
1 2
Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy
định của pháp luật Việt Nam : \ Luận
văn ThS. Luật: 60 38 50 \ Phạm Thị
Ngoan ; Nghd. : TS. Vũ Quang
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
TẬP TRUNG KINH TẾ VÀ KIỂM SOÁT
BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI TẬP TRUNG
KINH TẾ
5
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về tập trung kinh tế 5
1.1.1.
Sự hình thành và phát triển của hiện tượng tập trung
kinh tế trên thế giới và ở Việt Nam
5
1.1.2.
Khái niệm và bản chất pháp lý của tập trung kinh tế 9
1.1.3.
Các hình thức tập trung kinh tế 10
1.1.4.
Tác động của tập trung kinh tế đối với nền kinh tế 12
1.2. Kiểm soát bằng pháp luật đối với tập trung kinh tế 15
1.2.1.
Các luận cứ cho việc kiểm soát tập trung kinh tế 15
1.2.2.
Vai trò của pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế 17
1.2.3.
Những yếu tố chi phối hoạt động về kiểm soát tập trung
kinh tế
20
1.2.4.
Những nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát tập
trung kinh tế một số nước trên thế giới và Việt Nam
23
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT
TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
31
2.1. Các quy định về tập trung kinh tế trong hệ thống pháp
luật Việt Nam
31
2.2. Mô hình kiểm soát tập trung kinh tế 40
2.2.1.
Mô hình kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật các nước 40
2.2.2.
Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật
Việt Nam
45
2.3. Thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế 51
2.3.1.
Thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật các nước
52
2.3.2.
Trình tự, thủ tục xem xét tập trung kinh tế theo Luật
cạnh tranh Việt Nam
56
2.4. Tố tụng cạnh tranh (vụ việc tập trung kinh tế) 61
2.4.1.
Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh 61
2.4 2.
Trình tự tố tụng cạnh tranh (vụ việc về tập trung kinh tế)
ở Việt Nam
62
2.5. Xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế 64
2.6. Cơ quan quản lý cạnh tranh trong kiểm soát tập trung
kinh tế
66
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT
TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
68
3.1. Một số căn cứ cho việc đưa ra các giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật về tập trung kinh tế ở Việt Nam
68
3.2. Những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả kiểm
soát tập trung kinh tế ở Việt Nam
69
3.2.1.
Hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát tập trung
kinh tế
70
3.2.2.
Nâng cao năng lực của cơ quan quản lý cạnh tranh trong
kiểm soát tập trung tế
78
3.2.3.
Xây dựng cơ chế thực thi pháp luật kiểm soát tập trung
kinh tế
82
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

3 4
PHỤ LỤC 91

5 6
MỞ ĐẦU
1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Tập trung kinh tế là một hiện tượng bình thường trong đời sống kinh tế,
là hành vi của doanh nghiệp. Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị
trường xuất phát điểm từ một nền sản xuất nhỏ đi lên, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ chiếm một số lượng chủ yếu thì việc các doanh nghiệp đó tìm cách
liên kết, tập trung lại với nhau là một điều tất yếu và rất cần thiết. Mặt khác,
trong bối cảnh chúng ta đang tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, đã xuất hiện
các công ty đa quốc gia, với tiềm lực mạnh mẽ về kinh tế các công ty đa
quốc gia này đã, đang và sẽ tiến hành các vụ tập trung kinh tế nhằm hình
thành vị trí thống lĩnh vị trí độc quyền dẫn đến một bộ phận doanh nghiệp
Việt Nam bị loại khỏi thương trường, gây tác hại tiêu cực đến nền kinh tế thị
trường non trẻ Việt Nam. Rõ ràng các hành vi tập trung kinh tế có các tác
động khác nhau và tác động trực tiếp đến sự vận hành của thị trường - cần
thiết phải được pháp luật điều chỉnh. Nhận thức được tầm quan trọng của
việc tập trung kinh tế dẫn đến độc quyền nên hầu hết các quốc gia trên thế
giới đều ban hành pháp luật để kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế.
Bài học đầu tiên đối với Việt Nam là học tập kinh nghiệm của các
nước có nền kinh tế thị trường trong việc kiểm soát các hành vi tập trung
kinh tế và phải điều chỉnh, ban hành kịp thời các quy định pháp luật cụ
thể về vấn đề này. Tuy nhiên các quy định pháp luật về kiểm soát tập
trung kinh tế ở Việt Nam còn mới mẻ, khoa học pháp lý có ít những công
trình nghiên cứu toàn diện, công phu. Vì vậy tác giả đã mạnh dạn lựa
chọn nghiên cứu đề tài: "Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của
pháp luật Việt Nam".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện tượng tập trung kinh tế nói riêng và cạnh tranh nói chung đều
được các quốc gia trên thế giới quan tâm và kiểm soát bằng nhiều cách
khác nhau như: chính sách thuế, kiểm soát giá cả, quốc hữu hoá, ban
hành pháp nhau trong đó việc các quốc gia ban hành pháp luật được xem
là công cụ hữu hiệu nhất.
