intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Tội mua bán phụ nữ - Một số vấn đề lý luận và thực tien

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:99

6
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Từ những vấn đề lý luận và pháp lý về tội mua bán phụ nữ, luận văn nghiên cứu, đánh giá khái quát thực trạng tình hình tội phạm mua bán phụ nữ ở Việt Nam hiộn nay, xu thế phát triển cũng như phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm này. Từ đó, đưa ra những giải pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội mua bán phụ nữ, làm cơ sở phục vụ cho công tác phòng chống tội phạm này đạt hiộu quả cao nhất.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Tội mua bán phụ nữ - Một số vấn đề lý luận và thực tien

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT HOÀNG HƯƠNG THUỶ TỘI MUA BÁN PHỤ NỮ: MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THựC TIÊN Chuyên ngành : Luật hình sự Mã sô : 5.05.14 LUẬN VĂN THẠC s ỉ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Văn Luyện Viện khoa học hình sự - Bộ Công an đ a i h o c q u ố c g ia h a NC t r u n g t â m t h ò n g tin thư v iê n HÀ NỘI - 2005
  2. MỤC LỤC LỜI CAM Đ O A N .......................................................................................................................2 LỜI CẢM ƠN............................................................................................................................... 3 CHỮ V IẾ T TẮ T........................................................................................................................... 4 PHẦN MỞ Đ Ầ U ......................................................................................................................... 5 /. Tinh cấp thiết của đ ề t à i ........................................................................................... 5 2. Tình hình nghiên cứu ................................................................................................. 6 3. Mục đích và nhiệm vụcủa luận văn ........................................................................7 4. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................................. 7 5. Cơ sở khoa học của đ ề t à i: ..................................................................................... 8 6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 8 7. Điểm mới của luận văn .......................................................................................... 8 8. Cơ cấu của luận văn .................................................................................................9 CHƯƠNG 1. NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI MUA BÁN PHỤ NỮ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT V IỆT NAM VÀ MỘT s ố NƯỚC..............10 1.1. Nhận thức chung về tội mua bán phụ n ữ ............................................................. 10 7.7.7. Khái niệm tội mua bán phụ nữ .................................................................... 10 1.1.2. Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội mua bán phụ nữ ............................ 12 1.2. Phân biệt tội MBPN với một số tội phạm khác............................................... 17 /.2.7. Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120) ............17 ỉ .2.2. Tội môi giới mại dâm (Điều 2 5 5 ) ............................................................... 19 Ị .2.3. Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ỏ lại nước ngoài trái phép (Điều 2 7 5 ) ............................................................................................ 20 1.3. Tội MBPN trong luật pháp một số nước trong khu vực Châu á........... 21 ỉ .3.1. Trung Quốc ....................................................................................................... 21 1.3.2. ỉnđônêxia .......................................................................................................... 24 1.3.3. Thái Lan ............................................................................................................ 25 1.3.4. Philippin ........................................................................................................... 28 ỉ .3.5. M aỉayxia ........................................................................................................... 29 Kết luận chương 1 :...................................................................................................................30
