BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Thu Hằng

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ SỬ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ VĂN ĐẠT

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ tận tình

của các thầy cô giáo, bạn bè, anh chị em đồng nghiệp và những người thân trong gia

đình.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Lê Văn Đạt, giảng viên trường

Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, người đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá

trình xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Ban lãnh đạo, cùng các thầy cô giáo Khoa Lịch

sử, trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức và thực hiện thành

công khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (2006 – 2009) , tạo cơ

hội học tập nâng cao trình độ về lĩnh vực mà tôi tâm huyết.

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường trung học phổ thông Ngô

Quyền, các cơ quan ban ngành của thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai đã giúp đỡ

tôi trong quá trình thực hiện luận văn.

Xin gửi lời cảm ơn Phòng khoa học công nghệ - sau đại học, trường Đại học

sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn được hoàn

thành đúng tiến độ.

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CN - TTCN : công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

DV : dịch vụ

GTSX : giá trị sản xuất

KCN : khu công nghiệp

NLTS : nông lâm thủy sản

Nxb : nhà xuất bản

Ph : phường

TM : thương mại

TP : thành phố

UBND : ủy ban nhân dân

XHCN : xã hội chủ nghĩa

MỞ ĐẦU

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, Việt Nam có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, đạt

được những thành tựu to lớn về mọi mặt. Kèm theo đó là quá trình đô thị hóa, một

hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, chuyển biến các xã hội nông nghiệp – nông

dân – nông thôn sang các xã hội đô thị - công nghiệp – thị dân. Ở Việt Nam, do sự

phát triển chậm chạp của công nghiệp và thương nghiệp trong lịch sử nên hầu hết

các đô thị mang chức năng tổng hợp, vừa là trung tâm chính trị, vừa là trung tâm

kinh tế, đồng thời giữ vai trò trung tâm văn hóa. Hiện nay, quá trình đô thị hóa gắn

liền với sự phát triển của công nghiệp hóa, mà biểu hiện của nó là sự hình thành các

khu công nghiệp, khu chế xuất, các khu kinh tế mở có quy mô, chất lượng phát triển

khác nhau.

Cùng với sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu, Đồng Nai

có vị trí chiến lược hết sức quan trọng, là một đỉnh trong tam giác tăng trưởng kinh

tế trọng điểm phía nam của cả nước; tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố (Bà Rịa-Vũng

Tàu, Bình Dương, Lâm Đồng, Bình Thuận, TP. Hồ Chí Minh). Hòa cùng công cuộc

đổi mới của đất nước từ năm 1986, Đồng Nai đang tiến nhanh, tiến mạnh trên con

đường hiện đại hóa nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Nhiều đô thị

đã và đang giữ vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của tỉnh như Biên Hòa,

Long Khánh, Xuân Lộc, Long Thành, Nhơn Trạch. Trong đó, Biên Hòa đã được

nhà nước công nhận là đô thị loại II, trở thành đô thị đối trọng với thành phố Hồ Chí

Minh, nằm trong kế hoạch phát triển kinh tế đô thị phía Nam của cả nước. Tại Biên

Hòa, nhiều khu công nghiệp khác nhau với quy mô lớn, nhỏ đã được xây dựng, hoạt

động có công suất cao. Giữ vai trò quan trọng, thành phố Biên Hòa nhận được sự

quan tâm của các cấp lãnh đạo, thu hút được nhiều dự án đầu tư từ trong và ngoài

nước, hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kĩ thuật tương đối phát triển.

Song song với những thuận lợi có được từ vị trí và tiềm năng phát triển, quá

trình đô thị hóa diễn ra ở Biên Hòa còn gặp nhiều khó khăn: bất cập trong quản lí,

tính không đồng bộ trong quy hoạch, những hệ lụy mà đô thị hóa đem lại như môi

trường tự nhiên bị thoái hóa, môi trường văn hóa bị ảnh hưởng và các vấn đề xã hội

khác.

