ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NHÂM THỊ TƯƠI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ THÁI NGUYÊN - 2020
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NHÂM THỊ TƯƠI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH Ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 8 22 90 13 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: TS. KIM NGỌC THU TRANG THÁI NGUYÊN - 2020
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: “Phát triển năng lực hợp tác trong
dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh”
dưới sự hướng dẫn của TS. Kim Ngọc Thu Trang là kết quả nghiên cứu của cá nhân
tôi, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, không trùng lặp với những công
trình đã công bố trước đây.
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nhâm Thị Tươi
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới giảng viên TS. Kim Ngọc
Thu Trang người đã chỉ bảo, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận
lợi để em hoàn thành luận văn này.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy cô giáo Khoa Lịch sử
trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, cảm ơn Thư viện trường Đại học sư phạm Thái
Nguyên, các thầy cô giáo và toàn thể các em học sinh trường THPT ở huyện Lương
Tài đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian em làm luận
văn.
Cuối cùng, em xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan
tâm, động viên và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Học viên thực hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nhâm Thị Tươi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................... v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH ......................................................................... vi
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 9
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 10
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ........................................... 10
6. Giả thuyết khoa học và đóng góp của luận văn ...................................................... 11
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................................ 12
8. Cấu trúc luận văn .................................................................................................... 12
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT .... 13
1.1. Cơ sở lí luận ......................................................................................................... 13
1.1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài ....................................................... 13
1.1.2. Cơ sở xuất phát của việc phát triển năng lực hợp tác trong DHLS ở trường THPT .. 21
1.1.3. Nội dung của NLHT cần phát triển cho HS trong DHLS ở trường THPT ...... 31
1.1.4. Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong
dạy học lịch sử. ........................................................................................................... 35
1.2 Cơ sở thực tiễn ...................................................................................................... 38
1.2.1. Mục đích và đối tượng điều tra ......................................................................... 39
1.2.2. Phương pháp và nội dung điều tra .................................................................... 39
1.2.3. Kết quả điều tra và những vấn đề đặt ra ........................................................... 40
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tiểu kết chương 1 ....................................................................................................... 47
Chương 2: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 THPT Ở HUYỆN
LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH ............................................................................. 48
2.1. Vị trí, mục tiêu và nội dung của Lịch sử Việt Nam lớp 12 THPT ..................... 48
2.1.1. Vị trí .................................................................................................................. 48
2.1.2. Mục tiêu ............................................................................................................ 48
2.1.3. Nội dung cơ bản ................................................................................................ 49
2.2. Xác định hệ thống kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam (1919 - 2000) cần
khai thác để phát triển năng lực hợp tác cho học sinh. ............................................... 51
2.3. Những yêu cầu cơ bản khi phát triển năng lực hợp tác trong DHLS Việt Nam
lớp 12 .......................................................................................................................... 55
2.4. Một số biện pháp phát triển NLHT trong dạy học LSVN lớp 12 THPT ............ 58
2.4.1. Trong hoạt động nội khóa ................................................................................. 58
2.4.2. Trong hoạt động ngoại khóa ............................................................................. 76
2.5. Thực nghiệm sư phạm ......................................................................................... 88
2.5.1. Mục đích thực nghiệm ...................................................................................... 88
2.5.2. Đối tượng, địa bàn và nhiệm vụ thực nghiệm .................................................. 89
2.5.3. Nội dung thực nghiệm ...................................................................................... 89
2.5.4. Phương pháp tiến hành thực nghiệm ................................................................ 90
2.5.5. Kết quả thực nghiệm ......................................................................................... 91
Tiểu kết chương 2 ....................................................................................................... 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 98
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐC : Đối chứng
DHLS : Dạy học Lịch sử
GD& ĐT : Giáo dục và đào tạo
GDPT : Giáo dục phổ thông.
GV : Giáo viên
HĐTN : Hoạt động trải nghiệm
HS : Học sinh
KN : Kỹ năng
LS : Lịch sử
LSTG : Lịch sử thế giới
LSVN : Lịch sử Việt Nam
NL : Năng lực
NLHT : Năng lực hợp tác
NXB : Nhà xuất bản.
PPDH : Phương pháp dạy học
SGK : Sách giáo khoa
SGV : Sách giáo viên
THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm
TNST : Trải nghiệm sáng tạo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
Bảng 1.1. Các năng lực chuyên biệt trong môn lịch sử .......................................................... 15
Bảng 1.2. Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung
và chương trình định hướng năng lực .................................................................... 23
Bảng 1.3. Hệ thống năng lực hợp tác ..................................................................................... 34
Bảng 1.4. Nhận thức của GV về vấn đề phát triển NLHT ...................................................... 40
Bảng 1.5. Nhận thức của HS về vấn đề phát triển NLHT ...................................................... 43
Bảng 2.1. Bảng so sánh kết quả bài kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng .......... 93
Bảng 2.2. Bảng phân phối mức độ kết quả thực nghiệm ........................................................ 93
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
1. Hình
Hình 1.1. Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực .................................................... 14
Hình 1.2. Mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông môn LS năm 2018 .......... 25
Hình 1.3. Yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông môn LS năm 2018 ........... 26
Hình 1.4. Các năng lực cốt lõi cần phát triển cho HS theo Chương trình giáo dục
phổ thông tổng thể ....................................................................................... 32
2. Biểu đồ
Biểu đồ 1.1. Nhận thức của GV về khái niệm NLHT ................................................ 41
Biểu đồ 1.2. Biểu đồ tổng hợp ý kiến giáo viên về phương pháp dạy học ................. 42
Biểu đồ 1.3. Vai trò của Phát triển NLHT đối với HS trong DHLS .......................... 44
Biểu đồ 1.4. Thực trạng biểu hiện về NLHT .............................................................. 45
Biểu đồ 1.5. Tổng hợp ý kiến học sinh về mức độ yêu thích đối với các phương
pháp học tập môn Lịch sử .......................................................................... 45
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Biểu đồ 2.1: Tần suất kết quả thực nghiệm ................................................................ 93
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hoá và hiện đại hoá đã và đang tạo ra một thế giới ngày càng đa dạng
và gắn kết. Sự bùng nổ tri thức cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng
khoa học công nghệ đặt ra những yêu cầu và thách thức lớn với nguồn nhân lực chất
lượng cao. Con người phải đối mặt với những thách thức như cân bằng tăng trưởng
kinh tế với phát triển bền vững môi trường, sự thịnh vượng với công bằng xã hội. Trong
bối cảnh đó, các năng lực mà mỗi cá nhân cần phải đáp ứng trở nên phức tạp hơn. Mục
tiêu giáo dục cơ bản hiện nay là đào tạo những con người có khả năng thích ứng và
sáng tạo trong mọi môi trường và điều kiện phức tạp của cuộc sống hiện đại. Ngày
càng nhiều năng lực mới của công dân thế kỉ 21 được đề cập tới trong dạy học và kiểm
tra đánh giá. Xu thế đó đặt ra cho ngành giáo dục nước ta một nhiệm vụ hết sức nặng
nề, đó là đào tạo một lớp người có đủ phẩm chất và năng lực để tham gia phát triển
kinh tế, văn hoá, xã hội một cách bền vững. Giáo dục không chỉ đề cập đến các yêu
cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ mà còn hướng tới năng lực hành động, trong đó đặc
biệt chú ý đến năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề ở từng cá nhân trên cơ sở
phát huy tối đa tiềm năng sẵn có trong mỗi con người và khả năng thích ứng với những
thay đổi trong cuộc sống. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng về
giáo dục xác định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng
bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất,
năng lực của người học. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức
sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học: yêu gia đình, yêu Tổ quốc,
yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả. Từng bước hoàn thiện hệ thống giáo dục
quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học
tập” [1, tr.10-11]
Đổi mới phương pháp dạy học là sự đổi mới theo hướng trang bị cho học sinh
cách học, phát huy tính chủ động, sáng tạo và sử dụng công nghệ thông tin trong dạy
học, đặc biệt dạy học phải hướng tới phát triển năng lực cho người học. Phát triển kỹ
năng, năng lực học tập cho học sinh luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tập ở các nhà trường, quyết định chất lượng học tập của mỗi học sinh. Có nhiều kỹ
năng, năng lực học tập trong đó NLHT là một trong những NL được nhiều nước xây
dựng trong bộ các năng lực cốt lõi người học cần có trong thế kỉ XXI. Việt Nam cũng
đã có dự thảo xây dựng bộ NL cốt lõi cho chương trình mới được áp dụng trong đó có
NLHT, điều này cho thấy NLHT là một NL rất quan trọng đối với người học. Phát triển
NLHT không những phát huy được tính chủ động sáng tạo cho học sinh mà còn rèn
luyện cho các em nhiều kỹ năng sống rất cần thiết cho hiện tại cũng như tương lai. Dạy
học phát triển NLHT sẽ góp phần giúp học sinh biết đoàn kết, chia sẻ cùng giải quyết
các nhiệm vụ học tập cũng như các vấn đề xảy ra trong cuộc sống...
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc phát triển NLHT cho học sinh
trong dạy học môn Lịch sử chưa được nhiều giáo viên quan tâm và cũng còn khá mới
mẻ đối với giáo viên và học sinh. Bởi vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu và đề ra các biện
pháp để phát triển NLHT trong quá trình DHLS ở trường THPT là cần thiết.
Lịch sử Việt Nam lớp 12 từ năm 1919 - 2000 đóng vai trò quan trọng trong suốt
tiến trình của Lịch Sử Việt Nam, đồng thời chiếm phần lớn khối lượng kiến thức trong
đề thi THPT Quốc gia hiện nay.
Với những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Phát triển năng lực hợp tác trong
dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh”
làm luận văn thạc sỹ của mình với hi vọng góp phần làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra
ở trên.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phát triển NLHT trong dạy học ở trường phổ thông từ lâu đã thu hút được sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục học, tâm lí học, các giáo viên đang
giảng dạy ở trường phổ thông. Có thể kể tới một số công trình tiêu biểu như sau:
2.1. Công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Trải qua các thời kỳ lịch sử, tư tưởng giáo dục HT được khẳng định và ngày
càng phát triển trong thời đại này nay với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kĩ
thuật hiện đại và xu thế toàn cầu hóa
J.A.Cômenxki (1592-1669) là một nhà giáo dục vĩ đại không những của Cộng
hòa Séc mà còn cả thế giới. Tên tuổi của ông gắn liền với sự ra đời của giáo dục học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
với tư cách là một khoa học độc lập. Ông đã được sử gia Pháp Misole đánh giá là: “Một
thiên tài rực rỡ, một nhà phát kiến lỗi lạc, một Galile của giáo dục”. Các nhà khoa học
đã xếp ông vào hàng “cha đẻ của giáo dục hiện đại”. Theo J.A. Cômenxki, cốt lõi của
quá trình đào tạo là không “áp đặt”, không “cưỡng bức” người học. Công việc của
người thầy giáo là tổ chức, điều khiển, điều chỉnh, gợi mở, dẫn dắt hoạt động của người
học. Bằng cách ấy, học sinh sẽ tích cực, tự giác trong việc lĩnh hội các tri thức. Năm
1632, Comenxki viết tác phẩm nổi tiếng “Phép giảng dạy vĩ đại” bằng tiếng Tiệp
Khắc, rồi tự dịch ra tiếng La Tinh, trong đó trình bày những tư tưởng cấp tiến, khoa
học, nhân văn về mô hình giáo dục hiện đại mà ngày nay chúng ta đang phấn đấu áp
dụng. Comenxki là người đầu tiên trong lịch sử xây dựng lý luận và tổ chức trong thực
tiễn một hình thức tổ chức dạy học mới mẻ gọi là “hệ lớp - bài”, có ý nghĩa to lớn về
lý luận và thực tiễn giáo dục. Đối với môi trường giáo dục, Comenxki đặc biệt chú ý
và tin rằng học sinh sẽ học tốt từ việc dạy cho bạn bè mình, đồng thời cũng học được
từ chính bạn bè trong lớp.
John Locke (1632-1704) là nhà triết học và giáo dục Anh thế kỉ XVII. Ông là
người kế thừa “Thuyết duy cảm” trong trường phái triết học của Becon và áp dụng vào
giáo dục. Ông đánh giá rất cao ảnh hưởng của môi trường đối với nhân cách của trẻ và
coi trọng sự trải nghiệm thực tiễn của trẻ. Ông cho rằng không được nhồi nhét vào trí
nhớ của trẻ những điều mà chúng không thích, phải khơi dậy lòng ham mê, lòng say
sưa hiểu biết cái mới, phát triển khả năng độc lập suy nghĩ, chủ động trong học tập.
Qua đây chúng ta thấy, không phải cho tới ngày nay, khi mà sinh lí học thần kinh có
những tiến bộ vượt bậc và góp phần to lớn vào việc làm rõ cơ chế hoạt động của hệ
thần kinh người ta mới quan tâm tới dạy học trải nghiệm, quan tâm tới môi trường dạy
học, quan tâm tới động cơ, hứng thú học tập của người học… mà những vấn đề này -
những vấn đề cơ bản được đề cập trong chiến lược dạy học dựa vào tương tác ngày nay
đã được các nhà giáo dục lớn trên thế giới nói tới cách đây rất nhiều năm.
Jean - Jacques Rousseau (1712-1778) là một triết gia nổi tiếng của dòng Triết
học Khai sáng Pháp thế kỉ XVIII, một nhà văn nổi tiếng, một nhà giáo dục lớn của
Pháp và thế giới. Quan điểm giáo dục của ông được thể hiện tập trung trong cuốn
“Emile (1762)”, trong đó đề cập đến ba vấn đề: 1/ Trong phương pháp tiêu cực của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Rousseau, ông coi trọng người học, đặc biệt cọi trọng vốn kiến thức, kinh nghiệm của
người học trong quá trình học tập. 2/ Môi trường dạy học đã được xem xét, được coi là
một yếu tố của quá trình dạy học, song môi trường lại được xem xét ở góc độ tiêu cực,
những “thói hư, tật xấu” ảnh hưởng tới người học. 3/ Vai trò của người thầy được nâng
lên, khi mà trong quá trình dạy học phải giúp người học có được vốn kiến thức, kinh
nghiệm đồng thời phải tổ chức môi trường để người học học tập nhưng chủ yếu ở khía
cạnh “ngăn cản tật xấu đột nhập vào trái tim con người” [12, tr.30-31]
Cuộc cải cách giáo dục mạnh mẽ trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ
XX đã mở ra chiều hướng đổi mới dạy học tập trung vào hoạt động của người học và
khai thác môi trường dạy học. Đi tiên phong trong phong trào vận động cải cách giáo
dục có một số nhà thực dụng chủ nghĩa có tên tuổi như: Peirce (1839 -1915), James
(1842-1910), Schilles (1864-1887). Trong số họ, J.Dewey (1859-1952) là một nhà giáo
dục thực dụng nổi tiếng của Mĩ. Trong cuốn sách “Dân chủ và giáo dục” do Hoàng
Anh Tuấn dịch, ông đã tìm ra và thực thi tư tưởng đề cao khía cạnh xã hội của việc học
và vai trò của nhà giáo dục trong việc giáo dục học sinh một cuộc sống dân chủ. Dewey
cho rằng: “Con người có bản chất sống hợp tác, trẻ cần được dạy biết thông cảm, tôn
trọng quyền của người khác, làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề theo lẽ phải và
phải được trải nghiệm quá trình sống hợp tác trong nhà trường. Cuộc sống trong lớp
học cần được thể hiện quá trình dân chủ hóa trong một thế giới vi mô mà trung tâm
của cuộc sống dân chủ ở đây là sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm” [28, tr 45-
46].
Lí thuyết dạy học biện chứng của nhà Tâm lý học L.X.Vygotsky (1896-1915)
có tác động không nhỏ tới các trường phái giáo dục hiện đại.Ông cho rằng sự phát triển
nhận thức diễn ra tốt nhất nơi người học vượt qua “Vùng cận phát triển” thông qua việc
hợp tác với bạn và với thầy. Cơ chế của việc học là cơ chế kết hợp giữa học cá nhân và
học hợp tác, dạy học chính là sự hợp tác hai chiều, thầy hướng dẫn, đạo diễn và trò tự
giác , tích cực, độc lập, sáng tạo.Quan điểm dạy học hợp tác phát triển của
L.X.Vygotsky đã mở ra một trào lưu dạy học mới - dạy học tích cực.
Kurt Lewin (1890-1947) là một nhà tâm lý học người Mỹ gốc Đức, được biết đến
như một trong những người tiên phong hiện đại về tâm lý học xã hội, tổ chức và ứng dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ở Hoa Kỳ. Ông cũng là nhà tâm lý học đầu tiên viết về động lực nhóm và tầm quan trọng
của nhóm trong việc hình thành hành vi của các thành viên. Ông nhấn mạnh về hành vi,
cách cư xử trong nhóm và xây dựng lý thuyết cơ sở về học tập hợp tác.
Morton Deutsch (1920-2017) là một nhà tâm lý học và nghiên cứu xã hội người
Mỹ dựa trên cơ sở “Những lý luận nền tảng” của Lewin đã phát triển, nâng cao lý luận
về hợp tác và cạnh tranh. Năm 1949, trong một bài báo Tạp chí giáo dục ở Mĩ, Morton
Deutsch đưa ra “Lý thuyết về hợp tác và cạnh tranh”. Ông cho rằng tính năng động và
thành công cuối cùng của một nhóm phụ thuộc vào mức độ các thành viên trong nhóm
tin rằng mục tiêu của họ được chia sẻ và do đó thấy được tiềm năng để tạo ra sự nghiệp
chung.
Năm 1994, Raja Roy Singh - nhà giáo dục người Ấn Độ, trong cuốn sách “Giáo
dục thế kỷ XX: Những triển vọng của châu Á -Thái Bình Dương”,Viện Khoa học giáo
dục Hà Nội, đã đề cập đến nhiều nội dung của giáo dục thế kỷ XXI, đặc biệt về giáo
dục con người thông qua việc hình thành cho họ năng lực sáng tạo, kỹ năng hợp tác
chung sống với người khác, biết gắn bó con người với xã hội trong giới hạn toàn cầu
hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu rộng. Theo ông, một trong những PPDH
đạt được mục tiêu trên là mô hình dạy học hợp tác, học tập từ bạn bè, từ cộng đồng, từ
lao động và các hoạt động xã hội.
Trong cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả” (Nguyễn Hồng Vân dịch,
Nxb Giáo dục, 2011), các tác giả Robert J. Marzano, Debra J. Pickering, Jane E.
Pollock đã giới thiệu các phương pháp dạy học hiệu quả được rút ra từ nhiều công trình
nghiên cứu thực tế giảng dạy và lí thuyết tổng hợp với mục đích phát huy cao độ khả
năng học tập của HS, nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên đứng lớp. Nhân tố
quan trọng nhất tác động đến việc học của HS là các thầy cô giáo, trên cơ sở đó, mỗi
phương pháp dạy học đã chỉ ra cho GV những cách làm cụ thể để thực hiện công tác
giảng dạy hiệu quả nhất nhờ áp dụng các nghiên cứu khoa học vào quá trình giảng
dạy.Các tác giả dành riêng một chương để giới thiệu phương pháp học phối hợp trong
tổ nhóm nhằm phát huy được NLHT cho học sinh.
Trong công trình “Quản lý lớp học hiệu quả” (Phạm Trần Long dịch, Nxb Giáo
dục, 2011),tác giả Robert J.Marzano cho rằng giáo viên là người đóng nhiều vai trò
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
khác nhau trong một lớp học trong đó một trong những vai trò quan trọng nhất là quản
lí lớp học. GV có thể tìm thấy những PP, những thủ thuật được trình bày một cách vừa
chi tiết vừa cụ thể nhưng rất gợi mở để vận dụng vào trong từng lớp học, từng tình
huống sư phạm cụ thể như đã từng gặp phải trong lớp học của mình, trong đó một trong
những phương pháp đóng vai trò quan trọng là học theo nhóm, hợp tác giữa các nhóm.
Cuốn sách “Đa trí tuệ trong lớp học”, (Lê Quang Long dịch, Nxb Giáo dục,
2017), tác giả Thomas Armstrong đã đưa ra nhiều khái niệm và kiến thức về năng lực,
hợp tác, làm việc nhóm... Với 16 chương, tác giả đề cập đến các phương pháp giảng
dạy tối ưu nhất cho từng bài học, từng đối tượng học sinh và biết phát huy những thế
mạnh của riêng mình, trong đó nhấn mạnh đến phương pháp dạy học hợp tác, làm việc
nhóm.Đặc biệt, trong cuốn sách tác giả đề cập đến trí tuệ giao tiếp trong đó nhấn mạnh
đến năng lực hợp tác của mỗi học sinh, làm thế nào để kích thích khả năng làm việc
nhóm của mỗi học sinh.
2.2. Công trình nghiên cứu ở trong nước
Việc phát triển NLHT trong dạy học ở Việt Nam đã được chú ý từ lâu song đến
nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện.Tuy nhiên, có
thể kể đến một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề ở những khía cạnh, mức độ
khác nhau.
Tài liệu tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học.
Trong giáo trình "Tâm lý học”của Phạm Minh Hạc, Nxb Giáo dục xuất bản năm
1995 đã đề cập đến mối quan hệ hợp tác, giao lưu giữa các nhóm với nhau. Tác giả
khẳng định: Ở lứa tuổi thiếu niên, giao lưu, hợp tác giữ vai trò quan trọng đặc biệt đối
với việc hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách của mỗi con người.
Trong cuốn “Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại” của Thái Duy
Tuyên, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2001 đã trình bày những
vấn đề chung của giáo dục hiện đại như triết học của giáo dục, mục đích, đối tượng,
tính chất và nguyên tắc, các mô hình giáo dục, phương pháp tiếp cận giá trị,...; những
vấn đề của dạy học như cấu trúc, bản chất, tính quy luật, mâu thuẫn, động lực…đặc
biệt là ảnh hưởng của môi trường đến giáo dục nhân cách của người học, làm thế nào
để nâng cao năng lực hợp tác cho người học.
Giáo trình “Tâm lý học đại cương”, tác giả Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Nxb
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Đại học sư phạm, xuất bản năm 2007 đã đưa ra khái niệm về năng lực và nhấn mạnh
các mức độ của năng lực gồm: năng lực, tài năng, thiên tài, tác giả đề cập đến cách
phân loại của năng lực gồm năng lực chung và năng lực chuyên biệt trong đó hai loại
năng lực này luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau ,đồng thời nhấn mạnh mối quan hệ giữa
năng lực với tư chất, thiên hướng và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2008 tác giả Thái Duy Tuyên, đã đi sâu nghiên
cứu phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại, trong đó tác giả đề cập đến việc
cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống.Tác giả khẳng định cần kết hợp sử dụng
các phương pháp dạy học mới đặc biệt là những phương pháp và kĩ thuật dạy học phát
huy tính tích cực và sáng tạo của HS.Tác giả nhấn mạnh đến NLHT là một năng lực
quan trọng đối với con người cũng như đối với HS, bởi vì hầu hết các mối quan hệ của
con người đều là hợp tác.
Cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử”, do GS Trịnh Đình Tùng chủ
biên, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, xuất bản năm 2013 đã đề cập đến nhiều vấn đề
về PPDH lịch sử hết sức phong phú, từ việc sử dụng di sản văn hóa đến các phương
pháp dạy học theo dự án, dạy học hợp tác, thực hành bộ môn, tự học Lịch sử của học
sinh… Tác giả khẳng định sự cần thiết phải chuyển đổi phương pháp dạy học từ dạy
kiến thức sang dạy cách học cho học sinh, chú trọng đến phát triển năng lực cho các
em, trong đó nhấn mạnh năng lực hợp tác là khả năng tương tác lẫn nhau, trong đó mỗi
học sinh thể hiện sự tích cực, tự giác, sự tương tác trực diện và trách nhiệm cao trên cơ
sở huy động những tri thức, kĩ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả nhiệm
vụ chung.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường THPT”, Nxb Đại Học
Quốc Gia Hà Nội, xuất bản năm 2014 tác giả Vũ Quang Hiển - Hoàng Thanh Tú đã
đưa ra các PPDH theo định hướng phát triển NL của học sinh, trong đó tác giả đi sâu
phương pháp làm việc nhóm và nhấn mạnh đến phát triển NLHT cho học sinh.
Cuốn sách “Dạy và học tích cực, Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học” của
Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà, Nxb Đại học sư phạm, xuất bản năm 2015, đã đề
cập đến các phương pháp và kĩ thuật dạy học như: làm việc nhóm, hợp tác, sơ đồ tư duy,
kĩ thuật khăn trải bàn, theo dự án,... nhằm phát huy tối đa khả năng, hình thành năng lực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
của người học.Tác giả nhấn mạnh dạy học phát triển năng lực hợp tác sẽ tăng cường sự
tham gia tích cực của học sinh, tạo điều kiện phân hóa trình độ, đáp ứng các phong cách
học, phát huy khả năng tối đa của người học, đảm bảo cho người học không những học
“sâu” mà còn học “thoải mái”. Qua đó, hình thành các kỹ năng hợp tác, giao tiếp, trình
bày, tìm kiếm, thu thập, xử lí thông tin, giải quyết vấn đề... Đồng thời khuyến khích giáo
viên tìm tòi, sáng tạo, linh hoạt trong áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học phù
hợp với đối tượng học sinh và bối cảnh địa phương.
Cuốn giáo trình “Kiểm tra đánh giá trong giáo dục”của PGS. TS. Nguyễn Công
Khanh, PGS. TS. Đào Thị Oanh, Nxb Đại học sư phạm, xuất bản năm 2015 đã nhấn
mạnh đến việc kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh, cấu trúc của năng lực, làm thế
nào để phát triển năng lực của học sinh, năng lực cốt lõi của học sinh trong đó năng lực
hợp tác có vai trò vô cùng quan trọng trong thời đại ngày nay.
Cuốn sách “Đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học cơ sở” của Trần
Kiều, Trần Đình Châu, Phan Thị Luyến, Đặng Thị Thu Thủy, NXB Giáo dục Việt
Nam, xuất bản năm 2017 đã khái quát về PPDH và đổi mới PPDH. Tác giả nhấn mạnh
đến hình thức học tương tác và học hợp tác.
Trong cuốn “Dạy học phát triển năng lực môn Lịch sử Trung học phổ thông”
của Nghiêm Đình Vỳ, Trần Thị Vinh, NXB Đại học Sư phạm, xuất bản năm 2018 đã
khái quát một số vấn đề lí thuyết về năng lực, phát triển năng lực, tiếp cận năng lực,
phương pháp tổ chức dạy học phát triển năng lực, kiểm tra đánh giá trong giáo dục nói
chung và giáo dục phổ thông nói riêng, trong đó giới thiệu chi tiết cấu trúc, các mức
độ phát triển các năng lực cốt lõi; trình bày một số cách học, phương pháp dạy học môn
học. Tác giả nhấn mạnh đến năng lực cốt lõi hình thành cho học sinh là năng lực hợp
tác, đồng thời khẳng định phương pháp dạy học hợp tác là phương pháp đang được áp
dụng vì có tính thực tiễn cao, khắc phục được cách học một chiều thầy cô giảng bài -
học sinh ghi chép thụ động trước kia.
Ngoài các công trình kể trên còn phải kể đến các bài báo, tạp chí, luận án tiến
sĩ, luận văn thạc sĩ về Lý luận và PP dạy học LS.
Luận án tiến sĩ“ Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh Trung học cơ sở qua
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tác giả Lê Thị Minh Hoa đã đề cập đến việc phát
triển năng lực hợp tác cho học sinh, thực trạng phát triển năng lực hợp tác, biện pháp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
giáo dục nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh Trung học cơ sở qua hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Luận văn“Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt
Nam (1945-1954) THPT - Chương trình chuẩn” của Nguyễn Văn Minh đã đưa ra khái
niệm về năng lực, hợp tác, năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử, phát triển NLHT
trong dạy học lịch sử, nội dung của năng lực hợp tác cần phát triển cho học sinh trong
dạy học Lịch sử ở trường THPT. Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp phát triển
NLHT cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam 1945-1954 ở trường THPT.
Bài báo “Đánh giá năng lực hợp tác của học sinh trong dạy học ở trường Trung
học phổ thông” đăng trên Tạp chí giáo dục tháng 6/2015 của TS.Lê Thị Thu Hiền đã
đưa ra khái niệm hợp tác, năng lực, năng lực hợp tác, chuẩn đầu ra về năng lực hợp tác,
bộ đánh giá năng lực hợp tác của học sinh trong dạy học, xây dựng tiêu chí đánh giá
năng lực hợp tác, phương pháp đánh giá năng lực hợp tác của HS. Bài
báo“Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học Lịch Sử ở trường Trung
học phổ thông” đăng trên Tạp chí giáo dục Số đặc biệt tháng 8/2017 của Lê Thị Thùy
Dương nhấn mạnh năng lực hợp tác là năng lực cốt lõi cần hình thành và phát triển cho
học sinh, hợp tác được thể hiện qua những hành động kĩ năng thái độ của học sinh được
vận dụng một cách linh hoạt mềm dẻo có hiệu quả trong môi trường làm việc nhóm
nhằm hướng đến mục tiêu học tập chung. Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp phát
triển NLHT cho học sinh trong dạy học Lịch sử.
Qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã cho thấy vai trò, ý nghĩa
quan trọng của việc phát triển NLHT cho học sinh trong dạy học. Phát triển NLHT là
một xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới và là xu thế tất yếu trong quá trình
đổi mới ở nước ta hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường
THPT và một số biện pháp phát triển NLHT cho học sinh trong DHLS.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung đi sâu vào các biện pháp góp phần phát triển
NLHT cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT
- Về địa bàn khảo sát: Các trường THPT trên địa bàn huyện Lương Tài - tỉnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Bắc Ninh (THPT Lương Tài, THPT Lương Tài 2 và THPT Lương Tài 3).
- Về hình thức tổ chức dạy học: Tập trung vào bài nội khóa và ngoại khóa
- Về địa bàn thực nghiệm: THPT Lương Tài, Bắc Ninh.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, khái quát những vấn đề lý luận, thực tiễn và ý nghĩa của
việc phát triển năng lực và hợp tác trong dạy học môn lịch sử, đề tài tập trung xác định
và làm rõ một số biện pháp có tác dụng nâng cao NLHT cho học sinh, góp phần phát
triển năng lực nhận thức, giải quyết các vấn đề để đạt được mục đích học tập, góp phần
nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ các nội dung sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển NLHT cho học sinh trong DHLS ở
trường THPT.
- Tiến hành khảo sát thực tiễn, điều tra cơ bản đối với giáo viên và học sinh ở
một số trường THPT để đánh giá thực trạng việc phát triển NLHT cho học sinh trong
dạy học Lịch sử.
- Khai thác nội dung chương trình SGK Lịch sử Việt Nam lớp 12 THPT.
- Đề xuất các biện pháp sư phạm để phát triển NLHT cho học sinh trong dạy
học LSVN 12 (1919 - 2000)
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khoa học và tính
khả thi của các biện pháp mà chúng tôi đề xuất trong đề tài.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về công tác giáo dục, dạy học lịch sử.
Quan điểm lí luận dạy học trong Giáo dục học, Tâm lý học, Phương pháp dạy học bộ
môn LS.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của
Đảng nhà nước, các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học LS,
phương pháp luận sử học và các cuốn sách chuyên khảo LS có liên quan về giai đoạn
đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn thực tiễn việc dạy học LS ở trường
THPT bằng nhiều hình thức khác nhau như thông qua phiếu điều tra,dự giờ, khảo sát,
phỏng vấn, thăm dò ý kiến của GV, HS.
- Phương pháp thống kê toán học, tập hợp và xử lý các số liệu thu được qua điều
tra, thực nghiệm bằng cách sử dụng các công cụ toán học như bảng biểu, giá trị trung
bình cộng, độ lệch chuẩn…
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm
từng phần để kiểm chứng tính khả thi của những biện pháp mà luận văn đề xuất. Thực
nghiệm dạy một bài cụ thể ở lớp 12. Trong khi tiến hành thực nghiệm có lựa chọn đối
tượng thực nghiệm và đối tượng đối chứng. Thực nghiệm được tiến hành chủ yếu ở
trường THPT Lương Tài - Bắc Ninh.
6. Giả thuyết khoa học và đóng góp của luận văn
6.1. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng các biện pháp phát triển năng lực hợp tác trong dạy học LSVN
lớp 12 đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đặt ra sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học
lịch sử ở các trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh.
6.2. Đóng góp của đề tài
- Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của việc phát triển năng lực
hợp tác trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở các trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc
Ninh, đề tài góp phần làm phong phú hơn lý luận dạy học bộ môn lịch sử nói chung,
phát triển năng lực cho học sinh nói riêng trong quá trình dạy học lịch sử ở trường
THPT,
- Khái quát bức tranh về thực trạng phát triển năng lực hợp tác trong dạy học
LSVN lớp 12 ở các trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh.
