BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐÀO THỊ THU

NGHÈO ĐÓI VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO ĐÓI Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐÀO THỊ THU

NGHÈO ĐÓI VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO ĐÓI Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: Địa lí học

Mã số: 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. TRỊNH THANH SƠN

Thành phố Hồ Chí Minh, 2011

Lời Cảm Ơn

Để hoàn thành luận văn này:

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, TS. Trịnh Thanh Sơn đã tận tình

hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Địa lí, Quý Thầy, Cô giáo

tham gia giảng dạy lớp Cao học Địa lí KT – XH khóa 19, Phòng Sau đại học – trường Đại

học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi

cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu.

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các phòng, ban trực thuộc UBND huyện Định

Quán đã giúp đỡ tận tình trong thời gian tác giả thực hiện đề tài tại địa phương.

Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Quý Thầy, Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã dành

thời gian quý báu của mình để đọc đề tài và đóng góp ý kiến giúp đề tài của tác giả hoàn

thiện hơn.

Xin chia sẻ niềm vui và lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã

động viên, khích lệ tác giả trong suốt thời gian qua.

Xin chân thành cảm ơn!

Đào Thị Thu

MỤC LỤC

Lời Cảm Ơn ................................................................................................ 3

MỤC LỤC ................................................................................................... 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................. 7

DANH MỤC BẢNG ................................................................................... 8

DANH MỤC HÌNH .................................................................................... 9

MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1

1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................ 1

2. Mục tiêu của đề tài .................................................................................................... 2

3. Nhiệm vụ của đề tài ................................................................................................... 2

4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài ............................................................. 2

5. Lịch sử nghiên cứu đề tài .......................................................................................... 2

6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ........................................................ 5

7. Cấu trúc của đề tài ..................................................................................................... 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ................................................................... 8

1.1. Quan niệm về nghèo đói ......................................................................................... 8

1.2. Tiêu chuẩn xác định nghèo đói .............................................................................. 9

1.3. Nguyên nhân nghèo đói ........................................................................................ 15

1.3.1. Nhóm nguyên nhân chủ quan .............................................................................................. 15

1.3.2. Nguyên nhân khách quan .................................................................................................... 16

1.4. Thực trạng nghèo đói của thế giới và Việt Nam .................................................. 17

1.5. Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số nước trên thế giới và Việt Nam ................... 21

1.5.1. Kinh nghiệm giảm nghèo ở Trung Quốc ............................................................................. 21

1.5.2. Kinh nghiệm giảm nghèo ở Mê-hi-cô ................................................................................. 22

1.5.3. Kinh nghiệm giảm nghèo ở Uganđa .................................................................................... 23

1.5.4. Kinh nghiệm giảm nghèo của Việt Nam ............................................................................. 24

Chương 2: THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI VÀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI ........... 26

2.1.Khái quát về huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai .................................................... 26

2.2. Thực trạng nghèo đói và công tác xóa đói, giảm nghèo ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai ..................................................................................................................... 36

Chương 3 : GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI ...................................................................... 65

3.1. Quan điểm, định hướng, mục tiêu và nhiệm vụ của chương trình giảm nghèo bền vững ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai ................................................................... 65

3.1.1. Quan điểm ........................................................................................................................... 65

3.1.2. Định hướng .......................................................................................................................... 66

3.1.3. Mục tiêu, đối tượng của chương trình giảm nghèo bền vững ............................................. 66

3.1.4. Nhiệm vụ ............................................................................................................................. 67

3.2. Giải pháp giảm nghèo bền vững ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai ................. 68

3.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ................................................................................................. 68

3.2.2. Đầu tư cơ sở hạ tầng ............................................................................................................ 69

3.2.3. Dạy nghề và hỗ trợ việc làm ............................................................................................... 69

3.2.4. Hỗ trợ vốn cho hộ nghèo ..................................................................................................... 71

3.2.5. Hỗ trợ giáo dục .................................................................................................................... 72

3.2.6. Hỗ trợ y tế ............................................................................................................................ 73

3.2.7. Nhân rộng mô hình giảm nghèo .......................................................................................... 74

3.2.8. Nâng cao năng lực và nhận thức của đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ................. 75

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................. 76

KẾT LUẬN ................................................................................................................. 76

KIẾN NGHỊ ................................................................................................................. 77

PHỤ LỤC .................................................................................................. 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BCĐ.GN: Ban chỉ đạo giảm nghèo

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

HĐND: Hội đồng nhân dân

KT – XH: Kinh tế - xã hội

LĐTBXH: Lao động – Thương binh và xã hội

NQ: Nghị quyết

QĐ: Quyết định

TT: TT

UBND: Ủy ban nhân dân

UNDP: Chương trình phát triển Liên hợp quốc

XĐGN: Xóa đói, giảm nghèo

DANH MỤC BẢNG

Bảng Trang

1. Bảng 1.1: Tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam thời kỳ 1993 – 2010 ............................ 22

222. Bảng 1.2: Tình trạng nghèo đói theo vùng của Việt Nam qua một số năm

.............................................................................................................................. 23

3. Bảng1.3: Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 1 với nhóm 5 qua một số năm ...... 24

4. Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu khí hậu tại trạm khí tượng thủy văn La Ngà – Định Quán .

................................................................................................................................................... 33

5. Bảng 2.2: Cơ cấu các nhóm đất chính của huyện Định Quán ......................... 34

6. Bảng 2.3: Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Định Quán qua một số năm ....... 37

7. Bảng 2.4: Hộ nghèo, tỉ lệ hộ nghèo của huyện Định Quán thời kỳ 2001 – 2011 48

8. Bảng 2.5: Phân bố hộ nghèo theo đơn vị hành chính của huyện Định Quán năm 2011

......................................................................................................................... 49

9. Bảng 2.6: Nhân khẩu bình quân của hộ gia đình nghèo huyện Định Quán đầu năm

2011. ................................................................................................................ 52

10. Bảng 2.7: Lao động và tỉ lệ lao động của hộ nghèo huyện Định Quán năm 2011 53

11. Bảng 2.8: Tình trạng hoạt động của lao động nghèo huyện Định Quán năm 2011. 54

12. Bảng 2.9: Trình độ văn hóa của người nghèo huyện Định Quán năm 2011

.............................................................................................................................. 55

13. Bảng 2.10: Tình hình thu nhập của người nghèo huyện Định Quán năm 2011 57

14. Bảng 2.11: Hộ nghèo huyện Định Quán phân theo giá trị tài sản năm 2011

.............................................................................................................................. 60

15. Bảng 2.12: Tình hình nhà ở của hộ nghèo huyện Định Quán năm 2011 ...... 63

16. Bảng 2.13: Hộ nghèo huyện Định Quán phân theo điều kiện sinh hoạt và đời sống

năm 2011 ......................................................................................................... 65

17. Bảng 2.14: Hộ nghèo huyện Định Quán phân theo một số nguyên nhân trực tiếp năm

2011 ................................................................................................................. 69

DANH MỤC HÌNH

1. Hình 1.1: Tỉ lệ nghèo khu vực nông thôn, thành thị ở Việt Nam từ năm 1993 – 2010 22

2. Hình 2.1: Cơ cấu kinh tế huyện Định Quán năm 2000, 2010 ......................... 38

3. Hình 2.2: Tỉ lệ hộ nghèo huyện Định Quán giai đoạn 2001 – 2010 ................ 49

4. Hình 2.3: Cơ cấu nhà ở của hộ nghèo huyện Định Quán năm 2011 ............... 64

5. Bản đồ đơn vị hành chính huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai . ........................ 31

6. Bản đồ nghèo huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai ............................................. 51

7. Bản đồ cơ cấu giá trị tài sản hộ nghèo huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai ...... 59

8. Bản đồ cơ cấu thu nhập của hộ nghèo ............................................................. 62

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nghèo đói là một trong những vấn đề nan giải của mọi thời đại và mọi quốc gia

trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đều phải

quan tâm và tìm cách giải quyết.

Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bên cạnh phải lo

đối phó với thù trong, giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt chú ý tới vấn đề

xóa đói. Người cho rằng “giặc đói” là một trong ba loại giặc mà Chính phủ và toàn dân

phải tập trung đánh đuổi. Nối tiếp chủ trương của Người, hơn nửa thế kỷ qua công tác

xóa đói, giảm nghèo (XĐGN) đã trở thành một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của

Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững gắn

với thực hiện công bằng xã hội. Vì vậy, trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã

tập trung chỉ đạo, ưu tiên mọi nguồn lực thực hiện tốt mục tiêu XĐGN, đưa tỉ lệ hộ

nghèo theo chuẩn quốc tế giảm từ 58% xuống còn 10,7% trong giai đoạn 1993 – 2010.

Mặc dù Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ra sức phấn đấu, song với một nước sản

xuất nông nghiệp là chủ yếu, xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, lại bị chiến tranh tàn

phá ác liệt và thiên tai liên tiếp, nên cuộc chiến đấu chống nghèo đói của nhân dân ta

còn hết sức khó khăn, gian khổ, đặc biệt là đối với các nông hộ trong khu vực nông

nghiệp và nông thôn.

Trong xu thế đất nước hội nhập sâu hơn với thế giới và những yêu cầu trong

tiến trình thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN (CPRGS) được

Chính phủ phê duyệt vào tháng 5 năm 2002, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai đã và

đang chú trọng đẩy mạnh phát triển kinh tế ở địa phương đi đôi với việc thực hiện

XĐGN. Vì vậy công tác XĐGN ở huyện Định Quán đã đạt được những thành tựu

đáng kể trong những năm qua. Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói vẫn còn rất nghiêm

trọng và công tác XĐGN của huyện vẫn còn nhiều khó khăn.

Trước tình hình thực tế của địa phương, với mong muốn góp phần vào giảm

nhanh tình trạng nghèo đói và nâng cao đời sống của người dân huyện Định Quán tôi đã

chọn đề tài luận văn: “Nghèo đói và giải pháp giảm nghèo đói ở huyện Định Quán,

tỉnh Đồng Nai”.

2. Mục tiêu của đề tài

- Tìm hiểu những cơ sở lý luận về vấn đề nghèo đói.

- Tìm hiểu thực trạng nghèo đói và công tác XĐGN ở huyện Định Quán, tỉnh

Đồng Nai.

- Các giải pháp giúp XĐGN hiệu quả và bền vững.

3. Nhiệm vụ của đề tài

Để thực hiện được mục tiêu đã nêu trên thì nhiệm vụ của đề tài cần giải quyết các

vấn đề sau:

- Phân tích, chọn lọc, hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề nghèo đói để vận dụng

vào việc nghiên cứu trên địa bàn huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

- Tìm hiểu thực trạng nghèo đói và công tác XĐGN của huyện Định Quán, tỉnh

Đồng Nai; từ đó tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở một bộ phận dân cư của

huyện.

- Đưa ra các giải pháp nhằm góp phần vào công tác XĐGN; hỗ trợ cho thoát

nghèo bền vững ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài

4.1. Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là tình hình nghèo đói trên địa bàn huyện Định Quán, tỉnh

Đồng Nai.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian : Địa bàn nghiên cứu là huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

- Về thời gian: Từ năm 2000 đến đầu năm 2011.

5. Lịch sử nghiên cứu đề tài

5.1. Trên thế giới

Nghèo đói là một hiện tượng mang tính chất toàn cầu, không chỉ tồn tại ở những

nước nghèo và các nước đang phát triển mà cả ở các nước phát triển trên thế giới. Do đó,

XĐGN đã trở thành chương trình hành động của Liên Hợp Quốc và các quốc gia trên thế

giới, thu hút các nhà khoa học, các tổ chức tham gia nghiên cứu nhằm xây dựng hệ

thống cơ sở lý luận về nghèo đói, tìm hiểu thực trạng và các bài học kinh nghiệm để đưa

ra các giải pháp XĐGN hiệu quả. Các chuyên viên của Ngân hàng thế giới trong cuốn

“Tấn công nghèo đói” đã sử dụng những bằng chứng mới cùng với phương pháp tư duy

đa ngành để mở rộng khả năng lựa chọn cách hành động phát triển nhằm giảm bớt nghèo

đói trên tất cả các phương diện của nó, trong đó tập trung phân tích các cách tiếp cận vấn

đề nghèo đói, trên cơ sở đưa ra những kiến nghị hành động trên 3 lĩnh vực: mở rộng cơ

hội cho người nghèo; tạo điều kiện thuận lợi cho sự trao quyền nhằm tăng cường sự

tham gia của người nghèo trong quá trình chính trị và ra quyết định; tăng cường an sinh

nhằm giảm bớt nguy cơ dễ bị tổn thương cho người nghèo trước các cú sốc bất lợi do ốm

đau, khủng hoảng, thiên tai,… Trong khi đó, Hafiz A.Pasha và T.Planive, trong khi

nghiên cứu về “Chính sách tăng trưởng vì người nghèo: Kinh nghiệm của Châu Á”

lại tập trung phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng và nghèo đói ở các nước Châu Á

trong một thời gian dài và phân tích ảnh hưởng của các loại chính sách khác nhau tới các

yếu tố xác định nghèo đói…

5.2. Việt Nam

Ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác

định nghèo đói và dốt là những thứ giặc như giặc ngoại xâm. Người yêu cầu Đảng,

Chính phủ, các cấp, các ngành phải: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì

khá, giàu. Người khá, giàu thì giàu thêm”. Vì thế, trong thời gian qua, Đảng và Nhà

nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, chương trình, dự án nhằm XĐGN hiệu quả

như Chương trình 135; Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN nghèo; Chính

sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo; Dự án dạy nghề cho người nghèo,….

Bên cạnh việc hỗ trợ Đảng và Chính phủ hoàn thiện các chính sách, chương trình,

dự án XĐGN, các nhà khoa học Việt Nam; các ban, ngành của Nhà nước; các tổ chức

quốc tế, đã có những công trình nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về

nghèo đói; phân tích bức tranh nghèo đói của cả nước nói chung, một số vùng và địa

phương nói riêng để đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho công cuộc XĐGN,… Chẳng

hạn như trong cuốn “Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay”, trên

cơ sở nghiên cứu về vấn đề nghèo đói ở các chế độ xã hội và ở nước ta, quan điểm của

chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, mục tiêu lý tưởng của

chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, tác giả Nguyễn Thị Hằng đã góp phần hoàn thiện cơ sở

lý luận về nghèo đói; nêu lên tính chất tất yếu khách quan của việc XĐGN; thực trạng

nghèo đói và một số phương hướng, biện pháp XĐGN ở nông thôn nước ta. Hay trong

cuốn “Giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu và thách thức” của Viện Khoa học và xã

hội Việt Nam, các tác giả đã phân tích khá sâu về thực trạng nghèo đói của Việt Nam

trong những năm qua, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO, từ đó đưa ra

những thành tựu và hạn chế trong công cuộc XĐGN của nước ta. Còn TS. Nguyễn Thị

Hoa trong cuốn “Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2015” đã giới thiệu đến

người đọc hệ thống những chính sách hiện hành đang áp dụng ở Việt Nam, trong đó tập

trung vào 4 chính sách chủ yếu: Chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, chính sách

đầu tư cơ sở hạ tầng, chính sách hỗ trợ giáo dục và y tế cho người nghèo; tác động của

các chính sách này (theo cả 2 hướng đồng thuận và không đồng thuận) đến thực trạng

nghèo đói của Việt Nam thời gian qua; đồng thời đề xuất quan điểm và nội dung hoàn

thiện các chính sách này theo những yêu cầu mới hơn, cao hơn, triệt để hơn, xem xét

như những bước rút hoàn thành mục tiêu của Tuyên bố thiên niên kỷ mà Việt Nam đã

cam kết…

Trong bối cảnh chung của cả nước, vấn đề XĐGN trên địa bàn huyện Định Quán,

tỉnh Đồng Nai đã được các cấp chính quyền, các cơ quan, đoàn thể và nhân dân trong

vùng quan tâm, tập trung mọi nguồn lực góp phần đưa tỉ lệ hộ nghèo của huyện giảm

xuống đáng kể trong thời gian qua. Tuy nhiên cho đến nay vấn đề này vẫn chưa có một

công trình nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống, phần nhiều được thể hiện trên

các văn bản của các ban, ngành của UBND huyện, xã, TT. Vì thế, với mong muốn góp

phần vào công cuộc giảm nghèo của huyện, tác giả đã tiến hành nghiên cứu về thực

trạng nghèo đói và công tác XĐGN của huyện trong thời gian qua, từ đó đưa ra các giải

pháp nhằm giảm nghèo hiệu quả. Trong quá trình thực hiện luận văn của tác giả, các đề

tài nghiên cứu của các tác giả đi trước đã trở thành nguồn tư liệu tham khảo quý giá và

thực sự bổ ích.

6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp luận

 Quan điểm triết học Mac – Lênin

Quan điểm triết học Mac – Lênin là sự kết tinh của các thành tựu khoa học và các

tư tưởng triết học nhân loại, là cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu tính toàn

diện, tính phát triển của các hiện tượng trên thế giới, quan điểm này đã được áp dụng

trong quá trình nghiên cứu đề tài nhằm hiểu rõ về nguồn gốc, diễn biến và xu hướng

phát triển của tình trạng nghèo đói ở một bộ phận dân cư huyện Định Quán, tỉnh Đồng

Nai

 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Quan điểm tổng hợp lãnh thổ là quan điểm mang tính chất đặc trưng và là quan

điểm truyền thống của khoa học địa lý. Vận dụng quan điểm tổng hợp lãnh thổ cho phép

nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố tự nhiên

và các yếu tố KT - XH huyện Định Quán đến tình trạng nghèo đói ở một bộ phận dân cư

của huyện. Đồng thời xem xét tình trạng nghèo đói của huyện Định Quán trong bối cảnh

chung của tỉnh Đồng Nai cũng như của cả nước nhằm đánh giá một cách khách quan

hơn về những nhân tố trội tác động tới tình trạng nghèo đói ở huyện Định Quán, từ đó có

thể đưa ra các giải pháp tối ưu góp phần XĐGN hiệu quả hơn.

 Quan điểm hệ thống

Nghèo đói là một phân hệ nằm trong hệ thống KT - XH của huyện Định Quán. Vì

vậy trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả đã vận dụng quan điểm hệ thống để xem xét

sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tình trạng nghèo đói với các nhân tố khác nằm trong hệ

thống KT - XH huyện Định Quán nói riêng, tỉnh Đồng Nai và cả nước nói chung.

 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Nghèo đói là một trong những vấn đề xã hội nhức nhối của mọi thời đại, tuy nhiên

ở từng thời điểm khác nhau tỉ lệ nghèo đói, nguyên nhân và đặc trưng của nghèo đói lại

khác nhau. Chính vì vậy trong quá trình nghiên cứu về vấn đề XĐGN ở huyện Định

Quán – Đồng Nai tác giả đã vận dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh, qua đó có thể nhìn

nhận, đánh giá nguyên nhân dẫn tới nghèo đói ở một bộ phận dân cư huyện Định Quán

cũng như thành tựu và hạn chế của công tác XĐGN trong giai đoạn từ 2001 – 2010, từ

đó đề xuất những giải pháp XĐGN hiệu quả và bền vững trong thời gian tới.

 Quan điểm kinh tế

Quan điểm kinh tế được coi trọng trong nghiên cứu địa lý KT - XH. Thúc đẩy

tăng trưởng kinh tế bền vững và tạo việc làm được coi là những chính sách quan trọng

nhất mà chính phủ có thể làm để giảm nghèo, tuy nhiên cần tránh xu hướng phát triển

kinh tế bằng mọi giá mà phải đảm bảo sự bền vững về cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi

trường.

6.2. Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu

Thu thập và xử lý số liệu, tài liệu vừa giúp rút ngắn thời gian nghiên cứu, tổng

hợp tài liệu một cách khách quan hơn, vừa là những dẫn chứng minh họa cho vấn đề

nghiên cứu. Vì vậy, trong quá trình làm luận văn tác giả đã thu thập các tài liệu liên quan

đến cơ sở lý luận về nghèo đói, cũng như các tài liệu, số liệu liên quan đến tình hình

nghèo đói ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, từ đó tổng hợp và xử lý cho phù hợp với

tình hình và nội dung nghiên cứu của đề tài.

 Phương pháp phân tích, so sánh

Phương pháp phân tích, so sánh các tài liệu, số liệu giúp chúng ta có thể chọn ra

những thông tin quan trọng phục vụ cho vấn đề nghiên cứu, đồng thời có thể xem xét lại

các hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận và tìm ra các giải pháp

hoàn thiện hơn cho vấn đề XĐGN ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

 Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp điều tra xã hội học là phương pháp được sử dụng khá phổ biến với

các nghiên cứu địa lý KT - XH. Thông qua phương pháp điều tra cho ta những thông tin

có ích, cập nhật và có độ tin cậy nhất định. Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra xã

hội học để có thể nắm bắt rõ hơn thực trạng cũng như nguyên nhân gây nên tình trạng

nghèo đói ở một bộ phận dân cư huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và những nguyện

vọng của người dân đối với các chính sách công về XĐGN.

 Phương pháp khảo sát thực địa

Phương pháp khảo sát thực địa là phương pháp cần thiết để kiểm chứng những tài

liệu đã thu thập được tránh được những kết luận chủ quan, vội vàng, thiếu cơ sở thực

tiễn; đồng thời bổ sung thêm những thông tin mới giúp cho đề tài được nghiên cứu hoàn

thiện hơn. Vì vậy trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đã đi đến các xã, hộ gia đình

nghèo nằm trên địa bàn huyện Định Quán nhằm kiểm chứng và bổ sung thêm một số

thông tin cho đề tài nghiên cứu.

 Phương pháp bản đồ

Phương pháp bản đồ là phương pháp truyền thống được các nhà địa lý sử dụng

khi nghiên cứu bất kỳ một một vấn đề địa lý nào, thông qua bản đồ có thể có cái nhìn

tổng quát về vị trí địa lý, các điều kiện tự nhiên, KT - XH… của lãnh thổ nghiên cứu,

góp phần minh họa, làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu.

7. Cấu trúc của đề tài

Đề tài “Nghèo đói và giải pháp giảm nghèo đói ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng

Nai”, ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm có 3 chương chính:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Thực trạng nghèo đói và công tác xóa đói, giảm nghèo ở huyện Định Quán,

tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Quan niệm về nghèo đói

1.1.1. Quan niệm về nghèo đói của thế giới

Nghèo đói là một hiện tượng KT - XH mang tính chất toàn cầu, không chỉ diễn ra

ở các quốc gia kém phát triển, mà nó còn tồn tại ở cả các quốc gia có nền kinh tế phát

triển trên thế giới. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, KT - XH của mỗi quốc

gia vào mỗi thời kỳ mà tính chất, mức độ nghèo đói lại có sự khác nhau. Vì vậy, cho đến

nay đã có rất nhiều quan niệm về nghèo đói được các nhà nghiên cứu, các quốc gia và

các tổ chức quốc tế đưa ra.

Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban KT - XH khu vực Châu Á – Thái Bình

Dương (ESCAP) tổ chức ở Băng Cốc (Thái Lan) vào tháng 9 năm 1993 đã đưa ra định

nghĩa về nghèo đói như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được

hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã

được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển KT - XH và phong tục tập quán

của địa phương”.

Nhu cầu cơ bản ở đây được hiểu là những nhu cầu tối thiểu về vật chất như thức

ăn, quần áo, nhà ở và các nhu cầu như văn hóa, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp,… để con

người có thể tồn tại ở mức bình thường.

- Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức ở Copenhagen (Đan

Mạch) vào năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói: “Người nghèo

là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người,

số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.

Ngân hàng thế giới (WB) coi nghèo đói là sự thiếu hụt không thể chấp nhận được

trong phúc lợi của con người, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội. Ở đây thiếu

hụt về sinh lý học là sự không đáp ứng đủ nhu cầu về vật chất và sinh học như dinh

dưỡng, sức khỏe, giáo dục và nhà ở. Thiếu hụt về mặt xã hội liên quan đến các khái niệm

như bình đẳng, rủi ro và được tự chủ, tôn trọng trong xã hội.

Chia sẻ những quan điểm trên, nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith cho rằng: Con

người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay cả khi được xem là thích đáng

để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng. Khi đó họ không

có những thứ gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết để sống một cách đúng

mực.

Còn ông Abapia Sen, người đoạt giải Nôben về kinh tế năm 1998, là chuyên gia

hàng đầu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại quan niệm: “Nghèo đói là sự thiếu cơ

hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”.

Như vậy, người nghèo là những người không được thụ hưởng những nhu cầu cơ

bản ở mức tối thiểu dành cho con người, có mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng

đồng dân cư, thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.

1.1.2. Quan niệm về nghèo đói của Việt Nam

Cũng như trên thế giới, quan niệm về nghèo đói ở Việt Nam cũng khá phong phú.

Để thống nhất về mặt lý luận, trong “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN”

Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về nghèo đói được đưa ra tại Hội nghị chống

nghèo đói do Ủy ban KT - XH khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại

Băng Cốc – Thái Lan vào năm 1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không

được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu

này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển KT - XH và phong tục tập

quán của địa phương”.

Ngoài ra, trong công tác XĐGN ở Việt Nam còn tồn tại các khái niệm hộ đói, hộ

nghèo, xã nghèo, huyện nghèo, tỉnh nghèo và vùng nghèo. Trong đó, khái niệm về hộ

đói, hộ nghèo và xã nghèo được dùng phổ biến hơn.

1.2. Tiêu chuẩn xác định nghèo đói

1.2.1. Tiêu chuẩn xác định nghèo đói trên thế giới

Nghèo được thể hiện ở nhiều khía cạnh: Thiếu ăn, thu nhập thấp, thiếu tài sản để

đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trước những biến cố bất

lợi, thiếu tiếng nói trước cộng đồng,… Để đo được từng khía cạnh đó một cách nhất

quán là điều rất khó, còn gộp tất cả những khía cạnh đó thành một chỉ số nghèo hay

thước đo nghèo đói duy nhất là chuyện không thể. Song, nhằm thông tin cho các chính

sách công và để đánh giá mức độ thành công của các chính sách đó cần phải có các tiêu

chí cụ thể. Vì vậy, để đánh giá mức độ nghèo đói, các quốc gia và các tổ chức nghiên

cứu đã sử dụng 2 tiêu chí là: Mức thu nhập bình quân đầu người trong một năm (hoặc

tháng hoặc ngày) và mức tiêu dùng Kcalo bình quân hàng ngày của mỗi người.

Ngân hàng thế giới (WB): Ngân hàng thế giới đã đưa ra tiêu chuẩn xác định thu

nhập ở mức nghèo là 1,25 USD/người/ngày (năm 2005), tức là thu nhập cần thiết để duy

trì 2.100 Kcalo mỗi ngày.

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Theo Tổ chức Lao động thế giới, lương thực,

thực phẩm là nhu cầu thiết yếu nhất trong các nhu cầu tối thiểu của con người và và cũng

chiếm phần lớn thu nhập của người nghèo. Do vậy, mức nghèo được ILO chọn là một rổ

lương thực, thực phẩm đang có sẵn mà mọi người thừa nhận để tính toán là 2.100

Kcalo/người/ngày.

Bên cạnh các chuẩn nghèo được các tổ chức quốc tế đưa ra, tùy vào điều kiện cụ

thể của mỗi quốc gia ở từng thời điểm khác nhau mà có những mức chuẩn khác nhau, ví

dụ theo tiêu chí mức thu nhập thì chuẩn nghèo ở Malaysia là 28 USD/người/tháng, Phi-

lip-pin: 85 USD/tháng; theo tiêu chí mức tiêu dùng Kcalo thì các nước công nghiệp ở

Châu Âu là 2.570 Kcalo/người/ngày, Châu Đại dương là 2.660 Kcalo/người/ngày,…

1.2.2. Tiêu chuẩn xác định nghèo đói ở Việt Nam

1.2.2.1. Tổng cục thống kê

Từ năm 1993 với sự tài trợ của SIDA (Thụy Điển), Chương trình Phát triển Liên

hợp quốc (UNDP) và Ngân hàng Thế giới, Tổng cục thống kê Việt Nam đã tiến hành

điều tra mức sống dân cư. Dựa vào các thông tin chi tiết về chi tiêu của hộ gia đình ở các

cuộc điều tra này, Tổng cục thống kê đã đưa ra hai chuẩn nghèo: chuẩn nghèo lương

thực, thực phẩm và chuẩn nghèo chung.

Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm xác định theo chuẩn đã được Tổ chức Y tế

thế giới và các cơ quan khác xây dựng, theo đó những người có mức chi tiêu cho lương

thực, thực phẩm thiết yếu đảm bảo khẩu phần ăn dưới 2.100 Kcalo/ngày - mức Kcalo tối

thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người thì được gọi là nghèo lương thực, thực phẩm.

Mức chi tiêu này được cập nhật theo biến động của giá ở các năm có khảo sát mức sống.

Phương pháp xác định chuẩn nghèo chung là tính thêm chi phí cho các mặt hàng

phi lương thực, thực phẩm. Tính cả chi phí này với chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm

ta có chuẩn nghèo chung.

Từ 2 chuẩn nghèo này, tỉ lệ hộ nghèo cũng được xác định ở 2 mức là: Tỉ lệ nghèo

lương thực, thực phẩm (tỉ lệ % số hộ có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn

nghèo lương thực, thực phẩm), tỉ lệ nghèo chung (tỉ lệ % số người có mức chi tiêu bình

quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo chung).

Bằng phương pháp trên, Tổng cục thống kê đã đưa ra chuẩn nghèo lương thực,

thực phẩm qua một số năm như sau: 749 nghìn đồng/người/năm (1993), 1.286 nghìn

đồng/người/năm (1998), 1.344 nghìn đồng/người/năm (2002), 1.488 nghìn

đồng/người/năm (2004).

Chuẩn nghèo chung là 1.160 nghìn đồng/người/năm (1993), 1.790 nghìn

đồng/người/năm (1998), 1.920 nghìn đồng/người/năm (2002), 2.076 nghìn

đồng/người/năm (2004), 2.556 nghìn đồng/người/năm (2006) và 3.360 nghìn

đồng/người/năm (2008).

Do có xu hướng tiếp cận với chuẩn nghèo quốc tế nên với chuẩn nghèo mà Tổng

cục thống kê đưa ra thì số hộ nghèo đói sẽ rất lớn. Bên cạnh đó, các cuộc điều tra chỉ

thống kê, đánh giá và theo dõi diễn biến nghèo đói chứ không có được một danh sách cụ

thể các hộ nghèo đói, đồng nghĩa với việc không xác định được nguyên nhân gây nghèo

đói ở các hộ gia đình. Một khi đã không xác định được nguyên nhân thì không thể đưa ra

các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế, từ đó làm giảm hiệu quả của công tác

XĐGN.

