intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam

Chia sẻ: Cẩn Ngữ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:106

31
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật Việt Nam về hợp đồng tín dụng ngân hàng. Trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng các quy định đó trong thực tiễn, chỉ ra những bất cập còn tồn tại, so sánh kinh nghiệm pháp luật tơng ứng của một số nớc trên thế giới, những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay, qua đó tác giả đề ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ HỒNG THUÝ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội – 2008 1
  2. Chƣơng 1: Khái quát chung về hợp đồng tín dụng ngân hàng 1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng ngân hàng 1.2. Phân loại hợp đồng tín dụng ngân hàng 1.3. Bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng 1.4. Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng tín dụng ngân hàng Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam. 2.1. Nội dung cơ bản của hợp đồng tín dụng ngân hàng 2.2. Hình thức của hợp đồng tín dụng ngân hàng 2.3. Chủ thể của hợp đồng tín dụng ngân hàng 2.4. Quyền và nghiã vụ của các bên chủ thể 2.5. Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản 2.6. Sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng ngân hàng 2.7. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam. 3.1. Cơ sở hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng 3.2. Những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng ở Việt Nam. 2
  3. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Trong những năm qua, Việt Nam đã và đang có những bớc đi hết sức quan trọng trên con đờng hội nhập kinh tế quốc tế. Việc gia nhập Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) mở ra nhiều cơ hội mới cho Việt Nam nhng đồng thời cũng đặt ra những thách thức vô cùng to lớn. Ngân hàng là một trong những lĩnh vực nhạy cảm chịu nhiều ảnh hưởng nhất. Trong các hoạt động ngân hàng thì cho vay là hoạt động truyền thống mang lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng nhưng cũng là hoạt động tiềm ẩn những rủi ro vô cùng lớn, thậm chí có thể gây sụp đổ hệ thống ngân hàng, tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế đất nớc. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế đang diễn ra sâu rộng ở Việt Nam thì nguy cơ rủi ro tín dụng càng cao. Hơn nữa, cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ, một số nớc Châu Âu, Nhật Bản… hiện nay là một bài học đắt giá cho Việt Nam trong việc nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng, kiểm soát rủi ro. Điều đó đã và đang đặt ra cho chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hơn nữa pháp luật về ngân hàng nói chung và đặc biệt là pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng nói riêng. Có thể nói, trong những năm qua, pháp luật về ngân hàng nói chung và pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng nói riêng đã được Nhà nước ta quan tâm và không ngừng hoàn thiện như: Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS 2005), Luật ngân hàng Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành…Những văn bản pháp luật trên đã tạo ra một khung pháp lý quan trọng, tạo đà cho hoạt động cho vay của các ngân hàng phát triển, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì pháp luật về ngân hàng nói chung và pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng nói riêng vẫn còn nhiều bất cập. Hơn nữa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng đặt ra yêu cầu phải có sự hài hoà giữa quy phạm pháp luật quốc gia với các quy phạm pháp luật quốc tế, giữa quy 3
  4. định của pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng với các cam kết WTO về ngân hàng. Vì các lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam” với mong muốn nghiên cứu những quy định cơ bản của pháp luật Việt Nam về hợp đồng tín dụng ngân hàng, đánh giá thực trạng áp dụng, từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu và ý nghĩa lý luận của đề tài. Hiện nay, ở Việt Nam liên quan đến lĩnh vực tín dụng ngân hàng nói chung và hợp đồng tín dụng ngân hàng nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau như: Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thị Minh Chi: Pháp luật về bảo lãnh thực hiện hợp đồng tín dụng – thực trạng và phơng hớng hoàn thiện năm 2004; Luận văn thạc sỹ luật học: của tác giả Trần Thu Thuỷ: Chế định bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng – Thực trạng và giải pháp năm 2003; Hoàn thiện Luật ngân hàng- những đòi hỏi từ hội nhập kinh tế quốc tế – Trờng Đại học ngân hàng. Ngoài ra còn một số bài viết của các tác giả đăng trên tạp chí ngân hàng như: Đoàn Thái Sơn (2007), “Bất cập của pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng”, Tạp chí ngân hàng số 10/2007, Phan Thị Thu Hà (2006), “Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam – cách tiếp cận từ tính chất sở hữu” Tạp chí ngân hàng số 24/2006... Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng và các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu đề tài pháp luật về hợp đồng tín dụng vẫn còn là cấp thiết, bởi lẽ các quy định pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập cha phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Vì vậy, tác giả đề tài mong muốn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng tín dụng ngân hàng, chỉ ra những bất cập của việc thực hiện các quy 4
  5. định đó trong thực tiễn, từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam hiện nay. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật Việt Nam về hợp đồng tín dụng ngân hàng. Trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng các quy định đó trong thực tiễn, chỉ ra những bất cập còn tồn tại, so sánh kinh nghiệm pháp luật tơng ứng của một số nớc trên thế giới, những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay, qua đó tác giả đề ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam. 4. Phạm vi nghiên cứu: Pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam là một đề tài rộng. Trong nội dung nghiên cứu của luận văn, tác giả không có tham vọng nghiên cứu tất cả các vấn đề liên quan đến hợp đồng tín dụng ngân hàng mà chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam, chỉ ra những điểm hợp lý và bất cập trong việc thực hiện các quy định về vấn đề này trong thực tiễn. Đề tài không đi sâu nghiên cứu về các biện pháp bảo đảm tiền vay mà tập trung nghiên cứu sâu hơn vào các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng hiện nay, chỉ ra những nguyên nhân của các tranh chấp đó. Trên cơ sở đó, tác giả đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn các quy định của hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. 5. Phơng pháp nghiên cứu Đề tài dựa trên cơ sở phơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lê – nin và tư tởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nư- ớc pháp quyền Việt Nam XHCN. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng tín dụng ngân hàng. Trên cơ sở so sánh với pháp luật của một số nớc trên thế giới về vấn đề này, xem xét sự phù hợp với điều kiện Việt Nam 5
  6. nhằm hướng tới hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam. 6. Kết cấu của đề tài: Đề tài gồm: Phần mở đầu, 3 chương, kết luận, tài liệu tham khảo. Chƣơng 1: Khái quát chung về hợp đồng tín dụng ngân hàng 1.4. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng ngân hàng 1.5. Phân loại hợp đồng tín dụng ngân hàng 1.6. Bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng 1.4. Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng tín dụng ngân hàng Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam. 2.1. Nội dung cơ bản của hợp đồng tín dụng ngân hàng 2.2. Hình thức của hợp đồng tín dụng ngân hàng 2.3. Chủ thể của hợp đồng tín dụng ngân hàng 2.4. Quyền và nghiã vụ của các bên chủ thể 2.5. Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản 2.6. Sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng ngân hàng 2.7. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam. 3.1. Cơ sở hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng 3.2. Những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng ở Việt Nam. 6
  7. CHƢƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng ngân hàng 1.1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng ngân hàng. Trong xã hội loài người từ khi xuất hiện nền sản xuất hàng hoá thì nhu cầu về vốn của các chủ thể là nhu cầu mang tính khách quan. Tuy nhiên, xét tại cùng một thời điểm thì có những ngời thừa vốn tạm thời lại có những ngời thiếu vốn tạm thời. Nếu không có sự luân chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn thì nền sản xuất sẽ bị ngng trệ. Để giải quyết mâu thuẫn nội tại giữa ngời thừa vốn và ngời thiếu vốn tạm thời tín dụng đã ra đời. Thực chất tín dụng là sự vay mợn vốn lẫn nhau giữa các chủ thể dựa trên cơ sở tín nhiệm. Hình thức tín dụng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử là tín dụng nặng lãi. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá tiền tệ, tín dụng cũng không ngừng phát triển. Dần dần trong xã hội xuất hiện một tổ chức trung gian có nhiệm vụ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng vốn đó cho các chủ thể khác vay. Đó chính là các tổ chức tín dụng. Ngay từ khi ra đời, tín dụng ngân hàng đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền sản xuất hàng hoá. Nó trở thành động lực to lớn thúc đẩy nền sản xuất hàng hoá phát triển. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất, hoạt động tín dụng ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng hơn với vai trò là công cụ để điều hoà vốn đáp ứng phần lớn nhu cầu sử dụng vốn vào mục đích sản xuất kinh doanh cũng nh tiêu dùng trong xã hội. Trong tình hình nớc ta hiện nay, với đờng lối phát triển nền kinh 7
