa các bộ môn trong tuyển dụng giảng viên
Kết quả khảo sát đánh giá mức độ thường xuyên và hiệu quả của việc đảm bảo tính hợp lý giữa
các bộ môn trong tuyển dụng giảng viên đều chỉ đạt ở mức độ trung bình (ĐTB: 2.55 và 2.33). Trong
những năm gần đây công tác tuyển dụng đã chưa làm tốt việc đảm bảo tính hợp lý giữa các bộ môn
trong tuyển dụng do chưa làm tốt công tác rà soát, sắp xếp biên chế cũng như chưa theo sát tình hình
đào đạo và xu hướng phát triển của nhà trường. Do nhu cầu đào tạo các ngành sư phạm đã bão hòa, do
vậy muốn tồn tại và phát triển lâu dài nhà trường phải chuyển hướng sang đào tạo đa ngành. Hiện tại
nhà trường đang đào tạo 13 mã ngành ngoài sư phạm nhưng số lượng giáo viên còn thiếu rất nhiều, nhà
trường đã hợp đồng thỉnh giảng với nhiều giảng viên có trình độ cao từ các trường đại học tại thành
phố Hồ Chí Minh nhưng cũng không tránh khỏi bị động, dẫn đến trường hợp giảng viên dạy quá tải; có
ngành học chưa có giảng viên chuyên ngành, cán bộ giảng dạy là những người giữ ngạch chuyên viên
hoặc thư viện viên. Trong khi đó một số giảng viên giảng dạy các ngành sư phạm lại không đủ giờ tiêu
chuẩn. Tình trạng thiếu thừa cục bộ gây ra sự lãng phí lao động và mất cân đối. Điều này yêu cầu công
tác tuyển dụng cũng như sử dụng phải có sự linh hoạt và khoa học để khắc phục tình trạng trên.
Về đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, kết quả khảo sát cho thấy tiêu chí
này được đánh giá khá cả về mức độ thường xuyên và hiệu quả (ĐTB: 2.98 và 2.55). Điều này có vẻ
mâu thuẫn với các tiêu chí trên, tuy nhiên, đi vào phân tích vấn đề tác giả nhận thấy, công tác tuyển
dụng tuy còn nhiều bất cập nhưng số lượng giảng viên được tuyển dụng những năm gần đây hầu hết là
có trình độ thạc sĩ hoặc đang học thạc sĩ ngày càng cao. Mặt khác, các giảng viên trẻ được tuyển dụng
với đầy nhiệt huyết và tinh thần học tập nâng cao trình độ nên chất lượng đội ngũ giảng viên nhà
trường cũng được cải thiện khá tốt. Chình vì vậy có thể nói, công tác tuyển dụng đã đáp ứng phần nào
việc nâng cao chất lượng ĐNGV nhà trường.
2.4.2.2. Sử dụng giảng viên
Bảng 2.14: Thực trạng về quản lý sử dụng giảng viên
Mức độ hiệu quả
ĐTB
ĐTB
TT
Nội dung
Mức độ thường xuyên 1 4 3 31
3 47
2 8
1 0
3.19
2.38
1
Thực hiện chế độ thử việc
2 56 62.9
34.8 52.8
9.0
3.4
0
15
59
14
1
31
1
2.98
2.76
2
16.9 66.3 15.7
1.1
34.8
1.1
Bố trí, sử dụng đúng chuyên môn
3
32
53
1
55
1
4 1 1. 1 12 13. 5 6
2.42
2.39
3
3.4
36.0 59.6
1.1
61.8
1.1
6.7
Đảm bảo tính kế thừa giữa các thế hệ giảng viên
54
29
6
7
0
0
3.54
3.29
4
7.9
60.7 32.6
6.7
Thực hiện định mức giờ chuẩn
0
0
16
57
13
3
46
3
33 37. 1 8
3 32 36. 0 45 50. 6 26 29. 2 49 55. 1 32 36.
2.97
2.26
5
9.0
18.0 64.0 14.6
3.4
51.7
3.4
Chú trọng công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật
0
Qua bảng 2.15 cho thấy đa số các biện pháp thực hiện trong sử dụng giảng viên đều được thực
hiện khá thường xuyên nhưng hiệu quả chưa cao. Để nhận định đúng về vấn đề này, tác giả đã đi sâu
phân tích từng tiêu chí như sau:
a. Việc thực hiện chế độ thử việc đối với giảng viên mới tuyển dụng
Theo kết quả khảo sát cho thấy, nhà trường thực hiện chế độ thử việc đối với giảng viên khá
thường xuyên (ĐTB: 3.18) và mức độ hiệu quả đạt mức trung bình. (ĐTB: 2.38). Từ thực tế công tác,
tác giả có thể khẳng định rằng nhà trường đã thực hiện chế độ thử việc đối với tất cả giảng viên mới
được tuyển dụng (trừ một số trường hợp đặc biệt được miễn theo quy định của Nhà nước). Nhìn chung
chế độ thử việc của nhà trường là rất thường xuyên nhưng chưa hiệu quả. Khi có quyết định tuyển
dụng chính thức, giảng viên tập sự được phân công người hướng dẫn thử việc. Sau thời gian một năm,
giảng viên hướng dẫn có trách nhiệm nhận xét để giảng viên tập sự hoàn tất thủ tục để được bổ nhiệm
chính thức vào ngạch viên chức. Công tác thử việc còn nặng tính thủ tục để hợp lý hóa vấn đề chứ
chưa có một cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá, sàng lọc để đánh giá đúng năng lực, phẩm chất của
người giảng viên tập sự đủ điều kiện vào ngạch giảng viên .
b. Bố trí sử dụng theo chuyên môn được đào tạo
Theo kết quả khảo sát, việc bố trí sử dụng theo chuyên môn được đào tạo thực hiện ở mức độ khá
thường xuyên (ĐTB: 2.98) và cũng khá hiệu quả (ĐTB: 2.98 và 2.76). Trong thực tế, hầu hết giảng
viên được bố trí đúng chuyên môn được đào tạo. Tuy nhiên, hiện nay do nhà trường mở rộng các
ngành đào tạo tạo ngoài sư phạm nhưng giảng viên chưa đủ hoặc chưa có nên nhà trường đã bố trí
giảng viên một số ngành gần sang giảng dạy. Chẳng hạn như ngành Việt Nam học nhà trường đã đào
tạo được bốn năm nhưng chưa có giảng viên nào trong khi đó giảng viên các môn văn, sử, địa đang dư
thừa nên số giảng viên này đã được bố trí dạy các môn thuộc ngành Việt Nam học. Việc bố trí này tuy
giải quyết được lượng giáo viên dư nhưng chưa đảm bảo chất lượng đào tạo. Hay ngành thư viện, nhà
trường cũng đã đào tạo được bốn năm nhưng chưa có giảng viên, cán bộ giảng dạy chủ yếu là hai thư
viện viên. Ngành Quản trị văn phòng, Thư ký văn phòng cũng mới chỉ có một giảng viên thuộc chuyên
ngành hành chính học. Vì vậy trong thời gian tới nhà trường cần đổi mới các biện pháp quản lý sử
dụng giảng viên, đảm bảo bố trí đúng người, đúng việc, đánh giá đúng năng lực của giảng viên cũng
như thống nhất được sự quản lý giữa các đơn vị trong nhà trường.
c. Việc đảm bảo tính kế thừa giữa các thế hệ giảng viên
Qua khảo sát, việc đảm bảo tính kế thừa giữa các thế hệ giảng viên được đánh giá ở mức độ trung
bình cả về mức độ thường xuyên (ĐTB: 2.42) và mức độ hiệu quả (ĐTB: 2.39). Có kết quả này là do
những năm gần đây, ĐNGV nhà trường có một lớp giảng viên đến tuổi nghỉ hưu trong khi lớp kế cận
chưa được bổ sung, bồi dưỡng. Nhà trường đã tăng cường tuyển dụng, ký hợp đồng để bù đắp cho lực
lượng giảng viên công tác lâu năm chuẩn bị về hưu. Tuy nhiên cùng với việc tuyển dụng là việc nhà
trường mở rộng đào tạo đa dạng các ngành, chính vì vậy, ở một số bộ môn vẫn còn nguy cơ hụt hẫng
về đội ngũ, trong khi việc tuyển dụng giảng viên để đảm bảo sự kế thừa gặp nhiều khó khăn nhiều lý
do: do cơ chế định biên và còn thiếu tự chủ trong việc tự chủ trong việc tuyển dụng. Mặc dù nhà
trường đã xác định trong thời gian tiếp theo một giảng viên sẽ về hưu nhưng không thể tuyển dụng nếu
không có biên chế. Chỉ khi nào giảng viên đó về hưu mới có thể tuyển dụng giảng viên mới. Vì thế, khi
đội ngũ giảng viên có nhiều kinh nghiệm về hưu, thì giảng viên trẻ chưa kịp trưởng thành, tạo nên một
khoảng trống lớn trong công tác đào tạo.
Bảng 2.15: Thống kê số lượng giảng viên về hưu từ năm 2010 đến năm 2015
Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015
Số lượng 5 7 5 5 3 7
d. Việc thực hiện định mức giờ chuẩn đối với giảng viên
Kết quả khảo sát tại bảng 2.15. cho thấy việc thực hiện định mức giờ chuẩn đối với giảng viên
được đánh giá khá cả về mức độ thường xuyên và hiệu quả (ĐTB: 2.54 và 2.29). Nhà trường luôn thực
hiện đúng và đủ chế độ giờ chuẩn đối với giảng viên. Theo thông tư 37/TT ngày 14/11/1980 của Bộ
Giáo dục quy định về chế độ làm việc của cán bộ giáo dục trường Đại học sư phạm và Cao đẳng sư
phạm, giờ dạy chuẩn đối với giáo sư, phó giáo sư, giảng viên chính, giảng viên, giáo viên được quy
định rất cụ thể; Đối với giảng viên dạy môn khoa học tự nhiên là 260 tiết/năm, giảng viên dạy môn
khoa học xã hội là 280 tiết/năm. Do số cán bộ đi học nhiều và việc tăng về số lượng ngành ngoài sư
phạm nên hầu hết giáo viên các khoa, các tổ bộ môn đều phải đảm nhận số tiết vượt chuẩn so với quy
định. Điều này phần nào ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy ở một số bộ môn thiếu giảng viên mặt
khác còn ảnh hưởng đến việc tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của ĐNGV.
Bên cạnh đó, vấn đề giải quyết giờ chuẩn cho giảng viên không có tiết dạy cũng còn nhiều khó
khăn. Xét về tổng thể thì cơ cấu đội ngũ giảng viên trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay khá hợp
lý, nhưng xét ở từng ngành học, từng đơn vị thì còn nhiều bất cập. Các bộ môn chung, các ngành học
ngoài sư phạm giảng viên phải dạy vượt chuẩn rất nhiều, trong khi giảng viên ở các bộ môn như văn,
sử, địa, hóa, … lại không đủ giờ dạy chuẩn. Trước thực trạng này nhà trường đã có nhiều giải pháp
như bố trí giảng viên kiêm nhiệm thêm việc trực văn phòng, coi thi, hướng dẫn thực tập sư phạm, tạo
điều kiện đi học sau đại học…. Tuy nhiên những giải pháp này về lâu dài cũng chưa thể giải quyết
được bài toán giữa một bên là vấn đề lãng phí giảng viên và một bên là vấn đề thiếu giảng viên để từ
đó đảm bảo chất lượng đào tạo trong nhà trường.
e. Công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật giảng viên
Qua kết quả khảo sát, tiêu chí này được đánh giá ở mức độ khá thường xuyên (ĐTB: 2.97) và
hiệu quả đạt ở mức trung bình (ĐTB: 2.26). Từ thực tế quan sát và tham khảo ý kiến chuyên gia, tác
giả có thể đánh giá chung về công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật của nhà trường chưa thực sự hiệu
quả. Tâm lý các giảng viên xem việc bình xét thi đua chỉ là hình thức, chưa đánh giá đúng chất lượng
lao động thực sự của người giảng viên. Danh hiệu thi đua cao chủ yếu thuộc về những người làm
nhiệm vụ lãnh đạo. Việc kỷ luật còn nhẹ hoặc cho qua, chưa khách quan vẫn mang nặng tính chủ
quan, cả nể hoặc thiên vị .Chính vì vậy công tác kỷ luật chưa đủ sức răn đe, giáo dục đối với đội ngũ
giảng viên. Trong một năm trở lại đây, sau khi có sự thay đổi trong bộ máy lãnh đạo, Ủy ban nhân dân
tỉnh bổ nhiệm hiệu trưởng mới, công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật đối với đội ngũ giảng viên đã có
nhiều cải thiện hơn. Ban thi đua nhà trường đã xây dựng lại quy chế xếp loại thi đua của giảng viên
theo các loại A, B, C để làm căn cứ chi các khoản tiền tiết kiệm của nhà trường. Sự thay đổi này cũng
có phần nào tác động đến sự cố gắng của giảng viên, tuy nhiên hiệu quả chưa cao do biện pháp tiến
hành và công tác kiểm tra đánh giá chưa tốt.
2.4.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
Bảng 2.16: Thực trạng quản lý đào tạo, bồi dưỡng giảng viên
Mức độ thường xuyên
Mức độ hiệu quả
TT
Nội dung
ĐTB
ĐTB
4
3
2
3
2
4
1
1
19
52
16
37
50
1
2
1
Lập kế họach đào tạo
2.45
1
2.99
– bồi dưỡng
21.3
58.4
18.0
2.2
1.1
46.1
56.2
1.1
Tổ chức, chỉ đạo
7
38
40
36
43
5
4
3
2.46
2.44
2
thực hiện công tác
7.9
42.7
44.9
4.5
5.6
40.4
48.3
3.4
đào tạo, bồi dưỡng
Tạo điều kiện cho
44
42
3
26
56
5
2
0
3.46
3.19
3
giảng viên học tập
49.4
47.2
3.4
29.2
62.9
5.6
2.2
0
trong nước
2
15
66
11
73
0
5
4
Cử giảng viên đi đào
4
2.21
2.23
tạo ở nước ngoài
2.2
16.9
74.2
5.6
12.4
82.0
4.5
0
19
62
8
10
62
16
0
1
Tổ chức các lớp cập
nhật
kiến
thức
3.12
2.91
5
chuyên môn,ngoại
21.3
69.7
9.0
0
11.2
69.7
18.0
1.1
ngữ,
tin học; hội
thảo, hội nghị …
Chính sách khuyến
17
58
12
1
13
44
32
0
3.00
2.79
6
khích giảng viên đi
19.1
65.2
13.5
1.1
14.6
49.4
36.0
0
đào tạo, bồi dưỡng
6
32
48
2
5
28
53
3
Đánh giá kết quả đào
7
2.45
2.39
tạo, bồi dưỡng GV
6.7
36.0
53.9
2.2
5.6
31.6
59.6
3.4
Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng và phát triển
đội ngũ giảng viên. Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV. Quan
điểm của Đảng về “tăng cường xây dựng đội ngũ giáo viên” vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát
triển giáo dục và đào tạo, vừa là cơ sở vững chắc để lập quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, phát
triển nguồn nhân lực cho giáo dục.
Những năm qua ĐNGV nhà trường đã tích cực học tập để nâng cao trình độ. nâng cao số lượng
giảng viên có trình độ thạc sĩ, hiện nay đã có 49 giảng viên có trình độ thạc sĩ trong đó có 6 giảng
viên là đang là nghiên cứu sinh. Như vậy so với mục tiêu 25% TS, TSKH và 40% thạc sĩ vào năm
2010 theo quyết định 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của thủ tướng chính phủ thì ĐNGV nhà
trường còn thiếu hơn 20 tiến sĩ, chính vì vậy nhà trường cần có chính sách khuyến khích mạnh hơn nữa
để giảng viên có điều kiện tiếp tục học tập nâng cao trình độ.
Bảng 2.17: Thống kế số lượng cán bộ, giảng viên tham gia các khóa đào tạo
Thạc sĩ Tiến sĩ
0
0
Năm Trong Ngoài Trong Ngoài Tổng Tổng nước nước nước nước
0
0
2006 20 20 1 1
0
0
2007 27 27 4 4
0
2008 29 29 4 4
0
2009 31 31 4 1 5
(Nguồn: Phòng Tổ chức – Công tác Sinh viên, 2010)
2010 24 24 5 3 8
Qua bảng thống kê trên chúng ta thấy, số giảng viên đi đào đào tạo so với quy mô giảng viên nhà
trường là khá nhiều, số lượng giảng viên tham gia đào tạo chủ yếu là thạc sĩ ở trong nước, giảng viên
tham gia làm nghiên cứu sinh còn ít.
Song song với công tác đào tạo ĐNGV nhà trường, công tác bồi dưỡng cũng rất được lãnh đạo
nhà trường quan tâm. Từ năm 2005 trở lại đây đã có 220 lượt giảng viên được cử đi bồi dưỡng và tập
huấn ngắn hạn. trong đó, có 135 lượt giảng viên được tham gia lớp bồi dưỡng chuyên môn, 55 lượt
cán bộ, GV tham gia bồi dưỡng chính trị và 40 lượt giảng viên tham gia các lớp bồi dưỡng khác. Ngoài
ra nhà trường còn mở các lớp bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học, hội thảo, hội nghị, … và được cán bộ
giảng viên hưởng ứng rất tích cực.
Để làm rõ hơn về thực trạng đào tạo, bồi dưỡng của ĐNGV nhà trường, tác giả đã đi sâu tìm hiểu,
căn cứ vào kết quả khảo sát tại bảng 2.18 để phân tích các vấn đề sau:
- Về việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giảng viên theo thời gian, qua kết quả khảo sát đánh
giá khá ở mức độ thường xuyên (ĐTB: 3.00) và trung bình ở mức độ hiệu qủa (ĐTB: 2.79). Thực tế,
nhà trường chưa chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giảng viên theo thời gian. Việc lập kế
hoạch nếu có là rất bị động, theo yêu cầu của Bộ GD – ĐT hoặc của UBND Tỉnh, chủ yếu là xác định
nhu cầu tiến sĩ, thạc sĩ trong 5 năm, 10 năm tới. Vấn đề hầu như bỏ ngỏ, hàng năm không có sự rà soát,
lập kế hoạch cụ thể từ tổ, khoa, trường. Giảng viên đi học rất tự phát do cán bộ lãnh đạo còn làm việc
theo tính chủ quan, nể nang hầu hết ai xin đi học đều được, một số giảng viên tự đi ôn và thi sau khi có
kết quả trúng tuyển mới báo cáo nhà trường, nhà trường đành phải sắp xếp cho đi học. Việc đi học
nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân nói riêng và nâng cao chất lượng ĐNGV nhà trường nói
chung là rất tốt. Nhưng việc đi học không theo kế hoạch làm ảnh hưởng đến công tác đào tạo của nhà
trường, khó khăn trong sắp xếp giảng dạy, giảng viên không đi học phải dạy thêm số tiết khá lớn trong
khi số lớp ngày càng tăng thêm.
- Về việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng ở từng đơn vị bám sát nhu cầu
thực tế, qua khảo sát cho thấy, tiêu chí này chỉ đạt điểm trung bình cả về mức độ thường xuyên (ĐTB:
2.46) và mức độ hiệu quả (ĐTB: 2.44). Kết quả này phản ánh đúng thực trạng quản lý đào tạo, bồi
dưỡng ĐNGV. Điều này thể hiện ở việc cử giảng vên đi đào tạo không theo quy hoạch như đã đề cập ở
trên. Mặt khác, từ các khoa, lãnh đạo chưa rà soát tất cả các bộ môn giảng dạy và chưa xây dựng, đề
xuất kế hoạch bồi dưỡng giảng viên để đáp ứng những bộ môn còn thiếu giảng viên, những nội dung
kiến thức cần phải cập nhật. Cả khoa và nhà trường đều bị động, chỉ khi nào có công văn triệu tập tập
huấn, bồi dưỡng mới cử giảng viên đi học, chưa có sự chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục khác tổ
chức bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
- Muốn nâng cao chất lượng đào tạo thì việc tạo điều kiện cho giảng viên học tập, nâng cao trình
độ chuyên môn cả trong nước và ngoài nước cần phải được quan tâm. Qua khảo sát, việc tạo điều kiện
cho giảng viên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong nước được đánh giá khá cả về
mức độ thường xuyên (ĐTB: 3.46) và mức độ hiệu quả (ĐTB: 3.19). Có thể nói, trong năm năm trở lại
đây việc số lượng giảng viên được đi học nâng cao trình độ trong nước khá đông. Tuy nhiên, các khoa,
tổ chuyên môn chưa định hướng cho giảng viên lựa chọn chuyên ngành và trường học sao cho phù hợp
với định hướng phát triển của nhà trường và bản thân giảng viên. Do vậy, nhà trường cần phân cấp đến
các đơn vị, khoa, tổ chuyên môn về quy hoạch đào tạo đội ngũ để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo
ĐNGV trong nhà trường.
Việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn ở nước ngoài cũng còn hạn chế, qua kết quả khảo sát
tại bảng 2.17 thì việc cử giảng viên đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ở nước ngoài
được đánh giá trung bình cả về mức độ thường xuyên (ĐTB: 2.21) và mức độ hiệu quả (ĐTB: 2.23).
Nhà trường chưa có nhiều giảng viên đi học nước ngoài cũng như được hưởng thụ các dự án đào tạo ở
nước ngoài. Toàn trường chỉ có 01 giảng viên đã hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ ở nước ngoài,
02 giảng viên đang làm nghiên cứu sinh tại Trung Quốc theo diện học bổng hiệp định và Đề án 322
của Bộ GD – ĐT. Con số này là quá ít so với số lượng ĐNGV nhà trường. Vì vậy, lãnh đạo nhà trường
cần tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của của các đối tác trong việc cử giảng viên đi
học ở nước ngoài, cũng như các dự án đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ ở nước ngoài của Bộ GD- ĐT và của chính
phủ và Chính phủ góp phần nâng cao chất lượng ĐNGV nhà trường.
- Về việc tổ chức các lớp cập nhật kiến thức chuyên môn,ngoại ngữ, tin học; hội thảo, hội nghị …
tại trường, theo kết qủa điều tra thì tiêu chí này được đánh giá ở mức độ khá cả về mức độ thường
xuyên (ĐTB: 3.12) và mức độ hiệu quả (ĐTB: 2.91). Như đã đề cập ở trên, nhà trường còn bị động
trong công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV nên việc tổ chức các lớp cập nhật kiến thức chuyên môn
ngay tại trường là chưa thực hiện được. Do số lượng ĐNGV không lớn nên rất việc tổ chức các lớp bồi
dưỡng cho từng bộ môn rất khó và tốn kém. Giảng viên được tham gia các lớp bồi dưỡng theo sự chỉ
đạo của Bộ GD – ĐT, hoặc tự tìm tòi, nghiên cứu qua các tài liệu và thông tin đại chúng. Tuy vậy, nhà
trường đã rất quan tâm mở các lớp bồi dưỡng và nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học cho ĐNGV trong
đó nhà trường hỗ trợ hoàn toàn tiền học phí. Nhà trường cũng tổ chức một số hội thảo, hội nghị, … về
đổi mới phương pháp giảng dạy. Phối hợp với các tổ chức nước ngoài như tổ chức Fulbright, Bureau
for Canadian Volunteers Abroad, … tổ chức hội thảo về du học, đào tạo theo tín chỉ và giảng dạy thực
hành tiếng Anh, …. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng những cố gắng trong công tác đào tạo, bồi
dưỡng thể hiện sự quan tâm của nhà trường đối với chất lượng ĐNGV.
- Về chế độ chính sách khuyến khích giảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng,qua khảo sát các ý kiến
đánh giá việc thực hiện chế độ, chính sách khuyến khích giảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng ở mức khá
thường xuyên (ĐTB: 2.99) và khá hiệu quả (ĐTB: 2.45). Điều này cũng phản ánh đúng sự cố gắng của
ban lãnh đạo nhà trường trong việc tạo điều kiện cho giảng viên đi học. Các chế độ đã được quy định
rõ trong Quy chế chi tiêu nội bộ của nhà trường. Hiện nay, có hai diện đối tượng được hỗ trợ đi học.
Thứ nhất là đối tượng giảng viên đi học theo ngân sách địa phương quy định tại Quyết định 56/2008
ngày 08/12/2008 của ủy Ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được hưởng nguyên lương, được hỗ trợ
tiền tàu xe, tiền học phí, tiền tài liệu: 1 triệu đồng/năm, tiền ăn: 50.000đ/ngày, tiền ở 50.000đ/ngày, cán
bộ nữ được hỗ trợ thêm 5000đ/ngày, sau khi hoàn thành khóa học được thưởng 5 triệu đồng/người đối
với thạc sĩ và 10 triệu đồng/người đối với tiến sĩ. Thứ hai là đối tượng giảng viên đi học tự túc thì được
nhà trường hỗ trợ tiền học phí, tiền tài liệu 1 triệu đồng/năm, tiền ở 300.000đ/tháng, sau khi hoàn thành
khóa học được thưởng 5 triệu đồng/người đối với thạc sĩ và 10 triệu đồng/người đối với tiến sĩ. Trong
điều kiện kinh phí ngân sách quá hạn hẹp, các khoản nguồn thu ngoài của nhà trường không có nhiều,
trong khi đó các học sinh, sinh viên hệ sư phạm không phải đóng học phí, có thể thấy nhà trường đã tạo
điều kiện hết sức để hỗ trợ chi phí hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của ĐNGV.
- Về công tác đánh giá kết quả đào tạo - bồi dưỡng, qua khảo sát các ý kiến đều đánh giá đạt
trung bình cả về mức độ thường xuyên (ĐTB: 2.45) và hiệu quả (ĐTB: 2.39). Thực tế cũng cho thấy,
đội ngũ giảng viên nhà trường tham gia đào tạo, bồi dưỡng cũng khá nhiều nhưng những năm qua nhà
trường chưa thực hiện đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, từ đó để rút ra kinh nghiệm nội
dung nào hiệu quả, nội dung nào chưa hiệu quả để tiếp tục có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Nhà trường
chưa đánh giá được sau khi đi đào tạo, bồi dưỡng về, giảng viên đã phát huy được những kiến thức đã
được học vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên hay chưa. Do vậy trong
thời gian tới, nhà trường cần có những giải pháp thiết thực hơn nữa để nâng cao hiệu quả công tác đào
tạo, bồi dưỡng GV cũng như đảm bảo được tính khoa học, hợp lý trong công tác quy hoạch đào tạo,
bồi dưỡng ĐNGV.
2.4.4. Công tác quản lý hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Bảng 2.18: Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy và NCKH của giảng viên
Mức độ thường xuyên
Mức độ hiệu quả
ĐTB
Nội dung
ĐT B
T T
4
3
2
1
4
3
2
1
19
61
9
0
5
56
28
0
1
3.11
2.74
Phân công giảng dạy theo đúng chuyên môn
21.3
68.5
10.1
0
5.6 62.9
31.5
0
2
2.38
2.34
Tổ chức cho GV nắm vững kế họach và chương trình môn học
3
3.18
2.69
8 9.0 32 36.0 31
33 37.1 41 46.1 54
48 53..9 16 18.0 4
0 0 0 0 0
3 27 3.4 30.3 7 47 7.9 52.8 52 8
59 66.3 35 39.3 29
0 0 0 0 0
3.30
2.76
4
34.8
60.7
4.5
0
9.0 58.4
32.6
0
5
15
65
4
6
34
46
2
5
2.35
2.43
5.61
16.9
73.0
4.5
6.7 38.2
51.7 2.2
Đề ra yêu cầu về chuẩn bị kế họach bài dạy Thực hiện các họat động sinh họat chuyên môn định kỳ Giám sát, kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy
6 Tổ chức hoạt động NCKH
2.38
2.29
7
1 1.1 8 9.0
21 23.6 57 64.0
52 58.4 18 20.2
15 16.9 4 4.5
22 4 4.5 24.7 6 24 2.73 6.7 27.0
4 59 66.3 4.5 3 56 62.9 3.4 2.37
Chế độ đối với công tác giảng dạy và NCKH
Căn cứ vào kết quả khảo sát tại bảng 2.19, tác giả có những phân tích, đánh giá như sau:
- Về thực hiện phân công giảng dạy cho GV tại các khoa theo đúng chuyên môn, qua kết quả
khảo sát cho thấy tiêu chí này được đánh giá là khá thường xuyên (ĐTB: 3.11) và khá hiệu quả (ĐTB:
2.74). Nhìn chung, giảng viên nhà trường được phân công theo đúng chuyên môn. Tuy nhiên, ở một số
ngành mới, việc thực hiện phân công giảng dạy cho giảng viên chưa hợp lý, chưa đảm bảo phù hợp
giữa nhiệm vụ được giao với ngạch viên chức. Như đã đề cập ở trên, một số môn chưa có giảng viên
đúng chuyên ngành, nhà trường phải điều một số giảng viên ngành gần sang giảng dạy, điều này có thể
giải quyết được việc số giảng viên dư của các môn Văn, Sử, Địa. Trường hợp ở khoa tự nhiên, do hai
năm nay không đào tạo ngành Sư phạm Lý – Hóa nên số giảng viên môn này không có tiết dạy, phải
làm công tác văn phòng, trong số này có những giảng viên có trình độ thạc sĩ, đây thực sự là một sự
lãng phí nhân lực của nhà trường. Trong khi đó các ngành Kế toán, Quản trị Kinh doanh, Thư viện
phải điều động chuyên viên chưa được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm, chưa được thẩm định về năng
lực chuyên môn tham gia giảng dạy. Một số giảng viên tập sự nhưng có số tiết giảng dạy và dư giờ khá
cao. Tình trạng giảng viên thiếu thừa cục bộ gây khó khăn trong việc phân công chuyên môn.
- Cũng chính từ thực trạng trên nên việc tổ chức cho giảng viên nắm vững kế hoạch và chương
trình môn học cũng như đề ra yêu cầu về chuẩn bị bài dạy còn nhiều hạn chế. Kết quả khảo sát cũng
cho thấy các tiêu chí này được đánh giá ở mức trung bình cả về mức độ thường xuyên (ĐTB: 2.38) và
mức độ hiệu quả (ĐTB: 2.34). Đầu năm học, các Khoa và tổ bộ môn họp phân công giảng dạy, giảng
viên dạy môn nào thì xây dựng đề cương chi tiết môn học đó rồi nộp về cho Khoa và Phòng Đào tạo.
Các bước thực hiện chủ yếu mang tính hình thức, thiếu sự giám sát kiểm tra chặt chẽ về nội dung
chương trình, tất cả đều buông lỏng. Nhiều năm qua, việc soạn giáo án của giảng viên, cũng như việc
chuẩn bị bài của giảng viên trước khi lên lớp đã được nhà trường quan tâm nhưng chưa sâu sát. Chính
vì vậy năm học 2009 – 2010, lãnh đạo nhà trường đã tổ chức kiểm tra giáo án của giảng viên, yêu câu
tất cả các giảng viên nộp giáo án và tài liệu giảng dạy để kiểm tra. Nhưng việc kiểm tra chỉ dừng lại ở
việc khớp môn học và giáo án, tài liệu giảng dạy chứ chưa kiểm tra, đánh giá được nội dung chất lượng
giáo án và nguồn gốc tài liệu giảng dạy.
- Về sinh hoạt chuyên môn, các ý kiến thu được qua khảo sát cho rằng công tác này được tổ chức
khá thường xuyên (ĐTB: 3.30) và cũng khá hiệu quả (ĐTB: 2.76). Kết hợp với việc quan sát và phỏng
vấn tác giả nhận thấy việc sinh hoạt chuyên môn tại các tổ, khoa được tổ chức thường xuyên, định kỳ
nhưng hiệu quả chưa cao do có một số khó khăn riêng. Một số tổ chuyên môn đã làm tốt, sinh hoạt có
chất lượng và không lãng phí thời gian như tổ Văn, tổ Toán, tổ Năng khiếu, tổ Tâm lý – giáo dục, tổ
Mầm non, … . Tuy vậy một số tổ chuyên môn chỉ có 1 hoặc 2 GV phải sinh hoạt ghép, nên rất khó đi
sâu vào chuyên môn, thực hiện nội dung chương trình dẫn tới sinh hoạt không chất lượng, không hiệu
quả. Một số tổ chuyên môn chưa thống nhất được về giờ dạy, quan điểm, nội dung, phương pháp
giảng dạy nên còn xảy ra những bất đồng.
- Việc giám sát kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của giảng viên được đội
ngũ cán bộ, chuyên viên các khoa thực hiện thường xuyên thông qua thời khóa biểu. Các lãnh đạo khoa
chưa chủ động, trực tiếp trong việc kiểm tra thường xuyên và đột xuất. Do đó, nhiều trường hợp giảng
viên bỏ giờ, nghỉ dạy triền miên hoặc tổ chức dạy cuốn chiếu các khoa cũng không nắm được . Chính
vì vậy hiệu quả của việc kiểm tra, giám sát chưa cao. Kết quả khảo sát tại bảng 2.19 cũng đánh giá
công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của giảng viên đạt mức
trung bình cả về mức độ thường xuyên (ĐTB: 2.35) và hiệu quả (ĐTB: 2.43). Điều này thể hiện qua
việc tổ chức dự giờ của các khoa chưa được thường xuyên, việc đánh giá kết quả dự giờ chưa thật sự
khách quan, ở một số giảng viên chưa có tinh thần đánh giá, phê bình thẳng thắn. Đối với một số giảng
viên tập sự, nhà trường yêu cầu thấp, trong một năm tập sự giảng viên tập sự chỉ được đánh giá qua 3
tiết dự giờ mà chưa quy định việc đi dự giờ. Việc dự giờ, nhận xét đối với giảng viên tập sự cũng có xu
hướng làm cho hợp lệ do sự dễ dãi của giảng viên hướng dẫn và sự thiếu kiểm tra, đánh giá của các cấp
lãnh đạo trong nhà trường.
- Về công tác nghiên cứu khoa học, nhà trường chưa khai thác được tiềm năng của đội ngũ giảng
viên. Trong 5 năm qua (2006 – 2010) nhà trường đã thực hiện được 64 đề tài trong đó có 5 đề tài cấp
tỉnh và 37 đề tài cấp trường và 22 đề tài cấp khoa. Phần lớn các đề tài có nội dung nghiên cứu về khoa
học giáo dục, nhằm giải quyết các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn giáo dục đang đặt ra với nhà
trường, với ngành giáo dục địa phương và công cuộc đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô cả
nước. Bên cạnh đó nhà trường đã tổ chức 10 cuộc hội thảo nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy trong
nhà trường và trao đổi kinh nghiệm với 1 số trường đại học cao đẳng trên toàn quốc.
Bảng 2.19: Thống kế số lượng đề tài NCKH của ĐNGV qua các năm học
TT Năm học Cấp khoa Cấp trường Cấp tỉnh Cấp bộ
2005 -2006 18 1 10 0 0
2 2006 - 2007 2 10 1 0
3 2007 - 2008 0 3 1 0
4 2008 – 2009 0 3 2 0
5 2009 - 2010 2 11 1 0
(Nguồn: Phòng Nghiên cứu khoa học và Quan hệ quốc tế, 2010)
Tổng cộng: 22 37 5 0
Những năm gần đây, công tác nghiên cứu khoa học của ĐNGV rất được lãnh đạo nhà trường
quan tâm và nhận thức đúng đắn về vị trí vai trò của công tácNCKH. Năm 2006, nhà trường đã thành
lập thêm phòng Nghiên cứu khoa học và quan hệ quốc tế vì vậy công tác quản lý NCKH đã từng bước
đi vào nề nếp, xây dựng được bộ máy và quy trình quản lý hợp lý, đã tạo được không khí học thuật và
môi trường khoa học trong nhà trường, góp phần làm chuyển biến nhận thức của ĐNGV về công tác
NCKH. Hoạt động NCKH đã có nhiều đóng góp làm sáng tỏ vấn đề lý luận, đặt cơ sở cho việc cải
tiến, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học trong nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng dạy và
học
Tuy nhiên công tác NCKH còn nhiều tồn tại và hạn chế trong các khâu tổ chức, thực hiện và
quản lý. Kết quả khảo sát cho thấy việc tổ chức hoạt động NCKH của các khoa và nhà trường chỉ đạt ở
mức trung bình cả về mức độ thường xuyên (ĐTB: 2.38) và mức độ hiệu quả (ĐTB: 2.29). Từ thực tế,
so với tiềm lực của ĐNGV thì khối lượng, đề tài còn rất thấp, đặc biệt là các đề tài cấp tỉnh, cấp bộ.
Chưa xây dựng chiến lược, kế hoạch cụ thể cho công tác NCKH của nhà trường. Nhà trường đã quy
định rất rõ ràng về nhiệm vụ NCKH, quy đổi sang số tiết giảng dạy nhưng vẫn không thúc đẩy được
nhiệm vụ NCKH. Bên cạnh đó nảy sinh nhiều vấn đề khó giải quyết như nhiều giáo viên vừa thiếu giờ
giảng dạy, vừa thiếu giờ NCKH hoặc có giảng viên chịu chấp nhận bị trừ số tiết giảng dạy chứ không
bao giờ làm NCKH, một số khác làm NCKH với tính chất đối phó, hoàn thành nghĩa vụ nên chất lượng
đề tài NCKH học chưa đạt chất lượng, gây lãng phí. Nhà trường cần có quy định khen thưởng, trách
phạt công minh nhằm khuyến khích NCKH thực thụ, nâng cao chất lượng NCKH của nhà trường.
- Về chế độ khuyến khích đối với công tác giảng dạy và NCKH, qua khảo sát cho thấy tiêu chí
này được đánh giá là thực hiện khá thường xuyên nhưng hiệu quả chỉ đạt mức trung bình (điểm trung
bình lần lượt là: 2.73 và 2.37). Trước hết, đối với hoạt động giảng dạy, hàng năm nhà trường tổ chức
hội thi giảng viên giỏi cấp khoa, cấp trường, giảng viên tham gia có thành tích tốt là cơ sở cho việc xếp
loại thi đua cá nhân và của khoa. Mặc dù các danh hiệu giảng viên giỏi, chiến sĩ thi đua ngoài phần
thưởng là vật chất nó là tiêu chí ưu tiên cao cho việc xét nâng lương trước thời hạn nhưng cũng không
thể đẩy mạnh phong trào thi đua giảng dạy mạnh mẽ trong ĐNGV, giảng viên không hào hứng đăng ký
tham gia hội giảng, có điều này là một phần là do giảng viên có tư tưởng sợ bị đánh giá, ngại bị phê
bình, kết quả một số người như lãnh đạo các khoa, phòng là những người thường xuyên đạt các danh
hiệu thi đua cao và được nâng lương trước thời hạn.
- Việc tổ chức hội thảo, hội giảng cũng như NCKH mới chỉ dừng lại ở mức kêu gọi, chưa có cơ
chế khuyến khích giảng viên tham gia tích cực các hoạt động này. Kinh phí cho việc tổ chức hoạt động
này còn có những hạn chế, bất cập nhất định.
Bảng 2.20: Số lượng đề tài NCKH, hội nghị , hội thảo qua các năm học
2006
2007
2008
2009
2010
28
13
4
5
13
1
2
2
2
3
20
20
33
33
107
690.000
1.330.000 5.500.000 4.700.000 6.690.000
Nội dung Số lượng đề tài đã thực hiện Số Hội thảo được tổ chức Kinh phí cấp cho các hoạt động NCKH (Triệu đồng) Kinh phí trung bình cấp cho các hoạt động NCKH
(Nguồn: Phòng Nghiên cứu khoa học và Quan hệ quốc tế, 2010)
Qua bảng 2.21 có thể thấy nguồn kinh phí cấp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo, hội
nghị qua các năm đã được tăng cường nhưng thực hiện hiệu quả chưa được hiệu quả, kinh phí trung
bình cấp cho hoạt động NCKH chưa cao. Chính vì vậy, trong thời gian tới, nhà trường mà trực tiếp là
phòng Nghiên cứu khoa học và Quan hệ quốc tế cần có những biện pháp cải tổ, khuyến khích động
nghiên cứu khoa học của ĐNGV đi vào chiều sâu, đạt chất lượng cao.
2.4.5. Công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng ĐNGV
Kiểm tra, đánh giá là một trong những chức năng quan trọng của công tác lãnh đạo quản lý, là
việc làm thường xuyên và là trách nhiệm của nhà quản lý trường học, nó là khâu tất yếu trong công tác
quản lý. Thông qua kiểm tra, đánh giá giúp các nhà quản lý hiểu rõ và đánh giá đúng năng lực của
ĐNGV.
