BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH _________________________
Nguyễn Thị Diễm Hằng
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC PHÒNG
CHỐNG BỆNH BÉO PHÌ CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG
MẦM NON TẠI QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
TP. Hồ Chí Minh - năm 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ___________________
Nguyễn Thị Diễm Hằng
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC PHÒNG
CHỐNG BỆNH BÉO PHÌ CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG
MẦM NON TẠI QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. NGÔ ĐÌNH QUA
TP. Hồ Chí Minh - năm 2011
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Khoa Tâm lý giáo dục, Phòng
Khoa học công nghệ & Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh, quý thầy cô giảng viên lớp Cao học Quản lý giáo dục khóa 20 đã giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các giáo viên mầm non của các
trường mầm non quận Bình Tân; các anh chị học viên lớp Cao học Quản lý giáo
dục Khóa 20 và gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi
hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn TS Ngô Đình Qua đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn
thành luận văn.
Tác giả
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
VIẾT ĐẦY ĐỦ
CBQL Cán bộ quản lý
BGH Ban giám hiệu
CSVC Cơ sở vật chất
ĐTB Điểm trung bình
GDMN Giáo dục mầm non
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
GVMN Giáo viên mầm non
NXB Nhà xuất bản
QLGD Quản lý giáo dục
TDTT Thể dục thể thao
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
YDHDT Y dược học dân tộc
MỤC LỤC
0TLỜI CẢM ƠN0T ........................................................................................................ 3
0TDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT0T .................................................................... 4
0TMỤC LỤC0T .............................................................................................................. 5
0TMỞ ĐẦU0T ................................................................................................................ 9
0T1. Lý do chọn đề tài0T ................................................................................................................ 9
0T2. Mục đích nghiên cứu0T ........................................................................................................ 11
0T3. Khách thể - đối tượng nghiên cứu0T .................................................................................... 11
0T4. Giả thuyết0T ......................................................................................................................... 11
0T5. Nhiệm vụ nghiên cứu0T ....................................................................................................... 11
0T6. Phương pháp nghiên cứu0T .................................................................................................. 11
0TChương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC PHÒNG, CHỐNG
0T1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề0T ............................................................................................ 14
0T1.2. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 0T ...................................................... 17
0T1.2.1. Quản lý0T .................................................................................................................. 17
0T1.2.2. Quản lý giáo dục0T .................................................................................................... 19
0T1.2.3. Quản lý nhà trường0T ................................................................................................ 20
0T1.2.4. Quản lý giáo dục mầm non0T .................................................................................... 23
0T1.2.5. Bệnh béo phì0T .......................................................................................................... 23
0T1.3. Một số vấn đề lý luận liên quan đến trường mầm non[4]0T ............................................. 23
0T1.3.1. Trường mầm non0T ................................................................................................... 23
0T1.3.2. Vị trí, vai trò của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân0T .............. 24
0T1.3.3. Các loại hình trường mầm non 0T .............................................................................. 26
BỆNH BÉO PHÌ CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON0T ............................ 14
0T1.3.4. Nhiệm vụ trường mầm non0T ................................................................................... 27
0T1.3.5. Nội dung, chương trình giáo dục mầm non0T ........................................................... 27
0T1.3.6. Tổ chức và quản lý trường mầm non 0T .................................................................... 28
0T1.3.6.1. Hiệu trưởng0T .................................................................................................... 28
0T1.3.6.2. Phó hiệu trưởng0T ............................................................................................. 29
0T1.3.6.3. Tổ chuyên môn 0T .............................................................................................. 29
0T1.3.6.4. Giáo viên mầm non0T ........................................................................................ 29
0T1.3.6.5. Trẻ mầm non 0T .................................................................................................. 30
0T1.3.6.6. Cơ sở vật chất và quan hệ xã hội0T ................................................................... 30
0T1.4. Một số vấn đề lý luận về công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì0T ................. 31
0T1.4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh béo phì ở trẻ0T ....................................................... 31
0T1.4.1.1. Yếu tố kinh tế - xã hội0T ................................................................................... 31
0T1.4.1.2. Yếu tố gia đình0T .............................................................................................. 32
0T1.4.1.3. Yếu tố trường Mầm non0T ................................................................................ 32
0T1.4.2. Nguyên nhân của bệnh béo phì0T ............................................................................. 33
0T1.4.3. Cách phát hiện trẻ bị bệnh béo phì0T ........................................................................ 35
0T1.4.4. Những tác hại của bệnh béo phì đối với trẻ mầm non0T ........................................... 36
0T1.4.5. Quản lý việc phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non0T ............. 38
0T1.4.5.1. Khái niệm0T ...................................................................................................... 38
0T1.4.5.2. Chủ thể và đối tượng quản lý0T......................................................................... 39
0T1.4.5.3. Nội dung công tác phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non0T
.................................................................................................................................... 39
0T1.4.5.4. Các chức năng quản lý việc phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường
mầm non0T ..................................................................................................................... 40
0TChương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VIỆC PHÒNG,
CHỐNG BỆNH BÉO PHÌ CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TẠI
0T2.1. Tổng quan về kinh tế - xã hội, giáo dục mầm non ở Quận Bình Tân0T ........................... 47
0T2.1.1. Khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội quận Bình Tân 0T .............................. 47
0T2.1.2. Khái quát tình hình phát triển giáo dục và đào tạo quận Bình Tân 0T ....................... 48
0T2.1.3. Khái quát tình hình phát triển giáo dục mầm non quận Bình Tâ0T .......................... 50
0T2.1.3.1. Về huy động và phát triển số lượng0T ............................................................... 50
0T2.1.3.2. Về chất lượng giáo dục0T .................................................................................. 51
0T2.2. Thực trạng về bệnh béo phì của trẻ mầm non ở một số trường mầm non tại quận Bình
Tân Thành phố Hồ Chí Minh0T ............................................................................................... 52
0T2.3. Thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ tại các trường mầm
non tại quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh0T ................................................................. 57
0T2.3.1. Mô tả công cụ 0T ........................................................................................................ 57
0T2.3.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên ở các trường mầm non tại Quận
Bình Tân TPHCM 0T ........................................................................................................... 58
0T2.3.3. Thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ tại các trường
mầm non tại quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh xét theo các chức năng quản lý0T . 61
0T2.3.3.1. Chức năng xây dựng kế hoạch phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ0T ............. 61
0T2.3.3.2. Chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ0T . 65
0T2.3.3.3. Chức năng chỉ đạo phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ0T ................................. 68
0T2.3.3.4. Chức năng kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch phòng, chống bệnh béo
phì cho trẻ0T ................................................................................................................... 72
0T2.4. Nhận xét thực trạng0T ....................................................................................................... 74
0T2.4.1. Mối liên hệ giữa điểm trung bình thực trạng quản lý với điểm trung bình thành
tích phòng, chống bệnh béo phì0T ....................................................................................... 74
0T2.4.2. Ưu điểm0T ................................................................................................................. 76
QUẬN BÌNH TÂN TPHCM0T ............................................................................... 47
0T2.4.3. Hạn chế0T .................................................................................................................. 78
0T2.5. Đề xuất giải pháp quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm
non tại Quận Bình Tân TPHCM0T .......................................................................................... 79
0T2.5.1. Căn cứ đề xuất giải pháp0T ....................................................................................... 79
0T2.5.1.1. Cơ sở lý luận0T .................................................................................................. 79
0T2.5.1.2. Cơ sở thực tiễn0T ............................................................................................... 81
0T2.5.2. Các giải pháp quản lý0T ....................................................................................... 82
0T2.5.2.1. Sử dụng biểu đồ tăng trưởng trong việc theo dõi sức khỏe của trẻ0T ............... 82
0T2.5.2.2. Khám sức khỏe, tẩy giun định kỳ cho trẻ0T ...................................................... 83
0T2.5.2.3. Tăng cường tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ béo phì 0T ........................... 84
0T2.5.2.4. Quản lý việc xây dựng khẩu phần ăn hàng ngày cho trẻ0T ............................... 85
0T2.5.2.5. Tăng cường quản lý vệ sinh, an toàn thực phẩm0T ........................................... 89
0T2.5.2.6. Nâng cao trình độ nhận thức về dinh dưỡng đối với đội ngũ cấp dưỡng, đội
ngũ GVMN, can thiệp dinh dưỡng vào các trường mầm non0T .................................... 92
0T2.5.2.7. Quản lý việc tuyên truyền về dinh dưỡng và phòng chống bệnh béo phì cho
phụ huynh trẻ0T .............................................................................................................. 94
0T2.5.2.8. Đổi mới công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện0T ............ 96
0T2.6. Trưng cầu ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất0T ............... 97
0TKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ0T............................................................................ 100
0T1. Kết luận0T .......................................................................................................................... 100
0T2. Kiến nghị 0T ........................................................................................................................ 102
0TTÀI LIỆU THAM KHẢO0T .................................................................................. 107
0TPHỤ LỤC0T ........................................................................................................... 110
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tuổi trẻ là mùa xuân của đời người. Trẻ em là tương lai của đất nước. Một
thế hệ trẻ khỏe mạnh là điều kiện cần để xây dựng một đất nước giàu mạnh.
Chính vì vậy, chăm sóc và giáo dục con người từ tuổi ấu thơ là việc làm cần thiết
và quan trọng.
Ngày nay, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, tốc độ đô thị hóa đang diễn ra
ở các nước đang phát triển kéo theo những thay đổi trong cách ăn uống và lối
sống đã ảnh hưởng không ít đến tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ em.
Đặc biệt ở các nước Châu Á, mặc dù tỉ lệ béo phì trong số người lớn còn thấp
nhưng xu hướng gia tăng của béo phì trẻ em rất rõ rệt. Vì vậy, béo phì ở trẻ em
đang là một trong những vấn đề sức khỏe ưu tiên trong chiến lược y tế dự phòng
tại các nước này và đang được xem là một trong những thách thức của vấn đề
dinh dưỡng và sức khỏe.
Bệnh béo phì được Tổ chức Y tế Thế giới coi là một thách thức của thiên
niên kỷ và là một trong “tứ chứng nan y” của loài người: AIDS, ung thư, béo phì
và ma túy. Điều này chứng tỏ đây là một bệnh khó trị.
Bệnh béo phì thường dẫn đến những bệnh tật khác như: tăng huyết áp, tiểu
đường, viêm xương khớp... Ngoài ra, bệnh béo phì còn ảnh hưởng đến sinh hoạt,
sự sáng tạo và sự phát triển của trẻ.
Điều 6 của Luật Bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em nêu rõ: “Trẻ em phải
được chăm sóc và giáo dục nhằm phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức
và thẩm mỹ. Trẻ em ở lứa tuổi mầm non (0 – 6 tuổi) là thời kỳ đầu tiên của con
người với tốc độ phát triển rất nhanh về mọi mặt và là thời kỳ có vị trí đặc biệt
quan trọng, đặt tiền đề cho sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con
người mai sau. Nếu trẻ được nuôi dưỡng tốt sẽ phát triển nhanh, khỏe mạnh và
thông minh.” [5]
Hiện nay tình hình bệnh béo phì đang tǎng lên với tốc độ đáng báo động
không những ở các 0Tnước phát triển0T mà cả ở các 0Tnước đang phát triển0T cũng vậy.
Tại các nước đang phát triển, bệnh béo phì tồn tại song song với tình trạng thiếu
dinh dưỡng và thường gặp nhiều ở thành phố hơn ở nông thôn. Tỉ lệ béo phì của
trẻ em trên toàn thế giới là 3,3%. Tại Mỹ, tỉ lệ trẻ em và thanh thiếu niên béo phì
là 17,1% (2003 – 2004), trong khi tại Trung Quốc tỉ lệ này gia tăng từ 1,5%
(1983) đến 12,6% (1997). Tại Việt Nam, bên cạnh tỉ lệ suy dinh dưỡng vẫn còn
khá cao, số trẻ em bị béo phì cũng đang gia tăng ở mức báo động, nhất là tại các
thành phố lớn. Theo số liệu điều tra của trung tâm Dinh dưỡng TPHCM vào năm
1999, chỉ khoảng 2,2% trẻ dưới năm tuổi bị bệnh béo phì nhưng sau đó tỉ lệ này
tăng dần qua các năm: 2000 là 2,7%; năm 2002 là 3,6% và lên đến 6,3% vào
năm 2005, 10,9% vào năm 2008. Một nghiên cứu khác ở học sinh 6 – 11 tuổi tại
các trường tiểu học ở quận I TPHCM năm 1997 cho thấy 12,2% học sinh tại đây
bị béo phì. Tại Hà Nội, cũng vào năm 1997, hai cuộc điều tra ở học sinh tiểu học
tại một số trường tiểu học có điều kiện kinh tế khá giả ở quận Hoàn Kiếm cho
thấy: có từ 4,1 đến 7,4% học sinh bị béo phì. Thực trạng trên đã làm thức tỉnh
các nhà dinh dưỡng, các thầy cô giáo, các giáo viên mầm non, các bậc phụ
huynh cũng như của cộng đồng về việc cần cảnh giác với hiện tượng béo phì
đang gây tổn hại đến sức khỏe của trẻ em.
Tại các trường mầm non, nếu công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo
phì được thực hiện tốt sẽ góp phần kéo giảm tỷ lệ phần trăm trẻ bị bệnh béo phì.
Nhưng thực trạng công tác quản lý này tại các trường mầm non Quận Bình Tân
TPHCM hiện nay ra sao, chưa có ai nghiên cứu. Chính vì vậy, tôi chọn và
nghiên cứu đề tài: “Thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo
phì cho trẻ ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM.”
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho
trẻ ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân và đề xuất các biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của công tác này.
3. Khách thể - đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý tại trường mầm non.
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì
cho trẻ ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM.
4. Giả thuyết
Công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường
mầm non tại Quận Bình Tân bên cạnh những thành tựu còn có những hạn chế
như: công tác tổ chức, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chưa được tốt và thường
xuyên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết nhằm xác lập cơ sở lý luận cho đề tài.
- Khảo sát thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho
trẻ ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác này.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở phương pháp luận
Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc, người nghiên cứu thấy thực trạng
công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non
tại Quận Bình Tân bao gồm những yếu tố sau đây:
- Mục tiêu quản lý:
+ Phòng chống bệnh béo phì ở các trường mầm non;
+ Phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ (đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể
lực...).
- Nội dung quản lý: Quản lý việc phòng ngừa và chữa trị bệnh béo phì:
+ Quản lý việc trang bị kiến thức cho giáo viên, phụ huynh và cho trẻ;
+ Quản lý chế độ dinh dưỡng, vận động của trẻ (giờ ăn, ngủ, chế độ
sinh hoạt, vui chơi của trẻ);
+ Quản lý việc khám sức khỏe định kỳ của trẻ.
- Chủ thể quản lý:
Hiệu trưởng các trường mầm non Quận Bình Tân.
- Kết quả quản lý:
+ Nâng cao chất lượng chăm sóc – nuôi dưỡng trẻ;
+ Trẻ phát triển khỏe mạnh, hài hòa cân đối;
+ Tỉ lệ % trẻ béo phì năm sau thấp hơn năm trước.
Quan điểm thực tiễn
Xuất phát từ thực trạng quản lý của hiệu trưởng nhằm phòng chống bệnh
béo phì cho trẻ ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân còn gặp nhiều khó
khăn… Do đó, cần tìm hiểu các nguyên nhân và đề xuất các biện pháp để thực
hiện tốt công tác này.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phân tích và tổng hợp lý luận về công tác quản lý nói chung cũng như
quản lý việc phòng chống bệnh béo phì;
- Lý luận về bệnh béo phì.
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1. Phương pháp quan sát
Đối tượng quan sát: Cán bộ quản lý, cô giáo mầm non, trẻ mầm non.
Nội dung quan sát: công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho
trẻ ở một số trường mầm non tại quận Bình Tân.
6.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Đối tượng phỏng vấn: Ban giám hiệu, các cô giáo mầm non, đội ngũ cấp
dưỡng các trường;
Nội dung phỏng vấn: công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho
trẻ ở một số trường mầm non những năm gần đây và trong năm học 2009 –
2010.
6.2.2.3. Phương pháp điều tra
Đối tượng điều tra: Cán bộ quản lý, cô giáo mầm non, phụ huynh.
Nội dung điều tra: Thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh
béo phì.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC PHÒNG, CHỐNG BỆNH BÉO PHÌ CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Béo phì là chứng bệnh thường dẫn đến những chứng bệnh khác như bệnh
tim mạch, bệnh tiểu đường. Trẻ mầm non là mùa xuân của đời người, nếu mắc
phải chứng béo phì và không điều trị khỏi sẽ có một sức khỏe tương lai không
mấy tốt đẹp. Vì vậy, từ trước đến nay, ở nước ta cũng như trên thế giới đã có
nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Cụ thể, ở trong nước, chúng tôi có thể điểm qua một số công trình như:
Đề tài “Khảo sát khuynh hướng béo phì và các yếu tố nguy cơ ở trẻ 4 - 5
tuổi tại các trường mầm non nội thành TPHCM năm 2005” do bác sỹ Phạm Thị
Ngân Hà làm chủ nhiệm đã đưa ra những kết luận như: khuynh hướng trẻ bệnh
béo phì ngày càng tăng do điều kiện kinh tế xã hội thay đổi, đặc biệt là trẻ ở nội
thành dễ bệnh béo phì hơn trẻ ở nông thôn.
Hội nghị khoa học “Thừa cân – béo phì, mối nguy cơ của các bệnh thời
đại” do trung tâm Dinh dưỡng và Viện Y dược học dân tộc TPHCM tổ chức năm
2007, đã cho thấy bệnh béo phì có mối quan hệ chặt chẽ với một số bệnh như
bệnh đái tháo đường type 2, làm tăng nguy cơ sỏi mật ở mọi lứa tuổi và giới tính.
Ngoài ra, bệnh béo phì dễ dẫn đến gan nhiễm mỡ, làm tăng nguy cơ của các bệnh
lý như viêm tụy, xương khớp…
Đề tài “Thừa cân – béo phì, gánh nặng của dinh dưỡng và sức khỏe hiện
nay” của tác giả Lê Thị Kim Qui – Giám đốc Trung tâm dinh dưỡng TPHCM đã
nêu lên được những yếu tố nguy cơ của thừa cân, béo phì; hậu quả, chiến lược
dự phòng và điều trị thừa cân, béo phì.
Đề tài “Mười năm xây dựng phương pháp điều trị béo phì tại Viện Y dược
học dân tộc TPHCM”, tác giả Lê Thúy Tươi đã cho thấy được quy trình xây
dựng phương pháp điều trị thừa cân, béo phì. Qua đó cho thấy được cái nhìn
tổng thể về việc điều trị bệnh béo phì hiện nay là nhu cầu của cộng đồng mà
ngành y tế cần quan tâm giải quyết. Đề tài cũng cho thấy số bệnh nhân bệnh béo
phì ở nội thành TPHCM chiếm hơn 50% trong tổng số bệnh nhân đến điều trị,
trong đó phái nữ chiếm trên 80%.
Đề tài “Béo phì – căn bệnh của thời đại, các hiểu biết mới và một số
nghiên cứu ở Huế” của tác giả Trần Hữu Dàng – Phó Hiệu trưởng trường Đại
học Y dược Huế đã nêu lên được những nguy cơ bệnh tật do béo phì gây ra như:
bệnh lý tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường và có thể một số loại ung thư.
Đề tài “Béo phì và ung thư” của tác giả Quan Vân Hùng – Trưởng khoa
nội II Viện YDHDT đã đưa ra những nghiên cứu về số lượng người chết vì ung
thư có liên quan đến béo phì. Tác giả cũng đưa ra kết luận rằng những người
nặng cân có tỷ lệ tử vong do ung thư cao hơn so với người có cân nặng bình
thường.
Đề tài “Đặc điểm trẻ thừa cân – béo phì có gan nhiễm mỡ tại khoa Dinh
dưỡng Bệnh viện Nhi đồng 1 năm 2005 – 2006” của tác giả Hoàng Thị Tín –
Bệnh viện Nhi đồng 1 đã đưa ra những kết luận như: có mối liên quan giữa gan
nhiễm mỡ với giới nam, tuổi tác và mức độ béo phì; nhóm trẻ có gan nhiễm mỡ
có trung bình chiều dài vòng eo, tỷ số vòng eo/vòng hông, đường huyết, insulin
máu cao hơn nhóm không có gan nhiễm mỡ.
Đề tài “Kết quả lượng giá hồ sơ béo phì trẻ em tại phòng khám trung tâm
Dinh dưỡng TPHCM năm 2005 – 2006” của tác giả Lê Thị Kim Qui - Giám đốc
trung tâm Dinh dưỡng TPHCM đã đưa ra những kết luận như: bệnh béo phì xảy
ra với tần suất cao ở trẻ của những gia đình khá giả tại các đô thị lớn; trình độ
học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ cũng có ảnh hưởng đến tình trạng dinh
dưỡng của trẻ và muốn điều trị béo phì thành công đòi hỏi phải có sự quan tâm
theo dõi, chăm sóc liên tục của gia đình trẻ.
Ở Mỹ, năm 1994 bác sĩ Jeffrey Fridman (Đại học Rockefeller ở New
York) khám phá ra một gien gọi là OB ở loài chuột béo phì. Tại mô mỡ của loài
chuột này xuất hiện chất có tên là leptin, một protein gồm 146 acid amin được
gọi là hormon điều chỉnh cân nặng. Leptin làm nhiệm vụ truyền lên não thông tin
về sự no, thiếu leptin con vật ăn mãi mà không có cảm giác no gây ra béo phì.
Vài tháng sau đó, cũng nhóm nghiên cứu này tìm được gien tương ứng ở người,
cũng gọi là OB, nằm ở nhiễm sắc thể số 7.
Thực tế, các nhà khoa học ước đoán có gần 200 gien liên quan đến béo
phì. Các nhà khoa học Thụy Điển thuộc Đại học Goteborg đã phát hiện ở chuột
một gien giúp chúng ăn chất béo thoải mái mà vẫn có thân hình thon thả. Gien
này có tên là FOXC2. Họ hy vọng sẽ dùng gien này để điều trị béo phì cho
người.
Các nhà khoa học Anh, Mỹ, Australia đã tìm ra hormon peptide YY – 36
hay còn gọi là PYY nằm ở thành ruột có tác dụng chống cảm giác thèm ăn. Các
nhà khoa học Thụy Điển thuộc đại học Goteborg còn phát hiện ra một gen có tên
là FOXC2 có tác dụng chống hấp thu chất béo và làm giảm số lượng các tế bào
mỡ. Hướng nghiên cứu tác động vào gen gây béo phì vẫn đang là vấn đề được
các nhà khoa học quan tâm.
Hiện nay, qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy chưa có tác giả nào nghiên
cứu về thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm
non. Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Thực trạng công tác quản lý việc phòng
chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM”
là cần thiết và phù hợp với công tác quản lý giáo dục trong tình hình thực tế hiện
nay ở Quận Bình Tân TPHCM.
1.2. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Quản lý
Quản lý là một hoạt động được hình thành từ khi xã hội loài người có sự
phân công lao động, con người có sự hợp tác với nhau hoặc cùng nhau hoạt động
với những mục đích chung nào đó. Quản lý rất cần thiết cho tất cả mọi lĩnh vực
hoạt động đời sống của con người. Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở
đó cần đến quản lý, dù đó là nhóm nhỏ, nhóm lớn, nhóm chính thức, nhóm
không chính thức và bất kể nội dung hoạt động nhóm đó là gì. Có thể nói quản lý
là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó. K.Marx
đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều
hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ
sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất… Một người độc tấu vĩ cầm tự mình
điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. [19]
Điều đó cho thấy rằng hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp
tác lao động của xã hội loài người, nhằm đạt mục đích nhất định. Đây chính là
hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành
viên trong nhóm, trong cộng đồng để đạt mục tiêu đề ra.
Hoạt động quản lý còn là hoạt động lao động để điều khiển lao động, một
loại lao động có ý nghĩa tất yếu và vĩnh hằng với chức năng điều khiển mọi hoạt
động xã hội về kinh tế, quân sự, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục.
Có nhiều tác giả với những phát biểu khác nhau về quản lý, cụ thể như:
W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động đã nêu: “Quản lý
là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm như thế nào để
đạt hiệu quả tốt nhất và rẻ nhất”. [17]
H.Koonts cho rằng “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm đảm bảo sự
phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu
của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được
những mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân
ít nhất”.[12]
Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp H.Fayon viết “Quản lý hành chính
là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra”.[9]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Quản lý là thực hiện hai quá trình liên
hệ chặt chẽ với nhau: Quản và lý. Đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn (quản) và
sửa sang, sắp xếp (lý) để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động
được ổn định và phát triển.[1]
Tác giả Nguyễn Thị Liên Diệp cho rằng “Quản lý là một hoạt động cần
thiết khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức, nhằm đạt được những
mục tiêu chung. Như vậy, hoạt động quản lý là hoạt động chỉ phát sinh khi con
người kết hợp với nhau thành một tập thể”.[8]
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu:
o Quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động. o Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện (Quản lý
hành chính, Quản lý văn hóa, Quản lý sản xuất...)
o Quản lý là một nghệ thuật tác động vào một hệ thống. o Quản lý là một tổ hợp phương pháp tạo nên vận hành của hệ
nhằm thực hiện các mục tiêu.
o Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm hai phân hệ chủ
thể quản lý và khách thể quản lý.
o Đối tượng quản lý chủ yếu vẫn là con người.
Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một
hoạt động, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của
chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong
một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra. [21]
1.2.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội. Khái niệm QLGD
được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi mô cũng có những định
nghĩa sau:
QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý,
nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức và vận
dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân. [34]
QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của
chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ, Sở
và Phòng GD&ĐT đến trường), nhằm mục đích đảm bảo giáo dục cộng sản chủ
nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở
nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như
những quy luật khách quan của quá trình dạy học – giáo dục, của sự phát triển về
thể chất, về tinh thần của các thế hệ. [22]
QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật
của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động giáo dục của
những người làm công tác giáo dục (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục
tiêu, kế hoạch giáo dục đặt ra. [26]
Như vậy, các nhà nghiên cứu QLGD đều thống nhất quan niệm: QLGD
nói chung (quản lý trường học nói riêng) là hệ thống những tác động có mục
đích, có khoa học, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành
theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của
nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học,
giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới
về chất. [22]
QLGD cũng là thực hiện các chức năng quản lý trong công tác giáo dục,
bao gồm kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá các quá trình giáo
dục. Thực chất QLGD là quá trình tổ chức, điều chỉnh các yếu tố cơ bản sau:
+ Đường lối, chiến lược và chính sách giáo dục của đất nước.
+ Tập thể các nhà sư phạm (Cán bộ QLGD, giáo viên), trẻ em, gia
đình, các đoàn thể và xã hội...
+ Điều kiện cơ sở vật chất (bàn ghế, trường lớp, đồ dùng trang thiết
bị dạy học, đồ chơi...).
Tóm lại, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng
và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt
được kết quả mong muốn (mục tiêu) một cách có hiệu quả nhất.
1.2.3. Quản lý nhà trường
Quản lý, lãnh đạo nhà trường là quản lý, lãnh đạo hoạt động của cán bộ,
giáo viên, công nhân viên, học sinh trong trường. Nhà trường là đơn vị cơ sở trực
tiếp giáo dục – đào tạo, hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú và
phức tạp, nên việc quản lý, lãnh đạo chặt chẽ, khoa học sẽ bảo đảm đoàn kết
thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có
chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục.[20]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì quản lý nhà trường là tập hợp những
tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ
khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội
đóng góp và lao động xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt
động của nhà trường, mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ thực hiện có
chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái
mới.[25]
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu
đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.[11]
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy
luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng. Quản lý nhà
trường khác với các loại quản lý xã hội, được quy định bởi bản chất hoạt động sư
phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục, trong đó
mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể hoạt động
của bản thân mình. Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học
được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của
xã hội và được xã hội thừa nhận.[20]
Hoạt động quản lý nhà trường là hoạt động quản lý toàn diện nhằm hoàn
thiện và phát triển nhân cách thế hệ trẻ một cách hợp lý, hợp quy luật, khoa học
và hiệu quả. Hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ thuộc vào điều kiện cụ thể
của nhà trường, kể cả các lực lượng hỗ trợ như các đoàn thể trong và ngoài nhà
trường. Muốn có hiệu quả trong công tác quản lý, người quản lý phải xem xét
đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải chú trọng đến việc cải tiến
công tác quản lý giáo dục.
Công tác quản lý nhà trường bao gồm:
Quản lý giáo viên, quản lý học sinh;
Quản lý quá trình dạy học và giáo dục;
Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học;
Quản lý tài chính trường học;
Quản lý mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng.
Công tác quản lý nhà trường nhằm đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến
lên một trạng thái phát triển mới, bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh
mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng
cường chất lượng giáo dục.[20]
Trọng tâm của công tác quản lý nhà trường là:
- Chỉ đạo thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn theo hướng dẫn của các
cấp quản lý giáo dục cao hơn. Thực hiện đúng chương trình và phương pháp
giáo dục để chất lượng giáo dục ngày một nâng cao. Quản lý phải sát sao bằng
các công việc như kiểm tra, thanh tra kịp thời để giúp đỡ, uốn nắn, tạo điều kiện
cho các hoạt động được thực hiện đúng theo kế hoạch đề ra.
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, công nhân viên và tập thể học sinh dạy tốt,
học tốt; tạo bầu không khí sư phạm vui vẻ, thoải mái, đoàn kết, tương thân,
tương ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Quản lý tốt việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ GD&ĐT.
Quản lý cả thời gian và chất lượng học tập. Quản lý học sinh tốt thì chất lượng sẽ
cao.
- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nhằm phục vụ tốt cho việc giảng
dạy, học tập, giáo dục học sinh. Thường xuyên kiểm tra, bổ sung thêm những
thiết bị mới theo yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.
- Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng quy tắc tài
chính của nhà nước và của ngành giáo dục; đồng thời biết động viên, thu hút các
nguồn tài chính khác nhằm xây dựng, mua sắm thêm thiết bị phục vụ các hoạt
động dạy học.
- Quản lý việc thi đua khen thưởng và việc đề bạt cán bộ kế cận, nâng bậc
lương cho giáo viên. Các hoạt động này phải được công khai minh bạch trước
hội đồng sư phạm nhà trường. Luôn luôn chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
của cán bộ giáo viên, công nhân viên. Phải tạo một phong trào thi đua liên tục
trong nhà trường “Thầy dạy tốt – Trò học tốt”. Thầy trò cùng hướng đến một
chất lượng giáo dục của trường ngày một nâng cao.
Tóm lại, quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan
quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng
dạy, học tập giáo dục của nhà trường đạt kết quả tốt nhất.
1.2.4. Quản lý giáo dục mầm non
QLGD mầm non là hệ thống những tác động có mục đích, có khoa học
của các cấp quản lý đến các cơ sở GDMN, nhằm tạo ra những điều kiện tối ưu
cho việc thực hiện mục tiêu đào tạo: Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em
lứa tuổi mầm non.[7]
0TTổ chức Y tế thế giới0T định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy 0Tmỡ0T quá mức
1.2.5. Bệnh béo phì
và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới
sức khỏe. Béo phì là tình trạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng. Thường
thường một người trưởng thành khỏe mạnh, dinh dưỡng hợp lý, cân nặng của họ
0Tchỉ số khối cơ thể0T (Body Mass Index - BMI) để nhận định tình trạng gầy béo.
dao động trong giới hạn nhất định. Hiện nay, tổ chức Y tế thế giới thường dùng
Để có chỉ số khối cơ thể (BMI), người ta dùng công thức sau đây:
W = Cân nặng (kg)
H = Chiều cao (m)
Chỉ số BMI bình thường nên có ở giới hạn 20 - 25, trên 25 là thừa cân và
trên 30 là béo phì. Đó là chỉ số dành cho người Châu Âu và Châu Mỹ. Đối với
người Châu Á, BMI bình thường có giới hạn từ 18.5 - 23.
