intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Vai trò của Viện kiểm sát trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố - Thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:97

6
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống vai trò của Viện kiểm sát nhân dân khi áp dụng các các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố. Từ đó làm rõ cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện vai trò của mình. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Vai trò của Viện kiểm sát trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố - Thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ KIỀU DIỄM VAI TRß CñA VIÖN KIÓM S¸T TRONG ¸P DôNG C¸C BIÖN PH¸P NG¡N CHÆN TRONG GIAI §O¹N §IÒU TRA, TRUY Tè: THùC TIÔN TR£N §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ PHƯỢNG HÀ NỘI - 2014
  2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Kiều Diễm
  3. MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM .......................................................................................... 6 1.1. Nhận thức về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam .............................................. 6 1.1.1. Khái niệm các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam ......... 6 1.1.2. Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam ................................................................................. 8 1.1.3. Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ............................................ 11 1.2. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự ở một số nước trên thế giới ............................................................................... 12 1.2.1. Pháp luật tố tụng hình sự của Trung Quốc.......................................... 13
  4. 1.2.2. Pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức .................... 14 1.2.3. Pháp luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga ..................................... 15 1.3. Quá trình hình thành và phát triển những qui định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn ...................................... 18 1.3.1. Giai đoạn từ năm 1960 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ............................................................................................. 18 1.3.2. Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ............................................................................................. 22 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ..................26 2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố .................................................. 26 2.1.1. Biện pháp bắt người ............................................................................ 26 2.1.2. Biện pháp tạm giữ ............................................................................... 31 2.1.3. Biện pháp tạm giam ............................................................................ 33 2.1.4. Các biện pháp ngăn chặn khác ............................................................ 39 2.2. Thực tiễn về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các các biện pháp ngăn chặn trên địa bàn thành phố Hà Nội................. 46 2.2.1. Những kết quả đạt được ...................................................................... 46 2.2.2. Những hạn chế, tồn tại ........................................................................ 56 2.2.3. Nguyên nhân những kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại .......... 61
  5. Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ ..................................................................... 65 3.1. Những yêu cầu để nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố ................................................................................................... 65 3.1.1. Yêu cầu từ công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay ............ 65 3.1.2. Yêu cầu từ thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự .............................. 67 3.2. Các giải pháp cụ thể ............................................................................ 70 3.2.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan ................................................................................. 70 3.2.2. Hoàn thiện tổ chức và phương thức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân và chế độ đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên ........ 75 3.2.3. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tiến hành tố tụng hình sự ......................................................................................... 78 3.2.4. Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và giữa cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan liên quan ..... 79 KẾT LUẬN .................................................................................................... 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 82 PHỤ LỤC BẢNG BIỂU................................................................................ 87