1.2.2.2. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (Bộ LĐTBXH)

Căn cứ vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam với mục tiêu là xác định rõ, cụ thể ai là

người nghèo, xóm ấp nghèo, xã nghèo và huyện nghèo, từ đó làm cơ sở để xác định giải

pháp và chính sách XĐGN phù hợp, Bộ LĐTBXH đã đưa ra chuẩn nghèo dựa trên các

số liệu về thu nhập của hộ gia đình và nhu cầu năng lượng bình quân 2.100

Kcalo/người/ngày (quy gạo). Theo đó tỉ lệ nghèo của Bộ LĐTBXH được xác định bằng

tỉ lệ dân số có thu nhập dưới chuẩn nghèo. Chuẩn nghèo của Bộ LĐTBXH cũng thay đổi

theo từng giai đoạn cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước. Cụ thể:

Năm 1993, Bộ LĐTBXH đề nghị áp dụng tiêu chí về nghèo và đói ở thời điểm

này là:

- Hộ đói: Thu nhập đầu người quy gạo dưới 13 kg gạo/người/tháng đối với khu

vực thành thị và dưới 8 kg gạo/người/tháng đối với khu vực nông thôn.

- Hộ nghèo: Thu nhập đầu người quy gạo dưới 20 kg gạo/người/tháng đối với khu

vực thành thị và dưới 15 kg gạo/người/tháng đối với khu vực nông thôn.

Ngày 29 tháng 8 năm 1995, Bộ LĐTBXH đã đưa ra chuẩn nghèo mới như sau:

- Hộ đói: là hộ có mức thu nhập dưới 13 kg gạo/người/tháng cho mọi vùng.

- Hộ nghèo:

+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: mức thu nhập < 15 kg

gạo/người/tháng.

+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: mức thu nhập < 20 kg

gạo/người/tháng.

+ Vùng thành thị: mức thu nhập < 25 kg gạo/người/tháng

Ngày 20 tháng 05 năm 1997, theo Quyết định (QĐ) số 1751/LĐTBXH, Việt

Nam đã đưa ra chuẩn nghèo đói thuộc phạm vi của Chương trình quốc gia áp dụng cho

thời kỳ 1996 - 2000 như sau:

- Hộ đói: mức thu nhập < 13 kg gạo/người/tháng (xấp xỉ 45.000

đồng/người/tháng) tính cho mọi vùng.

- Hộ nghèo:

+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: mức thu nhập < 15 kg

gạo/người/tháng (xấp xỉ 55.000 đồng/người/tháng).

+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: mức thu nhập < 20 kg

gạo/người/tháng (xấp xỉ 70.000 đồng/người/tháng).

+ Vùng thành thị: mức thu nhập < 25 kg gạo/người/tháng (xấp xỉ 90.000

đồng/người/tháng).

Ngoài việc đưa ra tiêu chí hộ nghèo, tháng 2 năm 1997 Bộ LĐTBXH còn xác

định tiêu chí xã nghèo với mục đích ưu tiên tập trung các nguồn lực của Nhà nước và

của cộng đồng để sớm XĐGN ở các xã đó. Các tiêu chí đó là:

+ Tỉ lệ hộ nghèo chiếm từ 40% trở lên so với tổng số hộ trong xã.

+ Cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm y tế, nước sạch,…) không có hoặc rất

thiếu về số lượng và về chất lượng, không đáp ứng nhu cầu phát triển KT - XH ở địa

phương.

+ Trình độ dân trí thấp; tỉ lệ mù chữ chiếm từ 40% trở lên tổng số người trong

độ tuổi.

Ngày 01 tháng 11 năm 2000, tại QĐ số 1143/2000 QĐLĐTBXH chuẩn nghèo

giai đoạn 2001 - 2005 đã được ban hành và áp dụng từ ngày 01/01/2001. Chuẩn nghèo

này dựa vào thu nhập bình quân/người/tháng, được phân thành 3 nhóm tùy theo điều

kiện địa lý:

+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: mức thu nhập < 80.000 đồng/người/tháng.

+ Vùng nông thôn đồng bằng: mức thu nhập < 100.000 đồng/người/tháng.

+ Vùng thành thị: mức thu nhập < 150.000 đồng/người/tháng.

Ngày 08 tháng 07 năm 2005, theo QĐ số 170/2005/QĐ-TTg chuẩn nghèo cho

giai đoạn 2006 – 2010 đã được ban hành nhằm XĐGN toàn diện hơn, công bằng hơn và

hội nhập theo chuẩn nghèo quốc tế. Chuẩn nghèo này được áp dụng cho 2 khu vực nông

thôn và thành thị.

+ Khu vực nông thôn: mức thu nhập < 200.000 đồng/người/tháng.

+ Khu vực thành thị: mức thu nhập < 260.000 đồng/người/tháng

Ngày 30 tháng 01 năm 2011, Thủ tướng chính phủ vừa ban hành QĐ số

09/2011/QĐ-TTg về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 –

2015 như sau:

- Hộ nghèo:

+ Nông thôn: mức thu nhập < 400.000 đồng/người/tháng.

+ Thành thị: mức thu nhập < 500.000 đồng/người/tháng.

- Hộ cận nghèo:

+ Nông thôn: mức thu nhập bình quân từ 401.000 - 520.000

đồng/người/tháng.

+ Thành thị: mức thu nhập bình quân từ 501.000 - 650.000

đồng/người/tháng.

Cách xác định hộ nghèo đói của Bộ LĐTBXH theo chuẩn nghèo đói đã được

công bố như sau:

Bước 1: Phổ biến hướng dẫn chuẩn nghèo theo phương pháp kết hợp hộ tự kê

khai và rà soát của Ban XĐGN. Tiến hành tập huấn, hướng dẫn biểu mẫu cho các cán bộ

địa phương và cho các hộ.

Bước 2: Thôn bản, tổ chức điều tra, khảo sát lên danh sách các hộ nghèo đói, tổ

chức rà soát lại việc kê khai của hộ, đưa ra hội nghị thôn, bản thảo luận, lập sổ hộ nghèo

đói.

Bước 3: Ban XĐGN xã, phường kiểm tra xác định lại lần cuối để báo cáo lên

UBND huyện. Huyện tổng hợp báo cáo lên Sở LĐTBXH. Bộ LĐTBXH tổng hợp từ

báo cáo của Sở để trình Chính phủ.

Theo Bộ LĐTBXH, trên cơ sở chuẩn nghèo quốc gia, các tỉnh có thể đưa ra chuẩn

nghèo riêng cho địa phương mình nhưng phải thỏa mãn 3 điều kiện:

- Thu nhập bình quân đầu người của địa phương đó phải cao hơn thu nhập đầu

người của cả nước.

- Có tỉ lệ hộ nghèo đói thấp hơn tỉ lệ bình quân cả nước.

- Có đủ nguồn lực cân đối cho các giải pháp XĐGN ở địa phương.

1.3. Nguyên nhân nghèo đói

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo ở một bộ phận dân cư tuy nhiên

có thể xếp các nguyên nhân thành 2 nhóm: Nhóm nguyên nhân khách quan và nhóm

nguyên nhân chủ quan.

1.3.1. Nhóm nguyên nhân chủ quan

Là những nguyên nhân do bản thân người lao động, phổ biến là:

1.3.1.1. Thiếu vốn và không có khả năng tiếp cận nguồn tín dụng

Đây là nguyên nhân số một làm cho các hộ nghèo còn luẩn quẩn trong nghèo đói,

vươn lên thoát nghèo. Không có vốn, người nghèo thường phải đi làm thuê, thu nhập

thấp và không ổn định, không có khả năng tích lũy vốn nên chất lượng cuộc sống thấp,

dễ bị tổn thương trước những yếu tố bất lợi như thiên tai, dịch bệnh, mất sức lao động,...

Bên cạnh đó, người nghèo cũng khó tiếp cận với ngân hàng vì họ không có tài sản thế

chấp, họ chỉ nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước hay các tổ chức phi chính phủ nhưng

nguồn vốn này lại rất hạn chế. Do vậy người nghèo thiếu vốn sản xuất không có cơ hội

đầu tư sản xuất, mở rộng sản xuất và dẫn đến không thể thoát nghèo.

1.3.1.2. Trình độ học vấn thấp, không có kinh nghiệm làm ăn

Người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp. Họ phải tốn nhiều thời

gian cho việc tăng thêm thu nhập cho gia đình nên hầu như không có điều kiện nâng cao

trình độ của mình để thoát khỏi cảnh nghèo. Bên cạnh đó, công việc của họ thường

không ổn định, hay thay đổi nên không có cơ hội tích lũy kinh nghiệm và rèn luyện kỹ

năng làm việc, vì vậy mà người nghèo khó có cơ hội việc làm nhất là đối với những

ngành nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao. Mặt khác, trình độ học vấn thấp còn ảnh hưởng

đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái,... không

những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai, làm cho việc thoát nghèo thông

qua giáo dục càng trở nên khó khăn hơn.

1.3.1.3. Đông con, ít lao động

Đông con là một trong những đặc điểm của hộ nghèo, đây vừa là nguyên nhân,

vừa là hệ quả của nghèo đói. Đông con dẫn đến trong một hộ gia đình người làm thì ít

mà người ăn theo lại nhiều do đó thu nhập bình quân thấp, mức sống thấp và không có

khả năng tích lũy vốn. Mặt khác, do họ không có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận

với các biện pháp sức khoẻ sinh sản nên tỉ lệ sinh trong các gia đình nghèo thường cao –

vòng tròn luẩn quẩn của nghèo đói lại lặp lại.

1.3.1.4. Sức khỏe yếu và bệnh tật

Sức khỏe yếu, bệnh tật và nghèo đói thường tác động qua lại với nhau. Sức khỏe yếu,

bệnh tật ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của người nghèo do họ vừa mất đi thu

nhập từ lao động, vừa phải chi tiêu cho việc khám chữa bệnh, do vậy đây là nguyên nhân xô

đẩy một hộ gia đình xuống dốc nghèo khó và nợ nần, ít có cơ hội để thoát nghèo. Đến lượt

nó, khi nghèo đói đã ngự trị thì không thể cải thiện sức khỏe tốt hơn do thời gian nghỉ ngơi

ít, bữa ăn thường xuyên không đủ chất, khả năng tiếp cận với các dịch vụ phòng bệnh (nước

sạch, các chương trình y tế,…) cũng hạn chế, làm tăng khả năng mắc bệnh của người nghèo.

Ngoài các nguyên nhân chính trên thì còn một số nguyên nhân chủ quan khác đẩy

con người tới tình trạng nghèo đói như ăn tiêu lãng phí lại lười lao động, gia đình neo

đơn,…

1.3.2. Nguyên nhân khách quan

1.3.2.1. Nghèo đói do thiếu đất

Trong một nền kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, đất đai và khả năng tiếp cận

đất đai có tác động lớn đến đời sống của những người sử dụng nó, vì vậy không có đất

hay ít đất sản xuất cũng là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói. Không có đất thì không thể

trồng trọt hay chăn nuôi, họ buộc phải đi làm thuê cho người khác, hay đất sản xuất quá

ít hoặc đất xấu sẽ ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo,

cũng như khả năng đa dạng hoá sản xuất, hướng tới sản xuất các loại cây trồng với giá

trị cao hơn và vì vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói.

1.3.2.2. Nghèo đói do thiên tai và các rủi ro khác

Một bộ phận dân cư có nguồn thu nhập thấp, không ổn định, khả năng tích lũy

vốn ít chỉ cần có những biến động bất thường xảy ra với cá nhân, gia đình hay cộng động

như thiên tai, mất mùa, mất việc làm, mất sức khỏe, mất nguồn lao động,… sẽ tạo ra

những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ. Nếu không kịp thời có biện pháp khắc phục thì

những người này sẽ rơi vào tình trạng nghèo đói.

1.3.2.3. Nghèo đói do những tác động của chính sách Nhà nước

Các chính sách KT - XH của Nhà nước và địa phương cũng là một trong những

nguyên nhân tác động tới tình trạng nghèo đói. Nếu các chính sách phù hợp với điều

kiện tự nhiên, KT - XH của địa phương nói riêng và quốc gia nói chung thì sẽ thúc đẩy

nền KT - XH phát triển, góp phần XĐGN. Trái lại, chính sách đưa ra không khoa học,

mang tính phong trào, thiếu tính khả thi, gây lãng phí nghiêm trọng, tệ nạn quan liêu,

tham nhũng diễn ra nhiều nơi,… lại trở thành nguyên nhân làm cho những người nghèo

càng ít có cơ hội thoát nghèo, thậm chí có thể làm cho một bộ phận dân cư cận nghèo rơi

vào tình trạng nghèo đói.

Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác cũng làm cho một bộ phận dân cư sống

trong nghèo đói chẳng hạn như khu vực sinh sống ở vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông đi

lại khó khăn, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế…

1.4. Thực trạng nghèo đói của thế giới và Việt Nam

1.4.1. Thực trạng nghèo đói của thế giới

Trong vòng 25 năm, tỉ lệ người nghèo trên thế giới đã giảm đáng kể từ 50%

(1981) xuống còn 25% (2005). Tuy nhiên, trên thế giới vẫn còn khoảng 1,4 tỉ người sống

với mức thu nhập dưới 1,25 USD/người/ngày (năm 2005). Phần lớn người nghèo sinh

sống ở Châu Á (khoảng 900 triệu người nghèo năm 2005) nhưng mức độ nghèo trầm

trọng nhất lại diễn ra ở Châu Phi – mặc dù chỉ có khoảng 380 triệu người nghèo của thế

giới sinh sống ở châu lục này nhưng trung bình mỗi người nghèo ở đây chỉ thu nhập 70

xu/ngày. Bên cạnh đó, theo báo cáo của FAO, Châu Phi cũng chính là nơi phải đối mặt

với nạn đói nghiêm trọng nhất, với 30% dân số phải sống trong tình trạng thiếu lương

thực trong khi con số này tại các nước đang phát triển khác là 13%. Nguyên nhân dẫn

đến tình trạng nghèo đói trầm trọng của Châu Phi là do nơi đây khí hậu khô hạn, trong

khi sản xuất nông nghiệp lại phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên dẫn đến mất mùa hay năng

suất thu hoạch thấp; thêm vào đó lại thường xuyên xảy ra sự bất ổn về chính trị.

Nạn nghèo không chỉ tồn tại ở các nước đang và chậm phát triển mà ngay cả

những nước phát triển trên thế giới nạn nghèo cũng tồn tại. Tại Hoa Kì – cường quốc số

1 thế giới về kinh tế - năm 2009 có 39,8 triệu người nghèo, đưa tỉ lệ người nghèo ở quốc

gia này lên 14,3%. Hay như ở Nhật Bản số người nghèo tính đến thời điểm tháng 6 năm

2010 cũng lên tới 1,907 triệu người,…

1.4.2. Thực trạng nghèo ở Việt Nam

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành

công trên mọi lĩnh vực nhưng ấn tượng hơn cả với bạn bè quốc tế đó là thành tích về

XĐGN.

Bảng 1.1: Tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam thời kỳ 1993 – 2010

(Đơn vị: %)

Năm

1993 1998 2002 2004 2006 2008 2010

Cả nước

58,1

37,4

28,9

18,1

15,5

13,4

10,7

Thành thị

25,0

9,2

6,6

8,6

7,7

6,7

5,1

Nông thôn

66,3

45,5

35,6

21,2

18,0

16,1

13,2

(Nguồn: Tổng cục Thống Kê Việt Nam: Điều tra mức sống dân cư năm 2002, 2004, 2008, 2010)

Từ năm 1993 đến năm 2010, qua 5 lần thay đổi chuẩn nghèo cho phù hợp với tình

hình thực tế của đất nước và tiến gần với chuẩn nghèo quốc tế, tỉ lệ hộ nghèo đã giảm

nhanh trên phạm vi cả nước: từ 58,1% (năm 1993) xuống còn 10,7 % (năm 2010).

Bảng số liệu 1.1 cũng cho thấy, mặc dù trong những năm qua tỉ lệ nghèo ở khu vực

nông thôn đã giảm nhanh chóng nhưng người nghèo ở Việt Nam vẫn tập trung chủ yếu ở

khu vực nông: Năm 1993 tỉ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn là 66,3%, năm 2010 xuống

còn 13,2%; Trong khi đó, tỉ lệ hộ nghèo ở khu vực thành thị giảm từ 25% (năm 1993)

xuống còn 5,1% (năm 2010).

%

70

60

1993

50

1998

40

2002

30

2004

20

2006

10

2008

0

2010

Thành thị

Nông thôn

Khu vực

%

Hình 1.1. Tỉ lệ nghèo khu vực nông thôn, thành thị ở Việt Nam

từ năm 1993 đến năm 2010

Bên cạnh đó, bức tranh phân bố nghèo cũng có sự khác biệt giữa các vùng trong cả

nước. Theo kết quả từ cuộc tổng điều tra hộ nghèo cả nước giai đoạn 2011 – 2015, cuối

năm 2010 Tây Bắc là vùng có tỉ lệ hộ nghèo cao nhất nước (32,7%), kế đến là Bắc Trung

Bộ (19,3%), Đông Bắc (17,7%), Tây Nguyên (17,1%), Duyên hải Nam Trung Bộ

(12,7%), Đồng bằng sông Cửu Long (8,9%), Đồng bằng sông Hồng (6,5%) và thấp nhất

là Đông Nam Bộ (2,2%). Như vậy những vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi,

KT - XH chậm phát triển và là nơi có đông đồng bào dân tộc sinh sống cũng chính là nơi

có tỉ lệ hộ nghèo cao nhất.

Bảng 1.2: Tình trạng nghèo đói theo vùng của Việt Nam qua một số năm

(Đơn vị:%)

1993

1998

2002

2004

2006

2008

2010

Cả nước Đồng bằng sông Hồng Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long

58,1 78,6 86,0 81,0 74,5 49,5 69,9 32,7 47,1

37,4 29,3 62,0 73,4 48,1 34,5 52,4 12,2 36,9

28,9 22,4 38,4 68 43,9 25,2 51,8 10,6 23,4

18,1 12,9 23,2 46,1 29,4 21,3 29,2 6,1 15,3

15,5 10,1 22,2 39,4 26,6 17,2 24,0 4,6 13

13,4 8,7 20,1 35,9 23,1 14,7 21,0 3,7 11,4

10,7 6,5 17,7 32,7 19,3 12,7 17,1 2,2 8,9

(Nguồn: Tổng cục Thống Kê - Điều tra mức sống dân cư các năm 2002, 2004, 2008, 2006, 2010)

Mặc dù tỉ lệ hộ nghèo không ngừng giảm xuống trong những năm qua nhưng

khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam lại tăng lên. Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 1 với

nhóm 5 trên phạm vi cả nước tăng từ 8,1 lần (năm 2002) lên 9,2 lần (năm 2010). Trong

khi thành thị có xu hướng giảm khoảng cách giàu nghèo (8,0 lần (năm 2002) xuống 7,9

lần (năm 2010)) thì ở nông thôn khoảng cách này lại tăng lên (6,0 lần (năm 2002) lên 7,5

lần (năm 2010)). Sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo ở khu vực nông thôn là do sự di cư

của một bộ phận dân cư nông thôn ra thành thị tìm kiếm việc làm, một số mạnh dạn đầu

tư phát triển kinh tế hộ… đã giúp cho những hộ này có thu nhập cao hơn so với mặt

bằng thu nhập chung ở khu vực nông thôn.

Bảng1.3: Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 1 với nhóm 5 qua một số năm

8,9 8,3 6,9 7,6 7,8 6,8 6,5 7,0 8,2 8,7 7,3

8,3 8,1 6,4 7,0 7,0 6,4 6,0 6,5 7,6 8,7 6,7

(Đơn vị: lần) 2002 2004 2006 2008 2010 9,2 8,4 8,1 Cả nước 7,9 8,2 8,0 Thành thị 7,5 6,5 6,0 Nông thôn 8,0 7,1 6,9 Đồng bằng sông Hồng 8,2 7,1 6,2 Đông Bắc 7,2 6,6 6,0 Tây Bắc 6,8 6,3 5,8 Bắc Trung Bộ 7,2 6,6 5,8 Duyên hải Nam Trung Bộ 8,3 7,9 6,4 Tây Nguyên 8,4 8,8 9,0 Đông Nam Bộ Tây Nam Bộ 7,4 6,8 6,8 (Nguồn: Tổng cục Thống Kê – Điều tra mức sống hộ dân cư năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010)

Bảng số liệu 1.3 cũng cho thấy, ngoài Đông Nam Bộ là vùng có xu hướng giảm

khoảng cách giàu nghèo từ 9,0 lần (năm 2002) xuống còn 8,4 lần (năm 2010) thì 7 vùng

còn lại đều có xu hướng tăng khoảng cách giàu nghèo. Trong 8 vùng, Đông Nam Bộ là

vùng có khoảng cách giàu nghèo lớn nhất nước (8,4 lần năm 2010), Bắc Trung Bộ là

vùng có khoảng cách giàu nghèo nhỏ nhất nước (6,8 lần năm 2010).

1.5. Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số nước trên thế giới và Việt Nam

1.5.1. Kinh nghiệm giảm nghèo ở Trung Quốc

Ở Trung Quốc, ngay từ năm 1978 Chương trình XĐGN đã được xem là một trong

những chương trình hành động quốc gia quan trọng. Từ đó đến nay, dưới sự quan tâm

chỉ đạo thực hiện của chính phủ, nỗ lực của bản thân người nghèo và sự giúp đỡ của

cộng đồng, số người nghèo ở Trung Quốc không ngừng giảm xuống: từ 260 triệu người

năm 1978 xuống còn 35,97 triệu người năm 2009. Chương trình XĐGN ở Trung Quốc

được chia thành nhiều giai đoạn với những bước đi phù hợp với tình hình thực tiễn của

đất nước. Cụ thể:

Ở giai đoạn 1978 - 1985, Trung Quốc đã thực hiện một loạt các chính sách cải

cách như cải cách hệ thống quản lý ruộng đất, nới lỏng kiểm soát giá nông sản phẩm, tập

trung phát triển các xí nghiệp ở các trấn nhằm mở rộng các hướng mới giải quyết nghèo

đói ở các vùng nông thôn. Những cải cách này đã đẩy nhanh tốc độ phát triển nền kinh

tế, đồng thời mang lại lợi ích cho người nghèo theo 3 khía cạnh: Nâng giá nông sản

phẩm, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tận dụng nguồn lao động phi nông

nghiệp ở nông thôn, nhờ đó tạo điều kiện người nghèo thoát nghèo đói, trở nên giàu có

và góp phần giảm tỉ lệ nghèo ở các vùng nông thôn.

Ở giai đoạn 1986 - 1993, bên cạnh việc xác định vùng thuộc phạm vi được hỗ trợ

trực tiếp của chính phủ, chính phủ Trung Quốc đã thực hiện hàng loạt các chương trình

như: Chương trình viện trợ trực tiếp bằng việc đưa kinh phí từ chính quyền trung ương

xuống các vùng được lựa chọn; Chương trình “Lao động đổi lấy lương thực” đã sử dụng

lao động người nghèo để xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng; Chương trình

vay vốn bao cấp – hộ gia đình nghèo được vay khoản vốn nhỏ với điều kiện ưu đãi. Các

chương trình này đều có điểm chung là chú trọng đến việc hỗ trợ thôn nghèo và hộ

nghèo, trong đó ưu tiên cho các nhóm đặc biệt khó khăn như dân tộc thiểu số, người tàn

tật và phụ nữ.

Từ năm 1994 trở lại đây, chính phủ Trung Quốc tập trung hướng tới việc cải thiện

hơn nữa các điều kiện sản xuất nông nghiệp, cải tạo cơ sở hạ tầng và các dịch vụ xã hội;

tiếp tục và tăng cường sự tham gia của các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội và cộng

đồng quốc tế trong nỗ lực XĐGN. Một loạt các chính sách cụ thể được triển khai như

tăng cường huy động và tổ chức mọi thành phần xã hội tham gia hỗ trợ người nghèo;

đẩy nhanh hợp tác khu vực Đông và Tây trong công tác hỗ trợ người nghèo; kết hợp

giảm nghèo với bảo vệ môi trường sinh thái và kế hoạch hóa gia đình; thúc đẩy trao đổi

quốc tế và hợp tác trong công tác hỗ trợ người nghèo. Đặc biệt để nâng cao hiệu quả đầu

tư cho giảm nghèo, Trung Quốc đã chú trọng đến phương thức giảm nghèo. Kinh

nghiệm của Trung Quốc là giảm nghèo theo hình thức cuốn chiếu trên cơ sở đúng đối

tượng hỗ trợ. Xác định đối tượng hỗ trợ là huyện nghèo bao gồm huyện nghèo trọng

điểm quốc gia và huyện nghèo trọng điểm tỉnh giúp cho việc phân cấp hỗ trợ thuận lợi

hơn. Cụ thể, ngân sách trung ương hỗ trợ cho các huyện/thôn nghèo quốc gia. Các

huyện/thôn nghèo cấp tỉnh do ngân sách tỉnh hỗ trợ. [12; tr 39, 40]

1.5.2. Kinh nghiệm giảm nghèo ở Mê-hi-cô

Năm 1997, tình trạng người nghèo được tiếp cận với dịch vụ y tế rất thấp; tỉ lệ trẻ

em thất học và tình trạng trốn học, bỏ tiết ở các vùng nghèo rất cao, Chính phủ Mê-hi-cô

đã đưa ra Chương trình giáo dục, y tế và dinh dưỡng nhằm thực hiện mục tiêu giảm

nghèo đói hiện tại và tăng đầu tư vào vốn con người, chấm dứt nghèo đói thường xuyên

qua nhiều thế hệ, đặc biệt là các gia đình nghèo ở khu vực nông thôn. Phương thức thực

hiện chương trình là chuyển giao tiền mặt trực tiếp cho các gia đình với điều kiện các

thành viên của gia đình phải đi khám sức khỏe, các bà mẹ phải tham gia các buổi phổ

biến thông tin về vệ sinh, dinh dưỡng và trẻ em phải đến trường.

Cụ thể, chương trình giáo dục, y tế và dinh dưỡng trợ cấp cho những gia đình

nghèo để cho con em dưới 18 tuổi được đi học từ lớp thứ 3 bậc tiểu học đến lớp thứ 3

bậc trung học. Mức trợ cấp tăng theo cấp học và các bé gái được nhận cao hơn một chút

so với các bé trai. Đối với học sinh năm thứ 3 trung học, trợ cấp bằng 46% mức thu nhập

trung bình của một người làm nông nghiệp. Những gia đình có trẻ em đã bị bỏ học hơn

15% số ngày đến trường trong một tháng hoặc bị lưu ban quá 1 lần sẽ không được nhận

trợ cấp tiền của tháng đó. Các gia đình trong diện nghèo đói được nhận mức trợ cấp nếu

các thành viên đi khám sức khỏe thường xuyên và các bà mẹ tham gia các buổi phổ biến

thông tin về dinh dưỡng và sức khỏe tổ chức hàng tháng.

Điều đáng lưu ý là tiền trợ cấp được trao cho người mẹ, vì họ được coi là

người chịu trách nhiệm chăm sóc chính con cái. Với tính tập trung cao, chương trình chỉ

có một cầu nối duy nhất giữa cán bộ chương trình và những người thụ hưởng, đó là nữ

tuyên truyền viên cộng đồng – người này có thể là liên lạc viên giữa những người thụ

hưởng và nhà cung ứng, do một hội đồng các hộ gia đình tạo ra. Chương trình này có

một loạt các ưu điểm như chống lại xu hướng trong các gia đình nghèo thiên về tiêu

dùng hiện tại bằng các khuyến khích đầu tư vào vốn con người; chương trình này đã

nhận thức được mối quan hệ giữa giáo dục, y tế và dinh dưỡng; để dàn rộng nguồn lực

có hạn của chính phủ, chương trình đã gắn việc trợ cấp tiền mặt với hành vi của hộ gia

đình, nhằm mục đích thay đổi thái độ; với mục đích, quy chế và yêu cầu của chương

trình cũng như phương pháp đánh giá đã được công bố rộng rãi đã giảm bớt sự can thiệp

chính trị.

Kết quả của chương trình giáo dục, y tế và dinh dưỡng đã làm tăng số lượng

học sinh đi học ở tất cả các cấp, đặc biệt tỉ lệ nhập học của các bé gái. Ngoài ra chương

trình đã cải thiện được tình trạng còi xương, suy dinh dưỡng của các trẻ em hộ nghèo.

Cuối cùng, chương trình không chỉ tạm thời tăng thu nhập mà nó còn giúp tăng năng

suất và thu nhập trong tương lai của những đứa trẻ thụ hưởng. [12; tr 51, 52]

1.5.3. Kinh nghiệm giảm nghèo ở Uganđa

Sau nhiều thập kỷ chiến tranh và tàn phá kinh tế, tăng trưởng đã quay trở lại ở

Uganđa trong thập kỷ 1990 với mức trung bình hơn 5% một năm. Chỉ trong vòng 6 năm

(1992 – 1998), tỉ lệ nghèo đói ở Uganđa đã giảm từ 56% xuống còn 44%. Lợi ích của tăng

trưởng đã được chia sẻ giữa các nhóm thu nhập, các hộ gia đình nông thôn và thành thị, và

gần như tất cả các ngành kinh tế. Mức tiêu dùng thực tế trên đầu người đã tăng trong tất cả

các nhóm dân cư, có nghĩa là nghèo đói đã giảm, cho dù có sử dụng tiêu chuẩn ngưỡng

nghèo nào đi chăng nữa.

Bất bình đẳng thu nhập giảm được chút ít đã khiến tăng trưởng đặc biệt có

tác dụng trong việc giảm nghèo đói, với hệ số GINI giảm từ 0,36 xuống 0,34 trong vòng

5 năm. Mức sống của tất cả các hộ gia đình nghèo đều được cải thiện. Tiêu dùng (tính

tương đương cho một người lớn) đã tăng 27% trong nhóm một phần mười dân số nghèo

nhất, còn các hộ gia đình trong nhóm một phần mười dân số giàu nhất thì tăng được

15%. Trong nhóm những người sản xuất nông sản thương phẩm – nhất là người trồng cà

phê, vốn trước đây cũng nghèo như số đông những người Uganđa – nghèo đói đã giảm

nhanh hơn 2 lần so với mức chung của cả nước. [17, tr 62]

1.5.4. Kinh nghiệm giảm nghèo của Việt Nam

Mặc dù nguồn lực có hạn nhưng qua 10 năm thực hiện Chiến lược toàn diện

về tăng trưởng và giảm nghèo với nhiều chính sách, chương trình, dự án, số hộ nghèo ở

Việt Nam đã giảm từ 29% (năm 2002) xuống còn 10,7% (năm 2010), chênh lệch mức

sống giữa thành thị và nông thôn đã giảm từ 2,3 lần (năm 1999) xuống còn 2 lần (năm

2008). Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã vượt qua mốc của một nước

nghèo (1.000USD) và trở thành nước có thu nhập trung bình. Cơ sở hạ tầng phục vụ đời

sống và sản xuất của nhân dân ở khu vực các xã đặc biệt khó khăn đã được cải thiện

đáng kể với hàng vạn công trình điện, đường, trường, trạm, thủy lợi,… được xây dựng

và đưa vào sử dụng. Đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, đặc biệt là đồng

bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa đã có nhiều thay đổi căn bản. Quan trọng hơn,

các chính sách đúng đắn và kịp thời cùng nỗ lực kiên trì XĐGN của Đảng và Nhà nước

đã kích thích, khơi dậy ý chí, năng lực vươn lên thoát nghèo của nhân dân, giúp một bộ

phận không nhỏ người nghèo thoát ra khỏi tình trạng nghèo cùng cực. Cùng với những

thành tựu này, Việt Nam đã tích lũy được những bài học kinh nghiệm quan trọng về

giảm nghèo, đó là:

- Giảm nghèo ở Việt Nam không đơn thuần là một chính sách xã hội mà đã

được nâng lên thành mục tiêu quốc gia. Chính sách giảm nghèo luôn được đặt trong mối

quan hệ hài hòa với tăng trưởng kinh tế. Bởi vậy, một trong những thành tựu nổi bật của

Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận là trong khi bảo đảm duy trì tốc độ tăng

trưởng kinh tế nhanh, ổn định thì đồng thời Việt Nam cũng hạn chế được tốc độ gia tăng

bất bình đẳng xã hội.