  8. tế thị trờng theo định hớng XHCN dới sự quản lý của Nhà nớc, tín dụng ngân hàng đợc sử dụng nh một đòn bẩy, một động lực to lớn trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân. Có thể nói, quan hệ tín dụng ngân hàng thực chất là quan hệ vay mợn vốn phát sinh giữa các tổ chức tín dụng với các tổ chức, cá nhân. Hình thức pháp lý của quan hệ này chính là hợp đồng tín dụng ngân hàng. Mặc dù giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng diễn ra ngày một nhiều và gây thiệt hại không nhỏ cho các chủ thể, song, cho đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào của nước ta đa ra một khái niệm chính thức về hợp đồng tín dụng ngân hàng mà chỉ liệt kê những nội dung chủ yếu của hợp đồng tín dụng ngân hàng như: “Việc cho vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận” (Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng). Về vấn đề này, Luật ngân hàng Ba Lan năm 1989 có định nghĩa về hợp đồng tín dụng ngân hàng như sau: “Một hiệp định tín dụng giàng buộc ngân hàng giành một khoản tiền sẵn có xác định cho người vay trong thời hạn đã được thoả thuận theo hiệp định, và người cho vay cam kết sử dụng khoản tín dụng đó, hoàn trả số lượng tín dụng đã được sử dụng cùng với số lãi cộng dồn trong phạm vi ngày hoàn trả đã thoả thuận và hoàn trả một số phí hoa hồng cho việc phát hành đó”(Điều 27). Ở Việt Nam, khái niệm hợp đồng tín dụng ngân hàng mới chỉ dừng lại ở trong các cuốn sách giáo trình của các cơ sở nghiên cứu luật. Theo đó, có nhiều quan điểm khác nhau về hợp đồng tín dụng ngân hàng như: “Hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do Luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng 8
  9. trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, dựa trên sự tín nhiệm”.[46,133] Hoặc: “Hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (gọi là bên cho vay) và khách hàng vay vốn (gọi là bên đi vay), theo đó bên cho vay cấp cho bên đi vay một khoản tiền nhất định để sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và khi hết hạn đó, bên đi vay phải hoàn trả lại cả gốc và lãi” [45 ]. Tuy cách diễn đạt có sự khác nhau nhng cả hai cách định nghĩa trên về cơ bản đều thống nhất về nội dung. Ở đây, chúng ta cần hiểu trớc hết hợp đồng tín dụng là một loại hợp đồng, vì vậy, phải có sự thoả thuận, thống nhất ý chí giữa các bên chủ thể trong hợp đồng. Hơn nữa, đây là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng; mà theo Quy chế cho vay kèm theo Quyết định 1627 của Thống đốc ngân hàng Nhà nớc Việt Nam ngày 31/12/2001 (gọi tắt là Quy chế cho vay) thì: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó, tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi.” Khác với quan hệ cho vay thông thờng, quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng tiềm ẩn độ rủi ro cao nên hợp đồng tín dụng ngân hàng phải có những điều kiện chặt chẽ về chủ thể, hình thức hợp đồng, thời hạn, mục đích sử dụng tiền vay và luôn có lãi suất. Từ các phân tích trên, theo tác giả, hợp đồng tín dụng ngân hàng có thể định nghĩa nh sau: Hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa một bên là tổ chức tín dụng (bên cho vay) với bên kia là tổ chức, cá nhân thoả mãn điều kiện luật định (bên đi vay), theo đó bên cho vay cấp cho bên đi vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và trong thời hạn đã thoả thuận, hết thời hạn đó bên đi vay phải hoàn trả cả gốc và lãi. 9
  10. Để tìm hiểu rõ hơn về hợp đồng tín dụng ngân hàng, chúng ta tìm hiểu thông qua các đặc điểm của hợp đồng này. 1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng ngân hàng: So với các hợp đồng khác, hợp đồng tín dụng ngân hàng có một số đặc thù riêng. Đó là: - Về chủ thể: Khác với các hợp đồng thông thờng chủ thể là các tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật và năng lực hành vi, trong hợp đồng tín dụng ngân hàng thì một bên chủ thể bắt buộc phải là tổ chức tín dụng đợc thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật với t cách là bên cho vay; còn bên vay là các tổ chức, cá nhân thoả mãn các điều kiện vay vốn. Ngoài ra, một số tổ chức khác cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng tín dụng ngân hàng với t cách là bên cho vay nếu đợc Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam cấp giấy phép hoạt động ngân hàng. Sự