  6. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự BPNC: Biện pháp ngăn chặn CQCA: Cơ quan công an CQĐT: Cơ quan điều tra TA: Tòa án TTHS: Tố tụng hình sự VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
  7. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Tổng số đối tượng bị áp dụng các BPNC từ năm 2009 đến năm 2013 trên địa bàn thành phố Hà Nội ................................... 87 Bảng 2.2. Số lượng người bị bắt từ năm 2009 đến năm 2013 trên địa bàn thành phố Hà Nội ................................................................. 87 Bảng 2.3. Tổng số đối tượng bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2009 đến năm 2013 ......................................................... 87 Bảng 2.4. Tổng số đối tượng được trả tự do sau khi bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2009 đến năm 2013 .................... 88 Bảng 2.5. Tổng số đối tượng bị tạm giam trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2009 đến năm 2013 .................................................. 88 Bảng 2.6. Tổng số đối tượng bị áp dụng BPNC cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm chuyển từ biện pháp tạm giữ trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2009 đến năm 2013 ..................................................................... 88 Bảng 2.7. Tổng số đối tượng bị áp dụng BPNC cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm chuyển từ biện pháp tạm giam trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2009 đến năm 2013 ..................................................................... 89
  8. DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ áp dụng các biện pháp ngăn chặn qua các năm.................................................................................... 47 Biểu đồ 2.2. Biểu đồ thể hiện số người bị bắt ............................................. 48 Biểu đồ 2.3. Biểu đồ thể hiện số người bị tạm giữ ...................................... 50 Biểu đồ 2.4. Biểu đồ thể hiện số bị can tạm giam ....................................... 52 Biểu đồ 2.5. Biểu đồ thể hiện việc áp dụng BPNC khác chuyển từ biện pháp tạm giữ ................................................................................................54 Biểu đồ 2.6. Biểu đồ thể hiện việc áp dụng BPNC khác thay thế biện pháp tạm giam .............................................................................................55
  9. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Một trong nhóm các quan hệ xã hội đặc trưng được pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh đó là cơ quan quyền lực Nhà nước với tội phạm và người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Nhà nước đã giao quyền cũng như trách nhiệm cho các cơ quan đó được áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tác động đến đối tượng. Một điều thấy rất rõ là các biện pháp cưỡng chế được áp dụng một chiều không phụ thuộc vào ý chí của bên bị áp dụng, chỉ cần có những căn cứ điều kiện do pháp luật quy định. Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là những biện pháp cưỡng chế can thiệp nghiêm trọng tới các quyền cơ bản của công dân. Việc áp dụng như thế nào để đảm bảo hiệu quả cũng như bảo vệ được quyền công dân là rất quan trọng. Nó không chỉ liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa mà còn liên quan đến các quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ, liên quan đến trách nhiệm bồi thường trong trường hợp oan sai. Thực tiễn cho thấy, không ít các trường hợp áp dụng các biện pháp ngăn chặn một cách lạm dụng, thiếu căn cứ, hoặc còn “non” về các điều kiện áp dụng. Việc áp dụng chỉ nhằm mục đích trước mắt là phục vụ thuận tiện cho việc điều tra vụ án, nhất là các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc có cả trường hợp hợp pháp hóa tài liệu giấy tờ cần thiết để hồ sơ được phê chuẩn. Mặc dù trên thực tế không thể phủ nhận rằng nhiều vụ án xảy ra nếu không áp dụng các biện pháp ngăn chặn sẽ gây khó khăn trong việc điều tra, truy tố như: người phạm tội bỏ trốn, phạm tội mới, tiêu hủy chứng cứ… Không xem xét đến tính cần thiết để áp dụng; tính không cần thiết, không có căn cứ để hủy bỏ hoặc thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác vẫn xảy ra. Thực 1
  10. trạng này không chỉ có trách nhiệm Cơ quan điều tra, mà trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân là rất quan trọng, thậm chí Viện kiểm sát chịu trách nhiệm chính về việc áp dụng một số biện pháp ngăn chặn quan trọng. Vì pháp luật tố tụng hình sự đã quy định một cách rõ ràng về vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, trong đó có việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì vai trò của Viện kiểm sát nhân dân thể hiện rõ nhất là trong giai đoạn điều tra và truy tố. Việc làm tốt vai trò đó trong hai giai đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần làm sáng tỏ toàn bộ sự thật khách quan của vụ án hình sự, tạo cơ sở cho việc truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố, thì việc nghiên cứu đề tài “Vai trò của Viện kiểm sát trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố: Thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội” là cần thiết. Để từ đó xem xét, đánh giá đúng thực trạng hiện nay, tìm ra những tồn tại và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác kiểm sát trên thực tế. 2. Tình hình nghiên cứu Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự cũng đã được một số nhà nghiên cứu và những người làm công tác thực tiễn nghiên cứu dưới dạng sách và các bài báo, bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí kiểm sát, Tạp chí luật học, Tạp chí Toà án,... cụ thể như: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự do PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (NXB Công an nhân dân năm 2004); Thực hành quyền công tố và kiếm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra của tác giả Nguyễn Hữu Thể (NXB Tư pháp năm 2005); Quá trình phát triền của pháp 2
