ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NHÂM THỊ TƯƠI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ THÁI NGUYÊN - 2020

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NHÂM THỊ TƯƠI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH Ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 8 22 90 13 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: TS. KIM NGỌC THU TRANG THÁI NGUYÊN - 2020

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: “Phát triển năng lực hợp tác trong

dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh”

dưới sự hướng dẫn của TS. Kim Ngọc Thu Trang là kết quả nghiên cứu của cá nhân

tôi, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, không trùng lặp với những công

trình đã công bố trước đây.

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020

Tác giả luận văn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nhâm Thị Tươi

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới giảng viên TS. Kim Ngọc

Thu Trang người đã chỉ bảo, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận

lợi để em hoàn thành luận văn này.

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy cô giáo Khoa Lịch sử

trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, cảm ơn Thư viện trường Đại học sư phạm Thái

Nguyên, các thầy cô giáo và toàn thể các em học sinh trường THPT ở huyện Lương

Tài đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian em làm luận

văn.

Cuối cùng, em xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan

tâm, động viên và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận văn.

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020

Học viên thực hiện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nhâm Thị Tươi

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................... i

LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii

MỤC LỤC ................................................................................................................... iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................... iv

DANH MỤC BẢNG .................................................................................................... v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH ......................................................................... vi

MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1

1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 9

4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 10

5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ........................................... 10

6. Giả thuyết khoa học và đóng góp của luận văn ...................................................... 11

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................................ 12

8. Cấu trúc luận văn .................................................................................................... 12

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT .... 13

1.1. Cơ sở lí luận ......................................................................................................... 13

1.1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài ....................................................... 13

1.1.2. Cơ sở xuất phát của việc phát triển năng lực hợp tác trong DHLS ở trường THPT .. 21

1.1.3. Nội dung của NLHT cần phát triển cho HS trong DHLS ở trường THPT ...... 31

1.1.4. Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong

dạy học lịch sử. ........................................................................................................... 35

1.2 Cơ sở thực tiễn ...................................................................................................... 38

1.2.1. Mục đích và đối tượng điều tra ......................................................................... 39

1.2.2. Phương pháp và nội dung điều tra .................................................................... 39

1.2.3. Kết quả điều tra và những vấn đề đặt ra ........................................................... 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Tiểu kết chương 1 ....................................................................................................... 47

Chương 2: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC

TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 THPT Ở HUYỆN

LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH ............................................................................. 48

2.1. Vị trí, mục tiêu và nội dung của Lịch sử Việt Nam lớp 12 THPT ..................... 48

2.1.1. Vị trí .................................................................................................................. 48

2.1.2. Mục tiêu ............................................................................................................ 48

2.1.3. Nội dung cơ bản ................................................................................................ 49

2.2. Xác định hệ thống kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam (1919 - 2000) cần

khai thác để phát triển năng lực hợp tác cho học sinh. ............................................... 51

2.3. Những yêu cầu cơ bản khi phát triển năng lực hợp tác trong DHLS Việt Nam

lớp 12 .......................................................................................................................... 55

2.4. Một số biện pháp phát triển NLHT trong dạy học LSVN lớp 12 THPT ............ 58

2.4.1. Trong hoạt động nội khóa ................................................................................. 58

2.4.2. Trong hoạt động ngoại khóa ............................................................................. 76

2.5. Thực nghiệm sư phạm ......................................................................................... 88

2.5.1. Mục đích thực nghiệm ...................................................................................... 88

2.5.2. Đối tượng, địa bàn và nhiệm vụ thực nghiệm .................................................. 89

2.5.3. Nội dung thực nghiệm ...................................................................................... 89

2.5.4. Phương pháp tiến hành thực nghiệm ................................................................ 90

2.5.5. Kết quả thực nghiệm ......................................................................................... 91

Tiểu kết chương 2 ....................................................................................................... 95

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 98

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNXH : Chủ nghĩa xã hội

ĐC : Đối chứng

DHLS : Dạy học Lịch sử

GD& ĐT : Giáo dục và đào tạo

GDPT : Giáo dục phổ thông.

GV : Giáo viên

HĐTN : Hoạt động trải nghiệm

HS : Học sinh

KN : Kỹ năng

LS : Lịch sử

LSTG : Lịch sử thế giới

LSVN : Lịch sử Việt Nam

NL : Năng lực

NLHT : Năng lực hợp tác

NXB : Nhà xuất bản.

PPDH : Phương pháp dạy học

SGK : Sách giáo khoa

SGV : Sách giáo viên

THPT : Trung học phổ thông

TN : Thực nghiệm

TNST : Trải nghiệm sáng tạo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc

Bảng 1.1. Các năng lực chuyên biệt trong môn lịch sử .......................................................... 15

Bảng 1.2. Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung

và chương trình định hướng năng lực .................................................................... 23

Bảng 1.3. Hệ thống năng lực hợp tác ..................................................................................... 34

Bảng 1.4. Nhận thức của GV về vấn đề phát triển NLHT ...................................................... 40

Bảng 1.5. Nhận thức của HS về vấn đề phát triển NLHT ...................................................... 43

Bảng 2.1. Bảng so sánh kết quả bài kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng .......... 93

Bảng 2.2. Bảng phân phối mức độ kết quả thực nghiệm ........................................................ 93

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH

1. Hình

Hình 1.1. Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực .................................................... 14

Hình 1.2. Mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông môn LS năm 2018 .......... 25

Hình 1.3. Yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông môn LS năm 2018 ........... 26

Hình 1.4. Các năng lực cốt lõi cần phát triển cho HS theo Chương trình giáo dục

phổ thông tổng thể ....................................................................................... 32

2. Biểu đồ

Biểu đồ 1.1. Nhận thức của GV về khái niệm NLHT ................................................ 41

Biểu đồ 1.2. Biểu đồ tổng hợp ý kiến giáo viên về phương pháp dạy học ................. 42

Biểu đồ 1.3. Vai trò của Phát triển NLHT đối với HS trong DHLS .......................... 44

Biểu đồ 1.4. Thực trạng biểu hiện về NLHT .............................................................. 45

Biểu đồ 1.5. Tổng hợp ý kiến học sinh về mức độ yêu thích đối với các phương

pháp học tập môn Lịch sử .......................................................................... 45

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Biểu đồ 2.1: Tần suất kết quả thực nghiệm ................................................................ 93

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Toàn cầu hoá và hiện đại hoá đã và đang tạo ra một thế giới ngày càng đa dạng

và gắn kết. Sự bùng nổ tri thức cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng

khoa học công nghệ đặt ra những yêu cầu và thách thức lớn với nguồn nhân lực chất

lượng cao. Con người phải đối mặt với những thách thức như cân bằng tăng trưởng

kinh tế với phát triển bền vững môi trường, sự thịnh vượng với công bằng xã hội. Trong

bối cảnh đó, các năng lực mà mỗi cá nhân cần phải đáp ứng trở nên phức tạp hơn. Mục

tiêu giáo dục cơ bản hiện nay là đào tạo những con người có khả năng thích ứng và

sáng tạo trong mọi môi trường và điều kiện phức tạp của cuộc sống hiện đại. Ngày

càng nhiều năng lực mới của công dân thế kỉ 21 được đề cập tới trong dạy học và kiểm

tra đánh giá. Xu thế đó đặt ra cho ngành giáo dục nước ta một nhiệm vụ hết sức nặng

nề, đó là đào tạo một lớp người có đủ phẩm chất và năng lực để tham gia phát triển

kinh tế, văn hoá, xã hội một cách bền vững. Giáo dục không chỉ đề cập đến các yêu

cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ mà còn hướng tới năng lực hành động, trong đó đặc

biệt chú ý đến năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề ở từng cá nhân trên cơ sở

phát huy tối đa tiềm năng sẵn có trong mỗi con người và khả năng thích ứng với những

thay đổi trong cuộc sống. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng về

giáo dục xác định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng

bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất,

năng lực của người học. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức

sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học: yêu gia đình, yêu Tổ quốc,

yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả. Từng bước hoàn thiện hệ thống giáo dục

quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học

tập” [1, tr.10-11]

Đổi mới phương pháp dạy học là sự đổi mới theo hướng trang bị cho học sinh

cách học, phát huy tính chủ động, sáng tạo và sử dụng công nghệ thông tin trong dạy

học, đặc biệt dạy học phải hướng tới phát triển năng lực cho người học. Phát triển kỹ

năng, năng lực học tập cho học sinh luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình học

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tập ở các nhà trường, quyết định chất lượng học tập của mỗi học sinh. Có nhiều kỹ

năng, năng lực học tập trong đó NLHT là một trong những NL được nhiều nước xây

dựng trong bộ các năng lực cốt lõi người học cần có trong thế kỉ XXI. Việt Nam cũng

đã có dự thảo xây dựng bộ NL cốt lõi cho chương trình mới được áp dụng trong đó có

NLHT, điều này cho thấy NLHT là một NL rất quan trọng đối với người học. Phát triển

NLHT không những phát huy được tính chủ động sáng tạo cho học sinh mà còn rèn

luyện cho các em nhiều kỹ năng sống rất cần thiết cho hiện tại cũng như tương lai. Dạy

học phát triển NLHT sẽ góp phần giúp học sinh biết đoàn kết, chia sẻ cùng giải quyết

các nhiệm vụ học tập cũng như các vấn đề xảy ra trong cuộc sống...

Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc phát triển NLHT cho học sinh

trong dạy học môn Lịch sử chưa được nhiều giáo viên quan tâm và cũng còn khá mới

mẻ đối với giáo viên và học sinh. Bởi vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu và đề ra các biện

pháp để phát triển NLHT trong quá trình DHLS ở trường THPT là cần thiết.

Lịch sử Việt Nam lớp 12 từ năm 1919 - 2000 đóng vai trò quan trọng trong suốt

tiến trình của Lịch Sử Việt Nam, đồng thời chiếm phần lớn khối lượng kiến thức trong

đề thi THPT Quốc gia hiện nay.

Với những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Phát triển năng lực hợp tác trong

dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh”

làm luận văn thạc sỹ của mình với hi vọng góp phần làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra

ở trên.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phát triển NLHT trong dạy học ở trường phổ thông từ lâu đã thu hút được sự

quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục học, tâm lí học, các giáo viên đang

giảng dạy ở trường phổ thông. Có thể kể tới một số công trình tiêu biểu như sau:

2.1. Công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Trải qua các thời kỳ lịch sử, tư tưởng giáo dục HT được khẳng định và ngày

càng phát triển trong thời đại này nay với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kĩ

thuật hiện đại và xu thế toàn cầu hóa

J.A.Cômenxki (1592-1669) là một nhà giáo dục vĩ đại không những của Cộng

hòa Séc mà còn cả thế giới. Tên tuổi của ông gắn liền với sự ra đời của giáo dục học

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

với tư cách là một khoa học độc lập. Ông đã được sử gia Pháp Misole đánh giá là: “Một

thiên tài rực rỡ, một nhà phát kiến lỗi lạc, một Galile của giáo dục”. Các nhà khoa học

đã xếp ông vào hàng “cha đẻ của giáo dục hiện đại”. Theo J.A. Cômenxki, cốt lõi của

quá trình đào tạo là không “áp đặt”, không “cưỡng bức” người học. Công việc của

người thầy giáo là tổ chức, điều khiển, điều chỉnh, gợi mở, dẫn dắt hoạt động của người

học. Bằng cách ấy, học sinh sẽ tích cực, tự giác trong việc lĩnh hội các tri thức. Năm

1632, Comenxki viết tác phẩm nổi tiếng “Phép giảng dạy vĩ đại” bằng tiếng Tiệp

Khắc, rồi tự dịch ra tiếng La Tinh, trong đó trình bày những tư tưởng cấp tiến, khoa

học, nhân văn về mô hình giáo dục hiện đại mà ngày nay chúng ta đang phấn đấu áp

dụng. Comenxki là người đầu tiên trong lịch sử xây dựng lý luận và tổ chức trong thực

tiễn một hình thức tổ chức dạy học mới mẻ gọi là “hệ lớp - bài”, có ý nghĩa to lớn về

lý luận và thực tiễn giáo dục. Đối với môi trường giáo dục, Comenxki đặc biệt chú ý

và tin rằng học sinh sẽ học tốt từ việc dạy cho bạn bè mình, đồng thời cũng học được

từ chính bạn bè trong lớp.

John Locke (1632-1704) là nhà triết học và giáo dục Anh thế kỉ XVII. Ông là

người kế thừa “Thuyết duy cảm” trong trường phái triết học của Becon và áp dụng vào

giáo dục. Ông đánh giá rất cao ảnh hưởng của môi trường đối với nhân cách của trẻ và

coi trọng sự trải nghiệm thực tiễn của trẻ. Ông cho rằng không được nhồi nhét vào trí

nhớ của trẻ những điều mà chúng không thích, phải khơi dậy lòng ham mê, lòng say

sưa hiểu biết cái mới, phát triển khả năng độc lập suy nghĩ, chủ động trong học tập.

Qua đây chúng ta thấy, không phải cho tới ngày nay, khi mà sinh lí học thần kinh có

những tiến bộ vượt bậc và góp phần to lớn vào việc làm rõ cơ chế hoạt động của hệ

thần kinh người ta mới quan tâm tới dạy học trải nghiệm, quan tâm tới môi trường dạy

học, quan tâm tới động cơ, hứng thú học tập của người học… mà những vấn đề này -

những vấn đề cơ bản được đề cập trong chiến lược dạy học dựa vào tương tác ngày nay

đã được các nhà giáo dục lớn trên thế giới nói tới cách đây rất nhiều năm.

Jean - Jacques Rousseau (1712-1778) là một triết gia nổi tiếng của dòng Triết

học Khai sáng Pháp thế kỉ XVIII, một nhà văn nổi tiếng, một nhà giáo dục lớn của

Pháp và thế giới. Quan điểm giáo dục của ông được thể hiện tập trung trong cuốn

“Emile (1762)”, trong đó đề cập đến ba vấn đề: 1/ Trong phương pháp tiêu cực của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Rousseau, ông coi trọng người học, đặc biệt cọi trọng vốn kiến thức, kinh nghiệm của

người học trong quá trình học tập. 2/ Môi trường dạy học đã được xem xét, được coi là

một yếu tố của quá trình dạy học, song môi trường lại được xem xét ở góc độ tiêu cực,

những “thói hư, tật xấu” ảnh hưởng tới người học. 3/ Vai trò của người thầy được nâng

lên, khi mà trong quá trình dạy học phải giúp người học có được vốn kiến thức, kinh

nghiệm đồng thời phải tổ chức môi trường để người học học tập nhưng chủ yếu ở khía

cạnh “ngăn cản tật xấu đột nhập vào trái tim con người” [12, tr.30-31]

Cuộc cải cách giáo dục mạnh mẽ trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ

XX đã mở ra chiều hướng đổi mới dạy học tập trung vào hoạt động của người học và

khai thác môi trường dạy học. Đi tiên phong trong phong trào vận động cải cách giáo

dục có một số nhà thực dụng chủ nghĩa có tên tuổi như: Peirce (1839 -1915), James

(1842-1910), Schilles (1864-1887). Trong số họ, J.Dewey (1859-1952) là một nhà giáo

dục thực dụng nổi tiếng của Mĩ. Trong cuốn sách “Dân chủ và giáo dục” do Hoàng

Anh Tuấn dịch, ông đã tìm ra và thực thi tư tưởng đề cao khía cạnh xã hội của việc học

và vai trò của nhà giáo dục trong việc giáo dục học sinh một cuộc sống dân chủ. Dewey

cho rằng: “Con người có bản chất sống hợp tác, trẻ cần được dạy biết thông cảm, tôn

trọng quyền của người khác, làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề theo lẽ phải và

phải được trải nghiệm quá trình sống hợp tác trong nhà trường. Cuộc sống trong lớp

học cần được thể hiện quá trình dân chủ hóa trong một thế giới vi mô mà trung tâm

của cuộc sống dân chủ ở đây là sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm” [28, tr 45-

46].

Lí thuyết dạy học biện chứng của nhà Tâm lý học L.X.Vygotsky (1896-1915)

có tác động không nhỏ tới các trường phái giáo dục hiện đại.Ông cho rằng sự phát triển

nhận thức diễn ra tốt nhất nơi người học vượt qua “Vùng cận phát triển” thông qua việc

hợp tác với bạn và với thầy. Cơ chế của việc học là cơ chế kết hợp giữa học cá nhân và

học hợp tác, dạy học chính là sự hợp tác hai chiều, thầy hướng dẫn, đạo diễn và trò tự

giác , tích cực, độc lập, sáng tạo.Quan điểm dạy học hợp tác phát triển của

L.X.Vygotsky đã mở ra một trào lưu dạy học mới - dạy học tích cực.

Kurt Lewin (1890-1947) là một nhà tâm lý học người Mỹ gốc Đức, được biết đến

như một trong những người tiên phong hiện đại về tâm lý học xã hội, tổ chức và ứng dụng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ở Hoa Kỳ. Ông cũng là nhà tâm lý học đầu tiên viết về động lực nhóm và tầm quan trọng

của nhóm trong việc hình thành hành vi của các thành viên. Ông nhấn mạnh về hành vi,

cách cư xử trong nhóm và xây dựng lý thuyết cơ sở về học tập hợp tác.

Morton Deutsch (1920-2017) là một nhà tâm lý học và nghiên cứu xã hội người

Mỹ dựa trên cơ sở “Những lý luận nền tảng” của Lewin đã phát triển, nâng cao lý luận

về hợp tác và cạnh tranh. Năm 1949, trong một bài báo Tạp chí giáo dục ở Mĩ, Morton

Deutsch đưa ra “Lý thuyết về hợp tác và cạnh tranh”. Ông cho rằng tính năng động và

thành công cuối cùng của một nhóm phụ thuộc vào mức độ các thành viên trong nhóm

tin rằng mục tiêu của họ được chia sẻ và do đó thấy được tiềm năng để tạo ra sự nghiệp

chung.

Năm 1994, Raja Roy Singh - nhà giáo dục người Ấn Độ, trong cuốn sách “Giáo

dục thế kỷ XX: Những triển vọng của châu Á -Thái Bình Dương”,Viện Khoa học giáo

dục Hà Nội, đã đề cập đến nhiều nội dung của giáo dục thế kỷ XXI, đặc biệt về giáo

dục con người thông qua việc hình thành cho họ năng lực sáng tạo, kỹ năng hợp tác

chung sống với người khác, biết gắn bó con người với xã hội trong giới hạn toàn cầu

hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu rộng. Theo ông, một trong những PPDH

đạt được mục tiêu trên là mô hình dạy học hợp tác, học tập từ bạn bè, từ cộng đồng, từ

lao động và các hoạt động xã hội.

Trong cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả” (Nguyễn Hồng Vân dịch,

Nxb Giáo dục, 2011), các tác giả Robert J. Marzano, Debra J. Pickering, Jane E.

Pollock đã giới thiệu các phương pháp dạy học hiệu quả được rút ra từ nhiều công trình

nghiên cứu thực tế giảng dạy và lí thuyết tổng hợp với mục đích phát huy cao độ khả

năng học tập của HS, nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên đứng lớp. Nhân tố

quan trọng nhất tác động đến việc học của HS là các thầy cô giáo, trên cơ sở đó, mỗi

phương pháp dạy học đã chỉ ra cho GV những cách làm cụ thể để thực hiện công tác

giảng dạy hiệu quả nhất nhờ áp dụng các nghiên cứu khoa học vào quá trình giảng

dạy.Các tác giả dành riêng một chương để giới thiệu phương pháp học phối hợp trong

tổ nhóm nhằm phát huy được NLHT cho học sinh.

Trong công trình “Quản lý lớp học hiệu quả” (Phạm Trần Long dịch, Nxb Giáo

dục, 2011),tác giả Robert J.Marzano cho rằng giáo viên là người đóng nhiều vai trò

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

khác nhau trong một lớp học trong đó một trong những vai trò quan trọng nhất là quản

lí lớp học. GV có thể tìm thấy những PP, những thủ thuật được trình bày một cách vừa

chi tiết vừa cụ thể nhưng rất gợi mở để vận dụng vào trong từng lớp học, từng tình

huống sư phạm cụ thể như đã từng gặp phải trong lớp học của mình, trong đó một trong

những phương pháp đóng vai trò quan trọng là học theo nhóm, hợp tác giữa các nhóm.

Cuốn sách “Đa trí tuệ trong lớp học”, (Lê Quang Long dịch, Nxb Giáo dục,

2017), tác giả Thomas Armstrong đã đưa ra nhiều khái niệm và kiến thức về năng lực,

hợp tác, làm việc nhóm... Với 16 chương, tác giả đề cập đến các phương pháp giảng

dạy tối ưu nhất cho từng bài học, từng đối tượng học sinh và biết phát huy những thế

mạnh của riêng mình, trong đó nhấn mạnh đến phương pháp dạy học hợp tác, làm việc

nhóm.Đặc biệt, trong cuốn sách tác giả đề cập đến trí tuệ giao tiếp trong đó nhấn mạnh

đến năng lực hợp tác của mỗi học sinh, làm thế nào để kích thích khả năng làm việc

nhóm của mỗi học sinh.

2.2. Công trình nghiên cứu ở trong nước

Việc phát triển NLHT trong dạy học ở Việt Nam đã được chú ý từ lâu song đến

nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện.Tuy nhiên, có

thể kể đến một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề ở những khía cạnh, mức độ

khác nhau.

Tài liệu tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học.

Trong giáo trình "Tâm lý học”của Phạm Minh Hạc, Nxb Giáo dục xuất bản năm

1995 đã đề cập đến mối quan hệ hợp tác, giao lưu giữa các nhóm với nhau. Tác giả

khẳng định: Ở lứa tuổi thiếu niên, giao lưu, hợp tác giữ vai trò quan trọng đặc biệt đối

với việc hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách của mỗi con người.

Trong cuốn “Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại” của Thái Duy

Tuyên, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2001 đã trình bày những

vấn đề chung của giáo dục hiện đại như triết học của giáo dục, mục đích, đối tượng,

tính chất và nguyên tắc, các mô hình giáo dục, phương pháp tiếp cận giá trị,...; những

vấn đề của dạy học như cấu trúc, bản chất, tính quy luật, mâu thuẫn, động lực…đặc

biệt là ảnh hưởng của môi trường đến giáo dục nhân cách của người học, làm thế nào

để nâng cao năng lực hợp tác cho người học.

Giáo trình “Tâm lý học đại cương”, tác giả Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Nxb

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Đại học sư phạm, xuất bản năm 2007 đã đưa ra khái niệm về năng lực và nhấn mạnh

các mức độ của năng lực gồm: năng lực, tài năng, thiên tài, tác giả đề cập đến cách

phân loại của năng lực gồm năng lực chung và năng lực chuyên biệt trong đó hai loại

năng lực này luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau ,đồng thời nhấn mạnh mối quan hệ giữa

năng lực với tư chất, thiên hướng và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.

Trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”, Nhà xuất bản

Đại học Quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2008 tác giả Thái Duy Tuyên, đã đi sâu nghiên

cứu phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại, trong đó tác giả đề cập đến việc

cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống.Tác giả khẳng định cần kết hợp sử dụng

các phương pháp dạy học mới đặc biệt là những phương pháp và kĩ thuật dạy học phát

huy tính tích cực và sáng tạo của HS.Tác giả nhấn mạnh đến NLHT là một năng lực

quan trọng đối với con người cũng như đối với HS, bởi vì hầu hết các mối quan hệ của

con người đều là hợp tác.

Cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử”, do GS Trịnh Đình Tùng chủ

biên, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, xuất bản năm 2013 đã đề cập đến nhiều vấn đề

về PPDH lịch sử hết sức phong phú, từ việc sử dụng di sản văn hóa đến các phương

pháp dạy học theo dự án, dạy học hợp tác, thực hành bộ môn, tự học Lịch sử của học

sinh… Tác giả khẳng định sự cần thiết phải chuyển đổi phương pháp dạy học từ dạy

kiến thức sang dạy cách học cho học sinh, chú trọng đến phát triển năng lực cho các

em, trong đó nhấn mạnh năng lực hợp tác là khả năng tương tác lẫn nhau, trong đó mỗi

học sinh thể hiện sự tích cực, tự giác, sự tương tác trực diện và trách nhiệm cao trên cơ

sở huy động những tri thức, kĩ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả nhiệm

vụ chung.

Trong cuốn “Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường THPT”, Nxb Đại Học

Quốc Gia Hà Nội, xuất bản năm 2014 tác giả Vũ Quang Hiển - Hoàng Thanh Tú đã

đưa ra các PPDH theo định hướng phát triển NL của học sinh, trong đó tác giả đi sâu

phương pháp làm việc nhóm và nhấn mạnh đến phát triển NLHT cho học sinh.

Cuốn sách “Dạy và học tích cực, Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học” của

Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà, Nxb Đại học sư phạm, xuất bản năm 2015, đã đề

cập đến các phương pháp và kĩ thuật dạy học như: làm việc nhóm, hợp tác, sơ đồ tư duy,

kĩ thuật khăn trải bàn, theo dự án,... nhằm phát huy tối đa khả năng, hình thành năng lực

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

của người học.Tác giả nhấn mạnh dạy học phát triển năng lực hợp tác sẽ tăng cường sự

tham gia tích cực của học sinh, tạo điều kiện phân hóa trình độ, đáp ứng các phong cách

học, phát huy khả năng tối đa của người học, đảm bảo cho người học không những học

“sâu” mà còn học “thoải mái”. Qua đó, hình thành các kỹ năng hợp tác, giao tiếp, trình

bày, tìm kiếm, thu thập, xử lí thông tin, giải quyết vấn đề... Đồng thời khuyến khích giáo

viên tìm tòi, sáng tạo, linh hoạt trong áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học phù

hợp với đối tượng học sinh và bối cảnh địa phương.

Cuốn giáo trình “Kiểm tra đánh giá trong giáo dục”của PGS. TS. Nguyễn Công

Khanh, PGS. TS. Đào Thị Oanh, Nxb Đại học sư phạm, xuất bản năm 2015 đã nhấn

mạnh đến việc kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh, cấu trúc của năng lực, làm thế

nào để phát triển năng lực của học sinh, năng lực cốt lõi của học sinh trong đó năng lực

hợp tác có vai trò vô cùng quan trọng trong thời đại ngày nay.

Cuốn sách “Đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học cơ sở” của Trần

Kiều, Trần Đình Châu, Phan Thị Luyến, Đặng Thị Thu Thủy, NXB Giáo dục Việt

Nam, xuất bản năm 2017 đã khái quát về PPDH và đổi mới PPDH. Tác giả nhấn mạnh

đến hình thức học tương tác và học hợp tác.

Trong cuốn “Dạy học phát triển năng lực môn Lịch sử Trung học phổ thông”

của Nghiêm Đình Vỳ, Trần Thị Vinh, NXB Đại học Sư phạm, xuất bản năm 2018 đã

khái quát một số vấn đề lí thuyết về năng lực, phát triển năng lực, tiếp cận năng lực,

phương pháp tổ chức dạy học phát triển năng lực, kiểm tra đánh giá trong giáo dục nói

chung và giáo dục phổ thông nói riêng, trong đó giới thiệu chi tiết cấu trúc, các mức

độ phát triển các năng lực cốt lõi; trình bày một số cách học, phương pháp dạy học môn

học. Tác giả nhấn mạnh đến năng lực cốt lõi hình thành cho học sinh là năng lực hợp

tác, đồng thời khẳng định phương pháp dạy học hợp tác là phương pháp đang được áp

dụng vì có tính thực tiễn cao, khắc phục được cách học một chiều thầy cô giảng bài -

học sinh ghi chép thụ động trước kia.

Ngoài các công trình kể trên còn phải kể đến các bài báo, tạp chí, luận án tiến

sĩ, luận văn thạc sĩ về Lý luận và PP dạy học LS.

Luận án tiến sĩ“ Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh Trung học cơ sở qua

hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tác giả Lê Thị Minh Hoa đã đề cập đến việc phát

triển năng lực hợp tác cho học sinh, thực trạng phát triển năng lực hợp tác, biện pháp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

giáo dục nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh Trung học cơ sở qua hoạt động

giáo dục ngoài giờ lên lớp.

Luận văn“Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt

Nam (1945-1954) THPT - Chương trình chuẩn” của Nguyễn Văn Minh đã đưa ra khái

niệm về năng lực, hợp tác, năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử, phát triển NLHT

trong dạy học lịch sử, nội dung của năng lực hợp tác cần phát triển cho học sinh trong

dạy học Lịch sử ở trường THPT. Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp phát triển

NLHT cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam 1945-1954 ở trường THPT.

Bài báo “Đánh giá năng lực hợp tác của học sinh trong dạy học ở trường Trung

học phổ thông” đăng trên Tạp chí giáo dục tháng 6/2015 của TS.Lê Thị Thu Hiền đã

đưa ra khái niệm hợp tác, năng lực, năng lực hợp tác, chuẩn đầu ra về năng lực hợp tác,

bộ đánh giá năng lực hợp tác của học sinh trong dạy học, xây dựng tiêu chí đánh giá

năng lực hợp tác, phương pháp đánh giá năng lực hợp tác của HS. Bài

báo“Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học Lịch Sử ở trường Trung

học phổ thông” đăng trên Tạp chí giáo dục Số đặc biệt tháng 8/2017 của Lê Thị Thùy

Dương nhấn mạnh năng lực hợp tác là năng lực cốt lõi cần hình thành và phát triển cho

học sinh, hợp tác được thể hiện qua những hành động kĩ năng thái độ của học sinh được

vận dụng một cách linh hoạt mềm dẻo có hiệu quả trong môi trường làm việc nhóm

nhằm hướng đến mục tiêu học tập chung. Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp phát

triển NLHT cho học sinh trong dạy học Lịch sử.

Qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã cho thấy vai trò, ý nghĩa

quan trọng của việc phát triển NLHT cho học sinh trong dạy học. Phát triển NLHT là

một xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới và là xu thế tất yếu trong quá trình

đổi mới ở nước ta hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường

THPT và một số biện pháp phát triển NLHT cho học sinh trong DHLS.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn tập trung đi sâu vào các biện pháp góp phần phát triển

NLHT cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT

- Về địa bàn khảo sát: Các trường THPT trên địa bàn huyện Lương Tài - tỉnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bắc Ninh (THPT Lương Tài, THPT Lương Tài 2 và THPT Lương Tài 3).

- Về hình thức tổ chức dạy học: Tập trung vào bài nội khóa và ngoại khóa

- Về địa bàn thực nghiệm: THPT Lương Tài, Bắc Ninh.

4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, khái quát những vấn đề lý luận, thực tiễn và ý nghĩa của

việc phát triển năng lực và hợp tác trong dạy học môn lịch sử, đề tài tập trung xác định

và làm rõ một số biện pháp có tác dụng nâng cao NLHT cho học sinh, góp phần phát

triển năng lực nhận thức, giải quyết các vấn đề để đạt được mục đích học tập, góp phần

nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông.

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung làm rõ các nội dung sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển NLHT cho học sinh trong DHLS ở

trường THPT.

- Tiến hành khảo sát thực tiễn, điều tra cơ bản đối với giáo viên và học sinh ở

một số trường THPT để đánh giá thực trạng việc phát triển NLHT cho học sinh trong

dạy học Lịch sử.

- Khai thác nội dung chương trình SGK Lịch sử Việt Nam lớp 12 THPT.

- Đề xuất các biện pháp sư phạm để phát triển NLHT cho học sinh trong dạy

học LSVN 12 (1919 - 2000)

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khoa học và tính

khả thi của các biện pháp mà chúng tôi đề xuất trong đề tài.

5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở phương pháp luận

Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,

quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về công tác giáo dục, dạy học lịch sử.

Quan điểm lí luận dạy học trong Giáo dục học, Tâm lý học, Phương pháp dạy học bộ

môn LS.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của

Đảng nhà nước, các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học LS,

phương pháp luận sử học và các cuốn sách chuyên khảo LS có liên quan về giai đoạn

đề tài nghiên cứu.

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn thực tiễn việc dạy học LS ở trường

THPT bằng nhiều hình thức khác nhau như thông qua phiếu điều tra,dự giờ, khảo sát,

phỏng vấn, thăm dò ý kiến của GV, HS.

- Phương pháp thống kê toán học, tập hợp và xử lý các số liệu thu được qua điều

tra, thực nghiệm bằng cách sử dụng các công cụ toán học như bảng biểu, giá trị trung

bình cộng, độ lệch chuẩn…

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm

từng phần để kiểm chứng tính khả thi của những biện pháp mà luận văn đề xuất. Thực

nghiệm dạy một bài cụ thể ở lớp 12. Trong khi tiến hành thực nghiệm có lựa chọn đối

tượng thực nghiệm và đối tượng đối chứng. Thực nghiệm được tiến hành chủ yếu ở

trường THPT Lương Tài - Bắc Ninh.

6. Giả thuyết khoa học và đóng góp của luận văn

6.1. Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng các biện pháp phát triển năng lực hợp tác trong dạy học LSVN

lớp 12 đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đặt ra sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học

lịch sử ở các trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh.

