BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐHSP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ NGỌC YẾN
HUYỆN MANG THÍT (VĨNH LONG) TRONG CUỘC ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 1947-1975 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
TP. HỒ CHÍ MINH - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐHSP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NGỌC YẾN
HUYỆN MANG THÍT (VĨNH LONG) TRONG CUỘC ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 1947-1975
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS VÕ XUÂN ĐÀN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
MỤC LỤC
5TMỤC LỤC5T ............................................................................................................................ 1
5TMỞ ĐẦU5T .............................................................................................................................. 3
5T1. Lý do chọn đề tài5T .................................................................................................................................. 3
5T2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề5T .................................................................................................................... 4
5T3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu5T ......................................................................................................... 5
5T4. Phương pháp nghiên cứu5T ...................................................................................................................... 5
5T5. Nguồn tài liệu nghiên cứu5T..................................................................................................................... 6
5T6. Những đóng góp của luận văn5T .............................................................................................................. 6
5T7. Bố cục của luận văn5T ............................................................................................................................. 6
5T(Nguồn: Ban Tuyên giáo huyện Mang Thít) Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN MANG THÍT TRƯỚC NĂM 19475T ..................................................................................... 8
5T1.1. Điều kiện địa lí tự nhiên5T .................................................................................................................... 9
5T1.2. Đặc điểm dân cư, văn hóa - xã hội5T ................................................................................................... 10
5T1.3. Truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân Mang Thít trước năm 19475T .................................. 10
5T1.3.1. Vùng đất, con người và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm trước khi có Đảng5T ................ 10
5T1.3.2. Hình thành các tổ chức Cộng sản ở Mang Thít lãnh đạo nhân dân đấu tranh5T ............................ 13
5T1.3.3. Từ cao trào dân chủ 1936 - 1939 đến cách mạng tháng 8 năm 19455T ......................................... 14
5T1.3.4. Tình hình Mang Thít sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước năm 19475T ............................ 19
5TChương 2: HUYỆN MANG THÍT TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP ( 1947- 1954)5T ................................................................................................................................... 26
5T2.1. Những năm đầu kháng chiến chống Pháp5T ........................................................................................ 26
5T2.1.1. Gây dựng lại cơ sở cách mạng cùng toàn quốc kháng chiến5T ..................................................... 26
5T2.1.2. Nhân dân Mang Thít cùng nhân dân cả nước thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện5T .......... 29
5T2.2. Cuộc kháng chiến chống Pháp giành thắng lợi5T ................................................................................. 31
5T2.2.1. Xây dựng và phát triển chiến tranh nhân dân đẩy mạnh kháng chiến5T ........................................ 31
5T2.2.2. Phối hợp với chiến trường chung, cuộc kháng chiến chống Pháp giành thắng lợi5T ..................... 40
5TChương 3: HUYỆN MANG THÍT TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ (1954-1975) 5T ............................................................................................................................................. 46
5T3.1. Đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, xây dựng lực lượng tiến hành Đồng khởi năm 19605T ....................... 46
5T3.1.1. Đấu tranh đòi dân sinh dân chủ và chống “tố cộng, diệt cộng”5T ................................................. 46
5T3.1.2. Xây dựng lực lượng thực hiện Đồng khởi5T................................................................................ 51
5T3.2. Từ sau Đồng khởi đến tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 19685T .................................... 54
5T3.2.1. Phát triển lực lượng kháng chiến chống bình định lấn chiếm giành quyền làm chủ nông thôn5T .. 54
5T3.2.2. Khôi phục và chuẩn bị lực lượng tiến tới tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 19685T 59
5T3.2.3. Quân và dân Mang Thít thực hiện tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 19685T ............ 66
5T3.3. Kiên trì đấu tranh đi đến thắng lợi hoàn toàn5T ................................................................................... 71
5T3.3.1. Quân dân Mang Thít chống bình định phản kích, bảo vệ cách mạng5T ......................................... 71
5T3.3.2. Thực hiện tiến công mở rộng vùng nông thôn sau Hiệp định Pari5T ............................................ 78
5T3.3.3. Chiến dịch mùa khô (1974 - 1975) - tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi hoàn toàn. 5T ........ 87
5TKẾT LUẬN5T ........................................................................................................................ 93
5T1. Kết luận5T ............................................................................................................................................. 93
5T2. Nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược5T................. 96
5T3. Khuyến nghị5T ..................................................................................................................................... 100
5TTÀI LIỆU THAM KHẢO5T ............................................................................................... 102
5TPHỤ LỤC5T ......................................................................................................................... 108
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Huyện Mang Thít là một trong tám đơn vị hành chính của tỉnh Vĩnh Long, một huyện
vùng xa ở hướng Đông Bắc tỉnh Vĩnh Long, nằm bên hữu ngạn sông Cổ Chiên, kéo dài từ
ven thành phố Vĩnh Long đến bờ Bắc sông Mang Thít. Huyện được bao bọc bởi hai con sông
lớn là sông Cổ Chiên, sông Mang Thít và Quốc lộ 53. Nhìn trên bản đồ Mang Thít có hình
tam giác với cạnh đáy là sông Mang Thít, hai cạnh bên là sông Cổ Chiên và quốc lộ 53, đỉnh
tam giác tiếp xúc với vùng Thanh Đức, Long Phước sát phía Đông thành phố Vĩnh Long.
Phía Bắc, Tây Bắc giáp huyện Long Hồ. Phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Chợ Lách (tỉnh
Bến Tre) với ranh giới là sông Cổ Chiên. Phía Đông giáp huyện Vũng Liêm, ranh giới là
sông Mang Thít, phía Nam giáp huyện Tam Bình. Huyện gồm có thị trấn huyện lị Cái Nhum
và 12 xã (Chánh Hội, Tân Long, Nhơn Phú, Mỹ An, Mỹ Phước, An Phước, Chánh An, Hòa
Mang Thít còn gọi là Mân Thít hay Măng Thít, là tên đất xưa. Năm 1732, khi chúa
Tịnh, Bình Phước, Long Mỹ, Tân An Hội, Tân Long Hội) với 103 ấp khóm.
Nguyễn thành lập dinh Long Hồ, vùng đất thuộc huyện Mang Thít hiện nay chỉ có vài làng.
Năm 1808, Mang Thít thuộc huyện Vĩnh Bình phủ Định Viễn trấn Vĩnh Thanh. Khi Pháp
chiếm Vĩnh Long chia Vĩnh Long thành ba huyện thì Mang Thít thuộc huyện Vĩnh Long (hạt
Vĩnh Long). Đến năm 1889, vùng đất Mang Thít thuộc phạm vi quản lí của ba quận là Châu
Thành, Chợ Lách và Tam Bình. Huyện được chính thức thành lập vào đầu năm 1947 và
trong quá trình phát triển huyện đã nhiều lần đổi tên, sáp nhập cũng như tách ra từ các huyện
khác. Khi mới thành lập năm 1947 huyện Mang Thít có tên là huyện Nhì, sau đó có tên là
Mang Thít (1950), Vũng Liêm (1951), Cái Nhum (1955). Năm 1957, huyện Cái Nhum được
nhập vào huyện Chợ Lách, đến năm 1963 thì tách ra làm hai huyện như cũ. Năm 1977 nhập
hai huyện Cái Nhum và Châu Thành Tây thành huyện Long Hồ. Năm 1981, tách Long Hồ
thành hai huyện là Long Hồ và Mang Thít, đến năm 1986 lại sáp nhập huyện Mang Thít vào
Long Hồ. Năm 1992 tách huyện Long Hồ thành hai huyện Long Hồ và Mang Thít. Tên gọi
huyện Mang Thít tồn tại đến ngày nay. Tuy nhiên có thời gian huyện Mang Thít còn có tên
gọi là quận Minh Đức, đây là tên gọi do chính quyền ngụy đặt vào năm 1961 và nhiều bậc
cao niên ở Mang Thít hiện nay vẫn thường gọi tên huyện là Minh Đức như là để nhớ về kí ức
một thời gian khổ.
Huyện Mang Thít được hình thành từ rất sớm, ban đầu chỉ có vài làng dần dần phát triển
thành vùng đất trù phú dân cư đông đúc. Nhưng để hiểu rõ về lịch sử của vùng đất này là
một điều hết sức khó khăn vì không có đầy đủ tài liệu. Do điều kiện chiến tranh, qua nhiều
lần sáp nhập và thời gian đã lâu nên những tư liệu về Mang Thít đã thất lạc nhiều, những
nhân chứng lịch sử chứng kiến sự phát triển của vùng đất này cũng dần dần ra đi. Vì vậy, nếu
như không có các công trình nghiên cứu về Mang Thít thì những thế hệ trẻ sinh ra sau này sẽ
không thể hiểu gì về vùng đất của chính mình.
Sinh ra, lớn lên và làm công tác giảng dạy lịch sử tại vùng đất Mang Thít, bản thân luôn
có những băn khoăn thắc mắc về lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất mình sinh
sống đặc biệt là những giai đoạn chiến đấu gian khổ, không khoan nhượng trước kẻ thù bảo
vệ độc lập dân tộc. Việc nghiên cứu về vùng đất này sẽ giúp tôi dạy tốt môn lịch sử địa
phương, góp phần giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần cần cù lao
động, ra sức học tập để xây dựng và phát triển quê hương.
Với ý nghĩa thực tiễn như vậy, tôi quyết định chọn đề tài “Huyện Mang Thít trong
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc giai đoạn 1947 - 1975” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Qua quá trình tìm hiểu bản thân nhận thấy các công trình nghiên cứu về huyện Mang
Thít chưa nhiều. Tuy đã có một số tác phẩm đề cập nhưng chỉ ở một khía cạnh phạm vi hẹp
hoặc chỉ nằm ở dạng văn bản, văn kiện liên quan, và số lượng không nhiều. Tuy nhiên có thể
nhắc đến một số tác phẩm viết về Mang Thít dưới đây:
Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của đảng bộ và nhân dân huyện Mang Thít
(1930-1975) của Ban Tuyên giáo huyện Mang Thít với nội dung chính trình bày truyền
thống cách mạng của đảng bộ và nhân dân Mang Thít từ buổi đầu cho đến cuộc kháng chiến
chống đế quốc Mĩ. Đây là tác phẩm đầu tiên khai mở công tác nghiên cứu lịch sử địa phương
Mang Thít. Đồng thời mốc thời gian cũng dừng lại ở năm 1975 nên giai đoạn phát triển của
huyện Mang Thít từ sau ngày hoàn toàn giải phóng chưa được nghiên cứu làm rõ.
Hội người tù kháng chiến tỉnh Vĩnh Long viết tác phẩm 45 năm đấu tranh của người tù
kháng chiến huyện Mang Thít (1930-1975). Tác phẩm mô tả cuộc đấu tranh của những chiến
sĩ cách mạng huyện Mang Thít ở các trại giam của của thực dân Pháp và đế quốc Mĩ qua các
thời kì.
Ngoài ra còn có một số công trình viết liên quan đến huyện Mang Thít nhưng ở cấp độ
xã, phường như: Lịch sử xã Tân Long Hội anh hùng, Lịch sử xã Chánh Hội anh hùng, Lịch
sử xã Nhơn Phú anh hùng, Lịch sử xã Bình Phước anh hùng. Những tác phẩm này trình bày
về cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân các xã Tân Long Hội, Chánh Hội, Nhơn Phú, Bình
Phước trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, cũng như công cuộc xây dựng
phát triển kinh tế-xã hội sau khi huyện nhà được giải phóng. Bên cạnh đó, ban Tuyên giáo
Tỉnh ủy Vĩnh Long xuất bản tác phẩm Lịch sử tỉnh Vĩnh Long (1732-2000), Tỉnh ủy Vĩnh
Long cũng phối hợp với Viện khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa
học và xuất bản tác phẩm Vĩnh Long lịch sử và phát triển,… những tác phẩm này đều có đề
cập đến huyện Mang Thít.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với tiêu đề là “Huyện Mang Thít (Vĩnh Long) trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
giai đoạn 1947-1975”, nên nội dung của đề tài nghiên cứu cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mĩ Xâm lược của nhân dân trong huyện trong khoảng thời gian từ 1947 đến
1975 với các vấn đề:
- Nghiên cứu về công cuộc vừa kháng chiến vừa kiến quốc của quân và dân Mang
Thít trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ 2 từ năm 1947 đến 1954.
- Phong trào đấu tranh kiên cường bất khuất của quân dân Mang Thít chống chiến
tranh xâm lược kiểu mới của đế quốc Mỹ trong hơn hai mươi năm (1954-1975)
- Trình bày sự thay đổi về địa giới hành chính của vùng đất Mang Thít trong suốt hai
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
- Đồng thời, luận văn cũng nghiên cứu khái quát về sự hình thành và phát triển vùng
đất Mang Thít trước năm 1947.
Huyện Mang Thít được tách ra và sáp nhập vào nhiều huyện khác nhau nên có không
gian rất rộng lớn. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở phạm vi thuộc
địa phận của huyện Mang Thít như bản đồ hành chính hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Do sự phân tán của các nguồn tài liệu nên đề tài luận văn được thực hiện dựa trên nền
tảng của hai phương pháp chính, đó là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương
phương pháp lịch sử giúp người viết tìm hiểu quá trình thay đổi cũng như diễn biến của sự
kiện. Trên cơ sở đó, phương pháp logic sẽ xâu chuỗi kết nối các sự kiện theo trình tự khoa
học và có hệ thống.
Phương pháp khảo sát điền dã: tiếp xúc trực tiếp các di tích, những nơi diễn ra các sự
kiện nổi bật của Mang Thít để sưu tầm tài liệu.
Ngoài ra người viết còn thực hiện một số phương pháp khác như: so sánh, tổng hợp,
phân tích…
5. Nguồn tài liệu nghiên cứu
Nguồn tài liệu viết về huyện Mang Thít hiện nay không nhiều nên bản thân người viết
cố gắng khai thác những tác phẩm viết về huyện Mang Thít đã được xuất bản của ban Tuyên
giáo huyện Mang Thít như: Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của đảng bộ và nhân
dân huyện Mang Thít (1930-1975), Lịch sử xã Tân Long Hội anh hùng, Lịch sử xã Nhơn Phú
anh hùng, Lịch sử xã Bình Phước anh hùng, Lịch sử xã Chánh Hội anh hùng,... Hoặc tài liệu
của ban tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long như: Lịch sử tỉnh Vĩnh Long (1732-2000), Vĩnh Long
hai mươi năm phát triển kinh tế - xã hội, Vĩnh Long lịch sử và phát triển,... cùng với các tài
liệu liên quan.
Một nguồn tài liệu khác cũng được người viết khai thác là tài liệu của các di tích lịch
sử, văn hóa qua công tác điền dã.
6. Những đóng góp của luận văn
Nghiên cứu về “Huyện Mang Thít trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc giai
đoạn 1947 - 1975” để có cái nhìn một cách khái quát về phong trào đấu tranh cách mạng của
huyện từ buổi đầu hình thành đến năm 1975. Vì vậy luận văn sẽ là một nguồn tư liệu góp
phần làm phong phú thêm lịch sử huyện Mang Thít.
Với việc nghiên cứu huyện Mang Thít giai đoạn 1947-1975, bản thân người viết muốn
đóng góp thêm một nguồn tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy lịch sử địa phương ở các
trường THPT trong huyện.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương
được bố trí như sau:
- Chương I: Khái quát về huyện Mang Thít trước năm 1947
- Chương II: Huyện Mang Thít trong kháng chiến chống Pháp (1947 -1954)
- Chương III: Huyện Mang Thít trong kháng chiến chống Mĩ (1954 - 1975).
(Nguồn: Ban Tuyên giáo huyện Mang Thít)
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN MANG THÍT TRƯỚC NĂM 1947
1.1. Điều kiện địa lí tự nhiên
2 18TMang Thít có diện tích tự nhiên 168.33 kmP
P [5:13], dân số (thời điểm 31/12/2009) là
2 100.010 người, mật độ phân bố 594 người/kmP
P. 18T Huyện lị Mang Thít đặt tại thị trấn Cái
Nhum, nằm ven sông Mang Thít cách thành phố Vĩnh Long 17km đường chim bay, 21km
đường bộ, cách sông Cổ Chiên 8km đường sông, 4 km đường bộ, cách Quốc lộ 53 khoảng
10km đường bộ.
Huyện Mang Thít nằm trong bối cảnh chung của quá trình kiến tạo địa chất vùng đồng
bằng sông Cửu Long có đặc điểm giàu lưu huỳnh, đây là nguyên nhân phát sinh phèn trong
đất, làm giảm năng suất cây trồng. Phần lớn đất ở Mang Thít được phù sa nước ngọt của
sông Cổ Chiên bồi đắp, đặc biệt dọc theo sông Cổ Chiên có nguồn tài nguyên đất sét rất lớn
thuận lợi phát triển ngành sản xuất gạch ngói và gốm mỹ nghệ xuất khẩu.
Địa hình Mang Thít là địa hình đồng bằng, hệ thống sông rạch chằng chịt bao gồm cả
sông thiên nhiên và kênh đào. Sông Cổ Chiên là một nhánh lớn của sông Cửu Long lấy nước
sông Tiền đổ ra biển. Sông Mang Thít còn gọi là sông Măng lấy nước từ đồng ruộng đổ ra
sông Cổ Chiên và sông Trà Ôn. Hệ thống sông Mang Thít - Trà Ôn trong chiến tranh được
xem là con đường huyết mạnh nên là nơi đấu tranh giằng co quyết liệt giữa ta và địch. Ngoài
hai sông lớn là sông Cổ Chiên và sông Mang Thít, còn có một hệ thống kênh đào rất phong
phú: rạch Cái Lóc, rạch Cái Nhum, Vàm Xéo, Ruột Ngựa, rạch mương Bầu Thiềng, rạch Tân
Qui, rạch Bà Phong, kinh Thầy Cai, Cái Kè, kinh Mới… Tất cả các sông rạch này đều ăn
thông, chằng chịt với nhau, ghe tàu trọng tải vài mươi tấn có thể đi lại dễ dàng. Bên cạnh đó,
hệ thống giao thông đường bộ cũng rất thuận lợi. Do nằm sát trung tâm tỉnh lị nên có nhiều
tuyến đường lớn chạy ngang. Quốc lộ 53 từ Vĩnh Long đi Trà Vinh, Duyên Hải, tỉnh lộ 32
nối quốc lộ 53 với huyện lị Cái Nhum, tỉnh lộ 31 nối Vĩnh Long - Vũng Liêm chạy dọc theo
sông Cổ Chiên, và các hương lộ, đường liên xã được đầu tư phát triển giúp nhân dân đi lại dễ
dàng trong hai mùa mưa nắng.
Mang Thít chịu ảnh hưởng chung của khí hậu cận nhiệt đới gió mùa chia làm hai mùa
rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Hằng
năm vào cuối mùa mưa, lượng nước ở thượng nguồn tràn về thường gây lũ, nước lũ tràn vào
ruộng đồng mang theo lượng phù sa màu mỡ, nhưng độ ngập không sâu nên nhanh chóng
thoát ra sông Cổ Chiên đổ ra biển. Có thể nói, Mang Thít là vùng tự chảy hoàn toàn, các
ruộng đồng khi cần có thế lấy nước vào hoặc tháo nước ra mà không cần các trạm bơm. Hiện
nay, với hệ thống đê khép kín, Mang Thít không còn chịu ảnh hưởng của nước lũ vào mùa
mưa.
Nhìn chung thổ nhưỡng và thời tiết ở Mang Thít ôn hòa thuận lợi phát triển sản xuất,
cũng như đời sống nhân dân.
1.2. Đặc điểm dân cư, văn hóa - xã hội
Dân cư Mang Thít nói riêng cũng như dân cư Vĩnh Long và Nam bộ nói chung có
nguồn gốc từ miền Bắc, miền Trung, là những người nông dân không chịu nỗi nghèo khổ, sự
áp bức bóc lột của chế độ phong kiến Trịnh -Nguyễn, chiến tranh loạn lạc và những người
Minh Hương không khuất phục triều đình Mãn Thanh lưu tán đến vùng đất mới lập nghiệp.
Khi đến vùng đất mới, họ cũng mang theo cả phong tục tập quán của dân tộc mình. Sinh hoạt
tế lễ ở đình làng vẫn chi phối lớn đến đời sống tinh thần của nhân dân.
Cư dân ở vùng đất Mang Thít theo nhiều tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Thiên chúa
giáo, đạo Hòa Hảo, đạo Cao Đài. Đạo Phật chủ yếu theo phái Bắc Tông được truyền vào
vùng đất này cùng lúc với người Việt, người Hoa đến lập nghiệp. Mang Thít có 19 chùa với
khoảng 527 tín đồ.
Đạo Thiên chúa được truyền vào đây vào đầu thế kỉ XX, tập trung đông nhất ở họ đạo
Mỹ Chánh (xã Chánh An). Đạo Thiên chúa hiện nay có khoảng 5.776 giáo dân.
Đạo Cao Đài được truyền bá đến Mang Thít từ năm 1928 với hai phái lớn là Cao Đài
Tiên Thiên và Cao Đài Tây Ninh. Phái Cao Đài Tiên Thiên (trung ương đạo ở Bến Tre) có 3
thánh tịnh (lớn nhất là thánh tịnh Ngọc Sơn Quang) khoảng 1.390 tín đồ. Phái Cao Đài Tây
Ninh (trung ương đạo ở Tây Ninh) có ba thánh thất với 498 tín đồ.
Đạo Hòa Hảo truyền vào Mang Thít khá muộn, từ sau năm 1940. Đa số tín độ Hòa Hảo
tu tại gia, hiện nay đạo Hòa Hảo có khoảng 140 tín đồ.
1.3. Truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân Mang Thít trước năm 1947
1.3.1. Vùng đất, con người và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm trước khi có
Đảng
Công cuộc khai phá vùng đất mới Nam bộ ban đầu là tự phát do nhân dân xiêu tán khắp
nơi đến khai khẩn, dần về sau được chúa Nguyễn khuyến khích đưa dân vào khai phá lập
làng ngày càng nhiều. Với tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, ý chí vượt qua mọi khó khăn,
thử thách, những người nông dân đã biến vùng đất Nam bộ đầm lầy, hoang vu thành đồng
ruộng màu mỡ. Trong buổi đầu lập nghiệp, những người nông dân đó phải chống chọi với sự
khắc nghiệt của thiên nhiên, những đe dọa của thú rừng và còn phải đương đầu với bọn cướp
để bảo vệ thành quả lao động của mình. Vì thế, những người nông dân này đã sống đoàn kết
gắn bó với nhau theo từng xóm, từng làng và từng tộc họ.
Năm 1732, chúa Nguyễn cho lập dinh Long Hồ đặt lị sở tại Tầm Bào. Đến giữa thế kỉ
XVIII, xứ Tầm Bào trở thành thủ phủ của vùng đất phía Nam sông Tiền và là đại bản doanh
của quân đội nhà Nguyễn làm nhiệm vụ phòng thủ đất nước, giữ vai trò trọng yếu trong sự
nghiệp bảo vệ, ổn định và phát triển vùng đất mới. Vùng đất Mang Thít với vị trí vùng ven
sát nách lị sở đã đóng góp xương máu nhân dân cho việc phòng bị cũng như chiến đấu bảo
vệ đất nước.
Tháng 9 năm 1770, quân Xiêm sang xâm lược nước ta đánh vào Hà Tiên, quân Hà Tiên
chống cự không được phải rút lui chờ tiếp viện. Quân Long Hồ dinh do Tống Phước Hiệp
chỉ huy đã chặn đánh tiêu diệt 300 tên. Năm 1772, quân Long Hồ dinh phối hợp với quân
triều đình đánh tan quân xâm lược, dập tắt tham vọng dòm ngó Nam bộ của quân Xiêm.
Từ năm 1774 đến 1784, chiến sự liên tiếp diễn ra giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, vùng
đất Mang Thít khi thuộc chủ quyền của Tây Sơn, khi thuộc quyền của Nguyễn Ánh, đời sống
nhân dân vô cùng khốn khổ. Không thắng được Tây Sơn, Nguyễn Ánh quyết định cầu viện
quân Xiêm. Đây là cơ hội để vua Xiêm thực hiện tham vọng mở rộng lãnh thổ sang phía
Đông. Vì thế, tháng 6 năm 1784, hai vạn quân Xiêm với 300 chiến thuyền do Chiêu Tăng và
Chiêu Sương chỉ huy sang “giúp đỡ” Nguyễn Ánh. Để cùng phối hợp với quân Xiêm,
Nguyễn Ánh đã cho tập hợp các lực lượng trung thành, cử Nguyễn Văn Tiếp làm Bình Tây
Đại nguyên soái dẫn đường cho quân Xiêm tiến đánh Gia Định.
Cuối tháng 11 năm 1784, liên quân Xiêm - Nguyễn sau khi đánh chiếm được Ba Thắc
(Sóc Trăng), Đông Khẩu (Sa Đéc), Trà Luộc (Tam Bình), theo đường thủy từ Trà Luộc đổ ra
sông Mang Thít tiếp tục đánh vào Long Hồ dinh. Quân Tây Sơn do phò mã Trương Văn Đa
và Chưởng quân Bảo chỉ huy từ Gia Định về Long Hồ tổ chức chặn đánh địch. Nhân dân hai
bên bờ sông Mang Thít đã giúp nghĩa quân Tây Sơn xây dựng trận địa ngăn chặn quân xâm
lược.
Ngày 18 tháng 10 năm Giáp Thìn (ngày 30 tháng 11 năm 1784), lợi dụng lúc triều
cường liên quân Xiêm - Nguyễn theo sông Mang Thít tiến đánh Long Hồ dinh, đến vàm
sông bị quân Tây Sơn chặn đánh. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, trong cuộc quyết chiến
đó tướng Châu Văn Tiếp của Nguyễn Ánh tử trận. Có thể nói, đây là trận chiến đấu chống
quân xâm lược lớn nhất ở vùng đất Mang Thít trong thời kì phong kiến. Trận đánh ở vàm
sông Mang Thít đã góp phần cùng trận Rạch Gầm - Xoài Mút đánh tan tác quân Xiêm.
Năm 1802, Nguyễn Ánh lật đổ vương triều Tây Sơn thành lập triều Nguyễn, sau đó đã
thực hiện cải cách hành chánh. Năm 1806 vùng đất Long Hồ dinh đổi tên thành trấn Vĩnh
Thanh và Mang Thít thuộc tổng Vĩnh Trường, huyện Vĩnh Bình [15:35]. Chính sách khuyến
khích khai hoang của nhà Nguyễn đã góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh tế Nam bộ phát triển
nhanh. Kinh tế trong vùng phát triển đặt ra yêu cầu trao đổi hàng hoá, chợ mọc lên nhiều nơi.
Chợ Tân Mỹ Đông ở bờ Bắc vàm sông Mang Thít (nay thuộc ấp Tân Mỹ - xã Chánh An)
được thành lập. Ở làng Tân Hội Đông cũng thành lập chợ gọi là chợ Tân Hội Đông, đến
năm 1900 được đổi tên là chợ Cái Nhum (nay là thị trấn Cái Nhum)
Năm 1832, Nam bộ được chia thành sáu tỉnh (Nam kỳ lục tỉnh). Tỉnh Vĩnh Long có bốn
phủ, tám huyện, 47 tổng, 408 xã thôn và vùng Mang Thít thuộc huyện Vĩnh Bình, phủ Định
Viễn. Đến năm 1836, triều đình nhà Nguyễn tổ chức một cuộc “đạc điền” lập lại sổ bộ ruộng
đất, kết quả cho biết vùng Mang Thít lúc này có 19 làng.
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, từng bước xâm chiếm ba tỉnh miền
Đông rồi đến ba tỉnh miền Tây Nam kỳ. Năm 1867, Pháp chiếm được thành Vĩnh Long, từ
đây nhân dân Vĩnh Long nói chung, nhân dân Mang Thít nói riêng chịu sự cai trị của thực
dân Pháp. Nhằm khai thác tiềm lực đất đai, chính quyền đô hộ đã bắt dân đi làm xâu, mở
đường, đắp các tỉnh lộ xuống trung tâm các quận và khu vực. Trong đó đắp liên tỉnh lộ 7,
tỉnh lộ 31, lộ 32, nạo vét sông Mang Thít, Trà Ôn thành đường giao thông thủy chiến lược ở
miền Tây. Thực dân Pháp lập bộ máy tề ở các làng xã chủ yếu là thành phần địa chủ, phú
nông. Một số địa chủ đã dựa vào thực dân củng cố địa vị, bóc lột nông dân. Dọc tuyến sông
Cổ Chiên, một số tư sản người Hoa lập các lò sản xuất gạch ngói. Đến năm 1940, số lò gạch
từ Vĩnh Long đến An Phước khoảng 15 lò, có lò sử dụng 300 đến 500 nhân công.
Ở tỉnh lị, chính quyền thực dân cho mở trường tiểu học, sau dần mở xuống quận, làng
nhưng chủ yếu là những gia đình khá, trung phú nông trở lên đi học, đại đa số nhân dân lao
động đều thất học.
Thực dân Pháp cai trị nhân dân rất hà khắc, vì vậy ở Mang Thít xuất hiện nhiều phong
trào yêu nước được nhân dân hưởng ứng rất tích cực như: tổ chức Thiên địa hội (Chánh Hội,
Nhơn Phú), tổ chức Kèo Vàng (Nhơn Phú), tổ chức Kèo Vàng, Kèo Xanh (Tân Long Hội),…
Tuy nhiên, các hội đoàn này hoạt động mang tính chất nhỏ hẹp, không có chủ trương, sách
lược rõ ràng nên dần dần tan rã.
Đầu năm 1928, ở Ngã Tư Long Hồ chi bộ Việt Nam cách mạng Thanh niên được thành
lập, ra báo “Công nông binh” tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước theo đường lối vô sản. Tháng
7 năm 1929, Việt Nam cách mạng Thanh niên tự giải thể chuyển thành An Nam Cộng sản
đảng do Châu Văn Liêm làm bí thư. Tháng 8 năm 1929, chi bộ cộng sản đầu tiên ở Vĩnh
Long được thành lập tại Ngã Tư Long Hồ do Nguyễn Văn Nhung làm bí thư, phát triển ảnh
hưởng đến các làng Long Phước, Long Phước Tây, Bình Hòa, Bình Tịnh, Long Mỹ. Việc
truyền bá chủ nghĩa yêu nước theo đường lối vô sản được thực hiện bằng cả hai hình thức
công khai và bí mật. Châu Văn Sanh và Đào Kiến Liêm thành lập tổ chức “Cổ Kim thư xã”
để tuyên truyền sách báo tiến bộ. Sự ra đời của chi bộ Ngã Tư và phong trào yêu nước theo
đường lối cách mạng mới đã tạo ra bước chuyển mới về nhận thức và hành động của nhân
dân vùng đất Mang Thít trên con đường đấu tranh chống thực dân Pháp.
1.3.2. Hình thành các tổ chức Cộng sản ở Mang Thít lãnh đạo nhân dân đấu tranh
Đáp ứng đòi hỏi của phong trào cách mạng Việt Nam trong tình hình mới, từ ngày 6
tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản diễn ra ở Cửu
Long (Hương Cảng). Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập.
Sau hội nghị, việc thành lập Đảng cộng sản ở các địa phương được tiến hành rất khẩn
trương. Trên cơ sở các tổ chức cộng sản đã có, tháng 3 năm 1930 Châu Văn Liêm (Ủy viên
Xứ ủy Nam Kỳ) về Ngã Tư tổ chức hội nghị chuyển các chi bộ An Nam Cộng sản thành các
chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam. Chi bộ Ngã Tư Long Hồ tiến hành phát triển đảng viên,
lãnh đạo nhân dân ở các làng xung quanh đấu tranh. Chi bộ đã tổ chức nhiều cuộc diễn
thuyết, miting cắm cờ ở các làng Chánh Hội, Nhơn Phú, Long Phước Tây, Tân An Hội kêu
gọi nhân dân đứng lên đấu tranh chống đế quốc.
Năm 1931, quận ủy Châu Thành được thành lập, tổ chức đảng phát triển xuống các
làng: một chi bộ ở Long Mỹ, một chi bộ ở Long Phước Tây, một chi bộ ở Bình Tịnh (chi bộ
này hoạt động sang khu vực Mỹ An, Phú Phụng),… Tháng 5 năm 1931, các chi bộ Đảng tổ
chức công nhân các lò gạch ở Sơn Đông, An Hương đấu tranh đòi tăng tiền công buộc các
chủ lò phải nhượng bộ.
Ở Long Phước, Long Phước Tây (xã Bình Phước) chi bộ tổ chức miting tại Giồng Mồ
Côi (vườn ông Bầu Lự) tố cáo tội ác, sự bóc lột hà khắc của thực dân Pháp, kêu gọi nhân dân
đấu tranh giành độc lập dân tộc, ruộng đất cho dân cày có gần 300 người tham dự. Sau đó chi
bộ tiếp tục tổ chức miting tại đình làng ấp Phước Chí khoảng 500 người tham dự, tổ chức
miting tại Phước Tường gần 600 người tham dự. Sau buổi miting tổ chức biểu tình, nhân dân
hô khẩu hiệu, đốt đuốc sáng rực một vùng làm bọn lính sợ không dám vào giải tán.
Ở An Phước, có Lê Văn Vảng, Phan Văn San tổ chức nhân dân mở vựa lúa của phủ
Trinh chia cho dân nghèo. Các ông Lê Văn Vinh, Tư Chấn tổ chức diễn thuyết kêu gọi đấu
tranh đòi giảm tô thuế, diễn thuyết ở Hòa Phú, Đìa Môn. Tại Phước Thủy, ông Hai Minh
Thẹo tổ chức người bắt xã Chẩn, lấy con dấu đóng vào bài thuế cho dân nghèo, sau đó ông bị
địch bắt đày đi Côn Đảo.
Trước tình hình trên, thực dân Pháp khủng bố, đàn áp các cuộc đấu tranh, tung mật
thám theo dõi, đánh phá các chi bộ cộng sản. Đến năm 1933, ở các làng Long Phước, Bình
Tịnh, Long Mỹ các chi bộ gần như tan rã, một số bị giết, bị tù, một số phải nằm yên hoặc bỏ
qua địa bàn khác né tránh. Ở An Hội, địch truy tìm gắt gao những người tham gia nhóm
“Cộng sản Ràn Dừa” nên các ông Trương Hoàng Ngự, Trương Như Thụy phải đứng ra thành
lập thánh tịnh Ngọc Sơn Quang để tránh sự dòm ngó của địch. Do thực dân Pháp tăng cường
“khủng bố trắng”, lực lượng bị tổn thất nghiêm trọng, nhiều cơ sở Đàng bị vây ráp nên Tỉnh
ủy phải dời qua Cần Thơ, phong trào tạm lắng.
Tuy kẻ thù đàn áp dã man, các tổ chức Cộng sản bị thiệt hại lớn nhưng đã nhanh chóng
khôi phục, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân
tộc. Từ năm 1934 - 1935, các tổ chức Đảng ở tỉnh được khôi phục, trở về móc nối cơ sở hoạt
động. Một số cán bộ bị bắt, bị đày đã tìm cách thoát khỏi nhà tù về gây dựng cơ sở hoạt động
vừa công khai vừa bí mật như Đào Kiến Liêm, Nguyễn Văn Thiệt,... tích cực chuẩn bị cho
một giai đoạn phát triển mới của cách mạng.
1.3.3. Từ cao trào dân chủ 1936 - 1939 đến cách mạng tháng 8 năm 1945
Năm 1936, Mặt trận bình dân Pháp thắng cử, ban hành một số chính sách tiến bộ: ân xá
tù chính trị, lập các ủy ban điều tra thuộc địa, cử một phái bộ sang điều tra Đông Dương. Vì
vậy, Trung ương Đảng đề ra chủ trương thành lập Mặt trận Đông Dương tập hợp mọi lực
lượng dân chủ tiến bộ chống phản động, triệu tập Đông Dương đại hội thảo luận đưa “dân
nguyện” gởi Ban điều tra thuộc địa của chính phủ Pháp. Các địa phương khẩn trương thành
lập Ủy ban hành động tập hợp dân nguyện của quần chúng và chọn đại biểu tham dự Đông
Dương đại hội. Chủ trương của Đảng là triệt để lợi dụng khả năng hợp pháp để tuyên truyền
giác ngộ, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng bảo vệ quyền lợi dân nghèo thông
qua các hội tương tế, hội ái hữu, hội phụ nữ dân chủ,…
Ở Ngã Tư Long Hồ, ủy ban hành động lập trụ sở tại chợ Ngã Tư, tổ chức miting thu
thập nguyện vọng của nhân dân, viết bản dân nguyện đòi tự do, dân chủ, cải thiện đời sống.
Đại biểu các làng về tham dự đông đảo: Long Hồ, Long An, Phước Hậu, Lộc Hòa, ba làng
của Mang Thít là Long Mỹ, Long Phước, Hòa Tịnh cũng về dự.
Cũng trong năm 1936, Quãng Trọng Hoàng (Liên Tỉnh ủy Cần Thơ) và Châu Văn Ký
(chi bộ Ngã Tư) về Chánh Hội, Chánh An thành lập tổ chức nông hội đỏ, tổ chức vận động
nhân dân đoàn kết, lập vạn dần đổi công, lập các hội hoan, hôn, tế, lễ. Đến năm 1938, Quãng
Trọng Hoàng thành lập tại đây một chi bộ Đảng do Nguyễn Lương Khuê làm bí thư. Bên
cạnh đó, từ Tam Bình, Phan Chỉ Huy về An Hội, Tân Long tổ chức xây dựng cơ sở. Các làng
Long Mỹ, Long Phước, Hòa Tịnh hoạt động dưới sự chỉ đạo của chi bộ Ngã Tư.
Trong hai năm 1937 - 1938, hạn hán gây thất mùa, các ủy ban hành động, các hội đoàn
đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh với địa chủ đòi để lại các khoản chi phí lúa giống, công gặt,
lúa đóng thuế thân. Năm 1938 công nhân các lò gạch Xương Ký, Đồng Thanh, Hòa Xương,
Hiệp Hưng đấu tranh đòi ngày làm việc 8 giờ, tăng tiền công,… Cuộc đấu tranh kéo dài gần
20 ngày (từ ngày 11 đến 28 tháng 12 năm 1938) buộc các chủ lò phải nhượng bộ.
Năm 1939, chính phủ bình dân Pháp sụp đổ, chính phủ tư sản phản động lên cầm quyền
thu hẹp các quyền tự do dân chủ đã ban hành. Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới thứ II
bùng nổ, thực dân Pháp ở Đông Dương một mặt tăng cường khủng bố đàn áp phong trào
cách mạng, một mặt ra sức vơ vét, bóc lột sức người, sức của phục vụ chiến tranh. Pháp thi
hành lệnh tổng động viên, bắt thanh niên đi lính đưa sang chiến trường Thái Lan làm bia đỡ
đạn. Trước tình hình đó, Xứ ủy Nam kì chủ trương khởi nghĩa cướp chính quyền.
Cuối tháng 7 năm 1940, Xứ ủy họp với Tỉnh ủy Vĩnh Long phổ biến chủ trương khởi
nghĩa với các nội dung:
- Tổ chức cổ động, miting treo băng cờ, rải truyền đơn để phát động tinh thần quần
chúng sẵn sàng khởi nghĩa.
- Tổ chức các đội du kích tập luyện võ nghệ, tập huấn chiến thuật du kích sẵn sàng
tác chiến.
- Chuẩn bị dao găm, giáo, mác, mìn,… sẵn sàng cung cấp cho khởi nghĩa vũ trang
[5:137].
Từ tháng 7 đến tháng 9, các địa phương sôi nổi chuẩn bị, truyền đơn, biểu ngữ, cờ đỏ
búa liềm xuất hiện khắp nơi. Ở Chánh Hội, phát động trong nhân dân phong trào treo cờ
Đảng được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng. Cờ đỏ búa liềm được cắm từ Mù U chạy vào đến
tận trung tâm xã, bọn làng lính lo sợ nên ba ngày sau Cai Hương mới dẫn lính đi tháo cờ
xuống. Phong trào cắm cờ từ Chánh Hội lan nhanh sang các xã Bình Phước, Mỹ An. Những
người lãnh đạo ở ba xã này đã kí giao ước thi đua phát động nhân dân cắm cờ dọc theo các
sông rạch từ Giồng Dài lên Bình Phước qua Mỹ An. Ở An Hội, vận động ông Phối sư
Nguyễn Văn Hoạch ở thánh tịnh Ngọc Sơn Quang may nhiều cờ đỏ búa liềm tổ chức nhân
dân cắm cờ ở nhiều nơi.
Tháng 9 năm 1940, Tỉnh ủy Vĩnh Long mở lớp đào tạo cán bộ và huấn luyện du kích
cho các quận, dạy các chiến thuật du kích, cách đặt mìn, phá cầu, đánh xe tăng, cách sử dụng
mật khẩu ban đêm,… Sau lớp huấn luyện, các quận làng bắt đầu hình thành các đội du kích
như Long Phước, Long Mỹ, Chánh Hội, An Phước. Lúc này, thực dân Pháp bắt đầu nhận
thấy không khí chuẩn bị khởi nghĩa nên tổ chức khủng bố, bao vây lùng bắt cán bộ, đảng
viên và quần chúng cách mạng. Một số cán bộ chủ chốt Xứ ủy, Tỉnh ủy bị bắt cùng với nhiều
tài liệu quan trọng trong kế hoạch Nam kì khởi nghĩa. Tuy tra tấn dã man những người bị
bắt, nhưng địch vẫn không thu thập được gì, vì vậy các tổ chức cơ sở Đảng của ta vẫn được
bảo toàn.
Cuối tháng 10 năm 1940, Tỉnh ủy Vĩnh Long họp kiểm điểm tình hình chuẩn bị khởi
nghĩa đã nhận định Châu Thành (bao gồm cả vùng Mang Thít ngày nay) là nơi có lực lượng
mạnh, Huyện ủy và các chi ủy đã kiện toàn, phong trào quần chúng phát triển rộng khắp, các
làng xã có chi bộ đều đã thành lập các đội du kích. Tỉnh ủy phân công Ngô Thị Huệ (phó bí
thư Tỉnh ủy) trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa ở Châu Thành và tỉnh lị Vĩnh Long. Mục tiêu khởi
nghĩa là giành chính quyền, lập chính quyền công nông binh theo hình thức Xô viết.
Tuy kế hoạch khởi nghĩa đã bị lộ từ trước nhưng do lệnh ngừng khởi nghĩa từ Ban chấp
hành trung ương Đảng không về kịp nên các địa phương vẫn tiến hành khởi nghĩa đúng theo
kế hoạch vào 12 giờ đêm 22 tháng 11 năm 1940. Thực dân Pháp đã chuẩn bị kế hoạch đối
phó với ta, tổ chức canh phòng cẩn mật, lính tập được ta tổ chức làm nội ứng bị tước hết
súng, thay lính canh gác bằng lính Pháp và lính lê dương. Chi bộ đặc biệt nhà tù không thực
hiện được phối hợp tác chiến với các lực lượng khác, lực lượng khởi nghĩa không tiến được
vào vào thị xã. Tình thế thay đổi, Ngô Thị Huệ đã chỉ huy khoảng 50 du kích quận Châu
Thành (có lực lượng các xã Long Phước, Bình Tịnh, Long Mỹ của Mang Thít) tấn công công
sở Ngã Tư, phá cầu Ông Me và cầu Ngã Tư. Lực lượng khởi nghĩa chiếm được nhà việc Ngã
Tư, đốt sổ sách giấy tờ, cắt đường dây điện thoại, đốn cây làm vật cản rồi rút về Rừng Dơi
(xã Phước Hậu). Sau đó phối hợp với lực lượng khởi nghĩa ở Chánh An, Phước Thủy, Chánh
Hội khoảng 40 người do Nguyễn Lương Khuê chỉ huy tấn công nhà việc Chánh Hội. Khoảng
20 giờ ta chiếm được nhà dây thép (bưu điện), cắt điện thoại, phá nhà dây thép xông vào
công sở làm chủ tình hình từ 21 giờ đến 24 giờ, thu được 2 súng. Khi chiếm được công sở
lực lượng khởi nghĩa đã thu và đốt toàn bộ giấy tờ văn khố. Trong đêm, ta đã tổ chức treo cờ,
rải truyền đơn ở An Phước, đến 8 giờ sáng bọn lính mới cho người tháo gỡ.