Bảng 2.21: Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá ĐNGV
Mức độ thường xuyên
Mức độ hiệu quả
ĐTB
ĐTB
Nội dung
T T
4
3
2
1
3
2
4
1
4
12
62
11
15
50
6
18
1
2.43
2.37
4.5
13.5 69.7 12.3
6.7
16.9
56.2
20.3
6
18
63
2
26
58
4
1
2.48
2.37
2
6.7
20.3 70.8
2.2
4.5
29.2
65.2
1.1
Xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm tra, đánh giá Quy trình đánh giá đảm bảo khách quan, công bằng
3 Gắn với quyền lợi,
2.84
2.42
7
61
21
0
5
27
57
0
0
7.9
68.5 23.6
5.6
30.3
64.0
0
nghĩa vụ, trách nhiệm của giảng viên
3
0
40
46
17
63
7
2
4
2.41
2.33
Tác động đến sự phấn đấu của giảng viên
0
3.4
44.9 51.7
7.9
19.1
70.8
2.2
7
28
43
11
20
46
6
17
2.35
2.17
5
7.9
31.5 48.3 12.4
6.7
22.5
51.7
19.1
Kịp thời đưa ra quyết định điều chỉnh những sai lệch
Qua bảng 2.22 cho thấy công tác kiểm tra, đánh giá của nhà trường chưa thường xuyên, chưa
hiệu quả. Các tiêu chí đưa ra hầu hết đều được đánh giá ở mức độ trung bình. Điều này phản ánh phần
nào thực trạng của công tác kiểm tra, đánh giá của nhà trường, để đánh giá đúng thực trạng, tác giả đi
vào phân tích tùng tiêu chí nhằm tìm ra những điểm yếu để khắc phục và xây dựng một quy trình kiểm
tra đánh giá đảm bảo tính khách quan, công bằng, đánh giá đúng chất lượng của ĐNGV nhà trường.
- Về công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá theo thời gian và triển khai thực hiện, theo
kết quả điều tra, tiêu chí này được đánh giá mức trung bình về mức độ thường xuyên (ĐTB: 2.43) và
mức độ hiệu qủa (ĐTB: 2.37). Những năm qua công tác kiểm tra đánh giá của nhà trường chưa xây
dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá theo thời gian một cách thương xuyên, hầu như việc đánh giá công
chức chỉ được tiến hành mang tính chiếu lệ, hình thức, chưa xây dựng được chuẩn trong kiểm tra, đánh
giá ĐNGV. Hàng năm nhà trường tiến hành đánh giá giảng viên theo mẫu đánh giá công chức của Ủy
ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tại Hướng dẫn số 08/HD-UB ngày 04 tháng 01 năm 2000 của
Ủy ban nhân dân tỉnh.Các nội dung, tiêu chí đánh giá trong phiếu không đảm bảo được các yêu cầu
đánh giá đối với giảng viên nên hiệu quả đánh giá không cao. Việc chú trọng đánh giá chất lượng chưa
được quan tâm nhiều, chỉ dừng lại ở mức kêu gọi, chưa đi theo một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, chưa xây
dựng được tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể để dự giờ, thăm lớp và đánh giá giảng viên.
- Về quy trình đánh giá đảm bảo khách quan, công bằng, qua kết quả khảo sát tiêu chí này được
đánh giá ở mức trung bình cả hai cấp độ thực hiện thường xuyên (ĐTB:2.34) và hiệu quả (ĐTB: 2.37).
Xét về bản chất, mục đích của việc đánh giá giảng viên là để không ngừng nâng cao phẩm chất chính
trị, đạo đức, năng lực và hiệu quả công tác của họ; ngoài ra còn làm căn cứ để tuyển chọn, bố trí, sử
dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện các chế
độ chính sách. Kiểm tra đánh giá đúng sẽ làm cho ĐNGV phấn khởi tin tưởng. Kiểm tra, đánh giá sai
có thể dẫn tới những tác hại không lường trước được. Vì vậy, trong kiểm tra, đánh giá giảng viên
chúng ta cần thận trọng và đánh giá khách quan, công bằng. Về quy trình đánh giá ĐNGV của nhà
trường đã đảm bảo tính khách quan, công bằng, việc đánh giá đi từ tự đánh giá đến cấp khoa rồi đến
cấp trường . Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện quy trình chưa đảm bảo tính khách quan,
công bằng. Cụ thể, cuối năm học, phòng Tổ chức có nhiệm vụ phát hành phiếu đánh giá viên chức về
các đơn vị, giảng viên tự đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của mình, sau đó trưởng đơn
vị nhận xét và chuyển các phiếu đánh giá đó về phòng Tổ chức, Phòng Tổ chức có nhiệm vụ trình Hiệu
trưởng nhận xét, đánh giá và tổng hợp xếp loại của giảng viên. Các giảng viên coi việc đánh giá như
việc hoàn tất một thủ tục, không có tinh thần tự phê bình và phê bình, có tư tưởng ngại va chạm. Việc
tổ chức đánh giá từ cấp khoa chưa kết hợp được nhiều luồng thông tin, chưa sát với kiểm tra và chưa
thực sự thu hút được các cá nhân khác tham gia vào quá trình đánh giá để làm cho chất lượng đánh giá
sát thực hơn. Khâu cuối cùng của đánh giá là hiệu trưởng trực tiếp đánh giá giảng viên nên yếu tố chủ
quan và việc bỏ sót thông tin là điều không tránh khỏi. Vì vậy, trong kiểm tra, đánh giá ĐNGV, trước
hết phải làm cho ĐNGV nhận thức được ý nghĩa của hoạt động kiểm tra, đánh giá với chính bản thân
họ; hai là cần tạo cho ĐNGV tin tưởng ở sự công bằng, vô tư, khách quan, khoa học của công tác kiểm
tra, đánh giá; ba là, đội ngũ cán bộ, quản lý nhà trường từ cấp phòng, khoa trở lên phải được bồi dưỡng
những kỹ năng cơ bản về kiểm tra, đánh giá ĐNGV; bốn là hình thức kiểm tra, đánh giá cần được mở
rộng và dân chủ trong đánh giá; năm là khuyến khích đội ngũ giản viên tự kiểm tra, đánh giá bản thân.
- Về tiêu chí công tác kiểm tra đánh giá của nhà trường gắn với quyền lợi, nghĩa vụ và trách
nhiệm của đội ngũ giảng viên, kết quả khảo sát cho thấy nội dung này được thực hiện ở mức khá
thường xuyên (ĐTB: 2.84) và thực hiện đạt hiệu quả ở mức trung bình (ĐTB: 2.42). Đây là một kết
quả rất đúng với thực tế nhà trường. Có nhiều tiêu chí trong kiểm tra, đánh giá của nhà trường quan
tâm, gắn kết với quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm giảng viên nhưng sự hiệu quả chưa cao vì cách
thức tổ chức và thực hiện chưa tốt, chưa gắn với thi đua, khen thưởng. Nhà trường chưa có sự quan
tâm sâu sát cũng như đánh giá rút kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá. Việc đánh
giá cũng chưa được kết hợp chặt chẽ khi thực hiện các quyết định về khen thưởng, kỷ luật đối với
giảng viên, vẫn còn gây dư luận băn khoăn trong giảng viên. Chính vì vậy, nhà trường cần phải rà soát
lại các tiêu chí trong công tác kiểm tra, đánh giá sao cho thực sự thiết thực với quyền lợi của ĐNGV và
tổ chức thực hiện một cách khoa học và hiệu quả hơn.
Có thể nói, kiểm tra, đánh giá phải rõ ràng, phải phát huy được mặt mạnh của ĐNGV để khuyến
khích nhân rộng điển hình làm nòng cốt trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường,
đồng thời phát hiện những sai lệch, yếu kém của ĐNGV để kịp thời uốn nắn, điều chỉnh. Nói cách
khác kiểm tra, đánh giá phải tác động đến sự phấn đấu của đội ngũ giảng viên, qua khảo sát tiêu chí
kiểm tra đánh giá của nhà trường tác động đến sự phấn đấu của đội ngũ giảng viên cho thấy chỉ đạt
mức trung bình ở cả hai mức độ thường xuyên (ĐTB: 2.41) và mức độ hiệu qủa (ĐTB 2.33). Điều này
có liên quan mật thiết với việc kiểm tra, đánh giá của nhà trường chưa kết hợp được nhiều nhiệm vụ và
lợi ích thiết thực của giảng viên. Kiểm tra, đánh giá của nhà trường chưa tác động tích cực đến giảng
viên vì nó chưa đi liền với khen thưởng, kỷ luật kịp thời. Chẳng hạn, sau khi có kết quả đánh giá công
chức, viên chức, giảng viên được xếp loại xuất sắc nhưng nhà trường chưa không có chế độ khen
thưởng hay biểu dương giảng viên, xếp loại xong rồi để đó, người tốt cũng như người chưa tốt đều như
nhau. Bên cạnh đó, một số giảng viên trẻ mới công tác tâm sự, những ngày mới công tác họ thấy hồ
hởi, nhiệt huyết, cảm thấy có trách nhiệm, chuyên tâm cho nhiệm vụ giảng dạy, phấn đấu hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ. Nhưng sau quá trình công tác, họ nhận thấy công tác kiểm tra, đánh giá của nhà
trường quá dễ dãi nên họ không còn thấy lo sợ cũng như không còn nhiệt tình nhiều như lúc đầu và sự
chu đáo trong giảng dạy cũng giảm.
Thông qua kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh kịp thời các nguồn lực phục vụ công tác quản lý
ĐNGV, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV và coi kiểm tra, đánh giá
như một quy định, quy trình không thể thiếu đối với từng giảng viên và hoạt động chuyên môn của nhà
trường. Qua khảo sát tiêu chí:kịp thời đưa ra những quyết định điều chỉnh, khắc phục những sai lệch
được phát hiện trong công tác kiểm tra ĐNGV nhà trường đều chỉ đạt mức trung bình ở cả hai cấp độ
thực hiện thường xuyên (ĐTB: 2.35) và mức độ hiệu quả (ĐTB: 2.17). Đây là một trong những hạn
chế trong công tác kiểm tra, đánh giá. Nhà trường đã chưa thường xuyên đưa ra những quyết định điều
chỉnh khắc phục những sai lệch kịp thời. Đặc biệt trong việc kiểm tra chuyên môn của đội ngũ giảng
viên. Việc giảng viên bỏ giờ, bỏ dạy, hoặc bỏ lớp, dạy không có giáo án, có sự lệch lạc trong nội dung
giảng dạy, năng lực dạy học chưa tốt, … chưa được phát hiện kịp thời, nhiều khi vấn đề trở thành dư
luận hoặc gây hậu quả thì lãnh đạo đơn vị mới biết. Điều này cho thấy việc kiểm tra đánh giá chưa theo
sát hoạt động thực tế của ĐNGV, chưa hình thành nguyên lý tự kiểm tra trong ĐNGV và từng giảng
viên, tạo cơ sở để mỗi giảng viên có thể tự đánh giá, xem xét và tự điều chỉnh để hoàn thành tốt nhiệm
vụ được giao.
Trong thời gian tới, ban thi đua nhà trường sẽ xây dựng và hoàn thiện các tiêu chí thực hiện
nhiệm vụ đánh giá xếp loại giảng viên phân theo các mức độ A, B, C nhằm củng cố nề nếp sư phạm,
nâng cao tính kỷ luật trong ĐNGV cũng như góp phân nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
2.5. Nhận xét chung
2.5.1. Những mặt mạnh về công tác quản lý đội ngũ giảng viên
Nhà trường đã làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức trong cán bộ, giảng viên.
Tình hình chính trị, tư tưởng trong nhà trường ổn định, đoàn kết nội bộ được giữ vững.
Quản lý hoạt động dạy – học của giảng viên ngày càng được cải tiến theo hướng nâng cao chất
lượng, quy mô đào tạo giữ vững và ngày càng phát triển.
Hầu hết cán bộ quản lý đều nhận thức đúng đắn về vai trò của ĐNGV và tầm quan trọng của công
tác quản lý đội ngũ giảng viên.
Cơ sở vật chất ngày càng được bổ sung, hoàn thiện phần nào đáp ứng được yêu cầu nâng cao cơ
bản của công tác dạy – học và nâng cao chất lượng đào tạo
Lãnh đạo nhà trường rất quan tâm, tạo điều kiện cho giảng viên tham gia đào tạo, bồi dưỡng.
Chính vì vậy Đội ngũ giảng viên có trình độ thạc sĩ tăng nhanh.
Số lượng giảng viên được tuyển dụng trong những năm gần đây phần nào đáp ứng được yêu cầu
của công tác đào tạo .
Chế độ chính sách đối với đội ngũ giảng viên cơ bản được thực hiện đúng quy định của nhà nước.
2.5.2. Những mặt yếu về công tác quản lý đội ngũ giảng viên
Việc quy hoạch còn gặp những khó khăn như chưa có quy trình, lộ trình cụ thể. Các biện pháp hỗ
trợ cho công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên chưa rõ ràng, chưa đồng bộ việc tuyển dụng,
bố trí sử dụng ĐNGV còn bộc lộ những điều bất hợp lý
Do công tác quy hoạch còn yếu nên ĐNGV nhà trường còn thiếu đồng bộ, một số bộ môn còn
thiếu giảng viên có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm; một số ngành đào tạo chưa có đủ đội ngũ giảng
dạy, đang phải hợp đồng, liên kết đào tạo với các trường ĐH, CĐ khác. Một bộ phận giảng viên chậm
đổi mới phương pháp, ít nghiên cứu học tập nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực giảng dạy; một bộ
phận cán bộ quản lý và nhân viên thừa hành chưa được đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực,
nghiệp vụ công tác.
Các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV như đào tạo, bồi dưỡng, NCKH, hội thảo, hội
giảng … đã được quan tâm nhưng chưa có lộ trình và biện pháp rõ ràng, chưa có sự đánh giá, tổng kết
hoạt động. Cơ chế, chính sách cho công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐVGV chưa đồng bộ và chịu nhiều quy
định ràng buộc, những GV đủ tiêu chuẩn về thời gian công tác để đi học nâng cao thì khả năng ngoại
ngữ không tốt, GV trẻ chưa đủ tiêu chuẩn lại có khả năng học tốt và ham muốn được nâng cao trình độ
dẫn đến tình trạng phá rào đi học, nhiều GV sẵn sàng thôi việc để tiếp tục được đi học.
Mặc dù cơ sở vật chất đã từng bược được bổ sung, hoàn thiện nhưng vẫn còn thiếu thốn nhiều,
nhất là phòng học dẫn đến phải học hai ca/ngày và học cả thứ bảy, chủ nhật; Một số phòng học đa năng
chưa khai thác triệt để công năng; đặc biệt các thiết bị Internet, thiết bị thực hành chưa được tận dụng
và khai thác triệt để.
Nhìn chung thu nhập của ĐNGV còn thấp, nhà trường không có nhiều khoản hỗ trợ thêm. Đặc
biệt đối với đội ngũ giảng viên trẻ, đời sống còn nhiều khó khăn về điều kiện ăn, ở, đi lại, … với mức
lương hiện tại nhiều giảng viên chưa thể chuyên tâm giảng dạy. Vì thế mà ảnh hưởng không nhỏ tới
chất lượng giảng viên cũng như chất lượng đào tạo của nhà trường.
Quan hệ hợp tác trong và ngoài nước về lĩnh vực giáo dục và đào tạo còn gặp nhiều khó khăn.
Việc liên kết đào tạo với các trường ĐH, CĐ trong nước chỉ dừng lại ở một số ngành học, chưa mở
rộng cho nhiều ngành, nhiều trình độ đào tạo đáp ứng yêu cầu người học trên địa bàn; quan hệ hợp tác
quốc tế chưa quan tâm đúng mức và còn bộ lộ nhiều yếu kém.
Công tác kiểm tra, đánh giá chưa xây dựng được chuẩn đánh giá giảng viên; công tác thi đua;
khen thưởng còn chưa tạo được sức hấp dẫn và hưởng ứng nhiệt tình từ phía ĐHGV.
Các chế độ, chính sách khuyến khích giảng dạy và NCKH chưa phù hợp. Vì vậy, chưa tạo điều
kiện cho giảng viên tập trung đầu tư nhiều cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy, NCKH và việc
nghiên cứu biên soạn tài liệu, giáo trình phục vụ cho công tác đào tạo của nhà trường.
2.6. Nguyên nhân của thực trạng
Bảng 2.22: Những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên trường
CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu
Mức độ đánh giá
TT
Yếu tố
TB
4
3
2
1
Được Ủy ban nhân dân tỉnh giao quyền tự
SL
58
28
3
0
1
3.62
chủ về lĩnh vực quản lý đội ngũ và một số
%
65.2
31.5
3.4
0
lĩnh vực khác
SL
52
32
5
0
Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và lãnh
3.53
2
đạo cấp trên
%
58.4
36.0
5.6
0
SL
62
26
1
0
Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy và BGH
3.69
3
nhà trường
%
69.7
29.2
1.1
0
10
SL
20
59
0
Một bộ phận giảng viên lâu năm giàu kinh
3.11
4
nghiệm, nhiệt tình và gương mẫu
%
22.5
66.3
11.2
0
Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi về mọi
SL
32
49
8
0
3.27
5
mặt để giảng viên được học tập và cống
%
36.0
55.1
9.0
0
hiến
SL
14
60
14
1
Chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ
2.98
6
giảng viên
%
15.7
67.4
15.7
1.1
SL
21
34
32
2
Chưa thực sự được tự chủ số lượng biên chế
2.83
7
của nhà trường
%
23.6
38.2
36.0
2.2
SL
18
43
26
2
Trình độ quản lý của cán bộ quản lý không
2.87
8
đồng đều
%
20.2
48.3
29.2
2.2
SL
37
34
14
2
Chưa có chính sách thu hút và giữ chân
9
3.15
giảng viên trẻ, có trình độ chuyên môn cao %
41.6
38.2
15.7
2.2
SL
18
50
19
2
Đội ngũ cán bộ phòng – khoa ít được bồi
2.92
10
dưỡng về nghiệp vụ quản lý
%
20.2
56.2
21.3
2.2
SL
18
39
29
1
Còn một số giảng viên chưa được đạt chuẩn
2.79
11
về yêu cầu nghiệp vụ của ngạch
%
20.2
43.8
32.6
1.1
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học chưa
SL
43
31
13
2
12
3.27
đáp ứng được yêu cầu phát triển của trường %
48.3
34.8
14.6
2.2
SL
32
28
25
2
Nguồn kinh phí thực hiện các giải pháp
2.97
13
quản lý đội ngũ giảng viên còn hạn hẹp
%
36.0
31.5
28.1
2.2
Căn cứ vào kết quả khảo sát tại Bảng 2.20 cho thấy, tất cả các ý kiến đều đánh giá các tiêu chí đã
đưa ra là ảnh hưởng nhiều hoặc rất nhiều đến công tác quản lý ĐNGV nhà trường (Điểm trung bình từ
2.79 đến 3.69):
2.6.1. Nguyên nhân những mặt mạnh
- Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban giám hiệu và tập thể lãnh đạo nhà trường ảnh
hưởng rất nhiều đến kết quả quản lý (ĐTB: 3,69). Việc chỉ đạo, và đưa ra những quyết định quản lý
đúng đắn của lãnh đạo nhà trường mang lại nhiều lợi ích cho nhà trường cũng như đội ngũ giảng viên.
- Bên cạnh đó, sự quan tâm, giúp đỡ của Bộ GD –ĐT, của các cấp lãnh đạo địa phương; sự hỗ trợ,
hợp tác của các Sở, Ban, Ngành trong tỉnh, của các đơn vị trong và ngoài tỉnh trên nhiều lĩnh vực hoạt
động của nhà trường cũng ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản lý ĐNGV (ĐTB: 3.53). Sự quan tâm
đó là cơ sở quan trọng, là điều kiện và động lực cho nhà trường thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của
mình.
- Sự cố gắng tích cực của đội ngũ cán bộ, giảng viên, công nhân viên nhà trường, đặc biệt là đội
ngũ giảng viên lâu năm, giàu kinh nghiệm, nhiệt tình và gương mẫu là cơ sở, nền tảng cho đội ngũ
giảng viên trẻ học tập, noi theo. Kết qủa khảo sát tiêu chí này ảnh hưởng nhiều đến công tác quản lý
ĐNGV (ĐTB: 3.11).