6.2. Đóng góp của đề tài

- Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của việc phát triển năng lực

hợp tác trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở các trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc

Ninh, đề tài góp phần làm phong phú hơn lý luận dạy học bộ môn lịch sử nói chung,

phát triển năng lực cho học sinh nói riêng trong quá trình dạy học lịch sử ở trường

THPT,

- Khái quát bức tranh về thực trạng phát triển năng lực hợp tác trong dạy học

LSVN lớp 12 ở các trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh.

- Xác định các hình thức và biện pháp phát triển năng lực hợp tác trong dạy học

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LSVN lớp 12 ở trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh, từ đó góp phần đổi mới

phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học.

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần làm phong phú thêm về lí luận và phương

pháp dạy học bộ môn Lịch sử trong việc phát triển khả năng học và vận dụng lịch sử.

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp GV môn LS ở trường

THPT vận dụng vào thực tiễn dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn.

Đồng thời, đề tài cũng là nguồn tài liệu tham khảo với sinh viên trường sư phạm, các

bạn đồng nghiệp, đặc biệt là những GV giảng dạy bộ môn Lịch sử tại trường phổ thông.

8. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được cấu

trúc thành 2 chương.

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển NLHT cho học sinh

trong dạy học Lịch sử ở trường THPT

Chương 2: Một số biện pháp phát triển NLHT cho học sinh trong dạy học

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh.

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT

1.1. Cơ sở lí luận

1.1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1.1. Năng lực

NL là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử, song trở nên phổ biến và

được tập trung nghiên cứu bắt đầu từ những năm 70 thế kỉ XX với nhiều quan điểm

tiếp cận và cách định nghĩa khác nhau, chẳng hạn “Năng lực là tập hợp các kiến thức,

kỹ năng và thái độ phù hợp với một hoạt động thực tiễn”[11, tr.15-16]; “Năng lực được

xây dựng dựa trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị như là các khả năng, hình thành

qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí” [12, tr 29-30]; “

Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải

quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội. . . và khả năng

vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những

tình huống linh hoạt” [3, tr 54-55].

Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003) lại định nghĩa: “Năng lực là đặc điểm của

cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và

chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó” [23, tr.21].

Tài liệu hội thảo chương trình GDPT tổng thể trong chương trình GDPT mới

của Bộ GD&ĐT xếp NL vào phạm trù hoạt động khi giải thích:“Năng lực là khả năng

thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng

hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý

chí,... NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá

nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [6, tr.5]. Hệ thống NL trong chương

trình được phân loại thành NL chung và NL đặc thù môn học.“NL chung là NL cơ bản,

thiết yếu mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc. Các hoạt

động giáo dục với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và

PT các NL chung của HS” [6, tr.7]. Hệ thống những NL chung bao gồm: NL tự học;

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

NL giải quyết vấn đề và sáng tạo; NL thẩm mĩ; NL thể chất; NL giao tiếp; NL hợp tác;

NL tính toán; NL công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Còn “NL đặc thù môn

học là NL mà môn học có ưu thế hình thành và phát triển. Một NL có thể là NL đặc thù

của nhiều môn học khác nhau” [6, tr.8].

Dựa trên các quan niệm ở trên chúng tôi định nghĩa như sau: Năng lực được coi

là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân để thực hiện một

nhiệm vụ có hiệu quả. Năng lực được bộc lộ thông qua các hoạt động hành động, công

việc.... Thông qua quá trình rèn luyện, học tập và thực hành NL ngày càng phát triển,

hoàn thiện đảm bảo cho cá nhân đạt được hiệu quả cao trong một lĩnh vực cụ thể tương

ứng với NL mà mình có.

Từ các định nghĩa về năng lực, nhiều tác giả đề xuất mô hình cấu trúc năng lực

dựa trên nguyên lý tảng băng gồm có ba thành tố chính: Hành động, suy nghĩ và tính

sẵn sàng của người học (Hình 1.1). “Hành động” chính là hành vi của người học mà

chúng ta có thể quan sát được trong quá trình học tập. “Suy nghĩ” được tạo nên từ kiến

thức, kỹ năng, thái độ, chuẩn giá trị, niềm tin, … Những đặc tính này có đặc điểm

không quan sát được, nhưng thường được các nhà giáo dục đánh giá thông qua việc

thực hiện các nhiệm vụ học tập của người học (hành vi). Nguồn gốc để hình thành nên

“suy nghĩ”, chính là xuất phát từ “tính sẵn sàng” được tạo thành bởi động cơ, phẩm

chất, nét nhân cách của người học. Nói cách khác, “suy nghĩ” và “tính sẵn sàng” chính

là điều kiện cần và đủ để tạo ra “hành động”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Hình 1.1. Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực [21, tr.23]

Trong quá trình đào tạo, các nhà giáo dục đều nhận ra rằng, để đánh giá kết quả

học tập của người học, chúng ta không chỉ đánh giá bề nổi - những gì người học thể

hiện ra, mà còn phải tập trung khai thác các đặc điểm tiềm ẩn của người học (phần

chìm).

Xác định các năng lực chuyên biệt trong môn lịch sử.

Có nhiều quan niệm khác nhau trong việc xây dựng chuẩn các kỹ năng chuyên

biệt trong dạy học từng môn học ở trường phổ thông như: Xây dựng các năng lực

chuyên biệt từ những năng lực chung (năng lực cốt lõi); xây dựng các năng lực chuyên

biệt từ đặc thù kiến thức của bộ môn...

Ở cách tiếp cận thứ nhất, chúng ta xác định các năng lực chung mà toàn bộ quá

trình giáo dục ở trường phổ thông đều phải hướng tới để hình thành cho người học. Sau

đó, ở từng môn học cụ thể sẽ xác định sự thể hiện cụ thể của các năng lực chung trong

môn học. Ở cách tiếp cận thứ hai, chúng ta dựa trên đặc thù nội dung, phương pháp

nhận thức và vai trò của môn học đối với thực tiễn để đưa ra hệ thống năng lực cần

hình thành cho học sinh. Ở đây chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận thứ nhất để xác định

hệ thống năng lực cần hình thành, phát triển và là cơ sở để đánh giá kết quả học tập của

các em trong dạy học bộ môn LS ở trường phổ thông. Đối với dạy học Lịch sử ở trường

phổ thông, các năng chung sẽ được cụ thể hóa như bảng sau:

Bảng 1.1. Các năng lực chuyên biệt trong môn lịch sử

STT

Năng lực chung

Biểu hiện trong môn Lịch sử

I Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản than

- Kỹ năng khai thác lược đồ, bản đồ, tranh ảnh lịch sử, phim tư liệu để tìm kiếm nội dung lịch sử thông qua

kênh hình. - Đọc và phát hiện kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa

Lịch sử. - Khả năng tự tìm kiếm kiến thức lịch sử thông qua tài liệu

1

Năng lực tự học

tham khảo. - Kỹ năng kết hợp đọc sách giáo khoa với nghe giảng với

tự ghi chép. - Khả năng trả lời câu hỏi và tự đặt câu hỏi - Khả năng tự hệ thống hóa kiến thức ôn tập, củng cố kiến thức

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

STT

Năng lực chung

Biểu hiện trong môn Lịch sử

2

Năng lực giải quyết vấn đề

tạo

3

lực sáng Năng (năng lực tư duy)

- Kỹ năng nhận thức và giải quyết một vấn đề lịch sử. - Khả năng vận dụng kiến thức lịch sử để làm bài tập lịch sử. - Kỹ năng đưa ra được cách thức câu trả lời cho các câu hỏi đã đặt ra. - Kỹ năng lựa chọn được các cách thức giải quyết vấn đề lịch sử, vấn đề, tình huống thực tiễn một cách tối ưu. - Kỹ năng trình bày diễn biến cuộc kháng chiến, trận đánh, chiến dịch, cuộc chiến tranh trên lược đồ, sơ đồ, bản đồ lịch sử. - Kỹ năng vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cuộc sống, hay các vấn đề thời sự đang diễn ra trong nước và thế giới. - Kỹ năng xác định và giải quyết được mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện lịch sử với nhau. - Tư duy tái tạo (kỹ năng ghi nhớ sự kiện;Tưởng tượng, kỹ năng tái tạo...) - Tư duy sáng tạo (KN so sánh; kỹ năng phân tích; kỹ năng phản biện; kỹ năng khái quát hóa...) - Kỹ năng trả lời câu hỏi, bài tập lịch sử một cách sáng tạo. - Kỹ năng nhận xét, rút ra bài học kinh nghiệm từ những sự kiện, hiện tượng, nhân vật, vấn đề lịch sử.

II. Nhóm năng lực về quan hệ xã hội

4

Năng lực giao tiếp

5

Năng lực hợp tác, hội nhập

- Khả năng sử dụng được ngôn ngữ lịch sử để trình bày một nội dung kiến thức, - Diễn đạt được ngôn ngữ lịch sử qua các thời kì, tránh hiện đại hóa lịch sử. - Sử dụng ngôn ngữ để biểu cảm và tái hiện cảm xúc lịch sử. - Kỹ năng làm việc theo nhóm, tập thể để giải quyết một nhiệm vụ học tập. - Kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử

III. Nhóm năng lực công cụ

6

Năng lực sử dụng côn tin và thông nghệ truyền thông (ICT)

lực sử dụng

7

Năng ngôn ngữ

8

Năng lực tính toán

Kỹ năng khai thác internet (thông tin tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, phim tư liệu...) để tìm kiếm nội dung kiến thức lịch sử. - Kỹ năng sử dụng phần mềm dạy học như sơ đồ tư duy, Powerpoint trình để trình bày nội dung lịch sử - Kỹ năng trình bày, lập luận, thể hiện chính kiến của mình về một nội dung kiến thức lịch sử bằng ngôn ngữ viết. - Kỹ năng thuyết trình bằng lời nội dung kiến thức lịch sử. Sử dụng thống kê toán học trong học tập bộ môn lịch sử như vẽ sơ đồ, biểu đồ, đồ thị lịch sử

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nguồn: [7, tr. 47]

1.1.1.2. Hợp tác

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, hợp tác có nghĩa là “chung sức, giúp đỡ

qua lại với nhau” [23, tr.57]. Theo từ điển Tâm lí học “Hợp tác là hai hay nhiều bộ

phận trong một nhóm cùng làm việc theo cùng một cách thức để tạo ra một kết quả

chung” [38, tr.45].

Các định nghĩa về hợp tác xét về nội hàm gồm những dấu hiệu cơ bản sau đây:

Có mục đích chung trên cơ sở mọi người đều có lợi; Công việc được phân công phù

hợp với năng lực của từng người; Bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ nguồn lực và

thông tin, tự nguyện hoạt động;Các thành viên trong nhóm phụ thuộc lẫn nhau, trên cơ

sở trách nhiệm cá nhân cao;Cùng chung sức, giúp đỡ hỗ trợ, khích lệ tinh thần tập thể

và bổ sung cho nhau.

Có thể hiểu, hợp tác là sự kết hợp giữa hai hoặc nhiều người thành một nhóm,

trong đó mỗi người đảm nhận một vai trò khác nhau và cùng phối hợp, giúp đỡ, chia

sẻ lẫn nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ chung nào đó.

Muốn hợp tác thành công cần có các yếu tố sau: (1) Đặt mục tiêu chung: Điều

quan trọng khi hợp tác là cả nhóm cần nhận thức mục tiêu chung và cam kết phấn đấu

thay vì chỉ chú trọng quan điểm của từng cá nhân. Mặc khác, sự kỳ vọng rõ ràng về kết

quả công việc sẽ giúp các thành viên giữ vững tinh thần trách nhiệm và phát huy hết

khả năng của họ; (2) Lắng nghe người khác: Trong một số trường hợp, các thành viên

có thể gặp thiếu sót khi đưa ra ý kiến. Vì vậy, cần tôn trọng và lắng nghe khi họ trình

bày và chia sẻ. Từ đó, dễ dàng phát hiện ra những sai sót và đưa ra các góp ý cần thiết.

Điều này sẽ giúp những ý tưởng trong công việc được hoàn thiện và nhóm phát triển

hơn. (3) Trợ giúp lẫn nhau: Không nên nghĩ đến lợi ích cá nhân mà nên vì kết quả

chung của toàn nhóm. Các thành viên cần phải hỗ trợ và sẵn sàng chia sẻ công việc với

nhau nếu đồng đội gặp khó khăn. Điều này sẽ giúp tạo nên sự gắn bó và động lực thúc

đẩy sự tiến bộ của tất cả mọi người và rút ngắn thời gian hoàn thành công việc nhóm.

(4)Tinh thần trách nhiệm: Trong quá trình hợp tác, tinh thần trách nhiệm với công việc

và nhóm cần đặt lên hàng đầu; (5) Kiềm chế cảm xúc: Trong quá trình làm việc nhóm,

xảy ra mâu thuẫn là việc khó tránh khỏi bởi sự bất đồng quan điểm giữa các thành viên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nếu cảm xúc vượt quá giới hạn cho phép thì dễ dẫn đến việc mất đoàn kết trong nội bộ

và hiệu quả công việc bị giảm sút. Do vậy, cần biết kiểm soát bản thân, tôn trọng năng

lực, quan điểm và hành động của các thành viên khác để tạo nên sự đồng thuận, giảm

thiểu xung đột và nâng cao năng suất công việc; (6) Tiếp thu ý kiến từ người khác:

Thực tế, nhiều người thường có khuynh hướng cho rằng quan điểm của cá nhân là tốt

nhất và khó lòng chấp nhận ý kiến của bất kỳ ai. Điều này là sai lầm, bởi vì thông qua

ý kiến của người khác sẽ dễ dàng phát hiện ra nhiều khía cạnh của vấn đề. Vì vậy, cần

phải tôn trọng và tiếp thu ý kiến của các thành viên trong nhóm, trân trọng những đóng

góp của người khác để bản thân ngày một hoàn thiện hơn.

Hợp tác trong dạy học là sự kết hợp giữa tính tập thể và tính cá nhân thực hiện

các biện pháp có cơ sở khoa học để tổ chức, điều khiển các mối quan hệ vận động và

phát triển theo một trật tự nhất định nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học.Trong đó,

GV là người chỉ đạo hoạt động tự học của HS, giúp HS tự tìm ra tri thức qua quá trình

cá nhân hóa và xã hội hóa. HS là chủ thể tích cực của hoạt động học tập. Qua hợp tác,

HS trao đổi ý tưởng giúp nhau trong việc lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo

và tự mình tìm kiếm tri thức bằng chính hành động của mình. Môi trường là nơi diễn

ra quá trình hợp tác làm cho tri thức đã cá nhân hóa được xã hội hoá. Sự tác động giữa

người dạy, người học và môi trường theo trật tự nhất định tạo nên sự thống nhất của

quá trình dạy học, làm cho quá trình này vận động tạo ra tri thức, kỹ năng, thái độ và

sự trưởng thành ở HS.

1.1.1.3. Năng lực hợp tác.

Năng lực luôn gắn với một hoạt động cụ thể, năng lực gắn với hoạt động hợp

tác trong nhóm gọi là năng lực hợp tác.

Theo tác giả Nguyễn Công Khanh“Năng lực hợp tác là năng lực cá nhân

được dùng để hoàn thành nhiệm vụ được giao trong điều kiện được trao đổi cùng

với các thành viên khác trong nhóm” [29, tr.33]. Các thành tố của năng lực hợp tác

bao gồm: 1) Xác định được mục đích và phương thức hợp tác; 2) Xác định được các

hoạt động của bản thân; 3) Biết được khả năng của những người cùng hợp tác; 4)

Thuyết phục người khác cùng hoàn thành công việc; 5) Đánh giá được kết quả hoạt

động của cả nhóm và của bản thân và rút ra bài học kinh nghiệm sau khi hoạt động

nhóm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Theo tác giả Đặng Thành Hưng “NLHT là khả năng của cá nhân biết thích ứng

với tập thể nhóm, biết tự nhận trách nhiệm, chia sẻ công việc, giúp đỡ cộng sự và thực

hiện có hiệu quả những thỏa thuận trong nhóm như kế hoạch đã đề ra. Năng lực hợp

tác là khả năng tương tác lẫn nhau, trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác,

sự tương tác trực diện và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức,

kĩ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ chung. NLHT là khả năng

tổ chức và quản lí nhóm, thực hiện các hoạt động trong nhóm một cách thành thạo, linh

hoạt, sáng tạo nhằm giải quyết nhiệm vụ chung có hiệu quả” [25, tr.34].

1.1.1.4. Năng lực hợp tác trong dạy học lịch sử.

Trong dạy học Lịch sử, NLHT là một trong tám năng lực cốt lõi quan trọng cần

hình thành cho học sinh. Giáo viên thông qua kiến thức LS, dựa vào các đặc điểm của

tri thức LS như tính quá khứ, tính không lặp lại, tính thống nhất giữa “sử” và “luận”…,

GV tổ chức các hoạt động cụ thể giúp HS tự giác tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm

lĩnh tri thức. Từ đó, góp phần hình thành và phát triển NLHT nói riêng và các năng lực

bộ môn nói chung cho HS.

NLHT trong DHLS là cách dạy học bám sát với đặc trưng bộ môn từ đó phát

huy được tính chủ động tích cực, sáng tạo của người học. Đó là cách dạy học chuyển

quá trình thuyết giảng một cách áp đặt của người dạy thành quá trình tự học, tự tìm tòi,

khám phá của người học. Trong đó, sự trải nghiệm và tự kiến tạo kiến thức cho bản

thân của người học có vai trò hàng đầu. Những nỗ lực cá nhân của học sinh là trung

tâm của quá trình dạy học. Người học phải tự tạo dựng sự hiểu biết của riêng mình là

chủ yếu chứ không chỉ đơn giản là tiếp thu một cách thụ động từ môi trường bên ngoài.

Vì thế, người giáo viên khéo léo đặt vấn đề và tổ chức cho học sinh tự tìm tòi khám

phá, phát hiện, hợp tác, chia sẻ, sàng lọc ý kiến, để giải quyết vấn đề.Tất cả học sinh

đều được làm việc và thực hành luyện tập, biết giúp đỡ lẫn nhau, giải quyết được những

vấn đề khó và tìm ra cái mới trong bài học, tạo thái độ học tập tích cực, đặc biệt giúp

các em rèn luyện phong cách làm việc hợp tác. Khi tổ chức cho học sinh phân tích,

thảo luận, đánh giá các sự kiện lịch sử học sinh có thể nêu ra nhiều ý kiến khác nhau.

Đồng thời lại biết lắng nghe ý kiến người khác chia sẻ kết luận và cơ sở lập luận của

bạn, biết cách hợp tác công việc với bạn, qua việc học hỏi, hợp tác mà tri thức trở nên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ lâu. Hình thành NLHT có ý nghĩa rất quan trọng. Nó

giúp cho HS có được thành tích học tập tốt hơn nhờ sự cố gắng, tích cực của bản thân

cũng như sự chia sẻ, giúp đỡ của bạn bè; đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa cá nhân

và quan hệ xã hội, lĩnh hội nhiều giá trị xã hội, trưởng thành về nhân cách và hành vi

xã hội trong phạm vi nhỏ của trường học. Điều này tạo tiền đề vững chắc để khi bước

vào xã hội với những mối quan hệ phức tạp, HS không những nhanh chóng thích nghi

mà còn có thể xây dựng và hưởng lợi từ các mối quan hệ xã hội đó.. Đây còn là cơ hội

rèn luyện kỹ năng cho học sinh để sau này các em có thể mang theo hành trang ấy tự

tin bước vào đời. Do đó, mỗi HS cần trang bị ngay từ khi đang theo học trong nhà

trường cách học hợp tác để có thể sống và làm việc trong môi trường xã hôi rộng lớn

một cách tích cực, tràn đầy năng lượng và cuộc sống có ý nghĩa hơn rất nhiều. Đây

chính là điều kiện tiên quyết dẫn đến sự thành công của mỗi cá nhân trong cuộc sống.

Trong DHLS, năng lực hợp tác được biểu hiện ở những khía cạnh sau: HS chủ

động hoạt động nhóm để giải quyết các vấn đề học tập Lịch sử; Lựa chọn hình thức

làm việc nhóm với quy mô phù hợp yêu cầu,nhiệm vụ học tập Lịch Sử; Phân tích các

công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ, đánh giá khả năng của mình có thể

đóng góp vào hoạt động của nhóm; Theo dõi tiến độ hoàn thành công việc của từng

thành viên và cả nhóm để điều chỉnh các hoạt động phối hợp; Chủ động và gương mẫu

hoàn thành nhiệm vụ được giao,góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung; Chia sẻ

học hỏi các thành viên khác; Rút kinh nghiệm cho bản thân và góp ý cho từng thành

viên trong nhóm.

Như vậy, NLHT trong DHLS là rất cần thiết trong quá trình học tập của học

sinh nói chung và dạy học môn lịch sử nói riêng.

1.1.1.5. Phát triển năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử

Phát triển là sự lớn mạnh, trưởng thành hơn của cái mới so với cái cũ đã được

hình thành hay xuất hiện từ trước. Hay nói cách khác, phát triển là sự thay đổi của cái

mới tiến bộ hơn cái cũ. Nguyên nhân của sự phát triển là kết quả của quá trình tích lũy

đủ về lượng,từ đó tạo ra sự thay đổi về chất, là biển hiện của quy luật phủ định của phủ

định trong hiện thực khách quan.

Phát triển NL là quá trình biến đổi, tăng tiến các NL của HS từ mức độ thấp đến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

mức độ cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện làm cho việc học tập trở nên có mục

đích, hiệu quả. Phát triển NL đó là biểu hiện của sự tiến bộ trong nhận thức, thái độ,

hành động và kỹ năng học tập của HS trong nhóm, làm cho việc học tập ngày càng

hoàn thiện có kết quả tốt hơn. Phát triển NL là kết quả quá trình HS thường xuyên học

tập với nhau, có ý thức về nhiệm vụ của mình, của nhóm để hỗ trợ nhau, cộng tác với

nhau, tương tác lẫn nhau, tạo ra tính tích cực, hứng thú học tập đưa đến kết quả ngày

càng cao.Quá trình dạy học có mục tiêu hình thành năng lực hoạt động cho HS, trong

đó phát triển NLHT là một hướng đi tích cực, hoàn toàn phù hợp với xu thế dạy học

hiện đại.

Dựa vào những biểu hiện cụ thể của NLHT trong DHLS, phát triển NLHT trong

DHLS được thể hiện ở những điểm sau:

(1) Quá trình tăng dần và hoàn thiện về kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh

nghiệm. Sự tiến bộ trong nhận thức, thái độ, hành động và kỹ thuật học tập của học sinh

trong nhóm, làm cho việc học tập Lịch sử ngày càng hoàn thiện có kết quả tốt hơn.

(2) Học sinh thường xuyên học tập với nhau trong giờ học Lịch sử, có ý thức

về nhiệm vụ của mình, của nhóm để hỗ trợ nhau, cộng tác với nhau, tương tác lẫn nhau,

tạo ra tính tích cực, tính gắn bó trong nhiệm vụ học tập Lịch sử nói riêng và trong cuộc

sống hàng ngày nói chung.

Như vậy, để phát triển NLHT trong dạy học LS, yêu cầu tất cả các yếu tố như

mục tiêu, nội dung, phương pháp, kĩ thuật, phương tiện dạy học phải cùng phát huy

nhằm từng bước hoàn thiện các kĩ năng như hoạt động nhóm, xây dựng môi trường

hợp tác nhóm, giải quyết bất đồng, diễn giải, đánh giá,..Phát triển NLHT trong dạy học

LS vừa phải đảm bảo HS nắm vững được kiến thức LS, vừa phải đảm bảo các kĩ năng

hợp tác ở HS có sự tiến bộ. Tuy nhiên, để phát triển năng lực hợp tác trong dạy học

Lịch sử đòi hỏi phải có một quá trình lâu dài trong học tập, lao động, trải nghiệm, bản

thân luôn tích cực khám phá, muốn phát hiện cái mới, giải quyết mâu thuẫn xung đột

trong nhận thức, học tập và thực tiễn liên quan tới cuộc sống của học sinh. Điều đó

diễn ra dưới sự hướng dẫn điều khiển thường xuyên của giáo viên, bạn bè, môi trường

xung quanh. Vậy nên, việc phát triển năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử ở trường

THPT đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

1.1.2. Cơ sở xuất phát của việc phát triển năng lực hợp tác trong DHLS ở trường

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

THPT

1.1.2.1. Mục tiêu giáo dục đào tạo và mục tiêu bộ môn Lịch sử

Nhằm đổi mới, căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, Nhà nước ta đã đề ra

nhiều chính sách, biện pháp đồng bộ để triển khai thực hiện, trong đó có việc ban hành

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Có thể nói, đây là chính sách của nhà nước

thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, quy định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và

năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh

giá kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lý chất lượng giáo dục phổ thông; đồng thời là

cam kết của Nhà nước bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ

thông.

Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hóa mục tiêu giáo dục phổ thông là

“giúp học sinh phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích

cực, tự tin, có ý thức chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt

đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động

có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của

sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công

nghiệp mới” [6, tr.45].

Từ mục tiêu của giáo dục, xác định mục tiêu của cấp THPT: “Giáo dục THPT

nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn

thiện về những học vấn phổ thông và hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng

nghiệp, để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi

vào cuộc sống lao động" [6, tr.47]

Sau đây là bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nội dung và chương trình định hướng năng lực về mức độ học sinh cần đạt được:

Bảng 1.2. Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng

nội dung và chương trình định hướng năng lực

Chương trình định hướng năng lực

Mục tiêu giáo dục

Nội dung giáo dục

Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát,đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của học sinh một cách liên tục Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kế hoạch đã quy định, gắn với các tình hống thực tiễn. Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết.

Chương trình định hướng nội dung Mục tiêu dạy học được mô tả không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được Việc lựa chọn nội dung dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiễn. Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình

Phương pháp dạy học

là người Giáo viên truyền thụ tri thức, là trung tâm của quá trình dạy học. Học sinh sẽ tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn.

Hình thức dạy học Chủ yếu dạy học lí thuyết trên lớp học

Đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiêu chí đánh giá được xây dựng chủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và tái hiện nội dung đã học. - Giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức. Chú trọng đến sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp - Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành Tổ chức hình thức dạy học đa dạng; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học. Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đạt được, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn.

Nguồn: [7, tr. 17]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở lí

luận và thực tiễn, thể hiện tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của giáo dục phổ

thông, thông qua chức năng, nhiệm vụ, nội dung của môn học và tình hình nhiệm vụ

của đất nước trong những điều kiện cụ thể. Mục tiêu của môn LS ở trường THPT là

cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển của dân tộc và xã hội loài

người. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, bảo vệ tổ

quốc…Việc phát triển năng lực hợp tác trong dạy học LS sẽ góp phần giúp học sinh

thêm say mê, yêu thích môn Lịch sử từ đó thực hiện tốt mục tiêu môn học đề ra, cụ thể

như sau:

Về kiến thức: Xác định rõ những kiến thức cơ bản về các sự kiện lịch sử tiêu

biểu, trên cơ sở củng cố, phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học, hợp thành một

hệ thống kiến thức từ thời cổ đại đến nay.

Về kỹ năng: Tiếp tục hoàn thiện các kĩ năng cần thiết cho học tập lịch sử: như

biết thể hiện quan điểm cá nhân khi xem xét các sự kiện, nhân vật lịch sử, làm việc với

SGK và các nguồn sử liệu, biết phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá…biết làm việc

với bảng, biểu, sơ đồ, bản đồ, tranh ảnh lịch sử, có năng lực tự học, phát hiện, đề xuất

giải quyết vấn đề, đồng thời có năng lực tư duy và thực hành.

Về thái độ: Thông qua dạy học lịch sử, giáo dục cho HS về quan điểm lập trường,

tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, nhân cách, tình cảm theo quan điểm của CN Mác-Lênin,

tư tưởng HCM, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước. Tri thức lịch

sử không chỉ có tác dụng giáo dục trí tuệ, mà còn giáo dục cả tư tưởng, thái độ, góp

phần tích cực vào việc đào tạo con người VN một cách toàn diện

Việc học tập LS ở trường THPT góp phần nâng cao sự hiểu biết mà HS đã tiếp

thu ở trung học cơ sở, đặc biệt là trình độ lý thuyết trong nhận thức lịch sử và năng lực

hoàn thành các nhiệm vụ mà GV đề ra một cách thuần thục, đạt yêu cầu mức độ chương

trình học. Trên cơ sở các nhiệm vụ được hình thành và phát triển, giáo viên giúp học

sinh phát triển các năng lực chủ yếu: Năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề,

năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác… Đây cũng là những năng lực phù hợp với yêu

cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và toàn cầu khi bước vào thế kỉ XXI

mà UNESCO đã nêu ra: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

định mình”. Để đạt được ba mục tiêu đó, cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo

hướng phát triển năng lực. Việc phát triển NLHT trong DHLS cũng cần phải căn cứ

vào mục tiêu, yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và Chương trình

giáo dục phổ thông môn LS (Hình 1.2).

Hình 1.2. Mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông môn LS năm 2018

Nguồn:https://taphuan.csdl.edu.vn/learn/149086-144314/144286-144271-

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

7/sphcmmon-lich-su.html

Hình 1.3. Yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông môn LS năm 2018

Nguồn:https://taphuan.csdl.edu.vn/learn/149086-144314/144286-144271-

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

7/sphcmmon-lich-su.html

Để thực hiện được mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường THPT, nhằm đáp ứng

được yêu cầu của giáo dục, dạy học Lịch sử phải luôn tìm kiếm và vận dụng được

những phương pháp dạy học tích cực, giúp cho quá trình nhận thức của học sinh được

diễn ra một cách thuận tiện nhất, đạt hiệu quả cao nhất. Phát triển NLHT và các biện

pháp để phát triển NLHT là một trong những con đường, cách thức góp phần phát triển

nhận thức độc lập, tư duy sáng tạo, khả năng hợp tác của học sinh, nâng cao chất lượng

dạy học bộ môn và phát triển năng lực cốt lõi cho học sinh.

1.1.2.2. Đặc trưng của bộ môn LS

Môn Lịch sử giúp HS THPT phát triển năng lực sử học, đặc biệt là tư duy lịch

sử, các khả năng thu thập và xử lý sử liệu, kết nối quá khứ với hiện tại, vận dụng các

bài học lịch sử vào việc giải quyết những vấn đề của thực tế cuộc sống thông qua hệ

thống các chủ đề và chuyên đề về lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam. Bên cạnh đó,

môn Lịch sử giúp HS nhận thức được giá trị khoa học và giá trị thực tiễn của Sử học

trong đời sống xã hội hiện đại. Định hướng cho HS lựa chọn những ngành nghề liên

quan như: nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, ngoại giao, quản lý, lãnh đạo, hoạt

động du lịch, văn hoá, thông tin truyền thông,…thông qua việc phát triển năng lực sử

học và hiểu biết về giá trị thực tiễn của Sử học.

Để xác định đúng đắn các biện pháp sư phạm nhằm giúp HS nắm vững kiến

thức lịch sử, phát triển NL cho học sinh trước tiên cần phải hiểu rõ đặc trưng của khoa

học lịch sử:

LS mang tính quá khứ

Lịch sử là quá trình phát triển hợp quy luật của xã hội loài người từ lúc con

người và xã hội hình thành đến nay. Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra một lần

duy nhất, gắn với một khoảng thời gian, không gian và nhân vật cụ thể. HS không thể

“trực tiếp quan sát” được các sự kiện, hiện tượng, mà HS chỉ có thể nhận thức được

một cách “gián tiếp” thông qua các tài liệu được lưu giữ lại, hoặc nhận thức thông qua

bài giảng, hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên cũng không thể tiến hành thí nghiệm để

dựng lại quá khứ lịch sử đúng như nó tồn tại để cho học sinh quan sát. Bởi vậy, người

ta không thể trực tiếp quan sát được lịch sử quá khứ và chỉ nhận thức được chúng một

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại, hoặc dựa vào các hiện tượng lịch sử

tương tự của cái mới, của các dân tộc khác để phân tích, suy nghĩ những vấn đề lịch sử

chúng ta đang nghiên cứu, dùng các loại tài liệu này để tham khảo chứ không thể thay

thế hiện tượng lịch sử khách quan mà chúng ta đang nghiên cứu.

Lịch sử mang tính không lặp lại:

Tri thức lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại về thời gian và cả không

gian. Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian nhất

định. Không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các

thời kì khác nhau hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, lặp lại, mà là sự kế

thừa phát triển “sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại”. Đời sống của xã hội loài người,

cũng như của mỗi dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình đã trải qua những

sự thay đổi lớn lao. Chính điều này buộc người giảng dạy lịch sử khi trình bày một sự

kiện, hiện tượng nào đó trong lịch sử, phải xem xét tính cụ thể cả về thời gian và không

gian làm nảy sinh sự kiện, hiện tượng đó. Qua đó nhận thấy các sự kiện lịch sử cụ thể,

riêng biệt song có mối quan hệ với kế thừa.

