VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MỘNG TUYỀN
CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MỘNG TUYỀN
CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số :838.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ SỸ SƠN
HÀ NỘI, năm 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn về đề tài: “Các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hội
An, tỉnh Quảng Nam” do tôi viết trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu tham khảo,
giáo trình hướng dẫn, và thực tiễn thực hiện pháp luật từ từ thực tiễn thành
phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.Tôi đã hoàn thành luận văn và chịu trách nhiệm
với những vấn đề tôi viết.
Tác giả
Nguyễn Thị Mộng Tuyền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM ................................................ 7
1.1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa pháp lý của các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ..................................................................... 7
1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ......................................................................... 17
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÌNH
TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG
NAM ............................................................................................................... 41
2.1. Khái quát các điều kiện kinh tế - xã hôi tác động đến tình hình áp dụng
quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại thành phố Hội
An, tỉnh Quảng Nam ....................................................................................... 41
2.2. Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại thành phố Hội An ...................................... 45
CHƯƠNG 3. YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ ........................................................................................................ 60
3.1. Yêu cầu nâng cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự .................................................................................................. 60
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng quy định của pháp luật
Hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm ............................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT Cụm từ Viết tắt
01 Bộ luật Hình sự BLHS
02 Pháp luật Hình sự PLHS
03 Trách nhiệm Hình sự TNHS
04 Thành phố Tp
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu Tên bảng Trang bảng
Số liệu các vụ hình sự phát hiện và xử lý từ năm 2015 2.1. 45 đến 2019 trên địa bàn thành phố Hội An
Số liệu các vụ án hình sự được áp dụng các tình tiết
2.2. giảm nhẹ TNHS của Tòa án nhân dân thành phố Hội 47
An từ năm 2015 đến năm 2019
Chất lượng xét xử các vụ án hình sự áp dụng các tình
2.3. tiết giảm nhẹ TNHS của Tòa án nhân dân thành phố 50
Hội An từ năm 2015 đến năm 2019
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu Tên hình Trang hình
2.1. Bản đồ hành chính Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam 41
Biểu đồ biểu thị trình trình độ chuyên môn đội ngũ cán 2.2. 44 bộ, công chức thành phố năm 2019
Biểu thị số vụ hình sự phát hiện và xử lý từ năm 2015 2.3. 46 đến 2019 trên địa bàn thành phố Hội An
Thống kê các tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 46 BLHS
2.4. năm 1999) được áp dụng nhiều và có sự tương đồng 51
khá phổ biến
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không làm oan người
vô tội và cũng không bỏ lọt hành vi của người phạm tội là mục tiêu, là yêu
cầu quan trọng hàng đầu trong việc giải quyết các vụ án hình sự của Tòa án.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nếu định tội là tiền đề, là cơ sở cho
việc quyết định hình phạt, thì quyết định hình phạt là kết quả cuối cùng của
hoạt động xét xử. Quyết định hình phạt một cách chính xác có ý nghĩa rất
quan trọng đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Theo đó Tòa án sẽ nhân danh
nhà nước mà tuyên bố hình phạt cho người phạm tội. Việc quyết định áp dụng
một hình phạt đúng, chính xác không những đảm bảo sự công bằng, hợp lý,
minh bạch trong thực thi pháp luật, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống
tội phạm mà còn có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa rất quan trọng đối với người
có hành vi phạm tội trong quá trình tiến hành thủ tục tố tụng hình sự, là cơ sở
pháp lý để cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xem xét đánh giá tính chất, mức
độ của hành vi phạm tội. Từ đó đưa ra quyết định hình phạt tương xứng có giá
trị răn đe, đảm bảo việc cải tạo giáo dục, góp phần thực hiện nguyên tắc công
bằng, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc nhân đạo, đảm bảo quyền con người
và tinh thần thượng tôn pháp luật. Đối với vụ án cụ thể việc áp dụng tình tiết
giảm nhẹ làm thay đổi hình phạt, giảm nhẹ hình phạt hơn cho người phạm tội.
Pháp luật hình sự Việt Nam từ khi được xây dựng, kế thừa và hiện hành
đều quy định tình tiết giảm nhẹ TNHS, tuy nhiên, thực tiễn xét xử vẫn còn
nhiều vấn đề đang mâu thuẫn, chưa đầy đủ, vướng mắc dẫn đến việc áp dụng
còn thiếu sự nhất quán, đồng bộ, không thống nhất, việc áp dụng các tình tiết
1
giảm nhẹ TNHS còn tùy tiện, không công bằng trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự.
Việc xem xét, đánh giá giá trị các tình tiết giảm nhẹ TNHS của HĐXX
phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận đánh giá cụ thể của từng tình tiết. Cách nhìn
nhận và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS của HĐXX còn nhiều điểm
chưa được khách quan. Nên việc đồng nhất quan điểm về các tình tiết giảm
nhẹ TNHS và áp dụng một cách khách quan là rất quan trọng. Việc nhận thức
và áp dụng không đúng các tình tiết giảm nhẹ TNHS dẫn đến việc ban hành
các quyết định hình phạt chưa phù hợp là vi phạm nguyên tắt bình đẳng,
nguyên tắc công bằng, nguyên tắc nhân đạo và đảm bảo quyền con người mà
pháp luật quy định.
Từ thực tế tại địa bàn Tp Hội An, việc xét xử các vụ án hình sự của
TAND Tp Hội An hầu hết đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS
theo đúng quy định pháp luật. Nhưng vẫn còn một vài trường hợp, do cách
nhìn nhận đánh giá một số tình tiết không đồng nhất dẫn đến những bất cập
trong thực tiễn áp dụng.
Với những lý do đó, học viên chọn đề tài: “Các tình tiết giảm nhẹ
TNHS theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Tp Hội An” làm đề tài
nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ Luật học, nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề
lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS. Qua đó, học
viên đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định về các tình tiết giảm nhẹ TNHS khi quyết định hình phạt.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua nghiên cứu tìm hiểu thì tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được nhiều tác
giả nghiên cứu trong nhiều công trình.Nhìn chung qua các công trình nghiên
cứu của các nhà làm luật đã thể hiện được những phương diện, góc cạnh khác
nhau của vấn đề từ đó đưa ra được những kiến nghị, giải pháp để khắc phục.
2
Cụ thể như:
Luận án tiến sỹ của Trần Thị Quang Vinh (Năm 2002, các tình tiết
giảm nhẹ TNHS trong Luật Hình sự Việt Nam).
Bình luận khoa học BLHS năm 1999 phần chung của thạc sỹ Đinh Văn
Quế (Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh năm 2006).
PGS. TS Võ Khánh Vinh, TS.Trần Thị Quang Vinh (1996) “Về khái
nhiệm, bản chất, ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ TNHS Việt Nam”, Tạp chí
Tòa án nhân dân;
Tập thể tác giả do PGS. TS Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2001) Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam- phần chung, ĐH Huế, Nxb Giáo dục;
Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên) (2010) Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam- phần chung.Nxb Công an nhân dân;
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Mộng Vương (2018) “Các tình tiết
giảm nhẹ TNHS theo Luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Củ Chi, Tp Hồ
Chí Minh”.
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2018), “Các tình tiết
giảm nhẹ TNHS theo Luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Gò Vấp, Tp Hồ
Chí Minh”.
Luận văn thạc sỹ của Đỗ Hải Hà, (2017), “Các tình tiết giảm nhẹ TNHS
theo PLHS Việt Nam từ thực tiễn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang”.
Nhìn chung qua nghiên cứu hầu như các công trình, bài viết đã phân
tích khá chi tiết, phản ánh đúng nội dung, lý luận logic các tình tiết giảm nhẹ
TNHS theo quy định của pháp luật.Tuy nhiên, qua thực tế xét xử vẫn còn tồn
tại nhiều tranh luận, nhiều ý kiến trái chiều không có sự nhất quán, đồng bộ
khi áp dụng.Vì lẽ đó việc tiếp tục nghiên cứu đề tài này là cần thiết nhằm cố
gắng hoàn thiện hơn về cơ sở pháp lý, tổng hợp thực tiễn từ địa phương và
qua đó cũng đưa ra những kiến nghị, giải pháp giúp hoàn thiện PLHS về các
3
tình tiết giảm nhẹ TNHS theo PLHS Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thống những vấn đề lý
luận, quy định của pháp luật và đánh giá thực tiễn vận dụng tình tiết giảm nhẹ
trong quyết định hình phạt tại Tp Hội An, tỉnh Quảng Nam luận văn đề xuất
hoàn thiện quy định BLHS và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp
dụng quy định pháp luật về các tình tiết giảm nhẹ TNHS.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nói trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phân tích khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của quyết định hình phạt
dựa trên các tình tiết giảm nhẹ;
- Phân tích các quy định của pháp luật hình sự hiện hành ở Việt Nam về
các tình tiết giảm nhẹ TNHS
- Phân tích đánh giá thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS làm
căn cứ quyết định hình phạt.
- Chỉ ra những vi phạm, sai lầm trong khi áp dụng các tình tiết giảm
nhẹ TNHS khi quyết định hình phạt tại Tp Hội An và nguyên nhân của những
vi phạm sai lầm đó.
- Lập luận, đề xuất các phương pháp nhằm nâng cao chất lượng áp
dụng quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài đó là các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo
PLHS Việt Nam từ thực tiễn Tp Hội An, tỉnh Quảng Nam.
4
Luận văn sử dụng các quan điểm khoa học được nêu ra trong khoa học
luật tố tụng hình sư, các quy định của luật hình sự và thực tiễn áp dụng của
pháp luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để nghiên cứu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành luật hình
sự và tố tụng hình sự
Về quy phạm pháp luật luận văn chỉ đề cập nghiên cứu các tình tiết
giảm nhẹ (chung) TNHS áp dụng đối với chủ thể là cá nhân ghi nhận tại Điều
51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có đối chiếu với các quy định
của các BLHS trước đây..Số liệu nghiên cứu được thu thập tại TAND Tp Hội
An, tỉnh Quảng Nam trong thời gian 2015-2019.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phép duy vật biện
chứng và phép duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lenin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về
tội phạm, hình phạt, cải cách tư pháp, phòng ngừa tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp cụ
thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích, tổng
hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch, phương pháp
quy nạp. Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn sử dụng phương pháp thống kê
các số liệu thực tế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Từ cơ sở lý luận của luận văn sẽ làm tiền đề, định hướng cho các công
trình nghiên cứu tiếp theo.Đồng thời kết quả nghiên cứu của luận văn góp
5
phần làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận và nội dung quy định của BLHS.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã phân tích và làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như nội dung
các tình tiết giảm nhẹ TNHS.Đồng thời trên cơ sở thực tế, thực tiễn xét xử tại
địa phương giúp cho ta nhận định đúng hơn, áp dụng chính xác hơn các tình
tiết giảm nhẹ để từ đó nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.Có như vậy mới
hạn chế được oan sai, bỏ lọt tội phạm và tinh thần thượng tôn pháp luật ngày
càng được nâng cao hơn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,
danh mục những từ viết tắt thì luận văn gồm có:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.
Chương 2:Thực tiễn áp dụng các quy định về tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam tại TP Hội An, tỉnh Quảng
Nam.
Chương 3: Các yêu cầu và các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng
các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách
6
nhiệm hình sự.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa pháp lý của
các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1.1.1. Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
“Tình tiết” được hiểu là những sự việc nhỏ trong quá trình hay diễn
biến của một sự vật, sự việc.Trên cơ sở khái niệm này thì có thể hiểu, “tình
tiết giảm nhẹ TNHS” là những sự việc nhỏ, những chi tiết nhỏ, những tình
huống nhỏ, sự kiện nhỏ, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong việc làm giảm
mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội đối với xã hội, thể hiện thái độ, khả năng
cải tạo, sửa chữa lỗi lầm của người phạm tội, là cơ sở để giảm nhẹ hình phạt
(TNHS) pháp lý của người phạm tội so với mức hình phạt mà người phạm tội
phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.Nếu một tình tiết xuất hiện
trong sự việc hình sự, nhưng mang ý nghĩa định tội, định khung tội danh và
không có giá trị trong việc giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội thì không
được xác định là tình tiết giảm nhẹ TNHS.
Tình tiết giảm nhẹ TNHS theo BLHS hiện hành hay các bộ luật trước
đây không đưa ra khái niệmgiảm nhẹ TNHS. Trong khoa học pháp lý nước ta,
khái niệm về tình tiết giảm nhẹ cũng chưa thật thống nhất. Tuy nhiên, đa số ý
kiến cho rằng, trường hợp giảm nhẹ TNHS là trường hợp được quy định trong
BLHS với tính chất là trường hợp giảm nhẹ chung hoặc là trường hợp được
ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay do Tòa án tự xem
xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp và hoàn
cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết
7
giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án và hình phạt đối với người phạm tội
theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt.Quan niệm trên
chưa cho thấy hết được bản chất, nội dung của trường hợp giảm nhẹ TNHS cụ
thể mà mới chỉ nêu đặc trưng pháp lý của các tình tiết giảm nhẹ TNHS, thể
hiện tính khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.Điều đó,
thể hiện ngay ở một trong những bộ luật quan trọng thuộc pháp luật cổ Việt
Nam là Quốc triều hình luật qua nguyên tắc “chiếu cố” được thể hiện ở một
số loại người được chiếu cố và nội dung chiếu cố.Tuy khái niệm về tình tiết
giảm nhẹ hình phạt chưa có, nhưng nguyên tắc, đối tượng cho tình tiết giảm
nhẹ hình phạt được thông qua các đặc điểm áp dụng nhất định.Nhìn chung sự
giảm nhẹ tội danh hình sự, được luật cổ Việt Nam áp dụng thông qua tuổi
người già và trẻ em.Vì vậy, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những dấu hiệu
khách quan và chủ quan của hành vi phạm tội, không nằm trong cấu thành tội
phạm nhưng những tình tiết này là một trong những căn cứ để Tòa án cân
nhắc, xem xét việc áp dụng hình phạt đối với tội phạm nhằm phản ánh chính
sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Dưới góc độ nghiên cứu của cá nhân, về bản chất, trường hợp giảm nhẹ
TNHS là những biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnh
hưởng đến việc thực hiện tội phạm, qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn
của hành vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội có thể chịu TNHS ở
khung hình phạt thấp hơn quy định.Theo tiếng anh “tình tiết giảm nhẹTNHS”
có nghĩa là “extenuating circumstances: describes any reason or excuse that
someone gives to request that their actions be forgiven” với nghĩa giảm nhẹ
các tình huống nghiêm trọng, mô tả bất kỳ lý do hoặc lý do nào mà ai đó đưa
ra để yêu cầu hành động sai phạm của họ được tha thứ, hay được hiểu là
những tình tiết làm cho các trường hợp phạm tội cụ thể của tội phạm giảm
mức độ nguy hiểm, giảm hình phạt trong phạm vi một khung hình phạt nhất
8
định so với những trường hợp phạm tội bình thường [22, tr.54].
1.1.2. Bản chất các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Việc quy định các tình tiết giảm nhẹ không chỉ là sự cụ thể hóa nguyên
tắc nhân đạo, một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự mà còn thể
hiện được nội dung nguyên tắc cá thể hóa hình phạt – nguyên tắc đặc thù của
luật hình sự. Trên thực tế các nhà làm luật không quy định được các tình tiết
giảm nhẹ TNHS có ảnh hưởng đến mức độ nào đối với việc quyết định hình
phạt, mà đưa các tình tiết này vào phần chung của luật hình sự nhằm khi áp
dụng các tình huống cụ thể, vụ án cụ thể, Tòa án phải tự xác định, phán quyết
theo ý chí, tình hình thực tế của vụ án, nên các tình tiết này chỉ là căn cứ
quyết định hình phạt.
Mà khi là căn cứ quyết định hình phạt, thì các tình tiết này có 3 nhóm
bản chất sau:
Một là, ảnh hướng của tình tiết đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội ấy, ví dụ: Chưa gây thiệt hại, hoặc gây thiệt hại không lớn về
tài sản, tính mạng…. Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội
phạm.Mức độ giảm nhẹ này phụ thuộc vào thái độ chủ quan của người phạm tội
đối với hành vi ngăn chặn hoặc giảm bớt thiệt hại (có tích cực, tự nguyện
không…) và thực tế tác hại đã được ngăn chặn như thế nào. Người phạm tội tự
nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả: người phạm tội tự
nguyện hạn chế hậu quả của tội phạm một cách tự nguyện, không có sự đòi hỏi.
Biểu hiện như: sửa chữa tài sản bị hư hỏng, bồi thường về vật chất thiệt hại về tài
sản, thể chất, tinh thần hoặc có những hành vi khác khắc phục hậu quả. Mức độ
giảm nhẹ trong trường hợp này phụ thuộc vào sự cố gắng của người phạm tội
cũng như mức độ hậu quả được khắc phục trên thực tế.
