BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---------------------------------------
Nguyễn Văn Thịnh
MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY
TNHH FOURBROTHERS
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Hà Nội - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---------------------------------------
Nguyễn Văn Thịnh - C00053
MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY
TNHH FOURBROTHERS
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60340102
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM THỊ HOA
Hà Nội - 2015
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Thăng Long, phòng sau
đại học và quản lý khoa học, giáo viên hướng dẫn TS. Phạm Thị Hoa, các cơ
quan, các nhà nghiên cứu và Công ty TNHH Fourbrothers đã cung cấp thông tin
và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu. Tác giả mong
nhận được sự góp ý chân thành của các Nhà khoa học để luận văn được hoàn
chỉnh.
Tác giả xin cam đoan luận văn thạc sĩ với đề tài “Mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm tại công ty TNHH Fourbrothers” được bảo vệ tại
Trường Đại học Thăng Long là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân.
Các số liệu, biểu mẫu được sử dụng trong Luận văn này là trung thực, được
thu thập qua quá trình nghiên cứu thực tế và tham khảo các tài liệu chuyên
khảo có liên quan.
Tác giả
Nguyễn Văn Thịnh
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các kí hiệu viết tắt, các sơ đồ, các bảng
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM ................... 4
1.1.1. Tiêu thụ sản phẩm ................................................................................... 4
1.1.2. Thị trường tiêu thụ sản phẩm .................................................................. 7
1.2. MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM .............................. 9
1.2.1. Quan niệm về mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ............................. 9
1.2.2. Sự cần thiết phải mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ....................... 12
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá về mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ........... 13
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng thị trường và tiêu thụ sản
phẩm trong doanh nghiệp ................................................................................ 15
1.3. KINH NGHIỆM CỦA DOANH NGHIỆP VỀ MỞ RỘNG TIÊU
THỤ SẢN PHẨM ........................................................................................... 28
1.3.1. Kinh nghiệm của tập đoàn Ikea ............................................................. 28
1.3.2. Bài học rút ra cho các doanh nghiệp Việt Nam .................................... 33
Chương 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI
CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS
2.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS .................... 35
2.1.1. Lịch sử ra đời và phát triển ................................................................... 35
2.1.2. Đặc điểm ngành nghề kinh doanh ......................................................... 36
2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty ......................................... 37
2.1.4. Tình hình và kết quả kinh doanh của công ty ....................................... 38
2.2. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI
CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS .......................................................... 40
2.2.1. Thị trường sản phẩm ............................................................................. 40
2.2.2. Thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm tại công ty ............................. 42
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG
TY TNHH FOURBROTHERS ....................................................................... 51
2.3.1. Kết quả đạt được ................................................................................... 51
2.3.2. Hạn chế .................................................................................................. 53
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế .......................................................... 53
Chương 3
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
TẠI CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS . 57
3.2. ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS .................................... 58
3.3 KIẾN NGHỊ NHẰM MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS ...................................... 79
KẾT LUẬN .....................................................................................................81
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................82
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Công ty Fourbrothers : Công ty trách nhiệm hữu hạn Fourbrothers
: Đơn vị tính ĐVT
GS : Giáo sư
: Kilograms Kg
NXB : Nhà xuất bản
PGS : Phó giáo sư
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TS : Tiến sĩ
: Tiền Việt Nam Đồng VNĐ
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Chu kỳ sống của sản phẩm .............................................................18
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức công ty TNHH Fourbrothers .................................37
BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng báo cáo kết quả kinh doanh 2012-2014 .................................39
Bảng 2.2: Hoạt động Xuất-Nhập khẩu .............................................................40
Bảng 2.3: Doanh thu bán hàng theo quý ..........................................................43
Bảng 2.4: Cơ cấu doanh thu theo phương thức bán hàng ................................45
Bảng 2.5: Khối lượng xuất bán theo loại hàng ................................................46
Bảng 2.6: Tiêu thụ sản phẩm nến tại thị trường Việt Nam ..............................47
Bảng 2.7: Cơ cấu sản phẩm tiêu thụ ................................................................50
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong nền kinh tế thị trường việc tiêu thụ sản phẩm có vai trò quyết
định đến sự tồn tại của một doanh nghiệp, sản phẩm tạo ra cần phải được đem
đi tiêu thụ để làm nguồn gốc cho mọi hoạt động tiếp theo. Trong bối cảnh
toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở mọi lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực
thương mại quốc tế, đối với mỗi quốc gia dù muốn hay không cũng phải tuân
theo quy luật này và tham gia vào thương mại quốc tế như là một thực tế
khách quan, đem lại của cải cho xã hội. Quốc gia nào tách mình ra khỏi hội
nhập sẽ tự cô lập đem đến sự lạc hậu và nghèo nàn. Để tham gia vào quá trình
hội nhập kinh tế đó ngoài việc cơ chế chính sách của nhà nước cần phù hợp
với quốc tế còn có các doanh nghiệp với tư cách là lực lượng tiên phong, chủ
động nhất, linh hoạt nhất, trực tiếp nhất cần phải tham gia mạnh mẽ vào nền
kinh tế toàn cầu, với thị trường toàn cầu để đem lại của cải cho doanh nghiệp,
cho đất nước.
Việt Nam sau năm 1986 mới đổi mới mở cửa, từ đó nền kinh tế thị
trường mới bắt đầu được công nhận và xây dựng. Các doanh nghiệp có nền
tảng chưa đáng kể so với các nước tư bản phát triển trên thế giới. Đặc biệt
là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, với năng lực tài chính còn yếu, kỹ năng
quản lý còn hạn chế nên tính cạnh tranh từ đó cũng gặp nhiều khó khăn.
Sản phẩm với công nghệ thấp, chi phí đơn vị sản phẩm cao, kênh phân phối
còn hạn chế cục bộ, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được. Chính điều này
đã làm hang loạt doanh nghiệp bị giải thể phá sản trong đợt khủng hoảng
kinh tế vừa qua.
Công ty TNHH Fourbrothers là một công ty nhỏ hoạt động trong lĩnh
vực sản xuất và thương mại cùng nằm trong bối cảnh chung của đất nước,
1
của các doanh nghiệp nên cũng chịu những tác động và tình trạng tương tự.
Nhưng với một doanh nghiệp không thể dễ dàng cam chịu nghịch cảnh, để
vượt qua khó khăn và tiếp tục phát triển công ty đã bắt đầu đối mặt với khó
khăn bằng việc tập trung vào việc nâng cao tính cạnh tranh của mình, tăng
cường mở rộng thị trường tiêu thụ để đảm bảo sự ổn định và từng bước
phát triển.
Để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cần đặt trong sự phân tích
những đặc điểm của quá trình này, đòi hỏi phải phân tích rõ những gì đang
diễn ra trên cơ sở đó có những tác động phù hợp nhằm tăng cường những
điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu. Chỉ có như vậy mới có thể đem đến
kết quả trong quá trình mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Đứng trước bối cảnh đó, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “ Mở rộng
thị trường tiêu thụ sản phẩm tại công ty TNHH Fourbrothers” nhằm: một là,
hệ thống hóa những lý luận thực tiễn về tiêu thụ sản phẩm, mở rộng tiêu thụ
sản phẩm nói chung; hai là, đánh giá thực trạng mở rộng tiêu thụ sản phẩm tại
công ty TNHH Fourbrothers, chỉ ra những hạn chế và ưu điểm trong những
năm qua; ba là, đưa ra những giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
của công ty TNHH Fourbrothers; bốn là, góp phần xây dựng kế hoạch kinh
doanh của công ty TNHH Fourbrothers.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Làm rõ cơ sở lý luận về mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Tìm hiểu, phân tích thực trạng quá trình mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm, chỉ ra những thành công và hạn chế chủ yếu trong việc mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm tại công ty TNHH Fourbrothers.
- Phân tích các nhân tố tác động đến việc mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm.
2
- Từ kết quả phân tích đề ra những giải pháp để nâng cao việc mở rộng
thị trường tiêu thụ sản phẩm.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu.
Mở rộng tiêu thụ sản phẩm tại công ty TNHH Fourbrothers
- Phạm vi nghiên cứu.
+ Không gian: Tại công ty TNHH Fourbrothers.
+ Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2015.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập tài liệu nghiên cứu.
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử.
- Phương pháp đánh giá, so sánh và phân tích tài liệu.
5. KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
bảng biểu, các chữ viết tắt, luận văn có kết cấu 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tại
doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tại công
ty TNHH Fourbrothers
- Chương 3: Giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tại công ty
TNHH Fourbrothers
3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1.1.1. Tiêu thụ sản phẩm
1.1.1.1. Khái niệm tiêu thụ sản phẩm
Để thích ứng với mỗi cơ chế quản lí, công tác tiêu thụ sản phẩm được
quản lí bằng các hình thức khác nhau.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước quản lí kinh tế chủ
yếu bằng mệnh lệnh. Các cơ quan hành chính kinh tế can thiệp sâu vào nghiệp
vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách
nhiệm về các quyết định của mình. Các vấn đề của sản xuất như: Sản xuất cái
gì? Bằng cách nào? Cho ai? Đều do nhà nước quy định thì tiêu thụ sản phẩm
chỉ là việc tổ chức bán hàng hoá sản xuất ra theo kế hoạch và giá cả được ấn
định từ trước.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định
ba vấn đề quan trọng của sản xuất nên việc tiêu thụ sản phẩm cần được hiểu
theo cả nghĩa rộng và cả nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm là một
quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định
nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất đến việc tổ chức các nghiệp
vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng… nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất.Theo
nghĩa hẹp, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ là việc chuyển dịch quyền sở hữu sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng đồng thời thu được tiền
bán sản phẩm hoặc được quyền thu tiền bán hàng.
Tóm lại, để tuân theo đúng quy luật khách quan của thị trường trong
điều kiện quản lý theo cơ chế thị trường có thể khái niệm thị trường tiêu thụ
sản phẩm như sau: Tiêu thụ sản phẩm là tổng thể các biện pháp về tổ chức
kinh tế và kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị
4
trường. Nó bao gồm các hoạt động: tạo nguồn, chuẩn bị sản phẩm, tổ chức
mạng lưới bán hàng … cho đến dịch vụ sau bán hàng nhằm bán được sản
phẩm và thu được tiền từ khách hàng.
1.1.1.2. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm
- Vai trò đối với nền kinh tế
Đối với bất kỳ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển cần có sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm cho dù quốc gia đó có ở chế độ nào. Nếu không có
tiêu thụ sản phẩm nền kinh tế sẽ không tồn tại. Một nền kinh tế sản xuất sản
phẩm ra mà không tiêu thụ được sẽ dẫn tới ứ đọng hàng hóa, làm chi phí tăng
cao, từ đó làm giảm sức cạnh tranh đối với các nền kinh tế khác.
Tiêu thụ sản phẩm đem lại nguồn vốn để tái đầu tư sản xuất, tạo ra việc
làm, lợi nhuận và sự thịnh vượng cho các thành phần trong nền kinh tế đó.
- Vai trò đối với doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng, quyết định sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ,
tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận. Sức tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp thể hiện ở mức bán ra, uy tín của doanh nghiệp, chất lượng của
sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng và sự hoàn thiện của
các hoạt động dịch vụ. Nói cách khác tiêu thụ sản phẩm phản ánh đầy đủ
điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp. Vai trò tiêu thụ sản phẩm đối với
doanh nghiệp được thể hiện trên các nội dung sau:
Thứ nhất, tiêu thụ sản phẩm là căn cứ để lập ra kế hoạch sản xuất cái
gì, sản xuất với khối lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào. Nếu không căn
cứ vào sức tiêu thụ trên thị trường mà sản xuất ồ ạt, không tính đến khả năng
tiêu thụ sẽ dẫn đến tình trạng ế thừa, tồn đọng sản phẩm, gây ra sự đình trệ
trong sản xuất kinh doanh, dẫn đến nguy cơ phá sản. Ngoài ra tiêu thụ sản
phẩm quyết định khâu cung ứng đầu vào thông qua sản xuất.
5
Thứ hai, tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đối với các hoạt động
nghiệp vụ khác của doanh nghiệp như: nghiên cứu thị trường, đầu tư mua sắm
trang thiết bị tài sản, tổ chức sản xuất, tổ chức lưu thông, dịch vụ… Nếu
không tiêu thụ được sản phẩm thì không thể thực hiện được quá trình tái sản
xuất, bởi vì doanh nghiệp sẽ không có vốn để thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh kể trên.
Thứ ba, tiêu thụ sản phẩm giúp doanh nghiệp thu hồi được vốn, bù đắp
chi phí và có lãi. Nó giúp cho doanh nghiệp có các nguồn lực cần thiết để
thực hiện quá trình tái sản xuất tiếp theo, công tác tiêu thụ được tổ chức tốt sẽ
là động lực thúc đẩy sản xuất và là yếu tố tăng nhanh vòng quay của vốn. Bởi
vậy tiêu thụ sản phẩm càng được tiến hành tốt bao nhiêu thì chu kỳ sản xuất
kình doanh càng ngắn bấy nhiêu, vòng quay vốn càng nhanh, hiệu quả sử
dụng vốn càng cao.
Thứ tư, tiêu thụ sản phẩm mang lại lợi nhuận, lợi nhuận là mục đích
quan trọng nhất trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận là
nguồn bổ xung các quỹ của doanh nghiệp trên cơ sở đó các doanh nghiệp có
điều kiện đầu tư máy móc, thiết bị, xây dựng mới từng bước mở rộng và phát
triển quy mô của doanh nghiệp. Lợi nhuận còn để kích thích vật chất khuyến
khích người lao động, điều hoà lợi ích chung và lợi ích riêng, khai thác sử
dụng các tiềm năng của doanh nghiệp một cách triệt để.
Như vậy để có lợi nhuận cao ngoài các biện pháp giảm chi phí sản
xuất doanh nghiệp còn phải đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm, tăng
khối lượng hàng hoá luân chuyển, tăng doanh thu bán hàng. Tốc độ tiêu thụ
sản phẩm càng cao thì thời gian sản phẩm nằm trong khâu lưu thông càng
giảm điều đó có nghĩa là sẽ giảm được chi phí lưu thông, giảm chi phí luân
chuyển, tồn kho, bảo quản, hao hụt, mất mát vv… Tạo điều kiện cho doanh
6
nghiệp hạ giá thành sản phẩm và giá bán, tăng sức cạnh tranh và đảm bảo
mức lợi nhuận dự kiến.
1.1.2. Thị trường tiêu thụ sản phẩm
1.1.2.1. Khái niệm thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền sản
xuất hàng hoá. Từ đó tới nay đã trải qua nhiều thế kỷ. Chính vì vậy, các khái
niệm về thị trường rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, có thể khái quát một
số khái niệm sau:
- Theo cách hiểu cổ điển: Thị trường là nơi diễn ra quá trình trao đổi và
buôn bán. Trong thuật ngữ kinh tế hiện đại, thị trường còn bao gồm các hội
trợ cũng như các địa dư hoặc các khu vực tiêu thụ phân theo mặt hàng hoặc
ngành hàng.
+ Thị trường là nơi mua bán hàng hoá, nơi gặp gỡ để tiến hành các hoạt
động mua bán giữa người mua và người bán.
+Thị trường là biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó các
quyết định của các gia đình về tiêu dùng mặt hàng nào?, các quyết định của
công ty về sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, và các quyết định của
người công nhân về việc làm như: bao lâu?, cho ai?, đều được dung hoà bằng
sự điều chỉnh giá cả.
+ Thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu trong đó những người mua
và những người bán bình đẳng cùng cạnh tranh. Số lượng người mua, người
bán nhiều hay ít phản ánh qui mô của thị trường lớn hay nhỏ. Việc xác định
nên mua hay nên bán hàng hoá và dịch vụ với khối lượng và giá cả bao nhiêu
là do cung và cầu quyết định.
+ Thị trường là một phạm trù riêng của nền sản xuất hàng hoá. Hoạt
động cơ bản của thị trường được thông qua ba nhân tố có mối quan hệ hữu cơ
7
hay mật thiết với nhau bao gồm: nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ, cung ứng về
hàng hoá và dịch vụ, giá cả của hàng hoá và dịch vụ.
- Theo David Begg, thị trường là tập hợp các sự thoả thuận thông qua
đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ.
Theo cách hiểu này thì người ta nhấn mạnh đến các quan hệ trao đổi cũng như
thể chế và các điều kiện thực hiện việc mua bán.
Tóm lại ta thấy, mọi khái niệm về thị trường đều đề cập tới mối quan
hệ giữa người mua, người bán trong việc trao đổi sản phẩm. Các mối quan hệ
này được biểu hiện một cách khác nhau giữa các khái niệm.
1.1.2.2. Phân loại thị trường tiêu thụ sản phẩm
Về mặt lý thuyết và thực tiễn có nhiều loại thị trường, do đó cần phải
nghiên cứu cách phân loại nó. Có nắm vững cách phân loại thị trường, chúng
ta mới có khả năng nghiên cứu và sử dụng các biện pháp thích hợp để phát
triển và mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Dưới đây là các tiêu thức phân
loại thị trường:
- Phân loại theo vị trí địa lý của lưu thông sản phẩm hàng hóa và dịch
vụ. Theo tiêu thức này thị trường tiêu thụ sản phẩm được chia làm hai loại:
+ Thị trường trong nước: Thị trường từng địa phương, thị trường đặc
khu, thị trường thành thị, thị trường nông thôn.
+ Thị trường nước ngoài: Thị trường Tây Âu, Đông Âu, Bắc Mỹ, thị
trường châu Á...
- Phân theo đối tượng sản phẩm hàng hóa tiêu thụ của thị trường. Theo
tiêu thức này thị trường tiêu thụ sản phẩm được chia thành:
+ Thị trường hàng hoá: thị trường tư liệu sản xuất, hàng hoá tiêu dùng,
thị trường hàng nội, hàng ngoại, thị trường hàng cao cấp, hàng thông dụng, thị
trường lao động...
8
+ Thị trường tiền tệ: đồng Việt Nam, ngoại tệ. Ở các nước phát triển,
thị trường tiền tệ phát triển thành Sở giao dịch về thị trường chứng khoán. ở
nước ta, dạng thị trường này chưa phát triển.
- Phân loại theo tiêu thức chuyên môn hóa sản xuất và kinh doanh. Thị
trường tiêu thụ sản phẩm được phân thành: thị trường hàng công nghiệp, thị
trường hàng nông sản, lâm sản, thuỷ sản...
- Phân loại theo tính chất của thị trường, thị trường được chia thành:
+ Thị trường cung: thị trường bán, thị trường cầu: thị trường mua.
+ Thị trường đầu vào thị: trường các yếu tố sản xuất, thị trường đầu ra:
thị trường hàng hoá, dịch vụ của một doanh nghiệp.
- Ngoài ra còn các tiêu thức phân loại như: Phân loại theo tính cạnh
tranh hay độc quyền, thị trường được chia làm hai loại: thị trường cạnh tranh;
thị trường độc quyền. Phân loại theo thị trường vĩ mô và vi mô.Thị trường
được phân loại thành: thị trường tổng cung, tổng cầu; thị trường của doanh
nghiệp: khả năng tham gia vào thị trường của một doanh nghiệp, mức độ
khống chế thị trường của một doanh nghiệp...
1.2. MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1.2.1. Quan niệm về mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Chưa có một khái niệm chuẩn nào nói về mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm. Theo tác giả thì mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm được hiểu
trên nhiều khía cạnh khác nhau là: mở rộng tiêu thụ sản phẩm theo chiều
rộng, mở rộng tiêu thụ sản phẩm theo chiều sâu, mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm theo phạm vi địa lý, gia tăng chủng loại sản phẩm ...
Trong phạm vi đề tài này, nghiên cứu vấn đề mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm trên ba góc độ: mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm theo quy
mô tiêu thụ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm theo phạm vi địa lý, mở
rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm bằng việc gia tăng các chủng loại sản phẩm.
9
- Mở rộng quy mô tiêu thụ sản phẩm:
Mở rộng thị trường theo quy mô là tăng khối lượng và chủng loại hàng
hóa tiêu thụ trên địa bàn thị trường hiện tại. Mở rộng thị trường sản phẩm
theo quy mô có nhiều cách.
+ Thứ nhất, tăng tối đa việc tiêu thụ một hàng hóa nhất định hoặc nhiều
loại hàng hóa cho nhóm khách hàng hiện tại (thâm nhập sâu vào thị trường).
Khách hàng của doanh nghiệp đa dạng, phong phú và khác nhau về nhu
cầu, lứa tuổi, giới tính, trình độ, nghề nghiệp… Căn cứ vào hành vi tiêu dùng
của khách hàng về: khối lượng, chủng loại hàng hóa, doanh nghiệp có thể có
những chính sách khuyến mãi, hỗ trợ thích hợp với từng nhóm khách hàng cụ
thể để thúc đẩy lượng hàng bán ra. Điều này có nghĩa là với nhóm khách hàng
hiện tại, doanh nghiệp sẽ triển khai các biện pháp thâm nhập sâu để thúc đẩy
lượng hàng bán ra.
+ Thứ hai, quảng cáo, chào bán hàng hóa tới những khách hàng tiềm
năng.
