intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Khai thác chung trong luật biển quốc tế và thực tiễn trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng

Chia sẻ: Cẩn Ngữ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:136

14
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trên cơ sở xem xét vấn đề lý luận cơ bản về khai thác chung trong Luật biển quốc tế, cùng với việc phân tích các dạng khai thác chung điển hình trên thế giới, rút ra những ưu điểm và những hạn chế của các mô hình. Đồng thời nghiên cứu những nhân tố pháp lý cơ bản nhất của các thỏa thuận khai thác chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng, thấy được những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn từ đó đề xuất những kiến nghị để góp phần khai thác và quản lý hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên trong vùng khai thác chung, bảo vệ môi trường tự nhiên, giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Khai thác chung trong luật biển quốc tế và thực tiễn trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG Khai thác chung trong luật biển quốc tế và thực tiễn trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng LUẬN VĂN THẠC SỸ Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Bá Diến Hà nội - 2005
  2. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................... 3 CHƢƠNG 1 ................................................................................................... 9 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHAI THÁC CHUNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ ................................................................ 9 1.1. KHÁI NIỆM KHAI THÁC CHUNG ................................................. 9 1.1.1. Định nghĩa khai thác chung .......................................................... 9 1.1.2. Đặc điểm của khai thác chung .................................................... 17 1.1.3. Nội dung chủ yếu của thỏa thuận khai thác chung ................... 19 1.2. VAI TRÕ CỦA KHAI THÁC CHUNG ........................................... 27 1.3. LỊCH SỬ CỦA KHAI THÁC CHUNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ ................................................................................................. 30 1.4. CÁC NHÂN TỐ QUY ĐỊNH SỰ THÀNH CÔNG CỦA MÔ HÌNH KHAI THÁC CHUNG 1.4.1. Yếu tố chính trị: .......................................................................... 31 1.4.2. Yếu tố kinh tế: ............................................................................. 32 1.4.3. Các yếu tố khác: .......................................................................... 34 1.5. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC KHAI THÁC CHUNG ................... 34 1.5.1. Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế ..................................... 35 1.5.2 Các điều ƣớc quốc tế .................................................................... 37 1.5.3. Các phán quyết của Toà án quốc tế và khuyến nghị của Uỷ ban hòa giải: ................................................................................................. 40 CHƢƠNG 2 ................................................................................................. 43 CÁC DẠNG KHAI THÁC CHUNG ĐIỂN HÌNH.................................... 43 TRÊN THẾ GIỚI ....................................................................................... 43 2.1. KHAI THÁC CHUNG DẦU KHÍ .................................................... 43 1
  3. 2.1.1 Khai thác chung nơi đƣờng biên giới chƣa đƣợc xác định ........ 44 2.1.2 Khai thác chung nơi đƣờng biên giới đã đƣợc xác định ............ 54 2.2. KHAI THÁC CHUNG NGHỀ CÁ ................................................... 59 2.2.1 Hiệp định ngư nghiệp giữa CHND Trung Hoa và Nhật Bản ngày 11/11/1997 .............................................................................................. 60 2.2.2 Hiệp định ngư nghiệp giữa Nhật Bản và Đại Hàn Dân Quốc ngày 28/11/1998 .............................................................................................. 63 2.3. KHAI THÁC CHUNG HỖN HỢP ................................................ 66 2.3.1 Thỏa thuận Ghinê Bitxao - Xênêgan ngày 14-10-1993 ................ 66 2.3.2 Hiệp định Côlômbia - Jamaica ngày 12 - 11 - 1993 ..................... 68 CHƢƠNG 3 KHAI THÁC CHUNG GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƢỚC LÁNG GIỀNG ............................................................................................ 72 3.1 TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG VÀ QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ............................ 72 3.1.1 Tình hình tranh chấp ở biển Đông .............................................. 72 3.1.2. Quan điểm của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp ..... 77 3.2. KHAI THÁC CHUNG GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƢỚC LÁNG GIỀNG ......................................................................................... 79 3.2.1 Hiệp định Vùng nƣớc lịch sử Việt Nam - Cămpuchia 7/7/1982 . 79 3.2.2 Khai thác chung giữa Việt Nam và Malayxia ............................ 90 3.2.3. Việt Nam với Trung Quốc và Hiệp định Hợp tác Nghề cá Vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000 ...................................................................... 103 3.2.4 Trƣờng Sa với đề nghị “Gác tranh chấp, cùng khai thác” ..... 129 Về khả năng khai thác chung ba bên Việt Nam - Malayxia - Thái lan ............................................................................................................. 138 KẾT LUẬN ............................................................................................... 141 2
  4. LỜI NÓI ĐẦU Với sự phát triển của khoa học công nghệ, con người dần có thể vươn ra những lĩnh vực, phạm vi rộng lớn hơn. Nhu cầu về tài nguyên của con người cũng ngày càng gia tăng, trong khi tài nguyên trên đất liền đang dần cạn kiệt. Nhân loại đã tìm đến những hành tinh khác để tìm kiếm sự sống, tài nguyên nhưng đó còn là một câu chuyện rất xa. Vì vậy con đường tiến ra biển đang là phương cách hiện thực nhất đối với loài người. Để điều hòa lợi ích của các quốc gia trong quá trình sử dụng, khai thác tài nguyên biển, Luật biển quốc tế cũng phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế, khoa học, kỹ thuật v.v. Một trong những sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong quá trình phát triển của Luật Biển quốc tế đó là sự ra đời của Công ước Luật Biển 1982, một trật tự pháp lý trên biển đã được hình thành đáp ứng được nguyện vọng của đại đa số các quốc gia, nhất là các quốc gia ven biển. 1. Tính cấp thiết của đề tài: Những quy định mới của Công ước Luật Biển 1982 đã dẫn đến quyền tài phán của các quốc gia ven biển được mở rộng ra đối với vùng đặc quyền kinh tế là 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải và vùng thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý và tối đa không mở rộng ra ngoài giới hạn 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc không vượt quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2.500 m. Điều này dẫn đến một hệ quả tất yếu là ở các vùng biển hẹp, yêu sách của các quốc gia ven biển có bờ biển đối diện hoặc liền kề sẽ chồng lấn lên nhau. Và như vậy, tiếp theo đó cần phải có những thoả thuận về đường ranh giới phân chia thẩm quyền giữa các bên. Tuy nhiên để đạt được những thoả thuận này không phải là việc đơn giản mà đòi hỏi một quá trình 1
  5. lâu dài và hết sức tốn kém, thậm chí có thể gây ra sự căng thẳng về chính trị, xung đột về quân sự v.v. Trù định cho tình huống đó, Công ước Luật Biển 1982 có những quy định làm cơ sở pháp lý cho việc phát triển chung những vùng tranh chấp này. Theo khoản 3 điều 74 và điều 83 của Công ước: "trong khi chờ đợi ký các thoả thuận mới ở khoản 1 các quốc gia hữu quan trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và không để phương hại hay cản trở đến việc ký kết các thoả thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng ". "Các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn” đã được các quốc gia vận dụng linh hoạt và thể hiện qua những thoả thuận khai thác chung. Trong khi đàm phán giải quyết tranh chấp gặp bế tắc, nhu cầu khai thác tài nguyên lại rất lớn đã khiến các bên tìm đến giải pháp này. Trên thực tế các quốc gia còn tìm đến giải pháp khai thác chung ở cả những nơi đã có đường biên giới xác định, đó