  11. luật tố tụng hình sự Việt Nam về những biện pháp ngăn chặn của tác giả Trịnh Văn Thanh (NXB Công an nhân dân năm 2005); Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự của tác giả Nguyễn Mai Bộ (NXB Chính trị quốc gia năm 1997);... Hoàn thiện các quy định về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của tác giả Phạm Mạnh Hùng – Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Tạp chí kiểm sát số 21 năm 2007); Một số ý kiến về hoàn thiện các quy định về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự của tác giả Nguyễn Đình Bình (Tạp chí kiểm sát số 5 năm 2008); Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự của tác giả Lê Thị Tuyết Nga (Tạp chí kiểm sát số 18 và 20 năm 2008); Cần sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú của tác giả Phạm Việt Hưng (Tạp chí kiểm sát số 7 năm 2010); Cần thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú bằng biện pháp trình diện của tác giả Hoàng Việt Quang (Tạp chí kiểm sát số 7 năm 2011; Một số điểm mới về những biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của tác giả Trịnh Tiến Việt – Trần Thị Quỳnh (Tạp chí tòa án số 8 năm 2004); Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của tác giả Mai Bộ (Tạp chí tòa án nhân dân số 5 năm 2009); Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm và một số kiến nghị tiếp tục hoàn thiện biện pháp này theo tinh thần cải cách tư pháp của tác giả Lê Thị Kim Âu (Tạp chí tòa án nhân dân số 4 năm 2011);.... Như vậy, vấn đề trên cũng rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, đều nhằm mục đích làm rõ các quy định của pháp luật, việc áp dụng trên thực tế như thế nào, những vấn đề cần hoàn thiện. Vì vậy, nghiên cứu vai trò của Viện kiểm sát nhân dân về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là cần thiết, nhất là trong giai đoạn điều tra, truy tố, 3
  12. giúp chúng ta nhận thức một cách có hệ thống vấn đề này về lý luận cũng như thực tiễn. 3. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu - Mục đích: Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống vai trò của Viện kiểm sát nhân dân khi áp dụng các các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố. Từ đó làm rõ cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện vai trò của mình. - Nhiệm vụ: Luận văn có nhiệm vụ phân tích cơ sở pháp lý cũng như thực tiễn vai trò Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, bao gồm 06 biện pháp: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Từ đó thấy rõ vị trí, vai trò quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân và chỉ ra những tồn tại cần khắc phục để đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao vai trò của các cơ quan tư pháp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. - Phạm vi nghiên cứu: Để giải quyết vấn đề một cách cụ thể và thuận lợi, trong quá trình nghiên cứu Luận văn sẽ chỉ nghiên cứu lý luận, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố. Có nhiều ý kiến về việc phân chia các giai đoạn tố tụng hình sự, trong phạm vi Luận văn xin được gộp giai đoạn khởi tố và điều tra làm một là giai đoạn điều tra vì hai giai đoạn này có mối quan hệ mật thiết với nhau để tiện cho việc nghiên cứu. Trên cơ sở đó chỉ ra mặt tích cực và hạn chế trong thực tiễn áp dụng các biện pháp đó trong 05 năm (từ năm 2009 đến năm 2013), trên phạm vi thành phố Hà Nội. 4
  13. 4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn gồm: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp so sánh, đối chiếu.... 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương. 5
  14. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1. Nhận thức về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 1.1.1. Khái niệm các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam Các biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụng thường xuyên trong các trường hợp cần thiết mà pháp luật quy định. Trong lĩnh vực TTHS, các biện pháp cưỡng chế mà Nhà nước cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng áp dụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử đối với những đối tượng nhất định như: những BPNC: tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm; những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ: khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản;... Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS nhằm bảo đảm xác định sự thật vụ án, phát hiện, xử lý chính xác, kịp thời tội phạm, ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm. Để đạt được mục đích đó các cơ quan tiến hành tố tụng trong từng giai đoạn TTHS áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong các biện pháp cưỡng chế TTHS thì BPNC là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc hơn cả vì nó tước bỏ tạm thời hoặc hạn chế một phần quyền tự do của người bị áp dụng nhằm ngăn chặn việc phạm tội, tạo điều 6