- Dựa trên ý chí quyết tâm và sự đồng thuận của toàn bộ hệ thống chính trị,

các cơ chế, chính sách giảm nghèo được ban hành một cách tích cực và có tính toàn

diện, phù hợp với đặc điểm, bản chất nghèo của đối tượng thụ hưởng, đồng thời hướng

trọng tâm đến các cơ chế, chính sách tạo ra tiền đề cần thiết giúp người nghèo phát huy

năng lực bản thân để tự vươn lên cải thiện đời sống, quyết tâm thoát nghèo (đầu tư cơ sở

hạ tầng, vay vốn phát triển sản xuất, dạy nghề, hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

như y tế, văn hóa giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt,...).

- Quá trình điều hành, tổ chức thực hiện các chương trình, dự án giảm nghèo

năng động, linh hoạt với các mục tiêu cụ thể và nhiều giải pháp phù hợp có tính đến yếu

tố vùng miền, tập quán dân cư, cộng đồng; (các chương trình giảm nghèo ngành, các

chương trình phát triển KT - XH vùng,…).

- Việc xác định đối tượng nghèo, phân loại nguyên nhân nghèo và diễn biến

nghèo của các nhóm dân cư khác nhau giúp cho các chính sách giảm nghèo được xây

dựng có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với đối tượng và mang lại hiệu quả tác động

thực tế.

- Sự nghiệp giảm nghèo của Việt Nam đã huy động được sự tham gia của các

cấp, các ngành, của toàn xã hội với nhiều hình thức huy động nguồn lực tham gia rất

phong phú, từ nhiều kênh, nhiều nguồn khác nhau; đồng thời tranh thủ được sự giúp đỡ

và các nguồn lực hỗ trợ của cộng đồng quốc tế cả về vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm. [37]

Chương 2: THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI VÀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

2.1.Khái quát về huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

2.1.1. Vị trí địa lí

Định Quán là một huyện miền núi, nằm phía Bắc tỉnh Đồng Nai, có diện tích tự nhiên là 971,23 km2 (chiếm 16,45% diện tích tự nhiên toàn tỉnh), bao gồm 13 xã và 1

TT.

- Về tọa độ địa lí: Huyện Định Quán trải dài từ 11000’30’’ đến 11025’00’’ vĩ độ

Bắc và từ 107007’30’’ đến 107030’00’’ kinh độ Đông.

- Về ranh giới địa lí : Huyện Định Quán tiếp giáp với các huyện, thị sau:

+ Phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Tân Phú (Đồng Nai).

+ Phía Đông Nam giáp huyện Đức Linh (Bình Thuận).

+ Phía Nam giáp các huyện Thống Nhất, Xuân Lộc và thị xã Long Khánh

(Đồng Nai).

+ Phía Tây giáp huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai).

Huyện Định Quán nằm dọc theo tuyến quốc lộ 20 – trục đường bộ nối quốc lộ 1A

với thành phố Đà Lạt, cách trung tâm thành phố Biên Hòa (Đồng Nai) khoảng 80 km,

Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 110 km và thành phố Đà Lạt khoảng 185 km nên có vị

trí thuận lợi trong việc giao lưu với các vùng trong tỉnh và một số tỉnh lân cận. Bên cạnh

đó, Định Quán là một huyện của tỉnh Đồng Nai, một trong những tỉnh thuộc vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam, nên có điều kiện thuận lợi cho cho huyện phát triển kinh tế,

văn hóa và xã hội.

2.1.2. Điều kiện tự nhiên

2.1.2.1. Địa hình

Huyện Định Quán có độ cao trung bình so với mặt nước biển là 180m, đây là

vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên và trung du do đó địa hình không bằng phẳng, có

những vùng gò đồi lượn sóng tập trung ở các xã La Ngà, Ngọc Định, Gia Canh, Thanh

Sơn, Phú Vinh,… và những vùng dốc thoải. Địa hình của huyện bị chia cắt bởi sông

Đồng Nai và sông La Ngà tạo nên ba tiểu vùng có các đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng

khác nhau bao gồm: Tiểu vùng phía Nam (gồm các xã La Ngà, Phú Túc, Túc Trưng, Phú

Cường và Suối Nho), tiểu vùng Thanh Sơn và phần còn lại.

2.1.2.2. Khí hậu

Khí hậu của huyện Định Quán mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa

có sự phân hóa thành mùa mưa và mùa khô rõ nét. Nhiệt độ trung bình năm là 26,90C, chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng không cao. Tổng số giờ nắng trong năm

là 2.502 giờ. Do ảnh hưởng của vùng cao nguyên Bảo Lộc – Lâm Đồng là sườn

chắn gió Tây Nam mang nhiều hơi ẩm từ biển Ấn Độ Dương nên lượng mưa ở Định

Quán tương đối lớn từ 2.500 – 2.800 mm/năm, số ngày mưa trong năm từ 150 – 170

ngày. Độ ẩm trung bình năm là 80%.

Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu khí hậu tại trạm khí tượng thủy văn La Ngà – Định Quán

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

26,7 25,7

Nhiệt độ trung bình tháng (0C)

25, 7

26,8 27,9 28,5 28, 0

27,3 26,5 26, 4

26, 6

26, 4

Độ ẩm (%)

74

70

71

74

83

86

87

89

88

85

81

75

5,8

44,5

Tổng lượng mưa (mm)

8,0 42,3 107, 5

251 ,4

323, 4

334, 5

358 ,2

361 ,1

297 ,4

109, 6

238 248 259

253 202 190 166 166 167 196 214

203

Số giờ nắng (Giờ/tháng)

Số ngày mưa (Ngày)

2

2

5

10

19

20

23

24

24

22

12

6

(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Đồng Nai)

Đặc trưng khí hậu theo mùa của Định Quán như sau:

- Mùa khô (Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau): Nhiệt độ trung bình các tháng mùa khô là 26,90C, số giờ nắng trung bình là 7,77 giờ/ngày. Lượng mưa mùa khô chỉ chiếm

10 – 15% tổng lượng mưa năm.

- Mùa mưa (Từ tháng 5 đến tháng 10): Nhiệt độ trung bình các tháng mùa mưa là 26,80C, số giờ nắng trung bình là 5,97 giờ/ngày. Lượng mưa chiếm 85 – 90% tổng lượng

mưa năm. Mưa lớn cộng với địa hình dốc làm rửa trôi và xói mòn mạnh dẫn đến tình

trạng phân hoá vỏ thổ nhưỡng nhanh.

Tuy có một số bất lợi do sự phân hóa khí hậu theo mùa nhưng nhìn chung khí hậu

huyện Định Quán tương đối thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh tế và sinh hoạt đời

sống của người dân.

2.1.2.3. Tài nguyên đất

Huyện Định Quán có diện tích tự nhiên là 97.123,7 ha, chiếm 16,45% diện tích tự

nhiên toàn tỉnh. Căn cứ vào bản đồ đất tỉnh Đồng Nai và bản đồ đất huyện Định Quán tỉ

lệ 1/25.000 được chỉnh lý bổ sung và xây dựng trên nền bản đồ địa hình tỉ lệ 1/25.000

năm 1998 và kết quả điều tra bổ sung năm 2010, cho thấy trên địa bàn huyện có 05

nhóm đất chính:

Bảng 2.2: Cơ cấu các nhóm đất chính của huyện Định Quán

STT Tên đất Việt Nam

Tên đất theo FAO/UNESCO

Diện tích (ha)

Tỉ lệ (%)

1 Nhóm đất xám 2 Nhóm đất đá bọt

Acrisols Andosols

51,44 0,44

49.962,68 427,33

3 Nhóm đất đỏ 4 Nhóm đất Gley

Ferrasols Gleysols

13,18 0,62

12.796,55 608,86

5 Nhóm đất đen

Luvisols

16.986,51

17,49

6

Sông suối, ao hồ

16.341,77

16,83

Tổng cộng

97.123,7

100,0

(Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường - UBND huyện Định Quán)

- Nhóm đất xám (Acrisols): Đây là nhóm đất chính của huyện có diện tích

49.962,68 ha (chiếm 51,45% diện tích tự nhiên của huyện). Đất đa phần phát triển trên

đá phiến và đá granit, nghèo mùn, các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu thấp. Đất chua,

nghèo cation trao đổi, CEC thấp. Đất nhẹ đến trung bình, thích hợp cho trồng cây mía,

bắp, đậu xoài, nhãn, điều,...

- Nhóm đất đá bọt (Andosols): Diện tích 427,33 ha (chiếm 0,44% diện tích tự

nhiên của huyện). Đất này được hình thành trên đá Bazan, tầng đất lẫn nhiều đá, có khi

có kết von. Do tầng đất hữu hiệu có lẫn nhiều đá cục nên nhóm đất này ít có ý nghĩa

trong sản xuất nông nghiệp. Thường được tận dụng trồng chuối, bắp, đậu.

- Nhóm đất đỏ (Ferrasols): Diện tích 12.796,55 ha (chiếm 13,18% diện tích tự

nhiên của huyện. Được hình thành trên mẫu chất Bazan, tầng đất dày, thành phần cơ giới

nặng, cấu tượng viên tơi xốp, giàu đạm và lân, các cation trao đổi cao. Đất đỏ rất thích hợp

với cây lâu năm nhất là cao su, cà phê và cây ăn quả.

- Nhóm đất Gley (Gleysols): Diện tích 608,86 ha (chiếm 0,62% diện tích tự nhiên

của huyện). Đa phần được trồng lúa và cây hoa màu ngắn ngày, một số nơi được lên líp

trồng cây ăn trái.

- Nhóm đất đen (Luvisols): Diện tích 16.986,51 ha (chiếm 17,49% diện tích tự

nhiên của huyện). Đất được hình thành trên mẫu chất Bazan, với đặc tính giàu chất dinh

dưỡng và chất hữu cơ dễ tiêu, đặc biệt là hàm lượng lân tổng số và canxi, magiê cao nên

nhìn chung đất đen rất thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng trong nông nghiệp.

2.1.2.4. Tài nguyên nước

- Tài nguyên nước mặt

Tài nguyên nước mặt của huyện Định Quán tương đối dồi dào, ngoài một số suối

như suối Tam Bung, suối Son, suối Sà Mách, suối Thuỷ Nhập Sơn… trên địa bàn huyện

có 2 sông lớn là sông Đồng Nai và sông La Ngà – đây là nguồn cung cấp nước chính cho

sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, mực nước biến đổi theo mùa với

biên độ rất lớn, mùa khô hầu như không có nước, mùa mưa có một số vùng bị ngập úng

gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp.

+ Sông Đồng Nai bắt nguồn từ vùng núi phía Bắc thuộc cao nguyên Lang Biang

(Nam Trường Sơn) chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Đoạn chảy qua huyện Định Quán có chiều dài 32 km, lưu lượng nước trung bình là 470 m3/s.

+ Sông La Ngà là phụ lưu của sông Đồng Nai, phần chảy qua huyện có chiều dài

46,6 km, lưu lượng nước trung bình là 144 m3/s.

- Tài nguyên nước ngầm

Trữ lượng nước ngầm trên địa bàn phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở phía

Tây Nam và phía Bắc của huyện. Độ sâu khai thác từ 6 – 30m (cá biệt có những nơi từ

70 – 80m như ở Phú Ngọc, Ngọc Định), chất lượng nước tốt. Nguồn nước ngầm hiện

đang được khai thác nhưng với quy mô nhỏ (quy mô hộ gia đình) để phục vụ cho sinh

hoạt và một phần cho sản xuất nông nghiệp.

2.1.2.5. Tài nguyên khoáng sản

Qua khảo sát, trên địa bàn huyện có một số loại tài nguyên khoáng sản như vàng

(Suối Nho, La Ngà), đá quý (La Ngà), đất sét (Phú Cường), nhôm (La Ngà), nước

khoáng (Gia Canh), đất sét (Phú Cường), đá xây dựng (có ở hầu hết huyện Định Quán),

cát xây dựng (dọc sông Đồng Nai, sông La Ngà),… Tổng số các mỏ và điểm khoáng sản

đã được phát hiện lên tới 20 điểm, tuy nhiên đa phần có trữ lượng nhỏ lại nằm ở địa hình

đồi núi khó khăn cho việc khai thác nên hiện nay trên địa bàn huyện chỉ có những

khoáng sản phục vụ cho ngành xây dựng (cát, đá, đất sét) được tiến hành khai thác.

2.1.2.6. Tài nguyên rừng

Tỉ lệ che phủ rừng trên địa bàn huyện đạt 75,2%. Theo số liệu thống kê năm 2010,

diện tích đất rừng của huyện là 35.549,32 ha, trong đó diện tích đất rừng phòng hộ là

18.626,63 ha, đất rừng sản xuất là 15.555,69 ha và đất rừng đặc dụng là 1.367 ha.

Diện tích rừng chủ yếu do các lâm trường quản lý (35.261,33 ha), còn lại 287,99

ha do hộ gia đình và cá nhân sử dụng. Rừng đóng vai trò quan trọng trong tạo cảnh quan

môi trường và bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ lưu vực sông Đồng Nai.

2.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.3.1. Tổng quan về kinh tế huyện Định Quán

Trong những năm qua, tình hình kinh tế của huyện Định Quán dần đi vào ổn định

và phát triển theo chiều hướng tích cực. Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá thực tế tăng

từ 697.072 triệu đồng năm 2000 lên 1.066.999,3 triệu đồng năm 2010. Tốc độ tăng trưởng

GDP mặc dù không ổn định nhưng vẫn khá cao, thời kì 2000 - 2010 mỗi năm tăng

8,26%/năm (Trong đó, nông – lâm – thủy sản tăng 7,15%/năm, công nghiệp – xây dựng

tăng 13,14%/năm, dịch vụ tăng 8,55%/năm). Cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, thu nhập

bình quân đầu người của huyện Định Quán cũng không ngừng tăng lên từ 3,407 triệu

đồng/người/năm (2000), lên 5,93 triệu đồng/người/năm (2005) và 15,018 triệu

đồng/người/năm (2010).

Bảng 2.3: Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Định Quán qua một số năm

(Đơn vị:%)

2000 52,93 13,25 33,82

2005 51,62 15,62 32,76

2010 50,49 19,6 29,91

Ngành Nông – lâm – thủy sản Công nghiệp – Xây dựng Dịch vụ

(Nguồn: Phòng thống kê, UBND huyện Định Quán)

Cơ cấu kinh tế của huyện trong những năm qua đã có sự chuyển dịch theo hướng

tích cực: tăng tỉ trọng ngành công nghiệp – xây dựng (từ 13,25% năm 2000 lên 19,6%

năm 2010), giảm tỉ trọng của ngành nông – lâm – thủy sản (từ 52,93% năm 2000 xuống

còn 50,4% năm 2010). Tuy nhiên, ngành nông – lâm – thủy sản vẫn chiếm tỉ trọng cao

trong cơ cấu kinh tế, ngành công nghiệp – xây dựng tăng không đáng kể. Năm 2010, tỉ

trọng ngành nông – lâm – thủy sản là 50,49%, ngành công nghiệp – xây dựng là 19,6%

và ngành thương mại – dịch vụ là 29,91%.

2000 2010

Hình 2.1: Cơ cấu kinh tế huyện Định Quán năm 2000, 2010

a. Ngành nông – lâm – thủy sản

Nông – lâm – thủy sản là ngành kinh tế chủ chốt của huyện Định Quán, chiếm tỉ

trọng cao trong cơ cấu GDP và có xu hướng giảm nhưng chậm: từ 52,93% năm 2000

xuống còn 50,49% năm 2010.

Những năm qua, mặc dù thời tiết diễn biến thất thường, dịch bệnh trên gia súc, gia

cầm gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi song giá trị sản

xuất ngành nông – lâm – thủy sản của huyện vẫn không ngừng tăng lên, từ 367.385 triệu

đồng năm 2000 lên 538.728,3 triệu đồng năm 2010 (giá thực tế). Tốc độ tăng bình quân

của ngành đạt 7,15%. Cơ cấu ngành nông – lâm – thủy sản cũng đã có sự chuyển dịch

theo hướng tích cực tuy tốc độ còn chậm: tỉ trọng ngành chăn nuôi tăng dần từ 14,5%

(năm 2000) lên 20,6% (năm 2010).

Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện đã phát triển theo hướng sản xuất hàng

hóa phục vụ nhu cầu của thị trường, tăng hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người dân.

Việc chuyển đổi cây trồng từ cây hàng năm sang cây lâu năm (chủ yếu là cây ăn trái và

cây công nghiệp) có hiệu quả kinh tế cao đã được thực hiện và đạt kết quả tốt. Trên địa

bàn huyện đã hình thành vùng chuyên canh một số loại cây trồng như vùng chuyên canh

cây xoài (phân bố ở các xã La Ngà, Phú Ngọc, Thanh Sơn, Ngọc Định; diện tích 3.910

ha); cây điều (Túc Trưng, La Ngà, Ngọc Định; 13.567 ha), cây cao su (Túc Trưng, Phú

Túc, Ngọc Định; 2.683 ha), cây mía (La Ngà, Phú Ngọc, Gia Canh; 3.500 ha), cây quýt

(Thanh Sơn, Phú Tân, La Ngà; 2.015 ha). Sản lượng chăn nuôi tăng khá: Năm 2010 đạt

16.500 tấn thịt heo hơi, 800 tấn thịt bò hơi, 1.600 tấn gia cầm, 12.000 tấn cá,…

b. Công nghiệp – Xây dựng

Theo chủ trương chung của Đảng và Nhà nước, ngành công nghiệp – xây dựng

của huyện Định Quán được quan tâm đầu tư phát triển, giá trị sản xuất công nghiệp –

xây dựng tăng từ 91.968 triệu đồng năm 2000 lên 209.132 triệu đồng năm 2010 (giá thực

tế). Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành là 13,14%/năm. Sự phát triển của

ngành góp phần làm cho nền kinh tế của huyện có sự chuyển dịch theo hướng tích cực,

tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.

Năm 2010, trên địa bàn huyện có 1.344 cơ sở sản xuất công nghiệp (trong đó có

1.320 cơ sở ngoài quốc doanh), tuy nhiên hầu hết các cơ sở sản xuất đều có quy mô vừa

và nhỏ, vốn ít, công nghệ lạc hậu, chủ yếu tập trung vào các ngành nghề có ưu thế về

tiềm năng, nguyên liệu của địa phương như chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến

gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng… nên sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chưa cao.

Huyện cũng đã quan tâm và chú trọng việc quy hoạch xây dựng khu, cụm công nghiệp,

đến nay đã hoàn thành quy hoạch xây dựng hạ tầng Khu công nghiệp Định Quán giai

đoạn 1 với diện tích tự nhiên là 58 ha; đang quy hoạch xây dựng Khu công nghiệp Định

Quán giai đoạn 2, cụm công nghiệp Phú Vinh, Phú Túc, Phú Cường, TT Định Quán,

cụm cơ sở ngành nghề mây tre lá ở xã Gia Canh, tuy nhiên việc triển khai còn chậm do

vị trí của huyện nằm ở khu vực miền núi, xa thành phố nên không tạo được sức hấp dẫn

lớn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

c. Dịch vụ

Trong những năm qua, ngành dịch vụ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá. Tốc

độ tăng trưởng của ngành giai đoạn 2000 – 2010 đạt bình quân 8,55%. Năm 2010, trên

địa bàn huyện có 7.475 cơ sở kinh doanh thương mại – dịch vụ (chủ yếu là cơ sở thương

mại - dịch vụ ngoài quốc doanh), các cơ sở này phân bố chủ yếu ở TT Định Quán, dọc

quốc lộ 20 và các chợ trung tâm xã. Sự phát triển của ngành đã phần nào đáp ứng được

nhu cầu hàng hóa cho tiêu dùng và vật tư phục vụ sản xuất của nhân dân trên địa bàn

huyện. Giá trị sản xuất của ngành cũng không ngừng tăng lên, từ 237.719 triệu đồng

năm 2000 lên 319.139 triệu đồng năm 2010 (giá thực tế).

2.1.3.2. Dân cư và lao động

Theo số liệu thống kê năm 2010 số dân của huyện Định Quán là 197.489 người

(chiếm 7,69% dân số tỉnh Đồng Nai), trong đó tỉ lệ dân số nam là 50,04%, dân số nữ là

49,96%; dân cư nông thôn là 89,7% và dân cư thành thị là 10,3%. Mật độ dân số trung bình của huyện năm 2010 là 203,4 người/km2. Trong những năm qua, nhờ làm tốt công

tác tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình nên dù là huyện miền núi nhưng tỉ lệ gia tăng dân

số của huyện không ngừng giảm, năm 2010 tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của huyện là

1,16%.

Huyện Định Quán có thành phần dân tộc rất đa dạng với 36 dân tộc anh em cùng

sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số (chiếm 78% dân số toàn huyện), tiếp theo

là người Hoa (19,8%) và các dân tộc thiểu số khác (Chơro, Mạ, Nùng, Dao, Mường,

Thái,…). Sự đa dạng về dân tộc đã góp phần tạo nên nét phong phú trong văn hóa ở

huyện Định Quán, tuy nhiên điều này cũng gây hạn chế không nhỏ trong quá trình

chuyển giao khoa học kỹ thuật đến người dân.

Năm 2010, số lao động trong độ tuổi là 136.133 người (chiếm 68,93% dân số toàn

huyện), đây là một trong những nguồn lực góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của

huyện. Tỉ lệ lao động làm việc trong các ngành kinh tế năm 2010 là 113.671 người

(chiếm 83,5% lao động trong độ tuổi), trong đó lao động trong lĩnh vực nông – lâm –

thủy sản chiếm đa số với 82.480 người (chiếm tỉ trọng 72,56%), kế đến là lao động trong

lĩnh vực dịch vụ với 19.710 người (chiếm tỉ trọng 17,34%) và lao động trong lĩnh vực

công nghiệp – xây dựng là 11.481 người (chiếm tỉ trọng 10,1%). Công tác đào tạo nghề

và tạo việc làm cho người lao động đã được huyện quan tâm thích đáng: tỉ lệ lao động

qua đào tạo trên địa bàn huyện không ngừng tăng lên từ 15% năm 2005 lên 37,46% năm

2010, bình quân mỗi năm có 4.588 lao động có việc làm mới, tỉ lệ sử dụng thời gian lao

động nông nhàn đã tăng từ 75% năm 2005 lên 83% năm 2010.

2.1.3.3. Giáo dục và y tế

a. Giáo dục

Năm 2010, toàn huyện có 73 trường với 46.217 học sinh, trong đó có 1 Trung tâm

giáo dục thường xuyên, 1 nhà trẻ, 19 trường mầm non, 31 trường tiểu học, 16 trường

trung học cơ sở, 4 trường trung học phổ thông và 1 trường trung học tư thục.

Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ ngành giáo dục tiếp tục được quan tâm đầu tư

theo hướng kiên cố hóa xây dựng trường chuẩn quốc gia, hiện nay tỉ lệ phòng học kiên

cố trên địa bàn huyện đạt 44,43%, phòng học bán kiên cố đạt 51,37%; tình trạng học ca

3 do thiếu phòng học đã bị xóa bỏ hoàn toàn.

Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục của huyện ở các cấp học có nhiều chuyển biến

tích cực. Tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học hàng năm đạt 99,5%, tốt nghiệp

trung học cơ sở đạt 95,8% và trung học phổ thông đạt 82,4%. Hàng năm học sinh đậu

vào các trường đại học, cao đẳng đạt trên 40%. Công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục

tiểu học, trung học cơ sở được quan tâm, có 13/14 xã, TT đạt chuẩn giáo dục tiểu học

đúng độ tuổi; 12/14 xã, TT đạt chuẩn phổ cập bậc trung học theo chuẩn tạm thời của

tỉnh. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý trường học cơ bản đã đủ về số lượng, trình độ

đào tạo và chuyên môn nghiệp vụ được nâng lên, giáo viên đạt chuẩn đào tạo 98,99%,

trong đó trên chuẩn đạt 58%.

b. Y tế

Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đã được quan tâm đúng mức trong

những năm qua. Hệ thống y tế đã có bước phát triển cả về bộ máy và cơ sở vật chất. Toàn

huyện hiện có 1 bệnh viện đa khoa, 1 trung tâm y tế, 2 phòng khám đa khoa khu vực, 14

trạm y tế xã, TT với 383 giường bệnh, bình quân 19 giường bệnh/1 vạn dân. Đến năm

2010, 14/14 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 9/14 trạm y tế có bác sĩ phục vụ tại chỗ, bình

quân huyện có 2,47 bác sĩ/1 vạn dân. Chất lượng khám và chữa bệnh được nâng lên, có

6/14 trạm y tế được trang bị các thiết bị nâng cao như máy siêu âm, máy điện tim… để

phục vụ công tác chuẩn đoán và điều trị. Ngành y tế của huyện đã thực hiện tốt chương

trình tiêm chủng mở rộng, cơ bản khống chế được bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, không để

xảy ra các dịch bệnh phát triển trên diện rộng. Công tác kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc

sức khỏe trẻ em cũng có nhiều tiến bộ, tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi chỉ còn

13% (2010), tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên còn 1,16%.

2.1.3.4. Giao thông vận tải và bưu chính viễn thông

a. Giao thông vận tải

Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn huyện phát triển khá đồng bộ, mật độ

đường giao thông được phân bố khá hợp lý, 112 ấp đã có các tuyến đường chính đến

trung tâm xã và đã được nhựa hóa. Toàn huyện hiện có 904 km đường, trong đó có

223,5 km đường nhựa hóa, 274 km đường sỏi đỏ và 406 km đường đất. Năm 2010, khối

lượng vận chuyển hàng hóa đạt 985 nghìn tấn, khối lượng luân chuyển hàng hóa đạt

66.380 tấn/km, khối lượng vận chuyển hành khách đạt 2.700 lượt người, khối lượng luân

chuyển hành khách đạt 160.000 hành khách/km.

Mặc dù huyện có 2 con sông lớn là sông Đồng Nai và sông La Ngà chảy qua

nhưng do lòng sông có nhiều thác ghềnh nên việc khai thác vận tải đường thủy trên địa

bàn huyện rất hạn chế, chỉ có một số bến phà, đò phục vụ vận chuyển hành khách, hàng

hóa qua sông.

b. Bưu chính viễn thông

Những năm qua, mạng lưới bưu chính viễn thông trên địa bàn huyện không ngừng

được mở rộng, nâng cấp, đáp ứng các nhu cầu sử dụng của các cơ quan, tổ chức kinh tế

và nhu cầu của người dân. Toàn huyện hiện có 4 bưu cục, 8 bưu điện văn hóa xã. Năm

2010, số thuê bao điện thoại cố định trên địa bàn huyện là 26.024 nghìn thuê bao, đạt bình

quân 12,68 thuê bao/100 dân; số thuê bao Internet là 2.698 thuê bao. Mạng lưới di động đã

được phủ sóng tới tất cả các xã, TT. Công tác phát hành báo chí, thư từ được đảm bảo an

toàn, thông suốt.

Tóm lại, tuy là một huyện miền núi, nằm cách xa các thành phố lớn, điều kiện tự

nhiên không hoàn toàn thuận lợi nhưng với tinh thần vượt khó, các cấp chính quyền và

nhân dân huyện Định Quán đã dần khắc phục những yếu tố bất lợi đưa nền KT - XH của

huyện đi lên. Tốc độ tăng trưởng GDP của huyện những năm qua mặc dù chưa thật sự

ổn định nhưng đã khá cao; cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực; các

chỉ số về thu nhập GDP bình quân theo đầu người, trình độ dân trí,… tăng, góp phần cải

thiện và nâng cao mức sống của người dân; hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ

thuật tuy chưa thật hoàn thiện nhưng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu phát triển KT -

XH của huyện và nhu cầu đi lại, sinh hoạt của nhân dân.

2.2. Thực trạng nghèo đói và công tác xóa đói, giảm nghèo ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

2.2.1. Tiêu chí xác định hộ nghèo của tỉnh Đồng Nai

Tình hình KT – XH của tỉnh Đồng Nai trong những năm qua đã có những tiến bộ

và phát triển trên nhiều mặt, nhưng vẫn còn một số vùng và bộ phận dân cư sống trong

tình trạng nghèo đói. Để tập trung hỗ trợ cho các đối tượng này vươn lên thoát nghèo,

góp phần thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân

chủ, văn minh”, Chương trình XĐGN đã được các cấp chính quyền và nhân dân tỉnh

Đồng Nai xác định là một chương trình trọng tâm trong các chương trình KT - XH của

tỉnh.

Trên cơ sở chuẩn nghèo quốc gia, xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương,

từ năm 2001 đến nay Đồng Nai đã ban hành chuẩn nghèo riêng của tỉnh, cụ thể như sau:

Giai đoạn 2001 – 2005: Ngày 19/7/2000, Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh 

Đồng Nai khóa VI đã ban hành Nghị quyết (NQ) số 17/2000/NQ-HĐND về chuẩn nghèo,

chuẩn cận nghèo giai đoạn 2001 – 2005 trên địa bàn, cụ thể:

+ Hộ nghèo: là hộ có thu nhập dưới 130.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực

nông thôn) và dưới 160.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực thành thị).

+ Hộ cận nghèo: là hộ có thu nhập từ 130.000 đến dưới 156.000

đồng/người/tháng (đối với khu vực nông thôn) và từ 160.000 đến dưới 192.000

đồng/người /tháng (đối với khu vực thành thị).

Giai đoạn 2006 – 2010: Trong giai đoạn này tỉnh Đồng Nai đã 2 lần thay 

đổi chuẩn nghèo, cận nghèo của tỉnh.