- Việc nhà trường luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giảng viên được học tập, công hiến ảnh
hưởng nhiều đến công tác quản lý ĐNGV (ĐTB: 3.27). Sự quan tâm, tạo điều kiện góp phần tạo động
lực, kích thích sự nỗ lực phấn đấu của giảng viên, làm tăng sự gắn kết giữa giảng viên với nhà trường.
Đây là một cơ sở thuận lợi cho công tác quản lý ĐNGV.
2.6.2. Nguyên nhân những mặt yếu
- Việc hạn chế về quyền tự chủ ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản lý ĐNGV (ĐTB: 3.62).
Là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý, nhà trường vẫn còn nhiều phụ thuộc
và bị động trong công tác quản lý cán bộ, như công tác quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng,...
Lãnh đạo nhà trường chưa tích cực tham mưu với lãnh đạo tỉnh, tranh thủ sự giúp đỡ của các Sở, Ban,
Ngành trong tỉnh, các đơn vị trong và ngoài tỉnh, đặc biệt tranh thủ sự hợp tác của Sở GD-ĐT của tỉnh.
- Điều kiện về sơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu phats triển của nhà trường ảnh hưởng nhiều
đến công tác quản lý ĐNGV (ĐTB: 3.27). Những năm qua đã Ủy ban nhân dân tỉnh cấp kinh phí sửa
chữa, trang bị mới nhiều phương tiện, thiết bị hỗ trợ dạy học. Khoảng 70% phòng học có trang bị máy
chiếu và kết nối Internet, 5 phòng Internet, phòng lab, thư viện được xây mới và bổ sung đa dạng sách,
tài liệu học tập, giảng dạy, … tuy nhiên do số lớp tăng nên việc thiếu phòng học, giảng đường vẫn xảy
ra, công tác phục vụ cho việc sửa chữa máy móc, thiết bị hỗ trợ dạy học chưa kịp thời, … làm ảnh
hưởng đến công tác đào tạo của nhà trường.
- Việc chưa có chính sách thu hút và giữ chân giảng viên trẻ có trình độ chuyên môn cao cũng
ảnh hưởng nhiều đến chất lượng ĐNGV và công tác quản lý GV (ĐTB: 3.15). Ủy ban nhân dân tỉnh
không có chính sách để thu hút nhân lực có chất lượng cao chính vì vậy cũng ảnh hưởng chung đến
việc thu hút giảng viên của nhà trường. Với nguồn ngân sách còn phụ thuộc quá nhiều vào nhà nước
nên nhà trường cũng chưa có chính sách để thu hút cũng như giữ chân giảng viên giỏi. Một số giảng
viên sau khi đi học sau đại học về đã nghỉ việc hoặc chuyển công tác. Năm học 2009 – 2010, trong số
giảng viên nghỉ việc và chuyển công tác có 04 thạc sỹ và 01 tiến sĩ. Lý do một phần là điều kiện thu
nhập của đội ngũ giảng viên nhà trường thấp, ngoài lương thì nhà trường chưa có thêm chế độ hỗ trợ
nào.
- Cũng như chính sách thu hút giảng viên, chế độ đãi ngộ đối với nhà trường còn hạn chế. Kết
quả khảo sát cho thấy việc thực hiện chế độ đãi ngộ thỏa đáng ảnh hưởng nhiều đến công tác quản lý
ĐNGV (ĐTB: 2.98). Mặc dù, nhà trường có nhiều cố gắng tạo điều kiện cho giảng viên được hưởng
các độ chính sách, như:xây nhà tập thể cho ĐNGV trẻ, thu nhập thấp; hỗ trợ hiếu - hỷ, hỗ trợ giảng
viên đi đào tạo, bồi dưỡng ,.... nhưng việc huy động các nguồn lực về tài chính của nhà trường còn gặp
nhiều khó khăn, nhà trường chưa có nhiều nguồn thu nên việc thực hiện các chế độ đãi ngộ còn bị hạn
chế.
- Việc chưa tự chủ về biên chế cũng gây nhiều khó khăn cho công tác tuyển dụng, sử dụng, điều
động GV. Kết quả khảo sát cho thấy, tiêu chí này ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả quản lý ĐNGV (ĐTB:
2.83). Sự phụ thuộc vào việc giao biên chế hàng năm của UBND tỉnh làm cho việc thực hiện các biện
pháp quản lý trở nên bị động.
- Theo kết quả khảo sát, nguồn kinh phí thực hiện các giải pháp quản lý còn hạn hẹp ảnh hưởng
nhiều đến đến công tác quản lý ĐNGV (ĐTB: 2.97). Mặc dù đã thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính
theo Nghị định 43/2006/NĐ – CP nhưng hiệu trưởng vẫn chưa toàn quyền chủ động trong kế hoạch chi
tiêu, vẫn bị ràng buộc bởi nhiều quy định khác. Những khó khăn về tài chính cũng là trở ngại đáng kể
cho công tác quản lý ĐNGV nhà trường.
- Một số giảng viên chưa đạt chuẩn về yêu cầu nghiệp vụ của ngạch cũng về ảnh hưởng đến hiệu
quả quản lý, theo kết quả khảo sát là ảnh hưởng nhiều (ĐTB: 2.79). Có thể nói năng lực sư phạm ảnh
hưởng rất nhiều đến hiệu quả công tác của từng giảng viên và tập thể sư phạm. Kể từ năm 2006 đến
nay, do nhà trường đẩy nhanh việc mở rộng các ngành học mới, tiến tới trở thành trường đào tạo đa
ngành nên trong quá tình tuyển dụng phải tuyển nhiều giảng viên chưa qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm (NVSP), chưa đủ tiêu chuẩn hành nghề theo quy định của Luật Giáo dục. Sau khi tuyển dụng
một số giảng viên đã tự học và hoàn thành chương trình bồi dưỡng NVSP, số còn lại nhà trường sẽ có
kế hoạch để giảng viên được tham dự lớp bồi dưỡng NVSP.
- Qua kết quả khảo sát các vấn đề về trình độ quản lý cuả cán bộ quản lý không đồng đều; Đội
ngũ cán bộ phòng – khoa ít được bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý ảnh hưởng nhiều đến công tác Quản
lý ĐNGV nhà trường (ĐTB: 2.87 và 2.92). Đội ngũ cán bộ quản lý các cấp của nhà trường chủ yếu
được đề bạt từ thực tiễn hoạt động giảng dạy, đa số chưa được bồi dưỡng về công tác quản lý dẫn đến
hiệu quả quản lý chưa cao.
Chương 3:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở
TRƯỜNG CĐSP BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Từ phần nội dung nghiên cứu lý luận đã được trình bày ở Chương 1 và cơ sở thực tiễn ở
Chương 2, tác giả đề xuất một số giải pháp như sau:
3.1. Một số giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu
3.1.1. Giải pháp về quy hoạch đội ngũ giảng viên
* Mục tiêu
Muốn xây dựng và phát triển đội ngũ trước hết phải định hình được đội ngũ đó. Nghị quyết TW3
khóa VIII khẳng định “Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, đảm bảo cho
công tác cán bộ đi vào nề nếp”
Điều 65 Luật Cán bộ công chức quy định nội dung quản lý cán bộ, công chức bao gồm: “Xây
dựng kế hoạch, quy hoạch cán bộ, công chức”.
Việc lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển ĐNGV phải dựa trên quy mô đào tạo được
bộ GD – ĐT giao hàng năm, dựa trên cơ sở thực trạng ĐNGV của nhà trường và trên cơ sở mục tiêu
của nhà trường đặt ra, để đáp ứng yêu cầu của địa phương về loại hình giáo viên đang thiếu, đáp ứng
nguồn nhân lực của các ngành khác trong tỉnh, lãnh đạo nhà trường cần xây dựng quy hoạch ĐNGV
phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nhà trường. Công tác này phải đảm bảo mục tiêu, đảm bảo về
số lượng và chất lượng ĐNGV, có cơ cấu đội ngũ hợp lý và chất lượng cao, cụ thể:
+ Đảm bảo cân đối số lượng các môn, tiến tới 100% giảng viên đạt chuẩn và vượt chuẩn về trình
độ; tăng số lượng giảng viên chính vào năm 2015; giảm việc thừa và thiếu về giảng viên, giảm việc
dạy vượt chuẩn quá nhiều hoặc phải mời quá nhiều giảng viên gây ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.
+ Phải dựa trên cơ sở thực trạng về cơ cấu ĐNGV và trình độ đội ngũ, ... để xây dựng kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng sao cho phù hợp, cân đôi tránh tình trạng thiếu hụt cục bộ ở các khoa cũng như ở
các bộ môn.
Cần tiếp tục thực hiện chỉ thị 40/TƯ của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục. Làm tốt công tác quy hoạch và đào tạo nguồn cán bộ, từ đó xây dựng quy
định nội bộ về công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV theo phân cấp, đảm bảo sự công bằng trong lĩnh
vực này, để mọi thành viên trong nhà trường đều có nghĩa vụ và quyền lợi trong việc đào tạo, bồi
dưỡng đáp ứng yêu cầu về ngạch, bậc viên chức và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Bên cạnh
việc quan tâm, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên cần quan tâm, bồi dưỡng
nghiệp vụ cho viên chức thừa hành.
* Nội dung và phương hướng thực hiện:
- Thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình về tư tưởng và chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ
giảng viên
Việc Hiệu trưởng, lãnh đạo các đơn vị thông qua nhiều kênh thông tin kết hợp với việc bám sát
thực tiễn, theo dõi, nắm chắc tình hình về tư tưởng và chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giảng viên là
điều kiện quan trọng để tìm ra điểm mạnh, điểm yếu về từng mặt của từng cá nhân, của từng đơn vị và
của cả tập thể, từ đó nhà trường có những biện pháp nhằm phát huy hết năng lực của ĐNGV, chọn lọc
những nội dung phục vụ cho mục đích bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ giảng viên hoặc có những quyết
định điều chỉnh kịp thời.Việc tìm hiểu, nắm bắt tình hình đội ngũ giảng viên là biện pháp thường
xuyên nhưng cũng phải có chọn lọc, trọng tâm theo đối tượng, loại hình cán bộ hay từng mặt phẩm
chất, năng lực của giảng viên trong những thời gian nhất định, đặc biệt là xu hướng phát triển nhân
cách và hướng đào tạo, bồi dưỡng cho giảng viên.
- Sắp xếp tổ chức và biên chế đội ngũ giảng viên phù hợp với nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị
trong trường
Quy hoạch ĐNGV là nội dung quan trọng trong công tác cán bộ, quy hoạch ĐNGV phải xuất
phát từ nhiệm vụ đào tạo của nhà trường, trên cơ sở ĐNGV hiện có và quy mô đào tạo để quy hoạch,
dự nguồn cán bộ giảng viên phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của nhà trường. Vì thế, trong từng
giai đoạn cụ thể, từng năm học, từng kỳ học lãnh đạo nhà trường cần rà soát lại ĐNGV nhà trường để
có kế hoạch tuyển dụng, bố trí, sắp xếp ĐNGV hợp lý cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu cho các đơn
vị trong trường.
Trong mỗi giai đoạn phát triển cụ thể của nhà trường, việc quy hoạch cần được tiến hành thường
xuyên, cụ thể thông qua xây dựng, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. Công tác
quy hoạch cần được tiến hành nhiều lần, qua nhiều bước. Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường cần căn
cứ vào nhu cầu công tác và ĐNGV hiện có để quy hoạch tổng thể, mang tính chiến lược và cả những
quy hoạch ngắn hạn nhằm đáp ứng những kịp thời nhiệm vụ của nhà trường hiện tại cũng như tương
lai.
Tiến hành rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc trong trường để xem nhiệm
vụ nào phù hợp, nhiệm vụ nào trùng lặp giữa các đơn vị để có những điều chỉnh, bổ sung hợp lý.
Rà soát, bố trí lại ĐNGV sau mỗi năm học, mỗi giai đoạn cụ thể là nhiệm vụ quan trọng và
thường xuyên của các nhà trường, các cấp ủy Đảng, Ban giám hiệu cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
thực hiện. Sau mỗi năm học, số lượng cán bộ giảng viên nhà trường thường biến động. Vì vậy, việc rà
soát, bố trí, sắp xếp lại ĐNGV sau mỗi năm học là việc làm hết sức cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu,
mục tiêu, nhiệm vụ đề ra và phù hợp với năng lực, nguyện vọng và hoàn cảnh riêng. Đồng thời phù
hợp với cơ cấu chức năng hoạt động của nhà trường là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản
lý ĐNGV.
- Làm tốt công tác dự báo nhu cầu và xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên tầm nhìn
từ 5 đến 10 năm
Việc quy hoạch luôn gắn liền với công tác dự báo. Công tác dự báo nhu cầu thường xuyên về
giảng viên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giúp nhà trường chủ động đảm bảo đủ số lượng giảng
viên để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Qua khảo sát thực trạng quản lý ĐNGV trường
CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu thì việc dự báo quy mô phát triển giáo dục – đào tạo nói chung và đội ngũ
giảng viên nói riêng chưa mang tính chiến lược, chưa có phương pháp và kế hoạch cụ thể.
Trong thời gian vừa qua, nhà trường đã xây dựng kế hoạch đào tạo từ năm 2011 đến năm 2015
theo sự chỉ đạo của Bộ Gáo dục – Đào tạo trong đó xây dựng kế hoạch, xác định số lượng học sinh,
sinh viên; số lượng giảng viên ở các trình độ, học hàm, học vị; cơ sở vật chất trong 5 năm tới. Nhưng
việc xây dựng kế hoạch chủ yếu dựa trên suy tính chủ quan, chứ chưa thông qua một quy trình dự báo
nào.
Hiện nay, trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu được UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giao thực hiện
xây dựng đề án nâng cấp trường thành trường đại học công lập của Tỉnh trên cơ sở sáp nhập trường
CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu và trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa – Vũng Tàu. Theo đó nhà trường sẽ
đào tạo đa ngành, đa hệ. Vì thế, lãnh đạo trường cần tiến hành tốt công tác dự báo cho từng năm học,
từng giai đoạn cụ thể về quy mô đào tạo của nhà trường, về các ngành đào tạo, và số lượng của từng
ngành, từng hệ. Trên cơ sở đó tính toán, dự báo về số lượng giảng viên cho từng môn học, từng ngành
đào tạo, từng hệ đào tạo cụ thể, từ đó lựa chọn phương án phù hợp nhất.
Muốn dự báo chính xác nhu cầu giáo viên cho từng năm, từng giai đoạn cụ thể lãnh đạo nhà
trường cần tiến hành điều tra, phân tích một số vấn đề liên quan mật thiết như: xác định quy mô dân số
và khả năng thu hút sinh viên của nhà trường trong tương quan so sánh với các trường CĐ, ĐH khác
trong cả nước và với các cơ sở đào tạo khác trên địa bàn tỉnh; Nắm vững quy định của Nhà nước về tỷ
lệ số sinh viên/giảng viên; Dự tính được tải trọng chuyên môn hay số giờ dạy/năm mà giảng viên phải
đảm nhận; Xác định cơ cấu độ tuổi của ĐNGV nhà trường để tính tỷ lệ hao hụt giảng viên qua từng
năm từng giai đoạn từ đó có kế hoạch bổ sung, thay thế; Và xác định được cơ cấu trình độ ĐNGV
trong giai đoạn hiện tại và vai trò, vị trí, yêu cầu về phẩm chất, năng lực của ĐNGV trong giai đoạn
phát triển tiếp theo của nhà trường.
Công tác dự báo về phát triển ĐNGV có thể đặt ra mục tiêu trong tầm nhìn từ 1đến 2 năm, 3 đến
5 năm, 5 đến 10 năm, 10 đến 20 năm, .... Việc dự báo, quy hoạch này phải phù hợp với quy mô, số
lượng học sinh sinh viên của nhà trường với các chuyên ngành đào tạo, sẽ đào tạọ mới và đào tạo lại để
đáp ứng kịp thời nhu cầu giáo dục của ngành, của địa phương, phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH của
tỉnh nói riêng và của cả nước nói chung.
Để đội ngũ cán bộ quản lý làm tốt được công tác dự báo, có số liệu để quy hoạch số lượng ĐNGV
của đơn vị đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài, cần phải bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý và cung cấp
cho họ các phương pháp nghiên cứu.
3.1.2. Giải pháp về tuyển dụng giảng viên
* Mục tiêu:
Giải pháp này nhằm giúp cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đảm
bảo về chất lượng, đáp ứng nhu cầu, kế hoạch đào tạo của nhà trường.
* Nội dung:
- Đổi mới nội dung, cách thức tuyển dụng giảng viên
Tuyển dụng cán bộ nói chung và tuyển dụng giảng viên nói riêng là khâu quan trọng đầu tiên
trong quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu. Nội dung, cách
thức tuyển được công bố công khai trên báo chí và trang Website của nhà trường, thực hiện tính dân
chủ, công khai và khách quan. Song vấn đề tuyển như thế nào để lựa chọn những người có phẩm chất,
năng lực và trí tuệ dồi dào đáp ứng được chức trách, nhiệm vụ của giảng viên lại là vấn đề cần quan
tâm. Để giải quyết vấn đề này, cần thực hiện các nội dung sau:
- Xây dựng nguồn lực từ các hợp đồng lao động: Những năm gần đây, biên chế ĐNGV tăng
không đáng kể do số sinh viên tăng chậm. Việc tuyển dụng chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu biên chế của
GV nghỉ hưu hoặc chuyển công tác. Vì vậy, để tạo nguồn lực cho việc tuyển dụng viên chức, nhà
trường nên ký kết hợp đồng lao động có thời hạn với những ứng viên có trình độ cao, ứng viên ở các
chuyên ngành mà nhà trường rất thiếu, rất khó tuyển dụng, tạo cơ chế để giúp họ học tập nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cũng như dành nhiều ưu đãi giữ chân họ trong khi chờ duyệt chỉ tiêu
biên chế từ Ủy ban nhân tỉnh.
- Thông báo tuyển dụng rộng rãi trên báo chí, truyền hình. Bên cạnh đó, liên hệ với các trường
Đại học lớn, có uy tín để tìm giảng viên.
- Tăng cường thêm khâu phỏng vấn trong quá trình xét tuyển giảng viên, hạn chế việc chỉ xét
tuyển thông qua hồ sơ. Thông qua phỏng vấn, có thể tìm ra được những giảng viên có năng lực thực
sự, đánh giá được phần nào về tư tưởng. đạo đức và phẩm chất của giảng viên đó.
- Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước về tuyển dụng cán bộ, nhà trường cần
xây dựng nội dung chi tiết Quy định tuyển dụng giảng viên, những yêu cầu đối với giảng viên tập sự
cho phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường.
- Xây dựng và thực hiện tốt quy trình, tiêu chí tuyển dụng giảng viên
Từ thực trạng ở chương II cho thấy quy trình tuyển dụng giảng viên của trường CĐSP Bà Rịa –
Vũng Tàu còn mang nhiều tính chủ quan, hình thức và còn hạn chế về quyền tự chủ vì vậy cần phải
quy trình hóa việc tuyển dụng giảng viên trên tinh thần công khai, dân chủ, tăng cường phân cấp đến
các đơn khoa, tổ trực thuộc.
Quy trình tuyển dụng gồm các bước sau:
Bước 1: Hoạch định kế hoạch nhân sự trong đó có kế hoạch tuyển dụng của nhà trường cho từng
năm học và trong 3 đến 5 năm tiếp theo.
Trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch phát triển ĐNGV cần chú trọng vấn đề tuyển dụng. Bởi
lẽ, việc tuyển dụng không đúng tiêu chuẩn, không đúng yêu cầu, không đúng đối tượng mà nhà trường
đang cần chỉ làm đội ngũ tăng về số lượng nhưng có thể chất lượng lại giảm sút. Việc tuyển dụng phải
nhằm những mục tiêu sau: những giảng viên tuyển dụng phải đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn,
phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Ưu tiên những GV có trình độ chuyên môn cao, những sinh tốt nghiệp
đại học loại giỏi. Phải tạo được sự cân đối trong bộ môn đáp ứng được yêu cầu trước mắt cũng như lâu
dài cho sự phát triển của nhà trường.
