BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Dương Tô Quốc Thái
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI NAM KỲ (1875 – 1945) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Dương Tô Quốc Thái
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI NAM KỲ (1875 – 1945)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HÀ MINH HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, chúng tôi nhận sự giúp đỡ hết sức
nhiệt tình của quý thầy cô và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nhà trường.
Vì vậy chúng tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến:
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hà Minh Hồng, Trưởng Khoa Lịch sử, Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chính Minh đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian qua để đề tài được hoàn
thành đúng tiến độ, theo quy định của nhà Trường.
Thạc sĩ Nguyễn Thanh Minh, Trưởng bộ môn Thẩm định - Khoa Tín
dụng, Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ chúng
tôi rất nhiều về tư liệu lịch sử để chúng tôi viết thành luận văn này.
Quý thầy, cô Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh đã truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức khoa học hết sức cần
thiết để chúng tôi dùng làm cơ sở lý luận vận dụng vào nghiên cứu viết luận
văn này.
Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
đã tổ chức chương trình đào tạo Cao học để chúng tôi có điều kiện học tập,
nghiên cứu khoa học đóng góp công sức của mình vào sự phát triển chung của
bộ môn khoa học xã hội và nhân văn.
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành
phố Hồ Chí Minh, các tác giả, nhà nghiên cứu của những công trình nghiên
cứu khoa học mà chúng tôi đã sử dụng trong nghiên cứu luận văn này.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 09 năm 2012
Dương Tô Quốc Thái
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những gì ghi chép trong luận văn này, là hoàn toàn
do chúng tôi thực hiện. Các số liệu, hình ảnh, trích dẫn trong luận văn là trung
thực. Nếu có gian dối, chúng tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Hội
đồng Khoa học nhà Trường và trước pháp luật.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 09 năm 2012
Học viên thực hiện
Dương Tô Quốc Thái
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN .................................................................................. 3
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................ 4
MỤC LỤC ........................................................................................ 5
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU TRONG LUẬN VĂN ................. 7
MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu ................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 8
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu ................................................... 8
5. Nguồn tài liệu nghiên cứu ............................................................................. 9
6. Đóng góp khoa học của luận văn ................................................................ 10
7. Bố cục luận văn ........................................................................................... 11
CHƯƠNG 1: NHU CẦU THÚC ĐẨY SỰ RA ĐỜI CÁC NGÂN HÀNG TẠI NAM KỲ (1875 - 1945) ............................................ 13 1.1. Những vấn đề chung về Ngân hàng ......................................................... 13
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng ................................................................................. 13
1.1.2. Một số thuật ngữ về Ngân hàng .................................................................. 16
1.1.3. Điều kiện thành lập Ngân hàng .................................................................. 18
1.2. Bối cảnh Nam kỳ cuối thế kỷ XIX ........................................................... 19
1.3.1. Về kinh tế .................................................................................................... 22
1.3.2. Về chính trị ................................................................................................. 30
1.3.3. Về an ninh - quốc phòng ............................................................................. 34
1.3.4. Về xã hội ..................................................................................................... 41
1.3. Những điều kiện thúc đẩy sự ra đời các tổ chức Ngân hàng ................... 22
CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ HỐNG NGÂN HÀNG TẠI NAM KỲ (1875 -1945) ................................ 51 2.1. Sự thành lập Ngân hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine) ............. 51
6
2.1.1. Hoàn cảnh và sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương tại Sài Gòn 1875 .... 51
2.1.2. Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Đông Dương .................................................... 68
2.2.1. Sơ lược hoạt động nghiệp vụ Ngân hàng Đông Dương ............................. 78
2.2.2. Những nghiệp vụ của Ngân hàng Đông Dương ......................................... 83
2.2. Hoạt động của Ngân hàng Đông Dương ở Nam kỳ từ 1875-1945 .......... 78
2.3.1. The Hongkong and Shanghai Banking Corporation (HSBC) .................. 116
2.3.2. The Chartered Bank .................................................................................. 118
2.3.3. Ngân hàng Pháp - Hoa (Banque Franco-Chinoise) .................................. 119
2.3.4. Việt Nam Ngân hàng (Banque de Cochinchine) ...................................... 121
2.3.5. Chinh nhánh Ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Pháp-Trung (Banque Franco-Chinoise pour le Commerce et l'Industrie) ............................................. 123
2.3.6. Chi nhánh ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Quốc gia Pháp (Banque Nationale pour Commerce et l'Industrie ............................................................. 124
2.3.7. Ngân hàng Truyền thông Trung Quốc (Communications banques chinoises) ............................................................................................................ 126
2.3. Sự hình thành các Ngân hàng khác tại Nam Kỳ từ 1875-1945 ............. 115
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ VÀ TÁC DỤNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI NAM KỲ..................................................... 131 3.1. Vai trò của các ngân hàng đối với Nam Kỳ ........................................... 131
3.1.1. Đối với tài chính, tín dụng ........................................................................ 131
3.1.2. Đối với khai thác kinh tế ........................................................................... 135
3.1.3. Đối với bộ máy chính quyền ..................................................................... 137
3.2.1. Thúc đẩy phát triển tư bản chính quốc ..................................................... 145
3.2.2. Thúc đẩy khai thác thuộc địa .................................................................... 148
3.2.3. Thúc đẩy kinh tế, tài chính bản xứ ........................................................... 151
3.2. Tác dụng của hệ thống ngân hàng .......................................................... 145
KẾT LUẬN .................................................................................. 154
PHỤ LỤC ..................................................................................... 165
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 215
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng 2.1: Số lượng tiền tệ phát hành và tồn quỹ kim khí đảm bảo
dùng trong lưu thông tiền tệ tại Đông Dương từ năm (1913-1920) 86
Bảng 2.2: Tỷ giá hối đối của đồng bạc Đông Dương so với các ngoại
tệ khác tại Sài Gòn (1939-1941) 87
Bảng 2.3: Chỉ số giá sinh hoạt của người Âu và người Việt tại hai
thành phố Sài Gòn và Hà Nội (1940-1945) 88
Bảng 2.4: Chỉ số bán lẽ các thực phẩm cơ bản tại hai thành phố Sài
Gòn và Hà Nội (1940-1945): 89
Bảng 2.5: Chỉ số bán sỉ các sản phẩm của Đông Dương (giá: 100 kg) 90
Bảng 2.6: Chỉ số giá bán sỉ tại thành phố Sài Gòn (1925-1941) 90
Bảng 2.7: Số lượng tiền giấy lưu hành trên lãnh thổ Đông Dương từ
(1876-1945): 93
Bảng 2.8: Các dịch vụ tài chính của ngân hàng Đông Dương (1919) 112
Bảng 2.9 : Danh sách các công ty tại Đông Dương có mặt trên thị
trường chứng khoán Paris (năm 1931) 129
Bảng 3.1: Các loại công thải (còn gọi là: công trái, trái phiếu chính
phủ) phát hành tại Đông Dương từ (1896-1939) 144
Bảng 3.2: Chỉ số giá sinh hoạt các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu tại
Sài Gòn và Hà Nội (1940-1945) 147
Bảng 3.3: Cán cân ngoại thương Đông Dương thời kỳ (1929-1938) 152
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu Cho đến ngày nay, vấn đề “tài chính”, “tín dụng” và “ngân hàng”
trong thời kỳ Pháp thuộc vẫn còn là một “khoảng trống” ít được các nhà
nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu. Cũng vì lý do đó khi tiếp cận vấn đề trên,
không ít các nhà nghiên cứu đã không hiểu được cơ chế hoạt động của hệ
thống tài chính, tín dụng và ngân hàng nên việc các nhà nghiên cứu đưa ra
những nhận định, đánh giá thiếu khách quan và tương đối lệch lạc về hệ thống
này là điều khó tránh khỏi! Chính vì vậy vô hình đã làm cho mọi người không
mấy thiện cảm đối với tổ chức này của Pháp dựng lên trên đất nước ta.
Thêm vào đó các tài liệu có liên quan đến hệ thống tổ chức này đến nay
còn lại rất ít, lại viết không đầy đủ và hết sức rời rạc. Một số nằm ở trung tâm
lưu trữ của Pháp, số ít nằm ở các trung tâm lưu trữ của Việt Nam, Lào và
Campuchia. Số còn lại đã thất thoát ra bên ngoài hoặc bị đốt cháy do chiến
tranh, hỏa hoạn,… nên việc sưu tầm các tài liệu này là điều không hề dễ dàng.
Các tài liệu này đến nay phần lớn đã cũ và rách nát, một số đã được Nhà nước
ra lệnh thiêu hủy, số ít còn lại đang được chờ xử lý. Song song đó là sách, báo
các loại được bài bán trên thị trường hầu như rất ít đề cập đến hệ thống tài
chính, tín dụng và ngân hàng trong thời kỳ Pháp đô hộ nước ta.
Bên cạnh đó một số trường đại học của nước ta hiện nay như: Đại học
Ngân hàng, Đại học Kinh tế, Đại học Tài chính, Đại học Kế toán,… và kể cả
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng chưa có được tài liệu nào hoàn chỉnh đề
cập đến hệ thống tài chính, tín dụng và ngân hàng trong thời kỳ Pháp thuộc và
nếu có chăng thì cũng chỉ nói khái quát và vắn tắt mà thôi! Các trường Đại
học hiện nay chỉ chú trọng đến công tác đào tạo “nghiệp vụ” cho sinh viên,
2
chứ không quan tâm lắm tới việc nghiên cứu hệ thống tài chính, tín dụng và
ngân hàng trong thời quá khứ. Đây là một thiếu sót hết sức nghiêm trọng và
ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Trong khi đó ở một số nước phát triển,
việc nghiên cứu và giảng dạy hệ thống tài chính, tín dụng và ngân hàng trong
thời quá khứ rất được Chính phủ và các trường đại học quan tâm. Ở những
quốc gia này, họ xem đây là việc làm rất cần thiết và quan trọng, sẽ giúp ít rất
nhiều cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế của quốc gia, nên việc
tìm hiểu và nghiên cứu hệ thống này được dễ dàng và thuận lợi. Vì vậy những
sinh viên được đào tạo ở các trường đó có phần “nhỉn” hơn so với sinh viên
được đào tạo trong nước.
Đứng trước những khó khăn đó, trong những năm gần đây việc nghiên
cứu hệ thống tài chính, tín dụng và ngân hàng trong thời kỳ Pháp thuộc cũng
có được một số thuận lợi nhất định. Trước hết là Đảng và Nhà nước tạo nhiều
điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước được dễ dàng
tiếp cận với các tài liệu lưu trữ ở các trung tâm lưu trữ quốc gia. Từ đó giúp
cho việc nghiên cứu được thuận lợi và dễ dàng, nhiều vấn đề chưa được khai
thác đã được các nhà nghiên cứu nói tới. Một số nhà trí thức, học giả thời
Chính quyền Sài Gòn (cũ) đã có không ít những công trình nghiên cứu về hệ
thống tài chính, tín dụng và ngân hàng trong thời kỳ Pháp thuộc mặc dù còn
rất “tản mạn” nhưng phần nào cũng giúp ít rất nhiều cho việc dựng lại toàn bộ
hệ thống tài chính, tín dụng và ngân hàng trong thời kỳ Pháp thống trị nước
ta. Đặc biệt trong thời gian gần đây, khi yếu tố kinh tế ngày càng giữ vai trò
chủ đạo và chi phối các hoạt động khác của quốc gia, thì các nhà nghiên cứu
trong nước cũng đã bắt đầu quan tâm, tìm hiểu tới lĩnh vực kinh tế. Nhờ vậy
đã có một số công trình nghiên cứu viết về hệ thống tài chính, tín dụng và
ngân hàng, trong đó có thời kỳ Pháp cai trị nước ta.
3
Trước những khó khăn và thuận lợi đó đã thúc đẩy tôi lựa chọn một
vấn đề nhỏ trong hệ thống tài chính, tín dụng và ngân hàng thời kỳ Pháp cai
trị nước ta, đó là “Sự hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng tại Nam
Kỳ từ (1875 - 1945)” để làm đề tài nghiên cứu. Hy vọng qua đề tài này, sẽ
làm sáng tỏ toàn bộ hoạt động của hệ thống ngân hàng tại nước ta, cụ thể là ở
Nam Kỳ trong thời kỳ Pháp cai trị. Đồng thời còn cung cấp thêm tư liệu cho
lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
Với việc lựa chọn đề tài “Sự hình thành và phát triển hệ thống ngân
hàng tại Nam Kỳ từ (1875-1945)” để làm công trình nghiên cứu nhằm mục
đích:
- Làm sáng tỏ thêm những nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu
trong và ngoài nước khi nói hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng này tại
Nam Kỳ. Từ đó giúp cho chúng ta thấy được vai trò của các ngân hàng đối
với sự ổn định và phát triển kinh tế tại Nam Kỳ.
- Cung cấp thêm tư liệu cho các nhà nghiên cứu khi muốn tìm hiểu về
hệ thống các ngân hàng tại Việt Nam, cũng như muốn tìm hiểu, nghiên cứu
các lĩnh vực khác có liên quan.
- Việc nghiên cứu về lĩnh vực mới này sẽ là cơ sở giúp cho việc nghiên
cứu về tổ chức ngân hàng ở các giai đoạn sau dần được hoàn chỉnh và quy mô
hơn. Thông qua đó sẽ đóng góp ít nhiều cho việc xây dựng hệ thống ngân
hàng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đó là mục đích nghiên cứu của đề
tài.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trước khi lựa chọn đề tài này để làm công trình nghiên cứu, trong
những năm gần đây đề tài nghiên cứu của chúng tôi đã được nhiều nhà nghiên
cứu, học giả trong và ngoài nước đề cập tới với những mức độ và phạm vi
nghiên cứu khác nhau, như sau:
4
Trước tiên là công trình của Giáo sư Đinh Xuân Lâm với quyển sách
Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 2, do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành vào
năm 2005. Trong công trình nghiên cứu này tác giả chủ yếu trình bày về tình
hình Việt Nam từ khi nước ta rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp đến khi
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh
giành độc lập bằng cuộc cách mạng tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Trong giai đoạn Pháp đặt ách thống trị lên đất nước ta, tác giả trình bày kĩ về
chương trình khai thác thuộc địa của Pháp trong hai lần, chính sách đầu tư của
tư bản Pháp vào Việt Nam, chính sách thâm độc chia để trị của thực dân Pháp
đối với đất nước ta,… Qua đó cũng có ít nhiều nhắc đến sự ra đời của các
ngân hàng tại Việt Nam và hoạt động chi phối kinh tế của ngân hàng này đặc
biệt là ở Nam Kỳ.
Trong quyển Việt Nam thời Pháp đô hộ, của Nguyễn Thế Anh (chủ
biên) được Nhà xuất bản Văn học, Tp. Hồ Chí Minh phát hành năm 2008.
Trong quyển này tác giả trình bày về toàn bộ chính sách của Pháp đối với
Việt Nam, từ việc soạn thảo quy chế cai trị cho ba xứ đến các hoạt động đầu
tư khai thác của tư bản Pháp vào Việt Nam, đời sống của nhân dân Việt Nam
dưới ách cai trị của thực dân Pháp đến khi cách mạng tháng Tám diễn ra,…
Trong đó khi nói về hoạt động đầu tư tác giả đã trình bày về sự ra đời của các
ngân hàng tại Việt Nam, những hoạt động kinh doanh của các ngân hàng đặc
biệt là ở Nam Kỳ.
Còn trong quyển Lịch sử Tín dụng nông nghiệp Việt Nam (1875-1945)
của tác Phạm Quang Trung viết và được nhà xuất bản Khoa học Xã hội phát
hành năm 1997 thì trình bày về các hình thức cho vay trong hoạt động nông
nghiệp của các tổ chức tín dụng, việc cho vay mang tính chất theo mùa và lãi
suất mà các tổ chức tín dụng này giành cho lĩnh vực nông nghiệp tại Việt
Nam đặt biệt là tại Nam Kỳ tương đối cao. Thông qua công trình này, ít nhiều
5
tác giả cũng đã đề cập đến mục đích ra đời của các ngân hàng tại Việt Nam và
những hoạt động cho vay của các ngân hàng này giành cho Việt Nam.
Một công trình khác của nhà nghiên cứu Nguyễn Anh Huy là quyển
Lịch sử Tiền tệ Việt Nam sơ truy và lược khảo, xuất bản năm 2010, tại Thành
phố Hồ Chí Minh, do nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn bảo trợ. Trong công
trình này tác giả trình bày về những kết quả nghiên cứu của tác giả về lĩnh
vực tiền cổ của Việt Nam mà tác giả đã sưu tầm được. Bên cạnh đó tác giả
cũng trình bày về tiền tệ Việt Nam qua các thời kì lịch sử, trong đó cũng có đề
cập đến sự xuất hiện của ngân hàng Đông Dương và các ngân hàng khác tại
Việt Nam.
Gần đây trong Hội thảo Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức tại Cần
Thơ vào năm 2008 với chủ đề Một số vấn đề lịch sử vùng đất Nam Bộ thời kỳ
cận đại được nhà xuất bản Thế giới phát hành vào năm 2009. Trong hội thảo
này các nhà nghiên cứu trình bày về vùng đất Nam Bộ dưới thời Pháp thuộc,
chính sách cai trị của thực dân Pháp đối với vùng đất Nam Bộ, chương trình
khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đối với vùng đất Nam Bộ,… Nhờ đó,
giúp cho chúng ta thấy được tiềm năng của vùng đất này và sự ra đời của các
ngân hàng tại đây là một nhu cầu tất yếu.
Còn tác giả Phạm Thăng với biên khảo về Tiền tệ Việt Nam theo dòng
lịch sử, Tập 1: Từ thời Đinh Tiên Hoàng (968) cho đến 1975, được xuất bản
tại Toronto, Canada vào năm 1995. Ở tác phẩm này tác giả trình bày về các
loại tiền được lưu hành tại Việt Nam qua các triều đại phong kiến; các loại
tiền được lưu hành trong thời kì Pháp thuộc và các loại tiền khác được lưu
thông cho đến năm 1975. Với công trình này, tác giả cũng ít nhiều đề cập đến
sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương, cách thức phát hành tiền tệ của Ngân
hàng Đông Dương, màu sắc trang trí trên tiền giấy và các đồng tiền,...
6
Một tác phẩm khác của tiến sĩ Jean Pierre Aumiphin là công trình Sự
hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859-1939), được
một nhóm tác giả: Đinh Xuân Lâm, Ngô Thị Chính, Hồ Song, Phạm Quang
Trung dịch và được nhà xuất bản Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phát hành
năm 1994. Trong tác phẩm này, tác giả trình bày về những hoạt động đầu tư
của tư bản Pháp ở ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Nhịp độ đầu tư này
bao gồm hai lĩnh vực: đầu tư nhà nước và đầu tư của các công ty vô danh vào
Đông Dương. Nhờ có hoạt động đầu tư này mà nền kinh tế Nam Kỳ có sự
chuyển biến nhanh chóng.
Còn tác giả Philippe Devillers trong tác phẩm Người Pháp và người
Annam Bạn hay Thù? được nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
dịch và phát hành vào năm 2006 thì trình bày những nguyên cớ khiến Pháp
xâm lược Việt Nam, hoạt động ngoại giao chuột lại ba các tỉnh Nam Kỳ của
Vương triều, chính sách cai trị của các Thống đốc quân sự và dân sự đối với
vùng đất Nam Kỳ. Những hoạt động khai thác kinh doanh thương mại, quá
trình cải tạo, xây dựng vùng đất Nam Kỳ của Pháp,… Thông qua đó cho
chúng ta thấy được sự phát triển của kinh tế Nam Kỳ trong thời kỳ Pháp thuộc
và sự ra đời của các ngân hàng ở giai đoạn sau là điều có thể hiểu được.
Trong khi đó thì học giả Lê Đình Chân phụ trách diễn giảng về Tiền tệ
và Ngân hàng tại Học viện Quốc gia Hành chánh của chính quyền Việt Nam
Cộng hòa với công trình Lược sử Tiền tệ, xuất bản tại Sài Gòn, trình bày sơ
lược sự phát triển của tiền tệ Việt Nam qua các thời kỳ từ chế độ phong kiến,
đến thời Pháp thuộc cho đến khi đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế
độ khác nhau. Trong công trình này tác giả còn đề cập đến các cổ phiếu, chi
phiếu, hoa chi ở các sòng bạc, các trái, trái phiếu,… Bên cạnh đó, tác giả cũng
nói đến vai trò của hệ thống các ngân hàng đối với nền kinh tế miền Nam.
7
Hoặc ở Viện nghiên cứu Kinh tế Tiền tệ, Tính dụng và Ngân hàng
thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tác giả Phan Hạ Uyên sưu tầm được
một số tư liệu viết về Lịch sử Tiền tệ Đông Dương và Ngân hàng Đông
Dương từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, với những tư liệu này tác giả
trình bày về sự ra đời của đồng tiền Đông Dương, tiền Đông Dương được bảo
đảm bởi chế độ ngân bản vị, sau đó là kim bản vị, rồi đến tiền giấy, Tiền
Đông Dương gắn với đồng phrăng của Pháp, tiền Đông Dương bị lạm phát,…
Còn Ngân hàng Đông Dương thì tác giả nói về sự ra đời của ngân hàng Đông
Dương, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Đông Dương, nhiệm vụ và chức năng
của ngân hàng Đông Dương, các giám đốc của ngân hàng Đông Dương qua
các thời kỳ, hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mối quan hệ giữa ngân
hàng Đông Dương với các ngân hàng khác và các công ty, các tổ chức tín
dụng, những hoạt động phi pháp của ngân hàng Đông Dương,…
Bên cạnh một số công trình vừa được liệt kê trên, còn có rất nhiều công
trình khác cũng nói ít nhiều về hệ thống các ngân hàng tại Nam Kỳ, hoặc nói
về các lĩnh vực có mối liên hệ với các ngân hàng như: kinh tế, chính trị, xã
hội, an ninh-quốc phòng. Song song đó còn có rất nhiều bài báo, tạp chí, các
trang website, tài liệu lưu trữ ở các trung tâm lưu trữ quốc gia Việt Nam,… đề
cập rất nhiều đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam trong đó có Nam Kỳ.
Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên của các tác giả trong và
ngoài nước tuy nói đến các vấn đề khác nhau nhưng ở những công trình
nghiên cứu đó, có một vài điểm chung là đều đề cập đến sự ra đời và phát
triển của các ngân hàng tại Việt Nam, vai trò của các ngân hàng này đối với
nền kinh tế của Việt Nam trong đó có Nam Kỳ. Chính những điểm chung này
là cơ sở để tôi đi đến lựa chọn đề tài “Sự hình thành và phát triển hệ thống
ngân hàng tại Nam Kỳ từ (1875-1945)”. Đồng thời các tài liệu trên còn là
8
nguồn tư liệu vô cùng quý giá và hết sức phong phú, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc hoàn thành đề tài nghiên cứu của tôi.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối với đề tài “Sự hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng tại
Nam Kỳ từ (1875-1945)” thì đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu là:
- Về đối tượng nghiên cứu: Sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân
hàng tại Nam Kỳ, cụ thể là:
+ Sự ra đời và phát triển ngân hàng Đông Dương và các chi nhánh của
nó tại Nam Kỳ.
+ Sự hình thành và phát triển các ngân hàng khác ở Nam Kỳ.
+ Quá trình hợp thành hệ thống ngân hàng ở Nam Kỳ và tác dụng của
hệ thống hệ thống này đối với sự phát triển kinh tế Nam Kỳ.
- Về phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu: tại vùng đất Nam Kỳ nay được gọi là vùng
đất Nam Bộ của Việt Nam bao gồm phần đất liền, vùng biển, vùng trời và các
hải đảo được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định rõ vị
trí địa lý và được công nhận về mặt pháp lý.
+ Thời gian nghiên cứu: Từ năm 1875 đánh dấu bằng sự kiện chi nhánh
Ngân hàng Đông Dương mở tại Sài Gòn cho đến năm 1945 khi nước ta giành
được độc lập, kết thúc thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp.
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu Đối với đề tài này, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là;
- Phương pháp lịch sử.
- Phương pháp logic.
Song song với hai phương pháp trên, chúng tôi còn kết hợp một số
phương pháp khác như: phương pháp so sánh, đối chiếu, sưu tầm, thống kê,
9
phân tích các tài liệu,… nhằm giúp cho đề tài mang tính khách quan và thể
hiện được chiều sâu của công trình nghiên cứu.
5. Nguồn tài liệu nghiên cứu Đối với đề tài “Sự hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng tại Nam
Kỳ từ (1875-1945)” nguồn tư liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu chủ yếu
bao gồm các nguồn sau:
- Tài liệu sách báo: bao gồm các công trình nghiên cứu của các học giả
trong và ngoài nước đã được Nhà nước thẩm định và cho xuất bản như: Đại
cương lịch sử Việt Nam tập 2 của Giáo sư Đinh Xuân Lâm; Nguyễn Thế Anh
với tác phẩm Việt Nam thời Pháp đô hộ; Phạm Quang Trung với Lịch sử tín
dụng nông nghiệp Việt Nam; Phạm Thăng với Tiền tệ Việt Nam theo dòng lịch
sử, Philippe Devillers, với tác phẩm Người Pháp và người Annam Bạn hay
Thù?; Jean Pierre Aumiphin, với luận án tiến sĩ Sự hiện diện tài chính và kinh
tế của Pháp ở Đông Dương (1859-1939), Lê Quốc Sử với công trình Một số
vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam,…
- Tài liệu lưu trữ: bao gồm các tài liệu được sưu tầm tại các Trung tâm
lưu trữ sau:
+ Tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II: tài liệu để nghiên cứu đề tài này
bao gồm các Phông tiếng Pháp của Thống đốc Nam Kỳ, một số công báo,…
+ Tại Thư viên Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh: tài liệu
của phòng hạn chế đọc bao gồm một số công trình nghiên của các học giả
miền Nam thời chính quyền Sài Gòn (cũ) như: Lược sử tiền tệ của Lê Đình
Chân; Đồng bạc Việt Nam và các vấn đề liên hệ của Nguyễn Bích Huệ; Tư
liệu lịch sử Tiền tệ Đông Dương và Ngân hàng Đông Dương từ cuối thế kỷ
XIX đến giữa thế kỷ XX của Phan Hạ Uyên,...
+ Tài liệu tạp chí, báo chí: bao gồm các bài viết, bài nhận định, đánh
giá, phê bình,… của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước được đăng tải
10
như: Linh Quang với bài viết Lịch sử tiền tệ ở Đông Dương, Tạp chí Tri Tân,
số 6/1941; Nguyễn Thế Anh với bài Vấn đề lúa gạo ở Việt Nam trong tiền
bán thế kỉ XIX, Tập san Sử - Địa, số 6/1967; Nguyễn Công Bình (bài viết),
Hoạt động kinh doanh của tư sản dân tộc Việt Nam dưới thời Pháp thuộc,
Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa, số 04/1955; Văn Tạo bài nghiên cứu Hoạt
động của tư bản Pháp ở Việt Nam từ 1918 đến 1930, Tập san nghiên cứu Văn
Sử Địa, số 13/1956; Trần Văn Giàu (bài viết) Thái độ của các tầng lớp phong
kiến đối với Thực dân Pháp, Tập san Đại học Sư phạm, số 04/1955,…
- Tài liệu tiểu sử, hồi ký, phỏng vấn: bao gồm một số tiểu sử sưu tầm
được của các cá nhân, những hồi ký có liên quan đến lĩnh vực ngân hàng tại
Nam Kỳ. Song song đó còn sử dụng thêm tài liệu phỏng vấn trực tiếp của một
số nhân vật lãnh đạo ngân hàng.
- Tài liệu trên các website: bao gồm những bài viết, bài nghiên cứu, các
tranh, ảnh, bản đồ, sơ đồ,… của các trang web có liên quan đến lĩnh vực ngân
hàng.
6. Đóng góp khoa học của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài “Sự hình thành và phát triển hệ thống ngân
hàng tại Nam Kỳ (1875-1945)” có ý nghĩa khoa học hết sức to lớn:
- Thứ nhất, cho đến nay việc nghiên cứu lĩnh vực “tài chính - tín dụng
và ngân hàng” vẫn chưa nhận được sự quan tâm, tìm hiểu của các nhà nghiên
cứu thuộc phân ngành khoa học xã hội và nhân văn. Do đó, khi nói về lĩnh
vực “tài chính - tín dụng và ngân hàng”, không ít các nhà nghiên cứu đã có
những nhận định, đánh giá thiếu khách quan về lĩnh vực này là điều khó tránh
khỏi. Vì vậy đã làm cho việc nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn còn gặp
nhiều hạn chế. Trước thực tế đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm xóa
lấp khoản trống giúp cho việc nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn được
hoàn thiện hơn.
11
- Thứ hai, giúp khôi phục lại một phần nào đó về sự hình thành và phát
triển ngân hàng trong suốt thời kỳ Pháp cai trị nước ta.
- Thứ ba, cung cấp thêm tư liệu lịch sử phục vụ cho công tác nghiên
cứu, giảng dạy bộ môn lịch sử và các chuyên ngành khoa học xã hội có liên
quan.
- Thứ tư, thông qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng ta rút ra một số
nhận định để làm cơ sở, định hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống
ngân hàng trong tương lai.
7. Bố cục luận văn Luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ
lục, luận văn còn có ba chương với nội dung chính như sau:
Chương 1: Nhu cầu thúc đẩy sự ra đời của các ngân hàng tại Nam Kỳ
(1875-1945). Trong chương này chủ yếu nói về một số khái niệm về ngân
hàng, các thuật ngữ về ngân hàng mà chúng ta thường nghe nói hằng ngày để
phân biệt được các loại ngân hàng có mặt trên đất nước ta trong thời Pháp
thuộc cũng như giúp nhận diện các loại hình ngân hàng ngày này; những điều
kiện để thành lập ngân hàng. Bối cảnh vùng đất Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX;
những điều kiện thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức ngân hàng bao gồm: kinh
tế, chính trị, an ninh - quốc phòng và xã hội. Chính những yêu cầu này đã
thúc đẩy các ngân hàng lần lược ra đời tại Nam Kỳ.
Chương 2: Sự hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng tại Nam Kỳ
(1875-1945). Trong chương này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ: sự ra đời và
phát triển của Ngân hàng Đông Dương bao gồm: hoàn cảnh ra đời; cơ cấu tổ
chức; những nghiệp vụ của Ngân hàng Đông Dương diễn ra tại Nam Kỳ trong
khoảng thời gian (1875-1945). Trình bày thêm sự ra đời của một số ngân
hàng khác có mặt tại Nam Kỳ: The Hongkong and Shanghai Banking
Corporation (HSBC); The Chartered Bank; Pháp - Hoa ngân hàng; Việt Nam
12
ngân hàng; Chi nhánh ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Pháp - Trung;
Chi nhánh ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Quốc gia Pháp; Truyền
thông ngân hàng Trung Quốc. Qua đó, giúp cho chúng ta thấy được sự ra đời
và phát triển của các ngân hàng trong thời gian này là phù hợp với những nhu
cầu đặt ra tại Nam Kỳ.
Chương 3: Vai trò và tác dụng của hệ thống ngân hàng tại Nam Kỳ. Ở
chương cuối cùng này, chúng tôi cung cấp đến các bạn đọc giả, nhà nghiên
cứu,... những cách tiếp cận về hệ thống các ngân hàng. Thông qua đó, chúng
ta sẽ thấy được vai trò và tác dụng của hệ thống ngân hàng đối với sự phát
triển chung của xứ Nam Kỳ trong thời kỳ thực dân Pháp cai trị đất nước ta.
13
CHƯƠNG 1: NHU CẦU THÚC ĐẨY SỰ RA ĐỜI CÁC NGÂN HÀNG TẠI NAM KỲ (1875 - 1945)
1.1. Những vấn đề chung về Ngân hàng
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng
Cho đến nay khi nghiên cứu về lĩnh vực ngân hàng các nhà nghiên cứu
đưa ra rất nhiều khái niệm. Thiết nghĩ cần dẫn ra đây một vài khái niệm để
làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài được dễ dàng hơn.
Theo khái niệm ngân hàng của Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam
được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành tại văn
bản Luật số: 47/2010/QH12 ghi như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín
dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của
Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao
gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng hợp tác
xã” [48; tr.9]. Ở văn bản luật này, Quốc hội nước ta chỉ rõ chức năng của
ngân hàng là cung cấp tín dụng cho người dân và được thực hiện tất cả các
hoạt động của ngân hàng. Các hoạt động của ngân hàng theo quy định của
Luật Tín dụng bao gồm: huy động vốn, nhận tiền gửi, cho vay thế chấp, chiết
khấu chứng từ, đầu tư,… Để thực hiện được chức năng này, đòi hỏi ngân
hàng phải được chia ra làm ba loại: ngân hàng thương mại, ngân hàng chính
sách xã hội và ngân hàng hợp tác xã. Như vậy, với khái niệm trên, Quốc hội
nước ta đã phân biệt rõ chức năng của ngân hàng ở đất nước ta là kinh doanh
thương mại chứ không phải là phát hành tiền tệ.
Khái niệm này chỉ đúng một phần nào đó, nhưng chúng ta không thể
dùng nó để làm khái niệm cho nghiên cứu đề tài này. Vì hệ thống ngân hàng
nước ta dưới thời Pháp thuộc, đặc biệt là ngân hàng Đông Dương có nhiều
14
chức năng và nhiệm vụ hơn, so với khái niệm mà Quốc hội nước ta đã nói. Vì
vậy chúng ta đi tìm hiểu thêm một số khái niệm ngân hàng khác có liên quan.
Theo trang mạng Wikipedia thì đưa ra khái niệm “Ngân hàng hay nhà
băng là tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động tín dụng như nhận tiền gửi,
cho vay và đầu tư tài chính, các hoạt động thanh toán, phát hành các loại kỳ
phiếu, hối phiếu, v.v... và một số hoạt động khác. Một số ngân hàng còn có
chức năng phát hành tiền”[147]. Khái niệm ngân hàng của Wikipedia có
phần sát với đề tài hơn, nhưng ở khái niệm này nói lên tính chất hiện đại của
các ngân hàng trong giai đoạn hiện nay. Trong khi đó khái niệm ngân hàng
mà đề tài chúng tôi cần là trong giai đoạn Pháp thuộc. Vì vậy chúng ta chưa
thể sử dụng khái niệm này được.
Một khái niệm khác cho rằng “ngân hàng là tổ chức hoạt động kinh
doanh, cung cấp các dịch vụ ngân hàng để tìm kiếm lợi nhuận”[149]. Khái
niệm này cũng gần giống với khái niệm mà Quốc hội nước ta đã nêu ở trên.
Nhà kinh tế học Peter S. Rose trong công trình nghiên cứu Commercial
Bank Management năm 2001 đã đưa ra các khái niệm về ngân hàng như sau:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục và dịch vụ
tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán
– và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế”.
“Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập
và cung cấp các dịch vụ quản lý cho công chúng, đồng thời nó cũng thực hiện
nhiều vai trò khác trong nền kinh tế”[149]. Các khái niệm về ngân hàng của
nhà kinh tế học Peter S. Rose đưa ra ám chỉ những ngân hàng thời hiện đại.
Chỉ có những ngân hàng này, mới có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ theo
yêu cầu của khách hàng. Khái niệm này cũng không thể sử dụng cho khái
niệm nghiên cứu đề tài.
15
Từ điển của Đại học Oxford lại đưa ra một khái niệm về ngân hàng như
sau: “ngân hàng là một cơ sở tạm giữ hộ tiền và sẽ hoàn trả theo yêu cầu của
khách hàng”. Khái niệm ngân hàng của quyển từ điển Đại học Oxford quá
đơn giản nó chưa thể hiện hết chức năng của ngân hàng. Đặc biệt là trong thời
kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933, chính phủ các nước đã cho phép
các ngân hàng ngưng việc chuyển đổi tiền giấy sang tiền kim loại. Ở Việt
Nam trong thời kỳ Pháp thuộc cũng diễn ra tương tự. Ngân hàng Đông Dương
được Chính phủ Pháp và Phủ Toàn quyền Đông Dương ký quyết định cho
tạm hoãn việc chuyển đổi tiền giấy sang tiền kim loại. Đến khi cuộc khủng
hoảng kinh tế qua đi, ngân hàng Đông Dương nhân cơ hội đó áp đặt luôn
quyết định này đối với nhân dân Đông Dương. Như vậy khái niệm trên còn
rất hạn chế và chưa chặt chẽ. Khó có thể sử dụng được cho đề tài.
Một khái niệm khác trích từ trang wed tuitien.vn nói về ngân hàng như
sau: “Ngân hàng là một tổ chức tài chính nhận tiền gửi, cho vay và thực hiện
các dịch vụ liên quan khác. Nó nhận tiền từ những người muốn tiết kiệm dưới
dạng tiền gửi và cho vay tiền cho những ai cần”[145]. Khái niệm này nêu lên
được chức năng của ngân hàng là nhận tiền gửi của các khách hàng muốn tiết
kiệm. Sử dụng tiền này cho những ai có nhu cầu vay vốn. Khái niệm này, tuy
sát với chức năng, nhiệm vụ của ngân hàng nhưng nó chưa phù hợp với thời
kỳ Pháp thuộc.
Trang library.thinkquest.org đưa ra khái niệm ngân hàng “là một tổ
chức tài chính, là nơi để mọi người gửi tiền và giữ nó một cách an toàn - A
bank is a financial organization where people deposit their money to keep it
safe”[139]. Khái niệm này cũng đơn giản như khái niệm của quyển từ điển
Đại học Oxford nên cũng không thể sử dụng nó làm khái niệm cho nghiên
cứu đề tài của chúng tôi.
16
Tiếp thu những khái niệm ngân hàng mà các chuyên gia, học giả, nhà
nghiên cứu đã đưa ra, chúng tôi đề ra một khái niệm mới về ngân hàng để làm
cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài như sau:
Ngân hàng là một tổ chức tài chính có tư cách pháp nhân được chính
phủ công nhận, chuyên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, bao gồm:
nhận gửi tiền từ phía nhân dân, cho vay tín dụng và cung cấp các dịch vụ tài
chính cần thiết cho các khách hàng. Ngoài ra ngân hàng còn được chính phủ
giao nhiệm vụ phát hành tiền tệ để điều tiết nền kinh tế đất nước khi có yêu
cầu.
1.1.2. Một số thuật ngữ về Ngân hàng
Bên cạnh khái niệm ngân hàng còn có một số thuật ngữ khác cũng nói
về lĩnh vực này. Xin trích dẫn ra đây một vài thuật ngữ có liên quan.
- Thuật ngữ “ngân hàng thương mại”, theo Luật các Tổ chức Tín dụng
Việt Nam được Quốc hội nước ta ban hành tại điểm 3, điều 4, Luật số:
47/2010/QH12 giải thích thuật ngữ này như sau: Ngân hàng thương mại là
loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi
nhuận [48; tr.9].
Còn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Thị Cúc trong công trình nghiên cứu
của mình với đề tài Tín dụng ngân hàng thì đưa ra khái niệm về thuật ngữ
ngân hàng thương mại như sau: “Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp
kinh doanh tiền tệ, là một tổ chức tín dụng thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ
các chủ thể trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát
triển kinh tế, tiêu dùng cho xã hội”[19; tr.11].
Đạo Luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng
thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là
17
nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình
thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết
khấu, tín dụng và tài chính”[30; tr.74].
- Thuật ngữ “ngân hàng trung ương”, theo nghiên cứu của Tiến sĩ Lê
Thị Tuyết Hoa giải thích rằng: “ngân hàng trung ương là cơ quan độc quyền
phát hành tiền và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt
động ngân hàng nhằm ổn định giá trị tiền tệ góp phần đảm bảo an toàn hoạt
động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế
xã hội”[30; tr.88].
Trang wed Wikipedia giải thích Ngân hàng trung ương “là cơ quan đặc
trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia và chịu trách nhiệm thi
hành chính sách tiền tệ. Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn
định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các ngân
hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ. Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc
sở hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có một mức độ độc lập nhất định đối
với Chính phủ”[147].
- Ngân hàng thương mại quốc doanh: là ngân hàng do Nhà nước thành
lập, toàn bộ vốn hoạt động do Nhà nước đầu tư nhằm góp phần thực hiện các
mục tiêu kinh tế Nhà nước.
- Ngân hàng thương mại cổ phần: là ngân hàng được thành lập dưới
hình thức công ty cổ phần, vốn hoạt động do các cổ đông là các doanh nghiệp,
các thành phần kinh tế, các tổ chức tín dụng, các tổ chức khác và các cá nhân
cùng đóng góp theo quy định của pháp luật.
- Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của
hai quốc gia khác nhau trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Ngân hàng này là một
pháp nhân của nước sở tại, có trụ sở, có tư cách pháp nhân, có đầy đủ điều
kiện theo quy định của luật pháp nước sở tại.
18
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: là tổ chức đại diện phụ thuộc của
ngân hàng nước ngoài mở tại nước sở tại được ngân hàng nước ngoài đầu tư
vốn, bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ mà pháp luật của nước
sở tại quy định được hoạt động theo sự cho phép của pháp luật nước sở tại.
- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: là ngân hàng được thành lập bằng
100% vốn của nước ngoài và hoạt động theo luật tại nước sở tại, có trụ sở, có
tư cách pháp nhân, có đầy đủ điều kiện theo quy định của luật pháp nước sở
tại [19; tr.14-15].
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển: là ngân hàng chuyên cho vay để đầu
tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn do phát hành trái phiếu hoặc nguồn ngân
sách.
- Ngân hàng đặc biệt: là ngân hàng được thành lập để phục vụ cho mục
đích xã hội là chính [30; tr.65-66].
Trên đây là một số thuật ngữ về ngân hàng mà chúng ta thường nghe
nói. Những thuật ngữ này có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình nghiên cứu
của đề tài. Nhờ có những thuật ngữ này, giúp cho công trình nghiên cứu của
chúng tôi phân biệt được các loại hình ngân hàng có mặt ở Nam Kỳ trong thời
kỳ Pháp thống trị nước ta. Song song đó còn biết được cách thức hoạt động
của các ngân hàng này. Đồng thời còn giúp cho chúng ta giải thích được một
số ngân hàng đang hoạt động trên đất nước ta hiện nay.
1.1.3. Điều kiện thành lập Ngân hàng
Một ngân hàng muốn hình thành và phát triển phải hội đủ các điều kiện
như sau:
- Thứ nhất, phải có một số tiền cơ bản để đảm bảo việc cho vay.
- Thứ hai, phải có một tầng lớp trung gian chuyên lấy nghề kinh doanh
tiền bạc làm phương tiện sống.
19
- Và thứ ba, phải được sự cho phép của Nhà nước (có nghĩa là được
nhà nước cấp phép cho hoạt động).
Chỉ có hội đủ ba điều kiện cơ bản này, ngân hàng mới có thể đi vào
hoạt động được. Dưới thời Pháp thuộc (1862-1945), xứ Nam Kỳ đã có đủ ba
điều kiện cơ bản trên và đó là lý do cho sự ra đời hệ thống các ngân hàng tại
đây.
1.2. Bối cảnh Nam kỳ cuối thế kỷ XIX Ngày 31 tháng 08 năm 1858, thực dân Pháp nổ sung xâm lược nước ta
mở màng bằng chiến dịch đánh vào Đà Nẵng. Sau gần 05 tháng chiến đấu
(01-1859), không mang lại kết quả như mong muốn. Pháp chuyển hướng
chiến lược đem quân vào đánh chiếm Gia Định. Âm mưu của Pháp là “chiếm
một địa bàn thuận lợi vừa lập nghiệp và phòng thủ, vừa hành binh và lưu
thông thương mại dễ dàng, đồng thời gây sức ép với triều đình Huế bằng
cách phong tỏ kinh tế, cắt đường vận chuyển lương thực. Nhìn xa hơn, chiếm
được Gia Định thực dân Pháp sẽ có điều kiện bành trướng nhanh chóng sang
Cao Miên và xa hơn nữa lên phía Bắc”[67; tr.09].
Thực hiện âm mưu này, ngày 02 tháng 02 năm 1859, Pháp đem 2000
quân với 8 tàu chiến tiến đánh Gia Định. Ngày 17 tháng 02 năm 1859, Pháp
chiếm được thành. Đại bộ phận quân đội triều đình Huế, rút về các vùng nông
thôn xung quanh Sài Gòn để cố thủ và cô lập quân đội Pháp.
Trước sự cô lập về mọi mặt từ phía quân đội triều đình và nhân dân
vùng Gia Định đã đẩy quân đội viễn chinh Pháp lâm vào tình thế hết sức khó
khăn và thiếu thốn. Nhà sử học Philippe Devillers đã ghi chép về tình cảnh
hết sức hiểm nghèo của quân đội Pháp như sau: “Họ (chỉ quân đội Pháp) phải
đóng giữ ở đây suốt tám tháng từ tháng 04 cho đến tháng 12 năm 1859, ở
giữa các đầm lầy, mặc dù bị sốt rét, kiết lỵ, bệnh thiếu sinh tố, thổ tả, bị bao
20
vây và nóng bức, không kể bị thương vong vẫn chiến đấu chống lại các cuộc
tấn công không ngừng của quân Annam”[65; tr.96].
Đứng trước khó khăn đó, ngày 22 tháng 02 năm 1860, đô đốc Page
tuyên bố mở cửa cảng Sài Gòn, cho phép thương nhân được tự do ra vào buôn
bán. Hành động này của Page nhằm mục đích thoát khỏi sự cô lập từ phía
quân đội triều đình. Tìm kiếm các “khoản thuế” để trang trải khó khăn cho
quân đội Pháp. Đồng thời còn nhằm thăm dò tiềm năng thương mại của xứ
Nam Kỳ để xây dựng xứ này trở thành trung tâm thương mại hàng đầu ở vùng
Viễn Đông trong tương lai. Sau cùng là cắt đứt sự tiếp tế lương thực từ Nam
Kỳ về triều đình Huế, các tỉnh miền Trung và miền Bắc đang xảy ra nạn đói.
Đô đốc Page đã thành công trong ý đồ của mình. Giá lúa, gạo nhanh
chóng tăng vọt từ 1frs ăn 40 lít lúa nay tăng lên tới 3frs [65; tr.112]. Giá lúa,
gạo tăng đã kích thích lòng tham của bọn thương lái Huê kiều len lỏi về các
miền nông thôn, xa xôi, hẻo lánh mà quân đội triều đình khó kiểm soát để thu
mua lúa, gạo chở về Sài Gòn phục vụ xuất khẩu. Hậu quả là làm cho lúa, gạo
không thể chuyên chở ra các tỉnh miền Bắc và miền Trung được. Dẫn đến giá
lúa gạo tại các tỉnh miền Trung và miền Bắc tăng cao. Đẩy nơi đây lâm vào
nạn đói nghiêm trọng, làm cho triều đình Huế phải gặp nhiều khó khăn, khốn
đốn.
Mặt khác, việc mở cửa thương cảng Sài Gòn còn mang về cho Pháp
một nguồn thu nhập to lớn. Nhờ có nguồn thu này, quân đội viễn chinh Pháp
mới có thể cầm cự lâu dài, trước sự chống trả quyết liệt của quân đội triều
đình và thoát khỏi tình thế bị bao vây, cô lập. Theo số liệu thống kê của
Phòng Thương mại, việc mở cửa thương cảng Sài Gòn cho hoạt động mua,
bán quốc tế đã mang cho Pháp tổng số tiền thuế là 20.000.000frs [88; tr.154].
Với nguồn thu nhập tài chính to lớn này, trong phút chốt hình ảnh Nam
Kỳ bỗng hiện ra trước mắt các đô đốc Pháp. Đó là một nền thương mại sầm
21
uất vào loại bậc nhất ở Viễn Đông. Một căn cứ chiến lược quan trong mà
nước Pháp cần phải chiếm lấy nó. Từ nó (chỉ Nam Kỳ) nước Pháp sẽ mở rộng
phạm vi ảnh hưởng của quốc gia mình ra khu vực và trên thế giới. Do đó đã
thúc đẩy các đô đốc Pháp cũng cố hơn nữa giã tâm xâm chiếm vùng đất này.
Điều này đã được các đô đốc Pháp thú nhận: “sự quan trọng của Sài Gòn đối
với nền thương mại Pháp ở Viễn Đông bỗng hiện ra rõ nét và đồng thời tính
cách của cuộc xung đột cũng biến đổi”[65; tr.99].
Về phía triều đình Huế, từ sau thất trận ở Kỳ Hòa (02-1861) và hành
động phong tỏ lúa, gạo của các đô đốc Pháp ra các tỉnh miền Trung và miền
Bắc đã gây cho triều đình nhiều tai hại. Lúa, gạo không thể chuyên chở ra các
tỉnh này được. Kết quả là làm cho giá lúa, gạo tại đây tăng cao. Kéo theo đó là
nạn hạn hán, mất mùa, đói kém,… xảy ra ở khắp mọi nơi. Sử quán triều
Nguyễn đã chép rằng “tháng 07 năm 1861, một đoàn bốn mươi nhân vật cao
cấp đến trình bày với nhà vua về thảm họa mà dân chúng phải chịu đựng vì bị
phong tỏa gạo nếu không thương lượng với người Pháp”[65; tr.112]. Trầm
trọng thêm của cuộc khủng hoảng lương thực là cuộc nổi loạn của Lê Duy
Phụng ở ngoài Bắc. Cuộc nổi loạn này lớn đến mức đã đánh bại nhiều đạo
quân tinh nhuệ của triều đình phái ra. Duy Phụng còn âm mưu lôi kéo cả Pháp
và Tây Ban Nha đang chiếm đóng Sài Gòn giúp ông ta lật đổ triều đình Huế
và hứa rằng nếu thành công ông sẽ đặt “nước Annam dưới sự bảo hộ của
Pháp - một thứ vương quốc thần quyền”[65; tr.125].
Đứng trước những khó khăn đó đã buộc triều đình Huế ký kết hòa ước
ngày 05 tháng 06 năm 1862 với các đô đốc Pháp, cắt nhường ba tỉnh miền
Đông Nam Kỳ cho Pháp chiếm đóng, nhằm tranh thủ thời gian hòa hoãn để
giải quyết những khó khăn trước mắt. Đồng thời còn để củng cố lực lượng
đánh Pháp sau này. Như vậy ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ chính thức đã lọt
vào tay người Pháp. Từ ba tỉnh này người Pháp bắt đầu xây dựng cơ sở để
22
phục vụ cho sự nghiệp chinh phục Việt Nam ở những giai đoạn sau mà trước
hết là ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ.
Để làm được điều này, Pháp cho xây dựng và cải tạo lại nền hành chính
của vùng đất này. Mặt khác, tăng cường lực lượng để chiếm nối ba tỉnh còn
lại. Sau thất bại của phái đoàn Phan Thanh Giản trong việc chuộc lại ba tỉnh
miền Đông Nam Kỳ tại Paris, càng củng cố hơn nữa quyết tâm đánh chiếm ba
tỉnh còn lại của các đô đốc Pháp. Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng ngày
20 tháng 06 năm 1867, Pháp đem quân đến bao vây thành Vĩnh Long. Trước
sức mạnh quân sự và khí giới vượt trội của quân đội Pháp đã buộc đại diện
của triều đình Huế - Kinh Lược sứ Phan Thanh Giản phải đầu hàng. Cắt
nhường ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cho Pháp. Đến đây công cuộc chinh phục
Nam Kỳ của thực dân Pháp xem như đã hoàn thành. Nam Kỳ từ vùng đất
“độc lập”, “có chủ quyền” dưới sự trị vì của Vương triều Nguyễn. Bây giờ đã
trở thành vùng đất “thuộc địa” dưới ách thống trị của thực dân Pháp.
Dưới sự cai trị của Pháp, bộ mặt Nam Kỳ đã có nhiều chuyển biến quan
trọng. Từ vùng đất hoang vu, sình lầy, thưa thớt dân cư,… chỉ trong mấy chục
năm ngắn ngủi Nam Kỳ đã trở thành một trung tâm thương mại hàng đầu của
cả xứ Đông Dương. Tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế Nam Kỳ phát triển theo
hướng sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đặt nền móng để Nam Kỳ xây dựng hệ
thống tài chính, tín dụng ở những giai đoạn sau.
1.3. Những điều kiện thúc đẩy sự ra đời các tổ chức Ngân hàng
1.3.1. Về kinh tế
Sau khi chiếm được Nam Kỳ từ tay triều đình Huế, không đợi đến lúc
thực dân Pháp đánh chiếm toàn bộ Việt Nam thì Pháp mới xây dựng nền kinh
tế Nam Kỳ, trái lại, ngay từ buổi đầu lúc đánh chiếm Nam Kỳ Pháp đã tiến
hành quy hoạch nền kinh tế Nam Kỳ theo hướng sản xuất tư bản chủ nghĩa để
23
phục vụ cho xuất khẩu. Trước lúc đem quân xuống đánh Nam Kỳ các đô đốc
Pháp đã được “Ủy ban đặc biệt về xứ Cochinchine”[65; tr.22] cung cấp thông
tin về những nguồn lợi mà xứ Nam Kỳ hiện có. Những nguồn lợi này sẽ giúp
ít rất nhiều cho nền thương mại Pháp ở Viễn Đông. Theo Ủy ban thì xứ Nam
Kỳ có hai mặt hàng chính để xuất khẩu là gạo và cá khô. Chính vì vậy khi vừa
chiếm được Gia Định các đô đốc Pháp đã vội vàng cho mở cửa thương cảng
Sài Gòn để cho thuyền bè các nước được tự do ra vào buôn bán. Kết quả là
chỉ trong thời gian ngắn từ 1860 - 1867, Pháp đã thu được một lượng tiền thuế
khổng lồ. Theo báo cáo của đô đốc De la Grandière tổng thu nhập bằng thuế
của xứ Nam Kỳ vào năm 1864 như sau:
- Thuế trự thu: 1.475.000 frs;
- Thuế gián thu: 1.290.709 frs;
- Thu nhập địa ốc: 206.000 frs;
- các thu nhập khác: 10.000 frs;
Tổng cộng: 2.981.709 frs [9; tr.149]
Trong khi đó, Luro lại cho rằng toàn bộ thu nhập của thuộc địa vào
năm 1864 là 6.291.000 frs [65; tr.279]. Chênh lệch rất lớn so với báo cáo của
đô đốc Pháp. Còn tờ La Patrie dự đoán rằng toàn bộ thu nhập Nam Kỳ sẽ
vượt con số 5.000.000 frs vào năm 1865 và đạt tới 7.000.000 frs vào năm
1866 [9; tr.149].
Những con số thống kê trên tuy khác nhau nhưng nó chứng tỏ tiềm
năng thương mại của xứ Nam Kỳ là rất lớn. Nhờ có tiềm năng thương mại
này nước Pháp sẽ phô diễn được kỹ - nghệ của quốc gia mình ở vùng Viễn
Đông. Qua đó, sẽ mang về nhiều nguồn lợi cho chính quốc. Vì vậy đã thôi
thúc các đô đốc Pháp tiến hành nghiên cứu cải tạo lại nền kinh tế Nam Kỳ để
phục vụ cho ý đồ trên.