1.3. Một số vấn đề lý luận liên quan đến trường mầm non[4]
1.3.1. Trường mầm non
Trường mầm non là đơn vị cơ sở của giáo dục mầm non trong hệ thống
giáo dục quốc dân. Trường đảm nhận việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ
em nhằm giúp trẻ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho
trẻ bước vào lớp 1.[14, tr 15]
1.3.2. Vị trí, vai trò của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
Cũng như ở các bậc học khác, GDMN luôn có mục đích là phát triển con
người toàn diện. Lứa tuổi mầm non (trẻ từ 0 đến 6 tuổi) là lứa tuổi còn non nớt
trong cuộc sống. Ngay từ khi mới ra đời, sự phát triển của trẻ phụ thuộc chủ yếu
vào người lớn và phát triển nhanh nhất, mạnh nhất ở giai đoạn này. Vì vậy, nhiều
nhà tâm lý, nhà giáo dục đã khẳng định rằng, nếu không giáo dục trẻ trong giai
đoạn đầu tiên của cuộc đời một cách khoa học và kịp thời thì rất khó có thể phát
triển con người tốt ở các giai đoạn sau. Nhân dân ta thường nhắc đến câu châm
ngôn:
“Uốn cây từ thuở còn non
Dạy con từ thuở con còn thơ ngây”
Nghiên cứu sâu sắc về đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ, nhà giáo dục học
Xô Viết Ma-ca-ren-cô đã viết: “Những cơ sở cơ bản của việc giáo dục đã có từ
trước 5 tuổi. Tất cả những điều dạy trẻ trong thời gian ấy chiếm 90% toàn bộ
trình tự giáo dục của trẻ. Về sau, sự giáo dục con người vẫn tiếp tục, nhưng lúc
ấy là lúc bắt đầu nếm quả, còn những nụ hoa thì đã vun trồng trong 5 năm đầu
tiên”. Vì vậy, việc chăm sóc giáo dục trẻ bắt đầu từ lứa tuổi mầm non là vô cùng
quan trọng trong sự nghiệp GD&ĐT, sự nghiệp trồng người. Vì tương lai của
dân tộc, đất nước và văn minh của nhân loại, Bác Hồ cũng đã từng căn dặn Đảng
ta, nhân dân ta: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan
trọng và cần thiết”. Bác đặc biệt quan tâm đến công tác chăm sóc giáo dục trẻ
nhỏ, Bác nói: “Muốn có chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa,
muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải nuôi, dạy con người ngay từ lúc mới
lọt lòng. Đó là công việc tỉ mỉ, lâu dài” và “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi
ích trăm năm trồng người”. Vì vậy, Đảng và nhà nước ta đã dành nhiều thời gian
bàn về công tác chăm sóc giáo dục trẻ tại các cuộc hội nghị lớn.
Nghị quyết 140 CP ngày 15/7/1971 của Hội đồng Chính phủ về việc tăng
cường và quản lý công tác nhà trẻ đã nêu rõ: “Việc nuôi nấng và dạy dỗ trẻ em
trong thời kỳ trứng nước có tác dụng khá lớn đối với sự hình thành và phát triển
thế hệ tương lai của dân tộc và có ý nghĩa rất sâu xa đối với tiền đồ của đất
nước”. Nghị quyết về cải cách giáo dục của Bộ chính trị cũng đã nêu rõ vai trò to
lớn của công tác GDMN: “Càng làm tốt công tác GDMN thì càng có điều kiện
thuận lợi để đạt chất lượng cao trong việc giáo dục phổ thông và mở rộng sự
nghiệp giải phóng phụ nữ”.
Trải qua hơn 50 năm hình thành và phát triển ngành học mầm non, mỗi
một cán bộ, giáo viên, các bậc cha mẹ và toàn thể xã hội đều thấm thía câu nói
mộc mạc, giản dị nhưng đầy ý nghĩa sâu rộng của Bác Hồ: “Mẫu giáo tốt là mở
đầu một nền giáo dục tốt”. Nuôi dạy trẻ tốt có ý nghĩa vô cùng to lớn, trước mắt
đã góp phần không nhỏ trong việc tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia tích cực
vào các hoạt động xã hội. Con cái được nuôi, dạy tốt là niềm vui, niềm hạnh
phúc lớn của người cha, người mẹ, của gia đình và của toàn xã hội. Đó cũng là
động lực mạnh mẽ thúc đẩy mọi người hăng say học tập, lao động, sản xuất để
xây dựng một xã hội văn minh, giàu đẹp.
GDMN ngày càng được xác định vị trí, vai trò to lớn trong sự nghiệp
GD&ĐT. Tuy nhiên, hiện nay ngành học mới đạt được những kết quả khiêm tốn.
Việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các bậc cha mẹ
làm chưa nhiều, chưa thường xuyên. Do đó, toàn Đảng, toàn dân cần quan tâm
đến bậc học này nhiều hơn nữa, đặc biệt trước hết là đội ngũ cán bộ, giáo viên
cần phải thấy hết vai trò, vị trí của mình, ra sức trau dồi phẩm chất đạo đức, trình
độ chuyên môn để đáp ứng sự nghiệp trồng người mà Đảng, Bác Hồ đã đề ra và
toàn nhân loại đang vươn tới.
1.3.3. Các loại hình trường mầm non
Trường mầm non, trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo (gọi chung là nhà
trường), nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập được tổ chức theo các loại hình
công lập, dân lập, tư thục.
Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo công lập do cơ quan nhà nước
thành lập, đầu tư xây dựng CSVC, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi
thường xuyên.
Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo dân lập do cộng đồng dân cư
ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng CSVC, đảm bảo kinh phí hoạt động và được
chính quyền địa phương hỗ trợ.
Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo tư thục do tổ chức xã hội, tổ
chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng CSVC và bảo đảm kinh
phí hoạt động bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước.
* Nhóm trẻ, lớp mẫu giáo: Trẻ em được tổ chức theo nhóm trẻ hoặc lớp
mẫu giáo.
+ Đối với nhóm trẻ: trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi được tổ
chức thành các nhóm trẻ. Số trẻ tối đa trong một nhóm trẻ được quy định như
sau:
Nhóm trẻ từ 3 đến 12 tháng tuổi: 15 trẻ
Nhóm trẻ từ 13 đến 24 tháng tuổi: 20 trẻ
Nhóm trẻ từ 25 đến 36 tháng tuổi: 25 trẻ
+ Đối với lớp mẫu giáo: Gồm những trẻ từ 3 – 6 tuổi. Số trẻ tối đa trong
một lớp được quy định như sau:
Lớp mẫu giáo 3 – 4 tuổi: 25 trẻ
Lớp mẫu giáo 4– 5 tuổi: 30 trẻ
Lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi: 35 trẻ
1.3.4. Nhiệm vụ trường mầm non
Tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ theo mục tiêu chương trình
giáo dục đào tạo.
Quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và trẻ em gửi vào trường
mầm non.
Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính của trường
theo quy định của pháp luật.
Kết hợp chặt chẽ với gia đình, các tổ chức và các cá nhân trong hoạt động
chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Tuyên truyền, hướng dẫn những kiến thức khoa học về nuôi dạy trẻ cho
các bậc phụ huynh và cộng đồng.
Tổ chức cho cán bộ và giáo viên, nhân viên tham gia vào các hoạt động xã
hội.
1.3.5. Nội dung, chương trình giáo dục mầm non
Nội dung, chương trình GDMN nhằm phát triển toàn diện cho trẻ về các
mặt thể, trí, đức, thẩm mỹ và lao động, ngoài ra còn cung cấp cho trẻ những tình
cảm và hiểu biết phù hợp với bản chất vận động của tự nhiên và xã hội, phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Nội dung, chương trình nhằm đảm bảo các yêu
cầu:
Về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho trẻ:
+ Hoạt động ăn, ngủ: trẻ được ăn đủ chất, ngủ đủ giấc.
+ Vệ sinh: trẻ biết giữ gìn vệ sinh bản thân và vệ sinh môi trường
xung quanh sạch sẽ.
+ Trẻ được chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn.
Về giáo dục và phát triển:
+ Trẻ biết yêu thương, kính trọng ông bà, cha mẹ, yêu kính Bác Hồ,
những người lao động... Trẻ biết quan tâm, thông cảm, giúp đỡ bạn bè, em
nhỏ, những người gần gũi. Trẻ hiểu được những lời nói, việc làm nào của
mình, của bạn bè là tốt, xấu, biết nhận lỗi, sửa lỗi.
+ Trẻ có nhu cầu tham gia vào các hoạt động có chủ đích, nhận ra
được vẻ đẹp và thể hiện cảm xúc của mình trong các hoạt động đó.
+ Trẻ biết quan sát, tập trung chú ý, nhận xét những đặc điểm,
những mối liên hệ, sự biến đổi của sự vật, hiện tượng xung quanh.
+ Trẻ hồn nhiên, mạnh dạn, biết tự tổ chức những hoạt động mà trẻ
ưa thích; biết diễn đạt những ý kiến, nhận xét của mình rõ ràng, mạch lạc.
+ Trẻ thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi, có một số
kỹ năng sơ đẳng (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp...) và một số nề
nếp thói quen để thích nghi với hoạt động học tập khi bước vào lớp 1.
1.3.6. Tổ chức và quản lý trường mầm non
1.3.6.1. Hiệu trưởng
Là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường.
Hiệu trưởng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm đối với
trường công lập, công nhận đối với trường dân lập, tư thục theo đề nghị của
trưởng phòng GD&ĐT. Hiệu trưởng phải có trình độ được đào tạo từ cao đẳng
sư phạm mầm non, có ít nhất 5 năm công tác liên tục trong ngành giáo dục mầm
non, có uy tín về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có năng lực tổ chức,
quản lý nhà trường. Nhiệm kỳ của hiệu trưởng trường công lập là 5 năm; hết
nhiệm kỳ, hiệu trưởng được bổ nhiệm lại hoặc luân chuyển sang một trường
khác lân cận theo yêu cầu điều động. Sau mỗi năm học, hiệu trưởng được cấp có
thẩm quyền đánh giá về công tác quản lý các hoạt động và chất lượng giáo dục
của nhà trường.
1.3.6.2. Phó hiệu trưởng
Là người giúp việc cho hiệu trưởng và chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng.
Mỗi trường có từ một đến hai phó hiệu trưởng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
huyện bổ nhiệm đối với trường công lập; công nhận đối với trường dân lập, tư
thục theo đề nghị của trưởng phòng GD&ĐT. Phó hiệu trưởng phải có trình độ
được đào tạo từ cao đẳng sư phạm mầm non, có ít nhất 3 năm công tác liên tục
trong ngành giáo dục mầm non, có uy tín về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối
sống, có năng lực quản lý nhà trường.
1.3.6.3. Tổ chuyên môn
Tổ chuyên môn bao gồm giáo viên, người làm công tác thiết bị giáo dục
và cấp dưỡng. Tổ chuyên môn có tổ trưởng và tổ phó, cùng với các thành viên
trong tổ xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm học
nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ và
các hoạt động giáo dục khác.
1.3.6.4. Giáo viên mầm non
Bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em ở
nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
Thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương
trình giáo dục mầm non: lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục; xây dựng môi trường
giáo dục; tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; đánh giá
và quản lý trẻ em; chịu trách nhiệm về chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục trẻ em; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn, của nhà trường, nhà trẻ,
nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương
mẫu, thương yêu trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của trẻ em;
bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; đoàn kết, giúp đỡ đồng
nghiệp.
Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ trẻ.
Chủ động phối hợp với gia đình trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em.
Rèn luyện sức khỏe, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để
nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của
ngành, các quy định của nhà trường, quyết định của hiệu trưởng.
1.3.6.5. Trẻ mầm non
Trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi được nhận vào trường, nhà trẻ, nhóm trẻ,
lớp mẫu giáo độc lập và được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo mục tiêu,
chương trình giáo dục mầm non do Bộ GD&ĐT ban hành. Trẻ em khuyết tật học
hòa nhập theo quy định và được lập kế hoạch giáo dục cá nhân.
1.3.6.6. Cơ sở vật chất và quan hệ xã hội
* Cơ sở vật chất
Nhà trường, nhà trẻ được đặt tại khu dân cư phù hợp quy hoạch chung,
thuận lợi cho trẻ em đến nhà trường, nhà trẻ; đảm bảo các quy định về an toàn và
vệ sinh môi trường.
Độ dài đường đi của trẻ em đến nhà trường, nhà trẻ: đối với khu vực thành
phố, thị xã, thị trấn, khu công nghiệp, khu tái định cư, khu vực ngoại thành, nông
thôn không quá 1 km; đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn không quá 2km.
Diện tích khu đất xây dựng nhà trường, nhà trẻ gồm: diện tích xây dựng;
2 tối thiểu 12mP
2 P cho một trẻ đối với khu vực nông thôn và miền núi; 8mP
Pcho một
diện tích sân chơi; diện tích cây xanh, đường đi. Diện tích sử dụng đất bình quân
trẻ đối với khu vực thành phố và thị xã.
Khuôn viên của nhà trường, nhà trẻ có tường bao ngăn cách với bên ngoài
bằng gạch, gỗ, tre, kim loại hoặc cây xanh cắt tỉa làm hàng rào. Cổng chính của
nhà trường, nhà trẻ có biển tên nhà trường, nhà trẻ theo quy định.
* Quan hệ xã hội
Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập chủ động đề xuất biện
pháp với cấp ủy và chính quyền địa phương, phối hợp với gia đình và xã hội
nhằm thống nhất quy mô, kế hoạch phát triển nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp
mẫu giáo, các biện pháp giáo dục trẻ em và quan tâm giúp đỡ những trường hợp
trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
Phối hợp với cơ quan, các tổ chức chính trị - xã hội và cá nhân có liên
quan nhằm:
+ Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ cho cha mẹ và
cộng đồng; thực hiện phòng bệnh, khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em trong nhà
trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
+ Huy động các nguồn lực của cộng đồng chăm lo sự nghiệp giáo dục
mầm non; góp phần xây dựng cơ sở vật chất; xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh, an toàn; tạo điều kiện để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và
giáo dục trẻ em.
1.4. Một số vấn đề lý luận về công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo
phì
1.4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh béo phì ở trẻ
1.4.1.1. Yếu tố kinh tế - xã hội
Béo phì được biết đến như là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng ở
nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Bệnh không chỉ tồn tại ở những
nước phát triển mà còn đang có xu hướng tăng nhanh ở những nước đang phát
triển. Thừa cân, béo phì xuất hiện song hành với sự thay đổi về ăn uống và lối
sống trong quá trình phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa diễn ra một cách
chóng mặt. Mặt khác, do điều kiện sống, điều kiện lao động đã có nhiều thay đổi
như phương tiện đi lại (trước đây chủ yếu là xe đạp, nay chủ yếu là xe máy, ô tô,
phương tiện công cộng), điều kiện làm việc (tĩnh tại)… đã góp phần làm tăng tỉ
lệ bệnh béo phì.
1.4.1.2. Yếu tố gia đình
Hầu như các bậc cha mẹ thấy con thiếu gì thì bổ sung đó hoặc chạy theo
những lời quảng cáo mà quên những yếu tố tác động đến sự phát triển lâu dài.
Cha mẹ thường mong con mình cao to và bụ bẫm nên thường có tâm lý
muốn đạt điều này thật nhanh. Thực ra, cân nặng và chiều cao là những giá trị
phát triển thể chất dễ quan sát nhất nhưng chưa đánh giá hết sự phát triển về trí
tuệ, miễn dịch và những yếu tố khác trong sự phát triển toàn diện của trẻ.
1.4.1.3. Yếu tố trường Mầm non
Sân chơi dành cho trẻ mầm non còn nhiều hạn chế. Nhiều trường mầm
non tư thục, nhóm trẻ gia đình không hề có khu vực cho trẻ vui chơi, chạy nhảy.
Ngoài ra, lực lượng giáo viên mầm non hiện nay đang thiếu, trong khi đó
sĩ số trẻ trong lớp quá đông cũng làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc và tổ chức
các hoạt động cho trẻ.
Cường độ lao động trong một ngày của giáo viên mầm non từ 9 – 10 tiếng
và liên tục trong 5 ngày/tuần, do đó, các cô ít có điều kiện tiếp xúc, trao đổi với
phụ huynh trẻ để thực hiện tốt việc phối hợp với gia đình về chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ.
Đa số giáo viên mầm non nắm vững nội dung, phương pháp về chăm sóc
giáo dục trẻ, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số cô mới qua lớp đào tạo sơ cấp hoặc
chưa qua đào tạo do đó còn hạn chế về năng lực chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục
trẻ.
1.4.1.4. Sự liên kết giữa gia đình và nhà trường
Giữa gia đình và nhà trường chưa có sự phối hợp, liên kết thật chặt chẽ để
tiến hành các biện pháp chăm sóc, giáo dục trẻ.
Nhiều trường mầm non chưa có kinh nghiệm trong việc triển khai công tác
tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học chăm sóc, nuôi dạy trẻ cho các bậc
cha mẹ.
1.4.2. Nguyên nhân của bệnh béo phì
Mọi người đều biết cơ thể giữ được cân nặng ổn định là nhờ trạng thái cân
bằng giữa nǎng lượng do thức ǎn cung cấp và nǎng lượng tiêu hao cho lao động
và các hoạt động khác của cơ thể. Cân nặng cơ thể tǎng lên có thể do chế độ ǎn
dư thừa vượt quá nhu cầu hoặc do nếp sống làm việc tĩnh tại ít tiêu hao nǎng
lượng.
Khi vào cơ thể, các chất 0Tprotein0T, 0Tlipid0T, 0Tgluxit0T đều có thể chuyển thành 0Tchất
béo0T dự trữ. Vì vậy, không nên coi ǎn nhiều thịt, nhiều mỡ mới gây béo mà ǎn
quá thừa chất bột, đường, đồ ngọt đều có thể gây béo. Tóm lại có thể chia
nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh của béo phì như sau:
Khẩu phần ǎn và thói quen ǎn uống
Nǎng lượng (calorie) đưa vào cơ thể qua thức ǎn, thức uống được hấp thu
và được oxy hóa để tạo thành nhiệt lượng. Nǎng lượng ǎn quá nhu cầu sẽ được
dự trữ dưới dạng mỡ.
Chế độ ǎn giàu chất béo (lipid) có liên quan chặt chẽ với gia tǎng tỉ lệ béo
phì. Các thức ǎn giàu chất béo thường ngon nên người ta ǎn quá thừa mà không
biết. Vì vậy, khẩu phần nhiều mỡ, dù số lượng nhỏ cũng có thể gây thừa calorie
và tǎng cân. Không chỉ ǎn nhiều mỡ, thịt mà ǎn nhiều chất bột, đường, đồ ngọt
đều có thể gây béo.
Việc thích ǎn nhiều đường, ǎn nhiều món xào, rán, những thức ǎn nhanh
nấu sẵn và miễn cưỡng ǎn rau quả là một đặc trưng của trẻ béo phì. Thói quen ǎn
nhiều vào bữa tối cũng là một điểm khác nhau giữa người béo và không béo.
Hoạt động thể lực kém
Cùng với yếu tố ǎn uống, sự gia tǎng tỉ lệ béo phì đi song song với sự
giảm hoạt động thể lực trong một lối sống tĩnh tại hơn, thời gian dành cho xem
tivi, đọc báo, làm việc bằng máy tính, nói chuyện qua điện thoại nhiều hơn.
Kiểu sống tĩnh tại cũng giữ vai trò quan trọng trong béo phì. Những người
hoạt động thể lực nhiều thường ǎn thức ǎn giàu nǎng lượng, khi họ thay đổi lối
sống, ít hoạt động nhưng vẫn giữ thói quen ǎn nhiều cho nên bị béo. Điều này
giải thích béo ở tuổi trung niên, hiện tượng béo phì ở các vận động viên sau khi
giải nghệ và công nhân lao động chân tay có xu hướng béo phì khi về hưu.
Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền có vai trò nhất định đối với bệnh béo phì. Theo nhà khoa
học Gran và Clark (Mỹ), trẻ có cha mẹ béo phì thường cũng bị béo phì. Một
nghiên cứu ở Thái Lan trên trẻ 6 – 13 tuổi (1996) cho thấy tỉ lệ con cái có cha mẹ
béo phì bị béo phì nhiều gấp 3,1 lần so với những trẻ có cha mẹ không béo phì.
Trong số trẻ béo phì, khoảng 80% có cha hoặc mẹ béo phì, 30% có cả cha và mẹ
béo phì. Gia đình có nhiều cá nhân bị béo phì, nguy cơ béo phì cho những thành
viên khác càng lớn. Tuy nhiên, trên cộng đồng, vai trò của yếu tố di truyền này
không lớn.
Ngoài ra, có rất nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng những trẻ em và thiếu
niên không luyện tập khi còn nhỏ thì các em sẽ có chiều hướng tăng cân gấp đôi
sau 30 năm. Khi những dịch bệnh xảy ra nhiều hơn, sức đề kháng của trẻ giảm
và trẻ phải học hành nhiều hơn thì trẻ em có nguy cơ “ngồi yên” hầu hết thời
gian các em có và ít có cơ hội sinh hoạt ngoài trời.
Vì hệ thống giáo dục của chúng ta ngày nay vẫn xem môn TDTT là một
môn phụ nên con em của chúng ta ít có các tiết học thể dục hiệu quả. Sau một
ngày dài ngồi ở trường, trẻ trở về nhà lại tiếp tục giải trí bằng ti vi với nhiều các
kênh truyền hình cáp, đĩa DVD và các trò chơi điện tử. Trẻ ăn uống vội vã rồi lại
bắt đầu giải quyết bài tập cho ngày hôm sau. Tất cả những áp lực này cộng thêm
việc trẻ không được vận động sẽ làm cho sức đề kháng của trẻ ngày càng giảm
sút.
1.4.3. Cách phát hiện trẻ bị bệnh béo phì
Trẻ ở mỗi độ tuổi có một mức tăng cân phù hợp, trung bình là 800 –
1000g/tháng ở trẻ dưới 6 tháng, 400 – 600g/tháng ở trẻ 6 – 12 tháng, 300 -
500g/tháng ở trẻ 1 – 2 tuổi, và sau đó mỗi năm trung bình 2 kg. Tốt nhất là nên
cân trẻ hàng tháng để cảnh giác ngay khi trẻ tăng cân nhanh trong 3 –5 tháng liên
tục, đừng chờ đến khi trẻ đã béo phì thật sự và thói quen ăn uống đã định hình
mới can thiệp.
Hiện nay tiêu chuẩn để đánh giá béo phì ở trẻ em chủ yếu dựa vào chỉ số
cân nặng so với chiều cao của tổ chức Y tế thế giới. Tiêu chuẩn này áp dụng cho
trẻ trai có chiều cao không quá 145cm và trẻ gái có chiều cao không quá 137cm.
Đối với những trẻ có chiều cao vượt quá giới hạn trên, hay trẻ ở tuổi dậy thì, thì
áp dụng chỉ số BMI theo tuổi, dành cho người từ 9 đến 24 tuổi. Ngoài ra, đối với
trẻ dưới 5 tuổi, sử dụng biểu đồ tăng trưởng để theo dõi đường biểu diễn cân
nặng hàng tháng của trẻ cũng có thể phát hiện béo phì sớm dù không chính xác
bằng 2 phương pháp trên.
Dựa vào bảng chỉ tiêu cân nặng/chiều cao:
Nếu cân nặng/chiều cao của trẻ nằm trong khoảng từ – 2SD đến + 2SD là
trẻ bình thường.
Nếu cân nặng/chiều cao của trẻ dưới – 2SD là trẻ suy dinh dưỡng.
Nếu cân nặng/chiều cao của trẻ trên + 2SD đến dưới +3SD là trẻ bị thừa
cân.
Nếu cân nặng/chiều cao của trẻ từ +3SD trở lên là trẻ bị béo phì.
Ví dụ: Bé trai, 4 tuổi, nặng 21kg, cao 100cm
Với chiều cao 100cm, cân nặng tương ứng với chiều cao này lý tưởng nhất
là 15,7kg nhưng cân nặng của trẻ là 21kg, lớn hơn mức cân ở + 3SD là 20,3kg.
Vậy trẻ đã bị béo phì.
Dựa vào bảng BMI theo tuổi:
BMI là chữ viết tắt của Body Mass Index (chỉ số khối cơ thể). Chỉ số này
thường được sử dụng ở người lớn, ở trẻ nhỏ ít dùng chỉ số này do cấu trúc cơ thể
trẻ chưa ổn định mà thay đổi liên tục.
Dựa vào biểu đồ tăng trưởng cho trẻ dưới 5 tuổi:
Trên biểu đồ có 4 đường cong, chia thành các kênh như sau:
Kênh A: giữa đường cong thứ nhất và thứ 2, tính từ trên xuống. Cân nặng
của trẻ nằm trong kênh này là bình thường.
Kênh B: ngay dưới kênh A.
Kênh C: ngay dưới kênh B.
Kênh D: ngay dưới kênh C.
Nếu đường biểu diễn cân nặng của trẻ nằm trong kênh A, đi lên song song
với đường cong tăng trưởng chuẩn: trẻ phát triển tốt.
Nếu đường cân nặng của trẻ vẫn trong kênh A, hay nằm ngay ở phía trên
kênh A nhưng đi dốc lên trên so với đường cong chuẩn: trẻ đã tăng cân quá
nhiều so với chuẩn. Nếu tình trạng này kéo dài liên tục trong 2 – 3 tháng, mà
không phải do trẻ tăng cân bù sau một đợt bệnh, thì đây chính là dấu hiệu cho
biết trẻ có khả năng bị béo phì nếu không kịp thời ngăn chặn.
1.4.4. Những tác hại của bệnh béo phì đối với trẻ mầm non
Béo phì có các tác hại và nguy cơ cụ thể là:
Mất thoải mái trong cuộc sống
Người béo phì thường có cảm giác khó chịu về mùa hè do lớp mỡ dày như
một hệ thống cách nhiệt. Người béo phì cũng thường xuyên cảm thấy mệt mỏi
chung toàn thân, hay nhức đầu, tê buốt ở hai chân làm cho cuộc sống thiếu thoải
mái.
Giảm hiệu suất lao động
Người béo phì làm việc chóng mệt nhất là ở môi trường nóng. Mặt khác,
do khối lượng cơ thể quá nặng nề nên để hoàn thành một động tác, một công
việc trong lao động, người béo phì mất nhiều thì giờ hơn và mất nhiều công sức
Kém lanh lợi
hơn. Hậu quả là hiệu suất lao động giảm rõ rệt hơn so với người thường.
Người béo phì thường phản ứng chậm chạp hơn người bình thường trong
sinh hoạt cũng như trong lao động. Hậu quả là rất dễ bị tai nạn xe cộ cũng như
tai nạn lao động.
• Tỷ lệ bệnh tật cao: Béo phì là một trong các yếu tố nguy cơ chính của các
Hai nguy cơ rõ rệt ở người béo phì
bệnh mãn tính không lây như bệnh mạch vành, đái tháo đường không phụ
thuộc insulin, sỏi mật. Ở phụ nữ mãn kinh, các nguy cơ ung thư túi mật,
ung thư vú và tử cung tǎng lên ở những người béo phì, còn ở nam giới béo
• Tỷ lệ tử vong cũng cao hơn, nhất là trong các bệnh kể trên.
Thừa cân và béo phì còn làm giảm vẻ đẹp của mọi người.
2TĐối với trẻ mầm non:
phì, bệnh ung thư thận và tuyến tiền liệt hay gặp hơn.
o 2TVề thể chất:2T Trẻ bị tăng các nguy cơ mắc các bệnh tiểu đường, cao huyết áp, bệnh lý mạch vành, sỏi thận, sỏi mật, rối loạn chuyển hóa
lipid, các bệnh lý về xương như viêm khớp, cột sống, các biến dạng
ở chân…
o 2TVề tâm lý:2T Trẻ bị bạn bè cùng trang lứa trêu chọc, trở nên dễ tự ti, cô độc thậm chí có hiện tượng thoái lùi về tâm lý, coi thường bản
thân mình, thường các tổn thương tâm lý này kéo dài đến khi trẻ
trưởng thành.
o 2TVề xã hội:2T Trẻ béo phì thường thụ động, ít hoạt động, khó hòa nhập và ít thành đạt trong tương lai hơn cả về sự nghiệp lẫn cuộc sống
riêng tư.
Để thực hiện tốt công tác phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ, nhà quản lý
cũng như phụ huynh cần phải:
- Thực hiện chế độ nuôi con bằng sữa mẹ.
- Thực hiện nhu cầu dinh dưỡng hợp lý: cho trẻ ăn chế độ dinh dưỡng phù
hợp với nhu cầu sinh lý hoặc giảm chút ít, vẫn đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng
(sữa, thịt, trứng, đậu), cho trẻ ăn các thức ăn ít dầu mỡ, đường. Không nên để trẻ
đói mà nên cho trẻ ăn các thức ăn ít năng lượng, nên ăn thịt nạc, cá, tôm, cua, tàu
hủ, uống sữa đậu nành, sữa chua, sữa bột không béo.
- Tăng cường thức ăn nhiều chất xơ như gạo lức, khoai, bắp, rau xanh, trái
cây.
- Giảm bớt các thức ăn giàu năng lượng, hạn chế uống các loại nước ngọt,
các món chiên, quay, xào nhiều dầu mỡ.
- Biết nhận thức đúng đắn về bệnh béo phì và tác hại của bệnh.
- Tăng cường vận động thể lực cho trẻ, hạn chế các phương tiện kỹ thuật
đối với trẻ nhỏ: xem ti vi, chơi điện tử…
1.4.5. Quản lý việc phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non
1.4.5.1. Khái niệm
Quản lý việc phòng chống bệnh béo phì là quá trình thực hiện các chức
năng quản lý như hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm tra.
Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của bậc học mầm non trong giai đoạn
hiện nay là đào tạo ra những con người khỏe mạnh, năng động, sáng tạo, phát
triển toàn diện về các mặt: đức, trí, thể, mỹ thì một trong những nhiệm vụ quan
trọng người quản lý cần quan tâm là công tác quản lý phòng, chống bệnh béo phì
tại trường. Muốn như vậy điều cần thiết là phải thực hiện tốt các chức năng quản
lý nêu trên.
1.4.5.2. Chủ thể và đối tượng quản lý
* Chủ thể quản lý: Hiệu trưởng các trường mầm non Quận Bình Tân.
* Đối tượng quản lý: Công tác phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ ở các
trường mầm non.
* Lực lượng tham gia: Hiệu trưởng, hiệu phó chuyên môn, hiệu phó bán
trú, GVMN, cấp dưỡng, phụ huynh trẻ và trẻ mầm non.
1.4.5.3. Nội dung công tác phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ ở các
trường mầm non
Để phòng bệnh béo phì cho trẻ mầm non, hiệu trưởng các trường cần thực
hiện những nội dung sau:
+ Bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên, đội ngũ cấp dưỡng
Hiệu trưởng nên thường xuyên bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên,
đội ngũ cấp dưỡng về tầm quan trọng cũng như những biện pháp phòng bệnh béo
phì cho trẻ mầm non. Đội ngũ cấp dưỡng cần có kiến thức về dinh dưỡng, chế
biến các món ăn sao cho đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ phát triển
toàn diện.
+ Xây dựng điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí
Tận dụng tất cả CSVC sẵn có của trường, đồng thời biết khai thác tiềm
năng CSVC của xã hội để tổ chức hoạt động cho học sinh.
Có những trang thiết bị tối thiểu để thực hiện công tác phòng bệnh béo phì
cho trẻ như: sân bãi, dụng cụ TDTT, nhạc cụ,…
+ Thường xuyên cải tiến và nâng cao chất lượng trong việc tổ chức
các hoạt động cho trẻ
Cải tiến nội dung, phương pháp hoạt động cho phù hợp tâm lý, đáp ứng
nhu cầu nguyện vọng của trẻ mầm non, đổi mới hình thức hoạt động để trẻ hứng
thú, tự nguyện tham gia.
Các hoạt động phải phù hợp, nhẹ nhàng, vui tươi, phát huy được tính tích
cực chủ động của trẻ, tránh sáo mòn đơn điệu.
+ Phối hợp với gia đình, các lực lượng ngoài nhà trường
Hiệu trưởng cần có sự phối hợp chặt chẽ với gia đình của trẻ nhằm thực
hiện công tác tuyên truyền kiến thức nuôi dạy con khoa học đến tất cả phụ huynh
trong toàn trường để công tác phòng bệnh béo phì cho trẻ mầm non đạt được
hiệu quả tốt nhất.
* Đối với trẻ đã bệnh béo phì, hiệu trưởng các trường mầm non cần phải:
+ Phân công và chỉ đạo GVMN tăng cường lịch vận động cho trẻ.
+ Xây dựng khẩu phần ăn cho trẻ bệnh béo phì theo nguyên tắc
giảm lượng béo, đường, tăng lượng rau củ, trái cây, những thực phẩm giàu chất
xơ, sử dụng các loại sữa không béo.
+ Tăng cường công tác tuyên truyền rộng rãi bằng nhiều hình thức
đến các đối tượng có liên quan như: GVMN, phụ huynh và trẻ mầm non.