- Xác định các hình thức và biện pháp phát triển năng lực hợp tác trong dạy học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LSVN lớp 12 ở trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh, từ đó góp phần đổi mới
phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần làm phong phú thêm về lí luận và phương
pháp dạy học bộ môn Lịch sử trong việc phát triển khả năng học và vận dụng lịch sử.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp GV môn LS ở trường
THPT vận dụng vào thực tiễn dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn.
Đồng thời, đề tài cũng là nguồn tài liệu tham khảo với sinh viên trường sư phạm, các
bạn đồng nghiệp, đặc biệt là những GV giảng dạy bộ môn Lịch sử tại trường phổ thông.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được cấu
trúc thành 2 chương.
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển NLHT cho học sinh
trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
Chương 2: Một số biện pháp phát triển NLHT cho học sinh trong dạy học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh.
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1.1. Năng lực
NL là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử, song trở nên phổ biến và
được tập trung nghiên cứu bắt đầu từ những năm 70 thế kỉ XX với nhiều quan điểm
tiếp cận và cách định nghĩa khác nhau, chẳng hạn “Năng lực là tập hợp các kiến thức,
kỹ năng và thái độ phù hợp với một hoạt động thực tiễn”[11, tr.15-16]; “Năng lực được
xây dựng dựa trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị như là các khả năng, hình thành
qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí” [12, tr 29-30]; “
Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải
quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội. . . và khả năng
vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những
tình huống linh hoạt” [3, tr 54-55].
Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003) lại định nghĩa: “Năng lực là đặc điểm của
cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và
chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó” [23, tr.21].
Tài liệu hội thảo chương trình GDPT tổng thể trong chương trình GDPT mới
của Bộ GD&ĐT xếp NL vào phạm trù hoạt động khi giải thích:“Năng lực là khả năng
thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng
hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý
chí,... NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá
nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [6, tr.5]. Hệ thống NL trong chương
trình được phân loại thành NL chung và NL đặc thù môn học.“NL chung là NL cơ bản,
thiết yếu mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc. Các hoạt
động giáo dục với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và
PT các NL chung của HS” [6, tr.7]. Hệ thống những NL chung bao gồm: NL tự học;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
NL giải quyết vấn đề và sáng tạo; NL thẩm mĩ; NL thể chất; NL giao tiếp; NL hợp tác;
NL tính toán; NL công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Còn “NL đặc thù môn
học là NL mà môn học có ưu thế hình thành và phát triển. Một NL có thể là NL đặc thù
của nhiều môn học khác nhau” [6, tr.8].
Dựa trên các quan niệm ở trên chúng tôi định nghĩa như sau: Năng lực được coi
là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân để thực hiện một
nhiệm vụ có hiệu quả. Năng lực được bộc lộ thông qua các hoạt động hành động, công
việc.... Thông qua quá trình rèn luyện, học tập và thực hành NL ngày càng phát triển,
hoàn thiện đảm bảo cho cá nhân đạt được hiệu quả cao trong một lĩnh vực cụ thể tương
ứng với NL mà mình có.
Từ các định nghĩa về năng lực, nhiều tác giả đề xuất mô hình cấu trúc năng lực
dựa trên nguyên lý tảng băng gồm có ba thành tố chính: Hành động, suy nghĩ và tính
sẵn sàng của người học (Hình 1.1). “Hành động” chính là hành vi của người học mà
chúng ta có thể quan sát được trong quá trình học tập. “Suy nghĩ” được tạo nên từ kiến
thức, kỹ năng, thái độ, chuẩn giá trị, niềm tin, … Những đặc tính này có đặc điểm
không quan sát được, nhưng thường được các nhà giáo dục đánh giá thông qua việc
thực hiện các nhiệm vụ học tập của người học (hành vi). Nguồn gốc để hình thành nên
“suy nghĩ”, chính là xuất phát từ “tính sẵn sàng” được tạo thành bởi động cơ, phẩm
chất, nét nhân cách của người học. Nói cách khác, “suy nghĩ” và “tính sẵn sàng” chính
là điều kiện cần và đủ để tạo ra “hành động”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hình 1.1. Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực [21, tr.23]
Trong quá trình đào tạo, các nhà giáo dục đều nhận ra rằng, để đánh giá kết quả
học tập của người học, chúng ta không chỉ đánh giá bề nổi - những gì người học thể
hiện ra, mà còn phải tập trung khai thác các đặc điểm tiềm ẩn của người học (phần
chìm).
Xác định các năng lực chuyên biệt trong môn lịch sử.
Có nhiều quan niệm khác nhau trong việc xây dựng chuẩn các kỹ năng chuyên
biệt trong dạy học từng môn học ở trường phổ thông như: Xây dựng các năng lực
chuyên biệt từ những năng lực chung (năng lực cốt lõi); xây dựng các năng lực chuyên
biệt từ đặc thù kiến thức của bộ môn...
Ở cách tiếp cận thứ nhất, chúng ta xác định các năng lực chung mà toàn bộ quá
trình giáo dục ở trường phổ thông đều phải hướng tới để hình thành cho người học. Sau
đó, ở từng môn học cụ thể sẽ xác định sự thể hiện cụ thể của các năng lực chung trong
môn học. Ở cách tiếp cận thứ hai, chúng ta dựa trên đặc thù nội dung, phương pháp
nhận thức và vai trò của môn học đối với thực tiễn để đưa ra hệ thống năng lực cần
hình thành cho học sinh. Ở đây chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận thứ nhất để xác định
hệ thống năng lực cần hình thành, phát triển và là cơ sở để đánh giá kết quả học tập của
các em trong dạy học bộ môn LS ở trường phổ thông. Đối với dạy học Lịch sử ở trường
phổ thông, các năng chung sẽ được cụ thể hóa như bảng sau:
Bảng 1.1. Các năng lực chuyên biệt trong môn lịch sử
STT
Năng lực chung
Biểu hiện trong môn Lịch sử
I Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản than
- Kỹ năng khai thác lược đồ, bản đồ, tranh ảnh lịch sử, phim tư liệu để tìm kiếm nội dung lịch sử thông qua
kênh hình. - Đọc và phát hiện kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa
Lịch sử. - Khả năng tự tìm kiếm kiến thức lịch sử thông qua tài liệu
1
Năng lực tự học
tham khảo. - Kỹ năng kết hợp đọc sách giáo khoa với nghe giảng với
tự ghi chép. - Khả năng trả lời câu hỏi và tự đặt câu hỏi - Khả năng tự hệ thống hóa kiến thức ôn tập, củng cố kiến thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
STT
Năng lực chung
Biểu hiện trong môn Lịch sử
2
Năng lực giải quyết vấn đề
tạo
3
lực sáng Năng (năng lực tư duy)
- Kỹ năng nhận thức và giải quyết một vấn đề lịch sử. - Khả năng vận dụng kiến thức lịch sử để làm bài tập lịch sử. - Kỹ năng đưa ra được cách thức câu trả lời cho các câu hỏi đã đặt ra. - Kỹ năng lựa chọn được các cách thức giải quyết vấn đề lịch sử, vấn đề, tình huống thực tiễn một cách tối ưu. - Kỹ năng trình bày diễn biến cuộc kháng chiến, trận đánh, chiến dịch, cuộc chiến tranh trên lược đồ, sơ đồ, bản đồ lịch sử. - Kỹ năng vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cuộc sống, hay các vấn đề thời sự đang diễn ra trong nước và thế giới. - Kỹ năng xác định và giải quyết được mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện lịch sử với nhau. - Tư duy tái tạo (kỹ năng ghi nhớ sự kiện;Tưởng tượng, kỹ năng tái tạo...) - Tư duy sáng tạo (KN so sánh; kỹ năng phân tích; kỹ năng phản biện; kỹ năng khái quát hóa...) - Kỹ năng trả lời câu hỏi, bài tập lịch sử một cách sáng tạo. - Kỹ năng nhận xét, rút ra bài học kinh nghiệm từ những sự kiện, hiện tượng, nhân vật, vấn đề lịch sử.
II. Nhóm năng lực về quan hệ xã hội
4
Năng lực giao tiếp
5
Năng lực hợp tác, hội nhập
- Khả năng sử dụng được ngôn ngữ lịch sử để trình bày một nội dung kiến thức, - Diễn đạt được ngôn ngữ lịch sử qua các thời kì, tránh hiện đại hóa lịch sử. - Sử dụng ngôn ngữ để biểu cảm và tái hiện cảm xúc lịch sử. - Kỹ năng làm việc theo nhóm, tập thể để giải quyết một nhiệm vụ học tập. - Kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử
III. Nhóm năng lực công cụ
6
Năng lực sử dụng côn tin và thông nghệ truyền thông (ICT)
lực sử dụng
7
Năng ngôn ngữ
8
Năng lực tính toán
Kỹ năng khai thác internet (thông tin tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, phim tư liệu...) để tìm kiếm nội dung kiến thức lịch sử. - Kỹ năng sử dụng phần mềm dạy học như sơ đồ tư duy, Powerpoint trình để trình bày nội dung lịch sử - Kỹ năng trình bày, lập luận, thể hiện chính kiến của mình về một nội dung kiến thức lịch sử bằng ngôn ngữ viết. - Kỹ năng thuyết trình bằng lời nội dung kiến thức lịch sử. Sử dụng thống kê toán học trong học tập bộ môn lịch sử như vẽ sơ đồ, biểu đồ, đồ thị lịch sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nguồn: [7, tr. 47]
1.1.1.2. Hợp tác
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, hợp tác có nghĩa là “chung sức, giúp đỡ
qua lại với nhau” [23, tr.57]. Theo từ điển Tâm lí học “Hợp tác là hai hay nhiều bộ
phận trong một nhóm cùng làm việc theo cùng một cách thức để tạo ra một kết quả
chung” [38, tr.45].
Các định nghĩa về hợp tác xét về nội hàm gồm những dấu hiệu cơ bản sau đây:
Có mục đích chung trên cơ sở mọi người đều có lợi; Công việc được phân công phù
hợp với năng lực của từng người; Bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ nguồn lực và
thông tin, tự nguyện hoạt động;Các thành viên trong nhóm phụ thuộc lẫn nhau, trên cơ
sở trách nhiệm cá nhân cao;Cùng chung sức, giúp đỡ hỗ trợ, khích lệ tinh thần tập thể
và bổ sung cho nhau.
Có thể hiểu, hợp tác là sự kết hợp giữa hai hoặc nhiều người thành một nhóm,
trong đó mỗi người đảm nhận một vai trò khác nhau và cùng phối hợp, giúp đỡ, chia
sẻ lẫn nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ chung nào đó.
Muốn hợp tác thành công cần có các yếu tố sau: (1) Đặt mục tiêu chung: Điều
quan trọng khi hợp tác là cả nhóm cần nhận thức mục tiêu chung và cam kết phấn đấu
thay vì chỉ chú trọng quan điểm của từng cá nhân. Mặc khác, sự kỳ vọng rõ ràng về kết
quả công việc sẽ giúp các thành viên giữ vững tinh thần trách nhiệm và phát huy hết
khả năng của họ; (2) Lắng nghe người khác: Trong một số trường hợp, các thành viên
có thể gặp thiếu sót khi đưa ra ý kiến. Vì vậy, cần tôn trọng và lắng nghe khi họ trình
bày và chia sẻ. Từ đó, dễ dàng phát hiện ra những sai sót và đưa ra các góp ý cần thiết.
Điều này sẽ giúp những ý tưởng trong công việc được hoàn thiện và nhóm phát triển
hơn. (3) Trợ giúp lẫn nhau: Không nên nghĩ đến lợi ích cá nhân mà nên vì kết quả
chung của toàn nhóm. Các thành viên cần phải hỗ trợ và sẵn sàng chia sẻ công việc với
nhau nếu đồng đội gặp khó khăn. Điều này sẽ giúp tạo nên sự gắn bó và động lực thúc
đẩy sự tiến bộ của tất cả mọi người và rút ngắn thời gian hoàn thành công việc nhóm.
(4)Tinh thần trách nhiệm: Trong quá trình hợp tác, tinh thần trách nhiệm với công việc
và nhóm cần đặt lên hàng đầu; (5) Kiềm chế cảm xúc: Trong quá trình làm việc nhóm,
xảy ra mâu thuẫn là việc khó tránh khỏi bởi sự bất đồng quan điểm giữa các thành viên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nếu cảm xúc vượt quá giới hạn cho phép thì dễ dẫn đến việc mất đoàn kết trong nội bộ
và hiệu quả công việc bị giảm sút. Do vậy, cần biết kiểm soát bản thân, tôn trọng năng
lực, quan điểm và hành động của các thành viên khác để tạo nên sự đồng thuận, giảm
thiểu xung đột và nâng cao năng suất công việc; (6) Tiếp thu ý kiến từ người khác:
Thực tế, nhiều người thường có khuynh hướng cho rằng quan điểm của cá nhân là tốt
nhất và khó lòng chấp nhận ý kiến của bất kỳ ai. Điều này là sai lầm, bởi vì thông qua
ý kiến của người khác sẽ dễ dàng phát hiện ra nhiều khía cạnh của vấn đề. Vì vậy, cần
phải tôn trọng và tiếp thu ý kiến của các thành viên trong nhóm, trân trọng những đóng
góp của người khác để bản thân ngày một hoàn thiện hơn.
Hợp tác trong dạy học là sự kết hợp giữa tính tập thể và tính cá nhân thực hiện
các biện pháp có cơ sở khoa học để tổ chức, điều khiển các mối quan hệ vận động và
phát triển theo một trật tự nhất định nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học.Trong đó,
GV là người chỉ đạo hoạt động tự học của HS, giúp HS tự tìm ra tri thức qua quá trình
cá nhân hóa và xã hội hóa. HS là chủ thể tích cực của hoạt động học tập. Qua hợp tác,
HS trao đổi ý tưởng giúp nhau trong việc lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
và tự mình tìm kiếm tri thức bằng chính hành động của mình. Môi trường là nơi diễn
ra quá trình hợp tác làm cho tri thức đã cá nhân hóa được xã hội hoá. Sự tác động giữa
người dạy, người học và môi trường theo trật tự nhất định tạo nên sự thống nhất của
quá trình dạy học, làm cho quá trình này vận động tạo ra tri thức, kỹ năng, thái độ và
sự trưởng thành ở HS.
1.1.1.3. Năng lực hợp tác.
Năng lực luôn gắn với một hoạt động cụ thể, năng lực gắn với hoạt động hợp
tác trong nhóm gọi là năng lực hợp tác.
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh“Năng lực hợp tác là năng lực cá nhân
được dùng để hoàn thành nhiệm vụ được giao trong điều kiện được trao đổi cùng
với các thành viên khác trong nhóm” [29, tr.33]. Các thành tố của năng lực hợp tác
bao gồm: 1) Xác định được mục đích và phương thức hợp tác; 2) Xác định được các
hoạt động của bản thân; 3) Biết được khả năng của những người cùng hợp tác; 4)
Thuyết phục người khác cùng hoàn thành công việc; 5) Đánh giá được kết quả hoạt
động của cả nhóm và của bản thân và rút ra bài học kinh nghiệm sau khi hoạt động
nhóm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Theo tác giả Đặng Thành Hưng “NLHT là khả năng của cá nhân biết thích ứng
với tập thể nhóm, biết tự nhận trách nhiệm, chia sẻ công việc, giúp đỡ cộng sự và thực
hiện có hiệu quả những thỏa thuận trong nhóm như kế hoạch đã đề ra. Năng lực hợp
tác là khả năng tương tác lẫn nhau, trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác,
sự tương tác trực diện và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức,
kĩ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ chung. NLHT là khả năng
tổ chức và quản lí nhóm, thực hiện các hoạt động trong nhóm một cách thành thạo, linh
hoạt, sáng tạo nhằm giải quyết nhiệm vụ chung có hiệu quả” [25, tr.34].
1.1.1.4. Năng lực hợp tác trong dạy học lịch sử.
Trong dạy học Lịch sử, NLHT là một trong tám năng lực cốt lõi quan trọng cần
hình thành cho học sinh. Giáo viên thông qua kiến thức LS, dựa vào các đặc điểm của
tri thức LS như tính quá khứ, tính không lặp lại, tính thống nhất giữa “sử” và “luận”…,
GV tổ chức các hoạt động cụ thể giúp HS tự giác tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm
lĩnh tri thức. Từ đó, góp phần hình thành và phát triển NLHT nói riêng và các năng lực
bộ môn nói chung cho HS.
NLHT trong DHLS là cách dạy học bám sát với đặc trưng bộ môn từ đó phát
huy được tính chủ động tích cực, sáng tạo của người học. Đó là cách dạy học chuyển
quá trình thuyết giảng một cách áp đặt của người dạy thành quá trình tự học, tự tìm tòi,
khám phá của người học. Trong đó, sự trải nghiệm và tự kiến tạo kiến thức cho bản
thân của người học có vai trò hàng đầu. Những nỗ lực cá nhân của học sinh là trung
tâm của quá trình dạy học. Người học phải tự tạo dựng sự hiểu biết của riêng mình là
chủ yếu chứ không chỉ đơn giản là tiếp thu một cách thụ động từ môi trường bên ngoài.
Vì thế, người giáo viên khéo léo đặt vấn đề và tổ chức cho học sinh tự tìm tòi khám
phá, phát hiện, hợp tác, chia sẻ, sàng lọc ý kiến, để giải quyết vấn đề.Tất cả học sinh
đều được làm việc và thực hành luyện tập, biết giúp đỡ lẫn nhau, giải quyết được những
vấn đề khó và tìm ra cái mới trong bài học, tạo thái độ học tập tích cực, đặc biệt giúp
các em rèn luyện phong cách làm việc hợp tác. Khi tổ chức cho học sinh phân tích,
thảo luận, đánh giá các sự kiện lịch sử học sinh có thể nêu ra nhiều ý kiến khác nhau.
Đồng thời lại biết lắng nghe ý kiến người khác chia sẻ kết luận và cơ sở lập luận của
bạn, biết cách hợp tác công việc với bạn, qua việc học hỏi, hợp tác mà tri thức trở nên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ lâu. Hình thành NLHT có ý nghĩa rất quan trọng. Nó
giúp cho HS có được thành tích học tập tốt hơn nhờ sự cố gắng, tích cực của bản thân
cũng như sự chia sẻ, giúp đỡ của bạn bè; đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa cá nhân
và quan hệ xã hội, lĩnh hội nhiều giá trị xã hội, trưởng thành về nhân cách và hành vi
xã hội trong phạm vi nhỏ của trường học. Điều này tạo tiền đề vững chắc để khi bước
vào xã hội với những mối quan hệ phức tạp, HS không những nhanh chóng thích nghi
mà còn có thể xây dựng và hưởng lợi từ các mối quan hệ xã hội đó.. Đây còn là cơ hội
rèn luyện kỹ năng cho học sinh để sau này các em có thể mang theo hành trang ấy tự
tin bước vào đời. Do đó, mỗi HS cần trang bị ngay từ khi đang theo học trong nhà
trường cách học hợp tác để có thể sống và làm việc trong môi trường xã hôi rộng lớn
một cách tích cực, tràn đầy năng lượng và cuộc sống có ý nghĩa hơn rất nhiều. Đây
chính là điều kiện tiên quyết dẫn đến sự thành công của mỗi cá nhân trong cuộc sống.
Trong DHLS, năng lực hợp tác được biểu hiện ở những khía cạnh sau: HS chủ
động hoạt động nhóm để giải quyết các vấn đề học tập Lịch sử; Lựa chọn hình thức
làm việc nhóm với quy mô phù hợp yêu cầu,nhiệm vụ học tập Lịch Sử; Phân tích các
công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ, đánh giá khả năng của mình có thể
đóng góp vào hoạt động của nhóm; Theo dõi tiến độ hoàn thành công việc của từng
thành viên và cả nhóm để điều chỉnh các hoạt động phối hợp; Chủ động và gương mẫu
hoàn thành nhiệm vụ được giao,góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung; Chia sẻ
học hỏi các thành viên khác; Rút kinh nghiệm cho bản thân và góp ý cho từng thành
viên trong nhóm.
Như vậy, NLHT trong DHLS là rất cần thiết trong quá trình học tập của học
sinh nói chung và dạy học môn lịch sử nói riêng.
1.1.1.5. Phát triển năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử
Phát triển là sự lớn mạnh, trưởng thành hơn của cái mới so với cái cũ đã được
hình thành hay xuất hiện từ trước. Hay nói cách khác, phát triển là sự thay đổi của cái
mới tiến bộ hơn cái cũ. Nguyên nhân của sự phát triển là kết quả của quá trình tích lũy
đủ về lượng,từ đó tạo ra sự thay đổi về chất, là biển hiện của quy luật phủ định của phủ
định trong hiện thực khách quan.
Phát triển NL là quá trình biến đổi, tăng tiến các NL của HS từ mức độ thấp đến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
mức độ cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện làm cho việc học tập trở nên có mục
đích, hiệu quả. Phát triển NL đó là biểu hiện của sự tiến bộ trong nhận thức, thái độ,
hành động và kỹ năng học tập của HS trong nhóm, làm cho việc học tập ngày càng
hoàn thiện có kết quả tốt hơn. Phát triển NL là kết quả quá trình HS thường xuyên học
tập với nhau, có ý thức về nhiệm vụ của mình, của nhóm để hỗ trợ nhau, cộng tác với
nhau, tương tác lẫn nhau, tạo ra tính tích cực, hứng thú học tập đưa đến kết quả ngày
càng cao.Quá trình dạy học có mục tiêu hình thành năng lực hoạt động cho HS, trong
đó phát triển NLHT là một hướng đi tích cực, hoàn toàn phù hợp với xu thế dạy học
hiện đại.
Dựa vào những biểu hiện cụ thể của NLHT trong DHLS, phát triển NLHT trong
DHLS được thể hiện ở những điểm sau:
(1) Quá trình tăng dần và hoàn thiện về kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh
nghiệm. Sự tiến bộ trong nhận thức, thái độ, hành động và kỹ thuật học tập của học sinh
trong nhóm, làm cho việc học tập Lịch sử ngày càng hoàn thiện có kết quả tốt hơn.
(2) Học sinh thường xuyên học tập với nhau trong giờ học Lịch sử, có ý thức
về nhiệm vụ của mình, của nhóm để hỗ trợ nhau, cộng tác với nhau, tương tác lẫn nhau,
tạo ra tính tích cực, tính gắn bó trong nhiệm vụ học tập Lịch sử nói riêng và trong cuộc
sống hàng ngày nói chung.
Như vậy, để phát triển NLHT trong dạy học LS, yêu cầu tất cả các yếu tố như
mục tiêu, nội dung, phương pháp, kĩ thuật, phương tiện dạy học phải cùng phát huy
nhằm từng bước hoàn thiện các kĩ năng như hoạt động nhóm, xây dựng môi trường
hợp tác nhóm, giải quyết bất đồng, diễn giải, đánh giá,..Phát triển NLHT trong dạy học
LS vừa phải đảm bảo HS nắm vững được kiến thức LS, vừa phải đảm bảo các kĩ năng
hợp tác ở HS có sự tiến bộ. Tuy nhiên, để phát triển năng lực hợp tác trong dạy học
Lịch sử đòi hỏi phải có một quá trình lâu dài trong học tập, lao động, trải nghiệm, bản
thân luôn tích cực khám phá, muốn phát hiện cái mới, giải quyết mâu thuẫn xung đột
trong nhận thức, học tập và thực tiễn liên quan tới cuộc sống của học sinh. Điều đó
diễn ra dưới sự hướng dẫn điều khiển thường xuyên của giáo viên, bạn bè, môi trường
xung quanh. Vậy nên, việc phát triển năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử ở trường
THPT đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
1.1.2. Cơ sở xuất phát của việc phát triển năng lực hợp tác trong DHLS ở trường
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
THPT
1.1.2.1. Mục tiêu giáo dục đào tạo và mục tiêu bộ môn Lịch sử
Nhằm đổi mới, căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, Nhà nước ta đã đề ra
nhiều chính sách, biện pháp đồng bộ để triển khai thực hiện, trong đó có việc ban hành
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Có thể nói, đây là chính sách của nhà nước
thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, quy định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và
năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh
giá kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lý chất lượng giáo dục phổ thông; đồng thời là
cam kết của Nhà nước bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ
thông.
Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hóa mục tiêu giáo dục phổ thông là
“giúp học sinh phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích
cực, tự tin, có ý thức chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt
đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động
có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của
sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công
nghiệp mới” [6, tr.45].
Từ mục tiêu của giáo dục, xác định mục tiêu của cấp THPT: “Giáo dục THPT
nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn
thiện về những học vấn phổ thông và hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng
nghiệp, để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi
vào cuộc sống lao động" [6, tr.47]
Sau đây là bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nội dung và chương trình định hướng năng lực về mức độ học sinh cần đạt được:
Bảng 1.2. Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng
nội dung và chương trình định hướng năng lực
Chương trình định hướng năng lực
Mục tiêu giáo dục
Nội dung giáo dục
Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát,đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của học sinh một cách liên tục Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kế hoạch đã quy định, gắn với các tình hống thực tiễn. Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết.
Chương trình định hướng nội dung Mục tiêu dạy học được mô tả không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được Việc lựa chọn nội dung dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiễn. Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình
Phương pháp dạy học
là người Giáo viên truyền thụ tri thức, là trung tâm của quá trình dạy học. Học sinh sẽ tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn.
Hình thức dạy học Chủ yếu dạy học lí thuyết trên lớp học
Đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiêu chí đánh giá được xây dựng chủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và tái hiện nội dung đã học. - Giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức. Chú trọng đến sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp - Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành Tổ chức hình thức dạy học đa dạng; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học. Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đạt được, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn.
Nguồn: [7, tr. 17]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở lí
luận và thực tiễn, thể hiện tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của giáo dục phổ
thông, thông qua chức năng, nhiệm vụ, nội dung của môn học và tình hình nhiệm vụ
của đất nước trong những điều kiện cụ thể. Mục tiêu của môn LS ở trường THPT là
cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển của dân tộc và xã hội loài
người. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, bảo vệ tổ
quốc…Việc phát triển năng lực hợp tác trong dạy học LS sẽ góp phần giúp học sinh
thêm say mê, yêu thích môn Lịch sử từ đó thực hiện tốt mục tiêu môn học đề ra, cụ thể
như sau:
Về kiến thức: Xác định rõ những kiến thức cơ bản về các sự kiện lịch sử tiêu
biểu, trên cơ sở củng cố, phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học, hợp thành một
hệ thống kiến thức từ thời cổ đại đến nay.
Về kỹ năng: Tiếp tục hoàn thiện các kĩ năng cần thiết cho học tập lịch sử: như
biết thể hiện quan điểm cá nhân khi xem xét các sự kiện, nhân vật lịch sử, làm việc với
SGK và các nguồn sử liệu, biết phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá…biết làm việc
với bảng, biểu, sơ đồ, bản đồ, tranh ảnh lịch sử, có năng lực tự học, phát hiện, đề xuất
giải quyết vấn đề, đồng thời có năng lực tư duy và thực hành.
Về thái độ: Thông qua dạy học lịch sử, giáo dục cho HS về quan điểm lập trường,
tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, nhân cách, tình cảm theo quan điểm của CN Mác-Lênin,
tư tưởng HCM, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước. Tri thức lịch
sử không chỉ có tác dụng giáo dục trí tuệ, mà còn giáo dục cả tư tưởng, thái độ, góp
phần tích cực vào việc đào tạo con người VN một cách toàn diện
Việc học tập LS ở trường THPT góp phần nâng cao sự hiểu biết mà HS đã tiếp
thu ở trung học cơ sở, đặc biệt là trình độ lý thuyết trong nhận thức lịch sử và năng lực
hoàn thành các nhiệm vụ mà GV đề ra một cách thuần thục, đạt yêu cầu mức độ chương
trình học. Trên cơ sở các nhiệm vụ được hình thành và phát triển, giáo viên giúp học
sinh phát triển các năng lực chủ yếu: Năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề,
năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác… Đây cũng là những năng lực phù hợp với yêu
cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và toàn cầu khi bước vào thế kỉ XXI
mà UNESCO đã nêu ra: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
định mình”. Để đạt được ba mục tiêu đó, cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng phát triển năng lực. Việc phát triển NLHT trong DHLS cũng cần phải căn cứ
vào mục tiêu, yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và Chương trình
giáo dục phổ thông môn LS (Hình 1.2).
Hình 1.2. Mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông môn LS năm 2018
Nguồn:https://taphuan.csdl.edu.vn/learn/149086-144314/144286-144271-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
7/sphcmmon-lich-su.html
Hình 1.3. Yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông môn LS năm 2018
Nguồn:https://taphuan.csdl.edu.vn/learn/149086-144314/144286-144271-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
7/sphcmmon-lich-su.html
Để thực hiện được mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường THPT, nhằm đáp ứng
được yêu cầu của giáo dục, dạy học Lịch sử phải luôn tìm kiếm và vận dụng được
những phương pháp dạy học tích cực, giúp cho quá trình nhận thức của học sinh được
diễn ra một cách thuận tiện nhất, đạt hiệu quả cao nhất. Phát triển NLHT và các biện
pháp để phát triển NLHT là một trong những con đường, cách thức góp phần phát triển
nhận thức độc lập, tư duy sáng tạo, khả năng hợp tác của học sinh, nâng cao chất lượng
dạy học bộ môn và phát triển năng lực cốt lõi cho học sinh.
1.1.2.2. Đặc trưng của bộ môn LS
Môn Lịch sử giúp HS THPT phát triển năng lực sử học, đặc biệt là tư duy lịch
sử, các khả năng thu thập và xử lý sử liệu, kết nối quá khứ với hiện tại, vận dụng các
bài học lịch sử vào việc giải quyết những vấn đề của thực tế cuộc sống thông qua hệ
thống các chủ đề và chuyên đề về lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam. Bên cạnh đó,
môn Lịch sử giúp HS nhận thức được giá trị khoa học và giá trị thực tiễn của Sử học
trong đời sống xã hội hiện đại. Định hướng cho HS lựa chọn những ngành nghề liên
quan như: nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, ngoại giao, quản lý, lãnh đạo, hoạt
động du lịch, văn hoá, thông tin truyền thông,…thông qua việc phát triển năng lực sử
học và hiểu biết về giá trị thực tiễn của Sử học.
Để xác định đúng đắn các biện pháp sư phạm nhằm giúp HS nắm vững kiến
thức lịch sử, phát triển NL cho học sinh trước tiên cần phải hiểu rõ đặc trưng của khoa
học lịch sử:
LS mang tính quá khứ
Lịch sử là quá trình phát triển hợp quy luật của xã hội loài người từ lúc con
người và xã hội hình thành đến nay. Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra một lần
duy nhất, gắn với một khoảng thời gian, không gian và nhân vật cụ thể. HS không thể
“trực tiếp quan sát” được các sự kiện, hiện tượng, mà HS chỉ có thể nhận thức được
một cách “gián tiếp” thông qua các tài liệu được lưu giữ lại, hoặc nhận thức thông qua
bài giảng, hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên cũng không thể tiến hành thí nghiệm để
dựng lại quá khứ lịch sử đúng như nó tồn tại để cho học sinh quan sát. Bởi vậy, người
ta không thể trực tiếp quan sát được lịch sử quá khứ và chỉ nhận thức được chúng một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại, hoặc dựa vào các hiện tượng lịch sử
tương tự của cái mới, của các dân tộc khác để phân tích, suy nghĩ những vấn đề lịch sử
chúng ta đang nghiên cứu, dùng các loại tài liệu này để tham khảo chứ không thể thay
thế hiện tượng lịch sử khách quan mà chúng ta đang nghiên cứu.
Lịch sử mang tính không lặp lại:
Tri thức lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại về thời gian và cả không
gian. Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian nhất
định. Không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các
thời kì khác nhau hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, lặp lại, mà là sự kế
thừa phát triển “sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại”. Đời sống của xã hội loài người,
cũng như của mỗi dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình đã trải qua những
sự thay đổi lớn lao. Chính điều này buộc người giảng dạy lịch sử khi trình bày một sự
kiện, hiện tượng nào đó trong lịch sử, phải xem xét tính cụ thể cả về thời gian và không
gian làm nảy sinh sự kiện, hiện tượng đó. Qua đó nhận thấy các sự kiện lịch sử cụ thể,
riêng biệt song có mối quan hệ với kế thừa.
Lịch sử mang tính cụ thể: Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể
của các nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó. Lịch sử của mỗi nước, mỗi dân
tộc đều có diện mạo riêng, do những điều kiện riêng quy định. Mặt khác, các quốc gia,
các dân tộc khác nhau sống trên những khu vực khác nhau, tuy bị tác động của những
quy luật chung, trải qua quá trình phát triển, trình độ sản xuất không ngừng nâng cao,
đời sống văn hóa tinh thần của con người ngày càng phong phú, đa dạng nhưng tiến trình
phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc không hoàn toàn giống nhau.