Để thực hiện quá trình đô thị hóa thành phố Biên Hòa theo đúng tinh thần

quy hoạch và tránh những hạn chế, sai lầm có thể mắc phải, cần có cái nhìn cụ thể

và khái quát, xem xét quá trình đô thị hóa ấy diễn ra như thế nào, những nhân tố

khách quan và chủ quan tác động, chi phối. Trên cơ sở đó có những bài học kinh

nghiệm phục vụ cho sự nghiệp chung công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh và cả

nước, đặc biệt trong giai đoạn mở cửa, hội nhập với quốc tế. Điều này có ý nghĩa

thời sự, mang tính thực tiễn cao; đồng thời khắc họa sâu thêm kiến thức khoa học

đối với người viết, đảm bảo tính toàn diện trong nghiên cứu lịch sử không chỉ dừng

lại ở lịch sử quân sự - chính trị mà còn là tất cả những gì xảy ra liên quan đến con

người và xã hội loài người.

Là một người dân của tỉnh Đồng Nai, một giáo viên giảng dạy ở trường trung

học phổ thông, tìm hiểu về quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa cũng chính là

tìm hiểu về lịch sử phát triển của vùng đất này trong quá trình hơn 20 năm kể từ

ngày đổi mới. Đó sẽ là những nội dung được truyền đến học sinh trong các giờ dạy

lịch sử địa phương, giáo dục cho các em lòng tự hào và tinh thần trách nhiệm đối

với địa phương.

Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài

“Quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai) giai đoạn 1986 -

2005” làm luận văn cuối khóa học.

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Mục đích của việc nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu sự chuyển biến trên tất cả

lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa ở thành phố Biên Hòa trong quá trình đô thị hóa từ năm

1986 đến năm 2005. Nghiên cứu còn làm rõ những tác động của quá trình đô thị hóa

đối với sự phát triển chung của thành phố, rút ra một số đặc điểm và bài học kinh

nghiệm trong quá trình đô thị hóa; từ đó đề ra một số định hướng để làm nền tảng cho

sự phát triển bền vững trong tương lai.

III. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Đô thị hóa là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và trải qua 3

giai đoạn phát triển: giai đoạn tiền công nghiệp, giai đoạn công nghiệp hình thành

và phát triển, giai đoạn hậu công nghiệp. Ở Việt Nam, các đô thị cũng được hình

thành sớm. Cuốn “Đô thị cổ Việt Nam” của Viện sử học, Hà Nội, 1989 đã miêu tả,

giới thiệu 13 đô thị cổ ra đời và phát triển trong khoảng thời gian từ thế kỉ III đến

thế kỉ XIX. Trong đó có những đô thị đã bị mai một hoàn toàn nhưng cũng có

những đô thị tồn tại và liên tục phát triển cho đến hôm nay, trở thành đô thị hiện

đại, tiêu biểu như Thăng Long – Hà Nội. Tuy nhiên vấn đề quy hoạch đô thị chưa

thấy được đề cập đến.

Năm 1995, ấn phẩm “ Đô thị Việt Nam” gồm hai tập của tác giả Đàm Trung

Phường ra đời đánh dấu bước phát triển trong việc nghiên cứu đô thị hóa. Theo giáo

sư “cho đến giữa thập niên 90 vẫn chưa có ai viết sách và tiếp cận một cách có hệ

thống, toàn diện về vấn đề quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam” [48, tr.56].

Tác phẩm nghiên cứu của giáo sư đã đánh giá thực trạng mạng lưới đô thị

Việt Nam hiện nay, nghiên cứu – định hướng phát triển đô thị trong bối cảnh đô thị

hóa thế giới và bước đầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Đồng thời tác

giả còn trình bày mở rộng những khái niệm về đô thị học trong mối quan hệ với

những tiến bộ của khoa học mới, đem đến những thông tin có tính chất tham khảo

về vấn đề đô thị. Có thể xem đây là công trình quan trọng để tiếp cận các vấn đề lí

luận về đô thị nói chung cũng như về đô thị hóa nói riêng. Tuy nhiên, “Đô thị Việt

Nam” có hạn chế là chưa đi sâu vào từng đô thị.

Cuốn sách khác có nội dung liên quan là “Đô thị hóa tại Việt Nam và Đông

Nam Á” của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á do Nxb thành phố Hồ Chí Minh

ấn hành vào năm 1996. Cuốn sách đã đề cập một cách cụ thể nhiều khía cạnh khác

nhau của hiện tượng đô thị hóa trong bối cảnh lịch sử ngày nay. Chương một đề cập

đến xu thế đô thị hóa của một số thành phố tại Việt Nam và Đông Nam Á, trong đó

nhấn mạnh đến thành phố Hồ Chí Minh, nơi có tốc độ đô thị hóa cao nhất của cả

nước. Chương hai nêu lên những vấn đề đặt ra từ quá trình đô thị hóa như nhu cầu

quản lý đô thị, bảo vệ môi trường, tình trạng tăng dân số cơ học; đồng thời nêu ra

một số kinh nghiệm trong phát triển đô thị của các nước Đông Nam Á. Chương ba

nhấn mạnh đến vấn đề môi trường nhân văn, môi trường văn hóa của con người

trong quá trình đô thị hóa. Chương bốn dựng lại tiến trình đô thị hóa trong lịch sử,

giới thiệu một số đô thị cổ ở Việt Nam cũng như trên thế giới.