1.4.5.4. Các chức năng quản lý việc phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ
ở các trường mầm non
* Xây dựng kế hoạch
Giáo dục là hoạt động có ý thức, phong phú về nội dung, đa dạng về hình
thức và thường diễn ra trong một thời gian dài với nhiều yếu tố, lực lượng cùng
tham gia. Vì vậy, kế hoạch hóa được xem là chức năng quản lý đầu tiên, thể hiện
tính có ý thức của hoạt động giáo dục, có ý nghĩa khởi đầu cho một chu trình
quản lý, có tác dụng định hướng cho mọi chức năng quản lý khác.
Kế hoạch là toàn bộ những việc dự định làm, gồm những công tác sắp xếp
hệ thống được quy vào mục đích nhất định và thực hiện trong một thời gian xác
định.
Xây dựng kế hoạch là việc làm quan trọng và cần thiết của nhà quản lý, là
thao tác của hoạt động sáng tạo, là kim chỉ nam để giúp người quản lý giải quyết
một vấn đề nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra. Người CBQL cần có kế hoạch
phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non bằng những biện pháp sau:
+ Về tuyên truyền: Thực hiện bảng tin tuyên truyền hàng tuần,
tháng, trao đổi qua sổ bé ngoan (đối với đối tượng là phụ huynh); bồi dưỡng kiến
thức, tham khảo tài liệu, sách vở (đối với đối tượng là GVMN); giáo dục dinh
dưỡng (đối với đối tượng là trẻ mầm non).
+ Về chăm sóc sức khỏe: Cân đo theo dõi biểu đồ tăng trưởng hàng
tháng, cân đối khẩu phần ăn cho trẻ béo phì, tăng cường rau xanh, trái cây,
khuyến khích trẻ vận động.
Bổ sung CSVC, trang bị thêm dụng cụ luyện tập vận động.
Để kế hoạch phòng, chống bệnh béo phì đạt hiệu quả cao, người cán bộ
quản lý cần:
- Thực hiện dân chủ, huy động trí tuệ tập thể, cá nhân, phát huy tính năng
động, sáng tạo trong việc thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh béo phì.
- Tạo điều kiện cho quần chúng tham gia tích cực và rộng rãi trong quá
trình xây dựng kế hoạch.
- Đảm bảo, tôn trọng quyền chủ động của cấp dưới trong việc lựa chọn các
biện pháp thực hiện kế hoạch.
Trong quá trình xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ, chỉ tiêu và các biện pháp
phải xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của nhà trường, gắn với thực tế của địa
phương đồng thời giải quyết các nhu cầu bức thiết của nhà trường, không xa rời
thực tế, rập khuôn sao chép và phải tổ chức, phối hợp nhiều yếu tố, nhiều lực
lượng cùng tham gia phòng chống bệnh béo phì. Do đó, khi xây dựng kế hoạch,
hiệu trưởng cần có sự hợp tác:
o Đối với cấp trên thì hiệu trưởng sẽ có đề xuất, đối với phụ huynh và cộng
đồng thì dùng biện pháp tuyên truyền.
o Đối với các thành viên trong trường: hiệu trưởng giao chỉ tiêu phấn đấu, phân công, phân nhiệm rõ ràng, cụ thể cho từng bộ phận, từng thành viên.
Từ đó, giúp đỡ mỗi người chủ động thực hiện phần việc của mình và có sự
phối hợp với các bộ phận khác.
Việc xây dựng kế hoạch được thực hiện theo đúng quy định từ thu thập
thông tin về tình hình bệnh béo phì của trẻ tại trường, kiến thức về bệnh béo phì,
nhận thức của các đối tượng liên quan, chỉ tiêu của cấp trên đến việc đề ra
phương hướng, bàn bạc, đóng góp ý kiến và triển khai thực hiện. Kế hoạch phải
đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, tính khoa học, tính khả thi…
Trong quá trình xây dựng kế hoạch, dự đoán là một khâu quan trọng song
dự đoán chỉ tiệm cận đến hiện thực vì tính bất định trong quá trình vận động và
phát triển của hiện thực khách quan. Do vậy, xây dựng kế hoạch cần có sự điều
chỉnh, bổ sung, ứng phó linh hoạt trước các tình huống, sự kiện có thể xảy ra.
Kế hoạch bao gồm các cấp độ:
Kế hoạch dài hạn – Kế hoạch phát triển: Dự báo số lượng trẻ trong
trường, số trẻ có nguy cơ bị béo phì thông qua việc phối hợp với địa
phương và các ban ngành, đoàn thể.
Kế hoạch năm học: Được xây dựng theo từng năm học cụ thể, số trẻ
béo phì trong năm và xây dựng các biện pháp phòng chống.
Kế hoạch hàng tháng: Kết hợp với trung tâm Y tế địa phương tổ chức
khám sức khỏe định kỳ cho trẻ bệnh béo phì, cân đo thể lực, kế hoạch
tổ chức các trò chơi vận động và có sự phối hợp với gia đình trong
việc thực hiện.
Kế hoạch hàng tuần: lên lịch cụ thể từng ngày cho việc thực hiện các
kế hoạch đã đề ra, nhận xét kết quả đạt được.
Kế hoạch hàng ngày: kiểm tra việc tổ chức các hoạt động cho trẻ.
* Tổ chức thực hiện kế hoạch
Tổ chức là quá trình phân phối và sắp nguồn nhân lực theo những cách
thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra.
Hiệu trưởng phải biết thiết lập bộ máy tốt, xây dựng mối quan hệ hữu cơ,
tác động lẫn nhau, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong nhà trường thành
một hệ thống vận động một cách đồng bộ trong việc thực hiện công tác phòng
chống bệnh béo phì cho trẻ.
Người hiệu trưởng cần nắm chắc trình độ năng lực, hoàn cảnh của từng
giáo viên, cán bộ; thấy rõ ở từng người mặt mạnh, mặt yếu, thuận lợi, khó khăn
để sắp xếp, bố trí, phân công hợp lý; kích thích lòng yêu nghề; chủ động sáng tạo
trong công việc; cung cấp phương tiện cơ sở vật chất, tài chính và sự hỗ trợ tối
đa mọi nguồn lực đáp ứng yêu cầu của cá nhân và các bộ phận trong đơn vị
nhằm thực hiện tốt công tác phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non.
Kết hợp với các phó hiệu trưởng, các tổ chuyên môn, hiệu trưởng xây
dựng lực lượng nồng cốt trong việc thực hiện công tác phòng chống bệnh béo
phì cho trẻ. Ngoài ra, nhà trường phải phối hợp tốt với phụ huynh, tuyên truyền
phương pháp nuôi dạy con khoa học, trong đó có việc phòng chống bệnh béo phì
cho trẻ.
* Chỉ đạo thực hiện kế hoạch
Chỉ đạo là quá trình liên kết, liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức, tập
hợp, động viên và hướng dẫn, điều hành họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất
định để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Chỉ đạo là thể hiện tính tích cực của người chỉ huy trong hoạt động của
mình. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch là có sự theo dõi và giám sát công việc để chỉ
huy, ra lệnh cho các bộ phận và các hoạt động của nhà trường diễn ra đúng
hướng, đúng kế hoạch, tập hợp được các lực lượng giáo dục trong một tổ chức
và phối hợp tối ưu với nhau.
Trong khi thực hiện kế hoạch phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non
có thể có một số vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn cần phải điều chỉnh cho hợp
lý hơn. Người hiệu trưởng cần tìm hiểu, phân tích nhanh chóng các vấn đề để kịp
thời sửa chữa, bổ sung kế hoạch để hoạt động đạt hiệu quả tốt nhất.
Muốn chỉ đạo tốt, hiệu trưởng cần thu thập thông tin chính xác, biết phân
tích, xử lý các nguồn thông tin và đưa ra các quyết định đúng đắn. Nguồn thu
thập thông tin quan trọng đó là kiểm tra, thanh tra, đánh giá.
* Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Theo lý
thuyết hệ thống kiểm tra chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý.
Kiểm tra trong quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm thực hiện ba chức năng:
phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích. Nhờ có kiểm tra mà người cán bộ quản lý
có được thông tin để đánh giá mức độ hoàn thành công việc và uốn nắn, điều
chỉnh hoạt động một cách đúng hướng nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả
của công việc trên cơ sở những thông tin thu được, đối chiếu với những mục
tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện
thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.
+ Quan điểm kiểm tra, đánh giá:
Đảm bảo tính trung thực khi đánh giá kết quả công tác phòng chống bệnh
béo phì cho trẻ; không vì thành tích mà phô trương, hình thức, gây lãng phí thời
gian và vật chất.
Quy trình kiểm tra phải được thực hiện đầy đủ từ khâu chuẩn bị, tiến hành
kiểm tra cho đến phân tích, đánh giá kết luận, kiến nghị và lưu trữ hồ sơ.
Kế hoạch, kết quả kiểm tra, đánh giá phải được công khai hóa, thực hiện
dân chủ, tạo điều kiện cho mọi thành viên trong nhà trường tham gia tích cực
vào công tác kiểm tra và tự kiểm tra.
Kiểm tra nhằm giúp cho hiệu trưởng nắm được tình hình thực hiện kế
hoạch việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ để kịp thời điều chỉnh hoặc có biện
pháp để thực hiện tốt nhiệm vụ.
Người hiệu trưởng quản lý trường học bằng kế hoạch và thông qua các
quyết định quản lý. Vì vậy, tất cả các kế hoạch, quyết định đó đều phải được
kiểm tra một cách chu đáo, có hiệu quả, xem xét mức độ thực hiện, kết quả đạt
được.
+ Nội dung kiểm tra đánh giá
Kiểm tra trong quản lý trường học là hoạt động nghiệp vụ quản lý của
người hiệu trưởng nhằm theo dõi, xem xét, phát hiện, kiểm nghiệm quá trình
diễn biến và kết quả của các hoạt động giáo dục trong phạm vi nội bộ trường
học. Đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục đó có phù hợp với mục tiêu, kế
hoạch, quy chế đề ra hay không. Phát hiện những ưu điểm để động viên, khuyến
khích hoặc những thiếu sót, lệch lạc để có những biện pháp uốn nắn, giúp đỡ và
điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục trong nhà trường.
Đánh giá về nhu cầu hứng thú, nguyện vọng của trẻ. Nếu hoạt động đáp
ứng được nhu cầu, nguyện vọng phù hợp với hứng thú và khả năng của trẻ thì sẽ
thực hiện tốt công tác phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non.
Công tác kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên, liên tục từ đầu năm
đến cuối năm học có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống đồng thời phải linh
hoạt, nhạy bén thích ứng với tình hình, hoàn cảnh cụ thể của đơn vị.
+ Hình thức kiểm tra đánh giá
Có thể kiểm tra bằng cách quan sát, trao đổi, trò chuyện, xem hồ sơ sổ
sách, bằng phiếu đánh giá, biểu đồ tăng trưởng… sau khi kiểm tra cần rút kinh
nghiệm về các hình thức hoạt động, các phương pháp có hiệu quả, những ưu
điểm, khuyết điểm để điều chỉnh, bổ sung kế hoạch.
Trong quá trình quản lý, hiệu trưởng có thể sử dụng các hình thức kiểm
tra: đột xuất, định kỳ và thường xuyên.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Sức khỏe là vốn quý giá nhất và có ý nghĩa sống còn với con người, đặc
biệt đối với trẻ mẫu giáo. Ở lứa tuổi này, cơ thể trẻ đang trong giai đoạn phát
triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần. Do đó, trẻ cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý để
phát triển khỏe mạnh, hài hòa và cân đối. Người CBQL trường mầm non cần có
kế hoạch cụ thể, rõ ràng để tổ chức có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường,
trong đó công tác phòng, chống bệnh béo phì là rất quan trọng và cần thiết. Để
làm tốt công tác này, CBQL cần thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý giáo
dục: xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra - đánh giá. Trong các chức
năng này thì xây dựng kế hoạch là việc làm quan trọng và cần thiết của nhà quản
lý, là thao tác của hoạt động sáng tạo, là kim chỉ nam để giúp người quản lý giải
quyết một vấn đề nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra. Từ đó, người CBQL tổ
chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non
như phân công GVMN tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ; thực hiện chế độ
ăn ít béo, nhiều rau xanh đối với trẻ bị bệnh béo phì; tăng cường công tác tuyên
truyền kiến thức về dinh dưỡng cho phụ huynh, đảm bảo công tác phòng chống
bệnh béo phì cho trẻ diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, phối hợp tốt với các
lực lượng ngoài xã hội cùng tham gia. Trong quản lý công tác phòng chống bệnh
béo phì cho trẻ mầm non, việc kiểm tra - đánh giá rất quan trọng vì nó giúp hiệu
trưởng nắm được tình hình thực hiện kế hoạch việc phòng, chống bệnh béo phì
cho trẻ để kịp thời điều chỉnh hoặc có biện pháp để thực hiện tốt nhiệm vụ.
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VIỆC PHÒNG, CHỐNG BỆNH BÉO PHÌ CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TẠI QUẬN BÌNH TÂN TPHCM
2.1. Tổng quan về kinh tế - xã hội, giáo dục mầm non ở Quận Bình Tân
2.1.1. Khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội quận Bình Tân
Quận Bình Tân được thành lập theo Nghị định 130/2003/NĐ-CP ngày
05/11/2003 của Chính phủ, trên cơ sở từ 3 xã (Bình Hưng Hòa, Bình Trị Đông,
Tân Tạo) và Thị trấn An Lạc thuộc Huyện Bình Chánh (cũ), có diện tích tự nhiên
5.188,67ha. Dân số lúc thành lập Quận là 311.936 người, đến năm 2009 là
557.572 người (81.623 hộ), phường Bình Hưng Hòa A có số nhân khẩu thường
trú cao nhất (98.266 nhân khẩu, 18.152 hộ), phường có dân số thấp nhất là
phường An Lạc A (30.771 nhân khẩu, 4.741 hộ).
Trên địa bàn Quận Bình Tân có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, trong
đó chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm 91,27% so với tổng số dân, dân tộc Hoa chiếm
8,45%, còn lại là các dân tộc Khơme, Chăm, Tày, Thái, Mường, Nùng, người
nước ngoài… Tôn giáo có Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa
Hảo, Hồi Giáo… trong đó, Phật giáo chiếm 27,26% trong tổng số dân có theo
đạo.
Kinh tế Quận liên tục tăng trưởng ở mức cao, ổn định và bền vững; tổng
giá trị sản phẩm 06 năm đạt 23.228,35 tỷ đồng (theo giá cố định 1994), với tốc
độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 33,28% (năm 2004 tăng 35,51%,
năm 2005 tăng 34,35%; năm 2006 tăng 31,48%; năm 2007 tăng 32,48%; năm
2008 tăng 34,84%, năm 2009 tăng 31%, năm 2010 dự kiến tăng ít nhất 30%);
phát triển kinh tế luôn gắn liền với tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường; đã huy động được mọi nguồn lực cùng thực hiện nhờ đó cơ sở vật chất,
hạ tầng kỹ thuật - xã hội được đầu tư từ nhiều nguồn, vốn đầu tư năm sau cao
hơn năm trước; chất lượng tăng trưởng được đảm bảo, đời sống nhân dân từng
bước được cải thiện, môi trường sống, môi trường đầu tư và kinh doanh ngày
càng được ổn định; an ninh trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo, niềm tin của
nhân dân vào Đảng bộ, chính quyền địa phương ngày càng được củng cố vững
chắc, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho sự phát triển khá toàn diện trên các lĩnh
vực kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh.
Bảng 2.1: Tỉ lệ tăng trưởng kinh tế tại Quận Bình Tân từ năm 2004 đến
2010
Năm 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
≥30 Tỉ lệ tăng trưởng 35,51 34,35 31,48 32,48 34,84 31 (dự kinh tế (%) kiến)
Số lượng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh cá thể tăng dần
hàng năm, cụ thể: năm 2004 là 10.779 đơn vị; năm 2005 tăng 31,12% so với
năm 2004; năm 2006 tăng 29,61%; năm 2007 tăng 25,82%; năm 2008 tăng
3,49%; năm 2009 tăng 24,03%, dự kiến năm 2010 là 30.000 đơn vị tăng 4,2% so
với năm 2009. Xét về số lượng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và hộ cá
thể trong ngành thương mại - dịch vụ phát triển nhanh hơn ngành công nghiệp –
tiểu thủ công nghiệp. Qua các năm, bình quân số doanh nghiệp, cơ sở trong
ngành thương mại - dịch vụ chiếm khoảng 57% - 61%; riêng ngành công nghiệp
– tiểu thủ công nghiệp bình quân khoảng 39% - 43%.
Số lượng doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh đều tăng là nhờ chương
trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Quận đã bước đầu phát huy tác dụng,
chứng tỏ các giải pháp thúc đẩy kinh tế phát triển của Quận, thu hút đông đảo các
thành phần kinh tế đầu tư sản xuất, kinh doanh.
2.1.2. Khái quát tình hình phát triển giáo dục và đào tạo quận Bình Tân
Chất lượng giáo dục và đào tạo có chuyển biến tích cực theo từng năm,
đảm bảo mục tiêu nâng cao dân trí, tạo nguồn nhân lực trên địa bàn với đội ngũ
giáo viên tăng hàng năm; hiện có 935 giáo viên hệ công lập, 100% đạt chuẩn
theo quy định; tất cả trẻ em trên địa bàn trong độ tuổi đi học đều được cắp sách
đến trường; số lượng các trường hiện có tại thời điểm cuối năm học 2008 – 2009
là 47 trường và 66 cơ sở giáo dục gia đình; có 983 phòng học; 1.151 lớp với
43.634 học sinh.
Tính từ năm 2004 đến năm 2009; Về số trường: Tăng 14 trường (công
lập); trong đó: 4 Mầm non, 6 Tiểu học, 3 THCS và 1 THPT. Tăng 51 đơn vị cơ
sở giáo dục Mầm non hệ tư thục. Về số phòng học: tăng 268 phòng học các
trường công lập; trong đó Mầm non 31 phòng, Tiểu học 126 phòng, THCS 77
phòng; THPT 34 phòng. Tăng 181 phòng học các trường tư thục; trong đó 162
phòng học Mầm non và 19 phòng THPT. Về số học sinh: Tăng 10.758 học sinh
hệ công lập; trong đó: 1.226 học sinh Mầm non, 5.255 học sinh Tiểu học, 1.997
học sinh THCS và 2.280 học sinh THPT. Tăng 2.405 học sinh hệ tư thục, trong
đó 1.593 học sinh Mầm non, 59 học sinh THCS và 753 học sinh THPT. Tỷ lệ
học sinh tăng từ năm 2005 đến 2009 (4 năm) là 30%.
Bảng 2.2: Số lượng trường lớp và học sinh ở các bậc học
Mầm non Tiểu học THCS THPT
Công lập Tư thục Công lập Công lập Tư thục Công lập Tư thục
Về số trường +4 +51 +6 +3 +1
Số phòng +31 +162 + 126 + 77 +34 +19 học
Số học sinh +1.226 +1.593 +5.255 +1.997 +59 +2.280 +753
Hàng năm, Quận Bình Tân chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục chiếm
19,9% tổng chi ngân sách để đầu tư mua sắm trang thiết bị; đồ dùng dạy, học,
đảm bảo khá tốt phục vụ việc dạy và học tập trên địa bàn; cơ bản hoàn thành
phổ cập giáo dục bậc THPT. Đào tạo nghề cho 12.631 lượt học viên trong đó có
517 học viên dài hạn (hệ trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp); giới thiệu
việc làm cho 5.964 lao động.
Trong 06 năm qua, chất lượng giáo dục không ngừng tăng lên (hiệu suất
đào tạo cấp tiểu học đạt 97,9%, cấp THCS 88,7% vào năm học 2008-2009; số
học sinh bỏ học cấp tiểu học giảm còn 0,06%, THCS còn 1,5%) do chính sách
ưu tiên phát triển sự nghiệp giáo dục của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm chỉ
đạo của Quận ủy, Ủy ban nhân dân Quận, sự tận tụy, yêu nghề, nỗ lực phấn đấu
vượt qua khó khăn của đội ngũ giáo viên và của cả ngành giáo dục Quận Bình
Tân; ngoài ra, còn thể hiện tinh thần hiếu học của tất cả học sinh trên địa bàn,
nên chất lượng giáo dục tăng lên rõ nét.
2.1.3. Khái quát tình hình phát triển giáo dục mầm non quận Bình Tân
2.1.3.1. Về huy động và phát triển số lượng
Cấp học mầm non tiếp tục phát triển mạnh cả về quy mô và chất lượng.
Bảng 2.3: Quy mô trường - lớp mầm non và số lượng trẻ mầm non được
Năm học
2008 – 2009
2009 – 2010
Tổng số trường, nhóm – lớp MN
85 đơn vị
87 đơn vị
Tổng số nhóm – lớp MN
373
394
Tổng số trẻ nhà trẻ – mẫu giáo huy động
11.365 cháu
11.869 cháu
ra lớp
Tồng số trẻ nhà trẻ huy động ra lớp
2.061 cháu
2.129 cháu
Tổng số trẻ mẫu giáo huy động ra lớp
9.304 cháu
9.740 cháu
Tổng số trẻ 5 tuổi ra lớp
3.720 cháu
3.873 cháu
huy động ra lớp
Tổng số trường, nhóm – lớp mầm non trong năm học 2009 – 2010 là 87
đơn vị (tăng 02 đơn vị so với năm học 2008 – 2009) và có 394 nhóm – lớp mầm
non (tăng 21 nhóm – lớp). Tỷ lệ trẻ đến trường tiếp tục tăng; tổng số trẻ nhà trẻ –
mẫu giáo huy động ra lớp đạt 11.869 cháu và tăng 504 cháu (năm học 2008 –
2009 có 11.365 cháu), trong đó trẻ nhà trẻ huy động được 2.129/7.993 cháu; tỷ lệ
26.63% (năm học 2008 – 2009 huy động 2.061/6.804 cháu; tỷ lệ 30.29%), tổng
số trẻ mẫu giáo huy động ra lớp 9.740/9.780 cháu; tỷ lệ 99.59% (năm học 2008 –
2009 huy động được 9.304/10.608 cháu; tỷ lệ 87.7%), tổng số trẻ 5 tuổi ra lớp
đạt 3.873/3.934 cháu; tỷ lệ 98.44% (năm học 2008 - 2009 huy động được
99.06%).
2.1.3.2. Về chất lượng giáo dục
Với chủ trương lấy chất lượng làm chính, không chạy theo thành tích, xây
dựng uy tín với cộng đồng và xã hội, ngành giáo dục mầm non của quận Bình
Tân đã nỗ lực áp dụng nhiều biện pháp để giữ vững và nâng cao chất lượng
chăm sóc, giáo dục trẻ, bảo đảm các nhu cầu dinh dưỡng, vệ sinh và các điều
kiện về an toàn cho trẻ.
Các trường đã thành lập ban “An toàn trường học” và tập trung cho công
tác dự phòng để theo dõi và quản lý sức khỏe học sinh.
Đầu năm học 2009 – 2010, ngành giáo dục quận tổ chức các đoàn kiểm tra
chéo về an toàn cơ sở vật chất và vệ sinh, an toàn thực phẩm. Các tiêu chí về an
toàn, vệ sinh đối với trường lớp, phòng ốc, đồ dùng, đồ chơi, thiết bị, nhà bếp,
thực phẩm… được các trường liệt kê và thực hiện đầy đủ. Đây là giải pháp hiệu
quả để nâng chất lượng ở các loại hình cơ sở mầm non.
Về giáo dục, tiếp tục thực hiện thí điểm chương trình mới và xây dựng
môi trường sư phạm theo hướng đổi mới, các trường mầm non trong quận đã có
nhiều nỗ lực trong việc xây dựng môi trường thân thiện cho trẻ. Qua đó, mối
quan hệ giao tiếp giữa cô và trẻ, giữa trẻ và trẻ gần gũi, tạo cảm giác vui tươi,
phấn khởi tham gia các hoạt động, đặc biệt là quan tâm chăm sóc trẻ khuyết tật
học hòa nhập.
Các trường có nhiều sáng tạo trong việc thực hiện chương trình mới; chủ
động tìm tòi, học hỏi để có phương pháp giữ trẻ thích hợp; nhiều trường đã làm
tốt công tác tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh; được sự đồng thuận và tích
cực đóng góp hỗ trợ kinh phí phục vụ hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Các cấp
QLGD mầm non đã có nhiều cải tiến để giảm tải cường độ lao động cho giáo
viên, cán bộ công nhân viên; giảm các hoạt động có tính chất hình thức, phong
trào mà tập trung đầu tư nâng chất lượng trường lớp; tạo điều kiện cho trẻ phát
triển toàn diện về thể chất, tâm lý và chuẩn bị tốt cho trẻ 5 tuổi vào lớp một.
So với mục tiêu an toàn, bền vững của nhiệm vụ năm học, yêu cầu về quy
chuẩn cơ sở vật chất, về số lượng và chất lượng cán bộ quản lý và giáo viên, về
chế độ chính sách, giáo dục mầm non của quận năm qua đã đạt được những kết
quả nổi bật. Quận đã giải quyết được những trường lớp cơ sở vật chất yếu kém,
không còn cán bộ giáo viên chưa qua đào tạo bồi dưỡng, chế độ phụ trội giáo
viên mầm non đã được thực hiện… Từ đó, đã góp phần đem lại sự an toàn, bền
vững cho ngành.
Tồn tại cơ bản của giáo dục mầm non hiện nay là trường lớp vẫn còn thiếu
so với yêu cầu học tập của người dân và so với yêu cầu hiện đại hóa nhà trường.
Quy hoạch trường lớp đã có và quận cũng đã tập trung thực hiện, nhưng tiến độ
xây dựng trường lớp vẫn chưa đáp ứng kịp tốc độ tăng dân số cơ học.
2.2. Thực trạng về bệnh béo phì của trẻ mầm non ở một số trường mầm non
tại quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh
Số lượng trẻ bệnh béo phì ở một số trường mầm non qua các năm học có
giảm, tuy nhiên cũng có trường số trẻ bệnh béo phì gia tăng so với năm học
trước, số liệu được thể hiện ở bảng 2.4.
Bảng 2.4: Số lượng trẻ bệnh béo phì ở một số trường mầm non
Năm học Tên trường 2008 – 2009 2009 – 2010
0/512 5/504 MN Hoa Hồng
6/247 4/256 MN Hoa Đào
MN Hoa Thiên Lý 7/148 4/155
MN Vàng Anh 8/153 5/160
MN Sơn Ca 4/87 3/95
Số liệu báo cáo cho thấy những năm gần đây, CBQL và GV ở các trường
mầm non đã có sự quan tâm đến trẻ bệnh béo phì. Tại trường mầm non Hoa Đào,
số lượng trẻ bệnh béo phì ở năm học 2008 – 2009 là 6/247 trẻ, chiếm tỉ lệ 2,43%;
đến năm học 2009 – 2010 số lượng này chỉ còn 4/256 trẻ, chiếm tỉ lệ 1,56%. Số
lượng trẻ bệnh béo phì ở trường mầm non Sơn Ca cũng giảm từ 4,6% (4/87 trẻ)
ở năm học 2008 – 2009 xuống còn 3,16% (3/95 trẻ) vào năm học tiếp theo. Đặc
biệt, ở trường mầm non Hoa Thiên Lý và Vàng Anh, số lượng trẻ bệnh béo phì
đã giảm được 2,1% (từ 7/148 trẻ bệnh béo phì giảm còn 5/155 trẻ vào năm học
2009 - 2010 tại trường mầm non Hoa Thiên Lý và 8/153 trẻ bệnh béo phì tại
trường mầm non Vàng Anh năm học 2008 – 2009 xuống còn 5/160 trẻ năm học
2009- 2010. Tuy nhiên, tại trường mầm non Hoa Hồng, năm học 2008 – 2009 đã
xóa được 100% trẻ bệnh béo phì, đến năm học sau tỉ lệ này tăng lên 0,99%
(5/504 trẻ). Điều này cho thấy muốn xóa hoàn toàn bệnh béo phì ở trẻ mầm non
là điều khó khăn, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà
trường, sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể.
Số lượng trẻ bệnh béo phì đầu vào ở mỗi trường cũng có sự khác nhau. Số
liệu được trình bày ở bảng 2.5.
Bảng 2.5: Số trẻ bệnh béo phì vào đầu năm học so với tổng số học sinh
tại một số trường mầm non tại quận Bình Tân năm học 2009 – 2010
Tổng số trẻ toàn Số trẻ bị bệnh Tên trường Tỷ lệ (%) trường béo phì
504 43 8.53 MN Hoa Hồng
256 25 9.77 MN Hoa Đào
155 16 10.32 MN Hoa Thiên Lý
MN Vàng Anh 160 18 11.25
MN Sơn Ca 95 11 11.58
Số liệu từ bảng 2.5 cho thấy số trẻ bệnh béo phì vào đầu năm học tại
trường mầm non Sơn Ca so với tổng số học sinh có tỷ lệ cao nhất: 11.58%, kế
đến là các trường mầm non Vàng Anh (11.25%), Hoa Thiên Lý (10.32%), Hoa
Đào (9.77%), cuối cùng là trường Hoa Hồng (8.53%). Điều này cho thấy tại các
trường mầm non tư thục, số lượng trẻ béo phì đầu vào thường cao hơn tại các
trường mầm non công lập.
Số lượng trẻ bệnh béo phì đầu ra ở các trường giảm đáng kể so với số
lượng trẻ bệnh béo phì đầu vào, số liệu được thể hiện ở bảng 2.6
Bảng 2.6: Số trẻ bệnh béo phì đầu ra so với tổng số học sinh tại một số
trường mầm non tại quận Bình Tân năm học 2009 – 2010
Tổng số trẻ toàn Tên trường Số trẻ Tỷ lệ (%) trường
MN Hoa Hồng 504 5 0.99
MN Hoa Đào 256 4 1.56
MN Hoa Thiên Lý 155 4 2.58
MN Vàng Anh 160 5 3.13
MN Sơn Ca 95 3 3.16
Số liệu tại bảng 2.6 cho thấy số trẻ bệnh béo phì đầu ra tại hai trường mầm
non Vàng Anh (3.13%) và Sơn Ca (3.16%) chiếm tỷ lệ cao hơn so với các
trường còn lại. Trong khi đó, trường mầm non Hoa Hồng có tỷ lệ trẻ bệnh béo
phì đầu ra thấp nhất: 0.99%. Qua đó, chứng tỏ rằng công tác phòng, chống bệnh
béo phì cho trẻ tại trường mầm non Hoa Hồng đã được sự quan tâm và đầu tư kỹ
lưỡng từ toàn thể cán bộ công nhân viên trong toàn trường. Ở các trường mầm
non còn lại, CBQL cũng nhận thức được tầm quan trọng của công tác này nên số
lượng trẻ giảm bệnh béo phì chiếm tỷ lệ rất cao so với tổng số trẻ bệnh béo phì
đầu vào, số liệu được trình bày ở bảng 2.7
Bảng 2.7: Số trẻ giảm bệnh béo phì so với tổng số trẻ bị bệnh béo phì đầu
vào tại một số trường mầm non tại quận Bình Tân năm học 2009 – 2010
Tên trường Số trẻ Tỷ lệ (%)
MN Hoa Hồng 38/43 88.37
MN Hoa Đào 21/25 84
MN Hoa Thiên Lý 12/16 75
MN Vàng Anh 13/18 72.22
MN Sơn Ca 8/11 72.73
Số liệu tại bảng 2.7 cho thấy bên cạnh trường mầm non Hoa Hồng đạt tỷ
lệ trẻ giảm bệnh béo phì so với tổng số trẻ bệnh béo phì đầu vào cao nhất
(88.37%), thì trường mầm non Hoa Đào cũng có tỷ lệ giảm trẻ bệnh béo phì khá
cao, đạt 84%; kế đến là mầm non Hoa Thiên Lý (75%). Trường mầm non Sơn
Ca và Vàng Anh có tỷ lệ trẻ giảm bệnh béo phì thấp nhất, chỉ đạt 72.73% và
72.22%. Tuy nhiên, nhìn chung các trường mầm non được khảo sát đều có tỷ lệ
giảm số lượng trẻ bệnh béo phì đạt trên 70%. Điều đó cho thấy CBQL tại các
trường mầm non đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng, chống
bệnh béo phì cho trẻ và đề ra những biện pháp hợp lý để thực hiện tốt công tác
này.
