
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------
TRẦN VĂN HÙNG
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG VÀ KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY
CAO SU GIAI ĐOẠN KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI - 2010

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------
TRẦN VĂN HÙNG
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG VÀ KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY
CAO SU GIAI ĐOẠN KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ QUỐC DOANH
HÀ NỘI - 2010

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời gian qua, sản lượng cao su thiên nhiên nước ta tăng liên tục,
đưa Việt Nam trở thành một trong 5 nước đứng đầu thế giới về sản xuất cao su.
Năm 2007, tổng diện tích cao su cả nước là 549,7 nghìn ha (trong đó diện tích
cho khai thác 373,3 nghìn ha), sản lượng ước đạt 601,7 nghìn tấn mủ khô
(Tổng cục Thống kê, 2008). Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm cao su cũng
liên tục tăng trong những năm qua, năm 2006 đạt 1,27 tỷ USD, năm 2007 đạt
1,4 tỷ USD và 2008 đạt 1,57 tỷ USD. Chính vì vậy mà hiện nay cây cao su
đang được coi là một loài cây trồng nhằm phát triển kinh tế tại nhiều địa
phương trong cả nước. Trước đây cây cao su chủ yếu được trồng ở các vùng
Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Sau năm 1975 nó được phát triển ra các tỉnh
Trung Trung Bộ và Bắc Trung Bộ và đến nay cây cao su tiếp tục được phát
triển rộng ra các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, đặc biệt là tại tỉnh Lai Châu.
Việc phát triển trồng cây cao su tại tỉnh Lai Châu cần phải có những
tính toán và cơ sở khoa học cho phù hợp. Hiện nay, tỉnh đã có kế hoạch và
chương trình cụ thể để trồng và phát triển cao su. Tuy nhiên, đến nay còn rất
ít nghiên cứu về xác định giống và kỹ thuật canh tác ở giai đoạn kiến thiết cơ
bản, nên khó có thể tư vấn hoặc cung cấp những dịch vụ kỹ thuật cho các địa
phương về định hướng, quy hoạch, biện pháp kỹ thuật để trồng và phát triển
cao su trong vùng. Để góp phần giải quyết vấn đề cấp bách trên, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xác định giống và kỹ thuật canh tác
cây Cao Su giai đoạn kiến thiết cơ bản tại tỉnh Lai Châu”.

2
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Nguồn gốc, xuất sứ
Cao su (Hevea brasiliensis) vốn là cây mọc hoang dại trong lưu vực
sông Amazon - Brazil và các vùng kế cận, chính nhà thám hiểm Christopher
Columbus và các thuỷ thủ khi đi khám phá các vùng đất châu Mỹ vào các
năm 1493 - 1496 đã phát hiện ra chất cao su từ những quả bóng làm từ nhựa
cây của thổ dân đảo Haiti. Đến đầu thế kỷ 19, Brazil là nước duy nhất xuất
khẩu cao su cho công nghiệp thế giới.
Thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm vi
Brasil diễn ra vào năm 1873. Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm tại
vườn thực vật Hoàng gia Kew. Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ để
gieo trồng, nhưng chúng đã bị chết. Thử nghiệm thứ hai sau đó đã được thực
hiện, khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm 1875. Khoảng 4%
hạt giống đã nảy mầm, và vào năm 1876 những cây giống đã được gửi tới
Ceylon và gửi tới các vườn thực vật tại Singapore. Sau khi đã thiết lập sự có
mặt ở các nơi bản địa của nó, cây cao su đã được nhân rộng khắp tại các thuộc
địa của Anh. Cây cao su có mặt tại các vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia
năm 1883. Vào năm 1898, một đồn điền đã được thành lập ở Malaysia, và
ngày nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một số
tại khu vực châu Phi.
Hiện nay có 24 quốc gia trồng cao su tại 3 châu lục: Á, Phi và Mỹ La
Tinh. Tổng diện tích toàn thế giới khoảng 9,4 triệu ha, trong đó Châu Á chiếm
93%, Châu Phi 5%, Mỹ La Tinh quê hương của cây cao su chưa đến 2% diện
tích cao su thế giới. Việc mở rộng diện tích cao su vùng Nam Mỹ gặp khó
khăn do bị hạn chế bởi bệnh cháy lá Nam Mỹ (SALB). Indonesia có diện tích
cao su lớn nhất thế giới, tiếp theo là Thái Lan, Malaisia, Trung Quốc, Ấn Độ

3
và Việt Nam. Hầu hết diện tích cao su của các nước đều nằm trong vùng
truyền thống trồng cao su. Hiện nay, nhiều nước đang mở rộng diện tích cao
su ra ngoài vùng truyền thống như một công cụ để bảo vệ môi trường và nâng
cao thu nhập của người dân.
1.2. Đặc điểm thực vật học
Cây cao su khi ở tình trạng hoang dại tại vùng nguyên quán thì mật độ
cây thưa thớt và với chu kỳ sống trên 100 năm, nên có dạng cây rừng lớn.
+ Thân cây cao su thuộc loại thân gỗ, to, cao. Ở những cây lâu năm
thân có thể cao tới 20 - 30m và đường kính thân tới 1m. Thân là phần kinh tế
chính của cây cao su cho mủ và gỗ.
+ Vỏ gồm 3 lớp chính:
Lớp da bần: là lớp vỏ ngoài cùng tập hợp các tế bào chết, để bảo vệ
lớp trong.
Lớp vỏ cứng: là lớp vỏ giữa, da cát, có chứa một số mạch mủ.
Lớp vỏ mềm: Là lớp vỏ trong cùng, da lụa, chứa nhiều mạch mủ, nơi
cung cấp latex. Mạch mủ xếp nghiêng từ phải qua trái tính từ dưới lên làm
thành một góc 50 so với đường thẳng đứng.
+ Lá cao su mọc cách, có 3 lá chét, cuống dài có hình bầu dục, đuôi
nhọn, mặt nhẵn, gân song song, có chức năng quang hợp góp phần sinh
trưởng tổng hợp mủ cao su.
+ Hoa cao su thuộc loại đơn tính, đồng chu, thụ phấn chéo (hoa đực,
hoa cái mọc riêng rẽ trên cùng một cành).
+ Quả cao su thuộc loại quả nang, có lớp vỏ dày cứng trong có chứa
các hạt, khi chín vỏ tự nứt hạt có thể tách ra ngoài.
+ Hạt cao su hình trứng hơi tròn, khi chín có màu nâu, ở ngoài là vỏ
sừng cứng, có vân, bên trong có nhân gồm phôi nhũ và cây mầm.
+ Bộ rễ cao su bao gồm rễ trụ và rễ bàng:

