VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN QUỐC DŨ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ

KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, năm 2021

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN QUỐC DŨ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ

KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

Mã số

: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. TRẦN QUANG HUY

HÀ NỘI, năm 2021

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn

toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.

Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.

Tác giả luận văn

Nguyễn Quốc Dũ

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1

1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................... 1

2. Tình hình nghiên cứu đề tài .......................................................................... 2

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................... 4

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................ 5

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ........................................... 6

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn .................................................... 6

7. Kết cấu của luận văn .................................................................................... 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ

VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU

HỒI ĐẤT ......................................................................................................... 8

1.1. Các khái niệm ............................................................................................ 8

1.2. Pháp luật về hỗ trợ, tái đinh cư khi Nhà nước thu hồi đất ...................... 15

1.3. Khái quát về quá trình hình thành các quy định của pháp luật về hỗ trợ,

tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất .............................................................. 20

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ

KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ........ 24

2.1. Những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng ảnh

hưởng đến việc áp dụng pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi

đất ................................................................................................................... 24

2.2. Việc ban hành các quy định về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi

đất tại thành phố Đà Nẵng .............................................................................. 27

2.3. Thực trạng công tác hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa

bàn thành phố Đà Nẵng thể hiện qua một số dự án cụ thể. ............................ 32

2.4. Đánh giá về công tác hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa

bàn thành phố Đà Nẵng .................................................................................. 50

Chương 3 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỖ

TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ NÂNG

CAO HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TĐC

KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ

NẴNG ............................................................................................................ 59

3.1. Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước

thu hồi đất ....................................................................................................... 59

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật về hỗ trợ, tái định cư

khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ............................ 62

KẾT LUẬN ................................................................................................... 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ

CBCCVC Cán bộ, công chức, viên chức 1

2 CCHC Cải cách hành chính

3 GPMB Giải phóng mặt bằng

4 KNTC Khiếu nại, tố cáo

5 NĐ Nghị định

6 NQ Nghị quyết

7 NXB Nhà Xuất bản

8 TĐC Tái định cư

9 TTg Thủ tướng

10 TT Thông tư

11 TW Trung ương

12 UBND Ủy ban nhân dân

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngay trong thời gian đầu khi vừa chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng,

trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào ngày 01/01/1997, thành phố

Đà Nẵng đã đẩy mạnh đô thị hóa trên 56 phường, xã của 08 quận, huyện.

Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng được thành phố xác định là nhiệm vụ

trọng tâm hàng đầu, được lựa chọn là chủ đề của nhiều năm liên tiếp “Năm

giải tỏa đền bù, TĐC”. Tính đến nay, thành phố đã triển khai gần 836 dự án,

gần 150 nghìn hộ giải tỏa, đã giải quyết bố trí TĐC hơn 40 nghìn lô đất và

chung cư.

Để đạt được con số khổng lồ trên là nhờ vào sự chỉ đạo quyết liệt, sáng

tạo với nhiều cách làm hay, mạnh dạn đột phá tạo cơ chế chính sách phù hợp,

đáp ứng được tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị; và đặc biệt

là sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính quyền trong việc tuyên truyền,

vận động thuyết phục, tạo được lòng tin và được sự ủng hộ của nhân dân

thành phố.

Trong quá trình thực hiện, khó khăn xuất phát từ thực tế triển khai các

dự án, những kiến nghị được người dân đặt ra, yêu cầu thành phố phải có

những thay đổi phù hợp. Hàng năm, Nhà nước đã từng bước hoàn thiện pháp

luật về đất đai và ban hành các văn bản pháp lý hướng dẫn thực hiện về công

tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc

trong thực tiễn. Tuy nhiên, công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC có những

vướng mắc do một số văn bản quy định chưa phù hợp, vừa chồng chéo, không

rõ ràng, vừa thiếu quy định thống nhất, vẫn đang gây nhiều bức xúc trong

thực tế triển khai, nhất là những bức xúc của người bị thu hồi đất về phương

thức thực hiện hỗ trợ, TĐC. Vì vậy, pháp luật về các vấn đề này cần được tiếp

tục sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế cuộc sống của người dân.

1

Trong thời gian tới, thành phố Đà Nẵng vẫn tiếp tục quy hoạch, điều

chỉnh quy hoạch, đầu tư xây dựng hạ tầng, chỉnh trang đô thị nên việc nghiên

cứu pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất là rất cần thiết nhằm

tìm ra giải pháp khắc phục các hạn chế, thiếu sót trong thực tế hiện nay và đề

xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật về hỗ trợ, TĐC

trong thời gian tới trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Xuất phát từ lý do trên,

học viên đã chọn đề tài “Pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất

từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm Luận văn thạc sĩ Luật.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề hết sức

nhạy cảm và phức tạp tác động tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội của đất

nước. Qua tìm hiểu, được biết trong thời gian qua có nhiều tài liệu, đề tài và

công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung này như:

- Luận văn Tiến sĩ: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật

về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư” của Đào Chung Chính, Đại

học Nông nghiệp Hà Nội (2014). Luận văn đã đề xuất khi thu hồi đất để sử

dụng vào các mục đích phi nông nghiệp cần phải được tính toán chặt chẽ, tiết

kiệm, phải có giải pháp bù đắp lại nguồn tài nguyên có hạn, không tái tạo này

thông qua các quy định cụ thể hoặc công cụ tài chính; tính giá bồi thường về

đất cho người dân phải căn cứ vào thời giá thị trường và không chỉ căn cứ vào

các mục đích sử dụng của thửa đất hiện tại mà cần phải xem xét đến cả công

năng của thửa đất đó trong tương lai; tôn trọng và bảo đảm bình đẳng cho

người có đất bị thu hồi được tham gia vào quá trình ra quyết định trong việc

thu hồi đất, giải phóng mặt bằng…

- Luận văn thạc sĩ Quản lý Đất đai: “Đánh giá mức độ hài lòng của

người dân và các vấn đề bất cập trong giải tỏa, bồi thường và tái định cư trên

địa bàn tỉnh Vĩnh Long” của Nguyễn Chí Cường, Đại học Cần Thơ (2016).

2

Tác giả chỉ ra mức độ hài lòng của người dân chưa cao trong công tác giải

tỏa, bồi thường, TĐC và chỉ ra nguyên nhân, cụ thể do giá tiền bồi thường

được cho là thấp hơn giá thị trường; bố trí tái định cư có diện tích nhỏ không

đủ ở; chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tiềm kiếm việc làm chưa hiệu quả…

- Bài nghiên cứu “Đánh giá thực trạng triển khai công tác thu hồi đất,

bồi thương, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật” của nhóm tác giả

Đào Chung Chính, Đặng Hùng Võ, Nguyễn Thanh Trà đăng trên Tạp chí

Khoa học và Phát triển Số 03/2013, cho rằng chính sách giá đất hiện hành còn

nhiều mâu thuẫn; khi thu hồi đất, phải xác định giá đất cụ thể; cần quan tâm

đến việc giao đất sản xuất mới cho những trường hợp đã bị thu hồi phần lớn

hoặc thu hồi hết đất sản xuất; tăng mức hỗ trợ ổn định đời sống, việc làm; ưu

tiên cho người dân được đăng ký mua đất thuộc các dự án phát triển nhà, đô

thị với giá ưu đãi, thực hiện cơ chế đất đổi đất hay miễn thuế khi người dân

mua đất tại các dự án khác… Ngoài ra còn có bài nghiên cứu “Bình luận và

góp ý với các quy định về thu hồi đất, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu

hồi đất trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi” của TS. Nguyễn Quang Tiến

đăng trên Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 5/2013; bài nghiên cứu “Giá đất

trong Luật Đất đai năm 2013” của TS. Nguyễn Thị Dung đăng trên Tạp chí

luật học, số 11/2014.

- Giáo trình: “Quản lý nhà nước về đất đai” của tác giả Nguyễn Khắc

Thái Sơn, NXB Nông nghiệp Hà Nội, 2007. Giáo trình nêu một cách tổng

quát các nội dung quản lý nhà nước về đất đai qua các thời kỳ trước Luật đất

đai 2013.

- Cuốn sách: “Pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam”

của tác giả Phan Trung Hiền, NXB Đại học Cần Thơ, 2016. Tác giả nêu

các vấn đề đang tồn tại phổ biến trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư hiện nay.

- Cuốn sách: “Bình luận chế định quản lý nhà nước về đất đai trong

3

Luật Đất đai 2013” của TS. Trần Quang Huy, NXB Tư Pháp, 2017. Cuốn

sách có 16 chương, trong đó tác giả dành riêng 02 chương để bình luận các

quy định về thu hồi đất và các quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi

nhà nước thu hồi đất.

Các luận văn, tài liệu và đề tài nêu trên được nghiên cứu công phu, cung

cấp một nhìn toàn diện về hệ thống quy định của pháp luật về công tác hỗ trợ,

TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, các nghiên cứu, đề tài này đánh

giá về công tác hỗ trợ, TĐC theo quy định của pháp luật nói chung hoặc

nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về hỗ trợ, TĐC ngoài địa bàn thành

phố Đà Nẵng. Trong khi đó, tình hình giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành

phố Đà Nẵng vẫn còn diễn biến phức tạp, các vấn đề liên quan đến giải tỏa,

đền bù trước đây vẫn còn phải tiếp tục xử lý. Vì vậy, cần nghiên cứu toàn

diện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về công tác hỗ

trợ, TĐC để giải quyết một cách hợp tình, hợp lý, đúng chủ trương chính

sách, đúng pháp pháp luật, phù hợp thực tiễn tại thành phố từ đó đem lại sự

đồng thuận của người dân khi thực hiện công tác giải phóng mặt bằng trên địa

bàn thành phố Đà Nẵng.

Luận văn thạc sĩ Luật về đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn,

góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật về

hỗ trợ, TĐC trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khái quát và tìm hiểu tổng quan quy định của pháp luật về

công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất; đánh giá thực

trạng áp dụng tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn đề xuất các giải pháp hoàn

thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật về hỗ trợ, TĐC

trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

4

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn thực hiện các nhiệm vụ chính như sau:

Một là: Khái quát về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất; nêu được

mục đích, ý nghĩa của việc Nhà nước hỗ trợ, TĐC khi thu hồi đất; khái quát

quá trình hình thành các quy định của pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước

thu hồi đất;

Hai là phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về hỗ trợ TĐC

trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ năm 2016 đến năm 2020.

Ba là đề xuất các kiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật và các giải

pháp để nâng hiệu quả áp dụng pháp luật về hỗ trợ, TĐC trên địa bàn thành

phố Đà Nẵng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Việc thực hiện các quy định của pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước

thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước

thu hồi đất.

- Pham vi về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp

luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

thông qua quy định của thành phố Đà Nẵng, một số dự án giải tỏa đang triển

khai và các vụ khiếu nại liên quan đến hỗ trợ, tái định khi Nhà nước thu hồi

đất trên địa bàn thành phố.

- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020

- Các giải pháp được đề xuất áp dụng thực hiện trên địa bàn thành phố Đà

Nẵng từ năm 2021 trở về sau.

5

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn

thành phố Đà Nẵng được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của

chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của

Đảng và pháp luật đất đai.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử khi nghiên

cứu những vấn đề lý luận chung về công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu

hồi đất.

Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh được sử dụng chủ yếu khi

phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà

nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Phương pháp diễn giải, quy nạp được sử dụng chủ yếu khi đưa ra định

hướng, giải pháp hoàn thiện về pháp luật và các giải pháp để nâng cao hiệu quả

công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về hỗ trợ, TĐC khi

Nhà nước thu hồi đất và hệ thống hóa các quy định của pháp luật về công tác

hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất; phân tích, tìm ra những hạn chế, bất cập

trong quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hỗ trợ, TĐC

khi Nhà nước thu hồi đất.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Qua phân tích thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng trong việc áp dụng pháp

luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và cùng với cơ sở lý luận, luận

văn đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả việc áp

dụng pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và có một số kiến

6

nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu

hồi đất.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 03 chương và lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu

tham khảo, cụ thể các chương gồm:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà

nước thu hồi đất.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi

đất tại thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà

nước thu hồi đất và nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật về hỗ trợ, TĐC

khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

7

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ VÀ PHÁP

LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

1.1. Các khái niệm

1.1.1. Khái niệm về thu hồi đất

Vấn đề sở hữu là vấn đề gốc để giải quyết các mối quan hệ pháp luật đất

đai tiếp theo. Đối với những quốc gia công nhận quyền tư hữu về đất đai, khi

nhà nước cần một diện tích đất cho mục đích công ích thì đa phần sẽ tiến hành

trưng mua và người có quyền tư hữu với thửa đất đó là người bán tài sản

thuộc sở hữu của mình. Đối với Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do

Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, Nhà nước trao quyền sử

dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.Với vai trò đại

diện chủ sở hữu thì Nhà nước có quyền giao đất, cho thuê đất, công nhận

quyền sử dụng đất. Vì vậy, khi Nhà nước sử dụng và mục đích công ích, Nhà

nước sẽ thu hồi đất đã giao, đã cho thuê và có bồi thường, hỗ trợ, TĐC.

Theo Luật Đất đai 2013, Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết

định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng

đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.

Về thẩm quyền thu hồi đất, theo Điều 66, Luật Đất đai năm 2013 quy

định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp

sau đây: Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư

ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp thu hồi đất ở của người Việt Nam định

cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; Thu hồi đất nông nghiệp

thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn. Ủy ban nhân dân cấp huyện

quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: Thu hồi đất đối với hộ

8

gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; Thu hồi đất ở của người Việt Nam định

cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Trường hợp trong khu vực

thu hồi đất có cả đối tượng thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

và cấp huyện thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy

quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.

1.1.2. Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Theo Từ điển Tiếng Việt, hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào; còn

Nhà nước hỗ trợ khi thu hồi đất được thể hiện cụ thể thông qua các chính sách

nhằm thể hiện sự nhân đạo, biểu hiện bản chất Nhà nước của dân, do dân và

vì dân của nước ta nhằm hỗ trợ, chia sẻ khó khăn của người dân bị thu hồi đất,

giúp đỡ một phần nào rủi ro mà họ phải gánh chịu, đồng thời giúp cho người

bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định đời sống, sản xuất và kinh doanh.

Theo Nghị định số 22/1998/NĐ-CP, là văn bản đầu tiên quy định chi tiết

về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, các khoản hỗ trợ bao gồm: Chi phí đào tạo

nghề, người sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước… Đến Luật Đất đai 2003,

khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đã được luật hóa, theo đó, hỗ trợ

khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông

qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa

điểm mới. Hiện nay, theo khoản 14, Điều 3, Luật Đất đai 2013 thì hỗ trợ khi

Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để

ổn định đời sống, sản xuất và phát triển.

Như vậy, khái niệm hỗ trợ có bản chất là giúp đỡ, mang tính xã hội

(khác với bồi thường mang tính kinh tế). So với trước đây, thì hình thức hỗ

trợ có những điểm khác nhau cơ bản như: thứ nhất, về tên gọi, nếu trước đấy

gọi là hỗ trợ, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm thì nay được đổi thành

hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm. Thứ hai, mở rộng đối

9

tượng nhận hỗ trợ, đối với hình thức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm

kiếm việc làm, có thêm đối tượng nhận hỗ trợ là người có đất thu hồi là đất ở

kết hợp kinh doanh dịch vụ mà phải chuyển chổ ở khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ ba, chi phí di chuyển trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất đã quy định

thành khoản bồi thường chứ không còn là hỗ trợ như trước đây. Thứ tư, các

văn bản hiện hành không còn quy định khoản hỗ trợ đất nông nghiệp trong

khu dân cư, đất vườn, ao không được công nhận là đất ở trong các khoản hỗ

trợ của Nhà nước khi thu hồi đất vì các nội dung thể hiện tính chất hoạt động

bồi thường về đất.

1.1.3. Khái niệm tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Hiện nay, khái niệm tái định cư chưa được luật hóa. Có thể hiểu, TĐC

chỉ những ảnh hưởng tác động đến đời sống của người dân do bị mất tài sản,

nguồn thu nhập trong quá trình phát triển dự án; bất kể có phải di chuyển hay

không và các chương trình nhằm khôi phục cuộc sống của họ; nhà ở TĐC là

nhà được hỗ trợ cho những người bị thu hồi đất ở. Tuy nhiên, không phải gia

đình nào cũng được hỗ trợ nhà ở TĐC, chỉ có một số trường hợp mới được

hưởng chế độ này, cụ thể phân loại TĐC như sau:

- Dựa vào hình thức TĐC được phân ra thành 3 loại như sau: Di dân

vào vùng được đô thị hóa; TĐC tại chỗ khi áp dụng triển khai các dự án chỉnh

trang khu dân cư; chuyển dịch nội ngoại thành;

- Dựa vào nguyện vọng của người dân: TĐC tự phát là việc mua bán, xây

dựng trái phép không đúng theo quy định; TĐC tự giác là việc TĐC thể hiện

các dự án, người dân tự giác chấp hành kế hoạch và phương thức TĐC, ngay cả

việc xây dựng lên chỗ ở mới các dự án phát triển nhà, cưỡng bức TĐC;

- Dựa vào tính chất: TĐC bắt buộc và TĐC tự nguyện.

Nhà ở TĐC là dùng để cấp cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện TĐC

10

khi bị Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật, theo đó điều kiện để

được TĐC quy định tại Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP như sau: Hộ gia

đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang

sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu

hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để

được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản

khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai nếu thuộc trường

hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ

điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá

nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi

có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư; nếu hộ

gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường

hợp nêu trên mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái

định cư thì được Nhà nước bồi thường bằng tiền.

Các nhóm TĐC được chia thành 03 nhóm: Nhóm thuộc diện TĐC; nhóm

thuộc diện hỗ trợ TĐC; nhóm thuộc diện xét mua nền TĐC.

- Nhóm thuộc diện TĐC được áp dụng khi Hộ gia đình, cá nhân có nhà ở

hợp pháp mà phải di chuyển chỗ ở và không còn chỗ ở nào khác trên địa bàn

cấp xã nơi có đất ở bị thu hồi. Việc bố trí TĐC thực hiện bằng việc giao đất ở,

nhà ở hoặc bằng tiền;

- Nhóm thuộc diện hỗ trợ TĐC áp dụng hộ gia đình, cá nhân, người Việt

Nam định cư ở nước ngoài nhận đất ở, nhà ở TĐC mà số tiền được bồi thường

về đất nhỏ hơn giá trị một suất TĐC tối thiểu, khoản hỗ trợ chênh lệch giữa giá

trị suất TĐC tối thiểu và số tiền được bồi thường về đất gọi là hỗ trợ TĐC;

- Nhóm thuộc diện mua nền đất TĐC, thứ nhất, khi bị thu hồi đất gắn với

nhà ở mà không đủ điều kiện bồi thường về đất ở và phải di chuyển chỗ ở và

11

không còn chỗ ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất ở bị thu hồi thì hộ

gia đình, cá nhân đó được xét mua một nền đất TĐC với diện tích tối thiểu;

thứ hai, trường hợp hộ gia đình nêu trên có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng

cùng chung sống trên cùng một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện tách thành

từng hộ gia đình riêng hoặc nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một

thửa đất ở thu hồi thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở TĐC và

tình hình thực tế ở địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở TĐC cho từng hộ

gia đình.

1.1.4. Mục đích, ý nghĩa của việc hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu

hồi đất

Thu hồi đất không chỉ làm chấm dứt mối quan hệ pháp luật đất đai (làm

chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng

đất) mà còn liên quan đến lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan: Lợi ích

của người bị thu hồi đất; lợi ích của Nhà nước, của xã hội; lợi ích của người

hưởng lợi từ việc thu hồi đất (các nhà đầu tư, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức,

cá nhân…). Do vậy trên thực tế việc giải quyết hậu quả của việc thu hồi đất

gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp. Việc giải quyết tốt vấn đề hỗ trợ và TĐC

khi Nhà nước thu hồi đất sẽ mang lại ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện.