Một số trường hợp khác cũng được cho là căn cứ giảm nhẹ TNHS khi
phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn: trường hợp
9
này có nguyên nhân khách quan nằm ngoài ý muốn của người phạm tội; do
hậu quả của tội phạm cũng là yếu tố quyết định mức nguy hiểm cho xã hội
nên luật hình sự coi trường hợp này mà một trong số các căn cứ để giảm nhẹ
TNHS.
Trường hợp các tình tiết phản ánh đặc điểm nhân thân ảnh hưởng đến
mức độ nguy hiểm của hành vi và người phạm tội, là trường hợp lần đầu tiên
phạm tội nhưng phải là loại tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nếu là tội phạm
nghiêm trọng thì phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.Mức độ giảm nhẹ
trong trường hợp này phụ thuộc vào mức độ ít nghiêm trọng của hành vi
phạm tội.
Trường hợp tình tiết ảnh hưởng đến mức độ lỗi, ví dụ: Phạm tội trong
trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; hoặc Phạm tội trong
trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; hoặc Phạm tội trong
trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị
hại hoặc người khác gây ra: người phạm tội thực hiện tội phạm khi không làm
chủ về tình cảm do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác tác
động.Mức độ giảm nhẹ trong từng trường hợp phụ thuộc vào tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi tác động, mức độ kích động và mức độ phản ứng
của người bị kích động.
Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây
ra: người phạm tội thực hiện tội phạm do chịu sự tác động, chi phối bởi hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn do khách quan đưa lại. Đó phải là hoàn cảnh khó khăn
hơn nhiều so với mức bình thường; có thể lấy ví dụ như: Thiên tai, dịch bệnh,
hỏa hoạn, tai nạn hoặc do nguyên nhân khách quan khác. Mức độ giảm nhẹ
TNHS trong tình tiết này phụ thuộc vào mức độ khó khăn và mức độ cố gắng
tìm cách khắc phục của người phạm tội.
Phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức: Trong trường hợp này
10
người phạm tội do bị đe dọa, cưỡng bức nên không hoàn toàn tự do lựa chọn,
điều khiển hành vi của mình và bị buộc phải thực hiện tội phạm theo ý chí của
người có hành vi đe dọa hoặc cưỡng bức.Đe dọa trong trường hợp này được
hiểu là đe dọa sẽ gây thiệt hại như gây thương tích hoặc gây thiệt hại về tài
sản, hủy hoại tài sản, nếu người bị đe dọa không thực hiện theo yêu cầu.
Cưỡng bức là hành vi dùng vũ lực uy hiếp tinh thần của người khác để họ
buộc phải thực hiện tội phạm theo ý muốn của mình như đánh đập, giam giữ
người bị cưỡng bức… Mức độ giảm nhẹ trong trường hợp này phụ thuộc vào
mức độ bị đe dọa hoặc cưỡng bức.
Phạm tội do lạc hậu: Do trình độ nhận thức lạc hậu, thấp kém đã hạn
chế nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Mức giảm nhẹ trong
trường hợp này phụ thuộc vào mức độ lạc hậu của người phạm tội trong điều
kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương nơi tội phạm sinh sống.
Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi của mình: Người phạm tội do có bệnh làm khả
năng nhận thức và điều khiển hành vi bị hạn chế nên đã không nhận thức
được đầy đủ tính nguy hiểm hoặc có thể nhận thức được tính nguy hiểm
nhưng lại hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc
vào mức độ hạn chế khả năng nhận thức hoặc mức độ hạn chế điều khiển
hành vi của người phạm tội.
Hai là, phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội như:
Phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội tự thú,
người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải …
Trường hợp người phạm tội tự thú: người phạm tội chưa bị phát hiện
nhưng đã tự đến cơ quan có thẩm quyền trình diện và khai báo hành vi phạm
tội của mình.
Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải: người phạm tội
11
đã khai rõ và đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội của
mình (thành khẩn khai báo); người phạm tội đã day dứt, hối hận về tội phạm
đã thực hiện và thể hiện mong muốn sửa chữa lỗi lầm thông qua việc chấp
hành nghiêm chỉnh pháp luật, tích cực lao động, tham gia các hoạt động cộng
đồng.Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện,
điều tra tội phạm: người phạm tội cung cấp bằng chứng, tài liệu, tin tức cho
cơ quan có trách nhiệm hoặc làm mọi việc theo yêu cầu của các cơ quan đó để
điều tra tội phạm mà họ tham gia hoặc về tội phạm khác hoặc người phạm tội
khác mà họ biết. Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào hiệu quả của hành vi của
người phạm tội vì sự giúp đỡ các cơ quan.
Người phạm tội đã lập công chuộc tội: đây là trường hợp mà người
phạm tội đã có thành tích đột xuất tương đối đặc biệt như thành tích trong cứu
hỏa, chống bão, lũ lụt hoặc trong việc cứu người trong tình trạng nguy hiểm
đến tính mạng; việc lập công này phần nào đã chứng minh sự ăn năn, hối cải
lỗi lầm của họ. Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất,
chiến đấu, học tập hoặc công tác: những biểu hiện có thể thấy như người
phạm tội được tặng thưởng huân, huy chương, bằng lao động sáng tạo, bằng
khen của Chính phủ hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều
năm được công nhận là chiến sĩ thi đua…
Ba là, phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội, do đó, đòi hỏi
Tòa án phải xem xét, điều tra kỹ lưỡng, đưa ra quyết định sáng suốt để đảm
bảo hình phạt tuyên bố đảm bảo tình hình thực tế, phù hợp với nguyên tắc của
luật hình sự, chính sách của Nhà nước, cũng như đáp ứng được mục đích
trừng trị, giáo dục người phạm tội: Như người phụ nữ có thai hoặc nuôi con
nhỏ (không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ
đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.Không thi
hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
12
Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân; Người
phạm tội là phụ nữ có thai là một tình tiết giảm nhẹ TNHS; Phụ nữ có thai hoặc
đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến
khi con đủ 36 tháng tuổi…), người phạm tội là người già, người phạm tội có
thành tích trong sản xuất, chiến đấu, có công với cách mạng, học tập và công
tác…Người phạm tội là phụ nữ có thai: người phụ nữ phạm tội trong thời gian
mang thai, đây là thời điểm người phụ nữ có nhiều thay đổi về tâm- sinh lý và
sức khỏe. Vì chính sách nhân đạo đối với bà mẹ và trẻ em nên người phụ nữ
mang thai phạm tội sẽ bị xử lý nhẹ hơn người bình thường.
Ngoài ra, bản chất “tình tiết giảm nhẹ TNHS” xét trong toàn bộ cấu
trúc của BLHS thì các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo cấu trúc của cặp phạm
trù “nặng – nhẹ”.Xét theo các dấu hiệu cấu thành tội phạm, thì quy định về
các tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể thuộc: Dấu hiệu chủ thể như: Người già,
phụ nữ…; dấu hiệu về mặt khách quan như: Hành vi phạm tội, hậu quả, hoàn
cảnh phạm tội…; dấu hiệu về mặt chủ quan như: Động cơ, thủ đoạn…; dấu
hiệu khách thể như: Mức độ thiệt hại, bồi thường…Cụ thể: Có thể hiểu là
những biểu hiện tích cực cho đời sống xã hội của người phạm tội hoặc vì
ngoại cảnh tác động mà thực hiện hành vi phạm tội.
1.1.3. Đặc điểm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Những tình tiết giảm nhẹ TNHS đã là yếu tố định tội hoặc định khung
hình phạt thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS.Một phần do tính
nguy hiểm cho xã hội cho tình tiết đó, do đó đặc điểm các tình tiết giảm nhẹ
TNHS là không quy định trùng lặp trong định tội, định khung. Bên cạnh đó,
chủ thể áp dụng pháp luật tìm ra những biểu hiện tích cực cho đời sống xã hội
của người phạm tội khi áp dụng hình phạt “Khi quyết định hình phạt, Tòa án
có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi vào
trong bản án” (khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015).Vì vậy, căn cứ vào quy
13
định của pháp luật, có thể nhận thấy tình tiết giảm nhẹ TNHS có những đặc
điểm sau:
Một là, những tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được quy định với tính cách
là yếu tố định tội hoặc là yếu tố định khung hình phạt của một số tội phạm cụ
thể thì trong quá trình xét xử, Tòa án không được xem xét nó như là tình tiết
giảm nhẹ chung được quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS.Nghĩa là một tình
tiết giảm nhẹ cho dù biểu hiện dưới hình thức nào thì cũng không thể được áp
dụng hai lần cho một trường hợp phạm tội cụ thể.
Hai là, tình tiết giảm nhẹ TNHS chỉ là căn cứ để Tòa án cân nhắc, xem
xét việc áp dụng hình phạt theo hướng nhẹ hơn đối với người phạm tội.
Ba là, pháp luật hiện nay không quy định cụ thể sự hiện diện của tình
tiết giảm nhẹ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc quyết định hình phạt, sự hiện
hữu của tình tiết nào thì được giảm trách nhiệm hình đến đâu, điều đó phụ
thuộc vào sự xem xét và cân nhắc của Tòa án.
Bốn là, các tình tiết giảm nhẹ TNHS không cụ thể, rõ ràng, mà nó chỉ là
sự việc nhỏ xuất hiện trong quá trình xét xử, điều tra, truy tố, cho nên ngoài
Khoản 1 Điều 51 BLHS và các tình tiết được quy định tại điểm c, mục 5 Nghị
quyết số 01/2000/NQ- HĐTP, thì trong quá trình xét xử từng vụ án cụ thể,
Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ.
Năm là, mức độ ảnh hưởng của mỗi tình tiết giảm nhẹ TNHS đến việc
quyết định hình phạt cuả Tòa án là không giống nhau, không phải lúc nào
cũng như án lệ, tình tiết đó, sự kiện giống vậy là khung hình phạt giống nhau.
Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa pháp lý, xã hội, chính trị không đồng
đều nhau, có tình tiết ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định hình phạt và đối
với mọi trường hợp phạm tội, nhưng có tình tiết lại ảnh hưởng ít hơn. Không
những thế, cùng một tình tiết giảm nhẹ TNHS nhưng có mức độ ảnh hưởng
khác nhau đối với những tội khác nhau.Ví dụ: Tình tiết "Phạm tội vì hoàn
14
cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra" có ý nghĩa lớn đối
với trường hợp tội phạm là người phạm tội trộm cắp tài sản nhưng lại không
có nhiều ý nghĩa trong trường hợp phạm tội giết người.
1.1.4. Vai trò và ý nghĩa pháp lý của các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự
Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể tác động đến việc
định khung, hoặc quyết định hình phạt của vụ án. Nó là các tiêu chí cụ thể hóa
bản chất truyền thống nhân đạo của dân tộc ta, đường lối, chính sách khoan
hồng của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội, tạo điều kiện để họ ăn
năn, hối cải, tái hòa nhập cuộc sống cộng đồng. Vấn đề đặt ra là hiệu quả của
áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với đời sống xã hội như thế nào?
Những người được hưởng một trong các chính sách khoan hồng bằng cách
giảm nhẹ mức án so với thực tế sẽ ứng xử sao với xã hội, rút ra bài học kinh
nghiệm gì? Mức án do Tòa án quyết định đó có phù hợp, thỏa mãn với các
bên có liên quan trong vụ án? Có đem lại tiếng nói chung cho phản ứng của
cộng đồng? Tính nhân văn của áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS nhất
thiết phải đi đôi với hiệu quả răn đe, nhằm bảo đảm kỷ cương nghiêm minh
của pháp luật. . .
Do đó, các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa lớn cả về mặt xã hội
cũng như pháp lý…, nên thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu khách quan phải nâng
cao hiệu quả vận dụng chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS” [15, tr.57]. Khi
áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định giúp Nhà nước xác định một
cách khách quan, công bằng hơn hành vi phạm tội, nhân thân, hoàn cảnh và
thái độ của người phạm tội, kiểm chứng việc thực hiện nguyên tắc nhân đạo
trong PLHS, để thực hiện đúng đắn mục đích của hình phạt là không chỉ trừng
trị người phạm tội mà còn giáo dục họ hướng thiện và có tác dụng phòng
ngừa tội phạm trong cộng đồng dân cư. Ngoài ra, áp dụng các tình tiết giảm
15
nhẹ sẽ cân bằng được giữa một bên là thái độ của Nhà nước (cưỡng chế hình
sự) đối với tội phạm (nghiêm khắc nghiêm trị), một bên là quyền và lợi ích
của công dân và xã hội có liên quan; hay nói cách khác là cân bằng giữa mục
đích trừng trị tội phạm với mục đích giáo dục người phạm tội [19, tr.62]. Nó
còn giảm thiểu hoặc tránh được sự lạm quyền của cơ quan có thẩm quyền
trong việc thực hiện quyền lực công khi tiến hành tố tụng hình sự TNHS [19,
tr.12].
Về mặt pháp lý khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS tác động đến
việc cân nhắc quyết định hình phạt của Tòa án, là công cụ đắc lực để Tòa án
coi là cơ sở của quyết định hình phạt [8, tr.22]. Tình tiết giảm nhẹ là một
trong những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án do cơ quan tiến hành tố
tụng đảm trách. Nó bị chi phối đến một số thủ tục tố tụng hình sự, cụ thể:
Thứ nhất, áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự: Đó là biện
pháp ngăn chặn tạm giam quy định tại Điều 119 Bộ luật TTHS năm 2015.
Theo đó, không áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với bị can, bị cáo là phụ
nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người bị bệnh nặng, trừ
trường hợp đặc biệt. Quy định này phù hợp với các tình tiết giảm nhẹ ở
trường hợp người phạm tội là phụ nữ có thai, hoặc người mắc bệnh nặng bị
hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi quy định tại khoản 1 Điều
51 BLHS.
Thứ hai, xem xét quyết định các loại hình phạt trong khi hội đồng xét
xử nghị án, đó là ngoài các yếu tố khác phải xem xét, hội đồng xét xử phải
cân nhắc đến tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS để áp đặt mức độ, tần suất
của hình phạt chính và hình phạt bổ sung:
Thứ ba, xem xét miễn hình phạt theo mong muốn của người phạm
tội: Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp được
hạikhung hình phạt quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 BLHS mà đáng
16
được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn TNHS.
Thứ tư, xét xử xem xét miễn TNHS cho người phạm tội là người dưới
18 tuổi: Như vậy, khi xem xét miễn TNHS cho người phạm tội dưới 18 tuổi
thì tùy tội phạm cụ thể, họ có thể được miễn TNHS, nhưng họ phải có nhiều
tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 BLHS, trong đó tình tiết giảm nhẹ bắt
buộc là tự nguyện khắc phục hậu quả (khắc phục phần lớn) - đó là điều kiện
tiên quyết.
Trên thực tế, còn có trường hợp Tòa án tùy nghi, dễ dãi trong việc áp
dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, trong việc quyết định mức án
nặng, nhẹ không công bằng, thiếu nhất quán. Nguyên nhân đó là do BLHS
năm 1999 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định nhiều tình tiết giảm
nhẹ chưa hợp lý, cũng như cho phép Tòa án tùy nghi lựa chọn áp dụng các
tình tiết giảm nhẹ quá mức cần thiết. Những bất cập về mặt quy phạm đó vẫn
chưa được BLHS năm 2015 khắc phục.
Tóm lại việc áp dụng của các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa pháp
lý rất quan trọng trong xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hội
An, mang ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động xét xử trong cả nước nói
chung và hoạt động xét xử của Tòa án thành phố Hội An nói riêng. Đề cao
tinh thần thượng tôn pháp luật, chính sách nhân đạo, khoan hồng của Đảng và
Nhà nước, tính công bằng, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Hội
An. Đồng thời thể hiện kỹ năng vận dụng kiến thức pháp luật của các Thẩm
phán tại TAND thành phố Hội An, kiểm sát viên tại Viện Kiểm sát nhân dân
thành phố Hội An được hoàn thiện, nhờ vào chính sách tuyên truyền, tổ chức
tập huấn, bồi dưỡng kiến thức thường xuyên của Đảng và Nhà nước đưa ra.
1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Quy định của pháp luật Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
17
hình sự qua các giai đoạn thời kỳ từ khi xuất hiện nhà nước và pháp luật, tình
tiết giảm nhẹ TNHS đã được đề cập ở quy định tình tiết giảm nhẹ TNHS thời
kỳ phong kiến với mục đích phản ánh những đặc trưng về “Chính trị”, “Tư
tưởng” của thời kỳ phong kiến [17, tr.8]. Cụ thể là Luật hình sự, điển hành là
các bộ luật như: Bộ Hình Thư (thời vua Lý Thái Tông); Bộ Hình luật thư
(Thời vua Trần Dụ Tông); Bộ Quốc triều hình luật (Triều Lê); Bộ Hoàng Việt
luật lệ (Nhà Nguyễn)... [4, tr.1]. Hầu hết mọi điều khoản trong các bộ luật cổ
điều được chế tài về phương diện hình sự. Do vậy, trong các bộ luật cổ này
cũng có nhiều quy định về các tình tiết giảm nhẹ tội. Đặc biệt với khía cạnh
nhân thân của con người được xem xét làm tiêu chí để giảm nhẹ tội. Các tình
tiết giảm nhẹ TNHS thời kỳ phong kiến Việt Nam khá đa dạng phản ảnh chủ
yếu đặc điểm về nhân thân người phạm tội căn cứ vào địa vị xã hội, quan hệ
giai đình, độ tuổi...