Khách hàng tiềm năng là một người hay nhóm người có khả năng đưa
ra quyết định về hàng hóa của doanh nghiệp và có khả năng sẽ mua hàng hóa
của doanh nghiệp trong tương lai. Đây là nhóm khách hàng khó nắm bắt và
mâu thuẫn nhất. Để mở rộng thị trường, các doanh nghiệp không thể bỏ qua
đối tượng này. Những khách hàng tiềm năng đều chưa biết hoặc chưa chú ý
đến hàng hóa của doanh nghiệp. Như vậy, nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải
tìm cách thu hút để nhóm khách hàng này bị hấp dẫn bởi các hàng hóa của
công ty và cảm thấy có nhu cầu tiếp cận với hàng hóa này. Để tiếp cận đến
khách hàng này các doanh nghiệp phải áp dụng triệt để các hình thức quảng
cáo trên các phương tiện truyền thông ngoại tuyến thông qua: quảng cáo trên
tivi, quảng cáo trên tạp chí, internet, quảng cáo ngoài trời, gửi thư trực tiếp,
marketing lan truyền… Đây là những biện pháp hiệu quả giúp hình ảnh hàng
10
hóa của doanh nghiệp trực tiếp tác động đến tâm lý khách hàng tiềm năng và
thúc đẩy nhóm khách hàng này trở thành nhóm khách hàng mục tiêu của
doanh nghiệp.
+ Thứ ba, mở rộng thị phần hàng hóa: chiếm lĩnh thị phần của đối thủ
cạnh tranh. Bằng cách tăng cường các hoạt động marketing, doanh nghiệp tấn
công sang các thị trường của đối thủ cạnh tranh, nhấn mạnh những ưu điểm,
lợi thế của hàng hóa của mình so với các hàng hóa của đối thủ cạnh tranh
hoặc bổ sung các lợi ích cho khách hàng khi tiêu dùng hàng hóa để lôi kéo các
khách hàng chuyển từ tiêu dùng hàng hóa của các hãng cạnh tranh sang tiêu
dùng hàng hóa của doanh nghiệp mình.
- Mở rộng thị trường theo phạm vi địa lý:
Theo hướng này, doanh nghiệp sẽ mở rộng địa bàn hoạt động kinh
doanh, tăng cường sự hiện diện của mình trên các địa bàn mới bằng các hàng
hóa hiện tại. Để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm theo phạm vi địa lý
doanh nghiệp cần tìm cách khai thác những địa điểm mới và đáp ứng nhu cầu
của khách hàng trên thị trường này. Mục đích doanh nghiệp là để thu hút
thêm khách hàng đồng thời quảng bá hàng hóa của mình đến khách hàng ở
những địa điểm mới. Tuy nhiên, để đảm bảo thành công cho công tác mở
rộng thị trường, doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu thị trường mới để
đưa ra những hàng hóa phù hợp với đặc điểm của từng thị trường.
Phát triển thị trường thông qua cách này, mạng lưới bán hàng và mạng
lưới tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp sẽ được mở rộng bằng cách lựa chọn
các kênh phân phối thích hợp dựa vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các
đại lý bán buôn, bán lẻ, những người trực tiếp đưa hàng hóa đến tay khách
hàng để mở rộng phạm vi tiêu thụ hàng hóa.
- Gia tăng chủng loại hàng hóa:
11
Doanh nghiệp đưa thêm các loại hàng hóa nhằm thỏa mãn các nhu cầu
khác nhau của khách hàng bằng cách nghiên cứu và cho ra đời các loại hàng
hóa mới hoặc có thể cải tiến, hoàn thiện thay thế các hàng hóa hiện có. Đây
cũng là phương thức kinh doanh hiệu quả giúp doanh nghiệp lôi kéo thêm số
lượng lớn khách hàng, mở rộng quy mô thị trường
1.2.2. Sự cần thiết phải mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Mở rộng thị trường là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và phát
triển. Trên thị trường lúc nào sự cạnh tranh cũng rất quyết liệt và mạnh mẽ.
Hoạt động mở rộng thị trường góp phần khai thác nội lực cho doanh nghiệp
dưới giác độ kinh tế, nội lực được xem là sức mạnh nội tại, là động lực là
toàn bộ nguồn lực bên trong của sự phát triển kinh tế. Không có thị trường
thì doanh nghiệp không thể tồn tại. Quá trình khai thác và phát huy nội lực
là quá trình chuyển hóa các yếu tố sức lao động, tư liệu lao động thành sản
phẩm hàng hóa và thành thu nhập của doanh nghiệp. Phát triển thị trường
vừa là cầu nối vừa là động lực để khai thác, phát huy nội lực tạo thực lực
kinh doanh cho doanh nghiệp. Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa
học kĩ thuật đã tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế, làm cho tốc độ phát triển
của nền kinh tế cao. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải đẩy mạnh công tác
phát triển thị trường.
- Mở rộng thị trường đảm bảo sự thành công cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Nền kinh tế thị trường rất năng động nó đòi hỏi các doanh
nghiệp đều phải cố gắng khai thác triệt để các nguồn thu, tận dụng tối đa các
cơ hội kinh doanh. Mở rộng thị trường giúp cho doanh nghiệp thu thêm
nhiều lợi nhuận, từ đó bổ sung thêm nguồn vốn đầu tư cũng như các quỹ
của doanh nghiệp. Từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất ra nhiều
sản phẩm với chất lượng và mẫu mã tốt hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của xã hội. Mở rộng thị trường sẽ tạo cho doanh nghiệp khẳng
12
định được vị trí của mình trên thị trường, nâng cao uy tín của sản phẩm trên
thị trường lúc nào cũng có sự cạnh tranh quyết liệt của nhiều doanh nghiệp
khác nhau cùng sản xuất hay tiêu thụ một số loại mặt hàng.
- Mở rộng thị trường sẽ tăng nhanh được tốc độ tiêu thụ sản phẩm, góp
phần đẩy nhanh chu kỳ tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh vòng quay của vốn,
tạo động lực thúc đẩy chiến thắng trong cạnh tranh, nâng cao số lượng sản
phẩm bán ra.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá về mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Để đánh giá hiệu quả của các hoạt động mở rộng thị trường của doanh
nghiệp, các nhà nghiên cứu có thể sử dụng các tiêu chí tương ứng với những
nội dung về mở rộng thị trường. Đó là các tiêu chí về mở rộng theo quy mô,
phạm vi và chủng loại hàng hóa.
Tiêu chí đánh giá mở rộng thị trường theo quy mô tiêu thụ hàng hóa
Thị phần
Thị phần của doanh nghiệp là tỷ lệ thị trường mà doanh nghiệp chiếm
lĩnh, đây là một chỉ tiêu tổng quát nói nên sức mạnh của doanh nghiệp trên thị
trường. Có hai chỉ tiêu đánh giá về thị phần là thị phần tương đối và thị phần
tuyệt đối:
- Thị phần tuyệt đối là tỷ lệ phần doanh thu của doanh nghiệp so với
toàn bộ sản phẩm cùng loại được tiêu thụ trên thị trường.
- Thị phần tương đối được xác định trên cơ sở thị phần tuyệt đối của
doanh nghiệp so với phần tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất.
Hai chỉ tiêu này luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tuy nhiên không
phải lúc nào chúng cũng có mối quan hệ thuận chiều.
Sản lượng sản phẩm tiêu thụ
Số lượng sản phẩm bán ra thị trường của một loại sản phẩm nào đó là
một chỉ tiêu cụ thể để đánh giá hiệu quả của công tác mở rộng thị trường của
13
doanh nghiệp đối với sản phẩm đó. Việc mở rộng thị trường này có thể được
tiến hành theo hai cách là mở rộng thị trường theo chiều rộng và mở rộng thị
trường theo chiều sâu.
- Mở rộng thị trường theo chiều rộng là việc doanh nghiệp thực hiện
xâm nhập vào thị trường mới, thị trường nước ngoài, thị trường của đối thủ
cạnh tranh.
- Mở rộng thị trường theo chiều sâu là việc doanh nghiệp tiến hành khai
thác một cách tốt hơn trên thị trường hiện có của doanh nghiệp bằng cách cải
tiến hệ thống phân phối, thực hiện các chính sách về sản phẩm, về giá, về dịch
vụ sau bán hàng.
Để có một bức tranh rõ nét về thực trạng công tác tiêu thụ sản phẩm
của mình, doanh nghiệp phải so sánh tỷ lệ tăng sản lượng trong năm thực tế
với kỳ trước, tỷ lệ tăng cuả ngành và của đối thủ cạnh tranh.
Chỉ tiêu tổng doanh thu
Ta có công thức tính tổng doanh thu của doanh nghiệp theo sản phẩm
và thị trường như sau:
TR = Pij x Qij (1.1)
TR: Tổng doanh thu
Pij: Giá của sản phẩm j tại thị trường i
Qij: Sản lượng sản phẩm j tiêu thụ trên thị trường i
Chỉ tiêu TR là một chỉ tiêu tổng quát nhất, nó là kết quả tổng hợp của
việc mở rộng thi trường cho các loại sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất tiêu
thụ trên các thị trường khác nhau. Tuy nhiên, cũng như chỉ tiêu sản lượng sản
phẩm tiêu thụ, để có thể tìm hiểu một cách rõ nét ta phải so sánh mức độ tăng
trưởng của doanh thu kỳ phân tích với doanh thu kỳ trước, mức doanh thu của
ngành. Tuy nhiên để đánh giá chỉ tiêu này chính xác thì cần phải nghiên cứu
các yếu tố liên quan như tỷ giá hối đoái, lạm phát.
14
Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận tuy không là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp kết quả của việc mở
rộng thị trường nhưng nó lại là một chỉ tiêu có liên quan mật thiết đến mở
rộng thị trường tiêu thụ sản phẩ. Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp nói lên
hiệu quả sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, thông qua mức
tăng trưởng của lợi nhuận cả về số tuyệt đối và tương đối ta có thể phần nào
đánh giá được việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Tiêu chí đánh giá mở rộng thị trường theo phạm vi địa lý
Để đánh giá việc mở rộng thị trường của doanh nghiệp theo phạm vi
địa lý, người ta dùng thước đo sự gia tăng về số lượng thị trường. Mỗi doanh
nghiệp đều luôn mong muốn tìm được những thị trường mới để gia tăng khối
lượng tiêu thụ hàng hóa hướng tới mục tiêu doanh số bán hàng ngày càng cao.
Để làm được việc đó, doanh nghiệp cần phải tìm kiếm những thị trường mới
mà nhu cầu của những thị trường đó có thể đáp ứng được bằng những hàng
hóa hiện có của mình.
Tiêu chí đánh giá mở rộng thị trường theo chủng loại hàng hóa
Trong một thời kỳ nhất định, số lượng chủng loại hàng hóa tăng lên
được dùng như một chỉ tiêu để đánh giá việc mở rộng thị trường của doanh
nghiệp. Kết hợp với các chỉ tiêu khác như chỉ tiêu về tổng doanh thu bán
hàng, cơ cấu chủng loại hàng hóa mới, chỉ tiêu này có thể cho thấy hiệu quả
của việc mở rộng thị trường theo hướng gia tăng chủng loại hàng hóa. Trên cơ
sở đó, doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định tiếp tục phát triển loại hàng hóa
mới đó hoặc dừng việc tung ra thị trường loại hàng hóa kém hiệu quả…
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng thị trường và tiêu thụ sản
phẩm trong doanh nghiệp
Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ sản phẩm đồng thời
cũng là các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng thị trường. Thị trường là một
15
lĩnh vực kinh tế phức tạp cho nên các nhân tố ảnh hưởng tới nó cũng rất
phong phú và phức tạp, thường là những nhân tố sau:
1.2.4.1. Nhóm các nhân tố khách quan
Các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh: Các nhân tố thuộc về
môi trường kinh doanh có ảnh hưởng đến mở rộng thị trường tiêu thụ. Môi
trường kinh doanh đang tạo ra những cơ hội kinh doanh cũng như các nguy
cơ cho doanh nghiệp. Chỉ trên cơ sở nắm vững các nhân tố thuôc về môi
trường kinh doanh doanh nghiệp mới đề ra mục tiêu, chiến lược đúng đắn.
Các nhân tố thuộc về môi trường có ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp đó là:
Môi trường kinh tế: có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp. Môi trường kinh tế bao gồm các yếu tố: tốc độ
tăng trưởng kinh tế, lãi suất ngân hàng, lạm phát, thất nghiệp, sự phát triển
ngoại thương, các chính sách tài chính tiền tệ, tỉ giá hối đoái... Mỗi doanh
nghiệp cần dự báo được mức độ ảnh hưởng của môi trường kinh tế đến doanh
nghiệp mình để tận dụng tối đa các cơ hội kinh doanh và hạn chế các nguy cơ.
Môi trường chính trị luật pháp: Gồm các nhân tố: sự ổn định chính trị,
đường lối ngoại giao, sự cân bằng các chính sách của nhà nước, chiến lược
phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, sự điều tiết và khuynh hướng can
thiệp của chính phủ vào đời sống kinh tế, hệ thống luật pháp, sự hoàn thiện và
hiệu lực thi hành của chúng. Các yếu tố thuộc về chính trị, luật pháp có ảnh
hưởng ngày càng lớn đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp phải tuân thủ những qui định về thuê mướn lao động, thuế, các qui
định trong lĩnh vực ngoại thương, các biến động tỉ giá, lãi suất,...
Môi trường văn hoá xã hội: các yếu tố văn hoá xã hội ảnh hưởng trực
tiếp đến cuộc sống và hành vi của con người, qua đó ảnh hưởng đến hành vị
mua sắm của con người. Môi trường xã hội gồm các nhân tố: dân số và xu
16
hướng vận động, tập quán tiêu dùng, trình độ văn hoá, thị hiếu khách hàng,
thu nhập,... Các doanh nghiệp nghiên cứu môi trường văn hoá xã hội quyết
định kinh doanh như thế nào? cung cấp mặt hàng gì? tổ chức quá trình tiêu
thụ ra sao?
Môi trường công nghệ: ngày nay, các doanh nghiệp luôn phải cảnh
giác với các công nghệ mới vì nó có thể làm cho sản phẩm bị lạc hậu một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Các doanh nghiệp thương mại không bị đe doạ
bởi những phát minh công nghệ như doanh nghiệp sản xuất nhưng nó có ảnh
hưởng tới chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Từ sự nhận biết về xu
hướng phát triển công nghệ giúp doanh nghiệp xác định được ngành hàng
kinh doanh cho phù hợp với xu hướng tiêu dùng trong tương lai.
Thị hiếu của người tiêu dùng với những sản phẩm mà doanh nghiệp
đang kinh doanh: Thị hiếu người tiêu dùng là nhân tố người sản xuất kinh doanh
phải quan tâm không chỉ từ khi định giá bán tung ra thị trường mà ngay từ khi
xât dựng chiến lược kinh doanh, quyết định phương án sản phẩm để đảm bảo
tiêu thụ nhanh và có lãi. Như ta đã biết, nếu sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được
thị hiếu của người tiêu dùng thì quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ diễn ra nhanh
chóng và nếu sảnphẩm sản xuất ra không phù hợp thì người tiêu dùng khó chấp
nhận và vì vậy thị trường sản phẩm sẽ dần bị diệt vong. Do đó thị hiếu là nhân tố
kích thích để doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường hay không.
Thị trường sản phẩm của doanh nghiệp là thị trường mà doanh nghiệp
tham gia vao việc kinh doanh các sản phẩm của mình, chịu sự chi phối chung
theo những quy luật thị trường như: quy luật cung cầu, quy luật giá cả, chu kỳ
sống của sản phẩm. Ở đây khi nghiên cứu mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp cần chú ý nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm. Chu kỳ sống
của sản phẩm là thời gian kể từ khi sản phẩm xuất hiện cho đến khi nó biến mất
trên một thị trường cụ thể. Một sản phẩm không có chỗ đứng trên thị trường này
nhưng lại có chỗ đứng trên thị trường khác. Trong các thị trường khác nhau, xác
17
định được hình thái sản phẩm là vấn đề hết sức quan trọng, từ đó xác định đúng
tương lai của nó để có chiến lược mở rộng hay thu hẹp thị trường thích ứng.
Doanh thu
Lợi nhuận
Đường doanh thu
Đường chi phí
T2 T3
T O T1 T4
Sơ đồ 1.1: Chu kỳ sống của sản phẩm
Đối thủ cạnh tranh: Trong nền kinh tế thị trường việc cạnh tranh là
điều không tránh khỏi - nó là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới thị trường tiêu
thụ sản phẩm của doanh nghiệp, thậm chí có thể đẩy doanh nghiệp tới chỗ phá
sản hoặc bị thôn tính. Việc mở rộng thị phần là mục tiêu của mọi doanh
nghiệp,nó chỉ xuất hiện khi nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường, hiểu rõ mạnh yếu của đối thủ cạnh tranh, để có chiến lược tiêu thụ tối
ưu. Đây cũng là một yếu tố có tính tích cực để các doanh nghiệp phải không
ngừng cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm, hoàn thiện tổ chức quản lý,
đáp ứng ngày một tốt hơn cho nhu cầu xã hội. Trong nền kinh tế thị trường
hiện nay, việc theo dõi, nắm bắt, và nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh là công
việc không thể thiếu được đôi khi mang tính sống còn đối với mỗi doanh
nghiệp. Sự ra đời của quá nhiều đối thủ cạnh tranh hay sự vượt trội về chất
lượng, kiểu dáng, chính sách tiêu thụ của mặt hàng cạnh tranh sẽ làm cho thị
trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp co lại, thậm chí sẽ bị mất hẳn nếu
không có những chính sách ứng phó kịp thời. Việc nghiên cứu đối thủ cạnh
tranh, sẽ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng thị trường tiêu
18
thụ sản phẩm của doanh nghiệp - do vậy là công việc cần được quan tâm thích
đáng và thường xuyên trong họat động kinh doanh của đơn vị.
Nhà cung cấp: Các nhà cung ứng các yếu tố đầu vào cho quá trình
sản xuất có thể chia xẻ lợi nhuận của một doanh nghiệp trong trường hợp
doanh nghiệp đó có khả năng trang trải các chi phí tăng thêm cho đầu vào
được cung cấp. Các nhà cung cấp có thể gây khó khăn làm cho khả năng của
doanh nghiệp bị giảm trong trường hợp:
Nguồn cung cấp mà doanh nghiệp cần chỉ có một hoặc một vài công
ty có khả năng cung cấp.
Loại vật tư mà nhà cung cấp bán cho doanh nghiệp là đầu vào quan
Từ các yếu tố trên thì nhà cung cấp có thể ép buộc các doanh nghiệp
trọng nhất của doanh nghiệp.
mua nguyên vật liệu với giá cao, khi đó chi phí sản xuất tăng lên, giá thành
đơn vị sản phẩm tăng, khối lượng tiêu thụ bị giảm làm doanh nghiệp bị mất
dần thị trường, lợi nhuận giảm. Để giảm bớt các ảnh hưởng xấu của các nhà
cung ứng tới doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần tăng cường mối quan hệ tốt
với nhà cung ứng, tìm và lựa chọn nguồn cung ứng chính có uy tín đồng thời
nghiên cứu để tìm ra nguồn nguyên vật liệu thay thế.
1.2.4.2. Nhóm các nhân tố chủ quan
Tiềm năng của doanh nghiệp
Mỗi một doanh nghiệp có một tiềm năng phản ánh thực lực của mình
trên thị trường. Đánh giá đúng đắn, chính xác tiềm năng của doanh nghiệp
cho phép xây dựng chiến lược, kế hoạch kinh doanh, tận dụng tối đa cơ hội
thời cơ với chi phí thấp để mang lại hiệu qủa trong kinh doanh.
Các nhân tố quan trọng để đánh giá tiềm năng của doanh nghiệp so với
các đối thủ cạnh tranh bao gồm:
19
Sức mạnh về tài chính. Khả năng tài chính là yếu tố đảm bảo ổn
định cho các hoạt động của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có nền tảng
tài chính tốt sẽ có khả năng hiện thực hóa các chiến lược, dự án kinh doanh
dài hạn mang lại lợi nhuận cao. Doanh nghiệp có sức mạnh về tài chính tốt
sẽ có cơ hội mở rộng thị trường lớn hơn. Sức mạnh tài chính của doanh
nghiệp có thể được đánh giá thông qua các chỉ tiêu về: tổng tài sản; nợ
ngắn hạn; nợ dài hạn; ...
Trình độ quản lý và kỹ năng của con người trong hoạt động kinh
doanh được thể hiện qua kinh nghiệm trong việc điều hành quản lý, cung
cấp dịch vụ khách hàng, năng lực tổ chức thực hiện tiêu thụ sản phẩm, tổ
chức sản xuất, ...
Tình hình trang thiết bị, công nghệ hiện có: nếu doanh nghiệp có
được những trang thiết bị hiện đại sẽ sản xuất ra những sản phẩm có chất
lượng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, dễ dàng tối ưu hóa qui mô
sản xuất để giảm giá thành từ đó tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên
thị trường.
Nguồn cung ứng vật tư được thể hiện qua việc đầu vào của quá trình
sản xuất có đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp hay không, doanh nghiệp
có chủ động được nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất hay không.
Sự đúng đắn của mục tiêu kinh doanh và khả năng kiên định trong
quá trình thực hiện hướng tới mục tiêu.