là những trường hợp khi có mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua đường biên giới hoặc để quản lý hiệu quả những đàn cá xuyên quốc gia. Điều này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia liên quan. Có thể nói, khai thác chung là giải pháp tương đối khả thi nhằm chung hoà lợi ích giữa các quốc gia, giảm thiểu căng thẳng chính trị, góp phần giải quyết nhu cầu kinh tế cấp bách cho sự phát triển của các quốc gia ven biển. Việt Nam là một quốc gia có bờ biển dài với diện tích vào khoảng 1 triệu km2. Việt Nam cũng là một quốc gia đã tham gia Công ước Luật Biển năm 1982 và đang phải đối đầu với hàng loạt các vấn đề trong đó có vấn đề giải quyết phân định ranh giới biển với các nước láng giềng. Trong khi chờ đợi kết 2
  6. quả cuối cùng, Việt Nam cùng với các nước liên quan cần thiết phải nghiên cứu và tìm đến giải pháp khai thác chung. Tuy nhiên, cùng là một giải pháp nhưng các mô hình lại không hoàn toàn giống nhau. Điều này phản ánh sự phong phú của các dạng khai thác chung tùy thuộc vào sự vận dụng sáng tạo, khéo léo của các bên trong việc lựa chọn giải pháp có lợi nhất cho quốc gia mình. Mặc dù, khai thác chung đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trên thế giới nhưng tại Việt Nam vấn đề này vẫn chưa được quan tâm thích đáng. Trong khi Việt Nam cũng là một quốc gia điển hình trong việc áp dụng giải pháp khai thác chung và còn có nhu cầu áp dụng khi mà bối cảnh tranh chấp Biển Đông đang hết sức phức tạp. Điều này đòi hỏi vấn đề cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, tỷ mỉ ở tất cả các khía cạnh. Nghiên cứu vấn đề khai thác chung sẽ là nguồn quan trọng đối với các quốc gia hiện đang và sẽ áp dụng mô hình này cho những vùng biển đang còn tranh chấp hoặc tại các vùng biển đã có đường biên giới xác định nhưng có nhu cầu về khai thác chung. Đối với Việt Nam vấn đề này càng có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Khai thác chung trong Luật biển quốc tế và thực tiễn trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng” để nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: Trên cơ sở xem xét vấn đề lý luận cơ bản về khai thác chung trong Luật biển quốc tế, cùng với việc phân tích các dạng khai thác chung điển hình trên thế giới, rút ra những ưu điểm và những hạn chế của các mô hình. Đồng thời nghiên cứu những nhân tố pháp lý cơ bản nhất của các thỏa thuận khai thác 3
  7. chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng, thấy được những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn từ đó đề xuất những kiến nghị để góp phần khai thác và quản lý hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên trong vùng khai thác chung, bảo vệ môi trường tự nhiên, giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia. Đưa ra và phân tích những đóng góp của các mô hình khai thác chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng đối với việc làm phong phú thêm cho lý luận và thực tiễn khai thác chung trên thế giới. Trong phạm vi đề tài, tôi chú trọng tập trung nghiên cứu các phần chính sau đây: + Tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về khai thác chung. Trong đó bao gồm các vấn đề như định nghĩa, đặc điểm, nội dung của khai thác chung, lịch sử khai thác chung, cơ sở pháp lý của khai thác chung... + Nghiên cứu và đưa ra một bức tranh tổng quan về các dạng khai thác chung điển hình trên thế giới. + Thực tiễn áp dụng mô hình khai thác chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng, qua đó đưa ra thực trạng và một số ý kiến đề xuất xung quanh việc áp dụng khai thác chung giữa Việt Nam với các nước trong khu vực, dự báo về khả năng tiến hành khai thác chung trong tương lai giữa Việt Nam với các nước liên quan. 3. Phương pháp nghiên cứu: Việc nghiên cứu cơ bản dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp... 4. Kết cấu của luận văn: 4
  8. Luận văn bao gồm các phần: Lời mở đầu, ba chương, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. - Chƣơng I: Những vấn đề lý luận cơ bản về khai thác chung trong Luật biển quốc tế. - Chƣơng II: Các dạng khai thác chung điển hình trên thế giới. - Chƣơng III: Khai thác chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng. Luận văn này được viết trong khi nguồn tài liệu trong nước chưa nhiều, một số phần được viết chủ yếu dựa vào tài liệu nước ngoài và thực tiễn hoạch định vùng khai thác chung giữa Việt Nam với một số nước trong khu vực. Thời gian viết lại có hạn khiến luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy, cô giáo và bạn bè để tôi có thể bổ sung và hoàn thiện kiến thức của mình. 5
  9. CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHAI THÁC CHUNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ 1.1. KHÁI NIỆM KHAI THÁC CHUNG 1.1.1. Định nghĩa khai thác chung Biển chiếm hơn 2/3 diện tích bề mặt trái đất, biển không những đem đến cho con người giá trị vật chất mà nó còn chứa đựng những giá trị tinh thần, biển chứa đựng tiềm năng về thuỷ sản, về giao thông vận tải, du lịch,v.v.. Trong lòng đất dưới đáy biển con người còn tìm thấy các mỏ dầu, khí, khoáng sản đem lại lợi ích kinh tế cao. Con người từ xưa đến nay luôn thể hiện khát vọng chinh phục biển và mở rộng thẩm quyền của mình ra biển, nhất là các quốc gia ven biển. Tuy nhiên thế giới rộng lớn cũng không thể trao tặng một cách công bằng tài nguyên biển cho tất cả các quốc gia, đã có một số quốc gia ở vào vị trí bất lợi về biển. Như vậy là song song tồn tại hai nhóm quốc gia, một nhóm đấu tranh ủng hộ cho nguyên tắc “Thềm lục địa kéo dài”, “Chủ quyền quốc gia trên biển” đó là các quốc gia ven biển và một nhóm quốc gia ủng hộ cho nguyên tắc “Tự do biển cả”. Thực tiễn đó dẫn đến sự cần thiết phải có những nguyên tắc, quy phạm pháp lý với vai trò như là những công cụ hữu hiệu để điều hoà lợi ích 6
  10. giữa các quốc gia trong quá trình khai thác và sử dụng biển, đại dương. Luật Biển Quốc tế đã ra đời trong bối cảnh đó. Đây là một nghành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế và được hình thành từ rất sớm Ngay từ thế kỷ XVII đã có những tác phẩm nổi tiếng về luật biển như “Biển tự do” của HuyGo GroTiuyt hay tác phẩm “Biển kín” của nhà luật học người Anh Selden, ông đã đưa ra nguyên tắc về chủ quyền của quốc gia trên biển. Đến thế kỷ XIII một số nguyên tắc về Luật biển ở vùng biển Bắc đã được hình thành, sau đó phổ biến sang khu vực Địa Trung Hải. Những Công ước đầu tiên về Luật biển cũng đã được thông qua tại Hội nghị Luật Biển lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc được tổ chức năm 1958 tại Giơnevơ - Thuỵ sỹ, đó là: + Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (Có hiệu lực từ ngày 10/9/1964). + Công ước về biển cả (Có hiệu lực từ ngày 30/9/1962). + Công ước về thềm lục địa (Có hiệu lực từ ngày 20/9/1962). + Công ước về đánh cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật ở biển (Có hiệu lực từ ngày 20/3/1966). Tuy nhiên phải đến Hội nghị Luật biển lần thứ III của Liên Hợp Quốc về Luật biển, sau 5 năm trù bị (1967 - 1972) và 9 năm thương lượng (1973 - 1982) mới thông qua được một Công ước mới về Luật Biển. Văn bản cuối cùng đã được ký vào ngày 10/12/1982 tại MONTEGO - Bay (Gia MaiCa) và có hiệu lực kể từ ngày 16/11/1994. Sự ra đời Công ước Luật biển 1982 là bước ngoặt đánh dấu sự phát triển của Luật biển Quốc tế, ngoài các khái niệm được đề cập trước đó, Công ước điều chỉnh tất cả các vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế, khoa học kỹ thuật, 7
  11. môi trường... Công ước đã quy định thống nhất quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, trong khi hội nghị lần thứ nhất năm 1958 và hội nghị lần thứ hai năm 1960 lại chưa đề cập đến. Đặc biệt một khái niệm hoàn toàn mới so với trước đó là khái niệm “Vùng đặc quyền kinh tế”: Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh.( Điều 35 khoản 2) và “Vùng đặc quyền về kinh tế không mở rộng ra quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”. (Điều 57, khoản 2). Hai tiêu chuẩn của Công ước Giơnevơ 1958 về thềm lục địa là độ sâu 200m nước và khả năng kỹ thuật khai thác cho phép đã được thay thế bằng hai tiêu chuẩn mới của Công ước 1982 đó là tiêu chuẩn khoảng cách và sự kéo dài tự nhiên. Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài của rìa thềm lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn. (Điều 76, khoản 2). Trong trường hợp bờ ngoài của rìa lục địa của một quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở, quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của mình tới khoảng cách không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý. 8