24
Trước hết các đô đốc Pháp cho tiến hành quy hoạch lại thành phố Sài
Gòn nhằm để thu hút dân cư đến sinh sống và thu hút các nhà sản xuất đến
làm ăn, mua bán nơi đây. Ngày 11 tháng 04 năm 1861, đô đốc Charner ban
hành Nghị định quy hoạch và thành lập thành phố Sài Gòn “thành phố mới
này sẽ rộng rãi với 2500 hecta và được thiết kế để một ngày nào đó sẽ có
500.000 ngàn người sinh sống ở đây”[65; tr.272]. Trung tá Coffyn được giao
nhiệm vụ phát họa quy hoạch thành phố mới. Sau kế hoạch này, nhiều đường
phố, bệnh viện, nhà cửa của người dân đã bắt đầu mọc lên. Các bến cảng
không ngừng được cải tạo và nâng cấp phục vụ cho việc chuyên chở hàng hóa
để xuất khẩu. Hệ thống trường học để đào tạo đội ngũ công chức, viên chức
phục vụ cho chế độ mới cũng đã hình thành và đi vào hoạt động. Nhiều
xưởng kỹ nghệ đã xuất hiện. Mật độ dân cư sinh sống ở Sài Gòn bắt đầu tăng
nhanh đáng kể. Theo số liệu thống kê tính tới thời điểm năm 1906 dân số toàn
Nam Kỳ là hơn 3.000.000 triệu người [67; tr.42]. Nhờ vậy đã làm cho bộ mặt
thành phố Sài Gòn có sự văn minh hiện đại của một đô thị mang dáng dấp
phương Tây.
Tiếp sau việc quy hoạch thành phố Sài Gòn là việc khuyến khích các
nhà sản xuất, những kỹ nghệ gia từ các nước đến làm ăn sinh sống tại Nam
Kỳ. Phần lớn trong số họ chủ yếu đến từ các nước Singapore, Hồng Kông,
Thượng Hải, Mã Lai,… Một số khác chiếm tỷ lệ nhỏ hơn là các thương gia
người Đức, người Anh và người Hoa Kỳ. Thương gia người Pháp chiếm tỷ lệ
rất ít.
Chính quyền Thuộc địa còn bán những mảnh ruộng với giá rẽ cho các
nhà sản xuất để họ xây dựng các cơ sở phục vụ cho sản xuất, kinh doanh.
Ngày 20 tháng 02 năm 1863, đô đốc Bonard ban hành Nghị định cho bán
những khoảnh ruộng trong thành phố Sài Gòn [65; tr.273]. Kết quả là chỉ
25
trong thời gian ngắn toàn bộ đất đai quanh Sài Gòn đã được các nhà sản xuất,
kinh doanh hầu như mua hết.
Bên cạnh đó, Chính quyền Thuộc địa còn cấp đất cho các công ty để họ
tiến hành sản xuất được dễ dàng và thuận lợi. Năm 1870, Nhà nước Thuộc địa
đã cấp 150 mẫu đất cho nhà máy sản xuất đường ở Biên Hòa do Kresser làm
giám đốc để công ty này trồng mía nguyên liệu [9; tr.427]. Công ty Taillefer
được Nhà nước Thuộc địa bán 36 mẫu với giá 70 đến 80 frs đất canh tác ở Cù
lao Năm thôn, 300 mẫu đất còn lại được Nhà nước nhường quyền cho quản lý
[9; tr.429].
Nhờ có các chính sách này nên chỉ trong thời gian ngắn, Nam Kỳ đã
thu hút được một số lượng lớn các nhà sản xuất, kinh doanh từ khắp các nước
trên thế giới tụ họp về đây. Theo ghi chép của Phòng Thương mại Pháp tại
Nam Kỳ tính tới thời điểm năm 1874, toàn Nam Kỳ có được các cơ sở sản
xuất phục vụ cho xuất khẩu sau:
- Hai nhà máy xay xát lúa, một thuộc hãng Renard và Spooner và nhà
máy khác thuộc hãng Cahezac de Bordeaux do Lheman làm đại diện.
- .Một nhà máy sản xuất nước đá của Cazaux và Salvain.
- Một nhà máy làm nước uống có gaz của Gueldre.
- Một xưởng kéo sợi ở Chợ Lớn của Francfort và Samuel.
- Một nhà máy đường ở Biên Hòa do Kresser điều hành [9; tr.427].
Bên cạnh các cơ sở sản xuất trên, còn có các nhà buôn lớn có chi nhánh
tại Sài Gòn như:
- Nehr et Cie: Hiệp hội nhập khẩu-xuất khẩu và ngân hàng.
- Kaltenbach, Engler et Cie: Hiệp hội nhập khẩu và xuất khẩu.
- Pohl, Openheimer: Mặt hàng mới - hàng hóa Paris.
- Anh em nhà Cahuzac: Hiệp hội xuất khẩu [9; tr.238].
26
Cùng với các hãng sản xuất này còn có hoạt động thương mại của
người Hoa và người Ấn cũng góp phần quan trọng vào sự năng động của nền
kinh tế Nam Kỳ. Người Hoa chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực buôn bán, ẩm
thực, đông dược, á phiện, sòng bạc,… và đặc biệt là cho vay nặng lãi đã làm
cho người dân Nam Kỳ gặp nhiều điêu đứng. Người Ấn Độ chuyên mua bán
trong mặt hàng vải sợi và cho vay. Một số địa chủ người Việt cũng tham gia
vào hoạt động buôn bán.
Nhìn chung, tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, mua bán trên đã góp
phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế Nam Kỳ trong thời gian
đầu. Nhờ vậy đã giúp cho Nhà nước Thuộc địa Pháp tại Nam Kỳ thu về
những khoản lợi nhuận kết sù. Theo Luro, thu nhập của Nam Kỳ vào năm
1874 là 14 triệu frs [65; tr.279]. Trong khi đó, học giả Trương Bá Cần thì cho
rằng thu nhập của Nam Kỳ là 14.492.000frs [9; tr.444]. Số tiền to lớn này
chứng tỏ tiềm năng thương mại của Nam Kỳ là đáng kể. Nếu biết quy hoạch
và đầu tư khai thác hợp lý, trong tương lai Nam Kỳ sẽ trở thành trung tâm
thương mại của toàn xứ Đông Dương và vùng Viễn Đông.
Bên cạnh những thành công bước đầu thì nền thương mại Nam Kỳ
cũng bọc lộ nhiều yếu kém và sự trì truệ. Biểu hiện của tình trạng này là sự
thiếu nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh. Phần lớn các doanh nghiệp, các
nhà sản xuất đang làm ăn sinh sống tại Nam Kỳ có số vốn không lớn lắm nên
khó lòng mở rộng quy mô sản xuất. Hậu quả là chỉ trong thời gian ngắn đã có
hàng lọt các công ty, xí nghiệp tại Nam Kỳ phải đóng của. Nhà máy sợi của
Francfort và Samuel hoạt động vào tháng 07 năm 1869 với 130 công nhân
buộc phải ngưng hoạt động vào năm 1874 vì thiếu vốn. Cũng trong năm 1874
đánh dấu sự sụp đổ của nhà máy đường Biên Hòa do Kresser làm giám đốc
[9; tr.427]. Tiếp sau đó là đến lược công ty Taillefer. Công ty này ra đời và
hoạt động vào tháng 10 năm 1866, tại Cù lao Năm thôn. Sau một thời gian
27
hoạt động không mấy hiệu quả, công ty buộc phải bán lại cho Trần Bá Lộc [9;
tr.429-430].
Trước sự sụp đổ của hàng loạt các công ty vì thiếu nguồn vốn để sản
xuất đã khiến cho Nhà nước Thuộc địa Pháp tại Nam Kỳ phải quan ngại. Nhà
nước thuộc địa Pháp đã phải thừa nhận rằng “nhìn chung sau 10 năm khai
thác thuộc địa, nỗ lực kỹ nghệ hóa Nam Kỳ vẫn không đáng kể: kết quả là số
không” [9; tr.428]. Trong khi đó, đại diện Ủy ban Nông nghiệp và Kỹ nghệ
Nam Kỳ - Linh mục Legrand de La Lyraie đã phải cay đắng khi nói lên
những lời lẽ như thế này: “Một nhà máy đường lớn tại Biên Hòa, một khu vực
trồng mía bao la bát ngát; một cơ sở nông nghiệp ở Long Thành và xung
quanh Sài Gòn; thật tốn công vô ích khi thiết lập cơ sở nông nghiệp ở Long
Thành và xung quanh Sài Gòn; thật phí công vô ích khi nói tới nghề nhuộm
chàm thủ công ở vùng cao Vĩnh Long, tới trại nuôi tằm, kéo sợi, hong kén”
[9; tr.428].
Để cứu nguy cho tình trạng đó, Nhà nước Thuộc địa Pháp tại Nam Kỳ
đã đề ra nhiều biện pháp nhằm tìm kiếm nguồn vốn để hỗ trợ cho các doanh
nghiệp, xí nghiệp đang gặp khó khăn nơi đây. Biện pháp trước mắt mà Nhà
nước Thuộc địa Pháp tại Nam Kỳ thường làm là giảm thuế cho các xí nghiệp,
doanh nghiệp đang gặp khó khăn tại Nam Kỳ. Quyết định ngày 03/03/1868,
giảm 33% thuế đất trồng mía cho các xí nghiệp. Quyết định ngày 03/11/1871,
giảm từ 10frs xuống còn 4frs/1hecta đất trồng cây dâu tằm phục vụ cho xuất
khẩu [9; tr.439].
Sau các biện pháp giảm thuế là các cuộc triển lãm, tổ chức các kỳ Đấu
xảo tại Sài Gòn về giống cây trồng, về các mặt hàng lợi thế của Nam Kỳ, về
cơ hội đầu tư và làm ăn nơi đây để thu hút thương nhân các nước. Theo
nghiên cứu của học giả Trương Bá Cần, Nhà nước Thuộc địa Pháp tại Sài
28
Gòn đã tổ chức được ba kỳ Đấu xảo vào các năm 1866, 1867 và 1874 [9;
tr.439].
Song song với các biện pháp trên Nhà nước Thuộc địa Pháp tại Nam
Kỳ còn dùng hình thức khen thưởng để động viên các xí nghiệp đang gặp khó
khăn. Ngày 06 tháng 01 năm 1873, Nhà nước Thuộc địa tại Nam Kỳ đã khen
thưởng cho nhà máy sợi tại Chợ Lớn do Francfort và Samuel làm chủ với số
tiền là 6.000frs và 4.000frs vì đã cố gấn để cứu nhà máy khỏi ngưng hoạt
động. Tiếp sau đó đến ngày 13 tháng 01 năm 1873, khen thưởng cho Blanchy
và Agaisse với số tiền là 10.000frs và 5.000frs với lý do: họ là những người
đầu tiên thí nghiệm trồng café tại Nam Kỳ, nay khích lệ họ vì những nổ lực đã
thực hiện [9; tr.439].
Mặt khác Nhà nước Thuộc địa còn dùng tới chiến dịch truyền thông,
báo chí để đánh bóng về sự hấp dẫn của nền thương mại Nam Kỳ nhằm lôi
kéo, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đến mua bán. Tờ La Gazette de
France số ra ngày 05/11/1864 đã có bài bình luận như sau về tiềm năng
thương mại của xứ Nam Kỳ: “Nam Kỳ và cảng Sài Gòn, nó không những là
một vị trí quân sự và chính trị rất quan trọng mà còn có thể trở thành kho
chứa hàng ở vùng Viễn Đông, tâm điểm giao thương các khu vực xa xôi đổ
vào và từ đó tỏa ra khắp nơi. Vả lại nhờ có nó, nhờ có nguồn lợi nó đem lại,
nhờ ở sự màu mỡ đặc biệt của đất đai, nhờ ở sự đa dạng của sản phẩm, Nam
Kỳ sẽ là phần đất sở hữu quý giá nhất. Hiện nay với nền nông nghiệp chưa
hoàn thiện, nó vẫn xuất khẩu được một lượng gạo lớn và theo một cách nào
đó, các nước đặc biệt là Nhật Bản sẽ lệ thuộc vào nguồn cung cấp này. Nam
Kỳ còn sản xuất hương liệu, mía đường; nó có gỗ quý để xây dựng và nó trù
phú tới mức đã có thể đủ cung cấp cho chính mình”[9; tr.150]. Trong khi đó
tờ Le Constitutionnel ngày 03 tháng 12 năm 1863 viết rằng: “Cảng Sài Gòn
là điểm hẹn của tàu bè từ Ấn Độ tới Trung Hoa, nó nằm giữa Singapore và
29
Hồng Kông, nó cung cấp những nông sản dồi dào và đa dạng, từ mảnh đất
màu mỡ, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới thuận lợi, việc vận chuyển hàng hóa dễ
dàng, nhờ những kênh, gạch thiên nhiên chằng chịt khắp xứ”[9; tr.145]. Tất
cả những việc làm trên của Nhà nước Thuộc địa Pháp không thu được kết quả
khả quan lắm. Nền kinh tế Nam Kỳ nhìn chung vẫn bị trì truệ và lạc hậu. Đô
đốc Dupré đã phải thừa nhận rằng “tình trạng đình đốn về mặt kinh tế tại
Nam Kỳ những khó khăn ấy là tình trạng thiếu vốn”[9; tr.439].
Trước thực trạng đó để cứu vãn kinh tế Nam Kỳ khỏi lâm vào tình cảnh
trên, Nhà nước Thuộc địa Pháp đã vận động Chính phủ Pháp cho thành lập
một ngân hàng tín dụng giành cho xứ thuộc địa Nam Kỳ (thường được gọi là
Ngân hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine)). Ngân hàng Đông Dương
ra đời vào ngày 21 tháng 01 năm 1875 là nhằm đáp ứng nguyện vọng đó. Sau
khi Ngân hàng Đông Dương ra đời, ngân hàng đã không phụ lòng của Nhà
nước Thuộc địa Pháp, ngân hàng đã không ngừng cung cấp tín dụng cho các
công ty, xí nghiệp đang gặp khó khăn về nguồn vốn để mở rộng hoạt động sản
xuất. Sau sự ra đời của ngân hàng Đông Dương là hàng lọt các ngân hàng
khác cũng bắt đầu xuất hiện. Những ngân hàng này, cũng góp phần không
nhỏ vào việc cung cấp tín dụng cho nền kinh tế Nam Kỳ. Nhờ vậy, Nhà nước
Thuộc địa Pháp đã rất dễ dàng tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa ở đất
nước ta trên quy mô lớn trong các lần 1897-1918 và 1918-1945, nhằm vơ vét
tài nguyên, thiên nhiên làm giàu cho chính quốc.
Như vậy, từ việc thiếu nguồn tín dụng trong sản xuất, kinh doanh đã
làm cho nền kinh tế Nam Kỳ lâm vào khủng hoảng trì truệ trong thời gian dài.
Cuộc khủng khoảng này đã đẩy các công ty, xí nghiệp tại Nam Kỳ ngấp nghé
bên bờ vực phá sản. Giữa lúc đó, Ngân hàng Đông Dương ra đời và kéo theo
đó là sự xuất hiện của hàng loạt các ngân hàng thương mại khác đã mang đến
30
niềm hy vọng mới cho kinh tế Nam Kỳ. Thúc đẩy quá trình khai thác thuộc
địa của Pháp tại Việt Nam diễn ra một cách nhanh chóng.
1.3.2. Về chính trị
Sau khi chiếm được Nam Kỳ từ tay triều đình Huế, Chính quyền Thuộc
địa Pháp ráo riết cho tổ chức lại bộ máy hành chính để phục vụ cho việc cai
trị lâu dài. Công việc trước tiên của Nhà nước Thuộc địa là đào tạo một đội
ngũ công chức, viên chức làm việc cho chế độ mới. Để thực hiện được điều
này, đô đốc Charner cho thành lập “một trường thông ngôn để dạy tiếng Việt
cho người Pháp và một trường khác để dạy tiếng Pháp cho người Việt; Ông
tặng 30 suất học bổng cho những người trúng tuyển tại các làng khác nhau
theo học”[9; tr.411]. Đến thời của đô đốc Bonard, số học bổng được tăng lên
con số 100. Và đến ngày 30 tháng 01 năm 1862 ông cũng thêm học bổng cho
các thiếu nữ trường Thánh Nhi, trường Mồ côi [9; tr.411].
Bên cạnh đó, nhiều nghị định được ban hành để thành lập các trường
trong toàn cõi Nam Kỳ nhằm tăng việc đào tạo đội ngũ công chức, viên chức
cho Nhà nước. Nghị định ngày 31 tháng 03 năm 1863 quy định “tại mỗi tỉnh
có Đốc học, phủ có Giáo thụ, huyện có Huấn đạo, chế độ thi cử cũ cũng được
hồi phục”[9; tr.412]. Nghị định ngày 16 tháng 07 năm 1864, cho phép thành
lập các Trường Tiểu học tại các Trung tâm hành chính quan trọng nhất để dạy
chữ Quốc ngữ cho trẻ em trong vùng. Đến cuối năm 1864 đã có 20 trường
học đi vào hoạt động [9; tr.412].
Theo sau việc đào tạo đội ngũ công chức, viên chức cho Nhà nước
Thuộc địa là việc soạn lại hệ thống văn bản hành chính và chia lại địa giới các
tỉnh tại Nam Kỳ cho dễ bề cai trị. Khi Pháp vừa chiếm được Nam Kỳ, các đô
đốc Pháp đã rất lúng túng khi nhận thấy rằng hầu hết người dân sống tại Nam
Kỳ không hề biết đến các thủ tục văn bản hành chính của Nhà nước nên việc
31
điều hành công việc của Chính quyền gặp rất nhiều khó khăn. Đứng trước
thực tế đó Pháp đã “đồng hóa về mặt hành chính, sửa đổi lề lối làm việc cùng
là cách soạn thảo văn bản,…”[57; tr.153].
Riêng về địa giới hành chính các tỉnh, thành phố, trước lúc Pháp đánh
chiếm Nam Kỳ, toàn Nam Kỳ dưới thời vua Minh Mạng được chia làm 6 tỉnh trên một diện tích hơn 600.000 km2, với tổng số dân khoản 1.678.000 người, mật độ dân cư trung bình là 28 người/km2 [9; tr.440]. Chứng tỏ dân số Nam
Kỳ lúc bấy giờ chiếm tỷ lệ rất thấp. Đến khi Pháp xâm chiếm Nam Kỳ và đưa
Nam Kỳ vào ghuồng máy khai thác, bóc lột. Nhà nước Thuộc địa Pháp tại
Nam Kỳ đã nhận thấy cần gia tăng hơn nữa dân số tại Nam Kỳ. Nhà nước
Thuộc địa đã đề ra những biện pháp nhằm gia tăng dân số như: di dân từ các
tỉnh miền Bắc và miền Trung vào Nam Kỳ, kêu gọi người Pháp và người
Châu Âu đến sinh sống và làm việc tại Nam Kỳ, cấp giấy phép cư trú cho
người Hoa và người nước ngoài (chủ yếu là Đông Nam Á) đến định cư và làm
việc tại đây,… Những biện pháp này, một phần nào đó đã thể hiện được tính
tích cực là gia tăng dân số Nam Kỳ trong thời gian ngắn. Theo số liệu của
Tổng cục Điều tra Dân số Nam Kỳ, tính tới thời điểm năm 1926, toàn Nam
Kỳ có 3.935.000 người [67; tr.44]. Sự gia tăng dân số này, đòi hỏi việc quản
lý hành chính về mặt Nhà nước cũng gặp nhiều khó khăn hơn trước, khi địa
giới hành chính cũ vẫn còn giữ nguyên như thời nhà Nguyễn. Trước thực
trạng đó, Nhà nước Thuộc địa đã chia lại địa giới hành chính Nam Kỳ để dễ
dàng quản lý. Theo đó, Nam Kỳ được chia làm 20 tỉnh gồm: “Bạc Liêu, Bà
Rịa, Bến Tre, Biên Hòa, Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công,
Hà Tiên, Long Xuyên, Mỹ Tho, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng, Tân An, Tây
Ninh, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, và Vĩnh Long. Có 2 thành phố: Sài Gòn là
thành phố cấp I và Chợ Lớn là thành phố cấp II”[43; tr.100].
32
Việc phân chia lại địa giới hành chính các tỉnh, thành phố của Nam Kỳ
đã làm gia tăng số lượng đội ngũ công chức, viên chức điều hành công việc
của Nhà nước Thuộc địa lên. Kéo theo đó, là vấn đề lương, bổng trả cho đội
ngũ này cũng không ngừng gia tăng. Theo sắc lệnh ngày 27-01-1886, tiền
lương mà Nhà nước Thuộc địa chi trả cho các công chức, viên chức người
Pháp như sau: “Công sứ hạn nhất 25.000frs/năm; hạng nhì 20.000frs/năm
cộng với kinh phí công vụ. Phó công sứ hạng nhất 15.000frs/năm; Chưởng ấn
9.000frs/năm. Nhân viên ở Tòa công sứ tùy theo hạng: 6.000; 5.000 và
4.500frs/năm. Lương của Thống sứ là 150.000frs/năm, cộng với 50.000frs
kinh phí giao tế. Lương tháng trung bình của một công nhân Pháp thời đó là
150frs, tức là 1.800frs/năm”[65; tr.442]. Còn tiền lương và phụ cấp lương của
một viên Tổng đốc người Việt được Nhà nước Thuộc địa trả là 300 đồng
Đông Dương tương ứng với 750frs [43; tr.103]. Ngoài tiền lương chi trả cho
các công chức, viên chức trên, thành phần này còn có những khoản “phụ cấp”
và “trợ cấp” khác khá lớn. Phần lớn những khoản phụ cấp này đều trích từ
kinh phí của ngân sách Đông Dương, chủ yếu là ngân sách của Nam Kỳ. Đây
là những khoản tiền bẩn thiểu mà Nhà nước Thuộc địa Nam Kỳ bóc lột nhân
dân Nam Kỳ để đáp ứng cho sự chi tiêu xa xỉ của bộ máy. Sự chi tiêu này
nhiều đến mức, một nghị sĩ Pháp sau khi đã về hưu phải thốt lên rằng “so với
bọn viên chức thuộc địa thì những tên cướp đường còn là những người lương
thiện”[43; tr.104]. Tất cả những khoản chi tiêu khổng lồ này, nằm ngoài khả
năng kết toán của ngân sách thuộc địa. Do đó. đòi hỏi phải có sự ra đời của
các ngân hàng để đảm bảo các hoạt động tín dụng cho Nhà nước Thuộc địa.
Ngoài việc đào tạo đội ngũ công chức, viên chức và phân chia lại địa
giới hành chính các tỉnh, thành,… giờ đây bộ máy Nhà nước Thuộc địa cũng
bắt đầu phình to ra. Đẩy việc chi tiêu công của Nhà nước Thuộc địa tại Nam
Kỳ tăng nhanh chóng. Theo sắc lệnh ngày 08 tháng 02 năm 1880 của Tổng
33
thống Pháp, “xứ Nam Kỳ là đất thuộc địa không có quan hệ phụ thuộc vào
Nam triều”[43; tr.100]. Chính sắc lệnh này đã đưa đến việc tổ chức lại bộ
máy hành chính Nhà nước Nam Kỳ hoàn toàn tách biệt và khắc hẳn so với bộ
máy nhà nước của triều Nguyễn. Theo đó, Nam Kỳ thành lập Hội đồng Thuộc
địa có nhiệm vụ tư vấn về các vấn đề thuế má, thu, chi ngân sách tại Nam
Kỳ,… gồm 16 thành viên 10 người Pháp; 4 người Việt mang quốc tịch Pháp
và 2 đại biểu một của Phòng Thương mại và một của Hội đồng tư vấn [43;
tr.100].
Đứng đầu xứ Nam Kỳ là Thống đốc, giúp việc cho Thống đốc là: Hội
đồng Tư vấn; Hội đồng Hình sự; Phòng Thương mại thành lập năm 1868;
Phòng Canh nông năm 1897; các công sứ người Pháp đứng đầu các tỉnh,
thành,… Riêng đối với các tỉnh, thành phố có thêm Sở Tham biện, Hội đồng
hàng tỉnh, Sở Địa lý; các Tri phủ; Tri huyện. Bộ máy chính quyền ở các làng,
xã vẫn giữ nguyên không có gì thay đổi. Với hệ thống các cơ quan hành chính
mới mà Nhà nước Thuộc địa tại Nam Kỳ xây dựng lên đã đẩy nền tài chính
Nam Kỳ luôn luôn thiếu hụt, buộc Nhà nước Thuộc địa phải phát hành “trái
phiếu Chính phủ” để huy động vốn từ khu vực tư nhân. Vì vậy, thúc đẩy các
ngân hàng nhanh chóng ra đời đảm nhận việc chi tiêu công cho Chính phủ
Nam Kỳ.
Như vậy với hệ thống bộ máy hành chính mới tại Nam Kỳ, chúng ta
thấy rằng, thực dân Pháp đã hoàn thiện bước đầu bộ máy cai trị tại Nam Kỳ.
Hệ thống hành chính mới phức tạp và cồng kềnh hơn bộ máy hành chính cũ
dưới thời nhà Nguyễn. Nhờ vậy đảm bảo cho thực dân Pháp dễ dàng kiểm
soát được tình hình của các tỉnh. Xử lý công việc cũng trơn tru và nhanh
chóng hơn. Tuy nhiên, kéo theo ưu điểm đó, là việc chi tiêu công cũng không
ngừng phì to ra theo tiến độ. Đây là một cơ hội tốt để các ngân hàng ra đời,
34
giúp cho việc chi tiêu của Chính phủ Thuộc địa được nhanh chóng dễ dàng và
thuận lợi.
1.3.3. Về an ninh - quốc phòng
Bên cạnh việc chi tiêu cho bộ máy hành chính, việc chi tiêu cho an ninh
- quốc phòng tại Nam Kỳ cũng không ngừng gia tăng, có khi còn nhiều hơn
việc chi tiêu của bộ máy công vụ. Ngay từ buổi đầu xâm chiếm Nam Kỳ,
Pháp đã nhận được một đạo quân tình nguyện của Huỳnh Công Tấn, Đỗ Hữu
Phương và Trần Bá Lộc cùng một số quân đội tay sai khác, giúp Pháp đánh
lại quân đội triều đình và phong trào chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ. Đổi
lại, Pháp phong tặng quân hàm, cấp bậc và trả lương bổng cho đạo quân này.
Số tiền mà Pháp chi trả cho đạo quân này còn lớn hơn là lương, bổng mà triều
đình Huế chi trả cho các tướng lãnh của mình. Theo ghi nhận của nhà nghiên
cứu Luro tiền lương mà triều đình Huế trả cho đội ngũ quan lại của
mình:“một vị tổng đốc được lĩnh mỗi tháng 25 quan tiền (25 frs) và chừng
200kg gạo. Một quan phủ được 4 tiền và quan huyện 3 tiền và khoảng 100kg
gạo”[65; tr.278]. Trong khi đó tiền mà Pháp trả cho một quân nhân theo Nghị
định ngày 21-11-1868 của đô đốc Ohier ký ban hành là:
- Đại úy chỉ huy 8.000frs/năm;
- Trung úy 6.000frs/năm;
- Thiếu úy 5.000frs/năm;
- Trung úy bản xứ 3.600frs/năm;
- Thúy úy bản xứ 3.000frs/năm [94; tr.32].
Nhìn vào bảng lương trên ta thấy số tiền lương mà Pháp trả cho quân
nhân là rất lớn so với số tiền lương mà triều đình Huế trả cho các tướng lãnh
của mình. Nó lớn đến mức nào?
35
Theo các tài liệu mà chúng tôi thu thập được và qua tìm hiểu của chúng
tôi. Dưới triều Nguyễn, phần lớn tiền tệ dùng trong hoạt động buôn bán trên
đất nước ta là đồng bạc Mexique cân nặng 24,44421 gram, với hàm lượng bạc
nguyên chất hơn 90% [88; tr.152]. Đồng bạc này được triều Nguyễn cho ấn
định tỷ giá so với tiền tệ của nước ta là “7 tiền 2 phân theo hệ thống đo lường
của Đại Nam”[88; tr.223]. Vào thời đó, mệnh giá tiền tệ của nước ta là: quan,
tiền, đồng. Theo mệnh giá này thì: 1 quan = 10 tiền; 1 tiền = 60 đồng. Suy ra
1 quan = 600 đồng. Mệnh giá này có từ đời vua Lê Thái Tông và được giữ
nguyên cho đến triều Nguyễn [88; tr.67]. Cách quy đổi một đồng bạc
Mexique nặng hơn 24 gram, sang tiền tệ của nước ta được triều Nguyễn quy
đổi như sau: 7 x 60 đồng = 420 đồng. Cộng thêm 2 phân = 12 đồng (vì 1 tiền
= 10 phân; cho nên 2 phân = 0,2 tiền; suy ra 0,2 x 60 đồng = 12 đồng). Như
vậy, một đồng bạc Mexique sẽ được triều Nguyễn định giá là: 432 đồng (420
đồng + 12 đồng).
Còn theo bảng lương mà chúng ta thấy ở trên, Nhà nước Thuộc địa trả
lương cho quân đội tính bằng đơn vị đồng phrăng (kí hiệu: frs) chứ không
phải là đồng bạc Mexique. Đồng frs của Pháp vào thời điểm này (1861-1870)
có trọng lượng 25 gram [88; tr.260]. Nếu chuyển đổi giữa đồng bạc Mexique
sang đồng frs Pháp, ta thấy tỷ giá quy đổi xê xích nhau không bao nhiêu.
Đồng nghĩa với việc đồng frs Pháp cũng được định giá là: 432 đồng.
Vào thời điểm bấy giờ, nền kinh tế Nam Kỳ nhìn chung vẫn còn rất lạc
hậu, tiền tệ đưa vào lưu thông chiếm tỷ lệ rất ít. Do bị khang hiếm về tiền tệ
cho nên giá cả sinh hoạt ở vào mức rất thấp. Vì vậy, tiền tệ rất có giá trị đối
với Nam Kỳ. Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Thăng trong Tiền tệ Việt
Nam theo dòng lịch sử vào thời năm 1910, “chỉ với 1 xu mua được một gói
xôi to tướng 2 người ăn. Giá gạo lúc đó là 2 cắc (20 xu) một giạ 40 lít
gạo”[83; tr.328]. Tác giả còn cho biết thêm giá trị của tiền qua lời kể mà tác
36
giả ghi lại từ chú ruột của mình như sau: “khi còn nhỏ chú của tác giả phải
leo cau mướn cho chủ điền để lấy tiền công. Hãy hình dung một đứa bé trai
12 tuổi, nhỏ thó, leo thoăn thoắt lên cây cau khẳng khiu cao vòi vọi gần 10
thước, một tay cắt lấy buồng cao trên 100 trái, nặng độ 4 kg và khéo léo luồn
vào sợ dây để thòng xuống đất rồi mới tuột xuống sau. Muốn cho mau để còn
leo cây khác, có khi đứa bé ước lượng khoảng cách giữa hai cây cau gần
nhau, có thể túm tàu lá của cây kia để… đu qua. Trên cây cau gần 10 thước,
đứa trẻ phải phóng mình qua cây kia cho chính xác (nấu xẩy tay là rồi đời)
người đứng dưới đất yếu tim không dám nhìn cảnh tượng cây cao nghiên qua
nghiên lại và đứa bé ôm chặt cây cau như con nhái bén ôm cành sậy. Nếu đứa
trẻ không có gan như vậy, cứ tuột xuống gốc cậy để rồi lại leo lên cây bên
cạnh thì mất thì giờ. Leo cao nguy hiểm như thế, mấy bà nhà giàu trả công có
1 xu cho 5 buồng cau (phải leo 5 cây cao mới được 1 xu) vậy mà đám trẻ
nghèo ở quê cứ xin… leo. Chú tôi cũng như mấy đứa bé khác, mỗi buổi chiều
vuốt vuốt cái bụng trầy da vì tuột lên tuột xuống cây cau mốc trắng để chỉ
được 2, 3 xu là nhiều lắm, rồi nâng niu xỏ xâu đồng xu đồng nhỏ bé, tiền tạo
ra bằng mồ hôi, sức lực của mình”[83; tr.329].
Như vậy, qua số liệu được phân tích trên, ta thấy rằng mỗi tháng quan
lại triều đình Huế chỉ nhận được vào khoản 2,5 quan tiền (đối với quan Tổng
đốc). Vị chi một năm họ lãnh khoản 30 quan tiền, tương đương khoảng
42frs/năm. Với số tiền này, các quan Tổng đốc của ta làm sao đủ sống khi mà
nhu cầu chi tiêu của họ luôn ở mức cao? Trong khi đó, Nhà nước Thuộc địa
Nam Kỳ trả lương cho quân đội 667frs/tháng (giành cho Đại úy chỉ huy). Chỉ
một tháng lương của một quân nhân Pháp cũng đã gấp mấy “năm lương” của
quan Tổng đốc triều đình. Bên cạnh tiền lương trả cho quân đội hàng tháng,
Nhà nước Thuộc địa còn tài trợ thêm các khoản phụ cấp khác cho quân đội
được quy định như sau:
37
- 1 Đại úy 600$/người;
- 2 Hạ sĩ quan 200$/người;
- 4 Hạ sĩ 100$/người;
- 2 Lính kèn 100/người [94; tr.77].
Với số tiền lương và các khoản phụ cấp to lớn này, lý giải vì sao có
nhiều quân lính triều đình Huế sẵn sàng đào ngũ sang “phò tá” quân Pháp sau
khi Pháp hạ xong thành Gia Định. Tiêu biểu trong số đó là đạo quân tình
nguyện của Huỳnh Công Tấn, Đỗ Hữu Phương và Trần Bá Lộc. Đến năm
1879, Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers được sự chấp thuận của Tổng
thống Pháp đã ký sắc lệnh cho phép Nam Kỳ thành lập Trung đoàn Lính tập
Annam (Régiment des Tirailleurs Annamites - RTA) gồm 2 tiểu đoàn với 9
đại đội, sau đó tăng lên 3 tiểu đoàn với 12 đại đội, mỗi đại đội từ 200 đến 250
người [94; tr.80]. Tổng cộng quân số của Trung đoàn Lính tập này là 2137
người [94; tr.96].
Sự ra đời của Trung đoàn Lính tập Nam Kỳ, đánh dấu một bước tiến
lớn trong việc hoàn thành mục tiêu phòng thủ Nam Kỳ của Nhà nước Thuộc
địa Pháp. Ngăn ngừa được sức mạnh quân sự của triều đình Huế muốn tái
chiếm lại vùng đất này. Đồng thời đẩy nhanh quá trình xâm chiếm Bắc Kỳ và
đất nước ta trong thời gian tới. Tuy nhiên sự ra đời của Trung đoàn Lính tập
Nam Kỳ cũng đặt nhiều thách thức đối với ngân sách Nam Kỳ. Do đó, thúc
đẩy các khoản vay tín dụng của Nhà nước Thuộc địa không ngừng gia tăng.
Ngoài tiền lương chi trả hàng tháng, Nhà nước Thuộc địa còn tài trợ
thêm “quân trang” và “quân dụng” cho quân nhân để lực lượng này nâng cao
khả năng tác chiến chống lại sự uy hiếp từ phía quân đội triều đình. Sau khi
chiếm được Nam Kỳ, mối bận tâm lớn nhất của các đô đốc Pháp, là sự hiện
diện quân sự của quân đội triều đình ở tỉnh Bình Thuận. Điều đó đã đe dọa
đến nền an ninh thuộc địa mà Pháp đã cố gắn xây dựng được trong mấy năm
38
nay. Sự hiện diện quân sự này đã khiến cho các đô đốc Pháp không thể nào
yên tâm được. Xuất phát từ thực tế đó đã buộc Nhà nước Thuộc địa phải xây
dựng lại lực lượng quân đội bản xứ theo hướng chính quy và hiện đại để tăng
cường khả năng chiến đấu chống lại quân đội triều đình. Muốn làm được điều
đó, bên cạnh việc trả lương cao, Nhà nước Thuộc địa còn phải bao cấp luôn
quân trang và quân dụng cho quân nhân. Chính vì vậy đã có một loạt quyết
định được các đô đốc Pháp ký ban hành quy định về vấn đề này. Quyết định
ngày 20 tháng 01 năm 1864, của đô đốc De La Grandière cấp 20frs cho mỗi
quân nhân may quân phục [94; tr.36]. Đến ngày 22 tháng 01 năm 1877, Nhà
nước Thuộc địa lại ban hành quyết định quy định đồng phục của quân đội
thuộc địa và giao cho nhà thầu Morice & Bailly ở Sài Gòn may trang phục
cho quân đội. Theo đó, trang phục của quân nhân là “1 áo dạ xanh đậm, 2 áo
cụt vải trắng, 1 khăn đóng đen, 1 quai nón đỏ. Riêng dây lưng đỏ và nón có
chop đồng lồi cao 5 cm thì do làng cung cấp”[94; tr.37]. Về vũ khí trang bị
cho quân nhân thì theo Jauréguiberry vào tháng 8 năm 1880, vũ khí trang bị
cho quân đội là 2.412 khẩu carabine kiểu năm 1874, cùng với phụ tùng, bao
đạn, dây đeo,… 100 viên đạn cho mỗi khẩu. Ngoài ra còn có 70 súng lục với
2500 đạn [94; tr.96].
Như vậy với các quyết định được ban hành, chúng ta thấy Nhà nước
Thuộc địa đã tiêu tốn rất nhiều tiền từ ngân sách thuộc địa để chi cho nền
quốc phòng của Nam Kỳ. Sự chi tiêu này nằm ngoài khả năng của Nhà nước
Thuộc địa. Do đó kích thích các khoản vay tín dụng Chính phủ Thuộc địa
không ngừng gia tăng.
Song song với việc tài trợ cho quân đội, Chính quyền Thuộc địa còn
cho thành lập lực lượng cảnh sát người Việt để bảo vệ an ninh, trật tự trong
xứ. Lực lượng cảnh sát này có những đặc điểm sau:
39
- Binh lính người Việt không nằm trong lực lượng quân đội chính quy
đều thuộc quyền tối cao của Thống đốc Nam Kỳ.
- Số binh lính này được tuyển lựa như binh lính chính quy. Thống đốc
Nam Kỳ ấn định số lượng cảnh sát cho từng tỉnh.
- Chức năng của lực lượng này là đảm bảo an ninh trật tự cho từng tỉnh,
canh giữ các công sở, các tuyến đường giao thông,… Khi có chiến tranh có
thể chuyển từng phần hay toàn bộ lực lượng sang chính quyền quân sự [43;
tr.106].
Tiếp đó, sau khi thành lập Liên bang Đông Dương ngày 28 tháng 06
năm 1917, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cho thành lập Sở Tình báo
và An ninh Trung ương (Service central de Renseignement et de Sûreté
Générale) còn gọi là Sở Mật thám Đông Dương. Theo đó, phân bổ cho Nam
Kỳ một cơ quan mang tên Cảnh sát An ninh (Police de Sûreté) . Cơ quan này
có nhiệm vụ “theo dõi ngăn ngừa tất cả các hành động có tính chất chống
đối, điều tra, truy lùng thủ phạm và cùng giới cầm quyền đàn áp các vụ nổi
loạn”[43; tr.107]. Sự ra đời của lực lượng cảnh sát này đã mang lại hiệu quả
cao trong việc gìn giữ an ninh - trật tự của Nam Kỳ. Tuy nhiên kéo theo đó là
gánh nặng ngân sách cho Nam Kỳ ngày một tăng lên.
Theo các tài liệu mà chúng tôi thu thập được, hiện vẫn chưa có số liệu
chính xác nói về các khoản chi tiêu lương, bổng, phụ cấp,… mà Chính phủ
Thuộc địa trả cho lực lượng này. Tuy nhiên theo Nghị định ngày 24 tháng 04
năm 1863 của đô đốc Bonard quy định rằng: “trao cho quan phủ hoặc huyện
50 lính Lê, hoặc Mã tà để làm cảnh sát”[9; tr.409]. Nếu căn cứ vào Nghị định
ngày 24 tháng 04, chúng ta thấy rằng một bộ phận lính Lê dương và lính Mã
tà nằm trong quân đội thuộc địa được chuyển thành lực lượng cảnh sát. Xét
bảng lương của lính Lê dương và lính Mã tà trong biên chế của quân đội thì
40
tiền lương của lực lượng cảnh sát (chỉ lính Lê dương và Mã tà) được Chính
phủ Thuộc địa trả như sau:
- Đội I tính tròn mỗi năm lãnh 480frs;
- Đội II tính tròn mỗi năm lãnh 420frs;
- Cai và Thư lại mỗi năm lãnh 360frs;
- Cai II mỗi năm lãnh 300frs;
- Lính mỗi năm lãnh 240frs [94; tr.37].
Còn phụ cấp của lực lượng cảnh sát được Nghị định tháng 08 năm
1879, quy định như sau:
- Sĩ quan:
+ Quản I 38$/tháng ($: ký hiệu của đồng bạc Đông
Dương);
+ Quản II 33$/tháng;
+ Phó Quản I 25$/tháng;
+ Phó Quản II 22$/tháng;
- Hạ sĩ quan và Binh sĩ:
+ Đội I 10$/tháng;
+ Đội II 9$/tháng;
+ Thư lại I 7$/tháng;
+ Thư lại II 6,5$/tháng;
+ Cai I 6,2$/tháng;
+ Lính I 5,5$/tháng;
+ Lính II 5$/tháng;
+ Lính kèn 5,8/tháng [94; tr.38].
Như vậy, với tiền lương và các khoản phụ cấp chi, trả cho quân đội và
lực lượng cảnh sát tại Nam Kỳ để bảo vệ an ninh - trật tự tại đây, quả là một
chi phí đắc đỏ. Nó ngốn gần hết ngân sách Nam Kỳ làm cho Chính phủ Thuộc
41
địa phải không ngừng đi vay các khoản tín dụng mới từ phía các ngân hàng.
Đó là nguồn gốc để các ngân hàng ra đời và phát triển nhằm tìm kiếm lợi
nhuận trên xương, máu của nhân dân Nam Kỳ.
1.3.4. Về xã hội
Sau khi Pháp đánh chiếm Nam Kỳ đã làm cho đời sống xã hội tại đây
có nhiều xáo trộn. Số người thiệt mạng trong các cuộc kháng chiến chống
Pháp là một nguyên nhân khiến cho dân số Nam Kỳ giảm đáng kể. Mặt khác,
đây là một vùng đất mới, còn hoang vu, chưa được nhiều người khai phá nên
dân số ở đây tương đối thưa thớt. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Lê vào
năm 1865 “số dân đinh ở ba tỉnh miền Đông là 36.000 người. Khi thực dân
Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây (1867), dân số Nam Kỳ có khoảng
447.000 người. Đến năm 1873, tổng dân số Lục tỉnh là 1.500.000 người”[35;
tr.161]. Một nghiên cứu khác của Trương Bá Cần cho rằng dân số Nam Kỳ
vào thời điểm trước 1879 là 1.678.000 người. Số dân này sống rải rác trên một diện tích 600.000 km2, mật độ dân cư là 28 người/km2 [9; tr.440]. Nhà
nghiên cứu Nguyễn Thế Anh lại đưa ra số liệu: dân số Nam Kỳ vào năm 1870
là dưới 2.000.000 người [4; tr.207].
Nhìn vào các số liệu trên chúng ta thấy rằng các học giả đưa ra số liệu
gần như chính xác. Kỳ thực mà nói, suốt trong thời kỳ thống trị của các đô
đốc, chưa có một cuộc tổng điều tra dân số nào được thực hiện nghiêm chỉnh.
Phần lớn các số liệu mà chúng ta ghi nhận ở trên là các báo cáo của các làng
gửi về các chủ tỉnh. Sau đó tỉnh phê duyệt rồi trình báo về trên. Các báo cáo
này không thể tránh khỏi những bao che, giấu giếm tình hình dân cư của làng
để khỏi bị đánh thuế nặng, cũng như tránh cho con em trong làng khỏi bị bắt
lính. Nhưng dù sao nó cũng phản ánh được thực trạng của dân số Nam Kỳ
42
như lời của học giả Trương Bá Cần từng nói: dân số Nam Kỳ quá ít, sống rải rác trên một diện tích 600.000 km2, với mật độ dân cư là 28 người/km2.
Số lượng dân cư ít ỏi này đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế
Nam Kỳ, làm cho nền kinh tế Nam Kỳ suốt trong một thời gian dài (1867 -
1874) lâm vào khủng hoảng, trì truệ vì thiếu nhân công. Để giải quyết bài
toán này, Chính phủ Thuộc địa đã dùng nhiều biện pháp can thiệp để cải tạo
tình hình dân số Nam Kỳ. Một mặt Nhà nước Thuộc địa dùng dư luận Pháp
để đánh bóng về vùng đất mới nhằm kêu gọi di dân chính quốc sang cư ngụ
tại Nam Kỳ. Trong công trình nghiên cứu của Charles Lemire với tác phẩm
Cochinchine Française royaume de Cambodge royaume d’Annam et Tonkin
đã dùng những từ ngữ tốt đẹp nhất để ca ngợi tiềm lực giàu có của Nam Kỳ
mà nhân dân Pháp cần nắm lấy như sau: “Lục tỉnh có 440.000 ha ruộng,
trong khi đó những cơ sở của chúng ta tại Ấn Độ chỉ có 16.097 ha. Hằng
ngày những thửa ruộng mới ra đời tại Nam Kỳ. Mặt khác còn một diện tích
lớn trước đây được canh tác nay bị bỏ hoang chỉ chờ có hạt giống để sinh
hoa trái và một người chủ để gặt hái”[51; tr.174].
Để tăng nhanh dân số tại chỗ, Chính phủ Thuộc địa ban hành một số
Nghị định về việc khẩn hoang tại Nam Kỳ nhằm thu hút lưu dân đến khai phá.
Nghị định ngày 22 tháng 08 năm 1882, định rằng “ngoại trừ những đất đã
canh tác rồi hoặc đất thổ cư thì đất thổ công cho trưng khẩn không, tức là
không bán lại thành tiền. Muốn khẩn thì làm đơn, ghi diện tích, ranh giới rồi
đóng thuế”;
- Nghị định ngày 15-10-1893 quy định rằng “đất trưng khẩn không
được ăn dài theo mé kinh, mé sôn rạch quá ¼ của chu vi sở đất nhằm tránh
trường hợp người tham, chỉ khẩn đất phía mặt tiền kinh rạch, đất mặt tiền thì
luôn có giá trị hơn đất hậu bối”;
43
- Nghị định ngày 11-11-1914 của Thống đốc Nam Kỳ quy định rằng
“đất ruộng chỉ cấp với điều kiện là đem đấu giá công khai hoặc theo thể thức
thuận mãi”;
- Nghị định ngày 27 tháng 12 năm 1913, quy định “những người trong
một gia đình chỉ có thể xin cấp cho không (khỏi mua) một lần dứt khoát tối đa
là 300 mẫu”[57; tr.216-217].
Theo sau những Nghị định khuyến khích việc khẩn hoang là hoạt động
cải tạo kênh, rạch và đắp đường giao thông tại Nam Kỳ để giúp cho việc đi lại
được dễ dàng, cũng như, giúp tháo mặn, rữa phèn được nhanh chóng. Các con
kênh mới được đào trong thời kỳ này gồm: kinh Trà Ết, kinh Xà No, Kinh
Long Mỹ-Bassac, kinh Thốt Nốt, kinh Thới Lai, kinh Cái Vồn, kinh Phụng
Hiệp,… Về đường xá thì có đường từ Sài Gòn đi Biên Hòa, Thủ Dầu Một, từ
Sài Gòn đi Tây Ninh, từ Sài Gòn đi Mỹ Tho, từ Sa Đéc đi Vĩnh Long, Trà
Vinh đi Tiểu Cần, Sóc Trăng đi Bạc Liêu, Cần Thơ đi Long Xuyên,…
Mặt khác, Chính phủ Thuộc địa cho di dời người dân từ các tỉnh phía
Bắc tới cư trú tại Nam Kỳ. Theo thống kê, trung bình, mỗi năm có khoảng
25.000 người từ Bắc Kỳ hay Trung Kỳ tới lập cư trong những vùng đất mới
của miền Nam [4; tr.208]. Song song với biện pháp này, Nhà nước Thuộc địa
còn ban hành một số chính sách quy định về nhập cư và định cư để thu hút
ngoại kiều từ các nước khác kéo đến. Nghị định ngày 11 tháng 08 năm 1862
quy định Hoa kiều muốn làm ăn sinh sống lâu dài tại Nam Kỳ phải có giấy
phép cư trú do Chính quyền thuộc địa cấp và phải đóng thuế hàng năm là 1$
hay 5,5frs Pháp. Nghị định ngày 1 tháng 11 năm 1863 cũng quy định tương tự
như trên nhưng tăng mức thuế lên 2$, tức 11frs Pháp. Đến thời của đô đốc
Dupré thì bỏ hẳn việc cấp phép cư trú cho người Hoa và bắt họ đóng thuế như
người Việt phân theo thứ hạn lớn, nhỏ [9; tr.442]. Như vậy với Nghị định này
các quan Thống đốc của Nhà nước Thuộc địa Nam Kỳ đã mặc nhiên xác nhân
44
sự hiện diện của người Hoa là hợp pháp trên đất Nam Kỳ. Từ đây người Hoa
có đầy đủ quyền công dân giống như người Việt tại Nam Kỳ.
Sau hàng loạt các biện pháp được triển khai trên của Nhà nước Thuộc
địa đã thu hút một làng sóng di cư ồ ạt người nước ngoài vào định cư tại Nam
Kỳ. Theo ghi nhận của Nguyễn Thế Anh, số Hoa kiều sinh sống ở Nam Kỳ
vào năm 1931 lên tới 400.000 người; năm 1943 là 466.000 người. Còn số
kiều dân Pháp chỉ có số liệu chung là 30.000 người vào 1937 cho toàn Việt
Nam. Số lượng Ấn kiều là bao nhiêu tác giả không đề cập tới. Chỉ nói người
Ấn kiều chuyên kinh doanh mặc hàng vải sợi và cho vay tiền tại Nam Kỳ [4;
tr.208].
Còn theo bảng số liệu về thành phần dân cư của Nam Kỳ vào năm 1916
thì ghi nhận về số người nước ngoài đến cư trú như sau:
- Người Minh hương: 56.540 người;
- Người Khmer và các dân tộc ít người khác: 242.157 người;
- Người Hoa: 173.706 người;
- Người Ấn, Mã Lai, Java,…: 10.133 người;
- Người Pháp: 6.023 người [67;
tr.57].
Qua bảng số liệu về số người cứ trú tại Nam Kỳ, chúng ta thấy rằng dân
số Nam Kỳ đã có sự gia tăng rõ rệt. Nếu tính luôn dân số địa phương thì dân
số của Nam Kỳ vào thời điểm năm 1916 là 3.179.816 người [67; tr.43] và số
dân cư này sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Như vậy với số lượng dân cư
trên chứng tỏ các biện pháp của Chính phủ Thuộc địa đã phần nào phát huy
tác dụng. Nhờ số dân cư này đã giúp cho nền kinh tế Nam Kỳ nhanh chóng
thoát ra khỏi tình trạng trì truệ trong thời gian dài.
Sự gia tăng dân số này là một tin vui đối với Nhà nước Thuộc địa.
Nhưng kéo theo đó là các vấn đề xã hội mà Chính phủ Thuộc địa cần giải
45
quyết. Trước hết là vấn đề “y tế” và “giáo dục”. Về y tế, ngay từ lúc Pháp mới
đánh chiếm Nam Kỳ, Pháp đã cho xây dựng một bệnh viện quân y ở Chợ
Quán - Sài Gòn (1864) dùng để chữa trị cho quân đội và những người nào đã
quy hàng quân Pháp. Bệnh viện này tiếp tục duy trì và hoạt động cho đến thời
kỳ cai trị của toàn quyền Albert Sarraut. Tuy nhiên sự gia tăng dân số Nam
Kỳ đã làm cho bệnh viện quá tải. Đứng trước yêu cầu chữa trị ngày càng
nhiều của nhân dân, năm 1914, Toàn quyền Albert Sarraut ban hành Nghị
định cho thống nhất tổ chức y tế và vệ sinh. Nhờ có Nghị định này mà chỉ
trong thời gian ngắn đã có “25 bệnh viện toàn khoa, 104 trung tâm y khoa,
170 bệnh xá, 105 chuẩn y viện, 221 nhà hộ sinh, 43 trung tâm chuyên môn;
còn tổ chức vệ sinh thì do các Viện Pasteur điều khiển”[4; tr.210-211]. Tất cả
các cơ sở khám chữa bệnh này, đã góp phần không nhỏ vào việc khám, chữa
bệnh cho nhân dân Đông Dương, trong đó có Nam Kỳ. Điểm đặc biệt trong
các cơ sở y tế tại Đông Dương nói chung và Nam Kỳ nói riêng là “các cơ
quan y tế và vệ sinh là những cơ quan miễn phí mà không một tổ chức y tế
nào ở Đông Nam Á thời bấy giờ có thể bì kịp”[4; tr.211]. Điều đó có chính
xác không khi đại bộ phận nhân dân Nam Kỳ sống ở nông thôn chưa từng
được tiếp cận với các dịch vụ y tế ngày nào?! Tuy nhiên, nếu đây là sự thật thì
nó sẽ mang lại lợi ích cho nhân dân nhưng đồng thời cũng gánh nặng đối với
ngân sách thuộc địa.
Về lĩnh vực giáo dục cũng có sự phát triển hơn trước. Do dân số tăng
nhanh đã làm cho việc quản lý hành chính tại địa phương gặp nhiều khó khăn
và lỏng lẻo. Trong khi đó, số lượng công chức, viên chức nhà nước chẳng có
bao nhiêu nên không thể đáp ứng đủ yêu cầu quản lý hành chính với dân số
hơn 3 triệu người. Mặt khác, sự gia tăng dân số đã làm cho một bộ phận nhỏ
nhân dân Nam Kỳ ăn nên làm ra và trở nên giàu có. Do đó nhu cầu học vấn
cho con em tầng lớp này luôn được họ quan tâm và chú trọng. Trước thực
46
trạng đó, Chính phủ Thuộc địa đã cho mở mang, xây dựng thêm các trường
công lập nhằm tìm kiếm nguồn nhân lực phục vụ cho việc cai trị và đáp ứng
nhu cầu học tập của người dân. Nghị định ngày 16 tháng 07 năm 1864 của đô
đốc De la Grandière cho phép thành lập “các Trường tiểu học tại các Trung
tâm hành chính quan trọng nhất để dạy chữ Quốc ngữ cho trẻ con trong
vùng”[9; tr.412]. Nhờ có nghị định này, toàn Nam Kỳ đã xây dựng được 57
trường học, với 1.328 em học sinh theo học ở các cấp [9; tr.413]. Đến cuối
năm 1872 số trường học tăng lên 108 trường và số học sinh tại Nam Kỳ là
2.059 em (năm 1875) [9; tr.416]. Như vậy với số lượng trường, lớp trên đã
làm cho Chính phủ Thuộc địa phải tiêu hao một lượng lớn ngân sách hàng
năm. Sự tiêu tốn này không ngừng gia tăng dưới thời cai trị của các quan
Toàn quyền.
Năm 1906, quan toàn quyền Paul Beau cho thiết lập Hội đồng Cải thiện
Giáo dục Bản xứ (Conseil de Perfectionnement de l’Enseignment Indigène)
nhằm tìm kiếm những học sinh ưu tú, xuất sắc để đào tạo thành đội ngũ công
chức, viên chức Nhà nước. Đến thời của toàn quyền Albert Sarraut sự chi tiêu
cho giáo dục được đẩy mạnh hơn bằng việc ban hành “pháp chế giáo dục”
(Code de l’Instruction publique) [4; tr.216]. Theo pháp chế này, Chính phủ
Liên bang muốn nâng cao vị thế của nền giáo dục Mẫu quốc đến công chúng
người Việt, trong đó có Nam Kỳ nhằm đồng hóa người dân Nam Kỳ trở thành
người Pháp. Để đạt được mục đích này, Chính phủ Thuộc địa cho sắp xếp lại
hệ thống trường, lớp, đưa tiếng Pháp vào giảng dạy từ “bậc sơ đẳng tiểu
học”[4; tr.216] và đem nền học thuật phương Tây vào giảng dạy tại Nam Kỳ.