Việc lập kế hoạch phải có sự phối hợp thống nhất từ cấp khoa, tổ bộ môn, phòng Đào tạo.
Bước 2: Hiệu trưởng căn cứ vào số biên chế được duyệt xây dựng phương án tuyển dụng gửi về
Sở Nội vụ;
- Sở Nội vụ trình UBND tỉnh phê duyệt phương án tuyển dụng của nhà trường;
Bước 3: Nhà trường thông báo về việc tuyển dụng viên chức trên các phương tiện thông tin đại
chúng như: báo, đài, truyền hình, Website, …;
Bước 4: thu nhận hồ sơ đăng ký tuyển dụng tại Phòng Tổ chức và Công tác sinh viên.
Bước 5: Nhà trường thành lập Hội đồng và tiến hành xét tuyển viên chức: Xét trên hồ sơ và qua
phỏng vấn trực tiếp.
Bước 6: Nhà trường gửi báo cáo kết quả xét tuyển viên chức về Sở Nội vụ và đề nghị Sở Nội vụ
xem xét trình UBND tỉnh quyết định công nhận kết quả;
Bước 7: Sau khi có Quyết định công nhận kết quả xét tuyển viên chức của UBND tỉnh; Hiệu
trưởng ra quyết định về việc tuyển dụng viên chức; thực hiện việc ký kết hợp đồng lao động theo Nghị
định 116/2003/NĐ-CP;
- Phân công viên chức về các đơn vị để thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng các
đơn vị phòng – khoa. Đồng thời phân công người hướng dẫn thực hiện thử việc đối với viên chức. Thời
gian thử việc của đơn vị phải do đơn vị chuyên môn quản lý và tổ chức đánh giá một cách công bằng,
chính xác và khách quan về chất lượng giảng dạy cũng như triển vọng của giảng viên. Phải thường
xuyên dự giờ giảng viên tập sự cũng như giảng viên tập sự phải thường xuyên dự giờ của giảng viên
khác để học tập kinh nghiệm trong giảng dạy.
Bước 8: Đánh giá kết quả thử việc và ra quyết định về việc bổ nhiệm chính thức vào ngạch viên
chức.
- Ưu tiên tuyển dụng giảng viên cho các ngành ngoài sư phạm
Nhà trường đang chuyển hướng mạnh sang đào tạo đa ngành, đa hệ nên có thực trạng thiếu giảng
viên các ngành ngoài sư phạm.Vì vậy, bổ sung lực lượng giảng viên này là một yêu cầu cấp bách, cần
thiết đối với sự phát triển của nhà trường. Tuy nhiên giảng viên các ngành ngoài sư phạm như: Kế
toán, Quản trị kinh doanh, Tài chính ngân hàng, Quản trị văn phòng, Việt Nam học, Thư viên, ... rất
khó thu hút giảng viên. Một mặt do địa bàn nhà trường nằm ở xa Trung tâm Thành phố lớn nên khó thu
hút lao động. Một mặt do thu nhập của giảng viên giảng dạy các ngành này không cao, không đủ sức
cạnh tranh với những công ty khác. Một số giảng viên giảng dạy các ngành này thường có công ty
riêng nên việc giảng dạy không được chuyên tâm nhiều. Chính vì vậy, nhà trường cần có những chính
sách ưu đãi riêng về kinh tế để thu hút và giữ chân giảng viên.
3.13. Giải pháp về sử dụng giảng viên
*Mục tiêu:
Trọng dụng nhân tài, phát huy hết khả năng, năng lực, điểm mạnh của từng giảng viên; đồng thời
phát huy tối đa sức mạnh nội lực của đội ngũ giảng viên.
*Nội dung:
A, Bố trí chuyên môn đúng người, đúng việc phù hợp với năng lực và sở trường
Việc bố trí chuyên môn phải đúng với chuyên ngành được đào tạo; đảm bảo việc thực hiện đúng
chế độ, chính sách đối với giảng viên. Mọi giảng viên phải được bố trí phù hợp với trình độ, với năng
lực và sở trường của mình.
Muốn bố trí, sử dụng ĐNGV đúng, phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của nhà trường trước hết phải
dựa và những chuẩn mực nhất định, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuẩn hóa đội ngũ cán bộ,
giảng viên. Thực hiện tốt việc sử dụng ĐNGV sẽ động viên, kích thích được khả năng sáng tạo của họ
cho sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học, giúp họ không ngừng vươn lên tự học tập, tự bồi dưỡng
để nâng cao trình độ, từ đó hình thành nên ĐNGV giỏi.
Trên cơ sở rà soát, đánh giá đúng thực chất ĐNGV, từ đó bố trí, sử dụng ĐNGV theo đúng quy
định của Chính phủ và phù hợp với thực tế của nhà trường. Công tác đánh giá, bố trí, sử dụng ĐNGV
cần thực hiện khoa học, tránh thực hiện một cách cảm tính, chủ quan. Một phẩm giá, danh hiệu và
cống hiến của ĐNGV đều phải kiểm nghiệm qua thực tiễn vì thực tiễn là nơi để đánh giá, sàng lọc chất
lượng giảng viên một cách chính xác nhất.
Bố trí, sử dụng ĐNGV phải dựa vào sự hỗ trợ của quá trình quản lý viên chức thông qua hồ sơ,
các văn bản, giấy tờ và cần dựa vào hệ thống thông tin trên máy tính để nắm bắt nhanh, kịp thời, chính
xác các thông tin về cá nhân giảng viên.
Bố trí, sử dụng ĐNGV phải đáp ứng yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường và phải phù hợp
với năng lực, sở trường của từng giảng viên; đồng thời cũng cần tính đến nguyện vọng, hoàn cảnh
riêng của từng cá nhân giảng viên.
Bố trí, sử dụng ĐNGV phải gắn liền với xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy. Phải theo phương
châm căn cứ vào công việc để tìm người chứ không phải tìm người rồi mới tìm việc.
Bố trí, sử dụng ĐNGV phải kết hợp giữa cán bộ, giảng viên trẻ, được đào tạo bài bản với cán bộ
giàu kinh nghiệm trong thực tiễn công tác, giảng dạy nhằm bổ sung cho nhau để tạo dựng một tập thể
vững mạnh, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, một tập thể vừa phát huy được khả năng sáng tạo
của từng cá nhân, vừa phát huy được sức mạnh của cả đội ngũ.
Bố trí, sử sụng ĐNGV phải thực sự đem lại chất lượng mới cho nhà trường.
Điều kiện để thực hiện được việc bố trí, phân công lao động hợp lý là phải có sự thống nhất quan
điểm trong việc phân công, bố trí sử dụng ĐNGV trong toàn thể hội đồng nhà trường. Phải có nhận
định, đánh giá chính xác về năng lực, khả năng, ý thức trách nhiệm của từng giảng viên. Có chế độ,
chính sách cụ thể, rõ ràng và hợp lý đối với những trường hợp tham gia công tác kiêm nhiệm. Phải
chuẩn bị đầy đủ điều kiện làm việc cho ĐNGV, đồng thời phải có sự thống nhất từ Ban giám hiệu tới
các Khoa, Tổ bộ môn trong việc điều động, bố trí giảng viên và cán bộ quản lý.
- Đánh giá giảng viên dựa trên các tiêu chuẩn nghiệp vụ và chức danh đã quy định
Tiêu chuẩn chức danh giảng viên là cơ sở rất quan trọng để quản lý chất lượng giảng viên. Đây là
quá trình lựa chọn, đào tạo và sử dụng giảng viên một cách khoa học và có hiệu quả. Quyết định số
538/TCCP – BTC – CBCP ngày 18/12/1995 của Ban Tổ chức - Cán bộ chính phủ quy định về tiêu
chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức bậc đại học. Theo đó mỗi ngạch giảng viên, (bao gồm: giảng
viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp) đều được quy định về chức trách, nhiệm vụ cụ thể, hiểu biết
và yêu cầu về trình độ khác nhau từ thấp đến cao.
Đánh giá, nhận xét giảng viên là yêu cầu tất yếu để làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo,
sử dụng và cất nhắc, bổ nhiệm cán bộ. Trên cơ sở xác định tiêu chuẩn của từng chức danh, phải tiến
hành khảo sát, phân tích, phân loại và đánh giá giảng viên thật chính xác. Hiểu rõ và đánh giá đúng
giảng viên là một khâu hết sức hệ trọng trong công tác cán bộ. Đánh giá đúng sẽ có biện pháp và
phương pháp giải quyết đúng, làm cho giảng viên phấn khởi và tin tưởng. Đánh giá không đúng hoặc
đánh giá sai giảng viên có tác hại khôn lường. Có hiểu rõ và đánh giá đúng giảng viên mới bố trí và sử
dụng mới hiệu quả. Có hiểu rõ và đánh giá đúng giảng viên thì việc cất nhắc, đề bạt mới tránh được
thiếu sót, sai lầm. Có hiểu rõ và đánh giá đúng giảng viên mới kích thích được mặt tích cực và hạn chế
được mặt tiêu cực trong từng giảng viên cũng như trong ĐNGV. Vì thế phải có quan điểm mới về đánh
giá giảng viên: đánh giá phải thực chất, tránh hình thức, phải căn cứ vào tiêu chuẩn, nhiệm vụ được
giao, không đơn thuần theo quá trình, bằng cấp, học vị, tuổi tác, không hẹp hòi, định kiến. Đánh giá
giảng viên phải thực chất, phải thấy rõ thái độ của họ đối với công việc, hiệu quả công việc mà họ thực
hiện.
- Thống nhất quản lý chuyên môn, nghiệp vụ của giảng viên giữa các đơn vị trong nhà trường
Từ thực trạng quản lý ĐNGV trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu nêu ở chương II cho thấy việc
quản lý chuyên môn nghiệp vụ giữa các đơn vị trong nhà trường còn chưa thống nhất. Về nguyên tắc
Khoa là đơn vị trực tiếp quản lý chuyên môn của giảng viên; tất cả giảng viên tham gia giảng dạy phải
sinh hoạt chuyên môn tại tổ bộ môn; tránh tình trạng, giảng viên sinh hoạt chuyên môn ở hai nơi, rất
khó cho việc quản lý, đánh giá. Các bộ môn chung phải thống nhất từ phòng đào tạo.
Phòng Đào tạo có nhiệm vụ theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện mục tiêu, chương trình,
kế hoạch, phương thức đào tạo, bồi dưỡng của các khoa trong nhà trường.
Nhà trường đang từng bước triển khai thực hiện việc đào tạo theo tín chỉ. Xét trên quy mô, đây là
một quá trình thay đổi lớn, mang tính toàn diện. Do đó, nhà trường cần có những biện pháp đổi mới
quản lý chuyên môn nghiệp vụ thống nhất theo một quy trình để thuận lợi cho giảng viên trong công
tác chuyên môn và thuận lợi cho việc điều hành của nhà quản lý.
3.1.4. Giải pháp về công tác đào tạo, bồi dưỡng
* Mục tiêu:
Giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng giúp cho việc nâng cao trình độ giảng viên về mọi mặt.
* Nội dung:
- Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng gắn với quy hoạch đội ngũ giảng viên
Muốn làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng thì phải gắn nó với quy hoạch và sử dụng đội ngũ
giảng viên. Quy hoạch tổng thể đội ngũ giảng viên cần làm rõ số lượng, yêu cầu về cơ cấu trình độ học
vấn, cơ cấu giới tính, chuyên môn đào tạo làm cơ sở cho việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV
trong từng giai đoạn phát triển của nhà trường.
Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với quy hoạch, xuất phát từ quy hoạch và chỉ có hiệu quả
khi gắn với sử dụng. Tránh tình trạng đào tạo, bồi dưỡng xong nhưng không bố trí, sử dụng hoặc bố trí,
sử dụng không đúng với mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng ban đầu để tránh tình trạng lãng phí cũng như
triệt tiêu động lực phấn đấu của giảng viên.
Dựa vào quy hoạch chung, tiêu chuẩn cán bộ, tiêu chuẩn nghiệp vụ của từng chức danh công
chức. Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu cần xây dựng chính sách và kế hoạch thường xuyên tổ chức
thực hiện với nhiều phương thức thích hợp để đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kế cận trong
chuyên môn và trong quản lý, đặc biệt là ĐNGV. Việc đào tạo, bồi dưỡng nên có sự kết hợp giữa tạo
điều kiện của đơn vị với sự nỗ lực của từng cá nhân, trong đó sự vận động của từng cá nhân đặc biệt
quan trọng. Nhà trường cần có kế hoạch tổng thể để đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, trong đó cần chú ý
một số điểm sau:
- Xây dựng đội ngũ kế cận:
Hiện nay, ĐNGV có kinh nghiệm, có trình độ cao, đầu tàu của các khoa có tuổi đời tương đối cao
nên việc đào tạo ĐNGV kế cận là nhiệm vụ quan trọng vì xây dựng ĐNGV kế cận chính là khơi dậy
tiềm năng to lớn của đội ngũ này, tạo nên nhân tố mới chuẩn bị kế tiếp đội ngũ cũ, đặc biệt là lớp cán
bộ đầu ngành.
Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu đang trong giai đoạn ổn định và phát triển về tổ chức nên công
tác đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn cán bộ sao cho đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng, có
ĐNGV trẻ tuổi đủ sức đảm đương nhiệm vụ khi lớp giảng viên lớn tuổi nghỉ hưu, có lớp cán bộ quản
lý mới kế tiếp vững vàng đảm đương các công việc lãnh đạo quản lý trong nhà trường.
Nhà trường và các đơn vị cần tạo điều kiện, động viên, khuyến khích, tiến tới yêu cầu giảng viên
phải học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, lấy các chỉ tiêu về số lượng thạc sỹ, tiến sỹ trên đầu cán
bộ, sinh viên để xây dựng kế hoạch đào tạo phấn đấu đến năm 2015 có 80% giảng viên của trường
CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu đạt trình độ thạc sỹ trở lên.
Tích cực cử cán bộ trẻ đi học tập, nâng cao trình độ ở trong nước và nước ngoài. Có kế hoạch bồi
dưỡng về chuyên môn và ngoại ngữ để các cán bộ giảng viên này có đủ điều kiện có đủ điều kiện đi
học tập ở nước ngoài dưới nhiều hình thức.
Thường xuyên tạo điều kiện để giảng viên tham gia các lớp tập huấn về phương pháp giảng dạy,
sử dụng các thiết bị, phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại.
Tăng cường liên kết, phối hợp với các đơn vị, các trường cao đẳng, đại học khác tổ chức hội thảo
khoa học chuyên ngành, tạo sự “cọ xát” giữa cán bộ tại chỗ với cán bộ từ đơn vị khác trong nước và
nước ngoài. Đồng thời tích cực cử cán bộ đi tham dự hội thảo khoa học trong nước và quốc tế.
- Quy hoạch tổng thể và đồng bộ:
Trong mỗi giai đoạn phát triển của trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu, việc quy hoạch cần được
xây dựng và bổ sung, điều chỉnh trong quá trình thực hiện cho phù hợp với thực tế. Công tác quy hoạch
cần làm nhiều lần, qua nhiều bước từ dưới lên, từ trên xuống. Lãnh đạo các khoa cần căn cứ vào yêu
cầu nhiệm vụ và đội ngũ hiện có, xây dựng quy hoạch đội ngũ giảng viên cho từng bộ môn, từng ngành
học thuộc đơn vị mình. Trên cơ sở xây dựng của các khoa, lãnh đạo nhà trường xây dựng quy hoạch
tổng thể và kế hoạch triển khai thực hiện về phát triển ĐNGV, cán bộ quản lý, cán bộ phục vụ của nhà
trường một cách đồng bộ.
- Lựa chọn cán bộ để đào tạo bồi dưỡng
Trong số các giảng viên, cần lựa chọn những cán bộ giảng viên trẻ có bản lĩnh chính trị, có năng
lực và phẩm chất, có những tố chất của người quản lý như năng nổ, quyết đoán, trung thực, thẳng thắn
và khả năng phát triển cao về trình độ chuyên môn đưa vào quy hoạch, đào tạo, mạnh dạn giao việc để
tổ chức bồi dưỡng thành cán bộ đầu ngành, cán bộ quản lý.
- Tăng cường công tác bồi dưỡng tư tưởng, phẩm chất chính trị và đạo đức Nhà giáo
Thường xuyên coi trọng và thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức
trong ĐNGV là nhiệm vụ hàng đầu của nhà trường. Một khi ĐNGV có lý tưởng, tình cảm và đạo đức
nghề nghiệp trong sáng; biết yêu thương quý trọng các thế hệ học trò thì đích thực mỗi giảng viên sẽ là
tấm gương sáng cho các thế hệ sinh viên noi theo. Nâng cao nhận thức về chính trị tư tưởng đồng nghĩa
với nâng cao tinh thần trách nhiệm, phẩm chất, đạo đức của ĐNGV từ đó không ngừng nâng cao chất
lượng ĐNGV.
Trong công tác bồi dưỡng tư tưởng, phẩm chất chính trị và đạo đức Nhà giáo trong ĐNGV trường
CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu thì việc thường xuyên quán triệt các văn bản, chỉ thị của Đảng, Nhà nước,
của Ngành, của địa phương, và của trường là hết sức quan trọng và cần thiết. Làm cho mỗi giảng viên
ngoài chức trách của mình phải đồng thời là những tấm gương mẫu mực, những tuyên truyền viên tích
cực về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là các chỉ thị ,
Nghị quyết về Giáo dục – Đào tạo cho quần chúng, cho sinh viên, cho gia đình. Làm cho mỗi giảng
viên phải có lập trường, tư tưởng vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, mẫu mực, mô phạm, phải
thực sự yêu nghề, tôn trọng, gần gũi, hiểu biết, cảm thông và biết chia sẻ với học sinh, sinh viên. Nhà
trường cần có những biện pháp kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm những cán bộ, giảng viên có biểu
hiện sa sút về đạo đức, lối sống, tự do vô kỷ luật, thiếu tinh thần trách nhiệm và có những thái độ, hành
vi làm tổn hại đến danh dự nghề giáo – nghề dạy học.
Tiếp tục triển khai và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 06/CT-TW của Bộ Chính trị về cuộc vận động
“học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Chỉ thị 33/2006/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về “khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục” và cuộc vận động “hai không” gồm bốn nội
dung “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, với vi phạm đạo đức nhà
giáo và với tình trạng học sinh không đạt chuẩn lên lớp”.
Định kỳ, lãnh đạo nhà trường trực tiếp hoặc mời báo cáo viên tổ chức các buổi nói chuyện
chuyên đề, nghe thời sự, học tập các chỉ thị của Đảng, Nhà nước của địa phương với nhiều hình thức
đổi mới.
Phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với các tổ chức đoàn thể quần chúng, gia đình và xã hội trong
việc tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức lối sống, phòng chống các tệ nạn xã hội cho cán bộ và học
sinh, sinh viên
Động viên khuyến khích ĐNGV tích cực tham gia các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề
nghiệp trong nhà trường. Hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp đều có tôn
chỉ, mục đích rõ ràng và đều có ý nghĩa tích cực trong việc giáo dục tư tưởng, chính trị của từng cán
bộ, giảng viên trong nhà trường, giúp người giảng viên có ý thức cao hơn và luôn thể hiện tính tiên
phong trong công việc.
- Tổ chức cho giảng viên tham gia các lớp văn bằng hai, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, chuyên
đề.
Trong 5 năm tới, nhà trường chuyển mạnh sang đào tạo đa ngành, chuẩn bị nền tảng cho việc
nâng cấp lên đại học nên các ngành sư phạm có xu hướng co lại thành Khoa Sư phạm, một số giảng
viên giảng dạy các ngành sư phạm sẽ dư, trong khi một số ngành mới rất khó tuyển giảng viên. Nhà
trường đã vận động một số giảng viên thực hiện chính sách tinh giản biên chế nhưng chưa hiệu quả.
Chính vì vậy, công tác quy hoạch cán bộ phải đi trước một bước. Song song với xây dựng dự án cho
việc hình thành các đơn vị mới trong đó cần chú trọng đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ. Trước
mắt, nhà trường cần có chính sách tạo điều kiện cho giảng viên được đi đào tạo sau đại học, văn bằng
hai chuyển đổi sang những ngành phù hợp với nhu cầu đào đạo của nhà trường mà hiện tại đang còn
thiếu. Liên hệ với một số trường đại học tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên đề cho giảng viên để họ có
thể tiếp cận được những môn học mới, những vấn đề mới trong giảng dạy. Bên cạnh đó, cần chú trọng
bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho những giảng viên chưa qua các lớp nghiệp vụ sư phạm nhằm hoàn
thiện tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp và góp phần nâng cao chất lượng ĐNGV.