- Theo NQ 52/2005/HĐND7 ngày 21/7/2005 của HĐND tỉnh, chuẩn nghèo và

chuẩn cận nghèo giai đoạn 2006 – 2010 được xác định như sau:

+ Hộ nghèo: là hộ có thu nhập dưới 250.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực nông

thôn) và dưới 400.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực thành thị).

+ Hộ cận nghèo: là hộ có thu nhập từ 250.000 đến dưới 300.000

đồng/người/tháng (đối với khu vực nông thôn) và từ 400.000 đến dưới 480.000

đồng/người tháng (đối với khu vực thành thị).

Sau 3 năm (2006 – 2008) thực hiện NQ Đại hội VIII của Đảng bộ và NQ 52 của

HĐND tỉnh về Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010,

Đồng Nai đã triển khai hiệu quả các chính sách, dự án giảm nghèo và đạt được nhiều

thành tựu quan trọng; tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 9,84% năm 2006 xuống còn 3,3%

cuối năm 2008; đời sống hộ nghèo, vùng nghèo tiếp tục được cải thiện nhiều mặt. Như

vậy, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010 đã hoàn thành

mục tiêu trước 2 năm. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thật bền vững, nhiều hộ tuy

vượt chuẩn nghèo nhưng cuộc sống còn rất khó khăn, tình trạng tái nghèo còn cao,

khoảng cách giàu - nghèo và mức sống giữa thành thị - nông thôn có xu hướng gia tăng,

thành tựu giảm nghèo là đáng kể nhưng chưa tương xứng với kết quả tăng trưởng của

một tỉnh kinh tế trọng điểm. Mặt khác, trong các năm 2007 – 2008 giá tiêu dùng tăng đột

biến làm cho chuẩn nghèo được ban hành theo NQ số 52 của HĐND không còn phù

hợp, vì vậy HĐND tỉnh đã ban hành NQ số 128/2008/NQ-HĐND ngày 05/12/2008 về

điều chỉnh chuẩn nghèo, chuẩn cận nghèo và mục tiêu, giải pháp Chương trình mục tiêu

quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2009 – 2010 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai:

+ Hộ nghèo: là hộ có thu nhập dưới 450.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực

nông thôn) và dưới 650.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực thành thị).

+ Hộ cận nghèo: là hộ có thu nhập từ 450.000 đồng/người/tháng đến dưới 540.000

đồng/người/tháng (đối với khu vực nông thôn) và từ 650.000 đồng/người/tháng đến dưới

780.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực thành thị).

 Giai đoạn 2011 – 2015: Chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2006

– 2010 được ban hành theo NQ 52/2005/HĐND7 và NQ 128/2008/NQ-HĐND của

HĐND tỉnh đến ngày 31/12/2010 là hết hiệu lực. Mặt khác, tuy đời sống của một bộ

phận dân cư thuộc diện nghèo đói đã có một bước cải thiện rõ nét so với trước đây,

nhưng nhiều hộ vẫn còn rất khó khăn so với mặt bằng kinh tế chung của tỉnh, do đó để

có cơ sở xây dựng Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 – 2015 thì việc

ban hành chuẩn nghèo mới là cần thiết. Vì vậy, ngày 02/7/2010 HĐND tỉnh đã ban

hành NQ số 176/2010/NQ-HĐND – NQ về chuẩn nghèo và Chương trình giảm nghèo

bền vững của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 – 2015. Theo đó, chuẩn nghèo mới của

tỉnh giai đoạn 2011 – 2015 được xác định như sau:

+ Hộ nghèo: là hộ có thu nhập dưới 650.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực

nông thôn) và dưới 850.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực thành thị). Chuẩn này sẽ

được thay đổi nếu như chỉ số giá tiêu dùng tăng cao hơn 20%/năm.

Như vậy, trong giai đoạn 2011 – 2015 chuẩn nghèo của tỉnh Đồng Nai cao hơn

chuẩn nghèo Quốc gia, cũng như chuẩn cận nghèo của Quốc gia. Bên cạnh đó, NQ

176/2010/NQ-HĐND ngày 02/07/2010 cũng nêu rõ: những hộ mới thoát nghèo sẽ vẫn

được hưởng một số chính sách (tín dụng, bảo hiểm y tế, giáo dục, dạy nghề, khuyến

nông – khuyến công) như hộ nghèo trong 2 năm tiếp theo, vì vậy trong giai đoạn này

Đồng Nai không ban hành chuẩn cận nghèo.

2.2.2. Thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

2.2.2.1. Thực trạng nghèo ở huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai

2.2.2.1.1. Thực trạng hộ nghèo huyện Định Quán giai đoạn 2001 – 2011

Năm 2001, theo NQ số 17/2000/NQ–HĐND của HĐND tỉnh Đồng Nai ban hành

ngày 19/7/2000 về chuẩn nghèo và chuẩn cận nghèo giai đoạn 2001 – 2005, trên địa bàn

huyện Định Quán có 8.568 hộ nghèo với 44.424 nhân khẩu, chiếm tỉ lệ 20,20% tổng số

hộ dân toàn huyện, trong đó khu vực nông thôn có 7.724 hộ với 39.877 nhân khẩu

(chiếm 90,15% số hộ nghèo của huyện và 89,76% nhân khẩu nghèo của huyện).

Năm 2005, số hộ nghèo ở huyện Định Quán là 576 hộ, chiếm 1,36% tổng số hộ

dân toàn huyện. Như vậy, sau 5 năm thực hiện Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2001

– 2005, số hộ nghèo của huyện đã giảm được 7.992 hộ, đưa tỉ lệ hộ nghèo từ 20,2% (đầu

năm 2001) xuống còn 1,36% (cuối năm 2005).

Năm 2006, theo NQ số 52/2005/HĐND7 ngày 21 tháng 7 năm 2005 của HĐND

tỉnh về việc áp dụng chuẩn nghèo mới tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006 – 2010, toàn huyện

có 6.877 hộ nghèo với 35.083 nhân khẩu, chiếm tỉ lệ 16,21% tổng số hộ dân toàn huyện,

trong đó khu vực nông thôn có 6.378 hộ với 32.531 nhân khẩu (chiếm 92,74% số hộ

nghèo của huyện và 92,73% nhân khẩu nghèo của huyện).

Do tình hình kinh tế biến động, lạm phát tăng cao, ngày 05/12/2008 HĐND tỉnh

Đồng Nai đã ban hành NQ số 128/NQ–HĐND về điều chỉnh chuẩn nghèo và ban hành

chuẩn cận nghèo của tỉnh thực hiện trong 2 năm 2009, 2010. Với chuẩn

nghèo và chuẩn cận nghèo mới, đầu năm 2009, toàn huyện có 6.320 hộ nghèo, chiếm tỉ lệ

13,8% so với tổng số hộ dân trên địa bàn huyện.

Cuối năm 2010, toàn huyện có 3.057 hộ nghèo, chiếm tỉ lệ 6,5% so với số hộ dân

của huyện. Như vậy, trong giai đoạn 2006 – 2010, mặc dù có sự điều chỉnh về chuẩn

nghèo nhưng trên địa bàn huyện đã có 8.071 hộ vươn lên thoát nghèo (trong đó có 4.746

hộ thuộc giai đoạn 2006 – 2008 và 3.325 hộ thuộc giai đoạn 2009 – 2010), đưa tỉ lệ hộ

nghèo xuống còn 6,5% (cuối năm 2010) so với 16,21% (đầu năm 2006).

Đầu năm 2011, theo chuẩn nghèo mới của tỉnh Đồng Nai áp dụng cho giai đoạn

2011 – 2015, huyện Định Quán có 8.125/47.289 hộ nghèo (chiếm tỉ lệ 17,18%). Với kết

quả điều tra trên, Định Quán là một trong 4 địa phương có tỉ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh

Đồng Nai (Tân Phú: 22,79%, Định Quán: 17,18%, Cẩm Mỹ 15,78% và Thống Nhất:

9,1%), tỉ lệ hộ nghèo của huyện cao gấp 2,64 lần so với tỉ lệ nghèo chung của tỉnh.

Bảng 2.4: Hộ nghèo, tỉ lệ hộ nghèo của huyện Định Quán thời kỳ 2001 - 2011

Năm

Số hộ nghèo (Hộ)

Tỉ lệ hộ nghèo (%)

Đầu năm 2001

8.568

20,20

Cuối năm 2001

7.699

18,06

Cuối năm 2002

6.811

16,05

Cuối năm 2003

4.627

10,90

Cuối năm 2004

2.523

5,94

Cuối năm 2005

576

1,36

Đầu năm 2006

6.877

16,21

Cuối năm 2006

6.060

14,30

Cuối năm 2007

4.944

11,24

Cuối năm 2008

6.151

13,40

Đầu năm 2009

6.320

13,80

Cuối năm 2009

5.479

12,00

Cuối năm 2010

3.057

6,50

Đầu năm 2011

8.125

17,18

(Nguồn: - UBND huyện Định Quán, Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chương trình XĐGN – VL

giai đoạn 2001 – 2005.

- UBND huyện Định Quán, Tài liệu hội nghị Tổng kết 5 năm Chương trình mục tiêu quốc gia

giảm nghèo (2006 – 2010) và 10 năm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” (2000 – 2010) huyện

Định Quán.)

%

25

20.1

20

16.05

15

14.3

13.4

Tỉ lệ hộ nghèo

12

11.24

10.9

10

6.5

5.94

5

1.36

Năm

0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010

Hình 2.2: Tỉ lệ hộ nghèo huyện Định Quán giai đoạn 2001 - 2010

2.2.2.1.2. Đặc điểm hộ nghèo huyện Định Quán

a. Tình hình phân bố

Bảng 2.5: Phân bố hộ nghèo theo đơn vị hành chính của huyện Định Quán năm 2011

Đơn vị hành chính

Hộ dân (Hộ)

Hộ nghèo (Hộ)

Tỉ lệ hộ nghèo (%)

Phú Cường

3.330

501

15,1

Túc Trưng

2.545

293

11,5

Phú Túc

3.136

322

10,3

Suối Nho

3.294

583

17,7

La Ngà

3.809

503

13,2

Phú Ngọc

4.135

392

9,5

Thanh Sơn

5.734

2.652

46,3

Ngọc Định

2.029

451

22,2

TT. Định Quán

5.016

694

13,8

Gia Canh

4.367

500

11,5

Phú Lợi

2.733

230

8,4

Phú Vinh

3.126

471

15,1

Phú Tân

2.509

297

11,8

Phú Hòa

1.526

236

15,5

Toàn huyện

47.289

8.125

17,18

(Nguồn: UBND huyện Định Quán: Kết quả khảo sát hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015)

Định Quán là một huyện miền núi của tỉnh Đồng Nai, bao gồm 13 xã và 1 TT nên

hộ nghèo trên địa bàn huyện chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn. Năm 2011, số hộ

nghèo ở 13 xã là 7.431 hộ, chiếm tỉ lệ 91,46% số hộ nghèo toàn huyện.

Bên cạnh đó, bức tranh về sự phân bố hộ nghèo đói trên địa bàn huyện cũng phản

ánh được ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, KT - XH đến tình trạng nghèo đói ở nơi

đây. Theo số liệu điều tra đầu năm 2011, trong 14 xã và TT trên địa bàn huyện có 3 xã

có tỉ lệ hộ nghèo lớn hơn tỉ lệ hộ nghèo chung của huyện, đó là xã Thanh Sơn với tỉ lệ hộ

nghèo là 46,3%, xã Ngọc Định: 22,2% và xã Suối Nho: 17,7%. 3 xã trên là 3 xã vùng

sâu, vùng xa và là 3 xã khó khăn nhất huyện về mặt kinh tế, là nơi tập trung đông đồng

bào dân tộc thiểu số, người dân chủ yếu sinh sống bằng nghề nông trong khi đất đai ở

đây lại bị đá ong hóa gây khó khăn trong vấn đề sản xuất. Bên cạnh đó xã Phú Lợi – nơi

tập trung đông người Việt gốc Hoa, có kinh nghiệm trong buôn bán hàng hóa – có tỉ lệ

hộ nghèo thấp nhất huyện: 8,4%.

b. Đặc điểm nhân khẩu của hộ nghèo

Cuối năm 2010, số nhân khẩu bình quân mỗi hộ gia đình ở huyện Định Quán là

4,19 người/hộ, trong khi đó theo kết quả điều tra hộ nghèo đầu năm 2011 số nhân khẩu

trung bình mỗi hộ nghèo trên địa bàn huyện là 4,46 người/hộ. Mặc dù sự so sánh có

phần khập khiễng do thời điểm số liệu không trùng nhau nhưng cũng đã phần nào khẳng

định lại một lần nữa: nhóm hộ nghèo có quy mô nhân khẩu lớn hơn so với các nhóm hộ

khác - đây vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của tình trạng nghèo đói.

Bảng 2.6: Nhân khẩu bình quân của hộ gia đình nghèo huyện

Định Quán đầu năm 2011

Đơn vị hành chính

Hộ nghèo (Hộ)

Nhân khẩu (Người)

Bình quân nhân khẩu/hộ nghèo (Người/hộ)

Phú Cường

501

2.249

4,49

Túc Trưng

293

1.196

4,08

Phú Túc

322

1.291

4,01

Suối Nho

583

2.628

4,51

La Ngà

503

2.169

4,3

Phú Ngọc

392

1.554

3,96

Đơn vị hành chính

Hộ nghèo (Hộ)

Nhân khẩu (Người)

Bình quân nhân khẩu/hộ nghèo (Người/hộ)

2.652

12.371

Thanh Sơn

4,66

Ngọc Định

451

1.942

4,31

TT. Định Quán

694

3.092

4,46

Gia Canh

500

2.049

4,1

Phú Lợi

230

1.042

4,53

Phú Vinh

471

2.298

4,88

Phú Tân

297

1.346

4,53

Phú Hòa

236

1.002

4,25

4,46

Toàn huyện

8.125

36.229

(Nguồn: UBND huyện Định Quán: Kết quả khảo sát hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015)

Trong số các xã và TT của huyện, xã Phú Vinh là nơi có số nhân khẩu bình

quân/hộ nghèo cao nhất với 4,88 người/hộ, kế tiếp là xã Thanh Sơn với 4,66 người/hộ,

xã Phú Lợi: 4,53 người/hộ, xã Phú Tân: 4,53 người/hộ, xã Suối Nho: 4,51 người/hộ, xã

Phú Cường: 4,49 người/hộ,…; xã có số nhân khẩu bình quân/hộ nghèo thấp nhất là xã

Phú Ngọc: 3,96 người/hộ.

c. Lao động và việc làm

* Lao động

Bảng 2.7: Lao động và tỉ lệ lao động của hộ nghèo huyện Định Quán năm 2011

Lao động

Tổng số lao động

trong độ tuổi

Lao động ngoài tuổi

Đơn vị

Số hộ nghèo (Hộ)

Nhân khẩu (Người)

Số lao động

Số lao động

Số lao động

(Hộ)

(Hộ)

(Hộ)

Tỉ lệ % so với nhân khẩu nghèo

Tỉ lệ % so với nhân khẩu nghèo

Tỉ lệ % so với nhân khẩu nghèo

Phú Cường

501

2.249

1.527

67,9

1.387

62

140

38

Phú Túc

322

1.291

801

62,05

703

54

98

46

Túc Trưng

293

1.196

769

64,3

682

57

87

43

Suối Nho

583

2.628

1.753

66,71

1.613

61

140

39

La Ngà

503

2.169

1.297

59,8

1.196

55

101

45

392

1.554

1.083

69,7

Phú Ngọc

954

61

129

39

451

1.942

1.165

59,99

Ngọc Định

1.053

54

112

46

Thanh Sơn

2.652

12.371

7.348

59,4

6.849

55

499

45

Gia Canh

2.049

1.451

500

70,82

1.355

66

96

34

TT Định Quán

3.092

2.364

694

76,46

2.193

71

171

29

230

75,43

1.042

786

Phú Lợi

719

69

67

31

471

70,98

2.298

1.631

Phú Vinh

1.462

64

169

36

297

62,63

1.346

843

Phú Tân

779

58

64

42

236

67,17

1.002

673

Phú Hòa

617

62

56

38

Tổng số

60

40

8.125

36.229

23.491

64,84

21.562

1.929

(Nguồn: UBND huyện Định Quán: Kết quả khảo sát hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015)

Theo kết quả điều tra hộ nghèo năm 2011, trên địa bàn huyện Định Quán có tới

64,84% nhân khẩu nghèo tham gia lao động, trong đó có 8/14 xã, TT có tỉ lệ cao hơn tỉ

lệ chung của huyện (TT Định Quán: 76,46%, Phú Lợi: 75,43%, Phú Vinh: 70,98%, Gia

Canh: 70,82%, Phú Ngọc: 69,7%, Phú Cường: 67,9%, Phú Hòa: 67,17% và Suối Nho:

66,71%). Bên cạnh đó, trong số 23.491 lao động nghèo thì có tới 21.562 lao động trong

độ tuổi (chiếm 60% tổng lao động nghèo). Như vậy, lực lượng lao động nghèo trên địa

bàn huyện khá dồi dào và phần lớn đang trong độ tuổi lao động, điều này sẽ góp phần

không nhỏ trong công tác giảm nghèo mà cụ thể là công tác đào tạo nghề cho lao động

nghèo nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động, tạo điều kiện cho lao động nghèo

tìm kiếm việc làm, góp phần tăng thu nhập cho gia đình và vươn lên thoát nghèo bền

vững.

*Việc làm

Bảng 2.8: Tình trạng hoạt động của lao động nghèo huyện Định Quán năm 2011

(Đơn vị: Người, %)

Tình trạng hoạt động

Có đủ việc làm

Thiếu việc làm

Thất nghiệp

Khác

Đơn vị hành chính

Tổng số

Tổng số

Tổng số

Tổng số lao động trong độ tuổi

Tổng số

Tỉ lệ (%)

Tỉ lệ (%)

Tỉ lệ (%)

Tỉ lệ (%)

Phú Cường

1.387

276

19,9

893

64,4

2,7

38

180

13

Phú Túc

703

194

27,6

394

56,1

5

35

80

11,3

Túc Trưng

682

121

7,7

487

71,4

1,8

12

62

19,1

Suối Nho

1.613

416

25,8

785

48,7

73

339

21

4,5

La Ngà

1.196

341

28,5

614

51,3

25

216

18,1

2,1

Phú Ngọc

954

185

19,4

501

52,5

51

217

22,7

5,4

Ngọc Định

1.053

109

10,4

852

80,9

64

28

2,6

6,1

Thanh Sơn

6.849

1.497

21,9

2.834

253

2.265

41,4

33

3,7

Gia Canh

1.355

489

36,1

517

38,2

26

323

23,8

1,9

TT Định Quán

2.193

538

24,5

1.315

60

53

287

13,1

2,4

Phú Lợi

719

436

60,6

193

26,8

21

69

9,7

2,9

Phú Vinh

1.462

329

22,5

475

32,5

54

604

41,3

3,7

Phú Tân

779

337

43,3

276

35,4

27

139

17,8

3,5

Phú Hòa

617

214

34,7

296

48

45

62

10

7,3

Tổng số

3,6

21.562

5482

25,4

10.432

48,4

777

4.871

22,6

(Nguồn: UBND huyện Định Quán: Kết quả khảo sát hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015)

Thiếu việc làm – là đặc điểm nổi bật khi xem xét đến tình trạng hoạt động của lao

động nghèo trên địa bàn huyện Định Quán. Năm 2011, tỉ lệ lao động thiếu việc làm

chiếm tới 48,4% (tương ứng với 10.432 lao động), so với tỉ lệ lao động có đủ việc làm

thì con số này cao gấp 1,9 lần. Trong số các xã và TT của huyện, xã Ngọc Định có tỉ lệ

lao động thiếu việc làm cao nhất (80,9%) trong khi xã Phú Lợi lại là xã có tỉ lệ thiếu việc

làm thấp nhất (26,8%).

Không chỉ dừng lại ở chỗ thiếu việc làm, một bộ phận lao động nghèo trong độ tuổi

trên địa bàn huyện rơi vào tình trạng thất nghiệp. Năm 2011, trên địa bàn huyện có 777 lao

động thất nghiệp tương ứng với 3,6% tổng số lao động trong độ tuổi. Tỉ lệ lao động thất

nghiệp tuy thấp nhưng cùng với tình trạng thiếu việc làm cho người lao động là một vấn

đề rất cần sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền bởi thiếu việc làm,

thất nghiệp đồng nghĩa với nguồn thu nhập bấp bênh, thậm chí không có – điều này ảnh

hưởng không nhỏ tới chất lượng cuộc sống của người lao động nghèo nói riêng và hộ

nghèo nói chung.

d. Trình độ văn hóa

Bảng 2.9: Trình độ văn hóa của người nghèo huyện Định Quán năm 2011

(Đơn vị: Người,%)

Trình độ văn hóa

Trung học

Không biết chữ

Tiểu học

Trung học cơ sở

Đơn vị hành chính

phổ thông

Tổng nhân khẩu

Tổng số Tỉ lệ Tổng số Tỉ lệ Tổng số Tỉ lệ Tổng số

Tỉ lệ

Phú Cường

2.249

431

19,2

1.197

53,2

451

20,0

170

7,6

Phú Túc

1.291

269

20,8

529

41,0

341

26,4

152

11,8

Túc Trưng

1.196

312

26,1

616

51,5

104

8,7

164

13,7

Suối Nho

2.628

495

18,8

1.088

41,4

790

30,1

255

9,7

La Ngà

2.169

371

17,1

1.170

53,9

402

18,6

226

10,4

Phú Ngọc

1.554

236

15,2

637

41,0

171

11,0

510

32,8

Ngọc Định

1.942

544

28,0

852

43,9

212

10,9

334

17,2

Thanh Sơn

12.371

4.861

39,3

6.190

50,0

794

6,0

526

4,7

Gia Canh

2.049

329

16,1

879

42,9

589

28,7

252

12,3

TT Định Quán

3.092

508

16,4

1.497

48,4

634

20,5

453

14,7

Phú Lợi

1.042

395

37,9

455

43,7

76

7,3

116

11,1

Phú Vinh

2.298

327

14,2

1.245

54,2

525

22,9

201

8,7

Phú Tân

1.346

416

30,9

650

48,3

132

9,8

148

11,0

Phú Hòa

1.002

352

35,1

346

34,5

166

16,6

138

13,8

15,0

Tổng số

9,9

36.229

9.846

27,2

17.351

47,9

5.387

3.645

(Nguồn: UBND huyện Định Quán: Kết quả khảo sát hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015)

Trình độ văn hóa của người nghèo trên địa bàn huyện Định Quán nhìn chung còn

thấp. Điều này được thể hiện khá rõ nét qua kết quả điều tra hộ nghèo năm 2011, trong

số 36.229 người nghèo có 9.846 người không biết chữ (chiếm 27,2% tổng số người

nghèo của huyện), 17.351 người có trình độ văn hóa cấp tiểu học (47,9%), 5.387 người

có trình độ văn hóa cấp Trung học cơ sở (15%) và 3.645 người có trình độ văn hóa cấp

Trung học phổ thông (9,9%). Đây là một trở ngại lớn trong công tác giảm nghèo của

huyện.

Nếu so sánh giữa các xã và TT trên địa bàn huyện với nhau, Thanh Sơn là xã có tỉ

lệ người nghèo chưa biết chữ cao nhất huyện (người chưa biết chữ chiếm 39,3% tổng số

người nghèo của xã) và thấp nhất là xã Phú Vinh (14,2%); Tỉ lệ người có trình độ văn

hóa cấp tiểu học cao nhất ở xã Phú Vinh (54,2%), thấp nhất ở xã Phú Hòa (34,5%); Tỉ lệ

người có trình độ văn hóa cấp Trung học cơ sở cao nhất ở xã Suối Nho (30,1%), thấp

nhất ở xã Thanh Sơn (6%); Tương tự, tỉ lệ người có trình độ văn hóa cấp Trung học phổ

thông cao nhất ở xã Phú Ngọc (32,8%) và thấp nhất ở xã Thanh Sơn (4,7%).

Số liệu bảng 2.9 cho thấy, người nghèo ở xã Thanh Sơn có trình độ văn hóa thấp

so với người nghèo ở các xã, TT còn lại. Sở dĩ như vậy là do Thanh Sơn là xã vùng sâu,

vùng xa của huyện, bị ngăn cách với bên ngoài bởi sông La Ngà, muốn đi lại giao lưu

với các xã và TT của huyện gặp rất nhiều khó khăn do phải đi qua phà; bên cạnh đó địa

hình lại không bằng phẳng, đất bị đá ong hóa, mùa khô thiếu nước trầm trọng, cơ sở hạ

tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật mặc dù đã được đầu tư từ chương trình 135 nhưng nhìn

chung vẫn còn nghèo nàn và lạc hậu, đời sống người dân vì thế còn rất khó khăn, nhu

cầu nâng cao trình độ văn hóa từ đó cũng hạn chế.

e. Thu nhập

Nguồn thu nhập của người nghèo trên địa bàn huyện Định Quán khá đa dạng, bao gồm các khoản thu từ hoạt động nông – lâm – thủy sản, phi nông nghiệp, tiền lương, tiền công làm thuê và tiền thu khác. Trong đó nguồn thu từ tiền công làm thuê, tiền lương chiếm tỉ lệ lớn nhất (65,74% năm 2011), kế đến là nguồn thu từ hoạt động nông – lâm – thủy sản (24,99%), nguồn khác (24,69%) và thấp nhất là nguồn thu từ hoạt động phi nông nghiệp (3,45%). Như vậy, nguồn thu nhập chủ yếu của người nghèo trên địa bàn huyện là từ công việc làm thuê – đây là một công việc không ổn định, vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu nhập của người nghèo, do đó để người nghèo vươn lên thoát nghèo và thoát nghèo bền vững cần có những giải pháp đúng đắn về việc làm cho lao động nghèo.

Bảng 2.10: Tình hình thu nhập của người nghèo huyện Định Quán năm 2011

Phân loại thu nhập

Thu nhập bình quân

Đơn vị hành chính

Tổng thu nhập (Triệu đồng)

Nguồn khác (%)

Triệu đồng/ hộ/năm

Phi nông nghiệp (%)

1.000 đồng/ người/ tháng

Nông – lâm – thủy sản (%)

Tiền công làm thuê, tiền lương (%)

Phú Cường

12.762,0

14,92

2,25

73,58

9,25

31,461

473

Phú Túc

6.658,3

18,12

3,24

71,28

7,36

14,467

430

Túc Trưng

6766,0

16,67

2,35

74,49

6,49

26,505

471

Suối Nho

13.458,7

22,58

4,45

70,03

2,94

19,655

427

La Ngà

11.606,2

18,46

6,70

70,99

3,85

9,157

446

Phú Ngọc

8.035,5

19,16

4,16

74,12

2,56

20,499

431

Ngọc Định

9.955,6

28,34

3,11

65,50

3,05

13,205

427

Thanh Sơn

67.306,6

37,29

2,13

57,90

2,68

29,904

453

Gia Canh

12.788,1

18,47

0,58

71,20

9,75

25,576

520

TT Định Quán

19.417,4

8,85

7,47

77,55

6,13

22,215

523

Phú Lợi

8,25

568

7.109,9

10,00

59,63

22,12

30,913

Phú Vinh

11.061,2

23,00

4,16

63,74

9,10

19,238

401

Phú Tân

7.887,8

34,00

1,44

55,33

9,23

29,925

488

Phú Hòa

5.819,7

21,98

2,23

64,26

11,53

41,609

484

3,45

461

Tổng số

200.633,0

24,99

65,74

5,82

24,69

(Nguồn: UBND huyện Định Quán: Kết quả khảo sát hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015)

KT - XH phát triển đã góp phần làm cho thu nhập của người nghèo trên địa bàn

huyện Định Quán tăng, từ 103.572 đồng/người/tháng (2000) lên 235.795

đồng/người/tháng (2005) và 461.000 đồng/người/tháng (2011). Tuy nhiên, mức thu nhập

này thấp hơn so mức thu nhập bình quân của người nghèo toàn tỉnh (Năm 2011 thu nhập

bình quân người nghèo tỉnh Đồng Nai là 493.000 đồng/người/tháng). Thu nhập bình

quân đầu người thấp trước hết sẽ ảnh hưởng tới chất lượng sống của bản thân người

nghèo, hộ nghèo và là một trở ngại lớn trong quá trình vươn lên thoát nghèo của hộ.

Trong 14 xã và TT của huyện, xã có thu nhập bình quân đầu người cao nhất là xã Phú

Lợi (568.000 đồng/người/tháng), kế đến là TT Định Quán (523.000 đồng/người/tháng)

và xã Gia Canh (520.000 đồng/người/tháng); xã có thu nhập bình quân đầu người thấp

nhất là xã Phú Vinh (401.000 đồng/người/tháng), kế đến là xã Ngọc Định và xã Suối

Nho có cùng chung mức thu nhập (427.000 đồng/người/tháng)

Khi phân nhóm các mức thu nhập của hộ nghèo nhận thấy ở khu vực nông thôn

của huyện số hộ nghèo có thu nhập bình quân đầu người dưới 400.000 đồng/người tháng

là 2.085 hộ (tương đương với 25,7% hộ nghèo), 3.762 hộ

(46,3%) có thu nhập từ 401.000 – 520.000 đồng/người/tháng và 1.584 hộ (19,5%) có thu

nhập từ 521.000 – 650.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị, số hộ nghèo có thu

nhập dưới 500.000 đồng/người/tháng là 247 hộ (3,04% hộ nghèo), 285 hộ (3,5%) có thu

nhập từ 501.000 – 650.000 đồng/người/tháng và 162 hộ (1,96%) có thu nhập từ 651.000

– 850.000 đồng/người/tháng. Trong khi đó chuẩn nghèo khu vực thành thị là dưới

850.000 đồng/người/tháng, khu vực nông thôn dưới 650.000 đồng/người/tháng. Rõ ràng

thu nhập thực tế của khá đông hộ nghèo so với chuẩn nghèo còn khoảng cách khá xa.

Đây là một khó khăn lớn cho việc vươn lên thoát nghèo của người nghèo trên địa bàn

huyện Định Quán.

f. Đặc trưng về tài sản

* Giá trị tài sản

Bảng 2.11: Hộ nghèo huyện Định Quán phân theo giá trị tài sản năm 2011

(Đơn vị: Hộ, %)

Tổng giá trị tài sản của hộ

Đơn vị hành chính

Tỉ lệ %

Tổng số hộ nghèo

15 – 20 triệu

Tỉ lệ %

5 – 15 triệu

Tỉ lệ %

< 5 triệu

Phú Cường

501

21

337

67,3

143

4,2

28,5

Phú Túc

322

14

172

53,4

136

4,4

42,2

Túc Trưng

293

18

185

63,1

90

6,1

30,8

Suối Nho

583

19

250

42,9

314

3,3

53,8

La Ngà

503

31

207

41,2

265

6,2

52,6

Phú Ngọc

392

32

184

46,9

176

8,2

44,9

Ngọc Định

451

26

138

30,6

287

5,8

63,6

Thanh Sơn

2.652

143

1.265

47,7

1244

5,4

46,9

Gia Canh

500

46

304

60,8

150

9,2

30

TT Định Quán

694

68

332

47,8

294

9,8

42,4

Phú Lợi

230

57

131

57

42

24,8

18,2

Phú Vinh

471

24

188

39,9

259

5,1

55

Phú Tân

297

22

185

62,3

90

7,4

30,3

Phú Hòa

236

16

183

77,5

37

6,8

15,7

6,6

43,4

Tổng số

8.125

537

4.061

50

3.527

(Nguồn: UBND huyện Định Quán: Kết quả khảo sát hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015)

Nhìn chung hộ nghèo trên địa bàn huyện Định Quán có tổng giá trị tài sản thấp.