Sự ra đời của “pháp chế giáo dục” là một bước tiến lớn trong hệ thống giáo
dục của Pháp tại Đông Dương. Nó giúp cho nền giáo dục Đông Dương, trong
đó có Nam Kỳ dễ dàng tiếp thu được với những thành khoa học - kỹ thuật tiên
tiến của phương Tây để phục vụ nhanh cho công cuộc khai thác thuộc địa của
47
Pháp. Tuy nhiên để xây dựng pháp chế giáo dục, nó đã làm việc chi tiêu của
Chính phủ Thuộc địa không ngừng gia tăng.
Ngoài hai lĩnh vực “y tế” và “giáo dục” mà Chính phủ Thuộc địa buộc
phải chi tiêu ngân sách. Sự gia tăng dân số Nam Kỳ còn tác động đến công tác
quy hoạch đô thị, xây dựng đường xá, cung cấp các trang thiết bị, điện,
nước,… Tất cả những tác động đó, đẩy việc chi tiêu của Chính phủ Thuộc địa
không ngừng gia tăng.
Ở khía cạnh kinh tế, sự gia tăng dân số Nam Kỳ đã giúp cho nền kinh tế
có nhiều khởi sắc. Lực lượng lao động tại chỗ trở nên dồi dào và rẽ mạt đủ để
cung cấp cho các nhà máy, xí nghiệp, đồn điền. Nhờ có lực lượng lao động
này, các công ty, xí nghiệp tại Nam Kỳ ăn nên làm ra. Các giao dịch mua bán
diễn ra thường xuyên và ngày càng nhiều. Những phi vụ mua bán này, đòi hỏi
phải có một nguồn tài chính lớn để cung cấp cho thị trường. Vì vậy đã kích
thích sự nảy mầm của các ngân hàng tại Nam Kỳ để đảm nhiệm trọng trách
kích cầu kinh tế nơi đây.
Như vậy, sự gia tăng dân số tại Nam Kỳ đã tác động đến đời sống kinh
tế - xã hội tại đây. Ở lĩnh vực công, là sự chi tiêu ngày càng nhiều cho các cơ
sở y tế và giáo dục, cùng với các khoản chi tiêu xây dựng khác. Điều đó đã
làm cho Chính phủ Thuộc địa gặp nhiều khó khăn về ngân sách. Ở lĩnh vực tư
nhân là sự ăn nên làm ra của các công ty, xí nghiệp đang hoạt động tại Nam
Kỳ nhờ vào lượng lao động dồi dào và rẽ mạt do dân số Nam Kỳ gia tăng, đã
giúp cho các hoạt động giao dịch, mua bán được diễn ra thường xuyên hơn.
Do đó nhu cầu về tiền tệ dùng trong mua bán ngày càng to lớn. Vì vậy đã kích
thích các ngân hàng nối tiếp nhau ra đời đảm nhận trọng trách cho vay.
*
Nữa cuối thế kỷ XIX, Nam Kỳ từ một vùng đất “độc lập”, “có chủ
quyền” dưới sự trị vì của Vương triều Nguyễn trở thành một vùng đất “thuộc
48
địa” dưới ách cai trị của thực dân Pháp. Quá trình chuyển tiếp này, đã tạo điều
kiện giúp cho nền kinh tế Nam Kỳ phát triển nhanh chóng. Nam Kỳ dần vươn
lên trở thành một trung tâm kinh tế - tài chính hàng đầu của Pháp ở vùng Viễn
Đông.
Sau khi đánh chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp đã bắt tay ngay vào
việc xây dựng và quy hoạch lại nền kinh tế Nam Kỳ theo hướng sản xuất tư
bản chủ nghĩa để phục vụ cho mục tiêu xuất khẩu, thu về lợi nhuận cho chính
quốc. Để làm được công việc này, thực dân Pháp cho cãi tạo lại thành phố Sài
Gòn nhằm thu hút dân cư đến làm ăn, sinh sống. Kêu gọi các nhà sản xuất,
kinh doanh, giới thương gia các nước trong khu vực và trên thế giới đến Nam
Kỳ mở chi nhánh. Dùng báo chí để quản bá tiềm năng thương mại của thuộc
địa mới chiếm đóng; cho tổ chức các hội chợ triển lãm để giới thiệu các mặt
hàng thế mạnh của Nam Kỳ,... Những cố gắn này của thực dân Pháp đã được
đền đáp xứng đáng. Thuộc địa Nam Kỳ nhanh chóng thu hút được các nhà sản
xuất, kinh doanh, giới thương gia đến làm ăn, mua bán và đặt trụ sở tại đây.
Nhờ vậy đã giúp cho nền kinh tế bản xứ có điều kiện mở mang, phát triển.
Tuy nhiên, do thiếu nguồn vốn dùng trong các hoạt động sản xuất, kinh
doanh đã làm cho các nhà sản xuất, kinh doanh tại đây gặp rất nhiều khó
khăn, túng thiếu. Do đó đã làm cho nền kinh tế Nam Kỳ bị trì truệ trong suốt
thời gian dài, gây ảnh hưởng đến tiến độ khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp. Vì vậy, đã tạo điều kiện để Ngân hàng Đông Dương ra đời giúp cho nền
kinh tế Nam Kỳ phát triển.
Song song với những thành quả bước đầu, thực dân Pháp còn cho tổ
chức lại hệ thống chính trị - hành chính của thuộc địa để cai trị nhân dân bản
xứ. Theo đó, xứ Nam Kỳ được chia ra làm 20 tỉnh, đứng đầu mỗi tỉnh là một
viên công sứ người Pháp. Giúp việc cho viên công sứ có: Hội đồng hàng tỉnh,
Sở Tham biện, Nha Địa lý,... Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn cho thành lập
49
các trường công lập để đào tạo đội ngũ công chức, viên chức phục vụ cho nhu
cầu cai trị của chúng. Với việc tổ chức lại hệ thống chính trị - hành chính của
thuộc địa đã làm cho bộ máy chính quyền thực dân Pháp tại Nam Kỳ phình to
ra. Kéo theo đó, là vấn đề lương bổng, phụ cấp và trợ cấp cho đội ngũ công
chức, viên chức này ngày một gia tăng, làm cho ngân sách Nam Kỳ luôn thiếu
hụt trong việc chi tiêu công.
Bên cạnh việc tổ chức lại hệ thống chính trị - hành chính cho thuộc địa,
vấn đề tăng cường chi tiêu cho ngân sách quốc phòng - an ninh để đảm bảo
trật tự trị an và phòng thủ Nam Kỳ trước hiểm họa đánh chiếm trở lại của
triều đình Huế và các cường quốc tư bản khác, luôn được thực dân Pháp quan
tâm chú ý tới. Vì vậy, sau khi đã bình định xong các cuộc khởi nghĩa của
nhân dân ta, thực dân Pháp đã gấp rút cho thành lập ra Trung đoàn lính tập
Nam Kỳ để bảo vệ thuộc địa. Mặt khác, Pháp cho thành lập Sở Cảnh sát để ổn
định trật tự trị an và dễ bề đàn áp các cuộc phản kháng của nhân dân ta. Sự ra
đời của những tổ chức này, đã làm cho việc chi tiêu ngân sách Nam Kỳ không
ngừng gia tăng. Do đó, tạo điều kiện để các ngân hàng ra đời đáp ứng nhu cầu
chi tiêu của Chính phủ Thuộc địa.
Ngoài việc chi tiêu cho bộ máy công quyền và nền quốc phòng - an
ninh của thuộc địa, ngân sách Nam Kỳ còn gánh vác luôn việc đài thọ cho
lĩnh vực y tế và giáo dục của bản xứ. Trước sự gia tăng nhanh chóng của dân
số thuộc địa đã làm cho các cơ sở y tế tại Nam Kỳ luôn trong tình trạng quá
tải. Do đó để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, chính quyền
thực dân Pháp đã cho xây dựng thêm nhiều bệnh viện, cơ sở y tế để phục vụ
cho việc khám, điều trị. Song song đó, thực dân Pháp còn cho xây dựng mới
hệ thống các trường lớp để đáp ứng nhu cầu học tập của con em các gia đình
giàu có nhằm lôi kéo tầng lớp này đi theo thực dân Pháp. Với việc đài thọ cho
các lĩnh vực trên, đã làm cho ngân sách Nam Kỳ luôn thiếu thốn. Vì vậy, đã
50
kích thích sự nảy mầm của các ngân hàng tại Nam Kỳ để đảm bảo công tác
cho vay.
51
CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ HỐNG NGÂN HÀNG TẠI NAM KỲ (1875 -1945)
2.1. Sự thành lập Ngân hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine)
Có thể nói, Ngân hàng Đông Dương ra đời trong một hoàn cảnh hết sức
đặc biệt nên nó đã khoác cho mình những nghiệp vụ mà không một ngân hàng
nào của Pháp vào lúc bấy giờ có thể làm được. Muốn biết những nghiệp vụ đó
của Ngân hàng Đông Dương như thế nào, hãy tìm về sự ra đời của Ngân hàng
Đông Dương; cơ cấu tổ chức của ngân hàng này; những nghiệp vụ của ngân
hàng.
2.1.1. Hoàn cảnh và sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương tại Sài Gòn 1875
Sau khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn, các đô đốc Pháp đã ngay lập tức cho
mở cửa thương cảng Sài Gòn để thuyền bè các nước được tự do ra vào buôn
bán. Ngày 22 tháng 02 năm 1860, đô đốc Page tuyên bố cảng Sài Gòn được
mở cho sự buôn bán dân sự quốc tế [65; tr.98]. Mục đích của việc làm này là
nhằm tìm kiếm một khoản “tài chính” để trang bị lương thực, thực phẩm và
các phương tiện chiến tranh cho quân đội viễn chinh, tiếp tục cuộc chiến tranh
xâm lược xứ Nam Kỳ. Bên cạnh đó, còn nhằm thoát khỏi tình trạng bị bao
vây cô lập từ phía quân đội triều đình. Đồng thời còn để xem xét tiềm năng
“thương mại” của xứ Basse - Cochinchine đối với các lợi ích của Pháp ở vùng
Viễn Đông.
Kết quả của việc làm này đã mang lại tin tức tốt lành cho các đô đốc
Hải quân Pháp. Những con buôn Huê kiều không còn e sợ quân đội triều đình
nữa. Họ len lỏi về các thôn quê, xa xôi, hẻo lánh để thu mua lúa, gạo phục vụ
cho xuất khẩu. Theo số liệu thống kê, trong vòng bốn tháng họ đã trở về Chợ
Lớn gần 100.000 thùng thóc [65; tr.98]. Kết quả là làm cho giá lúa, gạo tại
Nam Kỳ bắt đầu tăng vọt. Theo ghi nhận của các đô đốc Pháp, trước khi xảy
52
ra trận Kỳ Hòa giá gạo tại Nam Kỳ là 40 lít ăn 1 quan tiền, bây giờ giá gạo tại
đây tăng tới 3 quan tiền (khoảng 1 phrăng vàng) [65; tr.112]. Nhờ vậy đã giúp
cho quân đội Pháp không những thoát khỏi tình trạng bị cô lập từ phía quân
đội triều đình mà còn có thêm một khoảng “ngân sách” mới đủ để chi tiêu cho
cuộc chiến tranh xâm lược.
Theo các nguồn tài liệu mà chúng tôi có được từ công trình
Cochinchine française et Royaume de Cambodge năm 1870 của học giả
Charles Lemire cho biết số thuế mà tàu bè các nước phải trả cho chính quyền
của các đô đốc Pháp để được vào thương cảng Sài Gòn mua, bán như sau:
“tàu bè vào thương cảng Sài Gòn để mua bán chỉ phải trả một khoản thuế cố
định và duy nhất là 2 frs/tôn-nô, bao gồm thuế hải đăng, thuế phù tiêu, thuế
bến, thuế cảnh sát hải cảng và thuế bỏ neo”[67; tr.64]. Nếu số liệu trên của
nhà nghiên cứu Charles Lemire là chính xác thì số thuế mà các đô đốc thu
được từ việc mở cửa thương cảng Sài Gòn là:
- Năm 1860 số tiền thu thuế là: 5.000.000frs;
- Năm 1862 số tiền thu thuế là: 20.000.000frs [88; tr.154].
Trong báo cáo của đô đốc De la Grandière gửi về Paris cho biết thu
nhập của Nam Kỳ tính tới thời điểm năm 1864 bao gồm các khoản thu sau:
- Thuế trực thu: 1.475.000 frs;
- Thuế gián thu: 1.290.709 frs;
- Thu nhập địa ốc: 206.000 frs;
- Các thu nhập khác: 10.000 frs;
Tổng cộng: 2.981.709 frs [9; tr.149].
Còn theo ghi chép của Luro thì “thu nhập của thuộc địa vào năm 1864
là 6.291.000 phrăng, đến năm 1874 đã lên tới hơn 14 triệu phrăng”[65;
tr.279].
53
Các số liệu trên tuy khác nhau, nhưng nó chứng tỏ tiềm năng thương
mại của xứ Nam Kỳ là vô cùng to lớn đối với các lợi ích thương mại của Pháp
ở Viễn Đông. Những tin tức tốt lành này nhanh chóng được truyền tải về
Paris, nó đã làm chấn động toàn bộ giới báo chí Pháp và những ai quan tâm
tới cuộc viễn chinh đang tiếp diễn nơi đây.
Tờ Le Moniteur Universel trong số báo ngày 04/01/1864 đã ca ngợi sự
giàu có của Nam Kỳ được thể hiện như sau:“Chúng ta hy vọng sẽ khai thác
được những nguồn lợi đáng kể, lấy từ gỗ, gạo, đậu phụng và những sản phẩm
khác nữa. Ở đây người ta có thể mở rộng diện tích trồng mía đường, bong thí
điểm loại này đã thành công. Vị trí Sài Gòn vô cùng thuận tiện đối với việc
neo đậu tàu bè, tránh bão, có thể coi nó như trung tâm giao dịch lớn, với
dòng nước sâu, tàu bè mạnh nhất ra vào dễ dàng, sản phẩm nội địa đổ tới
bằng thuyền bè...”[9; tr.79].
Tờ La Patrie trong số báo ngày 19/10/1864 thì đăng tải thông tin như
thế này: “Việc vận chuyển hàng hóa không ngừng gia tăng từ tháng này sang
tháng khác, chỉ nói riêng sản lượng gạo, đã lên tới hơn 50.000 tấn, tàu các
nước, đặc biệt là tàu Pháp chở đi xuất khẩu”[9; tr.146].
Còn tờ La Gazette de France số ra ngày 05/11/1864 thì viết: “Nam Kỳ
và cảng Sài Gòn, nó không những là một vị trí quân sự và chính trị rất quan
trọng mà còn có thể trở thành kho chứa hàng ở vùng Viễn Đông, tâm điểm
giao thương các khu vực xa xôi đổ vào và từ đó tỏa ra khắp nơi. Vả lại nhờ có
nó, nhờ có nguồn lợi nó đem lại, nhờ ở sự màu mỡ đặc biệt của đất đai, nhờ ở
sự đa dạng của sản phẩm, Nam Kỳ sẽ là phần đất sở hữu quý giá nhất. Hiện
nay với nền nông nghiệp chưa hoàn thiện, nó vẫn xuất khẩu được một lượng
gạo lớn và theo một cách nào đó, các nước đặc biệt là Nhật Bản sẽ lệ thuộc
vào nguồn cung cấp này. Nam Kỳ còn sản xuất hương liệu, mía đường; nó có
54
gỗ quý để xây dựng và nó trù phú tới mức đã có thể đủ cung cấp cho chính
mình,…”[9; tr.150].
Cuối năm 1864, Đô đốc De la Grandière mang về Paris cuốn Niên
giám Nam Kỳ. Trong cuốn sách này, đô đốc đã tóm lược về những thành
công của một số người Pháp và châu Âu đang làm ăn sinh sống tại đây. Do đó
đã làm cho dư luận Pháp càng thêm sôi sục. Niên giám viết:
- 06 Cơ sở xuất nhập cảng;
- 07 Văn phòng đại diện thương nghiệp;
- 16 Cửa hàng buôn bán đồ nội thất, hàng hóa Paris, rượu, đồ hộp;
- 05 Cửa hàng gia vị;
- 01 Cửa đồ đồng và sắt;
- 01 Tiệm đồng hồ;
- 02 Cửa hàng dược;
- 01 Hàng thịt;
- 03 Tiệm cà phê, tiệm ăn;
- 02 Tiệm cung cấp vật dụng nghề biển;
- 02 Phòng dịch vụ: quầy chiết khấu ngân hàng thương nghiệp;
- 01 Phòng dịch vụ du lịch;
- 01 Xưởng dệt tơ lụa chạy bằng máy hơi nước;
- 02 Khu nhượng địa dùng làm công trường khai thác;
- 04 Phòng khai thác công trình kiến trúc [9; tr.83].
Phòng Thương mại ở Hải cảng Marseille trong lá thư đề ngày
09/05/1865 gửi cho Bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa, cũng nói về tầm
quan trọng của Nam Kỳ trong nền thương mại của Pháp ở Viễn Đông. Lá thư
viết: “Việc chiếm đóng Nam Kỳ tạo điều kiện phát triển thuận lợi nhất cho
việc giao thương giữa Pháp và các nước ở vùng Viễn Đông. Nó mở ra những
chân trời mới cho ngành hàng hải nước ta và đưa ngành này thoát khỏi tình
55
trạng thua kém đáng xấu hổ, khi so sánh con số ít ỏi tàu bè của chúng ta qua
lại vùng biển Trung Hoa với tàu bè các nước khác.
Vị trí tuyệt vời của Sài Gòn, sự trù phú của xứ thuộc địa này, tầm quan
trọng của sản phẩm và giao thương lúa gạo, tính hiền hòa của dân cư, giá
nhân công rẻ, tất cả góp phần tạo nên vùng đất thuộc địa đem lại nguồn lợi
cao nhất cho nước Pháp…”[9; tr.82].
Các thông tin này là nguồn cổ vũ tinh thần vô cùng quý giá cho những
ai thích phiêu lưu mạo hiểm để tìm kiếm cơ hội hoặc có một ít vốn liếng
muốn phát tài ở xứ Basse - Cochinchine xa xôi. Chính điều đó, đã thôi thúc
người dân Châu Âu vượt đại dương để tìm đến xứ Nam Kỳ làm ăn buôn bán.
Theo nhà nghiên cứu Trương Bá Cần vào thời điểm năm 1864, xứ Nam Kỳ có
khoảng 600 người Châu Âu đang sinh sống và làm việc tại đây [9; tr.238].
Cùng với thương nhân Hoa kiều và thương nhân một số nước khác đã góp
phần không nhỏ vào sự phát triển của nền thương mại Nam Kỳ.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công bước đầu, nền thương mại Nam
Kỳ cũng bộc lộ rõ những hạn chế, yếu kém của nó, nhất là trong vấn đề “tài
trợ vốn” cho các hoạt động sản xuất nơi đây. Phần lớn người dân Nam Kỳ
chuyên sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước. Đối với nghề này đòi hỏi phải
có một “khoản tín dụng” khá lớn để trang trải cho mùa vụ và cuộc sống hằng
ngày. Muốn có được khoản tín dụng này, người nông dân phải chạy đi vay
hỏi khắp nơi và chịu một khoản lãi suất lớn. Theo học giả Philippe Devilers
trong công trình Français et Annamites Partenaires ou ennemis ? Mức lãi
suất mà người nông dân phải chịu là 36%/năm; thậm chí có khi lên đến 50% -
60%/năm [65; tr.280]. Còn trong Luận án tiến sĩ của nhà nghiên cứu Bửu Lộc
với đề tài Cho vay nặng lãi trong nông dân Việt Nam tác giả cho biết mức lãi
suất mà người nông dân phải chịu để có được khoản tín dụng là trên
100%/năm [91; tr.67]. Bản báo cáo của đô đốc Roze gửi về Paris đã than về
56
mức lãi suất mà nông dân phải gánh chịu như thế này: “nạn cho vay nặng lãi
đã giầy vò cư dân nông thôn bằng việc cho vay với mức lãi xuất chưa từng
thấy ở bất cứ đâu, đôi khi lãi lên đến 200 - 300%/năm” [91; tr.108].
Các số liệu trên tuy khác nhau, nhưng nó chứng tỏ một điều đây là mức
lãi suất rất hấp dẫn mà ai cũng muốn cho vay. Với mức lãi suất này, người
cho vay sẽ nhanh chóng lấy lại vốn, làm giàu nhanh, đồng thời còn trói chặt
người nông dân phải phụ thuộc tín dụng của họ.
Lợi dụng sự thiếu thốn tín dụng trong sản xuất nông nghiệp của nông
dân, bọn cho vay nặng lãi (nhất là Hoa kiều) đã ra sức tung hoành, hoạt động
khắp nơi, gây cho nông dân nhiều tai họa. Trong công trình Công tử Bạc Liêu
Sự thật và Giai thoại của Phan Trung Nghĩa cho ta thấy rõ nạn cho vay nặng
lãi diễn ra ở nông thôn Nam Kỳ mà nhân vật đại diện cho thế lực Hoa kiều là
ông bá hộ Trần Trinh Trạch. Vị bá hộ họ Trần này, cho người nông dân tá
điền vay với cách thức tính lãi như sau: “Đối với tá điền ông Trạch cho vay
lời 3 phân bằng cách tính như sau: Nếu cho vay 100 đồng, cuối năm phải trả
136 đồng. Ai không trả nổi phải làm giấy nợ khác xem như thiếu 184 đồng.
Cứ như vậy mà tính, 10 năm sau 100 đồng nợ đầu tiên ấy sẽ thành 2.164
đồng.
Ông Trạch rất thâm, tá điền trắng tay ở nơi khác đến sẽ được ông giúp
đỡ, cho vay 20 giạ lúa và 5-7 đồng để làm vốn ban đầu, để rồi sau đó trở
thành con nợ của ông, khiến các tá điền của ông cuối mùa gặt chỉ còn lại
20% lượng lúa thu nhập cả mùa”[60; tr.28].
Nói về nạn cho vay nặng lãi Luro cũng đã tường thuật như sau: “Sự
đắc đỏ về tiền bạc là một nguyên nhân không thể tránh được của sự cùng khổ
của người vô sản. Khi một người nghèo ngã bệnh, thì người đó bắt buộc phải
đi vay và không trù tính được tương lai của mình, không biết sẽ phải dấn
mình trong bao nhiêu vào công việc cực nhọc không có năng suất, bạc bẽo và
57
tuyệt vọng để hoàn lại số nợ. Trừ phi là có được một sự may mắn trong cờ
bạc, trong trộm cắp hay buôn lậu để cứu giúp, nếu không, một người Annam
ở tầng lớp thấp sẽ bị dìm vào trong tai họa và sự khốn cùng. Vì vậy những
người giàu, rất có quyền thế đối với khách nợ của họ, có một ảnh hưởng rất
lớn ở Annam. Điều này giải thích hoạt động nổi trội của các tầng lớp giàu có
trong việc xử lý các sự việc ở xã”[65; tr.280].
Ngoài những ghi chép trên, chúng tôi còn thu thập được “bản phúc
trình” của Tổng đốc Trần Bá Lộc gửi cho Thống đốc Nam Kỳ với nhan đề
“Nạn cho vay nặng lãi ở Nam Kỳ” từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Theo
bản phúc trình, tình trạng cho vay nặng lãi tại Nam Kỳ diễn ra nghiêm trọng
đến nổi phải báo động. Trước thực trạng đó, buộc Trần Bá Lộc phải kêu gọi
chính quyền thuộc địa đứng ra can thiệp. Bản phúc trình viết:
“Cái Bè ngày 07 tháng 08 năm 1869
Kính gửi ngài Đô đốc Toàn quyền đại thần Nam Kỳ
Điều Trần
Nói về sự nhà giàu làm cách quỷ quái, hiếp kẻ nghèo, cho vay ăn lãi
quá phép công bình.
Những người giàu làm quỷ quái như thế này: (Thí dụ) nó cho kẻ nghèo
vay 100 dạ, đủ 04 năm phải trả đủ 400 dạ. Sự ấy phải theo luật, nó dấu cho
vay tiền hay là lúa mới ngoạt lu da (?) tức bắt quá bổn, ấy là luật Annam.
Người nhà giàu cho vay tiền hay là lúa hay làm tờ giấy quỷ quái thế nầy (thí
dụ) khi nó cho kẻ nghèo vay tiền hay là lúa, nó ép làm giấy theo phép công
bình. Như thế đến ngày kỳ hẹn, kẻ vay chưa có mà trả, nó bắt thay tờ giấy lại,
thì nó càng gia lợi vào nhiều lắm. Có khi 100 quan tiền vốn mà đến 400-500
quan tiền lời, hay là 100 dạ lúa vốn đến 400-500 dạ lúa lời, thì kẻ vay cũng
phải chịu. Sau một ít lâu kẻ vay đi thưa với quan về sự nhà giàu cho nó vay
ăn lời quá phép. Quan xét việc ấy không hiểu đặng. Làm sao mà khó xét rõ
58
người cho vay bắt kẻ vay theo giấy mới, còn giấy của kẻ cho vay đốt đi. Nó
không cho kẻ vay giữ giấy cũ, hầu người sau có hầu suy tính, nó sợ giao giấy
cũ cho kẻ vay cầm, nếu sau kẻ vay thấy ăn lời quá phép có thưa đến quan thì
mình có tội vì trong giấy ăn lời quá phép, cho nên kẻ vay thay giấy mới, rồi
thường cho vay đốt giấy cũ đi, hay là xé lấy lại một trương phía trước có số
tiền vốn và lời, còn trương sau giao cho kẻ vay cầm mà thôi. Người nhà giàu
ăn lời đã nhiều, bởi cách làm quỷ quái thế ấy mà ra, mà quan xét không biết
rõ đặng sự ấy, mà khi quan có hỏi đến ngươi giàu về việc ăn lời quá phép thì
nhà giàu chối hoài mà quan xét kiếm cũng không ra để giúp kẻ nghèo. Mà kẻ
vay đi vay thì bị nhà giàu nó ăn lời bất nhơn, cho nên dân nghèo lắm hù,
không ra mà ăn cũng ùi bởi trả tiền lời quá mà hết của.
Ấy vậy trong ý chúng tôi tưởng sự nầy quan lớn cấm đặng đều bất nhơn
thế ấy, thì thật là làm ơn cho dân đặng nhờ lắm. (Cấm làm sao) nghĩa là ra
luật cho mỗi làng đều biết hễ nhà giàu cho vay phải ăn lời theo luật, mà khi
cho kẻ vay thay giấy mới, khi đã thay giấy rồi thì người cho vay phải giao lại
cho người vay cầm để người sau suy tính, người cho vay thì nên xé bớt lại một
trương trước hay là đốt đi. Nếu xé hay là đốt thì thật là gian.
Chúng tôi tuổng đều ấy là bất nhơn lớn lắm, nếu quan lớn sửa đặng thì
dân nhờ lắm.
Nay bẩm
Tôi mọn Trần Bá Lộc ký (có đóng dấu)”[122].
Không những người dân Nam Kỳ phải chịu cảnh khốn đốn mà giới
thương gia Pháp và Châu Âu cũng có nguy cơ bị phá sản, vì thiếu khoản tín
dụng hỗ trợ. Ngay từ khi Pháp mới xâm chiếm Việt Nam, đã có một số công
ty Pháp và Châu Âu theo gót chân Pháp vào kinh doanh trên đất Nam Kỳ.
Trong đó có một số công ty tiêu biểu như:
- Nhà máy xay xát lúa thuộc hãng Renard và Spooner;
59
- Nhà máy Cahezac de Bordeaux do Lheman làm đại diện;
- Hãng nước đá Cazaux và Salvain;
- Nhà máy làm đồ uống có gaz của Gueldre;
- Nhà máy kéo sợi của Francfort và Samuel ở Chợ Lớn;
- Nhà máy đường ở Biên Hòa do Kresser điều hành [9; tr.427].
- Công ty Canh nông và Thủy lợi của Taillefer ở Cù lao Năm Thôn;
- Đồn điền cà phê của Agaisse và Elanchy ở Mỹ Hội và Châu Thới;
- Đồn điền thuốc lá và chàm tại Gò Vấp của Fiennes;
- Poillard với đồn điền cây dâu tằm ở vùng phụ cận Chợ Lớn [9;
tr.430].
Ngoài các công ty của Pháp còn có một số công ty của Châu Âu cũng
đến buôn bán nơi đây như: công ty Jardine (Anh), công ty Matheson và công
ty Dent (Anh) [98; tr.108]; công ty Russel (Mỹ), hãng Landstein (Đức). Các
đội tàu buôn nước ngoài: Na Uy, Hà Lan, Nhật, Trung Hoa, Đan Mạch, Tây
Ban Nha,, Úc, Singapoure… cũng thương xuyên lui tới buôn bán tại Sài Gòn.
Những công ty này, sau một thời gian làm ăn trên đất Nam Kỳ đã lần
hồi lâm vào tình cảnh thiếu vốn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và có
nguy cơ bị phá sản. Một vài công ty đã phải đóng cửa vì thiếu nguồn vốn để
sản xuất. Công ty sợi của “Francfort và Samuel hoạt động vào tháng 07/1869
gồm 100 trục kéo sợi, chạy bằng máy hơi nước, với 130 công nhân. Tuy nhiên
nhà máy buộc phải ngưng hoạt động vào cuối năm 1874 vì thiếu vốn”[9;
tr.427]. Đến năm 1874, lại đánh dấu sự sụp đổ của một công ty khác, đó là
nhà máy đường Biên Hòa hoạt động từ năm 1870. Vì không đủ nguồn nguyên
liệu mía cho nhà máy do thiếu vốn, nên nhà máy đã phải ngưng hoạt động
vĩnh viễn. Theo sau đó là Công ty Canh nông và Thủy Lợi của Taillefer cũng
buộc phải bán cho Trần Bá Lộc [9; tr.430]. Tình trạng này đã làm cho nền
60
kinh tế Nam Kỳ bị trì truệ trong suốt thời gian dài. Ảnh hưởng không nhỏ đến
khả năng cạnh tranh của thương mại Pháp ở Nam Kỳ và vùng Viễn Đông.
Tiếp nối những khó khăn đó, là nạn “khủng hoảng tiền tệ” tại Nam Kỳ
đã làm cho hoạt động thương mại nơi đây khó cạnh tranh nổi với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Trước lúc Pháp đánh chiếm Sài Gòn, tiền tệ
dùng trong trao đổi mua bán tại Nam Kỳ rất phức tạp. Ngoài tiền đồng và tiền
kẽm là tiền tệ được sử dụng hằng ngày, xứ Nam Kỳ còn sử dụng luôn đồng
tiền thương mại của các nước trong các giao dịch mua bán. Những đồng tiền
thương mại loại này được xem như tiền tệ chính thức của quốc gia. Theo
thống kê từ cuốn Le Régime monétaire Indochinois của tác giả André Touzet
xuất bản năm 1939 cho biết các đồng tiền được sử dụng chính thức trong hoạt
động mua bán tại Nam Kỳ là:
- Đồng bạc Tây Ban Nha có 2 quả địa cầu;
- Đồng bạc Tây Ban Nha vuông, có 2 quả địa cầu;
- Đồng bạc Tây Ban Nha có 2 người cầm cuốc;
- Đồng bạc Tây Ban Nha có 2 cột trụ;
- Đồng bạc Hà Lan;
- Đồng đôla Mỹ;
- Đồng bạc Mêxicô có cái mũ (loại cũ);
- Đồng tiền 5franc Pháp;
- Đôla Hồng Kông;
- Đồng Yên Nhật;
- Đồng bạc Mêxicô có quả cân;
- Đồng Trade đôla Mỹ;
- Đồng bạc thương mại Đông Dương loại cũ;
- Đôla Anh (British dollar);
- Đồng bạc thương mại Đông Dương loại mới;
61
- Đồng bạc Mêxicô có cái mũ loại mới và cũ [132; tr.10].
Ngoài các đồng tiền kể trên, còn có hệ thống tiền kẽm và tiền đồng của
các triều đại phong kiến Việt Nam cũng được dùng trong lưu thông chính
thức tại đây. Sự phức tạp về tiền tệ, đã dẫn đến hệ quả là làm cho nạn “đầu
cơ” và “buôn lậu” tiền diễn ra trầm trọng tại Nam Kỳ. Các thương nhân (chủ
yếu là Hoa kiều) vơ vét hết những đồng bạc đẹp, có chất lượng tốt để tích trữ
hoặc mang đi xuất khẩu sang Hồng Kông và Singapoure. Kết quả là lượng
tiền tệ dùng trong lưu thông tại Nam Kỳ bị thiếu hụt nghiêm trọng, làm các
nhà sản xuất không thể mở rộng được quy mô hoạt động. Gây ảnh hưởng xấu
đến hoạt động thương mại của Nam Kỳ.
Thêm vào đó là sự cạnh tranh gay gắt của người Anh và người Đức đã
làm cho báo chí Pháp và những ai quan tâm tới xứ Nam Kỳ phải quan ngại.
Người Anh cho mở các chi nhánh ngân hàng tại Nam Kỳ để cung cấp tín
dụng cho các thương nhân nhằm kiểm soát nền thương mại nơi đây. Hai chi
nhánh ngân hàng Anh là: The Hongkong and Shanghai Banking Corporation
và The Chartered Bank of India. Còn người Đức thì thành lập các hiệp hội sản
xuất, kinh doanh:
- Hiệp hội xuất - nhập khẩu và ngân hàng của Nehr et Cie (Đức);
- Hiệp hội nhập khẩu - xuất khẩu của Kaltenbach và Engler et Cie
(Đức);
- Công ty mặt hàng mới - hàng hóa Paris của Pohl và Openheimer;
- Hiệp hội xuất khẩu của anh em nhà Cahuzac (Đức),… [9; tr.238].
Sự xuất hiện các chi nhánh ngân hàng Anh và các hiệp hội xuất, nhập
khẩu Đức đã đe dọa đến lợi ích thương mại của giới thương nhân Pháp tại
Nam Kỳ. Tờ Le Monde Pháp, trong số ra ngày 08/10/1864 đã giận dữ khi viết
như sau: “Cuỗm sạch hết, hoặc hầu như hết sạch các vùng đất của chúng ta
62
tại Ấn Độ, hình như vẫn chưa đủ, họ (ám chỉ người Anh) còn lẽo đẽo theo sau
để cản bước chúng ta và phía sau những mưu đồ,…”[9; tr.147].
Còn tờ La Patrie ra ngày 10/10/1864 phản ánh mối liên hệ mật thiết
giữa các thương gia Anh ở Hồng Kông và Singapoge với xứ Nam Kỳ. Thông
qua bài viết này, tờ báo muốn lưu ý Chính phủ Pháp xem chừng các thương
gia Anh ở Sài Gòn. Bài báo viết: “Nếu cần phải tìm những luận cứ khác,
chúng ta sẽ bắt gặp những lập luận rất nghiêm túc trong các ấn phẩm xuất
bản ở Hồng Kông và Singapore, giữa lòng thuộc địa Anh. Người ta không
biết rằng, có những mối liên hệ rất tích cực đã thắt chặt hai thành phố phát
triển rực rỡ trong thủ phủ vùng thuộc địa của chúng ta và trong một lá thư
gửi tới Bordeaux cho chúng tôi, chúng tôi cũng gặp một số suy nghĩ của các
thương gia Anh vốn có đầu óc thực dụng tột độ…”[9; tr.147].
Trong khi đó, Nghị viện Pháp đã bắt đầu quan ngại khi các lợi ích
thương mại của Pháp ở Nam Kỳ hầu như bị người Anh nắm hết. Một nghị sĩ
Pháp đã công khai bài tỏ thái độ chống Anh, khi phát biểu trước báo, chí sau:
“Phải nói cho dân Anh hiểu rằng, nếu người Pháp biết lợi dụng những lợi thế
thương mại mà Nam Kỳ đem lại, người Pháp sẽ được hưởng lợi rất lớn, khi
trở thành người cung cấp cho thị trường Ấn Độ, ở bên kia bờ sông Hằng và
miền Đông Trung Hoa”[9; tr.148].
Bầu không khí nước Pháp nóng lên từng ngày, khi một doanh nhân
Pháp đang làm ăn mua bán tại Nam Kỳ đã chua chát khi viết những lời lẽ như
thế này: “Phần lớn nhất trong hoạt động thương mại của thuộc địa chúng ta
nằm trong tay người nước khác, người Anh và đặc biệt là người Đức. Tại Sài
Gòn, họ là người sở hữu các hãng buôn mạnh nhất và điều hành các dịch vụ
đáng kể nhất. Người ta cứ nghĩ đây là phần đất của người Đức. Các hãng
buôn của chúng ta giữ vai trò rất mờ nhạt và hầu hết chỉ bán lẽ các mặt hàng
nhập khẩu như: rượu, đồ hộp, các mặt hàng từ Paris,…”[9; tr.433].
63
Phòng Thương mại Sài Gòn thì không giấu được sự bực tức của mình,
khi nền thương mại Pháp tại Nam Kỳ bị người nước ngoài khống chế đã được
Báo Hồng Kông đăng tải như sau: “Tóm lại, nền thương mãi Pháp hiện tại đã
chẳng ra gì, mà cũng không có tương lai, ngay trong phần đất thuộc sở hữu
của Pháp… Chúng tôi thấy một thực tế rất đáng buồn, nhưng trong hoàn
cảnh hiện thời, Nam Kỳ thực sự là thuộc địa của người Hoa và các nước…
Có hợp lý không, khi mà Chính phủ Pháp tiếp tục tiêu tốn, để duy trì một đội
ngủ lính tránh và công chức trong ý đồ xây dựng thuộc địa để cho người Hoa
và người nước khá hưởng lợi (chỉ người Anh và người Đức)?... Sự thịnh
vượng của chúng ta chỉ là cái mã bề ngoài”[9; tr.434].
Những dẫn chứng trên chứng tỏ, nền thương mại Nam Kỳ đã bị người
Anh và người Đức khống chế hoàn toàn. Đây là việc không mong muốn đối
với nước Pháp và các đô đốc Hải quân đang chiếm đóng xứ Nam Kỳ.
Trước tình cảnh đó, để cứu vãn nền thương mại Nam Kỳ khỏi tình
trạng trì truệ và ngăn chặn nguy cơ tụt hậu thương mại của nước Pháp ở Viễn
Đông trước các đối thủ Anh và Đức. Đồng thời, còn khống chế bọn cho vay
năng lãi đang tung hành và nạn khủng hoản tiền tệ đang diễn ra nơi đây. Các
đô đốc Pháp đã đề trình lên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa và Hải quân Pháp - Bá
tước Chasseloup – Laubat, đề nghị ngân hàng Chiết khấu Quốc gia Pháp
(Comptoir National d’Escompte de Paris) cho mở một chi nhánh của Ngân
hàng tại Sài Gòn.
Đề nghị này đã được ngân hàng Chiết khấu Quốc gia Pháp tán thành và
ngày 24 tháng 09 năm 1863, ngân hàng chính thức khánh thành. Sự ra đời của
Chi nhánh Ngân hàng Chiết khấu Quốc gia Pháp (gọi tắt là C.N.E) là một tin
vui cho giới thương mại Pháp và Soái phủ Nam Kỳ. Giới thương mại Pháp hy
vọng, ngân hàng sẽ cung cấp các khoản vay tín dụng cần thiết để các doanh
nghiệp nơi đây được yên tâm sản xuất. Còn Soái phủ Nam Kỳ, kỳ vọng thông
64
qua các khoản tín dụng dày hạn sẽ ngăn chặn được nạn cho vay nặng lãi đang
diễn ra tại đây.
Nhưng ngân hàng đã không đáp ứng được niềm tin của giới doanh
nghiệp Pháp và Soái phủ Nam Kỳ. Vì theo quy chế hoạt động, ngân hàng
C.N.E “chỉ là một ngân hàng ký thác, nhận giữ tiền của khách hàng thuận
đem gửi mình. Thành ra những nghiệp vụ của ngân hàng này chỉ là việc cho
vay ngắn hạn, trong khi dân bản xứ chuyên về nghề nông, cùng là những thực
dân Pháp bắt đầu sang mưu sinh ở xứ Nam Việt đòi hỏi một tín dụng dài
hạn”[126; tr.198]. Chính vì vậy ngân hàng không thể cung cấp các tín dụng
dài hạn cho nhân dân bản xứ.
Từ thực trạng đó, buộc đô đốc Roze nghĩ ngay đến việc thành lập một
“ngân hàng phát hành giấy bạc” giành cho xứ thuộc địa. Ngân hàng này, sẽ
thuộc quyền quản lý của Chính phủ Pháp. Nhiệm vụ của ngân hàng sẽ cung
cấp các khoản tín dụng cho hoạt động kinh tế tại Nam Kỳ. Trong thư gửi cho
Bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp, đô đốc Roze viết: “Một tổ chức
tín dụng nghiêm túc cho vay với mức lãi 20%/năm, có lẽ sẽ thu được những
lợi ích đáng kể. Việc tổ chức các tỉnh hiện tại, việc xác định các chủ sở hữu
được hoàn thành nay mai sẽ đem lại những đảm bảo mong muốn cho một tổ
chức tín dụng. Một ngân hàng thuộc địa, theo cách của những ngân hàng
từng tồn tại ở các thuộc địa khác, có lẽ có thể hoàn toàn thỏa mãn được mục
đích đưa tín dụng vào quy chế những sửa đổi cần thiết để phù hợp với những
nhu cầu của Nam Kỳ”[123].
Đề nghị này của đô đốc Roze đã được Bộ trưởng - Bộ Thuộc địa và Hải
quân Pháp - Bá tước Chasseloup-Laubat tán đồng. Năm 1865, Bộ Thuộc địa
và Hải quân đề trình lên Chính phủ Pháp “bản đề nghị” của Soái phủ Nam Kỳ
về việc thành lập một ngân hàng phát hành giấy bạc giành cho xứ thuộc địa
nhưng đã bị Chính phủ Pháp phủ quyết, không chấp nhận. Với lý do, nước
65
Pháp đang bận rộn vào tình hình chiến sự tại Châu Âu, đặc biệt là cuộc chiến
tranh Pháp - Phổ (1870 - 1871) có nguy cơ xảy ra. Trong lá thư đề ngày
18/01/1867, Bộ Thuộc địa và Hải quân đã truyền đạt ý kiến của Chính phủ
Pháp đến đô đốc Roze như sau: “Đô đốc thân mến, tình hình châu Âu không
phải không đáng lo lắng khi nó có thể làm tiêu tán của chúng ta một phần tài
lực và một phần nhân lực” [9; tr.165].
Trước thất bại của đề án và trước nguy cơ mất dần ưu thế thương mại
Pháp ở Viễn Đông. Soái phủ Nam Kỳ đã đi đến vận động giới tài chính Pháp
ở Lyonnais, Marseille, Paris, Bordeaux,… đứng ra thành lập một ngân hàng
cổ phần phát hành giành cho xứ thuộc địa. Đề nghị này đã được Bộ Thuộc địa
và Hải quân Pháp, cùng với giới tài chính Pháp và ba ngân hàng lớn ở Pháp
(ngân hàng C.N.E; ngân hàng Sosiété Générale và Ngân hàng Paris và Hà
Lan) tán thành. Sau nhiều phiên thảo luận, giới tài chính Pháp và ba ông lớn
ngân hàng đã nhất trí thành lập “một ngân hàng phát hành giấy bạc” giành
cho xứ thuộc địa Nam Kỳ, dưới hình thức ngân hàng cổ phần. Lấy tên gọi là
Ngân hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine). Thống nhất các văn bản
chờ Tổng thống Pháp phê duyệt.
Sau khi cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870 - 1871) kết thúc, nước Pháp
lâm vào tình cảnh khốn đốn, bị mất hai tỉnh “Alsace và Lorraine” vốn giàu có
về tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Lại phải bồi
thường cho Đức một khoảng tiền chiến phí là 5 tỷ phrăng vàng (mỗi phrăng
nặng 322 mgr vàng nguyên chất) [126; tr.198]. Phần lớn lãnh thổ nước Pháp
bị quân Đức chiếm đóng cho đến khi nào nước Pháp trả xong toàn bộ số tiền.
Với số tiền khổng lồ đó, nước Pháp đào ở đâu ra ?
Theo Lê Đình Chân, toàn bộ thu nhập bằng thuế má trong một năm của
nước Pháp chỉ vào khoảng 4 đến 5 tỷ phrăng vàng [125; tr.16]. Số tiền này là
một gánh nặng thuế má đối với nhân dân Pháp. Trong khi đó việc chi tiêu của
66
Chính phủ Pháp cũng tiêu tốn một số tiền tương đương với tổng số thu nhập
trên, thậm chí còn vượt mức chi.
Trước sự khó khăn về tài chính, Chính phủ Pháp đã nhờ đến các ngân
hàng bán “Trái phiếu Chính phủ” để có tiền trả nợ cho Đức. Đổi lại, họ được
hưởng một khoản hoa hồng lót tay là 5%. Dưới sự giúp đỡ của các ngân hàng
cho “đến năm 1873, Pháp đã trả xong toàn bộ 5 tỷ franc chiến phí, đại quân
Đức rút khỏi lãnh thổ Pháp”[50; tr.18]. Đây cũng là thời kỳ nước Pháp lâm
vào cảnh nợ nần, không còn tài chính để thành lập một ngân hàng phát hành
giấy bạc trực thuộc chính phủ giành cho xứ thuộc địa.
Đứng trước những khó khăn đó, đề án thành lập Ngân hàng Đông
Dương đã được sự đồng ý của Quốc hội Pháp. Ngày 21 tháng 01 năm 1875,
Tổng thống Pháp Mac Mahon kí sắc lệnh thành lập “Ngân hàng Đông
Dương - Banque de l’Indochine” và “cho cơ quan này được hưởng độc
quyền phát hành tiền tại các xứ Đông Dương, các thuộc địa Pháp miền Thái
Bình Dương và các tỉnh Ấn Độ thuộc Pháp”[126; tr.198].
Như vậy, theo sắc lệnh trên, chúng ta thấy rằng, phạm vi hoạt động của
Ngân hàng Đông Dương rất rộng lớn, trải dài từ miền Thái Bình Dương cho
đến tận Ấn Độ Dương xa xôi. Để có được phạm vi hoạt động rộng lớn này,
chắc hẳn một điều rằng Ngân hàng Đông Dương đã nhận được sự hỗ trợ tài
chính hết sức to lớn từ giới tài chính, ngân hàng Pháp. Nhờ có được sự giúp
đỡ này, cho nên, Ngân hàng Đông Dương đã được Chính phủ Pháp ban cho
thêm một số đặc quyền nữa mà không một tổ chức ngân hàng nào tại Pháp có
được. Những đặc quyền đó là:
- Một ngân hàng ký thác, vì Ngân hàng Đông Dương có quyền nhận
tiền ký thác của các khách hàng tư nhân;
- Một ngân hàng nông tín, vì Ngân hàng Đông Dương có quyền cho
các nông gia vay;
67
- Một ngân hàng thương mại, vì Ngân hàng Đông Dương có quyền cho
tư nhân vay và chiết khấu các thương phiếu;
- Một ngân hàng doanh nghiệp, vì Ngân hàng Đông Dương có quyền
tham dự vào việc thiết lập những công ty kỹ - nghệ, thương mại hay nông
nghiệp [126; tr.199].
Với những đặc quyền trên, nhà sử học Jean-Pierre Aumiphin trong
công trình nghiên cứu Sự hiện diện tài chính và kinh tế Pháp ở Đông Dương
(1859-1939) đã phải nói rằng: “trái tim” và “khối óc” của nền kinh tế Đông
Dương đã bị Ngân hàng Đông Dương chi phối [39; tr.24]. Còn các nhà kinh
tế học Pháp thì gọi ngân hàng Đông Dương là “ngân hàng chúa tể Pháp-
Banque Imperiale de Françe” [132; tr.87].
Để có được những đặc ân trên, về mặt pháp lý, ngân hàng Đông
Dương phải có vốn điều lệ theo quy định là 8.000.000 franc (1 franc vàng
nặng 322 mgr vàng nguyên chất) được chia ra làm 16.000 cổ phiếu; mỗi cổ
phiếu ghi giá biểu diện là 500 franc [132; tr.84]. Tất cả số cổ phiếu này, điều
được niêm yết và đưa lên sàn giao dịch chứng khoán Paris. Kết quả là, chỉ
trong thời gian ngắn, toàn bộ số cổ phiếu đã được bán hết. Ngân hàng Đông
Dương chính thức đi vào hoạt động tại số 96, Đại hộ Haussmann, Thủ đô
Paris, Pháp [132; tr.88].
Sau khi ra đời, ngân hàng đã cho mở hai chi nhánh đầu tiên đặt tại hai
hải cảng Marseille và Bordeaux (Pháp) để cung cấp tín dụng giới thương gia
vốn có mối quan hệ làm ăn mua bán với Nam Kỳ. Bốn tháng sau (tức ngày
19/04/1875) ngân hàng đã khai trương chi nhánh đầu tiên tại thuộc địa Nam
Kỳ đó là Sài Gòn. Giải thích cho sự ra đời chi nhánh sớm này, theo nghiên
cứu của tác giả Marc Meuleau từ công trình Des Pionniers en Extrême-
Orient. Histoire de la Banque de l’Indochine (1875-1975). Tạm dịch là:
Những người đi tiên phong ở vùng Viễn Đông – Lịch sử Ngân hàng Đông
68
Dương (1875-1975). Tác giả cho rằng sở dĩ Ngân hàng Đông Dương sớm đặt
chi nhánh đầu tiên tại Sài Gòn là vì “giới chủ ngân hàng Đông Dương đã tính
đến những điều kiện thuận lợi về thị trường vốn và tín dụng tại Viễn Đông lúc
đó” [91; tr.65].
Như vậy, sự ra đời của chi nhánh Ngân hàng Đông Dương tại Sài Gòn
không phải bắt nguồn từ ý định của Chính phủ Pháp, cũng không phải bắt
nguồn từ ý muốn của Chính phủ Thuộc địa, mà nó bắt nguồn từ sự yếu kém
triền miên của nền kinh tế thuộc địa. Nơi mà nền thương mại Pháp đang gặp
nhiều khó khăn. Chính sự yếu kém này đã thôi thúc sự kết hợp giữa Chính
phủ Thuộc địa Nam Kỳ với giới chức tài chính, ngân hàng Pháp để thành lập
nên Ngân hàng Đông Dương. Sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương đã khoát
cho nó một sứ mệnh hết sức thiêng liêng và cao cả là phô diễn nền kỹ - nghệ
Pháp ở Viễn Đông vốn đang chịu nhiều thất thế và thua thiệt với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Nhưng đồng thời cũng cung cấp cho nó nhiều
đặc quyền đặc lợi mà không một tổ chức ngân hàng nào của Pháp có thể sánh
bằng. Những đặc quyền, đặc lợi đó là gì ? sẽ được chúng tôi lần lượt trình
bày, để vén bức màng bí mật về tổ chức này đến các đọc giả và công chúng.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Đông Dương
Cũng giống như các ngân hàng thương mại và các ngân hàng thuộc địa
khác của Pháp ở Guadeoupe, Martinique, Réunion, Angiéri,… Ngân hàng
Đông Dương cũng được tổ chức tương tự như các ngân hàng này. Theo sắc
lệnh thành lập Ngân hàng Đông Dương năm 1875, thì cơ cấu tổ chức của
ngân hàng này bao gồm các cơ quan sau:
- 1 Đại hội đồng;
- 1 Hội đồng quản trị có từ 8 đến 15 nhân viên, nhiệm kỳ 5 năm;
69
- Hội đồng quản trị này tự bầu Chủ tịch và bổ nhiệm các Giám đốc của
ngân hàng. Sự bổ nhiệm này phải được Bộ trưởng Bộ Thuộc địa chấp thuận.
- Đại diện của Chính phủ Pháp bên cạnh Ngân hàng Đông Dương là
một Ủy viên Chính phủ.
- Tại mỗi chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương có một Giám sát hành
chính do Bộ trưởng Bộ Thuộc địa bổ nhiệm [126; tr.204].
Đến ngày 21/03/1931, Ngân hàng Đông Dương được Chính phủ Pháp
cho gia hạn đặc quyền phát hành tiền tệ thêm thời gian 25 năm, kể từ ngày ký
ban hành đạo luật này, nghĩa là đặc quyền phát hành tiền tệ sẽ kéo dài đến
ngày 31/03/1956.
Với sắc lệnh mới này, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Đông Dương
cũng không có gì thay đổi. Chỉ có thay đổi nội dung điều khoản trong Hội
đồng quản trị mà thôi. Theo đó, số Ủy viên của Hội đồng Quản trị tăng lên tới
20 người; Chính phủ sẽ có 06 đại diện. Vị chủ tịch Hội đồng Quản trị sẽ do
Chính phủ bổ nhiệm bằng sắc lệnh. Hội đồng Quản trị sẽ bầu viên Tổng Thư
ký nhưng việc lựa chọn này sẽ do Bộ trưởng Bộ Thuộc địa chấp thuận [126;
tr.205].
Như vậy, với các sắc lệnh trên, chúng ta thấy rằng, cơ cấu tổ chức của
Ngân hàng Đông Dương hoàn toàn do tư nhân nắm giữ. Chính phủ chỉ đóng
vai trò giám sát các hoạt động của ngân hàng chứ tuyệt đối không có quyền
can thiệp vào công việc nội bộ của ngân hàng. Đây là một yếu tố thuận lợi để
ngân hàng phát huy được hết khả năng của mình trên tất cả các lĩnh vực mà
Chính phủ cho phép.
Tuy nhiên, đó chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài của Ngân hàng Đông Dương
để chi đậy cho “một tập đoàn người” đầy thế lực và giàu có “ẩn” sâu bên
trong cơ cấu tổ chức này. Kỳ thực mà nói, khi nhìn cơ cấu tổ chức của Ngân
hàng Đông Dương không ít nhà nghiên cứu cứ lầm tưởng đây là một tổ chức
70
ngân hàng bình thường, cũng giống như cơ cấu tổ chức của các những ngân
hàng thương mại khác của Pháp, chẳng có gì khác biệt và cũng chẳng có cơ
quan gì mới mẽ,... nên không cần phải bàn cãi, tìm hiểu sâu, đặt vấn đề cho cơ
cấu tổ chức này. Chính sự xem xét thiếu thận trọng này, đã giúp cho Ngân
hàng Đông Dương giấu “nhẹm” đi một sự thật kinh hoàng về một tập đoàn
người thiểu số đang thao túng vận mệnh toàn bộ nền kinh tế Đông Dương
từng ngày. Vậy, sự thật về cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Đông Dương như
thế nào ?