  3. CHUƠNG 2 THỤC TRẠNG TÌNH HÌNH TỘI PHẠM MƯA BÁN PHỤ NỮ Ở NUỒC TA GIAI ĐOẠN 1995 - 2004 ................................................................................. 31 2.1. Tình hình tội phạm MBPN ở Việt Nam hiện nay............................................... 31 2.1.1. Diễn biến của tội phạm mua bán phụ nữ ỞVN ............................................31 2 .1.2. Phương thức, thủ đoạn phạm tội mua bán phụ nữ ở Việt N am ............... 42 2.1.3. Nguyên nhân và điêu kiện của tội phạm mua bán phụ nữ ỎViệt N am 54 2.2. Công tác đâu tranh, phòng chóng tội phạm MBPN ở Việt Nam trong 10 nãm q u a .....................................................................................................................................62 2.2.1. Công tác tuyên truyền, pliổbiến pháp luật và phòng ngừa tội phạm mua bán phụ nữ ........................................................................................................................ 63 2.2.2. Thực tiễn khỏi tố, điểu tra, truy tố, xét xử tội phạm MBPN ............... 65 2.2.3. Hợp tác quốc t ế trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mưa bán phụ nữ: ...................................................................................................................... 68 2.2.4. Những hạn c h ế thiếu sót trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ n ữ ................................................................................................... 70 Két luận chương 2 :................................................................................................................. 74 CHUƠNG 3 MỘT s ố GIẢI PHÁP NHẰMNÂNGCAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG CHốNG TỘI PHẠM MUA BÁNPHỤ NỮ...................................... 75 3.1. Dự báo tình hình tội phạm MBPN trong thời gian tớ i......................................75 3.2. Một sỏ giải pháp đấu tranh phòng chống tội M B P N ........................................78 3.2.1. Các giải pháp chung ...........................................................................................79 3.2.2. Các giải pháp cụ thể ........................................................................................... 82 Kêt luận chương 3 :.................................................................................................................87 KÉT LUẬN............................................................................................ ...................... ..........88 Danh mục tài liệu tham k h ả o .............................................................................................. 90 Phụ lụ c ....................................................................................................................................... 94
  4. CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người ASEA Hiệp hội các nước Đông Nam Á BLHS Bộ luật hình sự CA Công an CSĐT Cảnh sát điều tra GAATW Liên minh toàn cầu chống buôn bán phụ nữ HLHPNVN Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam HIV Vi rút gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người TKTP Thống kê tội phạm MBPN Mua bán phụ nữ INTERPOL Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế TANDTC Toà án nhân dân tối cao UNICEF Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao VBPL Văn bản pháp luật XHCN Xã hội chủ nghĩa 4