Sau khi cướp chính quyền ở Cái Nhum, lực lượng tỉnh, quận rút về Rừng Dơi, lực
lượng các làng tự giải tán, cán bộ rút về An Phước qua Vũng Liêm né tránh. Cuộc khởi nghĩa
Nam kì tuy giành thắng lợi ở một số nơi nhưng xét trên phạm vi toàn quận không thành
công. Địch tập trung lực lượng đối phó, phần lớn lực lượng Châu Thành bị vây bắt ở Rừng
Dơi, địch thực hiện khủng bố trắng. Một số đảng viên còn lại phải né tránh sang địa bàn
khác, phong trào tạm lắng xuống. Ở An Hội, Pháp bắt được Phan Chỉ Huy tra tấn dã man và
đày đi Côn Đảo. Địch còn bắt một số người trong đạo Cao Đài Tiên Thiên ỏ Thánh tịnh
Ngọc Sơn Quang bị nghi tham gia Nam kì khởi nghĩa và cho niêm phong thánh tịnh.
Tuy khởi nghĩa Nam kì không đạt kết quả như kế hoạch đề ra nhưng cuộc khởi nghĩa
này mang ý nghĩa chính trị, tinh thần to lớn. Biểu hiện sức mạnh quật khởi và tinh thần
chiến đấu ngoan cường của nhân dân và các đảng viên Đảng cộng sản, là cuộc tập dợt chuẩn
bị cho các cao trào cách mạng sau này.
Sau khởi nghĩa Nam kì, thực dân Pháp thực hiện khủng bố trắng, kéo dài các cuộc bắt
bớ đến năm 1942. Bọn địa chủ quan làng dựa vào đó hạch sách nhân dân, trả thù cá nhân,
đời sống nhân dân hết sức thống khổ. Pháp thực hiện nhiều biện pháp để nắm chặt nông
thôn, cho nhập các làng thành xã. Nhập Mỹ Điền, An Hương thành xã Mỹ An, các làng
Phước Thủy, Chánh An thành xã An Phước, các làng Bình Tịnh, Bình Hòa thành xã Hòa
Tịnh, các làng Long Phước, Long Phước Tây thành xã Bình Phước, các làng Tân Long, An
Hội thành xã Tân Long Hội, còn các xã khác thì giữ nguyên. Pháp cho thay đổi bộ máy tề xã,
đưa một số Tây có học hoặc những người có thành tích đàn áp nhân dân vào các hội tề, tổ
chức đội mật thám hoạt động ngày đêm. Pháp còn bắt nhân dân làm xâu mở đường, khai
thông kênh rạch, xây dựng lại Cầu Mới trên tỉnh lộ 7, sửa lộ 31 dọc sông Cổ Chiên, đắp các
lộ từ Cái Kè qua Nhơn Phú, Cái Nhum, từ Hòa Tịnh qua Mỹ An, đào kinh Cai Ngộ (ở Mỹ
An), kinh Mới ở Chánh An. Song song đó Pháp tổ chức nhiều hội đoàn chống cách mạng,
đầu độc tinh thần và thể chất thanh niên bằng thuốc phiện, mại dâm.
Tháng 3 năm 1941, một số cán bộ bị đày ở Bà Rá - Tà Lài vượt ngục trở về gây dựng
lại cơ sở. Nguyễn Văn Minh (còn gọi là Minh Thẹo) quê ở Mỹ An về các xã Mỹ An, Nhơn
Phú, Hòa Tịnh, An Phước móc ráp cơ sở, phát triển lực lượng. Cuối năm 1943, Phạm Văn
Kim cũng vượt ngục Bà Rá trở về liên lạc với Nguyễn Văn Minh xây dựng lại cơ sở ở dọc
tuyến sông Cổ Chiên. Việc gây dựng lại cơ sở, chi bộ Đảng rất khó khăn vì địch vẫn còn
khủng bố rất gắt gao. Tháng 2 năm 1944, Phạm Văn Kim và Nguyễn Văn Minh đã tổ chức
được 1 chi bộ (gồm 3 đảng viên) ở Mỹ An. Các đảng viên đã tổ chức và củng cố lại công hội
ở các lò gạch. Các tổ chức hội ái hữu, hội tương tế,… hình thành và phát triển. Đến tháng 5
năm 1944, phát triển thêm một chi bộ ở Long Đức Đông. Từ đó số đảng viên ở các xã phát
triển nhanh chóng, nhiều nơi cũng lập được chi bộ. Tháng 11 năm 1944, Phạm Văn Kim và
Nguyễn Văn Minh liên lạc được với Bí thư Xứ ủy lâm thời Trần Văn Giàu nhận tài liệu (báo
Tiền phong) về tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân đấu tranh, từng bước đưa phong
trào cách mạng đi lên, phong trào đấu tranh của công nhân cũng được phục hồi. Công nhân ở
các lò gạch Nam Xương, Chú Châu, Biện Mạnh đấu tranh đòi tăng tiền công 10% cũng
giành được kết quả tốt, các chủ lò phải nhượng bộ. Thánh tịnh Ngọc Sơn Quang bị niêm
phong sau khởi nghĩa Nam Kì được hai ông Năm Mịnh, Nguyễn Văn Giỏi phá niêm phong
mở cửa hoạt động, trở thành nơi vừa tịnh tu vừa tập hợp đồng đạo, tín đồ chuẩn bị tham gia
khởi nghĩa.
Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp nhưng chúng chỉ lập lại bộ máy cai trị ở cấp
tỉnh, còn ở quận, xã vẫn duy trì bộ máy tề cũ (bọn này rất hoang mang, rệu rã). Khi Nhật cho
thành lập tổ chức Thanh niên tiền phong, Mặt trận Việt Minh đã chủ trương lợi dụng tổ chức
này đưa người của ta vào nắm giữ để sẵn sàng huy động lực lượng cướp chính quyền. Ta đưa
vào ban lãnh đạo Thanh niên tiền phong các xã những thành phần tốt chịu ảnh hưởng của tư
tưởng tiến bộ lãnh đạo như Đỗ Văn Bền, Trần Văn Sen, Nguyễn Văn Quắn (ở Tân Long
Hội), Nguyễn Văn Giỏi (ở Chánh Hội). Thanh niên tiền phong đã tổ chức nhiều cuộc diễn
thuyết công khai, vừa đẩy mạnh công tác binh vận lấy vũ khí của địch vừa tích cực rèn đúc
vũ khí tự trang bị cho mình chuẩn bị cướp chính quyền.
Ngày 14 tháng 8 năm 1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, quân Nhật ở Vĩnh Long
hoang mang. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Thanh niên Tiền phong ở tỉnh lị, quận Châu Thành
tổ chức biểu tình thu hút hơn 1.000 người tham gia, khí thế sôi sục của đoàn biểu tình làm
bọn đich sợ hãi án binh bất động. Cuộc biểu tình đã làm nức lòng nhân dân toàn tỉnh và các
vùng lân cận.
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Quốc dân đại hội ở Tân Trào
quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân Đồng minh
vào Đông Dương. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, tổng khởi nghĩa ở Hà Nội giành thắng lợi.
Ngày 20 tháng 8 năm 1945, Xứ ủy Nam kì quyết định đưa Mặt trận Việt Minh ra hoạt động
công khai, thành lập Ban lãnh đạo khởi nghĩa, “quyết định khởi nghĩa ở Sài Gòn và các tỉnh
vào ngày 25 tháng 8” [63:368].
Hưởng ứng chủ trương của Xứ ủy, ngày 23 tháng 8 năm 1945, Mặt trận Việt Minh tỉnh
Vĩnh Long kêu gọi toàn dân vùng lên tổng khởi nghĩa. Nhân dân khắp các quận làng phấn
khởi chuẩn bị, chính quyền và binh lính địch hoang mang, một số hội tề đã bắt liên lạc với
các tổ chức cách mạng địa phương. Đúng 7 giờ ngày 25 tháng 8 năm 1945, hàng vạn quần
chúng cùng với Thanh niên tiền phong các xã vùng Mang Thít kéo về Ngã Tư phối hợp với
các xã khác của Châu Thành cướp chính quyền ở Ngã Tư, sau đó tiến thẳng ra thị xã với cờ
đỏ búa liềm, cờ đỏ sao vàng, giương cao các khẩu hiệu “ Việt Nam độc lập muôn năm”,
“Việt Minh muôn năm”,… Tỉnh trưởng Vĩnh Long là Lương Khắc Nhạc hạ vũ khí, giao
chính quyền cho cách mạng lúc 10 giờ ngày 25 tháng 8 năm 1945.
Việc cướp chính quyền ở các xã vùng Mang Thít không gặp bất kì khó khăn nào. Hội tề
một số nơi đã bỏ trốn, một số khác đã tham gia vào Thanh niên Tiền phong nên khi đoàn
biểu tình kéo đến trụ sở tất cả đều từ chức giao chính quyền cho nhân dân. Ở Cái Nhum,
quân khởi nghĩa tuần hành quanh các chợ, các viên chức cũ như Nguyễn Văn Giỏi, Mai Văn
Liễu đều hợp tác với quân khởi nghĩa nên việc giành chính quyền diễn ra êm thấm.
Như vậy, sau 78 năm (1867-1945) sống dưới ách đô hộ của bọn thực dân xâm lược,
chịu sự hà hiếp của bọn tay sai, từ trong đói nghèo, cơ cực nhân dân Mang Thít nói riêng và
nhân dân Vĩnh Long nói chung đã vượt qua bao nhiêu gian khổ hi sinh đã cùng cả nước đứng
lên thực hiện một cuộc tổng khởi nghĩa thần kì, đánh đổ bọn thực dân phong kiến giành
chính quyền, bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do.
1.3.4. Tình hình Mang Thít sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước năm 1947
Sau khi cách mạng thành công, ta tiến lên xây dựng chính quyền nhân dân. Theo chủ
trương chung, địa giới hành chánh vẫn giữ như cũ (vùng đất Mang Thít vẫn thuộc quận Châu
Thành). Nhân sự chính quyền lúc đầu chủ yếu dựa vào các vị có chức sắc, có học thức trước
đây, sử dụng nhiều người trong chính quyền cũ. Trong lãnh đạo lúc đầu còn xảy ra nhiều sự
việc bất đồng giữa Việt Minh cũ và Việt Minh mới nhưng dần dần đã khắc phục được tình
trạng này.
Theo chủ trương chung, ta tiến hành xóa bỏ thuế thân và các thứ thuế phi lý khác, phổ
biến và thực hiện đúng theo 10 chính sách của Việt Minh, đồng thời tiến hành 3 nhiệm vụ
chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.
Việc chống giặc đói được kết hợp với thực hiện các chính sách ruộng đất đối với nông
dân. Chính quyền chủ trương khai hoang phục hóa, chăm lo sản xuất, vận động giảm tô,
giảm tức, nhường cơm xẻ áo, vận động các địa chủ khai vựa lúa bán cho dân nghèo hoặc
nhân dân vay với lãi suất thấp để cứu đói. Một mặt vận động nhân dân tích cực trồng các loại
rau màu, cây lương thực ngắn ngày như đậu, bắp, khoai,... để ổn định cuộc sống.
Đối với giặc dốt, chính quyền cho mở ngay các lớp bình dân học vụ, mở trường tiểu ở
các làng, ban ngày thì các em nhỏ đến trường, ban đêm người lớn đi học bình dân học vụ.
Phong trào bình dân học vụ phát triển mạnh được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng nhiệt
tình.
Trên mặt trận chống ngoại xâm ta xây dựng và củng cố các lực lượng bảo vệ thành quả
cách mạng. Thực hiện vũ trang nhân dân, đoàn viên, các đoàn thể cứu quốc ai cũng tự chuẩn
bị cho mình một loại vũ khí để đánh giặc. Phong trào tự trang bị vũ khí, luyện tập quân sự
trở thành phong trào sôi nổi. Các làng đều tổ chức các đội dân quân chủ yếu là thanh niên
thường xuyên luyện tập và được huấn luyện. Ở khu vực thánh tịnh Ngọc Sơn Quang (Tân
Long Hội) cũng tổ chức Thanh niên đạo đức đoàn luyện tập hàng ngày. Trang bị cho các đội
dân quân chủ yếu là giáo, mác, gậy gộc. Song song với việc xây dựng chính quyền và dân
quân, ta cũng thành lập các cơ quan quốc gia tự vệ từ quận đến làng xã. Các đơn vị quốc gia
tự vệ tích cực hoạt động trấn áp các phần tử phá hoại giữ gìn an ninh xóm ấp.
Có thể nói, chính quyền mới thành lập đã thực hiện nhiều biện pháp đưa đời sống nhân
dân và bộ mặt nông thôn phát triển. Tuy chính quyền mới non trẻ còn nhiều khuyết điểm, va
vấp nhưng đã nhanh chóng khắc phục sai sót và được nhân dân thông cảm, ủng hộ.
Tuy nhiên, những ngày tháng độc lập chưa được bao lâu, thì ngày 23 tháng 9 năm 1945,
thực dân Pháp gây hấn quay lại xâm lược nước ta lần nữa. Tiếng súng Nam bộ kháng chiến
bùng nổ ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Xứ ủy thành lập Ủy ban kháng chiến Nam bộ do Trần Văn
Giàu làm chủ tịch, hạ lệnh tổng đình công, bất hợp tác với giặc Pháp và truyền đi các tỉnh
miền Tây thực hiện kế hoạch phá hoại đường giao thông, tiếp tế để bao vây quân địch.
Thực hiện chủ trương của Xứ ủy, tháng 10 năm 1945 Tỉnh ủy chỉ thị thành lập Ủy ban
kháng chiến các cấp chăm lo xây dựng lực lượng chuẩn bị kháng chiến. Nguyễn Văn Thiệt
(bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long, chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh) và Trần Văn Lợn (chỉ huy
trưởng ban chỉ huy quân sự tỉnh) trực tiếp về Cái Nhum thành lập Ủy ban kháng chiến giao
cho Đỗ Văn Nhậm làm chủ tịch, Mai Văn Liễu làm tham mưu trưởng phụ trách quốc gia tự
vệ cuộc và lực lượng cảm tử quân. Lực lượng có khoảng một trung đội trang bị 2 súng
trường, 4 súng lửa còn lại là dao găm, kiếm… Các cán bộ lãnh đạo đi vận động nhân dân tiêu
thổ kháng chiến: khi giặc Pháp đến thì tản cư, thực hiện vườn không nhà trống, những công
trình kiến trúc lớn giặc có thể lấy làm đồn thì tháo dỡ hoặc đập bỏ. Ở Nhơn Phú, vận động
linh mục Châu không để cho giặc lấy nhà thờ và nhà của linh mục làm đồn. Ta tiến hành đào
phá các con lộ để ngăn chặn giao thông của địch. “Trên lộ 31, ta phá sập cầu Cái Lóc, cầu
Mỹ An, dùng cây sóc cản ở các vàm Cái Lóc, Mỹ An, kinh Thầy Cai, Cái Kè. Trên lộ 32 ta
gỡ hết các ván cầu, đào phá lộ, trên sông Mang Thít nhân dân đóng góp những thân dừa cao
sóc cản hàng trăm cọc ở vàm Mang Thít. Trên mỗi cọc treo một bó rơm, lực lượng cảm tử
chuẩn bị bè rơm, ống thụt nhớt để đánh tàu giặc” [15:67].
Ngày 29 tháng 10 năm 1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Vĩnh Long. Bộ đội tỉnh,
dân quân Châu Thành và các làng phối hợp chiến đấu, liên tục lập các trận địa ngăn giặc. Vì
vậy, hơn hai tháng địch chỉ mới lấn ra khỏi thị xã. Ủy ban hành chánh của tỉnh rút về Mỹ An,
Cái Kè sau đó lánh qua Chợ Lách. Do lực lượng ít nên Pháp chỉ chiếm đóng tỉnh lị, quận lị,
vùng nông thôn ta vẫn làm chủ.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa được tiến hành trên cả nước. “Hầu hết các làng của Mang Thít chưa bị địch chiếm
đóng nên cuộc bầu cử diễn ra thuận lợi, dân chủ, nhân dân tham gia rất tích cực, thực sự là
ngày hội của toàn dân, số cử tri đi bầu cử đạt trên 90%” [15:68]
Đến giữa tháng 1 năm 1946, Pháp dùng tàu đổ quân và bộ binh từ Ngã Tư xuống tấn
công Cái Nhum. Khi tàu Pháp tới vàm sông Mang Thít, du kích châm lửa đốt các bó rơm
treo trên cọc, đồng thời du kích phục hai bên bờ dùng ống thụt nhớt, súng lửa đánh tàu vì thế
chúng không tiến lên được. Tuy nhiên, sau khi rơm cháy hết, địch tiến vào phá cọc, vượt qua
rào cản vào sông Mang Thít đánh chiếm chợ Cái Nhum. Do vũ khí của ta quá ít, thô sơ nên
địch nhanh chóng chiếm được Cái Nhum và đóng đồn ngay tại chợ. Cán bộ du kích phải lùi
về đóng tại nhà thờ họ Nguyễn ở ấp 4 (xã Chánh Hội), lập phòng tuyến ngang doi Cái Bát.
Sau một thời gian, địch tiếp tục đánh lấn ra phá vỡ trận địa của ta ở Cái Bát, tiến chiếm Nhơn
Phú và đóng đồn ngay tại nhà thờ Nhơn Phú. Trên lộ 31, Pháp lấn xuống đánh chiếm Mỹ An
và cũng đóng đồn ngay tại chợ Mỹ An. Trên liên tỉnh lộ 7, địch chiếm nhà ông Tám Dính (ấp
Cầu Ván, xã Tân Long Hội) đóng đồn. Một đơn vị Âu Phi của địch chiếm và đóng đồn ở
Ngã Tư, tiến hành tổ chức lại các tề, ngụy ở Ngã Tư. Tổ chức tề có tên hương quản Xệ, nổi
tiếng ác ôn khống chế cả vùng Bình Phước, Hòa Tịnh, Long Mỹ. Đồn Ngã Tư chỉ huy cả bót
Cái Nhum, Nhơn Phú, Mỹ An, Long Hiệp.
Địa bàn của ta liên tục bị mất, cán bộ tỉnh rút về Cái Nhum, cán bộ làng ở Cái Nhum
buộc phải lánh qua Chợ Lách, một số chao đảo đã ra hàng giặc. Từ Chợ Lách, ta vẫn thường
tổ chức lực lượng về địa phương đánh địch. Ngày 1 tháng 2 năm 1946, đội cảm tử quân Bình
Hòa Phước kết hợp đội cảm tử Mỹ An với lực lượng khoảng 30 người tiến công đồn Mỹ An.
“Địch đánh trả quyết liệt, ta hy sinh hai chiến sĩ, địch chết và bị thương 5 tên” [38:54]. Tuy
rất cố gắng nhưng ta không chiếm được đồn buộc phải rút lui. Dù vậy trận đánh này cũng đã
gây tiếng vang lớn trong nhân dân. Đến ngày 5 tháng 2 năm 1946, đội cảm tử quân Chánh
Hội phối hợp vệ quốc đoàn Chợ Lách tấn công đồn Chợ Lách. Trận đánh diễn ra ác liệt, ta
bao vây tấn công từ 0 giờ đến 5 giờ, bọn lính rút bỏ đồn nhưng đến sáng binh lính địch ở
Vĩnh Long xuống tiếp viện lấy lại đồn. Một đội viên đội cảm tử Chánh Hội là Lê Văn Lưu hi
sinh.
Ngày 15 tháng 2 năm 1946, đội cảm tử quân Chánh Hội, An Phước phối hợp với bộ đội
Nguyễn Bá Dzung vượt sông Cổ Chiên về đánh đồn Cái Nhum. Ta bao vây liên tục công phá
đồn từ 23 giờ đêm đến 5 giờ sáng, địch trong đồn cố thủ nên ta không chiếm được đồn chỉ
đốt một dãy nhà ăn rồi rút quân.
Mặc dù ta tổ chức nhiều đợt tấn công địch ở nhiều nơi nhưng vẫn không đạt kết quả như
mong muốn. Đến cuối tháng 2 năm 1946, Pháp đã lấn chiếm các vùng Chợ Lách, Cái Mơn,
ta mất địa bàn đứng chân. Cán bộ tỉnh quận phân tán, cán bộ làng cũng phân tán, lực lượng
cảm tử tự giải tán lần lượt về địa phương hòa nhập vào dân mốc nối gây dựng lại cơ sở.
Đoàn cán bộ tỉnh được đưa về bám vùng Mỹ An, trên đường đi gặp địch càn quét, hai giao
liên dẫn đường là Mạnh và Liệt hy sinh. Đoàn cán bộ phải lánh vào chòi của dân, lò gạch
nhưng do xã Xệ thường xuyên đi ruồng bố nên không bám trụ được.
Sau một thời gian lấn chiếm, địch đã lập được hệ thống đồn bót bao bọc theo trục giao
thông, cơ bản đã chiếm được vùng Mang Thít. Địch tổ chức tề ngụy đàn áp kháng chiến,
khủng bố bóc lột nhân dân, vơ vét sức người, sức của phục vụ chiến tranh. Thực dân Pháp
âm mưu tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam, chúng thành lập chính phủ Nam kì tự trị, dùng chiêu
bài quốc gia giả hiệu lừa bịp quần chúng nhân dân.
Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kí với Pháp Hiệp
định sơ bộ. Dựa vào pháp lý Hiệp định sơ bộ, ta lần lượt khôi phục phong trào. Một số cán
bộ ở tỉnh về các địa phương bám địa bàn gây dựng lại cơ sở. Trần Đình Ngự (ở Tân Long
Hội) liên lạc với Lê Thanh Vân (ở Tam Bình) trở về gây dựng cơ sở ở Tân Long Hội. Huỳnh
Bửu Vân một chiến sĩ cảm tử ở Chánh Hội cũng bắt liên lạc với Lê Thanh Vân bàn cách gây
dựng cơ sở ở Chánh Hội. Do vậy 2 làng Chánh Hội, Tân Long Hội chịu sự lãnh đạo của
Huyện ủy Tam Bình. Trong khi đó Nguyễn Lương Khuê (Ba Khuê) từ Vũng Liêm về An
Phước bám trụ, lập lại Mặt trận Việt Minh nên An Phước chịu sự lãnh đạo của Huyện ủy
Vũng Liêm.
Tháng 6 năm 1946, Tỉnh ủy Vĩnh Long bàn giao 6 xã vùng dưới của Chợ Lách (lúc này
huyện Chợ Lách thuộc Vĩnh Long) cho huyện Mỏ Cày (tỉnh Bến Tre), các xã vùng trên và
vùng ven nam sông Cổ Chiên giao về cho huyện Châu Thành. Các xã còn lại của Mang Thít
là An Phước, Long Mỹ, Mỹ An, Nhơn Phú, Hòa Tịnh, Bình Phước thuộc về quận Châu
Thành. Như vậy, năm 1946 vùng đất Mang Thít thuộc quyền quản lí của ba quận Tam Bình,
Vũng Liêm, Châu Thành.
Mặt trận Việt Minh, Ủy ban kháng chiến và các cơ quan của quận Châu Thành chủ yếu
đứng chân ở vùng Long Mỹ, Hòa Tịnh, Bình Phước. Sau khi thành lập chính quyền quận,
các xã cũng hình thành lại chính quyền nhưng chưa đồng bộ. Lực lượng của quận chủ yếu là
cán bộ, vài chiến sĩ đội trừ gian, dân quân tập trung, chưa hình thành bộ đội, du kích. Mặt
trận Việt Minh và chính quyền quận chủ trương diệt ác, phá tề, trừ gian, xây dựng lực lượng
kháng chiến.
Thực hiện chủ trương của quận, ở Tân Long Hội bắt được 4 tên tề ngụy nhưng những
tên này không ác ôn, không gây nợ máu với nhân dân ta không giết chỉ giáo dục buộc cam
kết rồi tha về. Cách làm này được lãnh đạo cấp trên nhìn nhận là cách làm đúng được nhân
rộng ra nhiều nơi. Các nơi phá tề chủ yếu là gởi thư hoặc đến gặp trực tiếp giáo dục, buộc
phải cam kết không làm tề cho giặc Pháp. Nếu ai không chấp hành bộ đội, đội trừ gian sẽ
trừng trị. Và trong một thời gian ngắn ta đã giải tán tề ngụy ở hầu hết các làng, một số tề trở
về tham gia kháng chiến như bộ Dương ở Bình Phước, hương quản Phi ở Mỹ An.
Ở Bình Phước, hương quản Xệ dựa vào bót Ngã Tư liên tiếp gây tội ác. Ngày 23 tháng
7 năm 1946, Xệ đã cho bắt và giết Bộ Dương (tề ngụy vừa về với cách mạng) chém đầu tại
Ngã Tư, cho người đốt nhà và bắt gia đình một cán bộ của ta là Đào Văn Nhan giam giữ
buộc cán bộ này phải ra đầu thú. Hương quản Xệ đã gây hàng chục vụ bắt bớ, giam cầm, giết
người. Vì vậy Ủy ban hành chánh quận Châu Thành đã mở phiên tòa kết án tử hình Xệ và
giao cho đội trừ gian thi hành bản án. Sau nhiều lần phục kích, tháng 9 năm 1946, đội trừ
gian do Bảy Giai chỉ huy đã diệt được tên Xệ tại ngã ba kinh xã Hòa Tịnh thu một súng mút.
Sau đó, hương quản Lộc được đưa lên thay vẫn tiếp tục gây tội ác, đội trừ gian tiếp tục phục
kích diệt tên Lộc nhưng không thành. Tháng 11 năm 1946, hai ông Chín Khấu và Hai Kiệt tổ
chức đâm tên Lộc trên chuyến xe ngựa từ Long Hồ ra cầu Ông Me nhưng hắn chỉ bị thương
và mất khẩu súng mút và từ đó, tên Lộc bỏ đi biệt xứ. Vụ việc của tên Xệ và Lộc đã gây thối
động lớn trong hàng ngũ tề ngụy, tề ở các làng đều tan rã, vùng nông thôn Mang Thít cơ bản
được giải phóng.
Phong trào đấu tranh lên mạnh, lực lượng phát triển đòi hỏi phải trang bị vũ khí chiến
đấu nhưng vũ khí được cấp quá ít thậm chí là không có, vì vậy ở các địa phương thực hiện
cướp vũ khí của địch để trang bị cho mình. Nắm được tin ở đồn Tân Phong địch đóng đồn
với 6 lính được trang bị 6 súng nên ngày 11 tháng 8 năm 1946 từ Long Mỹ, Hòa Tịnh 6
chiến sĩ do Bảy Giai chỉ huy vượt sông Tiền giả làm dân xâu vào đồn khống chế và bắt trói 4
lính làm chủ đồn, thu một súng trung liên, một Mitraillette, 4 súng trường, 10 thùng đạn. Số
vũ khí này chủ yếu trang bị cho lực lượng quận Châu Thành. Tháng 9 năm 1946, cán bộ và
du kích xã Tân Long Hội, An Long, Hòa Hiệp phối hợp phục kích bọn lính đồn Tám Dính ở
Tân Long Hội trên đường đi chợ Gò Ân về diệt 3 tên, thu được ba súng chia đều cho ba xã.
Sau việc này, địch khủng bố đốt chợ Gò Ân và rút bỏ đồn Tám Dính sang đóng đồn ở Cầu
Mới. Nhờ đó, ở Tân Long Hội không còn đồn giặc.
Ngày 14 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí với Chính phủ Pháp Tạm ước
Phông-tê-nơ-lô (Tạm ước 14/9). Tranh thủ tạm ước, ta ra sức củng cố lại các cơ quan, đoàn
thể, kiện toàn bộ máy chính quyền quận, tập trung xây dựng lực lượng kháng chiến. Nhân
dân các làng ở Mang Thít tham gia biểu tình, đấu tranh đòi địch thả những người bị bắt, tiếp
tục vận động phá rả tề ở các vùng địch mới lập. Tuy nhiên Pháp không thực hiện đúng tinh
thần của Tạm ước, sau ngừng bắn vài ngày địch bắt đầu thực hiện hành quân càn quét.
Khoảng một tháng địch tổ chức hành quân càn quét vào Mang Thít một lần cướp từ lúa gạo,
trâu bò, cưỡng bức phụ nữ,… Bộ đội, du kích của ta phải tổ chức nhiều lần đánh trả địch mới
dừng càn quét.
Ngày 15 tháng 12 năm 1946, phát hiện bộ đội tỉnh tập trung ở Bình Phước, Pháp đã huy
động lực lượng lớn với 2 đại đội Âu Phi có máy bay khu trục và pháo binh ở Ngã Tư yểm trợ
hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng của ta. Bộ đội trung đội 6 của Chi đội 20 do
Cao Ngọc Quế và Nguyễn Khánh Tường chỉ huy phối hợp với du kích các xã Bình Phước,
Tân Long Hội, Chánh Hội tổ chức phục kích tại cầu Cái Sao (tỉnh lộ 32) tiêu diệt 2 xe, bắn bị
thương 2 xe khác. Địch chết và bị thương 40 tên trong đó trung úy Lecheau (Lơ-sô) đại đội
trưởng Pháp bị giết, đại úy trùm mật thám Savani chỉ huy phân khu Vĩnh Long bị thương. Ta
thu trên 30 súng các loại đem về triển lãm tại nhà ông Lê Văn Tẹn (Chánh Hội), nhân dân rất
phấn khởi. Sau trận Cái Sao vài ngày, bộ đội và du kích về phục kích bọn lính Tây ở Cái
Nhum đi cướp phá tại doi Cái Bát, diệt được một tên, thu một chiếc ghe làm cho nhân dân
càng thêm tin tưởng vào công cuộc kháng chiến của ta.
Pháp quyết tâm chiếm nước ta lần nữa, liên tục có nhiều hành động khiêu khích, chống
phá. Không thể chịu đựng lâu hơn, ngày 19 tháng 12 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Từ đó, nhân dân Mang Thít và nhân dân cả nước đã bước
vào một cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ chống kẻ thù xâm lược.
*****
Cũng như tất cả nhân dân Việt Nam, nhân dân Mang Thít có truyền thống yêu nước
chống ngoại xâm rất lâu đời. Khi mới đến vùng đất này, nhân dân đã đoàn kết chống quân
xâm lược Xiêm bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền đất nước. Khi thực dân Pháp xâm lược, đặt ách
thống trị ở Mang Thít, nhân dân Mang Thít đã tích cực tham gia vào các tổ chức yêu nước
chống Pháp nhưng do thiếu đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn nên những
phong trào yêu nước đều thất bại. Đây là thời kì khủng hoảng về đường lối cách mạng của
cách mạng Mang Thít nói riêng và cách mạng Việt Nam nói chung. Đến khi chủ nghĩa Mác -
Lênin được truyền bá vào nước ta và truyền về Mang Thít, Đảng cộng sản được thành lập thì
phong trào đấu tranh cách mạng ở Mang Thít bước sang trang mới. Phong trào cách mạng ở
Mang Thít có đường lối lãnh đạo đúng đắn, tập hợp được đông đảo các tầng lớp, giai cấp
tham gia, từ yếu phát triển lên mạnh vượt qua những khó khăn, thử thách, đánh đổ bọn thực
dân phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Tuy nhiên, những ngày độc lập thật ngắn
ngủi bởi ngay sau đó Pháp đã quay lại xâm lược nước ta. Trong điều kiện khó khăn và thiếu
thốn về nhiều mặt, nhân dân Mang Thít một lần nữa với ý chí bất khuất, quật cường, chấp
nhận mọi hi sinh, mất mát đứng lên đấu tranh bảo vệ chính quyền non trẻ vừa giành được .
Chương 2: HUYỆN MANG THÍT TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP ( 1947- 1954)
2.1. Những năm đầu kháng chiến chống Pháp
2.1.1. Gây dựng lại cơ sở cách mạng cùng toàn quốc kháng chiến
Đầu năm 1947, Tỉnh ủy tách quận Châu Thành làm hai quận: quận Nhất và quận Nhì,
đồng thời thực hiện điều chỉnh địa giới hành chính. Tỉnh ủy tách làng Chánh Hội, Tân Long
Hội thuộc Tam Bình và An Phước thuộc Vũng Liêm sáp nhập vào quận Nhì (Mang Thít).
Địa giới quận Nhì gồm 12 làng: Chánh Hội, Nhơn Phú, Hoà Tịnh, Bình Phước, Mỹ An, An
Phước, Tân Long Hội, Long Mỹ, Long Đức Đông, An Ninh, Đồng Phú, Bình Hoà Phước.
Sau khi ổn định hành chính, “quận Nhì đã tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bầu đồng chí Phạm
Văn Kim làm bí thư, đồng chí Hồ Văn Kính làm Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính,
đồng chí Nguyễn Thế Truyện làm chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh. Tổ chức Huyện ủy không
ra công khai mà lấy danh nghĩa hội nghiên cứu chủ nghĩa Macxit” [15:85]. Khắp các làng
đều hình thành chi bộ Đảng, tổ chức Mặt trận Việt Minh, lập ủy ban hành chánh, ủy ban
kháng chiến và các tổ chức đoàn thể.
Lực lượng vũ trang cũng bắt đầu được xây dựng lại, mỗi làng đều tổ chức từ một tiểu
đội đến một trung đội dân quân cách mạng làm lực lượng cơ động toàn xã.
Tháng 4 năm 1947, quân Pháp được tăng viện binh lính, vũ khí, phương tiện thực hiện
kế hoạch Delatour (Đờ la tua) bình định lấn chiếm quận Nhì, tổ chức hành quân đóng bót
dọc theo các trục giao thông trọng yếu. Trên liên tỉnh lộ 7, Pháp hành quân càn quét đóng
đồn ở Cầu Mới, cho trục vớt nhịp cầu Mới bị sập, tu sửa đường lộ. Trên lộ 32, Pháp càn quét
đóng đồn dọc theo trục lộ, nâng đồn Cái Nhum lên thành đồn chỉ huy (Post
Commandenment).
Song song đó, Pháp thực hiện âm mưu “chia để trị”, tìm mọi cách chia rẽ nhân dân xoáy
sâu vào hai lĩnh vực: tôn giáo và dân tộc. Về dân tộc, Pháp thực hiện chiêu bài “vùng Khmer
tự trị” mua chuộc người Khmer, vơ vét sức người sức của phục vụ chiến tranh. Sau khi có
được đội quân người Khmer, Pháp đưa một số lính người Khmer về đóng đồn ở Cái Nhum,
Bầu Thiềng (Tân Long Hội), kích động tinh thần dân tộc hẹp hòi của binh lính để tăng mức
tàn ác của họ. Về tôn giáo, địch mua chuộc các chức sắc, những người có giáo quyền để
phục vụ cho chúng, vì thế xuất hiện một số nhóm tôn giáo nhận tiền bạc, vũ khí của Pháp
mượn danh “bảo vệ đạo” tổ chức thành lực lượng vũ trang chống phá cách mạng như: nhóm
Hoà Hảo, Cao Đài, Tịnh độ cư sĩ,… Thực dân Pháp đưa nhóm Hoà Hảo về chiếm đóng Bình
Phước, nhóm này dựa vào binh lính đồn Ngã Tư tiến hành hàng loạt hành động phá hoại gây
cho nhân dân nhiều thiệt hại. Trên tỉnh lộ 31, Pháp cho nhóm vũ trang Cao Đài về đóng đồn
ở Cái Lóc và Cái Kè (Mỹ An), ở các xã cù lao thì đóng đồn ở Bình Hòa Phước, bọn Việt
quốc, Việt cách cũng được Pháp sử dụng cho đóng đồn ở An Ninh. Còn ở Mai Phốp lực
lượng vũ trang đạo Thiên chúa thành lập đến hai đại đội bảo an hoạt động ở hai bên bờ sông
Mang Thít (Quới An, An Phước, Chánh Hội,…). Những đội quân dân tộc, tôn giáo này hành
quân càn quét vào vùng độc lập gây tội ác rất khủng khiếp.
Thủ đoạn chiếm đóng của Pháp chủ yếu là dựa vào lính chủ lực càn quét, khoảng một
hoặc hai tháng địch tổ chức càn quét đóng đồn một lần. Lính Pháp, lính lê dương người Âu
Phi, bọn Việt gian khi càn quét đã thẳng tay đàn áp tàn sát nhân dân, đốt nhà, cướp bóc tài
sản,… thậm chí chúng còn lấy từng cái chén, đôi đũa của nhân dân. Dân quân du kích của
địa phương vì lực lượng yếu, không đủ vũ khí chiến đấu nên thường né tránh các cuộc càn
quét của địch, chỉ tổ chức đánh bọc hậu, vét đuôi hoặc tổ chức bắn tỉa để ngăn chặn địch.
Nhiệm vụ chủ yếu của dân quân du kích lúc này là kịp thời phát hiện địch để báo động cho
nhân dân tản cư. Khi lính chủ lực càn quét đóng đồn xong rút đi thì bọn lính đồn co lại cố
thủ, bộ đội, du kích của ta bắt đầu tổ chức bao vây đánh đồn bót, đồng thời đánh trên đường
giao thông để tiêu hao sinh lực địch.
Tháng 7 năm 1947, chi đội 20 do Phạm Ngọc Hưng chỉ huy phục kích địch tại cống Bà
Tảng (cách đồn Cầu Mới 1,5km). Trong trận đánh này chi đội được sự hỗ trợ của dân quân
Tân Long Hội, Hoà Hiệp đã bắn hạ một xe Hantrak mở đường, tiêu diệt một số lính Tây, đốt
4 xe, thu nhiều súng và đạn. Trận đánh này làm cho địch rất hoang mang, lo sợ. Một tuần lễ
sau, “chi đội 20 tiếp tục phối hợp với dân quân Bình Phước chặn đánh địch ở cống Bà Dung
trên liên tỉnh lộ 7, tiêu diệt 40 tên, thu 5 súng tiểu liên và một số vũ khí khác” [15:89].
Năm 1948 thực hiện phong trào “Thi đua ái quốc” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động,
quân dân và chính quyền quận Nhì tập trung hết sức mình xây dựng vùng độc lập làm hậu
phương kháng chiến.
Về tổ chức Đảng, số lượng đảng viên phát triển nhanh chóng đến năm 1949 có 302
đảng viên. Ban chấp hành hai chi bộ ở quận và 12 chi bộ làng được kiện toàn, tuy không hoạt
động công khai nhưng vẫn đóng vai trò quyết định trong lãnh đạo kháng chiến.
Chính quyền cấp quận cũng được kiện toàn. Năm 1948 tổ chức bầu cử Hội đồng
nhân dân làng đúng theo chỉ thị của Tỉnh ủy, các cơ quan chuyên môn của ủy ban kháng
chiến hành chánh đều phát triển mạnh mẽ, các cán bộ được cử về tỉnh huấn luyện, đào tạo đủ
năng lực lãnh đạo
Các đoàn thể cứu quốc phát triển rất mạnh: nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc,
Thanh niên cứu quốc, Liên hiệp công đoàn của công nhân các lò gạch,… Phong trào thiếu
nhi, nhi đồng tổ chức hoạt động sôi nổi. Các tôn giáo, đảng phái cũng tổ chức thành đội cứu
quốc: Cao Đài cứu quốc, Công giáo kháng chiến,… tham gia kháng chiến và vận động
những người có đạo tham gia kháng chiến, đóng góp cho kháng chiến. Cuối năm 1948 các
đảng phái như Đảng dân chủ, Đảng xã hội đã thành lập chi bộ ở cấp quận. Tất cả các đoàn
thể, tôn giáo, đảng phái cứu quốc đều đứng trong Mặt trận Việt Minh. Cơ sở Mặt trận Việt
Minh được tổ chức vững chắc ở tất cả các làng làm nhiệm vụ đoàn kết các tầng lớp nhân dân
thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng trong công cuộc kháng chiến kiến quốc.
Về quân sự, xây dựng lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Ở mỗi làng đều có
các tiểu đội dân quân du kích, ở ấp có dân quân tự vệ, một số làng tổ chức được đội dân quân
tự vệ nữ. Các làng đều nhận đỡ đầu bộ đội du kích, mỗi làng nhận đỡ đầu cho một đại đội
của trung đoàn 111. Cuối năm 1948, đánh giá chất lượng, lực lượng các làng “có ba làng
hạng A (Chánh Hội, Nhơn Phú, Hoà Tịnh), sáu làng hạng B (Bình Phước, Long Đức Đông,
Long Mỹ, Tân Long Hội, An Phước, Mỹ An), ba làng hạng C (An Ninh, Đồng Phú, Bình
Hoà Phước)” [15:96].
Về tiền tệ, cho lưu hành song song hai loại tiền gồm giấy bạc Việt Nam (tiền Cụ Hồ)
và tiền thành (tiền do Pháp in). Đối với tiền thành mệnh giá nhỏ, tiền lẻ thì giữ nguyên, còn
tiền mệnh giá lớn thì cắt đôi cho đóng dấu của chính quyền cách mạng.
Văn hoá xã hội được xây dựng toàn diện. Ở quận Nhì có hai kiểm soát viên của ty
giáo dục, các làng đều có trưởng giáo dục và trưởng bình dân học vụ. Chính quyền cho mở
trường tiểu học phần lớn là mượn các điểm đình chùa, nhà bỏ không, trại ghe của dân, ban
đêm thì tổ chức bình dân học vụ, trung bình sáu nhà tổ chức một lớp bình dân học vụ. Về y
tế, tổ chức được ban y tế quận, các làng tổ chức ban y tế và có nữ hộ sinh, ban cấp cứu và
chống dịch. Đồng thời, ta cũng tổ chức đoàn y tế lưu động chăm lo truyền bá vệ sinh phòng
bệnh, vận động nhân dân làm cầu vệ sinh theo kiểu mới, thực hiện tiêm ngừa phòng dịch và
chống dịch.
Về kinh tế, chính quyền cách mạng vận động nhân dân đào kinh dẫn nước phục vụ sản
xuất: đào kinh từ nhà thờ Mỹ Chánh qua Hoà Phú (An Phước), làm thủy lợi nội đồng,… tổ
chức đại hội nông dân sản xuất giỏi. Nhờ đó sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh, nông sản
có dư thừa. Đến giữa năm 1948, chính quyền đã cho đưa một số hàng nông sản ra chợ bán và
mua về những loại hàng công nghệ phẩm tiêu dùng. Đồng thời tiếp tục vận động các địa chủ
giảm tô, giảm tức, thực hiện chủ trương tạm giao, tạm cấp. Các loại đất công điền, đất của
địa chủ ác ôn bị tịch thu, đất của địa chủ có đóng góp cho kháng chiến được cấp phát theo
hình thức tạm cấp. “Mỗi nhân khẩu được tạm cấp 5 công. Những đất vắng chủ thì thực hiện
tạm giao, người sản xuất sẽ nộp tô một phần mười huê lợi, chính quyền sẽ tạm quản lí phần
huê lợi này, khi chủ đất trở về thì trả cho họ” [15:98]. Đây là một chủ trương đúng đắn đã lôi
kéo được những địa chủ bỏ chạy ra thành quay trở về. Chính sách tạm giao, tạm cấp kéo dài
đến năm 1952 thì hoàn thành. Chính sách này đã thực sự gắn nông dân với cách mạng, với
công cuộc kháng chiến. Từ đó, phong trào thi đua ái quốc được phát triển mạnh mẽ, các lực
lượng kháng chiến cũng phát triển vượt bậc.
2.1.2. Nhân dân Mang Thít cùng nhân dân cả nước thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện
Tháng 4 năm 1949, thực hiện sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, quận Nhì đã thành một trung đội bộ đội địa phương lấy lực lượng chủ yếu từ cán bộ
quận và cán bộ chiến sĩ dân quân du kích. Trung đội được trang bị vũ khí khá tốt. Công tác
địch ngụy vận được tổ chức trong bộ đội địa phương, dần đi vào chiều sâu, nhiều binh sĩ
ngụy mang súng về với nhân dân, đồng thời ta cũng cài được các cơ sở vào trong lòng địch
phục vụ chiến đấu.
Song song với công cuộc xây dựng vùng độc lập, quân và dân quận Nhì còn chiến đấu
ngăn chặn, diệt ác trừ gian, đánh phá giao thông địch, canh gác bảo vệ vùng độc lập. Trong
năm 1948 địch ít hành quân càn quét mà chủ yếu tiến hành cướp bóc xung quanh khu vực
đóng quân. Tháng 6 năm 1948, dân quân du kích Mỹ An phối hợp với bộ đội 999 (thuộc
trung đoàn 111) chặn đánh đoàn công voa tiếp tế của địch trên sông Cổ Chiên, tàu lính bỏ
chạy. Cuối năm 1948, dân quân du kích Mỹ An, An Phước tiếp tục phối hợp với bộ đội 999
phục kích đánh một đoàn công voa tiếp tế của địch trên sông Cổ Chiên thu được hai ghe heo,
một ghe nồi đưa về Nhơn Phú. Riêng ghe lúa khá lớn nên ta chỉ kịp đưa vào bờ cho dân vác
lúa lên nhưng chưa được bao nhiêu thì tàu địch chi viện đến nên ta phải đục ghe chìm để
không rơi vào tay địch.
