BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ----------------- Trần Thị Ngọc Phương THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ

VIỆC XÂY DỰNGTRƯỜNG HỌC THÂN

THIỆN

Ở CÁC TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP

QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ----------------- Trần Thị Ngọc Phương

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ

VIỆC XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN

Ở CÁC TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP

QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC Mã số : 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. ĐINH PHƯƠNG DUY

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

LỜI CẢM ƠN

uận văn này là kết quả của quá trình học tập tại trường Đại học Sư phạm

Thành phố Hồ Chí Minh và quá trình công tác của bản thân tại trường

THPT Nam Kỳ Khởi Nghĩa Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh trong suốt

L

nhiều năm qua.

Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban tổ chức

Chương trình 500 của Thành ủy TP. HCM, quý thầy cô đã tham gia giảng dạy lớp

Cao học khóa 20 chuyên ngành Quản lý Giáo dục và Thầy cô ở Phòng Khoa học

Công nghệ & Sau Đại học, Khoa Tâm lý – Giáo dục của trường Đại học Sư phạm

Thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh, tất cả

cán bộ quản lý và thầy cô công tác tại trường THPT quận 11 đã tận tình giúp đỡ tạo

điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài luận văn này.

Tác giả cũng vô cùng cảm ơn cô Hồ Hồng Phương, hiệu trưởng Trường

THPT Nam Kỳ Khởi Nghĩa, người đã tạo mọi điều kiện để tác giả được đi học và

hoàn thành chương trình học.

Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tác giả đến Tiến sĩ Đinh Phương

Duy, Phó Hiệu trưởng trường Cán Bộ Thành Phố, người đã tận tình hướng dẫn,

giúp đỡ tác giả nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh luận văn.

Mặc dù bản thân đã có nhiều nỗ lực nhưng chắc chắn luận văn không tránh

khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp bổ sung của quý

thầy cô và các đồng nghiệp.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4/2010

Tác giả

Trần Thị Ngọc Phương

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

1TMỞ ĐẦU1T .................................................................................................................... 1

1T1. Lý do chọn đề tài:1T ................................................................................................ 1

1T2. Mục đích nghiên cứu:1T .......................................................................................... 3

1T3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:1T ................................................................... 4

1T3.1. Khách thể nghiên cứu:1T .................................................................................. 4

1T3.2. Đối tượng nghiên cứu:1T .................................................................................. 4

1T4. Giả thuyết khoa học:1T ............................................................................................ 4

1T5. Nhiệm vụ nghiên cứu:1T ......................................................................................... 5

1T6. Phương pháp nghiên cứu:1T ................................................................................... 5

1T6.1. Phương pháp luận:1T ........................................................................................ 5

1T6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể:1T .................................................................. 5

1T7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:1T ............................................................................. 7

1T8. Cấu trúc luận văn:1T ................................................................................................ 7

1TChương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN1T .................................................................................... 8

1T1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:1T ................................................................................. 8

1T1.2. Một số khái niệm:1T ........................................................................................... 13

1T1.2.1.Quản lý:1T..................................................................................................... 13

1T1.2.2. Quản lý giáo dục:1T ..................................................................................... 14

1T1.2.3.Quản lý trường học:1T .................................................................................. 16

1T1.2.4. Trường học thân thiện:1T ............................................................................ 17

1T1.2.5. Quản lý trường học thân thiện:1T ................................................................ 28

1T1.2.6. Quản lý việc xây dựng trường học thân thiện:1T ........................................ 29

1T1.2.7. Phương pháp quản lý:1T .............................................................................. 35

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

1TChương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC XÂY DỰNG

TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ

1T2.1. Khái quát tình hình kinh tế, văn hoá - giáo dục, quận 11 thành phố Hồ Chí

THÔNG CÔNG LẬP QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH1T ...................... 40

1T2.1.1. Tình hình kinh tế quận 11:1T ....................................................................... 40

1T2.1.2. Tình hình văn hoá - giáo dục quận 11:1T .................................................... 40

1T2.2. Công tác xây dựng trường học thân thiện trường trung học phổ thông năm

Minh năm 2009 – 2010:1T ........................................................................................ 40

1T2.3. Thực trạng công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện tại các

2009 – 2010 tại Thành phố Hồ Chí Minh:1T ............................................................ 42

1T2.3.1. Mô tả khách thể nghiên cứu và cách thức cho điểm, tính điểm:1T ............. 45

1T2.3.2. Nhận thức về việc xây dựng trường học thân thiện1T ................................. 47

1T2.3.3. Đánh giá của các nhóm khách thể về công tác quản lý xây dựng trường

trường trung học phổ thông công lập quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.1T ............. 45

1T2.3.4. Đánh giá về việc điều hành tổ chức xây dựng trường học thân thiện1T ..... 61

1T2.3.5. Những khó khăn và thuận lợi trong việc xây dựng và quản lý việc xây

học thân thiện1T ..................................................................................................... 55

1T2.3.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý việc xây dựng trường học thân

dựng trường học thân thiện1T ................................................................................ 78

1TChương 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ

thiện 1T .................................................................................................................. 85

VIỆC XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN Ở TRƯỜNG TRUNG

1T3.1. Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc xây dựng trường học

HỌC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.1T . 88

1T3.2. Nội dung và cách thức tổ chức thực hiện của các biện pháp:1T ........................ 88

1T3.2.1. Biện pháp quản lý việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức:1T .......................... 88

thân thiện1T ............................................................................................................... 88

1T3.2.2. Biện pháp quản lý việc xây dựng kế hoạch và tổ chức chỉ đạo thực hiện1T

1T3.2.3. Biện pháp tạo điều kiện về cơ sở vật chất, các phương tiện hỗ trợ,…cho

........................................................................................................................... 93

1T3.2.4. Biện pháp quản lý việc đẩy mạnh công tác phối hợp với các đơn vị liên

giáo viên thực hiện tốt công tác xây dựng trường học thân thiện.1T .................... 96

1T3.3. Kết quả khảo sát về tính cần thiết và tính khả thi:1T ....................................... 101

1TTÀI LIỆU THAM KHẢO1T .................................................................................... 115

ngành nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng trường học thân thiện1T ........ 98

PHỤ LỤC ………………………………………………………………………..119

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ

Cán bộ quản lý Cơ sở vật chất Học sinh Giáo dục và Đào tạo Giáo viên Phương pháp giảng dạy Trung học phổ thông Thành phố Hồ Chí Minh Ủy ban Nhân dân Xây dựng trường học thân thiện CBQL CSVC HS GD&ĐT GV PPGD THPT TP.HCM UBND XDTHTT

DANH MỤC CÁC BẢNG

STT KÝ HIỆU TÊN BẢNG

1 2 3 4 Bảng 2.1 Bảng 2.2 Bảng 2.3 Bảng 2.4 TRANG 46 47 48 52

5 Bảng 2.5 55

6 Bảng 2.6 58

7 Bảng 2.7 61

8 9 Bảng 2.8 Bảng 2.9 66 66

10 Bảng 2.10 72

11 Bảng 2.11 73

12 Bảng 2.12 75

13 Bảng 2.13 77

14 Bảng 3.1 15 Bảng 3.2 Thông tin về khách thể nghiên cứu Ý kiến của các nhóm khách thể về tính cần thiết Ý kiến của khách thể về các hình thức XDTHTT Ý kiến CBQL và GV về tính đồng bộ của việc XDTHTT Đánh giá của CBQL và GV về mức độ tạo điều kiện tham gia XDTHTT Đánh giá kết quả của CBQL và GV về các hình thức tham gia của GV Đánh giá của GV về mức độ và kết quả thực hiện các hình thức tổ chức điều hành XDTHTT Đánh giá về tiêu chí thi đua XDTHTT Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý XDTHTT Điều cần cải tiến trong công tác quản lí trường học thân thiện. Đánh giá của HS về các mức độ và kết quả hoạt động nâng cao nhận thức về trường học thân thiện Đánh giá của HS về hình thức tổ chức trường học thân thiện Đánh giá của HS về sự phù hợp đối với các tác động của nhà trường Tính cần thiết của các biện pháp Tính khả thi của các biện pháp 102 106

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

STT KÝ HIỆU TÊN TRANG

1 Hình 2.1 53

2 Hình 2.2 54 Biểu đồ kết quả đánh giá nhận thức của HS về ý nghĩa công tác XDTHTT Biểu đồ đánh giá của HS về đối tượng chịu trách nhiệm XDTHTT

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

Trường học thân thiện là mô hình trường học do Quỹ Nhi đồng Liên hợp

quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối của thế kỷ trước, và đã được triển

khai có kết quả tốt ở nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào

tạo (GD&ĐT) đã phối hợp với UNICEF thực hiện thí điểm nhiều năm nay ở 50

trường tiểu học và Trung học cơ sở (trong đó có một số trường ở Thành phố Hồ Chí

Minh (TP.HCM)). Từ kết quả thí điểm, Bộ tiếp tục đề ra chủ trương tiến hành đại

trà trong năm học 2008 - 2009 ở tất cả các trường tiểu học và Trung học cơ sở trong

toàn quốc, rồi triển khai đến tất cả các trường phổ thông cho tới năm 2013.

Vì thế, đối với Việt Nam mô hình này không hoàn toàn mới. Ngay từ những

thập niên 60, 70, giáo dục Việt Nam đã gắn liền với triết lý “đời sống học đường là

cuộc sống thực của trẻ em ngay ngày hôm nay, lúc này; chứ không chỉ chuẩn bị cho

tương lai”, nên phương châm “mỗi ngày đến trường là một niềm vui” đã được phổ

biến và áp dụng từ những ngày đó. Đặc biệt phương châm này đã được bền bỉ thực

hiện rất có kết quả tại nhiều cơ sở giáo dục và sau đó, được áp dụng rộng rãi ở nhiều

tỉnh trong cả nước từ năm học 1992 – 1993 [20].

Bên cạnh đó, đề tài khoa học cấp nhà nước “Mô hình nhà trường mới theo

khả năng phát triển tối ưu của trẻ em Việt Nam bằng giáo dục thực nghiệm” của

giáo sư Hồ Ngọc Đại được nghiệm thu với kết quả đánh giá tốt cũng đã khẳng định

hướng đi đúng của ngành giáo dục nước nhà. Đó là xây dựng một nền giáo dục tiên

tiến, đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội ngày nay. Nền giáo dục ấy phải hội

đủ các điều kiện của một xã hội cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục. Ngay từ nghị

quyết TW2 khoá VIII, Đảng đã chỉ rõ phương hướng, yêu cầu xây dựng và phát

triển giáo dục nước nhà trong 10 năm tới: “Phấn đấu đến năm 2020, nước ta có một

nền giáo dục tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng được yêu cầu công

nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh hội nhập quốc tế” [19] [34].

2

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong năm tỉnh thành của cả nước có sự quan

tâm tích cực đến công tác thi đua xây dựng trường học thân thiện (XDTHTT). Từ

năm học 2008-2009, mô hình trường được triển khai và cũng đã thu được nhiều kết

quả tốt đẹp ở khối tiểu học và trung học cơ sở. Trong năm học 2009-2010, công tác

xây dựng trường học thân thiện ở khối trung học phổ thông (THPT) đã bước vào

năm thứ hai và đang gặp không ít khó khăn: khó khăn về cơ sở vật chất, khó khăn

về địa bàn dân cư phức tạp, khó khăn trong công tác phối hợp liên ngành… nhất là

tình trạng bạo lực học đường đang trở thành điểm nóng cho các giới truyền thông.

Niềm tin của phụ huynh và học sinh vào môi trường học tập thân thiện ít nhiều bị

giảm sút. Làm thế nào củng cố lại niềm tin cho các em học sinh và bậc phụ huynh?

Làm thế nào để tạo được môi trường học tập thân thiện cho các em khi những tác

động ngoài xã hội, những ảnh hưởng tiêu cực quá nhiều đến các em học sinh trong

khi các em chưa đủ nhận thức và chính chắn để phân biệt tốt - xấu, đúng - sai. Rất

nhiều em không nhận được sự giúp đỡ, gần gũi kịp thời của cha, mẹ, thầy, cô để

giúp đỡ các em có những hành động đúng, sữa chữa những sai lầm của mình kịp

thời.

Trong hội nghị tổng kết 2 năm triển khai công tác XDTHTT ngày 18/8/2010,

Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho biết, mô hình “Xây dựng trường học thân thiện,

học sinh tích cực” do UNICEF đưa ra năm 2004. Mô hình này đã được nhiều nước

thực hiện. Từ đó có thể thấy, mô hình này có cơ sở khoa học, lý luận vững chắc và

đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn.

Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Tế, Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục TP.

HCM, mô hình “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” không hoàn toàn mới,

không tự nhiên mà có. Mô hình này không chỉ là quyết tâm của lãnh đạo Bộ Giáo

dục - Đào tạo mà còn là kết quả của một quá trình nghiên cứu, kết hợp lý luận và

thực tiễn giáo dục trong nước với việc tiếp nhận có chọn lọc những kinh nghiệm

giáo dục tiên tiến trên thế giới [46].

Hơn thế nữa, việc hiện thực hóa mô hình này không phải chỉ đơn giản là thực

hiện các nội dung của phong trào thi đua theo những tiêu chí nhất định mà còn đòi

3

hỏi phải có những nghiên cứu lý luận và thực tiễn chuyên sâu, cụ thể để làm sáng tỏ

tất cả những bình diện cơ bản của mô hình, những mối liên hệ tinh tế, phức tạp giữa

các bình diện đó, cũng như các vấn đề khác có liên quan…

Để việc xây dựng trường học thân thiện đạt hiệu quả, ngoài trách nhiệm của

nhà trường và thầy, cô là những người làm công tác giáo dục, công việc này đòi hỏi

cần có sự quan tâm của toàn xã hội nhất là sự phối hợp liên ngành kể cả sự chung

tay góp sức của các bậc phụ huynh. Hơn thế nữa, công tác xây dựng trường học

thân thiện chưa thật sự được khởi động và thực hiện một cách tích cực trong các

trường THPT. Sau hai năm triển khai, tôi nhận thấy công tác xây dựng trường học

thân thiện ở trường THPT là một nhiệm vụ rất quan trọng và cấp bách. Vì thế ngoài

việc phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tài liệu, sách báo, tạp chí, các đề án, các

kế hoạch, chỉ thị của ngành giáo dục và đào tạo, các báo cáo kinh nghiệm của các

trường qua hai năm thực hiện việc xây dựng trường học thân thiện. Tôi thực hiện

khảo sát thêm về nhận thức, thái độ của Cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh nhằm

thu thập thông tin đáng tin cậy về các biện pháp, kết quả mà nhà trường đã thực

hiện. Đồng thời lấy ý kiến đánh giá của các chuyên gia để tìm ra những giải pháp

phù hợp với tình hình cụ thể. Tôi chọn đề tài “Thực trạng công tác quản lý việc

xây dựng trường học thân thiện ở các trường trung học phổ thông công lập quận

11 thành phố Hồ Chí Minh” với hy vọng đóng góp một phần nhỏ những giải pháp

của mình nhằm thúc đẩy công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện đạt

hiệu quả hơn.

2. Mục đích nghiên cứu:

Từ việc nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý việc xây dựng trường học

thân thiện ở các trường trung học phổ thông công lập quận 11 thành phố Hồ Chí

Minh, xác định một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc xây

dựng trường học thân thiện tại các trường THPT.

4

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

3.1. Khách thể nghiên cứu:

Công tác quản lý nhà trường trung học phổ thông

3.2. Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện trường

THPT công lập quận 11 thành phố Hồ Chí Minh.

4. Giả thuyết khoa học:

4.1. Trong hai năm học vừa qua, công tác quản lý việc XDTHTT tại trường

THPT công lập quận 11 thành phố Hồ Chí Minh tuy đã đạt được những kết quả nhất

định. Nhưng thực tế còn gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế:

- Phương pháp quản lý: chưa đi vào chiều sâu và định hướng vào mục tiêu cụ

thể theo từng giai đoạn trong kế hoạch đã đề ra,…

- Nội dung quản lý: công tác quản lý các hoạt động tập thể, giáo dục học

sinh…chưa đồng bộ, chưa được quan tâm đúng mức nhằm tạo điều kiện thuận lợi

cho việc xây dựng tường học thân thiện.

4.2. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, trong đó:

- Việc chỉ đạo tuyên truyền nhận thức về ý nghĩa của môi trường học thân

thiện cho học sinh còn quá ít thời gian.

- Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục và các đơn vị liên ngành trong các

hoạt động xây dựng môi trường học tập thân thiện chưa đồng bộ.

- Việc thực hiện kế hoạch xây dựng trường học thân thiện chưa hiệu quả, đôi

khi việc kiểm tra đánh giá các hoạt động chưa cụ thể để rút ra những kinh nghiệm

cho kế hoạch năm học sau.

- Môi trường quản lý: rất phức tạp gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường

học thân thiện an toàn cho các em học sinh.

5

5. Nhiệm vụ nghiên cứu:

5.1. Xây dựng cơ sở lý luận về công tác quản lý việc xây dựng trường học

thân thiện trường trung học phổ thông.

5.2. Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý các hoạt động xây dựng trường

học thân thiện ở một số trường THPT quận 11 thành phố Hồ Chí Minh.

5.3. Đề xuất một số giải pháp cho công tác quản lý việc xây dựng trường

học thân thiện trường trung học phổ thông trong thời gian tới.

6. Phương pháp nghiên cứu:

6.1. Phương pháp luận:

6.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc:

Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc vào nghiên cứu cần đặt việc xây dựng

trường học thân thiện trong quan hệ với các yếu tố giáo dục học sinh toàn diện và

các yếu tố khác của công tác quản lý nhà trường THPT.

2T

6.1.2. Quan điểm thực tiễn:

Nghiên cứu công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện phải đặt

trong quan hệ với điều kiện quản lý ở nhà trường Việt Nam nói chung và điều kiện

quản lý trường trung học phổ thông nói riêng.

6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

6.2.1. Phương pháp nghiên cứu tư liệu:

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tài liệu, sách báo, tạp chí, các đề án,

các kế hoạch, chỉ thị của ngành giáo dục và đào tạo, các báo cáo kinh nghiệm của

các trường....về lĩnh vực XDTHTT làm cơ sở lý luận cho đề tài.

6.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

Đây là phương pháp chủ yếu dùng cho học sinh, giáo viên và cán bộ quản lý

giáo dục cấp trung học phổ thông

6

- Đối với học sinh: nhằm hiểu rõ nhận thức, hiểu biết của học sinh về trường

học thân thiện và những công việc cụ thể mà nhà trường đã thực hiện để xây dựng

trường học thân thiện.

- Đối với giáo viên: khảo sát thái độ của giáo viên đối với công tác quản lý

của Ban giám hiệu nhà trường trung học phổ thông, đối với những hoạt động cụ thể

mà trường đã thực hiện để xây dựng trường học thân thiện

- Đối với cán bộ quản lý (CBQL): khảo sát nhiệm vụ quản lý của Ban giám

Hiệu trường và biện pháp đã thực hiện trong việc xây dựng trường học thân thiện tại

trường.

6.2.3. Phương pháp quan sát: quan sát thực trạng công tác quản lý

việc XDTHTT trường trung học phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh.

- Cán bộ quản lý: thông qua các hoạt động thực hiện quản lý xây dựng

trường học thân thiện như việc xây dựng và triển khai kế hoạch, tổ chức chỉ đạo

thực hiện, kiểm tra đánh giá.

- Giáo viên: thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, tổ chức các hoạt

động học tập cho học sinh, việc kiểm tra đánh giá xếp loại học sinh,…

- Học sinh: thực hiện hoạt động học tập, tham gia các hoạt động tập thể, hoạt

động xã hội do nhà trường tổ chức, ý thức tham gia giữ gìn môi trường học tập thân

thiện, hoạt động giao tiếp,…

6.2.4. Phương pháp trao đổi, phỏng vấn:

Cùng với việc thực hiện điều tra bằng bảng hỏi, tác giả thực hiện phỏng vấn

Cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về một số nội dung có liên quan đến kết quả

điều tra để có được những ý kiến khách quan trong quá trình phân tích số liệu.

6.2.5. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:

Nhằm thu thập những thông tin đáng tin cậy từ những chuyên gia, những nhà

nghiên cứu giáo dục và thực hiện công tác xây dựng trường học thân thiện như: trao

đổi trực tiếp với lãnh đạo, Ban chỉ đạo công tác xây dựng trường học thân thiện của

Sở giáo dục.

7

6.2.6. Phương pháp toán thống kê:

Xử lý thống kê kết quả nhằm định lượng kết quả nghiên cứu thông qua phần

mềm SPSS 16.0.

7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Chỉ khảo sát thực trạng công tác quản lý việc XDTHTT năm học 2008-2009

ở các trường trung học phổ thông công lập quận 11 thành phố Hồ Chí Minh trên

khối 11 của 2 trường thuộc địa bàn quận:

- Trường trung học phổ thông Trần Quang Khải.

- Trường trung học phổ thông Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

8. Cấu trúc luận văn:

Mở đầu (7 trang)

Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý việc XDTHTT (31 trang)

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý việc XDTHTT ở các trường trung học

phổ thông công lập quận 11 thành phố Hồ Chí Minh (48 trang).

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc xây

dựng trường học thân thiện ở trường trung học phổ thông (21 trang).

Kết luận – kiến nghị (5 trang).

8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Trường học thân thiện là yếu tố hàng đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ

em. Yếu tố đảm bảo cho việc thực hiện thành công ngôi trường thân thiện cho trẻ

chính là cộng đồng xã hội, gia đình và nhà trường. Trong đó, nhà trường cũng đóng

một vai trò rất quan trọng. Bởi vì nhà trường là nơi gắn liền với mọi hoạt động học

tập vui chơi và rèn luyện nhân cách của trẻ.

Trên thế giới, ngay từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, tổ chức UNESCO

nêu lên 4 trụ cột của cải cách giáo dục đã đặc biệt nhấn mạnh: thời đại mới đòi hỏi

con người phải có cách nhìn mới, cách nghĩ mới và những kiến thức, kỹ năng mới

của chính thời đại mình. Nói cụ thể hơn, con người mới đó phải có khả năng tư duy

độc lập, có phương pháp tư duy hệ thống và cách nhìn toàn thể; có năng lực sáng

tạo và tinh thần đổi mới; có khả năng thích ứng với sự thay đổi thường xuyên, đa

dạng, phức tạp, đầy biến động bất ngờ và bất định; có năng lực hành động hiệu quả

và tinh thần hợp tác trong một môi trường đa văn hóa của một thế giới toàn cầu hóa.

Để làm được điều đó, vai trò của công tác XDTHTT trở nên quan trọng giúp cho

nền giáo dục của kỷ nguyên thông tin trở thành một nền giáo dục cho mọi người.

Trường học thân thiện sẽ tạo điều kiện để mọi người được học, giúp cho mọi người

biết cách học, biết cách tự học, học tập liên tục và học tập suốt đời. Xây dựng

trường học thân thiện góp phần xây dựng một nền giáo dục mở và liên thông, có

khả năng hội nhập với nền giáo dục chung của thế giới.

Với phương châm giáo dục là quốc sách hàng đầu, hiện nay Việt Nam đang

bước vào giai đoạn hoàn thành chương trình phổ cập tiểu học, trung học. Tuy nhiên,

Việt Nam vẫn phải đối mặt với những thách thức trong lĩnh vực giáo dục, vẫn còn

tình trạng bạo lực học đường. Hơn thế nữa, chất lượng giáo dục ở các trường học

còn một vài hạn chế. Bằng sự quyết tâm của mình, chính phủ Việt Nam cam kết

đảm bảo cho tất cả trẻ các em ở lứa tuổi vị thành niên đều có cơ hội học hành và

9

phát triển đầy đủ tiềm năng của mình. Trong Chiến lược Phát triển giáo dục 2001 -

2010, Chính phủ phấn đấu đề ra các chính sách và biện pháp nhằm duy trì kết quả

phổ cập giáo dục tiểu học, hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở

vào năm 2010 và đạt tỷ lệ đi nhà trẻ, mẫu giáo là 95%.

Từ đó, những vấn đề lý thuyết có liên quan đến trường học thân thiện đã

được đề cập đến từ những năm 1992 – 1993.

Giáo sư Hồ Ngọc Đại – từng có nhiều năm nghiên cứu học tập tại Matxcova

– người rất tâm huyết với việc xây dựng trường thực nghiệm, một ngôi trường có

đầy đủ trang thiết bị dạy học và phương pháp giảng dạy tích cực đã nói rằng:

"Trung tâm đã nghiên cứu một mô hình nhà trường mới theo khả năng phát triển tối

ưu của trẻ em Việt Nam bằng giáo dục thực nghiệm"[19].

Trong bài viết Vài ý kiến về mô hình “Trường học thân thiện” của Thạc sĩ

Trần Mạnh Trung đăng trên tạp chí Giáo dục số 220, kỳ 2 tháng 8/2009 đã nêu ra

bốn nội dung quan trọng để xây dựng một “trường học thân thiện” có đủ những đặc

điểm do UNICEF đưa ra như sau: Nội dung 1: Môi trường học tập thân thiện; Nội

dung 2: Phương pháp dạy học thân thiện; Nội dung 3: Phương pháp kiểm tra, đánh

giá thân thiện; Nội dung 4: Các mối quan hệ thân thiện. Bài viết đề cập đến sự cần

thiết của việc trang bị cơ sở vật chất, trang bị đầy đủ những phương tiện dạy học

hiện đại phù hợp cho việc tổ chức mọi hoạt động học tập của học sinh, sự cần thiết

về vai trò và tâm huyết của người thầy trong việc đổi mới phương pháp dạy học,

phương pháp kiểm tra đánh giá thân thiện hơn nhằm phát huy tính tích cực năng

động sáng tạo của học sinh và cuối cùng là tạo mối quan hệ thầy trò, bạn bè gần gũi

hơn dễ dàng thông cảm, hiểu và trân trọng nhau hơn. Có như thế học sinh mới cảm

thấy gắn bó, yêu thương ngôi trường của mình [42].

Trên Webside của Viện Khoa học Công nghệ và phát triển Á Châu có bài

viết Mô hình nào cho trường học tương lai. PGS.TS Trần Kiều cho rằng “…trong

tương lai gần, cần và có thể cải tiến mô hình trường phổ thông Việt Nam hiện nay

tập trung vào những phẩm chất và năng lực cần thiết của con người Việt Nam trong

giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa…”. Cần có các hình thức tổ chức dạy học

10

linh hoạt, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học trên cơ sở

đảm bảo dân chủ trong trường học… “và phải có một đội ngũ giáo viên nắm vững

chức năng giáo dục, có bản lĩnh để đáp ứng các yêu cầu thay đổi một cách đa dạng

của giáo dục phổ thông, có một môi trường giáo dục thân thiện và những người làm

giáo dục phải hiểu được thế hệ trẻ và đặt đúng vai trò chủ thể của họ trong hoạt

động của nhà trường…”. Từ đó, “kỹ năng ứng xử giao tiếp, tinh thần đoàn kết thân

ái, tôn trọng và bảo vệ được nâng cao hơn”…[47].

Tiến sĩ Huỳnh Công Minh từng có điều kiện tham quan học tập và trao đổi

kinh nghiệm với các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới như Mỹ, Phần

Lan, Canada...Với những trải nghiệm thực tế trên đã giúp cho tiến sĩ có cái nhìn

toàn diện về hệ thống đào tạo nước nhà. Từ đó góp phần đưa sự nghiệp giáo dục của

đất nước, trước hết là TP.HCM vượt qua những khó khăn, từng bước hội nhập và

sánh vai với các nhà trường tiên tiến của thế giới, tạo điều kiện tốt nhất cho con em

thụ hưởng một nền giáo dục cao - theo đúng tinh thần Thông báo 242-TB/TW của

Bộ Chính trị: “Phấn đấu đến năm 2020, nước ta có một nền giáo dục tiên tiến mang

đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong

bối cảnh hội nhập quốc tế”. Quyển sách Giáo dục và đào tạo TP.HCM hội nhập các

nền giáo dục tiên tiến do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản vừa được tiến

sĩ Huỳnh Công Minh cho ra đời là những bài học được chắt lọc từ những kinh

nghiệm trên. Sách gồm ba chương, đi từ những quan điểm chung về nền giáo dục

tiên tiến mang đậm bản sắc đến những bước đổi mới trong ngành và hội nhập theo

từng khía cạnh với các nền giáo dục tiên tiến tiêu biểu. “Quyển sách có giá trị nhất

định cho sự hưởng ứng tích cực tinh thần Thông báo 242-TB/TW, góp phần xây

dựng, phát triển nền giáo dục và đào tạo nước nhà” như lời PGS.TS Trần Kiều nhận

xét [34].

Những năm gần đây, sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động phong trào

xây dựng trường học thân thiện, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã xuất bản cuốn

sách: Góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Cuốn sách gồm

hai phần: Phần I: Trình bày những giải pháp xây dựng trường học thân thiện, học

11

sinh tích cực. Bên cạnh các bài viết có tính chất lí luận về mô hình “Trường học

thân thiện, học sinh tích cực” là các bài viết giàu tính chất thực tiễn, phản ánh khá

sinh động thực tế giáo dục phổ thông ở các vùng miền của tổ quốc. Từ việc xây

dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn; đổi mới dạy - học sao cho có hiệu quả,

phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh; rèn luyện kĩ năng sống đến việc tổ chức

cho học sinh các hoạt động tập thể vui chơi lành mạnh; tham gia tìm hiểu, chăm sóc

và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương. Phần II:

Giới thiệu gương sáng học đường - những người tốt, việc tốt. Ở phần này, có rất

nhiều câu chuyện cảm động về tấm gương vượt khó của nhiều cô giáo, thầy giáo,

nhiều em học sinh và nhiều cơ sở giáo dục…Nội dung chính của cuốn sách giúp các

nhà quản lý tiếp cận một số biện pháp xây dựng trường học thân thiện và làm gì để

duy trì, quản lý trường học thân thiện có hiệu quả [25].

Trong bài viết “Nghĩ về phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện-

học sinh tích cực” đăng trên website của Bộ GD&ĐT Ông Lê Quán Tần đã cho

rằng: “Mỗi trường học phải là một tập thể đoàn kết phấn đấu nâng cao chất lượng

giáo dục đạo đức và chất lượng dạy học đích thực, đào tạo thế hệ trẻ thành những

công dân yêu nước, có văn hoá, có trình độ kiến thức, kỹ năng khoa học, có ý chí,

hoài bão vươn lên không cam chịu nghèo hèn làm giàu cho đất nước và cho bản

thân. Để làm được điều đó, mỗi trường học, nhất là trường phổ thông, phải xây

dựng cho được môi trường sư phạm tích cực, thân thiện: thân thiện giữa thầy với

thầy; thân thiện giữa trò với trò; thân thiện giữa thầy với trò, thân thiện giữa nhà

trường với cộng đồng theo nguyên lý: “Giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục

gia đình và giáo dục xã hội” [47].

Và Giáo sư Hồ Ngọc Đại cũng đã thực hiện công trình Nghiên cứu khoa học

về nền giáo dục toàn dân và xác định hướng đi - Hiện đại hóa; cách làm - Công

nghệ hóa. Giáo sư nhận định rằng: Với giải pháp giáo dục cho nền giáo dục toàn

dân, cách hiểu “giáo dục” như xưa nay thì chỉ là hiểu theo nghĩa hẹp, tức là một

phần của Giải pháp. Giáo dục hiện đại là giáo dục toàn dân, là sự nghiệp của toàn

12

dân, cho toàn dân và vì toàn dân. Do đó, Giải pháp giáo dục phải vượt ra mọi ranh

giới cổ truyền và phải tiếp cận trực tiếp với những cái mới vừa xuất hiện…[19].

Ngày 16 tháng 12, tại trường trung học cơ sở Nguyễn Khuyến Đà Nẵng, Sở

Giáo dục và đào tạo đã tổ chức hội thảo "Xây dựng trường học thân thiện" với nhiều

bài viết tâm huyết, trong đó tác giả Lại Như Thuyết cho rằng ngoài những vấn đề về

các mối quan hệ trong nhà trường, trường học thân thiện còn phải làm cho học sinh

cảm thấy tự tin, truyền được sự ham học, niềm yêu thích học tập cho học sinh nữa

[47].

Ngày 31/3/2009 Lãnh đạo của hơn 30 sở GD&ĐT các tỉnh, thành phố phía

Nam tham gia hội thảo “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Câu

lạc bộ giám đốc sở GD&ĐT các tỉnh phía Nam tổ chức tại Nha Trang. Hầu hết các

đại biểu đều nhất trí với các tiêu chí về trường học thân thiện của Bộ GD&ĐT và có

những đề nghị cụ thể về các biện pháp xây dựng trường học thân thiện, trong đó đặc

biệt nhấn mạnh đến vai trò chủ động của Hiệu trưởng các trường.

Ngày 18/8/2010, Bộ GD&ĐT đã tổ chức Hội thảo “Xây dựng trường học

thân thiện, học sinh tích cực từ lý luận đến thực tiễn”. Sau hai năm thực hiện phong

trào, đây là cơ hội để Ban tổ chức và các địa phương nhìn nhận lại những kết quả đã

đạt được, tìm ra hướng đi mới, sáng tạo trong giai đoạn tiếp theo. Tác giả Quan Anh

đã có bài viết tập hợp những ý kiến rất tâm huyết trong đó PGS. TS Nguyễn Xuân

Tế nhấn mạnh “Trong quyết tâm của Bộ GD&ĐT, triển khai mô hình “Xây dựng

trường học thân thiện, học sinh tích cực” là một bước đột phá để thực hiện công

cuộc xã hội hóa giáo dục nói chung, làm tốt công tác khuyến học, khuyến tài, xây

dựng xã hội học tập” [47].

Vì vậy trong các nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân

thiện, học sinh tích cực”, Bộ giáo dục đã đề ra vấn đề đổi mới phương pháp dạy học

được đặt ra như một yêu cầu quyết định sự thành bại của cả mô hình. Việc đổi mới

phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo,

rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh, làm cho hoạt động học tập của học sinh

trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả [12].

13

Ngày 30/01/2010 được sự giúp đỡ của Bộ GD&ĐT trực tiếp là Ban chỉ đạo

phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", Sở GD&ĐT Thái

Bình đã tổ chức Ngoại khóa phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện,

học sinh tích cực". Nội dung chủ yếu của buổi ngoại khóa được Tiến sỹ Phùng

Khắc Bình trình bày tập trung vào các biện pháp thiết thực để XDTHTT và vai trò

của các nhà quản lý giáo dục.

Thực tế, những vấn đề lý thuyết về trường học thân thiện và quản lý việc

XDTHTT trên thế giới cũng như ở Việt Nam còn rất ít, tuy vậy trên cơ sở những

nghiên cứu và kết quả thực hiện phong trào “xây dựng trường học thân thiện” ở

Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn cũng là một cơ sở hữu ích và đáng tin

cậy để chúng tôi mạnh dạn tiếp cận vấn đề khá mới mẻ này.

1.2. Một số khái niệm:

1.2.1.Quản lý:

Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các

hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con người sẽ nhận thức được quy

luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn.

Thuật ngữ “Quản lý” theo tiếng Việt gốc Hán gồm hai quá trình tích hợp

nhau: quá trình thứ nhất là “quản”, đó chính là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng

thái ổn định; quá trình thứ hai là “lý”, bao gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào

thế “phát triển”.

Theo Tự điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo Dục, 1998), quản lý là tổ

chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan.

Theo từ điển giáo dục học, “Quản lý là hoạt động tác động có định hướng, có

chủ đích của chủ thể quản lý (còn gọi là người quản lý) đến khách thể quản lý (gọi

là người bị quản lý) trong một tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục

đích của tổ chức” [33].

Theo quan điểm của A. Fayol, “quản lý nghĩa là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ

huy, phối hợp kiểm tra”[4].

14

F.W Taylor cho rằng: Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm

và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.

H.Koontz thì khẳng định: quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp

những nổ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm [4].

Đối với các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục Việt Nam, thuật ngữ “quản

lý” khá phổ biến và được hiểu theo nhiều cách:

Trong “Cơ sở của khoa học quản lý”, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội,

tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: nếu ở tầm vĩ mô, “quản lý là sự tác động liên

tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt

chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,…bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách,

nguyên tắc, phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường, điều kiện

cho sự phát triển của đối tượng” [17].

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng khái niệm của GS.TS

Bùi Minh Hiền: quản lý là hoạt động có mục đích của con người, quản lý là sự tác

động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt

được các mục tiêu đề ra [23].

1.2.2. Quản lý giáo dục:

Quản lý giáo dục là một lĩnh vực khó, liên quan đến sự phát triển toàn diện

của nhà trường cũng như của từng cá nhân, đòi hỏi kiến thức sâu rộng, tích hợp

nhiều kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn của mỗi cán bộ quản lý. Quản lý giáo dục là

một công việc rất quan trọng trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực nhằm chuẩn

bị những cán bộ, nhân viên có đầy đủ kiến thức và kỹ năng, phẩm chất để đảm nhận

các công việc sau:

Tham gia quản lý học sinh, sinh viên, quản lý đào tạo và quản lý cơ sở vật

chất, phương tiện phục vụ cho công tác giáo dục đào tạo, tổ chức các hoạt động giáo

dục ngoài giờ lên lớp và các công tác khác ở các trường: mầm nom, tiểu học, phổ

thông, dạy nghề... Quản lý chuyên môn, hành chính, nhân sự tại các Sở, Phòng giáo

dục và đào tạo.

15

Làm công tác giảng dạy khoa học quản lý giáo dục ở các cơ sở đào tạo và bồi

dưỡng giáo viên, cán bộ, nhân viên quản lý trong và ngoài ngành giáo dục đào tạo.

Nghiên cứu khoa học quản lý và quản lý giáo dục ở các cơ sở nghiên cứu,

các cơ quan tham mưu hoạch định chiến lược quản lý xã hội nói chung và phát triển

giáo dục nói riêng.

Về nội dung, khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau. TS.

Hồ Văn Liên cho rằng: quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản

lý đến khách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt

kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất [33].

Tác giả Trần Kiểm quan niệm quản lý giáo dục phân chia thành hai cấp vĩ

mô và vi mô. Theo cấp vĩ mô: quản lý giáo dục được hiểu là tác động tự giác (có ý

thức, có kế hoạch, có hệ thống, có mục đích, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến

tất cả mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường)

nhằm thực hiện có hiệu quả chất lượng và mục tiêu phát triển giáo dục là đào tạo

thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục. Theo cấp vi mô: quản lý giáo dục

được hiểu là tác động tự giác (có ý thức, có kế hoạch, có hệ thống, có mục đích, hợp

qui luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh,

cha mẹ học sinh và các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất

lượng và hiệu quả, mục tiêu giáo dục của nhà trường [31].

Theo quan niệm của tác giả Đặng Quốc Bảo: Quản lý giáo dục theo nghĩa

tổng quan là các hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đào tạo

thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục

thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ cho thế hệ trẻ mà cho tất cả mọi người.

Tuy nhiên vẫn là giáo dục thế hệ trẻ, nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành

quản lý các hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc

dân. Như vậy quản lý giáo dục là quản lý một quá trình kinh tế xã hội nhằm thực

hiện đồng bộ, hài hòa sự phân hóa xã hội để tái sản xuất sức lao động có kỹ thuật

phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Khi PGS.TS Đặng Quốc Bảo đề cập

16

đến việc quản lý ông đã nêu rõ những vai trò và yêu cầu cần thiết của người Hiệu

trưởng trong công tác quản lý nhà trường [2] [3].