Trong số 8.125 hộ nghèo của huyện, hộ có giá trị tài sản từ 5 – 15 triệu đồng chiếm tỉ lệ

cao nhất (50% so với tổng hộ nghèo, tương đương với 4.061 hộ), kế tiếp là hộ có giá trị tài

sản dưới 5 triệu đồng (43,4%; 3.527 hộ), thấp nhất là hộ có giá trị tài sản từ 15 – 20 triệu

đồng (6,6%; 537 hộ). Tổng giá trị tài sản của hộ nghèo thấp không chỉ phản ánh chất

lượng cuộc sống thấp mà khả năng đối phó với các rủi ro trong cuộc sống của hộ nghèo vì

thế cũng hạn chế đi rất nhiều.

Nếu so sánh giữa các đơn vị xã, TT trong huyện với nhau, xã có tỉ lệ hộ có tổng

giá trị tài sản từ 15 – 20 triệu đồng cao nhất là xã Phú Lợi (24,8%) và thấp nhất là xã

Suối Nho (3,3%); Tỉ lệ hộ có tổng giá trị tài sản từ 5 – 15 triệu đồng cao nhất là xã Phú

Hòa (77,5%), thấp nhất là xã Ngọc Định (30,6%); Tương tự, tỉ lệ hộ có giá trị tài sản từ

dưới 5 triệu đồng cao nhất là xã Ngọc Định (63,6%) và thấp nhất là xã Phú Hòa (15,7%).

* Nhà ở

Trong những năm qua, được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp chính quyền huyện

Định Quán nói riêng, cả nước nói chung và sự tương trợ của cộng đồng nhiều hộ nghèo

trên địa bàn huyện đã được hỗ trợ nhà tình thương, tuy nhiên do nguồn lực còn hạn chế

nên số hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở chỉ chiếm một phần nhỏ so với tổng hộ nghèo của

huyện. Bên cạnh một số hộ đã có nhà ở (bao gồm nhà kiên cố, bán kiên cố và nhà tạm)

vẫn còn 293 hộ nghèo (tương ứng với 3,6% hộ nghèo) chưa có nhà ở, phải đi ở nhờ nhà

người khác. Mặt khác, trong số các hộ nghèo đã có nhà ở, tỉ lệ hộ nghèo sinh sống trong

những căn nhà kiên cố rất thấp (70 hộ tương ứng với 0,9% tổng hộ nghèo huyện), còn lại

chủ yếu sinh sống trong những căn nhà tạm, nhà bán kiên cố (5.988 hộ có nhà bán kiên

cố, tương ứng với 70,3% tổng hộ nghèo; 2.048 hộ có nhà tạm, tương ứng với 25,2% tổng

hộ nghèo). Đây không chỉ là vấn đề khó khăn của người nghèo mà còn ảnh hưởng không

nhỏ tới sự phát triển KT - XH của huyện.

Bảng 2.12: Tình hình nhà ở của hộ nghèo huyện Định Quán năm 2011

(Đơn vị: Hộ, %)

Đơn vị

Số hộ có loại nhà

Hộ nghèo

Kiên cố

Bán kiên cố Nhà tạm Chưa có nhà

Hộ %

Hộ % Hộ % Hộ %

Phú Cường

347 64,7

147 29,3

28 5,6

501

2

0,4

Phú Túc

276 82,9

37 11,5

14 4,3

322

4

1,3

Túc Trưng

219 69,2

65 22,2

21 7,2

293

4

1,4

Suối Nho

430 70,5

147 25,2

24 4,1

583

1

0,2

La Ngà

357 67,4

138 27,4

23 4,6

503

3

0,6

Phú Ngọc

299 73,7

81 20,7

15 3,8

392

7

1,8

Ngọc Định

305 64,7

139 30,8

18 4

451

2

0,5

Thanh Sơn

0,3

2.102 76,7

537 20,3

71 2,7

2.652

8

Gia Canh

1,8

284 55,2

202 40,4

13 2,6

500

9

TT Định Quán

694

18

2,6

471 66,9

200 28,8

12 1,7

Phú Lợi

174 73,9

45 19,6

9 3,9

230

6

2,6

Phú Vinh

304

62

160

34

17 3,6

471

2

0,4

Phú Tân

181 58,7

110

37

12 4

297

1

0,3

Phú Hòa

188 74,9

40

17

16 6,8

236

3

1,3

Tổng số

8.125

70

0,9

5.988 70,3 2048 25,2

293 3,6

Nguồn: UBND huyện Định Quán: Kết quả khảo sát hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015)

0.9

3.6

Nhà kiên cố

25.2

Nhà bán kiên cố

70.3

Nhà tạm

Chưa có nhà ở

Hình 2.3: Cơ cấu nhà ở của hộ nghèo huyện Định Quán năm 2011

g. Điều kiện sinh hoạt và đời sống

Kết quả điều tra hộ nghèo năm 2011 cho thấy:

- Về điện sinh hoạt: trên địa bàn huyện có 6.847 hộ (tương đương với 84,3% hộ

nghèo) có điện sinh hoạt, trong đó TT Định Quán có tỉ lệ hộ có điện sinh hoạt cao nhất

(96,1%), thấp nhất là xã Phú Tân (68,7%).

- Về nước sạch: có 7.169 hộ (tương đương với 88,1% hộ nghèo) có nước sạch

phục vụ cho sinh hoạt, trong đó xã Phú Túc có tỉ lệ hộ nghèo có nước sạch cao nhất

(99,5%), thấp nhất là xã Phú Tân (72%).

- Về nhà vệ sinh: có 501 hộ (tương đương với 6% hộ nghèo) có nhà vệ sinh hợp

vệ sinh, trong đó tỉ lệ hộ có nhà hợp vệ sinh cao nhất ở xã Phú Ngọc (26,9%), thấp nhất

ở xã Ngọc Định (0,5%).

Bảng 2.13: Hộ nghèo huyện Định Quán phân theo điều kiện

sinh hoạt và đời sống năm 2011

(Đơn vị: Hộ,%)

Điện sinh hoạt

Nước sạch

Hố xí

Đơn vị hành chính

Số hộ (hộ)

Tỉ lệ hộ có điện

Tỉ lệ hộ không có điện

Tỉ lệ hộ có nước sạch

Tỉ lệ hộ chưa có nước sạch

Tỉ lệ hộ có nhà vệ sinh hợp vệ sinh

Tỉ lệ hộ không có nhà vệ sinh hợp vệ sinh

(%)

(%)

(%)

(%)

(%)

(%)

Phú Cường

501

90,4

9,6

97,5

2,48

1,6

98,4

Phú Túc

322

81,1

18,9

99,5

0,53

5,8

94,2

Túc Trưng

293

71,7

28,3

97,4

2,64

22,9

77,1

Suối Nho

583

82,2

17,8

98,9

1,07

0,5

99,5

La Ngà

503

90,5

9,5

82,3

17,71

1,1

98,9

Phú Ngọc

392

91,8

8,2

90,1

9,94

26,9

73,1

Ngọc Định

451

85,8

14,2

75,2

24,77

0,5

99,6

Thanh Sơn

78,4

21,6

2.652

82

18,01

1,8

98,2

Gia Canh

500

88,4

11,6

87,6

12,45

3,9

96,1

TT Định Quán

694

96,1

3,9

93,6

6,41

15,2

84,8

Phú Lợi

230

90,9

9,1

99,1

0,89

25,5

74,6

Phú Vinh

471

92,4

7,6

96,6

3,36

8,0

92,1

Phú Tân

297

68,7

31,3

72

28,01

0,6

99,4

Điện sinh hoạt

Nước sạch

Hố xí

Đơn vị hành chính

Số hộ (hộ)

Tỉ lệ hộ không có điện

Tỉ lệ hộ có điện

Tỉ lệ hộ có nước sạch

Tỉ lệ hộ có nhà vệ sinh hợp vệ sinh

Tỉ lệ hộ chưa có nước sạch

Tỉ lệ hộ không có nhà vệ sinh hợp vệ sinh

(%)

(%)

(%)

(%)

(%)

(%)

Phú Hòa

236

87,7

12,3

99,1

0,93

7,5

92,5

Tổng số

8.125

84,3

15,7

88,1

11,86

6,0

94,0

(Nguồn: UBND huyện Định Quán: Kết quả khảo sát hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015)

Như vậy, về cơ bản điều kiện sinh hoạt của hộ nghèo đã được cải thiện rõ nét, từ

70% hộ có điện sinh hoạt (2000) lên 84,3% (2011), 80% hộ có nước sạch sinh hoạt

(2000) lên 88,1% (2011). Tuy nhiên, trong giai đoạn tới bên cạnh việc phấn đấu 100%

hộ nghèo trên địa bàn huyện có điện và nước sạch sinh hoạt, cần chú ý tới vấn đề khuyến

khích và hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà vệ sinh hợp vệ sinh nhằm nâng cao điều kiện

sinh hoạt, phòng ngừa bệnh tật và ô nhiễm môi trường.

2.2.2.1.3. Nguyên nhân nghèo cấp hộ gia đình ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng

Nai

a. Nguyên nhân khách quan

 Điều kiện tự nhiên

Định Quán nằm ở phía Bắc tỉnh Đồng Nai, cách xa các thành phố lớn như thành

phố Biên Hòa (Đồng Nai) khoảng 80 km, Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 110 km và

thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) khoảng 185 km. Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên thiên

nhiên của huyện nhìn chung nghèo nàn, địa hình không bằng phẳng gây khó khăn cho

hoạt động sản xuất và đi lại của người dân cũng như giao lưu kinh tế, xã hội với các địa

phương khác. Sức hút đối với các nhà đầu tư vì thế mà rất hạn chế, hiện nay trên địa bàn

huyện chỉ có 2 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động – đây là một yếu tố bất

lợi trong việc cải thiện và nâng cao thu nhập cho người dân sinh sống trên địa bàn

huyện.

Không những vậy, yếu tố khí hậu và tài nguyên đất cũng là một trong những yếu

tố gây bất lợi trong quá trình phát triển kinh tế của huyện nói chung và người dân sinh

sống trên địa bàn huyện nói riêng.

+ Về khí hậu, trong khi mùa mưa chiếm tới 85 – 90% tổng lượng mưa của cả năm,

thì lượng mưa mùa khô chỉ chiếm 10 – 15%. Lượng mưa tập trung lớn vào mùa mưa đã

làm cho một số khu vực trên địa bàn huyện bị cô lập, việc vận chuyển hàng hóa, sản

phẩm thu hoạch vì thế cũng bị ngưng lại, ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả kinh tế của

người dân nơi đây. Bên cạnh đó, lượng mưa lớn cộng với địa hình dốc đã góp phần làm

cho nguồn tài nguyên đất của huyện bị thoái hóa do quá trình xói mòn, rửa trôi diễn ra

mạnh. Trong khi đó, mùa khô lại diễn ra tình trạng thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất.

+ Về tài nguyên đất, trong tổng số 97.123,7 ha đất tự nhiên của huyện, diện tích

đất chua, nghèo mùn, tầng đất hữu hiệu lẫn nhiều đá,… chiếm trên 50%. Điều này cũng

gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện, là

yếu tố trực tiếp dẫn đến tình trạng thiếu đất sản xuất gây nên tình trạng nghèo đói ở một

bộ phận dân cư sinh sống trên địa bàn huyện.

Như vậy, điều kiện tự nhiên không thuận lợi là một trong những nguyên nhân góp

phần gây nên tình trạng nghèo ở một bộ phận dân cư huyện Định Quán.

 Trình độ kinh tế chậm phát triển

Trong những năm qua, tình hình kinh tế của huyện đã dần đi vào ổn định và phát

triển theo chiều hướng tích cực. Tốc độ tăng trưởng GDP tương đối cao, thời kỳ 2000 –

2010 mỗi năm tăng 8,26%/năm, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỉ

trọng ngành nông – lâm – thủy sản, tăng tỉ trọng ngành công nghiệp – xây dựng và

ngành dịch vụ. Tuy nhiên, tiềm lực kinh tế của huyện còn nhỏ bé nên trước những yếu tố

bất lợi từ bên ngoài như sự khủng hoảng tài chính – kinh tế thế giới, thiên tai, dịch

bệnh,… đã ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế của huyện, vì thế tốc độ tăng trưởng GDP

không ổn định qua các năm. Bên cạnh đó, ngành nông – lâm – thủy sản tuy chiếm tỉ

trọng cao trong cơ cấu GDP của huyện nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ bé, chủ yếu theo

hình thức hộ gia đình; công tác khuyến nông, khuyến lâm và chuyển giao khoa học công

nghệ đến nông dân chưa sâu rộng; công tác quản lý cung ứng giống cây trồng vật nuôi

chưa chặt chẽ dẫn đến xuất hiện một số loại giống không rõ nguồn gốc, một số vật tư

kém chất lượng,… làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp nói riêng và sự

phát triển của nền kinh tế huyện nói chung, chương trình giảm nghèo của huyện vì thế

còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện.

 Cơ sở hạ tầng

Trong những năm qua, huyện Định Quán đã có sự đầu tư rất lớn cho sự phát triển

cơ sở hạ tầng của huyện vì vậy cơ sở hạ tầng đã có sự nâng cấp và mở rộng, từng bước

đáp ứng được nhu cầu phát triển KT - XH của huyện. Tuy nhiên, do tiềm lực kinh tế còn

hạn chế nên chất lượng cơ sở hạ tầng của huyện vẫn còn yếu kém, cụ thể:

Về hệ thống giao thông: Hiện nay toàn huyện chỉ có 24,7% đường được nhựa hóa;

các tuyến đường bị hư hỏng nặng (do xói mòn vào mùa mưa, do các phương tiện vận

chuyển chuyên chở quá tải,…); các tuyến đường xương cá ở khu vực vùng sâu, vùng xa

của các xã La Ngà, Thanh Sơn, Phú Tân, Túc Trưng… mặt đường hẹp, hay bị lún và có

nhiều khúc cua, dốc cao nên độ an toàn lưu thông chưa cao, thiếu hệ thống mương thoát

nước, nên thường bị lầy lội, chia cắt vào mùa mưa ảnh hưởng rất lớn đến việc vận

chuyển nông sản; Giao thông nội bộ ở các vùng lúa chưa được chú trọng xây dựng.

Về hệ thống thủy lợi: Thời gian qua, đã có sự đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi

phục vụ sản xuất nông nghiệp như hệ thống trạm bơm Ba Dzọt xã Phú Vinh, trạm bơm

xã Ngọc Định,… nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và dân sinh do đầu tư

thủy lợi cần có kinh phí lớn trong khi huyện Định Quán là huyện miền núi, vốn ít. Hiện

toàn huyện chỉ có 3,3% diện tích cây trồng trên địa bàn huyện được tưới bằng công trình

thủy lợi, vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất vụ đông xuân.

Về hệ thống điện: Hệ thống điện lưới vào các vùng chuyên canh sản xuất nông

nghiệp chưa nhiều. Năm 2009 – 2010 huyện mới bắt đầu chú trọng đến việc đầu tư

các đường điện vào các cánh đồng chuyên canh phục vụ sản xuất nông nghiệp, đã xây

dựng 12,5km tuyến đường điện lưới hạ thế và các trạm biến áp để nhân dân khoan

giếng lấy nước tưới phục vụ sản xuất. Tuy nhiên, điện năng phục vụ còn thấp chưa

đảm bảo cung cấp cho sản xuất, nông dân vẫn chủ yếu là sử dụng dầu để chạy máy

bơm, điều này đã làm cho chi phí sản xuất tăng lên.

b. Nguyên nhân chủ quan

Có nhiều nguyên nhân chủ quan từ bản thân người nghèo, hộ nghèo đã dẫn đến

tình trạng nghèo của một bộ phận hộ gia đình trên địa bàn huyện Định Quán như đông

con, trình độ văn hóa thấp, thiếu việc làm, không có tay nghề, thiếu vốn, đất sản xuất,…

Một hộ nghèo có thể do tác động của một hoặc một số nguyên nhân gây nên.

Bảng 2.14: Hộ nghèo huyện Định Quán phân theo một số

nguyên nhân trực tiếp năm 2011

(Đơn vị: Hộ, %)

Phân nhóm nguyên nhân nghèo

Đơn vị

Tổng số hộ nghèo

Thiếu vốn, đất sản xuất

Nguyên nhân khác

Đông con, trình độ văn hóa thấp

Thiếu việc làm, không có tay nghề

Số hộ

Số hộ

Số hộ

Số hộ

Tỉ lệ %

Tỉ lệ %

Tỉ lệ %

Tỉ lệ %

501

129

25,8

247

49,3

165

32,9

119

23,8

Phú Cường

322

56

17,4

127

39,4

69

21,4

91

28,3

Phú Túc

293

21

7,2

134

45,7

147

50,2

11

3,8

Túc Trưng

583

81

13,9

118

20,2

398

68,3

75

12,9

Suối Nho

503

87

17,3

115

22,9

250

49,7

97

19,3

La Ngà

392

71

18,1

131

33,4

135

34,4

64

16,3

Phú Ngọc

451

75

16,6

206

45,7

286

63,4

95

21,1

Ngọc Định

483

18,2

868

57,7

236

8,9

Thanh Sơn

2.652

32,7

1530

500

71

14,2

104

20,8

397

79,4

189

37,8

Gia Canh

694

185

26,7

351

50,6

337

48,6

153

22,1

TT Định Quán

230

65

28,3

45

19,6

136

59,1

18

7,8

Phú Lợi

471

114

24,2

93

19,8

225

47,8

85

18,1

Phú Vinh

297

60

20,2

85

28,6

204

68,7

35

11,8

Phú Tân

236

22

9,3

67

28,4

109

46,2

59

25

Phú Hòa

8.125

1.520

18,7

2.691

33,1

4.388

54,0

1.327

16,3

Tổng số

(Nguồn: UBND huyện Định Quán: Kết quả khảo sát hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015)

 Thiếu vốn, đất sản xuất

Trong các nguyên nhân gây nên tình trạng nghèo ở một bộ phận dân cư huyện Định

Quán thì nguyên nhân do thiếu vốn, đất sản xuất chiếm tỉ lệ cao nhất. Năm 2011 toàn

huyện có 4.388 hộ nghèo do thiếu vốn, đất sản xuất, tương ứng với 54% số hộ nghèo của

huyện; 6/14 xã, TT có tỉ lệ cao hơn tỉ lệ chung của huyện, trong đó xã Gia Canh có tỉ lệ

cao nhất (79,4%), kế đến là xã Phú Tân (68,7%), xã Suối Nho (68,3%), xã Ngọc Định

(63,4%), xã Phú Lợi (59,1%) và xã Thanh Sơn (57,7%); xã có tỉ lệ hộ nghèo do nguyên

nhân trên thấp nhất là xã Phú Túc (21,4%).

 Thiếu việc làm, không có tay nghề

Thiếu việc làm, không có tay nghề là nguyên nhân chiếm tỉ lệ cao thứ 2 trong số

các nguyên nhân gây nên tình trạng nghèo ở một bộ phận dân cư của huyện. Tỉ lệ hộ

nghèo do thiếu việc làm, không có tay nghề chiếm 33,1% tương ứng với 2.691 hộ nghèo

năm 2011. Trong đó, TT Định Quán có tỉ lệ hộ nghèo do thiếu việc làm, không có tay

nghề cao nhất trong số các xã, TT của huyện (50,6%), kế đến là các xã: Phú Cường

(49,3%), Túc Trưng (45,7%), Ngọc Định (45,7%), Phú Túc (39,4%) và Phú Ngọc

(33,4%). Tỉ lệ này thấp nhất ở xã Phú Lợi (19,6%).

 Đông con, trình độ văn hóa thấp

Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng được đề cập đến trong cuộc

điều tra hộ nghèo trên địa bàn huyện. Theo kết quả điều tra năm 2011, toàn huyện có

1.520 hộ nghèo, tương ứng với 18,7%, do đông con, trình độ văn hóa thấp. Trong đó, xã

Phú Lợi có tỉ lệ hộ nghèo do nguyên nhân trên lớn nhất (28,3%), kế đến là TT Định

Quán (26,7%), xã Phú Cường (25,8%), xã Phú Vinh (24,2%), xã Phú Tân (20,2%); tỉ lệ

hộ nghèo do đông con, trình độ văn hóa thấp thấp nhất ở xã Túc Trưng (7,2%).

 Nguyên nhân khác

Ngoài ba nguyên nhân chủ yếu trên, tình trạng nghèo ở một bộ phận dân cư huyện

Định Quán còn do một số nguyên nhân khác gây nên như nghèo do mất sức lao động,

già cả hay bệnh tật, thiên tai, mất mùa,… Nhóm nguyên nhân này tuy chiếm tỉ lệ nhỏ

hơn 3 nguyên nhân trên nhưng cũng góp phần đưa 1.327 hộ tương đương với 16,3% hộ

nghèo rơi vào tình trạng nghèo, trong đó xã Gia Canh có tỉ lệ cao nhất (37,8%), kế đến là

xã Phú Túc (28,3%), xã Phú Hòa (25%), xã Phú Cường (23,8%), xã Ngọc Định (21,1%),

xã La Ngà (19,3%), xã Phú Vinh (18,1%); xã có tỉ lệ thấp nhất do nhóm nguyên nhân

trên gây ra là xã Túc Trưng (3,8%).

2.2.2.2. Thành tựu và hạn chế của công tác giảm nghèo ở huyện Định Quán, tỉnh

Đồng Nai

2.2.2.2.1. Công tác giảm nghèo huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

Nhằm giúp các hộ nghèo trên địa bàn huyện vươn lên thoát nghèo, những năm

qua các ban, ngành, đoàn thể từ huyện đến cơ sở đã có nhiều chương trình phối hợp chặt

chẽ, đồng bộ, kết hợp với biện pháp cho vay vốn, dạy nghề, giới thiệu việc làm; xây

dựng các mô hình vượt nghèo có hiệu quả để nhân rộng; tăng cường công tác khuyến

nông, hướng dẫn các hộ nghèo sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay,... Cụ thể:

a. Công tác tổ chức, chỉ đạo, điều hành thực hiện chương trình

- Để triển khai quản lý điều hành chương trình, huyện đã thành lập Ban chỉ đạo

giảm nghèo (BCĐ.GN), sau nhiều lần củng cố, đến nay BCĐ.GN có 21 thành viên do

đồng chí chủ tịch huyện làm trưởng ban, các đồng chí trưởng phòng nội vụ, phòng

LĐTBXH, phòng kinh tế, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc huyện làm Phó ban, các thành viên

là lãnh đạo của các ngành tài chính – kế hoạch, văn hóa thông tin, giáo dục, y tế, ngân

hàng chính sách xã hội, thống kê, khuyến nông và các đoàn thể như: Phụ nữ, nông dân,

thanh niên, cựu chiến binh và Liên đoàn lao động huyện. BCĐ.GN đã xây dựng quy chế

hoạt động, phân tích trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp giữa các thành viên BCĐ.GN;

giúp việc cho BCĐ.GN có 2 đồng chí cán bộ chuyên trách XĐGN; ở xã, TT đều có

BCĐ.GN do đồng chí Chủ tịch UBND làm trưởng ban, đồng chí Phó chủ tịch làm Phó

ban trực, các thành viên là Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể và các trưởng ấp, có 1 đồng

chí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm làm công tác XĐGN. Huyện đã mở 10 lớp tập

huấn nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách XĐGN. BCĐ.GN huyện, xã, TT đã thành lập

305 tổ tự quản, nhóm điểm hình từ các mô hình hiệu quả như đan lát, trồng tre lấy măng,

chăn nuôi bò,… nhằm giúp cho các hộ nghèo biết cách làm ăn và sử dụng nguồn vốn

ngày càng có hiệu quả. Nguồn vốn XĐGN được thống nhất quản lý theo đúng các quy

định hiện hành, số liệu kế toán được ngân hàng chính sách xã hội cập nhật, phân tích

chính xác, đầy đủ phục vụ kịp thời cho công tác quản lý và chỉ đạo chương trình.

- BCĐ. GN đã phối hợp với các ban ngành, đoàn thể xây dựng các Đề án thực

hiện Chương trình giảm nghèo cho từng giai đoạn phù hợp với điều kiện thực tiễn của

địa phương để trình lên UBND huyện thực hiện. Sau mỗi giai đoạn thực hiện, dưới sự

chủ trì của UBND huyện, BCĐ.GN tiến hành Hội nghị tổng kết về những mặt đã làm

được cũng như chưa làm được trong công tác giảm nghèo, từ đó đề ra các giải pháp khắc

phục cho giai đoạn sau. Bên cạnh đó, BCĐ.GN đã phối hợp với các tổ chức đoàn thể các

cấp tổ chức triển khai các chuyên đề: Quy trình điều tra, thẩm định, quản lý hộ nghèo;

quy trình cấp thẻ bảo hiểm y tế; mô hình giảm nghèo,… giúp cho công tác giảm nghèo

đạt hiệu quả cao.

b. Công tác tuyên truyền

UBND huyện đã tổ chức triển khai quán triệt các tư tưởng, quan điểm chỉ đạo

thực hiện đề án cho các cấp, các ngành. Đồng thời, tuyên truyền rộng rãi trong các tổ

chức chính trị - xã hội và nhân dân về mục đích, ý nghĩa của chương trình giảm nghèo,

thông qua các phương tiện cổ động, truyền thanh, thông qua các hội nghị của Mặt trận tổ

quốc và các đoàn thể ở cơ sở, các đợt kiểm tra, thẩm định hộ nghèo. Nội dung tuyên

truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội,

các đoàn thể và người dân thấy được mục đích, ý nghĩa, tự nguyện đóng góp nguồn lực

cho Chương trình giảm nghèo, các hộ nghèo thấy được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước

từ đó kết hợp với sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng nỗ lực vươn lên thoát nghèo bền

vững.

c. Tín dụng hộ nghèo

Từ năm 2001 – 2010, Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội đã phối hợp

với các đoàn thể như Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh từ huyện đến cơ sở

xét cho vay 16.331 lượt hộ nghèo với tổng kinh phí trên 110.882,3 triệu đồng. Nhìn

chung, hoạt động cho hộ nghèo vay vốn sản xuất kinh doanh đã cơ bản thỏa mãn được

nhu cầu về vốn cho hộ nghèo. Những khó khăn phát sinh được tháo gỡ bằng cách phối

hợp chặt chẽ và thường xuyên giữa Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội với

BCĐ.GN và các tổ chức Chính trị - xã hội các cấp, nhờ đó vốn đến với đối tượng nghèo

kịp thời hơn. Đa số hộ nghèo đủ điều kiện vay vốn đều được vay vốn và sử dụng vốn

đúng mục đích sản xuất, kinh doanh, trong đó không ít hộ đã vươn lên thoát nghèo bằng

chính nguồn vốn vay này.

d. Chính sách hỗ trợ về nhà ở, phát triển sản xuất, học tập cho hộ nghèo

Giai đoạn 2001 – 2010, Phòng LĐTBXH đã phối hợp với Mặt trận tổ quốc và các

đoàn thể thực hiện vận động và xây dựng được 1.841 căn nhà tình thương với kinh phí

17,537 tỉ đồng (Giai đoạn 2001 – 2005 xây dựng được 1.026 căn với tổng kinh phí 6,194

tỉ đồng; Giai đoạn 2005 – 2010: 815 căn, tổng kinh phí: 11,343 tỉ đồng). Bên cạnh đó,

huyện cũng đã thực hiện miễn giảm thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp cho các

hộ nghèo với tổng kinh phí 746,679 triệu đồng (trong đó tổng số tiền dành cho miễn

giảm thuế nhà đất là 71,754 triệu đồng, thuế sử dụng đất nông nghiệp là 674,925 triệu

đồng). Ngoài ra, trong giai đoạn 2001 – 2005 huyện đã sử dụng các nguồn vốn của các

chương trình KT - XH khác để tái định cư cho 31 hộ dân nghèo từ bãi rác Đông Thạnh, mỗi hộ chưa có nhà ở được cấp 35m2 đất ở và được hỗ trợ xây dựng một căn nhà tình

thương 5 triệu đồng. Việc hỗ trợ đất ở, đặc biệt là nhà ở bước đầu đã giúp cho các hộ

nghèo ổn định cuộc sống, tích cực làm ăn và có khả năng tích lũy.

e. Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo

Trong vòng 10 năm, bên cạnh việc hỗ trợ sách vở, đồ dùng học tập cho con em hộ

nghèo, các tổ chức chính trị - xã hội có trách nhiệm đã thực hiện miễn giảm học phí và

các khoản đóng góp khác cho 12.731 lượt học sinh là con, em hộ nghèo với số tiền miễn

giảm là 289,1 triệu đồng, cấp 1.319 suất học bổng cho học sinh nghèo hiếu học, tạo điều

kiện cho con em hộ nghèo được đến trường như bao trẻ em khác, góp phần phát triển

nguồn nhân lực trong tương lai cho các hộ nghèo.

f. Chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo

Trong vòng 10 năm, đã cấp mới và gia hạn cho 256.165 lượt thẻ bảm hiểm y tế

cho người nghèo với kinh phí 34.079 triệu đồng, đảm bảo cấp đúng và đủ cho 100%

thành viên trong hộ nghèo; số lượt người được khám chữa bệnh tại bệnh viện huyện là

454.693 lượt người với tổng kinh phí là 12.252 triệu đồng. Đây là một chính sách thể

hiện sự quan tâm to lớn của Đảng và Nhà nước tới công tác chăm sóc sức khỏe cho

người nghèo, tạo công bằng xã hội, được đa số người dân ủng hộ, đặc biệt là nhóm

người nghèo.

g. Dự án dạy nghề, tạo việc làm cho người nghèo

Bằng các nguồn vốn đào tạo nghề nông thôn, nguồn vốn đào tạo nghề cho

người nghèo, huyện đã tổ chức dạy nghề cho 4.937 lao động nghèo, chủ yếu là dạy

các nghề ngắn hạn nhằm mục đích tạo cơ hội cho hộ nghèo tự giải quyết việc làm tại

chỗ trong các công ty, xí nghiệp đóng trên địa bàn huyện, góp phần tăng thu nhập cho

hộ nghèo. Đã giải quyết việc làm mới cho 3.153 lao động nghèo, ổn định việc làm

cho 10.519 lao động. Đây là một giải pháp mũi nhọn, giúp cho hộ nghèo ổn định cuộc

sống, vượt chuẩn mực nghèo một cách chắc chắn.

h. Triển khai mô hình giảm nghèo kết hợp với dự án khuyến nông

Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy, căn cứ vào dự án khuyến nông cho người

nghèo của tỉnh, dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo của tỉnh, UBND huyện đã trực tiếp

chỉ đạo cho các ngành chuyên môn khảo sát thực tế các mô hình làm ăn có hiệu quả, phù

hợp với điều kiện kinh tế, kiến thức, hoàn cảnh của hộ nghèo trên địa bàn huyện và có

tính khả thi cao như: nuôi gà, bò, heo, thỏ,… để phổ biến cho các hộ biết nhằm lựa chọn

mô hình đăng ký. Ngoài ra, các xã, TT chủ động chọn các mô hình làm ăn có hiệu quả

tại địa phương để phổ biến rộng rãi đến người nghèo học tập và áp dụng cho gia đình

nhằm tạo nguồn thu nhập. Huyện cũng đã phối hợp với Trung tâm khuyến nông tỉnh, Sở

LĐTBXH triển khai thực hiện một số dự án khuyến nông cho người nghèo, cụ thể: Hỗ

trợ vốn, kỹ thuật cho 529 hộ nuôi gà, 220 hộ trồng lúa, bắp, 75 hộ nuôi bò, 20 hộ nuôi

thỏ, 71 hộ nuôi heo, 7.000 cây điều cao sản, 5.000 cây mít nghệ, 6.000 cây bưởi da xanh.