Chính đặc điểm này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử, càng
cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu lại càng hấp dẫn bấy nhiêu. Song dù có sự
khác biệt, sự phát triển của lịch sử các dân tộc đều tuân thủ những quy luật chung sự
phát triển của xã hội loài người.
Lịch sử mang tính hệ thống (tính logic LS)
Khoa học lịch sử vừa bao gồm các sự kiện hiện tượng về cơ sở kinh tế, đấu tranh
xã hội, vừa bao gồm cả nội dung của kiến trúc thượng tầng, tình hình sản xuất và quan
hệ sản xuất…Nội dung tri thức lịch sử như vậy rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
của đời sống xã hội loài người, bao gồm cả chính tri, quân sự, kinh tế, văn hóa, nghệ
thuật, KHKT…SGK Lịch sử ở trường phổ thông tuy giản lược song cũng phải bao quát
được những mặt đó. Những nội dung tri thức lịch sử đó lại có mối quan hệ chằng chịt,
phức tạp. Điều này đòi hỏi người GV phải luôn luôn chú ý đến mối quan hệ ngang dọc,
trước sau của các vấn đề lịch sử, cũng như mối quan hệ ngang, nội tại giữa các mặt
chính trị, kinh tế, văn hóa để cung cấp cho HS những tri thức lịch sử khoa học mang
tính hệ thống và hoàn chỉnh
Lịch sử mang tính thống nhất giữa sử và luận:
Sử học là một ngành của khoa học xã hội. Từ trước đến nay, nhiều quốc gia,
nhiều dân tộc trên thế giới đã xuất hiện nhiều sử gia nổi tiếng. Họ đã tích lũy được
những tư liệu lịch sử phong phú và cũng trình bày những quan điểm tư tưởng về sử học
và phương pháp giải quyết những vấn đề lịch sử. Những ghi chép về quá trình phát
triển xã hội loài người từ những góc độ khác nhau, đó đều là những nội dung quan
trọng của di sản văn hóa nhân loại. Từ đặc điểm này mà trong giảng dạy lịch sử, người
GV phải đảm bảo sự thống nhất giữa trình bày sự kiện với giải thích bình luận đều phải
xuất phát từ sự kiện lịch sử cụ thể chính xác, đáng tin cậy và không có sự kiện, hiện
tượng nào không được giải thích làm sáng tỏ bản chất của sự kiện, hiện tượng đó. Đó
là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính Đảng của nghiên cứu và dạy học Lịch sử
theo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng HCM.
1.1.2.3. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới phương pháp dạy và học là nhiệm vụ thường xuyên, tuy nhiên phải liên
tục tư duy để tìm ra được những phương pháp mới hiệu quả hơn. Yêu cầu về đổi mới
phương pháp dạy và học sẽ ngày càng cấp thiết hơn khi sắp tới toàn ngành triển khai
chương trình giáo dục phổ thông mới với nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi không
chỉ là chữ tâm của mỗi nhà giáo đối với học sinh mà đó còn là trách nhiệm với những
thế hệ tương lai của đất nước.
Từ những định hướng chung về đổi mới phương pháp dạy học của Đảng, Nhà
nước thì việc đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử ở trường phổ thông cần chú
trọng vào khuyến khích học sinh học tập tích cực, chủ động chống lại thói quen học
tập tiêu cực, thụ động loại bỏ phương pháp dạy học truyền thụ một chiều, nhồi nhét
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
kiến thức, phải hướng vào năng lực tự học của học sinh, đa dạng hóa các hình thức,
phương pháp học tập để tạo điều kiện cho người học được học tập tích cực, tự khám
phá kiến thức và giải quyết vấn đề, tự rút ra kết luận trên cơ sở hướng dẫn, tổ chức và
gợi ý của giáo viên. Đồng thời, phải hướng tới sự tương tác, phối hợp giữa người dạy
và người học và giữa người học với nhau, coi trọng vốn hiểu biết, kinh nghiệm đã có
của người học và tăng cường sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại, đặc
biệt là ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin một cách hiệu quả.
Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, môn Lịch sử ở trường phổ thông nói
riêng là chuyển từ mô hình dạy học “lấy giáo viên làm trung tâm” sang mô hình “lấy
học sinh làm trung tâm” trong dạy học lịch sử là phát huy tính tích cực, độc lập nhận
thức của người học, phát triển khả năng tư duy. Hiện nay, yêu cầu đổi mới phương
pháp dạy học là chuyển từ cách dạy học theo quan điểm tiếp cận nội dung sang cách
dạy học tiếp cận năng lực người học. Quan điểm dạy học này không chỉ đề cao tính
chủ động trong nhận thức của học sinh, mà còn đặc biệt chú ý năng lực giải quyết vấn
đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Đồng thời gắn hoạt động
chí tuệ với hoạt động thực hành, đẩy mạnh quan hệ tương tác giữa giáo viên và học
sinh thông qua sự kết hợp các hình thức học tập, theo đó phát triển năng lực xã hội.
Theo quan điểm phát triển năng lực người học, việc đánh giá kết quả học tập của học
sinh không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra tái hiện kiến thức đã học, mà quan trọng nhất
là việc kiểm tra khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng
khác nhau và khả năng đánh giá thực tiễn cuộc sống. Như vậy, phương pháp dạy học
lịch sử luôn phải phù hợp với nội dung dạy học, nội dung nào thì phương pháp ấy,
không có phương pháp nào là vạn năng cho mọi nội dung khác nhau. Do đó, để thuận
lợi cho việc lựa chọn phương pháp dạy học tối ưu, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ nội
dung ở từng mục, theo đơn vị kiến thức một cách khoa học, rồi sử dụng phương pháp
ấy sao cho hiệu quả.
1.1.2.4. Đặc điểm tâm sinh lý HS
Lứa tuổi học sinh THPT được xác định vào khoảng 15-18 tuổi, đây là giai đoạn
đầu của lứa tuổi thanh niên. Hành động của các em ngày càng độc lập và có tinh thần
trách nhiệm cao. Các em luôn mở rộng mối quan hệ xung quanh, thầy cô và bạn bè.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Cùng với sự trưởng thành về mọi mặt, tính dựa dẫm phụ thuộc vào cha mẹ cũng được
thay bằng quan hệ tự lập, bình đẳng. Tuy nhiên lứa tuổi này vẫn phụ thuộc vào người
lớn về nhiều mặt, về kinh tế, hình thành đạo đức, thế giới quan và định hướng ngành
nghề.
Đối với HS THPT, nội dung và tính chất hoạt động học tập của các em khác rất
nhiều so với hoạt động của HS ở cấp dưới, sự khác nhau không chỉ ở nội dung học tập
ngày càng sâu sắc và trừu tượng hơn, mà hoạt động học tập của các em đòi hỏi tính độc
lập và năng động cao hơn nhiều. Nội dung, chương trình học tập giành cho người học
phải có tư duy, lý luận sâu sắc hơn, nhất là khả năng tự tổng kết và đánh giá.
Lứa tuổi 15-18 là giai đoạn bắt đầu trưởng thành, trong các em nảy sinh yêu cầu,
đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng đào tạo, cũng như chất lượng của GV. Ở lứa tuổi
này các em cũng dần dần ý thức về bước đi của mình trong tương lai, do đó ý thức học
tập của các em ngày càng phát triển. Thái độ của các em đối với môn học mang tính
lựa chọn nhiều hơn, bắt đầu hình thành tư tưởng hứng thú học tập các môn học gắn liền
với khuynh hướng nghề nghiệp. Có thể nói, ở giai đoạn này đã có sự phân biệt về trình
độ nhận thức giữa các môn học, hay chính xác hơn là hướng sự tập trung chính vào các
môn học theo các khối thi, hoặc các môn học có tính thời đại. Các hứng thú này bắt
nguồn từ định hướng nghề nghiệp của các em sau này.Các em thích tranh luận, bày tỏ
ý kiến , hợp tác để làm sáng tỏ những quan điểm của mình, có thể tập trung vào các
vấn đề mà các em cảm thấy hứng thú. Khi các em muốn chứng tỏ tư duy lí luận của
mình là đúng, hợp lý thì các em buộc phải học tập tích cực hơn và sẽ tìm tòi nghiên
cứu tài liệu một cách khoa học để dựa vào đó làm cơ sở tranh luận làm sáng tỏ quan
điểm của mình.
1.1.3. Nội dung của NLHT cần phát triển cho HS trong DHLS ở trường THPT
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy
học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng
lực vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề, tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho
con người năng lực giải quyết các tình huống trong cuộc sống và nghề nghiệp. Chương
trình này nhấn mạnh vai trò chủ thể của người học với tư cách là chủ thể của quá trình
nhận thức và người học cần phải đạt được các năng lực chung. Năng lực chung là năng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội.
Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều
môn học.
Qua nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm các nước phát triển, đối chiếu với yêu
cầu kinh tế - xã hội và điều kiện giáo dục trong nước những năm sắp tới, các nhà giáo
dục Việt Nam đã đề xuất chuẩn đầu ra về năng lực chung cần thiết được hình thành và
phát triển cho học sinh THPT thông qua Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch
sử (2018) được thể hiện dưới đây:
Hình 1.4. Các năng lực cốt lõi cần phát triển cho HS theo Chương trình giáo dục
phổ thông tổng thể
Nguồn: https://taphuan-forum.csdl.edu.vn/topic/ , ngày 13/8/2019.
Như vậy, NLHT là một trong 10 NL chung cốt lõi cần phát triển cho HS. NLHT
là sự tổng hợp, đan xen của nhiều thành tố liên quan mật thiết với nhau, trong đó nội
dung của NLHT được xác định bởi ba yếu tố cơ bản là: Kiến thức, kĩ năng và thái độ
hợp tác: Kiến thức hợp tác là nêu được khái niệm, mục đích, ý nghĩa hợp tác; phân tích
được quy trình hợp tác, các hình thức hợp tác; Trình bày được các cách tạo nhóm, kĩ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thuật hoạt động nhóm, vai trò của từng vị trí trong nhóm... Các kỹ năng hợp tác gồm
các KN thành phần như sau: KN tổ chức nhóm hợp tác, KN lập kế hoạch hợp tác, KN
tạo môi trường hợp tác, KN giải quyết mâu thuẫn, KN diễn đạt ý kiến, KN lắng nghe
và phản hồi, KN viết báo cáo, KN tự đánh giá, KN đánh giá lẫn nhau. Đây là thành tố
biểu hiện cao nhất của NLHT. Thái độ hợp tác: Tích cực hoạt động nhóm: Các thành
viên trong nhóm tích cực tham gia hoạt động nhóm và động viên nhau cùng tham gia;
Chung sức hoàn thành nhiệm vụ: Các thành viên trong nhóm đồng tâm, hợp lực hoàn
thành nhiệm vụ chung của nhóm, có trách nhiệm với sự thành công của nhóm; Chia sẻ,
giúp đỡ lẫn nhau: Các thành viên trong nhóm tôn trọng chia sẻ, ủng hộ, giúp đỡ lẫn
nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ.
Trong ba yếu tố cấu thành NLHT thì kỹ năng hợp tác là yếu tố cần và quan
trọng, bởi vì muốn làm tốt công việc, con người phải có kĩ năng. Kỹ năng không chỉ
đòi hỏi con người phải có kiến thức sâu sắc và thái độ đúng đắn về đối tượng mà phải
biết vận dụng vốn kiến thức và thái độ đó để hành động đúng, đạt kết quả cao. Trải qua
quá trình học tập rèn luyện, kĩ năng của HS sẽ dần trở nên thành thục, uyển chuyển và
là “tài sản” quý giá của mỗi người. Từ việc phát triển được các kỹ năng hợp tác, học
sinh cũng sẽ có kiến thức và thái độ đúng đắn trong quá trình hợp tác.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu của các tác giả trong
và ngoài nước, cùng với việc căn cứ vào mục tiêu giáo dục HS THPT, mục tiêu giáo
dục của bộ môn Lịch sử, biểu hiện của NLHT trong DHLS, chúng tôi xác định hệ thống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
NLHT cần phát triển cho học sinh trong quá trình DHLS ở trường THPT qua bảng sau:
Bảng 1.3: Hệ thống năng lực hợp tác
STT 1
Tên năng lực Năng lực tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử
2
3
Năng lực thực hành bộ môn lịch sử Xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử với nhau.
4
So sánh, phân tích, phản biện, khái quát hóa
5
Biểu hiện Học sinh tái hiện lại các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu có ảnh hưởng đến lịch sử thế giới và dân tộc. Học sinh quan sát, đọc và trình bày diễn biến trên bản đồ, lược đồ… Học sinh xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử với nhau, thông qua đó lí giải được mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử. Đó là chỉ ra mối quan hệ của các sự kiện, hiện tượng với hoàn cảnh lịch sử, với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong và ngoài nước; những tác động tích cực hoặc tiêu cực của tình hình thế giới đối với lịch sử Việt Nam...qua đó lí giải nguồn gốc,bản chất của mối quan hệ, tác động qua lại giữa sự kiện, hiện tượng lịch sử đó. Học sinh so sánh, phân tích một nhân vật hay một sự kiện lịch sử, phản biện các nhận định, luận điểm lịch sử, khái quát một giai đoạn.Từ đó thấy được tác động, ảnh hưởng của sự kiện đối với sự phát triển của lịch sử. Học sinh nhận xét, đánh giá các vấn đề lịch sử, các hoạt động kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao...rút ra bài học lịch sử.
6
7
Nhận xét, đánh giá, rút ra bài học lịch sử từ những sự kiện, hiện tượng, vấn đề lịch sử. Vận dụng, liên hệ kiến thức lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn đạt ra Thông qua sử dụng ngôn ngữ lịch sử thể hiện chính kiến của mình về các vấn đề lịch sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Học sinh biết vận dụng kiến thức lịch sử và liên hệ với thực tiễn để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống hiện nay: xung đột trên thế giới, tranh chấp biên giới, biển đảo... Học sinh biết sử dụng ngôn ngữ lịch sử qua các thời kì để trình bày, lập luận các vấn đề lịch sử, qua đó thể hiện được chính kiến của mình về các vấn đề đó, như lập luận khẳng định hoặc phủ định các nhận định. Học sinh nhận xét về một sự kiện, hiện tượng, vấn đề hay nhân vật lịch sử...
Trên đây là bảng hệ thống năng lực hợp tác và được biểu hiện ở từng mức độ
nhận thức, hành động của học sinh trong dạy học Lịch sử từ nhận biết đến quan sát, so
sánh, đánh giá, vận dụng vào thực tiễn đời sống.Vì vậy, việc phát triển NLHT trong
dạy học cần trải qua một quá trình rèn luyện của cả HS và giảng dạy của GV.
1.1.4. Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy
học lịch sử.
1.1.4.1. Vai trò của việc phát triển NLHT trong dạy học lịch sử
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin kiến thức không
còn là tài sản riêng của trường học. Học sinh có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn
khác nhau. Các nguồn thông tin đa chiều mà người học có thể tiếp nhận đã đặt giáo dục
trước yêu cầu cấp bách là phải đổi mới cách dạy và cách học. Xu hướng dạy học theo
hướng tiếp cận năng lực người học để phát triển năng lực đang là mục tiêu của nền giáo
dục hiện đại nhằm đào tạo những con người phát triển toàn diện trước yêu cầu xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Trong các năng lực cốt lõi thì việc phát triển năng lực hợp tác cho
học sinh trong dạy học Lịch sử có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với học tập
Lịch sử mà còn vô cùng cần thiết trong cuộc sống.
Đối với nhà trường: Phát triển NLHT cho học sinh giúp nâng cao hiệu quả của
nhà trường trong nhiệm vụ phát triển nhận thức, nhân cách, tình cảm của HS. Nhà
trường trở thành một xã hội thu nhỏ, trong đó mỗi HS được bình đẳng, có cơ hội được
giáo dục và phát triển như nhau, đồng thời cải thiện các mối quan hệ xã hội có tính chất
giới, tôn giáo, thành phần của HS trong phạm vi nhà trường. Nâng cao được chất lượng
giáo dục của trường, đào tạo những con người có các kĩ năng tư duy, kĩ năng cộng tác,
giao tiếp; tạo cho HS lòng tin vào kiến thức hàn lâm.
Đối với giáo viên: Phát triển NLHT giúp cho GV:
(1) Đạt được mục tiêu: nâng cao chất lượng bài giảng và hình thành, phát triển
các kĩ năng sống, nhân cách cho HS.
(2) Tạo mối quan hệ thầy trò gần gũi, giúp nhiều cho GV trong quá trình giáo
dục HS, nhất là HS cá biệt.
(3) GV có cơ hội thể hiện nhiều vai trò khác nhau, không chỉ là người truyền
thụ kiến thức, mà còn là người tổ chức, quản lí, giám sát, động viên cũng như nhắc nhở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
khi HS hoạt động hợp tác nhóm.
(4) GV cũng có cơ hội phát hiện những tiềm năng của HS, từ đó lên kế hoạch
bồi dưỡng để phát huy năng lực đó.
Đối với HS:
(1) HS được học cách cộng tác trên nhiều phương diện.Từ đó tạo thành công
trong học tập, HS đạt được thành tích tốt về kiến thức. Ưu điểm này đạt được trong quá
trình trao đổi học hợp tác, làm tăng khả năng khám phá, phát triển thao tác tư duy của
HS thông qua các hoạt động giải quyết mâu thuẫn; tìm kiếm, lựa chọn, phân tích thông
tin…
(2) Tăng cường khả năng tư duy phê phán cho HS, vì nhiệm vụ của mỗi cá nhân
là tìm kiếm, kiểm tra, đánh giá thông tin một cách hợp lí, sau đó lập kế hoạch và giải
quyết vấn đề. Hs được nêu quan điểm của mình, được nghe quan điểm của bạn khác
trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau và đưa ra lời
giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao cho nhóm. Qua cách học đó, kiến thức của HS sẽ
bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê phán
của HS được rèn luyện và phát triển.
(3) Phát triển năng lực hợp tác giữa các học sinh. Thông qua các hoạt động hợp
tác trong học tập, HS hình thành thói quen sống và làm việc có sự phân công cũng như
sự phụ thuộc lẫn nhau với các HS khác trong cộng đồng. Đây cũng là mục tiêu của giáo
dục: chuẩn bị cho xã hội những con người dễ thích nghi với cuộc sống thực tế.
(4) Phát triển các kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác. Các kỹ năng này
được hình thành và phát triển khi HS tham gia vào các hoạt động thảo luận, khi đó HS
phải biết cách trình bày ý kiến, bảo vệ ý kiến cá nhân, biết cách lắng nghe ý kiến người
khác… Ngoài ra khi làm việc trong nhóm, HS có cơ hội phát triển năng lực quản lí,
lãnh đạo, đưa ra các quyết định cần thiết.
(5) Tác động đến ý thức học tập của HS. Khi tham gia hoạt động học tập, HS sẽ
tự tìm tòi kiến thức, điều đó tác động tính cực đến sự nhận thức trình độ kiến thức của
cá nhân, từ đó HS sẽ có nhu cầu hoàn thiện kiến thức của bản thân bằng nhiều cách
khác nhau.
(6) Tạo tâm lí giờ học thoải mái cho HS. Trong bầu không khí thân thiện vui vẻ,
người học sẽ cảm giác hứng thú, tăng sức chịu đựng, làm việc lâu mệt mỏi. Các thành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân,
cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau.
(7) Giúp cho HS dễ hòa nhập xã hội. Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên hs, đặc
biệt là những em nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn; các em học được trình bày ý kiến của
mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp HS dễ hòa nhập vào cộng
đồng nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt, bởi HS lĩnh
hội các kiến thức xã hội, học được các hành vi ứng xử qua các buổi thảo luận.
(8) HS nắm được kiến thức bài học nhưng vẫn bảo đảm có tính thực tế, từ đó
thành tích học tập của HS sẽ được nâng cao nhờ sự hiểu biết sâu sắc. Sau mỗi buổi thảo
luận, HS sẽ tự nhận xét về ưu và nhược điểm của bản thân, từ đó có định hướng nghề
nghiệp sau này.
Trong xã hội hiện đại ngày nay, phát triển NLHT trong dạy học sẽ góp phần tích
cực vào việc giúp HS hòa nhập với cuộc sống sau khi rời ghế nhà trường. HS sẽ trở
thành một người lao động năng động, sáng tạo, có kiến thức và kỹ năng mang tính
chuyên nghiệp, biết tiếp thu ý kiến , chịu học hỏi, chịu thay đổi ,có tinh thần đồng
đội ,có trách nhiệm cao với công việc, hoạt bát, tự tin, giỏi giao tiếp.
1.1.4.2. Ý nghĩa của việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử
Môn Lịch sử ở trường THPT nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức
cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành thế giới
quan khoa học, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động…và năng lực hợp tác. Việc
phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với học sinh trên cả ba mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ.
Về kiến thức, phát triển năng lực hợp tác giúp học sinh mở rộng, củng cố, khắc
sâu kiến thức cơ bản về các sự kiện lịch sử, hiện tượng… Qua đó HS hiểu được quá trình
phát triển của lịch sử dân tộc, những chuyển biển của các mặt của đời sống kinh tế, chính
trị, xã hội, văn hóa, giáo dục…thấy được quy luật tất yếu trong tiến trình đi lên của loài
người. Đồng thời giúp các em có thể giải thích, liên hệ với thực tiễn cuộc sống. Trên cơ
sở đó làm giàu thêm vốn tri thức, hình thành thế giới quan cho học sinh.
Về kỹ năng, phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử giúp
các em hình thành và phát triển các kỹ năng cần thiết trong học tập bộ môn như kỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
năng ghi nhớ, hình dung, tưởng tượng, tái hiện; phát triển kỹ năng tư duy logic (so
sánh, đối chiếu, phân tích, đánh giá, phản biện,…) đặc biệt nhất là kỹ năng phát hiện,
đề xuất và giải quyết các vấn đề trong học tập lịch sử (điều tra, thu thập, xử lý thông
tin, nêu dự kiến giải quyết vấn đề, lựa chọn giải pháp phù hợp nhất…) và thực tiễn
cuộc sống hiện nay,từ đó hình thành các năng lực: năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng
lực tư duy, năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp… Do đó ở trường
THPT việc đặt HS trước các tình huống có vấn đề - đúng hơn hướng dẫn cho các em
luôn luôn đứng trước tình huống có vấn đề và cùng thảo luận sẽ làm phát huy tính tích
cực trong học tập Lịch sử. Nó không chỉ đem lại kiến thức mới cho HS (chức năng giáo
dưỡng) mà còn bồi dưỡng cho các em phẩm chất, đạo đức trong học tập như kiên trì,
nhẫn nại.
Về thái độ, phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử góp
phần hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cho học sinh như: bồi dưỡng
tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lòng tự hào dân tộc, lòng
tôn vinh và trọng những người có công với đất nước; có thái độ tích cực, độc lập, sáng
tạo trong học tập; có niềm tin về sự tiến bộ; có tinh thần nhân ái; có trách nhiệm đối
với bản thân, gia đình và xã hội; có ý chí vượt khó vươn lên, khắc phục và giải quyết
vấn đề trong học tập và trong cuộc sống. Bên cạnh đó phát triển NLHT cho HS trong
dạy học LS ở trường THPT còn góp phần hình thành động cơ học tập cho HS. Sự nảy
sinh động cơ HT lúc đầu xuất phát từ ý thức trách nhiệm phải hoàn thành nhiệm vụ ,
từ những yêu cầu bài tập của GV đã thúc đẩy hoạt động HT của HS hay nói cách khác
đây là những động cơ bên ngoài. Động cơ bên trong của người học chủ yếu nằm ở trong
bản thân mỗi người và xuất phát từ chính hoạt động hợp tác. Được tham gia thực hiện
nhiệm vụ học tập, hợp tác hy vọng khám phá những cái mới, sự cố gắng hiểu biết,
mong muốn tiến bộ trong học tập hay cảm giác thỏa mãn khi hoàn thành nhiệm vụ học
tập đều là những động cơ bên trong.
Tóm lại, phát triển NL học sinh nói chung và phát triển NLHT trong DHLS nói
riêng có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu bộ môn
LS và góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn LS ở trường THPT. Đặc biệt, phát
triển NLHT trong DHLS còn thực hiên việc đổi mới phương pháp dạy học theo xu
hướng phát triển NL người học hiện nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2 Cơ sở thực tiễn
Để có những nhận xét khách quan, khoa học về nhận thức và thực tiễn phát triển
NLHT trong DHLS ở trường THPT, làm căn cứ cho công tác nghiên cứu luận văn,
chúng tôi đã tiến hành điều tra khảo sát với một số lượng tương đối lớn GV và HS ở
các trường THPT.
1.2.1. Mục đích và đối tượng điều tra
Mục đích: Điều tra thực tế việc dạy học lịch sử nói chung và dạy học LSVN nói
riêng, nhận thức của GV và HS về vai trò và ý nghĩa của việc tạo biểu tượng về những
biến cố lớn trong DHLS, các yêu cầu và biện pháp sư phạm mà GV sử dụng để phát
triển năng lực hợp tác trong DHLS, sự chỉ dẫn, giao việc của GV đối với HS trước mỗi
giờ lên lớp, những khó khăn mà GV, HS gặp phải trong quá trình phát triển năng lực
hợp tác, từ đó đề xuất các yêu cầu và biện pháp phát triển năng lực hợp tác trong dạy
học Lịch Sử Việt Nam lớp 12.
Đối tượng: Công tác điều tra được tiến hành đối với 13 GV (THPT Lương Tài:
5; THPT Lương Tài 2: 4; THPT Lương Tài 3: 4) và 200 HS (THPT Lương Tài: 100;
THPT Lương Tài 2: 60; THPT Lương Tài 3: 40 ) trong năm học (2019 - 2020) tại các
trường THPT trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh.
1.2.2. Phương pháp và nội dung điều tra
Phương pháp: Chúng tôi sử dụng bằng nhiều phương pháp khác nhau (dự giờ,
trao đổi chuyên môn với GV…). Việc điều tra được tiến hành một cách khách quan để
đạt kết quả tốt nhất. Chúng tôi đã trực tiếp đến các trường để quan sát, dự giờ, trao đổi,
tiếp xúc với các GV và HS, trên cơ sở đó rút ra những kết luận bước đầu về tình hình
dạy học lịch sử nói chung, và việc phát triển năng lực hợp tác trong DHLS nói riêng.
Chúng tôi đã phát phiếu điều tra theo mẫu để thăm dò ý kiến của GV và HS, để thấy
được nhận thức của GV đồng thời thấy được thực trạng DHLS trong trường THPT,
mặt khác nắm bắt những hạn chế để đề ra những biện pháp khắc phục.
Nội dung điều tra
Đối với GV: Chúng tôi sử dụng một số câu hỏi để điều tra quan điểm của GV
về vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực hợp tác trong DHLS ở trường phổ thông,
đồng thời tìm hiểu những trở ngại trong việc phát triển năng lực hợp tác trong DHLS
của GV (Phụ lục 1.1).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Đối với HS: Chúng tôi đưa ra mẫu phiếu điều tra để HS phản ánh tình hình phát
triển năng lực hợp tác trong DHLS và thực trạng của việc DHLS ở trường phổ thông
(Phụ lục 1.2).
1.2.3. Kết quả điều tra và những vấn đề đặt ra
1.2.3.1. Về phía GV
Thông qua phiếu thăm dò ý kiến GV, thực trạng phát triển NLHT trong DHLS
ở trường phổ thông được thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất: Nhận thức của GV về vấn đề phát triển NLHT.
Chúng tôi đưa ra một số câu hỏi để tìm hiểu nhận thức của GV về vấn đề phát
triển NLHT trong DHLS qua bảng câu hỏi sau:
Bảng 1.4. Nhận thức của GV về vấn đề phát triển NLHT
STT
Câu hỏi
Phương án trả lời
Số lượng
Tỉ lệ %
2
15
3
25
1
2
15
Theo thầy cô năng lực hợp tác là gì?
6
55
2
3
Là sự trao đổi thông tin và khả năng xử lý tình huống Là khả năng cộng tác giữa các cá nhân trong một tập thể Là NL biết phối hợp các thành viên trong nhóm Là khả năng phối hợp một hay nhiều người khác để hoàn thành công việc Thường xuyên Hiếm khi Thỉnh thoảng Không bao giờ Thường xuyên Hiếm khi Thỉnh thoảng
5 2 5 1 2 1 3
38,4 15,3 38,4 7,9 15,4 7,6 23,1
Không bao giờ
0
0
Các thầy cô có thường xuyên dạy học phát triển NLHT trong DHLS không? Thầy thường (cô) có xuyên sử dụng các biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực hợp tác cho HS không?
4
Theo thầy(cô) năng lực hợp tác của HSTHPT ở mức độ nào?
Tốt Khá Trung Bình Yếu Có
1 2 9 1 12
7,8 15,2 69,2 7,8 92,3
5
Không
1
7,7
6
Theo thầy cô, dạy học phát triển NLHT trong DHLS có cần thiết không? Thầy (cô) gặp khó khăn gì trong quá trình triển khai dạy học lịch sử theo chủ đề?
Điều kiện cơ sở vật chất HS còn tự ti,nhút nhát, không tích cực tham gia Mất thời gian chuẩn bị và tiến hành Thời lượng tiết học hạn chế
3 7 1 6
23 53,8 7,6 46,1 Qua bảng nhận nhận thức của GV về vấn đề phát triển NLHT trong DHLS chúng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tôi nhận thấy hầu hết GV được hỏi đều đã có những hiểu biết về lý thuyết năng lực hợp
tác và phát triển năng lực hợp tác trong dạy học lịch sử. Khi được hỏi : Theo thầy cô
Là sự trao đổi thông tin và khả năng xử lý tình huống
15%
Là khả năng cộng tác giữa các cá nhân trong một tập thể
25%
55%
Là NL biết phối hợp thành viên trong nhóm
15%
Là khả năng phối hợp một hay nhiều người khác để hoàn thành công việc
thế nào là năng lực hợp tác? Chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Biểu đồ 1.1. Nhận thức của GV về khái niệm NLHT
Hầu hết GV đều khẳng định vai trò và ý nghĩa to lớn của việc phát triển năng
lực hợp tác trong DHLS (chiếm tới 90% số lượng GV được hỏi). Như vậy, khi nhận
thức được ý nghĩa vô cùng quan trọng của việc phát triển năng lực hợp tác trong DHLS.
GV sẽ sử dụng nhiều PP khác nhau, như PP làm việc nhóm, dự án, đóng vai, sử dụng
sơ đồ tư duy…các PP này có quan hệ hữu cơ và không tách rời nhau cùng góp phần
phát triển năng lực cho học sinh.
Khi được hỏi “Theo thầy cô, dạy học phát triển NLHT trong DHLS có cần thiết
không?”. Chúng tôi đã thu được kết quả là 92, 3% GV được hỏi là cần thiết và chỉ có 7,
7% trả lời là không cần thiết. Đây là một thực tế dễ nhận thấy, bởi hiện nay nhu cầu mới
đòi hỏi giáo dục phải thực hiện một bước chuyển mạnh mẽ từ giáo dục định hướng nội
dung sang định hướng phát triển năng lực, các hội thảo, các buổi tập huấn về năng lực
được tổ chức cho GV ngày một nhiều và thu được kết quả tốt. Vì vậy, hầu hết GV đều
nhận thấy việc DH gắn với phát triển NL cho HS là yêu cầu cấp thiết.
Đối với ý kiến không cần thiết, GV được hỏi cho rằng trong quá trình dạy học,
việc dạy cho HS nắm vững kiến thức là quan trọng nhất, các năng lực của HS sẽ tự
được hình thành trong quá trình học tập cũng như giao tiếp với xã hội. Đây là quan
điểm chưa chính xác. Bởi lẽ, người có năng lực bao giờ cũng giải quyết vấn đề dễ dàng
hơn, kỹ năng cũng thuần thục hơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Thứ hai: Tình hình sử dụng các biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực hợp
10%
10%
thuyết trình
35%
vấn đáp
thảo luận nhóm
15%
dạy học theo chủ đề
phương pháp khác
30%
tác cho HS. Qua khảo sát chúng tôi thu được kết quả như sau.
Biểu đồ 1.2. Biểu đồ tổng hợp ý kiến giáo viên về phương pháp dạy học
Thông tin trong biểu đồ cho thấy, giáo viên thường xuyên chọn phương pháp
thuyết trình, vấn đáp và sử dụng sách giáo khoa, tài liệu tham khảo trong quá trình dạy
học phát triển NLHT trong DHLS. Điều này phản ánh việc giáo viên vẫn lựa chọn
những phương pháp truyền thống trong quá trình dạy học môn Lịch sử, chưa thực sự
khai thác và vận dụng những phương pháp mới phát huy tính tích cực, chủ động của
học sinh, phát triển năng lực quan trọng cho HS như dạy học theo dự án, dạy học chủ
đề, phương pháp dạy học nhóm. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho học
sinh không có hứng thú đối với môn Lịch sử. Thực tế đặt ra đòi hỏi giáo viên phải tích
cực sử dụng các phương pháp dạy học đa dạng, hỗ trợ học sinh tham gia vào quá trình
học tập, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển NL và phẩm chất cho HS.