1.2.3.Quản lý trường học:

Nhiều người giải thích quản lý nhà trường (quản lý trường học) là quản lý

giáo dục ở cấp vi mô, tức là thực hiện toàn bộ những nhiệm vụ quản lý giáo dục tại

cơ sở giáo dục, trong phạm vi cơ sở giáo dục [29].

Theo GS. Phạm Minh Hạc “quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo

dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành

theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục đích giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với

ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [20].

Trần Kiểm cho rằng đó là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có

mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tập thể

giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội

trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo

dục của nhà trường. Trong luận văn này chúng tôi tán thành cách hiểu trên nhưng

không phân biệt các cấp vĩ mô và vi mô, bởi vì trong quản lý nhà trường thì các chủ

thể quản lý vẫn là mọi cấp quản lý từ cao xuống thấp, chẳng hạn Chính phủ cũng là

chủ thể quản lý nhà trường chứ không riêng Hiệu trưởng mới là chủ thể quản lý.

Chúng tôi sử dụng quan niệm của Đặng Thành Hưng coi quản lý nhà trường là quản

lý giáo dục ở cấp cơ sở, phản ánh đầy đủ mục tiêu, chức năng, nội dung và phương

tiện quản lý giáo dục trong phạm vi trường học. Trong quản lý nhà trường có những

đối tượng quản lý cụ thể tạo nên những lĩnh vực quản lý tương đối khác nhau, cụ

thể như sau [28] [31].

Quản lý hành chính và tài chính

Quản lý hoạt động chuyên môn (hay quản lý chương trình giáo dục)

Quản lý nhân sự (giáo viên, nhân viên, người học)

Quản lý cơ sở hạ tầng kĩ thuật

17

Quản lý các quan hệ giáo dục trong nhà trường, giữa nhà trường với gia

đình, cộng đồng địa phương.

Như vậy, quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục

nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng

giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo

dục và đào tạo trong nhà trường. Đưa nhà trường từ trạng thái hiện có tiến lên một

trạng thái khác có chất lượng hơn đó là đào tạo một lớp thanh niên thông minh, sáng

tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội.

1.2.4. Trường học thân thiện:

1.2.4.1. Việc xây dựng trường học thân thiện ở một số nước trên thế giới

Trên thế giới, vai trò của UNICEF là tích cực hỗ trợ Chính phủ các nước

tăng cường khả năng tiếp cận với giáo dục, trong đó quan tâm đặc biệt tới những trẻ

em bị thiệt thòi nhất. Các hoạt động chính của UNICEF trong công tác giáo dục nói

2TTăng cường chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng bước vào học đường và phát triển bản

chung và công tác XDTHTT nói riêng bao gồm:

thân 2Tthông qua các biện pháp can thiệp chất lượng cao đối với lứa tuổi mầm non, kể

2THỗ trợ tạo dựng môi trường học tập thân thiện với trẻ em trong gia đình,

cả việc đề ra tiêu chuẩn cho việc học sớm ở lứa tuổi này.

trường học và cộng đồng.2T UNICEF góp phần tăng cường môi trường học tập thân

thiện với trẻ em bằng cách hỗ trợ cho các nhà trẻ ở cấp thôn bản, các trường tiểu

học và trung học cơ sở. Kể từ năm 2001 đến nay, đã có hơn 1000 nhà trẻ, 1.400

2TTạo dựng môi trường bảo vệ cho lứa tuổi vị thành niên2T thông qua mối quan

trường tiểu học và 120 trường phổ thông trung học cơ sở được hỗ trợ.

hệ đối tác giữa nhà trường, cộng đồng và gia đình. UNICEF khuyến khích cuộc đối

thoại cởi mở giữa học sinh, cha mẹ, giáo viên và những người lớn khác về những

vấn đề như ma túy, rượu và thuốc lá, sức khỏe sinh sản và HIV. Nhằm góp phần

tăng cường tiếng nói và sự tham gia của thanh niên trong việc đòi các quyền được

biết và bảo vệ bản thân. Sau thành công của dự án “Sống lành mạnh và kỹ năng

18

sống”, UNICEF hiện đang hỗ trợ đưa việc giáo dục kỹ năng sống vào chương trình

giảng dạy trong chu kỳ chương trình mới (2006 - 2010). Có thể nói chương trình

này đánh dấu bước quan trọng trong việc xây dựng mô hình trường học thân thiện

trên thế giới.

Cùng với việc tạo dựng môi trường học tập, sự bùng nổ công nghệ thông tin

và hàng loạt phương tiện hiện đại ra đời góp phần không nhỏ vào việc hỗ trợ đắc

lực cho học tập của học sinh và giảng dạy của người Thầy. Như vậy vai trò của

Thầy càng quan trọng hơn bao giờ hết và quyết định trực tiếp đến chất lượng giáo

dục của nhà trường hiện đại. Thầy phải sử dụng phương pháp sư phạm tiên tiến, lấy

học sinh làm trung tâm, phát huy tối đa tính tích cực, tự giác học tập của học sinh.

Để thực hiện được nhiệm vụ đó, Thầy giáo phải chú trọng phương pháp nhằm nâng

cao hiệu quả giảng dạy. Trong tài liệu giới thiệu về phương pháp dạy học lấy học

sinh làm trung tâm của tác giả R. Batliner đã khẳng định: “Giáo viên là yếu tố then

chốt quyết định việc dạy và học có chất lượng”. Vì thế, nội lực của học sinh không

phải có sẵn mà cần phải có Thầy giỏi để định hướng cho học sinh con đường đúng

nhất khám phá và tìm kiếm kiến thức cho mình. Thầy không chỉ dạy cho học sinh

học mà phải dạy cho học sinh biết tự học, tự dọc sách, tìm tòi, phát hiện ra điều hay,

điều mới, phát triển trí tuệ, tư duy, rèn luyện nhân cách chứ không phải tiếp thu tri

thức một cách thụ động [4].

Như vậy, trường học thân thiện được đề xướng, xây dựng và triển khai từ vài

thập kỷ qua ở nhiều nước trên thế giới và đã thu được những kết quả tốt đẹp. Ở Việt

Nam, từ năm 2008, Bộ GD&ĐT đã phối hợp với UNICEF tổ chức thí điểm xây

dựng mô hình trường học thân thiện tại nhiều trường Tiểu học và trung học cơ sở,

và hiện nay Bộ GD&ĐT quyết định tiến hành mở rộng mô hình này ở tất cả các cấp

học phổ thông.

1.2.4.2. Việc xây dựng trường học thân thiện ở Việt Nam:

Ở Việt Nam, UNICEF cũng đã thiết lập mối quan hệ đối tác chặt chẽ với Bộ

Giáo dục và Đào tạo, Đoàn Thanh niên và Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chủ trì

19

thực hiện Sáng kiến của Liên Hiệp Quốc về Giáo dục cho trẻ em gái, hỗ trợ nỗ lực

thực hiện các chuyên đề của Liên Hiệp Quốc về Thanh niên, Giới và HIV/AIDS.

Năm 1981, tại Hà Nội xuất hiện mô hình trường học mới là trường phổ thông

cơ sở Thực Nghiệm và trung tâm Thực Nghiệm giáo dục phổ thông trực thuộc Bộ

Giáo dục. Với đầy đủ các cấp học, trung tâm trở thành một cơ quan nghiên cứu và

thực nghiệm được trang bị đầy đủ phương tiện hiện đại. Triết lý của trung tâm chính

là: “Đi học là hạnh phúc. Mỗi ngày đến trường là náo nức một niềm vui”[19].

Tại thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2001, một “làn gió mới” mang tên Dự

án SCS - Môi trường học thân thiện do Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thụy Điển tài trợ đã

góp phần cải thiện việc dạy và học bậc tiểu học, đem lại nhiều kết quả hết sức khả

quan. Theo Sở GD&ĐT TP. HCM, mô hình trên đã được triển khai ở 12 trường tiểu

học trên địa bàn TP.HCM từ năm 2001. Tuy chỉ mới xuất hiện thời gian ngắn nhưng

dự án đã nhanh chóng gây được tiếng vang lớn nhờ những kết quả hết sức khả quan.

Cá nhân tôi cho rằng mô hình này là rất hay và hợp thời đại. Theo Luật giáo dục thì

ở cấp độ tiểu học, các em chỉ cần được cung cấp những kiến thức học thuật cơ bản,

còn cái chính vẫn là làm sao hình thành được một nhân cách tích cực từ nhỏ và mô

hình trên đã đáp ứng được yêu cầu này. Thực ra mô hình này cũng thử thách lòng

yêu nghề của người giáo viên đứng lớp. Giáo viên phải thật sự kiên nhẫn, cư xử

mềm mỏng trong mọi tình huống, nếu các em làm sai, không phạt mà phải có cách

xử lý nhẹ nhàng nhưng vẫn giáo dục được ý thức cho các em. Chính điều này đã

làm cho nhiều giáo viên đã quen với phương pháp giáo dục cũ cảm thấy khó thích

ứng [47].

Tại lễ phát động xây dựng trường học thân thiện Bộ trưởng Bộ Giáo dục và

Đào tạo nhấn mạnh, trước mắt Bộ GD&ĐT sẽ tập trung vào 3 nội dung trọng tâm

của Cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện”, cụ thể:

Học tốt: Động viên và tiếp nhận tất cả trẻ em ở độ tuổi đến trường, đảm bảo

học tập hết cấp học; xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, an toàn; từng bước

nâng cấp cơ sở vật chất, xây dựng trường học khang trang xanh - sạch - đẹp; thầy

20

đổi mới phương pháp dạy học, trò học tập hứng thú; giảm lưu ban, bỏ học để nâng

cao hiệu quả giáo dục.

Đẩy mạnh việc “chơi mà học”: Nâng cao chất lượng các hoạt động thể thao,

văn hoá, văn nghệ, vui chơi trong đó coi trọng việc đưa trò chơi dân gian, các hoạt

động tập thể vui mà học phù hợp với lứa tuổi vào nhà trường.

Mỗi trường học là một địa chỉ nhận chăm sóc công trình văn hoá, lịch sử:

Động viên học sinh tham gia chăm sóc các công trình văn hoá lịch sử của đất nước,

mỗi nhà trường nhận hỗ trợ chăm sóc, bảo vệ, tôn tạo một số khu di tích lịch sử, văn

hoá, tích cực chăm lo xây dựng các công trình công cộng, trồng cây, chăm sóc cho

đường phố, ngõ xóm sạch sẽ.

Như vậy, vấn đề trường học thân thiện đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều tỉnh

trong cả nước, triển khai tới 43 tỉnh, thành và vùng sâu vùng xa. Hiện nay, mô hình

trường này đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng của ngành giáo dục

Việt Nam.

1.2.4.3. Khái niệm trường học thân thiện:

Trường học thân thiện trước hết là nơi tiếp nhận tất cả trẻ em trong độ tuổi

quy định, nhất là tiểu học, trung học cơ sở là các cấp phổ cập, đến trường. Nhà

trường phải tạo điều kiện để thực hiện bình đẳng về quyền học tập cho thanh, thiếu

niên. Trường học thân thiện là trường học có chất lượng giáo dục toàn diện và hiệu

quả giáo dục không ngừng được nâng cao. Các thầy, cô giáo phải thân thiện trong

dạy học, thân thiện trong đánh giá kết quả rèn luyện, học tập của học sinh, đánh giá

công bằng, khách quan với lương tâm và trách nhiệm của nhà giáo. Các thầy, cô

giáo trong quá trình dạy học phải thân thiện với mọi năng lực thực tế của mọi đối

tượng học sinh, để các em tự tin bước vào đời [25].

Ngoài ra, trường học thân thiện là trường học có môi trường sống lành mạnh,

an toàn, tránh được những bất trắc, nguy hiểm đe dọa học sinh. Trường học thân

thiện là trường học có cơ sở vật chất đảm bảo các quyền tự nhiên thiết yếu con

người: đủ nước sạch, ánh sáng, phòng y tế, nhà vệ sinh, sân chơi, bãi tập…Trường

học thân thiện là trường tạo lập sự bình đẳng giới, xây dựng thái độ và giáo dục

21

hành vi ứng xử tôn trọng bình đẳng nam nữ. Trường học thân thiện phải chú trọng

giáo dục kỹ năng sống, giáo dục cho học sinh biết rèn luyện thân thể, biết tự bảo vệ

sức khỏe, biết sống khỏe mạnh, an toàn. Trường học thân thiện là nơi huy động có

hiệu quả sự tham gia của học sinh, thầy cô giáo, cha mẹ học sinh, của chính quyền,

các tổ chức đoàn thể, các đơn vị kinh tế và nhân dân địa phương nơi trường đóng

cùng đồng lòng, đồng sức xây dựng nhà trường. Như vậy, để trường học trở thành

trường học thân thiện, vai trò của công tác quản lý rất quan trọng [25].

Theo đánh giá của Bộ GD&ĐT thì trường học thân thiện không phải là một

mô hình hoàn toàn mới ở nước ta mà trên thực tế đã có nhiều điển hình tiên tiến đã

và đang phấn đấu thực hiện. Trong xu thế hội nhập, việc xây dựng và thực hiện mô

hình trường học thân thiện cần kết hợp từ lý luận và thực tiễn trong nước với việc

tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới.

“Trường học thân thiện” phải là trường học có môi trường sống lành mạnh,

an toàn, mọi thành viên phải ứng xử thân thiện với nhau và với môi trường sống,

xây dựng trường xanh - sạch - đẹp. Phải đi đến bài trừ mọi thái độ, hành vi không

thân thiện, từ thái độ ứng xử thờ ơ, lạnh nhạt, vô cảm, đến kỳ thị, đố kỵ, công kích,

bắt nạt, quấy rối đến hành vi bạo lực trong đời sống học đường, để góp phần bài trừ

bạo lực trong đời sống xã hội theo truyền thống tương thân, tương ái, thương người

như thể thương thân của cha ông ta. Trường học thân thiện phải là trường học có cơ

sở vật chất (CSVC) cần thiết phục vụ những nhu cầu thiết yếu như: có đủ ánh sáng,

đủ nước sạch, phòng y tế, nhà vệ sinh, sân chơi, bãi tập, dụng cụ phòng cháy, chữa

cháy, có phương án chủ động phòng chống thiên tai, có phương tiện phục vụ hoạt

động văn hoá, thể thao, vui chơi giải trí. Các thành viên của trường học phải cùng

lên án và bài trừ mọi tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn giao thông [47].

1.2.4.4. Xây dựng trường học thân thiện:

Ở Việt Nam giáo dục phổ thông hiện nay còn cần rất nhiều yếu tố quan trọng

để xây dựng một “trường học thân thiện” (tên đầy đủ do UNICEF đưa ra là “Child-

friendly school”) có đủ những đặc điểm do UNICEF đưa ra. Bởi vì việc XDTHTT

22

là triển khai các kế hoạch hoạt động và từng bước thực hiện để tạo nên một ngôi

trường học tập cho học sinh có được các yêu cầu sau:

Môi trường học tập thân thiện: Trong các trường phổ thông hiện nay nhà

trường tổ chức hai hoạt động chính đó là hoạt động dạy và hoạt động học. Hai hoạt

động này thực hiện chủ yếu trong lớp học với môi trường học tập khá đơn điệu và

kém hấp dẫn. Trang bị trong một lớp học phổ biến hiện nay ngoài bàn ghế học sinh,

bàn ghế giáo viên, bục giảng, bảng đen,… khá đơn điệu. Học sinh phải ngồi trong

lớp học từ 4 đến 5 tiếng đồng hồ một ngày trong hàng năm trời thì tránh sao khỏi

nhàm chán. Vì vậy tạo một môi trường học tập thân thiện sẽ có tác dụng tích cực

nhằm hướng đến chủ trương trí dục đi đôi với với đức dục. Học sinh được khuyến

khích tự tạo ra môi trường học tập trong lớp theo sở thích của mình bằng cách để

học sinh trang trí lớp học bằng tranh ảnh hay các vật trang trí khác để lớp học thật

gần gũi và ấm cúng như là góc học tập ở nhà sẽ giúp tạo thêm hứng thú học tập.

Hãy để học sinh tự nêu ra khẩu hiệu học tập và rèn luyện cho chính mình.

Việc trang bị các phương tiện nghe nhìn hiện đại phục vụ cho việc dạy và

học là cần thiết vì nó hỗ trợ cho hoạt động dạy và học nhưng nó không là yếu tố

quyết định giúp tạo ra một môi trường học tập thân thiện.

Kiến trúc của toàn bộ trường học cũng cần được thiết kế phù hợp với lứa tuổi

và tâm sinh lý học sinh. Cảnh quan và môi trường cũng cần quan tâm khi thiết kế để

tạo một môi trường thân thiện và an toàn cho học sinh giờ ra chơi và hoạt động

ngoài trời.

Các cơ sở phục vụ cho học tập như thư viện, phòng thí nghiệm, phòng căn

tin, nhà tập thể dục và chơi thể thao, các loại hình câu lạc bộ theo sở thích cũng cần

được đầu tư trang bị hiện đại, đầy đủ và phù hợp để học sinh có thể thường xuyên

đến vui chơi, học tập ngoài giờ.

Một trường học thân thiện không chỉ cần có hệ thống nhà vệ sinh sạch sẽ,

hiện đại mà còn cần hệ thống các nhà tắm và phòng để đồ dùng cá nhân và nơi thay

quần áo an toàn, kín đáo và tiện lợi cho học sinh. Sau khi chơi thể thao hay các hoạt

động vận động nhiều học sinh bị bẩn và ra mồ hôi nhiều nhưng vẫn phải mặc

23

nguyên quần áo bẩn về nhà để tắm giặt hoặc lên lớp tiếp tục học thì thật khó chịu và

mất vệ sinh. Học sinh rất cần nơi để thay trang phục và đồ dùng riêng.

Phương pháp giảng dạy thân thiện: Phương pháp giảng dạy phổ biến ở phổ

thông hiện nay vẫn theo đường hướng “Lấy người dạy là trung tâm” (Teacher -

centered) phương pháp giảng dạy này đã dẫn đến lối dạy “Thầy đọc-trò chép” và lối

học “thuộc lòng những gì thầy đọc cho chép”. Đây là phương pháp giảng dạy mang

lại sự nhàm chán cho người học vì nó đã tạo nên thói quen thụ động, trông chờ và

sức ỳ của học sinh trong tiếp thu kiến thức và sẽ ảnh hưởng nhiều đến tính năng

động, sáng tạo trong cuộc sống sau này của các em. Vì thế cần phải thay đổi

phương pháp giảng dạy theo hướng “Lấy người học làm trung tâm” (Learner-

centered) đây mới thực sự là phương pháp giảng dạy “thân thiện” với người học.

Với quan niệm người thầy là người tổ chức và trợ giúp hoạt động tiếp thu kiến thức

cho học sinh. Người thầy đóng vai trò là người gợi mở và bổ sung thêm những điều

các em chưa biết, chưa rõ và hiểu chưa đúng mà thôi. Học sinh thực sự là nhân vật

trung tâm trên lớp học. Người thầy cũng có thể nêu trước vấn đề và cho học sinh về

nhà tự nghiên cứu từ sách giáo khoa và sách tham khảo khác về vấn đề đó để đến

buổi học trên lớp sau đó thảo luận và tranh luận với nhau trong cặp và trong nhóm.

Việc tranh luận đó sẽ giúp học sinh hiểu sâu hơn và nhớ nhanh hơn vì đó là cách

tiếp thu kiến thức một cách chủ động, thoải mái. Phương pháp giảng dạy này đã tạo

nên nhu cầu tự học tự nghiên cứu bên ngoài lớp học và rèn luyện cho người học thói

quen đào sâu suy nghĩ về một vấn đề nào đó. Dần dần sẽ hình thành cho học sinh

thói quen suy nghĩ một cách chủ động, độc lập sáng tạo và biết chia sẻ những suy

nghĩ của mình với người khác.

Phương pháp kiểm tra, đánh giá thân thiện: Với việc đánh giá kết quả học

tập học sinh theo các mức Khá, Giỏi, Trung Bình, Yếu, Kém thông qua tổng kết

nhiều loại bài kiểm tra như bài kiểm tra 15 phút, một tiết, hai tiết, bài kiểm tra học

kỳ và cuối năm hiện hành ở các trường phổ thông hiên nay đã tạo nên quá nhiều sức

ép đối với người học. Đối với những học sinh thông minh và có trí nhớ tốt thì chịu ít

sức ép hơn. Những học sinh này thường được thầy cô bạn bè đánh giá cao. Những

24

học sinh học kém hơn thường chiếm số đông sẽ mặc cảm, xấu hổ với kết quả kém

và có thái độ ganh đua và thậm chí là ganh ghét với học sinh có điểm kiểm tra cao

hơn. Điều này đã làm xấu đi mối quan hệ giữa nhiều học sinh trong lớp.

Để có phương pháp kiểm tra thân thiện hơn mà vẫn đánh giá đúng học lực và

khuyến khích học sinh tự vươn lên trong học tập chúng ta cần phân biệt hai loại

hình kiểm tra: kiểm tra đánh giá sự tiến bộ và kiểm gia đánh giá kết quả học tập.

Các bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết hay 2 tiết trong một học kỳ chỉ nên mang tính chất

đánh giá sự tiến bộ của học sinh. Kết quả các bài kiểm tra đó là điều kiện để học

sinh thi học kỳ và cuối năm. Điểm số và những nhận xét chi tiết, cụ thể về sự tiến

bộ học sinh, những phần kiến thức còn yếu và cách thức khắc phục cần thông báo

riêng tới từng học sinh thông qua thư riêng hay qua thư điện tử cho phụ huynh và

học sinh biết để tránh sự mặc cảm và xấu hổ cho học sinh với các học sinh khác.

Chỉ một mình học sinh đó biết mình nắm được cái gì, còn thiếu cái gì để có hướng

phấn đấu và tự ganh đua với … chính mình để kết quả cuối năm tốt hơn. Loại hình

kiểm tra thứ hai là kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Nó được thực hiện cuối kỳ và

cuối năm để đánh giá kết quả học tập sau quá trình học tập sau một học kỳ, một

năm hay cả khoá học. Kết quả cần được thông báo riêng cho học sinh và ghi vào

học bạ học sinh và chỉ nên công khai khi học sinh đó tốt nghiệp, kết thúc khoá học.

Để khuyến khích học sinh tham gia tích cực các hoạt động nhóm trong và

ngoài lớp học, cần có phần chấm điểm cho hoạt động nhóm của từng học sinh.

Điểm môn học nên chiếm 70% và điểm hoạt động nhóm nên chiếm 30% tổng điểm

tổng kết cuối kỳ của môn học đó. Điểm này nên để mỗi học sinh cho điểm các thành

viên khác trong nhóm và gửi kín cho giáo viên để tính điểm trung bình chung.

Các mối quan hệ thân thiện: Mối quan hệ đầu tiên cần phải thân thiện đó là

quan hệ thầy trò. Phương pháp dạy theo hướng “Lấy người dạy là trung tâm”

(Teacher-centered) hiện nay đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ thầy trò. Nhiều thầy

cô vẫn duy trì quan niệm rằng thầy là “người trên” và học trò là “người dưới”. Quan

niệm này đã dẫn đến sự xa cách trong quan hệ thầy trò. Học trò rất ít khi dám tranh

luận với thầy cô vì sợ thầy cô phật ý. Các thầy thường ít khi dám thừa nhận mình

25

sai hay nhầm lẫn vì sợ học sinh đánh giá. Do đó, họ thường có thái độ áp đặt và chủ

quan với học trò. Các thầy cô hiện nay rất khó trở thành người bạn tin cậy để học

sinh có thể chia sẻ mọi vấn đề vì giữa họ và học sinh luôn có khoảng cách về tuổi

tác và tri thức.

Việc thay đổi phương pháp giảng dạy theo hướng “Lấy người học làm trung

tâm” giúp các thầy cô có được mối quan hệ thân thiện với học sinh vì học sinh được

xem là nhân vật trung tâm của quá trình giáo dục. Các em được tôn trọng và được

tự do bày tỏ ý kiến cá nhân mình. Mối quan hệ thầy trò sẽ gần gũi hơn, thoải mái

hơn. Người thầy cần học cách lắng nghe ý kiến của học sinh và biết chấp nhận

những ý kiến “đối lập” và cũng có thể hoàn thiện kiến thức thêm nhờ tranh luận với

học trò. Người thầy có thể lấy ý kiến đánh giá của học trò thông qua các phiếu điều

tra không ghi tên để không ngừng tự hoàn thiện mình.

Phương pháp giảng dạy theo hướng “Lấy người học làm trung tâm” nhấn

mạnh vào việc tự học, tự nghiên cứu của cá nhân với các hoạt động học tập theo

nhóm trong và ngoài giờ học. Mối quan hệ giữa các học trò không chỉ là sự kết bạn

cùng sở thích riêng như ở các trường phổ thông hiện nay mà còn là mối quan hệ

chia sẻ kiến thức trong nhóm khi thảo luận trên lớp và các hoạt động theo nhóm

ngoài lớp học khi cùng làm một bài tập sưu tầm hay nghiên cứu nhỏ ngoài lớp học.

Mối quan hệ giữa học trò sẽ thân thiện hơn, gắn bó hơn do các em tham gia các hoạt

động không chỉ vui chơi giải trí mà còn học tập với nhau, chia sẻ công việc và tri

thức cùng với nhau.

Ngoài hai mối quan hệ chính ở trên còn các mối quan hệ giữa học trò với các

nhân viên phục vụ trong trường cũng cần phải thân thiện. Họ cần phải biết cách tôn

trọng học trò và chất lượng phục vụ cần được thường xuyên đánh giá thông qua các

phiếu điều tra định kỳ phát cho học trò.

Như vậy, để xây dựng một “Ngôi trường thân thiện” thực sự nếu như chỉ chú

trọng đưa vào các hoạt động vui chơi các trò chơi dân gian, tìm hiểu và chăm sóc di

tích lịch sử hay các hoạt động ngoại khoá khác thì không đủ. Vì đó cũng chỉ là

những hoạt động bổ trợ cho nhiệm vụ chính là học tập của các em. Điều các em cần

26

là môi trường học tập thân thiện, phương pháp học tập và phương pháp giảng dạy

thân thiện, các mối quan hệ thân thiện và những sự phục vụ thân thiện của nhà

trường. Có như vậy các em mới thấy thật sự thoải mái và yêu mến trường như nhà

của mình. Mỗi khi xa trường một ngày các em chỉ mong chóng trở lại trường. Học

sinh sẽ gắn bó với trường học và mỗi ngày đến trường mới thực sự là một ngày vui

của các em.

1.2.4.5.Tiêu chí đánh giá trường học thân thiện trường trung học phổ

thông:

Thông qua việc hoàn thiện các thành tố của trường học thân thiện như tiếp

nhận tất cả trẻ em đến trường; hiệu quả giáo dục; môi trường an toàn, lành mạnh, hỗ

trợ và bảo vệ; bình đẳng giới; sự tham gia của học sinh (HS), gia đình, cộng đồng

và nhà trường cùng tham gia xây dựng trường, các nhà trường sẽ đánh giá qua các

tiêu chí cụ thể. Bộ giáo dục và đào tạo đề ra tiêu chí đánh giá trường học thân thiện

theo công văn số 1741/BGDĐT-GDTrH như sau [13].

Nội dung đánh giá bao gồm các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục và

kết quả thực hiện phong trào thi đua của trường học, của địa phương. Nội dung

đánh giá bao gồm các yếu tố khách quan (điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo

viên...) và các yếu tố chủ quan của nhà trường (tính sáng tạo trong tổ chức chỉ đạo,

tinh thần chủ động khắc phục khó khăn vượt lên hoàn cảnh...). Do đó, ngoài đánh

giá các yếu tố khách quan, phải đánh giá các yếu tố chủ quan liên quan đến việc

thực hiện mục tiêu thi đua. Các nội dung được cụ thể hóa thành các tiêu chí, kết quả

cụ thể cho phù hợp với đặc điểm của các cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học

và trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông. 2TCác trường tự đánh giá theo

6 nội dung, mỗi nội dung bao gồm một số tiêu chí, mỗi tiêu chí có các kết quả cụ

thể với khung thang điểm. Các nội dung từ 1 đến 5 là hoạt động của phong trào thi

đua; nội dung thứ 6 dành để đánh giá công tác tổ chức chỉ đạo phong trào thi đua và

2T

mức độ tiến bộ đạt được qua mỗi lần đánh giá.

Nội dung 1: Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn.

27

2T

Nội dung 2: Dạy học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học

2T

sinh, giúp các em tự tin trong học tập.

2T

Nội dung 3: Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.

2T

Nội dung 4: Tổ chức các hoạt động tập thể.

Nội dung 5 :2T 2THọc sinh tham gia tìm hiểm, chăm sóc và phát huy giá trị các

2T

di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng ở địa phương.

Nội dung 6 : Tính sáng tạo trong công tác tổ chức chỉ đạo và mức độ tiến bộ

2T

đạt được thông qua các lần đánh giá.

Các nội dung được cụ thể hoá thành các tiêu chí, kết quả điểm cụ thể phù

2TNgoài ra Bộ GD&ĐT cũng phân cấp quản lý và phương pháp đánh giá.

2T

hợp với đặc điểm của các trường.

2T

Phân cấp quản lý đánh giá.

Sở GD&ĐT: Đánh giá đối với các trường THPT; Đánh giá phòng Giáo dục

và Đào tạo các quận, huyện, thành phố trực thuộc, căn cứ vào kết quả đạt được của

các trường trong đơn vị để đánh giá xếp loại đối với cấp quận, huyện, thành phố

2T

trực thuộc.

Phòng GD&ĐT các quận, huyện, thành phố trực thuộc: Đánh giá các trường

trên các địa bàn xã, phường, thị trấn; Căn cứ vào kết quả đạt được của các trường

Mầm non, Trung học, Trung học cơ sở ở từng địa phương để đánh giá phong trào và

2T

xếp loại các xã, phường, thị trấn.

2T

Phương pháp đánh giá.

Đánh giá cho điểm theo 6 nội dung, theo các tiêu chí kết quả cụ thể đạt được

từng phần. Lưu ý từng phần có thể cho điểm lẻ nhưng kết quả cuối cùng làm tròn

thành điểm số nguyên. Căn cứ khung điểm tại các Phụ lục kiểm tra đối chiếu với kết

quả thực tế của trường để xác định cho điểm từng nội dung theo hướng dẫn cho phù

2T

hợp (Phụ lục 5).

Xếp loại các trường, các đơn vị, địa phương đạt các mức danh hiệu thực hiện

phong trào thi đua " Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" theo các

mức sau đây:

28

2T

Loại Xuất sắc: Trường đạt từ 90 đến 100 điểm (nội dung 1 đến 5 và tiêu chí

2T

6 phải đạt ít nhất 80% điểm tối đa).

Loại Tốt : Trường đạt từ 80 đến dưới 90 điểm (nội dung 1 đến 5 và tiêu chí

2T

6 phải đạt ít nhất 65% điểm tối đa).

Loại Khá: Trường đạt từ 65 đến dưới 80 điểm ( nội dung 1 đến 5 và tiêu chí

2T

6 phải đạt ít nhất 50% điểm tối đa).

2T

Loại Trung bình: Trường đạt từ 50 đến dưới 65 điểm.

2T

Loại Cần cố gắng: Trường đạt dưới 50 điểm.

Trong kỳ đánh giá trường xảy ra sai phạm thuộc về trách nhiệm của tổ chức,

cá nhân (vi phạm chính sách, pháp luật, quy chế chuyên môn, Điều lệ nhà trường

hoặc để xảy ra tai nạn gây thiệt hại về người, tài sản do thiếu trách nhiệm quản

lý....) tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm cơ quan đánh giá có thể hạ thấp 1 đến 2

cấp xếp loại.

2TMô hình “Trường học thân thiện” quả thật không hoàn toàn mới nhưng cũng

1.2.5. Quản lý trường học thân thiện:

không tự nhiên mà có. Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu, kết hợp lí luận

và thực tiễn giáo dục trong nước với việc tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm

2TVì thế quản lý trường học thân thiện là sự tác động có tổ chức, có mục đích

giáo dục tiên tiến của thế giới.

của CBQL tới tập thể giáo viên, công nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các

2TĐây chính là công tác quản lý việc xây dựng môi trường thân thiện trong mối

đơn vị liên ngành nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đã đề ra.

quan hệ giữa cán bộ, giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh, giữa học

sinh với thầy cô giáo và cán bộ nhân viên, giữa giáo viên, cán bộ nhân viên với gia

đình học sinh, giữa nhà trường với cộng đồng và hành vi thân thiện với môi trường

thiên nhiên.

29

1.2.6. Quản lý việc xây dựng trường học thân thiện:

Trong cuộc vận động xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, một

lần nữa vai trò người hiệu trưởng càng có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Quản lý việc xây dựng trường học thân thiện là công tác quản lý việc xây

dựng nhà trường, môi trường học tập thân thiện, điều này có liên quan đến các hoạt

động của nhà trường từ hoạt động dạy, hoạt động học đến các hoạt động giáo dục tư

tưởng tình cảm và đạo đức cho học sinh.

Quản lý việc xây dựng trường học thân thiện là quản lý các hoạt động xây

dựng, triển khai các kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện từng bước theo hướng dẫn

của ngành để tạo dựng một ngôi trường thân thiện với học sinh. Trong ngôi trường

ấy, học sinh được hưởng thụ một môi trường học tập thân thiện, phương pháp giảng

dạy thân thiện, phương pháp kiểm tra đánh giá thân thiện, các mối quan hệ thân

thiện…để trang bị cho các em đầy đủ phương tiện cần thiết, tự tin bước vào đời và

góp phần xây dựng đất nước.

Với nhiệm vụ quản lý việc xây dựng trường học thân thiện, Hiệu trưởng phải

đề ra kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, có kiểm tra đánh giá kết quả là các thế hệ

học sinh năng động, tích cực dưới sự dạy dỗ của các thầy cô giáo được học tập

trong môi trường trường học thân thiện, sẽ là nhân tố quyết định sự phát triển bền

2TVì vậy cán bộ quản lý trường trung học phổ thông cần nắm rõ các chức năng

vững của đất nước.

quản lý trường học thân thiện để xây dựng kế hoạch, đề ra chiến lược, mục tiêu thực

hiện để môi trường học tập và giảng dạy, công tác kiểm tra đánh giá trong nhà

trường đều đảm bảo tính thân thiện, học sinh c1o điều kiện phát huy hết khả năng

học tập của mình, thầy cô mang hết tâm tư, tình cảm và nhiệt huyết của mình để

giảng dạy, tự học tập bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn. Thầy yêu nghề,

được trân trọng, trò yêu trường lớp, gắn bó với thầy cô chính là trách nhiệm của

người làm công tác quản lý nhà trường.

30

2TPhát huy vai trò tích cực của học sinh thể hiện tinh thần hứng thú, tự giác, tự

1.2.6.1. Mục tiêu quản lý việc xây dựng trường học thân thiện:

tin, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập và rèn luyện cũng như 2Tphát huy tính

chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội một

cách phù hợp và hiệu quả.

Huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường

để xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều

kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội.

1.2.6.2. Yêu cầu chung của công tác quản lý xây dựng trường học thân

thiện:

Theo chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT về yêu cầu chung của công tác quản lý

việc xây dựng trường học thân thiện như sau [11].

Tập trung các nguồn lực để giải quyết dứt điểm những yếu kém về cơ sở vật

chất, thiết bị trường học, tạo điều kiện cho học sinh khi đến trường được an toàn,

thân thiện, vui vẻ.

Tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động

giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng, với thái độ tự giác, chủ động và ý thức

sáng tạo.

Phát huy sự chủ động, sáng tạo của thầy, cô giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới

phương pháp giáo dục trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Huy động và tạo điều kiện để có sự tham gia hoạt động đa dạng và phong

phú của các tổ chức, cá nhân trong việc giáo dục văn hóa, truyền thống lịch sử cách

mạng cho học sinh.

Phong trào thi đua phải đảm bảo tính tự giác, không gây áp lực quá tải trong

công việc của nhà trường, sát với điều kiện ở cơ sở. Nội dung cụ thể của phong trào

là do cơ sở tự chọn, phù hợp với điều kiện của nhà trường, làm cho chất lượng giáo

dục được nâng lên và có dấu ấn của địa phương một cách mạnh mẽ.

Ngoài ra công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện cũng cần:

31

2TGiải quyết dứt điểm yếu kém về cơ sở vật chất để xây dựng môi trường giáo

dục lành mạnh, thân thiện; Phát huy vai trò tích cực của học sinh trong học tập, rèn

luyện; Phát huy vai trò chủ động sáng tạo của giáo viên trong giảng dạy và giáo dục

học sinh; Nhà trường phối hợp với các lực lượng xã hội thực hiện tốt giáo dục các

giá trị văn hoá dân tộc, lịch sử, truyền thống cách mạng cho học sinh; Phát huy tính

tự giác của mọi thành viên trong trường tham gia phong trào và tổ chức các hoạt

động phù hợp với thực tiễn của địa phương; Thực hiện tốt các yêu cầu dứt điểm

trong kế hoạch số: 463/KH - SGD&ĐT, ngày 10 tháng 9 năm 2008 của Sở Giáo duc

và Đào tạo và Kế hoạch liên ngành số: 1411/ KHLN, ngày 11 tháng 11 năm 2009

của Sở GD&ĐT, Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Thành Đoàn Thanh niên Cộng

sản Hồ Chí Minh thành phố về triển khai phong trào thi đua "Xây dựng trường học

thân thiện, học sinh tích cực" năm học 2008 - 2009 và giai đoạn 2008 – 2013 (Phụ

lục 6).

1.2.6.3. Nội dung quản lý việc xây dựng trường học thân thiện trường

trung học phổ thông:

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã có buổi làm việc

với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh về triển khai phong trào

thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, sẽ được Bộ GD&ĐT

phối hợp với Bộ Văn hóa - Thể thao – Du lịch và Trung ương Đoàn triển khai trong

giai đoạn 2008 – 2013 với các nội dung sau [12].

Quản lý việc xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn:

Bảo đảm trường an toàn, sạch sẽ, có cây xanh, thoáng mát và ngày càng đẹp

hơn, lớp học đủ ánh sáng, bàn ghế hợp lứa tuổi học sinh.

Tổ chức để học sinh trồng cây vào dịp đầu xuân và chăm sóc cây thường

xuyên.

Có đủ nhà vệ sinh được đặt ở vị trí phù hợp với cảnh quan trường học, được

giữ gìn vệ sinh sạch sẽ.

Học sinh tích cực tham gia bảo vệ cảnh quan môi trường, giữ vệ sinh các

công trình công cộng, nhà trường, lớp học và cá nhân.

32

Quản lý việc dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của

học sinh ở mỗi địa phương, giúp các em tự tin trong học tập:

Thầy, cô giáo tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích

sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo và ý thức vươn lên, rèn luyện khả năng

tự học của học sinh.

Học sinh được khuyến khích đề xuất sáng kiến và cùng các thầy cô giáo thực

hiện các giải pháp để việc dạy và học có hiệu quả ngày càng cao.

Theo ý kiến của nhiều CBQL, tuy bắt đầu từ năm học 2008 – 2009 này mới

triển khai xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhưng đây không

phải là điều quá mới mẻ. Nói như vậy là bởi vì, khoảng vài năm trở lại đây, cùng

với việc đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học, Bộ GD&ĐT đã nhấn mạnh đến

việc yêu cầu học sinh phát huy tính chủ động, tham gia trong các hoạt động giảng

dạy của giáo viên. Vì thế, phong trào “trường học thân thiện, học sinh tích cực”

thực ra là sự phát triển một hoạt động đã triển khai từ trước đó ở mỗi trường học.