Trẻ ở từng độ tuổi khác nhau thì tỷ lệ bệnh béo phì cũng khác nhau. Số
liệu được thể hiện ở biểu đồ 2.1
Biểu đồ 2.1: Số lượng trẻ bệnh béo phì ở từng độ tuổi
Số trẻ bệnh béo phì ở từng độ tuổi ở một số trường mầm non năm học 2009 – 2010
18
15
Nhà trẻ
ẻ r t
10
Mầm
8
g n ợ ư
7
7
Chồi
l
6
5
5
ố S
Lá
4
4
4
3
3
3
3
3
2
2
1
20 18 16 14 12 10 8 6 4 2 0
MN Sơn Ca
MN Hoa Hồng
MN Hoa Đào
MN Hoa Thiên Lý
MN Vàng Anh
Biểu đồ 2.1 cho thấy tại trường mầm non Hoa Hồng, số trẻ bệnh béo phì
tại nhà trẻ là 3, lên lớp mầm số trẻ bệnh tăng lên 7, đến lớp chồi số lượng này là
15 và lớp lá tiếp tục tăng lên đến 18 trẻ. Tương tự, tại các trường mầm non Hoa
Đào, Hoa Thiên Lý, Vàng Anh, Sơn Ca, số lượng trẻ bệnh béo phì cũng tăng dần
theo từng độ tuổi. Nhìn chung, trẻ bệnh béo phì tập trung nhiều nhất là ở độ tuổi
lớp chồi, lớp lá.
2.3. Thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ tại
các trường mầm non tại quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh
2.3.1. Mô tả công cụ
Nhằm đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh
béo phì cho trẻ tại các trường mầm non tại quận Bình Tân TPHCM, tôi đã tiến
hành trưng cầu ý kiến của 60 CBQL (gồm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ
trưởng chuyên môn) và 240 GVMN tại 20 trường mầm non (gồm 5 trường mầm
non công lập, 1 trường mầm non công lập tự chủ tài chính, 7 trường mầm non tư
thục và 7 nhóm trẻ tư thục, nhóm trẻ gia đình) trên toàn Quận. Phiếu trưng cầu ý
kiến dành cho CBQL và GVMN được tôi xây dựng gồm những câu hỏi (xem
phụ lục) với mục đích:
- Tìm hiểu sự đánh giá của CBQL và GVMN về kết quả thực hiện những
biện pháp quản lý của hiệu trưởng về việc thực hiện công tác phòng, chống bệnh
béo phì cho trẻ tại các trường mầm non tại quận Bình Tân TPHCM.
- Tìm hiểu về những khó khăn và thuận lợi trong quá trình thực hiện công
tác phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ tại các trường mầm non tại quận Bình
Tân.
Mỗi biện pháp quản lý đều có 4 mức độ đánh giá từ +1 đến +4 điểm, cụ
thể: +4 điểm: Tốt, +3 điểm: Khá, +2 điểm: Trung bình, +1 điểm: Chưa đạt. Sau
khi thu hồi phiếu, tôi dùng phần mềm SPSS để thống kê số liệu theo từng mức
đánh giá của từng biện pháp. Kết quả khảo sát của CBQL và GVMN được thống
kê riêng để dễ dàng so sánh, đối chiếu.
2.3.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM
Sau khi gửi phiếu trưng cầu ý kiến cho 60 CBQL và 240 GVMN thuộc 20
trường mầm non trên địa bàn quận Bình Tân, tôi đã thu được kết quả như sau:
Về giới tính của CBQL và GVMN ở Quận Bình Tân, số liệu được trình
2TBảng 2.8: Giới tính của CBQL và GVMN
2TCBQL
2TGVMN
2TGiới tính
2TSố lượng
2TTỉ lệ (%)
2TSố lượng
2TTỉ lệ (%)
2TNam
2T0
2T0
2T0
2T0
2TNữ
2T60
2T100
2T240
2T100
2TTổng
2T60
2T100
2T240
2T100
2TSố liệu thống kê cho thấy tỉ lệ nữ giới chiếm 100% trong tổng số lượng
bày ở bảng 2.8.
CBQL và GVCN được khảo sát và đây cũng là điểm đặc trưng của ngành mầm
non. Điều này vừa là thuận lợi cũng vừa là khó khăn cho ngành vì nếu là cô giáo
mầm non thì sẽ dễ dàng gần gũi, chăm sóc, trò chuyện cùng trẻ một cách nhẹ
nhàng, chu đáo như một người mẹ hiền thứ hai của trẻ. Tuy nhiên, chính vì
không có nam giới nên tất cả mọi việc dù là việc nặng nhọc thì cô mầm non cũng
phải gánh vác và hoàn thành. Do đó, cường độ làm việc của người GVMN rất
cao, từ sáng sớm cho đến chiều, đến khi trả hết trẻ cho phụ huynh. Vì vậy, để
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và gắn bó lâu dài, người GVMN phải thật sự
2TVề chức vụ của người CBQL, số liệu được thể hiện ở bảng 2.9.
2T
tâm huyết với nghề, thương yêu trẻ.
2TCBQL
2TChức vụ
2TSố lượng
2TTỉ lệ (%)
2THiệu trưởng
Bảng 2.9: Chức vụ của CBQL
2TPhó hiệu trưởng
23 38.3
2TTổ trưởng chuyên môn
13 21.7
2TTổng
2T60
2T100
2TSố liệu từ bảng 2.9 cho thấy, trong tổng số 60 CBQL được khảo sát có 23
24 40.0
hiệu trưởng, đạt 38.3%; 13 phó hiệu trưởng, đạt 21.7% và 24 tổ trưởng chuyên
2TNhững năm gần đây, phòng GD&ĐT quận đã có sự tập trung đầu tư xây
môn, đạt 40%.
dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ CBQL
cũng như GVMN trong Quận. Số liệu về trình độ chuyên môn của CBQL và
2TBiểu đồ 2.2: Trình độ chuyên môn của CBQL và GVMN
GVMN được thể hiện ở biểu đồ 2.2:
Trình độ chuyên môn của CBQL và GVMN
300
250
73
200
Trung học
g n ợ ư
Cao đẳng
150
l
ố S
Đại học
130
100
50
26
37
34
0
GVMN
CBQL
2TSố liệu thống kê cho thấy, 100% CBQL và GVMN có trình độ đạt chuẩn
từ Trung học sư phạm trở lên, trong đó 60/60 CBQL có trình độ trên chuẩn (34
CBQL có trình độ cao đẳng, 26 CBQL có trình độ đại học), đạt 100% và
167/240 GVMN có trình độ từ cao đẳng sư phạm mầm non trở lên, trong đó 37
GVMN có trình độ đại học, 130 GVMN có trình độ cao đẳng, đạt 69.6%. Đây là
một điều kiện thuận lợi, cho thấy được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, các
ngành đối với bậc học mầm non. Vì thế, chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục trẻ mầm non ngày càng được nâng lên rõ rệt và luôn được sự tín nhiệm, tin
2TSố liệu về thâm niên công tác và thâm niên làm quản lý được thể hiện ở
tưởng, yêu quý từ các bậc phụ huynh.
2TBảng 2.10: Thâm niên công tác của CBQL và GVMN
2TCBQL
2TGVMN
2TThâm niên công tác
2TSố lượng
2TTỉ lệ (%)
2TSố lượng
2TTỉ lệ (%)
2TTừ 10 năm trở xuống
35
58.3
80.4
194
2TTrên 10 năm
25
41.7
19.2
46
2TTổng
2T60
2T100
2T100
2T240
2TBảng 2.11: Thâm niên làm quản lý
2TCBQL
2TThâm niên làm quản lý
2TSố lượng
2TTỉ lệ (%)
bảng 2.10 và bảng 2.11
Công tác dưới 10 năm 33 55.0
2T60
2T100
2TTổng
2T
Công tác từ 10 năm trở lên 27 45.0
2T + Về thâm niên công tác: Số CBQL có thâm niên công tác dưới 10 năm là
Số liệu thống kê cho thấy:
35 người, chiếm 58.3%; thâm niên trên 10 năm có 25 người, chiếm 41.7%. Đặc
biệt, số lượng GVMN công tác dưới 10 năm là 194 người, chiếm đến 80.4%.
Qua đó cho thấy, đa số GVMN đều còn rất trẻ, rất tâm huyết với nghề. Điều này
cũng là một thuận lợi và là một đặc trưng của ngành mầm non. Vì giáo viên trẻ
sẽ dễ dàng tiếp thu những kiến thức mới và năng động, sáng tạo hơn trong việc
hướng dẫn trẻ mầm non tham gia vào các hoạt động như: hát, múa, kể chuyện,
2T+ Về thâm niên làm quản lý: Số CBQL có thâm niên làm quản lý dưới 10
đọc thơ…
năm là 33 người, chiếm 55% trong tổng số 60 CBQL được khảo sát. Điều này
cho thấy lực lượng CBQL trong ngành mầm non ngày càng được trẻ hóa nhưng
2TTóm lại, lực lượng CBQL và GVMN tại các trường mầm non trên địa bàn
vẫn đảm bảo yêu cầu về năng lực và trình độ chuyên môn.
quận Bình Tân đều đạt yêu cầu về trình độ chuyên môn, có lòng yêu nghề,
thương yêu trẻ, được phụ huynh tin yêu và quý mến.
2.3.3. Thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ tại các trường mầm non tại quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh xét theo các chức năng quản lý
2.3.3.1. Chức năng xây dựng kế hoạch phòng, chống bệnh béo phì cho
trẻ
Số liệu khảo sát về việc đánh giá chức năng xây dựng kế hoạch của hiệu
trưởng một số trường mầm non Quận Bình Tân trong việc phòng chống bệnh
béo phì cho trẻ mầm non được thể hiện ở bảng 2.12
Bảng 2.12: Đánh giá kết quả thực hiện việc xây dựng kế hoạch công tác
phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non của CBQL và GVMN
Kết quả thực hiện
Thứ
Các biện pháp
tự
CBQL
GV
Hiệu trưởng xây dựng và phổ biến kế hoạch xác
1.1
định số lượng trẻ béo phì tại mỗi lớp cho giáo
3.90
3.92
viên phụ trách lớp.
Hiệu trưởng xây dựng và phổ biến kế hoạch bồi
dưỡng kiến thức phòng, chống bệnh béo phì đối
với trẻ mầm non cho giáo viên thông qua các buổi
1.2
3.60
3.49
họp hội đồng, họp chuyên môn, các buổi học bồi
dưỡng…
Hiệu trưởng xây dựng và phổ biến kế hoạch tuyên
1.3
truyền cho phụ huynh kiến thức phòng, chống
3.68
2.54
bệnh béo phì cho trẻ mầm non.
Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch mua sắm trang
thiết bị phục vụ cho các trò chơi vận động cho trẻ
3.50
2.14
1.4
tại trường, xây dựng nội quy bảo quản, sử dụng
với từng loại trang thiết bị cụ thể.
Hiệu trưởng lên kế hoạch xây dựng chế độ dinh
3.97
3.93
1.5
dưỡng phù hợp cho trẻ tại trường.
Hiệu trưởng xây dựng và phổ biến kế hoạch khám
3.63
3.57
1.6
sức khỏe định kỳ hàng tháng cho trẻ béo phì.
Hiệu trưởng xây dựng lịch tổ chức trò chơi vận
2.55
2.13
1.7
động hàng ngày cho trẻ béo phì.
TRUNG BÌNH
3.55
3.10
Kết quả từ bảng 2.12 cho thấy kế hoạch xây dựng chế độ dinh dưỡng phù
hợp cho trẻ tại trường của hiệu trưởng được cả CBQL và GVMN đánh giá rất
cao: 3.97 ở CBQL và 3.93 ở GVMN. Điều này thể hiện được năng lực xây dựng
và phổ biến kế hoạch cũng như sự quan tâm của hiệu trưởng các trường mầm
non đối với chế độ dinh dưỡng cho trẻ đặc biệt là trẻ bệnh béo phì. Để thực hiện
tốt công tác phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non cần cân đối khẩu phần
ăn cho trẻ, giảm lượng dầu, đường béo, tăng cường rau quả, trái cây, tăng cường
vận động cho trẻ vào mọi lúc, mọi nơi trong giờ hoạt động ngoài trời.Việc cung
cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu cho trẻ em ở những năm đầu đời rất
quan trọng, bởi đây là giai đoạn đặc biệt cần cho sự phát triển trí lực và thể lực
sau này của trẻ. Từ số liệu cho thấy kế hoạch này đã được phổ biến đến tất cả
mọi đối tượng trong nhà trường và được sự ủng hộ nhiệt tình của tập thể cán bộ
– công nhân viên đặc biệt là tất cả GVMN và CBQL tại các trường.
Chức năng xây dựng và phổ biến kế hoạch xác định số lượng trẻ béo phì
của mỗi lớp cho giáo viên phụ trách lớp của hiệu trưởng cũng được cả CBQL và
GVMN quan tâm ở mức rất cao: 3.90 ở CBQL và 3.92 ở GVMN. Ngay từ đầu
năm học, hiệu trưởng các trường đã xây dựng kế hoạch này một cách chi tiết
nhằm giúp GVMN phụ trách lớp và CBQL nắm rõ số lượng trẻ bệnh béo phì của
từng lớp để có những biện pháp phòng, chống phù hợp đối với từng cá nhân trẻ.
Số liệu thống kê kết quả thực hiện việc hiệu trưởng xây dựng và phổ biến
kế hoạch khám sức khỏe định kỳ hàng tháng cho trẻ bệnh béo phì được CBQL
và GVMN đánh giá khá tương đồng ở mức 3.63 (ở CBQL) và 3.57 (ở GVMN).
Số liệu này phản ánh rất đúng tình hình thực tế tại các trường mầm non. Ngay từ
khi bước vào năm học mới, các trường đã có kế hoạch phối hợp với trạm y tế
phường và y tế của trường tổ chức cân đo, kiểm tra sức khỏe và phân loại thể lực
cho trẻ tại trường. Kế hoạch này được thực hiện định kỳ 3 tháng/lần đối với trẻ
có cân nặng bình thường và 1 tháng/lần đối với trẻ dư cân – béo phì. Từ đó cho
thấy được sự quan tâm chu đáo của CBQL cũng như của GVMN đến sức khỏe
và sự phát triển của trẻ đang theo học tại trường. Điều này đã tạo cho các bậc
phụ huynh thêm an tâm và tin tưởng.
Tuy nhiên, có sự khác biệt khá lớn từ kết quả thực hiện việc hiệu trưởng
xây dựng và phổ biến kế hoạch tuyên truyền cho phụ huynh kiến thức phòng,
chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non. Trong khi CBQL đánh giá kế hoạch này
đạt mức khá: 3.68, thì mức độ đánh giá của GVMN chỉ đạt mức trung bình: 2.54.
Điều này cho thấy sự phối hợp chưa thật nhịp nhàng trong công tác tuyên truyền
kiến thức cho phụ huynh giữa CBQL và GVMN. Số liệu thể hiện người hiệu
trưởng có kế hoạch khá tốt thế nhưng việc phổ biến không thu hút được tất cả
giáo viên tham gia một cách nhiệt tình, không đạt hiệu quả như mong muốn.
Phần chức năng xây dựng và phổ biến kế hoạch mua sắm trang thiết bị
phục vụ cho các trò chơi vận động cho trẻ tại trường, xây dựng nội quy bảo
quản, sử dụng với từng loại trang thiết bị cụ thể của hiệu trưởng được GVMN
đánh giá khá thấp, chỉ ở mức 2.14, trong khi số liệu này ở CBQL là 3.50. Điều
này cho thấy kế hoạch mua sắm trang thiết bị phục vụ cho trẻ bệnh béo phì chưa
thật phù hợp với nguyện vọng của GVMN.
Số liệu thống kê cho thấy, nhìn chung kết quả thực hiện chức năng lập kế
hoạch của CBQL và GVMN tại các trường mầm non tại quận Bình Tân được
đánh giá đạt mức khá. Hiệu trưởng tại các trường có sự đầu tư xây dựng kế
hoạch phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non tại trường. Tuy nhiên, cũng
có sự khác biệt ở một vài tiêu chí đánh giá giữa CBQL và GVMN. Do đó, cần có
sự điều chỉnh việc xây dựng kế hoạch sao cho phù hợp hơn giữa hai lực lượng
này, nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất trong công tác phòng, chống bệnh béo phì
cho trẻ mầm non.
Kết quả kiểm nghiệm t = 0.00 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa thống kê
giữa trung bình của CBQL (ĐTB là 3.55) và GVMN (ĐTB là 3.10) trong việc
đánh giá kết quả thực hiện việc xây dựng kế hoạch công tác phòng, chống bệnh
béo phì cho trẻ mầm non.
2.3.3.2. Chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch phòng, chống bệnh béo
phì cho trẻ
Số liệu khảo sát về việc đánh giá chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch
của hiệu trưởng các trường mầm non Quận Bình Tân trong việc phòng chống
bệnh béo phì cho trẻ mầm non được trình bày ở bảng 2.13
Bảng 2.13: Đánh giá kết quả thực hiện việc tổ chức công tác phòng,
chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non của CBQL và GVMN
Các biện pháp
Thứ tự
Kết quả thực hiện CBQL
GV
2.1
3.63
3.59
Hiệu trưởng phân công cho từng giáo viên tại mỗi lớp dựa vào các tiêu chí để xác định số lượng trẻ béo phì tại mỗi lớp.
2.2
2.97
3.07
2.3
3.32
2.18
2.4
3.00
2.28
2.5
3.30
3.09
2.6
2.92
3.04
2.7
2.93
2.57
Hiệu trưởng phân công giáo viên đi học các lớp bồi dưỡng kiến thức do sở giáo dục hoặc phòng giáo dục quận tổ chức và sưu tầm các tài liệu, tranh ảnh về cách phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non và phổ biến cho toàn trường. Hiệu trưởng phân công hiệu phó bán trú phổ biến cho giáo viên những kiến thức cần thiết về bệnh béo phì để tuyên truyền đến phụ huynh vào giờ đón hoặc trả trẻ. Hiệu trưởng phân công hiệu phó bán trú sắp xếp mua sắm những trang thiết bị phục vụ cho các trò chơi vận động cho trẻ tại trường, quy định rõ trách nhiệm của từng người với tài sản mà họ phụ trách. Hiệu trưởng phân công hiệu phó bán trú xây dựng chế độ dinh dưỡng hàng ngày phù hợp cho trẻ béo phì tại trường như tỉ lệ tinh bột, đường, béo... Hiệu trưởng phân công hiệu phó bán trú phối hợp cùng y tế tại địa phương khám sức khỏe định kỳ cho trẻ hàng tháng, hàng quý trong năm học. Hiệu trưởng phân công giáo viên xây dựng lịch tổ chức trò chơi vận động hàng ngày cho trẻ.
TRUNG BÌNH
3.15
2.83
Số liệu thống kê từ bảng 2.13 cho thấy kết quả thực hiện ở chức năng phân
công cho giáo viên dựa vào các tiêu chí để xác định số lượng trẻ béo phì tại mỗi
lớp của hiệu trưởng được cả CBQL và GVMN đánh giá đạt mức khá và không
có sự khác biệt lớn: 3.63 ở CBQL và 3.59 ở GVMN. Qua đó, hiệu trưởng các
trường mầm non được khảo sát thể hiện được năng lực tổ chức của mình thông
qua việc phân công giáo viên mầm non phụ trách việc theo dõi sức khỏe của trẻ
ở lớp mình. Vào đầu mỗi năm học, sau khi trẻ đã được cân đo chiều cao và cân
nặng, giáo viên có nhiệm vụ dựa vào bảng đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ
em lứa tuổi mầm non bằng chỉ số cân nặng theo chiều cao (theo quần thể tham
khảo NCHS) để xác định trẻ ở lớp do mình phụ trách có bị bệnh béo phì hay
không. Với trẻ bệnh béo phì sau khi khám, giáo viên sẽ trực tiếp trao đổi và mời
phụ huynh xem biểu đồ tăng trưởng được niêm yết trước lớp để biết tình trạng
sức khỏe con em mình, đồng thời giáo viên vẫn ghi vào sổ liên lạc, sổ bé ngoan,
bảng lưu cân về tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe để kết hợp với phụ huynh chăm
sóc trẻ tốt hơn.
Chức năng của hiệu trưởng trong việc phân công hiệu phó bán trú xây
dựng chế độ dinh dưỡng hàng ngày phù hợp cho trẻ béo phì tại trường như tỉ lệ
tinh bột, đường, chất béo... cũng được CBQL và GVMN đánh giá khá cao. Ở hầu
hết các trường đều đảm bảo thực đơn của trẻ phong phú, đa dạng, khẩu phần ăn
cân đối hợp lý, bảo đảm cung cấp từ 55 – 60% năng lượng cả ngày cho trẻ. Ở các
trường, thực đơn hàng ngày của trẻ đều đảm bảo đầy đủ 4 nhóm thực phẩm:
đạm, mỡ, đường, vitamin và muối khoáng với tỷ lệ cân đối:
Chất đạm cung cấp 12 -15% năng lượng cho trẻ
Chất béo cung cấp 15 – 20% năng lượng cho trẻ
Chất bột cung cấp 65 – 73% năng lượng còn lại
Bên cạnh đó các trường cũng cung cấp đầy đủ năng lượng cho trẻ: mỗi trẻ
ở độ tuổi nhà trẻ cần năng lượng là 1.000 – 1.300 Kcal. Trẻ mẫu giáo cần từ
1.500 – 1.600 Kcal.
Trẻ ở các trường mầm non quận Bình Tân được ăn 3 bữa/ngày, trong đó
bữa sáng sẽ cung cấp khoảng 15% nhu cầu dinh dưỡng trong ngày; bữa trưa
cung cấp 40%. Các bữa ăn đều đảm bảo cung cáp đủ định lượng calo cho mỗi trẻ
ở nhà trẻ là từ 700 – 800 Kcal và cho độ tuổi mẫu giáo là 1.000 – 1.090 Kcal.
Số liệu thống kê cho thấy kết quả thực hiện việc phân công giáo viên đi
học các lớp bồi dưỡng kiến thức do sở giáo dục hoặc phòng giáo dục quận tổ
chức và sưu tầm các tài liệu, tranh ảnh về cách phòng, chống bệnh béo phì cho
trẻ mầm non và phổ biến cho toàn trường của hiệu trưởng được cả CBQL và
GVMN đánh giá ở mức khá và có sự tương đồng. Tất cả CBQL và GVMN đều
được tham gia bồi dưỡng kiến thức về dinh dưỡng và sức khỏe thông qua các
chuyên đề “Giáo dục dinh dưỡng”, “Bé tập làm nội trợ”, khuyến khích giáo viên
tham khảo tài liệu ở tủ sách nhà trường.
Ngoài ra, hiệu trưởng các trường còn tạo điều kiện cho giáo viên tham
quan học tập các trường mầm non ở quận Bình Tân và một số trường ở các quận
lân cận nhằm học tập chuyên môn cũng như trao đổi kinh nghiệm về kỹ năng
nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ. Hàng năm, các trường đều tổ chức hội thi tay nghề
giáo viên, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ tại trường, đồng thời cũng là
một công tác tuyên truyền rất mạnh mẽ đối với tập thể sư phạm, với các bậc cha
mẹ và với các ngành, các cấp… Vì mỗi kỳ thi là cơ hội để giáo viên tự kiểm tra
năng lực và phẩm chất của mình. Từ đó, giúp giáo viên mầm non trang bị thêm
những kiến thức bổ ích trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ tốt hơn.
Tuy nhiên, chức năng tổ chức của hiệu trưởng trong việc phân công giáo
viên xây dựng lịch tổ chức trò chơi vận động hàng ngày cho trẻ chưa được cả
CBQL và GVMN đánh giá cao: 2.93 ở CBQL và 2.57 ở GVMN. Điều này phản
ánh đúng thực trạng hiện nay ở một số trường mầm non tại quận Bình Tân. Tuy
hiệu trưởng có kế hoạch và phân công giáo viên thực hiện tổ chức trò chơi vận
động cho trẻ bệnh béo phì hàng ngày nhưng đa số các trường không có đủ diện
tích sân chơi cho trẻ. Đó cũng là một hạn chế mà rất cần đến sự quan tâm của các
cấp lãnh đạo cũng như của các ban ngành đoàn thể nhằm giúp cho trẻ mầm non,
đặc biệt là những trẻ bệnh béo phì có được một môi trường vận động rộng rãi, an
toàn và thoải mái, đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ về mọi mặt.
Số liệu thống kê cho thấy, nhìn chung kết quả thực hiện chức năng tổ chức
của CBQL ở các trường mầm non tại quận Bình Tân được đánh giá ở mức khá
trong khi GVMN chỉ đánh giá ở mức cận khá. Đặc biệt ở chức năng tuyên truyền
kiến thức phòng chống bệnh béo phì đến phụ huynh và mua sắm trang thiết bị
phục vụ cho các trò chơi vận động cho trẻ mầm non của hiệu trưởng chỉ được
GVMN đánh giá ở mức trung bình. Điều này cho thấy hiệu trưởng cần quan tâm
nhiều hơn nữa đến công tác tổ chức những biện pháp trên để việc phòng, chống
bệnh béo phì cho trẻ mầm non ở các trường đạt hiệu quả cao hơn nữa.
Kết quả kiểm nghiệm t = 0.00 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa thống kê
giữa trung bình của CBQL (ĐTB là 3.15) và GVMN (ĐTB là 2.83) trong việc
đánh giá kết quả thực hiện việc tổ chức công tác phòng chống bệnh béo phì cho
trẻ mầm non.
2.3.3.3. Chức năng chỉ đạo phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ
Số liệu khảo sát về việc đánh giá chức năng chỉ đạo của hiệu trưởng các
trường mầm non Quận Bình Tân trong việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ
mầm non được trình bày ở bảng 2.14
Bảng 2.14: Đánh giá kết quả thực hiện việc chỉ đạo công tác phòng,
chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non của CBQL và GVMN
Kết quả thực hiện Các biện pháp Thứ tự CBQL GV
3.93 3.92 3.1
3.62 3.49 3.2
2.40 2.18 3.3
3.50 2.12 3.4
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho giáo viên thực hiện kế hoạch xác định số lượng trẻ béo phì ở mỗi lớp trong thời gian xác định và nộp báo cáo kết quả. Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho giáo viên thực hiện kế hoạch bồi dưỡng kiến thức phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non thông qua các tài liệu, tranh ảnh sưu tầm từ sách, báo... Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho hiệu phó bán trú theo dõi và giám sát giáo viên trong việc tuyên truyền đến phụ huynh kiến thức phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non tại trường qua các giờ đón và trả trẻ. Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho hiệu phó bán trú thường xuyên nắm vững tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho các trò chơi vận động để bổ sung khi cần thiết.
3.5 Hiệu trưởng chỉ đạo hiệu phó bán trú xây dựng thực 3.68 3.70
3.6 3.70 3.55
3.7 3.67 2.06
đơn hàng ngày phù hợp với trẻ béo phì nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng. Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho hiệu phó phối hợp cùng y tế tại địa phương đến khám sức khỏe định kỳ cho trẻ béo phì hàng tháng hoặc hàng quý. Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho giáo viên xây dựng lịch tổ chức trò chơi vận động cho trẻ béo phì hàng ngày.
TRUNG BÌNH 3.50 3.00
Kết quả khảo sát thu được cho thấy kết quả thực hiện công tác chỉ đạo cho
GVMN thực hiện kế hoạch xác định số lượng trẻ béo phì ở mỗi lớp trong thời
gian xác định và nộp báo cáo kết quả của hiệu trưởng đều được CBQL và
GVMN đánh giá ở mức gần đạt tốt: 3.93 ở CBQL và 3.92 ở GVMN. Sau khi cân
đo, kiểm tra sức khỏe và phân loại thể lực cho từng trẻ ở mỗi lớp, hiệu trưởng
chỉ đạo hiệu phó bán trú trực tiếp quản lý số lượng trẻ bệnh béo phì qua sổ theo
dõi của trường theo từng khối lớp, thống kê tỷ lệ đầu vào và hiệu quả giảm cân
của trẻ sau mỗi tháng. Sau mỗi đợt khám sức khỏe cho trẻ, giáo viên báo cáo lại
tình hình kết quả cho ban giám hiệu nhà trường để phối hợp với phụ huynh, bàn
bạc và thống nhất biện pháp phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ tại các nhóm lớp.
Nhờ công tác chỉ đạo có hiệu quả của hiệu trưởng mà việc xác định và theo dõi
trẻ bệnh béo phì được thực hiện tốt và kịp thời.
Chức năng chỉ đạo hiệu phó bán trú xây dựng thực đơn hàng ngày phù hợp
với trẻ béo phì nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng của hiệu trưởng các
trường cũng được CBQL và GVMN quan tâm và đánh giá trên mức khá: 3.68 ở
CBQL và 3.70 ở GVMN. Ở một số trường mầm non công lập, hiệu trưởng và
hiệu phó bán trú thường xuyên tham vấn bác sĩ ở trung tâm dinh dưỡng để cập
nhật kiến thức và bổ sung tài liệu về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ mầm non, đặc
biệt là trẻ bệnh béo phì.
Bên cạnh thực đơn phong phú và đa dạng, phù hợp với trẻ, các trường đều
chuẩn bị bàn ăn sạch sẽ, ngăn nắp, lịch sự, thức ăn đảm bảo vừa đủ nóng để cho
trẻ ăn ngon miệng. Trong khi ăn, các cô luôn biết kết hợp đặc điểm tâm sinh lý
của trẻ, cô luôn động viên khuyến khích, nhắc nhở trẻ ăn hết suất. Trong quá
trình trẻ ăn, có một số trẻ nhà trẻ không thích ăn món thịt băm, món rau nhưng
các cô đã chịu khó tập cho trẻ ăn tất cả các món để đảm bảo đủ chất và năng
lượng cho trẻ. Không để cho trẻ có thói quen chỉ thích ăn món này mà không
thích ăn món kia theo thích tại sở gia đình và với những thức ăn trẻ thích cô vẫn
cho ăn theo đúng tiêu chuẩn và không cho trẻ ăn quá nhiều. Hiệu trưởng chỉ đạo
giáo viên lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng vào hoạt động vui chơi, học
tập cho trẻ béo phì, cụ thể như: bệnh béo phì nên hạn chế ăn bánh kẹo, sôcôla,
uống nước ngọt, ăn quà bánh vặt, không uống sữa có nhiều chất béo và nên ăn
nhiều rau củ, trái cây, siêng năng tập thể dục, vận động nhiều…
Công tác chỉ đạo của hiệu trưởng đối với hiệu phó bán trú phối hợp cùng
y tế tại địa phương trong việc khám sức khỏe cho trẻ mầm non cũng được quan
tâm ở cả CBQL và GVMN. Qua khảo sát biểu đồ tăng trưởng, 100% trẻ đều
được kiểm tra sức khỏe trước khi vào trường. Ngoài ra, trẻ còn được khám sức
khỏe định kỳ và tẩy giun 2 lần trong năm (khoảng vào tháng 9 và tháng 3). Riêng
đối với trẻ bệnh béo phì sẽ được cân đo và theo dõi cân nặng và chiều cao mỗi
tháng. Bên cạnh đó, trẻ còn được uống vitamin A tại trường hoặc được gia đình
cho uống tại địa phương.
Tuy nhiên, việc chỉ đạo hiệu phó theo dõi và giám sát giáo viên trong việc
tuyên truyền kiến thức phòng, chống bệnh béo phì đến phụ huynh trẻ của hiệu
trưởng chưa được CBQL và GVMN quan tâm đầu tư và được đánh giá thấp nhất
ở chức năng này. Tại các trường mầm non công lập như Hương Sen, 19 tháng 5,
Hoa Đào,… ở mỗi lớp đều có bảng tin tuyên truyền với hình thức đẹp, chữ to, rõ
ràng, dễ đọc, nội dung phong phú và có sự thay đổi theo chủ điểm hàng tháng.
Giáo viên ở mỗi lớp đều có trao đổi với phụ huynh về tình hình sức khỏe của trẻ
vào giờ đón và trả trẻ. Nhưng cũng còn ở một số lớp, giáo viên chưa quan tâm
đến việc trao đổi cùng phụ huynh, không ra đón trẻ ở cửa lớp mà để trẻ tự đi vào
lớp. Qua quan sát thực tế ở một số trường mầm non tư thục, vào giờ đón và trả
trẻ, cô giáo và phụ huynh chỉ quan tâm đến việc trẻ ăn gì trong ngày và ăn được
bao nhiêu chén, tháng này cháu có tăng cân hay không. Nếu cô giáo nói trẻ ăn
nhiều, tăng cân đều đặn, phụ huynh tỏ ra rất vui mừng và hài lòng, với quan
niệm trẻ ăn càng nhiều sẽ càng mau lớn và khỏe mạnh, trẻ mũm mĩm mới dễ
thương. Chứ không quan tâm đến chuyện trẻ có dư cân béo phì không. Đó là một
thực tế tồn tại ở rất nhiều trường mầm non trong quận. Do đó, muốn thực hiện
tốt công tác phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non cần phải đặc biệt quan
tâm và đầu tư cho công tác tuyên truyền đến phụ huynh học sinh dưới nhiều hình
thức khác nhau.