Hiện các mô hình đang tiến triển tốt, hầu hết hộ nghèo đều đồng tình với chương trình

trên.

i. Chương trình 134, 135

Thực hiện chương trình 134/CP trên địa bàn huyện, mặc dù có những khó khăn,

đặc biệt là việc giải quyết đất ở, tuy nhiên nhìn chung đã đạt được những kết quả nhất

định. Đến nay đã thực hiện hỗ trợ 818 bồn chứa nước, xây dựng hoàn thành đưa vào sử

dụng 4 công trình thoát nước tập trung và 720 căn nhà cho đồng bào dân tộc thiểu số góp

phần đẩy nhanh chương trình giảm nghèo giúp cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số

nghèo ổn định cuộc sống.

Thực hiện chương trình 135, huyện đã đầu tư xây dựng, sửa chữa 157 phòng học;

nâng cấp, sửa chữa, xây dựng 132,1 km đường giao thông nông thôn, 4 cầu bê tông kiên

cố, 3 chợ xã, 2 hệ thống nước tập trung 4 nhà sinh hoạt cộng đồng và 82,9 km đường

điện hạ thế phục vụ cho nhân dân các ấp, xã đặc biệt khó khăn. Đồng thời hỗ trợ trực

tiếp cho 202 hộ nghèo giống vật nuôi để các hộ có điều kiện phát triển sản xuất, phấn

đấu giảm nghèo bền vững.

Bên cạnh đó, huyện cũng đã quan tâm tới đời sống cho hộ nghèo, hằng năm đều

tổ chức tặng quà tết cho các hộ nghèo, làm tốt công tác trợ cấp thường xuyên tại cộng

đồng, khó khăn đột xuất, thiên tai, hỏa hoạn kịp thời cho người nghèo và các đối tượng

bảo trợ xã hội.

2.2.2.2.2. Thành tựu và hạn chế trong công tác giảm nghèo ở huyện Định Quán,

tỉnh Đồng Nai

a. Thành tựu

- Xác định Chương trình giảm nghèo là một nhiệm vụ trọng tâm trong Chương

trình mục tiêu quốc gia, do đó đã được cấp ủy, chính quyền, Ủy ban mặt trận tổ quốc từ

huyện đến cơ sở quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Trong vòng 10 năm, từ 2001 – 2010, trên địa

bàn huyện đã có 14.642 hộ vươn lên thoát nghèo. Sau mỗi giai đoạn thực hiện Chương

trình giảm nghèo, tỉ lệ hộ nghèo đều giảm so với đầu kỳ (Giai đoạn 2001 – 2005 tỉ lệ hộ

nghèo từ 20,2% (đầu năm 2001) xuống còn 1,36% (cuối năm 2005). Giai đoạn 2006 –

2010, tỉ lệ hộ nghèo từ 16,21% (đầu năm 2006) xuống còn 6,5% (năm 2010 theo chuẩn

nghèo 2009 – 2010)). Nhận thức của các ngành, của các tổ chức KT - XH và nhân dân

từng bước được nâng lên. Công tác chỉ đạo, triển khai, quản lý chương trình ngày càng sâu

sát và có hiệu quả. Việc đầu tư quản lý vốn giảm nghèo ngày càng chặt chẽ, nợ quá hạn có

xu hướng giảm, các ưu tiên đầu tư cho hộ chính sách và dân tộc được quan tâm đúng mức.

Trong điều kiện và khả năng cho phép, huyện đã quan tâm hỗ trợ đất ở, nhà ở, kiến thức

kinh nghiệm làm ăn, giải quyết việc làm, thực hiện tốt các chính sách ưu đãi khác như y

tế, giáo dục, dạy nghề,... cho con, em hộ nghèo. Một số mô hình giảm nghèo thí điểm đã

được đúc rút kinh nghiệm có thể nhân rộng như mô hình đan lát ở xã Thanh Sơn, mô hình

bóc tách hạt điều ở xã Ngọc Định, mô hình chăn nuôi bò sinh sản ở xã Túc Trưng,…

- Mặc dù ngân sách của huyện còn nhiều khó khăn, nhưng hằng năm cũng đã trích

ngân sách bổ sung cho chương trình giảm nghèo để đầu tư xây dựng đường giao thông,

trường học, hệ thống cấp nước sinh hoạt cho các ấp nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân

tộc thiểu số, đồng thời phối hợp với ủy ban mặt trận tổ quốc, Hội chữ thập đỏ và các ban

ngành, đoàn thể vận động các tổ chức, cá nhân thăm hỏi, giúp các hộ nghèo trong các

dịp lễ tết, những lúc khó khăn, hoạn nạn và tiếp tục duy trì phong trào giúp nhau trong

sản xuất, qua đó đã từng bước nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần và tạo nên những

tiền đề vật chất cơ bản để các hộ nghèo ổn định cuộc sống, vượt nghèo bền vững.

- Quá trình thực hiện các chương trình hỗ trợ người nghèo đã mang lại hiệu quả

nhất định như cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện giúp cho người nghèo có điều kiện

tiếp cận với sự phát triển chung của xã hội, chương trình hỗ trợ nhà ở đã đem lại cho

người nghèo sự ổn định trong an cư mà tập trung sản xuất. Việc cấp phát thẻ bảo hiểm y

tế kịp thời đã giải quyết khó khăn trong những lúc khó khăn, bệnh hoạn, chính sách miễn

giảm học phí giúp cho trẻ em nghèo được đến trường học tập, các mô hình giảm nghèo

được áp dụng giúp cho người nghèo có cơ hội hiểu biết cách làm ăn tạo thu nhập vươn

lên thoát nghèo.

- Có được các kết quả nêu trên là nhờ sự quan tâm lãnh đạo và đề ra những chủ

trương, giải pháp phù hợp với điều kiện KT - XH từng năm của huyện ủy, sự hướng dẫn

chỉ đạo thường xuyên của BCĐ.GN tỉnh, sự tích cực phối hợp giữa BCĐ.GN, ngân hàng

chính sách xã hội, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể từ huyện đến xã, sự năng động chịu

khó của đội ngũ cán bộ chuyên trách XĐGN, sự nhiệt tình ủng hộ của các tổ chức, cá

nhân cho quỹ “Vì người nghèo”, một số hộ gia đình biết tiếp thu khoa học kỹ thuật, kinh

nghiệm sản xuất, tận dụng sức lao động của gia đình, sử dụng vốn vay đúng mục đích

từng bước vượt nghèo một cách bền vững.

b. Hạn chế

Sau nhiều năm thực hiện, chương trình giảm nghèo đã đi sâu vào thực tiễn cuộc

sống và đã đem lại hiệu quả thiết thực, song vẫn còn một số hạn chế trong quá trình thực

hiện chương trình đó là:

- Chưa có nhiều mô hình giảm nghèo phong phú có hiệu quả và phù hợp với hộ

nghèo để nhân rộng, hầu hết sản xuất của hộ nghèo đều manh mún, nhỏ lẻ, bình quân đất

sản xuất trên đầu người còn thấp, kinh nghiệm sản xuất cũng như điều kiện chuyển đổi

giống cây trồng vật nuôi và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn

nhiều hạn chế, sản phẩm làm ra chủ yếu tự cung, tự cấp là chính.

- Tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, giá cả một số mặt hàng phục vụ cho sản

xuất nông nghiệp tăng cao, làm cho chi phí sản xuất tăng theo khiến cho đời sống hộ

nghèo gặp nhiều khó khăn hơn, tuy có mức tăng thu nhập nhưng không có khả năng tích

lũy vốn dẫn đến vượt nghèo không bền vững.

- Việc vay vốn ưu đãi hộ nghèo thông qua ủy thác cho các tổ chức đoàn thể như

Hội nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên là phù hợp, tuy nhiên

để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay ưu đãi cho hộ nghèo một cách cụ thể thì các tổ

chức trên vẫn còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn, việc xử lý thu hồi nợ đến hạn chưa

chặt chẽ, chưa có biện pháp tích cực trong việc xử lý thu hồi nợ đối với các trường hợp

hộ vay có khả năng trả nợ nhưng chây lỳ, không chịu trả.

- UBND các xã, TT tuy đã có chỉ đạo thực hiện các giải pháp giảm nghèo do

huyện đề ra nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn lúng túng, như việc chọn lựa các

mô hình làm ăn có hiệu quả trên địa bàn để hướng dẫn cho các hộ nghèo học tập và làm

theo nhằm giúp cho họ có cơ hội tự lực vươn lên thoát nghèo, việc bình xét hộ nghèo

đầu giai đoạn hoặc rà soát hộ nghèo hàng năm tại một số xã, TT chưa thật sự chặt chẽ

dẫn đến có những hộ dù đời sống đã ổn định, thu nhập khá nhưng vẫn thuộc hộ nghèo,

làm ảnh hưởng đến chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước.

Chương 3 : GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

3.1. Quan điểm, định hướng, mục tiêu và nhiệm vụ của chương trình giảm nghèo bền vững ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

3.1.1. Quan điểm

- Tiếp tục thực hiện những quan điểm đã được xác định trong Chương trình mục

tiêu quốc gia về giảm nghèo từ 1994 – 2010, đó là: Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc

sống của nhân dân. Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo; bảo đảm giảm

nghèo bền vững. Khuyến khích làm giàu hợp pháp, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung

bình, khá trở lên. Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội; mỗi

bước phát triển KT - XH phải là một bước cải thiện đời sống người nghèo, xã nghèo, hạn

chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, hạn chế cách biệt thành thị, nông thôn. Xác định

Chương trình giảm nghèo bền vững là Chương trình có tính KT – XH và nhân văn sâu

sắc, và là nội dung quan trọng của các phong trào quần chúng, là công việc của cả hệ

thống chính trị, của toàn dân mà trước hết là của chính người nghèo.

- Giảm nghèo phải đảm bảo tính toàn diện hơn, bền vững hơn, công bằng hơn và

hội nhập hơn. Giảm nghèo là mục tiêu quan trọng của phát triển xã hội, vì vậy quá trình

thực hiện các mục tiêu phát triển KT – XH phải hướng vào mục tiêu giảm nghèo, thực

hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.

- Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước phải được thể chế hóa bằng các

cơ chế, chính sách, kế hoạch hàng năm và huy động nguồn lực của toàn xã hội để thực

hiện mục tiêu và các chỉ tiêu của Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 –

2015, ưu tiên nguồn lực cho xã khó khăn nhất, đối tượng khó khăn nhất.

- Giảm nghèo là một trong những tiêu chí để đánh giá, phân loại hàng năm đối với

các xã, TT và các tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị

3.1.2. Định hướng

- Tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập.

- Tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận trực tiếp các dịch vụ xã hội.

- Nâng cao năng lực và nhận thức cho người nghèo.

- Địa bàn trọng điểm của chương trình giảm nghèo bền vững là vùng sâu, vùng

xa, vùng dân tộc thiểu số. Có cơ chế thỏa đáng, giảm thủ tục hành chính, nâng cao vai

trò và trách nhiệm của các cấp xã, ấp, làm cho Chương trình giảm nghèo bền vững trở

thành phong trào thật sự của các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội.

- Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo, bảo đảm hài hòa giữa 2 nhóm giải

pháp lớn là đầu tư hạ tầng với đầu tư nhân lực cho người nghèo, xã nghèo. Coi đầu tư

cho nhân lực là nhân tố lâu dài, quyết định thành công của định hướng giảm nghèo bền

vững.

- Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành chương trình.

3.1.3. Mục tiêu, đối tượng của chương trình giảm nghèo bền vững

3.1.3.1. Mục tiêu

a. Mục tiêu chung

- Xóa hộ nghèo theo chuẩn cũ, phấn đấu giảm tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới từ

17,18% đầu năm 2011 xuống còn khoảng 5% vào cuối năm 2015.

- Tiếp tục cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghèo và nâng cao thu nhập bình

quân của người nghèo. Bảo đảm những hộ vượt nghèo không chỉ là vượt được chuẩn mà

còn có điều kiện để tự vươn lên trung bình và khá, hòa nhập vào quá trình phát triển KT –

XH của địa phương, hướng tới giảm nghèo bền vững.

b. Các chỉ tiêu cụ thể

- 100% hộ nghèo được biết, tiếp cận và thụ hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ

của nhà nước như: vay vốn sản xuất kinh doanh, vay đi học, bảo hiểm y tế, tham gia các

dự án hỗ trợ,…

- Phấn đấu giảm hộ nghèo hằng năm là:

+ Năm 2011 giảm 700 hộ (kể cả số mới phát sinh).

+ Năm 2012 giảm 550 hộ.

+ Năm 2013 giảm 550 hộ.

+ Năm 2014 giảm 500 hộ.

+ Năm 2015 giảm 338 hộ.

3.1.3.2. Đối tượng của chương trình giảm nghèo

- Hộ nghèo (theo chuẩn của tỉnh).

- Xã nghèo, xã thuộc vùng khó khăn, ấp đặc biệt khó khăn.

3.1.4. Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu đề ra cần tập trung những nhiệm vụ trọng tâm cụ thể như

sau:

- Tập trung huy động các nguồn lực trong và ngoài huyện để hỗ trợ sửa chữa nâng

cấp và xây dựng mới 500 căn nhà tình thương với kinh phí từ 8 - 10 tỉ đồng cho những

hộ nghèo.

- Bằng các nguồn vốn ưu đãi của ngân hàng chính sách xã hội, các chương trình

dự án và giải quyết việc làm, dạy nghề tập trung đầu tư cho 4.388 hộ nghèo thiếu vốn,

thiếu tư liệu sản xuất, 2.691 thiếu hoặc không có việc làm ổn định nhằm giúp các hộ có

điều kiện để phát triển sản xuất, chăn nuôi, học nghề nhằm tạo thêm việc làm tiến tới ổn

định đời sống.

- Giám sát việc thực hiện các chế độ chính sách ưu đãi đối với hộ nghèo như bảo

hiểm y tế, miễn giảm học phí, trợ cấp ưu đãi giáo dục.

- Tranh thủ các nguồn lực của tỉnh, huyện (kể cả vận động nhân dân đóng góp) tập

trung đầu tư cơ sở hạ tầng các ấp nghèo như: Giao thông nông thôn, hệ thống điện, nước,

thông tin liên lạc,... để cho những hộ nghèo có điều kiện tiếp cận và hưởng thụ nhằm

giảm khoảng cách giàu - nghèo giữa các xã, ấp trên địa bàn của huyện theo sự phát triển

chung của huyện.

- Thực hiện tốt QĐ 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về đào tạo nghề cho

lao động nông thôn.

3.2. Giải pháp giảm nghèo bền vững ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

3.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong những năm qua, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng đã tác động

không nhỏ đến sự phát triển KT - XH huyện Định Quán nói chung và thành công của

Chương trình giảm nghèo nói riêng. Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch vẫn còn chậm, tỉ

trọng ngành nông – lâm – thủy sản trong cơ cấu kinh tế vẫn còn cao. Do đó, để giảm

nghèo thành công và bền vững trong thời gian tới cần đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ

cấu kinh tế trên địa bàn huyện Định Quán.

- Đối với nông – lâm – thủy sản: Tiếp tục điều chỉnh quy hoạch ngành trồng trọt,

chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản cho phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của địa

phương, phù hợp với lợi thế của từng vùng và nhu cầu của thị trường trên cơ sở tính toán

hiệu quả kinh tế, từ đó định hướng sản xuất cho người dân nhằm đem lại hiệu quả kinh

tế cao nhất và tạo sự ổn định trong sản xuất. Trong ngành trồng trọt, chú trọng phát triển

cây mía, cây cà phê, cây điều, cây lúa, cây bắp, cây ăn trái (xoài, chôm chôm, mít,…);

ngành chăn nuôi chú trọng phát triển chăn nuôi bò, gà, heo. Bên cạnh đó, thực tiễn đã

chứng minh so với ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao do

đó trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nông – lâm – thủy sản cần đẩy mạnh sự

phát triển của ngành chăn nuôi, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính.

- Đối với công nghiệp: Thực hiện quy hoạch và đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng Khu

công nghiệp Định Quán giai đoạn 2, các cụm công nghiệp ở các xã Phú Cường, Phú

Túc, Phú Vinh và TT Định Quán. Thực hiện các hoạt động quảng bá giới thiệu hình ảnh,

tiềm năng, lợi thế trên các lĩnh vực, chủ trương chính sách về phát triển KT – XH và đầu

tư của huyện để thu hút, mời gọi đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn

huyện.

Tăng cường công tác khuyến công, khuyến khích, hỗ trợ ngành nghề nông thôn,

các hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng công

nghệ phù hợp, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Tập trung phát triển nghề đan

lát các mặt hàng thủ công từ lục bình, dây chuối và mây tre tại các xã Gia Canh, Thanh

Sơn và Phú Ngọc; nghề dệt lưới nilông tại xã Suối Nho, dệt thổ cẩm của đồng bào dân

tộc Chơro ở TT Định Quán,…

- Đối với thương mại - dịch vụ: Tập trung quy hoạch phát triển các loại hình thương

mại – dịch vụ trên địa bàn phục vụ các khu, cụm công nghiệp, các dịch vụ đáp ứng nhu

cầu sản xuất và đời sống của nhân dân; xây dựng mạng lưới thu mua nông sản, cung ứng

vật tư sản xuất, hàng tiêu dùng đến các khu dân cư. Tiếp tục xây dựng mới và cải tạo xây

dựng lại các chợ trung tâm xã; xây dựng các hợp tác xã thương mại – dịch vụ với hình

thức quy mô phù hợp.

3.2.2. Đầu tư cơ sở hạ tầng

Tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện, đặc biệt là ở 3 xã có

điều kiện KT - XH khó khăn nhất huyện là xã Thanh Sơn, xã Ngọc Định và xã Suối

Nho, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt ở cộng đồng dân cư.

Trước mắt, cần tập trung xây dựng, nâng cấp hệ thống đường giao thông, đặc biệt

là hệ thống đường dẫn đến vùng chuyên canh, vùng chăn nuôi tập trung. Bên cạnh nguồn

vốn của Nhà nước, cần tranh thủ các nguồn vốn trong nhân dân, của tỉnh và các nguồn

vốn hỗ trợ để thực hiện việc nâng cấp, nhựa hóa đường giao thông trên địa bàn; Đầu tư

cải tạo và phát triển hoàn thiện mạng lưới điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Mở rộng

đường dây trung thế, hạ thế đưa điện vào các vùng chuyên canh và khu chăn nuôi tập

trung; Hoàn thiện hệ thống cấp nước và các công trình thủy lợi để cung cấp nước tưới

cho cây trồng và sinh hoạt của người dân. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là cách thiết

thực để giúp đỡ người nghèo có điều kiện giao lưu hàng hóa, tiếp cận thị trường, tiếp thu

khoa học kỹ thuật,… từ đó vươn lên thoát nghèo.

3.2.3. Dạy nghề và hỗ trợ việc làm

Nguyên nhân chính dẫn đến thất nghiệp, thiếu việc làm ở hộ nghèo là do không có

tay nghề, vì vậy để giảm nghèo thì giải pháp tiếp tục đầu tư dạy nghề và tạo thêm việc

làm cho lao động nghèo (trong đó ưu tiên cho lực lượng mới bước vào tuổi lao động) - là

giải pháp quan trọng cần tập trung thực hiện với các chỉ tiêu cụ thể.

a. Đối với việc dạy nghề

- Nhìn chung, đa số lao động nghèo trên địa bàn huyện có trình độ văn hóa hạn

chế, do đó trong quá trình chọn nghề để đào tạo cần chọn những nghề đơn giản, phù

hợp với nhu cầu thực tế mà không đòi hỏi trình độ học vấn cao như: may công

nghiệp, đan lát, sửa chữa máy nông nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp, thú y, thủy sản,…

để có thể thu hút người lao động ở mọi lứa tuổi tham gia.

- Hình thức dạy nghề có thể là ngắn hạn hoặc dài hạn, thông qua các lớp chuyển

giao công nghệ, công tác khuyến nông, khuyến công,… nhằm trang bị thêm kiến thức

sản xuất cho người dân.

- Bên cạnh các lớp dạy nghề do huyện đứng ra tổ chức, cần khuyến khích các tổ

chức, cá nhân đầu tư thành lập các cơ sở dạy nghề cũng như khuyến khích các cơ sở sản

xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn huyện tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn

nói chung và lao động nghèo nói riêng.

b. Đối với hỗ trợ việc làm

Giải quyết việc làm cho lao động nghèo bằng cách xây dựng và triển khai các mô

hình sản xuất làm ăn có hiệu quả, kêu gọi các doanh nghiệp vào đầu tư sản xuất kinh

doanh trên địa bàn huyện nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động. Mặt khác,

Phòng LĐTBXH huyện phối hợp với trung tâm dạy nghề của huyện thường xuyên nắm

bắt thông tin kịp thời về nhu cầu lao động của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh

doanh trong và ngoài huyện để xây dựng các phương án liên doanh, liên kết trong đào

tạo nghề và giải quyết việc làm cho học viên sau đào tạo. Bên cạnh đó, trong thời gian

tới huyện cũng cần chú ý tới thị trường xuất khẩu lao động, đặc biệt là các nước có yêu

cầu nguồn lao động đơn giản, bởi xuất khẩu lao động đã và đang mở ra một bước đi

thực tế và khả thi cho lao động thiếu việc làm. Xuất khẩu lao động không chỉ giải

quyết việc làm cho lao động, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng sống cho bản thân

và gia đình của người lao động, tạo điều kiện nâng cao trình độ lao động sau khi kết

thúc hợp đồng lao động ở nước ngoài trở về mà quan trọng hơn cả là sau khi hết hợp

đồng lao động trở về nước, những người này đã có tay nghề và vốn nhất định, họ tự

xoay xở để mưu sinh, giảm bớt gánh nặng cho cộng đồng.

3.2.4. Hỗ trợ vốn cho hộ nghèo

Nguồn vốn đối với hộ nghèo là rất cần thiết, không có vốn thì sẽ không có cơ hội

đầu tư và mở rộng sản xuất nên không thể thoát nghèo. Do đó một trong những biện

pháp giúp người dân giảm nghèo là hỗ trợ vốn sản xuất cho họ. Mặc dù trong những

năm qua, Phòng giao dịch ngân hàng Chính sách xã hội, BCĐ.GN và các tổ chức chính

trị - xã hội các cấp trên địa bàn huyện đã cố gắng giải quyết vốn cho các hộ nghèo có

nhu cầu nhưng do nguồn vốn còn hạn hẹp nên chỉ có một bộ phận hộ nghèo được giải

quyết với mức vay bình quân thấp. Vì vậy, trong thời gian tới để giải quyết nguồn vốn

cho các hộ nghèo cần chú ý đến các vấn đề sau:

- Đa dạng nguồn vốn để bảo đảm cho các hộ nghèo có nhu cầu vốn làm ăn được

hỗ trợ và ưu đãi đúng mực. Ngoài nguồn vốn từ ngân sách nhà nước nên huy động các

nguồn vốn khác từ cá nhân, tập thể, cộng đồng và các tổ chức xã hội nhân đạo trong và

ngoài nước. Tiếp tục phát động kêu gọi ý thức tương trợ như góp công, góp của, góp

sức, góp kinh nghiệm giúp đỡ lẫn nhau khi khó khăn trong cộng đồng dân cư.

- Hiện nay có nhiều nguồn tín dụng dành cho người nghèo. Ngoài nguồn tín dụng

ưu đãi còn có nguồn tín dụng của các tổ chức phi chính phủ hoặc từ các chương trình KT

– XH khác. Do đó, tình trạng lãi suất cho vay không đồng bộ, một số người được vay

quá nhiều trong khi lại có người không tiếp cận được với nguồn vốn vay nào, dẫn đến sự

bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn vay. Để khắc phục tình trạng này cần có giải pháp tập

trung nguồn tín dụng có cùng mục đích giảm nghèo về Ngân hàng Chính sách xã hội

huyện để quản lý và phân bổ đều các đối tượng, như vậy sẽ hiệu quả hơn.

- Một thực tế cho thấy, hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo trên địa bàn chưa

cao do còn có sự bất cập trong năng lực quản lý, giám sát và thu hồi nguồn vốn tín dụng

từ chính quyền xã, các tổ chức chính trị - xã hội địa phương; do dịch vụ hỗ trợ (hỗ trợ

khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư) kém; mức cho vay chưa gắn với nhu cầu vay

của hộ nghèo, nhất là những hộ nghèo có lao động, đất đai và ý thức làm ăn. Vì vậy để

tăng hiệu quả sử dụng vốn cần có cơ chế quản lý và giám sát thích hợp, đơn giản các thủ

tục cho vay, tăng thời gian và mức vốn cho vay trên cơ sở xem xét mục đích và hiệu quả

sản xuất của hộ vay, nâng cao năng lực của các tổ chức được Ngân hàng chính sách xã

hội ủy thác cho hộ nghèo vay vốn, đồng thời cần đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ khuyến

nông, khuyến công, khuyến ngư nhằm trao cho người nghèo “Cần câu hơn xâu cá” để

hộ nghèo thoát nghèo nhanh và bền vững.

3.2.5. Hỗ trợ giáo dục

Nâng cao trình độ văn hóa cho người nghèo là yếu tố quan trọng để người nghèo

có cơ hội kiếm việc làm tạo thu nhập và có năng lực cần thiết để chống đỡ với những

biến cố rủi ro trong cuộc sống, tiến tới thoát nghèo bền vững. Vì vậy trong những năm

qua huyện Định Quán đã có những giải pháp thiết thực giúp cho con, em hộ nghèo được

đến trường học tập giống các trẻ em khác như: Miễn giảm học phí và các khoản đóng

góp xây dựng trường, hỗ trợ sách vở cho học sinh nghèo, khuyến khích học sinh nghèo

học khá, giỏi bằng các giải thưởng, học bổng và các chế độ ưu đãi khác, tăng cường cơ

sở vật chất, nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, do ngân sách nhà nước còn hạn

hẹp nên các biện pháp này chỉ mới hỗ trợ được một phần nhỏ chi phí giáo dục thực tế

của con, em hộ nghèo vì ngoài các khoản học phí chính thức do Nhà nước quy định, còn

hàng loạt các khoản đóng góp khác như đóng góp cho trường lớp, quần áo đồng phục,

sách giáo khoa, dụng cụ học tập, học thêm. Các khoản này theo như TS. Nguyễn Thị

Hoa đề cập trong cuốn sách “Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2015”

chiếm tới 2/3 chi phí cho giáo dục cho nên sự hỗ trợ của Nhà nước chưa thực sự giảm

được gánh nặng chi phí giáo dục cho các hộ nghèo. Ngoài ra, gia đình nghèo thường

xuyên phải cân nhắc khi đưa ra quyết định cho trẻ trong độ tuổi đi học vì cho đi học

cũng đồng nghĩa là mất đi một lao động để làm thay công việc gia đình nếu đứa trẻ

không đi học có thể làm. Vì vậy, để con, em hộ nghèo được đến trường trong thời gian

tới huyện cần thực hiện các giải pháp sau:

- Để tăng nguồn lực hỗ trợ chi phí cho con, em hộ nghèo đến trường cần huy động

sự đóng góp của cộng đồng bằng cách kêu gọi cộng đồng chung sức, góp công vào thực

hiện chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo thông qua việc xây dựng và phát triển

các quỹ khuyến học, khuyến tài hay tạo ra cơ chế khuyến khích tư nhân hiến tặng từ

thiện cho giáo dục,…

- Nâng cao chất lượng giảng dạy bằng cách đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị

dạy học, có chính sách ưu đãi thỏa đáng đối với giáo viên công tác trên địa bàn huyện

như chính sách về tiền lương, cải thiện điều kiện làm việc, điều kiện nhà ở,… giúp họ

yên tâm công tác lâu dài.

- Đa dạng các hình thức dạy học để các các đối tượng có thể lựa chọn hình thức

học tập phù hợp với điều kiện của bản thân và gia đình, đặc biệt quan tâm mở rộng hình

thức vừa học văn hóa, vừa học nghề để con, em hộ nghèo sau khi tốt nghiệp nếu không

có điều kiện theo học ở các cấp học cao hơn thì vẫn có cơ hội tìm kiếm việc làm, tạo thu

nhập cho gia đình.

3.2.6. Hỗ trợ y tế

Tăng cường đội ngũ y bác sĩ, đồng thời có chính sách ưu đãi cán bộ y tế vùng sâu

vùng xa; Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao cơ sở vật chất ở tất cả các các cơ sở y tế trong

huyện nhằm cung cấp chất lượng khám chữa bệnh tốt nhất cho người nghèo.

Khi ốm đau, phải nằm viện người nghèo mới được Nhà nước hỗ trợ chi phí trực

tiếp (viện phí, phí khám chữa bệnh ngoài viện phí) còn các chi phí gián tiếp (như chi phí

đi lại, ăn, ở của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân…) thì vẫn phải lo hoàn toàn. Trong

khi đó, cũng theo TS Nguyễn Thị Hoa trong cuốn sách “Chính sách giảm nghèo của

Việt Nam đến năm 2015” thì chi phí gián tiếp chiếm 26,6% cơ cấu chi phí 1 lần nằm

viện nội trú của người nghèo trong khi thu nhập của người nghèo đang rất thấp, cộng với

nỗi lo mất thu nhập khi phải nằm viện nên người nghèo thường không đi khám chữa

bệnh khi bệnh còn nhẹ mà thường tự mua thuốc về điều trị. Vì vậy, để hỗ trợ y tế cho

người nghèo tốt hơn cần vận động các cá nhân, tổ chức có các hoạt động từ thiện hỗ trợ

bữa ăn cho người nghèo và người nhà tại các cơ sở khám chữa bệnh của địa phương, đặc

biệt là ở bệnh viện tuyến huyện nhằm giảm gánh nặng chi phí y tế cho người nghèo, từ

đó góp phần thúc đẩy người nghèo thường xuyên đến các cơ sở y tế để điều trị. Bên cạnh

đó, nên thường xuyên tổ chức các buổi khám từ thiện lưu động đến các địa bàn trong

huyện.