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực đã khiến mối quan

hệ thầy - trò trong nhà trường bắt đầu có sự thay đổi. Vị trí trung tâm của người

thầy giáo không còn ở nghĩa nguyên thuỷ và đã bắt đầu dịch chuyển sang học sinh.

Thầy giáo không chỉ đơn thuần truyền thụ kiến thức cho học trò tiếp nhận mà còn là

sự phản ảnh trở lại của trò. Trong thời đại bùng nổ thông tin, khi học sinh có nhiều

kênh tiếp nhận thông tin thì trường học phải là kênh duy nhất truyền đạt kiến thức

một cách có hệ thống, trong đó, thầy giáo đóng vai trò là người hướng dẫn.

Quản lý việc rèn luyện kĩ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống;

thói quen và kĩ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động xã hội:

Ứng xử giữa học sinh với học sinh: Mối quan hệ giữa học sinh với học sinh

là quan hệ bạn bè có mục đích cơ bản chung là học tập sao cho đạt kết quả tốt. Quan

hệ giữa học sinh với học sinh là bình đẳng, hồn nhiên và vô tư. Quan hệ cùng học

để lại nhiều dấu ấn khó phai mờ trong mỗi con người. Rất nhiều người giữ được

mối quan hệ thân tình này đến già, và chúng càng ngày càng trở nên thân mật hơn.

33

Ứng xử giữa học sinh với thầy: đây là mối quan hệ giao tiếp rất cần cả hai

bên tôn trọng nhau. Học sinh phải lễ phép, tôn trọng và vâng lời thầy cô giáo. Thân

thiện nhưng giữ khoảng cách thầy trò, tránh lợi dụng. Đối với thầy cô cần tôn trọng

ý kiến cá nhân, ứng xử công bằng. Biết lắng nghe và cùng chia sẻ những khó khăn

trong cuộc sống. Ứng xử thân thiện, hòa nhã, không phân biệt đối xử. Giúp đỡ quan

tâm các em có hoàn cảnh đặc biệt. Thấu hiểu nỗi buồn riêng, hoàn cảnh riêng của

mỗi học sinh. Tùy vào từng đối tượng học sinh cụ thể mà có cách ứng xử riêng. Có

tinh thần trách nhiệm cao trong cách cư xử đối với học sinh. Luôn là tấm gương

sáng, mẫu mực cho học sinh noi theo. Luôn đặt tình thương và trách nhiệm lên trên

hết.

Ứng xử giữa thầy với thầy: Quan hệ giữa thầy giáo với thầy giáo trong nhà

trường là quan hệ đồng nghiệp. Do vậy trong ứng xử đồng nghiệp cần có sự tôn

trọng, bình đẳng, trách nhiệm và hoà hợp.

Sự tôn trọng nhau thể hiện ở cách xưng hô trong sinh hoạt chuyên môn, trong

giảng dạy và công tác. Không nên hạ thấp đồng nghiệp, đề cao mình, nhất là trước

mặt học sinh.

Sự bình đẳng thể hiện trong việc phân công công tác, trong đánh giá giáo

viên, trong đãi ngộ. Sự bình đẳng ở đây không có nghĩa là cào bằng mà là sự công

bằng. Mỗi người đều phải có nghĩa vụ và trách nhiệm làm tròn chức năng của mình.

Trong một trường học, đội ngũ giáo viên là một tập thể những người không

có cùng độ tuổi, kinh nghiệm nghề nghiệp cũng khác nhau. Giáo viên giàu kinh

nghiệm cần giúp đỡ giáo viên ít kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, giáo dục học

sinh. Những giáo viên trẻ - mới ra trường cần khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm những

giáo viên lâu năm về công tác giảng dạy và giáo dục. Đối với người giáo viên, kinh

nghiệm nghề nghiệp là điều rất cần thiết và cần phải không ngừng học hỏi tích lũy

nó. Ông cha ta đã dạy “thầy giáo già, cô hát trẻ”.

Trong giao tiếp cần cởi mở, chân tình. Hãy đến với nhau bằng những nụ cười,

ánh mắt thân thiện, những cái bắt tay, hay gật đầu chào thân tình.

34

Trong mọi công việc cần tôn trọng giờ giấc, chất lượng công việc. Khi muộn

giờ hay vắng mặt cần phải xin phép đổi giờ, đổi lịch... Khi đồng nghiệp gặp khó

khăn cần quan tâm, giúp đỡ chân tình. Khi đồng nghiệp có niềm vui hãy vui cùng

đồng nghiệp, chúc mừng đồng nghiệp một cách thành thật. Chỉ có kẻ ích kỉ mới

buồn cho sự vui sướng của người khác.

Ứng xử giữa thủ trưởng và nhân viên:

Các nhân viên trong một cơ quan, đơn vị trường học là những người lao động

hưởng lương, là đồng nghiệp của nhau. Tuy nhiên, trình độ tay nghề, kinh nghiệm

sống và thâm niên nghề nghiệp khác nhau, tuổi tác khác nhau, do vậy sự khác biệt

về tâm lí, tính cách càng lớn. Trong việc ứng xử với người thừa hành, là thủ trường

đơn vị cần chú ý đến những vấn đề sau:

Không thể ứng xử như nhau với tất cả nhân viên. Đối với những giáo viên cao

tuổi, có thâm niên công tác cao, kinh nghiệm sống và nghề nghiệp dày dặn thì cần

tôn trọng họ. Cần sử dụng những giáo viên này trong việc kèm cặp - giúp đỡ những

giáo viên còn ít kinh nghiệm là cần thiết. Đối với những giáo viên mới vào nghề, trẻ

tuổi thì cần khuyến khích họ trong công việc và cuộc sống; tạo điều kiện cho họ học

tập và phát huy sáng kiến của mình; lạc quan tin tưởng ở sức bật của tuổi trẻ.

Dù ở độ tuổi nào, giáo viên cũng thích được khen, không ai thích người khác

chê (nhất là trước đông người) ngay cả khi điều đó là chính đáng. Lời khuyên của

của thủ trưởng là nguồn động viên tinh thần rất lớn cho nhân viên. A.Xukhômlinxki

(nhà giáo dục Nga) nói rằng: “Những lời khen như dòng nước mát, nếu đem tưới

cho những mầm non ấy sẽ nảy lộc đâm chồi, nhanh chóng phát triển cành non lá

mới và chúng lấn át mầm xấu trong con người không cho chúng phát triển” [4].

Thủ trưởng không nên tiếc lời khen đối với nhân viên. Song lời khen đó phải

chân thành. Khi phê bình nhắc nhở nhân viên cần tế nhị, sao cho họ thấy được lỗi

của họ và thấy lỗi đó ai cũng có thể nhận ra. Và do vậy họ không giận người góp ý

mà trái lại họ tự trách mình, cảm thấy ân hận và có ý thức khắc phục.

35

Quản lý việc tổ chức các hoạt động tập thể, vui tươi, lành mạnh:

Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến khích

sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh.

Tổ chức các trò chơi dân gian và các hoạt động vui chơi giải trí tích cực khác

phù hợp với lứa tuổi của học sinh.

Tổ chức các hoạt động giao lưu, sinh hoạt tập thể để học tập trao đổi kinh

nghiệm, chia sẽ nâng cao hiểu biết về kiến thức xã hội, kĩ năng sống.

Quản lý việc tổ chức cho học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát

huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương:

Mỗi trường đều nhận chăm sóc một di tích lịch sử, văn hóa hoặc di tích cách

mạng ở địa phương, góp phần làm cho di tích ngày một sạch đẹp hơn, hấp dẫn hơn;

tuyên truyền, giới thiệu các công trình, di tích của địa phương với bạn bè.

Mỗi trường có kế hoạch và tổ chức giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc và

tinh thần cách mạng một cách hiệu quả cho tất cả học sinh; phối hợp với chính

quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn

hóa và cách mạng cho cuộc sống của cộng đồng ở địa phương và khách du lịch.

1.2.7. Phương pháp quản lý:

1.2.7.1. Phương pháp hành chính:

Phương pháp hành chính – luật pháp là cách thức tác động trực tiếp của cơ

quan quản lý cấp trên (hoặc các nhà chức trách) lên đối tượng và khách thể quản lý

bằng các mệnh lệnh, các quyết định, chỉ thị mang tính bắt buộc nhằm đạt mục tiêu

đề ra trong những tình huống quản lý nhất định. Đặc điểm của phương pháp hành

chính – luật pháp là tính bắt buộc và tính quyền lực.

Tính bắt buộc đòi hỏi các đối tượng quản lý chấp hành nghiêm chỉnh các

quyết định, các chỉ thị của chủ thể quản lý, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật kịp thời

và thích đáng.

Vai trò của phương pháp này trong quản lý rất to lớn. Nó xác lập trật tự, kỷ

cương làm việc trong hệ thống, khâu nối các phương pháp thành một hệ thống, dấu

được ý đồ hoạt động và giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý rất nhanh chóng.

36

Các phương pháp hành chính – luật pháp tác động vào đối tượng quản lý

theo hai hướng: tác động về mặt tổ chức và tác động điều chỉnh hành động của đối

tượng quản lý. Theo hướng tác động này, chủ thể quản lý ban hành các văn bản quy

định về quy mô, cơ cấu, điều lệ hoạt động, các tiêu chuẩn nhằm thiết lập tổ chức và

xác định các mối quan hệ hoạt động trong nội bộ. Theo hướng điều chỉnh hành

động của đối tượng quản lý, chủ thể quản lý đưa ra những chỉ thị, mệnh lệnh hành

chính – luật pháp bắt buộc cấp dưới thực hiện những nhiệm vụ nhất định, hoặc theo

những phương hướng nhất định nhằm đảm bảo cho các bộ phận trong hệ thống hoạt

động ăn khớp và đúng hướng, uốn nắn kịp thời những lệch lạc, rủi ro có thể xảy ra.

Phương pháp hành chính – luật pháp đòi hỏi chủ thể quản lý phải có quyết

định dứt khoát, rõ ràng, dễ hiểu, có địa chỉ người thực hiện, loại trừ khả năng có sự

giải thích khác nhau đối với nhiệm vụ được giao. Đối với những quyết định hành

chính thì cấp dưới bắt buộc phải thực hiện, không được lựa chọn, chỉ người có thẩm

quyền ra quyết định mới có quyền thay đổi quyết định.

Người cán bộ quản lý giỏi, có nhiều kinh nghiệm không chỉ ra quyết định khi

có đủ thông tin mà còn dự báo được những nét phát triển chính, những mặt tích cực

cũng như các mặt tiêu cực có thể diễn ra khi quyết định được thi hành. Từ đó sẵn

sàng bổ sung các biện pháp, phát huy mặt tích cực và hạn chế, ngăn chặn mặt tiêu

cực nếu có.

Tóm lại các phương pháp hành chính luật pháp rất cần thiết cho quá trình quản

lý, không có nó thì không thể quản lý có hiệu quả.

1.2.7.2. Phương pháp giáo dục - tâm lý:

Nội dung chính của phương pháp này là sự tác động về tinh thần và tư tưởng

để đối tượng giác ngộ lý tưởng, ý thức chính trị, pháp luật, nhận thức được tốt,

xấu, thiện, ác và có hành động tích cực.

Đối với phương pháp này trước hết đòi hỏi nhà quản lý phải hiểu rõ mục

tiêu và phương hướng hoạt động của công tác xây dựng trường học thân thiện và

xác định nhiệm vụ của tổ chức mình phải làm. Để xác định mục tiêu, nhà quản lí có

thể dựa vào ý kiến của tập thể kết hợp với sự sáng tạo của mình, khi đó mục tiêu

37

không còn là công việc riêng của nhà quản lý mà trở thành định hướng chung của

tập thể, sự đóng góp và nổ lực của cả tập thể. Như vậy việc triển khai kế hoạch và

tổ chức thực hiện của nhà quản lý sẽ rất thuận lợi.

Bên cạnh đó, lòng nhiệt tình của nhà quản lý trong việc thực hiện mục tiêu

cũng rất quan trọng. Nó biến những lập luận, lí thuyết của mục tiêu thành hành

động và được đánh giá bằng kết quả thực hiện. Chính lòng nhiệt tình của nhà quản

lý sẽ truyền lửa cho những người dưới quyền, giúp họ vượt qua những khó khăn, có

những sáng tạo độc đáo để thành công trong công tác xây dựng trường học thân

thiện.

Ngoài ra, nhà quản lý cũng cần có lòng nhân ái. Người ta thường nói:

“Nguồn gốc quyền lực của con người nằm trong trái tim của người đó”. Điều đó có

nghĩa là, khi anh ta đối xử nhân hậu, quan tâm yêu thương đến người khác, anh ta

sẽ có quyền lực và sự ảnh hưởng của người này. Nhưng đó phải là một tình cảm

chân thật, tràn đầy yêu thương và với tư cách là tình cảm công bằng, chính đáng sẽ

làm cho người dưới quyền có niềm tin sự nhiệt tình và sẵn sàng thực hiện công tác

mà người lãnh đạo đề ra [16].

Trong phương pháp quản lý này, khả năng thuyết phục người dưới quyền là

một phẩm chất tâm lí không thể thiếu được của nhà quản lý hay nói đúng hơn đó là

một nghệ thuật để tập hợp và tổ chức cho mọi người phát huy tính tích cực và khả

năng của họ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Vì thế nhà quản lý cần nhìn nhận

vấn đề một cách thấu đáo, không định khuôn, phải khéo léo trong giao tiếp với mọi

người, lí lẽ phải chặt chẽ và có tính thuyết phục.

Nhìn chung, phương pháp giáo dục tâm lí rất khó và phức tạp, một nghệ

thuật mà không phải bất cứ nhà quản lý nào cũng thành công. Nó đòi hỏi bản lĩnh,

năng động, sáng tạo và khả năng nhìn nhận phân tích để xử lí vấn đề khéo léo và

đầy sức thuyết phục.

Đây là phương pháp mà chủ thể quản lý hành chính tác động gián tiếp đến

khách thể quản lý dựa trên lợi ích vật chất để khách thể tự giác thực hiện trách

nhiệm của mình. Nội dung bao gồm hai mặt:

38

Làm tốt được tăng lương, thưởng, phụ cấp. Nhưng điều quan trọng là phải

khách quan công bằng, công khai vừa khuyến khích cá nhân được đánh giá và tập

thể phấn khởi đoàn kết thống nhất vừa là động lực thúc đẩy họ khắc phục khó khăn

và có nhiều sáng kiến hơn trong công việc.

Làm không tốt thì bị xử lý như hạ lương, cắt lương,…và phê bình. Trong

công tác phê bình, cần chú ý mấy vấn đề sau: cần nói ưu điểm của người mắc sai

lầm trước. Dù ưu điểm đó là nhỏ. Sau đó mới nêu lên những khuyết điểm của họ.

Nhà quản lý cần đặt mình vào vị trí của người bị phê bình để xem xét những hoàn

cảnh, sự nổ lực của anh ta, nguyên nhân dẫn đến những sai xót và lựa chọn lời nói,

cách phê bình để giúp họ tiến bộ, không nên theo quan điểm, cách thức của mình

để rồi đưa ra lời phê bình thiếu khách quan.

Không nên phê bình cấp dưới khi có mặt người thứ ba. Vì như vậy, cấp dưới

sẽ bị hạ thấp và sẽ có những phản ứng tiêu cực. Sau nhiều lần gặp riêng mà nhân

viên không tiến bộ, chưa sữa chữa lỗi lầm mới phê bình công khai. Phê bình công

khai là bước cuối cùng. Khi phê bình công khai cần nói vào chính khuyết điểm của

họ, chứ không nên từ khuyết điểm đó mà nhận xét về bản thân họ.

Mọi sự phê bình đều xuất phát từ tình yêu thương, sự tôn trọng và mong

muốn họ tiến bộ. Trong khi phê bình phải biết trân trọng những mặt tốt của họ, biết

cái gì đáng chê, cái gì vụn vặt không đáng chê.

Trong khen ngợi sự thẳng thắn là cần thiết, nhưng khi phê bình, sự thẳng thắn

nhiều khi dẫn đến xích mích. Bởi vì nếu sự thẳng thắn chỉ có 1% không đúng thì đủ

để gây ra sự cãi cọ, xích mích to tiếng - do cộng hưởng tâm lí. Nhưng trong sự xu

nịnh thì dù 99% là giả tạo, người ta vẫn nghĩ rằng ít ra một nữa vẫn là sự thật.

Như vậy, trong hoạt động quản lý, người lãnh đạo cần có thái độ đúng mức,

mang tính thuyết phục trong việc phê bình hay khen ngợi cấp dưới. Như vậy nhà

quản lý sẽ giúp họ phấn khởi, làm việc hăng hái hơn, có ý thức hạn chế những

khuyết điểm. Có như thế nhà quản lý mới thu hút được những nhân tố tích cực, sẵn

sàng hợp tác với mình trong mọi hoạt động, công tác của nhà trường. Ngược lại,

39

nhà quản lý sẽ gặp khó khăn trong việc phối hợp một cách nhiệt tình của cấp dưới

để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Kết luận chương 1

Như vậy, xây dựng trường học thân thiện trong bối cảnh hội nhập hiện nay

rất cần thiết cho sự phát triển toàn diện của HS. Nhưng làm thế nào để công tác

quản lý việc xây dựng trường học thân thiện đạt hiệu quả chính là sự phấn đấu của

các trường, là mơ ước của học sinh và là sự mong mỏi của toàn xã hội. Ngành giáo

dục của ta đang có nhiều thay đổi: phát triển, hội nhập quốc tế nhưng phải mang

đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, bất kì sự thay đổi nào cũng gặp phải

những khó khăn lúc ban đầu.

Quản lý việc xây dựng THTT là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý

đến các đối tượng để xây dựng được một trường học thân thiện theo yêu cầu của

ngành. Vì thế các nhà quản lý phải dựa trên cơ sở lí luận vững chắc về công tác

quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học và quản lý trường học thân thiện kết

hợp với sự khéo léo trong việc vận dụng các phương pháp quản lý và việc vận dụng

linh hoạt những chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên vào tình hình thực tế nhà trường.

Có như thế mới từng bước thực hiện được mục tiêu của công tác xây dựng trường

học thân thiện đã đề ra đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho

đất nước.

Như vậy, việc quản lý xây dựng THTT thể hiện trên 2 phương diện nội dung

quản lý và phương pháp quản lý. Từ những nội dung của sáu tiêu chí về công tác

quản lý việc xây dựng trường học thân thiện được Bộ giáo dục và Đào tạo đề ra.

Nhà quản lý cần sử dụng một số phương pháp quản lý phù hợp để thực hiện tốt mục

tiêu đó chính là phương pháp quản lý hành chánh và phương pháp giáo dục tâm lý.

40

Chương 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC XÂY DỰNG

TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN

Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP

QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Khái quát tình hình kinh tế, văn hoá - giáo dục, quận 11 thành phố Hồ Chí

Minh năm 2009 – 2010:

2.1.1. Tình hình kinh tế quận 11:

Năm 2009, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 19,37% (vượt chỉ tiêu 1,37%). Từ

đó, quận tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng hoàn thành công tác quy

hoạch tổng thể và chi tiết ngành theo từng địa bàn nhằm thu hút đầu tư hạ tầng

chỉnh trang đô thị. Đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, ổn định

chinh trị và trật tự an toàn xã hội cho toàn quận.Trong 9 tháng đầu năm 2010, quận

đã hoàn thành cơ bản và vượt các chỉ tiêu về xây dựng nhà ở; các dự án về văn hóa,

xã hội được đề ra trong chương trình “Quản lý và phát triển đô thị”. Quận đã phê

duyệt đồ án quy hoạch sử dụng đất năm 2010, định hướng đến năm 2020; quy

hoạch mạng lưới trường học đến năm 2020.

2.1.2. Tình hình văn hoá - giáo dục quận 11:

Thực hiện chủ đề năm 2009 “Năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị”:

UBND quận đã xây dựng kế hoạch triển khai đến các đơn vị và UBND 16 phường,

tăng cường các biện pháp chống ùn tắc giao thông và kiểm tra xử lý các trường hợp

vi phạm. Tổ chức 15 lớp tập huấn chuyên đề “Văn hóa giao tiếp ứng xử nơi công

cộng và công sở”. Đến nay, UBND các phường đều xây dựng kế hoạch thực hiện,

vận động 100% hộ dân trên địa bàn gia tích cực các hoạt động đề ra.

Về giáo dục, năm học 2008 – 2009, Quận đã thực hiện tốt kế hoạch tuyển

sinh và chuẩn bị tốt cơ sở vật chất trường lớp, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cho

năm học mới 2009-2010 ở tất cả các cấp học. UBND thành phố đã có Quyết định

công nhận quận 11 hoàn thành chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học (trước thời

41

hạn 2 năm theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần IX). Công tác dạy nghề trong

năm 2009 đã tập trung nhiều ở các môn tin học, điện, sửa chữa xe gắn máy...Ngành

mầm non đảm bảo chất lượng, chăm sóc trẻ an toàn. Các trường trung học cơ sở

thực hiện có hiệu quả phương pháp dạy học cá thể, tự chủ về thời lượng, dạy sát đối

tượng học sinh, tổ chức soạn giáo án tập thể và kiểm tra chung. Công tác y tế học

đường cũng được quan tâm thực hiện tốt, được thành phố đánh giá loại xuất sắc.

Hầu hết CBQL và GV các trường đều sử dụng công nghệ thông tin trong công tác

quản lý, dạy học, tạo được tâm lý thầy thích dạy, trò thích học, từ đó, tỷ lệ học sinh

nghỉ-bỏ học giảm so với năm học trước và là năm đầu tiên ngành giáo dục quận kéo

giảm được tỷ lệ nghỉ-bỏ học bậc trung học cơ sở.

Công tác phổ cập giáo dục bậc trung học được giữ vững, năm 2009, tất cả 16

phường đều đạt chuẩn phổ cập bậc trung học; năm 2010, bên cạnh việc huy động

học sinh ra lớp và kéo giảm tỷ lệ học sinh nghỉ-bỏ học, các đối tượng từ 18-21 tuổi

có bằng tốt nghiệp trung học và tương được là 7.691 người, đạt tỷ lệ 83,7% so với

năm trước tăng 1,7%. Kết quả thi đua cuối năm học, về khen thưởng cấp quận có 47

tập thể và 1.854 cá nhân đạt danh hiệu lao động tiên tiến, 6 tập thể được tặng giấy

khen từng mặt và 305 chiến sĩ thi đua cấp cơ sở; về khen thưởng cấp thành phố,

trường Mầm Non quận được nhận cờ thi đua năm 2009-2010 và 22 tập thể lao động

xuất sắc, 48 chiến sĩ thi đua cấp thành phố; về khen thưởng cấp cao có 3 cá nhân đạt

danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc, 2 đơn vị và 3 cá nhân được tặng bằng khen của

Bộ GD&ĐT, 3 đơn vị được tặng cờ của Thủ tướng và Bộ GD&ĐT, 2 đơn vị và 1 cá

nhân được tặng Huân chương Lao động hạng III.

Nhìn chung năm học 2009-2010, ngành giáo dục-đào tạo quận tiếp tục thực

hiện chủ đề “Sống có trách nhiệm”, gắn với các cuộc vận động “Học tập và làm

theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương

đạo đức, tự học và sáng tạo”, “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành

tích trong giáo dục”, đẩy mạnh phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học

sinh tích cực”, phối hợp tốt 3 môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội,

chất lượng giáo dục được nâng cao từ hệ mầm non, tiểu học đến bậc trung học cơ sở

42

và trong lĩnh vực giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông; môi trường giáo dục

có nhiều cải thiện và có nhiều bước chuyển biến khá toàn diện.

2.2. Công tác xây dựng trường học thân thiện trường trung học phổ thông năm

2008 – 2010 tại Thành phố Hồ Chí Minh:

Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xây dựng kế

hoạch liên tịch đẩy mạnh hoạt động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân

thiện, học sinh tích cực” giai đoạn 2009 – 2013, Sở Giáo dục và Đào tạo đã phối

hợp với Hội Khuyến học và Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố ký kết liên tịch số

2802/CTr/GDĐT-HKH-HLHPN ngày 10/12/2009, ký liên tịch với Thành Đoàn, Sở

Văn hoá - Thể thao và Du lịch (Phụ lục 4).

Bằng sự phối hợp này, thành phố đã huy động sức mạnh tổng hợp của các

lực lượng trong và ngoài nhà trường để xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân

thiện, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu xã hội, thực hiện tốt các nội dung trong phong

trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện” giai đoạn 2009 – 2013.

Từ đó, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện” đã được sự

hưởng ứng tích cực của các đơn vị cơ sở trường học trên địa bàn thành phố. 100%

các đơn vị trường xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nghiêm túc. Nhiều hoạt

động phong phú, sáng tạo từ các đơn vị trường học đã dấy lên phong trào thi đua

đổi mới phương pháp học tập trong học sinh và tham gia tốt các hoạt động xã hội,

kỹ năng sống... Đó là:

Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp:

Việc quan tâm, chăm sóc cảnh quan môi trường “xanh – sạch – đẹp” được

lãnh đạo các đơn vị quan tâm: trang bị và bổ sung các thùng rác xung quanh sân

trường, lớp học tạo điều kiện thuận lợi cho các em học sinh ý thức việc giữ gìn sạch

đẹp sân trường, lớp học; trồng thêm một số cây xanh và thêm chậu kiểng, hòn non

bộ, chậu cá cảnh…xung quanh sân trường: 100% các trường có đủ bàn ghế phù hợp

với lứa tuổi học sinh, 100% các trường đã tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh

về việc bảo vệ, xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp…

43

Hầu hết các trường học trong thành phố đã tổ chức tuyên truyền rộng rãi chủ

trương trên bằng các băng-rôn, khẩu hiệu được treo ngoài cổng trường và trong sân

trường như: “Thực hiện tốt nếp sống văn minh đô thị”, “Nói lời hay, làm việc tốt”,

“Quyết tâm xây dựng nhà trường xanh – sạch – đẹp”. Một số trường khuyến khích

học sinh trang trí lớp học giúp lớp học thêm gần gũi, sinh động. Đa số các đơn vị

quan tâm và phối hợp với lực lượng công an phường, dân phòng để xóa bỏ các điểm

buôn bán lề đường quanh trường, dẹp các nhóm thanh thiếu niên cá biệt tụ tập gần

cổng trường,... Trong năm học vừa qua toàn ngành chỉ có 86 học sinh vi phạm luật

giao thông bị xử lý; không có trường hợp nào vi phạm các tệ nạn xã hội.

Nhìn chung, mặc dù một số trường học tại thành phố còn hạn chế về mặt

bằng, sân bãi nhưng với ý thức xây dựng môi trường học tập xanh - sạch -đẹp hầu

hết lãnh đạo các đơn vị đều quan tâm tổ chức chăm sóc, trồng mới và trang trí lớp

học tạo không gian khoáng đãng, mát mẻ. Các lớp học đầy đủ ánh sáng theo chuẩn

quy định của Bộ Y tế.

Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở mỗi

địa phương, giúp các em tự tin trong học tập.

Năm học 2009 – 2010, Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục chỉ đạo các đơn vị

tập trung “Đổi mới toàn diện nhà trường” nhằm từng bước xây dựng các trường tiên

tiến, đạt chuẩn quốc tế, hội nhập giáo dục khu vực. Một trong các nội dung đổi mới

của giáo dục thành phố là đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập, chuyển từ dạy

học “số đông”, dạy học “từ chương” sang dạy học “cá thể” với các biện pháp cụ thể

như đổi mới hiệu quả phương pháp dạy học: Sở đã chỉ đạo các trường đổi mới cách

biên soạn đề và đã tổ chức nhiều hội thảo, nhiều hội nghị chuyên môn theo định

hướng thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt đối với các môn khoa học

xã hội như Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục Công dân. Thông qua các Hội đồng

bộ môn và hoạt động chuyên môn của các cụm trường như: hội giảng, hội nghị

chuyên đề, giáo viên các trường đã trao đổi kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy

học, tổ chức hội thi làm đồ dùng dạy học; tiếp tục bổ sung hoàn chỉnh ngân hàng đề

thi các môn học, chú trọng việc biên soạn các câu hỏi dưới dạng mở, khuyến khích

44

học sinh sáng tạo trong giải quyết vấn đề, tránh học vẹt từ chương, thuộc lòng, ghi

nhớ máy móc.

Tổ chức các hoạt động tập thể, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.

Trong năm học 2009 - 2010, việc tập hợp thanh niên và tổ chức hoạt động ở

một số trường được thực hiện rất tốt: xây dựng các câu lạc bộ, đội nhóm, các câu

lạc bộ sở thích, năng khiếu như văn nghệ, thể thao, kỹ năng, công tác xã hội,…

Trong năm học qua, Sở GD&ĐT cũng đã tổ chức “Hội trại truyền thống 9/1 và Liên

hoan học sinh THPT thành phố học tập và làm theo lời Bác” với sự tham gia của

hơn 1600 em học sinh đến từ các trường THPT trong thành phố. Các em có điều

kiện giao lưu, học hỏi kinh nghiệm học tập, hoạt động xã hội. Sở Giáo dục và Đào

tạo cũng đã phối hợp với Nhà Văn hoá Thanh niên thành phố tổ chức Ngày hội

“Khoa học vui” với sự tham gia của hơn 25 Câu lạc bộ đội nhóm đến từ các trường

THPT. Đây là sân chơi sáng tạo, thiết thực cho học sinh thành phố trong việc vận

dụng những kiến thức đã học, sáng tạo các sản phẩm phục vụ cho đời sống xã hội.

Nhằm lắng nghe những nguyện vọng, đề đạt của học sinh thành phố, góp

phần thực hiện tốt phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh

tích cực”, vào ngày 25/3/2010, Sở GD&ĐT đã tổ chức buổi tọa đàm “Tiếng nói của

học sinh thành phố Hồ Chí Minh lần 2 - 2010” với sự tham dự của 80 em là học

sinh, cán bộ Đoàn tiêu biểu đến từ các trường THPT. Qua 45 ý kiến phát biểu tại

hội trường và hơn 27 ý kiến chuyển đến thư ký buổi tọa đàm, cho thấy học sinh

THPT thành phố ngoài việc phấn đấu học tập tốt, các em còn rất quan tâm đến đất

nước, đến thành phố, đến ngành giáo dục và sự phát triển của chính các em. Tất cả

các ý kiến của các em đều xuất phát từ những suy nghĩ rất thật của tuổi trẻ trường

học hôm nay.

Sở GD&ĐT đã tổ chức Hội thảo “Phòng chống bạo lực trong nhà trường”

vào ngày 09/4/2010. Hội thảo quy tụ các chuyên gia tâm lý học, các nhà quản lý

giáo dục, các giáo viên phụ trách đoàn thể, giáo viên chủ nhiệm…đã phân tích,

đánh giá những tác động của xã hội hiện nay dẫn đến việc học sinh có những hành

vi bạo lực trong nhà trường và đề ra những giải pháp khắc phục tích cực, hiệu quả.

45

Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử,

văn hóa, cách mạng ở địa phương.

Hoạt động hỗ trợ và chăm sóc các khu di tích lịch sử, văn hóa được 100%

trường học quan tâm và thực hiện rất tốt trong những năm học qua như: khu lưu

niệm Bác Hồ - Bến Nhà Rồng, dinh Thống Nhất, nhà tưởng niệm Chủ tịch Tôn Đức

Thắng, địa đạo Củ Chi, địa đạo Phú Thọ Hòa, nghĩa trang Liệt sĩ thành phố, hầm bí

mật tại đường Ngô Gia Tự, đình Chí Hòa, khu di tích Láng Le - Bàu Cò, …Các tổ

chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh ở các đơn vị còn nhận phụng dưỡng

và chăm sóc các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình chính sách, gia đình “địa chỉ

đỏ” trên địa bàn và các tỉnh lân cận.

Hàng năm, theo chương trình Rèn luyện Đoàn viên, Đội viên do Thành Đoàn

phát động, tất cả các Đoàn trường, Liên Đội đều tổ chức cho Đoàn viên, Đội viên,

học sinh các cấp tham quan, tìm hiểu, học tập tại các nhà bảo tàng lịch sử, bảo tàng

cách mạng trên địa bàn thành phố nhằm giáo dục truyền thống dân tộc cho các em

học sinh.

2.3. Thực trạng công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện tại các

trường trung học phổ thông công lập quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.

2.3.1. Mô tả khách thể nghiên cứu và cách thức cho điểm, tính điểm:

Về khách thể nghiên cứu:

Để tìm hiểu thực trạng hoạt động xây dựng trường học thân thiện và thực

trạng công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện tại các trường trung học

phổ thông công lập Quận 11 TP. HCM, tác giả tiến hành điều tra khảo sát 3 nhóm

khách thể:

46

Bảng 2.1: Thông tin về khách thể nghiên cứu

TT Nhóm khách thể Số lượng

Nữ Nam Tổng cộng

13 CBQL 01 10 23

132 Giáo viên 02 68 200

266 Học sinh 03 224 490

Ba nhóm khách thể trên được khảo sát ở hai đơn vị:

Trường THPT Nam Kỳ khởi Nghĩa được thành lập 30 năm với nhiều thay

đổi, từ mô hình Trường vừa học vừa làm Lê Minh Xuân, trường THPT Bán công

Nam Kỳ Khởi Nghĩa, và hiện nay là trường THPT Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Đội ngũ

giáo viên dày dạn kinh nghiệm cùng với lớp giáo viên trẻ nhiệt tình, năng động

trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh.

Trường THPT Trần Quang Khải là ngôi trường được thành lập từ năm học

2007-2008, còn non trẻ so với các trường THPT công lập trong quận 11. Đội ngũ

giáo viên còn rất trẻ, sôi nổi, tích cực nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm trong công

tác giảng dạy và giáo dục học sinh.

Nhóm khách thể CBQL: Ban giám hiệu: gồm 7 người; Tổ trưởng, tổ phó,

Trợ lí thanh niên, Chủ tịch Công Đoàn: gồm 18 người.

Nhóm Giáo viên (GV): gồm 87 GV chủ nhiệm và 113 GV bộ môn

Nhóm HS: được khảo sát ở khối 11, các em đã được học ở trường một năm,

hiểu được mọi hoạt động giảng dạy và giáo dục trong nhà trường nên việc đánh giá

của các em sẽ đảm bảo tính trung thực.

Cách thức cho điểm, tính điểm:

Sau khi thu phiếu thăm dò ý kiến, tác giả dùng phần mềm SPSS 16.0 để tiến

hành thống kê và xử lí số liệu. Bên cạnh đó dùng các công thức để tính như sau:

x

i∑= x N

Giá trị trung bình:

Một số quy định về mức độ đánh giá:

- Mức độ đánh giá việc thực hiện:

47

Mức 3: Rất cần thiết/ Rất đồng bộ/ Rất nhiều/ Rất phù hợp/ Rất thường xuyên

Mức 2: Phù hợp/ Thường xuyên/ Cần thiết/ Đồng bộ/ Nhiều

Mức 1: Không phù hợp/ Không thực hiện/ Không cần thiết/ Không đồng bộ

- Mức độ đánh giá kết quả thực hiện:

Mức 3 : Tốt

Mức 2 : Trung bình

Mức 1 : Yếu

2.3.2. Nhận thức về việc xây dựng trường học thân thiện

Bảng 2.2: Ý kiến của các nhóm khách thể về tính cần thiết

TT Nhóm khách thể Mức độ cần thiết (%) Trung

bình Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết

(3) (2) (1)

01 CBQL 52.2 47.8 0 2.52

02 Giáo viên 52.0 46.5 1.2 2.50

03 Học sinh 59.8 37.6 2.6 2.49

Công tác xây dựng trường học thân thiện là một hoạt động đã được ngành

GD triển khai thực hiện từ năm học 2008 – 2009. Hầu như các đơn vị trường THPT

đều có kế hoạch thực hiện cụ thể từng giai đoạn, từ việc thành lập Ban chỉ đạo đến

việc bồi dưỡng nhận thức đều được báo cáo lên cấp trên đầy đủ.

Theo kết quả bảng 2.2, mức độ khảo sát được đánh giá như sau:

Đánh giá của CBQL như sau:

Với điểm trung bình của CBQL: x = 2.52, chứng tỏ nhận thức của hầu hết

CBQL là rất cần thiết. Cụ thể 52,2% CBQL đánh giá công tác xây dựng trường học

thân thiện trong nhà trường THPT là rất cần thiết trong khi 47,8% CBQL cho rằng

cần thiết và không có CBQL nào đánh giá không cần thiết.

48

Đánh giá của giáo viên:

Với điểm trung bình của giáo viên là x = 2.50, chứng tỏ nhận thức của giáo

viên là rất cần thiết. Cụ thể 52.0% giáo viên cho rằng rất cần thiết và 46.5% giáo

viên đánh giá cần thiết. Chỉ có 1.2% giáo viên trả lời không cần thiết.

Đánh giá của học sinh:

Với chỉ số trung bình là x =2.49 chứng tỏ nhận thức của học sinh về công tác

xây dựng trường học thân thiện là rất cần thiết. Cụ thể, số lượng học sinh đánh giá

mức độ rất cần thiết là 59.8%, cần thiết là 37.6% và không cần thiết là 2.6%.

Do đó, kết quả đánh giá của ba nhóm khách thể về công tác xây dựng trường

học thân thiện hầu như rất cần thiết. Tuy nhiên, chỉ có số lượng rất nhỏ giáo viên và

học sinh nhận thức chưa tích cực. Suy nghĩ này có thể thuộc về những giáo viên lớn

tuổi, từ lâu quen với quan điểm giáo dục học sinh theo kiểu truyền thống, một

chiều, không thích ứng với việc đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục, ngại đổi

mới. Đối với số lượng nhỏ học sinh có thể thuộc về những em chưa quan tâm đứng

mức đến nhu cầu của bản thân về môi trường học tập và giáo dục, hoàn toàn thụ

động trong mọi hoàn cảnh. Điều đó cho thấy công tác quản lý việc bồi dưỡng nhận

thức cho giáo viên và học sinh chưa thật sự sâu sắc, nên nhận thức không đồng bộ.

Bảng 2.3: Ý kiến của khách thể về các hình thức XDTHTT

TT Hình thức CBQL ( %) Giáo viên (%)

Mức Mức Mức Mức Mức Mức

3 2 1 3 2 1

1 Xây dựng trường lớp xanh, 66.0 29.0 5.0 58.0 35.5 6.5 sạch, đẹp, an toàn

2TDạy học có hiệu quả, phù

2

hợp với đặc điểm lứa tuổi 82.0 16.0 2.0 48.0 45.0 7.0 của học sinh, giúp các em tự

tin trong học tập

2TRèn luyện kỹ năng sống cho

3 76.5 20.0 3.3 60.0 31.5 8.5 học sinh

49

TT Hình thức CBQL ( %) Giáo viên (%)

Mức Mức Mức Mức Mức Mức

3 2 1 3 2 1

2TTổ chức các hoạt động tập

4 75.5 21.0 3.5 55.5 33.0 11.5 thể

2TTính sáng tạo trong công tác

5

tổ chức chỉ đạo và mức độ 75.5 21.0 3.5 44.0 41.0 15.0 tiến bộ đạt được thông qua

các lần đánh giá

2THọc sinh tham gia tìm hiểu,

6

chăm sóc và phát huy giá trị 74.5 22 3.5 45.0 35.0 20.0 các di tích lịch sử, văn hoá,

cách mạng ở địa phương

Theo bảng 2.3, đánh giá của CBQL, các hình thức xây dựng trường học thân

thiện trường THPT hiện nay rất phù hợp. Tuy nhiên, mức độ nhận thức của giáo

viên không cao bằng CBQL. Cụ thể như sau:

Xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn

Đối với CBQL, 66.0% đánh giá rất phù hợp, 29.0% cho rằng phù hợp và

5.0% đánh giá là không phù hợp. Cũng như CBQL, 58% GV đánh giá rất phù hợp,

35.5% GV đánh giá phù hợp và không phù hợp là 6.5%. Có thể khẳng định rằng

việc xây dựng môi trường học tập xanh, sạch, đẹp, an toàn hiện nay ở các trường

THPT quận 11 đang được CBQL và GV quan tâm và thực hiện. Tuy nhiên một số

lượng nhỏ CBQL và GV đánh giá không phù hợp là do các biện pháp thực hiện việc

giáo dục ý thức học sinh chưa khoa học, hợp lí, gây tổn thương tinh thần của học

sinh. Nhất là một số GV chủ nhiệm, chưa phối hợp chặt chẽ với phụ huynh quản lý

tốt giờ giấc học tập sinh hoạt để các em không bị lôi kéo vào tệ nạn xã hội dẫn đến

tình trạng bạo lực học đường ngày nay thỉnh thoảng vẫn xuất hiện.