Quy định tình tiết giảm nhẹ TNHS thời kỳ Pháp thuộc mang tính chất
thực dân – phong kiến do xã hội được xây dựng chủ yếu trên cơ sở tư tưởng
pháp lý phương Tây với ba bộ luật hình [13, tr.20-24]: Hình luật Bắc phần,
Hình luật Trung phần, Hình luật Canh cả. Những quy định của pháp luật
phong kiến mà trái với tư tưởng pháp lý tư sản phương Tây điều bị loài bỏ
(chế định Bát nghị, các hình phạt mang tính hà khắc, tráich nhiệm tập thể...).
Tuy nhiên, các quy định nào thể hiện đặc thù của xã hội Việt Nam mà không
trái với tư tưởng pháp lý phương Tây thì vẫn tiếp tục được duy trì (tính nhân
đạo, trật tự giai đình... ). Do vậy, một số tình tiết giảm nhẹ TNHS từ thời
phong kiến vẫn được duy trì trong giai đoạn này như: Tình tiết giảm nhẹ vì có
quan hệ giai đình như việc trộm cắp, lừa gạt, sang đoạt giữa vợ chồng hoặc
những người có quan hệ giai đình như tôn thuộc, ty thuộc (Điều 380 Hình luật
Canh cả; Điều 260 Hình luật Trung phần); Điều 355 Hình luật Bắc phần)...
Nhưng, nhìn chung những tình tiết giảm nhẹ tạ thời kỳ này là nền tảng
18
xây dựng viì có tương tự như các tình tiết giảm nhẹ THNS được quy định
trong PLHS hiện hành. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà lập pháp kế thừa
vià phát huy trên nền tảng cũ để xây dựng vià hoàn thiện các quy định về tình
tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội trong thời kỳ pháp
điển hóa luật hình sự Việt Nam lần thứ nhất cũng như trong những giai đoạn
phát triển đất nước sau này.
Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa, hoàn thiện, bổ sung
những điểm mới các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho phù hợp với
yêu cầu của thực tiễn để đảm bảo việc áp dụng mang tính trừng phạt, răn đe;
nhưng đồng thời mang tính giáo dục, cảm hóa Đối với người phạm tội. BLHS
năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) đánh dấu một bước
tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống
tội phạm có hiệu quả; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo
việc chế độ, bảo việc quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước
vià tổ chức. Đối với áp dung tình tiết giảm nhẹ TNHS. BLHS năm 2015 quy
định 22 tình tiết giảm nhẹ TNHS, nhiều hơn so với BLHS năm 1999 sửa đổi,
bổ sung năm 2009 (BLHS năm 1999) ba tình tiết. Nhưng nhìn chung, vẫn tiếp
tục thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng theo tinh thần đề cao
hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tôn
trọng vià bảo đảm thực thi các quyền con người, quyền công dân được ghi
nhận trong Hiến pháp năm 2013. So với BLHS năm 1999 thì về các tình tiết
giảm nhẹ TNHS được quy định trong BLHS năm 2015 không thay đổi, chỉ
được sắp xếp, thiết kế lại rõ ràng hơn. Thực tiễn xét xử cũng như quan điểm
hướng thiện, bảo vệ quyền con người, bảo vệ những người yếu thế trong xã
hội bằng PLHS đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung thêm các tình tiết giảm nhẹ
TNHS, mở rộng phạm vi áp dụng Đối với các trường hợp quyết định hình
phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Mặt khác các
19
vướng mắc trong áp dụng quy định của BLHS năm 1999 về các tình tiết giảm
nhẹ TNHS cũng đòi hỏi phải sửa đổi theo hướng minh bạch, rõ ràng để vừa
tháo gỡ vướng mắc vừa thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật, cùng với đó là
các điều kiện khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; hậu quả
pháp lý khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 54 Bộ luật
Hình sự năm 2015). Cụ thể như sau:
Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS
1.Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS:
a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội
phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồ thường thiệt hại hoặc khắc
phục hậu quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm
tội;
e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái
pháp luật của nạn nhân gây ra;
g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự
gây ra;
h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không
phải do lỗ của mình gây ra;
m) Phạm tội do lạc hậu;
n) Người phạm tội là phụ nữ có thai ;
20
o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt
nặng;
q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
r) Người phạm tội tự thú;
s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hố cả ;
t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có tráich nhiệm trong
việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội ;
vi) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến
đấu, học tập hoặc công tác;
x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ,
chồng, con của liệt sĩ.
2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết
khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định
tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết
định hình phạt.
Việc Toà án, Viện Kiểm sát xác định tình tiết đúng và áp dụng đúng
tình tiết giảm nhẹ TNHS cụ thể như sau:
Tại điểm a khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015: “người phạm tội đã ngăn
chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm”. Được hiểu là người đã thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm sau khi phạm tội phải có
hành vi tích cực để ngăn chặn tác hại của tội phạm, hoặc làm giảm bớt các tác
hại đó. Hành vi ngăn chặn tác hại của tội phạm được thực hiện khi tội phạm
mà người đó thực hiện chưa gây tác hại, đồng thời, việc ngăn chặn phải thực
21
sự có hiệu quả, tức là tác hại của tội phạm không phát sinh do đã được ngăn
chặn kịp thời. Pháp luật không đòi hỏi người phạm tội phải tự mình quyết
định hành động, chỉ cần họ tự thực hiện việc ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác
hại của tội phạm mà họ gây ra và hành động này mang lại hiệu quả khiến tác
hại của tội phạm thực sự được ngăn chặn hoặc giảm bớt.
Tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015: “người phạm tội tự
nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” là trước khi
người bị thiệt hại có yêu cầu đòi sửa chữa, bồi thường hoặc khắc phục hậu
quả, người phạm tội đã tự nguyện thực hiện hoạt động này. Đây là trường hợp
hành vi của người phạm tội đã gây ra hậu quả của tội phạm thể hiện dưới
dạng thiệt hại cụ thể hoặc những hậu quả khác. Người phạm tội sau đó đã tự
mình quyết định việc và thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc
khắc phục hậu quả của tội phạm mà mình gây ra mà không phải do người bị
thiệt hại hoặc người khác yêu cầu, ép buộc. Sửa chữa thiệt hại được hiểu là
sửa lại, chữa lành những cái bị hành vi phạm tội làm hư hỏng. Ví dụ: Ông A
có hành vi chặt cây, tài sản trong vườn nhà Ông B, sau đó, A đã chủ động tự
nguyện bồi thường thiệt hại theo giá trị thị trường, cũng như các tài sản trong
vườn nhà Ông B. Bồi thường thiệt hại được hiểu là dùng tiền hoặc tài sản của
mình đưa cho người bị thiệt hại để bù đắp lại những thiệt hại do hành vi phạm
tội của mình gây ra bao gồm cả những thiệt hại về vật chất, thể chất hoặc
những thiệt hại về tinh thần. Tình tiết giảm nhẹ này phần nào thể hiện thái độ
ăn năn, hối lỗi của người phạm tội đối với hành vi mà mình đã gây ra. Mức độ
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với trường hợp này phụ thuộc vào thái độ
cố gắng, tự nguyện muốn chuộc lỗi của người phạm tội và mức độ hậu quả
được khắc phục trên thực tế.
Tại điểm c khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội trong trường hợp
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức
22
cần thiết, không phối hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội [22, tr.322]. Sự chống trả quá mức ở đây phải được thể hiện
rõ ràng và có lỗi của người thực hiện hành vi chống trả, ví dụ như sử dụng
công cụ, phương tiện quá nguy hiểm so với tình huống, đánh giá sai tình
huống phòng vệ.
Tại điểm d khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội trong trường hợp
vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết”. Tình thế cấp thiết là tình thế của
người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của
người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn
cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa”
(Điều 23 BLHS năm 2015). Nếu thiệt hại gây ra nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn
ngừa thì hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết khiông phải là tội phạm.
Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng không nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn
ngừa thì người gây thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết phải
chịu trách nhiệm hình sự. Tuy vậy, cũng giống như trường hợp vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng, người gây thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế
cấp thiết được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vì động cơ thực hiện hành vi ở
đây là động cơ tích cực, để tránh gây thiệt hại lớn hơn cho quyền, lợi ích hợp
pháp của mình, của người khác hoặc lợ ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ
chức.
Tại điểm đ, Điều 51: “Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần
thiết khi bắt giữ người phạim tội ”. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy
định trong BLHS năm 2015. Trong trường hợp vì bắt giữ người thực hiện
hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải dùng vũ lực cần
thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm. Đây là một
trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự mới được công nhận trong
BLHS năm 2015. Nếu khi thực hiện việc bắt giữ đã sử dụng vũ lực rõ ràng
23
vượt quá mức cần thiết gây thiệt hại thì người gây thiệt hại phải chịu trách
nhiệm hình sự. Do động cơ gây thiệt hại ở đây là động cơ tích cực, muốn bắt
giữ người phạim tội nên trường hợp gây thiệt hại do vượt quá mức cần thiết
này được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội trong trường hợp bị
kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người
khác gây ra.Trong trạng thái tinh thần bị kích động, người phạm tội đã bị cảm
xúc chi phối phần nào hành vi của mình, do đó đã không hoàn toàn chủ động
khi thực hiện hành vi. Đây là trường hợp được giảm nhẹ liên quan đến phản
ứng do bị kích động về tinh thần của người phạm tội. Mức độ giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng
của hành vi trái pháp luật của nạn nhân, mức độ bị kích động của người phạm
tội. Quy định này của BLHS năm 2015 có điểm khác so với quy định tương
ứng trong BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Quy định trước đây
xác định lý do khiến tinh thần người phạm tội bị kích động có thể từ hành vi
trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác. “Người bị hại” là thuật ngữ
được dùng trong Bộ luật Tố tụng hình sự với tư cách là người tham gia tố
tụng, trong của BLHS năm 2015 các nhà làm luật đã sửa đổi thuật ngữ này
thành “nạn nhân” là hoàn toàn hợp lý vì lúc thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật gây ra trạng thái kích động cho người phạm tội họ chưa tham gia tố tụng.
Bên cạnh đó, hiện nay, luật hình sự không thừa nhận hành vi trái pháp luật do
người khác, không phải là nạn nhân gây ra là nguyên nhân dẫn đến việc kích
động nữa. [8, tr.323].
Tại điểm g khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội vì hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra: [8, tr.323] Tình tiết này được
giữ nguyên từ BLHS năm 1999 được hiểu là trường hợp người phạm tội đã
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do bị chi phối bởi hoàn cảnh đặc biệt
24
khó khăn. Hoàn cảnh này không phải do họ tự gây ra mà là do khách quan
như thiên tai, hỏa hoạn, bệnh tật, tai nạn. Đây là lý do là giảm bớt tính nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà họ gây ra, vì vậy, phạm tội trong
hoàn cảnh khách quan khó khăn đặc biệt được coi là một yếu tố giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự đối với trường hợp này phụ thuộc bào mức độ khó khăn của hoàn cảnh và
khả năng cố gắng tìm cách khắc phục những khó khăn đó của người phạm tội
trước khi họ thực hiện hành vi phạm tội.Chỉ áp dụng tình tiết này khi có đấy
đủ hai điều kiện: Hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà phạm tội; Hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn không phải do người phạm tội tự gây ra.
Tại điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội nhưng chưa gây
thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn [8, tr.324]. Đây cũng là một trong số
những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không được sửa đổi bổ sung
trong BLHS năm 2015. Trường hợp giảm nhẹ này được hiểu là người phạm
tội khi thực hiện hành vi phạm tội chưa gây ra thiệt hại gì, hoặc đã gây ra thiệt
hại nhưng thiệt hại gây ra không lớn. Nguyên nhân dẫn đến thiệt hại chưa xảy
ra hoặc xảy ra không lớn là nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người
phạm tội. Vì hậu quả của phạm tội là một trong những yếu tố để đánh giá tính
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nên trường hợp phạm tội nhưng chưa gây
thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn được xem là tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự.
Tại điểm khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội lần đầu và thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng [8, tr.324] là trường hợp phạm tội lần đầu là từ
trước tới nay chưa phạm tội lần nào (Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án,
nhưng đã được xoá án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy
cứu TNHS hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS nay bị truy
cứu TNHS trong cùng lần phạm tội sau, thì không được áp dụng tình tiết giảm
25
nhẹ này). Phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trường hợp ít nghiêm trọng
bao gồm trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng (tội phạm gây nguy hại không
lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối vớ i tội ấy là đến ba
năm tù) và trường hợp phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng nhưng vị trí, vai trò của người phạm tội ít nghiêm trọng (thường
là trong trường hợp phạm tội đồng phạm). Chỉ áp dụng tình tiết này khi có
đầy đủ cả hai điều kiện: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng. Đây là tình tiết phản ánh đặc điểm nhân thân của người phạm tội ảnh
hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Tình tiết này
không được sửa đổi trong BLHS năm 2015.
Tại điểm k khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội vì bị người khác đe
doạ, cưỡng bức. Tình tiết này là một trong những tình tiết ảnh hưởng đến mức
độ lỗi của người phạm tội. Nội dung của tình tiết này hoàn toàn được giữ
nguyên như trong BLHS năm 1999 tuy nhiên có bổ sung từ “hoặc” cho thống
nhất với một số tình tiết khác cũng có sự sửa đổi tương tự. Là trường hợp là bị
người khác dọa trừng phạt nếu làm trái ý họ, tạo cho người phạm tội nỗi lo sợ
về một tai hoạ có thể xảy ra, và để tránh tai hoạ đó người phạm tội đã phải
thực hiện tội phạm; dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có
hành vi khác buộc người phạm tội đã phải thực hiện tội phạm; Tuy vậy, sự đe
dọa hoặc cưỡng bức ở đây không làm người phạm tội mất đi sự tự do lựa
chọn xử sự, mà chỉ làm họ suy giảm khả năng lựa chọn của mình. Đe dọa
được hiểu là dọa dừng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần như dọa gây thương tích,
dọa giết,…nếu người bị đe dọa không thực hiện tội phạm theo ý muốn của
người đe dọa. Cưỡng bức là việc dùng vũ lực như đánh, bắt trói, giam
giữ,…để buộc người khác phải thực hiện tội phạm theo ý của người đe dọa.
Mức độ giảm nhẹ của tình tiết này phụ thuộc vào tính chất, mức độ của sự đe
dọa, cưỡng bức [8, tr.325].
26
Tại điểm l, Điều 51: “Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng
nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra”. Là tình tiết mới được bổ
sung vào BLHS năm 2015. Đối với tình tiết này mặc dù chưa có hướng dẫn
cụ thể nhưng có thể hiểu theo tinh thần của quy định này là một số trường
hợp, người thực hiện hành vi phạm tội trong khi bị hạn chế khả năng nhận
thức do nguyên nhân khách quan chẳng hạn như bị cưỡng ép, lừa gạt để sử
dụng chất kích thích mạnh. Vì vậy, đối với trường hợp phạm tội khi hạn chế
khả năng nhận thức không phải do lỗi của mình sẽ được giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự. Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào mức độ bị hạn chế khả năng nhận
thức do yếu tố khách quan mang lại.
Tại điểm m khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: “Phạm tội do lạc hậu”là
trường hợp người phạm tội vì lý do điều kiện sống về vật chất và tinh thần
không theo kịp đà tiến bộ, đà phát triển chung. Chỉ áp dụng tình tiết nếu lạc
hậu đó là do nguyên nhân khách quan đưa lại, như do đời sống xã hội nên
không hiểu biết hoặc kém hiểu biết về pháp luật, không được học tập, không
có điều kiện thực tế để nhận biết các đúng sai trong cuộc sống…[8, tr.326]
Tại điểm n khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Người phạm tội là phụ nữ có
thai.Tình tiết này được giữ nguyên như quy định tại BLHS năm 1999. Tình
tiết này phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đó là việc họ thực
hiện hành vi phạm tội khi đang mang thai. Một trong những yếu tố ảnh hưởng
đến hành vi phạm tội của họ là sự thay đổi về tâm – sinh lý trong thời kỳ
mang thai dẫn đến trạng thái nóng nảy, dễ bị kích động, khó kiểm soát hành
vi. Bên cạnh đó, chính sách hình sự của nhà nước ta luôn nhân đạo đối với
người phụ nữ mang thai và trẻ em nên đối tượng này khi phạm tội sẽ được
giảm nhẹ hơn bình thường. Người phụ nữ phải chứng minh là mình có thai
khi phạm tội.Trong trường hợp chưa có đủ căn cứ để kết luận người phụ nữ
có thai khi phạm tội thì phải căn cứ vào kết luận của cơ quan chuyên môn y tế
27
hoặc kết luận giám định.Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào thời kỳ mang thai,
ảnh hưởng của tình trạng thai nhi đến việc thực hiện tội phạm của bị cáo [8,
tr.326].