- Định kỳ đánh giá, tổng kết việc thực hiện kế hoạch ĐTBD theo từng giai đoạn
Trong quá trình đào tạo , bồi dưỡng phải có hệ thống ghi lại quá trình đào tạo, bồi dưỡng và phải
có hệ thống đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng. Qua thực trạng quản lý ĐNGV trường CĐSP Bà Rịa
– Vũng Tàu được đề cập ở chương II, công tác đào tạo bồi dưỡng ĐNGV nhà trường chưa đánh giá,
tổng kết việc thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Vì vậy, để tăng cường hiệu quả cho công tác này
cần phải định kỳ đánh giá, tổng kết việc thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo từng giai đoạn, cần
xây dựng các tiêu chí để đánh giá một cách hệ thống kết quả cụ thể của một chương trình đào tạo, các
hoạt động của các chương trình đào tạo. Đánh giá được những thay đổi tích cực về hành vi nhờ có
chương trình đào tạo. Đánh giá được hiệu quả chất lượng của đào tạo, bồi dưỡng lên chất lượng đào
tạo của nhà trường và rút ra những kinh nghiệm trong đào tạo, bồi dưỡng.
3.1.5. Giải pháp về quản lý hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học
*Mục tiêu:
Giải pháp này nhằm tạo mọi điều kiện nâng cao chất lượng giảng dạy và thúc đẩy NCKH của
ĐNGV.
* Nội dung:
- Sắp xếp và phân công lao động hợp lý trên cơ sở thống nhất kế hoạch giữa Phòng Đào tạo với
các khoa, tổ bộ môn
Như đã đề cập, phòng Đào tạo là đầu mối quản lý chuyên môn, các khoa, tổ chuyên môn là hệ
thống chân rết trong quản lý. Đầu mỗi kỳ học, trên cơ sở kế hoạch năm học do phòng Đào tạo xây
dựng, các khoa, tổ bộ môn tiến hành rà soát lại và phân công giảng dạy, cân đối số tiết tránh trường
hợp người dạy quá nhiều, người dạy quá ít. Có kế hoạch phân công giảng viên phụ trách những môn
học mới có thời gian tìm hiểu tài liệu và nghiên cứu trước khi giảng dạy. Giữa đội ngũ cán bộ khoa và
phòng đào tạo luôn có sự trao đổi, nắm bắt và cập nhật tình hình thực hiện công tác chuyên môn của
giảng viên để có sự điều chỉnh kịp thời, tránh tình trạng phòng đào tạo chỉ đạo một hướng, khoa, tổ làm
một hướng.
Đối với giảng viên mới được tuyển dụng, tổ bộ môn và giảng viên hướng dẫn phải sắp xếp, phân
công công tác, giao nhiệm vụ phù hợp, vừa sức cho giảng viên, thống nhất lịch dự giờ, thăm giảng
hàng tuần, hàng tháng. Việc phân công, bố trí công tác phải đảm bảo phù hợp giữa nhiệm vụ được giao
với nhu cầu khi đề xuất tuyển dụng giảng viên.
- Khuyến khích giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy và tích cực nghiên cứu khoa học
* Về phương pháp giảng dạy
Thực trạng quản lý ĐNGV trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu đề cập ở chương II cho thấy, chưa
có sự thay đổi nhiều trong phương pháp giảng dạy của giảng viên nhà trường, chủ yếu mới là việc kết
hợp một số thiết bị hỗ trợ giảng dạy trong công tác. Nhà trường cần khuyến khích, phát động phong
trào thi đua về tăng cường đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả trong đội ngũ giảng viên, làm cho họ
nhận thức được ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp dạy học, kết hợp các phương pháp dạy học
trong giảng dạy để tạo ra một thế hệ học trò năng động, linh hoạt, không còn thụ động trước tri thức
như phương pháp đọc chép, chiếu chép. Đổi mới phương pháp dạy học để có những giờ dạy hiệu quả,
thú vị góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Ngoài ra, nhà trường cần mở nhiều hội
thảo, hội giảng về đổi mới phương pháp giảng dạy, đây là cơ hội để giảng viên trao đổi, lắng nghe và
học hỏi những phương pháp giảng dạy hiệu quả cho bản thân.
* Về nghiên cứu khoa học
Nâng cao năng lực NCKH chính là giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Đây
cũng chính là giải pháp đào tạo, bồi dưỡng giảng viên. Một nhà trường có một ĐNGV năng động, say
mê khoa học và làm việc độc lập là một lợi thế nhằm đảm bảo khả năng tiếp thu tốt những tiến bộ khoa
học kỹ thuật và thích ứng nhanh chóng trong điều kiện hội nhập và mở cửa.
Song song với công tác giảng dạy thì hoạt động NCKH là một trong những nhiệm vụ chính của
giảng viên ở bậc đại học. Xác định được tầm quan trọng của hoạt động NCKH, những năm qua trường
CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu đã quan tâm và thực hiện khá tốt nhiệm vụ này. Tuy nhiên, công tác NCKH
vẫn còn những hạn chế nhất định đòi hỏi phải có giải pháp và hướng đi cụ thể để hoạt động này đi vào
nề nếp, đạt kết quả cao, khuyến khích ĐNGV tích cực tham gia NCKH. Muốn vậy, cần tập trung thực
hiện tốt các nội dung và yêu cầu sau:
Hội đồng khoa học trường, phòng Nghiên cứu khoa học và Quan hệ quốc tế phải hoạt động thật
nghiêm túc và thật sự hiệu quả, cần có kế hoạch cụ thể trong việc tổ chức hoạt động NCKH, các hội
thảo khoa học cấp trường. Trong hoạt động NCKH phải cụ thể từ khâu đầu tiên (duyệt đề tài, duyệt đề
cương chi tiết) cho đến khâu cuối cùng (nghiệm thu, sử dụng đề tài).
Các đề tài khoa học có thể giao cho nhóm hoặc cá nhân phụ trách. Nhà trường, hội đồng khoa
học, các đơn vị cần tạo điều kiện về thời gian, đặc biệt tạo điều kiện về kinh phí để các đề tài được
duyệt thực hiện đúng tiến độ.
Khuyến khích các giảng viên lâu năm có chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm trong hoạt động
NCKH giúp đỡ giảng viên trẻ và hướng dẫn sinh viên trong NCKH.
Tiếp tục coi NCKH là nhiệm vụ bắt buộc trong định mức lao động của giảng viên. Coi NCKH là
nghĩa vụ, trách nhiệm của từng cá nhân đồng thời coi NCKH là tiêu chí đánh giá giảng viên sau mỗi
năm học.
Xây dựng cơ chế, giao nhiệm vụ và giành thời gian cho giảng viên NCKH. Bên cạnh việc thực
hiện tốt các nội dung và yêu cầu trên, để tạo điều kiện và phát triển NCKH, cần đầu tư trang thiết bị và
phương tiện tối thiểu cho NCKH, tăng nguồn kinh phí NCKH cho các phòng khoa. Ưu tiên đầu tư kinh
phi cho các công trình khoa học phục vụ đào tạo.Tích cực tham mưu với các sở ban ngành và cơ quan
hữu quan của tỉnh để tranh thủ sự hỗ trợ về kinh phí cho việc xúc tiến và thực hiện các đề tài khoa học.
Đưa kế hoạch hội thảo, hội giảng, NCKH trở thành hoạt động theo chu kỳ hàng năm của giảng
viên để tham gia và có cơ chế để tất cả giảng viên đều phải tham gia.
- Tăng cường các hoạt động: dự giờ thăm lớp, thao giảng, hội giảng
Qua khảo sát thực trạng quản lý ĐNGV cho thấy, giảng viên nhà trường có tư tưởng ngại bị đánh
giá, ý thức tự phê bình và phê bình chưa cao, không tích cực tham gia hội giảng. Chính vì vậy, trong
thời gian tới, nhà trường cần chú ý nhiều hơn tới các hoạt động dự giờ thăm lớp, thao giảng, hội giảng,
đưa các hoạt động này trở thành hoạt động thường xuyên, định kỳ, là một nhiệm vụ đối với tất cả giảng
viên, tạo thói quen nhận xét, đánh giá khách quan trong NCKH. Lãnh đạo khoa, tổ chuyên môn phối
hợp với phòng Đào tạo tăng cường các hoạt động dự giờ đối với giảng viên để có cơ sở đánh giá đúng
năng lực của giảng viên, qua đó để rút kinh nghiệm về chuyên môn và có căn cứ để bình xét, xếp loại
giảng viên theo đúng với tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, phát động các phong trào thi đua giảng dạy từ cấp
khoa đến cấp trường gắn với nhiều ưu tiên về vật chất và tinh thần. Tăng cường việc sử dụng những
phương pháp dạy học tích cực và các phương tiện dạy học hiện đại trong giảng dạy thông qua các giờ
thao giảng, hội giảng, tiến tới hình thành nhu cầu sử dụng phương tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy
nâng cao hiệu quả đào tạo
- Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của giảng viên
Kiểm tra, đánh giá trong giáo dục là chức năng quan trọng của quản lý nhà trường và là một trong
những điều kiện cơ bản để nâng cao hiệu quả lãnh đạo quá trình giáo dục – đào tạo.
Kiểm tra phải có mục đích rõ ràng, có kế hoạch bao quát mọi mặt của quá trình giáo dục và đào
tạo, kiểm tra bao giờ cũng dẫn đến việc đánh giá. Các kết luận rút ra từ đó phải có luận cứ khoa học.
Qua kiểm tra, đánh giá sẽ phát hiện và biến những kinh nghiệm công tác thành tài sản chung của mọi
người trong tập thể sư phạm, đồng thời giúp tìm ra những biện pháp cụ thể để khắc phục những thiếu
sót.
Trong thực tế, nếu không có sự kiểm tra, đánh giá thường xuyên thì sẽ dẫn đến các xu hướng làm
việc xuê xoa, đại khái, coi nhẹ các yêu cầu có tính nguyên tắc bắt buộc đối với giảng viên trong quá
trình công tác. Chính vì thế việc tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình, kế hoạch
giảng dạy của giảng viên nhà trường là rất cần thiết.
Việc kiểm tra không chỉ phát hiện ra những biểu hiện vi phạm hay chiều hướng vi phạm các quy
định chuyên môn để kịp thời uốn nắn, nhắc nhở điều chỉnh và tìm biện pháp khắc phục mà còn phát
hiện ra những tài năng, những giảng viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có biểu hiện
tích cực để từ đó bồi dưỡng phát triển thành nhân tố điển hình làm nòng cốt cho việc nâng cao chất
lượng chuyên môn trong nhà trường.
Qua kiểm tra giúp giảng viên có ý thức và tăng cường hơn cho việc đầu tư bài soạn, bài giảng từ
đó nâng cao hiệu quả giờ dạy, nhà quản lý xác định được kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn về mặt nào đó của giảng viên.
Việc kiểm tra phải thực hiện trên nhiều mặt từ tư tưởng, đạo đức, tác phong đến việc thực hiện nề
nếp chuyên môn, NCKH, tự học, tự bồi dưỡng cá nhân … Trong đó coi trọng việc kiểm tra, đánh giá
chuyên môn, nghiệp vụ của ĐNGV ở một số mội dung sau:
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và quy chế chuyên môn của từng giảng viên
- Kiểm tra giáo trình, đề cương bài giảng, hồ sơ, sổ sách theo quy định của nhà trường
- Thông qua dự giờ, thăm lớp để kiểm tra khả năng giảng dạy cũng như năng lực chuyên môn của
từng giảng viên
- Kiểm tra, đánh giá ĐNGV thông qua hình thức thăm dò ý kiến sinh viên qua mỗi học phần, mỗi
môn học.
Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của giảng viên cần
có kế hoạch cụ thể, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận từ tổ, khoa đến phòng Đào tạo. Trên cơ
sở kiểm tra, đánh giá phát hiện và ngăn chặn những sai phạm của ĐNGV, đồng thời nghiêm khắc phê
bình, kiểm điểm, rút kinh nghiệm đối với những giảng viên vi phạm quy chế chuyên môn, thiếu ý thức
tổ chức kỷ luật làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của nhà trường cũng như làm giảm uy tín trong
học sinh, sinh viên.
- Nghiệm thu, đánh giá các Đề tài NCKH dựa trên cơ sở khách quan, khoa học
Đối với trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu, việc để đẩy mạnh phong trào cũng như chất lượng
nghiên cứu khoa học trong ĐNGV thì cần phải làm tốt công tác nghiệm thu, đánh giá các Đề tài
NCKH và dựa trên cơ sở khách quan, khoa học. Quy mô giảng viên nhà trường nhỏ, với 97 giảng
viên, mỗi khoa chỉ khoảng từ 10 đến trên 20 giảng viên nên môi trường sinh hoạt của ĐNGV rất gần
gũi. Chính vì vậy khi đánh giá đề tài NCKH, người đánh giá đã không tránh khỏi việc bỏ qua yếu tố
khách quan khoa học đưa yếu tố tình cảm cá nhân, cục bộ, tư tưởng cào bằng vào đánh giá, dẫn đến
nhiều dư luận bất bình trong ĐNGV, yếu tố chất lượng của đề tài chưa được chú trọng. Chính vì vậy
trong thời gian tới, nhà trường mà cụ thể là phòng Nghiên cứu khoa học và Quan hệ quốc tế cần có
những đổi mới trong việc đánh giá, nghiệm thu các đề tài, các công trình NCKH một cách khách quan.
Nhà trường có thể mời các nhà khoa học trong tỉnh, các nhà nghiên cứu, giảng viên từ các trường ĐH,
CĐ khác trong tỉnh và các vùng lân cận như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, ... làm
người phản biện, đánh giá, nhận xét như vậy tính khách quan sẽ cao hơn. Bên cạnh đó bản thân ĐNGV
cũng cần phải rèn luyện tinh thần khoa học, chính xác, khách quan, vô tư trong nghiên cứu, nhận xét,
đánh giá các công trình NCKH.
3.1.6. Giải pháp xây dựng và hoàn thiện chế độ đãi ngộ
- Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, tạo điều kiện học tập, làm việc cho cán bộ giảng viên.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học là một trong những điều kiện cần thiết để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo
dục đào tạo, nó là bộ phận quan trọng trong nội dung và phương pháp dạy học. Hiện tại, nhà trường đã được trang
bị rất nhiều về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học từ nguồn vốn chương trình mục tiêu phát triển giáo dục đào
tạo. Nhà trường cũng đã thành lập được phòng Thiết bị - Thư viện, đây là điều kiện thuận lợi cho việc quản lý
cũng như khai thác triệt để công dụng của các thiết bị dạy học. Để đạt được mục đích đó cũng như phát huy tác
dụng của cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học nhà trường cần:
- Tiến hành rà soát, xây dựng các chuẩn về cơ sở vật chất trường học, thiết bị dạy học và đẩy mạnh phong
trào tự sưu tầm, thiết kế đồ dùng dạy học trong ĐNGV.
- Bố trí hợp lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học để thuận lợi trong công việc quản lý, sử dụng nhằm phát
huy hiệu quả các thiết bị được trang bị.
- Trang bị các thiết bị cần thiết như máy vi tính, máy in và các điều kiện làm việc khác cho văn phòng các
khoa và các phòng chức năng, nhằm đảm bảo điều kiện tốt nhất có thể, để cán bộ, giảng viên làm việc tăng năng
suất và có điều kiện phát huy hết khả năng của mình, góp phần tích cực trong việc hoàn thành mục tiêu của nhà
trường
- Nêu cao hơn nữa nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp quản lý trong nhà trường đối với việc
xây dựng, trang bị cơ sở vật chất cũng như việc bảo quản, duy trì, khai thác hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị
dạy học hiện có.
- Cần có những đợt tập huấn định kỳ để cung cấp cho giảng viên những thông tin về cơ sở vật chất nhà
trường, giúp họ có những hiểu biết cơ bản về trang thiết bị dạy học; đồng thời giúp họ sử dụng thành thạo, hiệu
quả các trang thiết bị hỗ trợ vào bài giảng của mình.
Bên cạnh việc tăng cường xây dựng cơ sở vật chất cũng cần tăng cường tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ
giảng viên yên tâm học tập và công tác bằng vệc đảm bảo chế độ lương hợp lý, việc chăm lo vật chất, tinh thần
cho ĐNGV là giúp học có được một chỗ dựa vững chắc cả về vật chất và tinh thần. Khi nhu cầu vật chất được
đáp ứng và tinh thần được thỏa mãn thì các thành viên của tổ chức sẽ toàn tâm, toàn lực chăm lo cho tổ chức của
mình. Vì vậy, để tiến tới một nhà trường vững mạnh đoàn kết, nhất trí thì lãnh đạo nhà trường không thể không
quan tâm đáp ứng nhu cầu vật chất cũng như tinh thần cho ĐNGV.
Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho ĐNGV đồng nghĩa với việc tạo ra sự quan tâm vật chất thiết thân
của đối tượng quản lý, chứa đựng nhiều yếu tố kích thích kinh tế nên tác động nhạy bén, linh hoạt, phát huy được
tính chủ động, sáng tạo của đội ngũ, giúp họ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng. Có thể nói, quan tâm
chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho ĐNGV là một biện pháp tốt nhất giảm chi phí và nâng cao hiệu quả các
quyết định quản lý.
Cần xây dựng chính sách thu hút cán bộ khoa học có trình độ cao tham gia giảng dạy tại trường; đồng thời
với chính sách thu hút cán bộ, giảng viên có trình độ cao, khôi phục chế độ nhà ở công vụ giúp cho những giảng
viên trẻ và những giảng viên có hoàn cảnh khó khăn có chỗ ở để họ yên tâm công tác.
Bên cạnh việc quan tâm chăm lo về đời sống vật chất, tinh thần cho ĐNGV, việc quan tâm xây dựng một
môi trường sư phạm lành mạnh; thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, những chuyến tham quan cho ĐNGV;
chú ý đến việc chăm sóc sức khỏe ĐNGV là việc làm hết sức cần thiết và tạo sự đoàn kết, nhất trí cao trong tập
thể ĐNGV.
- Khen thưởng kịp thời, kỷ luật nghiêm minh
Cũng như việc kiểm tra, đánh giá ĐNGV, mục đích của công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật là
để không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực và hiệu quả công tác của ĐNGV;
ngoài ra còn làm căn cứ để tuyển chọn, bố trí, sử dụng, miễn nhiệm, điều động, đào tạo, bồi dưỡng và
thực hiện các chế độ chính sách đối với đội ngũ giảng viên. Vì vậy, nhà trường cần có chính sách khen
thưởng, kỷ luật rõ ràng và thực hiện nghiêm túc, kịp thời có hiệu quả.
Tiếp tục hoàn thiện quy chế thi đua, khen thưởng, kỷ luật trong nhà trường, đưa công tác thi đua
đi vào chiều sâu, mang ý nghĩa thiết thực và kích thích được ĐNGV tích cực tham gia. Từng bước
định lượng hóa các tiêu chí thi đua như: số lượng và chất lượng đề tài khoa học các cấp, số bài báo
đăng trên tạp chí chuyên ngành, phương pháp giảng dạy, giáo trình, dự án, …. Điều này làm giảm sự
thiếu công bằng, hạn chế tính chủ quan trong bình bầu khen thưởng. Ngoài ra, nên tạo điều kiện và cơ
hội thuận lợi để giúp cho giảng viên tiếp cận và hội đủ những tiêu chuẩn để đạt các danh hiệu nhà giáo
nhân dân, nhà giáo ưu tú, giảng viên giỏi.
Việc thi hành kỷ luật đối với giảng viên phải công bằng, dân chủ, công khai dựa trên kết quả của
quá trình kiểm tra, giám sát chặt chẽ và trên các văn bản quy định của Nhà nước, của ngành và của
trường. Việc kỷ luật giảng viên phải đi sâu phân tích gốc rễ, giải quyết triệt để vấn đề, tránh để yếu tố
tình cảm cá nhân xen vào ảnh hưởng đến tính khách quan và tạo nên dư luận cũng như một tiền lệ
không tốt đối với công tác khen thưởng, kỷ luật của nhà trường.