  5. PHẨN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đổ tài Nhà nước ta thừa nhận con người là vốn quý nhất, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Nhà nước đảm bảo cho con người được sống và phát triển một cách toàn diện trong xã hội. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Viột Nam năm 1992 (sừa đổi năm 2001), tại Điều 71 quy định: công dán có quyển bất khả xàm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Tội mua bán phụ nữ được quy định tại Điều 119 BLHS năm 1999, là tội nguy hiểm bời nó chà đạp lên nhân phẩm, danh dự cùa người phụ nữ, coi phụ nữ như' một món hàng để mua bán, ưao đổi. Tội phạm này đã xâm phạm đến một trong những quan hệ xã hội quan trọng nhất: quyền được bảo vệ vế nhân phẩm , danh d ự của phụ nữ là quyền hiến định (được quy định tại Điều 63 Hiến pháp 92: "Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xừ với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”). Trong những năm gẩn đây, hiện tượng mua bán phụ nữ xuất hiện ngày càng nhiều, mà hậu quả của nó là những thảm cảnh xuất hiện ưong cuộc đời của những cô gái được xem như những món hàng để ưao đổi, mua bán. Họ từ những cô thôn nữ thật thà, chân chất ườ thành gái điếm, gái nhà hàng; từ những thiếu nữ ngây thơ, trong trắng ưở thành vợ của những người đàn ông đáng tuổi ông, tuổi cha và là nô lệ tình dục của cả gia đinh. Phần lớn họ phải sống trong những điều kiện hết sức cơ cực cả về thể xác lẫn tinh thần. Họ bị bóc lột, đánh đập, đối xử như những nô lộ để rồi bị vắt kiột sức lao động trên đất khách quê người mà khổng biết đến bao giờ mới ườ vé quê hương trong niềm nuối tiếc và ân hận. Tộ buôn bán phụ nữ đã từ lâu không còn là vấn đề trong phạm vi quốc gia mà đang có chiều hướng gia tãng tại các nước đang phát triển trong đó có 5
  6. Việt Nam. Vì nguồn lợi nhuận cao, bọn buôn người không từ một thủ đoạn nào để dụ dỗ, lừa gạt, cưỡng ép và bắt cóc phụ nữ để buôn bán vì mục đích hôn nhân, tình dục, giúp việc gia đình hoặc vì nhiều mục đích khác nhau. Tinh hình đó đã và đang đặt ra yêu cầu vừa cần thiết, cấp bách, vừa cơ bản lâu dài, đòi hỏi phải nghiên cứu nghiêm túc cả về lý luận và thực tiễn để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ. Với những lý do trên, tôi chọn đề tài ‘T ộ / mua bán phụ nữ: một số vấn đề lý luận và thực tien" làm luận văn tốt nghiệp cho khoá học. 2. Tình hỉnh nghiên cứa Mua bán phụ nữ là một vấn đề mang tính thời sự và nổi cộm được khá nhiểu các ngành, nhiều cấp cũng như các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, được phản ánh trên các báo và tạp chí gần đây. Riêng năm 2004. có gần 30 bài báo để cập đến vấn nạn này như “Ba ngày bán 3 người bạn thán sang Trung Quốc” (Báo Gia đình xã hội, số 42 ngày 6/4/1004); “Chuyện của những cô gái trẻ ở Nam Trực, Nam Định : sểnh nhà ra... mất tích ” (Báo Công an nhân dân số 20 ngày 14/2/2004) hay như “Cđ Mau: Vì tiền bán hàng xóm, bán cả con ” (Báo Gia đình xã hôi số 35 ngày 21/3/2004)... Bên cạnh đó, vấn đề đấu tranh phòng, chống mua bán phụ nữ cũng đã được đề cập trong một số công trình khoa học, sách tham khảo “Cán bộ Hội phụ nữ với công tác phòng chống tộ nạn mại dâm”, của Ban Tuyên giáo, HLHPNVN [1], “Những điều cần biết về phòng chống buôn bán người đặc biột là phụ nữ và trẻ em” của Ban Nghiên cứu, HLHPNVN 2003, luận văn thạc sỹ về ‘Tổ chức tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu các vụ án mua bán phụ nữ qua biên giới Việt Trung” của Thạc sỹ Nguyễn Quang Dũng năm 1999. Tuy nhiên, các bài viết và công trình nghiên cứu ưên chỉ mới dừng lại ở viộc tuyên truyền, phổ biến mang tính chất cảnh báo về thực trạng mua bán phụ nữ cũng như mối nguy hiểm của nó hoặc nghiên cứu dưới góc độ điều tra 6
  7. vụ án mua bán phụ nữ ở một địa bàn cụ thể, mà chưa nghiên cứu một cách hệ thống về mặt lý luận, thực tiễn của tội phạm này dưới góc độ pháp lý hình sự và tội phạm học để có được giải pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm này. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận vân Từ những vấn đề lý luận và pháp lý về tội mua bán phụ nữ, luận văn nghiên cứu, đánh giá khái quát thực trạng tình hình tội phạm mua bán phụ nữ ở Việt Nam hiộn nay, xu thế phát triển cũng như phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm này. Từ đó, đưa ra những giải pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội mua bán phụ nữ, làm cơ sở phục vụ cho công tác phòng chống tội phạm này đạt hiộu quả cao nhất. Để đạt được mục đích đề ra, luận văn tập trung nghiên cứu, giải quyết các nhiộm vụ cụ thể sau: - Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của công tác phòng, chống tội mua bán phụ nữ. - Đánh giá và phân tích tình hình của tội mua bán phụ nữ trong 10 năm qua (1995 - 2004) để thấy được xu hướng phát triển và diễn biến phức tạp của tội phạm này. - Nghiên cứu những nguyên nhân và điều kiện của tội mua bán phụ nữ, từ đó dự báo tình hình tội phạm này trong thời gian tới. - Trên cơ sở nghiên cứu những hạn chế thiếu sót trong công tác phòng, chống tội phạm này để đề ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này. 4. Đối tưựng nghiên cứa - Tình hình tội phạm mua bán phụ nữ ở V iệt Nam trong giai đoạn 1995 - 2 0 0 4 . 7
  8. - Kết quà công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. - Các VBPL liên quan đến cỏng tác phòng, chống tội MBPN. 5. Cơ sở khoa học của để tài: Đề tài được nghiên cứu dựa trên: - C ơ sở lý luận : phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biộn chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. - Cơ sở thực tiễn: hoạt động mua bán phụ nữ và quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ cùa các lực lượng chức năng. 6. Phương pháp nghiên cứa Luận vân sừ dụng các phương pháp nghiên cứu: - Lịch sir, - Tổng hợp, so sánh, phân tích sồ' liệu, tài liệu; - Thống kê hình SỊT, - Phương pháp điều ưa xã hội học; - Phương pháp chuyên gia. 7. Điểm mởl cùa luận vãn - Tổng kết những phương thức thủ đoạn mới nổi lên của tội mua bán phụ nữ, đồng thời nghiên cứu làm rõ tình hình tội phạm này ở Việt Nam cũng như ở một số nước trên thế giới. - Dự báo tình hình tội phạm MBPN ở Việt Nam trong bối cảnh Viột Nam hội nhập khu vực và quốc tế. Đưa ra những giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm này cũng như hoàn thiộn các văn bản pháp luật có liên quan. 8
  9. 8. Cơ cấu của luận vân Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, các bản đồ, bảng số liệu và biểu đồ, nội dung cùa luận văn được trình bày trong ba chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tội mua bán phụ nữ theo quy định của pháp luật Việt Nam và một số nước trong khu vực Chương 2 : Thực trạng tình hỉnh tội phạm mua bán phụ nữ ở nước ta gmi đoạn 1995 - 2004 Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ. 9
  10. CHƯƠ NG 1 NHỮNG VẤN Đ Ể L Ý LU Ậ N CH U N G V Ể T Ộ I M UA BÁN PHỤ N ữ T H E O Q U Y ĐỊNH CỦA P H Á P L U Ậ T V IỆ T NAM VÀ M Ộ T Số Nưóc TRONG KHU vực 1.1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI MUA BÁN PHỤ NỬ 1.1.1. Khói niộm tội mua bán phụ nữ Theo quan điểm của triết học Mác- Lênin thì tội phạm là một hiện tượng xã hội có nguyên nhân phát sinh bởi những điều kiên kinh tế nhất định, được phản ánh và nhìn nhận từ góc độ lợi ích xã hội và lợi ích giai cấp. Hay nói cách khác, tội phạm là một hiện tượng tiêu cực ưong xã hội, nó có nguồn gốc từ xã hội ra đời cùng với sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước, gắn liền với sự phát triển của xã hội. Mua bán phụ nữ là một trong những hình thức của buôn bán người. Buôn bán người là việc di chuyển đàn ông, đàn bà, trẻ nhỏ từ nơi này đến nơi khác để lao động cưỡng bức như: làm mại dâm, giúp viộc trong gia đình, làm các việc nông nghiệp nguy hiểm, làm việc trong các cửa hàng, quán ăn, công trường xây dựng và nhiều công việc khác ưong xã hội hiện đại. Vấn đề xâm phạm nhân quyền mang tính chất toàn cầu này xuất hiện ở nhiều nước không phân biệt vị trí địa lý, tôn giáo hay lục địa. [38, tr. 19] Như vậy, mua bán phụ nữ (sale of women, women trafficking) là bất kỳ một hành động hoặc sự giao dịch nào mà qua đố, người phụ nữ bị chuyển giao từ bất kỳ một người hay một nhóm người cho một người hay một nhóm người khác để nhận tiền hay bất kỳ hình thức thanh toán nào khác. Khái niộm tội phạm trong pháp luật hình sự Viột Nam đã chỉ ra rằng: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vào các quan hộ xã hội được Luật hình sự bảo vộ. [2,tr. 19] 10