Tại điểm b khoản o Điều 51 BLHS 2015:“người phạm tội là người đủ
70 tuổi trở lên” là một tình tiết có sự sửa đổi theo hướng cụ thể hóa so với
quy định tương ứng trước kia trong BLHS năm 1999. Trước đây, tình tiết này
được quy định là “người phạm tội là người già”. Hiện nay, theo định hướng
cụ thể hóa các quy định trong BLHS, tình tiết này đã được sửa đổi rõ ràng
hơn, cụ thể hơn bằng việc quy định cụ thể độ tuổi được giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự của người phạm tội. Quy định này xuất phát từ chính sách hình sự
nhân đạo của nhà nước ta đối với người cao tuổi. Bên cạnh đó, yếu tố tâm –
sinh lý lứa tuổi cũng được cân nhắc vì vào độ tuổi này, khả năng nhận thức và
điều khiển hành vi của họ bị suy giảm, điều này phần nào ảnh hưởng đến tính
chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà họ thực hiện. Do đó, tình tiết
liên quan đến hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội vì họ là người già cần
phải được xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.Ngoài ra, trường
hợp này còncăn cứ theo pháp lý tiểu mục 2. 4 mục 2 Nghị quyết số
01/2006/NQ- HĐTP. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt dù người
phạm tội là người từ 70 tuổi trở lên, nhưng cũng không nên áp dụng tình tiết
này (thông thường là các tội xâm phạm tình dục của người phụ nữ, dâm ô trẻ
em), vừa qua cả nước xuất hiện rất nhiều vụ việc liên quan đến tình tiết này,
các đối tượng lợi dụng tình tiết này để xin giảm án, mặc dù xã hội lên án rất
gây gắt. Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào độ tuổi, tình trạng sức khoẻ và tội
phạm đã thực hiện.
Tại điểm p khoản 1, Điều 51: Tình tiết “người phạm tội là người khuyết
tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng” là tình tiết mới được bổ sung vào Điều
51 BLHS năm 2015. Theo quy định Tại khoản 1 Điều 2 Luật người khuyết tật
28
năm 2010, “người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ
phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến
cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Đặc điểm này ảnh hưởng
không nhỏ đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội
là người khuyết tật. Đồng thời, chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với
người khuyết tật là một yếu tố quyết định việc giảm nhẹ trách nh ệm hình sự
cho người khuyết tật kh họ phạm tội. Tuy vậy, chỉ những người khuyết tật
nnặng, khuyết tật đặc biệt nặng mới được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.
Người khuyết tật nặng và khuyết tật đặc biệt nặng được gh nhận trong Luật
người khuyết tật năm 2010. Theo quy định này: “Người khuyết tật đặc biệt
nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể thực hiện việc phục vụ nhu cầu
sinh hoạt cá nhân hàng ngày” (điểm a khoản 2 Điều 3 Luật người khuyết
tậtinăm 2010). “Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không
thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày”
(điểm b khoản 2 Điều 3 Luậtingười khuyết tậtinăm 2010).
Tại điểm q khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Người phạm tội là người có
bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình. Là tình tiết đã được quy định từ BLHS năm 1999. Tình tiết này ảnh
hưởng đến mức độ lỗi của người phạm tội vì người phạm tội ở đây là người
mắc bệnh dẫn đến hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành
vi của mình. Là trường hợp người có bệnh, tức là có bệnh lý nào đó theo quy
định trong y sinh học, làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi của người phạm tội (trong trường hợp chưa có đủ căn cứ để kết
luận thì phải có kết luận của cơ quan chuyên môn y tế hoặc kết luận giám
định). Chỉ áp dụng tình tiết này khi có đầy đủ cải hai điều kiện người phạm
tội phải có bệnh và bệnh đó là nguyên nhân là nguyên nhân làm hạn chế khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội. Mức
29
độ giảm nhẹ phụ thuộc vào tình trạng bệnh tật, mức độ hạn chế khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội [8, tr.327].
Tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Người phạm tội tự thú là tự
mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát
hiện được mình phạm tội. Tình tiết này cũng không được sửa đổi trong BLHS
năm 2015. Tình tiếtinày phản ánh khả năng cải Tại của người phạm tội. Để
được coi là tự thú, người phạm tội phải chủ động đến cơ quan có thẩm quyền
trình diện và khai báo về hành vi của mình trước khi tội phạm bị phát hiện.
Quy định này phù hợp với nguyên tắc xử lý “khoan hồng đối với người tự
thú” ghi nhận Tại điểm d Điều 3 BLHS năm 2015. Người nào bị bắt, bị phát
hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra tự mình
nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát
hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra
những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện.
Tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Người phạm tội thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải. Mức độ giảm nhẹ của việc thành khẩn khai báo phụ
thuộc vào sự thành khẩn được thực hiện ở giai đoạn tố tụng nào và ý nghĩa
thiết thực của sự thành khẩn trong việc giả quyết vụ án; mức độ giảm nhẹ của
sự ăn năn hối cải phụ thuộc vào mức độ ăn năn hối cải của người phạm tội,
những hành động, việc làm cụ thể chứng minh cho sự ăn năn hối cải đó.
“Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải ” quy định Tại
điểm s khoản 1, mặc dù vẫn giữ nguyên nội dung như quy định trước đây
trong BLHS năm 1999, nhưng với việc sửa đổi trong BLHS năm 2015 cách
áp dụng tình tiếtinày đã có sự thay đổi. Để được giảm nhẹ, người phạm tội chỉ
cần thỏa mãn một trong hai điều kiện: Thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối
cải. Tình tiếtinày là tình tiết giảm nhẹ phảin ánh được khả năng cải tạo của
người phạm tội, cũng là tình tiết cụ thể hóa tinh thần của điểm d khoản 1 Điều
30
3 BLHS năm 2015 “Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn kha
báo,…ăn năn hối cải,…”.
Tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: “người phạm tội tích cực hợp
tác với cơ quan có trách nh ệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá
trình giải quyết vụ án”. Mặc dù không phải là tình tiết giảm nhẹ mới, nhưng
tình tiết này vẫn được sửa đổi về mặt kỹ thuật, không làm thay đổi mà giúp
diễn đạt rõ ràng hơn nội dung của tình tiết, đồng thời thể hiện sự thống nhất,
đồng bộ trong việc sửa đổi các tình tiết giảm nhẹ trong BLHS năm 2015. Để
được coi là “tích cực giúp đỡ”, người phạm tội phải cung cấp bằng chứng, tài
liệu, tin tức cho cơ quan có trách nhiệm hoặc thực hiện đúng các yêu cầu của
các cơ quan đó. Việc làm của người phạm tội đã giúp các cơ quan có trách
nhiệm phát hiện ra tội phạm hoặc điều tra tội phạm một cách nhanh chóng,
kịp thời và chính xác. Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vàohiệu quả từ việc cung
cấp thông tin, tài liệu trong việc phát hiện hoặc điều tra tội phạm, tính chủ
động, mức độ; hiệu quả của những hành vi giúp đỡ của người phạm tội [8,
tr.329].
Tại điểm u khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 Người phạm tội đã lập công
chuộc tội. Là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm cho đến khi bị xét xử (sơ
thẩm, phúc thẩm, giám đốic thẩm, tái thẩm), người phạm tội không những ăn
năn hối cải, tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nh ệm phát hiện, điều tra tội
phạm do họ thực hiện, mà họ còn có những hành động giúp đỡ các cơ quan có
thẩm quyền phát hiện, ngăn chặn các tội phạm khác, tham gia phát hiện tội
phạm, bắt kẻ phạm tội, có hành động thể hiện sự quên mình vì lợ ích của Nhà
nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của người khác… Mức độ
giảm nhẹ phụ thuộc vào công trạng của người phạm tội và việc lập công
chuộc tội đó ở gi đoạn tố tụng nào. Đây là điều khoản hoàn toàn được giữ
nguyên nhân quy định trước đây trong BLHS năm 1999.
31
Tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 Người phạm tội là người có
thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác. Là người
được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, bằng lao động sáng
Tạo hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị hoặc nhiều năm được công nhận là
chiến sỹ thi đua (mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ- HĐTP).Thành tích xuất
sắc này thường là người phạm tội phải có được trước khi phạm tội. Mức độ
giảm nhẹ phụ thuộc vào thành tích; hình thức khen thưởng; giá trị của sáng
chế, phát minh; danh hiệu thi đua được công nhận; số lần được khen thưởng.
Tình tiết này là sự kế thừa của BLHS năm 2015 với quy định tương ứng trong
BLHS năm 1999.
Tại điểm x khoản 1, Điều 51 “Người phạm tội là người có công với
cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ” là tình tiết mới, lần đầu
được ghi nhận trong BLHS năm 2015. Tình tiết này trước đây thường được áp
dụng với tư cách là tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 46 BLHS năm
1999, nay được ghi nhận là tình tiết giảm nhẹ chính thức Tại khoản 1 Điều 51
BLHS năm 2015. Đây là tình tiết thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước
đối với người phạm tội là những đối tượng đặc biệt, là người có công với
Cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.
Tại Khoản 2, Điều 51: Các tình tiết giảm nhẹ không chỉ được các nhà
làm luật giới hạn trong khoản 1 Điều 51 mà còn có thể được Tòa án tự nêu ra
quyết định hình phạt đối với trường hợp phạm tội cụ thể nhưng phải ghi rõ lý
do giảm nhẹ trong bản án (khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015). Bên cạnh đó,
theo quy định khoản 2 Điều 51 Tòa án có thể coi đầu thú là tình tiết giảm nhẹ
và có giá trị tương đương với các tình tiết giảm nhẹ khác cùng khoản này, vì
vậy tình tiết này cũng phải được ghi rõ trong bản án. Đây là điểm mới so với
quy định tương ứng trong BLHS năm 1999. Trước đây, mặc dù đầu thú vẫn
được coi là tình tiết giảm nhẹ của khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999, tuy
32
nhiên các nhà làm luật không đề cập trực tiếp mà chỉ được liệt kê trong văn
bản hướng dẫn. Việc ghi nhận cụ thể tình tiết đầu thú tại khoản 2 Điều 51
BLHS năm 2015 thể hiện tầm quan trọng của tình tiết này, đồng thời thể hiện
sự khuyến khích của Nhà nước đối với những người phạm tội, đang truy nã ra
trình diện để được sự khoan hồng của Nhà nước.
Tại Khoản 3 Điều 51 BLHS năm 2015 giữ nguyên nội dung và tinh thần
của khoản 3 Điều 46 BLHS năm 1999. Quy định này nhấn mạnh việc không cho
phép Tòa án cân nhắc hai lần đối với cùng một tình tiết, tình tiết đã được sử dụng
để định tội hoặc định khung hình phạt thì không được dùng để giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho người phạm tội khi quyết định hình phạt nữa.
Nhìn chung, qua phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
tại Điều 51 BLHS 2015, thì Điều 51 BLHS năm 2015 có một số sửa đổi, bổ
sung so với quy định BLHS 1999 như sau [2, tr.01-02]:
Thứ nhất, bổ sung thêm các tình tiết giảm nhẹ TNHS, cụ ithể:
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người
phạm tội (điểm đ);
- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không
phải do lỗi của mình gây ra (điểm l);
- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng (điểm p);
- Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ,
chồng, con của liệt sĩ (điểm x).
Thứ hai, sửa đổi tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q khoản 1 Điều 46
BLHS năm 1999 theo hướng tại thêm cơ hội hơn cho người phạm tội được áp
dụng tình tiết giảm nhẹ. Theo đó, tình tiết giảm nhẹ "người phạm tội tích cực
giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, Điều tra tội phạm" tại điểm q
khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 được sửa đổi thành "người phạm tội tích
cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc
33
trong quá trình giải quyết vụ án" tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Thứ ba, một số tình tiết giảm nhẹ được quy định ghép trong cùng một
điểm của khoản 1 Điều 46 của BLHS năm 1999 đã gây tranh cãi và không
thống nhất về nhận thức là một hay nhiều tình tiết giảm nhẹ. Để góp phần
khắc phục bất cập này, khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 đã có tách riêng
từng tình tiết giảm nhẹ TNHS và quy định thành những điểm khác nhau; đối
với một số ít các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định chung trong cùng
một điểm thì Bộ luật đã sử dụng từ “hoặc” thay cho dấu phẩy (,) trong quy
định của BLHS năm 1999 để phân biệt.
Khoản 1 Điều 46 BLHS Khoản 1 Điều 51 BLHS Điểm sửa đổi
1999, (sửa đổi bổ sung năm 2015
2009)
Người phạm tội đã ngăn Người phạm tội đã ngăn Thay dấu “,” thành từ
chặn, làm giảm bớt tác chặn hoặc làm giảm bớt “hoặc”
hại của tội phạm; tác hại của tội phạm
Người phạm tội tự Người phạm tội tự Thay dấu “,” thành từ
nguyện sửa chữa, bồi nguyện sửa chữa, bồi “hoặc”
thường thiệt hại, khắc thường thiệt hại hoặc
phục hậu quả khắc phục hậu quả
Phạm tội trong trường Phạm tội trong trường Thay từ “người bị hại”,
hợp bị kích động về tinh hợp bị kích động về t nh người khác thành “nạn
thần do hành vi trái thần do hành vi trái pháp nhân”
pháp luật của người bị luật của nạn nhân gây ra;
hại hoặc người khác gây
ra
Phạm tội vì bị người Phạm tội vì bị người khác Thay dấu “,” thành từ
34
khác đe doạ, cưỡng bức; đe doạ hoặc cưỡng bức “hoặc”
Người phạm tội là Người phạm tội là người Thay từ “người già”
người già; đủ 70 tuổi trở lên; thành cụm từ “người
đủ 70 tuổi trở lên”
Người phạm tội thành Người phạm tội thành Thay dấu “,” thành từ
khẩn khai báo, ăn năn khẩn khai báo hoặc ăn “hoặc”
hố cả năn hối cả
Người phạm tội tích cực Người phạm tội tích cực Thay dấu “,” thành từ
giúp đỡ các cơ quan có giúp đỡ các cơ quan có “hoặc”
trách nhiệm phát hiện, trách nhiệm phát hiện
Điều tra tội phạm hoặc Điều tra tội phạm
Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ có thể tác động đến việc định
khung, hoặc quyết định hình phạt của vụ án. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy
định Điều kiện áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
– Đối với việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quy
định này thể hiện tính chất nhân đạo của pháp luật, mang tính giáo dục trong
công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mà vẫn thể hiện được tính nghiêm
minh của pháp luật và có tác dụng răn đe cao. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy
định việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: “Tòa án
có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của Điều luật
khi người phạm tội có ít nhất ha tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật
này; Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt được áp dụng, nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt
liền kề nhẹ hơn của Điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp
sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể” (khoản 1, khoản
35
2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015); “Trong trường hợp có đủ các Điều
kiện theo quy định, nhưng Điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung
hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình
phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt
khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản
án” (khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Việc quy định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có lợ cho bị
cáo thể hiện tính độc lập của Tòa án nhân dân trong hoạt động tố tụng với các
cơ quan tiến hành tố tụng, mà trực tiếp là bản cáo trạng của Viện k ểm sát
nhân dân. Hậu quả áp dụng trong trường hợp này được hiểu là mang tính có
lợ cho bị cáo, cụ thể Điều 54, BLHS 2015 quy định những điểm mới so với
Luật hình sự 1999 như sau:
Thứ nhất, Bổ sung mới khoản 2 của Điều luật quy định về trường hợp
Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp
dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung liền kề, theo đó, “Tòa án có thể
quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp
dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của
Điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng
phạm nhưng có vai trò không đáng kể”. Đây là một quy định rất mới nhằm
tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án đối với những
trường hợp người phạm tội lần đầu là người giúp sức, có vai trò không đáng
kể trong vụ án đồng phạm, nhưng bị truy tố và xét xử ở khung hình phạt nặng
cùng với các đồng phạm khác.
Tuy nhiên, khi áp dụng khoản 2 của Điều luật này cần lưu ý là người
được áp dụng cũng phải thỏa mãn Điều kiện quy định tại khoản 1 của Điều
luật tức là họ cũng phải có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1
Điều 51 của BLHS năm 2015.