50

2TDạy học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh, giúp các

em tự tin trong học tập

Hình thức này được CBQL đánh giá cao nhất, 82.0% cho ý kiến rất phù hợp,

16.0% đánh giá phù hợp và chỉ có 2.0% trên tổng số đánh giá không phù hợp. Như

vậy, CBQL quan tâm rất nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học sao cho đạt

hiệu quả, việc thiết kế bài dạy phải chú ý đến khả năng nhận thức của học sinh, giúp

học sinh thể hiện kiến thức của mình qua việc tự học nói riêng và trong học tập nói

chung. Tuy nhiên, mức độ đánh giá rất phù hợp của GV chỉ có 48.0% và 45.0% là

phù hợp. Hai mức độ này gần bằng nhau chứng tỏ giáo viên còn gặp một số trở ngại

trong việc dạy học của mình. Một số giáo viên cho rằng do số học sinh trong lớp

quá đông (40 đến 45 thậm chí 47 học sinh /lớp), giáo viên không đủ điều kiện, thời

gian giúp các em học sinh phát huy hết khả năng và sự tự tin của mình trong học

tập. Những học sinh năng động, tích cực sẽ được GV chú ý nhiều hơn và được phân

2TRèn luyện kỹ năng sống cho học sinh

công làm nhóm trưởng hỗ trợ các bạn chưa thật sự tự tin trong học tập.

Mức độ đánh giá rất phù hợp của CBQL cao thứ hai (76.5%) và GV đánh giá

cao nhất (60.0%) trong các hình thức xây dựng trường học thân thiện. Chỉ có 3.3%

CBQL và 8.0% GV đánh giá không phù hợp. Điều này chứng tỏ CBQL và GV các

trường đều quan tâm nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh song song

với việc truyền đạt kiến thức. Riêng số lượng GV đánh giá không phù hợp là do suy

nghĩ bị áp lực từ chương trình giảng dạy dẫn đến việc chạy đua với thời gian nên sự

phối hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh bằng hình thức lồng ghép vào bài học

2TTổ chức các hoạt động tập thể

chưa nhuần nhuyễn.

Hình thức tổ chức các hoạt động tập thể được 75.5% CBQL đánh giá rất phù

hợp, 21.0% ý kiến phù hợp và 3.5% cho rằng không phù hợp. Cùng với hình thức

này, 55.5% GV đánh giá rất phù hợp, 33.0% phù hợp và 11.5% cho rằng không phù

hợp. Tuy đánh giá mức độ rất phù hợp của CBQL và GV đều cao thứ 3 trong bảng

khảo sát vì hoạt động này tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh, tạo sân chơi bổ

51

ích cho HS sau những giờ học tập căng thẳng. Nhưng ý kiến đánh giá mức độ

không phù hợp của GV lại cao hơn của CBQL. Qua quan sát và tìm hiểu thực tế của

tác giả cho thấy một vài hoạt động tập thể tổ chức cho học sinh vẫn còn hạn chế về

ý nghĩa giáo dục, chưa thu hút HS và còn mang tính hình thức. Ví dụ: phong trào

nuôi heo đất giúp bạn vượt khó được triển khai từ đầu năm học, nhưng mãi đến

ngày thu hoạch, chi đoàn các lớp mới bắt đầu mua heo, nhanh chóng bỏ tiền vào và

2TTính sáng tạo trong công tác tổ chức chỉ đạo và mức độ tiến bộ đạt được

mang xuống sân trường cùng đập ống heo,…

thông qua các lần đánh giá

Tương tự hình thức tổ chức các hoạt động tập thể, tính sáng tạo trong công

tác tổ chức chỉ đạo và mức độ tiến bộ đạt được thông qua các lần đánh giá có 75.5%

CBQL đánh giá rất phù hợp, 21.0% ý kiến phù hợp và 3.5% cho rằng không phù

hợp. Chứng tỏ qua hai năm triển khai thực hiện, CBQL đã thực hiện tổ chức chỉ đạo

nghiêm túc, có tính sáng tạo. Trong khi đó, 44.0% GV đánh giá rất phù hợp, 41.0%

đánh giá phù hợp. Con số 15.0% ý kiến giáo viên đánh giá không phù hợp một lần

nữa cho thấy GV gặp không ít khó khăn khi thực hiện chỉ đạo của CBQL do phải

kiêm nhiệm nhiều việc cùng lúc nên sau mỗi lần đánh giá, CBQL nêu ra yêu cầu đạt

2THọc sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch

được mức độ tiến bộ đồng đều thật sự đã tạo nên áp lực cho GV.

sử, văn hoá, cách mạng ở địa phương

Theo đánh giá của CBQL có 74.5% ý kiến rất phù hợp, 22.0% phù hợp và

3.5% cho rằng không phù hợp. Như vậy, theo quan điểm của CBQL, việc tổ chức

cho học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn

hóa cách mạng ở địa phương là cần thiết vì mang tính giáo dục, giúp các em ôn lại

và hiểu biết thêm về truyền thống văn hóa, lịch sử địa phương. Trong khi đánh giá

của GV có 45.0% ý kiến rất phù hợp, 35.0% phù hợp và có đến 20.0% không phù

hợp. Sau khi tìm hiểu, ý kiến của một số giáo viên cho rằng: trường nằm trong quận

11, học sinh phần lớn con nhà lao động, sau giờ học, các em phải phụ giúp gia đình

để có thêm thu nhập. Nên hình thức tổ chức cho học sinh tham gia tìm hiểu, chăm

52

sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa cách mạng ở địa phương cần cụ

thể, rõ ràng hơn. Vì ngay cả một số giáo viên cũng chưa hiểu biết đầy đủ về di tích

lịch sử,văn hóa cách mạng ở địa phương. Với những ý kiến như vậy, chứng tỏ sự

phối hợp các đơn vị liên ngành trong khu vực trường học trong quận chưa thật sự

chặt chẽ.

Nhìn chung trong sáu hình thức xây dựng trường học thân thiện, nhận thức

của CBQL và GV đều tích cực cho rằng rất phù hợp và phù hợp. Tuy nhiên chỉ còn

một vài ý kiến đánh giá không phù hợp. Chứng tỏ, việc bồi dưỡng nâng cao nhận

thức cho CBQL và GV cần thực hiện triệt để hơn nhằm tạo một sức mạnh tổng hợp

trong tập thể chuẩn bị cho việc thực hiện công tác xây dựng trường học thân thiện

một cách đồng bộ.

Bảng 2.4: Ý kiến của CBQL và giáo viên về tính đồng bộ của việc xây dựng trường

học thân thiện

TT Nhóm khách thể Mức độ (%) Trung

bình Rất đồng bộ Đồng bộ Không đồng bộ

(3) (2) (1)

01 CBQL 26.1 73.9 0 2.26

02 Giáo viên 28.0 63.0 9.0 2.19

Từ kết quả của bảng 2.3 cho thấy:

Với chỉ số trung bình của CBQL x = 2.26 và của GV x = 2.19 cho thấy: ý

kiến đánh giá của hai nhóm khách thể về mức độ thực hiện chỉ ở mức đồng bộ. Cụ

thể như sau: Trong khi chỉ có 26.1% CBQL và 28.0% GV đánh giá rất đồng bộ thì

có đến 73.9% CBQL và 63.0% GV đánh giá đồng bộ, 9% GV đánh giá không đồng

bộ. Chứng tỏ công tác xây dựng trường học thân thiện được CBQL và GV nhận

thức khá tốt nhưng mức độ thực hiện không được tích cực tương đương với nhận

thức. Bởi lẽ đây là một hoạt động còn khá mới, tuy được CBQL và GV quan tâm

tìm hiểu và thấy được tính cần thiết nhưng chưa thật sự trở thành điều kiện tất yếu

để đánh giá kết quả giáo dục toàn diện của giáo viên và nhà trường.

53

Hình 2.1. Biểu đồ kết quả đánh giá nhận thức của HS về ý nghĩa công tác XDTHTT

Cùng với việc khảo sát nhận thức của CBQL và GV, tác giả cũng thu kết quả

khảo sát bốn mức độ nhận thức của học sinh về ý nghĩa của công tác XDTHTT như

sau: 14.1% học sinh đánh giá nhận thức của mình là rất sâu sắc, 35.3% nhận thức

sâu sắc, 42.7% trả lời không nhận thức rõ lắm và 7.1% khẳng định hoàn toàn không

hiểu. Như vậy số học sinh nhận thức mơ hồ về việc XDTHTT ở trường THPT khá

nhiều chiếm gần 50% trên tổng số học sinh được khảo sát. Chứng tỏ việc triển khai

hoạt động này đến học sinh chưa được thực hiện đầy đủ. Đều đó ảnh hưởng rất

nhiều đến hiệu quả công tác XDTHTT của trường.

54

Hình 2.2: Biểu đồ đánh giá của HS về đối tượng chịu trách nhiệm XDTHTT

Mặc dù nhận thức của học sinh về ý nghĩa công tác xây dựng trường học

thân thiện chưa hoàn toàn sâu sắc nhưng khi được khảo sát về đối tượng chịu trách

nhiệm trong việc xây dựng trường học thân thiện. Kết quả là 83.9% ý kiến cho rằng

cả thầy cô và học sinh cùng có trách nhiệm. Như vậy, nếu được bồi dưỡng nhận

thức một cách đầy đủ cho toàn thể học sinh, các em sẽ ý thức được trách nhiệm của

mình và góp phần tích cực tạo nên sự thành công của hoạt động này trong trường

THPT.

55

2.3.3. Đánh giá của các nhóm khách thể về công tác quản lý xây dựng

trường học thân thiện

Bảng 2.5: Đánh giá của CBQL và giáo viên về mức độ tạo điều kiện tham gia xây

dựng trường học thân thiện

TT Nội dung CBQL (%) Giáo viên (%)

Mức 3 Mức 2 Mức 1 Mức3 Mức 2 Mức1

01 Giáo viên được bồi dưỡng,

tự bồi dưỡng về công tác 0 43.5 56.5 51.5 44.5 4.0

quản lý việc XDTHTT.

02 Giáo viên tham khảo các

loại tài liệu để nâng cao 39.1 39.1 21.8 45.5 41.0 13.5

nhận thức về công tác xây

dựng trường học thân thiện.

03 Giáo viên sử dụng công

0 nghệ thông tin trong đổi mới 52.2 47.8 62.5 36.0 1.5

phương pháp giảng dạy

04 Giáo viên được bồi dưỡng

về kỹ năng ứng dụng công 0 4.0 65.2 34.8 60.5 35.5

nghệ thông tin trong giảng

dạy.

05 Giáo viên viết và báo cáo

sáng kiến kinh nghiệm về 27.0 39.1 30.4 30.4 38.5 26.5

việc đổi mới phương pháp

giảng dạy nhằm góp phần

xây dựng trường học thân

thiện.

Kết quả bảng 2.5 như sau:

56

Giáo viên được bồi dưỡng, tự bồi dưỡng về công tác quản lý việc xây dựng

trường học thân thiện.

Với kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý cụ thể là 43.5% rất thường xuyên

và 56.5% thường xuyên. Trong khi đó, kết quả đánh giá của GV có sự khác biệt:

51.5% đánh giá rất thường xuyên, 44.5% cho rằng thường xuyên và 4.0% khẳng

định là không thực hiện. Nguyên nhân là khi Cán bộ quản lý đánh giá giáo viên

được bồi dưỡng, tự bồi dưỡng về công tác quản lý việc xây dựng trường học thân

thiện thì căn cứ vào kết quả của quá trình được bồi dưỡng và báo cáo về việc tự bồi

dưỡng. Nhưng khi GV đánh giá lại căn cứ vào số lần thực hiện việc bồi dưỡng thay

vì căn cứ vào kết quả của quá trình được bồi dưỡng. Con số 4.0% khẳng định không

thực hiện cho thấy một số GV chưa quan tâm tích cực vào việc bồi dưỡng và tự bồi

dưỡng nhận thức cho bản thân về công tác quản lý việc xây dựng trường học thân

thiện

Giáo viên tham khảo các loại tài liệu để nâng cao nhận thức về công tác

xây dựng trường học thân thiện.

Đây là một trong những hình thức giúp giáo viên tự nâng cao nhận thức về

công tác xây dựng trường học thân thiện. Khi so sánh kết quả đánh giá của Cán bộ

quản lý và giáo viên ta thấy có sự khác biệt về mức độ như sau: ý kiến của CBQL là

39.1% rất thường xuyên và thường xuyên, 21.8% đánh giá không thực hiện. Tuy

nhiên ý kiến của GV là 45.5% rất thường xuyên, 41.0% thường xuyên và 13.5%

khẳng định không thực hiện. Chứng tỏ nhu cầu tìm hiểu và nâng cao nhận thức của

giáo viên cao hơn ý kiến đánh giá của Cán bộ quản lý. Khi cán bộ quản lý đánh giá

dựa trên thống kê số lần giáo viên tham khảo tài liệu từ thư viện nhà trường cung

cấp nhưng giáo viên đánh giá còn dựa trên các nguồn cung cấp thông tin khác như

báo chí, internet và các phương tiện truyền thông khác.

Giáo viên sử dụng công nghệ thông tin trong đổi mới PPGD

Hiện nay, hoạt động dạy và học trong nhà trường đã có nhiều tiến bộ. GV đã

chú trọng việc đổi mới phương pháp giảng dạy bằng nhiều hình thức nhất là việc

ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy nhằm phát huy tính tự giác, chủ động,

57

sáng tạo cho cả giáo viên và học sinh. Vì thế, đánh giá về mức độ tạo điều kiện cho

GV sử dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp giảng dạy được đánh

giá như sau:

Đánh giá của Cán bộ quản lý: 52.2% rất thường xuyên, 47.8% thường xuyên

và không có trường hợp không thực hiện. Đánh giá của Giáo viên: 62.5% rất thường

xuyên, 36.0% thường xuyên và 1.5% không thực hiện. Chứng tỏ hầu hết GV đều sử

dụng công nghệ thông tin để thiết kế bài dạy, tổ chức các hoạt động học tập trong

việc đổi mới phương pháp giảng dạy với mức độ thường xuyên nhiều hơn. Tuy

nhiên 1.5% GV không thực hiện là những GV lớn tuổi, sắp về hưu, không thích ứng

với việc đổi mới phương pháp, rất túng túng và ngại tiếp xúc với công nghệ thông

tin.

Giáo viên được bồi dưỡng về kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong

giảng dạy.

Để giải quyết những khó khăn, lúng túng của giáo viên, nhà trường cần thực

hiện bồi dưỡng về kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Kết quả

khảo sát như sau: Cán bộ quản lý đánh giá 65.2% rất thường xuyên, 34.8% thường

xuyên; Giáo viên đánh giá 60.5% rất thường xuyên, 35.5% thường xuyên và 4.0%

không thực hiện. So sánh ý kiến đánh giá của CBQL và GV ta nhận thấy, kết quả

gần như tương đương nhau chứng tỏ CBQL hay chính xác hơn là Ban giám hiệu

nhà trường luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng nhận tức và kĩ năng ứng dụng cho

giáo viên vì thế giáo viên cũng tiếp nhận một cách chủ động và tích cực. Tuy nhiên,

có 4.0% đánh giá không thực hiện lại là những giáo viên lớn tuổi, sắp về hưu, ngại

tiếp xúc với công nghệ thông tin.

Giáo viên viết báo cáo sáng kiến kinh nghiệm về việc đổi mới phương pháp

giảng dạy nhằm góp phần xây dựng trường học thân thiện.

Nhằm mục đích nhân rộng hình thức đổi mới phương pháp giảng dạy tạo môi

trường làm việc thân thiện, cùng nhau trao đổi kinh nghiệm góp phần tích cực cho

công tác xây dựng trường học thân thiện. Mỗi đơn vị trường cần tổ chức cuộc thi

viết báo cáo sáng kiến kinh nghiệm về việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Kết

58

quả khảo sát cho thấy 39.1% rất thường xuyên, 30.4% thường xuyên và 30.4%

không thực hiện là đánh giá của Cán bộ quản lý. Tương tự, 38.5% rất thường xuyên,

26.5% thường xuyên và 35.0% không thực hiện là ý kiến nhận xét của giáo viên.

Như vậy, hình thức học tập trao đổi cùng đồng nghiệp bằng hình thức viết sáng kiến

kinh nghiệm chưa được quan tâm. Nguyên nhân do Ban giám hiệu chưa thường

xuyên tổ chức hội nghị chuyên đề chuyên môn về việc đổi mới phương pháp giảng

dạy bằng nhiều hình thức, chưa tạo điều kiện cho Giáo viên được trình bày nghiêm

túc những kinh nghiệm thực tế của mình và kết quả đạt được từ kinh nghiệm đó.

Nhìn chung, ý kiến đánh giá của Cán bộ quản lý và giáo viên về mức độ tạo

điều kiện tham gia xây dựng trường học thân thiện đều ở mức từ rất thường xuyên

đến thường xuyên. Chứng tỏ các trường đều nhận thấy đây là những hình thức và

điều kiện quan trọng góp phần tích cực cho việc đổi mới phương pháp dạy học và

xây dựng trường học thân thiện nên đều chú ý thực hiện mặc dù mức độ thực hiện

chưa đồng đều.

Bảng 2.6: Đánh giá kết quả của Cán bộ quản lý và Giáo viên về các hình thức tham

gia của giáo viên.

TT Nội dung CBQL ( %) Giáo viên (%)

Mức Mức Mức Mức Mức Mức

3 2 3 2 1 1

01 Giáo viên được bồi dưỡng,

tự bồi dưỡng về công tác

0 quản lý việc xây dựng 39.1 60.9 45.5 50.5 4.0

trường học thân thiện.

02 Giáo viên tham khảo các

loại tài liệu để nâng cao

52.2 13.5 nhận thức về công tác xây 26.1 21.7 43.5 43.0

dựng trường học thân thiện.

59

TT Nội dung CBQL ( %) Giáo viên (%)

Mức Mức Mức Mức Mức Mức

3 2 3 2 1 1

03 Giáo viên sử dụng công

nghệ thông tin trong đổi 0 56.5 43.5 64.5 33.5 1.0 mới phương pháp giảng dạy

04 Giáo viên được bồi dưỡng

về kỹ năng ứng dụng công

0 nghệ thông tin trong giảng 69.6 30.4 61.0 35.5 3.0

dạy.

05 Giáo viên viết và báo cáo

sáng kiến kinh nghiệm về

việc đổi mới phương pháp

giảng dạy nhằm góp phần 47.8 21.7 30.4 37.5 36.5 25.0

xây dựng trường học thân

thiện.

Theo kết quả bảng 2.5 về hình thức tham gia của giáo viên như sau:

Giáo viên được bồi dưỡng, tự bồi dưỡng về công tác quản lý việc xây dựng

trường học thân thiện.

Trong công tác xây dựng trường học thân thiện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng

nhận thức về công tác quản lý của GV là yêu cầu quan trọng. Khi GV đã nhận thức

một cách đầy đủ, thái độ của GV trở nên tích cực hơn. Theo kết quả khảo sát CBQL

cho thấy 39.1% đánh giá tốt, 60.9% đánh giá trung bình. Trong khi đó 45.5% GV

đánh giá tốt, 50.5% đánh giá trung bình và 4.0% đánh giá yếu. Chứng tỏ hình thức

GV được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng về công tác quản lý việc xây dựng trường học

thân thiện chưa tốt, chỉ ở mức trung bình.

Giáo viên tham khảo các loại tài liệu để nâng cao nhận thức về công tác

xây dựng trường học thân thiện.

60

Để nâng cao nhận thức về công tác xây dựng trường học thân thiện, ngoài

các hình thức được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng, GV cần phải tham khảo thêm nhiều

loại tài liệu. Kết quả khảo sát cho thấy 52.2% CBQL và 43.5% GV đánh giá tốt.

Chứng tỏ nhà trường giới thiệu và cung cấp nguồn tài liệu phong phú giúp GV nâng

cao nhận thức về công tác xây dựng trường học thân thiện.

Giáo viên sử dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp giảng

dạy

Đây là hình thức phổ biến nhất trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy.

Vì thế ý kiến đánh giá của CBQL và GV đều ở mức cao. Cụ thể 56.5% CBQL và

64.5% GV đánh giá tốt, 43.5% CBQL và 33.5% GV đánh giá trung bình, không có

CBQL nào và chỉ có 1.0% GV đánh giá yếu. So sánh kết quả đánh giá của CBQL

và GV ta nhận thấy hình thức này thật sự đã trở nên khá quen thuộc và gần như trở

thành điều kiện tất yếu trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm góp phần xây

dựng trường học thân thiện.

Giáo viên được bồi dưỡng về kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong

giảng dạy.

Để việc ứng dụng công nghệ thông tin trở nên quen thuộc, GV cần được bồi

dưỡng thêm về kỹ năng ứng dụng trong giảng dạy. Hình thức này được đánh giá

như sau: 69.6% CBQL và 61.0% GV tốt, 30.4% CBQL và 35.5% GV đánh giá

trung bình, chỉ có 3.0% đánh giá yếu. Theo ý kiến của một số giáo viên, hình thức

bồi dưỡng kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin được tổ chức vào dịp hè rất cần

thiết cho GV. Vì thế hình thức này được đa số CBQL và GV đánh giá tốt. Số ý kiến

đánh giá trung bình là do tham gia lớp bồi dưỡng không thường xuyên nên kết quả

thu được không cao.

Giáo viên viết và báo cáo sáng kiến kinh nghiệm về việc đổi mới phương

pháp giảng dạy nhằm góp phần xây dựng trường học thân thiện.

Hình thức này được 47.8% CBQL đánh giá tốt. Tuy nhiên 30.4% CBQL

đánh giá yếu chứng tỏ những sáng kiến kinh nghiệm của GV chưa thiết thực nên

việc trao đổi học tập kinh nghiệm còn hạn chế. So với CBQL, 37.5% GV đánh giá

61

tốt, 36.5% đánh giá trung bình và 25.0% đánh giá yếu. Có lẽ cũng giống như Cán

bộ quản lý, GV nhận thấy có môt số sáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp khó

vận dụng, chủ yếu là lý thuyết. Tuy nhiên ý kiến đánh giá ở mức độ trung bình và

tốt gần như tương đương nhau. Chứng tỏ những sáng kiến kinh nghiệm đánh giá tốt

là những sáng kiến đồng nghiệp có thể vận dụng được vào thực tế chỉ ở mức trung

bình.

2.3.4. Đánh giá về việc điều hành tổ chức xây dựng trường học thân

thiện

Bảng 2.7: Đánh giá của GV về mức độ và kết quả thực hiện các hình thức tổ chức

điều hành xây dựng trường học thân thiện

TT Nội dung Mức độ thực hiện Kết quả thực hiện

Mức Mức Mức Mức Mức Mức

3 2 1 3 2 1

01 Có kế hoạch triển khai công

các xây dựng trường học 58.5 38.5 1.0 58.0 38.0 1.5 thân thiện

02 Có kế hoạch bồi dưỡng

nhận thức cho giáo viên về 50.5 43.0 4.5 47.5 44.5 5.0 việc XDTHTT.

03 Chỉ đạo, điều hành quản lí,

giám sát việc thực hiện kế

hoạch xây dựng trường học 74.0 24.5 1.5 71.0 26.0 2.5

thân thiện.

04 Tổ chức thực hiện các

chuyên đề về đổi mới

phương pháp giảng dạy 56.0 36.5 6.0 53.0 40.0 5.0 nhằm tạo môi trường học

tập thân thiện.

05 Tổ chức các hoạt động tham

62

TT Nội dung Mức độ thực hiện Kết quả thực hiện

Mức Mức Mức Mức Mức Mức

3 2 1 3 2 1

quan, dã ngoại, về nguồn 60.5 37.5 2.0 60.5 33.5 3.0

nhằm giáo dục tư tưởng đạo

đức cho học sinh

06 Tổ chức các hoạt động giao

lưu sinh hoạt tâp thể trong

nhà trường nhằm giáo dục 58.9 38.0 3.0 50.5 43.5 4.0

kỹ năng sống cho học sinh.

07 Quản lý việc xây dựng

trường lớp xanh, sạch, đẹp,

chú ý bảo đảm an toàn vệ 80.5 16.5 3.0 75.5 21.0 2.5 sinh thực phẩm trong nhà

trường.

08 Chỉ đạo các công tác Đoàn

thanh niên nhằm tăng cường

giáo dục nhận thức của học 79.5 17.5 2.5 74.0 21.0 4.0

sinh về việc XDTHTT.

09 Tổ chức các hoạt động thi

đua nhằm thúc đẩy công tác

xây dựng trường học thân 76.5 19.5 3.0 73.0 23.0 3.0

thiện

10 Thực hiện việc đánh giá các

tiêu chí xây dựng trường

học thân thiện đúng quy 54.5 39.0 6.0 47.0 42.5 7.5

định.

11 Thống kê, phân loại, đánh

giá các hoạt động góp phần 49.0 38.0 12.0 46.5 39.0 12.0

63

TT Nội dung Mức độ thực hiện Kết quả thực hiện

Mức Mức Mức Mức Mức Mức

3 2 1 3 2 1

xây dựng trường học thân

thiện của giáo viên.

12 Theo dõi, kiểm tra việc

đánh giá, rút kinh nghiệm

và điều chỉnh các hoạt động 52.0 26.0 21.0 50.5 26.5 21.5 về công tác xây dựng

trường học thân thiện.

Kết quả bảng 2.7 cho thấy hình thức tổ chức điều hành xây dựng trường học

thân thiện như sau:

Đối với kế hoạch triển khai công tác xây dựng trường học thân thiện

Việc xây dựng kế hoạch và triển khai công tác xây dựng trường học thân

thiện được GV đánh giá như sau: Mức độ thực hiện và kết quả thực hiện gần như

bằng nhau. Cụ thể 58.5 % thường xuyên và kết quả 58.0% tốt, tương tự 38.5%

không thường xuyên và 38.0% trung bình. Chứng tỏ kế hoạch xây dựng trường học

thân thiện và việc triển khai đúng mức.

Có kế hoạch bồi dưỡng nhận thức cho giáo viên về việc xây dựng trường

học thân thiện

Đối với kế hoạch bồi dưỡng nhận thức cho GV về việc xây dựng trường học

thân thiện được GV đánh giá như sau: 50.5% rất thường xuyên, 43.0% thường

xuyên, 4.5% không thực hiện. Tuy nhiên kết quả thực hiện không tương đương. Cụ

thể 47.5% tốt, 44.5% trung bình và 5.0% yếu. Như vậy kế hoạch bồi dưỡng nhận

thức cho GV chưa đạt hiệu quả so với số lần thực hiện.

Chỉ đạo, điều hành quản lý, giám sát việc thực hiện kế hoạch xây dựng

trường học thân thiện.

64

Hình thức chỉ đạo, điều hành quản lý, giám sát việc thực hiện kế hoạch xây

dựng trường học thân thiện gồm 74.0% rất thường xuyên, kết quả 71.0% tốt. Chỉ có

24.5% thường xuyên và 26.0% trung bình. Chứng tỏ hình thức này được nhà quản

lý quan tâm thực hiện ở mức độ khá tốt.

Tổ chức thực hiện các chuyên đề về đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm

tạo môi trường học tập thân thiện.

Việc thực hiện các chuyên đề về đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm tạo

môi trường học tập thân thiện cũng chỉ ở mức trung bình với 56.0% đánh giá thực

hiện rất thường xuyên, kết quả gần như tương đương với 53.0% tốt. Mức độ thường

xuyên có 36.5% nhưng 40.0 % ý kiến đánh giá trung bình. Do một số chuyên đề

thực hiện chưa đạt hiệu quả.

Tổ chức các hoạt động tham quan, dã ngoại, về nguồn nhằm giáo dục tư

tưởng đạo đức cho học sinh

Hình thức này được GV quan tâm nhiều hơn với 60.5% ý kiến đánh giá rất

thường xuyên và kết quả tốt. Chỉ có 2.0% đánh giá không thực hiện và 3.0% đánh

giá yếu. Vì hoạt động này ở các trường thường được tổ chức lồng ghép giữa chuyên

đề sinh hoạt ngoại khóa của các tổ chuyên môn với kế hoạch của Đoàn trường nên

luôn thu hút học sinh tham gia tích cực.

Tổ chức các hoạt động giao lưu sinh hoạt tâp thể trong nhà trường nhằm

giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Hoạt động này thường được Đoàn trường đề ra kế hoạch thực hiện ngay từ

đầu năm học và gắn liền với chương trình hành động của đơn vị cấp trên. Tuy

nhiên, có 58.9% ý kiến đánh giá rất thường xuyên nhưng kết quả chỉ đạt 50.5% tốt.

Chứng tỏ tùy theo tình hình thực tế của mỗi trường việc tổ chức các hoạt động giao

lưu sinh hoạt tập thể nhằm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh vẫn chưa được quan

tâm thực hiện đúng mức.

Quản lý việc xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, chú ý bảo đảm an toàn

vệ sinh thực phẩm trong nhà trường

65

Đây là hình thức mà cả Thầy Cô và tất cả các em học sinh đều thực hiện

nghiêm túc từ lời nói đến hành động để tạo nên nếp sống văn hóa trong nhà trường.

Vì thế 80.5% ý kiến đánh giá rất thường xuyên với kết quả 75.5% đánh giá tốt. Cơ

sở vật chất, cảnh quan trường luôn được tu sửa, chỉnh trang. Trong số ý kiến còn lại

có một số GV giải thích phòng học không đủ chuẩn cho sĩ số 45-48 HS. Thực tế

CSVC trường THPT Nam Kỳ Khởi Nghĩa vốn dĩ là trường cấp 2 nâng cấp thành

trường THPT nên phòng học khá nhỏ so với quy định.

Chỉ đạo các công tác Đoàn thanh niên nhằm tăng cường giáo dục nhận

thức của học sinh về việc xây dựng trường học thân thiện

Công tác Đoàn thanh niên luôn được Chi bộ nhà trường quan tâm và chỉ đạo

sâu sát, nhất là việc tổ chức hoạt động nhằm giáo dục nhận thức tư tưởng, đạo đức

và nhận thức của học sinh về việc xây dựng trường học thân thiện. Với 79.5% ý

kiến đánh giá rất thường xuyên và 74.0% tốt cho thấy hoạt động của Đoàn thanh

niên đạt hiệu quả tích cực.

Thực hiện đánh giá các tiêu chí xây dựng trường học thân thiện đúng quy

định

Căn cứ vào tiêu chí đánh giá và hướng dẫn của Bộ GD & ĐT, các trường cần

phải thực hiện để báo cáo kịp thời tình hình của đơn vị. Tuy nhiên với kết quả

54.5% rất thường xuyên tương ứng với 47.0% tốt và 39.0% thường xuyên tương

ứng với 42.5% trung bình đã chứng tỏ các trường còn lúng túng nên chưa thực hiện

việc đánh giá tiêu chí chưa đồng bộ và đầy đủ.

Thống kê, phân loại, đánh giá các hoạt động góp phần xây dựng trường

học thân thiện của giáo viên.

Đây chính là hoạt động của Ban chỉ đạo trong nhà trường. Tuy nhiên chỉ có

49.0% đánh giá rất thường xuyên với 46.5% kết quả tốt. Trong khi 38.0% đánh giá

thường xuyên tương ứng 39.0% trung bình. Thậm chí 12.0% ý kiến cho rằng không

thực hiện và đánh giá yếu đã phản ánh hoạt động của ban chỉ đạo rất yếu, chưa tích

cực. Nhà trường cần xem xét kiểm điểm lại để có kế hoạch thực hiện tốt hơn.

66

Theo dõi, kiểm tra việc đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh các hoạt

động về công tác xây dựng trường học thân thiện.

Sau mỗi giai đoạn của kế hoạch hoạt động, cần được kiểm tra đánh giá rút

kinh nghiệm và điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp và tốt hơn. Nhưng kết quả

khảo sát cho thấy 52.0% ý kiến đánh giá rất thường xuyên tương ứng với 50.5%

đánh giá tốt, 21.0% ý kiến đánh giá không thực hiện tương ứng với kết quả 21.5%

yếu đã khẳng định hình thức này chưa được thực hiện đầy đủ nghiêm túc trong nhà

trường qua hai năm thực hiện.

Bảng 2.8: Đánh giá về tiêu chí thi đua xây dựng trường học thân thiện

TT Nhóm khách thể Mức độ hợp lý (%) Trung

bình Rất hợp lý Hợp lý Không hợp lý

01 CBQL 21.7 65.2 13.0 2.09

02 Giáo viên 25.5 65.0 9.5 2.13

2TVới chỉ số trung bình của CBQL 2T x 2T=2.09 và của GV 2T x 2T= 2.13 cho thấy ý kiến

Theo kết quả bảng 2.8 như sau:

đánh giá của hai nhóm khách thể chủ yếu ở mức độ hợp lý, cụ thể như sau: 65.2%

CBQL và 65.0% GV đánh giá hợp lý. Trong khi chỉ có 21.7% CBQL và 25.5% GV

đánh giá rất hợp lý thậm chí có đến 13.0% CBQL và 9.5% GV đánh giá không hợp

lý. Theo ý kiến của một số CBQL cho rằng, điều không hợp lý là một số thành phần

tham gia đánh giá trường chưa thật sự tích cực dẫn đến kết quả không sát với thực

tế cụ thể là một số học sinh chưa nhận thức đầy đủ về hình thức này.

Bảng 2.9: Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý

xây dựng trường học thân thiện

TT Yếu tố Mức độ ảnh hưởng ( % ) Trung

01 Nhận thức về công tác quản lý việc

13.0

83.0

bình Mức 3 Mức 2 Mức 1

4.0

2.09

xây dựng trường học thân thiện

02 Tính đồng bộ và phù hợp giữa điều

82.0

4.0

14.0

2.10

kiện nhà trường với biện pháp quản

67

Yếu tố Mức độ ảnh hưởng ( % ) Trung TT

lý của Hiệu trưởng

03 Sự chỉ đạo sâu sát của các cấp quản

84.0

lý giáo dục về công tác xây dựng

bình Mức 3 Mức 2 Mức 1

8.5

7.5

2.11

trường học thân thiện

04 Lãnh đạo nhà trường xem trọng công

73.5

7.5

19.0

2.12

tác xây dựng trường học thân thiện

05 Sự phối hợp với các đơn vị liên

ngành tạo điều kiện cho công tác xây

20.0

72.5

7.5

2.12

dựng trường học thân thiện

06 Sự quan tâm của gia đình, cha mẹ

học sinh đối với các hoạt động của

15.5

76.5

8.0

2.08

trường nhằm xây dựng trường học

thân thiện.

07 Sự quan tâm tích cực của HS

82.0

13.5

4.5

2.09

08 Nhận thức chưa đồng bộ của giáo

14.0

81.0

5.0

2.09

viên

09 Sự nhận thức đồng bộ của các đơn vị

liên ngành về công tác xây dựng

6.0

82.0

6.0

2.06

trường học thân thiện

10 Cơ sở vật chất, điều kiện phương

tiện chưa đáp ứng đủ cho công tác

13.5

79.0

7.5

2.06

XDTHTT.

11 Sự hạn chế về kinh phí dành cho các

hoạt động xây dựng trường học thân

17.5

74.0

8.0

2.10

thiện.

12 Các công trình nghiên cứu khoa học,

các đề tài sáng kiến kinh nghiệm

19.0

73.0

8.0

2.11

chưa quan tâm nhiều đến công tác

68

TT Yếu tố Mức độ ảnh hưởng ( % ) Trung

xây dựng trường học thân thiện

13 Phản ứng của xã hội trước chủ

trương của ngành về công tác xây

bình Mức 3 Mức 2 Mức 1

21.0

73.0

5.5

2.16

dựng trường học thân thiện.

Kết quả khảo sát dựa trên ý kiến đánh giá của GV về các yếu tố ảnh hưởng

đến công tác xây dựng trường học thân thiện cho thấy:

Nhận thức về công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện

Đánh giá của GV về sự ảnh hưởng của nhận thức đối với công tác quản lý

x =2.09 và 83.0% ý kiến đánh giá nhiều. Trong khi đó, chỉ có 13.0% ý kiến cho

việc xây dựng trường học thân thiện ở mức độ nhiều, cụ thể điểm trung bình

rằng rất nhiều và 4.0% đánh giá ít. Như vậy theo GV, mức độ nhận thức chưa ảnh

hưởng tuyệt đối đến công tác quản lý mà còn là sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác

Tính đồng bộ và phù hợp giữa điều kiện nhà trường với biện pháp quản lý

của Hiệu trưởng

Yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của công tác quản lý việc xây

dựng trường học thân thiện. Tuy nhiên mức độ đánh giá của GV như sau: điểm

trung bình x =2.10 và 82.0% ý kiến đánh giá nhiều. Theo ý kiến của một số GV tính

đồng bộ và phù hợp giữa điều kiện nhà trường với biện pháp quản lý của Hiệu

trưởng còn tùy thuộc vào năng lực của nhà quản lý. Nếu các hoạt động chưa được

phối hợp với nhau đồng bộ dễ tạo áp lực cho GV trong việc thi đua thực hiện giữa

các tập thể lớp với nhau.

Sự chỉ đạo sâu sát của các cấp quản lý giáo dục về công tác xây dựng

trường học thân thiện

Với giá trị trung bình là x = 2.11 và 84.0% ý kiến đánh giá nhiều cũng cho

thấy sự chỉ đạo sâu sát của các cấp quản lý giáo dục có ảnh hưởng nhiều đến công

tác xây dựng trường học thân thiện, kịp thời điều chỉnh những thiếu sót hoặc những

69

đơn vị chỉ làm cho có hình thức mà không đến chất lượng. Kịp thời biểu dương

những đơn vị làm tốt.

Lãnh đạo nhà trường xem trọng công tác xây dựng trường học thân thiện

Đây là yếu tố quan trọng, nếu lãnh đạo không xem trọng thì không thúc đẩy

GV tích cực tham gia. Do đó 19.0% ý kiến đánh giá của GV là ảnh hưởng rất nhiều,

77.5% GV đánh giá nhiều và chỉ có 4.5% ít. Chỉ số trung bình x = 2.2 cho thấy công

tác xây dựng trường học thân thiện có trở nên mạnh mẽ hay không còn tùy thuộc

vào thái độ của lãnh đạo nhà trường có tích cực hay không. Theo ý kiến của một số

GV cho rằng, lãnh đạo nhà trường phát động thi đua xây dựng trường học thân

thiện, nhưng giao tiếp giữa lãnh đạo với GV chưa thật sự thân thiện nhất là với

những ý kiến, kiến nghị của GV.