quy định chặt chẽ về điều kiện chủ thể của hợp đồng tín dụng ngân nhằm đảm bảo sự an toàn về tài sản cho các chủ thể trong quan hệ hợp đồng cũng nh lợi ích chung cho toàn xã hội. - Về đối tượng của hợp đồng tín dụng ngân hàng: luôn luôn là tiền (tiền mặt hoặc bút tệ). Đây chính là điểm khác biệt của hợp đồng tín dụng so với các hợp đồng khác. Ở các hợp đồng khác, đối tợng hợp đồng rất đa dạng có thể là hàng hoá, dịch vụ nói chung còn đối tợng của hợp đồng tín dụng ngân hàng luôn luôn là tiền. Các bên thoả thuận chuyển giao cho nhau một số tiền dùng trong một khoảng thời gian nhất định. - Hợp đồng tín dụng có độ rủi ro cao: Điều này xuất phát từ đặc thù của hợp đồng tín dụng. Theo đó bên cho vay chỉ có thể nhận lại đợc số tiền đã cho vay cùng lãi suất sau một khoảng thời gian nhất định. Thời gian càng dài thì rủi ro càng lớn. Tính rủi ro của hợp đồng tín dụng còn được thể hiện ở chỗ rủi ro của hợp đồng tín dụng có tính dây chuyền. Việc không thu hồi vốn vay của tổ chức tín dụng không chỉ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của tổ chức tín dụng mà còn ảnh hưởng đến lợi ích người gửi tiền. Bởi lẽ, khác với các hợp đồng cho vay thông thờng, bên cho vay dùng tiền thuộc sở hữu của mình để cho vay thì trong hợp đồng tín dụng các tổ chức tín dụng chủ yếu dùng tiền từ nguồn vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân. Do đó, nếu khoản 10
  11. cho vay không thu hồi đợc vốn, tổ chức tín dụng sẽ có nguy cơ mất khả năng chi trả cho ngời gửi tiền, đe dọa đến sự sống còn của tổ chức tín dụng, tác động dây chuyền đến toàn bộ nền kinh tế. - Hình thức của hợp đồng tín dụng luôn bằng văn bản. Xuất phát từ tính rủi ro cao của hợp đồng tín dụng và tầm quan trọng của hợp đồng tín dụng, Luật ngân hàng của hầu hết các nớc trên thế giới đều quy định hợp đồng tín dụng phải đợc ký kết bằng văn bản, như Điều 37 Luật ngân hàng thương mại Trung Quốc, Điều 27.1 Luật ngân hàng Ba Lan. Ở Việt Nam, quy định này đợc ghi nhận trong Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng và theo Điều 18 của Quy chế cho vay. Đây là một quy định bắt buộc nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, rõ ràng trong thoả thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ, hạn chế các rủi ro có thể xảy ra, là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp nếu có. - Thời hạn của hợp đồng tín dụng luôn đợc xác định trớc và ghi trong hợp đồng tín dụng. Tuỳ theo mục đích sử dụng vốn vay mà thời hạn hợp đồng có thể ngắn hạn (dới một năm), trung hạn (từ 1 đến 5 năm) hoặc dài hạn (trên 5 năm). Đây chính là khoảng thời gian mà bên vay có thể sử dụng nguồn vốn vay từ tổ chức tín dụng. Hết khoảng thời gian này, bên đi vay phải trả khoản tiền cả gốc và lãi cho tổ chức tín dụng. Có thể nói rằng mục đích của quy định này nhằm xác định rõ ràng trách nhiệm của ngời đi vay và bảo tồn vốn cho tổ chức tín dụng. - Hợp đồng tín dụng luôn nhằm mục đích lợi nhuận (hợp đồng có lãi suất). Trong giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng, tổ chức tín dụng thu lợi nhuận không chỉ nhằm mục đích bù đắp chi phí kinh doanh như: trả lãi tiền gửi, trả lơng nhân viên…mà còn nhằm bù đắp những rủi ro có thể xảy ra cho tổ chức tín dụng và cũng có thể là rủi ro của người gửi tiền. Vì vậy, việc thu hồi lợi nhuận không chỉ xuất phát từ lợi ích của tổ chức tín dụng mà còn xuất phát từ lợi ích của ngời gửi tiền và lợi ích của toàn xã hội. - Cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: Đối với các hợp đồng khác, quyền và nghĩa vụ của các bên thờng xuất hiện đồng thời nh: hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng lao động…còn với hợp đồng tín dụng ngân hàng nghĩa vụ chuyển giao tiền (giải ngân) 11
  12. của tổ chức tín dụng bao giờ cũng phải thực hiện trớc tạo cơ sở pháp lý tiền đề cho bên vay thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tổ chức tín dụng chỉ có quyền yêu cầu bên vay thực hiện các nghĩa vụ nh cam kết trong hợp đồng tín dụng (nh: sử dụng tiền vay đúng mục đích, trả nợ đúng hạn…) khi tổ chức tín dụng chứng minh được rằng họ đã chuyển tiền cho bên vay theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng. Như vậy, hợp đồng tín dụng là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay. Xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của nó đối với nền kinh tế nên hợp đồng tín dụng ngân hàng có những nét đặc thù riêng. Vì vậy, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng các bên phải thoả mãn tất cả các điều kiện đặt ra với hợp đồng tín dụng ngân hàng nhằm đảm bảo tính hiệu lực của hợp đồng cũng nh hạn chế các rủi ro có thể xảy ra cho các bên trong quan hệ hợp đồng. 1.2. Phân loại hợp đồng tín dụng ngân hàng Với tính cách là hình thức pháp lý