Trong hơn 20 năm kể từ ngày thành lập, thành phố Đà Nẵng đã triển

khai gần 836 dự án, việc thu hồi đất để thực hiện các dự án này đã ảnh hưởng

đến gần 150 nghìn hộ giải tỏa. Thực tế cho thấy, do mất đất sản xuất, mất nơi

định cư đã làm cho người bị thu hồi đất không có nghề nghiệp ổn định, mất đi

nơi sản xuất kinh doanh sau khi bị thu hồi đất. Như chúng ta đã biết: Quyền

sử dụng đất được pháp luật bảo hộ và tại Điều 2 Hiến pháp 2013 xác định

Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân

dân, vì nhân dân; cùng với các quyền công dân khác được Hiến pháp ghi

12

nhận: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã

hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi,

người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác. Nhà

nước có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở”.

Vì vậy, Nhà nước luôn có chính sách về xóa đói, giảm nghèo, chăm lo cho

người dân có nơi ở, nơi sản xuất mới tốt hơn so với trước khi bị thu hồi đất.

Mục tiêu tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất ổn định cuộc sống, sản xuất

và tạo việc làm.

Vấn đề đất đai ở nước ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và nhạy cảm; các

chính sách, pháp luật về đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định về chính

trị. Điều này có nghĩa là nếu chủ trương, chính sách pháp luật đất đai đúng

đắn, phù hợp với thực tiễn và được thực thi nghiêm túc sẽ góp phần vào việc

duy trì và củng cố sự ổn định chính trị; ngược lại, sẽ làm phát sinh những

điểm nóng tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định về chính trị.

Một trong các chính sách, pháp luật về đất đai được xã hội quan tâm đó

là chính sách, pháp luật về hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Bởi vì

mảng chính sách, pháp luật này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp

pháp của người bị thu hồi đất. Trong trường hợp bị thu hồi đất quyền và lợi

ích hợp pháp của người sử dụng đất trực tiếp bị xâm hại, họ không chỉ mất

quyền sử dụng đất mà còn buộc phải di chuyển chỗ ở, hậu quả là cuộc sống

thường nhật của họ bị đảo lộn. Với quan niệm truyền thống của người Việt

Nam có an cư mới lạc nghiệp thì việc bị mất đất đai, nhà cửa thực sự ảnh

hưởng rất lớn đối với người bị thu hồi đất. Do vậy, họ phản ứng rất gay gắt,

quyết liệt thông qua việc khiếu nại đông người, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài

nếu không được Nhà nước hỗ trợ thỏa đáng. Các khiếu kiện về đất đai nói

chung và khiếu kiện về hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng

tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định anh ninh, trật tự và dễ phát sinh thành các

13

điểm nóng. Cho nên việc giải quyết tốt vấn đề hỗ trợ là thực hiện tốt chính

sách an dân để phát triển kinh tế xã hội góp phần vào việc duy trì, củng cố về

sự ổn định của chính trị.

Thực tiễn cho thấy, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất luôn là công

việc khó khăn, phức tạp. Các dự án chậm triển khai thực hiện theo tiến độ đề

ra có nguyên nhân do công tác hỗ trợ, TĐC không nhận được sự đồng thuận

từ phía người bị Nhà nước thu hồi đất. Xét dưới góc độ kinh tế, dự án chậm

triển khai thực hiện ngày nào là chủ đầu tư, các doanh nghiệp bị thiệt hại đáng

kể về lợi ích kinh tế do máy móc, vật tư, thiết bị không đưa vào hoạt động

được, người lao động không có việc làm trong khi doanh nghiệp vẫn phải trả

lương, trả chi phí duy trì các hoạt động thường xuyên và trả lãi xuất vay vốn

từ ngân hàng… Vì vậy, thực hiện tốt công tác hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước

thu hồi đất là điều kiện để doanh nghiệp sớm có mặt bằng triển khai các dự án

đầu tư góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế và nâng cao

tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, kinh doanh ở nước ta. Để duy trì được tốc

độ tăng trưởng cao và bền vững sẽ có điều kiện để thực hiện tiến bộ và công

bằng xã hội, góp phần vào cuộc xóa đói, giảm nghèo và tạo tiền đề cho các

bước phát triển tiếp theo.

Về phía người sử dụng đất, thực hiện tốt vấn đề hỗ trợ, TĐC khi Nhà

nước thu hồi đất sẽ giúp cho người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định cuộc

sống để tập trung sản xuất góp phần cải thiện và nâng cao mức sống. Hơn nữa

điều này giúp củng cố niềm tin của người bị thu hồi đất vào đường lối, chủ

trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời loại trừ cơ

hội để kẻ xấu lợi dụng, tuyên truyền, xuyên tạc, kích động quần chúng nhân

dân khiếu kiện nhằm gây mất ổn định tình hình trật tự an toàn xã hội và làm

đình trệ sản xuất.

14

1.2. Pháp luật về hỗ trợ, tái đinh cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.2.1. Khái niệm pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Khi Nhà nước thu hồi đất có thể phát sinh việc bồi thường hoặc hỗ trợ

cho đối tượng bị thu hồi đất. Mục đích của bồi thường là bồi hoàn thiệt hại

cho người dân trên cơ sở hành vi hành chính thu hồi đất của Nhà nước. Bồi

thường chỉ phát sinh khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất của người dân.

Có thể nói, bồi thường trong thu hồi đất là trách nhiệm của Nhà nước khi tiến

hành ra quyết định thu hồi. Nhà nước thông qua chính sách về đất đai của

mình “bù đắp” lại những thiệt thòi của người dân khi bị thu hồi đất.

Khác với bồi thường khi nhà nước thu hồi đất, hỗ trợ không nhằm bù

đắp có tính ngang giá các giá trị mà người bị thu hồi đất bị thiệt hại khi

Nhà nước thu hồi đất cho các mục đích công cộng, lợi ích quốc gia và cho

mục tiêu phát triển kinh tế mà có tính trợ giúp thêm từ phía Nhà nước. Sự

trợ giúp này giúp cho người bị thu hồi đất sẽ ổn định cuộc sống hơn, có

thêm nguồn tài chính để tái hòa nhập vào cuộc sống nơi ở mới hoặc có

thêm thời gian thích nghi tốt hơn cuộc sống ở nơi mới. Sự hỗ trợ này có thể

bao quát cả trường hợp bị thu hồi đất ở hoặc thu hồi đất nông nghiệp, tuy

nhiên mức độ hỗ trợ sẽ khác nhau. Những trợ giúp về tìm việc làm, có

công việc mới, thu nhập mới, hướng tới học nghề mới ngoài nông nghiệp

được ổn định là rất quý báu; đặc biệt, đối với hỗ trợ đất nông nghiệp nằm

trong khu dân cư hoặc đất vườn ao nằm trong khu dân cư thậm chí còn cao

hơn mức bồi thường đối với đất nông nghiệp đang mở ra khả năng tài

chính để họ thu xếp công ăn việc làm.

Pháp luật về TĐC điều chỉnh các quan hệ liên quan đến thu hồi đất và

việc giải quyết nơi ở, đất sản xuất mới cho người bị thu hồi đất (chỉ có người

bị thu hồi đất mới liên quan đến giải quyết đất ở, đất sản xuất TĐC). Nhưng

15

nói như vậy không có nghĩa là pháp luật về TĐC điều chỉnh tất cả các quan

hệ kể trên.

Đối với nhóm quan hệ liên quan đến thu hồi đất về nguyên tắc thuộc

phạm vi điều chỉnh của pháp luật về thu hồi đất nói chung. Tuy nhiên, như đã

nói ở trên vấn đề TĐC là hậu quả trực tiếp của thu hồi đất, TĐC chỉ phát sinh

khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất. Bởi vậy, khi quy định về TĐC, nhất

thiết phải đề cập đến vấn đề thu hồi đất. Mặt khác, TĐC được xác định là một

trong các trách nhiệm của Nhà nước bố trí nơi ở, nơi sản xuất mới cho người

dân bị thu hồi đất và phải di chuyển. Như vậy, TĐC không chỉ là một chế

định pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định, mà ở một khía

cạnh khác, pháp luật về TĐC là một bộ phận các chính sách về an sinh xã hội

đối với người bị thu hồi đất không còn nơi ở cần sự trợ giúp từ Nhà nước và

Nhà nước trong trách nhiệm xã hội của mình phải đáp ứng các nhu cầu chính

đáng của họ. Sở dĩ chúng ta xác định vị trí trên bởi pháp luật về TĐC là chính

sách mang tính xã hội của Nhà nước nhằm bù đắp cho người sử dụng đất

quyền lợi kinh tế của họ bị mất đi khi bị Nhà nước thu hồi đất bằng các chính

sách của mình. Nhà nước giúp đỡ người bị mất đất có thể tiếp cận, sử dụng

các quyền lợi về kinh tế được đền bù để tạo lập cuộc sống mới. Pháp luật về

TĐC đã tạo ra cơ sở pháp lý thống nhất cho công tác TĐC trên thực tế nói

riêng và công tác bồi thường để giải phóng mặt bằng trên thực tế nói chung.

Thông qua các quy định và quá trình tổ chức thực hiện công tác TĐC, Nhà

nước đã cho thấy sự quan tâm đối với những người dân phải chịu thiệt thòi do

hành vi thu hồi đất mang lại; hay như nhóm người phải di chuyển chỗ ở, nơi

sản xuất tới một nơi mới, với tập quán mới, cơ sở vật chất mới và điều kiện

sống mới thì việc nơi bố trí TĐC để có thể đáp ứng được cơ bản nguyện vọng

của người dân, giúp họ sớm hòa đồng với môi trường mới là một điều hết sức

có ý nghĩa. Như vậy, pháp luật về TĐC không chỉ đơn thuần là một chế định

16

pháp luật về lĩnh vực đất đai mà còn là một bộ phận chính sách an sinh xã hội

đối với người dân sau thu hồi đất, thể hiện được sự tôn trọng quyền và lợi ích

hợp pháp của người dân, của Nhà nước thông qua đó bộc lộ tính “của dân, do

dân, vì dân” của Nhà nước Việt Nam ta.

1.2.2. Quy định của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu

hồi đất

Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 thay thế Luật Đất

đai năm 2003, trong đó quy định sửa đổi, bổ sung về bồi thường, hỗ trợ, TĐC

khi Nhà nước thu hồi đất. Cụ thể hóa các quy định này, ngày 15/5/2014,

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường,

hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Đến ngày 30/6/2014, Bộ Tài nguyên

và Môi trường ban hành Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT quy định chi tiết

về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Thông tư này có hiệu

lực thi hành kể từ ngày 13/8/2014.

- Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống, tại điểm a khoản 2 Điều 83

Luật Đất đai và Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP với những kế thừa và

bổ sung so với Nghị định số 69/2009/NĐ-CP như sau: Hỗ trợ chế độ trợ cấp

ngừng việc cho người lao động không quá 06 tháng khi chủ cơ sở sản xuất,

kinh doanh bị thu hồi đất dẫn đến ngừng lao động; Nếu được bồi thường bằng

đất nông nghiệp thì được hỗ trợ: Giống cây trồng, giống vật nuôi cho vụ sản

xuất nông nghiệp đầu tiên, các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo

vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với

sản xuất, kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp. Chính sách hỗ trợ ổn định

đời sống và sản xuất qua các thời kỳ có nhiều thay đổi khác nhau theo hướng

tăng thêm quyền lợi cho người bị thu hồi đất và mở rộng phạm vi áp dụng.

Nghị định số 47/2014/NĐ-CP không đưa chính sách hỗ trợ cho người bị thu

hồi đất đối với hộ nghèo;

17

- Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm, tại điểm b khoản 2

Điều 83 Luật Đất đai; Điều 20 và Điều 21 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP với

những kế thừa và bổ sung so với Nghị định số 69/2009/NĐ-CP như sau: Mức

hỗ trợ bằng tiền không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng

giá đất của địa phương; trường hợp thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ

của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ đào tạo,

chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm theo quy định tại điểm b khoản

2 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP đã bỏ khung

hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 đến 5 lần quy định tại Nghị định số 69/2009/NĐ-CP

mà chỉ quy định mức trần không quá 5 lần, mức cụ thể do Ủy ban nhân dân

cấp tỉnh quyết định cho phù hợp với thực tế địa phương;

- Hỗ trợ TĐC, tại Điều 79, điểm c khoản 2 Điều 83, Điều 85 Luật Đất

đai; Điều 22 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP với những kế thừa Nghị định số

69/2009/NĐ-CP về điều kiện TĐC phải có đất bị thu hồi và phải di chuyển

chỗ ở, TĐC bằng hình thức nhà ở, đất ở tại khu TĐC hoặc nhận tiền hỗ trợ

để tự lo chỗ ở. Hộ gia đình, cá nhân nhận đất ở, nhà ở TĐC mà số tiền

được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất TĐC tối thiểu thì được hỗ

trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suất TĐC tối thiểu và số tiền được bồi

thường về đất;

- Hỗ trợ đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, tại

Điều 14 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP giữ nguyên quy định tại Điều 21 Nghị

định số 197/2004/NĐ-CP. Như vậy, người đang sử dụng nhà ở hợp pháp

thuộc sở hữu Nhà nước không được bồi thường về nhà, đất; được bồi thường

chi phí tự cải tạo, sửa chữa, nâng cấp nhà ở; không được giải quyết TĐC mà

chỉ được thuê nhà tại khu TĐC;

18

- Hỗ trợ người đang thuê nhà ở không thuộc sở hữu Nhà nước, tại Điều

23 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP kế thừa Nghị định số 197/2004/NĐ-CP với

quy định: Hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở

hữu Nhà nước khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ

trợ chi phí di chuyển tài sản theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

- Đối với hai khoản hỗ trợ là hỗ trợ di chuyển và hỗ trợ sản xuất, đời

sống tại khu TĐC, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành

chưa quy định về loại hỗ trợ này;

- Hỗ trợ đất nông nghiệp bị thu hồi. Luật Đất đai năm 2013 và các văn

bản hướng dẫn thi hành chưa quy định về loại hỗ trợ này. Như vậy hỗ trợ đất

nông nghiệp trong khu dân cư lần đầu tiên được quy định tại Nghị định số

197/2004/NĐ-CP với mức hỗ trợ từ 20% đến 50% giá đất ở, diện tích được

hỗ trợ là toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi không vượt hạn mức

giao đất nông nghiệp tại địa phương. Đến Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy

định thêm đối tượng hỗ trợ đối với đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở

với diện tích đất nông nghiệp được hỗ trợ không quá 5 lần hạn mức đất ở địa

phương. Sang Nghị định số 69/2007/NĐ-CP giới hạn diện tích đất nông

nghiệp được hỗ trợ không quá 5 lần hạn mức đất ở tại địa phương;

- Hỗ trợ khác, tại điểm d khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai và Điều 25 Nghị

định số 47/2014/NĐ-CP với những kế thừa những quy định tại Điều 23 Nghị

định số 69/2009/NĐ-CP với mục đích: Bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống

và sản xuất, công bằng đối với người bị thu hồi đất; trường hợp đất nhận

chuyển quyền vượt hạn mức mà không có giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc không đủ điều

kiện bồi thường thì được xem xét hỗ trợ.

19

1.3. Khái quát về quá trình hình thành các quy định của pháp luật

về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Cùng với lịch sử phát triển đất nước, công tác quản lý đất đai cũng dần

được hoàn thiện. Nội dung cơ bản của công tác quản lý đất đai được thể hiện

trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Hệ thống văn bản này cũng dần

được hoàn thiện, từ chỗ chỉ là những văn bản dưới luật, có cả những văn bản

chỉ quy định tạm thời đến chỗ Nhà nước ban hành Luật Đất đai 1987, rồi đến

Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003 và đến nay là Luật Đất đai 2013.

- Những nội dung cơ bản quy định về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu

hồi đất ở nước ta giai đoạn chưa có Luật đất đai (từ năm 1945 đến năm

1987): Giai đoạn này bao gồm toàn bộ thời kỳ Nhà nước Việt Nam Dân

chủ Cộng hoà (1945-1975). Trong đó: từ năm 1945-1954, nước ta thực hiện

Cách mạng dân tộc dân chủ; từ năm 1954-1975 nước ta thực hiện xây dựng

Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở

miền Nam. Đặc trưng cơ bản của chính sách ruộng đất trong thời kỳ này là:

khai hoang, vỡ hoá, tận dụng diện tích đất đai để sản xuất nông nghiệp; tịch

thu ruộng đất của thực dân, việt gian, địa chủ, phong kiến chia cho dân

nghèo; chia ruộng đất vắng chủ cho nông dân. Khi tiến hành thu hồi đất,

Nhà nước tiến hành điều chỉnh ruộng đất hoặc nhượng lại ruộng đất cho

người bị trưng dụng sẽ được đền bù từ 01 đến 04 năm sản lượng thường

niên của ruộng được trưng dụng; như vậy, trong thời kỳ này, phương án bồi

thường chủ yếu là thỏa thuận, sau đó thống nhất giá mà không cần có cơ

quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hay ban hành giá bồi thường.Trên

cơ sở Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà

nước thống nhất quản lý nên việc thực hiện đền bù về đất không được thực

hiện mà chỉ thực hiện đền bù về tài sản gắn liền với đất hoặc những thiệt

hại do việc thu hồi đất gây nên;

20

- Những nội dung cơ bản quy định của pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi

Nhà nước thu hồi đất ở nước ta giai đoạn thực hiện Luật đất đai 1987: Ngày

29 tháng 12 năm 1987, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đã thông qua Luật Đất đai đầu tiên - Luật Đất đai 1987 - Luật được soạn

thảo trong bối cảnh nước ta bắt đầu đổi mới, vừa tuyên bố xóa bỏ chế độ

quan liêu bao cấp nên còn mang nặng tính chất của cơ chế đó khi soạn luật.

Trong giai đoạn này, việc thực hiện đền bù về đất không được thực hiện mà

chỉ thực hiện đền bù về tài sản gắn liền với đất hoặc những thiệt hại do việc

thu hồi đất gây nên;

- Những nội dung cơ bản quy định của pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà

nước thu hồi đất ở nước ta giai đoạn thực hiện Luật đất đai 1993: Hiến pháp

1992 ra đời, trong đó quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước

thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử

dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Để phù hợp với giai đoạn mới và thực

hiện đổi mới toàn diện nền kinh tế, cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992, khắc

phục những hạn chế của Luật Đất đai 1987, ngày 14 tháng 7 năm 1993, Quốc

hội khoá IX thông qua Luật Đất đai 1993. Có thể nói, Luật đất đai năm 1993

đã ban hành những quy định vượt bậc và hết sức phù hợp với thực tế đối với

chính sách thu hồi đất và đền bù thiệt hại cho người có đất bị thu hồi; đã quy

định rõ hơn về quyền của người được giao đất bao gồm: quyền chuyển đổi,

chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp; Chính phủ quy định khung giá

cho từng loại đất, từng vùng và theo thời gian;

- Những nội dung cơ bản quy định của pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà

nước thu hồi đất ở nước ta giai đoạn thực hiện Luật đất đai 2003: Trước tình

hình phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội, pháp luật về đất đai mà nòng

cốt là Luật Đất đai 1993 cũng bộc lộ rõ những hạn chế. Nhằm thể chế hoá các

quan điểm đã được xác định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban

21

Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về "Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp

luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước", kế thừa những nội dung còn phù hợp, luật hoá một số quy định đã

được cuộc sống chấp nhận, đồng thời đưa vào Luật đất đai những nội dung

mới cần sửa đổi, bổ sung nhằm tạo lập một hệ thống pháp luật, đáp ứng cho

thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ yêu cầu cấp

thiết đó, Luật Đất đai 2003 đã được Quốc hội thông qua. Với sự ra đời của

Luật đất đai năm 2003, đã khắc phục được những thiếu sót và bất cập trong

công tác bồi thường; đã ban hành những quy định cụ thể về việc tính bồi

thường về đất, điều kiện nơi TĐC đối với các trường hợp được áp dụng cơ

chế chuyển đổi đất đai bắt buộc; Nhà nước cũng đã ban hành rất nhiều các

văn bản quy định chi tiết về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để giải

phóng mặt bằng;

- Những nội dung cơ bản quy định của pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà

nước thu hồi đất ở nước ta giai đoạn thực hiện Luật đất đai 2013: Nhằm đảm

bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất, khắc phục bất

cập và điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và

nhà đầu tư, đồng thời nhằm giảm khiếu kiện trong bồi thường, giải phóng mặt

bằng, Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014 vừa

tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp của pháp luật đất đai

năm 2003, nhưng đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định mới nhằm tháo

gỡ những hạn chế, bất cập, đưa chính sách về bồi thường, hỗ trợ, TĐC đi vào

cuộc sống.