Mặt khác, do Ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp nên thiếu kinh phí để mua bảo

hiểm y tế cho người nghèo, vì vậy mệnh giá bảo hiểm y tế vẫn còn thấp. Điều này sẽ ảnh

hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh cho người nghèo bởi “Mặc dù không có văn bản

nào đề cập tới trần điều trị cho khám chữa bệnh cho người nghèo tại trạm y tế xã nhưng

trong thực tế các nhân viên y tế đã phải tự đưa ra trần điều trị để tránh không được thanh

toán phần chi phí vượt quá kinh phí của các nhà quản lý quỹ ước tính. Trần điều trị ở

trạm y tế xã rất thấp, chỉ từ 5.000 – 7.000 đồng/người/lần khám chữa bệnh và người

nghèo chỉ được khám chữa bệnh miễn phí 2 lần/năm” [12, tr.131]. Vì vậy, để nâng cao

chất lượng khám chữa bệnh cho người nghèo nên huy động tất cả các nguồn lực: ngân

sách nhà nước, ngân sách địa phương, nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và

ngoài nước.

3.2.7. Nhân rộng mô hình giảm nghèo

Thực tiễn đã chứng minh, các mô hình giảm nghèo giúp cho hộ nghèo có cơ hội và

điều kiện tiếp cận với các quy trình kỹ thuật sản xuất trực tiếp từ mô hình tại gia đình,

nhằm nâng cao dần nhận thức và năng lực sản xuất tạo nền tảng phát huy ý chí chủ động

trong công việc để vươn lên thoát nghèo bền vững. Vì vậy, trong thời gian tới cần đẩy

mạnh việc xây dựng và nhân rộng các mô hình giảm nghèo phù hợp với thực tế của huyện,

tình hình của đất nước và thế giới.

Vận động thành lập các Câu lạc bộ giảm nghèo trên địa bàn các xã, TT theo hình

thức tập hợp các hộ sản xuất kinh doanh giỏi, khá cùng với hộ nghèo thành lập Câu lạc

bộ với mục đích để các hộ làm ăn khá, giỏi trực tiếp hướng dẫn và trao đổi kinh nghiệm

về kinh doanh, kỹ thuật sản xuất phù hợp với việc áp dụng vào hoàn cảnh và điều kiện

của hộ nghèo giúp cho hộ nghèo có tư duy tốt hơn trong tổ chức sản xuất, tạo ra thu nhập

ổn định vươn lên thoát nghèo.

3.2.7. Huy động nguồn lực và phân bổ nguồn lực

Chương trình giảm nghèo là một chương trình KT - XH đầy tính nhân văn sâu

sắc, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn dân. Vì vậy trong điều kiện đất

nước còn nhiều khó khăn, ngân sách dành cho giảm nghèo còn hạn chế, cần phải huy

động nguồn lực từ nhiều nguồn, cụ thể là:

- Nguồn lực của chính hộ nghèo, thông qua việc tiết kiệm chi tiêu để đầu tư cho

sản xuất và cải thiện nhà ở.

- Ngân sách Trung ương hỗ trợ, ngân sách tỉnh, huyện, xã.

- Huy động các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, nhân đạo từ thiện và huy động

sự đóng góp của nhân dân.

Bên cạnh đó, trong phân bổ nguồn lực giảm nghèo phải đảm bảo tính công bằng,

phân minh, tuy nhiên cần căn cứ số lượng đối tượng của từng địa phương để có sự phân

bổ hợp lý khi triển khai thực hiện các dự án, chính sách, đặc biệt cần tập trung ưu tiên

cho các xã Thanh Sơn, Ngọc Định và Suối Nho – là các xã có tỉ lệ hộ nghèo cao nhất

huyện, nhằm tạo tiềm lực đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo ở các xã nghèo của huyện.

3.2.8. Nâng cao năng lực và nhận thức của đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo

Thoát khỏi tình trạng nghèo đói không đơn thuần là trách nhiệm của các hộ gia

đình nghèo mà còn là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân. Bên cạnh đó, thực tiễn đã

chứng minh công tác giảm nghèo có tạo được sự chuyển biến hay không là kết quả của

sự vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách về XĐGN chung của Đảng và Nhà

nước vào tình hình cụ thể của từng địa phương. Do đó, trong những năm tiếp theo để

công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Định Quán đạt được kết quả như mục tiêu đề ra,

cần lựa chọn những cán bộ có tâm huyết, có năng lực để bổ sung vào đội ngũ cán bộ làm

công tác giảm nghèo ở tất cả các cấp, đồng thời phải thường xuyên tổ chức các buổi tập

huấn để nâng cao năng lực và nhận thức cho đội ngũ cán bộ này. Bên cạnh đó để nâng

cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo cần có chính sách đãi

ngộ hợp lý, nhất là đội ngũ tham gia vào công tác giảm nghèo ở các ấp. Mặt khác, để

công tác giảm nghèo không bị chồng chéo làm ảnh hưởng đến kết quả giảm nghèo chung

của toàn huyện cần phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng ban, ngành của huyện.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

KẾT LUẬN

1. Hơn nửa thế kỷ qua công tác XĐGN đã trở thành một chủ trương lớn, một

quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế ổn

định, bền vững gắn với thực hiện công bằng xã hội. Vì vậy, trong những năm qua các

cấp chính quyền huyện Định Quán đã tập trung mọi nguồn lực để thực hiện tốt mục tiêu

XĐGN.

2. Tỉ lệ hộ nghèo huyện Định Quán trong những năm qua đã có xu hướng giảm

nhưng vẫn còn cao: từ 20,2% (năm 2001) xuống còn 17,18% (Đầu năm 2011).

3. Nguồn thu nhập của hộ nghèo huyện Định Quán nhìn chung khá đa dạng

nhưng chủ yếu là từ công việc làm thuê không ổn định, thu nhập thấp. Vì vậy, dù thu

nhập hộ nghèo đã tăng trong những năm qua nhưng so với mặt bằng thu nhập chung

của huyện, tỉnh và cả nước vẫn còn rất thấp. Bên cạnh đó, do nhiều yếu tố khách quan

lẫn chủ quan, một bộ phận không nhỏ lao động nghèo thất nghiệp hoặc thiếu việc

làm, ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu nhập của hộ nghèo.

4. Tổng giá trị tài sản của hộ nghèo huyện Định Quán thấp, một bộ phận không

nhỏ hộ nghèo phải sống ở nhà tạm hoặc không có nhà nhưng điều kiện sinh hoạt đã

được cải thiện rõ nét: số hộ nghèo có điện sinh hoạt và nước sạch sinh hoạt trên 80%.

5. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo ở một bộ phận dân cư huyện

Định Quán nhưng nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vốn và đất sản xuất.

6. Những năm qua, các ban, ngành, đoàn thể từ huyện đến cơ sở có nhiều

chương trình phối hợp chặt chẽ, đồng bộ kết hợp với biện pháp vay vốn, dạy nghề,

giới thiệu việc làm,… đã góp phần ổn định cuộc sống của hộ nghèo trên địa bàn

huyện, giúp cho các hộ nghèo vượt nghèo bền vững. Tuy nhiên, do tiềm lực kinh tế

huyện còn hạn chế, trình độ của cán bộ làm công tác giảm nghèo còn thấp,… dẫn đến

kết quả giảm nghèo vẫn chưa đạt hiệu quả cao.

KIẾN NGHỊ

1. Đẩy nhanh tốc độ phát triển KT - XH là một trong những giải pháp XĐGN hiệu

quả. Tuy nhiên, để người dân thoát nghèo bền vững cần tạo cho người dân có công ăn

việc làm ổn định, vì vậy trong thời gian tới các cấp chính quyền và ban, ngành, đoàn thể

huyện nên tập trung vào xây dựng các mô hình giảm nghèo bền vững; tăng cường công

tác khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm; công tác dạy nghề cho người nghèo,…

2. Điều kiện tự nhiên của huyện thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây ăn

trái. Vì thế, trong thời gian tới huyện nên mở các lớp tập huấn kỹ thuật nhằm trang bị

kiến thức, kỹ năng trồng, chăm sóc và thu hoạch để người dân tham gia học hỏi, đúc rút

kinh nghiệm; bên cạnh đó để tăng hiệu quả sản xuất và ổn định đầu ra của sản phẩm

nông nghiệp, các ban, ngành, đoàn thể huyện nên tập trung đầu tư, khuyến khích các

công ty, xí nghiệp, cá nhân mở các cơ sở chế biến các sản phẩm nông nghiệp này.

3. Việc phát triển các khu, cụm công nghiệp vừa góp phần phát triển kinh tế

huyện, vừa góp phần giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động của huyện nói

chung và người nghèo nói riêng. Vì vậy, trong thời gian tới bên cạnh các chính sách ưu

đãi, cần tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra sức hấp dẫn để thu hút sự đầu tư;

không những thế cơ sở hạ tầng phát triển sẽ tạo thuận lợi cho người dân trong sinh hoạt

và sản xuất.

4. Trong công tác giảm nghèo, cần xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác giảm

nghèo có trình độ chuyên môn chuyên sâu, có tâm huyết với công cuộc giảm nghèo,

nhằm đưa ra những chính sách, giải pháp, mô hình giảm nghèo hợp lý với tình hình thực

tế của địa phương, giúp người nghèo không những thoát nghèo mà còn thoát nghèo bền

vững. Để làm được điều đó, bên cạnh việc khuyến khích, hỗ trợ cán bộ nâng cao trình độ

chuyên môn cần có những chính sách đãi ngộ hợp lý, nhất là đội ngũ làm công tác giảm

nghèo ở các ấp.

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Số: 1752/CT-TTg Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 21 tháng 09 năm 2010

CHỈ THỊ

VỀ VIỆC TỔ CHỨC TỔNG ĐIỀU TRA HỘ NGHÈO TRÊN TOÀN QUỐC PHỤC VỤ

CHO VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2011 -

2015

Sau 5 năm (2006 - 2010) thực hiện các chương trình phát triển KT - XH, các

chương trình và chính sách giảm nghèo, tỉ lệ nghèo của cả nước (tính theo chuẩn nghèo

quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng

Chính phủ) đã giảm từ 20% năm 2006 xuống còn khoảng 9,45% năm 2010; bộ mặt nông

thôn, nhất là vùng nông thôn miền núi, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc… đã có

nhiều thay đổi tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.

Tuy nhiên, do công tác tổ chức điều tra rà soát và quản lý hộ nghèo ở một số địa

phương, cơ sở chưa thật chặt chẽ, nên vẫn còn để sót không ít hộ nghèo và có những hộ

không thuộc diện nghèo lại có tên trong danh sách của thôn, xã..., do vậy đã phần nào

làm hạn chế hiệu quả thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo.

Việc rà soát, xác định chính xác, đầy đủ hộ nghèo, tỉ lệ nghèo ở từng địa phương,

cơ sở là căn cứ quan trọng để có giải pháp, chính sách giảm nghèo và phát triển KT - XH

cho từng năm và trong từng giai đoạn của từng địa phương và trên cả nước, nhằm bảo

đảm tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện và nâng

cao đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội nhất là đối với những người có công với

cách mạng, người cao tuổi, trẻ em mồ côi, người khuyết tật, người nghèo…

Nhằm xác định chính xác đầy đủ hộ nghèo, tỉ lệ nghèo ở từng địa phương và trên cả

nước, làm căn cứ cho việc xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế và

an sinh xã hội của các địa phương và cả nước, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan

ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương tiến hành triển khai tổng điều tra hộ nghèo trên phạm vi toàn quốc với những nội dung

cụ thể như sau:

1. Tiêu chí điều tra

a) Mức chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau:

- Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000

đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.

- Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000

đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.

b) Mức cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau:

- Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đến

520.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo.

- Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đến

650.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo.

2. Đối tượng, phạm vi điều tra

Toàn bộ hộ dân cư trên phạm vi cả nước.

3. Thời gian điều tra

Thực hiện từ ngày 21 tháng 9 năm 2010 đến 30 tháng 11 năm 2010.

4. Yêu cầu điều tra

Việc điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo phải được thực hiện từ thôn, bản, trực tiếp

đối với từng hộ, đảm bảo công khai, dân chủ, có sự tham gia của các cấp, các ngành và

của người dân, theo đúng hướng dẫn của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, nhằm

xác định đúng đối tượng, không bị trùng lặp, sót, phản ánh đúng thực trạng đời sống của

nhân dân địa phương.

Kết thúc cuộc tổng điều tra, từng thôn, bản, xã phải xác định được chính xác số hộ

nghèo, hộ cận nghèo lập một danh sách duy nhất về hộ nghèo, hộ cận nghèo để theo dõi,

quản lý; từng huyện, từng tỉnh, thành phố xác định được tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo

của địa phương mình; đồng thời báo cáo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội để tổng

hợp chung hộ nghèo, hộ cận nghèo của cả nước làm căn cứ xây dựng và thực hiện các

chính sách an sinh xã hội trong giai đoạn 2011 - 2015.

Để bảo đảm việc thực hiện chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội đúng đối

tượng, kịp thời, phát huy tính tự lực vươn lên của người nghèo, vào thời điểm 01 tháng

10 hàng năm, các địa phương phải tổ chức rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn.

5. Nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, ngành, địa phương

a) Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội: chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và

Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch, kinh phí, phương

pháp, công cụ, quy trình điều tra, tổ chức tập huấn để hướng dẫn các địa phương thực

hiện; tổ chức việc giám sát quá trình điều tra ở các địa phương để đạt được mục đích,

yêu cầu đề ra. Hướng dẫn các địa phương mẫu biểu báo cáo và tổng hợp kết quả điều tra

hộ nghèo, hộ cận nghèo trên phạm vi cả nước. Hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ

cận nghèo hàng năm để các địa phương tổ chức thực hiện; hướng dẫn xây dựng cơ sở dữ

liệu và phần mềm quản lý hộ nghèo, hộ cận nghèo thống nhất trong cả nước.

b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ đạo Tổng cục Thống kê phối hợp với Bộ Lao động,

Thương binh và Xã hội chỉ đạo các địa phương thực hiện tốt cuộc tổng điều tra hộ

nghèo; trong khi chưa có kết quả điều tra chính thức, dự báo tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo

theo chuẩn mới cho các địa phương, làm cơ sở xây dựng kế hoạch giảm nghèo và an

sinh xã hội trên địa bàn năm 2011. Công bố tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo của cả nước và

các địa phương hàng năm, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch và thực hiện các chính sách

an sinh xã hội.

c) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội xây

dựng dự toán kinh phí tổng điều tra hộ nghèo, cận nghèo dự kiến mức hỗ trợ cho các địa

phương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để thực hiện.

d) Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đài Truyền

hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh

tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng, ý nghĩa của cuộc

tổng điều tra hộ nghèo trên toàn quốc, phát huy tinh thần làm chủ, thực hiện tốt cuộc

tổng điều tra hộ nghèo.

đ) Các Bộ, ngành liên quan căn cứ vào mức chuẩn nghèo, cận nghèo áp dụng cho

giai đoạn 2011 - 2015 để chủ động xây dựng các chính sách giảm nghèo và an sinh xã

hội thuộc lĩnh vực được giao, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành để thực

hiện.

e) Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

- Chỉ đạo Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Cục Thống kê và các

cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch, kinh phí, phương án tổ chức điều tra hộ nghèo, hộ

cận nghèo trên địa bàn trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt; tổ chức tập huấn điều

tra cho cấp huyện và cấp xã; chỉ đạo và giám sát việc điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo ở

cơ sở.

- Chỉ đạo các quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tổ chức điều tra thực

trạng hộ nghèo bảo đảm công khai, dân chủ, có sự tham gia của các cấp, có ngành và của

người dân từ thôn, bản trở lên, chống bệnh thành tích, quan liêu, không phản ánh đúng

thực trạng nghèo của địa phương, cơ sở.

- Kết thúc điều tra, tổng hợp, báo cáo kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo trên

địa bàn theo đúng yêu cầu, thời gian về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội để tổng

hợp, báo cáo Chính phủ.

- Hàng năm, chỉ đạo việc tổ chức rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn,

tổng hợp và báo cáo kết quả rà soát về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội để tổng

hợp, báo cáo Chính phủ.

- Chỉ đạo việc xây dựng cơ sở dữ liệu và phần mềm quản lý hộ nghèo, hộ cận nghèo

trên địa bàn theo hướng dẫn của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

Ủy ban nhân dân xã, phường phải lưu trữ toàn bộ hồ sơ về hộ nghèo, hộ cận

nghèo theo kết quả tổng điều tra cũng như kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng

năm.

6. Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành

viên như Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội

Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng

sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan

thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tuyên truyền,

vận động nhân dân và các hội viên tham gia thực hiện tốt và giám sát chặt chẽ quá trình

tổ chức điều tra hộ nghèo trên phạm vi cả nước, nhất là từ cơ sở cụm dân cư, thôn, bản;

xã, phường trở lên.

7. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc

Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ

trưởng các đơn vị, các tổ chức liên quan có trách nhiệm thực hiện các nội dung được

giao.

8. Giao Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực của Ban Chỉ

đạo thực hiện các Chương trình giảm nghèo của Chính phủ có trách nhiệm giúp Chính

phủ, Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và hàng năm báo cáo Thủ tướng

Chính phủ về việc thực hiện Chỉ thị này./.

KT. THỦ TƯỚNG

PHÓ THỦ TƯỚNG

Nguyễn Sinh Hùng

PHỤ LỤC 2

UBND TỈNH ĐỒNG NAI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Số: 4796/TTr-UBND Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 17 Tháng 06 năm 2010

TỜ TRÌNH

Nghị quyết về chuẩn nghèo và chương trình giảm nghèo bền vững của tỉnh Đồng

Nai giai đoạn 2011 - 2015

A. CƠ SỞ PHÁP LÝ

Đề án này được xây dựng trên cơ sở các văn bản sau đây:

I. Thông báo kết luận số 114/TB-VPCP ngày 10/5/2010 của Phó Thủ tướng Thường trực

Nguyễn Sinh Hùng tại cuộc họp Ban Chỉ đạo thực hiện các chương trình giảm nghèo về

định hướng giảm nghèo cho thời kỳ 2011 - 2020.

II. Nghị quyết số 162/NQ-HĐND ngày 10/12/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh (HĐND)

về chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh Đồng Nai.

III. Chỉ thị số 17/CT-UBND ngày 20/7/2009 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh về việc

xây dựng kế hoạch phát triển KT - XH 05 năm 2011 - 2015.

Trên cơ sở đề án xác định chuẩn nghèo và mục tiêu, giải pháp thực hiện chương

trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015 trên địa bàn Đồng Nai, UBND tỉnh lập

tờ trình đề nghị HĐND tỉnh ban hành nghị quyết về chuẩn nghèo và chương trình giảm

nghèo bền vững của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 - 2015 như sau:

B. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

I. KẾT QUẢ GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

ĐỒNG NAI

- Chuẩn nghèo ở Đồng Nai giai đoạn 2006 - 2010 (theo Nghị quyết

52/2005/HĐND7 ngày 21/7/2005 của HĐND tỉnh): Nông thôn 250.000đ/người/tháng,

thành thị 400.000đ/người/tháng.

- Đầu năm 2006 toàn tỉnh có 41.726 hộ nghèo, chiếm 9,84% so hộ dân. Mục tiêu

phấn đấu trong 05 năm giảm khoảng 27.000 hộ nghèo, đưa tỉ lệ hộ nghèo xuống dưới

4% vào cuối năm 2010.

- Sau 03 năm (2006 - 2008) thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng bộ và

Nghị quyết số 52 của HĐND tỉnh về chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo giai

đoạn 2006 - 2010, Đồng Nai đã triển khai có hiệu quả các chính sách, dự án giảm nghèo

và đạt được nhiều thành tựu quan trọng; tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 9,84% năm 2006

xuống 3,3% cuối năm 2008; đời sống hộ nghèo, vùng nghèo tiếp tục được cải thiện

nhiều mặt. Như vậy, chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010

đã hoàn thành mục tiêu trước 02 năm.

- Trong các năm 2007 - 2008 giá tiêu dùng tăng đột biến làm cho chuẩn nghèo

được ban hành theo Nghị quyết số 52 của HĐND không còn phù hợp, vì vậy HĐND tỉnh

đã ban hành Nghị quyết 128/2008/NQ-HĐND ngày 05/12/2008 về điều chỉnh chuẩn

nghèo, ban hành chuẩn cận nghèo và mục tiêu, giải pháp chương trình mục tiêu Quốc gia

giảm nghèo giai đoạn 2009 - 2010 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, theo đó:

+ Khu vực nông thôn: Điều chỉnh từ 250.000đ lên 450.000đ/người/tháng.

+ Khu vực thành thị: Điều chỉnh từ 400.000đ lên 650.000đ/người/tháng.

Với chuẩn nghèo này, đầu năm 2009 toàn tỉnh có 42.871 hộ nghèo (8,59%). Sau

02 năm thực hiện, hộ nghèo tiếp tục giảm nhanh từ 8,59% (đầu năm 2009) xuống còn

khoảng 4% (cuối năm 2010) hoàn thành vượt mức mục tiêu Nghị quyết 128 đề ra.

II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI BAN HÀNH CHUẨN NGHÈO ÁP DỤNG TRONG

GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

- Chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2006 - 2010 được ban hành theo Nghị quyết

52/2005/HĐND7 và Nghị quyết 128/2008/NQ-HĐND của HĐND tỉnh sẽ hết hiệu lực vào

31/12/2010. Để có cơ sở xây dựng chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 -

2015 thì việc ban hành chuẩn nghèo mới là cần thiết.

- Tuy đời sống của một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo đói đã có một bước cải

thiện rõ rệt so với trước đây, nhưng nhiều hộ vẫn còn rất khó khăn so với mặt bằng kinh

tế chung của tỉnh. Điều đó cho thấy chuẩn nghèo của Đồng Nai tuy có cao hơn chuẩn

nghèo Quốc gia nhưng vẫn chưa thỏa mãn được yêu cầu là vượt chuẩn nghèo phải gắn

với vượt nghèo bền vững như chỉ thị của Tỉnh ủy và nghị quyết của HĐND tỉnh đề ra.

- Là một tỉnh kinh tế trọng điểm, Đồng Nai có tiềm lực hơn so với nhiều tỉnh khác

trong cả nước, do đó có đủ điều kiện ban hành chuẩn nghèo riêng cao hơn chuẩn nghèo

Quốc gia là phù hợp với tình hình KT - XH của tỉnh.

- Chuẩn nghèo mới phù hợp sẽ là cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn cho xây dựng

các chính sách phát triển KT - XH nói chung, đặc biệt là xây dựng các dự án, chính sách,

giải pháp thuộc chương trình giảm nghèo và là thước đo xác định mức độ nghèo khổ và

cụ thể ai nghèo, ai không nghèo, vùng nào nghèo, vùng nào không nghèo để có các

chính sách hỗ trợ phù hợp.

Từ phân tích khái quát trên đây cho thấy, việc xây dựng chuẩn nghèo mới và

chương trình giảm nghèo bền vững ở Đồng Nai sát với tình hình thực tế và điều kiện KT

- XH của tỉnh cho giai đoạn 2011 - 2015 là rất cần thiết, phù hợp nhu cầu khách quan.

C. NỘI DUNG LIÊN QUAN NGHỊ QUYẾT

I. CÁC PHƯƠNG ÁN XÁC ĐỊNH CHUẨN NGHÈO, CHUẨN CẬN NGHÈO

TRONG GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

1. Các yếu tố liên quan đến chuẩn nghèo và chương trình giảm nghèo bền

vững

Theo báo cáo của Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Lao động

- Thương binh và Xã hội; Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các định hướng lớn

trong phát triển KT - XH từ nay đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2020 thì có các yếu tố

đáng quan tâm sau đây liên quan đến chuẩn nghèo:

- Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Thực hiện có hiệu

quả hơn chính sách giảm nghèo; bảo đảm giảm nghèo bền vững. Hạn chế phân hóa giàu

nghèo.

- Tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn tỉnh tăng trưởng liên tục. Trong 05 năm

(2006 - 2010) bình quân mỗi năm tăng 13,25%; bình quân đầu người cao hơn so bình

quân cả nước và mỗi năm tăng 18,65% .

- Thu ngân sách hàng năm đều tăng. Năm 2009 tổng thu 13.177 tỉđồng, năm 2010

dự kiến thu 13.958 tỉđồng.

- Thu nhập bình quân đầu người của Đồng Nai năm 2009 nông thôn đạt

1.358.000đ/người/tháng, thành thị đạt 1.824.000đ/người/tháng, năm 2010 ước nông thôn

đạt 1.560.000đ/người/tháng, thành thị đạt 2.080.000đ/người/tháng cao gấp gần 02 lần so

bình quân cả nước. Thu nhập bình quân đầu người tăng xấp xỉ 20%/năm.

- Tổng nguồn lực huy động phục vụ chương trình trong giai đoạn 2006 - 2010 đạt

xấp xỉ 1.000 tỉđồng. Trong đó, ngân sách Nhà nước 580 tỉđồng (đầu tư trực tiếp 313

tỉđồng, thông qua lồng ghép 267 tỉđồng), chiếm 60%; huy động cộng đồng 120 tỉđồng,

chiếm 13%; vốn tín dụng 270 tỉđồng, chiếm 27%. Nguồn lực này đã được sử dụng có

hiệu quả, góp phần quyết định sự thành công của chương trình.

2. Phương án chuẩn nghèo mới cho giai đoạn 2011 - 2015

Trong Đề án (kèm theo) UBND tỉnh đã trình bày chi tiết 03 phương án cho chuẩn

nghèo mới, mỗi phương án đều có mặt mạnh, mặt hạn chế và tính khả thi khác nhau. Sau

khi cân nhắc kỹ, UBND tỉnh thống nhất chọn phương án chuẩn nghèo mới áp dụng cho

giai đoạn 2011 - 2015 như sau :

- Chuẩn nghèo khu vực nông thôn = 650.000đ/người/tháng trở xuống.

- Chuẩn nghèo khu vực thành thị = 850.000đ/người/tháng trở xuống.

Tổng số hộ nghèo đầu kỳ dự kiến là: 42.000 - 45.000 hộ (8,5 - 9%).

Trong quá trình thực hiện nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng cao trên 20%/năm làm cho

chuẩn nghèo không còn đúng giá trị ban đầu thì Chủ tịch UBND tỉnh quyết định điều

chỉnh chuẩn nghèo tăng tương đương và báo cáo Thường trực HĐND tỉnh.

3. Về chuẩn cận nghèo

Chuẩn nghèo của Đồng Nai nếu chọn phương án trên sẽ cao hơn chuẩn nghèo

Quốc gia dự kiến (450.000 đồng cho vùng nông thôn, 650.000 đồng cho vùng thành thị),

đồng thời cũng cao hơn chuẩn cận nghèo Quốc gia. Mặt khác, Đồng Nai còn áp dụng hỗ

trợ thêm 02 năm cho các hộ mới vượt nghèo một số chính sách, vì vậy UBND tỉnh kiến

nghị Đồng Nai không cần ban hành chuẩn cận nghèo.

(Qua lấy ý kiến có 60,7% nhất trí không cần có chuẩn cận nghèo; 39,3% nhất trí

có chuẩn cận nghèo).

II. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO BỀN

VỮNG GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 TỈNH ĐỒNG NAI

1. Dự báo về thực trạng hộ nghèo, người nghèo

- Theo phương án đề xuất chuẩn nghèo nêu trên: Dự kiến đầu giai đoạn 2011 -

2015 có khoảng 42.000 - 45.000 hộ nghèo với khoảng 225.000 người nghèo, chiếm tỉ lệ

8,5% - 9% so hộ dân.

2. Các thách thức trong công cuộc giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2015

- Đời sống của đại bộ phận người nghèo vẫn còn rất khó khăn.

- Thành quả giảm nghèo còn đứng trước những yếu tố gây nên sự thiếu bền vững.

Nguy cơ tái nghèo còn cao.

- Tốc độ giảm nghèo ở nông thôn có xu hướng chậm lại.

- Hộ nghèo có xu hướng tập trung rõ rệt ở một số huyện công nghiệp, dịch vụ

chậm phát triển. Tỉ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số còn khá cao.

3. Quan điểm, định hướng

3.1. Quan điểm

- Tiếp tục thực hiện những quan điểm đã được xác định trong chương trình giảm

nghèo bền vững, đó là: Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Thực

hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo; bảo đảm giảm nghèo bền vững. Khuyến

khích làm giàu hợp pháp, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên. Hạn chế

phân hóa giàu nghèo.

- Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước phải được thể chế hóa bằng các

cơ chế, chính sách, kế hoạch hàng năm và huy động nguồn lực toàn xã hội để thực hiện

mục tiêu và các chỉ tiêu của chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015,

ưu tiên nguồn lực cho vùng khó khăn nhất, đối tượng khó khăn nhất.

- Giảm nghèo phải bảo đảm toàn diện, bền vững, công bằng và hội nhập.

3.2. Định hướng

- Tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập.

- Tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận trực tiếp các dịch vụ xã hội.

- Nâng cao năng lực và nhận thức cho người nghèo.

- Địa bàn trọng điểm là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.

- Coi đầu tư cho nhân lực là nhân tố quyết định thành công của định hướng giảm

nghèo bền vững.

- Đổi mới, nâng cao công tác chỉ đạo, điều hành chương trình; phân cấp mạnh cho

cơ sở.

4. Mục tiêu, đối tượng của chương trình

4.1. Mục tiêu

- Trong 05 năm giảm ít nhất 35.000/45.000 hộ nghèo, giảm tỉ lệ từ 8,5 - 9% xuống

dưới 02% vào cuối năm 2015, bình quân mỗi năm giảm từ 1,5%.

- Tiếp tục cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghèo, nâng thu nhập bình

quân của người nghèo tăng 02 lần so với năm 2010 khi kết thúc giai đoạn.

- Đến cuối năm 2015 các ấp, các xã vùng sâu, vùng xa, miền núi có đủ các cơ sở

hạ tầng thiết yếu.

- Đạt được các mục tiêu nêu trên, Đồng Nai có thể chuyển chương trình giảm

nghèo bền vững thành nội dung công tác thường xuyên sau năm 2015.

4.2. Đối tượng

- Hộ nghèo (theo chuẩn của tỉnh cho giai đoạn 2011 - 2015).

- Xã nghèo, xã thuộc vùng khó khăn, xã đặc biệt khó khăn.