36
Thứ ba, khoản 3 Điều này được thiết kế trên t nh thần tách quy định tại
đoạn cuố Điều 47 BLHS năm 1999 về việc Tòa án quyết định hình phạt dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ
hơn, nhưng cụ thể và rõ ràng hơn: “Trong trường hợp có đủ các Điều kiện
quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này, nhưng Điều luật chỉ có một
khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa
án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc
chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.Lý do của việc giảm nhẹ
phải được gh rõ trong bản án”. Như vậy, có 22 tình tiết giảm nhẹ TNHS sẽ
được áp dụng theo Khoản 1 Điều 51 BLHS, đây là các tình tiết giảm nhẹ
TNHS rất quan trọng mà các bị cáo được áp dụng sẽ được hưởng chính sách
khoan hồng của Nhà nước, thậm trí có thể được giảm hình phạt, hưởng án
treo hay xử dưới khung hình phạt.
Tuy nhiên, vừa qua trong quá trình xét xử của Hội thẩm nhân dân, Toà
án, Viện Kiểm sát, việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo BLHS năm
2015 đang xuất hiện nhiều bất cập, do nhiều tình tiết giảm nhẹ không bảo đảm
cơ sở lý luận và thực tiễn; cũng như vẫn tạo khả năng cho Tòa án duy trì sự
tùy nghi, thậm chí là tùy tiện trong việc coi các tình tiết khác là tình tiết giảm
nhẹ TNHS trong việc quyết định hình phạt. Mục đích cơ bản của quy định
tình tiết giảm nhẹ này là để khuyến khích bị cáo thành khẩn khai báo hoặc ăn
năn hối cải. Tuy nhiên, với đa số các vụ án bị can, bị cáo đã thành khẩn khai
báo thì không cần thiết phải quy định để đạt mục đích như đã nêu.
Ngoài những quy định chính về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017. Ở những văn bản dưới luật, quy định về áp dụng tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự còn được quy định tại điểm c mục 5 Nghị quyết
01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 để xác định tình tiết khác là tình tiết giảm
37
nhẹ. Đồng thời, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể
của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ,
nhưng phải ghi rõ trong bản án. Theo đó, những văn bản đó gồm:
+ Hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSNDTC-
TANDTC-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 thi hành quy định của Bộ Luật
Tối tụng Hình sự đối với người tham gia tối tụng là người chưa thành niên.
+ Nghị định 37/2018/NĐ-CP ngày 10/3/2018 của Chỉnh phủ, Thông tư
liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH
ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối
cao – Bộ công an – Bộ tư pháp – Bộ lao động thương binh xã Hội về việc
phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố
tụng đối với người dưới 18 tuổi (Thông tư liên tịch số 06/2018)
+ Thông tư liên tịch số 04/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC
ngày 09/02/2018 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện.
+ Bộ Công an ban hành Thông tư số 12/2018/TT-BCA ngày 07/5/2018
quy định thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện trong Công an nhân dân.
+ Nghị quyết số 01/2013/NQ- HĐTP ngày 01/11/2013, Nghị quyết số
02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao trong công tác giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm.
Trên cơ sở luật hiện hành quy định về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, điểm nổ bật của Luật Hình sự năm 2015, và các văn bản hướng dẫn
dưới luật quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn tiến bộ hơn so
với 1999. Do đã mở rộng phạm vi áp dụng đối với các trường hợp quyết định
hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Các vướng
mắc trong áp dụng quy định của BLHS năm 1999 về các tình tiết giảm nhẹ
38
trách nhiệm hình sự đã được BLHS năm 2015 sửa đổ theo hướng minh bạch,
rõ ràng, vừa thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật. Quy định các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự năm 2015 so với năm 1999 có nhiều sửa đổi, bổ
sung. Bổ sung thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm: Phạm tội
trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (điểm đ);
phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do
lỗi của mình gây ra (điểm l); người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc
đặc biệt nặng (điểm p); người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc
là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ (điểm x). Sửa đổi tình tiết giảm nhẹ quy
định tại điểm q khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 theo hướng tạo thêm cơ hội
hơn cho người phạm tội được áp dụng tình tiết giảm nhẹ. Theo đó, tình tiết
giảm nhẹ "người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát
hiện, điều tra tội phạm" tại điểm q khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 được
sửa đổi thành "người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm
trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án" tại điểm t
khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Mặt khác, khi quyết định hình phạt, Tòa
án có thể coi đầu thú hoặc các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, những phải
ghi rõ lý do trong bản án. Việc bổ sung quy định này nhằm đáp ứng yêu cầu
của thực tiễn, khuyến khích những người phạm tội đang trốn tránh ra đầu thú
để được hưởng khoan hồng, giúp Nhà nước tiết kiệm chi phí phục vụ cho việc
điều tra, truy nã và sớm kết thúc vụ án.
- Tóm lại, với nguyên tắc nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị
kết hợp với giáo dục, trong đó áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ để “khoan
hồng với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập
công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại
gây ra”, các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định trong BLHS đã thể hiện
rõ nguyên tắc tư pháp tiến bộ, nhân đạo của Nhà nước ta trong việc xử lý
39
người phạm tội. Các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng cho bị cáo sẽ mang tính
chất quyết định trong việc có cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt hay không hoặc có cho bị cáo được hưởng án treo
hay hình phạt không cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội.
Tiểu kết Chương 1
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết được quy
định trong BLHS hoặc được Tòa án xác định có vai trò làm giảm nhẹ đi trách
nhiệm hình sự của người phạm tội trong khung hình phạt được áp dụng.Việc
quy định các tình tiết giảm nhẹ không chỉ là sự cụ thể hóa nguyên tắc nhân đạo,
một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự mà còn thể hiện được nội
dung nguyên tắc cá thể hóa hình phạt – nguyên tắc đặc thù của luật hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong BLHS năm 2015 đã
có sự sửa đổi bổ sung trên cơ sở kế thừa phần lớn các quy định trước đó của
BLHS năm 1999. Bên cạnh đó, một số tình tiết giảm nhẹ của BLHS năm
1999 đã được sửa đổi trong BLHS năm 2015
Có thể thấy, việc quy định cụ thể và bổ sung thêm một số quy định mới
về tình tiết giảm nhẹ TNHS trong BLHS năm 2015 đã thể hiện rõ sự khoan
hồng, tính chất nhận đạo của Đảng và Nhà nước đối với những người phạm
tội tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc
tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra. Từ
đó, giúp họ có thể được hưởng những hình phạt thấp hơn, để họ sớm trở về
với gia đình, hòa nhập cộng đồng, lao động, học tập, trở thành người có ích
cho xã hội.
Với những cơ sở lý luận về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được
phân tích bình luận tại Chương 1 này, là cơ sở để đánh giá những thực tiễn áp
dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại địa phương, cụ thể là thành
40
phố Hội An tại Chương 2 được chính xác, cụ thể.
CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÌNH TIẾT GIẢM
NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
2.1. Khái quát các điều kiện kinh tế - xã hôi tác động đến tình hình
áp dụng quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại thành
phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam, có tổng diện tích tự nhiên 61,71
km2, nằm bên bờ Bắc hạilưu sông Thu Bồn, ở vị trí địa lý từ 15o15’26” đến
15o55’15” vĩ độ Bắc và từ 108o17’08” đến 108o23’10” kinh độ Đông; cách quốc
lộ 1A khoảng 9 km về phía Đông, cách thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Đông
Nam, cách thành phố Tam Kỳ khoảng 50 km về phía Đông Bắc [6, tr.1].
Hình 2.1.Bản đồ hành chính Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Nguồn: Cổng thông tin điện tử thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Ngày 29 tháng 1 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 10/NĐ-
CP thành lập Thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam trên cơ sở toàn bộ
diện tích, dân số và các đơn vị hành chính thuộc thị xã Hội An. Cơ cấu hành
41
chính của thành phố hiện nay gồm 9 phường: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phô,
Tân An, Thanh Hà, Cẩm Châu, Cẩm An, Cửa Đại, Cẩm Nam (gồm tổng cộng
55 khối phố) và 4 xã: Cẩm Thanh, Cẩm Kim, Cẩm Hà, Tân Hiệp (gồm tổng
cộng 23 thôn).
Với vị trí địa lý và quan hệ liên vùng, thành phố Hội An là trọng tâm
của cụm động lực phía Bắc vùng Đông của tỉnh Quảng Nam, Hội An nằm
trong Cụm động lực phát triển số 1 của Quảng Nam, là vùng giao thoa giữa
Hành lang phát triển Bắc Quảng Nam (kết nối Vùng Đông Quảng Nam với các
huyện Tây Bắc (Đông Giang, Nam Giang, Tây Giang). Hội An còn có một ưu
thế đặc biệt với vị trí nằm trên “Con đường di sản văn hóa miền Trung” bao
gồm: Hội An – Mỹ Sơn – Huế, là yếu tố thuận lợi giúp Hội An thu hút được
một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó, thành phố Hội An là khu vực dân cư đông, người Kinh
chiếm đa số còn có cộng đồng người Hoa định cư làm ăn sinh sống từ bao đời
nay, gắn với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Hội An. Dân số
tăng tự nhiên tại chỗ, hằng năm ở Hội An tốc độ gia tăng dân số cơ học khá
cao. Mặt khác, hàng ngày có một lượng du khách khá lớn đến tham quan du
lịch, nhiều lao động từ các địa phương khác trong và ngoài tỉnh đến buôn bán
làm ăn và không ít các nhà khoa học, cán bộ, công chức, viên chức, nghệ sĩ. .
.đến nghiên cứu, công tác, nó ảnh hưởng đến một phần tình hình tội phạm trên
địa bàn huyện. Một phần là do những mặt trái của sự phát triển thu hút khách
du lịch trên địa bàn nên kéo theo sự gia tăng hàng loạt các loại tội phạm mà
đặc biệt là các tội xâm phạm về sở hữu như: trộm cắp, cướp giật tài sản…,
trong đó có nhiều vụ trộm cắp, cướp giật tài sản của du khách người nước
ngoài. Bên cạnh đó, việc tập trung số lượng lớn khách du lịch ở Hội An cũng
là cơ hội cho những đối tượng phạm tội từ các địa phương khác trong và
ngoài tỉnh đến hoạt động ngày càng nhiều. Chính vì điều này phần nào đã tác
42
động tiêu cực đến hình ảnh của thành phố Hội An trong mắt du khách, nhất là
du khách đến từ các nước trên thế giới.
Cán bộ, công chức thực hiện công tác tư pháp thành phố Hội An luôn
tích cực học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, tham gia tập
huấn, trao đổi nghiệp vụ, xây dựng các đề tài, sáng kiến, giải pháp nâng cao
chất lượng công tác. Nhìn chung, các cấp ủy đảng, cán bộ, đảng viên nhận
thức khá đầy đủ tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức thựchiện công
tác tư pháp, xem đánh giá cán bộ, công chức thựchiện công tác tư pháphàng
năm là khâu quan trọng, làm cơ sở cho các khâu khác trong công tác cán
bộ.Các ban đảng, các cấp, ngành, đoàn thể thành phố có sự phối hợp chặt chẽ,
gắn với quản lý, kiểm tra, giám sát, khen thưởng và kỷ luật cán bộ nên bước
đầu khắc phục một số tồn tại, hạn chế như tính hình thức, nể nang, né tránh
trong nhận xét, đấu tranh tự phê bình và phê bình.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp thành phố Hội An
là 173 người (nguồn Cổng thông tin điện tử thành phố Hội An, số liệu năm
2015), năm 2019 số lượng công chức, cán bộ, viên chức thành phố cũng giữ
nguyên, và có xu thế giảm dần trong thời gian tới do thực hiện tinh giản biên
chế theo Nghị quyết số 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị
lần thứ XII, trong đó biên chế hành chính là 104 người và biên chế sự nghiệp
là 69 người.
Số lượng lao động hợp đồng là 474 người, trong đó các cơ quan hành
chính là 133 người (toàn bộ do ngân sách thành phố chi trả) và các đơn vị sự
nghiệp là 341 người (nhân sự phụ trách công tác tư pháp chi trả 122 người,
các cơ quan, đơn vị tự chi trả 219 người).
Với trình độ chuyên môn đội ngũ cán bộ, công chức thành phố càng
ngày càng được đào tạo bài bản, chuyên môn sâu, nhận thức tốt.Cụ thể: Cán
bộ, công chức, viên chức: Thạc sỹ có 04/173 người, chiếm tỷ lệ 2,3%; đại học
43
có 128 người, chiếm tỷ lệ 74%; cao đẳng có 05 người, chiếm tỷ lệ 2,9%; trung
cấp có 33 người, chiếm tỷ lệ 19,1% và còn lại chiếm 1,7%.
Hình 2.2.Biểu đồ biểu thị trình trình độ chuyên môn đội ngũ cán bộ, công
chức thành phố năm 2019
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân
TP.Hội An, tỉnh Quảng Nam đã đầu tư công sức, tập trung trí lực để kha thác
tiềm năng, thế mạnh, phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh trật tự, từng
bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Thường xuyên
tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng và quán triệt sâu sắc cho mỗi
một cán bộ công chức trong việc lãnh, chỉ đạo về việc tổ chức thực hiện chủ
trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Xác định rõ yêu cầu
nhiệm vụ chính trị của đơn vị trong điều kiện b ên chế ít, khối lượng công
việc nhiều và phức tạp nên cán bộ, công chức trong toàn đơn vị luôn tích cực
học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, tham giatập huấn, trao đổi
nghiệp vụ, xây dựng các đề tài, sáng kiến, giải pháp nâng cao chất lượng công
44
tác; thực hiện tốt các phong trào thi đua để hoàn thành xuất sắc về các mặt
công tác.Đặc biệt chú trọng đến công tác giải quyết dứt điểm các loại án gắn
liền với nâng cao chất lượng xét xử. 100% các bản án đều được xét xử đúng
người, đúng tội, không oan sai [5, tr.1].
2.2. Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật hình sự về các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại thành phố Hội An
2.2.1. Thực tiễn áp dụng khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 và khoản
1 Điều 51 BLHS Việt Nam năm 2015
Nhìn chung, các vụ án hình sự đều được Viện Kiểm sát thành phố truy
tố đúng tội, TAND thành phố xét xử đúng thời gian luật định; chất lượng các
vụ án được nâng cao, hạn chế được những sai sót thường gặp trước đây; việc
quyết định hình phạt đối với các bị cáo đều dựa trên cơ sở xem xét, cân nhắc,
đánh giá các tình tiết sự việc, các tài liệu chứng cứ một cách khách quan, toàn
diện.Bên cạnh đó, Viện Kiểm sát đã áp dụng các mức hình phạt đã áp dụng
đối với các bị cáo trong các vụ án hình sự đều thể hiện rõ tính nghiêm minh
của pháp luật; các quy trình tố tụng được thể hiện một cách chặt chẽ theo
đúng quy định.Điều đó thể hiện qua tình hình các vụ án hình sự trên địa bàn
từ năm 2015 đến 2019 có xu thế giảm, một phần do việc đưa các vụ án hình
sự áp dụng đúng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình sự, góp phần phổ biến
giáo dục pháp luật trên địa bàn.
Bảng 2.1. Số liệu các vụ hình sự phát hiện và xử lý từ năm 2015 đến 2019
trên địa bàn thành phố Hội An
Năm 2015 2016 2017 2018 2019
Số vụ hình sự 123 110 117 101 64
45
phát hiện xử lý
Hình 2.3.Biểu thị số vụ hình sự phát hiện và xử lý từ năm 2015 đến 2019
trên địa bàn thành phố Hội An
Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự.
Ngoài ra, sự phối hợp liên ngành giữa các cơ quan như: Công an, Viện
kiểm sát, Tòa án trong việc thực hiện quy chế phối hợp giải quyết án hình sự,
đặc biệt là trong việc xác định án trọng điểm, xét xử lưu động có nhiều tiến
bộ…Theo đó, số liệu từ báo cáo năm 2019 về hoạt động xét xử truy tố, điều
tra của các cơ quan liên ngành đã thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra 117 vụ/ 115 bị can;cơ quan cảnh sát điều tra giải quyết 97 vụ/101 bị can,
trong đó: Đề nghị truy tố 51 vụ/91 bị can, đình chỉ điều tra 03 vụ/02 bị can;
riêng Viện Kiểm sát thụ lý số án hình sự năm 2019 là 64 vụ/91 bị can, thực
hiện quyền công tố xét xử các vụ án hình sự 64 vụ/93 bị can, giải quyết xong
100%. Hầu hết 64 vụ án hình sự đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS
trong kết luận, với nội dung chủ yếu là phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn mà không phải do mình tự gây ra, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại
hoặc gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm
46
trọng, phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không
phải do lỗi của mình gây ra, người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên, người
phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập
hoặc công tác.
Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHScó ảnh hưởng đến hiệu quả phòng
ngừa, đấu tranh trên địa bàn thành phố Hội An, nó được thể hiện qua các số liệu,
tác giả trình bày và phân tích về nội dung của các tình tiết giảm nhẹ TNHS và
mức độ ảnh hưởng theo BLHS.