Tiểu kết Chương 1

Chương này trình bày cơ sở lý luận về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi

đất. Nêu khái quát về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất; nêu được mục

đích, ý nghĩa của việc Nhà nước hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; khái quát

22

quá trình hình thành các quy định của pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước

thu hồi đất.

Từ cơ sở lý luận này, làm sáng tỏ vì sao có việc thu hồi đất, vì sao cần

phải hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Qua đó, xác định thực hiện tốt

việc hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất sẽ giúp cho người bị thu hồi đất

nhanh chóng ổn định cuộc sống để tập trung sản xuất góp phần cải thiện và

nâng cao mức sống; giúp củng cố niềm tin của người bị thu hồi đất vào đường

lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời loại

trừ cơ hội để kẻ xấu lợi dụng, tuyên truyền, xuyên tạc, kích động quần chúng

nhân dân khiếu kiện nhằm gây mất ổn định tình hình trật tự an toàn xã hội và

làm đình trệ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp liên quan đến dự án.

Chương này cũng nêu được khái niệm và tóm tắt chung quy định của

pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Khái

quát lịch sử sử hình thành các quy định của pháp luật nước ta về hỗ trợ, tái

định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ năm 1945 đến nay.

23

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ

KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1. Những đặc điểm về tự nhiện, kinh tế - xã hội của thành phố Đà

Nẵng ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi

Nhà nước thu hồi đất

Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 128.543ha. Trong đó đất

nông nghiệp là 75.051 ha chiếm tỷ lệ 58,7%; đất phi nông nghiệp là 51.049ha

chiếm tỷ lệ 39,7%; đất chưa sử dụng là 1.981ha chiếm tỷ lệ 1,6%. Về hành

chính, thành phố Đà Nẵng có 6 quận và 2 huyện (huyện Hòa Vang và huyện

đảo Hoàng Sa) với 11 xã và 45 phường;

Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/4/2009 (do Cục Thống kê công bố

ngày 18/10/2019), dân số Đà Nẵng là 1.134.310 người, xếp thứ 39 trong cả

nước, tỷ lệ tăng dân số bình quân là 2,45%/năm; mật độ dân số là 1.160

người/km2, tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố và bán kiên cố chiếm 99,5%, trong đó

tại khu vực thành thị là 99,6%; quy mô bình quân 3,7 người/hộ gia đình, diện

tích nhà ở bình quân đầu người là 27,4m2/người. Hiện tỷ lệ dân số từ 15 tuổi

trở lên biết đọc biết viết là 98,7%, tỷ lệ dân số trong độ tuổi đi học phổ thông

nhưng hiện không đi học là 3,3%.

Thành phố Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của đất nước, có vị trí trọng

yếu cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh; là đầu mối giao thông

quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, là cửa

ngõ chính ra Biển Đông của các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và các nước

tiểu vùng Mê Kông; Đà Nẵng được xác định có vai trò hạt nhân tăng trưởng,

tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên,

là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ của miền Trung; là một

24

trong ba vùng du lịch trọng điểm của cả nước, trung tâm con đường di sản

miền Trung. Cảng biển Đà Nẵng được xác định là một trong những trọng

điểm của tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây. Với những tiềm năng, lợi thế

đó Đà Nẵng thực sự trở thành một điểm đến cho các nhà đầu tư trong và

ngoài nước.

Thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội

của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Đà

Nẵng đã nêu cao tinh thần đoàn kết, quyết tâm đổi mới với chương trình hành

động cụ thể bằng nhiều giải pháp thích hợp đã thu được những kết quả đáng

khích lệ, làm thay đổi bộ mặt của thành phố. Kết quả thực hiện kế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 – 2020 của Đà Nẵng như sau: Tổng sản

phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP, giá so sánh 2010) ước tăng 4%/năm; GRDP

bình quân đầu người (giá hiện hành) năm 2020 ước đạt 3.678 USD; cơ cấu

kinh tế đến năm 2020 ước đạt: Dịch vụ 65%; công nghiệp - xây dựng 22,3%;

nông nghiệp 2,3%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 10,4%; kim ngạch

xuất khẩu hàng hóa ước tăng 3% năm; tổng vốn đầu tư phát triển ước tăng

3,7% năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2020 ước đạt 60%; tỷ lệ hộ

nghèo còn sức lao động theo chuẩn thành phố đến cuối năm 2020 giảm còn

2,04% [23, tr 2,7,14]. Để có được những kết quả này, thành phố Đà Nẵng đã

có nhiều giải pháp về đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật; thực hiện chỉnh trang đô

thị theo cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm; cải cách thủ tục hành chính;

quy hoạch lại các khu dân cư; thực hiện các dự án TĐC để tạo ra quỹ đất sạch

kêu gọi đầu tư. Trong thời gian ngắn, thành phố Đà Nẵng tạo nên được diện

mạo của Đô thị loại I, hạ tầng kinh tế - xã hội, diện mạo đô thị có bước phát

triển nhanh theo hướng văn minh, bền vững, thân thiện; văn hóa - xã hội, xây

dựng và phát triển con người Đà Nẵng đạt được nhiều kết quả tiến bộ; quốc

phòng, an ninh được giữ vững; hoạt động đối ngoại được mở rộng, góp phần

khẳng định vị thế của thành phố.

25

Tuy nhiên, trong những năm qua có thể thấy thành phố Đà Nẵng có tốc

độ phát triển đô thị “nóng” về số lượng các dự án đầu tư của khu vực công và

khu vực tư nhiều. Diện tích đất thu hồi để triển khai các dự án lớn nhưng việc

quản lý sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng của thành phố Đà Nẵng bộc lộ một

số hạn chế. Trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng hiện đang gặp rất

nhiều vướng mắc bởi nhiều dự án dở dang kéo dài từ nhiều năm trước dẫn

đến chênh lệch quá lớn về giá đất, giá đền bù nhà cửa, vật kiến trúc, giá nhân

công xây dựng, vật liệu xây dựng…, hộ giải tỏa kiến nghị hỗ trợ chênh lệch

giá, không nhận tiền và không tự giác chấp hành bàn giao mặt bằng. Đồng

thời, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai qua các thời kỳ có nhiều thay đổi,

thiếu tính ổn định, nhất là những quy định về đền bù giải tỏa, bố trí TĐC và

các chính sách hỗ trợ liên quan chưa hợp lý dẫn đến công tác đền bù, giải

phóng mặt bằng, TĐC gặp nhiều vướng mắc, bất cập dẫn đến nhiều trường

hợp khiếu nại kéo dài nhằm đòi hỏi thêm quyền lợi; có trường hợp từ việc

khiếu nại không đạt mục đích thì chuyển sang tố cáo hoặc việc giải quyết

chưa thỏa đáng của các cơ quan có thẩm quyền dẫn đến khiếu kiện kéo dài,

vượt cấp.

Hơn 20 năm qua, công tác đền bù, giải phóng mặt bằng đã trở nên một

“thương hiệu” của Đà Nẵng, qua đó khơi dậy những nguồn lực từ đất đai để

góp phần xây dựng một Đà Nẵng như hôm nay. Trong thời gian tới, theo chỉ

đạo của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố công tác

đền bù, giải tỏa, bố trí TĐC tiếp tục được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng

tâm của thành phố; các ngành, các cấp phải có sự phối hợp linh động với

nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt để thực hiện tốt công tác giải phóng mặt

bằng, công tác hỗ trợ, TĐC theo phương châm “dám nghĩ dám làm theo đúng

quy định của pháp luật”.

26

2.2. Việc ban hành các quy định về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước

thu hồi đất tại thành phố Đà Nẵng

Luật Đất đai 2013 ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/7/2014, tuy nhiên từ

ngày 01/7/2014 đến năm 2017, thành phố vẫn thực hiện theo quy định tại

Quyết định 63/2012/QĐ-UBND ngày 20/12/2012 bồi thường, hỗ trợ và TĐC

khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và được sửa đổi, bổ

sung tại Quyết định số 04/2016/QĐ-UBND ngày 15/01/2016. Ngày

30/11/2017, UBND thành phố ban hành Quyết định số 38/2017/QĐ-UBND

quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn

thành phố Đà Nẵng thay thế Quyết định 63/2012/QĐ-UBND và ngày

02/5/2019 ban hành Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung

Quyết định số 38/2017/QĐ-UBND.

Một trong những điểm nổi bật của Quyết định số 38/2017/QĐ-UBND là

quy định việc xét khen thưởng cho các hộ giải tỏa chấp hành tốt chủ trương,

chính sách và kế hoạch giải tỏa, giao mặt bằng đúng thời gian đối với những

dự án cần giải tỏa để có mặt bằng thi công theo tiến độ. Mức thưởng quy định

như sau: Thưởng 5% trên giá trị bồi thường nhà, công trình phụ, vật kiến trúc,

cây cối (không kể giá trị bồi thường đất và các chính sách hỗ trợ khác) đối với

tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có tổng giá trị bồi thường dưới 50.000.000 đồng.

Thưởng 8% trên giá trị bồi thường nhà, công trình phụ, vật kiến trúc, cây cối

(không kể giá trị bồi thường đất và các chính sách hỗ trợ khác) đối với tổ

chức, hộ gia đình, cá nhân có giá trị bồi thường từ 50.000.000 đồng trở lên.

Mức thưởng tối đa không quá 8.000.000 đồng/hộ. Đối với lều quán, vườn,

rừng phải chặt phá, mức thưởng bằng 50% các mức quy định trên nhưng tối

đa không quá 2.500.000 đồng/hộ.

27

Hiện nay, theo Quyết định số 38/2017/QĐ-UBND ngày 30/11/2017 của

UBND thành phố Đà Nẵng quy định về công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi

Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có một số nội dung về

hỗ trợ, tái định cư như sau:

- Quy định về chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn

thành phố Đà Nẵng:

Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: Hỗ trợ di chuyển,

hỗ trợ TĐC đối với trường hợp thu hồi đất ở; hỗ trợ ổn định đời sống và sản

xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu

hồi đất nông nghiệp; hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất

vườn, ao trong cùng thửa đất không được công nhận là đất ở; hỗ trợ đối với

các đối tượng chính sách, hộ nghèo, hộ già yếu neo đơn; hỗ trợ khác.

Hỗ trợ khi thu hồi đất công ích do xã, phường quản lý: Đối với đất nông

nghiệp do xã, phường quản lý giao cho hộ gia đình, cá nhân canh tác thì được

hỗ trợ 100% (bằng mức bồi thường), trong đó hộ gia đình, cá nhân đang sử

dụng canh tác được hỗ trợ 60% và UBND phường, xã được hỗ trợ 40%, số

tiền hỗ trợ được nộp vào ngân sách Nhà nước và được đưa vào dự toán ngân

sách hàng năm của xã, phường; tiền hỗ trợ chỉ được sử dụng để đầu tư xây

dựng các công trình hạ tầng, sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường

.Đối với đất nông nghiệp do xã, phường quản lý chưa cho thuê hoặc giao để

sản xuất thì được hỗ trợ 100%, số tiền hỗ trợ được nộp vào ngân sách Nhà

nước và được đưa vào dự toán ngân sách hàng năm của xã, phường; tiền hỗ

trợ chỉ được sử dụng để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng, sử dụng vào

mục đích công ích của xã, phường.

Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất:

Hỗ trợ ổn định đời sống cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông

28

nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, kể cả đất vườn, ao (trừ đất nuôi

trồng thủy sản, đất trồng rừng; đất 5%, đất UBND xã, phường quản lý giao

cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng) mức 11.000 đồng/m² (mười một ngàn

đồng/m²), nhưng diện tích hỗ trợ tối đa không quá 20.000m²/hộ (Hai mươi

nghìn mét vuông/hộ); hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông

nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, bao gồm: Hỗ trợ giống cây trồng,

giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các dịch vụ khuyến nông, khuyến

lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi và kỹ thuật

nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp; đối với

những hộ có nhà ở tại nơi bị giải tỏa và có hộ khẩu thường trú tại nơi giải tỏa

trước khi Nhà nước thu hồi đất, được hỗ trợ ổn định đời sống theo các mức

sau: Mức hỗ trợ 06 (sáu) tháng/nhân khẩu cho trường hợp hộ phải di chuyển

chỗ ở khi Nhà nước thu hồi đất; mức hỗ trợ 3 tháng/nhân khẩu cho trường

hợp những hộ chỉ bị giải tỏa một phần nhà, phần còn lại vẫn sử dụng làm nhà

ở được….

Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường

hợp Nhà nước thu hồi đất: Đối với đất trồng cây hàng năm: Mức hỗ trợ bằng

2,0 lần giá đất trồng cây hàng năm. Đối với đất trồng cây lâu năm: Mức hỗ

trợ bằng 0,5 lần giá đất trồng cây lâu năm. Đối với đất có mặt nước nuôi

trồng thủy sản: Mức hỗ trợ bằng 0,5 lần giá đất có mặt nước nuôi trồng thủy

sản. Đối với đất rừng sản xuất: Mức hỗ trợ bằng 0,5 lần giá đất trồng rừng

sản xuất.

Hỗ trợ ngừng sản xuất kinh doanh: Đối với những tổ chức kinh tế, hộ

sản xuất kinh doanh nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức khoán hàng

tháng do cơ quan thuế quy định thì được hỗ trợ 06 (sáu) tháng thuế thu nhập

doanh nghiệp đã nộp liên tiếp liền kề trước thời điểm kiểm đếm (có Biên lai

kèm theo); trường hợp không có đủ Biên lai nộp thuế 06 (sáu) tháng liền kề

29

thì tính theo số thuế thực tế đã nộp tại các Biên lai nộp thuế liên tiếp liền kề

trước thời điểm kiểm đếm. Đối với những tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh

doanh nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo thu nhập hàng năm, thì căn cứ

báo cáo quyết toán tài chính được cơ quan thuế chấp thuận. Mức hỗ trợ bằng

20% (hai mươi phần trăm) của 01 (một) năm thu nhập sau thuế. Mức thu nhập

một năm sau thuế được tính bình quân của 03 (ba) năm liền kề trước thời

điểm kiểm đếm. Nếu tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh hoạt động dưới

03 (ba) năm thì thu nhập sau thuế lấy theo báo cáo quyết toán tài chính của

những năm đã hoạt động. Trường hợp báo cáo quyết toán tài chính chưa được

cơ quan thuế chấp thuận thì việc xác định thu nhập sau thuế căn cứ vào báo

cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối mỗi năm đã

gửi cho cơ quan thuế.

Hỗ trợ đối với các đối tượng chính sách, hộ nghèo, hộ già yếu neo đơn,

hộ khó khăn đột xuất: Hộ gia đình sau đây thì được hỗ trợ 7.500.000 đồng/hộ:

Hộ có ít nhất 03 (ba) thân nhân là liệt sĩ trở lên; hộ có công nuôi dưỡng Bà mẹ

Việt Nam anh hùng; hộ có 01 (một) thương binh hạng 1/4; Anh hùng lực

lượng vũ trang hoặc Anh hùng lao động. Hộ gia đình sau đây thì được hỗ trợ

4.500.000 đồng/hộ: hộ có 02 (hai) thân nhân là liệt sĩ; hộ có 01 (một) thương

binh hạng 2/4. Hộ gia đình sau đây thì được hỗ trợ 3.000.000 đồng/hộ: Hộ có

01 (một) thân nhân là liệt sĩ; hộ có 01 (một) thương binh hạng 3/4, 4/4, bệnh

binh các loại. Hộ diện nghèo có xác nhận của chính quyền địa phương được

hỗ trợ 3.000.000 (ba triệu) đồng/hộ. Hộ có khó khăn đột xuất, giao cho Hội

đồng bồi thường kiểm tra cụ thể và đề xuất UBND thành phố xem xét quyết

định mức hỗ trợ.

Quy định về TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà

Nẵng: Việc bố trí TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố thực

hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Tùy theo tình hình thực tế của

30

địa phương; giao Hội đồng bồi thường căn cứ vào quỹ đất TĐC hiện có tại

khu vực, nhu cầu bố trí TĐC; có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị liên

quan lập phương án bố TĐC cư cho từng dự án (phương án tái định cư Tổng

thể), báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định, trình UBND thành

phố phê duyệt.

Miễn, giảm tiền sử dụng đất và cho nợ tiền sử dụng đất: Hộ bị giải toả

nhà ở, có giá trị bồi thường, hỗ trợ thiệt hại dưới 300.000.000 đồng, được

nhận toàn bộ giá trị bồi thường thiệt hại để xây dựng nhà ở mới và được ghi

nợ 100% tiền sử dụng đất theo quy định của thành phố. Hộ bị giải toả nhà ở,

có giá trị bồi thường, hỗ trợ thiệt hại từ 300.000.000 đồng trở lên: được giữ lại

tối thiểu 300.000.000 đồng để xây dựng nhà ở mới. Số tiền bồi thường còn lại

phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định. Trường hợp số tiền còn lại không đủ

nộp tiền sử dụng đất thì được Nhà nước cho nợ phần còn thiếu theo quy định

của thành phố.

Các biện pháp khôi phục sản xuất và đời sống tại khu tái định cư: Hỗ trợ

kỹ thuật cho vụ sản xuất đầu tiên để tăng năng suất nông nghiệp gồm: dịch vụ

khuyến nông, dịch vụ bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi. Hộ gia đình,

cá nhân được vay vốn tại các tổ chức tín dụng để thực hiện sản xuất, kinh

doanh với lãi suất ưu đãi. Hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ kỹ thuật để xây

dựng nhà ở tại khu tái định cư gồm: thiết kế nhà, tư vấn về vật liệu và kỹ thuật

xây dựng.

Suất tái định cư tối thiểu: Các phường thuộc quận Hải Châu, quận Thanh

Khê, quận Sơn Trà và quận Liên Chiểu; phường Mỹ An, phường Khuê Mỹ và

vị trí mặt tiền đường Lê Văn Hiến, đường Trần Đại Nghĩa thuộc quận Ngũ

Hành Sơn; phường Khuê Trung, phường Hòa Thọ Đông, mặt tiền Quốc lộ 1A

và Quốc lộ 14B (đường Trường Sơn) thuộc quận Cẩm Lệ, diện tích tối thiểu

31

là: 70m2. Các phường còn lại thuộc quận Cẩm Lệ (trừ các vị trí quy định tại

khoản 1 Điều này); các phường còn lại thuộc quận Ngũ Hành Sơn (trừ các vị

trí quy định tại khoản 1 Điều này); vị trí mặt tiền Quốc lộ 1A, Quốc lộ 14B,

ĐT 602, ĐT 605 thuộc địa bàn huyện Hòa Vang, diện tích tối thiểu là: 100m2.