Điều đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong môn Lịch sử ở trường phổ
thông hiện nay.
Thứ ba, thực trạng về sử dụng hình thức tổ chức dạy học để phát triển NLHT
trong DHLS.
Hình thức tổ chức dạy học mà các GV lựa chọn khi dạy học phát triển NLHT là
hết sức đa dạng: 45% số GV dạy học phát triển NLHT trong DHLS ở trên lớp; 16%
các GV dạy phát triển NLHT ở ngoài lớp và 39% các thầy cô tổ chức các hoạt động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ngoại khóa để phát triển NLHT trong DHLS. Đây là cơ sở để GV tổ chức các hình thức
dạy học cho phù hợp để mang lại hiệu quả cao trong DHLS.
Thứ tư, những khó khăn mà GV thường gặp phải khi tiến hành các biện pháp
nhằm dạy học phát triển NLHT cho HS đều là những khó khăn chung: Điều kiện cơ sở
vật chất chưa cho phép (23%), HS còn tự ti nhút nhát, không tích cực tham giạ hoạt
động (53,8 %), thời lượng tiết học hạn chế (45%)...
1.2.3.2. Về phía HS
Để tìm hiểu sự hiểu biết về vấn đề NLHT trong DH lịch sử, chúng tôi đã tiến
hành khảo sát với 200 HS thuộc các trường THPT ở huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh,
qua một số câu hỏi trong bảng sau:
Bảng 1.5. Nhận thức của HS về vấn đề phát triển NLHT
Câu hỏi
Phương án trả lời
Câu 1: Em có thích học môn Lịch sử ở trường THPT không?
Câu 2: Theo em năng lực hợp tác là gì?
Số lượng 10 108 34 48 40
Tỉ lệ % 5 54 17 24 20,1
43
21,3
113
41,2
30
17,4
Câu 3: Theo em, dạy học phát triển NLHT trong DHLS có cần thiết không? Câu 4: Trong quá trình học tập môn Lịch sử em có được các thầy cô phát triển NLHT không?
170 30 40 20 130 10 40 80 60
85 15 20 10 65 5 20 40 40
Rất thích Bình thường Thích Không thích Là sự đoàn kết của cộng đồng giúp nhau vượt qua khó khăn,thử thách Là khả năng hợp tác tác giữa người với người Là NL biết phối hợp các thành viên trong nhóm Là năng lực của mỗi con người trong việc tham gia vào một hay nhiều công việc chung Có Không Thường xuyên Hiếm khi Thỉnh thoảng Không bao giờ Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
Câu 5: Trong giờ học Lịch sử, thầy (cô) của em có thường sử dụng các phương pháp tích cực để phát triển NLHT cho các em không? Câu 6: Mức độ hứng thú của em với các phương pháp trên như thế nào?
70 80 50
35 40 25
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Thông qua phiếu thăm dò ý kiến HS, thực trạng việc phát triển NLHT trong
DHLS ở trường phổ thông hiện nay được thể hiện ở các vấn đề sau:
Thứ nhất: Về nhận thức của HS đối với môn lịch sử và NLHT trong DHLS.
Kết quả cho thấy phần lớn học sinh vẫn thờ ơ chưa có hứng thú với môn học.
Trong tổng số học sinh điều tra thì kết quả thu được là 54% số học sinh được khảo sát
tỏ thái độ bình thường và 24% các em tỏ rõ thái độ không thích môn Lịch sử. Đây là
một thực tế đáng suy ngẫm về thực trạng dạy và học Lịch sử ở trường phổ thông. Tuy
phần lớn học sinh không yêu thích môn Lịch sử nhưng khi được hỏi mức độ hứng thú
của các em khi phát triển NLHT trong DHLS thì rất nhiều học sinh tỏ thái độ hào hứng,
sôi nổi. Các em đặt ra nhiều câu hỏi, thắc mắc và bày tỏ sự hứng thú của mình với việc
dạy học phát triển NLHT. Đa số HS có những hiểu biết nhất định về khái niệm năng
lực hợp tác. Các em đánh giá cao vai trò, ý nghĩa to lớn của việc phát triển NLHT trong
17.40%
20.10%
HS được học cách cộng tác trên nhiều phương diện Tăng cường khả năng tư duy phê phán cho HS
21.30%
41.20%
Phát triển các kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác Tác động đến ý thức học tập của HS
DHLS. Điều này được thể hiện rõ trong biều đồ dưới đây:
Biểu đồ 1.3. Vai trò của Phát triển NLHT đối với HS trong DHLS
Kết quả trên của biểu đồ chứng tỏ học sinh đã ý thức được vai trò to lớn, sự cần
thiết của việc phát triển NLHT trong DHLS ở trường THPT. Điều này cũng lý giải
được vì sao học sinh mong muốn được giáo viên giảng dạy theo hướng phát huy năng
lực hơn là “phương pháp thầy đọc trò chép”.
Thứ hai: Thực trạng biểu hiện về NLHT.
Khi chúng tôi đặt câu hỏi NLHT của HS ở mức độ nào? Chúng tôi đã thu được
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
kết quả như sau:
khá
trung bình
tốt
yếu
5%
5%
38%
52%
Biểu đồ 1.4. Thực trạng biểu hiện về NLHT
Như vậy, kết quả cho thấy mặc dù HS có nhận thức được về NLHT, vai trò và
ý nghĩa của NLHT, sự cần thiết phát triển NLHT nhưng biểu hiện về hợp tác của HS
vẫn ở mức trung bình. Điều đó đòi hỏi cần có biện pháp bồi dưỡng nhằm nâng cao thái
độ HT cho HS, làm cơ sở rèn luyện các KNHT, phát triển NLHT cho các em.
Thứ ba: Về hứng thú của học sinh đối với các phương pháp dạy học
Kết quả khảo sát cho thấy đa số HS đều thích những phương pháp: Thảo luận
nhóm, dạy học dự án, dạy học theo chủ đề .Trong khi đó các phương pháp thuyết trình,
vấn đáp, sử dụng sách giáo khoa chỉ đạt tỉ lệ hạn chế. Kết quả được thể hiện qua biểu
80.00%
73.20%
Thảo luận nhóm
70.00%
Dạy học dự án
60.10%
59.20%
60.00%
Dạy học theo chủ đề
Thuyết trình
50.00%
Vấn đáp
40.00%
Trực quan
28.70%
30.00%
24.20%
23.30%
20.00%
10.00%
0.00%
Dạy học dự án Dạy học theo
Thuyết trình Vấn đáp Trực quan
Thảo luận nhóm
chủ đề
đồ sau:
Biểu đồ 1.5. Tổng hợp ý kiến học sinh về mức độ yêu thích
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đối với các phương pháp học tập môn Lịch sử (Tỷ lệ %)
Biểu đồ trên cho thấy phương pháp dạy học nhóm chiếm ưu thế, ngoài ra phương
pháp dạy học chủ đề, dự án có vai trò quan trọng để phát triển NLHT trong DHLS. Đây
là cơ sở quan trọng để GV áp dụng tích cực các phương pháp dạy học này trong quá
trình DHLS để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển NLHT trong
DHLS.
Như vậy kết quả điều tra cho thấy GV, HS ở các trường THPT huyện Lương Tài
tỉnh Bắc Ninh đã có những nhận thức đúng đắn về vấn đề phát triển năng lực nói chung
cũng như NLHT cho học sinh trong DHLS nói riêng. GV đã nhận thức được tầm quan
trọng, vai trò, ý nghĩa của phát triển năng lực hợp tác trong DHLS. Tuy nhiên, thực tế
phát triển năng lực hợp tác trong DHLS còn tồn tại những vấn đề như sau:
Với thời lượng 45 phút, trong khi khối lượng kiến thức lịch sử nhiều nên khi
được hỏi về các biện pháp nhằm phát triển NLHT cho HS trong DHLS một số GV vẫn
chủ yếu lựa chọn các PPDH truyền thống còn những PPDH tích cực khác thì ít được
chú ý và sử dụng. GV thường chỉ sử dụng SGK, SGV mà thiếu các tài liệu tham khảo
khác. Vì vậy, việc dạy học rơi vào tình trạng lặp lại SGK, chưa đáp ứng được yêu cầu
đổi mới PPDH. Thêm vào đó, một thực trạng khách quan là: trong giảng dạy, học tập,
thi cử ở trường phổ thông môn lịch sử chưa được coi trọng, thậm chí nhiều lúc còn
được coi là môn phụ. Tình trạng này dẫn tới HS chán học, ngại học môn sử, chỉ học
thụ động, đối phó.
Những khó khăn mà GV lịch sử gặp phải trong quá trình dạy học là không nhỏ,
dẫn đến hiệu quả dạy học chưa cao. Giải quyết tình trạng này như thế nào là công việc
của cả xã hội, của ngành giáo dục. Việc tìm ra các biện pháp, phương pháp giảng dạy
phù hợp, sáng tạo, nâng cao chất lượng bài học, phát triển năng lực cho học sinh là một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
việc làm có ý nghĩa quan trọng.
Tiểu kết chương 1
Phát triển NLHT có vai trò rất quan trọng trong DHLS ở trường phổ thông.
Thông qua quá trình tìm hiểu, phân tích và tổng hợp, luận văn góp phần làm rõ thêm
khái niệm, vai trò, ý nghĩa và một số yêu cầu phát triển NLHT làm cơ sở giúp giáo viên
có điều kiện vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh trong học tập, phát huy được năng lực tư duy, NLHT của học sinh.
Kết quả khảo sát thực trạng dạy và học lịch sử ở trường phổ thông cho thấy giáo viên
đã có nhận thức đúng về khái niệm, vai trò, ý nghĩa của phát triển NLHT. Tuy nhiên,
còn gặp nhiều hạn chế và khó khăn trong quá trình triển khai. Những vấn đề trên là cơ
sở cho việc lựa chọn nội dung, hình thức và biện pháp phát triển NLHT trong DHLS
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nói chung và chương trình LSVN lớp 12 nói riêng.
Chương 2
CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 THPT Ở HUYỆN LƯƠNG TÀI
TỈNH BẮC NINH
2.1. Vị trí, mục tiêu và nội dung của Lịch sử Việt Nam lớp 12 THPT
2.1.1. Vị trí
Cấp THPT là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, có trách nhiệm hoàn
thành việc giáo dục phổ thông cho thế hệ trẻ. Môn LS lớp 12 thuộc lĩnh vực khoa học
xã hội, có vai trò quan trọng trong việc giáo dục HS trở thành công dân của TK XXI,
với những phẩm chất nổi bật như: năng động, tự tin, hợp tác và hành động có hiệu quả,
góp phần hình thành thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn, giáo dục lòng yêu quê
hương đất nước,, quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc.
LSVN (1919 - 2000) thuộc chương trình lớp 12 THPT. Qua việc tìm hiểu nội
dung kiến thức LSVN 1919-2000 giúp HS nắm vững những vấn đề chủ yếu của lịch
sử dân tộc thời kì sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến công cuộc đổi mới cúa Đảng
cộng sản Việt Nam. LSVN từ 1919 - 2000 có vai trò làm cầu nối, giúp HS có cái nhìn
tổng thể, đúng đắn và khoa học về bức tranh LSVN. Mặt khác đây là nội dung kiến
thức vô cùng quan trọng trong kì thi THPT Quốc gia, thi học sinh giỏi và những chương
trình LS trên truyền hình. Do đó, giai đoạn LSVN (1919-2000) là một phần kiến thức
hết sức quan trọng.
2.1.2. Mục tiêu
Về kiến thức: DHLS Việt Nam từ 1919 đến 2000 giúp HS:
(1) Biết: Quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ 1919-2000 với những thắng
lợi tiêu biểu như Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (1930), Cách mạng tháng Tám thành
công (1945), kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1945-1954), kháng chiến chống Mĩ
thắng lợi (1954-1975), công cuộc đổi mới (1986)…
(2 ) Hiểu: Học sinh hiểu được kết quả của các cuộc đấu tranh dân tộc và giai
cấp quyết liệt của nhân dân Việt Nam trong những năm 20 thế kỉ XX dẫn đến sự ra đời
của Đảng cộng sản Việt Nam. Quá trình chuẩn bị lâu dài của Đảng và nhân dân trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
suốt 15 năm đã dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và sự ra đời nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Âm mưu, bản chất quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân
Pháp, Mĩ và nguyên nhân đấu tranh của nhân dân ta giành được thắng lợi trong cuộc
kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ. Quá trình đổi mới của đất nước trong bối cảnh
trong nước và thế giới có nhiều biến động
(3) Vận dụng: Học sinh đánh giá được ý nghĩa quan trọng sự ra đời của Đảng
cộng sản Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng qua các thời kì Lịch sử, ý nghĩa lịch sử và
bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ
và những thành tựu trong công cuộc đổi mới.
Về kỹ năng
Rèn luyện cho HS kĩ năng sưu tầm, nắm vững tài liệu, phân tích, khái quát, rút
ra kết luận về các sự kiện đã học. Rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ lịch sử, tranh ảnh
tư liệu phục vụ cho bài học, kĩ năng tư duy, thực hành và định hướng phát triển các kĩ
năng sống cho HS.
Về thái độ
Bồi dưỡng lòng yêu nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, niềm tự hào dân tộc, ý
thức sáng tạo - đổi mới trong lao động, học tập, niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng, vào sự nghiệp đổi mới của đất nước
Định hướng phát triển năng lực
Học phần LSVN giai đoạn (1919-2000) góp phần phát triển ở HS năng lực giải
quyết vấn đề, năng lực tự học, năng lực ngôn ngữ, năng lực hợp tác, năng lực phản
biện,năng lực giả quyết vấn đề…Việc xác định một số yêu cầu trên là cơ sở để chúng
tôi xây dựng các biện pháp phát triển năng lực học sinh trong quá trình dạy học bộ môn
Lịch sử ở trường THPT. Đồng thời là căn cứ tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số
trường để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.
2.1.3. Nội dung cơ bản
Nội dung cơ bản của khóa trình lịch sử Việt Nam 1919 - 2000 lớp 12 được thể
hiện trong 5 chương 26 bài, cụ thể như sau:
Chương 1: 1919 - 1930: Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến khi Đảng ra
đời năm 1930.
Sau chiến tranh thế giới I, Pháp làm chuyển biến kinh tế - xã hội Việt Nam, tạo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
điều kiện cho phong trào yêu nước tiếp thu luồng tư tưởng cách mạng vô sản. Hoạt
động của Nguyễn Ái Quốc đã làm chuyển biến phong trào yêu nước chống Pháp.Ba tổ
chức Công sản VN ra đời.ĐCS VN ra đời 3/2/1930 chấm dứt sự khủng hoảng về đường
lối lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.
Chương 2:1930 - 1945: Từ sau khi Đảng Cộng sản VN ra đời đến 2/9/1945.
Tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và “khủng bố trắng“ của Pháp đã
làm bùng nổ phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Xô Viết Nghệ Tĩnh
1930 -1931. Vận động dân chủ 1936 -1939.Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi là
kết quả của quá trình tập dượt trong 10 năm từ khi Đảng ra đời.
Chương 3:1945 - 1954: Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến ngày
21/7/1954.
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập,nước ta gặp muôn
vàn khó khăn.Cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) tiến hành trong điều kiện đã
độc lập và có chính quyền ; kháng chiến chống Pháp xâm lược.Chiến thắng lịch sử
Điện biên phủ 1954, Pháp rút khỏi nước ta
Chương 4:1954 - 1975: Từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp năm
1954 đến ngày 30-4-1975.
Nhiệm vụ cách mạng từng miền và nhiệm vụ chung của cả nước là “Kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước”.Miền Nam đấu tranh chính trị phát triển lên “Đồng khởi”,
rồi chiến tranh giải phóng.Đánh bại chiến lược thống trị và xâm lược thực dân mới của
Mỹ: đánh bại chiến lược “Chiến tranh đơn phương”; “Chiến tranh đặc biệt”; “Chiến
tranh cục bộ”; “Việt Nam hóa chiến tranh”.Hiệp định Pari kí kết tạo điều kiện thắng
lợi cho ta tiến tới thắng lợi lịch sử 1975.Miền Bắc: quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chống
chiến tranh phá hoại của Mỹ, làm nghĩa vụ hậu phương cho miền Nam.
Chương 5:1975 - 2000: Từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước năm 1975 đến năm 2000.
Cách mạng Việt nam chuyển sang thời kỳ Cách mạng xã hội chủ nghĩa.Trong
10 năm đầu (1976-1986) đi lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh thành tựu và ưu điểm, cách
mạng nước ta gặp không ít khó khăn, yếu kém, sai lầm, khuyết điểm đòi hỏi phải đổi
mới.Từ Đại Hội VI (12-1986) của Đảng, nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên. Đến 2000, đã thực hiện được ba kế
hoạch Nhà nước 5 năm.Công cuộc đổi mới đã giành thắng lợi, từng bước đưa đất nước
ta lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng, bước đi của
công cuộc đổi mới là phù hợp.
2.2. Xác định hệ thống kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam (1919 - 2000) cần
khai thác để phát triển năng lực hợp tác cho học sinh.
Căn cứ vào vị trí, mục tiêu và nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam 1919 -
2000, chúng tôi xác định hệ thống kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam 1919-2000
cần khai thác để phát triển NLHT cho HS, thể hiện trong bảng sau:
Nội dung kiến thức Lịch sử
Bài 12: Phong trào dân tộc dân chủ 1919-1925
động
của
Mục I. Những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã hội ở Việt Nam Mục II. Phong trào dân tộc dân chủ 1919-1925
Bài 13: Phong trào dân tộc dân chủ 1925-1930
Mục I. Sự ra đời và hoạt động của ba tổ chức cách mạng.
- Những chuyển biến mới về kinh tế - Sự chuyển biến mới về giai cấp xã hội ở Việt Nam - Hoạt động của tư sản, tiểu tư sản. - Hoạt động của công nhân -Hoạt Nguyễn Ái Quốc - Sự thành lập - Mục tiêu - Hoạt động của hội - Vai trò
II. Đảng sản Việt
Mục cộng Nam ra đời
Nội dung phát triển năng lực học tập - Phát triển năng lực tổ chức và quản lý nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập - HS hăng hái bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm - Rèn luyện kỹ năng trình bày, phản biện - Phát triển năng lực tổ chức và quản lý nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập - Hăng hái bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm - Rèn luyện kỹ năng trình bày, phản biện - Phát triển năng lực tổ chức và quản lý nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập - Hăng hái bày tỏ ý kiến,tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm - Đánh được sự sáng tạo của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng - Đánh giá được ý nghĩa của việc thành lập Đảng
- Thời gian - Nội dung hội nghị - Nội dung của cương lĩnh - Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng. - Kinh tế - Chính trị - Xã hội
Bài 14: Phong trào cách mạng 1930 - 1935
Mục I. Việt Nam trong những năm 1929-1933
- Học sinh phát triển năng lực tổ chức và quản lí nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập Lịch sử. - Học sinh rèn luyện năng lực hoạt động nhóm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nội dung kiến thức Lịch sử
Mục II. Phong trào cách mạng với 1930-1931 đỉnh cao Xô Viết Nghệ Tĩnh
Nội dung phát triển năng lực học tập - Đánh giá được hạn chế Luận cương chính trị của Trần Phú - So sánh được điểm mới của phong trào 1930-1931 so với các phong trào trước đó
- Diễn biến phong trào trên cả nước và ở Nghệ Tĩnh - Hoàn cảnh hội nghị 10/1930 - Nội dung hội nghị - Nội dung Luận cương chính trị - Kinh tế - Chính trị - Xã hội
- Hăng hái bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động học tập.
Bài 15: Phong trào dân chủ 1936-1939
II. Phong
Mục I. Tình hình thế giới và trong nước Mục trào Dân chủ 1936- 1939
- Hội nghị 7/1936 - Những phong trào đấu tranh tiêu biểu - Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm
- Kinh tế - Chính trị - Xã hội
Mục I. Tình hình Việt Nam trong những năm 1939- 1945.
Bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 - 1945)
II. Phong trào giải phóng dân tộc từ tháng 9/1939- 3/1945
III. Khởi trang chính
Mục nghĩa vũ giành quyền.
- Hoàn cảnh hội nghị 11/1939;5/1941 - Nội dung hội nghị - ý nghĩa hội nghị - Quá trình chuẩn bị lực lượng - Khởi nghĩa từng phần - Thời cơ của cách mạng tháng Tám - Diễn biến - Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử
Mục I.Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám
- Phát triển năng lực tổ chức và quản lý nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập - Hăng hái bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm - Kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử -Phát triển năng lực tổ chức và quản lý nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập - Kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử - Hăng hái bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm - Kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử - Hăng hái bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm - Kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử - Đánh giá được vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng tháng Tám - Rèn luyện kỹ năng trình bày, phản biện - Phát triển năng lực tổ chức và quản lý nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập
- Khó khăn và thuận lợi trên các lĩnh vực : chính trị, kinh tế, văn hóa , xã hội...
Bài 17: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày 2/9/1945 đến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nội dung kiến thức Lịch sử
Nội dung phát triển năng lực học tập
trước19/12/1946
Đấu chống
Mục III. tranh ngoại xâm, nội phản bảo vệ chính quyền cách mạng Mục I. Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ.
Bài 18: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân pháp (1946-1950)
- Học sinh phát triển năng lực tổ chức và quản lí nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập Lịch sử. - Kỹ năng giải quyết vấn đề chống ngoại xâm, nội phản bảo vệ chính quyền cách mạng - Kỹ năng hoạt động nhóm, chia sẻ thông tin lịch sử. - Rèn luyện kỹ năng đánh giá: sự sáng suốt của Đảng ta khi đề ra đường lối kháng chiến chống Pháp
Mục III. Chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947.
- Học sinh phát triển năng lực tổ chức và quản lí nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập Lịch sử. - Kỹ năng giải quyết vấn đề.
Mục IV. Hoàn cảnh lịch sử mới và chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950.
- Kỹ năng trình bày: diễn biến của chiến dịch Biên Giới 1950 và ý nghĩa chiến dịch. - Kỹ năng chia sẻ thông tin, câu chuyện về Bác trực tiếp ra chiến trường chỉ đạo trong chiến dịch Biên Giới 1950.
- Từ ngày 2/9/1945- trước 6/3/1946:Hòa Tưởng đánh Pháp - Sau ngày 6/3/1946- 19/12/1946: trước Hòa đuổi Pháp Tưởng về nước. -Thực dân pháp bội ước pháp từng bước đánh chiếm Hà Nội. - Đường lối kháng chiến của Đảng là toàn dân, toàn diện, trường kỳ tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. - Hoàn cảnh - Âm mưu của Pháp - Chủ trương của Đảng - Diễn biến - Kết quả, ý nghĩa - Tình hình thế giới và trong nước - Chiến dịch Biên Giới- Thu đông năm 1950. - Kế hoạch và mục đích của ta. - Diễn biến - Kết quả - ý nghĩa. - Hoàn cảnh - Nội dung - Ý nghĩa
Mục II. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (2/1951)
- Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. - Đánh giá được tác động của Đại hội II với cuộc kháng chiến chống Pháp.
Bài 19: Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống pháp (1951-1953)
Mục III. Hậu phương kháng chiến phát triển mọi mặt.
Năng lực đánh giá: tác động và ý nghĩa của Hậu phương kháng chiến phát triển mọi mặt.
- Những thành tựu bước đầu đạt được trên các lĩnh vực : chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, - Hoàn cảnh - Mục đích - Nội dung
Rèn luyện kỹ năng giải quyết mâu thuẫn và tình huống có vấn đề.
Mục I. Âm mưu mới của pháp - Mĩ ở Đông Dương.
Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nội dung kiến thức Lịch sử
Nội dung phát triển năng lực học tập
dân pháp kết thúc (1953- 1954).
- Chủ trương của Đảng - Diễn biến - ý nghĩa
- Rèn luyện năng lực hoạt động nhóm. - Rèn luyện kỹ năng trình bày diễn biến Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953- 1954 và chiến dịch Điện Biên phủ - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. - Rèn luyện kỹ năng đánh giá
Kế hoạch Nava. Mục II. Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953- 1954 và chiến dịch Điện Biên phủ. Mục I. Tình hình và nhiệm vụ cách mạng nước ta sau định Hiệp năm Giơnevơ 1954 về Đông Dương.
- Tình hình nước ta sau hiệp định - Nhiệm vụ cách mạng nước ta sau Hiệp định
Bài 21: Xây dựng CNXH ở miền Bắc. Đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 - 1965)
- Học sinh phát triển năng lực tổ chức và quản lí nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập Lịch sử.
Miền Mục V. nam chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ (1961-1965). Mục I. Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở miền Nam (1965-1968).
Bài 22: Nhân dân hai miền chiến đấu chống đế quốc Mỹ (1965 - 1973)
- Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. - Rèn luyện kỹ năng đánh giá - Rèn luyện kỹ năng trình bày
- Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. - Hoàn cảnh: - Âm mưu - Thủ đoạn - Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam. - Hoàn cảnh - Âm mưu - Thủ đoạn - Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Quân sự Nội dung và ý nghĩa Hiệp định Paris
tổng
Mục V. Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. III. Giải Mục phóng hoàn toàn Miền Nam, giành toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc
Bài 23: Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội miền Bắc - Giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973 - 1975)
- Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. - Rèn luyện kỹ năng đánh giá - Học sinh phát triển năng lực tổ chức và quản lí nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập Lịch sử. - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. - Rèn luyện kỹ năng đánh giá
trương, kế - Chủ hoạch giải phóng miền Nam tiến - Cuộc công và nổi dậy mùa xuân 1975 - Chiến dịch Tây đến Nguyên (4/3 24/3)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nội dung kiến thức Lịch sử
Nội dung phát triển năng lực học tập
- Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. - Rèn luyện kỹ năng đánh giá
Mục III. Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước (1975 - 1976)
Bài 24: Việt Nam trong năm đầu sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1975
Mục I. Đường lối đổi mới đất nước của Đảng
Bài 26: Đất nước trên đường đổi mới đi lên CNXH (1986 - 2000)
- Chiến dịch Hồ Chí Minh (26/ 4 đến 30/4/1975) - Hoàn cảnh thống nhất đất nước về mặt nhà nước - Quá trình thống nhất đất nước về mặt nhà nước - Ý nghĩa của quá trình thống nhất đất nước về mặt nhà nước -Hoàn cảnh lịch sử mới - Đường lối đổi mới của Đảng
- Học sinh phát triển năng lực tổ chức và quản lí nhóm để giải quyết nhiệm vụ học tập Lịch sử. - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề.
2.3. Những yêu cầu cơ bản khi phát triển năng lực hợp tác trong DHLS Việt Nam
lớp 12
Bất cứ các hoạt động giáo dục nào ở trường phổ thông đều phải thông qua các
biện pháp sư phạm cụ thể. Các biện pháp này phải tuân thủ những yêu cầu sư phạm có
tính nguyên tắc. Đây là một nhiệm vụ quan trọng, vừa nâng cao được chất lượng dạy
học lịch sử, vừa phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và phát triển cho học sinh các năng
lực xã hội, trong đó có NLHT. Dưới đây là một số yêu cầu cơ bản cần được đảm bảo
sử dụng khi phát triển NLHT trong dạy học lịch sử.
Thứ nhất, đảm bảo khắc sâu được kiến thức cơ bản cho học sinh.
Trong DHLS ở trường phổ thông, người ta không thể cung cấp nhiều kiến thức
vì không đủ thời gian và không vừa sức HS. Do vậy, phải lựa chọn kiến thức từ kho
tàng khổng lồ của khoa học lịch sử để đưa vào chương trình học. Những kiến thức lựa
chọn ấy được gọi là “kiến thức cơ bản”.KTCB là kiến thức tối ưu, cần thiết cho việc
hiểu biết của học sinh về lịch sử thế giới và dân tộc. Nó gồm nhiều yếu tố: sự kiện lịch
sử, các niên đại, địa danh lịch sử, nhân vật lịch sử, các biểu tượng, khái niệm lịch sử,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
các quy luật, nguyên lý, phương pháp học tập và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Do
đó, khi xác định các biện pháp DH nhằm phát triển NLHT cho HS, trước hết phải xác
định được kiến thức cơ bản của bài học, kiến thức nào HS cần hiểu kĩ, ghi nhớ, khắc
sâu; kiến thức nào để mở rộng sự hiểu biết cho các em mà không cần nhớ kĩ. Những
biện pháp được lựa chọn phải phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của HS
khi nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, đồng thời phát triển cho HS các biểu hiện của NLHT
như biết lắng nghe, chia sẻ học tập với các bạn, tinh thần trách nhiệm hoàn thành nhiệm
vụ của bản thân, sẵn sàng giúp đỡ các bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ chung...
Thứ hai, phát triển năng lực hợp tác cho học sinh phải căn cứ vào mục tiêu
dạy học để lựa chọn biện pháp phù hợp.
Mục tiêu dạy học là cái đích mà học sinh phải đạt được sau khi học; đó chính
là “đích” cuối cùng mà cả thầy và trò đều phải hướng tới. Như vậy, theo quan điểm
“dạy học hướng vào học sinh,” thì mục tiêu dạy học đề ra là hướng vào phía học
sinh, chứ không phải phía giáo viên.Mục tiêu thực hiện là một lời phát biểu mô tả kết
quả thực hiện đã dự định của học sinh vào cuối buổi dạy. Dù là giáo dục định hướng
nội dung hay định hướng năng lực thì đạt được mục tiêu của bài học trên cả ba mặt
kiến thức, thái độ, kĩ năng cũng là yêu cầu tiên quyết cần hướng tới trong giảng dạy.
Chính vì vậy,phát triển NLHT cho học sinh trong DHLS ở trường THPT cần căn cứ
vào mục đích, yêu cầu bài học để có thể lựa chọn được các biện pháp tổ chức dạy học
đa dạng, phong phú nhưng phù hợp. Để sao cho đạt được mục tiêu bài học nhưng cũng
đảm bảo được sự tiến bộ về năng lực của người học. Thực hiện được mục tiêu bài học
sẽ phát triển được ở người học các năng lực, các phẩm chất tư duy, các kĩ năng hành
động, hình thành thái độ và cả niềm say mê học tập đối với môn học.
Thứ ba, đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt
và tính tập thể của việc dạy học.
Trong DHLS phải tạo nên khó khăn vừa sức, những yêu cầu và nhiệm vụ học
tập đề ra phải tương ứng với giới hạn cao nhất của vùng phát triển trí tuệ gần nhất của
HS.Tính vừa sức đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh THPT. Để đảm
bảo tính vừa sức và chú ý tới những đặc điểm cá biệt trong điều kiện tiến hành dạy và
học với cả lớp cần:
(1) Xác định mức độ tính chất khó khăn trong quá trình dạy học để thiết lập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
những cách thức chủ yếu tạo nên động lực học tập, mở rộng khả năng nhận thức của
học sinh, suy nghĩ những biện pháp tiến hành chung với cả lớp và với từng học sinh.
(2) Phối hợp hình thức lên lớp, hình thức độc lập của học sinh và hình thức học
tập nhóm tại lớp, trước tập thể lớp, giáo viên đề ra nhiệm vụ chung và dưới sự chỉ đạo
của giáo viên, từng cá nhân suy nghĩ cách giải quyết và trong thời gian đó, giáo viên
giúp đỡ những học sinh yếu kém.
(3) Cách tiến hành dạy học như vậy không chỉ giáo dục tinh thần tập thể cho
học sinh, mà từng học sinh giúp đỡ lẫn nhau nên nhiệm vụ học tập đề ra trở nên vừa
sức mỗi người.
(4) Nội dung hoạt động ngắn gọn, dễ hiểu. Các hoạt động được tổ chức trong
không gian thích họp, thời gian hoạt động không quá ngắn dẫn tới tình trạng mang tính
hình thức và không quá dài gây mất thời gian.
(5) HS chỉ có được các kĩ năng, phát triển năng lực của bản thân nếu các em thật
sự cố gắng. GV đề ra những câu hỏi một cách vừa sức với khả năng của các em, qua
đó đòi hỏi học sinh phải nỗ lực sáng tạo, có thái độ tích cực hợp tác trong học tập, đồng
thời cũng khai thác được những khả năng tiềm ẩn của mỗi học sinh.
Thứ tư, sử dụng linh hoạt, hiệu quả các phương pháp, phương tiện.