3.2. Kiểm chứng về tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất
Để xác định tính hiệu quả và tính khả thi của các giải pháp quản lý ĐNGV được đề xuất, tác giả
đã tiến hành khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến gửi tới 89 giảng viên và cán bộ quản lý.
Bảng 3.1 tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất
Tính cần thiết
Tính khả thi
TT
Các giải pháp đề xuất
ĐTB
ĐTB
3
2
3
2
1
1
I Quy hoạch đội ngũ giảng viên
Thường xuyên theo dõi, nắm
9
78
70
29
0
0
2.83
2.81
1
chắc tình hình về tư tưởng và
43.8
87.6
10.1
78.7
0
0
chuyên môn nghiệp vụ
Sắp xếp tổ chức và biên chế
78
9
48
37
0
0
2.83
2.45
2
ĐNGV phù hợp với nhiệm vụ
41.6
53.9
0
87.6
10.1
0
cụ thể của từng đơn vị
74
12
42
42
2
1
Làm tốt công tác dự báo và xây
dựng kế hoạch phát triển
1.1
47.2
2.78
2.38
3
ĐNGV tầm nhìn từ 5 đến 10
83.1
13.5
47.2
2.2
năm
II Tuyển dụng giảng viên
70
14
64
21
1
2
Đổi mới nội dung, cách thức
2.70
1
2.64
tuyển dụng giảng viên
78.7
15.7
2.2
71.9
23.6
1.1
68
18
58
27
0
1
Xây dựng và thực hiện tốt quy
2
2.71
2.56
trình, tiêu chí tuyển dụng
76.4
20.2
1.1
65.2
30.3
0
56
28
34
47
4
2
Ưu tiên tuyển dụng giảng viên
2.54
2.25
3
cho các ngành ngoài sư phạm
62.9
31.5
2.2
38.2
52.8
4.5
III Sử dụng giảng viên
18
1
Bố trí chuyên môn đúng người,
0
79
7
68
2.83
2.70
1
đúng việc, phù hợp với năng
1.1
20.2
0
lực và sở trường
88.8
7.9
76.4
71
39
50
0
0
18
Đánh giá giảng viên dựa trên
2.80
2.56
2
các tiêu chuẩn nghiệp vụ và
43.8
0
0
chức danh đã quy định
79.8
20.2
56.2
Thống nhất quản lý chuyên
0
73
16
56
33
0
2.82
3
môn nghiệp vụ của giảng viên
37.1
0
0
2.63
giữa các đơn vị
82.0
18.0
62.9
Đào tạo, bồi dưỡng giảng
IV
viên
1
63
26
0
72
16
Xây dựng kế hoạch đào tạo,
1
2.80
2.71
bồi dưỡng gắn với quy hoạch
1.1
70.8
29.2
0
80.9
18.0
Tăng cường công tác bồi
0
67
22
0
73
16
2.75
2.82
2
dưỡng tư tưởng, phẩm chất
24.7
0
0
chính trị và đạo đức Nhà giáo
82.0
18.0
75.3
Tổ chức cho giảng viên tham
3
28
59
2
38
48
gia các lớp văn bằng hai, bồi
66.3
2.39
2.29
3
dưỡng nghiệp vụ sư phạm,
42.7
53.9
3.4
chuyên đề, …
31.5
2.2
Định kỳ đánh giá, tổng kết việc
37
0
49
39
50
1
4
thực hiện kế hoạch ĐTBD theo
41.6
0
2.53
2.53
từng giai đoạn
55.1
43.8
56.2
1.1
Quản lý hoạt động giảng dạy
V
và NCKH
34
Sắp xếp, phân công lao động
79
10
0
55
0
hợp lý trên cơ sở thống nhất kế
38.2
1
2.89
2.62
hoạch giữa Phòng Đào tạo với
0
88.8
11.2
61.8
0
các khoa, tổ bộ môn
Khuyến khích giảng viên đổi
1
48
61
26
2.65
41
0
2
2.46
mới phương pháp giảng dạy và
1.1
53.9
68.5
29.2
46.1
0
tích cực nghiên cứu khoa học
18
Tăng cường các hoạt động: dự
0
68
20
71
0
3
2.74
2.80
giờ thăm lớp, thao giảng, hội
20.2
0
76.4
22.5
79.8
0
giảng
Tăng cường kiểm tra, đánh giá
20
0
70
19
69
0
4
2.79
2.78
việc thực hiện chương trình, kế
22.5
0
78.7
21.3
77.5
0
hoạch giảng dạy
Nghiệm thu, đánh giá các Đề
2
48
69
17
38
1
5
2.73
2.37
tài NCKH dựa trên cơ sở
2.2
53.9
77.5
19.1
42.7
1.1
khách quan, khoa học
Xây dựng và hoàn thiện chế
VI
độ đãi ngộ
1
58
2.71
2.31
1
Tăng cường xây dựng cơ sở vật
30
0
21
66
1.1
65.2
chất, tạo điều kiện học tập, làm
74.2
23.6
33.7
0
việc
2
11
80
6
75
1
Khen thưởng kịp thời, kỷ luật
2.85
2.79
2
nghiêm minh
12.4
2.2
84.3
1.1
89.9
6.7
Các số liệu về kết quả trưng cầu ý kiến của cán bộ và giảng viên được hỏi ở (Bảng 3.1) cho thấy
các giải pháp chúng tôi đề xuất đều đạt ở mức cần thiết và rất cần thiết (đạt từ 2.39 đến 2.89 điểm) và
khả năng thực hiện từ khả thi đến rất khả thi (đạt từ 2.25 đến 2.81 điểm).
Từ kết quả thu được quả trên, chúng tôi cho rằng, những biện pháp đưa ra trong luận văn có thể
áp dụng được vào thực tế quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Công tác quản lý ĐNGV trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa – Vũng Tàu phải tuân theo những
nguyên lý chung của lý luận như: Quản lý, QLNNL, QL giáo dục, QL trường học, QL đội ngũ giảng
viên, …. . Bên cạnh đó, trường cũng mang những nét đặc thù riêng của trường Cao đẳng sư phạm: về
vai trò nhiệm vụ của ĐNGV trường CĐSP, những yêu cầu về phẩm chất đối với ĐNGV trường
CĐSP,….
Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu cho thấy, ĐNGV nhà
trường là một đội ngũ rất cân đối về cơ cấu giới tính, độ tuổi, có phẩm chất chính trị vững vàng, yêu
nghề, tâm huyết với nghề, có tinh thần học tập nâng cao trình độ, trong những năm qua, số lượng
giảng viên có học vị thạc sĩ tăng nhanh. Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ giảng viên vẫn còn nhiều hạn
chế biểu hiện ở khả sử dụng và đổi mới phương pháp dạy học, năng lực biên soạn giáo trình, tài liệu
dạy học cũng như NCKH và các hoạt động khoa học – công nghệ khác. Trường chưa có giảng viên có
học vị tiến sĩ. Khả năng sử dụng Tin học, ngoại ngữ trong giảng dạy còn kém. Tình trạng thiếu thừa
giảng viên ở các bộ môn khác nhau làm ảnh hưởng chất lượng đào tạo của nhà trường
Thực trạng về quản lý ĐNGV của nhà trường, thời gian qua, công tác quản lý có nhiều chuyển
biến tích cực, đạt được những kết quả nhất định: lãnh đạo trường đã chú trọng việc nâng cao chất
lượng ĐNGV; quan tâm và mạnh dạn đưa giảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính
trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là đào tạo sau đại học; các chính sách trong tuyển dụng, đãi
ngộ cũng được áp dụng khá mềm dẻo; thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với giảng viên. Mặc dù
vậy, so với yêu cầu phát triển, so với mục tiêu đào tạo; công tác quản lý đội ngũ giảng viên vẫn bộc lộ
những hạn chế bất cập mà biểu hiện rõ nhất là Công tác quy hoạch xây dựng, phát triển đội ngũ GV
còn thiếu tầm nhìn chiến lược, chưa có tính bao quát, toàn diện; Tuyển dụng và sử dụng ĐNGV còn
nhiều bất hợp lý; đào tạo bồi dưỡng chưa theo quy hoạch; Quản lý hoạt động giảng dạy còn chưa thực
sự sâu sát, chưa thống nhất trong quản lý giữa các đơn vị; Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
chưa phát huy hết năng lực của ĐNGV, chất lượng nghiên cứu khoa học chưa cao, chưa mang nhiều
tính ứng dụng và chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; Công tác kiểm tra, đánh giá chưa hiệu quả, tác động
chưa nhiều đến sự phấn đấu của ĐNGV và chưa có sự phát hiện và điều chỉnh kịp thời sự sai lệch.
Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân. Về yếu tố khách quan, nhà trường chưa thực sự được tự
chủ về nhiều mặt trong quản lý ĐNGV cho nên còn bị động trong tuyển dụng và quy hoạch giảng viên,
chưa tạo được sự chuyển biến tích cực trong việc thu hút nguồn lực, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi
dưỡng và thực hiện chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ GV. Nguồn kinh phí thực hiện các giải pháp
quản lý còn hạn hẹp nên đến hiệu quả quản lý chưa cao. Về yếu tố chủ quan, trình độ của cán bộ quản
lý không đồng đều, chưa theo kịp yêu cầu phát triển, chưa nhận thức sâu sắc, thấu đáo tầm quan trọng
của công tác quản lý đội ngũ GV.
Từ thực trạng quản lý ĐNGV ở trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu cho thấy, nhà trường cần tiến
hành bổ sung các biện pháp đã nêu một cách tích cực và đồng bộ với nội dung cơ bản như sau:
- Việc hoạch định nhân sự phải mang tính chiến lược, bao gồm công tác tổ chức bộ máy, tổ chức
cán bộ và công tác quy hoạch cán bộ nhằm vừa đảm bảo về số lượng vừa có lực lượng kế thừa đáp
ứng được yêu cầu phát triển của nhà trường. Ngoài việc xây dựng kế hoạch biên chế hàng năm, cần
hoạch định trong thời gian 5 năm, 10 năm cùng với định hướng kế hoạch phát triển của nhà trường.
- Việc sắp xếp, bố trí nhân sự ngày càng theo hướng giảm đầu mối (chức danh), tăng thêm nhiệm
vụ cho các thành viên đồng thời tăng lương, tăng thu nhập và đảm bảo các quyền lợi khác cho ĐNGV
theo tinh thần tự chủ tài chính của nhà trường quy định tại Nghị đinh 10/2002/NĐ-CP và Nghị định
43/2006/NĐ-CP về thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ
máy, tổ chức biên chế và tài chính. Theo đó, các thành viên phải đảm trách nhiều công việc phù hợp
với năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình.
- Cải tiến quy trình tuyển dụng nhằm tuyển chọn được nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công việc
một cách tốt nhất. Đảm bảo sự khách quan, công minh, dân chủ trong công tác tuyển dụng giảng viên,
kiên quyết chống các biểu hiện bè phái, cục bộ, coi thường lợi ích tập thể.
- Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giảng viên về chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước đối với ngành giáo dục và đào tạo.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cũng như đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng của giảng
viên hàng năm; tạo điều kiện để giảng viên tham gia nhiều hơn các lớp bồi dưỡng dưới nhiều hình thức
khác nhau.
- Để thực hiện tốt kế hoạch nhân sự, ngoài sự nỗ lực của nhà trường, cần có sự hỗ trợ bằng chính
sách, chủ trương của các cấp thẩm quyền như chính sách thu hút cán bộ, chế độ động viên khuyến
khích đối với đội ngũ giảng viên học tập, tự học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ;
Các giải pháp này có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ thúc đẩy nhau, chúng vừa là nguyên nhân
đồng thời vừa là kết quả của nhau. Nếu thực hiện triệt để, đồng bộ các giải pháp trên, chúng tôi tin
chắc rằng ĐNGV nhà trường sẽ ngày càng phát triển đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về số lượng và có
chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của nhà trường.
Tuy nhiên để các giải pháp trên đây được triển khai đi vào thực tiễn có hiệu quả cao, phần lớn
phải dựa vào sự nỗ lực của nhà trường, vào ý thức tự giác cao độ của mỗi giảng viên biết phát huy nội
lực của mình, mặt khác tận dụng và khai thác triệt để những yếu tố khách quan vào công tác quản lý
phát triển ĐNGV nhà trường ngày càng vững mạnh, xứng đáng là trung tâm văn hóa – giáo dục của
tỉnh.
2. Kiến nghị
2.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo
Cần sớm có khung quy định cụ thể về chuẩn giảng viên, về chuẩn định mức biên chế giảng viên
và nhân viên. Hoàn thiện hơn nữa các văn bản thị hành luật và văn bản dưới luật trong lĩnh vực giáo
dục bậc đại học để các trường ĐH, CĐ làm căn cứ pháp lý hoạch định kế hoạch nhân sự trình Ủy ban
nhân dân tỉnh quyết định biên chế hàng năm.
Có những quy định mới về định mức giờ chuẩn của giảng viên trong các trường ĐH, CĐ thay thế
thông tư 37/GD-TT ngày 14 tháng 11 năm 1980 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phù hợp với tình hình
mới.
Thực hiện chế độ phụ cấp ưu đãi và phụ cấp thâm niên đối với ngành giáo dục và đào tạo cho
mọi đối tượng là cán bộ, viên chức trong ngành đều được hưởng khoản phụ cấp này; tạo sự công bằng
về chính sách và thuận lợi trong việc điều động giảng viên tham gia công tác quản lý và công tác khác
trong cùng một cơ sở giáo dục và đào tạo.
Có nhiều dự án, đề án tạo điều kiện cho ĐNGV ở các trường CĐSP địa phương được tham gia
học tập, nâng cao trình độ.
2.2. Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Cần giao thêm quyền cho Hiệu trưởng nhà trường trong việc thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu
trách nhiệm cề thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-
CP để Hiệu trưởng nhà trường chủ động, sáng tạo trong việc tuyển dụng, sử dụng đội ngũ cán bộ,
giảng viên.
Tạo điều kiện cho nhà trường mở rộng diện tích, tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy
học hiện đại.
Để khuyến khích ĐNGV tích cực trong việc học tập, bồi dưỡng nâng cao, Ủy ban nhân dân tỉnh
cần nới rộng chỉ tiêu và tiêu chí cho cán bộ, giảng viên đi học được hưởng chính sách hỗ trợ của địa
phương theo Quyết định số 56 ngày 05/12/2008 của UBND tỉnh
Cần có chính sách thu hút các các nhà khoa học các chuyên gia đầu ngành, các cán bộ, giảng viên
có trình độ cao về công tác tại trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu cũng như các cơ sở đào tạo khác của
tỉnh.
2.3. Đối với trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu
Cần khảo sát và nắm rõ nhu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu một cách hệ thống; đồng thời khảo sát để nắm rõ nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực
của địa phương để từ đó xây dựng, quy hoạch đội ngũ giảng viên của nhà trường đủ về số lượng, tinh
thông về nghiệp vụ nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt và cả khi nhà trường được nâng cấp thành trường
đại học theo dự án tiền khả thi của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trình Chính phủ.
Tăng cường phân cấp để các đơn vị tăng thêm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong phạm vi
chức năng, nhiệm vụ của đơn vị. Tạo điều kiện để các đơn vị thực hiện sáng tạo hơn, tốt hơn các mục
tiêu giáo dục – đào tạo.
Tạo nên sự gắn kết hơn giữa các phòng chức năng và các khoa. Đảm bảo liên thông giữa quy
hoạch với đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quản lý và chính sách đối với cán bội nói chung và ĐNGV
nói riêng.
Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện Quy chế chi tiêu nội bộ của Trường, tạo nguồn thu nhập thêm cho
cán bộ, giảng viên. Xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy định về thể chế hoạt động trong nhà
trường, để làm căn cứ chỉ đạo quản lý và thực hiện như: quy định về NCKH, chế độ đối với giảng viên,
quy định về thi đua khen thưởng,...
Tiếp tục mở rộng quy mô và loại hình đào tạo nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của nhà
trường nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng, phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội của địa
phương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban chấp hành Trung ương, Chỉ thị 40 - CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL GD, Hà Nội.
2. Ban cán sự Đảng Bộ giáo dục và Đào tạo, Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐ ngày 06/01/2010 về đổi mới quản lý
giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2012, Hà Nội.
3. Dương Đức Báu (2006), Về nội dung quản lý đội ngũ giảng viên Đại học, Cao đẳng trong thời kỳ đổi
mới. Tạp chí Giáo dục số 135.
4
Bộ giáo dục và Đào tạo (2009), Điều lệ trường cao đẳng ban hành kèm theo Thông tư 14 – 2009/TT –
BGDĐT ngày 28/05/2009
5. Bộ giáo dục và Đào tạo, Báo cáo số 760/BC-BGDĐT ngày 259/10/2009 của Bộ giáo dục và Đào tạo về
sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm và nâng cao chất lượng đào tạo, Hà Nội.
6. Bộ giáo dục và Đào tạo (2010), Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2012, NXB
Giáo dục Việt Nam.
7. Chính phủ (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, NXB Giáo dục, Hà Nội.
8. Nguyễn Phúc Châu (2006), Logic nội dung và các nhiệm vụ nghiên cứu
khoa học về giải pháp quản lý giáo dục. (Số 143)
9. Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt nam, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh Cương, Phương Kỳ Sơn (1996), Các học thuyết quản lý, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
11. Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Cúc, Đức Uy (2004), Những vấn đề cơ bản của khoa học tổ chức, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghi lần thứ 2 BCH TW khoá VIII, NXB Chính trị quốc
gia Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
14. Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Học viện Quản lý giáo dục (2008), Hội nhập kinh tế quốc tế trong ngành giáo dục và đào tạo, Hà Nội .
16. Học viện Quản lý giáo dục – Bộ GD&ĐT (2008), Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý, công chức, nhà giáo
ngành GD&ĐT – Phần 3, Hà Nội.
17. Bùi Minh Hiền (chủ biên), Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2007), Quản lý giáo dục, Nxb Đại học sư
phạm.
18. Nguyễn Thanh Hội (2000), Quản trị nhân sự, NXB Thống kê, Hà Nội.
19.
Nguyễn Ánh Hồng (2003), Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào
tạo nguồn nhân lực tại trường Đại học. Tạp chí phát triển giáo dục (số 11).
20. Nguyễn Kim Hồng (2010), Đầu tư cho đội ngũ giảng viên là đầu tư cho chất lượng, Báo Giáo dục và
Thời đại (Số đặc biệt cuối tháng 10/2010).
21. Trần Thị Hương (2007), Giáo trình Xu thế phát triển giáo dục, Khoa Tâm lý giáo dục, Trường ĐHSP TP.
Hồ Chí Minh.
22. Phan Văn Kha (2006), Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu phát triển nguồn lực. Tạp chí Khoa học
Giáo dục (số 11).
23. Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lí giáo dục – một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
24. Trần Kiều (2003). Chất lượng giáo dục: Thuật ngữ, quan niệm. Tạp chí quản lý giáo dục (số 71).
25.
Nguyễn Ngọc Lan (2004), Nghiên cứu khoa học của giảng viên Đại học – Một yếu đảm bảo chất lượng
đào tạo. Tạp chí phát triển giáo dục (số 5).
26. Hồ Văn Liên (2008), Quản lý giáo dục và quản lý trường học, Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
27. Phạm Văn Luật (2007), Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm
ĐăkLăk, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh.
28.
Phạm Thành Nghị (2004), Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực Giáo dục Đào tạo. Tạp
chí phát triển giáo dục (số 10, số 11).
29. Ngô Đình Qua (2005), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm Thành phồ Hồ Chí
Minh.
30. Bùi Văn Quân (2006). Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát
triển đội ngũ giáo viên. Tạp chí Khoa học Giáo dục (số 8).
31 . Quốc hội (2005), Luật giáo dục 2005, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội.
32. Hoàng Tâm Sơn (2004), Quản lý nhân sự trong giáo dục. Đề cương bài giảng ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh.
33. Lê Bạt Sơn (2006), Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Cao đẳng Sư phạm
Phú Yên, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh.
34. Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị (1992), Tâm lý học sư phạm đại học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
35. Nguyễn Thị Thanh (2001), Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ giáo dục của trường
ĐH sân khấu – điện ảnh Hà Nội trước yêu cầu mới hiện nay, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP Hà
Nội.