Năm 1998, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn “Đô thị hóa và chính

sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” của tác giả

Trần Ngọc Hiên, Trần Văn Chử. Ngoài nội dung đề cập đến những vấn đề mang

tính lý thuyết chung về đô thị hóa trong giai đoạn hiện nay: đô thị hóa lấy tăng

trưởng kinh tế, lấy con người làm trung tâm; cuốn sách còn tập trung phân tích,

đánh giá thực trạng đô thị Việt Nam, phát hiện các vấn đề nảy sinh và làm rõ vai trò

quan trọng của các chính sách tác động đến sự phát triển đô thị ở nước ta.

Ngoài ra còn hàng loạt công trình nghiên cứu viết về các vấn đề khác nhau

của đô thị hóa như “Dân số và nhà ở đô thị Việt Nam” của Phạm Văn Trình (Nxb

TP. Hồ Chí Minh, 1996), “Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay” của Nguyễn

Thanh Tuấn (Nxb Văn hóa thông tin, 2006), “Đời sống văn hóa đô thị và khu công

nghiệp Việt Nam” (Nxb Văn hóa Thông tin, 2005) của tác giả Đình Quang, “Vấn đề

nhà ở đô thị trong nền kinh tế thị trường của thế giới thứ ba” (Nxb Khoa học Xã

hội, 1996), tác giả là Trịnh Duy Luân và Michael Leaf,...

Như vậy, nhìn chung các sách viết về về đô thị hóa ở Việt Nam tương đối

nhiều, đặc biệt trong giai đoạn từ sau năm 1975. Song các công trình này hầu hết

dừng lại ở những vấn đề mang tính lý luận hoặc nghiên cứu về các đô thị lớn: TP.

Hồ Chí Minh và Hà Nội. Các đô thị loại II như thành phố Biên Hòa ở tỉnh Đồng Nai

chưa thấy được đề cập đến một cách nghiêm túc, đầu đủ.

Điển hình phải kể đến Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thủy với nhan

đề “Quá trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 – 1996”. Luận án đã

trình bày quá trình đô thị hóa ở các quận huyện ven đô thành phố Hồ Chí Minh như

Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả

đã làm rõ quá trình biến đổi của các quận huyện trong khoảng thời gian hơn 20 năm

(1975 - 1996) trên tất cả các mặt, trong đó tập trung vào sự thay đổi về cơ cấu kinh

tế và cơ sở hạ tầng của các địa bàn khảo sát.

Năm 2008, Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Tấn Tự nghiên cứu về “Quá

trình đô thị hóa huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh (1986-2003)” đã đóng

góp một cách tiếp cận mới về đô thị hóa, dựng lại bức tranh chuyển đổi từ một vùng

nông nghiệp sang thành thị ở Bình Chánh, đưa ra những nhận xét, kiến nghị cho sự

phát triển trong tương lai.

Tài liệu sớm nhất đề cập đến lịch sử kinh tế xã hội ở thành phố Biên Hòa là

“Gia Định thành thông chí” của tác giả Trịnh Hoài Đức. Cuốn “Biên Hòa – Đồng

Nai 300 năm hình thành và phát triển” (của Nxb Đồng Nai, 1998) được viết nhân

dịp Đồng Nai – Biên Hòa tròn 300 tuổi kể từ khi Nguyễn Hữu Cảnh vào khai phá

năm 1698. Tác phẩm đã trình bày về lịch sử phát triển của vùng đất, đồng thời có đề

cập đến đặc điểm kinh tế Đồng Nai trước và sau thời kì đổi mới cho đến năm 2000.

Tuy nhiên bức tranh về đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa vẫn chưa được khắc họa.

