VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MỘNG TUYỀN

CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MỘNG TUYỀN

CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số :838.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ SỸ SƠN

HÀ NỘI, năm 2020

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn về đề tài: “Các tình tiết giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hội

An, tỉnh Quảng Nam” do tôi viết trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu tham khảo,

giáo trình hướng dẫn, và thực tiễn thực hiện pháp luật từ từ thực tiễn thành

phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.Tôi đã hoàn thành luận văn và chịu trách nhiệm

với những vấn đề tôi viết.

Tác giả

Nguyễn Thị Mộng Tuyền

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA

PHÁP LUẬT VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM

HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM ................................................ 7

1.1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa pháp lý của các tình

tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ..................................................................... 7

1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về các tình tiết

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ......................................................................... 17

CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÌNH

TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT

HÌNH SỰ VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG

NAM ............................................................................................................... 41

2.1. Khái quát các điều kiện kinh tế - xã hôi tác động đến tình hình áp dụng

quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại thành phố Hội

An, tỉnh Quảng Nam ....................................................................................... 41

2.2. Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại thành phố Hội An ...................................... 45

CHƯƠNG 3. YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM

HÌNH SỰ ........................................................................................................ 60

3.1. Yêu cầu nâng cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự .................................................................................................. 60

3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng quy định của pháp luật

Hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm ............................... 68

KẾT LUẬN .................................................................................................... 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

STT Cụm từ Viết tắt

01 Bộ luật Hình sự BLHS

02 Pháp luật Hình sự PLHS

03 Trách nhiệm Hình sự TNHS

04 Thành phố Tp

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu Tên bảng Trang bảng

Số liệu các vụ hình sự phát hiện và xử lý từ năm 2015 2.1. 45 đến 2019 trên địa bàn thành phố Hội An

Số liệu các vụ án hình sự được áp dụng các tình tiết

2.2. giảm nhẹ TNHS của Tòa án nhân dân thành phố Hội 47

An từ năm 2015 đến năm 2019

Chất lượng xét xử các vụ án hình sự áp dụng các tình

2.3. tiết giảm nhẹ TNHS của Tòa án nhân dân thành phố 50

Hội An từ năm 2015 đến năm 2019

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu Tên hình Trang hình

2.1. Bản đồ hành chính Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam 41

Biểu đồ biểu thị trình trình độ chuyên môn đội ngũ cán 2.2. 44 bộ, công chức thành phố năm 2019

Biểu thị số vụ hình sự phát hiện và xử lý từ năm 2015 2.3. 46 đến 2019 trên địa bàn thành phố Hội An

Thống kê các tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 46 BLHS

2.4. năm 1999) được áp dụng nhiều và có sự tương đồng 51

khá phổ biến

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của luận văn

Xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không làm oan người

vô tội và cũng không bỏ lọt hành vi của người phạm tội là mục tiêu, là yêu

cầu quan trọng hàng đầu trong việc giải quyết các vụ án hình sự của Tòa án.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nếu định tội là tiền đề, là cơ sở cho

việc quyết định hình phạt, thì quyết định hình phạt là kết quả cuối cùng của

hoạt động xét xử. Quyết định hình phạt một cách chính xác có ý nghĩa rất

quan trọng đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Theo đó Tòa án sẽ nhân danh

nhà nước mà tuyên bố hình phạt cho người phạm tội. Việc quyết định áp dụng

một hình phạt đúng, chính xác không những đảm bảo sự công bằng, hợp lý,

minh bạch trong thực thi pháp luật, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống

tội phạm mà còn có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa rất quan trọng đối với người

có hành vi phạm tội trong quá trình tiến hành thủ tục tố tụng hình sự, là cơ sở

pháp lý để cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xem xét đánh giá tính chất, mức

độ của hành vi phạm tội. Từ đó đưa ra quyết định hình phạt tương xứng có giá

trị răn đe, đảm bảo việc cải tạo giáo dục, góp phần thực hiện nguyên tắc công

bằng, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc nhân đạo, đảm bảo quyền con người

và tinh thần thượng tôn pháp luật. Đối với vụ án cụ thể việc áp dụng tình tiết

giảm nhẹ làm thay đổi hình phạt, giảm nhẹ hình phạt hơn cho người phạm tội.

Pháp luật hình sự Việt Nam từ khi được xây dựng, kế thừa và hiện hành

đều quy định tình tiết giảm nhẹ TNHS, tuy nhiên, thực tiễn xét xử vẫn còn

nhiều vấn đề đang mâu thuẫn, chưa đầy đủ, vướng mắc dẫn đến việc áp dụng

còn thiếu sự nhất quán, đồng bộ, không thống nhất, việc áp dụng các tình tiết

1

giảm nhẹ TNHS còn tùy tiện, không công bằng trong quá trình giải quyết vụ

án hình sự.

Việc xem xét, đánh giá giá trị các tình tiết giảm nhẹ TNHS của HĐXX

phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận đánh giá cụ thể của từng tình tiết. Cách nhìn

nhận và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS của HĐXX còn nhiều điểm

chưa được khách quan. Nên việc đồng nhất quan điểm về các tình tiết giảm

nhẹ TNHS và áp dụng một cách khách quan là rất quan trọng. Việc nhận thức

và áp dụng không đúng các tình tiết giảm nhẹ TNHS dẫn đến việc ban hành

các quyết định hình phạt chưa phù hợp là vi phạm nguyên tắt bình đẳng,

nguyên tắc công bằng, nguyên tắc nhân đạo và đảm bảo quyền con người mà

pháp luật quy định.

Từ thực tế tại địa bàn Tp Hội An, việc xét xử các vụ án hình sự của

TAND Tp Hội An hầu hết đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS

theo đúng quy định pháp luật. Nhưng vẫn còn một vài trường hợp, do cách

nhìn nhận đánh giá một số tình tiết không đồng nhất dẫn đến những bất cập

trong thực tiễn áp dụng.

Với những lý do đó, học viên chọn đề tài: “Các tình tiết giảm nhẹ

TNHS theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Tp Hội An” làm đề tài

nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ Luật học, nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề

lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS. Qua đó, học

viên đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các

quy định về các tình tiết giảm nhẹ TNHS khi quyết định hình phạt.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Qua nghiên cứu tìm hiểu thì tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được nhiều tác

giả nghiên cứu trong nhiều công trình.Nhìn chung qua các công trình nghiên

cứu của các nhà làm luật đã thể hiện được những phương diện, góc cạnh khác

nhau của vấn đề từ đó đưa ra được những kiến nghị, giải pháp để khắc phục.

2

Cụ thể như:

Luận án tiến sỹ của Trần Thị Quang Vinh (Năm 2002, các tình tiết

giảm nhẹ TNHS trong Luật Hình sự Việt Nam).

Bình luận khoa học BLHS năm 1999 phần chung của thạc sỹ Đinh Văn

Quế (Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh năm 2006).

PGS. TS Võ Khánh Vinh, TS.Trần Thị Quang Vinh (1996) “Về khái

nhiệm, bản chất, ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ TNHS Việt Nam”, Tạp chí

Tòa án nhân dân;

Tập thể tác giả do PGS. TS Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2001) Giáo

trình Luật hình sự Việt Nam- phần chung, ĐH Huế, Nxb Giáo dục;

Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên) (2010) Giáo trình Luật hình sự Việt

Nam- phần chung.Nxb Công an nhân dân;

Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Mộng Vương (2018) “Các tình tiết

giảm nhẹ TNHS theo Luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Củ Chi, Tp Hồ

Chí Minh”.

Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2018), “Các tình tiết

giảm nhẹ TNHS theo Luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Gò Vấp, Tp Hồ

Chí Minh”.

Luận văn thạc sỹ của Đỗ Hải Hà, (2017), “Các tình tiết giảm nhẹ TNHS

theo PLHS Việt Nam từ thực tiễn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang”.

Nhìn chung qua nghiên cứu hầu như các công trình, bài viết đã phân

tích khá chi tiết, phản ánh đúng nội dung, lý luận logic các tình tiết giảm nhẹ

TNHS theo quy định của pháp luật.Tuy nhiên, qua thực tế xét xử vẫn còn tồn

tại nhiều tranh luận, nhiều ý kiến trái chiều không có sự nhất quán, đồng bộ

khi áp dụng.Vì lẽ đó việc tiếp tục nghiên cứu đề tài này là cần thiết nhằm cố

gắng hoàn thiện hơn về cơ sở pháp lý, tổng hợp thực tiễn từ địa phương và

qua đó cũng đưa ra những kiến nghị, giải pháp giúp hoàn thiện PLHS về các

3

tình tiết giảm nhẹ TNHS theo PLHS Việt Nam.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thống những vấn đề lý

luận, quy định của pháp luật và đánh giá thực tiễn vận dụng tình tiết giảm nhẹ

trong quyết định hình phạt tại Tp Hội An, tỉnh Quảng Nam luận văn đề xuất

hoàn thiện quy định BLHS và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp

dụng quy định pháp luật về các tình tiết giảm nhẹ TNHS.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nói trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Phân tích khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của quyết định hình phạt

dựa trên các tình tiết giảm nhẹ;

- Phân tích các quy định của pháp luật hình sự hiện hành ở Việt Nam về

các tình tiết giảm nhẹ TNHS

- Phân tích đánh giá thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS làm

căn cứ quyết định hình phạt.

- Chỉ ra những vi phạm, sai lầm trong khi áp dụng các tình tiết giảm

nhẹ TNHS khi quyết định hình phạt tại Tp Hội An và nguyên nhân của những

vi phạm sai lầm đó.

- Lập luận, đề xuất các phương pháp nhằm nâng cao chất lượng áp

dụng quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài đó là các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo

PLHS Việt Nam từ thực tiễn Tp Hội An, tỉnh Quảng Nam.

4

Luận văn sử dụng các quan điểm khoa học được nêu ra trong khoa học

luật tố tụng hình sư, các quy định của luật hình sự và thực tiễn áp dụng của

pháp luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để nghiên cứu.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành luật hình

sự và tố tụng hình sự

Về quy phạm pháp luật luận văn chỉ đề cập nghiên cứu các tình tiết

giảm nhẹ (chung) TNHS áp dụng đối với chủ thể là cá nhân ghi nhận tại Điều

51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có đối chiếu với các quy định

của các BLHS trước đây..Số liệu nghiên cứu được thu thập tại TAND Tp Hội

An, tỉnh Quảng Nam trong thời gian 2015-2019.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phép duy vật biện

chứng và phép duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lenin, Tư tưởng Hồ Chí

Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về

tội phạm, hình phạt, cải cách tư pháp, phòng ngừa tội phạm.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp cụ

thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích, tổng

hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch, phương pháp

quy nạp. Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn sử dụng phương pháp thống kê

các số liệu thực tế.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Từ cơ sở lý luận của luận văn sẽ làm tiền đề, định hướng cho các công

trình nghiên cứu tiếp theo.Đồng thời kết quả nghiên cứu của luận văn góp

5

phần làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận và nội dung quy định của BLHS.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đã phân tích và làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như nội dung

các tình tiết giảm nhẹ TNHS.Đồng thời trên cơ sở thực tế, thực tiễn xét xử tại

địa phương giúp cho ta nhận định đúng hơn, áp dụng chính xác hơn các tình

tiết giảm nhẹ để từ đó nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.Có như vậy mới

hạn chế được oan sai, bỏ lọt tội phạm và tinh thần thượng tôn pháp luật ngày

càng được nâng cao hơn.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,

danh mục những từ viết tắt thì luận văn gồm có:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về các tình

tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.

Chương 2:Thực tiễn áp dụng các quy định về tình tiết giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam tại TP Hội An, tỉnh Quảng

Nam.

Chương 3: Các yêu cầu và các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng

các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách

6

nhiệm hình sự.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa pháp lý của

các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1.1.1. Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

“Tình tiết” được hiểu là những sự việc nhỏ trong quá trình hay diễn

biến của một sự vật, sự việc.Trên cơ sở khái niệm này thì có thể hiểu, “tình

tiết giảm nhẹ TNHS” là những sự việc nhỏ, những chi tiết nhỏ, những tình

huống nhỏ, sự kiện nhỏ, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong việc làm giảm

mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội đối với xã hội, thể hiện thái độ, khả năng

cải tạo, sửa chữa lỗi lầm của người phạm tội, là cơ sở để giảm nhẹ hình phạt

(TNHS) pháp lý của người phạm tội so với mức hình phạt mà người phạm tội

phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.Nếu một tình tiết xuất hiện

trong sự việc hình sự, nhưng mang ý nghĩa định tội, định khung tội danh và

không có giá trị trong việc giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội thì không

được xác định là tình tiết giảm nhẹ TNHS.

Tình tiết giảm nhẹ TNHS theo BLHS hiện hành hay các bộ luật trước

đây không đưa ra khái niệmgiảm nhẹ TNHS. Trong khoa học pháp lý nước ta,

khái niệm về tình tiết giảm nhẹ cũng chưa thật thống nhất. Tuy nhiên, đa số ý

kiến cho rằng, trường hợp giảm nhẹ TNHS là trường hợp được quy định trong

BLHS với tính chất là trường hợp giảm nhẹ chung hoặc là trường hợp được

ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay do Tòa án tự xem

xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp và hoàn

cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết

7

giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án và hình phạt đối với người phạm tội

theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt.Quan niệm trên

chưa cho thấy hết được bản chất, nội dung của trường hợp giảm nhẹ TNHS cụ

thể mà mới chỉ nêu đặc trưng pháp lý của các tình tiết giảm nhẹ TNHS, thể

hiện tính khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.Điều đó,

thể hiện ngay ở một trong những bộ luật quan trọng thuộc pháp luật cổ Việt

Nam là Quốc triều hình luật qua nguyên tắc “chiếu cố” được thể hiện ở một

số loại người được chiếu cố và nội dung chiếu cố.Tuy khái niệm về tình tiết

giảm nhẹ hình phạt chưa có, nhưng nguyên tắc, đối tượng cho tình tiết giảm

nhẹ hình phạt được thông qua các đặc điểm áp dụng nhất định.Nhìn chung sự

giảm nhẹ tội danh hình sự, được luật cổ Việt Nam áp dụng thông qua tuổi

người già và trẻ em.Vì vậy, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những dấu hiệu

khách quan và chủ quan của hành vi phạm tội, không nằm trong cấu thành tội

phạm nhưng những tình tiết này là một trong những căn cứ để Tòa án cân

nhắc, xem xét việc áp dụng hình phạt đối với tội phạm nhằm phản ánh chính

sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.

Dưới góc độ nghiên cứu của cá nhân, về bản chất, trường hợp giảm nhẹ

TNHS là những biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnh

hưởng đến việc thực hiện tội phạm, qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn

của hành vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội có thể chịu TNHS ở

khung hình phạt thấp hơn quy định.Theo tiếng anh “tình tiết giảm nhẹTNHS”

có nghĩa là “extenuating circumstances: describes any reason or excuse that

someone gives to request that their actions be forgiven” với nghĩa giảm nhẹ

các tình huống nghiêm trọng, mô tả bất kỳ lý do hoặc lý do nào mà ai đó đưa

ra để yêu cầu hành động sai phạm của họ được tha thứ, hay được hiểu là

những tình tiết làm cho các trường hợp phạm tội cụ thể của tội phạm giảm

mức độ nguy hiểm, giảm hình phạt trong phạm vi một khung hình phạt nhất

8

định so với những trường hợp phạm tội bình thường [22, tr.54].

1.1.2. Bản chất các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Việc quy định các tình tiết giảm nhẹ không chỉ là sự cụ thể hóa nguyên

tắc nhân đạo, một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự mà còn thể

hiện được nội dung nguyên tắc cá thể hóa hình phạt – nguyên tắc đặc thù của

luật hình sự. Trên thực tế các nhà làm luật không quy định được các tình tiết

giảm nhẹ TNHS có ảnh hưởng đến mức độ nào đối với việc quyết định hình

phạt, mà đưa các tình tiết này vào phần chung của luật hình sự nhằm khi áp

dụng các tình huống cụ thể, vụ án cụ thể, Tòa án phải tự xác định, phán quyết

theo ý chí, tình hình thực tế của vụ án, nên các tình tiết này chỉ là căn cứ

quyết định hình phạt.

Mà khi là căn cứ quyết định hình phạt, thì các tình tiết này có 3 nhóm

bản chất sau:

Một là, ảnh hướng của tình tiết đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của

hành vi phạm tội ấy, ví dụ: Chưa gây thiệt hại, hoặc gây thiệt hại không lớn về

tài sản, tính mạng…. Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội

phạm.Mức độ giảm nhẹ này phụ thuộc vào thái độ chủ quan của người phạm tội

đối với hành vi ngăn chặn hoặc giảm bớt thiệt hại (có tích cực, tự nguyện

không…) và thực tế tác hại đã được ngăn chặn như thế nào. Người phạm tội tự

nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả: người phạm tội tự

nguyện hạn chế hậu quả của tội phạm một cách tự nguyện, không có sự đòi hỏi.