Việc nghiên cứu các bản án là cái nhìn tổng quát đến chi tiết về việc
thực tiễn áp dụng các các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về người phạm tội,
trong quá trình xét xử hầu hết các bản án đều được thẩm phán xem xét cân
nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt của TAND
thành phố Hội An.
Bảng 2.2. Số liệu các vụ án hình sự được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
TNHS của Tòa án nhân dân thành phố Hội An từ năm 2015 đến năm 2019
Năm Tỷ lệ các vụ án có tình tiết giảm nhẹ
TNHS các vụ án xét xử 2015 2016 2017 2018 2019
a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm 1 2 1 1 2 giảm bớt tác hại của tội phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa,
bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu 10 8 7 7 3
quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá 2 2 1 1 0 giới hạn phòng vệ chính đáng
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá 0 0 2 1 0 yêu cầu của tình thế cấp thiết;
đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá 0 0 0 1 0
47
mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
Năm Tỷ lệ các vụ án có tình tiết giảm nhẹ
TNHS các vụ án xét xử 2015 2016 2017 2018 2019
e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động
về tinh thần do hành vi trái pháp luật của 4 6 7 7 3
nạn nhân gây ra;
g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 3 3 2 4 4 mà không phải do mình tự gây ra;
h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc 5 5 7 8 6 gây thiệt hại không lớn;
i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít 10 11 13 12 6 nghiêm trọng;
k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc 0 1 2 1 0 cưỡng bức;
l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế
3 5 4 2 khả năng nhận thức mà không phải do lỗi 3
của mình gây ra;
2 3 2 1 0 m) Phạm tội do lạc hậu;
3 3 1 1 1 n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở 2 2 1 2 2 lên;
p) Người phạm tội là người khuyết tật 0 0 2 0 0 nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn
1 1 2 1 chế khả năng nhận thức hoặc khả năng 3
điều khiển hành vi của mình;
48
3 2 5 6 4 r) Người phạm tội tự thú;
Năm Tỷ lệ các vụ án có tình tiết giảm nhẹ
TNHS các vụ án xét xử 2015 2016 2017 2018 2019
s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn 5 4 5 6 2 năn hối cải;
t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ
quan có trách nhiệm trong việc phát hiện 1 1 2 1 1 tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết
vụ án;
u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội; 0 0 1 0 0
v) Người phạm tội là người có thành tích
xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập 0 0 1 1 1
hoặc công tác;
Về chất lượng xét xử, án hình sự áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS
của Tòa án nhân dân thành phố Hội An từ năm 2015 đến năm, có kháng cáo 135
vụ, không có án kháng nghị. Đã xét xử phúc thẩm 30 vụ, kết quả y án 24 vụ,
sửa án do có tình tiết mới 02 vụ, đình chỉ 01 vụ, hủy án do lỗi chủ quan 03 vụ
(Hủy Quyết định đình chỉ vụ án). Theo đó, trong công tác xét xử, Hội thẩm
nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân đã thực hiện nghiêm túc
việc độc lập trong xét xử và chỉ tuân theo pháp luật, đóng góp cùng với Hội
đồng xét xử trong việc quyết định hình phạt, quyết định những vấn đề quan
trọng cần giải quyết của vụ án, đảm bảo đúng đường lối, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước, cũng như nhiệm vụ chính trị tại địa phương, góp
49
phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân.
Bảng 2.3. Chất lượng xét xử các vụ án hình sự áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
TNHS của Tòa án nhân dân thành phố Hội An từ năm 2015 đến năm 2019
Án hình sự áp dụng tình tiết giảm
Án hình sự áp
Án hình sự
Vụ án hình sự
nhẹ TNHS phúc thẩm
dụng tình tiết
áp dụng tình
áp dụng tình
giảm nhẹ
tiết giảm nhẹ
Hủy án do
tiết giảm nhẹ
Sửa án do
TNHS có
TNHS có
Y án
lỗi chủ
TNHS
tình tiết mới
kháng cáo
kháng nghị
quan
Năm 2015 35 0 8 0 1
Năm 2016 20 0 10 0 0
Năm 2017 30 0 6 1 1
Năm 2018 26 0 4 0 0
Năm 2019 24 0 2 1 1
Căn cứ số liệu thực tiễn, các tình tiết liên quan đến thái độ của người
phạm tội từ sự thành khẩn khai báo hoặc có tinh thần hướng thiện có chiều
hướng tăng theo các năm dẫn đến năm 2019 số lượng vụ án xét xử giảm đáng
kể từ sự thay đổi chính sách, quyết tâm truy quét tội phạm của chính quyền
thành phố.
Các tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 46 BLHS năm 1999) được áp dụng
nhiều và có sự tương đồng khá phổ biến ở người phạm tội được các thẩm
phán xem xét cân nhắc là: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường
thiệt hại, khắc phục hậu quả (Điểm b); Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc
gây thiệt hại không lớn (Điểm g); Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng (Điểmh); Người phạm tội tự thú (Điểm o); Người phạm tội
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (Điểm p); Người phạm tội tích cực giúp
50
đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm (Điểm q).
Hình 2.4. Thống kê các tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 46 BLHS năm
1999) được áp dụng nhiều và có sự tương đồng khá phổ biến
Các tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 46 BLHS năm 1999) được áp dụng
với tần suất khác nhau, có sự chênh lệch rõ ràng có nhiều tình tiết giảm nhẹ
TNHS không được xem xét áp dụng.Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
TNHS có sự chênh lệch từ nhiều nguyên nhân.
Tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 quy định 22 tình tiết được xem là
tình tiết giảm nhẹ, theo thứ tự từ điểm a đến điểm x.Như vậy, ngoài việc giữ
nguyên 18 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999,
BLHS 2015 đã tăng thêm 4 tình tiết mới được xem là các tình tiết giảm nhẹ
TNHS như sau:
Theo quy định, kể từ ngày 1/7/2016 khi quyết định hình phạt, ngoài 18
tình tiết giảm nhẹ đã có, Tòa án còn được áp dụng thêm 4 tình tiết nêu trên để
giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội, mà các tình tiết này trước đó, BLHS
1999 chỉ xem là các “tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều
46”.Ngoài ra, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 còn quy định “Khi quyết định
hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ,
51
nhưng phải ghi rõ trong bản án”.Đây là quy định “mở” theo hướng có lợi
cho người phạm tội, nhưng nó chỉ ở vị trí “thứ hạng” (khoản2 - Điều 51), do
đầu thú là việc người phạm tội (có thể ở giai đoạn chưa bị khởi tố, chưa bị
bắt) khai báo hành vi phạm tội của mình hoặc các đồng phạm khác khi tội
phạm đã bị phát hiện.Còn hành vi “tự thú” là khi tội phạm hoặc người phạm
tội chưa bị phát hiện nhưng đã tự giác khai báo và được BLHS 2015 ghi nhận
tại Điểm r khoản 1 Điều 51 là tình tiết giảm nhẹ (trước đó là điểm o, khoản 1
Điều 46).
Như vậy, với vị trí đặc biệt quan trọng, quyết định hiệu quả công cuộc
đấu tranh phòng, chống tội phạm; đồng thời liên quan trực tiếp đến những
quyền cơ bản nhất của con người, của công dân; BLHS 2015 vừa giữ nguyên
18 tình tiết giảm nhẹ của BLHS 1999 và mở rộng phạm vi áp dụng thêm 4
tình tiết ở Khoản 1 và theo hướng mở ở K. 2 Đ. 51 với cụm từ “Tòa án có thể
coi…hoặc các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ”nhằm kế thừa những quy định
còn phù hợp, khắc phục căn bản những vướng mắc, bất cập đặt ra qua thựctiễn
áp dụng; thể hiện đầy đủ quan điểm của Đảng về một nền tư pháp mang đậm
tính nhân dân và các nguyên tắc tư pháp tiến bộ của Hiến pháp 2013.
Nhưng thực tiễn áp dụng quy định về các tình tiết giảm nhẹ TNHS ghi
nhận tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 và khoản 1 Điều 51 BLHS Việt
Nam năm 2015 vẫn có vi phạm, sai lầm do một phần quy định còn vướng mắc
ví dụ như áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với người từ 70 tuổi trở lên, hay có
công thành tích xuất sắc trong học tập và công tác.Một lý do khác, chính là
tâm lý luôn khoan hồng của pháp luật, thường các bản án luôn áp dụng tình
tiết giảm nhẹ TNHS hơn là tăng nặng TNHS:
Cụ thể tại Bản án số 06/2019/HS. S, ngày 18/01/2019 về tội trộm cắp
tài sảntại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2018/TLST-HS ngày 18 tháng
52
12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-
HS ngày 04 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo: Lâm Hồng Kh (tên gọi khác:
B), sinh ngày: 02/4/1996, tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam (đặc điểm
thứ nhất cho tình tiết giảm nhẹ TNHS là trình độ học vấn: 09/12).Đã có tiền
án 02 lần xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt 18 tháng tù
về tội “Trộm cắp tài sản”.Tiền sự xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức
phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; xử lý vi phạm hành chính
bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy
tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm
g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản
1 Điều 52 BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt
bị cáo Lâm Hồng Kh từ 24 đến 36 tháng tù.Với tình tiết trong quá trình điều
tra, xử lý, truy tố vụ án, Bị cáo Lâm Hồng Kh rất ăn năn hối lỗi; đồng thời
mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.Những bị hại
tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân của bị cáo thì
thấy: Bị cáo thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản nên có tình tiết tăng nặng
TNHS “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52
BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).Bị cáo đã tự nguyện
bồi thường, khắc phục hậu quả cho các bị hại.Tại phiên tòa hôm nay, Hội
thẩm nhân dân đã nhận định bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải.Người bị hại đều có đơn xin giảm nghẹ hình phạt cho bị cáo.Do đó, bị cáo
được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2
Điều 51 BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).Đây là những
tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức
hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
53
Hội đồng xét xử thấy rằng, nhân thân bị cáo Lâm Hồng Kh quá xấu, đã
từng bị Tòa án nhân dân thành phố Hội An xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản”,
mới chấp hành xong hình phạt về tại địa phương nhưng bị cáo không lấy đó
làm bài học để tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.Điều đó thể hiện ý
thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo
ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để làm gương răn đe, giáo dục đối với
những người có ý thức pháp luật kém và để bị cáo có thời gian tu dưỡng, rèn
luyện, trở thành người có ích cho xã hội.
Qua đó, đôi lúc những bản án tuy được xét xử đúng quy định pháp luật
nhưng những sai lầm trong xét xử vẫn tuỳ theo quyết định của Toà án, việc áp
dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS vẫn được sử dụng khá nhiều trong tất cả bản án
cho dù bị cáo có hành vi thuộc dạng nguy hiểm cho xã hội.Có những vụ án do
người bị hại vì nhiều lý do khách quan nên có đơn xin giảm nhẹ tội cho bị
cáo, nhưng cũng có những vụ án nếu xét xử theo cách trên sẽ gây dư luận, sự
không công tâm theo suy nghĩ của người bị hại.
2.2.2. Thực tiễn áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 và khoản
2 Điều 51 BLHS Việt Nam năm 2015
Trên thực tế, áp dụng đúng quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS, khoản
2 Điều 51 BLHS Việt Nam năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết số
01/2000 của Hội đồng Thẩm phán, một vài tình tiết được áp dụng cụ thể như
sau:
– Đối với tình tiết thứ nhất quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số
01/2000 có nội dung: “Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là
người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một
trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ
trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà
giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các
54
danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước”.
Khi xét xử, có Hội đồng xét xử đã mở rộng “chủ thể” được tặng danh
hiệu cao quý có quan hệ với người phạm tội ngoài “vợ, chồng, cha, mẹ, con,
anh, chị, em ruột” với người phạm tội là “ông nội, bà nội, ông ngoại, bà
ngoại, cháu ruột kêu người phạm tội là ông, bà nội, ngoại” vì cho rằng, tình
tiết thứ nhất tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 quy định chủ thể được
tặng danh hiệu cao quý là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai
của người phạm tội cho nên việc mở rộng phạm vi chủ thể như thế này vẫn
thuộc hàng thừa kế thứ hai [6] của người phạm tội.Thực tế, đã có trường hợp,
Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng tình tiết ông nội bị
cáo được thưởng huân chương, bố mẹ chồng bị cáo là gia đình liệt sĩ nên đã bị
Tòa án cấp giám đốc thẩm hủy án.
Sau khi liệt kê các danh hiệu cao quý được Nhà nước phong tặng, tiết 1
điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 còn quy định mở “…hoặc các danh hiệu
cao quý khác theo quy định của Nhà nước”. Có Hội đồng xét xử đã chấp nhận
các hình thức khen thưởng trong đấu tranh giải phóng dân tộc, chống Mỹ cứu
nước như: Dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt Ngụy, dũng sĩ diệt xe tăng, dũng sĩ diệt
máy bay, dũng sĩ phá bom… là TTGN TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 46
BLHS.Cho nên, việc áp dụng xem các danh hiệu này là “danh hiệu cao quý khác
theo quy định của Nhà nước” để áp dụng TTGN tại khoản 2 Điều 46 cho bị cáo
là phù hợp với đạo lý, chính sách nhân đạo của Nhà nước ta.
– Đối với tình tiết thứ sáu quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số
01/2000 có nội dung: “Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho
bị cáo”.Thực tế, có Hội đồng xét xử đã mở rộng phạm vi chủ thể sửa chữa,
bồi thường thay cho bị cáo vì việc mở rộng chủ thể bồi thường trong trường
hợp này không nên giới hạn để nhanh chóng khắc phục, hạn chế hậu quả mà
hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
55
– Đối với tình tiết thứ ba quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số
01/2000 có nội “Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong
công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên.” Nhiều Hội đồng xét xử đã xem
xét áp dụng TTGN tại khoản 2 Điều 46 BLHS, khoản 2 Điều 51 BLHS Việt
Nam năm 2015 nếu khi thực hiện hành vi phạm tội họ là người tàn tật mà
không cần xác định nguyên nhân của việc bị tai nạn với lập luận: quy định
này chỉ giới hạn bị cáo bị tàn tật do tai nạn lao động, trong công tác mà không
quy định thêm các trường hợp tàn tật do nguyên nhân khác (như: tại nạn giao
thông, do tai bão lụt, hỏa hoạn …) là chưa phù hợp, tạo ra sự bất bình đẳng
giữa những người bị tàn tật với nhau, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo bị tàn
tật không phải là dấu hiệu để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo mà mấu chốt vấn
đề là khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người tàn tật.
Thực tiễn xét xử, Hội đồng xét xử đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ ở
khoản 2 Điều 46 BLHS,khoản 2 Điều 51 BLHS Việt Nam năm 2015 khi
người phạm tội chỉ đáp ứng 01 nội dung đối với những tình tiết giảm nhẹ
được liệt kê.Chẳng hạn, đối với tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng”, thực tiễn có nơi, khi người phạm tội chỉ có tình
tiết “phạm tội lần đầu” hoặc tình tiết “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” thì
có Tòa án đã mặc nhiên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho người phạm tội; đối
với tình tiết, “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” nhưng người
phạm tội không có trách nhiệm bồi thường nhưng đã tự nguyện bồi thường thì
có nơi Tòa án áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho người phạm tội.
Thực tiễn áp dung đúng tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 46 BLHS,
khoản 2 Điều 51 BLHS Việt Nam năm 2015 nhưng phải có điều kiện kèm theo
khi áp dụng đối với từng vụ án cụ thể. Trong thực tế, có Hội đồng xét xử cho
rằng một số tình tiết được xác định là tình tiết giảm nhẹ khi chúng kèm theo
“điều kiện” cụ thể, điều kiện đó phải gắn với từng vụ án, người phạm tội cụ
56
thể. Tức là, chúng có ý nghĩa giảm nhẹ đối với trường hợp này nhưng lại không
có giá trị giảm nhẹ trong trường hợp khác, đó là các tình tiết: sự việc phạm tội
xảy ra đã lâu; người phạm tội và người bị hại có quan hệ gia đình.
Đối với khoản 2, Điều 51 Luật hình sự năm 2015: Mức độ giảm nhẹ
của hành vi đầu thú còn phụ thuộc vào việc sau khi đầu thú người phạm tội có
khai rõ sự việc. Thực tiễn áp dụng đúng giúp bản án thể hiện sự khoan hồng
của pháp luật khi Thẩm phán, kiểm sát viên phân biệt rõ ràng giữa đầu thú và
tự thú, giữa động cơ đầu thú của bị cáo để lấy căn cứ tình tiết cụ thể.