của quan hệ tín dụng, tương ứng với mỗi loại tín dụng là một hình thức của hợp đồng tín dụng. Đối với hợp đồng tín dụng ngân hàng, tuỳ theo từng tiêu chí mà hợp đồng tín dụng ngân hàng được chia thành nhiều loại khác nhau. * Căn cứ vào thời hạn vay vốn: hợp đồng tín dụng ngân hàng đợc phân thành: hợp đồng tín dụng ngắn hạn, hợp đồng tín dụng trung hạn, hợp đồng tín dụng dài hạn. - Hợp đồng tín dụng ngắn hạn : Là loại hợp đồng được ký kết giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà có thời hạn vay vốn dới một năm. Thông thường hợp đồng tín dụng ngắn hạn được ký kết nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động hoặc thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng trong thời hạn ngắn. - Hợp đồng tín dụng trung hạn : Là loại hợp đồng được ký kết giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà có thời hạn vay vốn từ mời hai tháng đến sáu mơi tháng (Khoản 2 Điều 8 Quy chế cho vay) - Hợp đồng tín dụng dài hạn : Là loại hợp đồng được ký kết giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà có thời hạn vay vốn trên sáu mơi tháng nhng thời hạn này không được quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối 12
  13. với pháp nhân Việt Nam và nớc ngoài. Đối với cá nhân nớc ngoài thì thời hạn cho vay không vợt quá thời hạn đợc phép sinh sống, hoạt động tại Việt Nam (Điều 10 Quy chế cho vay). Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn được ký kết nhằm mục đích thực hiện các dự án đầu t phát triển sản xuất kinh doanh hoặc để thực hiện các dự án phục vụ đời sống. Do đó, tổ chức tín dụng chỉ cho vay trung và dài hạn trong trường hợp bên đi vay vốn để mở rộng kinh doanh hoặc để thực hiện các dự án đầu t, không cho vay trung và dài hạn để bổ sung thiếu hụt tạm thời nguồn vốn lưu động. Việc phân loại hợp đồng tín dụng theo thời hạn vay vốn nh trên nhằm đảm bảo vốn vay đợc sử dụng một cách hiệu quả, hợp lý, để định mức lãi suất cho phù hợp, đồng thời, cũng là một biện pháp bảo toàn các nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng. * Căn cứ vào mục đích vay vốn: hợp đồng tín dụng ngân hàng được phân thành: - Hợp đồng tín dụng có mục đích sản xuất kinh doanh, dịch vụ: Đây là loại hợp đồng phổ biến, theo đó bên đi vay vốn nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Thông thờng những hợp đồng loại này có giá trị lớn. - Hợp đồng có mục đích tiêu dùng, học tập: là loại hợp đồng tín dụng trong đó vốn đợc vay nhằm giải quyết các nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng hoặc mục đích học tập. Thông thờng những hợp đồng loại này có giá trị nhỏ. * Căn cứ vào mức độ đảm bảo khoản vay thì hợp đồng tín dụng được phân thành: - Hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: Đây là loại hợp đồng mà trong đó các khoản vay được đảm bảo bằng tài sản của của bên đi vay hoặc tài sản của bên thứ ba trả nợ thay.Trên thực tế thì phần lớn các hợp đồng tồn tại dới dạng này bởi lẽ bảo toàn vốn vay là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của tổ chức tín dụng. Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng hiện nay thì các biện pháp đảm bảo tiền vay bằng tài sản là một biện pháp bảo toàn vốn hữu hiệu. - Hợp đồng tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là loại hợp đồng tín dụng mà trong đó các khoản vay của khách hàng không được đảm bảo trả nợ bằng bất kỳ một tài 13
  14. sản nào hoặc bất kỳ một sự bảo đảm trả nợ nào của bên thứ ba.Trong trờng hợp này, để đảm bảo trả nợ của khách hàng, tổ chức tín dụng cần rất thận trọng trong việc xem xét, đánh giá tính khả thi của dự án cũng nh khả năng tài chính của khách hàng để quyết định cho vay hay không. Do trớc đây, Luật các tổ chức tín dụng 1997 không cho phép khách hàng vay mà không có tài sản bảo đảm nên không thể có hợp đồng tín dụng ngân hàng dạng này. Nay Luật các tổ chức tín dụng đợc sửa đổi, bổ sung năm 2004, Quy chế cho vay đã cho phép các tổ chức tín dụng có thể căn cứ vào tính khả thi của dự án, khả năng trả nợ của khách hàng, cho phép khách hàng vay vốn không cần có bảo đảm bằng tài sản. Mặc dù đã có cơ sở pháp lý rõ ràng nhưng hợp đồng dạng này xuất hiện không nhiều, chủ yếu là những hợp đồng tín dụng được đảm bảo bằng tín chấp của các tổ chức chính trị xã hội nhằm mục đích xoá đói giảm nghèo hoặc theo chỉ đạo của Chính phủ nh: hợp đồng tín dụng cho học sinh, sinh viên vay vốn phục vụ nhu cầu học tập. Trên đây là một số tiêu chí phân loại hợp đồng tín dụng ngân hàng. Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trờng, với xu thế hội nhập quốc tế thì hợp đồng tín dụng ngân hàng có thể sẽ còn được chia làm nhiều loại khác nhau. Thực tế hiện nay cho thấy, nhiều hợp đồng tín dụng ngân hàng mục đích không phải là kinh doanh, dịch vụ cũng không phải là mục đích tiêu dùng, học tập nh: các trờng học vay tiền ngân hàng để xây dựng ký túc xá; các bệnh viện vay tiền để mua thêm trang thiết bị... Do vậy, sự phân loại hợp đồng tín dụng ngân hàng nh trên chỉ mang tính tơng đối. 1.3. Bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng Như phân tích ở trên ta thấy, hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thoả thuận giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay vốn, trên cơ sở đó phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể. So với những loại hợp đồng khác thì hợp đồng tín dụng có những nét đặc thù riêng. Ngoài ra, việc nghiên cứu bản chất của hợp đồng tín dụng có nghĩa lớn về mặt lý luận cũng nh trong thực tiễn. Về bản chất hợp đồng tín dụng có một số vấn đề cần đợc làm rõ: - Hợp đồng tín dụng có phải là một hợp đồng vay tài sản hay không? 14
  15. - Hợp đồng tín dụng là hợp đồng ng thuận hay hợp đồng thực tế? - Hợp đồng tín dụng là hợp đồng song vụ hay hợp đồng đơn vụ? Về vấn đề thứ nhất, theo tôi, hợp đồng tín dụng là dạng của hợp đồng vay tài sản. Theo Điều 471BLDS 2005 thì: “ Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn phải trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lợng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Ở đây hợp đồng tín dụng cũng là sự thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay vốn trong đó bên tổ chức tín dụng với vai trò là bên cho vay giao một khoản tiền cho bên vay sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Hết thời hạn đó bên vay có trách nhiệm hoàn trả cho tổ chức tín dụng (bên cho vay) số tiền gồm cả gốc và lãi. Điểm khác biệt của hợp đồng tín dụng so với hợp đồng vay thông thờng ở chỗ đối tượng của hợp đồng vay thông thường có thể là vật, tiền còn đối tượng của hợp đồng tín dụng chỉ có thể là tiền; và trong mọi trờng hợp hợp đồng tín dụng là hợp đồng cho vay có lãi. Ngoài ra, do tính chất đặc thù của hợp đồng tín dụng có độ rủi ro cao và ảnh hởng nghiêm trọng của nó đối với nền kinh tế mà luật pháp quy định việc ký kết hợp đồng phải tuân thủ theo những quy định chặt chẽ về điều kiện chủ thể, thủ tục ký kết cũng nh quyền và nghĩa vụ của các bên nh: nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích của bên vay vốn cũng nh quyền đợc giám sát sử dụng tiền vay của tổ chức tín dụng…Điều này chỉ có ở hợp đồng tín dụng ngân hàng. Thứ hai, hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng ng thuận hay hợp đồng thực tế? Điều này nó có ý nghĩa lớn về mặt lý luận và về mặt thực tiễn. Nó liên quan đến việc xác định hiệu lực của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên. Do đó để làm rõ bản chất của hợp đồng cần phải làm rõ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Về vấn đề này, pháp luật của mỗi nớc lại có những quan điểm khác nhau. Theo pháp luật của Pháp, hợp đồng tín dụng có hiệu lực kể từ thời điểm tổ chức tín dụng chuyển giao tiền cho bên vay vốn. Theo đó, hợp đồng tín dụng đợc coi là hợp đồng thực tế. Trong trờng hợp này, việc chuyển giao tiền vay của tổ chức tín dụng sang tiền vay không phải là nghĩa vụ trong hợp đồng. Do đó, kể cả các bên đã tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng nhng nếu nh tổ 15
  16. chức tín dụng không chuyển giao tiền cho khách hàng thì bên khách hàng cũng không có quyền kiện đòi yêu cầu tổ chức tín dụng chuyển giao tiền cho mình vì khi đó hợp đồng cha có hiệu lực, các bên cha giàng buộc về quyền và nghĩa vụ. Còn theo pháp luật Việt Nam, hợp đồng tín dụng có hiệu lực kể từ thời điểm các bên thoả thuận xong các điều khoản của hợp đồng, bên sau cùng ký tên và đóng dấu vào hợp đồng.Với quan điểm này thì hợp đồng tín dụng đợc xem là hợp đồng ng thuận. Do đó, việc chuyển giao tiền (giải ngân) của tổ chức tín dụng cho khách hàng là một nghĩa vụ trong hợp đồng. Tổ chức tín dụng chỉ có quyền yêu cầu bên khách hàng vay vốn thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng (sử dụng tiền vay đúng mục đích, hoàn trả tiền đúng thời hạn) sau khi đã chuyển giao tiền cho khách hàng Và cùng với việc khẳng định hợp đồng tín dụng là hợp đồng ng thuận ta cũng khẳng định rằng hợp đồng tín dụng là hợp đồng song vụ. Nghĩa là, trong hợp đồng tín dụng cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối ứng. Cụ thể: bên tổ chức tín dụng có nghĩa vụ giải ngân theo đúng thoả thuận, đợc quyền giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng, quyền yêu cầu khách hàng trả tiền đúng thời hạn…Bên khách hàng có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng giải ngân nh đã cam kết, có nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả tiền cả gốc và lãi đúng thời hạn…Quan điểm này hoàn toàn đối lập với quan điểm cho rằng hợp đồng tín dụng là