Các xã thuộc huyện Hòa Vang (trừ các vị trí quy định nêu trên và huyện

Hoàng Sa, diện tích tối thiểu là: 150m2. Đối với diện tích chung cư là: 30m2.

Suất TĐC tối thiểu được quy định bằng đất ở, nhà ở hoặc bằng nhà ở hoặc

bằng tiền để phù hợp với việc lựa chọn của người được bố trí TĐC.

Diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở: Phần diện

tích đất ở còn lại nhỏ hơn 30m2 và chiều rộng cạnh thửa đất nhỏ hơn 2,5m đối

với khu vực quận Hải Châu và quận Thanh Khê; đối với phần diện tích đất ở

còn lại nhỏ hơn 40m2 và chiều rộng cạnh thửa đất nhỏ hơn 3m đối với khu

vực các quận, huyện còn lại. Hộ gia đình, cá nhân có diện tích đất ở còn lại

sau thu hồi không đủ điều kiện để ở trong trường hợp thu hồi thì bồi thường

theo quy định.

2.3. Thực trạng công tác hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thể hiện qua một số dự án cụ thể

Qua nghiên cứu về công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC để thực hiện các

dự án, trong phạm vi của luận văn, tác giả giới thiệu công tác hỗ trợ, TĐC của

Dự án phát triển bền vững do Ngân hàng thế giới tài trợ triển khai tại thành

phố Đà Nẵng. Ở đây, có sự đánh giá, so sánh về công tác hỗ trợ, TĐC của dự

án với quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và các quy định của thành

phố; đồng thời, tác giả cũng giới thiệu về Dự án Cống thoát nước Khe Cạn,

đây là một dự án hiện đang triển khai nhưng việc thực hiện giải tỏa, đền bù,

TĐC rất phức tạp, khó khăn trong thực tế do công tác quản lý đô thị trước đây

tại địa phương còn nhiều lỏng lẻo dẫn đến các hậu quả pháp lý khi thực hiện

32

thu hồi đất, giải phóng mặt bằng hiện nay. Ngoài ra, luận văn cũng giới thiệu

một số vụ khiếu nại của người dân về công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu

hồi đất để thấy những mong muốn của người dân, sự quy định của pháp luật

còn nhiều bất cập và khác biệt.

2.3.1. Dự án Phát triển bền vững thành phố Đà Nẵng

Về công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án

được phê duyệt theo Quyết định số 398/QĐ-UBND ngày 14/01/2013 của

UBND thành phố Đà Nẵng (hiện nay vẫn đang thực hiện), cụ thể như sau:

Mục tiêu của Dự án nhằm tiếp tục hỗ trợ việc nâng cấp và mở rộng hệ

thống cơ sở hạ tầng môi trường, xây dựng thí điểm hành lang xe buýt nhanh

(BRT) và hai tuyến đường giao thông quan trọng để tạo điều kiện thuận lợi

cho phát triển thành phố trong tương lai, nhằm giúp Đà Nẵng phát triển bền

vững, đem lại lợi ích cho người dân bằng cách cải thiện môi trường đô thị và

tăng cường sự lưu thông đô thị an toàn, đa dạng, sạch đẹp và hiệu quả về

năng lượng.

Có thể nói công tác hỗ trợ, TĐC khi thực hiện Dự án này được triển khai

khá bài bản. Dự án thuê đơn vị tư vấn để xây dựng Kế hoạch TĐC trình

UBND thành phố phê duyệt. Điểm nổi bật của Kế hoạch TĐC là vấn đề khảo

sát xã hội đối với người dân trong vùng dự án bị thu hồi đất từ độ tuổi, giới

tính, dân trí, thu nhập… từ đó đánh giá tác động khi bị thu hồi đất để có các

phương án bồi thường, hỗ trợ và bố trí TĐC phù hợp. Qua nghiên cứu Kế

hoạch có thể thấy mức bồi thường, hỗ trợ, TĐC là mức cao nhất theo quy

định của pháp luật hiện hành hoặc được hưởng mức cao hơn theo quy định.

Nguyên tắc khi thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC là cuộc sống của người

dân sau khi bị thu hồi đất để thực hiện dự án phải tốt hơn trước đây. Cụ thể

như sau:

33

Phạm vi trưng dụng đất và ảnh hưởng của việc trưng dụng đất: Các

công trình nằm trên địa bàn của 16 phường/xã thuộc 05 quận/huyện của thành

phố. Theo đó, tổng diện tích đất cần thu hồi ước khoảng 873.907,8m2 (tương

đương 90 ha); trong đó diện tích đất ở là 172.307,8 m2; diện tích đất nông

nghiệp là 622.843,28 m2 và diện tích đất hoang, công ích khác (do UBND

phường quản lý là 78.757m2. Tổng số hộ ảnh hưởng của toàn dự án là 2.798

hộ, trong đó có 730 hộ bị ảnh hưởng toàn bộ phải TĐC bởi dự án.

Khu tái định cư: Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi toàn bộ nhà ở, đất ở

hoặc diện tích còn lại sau thu hồi không khả thi về mặt kinh tế hoặc thấp hơn

hạn mức giao đất ở mới tại địa phương, người bị ảnh hưởng sẽ được bố trí lô

đất trong khu TĐC. Nhu cầu đất TĐC khoảng 1.114 lô đất. Địa điểm xây

dựng khu TĐC được tham vấn những người bị ảnh hưởng phải di dời, sẽ được

xây dựng càng gần nơi ở cũ của những người TĐC càng tốt, xây dựng theo

quy hoạch, tiêu chuẩn xây dựng cho khu đô thị và hạ tầng cơ bản được xây

dựng trước khi người bị ảnh hưởng chuyển đến. Năm (5) khu TĐC được xác

định là Khu TĐC Hòa Liên, Khu TĐC phía Bắc đường vành đai phía Nam

(giai đoạn 3a), Khu TĐC số 1 đường ĐT605 – giai đoạn 2, Khu TĐC Hòa

Phong – Hòa Phú – giai đoạn 1 và Khu TĐC Khe Cạn, có tổng diện tích

khoảng 302.239 m2, trong đó đất chia lô t TĐC là 139.864 m2, tương đương

1.287 lô đất, bảm đảm nhu cầu TĐC cho hộ bị ảnh hưởng di dời của Dự án.

Diện tích thu hồi phục vụ cho việc xây dựng khu TĐC chủ yếu là đất nông

nghiệp, đất đồi núi, ngoài ra một số diện tích nhỏ là ao đầm, và diện tích đất

phi nông nghiệp khác, ước có 890 hộ gia đình bị ảnh hưởng, trong đó có 120

hộ bị ảnh hưởng nhà và cần TĐC.

Chương trình phục hồi cuộc sống: Chương trình phục hồi sinh kế là một

hoạt động quan trọng của kế hoạch bồi thường và TĐC. Trong dự án này, một

chương trình đào tạo nghề và giới thiệu việc làm của Trung tâm Dịch vụ việc

34

làm của thành phố và Hội Liên hiệp Phụ nữ Đà Nẵng đã được nghiên cứu và

đề xuất áp dụng cho các đối tượng thuộc diện bị ảnh hưởng bởi dự án, góp

phần khôi phục sinh kế.

Nguyên tắc bồi thường và tái định cư: Tất cả các hộ bị ảnh hưởng có tài

sản hoặc cư trú trong khu vực dự án trước ngày khóa sổ sẽ được bồi thường,

hỗ trợ thiệt hại. Những người đã mất thu nhập và sinh kế sẽ hội đủ điều kiện

để được hỗ trợ phục hồi sinh kế, dựa trên các tiêu chí đủ điều kiện theo quy

định của dự án và ý kiến tham khảo với người bị ảnh hưởng. Nếu, vào cuối

của dự án, sinh kế không được phục hồi như trước khi có Dự án, các biện

pháp bổ sung cần được xem xét.

- Mức bồi thường sẽ được xác định dựa trên các kết quả của thẩm định

đất và tài sản độc lập một cách kịp thời và có sự tư vấn. Tất cả các lệ phí và

thuế chuyển nhượng đất và/hoặc nhà sẽ được miễn hoặc nếu không sẽ bao

gồm trong một gói bồi thường cho đất và vật kiến trúc/nhà hoặc các doanh

nghiệp. Chính quyền địa phương sẽ đảm bảo rằng người bị ảnh hưởng lựa

chọn TĐC theo nguyện vọng mà không cần thêm chi phí hoặc điều kiện sở

hữu tài sản và chứng nhận chính thức cho các lựa chọn được cung cấp cho

người bị ảnh hưởng để di chuyển đến các khu TĐC của dự án;

- Đất sẽ được bồi thường theo "đất đổi đất" hoặc bằng tiền mặt theo

nguyện vọng của người bị di dời. Phương án đất đổi đất được lựa chọn cho

người bị ảnh hưởng mất 20% trở lên đất sản xuất. Nếu đất không có sẵn,

người thu hồi đất đảm bảo đây là trường hợp có thực. Những người bị mất đất

đai từ 20% trở lên sẽ được hỗ trợ để phục hồi sinh kế của họ. Các nguyên tắc

tương tự sẽ áp dụng cho người nghèo và người dễ bị tổn thương khi họ mất sở

hữu đất sản xuất từ 10% trở lên;

- Người bị ảnh hưởng lựa chọn phương án "Đất đổi đất" sẽ được cung

cấp các thửa đất có khả năng sản xuất tương đương với đất bị mất trong khu

35

dân cư mới gần với đất ở và bổ sung bồi thường tiền mặt trong trường hợp

điều kiện đất nền được cung cấp khác với đất bị mất. Khu TĐC sẽ được quy

hoạch và thực hiện tham vấn với người bị ảnh hưởng. Tất cả các cơ sở hạ tầng

cơ bản, chẳng hạn như con đường lát đá, vỉa hè, hệ thống thoát nước, cấp

nước, điện và đường dây điện thoại, sẽ được cung cấp;

- Người bị ảnh hưởng lựa chọn phương án bồi thường bằng tiền mặt sẽ

được bồi thường bằng tiền theo 100% giá thay thế. Những người bị ảnh

hưởng sẽ được hỗ trợ phục hồi sinh kế và tổ chức TĐC.

- Bồi thường đối với tất cả các vật kiến trúc nhà ở, thương mại dựa trên

chi phí thay thế, mà không có bất kỳ khấu hao của cấu trúc và không có khấu

trừ đối với nguyên liệu tận dụng được. Vật kiến trúc được đánh giá riêng rẽ.

Bất kỳ tỷ giá nào trong danh sách vật cấu trúc phải sử dụng giá trị cao nhất

trong nhóm;

- Các hộ bị ảnh hưởng sẽ được hỗ trợ đầy đủ (bao gồm cả trợ cấp giao

thông vận tải) để vận chuyển đồ dùng cá nhân và tài sản bên cạnh việc bồi

thường theo chi phí thay thế của nhà cửa, đất đai và các tài sản khác;

- Bồi thường hỗ trợ và phục hồi phải được cung cấp cho mỗi người bị

ảnh hưởng ít nhất 30 ngày trước khi thu hồi tài sản cho những người không

phải di dời và 60 ngày đối với những người sẽ phải di dời. Trường hợp ngoại

lệ cần được xem xét trong trường hợp các nhóm dễ bị tổn thương có thể cần

nhiều thời gian hơn;

- Khi dự án hoàn thành, sinh kế được chứng minh không được phục hồi

ít nhất như trước khi có Dự án, biện pháp bổ sung cần được xem xét;

- Hỗ trợ tài chính (chẳng hạn như các khoản vay hoặc các khoản tín

dụng) sẽ được cung cấp cho các hộ bị ảnh hưởng, nếu cần thiết. Số tiền cho

vay và tiến độ trả nợ sẽ nằm trong khả năng của các hộ bị ảnh hưởng;

36

- Những nỗ lực bổ sung, chẳng hạn như phục hồi kinh tế, đào tạo và các

hình thức hỗ trợ khác, nên được cung cấp cho các hộ bị ảnh hưởng mất nguồn

thu nhập, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương để tăng cường khả năng phục

hồi và phát triển sinh kế;

- Tình trạng trước đó của các dịch vụ và nguồn lực của cộng đồng trước

khi di dời sẽ được duy trì hoặc cải thiện cho khu TĐC.

Điều kiện hợp lệ cho bồi thường và hỗ trợ: Những người phải thay đổi

chỗ ở hoặc bị ảnh hưởng bởi dự án trong diện hợp lệ được bồi thường thiệt

hại bao gồm:

- Những người có quyền hợp pháp về đất hoặc các tài sản khác;

- Những người hiện nay chưa có quyền hợp pháp về đất hoặc các tài sản

khác, nhưng đã có nộp khai báo xin chứng nhận quyền sử dụng hợp pháp theo

qui định của pháp luật, dựa trên lưu trữ, chứng từ như hóa đơn đóng thuế đất,

chứng nhận tình trạng cư trú, hoặc dựa trên sự cho phép cư trú của chính

quyền địa phương được ở và sử dụng phần đất bị ảnh hưởng của dự án;

- Những người không có quyền hợp pháp hoặc không có khai báo xin

chứng nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với đất mà họ đang ở. Những người

được bồi thường cho đất bị mất và các hỗ trợ khác. Những người được hỗ trợ

TĐC thay cho việc được bồi thường cho đất họ đang ở và các hỗ trợ khác, nếu

cần, để đạt được các mục tiêu nêu ra trong chính sách này. Nếu họ có đất nằm

trong khu vực dự án trước ngày khoá sổ đã xác định trong kế hoạch TĐC,

những người lấn chiếm đất sau ngày khoá sổ đã xác định trong kế hoạch TĐC

sẽ không được bồi thường hay hưởng bất cứ sự trợ giúp TĐC nào (nếu có thể,

chỉ xét hỗ trợ theo chính sách hiện hành).

* Theo kết quả điều tra 843 hộ dân sinh sống tại khu vực bị ảnh hưởng

bởi dự án, toàn bộ đều là nguời Kinh, không có sự hiện diện của bất kỳ người

37

dân tộc thiểu số nào nằm trong khu vực dự án. Trung bình mỗi hộ có khoảng

4,2 người, tỷ lệ nam là 49.3% và nữ là 50.7%.

Về trình độ học vấn: Đối với chủ hộ gia đình, đa số đều có trình độ từ

cấp 2 trở lên, trong đó số người có trình độ trung học phổ thông chiếm tỷ lệ

cao nhất (47.9%); tiếp đến là trung cấp, cao đẳng, đại học (34.3%) và số

người có trình độ trung học cơ sở trở xuống chiếm tỷ lệ thấp nhất (17.8%),

không có trường hợp mù chữ.

Trình độ học vấn

Cấp 2

Cấp 3

Trung cấp trở lên

Số lượng

150

404

289

Tỷ lệ

17,8%

47,9%

34,3%

Mức thu nhập: Theo kết quả điều tra, mức thu nhập của các hộ dân bị

ảnh hưởng chủ yếu nằm ở nhóm có thu nhập trên 70 triệu đồng/hộ/năm

(chiếm 61,3%), tức trung bình mỗi khẩu có thu nhập khoảng 1,4 triệu/tháng

trở lên. Tiếp đó là tỷ lệ hộ có mức thu nhập trong khoảng 35- 70 triệu đồng/

năm (chiếm 31,9%), tức khoảng 700.000đ đến xấp xỉ 1,4 triệu đồng/ người/

tháng. Nhóm hộ có thu nhập dưới 35 triệu đồng/hộ/năm, tức trung bình dưới

700,000đ/người/tháng chiếm tỷ lệ thấp nhất (6,8%).

38

Nhà ở và sở hữu đất: Đa số nhà ở của các hộ được khảo sát là nhà kiên

cố (một hoặc hai tầng), chiếm tỷ lệ 59,8%; tiếp theo là tỷ lệ nhà bán kiên cố

(nhà xây, mái ngói hoặc mái tôn - nhà cấp 4) với 40,2%; các hộ bị ảnh hưởng

trong mẫu khảo sát không có hộ nhà tranh vách lá. Diện tích trung bình nhà ở

của các hộ trong khoảng 60 - 80 m2/hộ chiếm tỷ lệ cao nhất với 38.7%; tiếp

theo là tỷ lệ nhà ở có diện tích trên 80m2/ hộ, chiếm tỷ lệ 28.9% và diện tích

nhà ở dưới 60 m2/ hộ chiếm tỷ lệ thấp nhất, chỉ có 16.6%.

Nguồn gốc nhà ở của hộ dân trong khu vực dự án (%):

* Những điểm khác biệt giữa chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC của

Việt Nam và Ngân hàng thế giới và các chính sách đề xuất cho dự án phát

triển bền vững thành phố Đà Nẵng

Chính sách

Chính sách củaNgân hàng thế giới (WB)

Chính sách của Việt Nam

Chính sách đề xuất cho dự án

Tài sản/ Đất đai

Mục tiêu

Sinh kế, nguồn thu nhập và tài sản phải được phục hồi

Các địa điểm tái định cư và cơ sở hạ tầng phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

Những người bị ảnh hưởng cần được hỗ trợ để phục hồi hoặc cải thiện mức sống so với mức trước khi thực hiện dự án.

Đối

với Hỗ trợ và phục hồi Hỗ trợ phục hồi ở các Hỗ trợ và phục hồi sinh

39

Chính sách

Chính sách của Việt Nam mức độ khác nhau tùy theo mức độ “không hợp pháp” của những người sử dụng đất.

Chính sách củaNgân hàng thế giới (WB) sinh kế cho tất cả các đối ảnh tượng bị hưởng để đạt được mục tiêu của chính sách.

Chính sách đề xuất cho dự án kế cho tất cả các đối tượng bị ảnh hưởng, bất kể tình trạng tình trạng pháp lý của họ như thế nào.

những người sử dụng đất không chính hoặc thức không hợp pháp

Đền bù/hỗ trợ cho các công trình không hợp pháp

Hỗ trợ đạt mức chi phí thay thế đối với tất cả các công trình bất kể tình trạng pháp lý của công trình.

Đền bù theo mức chi phí thay thế cho tất cả các công trình bất kể tình trạng pháp lý của công trình.

Được trả theo giá xây dựng công trình mới, tùy theo mức độ “không hợp pháp” được xác định, với tỉ lệ từ 80% đến 0% của tổng chi phí.

Đền bù

Các phương pháp xác định chi phí đền bù

Mức đền bù cho đất và các tài sản bị mất khác cần phải bằng mức chi phí thay thế đầy đủ.

Chuyên gia định giá độc lập xác định mức giá thị trường làm cơ sở cho UBND thành phố Đà Nẵng xác định giá đền bù.

Đền bù cho thu nhập bị mất

Tất cả các khoản thu nhập bị mất sẽ được đền bù.

Tất cả các khoản thu nhập bị mất sẽ được đền bù và phục hồi.

Mức đền bù cho các tài sản bị mất được tính toán ở mức giá sát với mức chuyển nhượng các tài sản đó trên thị trường. Chính quyền các tỉnh có quyền xác định mức giá hàng năm cho các loại tài sản khác nhau. trợ cho các Chỉ hỗ khoản thu nhập bị mất đối với các cơ sở kinh doanh có đăng ký.

Không được đề cập.

Đền bù cho tác động gián tiếp của việc thu hồi đất và công trình

Thực hiện đánh giá xã hội và các biện pháp nhằm giảm thiểu hoặc giảm nhẹ các tác động bất lợi, đặc biệt là đối với các nhóm đối tượng nghèo và dễ bị tổn thương.