Theo những tài liệu mà chúng tôi thu thập và qua kết quả nghiên cứu
của chúng tôi, chúng tôi thấy rằng: Ngân hàng Đông Dương là sự kết hợp một
cách tài tình “giữa những chức vụ công quyền với những chức vụ tư doanh”
[132; tr.93] mà ít một tổ chức ngân hàng nào của Pháp có được. Cụ thể là
thành phần lãnh đạo của Ngân hàng Đông Dương bao gồm những cá nhân đã
từng giữ những chức vụ quan trọng trong Chính phủ Pháp; Chính phủ Liên
bang Đông Dương hoặc những nhà tài phiệt lớn đứng đầu các công ty. Thậm
chí còn giữ chức Ủy viên Chính phủ; Tổng Thanh tra Tài chính; Thanh tra
Thuộc địa, Bộ trưởng,... Để thấy rõ hơn sự kết hợp chặt chẽ của những thế lực
này, chúng ta hãy xem xét thành phần cấu tạo ra Hội đồng quản trị và Ban trị
sự Ngân hàng Đông Dương, từ lúc Ngân hàng Đông Dương ra đời cho đến kỳ
đại hội cổ đông cuối cùng của ngân hàng vào ngày 22/08/1947 (vì theo sắc
lệnh gia hạn đặc quyền phát hành tiền tệ năm 1931, Ngân hàng Đông Dương
được Chính phủ Pháp cho hưởng đặc quyền phát hành tiền tệ trong thời gian
là 25 năm tiếp theo, kể từ ngày ký ban hành sắc lệnh cho đến hết ngày
31/03/1956. Năm 1945, Việt Nam hoàn toàn độc lập, Chính phủ Pháp buộc
phải thu hồi lại đặc quyền phát hành tiền tệ của Ngân hàng Đông Dương bằng
cách định giá chuộc lại 60.000 cổ phiếu. Vì vậy, Ngân hàng Đông Dương tổ
71
chức kỳ đại hội cổ đông cuối cùng vào ngày 22/08/1947 để bàn về mức giá
mà Chính phủ Pháp chuộc lại).
Như chúng ta điều biết, lúc mới thành lập Ngân hàng Đông Dương,
Ngân hàng Đông Dương chỉ là chi nhánh của ba ngân hàng lớn nước Pháp
gồm: ngân hàng C.N.E; ngân hàng Sosiété Générale và Ngân hàng Paris và
Hà Lan chiếm 60% cổ phần; Chính phủ Pháp nắm giữ 20% và 20% còn lại
giành cho các cổ đông. Trong đó, ngân hàng Chiết khấu Quốc gia Pháp (viết
tắt là C.N.E) được giao nhiệm vụ thành lập nên Ban Trị sự Ngân hàng Đông
Dương (vì ngần hàng C.N.E đã từng mở quầy chiết khấu tại Sài Gòn dưới thời
cai trị của Soái phủ Nam Kỳ nên có thể nói, ngân hàng nắm bắt cụ thể về tình
hình Nam Kỳ). Do đó, trong thời gian đầu, thành phần Ban Trị sự của Ngân
hàng Đông Dương phần lớn là những nhân vật đã từng làm việc trong ngân
hàng C.N.E như:
+ Chủ tịch Ngân hàng Đông Dương: Hentsch - kim luôn chủ tịch của
Ngân Hàng chiết khấu Quốc gia Pháp.
+ Các ủy viên trị sự gồm:
Giord: Giám đốc Ngân hàng Chiết khấu Quốc gia;
Darrien: Phó Chủ tịch Ngân hàng Tổng hợp (Societé Generale) và
Ngân hàng Công nghiệp (Credit Industriel);
Gillet và Prevost: Ủy viên quản trị Ngân hàng Chiết khấu Quốc gia;
Một số ủy viên khác thuộc Ngân hàng Công nghiệp Pháp (Crédit
Industriel) như: Daru, Allard và Aubry [132; tr.89].
Về sau, do ngân hàng liên tục làm ăn khấm khá nên vốn điều lệ của
ngân hàng không ngừng tăng lên:
- Lúc khởi thủy năm 1875: 8.000.000 franc;
- Năm 1888 vốn điều lệ: 12.000.000 franc;
- Năm 1900 : 24.000.000 franc;
72
- Năm 1905 : 36.000.000 franc;
- Năm 1910 : 48.000.000 franc;
- Năm 1920 : 72.000.000 franc;
- Năm 1931 : 120.000.000 franc [132; tr.84].
Sự tăng vốn điều lệ này, đồng nghĩa với việc thành phần cấu tạo trong
Hội đồng Quản trị của Ngân hàng Đông Dương cũng có nhiều sự thay đổi. Hệ
thống tổ chức của Ngân hàng Đông Dương giờ đây có thêm nhiều cổ đông
lớn khác mà giới sử học Pháp thường gọi là “tơ-rớt” ngân hàng. Cụ thể là:
- Ngân hàng Tín thải Ly-ông (Crédit Lyonais);
- Cục Hoái đoái Toàn quốc (Comptoir National d’Escompte);
- Và Tổng Công ty Tín dụng Công nghiệp và Thương mại (Société
Générale de Crédit Industriel et Connercial) [132; tr.89].
Ngoài các cổ đông lớn trên, Ngân hàng Đông Dương còn có thêm các
cổ đông “đặc biệt” mà những cổ đông này, có mối liên hệ rất mật thiết với
Chính phủ Pháp, giới tài chính - ngân hàng và các thương gia Pháp, kể cả
Giáo hội La Mã ở thành Romes. Họ là ai ? - Họ bao gồm:
- Nữ Bá tước De Rothschild: nắm trong tay 196 cổ phiếu. Nữ Bá tước
này, có mối liên hệ mật thiết với Chính phủ Pháp và ngân hàng Pháp và Hà
Lan; Cục Chiết khấu Quốc gia, giới tài chính Pháp,...
- Nữ phu nhân Baudoin: nắm 45 cổ phiếu. Nhân vật này có nhiều mối
liên hệ khắn khích với giới quý tộc Pháp và những người có tiếng tăm trong
xã hội Pháp lúc bấy giờ.
- Ngân hàng Neuflize Şchlumberger: nắm 45 cổ phiếu;
- Những thừa kế của các ủy viên quản trị: Renaudin và Roume: chiếm
645 cổ phiếu (Rennaudin: 220 cổ phiếu; Roume: 425 cổ phiếu);
- Các nhà văn lớn của Pháp: Paul Boncour: 14 cổ phiếu; François
Mauriac: nắm 12 cổ phiếu [132; tr.86].
73
- Hai công ty Hỏa xa của Pháp là:
+ Công ty Hỏa xa Djibouti-Addis-Abeba nắm 6.200 cổ phiếu;
+ Công ty Đông Dương-Vân Nam chiếm 20.000 cổ phiếu [132; tr.87].
Ngoài những cổ đông đặc biệt này, Ngân hàng Đông Dương còn có
thêm sự hiện diện của Tòa Thánh La Mã cũng là một cổ đông đáng kể của
ngân hàng. Giải thích cho sự hiện diện đặc biệt này, theo nhà nghiên cứu Phan
Hạ Uyên trong công trình Tư liệu Lịch sử Tiền tệ Đông Dương và Lịch sử
Ngân hàng Đông Dương từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, trích dẫn lại
nghiên cứu của nhà sử học Henri Tirard trong công trình Etude sur la B.I.C
cho rằng: sở dĩ Tòa Thánh La Mã có cổ phần trong Ngân hàng Đông Dương
là vì “Tòa Thánh La Mã và các Giòng tu sĩ có những quyền lợi khá lớn tại
Đông Dương, một cách trực tiếp qua tay các cố đạo như Robert là người nắm
quyền quản trị công ty cao su Indochinoise de Plantations d’heveas và gián
tiếp qua ảnh hưởng mạnh mẽ của chúng đối với các nhân vật lãnh đạo Ngân
hàng Đông Dương, Ngân hàng Pháp và Hà Lan, Ngân hàng Tín dụng Kỹ
nghệ và Thương mại Pháp (Crédit Industriel et Commercial) được mệnh danh
là “Ngân hàng của các Giòng tu sĩ” (Banque des Congregations)”[132;
tr.87].
Nhờ vào những cổ đông mới này, đã giúp cho Ngân hàng Đông Dương
lôi kéo được sự quan tâm, chú ý của các chính trị gia ở chính quốc, cũng như,
các quan chức Pháp ở Đông Dương. Từ đó, tạo cho Ngân hàng Đông Dương
có thêm chỗ dựa vững chắc trên bước đường kinh doanh của mình. Vì vậy,
trong Hội đồng Quản trị của Ngân hàng Đông Dương, lúc nào, cũng có nhiều
vị trí quan trọng giành cho giới chính khách này. Cụ thể như:
- Ông M. Borduge: nguyên Thanh tra Tài chính, từng là Chủ tịch danh
dự Ngân hàng Đông Dương;
74
- Ngài J. Leclerc: nguyên Thanh tra Tài chính, từng là Thống đốc Ngân
hàng Địa ốc Pháp, có thời kỳ là Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng
Đông Dương;
- Ngài René Thion de la Chaume: cũng từng giữ chức vụ Thanh tra
Tài chính, có lúc là Chủ tịch danh dự Ngân hàng Đông Dương, vừa là Chủ
tịch ngân hàng Địa ốc Đông Dương. Về sau, được bầu giữ chức Tổng Cố vấn
Tập hợp Bình dân Pháp (R.P.F) ở Quận Lozere;
- Ông Edmond Giscard d’Estaing: từng làm Bộ trưởng trong Chính
phủ Pháp, vừa là Ủy viên Ban Trị sự ngân hàng Địa ốc Pháp, vừa là nhân vật
cao cấp trong nhiều Hội đồng Quản trị công ty tư bản lớn khác;
- Ngài Ernest Roume: Ủy viên Ban trị sự Ngân hàng Đông Dương,
Chủ tịch ngân hàng Địa ốc Đông Dương, và từng làm Toàn quyền Đông
Dương;
- Ông Paul Baudoin: là Thanh tra Tài chính Pháp, thường xuyên có
chân trong Ban trị sự Ngân hàng Đông Dương. Năm 1943, là Chủ tịch ngân
hàng Đông Dương, từng đảm nhiệm chức Toàn quyền Đông Dương, dưới thời
Chính phủ Vi-chy trong thời kỳ nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, làm
Bộ trưởng Ngoại giao. Paul Baudoin có chân trong nhiều công ty lớn khác ở
Đông Dương;
- Ngài E. Minost: Thanh tra Tài chính, về sau giữ chức Chủ tịch Ngân
hàng Đông Dương thay nhiệm kỳ của Paul Baudoin, đồng thời kiêm nhiệm
nhiều chức vụ đầu não trong các công ty lớn: Canal de Suéz; Crédit Foncier
de l’Indochine; Chemins de fer de Djibouti-Addis-Abeba; Chemins de fer de
l’Indochine et du Yunnan; Charbonnages du Tonkin và kể cả ngân hàng Pháp
và Hà Lan,... [132; tr.93].
- Ngài René Bouvier: Ủy viên Quản trị, Phó Chủ tịch Ngân hàng Đông
Dương. Từng tham gia quản lý 02 công ty lớn: Etablissement Bergougnan và
75
Moteurs Automobiles de Lorraine. Đồng thời là Chủ tịch của 05 công ty lớn
và làm Ủy viên Quản trị của 13 công ty khác, trong đó có Banque
Commerciale Africaine (Ngân hàng Thương mại Châu Phi);
- Ông Paul Bernard: là Chủ tịch Ban Quản lý của 03 công ty lớn, trong
đó có Société centrale d’Usine a papier (CENPA) ở Pháp. Về sau, được bầu
vào Hội đồng Kinh tế Pháp (Conseil Economique) và là nhân vật có ảnh
hưởng quyết định nhất trong việc vạch ra mọi đường lối chính trị và kinh tế
cho các lãnh thổ thuộc Liên hiệp Pháp;
- Ngài Gilbert Hersent: là Chủ tịch của Hội đồng Quản trị Thương
cảng Rossario và của công ty điện lực ở Bizerte. Đồng thời là Ủy viên Quản
trị của 09 công ty khác, trong đó có Crédit Foncier Colonial (ngân hàng Địa
ốc Thuộc địa), các công ty mỏ Mines de Ouenza và Chantiers de Penhoet ở
Phi châu;
- Ông Jean E.P. Laurent: nguyên là Tổng Giám đốc Ngân hàng Đông
Dương. Là Ủy viên Quản trị của 20 công ty, trong đó có ngân hàng Pháp-Hoa
và các ngân hàng Tín dụng phụ thuộc vào Ngân hàng Đông Dương như:
Crédit Foncier; Crédit Hypothecaire; Crédit Mobilier,... [132; tr.95].
Nhờ vào việc lôi kéo giới chính trị gia vào Hội đồng Quản trị của Ngân
hàng Đông Dương đã giúp cho ngân hàng có thêm được những chức vụ công
quyền để phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình. Đây là một nét đặc thù
của Ngân hàng Đông Dương mà không một ngân hàng nào của Pháp có được.
Đến năm 1947, số vốn điều lệ của Ngân hàng Đông Dương lên tới hơn
150 triệu franc [132; tr.85]. Trong kỳ Đại hội cổ đông lần này (ngày
22/08/1947), Ngân hàng Đông Dương có 5.250 cổ đông, nhưng phần lớn
trong số đó là những người có rất ít cổ phiếu và trên thực tế họ không có vai
trò gì trong việc điều hành các công việc kinh doanh của ngân hàng. Chỉ có
38 cổ đông, chiếm tỷ lệ 0,7%/tổng số 5.250 cổ đông, nắm trong tay số cổ
76
phiếu lên đến 32.473 cổ phiếu chiếm tỷ lệ 10,3%. Trong số 38 cổ đông này,
cũng chỉ có 12 đại cổ đông là có tiếng nói quan trọng đối với đường lối kinh
doanh của ngân hàng. Họ là bao gồm những ai ? - Họ bao gồm:
- Ngân hàng Paris và Hà Lan nắm: 4.233 cổ phiếu;
- Ngân hàng Tín dụng, Kỹ nghệ và Thương mại: 3.995 cổ phiếu;
- Caisse des Dépôts et Consignations: 3.920 cổ phiếu;
- Hứa Bổn Hòa (người Trung Quốc tại Sài Gòn): 2.869 cổ phiếu;
- Công ty Hỏa xa Đông Dương-Vân Nam: 2.500 cổ phiếu;
- Ngân hàng Ly-ông: 2.000 cổ phiếu;
- Gia đình STERN: 1.791 cổ phiếu;
- Cục chiết khấu Quốc gia Pháp: 1.404 cổ phiếu;
- Công ty Bảo hiểm La Providence: 1.104 cổ phiếu;
- Ngân hàng Lazard: 915 cổ phiếu;
- Công ty Hỏa xa Djibouti-Addis-Abeba: 625 cổ phiếu;
- Ngân hàng Sosiété Générale: 317 cổ phiếu;
Tổng cộng số cổ phiếu của 12 đại cổ đông: 26.673 cổ phiếu [132;
tr.86].
Với thành phần cấu tạo mới này, Ngân hàng Đông Dương đã trở thành
một ngân hàng đa ngành nghề, đa lĩnh vực, hay nói đúng hơn Ngân hàng
Đông Dương đã trở thành một “tập đoàn toàn cầu” - Tập đoàn Ngân hàng
Đông Dương. Từ sự thay đổi này, kéo theo đó là sự thay đổi trong thành phần
cấu tạo của Hội đồng Quản trị và Ban Trị sự Ngân hàng Đông Dương như
sau:
- Hội đồng Quản trị của ngân hàng:
+ Chủ tịch Ngân hàng Đông Dương: Stanislas Simon - Chủ tịch công
ty Hỏa xa Đông Dương - Vân Nam;
77
+ Phó chủ tịch: Paul Boyer - Chủ tịch Ngân hàng Chiết khấu Quốc gia
Paris (Comptoir National, d’Escompte de Paris).
+ Ủy viên Hội đồng Quản trị gồm:
Emile Bethenod - Chủ tịch danh dự của Ngân hàng Ly-ông (Crédit
Lyonais);
Alphonse Denis - Chủ tịch các công ty Denis Freres Đông Dương và
Boc-đô (Société Dénis Frérés d’ Indochine et de Bordeaux);
Charles Georges Picot - Phó chủ tịch Tổng công ty Tín dụng Công
nghiệp và Thương mại (Société Générale de Crédit Industriel et Connercial);
Henri Guernaut - Phó thống đốc danh dự của Ngân hàng nước Pháp
(Banque de Françe) và Chủ tịch danh dự Tổng công ty Tín dụng Công nghiệp
và Thương mại (Société Générale de Crédit Industriel et Connercial);
André Homberg - Chủ tịch ngân hàng Société Générale;
Octave Homberg - Chủ tịch Công ty Tài chính và Thuộc địa Pháp;
Jules Rostand - Phó chủ tịch Ngân hàng Chiết khấu Quốc gia Paris;
Ernest Roume - nguyên Toàn quyền Tây Phi thuộc Pháp và tại Đông
Dương;
Edgard Stern - nhà tư bản ngân hàng của hãng A.J. Tern (Maison
A.J.Tern et Companie) và Ủy viên quản trị của ngân hàng Pháp và Hà Lan
(Banque de Paris et des Pays-Bas);
De Trégomain - nguyên Giám đốc Sở điều phối quỹ ở Bộ Tài chính
Pháp (Dirécteur du Mouvement Général des Fonds au Ministere dé Finances)
và Thống đốc danh dự, Ủy viên quản trị của Ngân hàng Địa ốc Pháp (Crédit
Foncier de France);
- Ban Trị sự Ngân hàng Đông Dương gồm:
+ Giám đốc Ngân hàng Đông Dương: Réné Thion de la Chaume -
nguyên Thanh tra Tài chính Pháp ( Inpécteur des Finances);
78
+ Phó Giám đốc: Maurice Lacaze; Gaston Mayer và Julés Pérreau.
- Ủy viên chính phủ: André You - Giám đốc danh dự tại Bộ Thuộc địa
Pháp; nguyên là Cố vấn Nhà nước Pháp (Conseil d’ Etat) [132; tr.89-90].
Như vậy với cơ cấu tổ chức trên của Ngân hàng Đông Dương mà
chúng tôi vừa trình bày, đã giúp cho chúng ta thấy được một sự thật tài đình
về một nhóm người thiểu số đang thao túng và chi phối nền kinh tế Đông
Dương từng ngày. Nhóm tài phiệt này đã thông quan Ngân hàng Đông Dương
để che đậy cho những mưu đồ đen tối của họ. Đúng như nhà sử học Pháp đã
nói: “Ngân hàng Đông Dương là một tổ chức của bọn trùm tài phiệt. Về danh
nghĩa hình như là thuộc chủ quyền của một đại hội đồng cổ đông, dân chủ và
rỗng rãi, nhưng che đậy bên trong thế lực to lớn của một nhóm ngân hàng lớn
đã sáng lập ra nó và đang nắm phần lớn số cổ phiếu. Chính những đại diện
của thế lực này cấu thành Hội đồng Quản trị. Còn sự kiềm soát của Nhà nước
nói chung là lúc có, lúc không, thì bị sức mạnh của những ngân hàng lớn này
làm cho tê liệt” [132; tr.93-94].
2.2. Hoạt động của Ngân hàng Đông Dương ở Nam kỳ từ 1875-1945
2.2.1. Sơ lược hoạt động nghiệp vụ Ngân hàng Đông Dương
Theo sắc lệnh thành lập Ngân hàng Đông Dương được Tổng thống
Pháp ký ban hành hành vào ngày 21/01/1875 quy định rõ nhiệm vụ của Ngân
hàng Đông Dương như sau: “Ngân hàng Đông Dương là một ngân hàng phát
hành, cho vay và chiết khấu (Điều 1)”[132; tr.111]. Còn theo bảng điều lệ ban
hành kèm theo sắc lệnh được sửa đổi theo sắc lệnh ngày 20/08/1888 và ngày
16/05/1900, ở điều 15, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Đông
Dương như sau:
- Những nghiệp vụ tại quốc gia mà Ngân hàng Đông Dương có chi
nhánh cơ sở, bao gồm:
79
+ Phát hành giấy bạc;
+ Chiết khấu các thương phiếu nhận nợ (billétets à ordre) có trên hai
chữ ký bảo lãnh, kỳ hạn không quá 120 ngày, người khách hàng có nợ được
ứng trước trên tài khoản một mức tín dụng nhất định trong một khoảng thời
gian không quá 06 tháng;
+ Phát hành mua bán và chiết khấu các thương phiếu đòi nợ, các ngân
phiếu, hoặc séc. Kỳ hạn nợ nếu có quy định thì không quá 120 ngày; nếu
không quy định trước thì chỉ có giá trị trong 90 ngày đối với trong nước và
180 ngày đối với ngoài nước;
+ Chiết khấu các trái khoán được bảo đảm:
Các chứng chỉ nhập kho;
Số hoa lợi sắp đến mùa gặt;
Các giấy vận đơn có kèm theo hồ sơ bảo hiểm;
Các giá trị thế chấp hợp lệ mà ngân hàng nước Pháp có thể chấp nhận
chiết khấu được; hoặc được các Chính phủ địa phương bảo đảm;
Ký thác các kim khí quý như: vàng, bạc, đồng,... dưới hình thức thoi
hoặc đúc thành tiền và các đá quý;
Hoặc bằng các cầm cố trong ngành hàng hải.
+ Mua và bán các đồ vật bằng vàng, bạc hoặc đồng;
+ Cầm cố các kim khí quý như: vàng, bạc, đồng,... và đá quý (có ứng
trước tín dụng);
+ Nhận mua các khách hàng gửi vào các tài khoản tại ngân hàng, có trả
lãi suất hay không trả lãi suất: tiền, phiếu cứ và đồ kim khí vàng, bạc hoặc
đồng.
- Những nghiệp vụ được tiến hành tại Paris và tại các chi nhánh và đại
lý của Ngân hàng Đông Dương, bao gồm:
80
+ Nhận thu chi hộ những phiếu cứ cho khách hàng: tư nhân và cơ quan
công cộng;
+ Nếu được ủy nhiệm của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa hoặc của các viên
Toàn quyền, nhận thu tiền phát hành công thải tại thuộc địa hoặc tại chính
quốc;
+ Phát hành các thương phiếu nhận nợ, các thương phiếu đòi nợ hoặc
các ngân phiếu;
+ Cấp các tín dụng thư có bảo đảm;
+ Làm trung gian để nhờ chiết khấu tại Pháp và ở Hải ngoại các thương
phiếu đòi nợ hợp lệ, có kèm theo hồi sơ bảo hiểm;
+ Làm trung gian mua bán tại Pháp hoặc ở Hải ngoại những đồ kim khí
hoặc tiền bằng vàng, bạc và đồng [132; tr.111-112-113].
Ngoài các nghiệp vụ trên, điều 15 còn quy định thêm một số nghiệp vụ
mà Ngân hàng Đông Dương được phép thực hiện:
- Ngân hàng Đông Dương có thể tham gia vào việc phát hành công trái
của Nhà nước ở địa phương mà ngân hàng có đặt cơ sở. Tuy nhiên, tổng sô
đầu tư này không được vượt quá 1/4 số vốn điều lệ. Trừ trường hợp được
phép đặc biệt của Bộ trưởng Bộ thuộc địa và Bộ Ngoại giao khi những công
trái đó do một nước ngoài phát hành;
- Ngân hàng Đông Dương còn có thể tham gia vào việc thành lập
những công ty đầu tư tài chính, kinh doanh kỹ nghệ hoặc thương mại ở nước
mà nó có chi nhánh, nhưng tổng số đầu tư này không được vượt quá 1/3 quỹ
dự trữ của nó;
- Ngân hàng Đông Dương có thể đứng ra thương lượng hộ hoặc đại
diện cho khách hàng [132; tr.113].
Ngoài điều 15, quy định chi tiết các nghiệp vụ mà Ngân hàng Đông
Dương được phép làm. Ở điều 20 và 23, của Sắc lệnh này còn bổ sung thêm
81
một số nghiệp vụ mà Ngân hàng Đông Dương được phép giao dịch như sau:
“Ngân hàng Đông Dương có thể cho vay cầm cố hoa lợi trên đồng. Nếu sau
vụ thu hoạch 08 ngày mà người vay chưa trả được nợ thì Ngân hàng Đông
Dương có quyền đứng ra tổ chức bán phát mãi công khai những vật thế chấp
để thu hồi đầy đủ số vốn, tiền lãi và thủ tục phí”[132; tr.113].
Như vậy, với điều 15, điều 20 và điều 23 của các sắc lệnh trên, chúng ta
thấy rằng: ngoại trừ nghiệp vụ phát hành tiền tệ ra, tất cả các nghiệp vụ còn
lại mà Ngân hàng Đông Dương được phép thực hiện, điều giống với các
nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại. Cho nên có thể gọi tất cả các
nghiệp vụ này là: nghiệp vụ kinh doanh thương mại và đầu tư. Do đó, chúng
ta có thể khái quát sơ lược về các hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng Đông
Dương như sau:
- Về nghiệp vụ phát hành tiền tệ: Theo điều lệ thành lập Ngân hàng
Đông Dương, để cho cơ quan này được hưởng đặc quyền phát hành tiền,
Ngân hàng Đông Dương phải có “một khoản kim khí dự trữ dùng để làm đảm
bảo cho lưu thông tiền giấy”[132; tr.114]. Số kim khí dự trữ này, thông
thường là bạc về sau là vàng và các loại ngoại tệ khác (dolar Mỹ, bảng Anh,
franc Pháp,...) có giá trị chuyển đổi ra vàng.
Căn cứ vào số kim khí dự trữ đó, Ngân hàng Đông Dương sẽ phát hành
ra giấy bạc và đưa vào lưu thông. Số giấy bạc được phép phát hành ra, phải
phù hợp với trữ lượng kim khí dự trữ và không được phép vượt quá 03 lần
tổng mức kim khí dự trữ của các chi nhánh [132; tr.114].
Những tổ chức, cá nhân nào,… nắm giữ số giấy bạc do Ngân hàng
Đông Dương phát hành ra có quyền đến các chi nhánh của Ngân hàng Đông
Dương để yêu cầu đổi ra bạc hoặc vàng hay các loại ngoại tệ khác có giá trị
chuyển đổi ra vàng nếu họ muốn!
82
Thẩm quyền đúc tiền chỉ thuộc về Chính phủ Đông Dương; Ngân hàng
Đông Dương và Sở Đúc tiền Paris (Hôtel des Monnaies de Paris) [126; tr.200]
nếu các cơ quan này thấy có nhu cầu.
- Về nghiệp vụ kinh doanh thương mại và đầu tư: Căn cứ vào điều 15
quy chế hoạt động của Ngân hàng Đông Dương, chúng ta thấy rằng hoạt động
kinh doanh thương mại và đầu tư của Ngân hàng Đông Dương bao gồm nhiều
lĩnh vực như sau:
+ Lĩnh vực nông nghiệp: Ngân hàng Đông Dương có quyền cho các
nông dân vay với đảm bảo hay không đảm bảo;
+ Lĩnh vực công-thương nghiệp: Ngân hàng Đông Dương có quyền
tham dự vào việc thiết lập các công ty. Nâng đỡ các công ty khi gặp khó khăn,
khủng hoảng, cho các ngân hàng thương mại vay tín dụng để kinh doanh, mua
bán,... ;
+ Lĩnh vực thương mại-dịch vụ: Ngân hàng Đông Dương có quyền
nhận tiền ký gửi của các khách hàng thuận đem gửi mình. Phát hành các
chứng chỉ tiền gửi, trái khoán cho các công ty, chi phiếu, séc, những chứng từ
có giá,... ;
+ Lĩnh vực đầu tư tài chính: Ngân hàng Đông Dương được phép mua
bán công thải của các nước, xây dựng các cơ sở ở hải ngoại để mở rộng quy
mô kinh doanh, cho các quốc gia vay tiền khi họ yêu cầu,...
Tóm lại, với các đặc quyền phát hành tiền tệ và kinh doanh thương mại
và đầu tư, Ngân hàng Đông Dương đã trở thành một ngân hàng có thế lực vô
biên nhất của giới tài chính - ngân hàng Pháp ở vùng Viễn Đông. Một ngân
hàng bất khả chiến bại mà giới sử học Pháp gọi là “ngân hàng chúa tể nước
Pháp-Banque Imperiale de Françe”[132; tr.87].
83
2.2.2. Những nghiệp vụ của Ngân hàng Đông Dương
Sau khi Ngân hàng Đông Dương ra đời tại Paris và đặt chi nhánh đầu
tiên tại Sài Gòn vào ngày 19/04/1875, Ngân hàng Đông Dương đã ngay lập
tức đi vào các nghiệp vụ của mình nhằm tìm kiếm lợi nhuận cho những người
đã sáng lập ra nó. Các nghiệp vụ đó tại Nam Kỳ bao gồm: nghiệp vụ phát
hành tiền tệ và nghiệp vụ kinh doanh thương mại và đầu tư.
2.2.2.1. Nghiệp vụ phát hành tiền tệ
Theo điều 2, sắc lệnh của Tổng thống Pháp – Thống chế Mac Mahon,
kí ngày 21-01-1875 quy định “Ngân hàng Đông Dương là một ngân hàng
phát hành”. Và điều 3“đặc quyền này được áp dụng trong một thời gian là
20 năm kể từ ngày 21-01-1875”[132; tr.113]. Với sắc lệnh này, đã chỉ rõ chức
năng của Ngân hàng Đông Dương là phát hành tiền tệ cho xứ Đông Dương và
đặc quyền này được kéo dài trong một thời hạn nhất định là 20 kể từ ngày ký
ban hành sắc lệnh. Nhờ có sắc lệnh này, trong thời gian ngắn Ngân hàng
Đông Dương đã liên tục làm ăn khấm khá, cho nên được Chính phủ Pháp
“đặc cách” cho gian hạn thêm nhiều lần vào các năm 1895, 1888, 1900 và
1931 [132; tr.114].
Cũng theo các sắc lệnh trên, để được hưởng đặc quyền phát hành tiền,
Ngân hàng Đông Dương phải có một khoản kim khí dự trữ. Số kim khí này
thông thường là vàng, bạc hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị chuyển đổi ra
vàng. Căn cứ vào số kim khí dự trữ đó, Ngân hàng Đông Dương sẽ phát hành
ra giấy bạc và đưa vào lưu thông. Tổng số giấy bạc do Ngân hàng Đông
Dương phát hành ra phải phù hợp với trữ lượng kim khí dự trữ và không được
vượt quá 3 lần mức tồn quỹ kim khí của chi nhánh [132; tr.114].
Những tổ chức, cá nhân, hay các cơ quan công quyền nào của Pháp ở
Đông Dương,… nắm giữ số giấy bạc do Ngân hàng Đông Dương phát hành
84
ra, có quyền đến các chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương để yêu cầu đổi ra
vàng, bạc hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị chuyển đổi ra vàng, nếu họ
muốn!
Trên nguyên tắc là như vậy, còn thực tế Ngân hàng Đông Dương đã
không làm theo quy định đó. Trong suốt thời gian tồn tại và phát triển của
Ngân hàng Đông Dương (1875 - 1945), chưa có một lần nào Ngân hàng Đông
Dương có đủ số kim khí dự trữ để đảm bảo cho việc phát hành giấy bạc.
Thậm chí càng về sau, số kim khí dự trữ của ngân hàng ngày càng giảm sút.
Trong khi đó thì số lượng tiền tệ do ngân hàng phát hành ra được đưa vào lưu
thông ngày càng nhiều. Điều đó đã được các nhà sử học Pháp ghi chép như
sau:
Bảng 2.1: Số lượng tiền tệ phát hành và tồn quỹ kim khí đảm bảo dùng
trong lưu thông tiền tệ tại Đông Dương từ năm (1913-1920):
Năm Tồn quỹ kim khí và Khối lượng tiền tệ Tỷ lệ tiền trong
ngoại tệ đảm bảo trong lưu thông lưu thông so vơi
tồn quỹ đảm bảo
Cuối 1913 17.100.000$ 32.200.000$ 1,9 lần
30/06/1918 13.200.000$ 42.500.000$ 3,2 lần
31/12/1918 8.200.000$ 39.600.000$ 4,8 lần
30/06/1919 6.500.000$ 49.200.000$ 7,5 lần
31/12/1919 5.900.000$ 50.100.000$ 8,5 lần
27/03/1920 5.622.912$ 69.800.000$ 11,1 lần
01/04/1920 5.600.000$ 71.000.000$ 12,6 lần
Nguồn: [132; tr.124]
Sự thiết hụt số lượng kim khí dự trữ, dùng cho việc đảm bảo phát hành
giấy bạc đã dẫn đến một hậu quả nghiêm trọng cho nền tài chính Đông
85
Dương. Đó là làm cho đồng bạc Đông Dương bị mất giá trầm trọng so với các
ngoại tệ khác lúc bấy giờ. Theo nghiên cứu của các nhà sử học Pháp vào
tháng 02/1920 đồng bạc Đông Dương đổi được 16 franc. Đến tháng 08 cùng
năm, thì chỉ đổi được 8 franc. Năm sau đồng bạc chỉ còn ăn có 6,75 franc.
Trong những năm 1927 1$ = 13 franc; năm 1928 1$ = 10 franc [126; tr.77-
78].
Còn trong quyển Thống kê Niên giám Đông Dương (Annuaire
Statistique de l’Indochine) thì cho biết chi tiết về sự mất giá của đồng bạc
Đông Dương từ (1939-1941) so với các loại ngoại tệ khác lúc bấy giờ như
sau:
Bảng 2.2: Tỷ giá hối đối của đồng bạc Đông Dương so với các ngoại
tệ khác tại Sài Gòn (1939-1941):
Năm 100 franc 1 US$ 1 HK$ 1 L (bảng Anh)
1939 10$ 4$01 1$10 17$75
1940 10$ 4$41 1$08 17$74
1941 10$ 4$40 1$10 17$74
Nguồn: [126; tr.175]
Sự mất giá của đồng bạc Đông Dương đã tác động mạnh đến chi phí
sinh hoạt hằng ngày của người dân sống tại Đông Dương, làm cho vật giá
không ngừng gia tăng. Trước đây, khi trữ lượng kim khí dự trữ của Ngân
hàng Đông Dương còn tương đối nhiều, đồng bạc Đông Dương được phát
hành ra có số kim khí này bảo đảm, nên đồng bạc ít bị mất giá. Hàng hóa sản
xuất ra và buôn bán tại Đông Dương còn tương đối thấp, thậm chí không
tăng. Người dân sinh sống tại đây tương đối dễ dàng. Nhưng càng về sau, vì
muốn chạy theo lợi nhuận tối đa, Ngân hàng Đông Dương đã cho rút bớt số
kim khí dự trữ dùng đảm bảo cho lưu thông tiền giấy để xuất khẩu ra nước
86
ngoài. Hậu quả của việc làm này, là làm cho đồng bạc Đông Dương bị mất
giá trầm trọng. Vật giá không ngừng gia tăng. Người dân phải bỏ ra nhiều tiền
hơn để trang trải cho cuộc sống hằng ngày, trong khi đó mức lương mà các
công việc mang lại cho họ vẫn như cũ. Tình trạng này đã làm cho đời sống
của nhân dân Đông Dương càng cơ cực, nghèo khổ. Bảng thống kê sau đây
cho thấy chỉ số giá sinh hoạt của người dân sống tại Sài Gòn và Hà Nội từ
năm 1939-1945, không ngừng gia tăng. Điều đó chứng tỏ mức độ lạm phát
trầm trọng của đồng bạc Đông Dương. Chính sự lạm phát này đã kéo theo hệ
lụy là làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta ở ngoài Bắc phải chết đói mà Ngân
hàng Đông Dương là một trong những nguyên nhân gián tiếp gây ra.
Bảng 2.3: Chỉ số giá sinh hoạt của người Âu và người Việt tại hai
thành phố Sài Gòn và Hà Nội (1940-1945):
Tháng, Năm Người Âu Người Âu Người Việt Người Việt
tại Sài Gòn tại Hà Nội Nam lao động Nam lao động
tại Sài Gòn tại Hà Nội
Lấy chỉ số 100 làm căn bản cho thời điểm năm 1939
12/1940 115 122 121 128
12/1941 138 152 138 192
12/1942 165 201 186 266
12/1943 199 330 239 449
12/1944 317 565 399 908
06/1945 361 1011 495 3012
Nguồn: [126; tr.177 và 180]
Không những người dân Việt Nam phải gánh chịu sự mất giá của đồng
bạc Đông Dương mà ngay cả giới sản xuất và thương gia cũng chịu chung số
phận. Do đồng bạc Đông Dương liên tục bị mất giá trị, hàng hóa sản xuất tại
87
Đông Dương đem ra bán ở thị trường quốc tế (thông thường là thị trường
Hồng Kông, Singapoge, các thuộc địa Pháp và thị trường Luân Đôn) tương
đối rẽ hơn so với hàng hóa các nước khác. Đáng lẽ ra họ phải nên vui mừng vì
bán được hàng hóa với số lượng nhiều, thu được lợi nhuận. Nhưng trái lại, đó
là một bầu không khí ảm đảm vì, chi phí sản xuất tại Đông Dương ngày một
gia tăng, các khoản thuế má không ngừng tăng vọt, kéo theo đó là giá bán
hàng tại Đông Dương được đẩy lên cao, nên các nhà sản xuất và thương gia
khó thu được lợi nhuận. Đó cũng là nguyên nhân lý giải, vì sao giới tư bản
Pháp hay nói đúng hơn là những nhà sản xuất, kinh doanh Pháp,... ít chịu đầu
tư tại thuộc địa Đông Dương. Do đó đã làm cho nền kinh tế Đông Dương
trong suốt thời gian dài dưới ách thống trị của thực dân Pháp trở nên lạc hậu,
nghèo khổ hơn,... so với các thuộc địa khác trong khu vực, mà Ngân hàng
Đông Dương là người không thể chối cãi trách nhiệm. Bảng thống kê sau đây,
cho thấy chỉ số giá bán lẽ và bán sỉ các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu hằng
ngày tại hai thành phố lớn Sài Gòn và Hà Nội từ 1939-1945 không ngừng
tăng vọt:
Bảng 2.4: Chỉ số bán lẽ các thực phẩm cơ bản tại hai thành phố Sài
Gòn và Hà Nội (1940-1945):
Năm Người Âu tại Người Việt Người Âu tại Người Việt
Sài Gòn Nam lao động Hà Nội Nam lao động
tại Sài Gòn tại Hà Nội
Lấy chỉ số 100 làm căn bản cho thời điểm năm 1939 để xem chỉ số bán lẽ
1940 118 122 129 132
1941 144 124 158 189
1942 166 141 210 244
1943 197 187 376 418
88
1944 247 280 750 977
1945 349 372 1611 3106
Bảng 2.5: Chỉ số bán sỉ các sản phẩm của Đông Dương (giá: 100 kg):
Lúa Gạo số I Ngô Dừa
1939 5$56 9$27 7$78 13$
1940 7$56 13$20 6$40 12$51
1941 6$56 10$46 7$43 21$40
Bảng 2.6: Chỉ số giá bán sỉ tại thành phố Sài Gòn (1925-1941):
Năm Giá bán sỉ
1925 100
1939 123
1940 158
1941 214
Nguồn: [126; tr.178 và 180]
Đứng trước sự mất giá của đồng bạc Đông Dương do sự giảm sút khối
lượng kim khí dự trữ. Vấn đề đặt ra là: liệu Chính phủ Liên bang Đông
Dương có biết được việc làm phi pháp này của Ngân hàng Đông Dương hay
không ? và Chính phủ sẽ giải quyết vụ việc này như thế nào ?
Theo các nguồn tư liệu mà chúng tôi thu thập được và qua nghiên cứu
của chúng tôi, chúng tôi thấy rằng: Chính phủ Liên bang Đông Dương thừa
biết việc làm này do Ngân hàng Đông Dương gây ra nhưng “cố tình làm ngơ”
[132; tr.119]. Sở dĩ Chính phủ làm như vậy, là vì, trong cơ cấu tổ chức của
Ngân hàng Đông Dương có rất nhiều nhân vật giữ những chức vụ quan trọng
nội các của Chính phủ Liên bang Đông Dương, kể cả Chính phủ Pháp mà
chúng tôi đã có dịp giới thiệu ở phần trên. Đó là sự kim nhiệm giữa những
89
chức vụ “công quyền” với chức vụ “tư doanh”. Do đó, quyền lợi của họ gắn
chặt với nhau thông qua người đại diện là Ngân hàng Đông Dương. Cho nên
Ngân hàng Đông Dương mới có được nhiều đặc quyền to lớn đến thế. Đặc
biệt là đặc quyền phát hành tiền tệ, nó đem lại nguồn thu nhập tài chính chủ
yếu cho Ngân hàng Đông Dương. Giúp cho ngân hàng trở thành kẻ cạnh tranh
không có đối thủ hoặc ít ra cũng làm cho các ngân hàng khác phải phụ thuộc
mình ở Đông Dương.
Còn đối với câu hỏi thứ hai: Chính phủ Liên bang Đông Dương sẽ giải
quyết vụ việc này như thế nào để ổn định lại đồng bạc Đông Dương ?
Để trả lời cho câu hỏi này, chắc hẳn ai có đầu óc suy nghĩ cũng phải
điều nêu ý kiến rằng: bắt Ngân hàng Đông Dương mua vào một số lượng lớn
kim khí dự trữ dùng đảm bảo cho phát hành giấy bạc sau này; rút bớt khối
lượng tiền tệ đang lưu thông trên thị trường về và mang cất vào kho; xử lý
nghiêm về hành vi xem thường pháp luật của Ngân hàng Đông Dương,...
Nếu được giải quyết như thế này thì quả là một tin tốt lành cho nhân
dân Đông Dương và các nhà xuất - nhập cảng, nhưng lạ đời thai Chính phủ
Liên bang Đông Dương giải quyết bằng cách ký với Ngân hàng Đông Dương
một đạo luật ngày 30/12/1920 với hai nội dung chính:
- “Thứ nhất: tiền giấy của Ngân hàng Đông Dương được hưởng chế độ
lưu dụng cưỡng bách, nghĩa là ngân hàng được miễn khỏi phải trả bạc kim
khí cho người cầm giấy;
- Thứ hai: Ngân hàng Đông Dương trở thành một cơ quan phát hành
tiền giấy trực thuộc Chính phủ Đông Dương”[126; tr.203-204].
Với đạo luật này chẳng khác nào tiếp tay cho Ngân hàng Đông Dương
làm giàu hơn nữa. Ngân hàng Đông Dương khỏi phải trả bạc kim khí hay các
kim loại quý khác cho những ai cầm trên tay tời giấy bạc do cơ quan mình
90
phát hành ra. Đồng tiền do ngân hàng phát hành ra có giá trị cưỡng bức trên
toàn cõi Đông Dương, cho nên ngân hàng khỏi phải mua kim khí dự trữ. Từ
đó ngân hàng muốn phát hành bao tiền cũng không bị pháp luật ràng buộc
nữa.
Thêm vào đó là biến ngân hàng từ một cơ quan “tư nhân” trở thành một
cơ quan “trực thuộc” Chính phủ. Với địa vị mới này, ngân hàng sẽ không
ngừng tăng thêm lợi nhuận, nhờ vào việc phát hành giấy bạc cho Chính phủ
vay để chi xài thoải mái mỗi năm.
Để giải thích cho việc ban hành đạo luật trên, Chính phủ Đông Dương
đã viện vào cớ: tình hình kinh tế ở Đông Dương không ngừng phát triển, cần
phải có một khối lượng tiền tệ lớn dùng trong lưu thông, trao đổi hàng hóa;
lúc này, tại chính quốc hay nói đúng hơn là Ủy ban Hối đoái Paris “từ chối
không cho phép mua thêm kim khí bạc cần thiết để đảm bảo cho những cam
kết mới của Ngân hàng Đông Dương nghĩa là phát hành tiền giấy cho xứ
Đông Dương” [126; tr.203]; và cuối cùng là sự biến động của thị trường kim
khí thế giới, đặc biệt là giá vàng, bạc cứ thay đổi không ngừng, làm cho đồng
bạc Đông Dương ít nhiều bị mất giá. Với những lý do đó, đã buộc Chính phủ
Đông Dương ban hành đạo luật nói trên.
Sự ra đời của đạo luật này, đã mang đến kết quả không mấy tốt đẹp cho
nền kinh tế Đông Dương. Chỉ trong thời gian ngắn, bằng các biện pháp
nghiệp vụ của mình Ngân hàng Đông Dương đã phát hành ra một khối lượng
tiền tệ hết sức to lớn mà không cần dựa vào trữ lượng kim khí dự trữ để đưa
vào lưu thông. Bảng thống kê số lượng tiền giấy lưu hành tại Đông Dương
được các nhà sử học Pháp ghi chép sau:
Bảng 2.7: Số lượng tiền giấy lưu hành trên lãnh thổ Đông Dương từ
(1876-1945):
91
Năm Số tiền giấy lưu hành Trữ kim dự trữ (triệu $)
01/1876 120.000$
1880 778.300$
1885 1.403.000$
1890 2.727.600$
1895 7.947.100$
1900 10.677.500$
1905 18.067.600$
1910 23.182.900$ 24.806
1911 25.877.519$ 23.125
12/1913 32.170.000$ 17.100
1914 29.200.000$ 18.000
1915 31.700.000$ 19.000
1916 33.400.000$ 15.600
1917 36.000.000$ 16.500
1918 39.600.000$ 8.200
1919 50.100.000$ 5.900
1920 75.300.000$ 13.400
1921 92.600.000$ 15.900
1922 83.800.000$ 29.800
1923 88.700.000$ 28.300
1924 93.500.000$ 28.300
1925 109.400.000$ 31.000
1926 123.700.000$ 37.300
1927 129.900.000$ 38.900
1928 141.900.000$ 48.100
92
1929 146.200.000$
1930 221.500.000$ 45.000 47,0 ÷ 12,0*
1931 102.100.000$ 27,8 ÷ 12,0
1932 92.900.000$ 26,3 ÷ 12,0
1933 90.400.000$ 33,0 ÷ 12,0
1934 95.200.000$ 38,0 ÷ 12,0
1935 88.300.000$ 54,0 ÷ 12,0
1936 113.400.000$ 80,0
1937 151.300.000$
1938 173.800.000$
1939 216.300.000$
1940 280.400.000$
1941 346.700.000$
1942 494.200.000$ 106.200
1943 740.300.000$ 144.900
1944 1.344.200.000$ 162.000
03/1945 1.575.000.000$ 162.000
08/1945 2.333.800.000$ 162.000
12/1945 2.631.200.000$ 162.000
Nguồn: [132; tr.129]
* Ghi chú: Từ năm 1930-1936: trữ lượng kim khí dự trữ bao gồm: một
phần bằng: vàng và các ngoại tệ khác có giá trị chuyển đổi ra vàng như: franc
Pháp, đôla Mỹ, Livres Sterling (bảng Anh), đôla Hồng Kông...; một phần
bằng bạc (ổn định ở mức 12 triệu $ nằm trong két sắt của ngân hàng Đông
Dương).
93
Chính việc phát hành tiền tệ với số lượng lớn này đã làm cho đồng
bạc Đông Dương bị lạm phát trầm trọng, đến nổi, dư luận Đông Dương phải
lên tiếng phản đối và Chính phủ Pháp buộc phải vào cuộc thì đạo luật trên
mới bị thu hồi. Nhưng mô hình tiền giấy pháp định đã được Ngân hàng Đông
Dương chú ý tới. Một cuộc vận động trong Chính phủ Pháp đã được Ngân
hàng Đông Dương tiến hành để được quyền phát hành giấy bạc với số lượng
lớn mà không cần số kim khí dự trữ. Nhờ có cuộc vận động này, Chính phủ
Pháp đã cho ban hành thêm một vài đạo luật nhằm tăng cường quyền hạn phát
hành giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương.
Đạo luật ngày 31/03/1931 cho khôi phục lại chế độ tiền giấy có bảo
đảm của quý kim (chủ yếu là vàng nên đồng bạc Đông Dương từ thời điểm
này còn được gọi là đồng bạc theo chế độ kim bảng vị) nhưng ban cho Ngân
hàng Đông Dương đặc ân “hủy bỏ chế độ ấn định một giới hạn tối đa cho
việc phát hành tiền giấy (nghĩa là cho phép Ngân hàng Đông Dương phát
hành tiền giấy với số lượng nhiều)”[126; tr.204].
Đạo luật ngày 01/10/1936, cho “ràn buộc đồng bạc Đông Dương vào
đồng franc Pháp” và cho phép Ngân hàng Đông Dương “phải bảo đảm đổi
giấy bạc phát hành ra đồng franc Pháp theo tỷ giá 1$ = 10 franc”[132;
tr.43]. Điều đó có nghĩa là đồng bạc Đông Dương từ nay gắn liền với đồng
franc Pháp, chứ không gắn với bản vị vàng nữa. Ngân hàng Đông Dương có
thể phát hành ra giấy bạc với số lượng lớn trên cơ sở của đồng franc Pháp,
chứ không phải số dự trữ quý kim nằm trong két sắt của ngân hàng. Đến đây
có thể khẳng định, mưu kế của Ngân hàng Đông Dương đã được hoàn thành.
Đặc quyền phát hành tiền tệ của Ngân hàng Đông Dương đã không bị một thứ
pháp luật nào chi phối nữa.
94
Như vậy với nghiệp vụ phát hành tiền tệ được Chính phủ Pháp cho
phép, Ngân hàng Đông Dương đã lợi dụng nó để trục lợi một cách phi pháp,
làm giàu trên xương máu của nhân dân Đông Dương. Nhờ đó ngân hàng đã
nhanh chóng trở nên giàu có. Trở thành một ngân hàng hùng mạnh nhất của
giới tài chính-ngân hàng Pháp ở vùng Viễn Đông.
2.2.2.2. Nghiệp vụ kinh doanh thương mại và đầu tư
Theo sắc lệnh thành lập Ngân hàng Đông Dương vào năm 1875 và
được gia hạn vào các năm 1888, 1900 và 1931, tại điều 15 đã quy định rõ chi
tiết về quy chế hoạt động của ngân hàng (đã được trình bày trong phần sơ
lược nghiệp vụ của Ngân hàng Đông Dương). Ngoài điều khoản này ra, nhà
luật học Henri Baudoin còn cho biết thêm một số nghiệp vụ khác mà Ngân
hàng Đông Dương được phép tiến hành:
- Cho vay và chiết khấu thương phiếu có 2 chữ ký bảo lĩnh hoặc có 1
chữ ký bảo lĩnh và 1 chữ ký được thể hiện bằng 1 thế chấp;
- Nghiệp vụ hối đoái nghĩa là bán, chiết khấu và phát hành các thương
phiếu đòi nợ hoặc các ngân phiếu gửi về chính quốc hoặc gửi đi nước ngoài;
- Nghiệp vụ cầm cố, chiết khấu các loại trái khoán (có thể chuyển
nhượng được và không chuyển nhượng được) có thế chấp bảo đảm thực sự;
- Buôn bán kim khí quý;
- Nhờ thu nhận trả tiền phiếu cứ cho khách hàng;
- Nhận thu tiền bán công thải của Nhà nước;
- Và mở rộng các tài khoản thanh toán để tiến hành các loại nghiệp vụ
ngân hàng thương mại và đầu tư hoặc cho vay nông nghiệp [132; tr.131].
Tất cả các nghiệp vụ trên mà nhà luật học Henri Baudoin cung cấp,
cùng với điều 15 về quy chế hoạt động của Ngân hàng Đông Dương. Chúng
ta có thể chia tất cả các nghiệp vụ đó thành 4 lĩnh vực chính:
- Lĩnh vực nông nghiệp;
95
- Lĩnh vực công - thương nghiệp;
- Lĩnh vực thương mại - dịch vụ;
- Và lĩnh vực đầu tư tài chính.
Việc chia các nghiệp vụ của Ngân hàng Đông Dương thành 4 lĩnh vực
cụ thể để tiến hành nghiên cứu, sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện về
hoạt động của tổ chức này.
- Trước tiên là ở lĩnh vực nông nghiệp: không giống như các ngân
hàng thuộc địa khác của Pháp, Ngân hàng Đông Dương ngay từ khi mới thành
lập đã khoát cho mình một sứ mệnh hết sức thiêng liêng và to lớn là giải
phóng dân bản xứ khỏi nạn cho vay nặng lãi đang hoành hành, bá đạo tại
Nam Kỳ, đồng thời, giúp cho nền nông nghiệp bản xứ có điều kiện phát triển
nhanh chóng. Chúng ta đã được chứng kiến về nạn cho vay nặng lãi tại Nam
Kỳ với mức lãi suất kinh khủng lên tới 400%/năm ở phần trên (hoàn cảnh và
sự ra đời của ngân hàng Đông Dương tại Sài Gòn). Nạn cho vay nặng lãi này
là một gánh nặng nợ nần, không biết đến bao giờ nhân dân bản xứ mới có thể
trả hết ?! Cũng vì nạn cho vay nặng lãi này, mà đã làm cho nhiều gia đình
phải tán gia bại sản, người dân bị bần cùng hóa ngày càng nhiều. Gây ảnh
hưởng xấu đến công tác thu phục nhân tâm của chính quyền thực dân. Chính
vì vậy mà ngay khi thành lập Ngân hàng Đông Dương, trong quy chế hoạt
động của ngân hàng, chính quyền thực dân Pháp đã nhiều lần nhấn mạnh tầm
quan trọng này: “... xuất phát từ mong muốn mạnh mẽ là tránh cho nền nông
nghiệp bản xứ khỏi những kẻ cho vay nặng lãi đầy rẫy ở Nam Kỳ vào thời kỳ
đó, mà sự lạm dụng của nó rất khó tẩy, đe dọa làm phương hại đến sự phát
triển nông nghiệp, sự thịnh vượng chung của thuộc địa” [109; 2].
Với trách nhiệm nặng nề đó, ngay khi mới ra đời, Ngân hàng Đông
Dương đã ngay lập tức cho nghiên cứu và triển khai các hoạt động hỗ trợ tín
dụng nông nghiệp cho người nông dân sinh sống tại đây. Một số lượng lớn tín
96
dụng đã được ngân hàng dự trù để cho nông gia vay theo mùa vụ (còn gọi là
cho vay theo mùa). Đến khi triển khai thực hiện thì kết quả không như mong
đợi. Theo thống kê trong khoảng thời gian từ năm (1886 - 1896) số tiền mà
Ngân hàng Đông Dương cho các nông gia vay để sản xuất nông nghiệp hầu
như chiếm tỷ lệ rất thấp so với các lĩnh vực khác:
+ Năm 1886 : 99.141,07$;
+ Năm 1887: 113.614,50$;
+ Năm 1888: 217.968,00$ [102; 6]
+ Năm 1889: 138.847,50$;
+ Năm 1890: 103.955,12$ [104; 1]
+ Năm 1891: 63.129,31$;
+ Năm 1892: 63.680,27$;
+ Năm 1893: 72.727,19$ [105; 6]
+ Năm 1894: 90.920,60$;
+ Năm 1896: 36.870,00$ [106; 1].
Trong khoảng thời gian tiếp theo (1897-1920) số tiền mà Ngân hàng
Đông Dương cho các nông dân vay cũng chỉ vào khoản 1.365.248$, tức bình
quân mỗi năm Ngân hàng Đông Dương chỉ cho vay khoản 56.885$/năm [91;
tr.158]. Với số tiền cho vay ít ỏi này, đã làm cho Giám đốc Sở Nội vụ Nam
Kỳ phải thốt lên trong một báo cáo gửi đến Phủ Thống đốc ngày 05/09/1885
với nội dung như sau:“Việc cho vay của Ngân hàng Đông Dương đối với
nông dân bản xứ không vượt quá số 70.000$ vào năm cao nhất” [101; 2].
Như vậy việc hỗ trợ tín dụng trong nông nghiệp của Ngân hàng Đông
Dương đã không đáp ứng được kỳ vọng của Chính quyền Thực dân. Trước
nguy cơ thất bại hoàn toàn của loại hình tín dụng này, Chính quyền Thực dân
Pháp đã nhảy vào cuộc nhằm cứu giúp Ngân hàng Đông Dương (vì Chính
quyền Thực dân Pháp có 20% cổ phần trong Ngân hàng Đông Dương nên
97
quyền lợi của Ngân hàng Đông Dương gắn liền với lợi ích của thực dân Pháp.