Năm 2001, Nxb Đồng Nai cho ra đời ấn phấm “Địa chí Đồng Nai” gồm 5 tập, trình

bày rất cụ thể về lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh nhà trên các nội dung:

tổng quan, lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa - xã hội. Thành phố Biên Hòa chỉ được

đề cập đến một cách sơ lược trong sự phát chung đó.

Nhằm tổng kết, đánh giá những kết quả đạt được kể từ ngày giải phóng đến

năm 2000, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã xuất bản cuốn “Đồng Nai 25 năm

xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội” (năm 2002). Có thể nói đây là tài liệu tham

khảo có giá trị cho chúng tôi khi nghiên cứu về thành phố Biên Hòa. Tiếp đến năm

2005 Nxb Chính trị Quốc gia cho ra đời cuốn “Đồng Nai thế và lực mới trong thế kỉ

XXI”, một tài liệu tham khảo quan trọng, cung cấp cái nhìn khái quát về trình độ,

tốc độ phát triển của tỉnh nhà trong bối cảnh toàn cầu mới, giới thiệu với bạn đọc

toàn cảnh kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện

nay.

Ngoài ra, đề cập đến thành phố Biên Hòa còn có các khóa luận tốt nghiệp

của sinh viên, trong đó phải kể đến đề tài “Công nghiệp hóa – Đô thị hóa và sự

phân hóa giàu nghèo ở thành phố Biên Hòa” của tác giả Lê Thị Kiều Trang, khoa

Địa Lí trường Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh năm 2004. Đề tài miêu tả một

cách chung nhất sự phát triển của thành phố trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm

2000, trong đó tập trung vào sự phân hóa mức sống của người dân. Tuy nhiên đề tài

chưa làm rõ được những biến đổi về văn hóa – xã hội, đánh giá những tác động mà

quá trình đô thị hóa đem lại.

Trên đây là một số công trình của các tác giả có liên quan đến đề tài mà

chúng tôi đã tham khảo. Chắc chắn rằng sẽ còn những công trình, những bài viết mà

chúng tôi chưa có dịp tham khảo hoặc còn tản mát đâu đó mà chúng tôi chưa có cơ

hội tiếp cận. Trong quá trình viết đề tài, chúng tôi sẽ cố gắng tham khảo tất cả

những công trình của những người đi trước, qua đó có thể kế thừa những kết quả

đạt được, đồng thời bổ sung những khiếm khuyết mà các tác giả chưa đề cập đến

hoặc do lịch sử biến đổi và thời gian vượt qua.

IV. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

Như tên đề tài chỉ rõ, đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình đô thị

hóa diễn ra ở thành phố Biên Hòa ở tỉnh Đồng Nai. Cụ thể đề tài sẽ đi sâu nghiên

cứu quá trình đô thị hóa đã diễn ra như thế nào, những yếu tố nào tác động đến quá

trình ấy và những bài học được rút ra trong quá trình đô thị hóa.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là trong không gian xác định: thành phố Biên

Hòa của tỉnh Đồng Nai, trong thời gian cụ thể từ năm 1986 đến năm 2005, vì đây là

giai đoạn lịch sử có nhiều biến đổi quan trọng và sâu sắc đối với thành phố Biên

Hòa của tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung.

Để hoàn thành đề tài, nhiệm vụ được đặt ra cần phải thực hiện là:

- Nghiên cứu lí luận về các khái niệm đô thị, đô thị hóa và lịch sử của quá

trình đô thị hóa thành phố Biên Hòa làm cơ sở lí luận cho đề tài.

- Tìm hiểu, điều tra về quá trình phát triển của đô thị Biên Hòa trên các

nội dung kinh tế - xã hội – văn hóa cũng như các vấn đề phát sinh trong quá trình

ấy.

- Rút ra những đặc điểm, bài học kinh nghiệm của thành phố Biên Hòa

trong gần 20 năm (1986 – 2005) tiến hành đô thị hóa, đưa ra những giải pháp có

tính chất tham khảo cho sự phát triển của thành phố.

V. NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quá trình thực hiện đề tài là quá trình xử lí tài liệu khác nhau từ các nguồn

tư liệu:

- Các văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết của Chính phủ, Thủ tướng

Chính phủ, UBND tỉnh Đồng Nai, các văn bản đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai.

- Đặc biệt là các số liệu Thống kê, báo cáo năm của các cơ quan chức năng

có liên quan đến vấn đề đô thị hóa, các văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Biên

Hòa. Đây là cơ sở chính để chúng tôi thực hiện đề tài.