Biểu hiện như: sửa chữa tài sản bị hư hỏng, bồi thường về vật chất thiệt hại về tài

sản, thể chất, tinh thần hoặc có những hành vi khác khắc phục hậu quả. Mức độ

giảm nhẹ trong trường hợp này phụ thuộc vào sự cố gắng của người phạm tội

cũng như mức độ hậu quả được khắc phục trên thực tế.

Một số trường hợp khác cũng được cho là căn cứ giảm nhẹ TNHS khi

phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn: trường hợp

9

này có nguyên nhân khách quan nằm ngoài ý muốn của người phạm tội; do

hậu quả của tội phạm cũng là yếu tố quyết định mức nguy hiểm cho xã hội

nên luật hình sự coi trường hợp này mà một trong số các căn cứ để giảm nhẹ

TNHS.

Trường hợp các tình tiết phản ánh đặc điểm nhân thân ảnh hưởng đến

mức độ nguy hiểm của hành vi và người phạm tội, là trường hợp lần đầu tiên

phạm tội nhưng phải là loại tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nếu là tội phạm

nghiêm trọng thì phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.Mức độ giảm nhẹ

trong trường hợp này phụ thuộc vào mức độ ít nghiêm trọng của hành vi

phạm tội.

Trường hợp tình tiết ảnh hưởng đến mức độ lỗi, ví dụ: Phạm tội trong

trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; hoặc Phạm tội trong

trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; hoặc Phạm tội trong

trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị

hại hoặc người khác gây ra: người phạm tội thực hiện tội phạm khi không làm

chủ về tình cảm do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác tác

động.Mức độ giảm nhẹ trong từng trường hợp phụ thuộc vào tính chất và mức

độ nguy hiểm của hành vi tác động, mức độ kích động và mức độ phản ứng

của người bị kích động.

Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây

ra: người phạm tội thực hiện tội phạm do chịu sự tác động, chi phối bởi hoàn

cảnh đặc biệt khó khăn do khách quan đưa lại. Đó phải là hoàn cảnh khó khăn

hơn nhiều so với mức bình thường; có thể lấy ví dụ như: Thiên tai, dịch bệnh,

hỏa hoạn, tai nạn hoặc do nguyên nhân khách quan khác. Mức độ giảm nhẹ

TNHS trong tình tiết này phụ thuộc vào mức độ khó khăn và mức độ cố gắng

tìm cách khắc phục của người phạm tội.

Phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức: Trong trường hợp này

10

người phạm tội do bị đe dọa, cưỡng bức nên không hoàn toàn tự do lựa chọn,

điều khiển hành vi của mình và bị buộc phải thực hiện tội phạm theo ý chí của

người có hành vi đe dọa hoặc cưỡng bức.Đe dọa trong trường hợp này được

hiểu là đe dọa sẽ gây thiệt hại như gây thương tích hoặc gây thiệt hại về tài

sản, hủy hoại tài sản, nếu người bị đe dọa không thực hiện theo yêu cầu.

Cưỡng bức là hành vi dùng vũ lực uy hiếp tinh thần của người khác để họ

buộc phải thực hiện tội phạm theo ý muốn của mình như đánh đập, giam giữ

người bị cưỡng bức… Mức độ giảm nhẹ trong trường hợp này phụ thuộc vào

mức độ bị đe dọa hoặc cưỡng bức.

Phạm tội do lạc hậu: Do trình độ nhận thức lạc hậu, thấp kém đã hạn

chế nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Mức giảm nhẹ trong

trường hợp này phụ thuộc vào mức độ lạc hậu của người phạm tội trong điều

kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương nơi tội phạm sinh sống.

Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc

khả năng điều khiển hành vi của mình: Người phạm tội do có bệnh làm khả

năng nhận thức và điều khiển hành vi bị hạn chế nên đã không nhận thức

được đầy đủ tính nguy hiểm hoặc có thể nhận thức được tính nguy hiểm

nhưng lại hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc

vào mức độ hạn chế khả năng nhận thức hoặc mức độ hạn chế điều khiển

hành vi của người phạm tội.

Hai là, phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội như:

Phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội tự thú,

người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải …

Trường hợp người phạm tội tự thú: người phạm tội chưa bị phát hiện

nhưng đã tự đến cơ quan có thẩm quyền trình diện và khai báo hành vi phạm

tội của mình.

Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải: người phạm tội

11

đã khai rõ và đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội của

mình (thành khẩn khai báo); người phạm tội đã day dứt, hối hận về tội phạm

đã thực hiện và thể hiện mong muốn sửa chữa lỗi lầm thông qua việc chấp

hành nghiêm chỉnh pháp luật, tích cực lao động, tham gia các hoạt động cộng

đồng.Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện,

điều tra tội phạm: người phạm tội cung cấp bằng chứng, tài liệu, tin tức cho

cơ quan có trách nhiệm hoặc làm mọi việc theo yêu cầu của các cơ quan đó để

điều tra tội phạm mà họ tham gia hoặc về tội phạm khác hoặc người phạm tội

khác mà họ biết. Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào hiệu quả của hành vi của

người phạm tội vì sự giúp đỡ các cơ quan.

Người phạm tội đã lập công chuộc tội: đây là trường hợp mà người

phạm tội đã có thành tích đột xuất tương đối đặc biệt như thành tích trong cứu

hỏa, chống bão, lũ lụt hoặc trong việc cứu người trong tình trạng nguy hiểm

đến tính mạng; việc lập công này phần nào đã chứng minh sự ăn năn, hối cải

lỗi lầm của họ. Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất,

chiến đấu, học tập hoặc công tác: những biểu hiện có thể thấy như người

phạm tội được tặng thưởng huân, huy chương, bằng lao động sáng tạo, bằng

khen của Chính phủ hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều

năm được công nhận là chiến sĩ thi đua…

Ba là, phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội, do đó, đòi hỏi

Tòa án phải xem xét, điều tra kỹ lưỡng, đưa ra quyết định sáng suốt để đảm

bảo hình phạt tuyên bố đảm bảo tình hình thực tế, phù hợp với nguyên tắc của

luật hình sự, chính sách của Nhà nước, cũng như đáp ứng được mục đích

trừng trị, giáo dục người phạm tội: Như người phụ nữ có thai hoặc nuôi con

nhỏ (không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ

đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.Không thi

hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

12

Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân; Người

phạm tội là phụ nữ có thai là một tình tiết giảm nhẹ TNHS; Phụ nữ có thai hoặc

đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến

khi con đủ 36 tháng tuổi…), người phạm tội là người già, người phạm tội có

thành tích trong sản xuất, chiến đấu, có công với cách mạng, học tập và công

tác…Người phạm tội là phụ nữ có thai: người phụ nữ phạm tội trong thời gian

mang thai, đây là thời điểm người phụ nữ có nhiều thay đổi về tâm- sinh lý và

sức khỏe. Vì chính sách nhân đạo đối với bà mẹ và trẻ em nên người phụ nữ

mang thai phạm tội sẽ bị xử lý nhẹ hơn người bình thường.

Ngoài ra, bản chất “tình tiết giảm nhẹ TNHS” xét trong toàn bộ cấu

trúc của BLHS thì các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo cấu trúc của cặp phạm

trù “nặng – nhẹ”.Xét theo các dấu hiệu cấu thành tội phạm, thì quy định về

các tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể thuộc: Dấu hiệu chủ thể như: Người già,

phụ nữ…; dấu hiệu về mặt khách quan như: Hành vi phạm tội, hậu quả, hoàn

cảnh phạm tội…; dấu hiệu về mặt chủ quan như: Động cơ, thủ đoạn…; dấu

hiệu khách thể như: Mức độ thiệt hại, bồi thường…Cụ thể: Có thể hiểu là

những biểu hiện tích cực cho đời sống xã hội của người phạm tội hoặc vì

ngoại cảnh tác động mà thực hiện hành vi phạm tội.

1.1.3. Đặc điểm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Những tình tiết giảm nhẹ TNHS đã là yếu tố định tội hoặc định khung

hình phạt thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS.Một phần do tính

nguy hiểm cho xã hội cho tình tiết đó, do đó đặc điểm các tình tiết giảm nhẹ

TNHS là không quy định trùng lặp trong định tội, định khung. Bên cạnh đó,

chủ thể áp dụng pháp luật tìm ra những biểu hiện tích cực cho đời sống xã hội

của người phạm tội khi áp dụng hình phạt “Khi quyết định hình phạt, Tòa án

có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi vào

trong bản án” (khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015).Vì vậy, căn cứ vào quy

13

định của pháp luật, có thể nhận thấy tình tiết giảm nhẹ TNHS có những đặc

điểm sau:

Một là, những tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được quy định với tính cách

là yếu tố định tội hoặc là yếu tố định khung hình phạt của một số tội phạm cụ

thể thì trong quá trình xét xử, Tòa án không được xem xét nó như là tình tiết

giảm nhẹ chung được quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS.Nghĩa là một tình

tiết giảm nhẹ cho dù biểu hiện dưới hình thức nào thì cũng không thể được áp

dụng hai lần cho một trường hợp phạm tội cụ thể.

Hai là, tình tiết giảm nhẹ TNHS chỉ là căn cứ để Tòa án cân nhắc, xem

xét việc áp dụng hình phạt theo hướng nhẹ hơn đối với người phạm tội.

Ba là, pháp luật hiện nay không quy định cụ thể sự hiện diện của tình

tiết giảm nhẹ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc quyết định hình phạt, sự hiện

hữu của tình tiết nào thì được giảm trách nhiệm hình đến đâu, điều đó phụ

thuộc vào sự xem xét và cân nhắc của Tòa án.

Bốn là, các tình tiết giảm nhẹ TNHS không cụ thể, rõ ràng, mà nó chỉ là

sự việc nhỏ xuất hiện trong quá trình xét xử, điều tra, truy tố, cho nên ngoài

Khoản 1 Điều 51 BLHS và các tình tiết được quy định tại điểm c, mục 5 Nghị

quyết số 01/2000/NQ- HĐTP, thì trong quá trình xét xử từng vụ án cụ thể,

Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ.

Năm là, mức độ ảnh hưởng của mỗi tình tiết giảm nhẹ TNHS đến việc

quyết định hình phạt cuả Tòa án là không giống nhau, không phải lúc nào

cũng như án lệ, tình tiết đó, sự kiện giống vậy là khung hình phạt giống nhau.

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa pháp lý, xã hội, chính trị không đồng

đều nhau, có tình tiết ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định hình phạt và đối

với mọi trường hợp phạm tội, nhưng có tình tiết lại ảnh hưởng ít hơn. Không

những thế, cùng một tình tiết giảm nhẹ TNHS nhưng có mức độ ảnh hưởng

khác nhau đối với những tội khác nhau.Ví dụ: Tình tiết "Phạm tội vì hoàn

14

cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra" có ý nghĩa lớn đối

với trường hợp tội phạm là người phạm tội trộm cắp tài sản nhưng lại không

có nhiều ý nghĩa trong trường hợp phạm tội giết người.

1.1.4. Vai trò và ý nghĩa pháp lý của các tình tiết giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự

Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể tác động đến việc

định khung, hoặc quyết định hình phạt của vụ án. Nó là các tiêu chí cụ thể hóa

bản chất truyền thống nhân đạo của dân tộc ta, đường lối, chính sách khoan

hồng của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội, tạo điều kiện để họ ăn

năn, hối cải, tái hòa nhập cuộc sống cộng đồng. Vấn đề đặt ra là hiệu quả của

áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với đời sống xã hội như thế nào?

Những người được hưởng một trong các chính sách khoan hồng bằng cách

giảm nhẹ mức án so với thực tế sẽ ứng xử sao với xã hội, rút ra bài học kinh

nghiệm gì? Mức án do Tòa án quyết định đó có phù hợp, thỏa mãn với các

bên có liên quan trong vụ án? Có đem lại tiếng nói chung cho phản ứng của

cộng đồng? Tính nhân văn của áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS nhất

thiết phải đi đôi với hiệu quả răn đe, nhằm bảo đảm kỷ cương nghiêm minh

của pháp luật. . .

Do đó, các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa lớn cả về mặt xã hội

cũng như pháp lý…, nên thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu khách quan phải nâng

cao hiệu quả vận dụng chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS” [15, tr.57]. Khi

áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định giúp Nhà nước xác định một

cách khách quan, công bằng hơn hành vi phạm tội, nhân thân, hoàn cảnh và

thái độ của người phạm tội, kiểm chứng việc thực hiện nguyên tắc nhân đạo

trong PLHS, để thực hiện đúng đắn mục đích của hình phạt là không chỉ trừng

trị người phạm tội mà còn giáo dục họ hướng thiện và có tác dụng phòng

ngừa tội phạm trong cộng đồng dân cư. Ngoài ra, áp dụng các tình tiết giảm

15

nhẹ sẽ cân bằng được giữa một bên là thái độ của Nhà nước (cưỡng chế hình

sự) đối với tội phạm (nghiêm khắc nghiêm trị), một bên là quyền và lợi ích

của công dân và xã hội có liên quan; hay nói cách khác là cân bằng giữa mục

đích trừng trị tội phạm với mục đích giáo dục người phạm tội [19, tr.62]. Nó

còn giảm thiểu hoặc tránh được sự lạm quyền của cơ quan có thẩm quyền

trong việc thực hiện quyền lực công khi tiến hành tố tụng hình sự TNHS [19,

tr.12].

Về mặt pháp lý khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS tác động đến

việc cân nhắc quyết định hình phạt của Tòa án, là công cụ đắc lực để Tòa án

coi là cơ sở của quyết định hình phạt [8, tr.22]. Tình tiết giảm nhẹ là một

trong những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án do cơ quan tiến hành tố

tụng đảm trách. Nó bị chi phối đến một số thủ tục tố tụng hình sự, cụ thể:

Thứ nhất, áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự: Đó là biện

pháp ngăn chặn tạm giam quy định tại Điều 119 Bộ luật TTHS năm 2015.

Theo đó, không áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với bị can, bị cáo là phụ

nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người bị bệnh nặng, trừ

trường hợp đặc biệt. Quy định này phù hợp với các tình tiết giảm nhẹ ở

trường hợp người phạm tội là phụ nữ có thai, hoặc người mắc bệnh nặng bị

hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi quy định tại khoản 1 Điều

51 BLHS.

Thứ hai, xem xét quyết định các loại hình phạt trong khi hội đồng xét

xử nghị án, đó là ngoài các yếu tố khác phải xem xét, hội đồng xét xử phải

cân nhắc đến tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS để áp đặt mức độ, tần suất

của hình phạt chính và hình phạt bổ sung:

Thứ ba, xem xét miễn hình phạt theo mong muốn của người phạm

tội: Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp được

hạikhung hình phạt quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 BLHS mà đáng

16

được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn TNHS.

Thứ tư, xét xử xem xét miễn TNHS cho người phạm tội là người dưới

18 tuổi: Như vậy, khi xem xét miễn TNHS cho người phạm tội dưới 18 tuổi

thì tùy tội phạm cụ thể, họ có thể được miễn TNHS, nhưng họ phải có nhiều

tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 BLHS, trong đó tình tiết giảm nhẹ bắt

buộc là tự nguyện khắc phục hậu quả (khắc phục phần lớn) - đó là điều kiện

tiên quyết.

Trên thực tế, còn có trường hợp Tòa án tùy nghi, dễ dãi trong việc áp

dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, trong việc quyết định mức án

nặng, nhẹ không công bằng, thiếu nhất quán. Nguyên nhân đó là do BLHS

năm 1999 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định nhiều tình tiết giảm

nhẹ chưa hợp lý, cũng như cho phép Tòa án tùy nghi lựa chọn áp dụng các

tình tiết giảm nhẹ quá mức cần thiết. Những bất cập về mặt quy phạm đó vẫn

chưa được BLHS năm 2015 khắc phục.

Tóm lại việc áp dụng của các tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa pháp

lý rất quan trọng trong xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hội

An, mang ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động xét xử trong cả nước nói

chung và hoạt động xét xử của Tòa án thành phố Hội An nói riêng. Đề cao

tinh thần thượng tôn pháp luật, chính sách nhân đạo, khoan hồng của Đảng và

Nhà nước, tính công bằng, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Hội

An. Đồng thời thể hiện kỹ năng vận dụng kiến thức pháp luật của các Thẩm

phán tại TAND thành phố Hội An, kiểm sát viên tại Viện Kiểm sát nhân dân

thành phố Hội An được hoàn thiện, nhờ vào chính sách tuyên truyền, tổ chức

tập huấn, bồi dưỡng kiến thức thường xuyên của Đảng và Nhà nước đưa ra.