Do vậy tiềm năng của doanh nghiệp là nhân tố quyết định hàng đầu
cho phép doanh nghiệp có khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
của mình.
Chính sách mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Chính sách mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là
cơ sở để xác định phương hướng đầu tư, phát triển doanh nghiệp, là cơ sở để
20
thực hiện chính sách sản phẩm, giá bán, chính sách phân phối, chính sách
Marketing và là cơ sở để thực hiện các mục tiêu phát triển doanh nghiệp.
Chính sách sản phẩm là một nhân tố quyết định đối với chiến lược kinh doanh
cũng như chiến lược Marketing, bởi vì công ty chỉ tồn tại và phát triển được
thông qua sản phẩm bán ra.
- Chính sách sản phẩm
Để đạt được mục tiêu lâu dài, doanh nghiệp luôn phải tìm cách làm cho
sản phẩm hoặc dịch vụ của mình đáp ứng được nhu cầu thị trường, hay làm
cho sản phẩm của mình thích ứng với thị trường. Quá trình này gọi là quá
trình phát triển sản phẩm. Toàn bộ các biện pháp phát triển sản phẩm, làm cho
sản phẩm luôn thích ứng với thị trường được gọi là Chính sách sản phẩm.
Phát triển sản phẩm hoàn toàn mới
Đây là việc phát triển bậc cao nhất. Doanh nghiệp sẽ tổ chức ra sản
phẩm hoàn toàn mới, chưa từng có trên thị trường
Phát triển sản phẩm theo hướng cải tiến
Sản phẩm mới đối với doanh nghiệp là sản phẩm đầu tiên doanh
nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường. Sản phẩm đó có thể mới với cả doanh
nghiệp và thị trường, cũng có thể chỉ mới với doanh nghiệp mà không mới
với thị trường.
Loại bỏ sản phẩm lỗi thời
Sản phẩm lỗi thời là sản phẩm không có khả năng tiêu thụ trên thị
trường trong thời điểm hiện tại và tương lai.
Việc loại bỏ sản phẩm lỗi thời đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi
ích như: thu hồi vốn để đầu tư cho sản phẩm khác, tránh các chi phí phát
sinh do kinh doanh sản phẩm lỗi thời; củng cố uy tín của doanh nghiếp trên
thị trường.
21
Ngoài ra, trong điều kiện cạnh tranh thị trường như hiện nay, doanh
nghiệp nên có thêm những chính sách đối với sản phẩm của mình như: khác
biệt hoá sản phẩm hoặc cá thể hoá sản phẩm.
Khác biệt hoá sản phẩm: là chính sách của doanh nghiệp dựa vào
việc làm cho các sản phẩm của mình khác người, nhằm phân biệt chúng
với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Khác biệt có thể về đặc trưng kỹ
thuật của sản phẩm, về bao gói, hay về dịch vụ... Chính sách này cho phép
hướng việc mua của người tiêu dùng đến với các sản phẩm của doanh
nghiệp, khuyến khích người tiêu dùng mua sản phẩm của doanh nghiệp,
và tạo điều kiện có thể chuyển từ thị trường cạnh tranh hoàn hảo sang thị
trường độc quyền.
Cá thể hoá sản phẩm: Cá thể hoá sản phẩm có thể được thực hiện
theo những kỹ thuật khác nhau, như làm thoả mãn tính đa dạng của nhu cầu
của một khách hàng.
- Chính sách giá
Giá cả có một vị trí đặc biệt trong quá trình tái sản xuất, vì nó là khâu
cuối cùng và thể hiện kết quả của các khâu khác. Giá cả thể hiện sự tranh
giành lợi ích kinh tế và vị trí độc quyền. Nói cách khác, giá cả có vị trí quyết
định trong cạnh tranh thị trường. Do đó, cần xây dựng một chiến lược giá
đúng đắn mới đảm bảo kinh doanh có lãi, chiếm lĩnh được thị trường và có
hiệu quả cao.
Chính sách định giá theo thị trường: Đây là cách định giá khá phổ biến
của các doanh nghiệp hiện nay, tức là định mức giá bán sản phẩm xoay quanh
mức giá thị trường của sản phẩm đó. Ở đây, do không sử dụng yếu tố giá làm
đòn bẩy kích thích người tiêu dùng, nên để tiêu thụ được sản phẩm, doanh
nghiệp cần tăng cường công tác tiếp thị. Áp dụng chính sách này, để có lãi,
22
đòi hỏi doanh nghiệp cần thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp giảm chi phí
sản xuất kinh doanh.
Chính sách định giá thấp: Đây là cách định giá bán thấp hơn so với giá
thị trường. Chính sách này có thể hướng vào những mục tiêu khác nhau tuỳ
theo tình hình sản phẩm và thị trường. Có các cách định giá thấp như sau:
Định giá bán thấp hơn giá thống trị trên thị trường, nhưng cao hơn
giá trị sản phẩm (tức có mức lãi thấp). Nó được ứng dụng trong trường hợp
sản phẩm mới thâm nhập thị trường, cần bán hàng nhanh với khối lượng lớn,
hợc dùng giá để cạnh tranh với các đối thủ.
Định giá bán thấp hơn giá thị trường, và cũng thấp hơn giá trị sản
phẩm (chấp nhận thua lỗ). Cách định giá này áp dụng trong trường bán hàng
trong thời kỳ đầu, giới thiệu sản phẩm, hoặc muốn bán nhanh để thu hồi vốn.
Chính sách định giá cao: Tức là đinh mức giá cao hơn mức giá thống
trị trên thị trường và cao hơn cả giá trị sản phẩm. Cách định giá này có thể
chia ra:
Với những sản phẩm mới tung ra thị trường, người tiêu dùng chưa
biết rõ chất lượng của nó, chưa có cơ hội để so sánh về giá; áp dụng giá bán
cao sau đó giảm dần.
Với những doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền, áp
dụng giá cao (giá độc quyền), để thu lợi nhuận độc quyền.
Với những mặt hàng cao cấp, hoặc mặt hàng có chất lượng đặc biệt
tốt, kết hợp tâm lý người tiêu dùng thích phô trương giàu sang, áp dụng bán
giá cao tốt hơn giá thấp.
Trong một vài trường hợp đặc biệt định giá rất cao để hạn chế người
mua và tìm nhu cầu thay thế.
Chính sách ổn định giá bán: Không thay đổi giá bán sản phẩm theo
cung, cầu ở từng thời kỳ, từng khu vực. Cách làm này giúp doanh nghiệp
23
thâm nhập, giữ vững và mở rộng thị trường; tạo ra nét độc đáo trong chính
sách định giá của doanh nghiệp.
Chính sách bán phá giá: Đây là cách định giá ít được áp dụng trong
kinh doanh, vì nó cực kỳ nguy hiểm đối với các doanh nghiệp. Mục tiêu của
bán phá giá là tổi thiểu hoá các rủi ro hay thua lỗ. Bán phá giá chỉ áp dụng khi
sản phẩm bị tồn đọng quá nhiều, bị cạnh tranh gay gắt, sản phẩm lạc hậu
không phù hợp với nhu cầu tiêu dùng; sản phẩm mang tính thời vụ, khó bảo
quản, dễ hư hỏng, càng để lâu, cầng lỗ lớn. Việc bán phá giá vì mục tiêu tiêu
diệt đối thủ cạnh tranh thì cần tính toán hết sức thận trọng.
- Chính sách phân phối
Quyết định về mạng lưới phân phối có liên quan đến rất nhiều các
biến số có ảnh hưởng lẫn nhau cần được phối hợp trong chiến lược
Marketing-mix tổng thể. Do cần nhiều thời gian và tiền bạc để xác lập một
kênh phân phối và do kênh phân phối rất khó thay đổi một khi nó đã được
hình thành nên các quyết định về kênh là cực kỳ quan trọng đối với thành
công của doanh nghiệp.
Vấn đề khó khăn là phải tìm cho ra cách phân phối nào phù hợp, có
hiệu quả nhất với điều kiện và khả năng của doanh nghiệp. Việc nghiên cứu
các kênh phân phối hiện có và việc lựa chọn một kênh hay nhiều kênh phù
hợp nhất với sản phẩm chính là vấn đề then chốt mà doanh nghiệp cần phải
giải quyết.
Căn cứ vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng cuối
cùng, có hai hình thức tiêu thụ sau:
Tiêu thụ trực tiếp: Là hình thức doanh nghiệp bán thẳng sản phẩm
của mình cho người tiêu dùng cuối cùng không qua khâu trung gian. Hình
thức này có ưu điểm: Hệ thống các cửa hàng phong phú, tiện lợi. Việc tổ chức
kênh tiêu thụ trực tiếp phát triển mạng lưới nhiều hình thức khác nhau như
24
mở trụ sở, chi nhánh, cửa hàng, đại diện thương mại. Doanh nghiệp thường
xuyên tiếp xúc với khách hàng và thị trường, nắm rõ nhu cầu thị trường và
tình hình giá cả, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để gây thanh thế và uy tín cho
doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tổ chức kênh tiêu thụ trực tiếp đòi hỏi doanh
nghiệp phải có vốn sản xuất kinh doanh lớn, hoạt động bán hàng diễn ra với
tốc độ chậm, tốc độ chu chuyển vốn chậm, doanh nghiệp phải quan hệ với rất
nhiều bạn hàng.
Tiêu thụ gián tiếp: Là hình thức doanh nghiệp sản xuất bán sản phẩm
của mình cho người tiêu dùng cuối cùng thông qua các khâu trung gian. Với
kiểu tiêu thụ này, doanh nghiệp và người tiêu dùng cuối cùng không có mối
quan hệ trực tiếp mà chỉ có mối quan hệ gián tiếp thông qua doanh nghiệp
thương mại. Với hình thức này, doanh nghiệp có thể tiêu thụ được hàng hoá
trong thời gian ngắn nhất, thu hồi vốn nhanh, tiết kiệm được chi phí bảo quản,
hao hụt, song thời gian lưu thông hàng hoá tăng, tăng chi phí tiêu thụ và
doanh nghiệp khó kiểm soát được các khâu trung gian.
Do các đặc tính của sản phẩm, môi trường cần thiết để bán hàng, nhu
cầu và kỳ vọng của khách hàng tiềm năng, mà cường độ bao phủ thị trường
trong phân phối sản phẩm sẽ thay đổi. Sự bao phủ về phân phối được xem
như là một bảng biến thiên xếp từ phân phối rộng rãi tới phân phối độc quyền.
Phân phối rộng rãi: Nhà sản xuất cố gắng để đạt được sự bộc lộ qua
nhiều nhà bán buôn, bán lẻ cáng tốt. Hầu hết các hàng hoá tiện dụng yêu cầu
kênh phân phối rộng rãi dựa trên đặc tính của sản phẩm (giá trị đơn vị thấp)
và nhu cầu, kỳ vọng của người mua (sự lặp lại việc mua cao và sự tiện dụng).
Phân phối có lựa chọn: Người sản xuất hạn chế sử dụng các trung
gian cho những người nào được tin tưởng là có khả năng. Điều này có lẽ dựa
trên tổ chức dịch vụ có sẵn, tổ chức bán hoặc danh tiếng của trung gian. Bởi
vậy, dụng cụ, đồ gia dụng, và quần áo cao cấp thường được phân phối, có lựa
25
chọn. Với hàng dụng cụ, những dịch vụ của trung gian được xem như một
nhân tố then chốt, trong khi đối với đồ gia dụng hay quần áo cao cấp, danh
tiếng của trung gian sẽ là một sự xem xét quan trọng. Sự lựa chọn đó có thể
thông qua: Các đại lý đặc quyền duy nhất, các nhà nhập khẩu đặc quyền, bán
độc quyền cho các nhà bán buôn, tạo lập kênh phân phối chuyên môn hoá,
thiết lập một kênh “các nhà phân phối đặc quyền”…
Phân phối độc quyền: Nhà sản xuất hạn chế một cách chặt chẽ việc
phân phối, và các trung gian được độc quyền bán trong một khu vực cụ thể.
Các đặc tính của sản phẩm là những nhân tố quyết định ở đây. Nơi nào sản
phẩm yêu cầu nỗ lực bán phải được chuyên môn hoá nhất định hoặc các điều
kiện bán đặc biệt hoặc các nhà kho lớn, kiểu phân phối này thường được lựa
chọn. Các cửa hàng bán lẻ tranh là một ví dụ cho kiểu phân phối này.
- Chính sách Marketing
+ Chính sách xúc tiến và truyền thông: Chính sách xúc tiến và truyền
thông là một chính sách quan trọng và có hiệu quả trong hoạt động
Marketing, hỗ trợ và tăng cường cho các chính sách sản phẩm, giá cả và phân
phối. Nó giúp cho hàng hoá bán được nhiều hơn, nhanh hơn, đồng thời củng
cố vị trí của doanh nghiệp trên thương trường. các hoạt động của nó vừa khoa
học vừa nghệ thuật, đòi hỏi sự sáng tạo, linh hoạt, khéo léo trong quá trình
thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu vạch ra với chi phí thấp nhất.Trước
khi quyết định sử dụng công cụ khuyến mãi nào trong chiến lược Marketing
của mình, doanh nghiệp cần lựa chọn chiến lược đẩy hay kéo để tạo ra mức
tiêu thụ. Các chiến lược đẩy bao gồm tất cả các hoạt động với mục đích đưa
sản phẩm vào chu trình tiêu thụ của giới thương nhân và làm tăng nhanh việc
bán hàng bằng cách đưa ra các lý do khiến cho các thương nhân, các người
bán lẻ và các nhân viên bán hàng nỗ lực hoạt động. Ngược lại, chiến lược
Marketing kéo là một chiến lược mà một nhà sản xuất chủ yếu dựa vào sự
26
quảng cáo sản phẩm hoặc các xúc tiến bán hàng cho người tiêu dùng. Các
hoạt động này nhằm mục đích thúc đẩy người tiêu dùng mua sản phẩm thông
qua kênh phân phối.
Xúc tiến bán hàng: Là một hoạt động truyền thông trong đó sử dụng
nhiều phương tiện tác động trực tiếp, tạo lợi ích vật chất bổ sung cho khách
hàng như phiếu mua hàng, các cuộc thi, xổ số, quà tặng,... Thông qua đó
chúng thường xuyên cung cấp thông tin để dẩn khách hàng tới việc dùng sản
phẩm. Khuyến khích khách hàng dùng sản phẩm thông qua các lợi ích đi kèm.
Nhưng tác dụng của xúc tiến bán hàng chỉ trong thời gian ngắn, chứ không
phát huy tác dụng trong một thời kỳ dài.
Tuyên truyền: Tung ra những tin tức có ý nghĩa thương mại trên các
ấn phẩm, các phương tiện thông tin đại chúng, nhằm tăng uy tín của doanh
nghiệp trong tâm trí khách hàng, từ đó tăng nhu cầu của khách hàng dối với
sản phẩm, dich vụ. Tuyên truyền có sức hấp dẫn đối tượng nhận tin do thông
tin chính xác hơn quảng cáo.
Bán hàng cá nhân: Là sự giới thiệu bằng miệng về sản phẩm của
doanh nghiệp qua cuộc đối thoại với các khách hàng. Đây là công cụ hiệu quả
nhất ở những giai đoạn hình thành sự yêu thích và niềm tin của người mua và
giai đoạn ra quyết định mua. Nó góp phần hình thành mối quan hệ gắn bó
giữa doanh nghiệp với khách hàng.
Tham gia hội chợ, triển lãm: Là hoạt động xúc tiến thông qua việc
trưng bày hàng hoá, tài liệu về hàng hoá tại các hội chợ, triển lãm trong và
ngoài nước để giới thiệu, quảng cáo, tiếp thị, ký kết hợp đồng nhằm mở rộng
và thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hoá. Hội chợ, triển lãm là hoạt động mang tính
định kỳ được tổ chức tại một địa điểm, thời gian nhất định, là nơi người bán
và người mua trực tiếp giao dịch mua bán.
27
+ Chính sách đối với khách hàng: Các doanh nghiệp tồn tại trên thị
trường cần phải luôn chăm sóc các khách hàng của mình, vì khách hàng là
người sẽ mang đến cho doanh nghiệp, lợi nhuận, thị trường, và tất cả những gì
mà một daonh nghiệp mong muốn đạt được trong kinh doanh. Việc chăm sóc
khách hàng của doanh nghiệp thể hiện trong tất cả mọi hoạt động của doanh
nghiệp từ nghiên cứu, sản xuất, đến bán hàng và các dịch vụ sau bán hàng.
Nhưng thể hiện rõ nhất, mà mỗi khách hàng đều cảm nhận được chính là các
hoạt động bảo hành, sửa chữa, khuyến mại, giảm giá... hay gọi chung là các
dịch vụ sau bán hàng.
Bảo hành, sửa chữa: là các hoạt động nhằm chứng nhận cho khách
hàng biết chất lượng của sản phẩm của doanh nghiệp, khách hàng sẽ được
doanh nghiệp bảo đảm chất lượng sản phẩm trong một khoảng thời gian nhất
định, nếu trong khoảng thời gian đó có sự cố xảy ra đối với sản phẩm của
doanh nghiệp, doanh nghiệp sẵn sàng đổi, hoặc sửa chữa theo yêu cầu của
khách hàng, sao cho khách hàng cảm giác vừa lòng nhất.
+ Khuyến mại: là hoạt động hỗ trợ tiêu thụ của doanh nghiệp. Có nhiều
cách để tiến hành hoạt động khuyến mại như: chiết khấu và giảm giá, dùng
thử hàng hoá không phải trả tiền, tặng thưởng cho những khách hàng thường
xuyên, hay tặng vật phẩm mang biểu tượng quảng cáo...
+ Chiết khấu và giảm giá: Các doanh nghiệp đều thay đổi giá cơ bản
cho khách hàng có những hành động như thanh toán trước thời hạn, mua với
khối lượng lớn, mua trái thời vụ.
1.3. KINH NGHIỆM CỦA DOANH NGHIỆP VỀ MỞ RỘNG TIÊU
THỤ SẢN PHẨM
1.3.1. Kinh nghiệm của tập đoàn Ikea
Theo tạp chí điện tử doanh nhân Sài Gòn online ngày 03/5/2015 có bài
viết về Ikea như sau.
28
Ikea là tập đoàn sản xuất nội thất lớn nhất Thụy Điển. Năm 2014,
doanh số bán hàng của Ikea đạt 28,7 tỷ Euro. Đến năm 2015, tập đoàn Ikea sở
hữu 318 cửa hàng chính thức và gần 50 cửa hàng đã nhượng quyền thương
hiệu. Mục tiêu của Ikea từ đây đến năm 2020 là 500 cửa hàng toàn cầu, doanh
số bán hàng đạt 50 tỷ Euro.
Trong bài viết trên Fortune, phóng viên Beth Kowitt đã phân tích yếu
tố chính tạo nên thành công của Ikea: chiến lược tiến công chậm và chuyên
biệt hóa sản phẩm cho từng địa phương.
Theo Beth Kowitt, những bài học này có thể giúp ích cho các doanh
nghiệp đang có ý định mở rộng thị trường kinh doanh sang các quốc gia
khác.
- Chậm mà chắc
Điểm đến đầu tiên của Ikea được Fortune phân tích là Hàn Quốc. Theo
Beth Kowitt, Ikea đã mất 6 năm để xây dựng cửa hàng đầu tiên tại khu
Gwangmyeong của Hàn Quốc.
Trong 6 năm đó, một mặt Ikea tìm kiếm địa điểm phù hợp để xây dựng
cửa hàng rộng khoảng 500m2, lớn gấp 3 lần trung tâm thương mại của Wal-
Mart. Mặt khác, Ikea dành thời gian để nghiên cứu độ rộng cần thiết của
không gian dành cho trẻ em Hàn Quốc khi cùng bố mẹ đi mua sắm tại cửa
hàng, thiết kế ra loại bếp kết hợp tủ chứa kimchi nhằm đáp ứng nhu cầu của
người Hàn...
Lý giải về việc cần đến 6 năm để đặt 1 cửa hàng đầu tiên tại Hàn
Quốc, Mikael Palmquist - Giám đốc khu vực Asia Pacific của Ikea cho
biết: "Càng mở rộng ra toàn cầu thì bước đi càng phức tạp. Vì vậy, chúng
tôi cần làm đúng mọi thứ, nếu không thì kế hoạch sẽ không bao giờ thực
hiện thành công được".
29
Ngày nay, cửa hàng ở Gwangmyeong là một trong những cửa hàng lớn
nhất thế giới của công ty và bán sản phẩm chạy nhất của Ikea trên toàn cầu
năm 2015.
- Nghiên cứu, nghiên cứu và nghiên cứu
Giai đoạn đầu, khi công ty lần đầu tiên đặt chân vào nước Mỹ
năm 1985, Ikea đã rất lúng túng trong chiến lược kinh doanh. Ikea đã
đưa các sản phẩm từ giường ngủ đến tủ đồ được thiết kế theo đơn vị
centimet vào cửa hàng đầu tiên ở gần Philadelphia. Điều này dẫn đến
hệ quả là người Mỹ mua những chiếc bình hoa của Ikea và sử dụng
chúng như ly uống nước. Lý do là vì kích cỡ vật dụng ở châu Âu quá
nhỏ so với người Mỹ.