- Tài liệu khác là các sách viết về vùng đất Đồng Nai xưa cũng như Biên

Hòa hiện nay sẽ giúp chúng tôi dựng lại lịch sử phát triển của vùng đất Đồng Nai -

Biên Hòa đến trước năm 1986.

- Tài liệu thứ tư tạo cơ sở lý luận cho đề tài chính là các chuyên khảo, công

trình nghiên cứu, bài viết, các tham luận khoa học của các tác giả, các nhà nghiên

cứu về đô thị và đô thị hóa.

- Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ thực hiện khảo sát, điền dã để thu thập thêm tư

liệu thực tế cho đề tài và còn các trang Web liên quan đến nội dung đề tài.

Trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp được sử dụng chủ yếu để

nghiên cứu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Tuy nhiên, vì đô thị hóa

là một quá trình diễn ra phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau nên trong

khuôn khổ của luận văn, chúng tôi còn sử dụng phương pháp điều tra thực tế,

phương pháp so sánh sử học, phương pháp nghiên cứu liên ngành: thống kê toán

học, so sánh, tổng hợp … Việc vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau

sẽ giúp cho đề tài nghiên cứu có được kết quả xác thực hơn.

VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

- Thông qua việc thực hiện đề tài, chúng tôi tái hiện lại một cách khách quan,

trung thực quá trình đô thị hóa thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai trong khoảng

20 năm thực hiện đổi mới (từ năm 1986 đến năm 2005), đồng thời làm sáng tỏ quá

trình chuyển biến của từng thành tố thuộc vấn đề đô thị hóa, đó là sự chuyển biến

của địa phương và cộng đồng tại chỗ trong lĩnh vực nghề nghiệp, văn hóa, lối

sống…trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội.

- Luận văn bước đầu phân tích, đánh giá những yếu tố chủ quan và khách

quan tác động đến quá trình đô thị hóa của thành phố Biên Hòa, rút ra một số bài

học kinh nghiệm mang tính chất định hướng, trên cơ sở đó có những đề xuất, kiến

nghị về quá trình đô thị hóa thành phố trong tương lai.

- Dựng lại bức tranh đô thị hóa thành phố Biên Hòa trong thời gian đổi mới,

luận văn đã tiếp cận và hệ thống hóa nhiều tư liệu khác nhau, góp phần nghiên cứu

về lịch sử thành phố Biên Hòa nói riêng và tỉnh Đồng Nai nói chung, đồng thời

phục vụ cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương ở trường phổ thông.

VII. BỐ CỤC LUẬN VĂN

Luận văn ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung gồm có ba chương.

- Chương 1: Tổng quan về đô thị hóa và khái quát quá trình đô thị hóa ở thành

phố Biên Hòa trước năm 1986.

- Chương 2: Những chuyển biến về cảnh quan môi trường, cơ sở hạ tầng và

kinh tế trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa (1986 – 2005).

- Chương 3: Chuyển biến về dân cư và đời sống dân cư ở thành phố Biên Hòa

trong quá trình đô thị hóa (1986 – 2005).

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ KHÁI QUÁT

QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ

BIÊN HÒA TRƯỚC NĂM 1986

1.1. Đô thị và đô thị hóa

1.1.1. Đô thị

Đô thị là một trong những dấu hiệu lâu đời nhất của nền văn minh nhân loại,

bắt đầu có khoảng 4000 năm đến 6000 năm trước đây hoặc lâu hơn nữa. Khi đó, đô

thị chỉ là nơi tập trung khá đông người hoạt động nông nghiệp. Trải qua thời gian,

những đô thị được hình thành sau hàng loạt biến động về dân cư, thủ công nghiệp,

công nghiệp và thương mại. Ngày nay, những thay đổi về khoa học kỹ thuật và kinh

tế làm biến đổi sâu sắc cấu trúc, chức năng, kiến trúc và quy mô dân số đô thị cũng

như tỉ lệ dân cư đô thị.

Nói một cách ngắn gọn và dễ hiểu, đô thị là nơi tập trung dân cư đông với

mật độ dân số cao, lấy hoạt động kinh tế phi nông nghiệp làm ngành kinh tế chính

và có điều kiện sinh hoạt theo hướng tiến bộ, văn minh hơn so với những vùng xung

quanh.