Một thông lệ tốt là bên vay thực hiện một đánh giá xã hội và thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiểu hoặc giảm nhẹ các tác động bất lợi về kinh tế và xã hội, đặc biệt là đối với các nhóm đối tượng nghèo và dễ bị tổn thương.

40

Chính sách

Chính sách củaNgân hàng thế giới (WB)

Chính sách đề xuất cho dự án

Hỗ trợ và phục hồi sinh kế

Thực hiện hỗ trợ và phục hồi sinh kế để đạt được các mục tiêu của chính sách.

Thực hiện hỗ trợ và phục hồi sinh kế để đạt được các mục tiêu của chính sách.

Chính sách của Việt Nam Thực hiện các biện pháp hỗ trợ và phục hồi sinh kế; không có biện pháp tiếp theo nhằm đảm bảo phục hồi sinh kế hoàn toàn sau khi hoàn thành tái định cư.

Sự tham vấn và công khai hóa

Chủ yếu hạn chế ở mức chia sẻ thông tin và công khai các tài liệu

Việc tham gia của công chúng và tham vấn với công chúng được thiết kế và thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu của dự án.

Sự tham gia vào việc lập và thực thi dự án đặc biệt là sự tham gia vào việc xác nhận các tiêu chí về điều kiện hưởng đền bù và hỗ trợ cũng như tiếp cận các cơ chế khiếu nại

Các cơ chế khiếu nại và giải quyết khiếu nại

Các cơ chế khiếu nại và giải quyết khiếu nại cần phải mang tính độc lập.

Cùng một cơ quan đưa ra quyết định về đền bù, tái định cư và đồng thời giải quyết khiếu nại ban đầu.

Giải quyết khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo cơ chế hiện nay của thành phố Đà Nẵng

Giám sát và Đánh giá

Cần thực hiện cả giám sát nội bộ và bên ngoài.

Cần thực hiện giám sát nội bộ và giám sát độc lập bên ngoài.

Không có yêu cầu rõ ràng về thực hiện giám sát, kể cả giám sát nội bộ hay giám sát độc lập (bên ngoài).

2.3.2. Dự án Cống thoát nước Khe Cạn, được UBND thành phố Đà

Nẵng phê duyệt tại Quyết định số 6243/QĐ-UBND ngày 14/9/2016

Dự án Cống thoát nước Khe Cạn nguyên trước đây là khu vực đất nông

nghiệp nằm giữa đô thị thuộc phường trên địa bàn quận Thanh Khê. Trong

quá trình xây dựng, phát triển đô thị, việc thực hiện nhiều dự án không đồng

bộ, cùng với ô nhiễm môi trường và thường xuyên ngập úng nên các hộ dân

không thể canh tác sản xuất, đất nông nghiệp bị bỏ hoang.

Do công tác quản lý của chính quyền địa phương trong nhiều năm trước

41

đây còn lỏng lẻo, nhiều hộ dân đã tự ý san lấp mặt bằng, chia tách, chuyển

nhượng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng để làm nhà ở, chăn nuôi, làm

vườn… Nhiều hộ dân tập trung về đây mua bán, chuyển nhượng đất và xây

dựng nhà tạm để ở. Hầu hết các hộ tại khu vực dự án đều nộp thuế sử dụng đất

phi nông nghiệp hằng năm tại phường. Giai đoạn 2011 - 2014, trước thực trạng

nhiều hộ dân thực sự quá khó khăn về chỗ ở nên có đơn đề nghị UBND quận

cấp giấy phép tạm để làm nhà, cam kết tự tháo dỡ bàn giao mặt bằng khi triển

khai dự án, không nhận tiền đền bù. UBND quận đã đồng ý cấp giấy phép tạm

cho 70 trường hợp.

Kênh Khe Cạn nơi thực hiện dự án

Dự án khu vực cống thoát nước Khe Cạn có tổng diện tích đất quy hoạch

là 64.834 m2, với tổng cộng 380 hồ sơ di dời giải tỏa, phân kỳ 1 của dự án có

134 hồ sơ, giải tỏa trắng 120 hồ sơ, giải tỏa 1 phần 14 hồ sơ, bao gồm 19 hồ

42

sơ đất ở (5 hồ sơ có nhà ở, 14 hồ sơ đất trống); 115 hồ sơ đất nông nghiệp

(giải tỏa đi hẳn 105 hồ sơ, một phần 10 hồ sơ).

Đến nay, đã có 26 hộ bàn giao mặt bằng, còn lại 108 hộ chưa thống nhất

bàn giao mặt bằng, 30 hộ xây dựng nhà ở tạm trên đất nông nghiệp trước thời

điểm quy hoạch năm 2016, không thống nhất với kết quả phê duyệt bố trí cho

thuê căn hộ chung cư, các hộ kiến nghị được bố trí đất TĐC.

UBND thành phố đã thống nhất giải quyết bố trí cho thuê căn hộ chung

cư đối với 23 trường hợp giải tỏa có đủ 6 tiêu chí: hộ giải tỏa đi hẳn; có ở

thực sự tại nơi giải tỏa; không có chỗ ở nào khác; có nhu cầu cấp thiết về chỗ

ở; có hộ khẩu thường trú tại thành phố Đà Nẵng; động cơ mua bán để ở,

không phải để kinh doanh.

Còn lại 7 trường hợp có nhà ở trên đất nông nghiệp, chủ hộ có ở tại nơi

giải tỏa, UBND quận đã chỉ đạo các đơn vị liên quan xác minh các tiêu chí để

tiếp tục trình UBND thành phố xem xét, phê duyệt bố trí cho thuê căn hộ

chung cư… Ngoài ra, trong tổng số 115 hồ sơ đất nông nghiệp có 22 hồ sơ

được hỗ trợ với tổng giá trị hơn 2,8 tỷ đồng, còn lại 93 hồ sơ không đủ điều

kiện để hỗ trợ. Bên cạnh đó, các hộ giải tỏa đất nông nghiệp có mức đền bù

thấp, có khoảng 30 hộ xây dựng nhà trên đất nông nghiệp trước thời điểm quy

hoạch năm 2016 không thống nhất với kết quả phê duyệt bố trí cho thuê căn

hộ chung cư, các hộ kiến nghị được bố trí đất TĐC. Hiện vướng mắc lớn nhất

tại dự án là việc giải quyết cho mua đất TĐC đối với 30 hộ nêu trên.

Theo Quyết định số 1964/QĐ-UBND ngày 04/5/2019 của Chủ tịch

UBND thành phố về việc phê duyệt phương án bố trí TĐC đối với dự án Khu

vực Cống thoát nước Khe Cạn (đoạn từ cống đường sắt hiện trạng đến sông

Phú Lộc) tại phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, về tiêu chí bố trí tái

định cư quy định: “Đối với các hộ thuộc diện giải tỏa được bồi thường đất ở

và đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở không được công nhận là đất ở

43

(trước đây gọi là đất khuôn viên)”. Theo quy định này, hầu hết người dân

trong khu vực không đủ điều kiện để bố trí TĐC.Tuy nhiên, nguyện vọng của

người dân bị giải tỏa hầu hết là mong muốn được bố trí TĐC. Vì thế, người

dân trong khu vực dự án đã gửi 66 đơn với 03 đơn khiếu nại và 63 đơn kiến

nghị để đề nghị thành phố xem xét bố trí đất TĐC. Vì các vướng mắc và sự

kiên quyết của người dân, nếu không được bố trí TĐC sẽ không đồng ý bàn

giao mặt bằng vì thế việc triển khai thực hiện dự án này đang gặp rất nhiều

khó khăn, phức tạp, hiện thành phố đang xem xét, rà soát để có hướng xử lý

cho phù hợp.

2.3.3. Một số vụ khiếu nại liên quan đến công tác đền bù, hỗ trợ, tái

định cư trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trong phạm vi của Luận văn, tác giả nêu 02 vụ khiếu nại của người dân

khiếu nại việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Cả 02 vụ

khiếu nại, sau khi xác minh giải quyết, kết quả người bị thu hồi đất vẫn không

được TĐC, nhưng qua 02 vụ việc này cho thấy sự bất cập trong quy định của

pháp luật hiện hành và sự thiệt thòi của người dân khi bị thu hồi đất.

* Ông Nguyễn Được khiếu nại việc bồi thường về đất và bố trí tái định

cư khi nhà nước thu hồi đất tại Dự án Khu Công nghệ cao Đà Nẵng.

Ông Nguyễn Được được UBND huyện Hòa Vang cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất số 06032 ngày 22/9/2008 với diện tích 56.065m2 đất trồng

rừng, thửa đất số 77, tờ bản đồ số 07. Năm 2003, hộ ông Được đầu tư làm

trang trại sản xuất nông nghiệp với quy mô 10ha và được UBND huyện Hòa

Vang cấp giấy chứng nhận trang trại số 98 ngày 05/01/2004.

Căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất của hộ ông

Được, UBND thành phố đã giải quyết bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về nhà, đất,

vật kiến trúc, cây cối, hoa màu, hỗ trợ đất rừng sản xuất theo quy định tại

Quyết định số 36/2009/QĐ-UBND ngày 24/12/2009 của UBND thành phố;

44

áp giá đất hỗ trợ theo quy định tại Quyết định số 35/2009/QĐ-UBND ngày

24/12/2009 của UBND thành phố và Quyết định số 5574/QĐ-UBND ngày

27/7/2010 của UBND thành phố về việc phê duyệt mức hỗ trợ đất đối với vác

hộ có đất trồng rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (với mức giá 4.500đ/m2

cho diện tích thu hồi). Bên cạnh đó, hộ ông Nguyễn Được được UBND thành

phố xem xét hỗ trợ khó khăn mất đất sản xuất: 50.000.000 đồng và hỗ trợ

công cải tạo mặt bằng trang trại: 20.000.000 đồng.

Việc UBND thành phố phê duyệt, giải quyết hỗ trợ, bồi thường thiệt hại

về đất, nhà, vật kiến trúc, cây cối, hoa màu đối với hộ ông Nguyễn Được như

trên là đúng quy định. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh hộ ông Nguyễn Được đã đầu

tư chi phí lớn để làm trang trại, cải tạo đất đồi thành đất sản xuất, chấp hành

bàn giao mặt bằng đúng thời hạn, bản thân là người có công với cách mạng

(người bị địch bắt tù đày), UBND thành phố đã giao cho Hội đồng Bồi

thường thiệt hại, hỗ trợ và TĐC huyện Hòa Vang xem xét, đề xuất giải quyết

các khoản hỗ trợ thêm cho hộ ông Nguyễn Được, như: hỗ trợ thêm công khai

phá, bồi trúc; hỗ trợ bàn giao mặt bằng; hỗ trợ gia đình chính sách.

Ngày 11/12/2020, Hội đồng Bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư

huyện Hòa Vang có Báo cáo số 624/BC-HĐGPMB về quá trình giải quyết bồi

thường, hỗ trợ đối với hộ ông Nguyễn Được và qua đối thoại giữa Chủ tịch

UBND thành phố với người khiếu nại, về bố trí tái định cư, hộ ông Nguyễn

Được không thuộc đối tượng được bố trí TĐC do diện tích đất bị thu hồi của gia

đình ông là đất rừng sản xuất. Yêu cầu của ông Nguyễn Được về việc bố trí đất

TĐC hoặc cấp đổi đất trang trại trên địa bàn xã là không có cơ sở để xem xét

giải quyết.

Qua vụ việc này của ông Nguyễn Được cho thấy chính quyền huyện Hòa

Vang và thành phố Đà Nẵng đã vận dụng hết tất cả các chính sách để hỗ trợ

cho ông. Tuy nhiên, so với diện tích đất và công cải tạo, đầu tư trồng trọt thì

45

mức hỗ trợ này là rất thấp. Trong cùng địa bàn và cùng dự án, nhưng đối với

10 ha đất trồng cây lâu năm thì mức đền bù, hỗ trợ và được TĐC trong khi với

10ha đất trồng rừng thì không được TĐC và các mức đền bù, hỗ trợ cũng thấp

hơn. Xuất phát từ bất cập này, UBND huyện Hòa Vang đã có kiến nghị thành

phố xem xét, điều chỉnh quy định về đền bù, hỗ trợ và TĐC đối với việc thu hồi

đất trồng rừng để thực hiện các dự án vì lợi ích công cộng.

* Bà Hà Thị Tư khiếu nại việc bố trí TĐC khi Nhà nước thu hồi đất tại

Dự án đường dây điện 110KV Huế - Đà Nẵng (thuộc Dự án Nhà ở cho công

nhân và Khu đô thị liền kề với Khu công nghiệp Hòa Khánh), xã Hòa Liên,

huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, yêu cầu bố trí thêm 01 lô đất TĐC

đường 5,5m (Quyết định giải quyết khiếu nại số 2184/QĐ-UBND ngày

23/6/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng)

Hộ bà Hà Thị Tư quản lý sử dụng thửa đất có diện tích 1.256,9 m2. Đăng

ký 299/TTg tại thửa 1112, tờ bản đồ số 01, diện tích 870 m2 đất thổ cư. Ngày

06/12/1996 được UBND huyện Hòa Vang cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất số 1750 tại tờ bản đồ 21, thửa số 69, diện tích 837 m2 đất thổ cư.

Diện tích còn lại 419,9 m2 ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo

đăng ký 64/CP thuộc thửa 40, tờ bản đồ số 21, diện tích 39.558 m2 đất Hg/b

chưa sử dụng (đất nỗng cát do UBND xã quản lý). Hộ bà Hà Thị Tư có tổng

diện tích thu hồi đất 02 đợt là 1.256,9m2, cụ thể:

- Đợt 1: Công ty Phát triển và khai thác hạ tầng Khu công nghiệp Đà

Nẵng thu hồi 268,1 m2 để làm dự án đường dây điện 110KV Đà Nẵng – Huế;

- Đợt 2: Ngày 09/12/2010, UBND huyện Hòa Vang ban hành Quyết định

số 6468/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân nằm

trong diện giải tỏa dự án Nhà ở cho công nhân và Khu đô thị liền kề khu công

nghiệp Hòa Khánh, trong đó thu hồi toàn bộ phần diện tích 1.256,9 m2 của hộ

bà Hà Thị Tư. Diện tích thực tế còn lại sau khi đã thu hồi đợt 1 là 988,9 m2

46

và được bồi thường, hỗ trợ như sau: Vị trí 4, khu vực I miền núi, hệ số 1,5,

đơn giá: 102.000đ/m2; Bồi thường 100% giá đất ở cho diện tích 568,9 m2; Hỗ

trợ 60% giá đất trồng cây hàng năm vị trí 2 miền núi, đơn giá 15.000 đ/m2 cho

diện tích 419,9 m2 ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Bồi thường

100% nhà, vật kiến trúc, cây cối hoa màu theo Quyết định số 36/2009/QĐ-

UBND của UBND thành phố; Hỗ trợ khó khăn, bàn giao mặt bằng với số tiền

5.000.000 đồng; Hỗ trợ chênh lệch giá giữa Quyết định 36/2009/QĐ-UBND

và Quyết định số 63/2009/QĐ-UBND với số tiền 169.188.000 đồng cho bà

Hà Thị Tư và số tiền 29.814.000 đồng cho ông Phạm Văn Phước (con trai bà

Tư) có tài sản trên đất; Hỗ trợ chấp hành bàn giao mặt bằng sớm, khó khăn số

tiền 10.000.000 đồng.

Ngày 02/12/2010, UBND thành phố có Quyết định số 9350/UBND-

QLĐBGT về việc phê duyệt hộ bà Hà Thị Tư được bố trí 02 lô đường 7,5m

Khu dân cư số 6 Hòa Sơn theo diện hộ chính. Ngày 17/3/2011, UBND

thành phố có Quyết định số 2000/QĐ-UBND về việc phê hộ bà Hà Thị Tư

được bố trí thêm 01 lô đường 5,5m tại Khu tái định cư Hòa Liên 2 diện hộ

phụ. Năm 2013, hộ bà Tư có đơn kiến nghị được chuyển 03 lô đất tái định

cư từ Hòa Sơn và Hòa Liên về Khu dân cư Hòa Hiệp 4. Ngày 06/12/2013,

UBND thành phố có Quyết định số 8539/QĐ-UBND đồng ý cho chuyển

đất TĐC đường 7,5m tại Khu dân cư số 6 Hòa Sơn và đường 5,5m tại Khu

TĐC Hòa Liên 2 về Khu tái định cư Hòa Hiệp 4.Hộ bà Hà Thị Tư đã bàn

giao mặt bằng ngày 10/11/2014, nhận đất TĐC ngày 11/12/2014 và đã

nhận toàn bộ tiền đền bù, hỗ trợ.

Đến năm 2018, bà Hà Thị Tư khiếu nại yêu cầu bố trí thêm 01 lô đất TĐC

đường 5,5m khi Nhà nước thu hồi đất tại Dự án đường dây điện 110KV Huế -

Đà Nẵng (thuộc Dự án Nhà ở cho công nhân và Khu đô thị liền kề với Khu

công nghiệp Hòa Khánh), xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

47

Lý do, bà Tư cho rằng qua 2 đợt thu hồi đất toàn bộ diện tích 1.256,9 m2

theo Quyết định số 6468/QĐ-UBND ngày 09/12/2010 của UBND huyện Hòa

Vang, Công ty Phát triển và khai thác hạ tầng Khu công nghiệp Đà Nẵng và

Ban Giải tỏa đền bù các dự án Đầu tư - Xây dựng Đà Nẵng tham mưu cho

UBND thành phố phê duyệt bồi thường thiệt hại về giá đất ở đất ở với diện

tích: 695,1 m2 (2 đợt) và giá đất khuôn viên với 141,9 m2 (đợt 1) là chưa bồi

thường đủ 837 m2 đất thổ cư cho hộ của bà Tư.

Qua xác minh cho thấy, thửa đất của bà Tư được Nhà nước thu hồi để

thực hiện 2 dự án hoàn toàn tách biệt ở 2 thời điểm khác nhau nên không thể

gộp lại để tính TĐC, thành phố đã xét nhiều yếu tố và đã có chính sách hỗ trợ

thêm cho gia đình bà Tư. Vì vậy, ngoài 02 lô chính đường 7,5m và 01 lô phụ

đường 5,5m đã được bố trí TĐC, không chấp nhận nội dung khiếu nại về bố

trí yêu cầu bố trí thêm 01 lô đất.

Qua vụ việc khiếu nại của bà Hà Thị Tư, cũng một thửa đất, nếu bị thu

hồi một lần và thu hồi toàn bộ thửa đất thì mức đền bù và suất TĐC của bà sẽ

cao hơn, cụ thể là được thêm 01 lô đất TĐC. Tuy nhiên, thực tế thửa đất của

bà nằm ở 2 dự án khác nhau, theo 02 phương án khác nhau, tại 02 thời điểm

khác nhau nên về bản chất là thửa đất vẫn bị thu hồi toàn bộ nhưng về đền bù

TĐC thì lại thấp hơn, cụ thể là ít hơn 01 suất TĐC.

2.3.5. Vụ khiếu kiện tại tòa

Vụ khiếu kiện của ông Nguyễn Văn Côi, quận Sơn Trà về việc đề nghị

hủy quyết định thu hồi đất do việc hỗ trợ, đền bù không thỏa đáng và không

bố trí tái định cư cho gia đình ông.

Theo đó, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xét xử sơ thẩm ngày

28/9/2020, tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Côi;

tuyên hủy các quyết định của Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng và Chủ tịch

UBND quận Sơn Trà về xử lý bồi thường khu đất để xây dựng khu dân cư.