Sự phối hợp với các đơn vị liên ngành tạo điều kiện cho công tác xây dựng

trường học thân thiện

Với chỉ số trung bình x = 2.12, có 20.0% GV đánh giá rất nhiều và 72.5%

đánh giá nhiều chứng tỏ công tác phối hợp các đơn vị liên ngành có ảnh hưởng

nhiều. Ngay khi triển khai, Sở Giáo dục và Đào tạo cũng đã chú trọng và xây dựng

thành kế hoạch. Vì thế rất cần sự tham gia tiếp sức của các cấp chính quyền địa

phương, các đơn vị liên ngành, các tổ chức xã hội… phong trào mới đi vào nề nếp

và trở thành một hoạt động thường xuyên.

Sự quan tâm của gia đình, cha mẹ học sinh đối với các hoạt động của

trường nhằm xây dựng trường học thân thiện.

Yếu tố này được thực hiện bằng cách thành lập Ban đại diện cha mẹ học sinh

có đủ các khối lớp để nắm bắt tâm tư nguyện vọng của con em, cùng với nhà

trường, Thầy Cô phối hợp giáo dục và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của HS.

Kết quả khảo sát cho thấy ảnh hưởng nhiều 76.5% ý kiến, rất nhiều 15.5% và trung

x

bình = 2.08. Do trường học nằm trong khu vực quận 11, thuộc thành phần lao

động. Sau giờ học, HS phải cùng cha mẹ làm việc để phụ giúp kinh tế gia đình. Mặc

khác cha mẹ học sinh có trình độ học vấn thấp, chủ yếu trông chờ vào Thầy Cô. Ý

70

kiến của GV cho thấy rất cần sự quan tâm nhắc nhở của cha mẹ về việc học ở nhà

và ủng hộ các em tham gia mọi hoạt động trong nhà trường….

Sự quan tâm tích cực của học sinh

Bản thân học sinh phải nhận thức rõ công tác xây dựng trường học thân thiện

hướng đến quyền lợi của HS. Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của sự quan tâm tích

cực của HS có đến 82.0% cho rằng ảnh hưởng nhiều, 13.5% rất nhiều và 4.5% ít.

Với trung bình là x = 2.09 ở mức độ nhiều chứng tỏ thái độ của học sinh đối với

phong trào là quan trọng. Tuy nhiên kết quả trên đã phản ánh tình trạng thụ động,

thờ ơ của học sinh với phong trào. Nhất là việc rèn luyện khả năng tự học và kĩ

năng ứng xử các tình huống trong giao tiếp.

Nhận thức chưa đồng bộ của giáo viên

Kết quả khảo sát 81.0% đánh giá nhiều và chỉ số trung bình là x =2.09 cho

thấy: nhiều giáo viên chưa nhận thức đúng mục đích, ý nghĩa phong trào này. Cụ

thể là trình độ giáo viên bất cập, khó đổi mới phương pháp giảng dạy, lồng ghép

giáo dục kĩ năng sống với hoạt động dạy học… Nhiều giáo viên cho rằng phong

trào thi đua xây dựng trường học thân thiện làm quá tải chương trình dạy học…nên

chưa tích cực hưởng ứng phong trào.

Sự nhận thức đồng bộ của các đơn vị liên ngành về công tác xây dựng

trường học thân thiện

Nếu các đơn vị liên ngành không nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác

xây dựng trường học thân thiện sẽ gây không ít khó khăn cho nhà trường. Kết quả

khảo sát 82.0% đánh giá ảnh hưởng nhiều và chỉ số trung bình x =2.09 cũng ở mức

nhiều cho thấy nhận thức của các đơn vị liên ngành chưa đầy đủ nên công tác phối

hợp còn thụ động, chưa chặt chẽ. Nhất là khâu cùng nhau bàn bạc xây dựng kế

hoạch cho phù hợp với địa phương, đơn vị… Hầu như mọi hoạt động về công tác

này, nhà trường đơn độc thực hiện.

Cơ sở vật chất, điều kiện phương tiện chưa đáp ứng đủ cho công tác xây

dựng trường học thân thiện.

71

Kết quả khảo sát gồm 17.5% đánh giá ảnh hưởng rất nhiều, 79.0 % cho rằng

ảnh hưởng nhiều và tỉ lệ trung bình là x = 2.27 góp phần khẳng định cơ sở vật chất,

điều kiện phương tiện hiện nay chưa đáp ứng đủ và chưa đồng bộ với yêu cầu đổi

mới dạy học. Nhất là nhà vệ sinh còn kém chất lượng, thiếu các phòng đa năng để

HS rèn luyện các môn năng khiếu, thể thao sau giờ học tập căng thẳng… hướng các

em và những hoạt động bổ ích sẽ hạn chế những sai phạm không đáng có như tập

hợp nhóm, bè phái đánh nhau,…

Sự hạn chế về kinh phí dành cho các hoạt động xây dựng trường học thân

thiện.

Nguyên nhân của những hạn chế về cơ sở vật chất là hạn chế về kinh phí

dành cho hoạt động xây dựng trường học thân thiện. Với mức trung bình x = 2.10

và 74.0% ý kiến đánh giá ảnh hưởng nhiều, chứng tỏ kinh phí góp phần quan trọng

thúc đẩy các hoạt động tích cực hơn.

Các công trình nghiên cứu khoa học, các đề tài sáng kiến kinh nghiệm

chưa quan tâm nhiều đến công tác xây dựng trường học thân thiện

Khi đánh giá về điều này, có 73.0% ý kiến GV cho rằng ảnh hưởng nhiều,

mức trung bình là x = 2.11. Nguyên nhân GV không được cung cấp hoặc không tìm

được những công trình nghiên cứu khoa học hay đề tài sáng kiến kinh nghiệm thiết

thực nhất để học tập, áp dụng cho đơn vị mình.

Phản ứng của xã hội trước chủ trương của ngành về công tác xây dựng

trường học thân thiện.

Yếu tố này ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả và sức lan tỏa của công tác xây

dựng trường học thân thiện. Vì thế, mức trung bình x = 2.16 và 21.0% đánh giá ảnh

hưởng rất nhiều, 73.0% ảnh hưởng nhiều cho biết công tác này rất cần sự quan tâm

tích cực của toàn xã hội, những ý kiến đóng góp, những bài học kinh nghiệm, lời

khen ngợi, phê bình đúng mực sẽ là nguồn lực giúp phong trào mạnh mẽ và hiệu

quả hơn.

72

Bảng 2.10: Điều cần cải tiến trong công tác quản lý trường học thân thiện

TT Nội dung cải tiến % Lựa chọn % Thứ

Chung hạng CBQL GV

01 Phương pháp quản lý 54.7 1 60.9 48.5

02 Kế hoạch quản lý 52.4 3 52.2 52.5

03 Công tác tổ chức, chỉ đạo 54.2 2 60.9 47.5

04 Công tác kiểm tra đánh giá 48.6 4 52.2 45.0

Theo kết quả bảng 2.10, khi tác giả khảo sát ý kiến của CBQL và GV về

những điều cần cải tiến trong công tác quản lý trường học thân thiện để hoạt động

này thật sự trở thành hoạt động thường xuyên và đi vào nề nếp... Phương pháp quản

lý được xếp thứ hạng 1, Công tác tổ chức chỉ đạo xếp thứ 2, kế hoạch quản lý thứ 3

và công tác kiểm tra đánh giá xếp thứ 4. Trong đó, phương pháp quản lý và công tác

tổ chức chỉ đạo được CBQL đánh giá cao nhất (60.9% lựa chọn) cho thấy bản thân

CBQL cũng nhận ra vai trò của người lãnh đạo trong việc đề ra phương pháp quản

lý và tổ chức chỉ đạo một cách nghiêm túc theo đúng tinh thần, hướng dẫn của công

văn, chỉ thị từ cấp trên. Từ đó, mỗi thầy cô và các em học sinh đến với phong trào

xây dựng trường học thân thiện một cách tự nhiên, gần gũi và nhận ra rằng phong

trào thật sự cần thiết, hỗ trợ rất nhiều cho việc dạy và học tích cực. Giáo viên chọn

kế hoạch quản lý nhiều nhất (52.5%), kế đến là phương pháp quản lý (48.5%).

Chứng tỏ GV nhận thấy một kế hoạch quản lý có tính khoa học, rõ ràng, phù hợp

với thực tế kết hợp với phương pháp quản lý thân thiện sẽ là động lực giúp công tác

này nhanh chóng đi vào nề nếp.

73

Bảng 2.11. Đánh giá của HS về các mức độ và kết quả hoạt động nâng cao nhận

thức về trường học thân thiện

TT Nội dung Mức độ thực hiện Kết quả thực hiện

Mức3 Mức 2 Mức 1 Mức 3 Mức 2 Mức1

1 Xây dựng cơ sở vật chất, trang

thiết bị phục vụ hoạt động học 39.8 53.7 6.5 36.9 53.3 8.6 tập của học sinh

2 Hoạt động của Đoàn thanh

niên, sinh hoạt ngoại khóa 42.4 50.6 6.7 41.2 47.3 10.2

3 Tích cực đổi mới phương pháp

dạy và học 56.3 34.9 7.1 51.0 39.0 6.9

4 Định hướng nghề nghiệp cho

học sinh phù hợp năng lực bản 43.3 37.3 18.8 40.2 37.6 19.6 than

5 Sự phối hợp đồng bộ giữa các

hoạt động học tập và sinh hoạt. 36.5 48.4 14.3 32.2 49.6 15.7

6 Kiểm tra, đánh giá hoạt động

và rà soát lại mức độ nhận thức 50.4 36.7 12.4 44.7 37.8 16.1 của học sinh.

Các hoạt động chủ yếu của nhà trường nhằm nâng cao nhận thức của học

sinh về trường học thân thiện được các em đánh giá như sau:

Xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động học tập của học

sinh:

Theo các em học sinh, hoạt động này được thực hiện ở mức độ thường xuyên

(53.7% ) và kết quả trung bình (53.3% ). Chứng tỏ nhà trường có chú ý quan tâm

nhưng điều kiện cơ sở vật chất vẫn chưa thực sự đáp ứng đầy đủ. Các em cho rằng,

nhà trường chú ý nhiều đến máy móc hiện đại như máy vi tính, phương tiện nghe

nhìn,.. nhưng chưa chú ý đến các phòng tập thể thao đa năng tạo điều kiện cho học

74

sinh tham gia nhiều môn học rèn luyện thể chất, thư giãn về tinh thần. Sẽ ảnh hưởng

nhiều đến mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường.

Hoạt động của Đoàn thanh niên, sinh hoạt ngoại khóa

Hoạt động này được HS đánh giá cao hơn về mức độ rất thường xuyên

(42.4%) và kết quả tốt (41.2%) kế đến là thường xuyên (50.6%) tương ứng với kết

quả trung bình (47.3%). Nguyên nhân là do có sự kết hợp giữa các hoạt động giáo

dục đạo đức của Đoàn thanh niên và hoạt động ngoại khóa của các tổ bộ môn. Sự

phối hợp này giúp các em cảm thấy như được vừa học vừa chơi, được mở mang

kiến thức trên thực tế cứ không chỉ đơn giản tiếp thu từ sách vở.

Tích cực đổi mới phương pháp dạy và học

Xuất phát từ thực tế không đồng bộ trong phương pháp dạy của GV và

phương pháp học của HS. Đánh giá của các em về hình thức này gần như là ở mức

cao nhất về mức độ rất thường xuyên (56.3%) tương ứng với kết quả tốt (51.0%).

Chứng tỏ, phương pháp giảng dạy tích cực hiệu quả của giáo viên sẽ giúp học sinh

không còn thụ động trong học tập, tiết học càng sinh động bao nhiêu, HS càng dễ

dàng phát huy năng lực tự học tìm tòi kiến thức và sự tự tin thể hiện kiến thức của

mình trước tập thể bấy nhiêu. Như vậy thái độ của HS rất rõ ràng đối với phương

pháp dạy học truyền thống, truyền đạt một chiều của không ít GV hiện nay vẫn

đang duy trì.

Định hướng nghề nghiệp cho học sinh phù hợp năng lực bản thân

Bản thân HS đánh giá về điều này chưa cao chỉ 43.3% thường xuyên tương

ứng với 40.2% kết quả tốt. Thực tế cho thấy, nhà trường cũng đã thực hiện một số

hoạt động nhằm giáo dục hướng nghiệp cho HS ngay từ mới vào lớp 10, thế nhưng

các em không có quyền chọn lựa hướng đi cho mình trong tương lai mà phần lớn

phải đi theo định hướng và ý thích của cha mẹ. Đó cũng chính là lý do vì sao có đến

18.8% đánh giá không thường xuyên tương ứng với 19.6% kết quả yếu. Vì vậy hoạt

động này cần được phối hợp với phụ huynh để hiệu quả thiết thực hơn.

Sự phối hợp đồng bộ giữa các hoạt động học tập và sinh hoạt

75

Đánh giá của HS về sự phối hợp đồng bộ giữa hoạt động học tập và sinh hoạt

không cao chỉ có 36.5% đánh giá rất thường xuyên tương ứng với 32.2% đạt kết

quả tốt. Chứng tỏ vẫn còn nhiều hoạt động học tập và sinh hoạt trong nhà trường

chồng chéo, diễn ra cùng thời điểm gây căng thẳng, áp lực cho các em thay vì giúp

các em thư giãn sau thời gian học tập nhiều. Nhất là áp lực thi cử không cho phép

các em tham gia tích cực vào sinh hoạt ngoại khóa, vui chơi tập thể.

Kiểm tra, đánh giá hoạt động và rà soát lại mức độ nhận thức của học

sinh

Hoạt động này được HS đánh giá mức độ rất thường xuyên khá cao (chiếm

50.4%) nhưng không tương ứng với kết quả chỉ có 44.7 % đánh giá tốt. Chứng tỏ

công tác rà soát lại mức độ nhận thức của học sinh chưa được nhà trường quan tâm.

Chỉ căn cứ trên các hoạt động thực hiện. Đó chính là nguyên nhân còn khá nhiều

HS nhận thức rất mơ hồ về công tác xây dựng trường học thân thiện.

Bảng 2.12: Đánh giá của HS về hình thức tổ chức trường học thân thiện

TT Các hình thức Mức độ thường xuyên Trung

bình Mức 3 Mức 2 Mức 1

1 Xây dựng trường lớp xanh, sạch, 23.0 58.4 18.6 1.9 đẹp, an toàn

2TDạy học có hiệu quả, phù hợp với

2

đặc điểm lứa tuổi của học sinh, giúp 18.4 68.8 20.8 2.0

các em tự tin trong học tập

2TRèn luyện kỹ năng sống cho học sinh 21.8

3 56.9 21.3 2.0

2TTổ chức các hoạt động tập thể

4 18.6 62.2 19.2 2.0

2TTính sáng tạo trong công tác tổ chức

5

chỉ đạo và mức độ tiến bộ đạt được 21.2 60.8 18.0 1.8

thông qua các lần đánh giá

2THọc sinh tham gia tìm hiểu, chăm

6

sóc và phát huy giá trị các di tích lịch 28.6 56.7 14.7 1.9

sử, văn hoá, cách mạng ở địa phương

76

Theo bảng 2.12, các hình thức tổ chức trường học thân thiện được học sinh

đánh giá như sau:

Xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn

Với giá trị trung bình x =2.0 và 58.4% HS đánh giá thường xuyên, chỉ có

23.0% đánh giá rất thường xuyên có nghĩa là các trường thực hiện hình thức này chỉ

ở mức độ thường xuyên. Theo khảo sát của tác giả trên một số học sinh, các em cho

2TDạy học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh, giúp các

rằng vấn đề môi trường học tập an toàn cần được quan tâm nhiều hơn.

2T

em tự tin trong học tập

Cùng với giá trị trung bình 2T x 2T=2.0, ý kiến đánh giá thường xuyên đạt 68.8%,

rất thường xuyên là 18.4% và 20.8% không thường xuyên chứng tỏ học sinh rất

quan tâm đến việc dạy học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh,

giúp các em tự tin trong học tập. Tuy nhiên, kết quả thực hiện chỉ đạt được ở mức

2TRèn luyện kỹ năng sống cho học sinh

độ thường xuyên nên cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn.

Kỹ năng sống cho học sinh là vấn đề đang cần được quan tâm. Nhưng theo

đánh giá của HS hiện nay, nhà trường chỉ thực hiện ở mức độ thường xuyên với giá

trị trung bình x = 2.0, 56.9% ý kiến HS đánh giá mức độ thường xuyên. 21.3% ý

2TTổ chức các hoạt động tập thể

kiến không thường xuyên chứng tỏ việc thực hiện hình thức này không đồng bộ.

Hình thức tổ chức các hoạt động tập thể trong nhà trường nhằm tạo sân chơi

tích cực cho HS, qua đó giáo dục kỹ năng sống… Nhưng kết quả đánh giá của học

sinh cũng tương tự như các hình thức trên, chỉ ở mức độ thường xuyên. Cụ thể trung

x

bình = 2.0, 62.2% đánh giá thường xuyên, 18.6% rất thường xuyên và 19.2%

không thường xuyên. Một số học sinh cho rằng, nhiều hoạt động tập thể giới hạn

đối tượng tham gia (Đoàn viên hoặc học sinh khá giỏi,…) tạo nên sự không đồng

bộ.

77

2TTính sáng tạo trong công tác tổ chức chỉ đạo và mức độ tiến bộ đạt được

2T

thông qua các lần đánh giá

Hình thức này rất quan trọng vì thể hiện tính khoa học của công tác tổ chức

chỉ đạo. Và kết quả đánh giá của HS như sau: giá trị trung bình 2T x 2T=1.8, 60.8% đánh

giá mức độ thường xuyên chứng tỏ công tác tổ chức chỉ đạo thường xuyên có sự

2THọc sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch

sáng tạo, có tiến bộ phù hợp với điều kiện thực tế của trường.2T

sử, văn hoá, cách mạng ở địa phương

Giá trị trung bình x = 1.7 và 28.6% HS đánh giá không thường xuyên. Đây

là giá trị trung bình thấp nhất và mức không thường xuyên cao nhất trong các hình

thức. Tuy kết quả cho biết hình thức này được thực hiện ở mức độ thường xuyên

nhưng chưa được quan tâm nhiều. Hình thức này nhằm bổ sung kiến thức về lịch

sử, văn hóa địa phương, giáo dục lòng yêu nước và lòng tự hào dân tộc nên cần

được phát huy.

Bảng 2.13: Đánh giá của HS về sự phù hợp đối với các tác động của nhà trường

TT Các tác động của nhà trường Mức độ (%) Trung

bình Mức 3 Mức 2 Mức 1

01 Cách thức nhà trường yêu cầu HS

tham gia xây dựng trường học thân 37.3 50.5 12.2 1.8

thiện

02 Trang bị cơ sở vật chất và trang thiết 32.4 47.3 20.3 1.9 bị

03 Tổ chức các hoạt động. 36.9 50.8 12.2 1.8

Theo bảng 2.13, cả ba hình thức tác động trên đều được HS đánh giá trung

bình x =1.8 và x =1.9, nghĩa là ở mức phù hợp. Cụ thể như sau:

Cách thức nhà trường yêu cầu HS tham gia xây dựng trường học thân thiện

có 50.5% đánh giá phù hợp, 37.3% rất phù hợp và 12.2% không phù hợp. Việc nhà

trường trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị gồm 32.4% rất phù hợp, 47.3% phù hợp

78

và 20.3% không phù hợp. Hình thức tổ chức hoạt động được 36.9% đánh giá rất

phù hợp, 50.8% phù hợp và 12.2% không phù hợp.

Theo đánh giá của HS, việc trang bị sơ sở vật chất và trang thiết bị có mức

không phù hợp cao nhất, mức rất phù hợp và phù hợp thấp nhất. Cụ thể nhà vệ sinh,

chuẩn phòng học, ánh sáng, phòng đa năng, sân chơi,…cần được sửa chữa, nâng

cấp và xây dựng thêm cho phù hợp.

Kết quả đánh giá cho cách thức nhà trường yêu cầu HS tham gia xây dựng

trường học thân thiện và tổ chức các hoạt động tương đương nhau mức phù hợp.

Tuy nhiên cũng cần chú ý để mức độ đánh giá của HS rất phù hợp cao hơn là mục

tiêu cần phấn đấu.

2.3.5. Những khó khăn và thuận lợi trong việc xây dựng và quản lý việc

xây dựng trường học thân thiện

2.3.5.1. Khó khăn và thuận lợi trong công tác xây dựng trường học thân

thiện

Từ thực trạng khảo sát trên tôi nhận thấy rằng, trong quá trình xây dựng

trường học thân thiện, các trường có những thuận lợi và khó khăn như sau:

Thuận lợi:

Đối với công tác xây dựng trường học thân thiện: được sự chỉ đạo của các

cấp lãnh đạo ngành giáo dục, sự quan tâm của chính quyền địa phương, sự đồng

thuận của các tổ chức đoàn thể tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ trong đó có sự đầu tư

về cơ sở vật chất.

Đối với CBQL cụ thể là BGH trường luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng nhận

thức và các kĩ năng cần thiết cho GV về công tác xây dựng trường học thân thiện.

Từ việc tổ chức lớp học, mời báo cáo viên về trường bồi dưỡng nhận thức đến việc

xây dựng kế hoạch thực hiện và phát động phong trào thi đua đều triển khai thực

hiện ở mỗi đầu năm học.

Trước sự quyết tâm của ngành về công tác xây dựng trường học thân thiện,

thái độ tiếp nhận của GV tích cực hơn. Ngoài việc tham dự những lớp học bồi

dưỡng nhận thức do nhà trường tổ chức và có thêm nhu cầu tự tìm hiểu nâng cao

79

nhận thức. Bên cạnh đó, công nghệ thông tin đang gần như trở thành phương tiện

không thể thiếu trong giảng dạy mang đến những hiệu quả tích cực góp phần cho

công tác dạy và học thân thiện hơn. CBQL nhận thấy một trong những điều kiện tất

yếu đó, nhanh chóng tổ chức các lớp bồi dưỡng kĩ năng ứng dụng công nghệ thông

tin mỗi đầu năm học rất thiết thực cho GV.

Mặt thuận lợi khác chính là suy nghĩ của HS về trách nhiệm xây dựng trường

học thân thiện rất tích cực, các em cho rằng Thầy Cô và tất cả học sinh cùng có

trách nhiệm là rất đúng đắn. Vì vậy, nếu HS được hiểu một cách sâu sắc sẽ thể hiện

đúng vai trò và trách nhiệm của mình trong công tác này.

Khó khăn:

Trong công tác xây dựng trường học thân thiện tại một số trường THPT công

lập quận 11 TP.HCM, lãnh đạo chưa có sự chỉ đạo sát sao nên sự phối hợp giữa các

ban ngành chưa chặt chẽ, các vấn đề nhà trường quan tâm chưa được đầu tư thỏa

đáng.

Khó khăn lớn nhất là cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều hạn chế. Cụ

thể là lớp học quá đông gây khó khăn cho phương pháp dạy học theo cá thể, nhiều

học sinh thụ động sẽ dễ dàng bị Thầy Cô bỏ quên; kế đến là không gian cho sinh

hoạt tập thể vào giờ ra chơi hoặc dịp hội trại rất hạn chế, nhiều buổi sinh hoạt ngoại

khóa như Giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kĩ năng sống,…bị hủy bỏ vì trời đổ

mưa, nhà trường không có được hội trường để di chuyển HS vào tiếp tục sinh hoạt.

Thậm chí những dịp lễ lớn của trường như khai giảng, tổng kết,… đều hạn chế số

lượng học sinh tham dự vì sân trường không đủ sức chứa cho toàn thể học sinh cùng

có mặt.

Nhiều GV chưa nhận thức đúng mục đích, ý nghĩa phong trào nên cho rằng

công tác này làm quá tải chương trình dạy học nhưng thực chất đây là nguồn lực hỗ

trợ thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học, thầy sáng tạo hơn, trò học hứng thú

và chủ động hơn. Cũng có GV nâng cao nhận thức về công tác xây dựng trường học

thân thiện nhưng không tìm hiểu thêm về công tác quản lý xây dựng trường học

thân thiện nên thiếu sự đồng cảm với những khó khăn của CBQL khi thực hiện

80

công tác mới này. Ngoài ra một số GV lớn tuổi mang sức ì tâm lí, không cho rằng

công tác xây dựng trường học thân thiện là cần thiết, bảo vệ quan điểm truyền thống

về vai trò của Thầy trong việc giảng dạy nên không phát huy tính tích cực chủ động

của HS.

Trình độ GV bất cập khó đổi mới phương pháp dạy học lồng ghép giáo dục

kĩ năng sống với hoạt động dạy học, GV có năng lực dạy kĩ năng sống, tổ chức trò

chơi hấp dẫn phong phú, có ý nghĩa giáo dục cũng hạn chế gây ảnh hưởng đến công

tác xây dựng trường học thân thiện: những GV chủ nhiệm trẻ chưa đủ kinh nghiệm

trong công tác phối hợp với cha mẹ HS để giáo dục và giúp đỡ các em trong học

tập, sinh hoạt giao tiếp hoặc có những GV phải kiêm nhiệm nhiều công tác. Hoặc

một số hoạt động tập thể con mang tính hình thức gây cho HS sự nhàm chán. Theo

số liệu thống kê cho thấy, do không được quản lý chặt chẽ và giúp đỡ nên số lần

học sinh va quẹt dẫn đến đánh nhau trung bình từ 4-5 vụ/ năm học; số học sinh bỏ

học do buồn chán, mất căn bản từ 20-25HS/ năm.

Một làn sóng tích cực nhằm thúc đẩy sự lan tỏa của công tác xây dựng

trường học thân thiện là viết sáng kiến kinh nghiệm để bàn bạc, trao đổi học tập lẫn

nhau, nhưng chưa được GV kể cả CBQL quan tâm và thực hiện đúng mục đích, kết

quả cũng không cao.

2.2.5.2. Khó khăn và thuận lợi trong công tác quản lý việc xây dựng

trường học thân thiện…

Tuy đã qua hai năm thực hiện nhưng các cấp quản lý vẫn còn gặp những

thuận lợi và khó khăn sau:

Thuận lợi:

Việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện đúng với sự chỉ đạo của cấp

trên. Chứng tỏ CBQL tiếp nhận và xử lí các công văn, chỉ thị, hướng dẫn của ngành

một cách tích cực.

Phương pháp chỉ đạo, điều hành của CBQL trong việc xây dựng trường học

thân thiện được thực hiện từng giai đoạn nhằm thay đổi nhận thức ban đầu của

nhiều GV và HS. Trong đó có việc chỉ đạo tổ chức nhiều hoạt động kết hợp giữa

81

các tổ chuyên môn và Đoàn thanh niên vừa nâng cao nhận thức của HS về trường

học thân thiện và HS có điều kiện tham gia các hoạt động ngoại khóa được tổ chức

trong và ngoài trường. Bản thân CBQL cũng nhận thức một cách sâu sắc về vai trò

của mình nên luôn định hướng những hoạt động cần thiết nhất giúp phát huy tính

tích cực chủ động của GV và HS trong việc dạy và học.

Ngoài ra, CBQL cũng quyết tâm thực hiện đẩy mạnh việc đổi mới phương

pháp dạy và học, đưa hoạt động vào thi đua dạy tốt học tốt, giúp HS phát huy tính

tích cực, năng động sáng tạo; GV thể hiện vai trò trách nhiệm đối với sự tiến bộ của

các em.

Khó khăn:

Một bộ phận đội ngũ GV chưa thật tâm huyết với nghề, nhận thức khó thay

đổi tạo nên sự thiếu đồng bộ trong việc cùng nhau khai thác những tiện ích của công

tác xây dựng trường học thân thiện đưa vào hoạt động giảng dạy để đạt hiệu quả

giáo dục HS toàn diện. Từ đó, khả năng tự học của HS còn hạn chế, thiếu chủ động

tích cực và tự tin trong học tập. Kĩ năng ứng xử tình huống sư phạm chậm, khả

năng tự bảo vệ chưa cao

Một số CBQL triển khai thực hiện còn lúng túng, rập khuôn, chưa có sự sáng

tạo, linh hoạt phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường. Cụ thể là việc xây dựng

kế hoạch phối hợp với các đơn vị liên ngành ở địa phương, phối hợp với Cha mẹ

học sinh, các tổ chức đoàn thể,…để tổ chức các hoạt động giáo dục thường xuyên,

chuyên nghiệp thu hút HS tham gia; việc tổ chức kiểm tra, đánh giá các hoạt động

chưa sâu sát để rút ra kinh nghiệm chỉ đạo thực hiện tốt hơn cho năm học tiếp theo.

Nhận thức của các đơn vị liên ngành về công tác quản lý việc xây dựng

trường học thân thiện chưa đồng bộ, thiếu sự chủ động phối hợp tích cực với nhà

trường trong việc giới thiệu các di tích lịch sử văn hóa, tổ chức các hoạt động văn

nghệ - thể thao kể cả việc bảo đảm địa bàn quanh khu vực trường học an toàn, lành

mạnh cho HS.

82

Khó khăn lớn nhất vẫn là CSVC, tuy được đầu tư nhưng không đủ và không

phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu thiết thực nhất của nhà trường, do những

vướng mắc về thủ tục giấy tờ, nguồn kinh phí,…

Thiếu những công trình nghiên cứu khoa học hữu ích giúp bồi dưỡng kĩ năng

cần thiết cho CBQL và GV thực hiện công tác quản lý việc xây dựng trường học

thân thiện.

Khả năng đối phó với những phản ứng thiếu tinh thần xây dựng của xã hội

đối với ngành, với công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện.

Việc xây dựng tiêu chí đánh giá chưa thật phù hợp với tình hình thực tế của

nhà trường dẫn đến việc kiểm tra, đánh giá công tác quản lý việc xây dựng trường

học thân thiện của các bộ phận chưa đúng thực chất.

2.3.5.3. Nguyên nhân của những thành công và hạn chế trong việc quản

lý trường học thân thiện:

- Nguyên nhân thành công:

Nguyên nhân khách quan:

Trong xu thế hội nhập và phát triển, mỗi cá nhân cần có tri thức, sự sáng tạo,

năng động, bản lĩnh, tự tin trong việc vận dụng tri thức của mình góp phần thúc đẩy

nước nhà nhanh chóng hòa nhập với thế giới. Ngành giáo dục chính là nhân tố quan

trọng góp phần đào tạo con người Việt Nam thời đại mới nên đã chủ động đề ra các

hình thức xây dựng mô hình nhà trường tiên tiến nhằm đào tạo và giáo dục thế hệ

học sinh phát triển toàn diện từ thể chất đến tinh thần, từ tri thức đến thực tiễn. Từ

đó, bản thân CBQL và GV đều nhận thấy vai trò của mình trong việc thực hiện

trách nhiệm, lương tâm nghề giáo sao cho sản phẩm của chính mình đào tạo ra phải

thật sự có ích cho đất nước. Mô hình trường học thân thiện được đề ra từ những yêu

cầu đó.

Nguyên nhân chủ quan:

Được sự chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể từ Bộ giáo dục và Sở giáo dục – Đào tạo,

trong hai năm qua công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện đã cụ thể

hóa công tác quản lý việc thi đua dạy tốt - học tốt, là giải pháp để góp phần nâng

83

cao giáo dục toàn diện cho học sinh, đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách, văn

hóa dân tộc. Vì thế đã thúc đẩy sự nỗ lực và gương mẫu của nhiều GV, CBQL và sự

cố gắng của hơn 5.000 HS THPT trong quận 11 đã trở thành động lực cho sự thành

công trong công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện.

Bên cạnh đó, nhà trường thường xuyên chú trọng công tác xây dựng, củng

cố, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL. Đến nay, đội ngũ không ngừng

được nâng cao nhận thức về mọi mặt; đáp ứng yêu cầu biết thân thiện trong dạy

học; luôn cập nhật tri thức khoa học, trình độ nghiệp vụ, nâng cao tay nghề để áp

dụng phương pháp dạy học tích cực, khơi gợi tình cảm, hứng thú, sự chủ động tìm

tòi, sáng tạo cho học sinh. Trường THPT quận 11 cũng phát huy tốt việc phổ cấp

giáo dục THPT phù hợp; quan tâm tạo điều kiện để thực hiện bình đẳng về quyền

lợi học tập cho thanh, thiếu niên, không có sự phân biệt về mọi mặt, tổ chức trao

học bổng cho học sinh học giỏi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Nhà trường quán triệt phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với

thực tiễn, mỗi giờ học, mỗi ngày học là một nguồn hứng thú mới, khơi gợi cho học

sinh khát vọng được khám phá phát hiện, bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu;

mang lại nhiều hiểu biết bổ ích về các môn khoa học tự nhiên, xã hội, nghệ thuật,

thể thao; góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc dân tộc bằng những lễ hội, trò chơi dân

gian.

- Nguyên nhân của những hạn chế:

Tuy bước đầu các trường THPT công lập quận 11 đạt được những thành

công nhưng công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện vẫn còn gặp

nhiều khó khăn hạn chế cũng bởi các nguyên nhân sau:

Nguyên nhân khách quan:

Đây là một mô hình nhà trường được triển khai thực hiện và có sức lan tỏa

trong 2 năm vừa qua. So với mô hình nhà trường dạy học theo kiểu truyền thống,

mô hình này còn quá non trẻ, kinh nghiệm đúc kết chưa nhiều, việc trao đổi học tập

kinh nghiệm giữa các trường với nhau còn hạn chế. Từ đó dẫn đến không ít khó

khăn, lúng túng cho CBQL và GV khi thực hiện.

84

Nguyên nhân chủ quan:

Sự đầu tư về cơ sở vật chất chưa đủ đáp ứng yêu cầu của nhà trường trong

việc tổ chức hoạt động học tập, vui chơi cho HS. Hạn chế lớn nhất về cơ sở vật chất

hiện nay của nhà trường là không có sân bãi, hội trường lớn, phòng đa năng để tổ

chức những diễn đàn, hoạt động giáo dục kĩ năng, giáo dục hướng nghiệp, hoạt

động thể thao, nghệ thuật thường xuyên cho HS toàn khối. Nhà trường cố gắng tổ

chức đầy đủ các hoạt động nhưng rất giới hạn về số lượng học sinh tham dự. Đôi

khi phải hủy bỏ vì trời mưa. Nguyên nhân là nguồn kinh phí và thủ tục gây khó

khăn.

Những công trình nghiên cứu khoa học hoặc những sáng kiến kinh nghiệm

của GV trong trường không được phổ biến cho GV khác cùng tham khảo, học tập

trao đổi kinh nghiệm. Việc thực hiện vẫn còn mang tính hình thức, chưa thực chất.

GV chỉ nhìn thấy tên đề tài nhưng không được xem qua nội dung cụ thể. Điều này

khó đánh giá đúng chất lượng của những sáng kiến kinh nghiệm và ứng dụng thực

tế trong nhà trường về công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện. Đây

cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc thiếu đồng bộ về nhận thức của GV trong

công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện. CBQL chưa quan tâm tìm

hiểu nhu cầu, nhận thức của GV và cả HS về hoạt động này, thực hiện xây dựng kế

hoạch có tính áp đặt thiếu khoa học sẽ tạo nên áp lực cho GV, tâm lí không thoải

mái trong việc phối hợp giảng dạy.

Đối với những khó khăn của CBQL trong việc tìm ra giải pháp do những

hướng dẫn chỉ đạo xuống các đơn vị liên ngành chưa thật sự đồng bộ, tiêu chí đánh

giá không đúng với thực tế của trường. Tạo áp lực lớn cho CBQL khi thực hiện, đôi

lúc phải đơn độc một mình thực hiện mà không có sự phối hợp hỗ trợ nào của đơn

vị liên ngành nhất là tình trạng GV còn hạn chế về kĩ năng tổ chức các hoạt động

ngoại khóa nhằm giáo dục đạo đức cho HS phải chọn hình thức tổ chức khác trong

khi kinh phí còn rất hạn chế.

85

2.3.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý việc xây dựng trường học

thân thiện

2.3.6.1. Mục tiêu:

Tìm hiểu thực trạng quản lý việc xây dựng trường học thân thiện trường

THPT công lập quận 11 để so sánh với thực trạng chung của thành phố Hồ Chí

Minh sau 2 năm thực hiện.

Tìm ra những nguyên nhân thuận lợi, khó khăn của nhà trường cụ thể là của

CBQL trong công tác xây dựng trường học thân thiện.

Đề ra những giải pháp thiết thực nhất góp phần đưa hoạt động này trở nên

gần gũi thường xuyên và là phương tiện hỗ trợ hiệu quả nhất trong việc giáo dục

học sinh toàn diện.

2.3.6.2. Nhận thức của giáo viên, học sinh:

Thực tế khảo sát và phân tích cho thấy nhận thức của GV và HS chưa đồng

bộ, thậm chí có nhiều HS nhận thức còn rất mơ hồ. Vì hoạt động này mới thực hiện

2 năm nên các mức độ đánh giá hầu như trung bình đã phán ánh đúng tình hình của

công tác xây dựng trường học thân thiện ở khu vực trường THPT công lập quận 11

TP.HCM.

Đối với bộ phận GV và HS đánh giá cao về hoạt động này chứng tỏ nhận

thức khá sâu sắc và có sự quan tâm, thực hiện. Đây chính là dấu hiệu tích cực mà

CBQL cần phát huy, nhân rộng điển hình dựa vào đó để thúc đẩy hoạt động mạnh

mẽ hơn.

Đối với bộ phận GV và HS chưa nhận thức tích cực, còn mơ hồ. CBQL cần

có biện pháp, kế hoạch bồi dưỡng thêm bằng nhiều hình thức như tìm hiểu, học tập,

thi đua theo từng giai đoạn.

2.3.6.3. Kết quả cụ thể

Hiện nay, trường THPT quận 11 TP. HCM đã có những chuyển biến từ công

tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện:

Công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện được sự hưởng ứng

tích cực của đại bộ phận CBQL, GV, HS, các bậc cho mẹ và các ban ngành. Năm

86

học 2010 – 2011, cả ba trường trong khu vực tiếp tục thi đua xây dựng trường học

thân thiện.

Quan cảnh nhà trường có sự thay đổi rõ rệt, phòng học sáng sủa hơn, không

gian xanh trong sân trường và quanh trường luôn được quan tâm chăm sóc. Nhà vệ

sinh được cải tạo, giữ gìn sạch sẽ. Nhà trường cũng quan tâm đến nguồn nước sạch,

được xử lí tốt cho HS sử dụng

Công tác phối hợp giữa nhà trường và Cha mẹ HS được quan tâm. Ban đại

diện Cha mẹ học sinh đã thể hiện được vai trò của mình trong nhà trường nhằm tạo

điều kiện tốt để nhà trường hoàn thành trách nhiệm.

Hoạt động dạy và học trong trường tiến bộ rõ rệt. GV chú ý nhiều đến việc

đổi mới phương pháp dạy học, tự học nâng cao năng lực và ứng dụng công nghệ

thông tin trong giảng dạy (tối thiểu 2 tiết/học kỳ/GV) phát huy tính tích cực chủ

động của HS giúp bài giảng thêm phong phú, hấp dẫn và thiết thực.

Giáo dục kĩ năng sống cho HS được nhà trường quan tâm. Kĩ năng ứng xử,

giao tiếp, giáo dục giới tính cho HS, phòng chống dịch bệnh, tệ nạn xã hội và các

trò chơi tập thể … được tổ chức đan xen vào mỗi tháng. Các bạn Đoàn viên dần dần

mạnh dạn, tự tin khi tham gia các hoạt động từ thiện, giao lưu sinh hoạt cộng đồng.

Kết luận chương 2

Công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện trường THPT quận 11

TP.HCM trong 2 năm thực hiện đã có những hiệu quả đáng kể. Cùng với thành phố,

các trường THPT quận 11 phấn đấu đạt được mục tiêu đề ra hướng đến giáo dục

học sinh toàn diện. Tuy điều kiện hoạt động của các trường đang gặp nhiều khó

khăn. Công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện còn phụ thuộc rất nhiều

vào sự nỗ lực của bản thân nhà trường. So với những lập luận được nêu từ cơ sở lí

luận, thực trạng khảo sát trên đã phản ánh được những mặt hạn chế trong công tác

quản lý việc xây dựng trường học thân thiện tại các trường THPT quận 11, TP. Hồ

Chí Minh như sau:

- Về nội dung quản lý: chưa thật sự đồng bộ thậm chí chưa bao quát. Cụ thể

trong 5 nội dung cần quản lý của công tác xây dựng trường học thân thiện, các

87

trường coi trọng nhất việc đổi mới phương pháp dạy học nhưng vẫn chưa thực hiện

việc dạy học theo cá thể. Vì thế, chỉ nhóm học sinh khá giỏi mới thật sự tự tin trong

học tập, những học sinh trung bình, yếu hoàn toàn dựa vào nhóm kia. Riêng nội

dung rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh tuy được triển khai thực hiện nhưng chưa

trở thành quen thuộc. Chất lượng của hoạt động này chưa được kiểm định và khảo

sát ý kiến phản hồi của HS…Đối với việc phối hợp các đơn vị liên ngành trong địa

phương mức độ lan tỏa chưa cao vì thế hiện nay HS chưa hiểu được di tích văn hóa

lịch sử của địa phương mình có hay không vì chỉ đi tìm hiểu thông qua hình thức

tham quan du lịch ở các nơi khác.

- Về phương pháp quản lý: so với khoảng thời gian là 2 năm thực hiện, các

Hiệu trưởng đã rất nghiêm túc, thực hiện đúng theo văn bản hướng dẫn của cấp trên.

Tuy nhiên sau hai năm thực hiện, Hiệu trưởng cần có sự sáng tạo và linh hoạt hơn

trong việc vận dụng các phương pháp quản lý từ lí thuyết đến thực tiễn phải có sự

gắn kết nhau. Thực tiễn giúp cho lí thuyết hoàn thiện hơn, lí thuyết giúp cho Hiệu

trưởng có cơ sở thực hiện, không bị lúng túng.

- Việc thực hiện các chức năng quản lý: có thể nói rất đồng bộ, từ việc xác

định mục tiêu, lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện kiểm tra đánh giá. Trong việc

kiểm tra đánh giá, Hiệu trưởng chưa thực hiện việc tổ chức hội nghị tổng kết 2 năm

thực hiện và khen thưởng cá nhân, tập thể đạt thành tích tốt hoạt động này. Đây

cũng chính là cách thức để động viên khuyến khích tinh thần sáng tạo của tập thể,

cá nhân và góp phần nâng cao nhận thức một cách toàn diện hơn trong tập thể nhà

trường và xã hội.

Đây là những đánh giá rút ra được từ kết quả khảo sát về công tác quản lý

việc xây dựng trường học thân thiện trường THPT quận 11 TP.HCM nhưng với tinh

thần vượt khó, trách nhiệm lương tâm người thầy và những cán bộ quản lý tâm

huyết. Những bất cập đó sẽ được khắc phục để công tác quản lý việc xây dựng

trường học thân thiện đạt được mục tiêu đề ra. Và cũng để cho hoạt động này thật

sự trở thành yêu cầu tất yếu giúp toàn thể CBQL, GV công nhân viên và học sinh

toàn trường hoàn thành mục tiêu giáo dục một cách thuận lợi nhất.

88

Chương 3

BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC XÂY DỰNG

TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP

QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

3.1. Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc xây dựng trường học

thân thiện

Hiện nay, công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện các trường

THPT không chỉ dừng lại ở số lượng hoạt động mà phải tiếp tục đầu tư sâu sắc hơn

về chất lượng. Điều HS cần nhất hiện nay là môi trường học tập thân thiện, HS có

thể vừa học tập khám phá tri thức vừa hoạt động vui chơi, phương pháp giảng dạy

thân thiện phát huy tính tích cực của HS, các mối quan hệ thân thiện,…HS luôn

cảm thấy gắn bó với trường, trong khoảng thời gian còn ngồi trên ghế nhà trường,

các em không muốn xa trường dù chỉ một ngày. Và như thế, trường học đã thực

hiện được mục tiêu thân thiện. Để thực hiện được điều đó, CBQL cần tổ chức thực

hiện tốt các biện pháp sau:

Các biện pháp quản lý việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức

Các biện pháp quản lý việc xây dựng kế hoạch và tổ chức chỉ đạo thực hiện

Các biện pháp quản lý về trang bị và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất

Biện pháp quản lý việc đẩy mạnh công tác phối hợp với các đơn vị liên ngành

nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng trường học thân thiện

3.2. Nội dung và cách thức tổ chức thực hiện của các biện pháp:

3.2.1. Biện pháp quản lý việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức:

Để quản lý tốt việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho GV và HS, CBQL cần

thực hiện nhiều hình thức bồi dưỡng giáo viên về các nội dung, kế hoạch, tiêu chí,

mục đích yêu cầu của công tác xây dựng trường học thân thiện nhằm nâng cao

nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của công tác xây dựng trường học thân

89

thiện. Bên cạnh đó cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá và tìm hiểu nhu cầu của

giáo viên và học sinh về công tác xây dựng trường học thân thiện. Giúp giáo viên,

học sinh hiểu đúng và đầy đủ về trường học thân thiện

Mục tiêu:

- Giúp GV và HS nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tác quản lý

việc xây dựng trường học thân thiện.

- Giúp GV tin tưởng vào mục tiêu đúng đắn của công tác xây dựng trường

học thân thiện, biến những hiểu biết sâu sắc thành hành động tích cực trong công

tác giáo dục HS toàn diện.

- Giải quyết những khó khăn, vướng mắc của GV khi thực hiện các hoạt

động góp phần xây dựng trường học thân thiện

- Xóa bỏ những suy nghĩ bảo thủ cho rằng công tác này tạo thêm áp lực, tăng

thêm nhiều việc cho GV trong công tác giảng dạy và giáo dục HS.

- Giúp HS thấy được quyền lợi và trách nhiệm của bản thân trong công tác

xây dựng trường học thân thiện.

- Giúp CBQL thuận lợi trong việc tổ chức chỉ đạo và triển khai thực hiện.

Cách thức tổ chức thực hiện:

Đối với Hiệu trưởng:

Hiệu trưởng đóng vai trò quyết định đối với chất lượng và kết quả công tác

xây dựng trường học thân thiện ở mỗi trường. Vì thế bản thân Hiệu trưởng cần nhận

thức đầy đủ, sâu sắc về mục đích, nội dung và ý nghĩa của công tác quản lý việc xây

dựng trường học thân thiện. Ngoài việc tiếp nhận tất cả những công văn, chỉ thị,

hướng dẫn và tham dự những hội thảo, chuyên đề cùng với cấp trên, CBQL cần tự

tìm hiểu nâng cao nhận thức bằng cách tham khảo những mô hình được thực hiện

thành công ở các nước tiên tiến và các nước đang phát triển học tập, rút kinh

nghiệm để thực hiện thành công cho đơn vị mình.

Hiệu trưởng phải có sự quyết tâm, nhiệt tình, nhiều sáng kiến cụ thể hóa các

hoạt động gắn với từng nội dung của công tác quản lý việc xây dựng trường học

90

thân thiện sẽ phát huy được nội lực của GV và sức mạnh của các lực lượng giáo

dục.

Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ GV, HS và

mọi người cùng tham gia. Một vấn đề quan trọng là Hiệu trưởng phải xây dựng và

bồi dưỡng lực lượng nồng cốt, nhiệt tình luôn đi đầu trong công tác tuyên truyền

nâng cao nhận thức cho cả tập thể sư phạm.

Tranh thủ sự chỉ đạo sâu sát và tham mưu của Sở Giáo dục và Đào tạo. Học

tập kinh nghiệm của trường bạn vận dụng một cách linh động, có hiệu quả vào công

tác quản lý tại đơn vị mình.

Bằng phương pháp hành chính kết hợp phương pháp giáo dục tâm lí, HT

thực hiện kế hoạch quản lý việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức:

- Cùng với lực lượng nồng cốt xác định mục tiêu nâng cao nhận thức cho

toàn thể CB GV công nhân viên và học sinh sao cho phù hợp với tình hình thực tế.

- Lên kế hoạch thực hiện trong từng giai đoạn cụ thể: giai đoạn triển khai nội

dung, công văn, chỉ thị,…về công tác xây dựng trường học thân thiện; tổ chức phát

động phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện (có thể thực hiện dưới sân

cờ vào buổi lễ khai giảng).

- Tổng kết và khảo sát nhận thức của tập thể mỗi 3 tháng/lần để đánh giá rút

kinh nghiệm và điều chỉnh kịp thời những nhận thức còn hạn chế.

Đối với GV:

Phương pháp giáo dục tâm lí và khuyến khích là cần thiết để quản lý việc bồi

dưỡng nâng cao nhận thức về công tác này cho bản thân, đồng nghiệp và cho học

sinh.

Tham dự buổi hội thảo về giới thiệu và đánh giá những bài học kinh nghiệm,

những sáng kiến kinh nghiệm, những thành tích của giáo viên, đơn vị đạt được trên

thực tế nhà trường vào dịp đầu năm học để tuyên truyền, chia sẻ và nhân rộng

gương điển hình tốt về hoạt động góp phần xây dựng trường học thân thiện.

Tham dự các lớp tập huấn cán bộ cốt cán và giáo viên trong nhà trường về

phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho HS. Hiệu trưởng cũng nên chú ý đến thời

91

gian tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn. Tốt nhất nên thực hiện vào những lúc GV

không quá bận rộn với việc hoàn thành hồ sơ, sổ sách, điểm số nhưng phải có thời

gian cho GV thực tập những phương pháp vừa được bồi dưỡng để khi thực hiện GV

không bị lúng túng trước HS. Sau đó nhân rộng ra toàn thể GV cùng được bồi

dưỡng những phương pháp này. Điều đó góp phần quan trọng trong việc vận dụng

vào các hình thức tổ chức hoạt động học tập của mỗi GV cho HS.

Tham dự các buổi thảo luận, trao đổi kinh nghiệm tổ chức lớp học kết hợp

với việc đổi mới phương pháp giảng dạy có ứng dụng công nghệ thông tin nhằm

phát huy tính chủ động, tự tin của HS trong học tập.

Tổ chức những tiết dạy thao giảng có sử dụng phương pháp tích hợp với giáo

dục kĩ năng sống cho HS, trao đổi, rút kinh nghiệm và học tập lẫn nhau. Mạnh dạn

chuyển đổi lối dạy học thầy đọc, trò chép, thầy giảng trò nghe truyền thống sang lối

dạy học tích cực hơn. Đó chính là lấy học sinh làm trung tâm, thầy tổ chức hoạt

động học tập, trò thực hiện các hoạt động khám phá tri thức. có như thế mới phát

huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh.

Cần chú trọng nâng cao chất lượng của các buổi thảo luận trên một tiết dạy

mẫu. Tất cả GV cùng trao đổi thẳng thắn, trên tinh thần xây dựng giúp đỡ đồng

nghiệp tiến bộ nói riêng và mục tiêu công tác nói chung. Có như thế mới xóa bỏ suy

nghĩ bảo thủ cho rằng các hoạt động này mang tính hình thức, biểu diễn, không sát

thực tế.

Ngày nay, công nghệ thông tin đang trở nên quen thuộc với tất cả mọi tầng

lớp trong xã hội. GV THPT là tầng lớp trí thức, có trình độ, khả năng tự nghiên cứu

cao nên CBQL cần khơi gợi năng lực tự bồi dưỡng nhận thức của họ. CBQL cần

xây dựng kế hoạch có sự phối hợp giữa nhu cầu của cá nhân, sự phát triển bản thân

GV với nhiệm vụ trọng tâm của tập thể sư phạm trong công tác xây dựng trường

học thân thiện. Để GV thấy được ý thức tự bồi dưỡng nhận thức về công tác xây

dựng trường học thân thiện vừa là quyền lợi vừa là nhiệm vụ của người thầy đối với

HS và với nghề.

92

Xây dựng trang web cho nhà trường, cung cấp nhiều nguồn thông tin, sáng

kiến kinh nghiệm, mô hình - phương pháp tổ chức lớp học, diễn đàn,… hữu ích cho

nhu cầu của GV. GV đánh giá đúng những ưu điểm và hạn chế của mình, thường

xuyên tìm hiểu và tự bồi dưỡng những mặt còn hạn chế. Đây cũng chính là cách

giúp GV rút ra bài học kinh nghiệm để hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu và bồi dưỡng

nhận thức cho bản thân.

Đối với HS:

Thực hiện cả ba phương pháp hành chính để triển khai, phát động; phương

pháp giáo dục – tâm lí để tác động trực tiếp đến các em; và phương pháp khuyến

khích để các em tích cực thực hiện. Cụ thể như sau:

- Tổ chức các cuộc thi và khuyến khích các em tham gia tìm hiểu về nội

dung, mục đích, ý nghĩa của công tác xây dựng trường học thân thiện bằng nhiều

hình thức: tập san, vẽ tranh, thuyết trình, thi đố vui, sáng kiến,… Đánh giá kết quả,

tuyên dương dưới sân cờ… Thông qua các cuộc thi, giúp HS nhận thức sâu sắc hơn

hiểu rõ hơn về công tác xây dựng trường học thân thiện hiểu rõ trách nhiệm của

mình trong việc xây dựng trường học thân thiện và có sự phối hợp tích cực với các

hoạt động GV tổ chức trong lớp học.

- Tích cực giới thiệu kênh cung cấp thông tin, kiến thức về hoạt động xây

dựng trường học thân thiện: sách, báo, internet,… có sự kiểm tra của GV phụ trách

thư viện. Khuyến khích các em tham gia tìm hiểu để nâng cao nhận thức.

Quá trình nhận thức của con người không đơn giản là sự tiếp nhận một cách

thụ động mà là sự tiếp nhận một cách năng động sáng tạo có chọn lọc và có mục

đích. Khi đó, nhận thức mới có thể định hướng cho hành động. Tuy nhiên trình độ

nhận thức của mỗi người khác nhau, tùy thuộc vào sự hiểu biết, có niềm tin, tình

cảm đối với ý nghĩa của vấn đề. Nếu nhận thức sâu sắc thì hành động sẽ đúng

hướng và có hiệu quả. Vì thế, trong công tác quản lý việc xây dựng trường học thân

thiện, cần chú ý đến việc bồi dưỡng nhận thức cho GV, HS thật đồng bộ và sâu sắc.

Nhất là cần hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của công tác này là phương tiện hỗ trợ

cho mục tiêu giáo dục HS toàn diện.

93

3.2.2. Biện pháp quản lý việc xây dựng kế hoạch và tổ chức chỉ đạo thực

hiện

Một trong những yếu tố mang đến sự thành công về việc xây dựng kế hoạch

và tổ chức, chỉ đạo thực hiện của Hiệu trưởng trong công tác quản lý việc xây dựng

trường học thân thiện là kế hoạch hóa nội dung công tác xây dựng trường học thân

thiện; quản lý việc xây dựng kế hoạch thời gian hợp lý cho giáo viên thực hiện tốt

công tác xây dựng trường học thân thiện và chỉ đạo tổ chức nhiều hoạt động học

tập cho học sinh nhằm tăng cường hiệu quả công tác xây dựng trường học thân

thiện.

Mục tiêu:

- Giúp GV nhận thức được tầm quan trọng công tác, xem đây là một hoạt

động gắn liền với hoạt động chuyên môn.

- Thông qua kế hoạch, các tổ bộ môn chủ động hơn trong việc bàn bạc để

xây dựng kế hoạch cho tổ gắn với sinh hoạt chuyên môn một cách hợp lí nhất.

- Tránh việc thực hiện mang tính hình thức, lãng phí thời gian làm giảm ý

nghĩa mục đích của công tác xây dựng trường học thân thiện.

- HS được tham gia những hoạt động bổ ích hướng đến hành động, suy nghĩ

tích cực hơn góp phần hình thành nhân cách toàn diện.

- CBQL dễ dàng kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động công tác xây dựng

trường học thân thiện và làm cơ sở cho công tác đánh giá thi đua trong nhà trường.

Cách thức tổ chức thực hiện:

Để thực hiện tốt biện pháp này, CBQL cần vận dụng phương pháp hành

chính để triển khai kế hoạch thực hiện, thi đua, tiêu chí đánh giá,…; phương pháp

giáo dục tâm lí để tác động đến hành động của đối tượng, giúp đối tượng phát huy

tính tích cực, năng động, sáng tạo của mình khi thực hiện và phương pháp khuyến

khích khi tổ chức kiểm tra, đánh giá các hoạt động hoặc quá trình thực hiện. Cụ thể

như sau:

- Triển khai các văn bản hướng dẫn thực hiện, tiêu chí đánh giá công tác thi

đua xây dựng trường học thân thiện của Bộ giáo dục.

94

- Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch năm học của trường cụ thể rõ ràng và khoa

học. Cần thiết huy động ý tưởng, sáng kiến của lực lượng nồng cốt. Hiệu trưởng

cũng cần thể hiện tầm nhìn chiến lược của mình qua việc xây dựng kế hoạch quản

lý công tác xây dựng trường học thân thiện vừa ngắn hạn vừa dài hạn, mang tính

khả thi, đưa ra những định hướng quyết định thực hiện từng giai đoạn.

- Hướng dẫn tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch của tổ sao cho đảm bảo đạt

hiệu quả cao trong giảng dạy, phát huy hết năng lực chuyên môn nghiệp vụ của GV

trong việc giáo dục học sinh toàn diện.

- Kế hoạch của tổ bộ môn phải chú ý đến thời gian tổ chức các hoạt động phù

hợp với chương trình nội dung bài dạy cho HS theo từng khối, phát huy tính những

tiện ích của hoạt động xây dựng trường học thân thiện trong công tác chuyên môn

- Kế hoạch chuyên môn cần có sự phối hợp với kế hoạch của Đoàn thanh

niên để tăng cường chất lượng các hoạt động vừa học tập vừa vui chơi thông qua

việc lồng ghép với giáo dục kĩ năng sống, giáo dục hướng nghiệp, ứng xử, giao

tiếp,… Những sân chơi bổ ích, lí thú sẽ khơi dậy những khát vọng cao đẹp của tuổi

trẻ, khát vọng ấy giúp HS trở thành những con người gương mẫu, tử tế và như vậy

trường học cũng thân thiện hơn

- Quy định mẫu, chất lượng của kế hoạch bằng cách thống nhất về mục tiêu,

nội dung học tập gắn với 5 nội dung của công tác xây dựng trường học thân thiện,

phương pháp, hình thức, thời gian tổ chức hoạt động phù hợp với kế hoạch của nhà

trường nhằm hỗ trợ kiến thức cần thiết cho HS nhất là chuẩn bị kiểm tra, thi cử.

- Công tác tổ chức chỉ đạo thường thể hiện tính tích cực của người CBQL. Vì

thế Hiệu trưởng cần phân công phân nhiệm rõ ràng trên kế hoạch đã đề ra. Theo

dõi, giám sát chỉ huy các hoạt động diễn ra đúng hướng, đúng mục đích. Thường

xuyên kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của các tổ, bộ phận liên quan, kịp thời phát

hiện những sai sót, đánh giá rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho các hoạt động lần

sau đạt hiệu quả hơn. Đồng thời tiếp nhận thông tin phản hồi từ GV, nhanh chóng

phân tích và điều chỉnh kế hoạch thực hiện đạt hiệu quả tối ưu.

95

- Chỉ đạo các bộ phận chuyên trách về kĩ thuật, CSVC trong nhà trường phối

hợp tích cực đảm bảo điều kiện phục vụ tốt nhất cho các tổ chuyên môn tổ chức

hoạt động học tập cho HS.

- Khi tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi cần có sự linh động tăng tính

hấp dẫn lôi cuốn học sinh. Để thực hiện được mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt

chẽ của các tổ chức, đoàn thể. Hiệu trưởng phải chú ý đưa vào kế hoạch triển khai

thực hiện từng bước:

- Đầu tiên, phân công GV trong tổ bộ môn và bố trí thời gian để GV được tập

huấn hoặc tự nghiên cứu các hình thức tổ chức hoạt động cho phù hợp với chương

trình học và điều kiện thực tế của nhà trường.

- Chọn lựa những hình thức hoạt động, trò chơi để tổ chức sao cho ít tốn

kém, dễ thực hiện, an toàn mà hiệu quả như: thi đối đáp cao dao dân ca, hát dân ca,

sân khấu hóa, hội diễn thời trang dân tộc Việt, khoa học vui, Hóa học và những

phép ma thuật, hát tiếng Anh, hùng biện tiếng Anh,… xoay quanh nhiều chủ đề về

tình bạn, tình thầy trò, khát vọng tuổi trẻ, thanh niên, khám phá tri thức,…

- Phối hợp với đơn vị liên ngành Văn hóa thể thao cố vấn để các hoạt động

càng trở nên chuyên nghiệp. HS tích cực hơn trong việc tìm hiểu kiến thức, học tập

vui chơi và thể hiện bản lĩnh, tự tin khi vào đời.

Một ngôi trường có đủ điều kiện thực hiện công tác xây dựng trường học

thân thiện mà kết quả thu được không tốt thì trách nhiệm thuộc về năng lực tổ chức,

chỉ đạo của CBQL và GV, những người mang trên vai trọng trách người thầy. Để

GV thực hiện tốt nhiệm vụ của mình đối với những chủ trương, kế hoạch, chỉ thị

của ngành. Nhà trường rất cần một CBQL có năng lực lãnh đạo, có tầm nhìn, có sự

sáng tạo, trong việc xây dựng kế hoạch và linh động trong việc tổ chức, chỉ đạo

thực hiện. Người CBQL phải hiểu rằng trường học thân thiện là một trường học mà

ở đó giáo viên không phải đối phó với công việc mà làm việc bằng sự say mê đềy

sáng tạo, học sinh tìm được niềm vui trong học tập, tìm thấy sự yêu thương, tin

tưởng, tìm thấy tình bạn trong sáng, tình thầy cô ấm áp. Nhất là các em được ươm

mầm để thực hiện những ước mơ, khát vọng cháy bỏng của đời mình.

96

3.2.3. Biện pháp tạo điều kiện về cơ sở vật chất, các phương tiện hỗ

trợ,…cho giáo viên thực hiện tốt công tác xây dựng trường học thân

thiện.

Cơ sở vật chất và các trang thiết bị là điều kiện quan trọng giúp GV thực

hiện tốt công tác giảng dạy góp phần xây dựng trường học thân thiện. Vì thế CBQL

cũng như GV cần tích cực khai thác những tiện ích của trang thiết bị và phương

tiện hiện đại phục vụ hiệu quả cho hoạt động dạy học nhằm phát huy tính năng

động, sáng tạo của học sinh.

Mục tiêu:

- Giúp môi trường học tập khang trang hơn, đảm bảo an toàn sạch sẽ và thân

thiện.

- GV có điều kiện tổ chức được nhiều hoạt động học tập cho HS giúp các em

phát triển những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống có hành vi giao tiếp, ứng xử tích

cực với mọi người xung quanh.

- Tạo điều kiện thuận lợi và duy trì bền vững các hoạt động ngoại khóa cho

HS.

- Nhà trường tổ chức được nhiều lớp học giúp ích cho sự phát triển năng

khiếu, phù hợp năng lực và sở thích của HS. Hướng các em vào những hoạt động bổ

ích, tránh xa những trò chơi nguy hiểm, bạo lực,… ảnh hưởng không tốt đến nhân

cách.

- GV tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy khuyến khích sự chủ động,

sáng tạo và chuyên cần của HS.

Cách tổ chức thực hiện:

Phương pháp hành chính được sử dụng trong biện pháp này cũng nhằm thực

hiện tốt việc xã hội hóa giáo dục từng bước cải thiện về CSVC cho trường. Phương

pháp giáo dục tâm lí giúp GV và HS mạnh dạn tiếp cận và cảm thấy sự cần thiết của

những phương tiện, trang thiết bị hỗ trợ việc dạy và học. Phương pháp khuyến

khích giúp GV định hướng cho HS phát huy khả năng vốn có trong việc tự học…và

yêu thương trường lớp. Các phương pháp này được vận dụng như sau:

97

- Để đảm bảo lớp học đủ ánh sáng, cần bố trí đèn đủ và đo độ sáng cho phù

hợp. Bố trí bàn ghế phù hợp với lứa tuổi HS, chỗ ngồi thoải mái, có thể dịch chuyển

dễ dàng thuận lợi cho các hoạt động khác nhau của từng tiết học theo mục đích của

GV. Sĩ số học sinh trong mỗi lớp học đúng quy định.

- Đảm bảo cảnh quan môi trường giáo dục an toàn, thân thiện bằng cách

trồng thêm cây xanh, trang trí lớp học sinh động. Nhà trường có thể giao cho mỗi

lớp chăm sóc một số cây trong vườn, có sự thi đua vì màu xanh cho trường. Chính

màu xanh của cây lá cũng góp phần giúp tâm hồn thư giản sau giờ học căng

thẳng,….

- Để GV thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, ngoài sự nỗ lực của bản

thân GV cũng cần có môi trường thuận lợi, đó là điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị

luôn được quan tâm và trang bị đầy đủ.

- Theo thông tư số 127/2009/TT-BTC ngày 19/6/2009 của Bộ Tài chính

hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách năm 2010; Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng

dẫn Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, thành phố tiến hành lập kế hoạch đầu tư xây

dựng cơ sở vật chất và thiết bị trường học năm 2010 và 5 năm 2011-2015. Hiệu

trưởng cần xây dựng kế hoạch trang bị nâng cấp cơ sở vật chất cho trường như sau:

Sử dụng nguồn kinh phí theo ngân sách và dự trù kinh phí hằng năm để mua

sắm bổ sung các dụng cụ thể thao, nhạc cụ giúp cho việc tổ chức hoạt động vui

chơi, hoạt động văn nghệ phù hợp với điều kiện của trường.

Huy động nguồn tài trợ của các nhà hảo tâm, doanh nghiệp để trang bị các

phương tiện cần thiết nhất cho hoạt động học tập của HS. Huy động nguồn tài trợ từ

giáo viên, cựu học sinh, các bậc phụ huynh, tổ chức xã hội đóng góp kinh phí xây

dựng phòng đa năng giúp nhà trường tổ chức lớp học năng khiếu an toàn, phong

phú tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho HS phát huy tính sáng tạo thông qua

việc tham gia các hoạt đông văn nghệ, thể thao trong nhà trường.

Có kế hoạch trang bị thư viện thân thiện cho HS với đầy đủ sách tham khảo,

trang bị máy tính có kết nối internet để HS tự tìm kiếm thông tin tri thức phát huy

năng lực tự học dưới sự quản lý hướng dẫn của cán bộ phụ trách thư viện.

98

- Động viên GV hướng dẫn HS tra cứu tìm kiếm thông tin bổ ích trên mạng

internet. Rèn luyện cho HS thói quen tự học, hướng dẫn HS khai thác những trang

web bổ ích cho việc học. Ngoài ra nhà trường có điều kiện, có thể xây dựng trang

web với sự hợp tác của các tổ bộ môn giới thiệu những kiến thức cần thiết cho HS

tham khảo và tìm hiểu hỗ trợ việc tự học của các em.

- Ngoài ra, Hiệu trưởng cần lên kế hoạch kiểm tra việc sử dụng và khai thác

những tiên ích của trang thiết bị của GV một cách có hiệu quả, đưa vào tiêu chí

đánh giá thi đua mỗi năm học. Nếu cần, tổ chức tập huấn GV sử dụng sao cho hợp

lý, hiệu quả.

Ngày nay, môi trường giáo dục đươc quan tâm rất nhiều, nhất là việc xây

dựng ngôi trường khang trang đến việc trang bị cơ sở vật chất, phương tiện dạy học

đầy đủ, cần thiết cho HS. Tuy nhiên vẫn còn không ít những hạn chế khó khăn cần

được khắc phục. Trách nhiệm đó không riêng gì của CBQL, GV mà rất cần sự quan

tâm của toàn xã hội. có như thế con em mới được học trong môi trường giáo dục

lành mạnh, an toàn

3.2.4. Biện pháp quản lý việc đẩy mạnh công tác phối hợp với các đơn vị

liên ngành nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng trường học thân

thiện

Đẩy mạnh công tác phối hợp với các đơn vị liên ngành là phát huy sức mạnh

của các tổ chức, ban ngành có liên quan, phối hợp cùng với chính quyền trong việc

xây dựng trường học thân thiện góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại đơn vị.

Mục tiêu:

- Đẩy mạnh hiệu quả của công tác xã hội hóa giáo dục.

- Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường-phụ huynh và các đơn vị liên

ngành.

- Vận dụng những thế mạnh của các đơn vị liên ngành góp phần thúc đẩy

công tác xây dựng trường học thân thiện.

- Giáo dục HS ý thức trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ giá trị truyền thống tốt

đẹp của địa phương, dân tộc.

99

Cách thức tổ chức thực hiện:

Cả ba phương pháp quản lý hành chính, giáo dục - tâm lí, khuyến khích đều

cần thiết để thực hiện tốt biện pháp này. CBQL thể hiện được năng lực lãnh đạo

khéo léo khi:

- Huy động sức mạnh của đơn vị liên ngành, tham mưu và thực hiện tốt công

tác xã hội hóa giáo dục, vận động nhiều nguồn kinh phí đầu tư tu bổ cải tạo nâng

cấp cơ sở vật chất, giúp đỡ học sinh nghèo hiếu học giảm dần số HS bỏ học. Ví dụ:

theo kết quả khảo sát và ý kiến của GV-HS đơn vị trường Nam Kỳ Khởi Nghĩa

không có hội trường, phòng thể thao đa năng,… Ngoài nguồn kinh phí mà trường

đã huy động để xây dựng sửa chữa. Đơn vị liên ngành phải giúp đỡ về thủ tục hành

chính,...

- Xây dựng kế hoạch chủ động mời đơn vị liên ngành cùng phối hợp thực

hiện giáo dục HS thông qua hoạt động của Đoàn thanh niên, hoạt động ngoại khóa

của tổ bộ môn Văn, Sử, Địa, Giáo dục công dân.

- Tăng cường công tác chỉ đạo việc phối hợp với cơ quan thông tin đại chúng

tuyên truyền, giới thiệu đến HS những di tích, di sản cần được chăm sóc, giữ gìn.

Tổ chức tuyên truyền giáo dục về ý nghĩa giá trị của di tích sâu sắc: cung cấp hỗ trợ

tư liệu, hình ảnh, địa chỉ về di tích lịch sử địa phương; hướng dẫn chăm sóc, bảo vệ

các khu di tích; xây dựng các tour du lịch về nguồn giúp HS có dịp tham quan tìm

hiểu và bổ sung kiến thức lịch sử văn hóa dân tộc và duy trì thực hiện thường xuyên

trong năm học.

- Phổ biến Luật di sản văn hóa nhằm nâng cao nhận thức cho HS về ý thức

giữ gìn và phát huy. Giúp HS chọn và nhận chăm sóc một công trình di tích lịch sử,

văn hóa phù hợp với khối lớp học, trồng và chăm sóc cây trong khu di tích; thường

xuyên kiểm tra, đánh giá và biểu dương những cá nhân, tập thể thực hiện tốt hoạt

động này.

- Tổ chức cuộc thi tìm hiểu lịch sử, di sản văn hóa, tiểu sử của những nhân

vật lịch sử địa phương; khuyến khích GV môn xã hội lồng ghép vào bài học hoặc

yêu cầu bài tập gắn với những di tích lịch sử.

100

- Tổ chức cho HS trường này đến tham quan khu di tích do trường HS bạn

chăm sóc; tổ chức lễ kết nạp Đoàn tại khu di tích lịch sử văn hóa; HS có thể đăng ký

làm hướng dẫn viên tình nguyện giới thiệu cho HS trường bạn, khách du lịch tham

quan di tích lịch sử văn hóa địa phương.

- Nếu địa phương trường học không có di tích lịch sử, văn hóa thì tổ chức

cho HS nhận chăm sóc các cán bộ lão thành cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng,

hoặc những nhà văn hóa, trí thức tiêu biểu đã nghỉ hưu, có thể tổ chức mời học tham

gia vào các buổi sinh hoạt ngoại khóa của nhà trường để hoạt động giáo dục thêm

sinh động và đầy ý nghĩa.

- Bên cạnh đó, việc tổ chức cho HS tham quan các di tích được xếp hạng cấp

quốc gia ở những nơi xa trường học sẽ rất tốn kém. Nhưng để HS vẫn có thể hiểu

biết được, các đơn vị liên ngành như Bộ văn hóa-thể thao du lịch phối hợp phát

hành những tài liệu, sách, video có thuyết minh cung cấp cho trường để nhà trường

tổ chức cho Hs học tập và tìm hiểu

- Kết hợp với quận Đoàn, thiết kế và giới thiệu những trò chơi, hình thức

sinh hoạt tập thể cho HS. Tổ chức và duy trì các câu lạc bộ văn nghệ dân gian trong

trường. Tổ chức những trò chơi dân gian tích hợp việc giới thiệu di sản văn hóa.

Hoạt động này góp phần phát huy tính tích cực của HS trong việc giáo dục ý

thức bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa lịch sử địa phương, quốc gia hiện

nay. Thông qua cac hoạt động tìm hiểu, chăm sóc các di tích lịch sử, văn hóa dịa

phương giúp cho HS cảm thấy các môn xã hội như Ngữ văn, lịch sử, giáo dục công

dân trở nên thiết thực và giờ học cũng sinh động, hiệu quả hơn.

101

3.3. Kết quả khảo sát về tính cần thiết và tính khả thi:

Bảng 3.1. Tính cần thiết của các biện pháp

TT Biện pháp Mức độ cần thiết %

Cần Không Rất

thiết cần thiết cần

thiết

công tác xây dựng trường học thân thiện

01 Nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của 61.5 31.0 7.5

của giáo viên và học sinh về công tác xây dựng trường

02 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá và tìm hiểu nhu cầu

học thân thiện

78.0 18.5 3.5

thân thiện

03 Kế hoạch hóa nội dung công tác xây dựng trường học 89.5 7.0 3.5

tác xây dựng trường học thân thiện

04 Thực hiện nhiều hình thức bồi dưỡng giáo viên về công 86.5 9.0 4.5

hiện tốt công tác xây dựng trường học thân thiện.

05 Xây dựng kế hoạch thời gian hợp lý cho giáo viên thực 79.5 15.5 5.0

trợ,…cho giáo viên thực hiện tốt công tác xây dựng

06 Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, các phương tiện hổ

trường học thân thiện.

60.0 34.0 6.0

cường hiệu quả công tác xây dựng trường học thân thiện.

07 Tổ chức nhiều hoạt động học tập cho học sinh nhằm tăng 73.5 23.0 3.5

phương tiện hiện đại phục vụ hiệu quả cho hoạt động

08 Tích cực khai thác những tiện ích của trang thiết bị và

dạy học nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo của học

sinh.

56.0 40.5 3.5

nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng trường học

09 Đẩy mạnh công tác phối hợp với các đơn vị liên ngành

thân thiện

58.0 30.0 12.0

102

Theo kết quả khảo sát về tính cần thiết của các biện pháp cho thấy:

Đối với biện pháp nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của

công tác xây dựng trường học thân thiện có 61.5% ý kiến đánh giá rất cần thiết,

31.0% cần thiết và 7.5% đánh giá không cần thiết. Như vậy, đa số GV có nhu cầu

hiểu thêm về tầm quan trọng của công tác này để thấy được những mặt tích cực của

công tác trong việc góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Con số 7.5% không

cần thiết có thể thuộc về những ý kiến đã hiểu sâu sắc, có hành động tích cực và

luôn đi đầu trong công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện.

Việc thực hiện nhiều hình thức bồi dưỡng giáo viên về công tác xây dựng

trường học thân thiện đang rất được GV quan tâm, với 86.5% đánh giá rất cần thiết,

chỉ có 9.0% cần thiết và 4.5% không cần thiết. Như vậy, ngoài những hình thức bồi

dưỡng nhà trường đã thực hiện trước đây (một chiều, thụ động). Việc thay đổi hình

thức bồi dưỡng sẽ tránh trùng lặp, nhàm chán và qua đó, GV cũng được tập huấn

những hình thức bồi dưỡng mới tích cực và sinh động hơn để vận dụng vào việc bồi

dưỡng nhận thức cho HS.

Bên cạnh đó, CBQL thường xuyên kiểm tra, đánh giá và tìm hiểu nhu cầu

của giáo viên và học sinh về công tác xây dựng trường học thân thiện được 78.0%

cho rằng rất cần thiết, 18.5% cần thiết và 3.5% không cần thiết. Chứng tỏ nhu cầu

của GV và HS về công tác này rất cần được quan tâm để CBQL xây dựng kế hoạch

và triển khai thực hiện thiết thực hơn phù hợp với thực tế.

Biện pháp quản lý việc xây dựng kế hoạch và tổ chức chỉ đạo thực hiện

Trong các biện pháp quản lý việc xây dựng kế hoạch và tổ chức chỉ đạo thực

hiện thì kế hoạch hóa nội dung công tác xây dựng trường học thân thiện có 89,5% ý

kiến đánh giá rất cần thiết. Vì vậy CBQL rất cần phát triển những nội dung về công

tác xây dựng trường học thân thiện theo một kế hoạch cụ thể, yêu cầu từng bộ phận

xây dựng kế hoạch thực hiện gắn với chức năng của mình. Từ đó, CBQL dễ dàng

kiểm tra đánh giá việc thực hiện của đơn vị mình

Ngoài ra CBQL cũng cần xây dựng kế hoạch thời gian hợp lý cho giáo viên

thực hiện tốt công tác xây dựng trường học thân thiện. Biện pháp này có 79.5%

103

đánh giá rất cần thiết. Kết hợp với việc tổ chức nhiều hoạt động học tập cho học

sinh nhằm tăng cường hiệu quả công tác xây dựng trường học thân thiện có 73.5%

đánh giá rất cần thiết và 23.0% cần thiết. Như vậy, kế hoạch thời gian hợp lý sẽ

giúp GV không bị áp lực mà cảm thấy chủ động với kế hoạch giảng dạy cá nhân,

khi nào cần thiết tổ chức những hoạt động giáo dục hiệu quả, khi nào vận dụng

những phương pháp giảng dạy tích cực làm cho môi trường học tập trở nên sinh

động, thân thiện với HS hơn. Bản thân GV khi đã nhận thức sâu sắc và có được kế

hoạch thời gian hợp lý về công tác này sẽ phát huy tính tích cực, lòng nhiệt tâm

trong giảng dạy và giáo dục học sinh một cách thân thiện.

Biện pháp tạo điều kiện về cơ sở vật chất, các phương tiện hỗ trợ,..cho

giáo viên thực hiện tốt công tác xây dựng trường học thân thiện.