Điều này đã được phản ánh tương đối trọn vẹn trong cách định nghĩa về đô

thị của Bách khoa toàn thư Hoa Kỳ, rằng đô thị (city) như một cách sử dụng thông

thường chỉ một tập hợp dân cứ có quy mô đáng kể, chỉ một nơi mà điều kiện sống

trái ngược với đời sống nông thôn và đời sống hoang dã. Nó là một hiện thực chung

của xã hội văn minh.

Ở Việt Nam, xuất phát từ lịch sử hình thành đô thị cổ, các nhà nghiên cứu

chỉ ra rằng khái niệm đô thị gồm hai thành tố: đô, thành, trấn, xã hàm nghĩa chức

năng hành chính – chính trị; thị có nghĩa là chợ, mang hàm nghĩa kinh tế. Chức

năng chính trị lấn át chức năng kinh tế.

Giáo sư Cao Xuân Phổ đã phát biểu: “Trong tiếng Việt, có nhiều từ để chỉ khái

niệm đô thị: đô thị, thành phố, thị trấn, thị xã,... Các từ đó đều có hai thành tố: đô

thành, trấn, xã hàm nghĩa chức năng hành chính; thị, phố có nghĩa là chợ. Thời

trước, chức năng hành chính lấn át chức năng kinh tế, bộ phận đảm nhận cai quản

đô thị là do Nhà nước bổ nhiệm. Đô thị phương Tây có ít tính chính trị hơn và thiên

về chức năng kinh tế” [47, tr.103].

Tuy nhiên đây không là đặc điểm duy nhất của đô thị Việt Nam thời hiện đại.

Bên cạnh yếu tố “đô”, “thành” còn có những yếu tố khác đóng vai trò quan trọng

như giao thông, điện nước, giáo dục, văn hóa, y tế,... Chính vì vậy theo các tác giả

của công trình khoa học Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, “Đô thị là điểm dân

cư tập trung với mức độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở

thích hợp, là trung tâm chuyên ngành tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển

kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc

một vùng trong tỉnh, huyện” [2, tr.14].

Cách định nghĩa này cũng tương đồng với quan điểm của nhà nước được thể

hiện trong nghị định số 132/HĐBT ngày 5/5/1990 về việc phân loại đô thị và phân

cấp quản lý đô thị. Theo đó, đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản:

1. Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự

phát triển kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ nhất định.

2. Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn).

3. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 60% trở lên trong tổng số lao động; là

nơi sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển.

4. Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặc

điểm từng vùng.

5. Mật độ dân cư được xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm

từng vùng.

Cũng theo Nghị định này, ở Việt Nam có 5 loại đô thị:

- Đô thị loại I: là đô thị rất lớn; trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội,

khoa học kỹ thuật, du lịch, giao thông, công nghiệp, giao dịch quốc tế có vai trò

thúc đẩy sự phát triển của cả nước; có số dân từ 1 triệu người trở lên với tỉ suất hàng

hóa cao, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 90% trở lên trong tổng số lao động; có cơ

sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng đồng bộ; có mật độ dân cư bình quân 15.000 người/km2 trở lên.

- Đô thị loại II: là đô thị lớn; trung tâm kinh tế, văn hóa – xã hội, sản xuất

công nghiệp, du lịch – dịch vụ, giao thông, giao dịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự

phát triển của một vùng lãnh thổ; có số dân từ 35 vạn người đến dưới 1 triệu người;

sản xuất hàng hóa phát triển, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 90% trở lên trong tổng số lao động; mật độ dân cư bình quân là 12.000 người/km2 trở lên.

- Đô thị loại III: là đô thị trung bình lớn; trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa

– xã hội, là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung, du lịch – dịch

vụ; có vai trò thúc đẩy phát triển một tỉnh, hoặc từng lĩnh vực đối với vùng lãnh thổ;

dân số từ 10 vạn người đến dưới 35 vạn người (vùng núi có thể thấp hơn); sản xuất

hàng hóa tương đối phát triển, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 80% trở lên trong

tổng số lao động; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng từng mặt; mật độ dân cư bình quân 10.000 người/km2 trở lên (vùng núi có

thể thấp hơn).