Ở Việt Nam, Luật cạnh tranh được Quốc hội thông qua ngày
03/12/2004 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2005. Đây cũng là lần đầu tiên vấn
đề về kiểm soát tập trung kinh tế mới được quy định một cách có hệ
thống. Do vậy dưới giác độ khoa học pháp lý, công việc nghiên cứu về
kiểm soát tập trung kinh tế mới chỉ dừng lại trong một số bài viết cho các
tạp chí, các báo điện tử hoặc với tính chất là một chuyên đề trong đề tài
khoa học cấp trường, cấp Bộ mà chưa có công trình nào khảo cứu chuyên
sâu, được xem xét một cách hệ thống, toàn diện và cụ thể. Như vậy, tính
đến thời điểm mà tác giả lựa chọn và bảo vệ đề tài: "Kiểm soát tập trung
kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam" thì có thể được coi là vấn
đề còn mới ở Việt Nam. Điều đó cũng đồng nghĩa việc tác giả phải đối
mặt, song hành với nhiều cơ hội thách thức và khó khăn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ bản chất, nội dung của tập trung
kinh tế và pháp luật cạnh tranh kiểm soát hành vi tập trung kinh tế, từ đó
đưa ra phương hướng và các giải pháp khi xây dựng, hoàn thiện và nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh điều chỉnh vấn đề này. Để đạt
được mục đích trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Phân tích, đánh giá những vấn đề lý luận cơ bản về tập trung kinh tế.
Pháp luật Việt Nam điều chỉnh hành vi tập trung kinh tế.
Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật cạnh tranh kiểm soát các
hành vi tập trung kinh tế ở Việt Nam trong mối quan hệ so sánh với pháp
luật cạnh tranh ở một số nước trên thế giới.
Đưa ra phương hướng và một số giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện
pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế để đảm bảo tính hệ thống, đồng
bộ với các quy định của pháp luật hiện hành về cạnh tranh và hài hòa với
pháp luật quốc tế.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Mặc dù người viết có tinh thần quyết tâm cao muốn tìm hiểu việc
pháp luật kiểm soát hành vi tập trung kinh tế trong tổng thể các mối quan
hệ pháp luật khác nhau nhưng theo yêu cầu và giới hạn của luận văn tốt

7 8
nghiệp cao học luật, người viết không thể có tham vọng nghiên cứu sâu
tất cả các vấn đề pháp luật liên quan đến kiểm soát tập trung kinh tế mà
chỉ ở một số các quy định trong Bộ luật dân sự, luật doanh nghiệp, luật
đầu tư, luật chứng khoán. Nhưng chủ yếu tác giả nghiên cứu cụ thể và
luận giải bằng hệ thống các quy phạm trong Luật cạnh tranh. Hy vọng
một ngày không xa tác giả sẽ được quay trở lại nghiên cứu đề tài mà
mình yêu thích này ở mức độ hoàn thiện, toàn diện hơn.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn đã sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát
hóa, so sánh luật học kết hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về
nhà nước và pháp luật, đồng thời quán triệt sâu sắc các đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng trong việc phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa để giải quyết những mục đích, nhiệm vụ do
đề tài đặt ra.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn đã lý giải được cơ sở khoa học về sự ra đời của tập trung
kinh tế, làm rõ đặc điểm pháp lý của tập trung kinh tế và ảnh hưởng của
tập trung kinh tế đến nền kinh tế.
Luận văn đã phân tích khá toàn diện quá trình kiểm soát tập trung
kinh tế theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam và pháp luật cạnh tranh một
số nước trên thế giới.
Căn cứ vào yêu cầu thực tiễn nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật cạnh tranh trong quá trình kiểm soát
các hành vi tập trung kinh tế ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về kiểm soát tập trung kinh
tế và kiểm soát bằng pháp luật đối với tập trung kinh tế.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế ở
Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
về kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ VÀ KIỂM SOÁT BẰNG PHÁP LUẬT
ĐỐI VỚI TẬP TRUNG KINH TẾ
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về tập trung kinh tế
1.1.1. Sự hình thành và phát triển của hiện tượng tập trung kinh tế trên thế
giới và ở Việt Nam
* Tập trung kinh tế bắt nguồn từ một số nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, do nhu cầu tăng hiệu quả kinh tế và nắm vị thế độc quyền
trên thị trường.
Thứ hai, do tác động của cạnh tranh và nhu cầu chia sẻ rủi ro trong
kinh doanh
Thứ ba, do các cuộc khủng hoảng kinh tế.
* Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động tập trung kinh tế:
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX do tác động của tiến bộ khoa học
kỹ thuật đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và đẩy nhanh quá trình
tích tụ, tập trung tư bản, hình thành các xí nghiệp có quy mô lớn. Như
vậy, tập trung kinh tế là một xu hướng phát triển tất yếu của tư bản. Tập
trung kinh tế được thể hiện dưới các hình thức sáp nhập, mua lại xí
nghiệp: các xí nghiệp lớn luôn tìm cách mua lại các xí nghiệp nhỏ, yếu
hơn; còn các xí nghiệp nhỏ liên kết, sáp nhập với nhau để tránh nguy cơ
bị các xí nghiệp lớn thôn tính. Ở Mỹ nửa đầu thập kỷ 1980 đã diễn ra
hàng loạt những vụ hợp nhất bắt đầu từ các công ty hoạt động trong
ngành công nghiệp, sau đó lấn sang toàn bộ nền kinh tế và cuối cùng tràn
ra toàn thế giới.