5. Các chính sách, dự án và hoạt động chủ yếu của chương trình giảm nghèo bền

vững (kế hoạch và kinh phí tính cho 05 năm)

a) Chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo

- Cho vay mới 36.000 hộ. Bổ sung nguồn vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội khoảng

250 tỉđồng, từ ngân sách tỉnh khoảng 30 tỉđồng.

b) Chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo

Cấp BảO HIểM Y Tế cấp miễn phí cho khoảng 950.000 lượt người nghèo. Kinh

phí 334 tỉđồng.

c) Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo

Miễn giảm học phí và các khoản đóng góp cho khoảng 316.000 lượt học sinh,

sinh viên nghèo, trị giá 31,6 tỉđồng.

d) Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở và nước sinh hoạt

Hỗ trợ xây dựng khoảng 3.000 căn nhà tình thương cho hộ nghèo với kinh phí 60

ồng trích t tỉđ

e) Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo

Thực hiện trợ giúp pháp lý cho 10.000 lượt người với kinh phí 500 triệu đồng.

g) Dự án khuyến nông - lâm - ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành

nghề

- Xây dựng dự án khuyến nông - lâm - ngư riêng cho 5.000 hộ nghèo ở nông thôn,

với kinh phí 15 tỉđồng.

h) Dự án dạy nghề cho người nghèo

Dạy nghề cho 7.500 lao động nghèo với kinh phí 20 tỉđồng.

k) Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo

Xây dựng 55 mô hình giảm nghèo tiêu biểu để nhân rộng với ít nhất 4.500 hộ

được thụ hưởng, kinh phí 30 tỉđồng.

l) Dự án đào tạo cán bộ giảm nghèo

Tập huấn nâng cao năng lực giảm nghèo cho 10.000 lượt cán bộ làm công tác

giảm nghèo 03 cấp với kinh phí 4.000 triệu đồng.

m) Lồng ghép các chương trình, dự án, chính sách khác gắn với mục tiêu giảm

nghèo với kinh phí ước 180 tỉđồng (ngân sách khoảng 150 tỉđồng, cộng đồng 30 tỉđồng).

n) Một số hoạt động và công tác khác

- Hoạt động truyền thông về chương trình giảm nghèo với kinh phí 2.000 triệu

đồng.

- Hoạt động giám sát, đánh giá với kinh phí 2.000 triệu đồng.

- Thực hiện công tác thẩm định rà soát hộ nghèo 04 năm (800 triệu đồng), riêng

năm 2015 điều tra khảo sát xác định hộ nghèo theo chuẩn mới (nếu có) của giai đoạn

tiếp theo và phục vụ tổng kết giai đoạn 2011 - 2015 với kinh phí 2.000 triệu đồng. Tổng

cộng 2.800 triệu đồng.

- Chi trả lương và phụ cấp cho cán bộ làm công tác giảm nghèo huyện xã kinh phí

10.000 triệu đồng.

- Chi hoạt động chỉ đạo, điều hành, quản lý chương trình với kinh phí 500 triệu

đồng.

6. Các giải pháp thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững

6.1. Nâng cao nhận thức trách nhiệm và sự tham gia

Nâng cao ý chí quyết tâm phấn đấu vượt nghèo để vươn lên của chính hộ nghèo,

vùng nghèo; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo; đề cao trách

nhiệm tổ chức thực hiện chương trình của các cấp chính quyền, các ngành; tăng cường

sự tham gia của cộng đồng dân cư và giám sát đánh giá của các cơ quan dân cử, các tổ

chức chính trị, đoàn thể.

6.2. Nguồn vốn thực hiện chương trình

Tổng nguồn lực để thực hiện các dự án, chính sách, hoạt động thuộc chương trình

là: 972,4 tỉđồng (trong đó: Đề nghị NSTW hỗ trợ 19 tỉđồng; Ngân hàng Chính sách Xã

hội bổ sung 250 tỉđồng; ngân sách địa phương đầu tư trực tiếp 431,8 tỉđồng; lồng ghép

các chương trình, dự án, chính sách khác 180 tỉđồng; huy động cộng đồng 60 tỉđồng;

miễn giảm các loại 31,6 tỉđồng). Trong đó, năm 2011 là: 231 tỉđồng, năm 2012 là: 221

tỉđồng, năm 2013 là: 191 tỉđồng, năm 2014 là: 171 tỉđồng, năm 2015 là: 158,4 tỉđồng (có

phụ biểu kèm theo).

6.3. Cơ chế thực hiện chương trình

6.3.1. Huy động nguồn lực thực hiện chương trình theo cơ chế đa nguồn, bao gồm

- Nguồn lực của chính người nghèo;

- Ngân sách TW, ngân sách địa phương (cấp tỉnh, huyện, xã);

- Huy động các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, nhân đạo từ thiện; huy động sự

ộng s đóng góp của nhân dân, huy đ

6.3.2. Phân bổ nguồn lực

- Tập trung ưu tiên cho các xã miền núi, xã thuộc vùng khó khăn, xã có nhiều

đồng bào dân tộc thiểu số, xã có tỉ lệ hộ nghèo cao và đảm bảo công bằng giữa các xã,

huyện (TX, TP) có điều kiện như nhau. Đồng thời căn cứ số lượng đối tượng của từng

địa phương để phân bổ nguồn lực khi triển khai thực hiện các chính sách, dự án.

- Các hộ mới vượt nghèo tiếp tục được thụ hưởng thêm 02 năm như hộ nghèo các

chính sách: Tín dụng; bảo hiểm y tế; giáo dục; dạy nghề; khuyến nông - khuyến công.

6.3.3. Nâng cao vai trò của người dân

Người dân được biết và tham gia vào mọi hoạt động của chương trình.

6.3.4. Tiếp tục phân cấp quản lý cho địa phương, đặc biệt là cấp xã trong việc quản lý hộ

nghèo và triển khai thực hiện chương trình.

6.3.5. Tăng cường thực hiện giám sát, đánh giá, trên cơ sở thiết lập hệ thống chỉ tiêu theo

dõi, đánh giá phù hợp ở các cấp.

6.3.6. Đối với các hộ, cá nhân nghèo thuộc đối tượng trợ cấp xã hội theo Nghị định 13/CP

của Chính phủ, mà các thành viên khác còn lại trong hộ hoàn toàn không còn sức lao động

được tách ra khỏi danh sách hộ nghèo để có chính sách riêng.

6.4. Tổ chức chỉ đạo thực hiện chương trình

6.4.1. Đề nghị HĐND các cấp có nghị quyết về chương trình giảm nghèo bền vững giai

đoạn 2011 - 2015.

6.4.2. Kiện toàn Ban Chỉ đạo chương trình cấp tỉnh, cấp huyện và Ban Giảm nghèo cấp

xã, nâng cao chất lượng tham mưu và điều hành chương trình. Có chế độ phụ cấp hàng

tháng thỏa đáng cho cán bộ giảm nghèo cấp xã.

Ở tỉnh đổi tên Tổ Chuyên viên giảm nghèo thành Văn phòng Điều phối chương

trình cho phù hợp với cả nước; cấp huyện kiện toàn Tổ Chuyên viên để nâng cao năng

lực tham mưu giúp Ban Chỉ đạo.

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; phòng Lao động - Thương binh và Xã hội

là cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo tỉnh, huyện.

6.4.3. Tổ chức cuộc điều tra, khảo sát hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới trong quý IV năm

2010.

7. Phân công quản lý và tổ chức thực hiện chương trình

a) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội

- Chịu trách nhiệm Thường trực của BCĐGN tỉnh có nhiệm vụ tổng hợp, đề xuất

giúp BCĐ và UBND tỉnh quản lý, điều hành chương trình trên địa bàn toàn tỉnh. Định

kỳ báo cáo tổng kết về việc thực hiện chương trình bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời

phục vụ cho công tác chỉ đạo ở các cấp.

- Chủ trì các dự án: Dạy nghề; nâng cao năng lực giảm nghèo; nhân rộng mô hình; hoạt

động truyền thông, giám sát, đánh giá; chính sách hỗ trợ y tế; kiến nghị điều chỉnh bổ

sung những chính sách, dự án, giải pháp mới...

b) Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội Đồng Nai

Chủ trì chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo, bao gồm: Kế hoạch nguồn vốn, kế

hoạch cho vay, quản lý, thu hồi nợ và đề xuất xử lý nợ quá hạn, nợ rủi ro.

c) Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Chủ trì dự án khuyến nông - lâm - ngư và hỗ trợ phát triển SX, phát triển ngành

nghề.

d) Cơ quan BHXH tỉnh: Chủ trì thực hiện chính sách cấp BảO HIểM Y Tế cho người nghèo

e) Sở Y tế: Chủ trì hỗ trợ người nghèo về chăm sóc sức khỏe - khám chữa bệnh

g) Sở Giáo dục và Đào tạo: Chủ trì thực hiện chính sách hỗ trợ giáo dục cho người

nghèo

h) Các sở, ngành thành viên Ban Chỉ đạo Giảm nghèo tỉnh

Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và

Du lịch, Nội vụ, Xây dựng, Cục Thống kê, Ban Dân tộc là cơ quan có trách nhiệm xây

dựng kế hoạch lồng ghép với chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015

trong chương trình KT - XH của sở, ngành, bảo đảm sự đồng bộ của quá trình phát triển

KT - XH.

k) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể tham gia Ban Chỉ đạo Giảm nghèo với

tư cách thành viên:

- Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai chủ trì cuộc vận động “Ngày vì

người nghèo", chủ trì chương trình nhà tình thương, phong trào toàn dân hưởng ứng xây

dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, gắn với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.

- Các đoàn thể có nội dung tham gia chương trình giảm nghèo trong chương trình

công tác của đơn vị, trực tiếp vận động những thành viên thuộc diện nghèo tự vươn lên

cải thiện cuộc sống và góp phần trực tiếp thực hiện chương trình.

Trên đây là Tờ trình của UBND tỉnh về chuẩn nghèo và nghị quyết về mục tiêu,

giải pháp thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015 trên địa

bàn tỉnh Đồng Nai. Đề nghị HĐND tỉnh xem xét ban hành nghị quyết để thực hiện.

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Huỳnh Thị Nga

PHỤ LỤC 3

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Số: 176/2010/NQ-HĐND Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 02 tháng 07 năm 2010

NGHỊ QUYẾT

Về chuẩn nghèo và chương trình giảm nghèo bền vững của tỉnh Đồng Nai giai đoạn

2011 - 2015

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI KHÓA VII - KỲ HỌP THỨ 19

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, được Quốc hội

thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND ngày 03

tháng 12 năm 2004;

Sau khi xem xét Tờ trình số 4796/TTr-UBND ngày 17 tháng 6 năm 2010 của

UBND tỉnh Đồng Nai về việc quy định chuẩn nghèo và mục tiêu, giải pháp thực hiện

chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai;

báo cáo thẩm tra của Ban Văn hóa - Xã hội HĐND tỉnh và tổng hợp ý kiến thảo luận của

Đại biểu HĐND tỉnh tại tổ và tại kỳ họp,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Nhất trí thông qua Tờ trình số 4796/TTr-UBND ngày 17/6/2010 của UBND tỉnh

về chuẩn nghèo và chương trình giảm nghèo bền vững của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011

- 2015 (kèm theo Tờ trình 4796/TTr-UBND), với một số nội dung chủ yếu như sau:

1. Về chuẩn nghèo

- Khu vực nông thôn: 650.000đ/người/tháng trở xuống.

- Khu vực thành thị: 850.000đ/người/tháng trở xuống.

2. Mục tiêu giảm nghèo: Tiếp tục nâng cao thu nhập và mức sống cho hộ nghèo, người

nghèo; đầu tư hạ tầng thiết yếu, cải thiện điều kiện sản xuất, sinh hoạt; nâng cao dân trí

cho vùng nghèo. Giảm nhanh tỉ lệ hộ nghèo gắn với giảm nghèo bền vững; trong 05 năm

giảm ít nhất 35.000 hộ nghèo, hạ tỉ lệ xuống dưới 2% vào cuối năm 2015.

3. Nguồn lực và giải pháp thực hiện chương trình

a) Nguồn lực: Tổng nguồn lực để thực hiện các dự án, chính sách, hoạt động thuộc

chương trình khoảng: 972,4 tỉđồng (trong đó: Đề nghị NSTW hỗ trợ 19 tỉđồng; Ngân

hàng Chính sách Xã hội bổ sung 250 tỉđồng; ngân sách địa phương đầu tư trực tiếp

431,8 tỉđồng; lồng ghép các chương trình, dự án, chính sách khác 180 tỉđồng; huy động

cộng đồng 60 tỉđồng; miễn giảm các loại 31,6 tỉđồng). Trong đó, năm 2011 là: 231

tỉđồng, năm 2012 là: 221 tỉđồng, năm 2013 là: 191 tỉ đồng, năm 2014 là: 171 tỉđồng,

năm 2015 là: 158,4 tỉđồng.

b) Cơ chế huy động nguồn lực:

Thực hiện theo cơ chế đa nguồn, bao gồm:

- Nguồn lực của chính người nghèo;

- Ngân sách TW, ngân sách địa phương (cấp tỉnh, huyện, xã);

- Huy động cộng đồng.

c) Phân bổ nguồn lực:

- Tập trung ưu tiên cho các xã miền núi, xã thuộc vùng khó khăn, xã có nhiều đồng bào dân tộc

thiểu số, xã có tỉ lệ hộ nghèo cao và đảm bảo công bằng giữa các xã, huyện (TX, TP) có điều kiện

như nhau. Đồng thời căn cứ số lượng đối tượng của từng địa phương để phân bổ nguồn lực khi

triển khai thực hiện các chính sách, dự án.

- Các hộ mới vượt nghèo tiếp tục được thụ hưởng thêm 02 năm như hộ nghèo các chính sách:

Tín dụng; bảo hiểm y tế; giáo dục; dạy nghề; khuyến nông - khuyến công.

d) Các giải pháp tổ chức thực hiện:

- Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã căn cứ Nghị quyết này xây dựng nghị quyết về

CTGN bền vững của cấp mình.

- Kiện toàn Ban Chỉ đạo giảm nghèo và bộ phận giúp việc các cấp.

- Thường trực Ban Chỉ đạo giảm nghèo tỉnh xây dựng phương án khảo sát, điều tra, xác

định hộ nghèo.

Điều 2. Tổ chức thực hiện

- Giao UBND tỉnh xây dựng kế hoạch cụ thể 05 năm và hàng năm để tổ chức thực hiện Nghị

quyết này và báo cáo kết quả tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh. Trong quá trình thực

hiện, nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng cao trên 20%/năm làm cho chuẩn nghèo không còn đúng giá

trị ban đầu thì Chủ tịch UBND tỉnh quyết định điều chỉnh chuẩn nghèo tăng tương đương và báo

cáo Thường trực HĐND tỉnh.

- Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và các cơ quan có liên quan chịu trách nhiệm

thi hành Nghị quyết này bằng tổ chức kiểm tra giám sát triển khai việc thực Nghị quyết.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai khóa VII, kỳ họp thứ

19 thông qua.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày HĐND tỉnh thông qua./.

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

TRẦN ĐÌNH THÀNH

PHỤ LỤC 4

PHIẾU KHẢO SÁT XÁC ĐỊNH HỘ NGHÈO GIAI ĐOẠN 2011 – 2015

PHẦN I: THÔNG TIN CHUNG VỀ HỘ GIA ĐÌNH

1. Họ và tên chủ hộ:…………………………………… Hộ số:……………….

- Chủ hộ là nữ:

2. Địa chỉ

- Ấp/ Khu phố (Số nhà, đường, tổ)……………………………………………….

- Xã/phường, TT:…………………………………………………………….

- Huyện, thị xã, thành phố:……………………………………………………….

3. Số thành viên (nhân khẩu) của hộ:…………………………………………..

4. Khu vực: Thành thị

Nông thôn

5. Chủ hộ là người dân tộc thiểu số: Có Không

6. Hộ có thành viên là người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng

do địa phương quản lý chi trả: ………………………………

7. Hộ có thành viên hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng:…………………..

8. Là hộ nghèo có tên trong danh sách hộ nghèo năm 2010……………..

9. Một số đặc điểm của các thành viên trong hộ

TT Họ và tên Giới tính

Năm sinh

Trình độ

Quan hệ với chủ hộ

Ngành nghề làm việc

Tình trạng hoạt động 7

Nhu cầu học nghề 9

1

2

3

4

5

6

8

Mã cột 3: Giới tính 1. Nam 2. Nữ

Mã cột 5: Quan hệ với chủ hộ 1. Chủ hộ 2. Vợ/chồng chủ hộ

3. Con 4. Bố/mẹ 5. Khác

Mã cột 6: Trình độ 1. ĐH trở lên 2. CĐ 3. Trung cấp

4. Sơ cấp 5. Tốt nghiệp lớp 12 6. Học hết lớp 10, 11, 12

7. Tốt nghiệp lớp 9 8. Học hết lớp 6, 7, 8, 9.

9. Dưới lớp 6 10. Chưa biết chữ

Mã cột 7: Tình trạng hoạt động

1. Có đủ việc làm 2. Thiếu việc làm 3. Thất nghiệp

4. Đang đi học 5. Ốm đau thường xuyên, tàn tật 6. Khác

Mã cột 8: Ngành nghề việc làm (của người mã 1, 2 cột 7)

1. Nông – lâm – ngư 2. Công nghiệp – Xây dựng 3. Dịch vụ

Mã cột 9: 1. Có nhu cầu học nghề dài hạn (trên 1 năm)

2. Có nhu cầu học nghề ngắn hạn (dưới 1 năm) 3.

Không có nhu cầu

PHẦN II. TÀI SẢN VÀ ĐIỀU KIỆN SINH HOẠT CỦA HỘ GIA ĐÌNH

10. Tài sản của hộ gia đình hiện tại

Giá trị (1.000đ)

Loại tài sản (Tính giá trị hiện tại) 10.1. Tài sản dùng cho sản xuất – kinh doanh – dịch vụ - Cơ sở vật chất: Nhà xưởng, chuồng trại, kho bãi… - Phương tiện giao thông vận tải: Xe bò, xe cải tiến, xe công nông, thuyền, ghe, xuồng, xe máy…. - Gia súc, gia cầm, sinh vật cảnh…. - Tài sản lưu động: tiền, nguyên vật liệu,… - Tài sản dùng cho SXKDDV khác 10.2. Tài sản, đồ dùng lâu bền cho sinh hoạt: - Tủ lạnh, tủ đá, máy gặt, quạt điện, xe máy, xe đạp - TV, đầu video, loa, radio, máy vi tính, điện thoại - Giường, tủ, bàn ghế, xa lông, tràng kỷ - Tài sản, đồ dùng lâu bền cho sinh hoạt khác Tổng giá trị tài sản của hộ

11. Nhà ở

1. Có 2. Không

Nếu có: Hiện đang ở nhà tạm

12. Hộ có dùng điện cho sinh hoạt không?

1. Có 2. Không

13. Nguồn nước chính dùng cho ăn uống của hộ

- Nước máy

- Nước giếng khoan, giếng đào

- Nước sông, suối, ao hồ, nước mưa…

PHẦN III. TÌNH HÌNH THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH

14. Tổng thu và tổng chi cho hoạt động kinh tế của hộ 12 tháng qua (9/2009 – 9/2010)

(Đơn vị tính: 1.000 đồng)

Nguồn thu

Tổng thu Tổng chi

1

2

A 1. Trồng trọt (tính cả SP bán ra và SP tiêu dùng cho hộ gia đình) - Cây lương thực và thực phẩm - Cây công nghiệp - Cây ăn quả - Sản phẩm phụ trồng trọt (thân, lá, ngọn cây, rơm rạ, củi …)

- Sản phẩm trồng trọt khác (cây giống, cây cảnh,…)

2. Chăn nuôi (tính cả SP bán ra và SP tiêu dùng cho hộ gia đình) - Gia súc - Gia cầm - Sản phẩm khác (trứng, sữa tươi, kén tằm, mật ong nuôi, con giống…) - Sản phẩm phụ chăn nuôi (phân, lông, da,…) 3. Hoạt động dịch vụ nông nghiệp

4. Lâm nghiệp (tính cả SP bán ra và SP tiêu dùng cho hộ gia đình) và dịch vụ lâm nghiệp 5. Thuỷ sản (tính cả SP bán ra và SP tiêu dùng cho hộ gia đình) và dịch vụ thủy sản 6. Các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp, (tính cả SP bán ra và SP tiêu dùng cho hộ gia đình) 7. Tiền lương, tiền công 8. Các khoản khác (gồm các khoản: thu từ hái lượm, quà tặng, tiền gửi về từ bên ngoài, lãi tiết kiệm, tiền cho thuê nhà, lương hưu, trợ cấp ưu đãi người có công, ....) TỔNG CỘNG

(Đơn vị tính: 1.000 đồng)

15. Thu nhập của hộ gia đình 12 tháng qua

Chỉ tiêu

Giá trị

15.1. Tổng thu nhập của hộ gia đình (= Tổng thu cột 1 câu 14 - Tổng chi cột 2 câu 14)

15.2. Thu nhập bình quân/người/tháng (= Tổng thu nhập ở câu 15.1/Số nhân khẩu của hộ/12 tháng)

PHẦN IV: KẾT QUẢ PHÂN LOẠI HỘ GIA ĐÌNH THEO THU NHẬP VÀ TÌNH

TRẠNG TÀI SẢN CỦA HỘ

16. Phân loại thu nhập bình quân/người/tháng của hộ

Khu vực thành thị

Từ 500.000 đồng trở xuống Từ 501.000 đồng – 650.000 đồng Từ 651.000 đồng – 850.000 đồng Trên 850.000 đồng

Khu vực nông thôn

Nhóm hộ Thu nhập bình quân/người/tháng của hộ Đánh dấu x vào ô tương ứng 1 2 3 4 1 2 3 4

Từ 400.000 đồng trở xuống Từ 401.000 đồng – 520.000 đồng Từ 521.000 đồng – 650.000 đồng Trên 650.000 đồng

17. Là hộ nghèo có tên trong danh sách hộ nghèo năm 2010 vượt nghèo

18. Tài sản của hộ gia đình hiện tại (câu 9):………………….. triệu đồng

19. Phân loại hộ để lập danh sách bình xét công nhận hộ nghèo (Đánh dấu x vào ô

tương ứng)

Hộ không nghèo

trở xuống cho khu vực

thành

Hộ nghèo Hộ có thu nhập thuộc nhóm hộ 1, 2, 3 câu 16 (tức là thu nhập 850.000 đồng/người/tháng thị và 650.000 đồng/người/tháng trở xuống ở khu vực nông thôn) và tài sản của hộ gia đình hiện tại dưới 20 triệu đồng của câu 18.

19. Nguyên nhân nghèo: theo ông/bà do nguyên nhân nào sau dẫn đến hộ nghèo

Phân loại nguyên nhân nghèo

Đánh dấu x vào ô tương ứng

19.1. Đông con, trình độ văn hóa thấp 19.2. Thiếu việc làm, không có nghề nghiệp 19.3. Thiếu vốn, thiếu đất sản xuất 19.4. Khác

Đại diện khu phố/tổ Ngày……tháng…năm2010 Đại diện BCĐ xã/phường

(Ký,ghi rõ họ tên) Cán bộ khảo sát (Ký, đóng dấu)

(Ký, ghi rõ họ tên)

PHỤ LỤC 5: Hộ nghèo tỉnh Đồng Nai phân theo đơn vị hành chính giai đoạn 2011 - 2015

Tên đơn vị

Hộ nghèo (2011 – 2015)

Hộ nghèo phân theo khu vực

Mã số

Tổng số hộ dân

Số hộ % so với hộ dân

Số nhân khẩu

Bình quân nhân khẩu hộ

Thành thị Số hộ % so với hộ dân

Nông thôn Số hộ % so với hộ dân

1 Thành phố Biên Hòa 2 Thị xã Long Khánh 3 Huyện Tân Phú 4 Huyện Vĩnh Cửu 5 Huyện Định Quán 6 Huyện Trảng Bom 7 Huyện Thống Nhất 8 Huyện Cẩm Mỹ 9 Huyện Long Thành 10 Huyện Xuân Lộc 11 Huyện Nhơn Trạch

221.383 33.031 37.701 32.608 47.289 61.465 33.670 32.257 49.629 50.069 44.084

2.310 1.408 8.591 2.207 8.125 2.745 3.063 5.090 1.489 3.065 1.892

1,04 4,48 22,79 6,77 17,18 4,47 9,10 15,78 3,00 6,12 4,29

9.647 6.703 40.440 9.663 36.229 12.156 14.144 23.304 5.890 14.552 7.719

4,18 4,53 4,71 4,38 4,46 4,43 4,62 4,58 3,96 4,75 4,08

1.610 365 694 822 694 212 - - 143 57 -

0,73 1,11 1,84 2,52 1,47 0,34 - - 0,29 0,11 -

700 1.115 7.897 1.385 7.431 2.533 3.063 5.090 1.346 3.008 1.892

0,32 3,38 20,95 4,25 15,71 4,12 9,10 15,78 2,71 6,01 4,29

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban chỉ đạo khảo sát xác định hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015 tỉnh Đồng Nai, Tài

liệu tập huấn nghiệp vụ khảo sát xác định hộ nghèo năm 2010 tỉnh Đồng Nai.

2. BCĐ.GN tỉnh Đồng Nai (2007), Tài liệu tập huấn cho cán bộ làm công tác giảm

nghèo năm 2007 ở tỉnh Đồng Nai (Tập 1: Bài giảng).

3. BCĐ.GN tỉnh Đồng Nai (2007), Tài liệu tập huấn cho cán bộ làm công tác giảm

nghèo năm 2007 ở tỉnh Đồng Nai (Tập 2: Tài liệu tham khảo).

4. BCĐ.GN tỉnh Đồng Nai (2010), Cẩm nang giảm nghèo.

5. Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam (2003),

Báo cáo phát triển Việt Nam 2004: Nghèo, Hà Nội.

6. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân (1996), Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị

trường, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.

7. Chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan (2002), Hội thảo nghiên cứu giảm

nghèo ở nông thôn từ cách tiếp cận vi mô, NXB Nông nghiệp Hà Nội.

8. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và

xóa đói giảm nghèo, Hà Nội.

9. Cục Thống kê Đồng Nai, Niên giám thống kê 2010.

10. Bùi Thế Giang, Phạm Văn Chương, Đỗ Lê Chân, Lê Thị Thu Hà (1996), Vấn đề

nghèo ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội

11. Nguyễn Thị Hằng (1997), Vấn đề XĐGN ở nông thôn nước ta hiện nay, NXB Chính

trị Quốc gia Hà Nội.

12. Nguyễn Thị Hoa (2010), Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2015 (Sách

chuyên khảo), NXB Thông tin và truyền thông Hà Nội.

13. Nguyễn Minh Hòa (Chủ biên)(2007), Nghèo đói ở Đông Nam Á: Hợp tác và chia sẻ

thông tin, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

14. Lê Thị Phú Hương (2009), Công tác khoa giáo của các cấp ủy Đảng trong XĐGN ở

Tây Nguyên, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.

15. Huyện ủy Định Quán (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ huyện Định Quán

lần thứ XI (nhiệm kỳ 2010 – 2015).

16. Jean – Yves Martin (Chủ biên) (2007), Phát triển kinh tế bền vững: Học thuyết, thực

tiễn và đánh giá, NXB Thế giới Hà Nội.

17. Ngân hàng thế giới (2000), Báo cáo tình hình phát triển thế giới 2000/2001: Tấn

công đói nghèo, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.

18. Nhóm công tác liên bộ về chiến lược toàn diện về XĐGN và tăng trưởng (2004),

Lồng ghép CPRGS vào kế hoạch phát triển KT – XH của địa phương: Kinh nghiệm

của Trà Vinh, Hà Nội.

19. Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (Đồng chủ biên) (1999), Kinh tế thị trường và sự

phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, NXB

Chính trị Quốc gia Hà Nội.

20. Tổng cục Thống kê (2004), Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002, NXB Thống

kê, Hà Nội.

21. Tổng cục Thống kê (2006), Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004, NXB Thống

kê, Hà Nội.

22. Tổng cục Thống kê (2008), Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2006, NXB Thống

kê, Hà Nội.

23. Nguyễn Phú Trọng (Chủ biên) (2008), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam: Một số

vấn đề về lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.

24. Trần Thanh Trúc (2004), Vấn đề đói nghèo ở tỉnh Bến Tre hiện trạng và giải pháp.

Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành địa lý học, Đại học sư phạm Thành phố

Hồ Chí Minh.

25. UNDP (2004), Kinh tế vĩ mô của giảm nghèo: Nghiên cứu trường hợp Việt Nam -

Tìm kiếm bình đẳng trong tăng trưởng.

26. UNDP (2004), Chính sách và tăng trưởng vì người nghèo: Kinh nghiệm Châu Á

27. UBND huyện Định Quán, Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chương trình XĐGN –

việc làm giai đoạn 2001 – 2005.

28. UBND huyện Định Quán, Báo cáo tình hình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội,

quốc phòng, an ninh năm 2006 và phương hướng nhiệm vụ năm 2007.

29. UBND huyện Định Quán, Báo cáo tình hình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội,

quốc phòng, an ninh năm 2007 và phương hướng nhiệm vụ năm 2008.

30. UBND huyện Định Quán, Báo cáo tình hình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội,

quốc phòng, an ninh năm 2008 và phương hướng nhiệm vụ năm 2009.

31. UBND huyện Định Quán, Kế hoạch công tác giảm nghèo năm 2010.

32. UBND huyện Định Quán, Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chương trình XĐGN –

việc làm giai đoạn 2001 – 2005.

33. UBND huyện Định Quán, Tài liệu hội nghị Tổng kết 5 năm Chương trình mục tiêu

quốc gia giảm nghèo (2006 – 2010) và 10 năm cuộc vận động “Ngày vì người

nghèo” (2000 – 2010) huyện Định Quán.

34. UBND huyện Định Quán, Chương trình hành động thực hiện nghị quyết Đảng bộ

huyện lần thứ XI (Nhiệm kỳ 2011 – 2015) về đào tạo nghề, giải quyết việc làm và

giảm nghèo.

35. UBND huyện Định Quán, Kết quả khảo sát hộ nghèo giai đoạn 2011 - 2015

36. UBND tỉnh Đồng Nai (2011), Tài liệu tổng kết 5 năm (2006 – 2010) và kế hoạch

thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 –

2015 tỉnh Đồng Nai.

37. http://giamngheo.molisa.gov.vn, Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm

2011 đến năm 2020.

38. http://ttbd.gov.vn, Năm vấn đề thách thức trong XĐGN bền vững của Việt Nam.

39. http://www.vass.gov.vn, Giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu và thách thức.

40. http://www.gso.gov.vn, Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2008.

41. http://www.gso.gov.vn, Một số kết quả chủ yếu từ khảo sát mức sống hộ dân cư năm

2010.