  15. kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, tôn trọng các quyền, lợi ích của công dân trong TTHS. Việc áp dụng các BPNC trong TTHS có ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể: bảo đảm cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả, bảo đảm hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi; thể hiện quyền lực của Nhà nước trong việc đấu tranh chống tội phạm; góp phần bảo vệ sự an toàn, vững mạnh của chế độ Xã hội Chủ nghĩa, bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân; đảm bảo thực hiện dân chủ, tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do của công dân được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận, không để một công dân nào bị hạn chế các quyền công dân, bị bắt, bị giam, giữ một cách trái pháp luật [34]. Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm về biện pháp ngăn chặn như sau: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho vc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự [42, tr.197]. Tác giả Nguyễn Mai Bộ cũng đã đưa ra khái niệm chung về BPNC: Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế TTHS do những cơ quan hoặc những người có thẩm quyền theo pháp luật quy định áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với những người chưa bị khởi tố khi có căn cứ do pháp luật quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố xét xử và thi hành án hoặc không cho họ tiếp tục phạm tội mới. Các BPNC bao 7
  16. gồm bắt người, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm [10, tr.52]. Ngoài ra, cũng có tác giả đưa ra khái niệm: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp có tính bắt buộc của Nhà nước do những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan được quyền tiến hành tố tụng một số hoạt động điều tra theo luật định áp dụng, tạm thời tước bỏ hoặc hạn chế một phần quyền tự do thân thể của bị can, bị cáo và trong trường hợp đặc biệt có thể áp dụng đối với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoặc không cho họ tiếp tục gây hại cho xã hội [34, tr.40]. Như vậy, ta có thể hiểu rằng: Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là biện pháp cưỡng chế mà người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc người chưa bị khởi tố về hình sự khi có những căn cứ luật định nhằm mục đích kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc đảm bảo việc không gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc không tiếp tục phạm tội. 1.1.2. Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2013, vai trò là: “Tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, phát triển của cái gì đó”[41]. VKSND có vai trò rất quan trọng trong hoạt động TTHS. Là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng cùng với CQĐT, TA, VKSND đã góp phần quan trọng vào hoạt động TTHS. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của ngành kiểm sát nhân dân. Trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2013) (Điều 107) và Luật 8
  17. tổ chức VKSND 2002 (Điều 1) đều quy định: VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng khác, như CQĐT, TA chỉ chịu trách nhiệm đối với phần việc thuộc phạm vi thẩm quyền của mình ở từng giai đoạn tố tụng nhất định. VKSND thì khác, không những phải hoàn thành hoạt động thực hành quyền công tố của mình đúng pháp luật, mà còn phải chịu trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các đối tượng luật định nhằm phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án, từ khi có sự kiện phạm tội xảy ra cho khi thi hành xong bản án, xóa án tích. Như vậy, ta có thể hiểu: Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự đó là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong các hoạt động tố tụng hình sự nhằm góp phần vào việc đảm bảo các quy định của pháp luật được chấp hành nghiêm túc, quyền và lợi ích của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng không bị xâm phạm. Ở giai đoạn điều tra, VKSND giữ một vị trí đặc biệt quan trọng xuyên suốt quá trình điều tra, truy tố. Tác giả Lê Hữu Thể từng nhận định như sau: VKSND giữ vai trò chủ đạo, quyết định trong các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự. VKSND có trách nhiệm áp dụng các biện pháp do BLTTHS quy định nhằm bảo đảm cho điều tra, truy tố được kịp thời, nhanh chóng, hiệu quả, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, đảm bảo cho hoạt động điều tra được tiến hành đúng quy định pháp luật [38, tr. 102]. Mặt khác, điều đó thể hiện ở quyền truy tố thuộc VKSND, là cơ quan chịu trách nhiệm về mặt chứng cứ của vụ án trước TA. Trong trường hợp mà TA đình chỉ vụ án hay tuyên bị cáo không phạm tội thì đều đồng nghĩa với việc VKSND đã truy cứu trách nhiệm hình sự một người nào đó không đúng 9