hợp đồng đơn vụ, tức là trong hợp đồng bên tổ chức tín dụng chỉ có quyền và bên khách hàng vay vốn chỉ có nghĩa vụ. Ngoài ra, trớc khi nớc ta ban hành BLDS 2005, thì việc xác định bản chất hợp đồng tín dụng các luật gia còn tranh luận vấn đề hợp đồng tín dụng là hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế. Sở dĩ có sự tranh luận này vì thời điểm này tồn tại hai văn bản pháp luật song song là Bộ luật dân sự năm 1995 (BLDS 1995) và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Bộ luật dân sự với t cách là Luật chung nhng phạm vi điều chỉnh hẹp, không chỉ ra mối quan hệ giữa luật chung và luật riêng. Do đó, thời điểm này tồn tại hai khái niệm là hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế có sự phân biệt rạch ròi. Theo đó, những hợp đồng tín dụng ngân hàng nào mà đợc ký kết bởi tổ chức tín dụng và khách hàng là pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh và mục đích lợi 16
  17. nhuận là hợp đồng kinh tế. Nếu có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này thì đó là tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền của toà kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế. Ngoài ra, những hợp đồng tín dụng còn lại là hợp đồng dân sự. Nếu có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này thì đó là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của toà dân sự theo thủ tục dân sự. Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trờng XHCN, với việc cho phép công dân có quyền tự do kinh doanh, mở rộng quyền tự định đoạt của các chủ thể thì hợp đồng tín dụng càng trở nên đa dạng: đa dạng về chủ thể (không chỉ có cá nhân, pháp nhân mà còn có thể là hộ gia đình, học sinh, sinh viên…), mục đích sử dụng vốn cũng đa dạng (không chỉ mục đích sản xuất kinh doanh, sinh hoạt đời sống mà còn mục đích học tập…). Do đó việc phân biệt rạch ròi hợp đồng tín dụng nào là hợp đồng kinh tế, hợp đồng tín dụng nào là hợp đồng dân sự càng trở nên cứng nhắc, không phù hợp với thực tiễn. Với việc ban hành BLDS 2005, với t cách là Luật chung điều chỉnh các quan hệ giữa các cá nhân, pháp nhân…Luật dân sự trở về đúng chức năng của nó. Văn bản pháp luật điều chỉnh về hợp đồng kinh tế đã không còn chỗ đứng. Vì vậy, những tranh luận về hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế đã không còn nữa. Hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng dân sự, là một dạng của hợp đồng cho vay tài sản. Cho nên, trong quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng hoặc nếu có tranh chấp nào xảy ra liên quan đến hợp đồng tín dụng thì trớc hết sẽ tuân thủ các quy định của Luật chuyên ngành, tức là pháp luật về tín dụng ngân hàng. Nếu các quy định của luật chuyên ngành không quy định hoặc quy định không đầy đủ thì sẽ áp dụng các quy định chung của pháp luật để giải quyết. Đây chính là một sự bổ sung quan trọng và cần thiết trong việc hoàn thiện pháp luật nớc ta. Bằng việc ban hành BLDS 2005 đã bớc đầu đảm bảo đợc tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam, phù hợp chung với thông lệ quốc tế. 1.4. Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng tín dụng ngân hàng. 17
  18. Hợp đồng tín dụng ngân hàng là cơ sở pháp lý trực tiếp giữa tổ chức tín dụng và khách hàng nhằm thể hiện ý chí trong việc thiết lập quan hệ hợp đồng, xác định cụ thể và ràng buộc trách nhiệm của mỗi bên phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Khác với các hợp đồng dân sự thông thờng, việc giao kết hợp đồng tín dụng ngân hàng phải tuân thủ những trình tự và thủ tục riêng. Trình tự ký kết hợp đồng tín dụng ngân hàng gồm các bớc sau: - Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng ngân hàng. - Thẩm định hồ sơ tín dụng - Quyết định cho vay - Đàm phán các điều khoản của hợp đồng và ký kết hợp đồng. Bớc 1: Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng. Theo Điều 390 BLDS 2005: “ Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự giàng buộc về lời đề nghị này đối với bên đã đợc xác định cụ thể”. Do tính chất của hợp đồng tín dụng ngân hàng, việc đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng thông thờng thuộc về khách hàng vay vốn. Văn bản đề nghị giao kết hợp đồng chính là đơn xin vay, kèm theo các giấy tờ chứng minh t cách chủ thể, khả năng tài chính hay phơng án sử dụng vốn vay (Điều 14.1. Quy chế cho vay). Các tài liệu này đ- ợc bên cho vay gửi đến tổ chức tín dụng chính là bằng chứng đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng. Trong thực tiễn, tổ chức tín dụng không chỉ đóng vai trò thụ động trong việc tiếp nhận đề nghị vay vốn của khách hàng mà để mở rộng thị trờng, các ngân hàng còn chủ động tìm kiếm khách hàng có dự án kinh doanh khả thi, có khả năng tài chính để quan hệ tín dụng đối với mình. Đây là phơng thức giao dịch cho vay mang tính hiện đại, tăng cờng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng và trên thực tế luôn đợc các ngân hàng th- ơng mại ở những nớc phát triển sử dụng. Ở Việt Nam, các ngân hàng tiên phong sử dụng hình thức này là các ngân hàng thơng mại cổ phần, các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài; các ngân hàng thơng mại quốc doanh cũng đã bắt đầu sử dụng hình thức này trong quan hệ tín dụng. Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh giữa 18