36. Phạm Văn Thanh (1999), Thực trạng và một số giải pháp xây dựng đội
ngũ giảng viên các trường Đại học – Cao đẳng. Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp (số 10)
37. Thủ tướng Chính phủ (2005), Quyết định 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 về việc phê duyệt Đề án
“xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010”, Hà Nội.
38. Thủ tướng Chính phủ (2005), Nghị quyết về đổi mới cơ bản và toàn diện
giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020. Số 14/2005/NQ-CP.
39. Phạm Văn Toàn (2006), Các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Giao
thông Vận tải theo hướng chuẩn hóa, Tạp chí Khoa học Giáo dục (Số 15).
40.
Hoàng Trang (2005), Tư Tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – Những nội dung cơ bản, Tạp chí giáo dục học (
số 114), Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh.
41. Nguyễn Kỷ Trung (2008), Thực trạng và biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Đại học Sư
phạm Tp.Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Giáo dục.
42. Trần Văn Tùng (2005), Đào tạo - bồi dưỡng - sử dụng nguồn nhân lực tài năng, Nxb Thế Giới, Hà Nội.
43. Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu (2010), Báo cáo tự đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục đại học
năm 2010.
44. Phạm Viết Vượng – Chủ biên (2003), Quản lý hành chính Nhà nước và
quản lý ngành Giáo dục và Đào tạo, Nxb ĐHSP Hà Nội.
45. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa –
Thông tin, Hà Nội.
(Phụ lục số 1)
TỔNG HỢP PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN Câu 1: Xin qúy ông (bà) cho biết ý kiến của mình về thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên trường CĐSP, bằng cách đánh dấu X vào ô thích hợp:
Mức 4 là tốt; Mức 3 là khá; Mức 2 là trung bình; Mức 1 là yếu
Mức độ
TB
Nội dung
TT
4
3
2
1
1
Phẩm chất chính trị
80
8
1
0
SL
Tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng và
3.89
1.1
chính sách, pháp luật của Nhà nước
89.9
9.0
1.1
0
%
83
6
0
0
SL
Nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối của
3.93
1.2
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
93.3
6.7
0
0
%
3.22
Tích cực học tập, nghiên cứu, nắm vững các chỉ thị,
26
57
6
0
SL
1.3
nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà
29.2
64
6.7
0
%
nước
53
35
0
0
SL
Có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm sự điều
3.56
1.4
động, phân công của tổ chức
59.6
39.3
0
0
%
3.47
Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, quy định
42
47
0
0
SL
1.5
của pháp luật và điều lệ nhà trường, nội quy của đơn
47.2
52.8
0
0
%
vị
2 Đạo đức nghề nghiệp; lối sống; tác phong
52
37
0
0
SL
Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo;
3.58
2.1
tâm huyết với nghề nghiệp
58.4
41.6
0
0
%
3.65
Giàu lòng nhân ái; đoàn kết, thương yêu đồng chí,
59
29
1
0
SL
2.2
đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ đồng chí, đồng
66.3
32.6
1.1
0
%
nghiệp
43
45
1
0
SL
Tôn trọng nhân cách, đối xử công bằng và bảo vệ
3.47
2.3
các quyền, lợi ích chính đáng của người học
48.3
50.6
1.1
0
%
16
69
4
0
SL
Thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống
3.13
2.4
tham nhũng, lãng phí
18
77.5
4.5
0
%
3.43
Sống có lý tưởng, có mục đích, có ý chí vượt khó
41
45
3
0
SL
2.5
vươn lên, có tinh thần phấn đấu liên tục với động cơ
46.1
50.6
3.4
0
%
trong sáng
3.67
Có lối sống hoà nhập với cộng đồng, phù hợp với
63
25
0
SL
2.6
bản sắc dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ của xã
70.8
28.1
0
%
hội0
3.53
Có thái độ lịch sự, tôn trọng, trung thực, thân thiện,
57
31
1
0
SL
2.7
hợp tác trong giao tiếp với đồng nghiệp; giải quyết
64
34.8
1.1
0
%
công việc khách quan, tận tình, chu đáo
3 Năng lực chuyên môn nghiệp vụ
SL
27
58
4
0
3.26
3.1
Nắm vững chương trình, nội dung kiến thức môn học, thực hiện kế hoạch và chương trình dạy học
30.3
4.5
0
2.41
3.2 Khả năng sử dụng và đổi mới phương pháp dạy học
% SL %
6 6.7
65.2 33 37
48 54.2
1 1.1
2.89
3.3 Khả năng tổ chức họat động dạy học – giáo dục
2.80
3.4
Khả năng nắm bắt tâm lý, cảm hóa, thuyết phục, định hướng cho sinh viên
2.24
SL % SL % SL
14 15.7 8 9 1
51 57.3 55 61.8 24
24 27 26 29.2 61
0 0 0 0 1
3.5
%
1.1
27
68.5
1.1
Năng lực biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu dạy học.
2.39
3.6 Năng lực nghiên cứu khoa học và các hoạt động
khoa học - công nghệ khác
3.15
3.7 Thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học
SL % SL %
2 2.2 19 21.3
31 34.8 64 71.9
56 62.9 6 6.7
0 0 0 0
Câu 2: Xin qúy ông (bà) cho biết ý kiến của mình về thực trạng quản lý đội ngũ
giảng viên bằng cách đánh dấu X vào ô thích hợp: - Mức độ thường xuyên: Mức 4 là rất thường xuyên; Mức 3 là khá thường xuyên; Mức 2 là ít thường xuyên; Mức 1 là không thực hiện - Mức độ hiệu quả: Mức 4 là tốt; Mức 3 là khá; Mức 2 là trung bình; Mức 1 là yếu
Mức độ hiệu quả
TT
Nội dung
TB
TB
Mức độ thường xuyên 1 4
3
2
4
3
2
1
1
Quy hoạch đội ngũ giảng viên
10
61
16
2
1
46
40
2
1.1 Rà soát, sắp xếp biên chế
2.89
2.49
tới từng đơn vị
11.2
68.5
18.0
2.2
1.1
51.7 44.9
2.2
56
27
5
1
1
23
55
7
1.2
2.55
2.13
62.9
30.3
5.6
1.1
1.1
25.8 61.8
7.9
Dự báo về nhu cầu giảng viên đối với từng môn học, từng ngành học, từng hệ đào tạo 1.3 Đảm bảo đủ số lượng
2.83
2.46
giảng viên theo quy định
73 82.0
14 15.7
1 1.1 2
43 43 48.3 48.3 53 29
2 2.2 3
1 1.1 2
1 1.1 4
31
52
1.4 Đảm bảo sự đồng bộ về
2.58
2.29
cơ cấu đội ngũ giảng viên
2.2
2.2
32.6 59.6
3.4
4.5
1
34.8 77
2
58.4 9
2
16
68
3
2.84
1.5
2.10
Đảm bảo yêu cầu về chất lượng giảng viên
2.2
3.4
2.2
2.62
18.0 32
2.38
2.85
26
76.4 56 36.0 62.9 53
2.42
2 Tuyển dụng giảng viên 2.1 Thực hiện sự phân cấp trong tuyển dụng 2.2 Công khai, minh bạch quy trình tuyển dụng 2.3 Tiêu chí tuyển dụng hợp
2.61
2.91 2.55
1 1.1 7 7.9 4 4.5 3
0 0 3 29.2 59.6 3.40 4 31 50 4.5 56.2 34.8 4 55 27
1.1 5 5.6 18 20.2 10 11.2 5
86.5 46 51.7 43 48.3 65 73.0 40
1 1.1 3 3.4 4 4.5 1
10.1 37 41.6 25 28.1 10 11.2 43
2.4
2.33
1.1
5.6
44.9
48.3
3.4
30.3 61.8
4.5
lý Đảm bảo tính hợp lý giữa các bộ môn trong tuyển dụng
2.98
5
66
18
0
73
9
7
2.85
2.5
5.6
74.2 20.2
0
82
10.1
7.9
32
Đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ GV của trường 3 Sử dụng giảng viên 3.1 Thực hiện chế độ thử việc
đối với giảng viên mới
2.38
3.19
17 19.1
1 1.1
56 36.0 62.9
47 52.8
8 9.0
3 3.4
31 34.8
14
15
59
1
2.98
12
45
31
1
2.76
3.2 Bố trí, sử dụng đúng chuyên môn được đào tạo
66.3 32
15.7 53
1.1 1
16.9 3
2.42
13.5 6
50.6 34.8 55 26
1.1 1
3.3
2.39
36.0
59.6
1.1
3.4
6.7
29.2 61.8
1.1
54
33
29
6
3.54
49
7
0
3.4
3.29
60.7
32.6
6.7
37.1
55.1
7.9
0
16
57
13
3
2.97
8
3
32
46
2.26
3.5
4
18.0 19
64.0 52
14.6 16
3.4 2
9.0 1
36.0 37
51.7 50
3.4 1
4.1
2.99
2.45
21.3
58.4
18.0
2.2
1.1
46.1 56.2
1.1
7
58
20
4
5
36
43
3
2.76
2.44
4.2
7.9
65.2
22.5
4.5
5.6
40.4 48.3
3.4
44
42
3
26
56
5
2
3.46
3.19
4.3
49.4
47.2
3.4
29.2
62.9
5.6
2.2
2
15
66
5
11
73
4
2.21
2.23
4.4
2.2
16.9
74.2
5.6
12.4 82.0
4.5
19
62
8
10
62
16
1
thức
3.12
2.91
4.5
21.3
69.7
9.0
11.2
69.7 18.0
1.1
17
58
12
1
13
44
32
0
3.00
2.79
4.6
19.1
65.2
13.5
1.1
14.6
49.4 36.0
0
4.7
2.45
2.39
Đảm bảo tính kế thừa giữa các thế hệ giảng viên Thực hiện định mức giờ chuẩn đối với từng loại giảng viên theo quy định của ngành Chú trọng công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật đối với giảng viên Đào tạo, bồi dưỡng GV Lập kế họach đào tạo – bồi dưỡng GV theo thời gian Tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng ở từng đơn vị bám sát nhu cầu thực tế Tạo điều kiện cho giảng viên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong nước Cử giảng viên đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ở nước ngòai Tổ chức các lớp cập nhật chuyên kiến môn,ngoại ngữ, tin học; hội thảo, hội nghị … tại trường Chính sách khuyến khích giảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng Đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng GV
6 6.7
32 36.0
48 53.9
2 2.2
5
28
53
0 3
5.6
31.6 59.6
3.4
5
19
61
5
56
28
9
0
3.11
2.74
5.1
21.3
68.5
10.1
5.6
62.9 31.5
0
Quản lý hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của GV Thực hiện phân công giảng dạy cho GV tại các khoa theo đúng chuyên môn
8
33
48
3
27
59
0
2.38
2.34
5.2
9.0
37.1
53..9
3.4
30.3 66.3
0
Tổ chức cho GV nắm vững kế họach và chương trình môn học
32
41
16
7
47
35
0
3.18
2.69
5.3 Đề ra yêu cầu về chuẩn bị kế họach bài dạy của GV
36.0
46.1
18.0
7.9
52.8 39.3
0
31
54
4
8
52
29
0
3.30
2.76
5.4
34.8
60.7
4.5
9.0
58.4 32.6
0
Thực hiện các họat động sinh họat chuyên môn định kỳ theo khoa, trường
5
15
65
4
6
34
46
2
2.35
2.43
5.5
5.61
16.9
73.0
4.5
6.7
38.2 51.7
2.2
Giám sát, kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của giảng viên
1
21
52
15
4
22
59
4
chức hoạt động
5.6 Tổ
2.38
2.29
NCKH của đơn vị
4.5
58.4
34.8
2.2
4.5
24.7 66.3
4.5
8
57
18
4
6
24
56
3
2.73
2.37
5.7
9.0
64.0
20.2
4.5
6.7
27.0 62.9
3.4
Chế độ khuyến khích đối với công tác giảng dạy và NCKH
6
4
12
62
11
6
15
50
18
2.43
2.37
6.1
4.5
13.5
69.7
12.3
6.7
16.9 56.2 20.2
Công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giảng viên Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá theo thời gian và triển khai thực hiện
7
63
18
1
4
26
58
1
6.2
2.85
2.37
7.9
70.8
20.2
1.1
4.5
29.2 65.2
1.1
Quy trình đánh giá đảm bảo khách quan, công bằng
7
61
21
5
27
57
0
2.84
2.42
6.3
7.9
68.5
23.6
5.6
30.3 64.0
0
Gắn với quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của đội ngũ giảng viên
3
40
46
7
17
63
2
6.4
2.61
2.33
3.4
44.9
51.7
7.9
19.1 70.8
2.2
Tác động đến sự phấn đấu của đội ngũ giảng viên
7
28
43
11
6
20
46
17
2.35
2.17
6.5
7.9
31.5
48.3
12.4
6.7
22.5 51.7 19.1
Kịp thời đưa ra những quyết định điều chỉnh, khắc phục những sai lệch được phát hiện
Mức 4 là rất nhiều; Mức 3 là nhiều; Mức 2 là ít; Mức 1 không
Câu 3: Xin qúy ông (bà) cho biết ý kiến của mình về những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng sư phạm Bà Rịa – Vũng Tàu bằng cách đánh dấu X vào ô thích hợp:
TB
Mức độ đánh giá
Yếu tố
TT
3.62
1
4 58 65.2
3 28 31.5
2 3 3.4
SL Được Ủy ban nhân dân tỉnh giao quyền tự chủ về lĩnh vực quản lý đội ngũ và một số lĩnh vực khác %
2
Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và lãnh đạo cấp SL
52
32
5
3.53
1 0 0 0
trên
%
58.4
36.0
5.6
3.69
3
Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy và BGH nhà trường
62 69.7
26 29.2
1 1.1
SL %
3.11
4
Một bộ phận giảng viên lâu năm giàu kinh nghiệm, nhiệt tình và gương mẫu
20 22.5
59 66.3
10 11.2
SL %
3.27
5
Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để giảng viên được học tập và cống hiến
SL %
32 36.0
49 55.1
8 9.0
0 0 0 0 0 0 0
2.98
6
Chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ giảng viên
14 15.7
60 67.4
14 15.7
1 1.1
SL %
2.83
7
34 38.2
32 36.0
2 2.2
SL %
21 23.6
Chưa thực sự được tự chủ số lượng biên chế của nhà trường
2.87
8
Trình độ quản lý của cán bộ quản lý không đồng đều
SL %
18 20.2
43 48.3
26 29.2
2 2.2
3.15
9
Chưa có chính sách thu hút và giữ chân giảng viên trẻ, có trình độ chuyên môn cao
34 38.2
14 15.7
2 2.2
SL %
37 41.6
2.92
10
Đội ngũ cán bộ phòng – khoa ít được bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý
18 20.2
50 56.2
19 21.3
2 2.2
SL %
2.79
11
Còn một số giảng viên chưa được đạt chuẩn về yêu cầu nghiệp vụ của ngạch
18 20.2
39 43.8
29 32.6
1 1.1
SL %
3.27
12
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của trường
43 48.3
31 34.8
13 14.6
2 2.2
SL %
2.97
13
Nguồn kinh phí thực hiện các giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên còn hạn hẹp
32 36.0
28 31.5
25 28.1
2 2.2
SL %
Câu 4: Xin qúy ông (bà) cho biết ý kiến của mình về một số giải pháp đề xuất để phát triển đội ngũ giảng viên trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu bằng cách đánh dấu X vào ô thích hợp:
Mức 3 là rất cần thiết và rất khả thi; Mức 2 là cần thiết và khả thi; Mức 1 là không cần thiết và không khả thi.
TT
Các giải pháp đề xuất
TB
TB
Tính cần thiết 2
3
3
1
Tính khả thi 2
1
I
Quy hoạch đội ngũ giảng viên
9
SL
78
47
39
0
0
1.1
2.83
2.46
%
87.6
10.1
52.8
43.8
0
0
SL
78
9
48
37
0
0
1.2
2.83
2.45
%
87.6
10.1
53.9
41.6
0
0
SL
74
12
42
42
2
1
2.78
2.38
1.3
%
83.1
13.5
1.1
47.2
47.2
2.2
Thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình về tư tưởng và chuyên môn nghiệp vụ của ĐNGV Sắp xếp tổ chức và biên chế đội ngũ giảng viên phù hợp với nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị trong trường Làm tốt công tác dự báo nhu cầu và xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên tầm nhìn từ 5 đến 10 năm
II Tuyển dụng giảng viên
1
2.64
2
2.1 Đổi mới nội dung, cách thức
SL
70
2.70
64
21
14
2.2
2.71
2.56
2.3
2.54
2.25
tuyển dụng giảng viên Xây dựng và thực hiện tốt quy trình, tiêu chí tuyển dụng Ưu tiên tuyển dụng giảng viên cho các ngành ngoài sư phạm
2.2 1 1.1 2 2.2
71.9 58 65.2 34 38.2
23.6 27 30.3 47 52.8
1.1 4 4.5
% SL % SL %
78.7 68 76.4 56 62.9
15.7 18 20.2 28 31.5
III
Sử dụng giảng viên
SL
79
2.83
68
18
7
1
0
3.1
2.70
Bố trí chuyên môn đúng người, đúng việc, phù hợp với năng lực và sở trường
%
88.8
7.9
1.1
76.4
20.2
0
71
18
2.80
50
39
0
0
3.2
2.56
SL %
79.8
20.2
56.2
43.8
0
0
SL
73
16
2.82
56
33
0
0
3.3
2.63
%
82.0
18.0
62.9
37.1
0
0
IV
0
Đánh giá giảng viên dựa trên các tiêu chuẩn nghiệp vụ và chức danh đã quy định Thống nhất quản lý chuyên môn nghiệp vụ của giảng viên giữa các đơn vị Quản lý đào tạo, bồi dưỡng giảng viên
SL
72
16
63
26
1
0
2.80
4.1
2.71
%
80.9
18.0
1.1
70.8
29.2
Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng gắn với quy hoạch đội ngũ giảng viên
0
0
SL
73
16
67
22
0
4.2
2.75
2.82
0
%
82.0
18.0
75.3
24.7
Tăng cường công tác bồi dưỡng tư tưởng, phẩm chất chính trị và đạo đức Nhà giáo
0
SL
38
48
2
28
59
3
2.29
2.39
4.3
%
42.7
53.9
3.4
31.5
66.3
2.2
Tổ chức cho giảng viên tham gia các lớp văn bằng hai, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, chuyên đề, …
SL
49
39
50
37
1
0
4.4
2.53
2.53
%
55.1
43.8
56.2
41.6
1.1
Định kỳ đánh giá, tổng kết việc thực hiện kế hoạch ĐTBD theo từng giai đoạn
0
V
SL
79
10
55
34
0
0
5.1
2.62
2.89
%
88.8
11.2
61.8
38.2
0
0
Quản lý hoạt động giảng dạy và NCKH Sắp xếp và phân công lao động hợp lý trên cơ sở thống nhất kế hoạch giữa Phòng Đào tạo với các khoa, tổ bộ môn
SL
61
26
41
48
1
0
2.65
5.2
2.46
%
68.5
29.2
1.1
46.1
53.9
Khuyến khích giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy và tích cực nghiên cứu khoa học
0
SL
68
20
71
18
0
0
5.3
2.80
2.74
%
76.4
22.5
79.8
20.2
Tăng cường các hoạt động: dự giờ thăm lớp, thao giảng, hội giảng
0
0
69
20
SL
70
19
0
0
5.4
2.78
2.79
78.7
21.3
77.5
22.5
Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của giảng viên %
0
2.73
2.37
SL
69
17
38
48
1
2
5.5 Nghiệm thu, đánh giá các Đề tài NCKH dựa trên cơ sở khách
quan, khoa học
%
77.5
19.1
2.2
42.7
53.9
1.1
VI
Xây dựng và hoàn thiện chế độ đãi ngộ
1
SL
66
21
30
58
0
2.71
6.1
2.31
%
74.2
23.6
1.1
33.7
65.2
Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, tạo điều kiện học tập, làm việc cho cán bộ giảng viên.
0
SL
80
6
2
75
11
1
6.2 Khen thưởng kịp thời, kỷ luật
2.85
2.79
nghiêm minh
%
89.9
6.7
2.2
84.3
12.4
1.1
Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu,
theo ông (bà), cần có những giải pháp nào: …………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………
Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của quý ông (bà!