PPDH là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và HS, trong những
điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học. Không có một phương
pháp dạy học nào toàn năng phù hợp với mục tiêu và nội dung dạy học. Mỗi phương
pháp và hình thức dạy học có những ưu và nhược điểm và giới hạn sử dụng riêng. Vì
vậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá
trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát triển NLHT, phát huy tính tích cực
của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học.
Phương tiện dạy học là các phương tiện sư phạm đối tượng - vật chất do giáo
viên và học sinh sử dụng dưới sự chỉ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học, tạo
những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học. Chức năng chủ yếu của
phương tiện dạy học là tạo điều kiện cho học sinh nắm vững chính xác, sâu sắc kiến
thức, phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cách của học sinh. Trong quá
trình dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng, phương tiện dạy học đã chứng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tỏ vai trò to lớn của mình ở tất cả các khâu: tạo động cơ, hứng thú học tập của học sinh;
cung cấp các cứ liệu nhằm khái quát hoá hoặc kiểm chứng các kiến thức về các khái
niệm, biểu tượng; sử dụng trong việc ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá kiến thức,
kỹ năng của học sinh; hỗ trợ việc kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng...
Như vậy, để việc dạy học phát triển NLHT có hiệu quả cần phải nắm vững các
yêu cầu sư phạm cần thiết. Đây cũng là căn cứ tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm
nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.
2.4. Một số biện pháp phát triển NLHT trong dạy học LSVN lớp 12 THPT
2.4.1. Trong hoạt động nội khóa
2.4.1.1. Dạy học nhóm
Khái niệm
PPDH theo nhóm nhỏ được gọi bằng một số tên khác như "Phương pháp thảo
luận nhóm" hoặc PPDH hợp tác. Đây là một PPDH mà " học sinh được phân chia thành
từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện
thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người. Các hoạt động cá nhân riêng biệt được
tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung" [40, tr. 23].
Phương pháp dạy học nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi học sinh tham
gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến
thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học;
tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết
những nhiệm vụ chung
Quy trình thực hiện
Khi sử dụng PPDH nhóm, lớp học được chia thành những nhóm từ 4 đến 6 người.
Tùy mục đích sư phạm và yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu
nhiên hoặc có chủ định, được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổi theo từng
hoạt động, từng phần của tiết học, các nhóm được giao nhiệm vụ giống nhau hoặc mỗi
nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung.
Cấu tạo của một hoạt động theo nhóm có thể như sau:
Bước 1: Nhập đề, giao nhiệm vụ
Giáo viên giới thiệu chủ đề, nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.Tổ chức
các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy định thời gian và phân công vị trí làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
việc cho các nhóm.
Bước 2. Làm việc theo nhóm
Lập kế hoạch làm việc. Thỏa thuận quy tắc làm việc. Phân công trong nhóm,
từng cá nhân làm việc độc lập.Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm.Cử đại diện trình
bày kết quả làm việc của nhóm.
Bước 3. Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp
Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm.Các nhóm khác quan
sát, lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến.GV tổng kết và nhận xét, đặt vấn
đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo.
Ưu điểm
(1) Học sinh được học cách cộng tác trên nhiều phương diện
(2) Học sinh được nêu quan điểm của mình, được nghe quan điểm của bạn khác
trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau và đưa ra lời
giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao cho nhóm. Qua cách học đó, kiến thức của hs sẽ
bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê phán
của hs được rèn luyện và phát triển.
(3) Các thành viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm,
hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau.
Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học
hỏi giữa các thành viên trong nhóm, được tham gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra.
Học sinh hào hứng khi có sự đóng góp của mình vào thành công chung của cả lớp.
(4) Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên HS, đặc biệt là những em nhút nhát,
trở nên bạo dạn hơn; các em học được trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe có phê
phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp HS dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm, tạo cho các em
sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt.
Ví dụ: Khi dạy bài 17(tiết 17): Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày
2/9/1945 đến trước 19/12/1946, mục II. Bước đầu xây dựng chính quyền cách mạng,
giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính, phương pháp dạy học nhóm được
tiến hành như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Bước 1: Giáo viên tổ chức hoạt động cả lớp với cá nhân để tìm hiểu về tình hình
nước ta sau cách mạng tháng Tám năm 1945 với thuận lợi và khó khăn. GV dẫn dắt mặc
dù sau cách mạng tháng Tám nước ta ở trong tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc” nhưng dưới
sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã chèo lai con thuyền cách
mạng vượt qua biết bao khó khăn. Vậy Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm gì để thoát
khỏi khó khăn. GV dẫn dắt chuyển sang phần giải quyết khó khăn.
Giáo viên sử dụng phương pháp dạy học nhóm để phát triển NLHT trong dạy
học LSVN lớp 12. GV chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm tương ứng với các nhiệm vụ
GV sẽ đề ra. GV chia nhóm qua bảng sau:
Nhiệm vụ của các nhóm
Nhóm 1: Để xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng cần phải làm gì? ý nghĩa của việc xây dựng và củng cố chính quyền?
Nhóm 2: Để giải quyết khó khăn cấp bách về nạn đói, chính phủ và Hồ Chủ tịch đã đề ra biện pháp gì, ý nghĩa của những biện pháp đó?
Nhóm 3: Đảng và Bác Hồ có những biện pháp gì để xoá mù chữ và diệt giặc dốt cho nhân dân?
Nhóm 4: Đảng chính phủ giải quyết khó khăn về tài chính như thế nào? Nhóm trình bày + 6/ 1/ 1946, tổng tuyển cử trong cả nước → Bầu quốc hội khoá đầu tiên (Bầu cử hội đồng nhân dân các cấp ở Bắc và Trung Bộ), cả nước có trên 90% cử trị đi bầu cử (Bác Hồ đạt số phiếu 98,4%) + ngày 2/ 3/ 1946, kỳ họp thứ nhất quốc hội khoá I bầu chính phủ cách mạng do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu + 9/ 11/ 1946 quốc hội thông qua hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà Ý nghĩa: Giáng một đòn mạnh vào âm mưu chống phá của kẻ thù, tạo cơ sở vững chắc cho nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà + Biện pháp cấp thời trước mắt - Tổ chức quyên góp, nhường cơm sẻ áo … - Điều hoà hoà thóc gạo giữa các địa phương + Biện pháp lâu dài - Tăng gia sản xuất - Bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý =>Nạn đói được đẩy lùi, sản xuất nông nghiệp được nhanh chóng phục hồi. + Biện pháp trước mắt - 8/ 1945 lập “Nha bình dân học vụ” mở các lớp bình dân học vụ xóa nạn mù chữ + Biện pháp lâu dài - Bước đầu đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục +Trước mắt: Chính phủ kêu gọi tinh thần tự nguyện đóng góp của nhân… + Lâu dài: phát hành tiền Việt Nam trong cả nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Bước 2: Các nhóm trình bày, trao đổi ý kiến, phản biện giữa các nhóm Bước
3: GV tổng kết trước lớp
Với những biện pháp kịp thời, Đảng và chính phủ từng bước kiện toàn bộ máy
nhà nước, giải quyết khó khăn về giặc đói, giặc dốt, khó khăn về tài chính đã tạo điều
kiện đưa nước ta bước vào cuộc kháng chiến lâu dài, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt.Sau
đó GV đánh giá và cho điểm các nhóm. Giáo viên tổ chức kiểm tra hoạt động nhận
thức của học sinh, nhấn mạnh kiến thức trọng tâm của bài như biện pháp trước mắt,
biện pháp lâu dài, ý nghĩa giải quyết những khó khăn…
Vận dụng dạy học nhóm trong bài học trên có tác dụng lớn đối với học sinh về
kiến thức, kỹ năng và thái độ, cụ thể:
Về kiến thức: Học sinh hiểu được những thành tựu bước đầu xây dựng chính
quyền cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính có ý nghĩa to
lớn, thể hiện ý chí và quyết tâm của nhân dân Việt Nam là xây dựng một nước Việt
Nam thống nhất, độc lập; giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu chia rẽ, lật đổ và xâm
lược của đế quốc và tay sai, tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho nhà nước cách mạng để
thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại trong thời kì mới.
Về thái độ: Bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần độc lập dân tộc, niềm tin và tự
hào vào sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Về kỹ năng: Phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh, phát hiện vấn đề, kích thích
tư duy sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc. Đồng thời còn rèn luyện năng lực hợp tác,
giao tiếp, phản biện.
Như vậy, qua việc sử dụng PPDH theo nhóm trong dạy học LSVN 12 giúp học
sinh được làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi một thành viên trong nhóm
đều có cơ hội tham gia vào nhiệm vụ đã được phân công sẵn. Học sinh được rèn luyện
tính cộng tác bởi mỗi học sinh không thể giải quyết vấn đề một mình mà cần thiết phải
có sự cộng tác thực sự giữa các thành viên trong nhóm.
2.4.1.2. Dạy học theo chủ đề
Theo định hướng tích hợp ở cấp dưới và phân hóa ở cấp trên, chương trình và
sách giáo khoa THPT môn Lịch sử mới sẽ được áp dụng từ năm học 2021 - 2022, xác
định dạy theo chủ đề và chuyên đề. Chủ đề sẽ được thiết kế để dạy cho các HS chọn môn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Lịch sử. Chuyên đề dành riêng cho những HS chọn môn Lịch sử có thiên hướng khoa
học xã hội và nhân văn. Ngoài ra, trong bối cảnh Chương trình giáo dục phổ thông tổng
thể và chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử đều hướng tới hình thành và phát
triển phẩm chất và năng lực cho người học, việc thiết kế và tổ chức dạy học theo chủ đề
cần có những đổi mới cả về quan niệm, quy trình thiết kế, tổ chức các hoạt động và giá
trị mà các chủ đề cần hướng tới cho người học. Như vậy, những hiểu biết về việc thiết
kế và tổ chức dạy học theo chủ đề là cần thiết cho GV phổ thông.
Khái niệm
Dạy học theo chủ đề là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến
thức, nội dung bài học, chủ đề… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên mối
liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học thành một chủ đề, nhờ đó
HS được hoạt động nhiều hơn để khám phá kiến thức và vận dụng vào thực tiễn. Trong
dạy học theo chủ đề, GV không chỉ sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống mà
chủ yếu là hướng dẫn HS tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết
các nhiệm vụ học tập.
Dạy học theo chủ đề được tiến hành theo quy trình như sau:
Bước 1: Xác định chủ đề và mục tiêu chủ đề. Cũng giống như tiến hành bài học
truyền thống, việc xác định mục tiêu chủ đề là đích mà chủ đề hướng tới. Hiện nay,
mục tiêu chủ đề được xác định dựa trên chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương
trình hiện hành quy định. Song, để đáp ứng yêu cầu đổi mới, mục tiêu chủ đề còn xác
định năng lực cần có đối với học sinh.
Bước 2: Xây dựng nội dung chủ đề. Bước này thể hiện rõ điểm mới của dạy học
theo chủ đề so với dạy học truyền thống. Những kiến thức được lựa chọn trong nội
dung trong chủ đề không có sự trùng lặp, được sắp xếp lại theo logic để học sinh hiểu
vấn đề sâu hơn.
Bước 3: Thiết kế tiến trình dạy học theo chủ đề Lịch sử. Bước này cũng thể hiện
rõ điểm mới của dạy học chủ đề được tổ chức theo các hoạt động học của học sinh,
phát huy tính tích cực của các em trong dạy học và kiểm tra, đánh giá.
Trong quá trình dạy học theo chủ đề cần khai thác hiệu quả các phương tiện,
thiết bị dạy học phù hợp với điều kiện của nhà trường và khả năng của giáo viên. Giáo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
viên cần lưu ý lựa chọn phương tiện, thiết bị phù hợp với nội dung dạy học, với điều
kiện của nhà trường và năng lực dạy học của bản thân. Để hình thành và phát triển năng
lực cho học sinh đòi hỏi bài học theo chủ đề được thiết kế theo hướng mở, khuyến
khích sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập nhằm theo dõi sự tiến bộ
của các em. Vì vậy, các phương pháp dạy học, các công cụ kiểm tra, đánh giá được lựa
chọn cũng phải phù hợp và vận dụng linh hoạt, trong đó GV lựa chọn một phương pháp
chủ đạo nhằm đáp ứng dạy học phân hóa, chuyên sâu với nhiều loại trí tuệ của học
sinh, phát huy được tính tích cực và năng lực độc lập của các em trong học tập các chủ
đề lịch sử. Tổ chức dạy học theo chủ đề đòi hỏi HS phải tích cực, chủ động và sáng tạo
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập. GV không chỉ đóng vai trò là người truyền
thụ kiến thức, mà còn định hướng, tổ chức, hướng dẫn HS trong suốt quá trình học tập.
Ví dụ: Vận dụng dạy học theo chủ đề vào chương Bài 22: Nhân dân hai miền
chiến đấu chống đế quốc Mĩ, nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965-
1973)
Bước 1: Xác định chủ đề - chiến đấu chống các chiến lược chiến tranh của Mĩ
(1965-1973)
Sau khi lựa chọn được chủ đề, giáo viên xác định mục tiêu của dự án trên các
mặt như sau:
Về kiến thức: HS trình bày được hoàn cảnh ra đời, âm mưu, thủ đoạn của các
chiến lược chiến tranh
Về kỹ năng: Rèn luyện cho HS kỹ năng phân tích, đánh giá,kỹ năng xác định
kiến thức cơ bản, sự kiện cơ bản. Kỹ năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện lịch
sử
Về tư tưởng: Bồi dưỡng tinh thần yêu nước,ý chí quyết tâm chống lại kẻ thù dân
tộc.
Tiếp đó, bằng cách gợi ý, giáo viên hướng dẫn học sinh lựa chọn chủ đề nhỏ
theo từng nội dung của chủ đề. Giáo viên đưa ra 4 chủ đề định hướng cho HS:
Chủ đề 1: Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời, âm mưu thủ đoạn của các chiến
lược chiến tranh của Mĩ (1965-1973)
Chủ đề 2: Em hãy cho biết quá trình chiến đấu chống chiến lược chiến của nhân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
dân hai miền (1965-1973)?
Bước 2: Xây dựng kế hoạch cho chủ đề
Giáo viên chia cả lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm thực hiện một tiểu chủ đề. Triển
khai chủ đề, giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng nội dung cũng như xác định kế
hoạch làm việc cho chủ đề được triển khai. Xác định công việc cần thực hiện: Từ 4 chủ
đề nhỏ, giáo viên cùng học sinh xác định công việc cụ thể, mỗi nhóm là một chủ đề.
Nhóm 1: Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời, âm mưu thủ đoạn của các chiến lược
chiến tranh của Mĩ (1965-1973)?
Nhóm 2: Em hãy cho biết quá trình chiến đấu chống chiến lược chiến của nhân
dân hai miền (1965-1973)?
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nhiệm vụ cụ thể trong nhóm được phân công theo kế hoạch sau:
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHỦ ĐỀ:
“ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI NĂM 1930”
Nhóm 1:
Dự kiến Tên Thời gian Nhiệm vụ Phương tiện sản thành viên hoàn thành phẩm
1 tuần Nhóm trưởng Điều khiển, phân công, nhiệm vụ Bảng tổng hợp kết quả
ảnh, Thư kí 1 tuần Sổ ghi chép Băng ghi hình, ghi âm, phiếu hỏi Máy máy ghi âm
thành 1 tuần Bản báo cáo Video Máy quay Máy ảnh Máy ghi âm
Ghi chép lại ý kiến, thông tin phản hồi của các thành viên Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời, âm mưu thủ đoạn của các chiến lược chiến tranh của Mĩ (1965-1973)? Các viên -Trần Thu Linh -Nguyễn Mai Ninh
Bước 3: Thực hiện chủ đề
Các thành viên trong nhóm làm việc nghiêm túc và nhiệt tình. Đầu tiên, thu thập
thông tin: Các nhóm thực hiện công việc theo nhiệm vụ cụ thể gồm sưu tầm, ghi chép.
Để thực hiện tốt chủ đề, giải quyết nhiệm vụ được phân công, các em phải tìm những
nguồn tài liệu trên báo chí, internet, sách báo, tham khảo liên quan đến vấn đề mà các
em đang muốn lí giải…
Sau khi thu thập thông tin, giáo viên hướng dẫn học sinh xử lí thông tin. Các em
chia sẽ thông tin với nhau bằng cách phân tích, tổng hợp lựa chọn thông tin, phương
án tối ưu nhất, đưa ra kết luận, thống nhất hình thức trình bày trước lớp, phân công
công việc cụ thể cho các thành viên trong nhóm trong buổi báo cáo trên lớp. Các nhóm
có thể thảo luận cùng giáo viên để được hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời.
Tiếp đến, các nhóm tiến hành trình bày kết quả, mỗi nhóm lần lược báo cáo
trước lớp trong thời gian tối đa là 5-10 phút và tùy theo sự sáng tạo của mỗi nhóm, các
em có thể báo cáo dưới dạng: bài viết, tranh ảnh, xây dựng hoạt cảnh; video…Ví dụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nhóm 1: nhóm trưởng đại diện lên báo cáo trước lớp dưới hình thức Powerpoit về bối
cảnh Việt Nam đầu XX… Nhóm 1 báo cáo xong, các thành viên trong nhóm bổ sung,
các nhóm khác đưa câu hỏi xung quanh vấn đề của nhóm 1, sau đó giáo viên đưa ra
câu hỏi về tiểu chủ đề đã báo cáo. Cuối cùng giáo viên chốt lại: Nhân dân hai miền đã
lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mĩ bắng những thắng lợi vang dội ở
Vạn Tường, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968…
Ví dụ trên có tác dụng lớn đối với học sinh về kiến thức, kỹ năng và thái độ sau
khi dạy học theo chủ đề.
Về kiến thức: Có những hiểu biết về cuộc chiến đấu của quân dân ta ở miền Nam
đánh bại liến tiếp hai chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hoá chiến tranh”;
quân dân ta ở miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mĩ; về sự kết hợp giữa
cách mạng hai miền Nam - Bắc.
Về kỹ năng: Rèn luyện kĩ năng phân tích, nhận định, đánh giá âm mưu, thủ đoạn
của địch, tinh thần chiến đấu, lao động sản xuất xây dựng miền bắc; tình đoàn kết chiến
đấu giữa ba dân tộc ở Đông Dương và ý nghĩa thắng lợi của quân dân ta ở hai miền đất
nước. Kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ chiến sự, tranh, ảnh trong SGK.
Về tư tưởng: Bồi dưỡng lòng yêu nước gắn với chủ nghĩa xã hội, tình cảm ruột
thịt Bắc - Nam, tình đoàn kết chiến đấu giữa ba dân tộc ở Đông Dương, niềm tin vào
sự lãnh đạo của Đảng, vào tiền đồ cách mạng.
Tóm lại, phương pháp dạy học theo chủ đề có ý nghĩa quan trọng đối với môn
lịch sử ở trường THPT. Các chủ đề được giảng dạy không chỉ giúp học sinh hiểu sâu
sắc có hệ thống sự phát triển của lịch sử, mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, hiện
tượng lịch sử, mà còn mở rộng, làm phong phú vốn trí thức, giúp học sinh biết vận
dụng linh hoạt kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới và liên hệ, đánh giá vào thực
tiễn cuộc sống. Đồng thời qua học tập các chủ đề học sinh được rèn luyện, phát triển
kỹ năng tư duy, thực hành bộ môn và các năng lực cốt lõi như: phát hiện, giải quyết
vấn đề, hợp tác…
2.4.1.3. Dạy học theo dự án
Khái niệm
Dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
hướng người học đến việc lĩnh hội tri thức và kỹ năng thông qua các dự án có liên quan
đến các vấn đề có thực trong cuộc sống gắn liền với nội dung dạy học.
Mục tiêu của dạy học theo dự án: (1) Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn
kết nội dung học với cuộc sống thực tế; (2) Phát triển cho người học kĩ năng phát hiện
và giải quyết vấn đề; kĩ năng tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá); (3) Rèn
luyện nhiều kĩ năng (tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, kĩ năng làm việc theo nhóm, giao
tiếp…); (4) Cộng tác làm việc: các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm,
trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong
nhóm. Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm
việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội
khác tham gia trong dự án.
Ưu điểm của dạy học theo dự án: (1) Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và
hành động, nhà trường và xã hội; (2) Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người
học; (3) Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm; (4) Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;
(5) Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc;
Tiến trình thực hiện dạy học theo dự án
Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta chia cấu trúc của DHDA
làm nhiều bước khác nhau. Sau đây là một cách phân chia DHDA theo 5 bước.
Bước 1: Lập kế hoạch, bao gồm các công việc sau:
Xác định chủ đề: Giáo viên căn cứ vào nội dung bài học để xác định chủ đề hấp
dẫn và hứng thú với học sinh.
Lựa chọn các tiểu chủ đề: Giáo viên hướng dẫn học sinh phát triển tìm các chủ
đề nhỏ (tiểu chủ đề) làm tên của dự án.
Xác định mục đích của dự án về kiến thức, kỹ năng, thái độ cần đạt khi thực
hiện dự án.
Bước 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện.
Trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng
như kế hoạch cho việc thực hiện dự án. Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định
những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành
và phân công công việc trong nhóm.
Bước 3: Thực hiện dự án.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân.
Trong giai đoạn này, HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực
hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Kiến thức lý thuyết,
các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn. Trong quá trình đó
sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra.
Bước 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm.
Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận
văn… Trong nhiều dự án, các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành.
Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu
diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội. Sản phẩm
của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm , có thể được giới thiệu trong nhà trường,
hay ngoài xã hội.
Bước 5: Đánh giá kết quả
Sau khi trình bày báo cáo, các nhóm sẽ tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau và nhìn
lại quá trình thực hiện dự án. Giáo viên là người đánh giá cuối cùng: Mục tiêu học tập
đã đạt được hay chưa? Những thiếu sót gì đã bỏ qua? Các thành viên trong nhóm hoạt
động như thế nào? Có ưu điểm và hạn chế gì? ...Từ đó, rút ra những kinh nghiệm cho
việc thực hiện những dự án tiếp theo. Kết quả của dự án cũng có thể được đánh giá từ
bên ngoài.
Như vậy, trong dạy học dự án học sinh được lựa chọn các chủ đề của dự án. Để
một dự án có được mức độ khoa học cần thiết, học sinh phải rất nghiêm túc khi thực
hiện. Các em phải được giao trách nhiệm cũng như tạo cơ hội để thể hiện các sáng kiến
và được tham gia vào quá trình ra quyết định lựa chọn dự án.
Ví dụ: Vận dụng dạy học theo dự án vào dạy bài 16: Phong trào giải phóng dân
tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945). Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra
đời (tiết 26)
Bước 1: Để thực hiện dự án, trước tiên giáo viên cần lập kế hoạch cho dự án
gồm: Xác định chủ đề, lựa chọn tiểu chủ đề, mục đích của dự án.
Giáo viên xác định chủ đề của dự án mang tên: Cách mạng tháng Tám năm
1945.
Sau khi lựa chọn được chủ đề, giáo viên xác định mục tiêu của dự án trên các
mặt như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Về kiến thức: Học sinh trình bày được thời cơ, diễn biến, nguyên nhân thắng
lợi,ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của cách mạng tháng Tám năm 1945
Về kỹ năng: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng xác định kiến thức cơ bản, sự kiện
cơ bản. Kỹ năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện lịch sử
Về thái độ: Bồi dưỡng cho học sinh niềm tin vào sự lãnh đạo tài tình sáng suốt
của Đảng, từ đó học sinh có ý thức trân trọng, giữ gìn và phát huy thành quả Cách
mạng tháng Tám.
Định hướng phát triển năng lực: Phát triển ở học sinh năng lực tự chủ và tự học,
giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng
lực tìm hiểu xã hội, năng lực tin học.
Tiếp đó, bằng cách gợi ý, giáo viên hướng dẫn học sinh lựa chọn tiểu chủ đề
theo từng nội dung
Chủ đề 1: Tại sao nói Thời cơ của cách mạng tháng Tám là thời cơ ngàn năm
có một?
Chủ đề 2: Trình bày diễn biến của cách mạng tháng Tám?
Chủ đề 3: Nước VNDCCH đã ra đời như thế nào:
Chủ đề 4: Nguyên nhân thắng lợi,ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của
cách mạng tháng Tám năm 1945?
Bước 2: Giáo viên xây dựng kế hoạch cho dự án gồm:
Nội dung của dự án: Giáo viên chia cả lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm thực hiện
một tiểu chủ đề. Dự kiến sản phẩm của học sinh gồm: Trình bày, báo cáo, tranh ảnh,
bài viết, câu chuyện… mà các em sưu tầm được và trình bày sản phẩm trước lớp dưới
các hình thức: Tập san, video, bài thuyết trình trên Powerpoit, đóng kịch …
Triển khai dự án: Giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng đề cương cũng như
xác định kế hoạch làm việc cho dự án được triển khai. Trong kế hoạch thực hiện xác
định rõ công việc cần làm, địa điểm, đối tượng tìm hiểu, thời gian, kinh phí, phương
pháp tiến hành, phân công nhiệm vụ trong nhóm…
Xác định công việc cần thực hiện: Từ 4 chủ đề nhỏ, giáo viên cùng học sinh xác
định công việc cụ thể, mỗi nhóm là một chủ đề.
Nhóm 1: Tại sao nói Thời cơ của cách mạng tháng Tám là thời cơ ngàn năm có
một? Điều kiện khách quan,chủ quan, sưu tầm một số tranh ảnh cũng như tìm kiếm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nhân chứng lịch sử nếu có, các tác phẩm văn thơ liên quan đến chủ đề này. Em có nhận
xét gì chủ trương của Đảng trước thời điểm Nhật đầu hàng Đồng minh?
Nhóm 2: Tìm hiểu về diễn biến của cách mạng tháng Tám? sưu tầm tranh ảnh,
lược đồ. Em hãy đọc hoặc kể lại một câu chuyện liên quan đến chủ đề này.Học sinh
liên hệ với cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Bắc Ninh?
Nhóm 3: Tìm hiểu sự ra đời của nước VNDCCH? sưu tầm tranh ảnh,video về
nước VNDCCH. Em hãy đọc hoặc kể lại một câu chuyện liên quan đến chủ đề này.
Nhóm 4: Tìm hiểu nguyên nhân thắng lợi,ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm
của cách mạng tháng Tám năm 1945.HS rút ra nguyên nhân quan trọng nhất? Học sinh
liên hệ với bài học của cách mạng tháng Tám với công cuộc xây dựng đất nước hiện
nay?
Về địa điểm: Tại thực địa nơi địa phương còn lưu giữ lại những tư liệu cũng
như các nhân chứng lịch sử thời kì này, hoặc các em sưu tầm tài liệu qua sách báo,
mạng Internet.
Về đối tượng nghiên cứu: Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945
Về thời gian thực hiện: Các nhóm thực hiện dự án trong vòng một tuần.
Về phương pháp thực hiện: phỏng vấn nhân chứng lịch sử, sưu tầm, chụp ảnh,
quay phim, video, ghi chép về các tài liệu có liên quan…
Việc phân cộng nhiệm vụ cụ thể trong nhóm:
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN DỰ ÁN: “Cách mạng tháng Tám năm 1945”.
Nhóm số 1
Dự kiến Thời gian Tên thành viên Nhiệm vụ Phương tiện sản hoàn thành phẩm
Nhóm trưởng 1 tuần
Điều khiển, phân công,nhiệm vụ Bảng tổng hợp kết quả
Băng ghi hình,ghi âm, phiếu hỏi
Thư kí Ghi chép lại ý Máy ảnh,máy 1 tuần Sổ ghi chép
ghi âm
kiến, thông tin phản hồi của các
thành viên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Các thành viên - Trần Thu Hằng -Tìm hiểu thời cơ của cách mạng Máy quay Máy ảnh 1 tuần Bản báo cáo Video
tháng Tám Máy ghi âm
- Nguyễn Mai Linh
Bước 3: Thực hiện dự án. Ở bước này, đòi hỏi các thành viên trong nhóm làm
việc nghiêm túc và nhiệt tình.
Đầu tiên, thu thập thông tin: Các nhóm thực hiện công việc theo nhiệm vụ cụ thể
gồm: Sưu tầm, ghi chép, để thực hiện tốt dự án giải quyết nhiệm vụ đã phân công, các em
phải xâm nhập thực tế tìm kiếm nhân chứng lịch sử nếu trong điều kiện cho phép. Hoặc
có thể tìm những nguồn tài liệu khác trên báo chí, internet, sách báo, tham khảo ý kiến
của những chuyên gia liên quan đến vấn đề mà các em đang muốn lí giải…
Sau khi các nhóm thu thập thông tin, giáo viên hướng dẫn học sinh xử lí thông
tin. Các em chia sẻ thông tin với nhau bằng cách phân tích, tổng hợp lựa chọn thông
tin, phương án tối ưu nhất, đưa ra kết luận, thống nhất hình thức trình bày trước lớp,
phân công công việc cụ thể cho các thành viên trong nhóm trong buổi báo cáo dự
án trên lớp. Các nhóm có thể thảo luận cùng giáo viên để được hướng dẫn, giúp đỡ
kịp thời.
Bước 4: Các nhóm tiến hành trình bày kết quả, mỗi nhóm lần lượt trình bày trước
lớp trong thời gian tối đa là 5 phút và tùy theo sự sáng tạo của mỗi nhóm, các em có thể
báo cáo dưới dạng: bài viết, tranh ảnh, xây dựng hoạt cảnh; video… Ví dụ nhóm 1, nhóm
trưởng đại diện lên báo cáo trước lớp dưới hình thức Powerpoit về thời cơ của cách mạng
tháng Tám và những nhiệm vụ cụ thể được giao. Nhóm 1 báo cáo xong, các thành viên
trong nhóm bổ sung, các nhóm khác đưa câu hỏi xung quanh vấn đề của nhóm 1, sau đó
giáo viên chốt lại: Trước tình hình trên Đảng đã đưa ra chủ trương kịp thời,sáng suốt phát
lệnh Tổng khởi nghĩa trước khi quân Đồng minh vào nước ta.
Bước 5: Giáo viên và học sinh tiến hành đánh giá kết quả của các nhóm trong
suốt quá trình thực hiện dự án. Giáo viên có thể cho học sinh đánh giá theo mẫu sau:
Điểm đánh giá Ghi chú
Điểm tối đa 2 điểm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nội dung đánh giá Thời gian trình bày (từ 3-5 phút) Nội dung: Đúng trọng tâm Khoa học, logic Mạch lạc, dễ hiểu Hình thức trình bày: Hấp dẫn 2 điểm 1 điểm 1 điểm 1 điểm
Độc đáo, sáng tạo Trả lời phản biện Nhanh, chính xác Tổng điểm 1 điểm 2 điểm 10 điểm
Học sinh sẽ tự đánh giá trong nhóm, đánh giá lẫn nhau về quá trình thực hiện
dự án. Tiếp đến, giáo viên đánh giá, nhận xét về quá trình, kết quả thực hiện dự án của
các nhóm về mục tiêu học tập đạt được hay chưa? Khó khăn mà học sinh gặp phải, thời
gian thực hiện dự án có hợp lí không?... Tuyên dương, khen thưởng, góp ý cho các
thành viên trong nhóm.
Ví dụ trên có tác dụng lớn đối với học sinh về kiến thức, kỹ năng và thái độ:
Về kiến thức: Trong lịch sử đấu trang cách mạng của nhân dân ta, thắng lợi của
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt lớn của cách mạng, đưa dân
tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm
chủ vận mệnh của mình.
Về kỹ năng: Rèn luyện cho HS kĩ năng xác định kiến thức cơ bản, sự kiện cơ
bản, kĩ năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện lịch sử.
Về tư tưởng: Bồi dưỡng tinh thần nhiệt tình cách mạng; noi gương tinh thần
Cách mạng tháng Tám của ông cha, trân trọng giữ gìn và biết phát huy thành quả Cách
mạng tháng Tám.
Tóm lại, thông qua phương pháp DHDA, học sinh được khuyến khích để trở
thành một người làm việc độc lập, có tư duy phản biện, hình thành ở học sinh thói quen
học tập suốt đời, phát triển năng lực hợp tác của học sinh để làm việc với bạn của mình,
xây dựng đội nhóm và kĩ năng làm việc nhóm.
2.4.1.4. Phương pháp dạy học đóng vai
Khái niệm:
Phương pháp đóng vai trong DH là GV cung cấp kịch bản và đạo diễn, HS hành
động theo các vai diễn. Qua đó, HS được học cách suy nghĩ, thể hiện thái độ và hành
động cũng như các kĩ năng ứng xử khác của nhân vật trong kịch bản. Đóng vai là
phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử nào đó trong một tình
huống giả định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Dạy học bằng phương pháp đóng vai là một trong các phương pháp dạy học chủ
động, ngày càng được ứng dụng rộng rãi, là phương pháp dạy học cơ bản và tốt nhất
về kỹ năng giao tiếp - một kỹ năng cần thiết và quan trọng để người học hoạt động
được trong một tập thể, cộng đồng.