"Chúng tôi đã nghĩ mọi việc sẽ suôn sẻ. Kết cục, chúng trở thành địa
ngục", Steen Kanter - Cựu giám đốc điều hành của Ikea cho biết.
Năm 1992, hội đồng quản trị của Ikea đã dự tính lập kế hoạch thoát
khỏi thị trường Mỹ, theo New York Times. Song, thay vì rút lui, Ikea đã
quyết định làm một điều trước đây chưa từng làm: tái nghiên cứu thị trường
một cách mạnh mẽ.
Ngày nay, nghiên cứu thị trường là trái tim trong các cuộc mở rộng
của Ikea. "Càng đi xa khỏi nền văn hóa của Thụy Điển, chúng tôi càng cần
phải tìm hiểu, học hỏi và chấp nhận các nền văn hóa mới", Mikael Ydholm
- Giám đốc nghiên cứu của Ikea cho biết. Mục tiêu của Ikea là xuyên qua
những khác biệt để tìm ra giao điểm giữa hai nền văn hóa và ứng dụng vào
sản phẩm của mình.
Ví dụ, công ty đã thực hiện nghiên cứu với 8.292 người dân ở 8
thành phố lớn trên thế giới về thói quen mỗi buổi sáng. Theo đó, thời gian
từ lúc thức dậy đến lúc ra khỏi nhà vào buổi sáng của người dân Thượng
30
Hải nhanh nhất với 56 phút, khoảng thời gian này của người dân Mumbai
lâu nhất với 2 tiếng 24 phút. Người Mumbai có xu hướng tắt chuông báo
thức và ngủ tiếp (58% người thực hiện nghiên cứu đã làm điều này ít nhất
một lần). Người dân New York và Stockholm thích làm việc trong phòng
tắm. Và nhìn chung, phụ nữ dành nhiều thời gian để lựa chọn phục trang
mỗi ngày hơn so với nam giới.
Với các thông tin này trong tay, Ikea đã sản xuất ra loại gương đứng có
giá móc đồ và trang sức ở phía sau với tên gọi Knapper. Sản phẩm này nhằm
giúp người dùng lựa chọn trang phục của ngày hôm sau từ tối hôm trước để
rút ngắn thời gian lựa chọn vào buổi sáng.
Chiếc gương Knapper của Ikea
Một nghiên cứu khác cho thấy xu hướng dịch chuyển lên các thành
phố lớn để sống trong những không gian sống nhỏ hơn của người dân tầng
lớp trung lưu. Từ thông tin này, Ikea đã phục vụ khách hàng bằng cách sản
xuất ra những sản phẩm tích hợp nhằm tiết kiệm không gian.
31
Trong quá trình khảo sát, vấn đề lớn nhất mà Ikea gặp phải là người
tham gia khảo sát không nói đúng sự thật. Giải pháp của Ikea cho vấn đề
này là thực địa. Công ty đã chọn ra một số lượng hộ dân tình nguyện nhất
định và mời các nhà nhân chủng học đến sống cùng người dân một thời
gian. Ikea cũng đã thực hiện việc lắp camera quan sát trong nhà của các hộ
dân tình nguyện ở Stockholm, Milan (Italy), New York (Hoa Kỳ, Thẩm
Quyến (Trung Quốc) để hiểu kỹ hơn về cách người dân sử dụng các vật
dụng trong nhà.
Mục tiêu của những nỗ lực này là gia tăng mức hiểu biết về văn hóa địa
Ikea luôn nỗ lực nghiên cứu để sản xuất ra sản phẩm phù hợp với từng khu vực
phương để sản xuất ra sản phẩm phù hợp với từng khu vực.
Từ đây nảy sinh một thách thức khác cho Ikea chính là việc định giá.
Chiến lược của Ikea là cho khách hàng thấy họ có thể mua nhiều sản phẩm
với mức giá rẻ bất ngờ. Để làm được điều này, Ikea tiếp tục thực hiện nghiên
cứu để tìm ra "định mức mong đợi thấp nhất" về giá trong tâm lý của người
32
dân từng địa phương và điều chỉnh chi phí sản xuất để cung ứng một mức giá
thấp hơn.
Mô hình của Ikea dựa trên mức độ sản xuất của hãng tức là sản xuất số
lượng nhiều cho cùng một mặt hàng sẽ giúp công ty đảm bảo giá thành thấp
từ nhà cung ứng và chuyển thành giá bán thấp cho khách hàng. Trung bình
mỗi năm Ikea giảm 1% giá các mặt hàng. Kết hợp "chiến lược tiến quân chậm
và nghiên cứu sâu" đã đưa số lượng vật dụng nội thất của Ikea xuất hiện tại
nhiều quốc gia hơn so với Wal-Mart, Carrefour hay Toys “R” Us.
Tại Trung Quốc, Ikea có 8 trên 10 cửa hàng lớn nhất tại quốc gia này.
Trung Quốc cũng là thị trường phát triển nhanh nhất của Ikea. Bên cạnh đó,
các cửa hàng trưng bày của Ikea cũng sắp ra mắt ở Morocco, Brazil. Đồng
thời, Ikea đã có kế hoạch đầu tư 2 tỷ USD để mở 10 cửa hàng tại Ấn Độ trong
vòng 10 năm tới.
Theo Fortune, tầng lớp trung lưu lại các quốc gia mới nổi như Trung
Quốc hay Ấn Độ là nhân tố chính giúp Ikea đạt mốc doanh số 50 tỷ Euro đến
năm 2020.
1.3.2. Bài học rút ra cho các doanh nghiệp Việt Nam
Trong một môi trường kinh doanh luôn luôn biến động các doanh
nghiệp cần có tầm nhìn chiến lược để đề ra được những cách thức tiếp cận với
thị trường một cách linh hoạt.
Với các doanh nghiệp Việt Nam với khả năng tích lũy tư bản còn hạn
chế, kinh nghiệm kinh doanh còn ít, khoa học kỹ thuật còn yếu; vì thế khi
thâm nhập vào bất kỳ một thị trường khu vực nào cũng cần có những bước đi
thật vững chắc, xây dựng kế hoạch thật chi tiết, chuẩn bị các hoạt động cho
thật chu toàn cho dù doanh nghiệp có đang kinh doanh ở trong nước hay nước
ngoài. Đối với các hoạt động kinh doanh ở trong nước cần nắm được các
thông tin về đặc điểm, tình hình khu vực; khi mở rộng sang một khu vực mới
33
cần có kế hoạch cụ thể, chuẩn bị chu đáo các nguồn lực. Đối với các hoạt
động mở rộng kinh doanh ở nước ngoài thì việc làm cần chuẩn bị kỹ lưỡng
hơn nữa sao cho phù hợp với luật pháp văn hóa bản địa của nước đó.
Mọi hoạt động triển khai thâm nhập vào thị trường mới chỉ nên thực
hiện khi công tác nghiên cứu thị trường một cách kỹ lưỡng. Việc làm này sẽ
làm cho các doanh nghiệp có được thông tin cần thiết để ra quyết định có tiếp
tục kinh doanh ở thị trường đó hay rời bỏ. Sau khi quyết định thâm nhập vào
thị trường đó rồi cần tiếp tục nghiên cứu để ngày càng biết rõ hơn thị trường
kinh doanh của mình.
Đối với Ikea họ đã chọn nghiên cứu để hiểu con người, văn hóa của thị
trường, họ chấp nhận sự khác biệt văn hóa để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng; từ đó họ đi đến tối ưu hóa các sản phẩm của mình, định giá mong đợi
thấp, lấy quy mô sản xuất để giảm giá thành, phục vụ tầng lớp trung lưu…
Đối với mỗi doanh nghiệp cụ thể có thể có các cách thức, con đường khác
nhau tuy nhiên cần phải hiểu con người để đáp ứng nhu cầu của họ, đó là con
đường thành công của bất kỳ một doanh nghiệp nào.
34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS
2.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS
2.1.1. Lịch sử ra đời và phát triển
Công ty TNHH Fourbrothers được thành lập năm 2011 bởi ông
Nguyễn Văn Vũ trong một gia đình có bốn anh em trai. Là người con thứ
ba trong gia đình trung lưu trong vùng; không như những người con khác
với ý định trở thành công chức nhà nước sau khi học xong ông Vũ đã chọn
cho mình con đường riêng đầy thử thách đó là trở thành một doanh nhân.
Nhờ sự gặp gỡ và trở thành bạn với một bạn cùng lớp đã mang đến ý tưởng
sản xuất và kinh doanh các sản phẩm nến thơm. Sau nhiều thời gian nghiên
cứu kỹ thị trường ông đã quyết định mở xưởng sản xuất với số vốn khiêm
tốn nhưng đầy nhiệt huyết.
Sau hai năm sản xuất kinh doanh, công ty đã có được một lượng khách
hàng ổn định nhưng thị trường có những diễn biến mới, cạnh tranh trở nên
khốc liệt hơn trong bối cảnh đó công ty quyết định mở rộng sang lĩnh vực
cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp cùng ngành khác. Vào
tháng 3 năm 2013 công ty chính thực nhập khẩu lô paraffin đầu tiên để cung
cấp cho các doanh nghiệp khác đánh dấu bước đi quan trọng trong sự phát
triển non trẻ của mình tạo tiền đề cho các năm tiếp theo.
Những dấu mốc của công ty trong những năm qua:
- Năm 2011 thành lập công ty, tháng 6/2011 xây dựng xong xưởng đi
vào hoạt động với dòng sản phẩm nến thơm phục vụ nhà hàng mang thương
hiệu NgocVu candle.
- 2/2012 mở rộng thêm dòng sản phẩm nến phục vụ hoạt động văn hóa
tâm linh.
35
- 3/2013 mở rộng sang nhập khẩu paraffin cung cấp cho các doanh
nghiệp cùng ngành.
- 12/2013 nhận hợp đồng gia công cho đối tác Malaysia một số sản
phẩm nến thơm.
- 10/2014 liên kết với nông dân trồng Xả ép tinh dầu phục vụ cho sản
xuất và xuất khẩu.
2.1.2. Đặc điểm ngành nghề kinh doanh
Công ty TNHH Fourbrothers thành lập với ngành nghề kinh doanh
chính là nến thơm, các sản phẩm sáp thơm và các chất thơm khác. Dưới đây
là một số đặc điểm của ngành tại Việt Nam.
- Ngành sản xuất nến ở Việt Nam có từ lâu đời với các nguyên liệu ban
đầu xuất phát từ tự nhiên như sáp ong, sáp đậu tương… với việc phổ biến các
sản phẩm lọc hóa dầu, ngày nay các làng nghề truyền thống, các doanh nghiệp
sản xuất chủ yếu dùng nguyên liệu paraffin được tinh chế từ dầu mỏ để sản
xuất. Trong khi trên thế giới cuộc sống ngày một nâng cao nhu cầu trang trí,
thư giãn, làm đẹp ngày một phát triển đi với đó là nhu cầu sử dụng những cây
nến thơm, đẹp ngày càng cao như ở một số nước phương Tây. Trong lúc đó ở
Việt Nam do còn nghèo nên việc những cây nến phục vụ những lúc mất điện,
còn phổ biến. Tuy nhiên sau hơn 20 năm đổi mới, kinh tế phát triển, nhu cầu
ngày càng thay đổi những sản phẩm đã phổ biến thế giới đã bắt đầu xuất hiện
và tăng trưởng mạnh. Bên cạnh những sản phẩm phục vụ giải trí còn có các
sản phẩm phục vụ tâm linh mang tính tiện dụng và thể hiện được tín ngưỡng
phật giáo, nho giáo như ở Việt Nam.
- Hiện nay tham gia vào hoạt động kinh doanh nến thơm tuy mới nhưng
đã có các doanh nghiệp quốc tế tham gia vào Việt Nam. Các cơ sở sản xuất
nến thơm chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp, trong khi đó ở làng nghề lại
chỉ dừng lại ở việc sản xuất những cây nến đơn giản phục vụ thắp sáng kém
36
chất lượng hoặc phục vụ nhu cầu tâm linh nhưng không có công nghệ hay
trang thiết bị cần thiết.
- Các nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất chủ yếu phải nhập
khẩu từ nước ngoài. Trong nước chỉ sản xuất được một số nguyên liệu phụ
đơn giản, các hóa chất xuất phát từ nông nghiệp như sáp ong, sáp bơ, sáp đậu
tương nhưng ở quy mô rất nhỏ.
- Công nghệ, máy móc sản xuất thường có chi phi phí cao và hầu hết là
nhập khẩu, tuy nhiên đây là một ngành có nhiều triển vọng phát triển trong
thời gian tới.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty
- Sơ đồ cơ cấu tổ chức:
Giám Đốc
Tài Chính- Kế Toán
TT
Thu Mua Sản Xuất
Kinh Doanh- Marketing
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức công ty TNHH Fourbrothers
- Nhiệm vụ của các phòng ban:
Giám đốc: Chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động hàng ngày của
công ty, chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu công ty về việc thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của mình bao gồm: Tổ chức thực hiện quyết định của chủ
tịch công ty; Quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hàng
ngày; Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công
37
ty; Ban hành quy chế quản lý nội bộ công ty; Bổ nhiệm, cách chức các chức
danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của chủ tịch
công ty; Kí kết các hợp đồng nhân danh công ty; Kiến nghị phương án cơ cấu
công ty; Trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên chủ tịch công ty;
Kiến nghị phương án sử dụng lợi nhuận hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh;
Tuyển dụng lao động.
Phòng tài chính - kế toán: Chịu trách nhiệm các công việc kế toán,
tài chính, thống kê cho các hoạt động của công ty.
Phòng thu mua: Chịu trách nhiệm thu mua các sản phẩm đầu vào cho
doanh nghiệp, các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh.
Phòng Sản xuất: Trực tiếp chỉ đạo các hoạt động tổ chức sản xuất,
sản xuất các sản phẩm đã được phê duyệt, đề xuất các phương án sản xuất
mới, chịu trách nhiệm về xưởng sản xuất.
Phòng kinh doanh - marketing: Chịu trách nhiệm các công việc liên
quan đến đầu ra của sản phẩm, đề xuất các chiến lược kinh doanh của công ty.
2.1.4. Tình hình và kết quả kinh doanh của công ty
Kết quả kinh doanh
Nhìn vào “bảng 2.1” dưới đây ta thấy được kết quả hoạt động kinh
doanh của công ty Fourbrothers qua các năm 2012 - 2014 như sau:
Tổng doanh thu bán hàng năm 2012 là 8.769.230.000 VNĐ, năm 2013
đạt 15.682.160.000 VNĐ tăng 78,83% so với năm 2012, năm 204 đạt
17.892.016.000 VNĐ tăng 12,94% so với năm 2013.
Lợi nhuận sau thuế năm 2012 là 392.728.490 VNĐ, năm 2013 đạt
427.553.280 VNĐ tăng 8,87% so với năm 2012, năm 2014 lợi nhuận sau thuế
đạt 254.165.450 VNĐ giảm 40,5% so với năm 2013.
Như vậy mặc dù doanh thu của công ty Fourbrothers tăng trưởng khá
tốt qua các năm 2012-2013 tuy nhiên lợi nhuận sau thuế lại không tương
38
xứng, có xu hướng giảm do chi phí qua các năm tăng. Năm 2012 chi phí là
7.861.253.000 VNĐ sang đến năm 2013 tăng lên 14.971.120.000 VNĐ bằng
90% so với năm 2012, năm 2014 tăng lên 17.223.210.000 VNĐ bằng 15% so
với năm 2013 và bằng 119.1% so với năm 2012. Do chi phí tăng nhanh hơn
cả doanh thu nên lợi nhuận có xu hướng giảm, nguyên nhân của tình trạng
này do đầu tư nhiều vào các hoạt động mới, không như năm 2012 gần như các
hoạt động chỉ xoay quanh sản xuất và tiêu thụ nến thơm, sang năm 2013 và
2014 mở rộng sang xuất, nhấp khẩu paraffin và đầu tư ban đầu cho trồng xả
ép tinh dầu.
Bảng 2.1: Bảng báo cáo kết quả kinh doanh 2012-2014
(ĐVT: 1000 VNĐ)
2012 2013 2014 Chỉ tiêu
8.769.230 15.682.160 17.892.016 Doanh thu
Giảm trừ doanh thu 236.710 423.231 186.700
7.861.253 14.971.120 17.223.210 Chi phí
Lãi/ Lỗ từ hd Kinh doanh 671.267 1.287.809 482.106
Lãi/ Lỗ từ hd tài chính -161.230 -732.545 -152.021
510.037 555.264 330.085 Tổng lợi nhuận trước thuế
Thuế thu nhập doanh nghiêp 117.308,51 127.710,72 75.919,55
392.728,49 427.553,28 254.165,45 Lợi nhuận sau thuế
(Nguồn: Phòng Tài chính-Kế toán)
Hoạt động xuất, nhập khẩu
Các sản phẩm nhập khẩu của công ty chủ yếu là paraffin phục vụ cho
sản xuất và phân phối cho các nhà sản xuất khác, ngoài ra còn nhập khẩu một
số nguyên vật liệu phụ cho hoạt động sản xuất của mình.
39
Bảng 2.2: Hoạt động Xuất-Nhập khẩu
(ĐVT: Khối lượng = kg; Giá trị = 1000 VNĐ)
Nhập khẩu
Xuất khẩu
Paraffin
Nguyên vật liệu phụ
Nến thành phẩm
Năm
Khối
Khối
Khối
Giá trị
Giá trị
Giá trị
lượng
lượng
lượng
0 0 7.875.000 _ 250.000 2012 250
0 0 10.608.000 _ 472.000 2013 340
12.088.000 _ 518.000 50 1.607.500 2014 400
Qua “Bảng 2.2” cho thấy khối lượng và giá trị của hoạt động nhập khẩu
(Nguồn: Phòng Tài chính-Kế toán)
paraffin không ngừng tăng, năm 2013 tăng 38,77% về khối lượng và 35,62%
về giá trị so với năm 2012, năm 2014 tăng 17,5% về khối lượng và 20,16% về
giá trị so với năm 2013. Năm 2012 công ty chưa phân phối paraffin nên hoạt
động nhập khẩu còn ít chỉ phục vụ cho hoạt động sản xuất nến của mình.
Nhập khẩu nguyên vật liệu phụ cũng tăng qua các năm từ 2012-2014
gần như tương ứng với hoạt động nhập khẩu paraffin, trong khi đó hoạt động
xuất khẩu của công ty còn rất hạn chế và sang năm 2014 hoạt động này mới
diễn ra. Có thể đây là bước đi nhỏ trên chặng đường dài trong một nền kinh tế
đang toàn cầu mạnh mẽ nhưng là bước đi cần thiết, cần phải có để công ty có
thể đứng vững và phát triển trong tương lai.
2.2. THỰC TRẠNG MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
TẠI CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS
2.2.1. Thị trường sản phẩm
Công ty TNHH TM Fourbrothers là một doanh nghiệp tư nhân chuyên
sản xuất, kinh doanh các mặt hàng nến thơm, các chất thơm, nhập khẩu và
40
xuất khẩu các nguyên liệu, phụ liệu cho hoạt động của mình. Hoạt động tiêu
thụ sản phẩm rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó quyết định đến sự tồn
tại; lợi nhuận; hoạt động của công ty. Hiện tại công ty đang sản xuất tiêu thụ
các sản phẩm sau:
Nến thơm, gồm 2 dòng sản phẩm chính nến container và Taper/Tâm linh.
Trong đó nến container với đặc điểm là có bao chứa bên ngoài bằng các
chất liệu như polime, composit, nhôm, thép... với nhiều kích cỡ và hình dáng
khác nhau. Hầu hết các sản phẩm này đều có mùi thơm (42 mùi khác nhau).
Các sản phẩm nến container thường được sử dụng để trang trí hoặc khử mùi
hôi trong phòng, tiện dụng trong quá trình sử dụng. Cùng một khối lượng
nguyên liệu nhưng cho thời gian cháy lâu hơn khi không có bao chứa do
không lãng phí trong quá trình sư dụng. Hiện tại công ty có các sản phẩm với
các tên gọi như: nến tealight (đèn trà) với thương hiệu NgocVu, Deluxe; nến
trụ Deluxe, nến hũ thủy tinh Deluxe ...
Nến Taper/Tâm linh: tùy từng sản phẩm khác nhau mà có thể có mùi
thơm hoặc không mùi, dòng sản phẩm này cần có khuân đúc phức tạp và các
sản phẩm thường phải làm nhiều bằng tay, tốn nhiều nhân công. Nghệ thuật
trong tạo hình là đặc trưng của dòng sản phẩm này. Hiện công ty đang tiêu
thụ các sản phẩm như: taper, trụ rồng, trụ phượng nghê, sen, hoa cúc, trụ khắc
hoa... với nhiều kích cỡ khác nhau mang thương hiệu Thiên Anh.
Paraffin: là sản phẩm nguyên liệu cho sản xuất nến, được hình thành từ
quá trình lọc hóa dầu, có màu trắng, nhiệt độ nóng chảy từ 58-600C. Paraffin
từ lọc hóa dầu này chủ yếu được nhập khẩu. Hiện tại công ty đang tiêu thụ sản
phẩm mang thương hiệu Namhai và Kunlun. Ngoài việc sử dụng sản xuất
nến, paraffin còn sử dụng trong sản xuất nhựa, sản xuất gỗ ép, củi công
nghiệp...