Kết quả 60.0% đánh giá rất cần thiết, 34% đánh giá cần thiết về việc tạo điều

kiện về cơ sở vật chất, các phương tiện hỗ trợ,…cho giáo viên thực hiện tốt công tác

xây dựng trường học thân thiện và 56.0% đánh giá rất cần thiết, 40.5% cần thiết cho

việc tích cực khai thác những tiện ích của trang thiết bị và phương tiện hiện đại

phục vụ hiệu quả cho hoạt động dạy học nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo

của học sinh. Thực chất, mức độ đánh giá rất cần thiết không cao vì GV nhận thấy

những hạn chế về cơ sở vật chất của nhà trường rất khó cải thiện và dường như

không thể thực hiện được. Theo ý kiến của Hiệu trưởng trường THPT Nam Kỳ

Khởi Nghĩa cho biết: “Vấn đề nhà trường thiếu hội trường, phòng đa năng và phòng

học quá hẹp, học sinh đông là điều phải chấp nhận. Tất cả phụ thuộc vào kinh phí

cải tạo, sữa chữa và thủ tục pháp lí. Vô cùng khó khăn”. Vì thế sự nỗ lực của một số

GV cũng hạn chế.

Biện pháp đẩy mạnh công tác phối hợp với các đơn vị liên ngành nhằm

nâng cao hiệu quả công tác xây dựng trường học thân thiện

Kết quả đánh giá có 58.0% ý kiến cho rằng rất cần thiết và 30.0% cần thiết.

Tuy nhiên có đến 12.0% cho rằng không cần thiết. Chứng tỏ từ khi chưa có công tác

này, nhà trường cũng đã thực hiện các hình thức giáo dục học sinh bằng việc tham

quan những khu di tích lịch sử, văn hóa, tổ chức những trò chơi dân gian, hội thi

104

văn nghệ,…Hiện nay, kết quả khảo sát cho thấy, GV bắt đầu quan tâm đến những

giá trị lịch sử văn hóa địa phương. Một tín hiệu đáng mừng giúp cho CBQL cần tích

cực hơn trong việc đẩy mạnh công tác phối hợp với các đơn vị liên ngành.

Đối với học sinh THPT, các em đang lớn nhanh và nhiều thay đổi về tâm

sinh lí, thích tìm hiểu những cái mới lạ mặc dù chưa đủ nhận thức sâu sắc về những

mặt tốt, xấu của vấn đề. Vì vậy nhà trường cần phối hợp tốt với các ban ngành,

đoàn thể tổ chức những ngày hội đầy ý nghĩa cho các em như: “Ngày Di sản văn

hóa Việt Nam”, Về nguồn,… với nội dung thiết thực sẽ giúp HS có thêm vốn sống,

hạn chế cơ hội tiêm nhiễm những thói quen xấu như game kích thích tính bạo lực…

Nhìn chung, ý kiến đánh giá về tính cần thiết của các biện pháp tuy không

đều nhau nhưng đa số đều ở mức độ rất cần thiết. Vì tất cả các biện pháp đều hướng

đến mục tiêu chung là xây dựng trường học chất lượng, hiệu quả, thân thiện tích

cực. Môi trường dạy học thân thiện cho GV cảm thấy mình được làm việc trong

không khí tích cực, hoạt động giảng dạy sẽ đi sâu vào thực tế, kiến thức chuyên

môn sẽ trở nên gần gũi hơn với HS. Môi trường ấy sẽ là điều kiện thuận lợi để HS

phát triển toàn diện về nhân cách, HS được kích thích niềm tin và khám phá nguồn

tri thức vô tận, các em nhận thấy mình được tôn trọng, tin tưởng, mạnh dạn vận

dụng linh hoạt những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, rèn luyện cho bản

thân ý thức tự học và học tập suốt đời.

105

Bảng 3.2. Tính khả thi của các biện pháp

TT Biện pháp Mức độ khả thi

Rất Khả thi Không

khả thi khả thi

01 Nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của 76.0 16.0 8.0 công tác xây dựng trường học thân thiện

02 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá và tìm hiểu nhu cầu

của giáo viên và học sinh về công tác xây dựng trường 55.5 37.5 7.0

học thân thiện

03 Kế hoạch hóa nội dung công tác xây dựng trường học 65.0 28.0 7.0 thân thiện

04 Thực hiện nhiều hình thức bồi dưỡng giáo viên về 78.5 14.5 7.0 công tác xây dựng trường học thân thiện

05 Xây dựng kế hoạch thời gian hợp lý cho giáo viên thực 80.0 13.0 7.0 hiện tốt công tác xây dựng trường học thân thiện.

06 Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, các phương tiện hổ

trợ,…cho giáo viên thực hiện tốt công tác xây dựng 70.5 21.5 8.0

trường học thân thiện.

07 Tổ chức nhiều hoạt động học tập cho học sinh nhằm 70.5 23.0 6.5 tăng cường hiệu quả công tác XDTHTT.

08 Tích cực khai thác những tiện ích của trang thiết bị và

phương tiện hiện đại phục vụ hiệu quả cho hoạt động 61.5 32.0 6.5 dạy học nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo của

học sinh.

09 Đẩy mạnh công tác phối hợp với các đơn vị liên ngành

nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng trường học 60.0 27.5 12.5

thân thiện

106

Kết quả khảo sát về tính khả thi của các biện pháp trên cho thấy:

Đối với biện pháp quản lý việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức

Trước hết là nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của công tác

xây dựng trường học thân thiện được đánh giá cao cụ thể 76.0% ý kiến rất khả thi.

Bên cạnh đó có 78.5% đánh giá rất khả thi cho việc thực hiện nhiều hình thức bồi

dưỡng giáo viên về công tác xây dựng trường học thân thiện kế đến là 55.5% rất

khả thi và 37.5% khả thi cho việc thường xuyên kiểm tra, đánh giá và tìm hiểu nhu

cầu của giáo viên và học sinh về công tác xây dựng trường học thân thiện. Như vậy,

nếu CBQL chú ý nâng cao việc bồi dưỡng nhận thức cho GV sâu sắc hơn để GV

không chỉ dừng lại ở mức độ hiểu, biết mà thấy được tầm quan trọng của công tác

này, phát hiện những tiện ích và có niềm tin vào mục tiêu thì nhận thức của GV sẽ

chuyển thành hành động tích cực trong việc xây dựng trường học thân thiện.

Các biện pháp quản lý việc xây dựng kế hoạch và tổ chức chỉ đạo thực

hiện

Trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức chỉ đạo thực hiện có 65.0% đánh

giá rất khả thi cho việc kế hoạch hóa nội dung công tác xây dựng trường học thân

thiện; 80.0% rất khả thi khi CBQL xây dựng kế hoạch thời gian hợp lý cho giáo

viên thực hiện tốt công tác xây dựng trường học thân thiện và 70.5% cho rằng rất

khả thi nếu nhà trường tổ chức nhiều hoạt động học tập cho học sinh nhằm tăng

cường hiệu quả công tác xây dựng trường học thân thiện. Trong đó, việc xây dựng

kế hoạch thời gian hợp lí được đánh giá mức khả thi cao nhất vì nếu GV và HS

được bồi dưỡng nhận thức sâu sắc, có niềm tin vào hiệu quả tích cực của công tác

xây dựng trường học thân thiện thì khi được bố trí thời gian thực hiện hợp lý, GV và

HS sẽ chủ động phối hợp tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi hiệu quả, bổ ích

cho HS.

Các biện pháp quản lý về trang bị và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất

Trong biện pháp này bao gồm việc tạo điều kiện về cơ sở vật chất, các

phương tiện hổ trợ,…cho giáo viên thực hiện tốt công tác xây dựng trường học thân

thiện có 70.5% ý kiến đánh giá rất khả thi và 21.5% đánh giá khả thi. Tuy nhiên

107

mức độ đánh giá rất khả thi cho việc GV tích cực khai thác những tiện ích của trang

thiết bị và phương tiện hiện đại phục vụ hiệu quả cho hoạt động dạy học nhằm phát

huy tính năng động, sáng tạo của học sinh thấp hơn (61.5%) và 32.0% đánh giá khả

thi. Nguyên nhân là sự nỗ lực của GV trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ

không thu được kết quả cao nếu không có sự hỗ trợ của những phương tiện dạy học

hiện đại. HS không được phát huy khả năng tự học nếu không có những phương

tiện hỗ trợ. Mặt khác, mức độ đánh giá khả thi khá cao chứng tỏ một số GV còn e

ngại khi sử dụng. Kết quả này cho thấy CBQL và HS rất cần bồi dưỡng thêm kiến

thức và kĩ năng sử dụng bên cạnh việc trang bị đủ các phương tiện cho việc dạy và

học.

Biện pháp quản lý việc đẩy mạnh công tác phối hợp với các đơn vị liên

ngành nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng trường học thân thiện

Với kết quả khảo sát là 60.0% ý kiến đánh giá rất khả thi và 27.5% khả thi

chứng tỏ biện pháp quản lý việc đẩy mạnh công tác phối hợp với các đơn vị liên

ngành hiện nay có thực hiện nhưng chưa tích cực để GV nhìn thấy kết quả. Vì vậy,

Hiệu trưởng cần chủ động tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng xã hội. Bên

cạnh đó, các đơn vị cũng chủ động phát huy thế mạnh của mình góp phần đạt được

mục tiêu chung của phong trào.

Hi vọng với sự hưởng ứng và tham gia nhiệt tình của toàn thể CBQL, GV,

HS và các lực lượng trong xã hội chắc chắn công tác xây dựng trường học thân

thiện sẽ phát triển và đạt được những thành công nhất định. GV sẽ tận tâm, hết lòng

dạy dỗ HS nếu có sự phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ tích cực từ phía gia đình các tổ

chức xã hội và các đơn vị liên ngành.

Kết luận chương 3

Từ những nghiên cứu về cơ sở lí luận và thực tiễn công tác quản lý việc xây

dựng trường học thân thiện ở các trường trung học phổ thông công lập quận 11

thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã đề xuất một số biện pháp và nội dung thực hiện

với những cách thức tổ chức cụ thể.

108

- Trước hết là biện pháp quản lý việc bồi dưỡng và nâng cao nhận thức và

biện pháp quản lý công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện. Từ thực

trạng khảo sát cho thấy cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh đều đã có nhận thức

về công tác này. Nhưng chưa thật sự sâu sắc để có thể tin yêu và xem công tác xây

dựng trường học thân thiện là phương tiện, cách thức hỗ trợ tích cực cho việc dạy

và học đạt hiệu quả. Vì thế đối với biện pháp quản lý việc bồi dưỡng nâng cao nhận

thức, cán bộ quản lý phải vận dụng các phương pháp quản lý vào hình thức triển

khai văn bản, cung cấp đầy đủ kênh thông tin, giới thiệu nhiều mô hình hoạt động

có liên quan đến xây dựng trường học thân thiện. Kế đến là việc xây dựng kế hoạch

và chỉ đạo thực hiện một cách linh hoạt, sinh động, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các

bộ phận, liên kết các môn học sẽ gây hiệu ứng tích cực đến hành động của giáo viên

học sinh và các đơn vị liên ngành.

- Song song đó, việc tạo điều kiện tốt về cơ sở vật chất, phương tiện hỗ trợ

chính là điều kiện tất yếu để giáo viên và học sinh thỏa sức phát huy những sáng tạo

trong việc tổ chức các hoạt động học tập, tìm hiểu, khám phá tri thức, tổ chức các

hoạt động chơi mà học một cách lành mạnh nhằm mang lại hiệu quả thiết thực, giúp

các em yêu thương trường lớp, gần gũi với Thầy, cô và những tháng ngày ngồi học

trong ngôi trường THPT sẽ xây dựng cho HS nền tảng về tri thức và đạo đức, khơi

nguồn cho những mơ ước đẹp nhất để vững tin bước vào đời.

- Giúp cho HS không ngỡ ngàng khi vận dụng kiến thức đã học từ sách vở,

việc phối hợp với các đơn vị liên ngành chính là một trong những biện pháp giúp

cho các em HS có cái nhìn đầy đủ hơn về cuộc sống. Từ việc tìm hiểu và tiếp cận

những giá trị văn hóa lịch sử truyền thống đến việc tham quan học tập những công

trình, nhà máy, cơ quan xí nghiệp của ngày nay giúp cho HS định hướng đúng nghề

nghiệp trong tương lai, kích thích lòng yêu quê hương đất nước mong muốn được

góp toàn bộ sức trẻ của mình cho công cuộc xây dựng đất nước.

Nội dung của các biện pháp đã được khảo sát về tính khả thi và tính cần thiết

phù hợp với thực tế của mỗi đơn vị. Thế nhưng, để thực hiện thành công mô hình

trên, vai trò cán bộ quản lý vô cùng quan trọng, cần đổi mới tư duy quản lý cho phù

109

hợp với xu thế hiện nay: gương mẫu thực hiện, năng lực lãnh đạo và chuyên môn

vững vàng, trong quan hệ quản lý phải dân chủ, trong quan hệ tài chính phải công

khai, minh bạch, phải chủ động xây dựng tốt các mối quan hệ trong nhà trường. Có

như thế mới tạo được sự đồng thuận trong tập thể sư phạm và sự phối hợp tích cực

của các bộ phận, đơn vị có liên quan. Ngoài ra, để thực hiện tốt những biện pháp

trên cần phải xem đây là chiến lược dài hạn, tất cả Cán bộ quản lý, giáo viên và các

đơn vị liên ngành cùng đồng lòng, quyết tâm thực hiện mục tiêu giáo dục HS phát

triển hết tiềm năng của mình trong môi trường an toàn và thân thiện nhất.

110

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận:

Tóm tắt luận văn tác giả nhận thấy phong trào thi đua “Xây dựng trường học

thân thiện” đã tác động sâu sắc đến toàn ngành Giáo dục và xã hội. Vì mục tiêu của

phong trào chủ yếu là nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện trong xu

thế hội nhập toàn cầu nên đã đặt nhiều thách thức trong đó là đào tạo nguồn nhân

lực cho sự nghiệp đổi mới đất nước. Do vậy, CBQL cần nhận thức sâu sắc về vai trò

của mình trong việc xây dựng trường học thân thiện.

- Công tác xây dựng trường học thân thiện vốn là mục tiêu và nhiệm vụ đã được

xác định từ rất lâu trong ngành Giáo dục. Tuy nhiên, từ khi Bộ đề ra chỉ thị số

40/2008-CT-BGDĐT ban hành ngày 22/7/2008 thì hoạt động này trở thành phong

trào thi đua gắn liền với những nội dung, tiêu chí cụ thể; quy định trách nhiệm

quyền hạn của các đơn vị liên ngành – đơn vị phối hợp thực hiện - cụ thể hơn. Ở

nước ta, giáo dục luôn giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa từ nội dung chương trình

đến các chính sách giáo dục. Tuy nhiên, hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến

năm 2020 của giáo dục phổ thông chưa quan tâm đến dạy người, dạy kĩ năng sống

và dạy nghề cho thanh thiếu niên (theo thông báo số 242-TB/TW ngày 15/4/2009

của Bộ chính trị). Vì vậy để đến năm 2020, nước ta có được một nền giáo dục tiên

tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế thì cần phải thực hiện thành công việc xây

dựng trường học thân thiện, giáo viên sáng tạo.

- Như vậy, việc xây dựng trường học thân thiện là một hoạt động nhằm huy

động sức mạnh tổng hợp của nhiều lực lượng trong xã hội để cùng nhau xây dựng

môi trường giáo dục an toàn, thân thiện mang đến hiệu quả giáo dục tích cực cho

HS đó là giáo dục toàn diện mà đặc biệt là chú trọng giáo dục đạo đức và nhân cách

cho các em. Xây dựng trường học thân thiện ở đây bao gồm thân thiện từ cảnh quan

ngôi trường, lớp học đến thân thiện trong các mối quan hệ bạn bè, thầy cô với HS,

HS với nhau, và GV với nhau,… thân thiện trong học tập, trong giảng dạy, trong

giao tiếp ứng xử. Tất cả làm cho HS cảm thấy gắn bó và yêu thương trường lớp,

111

Thầy cô, để “mỗi ngày đến trường là một ngày vui” cùng với việc khám phá tri

thức.

- Quản lý công tác xây dựng trường học thân thiện là một trong những nhiệm vụ

quan trọng. Nhà quản lý vừa là đầu tàu, vừa là cầu nối để định hướng và tạo điều

kiện thuận lợi cho GV và HS thực hiện thành công mục tiêu của công tác. Để đạt

được mục tiêu đó, công tác quản lý cần thực hiện tốt hệ thống các nội dung quản lý

từ việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kế hoạch thực hiện dài

hạn, ngắn hạn gắn với từng nội dung của công tác, tổ chức chỉ đạo thực hiện, kiểm

tra đánh giá rút kinh nghiệm và điều chỉnh kế hoạch kịp thời cho lần sau thực hiện

tốt hơn.

- Hơn hết, vai trò của một nhà quản lý có liên quan đến sự phát triển toàn diện

của nhà nói chung và sự thành công của việc xây dựng trường học thân thiện nói

riêng. Vì vậy, CBQL phải có năng lực, biết tư duy sáng tạo, có óc tổ chức và có tầm

nhìn chiến lược, có khả năng tập hợp sức mạnh của tập thể và xã hội đưa nhà trường

vận hành theo nguyên lí tích cực của giáo dục nhằm đạt được mục tiêu mà phong

trào đã đề ra.

Từ những kết quả khảo sát cho ta thấy, công tác quản lý việc xây dựng trường

học thân thiện các trường THPT công lập quận 11 đã và đang thực hiện ở mức khá.

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được cũng có những hạn chế bất cập trong

công tác quản lý làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả công tác.

-Nguyên nhân chính là do CBQL chưa chú ý mối quan hệ giữa nội dung cần

quản lý và biện pháp quản lý. Nếu các biện pháp quản lý không thể hiện được tính

khoa học, sáng tạo và thân thiện thì vô tình CBQL đang đi ngược với mục tiêu của

công tác.

- CBQL chưa vận dụng triệt để các phương pháp quản lý để mang lại hiệu quả

thiết thực nhất cho từng nội dung. Cụ thể chưa chú ý đến mối quan hệ giao tiếp thân

thiện giữa CBQL và GV – HS. Khi đã là phong trào thì phải có thi đua, tổng kết,

đánh giá rút kinh nghiệm, tuy nhiên các trường vẫn chưa thực hiện hình thức khen

thưởng, giới thiệu gương điển hình trong giáo viên và học sinh. Các hoạt động

112

mang tính hình thức còn tồn tại… dẫn đến áp lực cho GV và HS. Việc kiểm tra

đánh giá kết quả học tập và hạnh kiểm cho HS ở một số GV còn khắc khe dễ dàng

đưa đến hiệu quả ngược với mục tiêu cuộc vận động xây dựng trường học thân

thiện.

- Bên cạnh đó, việc thực hiện chức năng quản lý chưa triệt để. Ví dụ việc

khảo sát để kiểm tra nhận thức của tập thể về tính cần thiết của việc xây dựng

trường học thân thiện và trưng cầu ý kiến về các hình thức, cách thức tổ chức thực

hiện sẽ mang đến nhiều sáng kiến phù hợp hơn cho CBQL. Ngoài ra, đã lên kế

hoạch làm bất cứ việc gì mà không theo dõi, quan sát, thu nhận thông tin về việc

thực hiện kế hoạch thì độ bất định sẽ cao, công việc dễ thất bại, khó đạt được mục

tiêu đã đề ra. Vì vậy, kiểm tra là một chức năng quan trọng của công tác quản lý

nhằm thu nhận thông tin phản hồi về tình hình thực hiện các quyết định và kế

hoạch. Từ đó, CBQL mới biết được việc thực hiện đang gặp khó khăn ở chỗ nào,

thiếu phương tiện, điều kiện gì để hỗ trợ hoặc điều chỉnh các chỉ đạo kịp thời, giúp

đạt hiệu quả cao trong quản lý. Nếu thiếu kiểm tra, hoặc không nắm vững các

nguyên tắc kiểm tra, không có phương pháp kiểm tra khoa học, hợp lý, công việc sẽ

gặp nhiều khó khăn, thậm chí còn có thể gây bất ổn về mặt tâm lý đối với người

trực tiếp thực hiện nhiệm vụ do thiếu thông tin về yêu cầu của cấp trên, do đó, kết

quả sẽ không cao.

Như vậy, qua quá trình nghiên cứu, giả thuyết đã được chứng minh, nhiệm

vụ đã được giải quyết. Tác giả nhận thấy những mặt tích cực của công tác quản lý

việc xây dựng trường học thân thiện và những hạn chế, bất cập trong công tác quản

lý ở các trường THPT quận 11, TP. Hồ Chí Minh nên đã mạnh đạn đề ra những biện

pháp trên. Nhưng để giúp cho CBQL trường THPT thực hiện tốt công tác quản lý

việc xây dựng trường học thân thiện và phát huy hết những ưu điểm của các biện

pháp mà tác giả đề xuất trong luận văn. Tác giả xin trình bày một số kiến nghị sau:

113

2. Kiến nghị:

2.1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo:

Thực hiện chỉ đạo hướng dẫn các trường THPT xây dựng kế hoạch hóa gắn với

từng nội dung phong trào sao cho phù hợp với tiêu chí đánh giá thi đua của phong

trào. Nếu cần xây dựng lại bộ tiêu chí đánh giá bằng cách cụ thể hóa các nội dung

của phong trào sao cho dễ nhớ, cụ thể hơn.

Hỗ trợ tích cực hơn về kinh phí và xây dựng CSVC đầy đủ phòng ốc, phương

tiện phù hợp với nhu cầu của các trường.

Tăng cường công tác thanh kiểm tra các hoạt động để có kết luận đánh giá đúng

thực chất việc thực hiện của từng trường chứ không nên chỉ dựa vào kết quả báo

cáo.

Tăng cường các biện pháp hỗ trợ cho trường bằng cách quán triệt nhận thức của

các đơn vị liên ngành để thực hiện công tác phối hợp với nhà trường một cách chủ

động, tích cực.

Thường xuyên tổ chức cho CBQL tham quan học hỏi kinh nghiệm, gương điển

hình về quản lý xây dựng trường học thân thiện. Cụ thể là tham quan học tập các

trường có báo cáo kết quả thực hiện tốt.

2.2. Đối với trường:

Hiệu trưởng phải thường xuyên nâng cao trình độ quản lý, xây dựng và thực

hiện kế hoạch một cách chủ động, hiệu quả.

Xây dựng kế hoạch trang bị CSVC cần thiết nhất cho trường đáp ứng tốt hoạt

mọi hoạt động xây dựng trường học thân thiện.

Thực hiện đánh giá báo cáo việc thực hiện của đơn vị trường đầy đủ, đúng thực

chất, nhận ra những yếu kém, hạn chế, tranh thủ sự tham mưu, chỉ đạo của Sở giáo

dục và đào tạo nhằm điều chỉnh kịp thời và thực hiện tốt hơn.

Chú trọng tính đồng bộ trong nhận thức của giáo viên và học sinh đến chất

lượng của các hoạt động được tổ chức, đánh giá rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động.

Tuyên dương khen thưởng những cá nhân thực hiện tốt, tích cực và nhân rộng

gương điển hình. Huy động và phối hợp được nhiều nguồn lực trong và ngoài

114

trường để tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho GV thực hiện tốt vai trò của mình

trong công tác xây dựng trường học thân thiện.

Bản thân Hiệu trưởng phải thể hiện được sự thân thiện trong giao tiếp trong

công tác quản lý của mình.

Tổ chức nhiều buổi hội thảo thiết thực cho giáo viên học tập trao đổi kinh

nghiệm lẫn nhau. Giới thiệu nhiều kinh nghiệm quý báu về sự thành công trong việc

thực hiện các hoạt động học tập, vui chơi, những tình huống giao tiếp ứng xử với

HS,…

2.3. Đối với giáo viên:

Chủ động tự bồi dưỡng, nghiên cứu nâng cao nhận thức về công tác quản lý việc

xây dựng trường học thân thiện. Thấy được tầm quan trọng, hiểu đúng ý nghĩa của

công tác này và thực hiện tích cực, có hiệu quả.

Tích cực tham gia các buổi hội thảo, trao đổi thẳng thắn trên tinh thần xây dựng.

Cố gắng học tập kinh nghiệm nâng cao năng lực thực hiện của bản thân vận dụng

vào công việc của mình, nhiệt tình tham gia cải tiến các phương pháp thực hiện

hướng đến mục tiêu.

Tích cực thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, khai thác triệt để những tiện

ích của trang thiết bị hiện có vào việc dạy học. Phát huy tối đa tính chủ động học

tập của học sinh. Tìm tòi, khám phá nhiều phương pháp giảng dạy mới hiệu quả

thiết thực hướng đến HS, vì HS.

2.4. Đối với các đơn vị liên ngành và phụ huynh:

Hiểu rõ nhiệm vụ phối hợp của mình đối với nhà trường trong công tác xây

dựng trường học thân thiện. Nhiệt tình, chủ động phối hợp với nhà trường; luôn tạo

điều kiện thuận lợi cho nhà trường thực hiện tốt các hoạt động nhằm giáo dục HS

toàn diện.

Phát huy những thế mạnh của mình trong công tác phối hợp với nhà trường.

Nhất là việc thực hiện tốt văn bản kí kết giữa các đơn vị liên ngành đã được triển

khai theo tinh thần kế hoạch số 533/KH/BGDĐT - BVHTTDL - TƯĐTN –

HLHPNVN – HKHVN ngày 09/01/2010.

115

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặng Quốc Bảo (2001), Quan điểm kinh tế giáo dục qua một số thời kỳ lịch sử và

ứng dụng của chúng trong thực hiện chiến lược giáo dục, đề tài nghiên cứu khoa

học cấp Bộ.

2. Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về quản lý giáo dục, Trường cán bộ

quản lý giáo dục và đào tạo, Hà Nội.

3. Đặng Quốc Bảo (2001), Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình,

NXB Giáo dục.

4. Nguyễn Cảnh Chắt (dịch và biên soạn) (2002), Tinh hoa quản lý, NXB Lao động

xã hội – Hà Nội.

5. Minxcơ (1985), Phương tiện kỹ thuật dạy học và ứng dụng, NXB Đại học.

6. Nguyễn Phúc Châu (1998), Tăng cường hiệu quả quản lý trường phổ thông trung

học bằng công cụ quản lý, Nghiên cứu giáo dục (số 6/1998), Hà Nội.

7. Nguyễn Phúc Châu (2000), Tiếp cận thuật ngữ dạy học dưới góc độ của lý luận

quản lý, Nghiên cứu giáo dục, số chuyên đề (346, quý 3/2000), Hà Nội.

8. Nguyễn Hữu Châu – Đỗ Thị Bích Loan – Vũ Trọng Rỹ (2007), Giáo dục Việt

Nam những năm đầu thế kỷ XXI, NXB Giáo dục, Hà Nội.

9. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Chiến lược phát

triển giáo dục 2001 – 2010 (ban hành kèm theo Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg

ngày 28/ 12/ 2001 của Thủ tướng Chính phủ), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10. Nguyễn Đình Chỉnh và Phạm Ngọc Uyển (1998), Tâm lý học quản lý, NXB

Giáo dục.

11.Chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 phát động thi đua xây dựng trường

học thân thiện học sinh tích cực.

12.Công văn 250/CTr/BGDĐT-HLHPNVN-HKHVN về chỉ đạo liên ngành trong

việc thực hiện xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực.

13. Công văn 1741/BGDĐT-GDTrH về tiêu chí đánh giá trường học thân thiện.

116

14. Phan Dũng (1997), Phương pháp luận sáng tạo khoa học kỹ thuật, Sở khoa học

Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh.

15. Vũ Dũng (2007), Giáo trình Tâm lí học quản lí, NXB Đại học Sư phạm.

16. Luật giáo dục (1998), NXB chính trị quốc gia - Hà Nội.

17. Nguyễn Minh Đạo (2000), Cơ sở của khoa học quản lý, NXB chính trị quốc gia

Hà Nội.

18. Hồ Ngọc Đại (2008), Nghiên cứu khoa học về nền giáo dục toàn dân, đề tài

nghiên cứu khoa học.

19. Hồ Ngọc Đại (1993), Mô hình nhà trường mới theo khả năng phát triển tối ưu

của trẻ em Việt Nam bằng giáo dục thực nghiệm, đề tài nghiên cứu khoa học.

20. Phạm Minh Hạc (2001), Về phát triển toàn diện con người trong thời kỳ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia.

21. Phạm Minh Hạc (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, NXB Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

22. Phạm Minh Hạc (chủ biên), Trần Kiều, Đặng Bá Lâm, Nghiêm Đình Vỳ (2002),

Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

23. Bùi Minh Hiền (Chủ biên) – Vũ Ngọc Hải – Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý

giáo dục, NXB Đại học Sư phạm.

24. Trần Hiệp (1996), Tâm lý học xã hội những vấn đề lý luận, NXB Khoa học xã

hội – Hà Nội.

25.Vũ Bá Hòa (Chủ biên) – Đỗ Quốc Anh – Nguyễn Đình Mạnh – Huỳnh Công

Minh – Bùi Tất Tươm (2010), Góp phần xây dựng trường học thân thiện học sinh

tích cực, NXB Giáo dục Việt Nam.

26. Nguyễn Thanh Hội (1999), Quản trị nhân sự, NXB Thống kê.

27. Trần Thị Hương (2009), Giáo trình giáo dục học đại cương, NXB Đại học Sư

phạm.

28. Đặng Thành Hưng (1998), Giáo trình Giáo dục so sánh, NXB Thống kê.

29. Trần Kiểm (2002), Khoa học quản lý nhà trường phổ thông, NXB Đại học Quốc

gia Hà Nội.

117

30. Trần Kiểm (2006), Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục, NXB Đại học Sư

phạm Hà Nội.

31. Trần Kiểm (2005), Quản lý Nhà nước về giáo dục - Lý luận và thực tiễn, NXB

Chính trị Quốc gia Hà Nội.

32. Trần Kiểm (2008), Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục, NXB

Đại học Sư phạm Hà Nội.

33. Hồ Văn Liên (2008), Bài giảng về quản lý giáo dục dành cho học viên Cao học

quản lý giáo dục.

34. Huỳnh Công Minh (2010), Giáo dục và đào tạo TP.HCM hội nhập các nền giáo

dục tiên tiến, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

35. Hoàng Đức Nhuận - Cải tiến thiết bị dạy học nhằm đổi mới phương pháp dạy

học ở trường phổ thông – Tạp chí khoa học giáo dục, số 53.

36. Viên Chấn Quốc (Bùi Minh Hiền dịch) (2001), Luận về cải cách giáo dục, NXB

Giáo dục.

37. Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều

của luật giáo dục - số 43/2000/NĐ-CP ngày 30/08/2000.

38. Thế Sủng - Lưu Xuân Mới ( 2000), Tình huống và cách ứng xử tỉnh huống trong

quản lý giáo dục và đào tạo, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

39. Vũ Trọng Rỹ (2004), Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở nhà trường phổ

thông (tập bài giảng dùng cho học viên cao học QLGD).

40. Bùi Ngọc Oánh (1992), Tâm lý học xã hội trong xã hội và quản lý, Đại học Mở -

Bán công TP.HCM, Khoa quản trị kinh doanh.

41. Lê Đức Phúc, Bàn về mô hình phát triển giáo dục trong những thập niên đầu thế

kỷ 21, Nghiên cứu phát triển giáo dục, số 1 tháng 1+2/2001

42. Nguyễn Cảnh Toàn – Nguyễn Văn Lê – Châu An (2004), Khơi dậy tiềm năng

sáng tạo, NXB Giáo dục.

43. Trần Mạnh Trung, Vài ý kiến về mô hình “Trường học thân thiện”, Tạp chí

Giáo dục số 220, kỳ 2 tháng 8/2009

118

44. Phạm Viết Vượng (chủ biên) (2002), Quản lý hành chính nhà nước và quản lý

ngành giáo dục và đào tạo, NXB Đại học Sư phạm.

45. V.A XukhomLinxki (Hoàng Tâm Sơn lược dịch) (1974), Một số kinh nghiệm

lãnh đạo của Hiệu trưởng trường phổ thông, Tủ sách Cán bộ quản lý và Nghiệp vụ,

Bộ Giáo dục và Đào tạo.

46. Văn kiện đại hội đại biểu cộng sản Việt nam lần thứ IX .

47. Một số trang Web của Bộ Giáo dục, các Sở Giáo dục và Đào tạo trong cả nước.

119

PHỤ LỤC 1

PHIẾU XIN Ý KIẾN

( Dành cho cán bộ quản lý và giáo viên trường trung học phổ thông)

Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc xây dựng trường học

thân thiện trường THPT công lập quận 11, TP Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu về vấn đề này. Xin Thầy/Cô vui lòng cho biết ý kiến của mình bằng

cách đánh dấu (x) vào ô mình chọn và ý kiến của mình cho một số câu trả lời ngắn.

Ý kiến của Thầy/Cô sẽ giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu

và rất mong nhận được những ý kiến chân thành để nghiên cứu của chúng tôi đạt

kết quả cao nhất. Xin chân thành cảm ơn quý Thầy/Cô.

Phần I. Nội dung công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện:

Xin Thầy/Cô đánh giá một số nội dung sau bằng cách đánh dấu (x) vào ô tương

ứng:

1.Thầy /Cô nhận xét như thế nào về công tác quản lý việc xây dựng trường học thân

thiện ở trường mình theo những nội dung sau đây

TT Nội dung KQ thực hiện

Mức độ thực hiện

Thường Không Không Tốt TB Yếu

xuyên thường thực

xuyên hiện

1.1 Giáo viên được bồi dưỡng, tự

bồi dưỡng về công tác quản lý

việc xây dựng trường học thân

thiện.

1.2 Giáo viên tham khảo các loại

tài liệu để nâng cao nhận thức

về công tác xây dựng trường

học thân thiện.

120

1.3 Giáo viên sử dụng công nghệ

thông tin trong đổi mới phương

pháp giảng dạy

1.4 Giáo viên được bồi dưỡng về

kỹ năng ứng dụng công nghệ

thông tin trong giảng dạy.

1.5 Giáo viên viết và báo cáo sáng

kiến kinh nghiệm về việc đổi

mới phương pháp giảng dạy

nhằm góp phần xây dựng

trường học thân thiện.

2.Xin Thầy/Cô đánh giá về công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện

của Hiệu trưởng nhà trường bằng cách đánh dấu (x) vào ô tương ứng:

S Nội dung Mức độ thực hiện Kết quả

T

T

TX KTX KTH Tốt TB Yếu

2. Có kế hoạch triển khai công các xây

1 dựng trường học thân thiện

2. Có kế hoạch bồi dưỡng nhận thức cho

2 giáo viên về việc xây dựng trường

học thân thiện.

2. Chỉ đạo, điều hành quản lí, giám sát

3 việc thực hiện kế hoạch xây dựng

trường học thân thiện.

2. Tổ chức thực hiện các chuyên đề về

4 đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm

tạo môi trường học tập thân thiện.

121

Tổ chức các hoạt động tham quan, dã 2.

ngoại, về nguồn nhằm giáo dục tư 5

tưởng đạo đức cho học sinh

Tổ chức các hoạt động giao lưu sinh 2.

hoạt tâp thể trong nhà trường nhằm 6

giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Quản lý việc xây dựng trường lớp 2.

xanh, sạch, đẹp, chú ý bảo đảm an 7

toàn vệ sinh thực phẩm trong nhà

trường.

Chỉ đạo các công tác Đoàn thanh niên 2.

nhằm tăng cường giáo dục nhận thức 8

của học sinh về việc xây dựng trường

học thân thiện

Tổ chức các hoạt động thi đua nhằm 2.

thúc đẩy công tác xây dựng trường 9

học thân thiện

2. Thực hiện việc đánh giá các tiêu chí

10 xây dựng trường học thân thiện đúng

quy định.

2. Thống kê, phân loại, đánh giá các

11 hoạt động góp phần xây dựng trường

học thân thiện của giáo viên.

2. Theo dõi, kiểm tra việc đánh giá, rút

12 kinh nghiệm và điều chỉnh các hoạt

động về công tác xây dựng trường

học thân thiện.

122

3. Theo Thầy/Cô, việc quản lý công tác xây dựng trường học thân thiện trường

THPT hiện nay là:

Rất cần thiết: 

Cần thiết: 

Có hay không cũng được 

 Không cần thiết:

4. Xin Thầy/Cô cho biết ý kiến của mình (bằng cách đánh dấu (x) vào ô tương ứng

về ý nghĩa công tác xây dựng trường học thân thiện trong giai đoạn hiện nay.

Mức1: không phù hợp Mức 3. Tương đối phù hợp

Mức 2: Phù hợp Mức 4. Rất phù hợp

Ý nghĩa của công tác xây dựng trường học thân thiện 4 3 2 1

1. Xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn

2. 2TDạy học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của

học sinh, giúp các em tự tin trong học tập

3. 2TRèn luyện kỹ năng sống cho học sinh

4. 2TTổ chức các hoạt động tập thể

5. 2TTính sáng tạo trong công tác tổ chức chỉ đạo và mức độ

tiến bộ đạt được thông qua các lần đánh giá

6. 2THọc sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị

các di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng ở địa phương

5.Theo Thầy/Cô, cần bổ sung những nội dung gì vào công tác xây dựng trường học

thân thiện?

…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

6.Theo Thầy/Cô, công tác xây dựng trường học thân thiện ở các trường THPT hiện

nay đã được thực hiện ở mức độ nào so với yêu cầu của ngành?

123

Đồng bộ: 

Tương đối đồng bộ: 

Chưa đồng bộ: 

7.Ngoài các hoạt động của nhà trường, lãnh đạo các đơn vị liên ngành (nơi địa

phương trường đóng) có những hoạt động gì nhằm hỗ trợ cho công tác xây dựng

trường học thân thiện?

Có : 

Vui lòng cho biết đã có những nội dung hỗ trợ nào?

…………………………………………………………………………………

Không nhiều lắm : 

Không: 

8.Trong công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện trường THPT,

Thầy/Cô có những thuận lợi gì?

…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

9.Trong công tác xây dựng trường học thân thiện, Thầy/Cô có những khó khăn gì?

Điều kiện cơ sở vật chất: 

Điều kiện kinh tế: 

Các khó khăn khác:…………………………………………………………....

10.Theo Thầy/Cô, chúng ta cần cải tiến những khâu nào trong công tác quản lý việc

xây dựng trường học thân thiện?

Phương pháp quản lý: 

Kế hoạch quản lý: 

Công tác tổ chức, chỉ đạo: 

Công tác kiểm tra đánh giá: 

11. Những nội dung và tiêu chí đánh giá của nhà trường về công tác thi đua xây

dựng trường học thân thiện đưa ra có hợp lí không?

- Rất hợp lí 

124

- Hợp lí 

- Tương đối hợp lí 

- Không hợp lí 

12.Ngoài những nội dung nêu trên, Thầy/Cô có ý kiến thêm về các biện pháp nhằm

nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc xây dựng trường học thân thiện?

…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

13.Xin Thầy/Cô cho biết về tính cần thiết của các biện pháp nâng cao hiệu quả

công tác quản lí trường học thân thiện:

1.Rất cần thiết

2. Cần thiết

3.Tương đối cần thiết

4.Có hay không cũng được

STT Tên các biện pháp Tính cần thiết

4 3 2 1

13.1 Nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của

công tác xây dựng trường học thân thiện

13.2 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá và tìm hiểu nhu cầu

của giáo viên và học sinh về công tác xây dựng trường

học thân thiện

13.3 Kế hoạch hóa nội dung công tác xây dựng trường học

thân thiện

13.4 Thực hiện nhiều hình thức bồi dưỡng giáo viên về

công tác xây dựng trường học thân thiện

125

13.5 Xây dựng kế hoạch thời gian hợp lý cho giáo viên

thực hiện tốt công tác xây dựng trường học thân thiện.

13.6 Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, các phương tiện hổ

trợ,…cho giáo viên thực hiện tốt công tác xây dựng

trường học thân thiện.