48

Theo hồ sơ vụ kiện, ông Nguyễn Văn Côi khởi kiện, yêu cầu Tòa án

nhân dân thành phố Đà Nẵng tuyên hủy các quyết định có liên quan đến việc

thu hồi, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất, trong đó có Quyết định số 175/QĐ-

UBND ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Chủ tịch UBND quận Sơn Trà về việc

thu hồi đất. Cũng theo hồ sơ vụ kiện do gia đình cung cấp thể hiệnông

Nguyễn Văn Côi là chủ sở hữu lô đất 2.068m2 ở mặt đường Lê Hữu Trác hơn

55 năm, gồm có: Giấy “Chứng thư kiến điền” của chính quyền cũ cấp năm

1963, biên lai thu phí đất phi nông nghiệp đóng phí đều đặn từ năm 1999 đến

nay. Năm 2003, ông Côi xin phép để cải tạo đất và đã được UBND P.Phước

Mỹ xác nhận và đăng ký hộ kinh doanh cà phê giải khát, mua bán hoa và cây

cảnh, nộp thuế môn bài hàng năm. Ông Nguyễn Văn Côi có đề nghị được cấp

sổ đỏ nhưng không được giải quyết do đất vướng dự án xây dựng hạ tầng kỹ

thuật khu dân cư Bàu Gia Phước.

UBND quận Sơn Trà đã ra ban hành quyết định thu hồi hơn 1.212m2 của

ông Côi và áp giá đền bù cho gia đình ông mỗi m2 đất chỉ khoảng 70 nghìn

đồng theo giá đất nông nghiệp, với tổng trị giá đền bù gần 85 triệu đồng và

các hỗ trợ khác hơn 80 triệu đồng. Ông Côi khiếu kiện chính quyền áp giá

đền bù đối với 1.212m2 theo giá đất trồng cây lâu năm là không đúng quy

định mà phải áp giá theo đất ở đô thị và đất đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất.

Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng nhận định tại Tòa: Các

quyết định của UBND quận Sơn Trà và UBND thành phố Đà Nẵng ban hành

về quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch và thu hồi đất, đền bù liên quan đến khu

đất của ông Côi là thiếu căn cứ, trái quy định pháp luật về đất đai, xây dựng,

không đúng quy trình, không đúng thẩm quyền ban hành; đề nghị Hội đồng

xét xử xem xét, tuyên chấp nhận đơn khởi kiện.

49

Đại diện bị đơn cho rằng, dù các quyết định còn có một số điểm chưa

đúng quy trình về thời gian nhưng về bản chất không làm thay đổi nội dung

thu hồi, áp giá đền bù đối với diện tích đất của ông Côi là đất nông nghiệp.

Hội đồng xét xử nhận định, toàn bộ diện tích đất ông Côi đang sử dụng

là hợp pháp, đủ điều kiện để được cấp sổ đỏ theo quy định; các văn bản, tài

liệu đều xác định đây là đất ở đô thị, nhưng khi triển khai áp giá đền bù, thu

hồi, UBND quận Sơn Trà xác định và áp giá đất nông nghiệp là không đúng

quy định. Sau khi xem xét toàn bộ chứng cứ, tài liệu cũng như làm rõ những

vấn đề, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Đà Nẵng tuyên chấp nhận yêu cầu

khởi kiện của ông Côi; tuyên hủy các quyết định hành chính của UBND thành

phố Đà Nẵng và UBND quận Sơn Trà.

Qua vụ việc khiếu kiện này có thể thấy, do áp lực về mặt bằng để thực

hiện dự án mà các cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện không đúng trình tự

theo quy định của pháp luật đất đai. Ngoài ra, nhận định của cơ quan có thẩm

quyền về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất để thực hiện việc bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất chưa thuyết phục.

2.4. Đánh giá về công tác hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi

đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.4.1. Ưu điểm và nguyên nhân

Để giải tỏa thực hiện 01 dự án thì các vấn đền liên quan đến đền bù, hỗ

trợ, TĐC thường kéo dài rất lâu so với quyết định phê duyệt thực hiện dự án,

có dự án kéo dài 10 – 20 năm và có thể hơn. Giai đoạn 2016 - 2020, thành

phố Đà Nẵng đã và đang triển khai hơn 500 dự án, trong đó có 82 dự án trọng

lực, trọng điểm. Áp lực giải phóng mặt bằng để có mặt bằng sạch thi công các

dự án là rất lớn, tuy nhiên, với sự quyết tâm, đồng lòng của các cấp, các

ngành; đặc biệt là sự thấu hiểu, ủng hộ của người dân trong vùng dự án; thành

phố đã cơ bản hoàn thành giải phóng mặt bằng để đảm bảo tiến độ thực hiện dự

50

án trên địa bàn thành phố. Tại các dự án này, hầu hết người dân đã đồng ý với

việc hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước hồi đất nhưng vẫn còn một số trường hợp hiện

vẫn chưa thống nhất mức đền bù, hỗ trợ, TĐC.

Để đạt được kết quả trên, có các ưu điểm trong công tác bồi thường, hỗ trợ

và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố như sau:

- Sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo thành phố và các cấp, các

ngành trong công tác đền bù, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất để thực

hiện giải toả, giải phóng mặt bằng phục vụ thi công các dự án;

- Hệ thống pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về bồi thường, hỗ

trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng ngày càng được hoàn thiện và sát

với thực tiễn cuộc sống người dân, giá bồi thường ngày càng tiến sát với giá

thị trường;

- Qua kết quả thực hiện thời gian qua tại Đà Nẵng cho thấy công tác giải

tỏa, bồi thường, bố trí TĐC trên địa bàn thành phố cơ bản thực hiện đúng quy

định của pháp luật, được người dân đồng tình ủng hộ. Thành phố kịp thời ban

hành các văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách trong thực hiện công

tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo cuộc sống cho người

dân vùng bị giải tỏa. Đặc biệt, trong quy định của thành phố có chính sách

khen thưởng, hỗ trợ cho các hộ chấp hành tốt chủ trương bàn giao mặt bằng;

- Từ thực tiễn triển khai công tác đền bù, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu

hồi đất, các cấp các ngành có nhiều nhiều giải pháp, rút ngắn thủ tục hành

chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện công tác bồi

thường, hỗ trợ trong quá trình thu hồi đất. Cụ thể, một số dự án mới triển khai

gần đây tại thành phố Đà Nẵng, khi thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, các

Ban Quản lý dự án phối hợp với chính quyền xã, phường tổ chức chi trả tiền

bồi thường, hỗ trợ tại địa phương để nhân dân giảm đi lại; các dự án chi hết

tiền bồi thường, còn lại phần bổ sung, hỗ trợ, hàng tuần chi tại xã, phường 1

51

lần. Nếu hộ khó khăn đi lại thì phối hợp với xã, phường đem đến tận nhà chi

trả cho người dân;

- Trong thời gian qua, thành phố chú trọng đến công tác TĐC và chỗ ở

cho người dân trong vùng dự án bị thu hồi đất. Thành phố đã xây dựng hàng

nghìn căn hộ chung cư để người dân có chỗ ở ngay khi bị thu hồi đất. Xây

dựng các khu TĐC với hạ tầng đồng bộ với hàng chục nghìn lô đất sạch để

thực hiện công tác TĐC cho người dân;

- Sự vào cuộc của hệ thống chính trị cơ sở trong việc nắm tâm tư, nguyện

vọng của người dân khi bị thu hồi đất, từ đó để đề xuất các giải pháp hỗ trợ kịp

thời cho người dân ổn định cuộc sống;

- Các cấp, các ngành chú trọng giải quyết đơn kiến nghị, khiếu nại của

người dân liên quan đến công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Chủ

tịch UBND các quận, huyện cũng là Chủ tịch Hội đồng bồi thường, giải

phóng mặt bằng của dự án triển khai trên địa bàn quận thường xuyên tổ chức

các cuộc đối thoại để giải quyết kiến nghị của người dân trong vùng dự án bị

thu hồi đất, việc giải quyết đảm bảo kịp thời, công khai, dân chủ, tôn trọng,

lắng nghe ý kiến của nhân dân, hướng dẫn nhân dân tận tình, đảm bảo lợi ích

của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đối với những vụ

việc phức tạp, người dân kiến nghị, khiếu nại về công tác hỗ trợ, bố trí TĐC

đều được đưa ra họp các ngành để tư vấn, xem xét giải quyết. Trong giai đoạn

2016 - 2020, thông qua các buổi đối thoại người dân đã rút gần 90 đơn khiếu

nại về công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất;

- Thành phố quan tâm nâng cao chất lượng CBCCVC và từng bước sắp

xếp lại đội ngũ CBCCVC làm công tác bồi thường, giải tỏa chuyên nghiệp,

chính quy, có trách nhiệm, đạo đức; kiên quyết loại trừ những cá nhân, phần

tử có biểu hiện không tốt đối với nhân dân.

Những ưu điểm trong công tác giải tỏa, bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà

52

nước thu hồi đất trên đây xuất phát từ các nguyên nhân sau:

- Thành ủy, HĐND và UBND thành phố đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo

quyết liệt các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị -

xã hội triển khai thực hiện nghiêm túc công tác giải tỏa, đền bù, hỗ trợ, TĐC

và đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần ổn định tình hình an ninh, trật

tự xã hội, đảm bảo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống

người dân;

- Việc giải thể các Chi nhánh trực thuộc Trung tâm Phát triển quỹ đất

thành phố để thành lập các Ban Giải phóng mặt bằng trực thuộc UBND các

quận, huyện tạo điều kiện thuận lợi cho Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và TĐC

quận, huyện thực hiện công tác này kịp thời, nhanh chóng hơn so với trước

đây khi chưa thành lập;

- Nhận thức của lãnh đạo, cán bộ, công chức được nâng lên; UBND các

quận, huyện và xã, phường đã có nhiều cách làm hay, sáng tạo trong công tác

phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp vận

động nhân dân nhằm thực hiện tốt công tác giải tỏa, đền bù;

- Các cơ quan thông tin - tuyền thông tích cực tuyên truyền về công tác

dân vận của Đảng, Nhà nước trên nhiều kênh khác nhau (báo chí, truyền hình,

phát thanh, mạng xã hội…), phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng và những

vấn đề bức xúc của nhân dân về công tác đền bù, hỗ trợ, TĐC để từ đó các cơ

quan có thẩm quyền giải quyết kịp thời;

- CBCCVC làm công tác đền bù, hỗ trợ, TĐC từ cơ sở đến thành phố

được trang bị kiến thức, nhận thức đúng đắn; người dân hiểu biết hơn về quyền

và nghĩa vụ của mình trong công tác đền bù, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu

hồi đất.

2.4.2. Khó khăn, hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh các ưu điểm, công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà

53

nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay còn một số khó

khăn như sau:

- Công tác bồi thường, GPMB hiện đang gặp rất nhiêu vướng mắc bởi đa

số các dự án hiện nay là những dự án trọng điểm với yêu cầu đẩy nhanh tiến

độ nên Hội đồng GPMB chịu áp lực lớn vì khối lượng công việc rất nhiều.

Xuất phát từ áp lực, nên một số dự án khi triển khai công tác thu hồi, bồi

thường, cưỡng chế GPMB bỏ qua một số quy trình, thủ tục dẫn đến việc triển

khai không được chặt chẽ, từ đó dẫn đến khiếu kiện về sau;

- Việc quản lý đất đai của một số địa phương qua các thời kỳ chưa chặt

chẽ, để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất, sử dụng đất không rõ nguồn gốc, gây

nhiều khó khăn cho công tác GPMB. Phần lớn dự án khi GPMB thường kéo

dài qua nhiều năm, một số dự án kéo dài gần 10 vẫn chưa GPMB xong, dẫn

đến chênh lệch quá lớn về giá đất, giá đền bù nhà cửa, vật kiến trúc, giá nhân

công xây dựng, vật liệu xây dựng… Ngoài ra, trong thực tế nhiều dự án triển

khai yêu cầu dân sớm bàn giao mặt bằng nhưng quỹ đất TĐC lại chưa bảo

đảm, việc bố trí TĐC còn chậm; một số dự án thi công cơ sở hạ tầng như hệ

thống điện, nước thiếu đồng bộ gây khó khăn cho đời sống người dân;

- Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện hỗ trợ cho người dân khi thu hồi

đất trong thời gian qua từ văn bản quy định đến thực tế thực hiện chú trọng

nhiều vào việc hỗ trợ tiền mà chưa thật sự quan tâm đến các cơ chế, chính

sách đào tạo nghề, tạo việc làm cụ thể để giúp các hộ nghèo vượt được nghèo,

người lao động nông nghiệp có điều kiện chuyển nghề từ sản xuất nông

nghiệp sang phi nông nghiệp. Chưa xem xét việc hỗ trợ chuyển đổi ngành

nghề cho từng loại đất nông nghiệp khác nhau, ví dụ đất rừng sản xuất, cây

trồng lâu năm là 1,5 lần đơn giá đền bù, đất nuôi trồng thủy sản là 2,5 lần, đất

trồng lúa là 3 lần. Hiện Đà Nẵng mới chỉ áp dụng hệ số 1,5 lần cho tất cả các

loại đất. Chính sách đền bù mồ mả cũng chưa hợp lý khi người dân xây một

54

ngôi mộ hết từ 20 - 30 triệu đồng, nhưng khi bồi thường di dời thì mức còn rất

thấp. Cần xem xét chính sách bồi thường đất trồng rừng, tại Hòa Vang có rất

nhiều hộ gia đình tham gia trồng rừng nhưng khi thu hồi lại chỉ được hỗ trợ

chứ không bồi thường, điều này gây thiệt thòi cho người dân; điển hình có

trường hợp thu hồi gần 10ha rừng nhưng người dân không được bồi thường,

mà chỉ được hỗ trợ chưa tới 1 tỷ đồng, trong khi đó cũng trên cùng địa bàn

nhưng nếu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mục đích trồng cây

lâu năm thì chính sách đền bù, hỗ trợ, TĐC lớn hơn gấp nhiều lần;

- Quỹ đất TĐC tại thành phố nơi thừa, nơi thiếu, một số dự án không có

quỹ đất gần khu vực giải tỏa nên phải bố trí tại các khu vực khác dẫn đến

người dân không đồng thuận, phải liên tục điều chỉnh bổ sung phương án.

Cần rà soát, xác định quỹ đất và công khai sơ đồ, danh sách tại địa phương để

tăng tính minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đến bốc thăm.

Theo phản ánh của nhiều người dân, việc bốc thăm lô hiện nay chưa được

đồng tình vì cho rằng người chấp hành tốt cũng như người chây ì, tính minh

bạch về số lô được đưa ra để bốc thăm không giám sát được, quy trình nhiêu

khê, thời gian chờ đợi, đi lại rất nhiều. Cần có chính sách ưu tiên vị trí thuận

lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, hộ gia đình chính sách.

Bên cạnh đó, cũng đề nghị cần giảm bớt các thủ tục hành chính, có sự tư vấn,

thông báo rõ các loại giấy tờ để nhận tiền đền bù, bố trí TĐC để người dân

không phải đi lại nhiều lần;

- Có tình trạng một số hộ dân đã được giải quyết đúng, đủ và thỏa đáng

các quyền lợi về bồi thường, hỗ trợ, TĐC nhưng vẫn chây ỳ, cố tình không

bàn giao mặt bằng; vẫn tiếp tục khiếu nại, có trường hợp khiếu nại lâu dài ở

Trung ương dẫn đến mất an ninh, trật tự. Trong đó, hầu hết các trường hợp

khiếu nại lâu dài và người dân không chịu khởi kiện ra tòa.

Những hạn chế trong công tác giải tỏa, bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà

55

nước thu hồi đất trên đây xuất phát từ các nguyên nhân sau:

- Nhận thức của một số cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan, địa phương,

đơn vị chưa cao; người đứng đầu một số cơ quan, địa phương, đơn vị chưa

quan tâm đúng mức công tác giải tỏa, đền bù, hỗ trợ, TĐC; cứ nghỉ rằng đây

là nhiệm vụ của Hội đồng GPMB và Ban Quản lý dự án;

- Quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC thay đổi nhiều,

trong khi công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về đất đai nhất

là về bồi thường, hỗ trợ, TĐC chưa hiệu quả dẫn đến người dân còn có cách

hiểu khác nhau về chính sách của Nhà nước làm kéo dài thời gian GPMB,

- Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về công tác giải

tỏa, đền bù, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất một số nơi chưa được quan

tâm, đầu tư thỏa đáng, còn mang tính hình thức, phạm vi phổ biến chưa sâu

rộng, không truyền tải đến từng người dân; còn một số cán bộ chưa nhận thức

đầy đủ trách nhiệm trong việc giải quyết kiến nghị của người dân liên quan

đến công tác đền bù, hỗ trợ, TĐC; không lắng nge và giải thích thấu đáo cho

người dân hiểu;

- Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc chậm trễ trong công tác

trong công tác GPMB là việc điều chỉnh tổng mức đầu tư theo quy định mới

của Luật đầu tư công đối với các dự án dở dang và nguồn vốn để đền bù giải

tỏa đối với các dự án chậm được phê duyệt bổ sung, bố trí vốn; Công tác phối

hợp trong điều chỉnh quy hoạch cục bộ; khảo sát, xác định ranh giới và lập

quy hoạch các dự án mới chưa được chặt chẽ dẫn đến phát sinh điều chỉnh

quy hoạch cục bộ;

- Bộ máy nhân sự của các Tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ

và TĐC các dự án trên địa bàn các quận, huyện chưa thật sự ổn định, cần thời

gian để hoàn thiện; kinh phí tỷ lệ trích lại 2% không đảm bảo hoạt động cho

các đơn vị, trong khi công tác GPMB ngày càng khó khăn hơn trước, tốn kém

56

nhiều thời gian, địa bàn làm việc rộng, đi lại nhiều, các chi phí phục vụ phát

sinh nhiều.

Tiểu kết Chương 2

Thông qua việc khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của

thành phố và thực trạng việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định

về công tác hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố.

Chương này muốn làm rõ một số cơ sở lý luận và thực tiễn vì sao thành phố

trong các giai đoạn khác nhau, trên cơ sở các quy định của Luật và đặc thù

của thành phố để ban hành những quy định riêng về công tác hỗ trợ, TĐC trên

địa bàn. Qua xem xét về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Đà

Nẵng có thể thấy, thành phố có những thuận lợi hơn nhiều tỉnh, thành phố

khác về phạm vi quản lý, mức độ đô thị hóa.

Từ thực tiễn công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi

đất tại một số dự án và một số vụ khiếu nại của người dân liên quan đến

công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, Chương này đã có khái quát

và đánh giá chung về các ưu điểm, hạn chế trong thực hiện các quy định của

pháp luật về công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Đà

Nẵng. Có thể thấy, thành phố Đà Nẵng được xác định có vai trò hạt nhân tăng

trưởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực miền Trung và Tây

Nguyên, là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ của miền

Trung; thành phố Đà Nẵng đã có nhiều giải pháp về đầu tư hạ tầng kỹ thuật,

thực hiện chỉnh trang đô thị theo cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm; cải

cách thủ tục hành chính; quy hoạch lại các khu dân cư; thực hiện các dự án

TĐC để tạo ra quỹ đất sạch kêu gọi đầu tư. Bên cạnh những kết quả trên,

trong công tác đền bù, GPMB hiện đang gặp rất nhiều vướng mắc bởi nhiều

dự án dở dang kéo dài từ nhiều năm trước dẫn đến chênh lệch quá lớn về giá

đất, giá đền bù, một số hộ dân không tự giác chấp hành bàn giao mặt bằng.

57

Đồng thời, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai qua các thời kỳ có nhiều

thay đổi, thiếu tính ổn định, nhất là những quy định về đền bù giải tỏa, bố trí

TĐC và các chính sách hỗ trợ liên quan chưa hợp lý dẫn đến công tác đền

bù, GPMB và bố trí TĐC gặp nhiều vướng mắc, bất cập.