41
Dầu xả: là sản phẩm thu được từ quá trình chưng cất thân và lá cây
xả, sản phẩm này có dùng trong công nghiệp mỹ phẩm, tạo ra các loại
hương liệu khác.
2.2.2. Thực trạng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tại công ty
2.2.2.1. Mở rộng về quy mô tiêu thụ sản phẩm
Thị phần
Hiện nay công ty đã có uy tín và thị phần tương đối lớn với các đối thủ
cạnh tranh trên khu vự Hà Nội, các sản phẩm của công ty đã có mặt tại các
cửa hàng đại lý, các nhà hàng, các chợ, siêu thị. Công ty có các chiến lược
kinh doanh linh hoạt - mềm dẻo, tùy tình hình thị trường và đặc điểm của
từng loại khách hàng để có các chính sách tốt nhất đáp ứng nhu cầu của khách
hàng. Do đặc điểm ngành nghề kinh doanh đã có những thay đổi nhanh chóng
vì thế mà công ty đã chuyển sang một số hoạt động khác nhằm tăng doanh thu
và hoạt động phân phối paraffin ngày càng mở rộng góp phần vào sự tăng
trưởng vững chắc.
Các khu vực phía Bắc và phía Nam mặc dù thị trường rất lớn nhưng
công ty chưa có được thị trường tương xứng, tuy nhiên cũng đã có góp phần
vào chiếc bánh chung.
Trong nghiên cứu này tác giả chưa có điều kiện thu thập dữ liệu để
phân tích về thị phần của công ty nên chưa thể làm rõ được chỉ tiêu này, xin
để nghiên cứu trong các nghiên cứu sau này.
Doanh thu từ sản phẩm tiêu thụ
- Chỉ tiêu doanh thu bán hàng theo quý:
42
Bảng 2.3: Doanh thu bán hàng theo quý
(ĐVT: 1000 VNĐ)
Năm Quý Nến container Nến taper/Tâm linh Paraffin
I 1.420.000 217.000 0
II 1.120.000 152.000 0 2012 III 1.215.000 852.000 0
IV 1.493.000 932.230 0
I 1.131.000 870.172 0
II 1.235.000 987.000 1.231.000 2013 III 978.000 1.723.000 2.872.000
IV 1.398.056 789.872 2.458.060
I 842.000 1.623.000 1.125.000
II 1.260.000 1.012.000 1.762.000 2014 III 720.000 1.521.00 2.026.414
IV 655.134 1.078.969 2.529.000
(Nguồn: Phòng Tài chính-Kế toán)
Qua “bảng 2.3” doanh thu theo quý của từng loại hàng cho thấy dòng
sản phẩm nến container không biến động nhiều qua các quý trừ năm 2014
doanh thu của cả năm sụt giảm; năm 2012 và 2013 doanh thu tăng về quý IV.
Dòng sản phẩm nến container chủ yếu phục vụ nhu cầu của các nhà hàng,
khách sạn nên nhu cầu tương đối ổn định không phân tán nhiều theo thời gian,
tuy nhiên vào quý IV do thời tiết ở miền Bắc tương đối lạnh và là dịp có
nhiều lễ hội nên doanh thu của quý này có tăng hơn so với ba quý còn lại
nhưng không nhiều. Chỉ riêng năm 2014 là không như vậy tuy nhiên đây là
năm có nhiều biến chuyển trong hoạt động kinh doanh của công ty dòng sản
phẩm Taper/ Tâm linh có sự tăng trưởng tốt. Công ty đang chuyển đổi cơ cấu
43
sản phẩm của mình sang phân phối paraffin và một phần nguồn lực phục vụ
cho việc trồng xả ép tinh dầu.
Dòng sản phẩm nến Taper/Tâm linh cũng tương đối ổn định qua các
quý, riêng quý III có sự chênh lệch hơn so với các quý còn lại do đây là thời
điểm chuẩn bị cho quý IV với nhiều lễ hội bắt đầu từ 15/7 âm lịch hàng năm.
Việc chuyển hướng sang kinh doanh dòng sản phẩm này cho thấy nhãn quan
quan sát đúng đắn của công ty vì dòng sản phẩm nến container có xu hướng
giảm về thị phần trong khi đó doanh thu của dòng sản phẩm Taper/Tâm linh
này ngày càng cao.
“Bảng 2.3” cũng chỉ ra doanh thu theo quý của sản phẩm paraffin có sự
thay đổi. Quý III và IV có doanh thu cao hơn do một số sản phẩm cùng ngành
mà công ty kinh doanh có cùng nguyên liệu sản xuất phục vụ chủ yếu trong
lĩnh vực lễ hội vào dịp cuối năm và đầu năm âm lịch của Việt Nam. Việc
chuyển hướng sang kinh doanh, phân phối paraffin là một bước đi vững chắc
thể hiện chiều sâu trong việc nhận diện vấn đề, đặt nền móng để doanh nghiệp
phát triển bền vững, tăng uy tín, thương hiệu của công ty trên thị trường.
- Chỉ tiêu doanh thu theo phương thức bán hàng:
Trong việc phân phối sản phẩm của mình công ty Fourbrothers thực
hiện cả phương thức tiêu thụ trực tiếp và gián tiếp, tuy nhiên tiêu thụ trực tiếp
được công ty chú trọng hơn. Lý do ở đây là do công ty muốn giảm tối đa các
khâu trung gian để tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm của mình, thấu hiểu
khách hàng cần gì để có những biện pháp thay đổi nhanh chóng đáp ứng lại
những thay đổi đó. Tuy nhiên trong hoạt động của mình, công ty chọn hình
thức bán buôn là chủ yếu vì người mua buôn thường mua với số lượng tương
đối lớn và việc tiếp cận đối tượng này thường dễ dàng hơn các đối tượng là
khách hàng cá nhân hay các đại lý mô giới.
44
Bảng 2.4: Cơ cấu doanh thu theo phương thức bán hàng
(ĐVT: 1000 VNĐ)
Năm 2013 Năm 2014 Phương thức
bán Kế hoạch Thực tế Kế hoạch Thực tế
Bán trực tiếp: 13.700.000 11.251.000 14.000.000 13.252.000
+ Bán buôn 12.650.000 10.121.000 13.000.000 11.321.000
+ Bán lẻ 1.050.000 1.130.000 1.000.000 1.931.000
Đại lý 6.300.000 4.431.160 9.000.000 4.640.000
(Nguồn : Phòng Tài chính-Kế toán)
Qua “bảng 2.4” cho thấy bán hàng trực tiếp là kênh mà công ty
Fourbrothers đang sử dụng chủ yếu trong đó bán buôn là chính. Doanh thu
bán hàng giữa kế hoạch và thực tế có sự chênh lệch đặc biệt là năm 2013
trong phương thức bán buôn chênh lệch giữa thực tế và kế hoạch là
2.529.000.000 VNĐ, lệch gần 20%, trong khi đó phương thức bán lẻ lại vượt
kế hoạch 7,62%; phương thức bán đại lý cũng có sự chênh lệch lớn 29,67%.
Điều này cho thấy việc lập kế hoạch doanh số bán hàng của công ty chưa sát
với thực tế.
Năm 2014 phương thức bán hàng trực tiếp giữa kế hoạch và thực tế
có sự chênh lệch không đáng kể khoảng 5,34% nhưng lại có sự chênh lệch
lớn giữa kế hoạch và thực tế trong phương thức bán lẻ đó là 93,1%.
Phương thức bán hàng đại lý cũng có sự chênh lệch lớn giữa kế hoạch và
thực tế 48,4%.
Nhìn chung tổng doanh thu theo phương thức bán hàng của công ty đều
tăng trên tất cả các phương thức, đối với thực tế bán trực tiếp tăng 17,78%;
bán buôn tăng 11,8%; bán lẻ tăng 70,8%; bán đại lý tăng 4,7%.
45
- Doanh thu từ hoạt động xuất khẩu:
Hoạt động xuất khẩu của công ty đã bắt đầu có doanh thu với khối
lượng 50 tấn và 1.607.500.000 VNĐ về giá trị. Tuy con số không nhiều xong
đây là tín hiệu tốt cho công ty trên con đường hội nhập với thế giới, góp phần
vào sự phát triển chung của đất nước.
Chỉ tiêu khối lượng sản phẩm
Bảng 2.5: Khối lượng xuất bán theo loại hàng
2012 2013 2014 Tên loại hàng
Khối lượng (tấn) Khối lượng (tấn) Khối lượng (tấn)
Nến container 65,6 59,275 49,67
Taper/ Tâm linh 44,015 48,656 60,388
Paraffin 0 208,28 242,03
(Nguồn: Phòng Tài chính-Kế toán)
Từ “bảng 2.5” cho thấy khối lượng nến container liên tục giảm qua các
năm. Cụ thể năm 2013 giảm 9,64% so với năm 2012; năm 2014 giảm 16,2%
so với năm 2013. Trong khi đó dòng nến Taper/Tâm linh liên tục tăng qua các
năm, năm 2013 tăng 10,54% so với năm 2012; năm 2014 tăng 25,1% so với
năm 2013.
Hoạt động phân phối paraffin đến năm 2013 mới diễn ra nhưng đã có
sự bứt phá mạnh mẽ về khối lượng hàng hóa tiêu thụ của công ty bằng
65,86% năm 2013 và bằng 68,74% năm 2014. Năm 2014 cũng có sự tăng
trưởng so với năm 2013 là 16,2%.
Nhìn chung dòng nến container đối với công ty Fourbrothers đang có
xu hướng đi xuống, trong khi đó dòng nến Taper/Tâm linh có xu hướng đi
lên. Đặc biệt là sản phẩm paraffin đang cho thấy là một thị trường có tiềm
năng lớn.
46
Chỉ tiêu lợi nhuận
Từ bảng kết quả kinh doanh “bảng 2.1” của công ty cho thấy Lợi nhuận
sau thuế của công ty Fourbrothers có sự biến động năm 2012 là 392.728.490
VNĐ, nộp 117.308.510VNĐ thuế thu nhập doanh nghiệp; năm 2013 lợi
nhuận là 427.553.280VNĐ, nộp 127.710.720 VNĐ thuế thu nhập doanh
nghiệp; năm 2014 lợi nhuận là 254.165.450VNĐ, nộp 75.991.900VNĐ thuế
thu nhập doanh nghiệp. Có thể thấy năm 2013 và 2014 doanh thu tăng nhiều
so với năm 2012 nhưng lợi nhuận lại không tăng tương xứng, lý do ở đây là
hoạt động nhập khẩu và phân phối paraffin của công ty có giá trị gia tăng
thấp, mặt khác năm 2014 công ty có tăng chi phí hoạt động cho các hoạt động
kinh doanh mới đó là đầu tư cho trồng xả ép tinh dầu.
2.2.2.2. Mở rộng thị trường theo phạm vi địa lý
Tiêu thụ sản phẩm theo khu vực địa lý
Để tiến hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả căn cứ bằng sản phẩm
bán ra. Công ty Fourbrothres đã mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
mình trên toàn quốc thông qua các cách tiếp cận khác nhau, được phân chia ra
làm 3 khu vực đó là Hà Nội, các tỉnh Miền Bắc, các tỉnh Miền Nam từ Quảng
Trị trở vào.
Bảng 2.6: Tiêu thụ sản phẩm nến tại thị trường Việt Nam
(ĐVT: 1000 VNĐ)
Doanh số Lợi nhuận Năm Hà Nội Miền Bắc Miền Nam Hà Nội Miền Bắc Miền Nam
2012 4.213.123 3.411.102 1.145.005 204.014,8 178.512,95 127.509,025
2013 5.114.210 2.712.544 1.294.346 194.442,8 184.342 166.579,2
2014 4.711.323 3.111.752 1.089.028 99.025,5 115.529,75 127.145,51
(Nguồn : Phòng Tài chính-Kế toán)
47
Qua “bảng 2.6” cho thấy họat động sản xuất và kinh doanh sản
phẩm nến của công ty Fourbrothers có những điểm đáng chú ý sau:
doanh thu từ hoạt động tiêu thụ ở thị trường Hà Nội chiếm một tỉ trọng
tương đối lớn, năm 2012 là 48%; năm 2013 là 56%; năm 2014 là 52,8%.
Các tỉnh lân cận Hà Nội và miền Bắc chiếm tỉ trọng lớn thứ hai, năm
2012 là 38,9%; năm 2013 là 29,74%; năm 2014 là 34,9%. Còn lại doanh
thu từ hoạt động tiêu thụ nến của các tỉnh phía nam chiếm tỉ trọng thấp
nhất, năm 2012 là 13,1%; năm 2013 là 14,26%; năm 2014 là 12,3%. Từ
số liệu này cho thấy công ty hoạt động chủ yếu trên địa bàn Hà nội và
các tỉnh lân cận đặc biệt là Hà Nội; nơi tập trung đông dân cư và thu
nhập cao của các tỉnh phía bắc. Việc tập trung tiêu thụ ở thị trường này
đem lại lợi thế địa phương hóa các sản phẩm, phục vụ nhu cầu riêng của
khu vực. Hơn nữa với một doanh nghiệp mới thành lập, còn nhiều hạn
chế về tiềm lực tài chính, tiềm lực về nhân lực chưa sâu, kinh nghiệm
chưa nhiều thì đây có thể là bước đi khởi đầu vững chắc cho những năm
sau này.
Tuy nhiên từ “bảng 2.6” cũng chỉ ra rằng doanh số của mặt hàng nến
mà công ty đang cung cấp có xu hướng đi ngang, không tăng trưởng, thậm chí
có xu hướng giảm xét trên cả ba khu vực. Phải chăng việc mở rộng tiêu thụ
sản phẩm của công ty đang gặp phải vấn đề gì đó? Thị trường chính là Hà Nội
doanh số không tăng nhiều sau ba năm hoạt động. Trong khi đó thị trường
miền Nam có đông dân cư, có thói quen chi tiêu nhiều cho tiêu dùng, đặc biệt
là thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đông Nam Bộ có mật độ dân cư cao,
thu nhập bình quân đầu người cũng vào loại cao nhất nước lại có doanh thu
nhỏ nhất.
Lợi nhuận của khu vực Hà Nội có xu hướng giảm tương đối nhanh cho
dù đây là thị trường đầu tiên và có thị phần lớn nhất của công ty.
48
2.2.2.3. Mở rộng tiêu thụ sản phẩm về chủng loại hàng hóa
Tiêu thụ sản phẩm theo mặt hàng kinh doanh
Xuyên suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, công ty
Fourbrothers luôn đặt mục tiêu phát triển sản phẩm theo hướng cải tiến, bắt
chước sản phẩm đã có trên thị trường, thay đổi một vài chi tiết cho phù hợp
hơn với nhu cầu của người tiêu dùng để có khả năng cạnh tranh cao hơn, giảm
chi phí và rủi ro trong việc phát triển sản phẩm hoàn toàn mới. Hơn nữa khi
cải tiến sản phẩm làm cho công ty tránh khỏi các kiện tụng liên quan đến bản
quyền, giảm chi phí mua lại bản quyền sở hữu.
Đối với dòng sản phẩm nến container công ty đã tạo cho mình một bộ
nhận diện thương hiệu riêng với các kiểu dáng, hương thơm, màu sắc kích
thước riêng có trên thị trường nhưng công dụng lại gần như không khác nhiều
so với các sản phẩm cạnh tranh cùng loại. Đối với dòng sản phẩm Taper/ Tâm
linh doanh nghiệp đã đầu tư làm ra hệ thống khuân mẫu phù hợp với văn hóa,
tín ngưỡng của người Việt. Các sản phẩm này đã được công ty đăng kí bản
quyền với cục sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Quy luật “chu kỳ sống sản phẩm” đối với hàng hóa là điều khó tránh
khỏi, chính vì thế công ty đang liên tục tạo ra các sản phẩm mới, có tính khác
biệt so với các sản phẩm đã có để thay thế các loại sản phẩm lỗi thời đi vào
giai đoạn thoái trào trong chu kỳ sống của nó.
Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường công ty đã đưa ra nhiều loại
sản phẩm với mục đích sử dụng khác nhau, được phân chia làm hai dòng sản
phẩm chính. Bên cạnh đó, để mở rộng hoạt động của mình công ty đã tìm ra
hướng đi mới nhằm tăng cường thế mạnh trên thị trường đầy cạnh tranh trong
ngành đó là nhập khẩu tiêu thụ Parffin, cung cấp cho các doanh nghiệp khác
mà có thể là đối thủ cạnh tranh trong sản phẩm nến mà công ty đã cung cấp
trên thị trường. Việc làm này đem lại uy tín và sự bền vững trong kinh doanh,
49
xong nó cũng chứa đựng những rủi ro như đầu tư dàn trải, không tập trung
vào hoạt động chính của mình đó là kinh doanh nến.
Bảng 2.7: Cơ cấu sản phẩm tiêu thụ
2012 2013 2014
Khối Khối Khối Tên loại hàng Giá trị Giá trị Giá trị lượng lượng lượng (1000VNĐ) (100 VNĐ) (1000 VNĐ) (tấn) (tấn) (tấn)
Nến container 65,6 5.248.000 59,275 4.742.056 49,67 3.477.134
Taper/Tâm linh 44,015 3.521.230 48,656 4.379.044 60,388 5.434.969
Paraffin 0 0 208,28 6.561.060 242,03 7.442.414
(Nguồn : Phòng Tài chính-Kế toán)
Qua “bảng 2.7” cho thấy dòng sản phẩm nến container chiếm tỉ trọng
lớn về giá trị trong tổng doanh thu cụ thể là năm 2012 chiếm 59,84% về khối
lượng và cùng 59,84% về giá trị; năm 2013 chiếm 18,74% về khối lượng và
30,23% về giá trị, năm 2014 chiếm 14,1% về khối lượng và 21,25% về giá trị.
Năm 2012 do không nhập khẩu và phân phối paraffin nên tỉ trọng của dòng
nến container chiếm lớn so với dòng Taper/Tâm linh. Đến năm 2013 công ty
nhập khẩu và phân phối thêm paraffin nên tỉ trọng khối lượng của cả hai loại
nến thơm giảm xuống nhưng có sự khác biệt, cụ thể là năm 2013 dòng nến
container chiếm 30,23% về giá trị còn dòng nến Taper/Tâm linh chiếm
29,92% về giá trị: năm 2014 dòng nến container chiếm 21,25% về giá trị còn
dòng nến Taper/Tâm linh chiếm 33,23% về giá trị. Từ đây có thể nhận thấy dòng
nến container có xu hướng giảm dần cả về khối lượng và giá trị còn dòng nến
tâm linh có xu hướng tăng lên cả về khối lượng và giá trị. Điều này phải chăng
phản ánh sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của dòng nến container? Hay phản
50
ánh sự đi xuống của cầu thị trường? hoặc việc đầu tư thêm dòng sản phẩm và
hoạt động mới làm ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ của dòng nến
container?...
Qua “bảng 2.7” còn cho thấy hoạt động nhập khẩu và phân phối
paraffin có bước phát triển tốt, tăng cả về khối lượng và giá trị. Cụ thể là năm
2012 chưa có hoạt động nhưng sang năm 2013 chiếm tỉ trọng lớn về khối
lượng 65,86% và giá trị là 41,83%. Năm 2014 chiếm 68,74% về khối lượng
và 45.5% về giá trị. Tuy nhiên tỉ trọng giưa khối lượng và giá trị không tương
xứng, nguyên do ở đây là giá trị gia tăng của hoạt động nhập khẩu và phân
phối paraffin không cao, và điều này góp phần làm cho lợi nhuận không tăng
nhiều thậm chí còn giảm thể hiện trên “bảng 2.1” báo cáo kết quả kinh doanh
của công ty.
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
TẠI CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS
2.3.1. Kết quả đạt được
- Sau 4 năm đi vào hoạt động với số vốn ít ỏi, để thuyết phục được
các nhà đầu tư cho vay vốn để hoạt động và không ngừng phát triển là một
thành công lớn trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt như ngày nay.
Hơn nữa tuổi đời của công ty cũng chưa nhiều đi đôi với điều đó là kinh
nghiệm kinh doanh còn ít, mọi hoạt động của công ty đều cố gắng tinh gọn
hóa tất cả những hoạt động của mình sao cho tối ưu nhất có thể tùy thuộc
vào tình hình kinh doanh là một ý tưởng không mới nhưng đúng đắn và lâu
dài của công ty.
- Hiện nay công ty đã có uy tín và thị phần tương đối lớn với các
đối thủ cạnh tranh trên khu vực Hà Nội, các sản phẩm của công ty đã có
mặt tại các cửa hàng đại lý, các nhà hàng, các chợ, siêu thị. Do đặc điểm
ngành nghề kinh doanh đã có những thay đổi nhanh chóng vì thế mà công
51
ty đã chuyển sang một số hoạt động khác nhằm tăng doanh thu và hoạt
động phân phối paraffin ngày càng mở rộng góp phần vào sự tăng trưởng
vững chắc.
- Doanh thu của công ty Fourbrothers không ngừng tăng lên đặc biệt
là sau khi đưa hoạt động nhập khẩu và phân phối paraffin, tạo tiềm lực
vững chắc cả về tài chính và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, có
được dòng vốn lớn và ổn định có thể tạo điều kiện để mở rộng kinh doanh
dễ dàng hơn.