Vì vậy, thực dân Pháp phải vào cuộc để giúp ngân hàng). Một cuộc tổng điều
tra trên quy mô cả nước được tiến hành nhằm tìm ra nguyên nhân, yếu kém
của hoạt động tín dụng trên. Thông qua một số báo cáo được các chủ tỉnh gửi
về, Ngân hàng Đông Dương đã tìm ra được một số nguyên nhân, yếu kém của
tình trạng trên. Xin trích dẫn ra đây một vài báo cáo mà chúng tôi thu thập
được từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II để làm sáng tỏ cho những yếu kém,
hạn chế trong hoạt động tín dụng nông nghiệp của Ngân hàng Đông Dương.
Báo cáo số 232 ngày 25/07/1901 của Burguele Chủ tỉnh Tân An cho
biết về nguyên nhân làm cho Ngân hàng Đông Dương không thể triển khai
loại hình tín dụng ở nông thôn như sau:
“Từ nhiều năm nay, trong tỉnh Tân An nói riêng, nông dân bản xứ đã
không vay tiền của Ngân hàng Đông Dương, mặc dù mức lãi suất của vay
theo mùa đã liên tục được hạ bớt từ 15 đến 11% và sau đó là 8%/năm. Năm
1889, chỉ có duy nhất một làng ở thị xã đã vay 7000$; kể từ đó không một ai
gửi đơn xin vay nữa.
Tôi đã tra vấn các chánh tổng, các kỳ hào của những làng chính yếu,
đã nghiên cứu những công văn trải lời và báo cáo của họ, trên cơ sở đó tôi có
thể rút ra những kết luận và hân hạnh chuyển đến ngài như sau:
Những nguyên do cản trở thiết chế cho vay theo mùa ở Nam Kỳ dường
như là những điểm sau: sự không hiểu biết các điều kiện vay; sự phức tạp của
thủ tục hành chính; việc bắt buộc hoàn trả vào thời hạn xác định; những
nhũng nhiễu của các kỳ hào,...
Phần lớn các chủ sở hữu nhỏ ở các vùng trong tỉnh, thậm chí ngay ở
quanh thị xã, không hiểu chức năng của tổ chức cho vay theo mùa. Các kỳ
hào thường dùng những biện pháp là nói với người dân rằng Ngân hàng
Đông Dương đã không chấp nhận hết số đơn xin vay. Nói chung các kỳ hào
98
cho rằng tổ chức cho vay theo mùa đã làm cho họ mất quyền lợi hay ít nhất
đã tạo ra cho họ những nghĩa vụ mới. Hiếm có nông dân muốn nhờ cậy đến
tổ chức này vì hầu như chưa bao giờ họ biết chính xác tổ chức vận hành
trong điều kiện nào và trong khi gửi đơn xin vay cho các kỳ hào, họ không
sao có thể biết những đơn ấy có được gửi đi hay không và cuối cùng có kết
quả không, họ chỉ được báo cho những sơ lược. Những chỉ dẫn sơ lược này
đủ để làm kiếp sợ những người bản xứ và làm họ giữ lại đơn xin vay. Từ đó
suy ra đối với họ rằng người ta yêu cầu họ cung cấp quá nhiều các thông tin
chính xác về tình trạng, diện tích, công việc sản xuất trên số đất đai của họ,
họ phải bắt buộc làm đơn, buộc phải thường xuyên lên thị xã mà tiền vay
được thì phải chờ quá lâu. Những thủ tục này làm họ khiếp sợ, trong trường
hợp có nhu cầu, họ buộc phải cầu đến những chủ sở hữu giàu hay những kỳ
hào, những kẻ luôn luôn ở ngay bên cạnh họ, đem vốn đến cho họ dù lãi có
cao hơn, cho họ vay ngay lập tức, không cần phải ký tá và thủ tục. Hơn nữa,
những chủ sở hữu giàu hay những kỳ hào cho họ vay tiền theo kỳ hạn mà họ
muốn, với quyền hạn họ được lùi lại kỳ hạn trả gần như không xác định, trong
khi khoản vay của Ngân hàng Đông Dương buộc họ phải trả trong một thời
hạn ấn định và số tiền vay chỉ giới hạn trong số ⅓ giá trị của vụ mùa có thể
thu hoạch.
Hai điều bắt buộc cuối cùng này, trong khi chờ đợi những thủ tục cho
vay theo mùa được rút bớt đi, vẫn sẽ còn là nguyên nhân chính, lâu dài cản
trở người nông dân. Người bản xứ vay tiền của những người Annam khác biết
rõ phải trả tiền trong một giai đoạn nào đó, nhưng giai đoạn này không xác
định và rất rộng rãi; họ biết rằng họ không thể trả vào thời hạn ấn định, họ
tìm thấy được những điều kiện dễ dàng ở người chủ nợ của họ. Họ vay tiền
gần như vô kỳ hạn vì nghĩ rằng dù vụ mùa tới họ không trả được nợ, nhưng
với lòng tin, họ cho rằng họ sẽ có thể chờ đến mùa sau.
99
Không đề phòng trước, người nông dân không thích phải bận tâm lâu
đến số tiền ứng trước kết quả lao động của họ, họ biết điều đó miễn cưỡng và
rằng điều đó phụ thuộc vào sự bình yên sắp đến của họ; có vay có trả. Phải
chăng họ đã tìm thấy thuận tiện biết mấy khi vay của một kỳ hào ? Vào thời
điểm trả tiền, họ trả những khoản lãi quy định trước đó, xin hoãn luôn được
chấp nhận, xin vay một khoản vay mới với lãi cao hơn và cứ như thế mỗi một
kỳ hạn mới. Mỗi lần họ chỉ trả một khoản tiền tối thiểu đủ cho đến ngày số
vốn vay đã quá lớn, họ không còn khả năng trả tiền lãi; khi ấy họ lẩn tránh
bằng cách bỏ trốn, để lại tài sản của mình cho chủ nợ. Nhưng vào lúc vay tiền
thì việc phải bỏ trốn ấy đối với họ là rất xa, còn có thể trì hoãn được, họ
không vì thế mà buồn, họ không vì thế mà thấy phiều toái trong công việc của
mình và họ để mặc điều đó cho đến lúc nào họ muốn. Các kỳ hào, khi áp dụng
hoạt động của chế độ cho vay theo mùa, đã khai thác ngay sự bắt buộc người
vay trả vào thời hạn cứng nhắc này, dựa ngay vào các thủ tục phiền nhiễu
phải làm này, dựa trên lý do phải mất rất nhiều thời gian để tránh rủi ro. Bởi
vì các kỳ hào và những chủ sở hữu chính hoàn toàn có lợi trước thực trạng
cách biệt giữa cư dân vay tiền và Ngân hàng Đông Dương. Là những kẻ
chiếm phần lớn đất đai, họ muốn có nhiều quyền hạn chắc chắn hơn nữa,
quyền hạn đè nén bắt nạt những chủ sở hữu nhỏ một cách dễ dàng và họ đã
đạt được mục đích này bằng cách nắm lấy tiền mà người ta cho họ vay.
Những người vay nợ rốt cuộc phải làm ngơ cho những kẻ cho họ vay, những
kẻ muốn đuổi họ ra khỏi nhà họ để chiếm lấy tài sản của họ. Cuối cùng, mặc
dù tất cả điều đó ngăn cản nhưng các nông dân đã trông cậy vào hoạt động
cho vay theo mùa. Người ta thấy hiếm có khi kỳ hào không đòi tiền của người
xin vay. Đôi khi kỳ hào biết những người xin vay này thành kẻ phục vụ làm
giàu cho họ, cho những kẻ giữ lấy tiền vay của Ngân hàng Đông Dương và
cho người nông dân vay lại với lãi suất cho vay nặng lãi.
100
Thông thường vì vậy mà những nông dân nghèo không được hưởng một
chút lợi ích nào từ số tiền giá rẻ của Ngân hàng Đông Dương. Nếu họ có thể
vay được tiền trong những điều kiện thuận lợi, họ rơi ngay vào tình cảnh phải
dùng tiền vay được để trả cho kỳ hào...” [108; 1].
Còn biên bản buổi họp ngày 05/09/1903 của Hội đồng hàng tỉnh, tỉnh
Sóc Trăng có ghi nhận những thịnh nguyện của Hội đồng gửi cho Tham biện
chủ tỉnh về cho vay theo mùa như sau:
“Chúng tôi xin ngài gửi đến quan Thống đốc Nam Kỳ những lời cầu
xin của chúng tôi để quan Thống đốc can thiệp cho những người vay tiền theo
quy chế cho vay theo mùa như sau:
Chúng tôi nghe nói rằng Ngân hàng Đông Dương than phiền về số
người vay tiền rất ít. Đó là do thời hạn ngân hàng chấp nhận cho vay tiền quá
ngắn (1 năm). Có nhiều chủ sở hữu xin vay tiền để làm những công trình lớn,
những công trình này luôn đòi hỏi phải có thời gian lâu, vì thế họ không dám
vay tiền của nhà băng với thời hạn 1 năm.
Chúng tôi xin Ngân hàng Đông Dương trong tương lai cho phép thời
hạn kéo dài lên 3 năm; cứ cuối mỗi năm người vay chúng tôi xin trả phần lãi,
số vốn sẽ trả cho Ngân hàng Đông Dương vào cuối năm thứ ba.
Đây là điều kiện duy nhất có thể làm cho số người vay tiền của ngân
hàng tăng lên.
Ký tên: Trần Phong Nhiêu, Lương Đức Trung, Trương Chánh Viên,
Hứa Mạnh, Đỗ Khắc Long, Trần Minh Trí, Lâm Thại, Lý Keo” [107; 5].
Còn theo nhà nghiên cứu Phạm Quang Trung trong Lịch sử Tín dụng
Nông nghiệp Việt Nam (1875-1945) thì cho rằng: sở dĩ Ngân hàng Đông
Dương không thể giành ưu thế trong hoạt động tín dụng nông nghiệp là vì:
101
+ Các thủ tục hành chính quá phức tạp. Nhiều điểm trong quy chế
không phù hợp với thực tế, không phù hợp với phong tục tập quán của nông
dân Việt Nam.
+ Tín dụng cho vay theo mùa bị các chức dịch, kỳ hào làng xã, những
kẻ đầy tham lam, cậy quyền, nhũng lạm lũng đoạn và lợi dụng biến thành
công cụ bóc lột kẻ khác để tăng cường quyền lực và làm giàu.
+ Trong quá trình tổ chức và chỉ đạo, chính quyền Nhà nước đã tỏ ra rất
yếu kém, bất lực nếu không muốn nói là đồng lõa với tầng lớp hào lý cơ sở; vì
bị các hào lý, chức dịch cơ sở lũng đoạn và bưng bít, khâu tuyên truyền,
quảng cáo quá kém, dân chúng hầu như không biết và không hiểu gì về chế
độ cho vay theo mùa cùng các quy chế, thủ tục của chế độ này [91; tr.186].
Học giả Lê Đình Chân với công trình Lược sử tiền tệ Việt Nam thì cung
cấp thêm nguyên nhân vì sao người nông dân Việt Nam không dám làm đơn
xin vay tiền của Ngân hàng Đông Dương. Theo học giả, sở dĩ nông dân Việt
Nam ngại vay tiền của Ngân hàng Đông Dương vì phần lớn nông dân Việt
Nam mù chữ nên trong tâm lý của họ, “họ trông thấy ngân hàng quá ư to tát,
đồ sộ thường sợ sệt, không dám đến thẳng hỏi vay” [126; tr.209].
Nhờ những báo cáo này, đã giúp cho Ngân hàng Đông Dương kịp thời
điều chỉnh để kinh doanh nông nghiệp có hiệu quả hơn. Thật vậy, từ sau khi
Ngân hàng Đông Dương được Chính phủ Pháp cho gian hạn đặc quyền phát
hành giấy bạc vào ngày 21/03/1931, ngân hàng đã chú ý nhiều hơn đến lĩnh
vực này, với số tín dụng lên tới 30 triệu đồng [126; tr.205], ngân hàng đã
nhanh chóng cho triển khai nhiều loại hình tín dụng mới tại nông thôn Nam
Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Tại Nam Kỳ, ngân hàng cung cấp tín dụng với mức lãi suất thấp cho
Hội Nông tín tương tế bản xứ (Société indigéne de crédit agricole mutuel- viết
tắt là CICAM) còn gọi là Hội Nông tín tương tế Nam Kỳ [91; tr.216]. Nhờ có
102
khoản tín dụng với mức lãi suất thấp này (thông thường là 8%/năm), chỉ trong
thời gian ngắn ngân hàng đã làm ăn khấm khá, số tiền mà Ngân hàng Đông
Dương cho Hội Nông tín tương tế bản xứ vay không ngừng gia tăng. Kéo
theo đó, số lãi thu về ngày một nhiều hơn. Theo thống kê từ 1925-1934, số
tiền Ngân hàng Đông Dương cho giới nông gia trong Hội Nông tín tương tế
bản xứ vay như sau:
+ Năm 1925: 2.947.000$;
+ Năm 1926: 3.545.000$;
+ Năm 1927: 4.430.000$;
+ Năm 1928: 5.959.000$;
+ Năm 1929: 9.489.000$;
+ Năm 1930: 12.086.000$;
+ Năm 1931: 11.172.000$;
+ Năm 1932: 12.002.000$;
+ Năm 1933: 11.036.000$;
+ Năm 1934: 10.462.000$ [121].
Số tiền lãi ngân hàng thu được:
+ Năm 1931: 875.428,28$;
+ Năm 1932: 612.107,94$;
+ Năm 1933: 423.264,11$;
+ Năm 1934: 348.413,72$;
+ Năm 1935: 538.779,38$ [100].
Những năm tiếp theo số tiền lãi Ngân hàng Đông Dương thu được:
+ Năm 1939: 253.684,91$;
+ Năm 1940: 127.373,60$;
+ Năm 1941: 43.490,40$;
+ Năm 1942: 18.098,77$;
103
+ Năm 1943: 508,21$ [121].
Còn tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, tình hình cũng diễn ra tương tự, Ngân
hàng Đông Dương đã cùng với giới địa chủ, kỳ hào tại đây thành lập ra Ngân
hàng Nông phố (Banque de Crédit populaire agricole - viết tắt là CPA) để
cung cấp tín dụng cho các hoạt động sản xuất của nông dân. Theo số liệu
thống kê, số tiền Ngân hàng Đông Dương cho Nông phố Ngân hàng vay để
hỗ trợ tín dụng cho nông dân là 11.347.113,03$ [91; tr.337].
Như vậy, ở lĩnh vực nông nghiệp, tuy gặp nhiều khó khăn, yếu kém
trong thời gian đầu, nhưng dưới sự giúp đỡ của Chính quyền Thực dân Pháp
Ngân hàng Đông Dương đã dần trở nên lớn mạnh, trở thành người cung cấp
tín dụng chủ yếu cho các hoạt động nông tín tại Đông Dương. Từ đó, chi phối
hoàn toàn nền nông nghiệp bản xứ.
Quá trình này còn tiếp tục diễn ra ở lĩnh vực công - thương nghiệp.
- Lĩnh vực công - thương nghiệp: đây là lĩnh vực đem lại nguồn lợi
nhuận to lớn cho Ngân hàng Đông Dương nên rất được ngân hàng chú ý tới.
Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, tính đến trước thời điểm 1945 tổng số
tiền Ngân hàng Đông Dương bỏ vào đầu tư cho lĩnh vực này lên tới 1 tỷ 316
triệu đồng [132; tr.132]. Sở dĩ ngân hàng đầu tư cho lĩnh vực này nhiều như
vậy, là vì, vào thời điểm trước 1875 các doanh nghiệp, xí nghiệp Pháp,... đang
làm ăn mua bán tại đây, phần lớn là những doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc là
làm thầu phán cho các công ty, đại lý của nước ngoài chủ yếu là Anh và Đức,
nên vốn liếng kinh doanh của những công ty này tương đối nhỏ không đủ sức
cạnh tranh với các công ty lớn của nước ngoài.
Trước sự yếu kém, hạn chế của các doanh nghiệp Pháp, Ngân hàng
Đông Dương khi mới ra đời và đi vào hoạt động, đã tính ngay đến việc cung
cấp tín dụng cho các đối tượng này. Nhờ có các khoản tín dụng mà Ngân
104
hàng Đông Dương hỗ trợ, các công ty này nhanh chóng ăn nên làm ra, dần
hình thành thế lực độc quyền tại Đông Dương.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Mẫu quốc tuy là nước thắng trận,
nhưng tình hình kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, chính phủ không thể hỗ
trợ nhiều cho các doanh nghiệp, xí nghiệp nên các công ty này gặp rất nhiều
khó khăn trong việc kinh doanh. Đúng lúc đó, Đông Dương không hề bị chiến
tranh tàn phá, kim ngạch xuất khẩu luôn ở giá trị dương, lại được Ngân hàng
Đông Dương sẵn sàng hỗ trợ tín dụng bất cứ lúc nào nên các công ty ở thuộc
địa này ăn nên làm ra. Trước thực tế đó, Đông Dương đã trở thành một nơi lý
tưởng, thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư từ chính quốc đến làm ăn mua bán tại
đây. Nhờ vậy, Ngân hàng Đông Dương đã làm giàu một cách nhanh chóng.
Từ đó, ngân hàng chi phối toàn bộ nền kinh tế Đông Dương.
Điểm đặc biệt trong việc đầu tư ở lĩnh vực công - thương nghiệp của
Ngân hàng Đông Dương là: ngân hàng “trực tiếp” bỏ tiền vào việc thành lập
các công ty để các công ty này đứng ra hoạt động kinh doanh cho ngân hàng.
Hoặc “gián tiếp” thông qua các công ty để chỉ đạo hoạt động kinh doanh của
chúng nhằm mang về cho mình phần lợi nhuận nhiều hơn. Theo nghiên cứu
của nhà kinh tế học Pháp, học giả Pierre Naville trong công trình La guerre
du Vietnam cho biết, trước chiến thế giới thứ 2, Ngân hàng Đông Dương đã
trực tiếp kiểm soát 16 công ty lớn đang hoạt động kinh doanh tại Đông
Dương bao gồm:
+ Địa ốc ngân hàng (Crédit Foncier de l’Indochine) năm 1923;
+ Công ty đường sắt Đông Dương và Vân Nam thành lập năm 1901
(Compagnie française des chemins de fer de l’Indochine et du Yunnan);
+ Công ty chuyên chở đường sông Nam Kỳ (Messageries fluviales de
la Cochinchine) năm 1881;
105
+ Công ty chở hàng và dắt tàu Đông Dương (Sté anonyme de
chalandage et de remorque de l’Indochine) năm 1921;
+ Công ty Pháp khai thác than Bắc Kỳ (Sté française des Charbonnages
du Tonkin) năm 1888;
+ Công ty Kền (Le Nickel);
+ Công ty Thiếc và Wôn-phram Bắc Kỳ (Sté des Etains et Wolfram du
Tonkin) năm 1911;
+ Công ty Điện nước Đông Dương (Cie des Eaux et d’Electricite de
l’Indochine) năm 1900;
+ Công ty Cao su Đông Dương (Sté Indochinoise des Plantations
d’heveas, do công ty cao su An Lộc, Suzannah và Bến Cát hợp thành năm
1935);
+ Công ty Cao su Kompongthom (Sté des caoutchoucs de
Kompongthom);
+ Công ty Đông Dương nông phẩm nhiệt đới (Sté Indochinoise de
cultures tropicales) năm 1925;
+ Công ty cất rượu Pháp (Sté française des Distilleries de l’Indochine)
năm 1901;
+ Công ty xi măng Póoc-lăng nhân tạo Đông Dương (Sté des Ciments
Portland artificiels de l’Indochine) năm 1899;
+ Công ty Rừng và Diêm Đông Dương (Sté Indochinoise forestière et
des Allumettes) năm 1904;
+ Xưởng Thuốc lá Đông Dương (Manufactures Indochinoise de
Cigarettes) năm 1929;
+ Nhà máy Đường và Cất rượu Đông Dương (Sucreries et Raffineries
de de l’Indochine) năm 1923 [132; tr.99].
106
Những công ty kể trên, phần lớn nằm ở tất cả các ngành, nghề then chốt
của nền kinh tế Đông Dương. Do đó các công ty này có thể chi phối toàn bộ
nền kinh tế Đông Dương. Nếu chúng ta làm một phép tính cộng để cộng toàn
bộ số tài sản và số lợi nhuận hàng năm mà các công ty này kiếm được, thì sẽ
thấy đây quả là số tiền kinh khủng. Điều đó cũng đủ lý giải vì sao Ngân hàng
Đông Dương có thể làm mưa, làm gió ở thuộc địa Đông Dương mà không hề
sợ bất cứ thế lực nào cạnh tranh với nó. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà
các nhà kinh tế học Pháp thường gọi Ngân hàng Đông Dương là Tập đoàn tài
chính Ngân hàng Đông Dương để chỉ sức mạnh ghê gướm của ngân hàng
này.
Ngoài việc trực tiếp điều khiển các công ty trên, Ngân hàng Đông
Dương còn mua nhiều cổ phần trong các công ty khác, trở thành một cổ đông
lớn của các công ty này. Thông qua các công ty này, ngân hàng giám sát hoạt
động của nó một cách có hiệu quả để mang về cho mình phần lợi nhuận cao
nhất. Mặt khác, với tư cách là một cổ đông lớn của công ty, nếu công ty gặp
nhiều khó khăn trong việc kinh doanh, ngân hàng có thể bỏ tiền ra giúp đỡ các
công ty này. Với lối kinh doanh gián tiếp như thế, Ngân hàng Đông Dương đã
nâng tổng số công ty mà mình chi phối lên con số 80 [132; tr.100]. Bao gồm
tất cả các ngành, nghề như: tín dụng, địa ốc, đồn điền trồng cao su, chè, cà
phê, ngành vận tải biển, làm muối, công chính, khai khoáng, xây dựng,...
(Phần này sẽ được chúng tôi giới thiệu trong mục phụ lục về Mối quan hệ mật
thiết giữa Ngân hàng Đông Dương và các công ty đầu sỏ khác của tư bản
Pháp).
Theo số liệu công bố từ Cục Thống kê Đông Dương, tính đến thời điểm
năm 1943, tại Đông Dương có 191 công ty, được phân bố như sau:
+ 147 công ty hoàn toàn của người Pháp;
+ 20 công ty Pháp - Việt;
107
+ 01 công ty Pháp - Việt - Trung;
+ 02 công ty Pháp - Trung;
+ 03 công ty Pháp - Nhật [132; tr.97].
Trong số 191 công ty kể trên, riêng Ngân hàng Đông Dương trực tiếp
điều hành 16 công ty lớn nắm vị trí then chốt ở tất cả các ngành. Số còn lại
thông qua hình thức tín dụng của mình, Ngân hàng Đông Dương cũng phần
nào chi phối hay gây ảnh hưởng ít hoặc nhiều đối với các công ty trên. Qua đó
thấy được tầm ảnh hưởng của Ngân hàng Đông Dương đáng sợ đến chừng
nào.
Thực lực kinh tế này còn được thể hiện trên lĩnh vực thương mại - dịch
vụ.
- Lĩnh vực thương mại - dịch vụ: không những làm ăn thành đạt ở các
lĩnh vực kể trên, Ngân hàng Đông Dương còn phát triển sự nghiệp của mình
sang cả lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Trước khi Ngân hàng Đông Dương
ra đời, phần lớn lĩnh vực thương mại và dịch vụ tại đây chưa phát triển lắm.
Thêm vào đó, trong thời kỳ này, lĩnh vực thương mại và dịch vụ tại Đông
Dương còn nhiều hạn chế, nên lĩnh vực này không được ngân hàng chuộng
cho lắm. Vì vậy mức lãi suất “các nghiệp vụ của Ngân hàng Đông Dương
bao giờ cũng cao hơn mức lãi suất của các ngân hàng đồng loại (vì ngân
hàng đặt chi nhánh ở những nơi có nền kinh tế chưa phát triển và thiếu thốn
về tín dụng). Mức lãi suất chiết khấu trung bình của Ngân hàng Đông Dương
là từ 6% cho đến 12% cao hơn mức lãi suất chiết khấu của chính quốc
3%”[126; tr.213].
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, làn sóng các nhà đầu tư từ chính quốc
sang Đông Dương ngày càng nhiều. Theo nghiên cứu của nhà sử học Pháp
Jean-Pierre Aumiphin trong công trình Sự hiện diện tài chính và kinh tế
Pháp ở Đông Dương (1859-1939) cho biết: từ năm 1919-1930, Đông Dương
108
có 135 công ty vô danh được thành lập và đến năm 1939 số công ty này tăng
lên 269 công ty [39; tr.87]. Với số lượng các công ty trên, đã góp phần không
nhỏ vào sự mở mang của nền kinh tế thuộc địa. Do đó mà các loại hình
thương mại, dịch vụ như: nhận tiền ký thác của các khách hàng; chiết khấu
các thương phiếu nhận nợ, đòi nợ cho các doanh nghiệp; phát hành các chứng
chỉ nhập kho; in hóa đơn thanh toán, tạm ứng; cấp phát các tín dụng thư; nhận
ủy thác các kim loại quý cho các khách hàng (vàng, bạc, đá quý,...); mua bán
vàng, bạc, đồ trang sức, ngoại tệ,...; dịch vụ cầm cố; thực hiện nghiệp vụ hối
đối tiền tệ của các nước; phát hành công trái cho chính phủ; trái phiếu cho
doanh nghiệp,... ngày càng nở rộ. Chính sự phát triển của các loại hình dịch
vụ trên đã làm cho con mắt của Ngân hàng Đông Dương phải thèm thuồng,
muốn chiếm lấy thị phần béo bỡ này. Vì vậy đã thu hút một số lượng lớn tín
dụng của Ngân hàng Đông Dương đầu tư vào đây. Trong một tờ trình của
ngài Valude - thuyết trình viên tại Nghị viện Pháp, cho biết số tín dụng Ngân
hàng Đông Dương đầu tư trong năm 1921 là 208 triệu franc (1$ = 6,50 franc).
Trong đó, thị phần đầu tư vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ chiếm đến
47%/tổng số tiền đầu tư của năm (lĩnh vực kỹ-nghệ là 30%; khai thác mỏ là
12%; nông nghiệp là 11%) [126; tr.214].
Nếu tờ trình trên là đúng sự thật thì số tiền mà Ngân hàng Đông Dương
đầu tư cho lĩnh vực thương mại - dịch vụ sẽ là 83 triệu 200 ngàn franc. Nếu
quy đổi đồng franc sang tiền Đông Dương theo thời giá hối đoái 1$ = 6,50
franc, thì số tiền sẽ là 12.800.000$. Vào thời điểm năm 1921, không một tổ
chức hay cơ quan tín dụng nào tại Đông Dương dám bỏ ra số tiền to lớn trên,
để đầu tư cho lĩnh vực thương mại - dịch vụ. Ấy vậy, mà Ngân hàng Đông
Dương giám bỏ ra số tiền khủng đó, để đầu tư cho thương mại - dịch vụ tại
Đông Dương thì cũng đủ hiểu vì sao Ngân hàng Đông Dương hầu như không
có đối thủ cạnh tranh trên chiến trường này.
109
Nhờ tăng cường đầu tư cho lĩnh vực này, nên Ngân hàng Đông Dương
đã không ngần ngại thao túng luôn thị trường lãi suất ngắn hạn. Từ đó khống
chế luôn lĩnh vực thương mại - dịch vụ tại đây. Theo nghiên cứu của Nguyễn
Anh Tuấn từ công trình Chính sách tiền tệ Việt Nam mức lãi suất chiết khấu
trung bình của Ngân hàng Đông Dương là từ 12% cho đến 14% [132; tr.139]
và từ 6% cho đến 9% đối với lãi suất cho vay trên hàng hóa [126; tr.214]. Nếu
như trước đây, mức lãi suất chiết khấu là từ 6% cho đến 12% thì bị ngân hàng
Trung ương Pháp (Banque de Française) than phiền là quá cao. Giờ đây, với
mức lãi suất chiết khấu mới thì nên gọi là gì ? Chính với mức lãi suất khủng
này, nên không ít nhà sử học Pháp đã gọi Ngân hàng Đông Dương là kẻ buôn
tín dụng.
Với mức lãi suất này, Ngân hàng Đông Dương đã thu về cho mình một
khoản lợi nhuận kết sù, từ các loại hình dịch vụ thương mại của ngân hàng,
giúp cho ngân hàng ngày càng giàu hơn. Bảng thống kê sau đây cho thấy số
lợi nhuận Ngân hàng Đông Dương thu được (năm 1919) từ các loại hình dịch
vụ của ngân hàng như sau:
Bảng 2.8: Các dịch vụ tài chính của Ngân hàng Đông Dương (1919):
Chi nhánh Chiết khấu Cho vay Nghiệp vụ Trương mục
ngân hàng thương phiếu (franc) hối đoái ký thác tiền
Đông Dương (franc) (franc) gửi (kết số
dư) (franc)
Sài Gòn 114.000.000 309.000.000 375.000.000
Pnom Penh 26.700.000 5.120.000 45.000.000
Battam bang 4.000.000 310.000 4.000
Hải Phòng 16.000.000 70.000.000 182.000.000
Hà Nội 35.000.000 54.000.000 105.000.000
Đà Nẵng 7.000.000 5.000.000 27.000.000
110
Tổng cộng: 202.700.000 443.420.000 738.000.000 40.895.000
Nguồn: [126; tr.215]
Như vậy, với việc đầu tư nhiều tín dụng cho lĩnh vực thương mại-dịch
vụ, Ngân hàng Đông Dương đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần to lớn này.
Từ đó, khống chế luôn thị trường lãi xuất ngắn hạn, thu về cho mình những
khoản lợi nhuận kết sù mà không một tổ chức hay cơ quan tín dụng nào tại
Đông Dương có thể sánh kịp. Đây quả là một chiến dịch thành công ngoài
mong đợi của Ngân hàng Đông Dương.
Chiến dịch này còn được ngân hàng thể hiện trên lĩnh vực đầu tư tài
chính.
- Lĩnh vực đầu tư tài chính: có thể nói trước khi Ngân hàng Đông
Dương thành lập và đi vào hoạt động đầu tiên tại Sài Gòn, thì nền thương mại
Pháp tại Viễn Đông hầu như là con số 0. Sở dĩ có hiện tượng này là vì, trong
suốt thế kỷ XVIII, XIX “nhân tài của Pháp đã bị thu hút hết vào các sự vụ
nhà nước hoặc các sứ mệnh phục vụ giáo hội”[98; tr.101]. Cũng vì lý do đó,
đã làm cho nền thương mại Pháp tại Viễn Đông hầu như không thể cạnh tranh
nổi với nền thương mại các nước, đặc biệt là với thương nhân người Anh và
Trung Hoa. Chính sự yếu kém này, đã làm cho giới doanh nghiệp Pháp không
thể chen chân nổi vào thị trường lục địa Trung Hoa và các nước khác trong
khu vực.
Đó là một sự nhục nhã đối với nước Pháp, vì từ lâu nước Pháp được
xem như là một nước “nghĩa hiệp nhất” tại châu Âu [98; tr.101] mà lại không
tìm được những khoản lợi nhuận nào, từ các hoạt động mua bán tại Viễn
Đông. Do đó, khi Ngân hàng Đông Dương được thành lập, Chính phủ Pháp
đã cho mở rộng quy chế hoạt động của ngân hàng lên mức cao nhất, mà
không một tổ chức ngân hàng nào của Pháp có thể làm được. Theo đó:
111
+ Ngân hàng Đông Dương được phép tham dự vào những công thải của
quốc gia, kể cả những công thải của ngoại quốc;
+ Ngân hàng được tham dự vào việc đầu tư tài chính [126; tr.211].
Tại điều 15, điều khoản kèm theo quy chế hoạt động của ngân hàng đã
nói rõ hơn về nghĩa vụ trên như sau:
“Ngân hàng Đông Dương có thể tham dự vào những công thải Quốc
gia tại những nước mà cơ quan có đặt chi nhánh. Nhưng những tham dự này
không bao giờ được quá ¼ số vốn của cơ quan, trừ khi nào có sự cho phép
của Bộ Thuộc địa, sau khi Bộ Ngoại giao đã ưng thuận”[126; tr.211].
Với điều khoản trên, Ngân hàng Đông Dương chính thức đã trở thành
một ngân hàng đầu tư tài chính của giới tài phiệt Pháp. Nhờ có điều khoản
này, mà ngân hàng có thêm địa bàn để phát huy thanh thế. Để thực hiện được
điều đó, ngân hàng đã sử dụng tối đa đặc quyền phát hành tiền tệ của mình tại
Đông Dương để làm một cách giàu nhanh chóng. Rồi vơ vét số tài sản vừa
bòn rút được của nhân dân Đông Dương, mang ra nước ngoài để đầu tư, kinh
doanh. Kết quả là ngân hàng đã không phụ lòng tin cậy của Chính phủ Pháp
và giới thương nhân đang làm ăn mua bán tại đây. Chỉ trong thời gian ngắn,
ngân hàng đã liên tục làm ăn khấm khá, vốn điều lệ của ngân hàng không
ngừng gia tăng. Từ 8.000.000franc lúc ban đầu, tăng lên 24.000.000 franc vào
năm 1900. Rồi tăng lên 72 triệu franc vào năm 1920 và 157,2 triệu franc vào
năm 1946 [39; tr.25]. Nhờ sự tăng trưởng nhanh chóng này, đã giúp cho ngân
hàng không ngừng mở rộng phạm vi hoạt động ra các nước bên ngoài. Từ đó
vươn ra khống chế một phần kinh tế ở những nơi nào ngân hàng có đặt chi
nhánh.
Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Quang Trung trong công trình Lịch
sử tín dụng nông nghiệp Việt Nam (1875-1945) thì Ngân hàng Đông Dương
đã xây dựng được cho mình một hệ thống chi nhánh rộng khắp mọi nơi trải
112
dài từ châu Á tới châu Âu qua châu Phi sang cả châu Mỹ và Nam Mỹ xa xôi.
Các chi nhánh đó bao gồm:
- Chi nhánh Sài Gòn (1875);
- Chi nhánh Pondichéry (1876);
- Chi nhánh Hải Phòng (1885);
- Chi nhánh Hà Nội (1886);
- Chi nhánh Nouméa (1888);
- Chi nhánh Phnôm Pênh (1890);
- Chi nhánh Đà Nẵng (1891);
- Chi nhánh Hồng Kông (1894);
- Chi nhánh Thượng Hải (1898);
- Chi nhánh Quảng Đông (1902);
- Chi nhánh Hán Khẩu (1902);
- Chi nhánh Singapore (1905);
- Chi nhánh Papeete Nam Mỹ (1905);
- Chi nhánh Bắc Kinh (1907);
- Chi nhánh Thiên Tân (1907);
- Chi nhánh Vân Nam (1920);
- Chi nhánh Nam Định (1926);
- Chi nhánh Cần Thơ (1926);
- Chi nhánh Vinh (1927);
- Chi nhánh Quy Nhơn (1928);
113
- Chi nhánh Huế (1929);
- Chi nhánh London (1940);
- Chi nhánh Tokyo (1942);
- Chi nhánh Đà Lạt (1943) [91; tr.50-51].
Còn theo quyển L’Indochine Moderne năm 1931 ngoài các chi nhánh
vừa kể trên, Ngân hàng Đông Dương còn có thêm các chi nhánh khác nữa. Đó
là:
- Chi nhánh Marseille;
- Chi nhánh Bordeaux;
- Chi nhánh Djibouti;
- Chi nhánh Bangkok;
- Chi nhánh Battambang;
- Chi nhánh Canton;
- Chi nhánh Fort Bayard;
- Chi nhánh Mongtze;
- Chi nhánh Yunnanfou;
- Chi nhánh San Francisco;
- 2 chi nhánh ở Ethiopie;
- Chi nhánh ở Djeddah (Arabie Seoudite) [132; tr.82].
Bên cạnh các chi nhánh trên, ngân hàng còn mở rộng phạm vi hoạt
động của mình ra các nước bên ngoài bằng phương thương kinh doanh của
một ngân hàng thương mại. Theo đó, ngân hàng thực hiện đầy đủ các nghiệp
vụ của ngân hàng thương mại: từ khâu cho vay, chiết khấu các thương phiếu
114
nhận nợ và đòi nợ, đến cấp phát các tín dụng thư, nhận tiền ký gửi của các
khách hàng, tham dự vào việc mua bán công thải của chính phủ các nước,
nghiệp vụ hối đoái, đầu tư cổ phiếu, mua bán vàng, bạc, ngoại tệ,... Với các
nghiệp vụ này, ngân hàng đã thu về cho mình những hợp đồng làm ăn hết sức
béo bở, giúp cho ngân hàng ngày càng trở nên giàu hơn. Theo nghiên cứu của
các nhà sử học Pháp, thì Ngân hàng Đông Dương đã cho Chính phủ Trung
Hoa Dân Quốc vay 5 triệu bảng Anh (Livres Sterling) để mua lại những cổ
phần của công ty khai thác đường hỏa xa Bắc Kinh - Hán Khẩu. Cho Chính
phủ Xiêm La vay 1 triệu Bảng để làm đường hỏa xa Bangkok - Xieng Mai
[126; tr.211]. Cho Chính phủ Pháp vay với mức lãi suất rất nhẹ từ 0,5% cho
đến 1%,... [132; tr.127].
Song song với các hoạt động đó, ngân hàng còn tham gia vào việc mua,
bán công thải của chính phủ các nước. Ngân hàng đã mua công thải của chính
phủ Liên bang Đông Dương với số tiền 200 triệu đồng để giúp chính phủ xây
những đường hỏa xa tại miền Bắc [126; tr.212]. Mua nhiều công thải của
chính phủ Pháp để giúp chính phủ hàn gắn vết thương sau chiến tranh thế giới
lần thứ nhất là 4 triệu franc [132; tr.152] và nhiều công thải của chính phủ các
nước mà ngân hàng có đặt chi nhánh.
Ngoài các hoạt động đầu tư trên, ngân hàng còn tham gia vào việc
thành lập các công ty đa quốc gia bằng cách mua nhiều cổ phiếu của các công
ty và trở thành một cổ đông lớn chúng. Từ đó ngân hàng kết hợp với các công
ty này hình thành nên những tập đoàn kinh tế - tài chính xuyên quốc gia để vơ
vét bóc lột nhân dân các nước, thu về cho mình những khoản lợi nhuận to lớn.
Tiêu biểu trong số đó có các công ty như: Công ty đường sắt Đông Dương -
Vân Nam (Compagnie française des chemins de fer de l’Indochine et du
Yunnan) thành lập năm 1901; công ty hỏa xa Djibouti-Addis-Abeba; công ty
xe điện và điện lực Thượng Hải [126; tr.213]; công ty Thương mại Đông
115
Dương và Phi châu; công ty Thương mại và đi lại trên sông, biển Viễn Đông;
công ty Pháp - Đông Dương; công ty Tài chính Pháp và Thuộc địa,... [39;
tr.75-76-77].
Như vậy, với việc mở rộng chi nhánh ở khắp mọi nơi, tham gia mua
bán công thải của chính phủ các nước, kiến tạo thành lập các công ty đa quốc
gia, thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại ở hải
ngoại,... Ngân hàng Đông Dương đã chính thức trở thành một ngân hàng đầu
tư tài chính hàng đầu của giới tài phiệt Pháp ở vùng Viễn Đông. Nhờ có Ngân
hàng Đông Dương, nước Pháp đã bù đắp lại được phần nào, những mất mát
và thua thiệt của nền thương mại Pháp tại đây. Với những lợi ích mà Ngân
hàng Đông Dương thu được tại hải ngoại, nó đã giúp cho ngân hàng trở nên
giàu có. Từ đó chi phối một phần nền kinh tế ở những nơi nào mà nó đi. Đây
cũng là thời kỳ nhân dân các nước chịu sự bóc lột gián tiếp của ngân hàng
thông qua các công cụ tài chính.
2.3. Sự hình thành các Ngân hàng khác tại Nam Kỳ từ 1875-1945
Có thể nói, trong khoảng thời gian Pháp cai trị Nam Kỳ (1862-1945),
những tư liệu ghi chép về các ngân hàng đang hoạt động tại đây hầu như
không có hoặc nếu có chăng chỉ là vài dòng ngắn ngủi giới thiệu sơ lược về
sự ra đời của các ngân hàng này (ngoại trừ Ngân hàng Đông Dương). Thậm
chí, số lượng các ngân hàng đang hoạt động tại Nam Kỳ là bao nhiêu ? đến
nay vẫn còn là một dấu hỏi ! Cho nên việc nghiên cứu về quá trình ra đời, cơ
cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các ngân hàng này gặp rất nhiều khó
khăn.
Phần này, chúng tôi chỉ xin giớ thiệu về quá trình ra đời của các ngân
hàng này. Còn về cơ cấu tổ chức của các ngân hàng thì chúng ta điều biết
rằng, những ngân hàng này điều là ngân hàng nước ngoài, mở chi nhánh tại
Nam Kỳ nên cơ cấu tổ chức của những ngân hàng này điều giống nhau ở chỗ:
116
chúng không có đại hội cổ đông để bầu ra Hội đồng Quản trị và Ban Trị sự
của ngân hàng mà chỉ có Ban Giám đốc điều hành các công việc kinh doanh
hằng ngày của ngân hàng được chỉ định bởi Ban Trị sự từ ngân hàng mẹ ở hải
ngoại, cùng với một đội ngũ nhân viên nghiệp vụ làm việc tại chi nhánh Nam
Kỳ.
Về nghiệp vụ của các ngân hàng, thì những ngân hàng này đều là ngân
hàng thương mại và đầu tư của nước ngoài. Do đó khi mở chi nhánh tại Nam
Kỳ những ngân hàng này, thực hiện đầy đủ nghiệp vụ của một ngân hàng
thương mại. Những nghiệp vụ thương mại này, giống như điều 15 sắc lệnh
thành lập ngân hàng Đông Dương mà chúng tôi đã có dịp tìm hiểu ở phần
trên.
2.3.1. The Hongkong and Shanghai Banking Corporation (HSBC)
Sau khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn, ngày 22 tháng 02 năm 1860, thực
dân Pháp lập tực hạ lệnh cho mở cửa thương cảng Sài Gòn để cho thuyền bè
các nước được tự do ra vào mua bán gạo. Ngay lập tức nền thương mại Nam
Kỳ bắt đầu hoạt động trở lại. Các thương nhân Hoa kiều len lỏi về tận các
xóm, làng xa xôi hẻo lánh ở thôn quê Nam Kỳ để thu mua lúa gạo, đem ra
nước ngoài xuất khẩu. Nhờ có hoạt động xuất khẩu này, mà thương nhân các
nước tìm đến Nam Kỳ đặt trụ sở thu mua lúa gạo nhiều hơn. Do đó đã làm
cho nền kinh tế Nam Kỳ chỉ trong thời gian ngắn phát triển nhanh chóng.
Nhận thấy mối lợi nhuận thu được từ các hoạt động buôn bán xuất khẩu gạo
này, ngân hàng The Hongkong and Shanghai Banking Corporation (viết tắt
HSBC), đã cho thành lập văn phòng đại diện tại đây (năm 1870), nhằm cung
cấp tín dụng cho các thương nhân Anh với người Trung Hoa và các nước
khác đến làm ăn mua bán tại Nam Kỳ.
117
Trong thời gian đầu hoạt động của ngân hàng HSBC còn tương đối
nhỏ, ngân hàng chỉ làm một vài nghiệp vụ thương mại thông thường. Dần về
sau do hoạt động xuất khẩu gạo tại Nam Kỳ diễn ra ngày một nhiều. Nền kinh
tế Nam Kỳ được chính quyền thực dân Pháp đầu tư xây dựng các cơ sở hạ
tầng để thu hút các doanh nghiệp từ chính quốc và các nước trong khu vực
đến làm ăn buôn bán. Kết quả là làm cho nền kinh tế Nam Kỳ chuyển biến
nhanh chóng. Các ngành nghề sản xuất tại Nam Kỳ ngày càng nhiều hơn. Số
lượng các doanh nghiệp, nhà sản xuất, chế biến,... đến làm ăn mua bán tại đây
cũng đông hơn. Do đó, ngân hàng mới bắt đầu mở rộng quy mô hoạt động của
mình sang các lĩnh vực khác như: chiết khấu các thương phiếu nhận nợ và ghi
nợ; cho vay thế chấp, cấp phát các tín dụng thư, mua bán quý kim, nhận tiền
ký gửi của các khách hàng và trả lãi suất cho các món tiền đó, nghiệp vụ hối
đoái,... Nhờ có mở rộng quy mô hoạt động này, ngân hàng HSBC trở thành
một trong những ngân hàng giàu có ở Nam Kỳ. Đứng hàng thứ 3 tại Đông
Dương sau Ngân hàng Đông Dương và ngân hàng Pháp-Hoa.
Về mặt tổ chức: ngân hàng HSBC tại chi cuộc Sài Gòn là một chi
nhánh của ngân hàng HSBC tại Hồng Kông. Do đó ngân hàng HSBC tại đây,
không có tổ chức đại hội cổ công để bầu ra một hội đồng quản trị và ban trị sự
để quản lý, điều hành hoạt động của ngân hàng mà chỉ có một Ban Giám đốc
điều hành và các nhân viên nghiệp vụ của ngân hàng.
Về nghiệp vụ của ngân hàng HSBC: cũng giống như chức năng thương
mại của Ngân hàng Đông Dương, ngân hàng HSBC có đầy đủ nghiệp vụ của
một ngân hàng thương mại theo quy định của Chính phủ Liên bang Đông
Dương.
Trên đây là đôi nét về sự ra đời, cơ cấu tổ chức và nghiệp vụ của ngân
hàng HSBC tại chi nhánh Nam Kỳ.
118
2.3.2. The Chartered Bank
Theo sau sự ra đời của ngân hàng HSBC tại Nam Kỳ. Năm 1874, một
ngân hàng khác cũng của Anh với tên gọi The Chartered Bank bắt đầu mở
văn phòng đại diện tại Sài Gòn. Ngân hàng này ra đời trong bối cảnh nền kinh
tế Nam Kỳ dưới thời cai trị của các đô đốc Pháp có nhiều chuyển biến to lớn.
Hoạt động khai thác xuất khẩu lúa gạo của Pháp không ngừng gia tăng với số
lượng lớn tại Nam Kỳ. Giá trị thương mại mà lĩnh vực này đem lại là nguồn
lợi nhuận béo bở kích thích các thương nhân từ khắp nơi trên thế giới tìm đến
đây để buôn bán. Lúc này người Anh đã có những căn cứ vững chắc ở
Singapore, Malaixia, Hồng Kông, Ôxtrâylia và tiểu lục địa Ấn Độ. Đây là
những thị trường tiêu thụ các hàng hóa nông sản chiếm tỷ lệ lớn, hứa hẹn
những khoảng lợi nhuận kết sù cho những ai mang hàng hóa tới đây để buôn
bán. Do đó đã kích thích các thương nhân Anh tìm đến Nam Kỳ để thu mua
gạo. Theo thống kê trong khoảng thời gian từ 1865 - 1866, có 348 tàu buôn
các nước châu Âu tìm đến Nam Kỳ để thu mua lúa gạo, trong đó đội tàu buôn
của Anh chiếm 119 tàu. Đến năm 1867, số tàu này tăng lên 439 chiếc và tàu
của thương nhân Anh là 142 chiếc [67; tr.68].
Với số lượng tàu thuyền trên, đòi hỏi phải có một nguồn tín dụng dồi
dào để hỗ trợ cho các hoạt động mua bán tại Nam Kỳ. Vào thời điểm bấy giờ,
đã có chi nhánh ngân hàng HSBC đến kinh doanh tại đây, nhưng những
nghiệp vụ của ngân hàng còn nhiều hạn chế. Do đó không thể cung cấp đủ tín
dụng cho một số lượng lớn tàu thuyền đến buôn bán. Trước tiềm năng thương
mại đó, đồng thời cũng thông qua hoạt động thăm dò, ngân hàng The
Chartered Bank cho thành lập chi nhánh tại Sài Gòn, ở địa chỉ số 03, đường
Adran (nay là đường Hồ Tùng Mậu) nhằm giành giật thị trường với ngân
hàng HSBC để thu về lợi nhuận.
119
Lúc mới thành lập chi nhánh, ngân hàng chỉ kinh doanh trong lĩnh vực
chiết khấu và tái chiết khấu các hóa đơn thuốc phiện và xuất cảng lúa gạo.
Dần về sau nền kinh tế Nam Kỳ bắt đầu phát triển theo hướng sản xuất tư bản
chủ nghĩa. Chính quyền thực dân bắt đầu xây dựng nền công thương nghiệp
hiện đại tại Nam Kỳ. Do đó số lượng hàng hóa cũng như các giao dịch, mua
bán ở lĩnh vực này không ngừng tăng lên. Nguồn lợi mà lĩnh vực này mang
lại còn nhiều hơn so với lĩnh vực nông nghiệp truyền thống của dân bản xứ.
Chính vì vậy, ngân hàng The Chartered Bank mở rộng sang lĩnh vực công
thương nghiệp và thương mại dịch vụ. Với lĩnh vực mới này, ngân hàng The
Chartered Bank đã cùng với ngân hàng HSBC và Ngân hàng Đông Dương chi
phối hoàn toàn nền công thương nghiệp của xứ Đông Dương.
Về cơ cấu tổ chức: cũng giống như ngân hàng HSBC, ngân hàng The
Chartered Bank cũng là một ngân hàng thương mại nước ngoài. Cho nên tại
chi nhánh Nam Kỳ, ngân hàng không có Hội đồng Quản trị và Ban Trị sự mà
chỉ có một Ban Giám đốc được chỉ định từ ngân hàng mẹ tại Anh để điều
hành các công việc kinh doanh của ngân hàng. Ngoài Ban Giám đốc điều
hành ở chi nhánh ra còn có một đội ngũ nhân viên nghiệp vụ.
- Về hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng: cũng tương tự như nghiệp vụ
kinh doanh thương mại của ngân hàng HSBC và Ngân hàng Đông Dương.
Trên đây là một vài ghi chép về ngân hàng The Chartered Bank.
2.3.3. Ngân hàng Pháp - Hoa (Banque Franco-Chinoise)
Không giống như sự ra đời của ngân hàng HSBC và The Chartered
Bank, ngân hàng Pháp - Hoa ra đời là thành quả của sự hợp tác giữa hai
Chính phủ Pháp và Trung Hoa Dân Quốc. Sở dĩ có sự hợp tác này là vì, tại
thuộc địa Nam Kỳ của thực dân Pháp, phần lớn các hoạt động thương mại nơi
đây điều do thương nhân Hoa kiều nắm giữ. Theo nghiên cứu của Aumiphin
120
thì “chỉ cần nhìn vào chi tiết các bảng của Phòng thương mại Sài Gòn để
nhận thấy rằng những số tiền lớn tương ứng với các sản phẩm như: lúa gạo,
thuốc phiện, tơ lụa, chè, điều qua tay người Trung Hoa. Chỉ có khoảng 25%
ngoại thương thuộc về người Pháp”[39; tr.152]. Chính sự kiểm soát hoạt
động thương mại này của thương nhân Hoa kiều đã làm cho Chính quyền
Thực dân Pháp tại Nam Kỳ phải nể mặt. Do đó, chính quyền thuộc địa Pháp
đã cho ban hành nhiều quy chế nhằm tạo mọi sự dễ dàng cho người Hoa được
sinh cơ lập nghiệp tại đây để lôi kéo và cấu kết với tầng lớp này áp bức, bóc
lột nhân dân bản xứ.
Trong khi đó, tại lục địa Trung Hoa nền kinh tế một số tỉnh, thành của
Trung Hoa nhận được sự giúp đỡ hết sức đắc lực từ giới doanh nghiệp Pháp,
các ngân hàng Pháp và Ngân hàng Đông Dương. Ngân hàng Đông Dương đã
cùng với các công ty, xí nghiệp Pháp dùng tiền vơ vét được của nhân dân
Đông Dương đem sang đầu tư tại lục địa này để thu lời cho chính quốc Pháp.
Thậm chí Ngân hàng Đông Dương còn cho Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc
vay những khoản tín dụng lớn để đầu tư xây dựng cải tạo đất nước mình. Nhờ
những việc làm đó của giới đầu tư-ngân hàng Pháp đã giúp cho đất nước
Trung Hoa phát triển nhanh chóng. Đẩy quan hệ của hai Chính phủ thắt chặt
nhau hơn. Để thúc đẩy sự hợp tác này, theo sáng kiến của ngân hàng Banque
de Paris et des Pays Bas, (gọi tắt: PARIBAS), Chính phủ Pháp và Chính phủ
Trung Hoa Quốc ký với nhau thỏa ước thành lập ra ngân hàng Pháp - Hoa
(Banque Franco - Chinoise) nhằm hỗ trợ hoạt động thương mại cho hai nước.
- Về cơ cấu tổ chức: ngân hàng Pháp - Hoa là một ngân hàng cổ phần
có sự đầu tư của nhà nước Pháp và Trung Hoa Dân Quốc. Theo đó, 51% cổ
phần của ngân hàng sẽ do đại diện của Chính phủ Pháp - ngân hàng
PARIBAS nắm giữ, 49% cổ phần còn lại, sẽ do người đại diện của Chính phủ
Trung Hoa Dân Quốc nắm giữ. Người đó không ai khác hơn là một trong
121
những người em hay anh của bà Tống Mỹ Linh (vợ của Thống chế Tưởng
Giới Thạch) [141].
- Về các nghiệp vụ của ngân hàng: theo quy định, ngân hàng Pháp -
Hoa là một ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ tín dụng cho các thương nhân
Pháp và Trung Hoa. Bên cạnh đó, ngân hàng còn được quyền thực hiện thực
hiện tất cả các giao dịch khác tại những nơi ngân hàng có đặt chi nhánh. Vì
vậy, các nghiệp vụ của ngân hàng Pháp - Hoa cũng tương tự với điều 15 sắc
lệnh thành lập Ngân hàng Đông Dương.
Sau khi ngân hàng Pháp - Hoa ra đời và đặt chi nhánh tại Sài Gòn, ngân
hàng đã nhanh chóng cấu kết chặt chẽ với Ngân hàng Đông Dương (vì ngân
hàng Pháp - Hoa và Ngân hàng Đông Dương điều do ngân hàng mẹ
PARIBAS sáng lập ra, nên quyền lợi hai ngân hàng này dính chặt với nhau)
để thao túng nền kinh tế Đông Dương nhằm vơ vét, bòn rút, bóc lột nhân dân
Đông Dương, làm giàu cho những quốc gia đã sáng lập ra mình. Sự cấu kết
này đã làm cho đời sống nhân dân bản xứ gặp nhiều khó khăn mà ngân hàng
Pháp - Hoa là một trong những thủ phạm chủ mưu không thể tránh khỏi.
2.3.4. Việt Nam Ngân hàng (Banque de Cochinchine)
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), nền thương mại Nam Kỳ
phát triển nhanh chóng. Nguyên do: thuộc địa Nam Kỳ nằm cách xa chính
quốc nên không bị thiệt hại do cuộc chiến tranh đế quốc gây ra; trong cuộc
chiến tranh thế giới này, nhu cầu tiêu dùng mặt hàng lương thực, thực phẩm
tăng đột biến nằm ngoài khả năng sản xuất của các nước tham chiến. Trong
khi đó, thuộc địa Nam Kỳ lại có thế mạnh về cung cấp các mặt hàng này. Vì
vậy thuộc địa Nam Kỳ xuất được nhiều hàng hóa sang chính quốc và các
nước trong khu vực. Theo số liệu thống kê cho thấy:
- Năm 1915: thuộc địa Nam Kỳ xuất được 1.091.437 tấn gạo;
122
- Năm 1918: thuộc địa Nam Kỳ xuất được 1.447.000 tấn gạo;
- Năm 1920: thuộc địa Nam Kỳ xuất được 1.038.000 tấn gạo;
- Năm 1923: thuộc địa Nam Kỳ xuất được 1.145.000 tấn gạo [35;
tr.94].