Tuy nhiên qua thực tiễn áp dụng, đã xuất hiện những vướng mắc, bất
cập; thậm chí áp dụng không đúng các tình tiết giảm nhẹ theo khoản, nhất là
vận dụng “tùy nghi” các tình tiết khác được xem là các tình tiết giảm nhẹ, ví
dụ thực tiễn áp dụng tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ dựa vào hướng dẫn ở
cuối điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 mà không có sự đánh giá cụ thể:
Đó là các tình tiết: Đã thu hồi được tài sản do phạm tội mà có; người
phạm tội có công việc ổn định và được bảo lãnh; phạm tội vì phụ thuộc vào
người khác, nể nang không có tính chất vụ lợi; người phạm tội có tuổi đời còn
trẻ; phạm tội do bị lôi kéo, rủ rê; phạm tội do quá tự tin vào người khác; bị
cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có trình độ văn hóa thấp,
am hiểu pháp luật còn hạn chế; phạm tội do bộc phát, nhất thời; người phạm
tội vận động đồng bọn tự thú; bị cáo là người có nhiều năm tham gia lực
lượng vũ trang hoặc chiến đấu ở các chiến trường B, C, K, hoặc công tác ở
vùng khí hậu độc hại hoặc hành nghề độc hại làm giảm tuổi thọ; bị cáo đang
mắc bệnh hiểm nghèo (ung thư, HIV); bị cáo bị mắc bệnh tâm thần trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử, mới tạm điều trị ổn định; bị cáo đang ốm nặng, bệnh
nặng hoặc sức khỏe quá yếu; bị cáo đang mắc bệnh nặng, nan y; bị cáo là
người lao động duy nhất trong gia đình, nếu bị phạt tù nhiều năm sẽ làm cho
gia đình đặc biệt khó khăn…Ngoài ra, trong một số vụ án, Tòa án còn xác
57
định một số tình tiết sau là tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc: bị cáo bị tạm giam
khá lâu; phạm tội do dùng chất kích thích dẫn đến không làm chủ được bản
thân; hay bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính; bị cáo tự
nguyện giao nộp tiền phạt trước khi phiên tòa phúc thẩm diễn ra. Hoặc định
tội danh không đúng; áp dụng không đúng các điều, khoản của BLHS; giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự chưa phù hợp dẫn đến xử bị cáo quá nhẹ, cho
hưởng án treo, xử dưới khung hình phạt không đúng quy định của pháp luật;
nhấn mạnh bồi thường thiệt hại mà chưa chú trọng đến tính chất và hậu quả
của hành vi bị cáo đã gây ra cho xã hội; việc xử lý vật chứng, tịch thu tài sản
hoặc tiền đã tham gia vào việc phạm tội hoặc do phạm tội mà có chưa đúng
quy định của pháp luật.
Tiểu kết Chương 2
Thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS thể hiện tính chất nhân đạo
của pháp luật, mang tính giáo dục trong công tác đấu tranh phòng, chống tội
phạm mà vẫn thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng
răn đe cao của nước ta nói chung và Tòa án, Viện Kiểm sát nhân dân thành
phố Hội An nói riêng.Việc quy định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS
đem lại lợi ích cho bị cáo thể hiện tính độc lập của Tòa án nhân dân trong
hoạt động tố tụng với các cơ quan tiến hành tố tụng, mà trực tiếp là bản cáo
trạng của Viện kiểm sát nhân dân. Hậu quả áp dụng trong trường hợp này
được hiểu là mang tính có lợi cho bị cáo. Tuy nhiên, quá trình áp dụng vẫn
xảy ra tình trạng phán xét mang sai phạm vì nhiều lý do khách quan, trong đó
yếu tố cơ bản là văn bản quy định pháp luật, như phân tích ở nội dung trên.
Trong thời gian đến, ngoài việc tiếp tục tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo
của cấp ủy địa phương và Ban cán sự đảng TAND tỉnh Quảng Nam, Tòa án
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An phải tranh thủ sự giúp
58
đỡ, phối hợp của các cơ quan, đơn vị trong thành phố, triển khai thực hiện
một cách có hiệu quả những giải pháp mà đơn vị đề ra hàng năm, nhằm ngăn
chặn, đẩy lùi các loại tội phạm và giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh
59
chấp phát sinh trong Nhân dân.
CHƯƠNG 3
YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÁP
DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ
3.1. Yêu cầu nâng cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự
3.1.1. Yêu cầu cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước
pháp quyền
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì
các nguyên tắc về tôn trọng và bảo vệ quyền con người, bình đẳng, công bằng
trong hoạt động tư pháp cần được tôn trọng hơn bao giờ hết. Đặc biệt là nâng
cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng vẫn
phải đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng
cao năng lực, hiệu quả, hiệu lực của hoạt động tư pháp, Nhà nước ta đang
từng bước thể chế hoá các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp trong các
văn bản pháp luật có liên quan như: Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Luật Tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân, Pháp lệnh Luật sư… Nhưng, đứng trước yêu
cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân,
nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan tư pháp nhằm bảo vệ
các quyền dân chủ của công dân, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính
sách trong việc cải cách hệ thống tư pháp từ tổ chức đến cơ chế hoạt động với
quan điểm mang tính định hướng là cải cách tư pháp phải nằm trong chủ
trương đổi mới hệ thống chính trị, gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước
pháp quyền ở Việt Nam. Ví dụ: Trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị, cải
cách tư pháp luôn được coi là một bộ phận quan trọng trong cải cách bộ máy
60
nhà nước. Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là kiện toàn bộ máy các cơ
quan tư pháp, phân định rõ thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân các cấp,
đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều
tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp
Hiện nay, hằng năm các cơ quan tư pháp đang thực hiện Nghị quyết số
49-NQ/TW, ngày2/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược Cải cách tư pháp
đến năm 2020” xác định mục tiêu chiến lược là xây dựng nền tư pháp trong
sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại,
phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; Chú trọng phân định
rành mạch thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền tư pháp
trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp. Cụ thể hóa đầy đủ các
nguyên tắc hiến định về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân và Viện
kiểm sát nhân dân. Tiếp tục kiện toàn tổ chức cơ quan điều tra, xác định rõ
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
của các cơ quan điều tra. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức,
kỹ năng nghề nghiệp đối với từng lĩnh vực hoạt động tư pháp; thường xuyên
cập nhật thông tin hợp tác quốc tế về tư pháp và các lĩnh vực liên quan. Tích
cực chuẩn bị đội ngũ luật sư, cán bộ các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp có đủ
khả năng tham gia tố tụng trong các vụ, việc có yếu tố nước ngoài và giải
quyết các tranh chấp quốc tế, bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia, quyền, lợi ích
chính đáng, hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Cụ thể, một số giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:
Một là, về cải cách tổ chức các cơ quan tư pháp và các thiết chế bổ trợ
tư pháp; đổi mới, nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý của Nhà nước phù hợp
với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời tạo
khuôn khổ pháp lý và điều kiện thực tế để nhân dân tham gia thực thi và giám
61
sát việc thực thi pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể: bảo
đảm các nguyên tắc đặc thù trong từng loại tố tụng tư pháp, như nguyên tắc
bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo theo nguyên tắc “Tranh tụng trong
xét xử được bảo đảm”(Điều 26 BLTTHS năm 2015), cụ thể như: Cập nhật
những quyền mới được bổ sung của người bị buộc tội là quyền đưa ra chứng
cứ (Điều 57, 58, 59, 60, 61); người bào chữa có quyền thu thập, đưa ra chứng
cứ. Việc bổ sung những quy định này đảm bảo chứng cứ có lợi cho người bị
buộc tội không bị bỏ sót, góp phần giúp Tòa án đưa ra được những kết luận
đúng đắn, chính xác, hạn chế việc xảy ra những oan sai trong tố tụng hình sự,
gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền con người của người bị buộc tội. Bên
cạnh đó, BLTTHS năm 2015 bổ sung một số quy định mới đã giúp cho người
bị buộc tội được bình đẳng và bảo đảm sự công bằng hơn trong quá trình
chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ. Đó là
những quyền: Trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại
chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; trình bày ý kiến về chứng cứ, tài
liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh
giá (Điều 58, 59, 60, 61 BLTTHS năm 2015). Bị can được bổ sung thêm
quyền đề nghị giám định, định giá tài sản; quyền được đọc, ghi chép bản sao
hoặc tài liệu đã được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao
tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra cho đến
khi có yêu cầu; bị cáo được bổ sung thêm quyền đề nghị giám định, định giá
tài sản; đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản tham gia
phiên tòa; đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi những người tham
gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi
những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa. Đối với nguyên tắc suy đoán
vô tội (trong tố tụng hình sự), trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, người
62
có thẩm quyền luôn phải coi, đối xử với người bị buộc tội là không có tội cho
đến khi hành vi phạm tội của họ đã có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật. Bên cạnh đó, khi có những vụ án rơi vào trường hợp chứng cứ
không đầy đủ, thiếu tính vững chắc, người tiến hành tố tụng sẽ dễ dàng hơn
trong việc đưa ra kết luận về kết quả của vụ án theo nguyên tắc suy đoán vô
tội, hạn chế tình trạng tạo ra những chứng cứ khống, bịa đặt đã từng xảy ra
trong một số vụ án oan sai trong thời gian trước đây. Đối với nguyên tắc
quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (trong tố tụng dân sự).
Hai là, thực hiện tốt công tác phối hợp liên ngành, tăng cường công tác
kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Giải
quyết tin báo tội phạm là nền tảng, là bước khởi đầu trong công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm. Đây là đầu mối, là cơ sở giúp các cơ quan có thẩm
quyền tiến hành thẩm tra, xác minh để xác định có hay không có dấu hiệu tội
phạm. Do đó, các cơ quan chức năng tại địa phương đã phối hợp chặt chẽ từ
khâu tiếp nhận, quá trình xác minh đến khi kết thúc việc giải quyết tin báo
đảm bảo tiếp nhận đầy đủ, nhanh chóng và đúng quy định của pháp luật. Cụ
thể như công tác xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ
chức, bộ máy các cơ quan tư pháp. Ví dụ thực tế một cách xử lý hành chính
thông thường tại các đơn vị vẫn đang sử dụng: Khâu tiếp nhận thông tin được
phân loại để đưa vào sổ theo dõi: đơn vị phân công lãnh đạo trực nghiệp vụ,
tiếp nhận thông tin 24/24h thông qua các nguồn kênh thông tin khác nhau
như: Đơn, thư tin báo, tố giác của cá nhân, tổ chức gửi đến hoặc trực tiếp đến
trình bày và qua công tác khám nghiệm, xét phê chuẩn việc bắt khẩn cấp… để
kịp thời phân loại đưa vào sổ tiếp nhận. Trong suốt quá trình giải quyết, Điều
tra viên và Kiểm sát viên phải thường xuyên trao đổi, nắm bắt nội dung vụ
việc, cung cấp toàn bộ hồ sơ để cùng kiểm sát viên đánh giá chứng cứ một lần
nữa để kịp thời bổ sung những thiếu sót, đảm bảo hồ sơ đầy đủ các chứng cứ
63
chứng minh việc có tội hay không tội. Định kỳ hàng tháng, tổ chức họp liên
ngành với để thống nhất đánh giá kết quả giải quyết tin báo tội phạm đã tiếp
nhận, thống nhất hướng giải quyết đối với các trường hợp quá thời hạn quy
định. Mặt khác, công tác phối hợp nhưng phải bảo đảm tính khách quan và
chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, từng đơn vị, không vì việc phối hợp mà
bỏ qua cho nhau các vi phạm trong công tác nghiệp vụ. Bảo đảm việc thực
hiện đúng và đầy đủ chức năng từng ngành là bảo đảm chất lượng công tác,
bảo vệ pháp luật cũng như sự thật khách quan.
Ba là,công tác cải cách tư pháp tập trung chăm lo, kiện toàn tổ chức
biên chế các cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ tư pháp bảo đảm đúng chức
năng, nhiệm vụ được giao. Ví dụ:Cùng với việc cải cách tư pháp, việc cải
cách tổ chức và hoạt động luật sư là rất cần thiết trong giai đoạn đảm bảo
quyền công dân, quyền con người hiện nay. Trong các văn kiện của Đảng và
Nhà nước ta đều nêu lên những quan điểm về đổi mới tổ chức và hoạt động
bổ trợ tư pháp nói chung và luật sư nói riêng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa VIII) đã nêu rõ:
“Đổi mới quản lý nhà nước đối với các hoạt động luật sư... phù hợp với chủ
trương xã hội hóa, kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của các tổ
chức nghề nghiệp. Đào tạo và phát triển đội ngũ luật sư có phẩm chất đạo
đức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy vai trò của họ trong tư vấn
pháp luật và trong tố tụng”.
Bốn là, tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, áp dụng các
biện pháp điều tra và năng lực giám định kỹ thuật hình sự của các cơ quan tư
pháp; trong đó, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa thủ trưởng Cơ quan điều
tra và Điều tra viên, giữa cơ quan điều tra cấp trên và cơ quan điều tra cấp
dưới. Theo đó, cần phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng Cơ quan
điều tra, Điều tra viên và thủ trưởng quản lý ngành theo hướng: tăng thẩm
64
quyền và trách nhiệm pháp lý cho Điều tra viên, bảo đảm sự chủ động, linh
hoạt, hiệu quả trong hoạt động điều tra. Đối với ngành Kiểm sát, cần tiếp tục
thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động tư pháp, nhất là kiểm sát trong xét xử hình sự, mà trọng tâm là nâng
cao trình độ thẩm vấn, luận tội và năng lực xét hỏi, tranh luận của Kiểm sát
viên tại phiên tòa. Đối với ngành Tòa án, cần đổi mới và nâng cao chất lượng
xét xử; trong đó, tập trung đổi mới thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo hướng:
chuyển từ thủ tục xét hỏi sang tranh tụng, lấy kết quả tranh tụng công khai tại
phiên tòa làm căn cứ chủ yếu để đưa ra phán quyết cuối cùng, bảo đảm dân
chủ, công khai, minh bạch, đúng quy định của pháp luật. Đối với công tác Thi
hành án, cần nghiên cứu, hoàn thiện tổ chức biên chế cơ quan Thi hành án
hình sự và dân sự trong quân đội theo cơ chế quản lý thống nhất. Đồng thời,
sớm xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm nâng cao trách nhiệm,
hiệu quả công tác Thi hành án, bảo đảm tất cả các bản án, quyết định của tòa
án đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng và thi hành, góp phần giữ
vững trật tự, kỷ cương và ổn định xã hội.
Năm là, công tác giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản pháp luật, đặc biệt
là quyết định áp dụng hình phạt.
3.1.2. Yêu cầu quán triệt chính sách hình sự nhân đạo, hướng thiện
trong xử lý tội phạm và người phạm tội
Chính sách hình sự nhân đạo là hoạt động khoa học, nhất quán và hệ
thống của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xây dựng cơ chế điều chỉnh
PLHS có hiệu quả, sử dụng văn minh các phương tiện pháp luật để đạt được
mục đích của hình phạt, nhưng vẫn giữ được hướng nhân đạo, hướng thiện
trong xử lý tội phạm và người phạm tội, góp phần quan trọng trong đấu tranh
phòng, chống tội phạm; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm
quyền con người.Do đó, quán triệt chính sách hình sự nhân đạo, hướng thiện
65
tội phạm là xu thế tiến bộ xã hội đồng nghĩa với một xã hội ngày càng tốt đẹp
hơn, khi đó, hình phạt chỉ còn mang bản chất nhắc nhở, cảnh báo, khiển trách
cá nhân, tổ chức phải có trách nhiệm hơn đối với bản thân, đối với gia đình và
đối với cộng đồng; hình phạt sẽ hướng trọng tâm vào mục đích giáo dục
phòng ngừa riêng và giáo dục phòng ngừa chung nhằm hạn chế tối đa những
hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho xã hội.
Cụ thể yêu cầu quán triệt chính sách hình sự nhân đạo, hướng thiện tội
phạm chính là thực hiện tốt 7 nguyên tắc xử lý trong BLHS năm 2019 [12,
tr.01 - 02], như sau:
Thứ nhất, Kịp thời phát hiện, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng
pháp luật mọi hành vi phạm tội có một ý nghĩa không chỉ đối với việc đấu
tranh chống tội phạm mà còn có ý nghĩa phòng ngừa tội phạm.Phát hiện kịp
thời hành vi phạm tội còn có ý nghĩa tuyên truyền, giáo dục cho mọi công dân
công tác phòng ngừa tội phạm, cảnh báo những ai có ý định thực hiện tội
phạm hãy từ bỏ ý định phạm tội nếu không sẽ bị trừng trị.
Thứ hai, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đặc biệt làngười
chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi
dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội. Nhằm thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước trong điều chỉnh hành vi người phạm tội.
Thứ ba, Có giải pháp xử lý nghiêm khắc, trừng trị người phạm tội dùng
thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả
đặc biệt nghiêm trọng. Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn
khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan
có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết
vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra.