1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về các

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Quy định của pháp luật Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

17

hình sự qua các giai đoạn thời kỳ từ khi xuất hiện nhà nước và pháp luật, tình

tiết giảm nhẹ TNHS đã được đề cập ở quy định tình tiết giảm nhẹ TNHS thời

kỳ phong kiến với mục đích phản ánh những đặc trưng về “Chính trị”, “Tư

tưởng” của thời kỳ phong kiến [17, tr.8]. Cụ thể là Luật hình sự, điển hành là

các bộ luật như: Bộ Hình Thư (thời vua Lý Thái Tông); Bộ Hình luật thư

(Thời vua Trần Dụ Tông); Bộ Quốc triều hình luật (Triều Lê); Bộ Hoàng Việt

luật lệ (Nhà Nguyễn)... [4, tr.1]. Hầu hết mọi điều khoản trong các bộ luật cổ

điều được chế tài về phương diện hình sự. Do vậy, trong các bộ luật cổ này

cũng có nhiều quy định về các tình tiết giảm nhẹ tội. Đặc biệt với khía cạnh

nhân thân của con người được xem xét làm tiêu chí để giảm nhẹ tội. Các tình

tiết giảm nhẹ TNHS thời kỳ phong kiến Việt Nam khá đa dạng phản ảnh chủ

yếu đặc điểm về nhân thân người phạm tội căn cứ vào địa vị xã hội, quan hệ

giai đình, độ tuổi...

Quy định tình tiết giảm nhẹ TNHS thời kỳ Pháp thuộc mang tính chất

thực dân – phong kiến do xã hội được xây dựng chủ yếu trên cơ sở tư tưởng

pháp lý phương Tây với ba bộ luật hình [13, tr.20-24]: Hình luật Bắc phần,

Hình luật Trung phần, Hình luật Canh cả. Những quy định của pháp luật

phong kiến mà trái với tư tưởng pháp lý tư sản phương Tây điều bị loài bỏ

(chế định Bát nghị, các hình phạt mang tính hà khắc, tráich nhiệm tập thể...).

Tuy nhiên, các quy định nào thể hiện đặc thù của xã hội Việt Nam mà không

trái với tư tưởng pháp lý phương Tây thì vẫn tiếp tục được duy trì (tính nhân

đạo, trật tự giai đình... ). Do vậy, một số tình tiết giảm nhẹ TNHS từ thời

phong kiến vẫn được duy trì trong giai đoạn này như: Tình tiết giảm nhẹ vì có

quan hệ giai đình như việc trộm cắp, lừa gạt, sang đoạt giữa vợ chồng hoặc

những người có quan hệ giai đình như tôn thuộc, ty thuộc (Điều 380 Hình luật

Canh cả; Điều 260 Hình luật Trung phần); Điều 355 Hình luật Bắc phần)...

Nhưng, nhìn chung những tình tiết giảm nhẹ tạ thời kỳ này là nền tảng

18

xây dựng viì có tương tự như các tình tiết giảm nhẹ THNS được quy định

trong PLHS hiện hành. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà lập pháp kế thừa

vià phát huy trên nền tảng cũ để xây dựng vià hoàn thiện các quy định về tình

tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội trong thời kỳ pháp

điển hóa luật hình sự Việt Nam lần thứ nhất cũng như trong những giai đoạn

phát triển đất nước sau này.

Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa, hoàn thiện, bổ sung

những điểm mới các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho phù hợp với

yêu cầu của thực tiễn để đảm bảo việc áp dụng mang tính trừng phạt, răn đe;

nhưng đồng thời mang tính giáo dục, cảm hóa Đối với người phạm tội. BLHS

năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) đánh dấu một bước

tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống

tội phạm có hiệu quả; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo

việc chế độ, bảo việc quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước

vià tổ chức. Đối với áp dung tình tiết giảm nhẹ TNHS. BLHS năm 2015 quy

định 22 tình tiết giảm nhẹ TNHS, nhiều hơn so với BLHS năm 1999 sửa đổi,

bổ sung năm 2009 (BLHS năm 1999) ba tình tiết. Nhưng nhìn chung, vẫn tiếp

tục thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng theo tinh thần đề cao

hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tôn

trọng vià bảo đảm thực thi các quyền con người, quyền công dân được ghi

nhận trong Hiến pháp năm 2013. So với BLHS năm 1999 thì về các tình tiết

giảm nhẹ TNHS được quy định trong BLHS năm 2015 không thay đổi, chỉ

được sắp xếp, thiết kế lại rõ ràng hơn. Thực tiễn xét xử cũng như quan điểm

hướng thiện, bảo vệ quyền con người, bảo vệ những người yếu thế trong xã

hội bằng PLHS đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung thêm các tình tiết giảm nhẹ

TNHS, mở rộng phạm vi áp dụng Đối với các trường hợp quyết định hình

phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Mặt khác các

19

vướng mắc trong áp dụng quy định của BLHS năm 1999 về các tình tiết giảm

nhẹ TNHS cũng đòi hỏi phải sửa đổi theo hướng minh bạch, rõ ràng để vừa

tháo gỡ vướng mắc vừa thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật, cùng với đó là

các điều kiện khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; hậu quả

pháp lý khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 54 Bộ luật

Hình sự năm 2015). Cụ thể như sau:

Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS

1.Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội

phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồ thường thiệt hại hoặc khắc

phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm

tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái

pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự

gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không

phải do lỗ của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai ;

20

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt

nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức

hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hố cả ;

t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có tráich nhiệm trong

việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội ;

vi) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến

đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ,

chồng, con của liệt sĩ.

2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết

khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định

tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết

định hình phạt.

Việc Toà án, Viện Kiểm sát xác định tình tiết đúng và áp dụng đúng

tình tiết giảm nhẹ TNHS cụ thể như sau:

Tại điểm a khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015: “người phạm tội đã ngăn

chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm”. Được hiểu là người đã thực

hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm sau khi phạm tội phải có

hành vi tích cực để ngăn chặn tác hại của tội phạm, hoặc làm giảm bớt các tác

hại đó. Hành vi ngăn chặn tác hại của tội phạm được thực hiện khi tội phạm

mà người đó thực hiện chưa gây tác hại, đồng thời, việc ngăn chặn phải thực

21

sự có hiệu quả, tức là tác hại của tội phạm không phát sinh do đã được ngăn

chặn kịp thời. Pháp luật không đòi hỏi người phạm tội phải tự mình quyết

định hành động, chỉ cần họ tự thực hiện việc ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác

hại của tội phạm mà họ gây ra và hành động này mang lại hiệu quả khiến tác

hại của tội phạm thực sự được ngăn chặn hoặc giảm bớt.

Tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015: “người phạm tội tự

nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” là trước khi

người bị thiệt hại có yêu cầu đòi sửa chữa, bồi thường hoặc khắc phục hậu

quả, người phạm tội đã tự nguyện thực hiện hoạt động này. Đây là trường hợp

hành vi của người phạm tội đã gây ra hậu quả của tội phạm thể hiện dưới

dạng thiệt hại cụ thể hoặc những hậu quả khác. Người phạm tội sau đó đã tự

mình quyết định việc và thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc

khắc phục hậu quả của tội phạm mà mình gây ra mà không phải do người bị

thiệt hại hoặc người khác yêu cầu, ép buộc. Sửa chữa thiệt hại được hiểu là

sửa lại, chữa lành những cái bị hành vi phạm tội làm hư hỏng. Ví dụ: Ông A

có hành vi chặt cây, tài sản trong vườn nhà Ông B, sau đó, A đã chủ động tự

nguyện bồi thường thiệt hại theo giá trị thị trường, cũng như các tài sản trong

vườn nhà Ông B. Bồi thường thiệt hại được hiểu là dùng tiền hoặc tài sản của

mình đưa cho người bị thiệt hại để bù đắp lại những thiệt hại do hành vi phạm

tội của mình gây ra bao gồm cả những thiệt hại về vật chất, thể chất hoặc

những thiệt hại về tinh thần. Tình tiết giảm nhẹ này phần nào thể hiện thái độ

ăn năn, hối lỗi của người phạm tội đối với hành vi mà mình đã gây ra. Mức độ

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với trường hợp này phụ thuộc vào thái độ

cố gắng, tự nguyện muốn chuộc lỗi của người phạm tội và mức độ hậu quả

được khắc phục trên thực tế.

Tại điểm c khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội trong trường hợp

vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức

22

cần thiết, không phối hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của

hành vi phạm tội [22, tr.322]. Sự chống trả quá mức ở đây phải được thể hiện

rõ ràng và có lỗi của người thực hiện hành vi chống trả, ví dụ như sử dụng

công cụ, phương tiện quá nguy hiểm so với tình huống, đánh giá sai tình

huống phòng vệ.

Tại điểm d khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội trong trường hợp

vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết”. Tình thế cấp thiết là tình thế của

người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của

người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn

cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa”

(Điều 23 BLHS năm 2015). Nếu thiệt hại gây ra nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn

ngừa thì hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết khiông phải là tội phạm.

Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng không nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn

ngừa thì người gây thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết phải

chịu trách nhiệm hình sự. Tuy vậy, cũng giống như trường hợp vượt quá giới

hạn phòng vệ chính đáng, người gây thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế

cấp thiết được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vì động cơ thực hiện hành vi ở

đây là động cơ tích cực, để tránh gây thiệt hại lớn hơn cho quyền, lợi ích hợp

pháp của mình, của người khác hoặc lợ ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ

chức.

Tại điểm đ, Điều 51: “Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần

thiết khi bắt giữ người phạim tội ”. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy

định trong BLHS năm 2015. Trong trường hợp vì bắt giữ người thực hiện

hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải dùng vũ lực cần

thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm. Đây là một

trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự mới được công nhận trong

BLHS năm 2015. Nếu khi thực hiện việc bắt giữ đã sử dụng vũ lực rõ ràng

23

vượt quá mức cần thiết gây thiệt hại thì người gây thiệt hại phải chịu trách

nhiệm hình sự. Do động cơ gây thiệt hại ở đây là động cơ tích cực, muốn bắt

giữ người phạim tội nên trường hợp gây thiệt hại do vượt quá mức cần thiết

này được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội trong trường hợp bị

kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người

khác gây ra.Trong trạng thái tinh thần bị kích động, người phạm tội đã bị cảm

xúc chi phối phần nào hành vi của mình, do đó đã không hoàn toàn chủ động

khi thực hiện hành vi. Đây là trường hợp được giảm nhẹ liên quan đến phản

ứng do bị kích động về tinh thần của người phạm tội. Mức độ giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự đối với người phạm tội phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng

của hành vi trái pháp luật của nạn nhân, mức độ bị kích động của người phạm

tội. Quy định này của BLHS năm 2015 có điểm khác so với quy định tương

ứng trong BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Quy định trước đây

xác định lý do khiến tinh thần người phạm tội bị kích động có thể từ hành vi

trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác. “Người bị hại” là thuật ngữ

được dùng trong Bộ luật Tố tụng hình sự với tư cách là người tham gia tố

tụng, trong của BLHS năm 2015 các nhà làm luật đã sửa đổi thuật ngữ này

thành “nạn nhân” là hoàn toàn hợp lý vì lúc thực hiện hành vi vi phạm pháp

luật gây ra trạng thái kích động cho người phạm tội họ chưa tham gia tố tụng.

Bên cạnh đó, hiện nay, luật hình sự không thừa nhận hành vi trái pháp luật do

người khác, không phải là nạn nhân gây ra là nguyên nhân dẫn đến việc kích

động nữa. [8, tr.323].

Tại điểm g khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội vì hoàn cảnh đặc

biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra: [8, tr.323] Tình tiết này được

giữ nguyên từ BLHS năm 1999 được hiểu là trường hợp người phạm tội đã

thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do bị chi phối bởi hoàn cảnh đặc biệt

24

khó khăn. Hoàn cảnh này không phải do họ tự gây ra mà là do khách quan

như thiên tai, hỏa hoạn, bệnh tật, tai nạn. Đây là lý do là giảm bớt tính nguy

hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà họ gây ra, vì vậy, phạm tội trong

hoàn cảnh khách quan khó khăn đặc biệt được coi là một yếu tố giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự đối với trường hợp này phụ thuộc bào mức độ khó khăn của hoàn cảnh và

khả năng cố gắng tìm cách khắc phục những khó khăn đó của người phạm tội

trước khi họ thực hiện hành vi phạm tội.Chỉ áp dụng tình tiết này khi có đấy

đủ hai điều kiện: Hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà phạm tội; Hoàn cảnh đặc

biệt khó khăn không phải do người phạm tội tự gây ra.

Tại điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội nhưng chưa gây

thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn [8, tr.324]. Đây cũng là một trong số

những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không được sửa đổi bổ sung

trong BLHS năm 2015. Trường hợp giảm nhẹ này được hiểu là người phạm

tội khi thực hiện hành vi phạm tội chưa gây ra thiệt hại gì, hoặc đã gây ra thiệt

hại nhưng thiệt hại gây ra không lớn. Nguyên nhân dẫn đến thiệt hại chưa xảy

ra hoặc xảy ra không lớn là nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người

phạm tội. Vì hậu quả của phạm tội là một trong những yếu tố để đánh giá tính

nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nên trường hợp phạm tội nhưng chưa gây

thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn được xem là tình tiết giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự.

Tại điểm khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội lần đầu và thuộc

trường hợp ít nghiêm trọng [8, tr.324] là trường hợp phạm tội lần đầu là từ

trước tới nay chưa phạm tội lần nào (Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án,

nhưng đã được xoá án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy

cứu TNHS hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS nay bị truy

cứu TNHS trong cùng lần phạm tội sau, thì không được áp dụng tình tiết giảm

25

nhẹ này). Phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trường hợp ít nghiêm trọng

bao gồm trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng (tội phạm gây nguy hại không

lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối vớ i tội ấy là đến ba

năm tù) và trường hợp phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt

nghiêm trọng nhưng vị trí, vai trò của người phạm tội ít nghiêm trọng (thường

là trong trường hợp phạm tội đồng phạm). Chỉ áp dụng tình tiết này khi có

đầy đủ cả hai điều kiện: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm

trọng. Đây là tình tiết phản ánh đặc điểm nhân thân của người phạm tội ảnh

hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Tình tiết này

không được sửa đổi trong BLHS năm 2015.

Tại điểm k khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Phạm tội vì bị người khác đe

doạ, cưỡng bức. Tình tiết này là một trong những tình tiết ảnh hưởng đến mức

độ lỗi của người phạm tội. Nội dung của tình tiết này hoàn toàn được giữ

nguyên như trong BLHS năm 1999 tuy nhiên có bổ sung từ “hoặc” cho thống

nhất với một số tình tiết khác cũng có sự sửa đổi tương tự. Là trường hợp là bị

người khác dọa trừng phạt nếu làm trái ý họ, tạo cho người phạm tội nỗi lo sợ

về một tai hoạ có thể xảy ra, và để tránh tai hoạ đó người phạm tội đã phải

thực hiện tội phạm; dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có

hành vi khác buộc người phạm tội đã phải thực hiện tội phạm; Tuy vậy, sự đe

dọa hoặc cưỡng bức ở đây không làm người phạm tội mất đi sự tự do lựa

chọn xử sự, mà chỉ làm họ suy giảm khả năng lựa chọn của mình. Đe dọa

được hiểu là dọa dừng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần như dọa gây thương tích,

dọa giết,…nếu người bị đe dọa không thực hiện tội phạm theo ý muốn của

người đe dọa. Cưỡng bức là việc dùng vũ lực như đánh, bắt trói, giam

giữ,…để buộc người khác phải thực hiện tội phạm theo ý của người đe dọa.

Mức độ giảm nhẹ của tình tiết này phụ thuộc vào tính chất, mức độ của sự đe

dọa, cưỡng bức [8, tr.325].

26

Tại điểm l, Điều 51: “Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng

nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra”. Là tình tiết mới được bổ

sung vào BLHS năm 2015. Đối với tình tiết này mặc dù chưa có hướng dẫn

cụ thể nhưng có thể hiểu theo tinh thần của quy định này là một số trường

hợp, người thực hiện hành vi phạm tội trong khi bị hạn chế khả năng nhận

thức do nguyên nhân khách quan chẳng hạn như bị cưỡng ép, lừa gạt để sử

dụng chất kích thích mạnh. Vì vậy, đối với trường hợp phạm tội khi hạn chế

khả năng nhận thức không phải do lỗi của mình sẽ được giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự. Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào mức độ bị hạn chế khả năng nhận

thức do yếu tố khách quan mang lại.

Tại điểm m khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: “Phạm tội do lạc hậu”là

trường hợp người phạm tội vì lý do điều kiện sống về vật chất và tinh thần

không theo kịp đà tiến bộ, đà phát triển chung. Chỉ áp dụng tình tiết nếu lạc

hậu đó là do nguyên nhân khách quan đưa lại, như do đời sống xã hội nên

không hiểu biết hoặc kém hiểu biết về pháp luật, không được học tập, không

có điều kiện thực tế để nhận biết các đúng sai trong cuộc sống…[8, tr.326]

Tại điểm n khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Người phạm tội là phụ nữ có

thai.Tình tiết này được giữ nguyên như quy định tại BLHS năm 1999. Tình

tiết này phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đó là việc họ thực

hiện hành vi phạm tội khi đang mang thai. Một trong những yếu tố ảnh hưởng

đến hành vi phạm tội của họ là sự thay đổi về tâm – sinh lý trong thời kỳ

mang thai dẫn đến trạng thái nóng nảy, dễ bị kích động, khó kiểm soát hành

vi. Bên cạnh đó, chính sách hình sự của nhà nước ta luôn nhân đạo đối với

người phụ nữ mang thai và trẻ em nên đối tượng này khi phạm tội sẽ được

giảm nhẹ hơn bình thường. Người phụ nữ phải chứng minh là mình có thai

khi phạm tội.Trong trường hợp chưa có đủ căn cứ để kết luận người phụ nữ

có thai khi phạm tội thì phải căn cứ vào kết luận của cơ quan chuyên môn y tế

27

hoặc kết luận giám định.Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào thời kỳ mang thai,

ảnh hưởng của tình trạng thai nhi đến việc thực hiện tội phạm của bị cáo [8,

tr.326].