Lịch sử mang tính cụ thể: Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể

của các nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó. Lịch sử của mỗi nước, mỗi dân

tộc đều có diện mạo riêng, do những điều kiện riêng quy định. Mặt khác, các quốc gia,

các dân tộc khác nhau sống trên những khu vực khác nhau, tuy bị tác động của những

quy luật chung, trải qua quá trình phát triển, trình độ sản xuất không ngừng nâng cao,

đời sống văn hóa tinh thần của con người ngày càng phong phú, đa dạng nhưng tiến trình

phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc không hoàn toàn giống nhau.

Chính đặc điểm này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử, càng

cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu lại càng hấp dẫn bấy nhiêu. Song dù có sự

khác biệt, sự phát triển của lịch sử các dân tộc đều tuân thủ những quy luật chung sự

phát triển của xã hội loài người.

Lịch sử mang tính hệ thống (tính logic LS)

Khoa học lịch sử vừa bao gồm các sự kiện hiện tượng về cơ sở kinh tế, đấu tranh

xã hội, vừa bao gồm cả nội dung của kiến trúc thượng tầng, tình hình sản xuất và quan

hệ sản xuất…Nội dung tri thức lịch sử như vậy rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

của đời sống xã hội loài người, bao gồm cả chính tri, quân sự, kinh tế, văn hóa, nghệ

thuật, KHKT…SGK Lịch sử ở trường phổ thông tuy giản lược song cũng phải bao quát

được những mặt đó. Những nội dung tri thức lịch sử đó lại có mối quan hệ chằng chịt,

phức tạp. Điều này đòi hỏi người GV phải luôn luôn chú ý đến mối quan hệ ngang dọc,

trước sau của các vấn đề lịch sử, cũng như mối quan hệ ngang, nội tại giữa các mặt

chính trị, kinh tế, văn hóa để cung cấp cho HS những tri thức lịch sử khoa học mang

tính hệ thống và hoàn chỉnh

Lịch sử mang tính thống nhất giữa sử và luận:

Sử học là một ngành của khoa học xã hội. Từ trước đến nay, nhiều quốc gia,

nhiều dân tộc trên thế giới đã xuất hiện nhiều sử gia nổi tiếng. Họ đã tích lũy được

những tư liệu lịch sử phong phú và cũng trình bày những quan điểm tư tưởng về sử học

và phương pháp giải quyết những vấn đề lịch sử. Những ghi chép về quá trình phát

triển xã hội loài người từ những góc độ khác nhau, đó đều là những nội dung quan

trọng của di sản văn hóa nhân loại. Từ đặc điểm này mà trong giảng dạy lịch sử, người

GV phải đảm bảo sự thống nhất giữa trình bày sự kiện với giải thích bình luận đều phải

xuất phát từ sự kiện lịch sử cụ thể chính xác, đáng tin cậy và không có sự kiện, hiện

tượng nào không được giải thích làm sáng tỏ bản chất của sự kiện, hiện tượng đó. Đó

là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính Đảng của nghiên cứu và dạy học Lịch sử

theo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng HCM.

1.1.2.3. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Đổi mới phương pháp dạy và học là nhiệm vụ thường xuyên, tuy nhiên phải liên

tục tư duy để tìm ra được những phương pháp mới hiệu quả hơn. Yêu cầu về đổi mới

phương pháp dạy và học sẽ ngày càng cấp thiết hơn khi sắp tới toàn ngành triển khai

chương trình giáo dục phổ thông mới với nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi không

chỉ là chữ tâm của mỗi nhà giáo đối với học sinh mà đó còn là trách nhiệm với những

thế hệ tương lai của đất nước.

Từ những định hướng chung về đổi mới phương pháp dạy học của Đảng, Nhà

nước thì việc đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử ở trường phổ thông cần chú

trọng vào khuyến khích học sinh học tập tích cực, chủ động chống lại thói quen học

tập tiêu cực, thụ động loại bỏ phương pháp dạy học truyền thụ một chiều, nhồi nhét

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

kiến thức, phải hướng vào năng lực tự học của học sinh, đa dạng hóa các hình thức,

phương pháp học tập để tạo điều kiện cho người học được học tập tích cực, tự khám

phá kiến thức và giải quyết vấn đề, tự rút ra kết luận trên cơ sở hướng dẫn, tổ chức và

gợi ý của giáo viên. Đồng thời, phải hướng tới sự tương tác, phối hợp giữa người dạy

và người học và giữa người học với nhau, coi trọng vốn hiểu biết, kinh nghiệm đã có

của người học và tăng cường sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại, đặc

biệt là ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin một cách hiệu quả.

Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, môn Lịch sử ở trường phổ thông nói

riêng là chuyển từ mô hình dạy học “lấy giáo viên làm trung tâm” sang mô hình “lấy

học sinh làm trung tâm” trong dạy học lịch sử là phát huy tính tích cực, độc lập nhận

thức của người học, phát triển khả năng tư duy. Hiện nay, yêu cầu đổi mới phương

pháp dạy học là chuyển từ cách dạy học theo quan điểm tiếp cận nội dung sang cách

dạy học tiếp cận năng lực người học. Quan điểm dạy học này không chỉ đề cao tính

chủ động trong nhận thức của học sinh, mà còn đặc biệt chú ý năng lực giải quyết vấn

đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Đồng thời gắn hoạt động

chí tuệ với hoạt động thực hành, đẩy mạnh quan hệ tương tác giữa giáo viên và học

sinh thông qua sự kết hợp các hình thức học tập, theo đó phát triển năng lực xã hội.

Theo quan điểm phát triển năng lực người học, việc đánh giá kết quả học tập của học

sinh không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra tái hiện kiến thức đã học, mà quan trọng nhất

là việc kiểm tra khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng

khác nhau và khả năng đánh giá thực tiễn cuộc sống. Như vậy, phương pháp dạy học

lịch sử luôn phải phù hợp với nội dung dạy học, nội dung nào thì phương pháp ấy,

không có phương pháp nào là vạn năng cho mọi nội dung khác nhau. Do đó, để thuận

lợi cho việc lựa chọn phương pháp dạy học tối ưu, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ nội

dung ở từng mục, theo đơn vị kiến thức một cách khoa học, rồi sử dụng phương pháp

ấy sao cho hiệu quả.

1.1.2.4. Đặc điểm tâm sinh lý HS

Lứa tuổi học sinh THPT được xác định vào khoảng 15-18 tuổi, đây là giai đoạn

đầu của lứa tuổi thanh niên. Hành động của các em ngày càng độc lập và có tinh thần

trách nhiệm cao. Các em luôn mở rộng mối quan hệ xung quanh, thầy cô và bạn bè.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Cùng với sự trưởng thành về mọi mặt, tính dựa dẫm phụ thuộc vào cha mẹ cũng được

thay bằng quan hệ tự lập, bình đẳng. Tuy nhiên lứa tuổi này vẫn phụ thuộc vào người

lớn về nhiều mặt, về kinh tế, hình thành đạo đức, thế giới quan và định hướng ngành

nghề.

Đối với HS THPT, nội dung và tính chất hoạt động học tập của các em khác rất

nhiều so với hoạt động của HS ở cấp dưới, sự khác nhau không chỉ ở nội dung học tập

ngày càng sâu sắc và trừu tượng hơn, mà hoạt động học tập của các em đòi hỏi tính độc

lập và năng động cao hơn nhiều. Nội dung, chương trình học tập giành cho người học

phải có tư duy, lý luận sâu sắc hơn, nhất là khả năng tự tổng kết và đánh giá.

Lứa tuổi 15-18 là giai đoạn bắt đầu trưởng thành, trong các em nảy sinh yêu cầu,

đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng đào tạo, cũng như chất lượng của GV. Ở lứa tuổi

này các em cũng dần dần ý thức về bước đi của mình trong tương lai, do đó ý thức học

tập của các em ngày càng phát triển. Thái độ của các em đối với môn học mang tính

lựa chọn nhiều hơn, bắt đầu hình thành tư tưởng hứng thú học tập các môn học gắn liền

với khuynh hướng nghề nghiệp. Có thể nói, ở giai đoạn này đã có sự phân biệt về trình

độ nhận thức giữa các môn học, hay chính xác hơn là hướng sự tập trung chính vào các

môn học theo các khối thi, hoặc các môn học có tính thời đại. Các hứng thú này bắt

nguồn từ định hướng nghề nghiệp của các em sau này.Các em thích tranh luận, bày tỏ

ý kiến , hợp tác để làm sáng tỏ những quan điểm của mình, có thể tập trung vào các

vấn đề mà các em cảm thấy hứng thú. Khi các em muốn chứng tỏ tư duy lí luận của

mình là đúng, hợp lý thì các em buộc phải học tập tích cực hơn và sẽ tìm tòi nghiên

cứu tài liệu một cách khoa học để dựa vào đó làm cơ sở tranh luận làm sáng tỏ quan

điểm của mình.

1.1.3. Nội dung của NLHT cần phát triển cho HS trong DHLS ở trường THPT

Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy

học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng

lực vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề, tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho

con người năng lực giải quyết các tình huống trong cuộc sống và nghề nghiệp. Chương

trình này nhấn mạnh vai trò chủ thể của người học với tư cách là chủ thể của quá trình

nhận thức và người học cần phải đạt được các năng lực chung. Năng lực chung là năng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội.

Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều

môn học.

Qua nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm các nước phát triển, đối chiếu với yêu

cầu kinh tế - xã hội và điều kiện giáo dục trong nước những năm sắp tới, các nhà giáo

dục Việt Nam đã đề xuất chuẩn đầu ra về năng lực chung cần thiết được hình thành và

phát triển cho học sinh THPT thông qua Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch

sử (2018) được thể hiện dưới đây:

Hình 1.4. Các năng lực cốt lõi cần phát triển cho HS theo Chương trình giáo dục

phổ thông tổng thể

Nguồn: https://taphuan-forum.csdl.edu.vn/topic/ , ngày 13/8/2019.

Như vậy, NLHT là một trong 10 NL chung cốt lõi cần phát triển cho HS. NLHT

là sự tổng hợp, đan xen của nhiều thành tố liên quan mật thiết với nhau, trong đó nội

dung của NLHT được xác định bởi ba yếu tố cơ bản là: Kiến thức, kĩ năng và thái độ

hợp tác: Kiến thức hợp tác là nêu được khái niệm, mục đích, ý nghĩa hợp tác; phân tích

được quy trình hợp tác, các hình thức hợp tác; Trình bày được các cách tạo nhóm, kĩ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thuật hoạt động nhóm, vai trò của từng vị trí trong nhóm... Các kỹ năng hợp tác gồm

các KN thành phần như sau: KN tổ chức nhóm hợp tác, KN lập kế hoạch hợp tác, KN

tạo môi trường hợp tác, KN giải quyết mâu thuẫn, KN diễn đạt ý kiến, KN lắng nghe

và phản hồi, KN viết báo cáo, KN tự đánh giá, KN đánh giá lẫn nhau. Đây là thành tố

biểu hiện cao nhất của NLHT. Thái độ hợp tác: Tích cực hoạt động nhóm: Các thành

viên trong nhóm tích cực tham gia hoạt động nhóm và động viên nhau cùng tham gia;

Chung sức hoàn thành nhiệm vụ: Các thành viên trong nhóm đồng tâm, hợp lực hoàn

thành nhiệm vụ chung của nhóm, có trách nhiệm với sự thành công của nhóm; Chia sẻ,

giúp đỡ lẫn nhau: Các thành viên trong nhóm tôn trọng chia sẻ, ủng hộ, giúp đỡ lẫn

nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ.

Trong ba yếu tố cấu thành NLHT thì kỹ năng hợp tác là yếu tố cần và quan

trọng, bởi vì muốn làm tốt công việc, con người phải có kĩ năng. Kỹ năng không chỉ

đòi hỏi con người phải có kiến thức sâu sắc và thái độ đúng đắn về đối tượng mà phải

biết vận dụng vốn kiến thức và thái độ đó để hành động đúng, đạt kết quả cao. Trải qua

quá trình học tập rèn luyện, kĩ năng của HS sẽ dần trở nên thành thục, uyển chuyển và

là “tài sản” quý giá của mỗi người. Từ việc phát triển được các kỹ năng hợp tác, học

sinh cũng sẽ có kiến thức và thái độ đúng đắn trong quá trình hợp tác.

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu của các tác giả trong

và ngoài nước, cùng với việc căn cứ vào mục tiêu giáo dục HS THPT, mục tiêu giáo

dục của bộ môn Lịch sử, biểu hiện của NLHT trong DHLS, chúng tôi xác định hệ thống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

NLHT cần phát triển cho học sinh trong quá trình DHLS ở trường THPT qua bảng sau:

Bảng 1.3: Hệ thống năng lực hợp tác

STT 1

Tên năng lực Năng lực tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử

2

3

Năng lực thực hành bộ môn lịch sử Xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử với nhau.

4

So sánh, phân tích, phản biện, khái quát hóa

5

Biểu hiện Học sinh tái hiện lại các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu có ảnh hưởng đến lịch sử thế giới và dân tộc. Học sinh quan sát, đọc và trình bày diễn biến trên bản đồ, lược đồ… Học sinh xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử với nhau, thông qua đó lí giải được mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử. Đó là chỉ ra mối quan hệ của các sự kiện, hiện tượng với hoàn cảnh lịch sử, với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong và ngoài nước; những tác động tích cực hoặc tiêu cực của tình hình thế giới đối với lịch sử Việt Nam...qua đó lí giải nguồn gốc,bản chất của mối quan hệ, tác động qua lại giữa sự kiện, hiện tượng lịch sử đó. Học sinh so sánh, phân tích một nhân vật hay một sự kiện lịch sử, phản biện các nhận định, luận điểm lịch sử, khái quát một giai đoạn.Từ đó thấy được tác động, ảnh hưởng của sự kiện đối với sự phát triển của lịch sử. Học sinh nhận xét, đánh giá các vấn đề lịch sử, các hoạt động kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao...rút ra bài học lịch sử.

6

7

Nhận xét, đánh giá, rút ra bài học lịch sử từ những sự kiện, hiện tượng, vấn đề lịch sử. Vận dụng, liên hệ kiến thức lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn đạt ra Thông qua sử dụng ngôn ngữ lịch sử thể hiện chính kiến của mình về các vấn đề lịch sử

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Học sinh biết vận dụng kiến thức lịch sử và liên hệ với thực tiễn để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống hiện nay: xung đột trên thế giới, tranh chấp biên giới, biển đảo... Học sinh biết sử dụng ngôn ngữ lịch sử qua các thời kì để trình bày, lập luận các vấn đề lịch sử, qua đó thể hiện được chính kiến của mình về các vấn đề đó, như lập luận khẳng định hoặc phủ định các nhận định. Học sinh nhận xét về một sự kiện, hiện tượng, vấn đề hay nhân vật lịch sử...

Trên đây là bảng hệ thống năng lực hợp tác và được biểu hiện ở từng mức độ

nhận thức, hành động của học sinh trong dạy học Lịch sử từ nhận biết đến quan sát, so

sánh, đánh giá, vận dụng vào thực tiễn đời sống.Vì vậy, việc phát triển NLHT trong

dạy học cần trải qua một quá trình rèn luyện của cả HS và giảng dạy của GV.

1.1.4. Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy

học lịch sử.

1.1.4.1. Vai trò của việc phát triển NLHT trong dạy học lịch sử

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin kiến thức không

còn là tài sản riêng của trường học. Học sinh có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn

khác nhau. Các nguồn thông tin đa chiều mà người học có thể tiếp nhận đã đặt giáo dục

trước yêu cầu cấp bách là phải đổi mới cách dạy và cách học. Xu hướng dạy học theo

hướng tiếp cận năng lực người học để phát triển năng lực đang là mục tiêu của nền giáo

dục hiện đại nhằm đào tạo những con người phát triển toàn diện trước yêu cầu xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc. Trong các năng lực cốt lõi thì việc phát triển năng lực hợp tác cho

học sinh trong dạy học Lịch sử có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với học tập

Lịch sử mà còn vô cùng cần thiết trong cuộc sống.

Đối với nhà trường: Phát triển NLHT cho học sinh giúp nâng cao hiệu quả của

nhà trường trong nhiệm vụ phát triển nhận thức, nhân cách, tình cảm của HS. Nhà

trường trở thành một xã hội thu nhỏ, trong đó mỗi HS được bình đẳng, có cơ hội được

giáo dục và phát triển như nhau, đồng thời cải thiện các mối quan hệ xã hội có tính chất

giới, tôn giáo, thành phần của HS trong phạm vi nhà trường. Nâng cao được chất lượng

giáo dục của trường, đào tạo những con người có các kĩ năng tư duy, kĩ năng cộng tác,

giao tiếp; tạo cho HS lòng tin vào kiến thức hàn lâm.

Đối với giáo viên: Phát triển NLHT giúp cho GV:

(1) Đạt được mục tiêu: nâng cao chất lượng bài giảng và hình thành, phát triển

các kĩ năng sống, nhân cách cho HS.

(2) Tạo mối quan hệ thầy trò gần gũi, giúp nhiều cho GV trong quá trình giáo

dục HS, nhất là HS cá biệt.

(3) GV có cơ hội thể hiện nhiều vai trò khác nhau, không chỉ là người truyền

thụ kiến thức, mà còn là người tổ chức, quản lí, giám sát, động viên cũng như nhắc nhở

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

khi HS hoạt động hợp tác nhóm.

(4) GV cũng có cơ hội phát hiện những tiềm năng của HS, từ đó lên kế hoạch

bồi dưỡng để phát huy năng lực đó.

Đối với HS:

(1) HS được học cách cộng tác trên nhiều phương diện.Từ đó tạo thành công

trong học tập, HS đạt được thành tích tốt về kiến thức. Ưu điểm này đạt được trong quá

trình trao đổi học hợp tác, làm tăng khả năng khám phá, phát triển thao tác tư duy của

HS thông qua các hoạt động giải quyết mâu thuẫn; tìm kiếm, lựa chọn, phân tích thông

tin…

(2) Tăng cường khả năng tư duy phê phán cho HS, vì nhiệm vụ của mỗi cá nhân

là tìm kiếm, kiểm tra, đánh giá thông tin một cách hợp lí, sau đó lập kế hoạch và giải

quyết vấn đề. Hs được nêu quan điểm của mình, được nghe quan điểm của bạn khác

trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau và đưa ra lời

giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao cho nhóm. Qua cách học đó, kiến thức của HS sẽ

bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê phán

của HS được rèn luyện và phát triển.

(3) Phát triển năng lực hợp tác giữa các học sinh. Thông qua các hoạt động hợp

tác trong học tập, HS hình thành thói quen sống và làm việc có sự phân công cũng như

sự phụ thuộc lẫn nhau với các HS khác trong cộng đồng. Đây cũng là mục tiêu của giáo

dục: chuẩn bị cho xã hội những con người dễ thích nghi với cuộc sống thực tế.

(4) Phát triển các kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác. Các kỹ năng này

được hình thành và phát triển khi HS tham gia vào các hoạt động thảo luận, khi đó HS

phải biết cách trình bày ý kiến, bảo vệ ý kiến cá nhân, biết cách lắng nghe ý kiến người

khác… Ngoài ra khi làm việc trong nhóm, HS có cơ hội phát triển năng lực quản lí,

lãnh đạo, đưa ra các quyết định cần thiết.

(5) Tác động đến ý thức học tập của HS. Khi tham gia hoạt động học tập, HS sẽ

tự tìm tòi kiến thức, điều đó tác động tính cực đến sự nhận thức trình độ kiến thức của

cá nhân, từ đó HS sẽ có nhu cầu hoàn thiện kiến thức của bản thân bằng nhiều cách

khác nhau.

(6) Tạo tâm lí giờ học thoải mái cho HS. Trong bầu không khí thân thiện vui vẻ,

người học sẽ cảm giác hứng thú, tăng sức chịu đựng, làm việc lâu mệt mỏi. Các thành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân,

cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau.

(7) Giúp cho HS dễ hòa nhập xã hội. Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên hs, đặc

biệt là những em nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn; các em học được trình bày ý kiến của

mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp HS dễ hòa nhập vào cộng

đồng nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt, bởi HS lĩnh

hội các kiến thức xã hội, học được các hành vi ứng xử qua các buổi thảo luận.

(8) HS nắm được kiến thức bài học nhưng vẫn bảo đảm có tính thực tế, từ đó

thành tích học tập của HS sẽ được nâng cao nhờ sự hiểu biết sâu sắc. Sau mỗi buổi thảo

luận, HS sẽ tự nhận xét về ưu và nhược điểm của bản thân, từ đó có định hướng nghề

nghiệp sau này.

Trong xã hội hiện đại ngày nay, phát triển NLHT trong dạy học sẽ góp phần tích

cực vào việc giúp HS hòa nhập với cuộc sống sau khi rời ghế nhà trường. HS sẽ trở

thành một người lao động năng động, sáng tạo, có kiến thức và kỹ năng mang tính

chuyên nghiệp, biết tiếp thu ý kiến , chịu học hỏi, chịu thay đổi ,có tinh thần đồng

đội ,có trách nhiệm cao với công việc, hoạt bát, tự tin, giỏi giao tiếp.

1.1.4.2. Ý nghĩa của việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử

Môn Lịch sử ở trường THPT nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức

cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành thế giới

quan khoa học, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động…và năng lực hợp tác. Việc

phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan

trọng đối với học sinh trên cả ba mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ.

Về kiến thức, phát triển năng lực hợp tác giúp học sinh mở rộng, củng cố, khắc

sâu kiến thức cơ bản về các sự kiện lịch sử, hiện tượng… Qua đó HS hiểu được quá trình

phát triển của lịch sử dân tộc, những chuyển biển của các mặt của đời sống kinh tế, chính

trị, xã hội, văn hóa, giáo dục…thấy được quy luật tất yếu trong tiến trình đi lên của loài

người. Đồng thời giúp các em có thể giải thích, liên hệ với thực tiễn cuộc sống. Trên cơ

sở đó làm giàu thêm vốn tri thức, hình thành thế giới quan cho học sinh.

Về kỹ năng, phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử giúp

các em hình thành và phát triển các kỹ năng cần thiết trong học tập bộ môn như kỹ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

năng ghi nhớ, hình dung, tưởng tượng, tái hiện; phát triển kỹ năng tư duy logic (so

sánh, đối chiếu, phân tích, đánh giá, phản biện,…) đặc biệt nhất là kỹ năng phát hiện,

đề xuất và giải quyết các vấn đề trong học tập lịch sử (điều tra, thu thập, xử lý thông

tin, nêu dự kiến giải quyết vấn đề, lựa chọn giải pháp phù hợp nhất…) và thực tiễn

cuộc sống hiện nay,từ đó hình thành các năng lực: năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng

lực tư duy, năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp… Do đó ở trường

THPT việc đặt HS trước các tình huống có vấn đề - đúng hơn hướng dẫn cho các em

luôn luôn đứng trước tình huống có vấn đề và cùng thảo luận sẽ làm phát huy tính tích

cực trong học tập Lịch sử. Nó không chỉ đem lại kiến thức mới cho HS (chức năng giáo

dưỡng) mà còn bồi dưỡng cho các em phẩm chất, đạo đức trong học tập như kiên trì,

nhẫn nại.

Về thái độ, phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử góp

phần hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cho học sinh như: bồi dưỡng

tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lòng tự hào dân tộc, lòng

tôn vinh và trọng những người có công với đất nước; có thái độ tích cực, độc lập, sáng

tạo trong học tập; có niềm tin về sự tiến bộ; có tinh thần nhân ái; có trách nhiệm đối

với bản thân, gia đình và xã hội; có ý chí vượt khó vươn lên, khắc phục và giải quyết

vấn đề trong học tập và trong cuộc sống. Bên cạnh đó phát triển NLHT cho HS trong

dạy học LS ở trường THPT còn góp phần hình thành động cơ học tập cho HS. Sự nảy

sinh động cơ HT lúc đầu xuất phát từ ý thức trách nhiệm phải hoàn thành nhiệm vụ ,

từ những yêu cầu bài tập của GV đã thúc đẩy hoạt động HT của HS hay nói cách khác

đây là những động cơ bên ngoài. Động cơ bên trong của người học chủ yếu nằm ở trong

bản thân mỗi người và xuất phát từ chính hoạt động hợp tác. Được tham gia thực hiện

nhiệm vụ học tập, hợp tác hy vọng khám phá những cái mới, sự cố gắng hiểu biết,

mong muốn tiến bộ trong học tập hay cảm giác thỏa mãn khi hoàn thành nhiệm vụ học

tập đều là những động cơ bên trong.

Tóm lại, phát triển NL học sinh nói chung và phát triển NLHT trong DHLS nói

riêng có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu bộ môn

LS và góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn LS ở trường THPT. Đặc biệt, phát

triển NLHT trong DHLS còn thực hiên việc đổi mới phương pháp dạy học theo xu

hướng phát triển NL người học hiện nay.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.2 Cơ sở thực tiễn

Để có những nhận xét khách quan, khoa học về nhận thức và thực tiễn phát triển

NLHT trong DHLS ở trường THPT, làm căn cứ cho công tác nghiên cứu luận văn,

chúng tôi đã tiến hành điều tra khảo sát với một số lượng tương đối lớn GV và HS ở

các trường THPT.

1.2.1. Mục đích và đối tượng điều tra

Mục đích: Điều tra thực tế việc dạy học lịch sử nói chung và dạy học LSVN nói

riêng, nhận thức của GV và HS về vai trò và ý nghĩa của việc tạo biểu tượng về những

biến cố lớn trong DHLS, các yêu cầu và biện pháp sư phạm mà GV sử dụng để phát

triển năng lực hợp tác trong DHLS, sự chỉ dẫn, giao việc của GV đối với HS trước mỗi

giờ lên lớp, những khó khăn mà GV, HS gặp phải trong quá trình phát triển năng lực

hợp tác, từ đó đề xuất các yêu cầu và biện pháp phát triển năng lực hợp tác trong dạy

học Lịch Sử Việt Nam lớp 12.

Đối tượng: Công tác điều tra được tiến hành đối với 13 GV (THPT Lương Tài:

5; THPT Lương Tài 2: 4; THPT Lương Tài 3: 4) và 200 HS (THPT Lương Tài: 100;

THPT Lương Tài 2: 60; THPT Lương Tài 3: 40 ) trong năm học (2019 - 2020) tại các

trường THPT trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh.

1.2.2. Phương pháp và nội dung điều tra

Phương pháp: Chúng tôi sử dụng bằng nhiều phương pháp khác nhau (dự giờ,

trao đổi chuyên môn với GV…). Việc điều tra được tiến hành một cách khách quan để

đạt kết quả tốt nhất. Chúng tôi đã trực tiếp đến các trường để quan sát, dự giờ, trao đổi,

tiếp xúc với các GV và HS, trên cơ sở đó rút ra những kết luận bước đầu về tình hình

dạy học lịch sử nói chung, và việc phát triển năng lực hợp tác trong DHLS nói riêng.

Chúng tôi đã phát phiếu điều tra theo mẫu để thăm dò ý kiến của GV và HS, để thấy

được nhận thức của GV đồng thời thấy được thực trạng DHLS trong trường THPT,

mặt khác nắm bắt những hạn chế để đề ra những biện pháp khắc phục.

Nội dung điều tra

Đối với GV: Chúng tôi sử dụng một số câu hỏi để điều tra quan điểm của GV

về vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực hợp tác trong DHLS ở trường phổ thông,

đồng thời tìm hiểu những trở ngại trong việc phát triển năng lực hợp tác trong DHLS

của GV (Phụ lục 1.1).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Đối với HS: Chúng tôi đưa ra mẫu phiếu điều tra để HS phản ánh tình hình phát

triển năng lực hợp tác trong DHLS và thực trạng của việc DHLS ở trường phổ thông

(Phụ lục 1.2).

1.2.3. Kết quả điều tra và những vấn đề đặt ra

1.2.3.1. Về phía GV

Thông qua phiếu thăm dò ý kiến GV, thực trạng phát triển NLHT trong DHLS

ở trường phổ thông được thể hiện ở các mặt sau:

Thứ nhất: Nhận thức của GV về vấn đề phát triển NLHT.

Chúng tôi đưa ra một số câu hỏi để tìm hiểu nhận thức của GV về vấn đề phát

triển NLHT trong DHLS qua bảng câu hỏi sau:

Bảng 1.4. Nhận thức của GV về vấn đề phát triển NLHT

STT

Câu hỏi

Phương án trả lời

Số lượng

Tỉ lệ %

2

15

3

25

1

2

15

Theo thầy cô năng lực hợp tác là gì?

6

55

2

3

Là sự trao đổi thông tin và khả năng xử lý tình huống Là khả năng cộng tác giữa các cá nhân trong một tập thể Là NL biết phối hợp các thành viên trong nhóm Là khả năng phối hợp một hay nhiều người khác để hoàn thành công việc Thường xuyên Hiếm khi Thỉnh thoảng Không bao giờ Thường xuyên Hiếm khi Thỉnh thoảng

5 2 5 1 2 1 3

38,4 15,3 38,4 7,9 15,4 7,6 23,1

Không bao giờ

0

0

Các thầy cô có thường xuyên dạy học phát triển NLHT trong DHLS không? Thầy thường (cô) có xuyên sử dụng các biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực hợp tác cho HS không?

4

Theo thầy(cô) năng lực hợp tác của HSTHPT ở mức độ nào?

Tốt Khá Trung Bình Yếu Có

1 2 9 1 12

7,8 15,2 69,2 7,8 92,3

5

Không

1

7,7

6

Theo thầy cô, dạy học phát triển NLHT trong DHLS có cần thiết không? Thầy (cô) gặp khó khăn gì trong quá trình triển khai dạy học lịch sử theo chủ đề?

Điều kiện cơ sở vật chất HS còn tự ti,nhút nhát, không tích cực tham gia Mất thời gian chuẩn bị và tiến hành Thời lượng tiết học hạn chế

3 7 1 6

23 53,8 7,6 46,1 Qua bảng nhận nhận thức của GV về vấn đề phát triển NLHT trong DHLS chúng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tôi nhận thấy hầu hết GV được hỏi đều đã có những hiểu biết về lý thuyết năng lực hợp

tác và phát triển năng lực hợp tác trong dạy học lịch sử. Khi được hỏi : Theo thầy cô

Là sự trao đổi thông tin và khả năng xử lý tình huống

15%

Là khả năng cộng tác giữa các cá nhân trong một tập thể

25%

55%

Là NL biết phối hợp thành viên trong nhóm

15%

Là khả năng phối hợp một hay nhiều người khác để hoàn thành công việc

thế nào là năng lực hợp tác? Chúng tôi đã thu được kết quả như sau:

Biểu đồ 1.1. Nhận thức của GV về khái niệm NLHT

Hầu hết GV đều khẳng định vai trò và ý nghĩa to lớn của việc phát triển năng

lực hợp tác trong DHLS (chiếm tới 90% số lượng GV được hỏi). Như vậy, khi nhận

thức được ý nghĩa vô cùng quan trọng của việc phát triển năng lực hợp tác trong DHLS.

GV sẽ sử dụng nhiều PP khác nhau, như PP làm việc nhóm, dự án, đóng vai, sử dụng

sơ đồ tư duy…các PP này có quan hệ hữu cơ và không tách rời nhau cùng góp phần

phát triển năng lực cho học sinh.

Khi được hỏi “Theo thầy cô, dạy học phát triển NLHT trong DHLS có cần thiết

không?”. Chúng tôi đã thu được kết quả là 92, 3% GV được hỏi là cần thiết và chỉ có 7,

7% trả lời là không cần thiết. Đây là một thực tế dễ nhận thấy, bởi hiện nay nhu cầu mới

đòi hỏi giáo dục phải thực hiện một bước chuyển mạnh mẽ từ giáo dục định hướng nội

dung sang định hướng phát triển năng lực, các hội thảo, các buổi tập huấn về năng lực

được tổ chức cho GV ngày một nhiều và thu được kết quả tốt. Vì vậy, hầu hết GV đều

nhận thấy việc DH gắn với phát triển NL cho HS là yêu cầu cấp thiết.

Đối với ý kiến không cần thiết, GV được hỏi cho rằng trong quá trình dạy học,

việc dạy cho HS nắm vững kiến thức là quan trọng nhất, các năng lực của HS sẽ tự

được hình thành trong quá trình học tập cũng như giao tiếp với xã hội. Đây là quan

điểm chưa chính xác. Bởi lẽ, người có năng lực bao giờ cũng giải quyết vấn đề dễ dàng

hơn, kỹ năng cũng thuần thục hơn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Thứ hai: Tình hình sử dụng các biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực hợp

10%

10%

thuyết trình

35%

vấn đáp

thảo luận nhóm

15%

dạy học theo chủ đề

phương pháp khác

30%

tác cho HS. Qua khảo sát chúng tôi thu được kết quả như sau.