Thứ tư, áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ
chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục.Đây là yêu cầu được cụ thể hóa từ
66
nguyên tắc khoan hồng, nhưng chỉ đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm
trọng và cũng chỉ có Tòa án áp dụng, vì chỉ có Tòa án mới được quyết định
hình phạt.
Thứ năm, Thực hiện chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải
lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện
do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình
phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Thứ sáu, tạo điều kiện cho các đối tượng chấp hành xong hình phạt được tạo
điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ
điều kiện do luật định thì được xóa án tích.
3.1.3. Yêu cầu của phòng ngừa tình hình tội phạm
Phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung và phòng ngừa tình hình tội
phạm về vấn đề an toàn trật tự xã hội nói riêng là tất cả các vấn đề, các khía
cạnh cần tiến hành các hoạt động phòng ngừa tội phạm.Bằng những hoạt
động nâng cao nhận thức, trình độ văn hóa của con người là vô cùng quan
trọng.Bên cạnh đó là hoạt động giáo dục, nâng cao nhận thức và đạo đức của
con người trong nhà trường và xã hội thông qua các chương trình đào tạo,
tuyên truyền cũng cần được hoàn thiện.
Mặt khác, để phòng ngừa tình hình tội phạm được hiệu quả, công tác
phối hợp giữa hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, cải tạo người phạm tội
(phòng ngừa bằng sự cưỡng chế) phải luôn được các cấp ủy, chính quyền
quan tâm.Do đó, yêu cầu trực tiếp tiến hành nghiên cứu nắm tình hình diễn
biến của tình hình tội phạm trật tự an toàn xã hội phạm tội, phát hiện nguyên
nhân, điều kiện của loại tội phạm trên địa bàn, trên cơ sở đó tham mưu cho
các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp đề ra chủ trương, chính sách đấu
tranh phòng ngừa ngăn chặn tình hình tội phạm trật tự an toàn xã hội.
Phối hợp với các cơ quan chức năng, các ngành có liên quan tiến hành
67
hoạt động tuyên truyền giáo dục, tổ chức vận động quần chúng tham gia trong
công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm trật tự an toàn xã hội.
Tiến hành điều tra, xử lý, giải quyết các trường hợp vi phạm pháp luật
của lứa tuổi chưa thành niên nhằm xóa bỏ những nguyên nhân, điều kiện tiếp
tục phạm pháp dẫn đến con đường phạm tội của tội phạm trật tự an toàn xã
hội.
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng quy định của pháp
luật Hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
3.2.1. Hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Các tình tiết giảm nhẹ TNHS từ trước đến nay, không đưa ra được khái
niệm chung về tình tiết giảm TNHS, dẫn đến có nhiều quan niệm khác nhau
về khái niệm tình tiết giảm nhẹ TNHS.Chính vì điều đó việc hoàn thiện quy
định của pháp luật về xây dựng các tình tiết giảm nhẹ TNHS một cách đầy đủ,
rõ ràng, khoa học thế nào là khái niệm chung về tình tiết giảm nhẹ TNHS, cấu
thành cụ thể từng tình tiết giảm nhẹ, trách nhiệm thu thập chứng cứ chứng
minh các tình tiết giảm nhẹ TNHS, khái quát chung những điều kiện cho việc
vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trong việc áp dụng là việc cần quan tâm trước
tiên.
Trong đó, để hoàn thiện quy định của PLHS về các tình tiết giảm nhẹ
TNHS, trước tiên phải hoàn thiện các chế định luật sư, bổ trợ tư pháp bằng
những giải pháp cụ thể như: Xây dựng Kế hoạch triển khai nhiệm vụ trọng
tâm công tác tư pháp hàng năm; phối hợp với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà
và các cơ quan, tổ chức liên quan triển khai có hiệu quả hoạt động trợ giúp
pháp lý để trợ giúp cho các đối tượng người đồng bào dân tộc thiểu số, người
nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng được hưởng trợ giúp
pháp lý miễn phí theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý.Đồng thời, chỉ đạo
68
phòng, ban chuyên môn ban hành Công văn triển khai công tác trợ giúp pháp
lý trên địa bàn.Thực hiện cấp phát đầy đủ tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền các quy
định về trợ giúp pháp lý do Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh chuyển về.
Cụ thể từ thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS tại Điều 51, BLHS
năm 2015 nhưđã phân tích ở Chương 2, nhà làm luật cần đưa ra các phương
hướng hoàn thiện quy định của PLHS về các tình tiết giảm nhẹ TNHS như
sau:
Một là, xem xét lại những tình tiết giảm nhẹ không cần thiết tại khoản 1
Điều 51 BLHS,cụ thể là các tình tiết: “Người phạm tội thành khẩn khai báo
hoặc ăn năn hối cải”, tình tiết “Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan
có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm”, tình tiết “Người phạm tội là
người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công
tác”, tình tiết “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, tình
tiết “Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải
do lỗi của mình gây ra”, và tình tiết “Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng,
con của liệt sĩ, người có công với cách mạng” để có hướng dẫn cụ thể áp dụng
linh hoạt hơn.
Hai là, xem xét lại quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS - vốn được duy
trì từ BLHS năm 1985 đến nay - Tòa án được lựa chọn các tình tiết khác là
tình tiết giảm nhẹ.
Ba là, bổ sung một số tình tiết giảm nhẹ bằng việc quy định chính thức
tình tiết giảm nhẹ “đầu thú”, tình tiết “Người bị hại cũng có lỗi”, tình tiết
“Thiệt hại do lỗi của người thứ ba”, tình tiết “Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi
thường thiệt hại thay cho bị cáo”, tình tiết “Bị hại hoặc đại diện hợp pháp của
bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.
Bốn là, để thực hiện tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi
thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” và tình tiết “Gia đình bị cáo sửa
69
chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo”, đề xuất cơ quan có thẩm quyền
hướng dẫn thực hiện, theo đó trường hợp bị cáo hoặc gia đình bị cáo đã tự
nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả nhưng bị hại không chấp nhận thì vẫn
được hưởng tình tiết giảm nhẹ.
3.2.2. Tăng cường tổng kết thực tiễn và hướng dẫn áp dụng thống
nhất quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự
Tiếp tục tổ chức nhiều phiên tòa bằng hình thức ghi hình, ghi âm để
Kiểm sát viên các địa phương học hỏi, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn
nữa chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử.Mặt khác, cần
nhân rộng phiên tòa rút kinh nghiệm toàn quốc sang nhiều loại án và đối với
các loại tội phạm khác nhau (kinh tế, chức vụ, tham nhũng. . . ).Đồng thời,
Cáo trạng và Luận tội của vụ án được tổ chức rút kinh nghiệm cần được
chuyển cho các đơn vị, địa phương nghiên cứu trước để tiện theo dõi nội
dung, diễn biến, chủ động tham gia ý kiến đạt chất lượng cao hơn nữa.
Ngay sau khi kết thúc mỗi phiên tòa, đơn vị tổ chức phiên họp rút kinh
nghiệm công tác xét xử với sự tham dự của Lãnh đạo, Thẩm phán, Thư ký
Tòa án trong đơn vị.Trên tinh thần cầu thị, nghiêm túc tiếp thu các ý kiến góp
ý, bên cạnh việc đánh giá những kết quả đạt được, phiên họp rút kinh nghiệm
cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, thiếu sót của Thẩm phán – Chủ tọa
phiên tòa, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa.
Bên cạnh đó, các phiên tòa được diễn ra theo đúng trình tự, thủ tục
pháp luật tố tụng quy định; việc điều hành tranh tụng, kỹ năng xét hỏi tại
phiên tòa của Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét
xử cơ bản đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp, đảm bảo được quyền và lợi
ích hợp pháp của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
3.2.3. Nâng cao khả năng và năng lực áp dụng pháp luật của đội ngũ
70
Thẩm phán và Hội thẩm
Việc nâng cao khả năng và năng lực áp dụng pháp luật của đội ngũ
Thẩm phán và Hội thẩm là được trang bị thêm kiến thức kinh nghiệm trong
thực tiễn công tác xét xử, giải quyết các loại án để hiểu và nắm vững hơn các
quy định của pháp luật, tiếp tục phát huy chức năng, nhiệm vụ của mình, thực
hiện đúng nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, bình đẳng, độc lập và
tuân theo pháp luật trong tham gia xét xử, đảm bảo giải quyết vụ án đúng theo
pháp luật.Tập trung đào tạo trình độ chuyên môn, tập huấn kiến thức pháp
luật mới, nâng cao kỹ năng xử lý những vấn đề phức tạp còn tồn đọng và
vướng mắc trong công tác xét xử, nâng cao trình độ kỹ năng cho đội ngũ cán
bộ Tòa án trong việc giải quyết các vụ án, tránh tình trạng hủy án, sửa án,
tuyên phạt không đúng người đúng tội.
Quan tâm việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, nâng caonăng lực, trình
độ của đội ngũ cán bộ “có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạođức trong
sáng, có kiến thức pháp luật cần và đủ, kinh nghiệm hoạt động xã hội, cótinh
thần trách nhiệm vì dân”, mỗi cán bộ công chức của ngành Tòa án phải thực
sựlà người “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” như chủ tịch Hồ Chí Minh
đã dạy.
Việc áp dụng các quy định của pháp luật nói chung và áp dụng các tình
tiết giảm nhẹ TNHS đòi hỏi những người tiến hành tố tụng trong giai đoạn
điều tra, truy tố, xét xử, đặc biệt là Thẩm phán Tòa án các cấp phải nghiên
cứu chính xác, đầy đủ nội dung các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định
tại Điều 51 BLHS năm 2015; đồng thời phải có năng lực thực tiễn áp dụng
vào từng vụ án cụ thể.Kịp thời giải quyết những vướng mắc và uốn nắn các
sai sót cho các cơ quan tiến hành tố tụng cấp dưới.Kiểm tra việc áp dụng tình
tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 trong kết quả xét
xử các vụ án hình sự để có sự đánh giá, rút kinh nghiệm kịp thời những sai
71
sót, vi phạm trong việc áp dụng.Cần có sự tổng hợp, đánh giá và kết luận
những tình tiết nào áp dụng đúng để áp dụng thống nhất trong toàn ngành.
3.2.4. Kiến nghị, giải pháp bảo đảm áp dụng hiệu quả các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong thực tiễn
Bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí, trang thiết bị phù
hợp với từng cơ quan tư pháp.Tạo điều kiện hỗ trợ về kinh phí để các cơ quan
tư pháp xây dựng trụ sở làm việc, mua sắm các trang thiết bị phục vụ yêu cầu
công tác, qua đó, để các cơ quan thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn được
giao và các nhiệm vụ, mục tiêu công tác cải cách tư pháp theo chiến lược cải
cách tư pháp, áp dụng hiệu quả các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong thực tiễn.
Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm
pháp luật.Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục
“đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”
và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách trong xây
dựng đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong
nội bộ”đối với các cơ quan tư pháp [7, tr.24].
Đẩy mạnh công tác điều tra phá án, đặc biệt là các vụ án về kinh tế,
tham nhũng, các vụ án nổi cộm, bức xúc được quần chúng và dư luận xã hội
quan tâm.Tổ chức chỉ đạo tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày
07/7/2007 của Bộ Chính trị về sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo
vệ pháp luật trong công tác điều tra, tăng cường xử lý các vụ án và công tác
bảo vệ Đảng.
Thực hành quyền công tố và kiểm sát chặt chẽ các hoạt động tư pháp
trong lĩnh vực hình sự, trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, thi hành án
dân sự.
72
Tăng cường hoạt động giám sát của Nhân dân, Mặt trận và các tổ chức
đoàn thể chính trị - xã hội; công tác giám sát của cơ quan dân cử đối với các
hoạt động tư pháp, nhất là đối với các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử, bắt giam giữ, cải tạo phạm nhân và công tác thi hành án nhằm góp phần
đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng trong cán bộ, đảng viên, công
73
chức trực tiếp làm công tác tư pháp.
KẾT LUẬN
Trong việc cụ thể hóa chính sách hình sự của Nhà nước ta, xác định các
nguyên tắc nhân đạo trong PLHS Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan
trọng.Chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS “có ý nghĩa lớn cả về mặt xã hội
cũng như pháp lý…, nên thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu khách quan phải nâng
cao hiệu quả vận dụng chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS”.Chính các tình
tiết giảm nhẹ được quy định giúp Nhà nước xác định một cách khách quan,
công bằng hơn hành vi phạm tội, nhân thân, hoàn cảnh và thái độ của người
phạm tội, kiểm chứng việc thực hiện nguyên tắc nhân đạo trong PLHS, để
thực hiện đúng đắn mục đích của hình phạt là không chỉ trừng trị người phạm
tội mà còn giáo dục họ hướng thiện và có tác dụng phòng ngừa tội phạm
trong cộng đồng dân cư.Các tình tiết giảm nhẹ TNHS hướng đến sự khoan
hồng của Nhà nước; hướng đến sự công bằng căn cứ vào mức độ nguy hiểm
của hành vi cũng như hậu quả mà tội phạm gây ra cho xã hội để truy cứu hoặc
miễn TNHS cho hợp lý.Chính các tình tiết giảm nhẹ sẽ cân bằng được giữa
một bên là thái độ của Nhà nước đối với tội phạm một bên là quyền và lợi ích
của công dân và xã hội.
Vì vậy để tiếp tục hoàn thiện các quy định về áp dụng tình tiết giảm
nhẹ TNHS từ thực tiễn quyết định hình phạt, một số giải pháp cụ thể như sau:
- Hoàn thiện quy định của PLHS về các tình tiết giảm nhẹ TNHS
- Tăng cường tổng kết thực tiễn và hướng dẫn áp dụng thống nhất quy
định của PLHS Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ TNHS
- Nâng cao khả năng và năng lực áp dụng pháp luật của đội ngũ Thẩm
74
phán và Hội thẩm.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. BLHS năm 2015, Nxb Thanh niên năm 2016 (Luật số 33/2014/L-CTN,
ngày 09/12/2015 của Chủ tịch nước)
2. PGS. TS.Nguyễn Hòa Bình (2015), Chuyên đề Những nội dung sửa đổi
lớn và những điểm mới trong phần chung của BLHS năm 2015.
3. Cổng thông tin điện tử Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, (http://hoian.
gov. vn/cmspages/chuyenmuc/chuyenmuc_view. aspx?idchuyenmuc
=552)
4. PGS, TS. Hà Hùng Cường, Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Cộng sản
điện tử.
5. Giới thiệu chung về Tòa án nhân dân thành phố Hội An (nguồn internet)
http://toaanhoian. gov. vn/gioi-thieu-toa-an-nhan-dan-thanh-pho-hoi-
an.
6. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
7. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, 2000.
8. Hội Luật gia Việt Nam (2005), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần
chung, Nxb Hồng Đức.
9. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (Luật số 63/2014/QH13 ngày
24/11/2014)
10. Luật Tòa án nhân dân (Luật số 62/2014/QH13 ngày 24/11/2014)
11. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành BLHS số
100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
12/2017/QH14.
12. Đinh Văn Quế (2018), Các nguyên tắc xử lý của BLHS năm 2015, Tạp chí
Kiểm sát số 02/2018.
13. Tập bài giảng Lý luận về pháp luật, Trường Đại học Luật Hồ Chí Minh.
14. Nguyễn Văn Thành - Vũ Trinh - Trần Hựu (Nguyễn Quyết Thắng và
Nguyễn Văn Tài dịch và giới thiệu)m Hoàng Việt luật lệ, tập 1,
Nxb.Văn hóa - thông tin, tr. 2
15. TS Huỳnh Văn Thới, Văn hóa công vụ ở Việt Nam, Lý luận và thực tiễn.
16. Ths Vũ Mạnh Thông, LG.Nguyễn Ngọc Điệp (2008), Bình luận BLHS,
Nxb Tư pháp.
17. Nguyễn Tài Thu (1993), Vai trò đạo Khổng trong sự hình thành và áp
dụng pháp luật ở Việt Nam, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 5/1993,
tr. 8.
18. GS. Lương Duy Thứ (chủ biên), Đại cương văn hóa phương Đông,
Nxb.Giáo dục, H. 1998, tr. 48.
19. Thực tiễn và giải pháp bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của tòa án nhân
dân trong tố tụng hình sự Việt Nam.
20. Trần Thị Quang Vinh (2005), Các tình tiết giảm nhẹ TNHS, Nxb.Chính trị
Quốc gia, Hà Nội
21. ThS.Trần Thị Quang Vinh (2002), Các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong
pháp luật phong kiến Việt Nam, Tạp chí Luật học số 5/2002 (5/2002)
22. ThS.Trần Thị Quang Vinh (2002), Các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong
pháp luật phong kiến Việt Nam, Tạp chí Luật học số 5/2002 (5/2002),
(nguồn internet: http://tks. edu. vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/64).
Trang web
23. http://toaanhoian. gov. vn/mot-so-van-de-nghiep-vu-tu-cac-phien-toa-
nam-2019-cua-hoi-dong-tham-phan. html