Trong thời gian tới do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố

trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phải tiếp tục thu hồi

đất phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh. Vì

vậy, công tác đền bù, giải tỏa, bố trí TĐC trong thời gian tới dự báo còn diễn

biến phức tạp và tiếp tục được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của

thành phố; các ngành, các cấp phải có sự phối hợp linh động với nhiều giải

pháp đồng bộ, quyết liệt để thực hiện tốt công tác GPMB, công tác hỗ trợ,

TĐC, đồng thời cần có các dự báo để từ đó đề ra chủ trương, chính sách và

các quy định về công tác GPMB, công tác hỗ trợ và TĐC cho phù hợp tình

hình thực tiễn.

58

Chương 3

GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI

ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ NÂNG CAO HIỆU

QUẢ VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TĐC KHI NHÀ

NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.1. Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi

Nhà nước thu hồi đất

3.1.1. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất

Hiến pháp năm 2013 ghi nhận cơ sở hiến định về thu hồi đất: “Nhà

nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật

cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế -

xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng”; Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 quy

định các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích của

quốc gia, công cộng. Các văn bản dưới luật cũng quy định chưa rõ nội

dung này, dẫn đến thiếu sự giám sát trong quá trình triển khai thực tế, vì

vậy đề nghị cần làm rõ:

Thứ nhất, cần làm rõ khái niệm “thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội

vì lợi ích quốc gia, công cộng”, giúp xác định đúng các trường hợp áp dụng

theo cơ chế này; khi liệt kê danh sách các trường hợp thu hồi đất theo mục

đích đặt ra, cần giải thích rõ các khái niệm trong danh sách đó, nhằm bảo đảm

hiểu đúng và thống nhất, giúp phân loại chính xác các dự án phát triển kinh tế

- xã hội cho mục đích quốc gia, công cộng và cần loại bỏ các dự án kinh tế vì

lợi ích thuần túy của nhà đầu tư ra khỏi phạm vi các dự án phát triển kinh tế -

xã hội vì lợi ích công, nhất là các khái niệm dự án dễ bị lạm dụng, như khu

công nghệ cao, khu kinh tế, khu đô thị mới,...

59

Thứ hai, xây dựng tiêu chí để xác định các trường hợp thu hồi đất theo

mục đích đặt ra, trong đó chú trọng xác định rõ và thắt chặt các trường hợp

thu hồi đất với các tiêu chí đã xây dựng là căn cứ giúp cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền lựa chọn, phê duyệt đúng các dự án cần thu hồi đất, có cơ sở xem

xét từ giai đoạn giám sát, phê duyệt dự án, đánh giá hiệu quả dự án, kiểm tra

các dự án khi hoàn thành và đưa vào hoạt động, cũng như trong hoạt động

giải quyết khiếu nại, khiếu kiện, hoạt động thanh tra, kiểm tra.

Thứ ba, đối với các dự án có phạm vi thu hồi đất rộng, hoặc gây tranh cãi

về mục đích dự án khi chú ý nhiều về lợi ích kinh tế, cần xem xét chặt chẽ

hơn để phân định các dự án bảo đảm mục đích luật định, phù hợp với các tiêu

chí đã đặt ra và nếu các dự án đầu tư không bảo đảm đúng mục đích sẽ

chuyển sang cơ chế thỏa thuận giữa chủ đầu tư và người dân theo Điều 73

Luật Đất đai.

3.1.2. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi

Nhà nước thu hồi đất

Đất đai ngày càng có giá trị thì vấn đề về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu

hồi đất cũng gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Có nhiều trường hợp người dân

do không đồng tình với phương án hỗ trợ của Nhà nước, nhà đầu tư chậm tiến

độ, ảnh hưởng đến lợi ích chung của nền kinh tế - xã hội, gây tác động tiêu

cực đến môi trường đầu tư của đất nước. Từ đó dẫn đến việc người dân khiếu

kiện lâu dài, đông người, vượt cấp gây mất ổn định về chính trị, trật tự an toàn

xã hội. Để khắc phục tình trạng này Nhà nước đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung

các quy định về hỗ trợ khi thu hồi đất nhưng tình trạng khiếu kiện còn diễn ra,

có nhiều dự án người dân khiếu kiện rất gay gắt. Điều này cho thấy chúng ta

cần tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu về cơ chế, chính sách hỗ trợ, TĐC khi Nhà

60

nước thu hồi đất nhằm hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này. Cụ thể đề xuất một

số nội dung như sau:

- Cần quy định một mức áp dụng như đối với đất thuộc địa bàn các

phường mức hỗ trợ là 5 lần giá đất nông nghiệp cùng loại; đất thuộc địa bàn

các thị trấn mức hỗ trợ là 4,5 lần giá đất nông nghiệp cùng loại và đất thuộc

địa bàn các xã mức hỗ trợ là 4 lần giá đất nông nghiệp cùng loại để cho việc

hỗ trợ được công bằng, đồng đều, tránh sự chênh lệch về mức hỗ trợ của các

tỉnh, thành như hiện nay, từ đó giảm bớt tình trạng so bì giữa người bị thu hồi

đất ở các tỉnh, thành khác nhau;

- Xem xét điều chỉnh quy định về giá đất nông nghiệp cho phù hợp với

giá trên thực tế để chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho người

bị thu hồi đất nông nghiệp thực hiện có hiệu quả hơn; đồng thời nên quy định

liệt kê các khoản hỗ trợ được nhiều địa phương lựa chọn áp dụng như hỗ trợ

cho gia đình chính sách, hỗ trợ hộ nghèo, thưởng di dời vào hướng dẫn hỗ trợ

khác để các địa phương áp dụng đồng loạt;

- Cần quy định cụ thể cơ chế, chính sách giải quyết việc làm và đào tạo

nghề cho các nhân khẩu trong độ tuổi lao động hiện có của hộ gia đình, cá

nhân có đất thu hồi;

- Cần quy định bổ sung mức cụ thể là 50% khi Nhà nước thu hồi đất mà

phải di chuyển cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế - xã

hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng vì việc quy định có mức sàn thì dễ

thực hiện và cũng có được cơ sở để áp dụng đúng pháp luật, tạo quyền lợi cho

người bị thu hồi đất;

- Cần quy định bổ sung chính sách hỗ trợ về thuê nhà cho người phải di

chuyển chỗ ở, hỗ trợ về học phí, y tế, hỗ trợ vay vốn với lãi suất thấp đối với

người bị thu hồi đất vì người bị thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn nên họ

61

cần có được một khoản chi phí hỗ trợ thêm ổn định đời sống, đây cũng có

thể là động lực để thúc đẩy họ sớm bàn giao mặt bằng, tạo sự hài lòng của

tất cả các bên.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật về hỗ trợ,

tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

3.2.1. Giải pháp xây dựng và ban hành các quy định của thành phố Đà

Nẵng về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Trong thời gian tới, để thực hiện tốt công tác GPMB, thành phố cần phải

quy định và thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu

hồi đất, cụ thể như sau:

- Đối với các dự án động lực, trọng điểm, phục vụ thu hút đầu tư, các

ngành chức năng cần xem đây là nhiệm vụ quan trọng, cần sự tập trung chỉ

đạo quyết liệt và phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành nhằm khơi thông

nguồn lực đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội thành phố. Cần yêu cầu các chủ

đầu tư điều hành dự án phối hợp các đơn vị liên quan lập kế hoạch GPMB và

TĐC trước khi triển khai các dự án, đáp ứng mặt bằng thi công công trình;

- Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cụ thể về xây dựng phương án bồi thường

giải tỏa, TĐC theo hướng bồi thường bằng tiền theo giá thực tế và chỉ giải

quyết bố trí TĐC cho các hộ giải tỏa phải di chuyển chỗ ở, khuyến khích tự

người dân lo TĐC để người dân có thêm sự lựa chọn;

- Tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các văn bản liên quan đến chính

sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC cho người dân theo hướng công khai, minh

bạch các tiêu chí trong công tác đền bù giải tỏa, đảm bảo quyền lợi chính

đáng của người dân nhưng phải công bằng, xử lý cương quyết các trường hợp

chây ỳ, trục lợi, cắt giảm một số bước, rút ngắn thời gian, phân cấp mạnh hơn

nữa thẩm quyền giải quyết của UBND các quận, huyện (Chủ tịch Hội đồng

62

Bồi thường các dự án) trong việc giải quyết các vướng mắc khi thực hiện giải

tỏa đền bù;

- Nghiên cứu và tổ chức thực hiện việc chuyển đổi khu vực TĐC từ địa

phương thiếu quỹ đất TĐC này sang địa phương thừa quỹ đất để hạn chế đầu

tư mới khu tái định; cơ chế chính sách chuyển đổi TĐC từ đường 5,5m lên

các đường có mặt cắt lớn hơn (7,5m, 10,5m...); cơ chế chính sách đối với

phương án TĐC bằng tiền (hỗ trợ tự lo TĐC);

- Nghiên cứu quy trình rút ngắn thời gian, đẩy nhanh tiến độ thẩm định,

phê duyệt các vấn đề về giá đất TĐC và hệ số giá đất thực hiện bồi thường

nhằm đáp ứng kịp thời tiến độ GPMB các dự án; nghiên cứu, đề xuất các

phương án đền bù đất rừng phải thu hồi để thực hiện các dự án khu công

nghiệp hoặc khu TĐC, phương án đền bù đất nông nghiệp hợp lý hơn, nhất là

các vị trí đất nằm xen kẽ trong khu dân cư tại các quận trung tâm thành phố;

- Tổ chức công khai, minh bạch các loại quỹ đất (đất ở, đất thương mại

dịch vụ...) để các tổ chức, cá nhân được biết; xây dựng kế hoạch quản lý, khai

thác quỹ đất TĐC theo nguyên tắc công khai, minh bạch, ưu tiên phục vụ bố

trí TĐC các dự án quan trọng, cấp bách, không nhất thiết các dự án đều phải

đầu tư khu TĐC riêng;

- Bên cạnh đó, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra tại các vùng quy

hoạch dự án, không để tình trạng lấn chiếm, xây dựng không phép, trái phép,

sử dụng đất không đúng quy định; bố trí kinh phí để thực hiện việc ghi lại

hình ảnh hiện trạng của dự án phục vụ công tác đền bù, hỗ trợ GPMB; xử lý

nghiêm trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân nếu để xảy ra vi phạm. Tăng

cường công tác phối hợp, hỗ trợ trong công tác vận động, GPMB các công

trình, dự án.

63

3.2.2. Các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp

luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố

Đà Nẵng

3.2.2.1. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi

Nhà nước thu hồi đất

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai nói chung

và các quy định có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC nói riêng;

quyền lợi và trách nhiệm của người dân bị ảnh hưởng trong vùng dự án khi

Nhà nước thu hồi đất nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức, hành động trong

cả hệ thống chính trị và nhân dân.

Phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc

giám sát, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi

Nhà nước thu hồi đất; nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho người

dân có hoàn cảnh khó khăn, cần hỗ trợ; phát hiện và giải quyết kịp thời các

mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ nhân dân liên quan đến công tác bồi thường,

hỗ trợ, TĐC không để xảy ra điểm nóng.

3.2.2.2. Công khai, minh bạch trong hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất

Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp năm 2013 quy định việc thu hồi đất “phải

công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật”. Có thể

thấy, “công khai, minh bạch” trong thu hồi đất là yêu cầu có tính tiên quyết

trong quá trình triển khai thực hiện công tác GPMB, thực hiện dự án. Tính

công khai, minh bạch, dân chủ trong quản lý nhà nước là những yếu tố có tầm

quan trọng rất lớn trong việc duy trì sự ổn định của pháp luật và lòng tin của

người dân vào chính quyền, nhất là trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi

Nhà nước thu hồi đất, bởi đây là lĩnh vực có liên quan rất lớn và trực tiếp đến

quyền lợi, cuộc sống, thậm chí là cả miếng cơm manh áo của người dân.

64

Thành phố cần tiếp tục chỉ đạo các Ban Quản lý dự án, các quận huyện

phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành trong thẩm định giá, giải quyết các vướng

mắc, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện công tác bồi thường, TĐC,

thu hồi đất của từng dự án trên địa bàn. Cùng với đó, đảm bảo thực hiện tốt

công tác công khai, minh bạch thông tin trong triển khai các dự án bồi

thường, GPMB, TĐC khi thu hồi đất trên địa bàn; cũng như tập trung vận

động, thuyết phục, trao đổi với người dân để hoàn thành thực hiện các dự án,

nhưng phải căn cứ các quy định pháp luật để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi

ích hợp pháp của người dân.

Bên cạnh đó, các Ban quản lý dự án cũng cũng cần tăng cường công

khai, minh bạch, lấy ý kiến chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể xã

hội của địa phương (như Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh,

Đoàn thanh niên..) và những người bị ảnh hưởng bởi dự án về đặc điểm khu

tái định cư, các dịch vụ xã hội sẽ được hoàn thiện, nguyên tắc bồi thường,

việc phân lô….

Nghiên cứu, ban hành quy định hướng dẫn chi tiết về quyền giám sát của

công dân trong lĩnh vực đất đai nói chung và quyền giám sát trong thu hồi đất,

bồi thường, hỗ trợ TĐC nói riêng; trong trường hợp hơn 50% ý kiến người

dân trong khu vực có đất bị thu hồi không đồng thuận với dự thảo phương án

bồi thường, hỗ trợ, TĐC thì phương án đó cần phải được xem xét lại dưới một

thủ tục chặt chẽ có sự giám sát của công dân và phản biện xã hội của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên.

3.2.2.3. Giải pháp hỗ trợ, ổn định, chuyển đổi ngành nghề cho người dân

khi nhà nước thu hồi đất

Hỗ trợ ổn định cuộc sống, sản xuất, đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm

kiếm việc làm cho người lao động khi Nhà nước thu hồi đất đã và đang

65

được các cấp, ngành của thành phố tập trung thực hiện trong thời gian qua

đã góp phần tích cực trong giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn

nhân lực, tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho

nhiều người lao động. Một số lao động thuộc đối tượng thu hồi đất được

tham gia đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm qua các mô hình sản

xuất tại chỗ.

Trong thời gian qua, việc hỗ trợ cho các đối tượng bị thu hồi đất chủ yếu

dưới hình thức hỗ trợ tiền; chưa có giải pháp hiệu quả để đào tạo việc làm, ổn

định đời sống cho người bị thu hồi đất; việc chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc

làm do người dân tự lo; chưa thực hiện được chính sách hỗ trợ đào tạo nghề

cho đối tượng bị thu hồi đất trong độ tuổi lao động và có nhu cầu đào tạo

nghề, giải quyết việc làm. Thực tế, không ít gia đình cầm một khoản tiền đền

bù xong chỉ một vài năm lại rơi vào tình cảnh khó khăn, buộc phải ly hương

đi làm ăn xa vì thiếu đất sản xuất.

Vì vậy, trong thời gian tới các cơ quan chức năng thực hiện việc thu hồi

đất, nhất là đất nông nghiệp cần phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện đánh

giá các yếu tố tác động đến người lao động sau khi bị thu hồi đất, tư vấn định

hướng nghề; tham mưu UBND thành phố ban hành quy định mức hỗ trợ đào

tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho phù hợp theo từng địa bàn và

đối tượng; cần làm tốt công tác dự báo và nắm thông tin của người lao động

bị thu hồi đất để kịp thời chuẩn bị nguồn nhân lực cung ứng cho các doanh

nghiệp, các doanh nghiệp có chính sách ưu tiên tuyển dụng người lao động

trong vùng dự án bị thu hồi đất. Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa ngành lao

động, thương binh và xã hội với các sở, ngành liên quan đến công tác tham

mưu, hướng dẫn, tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, chuyển đổi nghề và

tìm kiếm việc làm cho người bị thu hồi đất.

66

3.2.2.4. Nâng cao năng lực của cán bộ, công chức thực thi pháp luật liên

quan đến công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất

Từ xưa tới nay, sự hưng thịnh hay suy vong của bất kỳ quốc gia - dân

tộc hay chế độ nào đều phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ - những người

có vai trò rường cột trong tham mưu hoạch định chính sách, trực tiếp tham

gia vào quá trình xây dựng và thực thi luật pháp, quản lý mọi mặt của đời

sống xã hội.

Đối với từng ngành, lĩnh vực, địa phương nếu đối ngũ CBCCVC có

phẩm chất tốt, có năng lực thực thi công vụ, được đào tạo bài bản, tận tâm với

công việc thì ngành, lĩnh vực và địa phương đó sẽ đạt được nhiều thành tựu.

Vì vậy, để thực hiện tốt công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất cần

phải nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC thực thi công vụ liên quan đến

lĩnh vực này trong thời gian tới, cụ thể như sau:

Trước hết, thành phố cần chú trọng nâng cao chất lượng và ý thức trách

nhiệm của đội ngũ CBCCVC trong thực hiện công vụ liên quan đến công tác

hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất gắn với trách nhiệm của người đứng

đầu; CBCCVC cần nhận thức và thực hiện cơ bản tốt vai trò, chức trách, nhiệm

vụ của mình, có ý thức rèn luyện tư tưởng chính trị, đạo đức, trau dồi và nâng

cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ từng bước đáp ứng yêu cầu của công cuộc

đổi mới.

Thứ hai, cần rà soát, xây dựng và ban hành cụ thể tiêu chuẩn chức danh

theo vị trí việc làm đối với các vị trí có liên quan đến công tác hỗ trợ và bố trí

TĐC; ngoài đánh giá về năng lực chuyên môn phải chú ý vấn đề đạo đức của

người CBCCVC vì đây là lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực. Vì vậy,

phải lựa chọn người CBCCVC có trình độ, năng lực chuyên môn tốt, có tâm

trong sáng vì dân phục vụ. Có chế tài xử lý nghiêm CBCCVC có hành vi gây

nhũng nhiễu, phiền hà trong công tác hỗ trợ, và bố trí TĐC.

67

Thứ ba, thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ

để đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức pháp luật về đất đai; đào tạo kỹ

năng xử lý tình huống, kỹ năng giao tiếp cho CBCCVC làm công tác đền

bù, hỗ trợ, TĐC vì thực tế đội ngũ này thường xuyên tiếp xúc với người

dân, trong quá trình xử lý có nhiều tình huống khó khắn, vướng mắt nên

nếu được đào tạo kỹ năng xử lý tình huống trước thì khả năng ứng xử của

người CBCCVC sẽ tốt hơn.

3.2.2.5. Nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư liên

quan đến công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất

Trong giai đoạn 2016 – 2020, UBND các cấp trên địa bàn thành phố Đà

Nẵng đã tiếp nhận 2.710 đơn KNTC (2.062 khiếu nại, 648 tố cáo) và 28.892

đơn kiến nghị, phản ánh. Nội dung KNTC chủ yếu về công tác giải tỏa đền

bù, bố trí đất TĐC, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh

chấp ranh giới đất, ô nhiễm môi trường, chế độ, chính sách hỗ trợ đối với

người có công, hành vi, quyết định của cán bộ, công chức trong thực thi công

vụ… Đối với đơn khiếu nại lần 02 trên địa bàn thành phố, hầu hết là đơn

khiếu nại liên quan đến công tác giải tỏa đền bù, bố trí đất TĐC. Hiện nay,

trên địa bàn thành phố có một vụ việc KNTC đông người, phức tạp, nổi cộm,

kéo dài của các hộ dân khu vực Cồn Dầu (phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ)

liên quan đến việc thu hồi đất, giao đất, TĐC, cưỡng chế thu hồi đất tại dự án

Khu đô thị sinh thái Hòa Xuân.