Tại điểm b khoản o Điều 51 BLHS 2015:“người phạm tội là người đủ

70 tuổi trở lên” là một tình tiết có sự sửa đổi theo hướng cụ thể hóa so với

quy định tương ứng trước kia trong BLHS năm 1999. Trước đây, tình tiết này

được quy định là “người phạm tội là người già”. Hiện nay, theo định hướng

cụ thể hóa các quy định trong BLHS, tình tiết này đã được sửa đổi rõ ràng

hơn, cụ thể hơn bằng việc quy định cụ thể độ tuổi được giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự của người phạm tội. Quy định này xuất phát từ chính sách hình sự

nhân đạo của nhà nước ta đối với người cao tuổi. Bên cạnh đó, yếu tố tâm –

sinh lý lứa tuổi cũng được cân nhắc vì vào độ tuổi này, khả năng nhận thức và

điều khiển hành vi của họ bị suy giảm, điều này phần nào ảnh hưởng đến tính

chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà họ thực hiện. Do đó, tình tiết

liên quan đến hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội vì họ là người già cần

phải được xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.Ngoài ra, trường

hợp này còncăn cứ theo pháp lý tiểu mục 2. 4 mục 2 Nghị quyết số

01/2006/NQ- HĐTP. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt dù người

phạm tội là người từ 70 tuổi trở lên, nhưng cũng không nên áp dụng tình tiết

này (thông thường là các tội xâm phạm tình dục của người phụ nữ, dâm ô trẻ

em), vừa qua cả nước xuất hiện rất nhiều vụ việc liên quan đến tình tiết này,

các đối tượng lợi dụng tình tiết này để xin giảm án, mặc dù xã hội lên án rất

gây gắt. Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào độ tuổi, tình trạng sức khoẻ và tội

phạm đã thực hiện.

Tại điểm p khoản 1, Điều 51: Tình tiết “người phạm tội là người khuyết

tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng” là tình tiết mới được bổ sung vào Điều

51 BLHS năm 2015. Theo quy định Tại khoản 1 Điều 2 Luật người khuyết tật

28

năm 2010, “người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ

phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến

cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Đặc điểm này ảnh hưởng

không nhỏ đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội

là người khuyết tật. Đồng thời, chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với

người khuyết tật là một yếu tố quyết định việc giảm nhẹ trách nh ệm hình sự

cho người khuyết tật kh họ phạm tội. Tuy vậy, chỉ những người khuyết tật

nnặng, khuyết tật đặc biệt nặng mới được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.

Người khuyết tật nặng và khuyết tật đặc biệt nặng được gh nhận trong Luật

người khuyết tật năm 2010. Theo quy định này: “Người khuyết tật đặc biệt

nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể thực hiện việc phục vụ nhu cầu

sinh hoạt cá nhân hàng ngày” (điểm a khoản 2 Điều 3 Luật người khuyết

tậtinăm 2010). “Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không

thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày”

(điểm b khoản 2 Điều 3 Luậtingười khuyết tậtinăm 2010).

Tại điểm q khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Người phạm tội là người có

bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của

mình. Là tình tiết đã được quy định từ BLHS năm 1999. Tình tiết này ảnh

hưởng đến mức độ lỗi của người phạm tội vì người phạm tội ở đây là người

mắc bệnh dẫn đến hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành

vi của mình. Là trường hợp người có bệnh, tức là có bệnh lý nào đó theo quy

định trong y sinh học, làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều

khiển hành vi của người phạm tội (trong trường hợp chưa có đủ căn cứ để kết

luận thì phải có kết luận của cơ quan chuyên môn y tế hoặc kết luận giám

định). Chỉ áp dụng tình tiết này khi có đầy đủ cải hai điều kiện người phạm

tội phải có bệnh và bệnh đó là nguyên nhân là nguyên nhân làm hạn chế khả

năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội. Mức

29

độ giảm nhẹ phụ thuộc vào tình trạng bệnh tật, mức độ hạn chế khả năng nhận

thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội [8, tr.327].

Tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Người phạm tội tự thú là tự

mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát

hiện được mình phạm tội. Tình tiết này cũng không được sửa đổi trong BLHS

năm 2015. Tình tiếtinày phản ánh khả năng cải Tại của người phạm tội. Để

được coi là tự thú, người phạm tội phải chủ động đến cơ quan có thẩm quyền

trình diện và khai báo về hành vi của mình trước khi tội phạm bị phát hiện.

Quy định này phù hợp với nguyên tắc xử lý “khoan hồng đối với người tự

thú” ghi nhận Tại điểm d Điều 3 BLHS năm 2015. Người nào bị bắt, bị phát

hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra tự mình

nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát

hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra

những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện.

Tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Người phạm tội thành khẩn

khai báo, ăn năn hối cải. Mức độ giảm nhẹ của việc thành khẩn khai báo phụ

thuộc vào sự thành khẩn được thực hiện ở giai đoạn tố tụng nào và ý nghĩa

thiết thực của sự thành khẩn trong việc giả quyết vụ án; mức độ giảm nhẹ của

sự ăn năn hối cải phụ thuộc vào mức độ ăn năn hối cải của người phạm tội,

những hành động, việc làm cụ thể chứng minh cho sự ăn năn hối cải đó.

“Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải ” quy định Tại

điểm s khoản 1, mặc dù vẫn giữ nguyên nội dung như quy định trước đây

trong BLHS năm 1999, nhưng với việc sửa đổi trong BLHS năm 2015 cách

áp dụng tình tiếtinày đã có sự thay đổi. Để được giảm nhẹ, người phạm tội chỉ

cần thỏa mãn một trong hai điều kiện: Thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối

cải. Tình tiếtinày là tình tiết giảm nhẹ phảin ánh được khả năng cải tạo của

người phạm tội, cũng là tình tiết cụ thể hóa tinh thần của điểm d khoản 1 Điều

30

3 BLHS năm 2015 “Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn kha

báo,…ăn năn hối cải,…”.

Tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: “người phạm tội tích cực hợp

tác với cơ quan có trách nh ệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá

trình giải quyết vụ án”. Mặc dù không phải là tình tiết giảm nhẹ mới, nhưng

tình tiết này vẫn được sửa đổi về mặt kỹ thuật, không làm thay đổi mà giúp

diễn đạt rõ ràng hơn nội dung của tình tiết, đồng thời thể hiện sự thống nhất,

đồng bộ trong việc sửa đổi các tình tiết giảm nhẹ trong BLHS năm 2015. Để

được coi là “tích cực giúp đỡ”, người phạm tội phải cung cấp bằng chứng, tài

liệu, tin tức cho cơ quan có trách nhiệm hoặc thực hiện đúng các yêu cầu của

các cơ quan đó. Việc làm của người phạm tội đã giúp các cơ quan có trách

nhiệm phát hiện ra tội phạm hoặc điều tra tội phạm một cách nhanh chóng,

kịp thời và chính xác. Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vàohiệu quả từ việc cung

cấp thông tin, tài liệu trong việc phát hiện hoặc điều tra tội phạm, tính chủ

động, mức độ; hiệu quả của những hành vi giúp đỡ của người phạm tội [8,

tr.329].

Tại điểm u khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 Người phạm tội đã lập công

chuộc tội. Là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm cho đến khi bị xét xử (sơ

thẩm, phúc thẩm, giám đốic thẩm, tái thẩm), người phạm tội không những ăn

năn hối cải, tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nh ệm phát hiện, điều tra tội

phạm do họ thực hiện, mà họ còn có những hành động giúp đỡ các cơ quan có

thẩm quyền phát hiện, ngăn chặn các tội phạm khác, tham gia phát hiện tội

phạm, bắt kẻ phạm tội, có hành động thể hiện sự quên mình vì lợ ích của Nhà

nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của người khác… Mức độ

giảm nhẹ phụ thuộc vào công trạng của người phạm tội và việc lập công

chuộc tội đó ở gi đoạn tố tụng nào. Đây là điều khoản hoàn toàn được giữ

nguyên nhân quy định trước đây trong BLHS năm 1999.

31

Tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 Người phạm tội là người có

thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác. Là người

được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, bằng lao động sáng

Tạo hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị hoặc nhiều năm được công nhận là

chiến sỹ thi đua (mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ- HĐTP).Thành tích xuất

sắc này thường là người phạm tội phải có được trước khi phạm tội. Mức độ

giảm nhẹ phụ thuộc vào thành tích; hình thức khen thưởng; giá trị của sáng

chế, phát minh; danh hiệu thi đua được công nhận; số lần được khen thưởng.

Tình tiết này là sự kế thừa của BLHS năm 2015 với quy định tương ứng trong

BLHS năm 1999.

Tại điểm x khoản 1, Điều 51 “Người phạm tội là người có công với

cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ” là tình tiết mới, lần đầu

được ghi nhận trong BLHS năm 2015. Tình tiết này trước đây thường được áp

dụng với tư cách là tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 46 BLHS năm

1999, nay được ghi nhận là tình tiết giảm nhẹ chính thức Tại khoản 1 Điều 51

BLHS năm 2015. Đây là tình tiết thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước

đối với người phạm tội là những đối tượng đặc biệt, là người có công với

Cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

Tại Khoản 2, Điều 51: Các tình tiết giảm nhẹ không chỉ được các nhà

làm luật giới hạn trong khoản 1 Điều 51 mà còn có thể được Tòa án tự nêu ra

quyết định hình phạt đối với trường hợp phạm tội cụ thể nhưng phải ghi rõ lý

do giảm nhẹ trong bản án (khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015). Bên cạnh đó,

theo quy định khoản 2 Điều 51 Tòa án có thể coi đầu thú là tình tiết giảm nhẹ

và có giá trị tương đương với các tình tiết giảm nhẹ khác cùng khoản này, vì

vậy tình tiết này cũng phải được ghi rõ trong bản án. Đây là điểm mới so với

quy định tương ứng trong BLHS năm 1999. Trước đây, mặc dù đầu thú vẫn

được coi là tình tiết giảm nhẹ của khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999, tuy

32

nhiên các nhà làm luật không đề cập trực tiếp mà chỉ được liệt kê trong văn

bản hướng dẫn. Việc ghi nhận cụ thể tình tiết đầu thú tại khoản 2 Điều 51

BLHS năm 2015 thể hiện tầm quan trọng của tình tiết này, đồng thời thể hiện

sự khuyến khích của Nhà nước đối với những người phạm tội, đang truy nã ra

trình diện để được sự khoan hồng của Nhà nước.

Tại Khoản 3 Điều 51 BLHS năm 2015 giữ nguyên nội dung và tinh thần

của khoản 3 Điều 46 BLHS năm 1999. Quy định này nhấn mạnh việc không cho

phép Tòa án cân nhắc hai lần đối với cùng một tình tiết, tình tiết đã được sử dụng

để định tội hoặc định khung hình phạt thì không được dùng để giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự cho người phạm tội khi quyết định hình phạt nữa.

Nhìn chung, qua phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

tại Điều 51 BLHS 2015, thì Điều 51 BLHS năm 2015 có một số sửa đổi, bổ

sung so với quy định BLHS 1999 như sau [2, tr.01-02]:

Thứ nhất, bổ sung thêm các tình tiết giảm nhẹ TNHS, cụ ithể:

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người

phạm tội (điểm đ);

- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không

phải do lỗi của mình gây ra (điểm l);

- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng (điểm p);

- Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ,

chồng, con của liệt sĩ (điểm x).

Thứ hai, sửa đổi tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q khoản 1 Điều 46

BLHS năm 1999 theo hướng tại thêm cơ hội hơn cho người phạm tội được áp

dụng tình tiết giảm nhẹ. Theo đó, tình tiết giảm nhẹ "người phạm tội tích cực

giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, Điều tra tội phạm" tại điểm q

khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 được sửa đổi thành "người phạm tội tích

cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc

33

trong quá trình giải quyết vụ án" tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Thứ ba, một số tình tiết giảm nhẹ được quy định ghép trong cùng một

điểm của khoản 1 Điều 46 của BLHS năm 1999 đã gây tranh cãi và không

thống nhất về nhận thức là một hay nhiều tình tiết giảm nhẹ. Để góp phần

khắc phục bất cập này, khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 đã có tách riêng

từng tình tiết giảm nhẹ TNHS và quy định thành những điểm khác nhau; đối

với một số ít các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định chung trong cùng

một điểm thì Bộ luật đã sử dụng từ “hoặc” thay cho dấu phẩy (,) trong quy

định của BLHS năm 1999 để phân biệt.

Khoản 1 Điều 46 BLHS Khoản 1 Điều 51 BLHS Điểm sửa đổi

1999, (sửa đổi bổ sung năm 2015

2009)

Người phạm tội đã ngăn Người phạm tội đã ngăn Thay dấu “,” thành từ

chặn, làm giảm bớt tác chặn hoặc làm giảm bớt “hoặc”

hại của tội phạm; tác hại của tội phạm

Người phạm tội tự Người phạm tội tự Thay dấu “,” thành từ

nguyện sửa chữa, bồi nguyện sửa chữa, bồi “hoặc”

thường thiệt hại, khắc thường thiệt hại hoặc

phục hậu quả khắc phục hậu quả

Phạm tội trong trường Phạm tội trong trường Thay từ “người bị hại”,

hợp bị kích động về tinh hợp bị kích động về t nh người khác thành “nạn

thần do hành vi trái thần do hành vi trái pháp nhân”

pháp luật của người bị luật của nạn nhân gây ra;

hại hoặc người khác gây

ra

Phạm tội vì bị người Phạm tội vì bị người khác Thay dấu “,” thành từ

34

khác đe doạ, cưỡng bức; đe doạ hoặc cưỡng bức “hoặc”

Người phạm tội là Người phạm tội là người Thay từ “người già”

người già; đủ 70 tuổi trở lên; thành cụm từ “người

đủ 70 tuổi trở lên”

Người phạm tội thành Người phạm tội thành Thay dấu “,” thành từ

khẩn khai báo, ăn năn khẩn khai báo hoặc ăn “hoặc”

hố cả năn hối cả

Người phạm tội tích cực Người phạm tội tích cực Thay dấu “,” thành từ

giúp đỡ các cơ quan có giúp đỡ các cơ quan có “hoặc”

trách nhiệm phát hiện, trách nhiệm phát hiện

Điều tra tội phạm hoặc Điều tra tội phạm

Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ có thể tác động đến việc định

khung, hoặc quyết định hình phạt của vụ án. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy

định Điều kiện áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

– Đối với việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quy

định này thể hiện tính chất nhân đạo của pháp luật, mang tính giáo dục trong

công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mà vẫn thể hiện được tính nghiêm

minh của pháp luật và có tác dụng răn đe cao. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy

định việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: “Tòa án

có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt

được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của Điều luật

khi người phạm tội có ít nhất ha tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật

này; Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung

hình phạt được áp dụng, nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt

liền kề nhẹ hơn của Điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp

sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể” (khoản 1, khoản

35

2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015); “Trong trường hợp có đủ các Điều

kiện theo quy định, nhưng Điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung

hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình

phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt

khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản

án” (khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Việc quy định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có lợ cho bị

cáo thể hiện tính độc lập của Tòa án nhân dân trong hoạt động tố tụng với các

cơ quan tiến hành tố tụng, mà trực tiếp là bản cáo trạng của Viện k ểm sát

nhân dân. Hậu quả áp dụng trong trường hợp này được hiểu là mang tính có

lợ cho bị cáo, cụ thể Điều 54, BLHS 2015 quy định những điểm mới so với

Luật hình sự 1999 như sau:

Thứ nhất, Bổ sung mới khoản 2 của Điều luật quy định về trường hợp

Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp

dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung liền kề, theo đó, “Tòa án có thể

quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp

dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của

Điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng

phạm nhưng có vai trò không đáng kể”. Đây là một quy định rất mới nhằm

tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án đối với những

trường hợp người phạm tội lần đầu là người giúp sức, có vai trò không đáng

kể trong vụ án đồng phạm, nhưng bị truy tố và xét xử ở khung hình phạt nặng

cùng với các đồng phạm khác.

Tuy nhiên, khi áp dụng khoản 2 của Điều luật này cần lưu ý là người

được áp dụng cũng phải thỏa mãn Điều kiện quy định tại khoản 1 của Điều

luật tức là họ cũng phải có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1

Điều 51 của BLHS năm 2015.