- Khối lượng sản phẩm tiêu thụ của công ty tăng trưởng nhanh, chiếm
thị phần ngày càng lớn, cho thấy tín hiệu tốt của hoạt động mở rộng thị trường
của công ty.
- Sau 4 năm công ty đã mở rộng từ một dòng sản phẩm chính là container
sang thêm ba dòng nữa đó là Taper/Tâm linh; paraffin; và tinh dầu xả, thể hiện
bước phát triển mạnh về cả chất và lượng trong sản phẩm của mình.
- Từ hoạt động kinh doanh cục bộ địa phương trên địa bàn Hà Nội đến
nay công ty đã phát triển trên phạm vi cả nước và bước đầu mở rộng ra thị
trường quốc tế. Điều này cho thấy tầm nhìn của công ty ngày càng xa hơn,
hợp xu thê thời đại hơn.
- Tư duy kinh doanh của công ty cũng đã có những bước phát triển
đáng kể đó là chiến lược kinh doanh của công ty rất có trọng tâm, tập trung
vào thị trường truyền thống nơi mà công ty có những điều kiện được xây
dựng từ trước, các sản phẩm của công ty mở rộng sau này cũng xoay quanh
cùng ngành ban đầu - lĩnh vực mà công ty am hiểu nhất để giảm thiểu rủi ro
kinh doanh.
- Bước đầu định hình được phương thức bán hàng, xác đính được cần
cắt giảm khâu trung gian để tăng giá trị gia tăng của sản phẩm bán ra bằng
cách tập trung vào bán hàng trực tiếp tạo điều kiện để am hiểu người tiêu
52
dùng hơn. Nắm được quy luật thị trường để có biện pháp, chiến lược trong
việc tiêu thụ hàng hóa mà điển hình là trong việc định giá thấp của paraffin.
2.3.2. Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được công ty Fourbrothers cũng không
tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết trong hoạt động mở rộng thị trường
tiêu thụ của mình. Cụ thể đó là những hạn chế:
- Mặc dù doanh thu của công ty liên tục tăng nhưng chủ yếu là paraffin
với giá trị gia tăng thấp, trong khi đó sản phẩm truyền thống và có giá trị cao
lại không có sự tăng trưởng, thậm chí giảm đối với dòng sản phẩm nến
container.
- Sản lượng sản phẩm tiêu thụ tăng nhanh xong lợi nhuận lại không
tăng tương xứng, tỉ trọng lợi nhuận trên doanh thu có xu hướng giảm.
- Thị phần chung của công ty có xu hướng tăng nhưng dòng sản phẩm
nến thơm container có xu hướng giảm.
- Khả năng thu hút khách hàng còn yếu, thể hiện qua việc doanh thu
sản phẩm nến thơm không tăng trưởng nhiều, sản phẩm paraffin phải áp dụng
chiến lược định giá thấp để thu hút khách hàng cho thấy sự hạn chế rõ rệt của
sản phẩm hiện tại.
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Trong hoạt động mở rộng tiêu thụ sản phẩm của công ty có nhiều hoạt
động đồng thời diễn ra chịu chi phối bởi nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân
khách quan mà công ty không thể can thiệp để thay đổi được nhưng cũng có
những nguyên nhân chủ quan thuộc quyền kiểm soát của công ty. Dưới đây là
một số nguyên nhân dẫn tới những hạn chế của hoạt động mở rộng tiêu thụ
sản phẩm tại công ty:
- Quan hệ cung cầu trên thị trường có sự thay đổi trong những năm
qua, nhiều nhà cung cấp mới xuất hiện làm tăng cung sản phẩm cùng loại
53
trên thị trường, điều này làm giá cả thị trường có xu hướng đi xuống. Trong
khi đó với chính sách ổn định giá bán đối với dòng sản phẩm nến thơm của
công ty đang cho thấy không hiệu quả, đặc biệt là dòng sản phẩm nến
container.
- Chất lượng sản phẩm qua nhiều năm của công ty không thay đổi,
trong khi đó việc tiêu chuẩn hóa sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn, đội ngũ
công nhân có tay nghề còn thấp, máy móc công ty sử dụng công nghệ còn
mang tính thủ công. Trong khi đó các biện pháp Marketing của công ty lại tỏ
ra thiếu tính hiệu quả, thu hút khách hàng kém.
- Công tác lập kế hoạch dự báo của công ty còn hạn chế, không sát với
thực tế thị trường thể hiện ở doanh thu kế hoạch và thực tế còn cách xa nhau.
- Đội ngũ thiết kế sản phẩm và kinh nghiệm sản xuất còn yếu, dẫn đến
thường xuyên phải đổi trả hàng do không đạt tiêu chuẩn, gây chi phí cao và
ảnh hưởng đến uy tín của công ty về lâu dài.
- Sau 4 năm hoạt động tỉ trọng hàng bán theo khu vực không thay đổi
nhiều tập trung chủ yếu ở Hà Nội cho thấy sự kém nhạy bén trong công tác
xúc tiến mở rộng sản phẩm sang các khu vực khác, nó còn cho thấy tư duy
cục bộ - địa phương của công ty.
- Mỗi chính sách đều có tính hai mặt, tùy từng thời điểm mà những
chính sách có tác động tốt nhất, có hiệu quả nhất theo mong muốn của
người đề ra. Đối với công ty Fourbrothers cũng không ngoại lệ. Đứng
trước một môi trường kinh doanh cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, chính
sách giá cả luôn chiếm vị trí quan trọng như là một công cụ cạnh tranh
hiệu quả. Đối với một công ty có nhiều loại sản phẩm khác nhau thì chính
sách giá là một việc làm phức tạp và đòi hỏi sự phân tích sâu về thị
trường của từng loại sản phẩm. Không thể tùy tiện áp đặt giá một cách
máy móc. Trong những năm qua công ty Fourbrothers đã áp dụng chính
54
sách ổn định giá bán đối với dòng sản phẩm nến container chuyên phục vụ
trong nhà hàng quán bar, sử dụng trong việc trang trí. Sở dĩ như vậy là do
công ty xác định đây là thị trường ổn định các quyết định thay đổi giá bán
thường theo năm, sản phẩm phục vụ tầng lớp có thu nhập tương đối cao
trong xã hội. Hơn nữa lãnh đạo công ty cũng cho rằng nếu giảm giá bán sẽ
làm ảnh hưởng đến hình ảnh mà công ty đã xây dựng cho dòng sản phẩm
này và không thể là đòn bẩy cho các dòng sản phẩm khác của công ty. Đối
với dòng sản phẩm Taper/Tâm linh công ty có chính sách định giá theo thị
trường. Đối với paraffin công ty Fourbrothers áp dụng chính sách định giá
thấp hơn so với thị trường, lý do ở đây là công ty muốn có thị phần trong
việc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các nhà sản xuất. Đặc điểm của
các nhà sản xuất này là mua với số lượng lớn, thường ổn định hơn so với
việc sản xuất các loại sản phẩm đơn lẻ để tiêu thụ. Với việc áp dụng chính
sách ổn định giá bán của dòng sản phẩm nến thơm đã làm cho giá cả trở
nên kém linh hoạt, có thể định hướng chiến lược lâu dài của công ty sẽ đạt
được nhưng trong ngắn hạn như phân tích số liệu ở trên cho thấy những
hạn chế rõ rệt.
- Việc đầu tư cho nhân lực của công ty chưa được quan tâm đúng mức.
Không có các khóa đào tạo cho cán bộ công nhân viên để nắm những kiến
thức cần thiết cho hoạt động của mình mà chỉ thông qua kinh nghiệm truyền
nhau trong mỗi hoạt động cụ thể nào đó.
- Công tác Marketing: Trong việc hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm công ty
Fourbrothers đã sử dụng nhiều biện pháp như quảng cáo sản phẩm qua tờ
rơi, thư ngỏ, qua điện thoại, e-mail, bao bì sản phẩm… Công ty có các
chương trình tặng quà cho các khách hàng nhân dịp những ngày đặc biệt.
Cử các đội bán hàng tham gia các hội chợ triển lãm, qua đó để giới thiệu
các sản phẩm của công ty, tặng sản phẩm để làm quà cho khách đến thăm
55
hội chợ. Đối với nhân viên bán hàng công ty có các chế độ thưởng, phạt
bằng tiền theo doanh số bán hàng không hạn chế. Tuy nhiên nhìn chung các
hoạt động Marketing của công ty chưa đáp ứng được yêu cầu, sự thụ động,
thiếu tính sang tạo và bài bản trong hoạt động là thực tế cần khắc phục
trong thời gian tới.
- Hệ thống thông tin của công ty chưa được chú trọng, mang tính thụ
động, chưa có kế hoạch cho hoạt động này dẫn đến tính kết nối của công ty
với khách hàng còn hạn chế, có khi các hoạt động trong công ty còn không
thông suốt được với nhau.
56
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS
Trong nền kinh tế thị trường đang hội nhập nhanh chóng, sân chơi
đang dần thay đổi từ nơi nhỏ hơn, an toàn hơn sang sân chơi rộng hơn ẩn
chứa nhiều rủi ro hơn đã và đang mở ra những cơ hội và thách thức lớn
hơn đối với các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ
và vừa như công ty TNHH Fourbrothers. Chính vì vậy việc định hướng,
tìm ra con đường phù hợp sẽ giúp công ty ngày càng mở rộng và phát
triển, giúp giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh, ngược lại sẽ đem đến
sự thất bại có thể trả giá bằng sự phá sản như nhiều doanh nghiệp trong
mấy năm trở lại đây. Nhận thức được điều đó công ty luôn tìm kiếm
hướng đi sao cho phù hợp nhất với mình tùy vào tình hình cụ thể để có
những điều chỉnh phù hợp với tình hình.
Trong năm 2015 cho đến năm 2017 công ty sẽ cố gắng có được thị
phần lớn, dẫn đầu thị trường khu vực Hà Nội, sản phẩm trở thành nhãn hiệu
hàng đầu trong khu vực với các nhãn hiệu nến thơm. Cùng lúc đó sản phẩm
paraffin đang cho thấy có tiềm năng lớn, công ty sẽ tập trung mở rộng vào thị
trường sản phẩm này, tiếp tục mở rộng chiếm thị phần.
Mở rộng thị trường sang các khu vực ngoài Hà Nội một cách chủ
động hơn, tăng cường thâm nhập vào thị trường miền Nam, và đặc biệt là
tìm đường để cho sản phẩm của mình có thể lên đường xuất sang các quốc
gia khác.
Đa dạng hóa các sản phẩm của công ty để đáp ứng mọi nhu cầu của
khách hàng, tiếp tục thực hiện kế hoạch trồng xả ép lấy tinh dầu phục vụ nhu
cầu của mình và tìm hướng xuất khẩu cho mặt hàng này.
57
Tăng cường các mối quan hệ với khách hàng, đặc biệt là các khách
hàng trung thành. Tăng cường các mối quan hệ với các nhà phân phối, nhà
bán lẻ và nhân viên bán lẻ để củng cố uy tín của công ty, tạo niềm tin cho bạn
hàng và ngời tiêu dùng.
Đổi mới dây truyền sản xuất, mua sắm thêm máy móc thiết bị để giảm
quá trình tham gia của con người trong sản xuất. Một số vị trí trong công ty
được đào tạo nâng cao để bắt kịp với xu thế hội nhập.
3.2. ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS
3.2.1 Các giải pháp về sản phẩm
3.2.1.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm
Hiện tại công ty Fourbrothers sản xuất hàng loạt những sản phẩm phổ
thông không cần sự thay đổi hay điều chỉnh sữa chữa nhiều như nến tealight trong
dòng sản phẩm nến container. Bên cạnh đó một số sản phẩm phục vụ khách hàng
chuyên biệt sử dụng chính sách sản xuất theo lô với quy mô của từng khách hàng
cụ thể. Điều này làm cho sản phẩm của công ty có thể phù hợp với yêu cầu của
từng thị trường tiêu dùng cụ thể, tránh được nhiều rủi ro trong kinh doanh. Làm
cho sản phẩm phù hợp với thị trường bằng cách thiết kế sản phẩm theo hướng
chuyên biệt hóa làm tăng sức hấp dẫn của sản phẩm đối với từng loại khách hàng
cụ thể. Đối với công nghệ sản xuất, công nghệ sản phẩm ngày càng phát triển,
công ty Fourbrothers cần học hỏi các kỹ thuật này để cải tiến sản phẩm của mình
sao cho chất lượng hơn với các nguyên liệu tốt hơn, tinh khiết hơn.Từ nguyên liệu
tốt, công nghệ tốt sẽ làm cho sản phẩm sản xuất ra có chất lượng tốt hơn. Hơn
nữa bao gói của sản phẩm mà công ty Fourbrothers hiện đang cung cấp mới chỉ
dừng lại ở việc ghi thông tin về sản phẩm. Vì vậy công ty cần thay đổi thiết kế bao
bì sao cho mang được các thông tin sản phẩm lại thêm được công dụng quản cáo
sản phẩm, dễ dàng nhận diện được thương hiệu đối với khách hàng.
58
3.2.1.2. Đa dạng hóa sản phẩm
Đa dạng về sản phẩm
Chuẩn bị tốt công tác tung sản phẩm mới ra thị trường Fourbrothers cần
nghiên cứu kỹ các vấn đề: những rủi ro có thể gặp phải khi phát triển sản
phẩm mới, quản trị quá trình phát triển các sản phẩm mới này như thế nào?,
dự đoán yếu tố tác động đến sự chấp nhận của người tiêu dùng và phổ biến
sản phẩm mới.
Công ty Fourbrothers hiện nay đã có các sản phẩm về nến thơm rất
phong phú và có thể thay đổi một vài chi tiết cho phù hợp với thị trường mới.
Tuy nhiên, sản phẩm sử dụng để đuổi côn trùng, sử dụng trong thiên chúa
giáo vẫn chưa có.
Sản phẩm nến sử dụng để đuổi côn trùng rất phù hợp với Việt Nam nơi
có khí hậu phần lớn là nhiệt đới, với nhiều loại côn trùng gây hại như: muỗi;
gián; kiến; mối… Mỗi năm người Việt phải chi rất nhiều tiền của cho việc
diệt trừ những loại côn trùng này.
Sản phẩm sử dụng trong thiên chúa giáo sẽ được nhắm đến các nghi lễ
thiên chúa sử dụng trong nhà thờ hoặc các dịp lễ lớn như Noen…
Đa đạng bao bì sản phẩm
Bao bì là một phần quan trọng gắn liền với chất lượng sản phẩm, hình
ảnh công ty. Một bao bì tốt và đẹp mắt sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm, mặt
khác bao bì sản phẩm chính là một người bán hàng, quảng bá sản phẩm.
Các bao bì đóng gói của công ty Fourbrothers còn tập chung vào một
loại duy nhất với chất liệu giấy, hình ảnh thẩm mỹ còn chưa đáp ứng được
yêu cầu vì thế trong thời gian tới công ty nên thiết kế thêm một số loại bao bì
nữa như bao bì bằng kim loại, bao bì bằng nhựa, bao bì bằng các vật liệu tự
nhiên như sợi đay, gai …
59
Các bao bì bảo quản cần tốt và thiết kế mẫu mã cần đẹp mắt hơn. Hiện
tại các mẫu thiết kế của công ty Fourbrothers đã và đang được cải thiện trong
tương lai hứa hẹn sẽ có nhiều sản phẩm phù hợp với thị trường như bao bì
bằng nhựa composit, bao bì bằng kim loại đi kèm với đó là các thiết kế về
hình ảnh phù hợp hơn.
Đa dạng nhãn hiệu sản phẩm
- Các nhãn hiệu hàng hóa của công ty Fourbrothers khi thâm nhập cần
chú ý các điểm sau: không giống các biểu tượng, huy hiệu của các đoàn thể
hay quốc gia nào, nên khác biệt với các sản phẩm, nhãn hiệu đã có trên thị
trường, hạn chế sử dụng chân dung trên nhãn hiệu, nhãn hiệu phải dễ đọc, dễ
nhớ.
- Hiện nay, nhãn hiệu nến thơm NgocVu và Deluxe là hai nhãn hiệu
được phân phối tốt tại thị trường Hà Nội cùng với đó là hai nhãn hiệu paraffin
Kunlun và Namhai được các nhà sản xuất khác đánh giá cao. Tuy nhiên trên
thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm cùng loại với kiểu dáng và màu sắc
tương tự dẫn đến nhầm lẫn cho khách hàng. Chính vì vậy công ty cần đăng kí
nhãn hiệu với cục sở hữu trí tuệ để bảo hộ sản phẩm của mình và có cơ sở để
khởi kiện các doanh nghiệp bắt chước mẫu mã, thiết kế của công ty.
Khác biệt hoá sản phẩm
Chính sách này của công ty dựa vào việc làm cho các sản phẩm của
mình khác người, nhằm phân biệt chúng với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
Khác biệt có thể về đặc trưng kỹ thuật của sản phẩm như: đối với dòng nến
tealight công ty đặt riêng cho dòng sản phẩm của mình một kích thước khác
với thị trường, màu sắc và chất liệu bao chứa cúng khác biệt với các sản phẩm
đang thịnh hành trên thị trường, đối với các sản phẩm, công ty cũng có thể
khác biệt hóa sản phẩm bằng cách thay đổi các dịch vụ đối với từng khách
hàng như đặt hàng theo yêu cầu, thiết kế sản phẩm cho một thị trường nhỏ
hẹp… Chính sách này cho phép hướng việc mua của người tiêu dùng đến với
60
các sản phẩm của doanh nghiệp, khuyến khích người tiêu dùng mua sản phẩm
của doanh nghiệp, và tạo điều kiện có thể chuyển từ thị trường cạnh tranh
hoàn hảo sang thị trường độc quyền.
Đa dạng về dịch vụ
Đối với các sản phẩm của mình công ty cần có chính sách đổi mới hoàn
toàn các sản phẩm bị hỏng do lỗi kỹ thuật, các sản phẩm có giá trị cao phục
vụ cho những khách hàng chuyên biệt như sản xuất sản phẩm cho một khách
hàng. Cần chú ý các sản phẩm có điều kiện bảo quản tốt để đưa được đến tay
khách hàng các sản phẩm tốt nhất.
3.2.2. Các giải pháp về giá cả
Trong một môi trường kinh doanh ngày càng hội nhập sâu rộng với thế
giới và công cụ mua sắm ngày càng hiện đại, thông tin khách hàng tìm được
ngày một dễ dàng hơn, vì thế công ty cần có chiến lược giá nhất quán phù hợp
với quan điểm kinh doanh để có những điều chỉnh phù hợp khi thị trường có
những biến động.
Các phương pháp định giá cho sản phẩm
- Định giá theo chi phí: cộng thêm một tỷ lệ phần trăm vào giá cho sản
phẩm bán ra nhằm mục tiêu chính là lợi nhuận.
Giá = Chi phí + Lợi nhuận mong muốn.
Phương pháp này đơn giản nhưng không chú ý đến phản ứng thị trường
và giá cả cạnh tranh nên Fourbrothers không thể áp dụng trong giai đoạn này
trừ phi có sự đột phá về công nghệ sản xuất và giá cả đầu vào giảm.
- Định giá theo hướng thị trường: Dựa vào sự nghiên cứu thị trường mà
Fourbrothers đưa ra giá cả có tính cạnh tranh cao nhưng vẫn có khả năng thu
lợi nhuận. Để làm tốt công tác này cần giám sát các điều kiện:
+ Thị trường nhạy bén với giá cả.
61
+ Giá đơn vị của sản xuất và phân phối sẽ hạ thấp với sản lượng tích luỹ (
chi phí giảm dần theo quy mô).
+ Giá thấp sẽ làm tăng sự cạnh tranh cho sản phẩm.
- Khi định giá cho sản phẩm Fourbrothers cần thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Tính toán chi phí
Hạch toán chi phí sản phẩm, tính toán đúng chi phí sản xuất ra sản phẩm.
Bước 2: Phân tích thị trường. Đây là bước chủ động của Fourbrothers,
nó là kết quả của công tác nghiên cứu thị trường mà bộ phận Marketing phải
thực hiện. Các yếu tố quan trọng cần nắm bắt được đó là:
+ Yếu tố cung cầu về sản phẩm
+ Tình hình cạnh tranh
+ Mức giá hiện tại trên thị trường của các sản phẩm cùng loại.
Bước 3: Xác định giới hạn giá. Xác định giới hạn giá cao và giới hạn
giá thấp để tạo cơ sở dễ dàng cho quan hệ mua bán.
Bước 4: Xác định mục tiêu của giá. Phụ thuộc vào mục tiêu khối lượng
bán, lợi nhuận hay là để thâm nhập. Với các thị trường mới đối với sản phẩm
nến NgocVu thâm nhập vào nên để giá thấp để dễ thâm nhập hơn, các sản
phẩm paraffin khi vào thị trường mới cũng nên để giá thấp như hiện tại để dễ
vào thị trường hơn.
Bước 5: Xác định cơ cấu giá. Thực hiện theo các điều kiện bán sản
phẩm từ đó mà công ty có các cơ cấu giá cả phù hợp cho từng loại khách hàng
nhằm tăng tính cạnh tranh nhất có thể. Nếu khách hàng mua buôn nhiều loại
hàng hóa công ty có thể xem xét tổng thể các loại hàng hóa đó như nến thơm
container và Taper/Tâm linh để tính toán sao cho khách hàng mua nhiều hơn,
nếu khách hàng mua lẻ thì giá cần cao hơn để bù đắp chi phí.