Biểu đồ 1.2. Biểu đồ tổng hợp ý kiến giáo viên về phương pháp dạy học

Thông tin trong biểu đồ cho thấy, giáo viên thường xuyên chọn phương pháp

thuyết trình, vấn đáp và sử dụng sách giáo khoa, tài liệu tham khảo trong quá trình dạy

học phát triển NLHT trong DHLS. Điều này phản ánh việc giáo viên vẫn lựa chọn

những phương pháp truyền thống trong quá trình dạy học môn Lịch sử, chưa thực sự

khai thác và vận dụng những phương pháp mới phát huy tính tích cực, chủ động của

học sinh, phát triển năng lực quan trọng cho HS như dạy học theo dự án, dạy học chủ

đề, phương pháp dạy học nhóm. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho học

sinh không có hứng thú đối với môn Lịch sử. Thực tế đặt ra đòi hỏi giáo viên phải tích

cực sử dụng các phương pháp dạy học đa dạng, hỗ trợ học sinh tham gia vào quá trình

học tập, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển NL và phẩm chất cho HS.

Điều đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong môn Lịch sử ở trường phổ

thông hiện nay.

Thứ ba, thực trạng về sử dụng hình thức tổ chức dạy học để phát triển NLHT

trong DHLS.

Hình thức tổ chức dạy học mà các GV lựa chọn khi dạy học phát triển NLHT là

hết sức đa dạng: 45% số GV dạy học phát triển NLHT trong DHLS ở trên lớp; 16%

các GV dạy phát triển NLHT ở ngoài lớp và 39% các thầy cô tổ chức các hoạt động

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ngoại khóa để phát triển NLHT trong DHLS. Đây là cơ sở để GV tổ chức các hình thức

dạy học cho phù hợp để mang lại hiệu quả cao trong DHLS.

Thứ tư, những khó khăn mà GV thường gặp phải khi tiến hành các biện pháp

nhằm dạy học phát triển NLHT cho HS đều là những khó khăn chung: Điều kiện cơ sở

vật chất chưa cho phép (23%), HS còn tự ti nhút nhát, không tích cực tham giạ hoạt

động (53,8 %), thời lượng tiết học hạn chế (45%)...

1.2.3.2. Về phía HS

Để tìm hiểu sự hiểu biết về vấn đề NLHT trong DH lịch sử, chúng tôi đã tiến

hành khảo sát với 200 HS thuộc các trường THPT ở huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh,

qua một số câu hỏi trong bảng sau:

Bảng 1.5. Nhận thức của HS về vấn đề phát triển NLHT

Câu hỏi

Phương án trả lời

Câu 1: Em có thích học môn Lịch sử ở trường THPT không?

Câu 2: Theo em năng lực hợp tác là gì?

Số lượng 10 108 34 48 40

Tỉ lệ % 5 54 17 24 20,1

43

21,3

113

41,2

30

17,4

Câu 3: Theo em, dạy học phát triển NLHT trong DHLS có cần thiết không? Câu 4: Trong quá trình học tập môn Lịch sử em có được các thầy cô phát triển NLHT không?

170 30 40 20 130 10 40 80 60

85 15 20 10 65 5 20 40 40

Rất thích Bình thường Thích Không thích Là sự đoàn kết của cộng đồng giúp nhau vượt qua khó khăn,thử thách Là khả năng hợp tác tác giữa người với người Là NL biết phối hợp các thành viên trong nhóm Là năng lực của mỗi con người trong việc tham gia vào một hay nhiều công việc chung Có Không Thường xuyên Hiếm khi Thỉnh thoảng Không bao giờ Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ

Câu 5: Trong giờ học Lịch sử, thầy (cô) của em có thường sử dụng các phương pháp tích cực để phát triển NLHT cho các em không? Câu 6: Mức độ hứng thú của em với các phương pháp trên như thế nào?

70 80 50

35 40 25

Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Thông qua phiếu thăm dò ý kiến HS, thực trạng việc phát triển NLHT trong

DHLS ở trường phổ thông hiện nay được thể hiện ở các vấn đề sau:

Thứ nhất: Về nhận thức của HS đối với môn lịch sử và NLHT trong DHLS.

Kết quả cho thấy phần lớn học sinh vẫn thờ ơ chưa có hứng thú với môn học.

Trong tổng số học sinh điều tra thì kết quả thu được là 54% số học sinh được khảo sát

tỏ thái độ bình thường và 24% các em tỏ rõ thái độ không thích môn Lịch sử. Đây là

một thực tế đáng suy ngẫm về thực trạng dạy và học Lịch sử ở trường phổ thông. Tuy

phần lớn học sinh không yêu thích môn Lịch sử nhưng khi được hỏi mức độ hứng thú

của các em khi phát triển NLHT trong DHLS thì rất nhiều học sinh tỏ thái độ hào hứng,

sôi nổi. Các em đặt ra nhiều câu hỏi, thắc mắc và bày tỏ sự hứng thú của mình với việc

dạy học phát triển NLHT. Đa số HS có những hiểu biết nhất định về khái niệm năng

lực hợp tác. Các em đánh giá cao vai trò, ý nghĩa to lớn của việc phát triển NLHT trong

17.40%

20.10%

HS được học cách cộng tác trên nhiều phương diện Tăng cường khả năng tư duy phê phán cho HS

21.30%

41.20%

Phát triển các kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác Tác động đến ý thức học tập của HS

DHLS. Điều này được thể hiện rõ trong biều đồ dưới đây:

Biểu đồ 1.3. Vai trò của Phát triển NLHT đối với HS trong DHLS

Kết quả trên của biểu đồ chứng tỏ học sinh đã ý thức được vai trò to lớn, sự cần

thiết của việc phát triển NLHT trong DHLS ở trường THPT. Điều này cũng lý giải

được vì sao học sinh mong muốn được giáo viên giảng dạy theo hướng phát huy năng

lực hơn là “phương pháp thầy đọc trò chép”.

Thứ hai: Thực trạng biểu hiện về NLHT.

Khi chúng tôi đặt câu hỏi NLHT của HS ở mức độ nào? Chúng tôi đã thu được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

kết quả như sau:

khá

trung bình

tốt

yếu

5%

5%

38%

52%

Biểu đồ 1.4. Thực trạng biểu hiện về NLHT

Như vậy, kết quả cho thấy mặc dù HS có nhận thức được về NLHT, vai trò và

ý nghĩa của NLHT, sự cần thiết phát triển NLHT nhưng biểu hiện về hợp tác của HS

vẫn ở mức trung bình. Điều đó đòi hỏi cần có biện pháp bồi dưỡng nhằm nâng cao thái

độ HT cho HS, làm cơ sở rèn luyện các KNHT, phát triển NLHT cho các em.

Thứ ba: Về hứng thú của học sinh đối với các phương pháp dạy học

Kết quả khảo sát cho thấy đa số HS đều thích những phương pháp: Thảo luận

nhóm, dạy học dự án, dạy học theo chủ đề .Trong khi đó các phương pháp thuyết trình,

vấn đáp, sử dụng sách giáo khoa chỉ đạt tỉ lệ hạn chế. Kết quả được thể hiện qua biểu

80.00%

73.20%

Thảo luận nhóm

70.00%

Dạy học dự án

60.10%

59.20%

60.00%

Dạy học theo chủ đề

Thuyết trình

50.00%

Vấn đáp

40.00%

Trực quan

28.70%

30.00%

24.20%

23.30%

20.00%

10.00%

0.00%

Dạy học dự án Dạy học theo

Thuyết trình Vấn đáp Trực quan

Thảo luận nhóm

chủ đề

đồ sau:

Biểu đồ 1.5. Tổng hợp ý kiến học sinh về mức độ yêu thích

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đối với các phương pháp học tập môn Lịch sử (Tỷ lệ %)

Biểu đồ trên cho thấy phương pháp dạy học nhóm chiếm ưu thế, ngoài ra phương

pháp dạy học chủ đề, dự án có vai trò quan trọng để phát triển NLHT trong DHLS. Đây

là cơ sở quan trọng để GV áp dụng tích cực các phương pháp dạy học này trong quá

trình DHLS để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển NLHT trong

DHLS.

Như vậy kết quả điều tra cho thấy GV, HS ở các trường THPT huyện Lương Tài

tỉnh Bắc Ninh đã có những nhận thức đúng đắn về vấn đề phát triển năng lực nói chung

cũng như NLHT cho học sinh trong DHLS nói riêng. GV đã nhận thức được tầm quan

trọng, vai trò, ý nghĩa của phát triển năng lực hợp tác trong DHLS. Tuy nhiên, thực tế

phát triển năng lực hợp tác trong DHLS còn tồn tại những vấn đề như sau:

Với thời lượng 45 phút, trong khi khối lượng kiến thức lịch sử nhiều nên khi

được hỏi về các biện pháp nhằm phát triển NLHT cho HS trong DHLS một số GV vẫn

chủ yếu lựa chọn các PPDH truyền thống còn những PPDH tích cực khác thì ít được

chú ý và sử dụng. GV thường chỉ sử dụng SGK, SGV mà thiếu các tài liệu tham khảo

khác. Vì vậy, việc dạy học rơi vào tình trạng lặp lại SGK, chưa đáp ứng được yêu cầu

đổi mới PPDH. Thêm vào đó, một thực trạng khách quan là: trong giảng dạy, học tập,

thi cử ở trường phổ thông môn lịch sử chưa được coi trọng, thậm chí nhiều lúc còn

được coi là môn phụ. Tình trạng này dẫn tới HS chán học, ngại học môn sử, chỉ học

thụ động, đối phó.

Những khó khăn mà GV lịch sử gặp phải trong quá trình dạy học là không nhỏ,

dẫn đến hiệu quả dạy học chưa cao. Giải quyết tình trạng này như thế nào là công việc

của cả xã hội, của ngành giáo dục. Việc tìm ra các biện pháp, phương pháp giảng dạy

phù hợp, sáng tạo, nâng cao chất lượng bài học, phát triển năng lực cho học sinh là một

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

việc làm có ý nghĩa quan trọng.

Tiểu kết chương 1

Phát triển NLHT có vai trò rất quan trọng trong DHLS ở trường phổ thông.

Thông qua quá trình tìm hiểu, phân tích và tổng hợp, luận văn góp phần làm rõ thêm

khái niệm, vai trò, ý nghĩa và một số yêu cầu phát triển NLHT làm cơ sở giúp giáo viên

có điều kiện vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính tích cực, chủ

động của học sinh trong học tập, phát huy được năng lực tư duy, NLHT của học sinh.

Kết quả khảo sát thực trạng dạy và học lịch sử ở trường phổ thông cho thấy giáo viên

đã có nhận thức đúng về khái niệm, vai trò, ý nghĩa của phát triển NLHT. Tuy nhiên,

còn gặp nhiều hạn chế và khó khăn trong quá trình triển khai. Những vấn đề trên là cơ

sở cho việc lựa chọn nội dung, hình thức và biện pháp phát triển NLHT trong DHLS

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nói chung và chương trình LSVN lớp 12 nói riêng.

Chương 2

CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC

LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 THPT Ở HUYỆN LƯƠNG TÀI

TỈNH BẮC NINH

2.1. Vị trí, mục tiêu và nội dung của Lịch sử Việt Nam lớp 12 THPT

2.1.1. Vị trí

Cấp THPT là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, có trách nhiệm hoàn

thành việc giáo dục phổ thông cho thế hệ trẻ. Môn LS lớp 12 thuộc lĩnh vực khoa học

xã hội, có vai trò quan trọng trong việc giáo dục HS trở thành công dân của TK XXI,

với những phẩm chất nổi bật như: năng động, tự tin, hợp tác và hành động có hiệu quả,

góp phần hình thành thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn, giáo dục lòng yêu quê

hương đất nước,, quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc.

LSVN (1919 - 2000) thuộc chương trình lớp 12 THPT. Qua việc tìm hiểu nội

dung kiến thức LSVN 1919-2000 giúp HS nắm vững những vấn đề chủ yếu của lịch

sử dân tộc thời kì sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến công cuộc đổi mới cúa Đảng

cộng sản Việt Nam. LSVN từ 1919 - 2000 có vai trò làm cầu nối, giúp HS có cái nhìn

tổng thể, đúng đắn và khoa học về bức tranh LSVN. Mặt khác đây là nội dung kiến

thức vô cùng quan trọng trong kì thi THPT Quốc gia, thi học sinh giỏi và những chương

trình LS trên truyền hình. Do đó, giai đoạn LSVN (1919-2000) là một phần kiến thức

hết sức quan trọng.

2.1.2. Mục tiêu

Về kiến thức: DHLS Việt Nam từ 1919 đến 2000 giúp HS:

(1) Biết: Quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ 1919-2000 với những thắng

lợi tiêu biểu như Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (1930), Cách mạng tháng Tám thành

công (1945), kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1945-1954), kháng chiến chống Mĩ

thắng lợi (1954-1975), công cuộc đổi mới (1986)…

(2 ) Hiểu: Học sinh hiểu được kết quả của các cuộc đấu tranh dân tộc và giai

cấp quyết liệt của nhân dân Việt Nam trong những năm 20 thế kỉ XX dẫn đến sự ra đời

của Đảng cộng sản Việt Nam. Quá trình chuẩn bị lâu dài của Đảng và nhân dân trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

suốt 15 năm đã dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và sự ra đời nước Việt

Nam dân chủ cộng hòa. Âm mưu, bản chất quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân

Pháp, Mĩ và nguyên nhân đấu tranh của nhân dân ta giành được thắng lợi trong cuộc

kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ. Quá trình đổi mới của đất nước trong bối cảnh

trong nước và thế giới có nhiều biến động

(3) Vận dụng: Học sinh đánh giá được ý nghĩa quan trọng sự ra đời của Đảng

cộng sản Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng qua các thời kì Lịch sử, ý nghĩa lịch sử và

bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ

và những thành tựu trong công cuộc đổi mới.

Về kỹ năng

Rèn luyện cho HS kĩ năng sưu tầm, nắm vững tài liệu, phân tích, khái quát, rút

ra kết luận về các sự kiện đã học. Rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ lịch sử, tranh ảnh

tư liệu phục vụ cho bài học, kĩ năng tư duy, thực hành và định hướng phát triển các kĩ

năng sống cho HS.

Về thái độ

Bồi dưỡng lòng yêu nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, niềm tự hào dân tộc, ý

thức sáng tạo - đổi mới trong lao động, học tập, niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của

Đảng, vào sự nghiệp đổi mới của đất nước

Định hướng phát triển năng lực

Học phần LSVN giai đoạn (1919-2000) góp phần phát triển ở HS năng lực giải

quyết vấn đề, năng lực tự học, năng lực ngôn ngữ, năng lực hợp tác, năng lực phản

biện,năng lực giả quyết vấn đề…Việc xác định một số yêu cầu trên là cơ sở để chúng

tôi xây dựng các biện pháp phát triển năng lực học sinh trong quá trình dạy học bộ môn

Lịch sử ở trường THPT. Đồng thời là căn cứ tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số

trường để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.

2.1.3. Nội dung cơ bản

Nội dung cơ bản của khóa trình lịch sử Việt Nam 1919 - 2000 lớp 12 được thể

hiện trong 5 chương 26 bài, cụ thể như sau:

Chương 1: 1919 - 1930: Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến khi Đảng ra

đời năm 1930.

Sau chiến tranh thế giới I, Pháp làm chuyển biến kinh tế - xã hội Việt Nam, tạo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

điều kiện cho phong trào yêu nước tiếp thu luồng tư tưởng cách mạng vô sản. Hoạt

động của Nguyễn Ái Quốc đã làm chuyển biến phong trào yêu nước chống Pháp.Ba tổ

chức Công sản VN ra đời.ĐCS VN ra đời 3/2/1930 chấm dứt sự khủng hoảng về đường

lối lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Chương 2:1930 - 1945: Từ sau khi Đảng Cộng sản VN ra đời đến 2/9/1945.

Tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và “khủng bố trắng“ của Pháp đã

làm bùng nổ phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Xô Viết Nghệ Tĩnh

1930 -1931. Vận động dân chủ 1936 -1939.Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi là

kết quả của quá trình tập dượt trong 10 năm từ khi Đảng ra đời.

Chương 3:1945 - 1954: Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến ngày

21/7/1954.

Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập,nước ta gặp muôn

vàn khó khăn.Cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) tiến hành trong điều kiện đã

độc lập và có chính quyền ; kháng chiến chống Pháp xâm lược.Chiến thắng lịch sử

Điện biên phủ 1954, Pháp rút khỏi nước ta

Chương 4:1954 - 1975: Từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp năm

1954 đến ngày 30-4-1975.

Nhiệm vụ cách mạng từng miền và nhiệm vụ chung của cả nước là “Kháng

chiến chống Mỹ, cứu nước”.Miền Nam đấu tranh chính trị phát triển lên “Đồng khởi”,

rồi chiến tranh giải phóng.Đánh bại chiến lược thống trị và xâm lược thực dân mới của

Mỹ: đánh bại chiến lược “Chiến tranh đơn phương”; “Chiến tranh đặc biệt”; “Chiến

tranh cục bộ”; “Việt Nam hóa chiến tranh”.Hiệp định Pari kí kết tạo điều kiện thắng

lợi cho ta tiến tới thắng lợi lịch sử 1975.Miền Bắc: quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chống

chiến tranh phá hoại của Mỹ, làm nghĩa vụ hậu phương cho miền Nam.

Chương 5:1975 - 2000: Từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu

nước năm 1975 đến năm 2000.

Cách mạng Việt nam chuyển sang thời kỳ Cách mạng xã hội chủ nghĩa.Trong

10 năm đầu (1976-1986) đi lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh thành tựu và ưu điểm, cách

mạng nước ta gặp không ít khó khăn, yếu kém, sai lầm, khuyết điểm đòi hỏi phải đổi

mới.Từ Đại Hội VI (12-1986) của Đảng, nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên. Đến 2000, đã thực hiện được ba kế

hoạch Nhà nước 5 năm.Công cuộc đổi mới đã giành thắng lợi, từng bước đưa đất nước

ta lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng, bước đi của

công cuộc đổi mới là phù hợp.

2.2. Xác định hệ thống kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam (1919 - 2000) cần

khai thác để phát triển năng lực hợp tác cho học sinh.

Căn cứ vào vị trí, mục tiêu và nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam 1919 -

2000, chúng tôi xác định hệ thống kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam 1919-2000

cần khai thác để phát triển NLHT cho HS, thể hiện trong bảng sau:

Nội dung kiến thức Lịch sử

Bài 12: Phong trào dân tộc dân chủ 1919-1925

động

của

Mục I. Những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã hội ở Việt Nam Mục II. Phong trào dân tộc dân chủ 1919-1925

Bài 13: Phong trào dân tộc dân chủ 1925-1930

Mục I. Sự ra đời và hoạt động của ba tổ chức cách mạng.

- Những chuyển biến mới về kinh tế - Sự chuyển biến mới về giai cấp xã hội ở Việt Nam - Hoạt động của tư sản, tiểu tư sản. - Hoạt động của công nhân -Hoạt Nguyễn Ái Quốc - Sự thành lập - Mục tiêu - Hoạt động của hội - Vai trò

II. Đảng sản Việt

Mục cộng Nam ra đời

Nội dung phát triển năng lực học tập - Phát triển năng lực tổ chức và quản lý nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập - HS hăng hái bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm - Rèn luyện kỹ năng trình bày, phản biện - Phát triển năng lực tổ chức và quản lý nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập - Hăng hái bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm - Rèn luyện kỹ năng trình bày, phản biện - Phát triển năng lực tổ chức và quản lý nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập - Hăng hái bày tỏ ý kiến,tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm - Đánh được sự sáng tạo của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng - Đánh giá được ý nghĩa của việc thành lập Đảng

- Thời gian - Nội dung hội nghị - Nội dung của cương lĩnh - Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng. - Kinh tế - Chính trị - Xã hội

Bài 14: Phong trào cách mạng 1930 - 1935

Mục I. Việt Nam trong những năm 1929-1933

- Học sinh phát triển năng lực tổ chức và quản lí nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập Lịch sử. - Học sinh rèn luyện năng lực hoạt động nhóm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nội dung kiến thức Lịch sử

Mục II. Phong trào cách mạng với 1930-1931 đỉnh cao Xô Viết Nghệ Tĩnh

Nội dung phát triển năng lực học tập - Đánh giá được hạn chế Luận cương chính trị của Trần Phú - So sánh được điểm mới của phong trào 1930-1931 so với các phong trào trước đó

- Diễn biến phong trào trên cả nước và ở Nghệ Tĩnh - Hoàn cảnh hội nghị 10/1930 - Nội dung hội nghị - Nội dung Luận cương chính trị - Kinh tế - Chính trị - Xã hội

- Hăng hái bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động học tập.

Bài 15: Phong trào dân chủ 1936-1939

II. Phong

Mục I. Tình hình thế giới và trong nước Mục trào Dân chủ 1936- 1939

- Hội nghị 7/1936 - Những phong trào đấu tranh tiêu biểu - Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm

- Kinh tế - Chính trị - Xã hội

Mục I. Tình hình Việt Nam trong những năm 1939- 1945.

Bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 - 1945)

II. Phong trào giải phóng dân tộc từ tháng 9/1939- 3/1945

III. Khởi trang chính

Mục nghĩa vũ giành quyền.

- Hoàn cảnh hội nghị 11/1939;5/1941 - Nội dung hội nghị - ý nghĩa hội nghị - Quá trình chuẩn bị lực lượng - Khởi nghĩa từng phần - Thời cơ của cách mạng tháng Tám - Diễn biến - Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử

Mục I.Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám

- Phát triển năng lực tổ chức và quản lý nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập - Hăng hái bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm - Kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử -Phát triển năng lực tổ chức và quản lý nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập - Kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử - Hăng hái bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm - Kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử - Hăng hái bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm - Kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử - Đánh giá được vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng tháng Tám - Rèn luyện kỹ năng trình bày, phản biện - Phát triển năng lực tổ chức và quản lý nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập

- Khó khăn và thuận lợi trên các lĩnh vực : chính trị, kinh tế, văn hóa , xã hội...

Bài 17: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày 2/9/1945 đến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nội dung kiến thức Lịch sử

Nội dung phát triển năng lực học tập

trước19/12/1946

Đấu chống

Mục III. tranh ngoại xâm, nội phản bảo vệ chính quyền cách mạng Mục I. Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ.

Bài 18: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân pháp (1946-1950)

- Học sinh phát triển năng lực tổ chức và quản lí nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập Lịch sử. - Kỹ năng giải quyết vấn đề chống ngoại xâm, nội phản bảo vệ chính quyền cách mạng - Kỹ năng hoạt động nhóm, chia sẻ thông tin lịch sử. - Rèn luyện kỹ năng đánh giá: sự sáng suốt của Đảng ta khi đề ra đường lối kháng chiến chống Pháp

Mục III. Chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947.

- Học sinh phát triển năng lực tổ chức và quản lí nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập Lịch sử. - Kỹ năng giải quyết vấn đề.

Mục IV. Hoàn cảnh lịch sử mới và chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950.

- Kỹ năng trình bày: diễn biến của chiến dịch Biên Giới 1950 và ý nghĩa chiến dịch. - Kỹ năng chia sẻ thông tin, câu chuyện về Bác trực tiếp ra chiến trường chỉ đạo trong chiến dịch Biên Giới 1950.

- Từ ngày 2/9/1945- trước 6/3/1946:Hòa Tưởng đánh Pháp - Sau ngày 6/3/1946- 19/12/1946: trước Hòa đuổi Pháp Tưởng về nước. -Thực dân pháp bội ước pháp từng bước đánh chiếm Hà Nội. - Đường lối kháng chiến của Đảng là toàn dân, toàn diện, trường kỳ tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. - Hoàn cảnh - Âm mưu của Pháp - Chủ trương của Đảng - Diễn biến - Kết quả, ý nghĩa - Tình hình thế giới và trong nước - Chiến dịch Biên Giới- Thu đông năm 1950. - Kế hoạch và mục đích của ta. - Diễn biến - Kết quả - ý nghĩa. - Hoàn cảnh - Nội dung - Ý nghĩa

Mục II. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (2/1951)

- Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. - Đánh giá được tác động của Đại hội II với cuộc kháng chiến chống Pháp.

Bài 19: Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống pháp (1951-1953)

Mục III. Hậu phương kháng chiến phát triển mọi mặt.

Năng lực đánh giá: tác động và ý nghĩa của Hậu phương kháng chiến phát triển mọi mặt.

- Những thành tựu bước đầu đạt được trên các lĩnh vực : chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, - Hoàn cảnh - Mục đích - Nội dung

Rèn luyện kỹ năng giải quyết mâu thuẫn và tình huống có vấn đề.

Mục I. Âm mưu mới của pháp - Mĩ ở Đông Dương.

Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nội dung kiến thức Lịch sử

Nội dung phát triển năng lực học tập

dân pháp kết thúc (1953- 1954).

- Chủ trương của Đảng - Diễn biến - ý nghĩa

- Rèn luyện năng lực hoạt động nhóm. - Rèn luyện kỹ năng trình bày diễn biến Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953- 1954 và chiến dịch Điện Biên phủ - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. - Rèn luyện kỹ năng đánh giá

Kế hoạch Nava. Mục II. Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953- 1954 và chiến dịch Điện Biên phủ. Mục I. Tình hình và nhiệm vụ cách mạng nước ta sau định Hiệp năm Giơnevơ 1954 về Đông Dương.

- Tình hình nước ta sau hiệp định - Nhiệm vụ cách mạng nước ta sau Hiệp định

Bài 21: Xây dựng CNXH ở miền Bắc. Đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 - 1965)

- Học sinh phát triển năng lực tổ chức và quản lí nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập Lịch sử.

Miền Mục V. nam chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ (1961-1965). Mục I. Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở miền Nam (1965-1968).

Bài 22: Nhân dân hai miền chiến đấu chống đế quốc Mỹ (1965 - 1973)

- Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. - Rèn luyện kỹ năng đánh giá - Rèn luyện kỹ năng trình bày

- Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. - Hoàn cảnh: - Âm mưu - Thủ đoạn - Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam. - Hoàn cảnh - Âm mưu - Thủ đoạn - Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Quân sự Nội dung và ý nghĩa Hiệp định Paris

tổng

Mục V. Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. III. Giải Mục phóng hoàn toàn Miền Nam, giành toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc

Bài 23: Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội miền Bắc - Giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973 - 1975)

- Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. - Rèn luyện kỹ năng đánh giá - Học sinh phát triển năng lực tổ chức và quản lí nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập Lịch sử. - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. - Rèn luyện kỹ năng đánh giá

trương, kế - Chủ hoạch giải phóng miền Nam tiến - Cuộc công và nổi dậy mùa xuân 1975 - Chiến dịch Tây đến Nguyên (4/3 24/3)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nội dung kiến thức Lịch sử

Nội dung phát triển năng lực học tập

- Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. - Rèn luyện kỹ năng đánh giá

Mục III. Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước (1975 - 1976)

Bài 24: Việt Nam trong năm đầu sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1975

Mục I. Đường lối đổi mới đất nước của Đảng

Bài 26: Đất nước trên đường đổi mới đi lên CNXH (1986 - 2000)

- Chiến dịch Hồ Chí Minh (26/ 4 đến 30/4/1975) - Hoàn cảnh thống nhất đất nước về mặt nhà nước - Quá trình thống nhất đất nước về mặt nhà nước - Ý nghĩa của quá trình thống nhất đất nước về mặt nhà nước -Hoàn cảnh lịch sử mới - Đường lối đổi mới của Đảng

- Học sinh phát triển năng lực tổ chức và quản lí nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập Lịch sử. - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề.

2.3. Những yêu cầu cơ bản khi phát triển năng lực hợp tác trong DHLS Việt Nam

lớp 12

Bất cứ các hoạt động giáo dục nào ở trường phổ thông đều phải thông qua các

biện pháp sư phạm cụ thể. Các biện pháp này phải tuân thủ những yêu cầu sư phạm có

tính nguyên tắc. Đây là một nhiệm vụ quan trọng, vừa nâng cao được chất lượng dạy

học lịch sử, vừa phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và phát triển cho học sinh các năng

lực xã hội, trong đó có NLHT. Dưới đây là một số yêu cầu cơ bản cần được đảm bảo

sử dụng khi phát triển NLHT trong dạy học lịch sử.

Thứ nhất, đảm bảo khắc sâu được kiến thức cơ bản cho học sinh.

Trong DHLS ở trường phổ thông, người ta không thể cung cấp nhiều kiến thức

vì không đủ thời gian và không vừa sức HS. Do vậy, phải lựa chọn kiến thức từ kho

tàng khổng lồ của khoa học lịch sử để đưa vào chương trình học. Những kiến thức lựa

chọn ấy được gọi là “kiến thức cơ bản”.KTCB là kiến thức tối ưu, cần thiết cho việc

hiểu biết của học sinh về lịch sử thế giới và dân tộc. Nó gồm nhiều yếu tố: sự kiện lịch

sử, các niên đại, địa danh lịch sử, nhân vật lịch sử, các biểu tượng, khái niệm lịch sử,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

các quy luật, nguyên lý, phương pháp học tập và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Do

đó, khi xác định các biện pháp DH nhằm phát triển NLHT cho HS, trước hết phải xác

định được kiến thức cơ bản của bài học, kiến thức nào HS cần hiểu kĩ, ghi nhớ, khắc

sâu; kiến thức nào để mở rộng sự hiểu biết cho các em mà không cần nhớ kĩ. Những

biện pháp được lựa chọn phải phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của HS

khi nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, đồng thời phát triển cho HS các biểu hiện của NLHT

như biết lắng nghe, chia sẻ học tập với các bạn, tinh thần trách nhiệm hoàn thành nhiệm

vụ của bản thân, sẵn sàng giúp đỡ các bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ chung...

Thứ hai, phát triển năng lực hợp tác cho học sinh phải căn cứ vào mục tiêu

dạy học để lựa chọn biện pháp phù hợp.

Mục tiêu dạy học là cái đích mà học sinh phải đạt được sau khi học; đó chính

là “đích” cuối cùng mà cả thầy và trò đều phải hướng tới. Như vậy, theo quan điểm

“dạy học hướng vào học sinh,” thì mục tiêu dạy học đề ra là hướng vào phía học

sinh, chứ không phải phía giáo viên.Mục tiêu thực hiện là một lời phát biểu mô tả kết

quả thực hiện đã dự định của học sinh vào cuối buổi dạy. Dù là giáo dục định hướng

nội dung hay định hướng năng lực thì đạt được mục tiêu của bài học trên cả ba mặt

kiến thức, thái độ, kĩ năng cũng là yêu cầu tiên quyết cần hướng tới trong giảng dạy.

Chính vì vậy,phát triển NLHT cho học sinh trong DHLS ở trường THPT cần căn cứ

vào mục đích, yêu cầu bài học để có thể lựa chọn được các biện pháp tổ chức dạy học

đa dạng, phong phú nhưng phù hợp. Để sao cho đạt được mục tiêu bài học nhưng cũng

đảm bảo được sự tiến bộ về năng lực của người học. Thực hiện được mục tiêu bài học

sẽ phát triển được ở người học các năng lực, các phẩm chất tư duy, các kĩ năng hành

động, hình thành thái độ và cả niềm say mê học tập đối với môn học.

Thứ ba, đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt

và tính tập thể của việc dạy học.

Trong DHLS phải tạo nên khó khăn vừa sức, những yêu cầu và nhiệm vụ học

tập đề ra phải tương ứng với giới hạn cao nhất của vùng phát triển trí tuệ gần nhất của

HS.Tính vừa sức đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh THPT. Để đảm

bảo tính vừa sức và chú ý tới những đặc điểm cá biệt trong điều kiện tiến hành dạy và

học với cả lớp cần:

(1) Xác định mức độ tính chất khó khăn trong quá trình dạy học để thiết lập

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

những cách thức chủ yếu tạo nên động lực học tập, mở rộng khả năng nhận thức của

học sinh, suy nghĩ những biện pháp tiến hành chung với cả lớp và với từng học sinh.

(2) Phối hợp hình thức lên lớp, hình thức độc lập của học sinh và hình thức học

tập nhóm tại lớp, trước tập thể lớp, giáo viên đề ra nhiệm vụ chung và dưới sự chỉ đạo

của giáo viên, từng cá nhân suy nghĩ cách giải quyết và trong thời gian đó, giáo viên

giúp đỡ những học sinh yếu kém.

(3) Cách tiến hành dạy học như vậy không chỉ giáo dục tinh thần tập thể cho

học sinh, mà từng học sinh giúp đỡ lẫn nhau nên nhiệm vụ học tập đề ra trở nên vừa

sức mỗi người.

(4) Nội dung hoạt động ngắn gọn, dễ hiểu. Các hoạt động được tổ chức trong

không gian thích họp, thời gian hoạt động không quá ngắn dẫn tới tình trạng mang tính

hình thức và không quá dài gây mất thời gian.

(5) HS chỉ có được các kĩ năng, phát triển năng lực của bản thân nếu các em thật

sự cố gắng. GV đề ra những câu hỏi một cách vừa sức với khả năng của các em, qua

đó đòi hỏi học sinh phải nỗ lực sáng tạo, có thái độ tích cực hợp tác trong học tập, đồng

thời cũng khai thác được những khả năng tiềm ẩn của mỗi học sinh.