Quy trình thực hiện:
Bước 1: Phổ biến tình huống và chia nhóm thực hiện:
Việc lựa chọn tình huống để đóng vai có ý nghĩa rất quan trọng, hiệu quả của
phương pháp này sẽ được nhân lên nếu như giáo viên lựa chọn tình huống phù hợp.
Thông thường đó phải là những tình huống có "vấn đề", kịch tính... để tạo hấp dẫn,
tránh lựa chọn những chủ đề quá đơn giản, chỉ có một phương án giải quyết sẽ mang
lại hiệu quả không cao.
Bước 2: Các nhóm thảo luận và phân công vai diễn:
Tình huống đóng vai nên để mở, giáo viên không cho trước "kịch bản", lời thoại
cho học sinh. Kịch bản cho mỗi tình huống phải được các thành viên trong nhóm thảo
luận, thống nhất và phân công cho từng người. Trong khi học sinh thảo luận và phân
công vai diễn, giáo viên nên đi đến từng nhóm lắng nghe, gợi ý, giúp đỡ học sinh khi
cần thiết. Khuyến khích các nhóm sử dụng hóa trang và các đồ dùng dạy học trong khi
đóng vai để tăng tính hấp dẫn.
Bước 3: Các nhóm thực hiện đóng vai:
Giáo viên bố trí lớp học sao cho cả lớp cùng quan sát được cảnh diễn, nhắc nhở
các nhân vật tránh quay lưng về phía lớp học. Giáo viên lựa chọn một nhóm thực hiện
đóng vai. Giáo viên bao quát lớp và cắt cảnh diễn đúng lúc, không để quá giờ hay đi
chệch nội dung.
Bước 4: Cả lớp thảo luận, nhận xét:
Sau cảnh diễn, giáo viên trao đổi, hỏi đáp cùng cả lớp về những nhận xét, suy
nghĩ của họ về nội dung và những vấn đề thể hiện trong cảnh diễn. Thường thì bắt đầu
về cách ứng xử của các nhân vật cụ thể (phù hợp hay chưa phù hợp, nêu cụ thể chỗ
chưa phù hợp) hoặc tình huống trong cảnh diễn, nhưng sẽ mở rộng phạm vi thảo luận
những vấn đề khái quát hơn hay những vấn đề mà cảnh diễn chứng minh.
Bước 5: Giáo viên tổng kết:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Giáo viên kết nối ý kiến học sinh với mục đích của tình huống; định hướng vào
nội dung bài giảng; bổ sung thêm ý kiến bình luận nếu thiếu; sửa lỗi (nếu có) khi đóng
vai. Nếu còn thời gian, có thể mời nhóm khác lên thực hiện đóng vai "mẫu" theo kết
quả nhận xét của cả lớp và ý kiến tổng kết của giáo viên.
Ví dụ: Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy Bài 16 mục II.3. 3. Nguyễn Ái
Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Hội nghị lần thứ 8 BCHTW Đảng CS
Đông Dương.
Bước 1: Phổ biến tình huống và chia nhóm thực hiện:
GV chia lớp làm 4 nhóm, đại diện của mỗi nhóm sẽ đóng vai một nhân vật lịch
sử, đại biểu dự hôi nghị. Hình thức tổ chức là một học sinh đóng vai trò người dẫn dắt,
giới thiệu với bảng phân vai như sau:
Nhóm 1: Cử một học sinh đảm nhiệm vai trò Nguyễn Ái Quốc - chủ trì hội nghị
Nhóm 2: Cử một học sinh vai Trường Chinh - Tổng Bí thư
Nhóm 3: Cử một học sinh vai Hoàng Văn Thụ - ủy viên
Nhóm 4: Cử một học sinh Hoàng Quốc Việt - thư kí hội nghị
Các học sinh còn lại là đại biểu dự hội nghị.
Bước 2: Các nhóm thảo luận và phân công vai diễn:
Giáo viên không cho trước "kịch bản", lời thoại cho học sinh. Kịch bản cho mỗi
tình huống phải được các thành viên trong nhóm thảo luận, thống nhất và phân công cho
từng người. Trong khi học sinh thảo luận và phân công vai diễn, giáo viên đi đến từng
nhóm lắng nghe, gợi ý, giúp đỡ học sinh khi cần thiết. Khuyến khích các nhóm sử dụng
hóa trang và các đồ dùng dạy học trong khi đóng vai để tăng tính hấp dẫn.
Bước 3: Các nhóm thực hiện đóng vai:
Giáo viên lựa chọn lần lượt các nhóm thực hiện đóng vai. Giáo viên bao quát
lớp và cắt cảnh diễn đúng lúc, không để quá giờ hay đi chệch nội dung
Ví dụ lời thoại cho nhóm 1: Đóng vai Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị lần 8
tháng 5 /1941: “ Chiến tranh thế giới đang lan rộng, phát xít Đức đang ráo riết chuẩn
bị đánh Liên Xô, phát xít Nhật sắp gây ra cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. Chiến
tranh sẽ làm các nước đế quốc suy yếu, phong trào cách mạng thế giới sẽ phát triển một
cách nhanh chóng. Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước
xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công.Vì vậy cách mạng Đông Dương
hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, giải quyết hai vấn đề phản đế
và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp: dân tộc
giải phóng. Do vậy, chính sách mới của Đảng là phải đặt quyền lợi của bộ phận, của
giai cấp dưới quyền lợi giải phóng của toàn thể dân tộc; quyền lợi của nông dân, thợ
thuyền phải đặt dưới quyền lợi giải phóng, độc lập của toàn dân. Cuộc cách mạng Đông
Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Đây chính là nhiệm vụ trung
tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện thời. Dự kiến hình thức khởi nghĩa
là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa”
Bước 4: Cả lớp thảo luận, nhận xét:
Sau cảnh diễn, giáo viên trao đổi, hỏi đáp cùng cả lớp về những nhận xét, suy
nghĩ của học sinh về nội dung và những vấn đề thể hiện trong cảnh diễn như nhiệm
vụ,phương pháp…
Bước 5: Giáo viên tổng kết:
Giáo viên nhận xét phần đóng vai, trả lời của học sinh, biểu dương, cho điểm,
rút kinh nghiệm ,sau đó nhấn mạnh lại trọng tâm của bài học: Hội nghị lần 8 tháng
5/1941 có tầm quan trọng đặc biệt đối với cách mạng tháng Tám năm 1945 vì đã hoàn
chỉnh về chủ trương đường lối so với hội nghị tháng 11/1939 đưa vấn đề giải phóng
dân tộc lên hàng đầu và ở phạm vi từng nước Đông Dương, góp phần quan trọng vào
thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945.
Ví dụ trên tác dụng lớn đối với học sinh về kiến thức, kỹ năng và tư tưởng:
Về kiến thức: Cách mạng tháng Tám thắng lợi là kết quả của quá trình chuẩn bị
lâu dài trong suốt 15 năm qua các phong trào 1930-1931,1936-1939,1939-1945.Đặc
biệt là quá trình hoàn chỉnh đường lối đấu tranh của Đảng qua Hội nghị Trung ương
Đảng lần 8 tháng 5/1941 với vai trò to lớn của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh.
Về kỹ năng: Rèn luyện cho HS kỹ năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện
lịch sử. Rèn luyện kĩ năng trình bày, phản biện, hợp tác.
Về tư tưởng: Bồi dưỡng cho HS niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần
hăng hái, nhiệt tình cách mạng, ý thức độc lập, tự do dân tộc, niềm biết ơn và tự hào về
tinh thần anh dũng, bất khuất của các chiến sĩ cách mạng
Như vậy, việc sử dụng trò chơi trong dạy học Lịch sử làm cho giờ học trở nên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sinh động, học sinh thích thú đối với môn học, tích cực xây dựng bài, học sinh không
còn e ngại và mạnh dạn hơn trong cách đưa ra nhận xét cũng như phân tích các sự kiện
lịch sử, có tinh thần phối hợp, đoàn kết và hợp tác trong học tập. Điều quan trọng nhất
là HS hiểu rõ và nắm vững các sự kiện lịch sử, kết quả học tập cũng cao hơn.
2.4.2. Trong hoạt động ngoại khóa
2.4.2.1. Tổ chức dạ hội lịch sử
Trong các hình thức ngoại khóa, dạ hội lịch sử là hình thức mang tính tổng hợp,
khó thực hiện nhưng lại thu hút được nhiều HS tham gia. Dạ hội lịch sử đòi hỏi sự phối
hợp tổ chức của GV cùng với nhiều nhóm HS. Trong DHLS, dạ hội tạo điều kiện cho
HS tìm hiểu thêm về mối liên hệ giữa các sự kiện với bối cảnh lịch sử nhất định, giữa
các nhân vật LS với nhau…Vì vậy, dạ hội lịch sử không chỉ góp phần làm phong phú
thêm vốn tri thức, khơi dậy những xúc cảm nơi người học mà còn có ưu thế trong việc
phát triển NLHT cho HS. NLHT thể hiện ở chỗ HS được rèn luyện khả năng làm việc
độc lập, khả năng tổ chức nhóm, cộng tác giữa các thành viên với nhau, khả năng diễn
đạt và giao tiếp,bồi dưỡng năng khiếu biểu hiện…Dạ hội lịch sử không chỉ tạo được
hứng thú cho người học mà đảm bảo.
Quy trình của buổi dạ hội lịch sử gồm các bước sau:
Bước 1: Bắt đầu buổi dạ hội, Ban tổ chức mở đầu buổi dạ hội bằng ba bài hát
hát và chơi trò chơi tập thể.
Bước 2: Khai mạc dạ hội
Ban tổ chức giới thiệu đại biểu tới dự (nếu có), giới thiệu chủ đề dạ hội, mục
đích, ý nghĩa của buổi dạ hội. Công bố chương trình theo bản chương trình mà Ban tổ
chức đã thống nhất. Giới thiệu người dẫn chương trình lên điều hành buổi dạ hội. Người
điều khiển chương trình phải nắm vững nội dung chính của buổi dạ hội để hướng mọi
người đến những vấn đề chủ yếu đã đề ra, đồng thời phải linh hoạt, tùy cơ ứng biến.
Bước 3: Tiến hành nội dung buổi dạ hội.
Người dẫn chương trình nêu vấn đề, phổ biến nội dung thông qua các hình thức:
diễn giảng (nói chuyện theo chủ đề như chính trị, thời sự, khoa học kỹ thuật…); tọa
đàm (các thành viên cùng tham gia thảo luận một chủ đề); sinh hoạt văn nghệ; biểu
diễn nghệ thuật; sinh hoạt ngoài trời với những hoạt động thể dục thể thao, tham quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
du lịch…; giới thiệu sách báo. Người dẫn chương trình cần tạo không khí cởi mở, vui
vẻ, động viên, khuyến khích các thành viên tham gia phát biểu hoặc chia sẻ các vấn đề
mình quan tâm trong buổi sinh hoạt.
Bước 4: Kết thúc buổi dạ hội.
Ban tổ chức tổng kết, cám ơn các thành viên đã tham gia sinh hoạt, biểu dương
những người nhiệt tình tham gia vào các nội dung buổi dạ hội.
Ví dụ: Tổ chức buổi DHLS với chủ đề: “Âm vang chiến thắng Điện Biên”.
Chương trình dự kiến kỉ niệm 66 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (1954 - 2020)
tại trường THPT Lương Tài sẽ giúp HS ôn lại những kí ức hào hùng, vẻ vang của dân
tộc, quan trọng nhất là gửi tới thế hệ trẻ thông điệp về những truyền thống của dân tộc
cũng như trách nhiệm của mình trong xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Chủ đề buổi dạ hội
được công bố trước một tuần để HS có thời gian chuẩn bị và được tổ chức cho toàn bộ
HS khối 12 tham gia.
Chương trình của buổi dạ hội
Trước khi buổi dạ hội bắt đầu, hai HS nam và nữ có giọng nói hay đóng vai trò
dẫn chương trình bước ra sân khấu mời khán giả là các vị đại biểu, thầy cô giáo và học
sinh cùng nhau hát bài “Lên đàng”. Việc làm này giúp tăng thêm không khí hào hùng
cho buổi dạ hội, đồng thời có tác dụng ổn định trật tự tạo sự chú ý và chuẩn bị tốt về
tâm lý cho các đội chơi và khán giả hướng tới sân khấu.
Sau màn tiết mục hát múa, chương trình bắt đầu với nghi lễ chào cờ.
Khai mạc: Người dẫn chương trình giới thiệu nội dung chương trình dạ hội,
tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu và mời thầy hiệu trưởng lên đọc diễn văn kỉ niệm 66
năm chiến thắng Điện Biên Phủ.
Một hoạt cảnh LS khoảng 15 phút do nhóm HS nam, nữ diễn xuất khái quát lại
một số sự kiện tiêu biểu trong phong trào đấu tranh chống pháp của nhân dân ta từ khi
Đảng ra đời đến Cách mạng tháng Tám 1945. Hoạt cảnh tập trung vào giai đoạn 1945-
1954 thông qua các chiến dịch Việt Bắc, Biên giới thu đông 1950, Đông Xuân 1953-
1954 với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ. Qua phần hoạt cảnh, khán giả sẽ nhận
thức được vai trò lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tiếp đó là tiết mục hát múa tập thể với “Liên khúc Điện Biên” gồm các bài hát
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
“Hò kéo pháo” (Hoàng Vân), “Chiến thắng Him Lam” và “Bài ca giải phóng Điện
Biên”. Nội dung bài hát ca ngợi về tinh thần bộ đội cụ Hồ trước khi bước vào trận đánh
và những niềm vui chiến thắng khi chiến dịch kết thúc.
Nội dung: Tổ chức cho các đội thi tham gia trò chơi LS. Với sự hỗ trợ của công
nghệ thông tin Ban tổ chức cuộc thi có thể thiết kế nhiều dạng trò chơi với tên gọi như:
Khởi động, Lật mở trang sử, Theo dòng LS, Nhận diện LS, Nhà sử học thông thái, Hiểu
ý đồng đội, Nhà hùng biện tài ba…
Ở phần thi “Khởi động” mỗi đội sẽ được thi tài một lần. Ban tổ chức sẽ giành
cho mỗi đội 60 giây để trả lời nhanh 10 câu hỏi. Đội nào trả lời được nhiều câu hỏi thì
được nhiều điểm. Nếu câu hỏi khó,các đội có quyền yêu cầu MC chuyển.Trả lời đúng
mỗi câu,đội chơi sẽ được 10 điểm.
Trò chơi “Theo dòng LS” sẽ dành cho 4 đội chơi cùng tham dự. Ban tổ chức sẽ
có 10 câu hỏi để các đội cùng nhau tranh tài. Người dẫn chương trình đọc câu hỏi xong,
các đội chơi sẽ có 15 giây suy nghĩ rồi trả lời. Trả lời đúng cả 10 câu đội chơi được 10
điểm.
Xen kẽ với các trò chơi LS là phần thi dành cho khán giả với tên gọi “Tôi là ai”.
Ban tổ chức chuẩn bị khoảng 3 câu hỏi mô tả lại công lao hoặc sự thất bại của một nhân
vật liên quan đến chiến thắng Điện Biên Phủ để HS nhận diện trả lời. Nếu trả lời đúng,
HS sẽ nhận được một phần quà từ ban tổ chức
Trong quá trình tổ chức cho khán giả tham gia trò chơi đố vui có thưởng, ban
giám khảo sẽ chấm thi các tập san LS, tranh ảnh triển lãm hoặc tranh vẽ cổ động kỉ
niệm 66 năm chiến thắng Điện Biên Phủ của các tập thể và cá nhân. Các sản phẩm
tham gia dự thi được trưng bày ở hai bên sân khấu. Sau khi chấm phần trưng bày sản
phẩm của các tập thể và cá nhân, ban giam khảo sẽ họp hội ý để thống nhất kết quả.
Sau khi có kết quả từ Ban Giám khảo,MC lên công bố kết quả chung cuộc các nội dung
thi. Đại diện ban tổ chức lên chúc mừng ,tặng quà và nhận xét,tổng kết.
Để kết thúc dạ hội, một tốp HS nam, nữ bước ra sân khấu mời khán giả cùng hát
vang “ Bài ca giải phóng Điện Biên”.
Kết thúc dạ hội
Ban tổ chức tổng kết, cám ơn các thành viên đã tham gia, biểu dương những
người nhiệt tình tham gia vào các nội dung buổi dạ hội .Sau dạ hội Ban tổ chức sẽ họp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tổng kết, rút kinh nghiệm cho những hoạt động Ngoại khóa lần sau tốt hơn.
Qua ví dụ trên, có tác dụng lớn đối với học sinh về kiến thức, kỹ năng và thái
độ sau khi tổ chức buổi dạ hội
Về kiến thức: Điện Biên Phủ là thắng lợi quân sự lớn nhất của quân đội và nhân
dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), tiêu diệt tập
đoàn cứ điểm mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương, làm cho kế hoạch Nava thất bại hoàn
toàn; làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương.Tạo điều kiện thuận lợi cho
cuộc đấu tranh ngoại giao của Việt Nam giành thắng lợi. Trong chiến tranh, đấu tranh
quân sự luôn giữ vai trò quyết định. Chiến thắng Điện Biên Phủ là lợi thế của Việt Nam
trong đấu tranh ngoại giao. Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bước vào
Hội nghị Giơnevơ với tư cách một dân tộc chiến thắng.
Về kỹ năng: Rèn năng lực giao tiếp, hợp tác, phản biện, trình bày vấn đề, hứng
thú trong học tập
Về tư tưởng: Bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, truyền thống yêu nước của cha ông
ta, có ý thức bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền trong thời đại ngày nay.
Như vậy, việc tổ chức dạ hội lịch sử trong hoạt động ngoại khóa có sức hấp dẫn
kỳ lạ, không đơn thuần là phương tiện giải trí bổ ích mà qua đó giúp HS dễ hiểu, dễ
khắc sâu kiến thức, nắm được một số kĩ năng quan trọng như KN giao tiếp, KN vận
động nhanh nhẹn, khéo léo, KN hợp tác, KN làm việc nhóm, KN ra quyết định, điều
đặc biệt hơn cả là qua tổ chức dạ hội Lịch sử sẽ kích thích HS học tập, các em sẽ lĩnh
hội tri thức lịch sử một cách dễ dàng, củng cố kiến thức một cách vững vàng, tạo niềm
say mê, hứng thú hơn trong giờ học lịch sử.
2.4.2.2. Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Khái niệm
Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục trong trường phổ thông, tạo cơ hội
cho HS huy động, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học, các lĩnh vực giáo dục
để trải nghiệm thực tiễn trong nhà trường, gia đình và xã hội. Dưới sự tổ chức, hướng
dẫn của GV, HS được chủ động khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, qua đó, hình thành
những phẩm chất tốt đẹp và phát triển năng lực chung cũng như năng lực chuyên biệt
cho HS. Đối với bộ môn Lịch sử, HĐTN đã và đang được vận dụng linh hoạt trong quá
trình dạy học ở trường THPT với hình thức phong phú, cả trong giờ học nội khóa trên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
lớp, ngoài lớp và hoạt động ngoại khóa.
Tổ chức HĐTN trong môn Lịch sử góp phần cụ thể hoá, làm sâu sắc, phong phú,
sinh động kiến thức môn học, là cơ hội để HS rèn luyện kĩ năng bộ môn. Đồng thời,
bồi dưỡng cho HS tinh thần chủ động, ý thức tự giác, trách nhiệm trong học tập và cuộc
sống, say mê, hứng thú học tập bộ môn. Qua đó, góp phần phát triển toàn diện phẩm
chất và năng lực HS,đặc biệt là NLHT, năng lực giao tiếp…
Quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm trong dạy học Lịch sử ở trường THPt.
Để HĐTN trong dạy học Lịch sử đạt hiệu quả tốt, GV cần lựa chọn nội dung kiến
thức tiêu biểu trong SGK ; cần xác định địa điểm và thời gian tổ chức phù hợp; cần có sự
chuẩn bị chu đáo về nội dung, hình thức, cách thức tổ chức tiến hành; chủ động, linh hoạt
vận dụng nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học, biện pháp sư phạm phù hợp và theo
dõi, đánh giá kết quả HĐTN của HS bằng nhiều hình thức khác nhau. Quy trình thiết kế
HĐTN trong dạy học Lịch sử của GV cần thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Lập kế hoạch, lựa chọn chủ đề và xác định mục tiêu của nội dung trải
nghiệm. Ở bước này cả GV và HS cùng chọn chủ đề và mục đích của bài học.
Bước 2: Xây dựng đề cương nội dung trải nghiệm. Đây là bước chuẩn bị của cả
giáo viên và học sinh trước khi bắt tay vào tổ chức HĐTN.
Bước 3: Thực hiện hoạt động trải nghiệm. Ở bước này, GV thường xuyên quan
sát, theo dõi các nhóm HS để biết rõ tiến trình làm việc của từng nhóm, kịp thời động
viên giúp đỡ và giải quyết những thắc mắc của các nhóm. HS thực hiện hoạt động theo
nội dung đã được hướng dẫn, gợi ý.
Bước 4: Trình bày, báo cáo sản phẩm. Kết quả của việc trải nghiệm có thể viết
dưới các dạng khác nhau như bản thu hoạch, bản báo cáo, tiểu luận, báo, tập san ảnh
và có thể được trình bày bằng Powerpoint, được thiết kế thành các đoạn phim, video
hoặc các slide.
Bước 5: Đánh giá kết quả HĐTN. HS các nhóm đánh giá lẫn nhau và tự đánh
giá kết quả học tập của nhóm mình. GV nhận xét quá trình thực hiện HĐTN và sản
phẩm của mỗi nhóm, rút kinh nghiệm và lưu kết quả hoạt động của từng nhóm.
Ví dụ: Tổ chức hoạt động TNST dưới hình thức tham quan tại Bảo tàng Bắc
Ninh. Kế hoạch tham quan trải nghiệm được tiến hành như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Bước 1: Chọn đề tài và xác định mục tiêu của buổi trải nghiệm
Chủ đề được chọn của buổi trải nghiệm là:“Sáng mãi tấm gương người chiến sĩ
cách mạng tỉnh Bắc Ninh”.
Xác định mục tiêu chủ đề của buổi trải nghiệm: Sau khi thực hiện buổi trải
nghiệm tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh, mục tiêu cần đạt như sau:
Về kiến thức: Kể lại được những tấm gương nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối
xuất sắc của quê hương Bắc Ninh như đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng
Quốc Việt…và tấm gương chiến sĩ cách mạng tỉnh Bắc Ninh bị địch bắt tù đày tại các
nhà tù thực dân, đế quốc. Trình bày được phong trào yêu nước của nhân dân Bắc Ninh
từ khi có Đảng.
Về kỹ năng: Rèn luyện cho HS kĩ năng thu thập, xử lí thông tin, quan sát, kĩ
năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện lịch sử; kĩ năng làm việc nhóm, thuyết
trình một vấn đề lịch sử cho HS. Đồng thời, phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác; tự
học, giải quyết vấn đề.
Về tư tưởng: Thông qua buổi trải nghiệm góp phần bồi dưỡng cho HS lòng tự
hào và tình yêu quê hương, nâng cao ý thức bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Từ đó, tạo niềm vui, hứng thú trong học tập Lịch sử.
Bước 2: Công tác chuẩn bị:
(1) Giáo viên:
Xây dựng kế hoạch buổi trải nghiệm tại Bảo tàng Bắc Ninh, tại nhà và nơi ở của
Nguyễn Văn Cừ. Ngay từ đầu năm học, GV môn Lịch sử đề xuất với tổ chuyên môn
và Ban Giám hiệu nhà trường kế hoạch về buổi trải nghiệm. Xác định rõ mục tiêu, nội
dung, cách thức tiến hành, dự trù kinh phí cho buổi trải nghiệm. Trước buổi trải nghiệm
một tuần, GV liên hệ trước với Bảo tàng, Ban Quản lí di tích, gặp gỡ trao đổi với cán
bộ hướng dẫn khu du tích, trình bày mục đích, yêu cầu của buổi học để thống nhất kế
hoạch phối hợp; phổ biến rõ cho HS nội dung của buổi trải nghiệm, chia nhóm HS,
giao nhiệm vụ và hướng dẫn tìm hiểu tư liệu cho từng nhóm. Trước buổi trải nghiệm
một ngày, GV phổ biến lại mục đích, yêu cầu của buổi trải nghiệm. Thông báo tới phụ
huynh HS để phối hợp và tạo điều kiện cho buổi trải nghiệm diễn ra an toàn và hiệu
quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
(2) Chuẩn bị của HS
HS các nhóm nhận nhiệm vụ, tự phân công nhóm trưởng và thư kí. Nhóm trưởng
sẽ giao nhiệm vụ thực hiện cho từng thành viên để sưu tầm và xử lí nguồn tài liệu;
chuẩn bị sổ sách ghi chép, mỗi thành viên tìm hiểu một nội dung; chuẩn bị sẵn các
phương tiện, thiết bị cần thiết; các nhóm lên kế hoạch chuẩn bị bài thuyết trình... Dự
kiến thời gian buổi trải nghiệm kéo dài trong một buổi sáng từ 7h15 đến 10h30 địa
điểm tại Bảo tàng Bắc ninh và Ngôi nhà, nơi sinh ra và lớn lên của ba đồng chí Ngô
Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt
Bước 3: Tiến trình buổi trải nghiệm: GV hướng dẫn tuyên bố lí do và thành
phần tham dự buổi trải nghiệm (đại diện Ban Quản lí di tích tỉnh, Ban Giám khảo; GV
hướng dẫn thực nghiệm; GV hỗ trợ); giới thiệu khái quát nội dung buổi trải nghiệm
(đại diện Ban Quản lí di tích phát biểu; thuyết minh viên hỗ trợ hướng dẫn các vị trí di
tích, thuyết minh về di tích (trong kịch bản đã thống nhất); nhắc lại nhiệm vụ của các
nhóm (cụ thể: “nhóm Ngô Gia Tự” viết kịch bản thuyết minh về cuộc đời và sự nghiệp
của Ngô Gia Tự ; “nhóm Nguyễn Văn Cừ viết kịch bản thuyết minh về cuộc đời và sự
nghiệp của Nguyễn Văn Cừ”; “nhóm Hoàng Quốc Việt viết kịch bản thuyết minh về
cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng Quốc Việt. Ngoài ra, các nhóm đều có nhiệm vụ
chung là “giải mật thư” của Ban Giám khảo và trả lời phỏng vấn, quay phim, chụp ảnh
làm tư liệu để viết bài thu hoạch sau trải nghiệm.
HS tập trung tại một điểm, nghe GV bộ môn tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu,
thành phần Ban Giáo khảo, phổ biến nội dung buổi trải nghiệm.
(1) Mở đầu, các nhóm trải nghiệm tại Bảo tàng Bắc Ninh (thời gian từ 8h-9h45)
nghe hướng dẫn viên thuyết trình về các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày trong
kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.Với việc nghe, trả lời mật thư và quan sát, chụp
ảnh tại bảo tàng sẽ giúp HS hiểu sâu sắc giá trị truyền thống đánh giặc của quê hương
(2) Trải nghiệm tại nơi sinh ra và lớn lên của đồng chí Ngô Gia Tự (thời gian từ
9h- 10h45). HS các nhóm nghe thuyết minh viên giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp
của Ngô Gia Tự. Trên cơ sở đó, HS của nhóm có thể chọn một nội dung ấn tượng nhất
để thuyết minh lại.Tiếp đó, 3 nhóm “giải mật thư”: Với nhiệm vụ của “nhóm Ngô Gia
Tự”, HS không chỉ chăm chú nghe, chọn lọc và ghi chép nhanh thông tin tiêu biểu, mà
còn phải thuyết trình lại ngắn gọn nội dung ấn tượng nhất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
(3) Trải nghiệm tại nơi sinh ra và lớn lên của đồng chí Nguyễn Văn Cừ (thời
gian từ 10h-10h50). HS các nhóm nghe “nhóm Nguyễn Văn Cừ” đóng vai hướng dẫn
viên thuyết trình về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Cừ. Tiếp đó, HS 3 nhóm
“giải mật thư”: Với việc thuyết trình và trả lời mật thư sẽ giúp HS hiểu sâu sắc về vai
trò của Nguyễn Văn Cừ đối với phong trào dân chủ 1936-1939. Trong quá trình trải
nghiệm tại mỗi di tích, HS được tự tham quan, chụp ảnh, sưu tầm tư liệu chuẩn bị cho
bài tập thu hoạch sau buổi trải nghiệm.
(4) Trải nghiệm tại nơi sinh ra và lớn lên của đồng chí Hoàng Quốc Việt (thời
gian từ 11h-11h40). HS các nhóm nghe “nhóm Hoàng Quốc Việt” đóng vai hướng dẫn
viên thuyết trình về cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng Quốc Việt. Tiếp đó, HS 3 nhóm
“giải mật thư”: Với việc thuyết trình và trả lời mật thư sẽ giúp HS hiểu sâu sắc về vai
trò Hoàng Quốc Việt đối với cách mạng Việt Nam. Trong quá trình trải nghiệm tại mỗi
di tích, HS được tự tham quan, chụp ảnh, sưu tầm tư liệu chuẩn bị cho bài tập thu hoạch
sau buổi trải nghiệm.
Bước 4: Các nhóm trình bày, báo cáo sản phẩm. Kết quả việc trải nghiệm là bản
thu hoạch, bản báo cáo, tiểu luận, báo, tập san ảnh và có thể được trình bày bằng
Powerpoint, được thiết kế thành các đoạn phim, video hoặc các slide.
Bước 5: Đánh giá hoạt động trải nghiệm tại Bảo tàng Bắc Ninh,tại Ngôi nhà, nơi
sinh ra và lớn lên của ba đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt.
Sau buổi trải nghiệm, đại diện Ban Giám khảo, GV hướng dẫn nhận xét, khen
thưởng, rút kinh nghiệm và tuyên bố kết thúc buổi trải nghiệm. Đồng thời, GV giao bài
tập về nhà cho HS, mỗi nhóm xây dựng một video theo nhiệm vụ đã trải nghiệm, quảng
bá về khu di tích trên trang Page với chủ đề “Sáng mãi tấm gương người chiến sĩ cách
mạng tỉnh Bắc Ninh”. Mỗi video có thời lượng tối thiểu 03 phút và tối đa 04 phút, có
nhạc nền, hình ảnh đẹp, sống động. Sản phẩm của cá nhân HS là một bài viết ngắn
(khoảng 1 trang) về những ấn tượng sâu sắc nhất trong buổi trải nghiệm.
Việc tổ chức HĐTN tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh có tác dụng lớn đối với HS trên
các mặt kiến thức, kỹ năng, tư tưởng:
Về kiến thức: Ba đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt là
chiến sĩ kiên trung của Đảng có vai trò to lớn đối với quá trình thành lập Đảng và phong
trào cách mạng trong những năm 1936-1939, 1939-1945.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Về kỹ năng: HS được rèn luyện nhiều kĩ năng cơ bản: kĩ năng thuyết trình, kĩ
năng quan sát, kĩ năng hợp tác và giải quyết nhiệm vụ học tập.
Về tư tưởng : Giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho thế hệ trẻ, góp
phần định hướng tư tưởng, thắp sáng niềm tin và truyền lửa cho thanh niên, xây dựng
lớp thế hệ trẻ sống có hoài bão, ước mơ...
Như vậy, với những HĐTN này, sẽ kích thích tính tò mò cho HS đồng thời có
tác dụng thúc đẩy nhu cầu cần tìm hiểu lại vừa khuyến khích HS mở rộng thêm kiến
thức đây là một biện pháp rất hiệu quả trong việc phát triển NL cho HS trong hoạt động
ngoại khóa ở THPT.
2.4.2.3. Tổ chức trò chơi Lịch sử
Khái niệm
Trò chơi trong dạy học có nhiều cấp độ từ việc chơi cho vui trước khi học, đến
việc học dưới hình thức trò chơi và đến mức độ cao hơn là học tập từ trò chơi. Tăng
cường tổ chức trò chơi trong dạy học Lịch sử là hình thức ngoại khóa gọn nhẹ, dễ tổ
chức mà hấp dẫn HS. Đây không chỉ là một việc giải trí mà đòi hỏi HS phải phát huy
năng lực tư duy, trí thông minh, phát triển NLHT để cùng nhau giải quyết vấn đề đặt
ra. Nếu trò chơi không đòi hỏi sự nỗ lực, không đòi hỏi sự hoạt động tích cực của tư
duy thì trò chơi đó chưa đạt yêu cầu. Khi tham gia Trò chơi, HS được cùng nhau tranh
luận và đánh giá, giúp cho HS biết tiếp thu những nhận xét phê bình của bạn đồng thời
biết cách khắc phục, sửa chữa những thiếu sót của bản thân khi tham gia trò chơi. Đây
chính là biểu hiện rõ nét nhất của NLHT
Quy trình tiến hành trò chơi
Bước 1: Căn cứ mục tiêu giáo dục, lựa chọn nội dung mà học sinh cần lĩnh hội,
từ đó lựa chọn hình thức chơi phù hợp để truyền đạt nội dung.
Bước 2: Thiết kế trò chơi, quy tắc chơi, lựa chọn phương tiện và địa điểm chơi.
Bước 3: Xác định đối tượng tham gia trò chơi, quy mô trò chơi: Xác định số
lượng học sinh tham gia, có thể nhóm nhỏ (từ 2 đến 4 hoặc 5 học sinh) hoặc nhóm lớn
(từ 10 đến 15 học sinh); Có thể là một lớp hoặc khối lớp, toàn trường.
Bước 4: Tổ chức trò chơi theo kế hoạch. Chú ý đảm bảo nguyên tắc an toàn,
giáo dục, vui.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Bước 5: Tổng kết hoạt động, nhận xét đánh giá học sinh trong quá trình
hoạt động.
Như vậy, tổ chức trò chơi cho học sinh trong nhà trường phổ thông là một hình
thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo có tính phổ biến và có ý nghĩa giáo dục
tích cực.
Ví dụ: Tổ chức trò chơi lịch sử trong hoạt động ngoại khóa với chủ đề: “Tổng
tiến công và nổi dậy Xuân 1975- Một mốc son lịch sử”.
Bước 1: GV căn cứ mục tiêu giáo dục, lựa chọn nội dung mà học sinh cần lĩnh
hội, từ đó lựa chọn hình thức chơi phù hợp để truyền đạt nội dung, cụ thể:
Về kiến thức: Trình bày được diễn biến chính những chiến dịch lớn trong cuộc
tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1975, phân tích ý nghĩa từng chiến dịch. Rút ra nguyên
nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước.
Về kỹ năng: Rèn luyện kỹ năng tổng hợp, lập bảng biểu, phân tích, tái hiện sự
kiện lịch sử, xác lập mối liên hệ giữa sự kiện lịch sử, đánh giá, vận dụng và trình bày
kiến thức lịch sử giao tiếp và hợp tác; tự học, giải quyết vấn đề.
Về thái độ: Tự hào về truyền thống hào hùng của lịch sử dân tộc ta.Bồi dưỡng
tình yêu quê hương đất nước.Nhận thức được trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Bước 2: Thiết kế trò chơi, quy tắc chơi, lựa chọn phương tiện và địa điểm chơi
Trò chơi lịch sử với chủ đề: “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 - Một mốc
son lịch sử” được tổ chức cho toàn bộ học sinh lớp 12 tại sân trường THPT Lương Tài
thông qua các trò chơi gồm các phần thi sau:
Phần 1: Khởi động với Trò chơi “Ai nhanh hơn”.
Có 4 đội chơi, có tổng số 8 câu hỏi, các đội trả lời nhanh sẽ được điểm.
Câu 1: Bạn hãy cho biết tên của một chiến dịch đã mở màn cho đại thắng mùa
xuân 1975? Đáp án Chiến dịch Tây Nguyên
Câu 2: Đây là căn cứ quân sự liên hợp lớn nhất của Mỹ nguỵ, là thành phố lớn
thứ hai ở Miền Nam được giải phóng trong tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Bạn hãy cho biết đó là thành phố nào? Đáp án Đà Nẵng
Câu 3: Có một thành phố được giải phóng vào ngày 26/3/1975 trùng với ngày
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Bạn hãy cho biết đó là thành phố nào? Đáp án
Huế.
Câu 4: Bạn hãy cho biết chiếc xe tăng dẫn đầu đánh chiếm Dinh độc lập mang
số bao nhiêu? Đáp án 390
Câu 5: Bạn hãy cho biết tên của người chiến sĩ cắm lá cờ đầu tiên trên nóc Dinh
Độc Lập: Đáp án Bùi Quang Thận
Câu 6: Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định còn có tên gọi khác là gì?
Đáp án: Chiến dịch Hồ Chí Minh
Câu 7: Ai là tác giả của bài hát “Đất nước trọn niềm vui”? MỞ NHẠC
Đáp án: Nhạc sĩ Hoàng Hà
Câu 8: Tên vị Tư lệnh chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh là gì?
Đáp án: Đại tướng Văn Tiến Dũng
Phần 2: Vượt chướng ngại vật với trò chơi “Giải ô chữ”.
Trong trò chơi, giáo viên thiết kế các ô chữ hàng ngang và hàng dọc. Từ đó đặt
câu hỏi để học sinh giải đáp. Mỗi ô chữ hàng ngang là một sự kiện lịch sử trong bài
hoặc các bài đã học. Ô chữ hàng dọc là bài học lịch sử cần nhấn mạnh. Thông thường
mỗi ô chữ hàng ngang có một chữ cái chìa khoá để mở ô chữ hàng dọc. Sau đó, giáo
viên yêu cầu học sinh đoán xem những chữ cái bí ẩn đó có nội dung gì. Sự kiện lịch sử
nằm trong ô chữ hàng dọc thường nằm theo thứ tự từ trên xuống nên có thể sau một số
ô chữ hàng ngang học sinh sẽ tìm ra ô chữ hàng dọc.
Giáo viên đưa ra luật chơi:
(1) Có 9 ô chữ hàng ngang tương ứng với 9 câu hỏi. Các em có thể chọn ô hàng
ngang bất kì để trả lời câu hỏi. Nếu trả lời đúng, sẽ được điểm hoặc quà tặng và một từ
khoá của ô chữ hàng dọc xuất hiện.
(2) Khi chưa giải hết các ô hàng ngang nhưng nếu các em tìm được ô hàng dọc
thì có thể trả lời và sẽ được số điểm lớn hơn hoặc phần quà tương ứng.
Phần 3: Tiếp sức đồng đội với trò chơi “Cặp đôi hoàn hảo”
Hình thức thi theo nhóm hai người: Một người hỏi, một người trả lời. Phần thi
gồm 4 lượt chơi với 4 gói câu hỏi. GV sẽ cho những từ chìa khóa có liên quan đến nội
dung chủ đề. Trong thời gian 60 giây, người hỏi phải sử dụng ngôn ngữ để miêu tả cho
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
người trả lời biết và nói ra từ chìa khóa đó, không được sử dụng tiếng lóng, tiếng địa
phương và những chữ đã có trong từ chìa khóa.
Phần 4: Về đích với trò chơi “Nghe truyện kể, đoán nhân vật”.
Ví dụ kể về Văn Tiến Dũng. Ông là ai?
Ông sinh ngày 2-5-1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ông xuất thân
từ một gia đình làm nghề thủ công, được tận mắt chứng kiến cuộc sống cơ cực, lầm
than của đồng bào, tội ác của thực dân, đế quốc và tay sai, đồng chí đã sớm giác ngộ,
đi theo con đường của Đảng và để lại nhiều dấu ấn trên con đường hoạt động cách
mạng. Năm 1936, đồng chí tham gia phong trào dân chủ và các cuộc đấu tranh công
khai của công nhân Hà Nội. Tháng 11 năm1937, đồng chí vinh dự được kết nạp vào
Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1938, đồng chí tham gia Ban Chấp hành Đảng
bộ Thành phố Hà Nội. Nếu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tài thao lược
của đồng chí Văn Tiến Dũng thể hiện ở tài cầm quân xông pha nơi trận mạc trong lòng
địch hậu, thì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tên tuổi của đồng chí lại gắn
với những chiến dịch lớn mang tính chiến lược. Tiêu biểu như Chiến dịch Hồ Chí Minh
lịch sử (4-1975), với vai trò là Tư lệnh, đồng chí đã cùng Bộ Tư lệnh chiến dịch quán
triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”;
đánh chiếm Sài Gòn nhanh gọn nhưng phải đảm bảo cho thành phố ít bị tàn phá, hạn
chế thấp nhất thiệt hại về người và của.Với cách đánh táo bạo đó, ta đã nhanh chóng
giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến dịch
Hồ Chí Minh lịch sử là một trong những đỉnh cao trong cuộc đời binh nghiệp của ông
được giới quân sự trên thế giới đánh giá cao vì chiến dịch đã giải phóng Sài Gòn trong
một thời gian ngắn, trong hiện trạng gần như nguyên vẹn.Vậy ông là ai?
Trong các phần chơi xen kẽ có các trò chơi giành cho các cổ động viên ở dưới
để tạo không khí cho chương trình hấp dẫn.
Bước 3: Đối tượng chơi, quy mô trò chơi: Số lượng học sinh tham gia là học
sinh của khối lớp 12 của trường THPT Lương Tài tại sân trường của trường
Bước 4: Tổ chức chơi theo kế hoạch: Theo kế hoặch trò chơi sẽ được tổ chức
vào đúng dịp kỉ niệm 45 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước vào ngày
29/04/2020 tại sân trường THPT Lương Tài. Hoạt động diễn ra rất an toàn, có ý thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
giáo dục và có sự tham gia đầy đủ của HS khối 12 và các GV trong trường.
Bước 5: Tổng kết hoạt động, nhận xét đánh giá học sinh trong quá trình hoạt
động.
GV tổng kết số điểm của bốn đội sau đó trao giải cho các đội đạt giải và kết
thúc trò chơi. Đồng thời, nhận xét từng đội trong quá trình hoạt động để rút kinh nghiệm
cho các buổi hoạt động sau này.
Tổ chức trò chơi với chủ đề: “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 - Một mốc
son lịch sử” có tác dụng lớn đối với học sinh về kiến thức, kỹ năng và thái độ:
Về kiến thức: Hiểu được diễn biến chính những chiến dịch lớn trong cuộc tổng
tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ý nghĩa của từng chiến dịch.Những câu chuyện về các
nhân vật Lịch sử khắc sâu kiến thức cho HS về phương châm thần tốc táo bạo bất ngờ
trong chiến dịch Hồ Chí Minh, về cách đánh của ta trong từng chiến dịch.
Về Kỹ năng: Thông qua các trò chơi giúp HS rèn luyện kĩ năng hợp tác, giao
tiếp,tinh thần tập thể, hăng hái, năng động, nhiệt tình; tình đoàn kết, gắn bó và thân
thiện với nhau hơn.
Về tư tưởng: Bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc, niềm tin tưởng vào sự
lãnh đạo của Đảng, ý chí đấu tranh vì độc lập thống nhất đất nước.
Như vậy, việc tổ chức hoạt động trên lớp và tổ chức hoạt động ngoại khóa là hai
bộ phận hữu cơ hợp thành một thể thống nhất trong quá trình giáo dục học sinh nhằm
đạt mục tiêu đào tạo của nhà trường THPT. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của môn
học, giáo viên phải phối hợp cả hoạt động nội khóa và hoạt động ngoại khóa. Trong
tổng thể của chương trình giáo dục phổ thông mới áp dụng từ năm học 2021 trở đi đề
cập đến hoạt động trải nghiệm sáng tao cho HS nhằm phát triển toàn diện năng lực,
phẩm chất cho HS trong đó NLHT đóng vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại ngày
nay.
2.5. Thực nghiệm sư phạm
2.5.1. Mục đích thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành để kiểm nghiệm hiệu quả của các biện
trong dạy học LSVN lớp 12 theo hướng phát triển NLHT ở trường THPT huyện Lương
Tài tỉnh Bắc Ninh.
Bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện các nghiên cứu lí thuyết nhằm tìm ra giải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
pháp đúng đắn, thích hợp để vận dụng các hình thức phát triển NLHT trong DHLS ở
các trường THPT, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới phương pháp dạy học
Lịch sử, từ đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
2.5.2. Đối tượng, địa bàn và nhiệm vụ thực nghiệm
Đối tượng thực nghiệm: HS lớp 12 trường THPT
Địa bàn thực nghiệm: Chúng tôi đã áp dụng giáo án thực nghiệm ở các lớp 12D1
(THPT Lương Tài - Bắc Ninh); lớp đối chứng là 12D2 (THPT Lương Tài - Bắc Ninh).
Trường THPT Lương Tài là một trường học có nề nếp học tập tương đối tốt, nhà trường
luôn chú trọng đến việc đổi mới PP học tập của HS. Trong các năm học trường đều
đứng thứ nhất, nhì của toàn tỉnh trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Toàn trường
có 5 GV giảng dạy lịch sử và có nhiều kinh nghiệm. Qua trao đổi với GV giảng dạy,
chúng tôi thấy đây là hai lớp có kết quả học tập môn Lịch sử ở các kì trước tương đương
nhau, số lượng HS đồng đều, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả bài
giảng.
Nhiệm vụ thực nghiệm:
Để quá trình thực nghiệm đạt kết quả, chúng tôi đề ra những nhiệm vụ cụ thể
sau:
(1) Nghiên cứu nội dung kiến thức môn Lịch sử Việt Nam lớp 12
(2) Củng cố kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, trong đó việc sử dụng thành
thạo CNTT là rất cần thiết.
(3) Vận dụng phát triển NLHT trong dạy học LSVN lớp 12 THPT
(4) Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lớp thực nghiệm và đối chứng.
(5) Xử lý, phân tích kết quả thực nghiệm để rút ra kết luận.
2.5.3. Nội dung thực nghiệm
Chúng tôi lựa chọn 01 bài trong chương trình Lịch sử 12 THPT.
Tên bài thực nghiệm Vị trí Dạng bài
Bài 16 (tiết 24) : Phong trào Chương II: Việt Nam từ năm Nghiên cứu kiến
1930-1945, bài 16 tiết 24. thức mới.
giải phóng dân tộc và tổng khởi tháng Tám (1939 - nghĩa 1945). Nước Việt Nam Dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
chủ Cộng hòa ra đời.
Phần thực nghiệm được tiến hành đúng theo phân phối chương trình và thời gian
biểu do nhà trường đề ra trong năm học 2019 - 2020, phù hợp với kế hoạch của Bộ giáo
dục và Đào tạo.
2.5.4. Phương pháp tiến hành thực nghiệm
Giáo án thực nghiệm được thiết kế dựa trên các thông tin điều tra sơ bộ về hứng
thú, nhu cầu của người học về nội dung bài học, nhiệm vụ trong chủ đề. (Phụ lục 3).
Phương pháp thực nghiệm được tiến hành cụ thể ở bài 16 như sau
Mục I. Tình hình Việt Nam trong những năm 1939-1945.
Do thời gian tiết dạy thực nghiệm có hạn nên chúng tôi lựa chọn phương pháp
dạy phù hợp và có hiệu quả nhất đối với nội dung mục này: dạy học theo chủ đề
GV chia nhóm, các nhóm chọn nhóm trưởng và thư kí. GV giao vấn đề cho nhóm.
Nhóm trưởng điều hành hoạt động thảo luận chung của cả nhóm trong một thời
gian quy định, các ý kiến đều được thư kí ghi nhận, khuyến khích thành viên đưa càng
nhiều ý kiến càng tốt.
(1) Cả nhóm cùng lựa chọn giải pháp tối ưu, thu gọn các ý tưởng trùng lặp, xóa
những ý tưởng không phù hợp, sau cùng thư kí báo cáo kết quả.
Nhóm 1: Tình hình chính trị Việt Nam trong những năm 1939-1945
Nhóm 2: Tình hình kinh tế Việt Nam trong những năm 1939-1945
Nhóm 3: Tình hình xã hội Việt Nam trong những năm 1939-1945
Tiếp đó giáo viên phát tài liệu tham khảo cho học sinh. Yêu cầu học sinh đọc
trong bốn phút và trả lời câu hỏi.
Sau đó giáo viên kết luận: Cả nước Việt Nam như một đồng cỏ khô, chỉ một tàn
lửa nhỏ rơi vào sẽ bùng lên một đám cháy lớn thiêu cháy bè lũ cướp nước và tay sai.
Mục II. Phong trào giải phóng dân tộc từ tháng 9/1939 đến tháng 3/1945.
Nội dung cụ thể là Hội nghị BCH Trung ương ĐCSĐD 11/1939 và Hội nghị
BCH Trung ương ĐCSĐD 5/1941. Để giải quyết nội dung này giáo viên chọn phương
pháp dạy học theo dự án. Để thực hiện dự án, trước tiên giáo viên cần lập kế hoạch cho
dự án gồm: Xác định chủ đề, lựa chọn tiểu chủ đề.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Xác định chủ đề: Trước những biến chuyển của tình hình thế giới và trong
nước, mâu thuẫn dân tộc lên tới đỉnh điểm đòi hỏi Đảng phải có chủ trương kịp thời
phù hợp với hoàn cảnh trong nước và thế giới.Vì vậy trong những năm 1939-1941
Đảng cộng sản Đông Dương đã liên tiếp họp hội nghị để đề ra đường lối đúng đắn
đưa cách mạng đến thành công. Trên cơ sở đó, giáo viên xác định chủ đề của dự án
mang tên “Các hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm 1939-
1941”.
Để tìm hiểu các hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm
1939-1941, giáo viên lựa chọn chủ đề và tiểu chủ đề: Bằng cách gợi ý, giáo viên hướng
dẫn học sinh lựa chọn chủ đề nhỏ theo từng nội dung của hội nghị, sẽ có 3 chủ đề được
đưa ra định hướng cho học sinh:
Chủ đề 1: Hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 11/1939?
Chủ đề 2: Hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 5/1941?
Chủ đề 3: Hội nghị 5/1941 hoàn chỉnh hơn hội nghị 11/1939 ở những điểm nào?
Xác định công việc cần thực hiện: Từ 3 chủ đề nhỏ, giáo viên cùng học sinh xác
định công việc cụ thể, mỗi nhóm là một chủ đề.
Nhóm 1: Tìm hiểu hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 11/1939? Sưu tầm
một số tranh ảnh cũng như tiểu sử của Nguyễn văn Cừ. Em có nhận xét gì về hội nghị
11/1939?
Nhóm 2: Tìm hiểu hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 5/1941? Sưu tầm
một số tranh ảnh, tài liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc? Em có nhận xét gì về hội
nghị 5/1941?
Nhóm 3: Hội nghị 5/1941 hoàn chỉnh hơn hội nghị 11/1939 ở những điểm nào?
Rút ra điểm giống nhau và khác nhau của hội nghị 11/1939 và 5/1941?
Lần lượt các nhóm lên báo cáo, cuối cùng giáo viên chốt lại kiến thức và kết
thúc bài học.
2.5.5. Kết quả thực nghiệm
Để có kết quả thực nghiệm chính xác, ở lớp đối chứng, giáo viên soạn giáo án
và tiến hành bình thường. Ở lớp thực nghiệm soạn giảng giáo án theo hướng phát triển
NLHT cho HS đã được đề xuất trong luận văn. Sau đó, GV thu thập ý kiến đánh giá,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
phản hồi từ phía giáo viên, học sinh về bài dạy thực nghiệm; ý kiến nhận xét của giáo
viên về thái độ học tập, kết quả thực nghiệm, nhiệm vụ của học sinh; bài kiểm tra đánh
giá kiến thức, kĩ năng của học sinh. Phân tích, so sánh với kết quả của lớp đối chứng
là cơ sở nêu ra những kết luận khái quát về vấn đề tổ chức, hướng dẫn dạy học Lịch sử
theo hướng phát triển NLHT trong DHLS ở trường THPT.
Quá trình thực nghiệm được tiến hành song song ở cả hai lớp thực nghiệm và
đối chứng nhằm so sánh, phân tích kết quả đạt được.
Đánh giá của giáo viên quan sát giờ dạy
Các ý kiến nhận xét của GV tập trung trên các phương diện: nội dung, phương
pháp và kết quả. Nhìn chung, bài thực nghiệm đảm bảo tính chính xác, khoa học về
kiến thức. Ngoài ra còn có những nội dung kiến thức được mở rộng, nâng cao. Bài dạy
sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu tham khảo, sử dụng hợp lí các phương tiện dạy học
hiện đại; không khí lớp học sôi nổi, hào hứng. Qua đó, phát huy được tính chủ động,
tích cực của học sinh, học sinh được rèn luyện những kĩ năng quan trọng, chất lượng
bài dạy được nâng cao rõ rệt.
Ý kiến phản hồi của học sinh
Ở lớp học đối chứng, với cách dạy thông thường, học sinh chỉ được rèn luyện
kĩ năng phát hiện kiến thức trong sách giáo khoa và đọc tài liệu tham khảo có sẵn.
Những kĩ năng khác như: làm việc nhóm, thuyết trình, khai thác, thu thập tài liệu,...hầu
như không được quan tâm. Vì thế, học sinh quen với lối học thụ động, tiếp thu kiến
thức một chiều, chỉ chú trọng vào kiến thức sách giáo khoa.Ngược lại ở lớp thực
nghiệm, học sinh luôn tích cực, chủ động trong học tập. Khi làm việc với tài liệu tham
khảo, học sinh được rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm, tranh luận, phản biện, kĩ năng
trình bày đặc biệt giúp HS tự tin khi thuyết trình trước đám đông.
Đánh giá của người dạy
Để kiểm tra mức độ kiến thức thu được của học sinh qua giờ học, giáo viên tiến
hành bài kiểm tra 10 phút cuối giờ, thu được 45 bài ở lớp thực nghiệm và 45 bài ở lớp
đối chứng (phụ lục 4)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Cụ thể kết quả kiểm tra thu được như sau:
Bảng 2.1 : Bảng so sánh kết quả bài kiểm tra giữa lớp thực nghiệm
và lớp đối chứng
Điểm
2 3 4 5 6 7 8 9 10 Giáo án Lớp Sĩ số
Bài16 0 0 0 0 0 2 2 6 5 15 9 10 20 10 7 2 2 0 Trung bình chung 7.67 6.61 12D2 45 12D1 45
Bảng 2.2: Bảng phân phối mức độ kết quả thực nghiệm
Điểm Nhóm Sĩ số Yếu kém Trung bình
45 45 0 4.5 15.4 46.6 Khá 64.5 42.1 Giỏi 20.1 6.8
TN ĐC
Qua phân tích số liệu chúng tôi nhận thấy: ở lớp TN, loại điểm yếu dưới 5 là
không có, điểm trung bình (từ 5-6 điểm) có 7 bài (chiếm 15.4%), điểm khá có 29 bài
(chiếm 64.5%), điểm giỏi có 9 bài chiếm 20,1%.
Ở nhóm ĐC có kết quả thấp hơn rõ rệt, điểm yếu (<5) vẫn có 2 bài, chiếm 4.5%,
điểm trung bình có 21 bài (chiếm 46.6%), điểm khá có 19 bài (chiếm 42.1%), điểm
giỏi số lượng ít chiếm 3 bài: 6.8%. Điểm trung bình chung của lớp TN là: 7,68, còn lớp
ĐC chỉ là 6,61. Độ lệch chuẩn là 1,07. Điều này đã cho chúng ta thấy rõ sự khác nhau
70
60
50
40
Thực nghiệm
30
Đối chứng
20
10
0
Trung bình
Khá
Yếu kém
Giỏi
về điểm số giữa lớp TN so với lớp ĐC.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Biểu đồ 2.1: Tần suất kết quả thực nghiệm
Như vậy qua giáo án thực nghiệm và phân tích ở trên chúng tôi nhận thấy rõ vai
trò tác động của việc phát triển NLHT trong DHLS, đã mang lại hiệu quả tích cực,
khiến HS chú ý tham gia vào giờ học, bài giảng phát huy được năng lực hợp tác, chủ
động tích cực của mỗi HS. HS hăng hái tham gia hoạt động học tập, tự tìm hiểu, lĩnh
hội kiến thức trên cơ sở sự hướng dẫn, chỉ đạo của GV, điều đó được phản ánh rõ trong
kết quả học tập trên, thông qua hình thức kiểm tra, đánh giá. Sự thay đổi đem lại là rất
lớn. Kết quả thực nghiệm cho thấy tỉ lệ HS đạt điểm khá giỏi của lớp TN nhiều hơn so
với lớp ĐC. Đồng thời tỉ lệ điểm trung bình- yếu của lớp TN cũng ít hơn so với lớp
ĐC.
Kết hợp với việc theo dõi diễn biến trong giờ học của hai lớp TN và ĐC, chúng
tôi nhận thấy, HS lớp TN chủ động hơn so với lớp ĐC trong việc tìm tòi, phát hiện,
khám phá kiến thức, cùng với việc tìm hiểu nội dung bài học từ trước, HS luôn tỏ ra
chủ động, qua đó phát huy được năng lực học tập của HS: như năng lực hợp tác trong
học tập, năng lực sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, năng lực phân tích, so sánh, đánh giá,
nhận định, năng lực khái quát hóa, tổng hợp kiến thức. Thông qua đó giúp HS hiểu sâu,
nhớ lâu kiến thức, đồng thời góp phần bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất đạo đức cho
HS.
Như vậy kết quả thực nghiệm đã phản ánh khách quan, đúng thực trạng dạy học
hiện nay ở các trường phổ thông. Kết quả thực nghiệm trên đã chứng tỏ, các biện pháp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
mà chúng tôi nêu trong luận văn là có tính khả thi.
Tiểu kết chương 2
Trên cơ sở xác định mục tiêu, nội dung kiến thức cơ bản của chương trình LSVN
lớp 12 THPT, chúng tôi đã đề xuất một số biện pháp phát triển NLHT trong DHLS
hoạt động nội khóa và ngoại khóa như: dạy học nhóm, dự án, chủ đề tổ chức dạ hội
lịch sử, hoạt động trải nghiệm, tăng cường tổ chức trò chơi LS…Trên cơ sở của các
biện pháp sư phạm được đề xuất chúng tôi đã triển khai thực nghiệm sư phạm tại trường
THPT Lương Tài- huyện Lương Tài- tỉnh Bắc Ninh nhằm nâng cao chất lượng dạy học
môn Lịch sử. Giáo viên lựa chọn cách thức phù hợp với nội dung kiến thức, nhu cầu
của học sinh nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Kết quả thực nghiệm khẳng định tính ứng dụng khả thi, hiệu quả của việc tổ
chức học tập Lịch sử theo hướng phát triển NLHT trong DHLS. Việc lựa chọn phương
pháp phù hợp để phát triển NLHT nói riêng và các kĩ năng, năng lực khác là vô cùng
cần thiết. Giáo viên phải lựa chọn một phương pháp chủ đạo ở mỗi nội dung của bài
học nhưng phải đảm bảo có sự kết hợp và vận dụng đa dạng các phương pháp khác
nhau mà cụ thể là một số phương pháp được đề xuất trong đề tài để góp phần tạo hứng
thú học tập, phát huy khả năng tư duy, năng lực sáng tạo, hợp tác của học sinh nhằm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nâng cao ý nghĩa thực tiễn của việc dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Để đổi mới chất lượng giáo dục cần thiết phải đổi mới sâu sắc từ mục tiêu, đến
nội dung chương trình, phương pháp, phương tiện dạy học cũng như việc kiểm tra đánh
giá. Dạy học theo hướng phát triển năng lực là xu thế phát triển chung của thế giới
trong đó có Việt Nam và nên vận dụng vào môn Lịch sử. Năng lực hợp tác là khả năng
tương tác của cá nhân với cá nhân và tập thể trong học tập và cuộc sống. Một cá nhân
có năng lực hợp tác tốt thể hiện ở khả năng làm việc hiệu quả của cá nhân trong mối
quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương trợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục
đích chung.
Đề tài góp phần xây dựng và củng cố thêm cơ sở lí luận cho cách tiếp cận dạy
học theo hướng phát triển năng lực hiện đang được quan tâm hiện nay. Với vai trò, ý
nghĩa rất lớn dạy học theo hướng phát triển năng lực hợp tác đang có nhiều ưu thế trong
việc đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho tương lai, phát huy tính tích cực chủ
động sáng tạo, sự cộng tác của học sinh, gắn lý thuyết với thực tế. Qua khảo sát điều
tra thực tế, đa số các giáo viên và học sinh đều nhận thức được tầm quan trọng của việc
dạy học Lịch sử theo hướng phát triển năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử.
Trong khuôn khổ luận văn, bước đầu đã đề xuất xây dựng một số biện pháp phát
triển năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 phù hợp với đặc điểm
học sinh, điều kiện cơ sở vật chất, kĩ thuật của các trường THPT ở huyện Lương Tài,
tỉnh Bắc Ninh. Đồng thời, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm một phần theo đề xuất
của luận văn và chứng tỏ tính khả thi của luận văn.
Từ kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn dạy học môn Lịch sử ở trường THPT
hiện nay, chúng tôi đề xuất một vài khuyến nghị như sau:
Thứ nhất, về việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa môn Lịch sử: Lịch sử
giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ, truyền thống, bản sắc dân tộc, đó
là một ưu thế lớn, do đó cần phải có những biện pháp tích cực hơn nữa để cho Lịch sử
phát huy được hết sức mạnh bộ môn của mình. Mặt khác phải khẳng định rằng Lịch sử
là môn học cơ bản phải học đầy đủ cả về lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam. Vì vậy
cần nghiên cứu và tích hợp xây dựng thành các chủ đề phù hợp, có các phương pháp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
dạy học phù hợp, sáng tạo để góp phần phát triển giáo dục theo hướng phát triển năng
lực của của người học với đầy đủ cả nội dung, kênh hình, phần bài tập, phần phụ trợ
(danh mục các thuật ngữ, khái niệm, bảng biểu...)
Thứ hai: Đối với nhà trường THPT
Trường THPT đóng vai trò tích cực trong quá trình đổi mới PPDH nói chung và
phương pháp DHLS nói riêng. Các trường phổ thông cần có cái nhìn đúng đắn về vị
trí, vai trò của môn Lịch sử, cần có sự đầu tư thích đáng về cơ sở vật chất, về vai trò
của hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo đối với môn Lịch sử, xây
dựng phòng truyền thống của nhà trường, tăng cường các cuốn sách kĩ năng, năng lực
tham khảo môn Lịch sử, từ đó góp phần phát triển NLHT cho HS.
Thứ ba: Về kiểm tra đánh giá trong môn Lịch sử. Đổi mới phải đồng bộ để đạt
hiệu quả cao nhất. Cùng với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp
dạy học thì cần chú ý đổi mới kiểm tra, đánh giá. Việc đa dạng hóa các hình thức,
phương pháp kiểm tra đánh giá, việc kết hợp đánh giá quá trình thực hiện với đánh giá
kết quả cuối cùng sẽ tạo động lực tích cực cho học sinh, đồng thời giúp giáo viên thu
thập thông tin phản hồi hữu ích để điều chỉnh việc dạy của chính mình và việc học của
học sinh.
Thứ tư: Về phía giáo viên: Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử
nói chung và dạy học phát triển NLHT nói riêng, giáo viên cần có kiến thức chuyên
môn vững vàng, luôn rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm. Giáo viên phải sẵn sàng
tham gia vào quá trình đổi mới, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, đa dạng
hóa việc vận dụng các phương pháp trong quá trình giảng dạy.
Trong phạm vi luận văn, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị trên với mong
muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong môn Lịch sử ở trường phổ thông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần
thứ Tám Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII (dùng
cho cán bộ chủ chốt), NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
2. Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà (2015), Dạy và học tích cực, Một số phương
pháp và kĩ thuật dạy học, Nxb Đại học sư phạm
3. Nguyễn Thanh Bình (1998), Cải tiến tổ chức hoạt động giáo dục theo phương
thức hợp tác, Đề tài cấp cơ sở, mã số B69-49-14 Viện Chiến lược và chương trình
giáo dục, Hà Nội.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng
môn Lịch sử lớp 12, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012) “Kỷ yếu hội thảo hệ thống năng lực chung cốt lõi
của học sinh cho chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam”.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử,
NXB Giáo dục, Hà Nội.
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục THPT - Chương trình phát triển giáo dục
Trung học (2014), Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học
theo định hướng phát triển năng lực cho HS trong trường THPT (môn Lịch sử)”.
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học (2014), Dạy học và kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Tài liệu
lưu hành nội bộ, NXB Giáo dục, Hà Nội.
9. Nguyễn Hữu Châu (2011), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình
dạy học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
10. Trần Thùy Chi (2010), Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử
ở trường phổ thông trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, Luận văn thạc sĩ,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
11. Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier (2005), Phát triển năng lực thông qua phương
pháp và phương tiện dạy học mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án phát triển giáo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
dục THPT, Hà Nội.
12. Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier (2014), Lí luận dạy học hiện đại - Cơ sở đổi mới
mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
13. Hồ Ngọc Đại (1983), Tâm lý học dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
14. Lê Thị Thùy Dương (2017),“Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy
học Lịch Sử ở trường Trung học phổ thông”, Tạp chí giáo dục, trang 16-17
15. Nguyễn Văn Giao, (2005) , Từ điển Giáo dục học, Nxb Giáo dục.
16. Phạm Minh Hạc (1996), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
17. Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2012), Kĩ năng học hợp tác của Sinh viên sư phạm, Luận
án tiến sĩ Giáo dục học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
18. Lê Thị Thu Hiền (2015),“Đánh giá năng lực hợp tác của học sinh trong dạy học
ở trường Trung học phổ thông”, Tạp chí giáo dục, trang 13-14.