13.7 Tổ chức nhiều hoạt động học tập cho học sinh nhằm

tăng cường hiệu quả công tác xây dựng trường học

thân thiện.

13.8 Tích cực khai thác những tiện ích của trang thiết bị và

phương tiện hiện đại phục vụ hiệu quả cho hoạt động

dạy học nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo của

học sinh.

13.9 Đẩy mạnh công tác phối hợp với các đơn vị liên

ngành nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng

trường học thân thiện

14. Xin Thầy/Cô cho biết về tính khả thi của các biện pháp nâng cao hiệu quả công

tác quản lí trường học thân thiện:

1.Rất khả thi 2 Khả thi

3.Có hay không cũng được 4.Rất không khả thi

Tên các biện pháp STT Tính khả thi

4 3 2 1

14.1 Nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của

công tác xây dựng trường học thân thiện

14.2 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá và tìm hiểu nhu cầu

của giáo viên và học sinh về công tác xây dựng trường

học thân thiện

14.3 Kế hoạch hóa nội dung công tác xây dựng trường học

thân thiện

126

14.4 Thực hiện nhiều hình thức bồi dưỡng giáo viên về công

tác xây dựng trường học thân thiện

14.5 Xây dựng kế hoạch thời gian hợp lý cho giáo viên thực

hiện tốt công tác xây dựng trường học thân thiện.

14.6 Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, các phương tiện hổ

trợ,…cho giáo viên thực hiện tốt công tác xây dựng

trường học thân thiện.

14.7 Tổ chức nhiều hoạt động học tập cho học sinh nhằm

tăng cường hiệu quả công tác xây dựng trường học thân

thiện.

14.8 Tích cực khai thác những tiện ích của trang thiết bị và

phương tiện hiện đại phục vụ hiệu quả cho hoạt động

dạy học nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo của

học sinh.

14.9 Đẩy mạnh công tác phối hợp với các đơn vị liên ngành

nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng trường học

thân thiện

15.Ngoài các biện pháp đã nêu trên, xin Thầy , Cô có thể bổ sung thêm những biện

pháp khác mà Thầy, Cô cho rằng cũng rất khả thi:

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

16. Xin Thầy, Cô cho biết những yếu tố nào sau đây tác động đến hiệu quả công tác

quản lý việc xây dựng trường học thân thiện trường THPT và ở mức độ nào ?

STT Yếu tố Đánh giá

Rất Nhiều Ít Không

nhiều

16.1 Nhận thức về công tác quản lý việc xây

dựng trường học thân thiện

127

16.2 Tính đồng bộ và phù hợp giữa điều kiện

nhà trường với biện pháp quản lý của Hiệu

trưởng

16.3 Sự chỉ đạo sâu sát của các cấp quản lý

giáo dục về công tác xây dựng trường học

thân thiện

16.4 Lãnh đạo nhà trường xem trọng công tác

xây dựng trường học thân thiện

16.5 Sự phối hợp với các đơn vị liên ngành tạo

điều kiện cho công tác xây dựng trường

học thân thiện

16.6 Sự quan tâm của gia đình, cha mẹ học sinh

đối với các hoạt động của trường nhằm

xây dựng trường học thân thiện.

16.7 Sự quan tâm tích cực của học sinh

16.8 Nhận thức chưa đồng bộ của giáo viên

16.9 Sự nhận thức đồng bộ của các đơn vị liên

ngành về công tác xây dựng trường học

thân thiện

16.10 Cơ sở vật chất, điều kiện phương tiện chưa

đáp ứng đủ cho công tác xây dựng trường

học thân thiện.

16.11 Sự hạn chế về kinh phí dành cho các hoạt

động xây dựng trường học thân thiện.

16.12 Các công trình nghiên cứu khoa học, các

đề tài sáng kiến kinh nghiệm chưa quan

tâm nhiều đến công tác xây dựng trường

học thân thiện

16.13 Phản ứng của xã hội trước chủ trương của

128

ngành về công tác xây dựng trường học

thân thiện.

Phần II: Xin Thầy/Cô cho biết một số thông tin về cá nhân:

a. Đơn vị công tác:…………………………………………………………...

b. Năm sinh:…………… Giới tính:…………. Thâm niên công tác:………..

c. Chức vụ:

- Giáo viên chủ nhiệm:   - Giáo viên bộ môn:

- Phó hiệu trưởng:   - Tổ trưởng:

Thâm niên quản lý:………. năm

Đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý: 

Chưa qua bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý: 

 - Hiệu trưởng:

Thâm niên quản lý:……….năm

Đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý: 

Chưa qua bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý: 

d. Trình độ đào tạo:

 - Cao đẳng:

 - Đại học:

 - Sau đại học:

Xin chân thành cảm ơn Thầy, Cô.

129

PHỤ LỤC 2

PHIẾU XIN Ý KIẾN

(Dành cho học sinh THPT công lập )

Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng trường học thân thiện

trường THPT TPHCM đáp ứng yêu cầu xây dựng môi trường học tập thân thiện cho

học sinh trong thời gian tới. Xin các em học sinh cho biết ý kiến của mình về một số

nội dung sau:

Phần 1: Thông tin cá nhân

1. Trường đang học: ……………………………………

2. Tuổi: ………….. Giới tính: Nam / Nữ

Phần 2: Đánh giá thực trạng công tác xây dựng trường học thân thiện

1. Nhận thức của bản thân các em về công tác xây dựng trường học thân thiện

hiện nay như thế nào?

 - Rất sâu sắc

 - Sâu sắc

- Không nhận thức rõ lắm 

 - Hoàn toàn không hiểu

2. Theo các em, công tác xây dựng trường học thân thiện trường THPT hiện

nay có cần thiết không?

 - Rất cần thiết

 - Cần thiết

- Có hay không cũng được 

 - Không cần thiết

130

3. Ai là người có trách nhiệm xây dựng trường học thân thiện?

a/ Thầy cô trong Ban giám hiệu 

b/Thầy Cô dạy tất cả các bộ môn 

c/ Học sinh 

d/ Cả Thầy Cô và Học sinh 

4.Theo các em, cần bổ sung các hoạt động nào để nâng cao nhận thức của học

sinh về công tác xây dựng trường học thân thiện?

……………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………

5.Các hoạt động của nhà trường nhằm nâng cao nhận thức của học sinh về công

tác xây dựng trường học thân thiện hiện nay đang ở mức độ nào:

STT Nội dung Mức độ thực hiện Kết quả

Thường Không Không Tốt TB Yếu

xuyên thường thực

xuyên hiện

1 Xây dựng kế hoạch triển

khai việc xây dựng trường

học thân thiện cùng với hoạt

động của Đoàn thanh niên

2 Đoàn thanh niên tổ chức sinh

hoạt ngoại khóa tìm hiểu về

việc xây dựng trường học

thân thiện

3 Tích cực đổi mới phương

pháp dạy và học

131

4 Định hướng nghề nghiệp cho

học sinh phù hợp năng lực

bản thân

5 Sự phối hợp đồng bộ giữa

các hoạt động học tập và sinh

hoạt.

6 Kiểm tra, đánh giá hoạt động

và rà soát lại mức độ nhận

thức của học sinh.

6.Các hình thức hoạt động của nhà trường nhằm xây dựng trường học thân thiện

trường THPT:

RTX: rất thường xuyên TX: Thường xuyên

KTX: không thường xuyên KTH: Không thực hiện

Các hình thức xây dựng trường học thân thiện RTX TX KTX KTH

1. Xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn

2. 2TDạy học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa

tuổi của học sinh, giúp các em tự tin trong học

tập

3. 2TRèn luyện kỹ năng sống cho học sinh

4. 2TTổ chức các hoạt động tập thể

5. 2TTính sáng tạo trong công tác tổ chức chỉ đạo và

mức độ tiến bộ đạt được thông qua các lần

đánh giá

6. 2THọc sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát

huy giá trị các di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng

ở địa phương

132

7. Xây dựng kế hoạch và phương pháp thực hiện gắn với tình hình cụ thể của

trường có hợp lý không?

- Rất hợp lí - Hợp lí  

- Chưa hợp lí - Không hợp lí  

8.Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt tập thể có mang lại hiệu quả

tích cực cho công tác xây dựng trường học thân thiện không?

 - Rất hiệu quả

 - Hiệu quả

 - Bình trường

- Không hiệu quả 

9. Việc trang bị kiến thức và các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị ….cho các

hoạt động nhằm xây dựng trường học thân thiện có đầy đủ không?

- Rất đầy đủ 

- Tương đối đầy đủ 

- Còn thiếu nhiều 

- Không có 

10. Các hình thức tổ chức hoạt động nhằm xây dựng trường học thân thiện của nhà

trường có phù hợp với học sinh và yêu cầu của công tác xây dựng trường học thân

thiện không?

- Rất phù hợp 

- Phù hợp 

- Chưa phù hợp 

- Không phù hợp 

11. Theo các em, cần có những hình thức nào, bổ sung các hoạt động nào nữa để

tăng cường hiệu quả công tác xây dựng trường học thân thiện trường THPT?

133

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

12. Việc kiểm tra, đánh giá công tác thực hiện việc xây dựng trường học thân thiện

thực hiện ở mức độ nào?

- Rất thường xuyên 

- Thường xuyên 

- Chưa thường xuyên 

- Không thực hiện 

13. Những nội dung và tiêu chí đánh giá của nhà trường về công tác thi đua xây

dựng trường học thân thiện đưa ra có hợp lí không?

- Rất hợp lí 

- Hợp lí 

- Chưa hợp lí 

- Không hợp lí 

14. Ban giám hiệu nhà trường đã quan tâm và tạo điều kiện cho các em học sinh

tham gia công tác xây dựng trường học thân thiện ở mức độ nào?

 - Rất quan tâm - Quan tâm 

 - Ít quan tâm - Không quan tâm 

15. Ban giám hiệu nhà trường tổ chức cho các em tham gia tìm hiểu chăm sóc và

phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng của địa phương ở mức độ

nào?

- Rất thường xuyên 

 - Thường xuyên

 - không thường xuyên

 - Không thực hiện

16. Ngoài các hình thức nêu trên, theo các em nhà trường cần có thêm biện pháp

nào nữa không để xây dựng trường học thân thiện?

134

…………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

Xin cảm ơn các em !

PHỤ LỤC 3

PHIẾU PHỎNG VẤN

135

Nhằm có thêm ý kiến đánh giá một cách khách quan về kết quả khảo sát thực

trạng công tác quản lý việc XDTHTT. Tác giả thực hiện phỏng vấn một số Cán bộ

quản lý, giáo viên và học sinh như sau:

I. Phần dành cho Cán bộ quản lý:

Xin Thầy/Cô cho biết ý kiến của mình về 2 vấn đề sau trong công tác quản lý

việc xây dựng trường học thân thiện. Xin cảm ơn Thầy/Cô.

1. Vì sao Thầy/ Cô cho rằng tiêu chí đánh giá thi đua xây dựng trường học

thân thiện hiện nay vẫn chưa thật hợp lý ?

- Tiêu chí đánh giá thi đua hiện nay chưa thật sự hợp lý vì vẫn còn một bộ

phận nhận thức chưa đầy đủ nên việc tham gia đánh giá thiếu tích cực dẫn đến kết

quả đánh giá không chính xác.

2.Vấn đề cơ sở vật chất của nhà trường hiện nay có những khó khăn gì chưa

thể cải thiện và lại ảnh hưởng trực tiếp đến công tác XDTHTT?

- Về vấn đề cơ sở vật chất của nhà trường như “thiếu hội trường, phòng đa

năng, phòng học quá hẹp trong khi học sinh quá đông trong mỗi lớp học là điều phải

chấp nhận. Tất cả phụ thuộc vào kinh phí cải tạo sửa chữa và thủ tục pháp lí. Vô

cùng khó khăn”.

II. Phần dành cho Giáo viên:

Xin Thầy/Cô cho biết ý kiến của mình về những vấn đề sau trong công tác

xây dựng trường học thân thiện tại đơn vị. Xin cảm ơn Thầy/Cô.

1.Kết quả thực hiện các hình thức bồi dưỡng cho giáo viên về kỹ năng ứng

dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy ở đơn vị như thế nào?

- Các hình thức bồi dưỡng của nhà trường về kỹ năng ứng dụng công nghệ

thông tin hiện nay của trường thực hiện vào dịp hè, chưa thực sự thường xuyên.

136

2.Theo Thầy/Cô, tính đồng bộ và sự phù hợp giữa điều kiện của nhà trường

với biện pháp quản lý của hiệu trưởng tùy thuộc vào những yếu tố nào?

- Năng lực quản lý của Hiệu trưởng tốt sẽ chỉ đạo việc tổ chức các hoạt động

có sự phối hợp với nhau chặt chẽ, GV không cảm thấy bị áp lực đối với các hoạt

động đó.

3.Thái độ của lãnh đạo nhà trường đối với công tác XDTHTT có ảnh hưởng

đến việc thúc đẩy giáo viên tích cực tham gia XDTHTT hay không? Vì sao?

- Nếu lãnh đạo nhà trường xem công tác xây dựng trường học thân thiện là

rất quan trọng sẽ dễ dàng truyền lửa cho tập thể thầy cô học sinh cùng hưởng ứng.

4.Sự quan tâm của gia đình, cha mẹ học sinh có ảnh hưởng như thế nào đối

với các hoạt động của nhà trường nhằm xây dựng trường học thân thiện? Vì sao?

- Phụ huynh cần quan tâm nhắc nhở HS học tập ở nhà và khuyến khích các

em tham gia tích cực các hoạt động học tập cũng như giáo dục của nhà trường.

5. Mức độ nhận thức của giáo viên về công tác xây dựng trường học thân

thiện có ảnh hưởng như thế nào đến sự thành công của phong trào?

- Nếu giáo viên nhận thức về công tác xây dựng trường học thân thiện một

cách đầy đủ từ mục đích, ý nghĩa,…thì việc thực hiện không còn là áp lực, giáo viên

không cho rằng công tác thi đua xây dựng trường học thân thiện làm quá tải chương

trình.

III. Phần dành cho học sinh:

Xin các em cho biết ý kiến của mình về 2 vấn đề sau trong các hoạt động xây

dựng trường học thân thiện tại trường em đang học. Xin cảm ơn Thầy/Cô.

1.Theo các em, việc xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn hiện nay

cần được quan tâm hay không? Vì sao?

137

-Hiện nay môi trường học tập xanh, sạch, đẹp là yếu tố quan trọng tạo thêm

hứng thú cho HS trong học tập, giúp các em yêu thương trường lớp, rèn luyện cho

các em ý thức cá nhân.

2.Vì sao một số HS cho rằng việc tổ chức các hoạt động tập thể diễn ra

không thường xuyên?

-Nhiều hoạt động tập thể do Đoàn thanh niên hoặc nhà trường tổ chức còn

giới hạn đối tượng tham dự. Chủ yếu dành cho Đoàn viên và học sinh khá giỏi tham

gia, trong khi tất cả học sinh đều cần được quan tâm và tạo môi trường hoạt động

tập thể như nhau.

3. Theo các em, việc tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm rèn luyện kĩ năng

sống cho HS hiện nay được nhà trường thực hiện thường xuyên không và có ý nghĩa

như thế nào?

-Việc rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh hiện nay, nhà trường cần thực

hiện thường xuyên hơn, đồng bộ hơn giúp các em biết cách ứng xử giao tiếp có văn

hóa, thân thiện khi bước ra ngoài xã hội.

138

PHỤ LỤC 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ

HỘI KHUYẾN HỌC

Số : 2802 /CTr/GDĐT- TP. Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 12 năm 2009

HLHPN-HKH

CHƯƠNG TRÌNH PHỐI HỢP THỰC HIỆN PHONG TRÀO THI ĐUA

“XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN, HỌC SINH TÍCH CỰC”

GIAI ĐOẠN 2009-2013

- Thực hiện Luật Giáo dục số 38/2005/QH 11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội;

- Thực hiện Chỉ thị số 71/2008/CT-BGDĐT ngày 23/12/2008 của Bộ trưởng Bộ

Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội

trong việc giáo dục trẻ em, học sinh, sinh viên;

ngày 22/4/2009 giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội

Khuyến học Việt Nam về chương trình phối hợp thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng

trường học thân thiện, học sinh tích cực” giai đoạn 2009 – 2013;

- Căn cứ 0Tchỉ đạo liên ngành tại công văn số 0T250/CTr/BGDĐT- HLHPNVN-HKHVN 0T

- Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Liên

hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh và Hội Khuyến học TP. Hồ Chí Minh;

Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh, Hội Khuyến

học TP. Hồ Chí Minh thống nhất ban hành Chương trình phối hợp thực hiện phong

trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” giai đoạn 2009-

2013, cụ thể như sau:

I. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU:

1. Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh, Hội

Khuyến học TP. Hồ Chí Minh cùng với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thành

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh TP. Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức các

139

hoạt động nhằm triển khai, nâng cao chất lượng và thực hiện có hiệu quả phong trào

thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào

tạo phát động. Mỗi ngành, đoàn thể đóng góp vào phong trào thi đua phù hợp với

thế mạnh của mình, thông qua chương trình phối hợp để tạo ra và phát huy sức

mạnh tổng hợp toàn hệ thống chính trị, toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp “trồng

người”, vì tương lai của mỗi gia đình và tương lai của thành phố, Tổ quốc.

2. Chỉ đạo tập trung theo ngành dọc, có sự phối hợp thống nhất, chặt chẽ giữa

các bên; đảm bảo việc thực hiện một cách sáng tạo và có hiệu quả những nội dung

của phong trào thi đua của mọi cơ sở giáo dục và các cấp Hội ở địa phương.

3. Việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Khuyến

học đặc biệt nhằm vào mục tiêu phát huy vị trí hết sức quan trọng của gia đình trong

việc tạo điều kiện học tập và giáo dục nhân cách cho các em, khai thác tốt nhất mọi

chính sách của Nhà nước, sự hỗ trợ của cá nhân hoặc đơn vị để đảm bảo yêu cầu “3

đủ” đối với mỗi học sinh: “đủ ăn, đủ sách vở, đủ quần áo”, yêu cầu “1 có”: “Có chỗ

học tập ổn định, thuận tiện” và yêu cầu “3 biết”: “biết các chính sách của Nhà nước

hỗ trợ việc học tập của con em các gia đình thuộc các vùng miền khác nhau, có

hoàn cảnh gia đình khác nhau trong đó có chính sách khuyến khích học nghề đối

với con em nông dân; biết nhu cầu lao động và việc làm ở địa phương và vùng lân

cận để từ đó quyết định việc học nghề, học đại học, cao đẳng, trung cấp một cách

hợp lý; biết chọn các cơ sở học tập và đào tạo phù hợp với điều kiện của bản thân và

gia đình”.

II. NỘI DUNG CỤ THỂ:

1. Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn:

1.1./ Đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh

Các cấp Hội phối hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động tuyên truyền, nâng

cao nhận thức và hành động thiết thực cho học sinh, giáo viên, phụ nữ và cộng đồng

trong việc xây dựng môi trường sư phạm thân thiện.

1.2./ Đối với Hội Khuyến học TP. Hồ Chí Minh:

140

Vận động các tổ chức và cá nhân ủng hộ quỹ khuyến học để cấp học bổng cho

học sinh nghèo, khuyến khích học sinh học giỏi vượt khó đi lên và góp phần vận

động nhân dân nâng cấp cơ sở vật chất các nhà trường.

1.3./ Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh:

+ Chỉ đạo các Phòng giáo dục và đào tạo, các trường CĐ, TCCN, THPT,

Trung tâm GDTX, các đơn vị trực thuộc phải đảm bảo hoặc có kế hoạch để đảm

bảo cho các trường có khuôn viên và cây xanh; đủ lớp học và các phòng chức năng

với đủ tiện nghi và đồ dùng dạy học; có nhà vệ sinh riêng cho giáo viên, học sinh,

cho nam, nữ phù hợp với tiêu chuẩn học đường;

+ Có biện pháp giáo dục và tổ chức cho học sinh giữ gìn trường lớp sạch đẹp;

tham gia các hoạt động trồng cây trong khu vực nhà trường. Nơi nào có điều kiện

thì mỗi trường đảm nhận một công trình “con đường xanh sạch đẹp” dẫn tới cổng

trường; nơi nào có điều kiện về đất thì khuyến khích trường có một vườn rau sạch

để cải thiện đời sống cho giáo viên, học sinh và làm cho nhà trường xanh sạch đẹp.

2. Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở

mỗi địa phương, giúp các em tự tin trong học tập.

2.1./ Đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh

+ Tăng cường các hoạt động giáo dục chuyên đề giới và bình đẳng giới, phòng

chống bạo lực gia đình, SKSS vị thành niên, cung cấp cho các bà mẹ những kiến

thức, kỹ năng chăm sóc, nuôi và dạy con phù hợp với độ tuổi. Nâng cao nhận thức

của gia đình trong việc tạo điều kiện tốt nhất và an toàn để cho trẻ học tập và rèn

luyện tốt (có góc học tập, đủ thời gian tự học và thường xuyên liên hệ với giáo viên

chủ nhiệm để biết việc học tập, rèn luyện của con mình).

+ Cung cấp, hỗ trợ các điều kiện để hướng dẫn phụ nữ tổ chức tốt cuộc sống

gia đình, chăm sóc sức khoẻ, sống hoà thuận, hạnh phúc. Xây dựng môi trường thân

thiện trong từng gia đình, trong đó mọi thành viên yêu thương, tôn trọng nhau,

người lớn sống mẫu mực, cha mẹ gần gũi với con, kịp thời chia sẻ các ý kiến và

định hướng tốt lối sống đẹp cho con cái, thực hiện ứng xử văn hoá trong gia đình.

141

+ Quam tâm giáo dục học sinh trong việc phối hợp chặt chẽ 3 môi trường (nhà

trường, gia đình, xã hội).

+ Đẩy mạnh việc thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc

làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống gia đình, tạo điều kiện cho con em được đến

trường.

+ Hội Liên hiệp Phụ nữ TP phối hợp với Hội Liên hiệp Thanh niên TP phát

động sâu rộng và nâng cao chất lượng phong trào “Người con hiếu thảo” nhằm đề

cao đức tính hiếu nghĩa của các con đối với ông bà, cha mẹ.

+ Các cấp Hội phản ánh kịp thời với nhà trường những ý kiến đóng góp của

phụ huynh và cộng đồng về các hoạt động trong và ngoài nhà trường nhằm nâng

cao hiệu quả giáo dục.

2.2./ Đối với Hội Khuyến học TP. Hồ Chí Minh:

+ Hội Khuyến học thành phố chỉ đạo các cấp Hội hỗ trợ ngành giáo dục

vận động thầy giáo, cô giáo ở các bậc học và ngành học đổi mới nội dung, phương

pháp giáo dục;

+ Hội Khuyến học các cấp tham gia thực hiện việc phổ cập giáo dục đúng

đối tượng và đảm bảo chất lượng; chống bỏ học, giảm lưu ban; ngăn chặn tiêu cực

trong thi cử và các tiêu cực xã hội khác xâm nhập vào nhà trường;

+ Tiếp tục mở rộng cuộc vận động xây dựng gia đình hiếu học và dòng họ

khuyến học và động viên các gia đình, các dòng họ này tích cực tham gia các hoạt

động của nhà trường; động viên các gia đình, các dòng họ có con em là “con ngoan,

trò giỏi”, các gia đình có con em thành đạt, các dòng họ, các cộng đồng dân cư đóng

góp thiết thực cho việc xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, có

hình thức khuyến khích, động viên các thầy giáo, cô giáo dạy tốt có hoàn cảnh khó

khăn, khuyến khích động viên các học sinh tiến bộ;

+ Các tổ chức Hội Khuyến học cơ sở tham gia Ban quản lý và tích cực góp

phần duy trì và đẩy mạnh hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng; phát huy

sáng kiến tạo điều kiện để những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được học

tập với hình thức phù hợp;

142

+ Các cấp Hội phát huy mọi sáng kiến để tạo điều kiện học tập tốt cho học

sinh như hình thức hỗ trợ 1-1 (một người giúp một học sinh).

2.3./ Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh:

+ Nhà trường coi trọng việc dạy cách học và cách tự học cho học sinh,

khuyến khích học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, sáng tạo, không tiếp thu

một chiều, có suy nghĩ và biết phản biện;

+ Nhà trường rèn luyện cho học sinh có kỹ năng vận dụng tri thức qua sách

vở vào đời sống, vào việc nuôi dưỡng ý chí, hoài bão lí tưởng phẩm chất đạo đức;

+ Nhà trường có biện pháp hướng dẫn cho học sinh đọc sách, tra cứu tài

liệu và xử lí thông tin trên mạng phù hợp với lứa tuổi; cập nhật tri thức mới, giúp

học sinh hứng thú học tập và cảm thấy mỗi ngày đến trường là một ngày vui;

+ Tổ chức các câu lạc bộ do học sinh làm chủ nhiệm, giáo viên làm cố vấn

và các hình thức hoạt động tập thể vui mà học nhằm làm cho học sinh tích cực trong

học tập, rèn luyện.

3. Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh

3.1./ Đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh

+ Các cấp Hội đưa nội dung giáo dục trẻ em về phòng chống tội phạm và tệ

nạn xã hội, giáo dục kỹ năng sống cho các bà mẹ vào các buổi sinh hoạt chi hội, tổ

phụ nữ.

3.2./ Đối với Hội Khuyến học TP. Hồ Chí Minh

Chỉ đạo các cấp Hội ở địa phương phối hợp với nhà trường và gia đình làm tốt

việc quản lý trẻ em ngoài giờ học; có các hình thức theo dõi, đôn đốc học sinh thực

hiện kế hoạch học tập ở nhà, không chơi bời lêu lổng, sao nhãng việc học tập; tìm

biện pháp ngăn chặn kịp thời tình trạng bỏ học, trốn học và các hành vi tiêu cực

khác; chủ động đề xuất chương trình giáo dục kỹ năng sống cụ thể đối với học sinh

tùy theo lứa tuổi và điều kiện địa phương.

3.3./ Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh

+ Trên cơ sở chương trình giáo dục kỹ năng sống của Bộ Giáo dục và Đào tạo,

tùy theo cấp học và độ tuổi, tổ chức các hoạt động như dã ngoại, tham quan, hội

143

thảo, thi nấu ăn, cấp cứu trong đó học sinh giữ vai trò chủ thể, được phát huy tính

tích cực, tự chủ, tự giác, được phát biểu ý kiến của riêng mình về những vấn đề các

em quan tâm;

+ Tăng cường giáo dục kỹ năng sống để học sinh có thể thích ứng với những

hoàn cảnh, tình huống và điều kiện khác nhau của đời sống xã hội; cung cấp cho

học sinh những thông tin về nghề nghiệp, định hướng và tư vấn nghề nghiệp cho

học sinh;

+ Coi trọng vai trò và tạo điều kiện để giáo viên chủ nhiệm lớp, Tổng phụ trách

Đội, Trợ lý thanh niên và Bí thư Đoàn trường hoàn thành chức trách của mình với

tư cách là những người tổ chức chủ yếu việc giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh

trong và ngoài nhà trường;

+ Có mối liên hệ thường xuyên với cha mẹ học sinh, nắm được những diễn biến

về tâm lí, tính cách để có thể có biện pháp hữu hiệu trong việc giáo dục đạo đức cho

học sinh;

+ Các trường có phòng hay tổ tư vấn gồm các thành viên là giáo viên, cán bộ

đoàn thể, những bậc cao niên có kinh nghiệm và hiểu biết nhiều mặt về đời sống xã

hội, có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục giúp nhà trường trong việc rèn luyện kỹ

năng sống cho học sinh.

4. Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh

4.1./ Đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh

Chỉ đạo các cấp Hội phối hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động tập thể

vui tươi, lành mạnh cho học sinh nhân ngày Quốc tế thiếu nhi, trung thu, sinh hoạt

hè, Tháng hành động vì trẻ em; ngày Gia đình Việt Nam, các ngày kỷ niệm lớn, lễ

hội lớn của đất nước và các lễ hội khác tại thành phố Hồ Chí Minh.

4.2./ Đối với Hội Khuyến học TP. Hồ Chí Minh

Tập hợp các hội viên có trình độ và hiểu biết tham gia với nhà trường và Trung

tâm học tập cộng đồng sưu tầm, biên soạn hướng dẫn cho học sinh các hoạt động

vui chơi tập thể các trò chơi dân gian, các loại hình nghệ thuật dân gian.

4.3./ Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh

144

+ Theo hướng dẫn của Bộ và Sở Giáo dục - Đào tạo, các đơn vị trường học

sắp xếp thời gian, bố trí giáo viên tổ chức sưu tầm, tiếp thu, tập dượt các trò chơi và

các loại hình nghệ thuật dân gian ở địa phương, đưa các hình thức này vào các hoạt

động trong nhà trường một cách thường xuyên, liên tục;

+ Tổ chức cho học sinh tham gia các trò chơi, biểu diễn các tiết mục văn

nghệ dân gian trong các dịp lễ hội ở địa phương;

+ Có biện pháp thích hợp động viên, kêu gọi các đơn vị, cá nhân, đặc biệt là

các cựu học sinh ủng hộ tích cực, hỗ trợ thiết thực cho các hoạt động ngoại khóa,

các trò chơi dân gian nói riêng và cơ sở vật chất cho nhà trường nói chung.

5. Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch

sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương

5.1./ Đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh

+ Chỉ đạo các cấp Hội tuyên truyền, giáo dục trong các bà mẹ và học sinh về ý

thức giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc. Nhận thức đầy đủ trách

nhiệm của bản thân và gia đình trong hoạt động “Uống nước nhớ nguồn” thông qua

các hình thức thiết thực và phù hợp;

+ Các cấp Hội tuyên truyền, vận động phụ nữ và học sinh các lứa tuổi tham gia

đóng góp, xây dựng và giữ gìn khu di tích văn hóa tại địa phương; khuyến khích

những người am hiểu về lịch sử văn hóa địa phương có những đóng góp tích cực

cho cộng đồng, tham gia chăm sóc Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình thương

binh, liệt sỹ, gia đình có công cách mạng;

+ Các cấp Hội tăng cường phối hợp tuyên truyền, giáo dục cho học sinh, đặc

biệt học sinh nữ giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của phụ nữ

Việt Nam.

5.2./ Đối với Hội Khuyến học TP. Hồ Chí Minh

Huy động các hội viên tham gia giới thiệu cho học sinh giá trị các di tích lịch

sử, văn hóa và cách mạng; các ngành nghề truyền thống ở địa phương.

5.3./ Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh

145

+ Mỗi đơn vị trường học tùy theo cấp học và độ tuổi, có kế hoạch cụ thể trong

việc tìm hiểu, nhận chăm sóc, làm sạch đẹp một di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng

tại địa phương; quảng bá và phát huy giá trị tinh thần của những di tích đó;

+ Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp và tích hợp với các môn học, giáo

dục niềm tự hào về truyền thống của quê hương; giáo dục đạo đức và nhân cách;

+ Các cơ quan quản lí giáo dục ở những nơi có các di tích chịu trách nhiệm chỉ

đạo việc phân công cho các trường nhận phần việc cụ thể phù hợp với độ tuổi và

cấp học, chẳng hạn chăm sóc cây, vườn; sưu tầm và bổ sung tư liệu về các di tích,

giới thiệu và phổ biến rộng rãi.

Khi triển khai Chương trình phối hợp nói trên, các đơn vị cơ sở của Hội Liên

hiệp Phụ nữ, Hội Khuyến học và các nhà trường cần phối hợp với các hoạt động do

Sở Văn hóa, thể thao và du lịch và Thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

TP. Hồ Chí Minh tổ chức, có cách làm chủ động, sáng tạo, thích hợp, có hiệu quả

đóng góp cho thành công chung của sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh, Hội

Khuyến học TP. Hồ Chí Minh theo thẩm quyền, chỉ đạo các đơn vị theo ngành dọc

thực hiện Chương trình phối hợp này. Sau một năm học, Lãnh đạo Sở Giáo dục và

Đào tạo, Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh, Hội Khuyến học TP. Hồ Chí

Minh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP. Hồ Chí Minh và Thành Đoàn Thanh

niên Cộng sản Hồ Chí Minh TP. Hồ Chí Minh họp đánh giá để sơ kết và thống nhất

chỉ đạo tiếp tục thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học

sinh tích cực” cho các đơn vị trực thuộc theo ngành dọc. Trong dịp hè hằng năm, tổ

chức tổng kết phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích

cực” nhằm rà soát, đánh giá kết quả phối hợp và chỉnh lí, bổ sung cho phù hợp với

điều kiện thực tế. Năm học 2009-2010 sẽ có nội dung thi đua đặc biệt chào mừng

1000 năm Thăng Long và 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh, phối hợp

với Hội Khuyến học TP. Hồ Chí Minh triển khai các hoạt động nhằm động viên

146

toàn xã hội quan tâm đến những hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội

học tập và hưởng ứng với những đóng góp thiết thực cho việc xây dựng môi trường

học đường lành mạnh, thân thiện.

3. Phòng Giáo dục và Đào tạo quận, huyện, các trường CĐ, TCCN, THPT,

TT. Giáo dục thường xuyên và các đơn vị trực thuộc phối hợp với Hội Liên hiệp

Phụ nữ quận, huyện, Hội Khuyến học quận, huyện xây dựng kế hoạch cụ thể để

cùng chỉ đạo, triển khai các nội dung của Chương trình phối hợp này đến các đơn vị

trực thuộc từ năm học 2009-2010. Khi kết thúc năm học hằng năm có báo cáo tổng

kết đánh giá, rút kinh nghiệm và khen thưởng việc triển khai phong trào và đề xuất

các giải pháp và kế hoạch cụ thể của năm học tiếp theo gửi về Sở Giáo dục và Đào

tạo TP. Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh, Hội Khuyến học TP.

Hồ Chí Minh.

4. Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh, Hội

Khuyến học TP. Hồ Chí Minh và các cơ quan lãnh đạo liên ngành ở các Sở, Ngành

thành phố chủ động phối hợp chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện bản Chương

trình phối hợp này.

5. Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh, Hội

Khuyến học TP. Hồ Chí Minh giao cho Phòng Công tác học sinh - sinh viên,

Thường trực Ban chỉ đạo phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học

sinh tích cực”- Sở Giáo dục và Đào tạo; Ban Gia đình Xã hội – Hội Liên hiệp Phụ

nữ TP. Hồ Chí Minh và Ban Phong trào khuyến học - Hội Khuyến học TP. Hồ Chí

Minh là bộ phận thường trực triển khai thực hiện Chương trình phối hợp ở các cấp.

6. Nhà trường chủ trì, phối hợp với các Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch,

Quận, Huyện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội

Khuyến học các địa phương, đặc biệt là các tổ dân phố, khu phố tổ chức tốt lễ tổng

kết năm học trang trọng, khen thưởng, khích lệ học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ

năm học nói chung, phong trào thi đua nói riêng và triển khai hoạt động hè thiết

thực, bổ ích.

147

7. Sở Giáo dục và Đào tạo là cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm điều phối

mọi hoạt động liên quan đến việc triển khai năm nội dung của phong trào thi đua

“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của các Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch và các tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp

Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh và Hội Khuyến học TP. Hồ Chí Minh đồng thời kêu gọi

các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể, các hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp,

các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước tích cực hưởng ứng và đóng góp có hiệu

quả cho phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

Chương trình phối hợp có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và được phổ biến

đến các trường, các chi hội phụ nữ, chi hội khuyến học và các cấp quản lý trong

toàn ngành Giáo dục TP. Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh và

Hội Khuyến học TP. Hồ Chí Minh.

CHỦ TỊCH CHỦ TỊCH GIÁM ĐỐC

HỘI KHUYẾN HỌC HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TP. HỒ CHÍ MINH

TP. HỒ CHÍ MINH

TP. HỒ CHÍ MINH

(Đã ký) (Đã ký) (Đã ký)

Huỳnh Công Minh Nguyễn Văn Hanh Trương Thị Ánh

148

PHỤ LỤC 5

2T UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

2T TP. HỒ CHÍ MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

2TSỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

2T ………….., ngày tháng năm 2009

2TPHIẾU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

2TPhong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

2TKHỐI THCS và THPT

2T ( Dành cho các cơ quan chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội các cấp)

2TĐơn vị tham gia đánh giá :................................................................................

2TTên trường được đánh giá.................................................................................

149

2TPhường ...........................,quận (huyện)......................, TP. HCM

2TNội

2TTiêu chí đánh giá

2TĐiểm

2TĐiểm đạt

2TXếp

2Tdung

chuẩn qua đánh loại

2TTrường xanh, sạch, đẹp, an toàn, có đủ nước sạch, công

2TI

quy định giá

trình vệ sinh sạch sẽ, hợp vệ sinh (nam riêng, nữ riêng,

2T 20

giáo viên, riêng, học sinh riêng), phòng học, phòng làm

việc đủ ánh sáng chuẩn quy định, bàn ghế học sinh đúng

2T Dạy học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của

2TII

quy cách, phù hợp độ tuổi, cấp học.

học sinh ở mỗi địa phương, giúp các em tự tin trong học

2T 25

tập, tạo không khí học tập vui tươi, nhẹ nhàng để học

sinh mỗi ngày đến trường là một ngày vui, các em yêu

thích tới trường . Chất lượng các mặt giáo dục được nâng

2TRèn luyện kỹ năng sống cho học sinh thông qua chương

2TIII

lên sau mỗi lần kiểm tra đánh giá.

trình giáo dục lồng ghép với các môn học, qua các hoạt

động giáo dục ngoài giờ lên lớp bằng những nội dung cụ

2T 15

thể trong giao tiếp, ứng xử, quan hệ trò với trò, thầy với

thầy, thầy với trò và thầy, trò với nhân dân địa phương.

Giáo duc kỹ năng xử lý phòng chống tai nạn thương tích

và phòng chống ma tuý, TNXH, chấp hành luật khi tham

2TTổ chức tốt các hoạt động vui chơi, văn hoá, văn nghệ,

2TIV

gia giao thôngvà nội quy nhà trường.

2T 15

thể thao cho học sinh. Đưa được từ 3 đến 5 trò chơi dân

gian vào nhà trường, tổ chức cho học sinh thường xuyên

2TNhận chăm sóc 1(một) di tích lịch sử, văn hoá, cách

2TV

chơi có hiệu quả.

2T 10

mạng của địa phương. Thường xuyên tổ chức các hoạt

150

động giáo dục truyền thống và chăm sóc di tích một cách

thiết thực, có hiệu quả được nhân dân địa phương ghi

2TCó nhiều sáng tạo trong công tác tổ chức, chỉ đạo, quản

2TVI

nhận.

2T 15

lý các hoạt động phong trào của nhà trường và có những

2T C2Tộng

2T100

tiến bộ rõ rệt sau mỗi lần đánh giá.

2T

Trường được đánh giá, xếp loại theo thang điểm sau:

2T

- Loại Xuất sắc: Trường đạt từ 90 đến 100 điểm ( nội dung 1 đến 5 và tiêu

chí 6 phải đạt ít nhất 80% điểm tối đa);

2T

- Loại Tốt : Trường đạt từ 80 đến dưới 90 điểm (nội dung 1 đến 5 và tiêu chí

6 phải đạt ít nhất 65% điểm tối đa);

2T

- Loại Khá: Trường đạt từ 50 đến dưới 65 điểm ( nội dung 1 đến 5 và tiêu chí

6 phải đạt ít nhất 50% điểm tối đa) ;

2T

- Loại Trung bình: Trường đạt từ 50 đến dưới 65 điểm;

2T

2T TM .CƠ QUAN, ĐƠN VỊ ĐÁNH GIÁ

2T (Chức vụ, ký và ghi rõ họ tên)

- Loại Cần cố gắng: Trường đạt dưới 50 điểm;