Thứ tư, sử dụng linh hoạt, hiệu quả các phương pháp, phương tiện.

PPDH là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và HS, trong những

điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học. Không có một phương

pháp dạy học nào toàn năng phù hợp với mục tiêu và nội dung dạy học. Mỗi phương

pháp và hình thức dạy học có những ưu và nhược điểm và giới hạn sử dụng riêng. Vì

vậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá

trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát triển NLHT, phát huy tính tích cực

của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học.

Phương tiện dạy học là các phương tiện sư phạm đối tượng - vật chất do giáo

viên và học sinh sử dụng dưới sự chỉ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học, tạo

những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học. Chức năng chủ yếu của

phương tiện dạy học là tạo điều kiện cho học sinh nắm vững chính xác, sâu sắc kiến

thức, phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cách của học sinh. Trong quá

trình dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng, phương tiện dạy học đã chứng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tỏ vai trò to lớn của mình ở tất cả các khâu: tạo động cơ, hứng thú học tập của học sinh;

cung cấp các cứ liệu nhằm khái quát hoá hoặc kiểm chứng các kiến thức về các khái

niệm, biểu tượng; sử dụng trong việc ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá kiến thức,

kỹ năng của học sinh; hỗ trợ việc kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng...

Như vậy, để việc dạy học phát triển NLHT có hiệu quả cần phải nắm vững các

yêu cầu sư phạm cần thiết. Đây cũng là căn cứ tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm

nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.

2.4. Một số biện pháp phát triển NLHT trong dạy học LSVN lớp 12 THPT

2.4.1. Trong hoạt động nội khóa

2.4.1.1. Dạy học nhóm

Khái niệm

PPDH theo nhóm nhỏ được gọi bằng một số tên khác như "Phương pháp thảo

luận nhóm" hoặc PPDH hợp tác. Đây là một PPDH mà " học sinh được phân chia thành

từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện

thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người. Các hoạt động cá nhân riêng biệt được

tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung" [40, tr. 23].

Phương pháp dạy học nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi học sinh tham

gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến

thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học;

tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết

những nhiệm vụ chung

Quy trình thực hiện

Khi sử dụng PPDH nhóm, lớp học được chia thành những nhóm từ 4 đến 6 người.

Tùy mục đích sư phạm và yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu

nhiên hoặc có chủ định, được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổi theo từng

hoạt động, từng phần của tiết học, các nhóm được giao nhiệm vụ giống nhau hoặc mỗi

nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung.

Cấu tạo của một hoạt động theo nhóm có thể như sau:

Bước 1: Nhập đề, giao nhiệm vụ

Giáo viên giới thiệu chủ đề, nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.Tổ chức

các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy định thời gian và phân công vị trí làm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

việc cho các nhóm.

Bước 2. Làm việc theo nhóm

Lập kế hoạch làm việc. Thỏa thuận quy tắc làm việc. Phân công trong nhóm,

từng cá nhân làm việc độc lập.Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm.Cử đại diện trình

bày kết quả làm việc của nhóm.

Bước 3. Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp

Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm.Các nhóm khác quan

sát, lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến.GV tổng kết và nhận xét, đặt vấn

đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo.

Ưu điểm

(1) Học sinh được học cách cộng tác trên nhiều phương diện

(2) Học sinh được nêu quan điểm của mình, được nghe quan điểm của bạn khác

trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau và đưa ra lời

giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao cho nhóm. Qua cách học đó, kiến thức của hs sẽ

bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê phán

của hs được rèn luyện và phát triển.

(3) Các thành viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm,

hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau.

Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học

hỏi giữa các thành viên trong nhóm, được tham gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra.

Học sinh hào hứng khi có sự đóng góp của mình vào thành công chung của cả lớp.

(4) Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên HS, đặc biệt là những em nhút nhát,

trở nên bạo dạn hơn; các em học được trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe có phê

phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp HS dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm, tạo cho các em

sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt.

Ví dụ: Khi dạy bài 17(tiết 17): Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày

2/9/1945 đến trước 19/12/1946, mục II. Bước đầu xây dựng chính quyền cách mạng,

giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính, phương pháp dạy học nhóm được

tiến hành như sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bước 1: Giáo viên tổ chức hoạt động cả lớp với cá nhân để tìm hiểu về tình hình

nước ta sau cách mạng tháng Tám năm 1945 với thuận lợi và khó khăn. GV dẫn dắt mặc

dù sau cách mạng tháng Tám nước ta ở trong tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc” nhưng dưới

sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã chèo lai con thuyền cách

mạng vượt qua biết bao khó khăn. Vậy Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm gì để thoát

khỏi khó khăn. GV dẫn dắt chuyển sang phần giải quyết khó khăn.

Giáo viên sử dụng phương pháp dạy học nhóm để phát triển NLHT trong dạy

học LSVN lớp 12. GV chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm tương ứng với các nhiệm vụ

GV sẽ đề ra. GV chia nhóm qua bảng sau:

Nhiệm vụ của các nhóm

Nhóm 1: Để xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng cần phải làm gì? ý nghĩa của việc xây dựng và củng cố chính quyền?

Nhóm 2: Để giải quyết khó khăn cấp bách về nạn đói, chính phủ và Hồ Chủ tịch đã đề ra biện pháp gì, ý nghĩa của những biện pháp đó?

Nhóm 3: Đảng và Bác Hồ có những biện pháp gì để xoá mù chữ và diệt giặc dốt cho nhân dân?

Nhóm 4: Đảng chính phủ giải quyết khó khăn về tài chính như thế nào? Nhóm trình bày + 6/ 1/ 1946, tổng tuyển cử trong cả nước → Bầu quốc hội khoá đầu tiên (Bầu cử hội đồng nhân dân các cấp ở Bắc và Trung Bộ), cả nước có trên 90% cử trị đi bầu cử (Bác Hồ đạt số phiếu 98,4%) + ngày 2/ 3/ 1946, kỳ họp thứ nhất quốc hội khoá I bầu chính phủ cách mạng do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu + 9/ 11/ 1946 quốc hội thông qua hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà Ý nghĩa: Giáng một đòn mạnh vào âm mưu chống phá của kẻ thù, tạo cơ sở vững chắc cho nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà + Biện pháp cấp thời trước mắt - Tổ chức quyên góp, nhường cơm sẻ áo … - Điều hoà hoà thóc gạo giữa các địa phương + Biện pháp lâu dài - Tăng gia sản xuất - Bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý =>Nạn đói được đẩy lùi, sản xuất nông nghiệp được nhanh chóng phục hồi. + Biện pháp trước mắt - 8/ 1945 lập “Nha bình dân học vụ” mở các lớp bình dân học vụ xóa nạn mù chữ + Biện pháp lâu dài - Bước đầu đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục +Trước mắt: Chính phủ kêu gọi tinh thần tự nguyện đóng góp của nhân… + Lâu dài: phát hành tiền Việt Nam trong cả nước.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bước 2: Các nhóm trình bày, trao đổi ý kiến, phản biện giữa các nhóm Bước

3: GV tổng kết trước lớp

Với những biện pháp kịp thời, Đảng và chính phủ từng bước kiện toàn bộ máy

nhà nước, giải quyết khó khăn về giặc đói, giặc dốt, khó khăn về tài chính đã tạo điều

kiện đưa nước ta bước vào cuộc kháng chiến lâu dài, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt.Sau

đó GV đánh giá và cho điểm các nhóm. Giáo viên tổ chức kiểm tra hoạt động nhận

thức của học sinh, nhấn mạnh kiến thức trọng tâm của bài như biện pháp trước mắt,

biện pháp lâu dài, ý nghĩa giải quyết những khó khăn…

Vận dụng dạy học nhóm trong bài học trên có tác dụng lớn đối với học sinh về

kiến thức, kỹ năng và thái độ, cụ thể:

Về kiến thức: Học sinh hiểu được những thành tựu bước đầu xây dựng chính

quyền cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính có ý nghĩa to

lớn, thể hiện ý chí và quyết tâm của nhân dân Việt Nam là xây dựng một nước Việt

Nam thống nhất, độc lập; giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu chia rẽ, lật đổ và xâm

lược của đế quốc và tay sai, tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho nhà nước cách mạng để

thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại trong thời kì mới.

Về thái độ: Bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần độc lập dân tộc, niềm tin và tự

hào vào sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Về kỹ năng: Phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh, phát hiện vấn đề, kích thích

tư duy sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc. Đồng thời còn rèn luyện năng lực hợp tác,

giao tiếp, phản biện.

Như vậy, qua việc sử dụng PPDH theo nhóm trong dạy học LSVN 12 giúp học

sinh được làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi một thành viên trong nhóm

đều có cơ hội tham gia vào nhiệm vụ đã được phân công sẵn. Học sinh được rèn luyện

tính cộng tác bởi mỗi học sinh không thể giải quyết vấn đề một mình mà cần thiết phải

có sự cộng tác thực sự giữa các thành viên trong nhóm.

2.4.1.2. Dạy học theo chủ đề

Theo định hướng tích hợp ở cấp dưới và phân hóa ở cấp trên, chương trình và

sách giáo khoa THPT môn Lịch sử mới sẽ được áp dụng từ năm học 2021 - 2022, xác

định dạy theo chủ đề và chuyên đề. Chủ đề sẽ được thiết kế để dạy cho các HS chọn môn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Lịch sử. Chuyên đề dành riêng cho những HS chọn môn Lịch sử có thiên hướng khoa

học xã hội và nhân văn. Ngoài ra, trong bối cảnh Chương trình giáo dục phổ thông tổng

thể và chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử đều hướng tới hình thành và phát

triển phẩm chất và năng lực cho người học, việc thiết kế và tổ chức dạy học theo chủ đề

cần có những đổi mới cả về quan niệm, quy trình thiết kế, tổ chức các hoạt động và giá

trị mà các chủ đề cần hướng tới cho người học. Như vậy, những hiểu biết về việc thiết

kế và tổ chức dạy học theo chủ đề là cần thiết cho GV phổ thông.

Khái niệm

Dạy học theo chủ đề là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến

thức, nội dung bài học, chủ đề… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên mối

liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học thành một chủ đề, nhờ đó

HS được hoạt động nhiều hơn để khám phá kiến thức và vận dụng vào thực tiễn. Trong

dạy học theo chủ đề, GV không chỉ sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống mà

chủ yếu là hướng dẫn HS tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết

các nhiệm vụ học tập.

Dạy học theo chủ đề được tiến hành theo quy trình như sau:

Bước 1: Xác định chủ đề và mục tiêu chủ đề. Cũng giống như tiến hành bài học

truyền thống, việc xác định mục tiêu chủ đề là đích mà chủ đề hướng tới. Hiện nay,

mục tiêu chủ đề được xác định dựa trên chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương

trình hiện hành quy định. Song, để đáp ứng yêu cầu đổi mới, mục tiêu chủ đề còn xác

định năng lực cần có đối với học sinh.

Bước 2: Xây dựng nội dung chủ đề. Bước này thể hiện rõ điểm mới của dạy học

theo chủ đề so với dạy học truyền thống. Những kiến thức được lựa chọn trong nội

dung trong chủ đề không có sự trùng lặp, được sắp xếp lại theo logic để học sinh hiểu

vấn đề sâu hơn.

Bước 3: Thiết kế tiến trình dạy học theo chủ đề Lịch sử. Bước này cũng thể hiện

rõ điểm mới của dạy học chủ đề được tổ chức theo các hoạt động học của học sinh,

phát huy tính tích cực của các em trong dạy học và kiểm tra, đánh giá.

Trong quá trình dạy học theo chủ đề cần khai thác hiệu quả các phương tiện,

thiết bị dạy học phù hợp với điều kiện của nhà trường và khả năng của giáo viên. Giáo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

viên cần lưu ý lựa chọn phương tiện, thiết bị phù hợp với nội dung dạy học, với điều

kiện của nhà trường và năng lực dạy học của bản thân. Để hình thành và phát triển năng

lực cho học sinh đòi hỏi bài học theo chủ đề được thiết kế theo hướng mở, khuyến

khích sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập nhằm theo dõi sự tiến bộ

của các em. Vì vậy, các phương pháp dạy học, các công cụ kiểm tra, đánh giá được lựa

chọn cũng phải phù hợp và vận dụng linh hoạt, trong đó GV lựa chọn một phương pháp

chủ đạo nhằm đáp ứng dạy học phân hóa, chuyên sâu với nhiều loại trí tuệ của học

sinh, phát huy được tính tích cực và năng lực độc lập của các em trong học tập các chủ

đề lịch sử. Tổ chức dạy học theo chủ đề đòi hỏi HS phải tích cực, chủ động và sáng tạo

trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập. GV không chỉ đóng vai trò là người truyền

thụ kiến thức, mà còn định hướng, tổ chức, hướng dẫn HS trong suốt quá trình học tập.

Ví dụ: Vận dụng dạy học theo chủ đề vào chương Bài 22: Nhân dân hai miền

chiến đấu chống đế quốc Mĩ, nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965-

1973)

Bước 1: Xác định chủ đề - chiến đấu chống các chiến lược chiến tranh của Mĩ

(1965-1973)

Sau khi lựa chọn được chủ đề, giáo viên xác định mục tiêu của dự án trên các

mặt như sau:

Về kiến thức: HS trình bày được hoàn cảnh ra đời, âm mưu, thủ đoạn của các

chiến lược chiến tranh

Về kỹ năng: Rèn luyện cho HS kỹ năng phân tích, đánh giá,kỹ năng xác định

kiến thức cơ bản, sự kiện cơ bản. Kỹ năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện lịch

sử

Về tư tưởng: Bồi dưỡng tinh thần yêu nước,ý chí quyết tâm chống lại kẻ thù dân

tộc.

Tiếp đó, bằng cách gợi ý, giáo viên hướng dẫn học sinh lựa chọn chủ đề nhỏ

theo từng nội dung của chủ đề. Giáo viên đưa ra 4 chủ đề định hướng cho HS:

Chủ đề 1: Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời, âm mưu thủ đoạn của các chiến

lược chiến tranh của Mĩ (1965-1973)

Chủ đề 2: Em hãy cho biết quá trình chiến đấu chống chiến lược chiến của nhân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

dân hai miền (1965-1973)?

Bước 2: Xây dựng kế hoạch cho chủ đề

Giáo viên chia cả lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm thực hiện một tiểu chủ đề. Triển

khai chủ đề, giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng nội dung cũng như xác định kế

hoạch làm việc cho chủ đề được triển khai. Xác định công việc cần thực hiện: Từ 4 chủ

đề nhỏ, giáo viên cùng học sinh xác định công việc cụ thể, mỗi nhóm là một chủ đề.

Nhóm 1: Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời, âm mưu thủ đoạn của các chiến lược

chiến tranh của Mĩ (1965-1973)?

Nhóm 2: Em hãy cho biết quá trình chiến đấu chống chiến lược chiến của nhân

dân hai miền (1965-1973)?

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nhiệm vụ cụ thể trong nhóm được phân công theo kế hoạch sau:

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHỦ ĐỀ:

“ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI NĂM 1930”

Nhóm 1:

Dự kiến Tên Thời gian Nhiệm vụ Phương tiện sản thành viên hoàn thành phẩm

1 tuần Nhóm trưởng Điều khiển, phân công, nhiệm vụ Bảng tổng hợp kết quả

ảnh, Thư kí 1 tuần Sổ ghi chép Băng ghi hình, ghi âm, phiếu hỏi Máy máy ghi âm

thành 1 tuần Bản báo cáo Video Máy quay Máy ảnh Máy ghi âm

Ghi chép lại ý kiến, thông tin phản hồi của các thành viên Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời, âm mưu thủ đoạn của các chiến lược chiến tranh của Mĩ (1965-1973)? Các viên -Trần Thu Linh -Nguyễn Mai Ninh

Bước 3: Thực hiện chủ đề

Các thành viên trong nhóm làm việc nghiêm túc và nhiệt tình. Đầu tiên, thu thập

thông tin: Các nhóm thực hiện công việc theo nhiệm vụ cụ thể gồm sưu tầm, ghi chép.

Để thực hiện tốt chủ đề, giải quyết nhiệm vụ được phân công, các em phải tìm những

nguồn tài liệu trên báo chí, internet, sách báo, tham khảo liên quan đến vấn đề mà các

em đang muốn lí giải…

Sau khi thu thập thông tin, giáo viên hướng dẫn học sinh xử lí thông tin. Các em

chia sẽ thông tin với nhau bằng cách phân tích, tổng hợp lựa chọn thông tin, phương

án tối ưu nhất, đưa ra kết luận, thống nhất hình thức trình bày trước lớp, phân công

công việc cụ thể cho các thành viên trong nhóm trong buổi báo cáo trên lớp. Các nhóm

có thể thảo luận cùng giáo viên để được hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời.

Tiếp đến, các nhóm tiến hành trình bày kết quả, mỗi nhóm lần lược báo cáo

trước lớp trong thời gian tối đa là 5-10 phút và tùy theo sự sáng tạo của mỗi nhóm, các

em có thể báo cáo dưới dạng: bài viết, tranh ảnh, xây dựng hoạt cảnh; video…Ví dụ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nhóm 1: nhóm trưởng đại diện lên báo cáo trước lớp dưới hình thức Powerpoit về bối

cảnh Việt Nam đầu XX… Nhóm 1 báo cáo xong, các thành viên trong nhóm bổ sung,

các nhóm khác đưa câu hỏi xung quanh vấn đề của nhóm 1, sau đó giáo viên đưa ra

câu hỏi về tiểu chủ đề đã báo cáo. Cuối cùng giáo viên chốt lại: Nhân dân hai miền đã

lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mĩ bắng những thắng lợi vang dội ở

Vạn Tường, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968…

Ví dụ trên có tác dụng lớn đối với học sinh về kiến thức, kỹ năng và thái độ sau

khi dạy học theo chủ đề.

Về kiến thức: Có những hiểu biết về cuộc chiến đấu của quân dân ta ở miền Nam

đánh bại liến tiếp hai chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hoá chiến tranh”;

quân dân ta ở miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mĩ; về sự kết hợp giữa

cách mạng hai miền Nam - Bắc.

Về kỹ năng: Rèn luyện kĩ năng phân tích, nhận định, đánh giá âm mưu, thủ đoạn

của địch, tinh thần chiến đấu, lao động sản xuất xây dựng miền bắc; tình đoàn kết chiến

đấu giữa ba dân tộc ở Đông Dương và ý nghĩa thắng lợi của quân dân ta ở hai miền đất

nước. Kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ chiến sự, tranh, ảnh trong SGK.

Về tư tưởng: Bồi dưỡng lòng yêu nước gắn với chủ nghĩa xã hội, tình cảm ruột

thịt Bắc - Nam, tình đoàn kết chiến đấu giữa ba dân tộc ở Đông Dương, niềm tin vào

sự lãnh đạo của Đảng, vào tiền đồ cách mạng.

Tóm lại, phương pháp dạy học theo chủ đề có ý nghĩa quan trọng đối với môn

lịch sử ở trường THPT. Các chủ đề được giảng dạy không chỉ giúp học sinh hiểu sâu

sắc có hệ thống sự phát triển của lịch sử, mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, hiện

tượng lịch sử, mà còn mở rộng, làm phong phú vốn trí thức, giúp học sinh biết vận

dụng linh hoạt kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới và liên hệ, đánh giá vào thực

tiễn cuộc sống. Đồng thời qua học tập các chủ đề học sinh được rèn luyện, phát triển

kỹ năng tư duy, thực hành bộ môn và các năng lực cốt lõi như: phát hiện, giải quyết

vấn đề, hợp tác…

2.4.1.3. Dạy học theo dự án

Khái niệm

Dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

hướng người học đến việc lĩnh hội tri thức và kỹ năng thông qua các dự án có liên quan

đến các vấn đề có thực trong cuộc sống gắn liền với nội dung dạy học.

Mục tiêu của dạy học theo dự án: (1) Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn

kết nội dung học với cuộc sống thực tế; (2) Phát triển cho người học kĩ năng phát hiện

và giải quyết vấn đề; kĩ năng tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá); (3) Rèn

luyện nhiều kĩ năng (tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, kĩ năng làm việc theo nhóm, giao

tiếp…); (4) Cộng tác làm việc: các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm,

trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong

nhóm. Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm

việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội

khác tham gia trong dự án.

Ưu điểm của dạy học theo dự án: (1) Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và

hành động, nhà trường và xã hội; (2) Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người

học; (3) Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm; (4) Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;

(5) Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc;

Tiến trình thực hiện dạy học theo dự án

Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta chia cấu trúc của DHDA

làm nhiều bước khác nhau. Sau đây là một cách phân chia DHDA theo 5 bước.

Bước 1: Lập kế hoạch, bao gồm các công việc sau:

Xác định chủ đề: Giáo viên căn cứ vào nội dung bài học để xác định chủ đề hấp

dẫn và hứng thú với học sinh.

Lựa chọn các tiểu chủ đề: Giáo viên hướng dẫn học sinh phát triển tìm các chủ

đề nhỏ (tiểu chủ đề) làm tên của dự án.

Xác định mục đích của dự án về kiến thức, kỹ năng, thái độ cần đạt khi thực

hiện dự án.

Bước 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện.

Trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng

như kế hoạch cho việc thực hiện dự án. Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định

những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành

và phân công công việc trong nhóm.

Bước 3: Thực hiện dự án.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân.

Trong giai đoạn này, HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực

hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Kiến thức lý thuyết,

các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn. Trong quá trình đó

sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra.

Bước 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm.

Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận

văn… Trong nhiều dự án, các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành.

Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu

diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội. Sản phẩm

của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm , có thể được giới thiệu trong nhà trường,

hay ngoài xã hội.

Bước 5: Đánh giá kết quả

Sau khi trình bày báo cáo, các nhóm sẽ tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau và nhìn

lại quá trình thực hiện dự án. Giáo viên là người đánh giá cuối cùng: Mục tiêu học tập

đã đạt được hay chưa? Những thiếu sót gì đã bỏ qua? Các thành viên trong nhóm hoạt

động như thế nào? Có ưu điểm và hạn chế gì? ...Từ đó, rút ra những kinh nghiệm cho

việc thực hiện những dự án tiếp theo. Kết quả của dự án cũng có thể được đánh giá từ

bên ngoài.

Như vậy, trong dạy học dự án học sinh được lựa chọn các chủ đề của dự án. Để

một dự án có được mức độ khoa học cần thiết, học sinh phải rất nghiêm túc khi thực

hiện. Các em phải được giao trách nhiệm cũng như tạo cơ hội để thể hiện các sáng kiến

và được tham gia vào quá trình ra quyết định lựa chọn dự án.

Ví dụ: Vận dụng dạy học theo dự án vào dạy bài 16: Phong trào giải phóng dân

tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945). Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra

đời (tiết 26)

Bước 1: Để thực hiện dự án, trước tiên giáo viên cần lập kế hoạch cho dự án

gồm: Xác định chủ đề, lựa chọn tiểu chủ đề, mục đích của dự án.

Giáo viên xác định chủ đề của dự án mang tên: Cách mạng tháng Tám năm

1945.

Sau khi lựa chọn được chủ đề, giáo viên xác định mục tiêu của dự án trên các

mặt như sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Về kiến thức: Học sinh trình bày được thời cơ, diễn biến, nguyên nhân thắng

lợi,ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của cách mạng tháng Tám năm 1945

Về kỹ năng: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng xác định kiến thức cơ bản, sự kiện

cơ bản. Kỹ năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện lịch sử

Về thái độ: Bồi dưỡng cho học sinh niềm tin vào sự lãnh đạo tài tình sáng suốt

của Đảng, từ đó học sinh có ý thức trân trọng, giữ gìn và phát huy thành quả Cách

mạng tháng Tám.

Định hướng phát triển năng lực: Phát triển ở học sinh năng lực tự chủ và tự học,

giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng

lực tìm hiểu xã hội, năng lực tin học.

Tiếp đó, bằng cách gợi ý, giáo viên hướng dẫn học sinh lựa chọn tiểu chủ đề

theo từng nội dung

Chủ đề 1: Tại sao nói Thời cơ của cách mạng tháng Tám là thời cơ ngàn năm

có một?

Chủ đề 2: Trình bày diễn biến của cách mạng tháng Tám?

Chủ đề 3: Nước VNDCCH đã ra đời như thế nào:

Chủ đề 4: Nguyên nhân thắng lợi,ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của

cách mạng tháng Tám năm 1945?

Bước 2: Giáo viên xây dựng kế hoạch cho dự án gồm:

Nội dung của dự án: Giáo viên chia cả lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm thực hiện

một tiểu chủ đề. Dự kiến sản phẩm của học sinh gồm: Trình bày, báo cáo, tranh ảnh,

bài viết, câu chuyện… mà các em sưu tầm được và trình bày sản phẩm trước lớp dưới

các hình thức: Tập san, video, bài thuyết trình trên Powerpoit, đóng kịch …

Triển khai dự án: Giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng đề cương cũng như

xác định kế hoạch làm việc cho dự án được triển khai. Trong kế hoạch thực hiện xác

định rõ công việc cần làm, địa điểm, đối tượng tìm hiểu, thời gian, kinh phí, phương

pháp tiến hành, phân công nhiệm vụ trong nhóm…

Xác định công việc cần thực hiện: Từ 4 chủ đề nhỏ, giáo viên cùng học sinh xác

định công việc cụ thể, mỗi nhóm là một chủ đề.

Nhóm 1: Tại sao nói Thời cơ của cách mạng tháng Tám là thời cơ ngàn năm có

một? Điều kiện khách quan,chủ quan, sưu tầm một số tranh ảnh cũng như tìm kiếm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nhân chứng lịch sử nếu có, các tác phẩm văn thơ liên quan đến chủ đề này. Em có nhận

xét gì chủ trương của Đảng trước thời điểm Nhật đầu hàng Đồng minh?

Nhóm 2: Tìm hiểu về diễn biến của cách mạng tháng Tám? sưu tầm tranh ảnh,

lược đồ. Em hãy đọc hoặc kể lại một câu chuyện liên quan đến chủ đề này.Học sinh

liên hệ với cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Bắc Ninh?

Nhóm 3: Tìm hiểu sự ra đời của nước VNDCCH? sưu tầm tranh ảnh,video về

nước VNDCCH. Em hãy đọc hoặc kể lại một câu chuyện liên quan đến chủ đề này.

Nhóm 4: Tìm hiểu nguyên nhân thắng lợi,ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm

của cách mạng tháng Tám năm 1945.HS rút ra nguyên nhân quan trọng nhất? Học sinh

liên hệ với bài học của cách mạng tháng Tám với công cuộc xây dựng đất nước hiện

nay?

Về địa điểm: Tại thực địa nơi địa phương còn lưu giữ lại những tư liệu cũng

như các nhân chứng lịch sử thời kì này, hoặc các em sưu tầm tài liệu qua sách báo,

mạng Internet.

Về đối tượng nghiên cứu: Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945

Về thời gian thực hiện: Các nhóm thực hiện dự án trong vòng một tuần.

Về phương pháp thực hiện: phỏng vấn nhân chứng lịch sử, sưu tầm, chụp ảnh,

quay phim, video, ghi chép về các tài liệu có liên quan…

Việc phân cộng nhiệm vụ cụ thể trong nhóm:

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN DỰ ÁN: “Cách mạng tháng Tám năm 1945”.

Nhóm số 1

Dự kiến Thời gian Tên thành viên Nhiệm vụ Phương tiện sản hoàn thành phẩm

Nhóm trưởng 1 tuần

Điều khiển, phân công,nhiệm vụ Bảng tổng hợp kết quả

Băng ghi hình,ghi âm, phiếu hỏi

Thư kí Ghi chép lại ý Máy ảnh,máy 1 tuần Sổ ghi chép

ghi âm

kiến, thông tin phản hồi của các

thành viên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Các thành viên - Trần Thu Hằng -Tìm hiểu thời cơ của cách mạng Máy quay Máy ảnh 1 tuần Bản báo cáo Video

tháng Tám Máy ghi âm

- Nguyễn Mai Linh

Bước 3: Thực hiện dự án. Ở bước này, đòi hỏi các thành viên trong nhóm làm

việc nghiêm túc và nhiệt tình.

Đầu tiên, thu thập thông tin: Các nhóm thực hiện công việc theo nhiệm vụ cụ thể

gồm: Sưu tầm, ghi chép, để thực hiện tốt dự án giải quyết nhiệm vụ đã phân công, các em

phải xâm nhập thực tế tìm kiếm nhân chứng lịch sử nếu trong điều kiện cho phép. Hoặc

có thể tìm những nguồn tài liệu khác trên báo chí, internet, sách báo, tham khảo ý kiến

của những chuyên gia liên quan đến vấn đề mà các em đang muốn lí giải…

Sau khi các nhóm thu thập thông tin, giáo viên hướng dẫn học sinh xử lí thông

tin. Các em chia sẻ thông tin với nhau bằng cách phân tích, tổng hợp lựa chọn thông

tin, phương án tối ưu nhất, đưa ra kết luận, thống nhất hình thức trình bày trước lớp,

phân công công việc cụ thể cho các thành viên trong nhóm trong buổi báo cáo dự

án trên lớp. Các nhóm có thể thảo luận cùng giáo viên để được hướng dẫn, giúp đỡ

kịp thời.

Bước 4: Các nhóm tiến hành trình bày kết quả, mỗi nhóm lần lượt trình bày trước

lớp trong thời gian tối đa là 5 phút và tùy theo sự sáng tạo của mỗi nhóm, các em có thể

báo cáo dưới dạng: bài viết, tranh ảnh, xây dựng hoạt cảnh; video… Ví dụ nhóm 1, nhóm

trưởng đại diện lên báo cáo trước lớp dưới hình thức Powerpoit về thời cơ của cách mạng

tháng Tám và những nhiệm vụ cụ thể được giao. Nhóm 1 báo cáo xong, các thành viên

trong nhóm bổ sung, các nhóm khác đưa câu hỏi xung quanh vấn đề của nhóm 1, sau đó

giáo viên chốt lại: Trước tình hình trên Đảng đã đưa ra chủ trương kịp thời,sáng suốt phát

lệnh Tổng khởi nghĩa trước khi quân Đồng minh vào nước ta.

Bước 5: Giáo viên và học sinh tiến hành đánh giá kết quả của các nhóm trong

suốt quá trình thực hiện dự án. Giáo viên có thể cho học sinh đánh giá theo mẫu sau:

Điểm đánh giá Ghi chú

Điểm tối đa 2 điểm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nội dung đánh giá Thời gian trình bày (từ 3-5 phút) Nội dung: Đúng trọng tâm Khoa học, logic Mạch lạc, dễ hiểu Hình thức trình bày: Hấp dẫn 2 điểm 1 điểm 1 điểm 1 điểm

Độc đáo, sáng tạo Trả lời phản biện Nhanh, chính xác Tổng điểm 1 điểm 2 điểm 10 điểm

Học sinh sẽ tự đánh giá trong nhóm, đánh giá lẫn nhau về quá trình thực hiện

dự án. Tiếp đến, giáo viên đánh giá, nhận xét về quá trình, kết quả thực hiện dự án của

các nhóm về mục tiêu học tập đạt được hay chưa? Khó khăn mà học sinh gặp phải, thời

gian thực hiện dự án có hợp lí không?... Tuyên dương, khen thưởng, góp ý cho các

thành viên trong nhóm.

Ví dụ trên có tác dụng lớn đối với học sinh về kiến thức, kỹ năng và thái độ:

Về kiến thức: Trong lịch sử đấu trang cách mạng của nhân dân ta, thắng lợi của

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt lớn của cách mạng, đưa dân

tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ

nghĩa xã hội; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm

chủ vận mệnh của mình.

Về kỹ năng: Rèn luyện cho HS kĩ năng xác định kiến thức cơ bản, sự kiện cơ

bản, kĩ năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện lịch sử.

Về tư tưởng: Bồi dưỡng tinh thần nhiệt tình cách mạng; noi gương tinh thần

Cách mạng tháng Tám của ông cha, trân trọng giữ gìn và biết phát huy thành quả Cách

mạng tháng Tám.

Tóm lại, thông qua phương pháp DHDA, học sinh được khuyến khích để trở

thành một người làm việc độc lập, có tư duy phản biện, hình thành ở học sinh thói quen

học tập suốt đời, phát triển năng lực hợp tác của học sinh để làm việc với bạn của mình,

xây dựng đội nhóm và kĩ năng làm việc nhóm.

2.4.1.4. Phương pháp dạy học đóng vai

Khái niệm:

Phương pháp đóng vai trong DH là GV cung cấp kịch bản và đạo diễn, HS hành

động theo các vai diễn. Qua đó, HS được học cách suy nghĩ, thể hiện thái độ và hành

động cũng như các kĩ năng ứng xử khác của nhân vật trong kịch bản. Đóng vai là

phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử nào đó trong một tình

huống giả định.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Dạy học bằng phương pháp đóng vai là một trong các phương pháp dạy học chủ

động, ngày càng được ứng dụng rộng rãi, là phương pháp dạy học cơ bản và tốt nhất

về kỹ năng giao tiếp - một kỹ năng cần thiết và quan trọng để người học hoạt động

được trong một tập thể, cộng đồng.