19. Vũ Quang Hiển, Hoàng Thanh Tú (2014), Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở
trường THPT”, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
20. Lê Thị Minh Hoa (2015),“ Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh Trung học
cơ sở qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”, Luận án tiến sĩ.
21. Nguyễn Thị Phương Hoa (2005),“Về phương pháp dạy - học hợp tác”, Tạp chí
khoa học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, tr.26-30.
22. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo
khoa, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội
23. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển Bách Khoa Việt Nam (2003) , Từ
điển Bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách Khoa
24. Nguyễn Văn Hồng (2010), Dạy học hợp tác - Nhóm, NXB Khoa học kĩ thuật, Hà
Nội.
25. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại - lý luận, biện pháp, kĩ thuật, NXB
Đại học Quốc Gia, Hà Nội.
26. Đặng Thành Hưng (2004), “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học hợp
tác”, Tạp chí phát triển giáo dục, số 8, tr.8-10,14.
27. Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Văn Ninh (2015), “Xây dựng hệ thống kĩ năng
cần hình thành và phát triển cho học sinh trong môn lịch sử ở trường phổ thông”,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tạp chí Dạy và học, ngày nay số 2 năm 2015.
28. Jonhs Dewey (2012), Dân chủ và Giáo dục (Phạm Anh Tuấn dịch), NXB Tri
Thức, Hà Nội.
29. Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh (2015), Kiểm tra đánh giá trong giáo dục ,
Nxb Đại học sư phạm.
30. Nguyễn Trọng Khanh (2011), Phát triển năng lực và tư duy kĩ thuật, NXB Đại
học Sư Phạm, Hà Nội.
31. Trần Kiều, Trần Đình Châu, Phan Thị Luyến, Đặng Thị Thu Thủy (2017), Đổi mới
phương pháp dạy học ở trường Trung học cơ sở”, NXB Giáo dục Việt Nam.
32. Nguyễn Thành Kỉnh (2010), Phát triển kĩ năng dạy học hợp tác cho giáo viên
THCS, Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Đại học Thái Nguyên.
33. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2008), Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học
lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
34. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2009), Phương pháp dạy
học Lịch sử, tập 2, NXB ĐH Sư phạm, Hà Nội.
35. Michael Magainm (2007), Thúc đẩy nhóm làm việc hiệu quả, NXB Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh
36. Nguyễn Lê Minh (2013), “Phân biệt phương pháp dạy học hợp tác và hình thức
dạy học theo nhóm”, Tạp chí Giáo dục, số 301, tr.41-42,45.
37. Nguyễn Văn Minh (2013),“Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy
học Lịch sử Việt Nam (1945-1954) THPT - Chương trình chuẩn”, Luận văn thạc
sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
38. Hoàng Phê, (2009), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa.
39. Nguyễn Thị Minh Phương (2007), Tổng quan về các khung năng lực cần đạt ở
học sinh trong mục tiêu giáo dục phổ thông, Đề tài NCKH của Viện Khoa học và
giáo dục Việt Nam.
40. Raja Roy Singh (1994), Nền giáo dục cho thế kỉ XXI - Những triển vọng của các
nước vòng cung Châu Á - Thái Bình Dương, Viện Khoa học giáo dục Hà Nội.
41. Robert J. Marzano, Debra J. Pickering, Jane E. Pollock, “Các phương pháp dạy
học hiệu quả”(Nguyễn Hồng Vân dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
42. Slavin R. E. (1990), Học tập hợp tác, lý thuyết và thực hành [M] Alyn và Bacon.
43. Nguyễn Trọng Sửu (2007), “Dạy học nhóm - Phương pháp dạy học tích cực”,
Tạp chí Giáo dục, số 171-9/2007.
44. Đỗ Ngọc Thống (2009), Xây dựng chương trình Giáo dục phổ thông theo hướng
tiếp cận năng lực, Viện khoa học Giáo dục Việt Nam.
45. Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn (1998), Tâm lý học đại cương, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
46. Nguyễn Công Triêm (2002), Một số vấn đề hiện nay của phương pháp dạy học
hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội.
47. Hoàng Thanh Tú (2012), Phương pháp ôn tập Lịch sử ở trường Trung học phổ
thông một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
48. Trịnh Đình Tùng (Chủ biên) (2007), Hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập lịch sử
12, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
49. Nguyễn Thế Tuyên (2012), Kĩ năng làm việc đồng đội, NXB Thành phố Hồ
Chí Minh.
50. Thái Duy Tuyên (1999), Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại. Nxb Giáo
dục, Hà Nội
51. Thái Duy Tuyên (2008), Phương pháp dạy học - truyền thống và đổi mới, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
52. Đậu Thị Hải Vân (2003), Sử dụng tài liệu văn học để nâng cao hiệu quả bài học
lịch sử trong dạy học chương II "Khái quát tiến trình lịch sử Việt Nam từ giữa
thế kỉ XIX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất", Khóa luận tốt nghiệp, Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội.
53. Nghiêm Đình Vỳ, Trần Thị Vinh (2018), Dạy học phát triển năng lực môn Lịch
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sử Trung học phổ thông, NXB Đại học Sư phạm.
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN GIÁO VIÊN
Kính chào các thầy cô giáo!
Để góp phần thực hiện thành công đề tài nghiên cứu“ Phát triển năng lực hợp
tác trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT huyện Lương Tài, tỉnh
Bắc Ninh” tôi rất mong nhận được sự hợp tác, chia sẻ của các thầy cô.Những thông
tin thu thập được giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thông tin cá nhân (không bắt buộc)
Họ và tên:……………………………
Trường:………………………………........................................
Thầy cô hãy đánh dấu X vào ô trống mà thầy cô cho là phù hợp.
Câu 1:Theo thầy cô năng lực hợp tác là gì?
Là sự trao đổi thông tin và khả năng xử lý tình huống
Là khả năng cộng tác giữa các cá nhân trong một tập thể
Là NL biết phối hợp các thành viên trong nhóm
Là khả năng phối hợp một hay nhiều người khác để hoàn thành công việc
Câu 2: Theo thầy cô, dạy học phát triển NLHT trong DHLS có cần thiết không?
Có Không
Câu 3: Theo thầy (cô), dạy học phát triển NLHT góp phần:
Nâng cao chất lượng bài giảng
Tạo mối quan hệ thầy trò gần gũi
GV có cơ hội thể hiện nhiều vai trò khác nhau
Phát huy tính tích cực, chủ động và gây hứng thú học tập cho học sinh.
Tất cả các đáp án trên
Câu 4: Các thầy cô có thường xuyên dạy học phát triển NLHT trong DHLS không?
Thường xuyên Hiếm khi
Thỉnh thoảng Không bao giờ
Câu 5: Theo thầy (cô) năng lực hợp tác của HSTHPT ở mức độ nào?
Tốt Khá
Trung Bình Yếu
Câu 6: Thầy(cô) có thường xuyên sử dụng các biện pháp dạy học nhằm phát triển
năng lực hợp tác cho HS không?
Thường xuyên Hiếm khi
Thỉnh thoảng Không bao giờ
Câu 7: Thầy (cô) thường sử dụng phương pháp nào trong quá trình dạy học theo
các chủ đề?
Mức độ Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ Phương pháp GV GV GV
Thuyết trình
Thảo luận nhóm
Vấn đáp
Dạy học theo chủ đê
Dạy học dự án
Dạy học trực quan
Phương pháp khác
Câu 8: Theo thầy (cô), mức độ hứng thú của HS đối với các phương pháp trên
như thế nào?
Thường Thỉnh Không Mức độ xuyên thoảng bao giờ Phương pháp GV GV GV
Thuyết trình
Thảo luận nhóm
Vấn đáp
Dạy học theo chủ đê
Dạy học dự án
Dạy học trực quan
Phương pháp khác
Câu 9: Thầy (cô) thường sử dụng hình thức tổ chức nào trong quá trình phát triển
NLHT trong DHLS?
Dạy học trên lớp
Dạy học ngoài lớp
Hoạt động ngoại khóa
Câu 10: Để phát triển năng lực hợp tác cho HS khi dạy bài 16: Phong trào giải
phóng, dân tộc (1939-1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời; thầy (cô) sẽ
sử dụng phương pháp chủ đạo nào?
Dạy học nhóm
Dạy học dự án
Dạy học theo chủ đề
Phương pháp khác
Câu 11: Thầy (cô) gặp khó khăn gì trong quá trình triển khai dạy học lịch sử theo
chủ đề?
Điều kiện cơ sở vật chất
HS còn tự ti, nhút nhát, không tích cực tham gia
Mất thời gian chuẩn bị và tiến hành
Thời lượng tiết học hạn chế
Ý kiến khác
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô!
Phụ lục 2: PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN HỌC SINH
Các em thân mến!
Để góp phần thực hiện thành công đề tài nghiên cứu “ Phát triển năng lực hợp
tác trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT huyện Lương Tài, tỉnh
Bắc Ninh” cô rất mong nhận được sự hợp tác, chia sẻ của các em. Những thông tin
thu thập được giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
Chân thành cảm ơn các em!
Thông tin cá nhân (Không bắt buộc)
Họ và tên:……………………………………………………………………
Lớp:………………Trường:…………………………………………………
Em hãy đánh dấu X vào phương án mà em cho là phù hợp.
Câu 1: Mức độ yêu thích môn Lịch sử của em?
Rất thích Bình thường
Thích Không thích
Câu 2:Theo em năng lực hợp tác là gì?
Là sự đoàn kết của cộng đồng giúp nhau vượt qua khó khăn,thử thách
Là khả năng hợp tác tác giữa người với người
Là NL biết phối hợp các thành viên trong nhóm
Là năng lực của mỗi con người trong việc tham gia vào một hay nhiều công việc
chung
Câu 3: Theo em , dạy học phát triển NLHT trong DHLS có cần thiết không?
Có Không
Câu 4: Theo em phát triển NLHT trong DHLS góp phần:
HS được học cách cộng tác trên nhiều phương diện
Tăng cường khả năng tư duy phê phán cho HS
Phát triển các kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác
Tác động đến ý thức học tập của HS
Tất cả các đáp án trên
Câu 5: Theo em năng lực hợp tác của HSTHPT ở mức độ nào?
Tốt Khá
Trung Bình Yếu
Câu 6: Trong quá trình học tập môn Lịch sử em có được các thầy cô phát triển
NLHT không?
Thường xuyên Hiếm khi
Thỉnh thoảng Không bao giờ
Câu 7: Trong giờ học Lịch sử, thầy (cô) của em thường sử dụng các phương pháp
nào để phát triển NLHT cho các em?
Mức độ Thường Thỉnh Không
xuyên thoảng bao giờ
Phương pháp GV GV GV
Thuyết trình
Thảo luận nhóm
Vấn đáp
Dạy học theo chủ đê
Dạy học dự án
Dạy học trực quan
Phương pháp khác
Câu 8: Mức độ hứng thú của em với các phương pháp trên như thế nào?
Mức độ Thường Thỉnh Không
xuyên thoảng bao giờ
Phương pháp GV GV GV
Thuyết trình
Thảo luận nhóm
Vấn đáp
Dạy học theo chủ đê
Dạy học dự án
Dạy học trực quan
Phương pháp khác
Câu 9: Khi học bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng
Tám (1939-1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, em sẽ thích học
phương pháp nào sau đây?
Dạy học nhóm
Dạy học dự án
Dạy học theo chủ đề
Phương pháp khác
Câu 10: Thầy (cô) các em thường sử dụng hình thức tổ chức nào trong quá trình
phát triển NLHT trong DHLS?
Dạy học trên lớp
Dạy học ngoài lớp
Hoạt động ngoại khóa
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các em!
Phụ lục 3: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TOÀN PHẦN
Chương 3: Việt Nam từ năm 1930-1945.
Bài 16 (Tiết 24): PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ TỔNG
KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM (1939 - 1945).
NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ RA ĐỜI
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1 . Kiến thức: Sau khi học xong bài, học sinh cần:
- Biết được những nét cơ bản về tình hình kinh tế, xã hội VN trong những năm
1939 - 1945, hiểu được yêu cầu giải phóng dân tộc đặt ra một cách cấp thiết
- Trình bày được chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Đảng trong giai đoạn
này.
- Nhận xét được chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng.
2. Kỹ năng:
- Rèn luyện cho HS kĩ năng xác định kiến thức cơ bản, sự kiện cơ bản.
- Rèn luyện kỹ năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện lịch sử.
3. Thái độ, tư tưởng:
- Bồi dưỡng niềm tin vào sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng, vào đường
lối, chủ trương đúng đắn sáng tạo. Từ đó, học sinh biết trân trọng, giữ gìn và phát huy
thành quả Cách mạng tháng Tám
4. Định hướng phát triển năng lực
- Năng lực chung: Tự học, giải quyết vấn đề, sáng tạo, tư duy, vận dụng kiến thức...
- Năng lực chuyên biệt: Tái hiện sự kiện, hiện tương, nhân vật; Xác định mối
liên hệ, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng; Phân tích, khái quát háo; Nhận xét, đánh
giá, rút ra bài học lịch sử.
II. THIẾT BỊ, TÀI LIỆU DẠY HỌC
1. Đối với giáo viên:
- Một số tư liệu: Phim về chiến tranh thế giới thứ 2, tranh ảnh quân Nhật tấn
công Lạng Sơn...
- Bài giảng PowerPoint.
- Giấy A2, A4, bút dạ màu.
- Các tài liệu tham khảo.
2. Đối với học sinh:
- Đọc trước bài, sưu tầm các tài liệu về giai đoạn lịch sử 1939 - 1945.
- SGK, vở ghi, vở soạn.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
A. Hoạt động khởi động
1. Mục tiêu: Giúp HS huy động vốn kiến thức và kĩ năng đã có để chuẩn bị tiếp
nhận kiến thức và kĩ năng mới, còn nhằm tạo ra hứng thú và và một tâm thế tích cực
để HS bước vào bài học mới.
2. Phương thức: GV cho HS xem 1 đoạn phim phát xít Đức tấn công Ba Lan
hoặc phim phát xít Nhật tấn công cảng Trân Châu..., Sau đó GV hỏi: em biết gì về
đoạn phim trên trên? HS suy nghĩ trả lời…
3. Dự kiến sản phẩm:
- Dự kiến HS trả lời:....GV tiếp tục mời các em khác bổ sung.
→ GV dẫn vào bài mới: Tình hình thế giới biến chuyển, CTTG thứ 2 bùng nổ,
Pháp đầu hàng phát xít Đức, ở Đông Dương cuối tháng 9/1940 Nhật vào nước ta. Nhật
Pháp cấu kết nhau bóc lột nhân dân ta thậm tệ. Trước tình hình đó, Hội nghị Ban chấp
hành Trung Ương Đảng cộng sản Đông Dương họp đã chuyển hướng chỉ đạo - đặt
nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đưa nhân dân ta bước vào một thời kì đấu
tranh mới. Những cuộc đấu tranh đó diễn ra như thế nào? để lại những bài học gì? hôm
nay chúng ta học bài 16
B. Hoạt động hình thành kiến thức mới:
1. Hoạt động 1: Tìm hiểu tình hình Việt Nam trong những năm 1939-1945
* Mục tiêu:
Nêu được tình hình kinh tế, chính trị,xã hội của Việt Nam trong những năm
1939-1945?
Phân tích tác động của tình hình Việt Nam trong những năm 1939-1945 đến chủ
trương của Đảng?
* Phương thức:
GV chia lớp thành 3 nhóm, HS mỗi nhóm ngồi thành vòng tròn. GV giao nhiệm
vụ cho các nhóm như sau:
Nhóm 1: Em hãy cho biết về tình hình chính trị thế giới và trong nước thời kì
(1939-1945)? Nhận xét
Nhóm 2: Nêu tình kinh tế trong những năm 1939-1945? Nét nổi bật so với giai
đoạn trước? Nhận xét?
Nhóm 3: Nêu tình xã hội trong những năm 1939-1945? Nét nổi bật so với giai
đoạn trước? Nhận xét?
Các nhóm có thời gian chuẩn bị là 3 phút, sau đó cử đại diện trình bày.
Trong hoạt động này GV tổ chức cho HS hoạt động cá nhân và trao đổi đàm
thoại nhóm để tìm hiểu. Học sinh suy nghĩ, trao đổi thực hiện theo yêu cầu.Trong quá
trình HS làm việc, GV chú ý đến các HS để có thể gợi ý hoặc trợ giúp HS khi các em
gặp khó khăn.
Các nhóm cử đại diện trình bày sản phẩm, các học sinh khác theo dõi và góp ý
dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
* Gợi ý sản phẩm:
Nhóm 1: Tình hình chính trị thế giới và trong nước thời kì (1939-1945)?
Nhận xét
1/9/1939: Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đức kéo vào Pháp, Pháp đầu
hàng Đức. Pháp thực hiện chính sách thù địch đối với các lực lượng tiến bộ trong nước
và phong trào cách mạng ở thuộc địa.
9/1940, Nhật vượt biên giới Việt - Trung vào miền Bắc Việt Nam, Pháp nhanh
chóng đầu hàng.Nhật sử dụng bộ máy thống trị của Pháp để vơ vét kinh tế phục vụ
cho chiến tranh, đàn áp cách mạng.Việt Nam đặt dưới ách thống trị của Nhật - Pháp.
Nhóm 2: Nêu tình kinh tế trong những năm 1939-1945. Nét nổi bật so với giai
đoạn trước? Nhận xét?
Chính sách của Pháp: Pháp thi hành chính sách “Kinh tế chỉ huy”: tăng thuế cũ,
đặt thêm thuế mới, sa thải công nhân, viên chức, giảm tiền lương, tăng giờ làm, kiểm
soát gắt gao sản xuất, phân phối, ấn định giá cả.
Chính sách của Nhật: Pháp phải cho Nhật sử dụng phương tiện giao thông, kiểm
soát đường sắt, tàu biển.
Nhóm 3: Nêu tình xã hội trong những năm 1939-1945. Nét nổi bật so với giai
đoạn trước. Nhận xét.
Chính sách bóc lột của Pháp - Nhật đẩy nhân dân ta tới chỗ cùng cực.Các giai
cấp, tầng lớp ở nước ta, trừ tay sai đế quốc, đại địa chủ và tư sản mại bản đều bị ảnh
hưởng bởi chính sách bóc lột của Pháp- Nhật.
=>Mâu thuẫn dân tộc lên tới đỉnh điểm
=> Đảng phải kịp thời, đề ra đường lối đấu tranh phù hợp.
Gv nhận xét, bổ sung các sản phẩm của HS và chốt vấn đề.
2. Hoạt động 2: Tìm hiểu Hội nghị Ban Chấp hành Trung Ương Đảng
Cộng sản Đông Dương tháng 11 - 1939 và tháng 5 - 1941
*Mục tiêu:
Trình bày được hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 11/1939.
Trình bày được hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 5/1941.
Phân tích được vai trò của Nguyễn Ái Quốc tại hội nghị 5/1941
*Phương thức:
GV sử dụng phương pháp dạy học dự án kết hợp bảng biểu, trò chơi học tập
Lịch Sử
Để thực hiện dự án, trước tiên giáo viên cần lập kế hoạch cho dự án gồm: Xác
định chủ đề, lựa chọn tiểu chủ đề.
Xác định chủ đề: Trước những biến chuyển của tình hình thế giới và trong
nước, mâu thuẫn dân tộc lên tới đỉnh điểm đòi hỏi Đảng phải có chủ trương kịp thời
phù hợp với hoàn cảnh trong nước và thế giới.Vì vậy trong những năm 1939-1941
Đảng cộng sản Đông Dương đã liên tiếp họp hội nghị để đề ra đường lối đúng đắn
đưa cách mạng đến thành công. Trên cơ sở đó, giáo viên xác định chủ đề của dự án
mang tên “Các hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm
1939-1941”.
Để tìm hiểu các hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm
1939-1941, giáo viên lựa chọn chủ đề và tiểu chủ đề: Bằng cách gợi ý, giáo viên hướng
dẫn học sinh lựa chọn chủ đề nhỏ theo từng nội dung của hội nghị, sẽ có 3 chủ đề được
đưa ra định hướng cho học sinh:
Chủ đề 1: Hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 11/1939?
Chủ đề 2: Hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 5/1941?
Chủ đề 3: Hội nghị 5/1941 hoàn chỉnh hơn hội nghị 11/1939 ở những điểm nào?
Xác định công việc cần thực hiện: Từ 3 chủ đề nhỏ, giáo viên cùng học sinh xác
định công việc cụ thể, mỗi nhóm là một chủ đề.
Nhóm 1: Tìm hiểu hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 11/1939? Sưu tầm
một số tranh ảnh cũng như tiểu sử của Nguyễn văn Cừ. Em có nhận xét gì về hội nghị
11/1939?
Nhóm 2: Tìm hiểu hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị 5/1941? Sưu tầm
một số tranh ảnh, tài liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc? Em có nhận xét gì về hội
nghị 5/1941?
Nhóm 3: Hội nghị 5/1941 hoàn chỉnh hơn hội nghị 11/1939 ở những điểm nào?
Rút ra điểm giống nhau và khác nhau của hội nghị 11/1939 và 5/1941?
Các nhóm lần lượt lên báo cáo, các học sinh khác theo dõi và góp ý dưới sự
hướng dẫn của giáo viên.
* Gợi ý sản phẩm:
Nhóm 1: Hội nghị 11/ 1939.
- Hoàn cảnh: 11/1939, Hội nghị diễn ra tại Bà Điểm-Hóc Môn (Gia định), do
Nguyễn Văn Cừ chủ trì.
- Nội dung:
+ Nhiệm vụ trước mắt: Đánh đổ đế quốc, tay sai
-> Đông Dương độc lập.
+ Khẩu hiệu :Tạm gác lại khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, tịch thu ruộng đất
của thực dân đế quốc và địa chủ.
+ Mặt trận : Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương
- Ý nghĩa: Đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng đặt vấn đề giải phóng dân
tộc lên hàng đầu.
Nhóm 2: Hội nghị 5 /1941:
- Hoàn cảnh: Từ ngày 10 -> 19/ 5/ 1941 Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị.
- Nội dung:
+ Nhiệm vụ, mục tiêu hàng đầu của CM là: Giải phóng dân tộc
+ Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh
+ Hình thái đi từ khởi nghĩa từng phần lên Tổng khởi nghĩa.
- Ý nghĩa: Hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Đảng được đề
ra từ hội nghị 11/1939.
Nhóm 3: Hội nghị 5/1941 hoàn chỉnh hơn hội nghị 11/1939 ở các điểm sau:
- Đưa vấn đề tộc về riêng từng nước
- Thành lập được Mặt trận của riêng Việt Nam
- Xác định được hình thái của cuộc khởi nghĩa là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến
lên tổng khởi nghĩa.
Cuối cùng giáo viên chốt lại kiến thức: Lúc này chiến tranh thế giới thứ hai lan
rộng và ngày càng quyết liệt. Mâu thuẫn dân tộc lên cao hơn bao giờ hết nhiều cuộc
đấu tranh vũ trang chống đế quốc đã nổ ra.Tại hội nghị 5/ 1941 Nguyễn Ái Quốc khẳng
định: "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn
vong của quốc gia, của dân tộc… nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng,
không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia
dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm
cũng không đòi lại được”
C. HOẠT ĐỘNG CỦNG CỐ, LUYỆN TẬP
1. Mục tiêu:
Nhằm củng cố, hệ thống hóa, hoàn thiện kiến thức mới mà HS đã được lĩnh hội
ở hoạt động hình thành kiến thức về: tình hình kinh tế, chính trị,xã hội của Việt Nam
trong những năm 1939-1945, nội dung ý nghĩa của hội nghị 11/1939, 5/1941.
2. Phương thức:
GV giao nhiệm vụ cho HS và chủ yếu cho làm việc cá nhân. Trong quá trình
làm việc HS có thể trao đổi với bạn hoặc thầy, cô giáo.
Câu 1: Tình hình Việt Nam trong những năm 1939-1945?
Câu 2: Lập bảng hội nghị 11/1939 và hội nghị 5/1941 theo mẫu
Hội nghị 11/1939 5/1941
Nội dung Hoàn cảnh
Nội dung
Nhiệm vụ trước mắt Khẩu hiệu Mặt trận Phương pháp đấu tranh
Ý nghĩa
Câu 3: Lập bảng hội nghị 7/1936 và hội nghị 11/1939 theo mẫu
Hội nghị 11/1939 5/1941 Nội dung
Hoàn cảnh
Nội dung
Nhiệm vụ trước mắt Khẩu hiệu Mặt trận Phương pháp đấu tranh
Ý nghĩa
3. Dự kiến sản phẩm
Câu 1, 2 giống như SGK
Câu 3: Lập bảng hội nghị 7/1936 và hội nghị 11/1939
Hội nghị 7/1936 11/1939 Nội dung
Hoàn cảnh 7-1936, Hội nghị họp tại Thượng Hải - Trung Quốc
Nội dung -11/1939, Hội nghị diễn ra tại Bà Điểm-Hóc Môn (Gia định), do Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Đánh đổ đế quốc, tay sai -> Đông Dương độc lập
Tạm gác lại khẩu hiệu cách mạng ruộng đất…. Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương
Hoạt động bí mật và bất hợp pháp.
Ý nghĩa Nhiệm vụ trực tiếp trước chống phản động mắt: thuộc… Khẩu hiệu : Đòi tự do,dân chủ cơm áo hòa bình Mặt trận :Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông dương Phương pháp đấu tranh: Kết hợp các hình thức công khai và bí mật Thể hiện sự nhạy bén linh hoạt của Đảng trước tình chuyển hướng Đánh dấu bước quan trọng, đặt nhiệm vụ giải phóng
hình mới. dân tộc lên hàng đầu
D. HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG, MỞ RỘNG
1. Mục tiêu: Học sinh vận dụng được kiến thức đã học để liên hệ thực tế về:
- Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và
bảo vệ đất nước hiện nay.
- Những thách thức mà Đảng Cộng sản Việt Nam gặp phải trong quá trình lãnh
đạo đất nước hiện nay? Trách nhiệm của bản thân.
2. Phương thức: GV giao nhiệm vụ cho HS:
1. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và
bảo vệ đất nước hiện nay.
2. Những thách thức mà Đảng Cộng sản Việt Nam gặp phải trong quá trình lãnh
đạo đất nước hiện nay? Trách nhiệm của bản thân.
3. Gợi ý sản phẩm:
1.Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và
bảo vệ đất nước hiện nay: Hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo
của Ðảng, đất nước đã vượt qua tình trạng một nước nghèo, kém phát triển; đang đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng trưởng kinh tế khá; phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những nhận thức rõ và đầy đủ hơn vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Không ngừng xây dựng, hoàn
thiện hệ thống chính trị, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và tăng cường sự lãnh
đạo của Ðảng đối với Nhà nước và xã hội. Thực hiện nhất quán và thành công đường
lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; nâng cao vị thế của đất
nước. Hiện nay, Ðảng tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Ðảng đối
với hệ thống chính trị và các lĩnh vực của đời sống xã hội; huy động sức mạnh tổng
hợp của toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng, tạo xung lực mới thực hiện thắng
lợi công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.
2. Những thách thức Đảng Cộng sản Việt Nam gặp phải trong quá trình lãnh
đạo đất nước hiện nay? Trách nhiệm của học sinh.
- Thách thức Đảng Cộng sản Việt Nam gặp phải trong quá trình lãnh đạo đất
nước hiện nay
+ Một là, giải quyết mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển,
trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ.
+ Hai là, mâu thuẫn giữa tiềm năng lớn chưa được giải phóng toàn diện với một
số thể chế, cơ chế, chính sách đang kìm hãm sự phát triển, trong khi nguồn lực bị hạn
chế cả về con người và vật chất.
+ Ba là, nhận diện bước chuyển từ phát triển “kinh tế nâu” sang “kinh tế xanh”;
mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa nhanh và giải quyết những vấn
đề xã hội, môi trường nảy sinh, sự chênh lệch trong phát triển giữa các vùng, miền,
thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư.
- Trách nhiệm của học sinh:
+ Phấn đấu học tập tốt để có thể cùng nhau đưa đất nước ta trở thành một cường
quốc về tri thức.
+ Thường xuyên trau dồi kiến thức mới, khoa học công nghệ để có thể theo kịp
thời đại, tránh để đất nước bị tụt lại phía sau
+ Am hiểu tốt LS, hiểu được truyền thống để có thể hiểu rõ được trước đây ông
cha ta đã dành độc lập như thế nào và sau này chúng ta cần giữ gìn ra sao.
+ Tiếp thu và phát huy truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc, xây dựng
lòng yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm công dân, phát huy tinh thần sáng tạo,
vượt khó khăn, ý chí tự lực, tự cường dân tộc, phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng , văn minh.
Rút kinh nghiệm giờ dạy Phê duyệt Tổ trưởng
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
Phụ lục 4: Đề kiểm tra thực nghiệm sư phạm (10 phút)
Câu 1: Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở đâu, khi nào?
A. Tháng 11/1940, Đình Bảng (Bắc Ninh).
B. Tháng 11/1939, Đình Bảng (Bắc Ninh).
C. Tháng 11/1939, Hóc Môn (Gia Định).
D. Tháng 11/1940, Hóc Môn (Gia Định).
Câu 2: Năm 1939, ai là người giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương?
A. Phan Đăng Lưu. B. Lê Hồng Phong.
C. Hà Huy Tập. D. Nguyễn Văn Cừ.
Câu 3: Điền thêm từ còn thiếu trong nhận định của Đảng ta tại Hội nghị Trung
ương 5/1941: "Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc
cách mạng ...".
A. Tư sản dân quyển.
B. Dân chủ tư sản.
C. Xã hội chủ nghĩa.
D. Dân tộc giải phóng.
Câu 4: Khẩu hiệu được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 đưa
ra là gì?
A. “Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày”.
B. “Lập chính quyền Xô Viết công - nông - binh”.
C. “Tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian chia cho dân cày nghèo”.
D. “Phá kho thóc của Nhật cứu đói cho dân nghèo”.
Câu 5: Ý nghĩa lịch sử của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8
là gì?
A. Là hội nghị đánh dấu sự hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng đấu tranh của
Đảng.
B. Hội nghị đánh đấu bước đầu chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho cách mạng
Việt Nam.
C. Hội nghị đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam.
D. Hội nghị đã mở ra một giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam, tập trung
giải quyết hoàn thành nhiệm vụ dân chủ.
Câu 6: Vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang cho cách mạng được khẳng định là
"nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân" được nêu ra tại hội nghị nào?
A. Hội nghị tháng 7/1936. B. Hội nghị tháng 11/1939.
C. Hội nghị tháng 3/1945. D. Hội nghị tháng 5/1941.
Câu 7: Để huy động tối đa tiềm lực của Đông Dương cho cuộc chiến tranh đế quốc,
thực dân Pháp đã thực hiện chính sách kinh tế gì?
A. Kinh tế vĩ mô B. Kinh tế chỉ huy
C. Kinh tế mới D. Kinh tế thời chiến
Câu 8: Tháng 9-1940, ở Đông Dương đã diễn ra sự kiện lịch sử gì quan trọng?
A. Phát xít Nhật vào Đông Dương
B. Pháp kí với Nhật hiệp định phòng thủ chung Đông Dương
C. Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương
D. Nhật đầu hàng hoàn toàn quân Đồng minh
Câu 9: Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam thời kì 1939-1945 là?
A. Đánh đổ đế quốc, phát xít xâm lược giành độc lập dân tộc
B. Đánh đổ các giai cấp bóc lột giành quyền tự do dân chủ
C. Lật đổ chế độ phong kiến giành ruộng đất cho dân cày
D. Lật đổ chế độ phản động thuộc địa cải thiện dân sinh
Câu 10: Sự khác biệt cơ bản giữa phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam
từ năm 1939 đến trước ngày 9-3-1945 với các phong trào cách mạng trước đó
là gì?
A. Mâu thuẫn dân tộc phát triển gay gắt
B. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt ra cấp thiết
C. Chống lại nền thống trị của đế quốc phát xít Pháp - Nhật
D. Có sự liên kết với quốc tế.
Phụ lục 5: Ảnh thực nghiệm
Giáo viên giới thiệu bài 16 Giáo viên giới thiệu nội dung bài 16
Giáo viên hướng dẫn các nhóm hoạt động Nhóm 1 hoạt động
Nhóm 2 làm việc nhóm Nhóm 3 làm việc nhóm
Nhóm 1 trình bày trước lớp Nhóm 2 trình bày trước lớp
Nhóm 3 thảo luận Giáo viên nhấn mạnh vai trò của
Nguyễn Ái Quốc
Giáo viên tóm tắt kiến thức của 2 hội Giáo viên tổng kết bài học
nghị tháng 11/1939 và tháng 5/1941