- Đô thị loại IV: là đô thị trung bình nhỏ; trung tâm tổng hợp chính trị, kinh

tế, văn hóa – xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ

công nghiệp, thương nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hay một

vùng trong tỉnh; dân cư từ 3 vạn người đến 10 vạn người (vùng núi có thể thấp

hơn); là nơi sản xuất hàng hóa, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 70% trở lên trong

tổng số lao động; đã và đang đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng từng phần; mật độ dân cư 8000 người/km2 trở lên (vùng núi có thể thấp

hơn).

- Đô thị loại V: là đô thị nhỏ, trung tâm tổng hợp kinh tế - xã hội, hoặc trung

tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp,... có vai trò thúc đẩy sự phát triển

của một huyện, một vùng trong tỉnh hoặc một vùng trong huyện; dân số từ 4000

người đến dưới 3 vạn người (vùng núi có thể thấp hơn); tỉ lệ lao động phi nông

nghiệp từ 60% trở lên trong tổng số lao động; bước đầu xây dựng một số công trình công cộng và hạ tầng kỹ thuật; mật độ dân cư bình quân 6000 người/km2 (vùng núi

có thể thấp hơn).

Đối với đô thị loại I và loại II do Trung ương quản lí.

Đối với đô thị loại III và loại IV do tỉnh quản lí.

Đối với đô thị loại V do huyện quản lí.

Như vậy, theo Nghị định này thì TP. Biên Hòa là đô thị loại III.

Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, đô thị ở Việt Nam phát

triển nhanh chóng về chất lượng và số lượng, đặc biệt là quy mô của các đô thị.

Nghị định 132/HĐBT tỏ ra không còn phù hợp, vì vậy ngày 5/10/2001 Nghị định số

72/2001/ NĐ - CP được ban hành thay thế cho Nghị định 132 về việc phân loại đô

thị và cấp quản lý đô thị. Theo quy định pháp lý về đô thị, đô thị nước ta là các

điểm dân cư tập trung có đủ hai điều kiện sau:

- Đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn được các cơ quan nhà nước có thẩm

quyền quyết định thành lập.

- Về trình độ phát triển: 1- Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên

ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ nhất định

nhất định, nhỏ nhất cũng phải là tiểu vùng trong huyện; 2- Quy mô dân số tối thiểu

của nội thành, nội thị là 4.000 người; 3- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 65% trở

lên trong tổng số lao động của nội thành, nội thị; 4- Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và

các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị đạt 70% mức quy định đối với từng

loại đô thị; 5- Mật độ dân cư được xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm từng vùng, tối thiểu 2000người/km2.

Theo đó, đô thị Việt Nam được chia làm 6 loại:

- Đô thị loại đặc biệt là đô thị rất lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước, dân số trên 1,5 triệu người, mật độ dân số trung bình trên 15.000 người/km2,

tỉ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động trên 90%.

- Đô thị loại I: là những đô thị lớn có chức năng là trung tâm chính trị, kinh

tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, du lịch – dịch vụ,... giữ vai trò thúc đẩy sự phát

triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh; quy mô dân số từ 50 vạn người trở lên, mật độ dân số từ 12.000 người/km2 trở lên với tỉ lệ lao động

phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 85%.

- Đô thị loại II: là những đô thị trung bình lớn, phải đảm bảo các chức năng

là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa,... trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả

nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên

tỉnh hoặc một số lĩnh vực của cả nước, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp/ tổng số lao

động trên 80%, dân số lớn hơn hoặc bằng 250.000 người, mật độ dân số từ 10.000 người/km2 trở lên.

- Đô thị loại III: là đô thị loại trung bình, giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển

kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh; tỉ lệ lao

động phi nông nghiệp/ tổng số lao động trên 75%, dân số trên 100.000 người, mật độ dân số từ 8000 người/km2 trở lên.

- Đô thị loại IV: là đô thị loại trung bình nhỏ; giữ vai trò thúc đẩy sự phát

triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh; tỉ lệ lao động phi nông

nghiệp/ tổng số lao động trên 70%, dân số trên 50.000 người, mật độ dân số trung bình trên 6000 người/km2 trở lên.

- Đô thị loại V: là đô thị loại nhỏ với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc

chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hóa và dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát

triển kinh tế - xã hội của một huyện hoặc cụm xã; tỉ lệ lao động phi nông nghiệp/

tổng số lao động trên 65%; dân số trên 4.000 người; mật độ dân số trung bình trên 2000 người/km2 .