Nhìn chung, theo kết quả khảo sát cho thấy kết quả thực hiện các biện
pháp ở công tác chỉ đạo được CBQL đánh giá ở mức khá cao (6/7 biện pháp
được đánh giá từ 3.5 trở lên). Trong khi đó, ở GVMN đánh giá công tác này ở
mức thấp hơn (4/7 biện pháp được đánh giá trên 3.49). Trong 7 biện pháp được
khảo sát có 2/7 biện pháp có sự chênh lệch khá lớn trong đánh giá của CBQL và
GVMN, đó là biện pháp mua sắm trang thiết bị phục vụ các trò chơi vận động
cho trẻ bệnh béo phì và việc xây dựng lịch tổ chức trò chơi vận động cho trẻ béo
phì hàng ngày. Từ đó cho thấy, công tác chỉ đạo của hiệu trưởng ở chức năng
này cần được quan tâm chú ý nhiều hơn nữa.
Kết quả kiểm nghiệm t = 0.00 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa thống kê
giữa trung bình của CBQL (ĐTB là 3.50) và GVMN (ĐTB là 3.00) trong việc
đánh giá kết quả thực hiện việc chỉ đạo công tác phòng, chống bệnh béo phì cho
trẻ mầm non.
2.3.3.4. Chức năng kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch phòng,
chống bệnh béo phì cho trẻ
Số liệu khảo sát về việc đánh giá chức năng kiểm tra đánh giá việc thực
hiện kế hoạch của hiệu trưởng các trường mầm non Quận Bình Tân trong việc
phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non được trình bày ở bảng 2.15:
Bảng 2.15: Đánh giá kết quả thực hiện việc kiểm tra đánh giá công tác
phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non của CBQL và GVMN
Các biện pháp
Thứ tự
Kết quả thực hiện CBQL GV
3.65
3.50
4.1
3.03
3.07
4.2
2.38
2.25
4.3
2.90
3.09
4.4
2.33
2.81
4.5
3.05
2.95
4.6
2.35
2.62
4.7
Hiệu trưởng kiểm tra việc thực hiện kế hoạch xác định số lượng trẻ béo phì ở mỗi lớp sau thời gian qui định bằng cách đọc báo cáo của giáo viên và quan sát thực tế. Hiệu trưởng kiểm tra việc thực hiện bồi dưỡng kiến thức phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ của giáo viên thông qua tổ chức các cuộc thi đố vui hoặc qua việc sưu tầm các tài liệu, tranh ảnh qua đó đánh giá kết quả đạt được. Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá công tác tuyên truyền của giáo viên với phụ huynh trong việc phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ thông qua các phiếu thăm dò hoặc các buổi tọa đàm, trò chuyện.... Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá tình hình mua sắm trang thiết bị vào 1 thời điểm nhất định trong năm học, tiến hành kịp thời những yêu cầu bổ sung, sửa chữa hoặc thay thế những thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết. Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá việc xây dựng thực đơn hàng ngày cho trẻ béo phì của hiệu phó bán trú thông qua việc quan sát trẻ ăn, trò chuyện cùng trẻ hoặc nếm thử thức ăn của trẻ. Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá việc khám sức khỏe định kỳ cho trẻ thông qua báo cáo của giáo viên và quan sát thực tế tại mỗi lớp. Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá việc tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ béo phì của giáo viên thông qua quan sát thực tế hoạt động vui chơi của trẻ hàng ngày và báo cáo của giáo viên.
TRUNG BÌNH
2.81
2.90
Bảng 2.15 cho thấy kết quả thực hiện các biện pháp ở chức năng kiểm tra
– đánh giá được cả CBQL và GVMN đánh giá ở mức cận khá. Trong đó, biện
pháp tuyên truyền của giáo viên đến phụ huynh, xây dựng thực đơn cho trẻ bệnh
béo phì và công tác tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ béo phì chỉ được đánh
giá ở mức trên trung bình. Trong khi các biện pháp còn lại đều được đánh giá ở
mức khá. Cụ thể như sau:
Chức năng kiểm tra việc thực hiện kế hoạch xác định số lượng trẻ béo phì
ở mỗi lớp sau thời gian qui định bằng cách đọc báo cáo của giáo viên và quan sát
thực tế của hiệu trưởng được cả CBQL và GVMN đánh giá cao: 3.65 ở CBQL và
3.50 ở GVMN. Trẻ mầm non sau khi được cân đo thể lực, nếu bệnh béo phì sẽ
được giáo viên mầm non tại lớp báo cáo lên hiệu trưởng hàng tháng để theo dõi
và có biện pháp chữa trị. Vào các thời gian tổ chức hoạt động trong ngày, hiệu
trưởng thường xuyên đi kiểm tra, quan sát ở từng lớp, trao đổi cùng giáo viên
hoặc trò chuyện cùng trẻ, kiểm tra biểu đồ tăng trưởng… để đánh giá được tình
hình sức khỏe của trẻ một cách chính xác và đầy đủ.
Công tác kiểm tra – đánh giá việc thực hiện bồi dưỡng kiến thức phòng,
chống bệnh béo phì cho trẻ của giáo viên thông qua tổ chức các cuộc thi đố vui
hoặc qua việc sưu tầm các tài liệu, tranh ảnh và việc khám sức khỏe định kỳ cho
trẻ thông qua báo cáo của giáo viên và quan sát thực tế tại mỗi lớp được cả
CBQL và GVMN đánh giá tương đồng và đạt ở mức khá. Qua đó, thấy được sự
quan tâm của hiệu trưởng các trường mầm non đối với việc phòng, chống bệnh
béo phì cũng như nhận thức được tầm quan trọng của công tác này.
Tuy nhiên, chức năng kiểm tra – đánh giá công tác tuyên truyền đến phụ
huynh, việc xây dựng thực đơn và việc tổ chức trò chơi vận động hàng ngày cho
trẻ bệnh béo phì được cả CBQL và GVMN đánh giá chỉ ở mức trung bình. Qua
trao đổi với hiệu trưởng một số trường mầm non, các cô nói rằng do công việc
quá bận rộn, đôi khi không có đủ thời gian để tổ chức những buổi tọa đàm hay
những buổi nói chuyện chuyên đề về việc phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ
hoặc do kinh phí, do phụ huynh cũng không có nhiều thời gian. Do đó, việc kiểm
tra – đánh giá công tác tuyên truyền cũng còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra,
công tác kiểm tra và đánh giá việc xây dựng thực đơn hàng ngày cho trẻ béo phì
của hiệu phó bán trú thông qua việc quan sát trẻ ăn, trò chuyện cùng trẻ hoặc
nếm thử thức ăn của trẻ cũng chưa được thực hiện thường xuyên. Hiệu trưởng
thường quan sát trẻ ăn và trò chuyện cùng trẻ thông qua các buổi dự giờ giáo
viên, công tác này chỉ thực hiện 1 tháng/lần. Tương tự, công tác kiểm tra và đánh
giá việc tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ béo phì của giáo viên thông qua
quan sát thực tế hoạt động vui chơi của trẻ hàng ngày và báo cáo của giáo viên
thực hiện cũng chưa thật tốt. Nguyên nhân chính là do sân chơi của trẻ mầm non
quá hạn chế, mà số lượng trẻ quá đông nên mặc dù đã có sắp xếp lịch hoạt động
ngoài trời nhưng có trường trẻ chỉ được ra sân chơi 1 lần/tuần. Bên cạnh đó, đồ
chơi ngoài trời cũng chưa thật phong phú và đa dạng, chỉ là xích đu, cầu tuột…
nên cũng hạn chế hoạt động vui chơi của trẻ.
Kết quả kiểm nghiệm t = 0.13 cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa
thống kê giữa trung bình của CBQL (ĐTB là 2.81) và GVMN (ĐTB là 2.90)
trong việc đánh giá kết quả thực hiện việc kiểm tra đánh giá công tác phòng,
chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non.
2.4. Nhận xét thực trạng
Để có được cái nhìn khái quát về thực trạng quản lý công tác phòng chống
bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non Quận Bình Tân, chúng tôi tiến hành
khảo sát mối liên hệ giữa thực trạng quản lý công tác phòng chống bệnh béo phì
với thành tích phòng chống bệnh này ở các trường nói trên.
2.4.1. Mối liên hệ giữa điểm trung bình thực trạng quản lý với điểm trung bình thành tích phòng, chống bệnh béo phì
Thực trạng quản lý được giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá theo thang
điểm 4 mức: Tốt: 4 điểm, khá: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, kém: 1 điểm. Điểm
thành tích phòng chống bệnh béo phì của từng trường được chúng tôi quy đổi
dựa vào tỉ lệ phần trăm trẻ béo phì hiện có của mỗi trường và cũng theo thang
điểm từ 1 đến 4. Trường có tỉ lệ phần trăm trẻ béo phì càng thấp thì điểm thành
tích phòng chống bệnh béo phì càng cao. Cụ thể là: < 1% tương ứng với điểm 4;
1,1% - 3% tương ứng với điểm 3; 3,1% - 6% tương ứng với điểm 2; > 6,1%
tương ứng với điểm 1. Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 2.16
Bảng 2.16: Thực trạng quản lý và thành tích phòng chống béo phì cho trẻ
ở các trường mầm non Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
Số TT Tên trường Điểm trung bình thực trạng quản lý
1 MN Như Ý 2 MN Thỏ Ngọc 3 MN Măng Non 4 MN Thiên Thần Nhỏ 5 MN Phượng Hoàng 6 MN Ánh Hồng 7 MN Hậu Giang 8 MN Vàng Anh 9 MN Hoa Thiên Lý 10 MN Hướng Dương 11 MN Tân Tạo 12 MN Sơn Ca 13 MN Bảo Ngọc 14 MN Búp Bê Xinh 15 MN Hương Sen 16 MN Hoa Hồng 17 MN Hoàng Anh 18 MN Hoa Đào 19 MN 19 tháng 5 20 MN Cẩm Tú Điểm trung bình thành tích phòng, chống béo phì 1 2 2 2 3 2 2 2 3 3 2 2 2 2 4 4 3 3 4 3 2 2 3 3 3 3 2 3 3 3 3 2 3 3 4 4 3 4 4 4
Để xác định mối liên hệ giữa điểm trung bình thực trạng quản lý với điểm
thành tích phòng, chống bệnh béo phì, tôi sử dụng tương quan tuyến tính Pearson
và thu được kết quả như sau:
Hệ số tương quan giữa điểm trung bình thực trạng quản lý với điểm thành
tích phòng, chống bệnh béo phì là 0,79. Sau khi kiểm nghiệm, tôi thấy rằng sự
đánh giá của CBQL và GVMN về việc thực hiện các biện pháp quản lý việc
phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non tại quận Bình Tân là
có mối tương quan với nhau khá chặt, đáng tin cậy. Điều đó có nghĩa là ý kiến
đánh giá của CBQL và GVMN về việc thực hiện các biện pháp quản lý công tác
này là rất thống nhất với nhau, nghĩa là trường có điểm trung bình thực trạng
quản lý cao thì điểm thành tích phòng, chống bệnh béo phì cao và ngược lại.
Như vậy, điều khẳng định về việc thực hiện các biện pháp quản lý mà tôi
đã phân tích ở trên là có cơ sở khách quan.
2.4.2. Ưu điểm
Việc quản lý sức khỏe của trẻ mầm non đã trở thành một hoạt động đi vào
nề nếp và xem việc ghi chép biểu đồ tăng trưởng là điều kiện vàng trong công
tác chăm sóc, giáo dục trẻ. Việc theo dõi sức khỏe trẻ trên biểu đồ tăng trưởng
hàng tháng, hàng quý là một cầu nối giữa nhà trường và phụ huynh trong việc
chăm sóc trẻ, tạo mối quan hệ khắng khít giữa nhà trường và gia đình.
Qua việc tổ chức thi đua, thi tay nghề giữa giáo viên, giữa các cấp dưỡng
đã giúp cho đội ngũ của các trường nâng cao trình độ. Thực tế quan sát cho thấy,
trẻ bệnh béo phì ở các lớp cũng rất thông minh, nhanh nhẹn, linh hoạt và hiếu
động như những trẻ bình thường khác. Điều đó chứng minh được rằng việc áp
dụng nhiều biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ mang lại hiệu quả tích cực cho
việc phát triển trẻ một cách toàn diện về thể lực và trí tuệ. Trong những năm qua,
ngành học mầm non nói chung, những trường được khảo sát nói riêng đã xem
hội thi tay nghề là một việc làm thường xuyên và đi vào nề nếp. Đặc biệt là qua
mỗi kỳ thi, nhà trường đã tích cực tuyên truyền đến phụ huynh, đến các ngành
các cấp, các địa phương những khó khăn, hạn chế của trường mình. Qua đó, các
trường đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang bị
thêm các phương tiện và các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Trước kia các GVMN thường coi trọng công tác dạy mà lãng quên đi công
tác nuôi, không thấy được hết trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc sức
khỏe ban đầu cho trẻ. Nhưng qua các biện pháp chỉ đạo của hiệu trưởng đã giúp
cho GVMN mở rộng nhận thức và đã chủ động phối hợp với các bậc cha mẹ để
chăm sóc trẻ ngày một tốt hơn.
Thực hiện theo chỉ đạo của ngành, các trường đã tuân thủ vệ sinh an toàn
thực phẩm: mua hàng có hợp đồng, quy định trách nhiệm và địa chỉ người cung
cấp, đầu tư cải tạo cơ sở vật chất, trang bị thêm các phương tiện để giảm bớt
cường độ lao động. Do đó, mà chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ngày càng tốt
hơn.
Trước kia, một số phụ huynh vẫn còn xem nhẹ công tác chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ mà chỉ yêu cầu nhà trường dạy trẻ biết đọc, biết viết chuẩn bị cho trẻ
vào lớp một. Qua công tác tuyên truyền cùng sự phối hợp giữa nhà trường và gia
đình, đa số phụ huynh đã nhận thức được việc nuôi dưỡng tốt cho trẻ hôm nay là
tiền đề của tương lai các cháu mai sau. Phụ huynh đã thấy rõ trách nhiệm của gia
đình cần phải phối hợp chặt chẽ hơn nữa với nhà trường để con em mình phát
triển toàn diện, đồng thời giúp phụ huynh tăng thêm lòng tin đối với đội ngũ
nuôi dạy trẻ, từ đó có quyết tâm tham gia cùng với nhà trường trong công tác
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ.
Chất lượng bữa ăn đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, thực hiện được định mức
nhu cầu năng lượng. Thành phần các chất được cân đối giúp trẻ hấp thu tốt, đảm
bảo tiêu chuẩn ăn của cháu và ăn hết suất.
Nhờ giáo dục tốt vệ sinh ăn uống, kết quả quan sát tôi thấy trẻ ăn ngon,
ngủ tốt, có thói quen tốt trong ăn uống và nề nếp trong học tập, sinh hoạt vui
chơi.
Song song với việc chỉ đạo các biện pháp vừa nêu trên, ban giám hiệu các
trường đã lồng ghép các nội dung của hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng vào công
tác thi đua và thường xuyên kiểm tra đánh giá công tác này nên chất lượng được
nâng lên rõ rệt. Bên cạnh đó, thấy được sự phấn đấu tự giác của đội ngũ nhân
viên trong các trường, công việc ban đầu tưởng khó khăn nhưng khi đã đi vào nề
nếp, công việc trở thành tự động hóa, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ
phận và mang tính khoa học hơn.
2.4.3. Hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm vừa nêu trên, các trường còn có những mặt hạn
chế sau:
Đa số các trường được khảo sát có diện tích sân chơi rất hạn chế, trong khi
số lượng trẻ quá đông. Khi về nhà, gia đình cũng không quan tâm đến các hoạt
động thể lực cho trẻ mà thay vào đó là những hoạt động tĩnh tại như xem ti vi,
chơi điện tử… Do đó, nhà trường gặp rất nhiều khó khăn trong công tác phòng,
chống bệnh béo phì cho trẻ.
Một số phụ huynh còn tư tưởng “mập – khỏe – đẹp” nên chưa chấp nhận
việc con em mình bị bệnh béo phì, do tâm lý thích trẻ mập mạp, tròn trĩnh. Từ
đó, dẫn đến chưa có sự phối hợp tốt với nhà trường trong công tác phòng, chống
bệnh béo phì cho trẻ tại gia đình.
Trẻ bệnh béo phì lại rất hay thèm ăn, thích các món ăn cao năng lượng:
thức ăn chiên, quay, thức ăn nhanh, thức ăn ngọt, bột đặc như xôi, bánh mì, mì
xào... trong khi đó lại ít hoạt động thể lực: không thích đi tập thể dục, ít chạy
nhảy, vận động..
2.5. Đề xuất giải pháp quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở các
trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM
2.5.1. Căn cứ đề xuất giải pháp
2.5.1.1. Cơ sở lý luận
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ
của trẻ em Việt Nam. Việc chăm lo phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm
chung của các cấp chính quyền, của mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội dưới
sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
Việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non phải được thực hiện với sự phối
hợp, gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Coi trọng và nâng cao
hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức chăm sóc, giáo dục trẻ cho
các bậc phụ huynh nhằm thực hiện đa dạng hóa phương thức chăm sóc, giáo dục
trẻ em.
Hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non được thực hiện trong các
trường mầm non thông qua các văn bản chỉ đạo của Đảng, của Nhà nước và của
ngành. Đây là cơ sở pháp lý để hoạt động này thực hiện tốt và là cơ sở để cơ
quan quản lý cấp trên tiến hành kiểm tra việc tổ chức thực hiện của từng trường
mầm non. Cụ thể các văn bản chỉ đạo như:
Nghị quyết TW2 khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục
và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết
TW2 đề ra 6 mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người
và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có
đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc; công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân
tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân
tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá
nhân, làm chủ tri thức, khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ
năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức
khỏe, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa
“chuyên”.
Căn cứ vào “Chiến lược phát triển giáo dục 2009 – 2020” của Bộ
GD&ĐT, trong đó mục tiêu của GDMN là: “Thực hiện phổ cập giáo dục một
năm cho trẻ 5 tuổi để chuẩn bị tốt cho trẻ vào học lớp một, đồng thời từng bước
phát triển giáo dục trẻ dưới 5 tuổi. Đến năm 2020 có 99% trẻ 5 tuổi được học
một năm mẫu giáo chuẩn bị vào lớp 1. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ được
chuyển biến về cơ bản, giúp trẻ phát triển hài hòa về thể chất, tình cảm, trí tuệ
và thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho
trẻ vào học lớp 1.”
Căn cứ vào Điều 24, Chương III của “Điều lệ trường mầm non” (Ban
hành kèm theo Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) quy định:
* Về hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em:
+ Việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ được tiến hành thông qua các
hoạt động theo quy định của chương trình giáo dục mầm non.
+ Hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ bao gồm: chăm sóc dinh dưỡng;
chăm sóc giấc ngủ; chăm sóc vệ sinh; chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn.
+ Việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ còn thông qua hoạt động tuyên
truyền, phổ biến kiến thức khoa học về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em
cho các bậc cha mẹ trẻ và cộng đồng.
* Về đánh giá kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em:
+ Kiểm tra định kỳ sức khỏe trẻ em: hai lần trong một năm học.
+ Theo dõi biểu đồ tăng trưởng của trẻ em: trẻ dưới 24 tháng tuổi một
tháng cân trẻ một lần; trẻ trên 24 tháng tuổi một quý cân trẻ một lần.
+ Đánh giá sự phát triển của trẻ em: căn cứ quy định về chuẩn phát triển
trẻ em theo độ tuổi do Bộ GD&ĐT ban hành.
Căn cứ vào mục tiêu chung của “Quyết định 55” (Ban hành bản quy định
về mục tiêu và kế hoạch đào tạo nhà trẻ – trường mẫu giáo) quy định mục tiêu
chung của GDMN là:
“Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
– Trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối.
– Trẻ giàu lòng thương yêu, biết quan tâm, nhường nhịn, giúp đỡ những
người gần gũi (bố, mẹ, bạn bè, cô giáo...), thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn
nhiên.
– Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở
xung quanh.
– Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi, có một số kỹ năng
sơ đẳng (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, suy luận...) cần thiết để vào
trường phổ thông, thích đi học.”
2.5.1.2. Cơ sở thực tiễn
Phân tích thực trạng công tác quản lý việc phòng, chống bệnh béo phì cho
trẻ ở các trường mầm non tại quận Bình Tân, thông qua phiếu trưng cầu ý kiến
CBQL và GVMN, tôi đã đi đến một số kết luận về thực trạng quản lý công tác
này.
Căn cứ vào các định hướng trên và trên cơ sở nghiên cứu lý luận đã trình
bày ở Chương 1, xuất phát từ thực trạng quản lý việc phòng, chống bệnh béo phì
cho trẻ ở các trường mầm non tại quận Bình Tân đã được phân tích kỹ ở Chương
2, đồng thời để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục mầm non trong giai đoạn
hiện nay, tôi đề xuất một số giải pháp cụ thể để quản lý tốt công tác này, nhằm
giải quyết vấn đề thực tiễn và đáp ứng nhu cầu phát triển trong thời đại mới.
2.5.2. Các giải pháp quản lý
2.5.2.1. Sử dụng biểu đồ tăng trưởng trong việc theo dõi sức khỏe của
trẻ
Biểu đồ tăng trưởng là một phương tiện kỹ thuật cho cộng đồng nói chung
và trường mầm non nói riêng. Trong hoạt động phòng, chống béo phì cho trẻ
cũng như chăm sóc sức khỏe trẻ em hiện nay, người ta luôn đặc biệt quan tâm
đến việc sử dụng biểu đồ tăng trưởng cho trẻ mầm non, bởi vì biểu đồ tăng
trưởng là một phương tiện kỹ thuật đơn giản nhất lại rẻ tiền để giúp cộng đồng
trong quá trình tự theo dõi, phát hiện sớm trẻ bệnh béo phì và quản lý tình trạng
sức khỏe của trẻ em.
Ở nhiều quốc gia, biểu đồ tăng trưởng giúp bà mẹ tự đánh giá được tình
trạng sức khỏe của con mình, quan trọng hơn là nó giúp cho cô giáo mầm non
theo dõi sự phát triển của trẻ, trên cơ sở đó mà phát hiện sớm những trẻ bị bệnh
béo phì.
Quá trình giáo dục dinh dưỡng nhờ sử dụng biểu đồ tăng trưởng là quá
trình giáo dục dinh dưỡng trực tiếp tại cộng đồng, hướng dẫn các bà mẹ về
phương pháp nuôi con khi phát hiện ra trẻ tăng cân một cách quá nhanh, từ đó có
sự phối hợp tốt với nhà trường và y tế tại địa phương trong việc theo dõi sự tăng
cân của trẻ. Như vậy, trong quá trình sử dụng biểu đồ tăng trưởng cho trẻ em đã
hình thành một quá trình truyền thông chéo trong cộng đồng, quá trình này chỉ
được hình thành khi sử dụng biểu đồ tăng trưởng đúng quy trình tập huấn.
* Cách sử dụng biểu đồ tăng trưởng
+ Lập lịch tháng tuổi
Tháng sinh ghi ở ô số 1 là tháng đầu tiên trong cuộc đời trẻ. Tháng tiếp
theo ghi ở ô số 2… tương ứng với tháng, năm ghi ở ô thứ 24 là tháng thứ 24.
Sau khi biết được ngày sinh của trẻ ta ghi tháng sinh vào ô đầu tiên (ô số
1), ngay phía dưới ghi năm sinh (chỉ cần ghi 2 số cuối của năm), mỗi tháng sau
đó được đếm các ô tiếp theo cho đến hết năm đó (tháng 12). Năm kế tiếp, phía
dưới ô tháng 1, ghi 2 số cuối của năm. Cứ ghi như vậy cho đến hết.
+ Cân trẻ
Trước khi cân cần kiểm tra độ nhạy của cân và chỉnh cân thăng bằng ở vị
trí số 0.
Cách cân: cho trẻ đứng lên cân thăng bằng sau đó đọc kết quả. Kết quả
được ghi theo kg với 1 số lẻ.
Ví dụ: Trẻ nặng 18kg và 300gr thì ghi là 18,3 kg.
Trong hệ thống trường mầm non, trẻ sức khỏe bình thường được cân định
kỳ hàng quý, đối với trẻ dư cân – béo phì được cân mỗi tháng một lần để theo
dõi sự phát triển cân nặng của trẻ.
+ Đánh dấu cân nặng và vẽ đường biểu diễn trên biểu đồ
Kết quả mỗi lần cân được ghi vào sổ và chấm (.) lên biểu đồ. Vị trí dấu
chấm được xác định bởi đường giao nhau của tháng cân (trục hoành) chiếu lên
và số cân (trục tung) chiếu sang.
Các dấu chấm cân nặng sau mỗi lần cân được nối lại với nhau thành
đường biểu diễn cân nặng hay còn gọi là “con đường sức khỏe của trẻ”.
Hiện nay, để đánh giá về chỉ số phát triển thể lực của trẻ mầm non, Bộ Y
tế đề nghị áp dụng bảng chỉ số nhân trắc NCHS. Tổ chức Y tế thế giới đã đề nghị
lấy quần thể NCHS của Mỹ làm quần thể tham chiếu và đề nghị này đã được ứng
dụng rộng rãi. Hiện tại, tổ chức Y tế thế giới đề nghị lấy điểm ngưỡng từ trên 3
độ lệch chuẩn (+3SD) so với quần thể tham chiếu NCHS để coi là béo phì.
2.5.2.2. Khám sức khỏe, tẩy giun định kỳ cho trẻ
Theo Sở GD&ĐT thì việc kiểm tra sức khỏe cho trẻ mầm non định kỳ 2
lần trong một năm học (vào tháng 9 và tháng 3 hoặc tháng 10 và tháng 4). Khi
trẻ được khám sức khỏe tại trường thì sẽ được tẩy giun 6 tháng một lần. Thuốc
thường được sử dụng là Mebendazole, khi dùng có sự giám sát và chỉ định của y
tế tại địa phương.
Ngoài ra, trẻ cần phải được bú mẹ một cách đầy đủ. Chế độ ăn hàng ngày
cần cung cấp đủ vitamin A và tiền vitamin A như dầu, mỡ, gan, trứng, cá, tôm,
rau xanh… Cho trẻ uống vitamin A 6 tháng một lần tại trường, có thể nhắc nhở
gia đình đưa trẻ đến trạm y tế tại địa phương để uống. Không được dùng vitamin
A quá liều quy định vì có thể sẽ gây ngộ độc cho trẻ.
2.5.2.3. Tăng cường tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ béo phì
Phần lớn trẻ béo phì là do dư thừa năng lượng, ít vận động. Do đó, ngoài
việc thực hiện chế độ ăn hợp lý, cân đối cần phải kết hợp cho trẻ vận động nhằm
làm tiêu hao số năng lượng dư thừa đó.
Để thực hiện được điều này, hiệu trưởng nên chỉ đạo hiệu phó chuyên môn
xây dựng kế hoạch tổ chức tăng cường vận động cho trẻ với các bài tập như leo
thang, cầu tuột, bật, nhảy, chạy; các trò chơi dân gian, trò chơi có luật… Ngoài
ra, còn cho trẻ lao động trực nhật, chăm sóc cây kiểng. Phân công giáo viên luân
phiên theo tuần chịu trách nhiệm tổ chức cho trẻ vận động mỗi ngày, sau đó
CBQL kiểm tra, đánh giá việc thực hiện của giáo viên.
Hiệu phó chuyên môn cần phối hợp cùng hiệu phó bán trú nghiên cứu sắp
xếp thời gian tập luyện cho trẻ phù hợp cho từng lứa tuổi mà không làm ảnh
hưởng đến các sinh hoạt khác của trường. Chỉ đạo giáo viên tổ chức tốt lịch vận
động về nội dung và hình thức theo kế hoạch, tăng cường vận động cho trẻ ở mọi
lúc, mọi nơi như phụ cô xếp dọn bàn ghế trong giờ ăn, lấy nệm trong giờ ngủ…
Bên cạnh đó, khuyến khích giáo viên sưu tầm, sáng tạo những trò chơi vận động
phù hợp với lứa tuổi của trẻ.
Các trẻ béo phì cần tập thể dục ít nhất 3 – 4 lần mỗi ngày. Lúc tập thể dục
sáng xong GVMN cho trẻ tập thêm các bài tập dành cho trẻ béo phì. Trẻ lắc
vòng, leo thang… với các dụng cụ trang bị tại sân trường. Hoạt động thể lực sẽ
làm tiêu bớt mỡ thừa, cơ thể trẻ sẽ săn chắc và gọn hơn.
2.5.2.4. Quản lý việc xây dựng khẩu phần ăn hàng ngày cho trẻ
* UĐối với trẻ bình thường
Dinh dưỡng cân đối và hợp lý phải bao gồm đầy đủ các điều kiện sau:
- Đảm bảo cung cấp đầy đủ năng lượng và dinh dưỡng theo nhu cầu cơ
thể.
- Các chất dinh dưỡng theo tỷ lệ cân đối và hợp lý.
Cung cấp đủ năng lượng
Nhu cầu dinh dưỡng trong một ngày cho trẻ mầm non theo GS.TS Hà Huy
Khôi và GS Từ Giấy đề nghị trong “Dinh dưỡng hợp lý và sức khỏe” là:
Bảng 2.17: Nhu cầu dinh dưỡng trong một ngày của trẻ mầm non
Chất khoáng Vitamin Năng Protein Lứa lượng Ca Fe A B1 B2 PP C (g) tuổi (Calo) (mg) (mg) (mg) (mg) (mg) (mg) (mg)
1 – 3 1300 28 500 6 400 0.8 0.8 9 35
4 – 6 1600 36 500 7 400 1.1 1.1 12.1 45
Bảng 2.18: Nhu cầu dinh dưỡng trong một bữa ăn cho trẻ dưới 5 tuổi
Nhóm thực phẩm Trẻ em dưới 5 tuổi
Tổng lượng thực phẩm từ nhóm giàu đạm động vật thịt
(gia cầm, gia súc các loại), cá, trứng, tôm, cua, lươn và 35 – 50g
đậu hạt
Tổng lượng thực phẩm từ nhóm bột đường – gạo (cơm) 70 – 90g
hoặc sản phẩm chế biến (bún, phở, bánh canh). 100 – 130g
Đường 8 – 10g
Dầu, mỡ (dùng chế biến món ăn) 5 – 8g
Rau các loại, đậu 40 – 60g
Trái cây các loại 50 – 80g
Cân đối về năng lượng:
o Năng lượng do 3 chất cung cấp cho cơ thể là protein, lipit, gluxit. o Theo Viện dinh dưỡng đề nghị, trong khẩu phần ăn tỷ lệ giữa 3 chất
này phải là 1:1:4.
o Về chất đạm, theo điều tra khẩu phần ăn ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy rằng năng lượng do protein thường dao động xung quanh mức 12%±1. Ở
nước ta theo Viện dinh dưỡng, năng lượng do protein nên đạt từ 12% - 14% tổng
số năng lượng.
o Về chất béo, năng lượng do lipit cung cấp so với tổng số năng lượng nên vào khoảng 20% - 25% tùy theo vùng khí hậu nóng hay lạnh và không nên
vượt quá 30% hay thấp hơn 10% đều có ảnh hưởng bất lợi cho sức khỏe.
o Khi cung cấp năng lượng cho trẻ mầm non cần đảm bảo 50% - 60%
năng lượng cả ngày cho trẻ.
Cung cấp đủ các nhóm chất
o Nhóm giàu protid (đạm): nhóm thịt, cá, tôm, cua; nhóm trứng, sữa;
nhóm đậu đỗ.
o Nhóm giàu gluxit: nhóm ngũ cốc, nhóm khoai củ, nhóm đậu đỗ. o Nhóm giàu lipit: nguồn gốc động vật (mỡ, bơ); nguồn gốc thực vật
(dầu thảo mộc).
o Nhóm giàu vitamin và muối khoáng (nhóm rau quả): + Vitamin A, D, E: có nhiều trong trứng, gan, bơ.
+ Vitamin nhóm B: có nhiều trong các phủ tạng động vật, thịt, đậu
đỗ, ngũ cốc.
+ Vitamin C: rau củ xanh, trái cây tươi.
+ Canxi: có nhiều trong sữa, cá có xương, một số loại rau, đậu đỗ.
+ Sắt: có nhiều trong thịt, cá, đậu đỗ, ngũ cốc.
Cân đối giữa các chất
+ Cân đối về Protein
Ngoài tương quan với tổng số năng lượng, trong thành phần protein cần có
đủ các axitamin cần thiết với tỷ lệ cân đối thích hợp. Do các protein nguồn gốc
động vật và thực vật khác nhau về chất lượng nên người ta hay dùng tỷ lệ phần
trăm giữa protein nguồn động vật và tổng số protein để đánh giá mặt cân đối này.
Đối với người trưởng thành, tỷ lệ protein động vật vào khoảng 25 – 30%
tổng số protein là thích hợp; đối với trẻ em, tỷ lệ này cao hơn, chiếm 50%.