Nhờ xuất khẩu được nhiều lúa gạo, giai cấp địa chủ và thương nhân
Nam Kỳ (bao gồm người Việt và người Việt gốc Hoa) nhanh chóng trở nên
giàu có. Trở thành một thế lực kinh tế mới cạnh tranh với tư bản Pháp và
thương nhân Hoa kiều.
Cũng trong khoảng thời gian trên, giá kim khí bạc trên thị trường thế
giới tăng rất mạnh (1$ = 17franc). Xứ Nam Kỳ lại sử dụng đồng bạc Đông
Dương theo chế độ ngân bản vị. Do đó hàng hóa sản xuất tại Nam Kỳ (chủ
yếu là lúa, gạo) bán trên thị trường thế giới thu được rất nhiều bạc, càng làm
cho giai cấp địa chủ và thương nhân Nam Kỳ trở nên giàu sụ.
Lúc này, ở thuộc địa Nam Kỳ ngoài Ngân hàng Đông Dương đang làm
ăn mua bán tại đây ra, còn có một số chi nhánh của các ngân hàng khác:
HSBC, The Chartered Bank, Pháp - Hoa ngân hàng; một số công ty tài chính:
Công ty Tài chính Pháp và Thuộc địa (Société Financiere française et
coloniale), Quỹ Tín dụng đất Đông Dương (còn gọi là ngân hàng Địa ốc-
Crédit Foncier de l’Indochine), Công ty Tài chính Cao su (Société Finances
caoutchouc),... Những công ty tài chính này nhờ vào hoạt động tín dụng mà
ăn nên làm ra, lợi nhuận thu được hết sức to lớn. Do đó đã thu hút sự quan
tâm, chú ý của một số địa chủ và thương nhân người Việt tính đầu tư cho lĩnh
vực kinh doanh này. Chính vì vậy, một nhóm địa chủ và thương nhân người
Việt tại Nam Kỳ gồm: Trần Trinh Trạch, Nguyễn Tấn Sử, Nguyễn Tấn Lợi,
Lê Quang Liêm, Trương Tấn Bộ, và Nguyễn Thành Điểm đã bỏ tiền ra thành
lập ra Việt Nam ngân hàng vào năm 1927 (Banque de Cochinchine). Đóng trụ
123
sở tại số 55-59, đại lộ Bonard, thành phố Sài Gòn (nay là đại lộ Lê Lợi, Quận
1, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về cơ cấu tổ chức: Việt Nam ngân hàng được thành lập dưới dạng
một công ty cổ phần. Một phần nguồn vốn do các cá nhân sáng lập tự đóng
góp, phần còn lại ngân hàng vay thế chấp từ Ngân hàng Đông Dương.
- Về nghiệp vụ của ngân hàng: trong khi các ngân hàng khác lại thiên
về tín dụng ngắn hạn (tức là thiên về cho vay lĩnh vực sản xuất công thương
nghiệp và thương mại - dịch vụ) thì điều đáng quý của Việt Nam ngân hàng
lại thiên về tín dụng dài hạn (cho vay nông nghiệp). Ngân hàng đã sử dụng
nguồn vốn ít ỏi của mình cho các thành viên sáng lập ra ngân hàng vay vốn để
sản xuất nông nghiệp và hỗ trợ vốn cho các cá nhân vay để hoạt động trên
lĩnh vực xuất khẩu lúa gạo của Nam Kỳ.
2.3.5. Chinh nhánh Ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Pháp-Trung (Banque Franco-Chinoise pour le Commerce et l'Industrie)
Sau đại chiến thế giới, tư bản Pháp bắt đầu đầu tư ồ ạt vào thuộc địa
Nam Kỳ nhằm vớt vát lại những mất mát từ thị trường Nga và các nước ở bán
đảo Ban-căng. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn (1924 - 1930), tư bản Pháp đã
đầu tư vào thuộc địa số tiền lên tới 2,5 tỷ franc [39; tr.58] để xây dựng các cơ
cở hạ tầng, công trình công cộng phục vụ cho công cuộc khai thác lâu dài của
chúng. Với số tiền đầu tư này, nền kinh tế Nam Kỳ bắt đầu chuyển biến
nhanh chóng, hoạt động khai khẩn đất nước được chính quyền thực dân đẩy
mạnh; các cơ sở sản xuất, chế biến tại Nam Kỳ lần lượt được hình thành với
số lượng ngày càng nhiều. Điều đó báo hiệu một nền kinh tế năng động của
thuộc địa Pháp tại vùng Viễn Đông. Theo số liệu thống kê chính thức cho
thấy, trong khoảng thời gian 5 năm (1924 - 1928), tư bản Pháp chú trọng đầu
tư vào Nam Kỳ trên tất cả các lĩnh theo tỷ sau:
- Nông nghiệp và lâm nghiệp (chủ yếu là đồn điền trồng cao su): 47%;
124
- Công nghiệp chế biến, công chánh: 67%;
- Vận tải: 35%;
- Thương mại: 91%;
- Các công ty bất động sản, ngân hàng: 95% [39; tr.60].
Với tất cả các lĩnh vực được đầu tư trên đã góp phần tăng nhanh số
lượng hàng hóa của thuộc địa Nam Kỳ, các giao dịch mua bán, thanh toán
được tiến hành thường xuyên hơn. Nhờ vào đó, giúp cho nền kinh tế Nam Kỳ
phát triển nhanh chóng.
Trước sự phát triển năng động đó, ngân hàng Thương mại và Công
nghiệp Pháp - Trung (Banque Franco - Chinoise pour le Commerce et
l'Industrie) đã cho mở chi nhánh đại diện tại Sài Gòn. Nhằm tìm kiếm lợi
nhuận thông qua việc cung cấp tín dụng cho các nhà sản xuất, chế biến, xuất -
nhập khẩu,... tại Nam Kỳ và các nước trong khu vực.
2.3.6. Chi nhánh ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Quốc gia Pháp
(Banque Nationale pour Commerce et l'Industrie )
Bước vào những năm 1929 - 1933, cả thế giới lâm vào cuộc khủng
hoảng kinh tế tồi tệ chưa từng có. Tại một số nước châu Âu, nền sản xuất bị
ngưng truệ, nhiều nhà máy phải đóng cửa vì hàng hóa bị ế thừa không bán
được. Riêng Mẫu quốc Pháp, tình hình càng trở nên nghiêm trọng hơn. Các
doanh nghiệp vừa và nhỏ của chính quốc vừa phục hồi sau hệ quả của cuộc
chiến tranh thế giới, nay phải lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế, buộc phải
thu hẹp quy mô sản xuất để duy trì hoạt động. Do đó đã gián tiếp ảnh hưởng
đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Làm cho nhiều ngân hàng tại Pháp
phải điêu đứng, không giám mở rộng quy mô hoạt động ra bên ngoài.
Trong lúc cuộc khủng hoảng kinh tế đang hoành hành giữ dội ở chính
quốc với những hậu quả hết sức nặng nề, thì tại thuộc địa Nam Kỳ cuộc
khủng hoảng kinh tế này không ảnh hưởng lắm đến sự phát triển của nền kinh
125
tế thuộc địa. Trái lại, trong những năm khủng hoảng kinh tế, nền kinh tế thuộc
địa tăng trưởng một cách thần kỳ. Mỗi năm, xứ Nam Kỳ thu lãi lên tới 15
triệu franc mang về cho Mẫu quốc. Riêng 345 công ty vô danh lớn hoặc nhỏ
của Pháp thu lãi lên tới 87 triệu franc [132; tr.150]. Nhờ các món lợi nhuận
thu được này, đã giúp cho các công ty đang làm ăn, mua bán tại đây trở nên
giàu sụ. Giá cổ phiếu của các công ty này tăng trưởng một cách nhanh chóng
trên thị trường chứng khoáng Paris. Điều đó đã được quyển L’Indochine
Moderne của Engène Teston và Maurice Perchéron ghi nhận như sau:
Bảng 2.9 : Danh sách các công ty tại Đông Dương có mặt trên thị
trường chứng khoán Paris (năm 1931):
Giá biểu Giá thị trường
Tên các công ty diện ghi trên chứng khoán
cổ phiếu 1931
1. Ngân hàng Đông Dương 500franc 8.600franc
2. Công ty đường sắt Đông Dương -Vân Nam 500franc 1.200franc
3. Công ty tàu điện Đông Dương 500franc 3.625franc
4. Công ty điện nước Đông Dương 500franc 3.725franc
5. Công ty điện lực Đông Dương 500franc 2.075franc
6. Công ty than Đông Triều 100franc 282franc
7. Công ty mỏ và khai khoáng ĐD 250franc 830franc
8. Công ty xi măng Póoc-lăng ĐD 100franc 690franc
9. Công ty cất rượu Đông Dương 500franc 2.325franc
10. Công ty nạo vét sông và công chính 259franc 950franc
Nguồn: [132; tr.132]
Nhìn vào bảng giá cả các cổ phiếu được niêm yếu trên sàn chứng
khoáng trên, chúng ta thấy rằng: giá các cổ phiếu lúc mới đưa lên sàn có giá
126
trị rất thấp. Nhưng đến năm 1931 tức là đang xảy ra khủng hoảng kinh tế thế
giới, giá các loại cổ phiếu này vọt lên nhanh chóng. Chứng tỏ, nền kinh tế
Đông Dương không bị hề hớn gì từ cuộc khủng hoảng kinh tế. Các công ty tại
đây vẫn ăn nên làm ra và làm giàu một cách mau chóng.
Chính sự tăng trưởng kỳ diệu này của nền kinh tế thuộc địa đã thu hút
sự chú ý, quan tâm của các ngân hàng chính quốc vốn đang gặp nhiều điêu
đứng do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra để mắt tới xứ Nam Kỳ
xa xôi hiểm trở mà một trong số đó là ngân hàng Thương mại và Công nghiệp
Quốc gia Pháp. Thông qua nghiên cứu thị trường, ngân hàng Thương mại và
Công nghiệp Quốc gia Pháp (Banque Nationale pour Commerce et
l'Industrie) cho thành lập chi nhánh tại thuộc địa Nam Kỳ vào 1932, nhằm để
tìm kiếm lợi nhuận từ các hoạt động xuất, nhập khẩu thương mại và công
nghiệp của nền kinh tế bản xứ.
2.3.7. Ngân hàng Truyền thông Trung Quốc (Communications banques chinoises)
Muộn nhất trong số các ngân hàng có mặt tại Nam Kỳ chính là ngân
hàng Truyền thông của Trung Quốc. Sau khi triều đại nhà Thanh Trung Quốc
bị lật đổ, ngân hàng Truyền thông có điều kiện phát triển nhanh chóng. Chính
phủ Trung Hoa Dân Quốc vì muốn chấn hưng nền kinh tế nước nhà khỏi phải
lệ thuộc nhiều vào nền kinh tế của các nước tư bản phương Tây đã ban hành
nhiều chính sách nhằm khuyến khích hoạt động sản xuất công thương nghiệp
của đất nước. Chớp lấy cơ hội đó, ngân hàng Truyền thông đã ra sức xây
dựng thế lực tài chính, bằng việc cung cấp tín dụng cho các hoạt động sản
xuất tại đất nước mình. Nhờ các khoản tín dụng đó, ngân hàng đã nhanh
chóng trở nên giàu có, bắt dầu mở rộng phạm vi hoạt động ra các nước xung
quanh, trong đó có Nam Kỳ.
127
Cũng trong khoảng thời gian này, nền thương mại Nam Kỳ hầu như do
thương nhân người Hoa chi phối. Từ lâu, người Hoa sinh sống tại Nam Kỳ lại
có mối quan hệ làm ăn mật thiết với quê hương mình. Thông qua các thương
nhân người Hoa tại Sài Gòn, ngân hàng Truyền thông Trung Quốc
(Communications banques chinoises) đã cho mở văn phòng giao dịch tại Sài
Gòn để tìm kiếm lợi nhuận từ các hoạt động thương mại của xứ Nam Kỳ.
Như vậy, trong số các ngân hàng có mặt tại Nam Kỳ chỉ có duy nhất
một ngân hàng của người Việt, phần lớn các ngân hàng còn lại điều là của
người nước ngoài. Sự xuất hiện của các ngân hàng này, một mặt nói lên nền
kinh tế Nam Kỳ phát triển nhanh chóng cần phải có một số lượng lớn tín dụng
để đảm bảo cho các hoạt động kinh tế được diễn ra suông sẽ. Nhưng mặt
khác, nó cũng phơi bày sự yếu kém của thế lực kinh tế người Việt trước thế
lực kinh tế của chủ nghĩa thực dân và người nước ngoài. Chính sự yếu kém
này, lý giải vì sao giai cấp tư sản Việt Nam lại chuyển sang con đường kinh
doanh mới bằng việc “tậu ruộng đất” rồi đem phát canh thu tô và cho vay
nặng lãi để hình thành nên giai cấp đại điền chủ ở nông thôn làm hại đồng bào
mình. Đây quả thực là một nổi đau chua xót của một dân tộc bị mất nước.
*
Sau khi chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp đã ngay lập tức cho mở
cửa thương cảng Sài Gòn nhằm thoát khỏi tình trạng bị cô lập từ phía quân
đội triều đình Huế và thăm dò tiềm năng thương mại của xứ Nam Kỳ. Kết quả
của việc làm này, không những giúp cho thực dân Pháp dần thoát ra khỏi tình
trạng bị cô lập từ phía quân đội triều đình Huế mà còn giúp cho chính quyền
thực dân có thêm nguồn tài chính để làm giàu cho chính quốc. Những tin tức
tốt đẹp này nhanh chóng được truyền tải về Paris và nó đã làm trấn động toàn
bộ dư luận Pháp và những ai quan tâm đến xứ thuộc địa mà Pháp vừa chiếm
được. Do đó đã thôi thúc người dân Pháp và châu Âu tìm đến xứ Nam Kỳ để
128
làm ăn, mua bán. Nhưng do thiếu nguồn vốn dùng cho các hoạt động sản
xuất, kinh doanh và đặc biệt là nạn cho vay nặng lãi đang hoành hành bá đạo
tại đây đã làm cho nền kinh tế Nam Kỳ lâm vào tình trạng trì truệ trong suốt
thời gian dài. Mọi tiềm năng thương mại của xứ sở, điều rơi dần vào tay các
thương nhân người Anh, Đức và Hoa kiều.
Đứng trước thực tế đó các đô đốc Pháp đã vận động Chính phủ Pháp
cho mở chi nhánh Ngân hàng Chiết khấu Quốc gia Pháp nhằm để cung cấp tín
dụng cho các hoạt động sản xuất nơi đây nhưng ngân hàng đã không đáp ứng
được sự kỳ vọng của giới thương nhân Pháp và Soái phủ Nam Kỳ. Trước tình
cảnh đó, Soái phủ Nam Kỳ đã vận động Chính phủ Pháp cho thành lập một
“ngân hàng phát hành giấy bạc trực thuộc chính phủ” nhưng đã bị Chính phủ
Pháp phủ quyết, không chấp nhận với lý do nước Pháp đang bận rộn vào tình
hình chiến sự tại châu Âu và nguy cơ chiến tranh Pháp - Phổ có thể xảy ra.
Trước thất bại đó, Soái phủ Nam Kỳ đã cùng với Bộ Hải quân và
Thuộc địa Pháp vận động giới tài chính - ngân hàng Pháp, thành lập một ngân
hàng phát hành giấy bạc giành cho xứ thuộc địa và lấy tên gọi là Ngân hàng
Đông Dương (Banque de l’Indochine). Đề nghị này đã nhận được sự tán đồng
của giới tài phiệt Pháp và họ đã nhất trí các văn bản chờ Tổng thống Pháp phê
duyệt.
Sau khi cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871) kết thúc, nước Pháp
lâm vào cảnh túng thiếu về mặt tài chính, chính phủ Pháp phải lệ thuộc vào
các ngân hàng nên đã đồng ý đề nghị của Soái phủ Nam Kỳ, giới tài phiệt
Pháp thành lập ra Ngân hàng Đông Dương (21/01/1875) và cho ngân hàng
này được quyền phát hành giấy bạc. Đến ngày 19/04/1875, ngân hàng khai
trương chi nhánh tại thuộc địa Nam Kỳ nhằm kịp thời cung cấp tín dụng cho
129
các hoạt động sản xuất và giành giật thị trường với các đối thủ cạnh tranh
khác.
Sau khi Ngân hàng Đông Dương ra đời và đi vào hoạt động tại Nam
Kỳ, ít ai nghĩ rằng trong cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Đông Dương lại che
đậy nhiều sự bí ẩn đến như vậy. Đó là sự kết hợp quá ư tài tình giữa những
“chức vụ công quyền” với những “chức vụ tư doanh” để che đậy cho một
“tập đoàn người thiểu số” đang thao túng và chi phối vận mệnh nền kinh tế
Đông Dương từng ngày. Với sự kết hợp chặt chẽ này, đã giúp cho Ngân hàng
Đông Dương khống chế được Chính phủ Liên bang Đông Dương, chi phối
được các công ty đang làm ăn mua bán tại đây. Từ đó, thu về cho mình những
khoản lợi nhuận kết sù mà không một tổ chức ngân hàng nào tại Pháp có thể
sánh bằng. Chính vì vậy, mà Ngân hàng Đông Dương đã được các nhà sử học
Pháp gọi là “ngân hàng chúa tể Pháp”.
Với cơ cấu tổ chức đặc biệt này, nên khi vừa mới ra đời Ngân hàng
Đông Dương khoát cho mình một sứ mệnh hết sức thiêng liêng và cao cả là
cứu giúp cho nền thương mại Pháp đang gặp nhiều khó khăn và giải phóng
người dân bản xứ thoát khỏi cảnh đọa đày của nạn cho vay nặng lãi đang
hoành hành bá đạo tại đây. Chính với sứ mệnh này, Ngân hàng Đông Dương
đã được Chính phủ Pháp ban cho thêm nhiều đặc quyền, đặc lợi để ngân hàng
có thêm phạm vi hoạt động. Nhờ có những đặc quyền, đặc lợi này, chỉ trong
thời gian ngắn ngân hàng đã liên tục làm ăn khấm khá, vốn điều lệ của ngân
hàng không ngừng gia tăng. Phạm vi hoạt động của ngân hàng không những
được mở rộng trên tất cả các lĩnh vực mà còn biến ngân hàng trở thành một
ngân hàng đầu tư tài chính hàng đầu của tư bản Pháp ở vùng Viễn Đông.
Từ khi Ngân hàng Đông Dương ra đời, nền kinh tế Nam Kỳ đã từng
bước thoát ra khỏi tình trạng trì trệ. Nam Kỳ dần vươn lên trở thành một trung
130
tâm kinh tế - tài chính - thương mại hàng đầu của tư bản Pháp ở vùng Viễn
Đông. Trước sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Nam Kỳ đã làm cho
các ngân hàng khác bắt đầu quan tâm tìm hiểu và mở chi nhánh tại đây. Kết
quả là chỉ trong thời gian ngắn đã có hàng loạt các ngân hàng mở chi nhánh
tại Nam Kỳ. Những ngân hàng đó bao gồm: chi nhánh ngân hàng The Hong
Kong and Shanghai Banking Corporation (HSBC); chi nhánh The Chartered
Bank; chi nhánh ngân hàng Pháp - Hoa (Banque Franco-Chinoise); Việt Nam
Ngân hàng (Banque de Cochinchine); chi nhánh ngân hàng Thương mại và
Công nghiệp Pháp - Trung (Banque Franco-Chinoise pour le Commerce et
l'Industrie); chi nhánh ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Quốc gia Pháp
(Banque Nationale pour Commerce et l'Industrie); chi nhánh Truyền thông
Ngân hàng Trung Quốc (Communications banques chinoises). Những ngân
hàng này đã cùng với Ngân hàng Đông Dương hình thành nên hệ thống ngân
hàng để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế Nam Kỳ phát triển.
131
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ VÀ TÁC DỤNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI NAM KỲ
3.1. Vai trò của các ngân hàng đối với Nam Kỳ
3.1.1. Đối với tài chính, tín dụng
Trước khi các ngân hàng ra đời và đi vào hoạt động tại Nam Kỳ, nhìn
chung hệ thống tài chính, tín dụng nơi đây còn rất yếu kém. Trước tiên nói về
hệ thống tài chính của Nam Kỳ. Đất Nam Kỳ trong suốt thời kỳ trị vì của
Vương triều Nguyễn và bước sang thời Pháp thuộc (tính tới thời điểm ngân
hàng Đông Dương ra đời vào năm 1875) chưa có một lần nào hệ thống tài
chính nơi đây được ổn định. Nguyên do là vì, đất đai nơi đây phần lớn là đồng
bằng, nên không có các mỏ kim loại quý hiếm (vàng, bạc, đồng,...) dùng để
đúc tiền cho xứ tiêu dùng. Chính vì sự khang hiếm tiền bạc trong lưu thông
trao đổi hàng hóa đã dẫn đến việc nhân dân ở đây dễ dàng chấp nhận và tiêu
xài các loại tiền có nguồn gốc xuất xứ khác nhau. Theo thống kê của các nhà
nghiên cứu tiền cổ Việt Nam, xứ Nam Kỳ ngoài các đồng tiền do triều
Nguyễn đúc được thông dụng hằng ngày, nơi đây còn tiêu xài nhiều loại tiền
khác nữa như: các đồng tiền của họ Mạc ở Hà Tiên, tiền kẽm thời các chúa
Nguyễn và triều Nguyễn, tiền đồng của Trung Quốc chở sang, tiền Nhật Bản
hồi thế kỷ XVII, XVIII. Ngoài các loại tiền đang thông dụng đó ra, xứ Nam
Kỳ còn tiêu xài luôn các loại tiền được đúc bằng bạc do các nước phương Tây
chở sang để mua bán với Đàng Trong và triều Nguyễn về sau.
Đến khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ năm 1862 và thôn tín luôn
vùng đất này, chính quyền các đô đốc Pháp đã phải thừa nhận sự phức tạp của
hệ thống tiền tệ nơi đây. Theo ghi chép, của Luật sư C. Idylle, tính đến trước
thời điểm năm 1903, xứ Nam Kỳ có các loại tiền đang lưu thông như sau:
132
- Đồng bạc Mexico cũ, gọi là Clean dollar (từ năm 1862);
- Đồng tiền Pháp (từ năm 1864);
- Đồng bạc Mexico loại mới (từ 1872) cạnh tranh với đồng bạc cũ;
- Đồng dollar Mỹ (bằng bạc, Trade dollar) từ năm 1874;
- Đồng 5 franc Pháp (1878);
- Và tiền đồng, tiền kẽm của các triều đại phong kiến Việt Nam đang
lưu thông hằng ngày trên thị trường nội địa [132; tr.8].
Còn nhà nghiên cứu tiền tệ học André Touzet (Pháp) trong cuốn Le
Régime monétaire Indochinois xuất bản năm 1939, tại Paris, thì cho biết trước
khi đồng bạc Đông Dương ra đời, xứ Nam Kỳ có các loại tiền đang lưu thông
hằng ngày gồm:
- Đồng bạc Tây Ban Nha có 2 quả địa cầu;
- Đồng bạc Tây Ban Nha vuông, có 2 quả địa cầu;
- Đồng bạc Tây Ban Nha có 2 người cầm cuốc;
- Đồng bạc Tây Ban Nha có 2 cột trụ;
- Đồng bạc Hà Lan;
- Đồng đôla Mỹ;
- Đồng bạc Mêxicô có cái mũ (loại cũ);
- Đồng tiền 5francs Pháp;
- Đôla Hồng Kông;
- Đồng Yên Nhật;
- Đồng bạc Mêxicô có quả cân;
- Đồng Trade đôla Mỹ;
- Đôla Anh (British dollar);
- Đồng bạc Mêxicô có cái mũ loại mới và cũ [132; tr.10].
Chính việc tiêu xài các loại tiền này, đã làm cho hệ thống tiền tệ tại
Nam Kỳ trở nên phức tạp hơn bao giờ hết và đã dẫn đến hệ quả nghiêm trọng
133
là làm cho nạn đầu cơ và buôn lậu tiền ra nước ngoài ngày càng nhiều. Làm
cho một khối lượng lớn tiền tệ dùng trong lưu thông vốn đã ít, nay càng ít
hơn. Gây trở ngại và khó khăn cho nền kinh tế của xứ.
Bên cạnh những khó khăn trên, Nam Kỳ còn lâm vào một cuộc khủng
hoảng về hệ thống tín dụng. Phần lớn nhân dân Nam Kỳ chuyên sống bằng
nghề nông nghiệp. Đối với nghề này, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự
nhiên. Do vậy, việc mất mùa, thất thu là điều rất khó tránh khỏi. Thêm vào
đó, là phải có một khoản tiền lớn để trang trải cho mùa vụ và cuộc sống hàng
ngày. Muốn có được khoản tiền này, người nông dân phải chạy đi vay mượn
khắp nơi và phải chịu một khoản lãi suất vô cùng to lớn lên đến 50% -
60%/năm; thậm chí có khi lên đến 200 - 300%/năm. Trong điều kiện nền kinh
tế Nam Kỳ vào thời kỳ đó còn tương đối thấp kém, hệ thống tín dụng hầu như
chưa có, thì với mức lãi suất kinh khủng này quả là đáng báo động. Nó đã trở
thành vấn nạn, xảy ra xuyên suốt ở nông thôn Nam Kỳ, trong suốt thời gian
dài. Đây thật sự là một gánh nặng nợ nần đè lên đôi vai của người nông dân.
Với mức lãi suất to lớn đó, đã làm cho nhiều gia đình ở nông thôn Nam Kỳ
phải tán gia bại sản, tha phương khắp nơi. Gây khó khăn cho chính quyền
thuộc địa trong công tác quản lý ổn định đời sống nhân dân.
Trước cuộc khủng hoảng tài chính - tín dụng đó, Ngân hàng Đông
Dương sau khi ra đời và đi vào hoạt động đã triển khai ngay các biện pháp
nhằm ổn định lại hệ thống tài chính - tín dụng của xứ Nam Kỳ. Một mặt Ngân
hàng Đông Dương cho sắp xếp lại hệ thống tài chính của bản xứ, đặt ra đơn vị
tiền tệ mới cho xứ Nam Kỳ là: đồng bạc Đông Dương (kí hiệu: $). Cấm lưu
hành và cho xuất cảng các đồng tiền thương mại trên ra khỏi lãnh thổ Nam
Kỳ. Sắc lệnh ngày 18/07/1895 của Tổng thống Pháp [126; tr.73-74]. Dùng
kim khí quý để bảo đảm cho sự lưu thông tiền giấy trong xứ (sắc lệnh thành
lập Ngân hàng Đông Dương năm 1875; các sắc lệnh cho gia hạn đặc quyền
134
phát hành vào các năm 1888, 1900 và 1931); cho đúc các đồng tiền mới thay
thế cho các đồng tiền cũ đang lưu thông trên lãnh thổ Nam Kỳ,... Nhờ có các
biện pháp này, chỉ trong thời gian ngắn (1875-1903), hệ thống tài chính Nam
Kỳ đã dần đi vào ổn định, toàn Nam Kỳ chỉ lưu hành những đồng tiền do
ngân hàng Đông Dương đúc ra. Kết quả lả nạn đầu cơ và buôn tiền ra nước
ngoài cũng không còn. Tình trạng khang hiếm tiền bạc trong lưu thông cũng
đã được khắc phục. Kinh tế Nam Kỳ dần đi vào ổn định và phát triển nhanh
chóng.
Đối với hệ thống tín dụng, ngân hàng cho triển khai ngay các nghiệp vụ
hỗ trợ tín dụng cho nhân dân với mức lãi suất thấp (trung bình là từ 8% cho
đến 12%/năm) để ngăn chặn nạn cho vay nặng lãi. Thành lập ra các cơ quan
tín dụng như: Hội Nông tín tương tế bản xứ; Quỹ Trung ương Nông tín tương
tế Nam Kỳ,... Phối hợp với chính quyền thực dân ở các địa phương nhận đơn
xin vay của nông dân khi họ yêu cầu,... Nhờ những biện pháp này, hệ thống
tín dụng Nam Kỳ đã dần được hoàn chỉnh, nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn
tuy vẫn còn nhưng mức lãi suất đã thấp hơn rất nhiều. Đời sống của nhân dân
tương đối ổn định hơn so với thời kỳ trước.
Cùng với sự ra đời của các ngân hàng ở những giai đoạn sau, đã góp
phần quan trọng vào sự phát triển và ổn định của hệ thống tài chính - tín dụng
tại Nam Kỳ. Nhờ có các ngân hàng này, số lượng tiền tệ được đưa vào lưu
thông nhiều hơn, đảm bảo không còn xảy ra tình trạng khang hiếm tiền trong
các hoạt động mua bán như lúc trước. Hệ thống tín dụng của các ngân hàng
được triển khai nhanh chóng đến các tỉnh thành của Nam Kỳ. Cùng với đó, là
sự xuất hiện của các dịch vụ ngân hàng, giúp cho nền kinh tế Nam Kỳ năng
động và phát triển nhanh chóng.
Như vậy, trước sự khủng hoảng của hệ thống tài chính - tín dụng đang
diễn tại Nam Kỳ, Ngân hàng Đông Dương đã thể hiện hết vai trò to lớn của
135
mình bằng cách triển khai hàng loạt các biện pháp nhằm ổn định lại hệ thống
tài chính-tín dụng nơi đây. Nhờ có các biện pháp kịp thời này, hệ thống tài
chính - tín dụng của Nam Kỳ mới đi vào ổn định. Nhiều vấn nạn của hệ thống
tài chính-tín dụng dần được đẩy lùi. Cùng với sự ra đời của các ngân hàng ở
những giai đoạn sau đã góp phần quan trọng vào việc củng cố và phát triển hệ
thống tài chính - tín dụng của bản xứ. Vai trò này còn được các ngân hàng thể
hiện trên lĩnh vực khai thác kinh tế.
3.1.2. Đối với khai thác kinh tế
Trong cuộc khai thác kinh tế tại thuộc địa Nam Kỳ mà thực dân Pháp
tiến hành. Chúng ta không thể không thừa nhận vai trò to lớn và hiệu quả của
các ngân hàng vào sự phát triển chung của nền kinh tế thuộc địa. Trước khi có
sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương, nền kinh tế Nam Kỳ phần lớn phụ
thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Lợi nhuận mà xứ Nam Kỳ thu được cũng
chủ yếu từ lĩnh vực này. Các lĩnh vực khác như: công - thương nghiệp;
thương mại - dịch vụ,... hầu như không đáng kể. Điều đó đã làm cho nền kinh
tế Nam Kỳ, nhìn chung không tiến triển trong suốt thời gian dài. Làm chậm
tiến độ công cuộc khai thác thuộc địa của Chính quyền Thực dân.
Nguyên nhân của tình trạng đó là do: phần lớn đất đai Nam Kỳ cho đến
thế kỷ XIX còn hoang vu, sình lầy chưa được người dân khai phá hết; đại bộ
phận dân số sống ở nông thôn với mật độ dân cư thưa thớt; phương tiên giao
thông đi lại trong vùng hết sức khó khăn; các cơ sở sản xuất trong xứ phần
lớn là thủ công, mỹ nghệ nên hết sức nhỏ lẽ, chỉ đủ cung cấp tiêu dùng tại chỗ
chứ không hề dùng cho xuất khẩu,... do vậy, khi thực dân Pháp đặt ách cai trị
lên Nam Kỳ, công tác quy hoạch thành phố để thu hút dân cư, thu hút các nhà
sản xuất hàng hóa gặp rất nhiều khó khăn.
136
Trước sự yếu kém của nền kinh tế bản xứ, Ngân hàng Đông Dương sau
khi ra đời đã thể hiện ngay vai trò của mình trong việc xây dựng và cãi tạo lại
nền kinh tế nơi đây theo hướng sản xuất tư bản chủ nghĩa để phục vụ cho nhu
cầu khai thác, bóc lột của thực dân Pháp. Thông qua hệ thống tín dụng của
ngân hàng, các ngân hàng đã cho các doanh nghiệp, nhà sản xuất, chế biến,...
nhỏ lẽ đang hoạt động tại Nam Kỳ được vay thế chấp, với mức lãi suất tương
đối thấp (từ 8% đến 12%). Nhờ có khoản hỗ trợ tín dụng này, các doanh
nghiệp, nhà sản xuất, chế biến,... tại Nam Kỳ nhanh chóng làm ăn khấm khá.
Quy mô sản xuất không ngừng được mở rộng. Hàng hóa sản xuất ra nhiều
hơn, không những đủ cung cấp cho thị trường nội địa mà còn dùng để xuất
khẩu. Đời sống nhân dân Nam Kỳ được cãi thiện hơn so với trước kia. Bộ mặt
của đô thành Sài Gòn và các thị xã, thị trấn của xứ có sự biến đổi căn bản.
Cuộc sống ở đây trở nên nhộn nhịp, sung túc hơn.
Với nguồn cung cấp tín dụng trên, Nam Kỳ đã trở thành nơi xuất khẩu
hàng hóa hàng đầu của cả xứ Đông Dương. Chính vì tiềm năng này đã thu hút
mạnh mẽ các nhà đầu tư, kinh doanh từ chính quốc và các nước khác trong
khu vực sang làm ăn, mua bán tại Nam Kỳ. Theo nghiên cứu của tác giả Jean-
Pierre Aumiphin từ công trình Sự hiện diện Kinh tế và Tài chính Pháp ở Đông
Dương (1859 - 1939) cho biết: từ năm (1924 - 1939) xứ Đông Dương, có 269
công ty vô danh đặt trụ sở tại đây. Trong tổng số 269 công ty vô danh này, thì
có tới 157 công ty đặt trụ sở chính tại Nam Kỳ, chiếm gần ¾ trên tổng số các
công ty vô danh có mặt tại Đông Dương (tức 70,4%) [39; tr.72].
Tác giả còn cho biết thêm: sở dĩ các công ty vô danh làm ăn buôn bán
tại đây là vì “Sài Gòn vốn là hạt ngọc châu Á, là một trung tâm thần kinh của
hoạt động tài chính. Chợ Lớn, ổ trụy lạc nơi lúc nào sũng sực lên mùi thức ăn
tồi, mùi đầm lầy, nước mắm và thuốc phiện... Sài Gòn xuất hiện như một niềm
137
kiêu hãnh của thực dân Pháp. Đó là nơi nổi tiếng về tài chính và giao dịch
của Pháp” [39; tr.73].
Đoạn trích trên của tác giả chúng ta không cần giải thích gì thêm cũng
đủ thấy được vai trò to lớn của các ngân hàng tại Nam Kỳ. Là nơi luôn diễn ra
các hoạt động giao dịch tài chính, trung tâm buôn bán hàng đầu của châu Á.
Bên cạnh việc cung cấp tín dụng cho các hoạt động kinh tế ra, các ngân
hàng còn giữ một vai trò quan trọng khác: đó là làm trung gian cung cấp các
dịch vụ tài chính cho các giao dịch mua bán giữa các doanh nghiệp, nhà sản
xuất, chế biến,... trong và ngoài nước. Các dịch vụ tài chính này bao gồm:
nhận tiền ký gửi của các khách hàng; nhận thanh toán nợ và trả nợ qua hóa
đơn hàng hóa cho các khách hàng trong và ngoài nước; bảo hiểm hàng hóa;
nghiệp vụ hối đoái; mua bán ngoại tệ, vàng, bạc, đồ kim khí quý cho các
khách hàng,... Nhờ các dịch vụ tài chính này, cho nên hoạt động mua bán tại
Nam Kỳ diễn ra một cách dễ dàng và thuận lợi. Góp phần không nhỏ vào sự
phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Nam Kỳ.
Như vậy, trước khi có sự ra đời của các ngân hàng nền kinh tế Nam Kỳ
nói chung phát triển chậm chạp, ì ạch. Sau khi các ngân hàng ra đời, với trung
tâm là nơi cung cấp tín dụng cho các hoạt động kinh tế, nền kinh tế Nam Kỳ
đã có nhiều chuyển biến quan trọng, quy mô sản xuất không ngừng được mở
rộng, hàng hóa sản xuất ra nhiều hơn, đời sống nhân dân dần được cãi thiện
so với lúc trước. Với vai trò trung tâm này, đã thu hút mạnh mẽ các nhà đầu
tư, kinh doanh từ chính quốc và các nước trong khu vực đến buôn bán. Nhờ
vậy, đã làm cho nền kinh tế Nam Kỳ phát triển nhanh chóng.
3.1.3. Đối với bộ máy chính quyền
Như chúng ta đã được biết sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương ở
chương trước, Ngân hàng Đông Dương ra đời có thể nói là tâm huyết của
138
Soái phủ Nam Kỳ (1862 - 1879) nhằm muốn cứu vãn cho nền kinh tế bản xứ
khỏi lâm vào con đường trì truệ và giải phóng cho nhân bản xứ thoát khỏi
cảnh đọa đày của nạn cho vay nặng lãi đang diễn ra đầy rẫy khắp nông thôn
Nam Kỳ. Chính vì lẽ đó, từ khi Ngân hàng Đông Dương ra đời đã khoát cho
mình một vai trò hết sức to lớn là cứu giúp cho nền kinh tế Nam Kỳ thoát
khỏi sự yếu kém và trì truệ trên và còn giải phóng cho dân bản xứ khỏi vấn
nạn cho vay nặng lãi. Kết quả là, Ngân hàng Đông Dương đã thành công về
mặt kinh tế, còn nạn cho vay nặng lãi tuy vẫn còn nhưng mức lãi suất đã thấp
hơn rất nhiều so với trước kia.
Bên cạnh thành công trên, giờ đây các ngân hàng còn kim nhiệm luôn
vai trò to lớn khác đối với bộ máy của chính quyền thực dân. Vai trò đó là gì ?
- Thứ nhất, đó là mua bán công thải cho chính quyền thực dân Pháp tại
Đông Dương để đầu tư, xây dựng các cơ sở hạ tầng, công trình công cộng
phục vụ cho công cuộc khai thác của chính quyền thực dân Pháp. Chúng ta
điều biết rằng, trước khi xâm chiếm Nam Kỳ, vùng đất Nam Kỳ cho đến thế
kỷ XVIII, XIX vẫn còn rất hoang vu, sình lầy, dân cư thưa thớt. Đến năm
1874, dân số toàn Nam Kỳ chỉ có khoảng 1.678.000 người, mật độ trung bình la 28 người/km2. Sống rải rác trên một diện tích hơn 600.000km2[9; tr.440].
Một tỷ lệ dân số quá thấp so với cả nước. Chính vì vậy cũng đủ giải thích vì
sao nền kinh tê Nam Kỳ trong thời gian đầu rất kém phát triển.
Về hệ thống giao thông đường thủy nội bộ, nói chung hầu như chẳng
đáng kể, nhiều nơi vẫn còn đầm lầy, ao tù, nước mặn,... phương tiện đi lại hết
sức khó khăn. Trước sự khó khăn đó, thực dân Pháp đã có nhiều biện pháp
khá tích cực để cãi tạo lại vùng đất chiếm cứ này nhằm phục vụ cho nhu cầu
khai thác kinh tế của chúng như: ban hành các nghị định khuyến khích việc
khẩn hoang [57; tr.216-217]; cải tạo và cho nạo vét các kênh, rạch, sông ngòi
tại Nam Kỳ [57; tr.223]; đắp mới các đường giao thông trong tỉnh, liên tỉnh
139
[51; tr.171-173]; thành lập Ủy ban Canh nông và Thuộc địa để chỉ huy cuộc
cãi tạo tại đây,...
Cùng với sự phát triển bước đầu đó, thực dân Pháp bắt đầu chú trọng
nhiều hơn đến việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, công trình công cộng cho
Nam Kỳ để thu hút các nhà đầu tư, sản xuất, chế biến,... đến đây khai thác
tiềm năng kinh tế của xứ, hòng mang về lợi nhuận cho chính quyền thực dân.
Muốn làm được điều đó cho xứ Nam Kỳ, thực dân Pháp tại Đông Dương phải
có một nguồn tài chính to lớn để chi tiêu cho các hoạt động công cộng này.
Phần lớn ngân sách của Nam Kỳ (chủ yếu là các loại thuế) không đủ chi cho
các hoạt động quy mô này. Muốn có được khoản tiền to lớn đó thực dân Pháp
tìm ở đâu ra ?
Đương nhiên là phải nhờ vào các ngân hàng, đặc biệt là Ngân hàng
Đông Dương mua công thải cho chính quyền thực dân để có tiền chi tiêu cho
các hoạt động công ích trên. Do đó, các ngân hàng đã giữ một vai trò quan
trọng đối với bộ máy chính quyền thực dân Pháp trong việc đầu tư công thải
cho Chính phủ Liên bang. Theo thống kê từ quyển Répertoire des principales
valeurs Indochinoises số lượng công thải mà Chính phủ Liên bang Đông
Dương phát hành từ 1896 - 1939 để đầu tư xây dựng các công trình công
cộng, cơ sở hạ tầng tại Đông Dương như sau:
Bảng 3.1: Các loại công thải (còn gọi là: công trái, trái phiếu chính
phủ) phát hành tại Đông Dương từ (1896-1939):
Tên các loại công thải Tổng số tiền công Giá mỗi Số nợ còn lại
thải khi phát phiếu công phải trả đến
hành thải khi 31/12/1941
phát hành
- Công thải của Chính phủ 80.000.000franc 87franc 34.860.000franc
Bảo hộ Bắc và Trung Kỳ,
140
lãi 2,5%; phát hành năm
1896.
- Công thải hỏa xa:
+ Lần 1: lãi 3,5%; phát
hành 1899. 50.000.000franc 450,00 39.825.000franc
+ Lần 2: lãi 3,0%; phát
hành 1902. 70.000.000franc 465,00 56.545.000franc
+ Lần 3: lãi 3,5%; phát
hành 1905. 80.000.000franc 480,00 68.621.500frac
- Công thải Phủ Toàn 53.000.000franc 453,50 48.099.000franc
quyền Đông Dương, lãi
3%; phát hành 1909
- Công thải Phủ Toàn 50.000.000franc 462,50 47.988.500franc
quyền Đông Dương, đợt 1:
lãi 3,5%; phát hành 1913.
- Công thải bằng đồng 4.712.500$ đã
Đông Dương: trả hết trước hạn
+ Đợt 1: năm 1922. ngày 24/03/1939 6.180.000$ 50$
theo giá 50$10, + Đợt 2: lãi 8%; năm 1926. 2.060.000$ 50$
666.124franc 21. + Đợt 3: 6,5%; năm 1929. 860.000franc
- Công trái phủ Toàn 530.453.000franc 960franc 484.973.000frs
quyền, lãi 4%; năm 1931.
- Công trái phủ Toàn 567.573.000franc 915franc và 531.413.000frs
quyền, lãi 4,5%; năm 1932. 4.575franc
- Công trái phủ Toàn 225.559.000franc 915franc và 216.159.000frs
quyền, lãi 5,5%; năm 1933 4.600franc
- Công trái phủ Toàn 190.679.000franc 927franc và 112.779.000frs
141
quyền, lãi 5%; năm 1934 4.637,50frs
- Công trái phủ Toàn 140.670.000franc 924franc và 134.650.000frs
quyền, lãi 5%; năm 1935 4.620franc
- Công trái phủ Toàn 153.955.000franc 880franc và 132.235.000frs
quyền, lãi 5,5%; năm 1937 4.400franc
- Công trái phủ Toàn 44.000.000$ 92$ và 925$ 44.000.000$
quyền, lãi 5%; năm 1939
Nguồn: [132; tr.163]
Phần lớn số công thải trên, điều do các ngân hàng thu mua. Trong đó,
Ngân hàng Đông Dương là đầu tư nhiều nhất. Ngoài số công thải kể được
trên, các cơ quan hành chính tại Nam Kỳ còn phát hành thêm công thải để
nâng cấp đơn vị mình như: Phòng Thương mại Sài Gòn phát hành số công
thải trị giá 350.000$, với lãi suất 8,1%/4 năm; Hải cảng Sài Gòn phát hành
công thải trị giá 2.000.000$, lãi suất 8,1%/4 năm [132; tr.163]. Tất cả số công
thải này, điều được các ngân hàng tại đây mua hết.
Như vậy, với việc đảm trách công thải cho Nhà nước Thực dân, các
ngân hàng đã đóng một vai trò quan trọng vào sự phát triển chung của nền
kinh tế Nam Kỳ.
- Thứ hai, bên cạnh việc mua công thải cho Nhà nước Thuộc địa để
Chỉnh phủ đầu tư xây dựng các công trình công cộng tại Nam Kỳ, các ngân
hàng còn giữ một vai trò quan trọng khác đối với sự cai trị của Chính quyền
Thuộc địa thông qua việc ổn định giá cả sinh hoạt hằng ngày cho người dân.
Với trung tâm là nơi cung cấp tín dụng, các ngân hàng cho các nhà sản xuất
tại Nam Kỳ vay với mức lãi suất vừa phải (trung bình từ 8% cho đến
12%/năm). Nhờ vậy, các dooanh nghiệp tại Nam Kỳ có thể mở rộng được quy
mô sản xuất. Từ đó sản xuất ra hàng hóa với số lượng nhiều, cung cấp cho thị
trường tiêu dùng nội địa với giá cả phải chăng. Do vậy, nhân dân tại Nam Kỳ,
142
sẽ tiết kiệm được chi tiêu trong sinh hoạt hằng ngày. Theo thống kê của học
giả Lê Đình Chân trong khoảng thời gian từ (1940 - 1945) chỉ số giá bán lẽ
các mặt hàng tiên dùng thiết yếu tại Sài Gòn tăng rất thấp so với chỉ số giá
tiêu dùng tại Hà Nội, như sau:
Bảng 3.2: Chỉ số giá sinh hoạt các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu tại Sài
Gòn và Hà Nội (1940-1945):
Năm Chỉ số giá bán lẽ các mặt hàng Chỉ số giá bán lẽ các mặt hàng
tiêu dùng thiết yếu tại Sài Gòn tiêu dùng thiết yếu tại Hà Nội
1940 122 132
1941 124 189
1942 141 244
1943 187 418
1944 280 977
1945 372 3106
Nguồn: [126; tr.178 và 180]
Trong khoảng thời gian 6 năm trên, giá các mặt hàng tiêu dùng tại Sài
Gòn chỉ tăng có 250% (vì trong khoảng thời gian này chiến tranh thế giới
đang diễn ra, Nhật đem quân uy hiếp Đông Dương, làm cho giá cả các mặt
hàng tiêu dùng thiết yếu tại Đông Dương tăng vọt). Còn tại Thành phố lớn Hà
Nội thì chỉ số tiêu dùng đó là: 2974% [126; tr.178 và 180].
Như vậy, thông qua hệ thống tín dụng ngân hàng, các ngân hàng đã
gián tiếp giúp cho Chính phủ Thuộc địa bình ổn giá cả tiêu dùng hằng ngày.
Góp phần quan trọng vào việc cãi thiện cuộc sống của nhân dân.
- Thứ ba, cho ngân khố của chính quyền thực dân Pháp vay khi ngân
khố này bị thiếu hụt do bội chi ngân sách hoặc trả nợ các khoản tiền vay của
ngân khố chính quốc. Ngoài việc mua công thải giúp cho Chính quyền Thực
dân Pháp có tiền để đầu tư xây dựng các công trình công cộng tại Đông
143
Dương, các ngân hàng còn cung cấp cho Chính phủ Thuộc địa các khoản vay
để bù đắp những thiếu hụt của ngân khố Đông Dương do việc chi tiêu công
gây ra. Chúng ta thừa biết rằng, với bộ máy cai trị đồ sộ của thực dân Pháp tại
Việt Nam đã là một gánh nặng cho ngân sách Đông Dương. Theo thống kê
của nhà nghiên cứu sử học Nguyễn Thế Anh với công trình Việt Nam thời
Pháp đô hộ cho biết số lượng công chức (cả Pháp lẫn Việt) tại Việt Nam như
sau: “Năm 1914 số công chức người Việt là 12.200 người; đến năm 1929
tăng lên 23.600 người. Số công chức người Pháp là 4.654 người (1937) để
cai trị một dân số khống tới 30 triệu người. Trong khi số công chức của người
Anh chỉ có 1.400 người mà cai trị thuộc địa Ấn Độ với dân số đông gấp 10
lần dân số Đông Dương” [4; tr.146 và 148].
Với số lượng các công chức đồ sộ trên, nội vấn đề lương bổng cũng đủ
làm cho ngân sách Đông Dương phải nguy ngập chứ đừng nói chi là các
khoản phụ cấp khác. Chính với bộ máy hành chính cồng kềnh này, đã làm cho
ngân sách Đông Dương luôn bị thiếu hút trong suốt thời gian dài.
Để có tiền bù đắp cho sự thiếu hụt triền miên đó, Chính phủ Liên bang
Đông Dương đã ký với Ngân hàng Đông Dương một đạo luật “yên cầu Ngân
hàng Đông Dương cho đúc thêm 3 triệu đồng bạc Đông Dương để cho ngân
khố Đông Dương vay”. Đến ngày 21/01/1920, Chính phủ Đông Dương lại ký
tiếp với Ngân hàng Đông Dương một thỏa ước, theo đó, “Ngân hàng Đông
Dương sẽ cho ngân khố Đông Dương vay tiền với mức lãi suất từ 0,5% cho
đến 1%. Bù lại, Ngân hàng Đông Dương sẽ là cơ quan phát hành tiền tệ cho
xứ Đông Dương, đồng thời, còn là ngân hàng ngoại thương cho Chính phủ
Liên bang Đông Dương. Do đó, tất cả số vốn ngoại tệ và vàng, bạc của Chính
phủ Liên bang Đông Dương điều được ký gửi tại Ngân hàng Đông
Dương”[132; tr.159].
144
Như vậy, với đạo luật và thỏa ước trên, chứng tỏ Ngân hàng Đông
Dương đã đóng một vai trò quan trọng vào việc cho ngân khố quốc gia vay
tiền để bù đắp cho những khoản chi tiêu thiếu hụt hằng năm.
- Cuối cùng, các ngân hàng còn đóng một vai trò quan trọng nữa là đảm
nhận nghiệp vụ hối đoái để chuyển những khoản tiền tiết kiệm của đội ngũ
công chức, viên chức người Pháp đang làm việc tại Đông Dương mang trở về
Mẫu quốc. Đây được xem là số tiền dơ bẩn mà đội ngũ công chức người Pháp
đang cai trị Đông Dương đã ra sức bòn rút, vơ vét bóc lột nhân dân Đông
Dương đến kiệt quệ. Để có thể chuyển số tiền bóc lột này về nước, các công
chức người Pháp đã phải dựa vào hệ thống các ngân hàng đang hoạt động tại
đây, đứng đầu trong số đó là Ngân hàng Đông Dương. Thông qua các biện
pháp nghiệp vụ hối đoái của mình, Ngân hàng Đông Dương đã chuyển phần
lớn số tiền bòn rút được của nhân dân Đông Dương về Mẫu quốc một cách an
toàn. Với thủ đoạn dơ bẩn này, chỉ trong mấy chục năm cai trị Đông Dương,
số công chức người Pháp đã chuyển về nước số tiền trị giá 15.000.000$ (tính
đến năm 1934) và 100.000.000$ nữa vào năm 1940, sau khi chúng đã ăn chơi
phè phỡn tại Đông Dương [132; tr.152-153]. Tổng cộng số tiền trên là
115.000.000$. Nếu chúng ta đổi số tiền trên ra đồng franc Pháp theo tỷ giá hối
đoái được Chính phủ Pháp quy định (1$ = 10franc) thì số tiền này lớn đến
mức độ nào khỏi nói chúng ta cũng điều biết !
Như vậy, với vai trò làm nghiệp vụ hối đoái, các ngân hàng đã trở
thành chỗ dựa tin cậy cho Chính quyền Thực dân Pháp bòn rút, bóc lột nhân
dân Đông Dương để làm giàu cho Mẫu quốc. Đây quả thực là một hành động
bỉ ổi mà cho đến nay chúng ta không hề hay biết thủ đoạn bóc lột công phu
này của bọn quan lại Pháp đối với nhân dân bản xứ.
145
3.2. Tác dụng của hệ thống ngân hàng
3.2.1. Thúc đẩy phát triển tư bản chính quốc
Như chúng ta đã được tìm hiểu ở lĩnh vực đầu tư tài chính của ngân
hàng Đông Dương từ chương trước, có thể khẳng định rằng: trước khi có sự
ra đời của Ngân hàng Đông Dương và hệ thống các ngân hàng theo sau, hoạt
đồng đầu tư của tư bản Pháp vào thuộc địa Nam Kỳ hầu như là con số 0. Sở dĩ
có tình trạng đó là vì: trong khoảng thời gian trước năm 1875, nước Pháp
đang vướn vào những gắt gối của tình hình chiến sự tại châu Âu, đặc biệt là
cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871) đã để lại hậu quả nặng nề cho nước
Pháp (5 tỷ franc vàng tiền bồi thường chiến phí cho Đức; mất hai tỉnh công
nghiệp giàu có về tài nguyên thiên nhiên; đài thọ quân đồn trú Đức cho đến
khi nào trả xong tiền chiến phí,...). Làm cho nền kinh tế Pháp trong suốt thời
gian dài lâm vào con đường trì truệ, không phát triển. Theo sau đó, là cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1873 - 1874 mà nguyên nhân là Chính
phủ Pháp đã rút một số lượng lớn vàng từ hệ thống các ngân hàng của Quốc
gia để bồi thường tiền chiến phí cho Đức. Dẫn đến số vàng lưu thông trên
toàn lãnh thổ Pháp bị hao hụt nghiêm trọng. Kết quả là hệ thống các ngân
hàng Pháp, siết chặt tín dụng, nâng cao lãi suất cho vay thế chấp. Làm cho các
doanh nghiệp, nhà sản xuất, chế biến,... chính quốc gặp nhiều khó khăn trong
việc mở rộng quy mô sản xuất. Một số doanh nghiệp, nhà sản xuất, chế
biến,... trong thời gian này buộc phải đóng cửa, số khác thì sa thải bớt công
nhân để duy trì sản xuất. Hàng hóa trong nước tương đối khang hiếm. Giá cả
tăng cao, làm cho cuộc sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Do đó, có thể thấy
vì sao trong khoảng thời gian (1862 - 1875) hoạt động thương mại của Pháp
tại Nam Kỳ hầu như là con số 0. Nền thương mại nơi đây hầu như do thương
nhân nước ngoài chi phối (chủ yếu là thương nhân người Anh, người Đức và
Hoa kiều) là điều dễ hiểu.