  11. Tại Điều 119 Bộ Luật hình sự Việt Nam năm 1999 quy định: 1. Người nào mua bán phụ nữ thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy nãm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm: a) Mua bán phụ nữ vì mục đích mại dâm; b) Có tổ chức; c) Có tính chất chuyên nghiệp; d) Để đưa ra nước ngoài; e) Mua bán nhiều người; f) Mua bán nhiểu lần. 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đổng đến năm mươi triệu đổng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một nãm đến năm năm. Tội mua bán phụ nữ là hành vicoi phụ nữnhư hàng hoá để đem ra mua, bán, trao đổi. Người bán nhận đượctiềnhoặc lợiích vật chất nhất định do người mua trả. Người thực hiện hành vi mua bán một cách cố ý, đủ năng lực trách nhiộm hình sự và phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật hình sự. Rõ ràng rằng, pháp luật hình sự Viột Nam coi việc mua bán phụ nữ là tội phạm, vì vậy tội mua bán phụ nữ có đầy đủ các đặc điểm chung của tội phạm như; - Tính nguy hiểm cho xã hội; - Tính trái pháp luật hình sự, - Tính có lỗi; - Tính phải chịu hình phạt. 11
  12. Tuy nhiên, tội mua bán phụ nữ là một tội riêng biệt và cụ thể nên nó có những đặc điểm riêng mà những đặc trưng này được thể hiện chủ yếu trong các yếu tố cấu thành tội phạm. 11.1.2. Dấu hiậu pháp lý độc trưng «ta tội mua bán phụ nữ Theo pháp luật hình sự Việt Nam, bất cứ một tội phạm nào cũng gổm bốn yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan), nếu thiếu một trong bốn yếu tố nêu ưên thì không cấu thành tội phạm. a) Khách thể: Khách thể cùa tội phạm là các quan hộ xã hội bị tội phạm xâm hại. Vậy, khách thề của tội mua bán phụ nữ là quyền bất khả xám phạm tự do thân thể, nhân phẩm của người phụ nữ được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Đây chính là quyền được tôn ưọng và bảo vệ nhân phẩm và danh dự của con người. Con người với ý nghĩa vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội, có thể trở thành chủ thể của nhiều quan hệ xã hội khác. Trong số những quan hệ xã hội đó, có nhiều quan hệ xã hội mà chủ thể là những người phụ nữ. Với thiên chức cao cả của người phụ nữ và đặc điểm vể thể chất, đáng lẽ họ phải được tôn trọng, được sống và làm chủ cuộc sống của mình với tư cách một con người trong xã hội. Nhưng ngược lại, bọn phạm tội đã coi họ như một món hàng để có thể được mua bán, trao đổi kiếm lời, làm cho nhiẻu phụ nữ phải chịu đựng cảnh sống như nô lệ, bị hành hạ và đối xử tàn tệ. Trường hợp của cô Lò Thị Kiên và Lò Thị Kiến ở Lào Cai là điển hình cho thân phận các cô gái bị mua bán vào ổ chứa mại dâm ở Trung Quốc. Khi biết mình bị bán vào ổ chứa mại dâm, hai chị em Kiên và Kiến chống đối quyết liệt, nhưng bị chủ chứa cho bọn tay chân đánh đập, bắt phải tiếp khách. Bọn chúng đã tách hai chị em vào những buồng khác nhau để dễ bề sai khiến. 12
  13. Trong thời gian bị bọn chúng hành hạ, Kiến đã có thai và giấu chủ chứa để sinh con. Khi bào thai đã lớn thì chủ chứa phát hiện ra và kiên quyết buộc cô phải uống thuốc phá thai mặc dù Kiến đã khóc lóc van xin. Rồi ngay trước mắt Kiến, đứa trẻ được sinh ra đã bị bọn chúng hành hạ cho đến chết. Chứng kiến cảnh đó, Kiến gần như điên dại, cô suy sụp hoàn toàn. Nhưng ngay sau đó vài ngày, bọn chúng lại bắt cô phải tiếp khách mua dâm. Chỉ trong thời gian ngắn, Kiến đã không còn khả năng lao động. Cũng như Kiến, Kiên cũng bị bọn chủ chứa hành hạ với thủ đoạn rất vô lương tâm. pff-] b) Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội mua bán phụ nữ thể hiện ở các hành vi mua, bán, trao đổi người phụ nữ để lấy tiền, hàng hóa hoặc lợi ích vật chất khác. Để thực hiện hành vi kiếm lời bất chính trên, người phạm tội có thể dùng bất cứ một thủ đoạn nào như: rủ rê, dụ dỗ, lừa dối, cưỡng ép phụ nữ để bán họ cho người khác. Một điều kiộn tiên quyết cần phải có để xác định tội phạm này là người phụ nữ được đem ra mua bán phải đủ 16 tuổi trở lên, còn nếu dưới 16 tuổi thì xem xét về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120 BLHS 1999). Hành vi MBPN là một hành động phi nhân tính, nó đã chà đạp lên nhân phẩm, nhân quyền của người phụ nữ. Cho nên, việc người phụ nữ có thỏa thuận trở thành đối tượng mua bán hay không, không có ý nghĩa về mặt cấu thành tội phạm. Bởi vì, thực tế trong nhiều, vụ án MBPN cho thấy, có những trường hợp người bị hại ở trong điều kiên hoàn cảnh đặc biệt khó khăn... nên đã đổng ý thỏa thuận việc đưa sang Trung Quốc, Đài Loan để hy vọng có cuộc sống tốt đẹp hơn. Do vậy, ở đây chỉ cần có đầy đủ các dấu hiệu về hành vi mua, bán và đối tượng của sự mua, bán này là phụ nữ thì có thể kết tội mua bán phụ nữ rồi. Vì là hành vi mua bán nên dấu hiộu thu lợi cũng là một dấu hiệu quan trọng, 13