+ Cân đối về lipit
Ngoài sự cân đối giữa lipit so với tổng số năng lượng, cần phải cân đối
lipit nguồn gốc động vật và lipit nguồn gốc thực vật. Bởi vì trong mỡ động vật
có chứa nhiều axit béo không no, cơ thể lại rất cần tới axit béo không no vì rất
thuận tiện cho quá trình đồng hóa của cơ thể và ngăn ngừa được các bệnh tim
mạch.
Đối với trẻ em, tỷ lệ lipit động vật và thực vật mỗi loại chiếm 50% tổng số
lipit. Hiện nay, khuynh hướng thay thế hoàn toàn mỡ động vật bằng các dầu thực
vật là không hợp lý, vì mỡ động vật lại chứa nhiều vitamin A, D mà trong dầu
thực vật không có.
+ Cân đối về gluxit
Gluxit là thành phần cung cấp năng lượng quan trọng nhất trong khẩu
phần. Các loại gluxit bao gồm ngũ cốc, hoa quả, các loại bánh kẹo ngọt và
đường kính; các loại thức ăn này cũng cần phải cân đối. Tỷ lệ đường kính trong
khẩu phần của trẻ em không nên quá 10% tổng số năng lượng trong ngày. Các
loại quả có tỷ lệ đường sacaroza, fructoza cao dễ hấp thụ, ngoài ra gluxit còn có
nhiều vitamin và các chất khoáng.
+ Cân đối về vitamin
Vitamin tham gia vào nhiều chức phận chuyển hóa quan trọng của cơ thể.
Do đó, cần cung cấp đầy đủ các vitamin tan trong dầu như A, D, E, K và các
vitamin tan trong nước như vitamin B, C, PP...
Khẩu phần ăn nghèo vitamin sẽ không giúp cho cơ thể hấp thụ tốt các chất
dinh dưỡng sinh năng lượng. Trong khẩu phần ăn nhiều tinh bột thì nhu cầu về
vitamin B cũng cần nhiều hơn, nếu thiếu B1 sẽ ảnh hưởng tới sự hấp thụ gluxit
của cơ thể trẻ.
* UĐối với trẻ bệnh béo phì
Thay đổi dần dần chế độ ăn uống cho trẻ:
Trước tiên, việc chữa trị cho trẻ béo phì vẫn phải đảm bảo cho trẻ lớn lên
và phát triển về mọi mặt. Do đó, không phải bắt trẻ nhịn ăn hoặc ăn quá ít sẽ làm
cho trẻ mỏi mệt, luôn luôn buồn ngủ, học hành kém đi, sức đề kháng của cơ thể
giảm sút và từ đó sẽ dễ bị bệnh tật. Như vậy, nên cho trẻ ăn uống cho vừa đủ,
cần lưu ý đến một số điều sau:
+ Hạn chế các chất béo như mỡ, bơ thay mỡ động vật bằng dầu thực vật,
tuy nhiên cũng không nên dùng nhiều. Vì vậy, khi nấu nướng thức ăn nên dùng
cách luộc, hấp nhiều hơn chiên xào, các loại trái cây tươi ít ngọt (như mận, củ
sắn, thanh long, bưởi, táo ta, đu đủ, cam…) để vừa giảm cung cấp năng lượng
vừa bổ sung thêm lượng vitamin, muối khoáng vừa dễ tiêu hóa hấp thu và ngừa
táo bón, thải cholesterol và các chất độc hại ra khỏi cơ thể.
+ Hạn chế tối đa các chất ngọt như kẹo, bánh ngọt, sôcôla, không cho trẻ
ăn nhiều quà vặt, giữa các bữa ăn nếu trẻ đói có thể cho ăn trái cây.
+ Ở trường vẫn cho trẻ ăn đủ lượng protid, tăng cường rau xanh cho trẻ
hàng ngày như rau cải, bí xanh, rau dền mồng tơi…
+ Các cô giáo cho trẻ béo phì tham gia các hoạt động trong lớp như trực
nhật, xếp ghế, phơi khăn phụ cô giáo…
+ Giáo dục trẻ mọi lúc, mọi nơi cung cấp kiến thức để trẻ có ý thức tự
phòng chống béo phì bằng cách lồng ghép nội dung giáo dục vào các hoạt động,
tình huống, câu chuyện, tạo tác động tư tưởng giúp trẻ tự cảm nhận bằng sự so
sánh trực quan cụ thể.
+ Nhà trường thường xuyên tổ chức cho trẻ tham quan dã ngoại nhằm phát
triển cho trẻ về thế giới xung quanh và tăng cường rèn luyện thể lực cho trẻ, khi
đi tham quan phối hợp cho trẻ vận động làm giảm béo phì cho trẻ.
Tuy nhiên, việc áp dụng chế độ ăn cho trẻ không nên làm đột ngột mà phải
từ từ, cho trẻ quen dần.
2.5.2.5. Tăng cường quản lý vệ sinh, an toàn thực phẩm
Trẻ em là những cơ thể đang lớn và phát triển, sức đề kháng đối với bệnh
tật của trẻ còn yếu. Vì vậy, chúng ta cần nuôi dưỡng trẻ đúng để đảm bảo cho trẻ
phát triển hài hòa về sức khỏe và trí tuệ. Trong dinh dưỡng cho trẻ, chúng ta cần
chú ý đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng để trẻ phát triển tốt, ngoài ra vấn đề vệ
sinh an toàn thực phẩm trong các trường mầm non cũng đóng vai trò rất quan
trọng. Hiện nay, đây là vấn đề được các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm, bởi vì
thức ăn cung cấp các chất dinh dưỡng quý giá cho cơ thể nhưng nếu không đảm
bảo các yêu cầu vệ sinh từ khâu mua bán, chọn lọc thực phẩm, bảo quản và chế
biến, sẽ là những nguy cơ gây hại cho cơ thể đặc biệt là đối với trẻ mầm non.
Mua bán, chọn lựa và vận chuyển thực phẩm
Cần phải mua bán, chọn lựa các thực phẩm tươi ngon, có nguồn gốc rõ
ràng. Tất cả các trường mầm non được khảo sát tại quận Bình Tân đều ký hợp
đồng mua bán thực phẩm với các công ty, đảm bảo thực phẩm sạch, không bị
nhiễm khuẩn và không chứa các chất độc như thuốc trừ sâu.
Chọn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và đảm bảo vệ sinh an toàn.
+ Chọn và sử dụng các loại rau quả tươi, không bị dập nát.
+ Thịt, cá phải được qua kiểm dịch.
+ Sản phẩm là thực phẩm ăn ngay phải được bao gói kín, có nhãn
mác rõ ràng, còn thời hạn sử dụng.
+ Không mua thực phẩm chín bày bán gần cống rãnh, bụi bẩn, để
lẫn thực phẩm sống và chín, không có dao thớt dùng riêng, không có dụng
cụ che đậy thức ăn...
Xe dùng để chuyên chở thực phẩm nên cố định, không dùng để chở các
chất độc hại.
+ Xe phải được thường xuyên lau rửa.
+ Cần che đậy thức ăn trong quá trình vận chuyển.
+ Các loại thực phẩm khô cho vào dụng cụ sạch để riêng.
+ Các loại thực phẩm tươi sống phải để riêng, tốt nhất là dùng
những dụng cụ dễ cọ rửa như inox, dụng cụ có tráng men.
Bảo quản thực phẩm
Các kho chứa lương thực cần phải khô ráo, thông thoáng và thường xuyên
làm vệ sinh, tiêu diệt gián, chuột, ruồi nhặn
Các thức ăn khô không nên mua nhiều, dự trữ lâu, mà nên mua đủ dùng
trong một tuần lễ, chống hiện tượng nấm mọt; dùng giá cao cách mặt đất 15 -
20cm, cách tường 30cm.
Các thực phẩm tươi và thực phẩm khô phải để riêng.
Các thức ăn dầu mỡ phải được đậy kín và tránh tiếp xúc với không khí và
ánh sáng mặt trời gây ôxy hóa.
Chế biến thực phẩm
Các khâu trong quá trình chế biến thức ăn phải tuân theo nguyên tắc một
chiều: thức ăn mua về – rửa – sơ chế – nấu nướng – chia khẩu phần ăn – phân
phát.
Tránh để thức ăn sống tiếp xúc với thức ăn chín
+ Một số thực phẩm ăn sống như rau thơm, rau xà lách, dưa chuột,
táo và một số hoa quả khác, trước khi ăn tươi hay nấu chín cần được ngâm, rửa
kỹ dưới vòi nước chảy hoặc gọt vỏ để loại bớt tác nhân gây bệnh hay phòng
tránh ngộ độc.
+ Thức ăn chín an toàn có thể trở thành ô nhiễm thông qua việc tiếp
xúc với thức ăn sống. Sự nhiễm bẩn này có thể là trực tiếp như thịt sống dính vào
thức ăn đã nấu chín, nó cũng có thể nhiễm bẩn bằng cách khác như dùng dao
thớt để chế biến thịt sống, sau đó không rửa lại thái thịt chín, tạo điều kiện cho vi
khuẩn phát triển và các bệnh đã có trước khi nấu vẫn còn tồn tại.
+ Để tránh làm hao hụt các chất dinh dưỡng, rau phải tươi ngon,
không dập nát, thái nhỏ ngay trước khi nấu.
+ Sắp xếp các dụng cụ nhà bếp phải hợp lý, thuận tiện. Các dụng cụ
làm thức ăn không để trên mặt đất. Các dụng cụ để thức ăn sống và chín phải
riêng rẽ.
Luôn rửa tay sạch
+ Cần rửa tay kỹ trước khi chế biến thức ăn và sau mỗi lần tạm
dừng công việc.
+ Sau khi chế biến thức ăn sống như cá, thịt hay thực phẩm tươi
sống cần phải rửa tay lại trước khi bắt đầu chạm tay vào thức ăn khác.
+ Nếu tay bị trầy xước có nguy cơ bị nhiễm bẩn nên băng bó lại hay
đeo găng tay trước khi chế biến thức ăn.
Sử dụng nước sạch
+ Nên sử dụng các nguồn nước đã được xử lý thông dụng như nước
máy, nước giếng khoan, nước mưa, nước đầu nguồn...
+ Dùng nước sạch để chế biến thức ăn và nấu nước uống. Nếu có
nghi ngờ gì về nguồn nước, cần đun sôi nước trước khi dùng để nấu ăn.
+ Cần đặc biệt cẩn thận với bất kỳ loại nước nào được sử dụng để
chuẩn bị bữa ăn cho trẻ nhỏ.
Thức ăn cần nấu chín thật kỹ
+ Nhiều thực phẩm sống, nhất là thịt gà, thịt lợn không tiệt trùng
thường bị nhiễm các tác nhân gây bệnh.
+ Nấu kỹ thức ăn sẽ giết chết được các tác nhân gây bệnh nhưng
phải nấu ở nhiệt độ 100 độ C và phải chín đều hết cả phần trong của thực phẩm.
+ Thức ăn đã nấu chín cần phải ăn ngay. Nếu để nguội quá lâu, vi
khuẩn sẽ bắt đầu sinh sôi nẩy nở, càng để lâu nguy cơ gây bệnh càng lớn,
Bảo quản thức ăn đã nấu cẩn thận.
+ Thức ăn sau khi nấu chín chỉ có thể giữ không quá 3 – 4 giờ ở
nhiệt độ 60 độ C (nếu thức ăn cần ăn nóng) hoặc ở 10 độ C (nếu thức ăn cần ăn
nguội).
+ Không để thức ăn đã nấu chín với thức ăn chưa nấu trong tủ lạnh,
không nên để thức ăn còn nóng vào tủ lạnh.
+ Cần lưu nghiệm lại thức ăn để tìm nguyên nhân gây ngộ độc (nếu
có).
2.5.2.6. Nâng cao trình độ nhận thức về dinh dưỡng đối với đội ngũ cấp
dưỡng, đội ngũ GVMN, can thiệp dinh dưỡng vào các trường mầm non
* Đối với đội ngũ cấp dưỡng
CBQL cần tuyên truyền và bồi dưỡng kiến thức nâng cao chất lượng giáo
dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho đội ngũ này.
Cấp dưỡng phải biết cách xây dựng thực đơn, khẩu phần hợp lý cho bữa
ăn của trẻ béo phì.
Nhà trường cần tổ chức hội thi tay nghề mỗi năm học nhằm nâng cao tay
nghề cho đội ngũ cấp dưỡng.
CBQL nên tổ chức dự giờ, tham quan ở các trường bạn để chấn chỉnh kịp
thời những thiếu sót trong khẩu phần ăn của trẻ.
* Đối với GVMN
CBQL cần tổ chức tốt việc học tập, thảo luận quy chế của ngành và các
văn bản liên quan đến công tác chăm sóc giáo dục trẻ cho đội ngũ GVMN.
Tổ chức tốt công tác tuyên truyền cho đội ngũ giáo viên để mỗi giáo viên
là một tuyên truyền viên của trường.
Bồi dưỡng kiến thức chăm sóc giáo dục trẻ qua các chuyên đề “Giáo dục
dinh dưỡng”, “Bé tập làm nội trợ”, tham gia các buổi tập huấn do trường, phòng
giáo dục tổ chức để cập nhật kiến thức và học hỏi kinh nghiệm trong công tác
phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ.
Tổ chức phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm trong công tác chăm sóc,
nuôi dưỡng trẻ.
Ngoài ra, để có kiến thức sâu về phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ mầm
non, người GVMN cần phải có tinh thần tự học thông qua tài liệu; các kênh
thông tin đại chúng như sách báo, truyền thanh, truyền hình; tự rèn luyện, rút
kinh nghiệm trong quá trình công tác của bản thân và đồng nghiệp; học qua các
buổi hội thảo, hội nghị, tham quan...
* Can thiệp dinh dưỡng vào các trường mầm non
Bên cạnh một số các giải pháp phối hợp, liên quan như tuyên truyền, tăng
cường mạng lưới y tế cộng đồng, nâng cao kiến thức thực hành dinh dưỡng, lối
sống tại hộ gia đình... thì giải pháp can thiệp dinh dưỡng vào các trường mầm
non cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác dự phòng, kiểm soát thực trạng
bệnh béo phì của trẻ. Thực ra, giải pháp này đã được thực hiện từ các giai đoạn
trước nhưng chỉ mang tính điểm, vùng, đơn lẻ và chưa có tính hệ thống, chiến
lược. Hiện nay, để xây dựng và thực hiện được chiến lược can thiệp dự phòng
bệnh béo phì trong các trường mầm non, đặc biệt là đối với các trường ở những
thành phố lớn, đô thị trung tâm thì cần phải có nguồn kinh phí và sự phối hợp
chặt chẽ từ phía Bộ GD&ĐT.
Viện Dinh Dưỡng TPHCM cần phối hợp với các ban ngành liên quan xây
dựng một số các nội dung can thiệp dinh dưỡng về phòng chống bệnh béo phì
mang tính chiến lược để triển khai trong khối các trường mầm non.
- Xây dựng chế độ ăn bán trú hợp lý cho trẻ, đáp ứng đủ nhu cầu theo độ
tuổi để đảm bảo tình trạng dinh dưỡng lý tưởng, phòng ngừa bệnh béo phì.
- Xây dựng chế độ ăn bán trú kiểm soát béo phì cho trẻ bị bệnh béo phì.
- Xây dựng các quy định về tổ chức ăn bán trú cho trẻ khi đến trường.
- Các chế độ ăn và quy định tổ chức ăn bán trú này được Bộ Y tế và Bộ
GD&ĐT thông qua và phổ biến cho các trường thực hiện.
- Tập huấn cho Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục Quận và các
trường học, trung tâm Y tế dự phòng, trung tâm Bà mẹ trẻ em và trạm Y tế
xã/phường về công tác phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non.
- Phát động sáng tác, sưu tầm tuyển chọn thực đơn, thơ ca câu đố, truyện
tranh có nội dung giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non, nhằm bổ sung thêm các
điều kiện phương tiện và hình thức giáo dục dinh dưỡng phù hợp với cộng đồng
và thực tiễn.
2.5.2.7. Quản lý việc tuyên truyền về dinh dưỡng và phòng chống bệnh
béo phì cho phụ huynh trẻ
Pháp lệnh về bảo vệ trẻ em của Nhà nước ta khẳng định: “Mọi trẻ em sinh
ra đều phải bình đẳng và được hưởng quyền chăm sóc, giáo dục của gia đình và
cộng đồng”. Cho nên ta thấy việc tuyên truyền về dinh dưỡng được tiến hành
rộng rãi qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài truyền hình, đài phát
thanh, báo chí... Riêng tại trường mầm non, người giáo viên mầm non đóng vai
trò không nhỏ trong việc tuyên truyền trực tiếp đến các bậc cha mẹ. Trong
trường mầm non thì hoạt động tuyên truyền là nhiệm vụ rất quan trọng và cần
thiết đối với mỗi cán bộ công nhân viên trường cũng như là đối với phụ huynh.
Thông qua hoạt động tuyên truyền sẽ giúp cho mọi người nắm vững về kiến thức
dinh dưỡng và chăm sóc nuôi dưỡng trẻ để phòng, chống bệnh béo phì và những
bệnh thường gặp khác ở trẻ; đồng thời qua đó tạo được lòng tin của mỗi gia đình
trong việc chăm sóc nuôi dưỡng con cái không chỉ đơn thuần là nâng cao kiến
thức về dinh dưỡng mà còn là thay đổi thái độ hành vi trong dinh dưỡng để từ đó
góp phần chăm lo sức khỏe của cá nhân nói riêng và của tập thể nói chung. Các
hình thức tuyên truyền gồm có:
+ Phương pháp cá nhân: là sự tiếp xúc một cách thân mật, gần gũi giữa
Ban giám hiệu với phụ huynh trẻ cũng như giáo viên với phụ huynh. Sử dụng
phương pháp này thì trường mầm non và các bậc cha mẹ có thể trao đổi thoải
mái nhiều vấn đề liên quan đến sự phát triển của trẻ.
+ Phương pháp nhóm: là sự tiếp xúc trực tiếp giữa tuyên truyền viên với
một nhóm người có cùng hoàn cảnh, đặc điểm. Phương pháp này có thể dùng
ảnh hưởng của người này vận động người khác và tuyên truyền cho nhiều người
cùng lúc.
+ Tổ chức các cuộc họp: là hình thức tuyên truyền trực tiếp với nhóm
đông người tại các cuộc thảo luận, hội họp để triển khai đến mọi người những
thông tin mới nhất về dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, phòng, chống và
điều trị bệnh béo phì cho trẻ. (Ví dụ tuyên truyền cho các bà mẹ về chăm sóc sức
khỏe ban đầu cho trẻ và đặc biệt là đưa ra 10 lời khuyên nên cho trẻ bú sữa mẹ).
+ Hình thức giáo dục: dinh dưỡng và sức khỏe, giáo dục dinh dưỡng và
sức khỏe trẻ thông qua các hoạt động vui chơi, các hoạt động trong ngày, dạo
chơi ngoài trời, đi thăm vườn trường, mọi lúc mọi nơi, qua tranh ảnh, truyện
tranh, vật thật và qua hướng dẫn bé tập làm nội trợ...
+ Phối hợp với các bậc cha mẹ để giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe cho
trẻ tại gia đình.
Đến thăm tại nhà: Đối với những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt cũng như
trong quá trình phát triển có những trở ngại khác thường, giáo viên cần đến thăm
tại nhà để tìm hiểu nguyên nhân cản trở sự phát triển của trẻ.
Hòm thư cha mẹ: Mỗi trường tổ chức đặt một hòm thư ở vị trí thuận lợi
của lớp hay của trường, với mục đích thu lượm các ý kiến đóng góp, những băn
khoăn, những vướng mắc của các bậc cha mẹ về nuôi dạy con. Nhà trường thu
thập những ý kiến đó và sắp xếp thời gian trao đổi, giải thích với các bậc cha mẹ.
Tham quan: nhà trường tổ chức cho phụ huynh tham quan trường lớp,
nhóm bếp ăn, các hoạt động vui chơi, sinh hoạt của trẻ và giới thiệu cho phụ
huynh biết mục đích yêu cầu của việc chăm sóc trẻ. Qua đó, cha mẹ có thể rút ra
kinh nghiệm cho bản thân và vận dụng cho gia đình mình đồng thời có sự kết
hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc giáo dục trẻ tốt hơn.
+ Kết hợp với các ban ngành, đoàn thể, đặc biệt là các cơ quan báo đài để
tuyên truyền phòng, chống bệnh béo phì ở trẻ mầm non cho tất cả mọi người đều
biết.
2.5.2.8. Đổi mới công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả thực
hiện
Kiểm tra, đánh giá là khâu đặc biệt quan trọng trong quá trình QLGD, là
những hoạt động truyền thống mang tính chất pháp chế được quy định trong các
văn bản pháp quy của Nhà nước và Bộ GD&ĐT.
Việc tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện là
một việc làm rất cần thiết không thể thiếu được trong hoạt động QLGD. Trong
kiểm tra, đánh giá cần đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Nội dung kiểm tra, đánh giá phải thiết thực; hình thức gọn nhẹ, không
gây căng thẳng cho đối tượng được kiểm tra, đánh giá.
+ Có quy định rõ ràng về hồ sơ, sổ sách.
+ Công tác này phải đảm bảo tính chính xác, thường xuyên, công khai và
hiệu quả.
Nói chung, đổi mới công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả thực
hiện là rất cần thiết, bởi lẽ nó có tác dụng giúp cho CBQL nhà trường thu thập
thông tin về trẻ bệnh béo phì, kịp thời xử lý và có biện pháp điều chỉnh thích
hợp. Bên cạnh đó, việc đổi mới công tác này giúp kịp thời động viên đối tượng
được kiểm tra, thúc đẩy việc thực hiện kế hoạch đã định và khắc phục những tồn
tại.
2.6. Trưng cầu ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề
xuất
Qua khảo sát thực tiễn ở một số trường mầm non trên địa bàn quận Bình
Tân, trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo
phì cho trẻ ở các trường mầm non tại quận Bình Tân, tôi đã đưa ra được 8 giải
pháp đề xuất và tiến hành kiểm chứng tính cần thiết và tính khả thi của các giải
pháp. Kết quả được trình bày ở bảng 2.19:
Bảng 2.19: Tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất
TT Biện pháp đề xuất Tính cần thiết Tính khả thi
2.85 2.86 1 Sử dụng biểu đồ tăng trưởng trong việc theo dõi sức khỏe của trẻ.
2 Khám sức khỏe, tẩy giun định kỳ cho trẻ. 2.79 2.82
2.87 2.60 3
2.74 2.73 4 Tăng cường tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ béo phì, trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho các trò chơi vận động. Quản lý việc xây dựng khẩu phần ăn hàng ngày cho trẻ.
5 Tăng cường quản lý vệ sinh, an toàn thực phẩm. 2.75 2.72
2.80 2.88 6
2.90 2.59 7
2.81 2.83 8 Nâng cao trình độ nhận thức về dinh dưỡng đối với đội ngũ GVMN, đội ngũ cấp dưỡng, can thiệp dinh dưỡng vào các trường mầm non. Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc tuyên truyền kiến thức về dinh dưỡng và phòng chống bệnh béo phì cho trẻ đến phụ huynh. Đổi mới công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện.
TRUNG BÌNH 2.81 2.75
Kết quả của bảng 2.19 cho thấy, cả 8 biện pháp được đề xuất đều được cả
CBQL và GVMN đánh giá là rất cần thiết và có tính khả thi cao, với mức đánh
giá đều trên 2.50. Trong đó, hai biện pháp tăng cường tổ chức các trò chơi vận
động cho trẻ béo phì, trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho các trò chơi vận động
và quản lý việc tuyên truyền về dinh dưỡng và phòng chống bệnh béo phì cho trẻ
đến phụ huynh được đánh giá rất cao, rất cần thiết. Tuy nhiên, ở tính khả thi thì
hai biện pháp này không được đánh giá cao so với những biện pháp còn lại. Mặc
dù, CBQL và GVMN đều nhận thức được lợi ích của việc tổ chức cho trẻ béo
phì vận động, tuy nhiên các trường được khảo sát đều có diện tích sân chơi cho
trẻ rất hạn chế, lớp học lại rất đông học sinh, nên gặp rất nhiều khó khăn trong
việc tổ chức vận động cho trẻ béo phì một cách thoải mái. Vào giờ thể dục sáng,
trẻ béo phì được các GVMN chú ý cho tập thêm động tác và thêm giời gian so
với các trẻ bình thường. Trong giờ hoạt động vui chơi, trẻ béo phì cũng được cô
giáo cho tăng cường vận động. Tuy nhiên, do điều kiện sân tập hạn chế, trẻ đông,
số lượng dụng cụ được trang bị chưa thật phong phú nên kết quả đạt được chưa
cao. Do đó, để biện pháp này thật sự có hiệu quả, cần được sự hỗ trợ về tinh thần
cũng như về vật chất của các ban ngành đoàn thể, các lực lượng xã hội. Bên cạnh
đó, công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình chưa thật chặt chẽ. Ở trường
mầm non, giáo viên cho trẻ ăn uống điều độ, đến khi về nhà, một số phụ huynh
còn tâm lý thích con mình mập mạp, tròn trịa, tăng cân thường xuyên hoặc chiều
theo ý thích của trẻ nên đã không kiểm soát việc ăn uống của trẻ. Điều này gây
khó khăn rất lớn cho GVMN trong việc phòng, chống béo phì cho trẻ. Vì vậy, để
biện pháp này khả thi, cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa nhà trường và
gia đình trẻ. Trong đó, việc tuyên truyền kiến thức về dinh dưỡng và phòng
chống bệnh béo phì cho trẻ đến phụ huynh là rất quan trọng và cần thiết.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non là nhiệm vụ đòi hỏi rất
nhiều sự tận tâm, nhiệt tình, yêu thương trẻ của người giáo viên mầm non. Muốn
làm tốt nhiệm vụ này, các cô mầm non phải hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý trẻ,
phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ theo khoa học. Nhà trường luôn tạo điều
kiện để trẻ thích nghi với trường lớp, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa phụ
huynh – giáo viên và luôn có những trao đổi về sinh hoạt hàng ngày của trẻ: giờ
ăn, giờ ngủ, học tập, vui chơi… Ngoài ra, công tác tuyên truyền là rất cần thiết
để mọi người có thể tham gia vào công tác phòng, chống bệnh béo phì cho trẻ
mầm non một cách tốt nhất.
Kết quả khảo sát cho thấy, thực trạng trẻ bệnh béo phì là do rất nhiều
nguyên nhân tác động: do khẩu phần ăn và thói quen ăn uống, do hoạt động thể
lực kém, do di truyền… Trong đó, nguyên nhân chính dẫn đến bệnh béo phì cho
trẻ là do chế độ ăn của trẻ có quá nhiều năng lượng, dầu mỡ, ít rau xanh trong
khi trẻ lại quá ít hoạt động thể lực. Trẻ bệnh béo phì làm tăng các nguy cơ mắc
các bệnh tiểu đường, cao huyết áp, bệnh lý mạch vành, sỏi thận, sỏi mật, rối loạn
chuyển hoá lipid,…
Ngoài ra, kết quả khảo sát thực trạng cũng cho thấy công tác quản lý việc
phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non chưa đạt được kết quả
khả quan là do chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng: nhà trường, gia
đình và xã hội. Công tác tuyên truyền kiến thức nuôi dạy con khoa học đến phụ
huynh trẻ chưa được sự quan tâm, đầu tư đúng mức. Do đó, một số phụ huynh
chưa thật sự hợp tác cùng nhà trường, điều này gây khó khăn rất lớn trong việc
thực hiện công tác phòng chống bệnh béo phì cho trẻ tại các trường mầm non.
Tóm lại, việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ là một việc rất cần thiết không chỉ của
riêng người giáo viên mầm non, của riêng gia đình trẻ mà còn là sự quan tâm của
toàn xã hội, giúp trẻ có được tất cả các điều kiện tốt nhất để phát triển cả tinh
thần lẫn thể chất góp phần xây dựng con người mới Việt Nam.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trẻ em sinh ra cần được nuôi, dạy chu đáo. Mối quan hệ giữa nuôi dưỡng
và dạy dỗ luôn kết hợp chặt chẽ với nhau: nuôi để trẻ lớn lên, khỏe mạnh về thể
chất; dạy để trẻ thành người. Trong đó, việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ là hoạt
động trung tâm, là nhiệm vụ chủ yếu của trường mầm non hiện nay.
Với nhận thức đó, đề tài đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý luận và
thực tiễn, nhằm đề xuất những giải pháp có tính khả thi cao trong công tác phòng
chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non.
Việc nghiên cứu phần lý luận đầy đủ và có hệ thống đã giúp tác giả có cơ
sở khoa học để phân tích thực trạng và xây dựng các biện pháp quản lý công tác
phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở một số trường mầm non trên địa bàn Quận
Bình Tân, TPHCM.
+ Về lý luận: luận văn đã đề cập đến những vấn đề lý luận về quản lý,
QLGD, quản lý nhà trường, QLGD mầm non, bệnh béo phì. Đồng thời, luận văn
tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh béo phì ở trẻ; nguyên nhân,
cách phát hiện, tác hại của bệnh béo phì; quản lý việc phòng chống bệnh béo phì
cho trẻ ở các trường mầm non.
Việc nghiên cứu phần lý luận đã giúp cho tác giả có cơ sở khoa học để
nghiên cứu thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ
mầm non, từ đó đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm thực hiện tốt công
tác này ở các trường mầm non trên địa bàn Quận Bình Tân.
+ Về thực tiễn: luận văn đã khảo sát thực trạng công tác quản lý việc
phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân;
luận văn đã khảo sát và trưng cầu ý kiến đánh giá kết quả thực hiện những biện
pháp quản lý công tác phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non mà các
trường đang thực hiện.
Qua nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo
phì cho trẻ ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM, tác giả thấy rằng
việc quản lý công tác này đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, vẫn
còn một số tồn tại như sau:
+ Công tác xây dựng kế hoạch: các trường chưa có sự phối hợp tốt giữa
CBQL và GVMN trong việc xây dựng và phổ biến kế hoạch mua sắm trang thiết
bị phục vụ cho các trò chơi vận động cho trẻ tại trường, xây dựng nội quy bảo
quản, sử dụng với từng loại trang thiết bị cụ thể.
+ Công tác tổ chức thực hiện: CBQL các trường chưa thực hiện có hiệu
quả công tác phân công GVMN tổ chức trò chơi vận động hàng ngày cho trẻ.
+ Công tác chỉ đạo thực hiện: công tác tuyên truyền đến phụ huynh kiến
thức phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non tại trường qua các giờ đón và
trả trẻ chưa được CBQL và GVMN quan tâm thực hiện tốt.
+ Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện: chưa được thực hiện
thường xuyên và có hiệu quả.
Những tồn tại nêu trên do điều kiện CSVC của các trường chưa được đầu
tư đúng mức. Các trang thiết bị, đồ chơi phục vụ cho công tác phòng chống bệnh
béo phì cho trẻ chưa thật phong phú, hấp dẫn trẻ hứng thú tham gia. Bên cạnh
đó, do tâm lý của phụ huynh, thích con tròn trịa, mập mạp nên không quản lý
việc ăn uống của trẻ. Ngoài ra, công tác quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia
đình và xã hội chưa thật sự chặt chẽ. Do đó, việc thực hiện công tác phòng chống
bệnh béo phì cho trẻ mầm non chưa đạt được kết quả khả quan.
Từ việc thấy rõ những tồn tại nêu trên, tác giả đã đề xuất những giải pháp
hợp lý, khả thi hơn nhằm khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả công
tác phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non Quận Bình Tân,
TPHCM. Nội dung những giải pháp đề xuất cụ thể như sau:
+ Sử dụng biểu đồ tăng trưởng trong việc theo dõi sức khỏe của trẻ.
+ Khám sức khỏe, tẩy giun định kỳ cho trẻ.
+ Tăng cường tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ béo phì, trang bị cơ sở
vật chất phục vụ cho các trò chơi vận động.
+ Quản lý việc xây dựng khẩu phần ăn hàng ngày cho trẻ.
+ Tăng cường quản lý vệ sinh, an toàn thực phẩm.
+ Nâng cao trình độ nhận thức về dinh dưỡng đối với đội ngũ GVMN, đội
ngũ cấp dưỡng, can thiệp dinh dưỡng vào các trường mầm non.
+ Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc tuyên
truyền kiến thức về dinh dưỡng và phòng chống bệnh béo phì cho trẻ đến phụ
huynh.
+ Đổi mới công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện.
Qua thực tế khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề
xuất nêu trên, đa số CBQL và GVMN đều đánh giá các giải pháp này rất cần
thiết và mang tính khả thi cao khi áp dụng vào thực tiễn của đơn vị.