Quy trình thực hiện:

Bước 1: Phổ biến tình huống và chia nhóm thực hiện:

Việc lựa chọn tình huống để đóng vai có ý nghĩa rất quan trọng, hiệu quả của

phương pháp này sẽ được nhân lên nếu như giáo viên lựa chọn tình huống phù hợp.

Thông thường đó phải là những tình huống có "vấn đề", kịch tính... để tạo hấp dẫn,

tránh lựa chọn những chủ đề quá đơn giản, chỉ có một phương án giải quyết sẽ mang

lại hiệu quả không cao.

Bước 2: Các nhóm thảo luận và phân công vai diễn:

Tình huống đóng vai nên để mở, giáo viên không cho trước "kịch bản", lời thoại

cho học sinh. Kịch bản cho mỗi tình huống phải được các thành viên trong nhóm thảo

luận, thống nhất và phân công cho từng người. Trong khi học sinh thảo luận và phân

công vai diễn, giáo viên nên đi đến từng nhóm lắng nghe, gợi ý, giúp đỡ học sinh khi

cần thiết. Khuyến khích các nhóm sử dụng hóa trang và các đồ dùng dạy học trong khi

đóng vai để tăng tính hấp dẫn.

Bước 3: Các nhóm thực hiện đóng vai:

Giáo viên bố trí lớp học sao cho cả lớp cùng quan sát được cảnh diễn, nhắc nhở

các nhân vật tránh quay lưng về phía lớp học. Giáo viên lựa chọn một nhóm thực hiện

đóng vai. Giáo viên bao quát lớp và cắt cảnh diễn đúng lúc, không để quá giờ hay đi

chệch nội dung.

Bước 4: Cả lớp thảo luận, nhận xét:

Sau cảnh diễn, giáo viên trao đổi, hỏi đáp cùng cả lớp về những nhận xét, suy

nghĩ của họ về nội dung và những vấn đề thể hiện trong cảnh diễn. Thường thì bắt đầu

về cách ứng xử của các nhân vật cụ thể (phù hợp hay chưa phù hợp, nêu cụ thể chỗ

chưa phù hợp) hoặc tình huống trong cảnh diễn, nhưng sẽ mở rộng phạm vi thảo luận

những vấn đề khái quát hơn hay những vấn đề mà cảnh diễn chứng minh.

Bước 5: Giáo viên tổng kết:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Giáo viên kết nối ý kiến học sinh với mục đích của tình huống; định hướng vào

nội dung bài giảng; bổ sung thêm ý kiến bình luận nếu thiếu; sửa lỗi (nếu có) khi đóng

vai. Nếu còn thời gian, có thể mời nhóm khác lên thực hiện đóng vai "mẫu" theo kết

quả nhận xét của cả lớp và ý kiến tổng kết của giáo viên.

Ví dụ: Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy Bài 16 mục II.3. 3. Nguyễn Ái

Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Hội nghị lần thứ 8 BCHTW Đảng CS

Đông Dương.

Bước 1: Phổ biến tình huống và chia nhóm thực hiện:

GV chia lớp làm 4 nhóm, đại diện của mỗi nhóm sẽ đóng vai một nhân vật lịch

sử, đại biểu dự hôi nghị. Hình thức tổ chức là một học sinh đóng vai trò người dẫn dắt,

giới thiệu với bảng phân vai như sau:

Nhóm 1: Cử một học sinh đảm nhiệm vai trò Nguyễn Ái Quốc - chủ trì hội nghị

Nhóm 2: Cử một học sinh vai Trường Chinh - Tổng Bí thư

Nhóm 3: Cử một học sinh vai Hoàng Văn Thụ - ủy viên

Nhóm 4: Cử một học sinh Hoàng Quốc Việt - thư kí hội nghị

Các học sinh còn lại là đại biểu dự hội nghị.

Bước 2: Các nhóm thảo luận và phân công vai diễn:

Giáo viên không cho trước "kịch bản", lời thoại cho học sinh. Kịch bản cho mỗi

tình huống phải được các thành viên trong nhóm thảo luận, thống nhất và phân công cho

từng người. Trong khi học sinh thảo luận và phân công vai diễn, giáo viên đi đến từng

nhóm lắng nghe, gợi ý, giúp đỡ học sinh khi cần thiết. Khuyến khích các nhóm sử dụng

hóa trang và các đồ dùng dạy học trong khi đóng vai để tăng tính hấp dẫn.

Bước 3: Các nhóm thực hiện đóng vai:

Giáo viên lựa chọn lần lượt các nhóm thực hiện đóng vai. Giáo viên bao quát

lớp và cắt cảnh diễn đúng lúc, không để quá giờ hay đi chệch nội dung

Ví dụ lời thoại cho nhóm 1: Đóng vai Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị lần 8

tháng 5 /1941: “ Chiến tranh thế giới đang lan rộng, phát xít Đức đang ráo riết chuẩn

bị đánh Liên Xô, phát xít Nhật sắp gây ra cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. Chiến

tranh sẽ làm các nước đế quốc suy yếu, phong trào cách mạng thế giới sẽ phát triển một

cách nhanh chóng. Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước

xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công.Vì vậy cách mạng Đông Dương

hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, giải quyết hai vấn đề phản đế

và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp: dân tộc

giải phóng. Do vậy, chính sách mới của Đảng là phải đặt quyền lợi của bộ phận, của

giai cấp dưới quyền lợi giải phóng của toàn thể dân tộc; quyền lợi của nông dân, thợ

thuyền phải đặt dưới quyền lợi giải phóng, độc lập của toàn dân. Cuộc cách mạng Đông

Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Đây chính là nhiệm vụ trung

tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện thời. Dự kiến hình thức khởi nghĩa

là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa”

Bước 4: Cả lớp thảo luận, nhận xét:

Sau cảnh diễn, giáo viên trao đổi, hỏi đáp cùng cả lớp về những nhận xét, suy

nghĩ của học sinh về nội dung và những vấn đề thể hiện trong cảnh diễn như nhiệm

vụ,phương pháp…

Bước 5: Giáo viên tổng kết:

Giáo viên nhận xét phần đóng vai, trả lời của học sinh, biểu dương, cho điểm,

rút kinh nghiệm ,sau đó nhấn mạnh lại trọng tâm của bài học: Hội nghị lần 8 tháng

5/1941 có tầm quan trọng đặc biệt đối với cách mạng tháng Tám năm 1945 vì đã hoàn

chỉnh về chủ trương đường lối so với hội nghị tháng 11/1939 đưa vấn đề giải phóng

dân tộc lên hàng đầu và ở phạm vi từng nước Đông Dương, góp phần quan trọng vào

thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945.

Ví dụ trên tác dụng lớn đối với học sinh về kiến thức, kỹ năng và tư tưởng:

Về kiến thức: Cách mạng tháng Tám thắng lợi là kết quả của quá trình chuẩn bị

lâu dài trong suốt 15 năm qua các phong trào 1930-1931,1936-1939,1939-1945.Đặc

biệt là quá trình hoàn chỉnh đường lối đấu tranh của Đảng qua Hội nghị Trung ương

Đảng lần 8 tháng 5/1941 với vai trò to lớn của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh.

Về kỹ năng: Rèn luyện cho HS kỹ năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện

lịch sử. Rèn luyện kĩ năng trình bày, phản biện, hợp tác.

Về tư tưởng: Bồi dưỡng cho HS niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần

hăng hái, nhiệt tình cách mạng, ý thức độc lập, tự do dân tộc, niềm biết ơn và tự hào về

tinh thần anh dũng, bất khuất của các chiến sĩ cách mạng

Như vậy, việc sử dụng trò chơi trong dạy học Lịch sử làm cho giờ học trở nên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sinh động, học sinh thích thú đối với môn học, tích cực xây dựng bài, học sinh không

còn e ngại và mạnh dạn hơn trong cách đưa ra nhận xét cũng như phân tích các sự kiện

lịch sử, có tinh thần phối hợp, đoàn kết và hợp tác trong học tập. Điều quan trọng nhất

là HS hiểu rõ và nắm vững các sự kiện lịch sử, kết quả học tập cũng cao hơn.

2.4.2. Trong hoạt động ngoại khóa

2.4.2.1. Tổ chức dạ hội lịch sử

Trong các hình thức ngoại khóa, dạ hội lịch sử là hình thức mang tính tổng hợp,

khó thực hiện nhưng lại thu hút được nhiều HS tham gia. Dạ hội lịch sử đòi hỏi sự phối

hợp tổ chức của GV cùng với nhiều nhóm HS. Trong DHLS, dạ hội tạo điều kiện cho

HS tìm hiểu thêm về mối liên hệ giữa các sự kiện với bối cảnh lịch sử nhất định, giữa

các nhân vật LS với nhau…Vì vậy, dạ hội lịch sử không chỉ góp phần làm phong phú

thêm vốn tri thức, khơi dậy những xúc cảm nơi người học mà còn có ưu thế trong việc

phát triển NLHT cho HS. NLHT thể hiện ở chỗ HS được rèn luyện khả năng làm việc

độc lập, khả năng tổ chức nhóm, cộng tác giữa các thành viên với nhau, khả năng diễn

đạt và giao tiếp,bồi dưỡng năng khiếu biểu hiện…Dạ hội lịch sử không chỉ tạo được

hứng thú cho người học mà đảm bảo.

Quy trình của buổi dạ hội lịch sử gồm các bước sau:

Bước 1: Bắt đầu buổi dạ hội, Ban tổ chức mở đầu buổi dạ hội bằng ba bài hát

hát và chơi trò chơi tập thể.

Bước 2: Khai mạc dạ hội

Ban tổ chức giới thiệu đại biểu tới dự (nếu có), giới thiệu chủ đề dạ hội, mục

đích, ý nghĩa của buổi dạ hội. Công bố chương trình theo bản chương trình mà Ban tổ

chức đã thống nhất. Giới thiệu người dẫn chương trình lên điều hành buổi dạ hội. Người

điều khiển chương trình phải nắm vững nội dung chính của buổi dạ hội để hướng mọi

người đến những vấn đề chủ yếu đã đề ra, đồng thời phải linh hoạt, tùy cơ ứng biến.

Bước 3: Tiến hành nội dung buổi dạ hội.

Người dẫn chương trình nêu vấn đề, phổ biến nội dung thông qua các hình thức:

diễn giảng (nói chuyện theo chủ đề như chính trị, thời sự, khoa học kỹ thuật…); tọa

đàm (các thành viên cùng tham gia thảo luận một chủ đề); sinh hoạt văn nghệ; biểu

diễn nghệ thuật; sinh hoạt ngoài trời với những hoạt động thể dục thể thao, tham quan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

du lịch…; giới thiệu sách báo. Người dẫn chương trình cần tạo không khí cởi mở, vui

vẻ, động viên, khuyến khích các thành viên tham gia phát biểu hoặc chia sẻ các vấn đề

mình quan tâm trong buổi sinh hoạt.

Bước 4: Kết thúc buổi dạ hội.

Ban tổ chức tổng kết, cám ơn các thành viên đã tham gia sinh hoạt, biểu dương

những người nhiệt tình tham gia vào các nội dung buổi dạ hội.

Ví dụ: Tổ chức buổi DHLS với chủ đề: “Âm vang chiến thắng Điện Biên”.

Chương trình dự kiến kỉ niệm 66 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (1954 - 2020)

tại trường THPT Lương Tài sẽ giúp HS ôn lại những kí ức hào hùng, vẻ vang của dân

tộc, quan trọng nhất là gửi tới thế hệ trẻ thông điệp về những truyền thống của dân tộc

cũng như trách nhiệm của mình trong xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Chủ đề buổi dạ hội

được công bố trước một tuần để HS có thời gian chuẩn bị và được tổ chức cho toàn bộ

HS khối 12 tham gia.

Chương trình của buổi dạ hội

Trước khi buổi dạ hội bắt đầu, hai HS nam và nữ có giọng nói hay đóng vai trò

dẫn chương trình bước ra sân khấu mời khán giả là các vị đại biểu, thầy cô giáo và học

sinh cùng nhau hát bài “Lên đàng”. Việc làm này giúp tăng thêm không khí hào hùng

cho buổi dạ hội, đồng thời có tác dụng ổn định trật tự tạo sự chú ý và chuẩn bị tốt về

tâm lý cho các đội chơi và khán giả hướng tới sân khấu.

Sau màn tiết mục hát múa, chương trình bắt đầu với nghi lễ chào cờ.

Khai mạc: Người dẫn chương trình giới thiệu nội dung chương trình dạ hội,

tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu và mời thầy hiệu trưởng lên đọc diễn văn kỉ niệm 66

năm chiến thắng Điện Biên Phủ.

Một hoạt cảnh LS khoảng 15 phút do nhóm HS nam, nữ diễn xuất khái quát lại

một số sự kiện tiêu biểu trong phong trào đấu tranh chống pháp của nhân dân ta từ khi

Đảng ra đời đến Cách mạng tháng Tám 1945. Hoạt cảnh tập trung vào giai đoạn 1945-

1954 thông qua các chiến dịch Việt Bắc, Biên giới thu đông 1950, Đông Xuân 1953-

1954 với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ. Qua phần hoạt cảnh, khán giả sẽ nhận

thức được vai trò lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tiếp đó là tiết mục hát múa tập thể với “Liên khúc Điện Biên” gồm các bài hát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

“Hò kéo pháo” (Hoàng Vân), “Chiến thắng Him Lam” và “Bài ca giải phóng Điện

Biên”. Nội dung bài hát ca ngợi về tinh thần bộ đội cụ Hồ trước khi bước vào trận đánh

và những niềm vui chiến thắng khi chiến dịch kết thúc.

Nội dung: Tổ chức cho các đội thi tham gia trò chơi LS. Với sự hỗ trợ của công

nghệ thông tin Ban tổ chức cuộc thi có thể thiết kế nhiều dạng trò chơi với tên gọi như:

Khởi động, Lật mở trang sử, Theo dòng LS, Nhận diện LS, Nhà sử học thông thái, Hiểu

ý đồng đội, Nhà hùng biện tài ba…

Ở phần thi “Khởi động” mỗi đội sẽ được thi tài một lần. Ban tổ chức sẽ giành

cho mỗi đội 60 giây để trả lời nhanh 10 câu hỏi. Đội nào trả lời được nhiều câu hỏi thì

được nhiều điểm. Nếu câu hỏi khó,các đội có quyền yêu cầu MC chuyển.Trả lời đúng

mỗi câu,đội chơi sẽ được 10 điểm.

Trò chơi “Theo dòng LS” sẽ dành cho 4 đội chơi cùng tham dự. Ban tổ chức sẽ

có 10 câu hỏi để các đội cùng nhau tranh tài. Người dẫn chương trình đọc câu hỏi xong,

các đội chơi sẽ có 15 giây suy nghĩ rồi trả lời. Trả lời đúng cả 10 câu đội chơi được 10

điểm.

Xen kẽ với các trò chơi LS là phần thi dành cho khán giả với tên gọi “Tôi là ai”.

Ban tổ chức chuẩn bị khoảng 3 câu hỏi mô tả lại công lao hoặc sự thất bại của một nhân

vật liên quan đến chiến thắng Điện Biên Phủ để HS nhận diện trả lời. Nếu trả lời đúng,

HS sẽ nhận được một phần quà từ ban tổ chức

Trong quá trình tổ chức cho khán giả tham gia trò chơi đố vui có thưởng, ban

giám khảo sẽ chấm thi các tập san LS, tranh ảnh triển lãm hoặc tranh vẽ cổ động kỉ

niệm 66 năm chiến thắng Điện Biên Phủ của các tập thể và cá nhân. Các sản phẩm

tham gia dự thi được trưng bày ở hai bên sân khấu. Sau khi chấm phần trưng bày sản

phẩm của các tập thể và cá nhân, ban giam khảo sẽ họp hội ý để thống nhất kết quả.

Sau khi có kết quả từ Ban Giám khảo,MC lên công bố kết quả chung cuộc các nội dung

thi. Đại diện ban tổ chức lên chúc mừng ,tặng quà và nhận xét,tổng kết.

Để kết thúc dạ hội, một tốp HS nam, nữ bước ra sân khấu mời khán giả cùng hát

vang “ Bài ca giải phóng Điện Biên”.

Kết thúc dạ hội

Ban tổ chức tổng kết, cám ơn các thành viên đã tham gia, biểu dương những

người nhiệt tình tham gia vào các nội dung buổi dạ hội .Sau dạ hội Ban tổ chức sẽ họp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tổng kết, rút kinh nghiệm cho những hoạt động Ngoại khóa lần sau tốt hơn.

Qua ví dụ trên, có tác dụng lớn đối với học sinh về kiến thức, kỹ năng và thái

độ sau khi tổ chức buổi dạ hội

Về kiến thức: Điện Biên Phủ là thắng lợi quân sự lớn nhất của quân đội và nhân

dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), tiêu diệt tập

đoàn cứ điểm mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương, làm cho kế hoạch Nava thất bại hoàn

toàn; làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương.Tạo điều kiện thuận lợi cho

cuộc đấu tranh ngoại giao của Việt Nam giành thắng lợi. Trong chiến tranh, đấu tranh

quân sự luôn giữ vai trò quyết định. Chiến thắng Điện Biên Phủ là lợi thế của Việt Nam

trong đấu tranh ngoại giao. Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bước vào

Hội nghị Giơnevơ với tư cách một dân tộc chiến thắng.

Về kỹ năng: Rèn năng lực giao tiếp, hợp tác, phản biện, trình bày vấn đề, hứng

thú trong học tập

Về tư tưởng: Bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, truyền thống yêu nước của cha ông

ta, có ý thức bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền trong thời đại ngày nay.

Như vậy, việc tổ chức dạ hội lịch sử trong hoạt động ngoại khóa có sức hấp dẫn

kỳ lạ, không đơn thuần là phương tiện giải trí bổ ích mà qua đó giúp HS dễ hiểu, dễ

khắc sâu kiến thức, nắm được một số kĩ năng quan trọng như KN giao tiếp, KN vận

động nhanh nhẹn, khéo léo, KN hợp tác, KN làm việc nhóm, KN ra quyết định, điều

đặc biệt hơn cả là qua tổ chức dạ hội Lịch sử sẽ kích thích HS học tập, các em sẽ lĩnh

hội tri thức lịch sử một cách dễ dàng, củng cố kiến thức một cách vững vàng, tạo niềm

say mê, hứng thú hơn trong giờ học lịch sử.

2.4.2.2. Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Khái niệm

Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục trong trường phổ thông, tạo cơ hội

cho HS huy động, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học, các lĩnh vực giáo dục

để trải nghiệm thực tiễn trong nhà trường, gia đình và xã hội. Dưới sự tổ chức, hướng

dẫn của GV, HS được chủ động khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, qua đó, hình thành

những phẩm chất tốt đẹp và phát triển năng lực chung cũng như năng lực chuyên biệt

cho HS. Đối với bộ môn Lịch sử, HĐTN đã và đang được vận dụng linh hoạt trong quá

trình dạy học ở trường THPT với hình thức phong phú, cả trong giờ học nội khóa trên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

lớp, ngoài lớp và hoạt động ngoại khóa.

Tổ chức HĐTN trong môn Lịch sử góp phần cụ thể hoá, làm sâu sắc, phong phú,

sinh động kiến thức môn học, là cơ hội để HS rèn luyện kĩ năng bộ môn. Đồng thời,

bồi dưỡng cho HS tinh thần chủ động, ý thức tự giác, trách nhiệm trong học tập và cuộc

sống, say mê, hứng thú học tập bộ môn. Qua đó, góp phần phát triển toàn diện phẩm

chất và năng lực HS,đặc biệt là NLHT, năng lực giao tiếp…

Quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm trong dạy học Lịch sử ở trường THPt.

Để HĐTN trong dạy học Lịch sử đạt hiệu quả tốt, GV cần lựa chọn nội dung kiến

thức tiêu biểu trong SGK ; cần xác định địa điểm và thời gian tổ chức phù hợp; cần có sự

chuẩn bị chu đáo về nội dung, hình thức, cách thức tổ chức tiến hành; chủ động, linh hoạt

vận dụng nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học, biện pháp sư phạm phù hợp và theo

dõi, đánh giá kết quả HĐTN của HS bằng nhiều hình thức khác nhau. Quy trình thiết kế

HĐTN trong dạy học Lịch sử của GV cần thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Lập kế hoạch, lựa chọn chủ đề và xác định mục tiêu của nội dung trải

nghiệm. Ở bước này cả GV và HS cùng chọn chủ đề và mục đích của bài học.

Bước 2: Xây dựng đề cương nội dung trải nghiệm. Đây là bước chuẩn bị của cả

giáo viên và học sinh trước khi bắt tay vào tổ chức HĐTN.

Bước 3: Thực hiện hoạt động trải nghiệm. Ở bước này, GV thường xuyên quan

sát, theo dõi các nhóm HS để biết rõ tiến trình làm việc của từng nhóm, kịp thời động

viên giúp đỡ và giải quyết những thắc mắc của các nhóm. HS thực hiện hoạt động theo

nội dung đã được hướng dẫn, gợi ý.

Bước 4: Trình bày, báo cáo sản phẩm. Kết quả của việc trải nghiệm có thể viết

dưới các dạng khác nhau như bản thu hoạch, bản báo cáo, tiểu luận, báo, tập san ảnh

và có thể được trình bày bằng Powerpoint, được thiết kế thành các đoạn phim, video

hoặc các slide.

Bước 5: Đánh giá kết quả HĐTN. HS các nhóm đánh giá lẫn nhau và tự đánh

giá kết quả học tập của nhóm mình. GV nhận xét quá trình thực hiện HĐTN và sản

phẩm của mỗi nhóm, rút kinh nghiệm và lưu kết quả hoạt động của từng nhóm.

Ví dụ: Tổ chức hoạt động TNST dưới hình thức tham quan tại Bảo tàng Bắc

Ninh. Kế hoạch tham quan trải nghiệm được tiến hành như sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bước 1: Chọn đề tài và xác định mục tiêu của buổi trải nghiệm

Chủ đề được chọn của buổi trải nghiệm là:“Sáng mãi tấm gương người chiến sĩ

cách mạng tỉnh Bắc Ninh”.

Xác định mục tiêu chủ đề của buổi trải nghiệm: Sau khi thực hiện buổi trải

nghiệm tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh, mục tiêu cần đạt như sau:

Về kiến thức: Kể lại được những tấm gương nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối

xuất sắc của quê hương Bắc Ninh như đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng

Quốc Việt…và tấm gương chiến sĩ cách mạng tỉnh Bắc Ninh bị địch bắt tù đày tại các

nhà tù thực dân, đế quốc. Trình bày được phong trào yêu nước của nhân dân Bắc Ninh

từ khi có Đảng.

Về kỹ năng: Rèn luyện cho HS kĩ năng thu thập, xử lí thông tin, quan sát, kĩ

năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện lịch sử; kĩ năng làm việc nhóm, thuyết

trình một vấn đề lịch sử cho HS. Đồng thời, phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác; tự

học, giải quyết vấn đề.

Về tư tưởng: Thông qua buổi trải nghiệm góp phần bồi dưỡng cho HS lòng tự

hào và tình yêu quê hương, nâng cao ý thức bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị

truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Từ đó, tạo niềm vui, hứng thú trong học tập Lịch sử.

Bước 2: Công tác chuẩn bị:

(1) Giáo viên:

Xây dựng kế hoạch buổi trải nghiệm tại Bảo tàng Bắc Ninh, tại nhà và nơi ở của

Nguyễn Văn Cừ. Ngay từ đầu năm học, GV môn Lịch sử đề xuất với tổ chuyên môn

và Ban Giám hiệu nhà trường kế hoạch về buổi trải nghiệm. Xác định rõ mục tiêu, nội

dung, cách thức tiến hành, dự trù kinh phí cho buổi trải nghiệm. Trước buổi trải nghiệm

một tuần, GV liên hệ trước với Bảo tàng, Ban Quản lí di tích, gặp gỡ trao đổi với cán

bộ hướng dẫn khu du tích, trình bày mục đích, yêu cầu của buổi học để thống nhất kế

hoạch phối hợp; phổ biến rõ cho HS nội dung của buổi trải nghiệm, chia nhóm HS,

giao nhiệm vụ và hướng dẫn tìm hiểu tư liệu cho từng nhóm. Trước buổi trải nghiệm

một ngày, GV phổ biến lại mục đích, yêu cầu của buổi trải nghiệm. Thông báo tới phụ

huynh HS để phối hợp và tạo điều kiện cho buổi trải nghiệm diễn ra an toàn và hiệu

quả.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

(2) Chuẩn bị của HS

HS các nhóm nhận nhiệm vụ, tự phân công nhóm trưởng và thư kí. Nhóm trưởng

sẽ giao nhiệm vụ thực hiện cho từng thành viên để sưu tầm và xử lí nguồn tài liệu;

chuẩn bị sổ sách ghi chép, mỗi thành viên tìm hiểu một nội dung; chuẩn bị sẵn các

phương tiện, thiết bị cần thiết; các nhóm lên kế hoạch chuẩn bị bài thuyết trình... Dự

kiến thời gian buổi trải nghiệm kéo dài trong một buổi sáng từ 7h15 đến 10h30 địa

điểm tại Bảo tàng Bắc ninh và Ngôi nhà, nơi sinh ra và lớn lên của ba đồng chí Ngô

Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt

Bước 3: Tiến trình buổi trải nghiệm: GV hướng dẫn tuyên bố lí do và thành

phần tham dự buổi trải nghiệm (đại diện Ban Quản lí di tích tỉnh, Ban Giám khảo; GV

hướng dẫn thực nghiệm; GV hỗ trợ); giới thiệu khái quát nội dung buổi trải nghiệm

(đại diện Ban Quản lí di tích phát biểu; thuyết minh viên hỗ trợ hướng dẫn các vị trí di

tích, thuyết minh về di tích (trong kịch bản đã thống nhất); nhắc lại nhiệm vụ của các

nhóm (cụ thể: “nhóm Ngô Gia Tự” viết kịch bản thuyết minh về cuộc đời và sự nghiệp

của Ngô Gia Tự ; “nhóm Nguyễn Văn Cừ viết kịch bản thuyết minh về cuộc đời và sự

nghiệp của Nguyễn Văn Cừ”; “nhóm Hoàng Quốc Việt viết kịch bản thuyết minh về

cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng Quốc Việt. Ngoài ra, các nhóm đều có nhiệm vụ

chung là “giải mật thư” của Ban Giám khảo và trả lời phỏng vấn, quay phim, chụp ảnh

làm tư liệu để viết bài thu hoạch sau trải nghiệm.

HS tập trung tại một điểm, nghe GV bộ môn tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu,

thành phần Ban Giáo khảo, phổ biến nội dung buổi trải nghiệm.

(1) Mở đầu, các nhóm trải nghiệm tại Bảo tàng Bắc Ninh (thời gian từ 8h-9h45)

nghe hướng dẫn viên thuyết trình về các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày trong

kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.Với việc nghe, trả lời mật thư và quan sát, chụp

ảnh tại bảo tàng sẽ giúp HS hiểu sâu sắc giá trị truyền thống đánh giặc của quê hương

(2) Trải nghiệm tại nơi sinh ra và lớn lên của đồng chí Ngô Gia Tự (thời gian từ

9h- 10h45). HS các nhóm nghe thuyết minh viên giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp

của Ngô Gia Tự. Trên cơ sở đó, HS của nhóm có thể chọn một nội dung ấn tượng nhất

để thuyết minh lại.Tiếp đó, 3 nhóm “giải mật thư”: Với nhiệm vụ của “nhóm Ngô Gia

Tự”, HS không chỉ chăm chú nghe, chọn lọc và ghi chép nhanh thông tin tiêu biểu, mà

còn phải thuyết trình lại ngắn gọn nội dung ấn tượng nhất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

(3) Trải nghiệm tại nơi sinh ra và lớn lên của đồng chí Nguyễn Văn Cừ (thời

gian từ 10h-10h50). HS các nhóm nghe “nhóm Nguyễn Văn Cừ” đóng vai hướng dẫn

viên thuyết trình về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Cừ. Tiếp đó, HS 3 nhóm

“giải mật thư”: Với việc thuyết trình và trả lời mật thư sẽ giúp HS hiểu sâu sắc về vai

trò của Nguyễn Văn Cừ đối với phong trào dân chủ 1936-1939. Trong quá trình trải

nghiệm tại mỗi di tích, HS được tự tham quan, chụp ảnh, sưu tầm tư liệu chuẩn bị cho

bài tập thu hoạch sau buổi trải nghiệm.

(4) Trải nghiệm tại nơi sinh ra và lớn lên của đồng chí Hoàng Quốc Việt (thời

gian từ 11h-11h40). HS các nhóm nghe “nhóm Hoàng Quốc Việt” đóng vai hướng dẫn

viên thuyết trình về cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng Quốc Việt. Tiếp đó, HS 3 nhóm

“giải mật thư”: Với việc thuyết trình và trả lời mật thư sẽ giúp HS hiểu sâu sắc về vai

trò Hoàng Quốc Việt đối với cách mạng Việt Nam. Trong quá trình trải nghiệm tại mỗi

di tích, HS được tự tham quan, chụp ảnh, sưu tầm tư liệu chuẩn bị cho bài tập thu hoạch

sau buổi trải nghiệm.

Bước 4: Các nhóm trình bày, báo cáo sản phẩm. Kết quả việc trải nghiệm là bản

thu hoạch, bản báo cáo, tiểu luận, báo, tập san ảnh và có thể được trình bày bằng

Powerpoint, được thiết kế thành các đoạn phim, video hoặc các slide.

Bước 5: Đánh giá hoạt động trải nghiệm tại Bảo tàng Bắc Ninh,tại Ngôi nhà, nơi

sinh ra và lớn lên của ba đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt.

Sau buổi trải nghiệm, đại diện Ban Giám khảo, GV hướng dẫn nhận xét, khen

thưởng, rút kinh nghiệm và tuyên bố kết thúc buổi trải nghiệm. Đồng thời, GV giao bài

tập về nhà cho HS, mỗi nhóm xây dựng một video theo nhiệm vụ đã trải nghiệm, quảng

bá về khu di tích trên trang Page với chủ đề “Sáng mãi tấm gương người chiến sĩ cách

mạng tỉnh Bắc Ninh”. Mỗi video có thời lượng tối thiểu 03 phút và tối đa 04 phút, có

nhạc nền, hình ảnh đẹp, sống động. Sản phẩm của cá nhân HS là một bài viết ngắn

(khoảng 1 trang) về những ấn tượng sâu sắc nhất trong buổi trải nghiệm.

Việc tổ chức HĐTN tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh có tác dụng lớn đối với HS trên

các mặt kiến thức, kỹ năng, tư tưởng:

Về kiến thức: Ba đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt là

chiến sĩ kiên trung của Đảng có vai trò to lớn đối với quá trình thành lập Đảng và phong

trào cách mạng trong những năm 1936-1939, 1939-1945.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Về kỹ năng: HS được rèn luyện nhiều kĩ năng cơ bản: kĩ năng thuyết trình, kĩ

năng quan sát, kĩ năng hợp tác và giải quyết nhiệm vụ học tập.

Về tư tưởng : Giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho thế hệ trẻ, góp

phần định hướng tư tưởng, thắp sáng niềm tin và truyền lửa cho thanh niên, xây dựng

lớp thế hệ trẻ sống có hoài bão, ước mơ...

Như vậy, với những HĐTN này, sẽ kích thích tính tò mò cho HS đồng thời có

tác dụng thúc đẩy nhu cầu cần tìm hiểu lại vừa khuyến khích HS mở rộng thêm kiến

thức đây là một biện pháp rất hiệu quả trong việc phát triển NL cho HS trong hoạt động

ngoại khóa ở THPT.

2.4.2.3. Tổ chức trò chơi Lịch sử

Khái niệm

Trò chơi trong dạy học có nhiều cấp độ từ việc chơi cho vui trước khi học, đến

việc học dưới hình thức trò chơi và đến mức độ cao hơn là học tập từ trò chơi. Tăng

cường tổ chức trò chơi trong dạy học Lịch sử là hình thức ngoại khóa gọn nhẹ, dễ tổ

chức mà hấp dẫn HS. Đây không chỉ là một việc giải trí mà đòi hỏi HS phải phát huy

năng lực tư duy, trí thông minh, phát triển NLHT để cùng nhau giải quyết vấn đề đặt

ra. Nếu trò chơi không đòi hỏi sự nỗ lực, không đòi hỏi sự hoạt động tích cực của tư

duy thì trò chơi đó chưa đạt yêu cầu. Khi tham gia Trò chơi, HS được cùng nhau tranh

luận và đánh giá, giúp cho HS biết tiếp thu những nhận xét phê bình của bạn đồng thời

biết cách khắc phục, sửa chữa những thiếu sót của bản thân khi tham gia trò chơi. Đây

chính là biểu hiện rõ nét nhất của NLHT

Quy trình tiến hành trò chơi

Bước 1: Căn cứ mục tiêu giáo dục, lựa chọn nội dung mà học sinh cần lĩnh hội,

từ đó lựa chọn hình thức chơi phù hợp để truyền đạt nội dung.