  18. pháp luật. Trong giai đoạn điều tra, hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra luôn được thực hiện đan xen nhau, có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau. Mục đích của hoạt động thực hành quyền công tố là chứng minh tội phạm và xác định người phạm tội; mục đích của hoạt động kiểm sát điều tra là đảm bảo các hoạt động điều tra được đầy đủ, khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. Công tác kiểm sát điều tra có hiệu quả sẽ là điều kiện để đảm bảo cho hoạt động thực hành quyền công tố của VKSND được đúng đắn và ngược lại, công tác thực hành quyền công tố có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho hoạt động kiểm sát điều tra phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra. Vì vậy, khi VKSND thực hiện tốt chức năng của mình sẽ đảm bảo: không để người nào bị khởi tố, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội; việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội phải đúng pháp luật và có căn cứ; việc điều tra được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, chính xác và đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra được phát hiện và khắc phục kịp thời [46]. Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử của TA, hoạt động của những người tham gia phiên tòa. Thông qua đó nhằm đảm bảo việc TA chấp hành đúng các quy định của pháp luật TTHS, đảm bảo bản án của TA đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cũng như quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng được tôn trọng. Như vậy, để nâng cao hơn nữa vai trò của VKSND thì cán bộ ngành kiểm sát phải nhận thức một cách đầy đủ, đúng đắn về vị trí, vai trò của VKSND thì mới có thể sử dụng đúng, có hiệu quả các quyền 10
  19. năng tố tụng trong hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của mình được. 1.1.3. Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong phạm vi nhất định tùy vào giai đoạn tố tụng cũng như các BPNC mà có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các BPNC. Việc áp dụng các BPNC đều nhằm những mục đích cụ thể, chủ yếu phục vụ cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Từ giai đoạn khởi tố - điều tra, truy tố đến giai đoạn xét xử, khi người có thẩm quyền áp dụng BPNC thì VKSND đều có vai trò nhất định qua việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Trong giai đoạn điều tra thì người có thẩm quyền áp dụng các BPNC chủ yếu là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND; giai đoạn truy tố là Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND và giai đoạn xét xử là Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán. Khi người có thẩm quyền áp dụng các BPNC thì tùy từng biện pháp mà VKSND có quyền phê chuẩn trước khi thi hành hoặc sau đó và VKSND có quyền kiểm sát việc áp dụng, thi hành các lệnh áp dụng đó, cũng như việc thay đổi, hủy bỏ BPNC. Trên cơ sở đó, ta có thể hiểu vai trò của VKSND trong việc áp dụng các BPNC là việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong các hoạt động áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các BPNC của các cơ quan, người có thẩm quyền theo pháp luật TTHS nhằm đảm bảo các các quy định của pháp luật được áp dụng có căn cứ, tránh lạm dụng, cũng như đảm bảo các quyền, lợi ích của công dân không bị xâm phạm. So với giai đoạn xét xử thì vai trò của VKSND về việc áp dụng các 11
  20. BPNC trong giai đoạn điều tra, truy tố thể hiện rõ hơn. Ở giai đoạn xét xử vai trò của VKSND chỉ thể hiện ở việc thực hiện chức năng kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các BPNC của TA, ví dụ: đối với biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm khi kiểm sát việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp này của TA thì Kiểm sát viên có nhiệm vụ kiểm sát thẩm quyền ra quyết định; căn cứ, điều kiện ra quyết định; thủ tục áp dụng. Nếu quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm không có căn cứ và trái pháp luật thì VKSND có quyền kiến nghị hoặc kháng nghị khắc phục,... Còn ở giai đoạn điều tra, truy tố VKSND có quyền thực hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng các BPNC của CQĐT. Từ những phân tích trên ta rút ra được khái niệm về vai trò của VKSND đối với việc áp dụng các BPNC trong giai đoạn điều tra, truy tố: Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố là việc thực hiện các các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong các hoạt động áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn của các cơ quan, người có thẩm quyền theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn điều tra, truy tố nhằm đảm bảo các quy định của pháp luật được áp dụng có căn cứ cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. 1.2. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự ở một số nước trên thế giới Chế định các BPNC là một chế định quan trọng của pháp luật TTHS. Việc quy định và áp dụng một cách đúng đắn, chính xác các BPNC là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của TTHS để phát hiện chính xác, nhanh chóng, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với kẻ 12
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2