Bước sang năm 1949, quân Pháp tiếp tục được chi viên thực hiện kế hoạch Delatour
chiếm đóng kiểm soát giao thông. Tháng 3 năm 1949, quân Pháp tổ chức cuộc càn quét lớn
vào kinh Thầy Hạnh, khai thông tuyến sông Mang Thít, chiếm đóng Tam Bình, Ba Kè, Cái
Cá, kết hợp Cái Nhum và vàm Mang Thít, hình thành một loạt đồn lớn, khống chế tuyến
sông Mang Thít. Ở Bình Phước, nhóm Hòa Hảo đánh phá cơ sở của ta, một số cán bộ làng hi
sinh. Do bị tỉnh lộ 32 chia cắt, lại nằm ven tỉnh lộ 7 và sông Mang Thít, sông Cổ Chiên, khi
địch chiếm đóng khống chế giao thông, vùng độc lập quận Nhì bị thu hẹp dần. Ban đêm lính
đồn địch tuần tra canh gác, đường giao liên qua sông qua lộ gặp khó khăn, nhiều đoàn giao
liên bị địch phục kích, tổn thất rất nhiều.
Tuy bị thiệt hại qua các trận càn của địch, vùng độc lập bị thu hẹp, chia cắt nhưng sau
một thời gian củng cố, sắp xếp quân lực ta đã chấn chỉnh, tổ chức xong, bộ đội địa phương
được hình thành. Lực lượng chủ lực khu có liên trung đoàn 109 - 111, vì vậy Tỉnh ủy và liên
trung đoàn quyết định mở chiến dịch Cầu Kè. Ban chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ cho
quận Nhì “tổ chức phối hợp kìm căng, đánh phá giao thông liên tỉnh lộ 7 không cho địch
dùng con đường này chi viện cho Cầu Kè, huy động sức người sức của phục vụ chiến dịch”
[15:99).
Ngày 7 tháng 12 năm 1949, chiến dịch Cầu Kè bắt đầu. Phối hợp với chiến dịch, ở
huyện Nhì bộ đội vây bót Long Hiệp, huy động dân quân đắp mô, đào phá một số đoạn lộ,
kết hợp với Tam Bình, Vũng Liêm làm chủ hoàn toàn liên tỉnh lộ 7 ngăn đường chuyển quân
của địch. Để tạo thế kìm căng chiến trường, ngày 23 tháng 12 năm 1949 bộ đội địa phương
huyện Nhì do huyện đội trưởng Nguyễn Văn Kính chỉ huy kết hợp cơ sở nội tuyến tổ chức
lấy đồn Robe Nghiêm (một trong ba đồn cấp tổng của địch trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long) ở
Bình Hòa Phước, “diệt được cai tổng Nghiêm và đội trưởng đồn, bắt toàn bộ lính, thu 36
súng trường Anh, một Mitraillelte, một súng colt 45, hai súng ngắn nhiều lựu đạn và đạn
nhọn” [38:116]. Đây là trận đánh công đồn có kết hợp cơ sở địch ngụy vận thắng lợi trọn vẹn
và đạt hiệu suất chiến đấu cao của huyện và trong toàn tỉnh. Không chỉ làm nhiệm vụ chiến
đấu, nhân dân huyện Nhì còn huy động sức người sức của, đóng góp lương thực, thực phẩm
cho chiến dịch.
Ngày 25 tháng 12 năm 1949, chiến dịch Cầu Kè kết thúc giai đoạn 1 bước sang giai
đoạn 2 trọng tâm ở Tiểu Cần (Trà Vinh), nhân dân huyện Nhì vẫn tiếp tục đánh phá giao
thông liên tỉnh lộ 7 cắt đường tiếp viện của địch cho Trà Vinh. Kết thúc chiến dịch Cầu Kè,
“ta diệt được 17 đồn, bắn chìm 1 tàu chiến đấu, 1 tàu chở quân, bắn bị thương 2 xe lội nước,
diệt 2 xe cam nhông, một tiểu đoàn Marốc, bắn bị thương 1 tiểu đoàn từ Bến Tre qua, diệt
gần hết tiểu đoàn trực thuộc khu Sóc Trăng (đồn trú tại Trà Vinh). Đánh bị thương đại đội
tổng trù bị, số địch chết gần 500 tên, bị bắt hơn 200 tên, hủy diệt cả hệ thống đồn bót, giải
giới bảo an Khmer trong hàng chục sóc, thu trên 300 súng các loại và nhiều đạn dược,
phương tiện chiến tranh của địch” [38:119]. Một thắng lợi quan trọng khác là qua chiến dịch
đã góp phần củng cố khối đoàn kết Việt - Khmer, nhân dân Khmer càng tin tưởng vào kháng
chiến, tình nguyện vào dân quân du kích, tích cực ủng hộ sức người, sức của cho kháng
chiến. Chiến dịch Cầu Kè là chiến dịch tiến công đầu tiên ở Nam Bộ đã giành thắng lợi toàn
diện về quân sự, binh vận, dân vận, phá vỡ kế hoạch lấn chiếm của địch, tạo ra vùng giải
phóng rộng lớn, gây thối động tình hình nước Pháp, xáo động thế giới, vang động toàn quốc
kháng chiến. Báo Liên hiệp Pháp số 169 ra ngày 28 tháng 12 năm 1949 đã viết “Cầu Kè mới
đây là một chiến trường bi thảm, trong đó quân đội viễn chinh Pháp đã thiệt hại nặng nề”
[38:120]. Quân và dân huyện Nhì tuy không trực tiếp chiến đấu nhưng đã hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ được giao góp phần cho chiến dịch thắng lợi.
Qua hơn 4 năm kháng chiến, nhân dân huyện Nhì từ chỗ xa lãnh đạo, mất địa bàn đã
hình thành lại chính quyền, tổ chức Đảng, tổ chức Mặt trận tập hợp được đông đảo các tầng
lớp nhân dân vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Một vùng nông thôn độc lập rộng lớn được
xây dựng, đạt nhiều thành tựu vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự,
văn hóa, xã hội. Các tệ nạn xã hội không còn, ban đêm nhà dân ngủ không cần đóng cửa,
thanh niên nô nức tòng quân, nhà nhà nô nức thi đua, người người nô nức thi đua đóng góp
cho kháng chiến.
2.2. Cuộc kháng chiến chống Pháp giành thắng lợi
2.2.1. Xây dựng và phát triển chiến tranh nhân dân đẩy mạnh kháng chiến
Sau thất bại nặng nề ở các chiến dịch tấn công Việt Bắc, thực dân Pháp buộc phải
chuyển hướng chiến lược chiến tranh từ đánh nhanh sang đánh lâu dài, quay lại bình định
vùng đã chiếm đóng, lấn chiếm vùng tự do của ta. Thực dân Pháp thực hiện chủ trương
“dùng người bản xứ đánh người bản xứ”, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” nhằm giữ vững
và củng cố vùng tạm chiếm, thực hiện chiến tranh tổng hợp đánh phá cơ sở kinh tế, chính trị,
lực lượng dự trữ của ta. Mặt khác, Pháp cầu viện Mĩ can thiệp vào Đông Dương bằng cách
tiếp tế trang bị, vũ khí,… cho quân đội Pháp. Ở các địa phương, Pháp cho tăng quân số, tiếp
tục thực hiện kế hoạch Delatour chiếm đóng, sửa chữa, củng cố các đồn bót dọc theo trục
giao thông. Ban đên, lính đồn bung ra phục kích dọc theo các tuyến giao thông, nhất là các
đường giao thông bộ.
Trong năm 1949, do tỉnh tập trung cao độ cho chiến dịch Cầu Kè và chiến dịch Trà
Vinh nên bộ phận quân chủ lực phát triển mạnh, dân quân du kích, nhân dân tập trung phục
vụ cho các chiến dịch lớn, phong trào du kích chiến tại địa phương để hở. Vì vậy, khi kết
thúc chiến dịch, bộ đội chủ lực rút đi, bộ đội địa phương, du kích xã ấp không đủ sức ngăn
chặn các cuộc hành quân lấn chiếm của địch. Chiến trường bị chia cắt, các đơn vị du kích
hoạt động kém, đường giao liên, liên lạc gặp khó khăn, nhiều đoàn giao liên bị thiệt hại do
địch phục kích. Sự chỉ đạo ngay trong phạm vi từng huyện cũng gặp khó khăn. Trước tình
hình này, Tỉnh ủy chủ trương chia lại địa giới hành chính chủ yếu theo các trục giao thông để
các huyện có địa bàn đứng chân.
Tháng 1 năm 1950, Tỉnh ủy Vĩnh Long lấy sáu xã phía Đông liên tỉnh lộ 7 của Vũng
Liêm (An Long, Quới An, Trung Hiệp, Trung Thành, Quới Thiện, Trung Ngãi) sáp nhập vào
huyện Nhì, đổi tên huyện Nhì thành huyện Mang Thít. Lúc này, huyện Mang Thít chia làm 2
khu: sáu xã thuộc Vũng Liêm cũ (nam sông Mang Thít) là khu A, vùng huyện Nhì cũ là khu
B. Trong tháng 1 năm 1950, huyện tổ chức hội nghị sáp nhập tại xã Trung Thành, bầu Ban
chấp hành mới do Huỳnh Thiên Thiện làm Bí thư Huyện ủy kiêm chủ tịch Ủy ban kháng
chiến hành chánh, Nguyễn Văn Truyện làm phó bí thư kiêm chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh,
Nguyễn Văn Kính làm huyện đội trưởng. Bộ đội địa phương huyện được củng cố, trung đội
huyện Mang Thít được tổ chức thành trung đội B do Nguyễn Tấn Nhậm làm trung đội
trưởng hoạt động ở khu B, trung đội A ở Vũng Liêm do Nguyễn Như Cầm chỉ huy hoạt động
ở khu A.
Huyện ủy Mang Thít xác định nhiệm vụ hàng đầu của huyện cũng như của khu B là “ ra
sức giữ vững và phát triển du kích chiến tranh lên một bước mới nhằm ngăn chặn, đẩy lùi và
đánh bại âm mưu dùng người bản xứ đánh người bản xứ của thực dân Pháp, chống địch lấn
chiếm và đánh phá phong trào cách mạng, chống địch kìm kẹp nhân dân gìn giữ sức người,
sức của không cho địch cướp phá, tăng cường phòng gian giữ bí mật, phá các ổ Việt gian,
gián điệp để hạn chế hoạt động của bọn Com măng đô” [15:105]. Thực hiện chủ trương đề
ra, Huyện ủy tiến hành củng cố, tăng cường ban chỉ huy huyện đội và hai trung đội địa
phương quân của huyện, tăng cường cán bộ củng cố các ban chỉ huy xã đội và các đội du
kích, phát động nhân dân đẩy mạnh nhân dân du kích chiến tranh. Huyện ủy chọn các xã
Bình Phước, Hòa Tịnh, Chánh Hội, Nhơn Phú làm khu vực căn cứ, đồng thời cũng là hậu
phương để bộ đội sau khi chiến đấu về nghỉ ngơi dưỡng quân và luyện quân.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chủ trương của huyện do sơ hở nên địch vẫn cài
được gián điệp vào lực lượng cách mạng gây cho ta nhiều thiệt hại. Trong đó, trung đội A
(bộ đội địa phương Vũng Liêm cũ), gián điệp của địch cài vào là cán bộ trung đội nên đơn vị
này chiến đấu đạt hiệu quả không cao và thường thất bại. Vì vậy, công tác an ninh bảo vệ nội
bộ được huyện chú trọng, củng cố, trang bị vũ khí đầy đủ cho trung đội an ninh xung phong,
thành lập ban tình báo địch vận do Lê Văn Vẹn phụ trách. Ngay sau đó, ngành công an, điệp
báo đã phá vụ nội gián Tài - Lễ. Tên Tài là cán bộ trung đội thuộc trung đội A có vợ tên Đa
mua bán ra vào thành đã móc nối với Lễ cũng là cán bộ trung đội thông qua thị Đa phục vụ
cho phòng Nhì Pháp suốt một thời gian dài gây cho cách mạng nhiều thiệt hại. Sau khi giải
quyết vụ Tài-Lễ, trung đội A địa phương quân huyện được củng cố, chấn chỉnh, tăng cường
cán bộ và đi vào hoạt động hiệu quả.
Giữa năm 1950, Pháp thực hiện các cuộc càn quét vào khu A với lực lượng chủ yếu là
lính Comando (Commăngđô - lính biệt kích) và lính đạo ở Mai Phốp. Ở khu vực nhà thờ
Thiên chúa giáo Mai Phốp có tên Lê Vĩnh Trình đội lốt tôn giáo, lợi dụng giáo quyền bắt
thanh niên đi lính, xây dựng Mai Phốp thành cứ điểm đồn trú đến ba đại đội, có sự giúp sức
của những tên ác ôn Ách Bính, Ách Năng giết người tàn bạo. Quần chúng nhân dân hết sức
căm ghét, giám mục Ngô Đình Thục đã nhiều lần dọa rút phép thông công của Lê Vĩnh
Trình nếu tiếp tục làm ác nhưng do được sự bảo trợ của các quan Pháp bọn chúng vẫn tàn sát
nhân dân. Chúng thường tổ chức hành quân càn quét vào khu A, hành quân sang cướp phá
các làng An Phước, Tân Long Hội, đóng đồn ở Quang Trạch, lấn chiến sang hai xã ở vùng
độc lập là Quới An, Trung Hiệp và một số ấp ở Trung Thành. Mỗi trận càn chúng giết hàng
chục người theo các hình thức dã man như dùng búa, chày đập đầu, đốt đuốc sống, xây cổ hủ
(cắt đầu nhưng không đứt cuốn họng rồi kéo cả bao tử ruột dài ra),… ra sức cướp phá, vơ vét
tài sản lúa gạo của nhân dân. Ở vùng kìm, chúng bắt người đi làm xâu, buộc nhân dân nộp
thuế với những thứ thuế vô lí như thuế lúa trong bồ, nếu đóng chúng sẽ không xúc lúa. Để
làm giảm uy thế địch, Huyện ủy ra nghị quyết cho trung đội địa phương quân và du kích phải
diệt cho bằng được hai tên ác ôn Ách Bính, Ách Năng. Tuy nhiên, đây là hai tên rất gian xảo
nên ta nhiều lần chặn đánh đều không thành công. Các cuộc càn quét ở khu A bước đầu ta
đối phó yếu nên địch lấn chiếm mạnh ở khu A.
Mặc dù, công tác phòng gian giữ bí mật được chú trọng nhưng ta vẫn có nhiều sơ hở,
cán bộ còn chủ quan nên địch vẫn lợi dụng bọn gián điệp, chỉ điểm xâm nhập vào vùng độc
lập đánh phá lực lượng cách mạng. Bọn Cao Đài ở Cái Lóc, Cái Kè (Mỹ An) phối hợp đột
kích bắt hai cán bộ chủ chốt của huyện là Huỳnh Thiên Thiện (bí thư Huyện ủy) và Cò Minh
Đăng (phó chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chánh) tại Quới An. Khi ta phát hiện thì địch đã
rút đi và phải rất vất vả móc nối với cơ sở nội tuyến dùng tiền chuộc ta mới giải thoát được
cho hai cán bộ này.
Để đối phó với các cuộc càn quét của địch, tỉnh Vĩnh Long chủ trương xây dựng làng
xã chiến đấu khắp toàn tỉnh. Thực hiện chủ trương này, tại Mang Thít từng làng xã tự lực
dùng cây, tre có gai rào khắp các con đường vào làng và rìa làng, kết hợp với hầm chông,
hầm hom, lựu đạn gài. “Trong làng rào đường cũ, đắp đường mới lại rào theo kiểu nanh sấu
để địch không thể di chuyển nhanh, đắp các mô đất cản trên sông rạch để ngăn chặn tàu địch,
nơi nào không đắp cản đất được thì sóc cản bằng cây” [38:126]. Giữa các làng đào kinh tắt
vừa dẫn nước vào ruộng vừa thuận lợi việc chi viện chiến đấu, chạy tản cư của nhân dân.
“Tất cả các con kênh đều có các bờ chiến đấu, mương chống xe lội nước” [38:127]. Tuy
nhiên, ở một số nơi do không nghiên cứu kĩ nên khi đắp bờ, đào mương lại trở thành con
đường cho lính đồn vào cướp phá nhân dân. Dù vậy, làng xã chiến đấu bước đầu đã phát huy
tác dụng rất tốt trong việc chống càn. Lực lượng cơ sở của huyện trang bị chưa mạnh nhưng
nhờ thế trận làng xã chiến đấu đã hạn chế được các cuộc càn quét của địch, bảo vệ được
nhân dân.
Ngày 10 tháng 5 năm 1950, du kích Quới An cải trang thành dân phu đi làm đồn Quang
Trạch đã diệt được tên Bính là tay sai gian ác chỉ huy một đại đội COMMANDO. Chiến
công này đã làm nức lòng nhân dân trong huyện. Ngày 9 tháng 6 năm 1960, trung đội A bộ
đội địa phương Mang Thít và du kích phục kích chống càn quét ở Quới An diệt được 3 tên.
Song song đó công tác địch ngụy vận cũng đạt được kết quả khá tốt. “Khoảng giữa năm
1950, trung đội B bộ đội địa phương kết hợp ban quân báo xây dựng cơ sở nội ứng lấy đồn
Cái Nhum 8 (bót số 8 trên lộ 32) diệt tên sếp bót, bắt sống 1 tiểu đội địch, thu 12 súng trường
Anh, hai thùng lựu đạn và nhiều đạn” [38:127].
Cuối năm 1950, phong trào nhân dân du kích chiến tranh định hình rõ nét. Trên địa bàn
Mang Thít, bộ đội địa phương tỉnh, huyện, dân quân du kích đã trụ vững, làng xã chiến đấu
đã phát huy sức mạnh, căn cứ là lòng dân, khi giặc đến càn quét ta đã tổ chức chống càn
thắng lợi, cán bộ du kích làm hầm bí mật bám trụ. Xã Hòa Tịnh là nơi có phong trào du kích
mạnh nhất, khi địch càn quét vào khu vực Vườn Cò, du kích đã dựa vào làng xã chiến đấu
chặn đánh tiêu diệt địch, bẻ gãy nhiều trận càn của địch.
Cũng vào cuối năm 1950, Pháp đưa tướng De Lattre de Tassigny (Đờ Lát đờ Tát-si-nhi)
sang làm cao ủy kiêm Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Dựa vào sự giúp
đỡ của Mĩ về tài chính, phương tiện chiến tranh Pháp tiếp tục tăng viện binh theo yêu cầu
của De Lattre. Từ đó, De Lattre và chính phủ “quốc gia” đã xây dựng một đội quân đông
đảo, thực hiện ráo riết hơn chính sách “dùng người Việt đánh người Việt” [49:87]. Ở Nam
bộ, Pháp đưa tướng Chanson (Săng-Xông) thay Delatour, thành lập bộ chỉ huy hành quân số
1, gọi tắt là OCO1 (Orangde Commandement Opérationnel No 1) phụ trách khu 8. Lực
lượng OCO1 chủ yếu là các lực lượng cơ động ứng chiến của các phân khu, tiểu khi, chi khu
và tăng cường các đơn vị binh chủng kỹ thuật, không quân pháo binh, xe lội nước, quân dù,
công binh, hải quân. Nhiệm vụ của OCO1 là hành quân truy quét tìm diệt Bộ tư lệnh và lực
lượng chủ lực của Khu 8, chống trả các chiến dịch của quân cách mạng, đánh phá các khu
căn cứ đầu não, hỗ trợ lính địa phương chiếm đóng.
Sau một gian củng cố, xây dựng, vào tháng 2 năm 1951, Pháp sử dụng OCO1 hành
quân chiếm đóng vùng mới giải phóng của cách mạng trong chiến dịch Cầu Kè và chiến dịch
Trà Vinh, đồng thời tập trung cấp tiểu đoàn càn quét vào Quới An, Trung Hiệp của khu A
Mang Thít.
Do tình hình chiến trường địch bình định lấn chiếm ác liệt, ta tập trung lực lượng thành
lập các trung đoàn nên lực lượng địa phương bị hẩng, không thúc đẩy chiến tranh du kích
phát triển. Trung ương cục miền Nam chủ trương giải thể các Khu 7, 8, 9 thành lập phân liên
khu miền Đông và phân liên khu miền Tây, lấy sông Tiền làm ranh giới, tạo cho các tỉnh có
chiến trường rộng, có vùng căn cứ để hoạt động. Trung ương Cục quyết định sáp nhập 17
tỉnh thành lập 11 tỉnh mới và một đặc khu. Mỗi phân liên khu chỉ giữ lại 1-2 tiểu đoàn cơ
động, giải thể tất cả các trung đoàn địa phương, đưa các đơn vị về các tỉnh bổ sung vào bộ
đội địa phương.
Thực hiện quyết định của Trung ương Cục miền Nam, “tháng 7 năm 1951, hai tỉnh
Vĩnh Long, Trà Vinh sáp nhập lấy tên là tỉnh Vĩnh Trà thuộc phân liên khu miền Tây”
[5:253]. Huyện Mang Thít được đổi tên thành huyện Vũng Liêm vẫn chia làm hai khu A và
B, nhưng địa giới hành chánh của các xã có thay đổi. Khu B có 6 xã: Đồng Hòa An (sáp
nhập từ ba xã An Ninh, Đồng Phú, Bình Hòa Phước), Tam Long (gồm Long Đức Đông,
Long Thanh, Long Mỹ), Phước Hòa (gồm xã Hòa Tịnh, Bình Phước, một phần xã Mỹ An),
Nhơn Chánh (gồm xã Nhơn Phú, Chánh Hội, một phần xã Mỹ An), Tân Long Hội, An
Phước. Khu A có ba xã và một huyện lị: Tam Hiệp (gồm xã An Long, Trung Hiệp), Thành
An (Trung Thành và Quới An), Quới Thiện và huyện lị Vũng Liêm. Đồng thời, Tỉnh ủy cũng
thực hiện chủ trương hạ phóng, tăng cường cán bộ về huyện, xã, ấp. Tỉnh ủy đưa Hoàng
Nhất Huy về làm Bí thư Huyện ủy Vũng Liêm, Lê Văn Bông làm chủ tịch Ủy ban kháng
chiến hành chánh, Nguyễn Văn Khanh làm trưởng công an huyện. Về quân sự, Vũng Liêm
thành lập một đại đội lấy phiên hiệu Đại đội 998, tỉnh cũng tăng cường một số cán bộ chiến
sĩ cho huyện, đưa Nguyễn Khánh Tường làm huyện đội trưởng, Ngô Văn Kính, Hoàng Ba,
Cao Văn Thới, Phạm Văn Long (Hoàng Long) làm huyện đội phó, bí thư Huyện ủy Hoàng
Nhất Huy kiêm chính trị viên của đại đội. Ở các xã được trang bị từ 3 đến 12 súng và biên
chế trung bình từ một đến hai tiểu đội du kích. Ở các ấp lập du kích tại nghiệp và du kích bí
mật ven các đồn bót.
Quyết nghị năm 1951 của Tỉnh ủy Vĩnh Trà giao nhiệm vụ cho huyện là: “Tích cực bảo
vệ địa phương, bảo vệ chính quyền, tăng dự trữ nhân lực, tài lực, tiền tệ Việt Nam; phát triển
cao độ chiến tranh nhân dân; phá ngụy quyền và lưới gián điệp; tác chiến có địch ngụy vận;
rèn chiến thuật đánh du kích” [15:113]. Tháng 8 năm 1951, tỉnh đội Vĩnh Trà cũng giao
nhiệm vụ cho huyện phải xây dựng vùng căn cứ Phước Hòa, Nhơn Chánh, mỗi xã phải thành
lập một trung đội phá hoại xung phong, phong tỏa cứ điểm Mai Phốp tạo tiền đề lấy lại khu
A.
Năm 1951 là năm có nhiều thiên tai, ruộng lúa mất mùa, năng suất thấp, địch lại tăng
cường khủng bố cướp bóc, tung tiền giả vào vùng độc lập làm mất giá tiền Việt Nam (bạc Cụ
Hồ). Đồng thời, địch cũng tăng cường kiểm soát gắt gao thóc lúa của nhân dân trong vùng
tạm chiếm đã tạo ra vô vàn khó khăn cho lực lượng kháng chiến và nhân dân trong vùng độc
lập, nhất là việc cấp dưỡng cho bộ đội và cán bộ dân chính đảng, có những bộ phận thiếu gạo
trầm trọng. Số thương binh, bệnh binh, bộ đội ở các trại tiếp nhận các xã khá lớn, bắt đầu
xuất hiện tư tưởng bi quan, dao động. “Hiện tượng đào ngũ, bỏ ngũ chạy về khu 9 và chạy ra
vùng tạm chiếm rất nhiều, thậm chí có người đầu hàng, khai báo với địch trở lại đánh phá cơ
sở cách mạng” [38:143].
Vào thời điểm cuối năm 1951, ta tập trung chấn chỉnh tổ chức, chưa đánh bại được các
cuộc hành quân càn quét của địch. Ở một số xã du kích chưa dám chiến đấu một phần do cán
bộ, đội viên du kích còn non kém, một phần do tinh thần cầu an của cán bộ quân dân chánh,
sợ để du kích chiến đấu, địch sẽ ruồng bố trả thù như ở xã Phong Thạnh (huyện Tam Bình).
Tuy nhiên, ở một vài nơi, bộ đội địa phương và du kích xã đã hướng dẫn du kích tại nghiệp,
dân quân tự vệ và nhân dân cùng chiến đấu bảo vệ địa phương như du kích Phước Hòa, bộ
đội địa phương Vũng Liêm phối hợp đánh đuổi địch đi cướp lúa của nhân dân, buộc địch
phải tháo chạy, bỏ lại lúa đã cướp.
Trong khi ta chấn chỉnh tổ chức, bố trí lại lực lượng thì Pháp tiếp tục thực hiện chủ
trương bình định chiếm đóng. Lúc này Pháp đã đưa Bondix thay thế Chanson ở Nam bộ
(Chason vừa bị du kích Sa Đéc giết). Tháng 5 năm 1951, Pháp cho chiếm đóng chợ Vũng
Liêm nâng lên thành Chi khu, rút bớt một số đơn vị Âu Phi chiếm đóng Mai Phốp và các nơi
khác tăng cường lên Việt Bắc, thay vào đó là Tiểu đoàn 21 BVN (Bataillon Việt Nam - đơn
vị Bảo hoàng) làm nhiệm vụ chiếm đóng. Ngoài những cuộc hành quân lớn, địch thường tổ
chức các cuộc hành quân nhỏ đánh vào các đơn vị du kích, các cơ quan ở Mai Phốp, Ngã Tư.
Tháng 12 năm 1951, Pháp tập trung càn quét vào khu A, liên tục cho pháo binh bắn phá các
xã Nhơn Chánh, Phước Hòa ở khu B để uy hiếp tinh thần nhân dân.
Đồng thời Pháp cho đẩy mạnh hoạt động của các đội Commando với chiến thuật “bộ
binh xung kích kết hợp gián điệp”. Chiến thuật này dựa vào bọn gián điệp, chỉ điểm cùng các
đơn vị Commando xung kích, bí mật thọc sâu vào vùng độc lập đánh phá, bắt giết cán bộ của
ta rồi nhanh chóng rút đi. Bước đầu chiến thuật này đã phát huy hiệu quả, địch đánh trúng
vào một số cơ quan gây cho cách mạng nhiều tổn thất, một số cán bộ đã bị bắt, bị giết. Pháp
đưa một số cán bộ Commando về đóng ở các chi khu, phân khu tiếp tục mộ lính đánh phá.
Cuối tháng 12, Pháp chiếm đóng được khu A ở Quới An, Quang Trạch,… một số cơ sở cách
mạng bị đánh bật khỏi địa bàn.
Tháng 2 năm 1952, Pháp mở rộng chiếm đóng khu A, đóng ở các đồn Quang Diệu, vàm
sông Mang Thít, Quang Phong, Rạch Sóc với mục đích tạo bàn đạp khống chế tuyến sông
Mang Thít. Sau khi chiếm đóng xong khu A, Pháp chuyển mũi nhọn sang khu B, tháng 5
năm 1952 Pháp nâng đồn chỉ huy Cái Nhum lên thành yếu khu (Sous quartier) do lính
GVNS (vệ binh Nam Việt - Garde VietNam Sub) chỉ huy cùng với một đội Commando và
một đội lính thân binh, đưa quân đóng đồn Bình Hòa (Hòa Tịnh). Tháng 6 năm 1952, địch
đóng đồn ở Nhơn Phú, một tuần sau địch tiếp tục đóng đồn kinh Thầy Cai, mỗi đồn quân số
một đại đội. Pháp cử quận trưởng Châu Thành trực tiếp về Cái Nhum tổ chức tề ở các xã.
Tuy nhiên, kế hoạch lập tề ở các xã của địch không đạt được kết quả như mong muốn, một
số nơi không tổ chức được tề, địch lấy lính trong bót làm tề. Trước khi chiếm đóng, địch
hành quân càn quét, cướp bóc, bắt dân làm xâu đóng đồn, bắt thanh niên đi lính.
Nghị quyết của Tỉnh ủy và quyết nghị án quân sự của tỉnh đội Vĩnh Trà yêu cầu các địa
phương gây dựng cơ sở nhân dân vũ trang vùng địch hậu, bao vây địch biến các vùng tạm
chiếm thành vùng du kích, vận động nhân dân tham gia chiến đấu, thực hành chiến đấu
chống biệt kích, chống cướp lúa và làm công tác địch ngụy vận, phát động nhân dân cùng bộ
đội phòng gian bảo mật, góp phần đánh địch có hiệu quả. Thực hiện chủ trương của tỉnh,
Huyện ủy phát động một đợt phòng gian, phá các vụ án nội gian, gián điệp, bảo vệ cơ sở, cơ
quan đầu não cách mạng, đồng thời nghiên cứu nắm qui luật của địch, thực hiện tiến công ở
ngoại tuyến. Theo đó các cơ quan huyện, xã tinh gọn, cơ động, hết sức cảnh giác, ngành
công an phân hóa các đối tượng ra vào vùng độc lập, tăng cường giữ gìn bí mật nơi đóng
quân, cơ quan, phát động nhân dân tố giác bọn gián điệp, chỉ điểm, tòa án huyện đã đưa ra
xét xử một số tên gián điệp. Ý thức phòng gian, chống gián điệp trong nhân dân được nâng
cao.
Song song đó, bộ đội, du kích dựa vào làng xã chiến đấu tấn công địch ở ngoại tuyến.
Ta dùng hầm chông, địa lôi, lựu đạn gày bẻ gãy nhiều cuộc hành quân của đội Commando.
Du kích xã, du kích tại nghiệp Nhơn Chánh dùng địa lôi diệt 1 ô tô của địch trên lộ Cái
Nhum. Ngày 28 tháng 3 năm 1952, bộ đội địa phương và du kích Nhơn Chánh, An Phước
đánh lui một đại đội Commando tại ấp Chánh An diệt 6 tên và một số tên khác bị thương. Ở
Tân Long Hội, ta tiến sát vào tỉnh lộ 32, liên tỉnh lộ 7 phá thế bao vây của địch, làm bàn đạp
tiến về khu A. Lực lượng cách mạng đã tiến sâu vào khu A, gây dựng cơ sở quần chúng và
vũ trang, khôi phục phong trào, đưa bộ đội địa phương về hoạt động. Các xã bị địch chiếm
như Thành An, Hiệp Long dần khôi phục và móc nối được cơ sở. Ta thực hiện bao vây địch
ở Cái Lóc, Cái Kè (Mỹ An), lộ số 7, lộ Cái Nhum giành lại quyền chủ động trên chiến
trường khu B.
Phong trào du kích chiến ngày càng phát triển, du kích tại nghiệp chiến đấu hiệu quả
nhất là ở Nhơn Chánh, Phước Hòa, An Phước. Ở Tam Long có ba ấp chiến đấu mạnh. Đặc
biệt, ở khu vực Vườn Cò (Phước Hòa) có thanh niên tên Mạnh Kệnh là một nông dân vào du
kích, bắn rất giỏi, mỗi khi địch càn, với khẩu súng trường anh xạ kích một viên đạn là một
tên giặc đền tội. Với thành tích chiến đấu nổi bật trong những năm 1951, 1952, 1953 Mạnh
Kệnh đã được cử dự hội nghị chiến sĩ thi đua liên phân khu miền Tây, được tặng Huân
chương. Bọn lính ở Ngã Tư rất sợ tài bắn của Mạnh Kệnh, thường nói với nhau “muốn ăn
đạn vô Vườn Cò, ăn bò qua Phước Hậu”. Ngày 16 tháng 4, du kích tại nghiệp Phước Hòa,
Nhơn Chánh dùng chiến thuật chim sẻ (bắn tỉa), lựu đạn gày chặn đánh một đại đội địch, bắn
bị thương hai tên làm chúng hoảng sợ không dám tiến vào xã cướp lúa. Ngày 17 tháng 4 năm
1952, du kích tại nghiệp ấp 1 (Tân Long Hội) phục kích bót lính số 5 đi cướp lúa, diệt được
một tên, thu một súng, lấy lại một xuồng tam bản. Ngày 1 tháng 5 năm 1952, du kích Định
Thới (An Phước) và Phú Mỹ (Nhơn Chánh) đánh lui một tiểu đội Cao Đài Cái Kè đi cướp bò
của nhân dân, giành lại hàng chục con bò trả lại cho nhân dân. Ngày 6 tháng 5 năm 1952, du
kích Định Thới đột nhập bót vàm Mang Thít diệt tên sếp bót, thu một súng. Nhân dân tích
cực nộp thuế, cất giấu lúa gạo dự trữ cho cách mạng và tích cực tham gia phong trào đắp
đập, rào xã, ấp chiến đấu.
Theo đánh giá tổng kết của tỉnh, các tháng đầu năm 1952, khu B của Vũng Liêm (tức là
vùng Mang Thít) là nơi có phong trào du kích nổi bật nhất của tỉnh. Vì thế, bước sang tháng
6 năm 1952, địch quay trở lại quyết tâm bình định Vũng Liêm. Từ ngày 7 tháng 6 năm 1952,
Pháp tập trung lực lượng OCO1 hành quân chiếm đóng khu B Vũng Liêm. Trong những
cuộc hành quân càn quét, địch khủng bố, tàn sát nhân dân rất dã man, mục đích là buộc nhân
dân chạy tản cư ra vùng kìm. Hình thức chiếm đóng của địch là đóng đồn ở hai đầu rồi càn
quét dần dần khép lại. Chúng huy động lực lượng từ một đến hai tiểu đoàn càn quét một ấp
rồi lấn sang ấp khác, huy động các đội Commando càn quét hỗ trợ. Cuộc càn quét của địch
kéo dài nhiều ngày, sau đó quân chủ lực rút đi, quân địa phương tiếp tục càn quét. Dọc theo
sông Mang Thít, địch đóng đồn theo kiểu nanh sấu, các đồn cách nhau không quá 2km, từ
Cầu Mới đến Cái Nhum lấy số hiệu là Mang Thít 1 đến Mang Thít 7. Dọc theo lộ 32 cứ 1km
địch đóng một đồn lấy số hiệu Cái Nhum 1 đến Cái Nhum 8.
Nhân dân, du kích, bộ đội Vũng Liêm kiên cường chống trả các cuộc càn quét của địch.
Từ tháng 6 đến đầu tháng 7 năm 1952, địch huy động OCO1 đánh chiếm khu B. “Trong một
tháng đánh địch càn quét ta đã diệt và làm bị thương hơn 400 tên” [38:154], tiêu biểu nhất là
trận Bờ Sao (An Phước). Du kích An Phước có 12 người, 3 công an, 3 du kích ấp với 12
súng đã dựa vào cụm rừng Bà Mên có bưng sâu, lầy, nhiều cây rậm chống trả quyết liệt cuộc
càn quét có quân số hàng trăm người của địch. Ta bắn một quả trom-lon trúng ngay đội hình
địch khi chúng vừa tập trung lên Bờ Sao, kết quả hơn 50 tên chết và bị thương. Tuy nhiên
do lực lượng ít nên sau đó ta đã ngụy trang giấu súng rút lui qua sông né tránh an toàn.
Trong suốt thời gian càn quét, địch bị thiệt hại khá nhiều nhưng cũng đã gây cho ta nhiều tổn
thất. Trong trận càn ngày 20 tháng 6 năm 1952, địch càn quét ở Nhơn Phú, bao vây khui hầm
bí mật, ta hi sinh 3 cán bộ gồm Hoàng Long (huyện đội phó), Tám Huệ (trưởng ban tài chính
huyện), Năm Thăng (trưởng ban giao thông liên lạc), cùng hai du kích và hàng chục dân
thường. Địch cũng đóng đồn ở Mù U, Bà Nghè, kinh Thầy Cai (Nhơn Chánh), rạch Ông Lễ
(Phước Hòa), bắt dân làm xâu mở đường từ Hòa Tịnh đi Rạch Chùa, Nhơn Phú, Cái Nhum.
Sau khi càn quét xong, quân chủ lực địch rút đi, du kích của ta từ chỗ bị bao vây đã tiến lên
bao vây lại địch. Các bót mới đóng Mù U, Bà Nghè,… bọn lính bị vây không dám hành quân
càn quét.
Ngày 22 tháng 7 năm 1952, địch tổ chức càn quét từ Quang Trạch lên Tân Long Hội,
chỉ để lại một số ít lính giữ đồn. Ta tổ chức lực lượng trà trộn vào đồn diệt tên Ách Bính
ngay tại cửa đồn Quang Trạch làm rúng động hàng ngũ Commando của địch ở Mai Phốp và
các vùng chung quanh.
Mặc dù bị chiếm đóng và bị tàn sát nặng nề nhưng phong trào du kích chiến tranh ở
Vũng Liêm vẫn được giữ vững và phát triển đạt mức cao, đứng đầu toàn tỉnh. Ngày 15 tháng
8, du kích Hòa Phú (An Phước) và một bộ phận du kích xã, bộ đội địa phương chặn đánh
địch 3 trận liên tiếp trong một ngày tiêu diệt 5 tên, bị thương 2 tên, địch hốt hoảng rút chạy.
Ngày 20 tháng 8, một đại đội địch ở Ngã Tư càn vào Phước Thới, Phước Lộc (xã Phước
Hòa) định cướp lúa bị du kích Phước Hòa bám sát, đánh chim sẻ suốt ngày buộc phải rút lui.
Tổng kết chung, tính từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1952, bộ đội du kích Vũng Liêm đã đánh
37 trận, diệt 37 tên, bị thương 92 tên. Tuy nhiên, sau những trận càn của địch một số cơ quan
của ta có phần dao động, hoạt động kém, tỉnh phải đưa Huỳnh Công Đạo về làm huyện đội
trưởng củng cố, chấn chỉnh lại lực lượng tiếp tục chiến đấu. Ta và địch tạo thành thế chiến
đấu cài răng lược, chiến trường trở nên căng thẳng, quyết liệt. Huyện phát động khẩu hiệu
“nhà nhà đánh giặc, người người đánh giặc”, được nhân dân hưởng ứng nhiệt tình. Già trẻ,
gái trai đều hăng hái tham gia, người nào không vào du kích thì tham gia vót chông cho du
kích, tham gia rào ấp, rào đường,… phục vụ chiến đấu, chuẩn bị bè chuối, rơm khô khi tàu
địch đến thì đưa ra sông đốt lửa cản tàu. Các cây cầu địch có thể đi qua thì cưa phân nửa phía
dưới, bên dưới rạch thì cắm chông để địch đi qua gãy cầu rơi xuống những bãi chông đã cắm
sẵn, hoặc nuôi ong vò vẽ rồi cột vào dây, khi địch càn quét thì giật dây cho ong đốt bọn lính.
Một lần nữa, Vũng Liêm là ngọn cờ đầu của tỉnh trong phong trào du kích chiến tranh và
cũng là địa phương chịu thiệt hại nặng nề nhất sau những trận càn của địch. Do tác phong
công tác, hình thức tổ chức, hình thức đấu tranh không có sự thay đổi, không đáp ứng phù
hợp với tình hình mới nên vùng du kích ngày càng thu hẹp, vùng địch tạm chiếm ngày càng
mở rộng thêm. Phong trào cách mạng của huyện đứng trước nhiều khó khăn thử thách mới.
2.2.2. Phối hợp với chiến trường chung, cuộc kháng chiến chống Pháp giành thắng lợi
Cuối tháng 12 năm 1952, tình hình nhân sự trong huyện có thay đổi, Tỉnh ủy điều
Hoàng Nhất Huy (bí thư Huyện ủy), Lê Văn Bông (chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính)
đi công tác nơi khác, Nguyễn Văn Khanh (trưởng công an huyện) đi trị bệnh ở liên phân khu
miền Tây. Vì thế Huyện ủy Vũng Liêm tiến hành đại hội đại biểu bầu ban chấp hành mới
gồm Nguyễn Ngọc Sương (bí thư), Nguyễn Văn Truyện (phó bí thư), Hồ Văn Kỉnh (chủ tịch
ủy ban kháng chiến hành chính), Huỳnh Công Đạo (huyện đội trưởng), Nguyễn Văn Tuấn
(trưởng công an),… Sau đại hội tiếp tục củng cố sắp xếp lại tổ chức. Do tình hình chiến
trường ngày càng bị bóp hẹp, huyện chủ trương phân tán các đơn vị bộ đội địa phương về xã
làm nồng cốt cho du kích xã, chỉ giữ lại một trung đội làm lực lượng cơ động.
Theo nhận định của Tỉnh ủy Vĩnh Trà, trong năm 1953 địch sẽ tập trung lấn chiếm hết
các vùng du kích. Để đối phó với tình hình này, Tỉnh ủy đã họp hội nghị rút kinh nghiệm, đề
ra “phương châm công tác vùng du kích và vùng bị tạm chiếm”. Trong đó, nhấn mạnh việc
chuẩn bị đối phó khi bị chiếm đóng, chuyển hoạt động từ vùng du kích sang vùng bị tạm
chiếm tránh tình trạng cơ sở và lực lượng tan rã khi bị chiếm đóng. Sau khi bị chiếm đóng
cần chú trọng xây dựng lại cơ sở, hướng dẫn đấu tranh hợp pháp chống mọi âm mưu bắt lính,
bắt phu, bóc lột thuế khóa, cướp bóc địa tô, đất đai.
Tháng 1 năm 1953, tỉnh đội Vĩnh Trà triển khai kế hoạch mùa khô gọi là “kế hoạch
hưởng ứng Nghĩa Lộ” theo kế hoạch và chỉ thị của Tỉnh ủy. Huyện ủy Vũng Liêm dựa trên
kế hoạch của tỉnh đội đã đề ra kế hoạch hoạt động cho các lực lượng chiến đấu trong huyện.
Mục tiêu của kế hoạch là:
- Phát triển vũ khí thô sơ, huy động nhân dân tham gia chiến đấu.
- Phát triển hầm bí mật, tạo cơ sở nhân tâm để bảo toàn lực lượng.
- Bảo vệ mùa màng.
- Chống bắt lính.
- Tạo cơ sở bí mật bám đất, bám dân, giữ vững và phát triển phong trào nhân dân du
kích chiến tranh trong vùng địch chiếm đóng và vùng địch càn quét mạnh, giữ vững và
phát triển cơ sở địch hậu.
- Tăng cường địch ngụy vận.
[15: 128]
Đúng như dự đoán của Tỉnh ủy, sau một thời gian càn quét không triệt phá được phong
trào nhân dân du kích chiến tranh, địch tập trung điều động lực lượng lớn tiếp tục càn quét
chiếm đóng dập tắt phong trào. Ngoài các hình thức cướp bóc, giết người dã man, địch còn
triệt phá địa hình, có nhiều làng không còn tiếng chó sủa, tiếng gà gáy, một bầu không khí
chết chóc bao trùm. Mật độ càn quét dày đặc, ở xã Tân Long Hội trong tháng 1 năm 1953 có
đến 28 trận càn. Trong toàn huyện Vũng Liêm, địch hành quân càn quét liên tiếp mỗi tháng
trên 60 trận. Nhân dân một số vùng của xã Tam Long, Phước Hòa phải tản cư. Ngày 16
tháng 2 năm 1953, Pháp cho quân càn quét vào Phước Thượng, Phước Chí, Lung Sen (xã
Phước Hòa) phát hiện hầm bí mật trú ẩn của cách mạng, ta hi sinh 7 người, trong đó có 1 cán
bộ tài chính huyện.