Bước 2: Thiết kế trò chơi, quy tắc chơi, lựa chọn phương tiện và địa điểm chơi.

Bước 3: Xác định đối tượng tham gia trò chơi, quy mô trò chơi: Xác định số

lượng học sinh tham gia, có thể nhóm nhỏ (từ 2 đến 4 hoặc 5 học sinh) hoặc nhóm lớn

(từ 10 đến 15 học sinh); Có thể là một lớp hoặc khối lớp, toàn trường.

Bước 4: Tổ chức trò chơi theo kế hoạch. Chú ý đảm bảo nguyên tắc an toàn,

giáo dục, vui.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bước 5: Tổng kết hoạt động, nhận xét đánh giá học sinh trong quá trình

hoạt động.

Như vậy, tổ chức trò chơi cho học sinh trong nhà trường phổ thông là một hình

thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo có tính phổ biến và có ý nghĩa giáo dục

tích cực.

Ví dụ: Tổ chức trò chơi lịch sử trong hoạt động ngoại khóa với chủ đề: “Tổng

tiến công và nổi dậy Xuân 1975- Một mốc son lịch sử”.

Bước 1: GV căn cứ mục tiêu giáo dục, lựa chọn nội dung mà học sinh cần lĩnh

hội, từ đó lựa chọn hình thức chơi phù hợp để truyền đạt nội dung, cụ thể:

Về kiến thức: Trình bày được diễn biến chính những chiến dịch lớn trong cuộc

tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1975, phân tích ý nghĩa từng chiến dịch. Rút ra nguyên

nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước.

Về kỹ năng: Rèn luyện kỹ năng tổng hợp, lập bảng biểu, phân tích, tái hiện sự

kiện lịch sử, xác lập mối liên hệ giữa sự kiện lịch sử, đánh giá, vận dụng và trình bày

kiến thức lịch sử giao tiếp và hợp tác; tự học, giải quyết vấn đề.

Về thái độ: Tự hào về truyền thống hào hùng của lịch sử dân tộc ta.Bồi dưỡng

tình yêu quê hương đất nước.Nhận thức được trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp

xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Bước 2: Thiết kế trò chơi, quy tắc chơi, lựa chọn phương tiện và địa điểm chơi

Trò chơi lịch sử với chủ đề: “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 - Một mốc

son lịch sử” được tổ chức cho toàn bộ học sinh lớp 12 tại sân trường THPT Lương Tài

thông qua các trò chơi gồm các phần thi sau:

Phần 1: Khởi động với Trò chơi “Ai nhanh hơn”.

Có 4 đội chơi, có tổng số 8 câu hỏi, các đội trả lời nhanh sẽ được điểm.

Câu 1: Bạn hãy cho biết tên của một chiến dịch đã mở màn cho đại thắng mùa

xuân 1975? Đáp án Chiến dịch Tây Nguyên

Câu 2: Đây là căn cứ quân sự liên hợp lớn nhất của Mỹ nguỵ, là thành phố lớn

thứ hai ở Miền Nam được giải phóng trong tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Bạn hãy cho biết đó là thành phố nào? Đáp án Đà Nẵng

Câu 3: Có một thành phố được giải phóng vào ngày 26/3/1975 trùng với ngày

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Bạn hãy cho biết đó là thành phố nào? Đáp án

Huế.

Câu 4: Bạn hãy cho biết chiếc xe tăng dẫn đầu đánh chiếm Dinh độc lập mang

số bao nhiêu? Đáp án 390

Câu 5: Bạn hãy cho biết tên của người chiến sĩ cắm lá cờ đầu tiên trên nóc Dinh

Độc Lập: Đáp án Bùi Quang Thận

Câu 6: Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định còn có tên gọi khác là gì?

Đáp án: Chiến dịch Hồ Chí Minh

Câu 7: Ai là tác giả của bài hát “Đất nước trọn niềm vui”? MỞ NHẠC

Đáp án: Nhạc sĩ Hoàng Hà

Câu 8: Tên vị Tư lệnh chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh là gì?

Đáp án: Đại tướng Văn Tiến Dũng

Phần 2: Vượt chướng ngại vật với trò chơi “Giải ô chữ”.

Trong trò chơi, giáo viên thiết kế các ô chữ hàng ngang và hàng dọc. Từ đó đặt

câu hỏi để học sinh giải đáp. Mỗi ô chữ hàng ngang là một sự kiện lịch sử trong bài

hoặc các bài đã học. Ô chữ hàng dọc là bài học lịch sử cần nhấn mạnh. Thông thường

mỗi ô chữ hàng ngang có một chữ cái chìa khoá để mở ô chữ hàng dọc. Sau đó, giáo

viên yêu cầu học sinh đoán xem những chữ cái bí ẩn đó có nội dung gì. Sự kiện lịch sử

nằm trong ô chữ hàng dọc thường nằm theo thứ tự từ trên xuống nên có thể sau một số

ô chữ hàng ngang học sinh sẽ tìm ra ô chữ hàng dọc.

Giáo viên đưa ra luật chơi:

(1) Có 9 ô chữ hàng ngang tương ứng với 9 câu hỏi. Các em có thể chọn ô hàng

ngang bất kì để trả lời câu hỏi. Nếu trả lời đúng, sẽ được điểm hoặc quà tặng và một từ

khoá của ô chữ hàng dọc xuất hiện.

(2) Khi chưa giải hết các ô hàng ngang nhưng nếu các em tìm được ô hàng dọc

thì có thể trả lời và sẽ được số điểm lớn hơn hoặc phần quà tương ứng.

Phần 3: Tiếp sức đồng đội với trò chơi “Cặp đôi hoàn hảo”

Hình thức thi theo nhóm hai người: Một người hỏi, một người trả lời. Phần thi

gồm 4 lượt chơi với 4 gói câu hỏi. GV sẽ cho những từ chìa khóa có liên quan đến nội

dung chủ đề. Trong thời gian 60 giây, người hỏi phải sử dụng ngôn ngữ để miêu tả cho

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

người trả lời biết và nói ra từ chìa khóa đó, không được sử dụng tiếng lóng, tiếng địa

phương và những chữ đã có trong từ chìa khóa.

Phần 4: Về đích với trò chơi “Nghe truyện kể, đoán nhân vật”.

Ví dụ kể về Văn Tiến Dũng. Ông là ai?

Ông sinh ngày 2-5-1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ông xuất thân

từ một gia đình làm nghề thủ công, được tận mắt chứng kiến cuộc sống cơ cực, lầm

than của đồng bào, tội ác của thực dân, đế quốc và tay sai, đồng chí đã sớm giác ngộ,

đi theo con đường của Đảng và để lại nhiều dấu ấn trên con đường hoạt động cách

mạng. Năm 1936, đồng chí tham gia phong trào dân chủ và các cuộc đấu tranh công

khai của công nhân Hà Nội. Tháng 11 năm1937, đồng chí vinh dự được kết nạp vào

Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1938, đồng chí tham gia Ban Chấp hành Đảng

bộ Thành phố Hà Nội. Nếu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tài thao lược

của đồng chí Văn Tiến Dũng thể hiện ở tài cầm quân xông pha nơi trận mạc trong lòng

địch hậu, thì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tên tuổi của đồng chí lại gắn

với những chiến dịch lớn mang tính chiến lược. Tiêu biểu như Chiến dịch Hồ Chí Minh

lịch sử (4-1975), với vai trò là Tư lệnh, đồng chí đã cùng Bộ Tư lệnh chiến dịch quán

triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”;

đánh chiếm Sài Gòn nhanh gọn nhưng phải đảm bảo cho thành phố ít bị tàn phá, hạn

chế thấp nhất thiệt hại về người và của.Với cách đánh táo bạo đó, ta đã nhanh chóng

giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến dịch

Hồ Chí Minh lịch sử là một trong những đỉnh cao trong cuộc đời binh nghiệp của ông

được giới quân sự trên thế giới đánh giá cao vì chiến dịch đã giải phóng Sài Gòn trong

một thời gian ngắn, trong hiện trạng gần như nguyên vẹn.Vậy ông là ai?

Trong các phần chơi xen kẽ có các trò chơi giành cho các cổ động viên ở dưới

để tạo không khí cho chương trình hấp dẫn.

Bước 3: Đối tượng chơi, quy mô trò chơi: Số lượng học sinh tham gia là học

sinh của khối lớp 12 của trường THPT Lương Tài tại sân trường của trường

Bước 4: Tổ chức chơi theo kế hoạch: Theo kế hoặch trò chơi sẽ được tổ chức

vào đúng dịp kỉ niệm 45 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước vào ngày

29/04/2020 tại sân trường THPT Lương Tài. Hoạt động diễn ra rất an toàn, có ý thức

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

giáo dục và có sự tham gia đầy đủ của HS khối 12 và các GV trong trường.

Bước 5: Tổng kết hoạt động, nhận xét đánh giá học sinh trong quá trình hoạt

động.

GV tổng kết số điểm của bốn đội sau đó trao giải cho các đội đạt giải và kết

thúc trò chơi. Đồng thời, nhận xét từng đội trong quá trình hoạt động để rút kinh nghiệm

cho các buổi hoạt động sau này.

Tổ chức trò chơi với chủ đề: “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 - Một mốc

son lịch sử” có tác dụng lớn đối với học sinh về kiến thức, kỹ năng và thái độ:

Về kiến thức: Hiểu được diễn biến chính những chiến dịch lớn trong cuộc tổng

tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ý nghĩa của từng chiến dịch.Những câu chuyện về các

nhân vật Lịch sử khắc sâu kiến thức cho HS về phương châm thần tốc táo bạo bất ngờ

trong chiến dịch Hồ Chí Minh, về cách đánh của ta trong từng chiến dịch.

Về Kỹ năng: Thông qua các trò chơi giúp HS rèn luyện kĩ năng hợp tác, giao

tiếp,tinh thần tập thể, hăng hái, năng động, nhiệt tình; tình đoàn kết, gắn bó và thân

thiện với nhau hơn.

Về tư tưởng: Bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc, niềm tin tưởng vào sự

lãnh đạo của Đảng, ý chí đấu tranh vì độc lập thống nhất đất nước.

Như vậy, việc tổ chức hoạt động trên lớp và tổ chức hoạt động ngoại khóa là hai

bộ phận hữu cơ hợp thành một thể thống nhất trong quá trình giáo dục học sinh nhằm

đạt mục tiêu đào tạo của nhà trường THPT. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của môn

học, giáo viên phải phối hợp cả hoạt động nội khóa và hoạt động ngoại khóa. Trong

tổng thể của chương trình giáo dục phổ thông mới áp dụng từ năm học 2021 trở đi đề

cập đến hoạt động trải nghiệm sáng tao cho HS nhằm phát triển toàn diện năng lực,

phẩm chất cho HS trong đó NLHT đóng vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại ngày

nay.

2.5. Thực nghiệm sư phạm

2.5.1. Mục đích thực nghiệm

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành để kiểm nghiệm hiệu quả của các biện

trong dạy học LSVN lớp 12 theo hướng phát triển NLHT ở trường THPT huyện Lương

Tài tỉnh Bắc Ninh.

Bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện các nghiên cứu lí thuyết nhằm tìm ra giải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

pháp đúng đắn, thích hợp để vận dụng các hình thức phát triển NLHT trong DHLS ở

các trường THPT, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới phương pháp dạy học

Lịch sử, từ đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.

2.5.2. Đối tượng, địa bàn và nhiệm vụ thực nghiệm

Đối tượng thực nghiệm: HS lớp 12 trường THPT

Địa bàn thực nghiệm: Chúng tôi đã áp dụng giáo án thực nghiệm ở các lớp 12D1

(THPT Lương Tài - Bắc Ninh); lớp đối chứng là 12D2 (THPT Lương Tài - Bắc Ninh).

Trường THPT Lương Tài là một trường học có nề nếp học tập tương đối tốt, nhà trường

luôn chú trọng đến việc đổi mới PP học tập của HS. Trong các năm học trường đều

đứng thứ nhất, nhì của toàn tỉnh trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Toàn trường

có 5 GV giảng dạy lịch sử và có nhiều kinh nghiệm. Qua trao đổi với GV giảng dạy,

chúng tôi thấy đây là hai lớp có kết quả học tập môn Lịch sử ở các kì trước tương đương

nhau, số lượng HS đồng đều, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả bài

giảng.

Nhiệm vụ thực nghiệm:

Để quá trình thực nghiệm đạt kết quả, chúng tôi đề ra những nhiệm vụ cụ thể

sau:

(1) Nghiên cứu nội dung kiến thức môn Lịch sử Việt Nam lớp 12

(2) Củng cố kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, trong đó việc sử dụng thành

thạo CNTT là rất cần thiết.

(3) Vận dụng phát triển NLHT trong dạy học LSVN lớp 12 THPT

(4) Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lớp thực nghiệm và đối chứng.

(5) Xử lý, phân tích kết quả thực nghiệm để rút ra kết luận.

2.5.3. Nội dung thực nghiệm

Chúng tôi lựa chọn 01 bài trong chương trình Lịch sử 12 THPT.

Tên bài thực nghiệm Vị trí Dạng bài

Bài 16 (tiết 24) : Phong trào Chương II: Việt Nam từ năm Nghiên cứu kiến

1930-1945, bài 16 tiết 24. thức mới.

giải phóng dân tộc và tổng khởi tháng Tám (1939 - nghĩa 1945). Nước Việt Nam Dân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

chủ Cộng hòa ra đời.

Phần thực nghiệm được tiến hành đúng theo phân phối chương trình và thời gian

biểu do nhà trường đề ra trong năm học 2019 - 2020, phù hợp với kế hoạch của Bộ giáo

dục và Đào tạo.

2.5.4. Phương pháp tiến hành thực nghiệm

Giáo án thực nghiệm được thiết kế dựa trên các thông tin điều tra sơ bộ về hứng

thú, nhu cầu của người học về nội dung bài học, nhiệm vụ trong chủ đề. (Phụ lục 3).

Phương pháp thực nghiệm được tiến hành cụ thể ở bài 16 như sau

Mục I. Tình hình Việt Nam trong những năm 1939-1945.

Do thời gian tiết dạy thực nghiệm có hạn nên chúng tôi lựa chọn phương pháp

dạy phù hợp và có hiệu quả nhất đối với nội dung mục này: dạy học theo chủ đề

GV chia nhóm, các nhóm chọn nhóm trưởng và thư kí. GV giao vấn đề cho nhóm.

Nhóm trưởng điều hành hoạt động thảo luận chung của cả nhóm trong một thời

gian quy định, các ý kiến đều được thư kí ghi nhận, khuyến khích thành viên đưa càng

nhiều ý kiến càng tốt.

(1) Cả nhóm cùng lựa chọn giải pháp tối ưu, thu gọn các ý tưởng trùng lặp, xóa

những ý tưởng không phù hợp, sau cùng thư kí báo cáo kết quả.

Nhóm 1: Tình hình chính trị Việt Nam trong những năm 1939-1945

Nhóm 2: Tình hình kinh tế Việt Nam trong những năm 1939-1945

Nhóm 3: Tình hình xã hội Việt Nam trong những năm 1939-1945

Tiếp đó giáo viên phát tài liệu tham khảo cho học sinh. Yêu cầu học sinh đọc

trong bốn phút và trả lời câu hỏi.

Sau đó giáo viên kết luận: Cả nước Việt Nam như một đồng cỏ khô, chỉ một tàn

lửa nhỏ rơi vào sẽ bùng lên một đám cháy lớn thiêu cháy bè lũ cướp nước và tay sai.

Mục II. Phong trào giải phóng dân tộc từ tháng 9/1939 đến tháng 3/1945.

Nội dung cụ thể là Hội nghị BCH Trung ương ĐCSĐD 11/1939 và Hội nghị

BCH Trung ương ĐCSĐD 5/1941. Để giải quyết nội dung này giáo viên chọn phương

pháp dạy học theo dự án. Để thực hiện dự án, trước tiên giáo viên cần lập kế hoạch cho

dự án gồm: Xác định chủ đề, lựa chọn tiểu chủ đề.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Xác định chủ đề: Trước những biến chuyển của tình hình thế giới và trong

nước, mâu thuẫn dân tộc lên tới đỉnh điểm đòi hỏi Đảng phải có chủ trương kịp thời

phù hợp với hoàn cảnh trong nước và thế giới.Vì vậy trong những năm 1939-1941

Đảng cộng sản Đông Dương đã liên tiếp họp hội nghị để đề ra đường lối đúng đắn

đưa cách mạng đến thành công. Trên cơ sở đó, giáo viên xác định chủ đề của dự án

mang tên “Các hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm 1939-

1941”.

Để tìm hiểu các hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm

1939-1941, giáo viên lựa chọn chủ đề và tiểu chủ đề: Bằng cách gợi ý, giáo viên hướng

dẫn học sinh lựa chọn chủ đề nhỏ theo từng nội dung của hội nghị, sẽ có 3 chủ đề được

đưa ra định hướng cho học sinh:

Chủ đề 1: Hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 11/1939?

Chủ đề 2: Hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 5/1941?

Chủ đề 3: Hội nghị 5/1941 hoàn chỉnh hơn hội nghị 11/1939 ở những điểm nào?

Xác định công việc cần thực hiện: Từ 3 chủ đề nhỏ, giáo viên cùng học sinh xác

định công việc cụ thể, mỗi nhóm là một chủ đề.

Nhóm 1: Tìm hiểu hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 11/1939? Sưu tầm

một số tranh ảnh cũng như tiểu sử của Nguyễn văn Cừ. Em có nhận xét gì về hội nghị

11/1939?

Nhóm 2: Tìm hiểu hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 5/1941? Sưu tầm

một số tranh ảnh, tài liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc? Em có nhận xét gì về hội

nghị 5/1941?

Nhóm 3: Hội nghị 5/1941 hoàn chỉnh hơn hội nghị 11/1939 ở những điểm nào?

Rút ra điểm giống nhau và khác nhau của hội nghị 11/1939 và 5/1941?

Lần lượt các nhóm lên báo cáo, cuối cùng giáo viên chốt lại kiến thức và kết

thúc bài học.

2.5.5. Kết quả thực nghiệm

Để có kết quả thực nghiệm chính xác, ở lớp đối chứng, giáo viên soạn giáo án

và tiến hành bình thường. Ở lớp thực nghiệm soạn giảng giáo án theo hướng phát triển

NLHT cho HS đã được đề xuất trong luận văn. Sau đó, GV thu thập ý kiến đánh giá,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

phản hồi từ phía giáo viên, học sinh về bài dạy thực nghiệm; ý kiến nhận xét của giáo

viên về thái độ học tập, kết quả thực nghiệm, nhiệm vụ của học sinh; bài kiểm tra đánh

giá kiến thức, kĩ năng của học sinh. Phân tích, so sánh với kết quả của lớp đối chứng

là cơ sở nêu ra những kết luận khái quát về vấn đề tổ chức, hướng dẫn dạy học Lịch sử

theo hướng phát triển NLHT trong DHLS ở trường THPT.

Quá trình thực nghiệm được tiến hành song song ở cả hai lớp thực nghiệm và

đối chứng nhằm so sánh, phân tích kết quả đạt được.

Đánh giá của giáo viên quan sát giờ dạy

Các ý kiến nhận xét của GV tập trung trên các phương diện: nội dung, phương

pháp và kết quả. Nhìn chung, bài thực nghiệm đảm bảo tính chính xác, khoa học về

kiến thức. Ngoài ra còn có những nội dung kiến thức được mở rộng, nâng cao. Bài dạy

sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu tham khảo, sử dụng hợp lí các phương tiện dạy học

hiện đại; không khí lớp học sôi nổi, hào hứng. Qua đó, phát huy được tính chủ động,

tích cực của học sinh, học sinh được rèn luyện những kĩ năng quan trọng, chất lượng

bài dạy được nâng cao rõ rệt.

Ý kiến phản hồi của học sinh

Ở lớp học đối chứng, với cách dạy thông thường, học sinh chỉ được rèn luyện

kĩ năng phát hiện kiến thức trong sách giáo khoa và đọc tài liệu tham khảo có sẵn.

Những kĩ năng khác như: làm việc nhóm, thuyết trình, khai thác, thu thập tài liệu,...hầu

như không được quan tâm. Vì thế, học sinh quen với lối học thụ động, tiếp thu kiến

thức một chiều, chỉ chú trọng vào kiến thức sách giáo khoa.Ngược lại ở lớp thực

nghiệm, học sinh luôn tích cực, chủ động trong học tập. Khi làm việc với tài liệu tham

khảo, học sinh được rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm, tranh luận, phản biện, kĩ năng

trình bày đặc biệt giúp HS tự tin khi thuyết trình trước đám đông.

Đánh giá của người dạy

Để kiểm tra mức độ kiến thức thu được của học sinh qua giờ học, giáo viên tiến

hành bài kiểm tra 10 phút cuối giờ, thu được 45 bài ở lớp thực nghiệm và 45 bài ở lớp

đối chứng (phụ lục 4)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Cụ thể kết quả kiểm tra thu được như sau:

Bảng 2.1 : Bảng so sánh kết quả bài kiểm tra giữa lớp thực nghiệm

và lớp đối chứng

Điểm

2 3 4 5 6 7 8 9 10 Giáo án Lớp Sĩ số

Bài16 0 0 0 0 0 2 2 6 5 15 9 10 20 10 7 2 2 0 Trung bình chung 7.67 6.61 12D2 45 12D1 45

Bảng 2.2: Bảng phân phối mức độ kết quả thực nghiệm

Điểm Nhóm Sĩ số Yếu kém Trung bình

45 45 0 4.5 15.4 46.6 Khá 64.5 42.1 Giỏi 20.1 6.8

TN ĐC

Qua phân tích số liệu chúng tôi nhận thấy: ở lớp TN, loại điểm yếu dưới 5 là

không có, điểm trung bình (từ 5-6 điểm) có 7 bài (chiếm 15.4%), điểm khá có 29 bài

(chiếm 64.5%), điểm giỏi có 9 bài chiếm 20,1%.

Ở nhóm ĐC có kết quả thấp hơn rõ rệt, điểm yếu (<5) vẫn có 2 bài, chiếm 4.5%,

điểm trung bình có 21 bài (chiếm 46.6%), điểm khá có 19 bài (chiếm 42.1%), điểm

giỏi số lượng ít chiếm 3 bài: 6.8%. Điểm trung bình chung của lớp TN là: 7,68, còn lớp

ĐC chỉ là 6,61. Độ lệch chuẩn là 1,07. Điều này đã cho chúng ta thấy rõ sự khác nhau

70

60

50

40

Thực nghiệm

30

Đối chứng

20

10

0

Trung bình

Khá

Yếu kém

Giỏi

về điểm số giữa lớp TN so với lớp ĐC.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Biểu đồ 2.1: Tần suất kết quả thực nghiệm

Như vậy qua giáo án thực nghiệm và phân tích ở trên chúng tôi nhận thấy rõ vai

trò tác động của việc phát triển NLHT trong DHLS, đã mang lại hiệu quả tích cực,

khiến HS chú ý tham gia vào giờ học, bài giảng phát huy được năng lực hợp tác, chủ

động tích cực của mỗi HS. HS hăng hái tham gia hoạt động học tập, tự tìm hiểu, lĩnh

hội kiến thức trên cơ sở sự hướng dẫn, chỉ đạo của GV, điều đó được phản ánh rõ trong

kết quả học tập trên, thông qua hình thức kiểm tra, đánh giá. Sự thay đổi đem lại là rất

lớn. Kết quả thực nghiệm cho thấy tỉ lệ HS đạt điểm khá giỏi của lớp TN nhiều hơn so

với lớp ĐC. Đồng thời tỉ lệ điểm trung bình- yếu của lớp TN cũng ít hơn so với lớp

ĐC.

Kết hợp với việc theo dõi diễn biến trong giờ học của hai lớp TN và ĐC, chúng

tôi nhận thấy, HS lớp TN chủ động hơn so với lớp ĐC trong việc tìm tòi, phát hiện,

khám phá kiến thức, cùng với việc tìm hiểu nội dung bài học từ trước, HS luôn tỏ ra

chủ động, qua đó phát huy được năng lực học tập của HS: như năng lực hợp tác trong

học tập, năng lực sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, năng lực phân tích, so sánh, đánh giá,

nhận định, năng lực khái quát hóa, tổng hợp kiến thức. Thông qua đó giúp HS hiểu sâu,

nhớ lâu kiến thức, đồng thời góp phần bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất đạo đức cho

HS.

Như vậy kết quả thực nghiệm đã phản ánh khách quan, đúng thực trạng dạy học

hiện nay ở các trường phổ thông. Kết quả thực nghiệm trên đã chứng tỏ, các biện pháp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

mà chúng tôi nêu trong luận văn là có tính khả thi.

Tiểu kết chương 2

Trên cơ sở xác định mục tiêu, nội dung kiến thức cơ bản của chương trình LSVN

lớp 12 THPT, chúng tôi đã đề xuất một số biện pháp phát triển NLHT trong DHLS

hoạt động nội khóa và ngoại khóa như: dạy học nhóm, dự án, chủ đề tổ chức dạ hội

lịch sử, hoạt động trải nghiệm, tăng cường tổ chức trò chơi LS…Trên cơ sở của các

biện pháp sư phạm được đề xuất chúng tôi đã triển khai thực nghiệm sư phạm tại trường

THPT Lương Tài- huyện Lương Tài- tỉnh Bắc Ninh nhằm nâng cao chất lượng dạy học

môn Lịch sử. Giáo viên lựa chọn cách thức phù hợp với nội dung kiến thức, nhu cầu

của học sinh nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.

Kết quả thực nghiệm khẳng định tính ứng dụng khả thi, hiệu quả của việc tổ

chức học tập Lịch sử theo hướng phát triển NLHT trong DHLS. Việc lựa chọn phương

pháp phù hợp để phát triển NLHT nói riêng và các kĩ năng, năng lực khác là vô cùng

cần thiết. Giáo viên phải lựa chọn một phương pháp chủ đạo ở mỗi nội dung của bài

học nhưng phải đảm bảo có sự kết hợp và vận dụng đa dạng các phương pháp khác

nhau mà cụ thể là một số phương pháp được đề xuất trong đề tài để góp phần tạo hứng

thú học tập, phát huy khả năng tư duy, năng lực sáng tạo, hợp tác của học sinh nhằm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nâng cao ý nghĩa thực tiễn của việc dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Để đổi mới chất lượng giáo dục cần thiết phải đổi mới sâu sắc từ mục tiêu, đến

nội dung chương trình, phương pháp, phương tiện dạy học cũng như việc kiểm tra đánh

giá. Dạy học theo hướng phát triển năng lực là xu thế phát triển chung của thế giới

trong đó có Việt Nam và nên vận dụng vào môn Lịch sử. Năng lực hợp tác là khả năng

tương tác của cá nhân với cá nhân và tập thể trong học tập và cuộc sống. Một cá nhân

có năng lực hợp tác tốt thể hiện ở khả năng làm việc hiệu quả của cá nhân trong mối

quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương trợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục

đích chung.

Đề tài góp phần xây dựng và củng cố thêm cơ sở lí luận cho cách tiếp cận dạy

học theo hướng phát triển năng lực hiện đang được quan tâm hiện nay. Với vai trò, ý

nghĩa rất lớn dạy học theo hướng phát triển năng lực hợp tác đang có nhiều ưu thế trong

việc đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho tương lai, phát huy tính tích cực chủ

động sáng tạo, sự cộng tác của học sinh, gắn lý thuyết với thực tế. Qua khảo sát điều

tra thực tế, đa số các giáo viên và học sinh đều nhận thức được tầm quan trọng của việc

dạy học Lịch sử theo hướng phát triển năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử.

Trong khuôn khổ luận văn, bước đầu đã đề xuất xây dựng một số biện pháp phát

triển năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 phù hợp với đặc điểm

học sinh, điều kiện cơ sở vật chất, kĩ thuật của các trường THPT ở huyện Lương Tài,

tỉnh Bắc Ninh. Đồng thời, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm một phần theo đề xuất

của luận văn và chứng tỏ tính khả thi của luận văn.

Từ kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn dạy học môn Lịch sử ở trường THPT

hiện nay, chúng tôi đề xuất một vài khuyến nghị như sau:

Thứ nhất, về việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa môn Lịch sử: Lịch sử

giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ, truyền thống, bản sắc dân tộc, đó

là một ưu thế lớn, do đó cần phải có những biện pháp tích cực hơn nữa để cho Lịch sử

phát huy được hết sức mạnh bộ môn của mình. Mặt khác phải khẳng định rằng Lịch sử

là môn học cơ bản phải học đầy đủ cả về lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam. Vì vậy

cần nghiên cứu và tích hợp xây dựng thành các chủ đề phù hợp, có các phương pháp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

dạy học phù hợp, sáng tạo để góp phần phát triển giáo dục theo hướng phát triển năng

lực của của người học với đầy đủ cả nội dung, kênh hình, phần bài tập, phần phụ trợ

(danh mục các thuật ngữ, khái niệm, bảng biểu...)

Thứ hai: Đối với nhà trường THPT

Trường THPT đóng vai trò tích cực trong quá trình đổi mới PPDH nói chung và

phương pháp DHLS nói riêng. Các trường phổ thông cần có cái nhìn đúng đắn về vị

trí, vai trò của môn Lịch sử, cần có sự đầu tư thích đáng về cơ sở vật chất, về vai trò

của hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo đối với môn Lịch sử, xây

dựng phòng truyền thống của nhà trường, tăng cường các cuốn sách kĩ năng, năng lực

tham khảo môn Lịch sử, từ đó góp phần phát triển NLHT cho HS.

Thứ ba: Về kiểm tra đánh giá trong môn Lịch sử. Đổi mới phải đồng bộ để đạt

hiệu quả cao nhất. Cùng với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp

dạy học thì cần chú ý đổi mới kiểm tra, đánh giá. Việc đa dạng hóa các hình thức,

phương pháp kiểm tra đánh giá, việc kết hợp đánh giá quá trình thực hiện với đánh giá

kết quả cuối cùng sẽ tạo động lực tích cực cho học sinh, đồng thời giúp giáo viên thu

thập thông tin phản hồi hữu ích để điều chỉnh việc dạy của chính mình và việc học của

học sinh.

Thứ tư: Về phía giáo viên: Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử

nói chung và dạy học phát triển NLHT nói riêng, giáo viên cần có kiến thức chuyên

môn vững vàng, luôn rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm. Giáo viên phải sẵn sàng

tham gia vào quá trình đổi mới, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, đa dạng

hóa việc vận dụng các phương pháp trong quá trình giảng dạy.

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị trên với mong

muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong môn Lịch sử ở trường phổ thông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần

thứ Tám Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII (dùng

cho cán bộ chủ chốt), NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

2. Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà (2015), Dạy và học tích cực, Một số phương

pháp và kĩ thuật dạy học, Nxb Đại học sư phạm

3. Nguyễn Thanh Bình (1998), Cải tiến tổ chức hoạt động giáo dục theo phương

thức hợp tác, Đề tài cấp cơ sở, mã số B69-49-14 Viện Chiến lược và chương trình

giáo dục, Hà Nội.

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng

môn Lịch sử lớp 12, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012) “Kỷ yếu hội thảo hệ thống năng lực chung cốt lõi

của học sinh cho chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam”.

6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử,

NXB Giáo dục, Hà Nội.

7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục THPT - Chương trình phát triển giáo dục

Trung học (2014), Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học

theo định hướng phát triển năng lực cho HS trong trường THPT (môn Lịch sử)”.

8. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học (2014), Dạy học và kiểm tra,

đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Tài liệu

lưu hành nội bộ, NXB Giáo dục, Hà Nội.

9. Nguyễn Hữu Châu (2011), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình

dạy học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

10. Trần Thùy Chi (2010), Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử

ở trường phổ thông trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, Luận văn thạc sĩ,

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

11. Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier (2005), Phát triển năng lực thông qua phương

pháp và phương tiện dạy học mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án phát triển giáo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

dục THPT, Hà Nội.

12. Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier (2014), Lí luận dạy học hiện đại - Cơ sở đổi mới

mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

13. Hồ Ngọc Đại (1983), Tâm lý học dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

14. Lê Thị Thùy Dương (2017),“Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy

học Lịch Sử ở trường Trung học phổ thông”, Tạp chí giáo dục, trang 16-17

15. Nguyễn Văn Giao, (2005) , Từ điển Giáo dục học, Nxb Giáo dục.

16. Phạm Minh Hạc (1996), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ, NXB Chính

trị quốc gia, Hà Nội.

17. Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2012), Kĩ năng học hợp tác của Sinh viên sư phạm, Luận

án tiến sĩ Giáo dục học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

18. Lê Thị Thu Hiền (2015),“Đánh giá năng lực hợp tác của học sinh trong dạy học

ở trường Trung học phổ thông”, Tạp chí giáo dục, trang 13-14.