  12. Việc mở rộng thẩm quyền tài phán của các quốc gia ven biển theo quy định của Công ước Luật Biển 1982 đã dẫn đến ở những vùng biển hẹp, yêu sách của các quốc gia ven biển có bờ biển đối diện hoặc liền kề sẽ chống lấn lên nhau. Trong khi việc hoạch định ranh giới các vùng biển là cả một quá trình thoả thuận lâu dài và tốn kém, các yếu tố lãnh thổ, kinh tế, chính trị, xã hội... luôn tồn tại trong các cuộc tranh chấp trên biển và đan xen hết sức phức tạp, không thể giải quyết ngay trong một thời gian ngắn. Các nước tranh chấp lại luôn duy trì các yêu sách của mình và có phản ứng quyết liệt với các yêu sách của các nước khác. Điều này càng làm cho tranh chấp trở lên căng thẳng [19] Trong những trường hợp trên, các quốc gia có thể hoặc phải dừng tất cả mọi hoạt động thăm dò, khai thác trong vùng tranh chấp hoặc đơn phương tiến hành hoạt động của mình, tuy nhiên đây là sự lựa chọn hết sức nguy hiểm, gây căng thẳng trong quan hệ giữa các nước. Trong khi một nguyên tắc phổ biến trong luật pháp quốc tế đó là các bên tranh chấp không được đơn phương khai thác các tài nguyên trong vùng chồng lấn. Vì vậy có một sự lựa chọn tích cực khác đó là các bên tạm thời gạt vấn đề tranh chấp sang một bên và cùng nhau thăm dò khai thác tài nguyên trong vùng chồng lấn. Trên thực tế tranh chấp tài nguyên không chỉ xảy ra nơi đường biên giới chưa xác định mà còn ở cả những khu vực đường biên giới đã được xác định. Đó là những trường hợp có mỏ dầu nằm vắt ngang qua đường biên giới, do đặc tính hoá lỏng tự nhiên của tài nguyên này khiến cho việc khai thác đơn phương của một quốc gia đương nhiên sẽ làm cạn kiệt mỏ dầu khí ở cả bên kia đường biên giới mà lẽ ra quốc gia láng giềng đó được hưởng. Hay trường hợp đối với những tài nguyên sinh vật như các đàn cá di cư thì đường biên giới quốc gia trên biển cũng không còn có ý nghĩa, và như vậy lại một lần nữa 9
  13. các quốc gia tìm đến với nhau, cùng bàn bạc, thoả thuận lựa chọn giải pháp hợp nhất hoá mỏ tài nguyên để khai thác chung. Như vậy là quá trình phát triển của Luật biển quốc tế gắn liền với sự ra đời của nhiều khái niệm mới như khái niệm lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa... Nhiều tập quán về khai thác và sử dụng biển cũng dần được ghi nhận trong Luật biển. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một quy định cụ thể nào về khai thác chung. Trong thực tiễn, các dạng khai thác chung trên thế giới là vô cùng đa dạng và phong phú. Khai thác chung cũng đã được nghiên cứu bởi nhiều trung tâm nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới, như Trung tâm Đông Tây ở Honolulu - Ha Oai hay Viện Luật quốc tế và Luật so sánh của Anh.v.v. Nhiều cuộc hội thảo, hội nghị quốc tế về vấn đề này đã được tổ chức liên tiếp. Hội thảo năm 1980 về tiềm năng hydrocacbon và khai thác chung ở Biển Nam Trung Hoa; Hội thảo lần thứ hai năm 1983 ở Hololulu; Hội thảo lần thứ ba năm 1985 ở Băng Cốc - Thái Lan; Hội thảo lần thứ tư năm 1989 ở Bali (Inđônêxia); Hội thảo ở London năm 1990... Tuy nhiên một số học giả vẫn còn hoài nghi về khả năng có cần thiết phải thảo luận về khái niệm khai thác chung? Thật vậy, trong bối cảnh hiện nay vẫn còn nhiều đường biên giới biển chưa được xác định và tranh chấp trong khai thác tài nguyên vẫn thường xuyên xảy ra thì việc đưa ra một khái niệm thống nhất về khai thác chung là hết sức cần thiết. Cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất nào trong định nghĩa khai thác chung, điều này đã được Giáo sư - Tiến sỹ luật quốc tế Masahiro Miyoshi (Khoa luật trường Đại học Aichi- Nhật bản) khẳng định trong bản tóm tắt các tham luận tại ba cuộc hội thảo của Trung tâm Đông Tây: "Khái niệm Khai thác chung quốc tế ...... không được hiểu và sử dụng một cách thống nhất... " [45, Tr.43]. Theo Ông có 2 dạng khai thác chung: 10