  14. nhưng nó không phải là dấu hiệu bắt buộc, việc người phạm tội có thu lợi hay không điéu đó không có ý nghĩa về mặt định tội, nếu có thì cũng chỉ có ý nghĩa trong viộc áp dụng hình phạt (lượng hình). Chúng ta biết rằng MBPN là tội đặc biệt nghiêm trọng. Hậu quả của hành vi MBPN là người phụ nữ đã bị đem ra mua bán. Nếu người phạm tội đã thực hiện các hành vi chuần bị để nhằm mua, nhằm bán như tìm người, liên hộ nơi bán, thỏa thuận giá cả nhưng viộc mua bán chưa xảy ra thì cũng không vì thế mà cho rằng chưa phạm tội MBPN mà trong trường hợp này là chuẩn bị phạm tội hoăc phạm tội chưa đạt. Do đó, tùy theo tính chất, mức độ cùa hành vi phạm tội vản bị truy cứu ưách nhiộm hình sự. [2,tr.23] c) M ặt chủ quan: Mặt chủ quan của tội phạm được thể hiện bằng lỗi. Lỗi là một trong những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm hình sự, là thái độ tâm lý của người có năng lực trách nhiộm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Bộ luật hình sự cấm mà người đó thực hiện và đối với hậu quả của hành vi ấy gây nên dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Lỗi của người phạm tội mua bán phụ nữ là cố ý trực tiếp. Người phạm tội ý thức được rằng việc MBPN là xâm phạm nhân phẩm, danh dự của người phụ nữ, đổng thời gây thiệt hại lớn cho xã hội nhưng vẫn làm để trục lợi. d) Chủ thể: Bất kỳ người nào có năng lực ưách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định (từ đủ 14 tuổi trở lên) đều là chủ thể của tội này. Tuy nhiên, ở tội mua bán phụ nữ, người phạm tội thường là những người đã thành niên. Người phạm tội có thể là người mua, có thể là người bán hoặc có thể họ vừa là người mua, vừa là người bán. 14
  15. e) Hình phạt: Luật hình sự Việt Nam bào vệ nsười phụ nữ bàng cách trừng trị mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của họ thông qua việc sử dụng hình phạt nghiêm khắc. Hình phạt chính đối với người phạm tội này gồm 2 khung: Khung 1: là khung hình phạt cơ bản, có mức phạt tù từ 2 nầm đến 7 năm. Khung 2: là khung hình phạt lăng năng, có mức phạt tù từ 5 năm đến 20 năm. Khung này áp dụng trong những trường hợp sau: - Mua bán phụ nữ vì mục đích mại dâm như mua bán phụ nữ cho các ổ chứa, nhà hàng, khách sạn ưona đó bí mật hoạt động mại dâm hoặc bán cho người nước ngoài để họ quan hộ tình dục... - Có tổ chức là từ 2 người trờ lên cùng cố ý thực hiện tội phạm, có sự phân công vai trò, trách nhiệm cùa từng người và quyết tâm thực hiộn tội phạm. - Có tính chất chuyên nghiệp là nguồn thu nhập, sống chủ yếu vào hoạt động phạm tội này. - Để đưa ra nước ngoài là đưa người phụ nữ ra khỏi biên giới Việt Nam. Khi có hành vi chuẩn bị và tiến hành đưa ra nước ngoài là tội phạm hòan thành, không cần phải đưa được người phụ nữ ra nước ngoài trót lọt. - Mua bán nhiều người là mua bán từ hai người trở lên. - Mua bán nhiều lần là trường hợp đã thực hiện hành vi mua bán phụ nữ từ hai lần trở lên, trong đó có thể có người bị đưa ra nước ngoài; không có người bị đưa ra nước ngoài, thì người phạm tội vừa mua bán nhiều lần vừa để đưa ra nước ngoài (có hai tình tiết tăng nặng định khung). Khi phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng định khung thì người phạm tội phải chịu 15
  16. hình phạt cao hơn người có 1 tình tiết nếu các tinh tiết cùa vụ án tương tự như nhau [64,tr. 195] Ngoài hình phạt chính, luật quy định buộc người phạm tội còn phải chịu một số các hình phạt bổ sung như: bị phạt tiển từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 năm đến 5 năm. Phạt tiền là hình thức phạt bằng tiền nộp của người phạm tội, mức phạt tiền được quyết định tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng cùa tội phạm đã thực hiện và tiền phạt có thể nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Tòa án quyết định trong bản án. Việc quy định này là kết quả của sự nhìn nhận một cách đúng đắn của các nhà lập pháp nước ta đối với nguyẽn nhân sâu xa của tội mua bán phụ nữ- là lợi nhuận. Vậy thì việc đánh vào kinh tê sẽ thực sự mang lại hiêu quả cao ưong việc ngăn chặn tội phạm này. Quản ch ế là buộc người bị kết án phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định, dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương. Trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú và bị tước một số quyẻn công dân. [2, tr.32] Cấm cư trú là buộc người bị kết án không được tạm trú và thường trú ở một số địa phương nhất đinh [2, ư.32]. Bản án tuyên cấm bị cáo cư trú ở địa phương nào thì họ không được tạm trú và thường trú ở tất cả các vùng thuộc địa phận của địa phương đó. Thời gian cấm cư trú bắt đầu kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Việc áp dụng hình phạt bổ sung này đối với người phạm tội mua bán phụ nữ không phải là nguyên tắc bắt buộc. Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà Tòa án có thể quyết định áp dụng hình phạt bổ sung. Hình phạt bổ sung khồng chỉ có ý nghĩa góp phần trừng trị, giáo dục người phạm tội mà còn nhầm phòng ngừa tội phạm. Vì vậy, việc áp dụng hình 16
  17. phạt bổ sung có tác dụng thiết thực ngân chặn hành vi phạm tội tương tự có thể xảy ra đối với người đã chấp hành xong hình phạt chính. Việc quy định các hình phạt chính và hình phạt bổ sung này đã thể hiện sự nghiêm khắc của Nhà nước ta nói chung và Luật hình sự nói riêng đối với những hiện tượng tiêu cực, những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đấu tranh phòng ngừa và tiến tới ngăn chặn tộ nạn mua bán phụ nữ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội, mà trực tiếp là của cơ quan bảo vệ pháp luật. Do vậy, nhiệm vụ đạt ra đối với những con người nắm trong tay trọng trách to lớn này là phải nắm vững lý luận, sát sao thực tiễn để cuộc đấu tranh đạt hiệu quả cao nhất. 1.2. PHÂN BIỆT TỘI MBPN VỚI MỘT s ố TỘI PHẠM KHÁC 1.2.1. Tội mua bàn, đánh tráo hoặc chiếm đoọt trề em (Điểu 120) Điều 120 BLHS quy định ‘Tội bắt ưộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em”. Như vậy, khi nào người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 119 hay Điều 120. Người phụ nữ được đưa ra mua bán phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên, nếu nạn nhân dưới 16 tuổi thì đối tượng phạm tội không thuộc tội này mà là tội mua bán, đánh tráo trẻ em. Vì pháp luật Việt Nam quy định trẻ em ỉà những người dưới 16 tuổi. (Bộ luật lao động của Việt Nam). Theo Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29 tháng 11 năm 1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS thì mua bán trẻ em được hiểu là: “việc mua hoặc bán trẻ em vì mục đích tư lợi, dù là mua của kẻ đã bắt trộm hoặc mua của chính người có con đem bán. Hành vi mua bán trẻ em khi biết rõ là đứa trẻ bị bắt trộm đ ể về làm con nuôi cũng bị xử lý về tội mua bán trẻ errí\ Như vậy, mua bán trẻ em được hiểu là có hành vi trao đổi, mua bán trẻ em bằng tiền bạc, vật chất, trẻ em ở đây được hiểu là người từ mới sinh đến dưới ĐAI HOC Q U Ồ C G IA HA N ỵ i - TRUNG TÂM THÔNG
  18. 16 tuổi. Tội mua bán, đánh tráo trẻ em là một hành vi tội ác nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt nghiêm trọng vì nó được thực hiện với đối tượng bị xâm hại là trẻ em, tức là những người còn non nớt về trí tuệ và thể chất, khả năng tự bảo vệ kém. Chính vì vậy tại Điẻu 120 của BLHS 1999 quy định: Tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. "1. Người nào mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm. 2. Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiộp; c) Vì động cơ đê hèn: d) Mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt nhiẻu trẻ em; đ) Để đưa ra nước ngoài; e) Để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo; g) Để sử dụng vào mục đích mại dâm; h) Tái phạm nguy hiểm; i) Gây hậu quả nghiêm trọng. 3. Người phạm tội còn cố thể bị phạt tiền từ 5 triệu đổng đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công viộc nhất định từ 1 đến 5 năm". 18 \