19. Vũ Quang Hiển, Hoàng Thanh Tú (2014), Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở

trường THPT”, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội.

20. Lê Thị Minh Hoa (2015),“ Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh Trung học

cơ sở qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”, Luận án tiến sĩ.

21. Nguyễn Thị Phương Hoa (2005),“Về phương pháp dạy - học hợp tác”, Tạp chí

khoa học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, tr.26-30.

22. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo

khoa, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội

23. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển Bách Khoa Việt Nam (2003) , Từ

điển Bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách Khoa

24. Nguyễn Văn Hồng (2010), Dạy học hợp tác - Nhóm, NXB Khoa học kĩ thuật, Hà

Nội.

25. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại - lý luận, biện pháp, kĩ thuật, NXB

Đại học Quốc Gia, Hà Nội.

26. Đặng Thành Hưng (2004), “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học hợp

tác”, Tạp chí phát triển giáo dục, số 8, tr.8-10,14.

27. Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Văn Ninh (2015), “Xây dựng hệ thống kĩ năng

cần hình thành và phát triển cho học sinh trong môn lịch sử ở trường phổ thông”,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Tạp chí Dạy và học, ngày nay số 2 năm 2015.

28. Jonhs Dewey (2012), Dân chủ và Giáo dục (Phạm Anh Tuấn dịch), NXB Tri

Thức, Hà Nội.

29. Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh (2015), Kiểm tra đánh giá trong giáo dục ,

Nxb Đại học sư phạm.

30. Nguyễn Trọng Khanh (2011), Phát triển năng lực và tư duy kĩ thuật, NXB Đại

học Sư Phạm, Hà Nội.

31. Trần Kiều, Trần Đình Châu, Phan Thị Luyến, Đặng Thị Thu Thủy (2017), Đổi mới

phương pháp dạy học ở trường Trung học cơ sở”, NXB Giáo dục Việt Nam.

32. Nguyễn Thành Kỉnh (2010), Phát triển kĩ năng dạy học hợp tác cho giáo viên

THCS, Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Đại học Thái Nguyên.

33. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2008), Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học

lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

34. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2009), Phương pháp dạy

học Lịch sử, tập 2, NXB ĐH Sư phạm, Hà Nội.

35. Michael Magainm (2007), Thúc đẩy nhóm làm việc hiệu quả, NXB Tổng hợp

Thành phố Hồ Chí Minh

36. Nguyễn Lê Minh (2013), “Phân biệt phương pháp dạy học hợp tác và hình thức

dạy học theo nhóm”, Tạp chí Giáo dục, số 301, tr.41-42,45.

37. Nguyễn Văn Minh (2013),“Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy

học Lịch sử Việt Nam (1945-1954) THPT - Chương trình chuẩn”, Luận văn thạc

sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

38. Hoàng Phê, (2009), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa.

39. Nguyễn Thị Minh Phương (2007), Tổng quan về các khung năng lực cần đạt ở

học sinh trong mục tiêu giáo dục phổ thông, Đề tài NCKH của Viện Khoa học và

giáo dục Việt Nam.

40. Raja Roy Singh (1994), Nền giáo dục cho thế kỉ XXI - Những triển vọng của các

nước vòng cung Châu Á - Thái Bình Dương, Viện Khoa học giáo dục Hà Nội.

41. Robert J. Marzano, Debra J. Pickering, Jane E. Pollock, “Các phương pháp dạy

học hiệu quả”(Nguyễn Hồng Vân dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

42. Slavin R. E. (1990), Học tập hợp tác, lý thuyết và thực hành [M] Alyn và Bacon.

43. Nguyễn Trọng Sửu (2007), “Dạy học nhóm - Phương pháp dạy học tích cực”,

Tạp chí Giáo dục, số 171-9/2007.

44. Đỗ Ngọc Thống (2009), Xây dựng chương trình Giáo dục phổ thông theo hướng

tiếp cận năng lực, Viện khoa học Giáo dục Việt Nam.

45. Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn (1998), Tâm lý học đại cương, NXB Giáo

dục, Hà Nội.

46. Nguyễn Công Triêm (2002), Một số vấn đề hiện nay của phương pháp dạy học

hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội.

47. Hoàng Thanh Tú (2012), Phương pháp ôn tập Lịch sử ở trường Trung học phổ

thông một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

48. Trịnh Đình Tùng (Chủ biên) (2007), Hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập lịch sử

12, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

49. Nguyễn Thế Tuyên (2012), Kĩ năng làm việc đồng đội, NXB Thành phố Hồ

Chí Minh.

50. Thái Duy Tuyên (1999), Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại. Nxb Giáo

dục, Hà Nội

51. Thái Duy Tuyên (2008), Phương pháp dạy học - truyền thống và đổi mới, NXB

Giáo dục, Hà Nội.

52. Đậu Thị Hải Vân (2003), Sử dụng tài liệu văn học để nâng cao hiệu quả bài học

lịch sử trong dạy học chương II "Khái quát tiến trình lịch sử Việt Nam từ giữa

thế kỉ XIX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất", Khóa luận tốt nghiệp, Trường

Đại học Sư phạm Hà Nội.

53. Nghiêm Đình Vỳ, Trần Thị Vinh (2018), Dạy học phát triển năng lực môn Lịch

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sử Trung học phổ thông, NXB Đại học Sư phạm.

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN GIÁO VIÊN

Kính chào các thầy cô giáo!

Để góp phần thực hiện thành công đề tài nghiên cứu“ Phát triển năng lực hợp

tác trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT huyện Lương Tài, tỉnh

Bắc Ninh” tôi rất mong nhận được sự hợp tác, chia sẻ của các thầy cô.Những thông

tin thu thập được giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thông tin cá nhân (không bắt buộc)

Họ và tên:……………………………

Trường:………………………………........................................

Thầy cô hãy đánh dấu X vào ô trống mà thầy cô cho là phù hợp.

Câu 1:Theo thầy cô năng lực hợp tác là gì?

Là sự trao đổi thông tin và khả năng xử lý tình huống

Là khả năng cộng tác giữa các cá nhân trong một tập thể

Là NL biết phối hợp các thành viên trong nhóm

Là khả năng phối hợp một hay nhiều người khác để hoàn thành công việc

Câu 2: Theo thầy cô, dạy học phát triển NLHT trong DHLS có cần thiết không?

Có Không

Câu 3: Theo thầy (cô), dạy học phát triển NLHT góp phần:

Nâng cao chất lượng bài giảng

Tạo mối quan hệ thầy trò gần gũi

GV có cơ hội thể hiện nhiều vai trò khác nhau

Phát huy tính tích cực, chủ động và gây hứng thú học tập cho học sinh.

Tất cả các đáp án trên

Câu 4: Các thầy cô có thường xuyên dạy học phát triển NLHT trong DHLS không?

Thường xuyên Hiếm khi

Thỉnh thoảng Không bao giờ

Câu 5: Theo thầy (cô) năng lực hợp tác của HSTHPT ở mức độ nào?

Tốt Khá

Trung Bình Yếu

Câu 6: Thầy(cô) có thường xuyên sử dụng các biện pháp dạy học nhằm phát triển

năng lực hợp tác cho HS không?

Thường xuyên Hiếm khi

Thỉnh thoảng Không bao giờ

Câu 7: Thầy (cô) thường sử dụng phương pháp nào trong quá trình dạy học theo

các chủ đề?

Mức độ Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ Phương pháp GV GV GV

Thuyết trình

Thảo luận nhóm

Vấn đáp

Dạy học theo chủ đê

Dạy học dự án

Dạy học trực quan

Phương pháp khác

Câu 8: Theo thầy (cô), mức độ hứng thú của HS đối với các phương pháp trên

như thế nào?

Thường Thỉnh Không Mức độ xuyên thoảng bao giờ Phương pháp GV GV GV

Thuyết trình

Thảo luận nhóm

Vấn đáp

Dạy học theo chủ đê

Dạy học dự án

Dạy học trực quan

Phương pháp khác

Câu 9: Thầy (cô) thường sử dụng hình thức tổ chức nào trong quá trình phát triển

NLHT trong DHLS?

Dạy học trên lớp

Dạy học ngoài lớp

Hoạt động ngoại khóa

Câu 10: Để phát triển năng lực hợp tác cho HS khi dạy bài 16: Phong trào giải

phóng, dân tộc (1939-1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời; thầy (cô) sẽ

sử dụng phương pháp chủ đạo nào?

Dạy học nhóm

Dạy học dự án

Dạy học theo chủ đề

Phương pháp khác

Câu 11: Thầy (cô) gặp khó khăn gì trong quá trình triển khai dạy học lịch sử theo

chủ đề?

Điều kiện cơ sở vật chất

HS còn tự ti, nhút nhát, không tích cực tham gia

Mất thời gian chuẩn bị và tiến hành

Thời lượng tiết học hạn chế

Ý kiến khác

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô!

Phụ lục 2: PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN HỌC SINH

Các em thân mến!

Để góp phần thực hiện thành công đề tài nghiên cứu “ Phát triển năng lực hợp

tác trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT huyện Lương Tài, tỉnh

Bắc Ninh” cô rất mong nhận được sự hợp tác, chia sẻ của các em. Những thông tin

thu thập được giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.

Chân thành cảm ơn các em!

Thông tin cá nhân (Không bắt buộc)

Họ và tên:……………………………………………………………………

Lớp:………………Trường:…………………………………………………

Em hãy đánh dấu X vào phương án mà em cho là phù hợp.

Câu 1: Mức độ yêu thích môn Lịch sử của em?

Rất thích Bình thường

Thích Không thích

Câu 2:Theo em năng lực hợp tác là gì?

Là sự đoàn kết của cộng đồng giúp nhau vượt qua khó khăn,thử thách

Là khả năng hợp tác tác giữa người với người

Là NL biết phối hợp các thành viên trong nhóm

Là năng lực của mỗi con người trong việc tham gia vào một hay nhiều công việc

chung

Câu 3: Theo em , dạy học phát triển NLHT trong DHLS có cần thiết không?

Có Không

Câu 4: Theo em phát triển NLHT trong DHLS góp phần:

HS được học cách cộng tác trên nhiều phương diện

Tăng cường khả năng tư duy phê phán cho HS

Phát triển các kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác

Tác động đến ý thức học tập của HS

Tất cả các đáp án trên

Câu 5: Theo em năng lực hợp tác của HSTHPT ở mức độ nào?

Tốt Khá

Trung Bình Yếu

Câu 6: Trong quá trình học tập môn Lịch sử em có được các thầy cô phát triển

NLHT không?

Thường xuyên Hiếm khi

Thỉnh thoảng Không bao giờ

Câu 7: Trong giờ học Lịch sử, thầy (cô) của em thường sử dụng các phương pháp

nào để phát triển NLHT cho các em?

Mức độ Thường Thỉnh Không

xuyên thoảng bao giờ

Phương pháp GV GV GV

Thuyết trình

Thảo luận nhóm

Vấn đáp

Dạy học theo chủ đê

Dạy học dự án

Dạy học trực quan

Phương pháp khác

Câu 8: Mức độ hứng thú của em với các phương pháp trên như thế nào?

Mức độ Thường Thỉnh Không

xuyên thoảng bao giờ

Phương pháp GV GV GV

Thuyết trình

Thảo luận nhóm

Vấn đáp

Dạy học theo chủ đê

Dạy học dự án

Dạy học trực quan

Phương pháp khác

Câu 9: Khi học bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng

Tám (1939-1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, em sẽ thích học

phương pháp nào sau đây?

Dạy học nhóm

Dạy học dự án

Dạy học theo chủ đề

Phương pháp khác

Câu 10: Thầy (cô) các em thường sử dụng hình thức tổ chức nào trong quá trình

phát triển NLHT trong DHLS?

Dạy học trên lớp

Dạy học ngoài lớp

Hoạt động ngoại khóa

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các em!

Phụ lục 3: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TOÀN PHẦN

Chương 3: Việt Nam từ năm 1930-1945.

Bài 16 (Tiết 24): PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ TỔNG

KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM (1939 - 1945).

NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ RA ĐỜI

I. MỤC TIÊU BÀI HỌC:

1 . Kiến thức: Sau khi học xong bài, học sinh cần:

- Biết được những nét cơ bản về tình hình kinh tế, xã hội VN trong những năm

1939 - 1945, hiểu được yêu cầu giải phóng dân tộc đặt ra một cách cấp thiết

- Trình bày được chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Đảng trong giai đoạn

này.

- Nhận xét được chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng.

2. Kỹ năng:

- Rèn luyện cho HS kĩ năng xác định kiến thức cơ bản, sự kiện cơ bản.

- Rèn luyện kỹ năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện lịch sử.

3. Thái độ, tư tưởng:

- Bồi dưỡng niềm tin vào sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng, vào đường

lối, chủ trương đúng đắn sáng tạo. Từ đó, học sinh biết trân trọng, giữ gìn và phát huy

thành quả Cách mạng tháng Tám

4. Định hướng phát triển năng lực

- Năng lực chung: Tự học, giải quyết vấn đề, sáng tạo, tư duy, vận dụng kiến thức...

- Năng lực chuyên biệt: Tái hiện sự kiện, hiện tương, nhân vật; Xác định mối

liên hệ, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng; Phân tích, khái quát háo; Nhận xét, đánh

giá, rút ra bài học lịch sử.

II. THIẾT BỊ, TÀI LIỆU DẠY HỌC

1. Đối với giáo viên:

- Một số tư liệu: Phim về chiến tranh thế giới thứ 2, tranh ảnh quân Nhật tấn

công Lạng Sơn...

- Bài giảng PowerPoint.

- Giấy A2, A4, bút dạ màu.

- Các tài liệu tham khảo.

2. Đối với học sinh:

- Đọc trước bài, sưu tầm các tài liệu về giai đoạn lịch sử 1939 - 1945.

- SGK, vở ghi, vở soạn.

III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

A. Hoạt động khởi động

1. Mục tiêu: Giúp HS huy động vốn kiến thức và kĩ năng đã có để chuẩn bị tiếp

nhận kiến thức và kĩ năng mới, còn nhằm tạo ra hứng thú và và một tâm thế tích cực

để HS bước vào bài học mới.

2. Phương thức: GV cho HS xem 1 đoạn phim phát xít Đức tấn công Ba Lan

hoặc phim phát xít Nhật tấn công cảng Trân Châu..., Sau đó GV hỏi: em biết gì về

đoạn phim trên trên? HS suy nghĩ trả lời…

3. Dự kiến sản phẩm:

- Dự kiến HS trả lời:....GV tiếp tục mời các em khác bổ sung.

→ GV dẫn vào bài mới: Tình hình thế giới biến chuyển, CTTG thứ 2 bùng nổ,

Pháp đầu hàng phát xít Đức, ở Đông Dương cuối tháng 9/1940 Nhật vào nước ta. Nhật

Pháp cấu kết nhau bóc lột nhân dân ta thậm tệ. Trước tình hình đó, Hội nghị Ban chấp

hành Trung Ương Đảng cộng sản Đông Dương họp đã chuyển hướng chỉ đạo - đặt

nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đưa nhân dân ta bước vào một thời kì đấu

tranh mới. Những cuộc đấu tranh đó diễn ra như thế nào? để lại những bài học gì? hôm

nay chúng ta học bài 16

B. Hoạt động hình thành kiến thức mới:

1. Hoạt động 1: Tìm hiểu tình hình Việt Nam trong những năm 1939-1945

* Mục tiêu:

Nêu được tình hình kinh tế, chính trị,xã hội của Việt Nam trong những năm

1939-1945?

Phân tích tác động của tình hình Việt Nam trong những năm 1939-1945 đến chủ

trương của Đảng?

* Phương thức:

GV chia lớp thành 3 nhóm, HS mỗi nhóm ngồi thành vòng tròn. GV giao nhiệm

vụ cho các nhóm như sau:

Nhóm 1: Em hãy cho biết về tình hình chính trị thế giới và trong nước thời kì

(1939-1945)? Nhận xét

Nhóm 2: Nêu tình kinh tế trong những năm 1939-1945? Nét nổi bật so với giai

đoạn trước? Nhận xét?

Nhóm 3: Nêu tình xã hội trong những năm 1939-1945? Nét nổi bật so với giai

đoạn trước? Nhận xét?

Các nhóm có thời gian chuẩn bị là 3 phút, sau đó cử đại diện trình bày.

Trong hoạt động này GV tổ chức cho HS hoạt động cá nhân và trao đổi đàm

thoại nhóm để tìm hiểu. Học sinh suy nghĩ, trao đổi thực hiện theo yêu cầu.Trong quá

trình HS làm việc, GV chú ý đến các HS để có thể gợi ý hoặc trợ giúp HS khi các em

gặp khó khăn.

Các nhóm cử đại diện trình bày sản phẩm, các học sinh khác theo dõi và góp ý

dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

* Gợi ý sản phẩm:

Nhóm 1: Tình hình chính trị thế giới và trong nước thời kì (1939-1945)?

Nhận xét

1/9/1939: Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đức kéo vào Pháp, Pháp đầu

hàng Đức. Pháp thực hiện chính sách thù địch đối với các lực lượng tiến bộ trong nước

và phong trào cách mạng ở thuộc địa.

9/1940, Nhật vượt biên giới Việt - Trung vào miền Bắc Việt Nam, Pháp nhanh

chóng đầu hàng.Nhật sử dụng bộ máy thống trị của Pháp để vơ vét kinh tế phục vụ

cho chiến tranh, đàn áp cách mạng.Việt Nam đặt dưới ách thống trị của Nhật - Pháp.

Nhóm 2: Nêu tình kinh tế trong những năm 1939-1945. Nét nổi bật so với giai

đoạn trước? Nhận xét?

Chính sách của Pháp: Pháp thi hành chính sách “Kinh tế chỉ huy”: tăng thuế cũ,

đặt thêm thuế mới, sa thải công nhân, viên chức, giảm tiền lương, tăng giờ làm, kiểm

soát gắt gao sản xuất, phân phối, ấn định giá cả.

Chính sách của Nhật: Pháp phải cho Nhật sử dụng phương tiện giao thông, kiểm

soát đường sắt, tàu biển.

Nhóm 3: Nêu tình xã hội trong những năm 1939-1945. Nét nổi bật so với giai

đoạn trước. Nhận xét.

Chính sách bóc lột của Pháp - Nhật đẩy nhân dân ta tới chỗ cùng cực.Các giai

cấp, tầng lớp ở nước ta, trừ tay sai đế quốc, đại địa chủ và tư sản mại bản đều bị ảnh

hưởng bởi chính sách bóc lột của Pháp- Nhật.

=>Mâu thuẫn dân tộc lên tới đỉnh điểm

=> Đảng phải kịp thời, đề ra đường lối đấu tranh phù hợp.

Gv nhận xét, bổ sung các sản phẩm của HS và chốt vấn đề.

2. Hoạt động 2: Tìm hiểu Hội nghị Ban Chấp hành Trung Ương Đảng

Cộng sản Đông Dương tháng 11 - 1939 và tháng 5 - 1941

*Mục tiêu:

Trình bày được hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 11/1939.

Trình bày được hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 5/1941.

Phân tích được vai trò của Nguyễn Ái Quốc tại hội nghị 5/1941

*Phương thức:

GV sử dụng phương pháp dạy học dự án kết hợp bảng biểu, trò chơi học tập

Lịch Sử

Để thực hiện dự án, trước tiên giáo viên cần lập kế hoạch cho dự án gồm: Xác

định chủ đề, lựa chọn tiểu chủ đề.

Xác định chủ đề: Trước những biến chuyển của tình hình thế giới và trong

nước, mâu thuẫn dân tộc lên tới đỉnh điểm đòi hỏi Đảng phải có chủ trương kịp thời

phù hợp với hoàn cảnh trong nước và thế giới.Vì vậy trong những năm 1939-1941

Đảng cộng sản Đông Dương đã liên tiếp họp hội nghị để đề ra đường lối đúng đắn

đưa cách mạng đến thành công. Trên cơ sở đó, giáo viên xác định chủ đề của dự án

mang tên “Các hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm

1939-1941”.

Để tìm hiểu các hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm

1939-1941, giáo viên lựa chọn chủ đề và tiểu chủ đề: Bằng cách gợi ý, giáo viên hướng

dẫn học sinh lựa chọn chủ đề nhỏ theo từng nội dung của hội nghị, sẽ có 3 chủ đề được

đưa ra định hướng cho học sinh:

Chủ đề 1: Hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 11/1939?

Chủ đề 2: Hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 5/1941?

Chủ đề 3: Hội nghị 5/1941 hoàn chỉnh hơn hội nghị 11/1939 ở những điểm nào?

Xác định công việc cần thực hiện: Từ 3 chủ đề nhỏ, giáo viên cùng học sinh xác

định công việc cụ thể, mỗi nhóm là một chủ đề.

Nhóm 1: Tìm hiểu hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 11/1939? Sưu tầm

một số tranh ảnh cũng như tiểu sử của Nguyễn văn Cừ. Em có nhận xét gì về hội nghị

11/1939?

Nhóm 2: Tìm hiểu hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 5/1941? Sưu tầm

một số tranh ảnh, tài liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc? Em có nhận xét gì về hội

nghị 5/1941?

Nhóm 3: Hội nghị 5/1941 hoàn chỉnh hơn hội nghị 11/1939 ở những điểm nào?

Rút ra điểm giống nhau và khác nhau của hội nghị 11/1939 và 5/1941?

Các nhóm lần lượt lên báo cáo, các học sinh khác theo dõi và góp ý dưới sự

hướng dẫn của giáo viên.

* Gợi ý sản phẩm:

Nhóm 1: Hội nghị 11/ 1939.

- Hoàn cảnh: 11/1939, Hội nghị diễn ra tại Bà Điểm-Hóc Môn (Gia định), do

Nguyễn Văn Cừ chủ trì.

- Nội dung:

+ Nhiệm vụ trước mắt: Đánh đổ đế quốc, tay sai

-> Đông Dương độc lập.

+ Khẩu hiệu :Tạm gác lại khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, tịch thu ruộng đất

của thực dân đế quốc và địa chủ.

+ Mặt trận : Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương

- Ý nghĩa: Đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng đặt vấn đề giải phóng dân

tộc lên hàng đầu.

Nhóm 2: Hội nghị 5 /1941:

- Hoàn cảnh: Từ ngày 10 -> 19/ 5/ 1941 Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị.

- Nội dung:

+ Nhiệm vụ, mục tiêu hàng đầu của CM là: Giải phóng dân tộc

+ Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh

+ Hình thái đi từ khởi nghĩa từng phần lên Tổng khởi nghĩa.

- Ý nghĩa: Hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Đảng được đề

ra từ hội nghị 11/1939.

Nhóm 3: Hội nghị 5/1941 hoàn chỉnh hơn hội nghị 11/1939 ở các điểm sau:

- Đưa vấn đề tộc về riêng từng nước

- Thành lập được Mặt trận của riêng Việt Nam

- Xác định được hình thái của cuộc khởi nghĩa là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến

lên tổng khởi nghĩa.

Cuối cùng giáo viên chốt lại kiến thức: Lúc này chiến tranh thế giới thứ hai lan

rộng và ngày càng quyết liệt. Mâu thuẫn dân tộc lên cao hơn bao giờ hết nhiều cuộc

đấu tranh vũ trang chống đế quốc đã nổ ra.Tại hội nghị 5/ 1941 Nguyễn Ái Quốc khẳng

định: "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn

vong của quốc gia, của dân tộc… nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng,

không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia

dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm

cũng không đòi lại được”

C. HOẠT ĐỘNG CỦNG CỐ, LUYỆN TẬP

1. Mục tiêu:

Nhằm củng cố, hệ thống hóa, hoàn thiện kiến thức mới mà HS đã được lĩnh hội

ở hoạt động hình thành kiến thức về: tình hình kinh tế, chính trị,xã hội của Việt Nam

trong những năm 1939-1945, nội dung ý nghĩa của hội nghị 11/1939, 5/1941.

2. Phương thức:

GV giao nhiệm vụ cho HS và chủ yếu cho làm việc cá nhân. Trong quá trình

làm việc HS có thể trao đổi với bạn hoặc thầy, cô giáo.

Câu 1: Tình hình Việt Nam trong những năm 1939-1945?

Câu 2: Lập bảng hội nghị 11/1939 và hội nghị 5/1941 theo mẫu

Hội nghị 11/1939 5/1941

Nội dung Hoàn cảnh

Nội dung

Nhiệm vụ trước mắt Khẩu hiệu Mặt trận Phương pháp đấu tranh

Ý nghĩa

Câu 3: Lập bảng hội nghị 7/1936 và hội nghị 11/1939 theo mẫu

Hội nghị 11/1939 5/1941 Nội dung

Hoàn cảnh

Nội dung

Nhiệm vụ trước mắt Khẩu hiệu Mặt trận Phương pháp đấu tranh

Ý nghĩa

3. Dự kiến sản phẩm

Câu 1, 2 giống như SGK

Câu 3: Lập bảng hội nghị 7/1936 và hội nghị 11/1939

Hội nghị 7/1936 11/1939 Nội dung

Hoàn cảnh 7-1936, Hội nghị họp tại Thượng Hải - Trung Quốc

Nội dung -11/1939, Hội nghị diễn ra tại Bà Điểm-Hóc Môn (Gia định), do Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Đánh đổ đế quốc, tay sai -> Đông Dương độc lập

Tạm gác lại khẩu hiệu cách mạng ruộng đất…. Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương

Hoạt động bí mật và bất hợp pháp.

Ý nghĩa Nhiệm vụ trực tiếp trước chống phản động mắt: thuộc… Khẩu hiệu : Đòi tự do,dân chủ cơm áo hòa bình Mặt trận :Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông dương Phương pháp đấu tranh: Kết hợp các hình thức công khai và bí mật Thể hiện sự nhạy bén linh hoạt của Đảng trước tình chuyển hướng Đánh dấu bước quan trọng, đặt nhiệm vụ giải phóng

hình mới. dân tộc lên hàng đầu

D. HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG, MỞ RỘNG

1. Mục tiêu: Học sinh vận dụng được kiến thức đã học để liên hệ thực tế về:

- Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và

bảo vệ đất nước hiện nay.

- Những thách thức mà Đảng Cộng sản Việt Nam gặp phải trong quá trình lãnh

đạo đất nước hiện nay? Trách nhiệm của bản thân.

2. Phương thức: GV giao nhiệm vụ cho HS:

1. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và

bảo vệ đất nước hiện nay.

2. Những thách thức mà Đảng Cộng sản Việt Nam gặp phải trong quá trình lãnh

đạo đất nước hiện nay? Trách nhiệm của bản thân.

3. Gợi ý sản phẩm:

1.Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và

bảo vệ đất nước hiện nay: Hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo

của Ðảng, đất nước đã vượt qua tình trạng một nước nghèo, kém phát triển; đang đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng trưởng kinh tế khá; phát triển kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những nhận thức rõ và đầy đủ hơn vì mục tiêu

dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Không ngừng xây dựng, hoàn

thiện hệ thống chính trị, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và tăng cường sự lãnh

đạo của Ðảng đối với Nhà nước và xã hội. Thực hiện nhất quán và thành công đường

lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; nâng cao vị thế của đất

nước. Hiện nay, Ðảng tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Ðảng đối

với hệ thống chính trị và các lĩnh vực của đời sống xã hội; huy động sức mạnh tổng

hợp của toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng, tạo xung lực mới thực hiện thắng

lợi công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.

2. Những thách thức Đảng Cộng sản Việt Nam gặp phải trong quá trình lãnh

đạo đất nước hiện nay? Trách nhiệm của học sinh.

- Thách thức Đảng Cộng sản Việt Nam gặp phải trong quá trình lãnh đạo đất

nước hiện nay

+ Một là, giải quyết mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển,

trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ.

+ Hai là, mâu thuẫn giữa tiềm năng lớn chưa được giải phóng toàn diện với một

số thể chế, cơ chế, chính sách đang kìm hãm sự phát triển, trong khi nguồn lực bị hạn

chế cả về con người và vật chất.

+ Ba là, nhận diện bước chuyển từ phát triển “kinh tế nâu” sang “kinh tế xanh”;

mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa nhanh và giải quyết những vấn

đề xã hội, môi trường nảy sinh, sự chênh lệch trong phát triển giữa các vùng, miền,

thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư.

- Trách nhiệm của học sinh:

+ Phấn đấu học tập tốt để có thể cùng nhau đưa đất nước ta trở thành một cường

quốc về tri thức.

+ Thường xuyên trau dồi kiến thức mới, khoa học công nghệ để có thể theo kịp

thời đại, tránh để đất nước bị tụt lại phía sau

+ Am hiểu tốt LS, hiểu được truyền thống để có thể hiểu rõ được trước đây ông

cha ta đã dành độc lập như thế nào và sau này chúng ta cần giữ gìn ra sao.

+ Tiếp thu và phát huy truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc, xây dựng

lòng yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm công dân, phát huy tinh thần sáng tạo,

vượt khó khăn, ý chí tự lực, tự cường dân tộc, phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng , văn minh.

Rút kinh nghiệm giờ dạy Phê duyệt Tổ trưởng

...........................................................................................................................

...........................................................................................................................

...........................................................................................................................

...........................................................................................................................

...........................................................................................................................

Phụ lục 4: Đề kiểm tra thực nghiệm sư phạm (10 phút)

Câu 1: Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở đâu, khi nào?

A. Tháng 11/1940, Đình Bảng (Bắc Ninh).

B. Tháng 11/1939, Đình Bảng (Bắc Ninh).

C. Tháng 11/1939, Hóc Môn (Gia Định).

D. Tháng 11/1940, Hóc Môn (Gia Định).

Câu 2: Năm 1939, ai là người giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương?

A. Phan Đăng Lưu. B. Lê Hồng Phong.

C. Hà Huy Tập. D. Nguyễn Văn Cừ.

Câu 3: Điền thêm từ còn thiếu trong nhận định của Đảng ta tại Hội nghị Trung

ương 5/1941: "Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc

cách mạng ...".

A. Tư sản dân quyển.

B. Dân chủ tư sản.

C. Xã hội chủ nghĩa.

D. Dân tộc giải phóng.

Câu 4: Khẩu hiệu được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 đưa

ra là gì?

A. “Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày”.

B. “Lập chính quyền Xô Viết công - nông - binh”.

C. “Tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian chia cho dân cày nghèo”.

D. “Phá kho thóc của Nhật cứu đói cho dân nghèo”.

Câu 5: Ý nghĩa lịch sử của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8

là gì?

A. Là hội nghị đánh dấu sự hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng đấu tranh của

Đảng.

B. Hội nghị đánh đấu bước đầu chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho cách mạng

Việt Nam.

C. Hội nghị đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam.

D. Hội nghị đã mở ra một giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam, tập trung

giải quyết hoàn thành nhiệm vụ dân chủ.

Câu 6: Vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang cho cách mạng được khẳng định là

"nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân" được nêu ra tại hội nghị nào?

A. Hội nghị tháng 7/1936. B. Hội nghị tháng 11/1939.

C. Hội nghị tháng 3/1945. D. Hội nghị tháng 5/1941.

Câu 7: Để huy động tối đa tiềm lực của Đông Dương cho cuộc chiến tranh đế quốc,

thực dân Pháp đã thực hiện chính sách kinh tế gì?

A. Kinh tế vĩ mô B. Kinh tế chỉ huy

C. Kinh tế mới D. Kinh tế thời chiến

Câu 8: Tháng 9-1940, ở Đông Dương đã diễn ra sự kiện lịch sử gì quan trọng?

A. Phát xít Nhật vào Đông Dương

B. Pháp kí với Nhật hiệp định phòng thủ chung Đông Dương

C. Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương

D. Nhật đầu hàng hoàn toàn quân Đồng minh

Câu 9: Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam thời kì 1939-1945 là?

A. Đánh đổ đế quốc, phát xít xâm lược giành độc lập dân tộc

B. Đánh đổ các giai cấp bóc lột giành quyền tự do dân chủ

C. Lật đổ chế độ phong kiến giành ruộng đất cho dân cày

D. Lật đổ chế độ phản động thuộc địa cải thiện dân sinh

Câu 10: Sự khác biệt cơ bản giữa phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam

từ năm 1939 đến trước ngày 9-3-1945 với các phong trào cách mạng trước đó

là gì?

A. Mâu thuẫn dân tộc phát triển gay gắt

B. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt ra cấp thiết

C. Chống lại nền thống trị của đế quốc phát xít Pháp - Nhật

D. Có sự liên kết với quốc tế.

Phụ lục 5: Ảnh thực nghiệm

Giáo viên giới thiệu bài 16 Giáo viên giới thiệu nội dung bài 16

Giáo viên hướng dẫn các nhóm hoạt động Nhóm 1 hoạt động

Nhóm 2 làm việc nhóm Nhóm 3 làm việc nhóm

Nhóm 1 trình bày trước lớp Nhóm 2 trình bày trước lớp

Nhóm 3 thảo luận Giáo viên nhấn mạnh vai trò của

Nguyễn Ái Quốc

Giáo viên tóm tắt kiến thức của 2 hội Giáo viên tổng kết bài học

nghị tháng 11/1939 và tháng 5/1941