  14. Một là: Khai thác chung khi mà việc phân định biên giới đã được giải quyết. Hai là: Chế độ khai thác chung đối với khu vực có đường biên giới đang phân định. [45, Tr.23] Mặc dù mô hình khai thác chung đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới nhưng vẫn chưa có một định nghĩa tổng quát cho vấn đề này. Sở dĩ như vậy là vì các học giả chỉ định nghĩa khai thác chung theo mục đích nghiên cứu riêng của mình và vì vậy khai thác chung được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ chính trị, tiến sỹ - Willam Onorato đã định nghĩa khai thác chung, là "Một thể chế mà theo đó toàn bộ vấn đề tranh chấp biên giới được gác sang một bên để tạo ra một bầu không khí hợp tác về chính trị ngay từ ban đầu xung quanh việc khai thác" [49, Tr.111]. Ở góc độ này khai thác chung chính là giải pháp để tháo gỡ những bất đồng, tạo dựng mối quan hệ bền vững, ổn định nhằm giảm căng thẳng về chính trị trên trường quốc tế. Còn dưới góc độ kinh tế, Giáo sư luật học Ian Towsend - Gault Đại học British Colombia cho rằng "Khai thác chung là một quyết định do một hay nhiều nước mà các nước này đóng góp bất kỳ quyền nào mà họ có đối với một vùng nhất định và thực hiện việc cùng quản lý dưới một hình thức nào đó ở mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn vì mục đích thăm dò và khai thác tài nguyên ngoài khơi” [41, Tr.275]. Sau đó Gault cùng với William G.Stormont đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về khai thác chung dầu khí. Một thoả thuận khai thác chung dầu khí ngoài khơi đặc trưng là một thỏa thuận khi hai hay nhiều quốc gia đi dến một thoả thuận chính thức về việc hợp tác khai thác và cùng nhau chia sẻ lợi nhuận có được từ các hoạt động khai thác dầu và khí trong một vùng biển ngoài khơi xác định bằng việc đóng góp các chủ quyền của mình đối với vùng biển đó. [41, Tr.51] 11
  15. Cũng từ góc độ kinh tế, giáo sư Rainer Lagoni với tư cách là báo cáo viên đặc biệt của Uỷ ban vùng đặc quyền kinh tế của Hiệp hội luật Quốc tế (ILA) trong bản báo cáo của mình tại Hội nghị Vacsava năm 1988 đã cho rằng khai thác chung là: "Sự hợp tác giữa các quốc gia nhằm thăm dò và khai thác một số mỏ, vùng hoặc các tích tụ tài nguyên không sinh vật mà có thể vượt qua hoặc nằm trong khu vực có yêu sách chồng lấn" [42, Tr.2]. Bên cạnh đó, còn có nhiều định nghĩa khác nhau về khai thác chung. Churchil từng định nghĩa: "Khai thác chung được coi như là một khu vực tại đó hai hay nhiều quốc gia có theo luật quốc tế các quyền chủ quyền về thăm dò và khai thác các tài nguyên thiên nhiên của khu vực và ở đó các quốc gia hữu quan đồng ý cam kết, thăm dò và khai thác dưới một dạng chung nào đó hoặc một sự dàn xếp chung” [44, Tr.55]. Tại cuộc hội thảo của Trung tâm Đông - Tây tháng 8/1988, một nhóm luật sư đã đưa ra lời nhận xét "Khai thác chung thường được sử dụng như một thuật ngữ chung chung, bao gồm các hoạt động từ việc hợp nhất hoá các tài nguyên có chung đến việc đơn phương khai thác tài nguyên có chung ở ngoài đường ranh giới quy định và những hình thức khai thác đa dạng nằm giữa hai loại này”. [45] Còn nhóm chuyên gia của Viện Luật Quốc tế và Luật So sánh Anh lại định nghĩa khai thác chung một cách cụ thể hơn, với nỗ lực nhằm xây dựng một thoả thuận mẫu cho các quốc gia có nhu cầu khai thác chung dầu và khí ngoài khơi. Nhóm chuyên gia này định nghĩa: "Khai thác chung như là một thoả thuận giữa hai quốc gia để khai thác tài nguyên ở một vùng đã được vạch ra ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của thềm lục địa mà ở đó cả hai quốc gia hay một trong hai quốc gia được luật quốc tế trao cho quyền để từ đó cùng nhau chia sẻ theo những phần đã được thảo luận thông qua việc hợp tác liên quốc gia và bằng các biện pháp riêng của từng quốc gia”. [44, Tr.45] 12
  16. Khai thác chung được coi là giải pháp ưu tiên trong các "dàn xếp tạm thời" và là sự lựa chọn mang tính khả thi cao được nhiều quốc gia áp dụng. Vì vậy, cần thiết phải có một định nghĩa thống nhất nhằm tạo cơ sở cho việc khai thác chung. Cụm từ "Khai thác chung" được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh "Joint development" nghĩa gốc là "Phát triển chung". Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu Việt Nam thì “khai thác chung” không có nghĩa là hẹp hơn “phát triển chung”. Khai thác chung cần phải hiểu không đơn thuần chỉ là khai thác chung một tài nguyên nào đó mà bao gồm cả các hoạt động như thăm dò, nghiên cứu khoa học, quản lý, bảo vệ môi trường, xây dựng đảo nhân tạo.v.v vì một mục đích cùng phát triển chung. Qua nghiên cứu các định nghĩa khác nhau về khai thác chung, có thể hiểu rằng: Khai thác chung là một thoả thuận về quyền và nghĩa vụ giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ các nguồn tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn hay các nguồn tài nguyên nằm vắt qua đường phân định. Đây là giải pháp tạm thời để khai thác tài nguyên, đảm bảo quan hệ láng giềng thân thiện, dựa trên nguyên tắc chủ quyền, quyền chủ quyền và các quyền tài phán trên biển của quốc gia, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại. Cho đến nay, mô hình khai thác chung đã và đang được nhiều quốc gia lựa chọn, dẫu rằng vấn đề này còn chưa được nghiên cứu đầy đủ và thấu đáo, cũng như việc áp dụng chưa phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với nhiều quốc gia. Nhưng những lợi ích to lớn trong quá trình áp dụng đã dần khẳng định những ưu điểm của giải pháp này. 1.1.2. Đặc điểm của khai thác chung Khai thác chung trước hết phải được coi là một giải pháp tạm thời nhằm giảm thiểu các xung đột giữa các bên yêu sách và để phát triển các nguồn tài 13
  17. nguyên mà thôi. Các quốc gia cần cùng nhau thỏa thuận về việc hợp tác khai thác và các quốc gia này phải có quyền nhất định đối với khu vực tranh chấp theo quy định của Luật pháp quốc tế. Hơn nữa khu vực khai thác chung phải thực sự có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và việc khai thác đơn phương của một bên sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của phía bên kia. Thỏa thuận này không làm ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền lãnh thổ cũng như quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển. Ví dụ như Thỏa thuận Hàn Quốc - Nhật Bản đã quy định: “Không có quy định nào của thỏa thuận này gây ảnh hưởng tới quyền chủ quyền đối với toàn bộ hay một phần của khu vực khai thác chung, cũng như gây phương hại tới quan điểm của các bên liên quan trong qua trình phân định thềm lục địa.” Đặc biệt khai thác chung không làm ảnh hưởng đến việc phân định vùng biển giữa các quốc gia và không nhất thiết phải là một cam kết lâu dài hay vĩnh cửu. Khai thác chung cũng không phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với các quốc gia. Trên thực tế đã có một số thỏa thuận khai thác chung trở thành những thỏa thuận vĩnh cửu, ví dụ như: Thỏa thuận giữa Iceland và Janmayen (10/1981) hay giữa Bahrain và Ảrập Xêút (02/1958). Thỏa thuận khai thác chung không nhất thiết phải bao gồm các hoạt động diễn ra trong khu vực chồng lấn. Ví dụ, thỏa thuận giữa Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ nhằm phát triển về tài nguyên thiên nhiên; Thỏa thuận giữa Việt Nam và Malayxia chỉ để khai thác chung dầu khí. Tuy nhiên cũng có những thỏa thuận đề cập đến khá nhiều vấn đề như Thỏa thuận giữa Ghinê Bitxao và Xênêgan, các vấn đề khai thác chung dầu khí, khai thác chung nghề cá và các hoạt động khác diễn ra trong khu vực chồng lấn đều được đề cập đến. Vấn đề về đường biên giới hầu như không được đề cập đến trong thỏa thuận khai thác chung. Điều này sẽ giúp các bên tránh được những khó khăn 14
  18. trong quá trình xây dựng vùng khai thác chung. Ví dụ trong thỏa thuận giữa Ả rập Xêút và Suđăng, thay vì vạch đường biên giới người ta quyết định chọn toàn bộ khu vực thềm lục địa sâu dưới 1000 m để khai thác chung. Khai thác chung không những được áp dụng tại khu vực chồng lấn mà đường biên giới chưa được phân định, giải pháp này còn được áp dụng trong trường hợp có mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua đường biên giới để tối ưu hóa phát triển mỏ hoặc để quản lý và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên sinh vật phong phú tại khu vực này. Tùy thuộc vào nội dung khai thác chung mà các bên định ra một quy chế quản lý riêng cho khu vực khai thác chung. Thông thường các bên phân khu vực quản lý hoặc áp dụng một chế độ quản lý chung, các bên cùng khai thác và chia đều nguồn lợi. Nhìn chung quy chế này là hết sức mềm dẻo. Như vậy, có thể thấy khai thác chung là giải pháp tạm thời giúp phát triển tài nguyên mà không cần chờ có kết quả phân định cuối cùng, là giải pháp làm chung hòa lợi ích giữa các bên, bảo đảm khai thác hợp lý và hiệu quả tài nguyên tại khu vực. Khai thác chung cũng tạo ra nhiều cơ hội để thu hút đầu tư nước ngoài, góp phần xây dựng lòng tin giữa các bên và tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên các nước cũng cần phải cân nhắc trước khi lựa chọn giải pháp này, bởi vì trong thực tế các bên phải tốn rất nhiều thời gian để bàn về các vấn đề liên quan đến khai thác chung, chi phí quản lý lại cao, đặc biệt quan hệ chính trị và ngoại giao ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng cũng như thực hiện thỏa thuận. 1.1.3. Nội dung chủ yếu của thỏa thuận khai thác chung Các hình thức khai thác chung trên thế giới là rất đa dạng và phong phú. Điều này phụ thuộc nhiều vào sự lựa chọn của các quốc gia, xuất phát từ tình hình thực tế và đặc điểm riêng của từng khu vực cũng như mục đích mà các 15
  19. bên hướng tới. Và như vậy nội dung của các thỏa thuận khai thác chung cũng rất khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các thỏa thuận đó đều có những nội dung cơ bản sau đây: a. Xác định phạm vi thích hợp áp dụng chế độ cùng nhau khai thác: Đây là điều kiện tiên quyết, cơ bản. Việc xác định này phải đưa ra được một khu vực khai thác chung có diện tích, tọa độ địa lý rõ ràng. Thông thường nó được giới hạn trong phạm vi khu vực có tranh chấp về chủ quyền như thỏa thuận Nhật Bản - Hàn Quốc; Malayxia - Tháilan; Ôxtrâylia và Inđônêxia... Thỏa thuận Nhật Bản - Hàn Quốc quy định: Vùng khai thác chung có tổng diện tích là 24.092 hải lý vuông được chia thành 9 tiểu vùng; Thỏa thuận Malayxia - Thái Lan quy định phạm vi khu vực khai thác chung rộng 7.300 hải lý vuông được giới hạn bởi 7 điểm được đánh số từ A đến G... Tuy vậy, có những trường hợp như hợp nhất hóa mỏ dầu khí, khai thác chung tài nguyên tại nơi đường biên giới đã được xác định thì các bên có thể căn cứ vào vị trí mỏ dầu hoặc tài nguyên khác để xác định phạm vi khai thác chung, ví dụ như trường hợp hợp nhất hóa mỏ khí Frigg Anh - Nauy. Ngoài ra cũng có những thỏa thuận mà phạm vi khai thác chung còn vượt quá cả khu vực đang có tranh chấp như trường hợp khai thác chung giữa Côoét và Ảrập Sauđi: khai thác chung không những áp dụng cho “khu vực trung lập” có trước mà còn được áp dụng cho cả thềm lục địa tại vùng biển bên ngoài khu vực đó. Hoặc khu vực hợp tác giữa Băng đảo và Nauy, hai bên thống nhất lấy lớp đá nham thạch trầm tích có khả năng chứa chất dầu mỏ làm phạm vi khai thác chung. [5] b. Phân chia phạm vi quản lý: Bên cạnh việc xác định phạm vi khai thác chung, các nước còn thỏa thuận về sự phân chia phạm vi quản lý. Đối với những khu vực có sự tranh 16
  20. chấp về chủ quyền thì ngoài việc quy định rõ là không để ảnh hưởng tới yêu sách chủ quyền của bất kỳ nước hữu quan nào còn phải xác định quyền quản lý của các nước ở mỗi khu vực riêng biệt. Ví dụ: Hiệp định hợp tác Nhật Bản - Hàn Quốc lấy mỗi “thứ khu” làm một đơn nguyên, ở mỗi “thứ khu” công ty được chọn làm “Xí nghiệp khai thác” nếu thuộc người được nhượng quyền của nước ký kết bên A thì pháp luật quy định điều lệ của nước A được áp dụng ở thứ khu ấy. Còn trong trường hợp khai thác chung tại nơi đường biên giới đã được xác định thì các nước thường lấy đường biên giới đó để phân chia quyền quản lý của mỗi bên. Hiệp ước giữa Aixơlen và Nauy quy định mỗi bên áp dụng quyền lập pháp, chính sách dầu mỏ, quy tắc về điều lệ thăm dò khai thác mỏ, biện pháp đảm bảo an toàn, bảo vệ môi trường ở bên đường phân giới phía mình và đảm nhận trách nhiệm chấp hành. Hiệp ước giữa Kuoét và Ảrập Sauđi quy định ngoài việc không xâm phạm đến quyền lợi của hai bên đối với tài nguyên thiên nhiên trong khu vực ra, mỗi bên hành xử quyền hành chính, lập pháp và phòng vệ về phía mình. Việc phân định rõ ràng phạm vi quản lý sẽ giúp các bên tránh được tình trạng chồng chéo về thẩm quyền, đồng thời góp phần đảm bảo việc quản lý và khai thác hiệu quả lợi ích kinh tế tại khu vực, giữ ổn định và hạn chế xung đột trong quan hệ giữa hai nước. c. Thiết lập cơ quan quản lý chung: Phần lớn các nước hữu quan khi đàm phán về nội dung Hiệp định khai thác chung đều thống nhất thiết lập ra một cơ quan quản lý chung. Cơ quan này sẽ gồm một số lượng đại diện bằng nhau từ mỗi nước, nhân danh hai Chính Phủ và chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động thăm dò và khai thác trong vùng. 17
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2