36

Thứ ba, khoản 3 Điều này được thiết kế trên t nh thần tách quy định tại

đoạn cuố Điều 47 BLHS năm 1999 về việc Tòa án quyết định hình phạt dưới

mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ

hơn, nhưng cụ thể và rõ ràng hơn: “Trong trường hợp có đủ các Điều kiện

quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này, nhưng Điều luật chỉ có một

khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa

án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc

chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.Lý do của việc giảm nhẹ

phải được gh rõ trong bản án”. Như vậy, có 22 tình tiết giảm nhẹ TNHS sẽ

được áp dụng theo Khoản 1 Điều 51 BLHS, đây là các tình tiết giảm nhẹ

TNHS rất quan trọng mà các bị cáo được áp dụng sẽ được hưởng chính sách

khoan hồng của Nhà nước, thậm trí có thể được giảm hình phạt, hưởng án

treo hay xử dưới khung hình phạt.

Tuy nhiên, vừa qua trong quá trình xét xử của Hội thẩm nhân dân, Toà

án, Viện Kiểm sát, việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo BLHS năm

2015 đang xuất hiện nhiều bất cập, do nhiều tình tiết giảm nhẹ không bảo đảm

cơ sở lý luận và thực tiễn; cũng như vẫn tạo khả năng cho Tòa án duy trì sự

tùy nghi, thậm chí là tùy tiện trong việc coi các tình tiết khác là tình tiết giảm

nhẹ TNHS trong việc quyết định hình phạt. Mục đích cơ bản của quy định

tình tiết giảm nhẹ này là để khuyến khích bị cáo thành khẩn khai báo hoặc ăn

năn hối cải. Tuy nhiên, với đa số các vụ án bị can, bị cáo đã thành khẩn khai

báo thì không cần thiết phải quy định để đạt mục đích như đã nêu.

Ngoài những quy định chính về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

2017. Ở những văn bản dưới luật, quy định về áp dụng tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự còn được quy định tại điểm c mục 5 Nghị quyết

01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 để xác định tình tiết khác là tình tiết giảm

37

nhẹ. Đồng thời, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể

của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ,

nhưng phải ghi rõ trong bản án. Theo đó, những văn bản đó gồm:

+ Hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSNDTC-

TANDTC-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 thi hành quy định của Bộ Luật

Tối tụng Hình sự đối với người tham gia tối tụng là người chưa thành niên.

+ Nghị định 37/2018/NĐ-CP ngày 10/3/2018 của Chỉnh phủ, Thông tư

liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH

ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối

cao – Bộ công an – Bộ tư pháp – Bộ lao động thương binh xã Hội về việc

phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố

tụng đối với người dưới 18 tuổi (Thông tư liên tịch số 06/2018)

+ Thông tư liên tịch số 04/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC

ngày 09/02/2018 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao,

Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ

luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện.

+ Bộ Công an ban hành Thông tư số 12/2018/TT-BCA ngày 07/5/2018

quy định thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện trong Công an nhân dân.

+ Nghị quyết số 01/2013/NQ- HĐTP ngày 01/11/2013, Nghị quyết số

02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân

dân tối cao trong công tác giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm.

Trên cơ sở luật hiện hành quy định về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự, điểm nổ bật của Luật Hình sự năm 2015, và các văn bản hướng dẫn

dưới luật quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn tiến bộ hơn so

với 1999. Do đã mở rộng phạm vi áp dụng đối với các trường hợp quyết định

hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Các vướng

mắc trong áp dụng quy định của BLHS năm 1999 về các tình tiết giảm nhẹ

38

trách nhiệm hình sự đã được BLHS năm 2015 sửa đổ theo hướng minh bạch,

rõ ràng, vừa thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật. Quy định các tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự năm 2015 so với năm 1999 có nhiều sửa đổi, bổ

sung. Bổ sung thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm: Phạm tội

trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (điểm đ);

phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do

lỗi của mình gây ra (điểm l); người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc

đặc biệt nặng (điểm p); người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc

là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ (điểm x). Sửa đổi tình tiết giảm nhẹ quy

định tại điểm q khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 theo hướng tạo thêm cơ hội

hơn cho người phạm tội được áp dụng tình tiết giảm nhẹ. Theo đó, tình tiết

giảm nhẹ "người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát

hiện, điều tra tội phạm" tại điểm q khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 được

sửa đổi thành "người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm

trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án" tại điểm t

khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Mặt khác, khi quyết định hình phạt, Tòa

án có thể coi đầu thú hoặc các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, những phải

ghi rõ lý do trong bản án. Việc bổ sung quy định này nhằm đáp ứng yêu cầu

của thực tiễn, khuyến khích những người phạm tội đang trốn tránh ra đầu thú

để được hưởng khoan hồng, giúp Nhà nước tiết kiệm chi phí phục vụ cho việc

điều tra, truy nã và sớm kết thúc vụ án.

- Tóm lại, với nguyên tắc nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị

kết hợp với giáo dục, trong đó áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ để “khoan

hồng với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập

công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại

gây ra”, các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định trong BLHS đã thể hiện

rõ nguyên tắc tư pháp tiến bộ, nhân đạo của Nhà nước ta trong việc xử lý

39

người phạm tội. Các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng cho bị cáo sẽ mang tính

chất quyết định trong việc có cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp

nhất của khung hình phạt hay không hoặc có cho bị cáo được hưởng án treo

hay hình phạt không cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội.

Tiểu kết Chương 1

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết được quy

định trong BLHS hoặc được Tòa án xác định có vai trò làm giảm nhẹ đi trách

nhiệm hình sự của người phạm tội trong khung hình phạt được áp dụng.Việc

quy định các tình tiết giảm nhẹ không chỉ là sự cụ thể hóa nguyên tắc nhân đạo,

một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự mà còn thể hiện được nội

dung nguyên tắc cá thể hóa hình phạt – nguyên tắc đặc thù của luật hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong BLHS năm 2015 đã

có sự sửa đổi bổ sung trên cơ sở kế thừa phần lớn các quy định trước đó của

BLHS năm 1999. Bên cạnh đó, một số tình tiết giảm nhẹ của BLHS năm

1999 đã được sửa đổi trong BLHS năm 2015

Có thể thấy, việc quy định cụ thể và bổ sung thêm một số quy định mới

về tình tiết giảm nhẹ TNHS trong BLHS năm 2015 đã thể hiện rõ sự khoan

hồng, tính chất nhận đạo của Đảng và Nhà nước đối với những người phạm

tội tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc

tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra. Từ

đó, giúp họ có thể được hưởng những hình phạt thấp hơn, để họ sớm trở về

với gia đình, hòa nhập cộng đồng, lao động, học tập, trở thành người có ích

cho xã hội.

Với những cơ sở lý luận về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được

phân tích bình luận tại Chương 1 này, là cơ sở để đánh giá những thực tiễn áp

dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại địa phương, cụ thể là thành

40

phố Hội An tại Chương 2 được chính xác, cụ thể.

CHƯƠNG 2

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÌNH TIẾT GIẢM

NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

2.1. Khái quát các điều kiện kinh tế - xã hôi tác động đến tình hình

áp dụng quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại thành

phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam, có tổng diện tích tự nhiên 61,71

km2, nằm bên bờ Bắc hạilưu sông Thu Bồn, ở vị trí địa lý từ 15o15’26” đến

15o55’15” vĩ độ Bắc và từ 108o17’08” đến 108o23’10” kinh độ Đông; cách quốc

lộ 1A khoảng 9 km về phía Đông, cách thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Đông

Nam, cách thành phố Tam Kỳ khoảng 50 km về phía Đông Bắc [6, tr.1].

Hình 2.1.Bản đồ hành chính Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Nguồn: Cổng thông tin điện tử thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Ngày 29 tháng 1 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 10/NĐ-

CP thành lập Thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam trên cơ sở toàn bộ

diện tích, dân số và các đơn vị hành chính thuộc thị xã Hội An. Cơ cấu hành

41

chính của thành phố hiện nay gồm 9 phường: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phô,

Tân An, Thanh Hà, Cẩm Châu, Cẩm An, Cửa Đại, Cẩm Nam (gồm tổng cộng

55 khối phố) và 4 xã: Cẩm Thanh, Cẩm Kim, Cẩm Hà, Tân Hiệp (gồm tổng

cộng 23 thôn).

Với vị trí địa lý và quan hệ liên vùng, thành phố Hội An là trọng tâm

của cụm động lực phía Bắc vùng Đông của tỉnh Quảng Nam, Hội An nằm

trong Cụm động lực phát triển số 1 của Quảng Nam, là vùng giao thoa giữa

Hành lang phát triển Bắc Quảng Nam (kết nối Vùng Đông Quảng Nam với các

huyện Tây Bắc (Đông Giang, Nam Giang, Tây Giang). Hội An còn có một ưu

thế đặc biệt với vị trí nằm trên “Con đường di sản văn hóa miền Trung” bao

gồm: Hội An – Mỹ Sơn – Huế, là yếu tố thuận lợi giúp Hội An thu hút được

một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước.

Bên cạnh đó, thành phố Hội An là khu vực dân cư đông, người Kinh

chiếm đa số còn có cộng đồng người Hoa định cư làm ăn sinh sống từ bao đời

nay, gắn với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Hội An. Dân số

tăng tự nhiên tại chỗ, hằng năm ở Hội An tốc độ gia tăng dân số cơ học khá

cao. Mặt khác, hàng ngày có một lượng du khách khá lớn đến tham quan du

lịch, nhiều lao động từ các địa phương khác trong và ngoài tỉnh đến buôn bán

làm ăn và không ít các nhà khoa học, cán bộ, công chức, viên chức, nghệ sĩ. .

.đến nghiên cứu, công tác, nó ảnh hưởng đến một phần tình hình tội phạm trên

địa bàn huyện. Một phần là do những mặt trái của sự phát triển thu hút khách

du lịch trên địa bàn nên kéo theo sự gia tăng hàng loạt các loại tội phạm mà

đặc biệt là các tội xâm phạm về sở hữu như: trộm cắp, cướp giật tài sản…,

trong đó có nhiều vụ trộm cắp, cướp giật tài sản của du khách người nước

ngoài. Bên cạnh đó, việc tập trung số lượng lớn khách du lịch ở Hội An cũng

là cơ hội cho những đối tượng phạm tội từ các địa phương khác trong và

ngoài tỉnh đến hoạt động ngày càng nhiều. Chính vì điều này phần nào đã tác

42

động tiêu cực đến hình ảnh của thành phố Hội An trong mắt du khách, nhất là

du khách đến từ các nước trên thế giới.

Cán bộ, công chức thực hiện công tác tư pháp thành phố Hội An luôn

tích cực học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, tham gia tập

huấn, trao đổi nghiệp vụ, xây dựng các đề tài, sáng kiến, giải pháp nâng cao

chất lượng công tác. Nhìn chung, các cấp ủy đảng, cán bộ, đảng viên nhận

thức khá đầy đủ tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức thựchiện công

tác tư pháp, xem đánh giá cán bộ, công chức thựchiện công tác tư pháphàng

năm là khâu quan trọng, làm cơ sở cho các khâu khác trong công tác cán

bộ.Các ban đảng, các cấp, ngành, đoàn thể thành phố có sự phối hợp chặt chẽ,

gắn với quản lý, kiểm tra, giám sát, khen thưởng và kỷ luật cán bộ nên bước

đầu khắc phục một số tồn tại, hạn chế như tính hình thức, nể nang, né tránh

trong nhận xét, đấu tranh tự phê bình và phê bình.

Hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp thành phố Hội An

là 173 người (nguồn Cổng thông tin điện tử thành phố Hội An, số liệu năm

2015), năm 2019 số lượng công chức, cán bộ, viên chức thành phố cũng giữ

nguyên, và có xu thế giảm dần trong thời gian tới do thực hiện tinh giản biên

chế theo Nghị quyết số 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị

lần thứ XII, trong đó biên chế hành chính là 104 người và biên chế sự nghiệp

là 69 người.

Số lượng lao động hợp đồng là 474 người, trong đó các cơ quan hành

chính là 133 người (toàn bộ do ngân sách thành phố chi trả) và các đơn vị sự

nghiệp là 341 người (nhân sự phụ trách công tác tư pháp chi trả 122 người,

các cơ quan, đơn vị tự chi trả 219 người).

Với trình độ chuyên môn đội ngũ cán bộ, công chức thành phố càng

ngày càng được đào tạo bài bản, chuyên môn sâu, nhận thức tốt.Cụ thể: Cán

bộ, công chức, viên chức: Thạc sỹ có 04/173 người, chiếm tỷ lệ 2,3%; đại học

43

có 128 người, chiếm tỷ lệ 74%; cao đẳng có 05 người, chiếm tỷ lệ 2,9%; trung

cấp có 33 người, chiếm tỷ lệ 19,1% và còn lại chiếm 1,7%.

Hình 2.2.Biểu đồ biểu thị trình trình độ chuyên môn đội ngũ cán bộ, công

chức thành phố năm 2019

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân

TP.Hội An, tỉnh Quảng Nam đã đầu tư công sức, tập trung trí lực để kha thác

tiềm năng, thế mạnh, phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh trật tự, từng

bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Thường xuyên

tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng và quán triệt sâu sắc cho mỗi

một cán bộ công chức trong việc lãnh, chỉ đạo về việc tổ chức thực hiện chủ

trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Xác định rõ yêu cầu

nhiệm vụ chính trị của đơn vị trong điều kiện b ên chế ít, khối lượng công

việc nhiều và phức tạp nên cán bộ, công chức trong toàn đơn vị luôn tích cực

học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, tham giatập huấn, trao đổi

nghiệp vụ, xây dựng các đề tài, sáng kiến, giải pháp nâng cao chất lượng công

44

tác; thực hiện tốt các phong trào thi đua để hoàn thành xuất sắc về các mặt

công tác.Đặc biệt chú trọng đến công tác giải quyết dứt điểm các loại án gắn

liền với nâng cao chất lượng xét xử. 100% các bản án đều được xét xử đúng

người, đúng tội, không oan sai [5, tr.1].

2.2. Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật hình sự về các tình

tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại thành phố Hội An

2.2.1. Thực tiễn áp dụng khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 và khoản

1 Điều 51 BLHS Việt Nam năm 2015

Nhìn chung, các vụ án hình sự đều được Viện Kiểm sát thành phố truy

tố đúng tội, TAND thành phố xét xử đúng thời gian luật định; chất lượng các

vụ án được nâng cao, hạn chế được những sai sót thường gặp trước đây; việc

quyết định hình phạt đối với các bị cáo đều dựa trên cơ sở xem xét, cân nhắc,

đánh giá các tình tiết sự việc, các tài liệu chứng cứ một cách khách quan, toàn

diện.Bên cạnh đó, Viện Kiểm sát đã áp dụng các mức hình phạt đã áp dụng

đối với các bị cáo trong các vụ án hình sự đều thể hiện rõ tính nghiêm minh

của pháp luật; các quy trình tố tụng được thể hiện một cách chặt chẽ theo

đúng quy định.Điều đó thể hiện qua tình hình các vụ án hình sự trên địa bàn

từ năm 2015 đến 2019 có xu thế giảm, một phần do việc đưa các vụ án hình

sự áp dụng đúng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình sự, góp phần phổ biến

giáo dục pháp luật trên địa bàn.

Bảng 2.1. Số liệu các vụ hình sự phát hiện và xử lý từ năm 2015 đến 2019

trên địa bàn thành phố Hội An

Năm 2015 2016 2017 2018 2019

Số vụ hình sự 123 110 117 101 64

45

phát hiện xử lý

Hình 2.3.Biểu thị số vụ hình sự phát hiện và xử lý từ năm 2015 đến 2019

trên địa bàn thành phố Hội An

Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự.

Ngoài ra, sự phối hợp liên ngành giữa các cơ quan như: Công an, Viện

kiểm sát, Tòa án trong việc thực hiện quy chế phối hợp giải quyết án hình sự,

đặc biệt là trong việc xác định án trọng điểm, xét xử lưu động có nhiều tiến

bộ…Theo đó, số liệu từ báo cáo năm 2019 về hoạt động xét xử truy tố, điều

tra của các cơ quan liên ngành đã thực hành quyền công tố và kiểm sát điều

tra 117 vụ/ 115 bị can;cơ quan cảnh sát điều tra giải quyết 97 vụ/101 bị can,

trong đó: Đề nghị truy tố 51 vụ/91 bị can, đình chỉ điều tra 03 vụ/02 bị can;

riêng Viện Kiểm sát thụ lý số án hình sự năm 2019 là 64 vụ/91 bị can, thực

hiện quyền công tố xét xử các vụ án hình sự 64 vụ/93 bị can, giải quyết xong

100%. Hầu hết 64 vụ án hình sự đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS

trong kết luận, với nội dung chủ yếu là phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó

khăn mà không phải do mình tự gây ra, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại

hoặc gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm

46

trọng, phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không

phải do lỗi của mình gây ra, người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên, người

phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập

hoặc công tác.

Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHScó ảnh hưởng đến hiệu quả phòng

ngừa, đấu tranh trên địa bàn thành phố Hội An, nó được thể hiện qua các số liệu,

tác giả trình bày và phân tích về nội dung của các tình tiết giảm nhẹ TNHS và

mức độ ảnh hưởng theo BLHS.

Việc nghiên cứu các bản án là cái nhìn tổng quát đến chi tiết về việc

thực tiễn áp dụng các các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về người phạm tội,

trong quá trình xét xử hầu hết các bản án đều được thẩm phán xem xét cân

nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong quyết định hình phạt của TAND

thành phố Hội An.

Bảng 2.2. Số liệu các vụ án hình sự được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ

TNHS của Tòa án nhân dân thành phố Hội An từ năm 2015 đến năm 2019

Năm Tỷ lệ các vụ án có tình tiết giảm nhẹ

TNHS các vụ án xét xử 2015 2016 2017 2018 2019

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm 1 2 1 1 2 giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa,

bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu 10 8 7 7 3

quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá 2 2 1 1 0 giới hạn phòng vệ chính đáng

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá 0 0 2 1 0 yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá 0 0 0 1 0

47

mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

Năm Tỷ lệ các vụ án có tình tiết giảm nhẹ

TNHS các vụ án xét xử 2015 2016 2017 2018 2019

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động

về tinh thần do hành vi trái pháp luật của 4 6 7 7 3

nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 3 3 2 4 4 mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc 5 5 7 8 6 gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít 10 11 13 12 6 nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc 0 1 2 1 0 cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế

3 5 4 2 khả năng nhận thức mà không phải do lỗi 3

của mình gây ra;

2 3 2 1 0 m) Phạm tội do lạc hậu;

3 3 1 1 1 n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở 2 2 1 2 2 lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật 0 0 2 0 0 nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn

1 1 2 1 chế khả năng nhận thức hoặc khả năng 3

điều khiển hành vi của mình;

48

3 2 5 6 4 r) Người phạm tội tự thú;

Năm Tỷ lệ các vụ án có tình tiết giảm nhẹ

TNHS các vụ án xét xử 2015 2016 2017 2018 2019

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn 5 4 5 6 2 năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ

quan có trách nhiệm trong việc phát hiện 1 1 2 1 1 tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết

vụ án;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội; 0 0 1 0 0

v) Người phạm tội là người có thành tích

xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập 0 0 1 1 1

hoặc công tác;

Về chất lượng xét xử, án hình sự áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS

của Tòa án nhân dân thành phố Hội An từ năm 2015 đến năm, có kháng cáo 135

vụ, không có án kháng nghị. Đã xét xử phúc thẩm 30 vụ, kết quả y án 24 vụ,

sửa án do có tình tiết mới 02 vụ, đình chỉ 01 vụ, hủy án do lỗi chủ quan 03 vụ

(Hủy Quyết định đình chỉ vụ án). Theo đó, trong công tác xét xử, Hội thẩm

nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân đã thực hiện nghiêm túc

việc độc lập trong xét xử và chỉ tuân theo pháp luật, đóng góp cùng với Hội

đồng xét xử trong việc quyết định hình phạt, quyết định những vấn đề quan

trọng cần giải quyết của vụ án, đảm bảo đúng đường lối, chính sách của Đảng

và pháp luật của Nhà nước, cũng như nhiệm vụ chính trị tại địa phương, góp

49

phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân.

Bảng 2.3. Chất lượng xét xử các vụ án hình sự áp dụng các tình tiết giảm nhẹ

TNHS của Tòa án nhân dân thành phố Hội An từ năm 2015 đến năm 2019

Án hình sự áp dụng tình tiết giảm

Án hình sự áp

Án hình sự

Vụ án hình sự

nhẹ TNHS phúc thẩm

dụng tình tiết

áp dụng tình

áp dụng tình

giảm nhẹ

tiết giảm nhẹ

Hủy án do

tiết giảm nhẹ

Sửa án do

TNHS có

TNHS có

Y án

lỗi chủ

TNHS

tình tiết mới

kháng cáo

kháng nghị

quan

Năm 2015 35 0 8 0 1

Năm 2016 20 0 10 0 0

Năm 2017 30 0 6 1 1

Năm 2018 26 0 4 0 0

Năm 2019 24 0 2 1 1

Căn cứ số liệu thực tiễn, các tình tiết liên quan đến thái độ của người

phạm tội từ sự thành khẩn khai báo hoặc có tinh thần hướng thiện có chiều

hướng tăng theo các năm dẫn đến năm 2019 số lượng vụ án xét xử giảm đáng

kể từ sự thay đổi chính sách, quyết tâm truy quét tội phạm của chính quyền

thành phố.

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 46 BLHS năm 1999) được áp dụng

nhiều và có sự tương đồng khá phổ biến ở người phạm tội được các thẩm

phán xem xét cân nhắc là: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường

thiệt hại, khắc phục hậu quả (Điểm b); Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc

gây thiệt hại không lớn (Điểm g); Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít

nghiêm trọng (Điểmh); Người phạm tội tự thú (Điểm o); Người phạm tội

thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (Điểm p); Người phạm tội tích cực giúp

50

đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm (Điểm q).

Hình 2.4. Thống kê các tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 46 BLHS năm

1999) được áp dụng nhiều và có sự tương đồng khá phổ biến

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 46 BLHS năm 1999) được áp dụng

với tần suất khác nhau, có sự chênh lệch rõ ràng có nhiều tình tiết giảm nhẹ

TNHS không được xem xét áp dụng.Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ

TNHS có sự chênh lệch từ nhiều nguyên nhân.

Tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 quy định 22 tình tiết được xem là

tình tiết giảm nhẹ, theo thứ tự từ điểm a đến điểm x.Như vậy, ngoài việc giữ

nguyên 18 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999,

BLHS 2015 đã tăng thêm 4 tình tiết mới được xem là các tình tiết giảm nhẹ

TNHS như sau:

Theo quy định, kể từ ngày 1/7/2016 khi quyết định hình phạt, ngoài 18

tình tiết giảm nhẹ đã có, Tòa án còn được áp dụng thêm 4 tình tiết nêu trên để

giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội, mà các tình tiết này trước đó, BLHS

1999 chỉ xem là các “tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều

46”.Ngoài ra, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 còn quy định “Khi quyết định

hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ,

51

nhưng phải ghi rõ trong bản án”.Đây là quy định “mở” theo hướng có lợi

cho người phạm tội, nhưng nó chỉ ở vị trí “thứ hạng” (khoản2 - Điều 51), do

đầu thú là việc người phạm tội (có thể ở giai đoạn chưa bị khởi tố, chưa bị

bắt) khai báo hành vi phạm tội của mình hoặc các đồng phạm khác khi tội

phạm đã bị phát hiện.Còn hành vi “tự thú” là khi tội phạm hoặc người phạm

tội chưa bị phát hiện nhưng đã tự giác khai báo và được BLHS 2015 ghi nhận

tại Điểm r khoản 1 Điều 51 là tình tiết giảm nhẹ (trước đó là điểm o, khoản 1

Điều 46).

Như vậy, với vị trí đặc biệt quan trọng, quyết định hiệu quả công cuộc

đấu tranh phòng, chống tội phạm; đồng thời liên quan trực tiếp đến những

quyền cơ bản nhất của con người, của công dân; BLHS 2015 vừa giữ nguyên

18 tình tiết giảm nhẹ của BLHS 1999 và mở rộng phạm vi áp dụng thêm 4

tình tiết ở Khoản 1 và theo hướng mở ở K. 2 Đ. 51 với cụm từ “Tòa án có thể

coi…hoặc các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ”nhằm kế thừa những quy định

còn phù hợp, khắc phục căn bản những vướng mắc, bất cập đặt ra qua thựctiễn

áp dụng; thể hiện đầy đủ quan điểm của Đảng về một nền tư pháp mang đậm

tính nhân dân và các nguyên tắc tư pháp tiến bộ của Hiến pháp 2013.

Nhưng thực tiễn áp dụng quy định về các tình tiết giảm nhẹ TNHS ghi

nhận tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 và khoản 1 Điều 51 BLHS Việt

Nam năm 2015 vẫn có vi phạm, sai lầm do một phần quy định còn vướng mắc

ví dụ như áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với người từ 70 tuổi trở lên, hay có

công thành tích xuất sắc trong học tập và công tác.Một lý do khác, chính là

tâm lý luôn khoan hồng của pháp luật, thường các bản án luôn áp dụng tình

tiết giảm nhẹ TNHS hơn là tăng nặng TNHS:

Cụ thể tại Bản án số 06/2019/HS. S, ngày 18/01/2019 về tội trộm cắp

tài sảntại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, xét xử

sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2018/TLST-HS ngày 18 tháng

52

12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-

HS ngày 04 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo: Lâm Hồng Kh (tên gọi khác:

B), sinh ngày: 02/4/1996, tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam (đặc điểm

thứ nhất cho tình tiết giảm nhẹ TNHS là trình độ học vấn: 09/12).Đã có tiền

án 02 lần xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt 18 tháng tù

về tội “Trộm cắp tài sản”.Tiền sự xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức

phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; xử lý vi phạm hành chính

bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy

tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm

g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản

1 Điều 52 BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt

bị cáo Lâm Hồng Kh từ 24 đến 36 tháng tù.Với tình tiết trong quá trình điều

tra, xử lý, truy tố vụ án, Bị cáo Lâm Hồng Kh rất ăn năn hối lỗi; đồng thời

mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.Những bị hại

tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân của bị cáo thì

thấy: Bị cáo thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản nên có tình tiết tăng nặng

TNHS “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52

BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).Bị cáo đã tự nguyện

bồi thường, khắc phục hậu quả cho các bị hại.Tại phiên tòa hôm nay, Hội

thẩm nhân dân đã nhận định bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối

cải.Người bị hại đều có đơn xin giảm nghẹ hình phạt cho bị cáo.Do đó, bị cáo

được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2

Điều 51 BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).Đây là những

tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức

hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

53

Hội đồng xét xử thấy rằng, nhân thân bị cáo Lâm Hồng Kh quá xấu, đã

từng bị Tòa án nhân dân thành phố Hội An xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản”,

mới chấp hành xong hình phạt về tại địa phương nhưng bị cáo không lấy đó

làm bài học để tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.Điều đó thể hiện ý

thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo

ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để làm gương răn đe, giáo dục đối với

những người có ý thức pháp luật kém và để bị cáo có thời gian tu dưỡng, rèn

luyện, trở thành người có ích cho xã hội.

Qua đó, đôi lúc những bản án tuy được xét xử đúng quy định pháp luật

nhưng những sai lầm trong xét xử vẫn tuỳ theo quyết định của Toà án, việc áp

dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS vẫn được sử dụng khá nhiều trong tất cả bản án

cho dù bị cáo có hành vi thuộc dạng nguy hiểm cho xã hội.Có những vụ án do

người bị hại vì nhiều lý do khách quan nên có đơn xin giảm nhẹ tội cho bị

cáo, nhưng cũng có những vụ án nếu xét xử theo cách trên sẽ gây dư luận, sự

không công tâm theo suy nghĩ của người bị hại.

2.2.2. Thực tiễn áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 và khoản

2 Điều 51 BLHS Việt Nam năm 2015

Trên thực tế, áp dụng đúng quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS, khoản

2 Điều 51 BLHS Việt Nam năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết số

01/2000 của Hội đồng Thẩm phán, một vài tình tiết được áp dụng cụ thể như

sau:

– Đối với tình tiết thứ nhất quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số

01/2000 có nội dung: “Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là

người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một

trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ

trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà

giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các

54

danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước”.

Khi xét xử, có Hội đồng xét xử đã mở rộng “chủ thể” được tặng danh

hiệu cao quý có quan hệ với người phạm tội ngoài “vợ, chồng, cha, mẹ, con,

anh, chị, em ruột” với người phạm tội là “ông nội, bà nội, ông ngoại, bà

ngoại, cháu ruột kêu người phạm tội là ông, bà nội, ngoại” vì cho rằng, tình

tiết thứ nhất tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 quy định chủ thể được

tặng danh hiệu cao quý là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai

của người phạm tội cho nên việc mở rộng phạm vi chủ thể như thế này vẫn

thuộc hàng thừa kế thứ hai [6] của người phạm tội.Thực tế, đã có trường hợp,

Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng tình tiết ông nội bị

cáo được thưởng huân chương, bố mẹ chồng bị cáo là gia đình liệt sĩ nên đã bị

Tòa án cấp giám đốc thẩm hủy án.

Sau khi liệt kê các danh hiệu cao quý được Nhà nước phong tặng, tiết 1

điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 còn quy định mở “…hoặc các danh hiệu

cao quý khác theo quy định của Nhà nước”. Có Hội đồng xét xử đã chấp nhận

các hình thức khen thưởng trong đấu tranh giải phóng dân tộc, chống Mỹ cứu

nước như: Dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt Ngụy, dũng sĩ diệt xe tăng, dũng sĩ diệt

máy bay, dũng sĩ phá bom… là TTGN TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 46

BLHS.Cho nên, việc áp dụng xem các danh hiệu này là “danh hiệu cao quý khác

theo quy định của Nhà nước” để áp dụng TTGN tại khoản 2 Điều 46 cho bị cáo

là phù hợp với đạo lý, chính sách nhân đạo của Nhà nước ta.

– Đối với tình tiết thứ sáu quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số

01/2000 có nội dung: “Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho

bị cáo”.Thực tế, có Hội đồng xét xử đã mở rộng phạm vi chủ thể sửa chữa,

bồi thường thay cho bị cáo vì việc mở rộng chủ thể bồi thường trong trường

hợp này không nên giới hạn để nhanh chóng khắc phục, hạn chế hậu quả mà

hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

55

– Đối với tình tiết thứ ba quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số

01/2000 có nội “Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong

công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên.” Nhiều Hội đồng xét xử đã xem

xét áp dụng TTGN tại khoản 2 Điều 46 BLHS, khoản 2 Điều 51 BLHS Việt

Nam năm 2015 nếu khi thực hiện hành vi phạm tội họ là người tàn tật mà

không cần xác định nguyên nhân của việc bị tai nạn với lập luận: quy định

này chỉ giới hạn bị cáo bị tàn tật do tai nạn lao động, trong công tác mà không

quy định thêm các trường hợp tàn tật do nguyên nhân khác (như: tại nạn giao

thông, do tai bão lụt, hỏa hoạn …) là chưa phù hợp, tạo ra sự bất bình đẳng

giữa những người bị tàn tật với nhau, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo bị tàn

tật không phải là dấu hiệu để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo mà mấu chốt vấn

đề là khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người tàn tật.

Thực tiễn xét xử, Hội đồng xét xử đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ ở

khoản 2 Điều 46 BLHS,khoản 2 Điều 51 BLHS Việt Nam năm 2015 khi

người phạm tội chỉ đáp ứng 01 nội dung đối với những tình tiết giảm nhẹ

được liệt kê.Chẳng hạn, đối với tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu thuộc

trường hợp ít nghiêm trọng”, thực tiễn có nơi, khi người phạm tội chỉ có tình

tiết “phạm tội lần đầu” hoặc tình tiết “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” thì

có Tòa án đã mặc nhiên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho người phạm tội; đối

với tình tiết, “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” nhưng người

phạm tội không có trách nhiệm bồi thường nhưng đã tự nguyện bồi thường thì

có nơi Tòa án áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho người phạm tội.

Thực tiễn áp dung đúng tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 46 BLHS,

khoản 2 Điều 51 BLHS Việt Nam năm 2015 nhưng phải có điều kiện kèm theo

khi áp dụng đối với từng vụ án cụ thể. Trong thực tế, có Hội đồng xét xử cho

rằng một số tình tiết được xác định là tình tiết giảm nhẹ khi chúng kèm theo

“điều kiện” cụ thể, điều kiện đó phải gắn với từng vụ án, người phạm tội cụ

56

thể. Tức là, chúng có ý nghĩa giảm nhẹ đối với trường hợp này nhưng lại không

có giá trị giảm nhẹ trong trường hợp khác, đó là các tình tiết: sự việc phạm tội

xảy ra đã lâu; người phạm tội và người bị hại có quan hệ gia đình.

Đối với khoản 2, Điều 51 Luật hình sự năm 2015: Mức độ giảm nhẹ

của hành vi đầu thú còn phụ thuộc vào việc sau khi đầu thú người phạm tội có

khai rõ sự việc. Thực tiễn áp dụng đúng giúp bản án thể hiện sự khoan hồng

của pháp luật khi Thẩm phán, kiểm sát viên phân biệt rõ ràng giữa đầu thú và

tự thú, giữa động cơ đầu thú của bị cáo để lấy căn cứ tình tiết cụ thể.