Ngày 20 tháng 3 năm 1953, Pháp huy động lực lượng liên khu gồm 12 đại đội chủ lực
với tàu chiến, 10 máy bay và pháo binh yểm trợ đi càn quét liên tiếp 10 ngày vào khu vực 5
xã: An Phước, Nhơn Chánh, Phước Hòa, Tam Long, Tân Long Hội. Bộ đội địa phương chỉ
đánh được 2 trận, còn lại du kích dùng vũ khí thô sơ, hầm chông, hầm hom, lựu đạn gày liên
tục tác chiến, diệt được 41 tên. Ngoài ra có hơn 200 lần lựu đạn gày nổ nhưng không nắm
được thiệt hại của địch. Lực lượng của ta bị dồn về Lung Sen (Phước Hòa) bị thiệt hại nặng
nề, hy sinh 37 người (gồm Hoàng Ba - huyện đội phó chính trị viên đại đội, một trung đội
phó, 2 cán bộ tiểu đội, 1 trưởng giao liên huyện, 1 ấp đội phó, 7 chiến sĩ bảo vệ công an
huyện, còn lại là chiến sĩ, du kích, dân quân,…), bị bắt 65 người (có 2 cán bộ trung đội, 2 xã
đội), nhân dân bị giết 15 người, bị bắt 100 người. Địch cũng bắt 500 thanh niên đi lính.
Sau trận này, bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể từ huyện đến xã rúng động, có phần
bi quan, một số người bỏ ra vùng độc lập làm ăn, một số sa sút tinh thần ra đầu hàng giặc.
Cán bộ, bộ đội địa phương một phần phải phân tán thành tổ 3 người sống hòa vào trong dân,
một phần tập trung về Cái Ngang (Tam Bình) để chấn chỉnh, củng cố. Du kích xã, du kích tại
nghiệp được chỉ đạo tạm thời không tiến hành hoạt động vũ trang.
Đến tháng 4, tháng 5 năm 1953 các cơ sở dần dần được khôi phục lại. Các cơ quan, du
kích, bộ đội trở lại bám trụ địa bàn, thực hiện chủ trương “du kích địch vận”, “nhất nguyên
chế”, đưa phần lớn cán bộ huyện tăng cường về xã. Bộ đội địa phương sau khi củng cố biên
chế cùng du kích về hoạt động vùng Tân Long Hội thực hiện kế hoạch diệt ác, chống bọn
lính đồn lấn ra đánh phá, bảo vệ nhân dân, đẩy mạnh công tác binh vận.
Như vậy, so với đầu năm 1952 thì chiến trường của ta bị thu hẹp hoàn toàn. Bài học
kinh nghiệm xương máu rút ra là tỉnh quá đề cao phong trào nhân dân du kích chiến tranh ở
Vũng Liêm trong khi phong trào nhân dân du kích chiến tranh toàn tỉnh phát triển không đều,
không tạo được thế kìm căng chiến trường. Tỉnh ủy lại không kịp thời chỉ đạo khi địch tập
trung lực lượng lớn càn quét vào một khu vực nhỏ gây cho huyện nhiều thiệt hại. Vì thế,
Tỉnh ủy ra nghị quyết chỉ đạo gây dựng lại phong trào ở Vũng Liêm để tiến kịp phong trào
toàn tỉnh.
Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, Huyện ủy và hội đồng quân dân chánh huyện đề ra
kế hoạch công tác 4 điểm:
- Tích cực củng cố xây dựng cơ sở vũ trang, lấy du kích bí mật làm chủ yếu.
- Phát triển mạnh mẽ công tác địch ngụy vận, chống bắt lính, bắt phu [15:131].
- Dùng binh chủng chuyên môn thực hiện tác chiến và phá hoại phục vụ cho việc
xây dựng cơ sở và địch ngụy vận.
- Củng cố đường dây liên lạc đảm bảo sự lãnh đạo thông suốt về vùng địch hậu
[15:132].
Về quân sự, nhiệm vụ của huyện là phát triển du kích chiến tranh ở vùng địch hậu, kiện
toàn bộ đội địa phương và du kích xã, xây dựng và mở rộng căn cứ ở địch hậu, chống càn
quét, phá bao vây và bao vây lại địch, tiêu hao và tiêu diệt nhiều sinh lực địch để làm tròn
nhiệm vụ căng kéo, giằng co với địch. Thực hiện nhiệm vụ này, huyện củng cố lại ban địch
ngụy vận chống bắt lính do bí thư Huyện ủy kiêm chính trị viên huyện đội làm trưởng ban.
Trung đội bộ đội địa phương huyện (khoảng 2 tiểu đội) được phân tán luồn về vùng địch hậu
xây dựng phong trào, một số chiến sĩ phải phơi nắng, tắm bùn cho đen da để hòa nhập vào
dân. Kế hoạch luồn về vùng địch hậu được chuẩn bị kỹ, hầu hết đều được học tập trước nên
sau một thời gian các cơ sở ở Tam Long, Tân Long Hội, Hiệp Long phát triển khá, củng cố
lại được hai xã Nhơn Chánh, Phước Hòa. Đến tháng 8 năm 1953, ta tiến hành một số trận
đánh bằng hình thức du kích, diệt được 5 tên địch, làm bị thương 2 tên. Tuy tác chiến ít,
nhưng công tác dân vận, địch ngụy vận đạt kết quả tốt. Ban địch ngụy vận huyện đã liên hệ
với một số tề địch mới lập và một số thanh niên bị bắt lính tìm cách trốn về hoặc làm cơ sở
nội ứng cho ta. Trong hai tháng 7 và 8 năm 1953, ta đã phá rã 4 lính bảo an và kêu gọi 8 lính
bảo an khác quay về với kháng chiến.
Tháng 10 năm 1953, nhận chỉ thị của liên phân khu và Tỉnh ủy về công tác trọng tâm
địch ngụy vận, huyện triển khai thực hiện theo phương châm: “vận động chính trị là chính
nhưng cũng phải biết kết hợp quân sự hướng dẫn ngụy binh; thực hiện công tác địch ngụy
vận phải đi đôi với tác chiến”. Trong đó ba nhiệm vụ chính là: địch ngụy vận, tác chiến trên
cơ sở vùng địch hậu, củng cố cơ sở bị lung lay. Tháng 11 năm 1953, địa phương quân huyện
được bổ sung đủ một trung đội tiếp tục phân tán về gây dựng cơ sở làm nồng cốt cho du kích
vươn lên chiến đấu. Đầu năm 1954, huyện cử một tổ chiến sĩ tham gia lớp huấn luyện đặc
công trinh sát của tỉnh. Tháng 2 năm 1954, huyện đã thành lập một tổ công binh chuyên đánh
mìn.
Phối hợp với chiến trường toàn tỉnh và chiến trường chung, huyện đẩy mạnh công tác
địch ngụy vận. Sau khi ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm
1954, quân chủ lực của địch liên tiếp bị đôn lên và đưa đi Việt Bắc làm cho binh lính hoang
mang. Lợi dụng tình hình này, huyện chỉ đạo công tác địch ngụy vận khoét sâu vào tư tưởng
sợ đi Việt Bắc của lính ngụy vì thế đã lôi kéo được 150 lính bỏ ngũ về với cách mạng. Đến
tháng 7 năm 1954, địch rút và bị ta bứt rút 7 đồn, chủ yếu dọc tuyến liên tỉnh lộ 7. Tề ngụy ở
các xã hoang mang, dao động, qua vận động của ta một số tề đã nghỉ việc, các xã chỉ còn
một vài tên, tề các ấp tan rã hoàn toàn. Ở cù lao Đồng Hòa An, chi bộ lãnh đạo lực lượng du
kích kết hợp binh vận (gồm hai cơ sở tề xã, một cảm tình) giả người trình giấy tờ, đột nhập
bót An Bình giữa ban ngày khống chế bắt toàn bộ lính, thu 23 súng.
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí kết. Ngày 11
tháng 8 năm 1954, lệnh ngừng bắn được thực hiện trên toàn quốc. Trong thời gian chuẩn bị
tập kết ra Bắc theo qui định của Hiệp định Giơnevơ, Huyện ủy tranh thủ tiếp tục cấp, giao
đất cho nhân dân trong vùng địch kìm kẹp trước đây chưa thực hiện hoàn tất. Đồng thời,
Huyện ủy tổ chức sinh hoạt học tập nội dung Hiệp định đến cán bộ, chiến sĩ, đả thông tư
tưởng cho các cán bộ, chiến sĩ việc đi tập kết hay ở lại chiến đấu đều vinh quang, từ đó cài
cắm lại một số cán bộ ở cơ sở. Đoàn cán bộ đi tập kết của huyện gồm 20 người do Trần
Công Đạo (huyện đội trưởng) và Nguyễn Văn Tuấn (trưởng công an) chỉ huy.
Đầu tháng 9 năm 1954, nhân dân Mang Thít bịn rịn tiễn đưa đoàn cán bộ huyện xuống
ghe tại vàm Hòa Phú (An Phước) về Cà Mau, từ đó lên tàu tập kết ra Bắc với niềm tin hai
năm sau sẽ gặp lại trong ngày thống nhất đất nước. Tuy nhiên, ngày mong đợi của nhân dân
Mang Thít nói riêng và nhân dân Nam bộ nói chung đã không đến đúng hẹn mà phải mất đến
hơn hai mươi năm mới thực hiện được.
*******
Từ khi thành lập huyện vào năm 1947 đến năm 1954, nhân dân Mang Thít đã thực hiện
một cuộc kháng chiến đầy gian khổ mà cũng rất vinh quang. Khi thực dân Pháp quay trở lại
gây hấn, xâm lược nước ta lần nữa, nhân dân Mang Thít đã đứng lên chiến đấu bằng mọi thứ
vũ khí thô sơ có trong tay ngăn bước quân thù. Quân dân Mang Thít vừa chiến đấu vừa xây
dựng chính quyền ở các vùng độc lập làm hậu phương vững chắc cho kháng chiến lâu dài.
Buổi đầu khi chưa xây dựng được lực lượng vũ trang, Mang Thít đã xây dựng thế trận du
kích chiến dựa vào các đội du kích đánh trả, tiêu diệt sinh lực địch dần dần tiến lên xây dựng
thế trận chiến tranh nhân dân, đấu tranh toàn diện với địch trên tất cả các mặt trận. Có những
lúc khó khăn tưởng chừng không vượt qua được, những lúc thoái trào bị địch đánh phá ác
liệt, thiệt hại to lớn, nhưng với tinh thần yêu nước sâu sắc, niềm tin mãnh liệt vào sự lãnh
đạo sáng suốt của Đảng, quân và dân Mang Thít đã từng bước vượt qua khó khăn cùng nhân
dân toàn tỉnh và nhân dân cả nước đi đến thắng lợi cuối cùng đánh bại đế quốc thực dân
Pháp. Song thắng lợi này không có nghĩa là quê hương đã sạch bóng quân thù, cuộc đấu
tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc vẫn còn tiếp diễn lâu dài và rất gian khổ.
Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Mang Thít bước vào một giai đoạn chiến đấu mới -
đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam thống nhất hoàn toàn đất nước.
Chương 3: HUYỆN MANG THÍT TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ (1954- 1975)
3.1. Đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, xây dựng lực lượng tiến hành Đồng khởi năm 1960
3.1.1. Đấu tranh đòi dân sinh dân chủ và chống “tố cộng, diệt cộng”
Hiệp định Giơnevơ được kí hết ngày 20 tháng 7 năm 1954 đánh dấu thất bại hoàn toàn
của thực dân Pháp trong chiến tranh xâm lược Việt Nam và cả Đông Dương. Miền Bắc được
độc lập, miền Nam tạm thời vẫn do đối phương quản lí nhưng hai năm sau sẽ tiến hành tổng
tuyển cử thống nhất đất nước. Hai bên (lực lượng cách mạng Việt Nam và Pháp) thực hiện
tập kết chuyển quân.
Thi hành Hiệp định, bộ đội cán bộ huyện Vũng Liêm chuyển quân xuống Cà Mau lên
tàu tập kết ra Bắc. Trước khi tập kết, tranh thủ thời gian 25 ngày kể từ ngày ngừng bắn đến
hạn tập kết, Huyện ủy đã bố trí, sắp xếp người đi tập kết, số người ở lại làm nồng cốt lãnh
đạo phong trào sau này. Tiếp tục cấp đất ở các vùng kìm cũ trước đây nhất là vùng ven thị
xã, vùng có đồng bào tôn giáo. Việc làm này đáp ứng nguyện vọng của nông dân, làm nhân
dân hết sức phấn khởi, càng gắn bó nhân dân với cách mạng, với Đảng. Trên đường đi tập
kết, bộ đội ta dừng lại ở các vùng kìm tiếp tục vận động tuyên truyền trong nhân dân, giúp
dân hiểu rõ thêm về cách mạng.
Sau khi tập kết xong, lực lượng cách mạng được sắp xếp lại. Tháng 10 năm 1954, Xứ
ủy Nam bộ và liên Tỉnh ủy miền Tây họp tại Chắc Băng (Cà Mau) quyết định chia lại địa
bàn các tỉnh. Tỉnh Vĩnh Trà được chia thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Tỉnh ủy Vĩnh
Long được thành lập do Nguyễn Văn Cung làm bí thư, chủ trương rút Đảng vào hoạt động bí
mật, sinh hoạt theo tổ nhóm, củng cố các cấp ủy đảng. Đảng viên ở các chi bộ được phân
thành hai loại A, B để dựa vào đó bố trí lại cán bộ phù hợp với tình hình mới. Đảng viên loại
A là đảng viên sống và hoạt động bất hợp pháp, loại B là đảng viên sống hợp pháp, hoạt
động bán và bất hợp pháp. Từ đó, chuyển đổi địa bàn hoạt động cho cán bộ. Song song đó,
Tỉnh ủy phân chia lại địa giới hành chính trong tỉnh như của địch để dễ dàng trong chỉ đạo.
Theo chủ trương này, huyện Vũng Liêm cũ bị giải thể, tách các xã khu A lập huyện Vũng
Liêm mới, giao các xã khu B về huyện Châu Thành, các xã được nhập lại trước đây cũng
được tách ra. Vùng Mang Thít (thuộc huyện Châu Thành) có các xã: Long Hồ, Long Đức,
Long Mỹ (tách ra từ xã Tam Long), Nhơn Phú, Chánh Hội (tách ra từ xã Nhơn Chánh), Bình
Phước, Hòa Tịnh (tách ra từ xã Phước Hòa), Mỹ An, Tân Long Hội, An Phước. Huyện ủy
Châu Thành được thành lập do Diệp Ngọc Côn làm bí thư. Dù tình hình còn nhiều khó khăn
nhưng ở vùng Mang Thít, các xã Long Mỹ, Bình Phước, Nhơn Phú, Tân Long Hội đã tổ
chức được chi bộ, các xã còn lại chỉ có đảng viên nòng cốt hoạt động. Trên cơ sở phân loại
đảng viên, Huyện ủy đã đưa một số cán bộ cài cắm vào tổ chức địch, các đảng viên bị lộ thì
lui vào hoạt động bí mật hoặc chuyển địa bàn.
Lúc này kẻ thù mới của dân tộc Việt Nam đã xuất hiện. Với âm mưu độc chiếm Đông
Dương, đế quốc Mĩ giúp sức cho thực dân Pháp kéo dài chiến tranh ở Việt Nam. Khi thực
dân Pháp thất bại phải kí Hiệp định Giơnevơ, đế quốc Mĩ đã ra sức phá hoại việc thi hành
Hiệp định. Mĩ nhảy vào miền Nam Việt Nam, xây dựng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm.
Ngô Đình Diệm đã xây dựng ở miền Nam Việt Nam một chế độ độc tài đàn áp cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta.
Ở Vĩnh Long, Nguyễn Văn Định được đưa lên làm Tỉnh trưởng, bộ máy tề ngụy các
cấp được thay thế bằng những tên thân Mĩ, bọn địa chủ bị cách mạng đánh đổ cũng quay về
tham gia bộ máy tề. Bên cạnh, bộ máy tề ngụy, chúng còn tổ chức các đảng phái và tổ chức
phản động nhằm lừa bịp nhân dân ta như Đảng cần lao nhân vị, phong trào cách mạng quốc
gia,... ra sức tuyên truyền xuyên tạc kháng chiến, gây sự nghi ngờ chia rẽ trong nhân dân.
Diệm thực hiện thống nhất quân đội bằng giải pháp vừa mua chuộc, lôi kéo vừa đưa quân
đánh dẹp các phe phái quân đội khác như quân Bình Xuyên, các đội quân Cao Đài, Hòa Hảo.
Tháng 8 năm 1955, địch tách huyện Châu Thành thành hai huyện là Châu Thành và Cái
Nhum (Cái Nhum theo địa giới của địch có 10 xã). Thực hiện chủ trương chung là chia địa
giới của ta theo như của địch, Tỉnh ủy cũng chia huyện Châu Thành ra hai huyện Châu
Thành và Cái Nhum. Huyện Cái Nhum có địa giới cơ bản như huyện Nhì trước đây, Huyện
ủy Cái Nhum do Huỳnh Văn Kỷ làm bí thư. Huyện ủy chỉ đạo các tổ chức đảng bám dân,
bám địa bàn lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Ta dùng các hình thức vạn
dần đổi công theo vụ mùa (cày, cấy, nhổ mạ, cắt lúa,…), các hội (hội đình, chùa, miễu), các
lớp học bình dân học vụ,… tập hợp nhân dân sinh hoạt chính trị. Đảng nắm quần chúng bằng
cơ chế tổ chức mới gọi là “hệ thống nòng cốt chuỗi rể”. Mỗi đảng viên xã ấp nắm chặt một
số cốt cán, mỗi cốt cán lại nắm chắt một số nòng cốt, mỗi nòng cốt nắm chặt một số quần
chúng tích cực, mỗi quần chúng tích cực thông qua tổ chức công khai nắm quần chúng rộng
rãi, tuyên truyền một số quần chúng khác trong xã, ấp. Nhờ tổ chức dây chuyền như vậy nên
các chủ trương của đảng đều được đưa đến nhân dân và những phản ánh của nhân dân đều
tới các cơ sở Đảng. Từ đó, cán bộ đảng viên bám chắc vào quần chúng, thực hiện phương
châm bí mật, xây dựng căn cứ vững chắc trong lòng dân. Ta cũng lợi dụng mâu thuẫn giữa
các lực lượng giáo phái với Ngô Đình Diệm đã lôi kéo họ về phía ta chống Diệm, xây dựng
cơ sở trong vùng tôn giáo, phát triển lực lượng cách mạng.
Thực hiện chủ trương cài người vào hàng ngũ địch, ta cài người vào tổ chức công đoàn
do địch lập. Tỉnh ủy cài Trần Văn Đô (Tân Long Hội) vào ban chấp hành liên hiệp công
đoàn tỉnh, tạo điều kiện cho công nhân đấu tranh. Phong trào công nhân đấu tranh của công
nhân lò gạch ở Long Đức Đông, Mỹ An nổ ra mạnh mẽ. Ban đầu có khoảng 60 công nhân ở
hai lò gạch Quản Long, Vạn Xương đấu tranh đòi giới chủ tăng lương và trả lương cho các
em nhỏ. Sau đó, phong trào lan nhanh ra trên 10 lò gạch khác với hàng hàng ngàn công nhân
và nhân dân tham gia. Ta lợi dụng nghiệp đoàn phát động đấu tranh suốt cả tuần lễ, cuối
cùng địch phải nhượng bộ can thiệp buộc chủ lò phải tăng lương cho công nhân. Qua cuộc
đấu tranh ta nắm được lực lượng quần chúng lao động ở đây, tạo cơ sở cho cán bộ đứng chân
hoạt động.
Cùng với việc đấu tranh chống các trò lừa bịp về chính trị của chính quyền Diệm, quần
chúng nhân dân phải đấu tranh chống áp bức về kinh tế. Trong năm 1955, chính quyền Ngô
Đình Diệm đã ban hành chỉ dụ số 2 và số 7 về cải cách điền địa. Chúng tiến hành các biện
pháp khôi phục lại tầng lớp địa chủ, tước đoạt ruộng đất của nông dân được cách mạng cấp
trước đây. Bọn chúng buộc người nông dân làm khế ước với địa chủ, đóng địa tô cho địa chủ
hoặc phải mua lại ruộng đất mà mình đang canh tác nếu không phải đăng kí nhượng mãi để
địa chủ bán cho người khác. Hai chỉ thị này phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất của nông dân,
gây xáo canh mất đoàn kết trong nông dân. Vì vậy cuộc đấu tranh chống xáo canh thu tô diễn
ra hết sức gay gắt. Bọn địa chủ dựa vào binh lính, cảnh sát làm áp lực, đe dọa, khống chế
nhân dân, một số nông dân cam chịu nhân nhượng đóng lúa ruộng, đóng tô cho địa chủ.
Đảng bộ chỉ đạo không cho xáo canh, không nhân nhượng, không làm kế ước, nông dân với
nhau không mua ruộng đất mà cách mạng giao cấp,… Khi địch dùng làng lính đi cướp đất
của nông dân đo, cấp bán cho người khác, các chi bộ vận động nhân dân ban đêm nhổ bảng,
nhổ cọc tiêu làm cho địch phải đo đi đo lại nhiều lần. Người nhận đất vì thế cũng không dám
nhận nên phần lớn nông dân vẫn giữ được ruộng đất của mình. Đời sống nhân dân vẫn được
đảm bảo, giữ vững lòng tin của nhân dân vào cách mạng.
Ngày 23 tháng 10 năm 1955, chính quyền Diệm tổ chức trưng cầu dân ý nhằm phế truất
Bảo Đại, thâu tóm quyền lực. Huyện ủy đã lãnh đạo nhân dân Cái Nhum tẩy chay cuộc trưng
cầu dân ý bằng nhiều hình thức treo biểu ngữ, đặt chất nổ, rải truyền đơn,… Nhiều nơi trong
huyện nhân dân không đi bỏ phiếu và nếu có đi thì gạch hình của Diệm hoặc viết khẩu hiệu
đả đảo Diệm bỏ vào thùng phiếu. Tuy vậy, cuối cùng Ngô Đình Diệm vẫn nhậm chức Tổng
thống ở miền Nam. Tháng 3 năm 1956, chính quyền Diệm tổ chức bầu Quốc hội lập hiến,
đến tháng 2 năm 1956 ban hành Hiến pháp ngụy quyền miền Nam. Các hoạt động chính trị
của ngụy quyền Sài Gòn trái với qui định của Hiệp định Giơnevơ với ý đồ chia cắt lâu dài
đất nước. Ta tiếp tục lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống lại mưu đồ của địch, nhưng dưới sự
kìm kẹp của bộ máy tề ngụy các cuộc đấu tranh của ta chỉ gây khó khăn cho địch chứ không
làm thất bại được âm mưu của chúng.
Năm 1956, sau khi dẹp xong các lực lượng vũ trang của các giáo phái và tay sai thân
Pháp, củng cố xây dựng quân đội và bộ máy kìm kẹp từ trung ương đến tận xã - ấp, Mĩ -
Diệm bắt đầu tấn công trực tiếp vào lực lượng cách mạng. Đầu tiên, chính quyền Diệm tuyên
bố kháng chiến chống Pháp là có công, kêu gọi những người kháng chiến cũ ra báo công để
khen thưởng. Đây là một âm mưu thâm độc của kẻ thù, thực chất là một hình thức kêu gọi
những người kháng chiến ra đầu thú, khống chế buộc phải làm việc cho chúng hoặc để
khủng bố sau này. Lợi dụng chủ trương này của địch, ta đã cài một số cán bộ, đảng viên vào
hàng ngũ của địch kết hợp với những người đã được cài vào trước đây tăng cường công tác
địch ngụy vận (chủ yếu qua gia đình binh sĩ) để ủng hộ cho các cuộc đấu tranh của nhân dân.
Ngày 20 tháng 7 năm 1956, Ngô Đình Diệm công khai tuyên bố không thi hành Hiệp
định Giơnevơ, ban hành quốc sách “tố cộng diệt cộng” trên toàn miền Nam, hô hào “lấp
sông Bến Hải”, “Bắc tiến”. Địch đã chuẩn bị công phu và bài bản từ thấp đến cao chiến dịch
“tố cộng diệt cộng” với khẩu hiệu “giết lầm hơn bỏ sót”. Chúng tiến hành phân biệt đối xử
với những gia đình kháng chiến, cắm bảng đen, bảng đỏ, đồng thời chia dân làm ba loại.
Loại A là gia đình có người tập kết, cán bộ cộng sản, loại B là những người lưng chừng
không tham gia vào bên nào, loại C là những người tham gia lính ngụy, tề ngụy. Địch chủ
trương dựa vào loại C lôi kéo loại B, tấn công, khống chế loại A, thành lập các đoàn tố cộng,
đoàn công dân vụ hoạt động khắp vùng thành thị, nông thôn, thực hiện chiến tranh tâm lý.
Chúng vừa mua chuộc nhân dân bằng kinh tế, vừa lừa mị bằng chính trị, thực hiện “đoàn ngũ
hóa nhân dân” bắt buộc tất cả mọi người phải vào các tổ chức bán vũ trang như: thanh niên
cộng hòa, phụ nữ liên đới,… đưa công an, mật vụ kìm kẹp chặt quần chúng.
Ở Cái Nhum, địch thực hiện giai đoạn 1 chiến dịch tố cộng, dùng lực lượng quân đội,
cảnh sát, bảo an càn quét, lùng bắt cán bộ, đóng thêm đồn bót, áp dụng cả chiến thuật biệt
kích, lợi dụng những kẻ đầu hàng chỉ điểm. Một số tên đã đầu hàng trước đây nay theo chân
Mĩ đánh phá cách mạng như tên Tám Nghiêm (Chánh Hội), tên Ngọc (Hòa Phú),… Địch tập
trung, lập hồ sơ những gia đình có người thân đi kháng chiến khống chế từng đối tượng, ép
vợ con cán bộ làm đơn đòi chồng đi tập kết trở về hoặc ép họ lấy các sĩ quan, những tên ác
ôn nhằm ly gián cán bộ và gia đình, cán bộ với quần chúng. Chúng thực hiện những cuộc tàn
sát, khủng bố trắng, gieo không khí khiếp đảm trong nhân dân, đặt người cán bộ trước sự lựa
chọn hoặc chết hoặc đầu hàng. Ở Long Mỹ một số đảng viên đã ra đầu thú, chi bộ tan rã
hoàn toàn. Trong toàn huyện có hàng chục cán bộ đảng viên bị bắt, bị giết.
Mặc dù kẻ thù tăng cường khủng bố đàn áp gắt gao, nhưng nhân dân Mang Thít vẫn
một lòng với cách mạng, hết lòng nuôi chứa bảo vệ cán bộ. Cán bộ vào nhà dân ở hầm bí
mật, vách ngăn đôi, cánh én đôi, lập các khu vực cứ như Lê Văn Tẹn (ở Chánh Hội) đã lập
được cứ ở giồng Bà Keo, Chín Rạng (ở Tân Long Hội) lập khu vực cứ ở vùng kinh đào, rạch
Ông Thìn, rạch Ông Tổng, ấp 1, ấp 2 tạo thành khu vực liên hoàn với Hòa Hiệp, Tân An
Luông. Đây cũng là khu vực hoạt động của một số cán bộ Tỉnh ủy: Nguyễn Văn Cung, Trịnh
Văn Lâu,… Ở Hòa Tịnh, Bình Phước, Nhơn Phú cũng lập được các khu vực cứ.
Tháng 10 năm 1957, địch nhập hai tổng Thanh Thiềng và Bình Thiềng của huyện Cái
Nhum vào huyện Chợ Lách, đóng ở Cái Nhum một đồn bảo an quân số khoảng một trung
đội. Mỗi tổng có một đoàn dân vệ khoảng 20 đến 25 tên do Cai tổng chỉ huy. Mỗi xã có một
đoàn dân vệ khoảng 20 đến 35 tên do ủy viên cảnh sát chỉ huy. Bọn ác ôn như cai tổng Huề,
cai tổng Vị, xã Do,… tiến hành đánh phá phong trào cách mạng rất ác liệt. Ứng phó với tình
hình mới, cuối năm 1957 Tỉnh ủy nhập huyện Cái Nhum vào huyện Chợ Lách (lúc này Chợ
Lách có 9 xã cù lao và 7 xã đất liền). Huyện ủy mới do Nguyễn Thế Truyện (Tám Truyện)
làm bí thư. Ngoài ra ban chấp hành Huyện ủy còn có Nguyễn Văn Dài (Sáu Dài), Nguyễn
Văn Giao (Ba Giao), Nguyễn Lương Khuê (Ba Khuê),… Dù tình hình cách mạng trong
huyện khó khăn, nhân dân yêu cầu đấu tranh vũ trang để chống lại các hoạt động phản cách
mạng của địch nhưng chủ trương chung lúc này vẫn là tuyên truyền giáo dục, tổ chức đấu
tranh chính trị là chính, đẩy mạng binh địch vận để nắm tình hình chưa cho phép bạo động.
Từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1957, địch mở chiến dịch mùa thu đánh vào Tây Nam
bộ. Ở Chợ Lách, địch đẩy mạnh tố cộng diệt cộng giai đoạn hai đánh vào chiều sâu. Dựa vào
bọn đầu thú, phản cách mạng, địch tăng cường đánh phá các cơ sở cách mạng, nhiều cán bộ
đảng viên, cơ sở nồng cốt sa vào tay giặc, trong đó có bí thư Huyện ủy Nguyễn Thế Truyện,
Ba Ký (chi bộ Hoà Tịnh),… Tổ chức đảng bị thiệt hại rất nặng nề, một số xã chi bộ không
còn, thậm chí một số xã không còn đảng viên.
Cuối năm 1958, Tỉnh ủy điều Nguyễn Ngọc Sương về làm bí thư Huyện ủy, củng cố lại
ban chấp hành. Huyện ủy chỉ đạo nhiệm vụ cách mạng trong huyện là:
- Giáo dục quần chúng nhận rõ âm mưu thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, nhất là thủ
đoạn của bọn tay sai, ác ôn như tổng Huề, tổng Vị, Ách Thông, đội Năm,…
- Khéo léo che dấu và bảo toàn phát triển cơ sở.
- Những nơi không có chi bộ phải ra sức bám rễ xây dựng chi đoàn tạo điều kiện hình
thành lại chi bộ.
[15:152]
Từ ngày mùng 3 đến mùng 5 tết âm lịch năm 1959, Hội nghị ban chấp hành Huyện ủy
họp tại Hòa Tịnh nhất trí với chủ trương của Huyện ủy, đồng thời bổ sung thêm nhiệm vụ
mới là đấu tranh chống địch khủng bố, chống bắt xâu làm khu trù mật. Hội nghị cũng đưa
kiến nghị lên Tỉnh ủy đề nghị cho diệt tên tổng Huề (ở Cái Nhum) và đội Năm (ở Chợ Lách)
là những tên ác ôn gây nhiều nợ máu với nhân dân.
Tháng 3 năm 1959, Ngô Đình Diệm tuyên bố miền Nam ở trong tình trạng chiến tranh
và viện cớ đó huy động quân đội, cảnh sát vào các cuộc càn quét. Tháng 7 năm 1959, Ngô
Đình Diệm ban lành luật 10/59 đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, lê máy chém đi khắp
nơi, lập tòa án quân sự đặc biệt tuyên án tử hình nhiều cán bộ của ta. Bọn ác ôn, do thám,
gián điệp ngày đêm rình rập, lùng bắt cán bộ cách mạng, gây tâm lý vừa lo sợ vừa căm thù
cao độ trong quần chúng, đảng viên. Huyện ủy chủ trương đẩy mạnh hoạt động diệt ác, để
làm giảm khí thế của địch. Được sự chấp thuận của Tỉnh ủy, tháng 9 năm 1959, Trần Văn
Thế và Nguyễn Văn Tân phục kích tiêu diệt tên tổng Huề trên lộ Cái Nhum. Ở Chợ Lách,
không diệt được Đội Năm chỉ làm hắn bị thương. Một số xã xây dựng được lực lượng vũ
trang (du kích mật) cũng tổ chức diệt ác như xã Tân Long Hội diệt được tên cảnh sát Hồng
Hà. Bên cạnh đó, cơ sở đảng vận động nhân dân Cái Nhum viết đơn tố cáo tội ác của quận
trưởng Chợ Lách là Nguyễn Tri Sơn gởi đăng báo, dựa vào những người có thế lực của ngụy
quyền chống lại quận Sơn. Cuối cùng bọn ngụy quyền đã cách chức quận Sơn. Bọn ác ôn
sừng xỏ bị diệt, bị đổi đi nên những tay chân còn lại của địch núng thế, co lại tạo bước
chuyển mới cho phong trào đấu tranh của ta.
Cuối năm 1959, Nghị quyết 15 của Trung ương cho phép đấu tranh vũ trang đã mở một
bước ngoặc quan trọng cho con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.
3.1.2. Xây dựng lực lượng thực hiện Đồng khởi
Trong khoảng thời gian từ 1957 đến 1959, địch đơn phương tiến hành chiến tranh,
nhưng ta vẫn chưa kịp thời dùng bạo lực cách mạng chống trả. Vì vậy đến đầu năm 1960,
địch đã gây cho ta nhiều tổn thất rất nghiêm trọng và nắm quyền chủ động trên chiến trường.
Chính sách tố cộng, diệt cộng của Ngô Đình Diệm gây căm thù cao độ trong quần chúng
nhân dân, thậm chí gây mâu thuẫn trong nội bộ của địch. Đầu năm 1960, địch vẫn tăng
cường càn quét, đánh phá vào Chợ Lách, bắt dân đi làm khu trù mật Cái Sơn. Trong tháng 1
năm 1960, tên Sáu Khum là y tá văn phòng Huyện ủy phản bội cách mạng ra đầu thú, dẫn
lính về đánh các cơ sở cách mạng. Ngày đầu tiên, địch đánh vào căn cứ Huyện ủy ở ấp 1
(Tân Long Hội), ngày thứ hai đánh vào Hòa Tịnh, ngày thứ ba đánh Tân Thiềng, Hòa Nghĩa.
Do kịp thời cảnh giác nên khi địch đánh trúng các cơ quan của huyện các cán bộ chủ chốt
của ta vẫn thoát an toàn. Suốt gần một tháng, địch truy đánh quyết liệt, bắt, tù đày, tra tấn
hàng trăm cán bộ, cơ sở nuôi chứa cách mạng của huyện. Đây là một thiệt hại to lớn của
huyện trong quá trình chuẩn bị Đồng khởi.
Tiếp thu Nghị quết 15 của Trung ương, Tỉnh ủy chỉ đạo cho huyện Chợ Lách chuẩn bị
đồng khởi vào ngày 3 tháng 2 năm 1960.
Ngày 17 tháng 1 năm 1960, phong trào Đồng khởi nổ ra ở Mỏ Cày (Bến Tre) giành
thắng lợi giòn giã càng thôi thúc quân và dân toàn huyện tích cực, khẩn trương chuẩn bị cho
ngày Đồng khởi. Đến cuối tháng 1, có lệnh hoãn đồng khởi, huyện tiếp tục xây dựng cơ sở
diệt ác, phá kìm, lấy vũ khí của địch trang bị cho ta đợi mệnh lệnh mới. Ngày 10 tháng 5
năm 1960, Bảy Thọ (bí thư chi bộ Hòa Tịnh) và Lê Văn Tẹn với khoảng 10 người tổ chức
diệt tên ác ôn cảnh sát Cao ở Hòa Tịnh nhưng chỉ làm tên Cao bị thương. Sau trận này ta thu
được 3 súng của địch. Ở Bình Phước, ta tổ chức diệt tên Mười Nồi cũng là một cảnh sát ác
ôn nhưng hắn thoát chết. Ở Chánh Hội, lợi dụng một đám cưới có bọn lính vào ăn uống, ta tổ
chức giựt được hai súng. Ở Mỹ An, ta tìm và lấy được 6 súng của bọn Hòa Hảo giấu khi bị
Ngô Đình Diệm đánh dẹp trước đây. Bên cạnh đó, Huyện ủy chủ trương cho một số cơ sở ta
cài cắm trước đây lấy súng địch đưa về cho các lực lượng của ta. Sau thắng lợi của công tác
binh vận và diệt ác, huyện Chợ Lách đã có một số vũ khí, một vài xã hình thành được lực
lượng vũ trang. Một số xã Mỹ An, An Phước tự tổ chức sản xuất được vũ khí thô sơ. Bọn
địch hoang mang, nao núng.
Đầu tháng 8 năm 1960, Tỉnh ủy tăng cường cho huyện một số cán bộ chuẩn bị đồng
khởi. Thời gian đồng khởi là 1 giờ sáng ngày 14 tháng 9 năm 1960. Huyện ủy chọn các xã
Chánh Hội, An Phước, Bình Phước, Hòa Tịnh làm điểm chỉ đạo, xã Tân Long Hội làm
nhiệm vụ chủ yếu là diệt ác, trừ gian. Ngày 10 tháng 8 năm 1960, ban lãnh đạo đồng khởi
gồm Ba Thuận, Ba Đinh, Nguyễn Ngọc Sương, Lê Văn Tẹn,... họp kiểm điểm tình hình
chuẩn bị đồng khởi ở Long Quới (Bình Phước) thì địch huy động lính dân vệ tổng đoàn
Thanh Thiềng từ Hòa Tịnh đánh thẳng vào khu vực hội nghị. Bộ đội, du kích của ta tổ chức
dàn trận địa, phục kích đoàn quân càn quét. Bị đánh bất ngờ, địch rối loạn hàng ngũ, ta bắt
sống đội Thạ và một dân vệ, thu 11 súng, diệt được một số tên. Nghe súng nổ, Ách Thông
trưởng đồn bảo an Cái Nhum dẫn 40 lính bảo an và dân vệ tổng Bình Thiềng từ Cái Nhum
lên tiếp viện. Bộ đội, du kích ta tiếp tục dàn trận đánh trả. Ta bắn bị thương Ách Thông, bắt
sống 2 tên, diệt 5 tên, thu được 13 súng. Hai trận đánh trong một ngày ta tiêu diệt phần lớn
trung đội bảo an và hai tổng đoàn dân vệ. Thắng lợi trước ngày đồng khởi đã làm thanh thế
của ta lên cao, không khí chuẩn bị đồng khởi rất sôi nổi.
Phối hợp với chiến trường chung của tỉnh và Nam bộ, đêm 14 tháng 9 năm 1960 nhân
dân vùng Mang Thít nhất tề đứng dậy thực hành Đồng khởi.
Ở An Phước, ta dùng binh vận lấy đồn Bờ Dừa, bao vây tác động bọn lính đồn ở đầu
lộ số 8 (ngang Ủy ban nhân dân xã An Phước hiện nay) tháo chạy. Nhân dân tiếp tục kéo
xuống bao vây công sở bót Vàm (ngang Ủy ban nhân dân xã Chánh An hiện nay).
Ở Bình Phước, nhân dân nổi dậy bắt xử 4 tên ác ôn, một số tề còn lại tan rã, một số
chạy ra công sở cầu số 1. Nhân dân kéo ra bao vây công sở đến sáng, bọn lính trong đồn xả
súng ra làm một du kích của ta hi sinh.
Ở Nhơn Phú, Hòa Tịnh, Mỹ An khí thế quần chúng lên rất cao. Du kích đột nhập
công sở Hòa Tịnh diệt tên cảnh sát Cao, tên đại diện Chẩn và một số gián điệp địch cài vào
vùng tôn giáo khống chế nhân dân. Bọn ác ôn núng thế bỏ chạy, nhân dân tiến lên bao vây
công sở, các đồn bót lẻ địch đều tháo chạy.
Ở Tân Long Hội, nhân dân nổi dậy làm chủ ấp 1, ấp 2, ấp 3, binh vận lấy đồn số 6,
sau đó qua lấy đồn Lý Nho ở Hòa Hiệp.
Trên lộ 32 lính các đồn số 4, số 5, số 6 đều tháo chạy, nhân dân ba xã Tân Long Hội,
Chánh Hội, Bình Phước đào phá nhiều đoạn lộ gây khó khăn cho địch trong chuyển quân.
Nhìn chung, phong trào Đồng khởi ở Mang Thít đã giành thắng lợi lớn, ta đã quét sạch
bộ máy kìm kẹp ở ấp, xóm, bọn ác ôn bị trừng trị, giải phóng cơ bản các xã Mỹ An, Hòa
Tịnh, Chánh Hội, An Phước, Tân Long Hội, Nhơn Phú. Địch rút vào cố thủ trong các công
sở tề xã. Thắng lợi của Đồng khởi tạo điều kiện cho lực lượng cách mạng phát triển vượt
bậc. Ngày 20 tháng 9 năm 1960, bộ đội địa phương huyện được thành lập với quân số 30
người được trang bị 12 súng do Trần Văn Thế làm trung đội trưởng. Sau đó đơn vị phát triển
lên thành đại đội với phiên hiệu Đại đội Cửu Long. Mỗi xã thành lập một tiểu đội du kích,
nhiều ấp cũng hình thành được đội du kích. Khí thế cách mạng ngày càng lên cao áp đảo kẻ
thù.
Trên mặt trận chính trị, các chi bộ xã phát huy khí thế đồng khởi thường xuyên các cuộc
biểu tình, đấu tranh chống bắt xâu, bắt lính. Nhiều cuộc biểu tình bị địch cho quân đàn áp
như cuộc biểu tình ngày 1 tháng 12 năm 1960 tại Mỹ An bị địch đàn áp làm chết 1 người.
Đến cuối năm 1960, địch vẫn cố thủ ở các khu vực, công sở chỉ dùng pháo bắn vào các khu
vực nghi ngờ có bộ đội tập trung. Những cuộc bắn pháo của địch hầu hết đều trúng vào nhân
dân như đêm 6 tháng 12 năm 1960, địch bắn pháo vào ấp Phú Thạnh (Nhơn Phú) làm chết 2
người dân.
Phong trào Đồng khởi năm 1960 đánh dấu bước ngoặc trong lịch sử đấu tranh giải
phóng dân tộc ở miền Nam. Trong một thời gian ngắn quân và dân ta đã phá rã bộ máy kìm
kẹp của Mỹ - Diệm ở nông thôn, làm thất bại hoàn toàn chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của
địch. Tuy nhiên, lực lượng vũ trang của địch từ công sở xã, quận, tỉnh trở lên vẫn còn
nguyên vẹn. Địch vẫn còn nắm chính quyền, còn nhiều tiềm lực chiến tranh tiếp tục đưa ra
những thủ đoạn, âm mưu mới và cách mạng miền Nam vẫn phải tiếp tục chiến đấu lâu dài
gian khổ cho nhiệm vụ thống nhất đất nước.
3.2. Từ sau Đồng khởi đến tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968
3.2.1. Phát triển lực lượng kháng chiến chống bình định lấn chiếm giành quyền làm chủ nông thôn
Sau thắng lợi của Đồng khởi, một vùng nông rộng lớn đã được giải phóng. Huyện ủy
chỉ đạo nhiệm vụ chiến lược của toàn huyện là:
- Thứ nhất, tiếp tục điều chỉnh ruộng đất cho ổn định, lãnh đạo hướng dẫn nông dân
có ruộng nhiều chia sẻ cho người nghèo, hướng dẫn đắp đập giữ khô cày cấy kịp thời
vụ, tổ chức các vạn cấy, vạn phát.
- Thứ hai là vận động quần chúng tham gia chống Mỹ cứu nước giải phóng dân tộc.
Trong đó việc trước tiên là xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, rút đoàn viên thanh niên
xây dựng bộ đội địa phương, hậu cần, quân y, dân y. [15:170]
Đầu năm 1961, Mặt trận dân tộc giải phóng huyện thành lập do Nguyễn Lương Khuê
làm chủ tịch đã tổ chức miting tại ngã ba Ông Tiều (xã Hòa Tịnh). Cuộc miting nêu cao ngọn
cờ độc lập dân tộc, phát động thanh niên tòng quân giết giặc, nhiều thanh niên đã hăng hái
tình nguyện vào lực lượng vũ trang. Các đoàn thể thanh vận, phụ vận, nông vận phát triển
mạnh mẽ. Bộ đội địa phương huyện tăng quân số lên 70 người được trang bị khá đầy đủ do
Phùng Văn Xuân làm đại đội trưởng. Đơn vị bộ đội địa phương quân thường xuyên học tập
quân sự chính trị, chiến thuật, kỹ thuật một cách có bài bản. Huyện tổ chức công trường sản
xuất vũ khí thô sơ, thành lập quân y phục vụ chiến đấu.