9 10
Việt Nam hình thức tập trung kinh tế xuất hiện đầu tiên là các Tổng
công ty nhà nước được thành lập theo Quyết định số 90 và 91/TTg của
Thủ tướng Chính phủ ngày 7/3//1994 (gọi tắt là Tổng công ty 90 và 91).
Song thực chất, việc tính thành các Tổng công ty 90 và 91 lại là sự liên
minh, sáp nhập theo thể thức hành chính chứ không mang bản chất của hành
vi tập trung kinh tế theo quy định của hệ thống pháp luật cạnh tranh.
Khi Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa cùng với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 đã xuất hiện
các vụ sáp nhập, hợp nhất, liên doanh.. Trong suốt thời gian qua trước
khi có Luật cạnh tranh 2004, chúng ta đã giảm số lượng từ trên 13000
doanh nghiệp nhà nước xuống còn trên 3000 doanh nghiệp thông qua
việc hợp nhất các doanh nghiệp lại với nhau
1.1.2. Khái niệm và bản chất pháp lý của tập trung kinh tế
Tập trung kinh tế ở Việt Nam được xem xét theo ba cách tiếp cận cơ bản:
Thứ nhất: Với tính chất là quá trình gắn liền với hơn hình thành và
thay đổi của cấu trúc thị trường, tập trung kinh tế được hiểu là quá trình
mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm
đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng
trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất.
Thứ hai: Với tính chất là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung
kinh tế (còn gọi là tập trung tư bản) được hiểu là sự gia tăng tư bản do
hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác
Thứ ba: Dưới góc độ pháp luật, Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định
các hành vi được coi là tập trung kinh tế. Theo đó, khoản 3 Điều 3 quy
định tập trung kinh tế thuộc nhóm các hành vi hạn chế cạnh tranh. Chỉ có
các trường hợp tập trung kinh tế tạo ra trên 50% thị phần kết hợp trên thị
trường liên quan mới tiềm ẩn nguy cơ hạn chế cạnh tranh,
1.1.3. Các hình thức tập trung kinh tế
Tập trung kinh tế bao gồm tập trung theo chiều ngang, tập trung theo
chiều dọc hoặc tập trung theo đường chéo (tập trung hỗn hợp).
Tập trung kinh tế theo chiều ngang: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại
hoặc liên doanh của các doanh nghiệp trong một thị trường liên quan (sản
phẩm và không gian).
Tập trung kinh tế theo chiều dọc: là sự hợp nhất, sáp nhập, mua lại
hoặc liên doanh giữa các doanh nghiệp có quan hệ người mua - người
bán với nhau.
Tập trung kinh tế theo đường chéo là sự hợp nhất, sáp nhập, mua lại,
liên doanh của các doanh nghiệp không cùng hoạt động trên một thị trường
sản phẩm đồng thời cũng không có mối quan hệ khách hàng với nhau.
1.1.4. Tác động của tập trung kinh tế đối với nền kinh tế
Tập trung kinh tế là một hiện tượng kinh tế xuất hiện trong môi
trường tự do cạnh tranh. Sự ra đời của hiện tượng tập trung kinh tế có tác
động nhất định tới cơ cấu nền kinh tế nói chung và cạnh tranh nói riêng.
Tuy nhiên tác động của tập trung kinh tế tới cạnh tranh cũng được đánh
giá theo hai mặt tích cực và tiêu cực của nó.
- Tập trung kinh tế tạo ra quy mô kinh doanh lớn (đặc biệt hữu ích đối
với những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ tham gia tập trung kinh tế
- Tập trung kinh tế giúp thúc đẩy tiến Bộ khoa học kỹ thuật: Với sự
phát triển như vũ bão của các cuộc cách mạng khoa học- công nghệ đã
rút ngắn chu kỳ sống của các thế hệ công nghệ, vì vậy để đứng vững và
giành được ưu thế trên thương trường bắt buộc các doanh nghiệp luôn
phải đầu tư đổi mới công nghệ.
Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực, bất lợi đối với nền kinh tế, tập
trung kinh tế cũng có những mặt tiêu cực sau: "Tự do cạnh tranh đẻ ra
tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này, khi phát triển tới một
mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền". Như vậy tập trung kinh tế là
"cửa ngõ" tạo ra những doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể
hoặc tăng quyền lực của thị trường mà doanh nghiệp duy nhất đã vốn có
hoặc tán ra sự độc quyền.
- Tập trung kinh tế còn làm giảm đối thủ cạnh tranh độc lập trên thị
trường và tạo điều kiện "thúc đẩy" những doanh nghiệp còn lại tham gia