Tuy nhiên qua thực tiễn áp dụng, đã xuất hiện những vướng mắc, bất

cập; thậm chí áp dụng không đúng các tình tiết giảm nhẹ theo khoản, nhất là

vận dụng “tùy nghi” các tình tiết khác được xem là các tình tiết giảm nhẹ, ví

dụ thực tiễn áp dụng tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ dựa vào hướng dẫn ở

cuối điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 mà không có sự đánh giá cụ thể:

Đó là các tình tiết: Đã thu hồi được tài sản do phạm tội mà có; người

phạm tội có công việc ổn định và được bảo lãnh; phạm tội vì phụ thuộc vào

người khác, nể nang không có tính chất vụ lợi; người phạm tội có tuổi đời còn

trẻ; phạm tội do bị lôi kéo, rủ rê; phạm tội do quá tự tin vào người khác; bị

cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có trình độ văn hóa thấp,

am hiểu pháp luật còn hạn chế; phạm tội do bộc phát, nhất thời; người phạm

tội vận động đồng bọn tự thú; bị cáo là người có nhiều năm tham gia lực

lượng vũ trang hoặc chiến đấu ở các chiến trường B, C, K, hoặc công tác ở

vùng khí hậu độc hại hoặc hành nghề độc hại làm giảm tuổi thọ; bị cáo đang

mắc bệnh hiểm nghèo (ung thư, HIV); bị cáo bị mắc bệnh tâm thần trong giai

đoạn chuẩn bị xét xử, mới tạm điều trị ổn định; bị cáo đang ốm nặng, bệnh

nặng hoặc sức khỏe quá yếu; bị cáo đang mắc bệnh nặng, nan y; bị cáo là

người lao động duy nhất trong gia đình, nếu bị phạt tù nhiều năm sẽ làm cho

gia đình đặc biệt khó khăn…Ngoài ra, trong một số vụ án, Tòa án còn xác

57

định một số tình tiết sau là tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc: bị cáo bị tạm giam

khá lâu; phạm tội do dùng chất kích thích dẫn đến không làm chủ được bản

thân; hay bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính; bị cáo tự

nguyện giao nộp tiền phạt trước khi phiên tòa phúc thẩm diễn ra. Hoặc định

tội danh không đúng; áp dụng không đúng các điều, khoản của BLHS; giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự chưa phù hợp dẫn đến xử bị cáo quá nhẹ, cho

hưởng án treo, xử dưới khung hình phạt không đúng quy định của pháp luật;

nhấn mạnh bồi thường thiệt hại mà chưa chú trọng đến tính chất và hậu quả

của hành vi bị cáo đã gây ra cho xã hội; việc xử lý vật chứng, tịch thu tài sản

hoặc tiền đã tham gia vào việc phạm tội hoặc do phạm tội mà có chưa đúng

quy định của pháp luật.

Tiểu kết Chương 2

Thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS thể hiện tính chất nhân đạo

của pháp luật, mang tính giáo dục trong công tác đấu tranh phòng, chống tội

phạm mà vẫn thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng

răn đe cao của nước ta nói chung và Tòa án, Viện Kiểm sát nhân dân thành

phố Hội An nói riêng.Việc quy định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS

đem lại lợi ích cho bị cáo thể hiện tính độc lập của Tòa án nhân dân trong

hoạt động tố tụng với các cơ quan tiến hành tố tụng, mà trực tiếp là bản cáo

trạng của Viện kiểm sát nhân dân. Hậu quả áp dụng trong trường hợp này

được hiểu là mang tính có lợi cho bị cáo. Tuy nhiên, quá trình áp dụng vẫn

xảy ra tình trạng phán xét mang sai phạm vì nhiều lý do khách quan, trong đó

yếu tố cơ bản là văn bản quy định pháp luật, như phân tích ở nội dung trên.

Trong thời gian đến, ngoài việc tiếp tục tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo

của cấp ủy địa phương và Ban cán sự đảng TAND tỉnh Quảng Nam, Tòa án

nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An phải tranh thủ sự giúp

58

đỡ, phối hợp của các cơ quan, đơn vị trong thành phố, triển khai thực hiện

một cách có hiệu quả những giải pháp mà đơn vị đề ra hàng năm, nhằm ngăn

chặn, đẩy lùi các loại tội phạm và giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh

59

chấp phát sinh trong Nhân dân.

CHƯƠNG 3

YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÁP

DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM

HÌNH SỰ

3.1. Yêu cầu nâng cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự

3.1.1. Yêu cầu cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước

pháp quyền

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì

các nguyên tắc về tôn trọng và bảo vệ quyền con người, bình đẳng, công bằng

trong hoạt động tư pháp cần được tôn trọng hơn bao giờ hết. Đặc biệt là nâng

cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng vẫn

phải đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng

cao năng lực, hiệu quả, hiệu lực của hoạt động tư pháp, Nhà nước ta đang

từng bước thể chế hoá các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp trong các

văn bản pháp luật có liên quan như: Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Luật Tổ

chức Viện kiểm sát nhân dân, Pháp lệnh Luật sư… Nhưng, đứng trước yêu

cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân,

nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan tư pháp nhằm bảo vệ

các quyền dân chủ của công dân, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính

sách trong việc cải cách hệ thống tư pháp từ tổ chức đến cơ chế hoạt động với

quan điểm mang tính định hướng là cải cách tư pháp phải nằm trong chủ

trương đổi mới hệ thống chính trị, gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước

pháp quyền ở Việt Nam. Ví dụ: Trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị, cải

cách tư pháp luôn được coi là một bộ phận quan trọng trong cải cách bộ máy

60

nhà nước. Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là kiện toàn bộ máy các cơ

quan tư pháp, phân định rõ thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân các cấp,

đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều

tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp

Hiện nay, hằng năm các cơ quan tư pháp đang thực hiện Nghị quyết số

49-NQ/TW, ngày2/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược Cải cách tư pháp

đến năm 2020” xác định mục tiêu chiến lược là xây dựng nền tư pháp trong

sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại,

phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; Chú trọng phân định

rành mạch thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền tư pháp

trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp. Cụ thể hóa đầy đủ các

nguyên tắc hiến định về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân và Viện

kiểm sát nhân dân. Tiếp tục kiện toàn tổ chức cơ quan điều tra, xác định rõ

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động

của các cơ quan điều tra. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức,

kỹ năng nghề nghiệp đối với từng lĩnh vực hoạt động tư pháp; thường xuyên

cập nhật thông tin hợp tác quốc tế về tư pháp và các lĩnh vực liên quan. Tích

cực chuẩn bị đội ngũ luật sư, cán bộ các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp có đủ

khả năng tham gia tố tụng trong các vụ, việc có yếu tố nước ngoài và giải

quyết các tranh chấp quốc tế, bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia, quyền, lợi ích

chính đáng, hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Cụ thể, một số giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:

Một là, về cải cách tổ chức các cơ quan tư pháp và các thiết chế bổ trợ

tư pháp; đổi mới, nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý của Nhà nước phù hợp

với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời tạo

khuôn khổ pháp lý và điều kiện thực tế để nhân dân tham gia thực thi và giám

61

sát việc thực thi pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể: bảo

đảm các nguyên tắc đặc thù trong từng loại tố tụng tư pháp, như nguyên tắc

bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo theo nguyên tắc “Tranh tụng trong

xét xử được bảo đảm”(Điều 26 BLTTHS năm 2015), cụ thể như: Cập nhật

những quyền mới được bổ sung của người bị buộc tội là quyền đưa ra chứng

cứ (Điều 57, 58, 59, 60, 61); người bào chữa có quyền thu thập, đưa ra chứng

cứ. Việc bổ sung những quy định này đảm bảo chứng cứ có lợi cho người bị

buộc tội không bị bỏ sót, góp phần giúp Tòa án đưa ra được những kết luận

đúng đắn, chính xác, hạn chế việc xảy ra những oan sai trong tố tụng hình sự,

gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền con người của người bị buộc tội. Bên

cạnh đó, BLTTHS năm 2015 bổ sung một số quy định mới đã giúp cho người

bị buộc tội được bình đẳng và bảo đảm sự công bằng hơn trong quá trình

chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ. Đó là

những quyền: Trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại

chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; trình bày ý kiến về chứng cứ, tài

liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh

giá (Điều 58, 59, 60, 61 BLTTHS năm 2015). Bị can được bổ sung thêm

quyền đề nghị giám định, định giá tài sản; quyền được đọc, ghi chép bản sao

hoặc tài liệu đã được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao

tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra cho đến

khi có yêu cầu; bị cáo được bổ sung thêm quyền đề nghị giám định, định giá

tài sản; đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản tham gia

phiên tòa; đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi những người tham

gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi

những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa. Đối với nguyên tắc suy đoán

vô tội (trong tố tụng hình sự), trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, người

62

có thẩm quyền luôn phải coi, đối xử với người bị buộc tội là không có tội cho

đến khi hành vi phạm tội của họ đã có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu

lực pháp luật. Bên cạnh đó, khi có những vụ án rơi vào trường hợp chứng cứ

không đầy đủ, thiếu tính vững chắc, người tiến hành tố tụng sẽ dễ dàng hơn

trong việc đưa ra kết luận về kết quả của vụ án theo nguyên tắc suy đoán vô

tội, hạn chế tình trạng tạo ra những chứng cứ khống, bịa đặt đã từng xảy ra

trong một số vụ án oan sai trong thời gian trước đây. Đối với nguyên tắc

quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (trong tố tụng dân sự).

Hai là, thực hiện tốt công tác phối hợp liên ngành, tăng cường công tác

kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Giải

quyết tin báo tội phạm là nền tảng, là bước khởi đầu trong công tác đấu tranh

phòng, chống tội phạm. Đây là đầu mối, là cơ sở giúp các cơ quan có thẩm

quyền tiến hành thẩm tra, xác minh để xác định có hay không có dấu hiệu tội

phạm. Do đó, các cơ quan chức năng tại địa phương đã phối hợp chặt chẽ từ

khâu tiếp nhận, quá trình xác minh đến khi kết thúc việc giải quyết tin báo

đảm bảo tiếp nhận đầy đủ, nhanh chóng và đúng quy định của pháp luật. Cụ

thể như công tác xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ

chức, bộ máy các cơ quan tư pháp. Ví dụ thực tế một cách xử lý hành chính

thông thường tại các đơn vị vẫn đang sử dụng: Khâu tiếp nhận thông tin được

phân loại để đưa vào sổ theo dõi: đơn vị phân công lãnh đạo trực nghiệp vụ,

tiếp nhận thông tin 24/24h thông qua các nguồn kênh thông tin khác nhau

như: Đơn, thư tin báo, tố giác của cá nhân, tổ chức gửi đến hoặc trực tiếp đến

trình bày và qua công tác khám nghiệm, xét phê chuẩn việc bắt khẩn cấp… để

kịp thời phân loại đưa vào sổ tiếp nhận. Trong suốt quá trình giải quyết, Điều

tra viên và Kiểm sát viên phải thường xuyên trao đổi, nắm bắt nội dung vụ

việc, cung cấp toàn bộ hồ sơ để cùng kiểm sát viên đánh giá chứng cứ một lần

nữa để kịp thời bổ sung những thiếu sót, đảm bảo hồ sơ đầy đủ các chứng cứ

63

chứng minh việc có tội hay không tội. Định kỳ hàng tháng, tổ chức họp liên

ngành với để thống nhất đánh giá kết quả giải quyết tin báo tội phạm đã tiếp

nhận, thống nhất hướng giải quyết đối với các trường hợp quá thời hạn quy

định. Mặt khác, công tác phối hợp nhưng phải bảo đảm tính khách quan và

chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, từng đơn vị, không vì việc phối hợp mà

bỏ qua cho nhau các vi phạm trong công tác nghiệp vụ. Bảo đảm việc thực

hiện đúng và đầy đủ chức năng từng ngành là bảo đảm chất lượng công tác,

bảo vệ pháp luật cũng như sự thật khách quan.

Ba là,công tác cải cách tư pháp tập trung chăm lo, kiện toàn tổ chức

biên chế các cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ tư pháp bảo đảm đúng chức

năng, nhiệm vụ được giao. Ví dụ:Cùng với việc cải cách tư pháp, việc cải

cách tổ chức và hoạt động luật sư là rất cần thiết trong giai đoạn đảm bảo

quyền công dân, quyền con người hiện nay. Trong các văn kiện của Đảng và

Nhà nước ta đều nêu lên những quan điểm về đổi mới tổ chức và hoạt động

bổ trợ tư pháp nói chung và luật sư nói riêng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba

Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa VIII) đã nêu rõ:

“Đổi mới quản lý nhà nước đối với các hoạt động luật sư... phù hợp với chủ

trương xã hội hóa, kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của các tổ

chức nghề nghiệp. Đào tạo và phát triển đội ngũ luật sư có phẩm chất đạo

đức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy vai trò của họ trong tư vấn

pháp luật và trong tố tụng”.

Bốn là, tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, áp dụng các

biện pháp điều tra và năng lực giám định kỹ thuật hình sự của các cơ quan tư

pháp; trong đó, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa thủ trưởng Cơ quan điều

tra và Điều tra viên, giữa cơ quan điều tra cấp trên và cơ quan điều tra cấp

dưới. Theo đó, cần phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng Cơ quan

điều tra, Điều tra viên và thủ trưởng quản lý ngành theo hướng: tăng thẩm

64

quyền và trách nhiệm pháp lý cho Điều tra viên, bảo đảm sự chủ động, linh

hoạt, hiệu quả trong hoạt động điều tra. Đối với ngành Kiểm sát, cần tiếp tục

thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

hoạt động tư pháp, nhất là kiểm sát trong xét xử hình sự, mà trọng tâm là nâng

cao trình độ thẩm vấn, luận tội và năng lực xét hỏi, tranh luận của Kiểm sát

viên tại phiên tòa. Đối với ngành Tòa án, cần đổi mới và nâng cao chất lượng

xét xử; trong đó, tập trung đổi mới thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo hướng:

chuyển từ thủ tục xét hỏi sang tranh tụng, lấy kết quả tranh tụng công khai tại

phiên tòa làm căn cứ chủ yếu để đưa ra phán quyết cuối cùng, bảo đảm dân

chủ, công khai, minh bạch, đúng quy định của pháp luật. Đối với công tác Thi

hành án, cần nghiên cứu, hoàn thiện tổ chức biên chế cơ quan Thi hành án

hình sự và dân sự trong quân đội theo cơ chế quản lý thống nhất. Đồng thời,

sớm xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm nâng cao trách nhiệm,

hiệu quả công tác Thi hành án, bảo đảm tất cả các bản án, quyết định của tòa

án đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng và thi hành, góp phần giữ

vững trật tự, kỷ cương và ổn định xã hội.

Năm là, công tác giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản pháp luật, đặc biệt

là quyết định áp dụng hình phạt.

3.1.2. Yêu cầu quán triệt chính sách hình sự nhân đạo, hướng thiện

trong xử lý tội phạm và người phạm tội

Chính sách hình sự nhân đạo là hoạt động khoa học, nhất quán và hệ

thống của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xây dựng cơ chế điều chỉnh

PLHS có hiệu quả, sử dụng văn minh các phương tiện pháp luật để đạt được

mục đích của hình phạt, nhưng vẫn giữ được hướng nhân đạo, hướng thiện

trong xử lý tội phạm và người phạm tội, góp phần quan trọng trong đấu tranh

phòng, chống tội phạm; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm

quyền con người.Do đó, quán triệt chính sách hình sự nhân đạo, hướng thiện

65

tội phạm là xu thế tiến bộ xã hội đồng nghĩa với một xã hội ngày càng tốt đẹp

hơn, khi đó, hình phạt chỉ còn mang bản chất nhắc nhở, cảnh báo, khiển trách

cá nhân, tổ chức phải có trách nhiệm hơn đối với bản thân, đối với gia đình và

đối với cộng đồng; hình phạt sẽ hướng trọng tâm vào mục đích giáo dục

phòng ngừa riêng và giáo dục phòng ngừa chung nhằm hạn chế tối đa những

hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho xã hội.

Cụ thể yêu cầu quán triệt chính sách hình sự nhân đạo, hướng thiện tội

phạm chính là thực hiện tốt 7 nguyên tắc xử lý trong BLHS năm 2019 [12,

tr.01 - 02], như sau:

Thứ nhất, Kịp thời phát hiện, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng

pháp luật mọi hành vi phạm tội có một ý nghĩa không chỉ đối với việc đấu

tranh chống tội phạm mà còn có ý nghĩa phòng ngừa tội phạm.Phát hiện kịp

thời hành vi phạm tội còn có ý nghĩa tuyên truyền, giáo dục cho mọi công dân

công tác phòng ngừa tội phạm, cảnh báo những ai có ý định thực hiện tội

phạm hãy từ bỏ ý định phạm tội nếu không sẽ bị trừng trị.

Thứ hai, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đặc biệt làngười

chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi

dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội. Nhằm thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của

Đảng và Nhà nước trong điều chỉnh hành vi người phạm tội.

Thứ ba, Có giải pháp xử lý nghiêm khắc, trừng trị người phạm tội dùng

thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả

đặc biệt nghiêm trọng. Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn

khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan

có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết

vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra.