146
Sau khi Ngân hàng Đông Dương ra đời, với chức năng là nơi cung cấp
tín dụng và làm trung gian cung cấp các dịch vụ tài chính cho các doanh
nghiệp, nhà sản xuất, đầu tư, chế biến,... thì tư bản Pháp mới chịu bỏ vốn đầu
tư vào Đông Dương. Theo thống kê của Jean - Pierre Aumiphin kể từ khi
Ngân hàng Đông Dương ra đời, tính đến thời điểm năm 1939, toàn Đông
Dương có 269 công ty vô danh đóng trụ sở chính tại đây, gần ¾ trong số đó
(tức 157 công ty) đóng trụ sở chính tại Nam Kỳ, chiếm tỷ lệ 70,4%. Một tỷ lệ
đầu tư rất nhanh của tư bản chính quốc. Riêng trong khoảng thời gian (1924 -
1929) đã có 3 tỷ franc vốn đầu tư của tư bản Pháp đổ vào Đông Dương [4;
tr.172]. Tính tới thời điểm năm 1957 (năm đánh dấu sự kết thúc chiến tranh
Việt Nam của thực dân Pháp) theo thống kê của các nhà sử học Pháp, tư bản
Pháp đã đầu tư tại Đông Dương số vốn lên tới 5.000 tỷ franc [132; tr.133],
theo tỷ giá hối đoái (1$ = 17franc) của Chính phủ Pháp quy định ngày
26/12/1945. Sở dĩ thực dân Pháp đầu tư vào Đông Dương với tốc độ nhanh
chóng là vì:
Trước chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), tư bản Pháp không
xem Đông Dương là thị trường chính để đầu tư. Vì đường xá xa xôi, giao
thông cách trở; thuộc địa chưa có những cơ sở hạ tầng vững chắc để thu hút
các nhà đầu tư, sản xuất, chế biến. Và quan trọng hơn là vào thời điểm này,
nước Nga Sa hoàng ở Đông Âu và các nước ở khu vực bán đảo Ban-căng
đang là thị trường mới nổi thu hút mạnh mẽ giới đầu tư từ các nước đến đây
để tìm kiếm lợi nhuận cao. Vì vậy, đã làm cho các nhà đầu tư Pháp chuyển
trọng tâm sang đầu tư khu vực này. Theo số liệu thống kê cho thấy: “ năm
1908, 38 tỷ frs được xuất khẩu trong khi chỉ có 9,5 tỷ đầu tư vào công nghiệp
trong nước. Năm 1914, số vốn xuất khẩu lên đến 50 - 60 tỷ, trong đó 13 tỷ
đưa sang nước Nga”[64; tr.238]. Do đó trong khoảng thời gian (1862 - 1918),
tư bản Pháp rất ít chú trọng đầu tư vào Đông Dương. Đến khi chiến tranh thế
147
giới thứ nhất kết thúc, cách mạng tháng Mười Nga thành công (11/1917),
nước Nga Xô viết do Lênin lãnh đạo tuyên bố đi lên con đường xã hội chủ
nghĩa đã quốc hữu hóa toàn bộ số tài sản mà giới đầu tư Pháp đầu tư vào Nga.
Chính vì bị thiệt hại nặng nề này, tư bản Pháp mới chịu đầu tư ồ ạt vào Đông
Dương.
Cũng trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất, Đông Dương
không hề bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nên các công ty tại đây nhận được sự
hỗ trợ tín dụng của ngân hàng một cách nhanh chóng để mở rộng quy mô sản
xuất và đã ăn nên làm ra. Nhờ đó mà kim ngạch xuất - nhập khẩu của Đông
Dương luôn ở giá trị dương.
Bảng 3.3: Cán cân ngoại thương Đông Dương thời kỳ (1929-1938):
Năm Kim ngạch nhập khẩu Kim ngạch xuất Nhập siêu (-)
khẩu Xuất siêu (+)
Đơn vị: triệu đồng Đông Dương
1929 260,2 261,1 + 0,9
1930 181,0 183,7 + 2,7
1931 129,0 112,0 - 17,0
1932 96,7 101,8 + 5,1
1933 91,0 101,4 + 10,4
1934 90,4 106,0 + 14,6
1935 90,1 129,8 + 39,7
1936 97,8 170,8 + 73,4
1937 157,8 258,9 + 101,1
1938 191,7 284,5 + 92,8
Nguồn: [132; tr.38]
Chính sự tăng trưởng này đã thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư, sản xuất
của tư bản Pháp sang Nam Kỳ để tìm kiếm lợi nhuận. Vì vậy mà trong
148
khoảng thời gian 64 năm (1875 - 1939) đã có tới 269 công ty vô danh của tư
bản Pháp đến làm ăn mua bán tại Đông Dương. Đây được xem là thành công
của xứ Đông Dương trong việc thu hút vốn đầu tư của tư bản Pháp. Ngược
lại, nhờ có sự đầu tư này đã giúp cho tư bản Pháp nắm trọn thị trường Đông
Dương. Từ đó ra sức bóc lột nhân dân Đông Dương để mang về lợi nhuận cho
chính quốc.
Như vậy, với nhiệm vụ hỗ trợ tín dụng và làm trung gian cung cấp các
dịch vụ tài chính cho các nhà sản xuất, đầu tư, chế biến,... các ngân hàng đã
có tác dụng gián tiếp đến việc đẩy nhanh tốc độ đầu tư của tư bản Pháp vào
Đông Dương. Nhờ vậy đã giúp cho tư bản Pháp nhanh chóng kiểm soát được
nền kinh tế Đông Dương. Từ đó ra sức bóc lột nhân dân bản xứ để thu về lợi
nhuận to lớn cho chính quốc.
3.2.2. Thúc đẩy khai thác thuộc địa
Trước khi Ngân hàng Đông Dương ra đời, hoạt động đầu tư, khai thác
thuộc địa của thực dân Pháp tại Nam Kỳ chẳng đáng kể lắm. Phần lớn các
hoạt động khai thác này, tập trung chủ yếu vào hoạt động xuất khẩu lúa gạo là
chính. Theo thống kê của PGS. Lê Xuân Diệm - Viện Khoa học Xã hội vùng
Nam Bộ với bài viết Yếu tố kinh tế thị trường trong nông nghiệp, nông thôn
Nam Bộ dưới thời Pháp thuộc (1859-1945) cho biết hoạt động kinh tế của
Pháp tại Nam Kỳ trong thời gian đầu chủ yếu là xuất khẩu lúa gạo như sau:
“trong vòng 5 tháng đầu năm 1861 đã có khoảng 250 tàu thuyền các nước từ
châu Âu và Trung Hoa đến cảng và chở đi 54.000 tấn lúa gạo, trị giá lên đến
5 triệu franc. Đến năm 1867, tức là năm Nam Kỳ Lục tỉnh bị thực dân Pháp
thâu tóm hoàn toàn, thị trường gạo xuất khẩu đã lên tới 193.000 tấn. Rồi 10
năm sau (1877), chỉ trong vòng 3 tháng đầu năm thì lượng gạo xuất cảng đạt
khoảng gần 90.000 tấn, trị giá 2.295.343franc” [35; tr.93].
149
Với dẫn chứng trên, chứng tỏ hoạt động kinh tế Nam Kỳ trong thời
gian trước khi Ngân hàng Đông Dương ra đời phần lớn phụ thuộc lĩnh vực
xuất khẩu gạo. Số tiền mà xuất khẩu gạo thu được chiếm phần lớn ngân sách
của toàn xứ. Các lĩnh vực kinh tế còn lại hầu như không đóng góp nhiều. Do
đó có thể hiểu được sự yếu kém của nền kinh tế Nam Kỳ trong suốt thời gian
dài.
Kể từ khi Ngân hàng Đông Dương được thành lập và đi vào hoạt động,
với chức năng cung cấp tín dụng của mình, ngân hàng đã giúp cho Chính
quyền thực dân Pháp đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng, công trình công cộng
để thu hút các doanh nghiệp, nhà đầu tư, sản xuất,... đến Nam Kỳ để khai thác
tiềm năng thương mại của bản xứ. Mặt khác, ngân hàng còn hỗ trợ tín dụng
cho nhiều doanh nghiệp đang hoạt động tại đây được yên tâm sản xuất để sản
xuất ra nhiều sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong xứ và dùng cho
xuất khẩu. Nhờ có sự hỗ trợ tín dụng này, chỉ trong thời gian ngắn chính
quyền thực dân Pháp đã xây được cho mình các cơ sở hạ tầng, công trình
công cộng tại Nam Kỳ để thu hút đầu tư từ chính quốc và các nước. Riêng các
doanh nghiệp đang hoạt động tại đây có điều kiện phát triển hơn trước và
không ngừng mở rộng quy mô sản xuất. Nhờ vậy đã thúc đẩy công cuộc khai
thác thuộc địa tại Nam Kỳ diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Theo PGS.TS Hà
Minh Hồng với công trình nghiên cứu Sự hình thành và phát triển nền công
nghiệp Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cho biết công cuộc khai thác
kinh tế tại Nam Kỳ mà thực dân Pháp tiến hành được diễn ra trên tất cả các
ngành, nghề sau:
- Ngành xay xát gạo;
- Ngành chế biến đường;
- Ngành dệt;
- Ngành rượu, bia;
150
- Ngành thuốc lá;
- Ngành chế biến cao su;
- Ngành cơ khí sữa chữa;
- Ngành điện năng;
- Ngành hóa chất cơ bản;
- Các ngành khác: sản xuất gốm sứ, gạch ngói, sản xuất nước chấm, xà
phồng, ngành làm giấy, thuộc da, thủy tinh, âu dược,... [35; tr.81-86].
Với việc đầu tư và khai thác các ngành nghề trên, thực dân Pháp đã thu
về cho mình một món lợi nhuận kếch sù. Theo thống kê của ngân khố Đông
Dương hằng năm Chính phủ Đông Dương thu về món tiền trị giá
6.500.000$/năm [132; tr.158]. Riêng số tiền các công chức Pháp tiết kiệm từ
mồ hôi xương máu của nhân dân Đông Dương để gửi về Mẫu quốc là hơn 1
tỷ franc. Còn các doanh nghiệp Pháp cũng thu về món lợi không nhỏ. Năm
1933, các công ty này lãi 87 triệu franc; năm 1939, lãi 465 triệu franc; năm
1940, lãi 539 triệu franc; năm 1946, lãi 542 triệu franc; và đến năm 1951, số
tiền lãi mà các công ty này thu được lên tới 10 tỷ 101 triệu franc [132; tr.150].
Như vậy với chức năng cung cấp tín dụng cho Chính quyền Thực dân
Pháp tại Đông Dương vay để xây dựng các cơ sở hạ tầng, công trình công
cộng và hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp đang làm ăn mua bán tại đây
được mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm các trang thiết bị, nguyên vật liệu
dùng cho dây chuyền sản xuất. Các ngân hàng đã trở thành công cụ đắc lực
giúp cho tư bản Pháp đẩy nhanh quá trình khai thác thuộc địa để vơ vét, bóc
lột nhân dân bản xứ làm giàu cho chính quốc.
151
3.2.3. Thúc đẩy kinh tế, tài chính bản xứ
Như chúng tôi đã có dịp trình bày ở những phần trên, trước khi hệ
thống ngân hàng ra đời và đi vào hoạt động tại Nam Kỳ, nền kinh tế - tài
chính nơi đây phát triển không cân xứng với tiềm năng của xứ. Phần lớn
nguồn thu nhập của xứ Nam Kỳ chủ yếu phụ thuộc vào lĩnh vực khai thác
xuất khẩu gạo. Các lĩnh vực kinh tế khác như: công - thương nghiệp; thương
mại - dịch vụ,... có đóng góp không lớn lắm. Do đó, mà nền kinh tế Nam Kỳ
trong suốt thời gian dài không thể cạnh tranh nổi với nền thương mại của các
nước trong khu vực. Còn lĩnh vực tài chính thì hết sức rối ren và phức tạp.
Dân chúng bản xứ không tiêu xài cố định một loại tiền nào dùng trong hoạt
động trao đổi mua bán. Khi họ mua bán với người nước ngoài thì họ sử dụng
các đồng tiền của Mexico hoặc các đồng tiền thương mại của các nước khác.
Còn chi dùng trong nước thì sử dụng đủ các loại tiền, không phân biệt tiền
đồng, tiền kẽm hay các thức tiền bạc do thương nhân nước ngoài mang tới.
Chính việc sử dụng phức tạp nhiều loại tiền tệ này đã dẫn đến nạn đầu cơ và
buôn lậu tiền ra nước ngoài để kiếm lời diễn ra ngày càng nhiều. Hệ quả là
làm cho nạn cho vay nặng lãi với mức lãi suất kinh khủng xảy ra khắp nông
thôn Nam Kỳ. Gây cho người nông dân nhiều điêu đứng, làm ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất tại đây.
Trước thực trạng đó, sau khi Ngân hàng Đông Dương ra đời và sau đó
là sự ra đời của các ngân hàng khác đã khoát cho mình một sứ mệnh to lớn là:
cung cấp tín dụng cho nền kinh tế bản xứ và xây dựng lại hệ thống tài chính
nơi đây nhằm ổn định với tình hình mới. Với nhiệm vụ đó, ngân hàng đã cho
các lĩnh vực của nền kinh tế Nam Kỳ vay với mức lãi suất vừa phải để cho
các doanh nghiệp, nhà sản xuất, chế biến,... nơi đây có điều kiện mở rộng quy
mô hoạt động, tăng cường sản xuất kinh doanh. Từ đó làm ra nhiều sản phẩm,
phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong xứ và dùng cho xuất khẩu. Song song
152
với hoạt động kinh tế trên, ngân hàng cho ổn định lại hệ thống tài chính bản
xứ bằng cách: đặt ra đơn vị tiền tệ mới cho xứ Đông Dương (còn gọi là đồng
bạc Đông Dương). Cấm lưu hành và cho xuất cảng các đồng tiền thương mại
khác ra khỏi lãnh thổ Nam Kỳ. Cho xây dựng lại hệ thống tín dụng ở nông
thôn bằng cách lập ra các hội nông tín như: Hội nông tín tương tế bản xứ Nam
Kỳ, Quỹ Trung ương nông tín tương tế bản xứ,...
Nhờ có những biện pháp tích cực và kịp thời này, đã giúp cho nền kinh
tế Nam Kỳ có sự chuyển biến nhanh chóng về mọi mặt. Tuy kinh tế Nam Kỳ
vẫn còn phụ thuộc vào các mặt hàng nông nghiệp (chủ yếu là xuất khẩu gạo
và cao su) nhưng nhìn chung, kinh tế Nam Kỳ đã xây dựng được cho mình
một cơ cấu khá đồng bộ. Biểu hiện ở một số ngành nghề mới như:
+ Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và thiết bị vận tải;
+ Công nghiệp điện nước;
+ Công nghiệp dệt;
+ Công nghiệp chế biến thực phẩm;
+ Công nghiệp nấu rượu;
+ Công nghiệp sản xuất bia;
+ Công nghiệp đường;
+ Công nghiệp chế biến lâm sản;
+ Một số ngành công nghiệp khác như: luyện kim, xà phòng, sơn thủy
tinh, cơ khí sữa chữa, hóa chất,... [20; tr.344-346].
Riêng về lĩnh vực tài chính của Nam Kỳ cũng có nhiều thay đổi quan
trọng. Nhờ có hệ thống ngân hàng, đặc biệt là Ngân hàng Đông Dương, nền
tài chính Nam Kỳ được củng cố một cách chắc chắn, đảm bảo không còn
thiếu tín dụng trong các hoạt động cho vay. Đồng bạc lưu thông tại Nam Kỳ
được đảm bảo bằng kim khí quý nên ít bị mất giá, nạn đầu cơ tiền từ đó cũng
không còn, việc trao đổi buôn bán được dễ dàng và thuận lợi. Ngân hàng còn
153
kết hợp với Chính quyền Thực dân Pháp ở nông thôn triển khai các hoạt động
tín dụng với lãi suất thấp để cho nhân dân vay tiền làm mùa vụ. Ngoài ra còn
hỗ trợ tín dụng cho các Hội nông tín để ngăn chặn hoặc hạn chế bớt nạn cho
vay nặng lãi đang diễn ra ở nông thôn.
Như vậy, với sự giúp đỡ trên, có thể khẳng định hệ thống ngân hàng đã
có tác tác dụng tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế Nam Kỳ và sự ổn
định của hệ thống tài chính nơi đây. Nhờ có hệ thống ngân hàng này mà nền
kinh tế Nam Kỳ được ổn định và có điều kiện phát triển nhanh hơn trước.
Nam Kỳ dần vươn lên trở thành một trung tâm kinh tế, thương mại và tài
chính hàng đầu của các nước trong khu vực và trên thế giới - “một ban công
của đế quốc Pháp trên Thái Bình Dương” [65; tr.605].
154
KẾT LUẬN
Giữa thế kỷ XIX, xứ Nam Kỳ từ một vùng đất độc lập, có chủ quyền
dưới sự trị vì của Vương triều Nguyễn trở thành một vùng đất thuộc địa dưới
ách cai trị của thực dân Pháp. Với đầu óc của chủ nghĩa thực dân, chỉ trong
mấy chục năm ngắn ngủi, thực dân Pháp đã biến Nam Kỳ từ một vùng đất
thưa thớt dân cư năm nào trở thành một trung tâm kinh tế - tài chính - thương
mại hàng đầu của Pháp ở vùng Viễn Đông. Để có được thành công đó, một
mặt thực dân Pháp cho tiến hành quy hoạch và xây dựng lại nền kinh tế Nam
Kỳ. Mặt khác, Pháp sửa đổi lại nền chính trị - hành chính nơi đây. Tổ chức ra
quân đội, cảnh sát để bảo vệ trật tự trị an và phòng thủ Nam Kỳ. Song song
đó, thực dân Pháp còn cải tổ lại hệ thống giáo dục, y tế để phục vụ cho nhu
cầu học tập đào tạo ra đội ngũ công chức, viên chức dùng cho chế độ mới.
Sau khi chiếm xong Nam Kỳ các đô đốc Pháp đã ngay lập tức cho mở
cửa cảng Sài Gòn nhằm thoát khỏi tình trạng bị cô lập từ phía quân đội triều
đình Huế để liên lạc và tìm kiếm sự giúp đỡ từ phía các nước bên ngoài, đồng
thời còn để thăm dò tiềm năng thương mại của xứ Nam Kỳ. Kết quả của việc
làm trên, chứng tỏ Nam Kỳ trong tương lai sẽ trở thành trung tâm kinh tế-tài
chính-thương mại ở vùng Viễn Đông. Nhưng do thiếu nguồn vốn để sản xuất
và đặc biệt là bọn cho vay nặng lãi đang hoành hành bá đạo tại đây, cho nên
nền kinh tế Nam Kỳ đã lâm vào tình trạng trì trệ nghiêm trọng. Mọi tiềm năng
thương mại của bản xứ, đều rơi dần vào tay các thương nhân người Anh, Đức
và Hoa kiều.
Đứng trước thực tế đó các đô đốc Pháp đã vận động Chính phủ cho mở
chi nhánh Ngân hàng Chiết khấu Quốc gia Pháp nhằm để cung cấp tín dụng
cho các hoạt động thương mại nhưng ngân hàng đã không đáp ứng được sự
155
mong đợi từ phía các thương nhân Pháp và Soái phủ Nam Kỳ. Trước tình
cảnh đó, Soái phủ Nam Kỳ đã cùng với Bộ Thuộc địa Pháp vận động giới tài
chính - ngân hàng Pháp, thành lập một ngân hàng “phát hành giấy bạc” giành
cho xứ thuộc địa và lấy tên gọi là Ngân hàng Đông Dương (Banque de
l’Indochine).
Đến khi nước Pháp thua trận trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-
1871), chính phủ Pháp mất khả năng tài chính nên đã đồng ý đề nghị của giới
tài phiệt thành lập ra Ngân hàng Đông Dương, đồng thời ban nhiều đặc
quyền, đặc lợi cho ngân hàng. Nhờ có những đặc quyền này, chỉ trong thời
gian ngắn, ngân hàng đã liên tục làm ăn khấm khá, vốn điều lệ của ngân hàng
không ngừng gia tăng, phạm vi hoạt động mở rộng ra khắp nơi. Ngân hàng
dần trở thành một ngân hàng toàn cầu, đại diện cho quyền lợi của tư bản Pháp
ở vùng Viễn Đông.
Do ra đời trong hoàn cảnh nền kinh tế Nam Kỳ đang gặp nhiều trì trệ
và sự mất khả năng tài chính của Chính phủ Pháp, nên từ lúc ra đời, Ngân
hàng Đông Dương đã che đậy cho mình nhiều sự bí ẩn về cơ cấu tổ chức. Đó
là sự kết hợp giữa những “chức vụ công quyền” với những “chức vụ tư
doanh” để che đậy cho một “tập đoàn người thiểu số” đang thao túng và chi
phối vận mệnh nền kinh tế Đông Dương từng ngày. Với sự kết hợp đặc biệt
này, Ngân hàng Đông Dương có thể điều khiển được Chính phủ Liên bang
Đông Dương; khống chế được các công ty tư bản đầu sỏ của Pháp ở thuộc địa
để mang về nhiều nguồn lợi nhuận nhất cho ngân hàng.
Kể từ khi Ngân hàng Đông Dương ra đời và đặt chi nhánh đầu tiên tại
Sài Gòn (tháng 04/1875), ngân hàng đã ngay lập tức triển khai các nghiệp vụ
của mình nhằm tìm kiếm lợi nhuận mang về cho chính quốc. Từ đó ngân hàng
mở rộng phạm vi hoạt động của mình sang tất cả các lĩnh vực kinh tế tại Đông
156
Dương và trở thành một ngân hàng đầu tư hàng đầu của Pháp trên thế giới.
Chính vì vậy, Ngân hàng Đông Dương đã được các nhà sử học Pháp gọi là
“ngân hàng chúa tể Pháp”.
Sau khi Ngân hàng Đông Dương ra đời, với tiềm lực tài chính của mình
ngân hàng đã giúp cho nền kinh tế Nam Kỳ từng bước thoát ra khỏi tình trạng
trì trệ. Nam Kỳ dần vươn lên trở thành một trung tâm kinh tế - tài chính -
thương mại hàng đầu của Pháp ở vùng Viễn Đông. Trước sự phát triển nhanh
chóng của nền kinh tế Nam Kỳ đã làm cho các ngân hàng khác bắt đầu quan
tâm tìm hiểu và mở chi nhánh tại đây. Kết quả là chỉ trong thời gian ngắn đã
có hàng loạt các ngân hàng mở chi nhánh tại Nam Kỳ. Những ngân hàng đó
bao gồm: chi nhánh ngân hàng The Hong Kong and Shanghai Banking
Corporation (HSBC); chi nhánh The Chartered Bank; chi nhánh ngân hàng
Pháp - Hoa (Banque Franco-Chinoise); Việt Nam Ngân hàng (Banque de
Cochinchine); chi nhánh ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Pháp -
Trung (Banque Franco-Chinoise pour le Commerce et l'Industrie); chi nhánh
ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Quốc gia Pháp (Banque Nationale
pour Commerce et l'Industrie); chi nhánh Truyền thông Ngân hàng Trung
Quốc (Communications banques chinoises). Những ngân hàng này đã cùng
với Ngân hàng Đông Dương hình thành nên hệ thống ngân hàng tại Nam Kỳ.
Sau khi hệ thống ngân hàng ra đời tại Nam Kỳ, với chức năng cung cấp
tín dụng cho nền kinh tế, các ngân hàng đã giúp cho nhiều doanh nghiệp, xí
nghiệp, nhà chế biến, sản xuất tại Nam Kỳ có thêm nguồn vốn để mở rộng
quy mô sản xuất, để tăng thêm lợi nhuận cho đơn vị. Mặt khác, các ngân hàng
còn làm trung gian cung cấp các dịch vụ tài chính cho các giao dịch mua bán
giữa các doanh nghiệp, nhà sản xuất, chế biến trong và ngoài nước. Nhờ các
dịch vụ tài chính này, cho nên hoạt động mua bán tại Nam Kỳ diễn ra dễ dàng
và nhanh chóng. Do đó, đã thúc đẩy tư bản Pháp đầu tư ồ ạt vào Đông Dương.
157
Bên cạch đó, các ngân hàng còn giúp: ổn định lại tình hình tài chính - tín dụng
của thuộc địa; điều tiết giá cả sinh hoạt thông qua hoạt động tín dụng của
mình; giúp cho chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương vận chuyển
những khoản tiền vơ vét, bóc lột của nhân dân Đông Dương mang về chính
quốc... Với những vai trò trên, hệ thống ngân hàng đã có tác dụng tích cực
trong việc thúc đẩy nền kinh tế Nam Kỳ phát triển nhanh theo con đường tư
bản chủ nghĩa. Từ đó, giúp cho thực dân Pháp đẩy nhanh quá trình khai thác,
bóc lột nhân dân bản xứ để làm giàu cho chính quốc.
Sự xuất hiện của Ngân hàng Đông Dương là niềm kiêu hãnh của tư bản
Pháp ở vùng Viễn Đông và nó cũng tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh
tế thuộc địa. Sự thật là như vậy! Trước khi hệ thống các ngân hàng hình thành
và phát triển tại Nam Kỳ, nền kinh tế bản xứ nhìn chung phát triển một cách
chậm chạp, yếu ớt. Phần lớn các hoạt động kinh tế diễn ra tại đây chủ yếu phụ
thuộc vào lĩnh vực khai thác xuất khẩu gạo. Các thành phần kinh tế khác hầu
như rất yếu kém. Do đó đã làm cho nền kinh tế Nam Kỳ lâm vào tình trạng trì
trệ trong suốt thời gian dài. Đến khi hệ thống các ngân hàng hình thành phát
triển tại Nam Kỳ, đặc biệt là sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương đã giúp
cho nền kinh tế Nam Kỳ có điều kiện mở mang phát triển nhanh chóng. Với
chức năng cung cấp tín dụng của mình, các ngân hàng đã giúp cho các ngành,
nghề kinh tế tại Nam Kỳ có thêm được nguồn tín dụng để mở rộng quy mô
sản xuất, làm ra nhiều sản phẩm hơn, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong
nước và dùng cho xuất khẩu, thu về lợi nhuận cho các công ty, xí nghiệp này
và cho chính quốc. Vì vậy các nhà kinh tế học Pháp xem Nam Kỳ là trung
tâm kinh tế - tài chính - thương mại hàng đầu của đế quốc Pháp ở vùng Viễn
Đông.
Bên cạnh “niềm kêu hãnh” và “tự hào” của nước Pháp ở vùng Viễn
Đông, hệ thống các ngân hàng tại Nam Kỳ cũng bộc lộ rõ bản chất của chúng.
158
Đó là làm cho người dân bản xứ, nhà sản xuất, chế biến, các doanh nghiệp, xí
nghiệp,... đang làm ăn mua bán tại đây là những nạn nhân chủ yếu thiếu nợ
các ngân hàng, đặc biệt là Ngân hàng Đông Dương.
Trước tiên nói về nhân dân bản xứ: phần lớn nhân dân Nam Kỳ,
chuyên sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước. Đối với nghề này, cần phải có
một khoản tín dụng tương đối lớn để trang trải cho đầu mùa vụ. Để có được
khoản tín dụng này, buộc người nông dân phải chạy đi vay hỏi khắp nơi và họ
sẵn sàng chịu một khoản lãi suất lớn do người cho vay đặt ra. Trước khi hệ
thống ngân hàng ra đời và đi vào hoạt động tại Nam Kỳ, nguồn tín dụng tại
đây hầu như không có. Do thiếu nguồn tín dụng này, nên mức lãi suất mà
người cho vay đặt ra thông thường luôn ở mức cao từ 50 - 60%/năm; thậm chí
lên đến 300%/năm. Với mức lãi suất hấp dẫn này đã lôi kéo những người có
tiền của ở nông thôn Nam Kỳ đứng ra cho vay nặng lãi để thu lợi nhuận.
Nhận thấy đây là món lợi nhuận hấp dẫn, Ngân hàng Đông Dương ngay khi
mới ra đời đã tiến hành “kinh doanh nông nghiệp” nhằm giành giật lợi nhuận
thu về cho cơ quan mình. Do đó ngân hàng đã cung cấp tín dụng cho nông
dân vay với mức lãi suất thấp và trở thành chủ nợ của đội ngũ này. Không
dừng lại ở đó, ngân hàng còn cấu kết với chính quyền thực dân Pháp tại Nam
Kỳ, thành lập ra Hội Nông tín tương tế bản xứ, Quỹ Trung ương nông tín
Nam Kỳ nhằm thông qua các tổ chức này để cột chặt người nông dân vào
nguồn tín dụng của ngân hàng. Để từ đó ra sức bóc lột họ, làm cho họ lâm vào
cảnh túng quẫn, nợ nần triền miên. Ngân hàng Đông Dương là một trong
những thủ phạm đầu sỏ đứng đằng sau đẩy người nông dân Nam Kỳ lâm vào
cảnh nợ nần và phá sản.
Tiếp sau nông dân Nam Kỳ là các nhà sản xuất, chế biến, các doanh
nghiệp, xí nghiệp,... đang làm ăn mua bán tại Nam Kỳ, cũng là nạn nhân thiếu
nợ các ngân hàng, đặc là Ngân hàng Đông Dương. Với nguồn tín dụng nhỏ bé
159
của đơn vị mình, các doanh nghiệp, nhà sản xuất, chế biến,... tại đây khó có
thể mua sắm các nguyên vật liệu; đầu tư mở rộng quy mô sản xuất; trả lương
cho công nhân,... chứ đừng nói chi là vươn thế lực kinh doanh của đơn vị
mình ra bên ngoài. Để có thể làm được những việc trên, không còn cách nào
khác buộc các doanh nghiệp, nhà sản xuất, chế biến tại Nam Kỳ phải dựa vào
nguồn vốn vay tín dụng của các ngân hàng. Do đó, họ trở thành con nợ của
các ngân hàng. Trong những phần trên chúng ta đã thấy được sức mạnh của
Ngân hàng Đông Dương khi trực tiếp điều khiển tới 16 công ty đang hoạt
động tại Đông Dương, số các công ty còn lại ngân hàng cũng gián tiếp khống
chế chúng bằng cách thông quan nguồn tín dụng dồi dào của mình.
Ngay cả Chính phủ Pháp và Chính phủ Liên bang Đông Dương cũng
phải dựa dẫm vào nguồn tín dụng của các ngân hàng, đặc biệt là Ngân hàng
Đông Dương để trang trải kinh phí giúp cho chính phủ chi tiêu trong các năm
tài khóa. Vì sao lại thiếu nợ Ngân hàng Đông Dương ? Chúng ta điều biết
rằng, kể từ khi cuộc chiến tranh Pháp - Phổ nổ ra (1870 - 1871), nước Pháp
lâm vào một tình thế hết sức hiểm nghèo. Bị mất đất, lại phải bồi thường tiền
chiến phí chiến tranh cho Đức. Do đó đã làm cho tình hình tài chính của
Chính phủ Pháp hết sức túng quẫn. Thêm vào đó là nước Đức âm mưu phát
động một cuộc chiến tranh tổng lực nhằm đánh bại hoàn toàn nước Pháp, đẩy
nước Pháp xuống hàng các nước chư hầu. Vì vậy đã lôi kéo các quốc gia khác
thành lập ra liên minh Tam hoàng gồm: Hoàng đế Wilhelm I của Đế chế Đức;
Sa hoàng Alexandre II của nước Nga và Đức vua Franz Joseph I của Đế quốc
Áo - Hung. Tiếp sau sự kiện liên minh Tam hoàng, nước Đức lại lôi kéo Ý
thành lập ra liên minh tay ba gồm: Đức - Áo Hung - Ý để chuẩn bị phát động
cuộc chiến tranh chống Pháp. Hành động này của nước Đức đã khơi màu cho
một cuộc chiến tranh thế giới sắp nổ ra. Đẩy nền tài chính của Chính phủ
Pháp tiến sâu vào con đường nguy ngập. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -
160
1918) nổ ra, nước Pháp tuy là quốc gia thắng trận nhưng nền kinh tế bị chiến
tranh tàn phá nặng nề, thêm vào đó là nạn lạm phát tiền tệ do Chính phủ phát
hành quá nhiều để nuôi chiến tranh đã làm cho tình hình tài chính của nước
Pháp thêm rối loạn. Tiếp sau những khó khăn đó là sự bất ổn của tình hình
tiền tệ thế giới đã làm cho đồng franc Pháp bị mất giá trầm trọng, ảnh hưởng
đến nền kinh tế của Pháp. Đến những năm 1929 - 1933, nước Pháp lại lâm
vào cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm cho nền kinh tế của Pháp gặp
nhiều khó khăn. Để cứu vãn tình cảnh này, chính phủ Pháp đã phát hành
nhiều công thải (còn gọi: công trái, trái phiếu chính phủ) để có tiền giúp đỡ
cho các doanh nghiệp Pháp đang gặp khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế
gây ra. Đúng vào lúc đó, Ngân hàng Đông Dương đã liên tục làm ăn khấm
khá và không ngừng tăng vốn điều lệ của mình lên: từ 8 triệu franc lúc ban
đầu đến năm 1931 vốn điều lệ đã là 120 triệu franc. Việc tăng trưởng nhanh
chóng này đã giúp cho ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động ra các nước bên
ngoài. Ngân hàng Đông Dương trở thành một ngân hàng toàn cầu đáng sợ
nhất của tư bản tài chính Pháp ở vùng Viễn Đông. Trước sự khó khăn, túng
thiếu tài chính của Chính phủ Pháp, Ngân hàng Đông Dương một mặt mua
công thải của Chính phủ Pháp (vì theo điều lệ thành lập ngân hàng, Ngân
hàng Đông Dương được phép tham dự mua bán công thải của chính phủ các
nước). Mặt khác, ngân hàng cho ngân khố của Chính phủ Pháp vay tiền với
lãi suất cực thấp từ 1% - 0,5% [132; tr.127]. Như vậy, mặc nhiên Ngân hàng
Đông Dương trở thành chủ nợ của Chính phủ Pháp. Điều này lý giải vì sao
Ngân hàng Đông Dương lại nhận được nhiều sự ưu ái và nhiều đặc quyền, đặc
lợi của Chính phủ Pháp mà không một tổ chức ngân hàng nào tại Pháp có thể
sánh bằng. “Mẫu quốc” đã là con nợ của Ngân hàng Đông Dương, liệu Chính
phủ Liên bang Đông Dương có thoát khỏi số phận này không?
161
Câu trả lời chắc chắn là không! Chúng ta điều biết rằng sau khi Pháp
thôn tính toàn bộ Đông Dương. Thực dân Pháp đã cho thiết lập bộ máy chính
trị -hành chính cồng kềnh để dễ bề cai trị nhân dân Đông Dương. Với bộ máy
chính trị này nó đã ngốn gần hết nguồn thu nhập của ngân sách Đông Dương
còn đâu nữa để chi tiêu xây dựng các công trình công cộng tại xứ sở thuộc địa
?! Để có tiền chi tiêu cho các công trình công cộng tại Đông Dương, Chính
phủ Liên bang Đông Dương cũng giống như Mẫu quốc chỉ còn cách phát
hành công thải. Phần lớn số công thải phát hành này, đều lọt vào tay các ngân
hàng, trong đó Ngân hàng Đông Dương đóng vai trò quan trọng, trong việc
nắm giữ phần lớn số công thải trên. Bên cạnh việc mua công thải cho Chính
phủ Liên bang Đông Dương, Ngân hàng Đông Dương còn cho chính phủ Liên
bang Đông Dương vay tiền với mức lãi suất tương tư như Mẫu quốc để chính
phủ mạnh tay hơn trong các khoản chi tiêu cho bộ máy công quyền, cũng như,
đầu tư xây dựng các công trình công cộng cho bản xứ. Do đó không khác gì
chính quốc, Chính phủ Liên bang Đông Dương cũng trở thành con nợ của
Ngân hàng Đông Dương và các ngân hàng khác. Từ đó, ngày càng lệ thuộc
vào Ngân hàng Đông Dương và bị Ngân hàng Đông Dương khống chế. Đúng
như những gì Napoléon Bonaparte đã nhận xét về các ngân hàng vào năm
1815 như sau:“Một khi chính phủ ỷ lại vào nguồn tiền vàng của các ngân
hàng, các ngân hàng sẽ nắm vai trò nắm giữ cục diện của chính phủ, bởi vì kẻ
trao tiền bao giờ cũng có thế hơn kẻ nhận tiền. Tiền bạc không có tổ quốc,
các nhà hoạt động trong lĩnh vực tài chính không biết thế nào là yêu nước và
sự cao thượng, mục đích duy nhất của họ đó là làm sao để nhanh chóng có
được tiền lời” [72; tr.28].
Thật vậy, nhận xét của Napoléon Bonaparte về các ngân hàng vào
những năm đầu thế kỷ XIX quả thực không sai. Đối với Chính phủ Đông
Dương do bị lệ thuộc tài chính vào Ngân hàng Đông Dương nên Chính phủ
162
Đông Dương đã bị Ngân hàng Đông Dương sai khiến làm theo những gì có
lợi cho ngân hàng. Tiêu biểu một số vụ như: Ngân hàng Đông Dương gian lận
về nội dung kinh khí bạc để đúc tiền; chèn ép ngân khố Đông Dương để thu
lợi bất chính; phát hành giấy bạc vượt quá mức cho phép; buôn lậu vàng ra
nước ngoài; chiết khấu gian lận trong thanh toán,... Những phi vụ này Chính
phủ Liên bang Đông Dương điều nắm rõ trong lòng bàn tay, nhưng vì lệ thuộc
tài chính vào ngân hàng nên đành nhắm mắt làm ngơ, xem như không có
chuyện gì. Riêng chính phủ Pháp, Ngân hàng Đông Dương cũng được hưởng
nhiều đặc quyền, đặc lợi mà chúng ta đã có dịp tìm hiểu ở những phần trên.
Như vậy, từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng: bên cạnh
những ưu điểm mà hệ ngân hàng mang lại cho nền kinh tế Nam Kỳ, thì hệ
thống này cũng bộc lộ rõ bản chất “ăn bám” và “bất chính” của nó. Với cái
bản chất ăn bám và bất chính này đã làm cho nhân dân bản xứ phải lâm vào
cảnh nợ nần và phá sản. Đây quả thực là một tội ác mà các ngân hàng mang
lại cho nhân dân Nam Kỳ.
Xuất phát từ thực tế đó, nhằm muốn kế thừa những ưu điểm mà các
ngân hàng đã làm được trong thời quá khứ, đồng thời còn muốn khắc phục
một số hạn chế của các ngân hàng. Chúng tôi rút ra một số nhận định từ việc
nghiên cứu đề tài “sự hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng tại Nam
Kỳ (1875-1945)” để làm cơ sở cho những đề nghị trong việc xây dựng hệ
thống ngân hàng trong tương lai, như sau:
- Thứ nhất, mỗi một quốc gia muốn phát triển nền kinh tế của đất nước
mình, nhất thiết phải xây dựng cho được hệ thống ngân hàng hướng tới mục
tiêu phục vụ nhân dân, phục vụ lợi ích đất nước, không vì quyền lợi cá nhân
mà làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia. Chỉ có xây dựng được hệ thống các
ngân hàng này, thì nền kinh tế của đất nước mới phát triển ổn định. Đời sống
nhân dân mới được cãi thiện. Quốc gia mới có thể hùng cường. Vị thế đất
163
nước mới có thể nâng cao trên trường Quốc tế. Điều này cũng đã được Lê-nin
nhiều lần nhắc tới trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô
viết như sau: “không có những ngân hàng lớn thì chủ nghĩa xã hội không thể
thực hiện được. Những ngân hàng lớn cấu thành “bộ máy Nhà nước” mà
chúng ta cần có để thực hiện chủ nghĩa xã hội”[130; tr.2].
- Thứ hai, sau khi chúng ta đã xây dựng thành công hệ thống ngân hàng
vì mục tiêu phục vụ nhân dân, phục vụ lợi ích đất nước. Bước tiếp theo chúng
ta cần làm là hướng các ngân hàng xây dựng hệ thống tín dụng ổn định và
vững chắc để đảm bảo công tác cho vay phát triển sản xuất của nhân dân.
Việc làm này rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Một
khi hệ thống tín dụng của các ngân hàng mất ổn định thì ngay lập tức nền
kinh tế của mỗi quốc gia sẽ rơi ngay vào khủng hoảng, suy yếu. Ngược lại, hệ
thống tín dụng của các ngân hàng ổn định, kiện toàn thì nền kinh tế của quốc
gia đó sẽ phát triển nhanh chóng và quốc gia đó sẽ ngày càng trở nên giàu có.
Vì vậy, việc xây dựng hệ thống tín dụng ổn định luôn là điều cầu thiết cho sự
phát triển của các ngân hàng trong tương lai.
- Thứ ba, đối với mức lãi suất: các ngân hàng phải có mức lãi suất hợp
lý, phù hợp với từng đối tượng cho vay. Mức lãi suất này phải đảm bảo cân
đối thì mới giúp cho nền kinh tế phát triển. Nếu mức lãi suất quá cao sẽ làm
cho người dân không thể hoàn vốn lại cho các ngân hàng, dẫn đến họ bị phá
sản. Các ngân hàng sẽ khó thực hiện được mục tiêu như nguyện vọng của các
quốc gia. Ngược lại, nếu mức lãi suất thấp sẽ dẫn đến nạn đầu cơ, trục lợi gây
tổn hại đến nền kinh tế của quốc gia. Do đó, việc ấn định mức lãi suất hợp lý,
phù hợp với từng đối tượng cho vay là một việc làm rất quan trọng, trong điều
tiết nền kinh tế của hệ thống ngân hàng.
- Thứ tư, đối với chính phủ: phải có các biện pháp can thiệp kịp thời
nếu các ngân hàng có hành vi thao túng thị trường tín dụng, lãi suất hoặc đi
164
ngược lại với mục tiêu, lý tưởng và lợi ích của quốc gia. Chính phủ còn biết
dựa vào nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng để giám sát hoạt động
của ngân hàng. Đặt ra các công cụ pháp luật để răn đe, xử lý vi phạm từ phía
các ngân hàng. Có như vậy, hệ thống ngân hàng mới thật sự trong sạch, vững
mạnh. Chính phủ mới có thể quản lý nền kinh tế ở cấp độ vĩ mô.
- Thứ năm, đối với bản thân mỗi người dân và các tổ chức sản xuất,
kinh doanh, mua bán,... dù trong bất kỳ trường hợp nào, nếu thật sự gặp khó
khăn và không còn con đường nào khác buộc phải dựa vào tín dụng của các
ngân hàng thì lúc đó hãy nên đi vay. Và trong khoảng thời gian sớm nhất, hãy
hoàn trả lại tín dụng cho các ngân hàng. Đừng dây dưa, trì hoãn, kéo dài sẽ
không có lợi. Giống như nhà sử học Philippe Devillers đã từng nói “một khi
người nghèo ngã bệnh, thì người đó bắt buộc phải đi vay và không trù tính
được tương lai của mình; không biết sẽ phải dấn thân mình trong bao nhiêu
năm vào các công việc cực nhọc không có năng suất, bạc bẽo và tuyệt vọng
để hoàn lại số nợ”. Đây được xem là nguồn gốc dẫn đến cảnh nợ nần rồi phá
sản của người dân.
- Cuối cùng, đối với quốc tế: nếu các quốc gia thực hiện được các tiêu
chí trên, chúng tôi tin rằng chỉ trong thời gian ngắn nền kinh tế của quốc gia
sẽ nhanh chóng phát triển. Hệ thống ngân hàng sẽ vững mạnh. Lúc đó, các
ngân hàng có thể mở rộng phạm vi hoạt động của mình ra các nước bên ngoài
để tìm kiếm lợi nhuận mang về cho đất nước. Song song đó, các ngân hàng
còn làm nghĩa vụ quốc tế giúp đỡ cho nhân dân các nước thoát khỏi cảnh
nghèo nàn, lạc hậu, kéo các quốc gia xích lại gần nhau hơn./.
165
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Tư liệu lịch sử về một số hoạt động của Ngân hàng Đông
Dương trong lĩnh vực nông nghiệp tại Nam Kỳ
1.1. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II: Hồ sơ số N0IA4/094(7): Phông
Thống đốc Nam Kỳ (ký hiệu: GouCoch): Prêts sur récoltes: Demande de
remboursement pour la caisse des prêts. Prêts consentis par la BIC (1887-
1888).
Dịch:
NGHỊ ĐỊNH
ngày 21 tháng 05 năm 1876 về cho vay theo mùa tại Nam Kỳ (tờ 7)
Phần II
HOÀN TRẢ NỢ
Điều 8. Mười lăm ngày trước khi đáo hạn khoản vay, ngân hàng sẽ gửi
cho các quan cai trị chủ tỉnh bản liệt kê số tiền phải trả trong địa hạt của họ,
các quan cay trị chủ tỉnh sẽ gửi ngay lập tức giấy báo nhắc những kỳ hạn này
đến các xã. Các chức dịch sẽ thu tiền hoàn trả từ những người vay, chuyển
tiền toàn bộ vào két của quan cai trị chủ tỉnh và sẽ nhận được một biên lai
tách ra từ sổ gốc để làm bằng với tên gọi: Thu cho tài khoản của ngân hàng.
Điều 9. Một thời hạn không quá ba mươi ngày, kể từ khi đến hạn, sẽ
được chấp thuận cho các xã để quyết toán toàn bộ số thu.
Một ngày sau khi hết hạn hết hạn, các quan cai trị chủ tỉnh phải gửi cho
Giám đốc Nội vụ và Ngân hàng số liệu về số tiền không hoàn trả, và, bằng
một lệnh chi của Giám đốc Nội vụ, Kho bạc sẽ trả cho ngân hàng số tiền này.
166
1.2. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II: Hồ sơ số 101 (5), Phông Thống
đốc Nam Kỳ (GouCoch): Prêts sur récoltes: demandes des prêts formulées par
les cultivateurs de Can Tho. Affaires de Ho Bao Toan, (1903). Procès-
verbaux du Conseil de province de Soc Trang relatifs aux prêts, (1901-1903).
Dịch:
BẢN THỊNH NGUYỆN
BUỔI HỌP NGÀY 5 THÁNG 9 NĂM 1903 CỦA HỘI ĐỒNG HÀNG TỈNH
SÓC TRĂNG (tờ 5)
….
II. Thỉnh nguyện về chủ đề cho vay theo mùa
Chủ tịch: Tôi sẽ đưa cho các ngài đọc bản thỉnh nguyện về vấn đề Ngân
hàng Đông Dương cho vay theo mùa.
“Chúng tôi yêu cầu ngài gửi đến cấp tối cao lời đề nghị này của chúng
tôi để quan trên can thiệp với Ngân hàng Đông Dương làm lợi cho người
Chúng tôi nghe nói rằng Ngân hàng Đông Dương than vãn về số lượng hạn
chế những người muốn gửi đơn vay đến Ngân hàng. Điều đó là do thời hạn (01
năm) chấp thuận cho người vay qua ngắn. Nhiều chủ sở hữu muốn ký vay những
khoản khác để làm những công trình lớn, những công trình chỉ sinh lợi sau một thời
gian nhất định, người ta tránh bởi vì phải hoàn trả trong thời hạn bất buộc một năm.
vay”.
1.3. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II: Hồ sơ số N0IA4/132(2), Phông
Thống Đốc Nam Kỳ (GouCoch): Prêts sur récoltes: Statuts des Caisses
provinciales, (1912-1915).
167
Dịch:
ĐIỀU LỆ HOẠT ĐỘNG
của Quỹ Nông tín Tương tế Nam Kỳ (CICAM) do Thống đốc Nam Kỳ
phê duyệt ngày 01/02/1913 (tờ 2)
ĐIỀU LỆ
Điều thứ nhất: Giữa các thành viên của Hội đoàn nông nghiệp Mỹ
Tho, những người đã hoặc sẽ tán thành bản điều lệ, thành lập một Hội tín
dụng với số vốn bất định và trách nhiệm liên đới hữu hạn với số tiền 574.800$
dưới tên gọi: “Quỹ nông tín tương tế hàng tỉnh Mỹ Tho”.
Điều 2: Trụ sở của Hội được lập ở Mỹ Tho, thời hạn Hai mươi lăm
năm.
Điều 3: Hội chỉ có thể được thiết lập sau khi thu được một phần tư số
vốn đăng ký.
Điều 4: Trước khi hoạt động, bản điều lệ với danh sách toàn bộ các
Quản trị viên hay Giám đốc và Hội viên ghi tên ghi tên, nghề nghiệp, chỗ ở và
số tiền góp của họ phải được đặt làm hai bản tại Tòa Hòa giải tỉnh nơi Hội có
trụ sở chính.
VỐN HỘI
Điều 5: Vốn cần thiết cho hoạt động của Hội được tạo nên bởi các cổ
phần của Hội viên. Số tiền của mỗi cổ phần là 10$; chỉ một phần tư cổ phần là
cổ phần tư cổ phần là bắt buộc phải đóng vào thời điểm đăng ký. Số dôi ra… 1.4. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II: Hồ sơ số N0(N6-164), Phông
Tòa Đại biểu Chính phủ Nam Việt (Ký hiệu: CPNV): Dossier du principe de
l’Office indochinois de Crédit agricole, (1932).
Dịch:
LUẬT NGÀY 5 THÁNG 11 NĂM 1894 VÀ LUẬT NGÀY 20 THÁNG 7
NĂM 1901 VỀ THÀNH LẬP CÁC HỘI TÍN DỤNG NÔNG NGHIỆP
168
(Công bố tại Nam Kỳ bằng nghị định ngày 21 tháng 7 năm 1908)
Điều 1: Các Hội Nông tín có thể được thành lập, hoặc bởi toàn bộ
thành viên của một hay nhiều Hội đoàn Nông nghiệp, hoặc bởi một bộ phận
các thành viên của những Hội đoàn này; Hội chỉ có mục đích tạo thuận lợi và
bảo đảm cho những hoạt động liên quan đến khai thác nông nghiệp của các
Hội đoàn hoặc những thành viên của Hội đoàn. Các Hội này có thể nhận ký
quỹ vào tài khoản vãng lai với số lãi hoặc không tính lãi, chịu trách nhiệm
trang trải và chi tiền cho các Hội đoàn hay thành viên của nó, liên quan đến
các hoạt động khai thác nông nghiệp. Hội có thể, trước tiên là, ký vay các
khoản cần thiết nhằm thiết lập hay làm tăng lên số vốn lưu động của Hội. Vốn
Hội có thể được tạo ra bằng việc đăng ký các cổ phiếu. Vốn sẽ được thiết lập
với sự giúp đỡ đóng góp của hội viên. Những khoản đóng trước này sẽ chia
thành các cổ phần, các cổ phần có giá trị khác nhau. Các cổ phần được ghi tên
và có thể chuyển nhượng giữa các Hội viên với sự chứng nhận của Hội. Hội
chỉ có thể được thiết lập sau khi thu đủ thu đủ một phần tư số vốn đăng ký.
Trong trường hợp Hội được thành lập dưới dạng công ty với vốn bất định, số
vốn bất định, số vốn đóng góp sẽ không được giảm dưới số vốn thành lập.
Điều 2: Điều lệ sẽ xác định trụ sở và hình thức quản lý Hội tín dụng,
điều kiện để cần thiết để thay đổi quy chế và giải thể hội, kết cấu của vốn và
tỷ lệ trong đó mỗi hội viên đóng góp. Điều lệ sẽ xác định khoản ký gửi tối đa
vào khoản vãng lai. Điều lệ sẽ quy định phạm vi và điều kiện của trách nhiệm
mà mỗi hội viên có nghĩa vụ cam kết khi nhập hội. Hội viên chỉ được từ bỏ
những cam kết của mình khi hội đã thanh toán mọi khoản vay mượn trước đó.
Điều 3: Điều lệ sẽ xác định phần tiền trích ra cho hội trên những hoạt
động do hội thực hiện. Những khoản tiền trích này, sau khi thanh toán các chi
phí chung và chi phí chung và trả lãi vay và lãi vốn hội, sẽ trước hết được sử
dụng, cho tới ít nhất ba phần tư, vào việc tạo ra một quỹ…
169
NGHỊ ĐỊNH
của Quan Toàn quyền Đông Dương ngày 10/06/1919
công bố sắc lệnh ngày 22/03/1919 lập một cầm cố nông nghiệp tại Nam
Kỳ
Quyền Toàn quyền Đông Dương,
Huân chương Bắc đẩu Bội tinh,
Chiếu sắc lệnh ngày 20 tháng 10 năm 1911 ấn định quyền hạn của
Toàn quyền và việc tổ chức hành chánh, tài chánh Đông Dương;
Chiếu Thông tư Bộ Thuộc địa ngày 20 tháng 06 năm 1911;
Chiếu Nghị định ngày 28 tháng 11 năm 1918 lập một cầm cố nông
nghiệp tại Nam Kỳ;
Chiếu sắc lệnh ngày 22 tháng 03 năm 1919 chuẩn y Nghị định của
Toàn quyền Đông Dương ngày 28 tháng 11 nêu trên,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều khoản duy nhất: Công bố tại Đông Dương sắc lệnh ngày 22
tháng 03 năm 1919 được chuẩn y nghị định của Toàn quyền Đông Dương
ngày 28 tháng 11 năm 1918 về thiết lập chế độ cầm cố tại Nam Kỳ.
Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 1919.
Quyền Toàn quyền Đông Dương
Chánh văn phòng Công việc Chính trị Bản xứ
phụ trách giải quyết công việc hằng ngày
JABOUILLE
170
Phụ lục 2: Tư liệu lịch sử về “Mối quan hệ giữa Ngân hàng Đông
Dương với các công ty tư bản Pháp”
R.Hilferding, một nhà kinh tế học tư bản có viết:
“Tư bản ngân hàng đó - tức là tư bản tiền tệ, thật ra biến thành tư bản
công nghiệp, tôi gọi nó là “tư bản tài chính”. Cho nên, tư bản tài chính là tư
bản ngân hàng chi phối, nhưng sử dụng lại có các nhà công nghiệp”.
Và:
“Việc tập trung sản xuất và do đó mà đẻ ra các công ty lũng đoạn, việc
dung hợp hay xâm phạm lẫn nhau giữa ngân hàng và công nghiệp-đó là lịch
sử của việc hình thành chủ nghĩa tư bản tài chính và nội dung của khái niệm
tư bản tài chính”.
(Trích: Chủ nghĩa Đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”
Lênin, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959).
Quả thật đúng như vậy - Ngân hàng Đông Dương có nhiều cổ phần ưu
tiên ở hầu hết các công ty quan trọng của chủ nghĩa tư bản Pháp ở Đông
Dương, hoạt động trên hầu hết các ngành chủ chốt. Nhiều ủy viên Ban Trị sự
Ngân hàng Đông Dương lại đồng thời là chủ tịch hoặc ủy viên một số công ty
quan trọng khác, biểu hiện sự cấu kết khá chặt chẽ giữa tư bản kinh doanh và
tư bản tài chính.
Nói về mối quan hệ chằng chịt gữa Ngân hàng Đông Dương với các
nhóm tư bản kinh doanh khác, có thể lấy điển hình công ty Tài chính và
Thuộc địa Pháp (Société Financière française et coloniale) do Von O.