Qua đó, có thể thấy tỷ lệ rất lớn các vụ khiếu nại xảy ra trong lĩnh vực

đất đai, đặc biệt là thu hồi đất đai, hỗ trợ, TĐC. Vấn đề này, trong thời gian

tới tại thành phố sẽ còn rất phức tạp, vì vậy cần thực hiện một số giải pháp

sau để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực này như sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại tại cơ sở, giảm bớt

khiếu nại lần hai về đất đai. Trong thực tế, các cơ quan có trách nhiệm đã cố

68

gắng nhiều trong việc giải quyết khiếu nại, tỷ lệ các vụ việc được coi là “đã

giải quyết” luôn đạt tỷ lệ rất cao, thường trên 80% những vụ việc thuộc thẩm

quyền nhưng số vụ việc khiếu nại về đất đai không có chiều hướng giảm mà

lại tăng lên không ngừng, chứng tỏ, dù vụ việc khiếu nại đã được cấp có thẩm

quyền giải quyết nhưng nó không được chấm dứt mà người khiếu nại tiếp tục

khiếu nại đến cấp cao hơn. Điều này cho thấy chất lượng và hiệu quả giải

quyết khiếu nại tại cơ sở chưa hiệu quả. Nguyên nhân của tình trạng này có

nhiều trong đó có việc người có thẩm quyền, do sức ép về trách nhiệm giải

quyết, đã chỉ quan tâm đến ban hành quyết định giải quyết theo đúng trình tự,

thủ tục, thời hạn luật định mà chưa quan tâm nhiều đến hiệu quả của việc giải

quyết, chưa quan tâm đến phương án giải quyết của mình có khả thi hay

không? Có được người khiếu nại chấp nhận hay không? Chưa quan tâm đến

việc tìm ra sự đồng thuận giữa các bên trong tranh chấp; chưa cố gắng thuyết

phục người khiếu nại chấp nhận phương án giải quyết của chính mình. Vì

vậy, người có thẩm quyền cần nâng cao trách nhiệm đối với quyết định giải

quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền.

Hai là, tăng cường đối thoại trong quá trình giải quyết khiếu nại về thu

hồi đất, đây là khâu vô cùng quan trọng trong giải quyết khiếu nại, đặc biệt là

khiếu nại về thu hồi đất đai. Khi xảy ra khiếu nại tức là đã hiện hữu một mâu

thuẫn cần giải quyết, mà để giải quyết mâu thuẫn thì đối thoại luôn là điều

quan trọng nhất. Đối thoại trước hết mang lại cho những người liên quan có

được đầy đủ thông tin từ nhiều phía về vụ việc có tranh chấp, là cơ hội để các

bên trong tranh chấp “thuyết phục” lẫn nhau bằng lý lẽ của mình và cuối cùng

đối thoại giúp tìm ra một giải pháp có tính đồng thuận, một kết cục ít tốn kém

nhất và bảo đảm hiệu lực thi hành của các quyết định giải quyết.

Ba là, tăng cường sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội, mở

rộng sự tham gia của luật sư và các tổ chức, cá nhân khác trong việc tư vấn

69

cho người khiếu nại; quy định về sự tham gia của các tổ chức xã hội, tổ

chức xã hội nghề nghiệp trong giải quyết khiếu nại về thu hồi đất bởi vì

đây là lực lượng đại diện cho quyền lợi của các hội viên; các tổ chức này

vừa có thể tham vấn cho cơ quan nhà nước trong quá trình giải quyết

nhưng đồng thời cũng có thể đóng vai trò là “trung gian hòa giải” để hạn

chế sự xung đột giữa người có đất thu hồi đi khiếu nại với cơ quan nhà

nước có thẩm quyền.

Khiếu nại về đất đai nói chung và về thu hồi đất nói riêng vừa phức

tạp vừa nóng vì vậy mà sự tham gia của các thiết chế có tính chất “trung

gian” là rất cần thiết để làm giảm bớt tính chất gay gắt của những vụ việc

này, sự tham gia của các thiết chế này có nhiều ý nghĩa cho quá trình giải

quyết. Trước hết, mang lại những thông tin thiết thực, cụ thể cho cơ quan

và người có thẩm quyền trong việc xác định những vấn đề mang tính lịch

sử hình thành của diện tích đất bị thu hồi, xác định đối tượng thuộc diện

đền bù giải tỏa; thứ hai là sự vào cuộc của các thiết chế trung gian, trước

hết là các tổ chức chính trị xã hội tại địa phương cơ sở sẽ tạo ra sự thống

nhất giữa Nhà nước và người có đất bị thu hồi nhờ việc làm cho người dân

hiểu được mục đích, ý nghĩa cũng như lợi ích nhiều mặt của các công trình,

dự án sẽ được triển khai sau khi thu hồi đất.

Bốn là, chuyển việc giải quyết các khiếu nại về đất đai nói chung và về

thu hồi đất nói riêng sang cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính tại Tòa án

nhân dân. Không thể phủ nhận những ưu điểm rõ ràng của phương thức giải

quyết các khiếu kiện bằng con đường tố tụng tại cơ quan tư pháp, vì vậy định

hướng chuyển mạnh việc giải quyết các tranh chấp hành chính sang cơ chế

Tòa án là tất yếu và hết sức đúng đắn.

Năm là, đẩy mạnh thanh tra trách nhiệm việc giải quyết khiếu nại của

70

các ngành các cấp, thực hiện phương châm giải quyết các tranh chấp hành

chính từ cơ sở tránh vượt cấp.

3.2.2.6. Nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong công tác vận

động thực hiện giải tỏa, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất

Từ thực tiễn công tác GPMB cho thấy hệ thống chính trị cơ sở đóng vai

trò rất lớn trong việc vận động người dân trong vùng dự án chấp nhận các

phương án giải tỏa, đề bù, bố trí TĐC. Thực vậy, người dân dân định cư và

gắn bó lâu đời với ruộng đất, tư liệu sản xuất bảo đảm cuộc sống hằng ngày,

nay bị thu hồi thì không biết làm gì để duy trì cuộc sống và không biết sẽ ở

đâu. Hệ thống chính trị cơ sở (Đảng ủy, UBND cấp xã, Mặt trận và các Đoàn

thể chính trị) cần phải nắm tình hình từ đó nhận định, phân tích tư tưởng, tâm

trạng của các tầng lớp nhân dân và bàn chủ trương, giải pháp để cùng các cấp,

các ngành cấp trên tổ chức thực hiện tốt công tác GPMB.

Hệ thống chính trị cơ sở cần thực hiện tốt các nội dung sau trong công

tác vận động thực hiện giải tỏa, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất:

Một là, phải làm tốt công tác tuyên truyền, thuyết phục các tầng lớp nhân

dân hiểu được chủ trương của Đảng và Nhà nước bằng nhiều hình thức như

họp các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở, họp dân tuyên truyền giải

thích, vận động từng người, từng hộ gia đình...

Hai là, mọi chính sách phải được công khai, minh bạch; trong quá trình

tổ chức thực hiện tránh chủ quan, áp đặt; chỗ nào dân chưa hiểu thì kiên trì

giải thích, vận động để tạo sự đồng thuận.

Ba là, thực hiện tốt quy trình dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân

dân theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

Bốn là, có sự chỉ đạo, sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cấp ủy Đảng,

71

chính quyền, mặt trận, đoàn thể để thực hiện có hiệu quả chủ trương GPMB;

nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

Năm là, phải có sự đoàn kết nhất trí từ trong Đảng đến nhân dân; sự phối

hợp chặt chẽ, hiệu quả từ cấp trên đến cơ sở, không đùn đẩy trách nhiệm cho

nhau gây phiền hà trong nhân dân.

Tiểu kết Chương 3

Chương này đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ,

TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật

về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Ngoài các kiến nghị với Trung ương về các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp

luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, nội dung Chương cũng đề xuất

giải pháp ban hành các quy định của thành phố Đà Nẵng về hỗ trợ, TĐC khi

Nhà nước thu hồi đất như nghiên cứu, đề xuất cụ thể về xây dựng phương án

bồi thường giải tỏa, TĐC theo hướng đền bù bằng tiền theo giá thực tế;

nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các văn bản liên quan đến chính sách bồi thường,

hỗ trợ và TĐC cho người dân theo hướng công khai, minh bạch các tiêu chí

trong công tác đền bù giải tỏa; nghiên cứu và tổ chức thực hiện việc chuyển

đổi khu vực TĐC từ địa phương thiếu quỹ đất TĐC này sang địa phương thừa

quỹ đất; nghiên cứu quy trình rút ngắn thời gian, đẩy nhanh tiến độ thẩm định,

phê duyệt các vấn đề về giá đất TĐC và hệ số giá đất thực hiện bồi thường…

Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật về hỗ

trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng như đẩy

mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước

thu hồi đất nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức, hành động trong cả hệ thống

chính trị và nhân dân. Phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể chính trị -

xã hội trong việc giám sát, tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan đến

72

công tác giải tỏa, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Đề xuất và tổ chức

thực hiện có hiệu quả các giải pháp hỗ trợ, ổn định, chuyển đổi ngành nghề

cho người dân khi nhà nước thu hồi đất. Nâng cao năng lực của cán bộ, công

chức thực thi pháp luật liên quan đến công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu

hồi đất. Tăng cường hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết KNTC liên quan

đến công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, giải quyết KNTC đến

cùng, dứt điểm từng vụ việc, hạn chế tối đa phát sinh vụ việc mới, không để

xảy ra KNTC đông người, phức tạp, kéo dài, vượt cấp.

73

KẾT LUẬN

Thực tiễn chỉ rõ nơi nào cấp ủy đảng có chỉ đạo quyết liệt, chính quyền

cơ sở tổ chức thực hiện tốt thì công tác GPMB, đền bù, giải tỏa, TĐC thực

hiện đảm bảo và có sự đồng thuận cao của người dân. Vì vậy, cần phát huy

sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy

đảng, trách nhiệm của chính quyền, giám sát của Mặt trận và các tổ chức

chính trị - xã hội, nhất là tinh thần trách nhiệm, sự gương mẫu của người

đứng đầu các quận huyện (là Chủ tịch Hội đồng Bồi thường thiệt hại, hỗ trợ

và TĐC tại các dự án trên địa bàn quận, huyện); tăng cường công tác tiếp

dân, đối thoại với công dân, lắng nghe ý kiến phản ánh của nhân dân, kịp thời

giải quyết đúng quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và TĐC

khi Nhà nước thu hồi đất.

Công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố

Đà Nẵng trong thời gian qua đạt nhiều kết quả tốt, là một trong những điểm

sáng của cả nước khi thực hiện công tác giải tỏa, đền bù. Để đạt được kết quả

trên, nhờ có sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo thành phố và các cấp, các

ngành trong công tác hỗ trợ và TĐC; pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước

thu hồi đất ngày càng được hoàn thiện và sát với thực tiễn cuộc sống người

dân; thành phố kịp thời ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các

chính sách trong thực hiện công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất

nhằm đảm bảo cuộc sống cho người dân vùng bị giải tỏa…

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước

thu hồi đất còn một số tồn tại cần phải khắc phục trong thời gian đến, đó là:

áp lực lớn trong công tác GPMB để triển khai dự án nên một số dự án khi

triển khai công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, TĐC và cưỡng chế GPMB đã

bỏ qua một số quy trình, thủ tục dẫn đến việc triển khai không được chặt chẽ,

74

từ đó dẫn đến khiếu kiện về sau. Việc quản lý đất đai của một số phường, xã

và quận, huyện trên địa bàn thành phố qua các thời kỳ chưa chặt chẽ, để xảy

ra tình trạng lấn chiếm đất, sử dụng đất không rõ nguồn gốc, gây nhiều khó

khăn cho công tác GPMB. Bên cạnh đó, quy định về giá và chính sách hỗ trợ,

TĐC cho người dân vẫn còn nhiều bất cập; việc công khai, minh bạch về hỗ

trợ, TĐC tại một số dự án chưa thực hiện tốt; quy trình thực hiện hỗ trợ, TĐC

còn nhiêu khê, thời gian chờ đợi, đi lại rất nhiều. Còn tình trạng một số hộ

dân đã được giải quyết đúng, đủ và thỏa đáng các quyền lợi về đền bù, hỗ trợ,

TĐC nhưng vẫn chây ỳ, cố tình không bàn giao mặt bằng.

Từ những hạn chế, bất cập như đã nêu trong luận văn, trong thời gian tới,

để có thể nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất

trên địa bàn thành phố cần chú trọng đến các giải pháp như: Đẩy mạnh công

tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất

nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức, hành động trong cả hệ thống chính trị

và nhân dân; Phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội

trong việc giám sát, tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan đến công tác

giải tỏa, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Đề xuất và tổ chức thực

hiện có hiệu quả các giải pháp hỗ trợ, ổn định, chuyển đổi ngành nghề cho

người dân khi nhà nước thu hồi đất; Nâng cao năng lực của cán bộ, công chức

thực thi pháp luật liên quan đến công tác hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu

hồi đất; Tăng cường hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết KNTC liên quan

đến công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, giải quyết KNTC đến

cùng, dứt điểm từng vụ việc, hạn chế tối đa phát sinh vụ việc mới, không để

xảy ra KNTC đông người, phức tạp, kéo dài, vượt cấp.

Luận văn đã tập trung làm rõ những vấn đề về luận cứ khoa học trong

việc xây dựng quy định và áp dụng thực hiện các quy định về công tác hỗ

trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Luận văn đã đưa ra các cơ sở lý luận và

75

thực tiễn phục vụ việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp từ đó nâng cao hiệu

lực, hiệu quả trong công tác xây dựng và triển khai thực hiện các quy định

về công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trong thời gian tới tại

thành phố Đà Nẵng.

Lĩnh vực hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất là lĩnh vực phức tạp,

nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống người dân; trong quá trình

hoàn thiện luận văn, bản thân đã cố gắng nghiên cứu, phân tích tài liệu, song

không tránh khỏi những hạn chế. Qua góp ý, đánh giá của Hội đồng chấm

Luận văn, tôi sẽ tiếp thu và chỉnh sửa để áp dụng có hiệu quả các quy định

về công tác hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trong thời gian tới tại

thành phố Đà Nẵng.

Tôi chân thành cảm ơn quý thầy cô trực tiếp đào tạo, hướng dẫn trong

quá trình học tập tại Học viện; cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã

hội Việt Nam, lãnh đạo và các anh, chị tại Học viện Khoa học xã hội cơ sở Đà

Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học. Xin gửi lời cảm

ơn chân thành đến TS. Trần Quang Huy đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành

Luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Căn cứ Thông tư số 14/2009/TT-

BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ

trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.

2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT

ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái

định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT

ngày 27 tháng 01 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định

chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số

44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ.

4. Cổng Thông tin Bộ Tài nguyên và Môi trường.

5. Cổng Thông tin Trường Cán bộ Thanh tra Chính phủ.

6. Cổng Thông tin điện tử Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng.

7. Cổng Thông tin điện tử Thanh tra thành phố Đà Nẵng.

8. Cổng Thông tin điện tử UBND thành phố Đà Nẵng.

9. Chính phủ (2014), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm

2004 về thi hành Luật Đất đai.

10. Chính phủ (2004), Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm

2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

11. Chính phủ (2006), Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm

2006 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi

hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển

công ty nhà nước thành công ty cổ phần.

12. Chính phủ (2007), Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007

quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi

đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.

13. Chính phủ (2009), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm

2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất,

bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

14. Chính phủ (2014), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014

của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.

15. Chính phủ (2014), Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm

2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất.

16. Chính phủ (2014), Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm

2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà

nước thu hồi đất.

17. Chính phủ (2017), Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm

2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết

thi hành Luật đất đai.

18. Đào Chung Chính (2014), Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới

pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, Luận văn tiến sĩ,

Đại học Nông nghiệp Hà Nội.

19. Phan Trung Hiền (2016), Cuốn sách: Pháp luật về quản lý và sử dụng

đất đai ở Việt Nam, NXB Đại học Cần Thơ.

20. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp 1992.

21. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp 2013.

22. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1987), Luật Đất

đai năm 1987.

23. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Đất

đai 2003.

24. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Đất

đai 2013.

25. Nhóm tác giả Đào Chung Chính, Đặng Hùng Võ, Nguyễn Thanh Trà

(2013), Đánh giá thực trạng triển khai công tác thu hồi đất, bồi thương,

hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật, Tạp chí Khoa học và

Phát triển Số 03/2013.

26. Nguyễn Chí Cường (2016), Đánh giá mức độ hài lòng của người dân và

các vấn đề bất cập trong giải tỏa, bồi thường và tái định cư trên địa bàn

tỉnh Vĩnh Long, Luận văn thạc sĩ, Đại học Cần Thơ.

27. Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007), Giáo trình Quản lý nhà nước về đất đai,

NXB Nông nghiệp Hà Nội.

28. Thành ủy Đà Nẵng (2020), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng

bộ thành phố khóa XXI trình Đại hội đại biểu lần thứ XXII Đảng bộ

thành phố nhiệm kỳ 2020-2025.

29. TS. Trần Quang Huy (2017), Cuốn sách: Bình luận chế định quản lý nhà

nước về đất đai trong Luật Đất đai 2013, NXB Tư Pháp.

30. UBND thành phố Đà Nẵng (2005), Quyết định số 181/2005/QĐ-UBND

ngày 28/12/2005 quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà

nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

31. UBND thành phố Đà Nẵng (2006), Quyết định số 71/2006/QĐ-UBND

ngày 18/8/2006.

32. UBND thành phố Đà Nẵng (2006), Quyết định số 75/2006/QĐ-UBND

ngày 05/9/2006, sửa đổi, bổ sungQuyết định số 181/2005/QĐ-UB ngày

28/12/2005.

33. UBND thành phố Đà Nẵng (2006), Quyết định số 108/2006/QĐ-UB

ngày 20/12/2006 về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên

địa bàn thành phố Đà Nẵng thay thế Quyết định số 181/2005/QĐ-UBND

ngày 28/12/2005.

34. UBND thành phố Đà Nẵng (2007), Quyết định số 71/2007/QĐ-UB ngày

20/12/2007 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thay thế Quyết định số 108/2006/QĐ-

UB ngày 20/12/2006.

35. UBND thành phố Đà Nẵng (2009), Quyết định số 36/2009/QĐ-UB ngày

24/12/2009 bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thay thế Quyết định số 71/2007/QĐ-UB

ngày 20/12/2007.

36. UBND thành phố Đà Nẵng (2010), Quyết định số 19/2010/QĐ-UB ngày

25/6/2010sửa đổi, bổ sung Quyết định số 36/2009/QĐ-UB ngày

24/12/2009.

37. UBND thành phố Đà Nẵng (2010), Quyết định số 50/2010/QĐ-UB ngày

30/12/2010sửa đổi, bổ sung Quyết định số 36/2009/QĐ-UB ngày

24/12/2009.

38. UBND thành phố Đà Nẵng (2011), Quyết định số 21/2011/QĐ-UB ngày

05/8/2011 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 36/2009/QĐ-UB ngày

24/12/2009.

39. UBND thành phố Đà Nẵng (2012), Quyết định 63/2012/QĐ-UBND ngày

20/12/2012 bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thay thế Quyết định số 36/2009/QĐ-UB

ngày 24/12/2009.

40. UBND thành phố Đà Nẵng (2016), Quyết định số 04/2016/QĐ-UBND

ngày 15/01/2016 sửa đổi Quyết định số 63/2012/QĐ-UBND.

41. UBND thành phố Đà Nẵng (2017), Quyết định số 38/2017/QĐ-UBND

ngày 30/11/2017 quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước

thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thay thế Quyết định

63/2012/QĐ-UBND ngày 20/12/2012.

42. UBND thành phố Đà Nẵng (2019), Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND

ngày 02/5/2019 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 38/2017/QĐ-UBND

ngày 30/11/2017.