Thứ tư, áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ

chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục.Đây là yêu cầu được cụ thể hóa từ

66

nguyên tắc khoan hồng, nhưng chỉ đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm

trọng và cũng chỉ có Tòa án áp dụng, vì chỉ có Tòa án mới được quyết định

hình phạt.

Thứ năm, Thực hiện chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải

lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện

do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình

phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Thứ sáu, tạo điều kiện cho các đối tượng chấp hành xong hình phạt được tạo

điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ

điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

3.1.3. Yêu cầu của phòng ngừa tình hình tội phạm

Phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung và phòng ngừa tình hình tội

phạm về vấn đề an toàn trật tự xã hội nói riêng là tất cả các vấn đề, các khía

cạnh cần tiến hành các hoạt động phòng ngừa tội phạm.Bằng những hoạt

động nâng cao nhận thức, trình độ văn hóa của con người là vô cùng quan

trọng.Bên cạnh đó là hoạt động giáo dục, nâng cao nhận thức và đạo đức của

con người trong nhà trường và xã hội thông qua các chương trình đào tạo,

tuyên truyền cũng cần được hoàn thiện.

Mặt khác, để phòng ngừa tình hình tội phạm được hiệu quả, công tác

phối hợp giữa hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, cải tạo người phạm tội

(phòng ngừa bằng sự cưỡng chế) phải luôn được các cấp ủy, chính quyền

quan tâm.Do đó, yêu cầu trực tiếp tiến hành nghiên cứu nắm tình hình diễn

biến của tình hình tội phạm trật tự an toàn xã hội phạm tội, phát hiện nguyên

nhân, điều kiện của loại tội phạm trên địa bàn, trên cơ sở đó tham mưu cho

các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp đề ra chủ trương, chính sách đấu

tranh phòng ngừa ngăn chặn tình hình tội phạm trật tự an toàn xã hội.

Phối hợp với các cơ quan chức năng, các ngành có liên quan tiến hành

67

hoạt động tuyên truyền giáo dục, tổ chức vận động quần chúng tham gia trong

công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm trật tự an toàn xã hội.

Tiến hành điều tra, xử lý, giải quyết các trường hợp vi phạm pháp luật

của lứa tuổi chưa thành niên nhằm xóa bỏ những nguyên nhân, điều kiện tiếp

tục phạm pháp dẫn đến con đường phạm tội của tội phạm trật tự an toàn xã

hội.

3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng quy định của pháp

luật Hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

3.2.1. Hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS từ trước đến nay, không đưa ra được khái

niệm chung về tình tiết giảm TNHS, dẫn đến có nhiều quan niệm khác nhau

về khái niệm tình tiết giảm nhẹ TNHS.Chính vì điều đó việc hoàn thiện quy

định của pháp luật về xây dựng các tình tiết giảm nhẹ TNHS một cách đầy đủ,

rõ ràng, khoa học thế nào là khái niệm chung về tình tiết giảm nhẹ TNHS, cấu

thành cụ thể từng tình tiết giảm nhẹ, trách nhiệm thu thập chứng cứ chứng

minh các tình tiết giảm nhẹ TNHS, khái quát chung những điều kiện cho việc

vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trong việc áp dụng là việc cần quan tâm trước

tiên.

Trong đó, để hoàn thiện quy định của PLHS về các tình tiết giảm nhẹ

TNHS, trước tiên phải hoàn thiện các chế định luật sư, bổ trợ tư pháp bằng

những giải pháp cụ thể như: Xây dựng Kế hoạch triển khai nhiệm vụ trọng

tâm công tác tư pháp hàng năm; phối hợp với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà

và các cơ quan, tổ chức liên quan triển khai có hiệu quả hoạt động trợ giúp

pháp lý để trợ giúp cho các đối tượng người đồng bào dân tộc thiểu số, người

nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng được hưởng trợ giúp

pháp lý miễn phí theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý.Đồng thời, chỉ đạo

68

phòng, ban chuyên môn ban hành Công văn triển khai công tác trợ giúp pháp

lý trên địa bàn.Thực hiện cấp phát đầy đủ tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền các quy

định về trợ giúp pháp lý do Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh chuyển về.

Cụ thể từ thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS tại Điều 51, BLHS

năm 2015 nhưđã phân tích ở Chương 2, nhà làm luật cần đưa ra các phương

hướng hoàn thiện quy định của PLHS về các tình tiết giảm nhẹ TNHS như

sau:

Một là, xem xét lại những tình tiết giảm nhẹ không cần thiết tại khoản 1

Điều 51 BLHS,cụ thể là các tình tiết: “Người phạm tội thành khẩn khai báo

hoặc ăn năn hối cải”, tình tiết “Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan

có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm”, tình tiết “Người phạm tội là

người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công

tác”, tình tiết “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, tình

tiết “Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải

do lỗi của mình gây ra”, và tình tiết “Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng,

con của liệt sĩ, người có công với cách mạng” để có hướng dẫn cụ thể áp dụng

linh hoạt hơn.

Hai là, xem xét lại quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS - vốn được duy

trì từ BLHS năm 1985 đến nay - Tòa án được lựa chọn các tình tiết khác là

tình tiết giảm nhẹ.

Ba là, bổ sung một số tình tiết giảm nhẹ bằng việc quy định chính thức

tình tiết giảm nhẹ “đầu thú”, tình tiết “Người bị hại cũng có lỗi”, tình tiết

“Thiệt hại do lỗi của người thứ ba”, tình tiết “Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi

thường thiệt hại thay cho bị cáo”, tình tiết “Bị hại hoặc đại diện hợp pháp của

bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.

Bốn là, để thực hiện tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi

thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” và tình tiết “Gia đình bị cáo sửa

69

chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo”, đề xuất cơ quan có thẩm quyền

hướng dẫn thực hiện, theo đó trường hợp bị cáo hoặc gia đình bị cáo đã tự

nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả nhưng bị hại không chấp nhận thì vẫn

được hưởng tình tiết giảm nhẹ.

3.2.2. Tăng cường tổng kết thực tiễn và hướng dẫn áp dụng thống

nhất quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự

Tiếp tục tổ chức nhiều phiên tòa bằng hình thức ghi hình, ghi âm để

Kiểm sát viên các địa phương học hỏi, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn

nữa chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử.Mặt khác, cần

nhân rộng phiên tòa rút kinh nghiệm toàn quốc sang nhiều loại án và đối với

các loại tội phạm khác nhau (kinh tế, chức vụ, tham nhũng. . . ).Đồng thời,

Cáo trạng và Luận tội của vụ án được tổ chức rút kinh nghiệm cần được

chuyển cho các đơn vị, địa phương nghiên cứu trước để tiện theo dõi nội

dung, diễn biến, chủ động tham gia ý kiến đạt chất lượng cao hơn nữa.

Ngay sau khi kết thúc mỗi phiên tòa, đơn vị tổ chức phiên họp rút kinh

nghiệm công tác xét xử với sự tham dự của Lãnh đạo, Thẩm phán, Thư ký

Tòa án trong đơn vị.Trên tinh thần cầu thị, nghiêm túc tiếp thu các ý kiến góp

ý, bên cạnh việc đánh giá những kết quả đạt được, phiên họp rút kinh nghiệm

cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, thiếu sót của Thẩm phán – Chủ tọa

phiên tòa, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa.

Bên cạnh đó, các phiên tòa được diễn ra theo đúng trình tự, thủ tục

pháp luật tố tụng quy định; việc điều hành tranh tụng, kỹ năng xét hỏi tại

phiên tòa của Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét

xử cơ bản đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp, đảm bảo được quyền và lợi

ích hợp pháp của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

3.2.3. Nâng cao khả năng và năng lực áp dụng pháp luật của đội ngũ

70

Thẩm phán và Hội thẩm

Việc nâng cao khả năng và năng lực áp dụng pháp luật của đội ngũ

Thẩm phán và Hội thẩm là được trang bị thêm kiến thức kinh nghiệm trong

thực tiễn công tác xét xử, giải quyết các loại án để hiểu và nắm vững hơn các

quy định của pháp luật, tiếp tục phát huy chức năng, nhiệm vụ của mình, thực

hiện đúng nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, bình đẳng, độc lập và

tuân theo pháp luật trong tham gia xét xử, đảm bảo giải quyết vụ án đúng theo

pháp luật.Tập trung đào tạo trình độ chuyên môn, tập huấn kiến thức pháp

luật mới, nâng cao kỹ năng xử lý những vấn đề phức tạp còn tồn đọng và

vướng mắc trong công tác xét xử, nâng cao trình độ kỹ năng cho đội ngũ cán

bộ Tòa án trong việc giải quyết các vụ án, tránh tình trạng hủy án, sửa án,

tuyên phạt không đúng người đúng tội.

Quan tâm việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, nâng caonăng lực, trình

độ của đội ngũ cán bộ “có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạođức trong

sáng, có kiến thức pháp luật cần và đủ, kinh nghiệm hoạt động xã hội, cótinh

thần trách nhiệm vì dân”, mỗi cán bộ công chức của ngành Tòa án phải thực

sựlà người “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” như chủ tịch Hồ Chí Minh

đã dạy.

Việc áp dụng các quy định của pháp luật nói chung và áp dụng các tình

tiết giảm nhẹ TNHS đòi hỏi những người tiến hành tố tụng trong giai đoạn

điều tra, truy tố, xét xử, đặc biệt là Thẩm phán Tòa án các cấp phải nghiên

cứu chính xác, đầy đủ nội dung các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định

tại Điều 51 BLHS năm 2015; đồng thời phải có năng lực thực tiễn áp dụng

vào từng vụ án cụ thể.Kịp thời giải quyết những vướng mắc và uốn nắn các

sai sót cho các cơ quan tiến hành tố tụng cấp dưới.Kiểm tra việc áp dụng tình

tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 trong kết quả xét

xử các vụ án hình sự để có sự đánh giá, rút kinh nghiệm kịp thời những sai

71

sót, vi phạm trong việc áp dụng.Cần có sự tổng hợp, đánh giá và kết luận

những tình tiết nào áp dụng đúng để áp dụng thống nhất trong toàn ngành.

3.2.4. Kiến nghị, giải pháp bảo đảm áp dụng hiệu quả các tình tiết

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong thực tiễn

Bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí, trang thiết bị phù

hợp với từng cơ quan tư pháp.Tạo điều kiện hỗ trợ về kinh phí để các cơ quan

tư pháp xây dựng trụ sở làm việc, mua sắm các trang thiết bị phục vụ yêu cầu

công tác, qua đó, để các cơ quan thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn được

giao và các nhiệm vụ, mục tiêu công tác cải cách tư pháp theo chiến lược cải

cách tư pháp, áp dụng hiệu quả các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong thực tiễn.

Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm

pháp luật.Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục

“đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”

và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách trong xây

dựng đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường

xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính

trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong

nội bộ”đối với các cơ quan tư pháp [7, tr.24].

Đẩy mạnh công tác điều tra phá án, đặc biệt là các vụ án về kinh tế,

tham nhũng, các vụ án nổi cộm, bức xúc được quần chúng và dư luận xã hội

quan tâm.Tổ chức chỉ đạo tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày

07/7/2007 của Bộ Chính trị về sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo

vệ pháp luật trong công tác điều tra, tăng cường xử lý các vụ án và công tác

bảo vệ Đảng.

Thực hành quyền công tố và kiểm sát chặt chẽ các hoạt động tư pháp

trong lĩnh vực hình sự, trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, thi hành án

dân sự.

72

Tăng cường hoạt động giám sát của Nhân dân, Mặt trận và các tổ chức

đoàn thể chính trị - xã hội; công tác giám sát của cơ quan dân cử đối với các

hoạt động tư pháp, nhất là đối với các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử, bắt giam giữ, cải tạo phạm nhân và công tác thi hành án nhằm góp phần

đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng trong cán bộ, đảng viên, công

73

chức trực tiếp làm công tác tư pháp.

KẾT LUẬN

Trong việc cụ thể hóa chính sách hình sự của Nhà nước ta, xác định các

nguyên tắc nhân đạo trong PLHS Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan

trọng.Chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS “có ý nghĩa lớn cả về mặt xã hội

cũng như pháp lý…, nên thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu khách quan phải nâng

cao hiệu quả vận dụng chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS”.Chính các tình

tiết giảm nhẹ được quy định giúp Nhà nước xác định một cách khách quan,

công bằng hơn hành vi phạm tội, nhân thân, hoàn cảnh và thái độ của người

phạm tội, kiểm chứng việc thực hiện nguyên tắc nhân đạo trong PLHS, để

thực hiện đúng đắn mục đích của hình phạt là không chỉ trừng trị người phạm

tội mà còn giáo dục họ hướng thiện và có tác dụng phòng ngừa tội phạm

trong cộng đồng dân cư.Các tình tiết giảm nhẹ TNHS hướng đến sự khoan

hồng của Nhà nước; hướng đến sự công bằng căn cứ vào mức độ nguy hiểm

của hành vi cũng như hậu quả mà tội phạm gây ra cho xã hội để truy cứu hoặc

miễn TNHS cho hợp lý.Chính các tình tiết giảm nhẹ sẽ cân bằng được giữa

một bên là thái độ của Nhà nước đối với tội phạm một bên là quyền và lợi ích

của công dân và xã hội.

Vì vậy để tiếp tục hoàn thiện các quy định về áp dụng tình tiết giảm

nhẹ TNHS từ thực tiễn quyết định hình phạt, một số giải pháp cụ thể như sau:

- Hoàn thiện quy định của PLHS về các tình tiết giảm nhẹ TNHS

- Tăng cường tổng kết thực tiễn và hướng dẫn áp dụng thống nhất quy

định của PLHS Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ TNHS

- Nâng cao khả năng và năng lực áp dụng pháp luật của đội ngũ Thẩm

74

phán và Hội thẩm.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. BLHS năm 2015, Nxb Thanh niên năm 2016 (Luật số 33/2014/L-CTN,

ngày 09/12/2015 của Chủ tịch nước)

2. PGS. TS.Nguyễn Hòa Bình (2015), Chuyên đề Những nội dung sửa đổi

lớn và những điểm mới trong phần chung của BLHS năm 2015.

3. Cổng thông tin điện tử Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, (http://hoian.

gov. vn/cmspages/chuyenmuc/chuyenmuc_view. aspx?idchuyenmuc

=552)

4. PGS, TS. Hà Hùng Cường, Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu,

nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Cộng sản

điện tử.

5. Giới thiệu chung về Tòa án nhân dân thành phố Hội An (nguồn internet)

http://toaanhoian. gov. vn/gioi-thieu-toa-an-nhan-dan-thanh-pho-hoi-

an.

6. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

7. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, 2000.

8. Hội Luật gia Việt Nam (2005), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần

chung, Nxb Hồng Đức.

9. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (Luật số 63/2014/QH13 ngày

24/11/2014)

10. Luật Tòa án nhân dân (Luật số 62/2014/QH13 ngày 24/11/2014)

11. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành BLHS số

100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số

12/2017/QH14.

12. Đinh Văn Quế (2018), Các nguyên tắc xử lý của BLHS năm 2015, Tạp chí

Kiểm sát số 02/2018.

13. Tập bài giảng Lý luận về pháp luật, Trường Đại học Luật Hồ Chí Minh.

14. Nguyễn Văn Thành - Vũ Trinh - Trần Hựu (Nguyễn Quyết Thắng và

Nguyễn Văn Tài dịch và giới thiệu)m Hoàng Việt luật lệ, tập 1,

Nxb.Văn hóa - thông tin, tr. 2

15. TS Huỳnh Văn Thới, Văn hóa công vụ ở Việt Nam, Lý luận và thực tiễn.

16. Ths Vũ Mạnh Thông, LG.Nguyễn Ngọc Điệp (2008), Bình luận BLHS,

Nxb Tư pháp.

17. Nguyễn Tài Thu (1993), Vai trò đạo Khổng trong sự hình thành và áp

dụng pháp luật ở Việt Nam, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 5/1993,

tr. 8.

18. GS. Lương Duy Thứ (chủ biên), Đại cương văn hóa phương Đông,

Nxb.Giáo dục, H. 1998, tr. 48.

19. Thực tiễn và giải pháp bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của tòa án nhân

dân trong tố tụng hình sự Việt Nam.

20. Trần Thị Quang Vinh (2005), Các tình tiết giảm nhẹ TNHS, Nxb.Chính trị

Quốc gia, Hà Nội

21. ThS.Trần Thị Quang Vinh (2002), Các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong

pháp luật phong kiến Việt Nam, Tạp chí Luật học số 5/2002 (5/2002)

22. ThS.Trần Thị Quang Vinh (2002), Các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong

pháp luật phong kiến Việt Nam, Tạp chí Luật học số 5/2002 (5/2002),

(nguồn internet: http://tks. edu. vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/64).

Trang web

23. http://toaanhoian. gov. vn/mot-so-van-de-nghiep-vu-tu-cac-phien-toa-

nam-2019-cua-hoi-dong-tham-phan. html