Sau một thời gian choáng váng vì phong trào Đồng khởi, địch bắt đầu phản kích khôi
phục địa bàn. Địch tiến hành các cuộc hành quân tái chiếm giao thông, bắt dân đắp sửa đồn
bót, sửa lộ 32, lần lượt đóng lại các đồn trọng yếu. Sau thất bại trong chiến lược “tố cộng,
diệt cộng” dựa vào lực lượng cảnh sát dưới sự chỉ đạo của tình báo CIA Mỹ, địch chuyển
sang thực hiện giai đoạn đệm gọi là “chiến lược chống nổi dậy” từ tháng 12 năm 1960 đến
tháng 6 năm 1961. Thực hiện chiến lược này, “địch tăng cường quân chủ lực, giao thêm
nhiệm vụ đảm bảo an ninh nội địa, coi trọng việc củng cố và phát triển bảo an dân vệ ở địa
phương” [15:172].
Ngày 10 tháng 3 năm 1961, địch tái lập quận Cái Nhum (có 8 xã) gồm hai tổng Thanh
Thiềng và Bình Thiềng, đặt quận lị tại chợ Cái Nhum. Đến ngày 31 tháng 5 năm 1961, địch
đổi tên quận Cái Nhum thành Minh Đức, đưa hai đại đội bảo an Hòa Hảo về đóng tại Cái
Nhum, dùng chiến tranh tâm lý tổ chức chiêu an các cán bộ cách mạng của ta. Đối phó với
địch, Huyện ủy chủ trương xây dựng vùng giải phóng, vùng căn cứ và thế trận chiến tranh
nhân dân, đưa du kích lên chiến đấu bảo vệ xóm làng. Bộ đội địa phương, du kích chống trả
quyết liệt các trận càn của địch lấn chiếm vùng giải phóng. Ở Tân Long Hội, địch càn quét
vào rạch Mương Chùa bị du kích phục kích diệt một số tên, thu 4 súng. Tháng 6 năm 1961,
du kích ta tiếp tục phục kích lính tề xã ở đồn Tân Qui tiêu diệt hai tên, thu 4 súng. Ở Mỹ An,
địch càn quét xuống kinh Thầy Cai, đội du kích xã do đội trưởng Hoàng Nga chỉ huy phục
kích tiêu diệt tên trung úy địch, bẻ gãy trận càn. Nhìn chung, hình thức chiến đấu của ta vẫn
còn manh tính tập trung, phô trương nên kết quả chiến đấu không cao.
Bước vào tháng 6 năm 1961, Mỹ thực hiện chiến lược chiến tranh đặc biệt dựa vào lực
lượng quân đội ngụy và hệ thống cố vấn Mỹ với vũ khí, phương tiện hiện đại, quyết tâm
giành thắng lợi quyết định trong 18 tháng (từ tháng 6 năm 1961 đến hết năm 1962) sau đó
giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1965. Vì vậy, địch phát triển mạnh quân ngụy, tăng
cường cố vấn quân sự và lực lượng yểm trợ Mỹ, tập trung nổ lực thực hiện quốc sách “ấp
chiến lược” nhằm nắm lấy quần chúng nhân dân, tách dân ra khỏi cách mạng. Địch chú trọng
kiện toàn chi khu, đưa Thạch Móc (người Khmer) về làm chi khu trưởng ở Cái Nhum, tăng
cường pháo binh, đưa về chi khu Cái Nhum hai tàu sắt (tàu FOM). Địch khai thác bọn đầu
hàng phản cách mạng, đánh bật một số cơ sở ta cài vào hàng ngũ địch như cảnh sát Bài ở
Hòa Tịnh, cảnh sát Phượng ở Tân Long Hội. Đầu tiên địch lập ấp chiến lược thí điểm ở
Phước Ngươn B (xã Phước Hậu) đến cuối năm 1961 triển khai lập ấp chiến lược lan ra toàn
huyện.
Đầu năm 1962, địch lập ấp chiến lược bao quanh khu chợ Cái Nhum (ở các xã Chánh
Hội, An Phước, Tân Long Hội), bắt nhân dân đắp bờ đay dài từ hương lộ 8 đến An Phước, từ
Rạch Sâu lên Đìa Môn lên ấp Phú Hội (An Phước), qua ấp III, Bà Nghè (Chánh Hội) lên lộ
32 vào ấp 1, ấp 2 (Tân Long Hội). Sau đó dùng cọc sắt, dây chì gai rào theo bờ đay, đóng các
đồn Rạch Sâu, ấp 5, Đìa Môn, Bầu Thiềng,… để bảo vệ bờ đay. Dọc theo bờ đay, địch tổ
chức nhiều chốt gác của thanh niên chiến đấu. Do đó các lực lượng vũ trang của huyện liên
tục bám đánh, chống bình định gom dân lập ấp chiến lược, tạo thế giằng co, căng kéo, cài
răng lược quyết liệt với địch.
Ở tuyến sông Mang Thít và lộ 32, bộ đội tấn công đồn Hòa Hiệp lần hai thu được 8
súng trường, du kích Tân Long Hội cải trang kết hợp cơ sở nội ứng lấy đồn số 3. Ta thường
xuyên đắp mô, đào phá lộ 32, địch hành quân giải tỏa, ta phục kích đánh trả. Tiêu biểu là vào
ngày 8 tháng 2 năm 1962, ta phục kích đánh chặn một trung đội dân vệ do cảnh sát Hạn chỉ
huy đi phá mô ở cầu số 5 trên lộ 32, diệt được tên cảnh sát Hạn và 7 dân vệ, bắn bị thương
10 tên, bắt sống 6 tên, thu 7 súng, phá hủy 1 xe quân sự của địch. Trận đánh này đã gây rúng
động lớn trong hàng ngũ địch, bộ đội và nhân dân ta rất phấn khởi.
Ở Bình Phước, cai tổng Một tổ chức hành quân đóng đồn Bà Giáo bị bộ đội địa phương
phục kích đánh chạy tán loạn, bắt sống 3 tên thu 3 súng. Ở Nhơn Phú, bộ đội địa phương do
Phùng Văn Xuân (Tư Quốc) làm đại đội trưởng, kết hợp du kích đánh chặn diệt trung đội
dân vệ do cảnh sát Sen chỉ huy. Trận đánh giành thắng lợi lớn nhưng 2 cán bộ của ta là Tư
Quốc và Năm Sơn (chính trị viên) hi sinh. Sau trận này, huyện rút Hoàng Nga ở Mỹ An về
làm đại đội trưởng, tỉnh tăng cường Tám Thích về làm chính trị viên và một số chiến sĩ tiểu
đoàn Lý Thường Kiệt nâng quân số của bộ đội địa phương huyện lên 100 người.
Ở các địa phương khác phong trào đấu tranh cũng phát triển mạnh. Ta đánh đồn Rạch
Trầu (Long Mỹ) giải phóng được một vùng rộng lớn và xây dựng cơ sở cách mạng. Ở tuyến
sông Cổ Chiên, du kích dùng xăng đánh bót Mỹ An nhưng không thành công, sau đó chuyển
sang bao vây, chặn đánh dân vệ Cái Kè, phát động nhân dân đấu tranh, làm chủ hoàn toàn
tuyến sông Cổ Chiên. Ta tiếp tục tấn công đồn Rạch Sâu (An Phước), đánh đồn Ngã Tư kinh
mương lộ, đồn Cầu Bắc (Bình Hòa Phước). Tuy nhiên, kết quả những trận đánh này không
cao, chỉ làm bọn lính bỏ chạy nhưng ngay sau đó địch đã nhanh chóng chiếm lại.
Song song đó, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng cũng lên cao. Nếu trong
năm 1961 huyện chỉ tổ chức 4 cuộc đấu tranh với hơn 1.200 lượt người tham dự thì đến
“năm 1962 đã tổ chức được 11 cuộc với 1.734 người dự trong đó có 6 cuộc đấu tranh tới thị
xã Vĩnh Long” [15:180]. Nội dung đấu tranh chủ yếu là đòi địch không được bắt con em đi
lính, không bắn pháo bừa bãi, không vào ở ấp chiến lược. Phong trào đấu tranh chính trị giai
đoạn này được tổ chức qui cũ, bài bản, có cán bộ trực tiếp lãnh đạo nên tạo được hiệu quả
cao, làm bọn làng lính kiêng nể.
Tháng 2 năm 1962, tình hình nhân sự của Huyện ủy có sự biến động. Bí thư Huyện ủy
Nguyễn Ngọc Sương được Tỉnh ủy rút đi nhận nhiệm vụ mới, Nguyễn Văn Thảnh (Tư Lược)
lên thay. Đến ngày 28 tháng 2 năm 1962, trên đường về tỉnh dự hội nghị, Nguyễn Văn Thảnh
cùng 2 vệ sĩ hi sinh khi đụng độ với hai đại đội biệt kích của địch ở tỉnh lộ 32. Đây là một
tổn thất lớn cho phong trào đấu tranh ở địa phương. Hai tháng sau, Tỉnh ủy mới bổ sung
Trần Thái Bửu (Ba Thái) về làm bí thư Huyện ủy.
Giữa năm 1962, phong trào cách mạng của huyện được Tỉnh ủy đánh giá cao, đứng thứ
2 toàn tỉnh sau huyện Tam Bình. Xã Mỹ An cũng được tuyên dương điển hình toàn tỉnh về
việc tổ chức cơ sở, tổ chức làng xã chiến đấu bao vây địch và được đổi tên thành xã Tư Lược
(Nguyễn Văn Thảnh - người có công chỉ đạo huyện trong phong trào Đồng khởi và đã hi
sinh trên đất Cái Nhum tháng 2 năm 1962). Tỉnh ủy tiến hành củng cố, tổ chức lại Huyện ủy,
rút Trần Thái Bửu, cử Lê Minh Nhứt (Năm Nhứt) làm bí thư, Lê Văn Tẹn (Tư Sa) làm phó
bí thư. Đại đội địa phương quân huyện phát triển quân số lên 120 người do Hoàng Nga làm
Đại đội trưởng, Tám Thích làm chính trị viên.
Mặc dù phong trào đấu tranh của ta phát triển mạnh, nhưng địch vẫn thực hiện được kế
hoạch bình định lập ấp chiến lược ở Cái Nhum, tập trung lực lượng phản kích, đánh phá
phong trào. Do phòng bị của ta sơ hở, địch tiến hành lối đánh biệt kích, tập kích hành quân
càn quét tổng hợp gây cho các cơ sở, du kích xã ấp một số thiệt hại. Ngày 6 tháng 6 năm
1962 (nhằm mùng 5 tháng 5 âm lịch), cảnh sát Một và hai lính giả dạng người đi cúng đình
thọc sâu vào khu vực Phước Chí đánh trúng vào cơ sở của ta làm 3 người chết. Khi ta phát
hiện vụ việc thì địch đã rút, sau đó ta phục kích đánh nhiều lần nhưng vẫn không diệt được
tên cảnh sát Một.
Thế trận chiến đấu giằng co giữa ta và địch ở vùng Cái Nhum tiếp tục diễn ra quyết liệt.
Để giành chủ động trên chiến trường, địch quyết tập trung tổng lực thực hiện càn quét.
Chúng huy động binh lực vùng III chiến thuật, khu 33, tiểu khu Vĩnh Long, chi khu Minh
Đức, dân vệ,… quân số trên 1.000 tên với 8 tàu phum, dàn cào (tàu chiến đấu FOM và tàu
chở quân há mồm), 14 xe chở quân, 29 máy bay trực thăng, hai máy bay thả bom, một máy
bay trinh sát và một tiểu đoàn pháo binh thuộc sư đoàn 5, áp dụng chiến thuật “trực thăng
vận” mở “chiến dịch Dân Tiến”.
Khoảng 7 giờ ngày 3 tháng 11 năm 1962, địch hành quân càn quét vào khu vực đóng
quân của đại đội địa phương quân huyện ở rạch Mù U (Chánh Hội). Nhận thấy lực lượng
địch quá mạnh, ta bí mật di chuyển về hướng Nhơn Phú, đến khu vực Bà Nữ lực lượng của
ta gặp máy bay trinh sát của địch. Để bảo toàn lực lượng, ta cho các chiến sĩ tân binh chưa
được trang bị vũ trang rút, để lại khoảng 50 người có súng, lợi dụng địa hình chiến đấu cầm
chân địch. Trận chiến không cân sức giữa ta và địch diễn ra quyết liệt. Địch huy động 9 trực
thăng, mỗi chiếc chở gần 40 quân đổ bộ tấn công ta. Đợt đổ quân đầu tiên của địch bị ta bắn
trả dữ dội, ta bắn cháy một trực thăng và nhiều sinh lực địch. Địch lập tức huy động thêm 20
trực thăng tấn công ta dồn dập, cho bắn đạn, pháo vào trận địa của ta, cả một khu vực bị bom
đạn cày xới ngổn ngang. Do ở vào thế bất lợi, vũ khí kém, ít đạn, công sự thiếu chắc chắn
nên ta vừa đánh vừa rút lui về hướng nhà thờ Nhơn Phú. Đến 1 giờ chiều, trận đánh kết thúc,
địch chiếm hoàn toàn khu vực Bà Nữ. Lực lượng ta bị tổn thất lớn, 18 người hi sinh (trong
đó có đại đội trưởng Hoàng Nga, chính trị viên Tám Thích), 12 người bị bắt. Dù giành thắng
lợi, phía địch cũng bị thiệt hại nặng nề, ta đã bắn cháy 2 trực thăng, bắn bị thương 2 chiếc
khác, chết 84 tên, nhiều tên khác bị thương. Có thể nói, trận đánh Bà Nữ là một đòn đau với
chiến thuật trực thăng vận của địch, một chiến thuật được xem là tân tiến ở miền Nam.
Sau trận Bà Nữ, địch tiếp tục đánh bồi, đánh nhồi vào các khu vực căn cứ của ta, mỗi
ngày địch đều hành quân càn quét, mỗi ngày lực lượng của ta đều có người hi sinh. Các đội
du kích Chánh Hội, Nhơn Phú, An Phước, Mỹ An, Bình Phước, Hoà Tịnh, Tân Long Hội bị
tổn thất rất nặng nề không còn người bổ sung. Lúc này, sự chỉ đạo của cấp trên chưa kịp thời,
các đội du kích không kịp phân tán lực lượng né tránh nên bị thiệt hại nặng, địa bàn ngày
càng thu hẹp, trang bị vũ khí của ta thiếu thốn nên không đủ sức đánh phá các cuộc càn quét
của địch.
Ngày 30 tết năm 1963, địch tổ chức càn quét trên diện rộng, bao vây ta từ ba hướng:
lính chi khu Minh Đức và Nhơn Phú kéo qua, lính tổng Thường (An Phước) kéo lên, lính
tổng Một (Mỹ An) kéo xuống. Các đội du kích của ta khoảng 60 người (gồm cả du kích và
cán bộ) bị dồn lại ở khu vực Cái Kè. Tình thế bất lợi, lực lượng của ta đã chiến đấu kiên
cường phá vòng vây rút lui, 21 cán bộ và du kích của ta đã hi sinh trong đợt chiến đấu này.
Ngày 17 tháng 3 năm 1963, các hầm bí mật của ta ở Hoà Tịnh bị lộ, một số cán bộ hi sinh
như Sáu Tây, Lưỡng,… Ở Chánh Hội, địch càn quét làm 10 du kích xã hi sinh, địch chà đi
xát lại nhiều lần, thương binh không còn nơi nuôi chứa, lực lượng địa phương quân chỉ còn 1
trung đội, tư tưởng bị dao động mạnh.
Có thể nói, giai đoạn cuối năm 1962 đầu năm 1963 là giai đoạn lực lượng cách mạng
của huyện chịu tổn thất nặng nề nhất từ trước đến nay. Địch càn quét đến đâu, đóng đồn ở đó
nhất là tuyến đồn Ngã Bát, Bà Nghè, Mù U, Rạch Ranh, Mộ Tràm, Cầu Bò, Lung Sâu. Ở các
xã địch cũng bung ra đóng đồn. Địa bàn bị thu hẹp, một số cán bộ, chiến sĩ ngán ngại đã bỏ
địa bàn đi nơi khác. Huyện ủy phải chấp nhận phân tán lực lượng, cho phép ai bám trụ địa
bàn được thì bám trụ, ai không trụ được thì về trên vào bộ đội, hoặc sang địa bàn khác né
tránh đợi thời cơ, có thể ra hợp pháp nhưng không được đầu hàng, khai báo. Vì vậy, đơn vị
địa phương quân huyện chỉ còn 16 người. Trước tình hình này, Huyện ủy quyết định đưa đơn
vị về Tân Hưng (Mỏ Cày) để củng cố lực lượng. Huyện ủy phân công các cán bộ Lê Văn
Tẹn, Nguyễn Văn Bang, Bùi Chí Trực,… ở lại bám địa bàn xây dựng cơ sở. Đây là quá trình
bám trụ đầy gian nan thử thách của quân và dân Mang Thít trước sự tấn công mạnh mẽ của
kẻ thù.
3.2.2. Khôi phục và chuẩn bị lực lượng tiến tới tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968
Sau 18 tháng thực hiện kế hoạch bình định miền Nam, địch đã đạt một số thành công
nhất định, đã lập được nhiều ấp chiến lược trên các địa bàn xung yếu, đánh dạt lực lượng vũ
trang cách mạng ra xa địa bàn, đánh tan rã một số cơ sở cách mạng của ta. Tuy nhiên, mục
tiêu cuối cùng của chúng là “tiêu diệt cộng sản”, “lấy dân đánh bại cộng sản” không thực
hiện được. Lực lượng vũ trang của huyện, xã vẫn tồn tại và phát triển ngay trong lòng ấp
chiến lược, từ đó hỗ trợ, kết hợp với quần chúng nhân dân vùng lên phá rã từng vùng ấp
chiến lược. Vì vậy, địch tiếp tục kéo dài kế hoạch bình định, đẩy mạnh lập ấp chiến lược ở
các nơi, tăng cường bắt lính bổ sung quân số, lập thêm các đội bảo an ở chi khu.
Tháng 3 năm 1963, tòa đại biểu Chính phủ Nam phần của chính quyền Ngô Đình Diệm
lập kế hoạch “bạch hóa Vĩnh Long, Vĩnh Bình”. Trong đó Nhơn Phú, Hòa Tịnh của Minh
Đức (Cái Nhum) là vùng đỏ cần phải “bạch hóa” và Minh Đức được xếp vào ưu tiên của
Vĩnh Long phải thực hiện xong trong tháng 6 năm 1963. Do đó, địch tiếp tục tăng cường
hành quân càn quét lập ấp chiến lược và ấp chiến đấu ở Cái Nhum. Ngoài một số ấp chiến
lược trong bờ đay hàng rào kẽm gai ở chung quanh khu vực Cái Nhum, địch lấn ra lập ấp
chiến lược ở một số xã khác. Số ấp này không đắp bờ đay nhưng người dân phải làm hàng
rào xung quanh, hàng rào, gốc cây phải quét vôi trắng. Mỗi gia đình phải chụp ảnh lưu lại để
bọn lính dễ nhận dạng phát hiện người lạ. Mỗi nhà trong ấp phải làm một mỏ tre, khi phát
hiện người lạ phải đánh mỏ báo động, ai không chấp hành được xem là thông đồng với “Việt
cộng” sẽ bị xử theo luật 10/59. Ở các khu vườn rậm, địch cho ném thuốc nổ phá lựu đạn gày
của ta, bọn lính thường xuyên đi lùng hầm bí mật của các bộ cách mạng được cài ở lại.
Tình hình chiến trường ngày càng phức tạp, khó khăn, Tỉnh ủy quyết định triệu tập hội
nghị kiểm điểm tình hình và đề ra nhiệm vụ mới là đập tan chỗ dựa của ấp chiến lược là hệ
thống đồn bót của địch. Đồng thời, ta phải xây dựng cơ sở nội ứng trong các các đồn bót,
nắm quần chúng trong các ấp chiến lược, làm tan rã bộ máy tề của địch trong các ấp chiến
lược kết hợp trong ngoài cùng phá. Để dễ dàng trong lãnh chỉ đạo phong trào, trong tháng 3
năm 1963, Tỉnh ủy quyết định tách huyện Chợ Lách ra làm hai huyện Cái Nhum và Chợ
Lách. Huyện Cái Nhum do Lê Văn Tẹn (Tư Sa) làm bí thư, gồm 9 xã: Chánh Hội, Nhơn
Phú, Hòa Tịnh, Bình Phước, Mỹ An, An Phước, Tân Long Hội, Long Mỹ, Long Đức. Huyện
ủy Cái Nhum nhóm họp phân công cán bộ về các xã bám địa bàn tổ chức lại cơ sở. Bước đầu
thực hiện công việc này rất gian nan, khó khăn vì địch khủng bố gắt gao, nhiều gia đình còn
tỏ ra dè dặt. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích, nhân dân đã đào hầm nuôi chứa
cán bộ. Tuy nhiên, bọn lính vẫn thường xuyên đi càn, dùng chỉa xom hầm, ném lựu đạn,
thuốc nổ vào bất cứ nơi nào chúng nghi vấn. Vì vậy nhiều hầm bí mật của ta bị lộ, cán bộ hi
sinh, con số tổn thất cụ thể vẫn chưa thống kê được. Mặc dù tình thế khó khăn, hoàn cảnh gia
đình thiếu thốn nhưng nhân dân vẫn hết lòng nuôi chưa cán bộ cách mạng. Lúc này, đơn vị
địa phương quân huyện ở Tân Hưng cũng quyết tâm trở về địa phương bám trụ đánh địch.
Tỉnh ủy đưa Ba Thuận về làm huyện đội trưởng Cái Nhum.
Để tạo bàn đạp trở về địa phương, lực lượng địa phương quân huyện qua ấp 3 (Quới An
- Vũng Liêm) kết hợp với lực lượng Quới An tiến hành diệt ác, trừ gian, bao vây đồn Quang
Diệu. Lính đồn bỏ chạy, ta đã mở được vùng Qưới An rộng tiếp giáp với Bà Phận ra đến
sông Mang Thít làm bàn đạp tấn công về Cái Nhum. Từ Quới An, Tân An Luông, lực lượng
địa phương quân ban đêm vượt sông Mang Thít về xây dựng cơ sở, vũ trang tuyên truyền,
phân tán nhỏ lẻ mỗi nơi một đến hai tổ, đến sáng lại rút về Tân An Luông tránh sự đánh phá
của địch. Hình thức chiến đấu này được gọi là “vọt cần câu”. Để mở hành lang qua lại sông
Mang Thít, năm 1964 bộ đội địa phương do Tô Thanh Vân chỉ huy đánh đồn Tân Qui (Tân
Long Hội) diệt được 8 tên địch, thu được 8 súng, mở được một vùng rộng ấp 2, ấp 3. Huyện
ủy chủ trương phải tiếp tục diệt ác ôn, gây hoang mang cho địch. Ta đã lên kế hoạch và tiêu
diệt tên Dậy (Nhơn Phú), tên Thân, Bảy Cốc (Hòa Tịnh),… làm bọn lính không dám đi lùng
như trước. Đồng thời, ta cũng tổ chức những phong trào đấu tranh chính trị gây thanh thế với
địch. Cuối năm 1963, Huyện ủy chỉ đạo tổ chức cuộc biểu tình từ An Phước, Nhơn Phú kéo
qua Chánh Hội trên 200 người tham gia làn cho bọn làng lính lúng túng. Một cuộc biểu tình
khác cũng được tổ chức huy động nhân dân các xã Chánh Hội, Nhơn Phú, Bình Phước, Mỹ
An chia làm hai hướng từ Bình Phước đến Ngã Tư Long Hồ và từ Mỹ An, Long Đức,
Thiềng Đức kéo về tỉnh lị đưa yêu sách, đòi địch không bắn pháo bừa bãi, không khủng bố,
đánh đập nhân dân, bọn ngụy quyền tỉnh hứa giải quyết, đoàn biểu tình mới giải tán.
Sau một thời gian xây dựng lực lượng ở các xã, Huyện ủy chỉ đạo phát động nhân dân
phá ấp chiến lược tạo địa bàn cho bộ đội và các cơ quan của ta về đứng chân hoạt động.
Bước vào tháng 4 năm 1964, ta mở đợt tấn công địch ở nhiều nơi, tấn công diệt đồn Miễu
Trắng (Hòa Tịnh), phá ấp chiến lược ở Giồng Mồ Côi (Bình Phước). Ngày 17 tháng 6 năm
1964, địa phương quân huyện và du kích Bình Phước tấn công đồn Bà Cờ, giải phóng một
vùng rộng lớn. Đêm 6 rạng ngày 7 tháng 7 năm 1964, kết hợp cơ sở nội ứng ta tấn công lấy
đồn Bình Hòa (Hòa Tịnh) bắt sống 28 lính, thu 42 súng các loại, 2 máy truyền tin. Đồn Bình
Hòa bị diệt, ta giải phóng được một vùng rộng giáp ba xã Mỹ An, Nhơn Phú, Hòa Tịnh. Sau
đó ta tiếp tục tấn công đồn kinh Thầy Cai (Mỹ An) thu 2 súng, phá đoạn lộ 31 cô lập Mỹ An,
phá ấp chiến lược Phú Thạnh (Nhơn Phú). Cuối tháng 7 năm 1964, ta tấn công đồn Bà Cờ
lần 2 diệt 2 dân vệ, đưa hơn một tiểu đội phòng vệ về với kháng chiến, với nhân dân. Trong
tháng 7 năm 1964, huyện được cấp 170 súng, trang bị cho bộ đội địa phương huyện, du kích
xã. Ngay sau khi được trang bị vũ khí, du kích Tân Long Hội đã tổ chức chặn đánh hai tàu
sắt của chi khu Minh Đức, bắn hư hỏng một tàu, địch chết 2 tên, bị thương 3 tên. Sau đó, tấn
công san bằng đồn Ngã Ngay (ấp 4 - Tân Long Hội), giải phóng một lõm ở Ngã Ngay.
Đêm 10 tháng 12 năm 1964, nhân dân các xã Chánh Hội, Tân Long Hội, An Phước
vùng lên phá ấp chiến lược ở khu vực Cái Nhum. Bộ đội, du kích bao vây đồn bót, nhân dân
nhổ hàng rào, cắt dây chì gai, phá bờ đay,… Chỉ trong một đêm, 10 km bờ đay hàng rào của
ấp chiến lược quanh chi khu Cái Nhum đã bị phá vỡ. Đồn Bà Nghè, đồn Mù U bị vây, binh
lính trong đồn mang vũ khí ra đầu hàng. Tiếp theo đó, ta bao vây đồn Rạch Ranh, đồn Ngã
Bát kêu gọi lính mang vũ khí đầu hàng. Trong một đêm, ta đã bứt rút, bức hàng 4 đồn địch,
thu 43 súng các loại, phá rã hàng loạt ấp chiến lược của địch. Ở Chánh Hội, du kích tiếp tục
diệt đồn Mộ Tràm, Lung Sâu. Đến cuối năm 1964 xã Chánh Hội cơ bản được giải phóng.
Đây được xem là cuộc đồng khởi lần 2 của quân dân Cái Nhum.
Giữa năm 1965, địa phương quân huyện phát triển quân số lên 70 người được tổ chức
thành một đại đội, một trung đội đặc công và các bộ phận trinh sát hỏa lực. Sau mỗi đợt hoạt
động, đơn vị phải rút qua Quới An, Tân An Luông tránh các cuộc càn quét tìm diệt của địch.
Để tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta, sáng ngày 4 tháng 6 năm 1965, địch điều một tiểu đoàn
vượt sông tiến vào khu vực trú quân của bộ đội ta ở Quang Diệu (Quới An), nhân dân được
tổ chức tản cư tránh thiệt hại. Trong đợt chiến đấu đầu tiên, ta hi sinh gần hết tiểu đội du kích
Tân An Luông. Bộ đội địa phương dựa vào công sự và địa hình tự nhiên chống trả quyết liệt,
địch dùng bom, pháo bắn hủy diệt, cả khu vực không còn ngôi nhà nào nguyên vẹn. Đến 4
giờ chiều, trận chiến kết thúc, ta tiệu diệt trên 100 tên địch, bộ đội hi sinh 11 người, các
ngành huyện hi sinh 10 người, ta buộc phải rút bỏ trận địa, giữ gìn lực lượng.
Sau hàng loạt trận tấn công của ta ở các nơi giành thắng lợi, chiến lược “chiến tranh đặc
biệt” với quốc sách ấp chiến lược của địch bị phá sản, Mỹ ồ ạt đem quân vào miền Nam thực
hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” quyết tâm đến cuối 1967 giành thắng lợi hoàn toàn kết
thúc chiến tranh. Mỹ - ngụy coi Vĩnh Long là chiến trường bình định trọng điểm ở miền Tây.
Cái Nhum được địch xem là cửa ngõ vào thị xã Vĩnh Long, chiến trường bị chia cắt, dễ bình
định, chiếm đóng. Vì vậy, địch tiến hành quân sự hóa bộ máy hành chánh đưa Trần Đình
Hòa (trung úy biệt động quân) về làm quận trưởng kiêm chi khu trưởng chi khu Cái Nhum.
Chúng đưa 2 khẩu pháo 105 li xây dựng trận địa pháo cố định tại chi khu. Lực lượng ở chi
khu gồm một đại đội bảo an quân số 58 tên, 4 trung đội biệt kích, dân vệ có hai tổng đoàn và
8 xã đoàn. Năm 1966, Mỹ đưa hệ thống cố vấn xuống chi khu và ở Cái Kè, Mỹ An, Nhơn
Phú, thay thế ấp chiến lược bằng hình thức ấp tân sinh.
Trước tình thế cách mạng mới, Huyện ủy chỉ đạo dựa vào dân xây dựng khu vực căn cứ
ở tại địa phương để bám trụ chiến đấu. Cuối năm 1965, ta đã xây dựng được khu căn cứ ở
Giồng Dài (Chánh Hội), Phước Chí, Long Quới (Bình Phước), Bờ Dừa (An Phước), ấp 1, ấp
2 (Tân Long Hội), Nhơn Phú. Đồng thời ta cũng xây dựng làng xã chiến đấu bằng hầm
chông, hầm hom, lựu đạn gày phá thế bao vây của địch, phát triển vùng giải phóng tiến lên
bao vây lại địch. Bộ đội địa phương tiếp tục kết hợp du kích đánh càn, chặn viện, chủ động
tấn công địch như đánh đồn Thân Bình (Tân Long Hội), áp sát lộ 32, dùng đặc công đánh hư
hai tàu chiến địch làm chết và bị thương 25 tên, đánh đồn đầu kinh Thầy Cai làm địch chết
và bị thương 19 tên,… Tháng 10 năm 1965, tỉnh đưa 1 đại đội của Tiểu đoàn 857 về hỗ trợ
mở vùng ruột Cái Nhum. Đêm 10 tháng 10 năm 1965, các lực lượng kết hợp diệt đồn Bờ
Dừa (An Phước). Hai ngày sau, ta đánh chặn đại đội bảo an do Thạch Móc chỉ huy đi càn,
diệt 10 tên thu được một súng cối 60 li, phá hủy một xe Jeep, phía ta huyện đội trưởng Ba
Nghĩa hi sinh. Sau trận này, địa phương quân huyện mở được thế chiến trường trụ lại địa bàn
đánh địch. Sau đó, ta tiếp tục diệt đồn Phước Chí mở được một tuyến dài từ An Phước lên
Nhơn Phú, Mỹ An, Bình Phước, Hòa Tịnh tạo điều kiện cho phong trào nhân dân du kích
chiến tranh phát triển mạnh. Với thành tích liên tục tấn công diệt nhiều sinh lực địch, đại đội
địa phương quân huyện được tặng Huân chương chiến công hạng Nhì.
Song song với tấn công địch bằng quân sự, đội an ninh vũ trang huyện tổ chức thanh lọc
địa bàn, tấn công vào bọn tề, điệp, bảo vệ vùng giải phóng, tổ chức trừ gian, diệt ác. Công
tác này đạt kết quả khá tốt, ta đã diệt tên tình báo Ban ở Bờ Dừa thu được 1 súng, bắn chết 1
an ninh chi khu ở lộ 32, diệt ba tên ác ôn Hài, Đốc, Hóa (Tân Long Hội), tên Một ở Bình
Phước. Bọn ác ôn bị diệt gây thối động trong hàng ngũ tề ngụy, phá lỏng các khu vực kìm
kẹp của địch.
Trên mặt trận đấu tranh chính trị cũng phát triển vượt bậc, tiêu biểu nhất là cuộc đấu
tranh của công nhân lò gạch ở Long Đức, Mỹ An. Ngày 11 tháng 2 năm 1965, dưới sự sắp
xếp, tổ chức của các cơ sở Đảng, 200 công nhân các lò gạch đưa yêu sách đòi tăng tiền lương
30%, đòi phát lương đúng kì, giới chủ hứa nhưng không thực hiện. Ngày 14 tháng 2 lực
lượng đấu tranh lên đến 700 người bị chính quyền cho quân đàn áp, bắt công nhân đã làm
cuộc đấu tranh bùng nổ mạnh mẽ với gần 1.000 người tham gia, nhân dân bên ngoài cũng
ủng hộ phong trào bằng cách quyên tiền giúp đỡ gia đình công nhân lúc đình công. Cuộc đấu
tranh kéo dài đến 18 tháng 3 đã buộc các chủ lò phải chấp thuận tăng lương bình quân 15%.
Ngày 28 tháng 3 năm 1965, cuộc đấu tranh kết thúc thắng lợi lớn, đem lại lợi ích thiết thực
cho công nhân, từ đó các cơ sở Đảng ở Long Đức, Mỹ An cũng phát triển mạnh. “Chỉ trong
năm 1965, huyện Cái Nhum đã tổ chức 26 cuộc đấu tranh với 8 cuộc kéo ra tỉnh (khoảng
1.340 người tham dự), 4 cuộc kéo ra huyện (khoảng 200 lượt người dự), 14 cuộc đấu tranh
tại xã (khoảng 200 lượt người dự)” [15:214]. Các cuộc đấu tranh chính trị đã góp phần phân
hóa địch, nêu cao chính nghĩa của cuộc kháng chiến, vạch mặt bọn ác ôn, tác động đến tinh
thần binh sĩ theo chiều hướng có lợi cho ta. Công tác binh vận đạt kết quả khá, ta đã kêu gọi
các binh sĩ quay về với nhân dân, mang vũ khí của địch về cho cách mạng như anh Đỏ (đồn
số 6) mang về 9 súng, anh Út Mười Tân (ở Tân Long Hội) mang về 13 súng, anh Nhứt (Mỹ
An) mang về 9 súng. Hầu hết những binh sĩ, cơ sở nội ứng trở về đều tham gia vào bộ đội,
du kích, phục vụ chiến đấu.
Cuối năm 1965, Huyện ủy về đứng chân ở Phước Chí, huyện đội, các công trường sản
xuất đứng chân ở Long Quới, lực lượng địa phương quân huyện có 40 tay súng, 8 chiến sĩ
công binh, đặc công. Mỗi xã đều có đội du kích (trừ Long Mỹ, Long Đức). Đảng bộ huyện
có 9 chi bộ (6 chi bộ xã, 3 chi bộ ngành huyện), một xã trắng đảng là Long Mỹ, hai xã Bình
Phước, Hòa Tịnh có đảng viên nhưng chưa lập chi bộ. Binh vận đã xây dựng được 200 cơ sở
trong gia đình binh sĩ và binh lính địch. Các tổ chức đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông dân
phát triển mạnh. Chuẩn bị cho giai đoạn chiến đấu mới, Huyện ủy tổ chức hội nghị tổng kết
năm và đề ra phương hướng, nhiệm vụ:
- Tiếp tục đẩy mạnh phong trào tấn công Mỹ - ngụy, đánh đồn bót, phá kìm mở rộng
vùng giải phóng.
- Phát động phong trào nhân dân xây dựng xã ấp chiến đấu chống càn quét lấn chiếm
giữ vững vùng giải phóng.
- Xây dựng các tổ xung kích bắn xe tăng, bắn máy bay bằng tất cả vũ khí có sẵn, xây
dựng hầm hào vững chắc, sẵn sàng đương đầu với Mỹ - ngụy. Quyết tâm bám trụ địa
bàn với khẩu hiệu “Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám giặc”, “Một tất không đi,
một li không rời” [15:216].
Bước vào năm 1966, quân Mỹ ở miền Nam đã tăng nhanh quân số thực hiện bước 2 của
chiến lược “chiến tranh cục bộ” đẩy mạnh tìm diệt, bình định, mở nhiều cuộc hành quân qui
mô vào vùng tranh chấp. Địch xếp Vĩnh Long là một trong 12 tỉnh “ưu tiên quốc gia”. Ở
Vĩnh Long chọn Tam Bình, Minh Đức (Cái Nhum) làm trọng điểm bình định đánh phá. Ở
Cái Nhum, Mỹ tiếp tục đưa cố vấn đến chi khu và các điểm trọng yếu Cái Kè, Nhơn Phú.
Lúc này ta chưa có ấp nào hoàn toàn giải phóng nên ta và địch tranh chấp nhau quyết liệt.
Ban đêm, ta làm chủ các ấp, ban ngày địch bung ra giành quyền kiểm soát. Ở ven chi khu,
ven công sở đồn bót là vùng địch kiểm soát chặt. Phong trào đấu tranh của huyện phát triển
đều khắp, các xã Hòa Tịnh, Bình Phước đã thành lập được chi bộ, xã Long Mỹ đã có đảng
viên bám trụ. Phong trào chiến tranh du kích với khẩu hiệu “nhà nhà chiến đấu, người người
chiến đấu, mỗi ấp là một chiến hào, mỗi xã là một chiến lũy” được phát động mạnh mẽ. Tuy
nhiên, do quân số địch đông, hỏa lực mạnh nên ta chủ yếu tổ chức đánh nhỏ đánh chắc thắng
mặc dù thắng ít.
Tháng 6 năm 1966, địch thực hiện phản kích đợt 2 trên chiến trường Tây Nam bộ. Ở
Cái Nhum, địch điều động một tiểu đoàn của Sư đoàn 9, một đại đội bảo an tỉnh, 3 đại đội
bảo an chi khu Minh Đức được sự yểm trợ của tàu chiến, xe thiết giáp, pháo binh mở cuộc
càn quét vào Tân Long Hội. Bộ đội, du kích vừa né tránh vừa tìm sơ hở bám đánh địch bằng
nhiều hình thức phục kích, tập kích, bắn tỉa, đồng thời phát động nhân dân phá cầu đường,
đấu tranh chính trị đòi không bắn phá bừa bãi, đấu tranh binh vận với địch. Trong gần một
tháng cầm cự với địch ta tiêu diệt hơn 10 tên, hơn 10 tên khác đào ngũ, cuối cùng không
đánh phá được ta, địch phải rút lui.
Trong năm 1966, công tác đấu tranh chính trị được đẩy mạnh với sự đóng góp to lớn
của phụ nữ. Huyện ủy ra chỉ tiêu cho cơ quan phụ vận ít nhất mỗi tháng phải có một cuộc
đấu tranh. Trong năm đã tổ chức được 5 cuộc đấu tranh ở quận với 250 lượt người dự, 14
cuộc đấu tranh ở các xã khoảng 594 lượt người tham gia. Bên cạnh đấu tranh chính trị, phụ
nữ còn tham gia chiến đấu. Các mẹ, các chị ngoài việc tích cực vận động binh lính địch, canh
gác, bảo vệ, cung cấp tin tức cho bộ đội còn vận động lạc quyên ủng hộ kháng chiến, tham
gia phục vụ hậu cần, phá giao thông địch phục vụ kháng chiến. Trong lực lượng du kích đã
có 7 tiểu đội nữ ở các xã với quân số 80 người, hoạt động nổi bật nhất là tiểu đội nữ du kích
Chánh Hội.
Tháng 2 năm 1967, Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Cái Nhum trong giai đoạn mới phải
“tăng cường xây dựng lực lượng hơn nữa, phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị,
binh vận, vũ trang và bằng ba mũi giáp công nhanh chóng đánh bại âm mưu bình định, lấn
chiếm của địch, mở rộng căn cứ và vùng giải phóng. Song song đó, đẩy mạnh phong trào vận
động tòng quân, lạc quyên rộng rãi trong nhân dân, trong thanh niên” [15:223]. Thực hiện
chỉ đạo của Tỉnh ủy, từ 16 tháng 2 đến hết tháng 3 năm 1967 Huyện ủy mở một đợt tiến công
địch. Địa phương quân do Bảy Dũng chỉ huy thọc sâu vào vùng kìm phá ấp chiến lược, diệt
hơn 30 tên, phá sập một cầu, diệt 2 lô cốt, đánh diệt một đoàn bình định thu tất cả 11 súng.
Kết thúc đợt hoạt động địa phương quân huyện được khen tặng Huân chương chiến công
hạng Ba.
Tháng 5 năm 1967, bộ đội địa phương, du kích Tân Long Hội đánh diệt đồn Bầu
Thiềng, bám sát tỉnh lộ 32 đánh đồn số 6 và cầu số 8. Khi địch hành quân chi viện đồn Bầu
Thiềng, “du kích xã tổ chức phục kích bắn tỉa diệt 4 tên, thu 2 súng và 4 lựu đạn”[16:107].
Du kích các xã đã phát triển nhiều hình thức tấn công địch hiệu quả như phục kích, bắn tỉa,
dùng hầm chông, lôi, lựu đạn gày,... Phong trào diệt ác phá kìm cũng được đẩy mạnh. Du
kích Chánh Hội đã bao vây bức rút hai đồn, giải phóng một ấp, xây dựng xã-ấp chiến đấu tốt,
được tặng Huân chương chiến công hạng Nhì. Từ tháng 7 năm 1965 đến 7 năm 1967, toàn
huyện đã diệt trên 30 tên ác ôn. Tuy phong trào cách mạng của ta đạt nhiều thắng lợi nhưng
địch vẫn tổ chức được các cuộc càn quét đóng đồn, lập gần 20 ấp tân sinh trên toàn huyện.
Đảng bộ, quân và dân Cái Nhum đã quán triệt sâu sắc đường lối nhân dân du kích chiến
tranh, bám địa bàn tạo thế giằng co quyết liệt với địch, tấn công địch bằng 3 mũi giáp công
vừa tiêu hao sinh lực địch, bảo toàn phát triển lực lượng của ta vừa phá kìm kẹp, diệt ác ôn
gây hoang mang cho binh lính địch. Đây là những thắng lợi ban đầu rất cơ bản để Cái Nhum
vươn lên hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
3.2.3. Quân và dân Mang Thít thực hiện tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968
Để chuẩn bị cho cuộc tiến công qui mô lớn vào mùa khô 1967 - 1968, Tỉnh ủy Vĩnh
Long tiến hành chia lại địa giới hành chính chủ yếu tăng cường cho thị xã Vĩnh Long với
phạm vi ngoại ô tiếp giáp phía Đông là Cái Nhum, phía Nam là Tam Bình, phía Tây là Châu
Thành. Tỉnh ủy cũng tiến hành điều chỉnh nhân sự tập trung cho thị xã bằng cách rút các cán
bộ ở huyện về tỉnh như bí thư Huyện ủy Cái Nhum Lê Văn Tẹn, các cán bộ Các Thị Hoa
Đẹp (Mười Sương), Nguyễn Thị Tố (Út Bình),… Vì vậy ở Cái Nhum, Nguyễn Văn Bang
(Tám Hùng) được bổ nhiệm làm bí thư huyện ủy mới, huyện cũng rút một số cán bộ ở xã
tăng cường cho huyện. Huyện thành lập thị trấn Cái Nhum (tách ra từ xã Chánh Hội) tiếp
giáp Chánh Hội, An Phước, Tân Long Hội, tăng cường cán bộ có năng lực cho thị trấn.
Đầu tháng 7 năm 1967, Tỉnh ủy Vĩnh Long giao nhiệm vụ mới cho Cái Nhum là:
- Mở tuyến hành lang từ sông Mang Thít qua Tân Long Hội lên Bình Phước, Hòa
Tịnh, Long Mỹ áp sát thị xã Vĩnh Long.
- Phát triển lực lượng tích cực đánh địch bồi dưỡng ta.
- Huy động sức người, sức của phục vụ chiến đấu, sẵn sàng chấp hành mệnh lệnh
[15:228].
Trong tình hình bấy giờ địch đang đóng một tiểu đoàn của Sư đoàn 9 ở Tân Long Hội
để bình định nên Huyện ủy đề nghị tỉnh chi viện bằng cách tổ chức các chiến trận trên ven lộ
7 để hút bớt lực lượng chủ lực của địch. Đề nghị này đã được tỉnh chấp thuận. Sau khi tiếp
thu Nghị quyết của tỉnh, huyện chỉ đạo đại đội địa phương quân huyện về Tân Long Hội, tổ
chức phục kích, đánh phá bọn lính của Sư đoàn 9 và bảo an chi khu. Tháng 9 năm 1967, tỉnh
tổ chức nhiều trận ở Hòa Hiệp ven lộ 7 đã hút chủ lực địch đi đối phó, bọn lính ở Tân Long
Hội hoang mang. Địa phương quân huyện tổ chức phục kích chặn đánh Đại đội 835 ở gần
cầu số 1 diệt 10 tên, thu được một số vũ khí. Ta tiến lên áp sát, bao vây đồn bót khai thông
tuyến hành lang các lõm căn cứ, các xã. Trên tuyến sông Mang Thít, địch thường dùng ba
chiếc tàu cao tốc (bo bo Mỹ) tuần tra ra vào, Huyện ủy đã chỉ đạo du kích tổ chức chặn đánh
đoàn tàu tuần tra này. Ngày 18 tháng 8 năm 1967, một tổ du kích gồm Trần Văn Biện, Ba
Cao, Tư Hùng, Út Chảng chặn đánh 2 tàu Mỹ, diệt 1 tên, bị thương 2 tên Mỹ, bắn hư 2 tàu.
Địch bắn trả quyết liệt, ta bị thương nặng 2 người, một người bị thương nhẹ. Trận đánh này
đã làm chùng bước bọn bo bo tuần tra, lính đồn co lại cố thủ, ta mở thế trận làm chủ tuyến
sông Mang Thít.
Ở các địa phương khác, ta tấn công và san bằng đồn Bà Cờ (Bình Phước), bao vây đồn
Miễu Trắng, đồn Rạch Chùa (Hòa Tịnh), đồn Cây Trôm, Cái Chuối (Mỹ An), đánh rút đồn
Mộ Tràm, Cầu Bò, Lung Sâu, Sáu Huề (Chánh Hội) giải phóng một vùng bốn ấp.
Đấu tranh chính trị, công tác binh vận được đẩy mạnh, nhiều binh sĩ làm nội ứng tác
động binh lính bỏ đồn tạo điều kiện cho ta mở rộng địa bàn hoạt động. Việc lạc quyên phát
động đóng góp của nhân dân diễn ra đều đặn, đạt kết quả khá.
Tính chung các tháng cuối năm 1967, được sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, phong
trào cách mạng ở Cái Nhum lên rất cao, có bước phát triển mới. Từ chỗ huyện chỉ có một ấp
Phước Chí được giải phóng, ta đã mở được nhiều vùng liên hoàn. Huyện đã cơ bản hoàn
thành nhiệm vụ Tỉnh ủy phân công là khai thông, bám giữ tuyến hành lang từ sông Mang
Thít lên sát thị xã Vĩnh Long, tiêu hao sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta tạo đà vững
chắc bước vào cuộc tổng công kích vào sào huyệt kẻ thù
Vào 10 giờ sáng ngày 29 tết, Huyện ủy họp triển khai mệnh lệnh tổng tấn công tết Mậu
Thân. Cuộc tổng tấn công sẽ bắt đầu vào đêm giao thừa và huyện Cái Nhum được giao
nhiệm vụ:
- Mở và giữ đường liên lạc từ Vũng Liêm qua sông Mang Thít lên Tân Long Hội,
Bình Phước, Hòa Tịnh, Long Mỹ, Long Đức đón bộ đội Tiểu đoàn 308 đưa lên tấn công
thị xã.
- Sử dụng đơn vị địa phương quân huyện kết hợp Tiểu đoàn 308 đảm nhiệm hướng
tiến công từ hướng Đông vào thị xã Vĩnh Long.
- Ghìm và kìm cho được chi khu Minh Đức. [15:233]
Sau cuộc họp, Huyện ủy đã gấp rút tiến hành phân công, sắp xếp cán bộ và giao nhiệm
vụ cụ thể cho từng bộ phận:
- Địa phương quân huyện chịu trách nhiệm dẫn đường và phối hợp Tiểu đoàn 308
vào chiến đấu ở thị xã Vĩnh Long.
- Lực lượng du kích các xã kết hợp các lực lượng còn lại bao vây kìm chi khu Minh
Đức và bao vây cô lập các đồn bót.
- Các đoàn thể chịu trách nhiệm phát động và làm nồng cốt trong các phong trào vận
động dân công hỏa tuyến, vận động tòng quân, vận động đóng góp lương thực, thực
phẩm cho bộ đội chiến đấu [15:234].
Sau khi nhận nhiệm vụ, từng khối tiếp tục phân công triển khai thực hiện hết sức khẩn
trương.
Đêm 30 tết, Tiểu đoàn 308 đã được trinh sát giao liên bí mật đón về Tân Long Hội an
toàn. Để đảm bảo đường hành quân lên Bình Phước an toàn, Huyện ủy chỉ đạo sử dụng binh
vận lấy đồn Kiểm Hoạch, ta nhổ được đồn này thu 10 súng, tạo hành lang an toàn đưa bộ đội
vào trận. Ngay trong đêm, bộ đội Tiểu đoàn 308 và bộ đội địa phương quân huyện đã tập kết
được tại điểm tập kết ở nhà ông Mười Rở (Bình Hòa - Hòa Tịnh) để xuất phát tiến vào thị xã.
Lực lượng Tiểu đoàn 308 và địa phương quân huyện gồm 300 người, tiến qua Long Mỹ,
vượt bờ đay, vượt lộ 31 lên đứng chân ở bờ sông Long Hồ, sát phía Đông thị xã Vĩnh Long.
Nhân dân ở các nơi đã huy động hàng trăm chiếc xuồng để đưa bộ đội qua sông.
Đúng 2 giờ 30 sáng ngày 10 tháng 1 năm 1968 (mùng Một tết Mậu Thân) từ hướng sân
bay Vĩnh Long lệnh tấn công vào thị xã được phát ra. Bộ đội tỉnh đánh chiếm sân bay, phá
hủy 60 trực thăng làm tê liệt sân bay. Ở hướng Đông thị xã, Tiểu đoàn 308 và lực lượng địa
phương quân Cái Nhum chia thành 2 mũi tấn công. Một mũi từ cầu Ông Me qua cầu Khưu
Văn Ba đánh thẳng vào dinh Tỉnh trưởng. Mũi thứ hai quân số hơn 200 quân tiếp tục chia
thành hai mũi, một nửa đánh sang Bến Đá, sau đó vượt sông đánh chiếm Chợ Cá, nhà lồng
chợ Vĩnh Long. Tàu địch đậu ở sông Cổ Chiên khống chế vàm sông Long Hồ nên ta không
đưa quân qua sông được nữa, đội hình bị gián đoạn. Mũi còn lại đánh cầu Thiềng Đức gây
thiệt hại nặng 2 trung đội biệt kích, diệt và bắt sống 40 tên, đến 8 giờ sáng ta mới chiếm
được đầu cầu, hi sinh 10 chiến sĩ. “Một mũi tấn công khác của Tiểu đoàn 308 đánh vào cụm
công binh Mỹ ở Bắc Cổ Chiên, diệt 10 tên, phá hủy 3 xe ủi đất” [7:33]. Liên tiếp trong 2
ngày ta và địch giằng co quyết liệt, do không nắm rõ địa hình thị xã và cơ sở nội ô dẫn
đường bị thương nên việc tiến công của ta gặp rất nhiều khó khăn. Đến ngày thứ ba, “địch
phản kích, dùng bom, pháo,... súng phun lửa hủy diệt nhiều khu phố, Tiểu đoàn 308 hi sinh
34 người, bị thương 1 người” [7:38]. Qua 4 ngày đêm chiến đấu lực lượng của ta rút về bên
kia sông Long Hồ. Sau khi củng cố lại đội hình, một bộ phận lực lượng của ta tiếp tục vượt
sông Long Hồ cùng biệt động thị xã tấn công miếu Quốc Công, một bộ phận khác tiếp tục
đánh cầu Thiềng Đức (phía bên trong) nhưng vẫn không chiếm được cầu. Tàu địch bắn pháo
dữ dội vào đội hình của ta làm Tiểu đoàn trưởng Sáu Hà (Tiểu đoàn 308) hi sinh.
Ở địa bàn Cái Nhum, khi bộ đội tập trung tiến công thị xã, các đội du kích xã quân số
mỗi đội từ 7 đến 10 người phải đảm nhận một lúc nhiều mục tiêu đồn bót trong phạm vi xã.
Ở thị trấn Cái Nhum, du kích tấn công vào hậu cứ bảo an 835. Liên tục trong 10 ngày ta và
địch tranh chấp vùng ven thị trấn vì vậy suốt đợt I, chi khu Minh Đức bị kìm chặt không có
hoạt động quân sự nào đáng kể. Phong trào ba mũi tấn công của ta đã làm các đồn bót địch
hoang mang, dao động nên việc phá đồn giặc nhanh như trẻ tre dù hỏa lực của ta chỉ có 1
khẩu B40 phải cơ động đi đánh rất nhiều đồn. Trong hơn nữa tháng tấn công và nổi dậy, hầu
hết các đồn trong sâu, địch tháo chạy hoặc đầu hàng, hầu hết các xã đều đã giải phóng chỉ
còn trụ sở tề xã và một số đồn ở ven lộ 32, ven chi khu Minh Đức. Binh lính ở những nơi
này hoang mang, một số đào ngũ, một số rút vào trong đồn cố thủ không dám bung ra hoạt
động.
Trong lúc bộ đội, du kích chiến đấu kiên cường đánh địch, thì các đoàn thể tích cực vận
động nhân dân đóng góp sức người, sức của cho cách mạng. Trong hơn 10 ngày đầu đã vận
động hơn 100 thanh niên tình nguyện vào bộ đội, quần chúng nhân dân thì nhiệt tình hiến tài
sản, đóng góp nuôi quân với tinh thần “quyết thắng trận này”. Hội phụ nữ vận động gói hơn
một ngàn đòn bánh tét tiếp tế cho bộ đội, những người dân khác làm thịt trâu bò, gà vịt chở
ra điểm tập kết. Ngoài ra, nhân dân còn đóng góp tiền bạc, lúa gạo cho cách mạng, chỉ trong
một tuần đầu tiên đã huy động số tiền, vàng, lúa tương đương 20.000 giạ lúa, nhiều gia đình
thực hiện chia hai tài sản với cách mạng như hiến nửa bồ lúa, nửa con heo,... Sự đóng góp
của nhân dân là vô cùng to lớn đảm bảo cho cách mạng giành thắng lợi.
Sau cao điểm tấn công lần 1, Khu ủy rút Tiểu đoàn 308 tăng cường cho mặt trận Sài
Gòn, vì vậy tỉnh rút của địa phương quân Cái Nhum 1 đại đội để đảm bảo quân số chiến đấu.
Huyện đã rút số tân binh mới và du kích các xã kiện toàn lại đại đội địa phương quân. Sau
đó, Khu ủy quyết định thành lập Tiểu đoàn 308 mới, tỉnh lại rút của Cái Nhum 1 đại đội bổ
sung vào tiểu đoàn mới. Một lần nữa huyện phải khẩn trương lấy tân binh và đôn du kích các
xã lên bổ sung đủ quân số đại đội để sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Lúc này, Mỹ bắt đầu tăng
viện binh với các phương tiện hiện đại máy bay, tàu chiến, xe thiết giáp,… điều động bộ
binh Mỹ thuộc Sư đoàn 9 ở Đồng Tâm, Mỹ Tho vào chiến trường Vĩnh Long. Mặc dù, tương
quan lực lượng bất lợi cho ta, nhưng nhận mệnh lệnh từ cấp trên, Ban chỉ huy chiến dịch tiếp
tục tổ chức tấn công cao điểm 2 vào thị xã Vĩnh Long.
Đêm 17 rạng sáng 18 tháng 2 năm 1968, Tiểu đoàn 308 mới và địa phương quân Cái
Nhum đánh chiếm bờ Đông sông Long Hồ và làm chủ khu vực phường 5, sau đó tiến công
diệt đồn ở đầu cầu Thiềng Đức. Địch ở bên kia cầu kháng cự dữ dội, nhiều chiến sĩ của ta bị
thương. Trên sông Long Hồ, tàu địch, máy bay, pháo binh bắn phá ác liệt nên ta không thể
vượt sông.
Sáng ngày 18 tháng 2 năm 1968, địch phản kích quyết liệt, chúng dùng máy bay phun
lửa hủy diệt cả khu phố có bộ đội chiếm đóng. Sức tiến công của ta không đủ đánh dứt điểm,
Ban chỉ huy quyết định cho các lực lượng rút khỏi nội ô bám trụ vùng ven. Tiểu đoàn 308 và
địa phương quân Cái Nhum rút về Long Thanh, Long Đức tiếp tục nhổ đồn bót giải phóng
vùng ven.
Sau khi đẩy lùi bộ đội ra khỏi nội ô, địch mở rộng phản kích ra vùng ven, vùng nông
thôn. Địch mở chiến dịch “Trương Công Định” phản kích liên tiếp ở vùng ven Phước Hậu,
Lộc Hòa, Long Thanh, Long Mỹ, tăng cường chủ lực xuống chi khu phối hợp chi khu đánh
phá ra ven thị trấn, ven trục giao thông. Địch sử dụng cả B52 rải thảm yểm trợ hành quân tái
chiếm. Chúng ráo riết bắt lính bằng nhiều thủ đoạn. Trong tháng 2, tháng 3, tháng 4 địch bắt
ở Cái Nhum 111 thanh niên bổ sung đủ quân số cho Trung đoàn 15, 16 (Sư đoàn 9), đưa một
đoàn bình định về Cái Nhum. Binh lính ở chi khu lấn ra Chánh Hội đóng đồn ở Bà Nghè.
Ngày 3 tháng 4 năm 1968, địch cho rải chất độc hóa học ở ấp 5 (An Phước), ấp IIB (Chánh
Hội), ấp 2 (Tân Long Hội) để phá địa hình.
Dù tình thế chiến trường không thuận lợi, ta vẫn tiếp tục mở đợt tấn công thứ II (tháng
5, tháng 6, tháng 7 năm 1968) vào thị xã nhưng do không còn yếu tố bất ngờ và địch phòng
thủ chặt, quân số ta ít nên đợt tấn công này không đạt được kết quả, ta bị thiệt hại khá nhiều.
Ở Cái Nhum, ta tổ chức tấn công chi khu Minh Đức nhưng không gây thiệt hại cho địch
nhiều. Địa phương quân, du kích liến tiếp tổ chức chống càn, bao vây đồn bót. Ta tổ chức
các trận tập kích Sư đoàn 9 ở Hòa Tịnh diệt bảy tên, thu 3 súng. Địch cho quân đánh phá
vùng Miễu Trắng, du kích Hòa Tịnh đã phục kích đánh trả, bắn rơi 1 trực thăng. Trong ba
tháng, “địa phương quân đánh 8 trận, diệt 39 tên, làm bị thương 11 tên, thu 4 súng. Các lực
lượng du kích đánh 44 trận, 55 lần tháo kích 19 bót, 3 lô cốt, 8 lần bao vây 9 bót, 3 lô cốt,
diệt 37 tên, bắn bị thương 60 tên, bắn rơi 1 trực thăng, đánh tan xác một xe GMC” [15:246]
Các tháng cuối năm 1968, địch đưa về Cái Nhum 5 đoàn bình định (VL8, VL31, VL16,
VL24, VL9), với sự yểm trợ của quân chủ lực lần lượt chiếm lại gần hết các vùng ta đã giải
phóng trong tết Mậu Thân.
Tóm lại, tổng tấn cống và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 là một chiến dịch huy
động lực lượng tổng hợp của cả ba thứ quân, cùng một thời điểm phải đánh chiếm nhiều mục
tiêu trên một diện rộng, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các địa bàn chiến thuật. Ta đã thực
hiện tổng tấn công vào tận sào huyệt của kẻ thù, giải phóng nông thôn, lột trọc chi khu, phân
chi khu địch tạo tiếng vang lớn trên chiến trường. Qua chiến dịch này, một lần nữa cho thấy
nhân dân Mang Thít một lòng với cách mạng, sẵn sàng đóng góp quên mình vì mục tiêu
đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Tuy nhiên, ta cũng chịu tổn thất nặng nề, “ngành huyện hi sinh 1
chi ủy, 5 đảng viên, bị bắt 2 đảng viên. Ở các xã hi sinh 16 đảng viên, 2 chi ủy, 2 Huyện ủy
viên, bị bắt 1 đảng viên, đầu hàng 8 đảng viên, 3 chi ủy. Địa phương quân huyện hi sinh 37
người” [15:247]. Có thể nói, sự kiện “Tết Mậu Thân” nổ ra với yếu tố thời cơ lớn hơn là thực
lực được chuẩn bị chín muồi. Thời gian từ khi nhận lệnh đến lúc nổ súng rất gấp, gây bất ngờ
với cả các cán bộ lãnh đạo địa phương và các cán bộ của các đơn vị chủ lực. Đồng thời,
trong chỉ đạo, ta chưa quan tâm đến việc giữ nông thôn mà nặng cho nhiệm vụ tấn công thị
xã. Có thể thấy, lúc bấy giờ trong tư tưởng chỉ đạo của cấp trên là quyết tâm dứt điểm thị xã,
giải phóng tỉnh nên ta tập trung lực lượng về trên dốc toàn lực tiến công thị xã vì vậy ở địa
phương bị hẫng. Nông thôn được giải phóng nhưng ta không kịp xây dựng thế trận nhân dân
du kích chiến tranh. Khi địch tập trung lực lượng phản kích ta không đủ lực lượng và cơ sở
ngăn chặn, từ đó địch tái chiếm lại nông thôn đẩy ta vào tình thế rất khó khăn. Trong quá
trình tác chiến, sự chuyển hướng chiến lược của chiến dịch diễn ra chậm, ta vẫn tiếp tục tấn
công thị xã đợt II, đợt III khi địch đã phòng thủ chặt và tương quan lực lượng bất lợi cho ta,
do đó lực lượng của ta chịu tổn thất nặng nề và phải mất rất nhiều thời gian ta mới gây dựng
lại được cơ sở. Đây là những bài học kinh nghiệm rất quí giá cho ta trong công cuộc kháng
chiến chống Mỹ - ngụy sau này.
3.3. Kiên trì đấu tranh đi đến thắng lợi hoàn toàn
3.3.1. Quân dân Mang Thít chống bình định phản kích, bảo vệ cách mạng
Cuối năm 1968, địch cơ bản chiếm xong Cái Nhum, toàn huyện không còn ấp nào giải
phóng. Từ cuối năm 1968, địch đổ một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 9 đóng quân ở ngã ba Ông
Tiều hàng ngày bung ra càn quét các xã Hòa Tịnh, Nhơn Phú, Bình Phước. Một đại đội của
Tiểu đoàn 308 hoạt động ở chiến trường Cái Nhum kết hợp với địa phương quân, du kích
đánh trả các cuộc càn quét của địch. Ngày 11 tháng 2 năm 1969, ta đánh công sở Hòa Tịnh,
diệt 18 tên, bị thương 14 tên, bắt 6 tên, thu 4 súng và phá hủy 4 súng khác. Địch dùng pháo
hủy diệt trận địa, ta rút không kịp, bị thương 10 người.
Địch liên tiếp mở các cuộc hành quân vào Hòa Tịnh, Bình Phước, Mỹ An, Nhơn Phú.
Ngày 17 tháng 2 năm 1969, địch đánh thẳng vào khu vực bám trụ của du kích Hòa Tịnh. Đội
viên Lê Văn Hai (16 tuổi) bị thương tình nguyện ở lại chặn đánh địch để toàn đội rút lui và
anh dũng hi sinh (sau này Lê Văn Hai được tặng huân chương chiến công hạng Ba). Sáng 19
tháng 2 năm 1969 (mùng 3 tết), tiểu đoàn chủ lực ngụy hành quân càn quét vào Phú Hòa,
Nhơn Phú. Bọn dân vệ ở Mỹ An tiến vào Hòa Mỹ II (khu vực rạch Chuối Nước), nơi có các
cơ quan Huyện ủy, du kích, đơn vị 206 của thị xã Vĩnh Long trú quân, chúng đóng quân
cách ta 500m. Chiều cùng ngày, đơn vị 206 và du kích Hòa Tịnh, Long Mỹ, Mỹ An đồng
loạt nổ súng tấn công địch, tiêu diệt 3 tên Mỹ, bắt sống 1 dân vệ, bắn bị thương hai dân vệ
khác, thu một M79, sáu AR15, một máy PRC25. Tháng 3 năm 1969, địch hành quân càn
quét vào vùng ruột Phước Chí bị du kích chặn đánh chết 3 tên, bị thương 15 tên.
Nhận thấy địch bình định nông thôn ác liệt, Tỉnh ủy chủ trương tấn công thị xã, thị trấn
để thu hút địch tạo điều kiện cho nông thôn vùng dậy phá kìm. Ngày 10 tháng 6 năm 1969,
tỉnh tổ chức tấn công thị xã Vĩnh Long đợt 4, địa phương quân Cái Nhum và Tiểu đoàn 308
vẫn đảm nhiệm tấn công ở hướng Đông thị xã. Tuy nhiên, cuộc tiến công này không thu
được kết quả cao, ta bị thiệt hại khá lớn. Địch chẳng những không nhả vùng nông thôn mà
lợi dụng lúc ta đang suy yếu được thế lấn tới, càng bình định gắt gao hơn trước. Địch liên tục
truy quét đại đội địa phương quân và Tiểu đoàn 308. Lực lượng của ta phải lùi dần về sau.
Phát hiện lực lượng ta đóng quân ở Bà Nữ (Nhơn Phú), địch điều quân càn quét. Bộ đội, du
kích ta chặn đánh quyết liệt diệt được 23 tên, thu 12 súng. Sau đó trong tháng 7 năm 1969, ta
tiếp tục chặn đánh địch ở lò đường Long Quới diệt 13 tên, chặn đánh bọn biệt kích ở rạch
Hòa Tịnh diệt 2 tên lính Mỹ. Tuy vậy, với qui mô càn quét lớn, địch đã đánh rã các cơ sở của
ta ở Long Thanh, Long Mỹ, Long Đức, các đội du kích ở đây chỉ còn một, hai người phải
chạy dạt về Hòa Tịnh. Tuyến bờ đay Long Mỹ - Long Đức bị kìm chặt. Ở ba xã cù lao Bình
Hòa Phước, Đồng Phú, An Bình (được sáp nhập vào huyện Cái Nhum vào tháng 7 năm
1969), bị đánh phá dữ dội, nhiều cán bộ, chiến sĩ của ta hi sinh. Địch đã bình định ba xã này
thành vùng trắng. Trước tình hình khó khăn, Huyện ủy chủ trương cho các xã này tiếp tục
gây dựng lực lượng đợi thời cơ.
Tháng 8 năm 1969, địch tiếp tục đánh phá lực lượng địa phương quân và Tiểu đoàn 308
ở Mù U (Chánh Hội) làm ta hi sinh 1 chiến sĩ, một bị thương. Tối ta rút về Bờ Dừa (An
Phước) thì sáng địch lại truy tiếp vào Bờ Dừa, bộ đội ta phải chiến đấu suốt ngày với kẻ thù
và đến tối phải rút bỏ khu vực này.
Tháng 9 năm 1969, địch đóng ở đồn Lăng, lấp lõm du kích cuối cùng ở Tân Long Hội.
Các cán bộ cách mạng và các đảng viên phải phân tán hòa vào dân để bám địa bàn, một số
khác rút về huyện nhận nhiệm vụ mới. Đến tháng 10 năm 1969, địch càn quét vào lõm du
kích Bình Hòa (Hòa Tịnh), một đại đội của Tiểu đoàn 308 khoảng 20 người phối hợp du kích
chiến đấu rất kiên cường, đẩy lùi nhiều đợt xung phong của địch, diệt 54 tên, bắn bị thương
23 tên khác. Sau đó đơn vị rút về vườn Sầu Riêng (Chánh Hội) phối hợp bộ đội địa phương
huyện chống càn. Trong trận này đại đội trưởng địa phương quân huyện là Minh Bạch hi
sinh. Có thể nói, bộ đội địa phương quân huyện và Tiểu đoàn 308 bám trụ địa bàn, chống
bình định trong điều kiện vô cùng khó khăn. Trang bị vũ khí thiếu, trong chiến đấu bị tiêu
hao lực lượng không có nguồn bổ sung, địch hành quân càn quét liên miên, ta phải liên tục
né tránh để bảo toàn lực lượng. Trong khi đó, du kích các xã, các ấp phải tự lực chiến đấu
với mọi vũ khí có được, bước đầu đã đạt được một số kết quả tốt. Khoảng tháng 6 năm 1969,
du kích Bình Phước tập kích địch ở đình số 2 diệt 10 tên thu 2 súng, đến tháng 7 năm 1969,
phục kích địch ở đình Phước Thới diệt 10 tên địch, thu 6 súng, một máy PRC25. Cuối năm
1969, du kích Hòa Tịnh phục bắn đoàn trực thăng của địch càn quét ở Miễu Trắng đã bắn rơi
1 trực thăng tại khu vực ngã ba Chuối Nước.
Trong đấu tranh chính trị, năm 1969 ta đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chống địch bỏ
bom, bắn pháo bữa bãi, chống rải chất độc hủy diệt vườn cây hoa màu. Ta cũng khéo léo
lồng ghép vào những cuộc đấu tranh này một số yêu sách có lợi cho binh lính như tăng
lương, không đôn quân bắt lính,... để lôi kéo sự đồng tình của một số binh sĩ. Từ đó giáo dục,
vận động gia đình binh lính lôi kéo con em của mình về với nhân dân, trung lập hóa một số
đối tượng để giảm bớt tính chất các ôn của bọn lính. Về mặt an ninh, đội công an vũ trang
liên tục kết hợp du kích tổ chức diệt ác phá kìm, tham gia chống càn tiêu hao sinh lực địch.
Kết quả trong năm 1969, ngành an ninh toàn huyện đã diệt 56 tên tề điệp, tình báo ác ôn, bắt
59 tên cảnh cáo, giáo dục, bắt cải tạo 140 tên.
Song song càn quét, địch lập ấp Tân sinh, dùng nhiều thủ đoạn khủng bố, mua chuộc
quần chúng nhân dân. Chúng tổ chức các đội tình báo, gián điệp ra sức lôi kéo, bôi đen gia
đình cách mạng. Những gia đình có người tham gia kháng chiến, có người hi sinh trong
chiến đấu giải phóng dân tộc, địch vừa khủng bố vừa o ép, nhiều gia đình chịu không nỗi nên
một số người theo địch. Tuy nhiên ta cũng kịp thời phát giác âm mưu của địch dùng gia đình
cách mạng đánh phá các cơ quan đầu não kháng chiến nên đã tổ chức tập kích địch. Kết quả
ta diệt được 23 tên tình báo, ác ôn trong đó có tên trung uý Giản đại đội trưởng Đại đội 160.
Nhìn chung, trong năm 1969, địch đã thực hiện càn quét đánh phá cách mạng quyết liệt
với 174 cuộc hành quân lớn nhỏ vào địa bàn huyện Cái Nhum. Địch chiếm đóng tất cả các
ấp, đóng đồn bót dày đặc nâng tổng số đồn bót cũ và mới lên 63 đồn và hàng trăm lô cốt
phòng vệ dân sự, biến Cái Nhum thành một vùng kìm. Mặc dù địch đánh phá chà đi xát lại
ác liệt nhưng nhân dân vẫn kiên cường bám trụ, vừa sản xuất vừa là chỗ nuôi chứa cán bộ,
bộ đội, vừa là cơ sở cung cấp thông tin của địch giúp lực lượng ta có biện pháp đối phó kịp
thời. Đây là điều kiện để duy trì sức chiến đấu và hoạt động của lực lượng ta trong hoàn cảnh
khó khăn ác liệt. Ta đã tác chiến giằng co căng kéo với địch loại khỏi vòng chiến đấu hàng
trăm tên. Tuy nhiên trong những trận chiến đấu này ta cũng bị tổn thất nặng nề “cấp xã hi
sinh 30 đảng viên, 5 chi ủy, cấp huyện hi sinh 15 đảng viên, 9 chi ủy, một Huyện ủy viên, bộ
đội hi sinh 17 người, bị bắt 5 đảng viên, 3 chi ủy viên, 12 đảng viên đầu hàng” [15:263].
Bước sang năm 1970, Mỹ - ngụy tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến
tranh”, quân ngụy tăng nhanh về quân số được Mỹ viện trợ nhiều trang bị hiện đại. Chúng
thực hiện kế hoạch “bình định phát triển” bằng hoạt động Phượng Hoàng. Từ Trung ương
đến tỉnh, huyện, xã đều có ủy ban Phượng Hoàng. Tổ chức Phượng Hoàng sử dụng rất nhiều
lực lượng như cảnh sát dã chiến, an ninh tình báo, thám sát, biệt kích chủ lực, bảo an, bình
định tâm lí chiến, đặc biệt là sử dụng những phần tử đầu hàng với mục tiêu chủ yếu là diệt và
vô hiệu hóa cơ sở cách mạng - bình định quần chúng nhân dân. Trong một thời gian ngắn,
địch đã bình định, đóng đồn, lập ấp tân sinh ở một số vùng trọng điểm của huyện, đánh đồn
thọc sâu vào vùng ruột các xã Nhơn Phú, Bình Phước, Hòa Tịnh làm lực lượng ta mất địa
bàm đứng chân. Ở những địa hình rậm rạp, “địch dùng máy bay rải chất độc hóa học để phát
hoang cây cối, đưa quân càn quét bắt nhân dân phát trống địa hình ở ấp Bình Hòa (Hòa
Tịnh), ấp Phước Chí (Bình Phước), ấp IIB (Chánh Hội), ấp An Hương 2 (Mỹ An)” [19:97].
Trước tình hình khó khăn, địa phương quân huyện phải rút qua Tân An Luông tạm
tránh. Cán bộ các xã vẫn bám chặt địa bàn tổ chức nhân dân chiến đấu. Mặc dù rút sang địa
bàn khác nhưng địa phương quân huyện liên tục trở về tổ chức đánh trả các cuộc hành quân
càn quét của địch. Trận Bờ Dừa (An Phước) tiêu diệt 10 tên, phục kích bọn lính đồn Phước
Thới thu 11 súng, đánh diệt tên Giới ở cầu số 1. Đến tháng 4 năm 1970, ta đã làm chủ ban
đêm ở nhiều nơi, từng bước bám trụ làm chủ đêm ngày ở ấp 1, ấp 2, ấp 3, ấp 4 (Tân Long
Hội), ấp Chánh An, Định Thới A, Định Thới B, Hòa Phú (An Phước), ấp Thiềng Long, Bình
Tịnh B (Hòa Tịnh), ấp I, khu vực Giồng Dài (Chánh Hội),… Trong tháng 5 năm 1970, các
lực lượng của ta đã đánh tiêu diệt địch 15 tên, làm 24 tên bị thương.
Công tác binh vận tiếp tục được đẩy mạnh, vận động binh sĩ, gia đình binh sĩ mua vũ
khí, tiến tới vận động binh sĩ cầu an, lôi kéo binh sĩ đào ngũ. Qua các cuộc vận động đã có
một trung đội của Đại đội bảo an 835 và trung đội của Đại đội 160 chống lệnh đi càn quét.
Công tác đấu tranh chính trị đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù, trong đó
nổi bật là cuộc miting của các tu sĩ Cao Đài ở thánh tịnh Ngọc Sơn Quang. “Từ ngày 11 đến
14 tháng 12 năm 1970 (tức ngày 12 đến 16 tháng 11 năm Canh Tuất), họ đạo Cao Đài Tiên
Thiên ở thánh tịnh Ngọc Sơn Quang (Tân Long Hội) đã dựng đài ngưỡng thiên tổ chức lễ
cầu nguyện hòa bình qui tụ 18 hội thánh của miền Tây với hàng vạn tín đồ tham gia”[54:18].
Trong cuộc lễ có những bài diễn thuyết vạch mặt đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán
nước. Buổi lễ đã tạo nên diễn đàn chống Mỹ xâm lược và thành lập ban chấp hành mặt trận
nhân dân tranh thủ hòa bình do ông Lê Minh Ký làm chủ tịch. Đây là một sự kiện gây tiếng
vang lớn trong nước và quốc tế.
Do địch hành quân càn quét bình định ác liệt thọc sâu vào vùng nông thôn, cán bộ bám
trụ bị tiêu hao nhiều, huyện phải liên tục đưa người về bổ sung cho các xã. “Tổng kết năm
1970, ngành huyện có 7 đảng viên, 5 chi ủy hi sinh, 2 đảng viên bị bắt. Ở các xã có 8 đảng
viên, ba chi ủy hi sinh, một chi ủy bị bắt” [15:266]. Thêm vào đó, do chiến tranh tâm lí của
địch và sự ác liệt của chiến trường nên đã có “14 đảng viên, 13 chi ủy và một huyện ủy viên
ra đầu hàng” [15:266]. Như vậy khó khăn chồng chất khó khăn, đặt quân và dân Cái Nhum
trước nhiều thử thách rất khốc liệt.
Cuối năm 1970, Tỉnh ủy tiến hành họp kiểm điểm tình hình, đánh giá khả năng và âm
mưu của địch, đề ra nghị quyết nhấn mạnh: “động viên sự nỗ lực phi thường của toàn Đảng,
toàn quân, toàn dân khắc phục khó khăn, khuyết điểm, nắm vững và sáng tạo thời cơ liên tục
tấn công tiêu diệt địch bằng quân sự, chính trị, binh vận trên tất cả các vùng. Khẩn trương
xây dựng lực lượng về mọi mặt, tập trung sức đánh phá bình định mà trước mắt là đánh bại
chương trình bình định đặc biệt của địch. Chuyển cho được phong trào, thực lực vùng kìm,
vùng yếu, vùng tôn giáo đi lên, sẵn sàng đánh bại kế hoạch mùa khô của Mỹ - ngụy giành
thắng lợi to lớn toàn diện hơn nữa,...” [15:267]. Tỉnh cũng rút một số cán bộ ở Cái Nhum,
điều một số cán bộ ở Vũng Liêm bổ sung cho Cái Nhum.
Sau khi bổ sung lực lượng, Huyện ủy Cái Nhum ra nghị quyết mới kiên quyết đưa bộ
đội về bám trụ vững chắc ở địa bàn, thực hiện hai chân ba mũi tác chiến đánh địch toàn diện
làm đòn bẩy đẩy mạnh phong trào nhân dân du kích chiến tranh.
Đầu tháng 1 năm 1971, đơn vị địa phương quân huyện quay về bám trụ vùng Tân Long
Hội, hình thành lõm căn cứ ấp 2 (Tân Long Hội). Công cuộc bám trụ rất khó khăn, cán bộ du
kích đã thực hiện phương châm “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” để tránh
sự truy lùng gắt gao của địch. Sau đó, huyện cử Nguyễn Văn Nuôi (Chín Nuôi) về xây dựng
cơ sở, phá kìm ở Long Thanh, Long Đức, Long Mỹ, đây là vùng kìm rất chặt của địch, cán
bộ rất khó bám trụ. Sau một thời gian ta cũng tạo được một số cơ sở ở đây nhưng cán bộ vẫn
chưa đứng chân được ở Long Thanh, Long Đức, phải rút về bám trụ ở rạch Ông Lễ, An
Hương (Mỹ An).
Trong thời gian này, tỉnh tái lập huyện Châu Thành và Cái Nhum, giao ba xã Long
Thanh, Long Đức, Long Mỹ về huyện Châu Thành. Huyện Cái Nhum lúc này có 10 xã gồm
7 xã đất liền (An Phước, Mỹ An, Nhơn Phú, Bình Phước, Chánh Hội, Hòa Tịnh, Tân Long
Hội) và ba xã cù lao (An Bình, Bình Hòa Phước, Đồng Phú).
Bộ đội địa phương quân huyện bắt đầu kết hợp an ninh vũ trang, du kích diệt ác phá
kìm, khi có điều kiện triển khai tấn công, đánh một số trận nhỏ tiêu hao sinh lực địch. Tháng
4 năm 1971, địa phương quân và du kích chặn đánh trung đội bảo an ở Phú Thạnh (Nhơn
Phú) diệt 4 tên thu 3 súng. Tháng 6 năm 1971, địa phương quân và du kích tiếp tục tập kích
địch ở Phú Hòa (Nhơn Phú) diệt 4 tên, sau đó phục kích diệt tên thiếu úy Hường và làm bị
thương 3 tên ở vàm Bà Cờ Nhỏ (Bình Phước).
Trong sáu tháng đầu năm 1971, huyện đã đưa sáu ấp lên tranh chấp mạnh với chính
quyền ngụy, 9 ấp tranh chấp yếu, địch vẫn còn kìm 34 ấp (trong đó kìm chặt 26 ấp). Ta đã
xây dựng cơ sở phát triển 26 đảng viên, 234 cơ sở quần chúng, 54 du kích ấp. Các lực lượng
vũ trang của ta liên tục đánh địch, diệt 214 tên, thu 23 súng, diệt một đồn, một trung đội biệt
kích, đánh thiệt hại nặng một đại đội bảo an. Cán bộ ta đã đứng chân hoạt động ở khu vực ba
xã cù lao, nhưng vẫn chưa hình thành được du kích. Đến tháng 7, tháng 8, tháng 9 các lực
lượng vũ trang của ta tổ chức đánh được 37 trận, diệt 90 tên, thu 21 súng.
Đối với công tác binh vận, ta đã cài một số cơ sở ở các đồn bót. Sau đó, ta sử dụng cơ
sở Huỳnh Văn Bé đánh đồn Tân Lập, diệt 3 dân vệ, bắn bị thương trưởng đồn, thu 19 súng,
3.000 đạn, một máy HT1. Tuy nhiên, cuối năm 1971, lực lượng cách mạng Cái Nhum bị
thiệt hại nặng khi binh vận bị địch phản vận ở đồn Cây Sộp (Nhơn Phú), ta hi sinh 10 cán bộ
nòng cốt. Đây là một bài học kinh nghiệm quí giá cho ta trong quá trình tác chiến.
Đầu năm 1972, chịu tác động của cục diện chung trên chiến trường toàn miền Nam và
sau thất bại trong hai cuộc tiến công chiến lược ở ngoại biên (Campuchia và Lào) đã gây
tâm lí thất vọng hoài nghi trong hàng ngũ địch về chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Vì vậy, địch triển khai kế hoạch bình định “tứ niên cộng đồng tự vệ và phát triển” với ý định
giành toàn thắng về bình định vào năm 1975 để xoay chuyển thế trận chiến tranh. Ở Cái
Nhum, địch ra sức bắt lính, đôn quân bổ sung quân số, tập trung lực lượng lớn hành quân càn
quét, bắt dân phát hoang Giồng Dài, Giồng Lức. Tuy nhiên, nhân dân khi bị bắt đi phát
hoang đã đốn cây chừa lại gốc cao ngang ngực hoặc đốn cây ngã xuống nhưng không đốn
đứt lìa nên sau một thời gian ngắn thân cây đâm chồi, địa hình lại rậm rạp hơn trước.
Bước vào mùa khô năm 1972, Trung ương cục miền Nam phát động đợt tiến công Xuân
- Hè trên khắp miền Nam. Tháng 2 năm 1972, Tinh ủy tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch
tiến công và giao nhiệm vụ cho từng huyện thực hiện. Cái Nhum được giao nhiệm vụ trong
năm 1972 phải đưa sáu xã vùng sông Mang Thít lên tranh chấp mạnh, giải phóng ấp, lõm
hiên hoàn, đưa 70 tân binh bổ sung cho tỉnh.
Ngày 10 tháng 2 năm 1972, Cái Nhum bước vào cao điểm tấn công. Đầu tiên, ta sử
dụng cơ sở nội ứng Huỳnh Văn Bé là phòng vệ đồn Tân Lập (Chánh Hội) đánh diệt đồn này,
diệt hai tên ác ôn và toàn bộ tiểu đội dân vệ, phá rã phòng vệ, thu 21 súng, trên 20.000 đạn,
đưa một số phòng vệ về bổ sung vào du kích. Đến tháng 4 năm 1972, địa phương quân
huyện và binh vận sử dụng cơ sở Võ Văn Vĩ và Nguyễn Văn Huệ (phòng vệ đồn Tân Qui)
đánh diệt đồn Tân Qui (Tân Long Hội) diệt 2 tên, bị thương 10 tên dân vệ, phá rã và đưa 9
phòng vệ dân sự bổ sung vào du kích Tân Long Hội. Ba ngày sau, địch truy theo lực lượng ta
đến rạch Bầu Xép, tiểu đội du kích Tân Long Hội được sự chi viện của pháo binh đã chiến
đấu dũng cảm, đẩy lùi ba đại đội bảo an địch và rút lui an toàn.
Ngày 24 tháng 4 năm 1972, em Nguyễn Văn Quang (13 tuổi) ở Chánh Hội, lợi dụng sự
thân quen với bọn lính đồn Cầu Bò và nhân một số lính đồn đi vắng đã dẫn đường cho bộ đội
huyện đột nhập bắt toàn bộ lính trong đồn. Một số lính đồn ra ngoài trở về cũng bị bắt, ta thu
5 súng, bảy M72, nhiều đạn và lựu đạn.
Như vậy trong cao điểm Xuân - Hè 1972, quân dân Cái Nhum đã diệt 3 đồn, thu gần 80
súng, trên 50.000 đạn, bổ sung quân cho huyện và du kích. Phát huy thắng lợi vừa giành
được, phối hợp với chiến trường chung hậu thuẫn cho việc đàm phám ở Pari, bộ đội và du
kích liên tục hoạt động đánh phá địch.
Tháng 8 năm 1972, bộ đội địa phương huyện tấn công công sở Tân Long Hội diệt 20
tên, thu 13 súng. Tuy nhiên sau đó địch cố thủ nên ta không diệt được đồn, ta cũng hi sinh 1
cán bộ là Sáu Công đại đội phó đại đội địa phương quân.
Tháng 10 năm 1972, du kích Bình Phước phục kích địch tại Bà Giáo diệt 1 tên. Sau đó,
du kích Bình Phước dùng mìn chặn đánh bọn biệt kích ở cầu đúc sập (ấp Phước Thọ) diệt 5
tên, thu một M79, hai M13, ta hi sinh một chiến sĩ. Ở Nhơn Phú, du kích chặn đánh trung đội
dân vệ tại ấp Phú Quới diệt 5 tên, thu hai súng. Ở các xã khác, du kích liên tục chặn đánh gây
cho địch nhiều thiệt hại.
Công tác binh vận đã vận động gia đình binh sĩ kêu gọi con em về, đem vũ khí nộp cho
cách mạng như bà Hai Thịnh nộp 100 quả M79, trưởng ấp Tiều nộp một khẩu súng ngắn
Colt 12,... Ngành an ninh và đội vũ trang diệt nhiều tên ác ôn như Năm Tân, Tư Cường làm
trong sạch địa bàn các lõm du kích và khu vực Huyện ủy đứng chân.
Tổng kết năm 1972, “toàn huyện Cái Nhum diệt 339 tên, thu 64 súng các loại”
[15:277], trong đó du kích xã Chánh Hội đánh 31 trận, diệt 74 tên, thu 9 súng, giải tán bốn
toán phòng vệ dân sự. Với chiến công này, du kích Chánh Hội được tặng Huân chương chiến
công hạng Ba. Ta mở được nhiều lõm du kích ở Giồng Dài, Giồng Lức, vườn Sầu riêng
(Chánh Hội), rạch Lăng, rạch Ông Thìn, Bà Cai, vườn bà Tám, vườn Quãng Ngôn (Tân
Long Hội), Phước Chí (Bình Phước), Thiềng Long (Hòa Tịnh). Bên cạnh thắng lợi, ta đã bị
tổn thất khá lớn. “Ngành huyện hi sinh 5 đảng viên, 3 chi ủy, Các xã hi sinh 3 đảng viên, 3
chi ủy, bị bắt 1 chi ủy, bộ đội địa phương huyện hi sinh 12 người, toàn huyện có 1 đảng viên
đầu hàng” [15:277]. Như vậy, từ chỗ bị địch bình định và kìm kẹp nặng nề, quân dân Cái
Nhum đã khắc phục mọi khó khăn, vươn lên mở mảng, mở kìm giải phóng từng lõm tiến lên
giải phóng vùng rộng, phối hợp với chiến trường chung góp phần buộc kẻ thù phải kí Hiệp
định Pari.
3.3.2. Thực hiện tiến công mở rộng vùng nông thôn sau Hiệp định Pari
Sau cuộc tấn công Xuân - Hè 1972, thực tế chiến trường miền Nam diễn ra theo chiều
chướng có lợi cho cách mạng Việt Nam. Do thất bại liên tiếp về quân sự, Mĩ buộc phải đến
bàn hội nghị Pari thương lượng với ta. Sau nhiều cuộc đấu trí tranh luận căng thẳng quyết
liệt và thắng lợi của trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội, đến ngày 27 tháng 1 năm
1973 Hiệp định Pari được chính thức kí kết và có hiệu lực từ 9 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm
1973. Mặc dù đã kí Hiệp định nhưng Mỹ vẫn tiếp tục thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”,
tăng cường viện trợ cho chính quyền ngụy. Lợi dụng Hiệp định vừa kí kết chưa có hiệu lực,
với khẩu hiệu “ không nhường một tấc đất”, chính quyền ngụy Nguyễn Văn Thiệu thực hiện
chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, đưa bảo an dân vệ, cảnh sát Phượng Hoàng liên tiếp mở các
cuộc hành quân lấn chiếm, bình định vùng cách mạng kiểm soát. Ở Cái Nhum, địch đưa 4
tiểu đoàn bảo an tỉnh đánh vào vùng ruột Cái Nhum, chốt cặm ở các xã Bình Phước, Nhơn
Phú, Hòa Tịnh. Chính quyền ngụy cấp quận, xã ấp buộc dân treo cờ ngụy, vẽ cờ trước nhà,
trên mái tol, kẻ khẩu hiệu chống cộng.
Trước hành động thái qua của địch, Huyện ủy Cái Nhum chỉ đạo phải nhẫn nhịn chờ
đợi Hiệp định Pari có hiệu lực. Trong đêm 27 tháng 1 năm 1973, huyện tập trung cán bộ,
đoàn thể lực lượng vũ trang cắm cờ xác định vị trí làm chủ của ta, ta cắm cờ đến sát đồn bót,
cắm vào ấp chiến lược, vào vùng kìm sát thị trấn Cái Nhum. Khi Hiệp định bắt đầu có hiệu
lực, Huyện ủy lãnh đạo lực lượng vũ trang huyện xã kiên quyết trừng trị bọn địch vi phạm
Hiệp định. Ngày 28 tháng 1 năm 1973, trung đội dân vệ An Phước càn quét vào Hòa Phú lấn
đất giành dân bị bộ đội địa phương huyện đánh diệt gần như cả trung đội, bắt sống 5 tên, thu
10 súng. Tháng 2 năm 1973, bộ đội địa phương huyện và du kích Nhơn Phú đánh trả một
tiểu đoàn lấn đất giành dân ở Nhơn Phú diệt 22 tên.
Tình hình Cái Nhum sau Hiệp định Pari rất căng thẳng, áp lực quân sự địch vẫn đè
nặng, bọn chúng thực hiện các chiến dịch “quét sạch lá rừng”, “vì dân” hòng xóa thế trận da
báo với ta, vơ vét sức người, sức của, bắt xâu, bắt lính cướp bóc nhân dân. Ngày 16 tháng 3
năm 1973, địch đưa lính bảo an, cảnh sát tỉnh, quận, xã bao vây thánh tịnh Ngọc Sơn Quang
bắt 184 tu sĩ đưa về giam ở Vĩnh Long, Cần Thơ chuẩn bị đưa đi lính. Nhân dân họ đạo, các
vị chức sắc tổ chức đấu tranh đến quận, tỉnh, vùng Bốn chiến thuật, phủ Thủ tướng, Bộ Nội
vụ, Bộ Tổng tham mưu, Bộ chỉ huy cảnh sát quốc gia,… đòi thả những tu sĩ bị bắt. Trong
thời gian bị giam, ba tu sĩ Nguyễn Văn Trưng, Nguyễn Văn Trứng, Nguyễn Xiêm Bé chết
trong nhà giam ở Cần Thơ làm cho cuộc đấu tranh của quần chúng và nhân dân có đạo càng
mạnh mẽ hơn, đoàn biểu tình tăng lên hàng trăm người. Nhân dân đấu tranh đòi trả thi thể ba
tu sĩ và sau khi được trao trả mọi người tổ chức lễ truy điệu cho ba tu sĩ, tố cáo tội ác Mỹ -
ngụy xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, khủng bố giết hại tu sĩ,... Trước làn sóng đấu
tranh mạnh mẽ của nhân dân, địch buộc phải thả hết các tu sĩ bị bắt và cam kết không bố ráp
vào Thánh tịnh. Đây là một cuộc đấu tranh qui mô lớn, kéo dài nhiều ngày, nhiều người
tham gia, đấu tranh đến nhiều cấp và đã giành thắng lợi, gây tiếng vang lớn buộc địch phải
dè dặt hơn trong hành động.
Ở giai đoạn đầu sau Hiệp định Pari, trong cuộc đấu tranh chống bình định lấn chiếm và
âm mưu “tràn ngập lãnh thổ”, do quá chú trọng đến hòa bình, hòa hợp dân tộc, nặng về cắm
cờ, giữ đất, xem nhẹ tấn công nên ta bị mất đất, mất dân ở một số địa bàn trọng điểm. Vì
vậy, tháng 4 năm 1973, Tỉnh ủy ra Nghị quyết “động viên toàn Đảng, toàn quân toàn dân
phát huy thắng lợi vừa giành được đẩy lên thành cao trào chính trị với khẩu hiệu hòa bình,
độc lập cơm áo và hòa hợp dân tộc, liên tục tấn công địch, triệt để phát huy pháp lý Hiệp
định đánh bại kế hoạch bình định mùa khô của địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng
nhất là 4 huyện Nam - Bắc sông Mang Thít” [5:436].
Thực hiện Nghị quyết của tỉnh, quân dân Cái Nhum đẩy mạnh đấu tranh hòa hoãn với
các đồn bót. Đến đầu tháng 6 năm 1973 có 36 gia đình bỏ ấp chiến lược về vườn cũ thuộc
vùng giải phóng làm ăn, nhân dân lôi kéo rã ngũ 49 tên lính ở các đồn. Bộ đội đã tổ chức
đánh sáu trận, diệt 47 tên, làm chủ đoạn sông Mang Thít dài 2km, thực hiện phá kìm chuyển
các vùng kìm chặt thành vùng kìm lỏng ở các ấp: ấp II (Chánh Hội), Cái Cạn, An Hương 2
(Mỹ An), ấp 2 (Tân Long Hội), Phước Thới, (Bình Phước), Phú Thạnh (Nhơn Phú), Bình
Hòa (Hòa Tịnh). Nhân dân tham gia xây dựng xã ấp chiến đấu với 2 ấp chiến đấu mạnh là ấp
5 (An Phước) và ấp Phú Thạnh (Nhơn Phú).
Song song đó, ta cũng đẩy mạnh xây dựng phát triển vùng giải phóng với phương châm
địch đến là đánh, địch đi là sản xuất. Diện tích canh tác tăng lên, tính đến tháng 6 năm 1973
toàn huyện đã gieo cấy 30 hécta lúa. Huyện ủy chỉ đạo nhân dân tăng gia sản xuất, làm thủy
lợi nội đồng, đắp đập giữ khô, đào kênh dẫn nước ở ba xã Nhơn Phú, Bình Phước, Hòa Tịnh.
Kết quả ta đã vận động nhân dân đắp 48 đập, 14.700m bờ bao. Nhân dân tích cực sản xuất,
năng suất tăng cao và tích cực đóng góp đảm phụ cho cách mạng. Chỉ trong tháng 6 năm
1973, nhân dân đóng góp cho cách mạng 456 giạ lúa. Phong trào văn hóa văn nghệ, y tế, xã
hội cũng được quân tâm chu đáo. Trường học được xây dựng ở nhiều nơi, các lớp bình dân
học vụ vẫn được duy trì. Mỗi xã đều có trạm y tế thực hiện phòng bệnh và trị bệnh cho nhân
dân. Nhờ đó, đời sống của nhân dân được cải thiện, nhân dân phấn khởi tham gia cách mạng.
Trong khi đó địch vẫn tăng cường các hoạt động quân sự đầu mùa khô đánh phá ta
nhằm “diệt cộng sản, cướp lúa, bắt lính”. Tháng 10 năm 1973, địch sử dụng bảo an, dân vệ
càn quét vào Tân Long Hội bị du kích chặn đánh suốt ngày, bẻ gãy các đợt tấn công. Kết quả
địch thiệt hại nặng, bị tiêu diệt 23 tên, ta thu 19 súng. Trận đánh này đã tạo ra thế trận mới
cho lực lượng của ta, du kích trụ vững ở địa bàn, đủ sức đương đầu với bảo an chi khu địch.
Thực hiện mục tiêu cướp lúa, địch cho xây dựng hai vựa lúa ở Hòa Tịnh và Tân Long
Hội để cất giữ số lúa cướp được. Chúng bắt các nhà máy xay xát bán gạo giá rẻ cho chúng.
Bọn tiểu khu, chi khu càn quét vào các vùng lúa sắp chín để vơ vét lúa gạo. Huyện ủy chỉ
đạo kết hợp ba mũi tiến công đấu tranh với địch chống các cuộc cướp lúa. Mũi vũ trang bao
vây các đồn chặn đánh địch bẻ gãy các cuộc càn. Ở Bình Phước, du kích phục kích diệt một
trưởng đồn, một phó đồn, một tiểu đội trưởng, bắn bị thương một dân vệ, thu một súng M79,
25 trái đạn, bẻ gãy cuộc càn quét, cướp phá của địch. Trong ba tháng 10, 11, 12 ta đã đánh
hơn 10 trận, diệt 27 tên thu 6 súng, bứt rút đồn Mười Đạt, giải phóng ấp Phước Thới (Bình
Phước) với 142 hộ dân. Tháng 11 năm 1973 bộ đội chủ lực sử dụng cơ sở binh vận đánh
thiệt hại nặng hậu cứ Gò Nhum (Tân Long Hội) gây thối động lớn trong hàng ngũ địch, đập
tan ý đồ bình định vùng Nam - Bắc sông Mang Thít của địch. Mũi đấu tranh chính trị tổ chức
các cuộc biểu tình kéo đến quận lị chống cướp lúa. Trong đấu tranh ta cũng tranh thủ sự
đồng tình ủng hộ của các binh sĩ. Một số lính dọa bắn bọn ác ôn nếu chúng dám cướp lúa của
gia đình họ. Vì thế, địch phải trả lại 1.673 giạ lúa và 8 giạ gạo cho dân. Tuy nhiên, ở các
vùng phong trào đấu tranh yếu, địch vẫn cướp được số lượng lớn lúa gạo của nhân dân. Chỉ
tính trong tháng 11 năm 1973 địch đã cướp của ta 1.500 giạ lúa.
Phong trào du kích ở các xã phát triển mạnh, hiệu quả chiến đấu cao, tiêu biểu là xã
Hòa Tịnh. Trong năm 1973, xã Hòa Tịnh đã đánh 8 trận, diệt và làm bị thương 96 tên, phá rã
42 tên, xây dựng 40 cơ sở. Xã tự sản xuất được 32 trái lô, 17 lựu đạn và được tặng Huân
chương chiến công hạng Ba.
Bước sang năm 1974, chính quyền Sài Gòn bị khủng hoảng về tài chính do Mỹ giảm
viện trợ. Để giảm bớt khó khăn địch tiếp tục thực hiện bình định giành dân, giành đất, giành
lúa. Ở Cái Nhum, địch chú trọng vào khu vực Nhơn Phú, Hòa Tịnh. Địch xem toàn chi khu
có 28 ấp A quân sự phải kiên quyết giữ. Thủ đoạn của địch sử dụng rất nham hiểm, toàn
diện, kết hợp chặt giữa chính trị, quân sự, kinh tế, gián điệp, chiến tranh tâm lý, có điểm có
diện, đánh thẳng vào quần chúng và các cơ sở cách mạng xã ấp.
Tình thế mới gây khó khăn cho cách mạng địa phương, vì vậy Tỉnh ủy chủ trương:
- Về quân sự phải mở các cuộc tấn công quyết liệt không cho bọn bảo an rảnh tay
cướp lúa, đồng thời thọc sâu diệt ác phá kìm.
- Về chính trị phát động phong trào quần chúng dám đấu tranh đổ máu để giữ lúa,
vùng ngoài không cho tập trung, vùng sâu không cho cướp lúa.
- Về binh vận tranh thủ sự đồng tình của binh sĩ, ngụy quyền đứng về phía nhân dân
đấu tranh chống cướp lúa.
Tháng 11 năm 1973, Huyện ủy ra Nghị quyết một năm của huyện “kiên quyết giữ thành
quả cách mạng, phát huy trên cơ sở ba mũi tấn công kết hợp pháp lí Hiệp định tấn công địch,
giải phóng thêm đất giành thêm dân. Đến cuối năm 1974 phải mở cho được khu vực giải
phóng liên hoàn ở vùng ruột, đưa vùng kìm cũ, kìm chặt lên một bước mới” [15:290].
Đầu năm 1974, thực lực của huyện có chuyển biến mạnh. Địa phương quân huyện có
51 người (42 bộ binh, 5 trinh sát, 4 biệt động), thị trấn có 6 chi ủy, 19 đảng viên, 13 đoàn
viên. Ở các ấp xã có 11 xã đội, 61 du kích xã, 5 ấp đội, 62 du kích ấp, 51 du kích mật. Toàn
huyện có 7/10 xã có du kích xã (ba xã cù lao chưa có du kích xã), 22/69 ấp có du kích ấp,
các hội viên đoàn thể có 539 người. Yêu cầu đặt ra trong sáu tháng đầu năm 1974 là “kiên
quyết chặn đứng và đánh bại âm mưu cướp lúa của địch, giải phóng hai ấp vùng ruột,
chuyển lên tranh chấp mạnh 5 ấp khác tạo thành khu vực giải phóng và tranh chấp liên hoàn
ở Hòa Tịnh, Bình Phước, đồng thời làm chuyển biến một bước quan trọng ở vùng kìm”
[15:291].
Tháng 1 năm 1974, địa phương quân huyện, du kích các xã đồng loạt hoạt động tấn
công địch ở vùng kìm, vùng tranh chấp, bao vây đồn bót, đánh quân can viện, diệt ác ôn, phá
tề, phá phòng vệ dân sự. Mỗi xã đều đưa lực lượng ra chiếm lĩnh một số ấp vùng kìm. Kết
quả, bọn lính đồn Cây Sộp (Nhơn Phú) bỏ chạy, du kích ở Phú Hòa (Nhơn Phú) diệt được 3
tên ác ôn, thu một súng. Ngày 18 tháng 3 năm 1974 địa phương quân, du kích kết hợp nội
ứng diệt đồn tề ấp IIA (Chánh Hội) thu 6 súng.
Tháng 6 năm 1974, địch đưa hai tiểu đoàn bảo an 521, 519 giải tỏa vùng sông Mang
Thít. Quân số địch ở Cái Nhum là 1.538 tên, có 60 đồn bót, 10 lô cốt, 29 ụ gác phòng vệ, 10
xã đều có ban tề xã, có 28 ấp có ban tề ấp. Tuy nhiên, diễn biến tình hình chiến trường địch
đang bất lợi, bọn chúng đang suy yếu, bảo an chi khu cơ động kém, đại đội giữ đồn bị sa lầy,
thiếu khả năng chi viện lẫn nhau nên tinh thần càng rệu rã, hoang mang cực độ.
Trong khi đó, ta chuyển lên thực hiện bước 2 của Nghị quyết năm 1974 tập trung mở
vùng ruột Bình Phước, Hòa Tịnh, Nhơn Phú, An Phước, Chánh Hội. Tỉnh đội đã đưa Tiểu
đoàn 2 về Cái Nhum hỗ trợ cho huyện tác chiến. Ngày 12 tháng 6 năm 1974, toàn huyện
bước vào cao điểm tiến công. Bộ đội Tiểu đoàn 2, đại đội địa phương quân huyện đánh thọc
sâu vào vùng kìm ở tuyến sông Bà Giáo. Du kích Bình Phước bao vây đồn Bà Giáo, du kích
Hòa Tịnh bao vây đồn Miễu Trắng, du kích An Phước, Nhơn Phú, Chánh Hội bao vây đồn
Sông Lưu. Hình thức bao vây: lấy đất đắp pháo đài cao, tổ chức du kích canh gác ngày đêm,
thấy địch ra ngoài thì bắn tỉa, kết hợp dùng loa kêu gọi địch đầu hàng hoặc bỏ đồn trả đất cho
dân. Đêm đến ta đào chiến hào áp sát đồn, ném lựu đạn vào trong đồn, quấy rối địch. Kết
quả, ở Bình Phước ta san bằng đồn Bà Giáo, diệt 3 tên, giải phóng một ấp ở Bình Phước.
Ngày 15 tháng 6 năm 1974, địch đưa một tiểu đoàn bảo an vào tái chiếm. Liên tục trong ba
ngày địch tổ chức nhiều đợt xung phong nhưng đều bị bộ đội ta cặm ở tuyến sông Bà Giáo
đánh bật trở ra. Trong khi viện binh của địch bị kìm chân ở Bình Phước thì du kích các xã
khác vây chặt đồn Sông Lưu, bọn lính không ra ngoài được, không lương thực, không tiếp
viện nên ngày 16 tháng 6 lính đồn Sông Lưu bỏ chạy, ta thu 13 súng, một máy đèn, một vô
tuyến truyền hình.
Ngày 18, 19 tháng 6 năm 1974 địch huy động thêm 2 tiểu đoàn bảo an tỉnh, hai đại đội
bảo an huyện, ba trung đội dân vệ liên tục tấn công vào Bà Giáo. Trước sức tấn công mạnh
của địch, ta tạm lui vào phía trong Bà Giáo. Tuy nhiên, địch không vào đóng đồn Bà Giáo
chỉ tới lấy xác lính rồi rút về.
Phán đoán địch sẽ còn trở lại đóng đồn, nên ta bố trí trận địa chặn đánh. Bộ đội Tiểu
đoàn 2 và địa phương quân trở lại trận địa cũ, sửa sang công sự, bố trí chông mìn, lựu đạn
sẵn sàng đánh địch. Ngày 21 tháng 6 năm 1974, địch dùng ba tiểu đoàn bảo an hành quân
vào Bà Giáo. Suốt hai ngày 21 và 22 tháng 6, ta đẩy lùi nhiều đợt tấn công của địch, diệt và
làm bị thương 52 tên, buộc địch bỏ ý định tái chiếm Bà Giáo.
Giải phóng xong đồn Bà Giáo, Sông Lưu ta chuyển sang bao vây đồn Miễu Trắng (Hòa
Tịnh) và Bờ Dừa (An Phước). Du kích đào chiến hào, ban đêm đánh thuốc khói, ban ngày xạ
kích, Tỉnh đội dùng khẩu 12 ly 7 bắn vào đồn uy hiếp tinh thần địch. Bọn lính bị vây không
có lương thực ăn, không có quân chi viện nên rất hoang mang, không còn sức chiến đấu.
Ngày 25 tháng 6 năm 1974, địch điều ba tiểu đoàn vô rút đồn Bờ Dừa, bọn lính đồn tháo
chạy, ta chặn đánh địch thu được 700 đạn, một máy đèn.
Sau đó du kích tiếp tục bao vây đồn Phước Chí, đồn Cây Gáo, đồn Bình Hòa. Nhận
thấy địa hình ở đồn Cây Gáo, đồn Bình Hòa thuận lợi cho địch đem quân cứu viện nên ta
chuyển sang bao vây đồn Vườn Cò (Hòa Tịnh). Ngày 8 tháng 7, địch điều 5 tiểu đoàn bảo an
chia thành hai hướng tiến công giải tỏa đồn Vườn Cò và Phước Chí. Đoán được hướng hành
quân của địch, ta đã xây dựng trận địa, bố trí các bãi chông, lôi, lựu đạn gày chặn đánh. Ta
liên tục chặn đánh địch trong 7 ngày đêm buộc địch phải rút quân. Trận này ta diệt và làm bị
thương 64 tên. Bọn lính đồn Vườn Cò, đồn Phước Chí không được chi viện, không trụ lại
được. Đến ngày 27 tháng 7 chúng phá vây bỏ chạy, ta diệt tên đồn trưởng và một lính, thu 4
súng và toàn bộ đạn dược. Do tác động từ đồn Vườn Cò, bọn tề ấp ở đồn Rạch Chùa cũng bỏ
chạy, ta san bằng đồn Rạch Chùa.
Ngày 30 tháng 7 năm 1974, ta chuyển sang bao vây, bức rút đồn Long Quới (Bình
Phước) thu toàn bộ đạn dược. Ngày 1 tháng 8 năm 1974, ta tiếp tục bao vây đồn Cầu Bò
(Chánh Hội). Bọn lính hoảng sợ bỏ cả súng tháo chạy, ta thu toàn bộ súng và đạn gồm 8
súng AR15, một súng M79, đồng thời giáo dục đưa toàn bộ 7 dân vệ về với cách mạng.
Đêm 4 tháng 8 năm 1974, lực lượng cách mạng tiến lên bao vây đồn Ba Túc. Ngày 5
tháng 8 địch cho một đại đội bảo an vào giải tỏa bị ta chặn đánh ở Mù U, Bà Nghè không
vào cứu viện được. Lính đồn Ba Túc quăng súng xuống sông tháo chạy, ta vớt lại được hai
súng. Bọn lính đồn Sáu Huề gần đó thấy vậy cũng bỏ đồn. Ta san bằng hai đồn này sau đó
vây tiếp đồn Mù U (Chánh Hội) và đồn Xẻo Mướp (Nhơn Phú). Ngày 8 tháng 9 năm 1974,
đồn Mù U rút chạy nhưng sau vài ngày địch đã tái chiếm trở lại. Địa phương quân tỉnh tiến
sát chi khu Cái Nhum.
Như vậy, tính chung từ ngày 12 tháng 6 đến đầu tháng 9 năm 1974, ta loại khỏi vùng
chiến đấu 232 tên, phá rã 356 tên, quét sạch không còn phòng vệ dân sự ở một xã, 10 ấp, thu
34 súng các loại, bức rút 8 đồn, bức hàng 3 đồn, giải phóng 5 ấp, giải phóng cơ bản xã Bình
Phước, một phần xã Hòa Tịnh, Chánh Hội. Trong đợt cao điểm tấn công này ta hi sinh 2, bị
thương 7 người.
Thắng lợi vừa đạt được làm quân và dân trong huyện phấn khởi, Huyện ủy chỉ đạo tiếp
tục mở tuyến Tân Long Hội. Tháng 9 năm 1974, địa phương quân, du kích bao vây đồn Ba
Cò, uy hiếp lộ 32. Địch điều sáu tiểu đoàn bảo an và một đoàn xe M113 vào giải tỏa, ta
không đủ sức phòng ngự nên rút quân. Huyện chỉ đạo đưa lực lượng về xây dựng cơ sở phá
kìm ở ấp Phú Thạnh A (Nhơn Phú) và ấp 2, ấp 3 (Tân Long Hội). Trong tháng 9, Cái Nhum
tác chiến 13 trận, xạ kích 65 lần diệt 29 tên địch.
Giữa tháng 10 năm 1974, Cái Nhum bước vào cao điểm tấn công, tỉnh đưa về một
phân đội vũ trang binh vận hỗ trợ huyện mở tuyến Tân Long Hội. Về phía địch, phân tán bảo
an về các chi khu để đối phó với đợt hoạt động của ta. Các cuộc hành quân của chúng sử
dụng chủ yếu là pháo binh, ít có trực thăng và máy bay như trước.
Tháng 10 năm 1974, địch tái chiếm Bà Nữ, khi lực lượng chính của địch rút đi, ta tổ
chức bao vây bức rút đồn lần 2. Trên tuyến Tân Long Hội, đội vũ trang binh vận, địa phương
quân, du kích bao vây, dùng binh vận, gia đình binh sĩ tác động phá đồn Tư Hái, thu 13 súng.
Ngày hôm sau, địch đưa một tiểu đoàn sử dụng tàu chiến FOM của chi khu, máy bay ném
bom phản kích. Các lực lượng vũ trang của ta chiến đấu hiệu quả, bẻ gãy các đợt tấn công
của địch giữ vững trận địa, buộc địch phải rút quân. Sau đó ta tiếp tục dùng ba mũi giáp công
bức rút đồn Lăng, bắt 20 tên địch, thu 9 súng. Liên tục ba ngày sau, ta dùng ba mũi giáp
công bao vây đồn rạch mương Bầu Thiềng, đồn Tân Qui, đồn Ba Cò và cả ba đồn địch đều
tháo chạy. Chỉ trong vòng không đầy một tuần lễ, ta đã diệt và bức rút 5 đồn, giải phóng
tuyến sông Mang Thít dài 6km, giải phóng phần lớn xã Tân Long Hội.
Ngày 12 tháng 10 năm 1974, địa phương quân và du kích diệt đồn Bà Nghè (Chánh
Hội) nhưng sau đó địch tái chiếm lại. Ngày 21 tháng 10 ta bức rút đồn Cây Gáo (Nhơn Phú),
giải phóng ấp Phú Thuận với 65 hộ và 550 dân.
Tổng kết đầu năm 1974, ta sử dụng ba mũi giáp công tổ chức đánh địch ở nhiều nơi
“diệt và làm bị thương 396 tên, phá rã 265 tên, thu 88 súng và nhiều đạn cùng các phương
tiện khác, tháo gỡ 21 đồn, lô cốt” [15:305]. Tính chung hai năm 1973 và 1974 ta đã giải
phóng 12 ấp, phần lớn xã Tân Long Hội, Bình Phước, giải phóng một nửa xã Hòa Tịnh,
Nhơn Phú, Chánh Hội tạo vùng liên hoàn rộng với 5.591 dân. Tỉnh ủy Vĩnh Long đánh giá
lúc này lực lượng cách mạng ở Cái Nhum đã mạnh hơn địch, ta đã giành và giữ được thế chủ
động trên chiến trường. Tuy nhiên, Tỉnh ủy cũng nhấn mạnh quân số địch vẫn còn rất đông,
còn kìm dân ở vùng rộng và bắt lính đôn quân nên tình hình mùa khô 1974 - 1975 sẽ rất căng
thẳng, giữa ta và địch sẽ tranh chấp giằng co rất quyết liệt.
LƯỢC ĐỒ DIỄN BIẾN ĐỢT MỞ MẢNG VÙNG KỀM CÁI NHUM
MÙA MƯA NĂM 1974
3.3.3. Chiến dịch mùa khô (1974 - 1975) - tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi hoàn toàn.
Bước vào những tháng cuối năm 1974, địch ráo riết chuẩn bị chiến dịch mùa khô, tăng
quân chủ lực cho Vĩnh Long - Trà Vinh. Ngày 12 tháng 11 năm 1974, địch thành lập chiến
đoàn 6 gồm hai tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 7 và hai chi đoàn M113 đưa về Vĩnh - Trà
yểm trợ bảo an bình định tuyến sông Mang Thít. Tổng số quân bảo an của địch ở Vĩnh Long
lúc này là 14 tiểu đoàn. Ở Cái Nhum địch tăng cường Tiểu đoàn 647 về đóng ở thị trấn Cái
Nhum yểm trợ bình định, mở các chiến dịch lùng sục, bắt lính, cướp bóc vơ vét tài sản của
nhân dân. Ở một số đồn ven thị trấn, vùng kìm địch sử dụng phòng vệ dân sự thay dân vệ giữ
đồn, đôn số dân vệ lên thành bảo an. Như vậy, lực lượng địch ở Cái Nhum khá mạnh, chúng
còn “43 đồn với 495 dân vệ, 133 phòng vệ có súng, 23 tên phân chi khu, 67 tề xã, 19 tề ấp,
77 cảnh sát. Ở Chi khu có 2 đại đội là Đại đội 749 (48 tên) và Đại đội 149 (có 30 tên), một
trung đội cảnh sát dã chiến (27 tên), một trung đội thám báo (19 tên), một trung đội pháo
binh với 2 khẩu 105 li và 25 tên” [15:306]. Do phán đoán ta sẽ đánh mạnh trong mùa khô
nên địch đã chuẩn bị khá chu đáo, lên kế hoạch ngăn chặn đợt tiến công mới của ta nhằm
giành thế chủ động trên chiến trường.
Sau những chiến thắng ở năm 1974, Khu ủy Bộ tư lệnh Quân khu và Tỉnh ủy chủ
trương mở chiến dịch mùa khô 1974 - 1975. Mục tiêu của chiến dịch mùa khô ở Vĩnh Long
là giải phóng cơ bản 4 huyện Trà Ôn, Tam Bình, Vũng Liêm, Cái Nhum, mở lõm ở Châu
Thành, Bình Minh tạo thế mở rộng căn cứ, vây ép thị trấn, thị xã.
Vào 23 giờ đêm 5 tháng 12 năm 1974 toàn tỉnh bước vào cao điểm mùa khô, mở chiến
dịch Đồng Khởi. Ở Cái Nhum, Tiểu đoàn 2, địa phương quân huyện và du kích tấn công
phân chi khu Hòa Tịnh, địch chết 5, bị thương 11 tên. Ta chiếm được 3 góc phân khu, đến
sáng ta nhả ra bao vây chặn viện.
Ngày 6 tháng 12 năm 1974, địch điều Tiểu đoàn 521 và 443 chiếm lại Hòa Tịnh. Bộ đội
ta dàn trận chiến đấu liên tục ba ngày với địch diệt 4 tên, bắn bị thương 30 tên,… Sau đó ta
nhả trận địa, địch tái chiếm Hòa Tịnh. Cùng lúc đó, một bộ phận địa phương quân và du kích
Nhơn Phú tấn công phân chi khu Nhơn Phú, đánh thiệt hại nặng phân chi khu này, địch bị
thương 3 tên. Ta tiếp tục nhả ra tiến hành bao vây đánh lấn.
Trên các hướng khác, ta bức rút đồn kinh Thầy Cai, mở làm chủ đoạn sông Mang Thít
từ Cầu Mới tới gần Cái Nhum, cắt đứt lộ 32, liên tục pháo kích, xạ kích vào các đồn bót và
chi khu Minh Đức.
Trong phong trào đấu tranh chính trị, các xã tổ chức treo cờ, dùng trống mỏ, binh vận
phá rã phòng vệ. Các xã Bình Phước, Hòa Tịnh, Nhơn Phú không còn phòng vệ dân sự.
Nhân dân ở các xã còn tổ chức thành những nhóm nhỏ vót chông vây đồn.
Từ ngày 11 đến 15 tháng 1 năm 1975, địa phương quân huyện mở tuyến sông Cổ Chiên
với trọng điểm ở Mỹ An. Ta diệt đồn Cái Cạn, Cái Tranh, bức hàng đồn Mỹ Thanh, Cái Kè,
Cây Me, giải phóng phần lớn xã Mỹ An, làm chủ tuyến sông Cổ Chiên từ An Phước lên
Giồng Cát (sát Mỹ An). Quân số địch giảm nhanh, một phần do hai đại đội bảo an bị đôn lên
tiểu đoàn cơ động, một phần do binh lính bị phá rã không kịp bổ sung.
Đến cuối tháng 1 năm 1975, ta tiếp tục bức rút đồn vàm kinh Cai Ngộ, đồn vàm Cái Kè,
đồn Năm Ninh (Mỹ An), đồn Xẻo Mướp (Nhơn Phú), đồn Vườn Cò mới, đồn Bình Hòa
(Hòa Tịnh). Tính từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 1 năm 1975, ta đã diệt 13 đồn, trong đó
đánh diệt 1 đồn, bức hàng 2 đồn, bức rút 10 đồn. Ở ba xã cù lao, ta đã phát triển được du
kích xã, tiến lên bao vây đánh đồn Cây Còng (Hòa Ninh B - Bình Phước) diệt tên trưởng
đồn, thu 2 súng, giải phóng 1.500 dân.
Tháng 2 năm 1975, địch tăng thêm quân chủ lực, cố gắng tái chiếm lại các nơi bị mất,
tăng cường chiến tranh tâm lý xuyên tạc cách mạng,… Đồng thời, địch mở chiến dịch “Diên
Hồng” bắt lính bổ sung quân số, chúng còn dùng cảnh sát dã chiến, biệt kích, bảo an bao vây
các chùa bắt lính gây sự phẫn nộ lớn trong nhân dân.
Bước vào các ngày đầu tháng 2, một bộ phận của Tiểu đoàn 2 và đội vũ trang công tác
Châu Thành A đánh đồn Rạch Trầu (Long Mỹ). Kết quả địch bỏ chạy, ta san bằng đồn, nhân
dân phối hợp tác chiến với bộ đội lôi kéo 80 phòng vệ dân sự xã Long Mỹ chống đi canh
gác, đánh bị thương tên trưởng ấp ác ôn.
Ngày 9 và 10 tháng 2 năm 1975, các lực lượng vũ trang của ta tiếp tục bao vây phân chi
khu Nhơn Phú, đồn Bà Cờ. Địch cho quân chi viện, ta chặn đánh diệt và bắn bị thương 35
tên, bọn lính đồn Bà Cờ bỏ chạy. Trên tỉnh lộ 32 ta chặn đánh bắn hư nặng một xe hành quân
của địch. Mũi binh vận, ta tác động 106 gia đình binh sĩ lôi kéo rã ngũ 56 lính. Địch đưa tiếp
2 tiểu đoàn vào giải tỏa Nhơn Phú. Sau đó cuối tháng 2, địch đưa Tiểu đoàn 520 hành quân
vào Hòa Tịnh, Mỹ An, Bình Phước đóng lại đồn Bà Cờ, đồn Vườn Cò mới.
Nhìn chung, đến cuối tháng 2 năm 1975 ta đã giải phóng cơ bản 4 xã Bình Phước, Mỹ
An, Nhơn Phú, Hòa Tịnh, giải phóng một phần xã Chánh Hội, Tân Long Hội, giải phóng 22
ấp với 16.011 dân. Lực lượng cách mạng phát triển mạnh, địa phương quân huyện có 61
người, du kích các xã là 73, du kích ấp 32, dân quân 170 người. Phong trào đấu tranh ở các
xã phát triển đều, nhân dân hăng hái đóng góp lương thực cho cách mạng. Chỉ trong tháng 1
và tháng 2 năm 1975, nhân dân đã đóng góp 15.500 giạ lúa.
Đến đầu tháng 3 năm 1975, địa phương quân và một bộ phận Tiểu đoàn 2 ở Mỹ An bao
vây đồn Cái Lóc, đánh can viện diệt được 3 tên địch. Ngày 11 tháng 3 lính đồn Cái Lóc bỏ
chạy. Từ ngày 11 đến 17 tháng 3 năm 1975, ta đánh sập cầu Mỹ An, cầu Hòa Mỹ, bức rút lô
cốt giữ cầu Hòa Mỹ và đồn Giồng Cát, chiếm khu vực chợ Mỹ An diệt 3 tên, bao vây phân
chi khu Mỹ An. Đồng thời, ta đánh chiếm khu vực chợ Nhơn Phú, bao vây phân chi khu
Nhơn Phú, hai lần pháo kích chi khu Minh Đức, diệt và làm bị thương 21 tên.
Đêm 30 tháng 3 năm 1975, bộ đội Trung đoàn 3 và địa phương quân, du kích tiến công
chi khu Minh Đức, diệt một đồn tứ giác và 7 lô cốt, chiếm phân chi khu Chánh Hội, đánh
thiệt hại nặng chi khu Minh Đức. Cùng lúc đó, một bộ phận địa phương quân khác đánh diệt
phân chi khu Bình Phước và toàn bộ tuyến đồn lộ 32. Ta đứng chân làm chủ lộ 32, liên tục
ba ngày địch không chi viện được. Các xã An Phước, Chánh Hội đánh diệt đồn Rạch Sâu,
đồn Cái Bát. Địch dùng tàu đưa ba tiểu đoàn là 443, 467, 520 lên An Phước vào giải tỏa chi
khu và điều Tiểu đoàn 3 (thuộc Trung đoàn 16, Sư đoàn 9) giải tỏa lộ 32. Liên tục chín ngày
tấn công, địch mới giải tỏa được chi khu vào ngày 8 tháng 4 năm 1975. Sau đó, địch để lại
chi khu Tiểu đoàn 520 và Tiểu đoàn 3 để hỗ trợ việc tái chiếm địa bàn.
Ngày 6 tháng 4 năm 1975, ta tấn công bức rút đồn Tân Lập (ấp IB - Chánh Hội) giải
phóng ấp IB với 98 hộ (634 dân). Ngày 7 tháng 4 ta bao vây bức rút đồn ấp 5 (An Phước),
tấn công đồn Mù U (Chánh Hội) diệt và bắn bị thương 10 tên. Cũng trong ngày này, địa
phương quân, du kích vây ép phân chi khu Hòa Tịnh, Nhơn Phú, Mỹ An, đồn Thủy Thuận B,
tiếp tục vây đồn Bà Nghè (Chánh Hội), Bầu Thiềng (Tân Long Hội), làm chủ tuyến sông
Măng từ Cái Nhum lên vàm Mang Thít.
Từ ngày 11 đến cuối tháng 4 năm 1975, địa phương quân huyện liên tục bao vây đồn
Mù U, chi khu Minh Đức. Du kích các xã liên tục bao vây đồn bót, trụ sở tề xã, phân chi
khu. Phong trào đấu tranh chính trị phát triển mạnh mẽ, công tác binh vận phá rã hàng trăm
binh lính. Thanh niên nô nức tòng quân đánh giặc, huyện đưa về tỉnh 52 tân binh, bổ sung tại
chỗ 26 tân binh cho Tiểu đoàn 2. Địa phương quân huyện thành lập cấp tiểu đoàn với 105
quân. So sánh lực lượng giữa ta và địch ngày càng có lợi cho ta. Lực lượng của ta ngày càng
phát triển, tinh thần chiến đấu lên cao thì địch dù quân số vẫn đông nhưng hầu hết binh lính
rất hoang mang, không còn sức chiến đấu.
Trước tình hình chiến sự diễn biến nhanh chóng và có nhiều thuận lợi, Trung ương Cục
quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn. Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu
9 mở chiến dịch mùa khô lấy Vĩnh Long làm trọng điểm II của quân khu. Huyện Cái Nhum
được giao nhiệm vụ:
- Bộ đội địa phương bí mật thọc sâu chiếm ba xã cù lao, đứng chân An Bình phía
Bắc thị xã Vĩnh Long.
- Kìm chặt Tiểu đoàn 647, vây chặt chi khu Minh Đức, khống chế cắt lộ 32.
- Xã, ấp với lực lượng tổng hợp xã giải phóng xã, ấp giải phóng ấp, chủ yếu vây ép
triệt phá giao thông, kìm chặt không cho địch tháo chạy để tập trung chi viện nơi khác.
- Vận dụng phương châm hai chân ba mũi huy động sức mạnh tổng hợp tổng công
kích, tổng khởi nghĩa [15:313].
Tỉnh đôn địa phương quân các huyện lên thành lập 5 tiểu đoàn bộ binh, các huyện
nhanh chóng đôn du kích bổ sung.
Thực hiện nhiệm vụ của tỉnh giao, đêm 26 tháng 4 năm 1975, lực lượng huyện, xã đồng
loạt tấn công các phân chi khu, đồn bót. Ngày 29 tháng 4 Quân khu ra lệnh tấn công thị xã
Vĩnh Long. Nhận thấy tình hình thuận lợi, địch không còn tinh thần chiến đấu chống trả yếu
ớt, Huyện ủy quyết định tự lực giải phóng huyện.
Đêm 29 tháng 4 năm 1975, ta tấn công phân chi khu Nhơn Phú, Hòa Tịnh. Đến 16 giờ
ngày 30 tháng 4 năm 1975, phân chi khu Hòa Tịnh bỏ chạy, ta giải phóng hoàn toàn xã Hòa
Tịnh.
Đêm 30 tháng 4 năm 1975, ta tập trung lực lượng bao vây chi khu Minh Đức, quận
trưởng Minh Đức đầu hàng, các phân chi khu, đồn bót cũng buông súng đầu hàng, huyện Cái
Nhum hoàn toàn giải phóng. Binh lính, ngụy quyền trong toàn huyện ra trình diện 1.706 tên
(có 1 cấp tá, 29 cấp úy, 167 hạ sĩ quan, 92 tề xã ấp). Ta thu 2.500 súng các loại.
Như vậy, chiến dịch mùa khô 1974 - 1975 của quân và dân Mang Thít đã kết thúc thắng
lợi trọn vẹn. Đây là một thắng lợi trên tất cả thắng lợi khác, chấm dứt hoàn toàn cuộc cuộc
kháng chiến gian khổ chống Mĩ cứu nước. Thắng lợi này là kết quả của một quá trình chiến
đấu bền bĩ của toàn Đảng và toàn dân Mang Thít, thể hiện sự linh hoạt sáng tạo chớp thời cơ
của cán bộ lãnh đạo kháng chiến ở Mang Thít, thể hiện sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân.
Lệnh tấn công để giải phóng huyện nhà vừa phát ra, nhân dân và lực lượng vũ trang các xã
đã đồng loạt tiến lên bao vây đồn bót. Lúc này, quân số địch vẫn đông nhưng do mất chỗ dựa
nên hoang mang, không còn tinh thần chiến đấu. Vì vậy, chiến dịch mùa khô 1974-1975 ở
Mang Thít thắng lợi nhanh chóng và ít đổ máu.
**********
Sau hơn 20 năm chiến đấu gian khổ, quân và dân Mang Thít đã chiến thắng được kẻ thù
hùng mạnh bậc nhất thế giới. Khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mĩ đã sử dụng
vũ khí, thiết bị tân tiến cùng với các chiến thuật, chiến lược chiến tranh hiện đại và đội quân
tay sai ác ôn hùng hậu, thậm chí đế quốc Mĩ còn tiến hành ném bom hủy diệt, "rải thảm" chất
độc da cam tàn sát cả những người dân thường vô tội. Trong khi đó, ta chiến đấu với vũ khí
lạc hậu, thiếu thốn tạo nên một cuộc chiến không cân sức với kẻ địch. Trong khó khăn, gian
khổ, ác liệt của cuộc chiến tranh, quân và dân Mang Thít tiếp tục xây dựng thế trận chiến
tranh nhân dân hợp lí, hiệu quả, giành thắng lợi liên tiếp trên chiến trường tạo ra sự chuyển
biến về cục diện chiến tranh theo hướng có lợi cho ta.
Từ thực tiễn các cuộc đọ sức cho thấy ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng
và dần nắm quyền chủ động chiến lược, địch bị động, lúng túng đối phó trên khắp các chiến
trường. Năm 1968, ta mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân vào tận sào huyệt
địch. Mặc dù tồn tại nhiều khuyết điểm, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 vẫn giữ
một vị trí rất to lớn và oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân
Mang Thít nói riêng và của nhân dân Việt Nam anh hùng. Tết Mậu Thân ta thắng lớn: tiêu
hao, tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh,… trong đó
thắng lợi lớn nhất là ta đã đánh bại được ý chí xâm lược của Mỹ, tạo nên bước ngoặt quyết
định của chiến tranh.
Mặc dù sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân 1968, ta bước
vào một giai đoạn khó khăn do địch phản kích dữ dội nhưng sau một thời gian củng cố lực
lượng, ta chớp lấy thời cơ liên tục tiến công, liên tiếp giành thắng lợi trên các mặt trận. Đòn
tiến công liên tiếp của quân dân ta buộc đế quốc Mỹ phải chuyển từ chủ trương “tìm diệt”
sang thực hiện chủ trương “quét và giữ”, thế chiến lược của địch tiếp tục bị đảo lộn. Thắng
lợi của quân dân Mang Thít cùng với thắng lợi chung của quân dân cả nước đã buộc đế quốc
Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với chính phủ ta tại Pari. Khi đã “đánh cho Mỹ cút”, ta đã
tiến lên “đánh cho ngụy nhào” vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Từ đây, quê hương hoàn toàn
giải phóng, nền độc lập được củng cố, nhân dân Mang Thít yên tâm tập trung toàn bộ sức
người, sức của vào xây dựng một cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc.
KẾT LUẬN
1. Kết luận
Mang Thít là vùng đất được khai phá sớm của đất Long Hồ dinh, địa hình bị chia cắt,
địa giới hành chính có nhiều thay đổi. Lớp cư dân đầu tiên là những người không chịu nỗi
ách áp bức, bóc lột của phong kiến Trịnh -Nguyễn, của nhà Thanh, Chân Lạp đã xuôi dòng
Cổ Chiên về đây sinh cơ lập nghiệp. Họ đã đổ không biết bao nhiêu mồ hôi, xương máu vượt
qua mọi khắc nghiệt của thiên nhiên kiến tạo nên vùng đất mới. Ngay từ buổi đầu cư dân ở
Mang Thít đã phải đoàn kết chinh phục thiên nhiên, đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù xâm
lược để bảo vệ đất nước, bảo vệ thành quả lao động gian khổ.