  19. các ngân hàng là vô cùng gay gắt. Do đó, các ngân hàng thơng mại trong nớc cần chủ động hơn nữa trong việc tìm kiếm khách hàng tiềm năng để mở rộng mạng lới khách hàng, đáp ứng nhu cầu hội nhập. Trong trờng hợp chủ động tìm kiếm khách hàng thì trong th chào mời, các ngân hàng thờng đa ra những điều kiện có tính tổng quát kèm theo những điều khoản dự thảo cụ thể để cho bên kia xem xét chấp nhận. Tuy nhiên, dù cán bộ tín dụng có chủ động tìm kiếm khách hàng tiềm năng để quan hệ hợp đồng thì trong mọi trờng hợp việc đề nghị giao kết hợp đồng chính thức đều xuất phát từ khách hàng vay thông qua giấy đề nghị vay vốn theo mẫu của ngân hàng kèm theo các giấy tờ chứng minh t cách chủ thể và khả năng tài chính, phơng án sử dụng vốn vay của khách hàng. Các cán bộ tín dụng có trách nhiệm hớng dẫn cụ thể cho khách hàng trong đó gồm cả những thông tin về những nội dung cơ bản nh: lãi suất, thời hạn vay, kỳ hạn trả nợ gốc, nợ lãi, các biện pháp bảo đảm tiền vay… Bớc 2: Thẩm định hồ sơ tín dụng. Do đặc thù của hợp đồng tín dụng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho tổ chức tín dụng, vì vậy, để đảm bảo an toàn cho các khoản vay thì tổ chức tín dụng phải tiến hành phân tích rủi ro. Do đó, một thủ tục không thể thiếu trong quy trình giao kết hợp đồng tín dụng là khâu thẩm định hồ sơ tín dụng. Tổ chức tín dụng phải tiến hành thẩm định để xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu t, phơng án sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu t, phơng án phục vụ đời sống và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng để quyết định cho vay. (Điều 15.2. Quy chế cho vay). Tổ chức tín dụng chỉ đợc phép ra quyết định cho vay sau khi xét thấy khách hàng có phơng án sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc phơng án phục vụ đời sống khả thi, hiệu quả. Vì thế, để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động thẩm định hồ sơ tín dụng nói riêng và trong hoạt động cho vay nói chung, luật pháp của hầu hết các nớc trên thế giới đều có sự phân định rạch ròi giữa khâu thẩm định và khâu quyết định cho vay. Điều 35 Luật Ngân hàng thơng mại Trung Hoa quy định: “ Ngân hàng thơng mại phải thi hành một hệ thống trong đó việc kiểm tra và việc cho vay đợc thực hiện bởi hai 19
  20. bộ phận khác nhau và tiến hành kiểm tra và phê duyệt khoản vay tại các cấp khác nhau”. Ở Việt Nam, quy định này đợc thể hiện rõ trong điều 53.2. Luật các tổ chức tín dụng và Điều 15 Quy chế cho vay. “Các tổ chức tín dụng phải xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay” (Điều 15 Quy chế cho vay). Trong thực tiễn, việc thẩm định hồ sơ tín dụng thờng đợc giao cho các nhân viên chuyên trách của tổ chức tín dụng thực hiện. Trong trờng hợp cần thiết hoặc pháp luật có quy định thì tổ chức tín dụng đợc thành lập hội đồng thẩm định hoặc thuê cơ quan t vấn chuyên môn để thẩm định dự án đầu t hoặc phơng án sản xuất kinh doanh của khách hàng. Trong toàn bộ các khâu giao kết hợp đồng tín dụng thì thẩm định hồ sơ tín dụng là khâu vô cùng quan trọng, quyết định trực tiếp đến chất lợng tín dụng. Do vậy, để nâng cao chất lợng tín dụng thì một trong những yêu cầu thiết yếu là phải nâng cao chất lợng công tác thẩm định hồ sơ tín dụng. Bớc 3: Quyết định cho vay. Trên cơ sở kết quả thẩm định, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, tổ chức tín dụng phải ra quyết định và thông báo cho khách hàng về quyết định cho vay của mình. Về nguyên tắc, để đảm bảo an toàn tín dụng, tổ chức tín dụng chỉ đợc phép ra quyết định cho vay đối với những khách hàng có dự án kinh doanh, dịch vụ, phơng án phục vụ đời sống khả thi và có khả năng tài chính trả nợ trong thời hạn cam kết. Trờng hợp quyết định không cho vay, tổ chức tín dụng cũng phải nêu rõ lý do căn cứ từ chối cho vay (Điều 15.3 Quy chế cho vay). Bớc 4. Đàm phán các điều khoản của hợp đồng và ký kết hợp đồng. Theo nguyên tắc chung, hợp đồng đợc giao kết từ thời điểm bên đề nghị nhận đ- ợc trả lời của bên đợc đề nghị chấp nhận vô điều kiện toàn bộ nội dung đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị; và khi đó sẽ làm phát sinh một quan hệ hợp đồng giữa hai 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2