Baumann giới thiệu dưới đây:
Công ty Tài chính và Thuộc địa Pháp, tuy ra đời muộn vào năm 1920,
như có một vai trò nổi bậc và là trợ thủ hết sức đắc lực của Ngân hàng Đông
Dương. Công ty tài chính này do Octave Homberg sáng lập. Octave Homberg
171
là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, đã có lúc làm Tổng Thư ký Ngân hàng
Đông Dương và Chủ tịch Hội đồng Hối đoái của nước Pháp (Commission des
changes). Suốt đời hoạt động của mình, ông đã lãnh đạo trực tiếp đến 47 ngân
hàng và công ty Pháp và Bỉ. Hội đồng Quản trị công ty tài chính Pháp và
thuộc địa gồm nhiều nhà tư bản kết sù, như:
- Edmond Giscard d’Estaing, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, đã từng làm
Bộ trưởng trong Chính phủ Pháp, thường có chân trong Ban Trị sự Ngân hàng
Đông Dương. Riêng bản thân vị này, kiểm soát đến 13 công ty phụ thuộc
khác, đồng thời làm Chủ tịch Quỹ Tín dụng địa ốc Đông Dương (còn gọi là
Ngân hàng Địa ốc Đống Dương);
- René Bouvier, Ủy viên Quản trị, Phó Chủ tịch. Ông tham gia quản lý
2 công ty lớn: Etablissements Bergougnan và Moteurs Automobiles de
Lorraine, đồng thời làm chủ tịch của 5 công ty và là ủy viên của 13 công ty
khác, trong đó có ngân hàng Thương mại Phi châu (Banque Commerciale
Africaine);
- Paul Bernard, vừa là chủ tịch của Ban Quản lý 3 công ty lớn, trong đó
có Société centrale d’Usine a papier (CENPA) ở Pháp. Về sau, ông có chân
trong Hội đồng kinh tế Pháp (Conseil Economique) và là nhân vật có ảnh
hưởng quyết định nhất trong việc vạch ra mọi đường lối chính trị và kinh tế
cho các lãnh thổ của “Liên hiệp Pháp”;
- Gilbert Hersont, (của tập đoàn tư bản về công chính) là chủ tịch Hội
đồng quản trị thương cảng Rossario và của công ty điện lực ở Bizerte. Đồng
thời là ủy viên quản trị của 9 công ty khác, trong đó có ngân hàng Địa ốc
thuộc địa (Crédit Foncier Colonial), các công ty mỏ Mines de Ouenza và
Chantiers de Penhoet ở Phi châu;
- Jean E.P. Laurent, nguyên là Tổng Giám đốc Ngân hàng Đông
Dương. Là ủy viên quản trị của khoảng 20 công ty khác, trong đó có ngân
172
hàng Pháp-Hoa (Banque Franco-Chinoise) (ông làm phó chủ tịch) và các
ngân hàng tín dụng phụ thuộc vào Ngân hàng Đông Dương như: Crédit
Foncier, Crédit Hypothécaire, Crédit Mobillier,...
- Ngoài ra, còn có một số nhân vật tư bản tài chính đã từng làm chức vụ
Thanh tra Thuộc địa (Inspecteur des colonies) như: Henri Saurin, Ulrich de
Hautefort, Louis Thevinin, Marcel Blanc,...
Do cơ cấu Ban Quản trị và Hội đồng quản lý như vậy, chon nên bọn tư
bản tài chính tuy chỉ là một nhúm người những đã nắm được hầu như toàn bộ
sinh hoạt kinh tế của Đông Dương và một số thuộc địa khác, với một số vốn
ban đầu không phải là lớn lắm: công ty tài chính Pháp và thuộc địa trên đây,
đến 1947 chỉ có 77.589.750franc tiền vốn điều lệ mà thôi (lúc khởi thủy năm
1920, chỉ có 5 triệu franc).
Sau đây là một số công ty có tên tuổi ở Đông Dương trong danh sách ít
nhất là 38 công ty hoạt động ở Pháp cũng như ở các thuộc địa khác của Pháp
do Ngân hàng Đông Dương và công ty tài chính Pháp và thuộc địa nói trên
đầu tư vốn và khống chế:
1. Sucręries et Raffineries de l’Indochine (ngành đường mật): Chủ
tịch danh dự ngài Giscard d’Estaing. Ủy viên Quản trị gồm:
René Bouvier; Louis Thevenin; Henri Saurin (nguyên Tổng
Thanh tra Thuộc địa); Pierre Guesde (nguyên Khâm sứ ở
Campuchia và là Ủy viên Quản trị của Ngân hàng Đông Dương);
A. Dentz Tổng Giám đốc, thuộc nhóm tư bản Lesieur hoạt động
ở châu Phi thương nghiệp; P. Privé thuộc nhóm tư bản Allain (kỹ
nghệ lọc đường); P. Fauconnier tư bản ngành cao su và cây nhiệt
đới.
173
2. Société Indochinoise des Cultures tropicales (ngành trồng cây
nhiệt đới): Chủ tịch Giscard d’Estaing; Ủy viên quản trị chính R.
Bouvier.
3. Plantations Indochinoises de Thé (ngành trồng chè): Chủ tịch
René Bouvier; Ủy viên quản trị Paul Bernard; các ủy viên khác
Jean E.P. Laurent, Michel Cote (nhóm tư bản có thế lực ở
Madagascar và Côté des Somalis), Pierre Pages nguyên Thanh
tra Thuộc địa, Khâm sứ ở Đông Dương, thuộc nhóm tư bản
Rueff.
4. Société Anonyme de chalandage et de remorquages de
l’Indochine (SACRIC) (ngành tàu kéo).
5. Société des Verreries d’Extrême-Orient: công ty này có đại diện
Ch. De Hemptines (đại diện cho nhóm Saint Gobain) Chauny và
Cirey.
6. Etablissements L. Delignon (ngành tơ lụa) có nhà máy ở Phú
Phong, Bồng Sơn và Giao Thủy, địa diện cho nhiều nhà tư bản
hoạt động ở Pháp và các thuộc địa.
7. Papeteries de l’Indochine (ngành làm giấy) có nhà máy ở Việt
Trì và Đáp Cầu. Sau cách mạng tháng Tám đã chuyển sang hoạt
động ở Mexique và Vénézuéla.
8. Société Nouvelle des Phosphates du Tonkin (ngành công chính):
Jean Riga (thuộc nhóm Lazard Worms), vừa là chủ tịch của
Société française d’Entreprises de dragages et de travaux publics
và là Tổng Giám đốc của công ty Entreprises de grand travaux
hydrauliques (về thủy lợi).
9. Société Indochinoise de Charbonnages et Mines métalliques
(than đá và mỏ kim loại).
174
10. Coloniale d’Eclairage et de l’Energie (ngành điện lực).
11. Tramways du Tonkin (tàu điện), thuộc nhóm tư bản Hersent.
12. Société Indochinoise des Transports aériens (hàng không) và còn
nhiều công ty khác nữa,...
Công ty Tài chính và Thuộc địa này, như tên gọi vừa hoạt động ở chính
quốc, vừa hoạt động ở Đông Dương và các thuộc địa khác của Pháp ở Phi
châu. Hoạt động của công ty khổng lồ này được đặt dưới sự bảo trợ của Tập
đoàn Ngân hàng Đông Dương. Chính vì vậy, mà bon tư bản Pháp càng dễ
dàng thống nhất hành động với nhau và nắm độc quyền chi phối mọi hoạt
động kinh tế then chốt ở Đông Dương.
Tính tới năm 1943, thế lực của tư bản Pháp thể hiện như sau: trong
tổng số 191 công ty vô danh ở Đông Dương đã có:
- 147 công ty hoàn toàn của người Pháp;
- 20 công ty Pháp-Việt;
- 01 công ty Pháp-Việt-Trung;
- 02 công ty Pháp-Trung;
- 03 công ty Pháp-Nhật.
Ngoài ra, ở Đông Dương có 18 công ty vô danh không phải là của
Pháp.
Như trên đã thấy, bằng cách một công ty thường bỏ vốn ra kinh doanh
nhiêu công ty khác, hoạt động của các công ty đó ngày càng lien kết chặt chẽ
với nhau, đặc biệt là một số ủy viên trị sự lại đồng thời kim giữ những chức
vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền như một số nhân vật vừa giới thiệu
trên, điển hình là Giscard d’Estaing, Paul Baudoin (Bộ trưởng), Pasquier,
Jules Brévie (Toàn quyền Đông Dương), Chauvet (Thống sứ Bắc Kỳ), G.
Maspero (Thống đốc Nam Kỳ), Pierre Guesde (Khâm sứ Campuchia),...
Không những Chính phủ Pháp tham dự nhiều cổ phiếu trong Ngân hàng Đông
175
Dương, Chính phủ Liên bang Đông Dương năm 1931 cũng có 20% cổ phiếu
trong ngân hàng Đông Dương, nói là để kiểm soát Ngân hàng Đông Dương,
nhưng trên thực tế Ngân hàng Đông Dương đã chi phối cả chính quyền thực
dân ở Đông Dương. Đồng thời, với việc góp vốn khá nhiều của Tòa thánh La
Mã và của các Giáo hội mà đại diện là Georges Picot, De Montplanet, gia tộc
ngân hàng Rothschild,... tập đoàn Ngân hàng Đông Dương do đó đã có đầy đủ
mọi thế lực kinh tế, chính quyền và thần quyền để tha hồ bòn rút triệt để của
cải phong phú của nhân dân Đông Dương.
Theo bài “La France et les trusts” đăng trong tạp chí Economie
politique số 5-6/1954, trang 107 phân tích: trên thực tế toàn bộ đời sống kinh
tế ở Đông Dương điều do mấy tập đoàn tài chính nắm, đứng đầu là Ngân hàng
Đông Dương, rồi đến công ty Tài chính và Cao su (Sté Financiere des
caoutchoucs) thành lập từ năm 1909, Liên đoàn Tài chính Viễn Đông (Union
Financiere d’Extrême Orient) thành lập năm 1929. Tình hình này nói lên tư
bản ngày càng tập trung để tăng cường lũng đoạn chứ không phải như lối
hoàn toàn bỏ vốn cho vay lấy lãi như hồi đầu thế kỷ. Ba tập đoàn tài chính
này, năm 1943 đã nắm giữ tới 85% số vốn tư nhân ở Đông Dương. Còn 15%
còn lại điều không nhiều thì ít cũng có liên quan tới 3 tập đoàn lớn.
Quan các tài liệu công khai của thực dân Pháp để lại, còn có thể nêu bật
một nét lớn chung cho nhiều công ty kinh doanh của bọn đại tư bản Pháp ở
Đông Dương: đều là vừa trực tiếp kinh doanh một ngành nghề nhất định, vừa
đầu tư tài chính hoặc tham gia kinh doanh một số ngành nghề khác nữa, hoặc
vừa kinh doanh động sản, vừa kinh doanh bất động sản. Sau đây là một số ví
dụ điển hình trích từ tập danh mục những công ty kinh doanh lớn ở Đông
Dương năm 1940:
- Pháp - Hoa ngân hàng (Banque France-Chinoise): ngoài các nghiệp
vụ ngân hàng, còn làm đến cả bất cứ công việc gì có tính chất tài chính,
176
thương mại kỹ nghệ, bất động sản và động sản cho bản thân công ty mình
hoặc cho một người thứ ba.
- Liên đoàn Thương mại Đông Dương và Phi châu (L’Union
Commerciale Indochinoise et Africaine- U.C.I.A): ngoài các nghiệp vụ buôn
bán còn làm đến bất cứ công việc gì có tính chất kỹ nghệ, tài chính, công
nghiệp, khai khoáng, động sản và bất động sản.
- Công ty Địa ốc Sài Gòn (Société foncière Saigonnaise): hoạt động
trong lĩnh vực địa ốc và bất động sản mà còn tham gia vào các sự nghiệp có
đối tượng chủ yếu là cho vay, lập công ty mới,...
- Công ty Thương mại và Vận tải Viễn Đông (Compagnie de commerce
et de navigation d’Extrême Orient): kinh doanh về thương mại và vận tải
đường biển, còn làm các công việc trong lĩnh vực đầu tư tài chính trong kỹ
nghệ, nông nghiệp, động sản và bất động sản. Công ty này, cổ đông lớn của
Indochinoise de Plantations d’heveas (cao su), Hauts Plateaux Indochinois
(cao su, chè,...), Sté Anonyme de Constructions mécaniques (cơ khí),
Outillage du Port de Saigon-Chợ Lớn (thiết bị cảng), Crédit Foncier de
l’Indochine (Địa ốc ngân hàng),...
- Công ty Optorg: kinh doanh về thương mại, kỹ nghệ và đầu tư tài
chính, động sản và bất động sản.
- Công ty Cao su Mékong (Compagnie des Caoutchoucs du Mékong):
kinh doanh mua bán, cho thuê đất, nhà của và các đồn điền.
Riêng về tập đoàn Ngân hàng Đông Dương cho tới trước chiến tranh
thế giới thứ hai, nó đã trực tiếp kiểm soát 16 công ty lớn, gồm:
- Ngân hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine) năm 1875;
- Địa ốc ngân hàng (Crédit Foncier de l’Indochine) năm 1923;
+ Công ty đường sắt Đông Dương và Vân Nam thành lập năm 1901
(Compagnie française des chemins de fer de l’Indochine et du Yunnan);
177
+ Công ty chuyên chở đường sông Nam Kỳ (Messageries fluviales de
la Cochinchine) năm 1881;
+ Công ty chở hàng và dắt tàu Đông Dương (Sté anonyme de
chalandage et de remorque de l’Indochine) năm 1921;
+ Công ty Pháp khai thác than Bắc Kỳ (Sté française des Charbonnages
du Tonkin) năm 1888;
+ Công ty Kền (Le Nickel);
+ Công ty Thiếc và Wôn-phram Bắc Kỳ (Sté des Etains et Wolfram du
Tonkin) năm 1911;
+ Công ty Điện nước Đông Dương (Cie des Eaux et d’Electricite de
l’Indochine) năm 1900;
+ Công ty Cao su Đông Dương (Sté Indochinoise des Plantations
d’heveas, do công ty cao su An Lộc, Suzannah và Bến Cát hợp thành năm
1935);
+ Công ty Cao su Kompongthom (Sté des caoutchoucs de
Kompongthom);
+ Công ty Đông Dương nông phẩm nhiệt đới (Sté Indochinoise de
cultures tropicales) năm 1925;
+ Công ty cất rượu Pháp (Sté française des Distilleries de l’Indochine)
năm 1901;
+ Công ty xi măng Póoc-lăng nhân tạo Đông Dương (Sté des Ciments
Portland artificiels de l’Indochine) năm 1899;
+ Công ty Rừng và Diêm Đông Dương (Sté Indochinoise forestière et
des Allumettes) năm 1904;
+ Xưởng Thuốc lá Đông Dương (Manufactures Indochinoise de
Cigarettes) năm 1929;
178
+ Nhà máy Đường và Cất rượu Đông Dương (Sucreries et Raffineries
de de l’Indochine) năm 1923.
Theo tạp chí Notes Economiques số 45, ngày 02.04.1949, phạm vi ảnh
hưởng của Ngân hàng Đông Dương ngày càng lớn rộng. Ngoài việc trực tiếp
kiểm soát các công ty trên, riêng Tập đoàn Ngân hàng Đông Dương còn có
nhiều cổ phần trong các công ty khác, nâng tổng số công ty mà Ngân hàng
Đông Dương có nhiều quyền lợi lên con số 80. Do vậy, địa bàn phát huy thế
lực của Ngân hàng Đông Dương - một thế lực tổng hợp về kinh tế, chính
quyền và thần quyền là khá rộng. Ví như một “Vương quốc” - Vương quốc
Ngân hàng Đông Dương, ngoài danh sách các công ty nói trên, Ngân hàng
Đông Dương còn tham gia kinh doanh trên các lĩnh vực sau:
- Trong ngành Tín dụng và Địa ốc:
+ Công ty Vạn Bảo Đông Dương (Crédit mobilier Indochinois);
+ Cửa hàng Cầm cố Đông Dương (Crédit hypothécaire de l’Indochine)
thuộc tập đoàn LAZARD.
- Trong ngành Cao su: Ngân hàng Đông Dương có một vị trí tuyện đối
trong kinh doanh cao su. Ngân hàng Đông Dương có chân trong các công ty
Cao su Đông Dương và trong các đồn điền chè. Những công ty này có quan
hệ quyền lợi chặt chẽ với Financière française et coloniale. Ngân hàng Đông
Dương lại có cổ phần trong các công ty: Hauts Plateaux Indochinois;
Indochinoise de Plantation d’héveas và các công ty phụ thuộc: Caoutchoucs
du Donai; Caoutchoucs de Kompong Thom; Auxiliaire de Plantations;
Agricole des Caoutchoucs d’An Phu Ha; Caoutchoucs de Phuoc Hoa;
Plantations réunies de Mimot; Agricole et Industrielle de Thap Muoi;
Plantations de Kratié.
Tất cả các công ty trên đây điều có quan hệ phụ thuộc ít nhiều với Ngân
hàng Đông Dương và có thể phân làm 03 nhóm sau đây:
179
+ Nhóm de Vogué: kinh doanh trong lĩnh vực thương mại và vận tải
viễn dương ở Viễn Đông;
+ Nhóm Dewes-Rueff: khống chế công ty lớn Union métropolitaine et
coloniale và Méssageries fluviales de Cochinchine;
+ Và nhóm Union financière d’Extrême Orient.
Sau đây là một số chi tiết về thế lực của các nhóm tài phiệt đó:
Về nhóm de Vogué gồm có các công ty sau:
1. Compagnie des Hauts plateaux Indochinois: Có thể nói công ty
này được giao đại diện cho quyền lợi của Ngân hàng Đông
Dương về khai thác nguồn lợi Cao su ở Đông Dương. Thành lập
năm 1929 với số vốn là 10 triệu franc, đến năm 1947 lên đến
40.800.000 franc = 2.400.000$. Công ty kinh doanh rất phát đạt
và thu lợi nhuận lớn.
Năm Vốn lúc đầu Tiền lãi
1938 3.250.000 franc 2.401.000 franc
1939 5.000.000 franc 4.980.000 franc
1940 8.000.000 franc 4.514.000 franc
1941 8.000.000 franc 6.390.000 franc
1942 8.000.000 franc 3.968.000 franc
1943 8.000.000 franc 6.275.000 franc
1946 1.600.000 franc 1.405.000 franc
Do đó, đến tháng 09.1948 vốn của công ty này theo trị giá của thị
trường chứng khoáng Paris lên đến 276 triệu franc, tức 8,6 lần trị giá vốn năm
1939.
2. Indochinoise de Plantations d’hévéas: Thành lập năm 1911 dưới
tên Société des Plantations d’An Lộc. Năm 1935, đổi tên do sự
180
sát nhập với Société agricole de Suzannah và Société agricole et
Industrielle de Ben Cui và sau đó vài tháng với 04 đồn điền
Callia và 02 năm sau thâu tóm thêm 03 công ty khác nữa:
Agricole et Industrielle de Cam Tien; Caoutchoucs de Binh Loc
và Plantations de Long Thanh. Tiếp đó mở rộng thêm đến các
đồn điền Mỹ Hưng và tham gia nhiều cổ phần khống chế trong
Compagnie caoutchoucs d’An Phu Ha. Do vậy, diện tích khai
thác từ 1800 lên 12000 hecta, nhờ đó tích tụ và tập trung tư bản
được thuận lợi: năm 1911 vốn 1 triệu franc, năm 1944 là 100
triệu franc, năm 1946 lên đến co số khổng lồ 235.800.000 franc
(trị giá 13.400.000$). Lợi nhuận thu được rất hấp dẫn như sau:
Năm Vốn ban đầu Lợi nhuận
1937 61.250.000 franc 14.945.000 franc
1938 61.250.000 franc 23.603.000 franc
1939 61.250.000 franc 39.446.000 franc
1940 80.000.000 franc 35.965.000 franc
1941 80.000.000 franc 54.263.000 franc
1942 80.000.000 franc 27.995.000 franc
1943 80.000.000 franc 25.980.000 franc
1944 100.000.000 franc 7.044.000 franc
1945 10.000.000 franc 1.675.000 franc
Sản lượng của công ty này từ năm 1938 là trên 5.500.000kilos, cho đến
năm 1941 là: 6.610.000kgs.
3. Caoutchoucs du Donai: Người quản trị chủ yếu là Bá tước de
Flers, tham gia Hội đồng quản trị còn có Hubert de Chambure có
dính quyền lợi với Gia tộc tài phiệt ngân hàng De Rothschild.
181
Công ty kế tục sự nghiệp của công ty Biên Hòa Industrielle et
forestière. Thành lập năm 1908 với số vốn 500.000 franc, năm
1940 đã lên đến 32 triệu franc. Năm 1948 trị giá vốn trên thị
trường chứng khoán là 147 triệu franc. Kinh doanh trên một diện
tích 40.000 hecta, trong đó có 32.000 hecta rừng, diện tích trồng
cao su khoảng 2.500 hecta. Năm 1943 sản xuất được 1.438 tấn
cao su.
4. Forêts et sciéries de Bien Hoa (Rừng và xưởng xẽ gỗ): Thành lập
năm 1939, vốn 25.000 franc. Sau đó ít tháng sát nhập vào
Compagnie française des Tramways du Donai. Do đó, vốn lên
đến 500.000 franc, đến 1940 thâu tóm công ty Biên Hòa
Industrielle et forestière, vốn lên đến 8.500.000 franc, trở thành
công ty Caoutchoucs du Donai.
5. Société des caoutchoucs de Kompongthom: Thành lập năm
1927, vốn ban đầu 16 triệu franc. Trong số 19.200 cổ phần thì
12.800 cổ phần về sau chuyển sang công ty Société Indochinoise
de commerce d’agriculture et de finance. Năm 1940, lãi
6.193.000 franc, năm 1941 lãi 9.620.000 franc. Diện tích khai
thác là 6.000 hecta. Nói thêm về công ty Société agricole des
caoutchoucs An Phu Ha: công ty này có quan hệ mật thiết với
Ngân hàng Đông Dương, đại diện cho lợi ích là Jean Laurent,
Robert, Thion de la Chaume và bá tước de Flers. Công ty này
không phải là một công ty quan trọng, sản lượng cao su hàng
năm khoảng 1000 tấn, nhưng lợi nhuận so với quy mô vốn lãi là
rất lớn: năm 1941 vốn 10 triệu franc, tiền lãi lên đến 9.077.000
franc.
182
Nhóm Dewes-Rueff: chủ yếu kinh doanh với pháp nhân Plantations
reunites de Minot (Liên hiệp đồn điền Minot). Thành lập năm 1927, do sáng
kiến của Compagnie des Messareries fluviales de Cochinchine, đồng thời với
các đồn điền Kantroy, Chalang và Prechlong. 04 công ty này năm 1934 đứng
ra thành lập Société de fabrication du caoutchoucs (xưởng chế biến cao su).
Đến năm 1937, cả 03 công ty Prechlong, Kantroy và Minot được hợp nhất
chính thức thành Plantations reunites de Minot với số vốn là hơn 81.400.000
franc = 8.140.000$. Đến năm 1947 tăng lên 11.185.000$ = 190.145.000 franc.
Theo bảng quyết toán niên độ 1947, các nguồn vốn dự trữ tổng cộng được
trên 6 triệu franc, trị giá các đồn điền và các cơ sở vật chất kỹ thuật
11.300.000 franc (tức trên 192 triệu franc, tiền lãi bán cao su 7.113.000$ =
121 triệu franc, tiền lãi ròng 4.982.000$, tức gần 45% vốn. Đến tháng
08/1948, tài sản của công ty trị giá đến 967 triệu franc trên thị trường chứng
khoán (năm 1938 mới có 360 triệu franc).
Nhóm Union financière d’Extrême Orient (Liên hiệp Tài chính Viễn
Đông): chi nhánh chính của công ty này đồng thời là chi nhánh của Union
Industrielle de Crédit pour la Reconstitution (Liên hiệp Tín dụng, Kỹ nghệ và
Tái thiết), đó là Malayan Rubher Trading Cy ở Sigapoure, vốn 400.000 dolar
Singapoure, tức 22 triệu franc. Công ty này chuyên mua và bán lại cao su xuất
sang thị trường Anh, Mỹ. Nó là một trong 03 hãng lớn chuyên xuất cảng cao
su Đông Dương. Có nhiều quyền lợi trong công ty Plantations de Kratie, ở
đây ta lại thấy sự có mặt của Tập đoàn Rueff, tuy nhiên nhóm có thế lực trong
đó là Crédit Foncier colonial et de Banque (kinh doanh vè địa ốc và ngân
hàng) thuộc tập đoàn Schneider Hersent, do Devies làm chủ tịch.
Thành lập năm 1927, vốn 12 triệu franc, kinh doanh một diện tích
4.000 hecta, mức sản lượng hàng năm khoảng 2.000 tấn. Những năm 1941-
1943, số vốn là 30 triệu thu lợi nhuận ròng là 15 triệu. Trị giá vốn trên thị
183
trường chứng khoán năm 1948 là 279 triệu, tức bằng 273% trị giá năm 1938.
Công ty này còn có quyền lợi lớn ở Fabrique Indochinoise de caoutchoucs với
02 xưởng chế biến cao su.
- Trong ngành vận tải: công ty hỏa xa Pháp-Ethiopie (đường sắt
Djibouti-Addis-Abeba).
- Ngành trồng chè: đồn điền chè Đông Dương (Plantations
Indochinoises de Thé).
- Ngành muối: các ruộng muối Djibouti, Sfax, Madagascar (Phi châu).
- Ngành công chính: công ty nạo vét và công chính Pháp (Française
d’Entreprises de dragages et de travaux publics); công ty đại thủy lợi
(Entreprises de grands travaux hydrauxliques) liên doanh với tập đoàn
WORMS và tập đoàn LAZARD.
- Ngành khai khoáng: công ty khai khoáng và luyện kim Đông Dương
(Société Miniere et Métallurgique de l’Indochine); công ty khảo sát khoáng
sản Viễn Đông (Société d’Etudes minieres en Extrême Orient); công ty phốt
phát Viễn Đông (Les Phosphates d’Extrême Orient).
Ngoài ra, Ngân hàng Đông Dương còn cộng tác chặt chẽ với nhiều tập
đoàn tư bản khác, như:
- Với tập đoàn Rothchild - Mirabaud trong công ty Kền Đông Dương
(Le Nickel);
- Tập đoàn Wendel trong công ty thiếc và wolfram Bắc Kỳ ở lĩnh vực
khai khoáng;
- Tập đoàn Allain-Teissier de Cros trong lĩnh vực điện nước;
- Gia tộc Denis (chuyên kinh doanh trong xuất khẩu gạo) trong lĩnh vực
rượu và bia;
184
- Với Liên đoàn Chính quốc và Thuộc địa (Union Métropolitaine et
coloniale) của tập đoàn Dewez, có sự chung vốn của công ty Finance Belge
(công ty tài chính Vương quốc Bỉ);
- Tập đoàn Rueff và Le Vogue trong lĩnh vực đồn điền cao su;
- Liên đoàn Tài chính Viễn Đông (Union Financière d’Extrême Orinet);
trong lĩnh vực tín dụng cầm đồ (Crédit mobilier Indochinois).
Ra ngoài phạm vi Đông Dương, Ngân hàng Đông Dương công tác chặt
chẽ với các kinh doanh tư bản sau đây:
- Với chính quốc:
+ Société centrale des Usines à papier (CENPA);
+ Société Nouvelle de Comptoir Lyon-Allemand.
- Với Phi châu và thuộc địa Guyane (Trung Mỹ):
+ Compagnie minière Coloniale;
+ Société d’Etudes et d’Exploitation minières de l’Inini;
+ Société Minière du Dahomey;
+ Compagnie Minière de l’Oubangui Occidental;
+ Compagnie Minière de l’Oubangui Oriental;
+ Société de recherches minières et pétrolières coloniales;
+ Union Africaine agricole et Industrielle;
+ Transports aériens intercontinentaux.
- Ở Châu Đại Dương:
+ Crédit Foncier de l’Océanie (Địa ốc);
+ Union Métropolitaine et Calédo-Hébridaise.
- Ở Trung Đông: Société d’Etudes et de Réalisations Industrielles
agricoles et commerciales (SEREAC).
- Ở Moroco: Société Chérifienne pour l’utilisation des produits
agricoles (SOUPA) với ngân hàng Worms.
185
- Ở Nam Mỹ:
+ Crédit Foncier du Brésil et de l’Amérique du Sud;
+ Banque Française et Italienne pour l’Amérique du Sud (có nhiều chi
nhánh tại các nước: Argentine, Brésil, Uruguay, Chili, Bolivie);
+ Syndicat d’Etudes pour le Développement économique et social de la
Guyane française (Liên đoàn khảo sát vì sự phát triển kinh tế và xã hội).
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Ngân hàng Đông Dương đã bành
trướng thế lực của mình đến Nouvelle, Calédonie (châu Úc), Arabie, Seoudite
và Djibouti (các nước A rập) và nhiều nước khác nữa. Ở đây, tư bản độc
quyền Pháp liên kết với tư bản độc quyền các nước đế quốc, đặc biệt là Anh
và Mỹ được E. Minost - Chủ tịch Ngân hàng Đông Dương mệnh danh là
những người chị Anh và Mỹ.
Đúng như V.I. Lênin đã tổng kết: “Lũng đoạn đó là thành tựu cao nhất
của giai đoạn phát triển gần đây nhất của chủ nghĩa tư bản. Nhưng nếu
chúng ta không tính đến vai trò của ngân hàng thì có lẽ chúng ta chỉ có một
khái niệm cực kỳ thiếu sót, không hoàn bị và nhỏ hẹp về thực lực và vai trò
của những tổ chức lũng đoạn hiện đại”.
Nguồn [132; tr.94-107]
186
Phụ lục 3: Hình ảnh về Ngân hàng Đông Dương và hệ thống tiền tệ
do Ngân hàng Đông Dương phát hành (1875-1954).
3.1. Trụ sở chính của Ngân hàng Đông Dương tại Paris (Pháp)
Nguồn: [136]
3.2. Chi nhánh Ngân hàng Đông Dương tại Sài Gòn
187
Nguồn: [150]
3.3. Hệ thống tiền tệ do Ngân hàng Đông Dương phát hành
3.3.1. Tiền giấy do Ngân hàng Đông Dương phát hành
3.3.1.1. Thời kỳ 1875-1920
188
- Mặt trước tờ 1$ (Une Piastre)
- Mặt sau tờ 1$
- Mặt trước tờ 5$ (Cinq Piastres)
189
- Mặt sau tờ 5$
- Mặt trước tờ 20$ (Vingt Piastres)
190
- Mặt sau tờ 20$
- Mặt trước tờ 100$ (Cent Piastres)
191
- Mặt sau tờ 100$
- Mặt trước và sau tờ 10 cents
192
- Mặt trước và sau tờ 20 Cents
193
- Mặt trước và sau tờ 50 Cents
194
3.3.1.2. Thời kỳ 1921-1939
- Mặt trước tờ 1$ (Une Piastre) Kỳ phát hành 1
195
- Mặt sau tờ 1$
- Mặt trước tờ 1$ (Une Piastre) Kỳ phát hành thứ 2
- Mặt sau tờ 1$
196
- Mặt trước tờ 5$ (Cinq Piastres) Kỳ phát hành thứ 1
- Mặt sau tờ 5$
197
- Mặt trước tờ 5$ (Cinq Piastres) Kỳ phát hành thứ 2
- Mặt sau tờ 5$
198
- Mặt trước tờ 20$ (Vingt Piastres) Kỳ phát hành thứ 1
- Mặt sau tờ 20$
199
- Mặt trước tờ 20$ (Vingt Piastres) Kỳ phát hành thứ 2
- Mặt sau tờ 20$
200
- Mặt trước tờ 100$ (Cent Piastres)
- Mặt sau tờ 100$
201
- Mặt trước tờ 500$ (Cinq Cents Piastres)
- Mặt sau tờ 500$
202
3.3.1.3. Thời kỳ 1940-1945
- Mặt trước tờ 1$ (Une Piastre)
- Mặt sau tờ 1$
203
- Mặt trước tờ 5$ (Cinq Piastres)
- Mặt sau tờ 5$
204
- Mặt trước tờ 20$ (Vingt Piasres)
- Mặt sau tờ
205
- Mặt trước tờ 100$ (Cent Piastres)
- Mặt sau tờ 100$
206
- Mặt trước tờ 500$ (Cinq Cents Piastres)
- Mặt sau tờ 500$
207
- Mặt trước và sau tờ 5 cents
- Mặt trước và sau tờ 10 cents
208
- Mặt trước và sau tờ 20 cents
209
- Mặt trước và sau tờ 50 cents
Nguồn: [140]
3.3.2. Tiền kim loại do Ngân hàng Đông Dương đúc
3.3.2.1. Thời kỳ 1874-1885
210
3.3.2.2. Thời kỳ 1885-1945
211
212
213
214
Nguồn: [137]
215
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thế Anh (bài viết), “Vấn đề lúa gạo ở Việt Nam trong tiền bán
thế kỉ XIX”, Tập san Sử - Địa, số 6/1967.
2. Nguyễn Thế Anh (bài viết), “Việt Nam và các Đông Ấn công ty”, Tập
san Sử -Địa, số 11/1968.
3. Nguyễn Thế Anh (chủ biên), (2008), Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới
các triều vua Nguyễn, Nxb Văn học, Tp. Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Thế Anh (chủ biên), (2008), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nxb
Văn học, Tp. Hồ Chí Minh.
5. Phan Gia Bền (bài viết), “Tư bản Pháp với thủ công nghiệp Việt Nam”,
Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa, số 37/1958.
6. Nguyễn Công Bình (bài viết), “Hoạt động kinh doanh của tư sản dân
tộc Việt Nam dưới thời Pháp thuộc”, Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa,
số 04/1955.
7. Nguyễn Công Bình (bài viết), “Tình hình và đặc điểm của giai cấp tư
sản Việt Nam thời Pháp thuộc”, Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa, số 41,
42, 43, 44, 45, 46/1958.
8. Đỗ Thanh Bình, (2010), Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỉ
XX một cách tiếp cận mới, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
9. Trương Bá Cần (2011), Hoạt động ngoại giao của nước Pháp nhằm
củng cố cơ sở tại Nam Kỳ (1862-1874), Nxb Thế giới, Hà Nội.
10. Charles B. Maybon (2011), Những người Châu Âu ở nước An Nam,
Người dịch: Nguyễn Thừa Hỷ, Nxb Thế giới, Hà Nội.
11. Lê Đình Chân, (1964), Tài chính công, trọng bộ, Tủ sách Đại học, Sài
Gòn.
216
12. Lê Đình Chân, (1972), Tài chính công, Công phí-Thuế, Ngân Khố, Tủ
sách Đại học, Sài Gòn.
13. Lê Đình Chân, (1975), Tài chính công, Những nguyên tắc căn bản của
Luật ngân sách, Tủ sách Đại học, Sài Gòn.
14. Choi Byung Wook (chủ biên), (2011), Vùng đất Nam Bộ dưới triều
Minh Mạng, Nxb Thế giới, Hà Nội.
15. Christophe Bataille, (2005), Annam hay là những người bị lãng quên,
Hoàng Hữu Đản (dich), Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
16. Cristophoro Borri, (1998), Xứ Đàng Trong năm 1862, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh.
17. Nguyễn Ngọc Cơ, Hoàng Hải Hà (bài viết), “Bước đầu tìm hiểu tình
hình tài chính tiền tệ ở miền Nam Việt Nam (1954 - 1975)”, Nghiên
cứu Lịch sử số 04/2009.
18. Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên), (2007), Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến
1918, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
19. Phan Thị Cúc (2010), Tín dụng ngân hàng, Nxb Thống kê, Tp. Hồ Chí
Minh.
20. Nguyễn Trí Dĩnh, Phạm Thị Quý (2010), Giáo trình lịch sử kinh tế,
Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
21. Hồ Tuấn Dung (bài viết), “Tiền tệ và sự biến động của tiền tệ ở Việt
Nam thời Pháp thuộc (1858 - 1945)”, Nghiên cứu Lịch sử số 03/2009.
22. Huỳnh Thế Du, Nguyễn Minh Kiều (bài giảng), Hệ thống tài chính Việt
Nam, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, Niên khóa 2008-
2010.
23. Phạm Cao Dương (bài viết), “Một vài chủ trương của triều đình Huế
trong hòa ước Quý Mùi”, Tập san Sử - Địa, số 4/1966.
217
24. Đại học Huế (Đại học Sư phạm Huế, Đại học Khoa học Huế, Liên
Khoa Lịch sử -Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn), (2009), 220
năm Cách mạng Pháp (1789-2009) và Quan hệ Việt-Pháp trong lịch
sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
25. Nguyễn Khắc Đạm (bài viết), “Lịch sử khai thác cao su của tư bản
Pháp ở Việt Nam”, Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa, số 30/1957.
26. Lương Hữu Định (bài viết) “Tiền tệ thời kỳ ngân hàng Đông Dương”,
Tạp chí Xưa và Nay, số 245 thang 09/2009.
27. G.Edward Griffin, (2011), Nhận diện Cục dự trữ Liên Bang - Những
âm mưu từ đảo Jekyll, Người dịch Nhật An, Minh Hà, Ngọc Thúy, Nxb
Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.
28. Trần Văn Giàu (bài viết), “Thái độ của các tầng lớp phong kiến đối với
Thực dân Pháp”, Tập san Đại học Sư phạm, số 04/1955.
29. Nguyễn Chí Hải, Nguyễn Văn Luân, (2005), Tư tưởng Kinh tế Việt
Nam thời kỳ cổ - trung đại, Nxb Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh.
30. Lê Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Thị Nhung (chủ biên), (2007), Tiền tệ Ngân
hàng, Nxb Thống kê, Tp. Hồ Chí Minh.
31. Phan Xuân Hòa, (1963), Lịch sử Việt Nam, toàn tập, Nxb Vĩnh Thịnh,
Hà Nội.
32. Ngô Văn Hòa, Phạm Quang Trung (bài viết), “Hệ thống tiền tệ ở nước
ta thời cận đại”, Nghiên cứu Lịch sử số 05/2009.
33. Nguyễn Hồng (1959), Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, quyển 1 và 2,
Nxb Hiện Tại, Sài Gòn.
34. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, (2009), Một số vấn đề lịch sử vùng
đất Nam Bộ đến cuối thế kỷ XIX, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Thành phố
Hồ Chí Minh, ngày 4 &5-4-2006, Nxb Thế giới, Hà Nội.
218
35. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, (2009), Một số vấn đề lịch sử vùng
đất Nam Bộ thời kỳ cận đại, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Cần Thơ, ngày
4-3-2008, Nxb Thế giới, Hà Nội.
36. Đào Hùng (bài viết) “Sự thành lập ngân hàng Đông Dương và những tờ
giấy bạc đầu tiên”, Tạp chí Xưa và Nay số 344, tháng 11/2009.
37. Nguyễn Văn Huy, (1993), Người Hoa tại Việt Nam, Paris, Pháp.
38. Nguyễn Anh Huy, (chủ biên), (2010), Lịch sử Tiền tệ Việt Nam sơ truy
và lược khảo, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh.
39. Jean Pierre Aumiphin, (1994), Sự hiện diện tài chính và kinh tế của
Pháp ở Đông Dương (1859-1939), Người dịch: Đinh Xuân Lâm, Ngô
Thị Chính, Hồ Song, Phạm Quang Trung, Nxb Hội Khoa học Lịch sử
Việt Nam, Hà Nội.
40. John Barrow (2011), Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793),
Người dịch: Nguyễn Thừa Hỷ, Nxb Thế giới, Hà Nội.
41. Phan Khoang (1968), Việt Nam Pháp thuộc sử, Nxb Khai trí, Sài Gòn.
42. Phan Khoang, (1970), Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 - 1777, Nxb Khai
Trí, 2 tập, Sài Gòn.
43. Đinh Xuân Lâm (chủ biên), (2005), Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập
2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
44. Léopold Pallu (2008), Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ năm 1861, Dịch
giả: Hoang Phong, Nxb Phương Đông, Tp. Hồ Chí Minh.
45. Nguyễn Đình Lễ (chủ biên), (2007), Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến
1945, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
46. Li Tana, (1999), Xứ Đàng Trong Lịch sử Kinh tế - Xã hội Việt Nam thế
kỷ 17 và 18, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
47. Thăng Long, (2003), Đồng đôla trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, Nxb Công an Nhân dân, Tp. Hồ Chí Minh.
219
48. Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam, (2010), Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
49. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (2010), Nhà xuất bản Tư pháp,
Hà Nội.
50. Nguyễn Lư & DSC, (biên soạn, tổng hợp), (2010), Chiến tranh tài
chính tiền tệ toàn tập, Nxb Lao Động, Hà Nội.
51. Huỳnh Lứa (chủ biên) (1986), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh.
52. Ngô Văn Lương - Vũ Xuân Lai (đồng chủ biên), (2004), Lịch sử các
học thuyết kinh tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
53. Michel Beaud, (2002), Lịch sử Chủ nghĩa Tư bản từ 1500 đến 2000,
Người dịch: Huyền Giang, Nxb Thế giới, Hà Nội.
54. Nguyễn Bình Minh (bài viết), “Góp phần tìm hiểu quá trình hình thành
giai cấp tư sản Việt Nam”, Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa, số
24/1957.
55. Dương Thị Bình Minh, Sử Đình Thành (đồng chủ biên), (2004), Lý
thuyết Tài chính Tiền tệ, Nxb Thống kê, Tp. Hồ Chí Minh.
56. Sơn Nam (biên khảo), (2006), Đất Gia Định - Bến Nghé Xưa và Người
Sài Gòn, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
57. Sơn Nam, (2007), Lịch sử khẩn hoang Miền Nam, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí
Minh.
58. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (1991), 40 mùa sen nở (Tập hồi ký về
con người và sự nghiệp 40 năm ngân hàng), Hà Nội.
59. Nguyễn Nghị, (2007), 100 câu hỏi đáp về Gia Định-Sài Gòn Tp. Hồ
Chí Minh, Lịch sử Gia Định - Sài Gòn thời kỳ 1862-1945, Nxb Tổng
hợp Tp. Hồ Chí Minh và Văn hóa Sài Gòn.
220
60. Phan Trung Nghĩa, (2005), Công tử Bạc Liêu sự thật và giai thoại, Nxb
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bạc Liêu.
61. Hoàng Nghĩa, (2006), Lịch sử Tiền tệ, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
62. Nhiều tác giả, (2004), Tỉnh, Thành xưa ở Việt Nam, Nxb Hải Phòng,
Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây.
63. Đỗ Văn Ninh, (1992), Tiền cổ Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà
Nội.
64. Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng (2005), Lịch sử thế giới cận đại,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
65. Philippe Devillers, (2006), Người Pháp và người Annam Bạn hay Thù?,
Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.
66. Linh Quang (bài viết), “Lịch sử tiền tệ ở Đông Dương”, Tạp chí Tri
Tân, số 6/1941.
67. Nguyễn Phan Quang, (1998), Góp thêm tư liệu Sài Gòn - Gia Định từ
1859-1945, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
68. Nguyễn Phan Quang, (2002), Việt Nam thế kỷ XIX (1802-1884), Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh.
69. Nguyễn Phan Quang (bài viết), “Đồn điền Nam Kỳ thời Pháp thuộc
cuối thế kỷ XIX đến năm 1924”, Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (417)/2011.
70. Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Đàn (chủ biên), (2011), Lịch sử Việt
Nam từ nguồn gốc đến 1884, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
71. Trần Hồi Sinh, (1998), Hoạt động kinh tế của người Hoa từ Sài Gòn
đến Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
72. Song Hong Bing (2011), Chiến tranh tiền tệ, Người dịch Hồ Ngọc
Minh, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
73. Phạm Văn Sơn (bài viết), “Thái độ và hành động của Nhân sĩ Việt Nam
trong khoảng đầu thế kỷ XX”, Tập san Sử - Địa, số 6/1967.
221
74. Phạm Văn Sơn, (1967), Việt Nam tranh đấu sử, Nxb Khai trí, Sài Gòn.
75. Phạm Văn Sơn, (1968), Việt sử Tân biên, tập 1 và 2, Nxb Khai trí, Sài
Gòn.
76. Phạm Văn Sơn, (1969), Việt sử Toàn thư, Nxb Khai trí, Sài Gòn.
77. Lê Quốc Sử (chủ biên), (1998), Một số vấn đề về lịch sử kinh tế Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
78. Bùi Thị Tân, Vũ Huy Phúc, (1998), Kinh tế Thủ công nghiệp và phát
triển công nghệ Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa.
79. Văn Tạo (bài viết), “Hoạt động của tư bản Pháp ở Việt Nam từ 1918
đến 1930”, Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa, số 13/1956.
80. Tạp chí Xưa và Nay, (2007), Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn, Nxb
Văn hóa Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh.
81. Cao Tự Thanh, (2007), 100 câu hỏi đáp về Gia Định - Sài Gòn Tp. Hồ
Chí Minh, Lịch sử Gia Định Sài Gòn trước 1802, Nxb Tổng hợp Tp.
Hồ Chí Minh và Văn hóa Sài Gòn.
82. Thành phố Hồ Chí Minh, (2006), Tiền Việt Nam xưa và nay, Nxb
Thống kê, Tp. Hồ Chí Minh.
83. Phạm Thăng (biên khảo), (1995), Tiền tệ Việt Nam theo dòng lịch sử,
Tập 1: Từ thời Đinh Tiên Hoàng (968) cho đến 1975, Tác giả tự xuất
bản tại Toronto, Canada.
84. Phạm Văn Thắng, (2007), 100 câu hỏi đáp về Gia Định - Sài Gòn Tp.
Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí minh, Nxb Tổng
hợp Tp. Hồ Chí Minh và Văn hóa Sài Gòn.
85. Nguyễn Văn Tiến, (2007), Tài chính Quốc tế, Nxb Thống kê, Tp. Hồ
Chí Minh.
86. Nguyễn Xuân Thọ (bài viết), “Tình hình chính trị Việt Nam thời
Nguyễn Trung Trực khởi nghĩa”, Tập san Sử - Địa, số 12/1968.
222
87. Minh Tranh (bài viết), “Thử bàn về sự hình thành của giai cấp tư sản
Việt Nam”, Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa, số 17/1956.
88. Lục Đức Thuận, Võ Quốc Ky (chủ biên), (2009), Tiền cổ Việt Nam,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
89. Lê Huy Tuấn-Nguyễn Thu Hoài (bài viết), Về nội dung bức thư: “Thư
của đại biểu Nguyễn gửi Toàn quyền Đông Dương ngày 20/02/1909”,
Nghiên cứu Lịch sử, số 5 (397)/2009.
90. Hoàng Anh Tuấn (bài viết), “Kim loại tiền Nhật Bản và chuyển biến
kinh tế-xã hội Đàng Ngoài thế kỷ XVII”, Nghiên cứu Lịch sử, số 12
(404)/2009.
91. Phạm Quang Trung, (1997), Lịch sử Tín dụng nông nghiệp Việt Nam
(1875-1945), Nxb Khoa học Xã hội, Hà nội.
92. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Viện Sử học,
(2000), Cách mạng tháng Tám 1945 Những sự kiện lịch sử, Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội.
93. Nguyễn Văn Trường (bài viết) “Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer
với đường sắt Đông Dương”, Nghiên cứu Lịch sử, số 6 (398)/2009.
94. Tạ Chí Đại Trường (chủ biên), (2011), Người lính thuộc địa Nam Kỳ
(1861-1945), Nxb Tri thức, Hà Nội.
95. Tạ Chí Đại Trường (chủ biên), (2011), Những bài dã sử Việt, Nxb Tri
thức, Hà Nội.
96. Trương Ngọc Tường, Nguyễn Ngọc Phan, (2007), 100 câu hỏi đáp về
Gia Định-Sài Gòn Tp. Hồ Chí Minh, Báo chí ở Thành phố Hồ Chí
Minh, Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh và Văn hóa Sài Gòn.
97. Khuông Việt (bài viết), “Sứ bộ Tây Ban Nha sang Việt Nam”, Tạp chí
Tri Tân, số 10/1941.
223
98. Yoshiharu Tsuboi, (1999), Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung
Hoa, Người dịch Nguyễn Đình Đầu, Nxb Trẻ, Tp. HCM.
TÀI LIỆU LƯU TRỮ TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA II
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 99. CPNV. N0(N6-164): Dossier du principe de l’Office indochinois de
Crédit agricole, (1932).
CPNV. N0(N6-170): Note surle fonctionnement du Crédit 100.
populaire agricole au 31 Décembre 1946.
GouCoch. N0IA4/094(2): Prêts sur récoltes: BIC: Procèsverbaux 101.
pendant entre la Banque et l’Administration relatifs aux prêts sur
rècoltes, (1884 -1887).
GouCoch. N0IA4/094(6): Prêts sur récoltes: Demande de 102.
remboursement des prêts. Sommes recouvrées par le trésor au profit de
la BIC, (1887 - 1888).
GouCoch. N0IA4/094(7): Prêts sur récoltes: Demande de 103.
remboursement pour la caisse des prêts. Prêts consentis par la BIC
(1887-1888).
GouCoch. N0IA4/096(1): Prêts sur récoltes: Demande de 104.
remboursement des prêts de la province de Gia Dinh. Etats de restes à
recouvrer sur la BIC. Etat nominative des sommes à recouvrer dans
divers arrondissement, (1890).
GouCoch. N0IA4/096(6): Prêts sur récoltes: Prêts consentic par 105.
la BIC aux arrondissements de Ben Tre, Go Cong, Bac Lieu, Soc
Trang. Des sommes recouvrées pour le compte de la BIC. Demande de
renseignements et renouvellements sur les ptês; demande de prêts
nouveaux; affaires de Dang Van Lo (Gia Dinh), (1893).
224
GouCoch. N0IA4/101(1): Prêts sur récoltes: Remboursement par 106.
divers arrondissements. Au sujet de lenteur apportées dans la
distribution du fonds empruntés par les cultivateurs la BIC; demande de
prolongation du delái de remboursement par les cultivateurs de la
province de Bac Lieu, (1894-1895).
GouCoch. N0IA4/101(5): Prêts sur récoltes: demandes des prêts 107.
formulées par les cultivateurs de Can Tho. Affaires de Ho Bao Toan,
(1903). Procès-verbaux du Conseil de province de Soc Trang relatifs
aux prêts, (1901-1903).
GouCoch. N0IA4/102(1): Prêts sur récoltes: Renseignements sur 108.
le fonctionnement en Cochinchine de l’institution des prêts sur récoltes
et les améliorations qui pourraient y être apportées. Réponses des Administrateurs à la circulaire N019 du 15 Juin 1901 concernant les
prêts sur récoltes en Cochinchine, (1901-1902).
GouCoch. N0IA4/107(2): Prêts sur récoltes: Statistique des prêts 109.
pendant les année 1905-1907. Circulaires, correspondances et rapports
relatifs aux prêts, (1904-1910).
GouCoch. N0IA4/132(2): Prêts sur récoltes: Statuts des Caisses 110.
provinciales, (1912-1915).
Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948-1955): Hồ sơ số 111.
2018: Tài liệu của Phủ Thủ tướng, Phủ Cao ủy Pháp ở Đông Dương về
việc Ngân hàng Đông Dương cho lưu hành giấy bạc 1$ kiểu Mỹ 1951.
Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948-1955): Hồ sơ số 112.
2019: Về việc thu lại không lưu hành các đồng tiền kẽm 1$ năm 1951.
Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948-1955): Hồ sơ số 113.
2020: Hồ sơ giải quyết các đơn xin đổi giấy bạc Đông Dương cũ 1951.
225
Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948-1955): Hồ sơ số 114.
2048: Hồ sơ về việc kinh doanh lỗ các tiệm cầm đồ ở Nam Việt và bán
các bất động sản của Ngân hàng Đông Dương cho Chính quyền Nam
Việt năm 1950-1951.
Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948-1955): Hồ sơ số 115.
2185: Hồ sơ các phiên họp Hội đồng Quản trị Viện phát hành tiền tệ
của các Quốc gia Liên kết Việt Nam-Lào-Campuchia ngày 28-
29/12/1951 và ngày 18/01/1952.
Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948-1955): Hồ sơ số 116.
2186: Hồ sơ phiên họp Hội đồng Quản trị Viện phát hành tiền tệ của
các Quốc gia Liên kết Việt Nam-Lào-Campuchia ngày 03-04/07/1952.
Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948-1955): Hồ sơ số 117.
2187: Hồ sơ phiên họp Hội đồng Quản trị Viện phát hành tiền tệ của
các Quốc gia Liên kết Việt Nam-Lào-Campuchia ngày 22-23/02/1952.
Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948-1955): Hồ sơ số 118.
2331: Hồ sơ về việc sụt giá đồng bạc Đông Dương và các biện pháp
khắc phục năm 1953.
Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948-1955): Hồ sơ số 119.
2456: Tập bảng dự trù khai thác và báo cáo tình hình kế toán của Viện
Phát hành tiền tệ năm 1953.
Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948-1955): Hồ sơ số 120.
2457: Hồ sơ các phiên họp Hội đồng Quản trị Viện Phát hành tiền tệ
của các Quốc gia Liên kết Việt Nam-Lào-Campuchia năm 1953.
SL.N0163: Rapport d’ensemble sur les SICAM et la Caisse 121.
centrale (1915-1943).
SL. No376: Rapport sur l’usure fait par M. Tran Ba Loc, (1869). 122.
SOM./AFF.Eco. C.61: Crédit agricole. 123.
226
TÀI LIỆU HẠN CHẾ ĐỌC CỦA THƯ VIỆN KHOA HỌC TỔNG
HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Cần, Nguyễn Bá Trạc (1973), Toàn bộ Luật thuế mới 124.
diễn giải, Nhà in Sen Vàng, Chợ Lớn.
Lê Đình Chân (Phụ trách diễn giảng về Tiền tệ và Ngân hàng tại 125.
Trường L.K.Đ.H.Đ và H.V.Q.G.H.C), Lược sử Tiền tệ, Sài Gòn.
Lê Đình Chân, Lược sử Tiền tệ nước nhà (Từ đời nhà Lý cho tới 126.
năm 1945), Sài Gòn.
Lê Đình Chân, Vai trò của chế độ Ngân hàng trong nền kinh tế, 127.
Sài Gòn.
Nguyễn Văn Hảo (1972), Đóng góp 1 Lãnh vực kinh tế (1965 - 128.
1972), Nxb Lửa thiêng, Sài Gòn.
Nguyễn Bích Huệ, (1968), Đồng bạc Việt Nam và các vấn đề 129.
lien hệ, Tủ sách Tiến bộ, Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, Sài Gòn.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (1976), Lịch sử Ngân hàng Nhà 130.
nước Việt Nam 1951-1976, (sơ thảo), Tập 1, Tổ nghiên cứu Lịch sử
Ngân hàng Biên soạn.
Nguyễn Văn Tuyền (1974), Chi phiếu theo luật thương mãi Việt 131.
Nam, Nxb Khai Trí, Sài Gòn.
Viện nghiên cứu Kinh tế Tiền tệ, Tính dụng và Ngân hàng thuộc 132.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (1978), Tư liệu lịch sử Tiền tệ Đông
Dương và Ngân hàng Đông Dương từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ
XX, Người sưu tầm Phan Hạ Uyên.
CÁC TRANG WED
http://antg.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=78665 133.
http://en.wikipedia.org/wiki/Banque_Fran%C3%A7aise_Comme 134.
rciale_Oc%C3%A9an_Indien
227
http://en.wikipedia.org/wiki/Chartered_Bank_of_India,_Australi 135.
a_and_China
http://forum.viet-numis.com/viewtopic.php?t=3213 136.
http://forum.viet-numis.com/viewtopic.php?t=409 137.
http://fr.wikipedia.org/wiki/Banque_nationale_pour_le_commerc 138.
e_et_l'industrie
http://library.thinkquest.org/08aug/00196/whatisbank.htm 139.
http://muabantien.com/shopviet/index.php?module=sanpham&pc 140.
at=4&loai=209
http://thuykhue.free.fr/stt/l/lvlau.html 141.
http://tienvietnam.vn/forum/forums/172-Bo-suu-tap-Co-phieu- 142.
Dong-Duong.html
http://tienvietnam.vn/forum/forums/127-Bo-suu-tap-Tien-Giay- 143.
Dong-Duong.html
http://tienvietnam.vn/forum/forums/158-Bo-suu-tap-Tien-xu- 144.
COCHINCHINE-INDOCHINE-VIET-NAM.html
http://tuitien.vn/index.php/kien-thuc-tai-chinh/830-ngan-hang-la- 145.
gi-gii-thiu-nh-ngha-va-c-im-ca-ngan-hang-
http://vi.wikipedia.org/wiki/HSBC 146.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A2n_h%C3%A0ng 147.
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A9_%C4%91%E1%B 148.
A%A1i_Ph%C3%BA_h%E1%BB%99
http://www.ria2.org.vn/ngan-hang-tai-chinh.html 149.
http://www.skyscrapercity.com/showthread.php?t=488700&page 150.
=105