2. Kiến nghị
Đối với Đảng, Nhà nước và các Bộ, ngành liên quan
Trong tình hình Việt Nam hiện nay, cần phải gấp rút có những chương
trình và chiến lược dinh dưỡng quốc gia để đương đầu với những thách thức
đang gia tăng của bệnh béo phì.
Đầu tiên, cần có các chương trình giáo dục dinh dưỡng sức khỏe, khuyến
khích ăn uống hợp lý và tăng cường các hoạt động thể chất, đồng thời giúp thay
đổi những nhận thức sai lầm về ăn uống. Mạng lưới y tế cơ sở và các phương
tiện truyền thông đóng một vai trò quan trọng trong các chương trình giáo dục
sức khỏe. Nhiều thói quen ăn uống cũng như lối sống được hình thành từ khi còn
nhỏ, do đó mà việc thay đổi các thói quen này là rất khó.
Nỗ lực cải thiện sẽ hiệu quả hơn nếu được bắt đầu ở trẻ tuổi đến trường,
giúp trẻ hình thành thói quen ăn uống và hoạt động khỏe mạnh lâu dài. Tuy
nhiên, hệ thống giáo dục của chúng ta hiện nay chú trọng quá nhiều vào việc thi
cử, bằng cấp hơn là hoạt động thể chất. Vì vậy, cần có những cải cách trong các
chương trình giáo dục giúp các em có một sức khỏe tốt và một kiến thức toàn
diện.
Thêm vào đó, Nhà nước cần có những quy định và chính sách trong sản
xuất và kinh doanh thực phẩm giúp người tiêu dùng được sử dụng các sản phẩm
có chất lượng dinh dưỡng tốt đảm bảo sức khỏe. Điều đáng khích lệ là thông qua
số liệu của các cuộc điều tra dinh dưỡng trong toàn quốc những năm vừa qua về
tỉ lệ bệnh béo phì gia tăng đã thu hút được sự quan tâm của các ngành, các cấp
liên quan. Chính phủ và các địa phương cần có những chính sách và kế hoạch cụ
thể để hỗ trợ hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tại các tuyến cơ sở như trạm y
tế phường - xã, trung tâm y tế, bệnh viện chuyên khoa nhằm ngăn ngừa và kiểm
soát bệnh béo phì.
Đối với Sở GD&ĐT và các Phòng GD&ĐT
Các cấp lãnh đạo cần tăng cường đầu tư CSVC, trang thiết bị, tài liệu phục
vụ cho công tác phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non.
Thường xuyên tổ chức những buổi hội thảo, những chuyên đề về công tác
phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non để trang bị thêm kiến thức cho
CBQL, GVMN, đội ngũ cấp dưỡng và phụ huynh học sinh.
Đối với ngành y tế
Hỗ trợ phần tư vấn cho phu huynh trẻ, thường xuyên phát những tờ bướm,
tờ rơi tuyên truyền về bệnh béo phì và cách phòng, chống cho phụ huynh hiểu để
có sự phối hợp tốt cùng nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
Đối với Ban Giám hiệu trường mầm non
Tham mưu với các cấp chính quyền hỗ trợ về trang thiết bị, cơ sở vật chất,
kinh phí. Cho phép các trường vận động phụ huynh hỗ trợ kinh phí để các trường
có điều kiện thực hiện tốt công tác phòng chống bệnh béo phì cho trẻ.
Mở rộng các hình thức tuyên truyền giáo dục tới các bậc phụ huynh những
kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và chăm sóc – nuôi dưỡng trẻ mầm non. Nhà
trường thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, thảo luận về việc phòng, chống
bệnh béo phì cho trẻ, mời phụ huynh tham gia với sự giúp đỡ, tư vấn của các bác
sĩ dinh dưỡng.
Phối hợp chặt chẽ hơn nữa với phụ huynh các trẻ bệnh béo phì để có biện
pháp chăm sóc hợp lý, khoa học hơn giúp trẻ cải thiện tình trạng sức khỏe.
Khuyến khích và đầu tư cho giáo viên mầm non đi học bồi dưỡng, nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Mở nhiều cuộc thi trò chơi vận động để trẻ có điều kiện tham gia và hoạt
động nhiều hơn. Đồng thời, nhà trường nên giảm số trẻ ở mỗi lớp để giáo viên
chăm sóc trẻ được kỹ và chu đáo hơn.
Nhà trường nên giới thiệu một số thực đơn đến phụ huynh để họ trực tiếp
chế biến cho trẻ béo phì tại gia đình.
Đối với giáo viên mầm non
Nâng cao tinh thần tự học, tự bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, vận dụng
sáng tạo, linh hoạt các biện pháp chăm sóc – nuôi dưỡng trẻ đối với từng trường
hợp cụ thể.
Lựa chọn nội dung, kiến thức chăm sóc nuôi dưỡng trẻ hợp lý ở gia đình
để phổ biến cho các bậc cha mẹ có trẻ bệnh béo phì. Nhắc nhở phụ huynh hạn
chế cho trẻ ăn các loại bánh kem, bánh rán, bánh nướng, bánh ngọt và các loại
thức ăn sẵn, các món ăn chiên xào có nhiều dầu mỡ, ăn nhiều quà vặt, thức ăn
nhanh...
Tổ chức nhiều hình thức trò chơi vận động phong phú, đa dạng để kích
thích trẻ tham gia vận động cùng cô và các bạn.
Đối với gia đình trẻ
Gia đình cần thường xuyên trao đổi với giáo viên để hiểu rõ nếp ăn, giấc
ngủ của trẻ, chăm sóc cho trẻ ăn đúng bữa, đủ chất dinh dưỡng, đủ năng lượng.
Phụ huynh thường xuyên theo dõi tăng trưởng của trẻ ở mọi lứa tuổi qua
chỉ số cân nặng, chiều cao. Như vậy, cha mẹ sẽ phát hiện sớm trẻ bị bệnh béo phì
để xử trí kịp thời.
Vào buổi tối, nên cho trẻ ngủ đúng giờ, đủ giấc. Gia đình nên nhắc nhở trẻ
uống nước đầy đủ, không nên dùng nước ngọt có ga thay cho nước uống.
Không cho trẻ ăn vặt, ăn nhiều bữa, không ép trẻ ăn cố, ăn thêm. Dần dần
giảm bớt khẩu phần ăn của trẻ: từ 2 bát cơm đầy giảm xuống còn lưng bát, thêm
vào bữa ăn của trẻ nhiều rau xanh và trái cây.
Trẻ cũng có thể giúp mẹ làm việc nhà mà lại giảm cân. Tùy theo độ tuổi
mà mẹ phân công cho bé: quét nhà, lặt rau, tưới cây,...
Đối với trẻ, dường như biện pháp tốt nhất để khuyến khích trẻ là việc noi
gương và thi đua. Cha mẹ có thể cùng tập luyện với trẻ để giúp bé tham gia vào
các hoạt động thể thao siêng năng và hiệu quả hơn. Cho bé luyện tập theo một
thời khóa biểu nhất định mỗi ngày hoặc mỗi tuần để tạo nên một thói quen, qua
một thời gian nếu không có sự hướng dẫn hay nhắc nhở của cha mẹ thì bé vẫn có
thể tự động tập luyện. Cuối cùng, hãy xem đây là một niềm vui thích và tạo ra
nhiều niềm vui, cha mẹ đừng tạo cho bé cảm giác giờ hoạt động thể dục là một
buổi học tập bài bảng và căng thẳng.
Bất cứ điều gì cũng nên vừa phải và điều độ. Cha mẹ nên khuyến khích
các bé chơi đùa và vận động phù hợp với từng lứa tuổi. Tất cả những em bé từ 3
– 5 tuổi nên tham gia vận động ngoài trời ít nhất là một tiếng rưỡi cho mỗi tuần.
Hai tiếng mỗi tuần là thời gian thích hợp cho các em bé chuẩn bị vào lớp một.
Những trẻ em lớn hơn nên tập thể dục hơn hai tiếng mỗi tuần và tham gia nhiều
hoạt động ngoài trời.
Bên cạnh đó, cha mẹ nên cho trẻ chơi và tập trong những điều kiện an toàn
như: sân chơi không quá cứng và gập ghềnh, tốt nhất là nên chọn sân cỏ; không
để trẻ vui đùa dưới trời nắng gắt từ 11 giờ trưa đến 3 giờ chiều; trong trường hợp
trẻ bị té trầy xước, cần có những biện pháp sơ cứu thích hợp và tiệt trùng để
tránh viêm nhiễm. Trong thời gian trẻ mệt, không nên gượng ép trẻ mà hãy đợi
cho đến khi sức khỏe của trẻ hồi phục hoàn toàn. Đối với những trẻ có bệnh mãn
tính như bệnh hen suyễn, tim bẩm sinh… thì cha mẹ phải liên hệ để được sự tư
vấn của bác sĩ chuyên khoa trước khi quyết định cho trẻ tham gia chơi một môn
thể thao nào đó.
Điều quan trọng nhất, bố mẹ phải làm gương trong mọi hoạt động: thực
hiện chế độ ăn uống, tập thể dục, thói quen sinh hoạt... để trẻ học tập theo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Quốc Bảo, Những vấn đề nhà nước và Quản lý giáo dục, Trường CBQL
GD&ĐT TW1, Hà Nội, 1997.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ II 2005 – 2007, Hà
Nội, 2007.
3. Bộ Giáo dục và đào tạo, Dinh dưỡng trẻ em, NXB Giáo dục.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Điều lệ trường mầm non.
2T6. Tạ Văn Bình, Bệnh béo phì, NXB Y học, 2004.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Luật Bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em.
7. Nguyễn Thị Châu, Quản lý GDMN, Trường CĐSP TW1, Hà Nội, 1994.
2T9. 2TNguyễn Thị Doan, Các học thuyết quản lý, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
8. Nguyễn Thị Liên Diệp, Quản trị học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993.
1996.
2T11. Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề giáo dục và kế hoạch giáo dục, NXB Giáo
10. 2TVũ Dũng, Tâm lí học quản lý , NXB Đại học Sư phạm, 2006.
dục, Hà Nội, 1986.
12. Harol, Những vấn đề cốt yếu của quản lý, NXB KHKT, 1994.
13. Lê Minh Hà, Nguyễn Công Khẩn, Dinh dưỡng và sự phát triển trẻ thơ, Vụ
Giáo dục mầm non.
14. Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo, Quản lý giáo dục, NXB
ĐHSP.
15. 2THọc viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tâm lí học xã hội trong hoạt động
lãnh đạo, quản lí, NXB Lí luận chính trị, 2004.
16. Hà Thế Ngữ – Đặng Vũ Hoạt, Giáo dục học, tập 2, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1988.
17. Hà Sĩ Hồ, Những bài giảng về quản lý trường học, tập 1, NXB Thống Kê,
1994.
18. Trần Thị Hương, Giáo dục học đại cương, Đại học Sư Phạm TPHCM, 2009.
19. Nguyễn Văn Lê, Công tác quản lý trường học, Trường Cán bộ quản lý giáo
dục, TPHCM, 1983.
20. Hồ Văn Liên, Bài giảng tổ chức quản lý giáo dục và trường học, Đại học Sư
Phạm TPHCM, 2006.
21. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Cơ sở khoa học về quản lý giáo
dục, Trường CBQL GD&ĐT TW1, Hà Nội, 1997.
22. Trần Kiểm, Quản lý giáo dục và Quản lý trường học, Viện Khoa học – Giáo
dục, Hà Nội, 1997.
23. Phạm Thị Thu Nhuận, Bệnh học trẻ em, Trường Cao đẳng Sư Phạm Mẫu
giáo TW3.
24. Ngô Đình Qua, Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Đại học Sư
Phạm TPHCM, 2005.
25. Nguyễn Ngọc Quang, Nhà sư phạm - người góp phần đổi mới lý luận dạy
học, NXB ĐHQG, 1998.
26. Nguyễn Gia Quý, Bản chất của hoạt động quản lý, quản lý giáo dục, 1996.
27. Nguyễn Gia Quý, Lý luận quản lý giáo dục và quản lý nhà trường, 2000.
28. Sở Y tế TPHCM, Hội nghị khoa học thừa cân – béo phì, mối nguy cơ của
các bệnh thời đại, 2007.
29. Đào Thị Minh Tâm, Giáo trình dinh dưỡng trẻ em, Đại học Sư Phạm
TPHCM, 2003.
30. Nguyễn Kim Thanh, Giáo trình dinh dưỡng trẻ em, Trường Cao đẳng Sư
Phạm Mẫu giáo TW3, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
31. Nguyễn Tố Mai – Nguyễn Thị Hồng Thu, Dinh dưỡng trẻ em, NXB Giáo
dục, 1998.
32. Nguyễn Ánh Tuyết, Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, Hà Nội, 2003.
33. Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Hoàng Yến, Một số điều cần biết về sự phát
triển trẻ thơ, NXB Sự Thật, 2002.
34. Đinh Văn Vang, Một số vấn đề quản lý trường Mầm non, ĐHQGHN, 1996.
35. Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Chiến lược phát triển Giáo dục Mầm
non từ nay đến năm 2020, Hà Nội, 1997.
PHỤ LỤC
1. Phiếu trưng cầu ý kiến (Dành cho nhà quản lý).
2. Phiếu trưng cầu ý kiến (Dành cho GVMN).
3. Phiếu trưng cầu ý kiến.
4. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em lứa tuổi mầm non bằng chỉ số cân
nặng theo chiều cao (Theo quần thể tham khảo NCHS).
5. Một số thực đơn dành cho trẻ mầm non.
6. Một số hình ảnh về công tác phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non.
Trẻ tham gia hoạt động ngoài trời cùng các bạn.
Trẻ tham gia vận động theo nhạc.
Trẻ tham gia trò chơi vận động cùng cô.
Trẻ tham gia hoạt động ngoài trời cùng cô và các bạn.
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
(Dành cho nhà quản lý)
Kính gửi quý cô,
Nhằm thu thập thông tin để nghiên cứu đề tài: “Thực trạng công tác quản lý việc
phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở trường mầm non tại quận Bình Tân TPHCM”, chúng tôi xin kính gửi đến quý cô phiếu trưng cầu ý kiến này và xin quý cô vui lòng trả lời đầy đủ các phần của phiếu bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống. Xin chân thành cảm ơn cô.
Trước khi trả lời xin cô vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân để tiện nghiên cứu:
Hiệu trưởng
Phó hiệu trưởng CĐSP
A. UTHÔNG TIN CÁ NHÂNU: - Trường cô đang công tác: ................................................................................................. - Chức vụ hiện nay: - Trình độ chuyên môn: ĐHSP - Số năm công tác trong ngành giáo dục: .......................................... năm - Số năm làm công tác quản lý: .......................................................... năm B. UNỘI DUNGU: Nội dung phiếu trưng cầu ý kiến gồm có 4 phần. Ở mỗi phần chúng tôi nêu các biện pháp quản lý để nhờ quý cô đánh giá kết quả thực hiện những biện pháp quản lý đó của hiệu trưởng trường nơi cô đang công tác. Phần I: CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HÓA Các mức: Tốt, Khá, Trung bình, Chưa đạt được hiểu như sau:
- Hiệu trưởng phổ biến kế hoạch đến tất cả mọi đối tượng: Thực hiện tốt - Hiệu trưởng chỉ phổ biến cho giáo viên: Khá - Hiệu trưởng chỉ dán lên bảng tuyên truyền của trường: Trung bình - Hiệu trưởng đề ra kế hoạch nhưng không phổ biến: Chưa đạt
Kết quả thực hiện
Các biện pháp
Thứ Tự
Tốt Khá
Trung bình
Chưa đạt
1.1
Hiệu trưởng xây dựng và phổ biến kế hoạch xác định số lượng trẻ béo phì ở mỗi lớp cho giáo viên phụ trách lớp.
1.2
1.3
Hiệu trưởng xây dựng và phổ biến kế hoạch bồi dưỡng kiến thức phòng chống bệnh béo phì đối với trẻ mầm non cho giáo viên thông qua các buổi họp hội đồng, họp chuyên môn, các buổi học bồi dưỡng… Hiệu trưởng xây dựng và phổ biến kế hoạch tuyên truyền cho phụ huynh kiến thức phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non.
1.4
Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch mua sắm trang thiết bị phục vụ cho các trò chơi vận động cho trẻ tại trường, xây dựng nội quy bảo quản, sử dụng với từng loại trang thiết bị cụ thể.
Kết quả thực hiện
Các biện pháp
Thứ Tự
Tốt Khá Trung
Chưa
bình
đạt
1.5
1.6
1.7
Hiệu trưởng lên kế hoạch xây dựng chế độ dinh dưỡng phù hợp cho trẻ tại trường. Hiệu trưởng xây dựng và phổ biến kế hoạch khám sức khỏe định kỳ hàng tháng cho trẻ béo phì. Hiệu trưởng xây dựng lịch tổ chức trò chơi vận động hàng ngày cho trẻ béo phì.
Phần II: CÔNG TÁC TỔ CHỨC Các mức: Tốt, Khá, Trung bình, Chưa đạt được hiểu như sau:
- Hiệu trưởng phân công cụ thể, rõ ràng, phù hợp năng lực của người được giao: Thực
hiện tốt.
- Hiệu trưởng phân công cụ thể, rõ ràng: Khá - Hiệu trưởng chỉ phân công nhưng không giải thích: Trung bình - Hiệu trưởng phân công không phù hợp: Chưa đạt
Kết quả thực hiện
Các biện pháp
Thứ Tự
Tốt Khá
Trung bình
Chưa đạt
2.1
Hiệu trưởng phân công cho từng giáo viên ở mỗi lớp dựa vào các tiêu chí để xác định số lượng trẻ béo phì ở mỗi lớp.
2.2
2.3
Hiệu trưởng phân công giáo viên đi học các lớp bồi dưỡng kiến thức do sở giáo dục hoặc phòng giáo dục quận tổ chức và sưu tầm các tài liệu, tranh ảnh về cách phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non và phổ biến cho toàn trường. Hiệu trưởng phân công hiệu phó bán trú phổ biến cho giáo viên những kiến thức cần thiết về bệnh béo phì để tuyên truyền đến phụ huynh vào giờ đón hoặc trả trẻ.
2.4
Hiệu trưởng phân công hiệu phó bán trú sắp xếp mua sắm những trang thiết bị phục vụ cho các trò chơi vận động cho trẻ tại trường, quy định rõ trách nhiệm của từng người với tài sản mà họ phụ trách.
2.5
Hiệu trưởng phân công hiệu phó bán trú xây dựng chế độ dinh dưỡng hàng ngày phù hợp cho trẻ béo phì tại trường như tỉ lệ tinh bột, đường, béo...
2.6
Hiệu trưởng phân công hiệu phó bán trú phối hợp cùng y tế tại địa phương khám sức khỏe định kỳ cho trẻ hàng tháng, hàng quý trong năm học.
2.7
Hiệu trưởng phân công giáo viên xây dựng lịch tổ chức trò chơi vận động hàng ngày cho trẻ.
Phần III: CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO Các mức: Tốt, Khá, Trung bình, Chưa đạt được hiểu như sau:
- Hiệu trưởng chỉ đạo cụ thể, rõ ràng, phù hợp với trình độ năng lực của cấp dưới:
Thực hiện tốt.
- Hiệu trưởng chỉ đạo cụ thể, rõ ràng: Khá - Hiệu trưởng chỉ đạo nhưng không giải thích: Trung bình - Hiệu trưởng chỉ đạo không phù hợp: Chưa đạt
Kết quả thực hiện
Các biện pháp
Thứ Tự
Tốt
Khá
Trung bình
Chưa đạt
3.1
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho giáo viên thực hiện kế hoạch xác định số lượng trẻ béo phì ở mỗi lớp trong thời gian xác định và nộp báo cáo kết quả.
3.2
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho giáo viên thực hiện kế hoạch bồi dưỡng kiến thức phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non thông qua các tài liệu, tranh ảnh sưu tầm từ sách, báo...
3.3
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho hiệu phó bán trú theo dõi và giám sát giáo viên trong việc tuyên truyền đến phụ huynh kiến thức phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non tại trường qua các giờ đón và trả trẻ.
3.4
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho hiệu phó bán trú thường xuyên nắm vững tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho các trò chơi vận động để bổ sung khi cần thiết.
3.5
Hiệu trưởng chỉ đạo hiệu phó bán trú xây dựng thực đơn hàng ngày phù hợp với trẻ béo phì nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng.
3.6
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho hiệu phó phối hợp cùng y tế tại địa phương đến khám sức khỏe định kỳ cho trẻ béo phì hàng tháng hoặc hàng quý.
3.7
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho giáo viên xây dựng lịch tổ chức trò chơi vận động cho trẻ béo phì hàng ngày.
Phần IV: CÔNG TÁC KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ Các mức: Tốt, Khá, Trung bình, Chưa đạt được hiểu như sau:
- Hiệu trưởng có đọc báo cáo của giáo viên và có đối chiếu thực tế tất cả các lớp: Thực
- Hiệu trưởng chỉ đọc báo cáo của giáo viên và có đối chiếu thực tế bằng cách quan sát
- Hiệu trưởng chỉ đọc báo cáo của giáo viên: Trung bình. - Hiệu trưởng không đọc báo cáo và không quan sát thực tế ở các lớp: Chưa đạt.
hiện tốt. ở một vài lớp: Khá
Kết quả thực hiện
Các biện pháp
Thứ Tự
Tốt Khá
Trung bình
Chưa đạt
4.1
Hiệu trưởng kiểm tra việc thực hiện kế hoạch xác định số lượng trẻ béo phì ở mỗi lớp sau thời gian qui định bằng cách đọc báo cáo của giáo viên và quan sát thực tế.
4.2
4.3
4.4
Hiệu trưởng kiểm tra việc thực hiện bồi dưỡng kiến thức phòng chống bệnh béo phì cho trẻ của giáo viên thông qua tổ chức các cuộc thi đố vui hoặc qua việc sưu tầm các tài liệu, tranh ảnh qua đó đánh giá kết quả đạt được. Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá công tác tuyên truyền của giáo viên với phụ huynh trong việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ thông qua các phiếu thăm dò hoặc các buổi tọa đàm, trò chuyện.... Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá tình hình mua sắm trang thiết bị vào 1 thời điểm nhất định trong năm học, tiến hành kịp thời những yêu cầu bổ sung, sửa chữa hoặc thay thế những thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết.
4.5
Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá việc xây dựng thực đơn hàng ngày cho trẻ béo phì của hiệu phó bán trú thông qua việc quan sát trẻ ăn, trò chuyện cùng trẻ hoặc nếm thử thức ăn của trẻ.
4.6
Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá việc khám sức khỏe định kỳ cho trẻ thông qua báo cáo của giáo viên và quan sát thực tế tại mỗi lớp.
4.7
Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá việc tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ béo phì của giáo viên thông qua quan sát thực tế hoạt động vui chơi của trẻ hàng ngày và báo cáo của giáo viên.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Quí thầy cô.
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN (Dành cho giáo viên mầm non)
Kính gửi quý cô,
Nhằm thu thập thông tin để nghiên cứu đề tài: “Thực trạng công tác quản lý việc
phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở trường mầm non tại quận Bình Tân TPHCM”, chúng tôi xin kính gửi đến quý cô phiếu trưng cầu ý kiến này và xin quý cô vui lòng trả lời đầy đủ các phần của phiếu bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống. Xin chân thành cảm ơn cô.
Trước khi trả lời xin cô vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân để tiện nghiên cứu:
THSP
Tổ trưởng
ĐHSP
CĐSP Giáo viên
A. UTHÔNG TIN CÁ NHÂNU: - Trường cô đang công tác: ................................................................................................. - Số năm công tác trong ngành giáo dục: .......................................... năm - Trình độ chuyên môn: - Chức vụ: B. UNỘI DUNGU: Nội dung phiếu trưng cầu ý kiến gồm có 4 phần. Ở mỗi phần chúng tôi nêu các biện pháp quản lý để nhờ quý cô đánh giá kết quả thực hiện những biện pháp quản lý đó của hiệu trưởng trường nơi cô đang công tác. Phần I: CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HÓA Các mức: Tốt, Khá, Trung bình, Chưa đạt được hiểu như sau:
- Hiệu trưởng phổ biến kế hoạch đến tất cả mọi đối tượng: Thực hiện tốt - Hiệu trưởng chỉ phổ biến cho giáo viên: Khá - Hiệu trưởng chỉ dán lên bảng tuyên truyền của trường: Trung bình - Hiệu trưởng đề ra kế hoạch nhưng không phổ biến: Chưa đạt
Kết quả thực hiện
Các biện pháp
Thứ Tự
Tốt Khá
Trung bình
Chưa đạt
1.1
Hiệu trưởng xây dựng và phổ biến kế hoạch xác định số lượng trẻ béo phì ở mỗi lớp cho giáo viên phụ trách lớp.
1.2
1.3
1.4
Hiệu trưởng xây dựng và phổ biến kế hoạch bồi dưỡng kiến thức phòng chống bệnh béo phì đối với trẻ mầm non cho giáo viên thông qua các buổi họp hội đồng, họp chuyên môn, các buổi học bồi dưỡng… Hiệu trưởng xây dựng và phổ biến kế hoạch tuyên truyền cho phụ huynh kiến thức phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non. Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch mua sắm trang thiết bị phục vụ cho các trò chơi vận động cho trẻ tại trường, xây dựng nội quy bảo quản, sử dụng với từng loại trang thiết bị cụ thể.
Kết quả thực hiện
Các biện pháp
Thứ Tự
Tốt Khá
Trung bình
Chưa đạt
1.5
1.6
1.7
Hiệu trưởng lên kế hoạch xây dựng chế độ dinh dưỡng phù hợp cho trẻ tại trường. Hiệu trưởng xây dựng và phổ biến kế hoạch khám sức khỏe định kỳ hàng tháng hoặc hàng quý cho trẻ béo phì trong năm học. Hiệu trưởng xây dựng lịch tổ chức trò chơi vận động hàng ngày cho trẻ béo phì.
Phần II: CÔNG TÁC TỔ CHỨC Các mức: Tốt, Khá, Trung bình, Chưa đạt được hiểu như sau:
- Hiệu trưởng phân công cụ thể, rõ ràng, phù hợp năng lực của người được giao: Thực
hiện tốt.
- Hiệu trưởng phân công cụ thể, rõ ràng: Khá - Hiệu trưởng chỉ phân công nhưng không giải thích: Trung bình - Hiệu trưởng phân công không phù hợp: Chưa đạt
Kết quả thực hiện
Các biện pháp
Thứ Tự
Tốt Khá
Trung bình
Chưa đạt
2.1
Hiệu trưởng phân công cho từng giáo viên ở mỗi lớp dựa vào các tiêu chí để xác định số lượng trẻ béo phì ở mỗi lớp.
2.2
2.3
Hiệu trưởng phân công giáo viên đi học các lớp bồi dưỡng kiến thức do sở giáo dục hoặc phòng giáo dục quận tổ chức và sưu tầm các tài liệu, tranh ảnh về cách phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non và phổ biến cho toàn trường. Hiệu trưởng phân công hiệu phó bán trú phổ biến cho giáo viên những kiến thức cần thiết về bệnh béo phì để tuyên truyền đến phụ huynh vào giờ đón hoặc trả trẻ.
2.4
Hiệu trưởng phân công hiệu phó bán trú sắp xếp mua sắm những trang thiết bị phục vụ cho các trò chơi vận động cho trẻ tại trường, quy định rõ trách nhiệm của từng người với tài sản mà họ phụ trách.
2.5
Hiệu trưởng phân công hiệu phó bán trú xây dựng chế độ dinh dưỡng hàng ngày phù hợp cho trẻ béo phì tại trường như tỉ lệ tinh bột, đường, béo...
2.6
Hiệu trưởng phân công hiệu phó bán trú phối hợp cùng y tế tại địa phương khám sức khỏe định kỳ cho trẻ hàng tháng, hàng quý trong năm học.
2.7
Hiệu trưởng phân công giáo viên xây dựng lịch tổ chức trò chơi vận động hàng ngày cho trẻ.
Phần III: CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO Các mức: Tốt, Khá, Trung bình, Chưa đạt được hiểu như sau:
- Hiệu trưởng chỉ đạo cụ thể, rõ ràng, phù hợp với trình độ năng lực của cấp dưới:
Thực hiện tốt.
- Hiệu trưởng chỉ đạo cụ thể, rõ ràng: Khá - Hiệu trưởng chỉ đạo nhưng không giải thích: Trung bình - Hiệu trưởng chỉ đạo không phù hợp: Chưa đạt
Kết quả thực hiện
Các biện pháp
Thứ Tự
Tốt
Khá
Trung bình
Chưa đạt
3.1
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho giáo viên thực hiện kế hoạch xác định số lượng trẻ béo phì ở mỗi lớp trong thời gian xác định và nộp báo cáo kết quả.
3.2
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho giáo viên thực hiện kế hoạch bồi dưỡng kiến thức phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non thông qua các tài liệu, tranh ảnh sưu tầm từ sách, báo...
3.3
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho hiệu phó bán trú theo dõi và giám sát giáo viên trong việc tuyên truyền đến phụ huynh kiến thức phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non tại trường qua các giờ đón và trả trẻ.
3.4
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho hiệu phó bán trú thường xuyên nắm vững tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho các trò chơi vận động để bổ sung khi cần thiết.
3.5
Hiệu trưởng chỉ đạo hiệu phó bán trú xây dựng thực đơn hàng ngày phù hợp với trẻ béo phì nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng.
3.6
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho hiệu phó phối hợp cùng y tế tại địa phương đến khám sức khỏe định kỳ cho trẻ béo phì hàng tháng hoặc hàng quý.
3.7
Hiệu trưởng chỉ đạo bằng lời hoặc bằng văn bản cho giáo viên xây dựng lịch tổ chức trò chơi vận động cho trẻ béo phì hàng ngày.
Phần IV: CÔNG TÁC KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ
Các mức: Tốt, Khá, Trung bình, Chưa đạt được hiểu như sau:
- Hiệu trưởng có kế hoạch kiểm tra, đánh giá rõ ràng, cụ thể và phổ biến cho toàn
- Hiệu trưởng có kế hoạch kiểm tra, đánh giá rõ ràng, cụ thể và chỉ phổ biến cho giáo
- Hiệu trưởng có kế hoạch kiểm tra, đánh giá rõ ràng, cụ thể nhưng không phổ biến:
- Hiệu trưởng không có kế hoạch kiểm tra, đánh giá rõ ràng, cụ thể: Chưa đạt.
trường : Thực hiện tốt. viên: Khá Trung bình.
Kết quả thực hiện
Các biện pháp
Thứ Tự
Tốt Khá
Trung bình
Chưa đạt
4.1
4.2
4.3
4.4
Hiệu trưởng kiểm tra việc thực hiện kế hoạch xác định số lượng trẻ béo phì ở mỗi lớp sau thời gian qui định bằng cách đọc báo cáo của giáo viên và quan sát thực tế. Hiệu trưởng kiểm tra việc thực hiện bồi dưỡng kiến thức phòng chống bệnh béo phì cho trẻ của giáo viên thông qua tổ chức các cuộc thi đố vui hoặc qua việc sưu tầm các tài liệu, tranh ảnh qua đó đánh giá kết quả đạt được. Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá công tác tuyên truyền của giáo viên với phụ huynh trong việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ thông qua các phiếu thăm dò hoặc các buổi tọa đàm, trò chuyện.... Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá tình hình mua sắm trang thiết bị vào 1 thời điểm nhất định trong năm học, tiến hành kịp thời những yêu cầu bổ sung, sửa chữa hoặc thay thế những thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết.
4.5
Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá việc xây dựng thực đơn hàng ngày cho trẻ béo phì của hiệu phó bán trú thông qua việc quan sát trẻ ăn, trò chuyện cùng trẻ hoặc nếm thử thức ăn của trẻ.
4.6
Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá việc khám sức khỏe định kỳ cho trẻ thông qua báo cáo của giáo viên và quan sát thực tế tại mỗi lớp.
4.7
Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá việc tổ chức các trò chơi vận động cho trẻ béo phì của giáo viên thông qua quan sát thực tế hoạt động vui chơi của trẻ hàng ngày và báo cáo của giáo viên.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của quý cô.
Xin cô vui lòng cho biết những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện công tác phòng
chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non:
Thuận lợi ......................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
..................................................................................................................................... ...............................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
Khó khăn ......................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
Đề xuất một số ý kiến để công tác phòng chống bệnh béo phì cho trẻ mầm non đạt hiệu
quả ..........................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của quý cô.
2TPHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
Kính gửi quý cô,
Nhằm thu thập thông tin để nghiên cứu đề tài: “Thực trạng công tác quản lý việc
phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non tại quận Bình Tân TPHCM”,
chúng tôi xin kính gửi đến quý cô phiếu trưng cầu ý kiến này và xin quý cô vui lòng 2Tcho biết
2TXin chân thành cám ơn quý cô.
2TPHẦN 1: Thông tin cá nhân.
ý kiến của mình bằng cách đánh dấu chéo (X) vào ô mà mình chọn lựa.
2TPHẦN 2: Nội dung
Phó hiệu trưởng GVMN - 2TChức vụ: Hiệu trưởng
Thầy cô hãy cho biết ý kiến của mình về mức độ cần thiết và mức độ khả
non của hiệu trưởng (bằng cách đánh dấu vào ô tương ứng)
thi của các biện pháp quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm
Ý kiến đánh giá (%)
Mức độ cần thiết Mức độ khả thi
TT Biện pháp đề xuất Rất Không Rất Cần Khả Không cần cần khả thiết thi khả thi thiết thiết thi
1 Sử dụng biểu đồ tăng
trưởng trong việc theo
dõi sức khỏe của trẻ.
2 Khám sức khỏe, tẩy
giun định kỳ cho trẻ.
3 Tăng cường tổ chức
các trò chơi vận động
cho trẻ béo phì, trang
bị cơ sở vật chất phục
vụ cho các trò chơi
vận động.
4 Quản lý việc xây
dựng khẩu phần ăn
hàng ngày cho trẻ.
5 Tăng cường quản lý
vệ sinh, an toàn thực
phẩm.
6 Nâng cao trình độ
nhận thức về dinh
dưỡng đối với đội ngũ
GVMN, đội ngũ cấp
dưỡng, can thiệp dinh
dưỡng vào các trường
mầm non.
7 Tăng cường sự phối
hợp giữa gia đình và
nhà trường trong việc
tuyên truyền kiến thức
về dinh dưỡng và
phòng, chống bệnh
béo phì cho trẻ đến
phụ huynh.
8 Đổi mới công tác
quản lý việc kiểm tra,
đánh giá kết quả thực
hiện.
Xin chân thành cám ơn quý cô.
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
Ở TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON
BẰNG CHỈ SỐ CÂN NẶNG THEO CHIỀU CAO
(Theo quần thể tham khảo NCHS)
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG BẢNG
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo giới tính (trai và gái)
- Đối chiếu tương ứng theo hàng ngang của hai cột chiều cao (cm) và cân
nặng (kg). SD là độ lệch chuẩn, độ lệch so với cột trung bình.
+ Chiều cao tương ứng với cân nặng trong giới hạn từ - 2SD đến
+2SD là BÌNH THƯỜNG.
+ Chiều cao tương ứng với cân nặng dưới -2SD là SUY DINH
DƯỠNG.
+ Chiều cao tương ứng với cân nặng trên +2SD đến +3SD là THỪA
CÂN độ 1.
+ Chiều cao tương ứng với cân nặng +3SD trở lên là THỪA CÂN
độ 2 = BÉO PHÌ.
+ Chiều cao tương ứng với cân nặng trong từ -1SD đến +1SD là
TẦM VÓC CÂN ĐỐI.
CÂN NẶNG THEO CHIỀU CAO: TRAI
CÂN NẶNG (Kg)
CHIỀU CAO (cm)
BÉO PHÌ +3SD
-2SD
+1SD
+2SD
-1SD
Giới hạn TRUNG BÌNH Trung bình 4.3 4.5 4.7 4.9 5.0 5.2 5.4 5.5 5.7 5.9 6.0 6.2 6.3 6.5 6.6 6.8 6.9 7.1 7.2 7.3 7.5 7.6 7.7 7.9 8.0 8.1 8.3
3.6 3.7 3.9 4.1 4.2 4.4 4.5 4.7 4.8 5.0 5.1 5.3 5.4 5.6 5.7 5.9 6.0 6.1 6.3 6.4 6.5 6.7 6.8 6.9 7.0 7.2 7.3
5.6 5.7 5.9 6.1 6.2 6.4 6.6 6.7 6.9 7.1 7.2 7.4 7.5 7.7 7.8 8.0 8.1 8.3 8.4 8.6 8.7 8.9 9.0 9.1 9.3 9.4 9.5
6.7 6.9 7.1 7.3 7.4 7.5 7.8 7.9 8.1 8.2 8.4 8.6 8.7 8.9 9.0 9.2 9.3 9.5 9.6 9.8 9.9 10.1 10.2 10.4 10.5 10.7 10.8
7.9 8.1 8.3 8.4 8.6 8.8 9.0 9.1 9.3 9.4 9.6 9.8 9.9 10.1 10.2 10.4 10.6 10.7 10.9 11.0 11.2 11.3 11.5 11.6 11.8 11.9 12.1
2.8 2.9 3.1 3.2 3.4 3.5 3.7 3.8 4.0 4.1 4.3 4.4 4.5 4.7 4.8 4.9 5.1 5.2 5.3 5.5 5.6 5.7 5.8 6.0 6.1 6.2 6.3
55.0 55.5 56.0 56.5 57.0 57.5 58.0 58.5 59.0 59.5 60.0 60.5 61.0 61.5 62.0 62.5 63.0 63.5 64.0 64.5 65.0 65.5 66.0 66.5 67.0 67.5 68.0
68.5 69.0 69.5 70.0 70.5 71.0 71.5 72.0 72.5 73.0 73.5 74.0 74.5 75.0 75.5 76.0 76.5 77.0 77.5 78.0 78.5 79.0 79.5 80.0 80.5 81.0 81.5 82.0 82.5 83.0 83.5 84.0 84.5
6.4 6.6 6.7 6.8 6.9 7.0 7.1 7.2 7.4 7.5 7.6 7.7 7.8 7.9 8.0 8.1 8.2 8.3 8.4 8.5 8.6 8.7 8.8 8.9 9.0 9.1 9.2 9.3 9.4 9.5 9.6 9.7 9.8
7.4 7.5 7.7 7.8 7.9 8.0 8.1 8.2 8.3 8.5 8.6 8.7 8.8 9.9 9.0 9.1 9.2 9.3 9.4 9.6 9.7 9.8 9.9 10.0 10.1 10.2 10.3 10.4 10.5 10.6 10.7 10.8 10.9
8.4 8.5 8.6 8.8 8.9 9.0 9.1 9.2 9.3 9.5 9.6 9.7 9.8 9.9 10.0 10.1 10.2 10.4 10.5 10.6 10.7 10.8 10.9 11.0 11.1 11.2 11.3 11.5 11.6 11.7 11.8 11.9 12.0
9.7 9.8 9.9 10.1 10.2 10.3 10.4 10.6 10.7 10.8 10.9 11.0 11.2 11.3 11.4 11.5 11.6 11.8 11.9 12.0 12.1 12.2 12.3 12.4 12.6 12.7 12.8 12.9 13.0 13.1 13.2 13.3 13.5
10.9 11.1 11.2 11.4 11.5 11.6 11.8 11.9 12.0 12.1 12.3 12.4 12.5 12.7 12.8 12.9 13.0 13.2 13.3 13.4 13.5 13.6 13.8 13.9 14.0 14.1 14.2 14.3 14.5 14.6 14.7 14.8 14.9
12.2 12.4 12.5 12.7 12.8 12.9 13.1 13.2 13.4 13.5 13.6 13.8 13.9 14.0 14.2 14.3 14.4 14.5 14.7 14.8 14.9 15.1 15.2 15.3 15.4 15.5 15.7 15.8 15.9 16.0 16.1 16.2 16.4
85.0 85.5 86.0 86.5 87.0 87.5 88.0 88.5 89.0 89.5 90.0 90.5 91.0 91.5 92.0 92.5 93.0 93.5 94.0 94.5 95.0 95.5 96.0 96.5 97.0 97.5 98.0 98.5 99.0 99.5 100.0 100.5 101.0 101.5
9.9 10.0 10.1 10.2 10.3 10.4 10.5 10.6 10.7 10.8 10.9 11.0 11.1 11.2 11.3 11.4 11.5 11.6 11.7 11.8 11.9 12.0 12.1 12.2 12.4 12.5 12.6 12.7 12.8 12.9 13.0 13.1 13.2 13.3
11.0 11.1 11.2 11.3 11.5 11.6 11.7 11.8 11.9 12.0 12.1 12.2 12.3 12.4 12.5 12.6 12.8 12.9 13.0 13.1 13.2 13.3 13.4 13.5 13.7 13.8 13.9 14.0 14.1 14.3 14.4 14.5 14.6 14.7
12.1 12.2 12.3 12.5 12.6 12.7 12.8 12.9 13.0 13.1 13.3 13.4 13.5 13.6 13.7 13.9 14.0 14.1 14.2 14.3 14.5 14.6 14.7 14.8 15.0 15.1 15.2 15.4 15.5 15.6 15.7 15.9 16.0 16.2
13.6 13.7 13.8 13.9 14.0 14.1 14.3 14.4 14.5 14.6 14.7 14.8 15.0 15.1 15.2 15.3 15.4 15.6 15.7 15.8 15.9 16.1 16.2 16.3 16.5 16.6 16.7 16.9 17.0 17.1 17.3 17.4 17.5 17.7
15.0 15.1 15.3 15.4 15.5 15.6 15.7 15.8 16.0 16.1 16.2 16.3 16.4 16.5 16.7 16.8 16.9 17.0 17.2 17.3 17.4 17.5 17.7 17.8 17.9 18.1 18.2 18.4 18.5 18.6 18.8 18.9 19.1 19.2
16.5 16.6 16.7 16.8 16.9 17.1 17.2 17.3 17.4 17.5 17.6 17.8 17.9 18.0 18.1 18.3 18.4 18.5 18.6 18.8 18.9 19.0 19.2 19.3 19.4 19.6 19.7 19.9 20.0 20.2 20.3 20.5 20.6 20.8
102.0 102.5 103.0 103.5 104.0 104.5 105.0 105.5 106.0 106.5 107.0 107.5 108.0 108.5 109.0 109.5 110.0 110.5 111.0 111.5 112.0 112.5 113.0 113.5 114.0 114.5 115.0 115.5 116.0 116.5 117.0 117.5 118.0
13.4 13.6 13.7 13.8 13.9 14.0 14.2 14.3 14.4 14.5 14.7 14.8 14.9 15.0 15.2 15.3 15.4 15.6 15.7 15.9 16.0 16.1 16.2 16.4 16.6 16.7 16.9 17.1 17.2 17.4 17.5 17.7 17.9
14.9 15.0 15.1 15.2 15.4 15.5 15.6 15.8 15.0 16.1 16.2 16.3 16.5 16.6 16.8 16.9 17.1 17.2 17.4 17.5 17.7 17.8 18.0 18.1 18.3 18.5 18.6 18.8 18.9 19.1 19.3 19.5 19.6
16.3 16.4 16.6 16.7 16.9 17.0 17.1 17.3 17.4 17.6 17.7 17.9 18.0 18.2 18.3 18.5 18.7 18.8 19.0 19.1 19.3 19.5 19.6 19.8 20.0 20.2 20.3 20.5 20.7 20.9 21.1 21.2 21.4
17.8 18.0 18.1 18.3 18.4 18.5 18.8 18.9 19.1 19.2 19.4 19.5 19.7 19.9 20.1 20.3 20.4 20.6 20.8 21.0 21.2 21.4 21.6 21.8 22.0 22.2 22.4 22.6 22.8 23.0 23.2 23.5 23.7
19.4 19.5 19.7 19.9 20.0 20.2 20.4 20.5 20.7 20.9 21.1 21.3 21.4 21.6 21.9 22.0 22.2 22.4 22.6 22.8 23.1 23.3 23.5 23.7 24.0 24.2 24.4 24.7 24.9 25.2 25.4 25.7 26.0
20.9 21.1 21.3 21.4 21.6 21.8 22.0 22.2 22.4 22.5 22.7 22.9 23.1 23.4 23.6 23.9 24.0 24.2 24.5 24.7 24.9 25.2 25.4 25.7 25.9 26.2 26.5 26.8 27.0 27.3 27.6 27.9 28.2
118.5 119.0 119.5 120.0 120.5 121.0 121.5 122.0 122.5 123.0 123.5 124.0 124.5 125.0 125.5 126.0 126.5 127.0 127.5 128.0 128.5 129.0 129.5 130.0 130.5 131.0 131.5 132.0 132.5 133.0 133.5 134.0 134.5 135.0
18.0 18.2 18.4 18.5 18.7 18.9 19.1 19.2 19.4 19.6 19.8 20.0 20.2 20.4 20.5 20.7 20.9 21.1 21.3 21.5 21.7 21.9 22.1 22.5 22.6 22.7 22.9 23.1 23.3 23.6 23.8 24.0 24.2 24.4
19.8 20.0 20.2 20.4 20.6 20.7 20.9 21.1 21.3 21.5 21.7 21.9 22.1 22.3 22.5 22.8 22.0 23.2 23.4 23.6 23.8 24.1 24.3 24.5 24.8 25.0 25.2 25.5 25.7 26.0 26.2 26.5 26.7 27.0
21.6 21.8 22.0 22.2 22.4 22.6 22.8 23.0 23.2 23.4 23.6 23.9 24.1 24.3 24.5 24.8 25.0 25.2 25.5 25.7 26.0 26.2 26.5 26.8 27.0 27.3 27.6 27.8 28.1 28.4 28.7 29.0 29.3 29.6
23.9 24.2 24.4 24.6 24.9 25.1 25.4 25.5 25.9 26.2 26.4 26.7 27.0 27.2 27.5 27.8 28.1 28.4 28.7 29.0 29.3 29.7 30.0 30.3 30.7 31.0 31.3 31.7 32.1 32.4 32.9 33.2 33.6 33.9
26.2 26.5 26.8 27.1 27.4 27.6 27.9 28.3 28.6 28.9 29.2 29.5 29.9 30.2 30.5 30.9 31.2 31.6 32.0 32.3 32.7 33.1 33.5 33.9 34.3 34.7 35.1 35.5 36.0 36.4 36.9 37.3 37.9 38.2
28.5 28.8 29.2 29.5 29.8 30.2 30.5 30.9 31.2 31.6 32.0 32.4 32.7 33.1 33.5 33.9 34.4 34.9 35.2 35.6 36.1 36.5 37.0 37.5 37.9 38.4 38.9 39.4 39.9 40.4 40.9 41.5 42.0 42.5
135.5 136.0 136.5 137.0 137.5 138.0 138.5
24.6 24.8 25.0 25.3 25.5 25.7 25.9
34.3 34.7 35.1 35.5 36.0 36.4 36.5
43.1 43.7 44.2 44.8 45.4 46.0 46.6
27.2 27.5 27.8 28.1 28.4 28.6 28.9
29.9 30.2 30.6 30.9 31.2 31.6 31.9
38.7 39.2 39.7 40.2 40.7 41.2 41.7
CÂN NẶNG THEO CHIỀU CAO: GÁI
CÂN NẶNG (Kg)
Giới hạn TRUNG BÌNH
CHIỀU CAO (cm)
BÉO PHÌ +3SD
-2SD
-1SD
+1SD
+2SD
Trung bình 4.3 4.5 4.7 4.8 5.0 5.2 5.3 5.5 5.7 5.8 6.0 6.2 6.3 6.4 6.6 6.7 6.9 7.0 7.1 7.3 7.4 7.5 7.7 7.8 7.9 8.0 8.2
5.5 5.7 5.9 6.0 6.2 6.4 6.6 6.7 6.9 7.0 7.2 7.3 7.5 7.6 7.8 8.0 8.1 8.2 8.4 8.5 8.6 8.8 8.9 9.0 9.1 9.3 9.4
3.6 3.8 3.9 4.1 4.2 4.4 4.5 4.7 4.8 5.0 5.1 5.3 5.4 5.5 5.7 5.8 6.0 6.1 6.2 6.3 6.4 6.6 6.7 6.8 6.9 7.0 7.2
6.7 6.9 7.1 7.3 7.4 7.6 7.8 7.9 8.1 8.3 8.4 8.6 8.7 8.9 9.0 9.2 9.3 9.4 9.6 9.7 9.8 10.0 10.1 10.2 10.4 10.5 10.6
7.9 8.1 8.3 8.5 8.6 8.8 9.0 9.1 9.3 9.5 9.6 9.8 9.9 10.1 10.2 10.4 10.6 10.7 10.8 10.9 11.1 11.2 11.3 11.5 11.6 11.7 11.9
3.0 3.1 3.2 3.4 3.5 3.6 3.8 3.9 4.0 4.1 4.3 4.4 4.5 4.6 4.8 4.9 5.0 5.1 5.2 5.4 5.5 5.6 5.7 5.8 5.9 6.1 6.2
55.0 55.5 56.0 56.5 57.0 57.5 58.0 58.5 59.0 59.5 60.0 60.5 61.0 61.5 62.0 62.5 63.0 63.5 64.0 64.5 65.0 65.5 66.0 66.5 67.0 67.5 68.0
68.5 69.0 69.5 70.0 70.5 71.0 71.5 72.0 72.5 73.0 73.5 74.0 74.5 75.0 75.5 76.0 76.5 77.0 77.5 78.0 78.5 79.0 79.5 80.0 80.5 81.0 81.5 82.0 82.5 83.0 83.5 84.0 84.5
6.3 6.4 6.5 6.6 6.7 6.8 6.9 7.1 7.2 7.3 7.4 7.5 7.6 7.7 7.8 7.9 8.0 8.1 8.2 8.3 8.4 8.5 8.6 8.7 8.8 8.9 9.0 9.1 9.2 9.3 9.4 9.5 9.6
7.3 7.4 7.5 7.6 7.7 7.9 8.0 8.1 8.2 8.3 8.4 8.5 8.6 8.7 8.8 8.9 9.0 9.1 9.2 9.3 9.4 9.5 9.7 9.8 9.9 10.0 10.1 10.2 10.3 10.4 10.5 10.6 10.7
8.3 8.4 8.5 8.6 8.8 8.9 9.0 9.1 9.2 9.3 9.4 9.5 9.6 9.7 9.8 10.0 10.1 10.2 10.3 10.4 10.5 10.6 10.7 10.8 10.9 11.0 11.1 11.2 11.3 11.4 11.5 11.6 11.7
9.5 9.6 9.8 9.9 10.0 10.1 10.2 10.3 10.5 10.5 10.7 10.8 10.9 11.0 11.1 11.2 11.3 11.5 11.6 11.7 11.8 11.9 12.0 12.1 12.2 12.3 12.4 12.5 12.6 12.8 12.9 13.0 13.1
10.7 10.9 11.0 11.1 11.2 11.4 11.5 11.6 11.7 11.8 11.9 12.1 12.2 12.3 12.4 12.5 12.6 12.7 12.8 13.0 13.1 13.2 13.3 13.4 13.5 13.6 13.8 13.9 14.0 14.1 14.2 14.3 14.4
12.0 12.1 12.2 12.4 12.5 12.6 12.7 12.8 13.0 13.1 13.2 13.3 13.4 13.6 13.7 13.8 13.9 14.0 14.1 14.3 14.4 14.5 14.6 14.7 14.8 15.0 15.1 15.2 15.3 15.4 15.6 15.7 15.8
9.7 9.8 9.9 10.0 10.1 10.2 10.3 10.4 10.5 10.6 10.7 10.7 10.8 10.9 11.0 11.1 11.2 11.3 11.4 11.5 11.6 11.7 11.8 11.9 12.0 12.1 12.2 12.3 12.4 12.5 12.7 12.8 12.9 13.0
85.0 85.5 86.0 86.5 87.0 87.5 88.0 88.5 89.0 89.5 90.0 90.5 91.0 91.5 92.0 92.5 93.0 93.5 94.0 94.5 95.0 95.5 96.0 96.5 97.0 97.5 98.0 98.5 99.0 99.5 100.0 100.5 101.0 101.5
10.8 10.9 11.0 11.1 11.2 11.3 11.4 11.5 11.6 11.7 11.8 11.9 12.0 12.1 12.2 12.3 12.4 12.5 12.6 12.8 12.9 13.0 13.1 13.2 13.3 13.4 13.5 13.7 13.8 13.9 14.0 14.1 14.3 14.4
11.8 11.9 12.0 12.2 12.3 12.4 12.5 12.6 12.7 12.8 12.9 13.0 13.2 13.3 13.4 13.5 13.8 13.7 13.9 14.0 14.1 14.2 14.3 14.5 14.6 14.7 14.9 15.0 15.1 15.2 15.4 15.5 15.6 15.8
13.2 13.3 13.4 13.6 13.7 13.8 13.9 14.0 14.1 14.2 14.4 14.5 14.6 14.7 14.9 15.0 15.1 15.2 15.4 15.5 15.6 15.8 15.9 16.0 16.2 16.3 16.5 16.6 16.7 16.9 17.0 17.2 17.3 17.5
14.6 14.7 14.8 14.9 15.1 15.2 15.3 15.4 15.6 15.7 15.8 15.9 16.1 16.2 16.3 16.5 16.6 16.7 16.9 17.0 17.2 17.3 17.5 17.6 17.8 17.9 18.1 18.2 18.4 18.5 18.7 18.8 19.0 19.1
15.9 16.1 16.2 16.3 16.4 16.6 16.7 16.8 17.0 17.1 17.3 17.4 17.5 17.7 17.8 18.0 18.1 18.3 18.4 18.6 18.7 18.9 19.0 19.2 19.3 19.5 19.7 19.8 20.0 20.1 20.3 20.5 20.7 20.8
13.1 13.2 13.3 13.4 13.5 13.7 13.8 13.9 14.0 14.1 14.3 14.4 14.5 14.6 14.8 14.9 15.0 15.2 15.3 15.5 15.5 15.7 15.9 16.0 16.2 16.3 16.5 16.6 16.8 16.9 17.1 17.3 17.4
102.0 102.5 103.0 103.5 104.0 104.5 105.0 105.5 106.0 106.5 107.0 107.5 108.0 108.5 109.0 109.5 110.0 110.5 111.0 111.5 112.0 112.5 113.0 113.5 114.0 114.5 115.0 115.5 116.0 116.5 117.0 117.5 118.0
14.5 14.6 14.7 14.9 15.0 15.1 15.3 15.4 15.5 15.7 15.8 15.9 16.1 16.2 16.1 16.3 16.6 16.8 16.9 17.1 17.2 17.4 17.5 17.7 17.8 18.0 18.2 18.4 18.5 18.7 18.9 19.0 19.2
15.9 16.0 16.2 16.3 16.5 16.6 16.7 16.9 17.0 17.2 17.3 17.5 17.6 17.8 17.9 18.1 18.2 18.4 18.5 18.7 18.9 19.0 19.2 19.4 19.5 19.7 19.9 20.1 20.3 20.4 20.6 21.8 21.0
17.6 17.8 17.9 18.1 18.2 18.4 18.5 18.7 18.0 19.0 19.2 19.3 19.5 19.7 29.8 20.0 20.2 20.4 20.6 21.7 20.9 21.1 21.3 21.5 21.7 21.9 22.1 22.3 22.5 22.7 23.0 23.2 23.4
19.3 19.5 19.6 19.8 20.0 20.1 20.3 20.5 20.7 20.9 21.0 21.2 21.4 21.6 21.8 22.0 22.2 22.4 22.6 22.8 23.0 23.2 23.4 23.6 23.8 24.1 24.3 24.5 24.8 25.0 25.3 25.6 25.8
21.0 21.2 21.4 21.6 21.7 21.9 22.1 22.3 22.5 22.7 22.9 23.1 23.3 23.5 23.7 23.9 24.1 24.3 24.6 24.8 25.0 25.2 25.5 25.7 26.0 26.2 26.5 26.8 27.0 27.3 27.6 27.9 28.2
17.6 17.7 17.9 18.1 18.3 18.4 18.6 18.8 19.0 19.1 19.3 19.5 19.7 19.9 20.1 20.2 20.4 20.6 20.8 21.0 21.2 21.4 21.6 21.8 22.1 22.2 22.5 22.7 22.9 23.1 23.4 23.6 23.8 24.0
118.5 119.0 119.5 120.0 120.5 121.0 121.5 122.0 122.5 123.0 123.5 124.0 124.5 125.0 125.5 126.0 126.5 127.0 127.5 128.0 128.5 129.0 129.5 130.0 130.5 131.0 131.5 132.0 132.5 133.0 133.5 134.0 134.5 135.0
19.4 19.6 19.8 20.0 20.1 20.3 20.5 20.7 20.9 21.1 21.3 21.6 21.8 22.0 22.2 22.4 22.7 22.9 23.1 23.3 23.6 23.8 24.1 24.3 24.6 24.8 25.1 25.4 25.6 25.9 26.2 26.5 26.8 27.0
21.2 21.4 21.6 21.8 22.0 22.2 22.5 22.7 22.9 23.1 23.4 23.6 23.9 24.1 24.3 24.5 24.9 25.1 25.4 25.7 25.9 26.2 26.5 26.8 27.1 27.4 27.7 28.0 28.4 28.7 29.0 29.4 29.7 30.1
23.7 23.9 24.1 24.4 24.7 24.9 25.2 25.6 25.8 26.1 26.4 26.7 27.0 27.3 27.6 28.0 28.3 28.6 29.0 29.4 29.7 30.1 30.5 30.9 31.3 31.8 32.2 32.6 33.1 33.6 34.0 34.5 35.0 35.5
26.1 26.4 26.7 27.0 27.3 27.6 27.9 28.3 28.6 29.0 29.3 29.7 30.1 30.5 30.9 30.3 31.7 32.2 32.6 33.1 33.6 34.0 34.5 35.1 35.6 36.1 36.7 37.2 37.8 38.4 39.0 39.7 40.3 41.0
28.5 28.9 29.2 29.6 29.9 30.3 30.7 31.1 31.5 31.9 32.3 32.8 32.2 33.7 34.2 34.7 35.3 35.7 36.2 36.8 37.4 37.9 38.6 39.2 39.8 40.5 41.1 41.8 42.6 43.3 44.0 44.6 45.6 46.4
24.2 24.5 24.7 25.0
27.3 27.6 27.9 28.2
30.4 30.9 31.1 31.5
36.0 36.5 37.1 37.6
41.6 42.3 43.0 43.7
47.2 48.1 49.0 49.9
135.5 136.0 136.5 137.0
THÖÏC ÑÔN TUAÀN TÖØ NGAØY 06 - 10/12/2010
THÖÙ
SAÙNG
TEÂN THÖÏC ÑÔN TRÖA
XEÁ
Hai 6
- Suùp cua - Uoáng söõa Vinamilk
- Phôû boø - Cheø chuoái chöng
Ba 7
- Buùn mieán - Uoáng söõa Vinamilk
- Huû tíu nam vang - Nöôùc cam
Tö 8
- Chaùo thòt boø - Uoáng söõa Vinamilk
- Mì tröùng thòt boø - Nöôùc maùt
Naêm 9
- Baùnh canh toâm - Rau caâu
Saùu 10
- Nui sao toâm thòt, rau cuû. - Uoáng söõa Vinamilk - Chaùo haûi saûn - Uoáng söõa Vinamilk
- Suùp - Nöôùc taét
UCanh:U Caûi ngoït naáu toâm töôi, thòt heo UMaënU: Naám rôm xaøo thòt, toâm töôi UTraùng mieängU: Döa haáu khoâng haït UCanh:U Baàu caù loùc UMaënU: Toâm, möïc xaøo chua ngoït UTraùng mieängU: Chuoái cau UCanh:U Suùp boâng caûi, caø roát, su su thòt boø UMaënU: Thòt kho ñaäu huû. UTraùng mieängU: Ñu ñuû chín. UCanhU: caûi thaûo toâm thòt UMaën:U Caù boâng lau kho UTraùng mieängU: Thanh long UCanh:U Khoai môõ toâm, thòt heo UMaënU: Boø xaøo haønh taây UTraùng mieängU:Quyùt
TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG
THÖÏC ÑÔN TUAÀN
THÖÙ
TÖØ NGAØY 13 - 17/12/2010 TEÂN THÖÏC ÑÔN TRÖA XEÁ
Hai 13
SAÙNG - Chaùo caù loùc - Uoáng söõa Vinamilk
- Suùp cua - Cheø chuoái chöng
Ba 14
- Buùn mieán - Uoáng söõa Vinamilk
- Huû tíu thòt heo - Nöôùc cam
Tö 15
- Chaùo thòt boø - Uoáng söõa Vinamilk
- Mì tröùng thòt boø - Nöôùc maùt
Naêm 16
- Baùnh canh toâm - Rau caâu
Saùu 17
- Nui sao thòt heo, rau cuû. - Uoáng söõa Vinamilk - Huû tíu thòt heo - Uoáng söõa Vinamilk
- Chaùo toâm thịt - Nöôùc taét
UCanh:U Caûi thìa naáu toâm töôi, thòt heo UMaënU: Naám rôm xaøo thòt, toâm töôi UTraùng mieängU: Döa haáu khoâng haït UCanh:U Baàu caù loùc UMaënU: Toâm, möïc xaøo chua ngoït UTraùng mieängU: Chuoái UCanh:U Suùp boâng caûi, caø roát, su su thòt boø UMaënU: Thòt kho ñaäu huû, su su, ñaäu que UTraùng mieängU: Ñu ñuû chín. UCanhU:Taàn oâ, toâm thòt UMaën:U Caù boâng lau kho UTraùng mieängU: Thanh long UCanh:U Khoai môõ toâm, thòt heo UMaënU: Boø xaøo haønh taây, caøroát, ñaäu que UTraùng mieängU: Nho
TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG
THÖÏC ÑÔN TUAÀN
TÖØ NGAØY 20 - 24/12/2010 TEÂN THÖÏC ÑÔN
THÖÙ
TRÖA SAÙNG
Hai 20
Mì nấu tôm thịt. -Uoáng söõa Vinamilk
UCanh:U Baàu, caù loùc. UMaënU:Toâm töôi xaøo cuû saén UTraùng mieängU: Thanh long
Ba 21
- Buùn rieâu. -Uoáng söõa Vinamilk
Tö 22
XEÁ -Cheø ñaäu xanh, boät baùn, nöôùc döøa. -Chaùo toâm thòt, caûi ñoû, susu. -Nöôùc cam -Nui thòt heo, giaù, caûi ñoû. -Nöôùc maùt. -Chaùo ñaäu xanh.
- Suùp cua. -Uoáng söõa Vinamilk
Naêm 23
-Nöôùc taéc. -Huû tieáu nam vang
-Baùnh canh. -Uoáng söõa Vinamilk
Saùu 24
-Chaùo haûi saûn. -Uoáng söõa Vinamilk
UCanh:U Caûi ngoït toâm töôi. UMaënU:Caù thu, caûi ñoû, ñaäu traéng, ñaäu que. UTraùng mieängU: Ñu ñuû chín. UCanh:U Khoai môõ, caù loùc. UMaënU:Thòt kho ñaäu huû. UTraùng mieängU: Chuoái cau UCanhU: Bí ñoû, toâm töôi. UMaën:U Gaø naáu ñaäu. UTraùng mieängU: Döa UCanh:U Caù ba sa naáu ngoùt UMaën:U Toâm xaøo haønh taây. UTraùng mieängU: Quyùt
- Cheø chuoái chöng, boät baùn, nöôùc döøa -Suùp haûi saûn.
TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG
THÖÏC ÑÔN TUAÀN
TÖØ NGAØY 29./11 - 03./12/2010
TEÂN THÖÏC ÑÔN
THÖÙ
TRÖA
Hai 29
SAÙNG Suùp haûi saûn. -Uoáng söõa Vinamilk
Ba 30
- Huû tieáu nam vang -Uoáng söõa Vinamilk
XEÁ -Cheø ñaäu ñen boät baùn nöôùc döøa. Chaùo thòt heo -Rau caâu döøa. -Nui rau cuû toâm thòt
Tö 1
- Chaùo haûi saûn. -Uoáng söõa Vinamilk
-Nöôùc cam. -Suùp cua
Naêm 2
-Phôû boø -Uoáng söõa Vinamilk
-Nöôùc taéc. -Buùn mieán toâm thòt
Saùu 3
-Chaùo caù loùc. -Uoáng söõa Vinamilk
-Nöôùc maùt. -Buùn Rieâu
UCanh:U Caûi boù xoâi, thòt boø. UMaënU:Thòt gaø naáu ñaäu UTraùng mieängU: Ñu ñuû chín UCanh:U Suùp boâng caûi caø roát toâm thòt UMaënU:Caù soát caø. UTraùng mieängU: Döa haáu. UCanh:U Khoai môõ, caù loùc. UMaënU:Toâm töôi xaøo haønh taây UTraùng mieängU: Chuối hương. UCanhU: Caûi ngoït UMaën:U Thòt heo xaøo cuû saén, caø roát. UTraùng mieängU: thanh long UCanhU: Chua caù loùc UMaën:U Thòt heo xaøo cuû saén, caø roát. UTraùng mieängU: Chuoái cau
TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG