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm của công ty Foubrothers
62
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá sản phẩm của công ty là chi phí sản
xuất, chi phí phân phối sản phẩm và lợi nhuận kỳ vọng của công ty. Đối với
các chi phí sản xuất công ty Fourbrothers dễ dàng tính và phân bổ chi phí, tuy
nhiên các chi phí phân phối liên quan đến nhiều đối tượng, kênh phân phối
khác nhau nên giá bán có sự khác nhau đặc biệt xảy ra mỗi nơi một loại giá,
có khi sự khác biệt lại ở ngay cùng một khu vực.
3.2.3. Các giải pháp về kênh phân phối
Quyết định về mạng lưới phân phối có liên quan đến rất nhiều các
biến số có ảnh hưởng lẫn nhau cần được phối hợp trong chiến lược
Marketing-mix tổng thể. Do cần nhiều thời gian và tiền bạc để xác lập một
kênh phân phối và do kênh phân phối rất khó thay đổi một khi nó đã được
hình thành nên các quyết định về kênh là cực kỳ quan trọng đối với thành
công của công ty.
Vấn đề khó khăn là phải tìm cho ra cách phân phối nào phù hợp, có
hiệu quả nhất với điều kiện và khả năng của doanh nghiệp. Việc nghiên cứu
các kênh phân phối hiện có và việc lựa chọn một kênh hay nhiều kênh phù
hợp nhất với sản phẩm chính là vấn đề then chốt mà công ty Fourbrothers cần
phải giải quyết.
Công ty Fourbrothers cần hoàn thiện tổ chức hệ thống kênh phân phối
đối với thị trường nội địa bao gồm: lựa chọn thị trường mục tiêu, xác định cấu
trúc kênh tối ưu, lựa chọn thành viên trong kênh phân phối, phát triển mô hình
tổ chức hệ thống kênh phân phối liên kết dọc, đổi mới quản lý kênh phân
phối, hoàn thiện quản lí các dòng chảy của hệ thống kênh phân phối, đổi mới
quản lí hành vi của các thành viên kênh phân phối, đánh giá hoạt động của các
thành viên kênh phân phối và cả hệ thống kênh phân phối. Cụ thể như sau:
63
Lựa chọn thị trường mục tiêu, xác định cấu trúc kênh phân phối của
công ty
- Mạng lưới kênh phân phối của công ty phải phù hợp với đặc điểm của
sản phẩm: các sản phẩm nến thơm là sản phẩm tiêu dùng với mục đích trang
trí, thư giãn, tâm linh, … danh mục sản phẩm đa dạng; mỗi loại sản phẩm phù
hợp cho một đối tượng khách hàng mục tiêu nhất định, do đó hệ thống kênh
phân phối của công ty Fourbrothers đối với các sản phẩm nến thơm phổ biến
nhất là kênh phân phối có cấu trúc dài, có nhiều cấp độ nhằm mục tiêu phân
phối rộng rãi, cung cấp thông tin qua việc trưng bày sản phẩm tại cửa hàng,
tuyên truyền và bán hàng cá nhân, thuận tiện cho việc mua, giảm thời gian
mua và tăng sự hấp dẫn cho người mua bởi sự đa dạng sản phẩm ở các điểm
bán lẻ. Đối với paraffin với khách hàng là các nhà sản xuất lớn nên tối ưu
nhất là tổ chức kênh phân phối với cấu trúc ngắn như bán hàng trực tiếp.
- Hệ thống kênh phân phối của Fourbrothers cho sản phẩm nến thơm
cần nhằm khai thác được tối ưu thị trường mục tiêu.
+ Về đối tượng người tiêu dùng: từ ngươi có thu nhập thấp đến người
có thu nhập cao.
+ Về các loại hình kinh doanh: bán buôn, bán lẻ trực tiếp, bán theo
kiểu dịch vụ mang tới tận nhà qua việc đặt hàng qua điện thoại hoặc internet.
- Tuy nhiên, cần làm tăng mức độ liên kết trong kênh phân phối nhiều
cấp độ của công ty Fourbrothers để có thể chi phối từ nhà phân phối, trung
gian bán buôn hay điểm bán lẻ. Công ty Fourbrothers cần tiến hành điều tra,
đánh giá mạng lưới bán lẻ hiện tại, lập danh sách những nhà bán lẻ có khả
năng và nhiệt tình tiêu thụ sản phẩm của công ty. Mặt khác để khắc phục tình
trạng việc phân chia công việc phân phối giữa các thành viên khác nhau trong
kênh chưa rõ ràng, công ty Fourbrothers phải có biện pháp tạo khả năng lợi
64
nhuận cao cho mỗi thành viên của kênh phân phối và toàn kênh phân phối
cũng như chi phí phân phối là thấp nhất.
Phát triển kênh phân phối theo liên kết dọc
Các kênh liên kết dọc không có sẵn trên thị trường để công ty
Fourbrothers tham gia, công ty phải tự xây dựng các quyết định tổ chức kênh.
Để phát triển được hệ thống kênh phân phối theo liên kết dọc, công ty
Fourbrothers cần đặt vấn đề phân phối ở vị trí trọng tâm trong chiến lược kinh
doanh và chiến lược Marketing, coi phân phối là biến số Marketing tạo nên
lợi thế cạnh tranh dài hạn và đầu tư nguồn lực đầy đủ cho phân phối.
- Cần phân chia hợp lý công việc phân phối giữa các thành viên tham
gia vào kênh theo nguyên tắc chuyên môn hoá và phân công lao động.
- Cần xác lập mức độ và kiểu liên kết giữa các thành viên trong kênh.
Nên phát triển mức độ liên kết theo nguyên tắc từ thấp đến cao, từ liên kết ở
cấp độ Công ty - nhà phân phối đến liên kết trong toàn hệ thống.
Tổ chức các kênh liên kết dọc trong hợp đồng:
Công ty Fourbrothers cần tổ chức ký kết hợp đồng ràng buộc giữa các
thành viên kênh làm cơ sở để quản lí điều hành hoạt động của kênh và các
bên sẽ cùng có lợi ích dài hạn.
Với các trung gian bán buôn, công ty Fourbrothers có thể phát triển
kênh liên kết dọc hợp đồng kiểu tổ chức hợp tác bán lẻ để tạo ra sức mạnh
đàm phán trong kênh phân phối. Công ty Fourbrothers sẽ bán cho tổ chức với
giá ưu đãi khi họ kí hợp đồng mua với số lượng lớn và họ có thể cùng hợp tác
để thực hiện xúc tiến trên thị trường.
Các trung gian bán buôn cần phát triển các hợp đồng cung cấp hàng
hoá cho một tập hợp người bán lẻ nhất định trong khu vực thị trường mà họ
được phân vùng để đảm bảo kinh doanh ổn định. Nếu một nhà bán buôn cho
một khu vực sẽ đảm bảo việc phân phối trong khu vực của mình, không
65
chồng lấn sang các vùng khác, nhà phân phối này cần lập kế hoạch, dự báo
nhu cầu sản phẩm của khu vực mình để có kế hoạch phản hồi lại với công ty
sản xuất và chuẩn bị hàng hóa.
Vấn đề quan trọng trong quản lý các kênh liên kết dọc là có quy hoạch
tổng thể các thành viên trong toàn hệ thống. Mỗi nhà phân phối, trung gian
bán buôn hay nhà bán lẻ tham gia vào kênh đều phải nằm trong kế hoạch phát
triển của công ty để hàng hoá tới đúng thị trường mục tiêu, để các thành viên
không hoạt động chồng lấn lên nhau. Nội dung hợp đồng phải chia xẻ được
trách nhiệm và quyền lợi giữa các thành viên.
Quản lí kênh phân phối
Công ty Fourbrothers cần nhận thức rõ rằng để điều hành được hoạt
động hệ thống kênh phân phối đã tổ chức phải có biện pháp quản lí kênh. Đặc
biệt là hướng tới hệ thống kênh liên kết dọc. Công ty cần áp dụng các kỹ thuật
quản lý điện tử, thành lập hệ thống cơ sở dữ liệu cho hệ thống phân phối của
mình để nhanh chóng nắm bắt được tình hình và có những điều chỉnh kịp thời
khi cần ra quyết định.
Quản lí các thông tin của hệ thống kênh phân phối
Xây dựng hệ thống thông tin trong kênh, đảm bảo thông tin thông
suốt từ Công ty Fourbrothers - người sản xuất đến người tiêu dùng cuối
cùng.
Những kỹ thuật công nghệ thông tin mới tạo nên cuộc cách mạng trong
tổ chức và phối hợp các hoạt động phân phối cũng như làm giảm chi phí trong
kênh phân phối. Hoàn thiện thông tin trong kênh sẽ tác động lớn đến sự phối
hợp giữa các thành viên trong kênh, chi phí điều hành kênh và là cơ sở để
hoàn thiện các dòng chảy khác.
Bằng việc sử dụng các phương tiện thông tin hiện đại nhất là từng bước
thiết lập mạng máy tính để có thể liên lạc trực tiếp với các thành viên kênh và
66
người tiêu dùng cuối cùng. Công ty Fourbrothers và các thành viên khác
không chỉ thông tin cho nhau về những hoạt động phân phối hàng ngày mà
còn về những thông tin khác quan trọng hơn về thị trường mục tiêu, về đối
thủ cạnh tranh, về ý kiến của người tiêu dùng đối với sản phẩm, về hiệu quả
của các hoạt động xúc tiến khi mạng thông tin được hoàn thiện, mỗi thành
viên kênh không chỉ liên hệ mật thiết với nhà cung ứng ở phía trên mà còn
liên hệ mật thiết với khách hàng ở phía dưới kênh.
Công ty Fourbrothers cần từng bước vận dụng thương mại điện tử,
trước hết là thực hiện thông tin, xúc tiến, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng và bán
hàng trên mạng.
Cần vận dụng những kiến thức hậu cần kinh doanh hiện đại vào công
tác tổ chức và quản lí phân phối vật chất:
- Đảm bảo mức dự trữ hợp lí theo yêu cầu của thị trường tránh rủi ro,
lưu chuyển vốn nhanh, đáp ứng kịp thời đơn hàng...
- Sử dụng phương tiện vận tải có năng suất cao, chi phí thấp.
Nhờ vào hệ thống thông tin trong kênh, việc dự trữ và vận chuyển được
tính toán sao cho tổng chi phí phân phối là tối ưu. Các phương thức phân phối
ngay lập tức, đáp ứng khách hàng hiệu quả có thể thực hiện được, giảm việc
dự trữ tồn kho ở các cấp trung gian trong kênh. Chi phí đặt hàng cũng sẽ giảm
nhờ sử dụng hiệu quả dữ liệu tại các điểm bán.
Những thay đổi khác công ty cần thực hiện:
- Tự động hoá các chức năng phân phối để giảm chi phí cho các công
việc giấy tờ, xác lập những hợp đồng đầy đủ và chính xác. Các điều khoản
được kí kết trong hợp đồng phân phối phải bao gồm các hoạt động dài hạn và
toàn diện của kênh.
- Hoàn thiện hệ thống đặt hàng:
67
Để thực hiện tốt hoạt động phân phối hàng ngày, công ty cần nghiên
cứu để xây dựng quy trình thu thập, tập hợp, giải quyết đơn đặt hàng tối ưu,
sử dụng phương pháp đặt hàng tối ưu vào quá trình phân phối và dự trữ. Cần
nhanh chóng vận dụng công nghệ để từng bước xây dựng các hệ thống đặt
hàng tự động và quản lí tồn kho bằng máy tính. Cần rút ngắn thời gian đặt
hàng, chờ đợi và giao hàng trong cả hệ thống kênh.
- Đối với việc san sẻ rủi ro: Công ty Fourbrothers cần xác định rõ trách
nhiệm của mỗi thành viên trước những rủi ro gặp phải, cần quy định ngay
trong hợp đồng để tránh việc đùn đẩy trách nhiệm khi gặp vấn đề rủi ro.
- Đối với các hệ thống thanh toán, tài chính:
Thiết lập cơ chế thanh toán với phương thức và thời gian hợp lí, để
kiểm soát quá trình thực hiện dòng thanh toán công ty Fourbrothers cần nắm
được thông tin đầy đủ về tình hình tài chính của các thành viên chủ yếu trong
kênh và thiết lập cơ chế kiểm soát nợ để tránh hiện tượng nợ quá hạn hoặc
mất khả năng thanh toán.
Chi phí và rủi ro trong hoạt động thanh toán sẽ giảm nhờ sử dụng hệ
thống đặt hàng và thanh toán điện tử trong kênh.
Công ty Fourbrothers cần có cơ chế giúp đỡ tài chính cho các thành
viên kênh một cách hợp lý có thể cho chậm thanh toán, hỗ trợ khoản vay...
3.2.4. Các giải pháp về marketing
3.2.4.1. Tổ chức nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu và dự báo thị trường là việc làm cần thiết đầu tiên của mọi
doanh nghiệp. Nghiên cứu và dự báo thị trường, theo nghĩa rộng là quá trình
điều tra để tìm khả năng bán hàng cho một sản phẩm hay một nhóm sản phẩm
cụ thể, tìm ra phương pháp thực hiện khả năng đó. Quá trình nghiên cứu thị
trường là quá trình thu thập thông tin, số liệu về thị trường, so sánh, phân tích
các số liệu đó và rút ra các kết luận cần thiết phục vụ cho việc ra các quyết
68
định của doanh nghiệp. Việc nghiên cứu thị trường đòi hỏi phải trả lời những
câu hỏi sau đây:
- Thị trường nào có triển vọng nhất đối với sản phẩm của doanh nghiệp để
từ đó lựa chọn thị trường mục tiêu.
- Lượng sản phẩm có khả năng tiêu thụ được trên thị trường đó từ đó
lên kế hoạch cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Để đáp ứng nhu cầu thị trường thì sản phẩm cần có những đặc tính nào,
việc phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng là yếu tố sống còn trong nền kinh tế
ngày nay khi mà công nghệ và người sản xuất có thể xuất hiện bất cứ nơi đâu, yếu
tố độc quyền hay nền kinh tế sản xuất tập trung vào sản phẩm đã không còn phù
hợp, xu hướng sản xuất hiện nay đang chuyển sang tập trung vào thị hiếu, nhu cầu
của người tiêu dùng.
- Sử dụng phương pháp bán hàng nào cho các loại sản phẩm nào sao
cho có hiệu quả nhất.
Để có thể chiếm được thị phần lớn trong thị trường nến thơm và các
sản phẩm công ty kinh doanh hiện nay như paraffin, công ty Fourbrothers cần
xem xét công tác nghiên cứu thị trường và dự báo nhu cầu, yêu cầu này đòi
hỏi phải có đội ngũ khảo sát, thăm dò thị trường thu thập thông tin về nhu cầu
thị hiếu người tiêu dùng, chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước đối với lĩnh
vực mà công ty kinh doanh … từ đó có thể phân loại, lựa chọn, phân tích các
thông tin về nhu cầu từng loại sản phẩm trong tương lai.
Công tác dự báo nhu cầu thị trường các công ty hiện nay vẫn chưa được
coi là hoạt động cần đầu tư tương đương như hoạt động bán hàng và tiếp thị,
công ty hiện vẫn chưa xây dựng được chiến lược nghiên cứu thị trường mà
vẫn chỉ ghép công việc này vào phòng kinh doanh – Marketing, mặt khác
công việc nghiên cứu thị trường chỉ được coi là công việc kiêm nghiệm của
một số nhân viên bán hàng. Do đó công tác nghiên cứu thị trường của công ty
69
chưa thể hiện được hiệu quả của nó. Để thể hiện được vai trò của nó. Để có
kết quả tốt hơn trong công tác nghiên cứu và dự báo thị trường theo từng loại
sản phẩm. Đặc biệt khi công ty chuẩn bị đưa ra một sản phẩm mới thì cần chú
ý hơn đến công tác này để có báo cáo chính xác cho công ty về chính sách sản
phẩm và các chính sách khác để nâng cao hiệu quả tiêu thụ trên thị trường.
Công ty cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường thông qua các
cuộc điều tra, nghiên cứu thị trường. Thông qua các cuộc điều tra, nghiên cứu
khách hàng bằng nhiều hình thức khác nhau như:
Phỏng vấn trực tiếp khách hàng đến mua hàng tại công ty đối với các
sản phẩm nến thơm, điều tra qua phiếu điều tra do nhân viên Marketing phỏng
vấn tại cơ quan, các địa chỉ của khách hàng tiềm năng đối với sản phẩm
paraffin.
Trưng bày sản phẩm chuẩn bị đưa ra thị trường tại một số hội chợ đặc
biệt là dòng sản phẩm nến thơm phục vụ trong nhà hàng và trang trí như dòng
nến container. Chuẩn bị các câu hỏi trực tiếp để phỏng vấn tham khảo ý kiến
khách hàng hoặc chuyển tới khách hàng phiếu thăm dò ý kiến, nội dung tập
trung vào các câu hỏi như giá cả, kiểu dáng, chất lượng, các điều bán hàng và
dịch vụ sau bán hàng, dự kiến mua sản phẩm của khách hàng, khả năng thanh
toán, thời gian mua sản phẩm, các đánh giá khác.
Thông qua các phương tiện thông tin quảng cáo như quảng cáo qua thư
điện tử, quảng cáo qua facebook, quảng cáo bằng nhân viên bán hàng, nhân
viên tiếp thị, cần khuyếch trương sản phẩm của mình, nhất là những sản phẩm
sớm cho ra thị trường, thử phản ứng của khách hàng, thông qua phản ứng của
khách hàng các nhà phân tích cũng có thể nắm được các thông tin thị trường.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu có thể dùng các số liệu thống kê các loại
sản phẩm được bán ra trong thời gian trước đó để phân tích và dự báo nhu cầu
cho tương lai.
70
- Để thực hiện giải pháp cần:
+ Sự quan tâm của công ty trong việc đẩy mạnh công tác điều tra
nghiên cứu thị trường nhất là đối với lãnh đạo công ty.
+ Nguồn ngân sách phù hợp cho công tác nghiên cứu thị trường như
quan tâm hơn đến chi phí đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi của nhân viên đi nghiên
cứu thị trường.
+ Đội ngũ nhân viên điều tra nghiên cứu thị trường chuyên nghiệp,
hoặc thuê đội nghiên cứu chuyên nghiệp.
+ Xác định rõ thị trường cần nghiên cứu.
3.2.4.2 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến bán hàng trong quản trị kênh
Marketing của công ty Fourbrothers
Mục tiêu đẩy mạnh hoạt động xúc tiến bán hàng
- Mục tiêu trong quá trình tổ chức xúc tiến bán hàng là nhằm đẩy mạnh
việc tiêu thụ sản phẩm của công ty Fourbrothers, tăng doanh thu và tăng lợi
nhuận. Muốn vậy phải kích thích người mua hàng truyền thống của công ty
tích cực mua các sản phẩm nhiều hơn, thường xuyên hơn, đồng thời phải thu
hút được khách hàng mới hoặc khách hàng của đối thủ cạnh tranh.
- Xúc tiến bán hàng giúp cho công ty Fourbrothers tăng được khả năng
cạnh tranh trên thị trường, nâng cao uy tín của công ty. Có uy tín, khả năng
bán hàng sẽ tăng cao trong hiện tại cũng như trong tương lai, đồng thời khả
năng ổn định và phát triển kinh doanh của công ty cũng ngày càng được tăng
cường.
Phương hướng cần đẩy mạnh hoạt động xúc tiến bán hàng của công
ty Fourbrothers
- Trên cơ sở xây dựng và nâng cao uy tín không chỉ cho Công ty
Fourbrothers mà còn nâng cao uy tín cho tất cả các sản phẩm bằng việc đẩy
mạnh hỗn hợp xúc tiến bán hàng, công ty cần phải xây dựng, hoạch định
71
chiến lược cho hoạt động này từng thời kì căn cứ vào mục tiêu chiến lược của
mình. Tuy vậy, chỉ tăng cường các hoạt động của công ty không thôi thì chưa
đủ mà còn phải không ngừng nâng cao hiệu quả của xúc tiến bán hàng, cũng
như tăng cường công tác quản lí xúc tiến bán hàng.
- Đẩy mạnh xúc tiến bán hàng hỗn hợp phải dựa trên cơ sở tăng cường
ngân sách cho hoạt động này. Thông thường ngân sách dành cho xúc tiến bán
hàng là một phần của ngân sách dành cho hoạt động Marketing của công ty.
Nếu công ty xây dựng được kế hoạch ngân sách cho xúc tiến bán hàng ngay
từ đầu từng thời kì thì hoạt động này sẽ có tính chủ động, tính hệ thống và đạt
hiệu quả cao.
Có ba cách xây dựng ngân sách để lựa chọn cho hợp lí như sau:
+ Xây dựng ngân sách xúc tiến bán hàng hỗn hợp trên cơ sở tính tỷ lệ
% trên doanh thu. Phương pháp này tính trên cơ sở thống kê kinh nghiệm,
không tính đến những biến động của thị trường.
+ Xác định ngân sách cho xúc tiến bán hàng hỗn hợp trên cơ sở khả
năng tài chính của doanh nghiệp. Phương pháp này không tính đến mục tiêu
của doanh nghiệp trong tương lai, nhưng cho phép doanh nghiệp chủ động về
tài chính. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường áp dụng phương pháp này.
+ Tính ngân sách cho xúc tiến bán hàng hỗn hợp trên cơ sở đòi hỏi của
mục tiêu xúc tiến bán hàng cần đạt tới. Phương pháp này giúp cho doanh nghiệp
đạt được mục tiêu kinh doanh nhưng làm cho doanh nghiệp bị động về vấn đề tài
chính, nên thường được áp dụng khi doanh nghiệp có nguồn tài chính dồi dào
hoặc với những doanh nghiệp mới tham gia kinh doanh trên thị trường.
Đối với công ty Fourbrothers, tốt nhất là áp dụng kết hợp cả ba cách
xây dựng ngân sách nói trên tuỳ theo từng thời kỳ, từng mục tiêu của mình.
3.2.4.3. Hoàn thiện công tác tổ chức, quản trị hoạt động xúc tiến bán hàng
của công ty Fourbrothers
72
Đối với hoạt động quảng cáo
- Công ty Fourbrothers cần xác định rõ mục tiêu của hoạt động quảng
cáo, từ đó để có lựa chọn được chính xác phương tiện quảng cáo tạo tiền đề
cho việc nâng cao hiệu quả của hoạt động quảng cáo. Mục tiêu của hoạt động
quảng cáo phải phù hợp với mục tiêu của hoạt động xúc tiến bán hàng và nằm
trong mục tiêu của chiến lược Marketing của công ty.
- Công ty có thể thực hiện hoạt động quảng cáo theo những chỉ dẫn sau:
+ Xây dựng nội dung quảng cáo: Một phần thuê các đơn vị làm dịch
vụ quảng cáo đối với các sản phẩm sản xuất đại trà như nến thơm container,
taper/Tâm linh, một phần tự thực hiện đối với các sản phẩm nến thơm chuyên
biệt và paraffin với nòng cốt là bán hàng trực tiếp.
+ Tổ chức quản lí: Cần có một bộ phận chuyên trách về xúc tiến bán
hàng trong phòng Kinh doanh – Marketing.
+ Phân bổ chi phí cho các phương tiện theo tỷ lệ:
70% cho quảng cáo trên báo, tạp chí.
30% cho quảng cáo trên các phương tiện khác.
+ Ngân sách quảng cáo trên doanh thu: từ 3% đến 5%.
- Công ty cần theo dõi và quản lí tốt hoạt động quảng cáo từ khâu đầu
đến khâu cuối. Đặc biệt khi kết thúc chiến dịch quảng cáo cần tổ chức kiểm
tra và đánh giá hiệu quả của hoạt động này.
- Công ty Fourbrothers cần tăng cường thương mại điện tử và quảng
cáo trên Internet như email, facebook, các trang thương mại điện tử như
vatgia.com; alibaba.com;…để khai thác có hiệu quả hoạt động này. Ngày nay
số lượng khách hàng nhận thông tin qua mạng Internet ngày càng nhiều, khả
năng bán hàng và quảng cáo trên mạng tăng nhanh. Do đó, công ty
Fourbrothers cần đầu tư thích đáng cho đào tạo cán bộ để tổ chức và quản lý
hoạt động quảng cáo trên phương tiện hiện đại này.
73
Đối với hoạt động khuyến mại
- Để thực hiện hoạt động khuyến mại có hiệu quả cần thiết phải xây
dựng ngân sách một cách hợp lí, có kế hoạch chủ động cho từng thời kì ngắn
hạn cụ thể và kết hợp với kế hoạch dài hạn hơn. Nói chung cần tránh những
hoạt động khuyến mại đột xuất, mang tính đối phó.
- Cần chuẩn bị và lựa chọn kĩ thuật khuyến mại phù hợp. Mỗi kĩ thuật
khuyến mại có tác dụng riêng biệt trong khi sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu
của các khách hàng mục tiêu khác nhau. Do đó, cần lựa chọn những kĩ thuật
khuyến mại phù hợp để đạt được tính tương thích cao nhất đối với mỗi chủng
loại sản phẩm và từng đối tượng khách hàng.
- Tiếp đó, việc chuẩn bị tốt cơ sở vật chất, kĩ thuật cho hoạt động
khuyến mại cũng rất quan trọng, nếu không sẽ làm giảm hiệu quả của các đợt
khuyến mại.
Các hình thức khuyến mại hiệu quả cần được sử dụng:
+ Thay đổi hình thức sản phẩm cho phù hợp với người mua đối với
những thị trường có phong cách hiện đại như nhà hàng, khách sạn, khách
hàng ở khu vực thành thị.
+ Khuyến mại mua hàng kèm tặng phẩm, các tặng phẩm cần được
nghiên cứu cho phù hợp với thị trường mới mong muốn thu được kết quả tốt.
Khách hàng mua nến thơm có thể tặng kèm chân đế nến, hoặc tinh dầu thơm.
+ Các mặt hàng mới nên tổ chức phát sản phẩm cho một số đối tượng
nhắm đến.
Đối với hoạt động bán hàng cá nhân
Bán hàng cá nhân là sự giới thiệu bằng miệng về sản phẩm của doanh
nghiệp qua cuộc đối thoại với các khách hàng. Đây là công cụ hiệu quả nhất ở
những giai đoạn hình thành sự yêu thích và niềm tin của người mua và giai
74
đoạn ra quyết định mua. Nó góp phần hình thành mối quan hệ gắn bó giữa
doanh nghiệp với khách hàng.
- Trình độ nghiệp vụ của các nhân viên bán hàng trực tiếp sẽ góp phần
quan trọng trong công tác bán hàng vì họ là người đại diện cho công ty giao
tiếp với khách hàng. Do đó rất cần quan tâm tới công tác đào tạo nâng cao
nghiệp vụ, kỹ năng bán hàng cho nhân viên bán hàng.
- Công ty Fourbrothers cần kết hợp cử các nhân viên bán hàng đến các
lớp học lý thuyết như: những nguyên lý cơ bản của việc bán hàng, kiến thức
về thị trường, về Marketing, về hành vi của người tiêu dùng đối với các loại
khách hàng khác nhau. Đồng thời cần tập huấn thêm các kỹ năng bán hàng
thực tiễn, những hiểu biết sâu về công ty Fourbrothers, về sản phẩm của công
ty và còn cả về sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, về thị trường hàng hoá
của họ. Để từ đó nắm được những ưu điểm và nhược điểm của công ty và đối
thủ giúp bán hàng hiệu quả hơn.
- Công ty cũng cần đào tạo kĩ đội ngũ quản trị bán hàng để công tác bán
hàng đi vào nền nếp và đạt hiệu quả cao. Thiết lập các bộ quy tắc lấy đó làm
chuẩn mực văn hóa đối với nhân viên.
3.2.5 Các giải pháp khác
3.2.5.1. Tổ chức quản lý điều hành kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh luôn diễn ra quyết liệt và
gay gắt, vậy tìm kiếm được bạn hàng tin cậy là điều cần thiết và rất khó khăn,
việc kết hợp giữa bán hàng và quản lý là một vấn đề được đặt ra hàng đầu.
Vậy không có sự thay đổi trong phương thức và đường lối chỉ đạo kinh doanh
thì sẽ khó đứng vững và kinh doanh sẽ khó đem lại lơi nhuận cho công ty. Do
vậy, công ty đã tiến hàng xắp xếp lại mạng lưới kinh doanh, các cán bộ trong
các phòng ban như công ty đã làm là việc nâng cao chuyên môn hoá và sự
hiểu biết lẫn nhau giữa các phòng ban, các đơn vị trong toàn công ty. Thực
75
hiện chế độ khoán trong bán hàng nhằm tăng cường trách nhiệm của người
bán đối với mọi hoạt động của công ty, phát huy hết năng lực và sở trường
của họ.
Bộ phận sản xuất cần linh hoạt trong việc vận dụng máy móc và thiết
bị, dây truyền trong sản xuất các sản phẩm truyền thống và sản phẩm mới.
Đảm bảo sự hoạt động đều đặn của máy móc, thiết bị dây truyền để duy trì
sản xuất cung ứng sản phẩm cho thị trường kịp thời, đúng yêu cầu.
Công ty cần tổ chức lại bộ phận tiếp thị, kinh doanh, cần có đội ngũ
nhân viên giỏi để nghiên cứu thị trường để có thể đưa ra các quyết định đúng
đắn trong việc thu mua hàng hoá, quyết định chính xác trong việc tung sản
phẩm ra thị trường.
3.2.5.2. Chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ công nhân viên
Con người là nhân tố rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế, vai trò của con người ngày càng
được khẳng định. Đây là nguồn lực có tính chiến lược đối với sự phát triển
của mỗi doanh nghiệp. Công ty cần tiếp tục tổ chức đào tạo nâng cao trình độ
cho đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật, công nhân trực tiếp sản xuất
nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực quản lý và khả năng tiếp nhận
trình độ khoa học công nghệ cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của
công ty trong tình hình mới.
Trong việc đổi mới cơ chế thị trường, việc thích nghi với sự đổi mới đó
và biết chủ động sáng tạo trong kinh doanh, bán hàng được khối lượng lớn để
đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, đòi hỏi cán bộ công nhân viên phải
có sự cố gắng, mỗi người phải tự vươn lên, tự trau dồi mình để có kiến thức
từ đó làm tăng tính cạnh tranh.
Người bán hàng giữ một vai trò quan trọng, họ là người tác động trực
tiếp đến quyết định mua hàng của khách hàng, họ là người biết gợi mở nhu
76
cầu, dẫn dắt khách hàng từ chỗ không có nhu cầu đến chỗ có nhu cầu, từ chỗ
có nhu cầu ít đến chỗ có nhu cầu nhiều, từ lưỡng lự đi mua đến dứt khoát
mua. Muốn vậy công ty cần đào tạo và và tìm kiếm những người bán hàng
giỏi.
Bên cạnh đó công ty vẫn phải không ngừng củng cố và nâng cao trình
độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên bằng các biện pháp cụ thể như: đào
tạo tại chỗ, gửi đi học, tiếp nhận những cán bộ đã được đào tạo và có năng lực
thật sự nhằm đáp ứng nhu cầu khắt khe của kinh tế thị trường và tốc độ khoa
học kỹ thuật.
Cán bộ lãnh đạo cần phát huy hết năng lực của chính mình, phải biết
chủ động sáng tạo trong việc ra quyết định. Công ty phải thường xuyên cử cán
bộ đi học các lớp quản trị kinh doanh, quản trị Marketing để nâng cao được
trình độ chuyên môn.
Song song với việc đào tạo trong thời gian dài, cần tổ chức tập huấn
nghiệp vụ, đào tạo nhắn ngày để cập nhật những kiến thức mới, kỹ thuật mới
cho cán bộ, công nhân trong công ty để nâng cao tay nghề chuyên môn nghiệp
vụ. Khi tập huấn nên mời cả các chuyên gia giới thiệu những kinh nghiệm,
công nghệ mới cho cán bộ, công nhân viên trong công ty.
Đối với lãnh đạo thiếu năng lực, không thích ứng được với sự thay đổi
của thị trường làm cho công việc kinh doanh bị ách tắc, trì trệ, cần phải
chuyển đổi công việc cho phù hợp. Chấm dứt hiện tượng ngồi tại chỗ trông
chờ khách hàng đến mua, phải thực hiện nơi nào có nhu cầu là có hàng, có
người tới đến tổ chức bán hàng. Trong công ty phải có một chế độ giờ giấc
làm việc nghiêm chỉnh, phải có tinh thần nghiêm túc trong công tác phải bồi
dưỡng bằng vật chất đối với những công nhân viên làm hao hụt tổn thất hàng
hoá của công ty.
77
Ngoài ra việc đào tạo những kỹ thuật tiếp thị và tiêu thụ, những hiểu
biết đầy đủ về sản phẩm cho nhân viên kinh doanh là điều tối quan trọng. Vì
vậy có thể thực hiện thành công là nhờ những tai mắt của công ty này. Thông
qua đội ngũ bán hàng công ty có thể thực hiện thành công các chiến lược tiêu
thụ của mình bằng những cuộc trao đổi tiếp xúc trực tiếp với các khách hàng
để từ đó nắm bắt nhu cầu của họ và thoả mãn nhu cầu đó một cách tốt nhất.
Trong công tác nhân sự, tuyển người có đủ trình độ việc làm, biết sử
dụng các kỹ thuật chuyên môn hiện đại, nhậy bén năng động trong kinh
doanh. Mặt khác, công ty phải luôn chăm lo đến đời sống cán bộ, công
nhân viên, tạo việc làm ổn định cho họ và có lương thưởng xứng đáng để
họ yên tâm làm việc hết mình cho lợi ích của công ty cũng như lợi ích của
cá nhân họ.
Con người là nhân tố quan trọng nhất trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, do vậy doanh nghiệp nào biết đầu tư phát triển nguồn nhân lực một
cách hợp lý thì sẽ mang lại hiệu quả kinh doanh cao.
3.2.5.3. Tổ chức điều tra, tiếp cận thị trường
Thăm dò và thu thập thông tin tạo khả năng thoả mãn những nhu cầu cụ
thể của khách hàng tương lai và hiện có, đồng thời luôn luôn nắm bắt được sự
phát triển và những chiều hướng của thị trường. Thu thập thông tin cần phải
xem như bộ phận không thể tách rời trong chiến lược chính của công ty và
mỗi người trong công ty có vai trò quan trọng phải thực hiện. Sự rắc rối trên
mọi thị trường được giải quyết từ sự kết hợp những thông tin đơn lẻ.
Thu thập thông tin là đặc biệt thiết thực khi cuộc tiếp xúc ban đầu được
tiến hành với người có thể trở thành khách mua. Đội ngũ bán hàng là nguồn
chủ yếu của thông tin xác thực từ bên ngoài liên quan đặc biết tới những hoạt
động của các đối thủ và chiều hướng thị trường. Việc cung cấp cho người
quản lý những thông tin về thực tế đang tiến triển nên được xem như chức
78
năng cần được xác định cẩn thận và rõ ràng của độ ngũ bán hàng. Việc thu
thập thông tin và phân tích ngay sau đó tạo cho công ty một tiềm năng dồi
dào, dẫn tới những cải tiến trong sản phẩm, tính hiệu quả cao hơn trong sản
xuất và những chiến lược thị trường tương lai chính xác.
3.3 KIẾN NGHỊ NHẰM MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH FOURBROTHERS
- Về chủ trương chính sách, nhà nước cần xây dựng chiến lược ổn
định, lâu dài, rõ ràng, minh bạch tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho
doanh nghiệp hoạt động. Khi ban hành các văn bản pháp luật cần nhanh
chóng hướng dẫn thi hành, quy định rõ ràng thời gian thực hiện để sớm đi
vào cuộc sống.
- Về vốn và lãi suất, nhà nước nên có những chính sách hỗ trợ về
vốn như cho phép doanh nghiệp được ra hạn đối với các khoản nợ. Có
chính sách giúp doanh nghiệp tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng
đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Có chính sách khống chế trần
lãi suất ngân hàng đối với các khoản nợ, cả nợ trước và sau. Bớt các thủ
tục, điều kiện trong vay vốn để doanh nghiệp có thể tiếp cận gần hơn, dễ
hơn với nguồn vốn ngân hàng.
- Về chính sách thuế, nhà nước cần có chính sách ổn định và lâu dài với
các loại thuế. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần có các chính sách
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong 10 năm đầu từ 23% xuống còn 10%
để doanh nghiệp có cơ hội tái đầu tư mở rộng sản xuất. Đối với các hàng
hóa là nguyên liệu đầu vào là quá trình khởi đầu của hoạt động tạo chuỗi
giá trị cần giảm thuế nhập khẩu, giảm thuế giá trị gia tăng. Để doanh
nghiệp có điều kiện tốt để trở nên lớn mạnh, nhà nước cần giảm thuế giá trị
gia tăng cho hàng hóa bán ra đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa để tăng
79
cầu hàng hóa giúp doanh nghiệp gia tăng sản xuất, tiêu thụ do tổng cầu cao.
Tạm ngưng ban hành các loại thuế phí đối với các hàng hóa có nguồn gốc
nông nghiệp để nông dân và doanh nghiệp có cơ hội cạnh tranh hơn so với
hàng hóa quốc tế.
- Về hàng nhái hàng, giả hàng. Nhà nước cần đẩy mạnh hơn nữa việc
chống hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng. Đấu tranh hơn nữa với các
hàng trốn lậu thuế được tuồn từ nước ngoài về, các hàng kém chất lượng
nhưng có cùng công dụng để doanh nghiệp có thể ổn định sản xuất và phục vụ
tốt nhất cho người tiêu dùng.
- Về chính sách đối với doanh nghiệp có ngành nghề liên quan đến
sản phẩm nông nghiệp; Nhà nước cần hỗ trợ cho doanh nghiệp các khoản
vay để đầu tư chế biến, hỗ trợ cho nông dân tiếp cận với các nguồn vốn vay
dài hạn, lãi suất ưu đãi 0% để họ đầu tư lâu dài tạo nguồn cung ổn định cho
doanh nghiệp. Hỗ trợ các văn bản pháp lý liên quan đến các xuất xứ hàng
hóa nông nghiệp.
80
KẾT LUẬN
Quá trình hội nhập kinh tế với thế giới đã đặt các doanh nghiệp Việt
nam trước rất khó khăn, thách thức. Để phát triển, nâng cao vị thế trên thương
trường các doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng
quản lý sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ... Mở
rộng thị trường là công tác rất quan trọng, có tác động mạnh mẽ tới sự tồn tại
và phát triển của mỗi tổ chức kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn đạt được những kết quả sau đây:
1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiêp.
2. Phân tích thực trạng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công
ty TNHH Fourbrothers, từ đó chỉ ra những thành công, tồn tại và nguyên nhân
của việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
3. Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm như các giải pháp về: sản phẩm, giá cả, kênh phân phối,
marketing và các giải pháp khác.
Một số đề xuất của luận văn xuất phát từ thực tiễn hoạt động sản xuất
kinh doanh và thực trạng mở rộng thị trường của công ty TNHH
Fourbrothers, vì vậy các giải pháp đưa ra sẽ đóng góp phần nào đó trong việc
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH Fourbrothers.
Tác giả xin chân thành cám ơn Trường Đại học Thăng Long, phòng sau
đại học và quản lý khoa học, giáo viên hướng dẫn TS. Phạm Thị Hoa, các cơ
quan, các nhà nghiên cứu và Công ty TNHH Fourbrothers đã cung cấp thông tin
và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu. Tác giả mong
nhận được sự góp ý chân thành của các Nhà khoa học để luận văn được hoàn
chỉnh.
81
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Adam Smith, “Wealth of Nations”, Oxford University Press,
(1993).
2. David Begg, Những nguyên lý kinh tế học, NXB Thống kê,
(1996).
3. Bùi Anh Tuấn, Nguyễn Hoàng Nam, Quản trị tài chính doanh
nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội (2006).
4. Báo cáo kết quả kinh doanh, phòng Tài chính – kế toán, công ty
TNHH Fourbrothers, (2012-2014).
5. Doanh nhân Sài Gòn online, bài học thâm nhập thị trường của
Ikea, [Trực tuyến] địa chỉ: doanhnhansaigon.vn.
6. Đào Thị Minh Thanh, Nguyễn Sơn Lam, Nghiên cứu Marketing,
NXB Tài Chính, (2009).
7. Edward Blackwell, Kế hoạch kinh doanh, NXB Kinh tế Quốc
Dân, (2010).
8. GS.TS. Nguyễn Thành Độ, Văn hóa trong kinh doanh, NXB Đại
học Kinh tế Quốc Dân (2009).
9. Martin Fridson, Fernando Alvarez , Nhiều dịch giả, NXB kinh tế
TPHCM, (2015).
10. Michael Porter, Lợi thế cạnh tranh, Nhà xuất bản DT Books &
NXB Trẻ.
11. N.Gregory Mankiw, Nguyên Lý Kinh tế học, NXB Thống kê,
(2003)
82
12. PGS.TS. Lê Thế Giới (chủ biên) cùng nhóm tác giả biên soạn,
Quản trị học, NXB Tài chính, (2007).
13. PGS.TS. Nguyễn Năng Phúc, Phân tích kinh doanh, NXB Tài
chính, (2009).
14. PGS.TS. Trần Kim Dung, Quản trị nguồn nhân lực, NXB Thống kê.
15. Quyết định 48/2006/QĐ-BTC về chế độ kế toán doanh nghiệp
vừa và nhỏ, [Trực tuyến], địa chỉ: Misa.com.vn, [22/12/2011].
16. TS. Vũ Thị Tuyết, bài giảng Quản Trị Marketing (dành cho học
viên Cao học), (2014).
17. Thùy Linh - Việt Trinh, Luật doanh nghiệp, NXB Tài chính,
(2006).
18. Vụ chế độ kế toán và kiểm toán, Chế độ kế toán, NXB Tài chính,
(2013).
19. Vai trò tiêu thụ sản phẩm, [Trực tuyến], địa chỉ: voer.edu.vn.
83