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, lần lượt đặt ách thống trị lên khắp các
tỉnh Nam kì. Nhân dân Mang Thít cùng nhân dân Nam kì, nhân dân cả nước bước vào cuộc
chiến đấu không khoan nhượng với kẻ thù. Đó là một cuộc chiến đấu lâu dài và vô cùng ác
liệt, nhân dân Mang Thít phải đương đầu với một tên đế quốc thực dân hùng mạnh, có tiềm
lực kinh tế, quân sự, nhiều vũ khí hiện đại cùng bè lũ tay sai bán nước. Kế thừa và phát huy
truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất và dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Mang
Thít đã đấu tranh không biết mệt mỏi, kiên trì vượt qua gian khổ cùng nhân dân cả nước làm
nên cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 đánh bại kẻ thù giành chính quyền về tay nhân dân.
Đất nước được độc lập chưa được bao nhiêu ngày thì quân dân Mang Thít lại bước vào
trận chiến mới: chín năm trường kì kháng chiến chống Pháp, hai mươi mốt năm gian khổ
đánh Mĩ. Trong ba mươi năm kháng chiến ấy có lúc đi vào thoái trào, bị địch đánh phá ác
liệt, ta mất địa bàn đứng chân, tình thế cách mạng như ngàn cân treo sợi tóc nhưng lòng yêu
nước, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng giúp cho quân và dân Mang Thít trung kiên chịu
đựng, bám trụ địa bàn “một tấc không đi, một li không rời” từng bước đưa phong trào cách
mạng tiến lên.
Huyện Mang Thít không có địa hình rừng núi xây dựng căn cứ kháng chiến, mà căn cứ
cách mạng hình thành, tồn tại và phát triển trong lòng dân. Quần chúng nhân dân là nhân tố
trọng yếu quyết định đến thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Lực lượng thiếu
lấy từ dân, lương thực thiếu dân đóng góp, vũ khí đạn dược thiếu dân vận động lấy của địch,
dân đi tải, đi mua,… Nhân dân là tường thành vững chắc bảo vệ cán bộ, bảo vệ lực lượng
cách mạng, là kho hậu cần to lớn đảm bảo cho cán bộ, bộ đội ăn no đánh thắng. Dựa vào
nhân dân, ta xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân toàn diện, lấy lực lượng vũ trang huyện,
xã, ấp làm nồng cốt. Ta đánh địch bằng hai lực lượng quân sự, chính trị với ba mũi giáp công
chính trị, quân sự, binh vận. Ta đánh địch ở cả ba vùng: vùng kìm, vùng tranh chấp, vùng
giải phóng, đánh địch bằng tất cả các hình thức chiến thuật. Một nhánh chà tre, một cọng lá
chuối khô trong thế trận xã ấp chiến đấu đã góp phần ngăn cản bước tiến của kẻ thù. Một
mũi chông tre cũng sát thương được kẻ địch, một trái pháo lép của địch cũng trở thành quả
mìn bẻ gãy cuộc càn. Đó là một thế trận chiến tranh mà "Mỗi người dân là một chiến sĩ; mỗi
thôn xóm là một pháo đài” và mỗi người dân cũng là những chiến sĩ tình báo của cách mạng.
Nhờ đó, từ chỗ lực lượng ta ít, yếu, trang bị kém đã phát triển thành một sức mạnh tổng hợp
tiến lên bao vây, bức diệt đồn bót giành độc lập hoàn toàn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “ không một quân đội nào, khí giới nào có thể
đánh ngã được tinh thần hy sinh của cả dân tộc”.
Sau 30 tháng 4 năm 1975, Cái Nhum là một huyện của tỉnh Cửu Long (sáp nhập từ hai
tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh). Ngày 11 tháng 3 năm 1977, huyện Cái Nhum hợp với huyện
Châu Thành Tây (trừ các xã Tân Ngãi, Tân Hoà) và các xã Hoà Hiệp, Hậu Lộc của huyện
Tam Bình thành huyện Long Hồ. Ngày 29 tháng 9 năm 1981, huyện Mang Thít được thành
lập trên cơ sở tách ra từ huyện Long Hồ, gồm có 8 xã: An Phước, Chánh Hội, Tân Long Hội,
Nhơn Phú, Mỹ An, Hoà Tịnh, Bình Phước, Long Mỹ; huyện lị đặt tại xã Chánh Hội. Ngày
17 tháng 4 năm 1986, giải thể huyện Mang Thít, nhập địa bàn vào huyện Long Hồ. Ngày 26
tháng 12 năm 1991, tỉnh Cửu Long tách thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, huyện Long
Hồ thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ngày 13 tháng 2 năm 1992, tái lập huyện Mang Thít trên cơ sở
tách ra từ huyện Long Hồ, gồm 8 xã như cũ.
Ngày 18 tháng 3 năm 1994, thành lập thị trấn Cái Nhum trên cơ sở tách ra từ xã Chánh
Hội. Ngày 9 tháng 8 năm 1994, lập thêm 4 xã mới: Tân An Hội, Tân Long, Mỹ Phước,
Chánh An. Cuối năm 2003, huyện Mang Thít gồm thị trấn Cái Nhum và 12 xã: Mỹ An, Long
Mỹ, Hoà Tịnh, Bình Phước, Nhơn Phú, Mỹ Phước, Chánh Hội, An Phước, Chánh An, Tân
Long, Tân An Hội, Tân Long Hội và địa giới huyện Mang Thít ổn định như hiện nay.
Những ngày đầu sau giải phóng, Mang Thít gặp rất nhiều khó khăn, đời sống người dân
ở đây còn rất thấp. Kinh tế của huyện chủ yếu là nông nghiệp, trồng lúa, cây ăn quả và chăn
nuôi nhỏ. Trước khó khăn thử thách mới trong thời kì hòa bình, phát huy phẩm chất đạo đức
và truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, nhân dân Mang Thít đã đoàn kết chung tay xây
dựng quê hương từng bước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu. Tận dụng lợi thế từ các con sông,
người dân Mang Thít phát triển mạnh nghề nuôi trồng thủy sản, mang lại thu hoạch cao, góp
phần thúc đẩy cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực. Huyện Mang Thít có 2
vùng sản xuất thủy sản chính là tuyến sông Mang Thít (có chiều dài 21.000m thuộc địa bàn 4
xã Tân Long Hội, Tân An Hội, Chánh An, thị trấn Cái Nhum) và dọc sông Cổ Chiên (có
chiều dài trên 15.000m, thuộc địa bàn các xã Mỹ An, Mỹ Phước, An Phước và Chánh An).
Ngành thủ công nghiệp Mang Thít cũng phát triển mạnh, đặc biệt là nghề làm gốm sứ
mỹ nghệ. Gốm mỹ nghệ Mang Thít có màu sắc đặc trưng, mẫu mã đa dạng từ đơn giản đến
tinh xảo hấp dẫn người tiêu dùng trong và ngoài nước. Các lò sản xuất gạch nung và gốm xứ
mỹ nghệ tập trung ở xã Nhơn Phú, Mỹ An, Mỹ Phước, An Phước,... Sản phẩm gốm mỹ nghệ
Mang Thít đã có mặt trên thị trường thế giới, đặc biệt là các nước Á - Âu. Ngoài ra còn có
các mặt hàng thủ công mỹ nghệ gia công xuất khẩu khác: mây tre, dệt chiếu và đan lát,...
Huyện đã quy hoạch hai cụm công nghiệp tại ấp 3 và ấp IB xã Chánh Hội với tổng diện tích
46,5 ha, ưu tiên thu hút những dự án đầu tư lựa chọn những ngành nghề sử dụng công nghệ
sạch, tiên tiến ít gây ô nhiễm môi trường, khuyến khích phát triển, nâng cao chất lượng
ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống, có tiềm năng và lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Cùng với phát triển kinh tế, huyện Mang Thít cũng đầu tư mạnh cho công tác xã hội,
xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng cơ sở, đặc biệt là mảng giao thông nông thôn.
Mang Thít đã đầu tư hàng chục tỷ đồng nâng cấp và xây dựng các tuyến đường liên ấp, liên
xã thông xe hai bánh cả hai mùa mưa - nắng.
Hầu hết các xã đều có trường tiểu học và trung học cơ sở, thậm chí có xã đến 3 - 4 điểm
trường. Các điểm trường đều được xây dựng kiên cố và bán kiên cố. Riêng khối trung học
phổ thông có 3 điểm trường: Trường Trung học Mang Thít, trường THPT Nguyễn Văn
Thiệt, trường Trung học Cấp 2-3 Mỹ Phước. Mang Thít là huyện đi đầu trong tỉnh Vĩnh
Long hoàn thành phổ cập trung học cơ sở và hướng tiếp theo là phổ cập trung học phổ thông.
Như vậy, sau khi hoàn toàn giải phóng, trải qua hơn ba mươi năm xây dựng và phát
triển, huyện Mang Thít đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
xã hội,… Đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong huyện được đổi mới và nâng
lên rõ rệt, không còn cảnh thiếu đói, nhiều ngôi nhà mới mái ngói khang trang thay thế
những căn nhà mái lá cũ nát sau chiến tranh. Bộ mặt nông thôn được đổi thay từng ngày.
Kinh tế huyện từng bước chuyển dịch hợp lí theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp, thủ
công nghiệp, thương mại, từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nông thôn
mới. Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm so với tiềm năng, thế mạnh của
huyện. Những vấn đề xã hội bức xúc như: việc làm, giảm nghèo, tệ nạn xã hội,… chuyển
biến còn chậm. Vì vậy, để Mang Thít phát triển bền vững cần sự nỗ lực phấn đấu hết sức của
lãnh đạo, cán bộ các ngành, các cấp và sự lao động, sáng tạo không ngừng của nhân dân toàn
huyện.
2. Nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ kéo dài suốt 30 năm vô cùng
gian khổ, ác liệt nhưng cũng rất hào hùng. Đó là cuộc chiến mà cuối cùng những đế quốc
xâm lược hùng mạnh đã nhận thất bại nặng nề, phải rút quân về nước. Có nhiều nhân tố làm
nên thắng lợi của ta nhưng nhìn chung lại có các nguyên nhân chủ yếu sau
Một là: Dân với Đảng một lòng, dân tin Đảng, Đảng dựa vào dân là nhân tố quyết
định mọi thắng lợi. Trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mĩ, nhân dân Mang Thít
chỉ có một nguyện vọng duy nhất là đánh đuổi kẻ thù xâm lược giành lại độc lập, tự do cho
dân tộc. Thành quả cách mạng tháng Tám năm 1945 mang lại đã làm cho quần chúng nhân
dân đã càng thêm tin tưởng vào Đảng. Khi kẻ địch quay lại xâm lược nước ta, Đảng phát
động toàn quốc kháng chiến, nhân dân một lòng hưởng ứng, thực hiện tiêu thổ kháng chiến,
khắp nơi dùng mọi biện pháp ngăn chặn bước tiến của quân thù. Phong trào kháng chiến gặp
khó khăn, địch đánh phá ác liệt, quyết tách dân ra khỏi Đảng, khỏi lực lượng kháng chiến, thì
nhân dân vẫn ra sức che chở, bảo vệ cho các cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Nhân dân làm vách
đôi, đào hầm bí mật ngay trong nhà, trong vườn của mình cho các cán bộ, chiến sĩ ẩn nấp,
bất chấp nguy hiểm đến tính mạng. Khi địch gom dân lập ấp chiến lược, bình định nông
thôn, xua dân ra vùng kìm,… nhân dân kiên quyết không đi, “đội bom đạn” tăng gia sản xuất
nuôi bộ đội. Có người dân không hề nhận làm cơ sở cách mạng nhưng cán bộ ở thì họ nuôi
cơm, cán bộ họp thì họ canh gác, cách mạng cần thì họ sẵn sàng chia hai tài sản. Nhân dân
sẵn sàng nuôi chứa cán bộ dù biết nếu địch phát hiện họ sẽ bị tù đày, bị giết nhưng vẫn
không hề sợ. Qua đó cho thấy lòng tin của dân với Đảng mãnh liệt như thế nào. Nếu không
có sự bảo vệ, che chở của nhân dân thì các cán bộ cách mạng không thể an toàn tiếp tục hoạt
động đưa cách mạng vượt qua giai đoạn khó khăn ác liệt của cuộc kháng chiến. Dân tin
Đảng, Đảng cũng tin dân, dựa vào dân, vận động quần chúng nhân dân gây dựng cơ sở cách
mạng. Đảng tin quần chúng kể cả quần chúng đang bị địch kìm kẹp bắt vào lính, không xem
những người đó là kẻ thù mà chỉ là nạn nhân của đế quốc. Từ đó, vận dụng chính sách đại
đoàn kết dân tộc kéo họ về với nhân dân với cách mạng. Cách mạng chỉ trừng trị những kẻ
ác ôn, gây nhiều nợ máu với nhân dân. Có thể nói, nhân dân là bức tường thành, là lá chắn
bảo vệ Đảng. Mối quan hệ giữa Đảng với dân như máu và thịt không gì lay chuyển được.
Khi chưa có Đảng lãnh đạo, các cuộc đấu tranh của nhân dân đều thất bại. Đảng ra đời, dân
một lòng đi theo Đảng, đi theo đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng, tạo nên
một sức mạnh tổng hợp to lớn chiến thắng kẻ thù.
Hai là: Phát huy tính tự lực tự cường, huy động được mọi nguồn lực tại chỗ, tổ chức
lực lượng toàn dân đánh giặc. Mang Thít là chiến trường xa sự lãnh đạo của tỉnh, là vùng
kìm nặng nên lực lượng chủ lực về hỗ trợ không có địa bàn hoạt động tập trung, thời gian
hoạt động không lâu. Cán bộ từ tỉnh về chỉ đạo cũng ít và không liên tục. Giao thông liên lạc
gặp khó khăn nên sự chi viện về trang bị vũ khí cũng không nhiều. Do đó, trong cả hai cuộc
kháng chiến, huyện phải tự lực huy động nguồn lực tại chỗ từ con người đến phương tiện vật
chất. Vũ khí chiến đấu tổ chức lấy của địch trang bị cho ta, tự tổ chức công trường sản xuất
các loại vũ khí thô sơ, thậm chí phát động cả phong trào thu lượm đạn, pháo lép của địch
trong toàn dân rồi “cải tiến” thành vũ khí đánh giặc. Nhờ đó, từ chỗ vũ khí thô sơ, thiếu thốn
ta đã dần dần được trang bị khá tốt, cộng với sự hỗ trợ một phần từ cấp trên ta đã đủ sức
chiến đấu với địch. Hậu cần, lương thực cho kháng chiến cũng dựa vào sự đóng góp đảm
phụ, tiền bạc, của cải,… của nhân dân. Dù cuộc sống còn rất nhiều khó khăn nhưng nhân dân
Mang Thít lúc nào cũng sẵn sàng nuôi chứa bộ đội, sẵn sàng đóng góp cho kháng chiến để
bộ đội ăn no đánh thắng. Về nhân lực, Mang Thít chiến đấu mà không có bộ đội chủ lực
đứng chân hoạt động, huyện đã xây dựng các đội du kích các xã, ấp, từ đó huấn luyện, bổ
sung lực lượng thành lập địa phương quân huyện. Bộ đội địa phương tác chiến tại chỗ, tiêu
hao quân địch, bảo vệ địa phương, cùng dân quân du kích tiến hành những hoạt động tác
chiến, tiến công, phản công, chống càn, hình thành và phát triển thế trận chiến tranh nhân
dân. Lãnh đạo cuộc kháng chiến của huyện cũng là người của địa phương, chỉ có một vài
thời điểm có cán bộ tuyến trên về chỉ đạo nhưng chỉ một thời gian ngắn lại rút về trên. Lực
lượng tại chỗ có lợi thế am hiểu địa hình, hiểu nhân dân nên chiến đấu đạt hiệu suất cao,
cũng như dễ dàng vận động, thu hút nhân dân về với cách mạng. Trong trận quyết chiến cuối
cùng vào mùa khô 1974 - 1975, huyện cũng đã tự lực dựa vào lực lượng tại chỗ sẵn có đứng
lên diệt đồn bót, cùng nhân dân cả nước giành thắng lợi vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 giải
phóng quê hương. Chúng ta chiến thắng kẻ thù trong hai cuộc kháng chiến không phải bằng
quân đông, vũ khí mạnh, tiềm lực kinh tế, quân sự hơn địch mà ta chiến thắng địch vì ta có
một nguồn lực to lớn do nhân dân cung cấp đã bổ sung vô tận về sức người, sức của cho
kháng chiến, từng bước vượt qua mọi khó khăn tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.
Ba là: Vận dụng sáng tạo thế trận nhân dân du kích chiến tranh, lấy lực lượng vũ
trang nhân dân làm nòng cốt, đẩy mạnh tiến công địch bằng mọi lực lượng, mọi cách, mọi
nơi, tạo thành sức mạnh thắng lợi. Quân và dân Mang Thít đã xây dựng thế trận chiến tranh
nhân dân sáng tạo. Tổ chức xây dựng làng xã chiến đấu, già trẻ, gái trai sát cánh cùng bộ đội
đánh địch bằng mọi thứ vũ khí có được như chông tre, chông ghế đẩu, lôi, lựu đạn gày,…
đánh địch ở mọi địa hình trong vườn, ngoài ruộng, dưới sông, lợi dụng địa hình phục kích
địch hoặc né tránh địch bảo toàn lực lượng. Ta đánh địch bằng cả hai lực lượng quân sự,
chính trị với ba mũi giáp công quân sự, chính trị, binh vận, đánh giặc ở cả ba vùng: vùng
kìm, vùng trang chấp, vùng giải phóng. Một người cũng làm nên trận đánh, một em bé cũng
biết vận dụng ba mũi lấy được đồn. Khi địch dùng quân chủ lực càn quét, ta rút lui, khi quân
chủ lực địch rút đi ta tiến lên bao vây đánh đồn bót. Lực lượng du kích của ta trong từng thời
điểm có lúc bí mật, có lúc công khai vừa chiến đấu vừa làm nhiệm vụ hậu thuẫn cho các
cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân. Ta tổ chức đánh nhỏ diệt từng tên ác ôn làm chấn
động tinh thần địch, đánh nhỏ nhưng đánh chắc thắng, khi có thời cơ thì đồng loạt đứng lên
tổ chức đánh những trận lớn giành thắng lợi quyết định. Trong thế trận nhân dân du kích
chiến tranh ấy, lấy lực lượng vũ trang huyện xã làm nòng cốt. Nếu nhân dân đấu tranh mà
không có lực lượng vũ trang hỗ trợ thì địch sẽ dễ dàng đàn áp, khủng bố, phong trào không
được giữ vững. Nhờ vào thế trận chiến tranh nhân dân với lực lượng vũ trang làm nồng cốt
mà cuộc kháng chiến của ta với quân số ít, trang bị kém đã chiến thắng hoàn toàn quân địch
Trong quá trình chiến đấu, ta cũng có nhiều khuyết điểm như chậm chuyển hướng chiến
có quân số đông, trang bị mạnh, giải phóng quê hương.
lược cũng chỉ đạo kháng chiến khi tình hình chiến sự có nhiều thay đổi bất ngờ vì thế gây
cho ta nhiều tổn thất. Những khuyết điểm này đã được sữa chữa và khắc phục nhanh chóng
qua thực tiễn của cuộc kháng chiến. Từ những nguyên nhân thắng lợi, cũng như hạn chế
trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc có thể rút ra những bài học kinh nghiệm
sau:
Thứ nhất: Bài học về xây dựng Đảng và chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Phải
xây dựng Đảng xứng tầm lãnh đạo cách mạng bởi thực tiễn cách mạng đã chứng minh nơi
nào có cơ sở Đảng mạnh, đội ngũ đảng viên có năng lực lãnh đạo, năng lực chiến đấu thì nơi
đó phong trào cách mạng rất mạnh và ngược lại. Một khi Đảng đủ khả năng lãnh đạo thì mới
đủ sức đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn. Người đứng đầu có giỏi, tốt biết gắn chặt và
hòa mình với tập thể, với cộng đồng, nắm bắt nhanh nhạy nguyện vọng của tập thể, của cộng
đồng và biết nhìn xa, vạch ra phương hướng hoạt động đúng thì tập thể cộng đồng mới lớn
mạnh và phát triển. Đây là bài học không chỉ cần trong đấu tranh chống kẻ thù xâm lược mà
còn cần thiết cho sự nghiệp xây dựng, đổi mới đất nước. Đất nước đã độc lập không có nghĩa
là ta được nghỉ ngơi mà là ta bước một cuộc “kháng chiến” mới - “kháng chiến” xây dựng
đất nước sau chiến tranh. Cuộc kháng chiến chống xâm lược ta chiến đấu với kẻ thù trực
tiếp, còn cuộc “kháng chiến” xây dựng đất nước thời kì mới ta phải đối phó với biết bao
nhiêu kẻ thù ẩn mặt nguy hiểm không kém gì đế quốc, thực dân. Phải đổi mới, chỉnh đốn
Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong
sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết
với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất
và năng lực. Để xây dựng Đảng xứng tầm lãnh đạo phải chú ý đến đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực. Phải xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ đức và tài, đầy tinh thần trách
nhiệm trước Đảng, trước dân tộc, năng động, dám nghĩ, dám làm,... tạo điều kiện cho cán bộ
trẻ phát huy trí tuệ, tài năng xây dựng đất nước. Đã đánh giá đúng rồi thì cần mạnh dạn sử
dụng đề bạt, cất nhắc và giao nhiệm vụ đúng lúc; không chờ đợi, không quá chậm trễ làm
mất thời cơ của cán bộ. Đội ngũ những người hiền tài được giao trọng trách sẽ là “nguyên
Thứ hai: Bài học về ý Đảng, lòng dân. Khi đến vùng đất mới khai cơ lập nghiệp, các
khí” làm nên sự hưng thịnh của cơ quan, đơn vị, cơ sở, địa phương.
cư dân xa xứ gặp rất nhiều khó khăn, phải đương đầu với bao nhiêu nguy hiểm, chiến đấu
kiên cường để bảo vệ thành quả lao động của mình. Nhưng đối đầu với những kẻ xâm lược
hùng mạnh, thâm hiểm thì người dân chưa đủ sức chiến thắng. Họ cần một tổ chức đứng ra
tập hợp họ, tạo thành một khối liên kết vững chắc để đánh địch. Đảng cộng sản Việt Nam ra
đời với chủ trương đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, hợp lòng dân đã hiệu triệu
được toàn dân kiên định đi theo con đường mà Đảng đã chọn. Tập hợp càng nhiều quần
chúng nhân dân về với Đảng thì kẻ thù càng bị cô lập. Chính lòng thủy chung son sắt một
lòng với Đảng của nhân dân đã tạo nên sức mạnh khổng lồ không gì cản nổi, hoàn thành sứ
mệnh giải phóng dân tộc. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; Khó vạn lần dân liệu cũng
xong”. Đây là bài học không bao giờ cũ dù ở bất kì thời đại nào.
Thứ ba: Bài học về phát huy truyền thống yêu nước và tinh thần đoàn kết toàn dân.
Con người sinh ra, trưởng thành ai cũng mang trong lòng tình yêu quê hương đất nước. Tình
yêu ấy đã được chứng minh qua thực tế suốt chiều dài lịch sử của Mang Thít. Khi giặc xâm
lược đến người dân Mang Thít đã đứng lên đấu tranh, hưởng ứng các phong trào đấu tranh
của các tổ chức hội kín rất mạnh mẽ dù cho hoàn cảnh khó khăn tuyệt vọng, cơ hội thắng lợi
rất mong manh. Chính tình yêu quê hương đất nước đã hun đúc nên ý chí chiến đấu kiên
cường của nhân dân, đoàn kết toàn dân, đưa nhân dân đến với Đảng, cùng với Đảng xây
dựng một thế trận chiến tranh nhân dân tiêu diệt kẻ thù. Tình yêu quê hương đất nước đã
thúc đẩy các thế hệ đi trước đổ máu xương chiến đấu giành độc lập cho dân tộc, rồi tiếp tục
chịu thương chịu khó lao động sáng tạo xây dựng lại quê hương đổ nát sau chiến tranh.
Truyền thống đó cần phải được phát huy hơn nữa trong công cuộc xây dựng đất nước hiện
nay. Những thế hệ thanh niên hiện nay được tào tạo có trình độ chuyên môn cao với lòng yêu
quê hương đất nước luôn muốn quay trở về địa phương góp sức xây dựng quê mình. Không
ai muốn thấy nơi mình sinh ra, trưởng thành trong tình cảnh nghèo khó, lạc hậu, thua kém
địa phương bạn. Vì vậy, các cấp lãnh đạo cần tạo môi trường làm việc thuận lợi, cũng như có
chính sách thu hút nhân tài về phục vụ quê hương. Từ đó tạo sức bật cho quê hương Mang
Thít ngày càng phát triển giàu mạnh và bền vững.
3. Khuyến nghị
Huyện Mang Thít từ khi được các lớp cư dân đến khai phá và chính thức thành lập năm
1947 đến nay đã trải qua một thời kì phát triển với nhiều thăng trầm biến cố cùng với lịch sử
dân tộc Việt Nam. Đó là một thời kì rất dài và để hiểu được tường tận thật không dễ dàng.
Những công trình nghiên cứu về lịch sử huyện Mang Thít rất ít, các tài liệu văn bản liên
quan không còn nhiều, còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu làm rõ. Vì vậy, người
viết có một vài khuyến nghị như sau:
- Tiếp tục phát động một phong trào sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử huyện
Mang Thít trong toàn dân và trong các cán bộ nghiên cứu khoa học để có được những công
trình nghiên cứu có chất lượng, có giá trị khoa học làm tài liệu tuyên truyền, giáo dục truyền
thống của huyện trong các trường phổ thông, trong nhân dân, trong cán bộ, đảng viên.
- Cần phối hợp với các nhà khoa học, các ban ngành tập trung nghiên cứu những vấn
đề còn chưa rõ, còn tranh luận để ngày càng làm phong phú lịch sử xây dựng, phát triển của
huyện nhà, giúp người dân huyện Mang Thít hiểu rõ, hiểu sâu sâu sắc hơn về vùng đất mình
sinh sống.
- Nghiên cứu, biên soạn hoàn chỉnh lịch sử huyện Mang Thít từ buổi đầu mở mang,
khai phá đến ngày nay, đặc biệt là giai đoạn từ sau khi giải phóng đến nay. Lịch sử của một
địa phương không chỉ đơn thuần là lịch sử đấu tranh mà còn là lịch sử xây dựng, phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội trong suốt quá trình hình thành và phát triển. Nghiên cứu về sự phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội,… trong quá khứ để rút ra những kinh nghiệm, những nhận
thức đúng đắn đề ra những sách lược hợp lí cho sự phát triển của huyện nhà trong tương lai.
Nghiên cứu lịch sử truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của huyện Mang Thít sẽ
góp phần làm phong phú thêm lịch sử dân tộc Việt Nam, là việc làm tri ân của các thế hệ
hôm nay với những người đã ngã xuống cho độc lập, tự do của vùng đất này. Đồng thời cũng
là để ghi nhớ quá khứ hào hùng, nhắc nhở nhau giữ gìn và trân trọng truyền thống tốt đẹp
của dân tộc để vun đắp cho hiện tại và phát triển tương lai. Hy vọng rằng những vấn đề của
lịch sử Mang Thít sẽ được nghiên cứu hoàn chỉnh trong tương lai để khơi dậy tiềm năng của
Mang Thít, từ đó phát huy cao độ sức mạnh truyền thống (tinh thần yêu nước, cần cù lao
động, hiếu học,…) thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá địa phương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đào Duy Anh (1964), Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB Khoa học, Hà Nội.
2. Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, NXB Lửa Thiêng, Sài Gòn.
3. Nguyễn Quang Ân (1997), Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới hành chính
1945-1997, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
4. Hồ Quý Ba, Nam Hùng (1962), Quốc sách ấp chiến lược của Mĩ - Diệm, NXB Quân đội
nhân dân.
5. Ban tuyên giáo tỉnh Vĩnh Long (2002) Lịch sử tỉnh Vĩnh Long (1732-2000), NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
6. Ban tuyên giáo tỉnh Vĩnh Long (2001), Khởi nghĩa Nam kỳ ở Vĩnh Long ngày 23-11-1940.
7. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long (1996), Vĩnh Long tổng tiến công và nổi dậy xuân
Mậu Thân 1968, NXB QĐND, Hà Nội.
8. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Cửu Long (1983), Sơ thảo lịch sử Đảng bộ tỉnh Cửu Long
(1930 -1945).
9. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Cửu Long (1985), Sơ thảo sự kiện chín năm kháng chiến ở
tỉnh Vĩnh Long, NXB Cửu Long.
10. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng (1986), Hai mươi mốt năm chống Mĩ cứu nước của tỉnh
Vĩnh Long, NXB Cửu Long.
11. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng (1976), Tiểu sử đồng chí Nguyễn Văn Nhung, NXB Cửu
Long.
12. Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Cửu Long (1982), Sơ lược tỉnh Cửu Long, NXB Cửu Long.
13. Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long (1996), Vĩnh Long ba mươi năm xây dựng và phát
triển.
14. Ban tuyên giáo Vĩnh Long - Bộ chỉ huy quân sự Vĩnh Long (1996), Vĩnh Long anh hùng,
NXB CAND.
15. Ban tuyên giáo Huyện ủy Mang Thít (2000), Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng
của Đảng bộ và nhân dân huyện Mang Thít (1930-1975).
16. Ban tuyên giáo Huyện ủy Mang Thít - Đảng ủy xã Tân Long Hội (2002), Lịch sử xã Tân
Long Hội anh hùng.
17. Ban tuyên giáo Huyện ủy Mang Thít - Đảng bộ xã Nhơn Phú (2003), Lịch sử xã Nhơn
Phú anh hùng.
18. Ban tuyên giáo Huyện ủy Mang Thít - Đảng ủy xã Chánh Hội (2004), Lịch sử xã Chánh
Hội anh hùng.
19. Ban tuyên giáo Huyện ủy Mang Thít - Đảng ủy xã Bình Phước (2006), Lịch sử xã Bình
Phước anh hùng.
20. Ban tuyên giáo Huyện ủy Mang Thít - Hội người tù kháng chiến huyện Mang Thít
(2009), 45 năm đấu tranh của người tù kháng chiến huyện Mang Thít 1930-1975.
21. Ban chỉ đạo và biên tập truyền thống Tây Nam bộ (2000), Tây Nam bộ 30 năm kháng
chiến (1945-1975), NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh.
22. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp thắng lợi và bài học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống
Mĩ cứu nước: Thắng lợi và bài học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Ban biên soạn lịch sử Tây Nam bộ kháng chiến (2010), Lịch sử Tây Nam bộ kháng chiến,
Tập 1,2,3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Nguyễn Đình Bin (cb, 2005), Ngoại giao Việt Nam (1945-2000), NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
26. Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diêm, Mạc Đường (1990), Văn hóa và dân cư đồng bằng
sông Cửu Long, NXB Khoa học xã hội.
27. Bộ nội vụ - Cục văn thư và lưu trữ Nhà nước - Trung tâm lưu trữ quốc gia II (2010), Đại
thắng mùa xuân 1975 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
28. Bộ Quốc phòng - Viện lịch sử quân sự Việt Nam (1995), Lịch sử cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, Tập 1-2, NXB Quân đội nhân dân.
29. Bùi Nhất Chi (1986), Niềm tin thắng lợi, NXB Cửu Long.
30. Nguyễn Anh Dân (1998), Miền Nam trên đường giải phóng, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh.
31. Văn Tiến Dũng (2005), Về cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, NXB Quân đội nhân
dân.
32. Đảng bộ tỉnh Cửu Long (1986), Cửu Long 21 năm chống Mĩ, NXB Cửu Long.
33. Đảng bộ huyện Mang Thít (1992), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Mang Thít
lần thứ VI (1991-1995).
34. Đảng bộ huyện Mang Thít (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kì Đảng bộ
huyện Mang Thít khóa VI.
35. Đảng bộ huyện Mang Thít (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Mang Thít
lần thứ VII (1996 - 2000).
36. Đảng bộ huyện Mang Thít (2000), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Mang Thít
lần thứ VIII (2000 - 2005).
37. Đảng bộ huyện Mang Thít (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Mang Thít
lần thứ IX (2005 - 2010).
38. Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Vĩnh Long (1999), Lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh
Long 30 năm kháng chiến (1945-1975), tập 1, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.
39. Trần Bạch Đằng (cb, 1993), Chung một bóng cờ, NXB Chính trị quốc gia.
40. Nguyễn Đình Đầu (1994), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Vĩnh Long, NXB Tp Hồ
Chí Minh.
41. Hồ Sơn Điệp (2003), Trí thức Nam bộ trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954, NXB
ĐHQG TP Hồ Chí Minh.
42. Nguyễn Hữu Đức (2001), Việt Nam những cuộc kháng chiến chống xâm lăng trong lịch
sử, NXB Quân đội nhân dân.
43. Trần Văn Giàu (1964), Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội
44. Trần Văn Giàu (1966), Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội
45. Trần Văn Giàu (1968), Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 3, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội
46. Trần Văn Giàu (1970), Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 4, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội
47. Trần Văn Giàu (1978), Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 5, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội.
48. Trần Giang (1996), Nam kỳ khởi nghĩa ngày 23 tháng 11 năm 1940, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
49. Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư (2001), Đại cương lịch sử Việt Nam (1945 -
2000), Tập 3, NXB Giáo dục.
50. Lê Mậu Hãn (2001), Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng
Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
51. Nguyễn Đức Hòa (2009), Quân và dân miền Nam đấu tranh phòng chống vũ khí hoá học
của Mĩ những năm 1961-1972, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh.
52. Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ (2005), Lịch sử khởi nghĩa Nam
kỳ, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
53. Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam bộ kháng chiến (2011), Những vấn đề chính
yếu trong lịch sử Nam bộ kháng chiến (1945-1975), NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
54. Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên - Thánh Tịnh Ngọc Sơn Quang (2008), Kỷ yếu hội thảo
Đại hội liên quan cầu nguyện Hòa Bình (tháng 11 - Canh Tuất 1970).
55. Hội khoa học lịch sử TP HCM (2003), Nam bộ đất và người, NXB Trẻ.
56. Hội nông dân Việt Nam tỉnh Vĩnh Long (2007), Lịch sử phong trào nông dân và hội
nông dân tỉnh Vĩnh Long.
57. Hội thảo kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (2004), Chiến thắng Điện
Biên Phủ và chiến trường Nam bộ, NXB ĐHQG TP. Hồ Chí Minh.
58. Diễm Hồng (1969), Tiến trình của công cuộc cải cách điền địa tại Vĩnh Long, NXB Cửu
Long.
59. Lâm Quang Huyên (1997), Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam, NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội.
60. Hồ Khang (2005), Tết Mậu Thân 1968 bước ngoặc lớn của cuộc kháng chiến chống Mĩ
cứu nước, NXB Công an nhân dân, TPHCM.
61. Hồ Khang, Nguyễn Duy Tường (2008), Tết Mậu Thân 40 năm nhìn lại, NXB Quân đội
nhân dân.
62. Phan Khang (1983), Vĩnh Long dưới thời Pháp thuộc (1862 - 1866), NXB Cửu Long.
63. Đinh Xuân Lâm (cb), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ (2005), Đại cương lịch sử
Việt Nam, Tập 2, NXB Giáo dục.
64. Phan Ngọc Liên (cb, 2005), Hậu phương lớn - tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống
Mĩ cứu nước (1954 - 1975), NXB Từ điển bách khoa.
65. Liên hiệp Công đoàn tỉnh Cửu Long (1981), Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn
tỉnh Cửu Long (1929-1945).
66. Vũ Đình Liệu (cb, 2000), Tây Nam bộ 30 năm kháng chiến, NXB TP Hồ Chí Minh.
67. Lê Hồng Lĩnh (2006), Cuộc Đồng khởi kỳ diệu ở miền Nam Việt Nam, NXB Đà Nẵng.
68. Lưu Văn Lợi (2004), Ngoại giao Việt Nam, NXB Công an nhân dân.
69. Nguyễn Phúc Luân (2004), Ngoại giao Việt Nam từ Việt Bắc đến Hiệp định Geneva,
NXB Công an nhân dân.
70. Huỳnh Lứa (cb,1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ, NXB TP Hồ Chí Minh.
71. Cao Văn Lượng (1991), Lịch sử cách mạng miền Nam (1954 - 1965), NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội.
72. Cao Văn Lượng (1977), Công nhân miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước (1954-1975), NXB Khoa học xã hội.
73. Sơn Nam (1973), Lịch sử khẩn hoang đất Vĩnh Long và Trà Vinh, NXB Đông Phố.
74. Trịnh Nhu (2008), Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam bộ và Trung ương cục miền Nam (1954
- 1975), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
75. Trần Thanh Phương (1989), Cửu Long địa chí, NXB Cửu Long.
76. Phan Quang (1981), Đồng bằng sông Cửu Long, NXB Văn hóa.
77. Quân đội nhân dân Việt Nam (1986), Tổng kết công tác hậu cần chiến trường Nam bộ-
cực Nam Trung bộ (B.2) trong kháng chiến chống Mĩ, NXB Tổng cục hậu cần.
78. Dương Kinh Quốc (2005), Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước cách mạng tháng 8,
NXB Khoa học xã hội.
79. Nguyễn Minh Sơn (cb, 2007), Nam bộ kháng chiến qua tài liệu lưu trữ, NXB Quân đội
nhân dân, Hà Nội.
80. Văn Tân (2004), Cách mạng Tây Sơn, NXB Khoa học xã hội.
81. Bùi Đình Thanh, Cao Văn Lượng, Nguyễn Công Bình, Bùi Hữu Khánh, Hoàng Lượng
(1962), Tám năm đấu tranh anh dũng và gian khổ của đồng bào miền Nam, NXB
Hội sử học.
82. Nguyễn Công Thục (2006), Phong trào đấu tranh chống phá ấp chiến lược, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
83. Thư viện tỉnh Cửu Long - Kho lưu trữ II (1986), Địa bộ Vĩnh Long.
84. Tỉnh ủy Vĩnh Long (2010), Tổng kết công tác binh vận tỉnh Vĩnh Long (1930-1975).
85. Nguyễn Huy Toàn (2005), Ba mươi năm chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975),
NXB Lý luận chính trị, Hà Nội.
86. Trần Văn Trà (2005), Kết thúc cuộc chiến tranh ba mươi năm, NXB Quân đội nhân dân,
Hà Nội.
87. Trần Văn Trà (2006), Miền Nam thành đồng đi trước về sau, NXB Quân đội nhân dân.
88. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia - Viện Sử học (2000), Cách mạng
tháng Tám 1945 những sự kiện lịch sử, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
89. Nguyễn Văn Tương (1967), Một số Nghị định sắc lệnh về sửa đổi ranh giới các quận tại
Vĩnh Long (1961, 1962, 1963), NXB Sài Gòn.
90. Nguyễn Duy Tường (cb, 2005), Đại thắng mùa xuân 1975 chiến thắng của sức mạnh
Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.
91. Nguyễn Văn Vàng (1963), Phúc trình bạch hoá Vĩnh Long, NXB Cần Thơ.
92. Nguyễn Khắc Viện, Diệu Bình (dịch, 2008), Miền Nam Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ,
NXB Tri thức.
93. Viện KHXH TP Hồ Chí Minh - Tỉnh ủy Vĩnh Long (2001), Vĩnh Long lịch sử và phát
triển, tập 1, NXB TP Hồ Chí Minh.
94. Viện lịch sử quân sự Việt Nam (1995), Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
(1945-1975), tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
95. Viện lịch sử quân sự Việt Nam (1997), Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
(1945-1975), tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
96. Viện lịch sử quân sự Việt Nam (1999), Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
(1945-1975), tập 3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
97. Viện lịch sử quân sự Việt Nam (2005), Đại thắng mùa xuân 1975 -Nguyên nhân và bài
học, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội
98. Trang web của UBND tỉnh Vĩnh Long: 5Thttp://www.vinhlong.gov.vn5T
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1
BÍ THƯ HUYỆN UỶ MANG THÍT QUA CÁC THỜI KỲ
TỪ 1947 ĐẾN 1975
(Trước năm 1947 vùng Mang Thít thuộc ba quận Châu Thành, Tam Bình, Chợ Lách)
TT HỌ VÀ TÊN THỜI GIAN TÊN HUYỆN
Đầu năm 1947 - 1949 Huyện Nhì 1 Phạm Văn Kim
Huyện Nhì 2 Nguyễn Văn Phương Đầu năm 1949 - 1950
Tháng 1/1950 - đầu 1951 Mang Thít 3 Huỳnh Thiên Thiện
Đầu năm 1951 Mang Thít 4 Diệp Ngọc Côn
Tháng 7/1951- 12/1952 Vũng Liêm 5 Hoàng Nhất Huy
Vũng Liêm 6 Nguyễn Ngọc Sương Tháng 12/1952 - 8/1954
Tháng 10/1954 Châu Thành 7 Diệp Ngọc Côn
Tháng 8/1955 - cuối 1957 Cái Nhum 8 Huỳnh Văn Kỷ
Cuối năm 1957 - cuối 1958 Chợ Lách 9 Nguyễn Văn Truyện (Nguyễn Thế Truyện)
Chợ Lách 10 Nguyễn Ngọc Sương Cuối năm 1958 - 2/1961
Tháng 2/1961 Chợ Lách 11 Nguyễn Văn Thảnh
Tháng 3/1961- 5/1961 Chợ Lách 12 Trần Thái Bửu
Tháng 5/1961- 1/1963 Chợ Lách 13 Nguyễn Văn Sanh
Tháng 1/1963 - 7/1967 Cái Nhum 14 Lê Văn Tẹn (Lê Văn Sa)
Tháng 7/1967 - 3/1968 Cái Nhum 15 Nguyễn Văn Bang
Tháng 3/1968 - 11/1971 Cái Nhum 16 Tô Thanh Vân
Tháng 11/1971- 1977 Cái Nhum 17 Nguyễn Công Hữu
PHỤ LỤC 2
CÁC CÁ NHÂN, ĐƠN VỊ CỦA HUYỆN MANG THÍT ĐƯỢC TUYÊN
DƯƠNG ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
A. Cá nhân
Nguyễn Văn Quân - Sinh năm 1948 - Quê quán: xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh
Vĩnh Long.
- Đơn vị: Đại đội 1 thông tin Trung đoàn thông tin Quân khu 9
- Ngày tuyên dương: 06/11/1978
B. Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
1. Nhân dân và Lực lượng vũ trang xã Chánh Hội
- Ngày tuyên dương 20/08/1978
2. Nhân dân và Lực lượng vũ trang xã Bình Phước
- Ngày tuyên dương: 30/08/1995
3. Nhân dân và Lực lượng vũ trang xã Tân Long Hội
- Ngày tuyên dương: 22/08/1998
4. Nhân dân và Lực lượng vũ trang xã Nhơn Phú
- Ngày tuyên dương: 28/08/1998
C. Huyện Mang Thít có 73 Bà mẹ Việt Nam anh hùng (trong đó có 29 mẹ còn sống)
PHỤ LỤC 3
ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÙNG MANG THÍT NĂM 1871
(Nguồn: Ban Tuyên giáo huyện Mang Thít)
(Nguồn: Tỉnh ủy Vĩnh Long (2010), Tổng kết công tác binh vận tỉnh Vĩnh Long (1930-
1975))
Bộ đội săn
tàu trên sông
Mang Thít
(Nguồn: Ban
tuyên giáo
huyện Mang
Thít)
Nhân dân xóc cản cây trên sông Mang Thít chống tàu Pháp
(Nguồn: Ban tuyên giáo huyện Mang Thít)
Bia tưởng
niệm nơi Đại
đội Cửu Long
huyện Cái
Nhum bắn
rơi 2 trực
thăng địch tại
Bà Nữ (ấp
Phú Thạnh C
- xã Nhơn
Phú)
Trường THPT Mang Thít (Thị trấn Cái Nhum - huyện Mang Thít) – một trong ba
trường THPT có chất lượng giáo dục đứng đầu tỉnh Vĩnh Long
Đài ngưỡng thiên ở Thánh tịnh Ngọc Sơn Quang – nơi tổ chức lễ cầu nguyện