  19. 1.2.2. Tội môi gicif mọi dâm (Đrêu 255) /. Người nào dụ dỏ hoặc dẫn dắt người mại dâm thì bị pliạt tù từ sáu tháng đến năm năm. Như vậy, tội môi giới mại dâm biểu hiện bằng hành vi làm trung gian, tổ chức cho người mại dâm gặp người khác hoặc dẫn dắt người khác quan hộ tình dục với người mại dâm. Tội phạm này có khung hình phạt thấp hơn tội mua bán phụ nữ và đặc biột thấp hơn nhiều khung hình phạt đối với tội mua bán phụ nữ trong trường hợp có tình tiết tăng năng "vì mục đích mại dâm". Xét vé hình thức thì hai tội phạm này đều xâm phạm trật tự xã hội, ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, đến đạo đức xã hội, có thể lan truyền những bộnh xã hội và cù n g jìh ằn ìJh ư cJ4ộ n Jifl& tjì£ữ g jn ai dâm. Nhưng vể bản chất thì hai tội phạm này có những điểm khác nhau cơ bản như: - T hứ nhất: đối với tội mua bán phụ nữ thì yếu tố vụ lợi của người phạm tội như nhận tiền hoặc tài sản có giá trị bằng tiền là một trong những điều kiện thiết yếu để cấu thành tội phạm này, nhưng tội môi giới mại dâm thì lại không phải là điều kiện kiên quyết cần phải có. - T hứ hai: người phạm tội mua bán phụ nữ thể hiộn rõ hành vi coi người phụ nữ như một vật, một món hàng thuộc sở hữu cùa mình, toàn quyẻn quyết định cuộc sống, số phận của họ để thu lợi nhuận hoặc phục vụ cho lợi ích của mình, còn tội phạm môi giới mại dâm thì chỉ đóng vai trò là trung gian để dàn xếp cho hoạt động mua bán mại dâm được thực hiện. - T hứ ba: người phụ nữ bị đem ra mua bán không hể hay biết mình là nạn nhân của một vụ mua bán người hay ít ra thì cũng không tự nguyện biến mình thành món hàng để mua bán trao đổi, nhưng đối với tội môi giới mại dâm thì người phụ nữ thực hành nghề mại dâm là người đồng ý hoặc để nghị, nhờ vả người môi giới dẫn dắt để bán dâm. 19
  20. - Thứ tw. người phạm tội môi giới mại nhận hoa hồng trực tiếp từ người mua dâm và người phụ nữ được môi giới bándâm, còn tội mua bán phụ nữ nhận tiền từ bên mua phụ nữ. 1.2.3. Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đinước ngoài hoặc ờ lụi nước ngoài trái phép (Điểu 275) Việc phân biột tội mua bán phụ nữ và tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài trong nhiều trường hợp khó phân định, vì thực tiễn xét xử cho thấy, phần lớn những người phạm tội chỉ nhận mình là người tổ chức người khác trốn đi nước ngoài chứ không nhận là mua bán phụ nữ để đưa ra nước ngoài. Vì tội mua bán phụ nữ là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên hình phạt nặng hơn nhiều so với trường hợp phạm tội có tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài. Khi xét xử một hành vi cụ thể cần căn cứ vào các tình tiết của vụ án, các dấu hiộu pháp lý mà đặc biột là dấu hiệu khác nhau giữa hai tội, trên cơ sở đó mà xác định người có hành vi phạm tội gì (mua bán phụ nữ hay chỉ là tổ chức người khác trốn đi nước ngoài). Vậy có 3 dấu hiệu phân biệt như sau: [34, tr. 196] Một là: đối với tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài người phạm tội có thể thu lợi từ những người trốn đi hoặc vì rnục đích khác nhưng không phải chống chính quyển nhân dân, tién, vàng mà người phạm tội thu được là của người trốn đi nước ngoài, còn ở tội mua bán phụ nữ lại là mục đích vụ lợi, thu tiền hoặc vật chất khác của người mua hay của người khác. Đây là dấu hiộu rất quan ưọng để phân biệt giữa hai tội này. Hai là: người phạm tội mua bán phụ nữ để đưa ra nước ngoài biết rõ người phụ nữ sẽ bị bán lại cho người khác hoặc bán họ để sử dụng vào mục đích nào đó, còn ở tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài, người phạm tội chỉ biết làm thế nào đưa được người ra nước ngoài còn mục đích ra nước ngoài làm gì người phạm tội không quan tâm, nếu biết thì không có ý nghĩa 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2