Theo dõi thêm bảng phân loại tổng hợp đô thị trên cơ sở của nhiều tiêu chí

sau:

Bảng 1.1. Phân loại đô thị ở Việt Nam theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP

Lao động Một độ Loại Vai trò trung tâm Dân số Hạ tầng cơ sở phi nông đô thị (chủ yếu) (người) nghiệp (%) dân số (người/km2)

Đặc Quốc gia > 1.500.000 > 90 Đồng bộ, hoàn chỉnh > 15.000 biệt

Quốc gia và liên Nhiều mặt đồng bộ, I > 500.000 > 85 > 12.000 tỉnh hoàn chỉnh

Quốc gia (một số Nhiều mặt tiến tới đồng II > 250.000 > 80 > 10.000 lĩnh vực), liên tỉnh bộ, hoàn chỉnh

Liên tỉnh (một số Từng mặt đồng bộ, hoàn III > 100.000 > 75 > 8.000 lĩnh vực), tỉnh chỉnh

Từng mặt tiến tới đồng IV Tỉnh, liên huyện > 50.000 > 70 > 6.000 bộ, hoàn chỉnh

Đã hoặc đang xây dựng, Huyện, tiểu vùng V > 4.000 > 65 > 2.000 chưa đồng bộ và hoàn (cụm xã) chỉnh

Nguồn: [29, tr.142]

Ngoài ra, Nghị định còn đưa ra những tiêu chuẩn phân loại đô thị áp dụng

cho các trường hợp đặc biệt như ở vùng núi, miền cao, vùng sâu, vùng xa,... và quy

định việc phân loại cấp quản lí đô thị gồm:

- Thành phố trực thuộc Trung ương phải là đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại I.

- Thành phố và thị xã thuộc tỉnh phải là đô thị loại II hoặc đô thị loại III, IV.

- Thị trấn thuộc huyện phải là đô thị loại IV hoặc đô thị loại V.

Tóm lại, ngày nay, đô thị được hiểu là một khu dân cư tập trung có những

đặc điểm:

- Về cấp quản lí, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ra quyết định thành lập.

- Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn như là trung

tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế

- xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố trực thuộc trung

ương, vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện...

Ngoài ra, đô thị phải là nơi có dân số tập trung cao và hoạt động sống chủ

yếu của cư dân trong khu vực ấy là những hoạt động phi nông nghiệp...[71, tr.19].

1.1.2. Đô thị hóa

Đô thị hóa được hiểu là một quá trình vận động kinh tế - xã hội – văn hóa

phức tạp, là quá trình nâng cao vai trò của thành phố đối với sự phát triển của xã

hội. Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực như cơ cấu kinh tế, quy

mô và sự phân bố dân cư, kết cấu nghề nghiệp, cơ sở hạ tầng, lối sống, văn hóa,...

Khái niệm đô thị hóa được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra định

nghĩa tùy theo quan điểm và góc độ tiếp cận.

Trong Từ điển tiếng Việt, để định nghĩa về khái niệm đô thị hóa và nhấn

mạnh hơn vai trò của thành thị đối với sự phát triển xã hội, các tác giả viết: “Đô thị

hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai

trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội” [86, tr.13].

Từ góc độ dân số, đô thị hóa “...theo nghĩa hẹp là sự phát triển hệ thống

thành phố nhất là các thành phố lớn, tăng tỉ trọng dân số đô thị trong nước, trong

khu vực và thế giới...”

Định nghĩa ngắn gọn hơn “Đô thị hóa là sự phát triển tỉ trọng dân số các khu

vực đô thị” [56, tr.120]. Đây là cách xem xét vấn đề dựa trên chủ yếu sự thay đổi số

lượng dân cư theo hướng tập trung ngày một cao hơn tại một địa điểm, từ đó đánh

giá mức độ đô thị hóa của một thành phố.

Theo các nhà địa lý, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian, mật

độ dân cư, thương mại, dịch vụ hoặc các hoạt động khác mang tính chất phi nông

nghiệp tại một khu vực. Quá trình đô thị hóa được thể hiện ở các nội dung:

- Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có. Sự thay đổi này thường không

phải là tác nhân chính đối với sự phát triển của đô thị vì mức độ tăng dân số tự

nhiên của thành phố không cao hơn so với vùng nông thôn.

- Sự chuyển dịch dân cư từ vùng nông thôn ra thành thị, nói rộng hợn là sự

nhập cư từ các vùng đến đô thị. Đây là nghuyên nhân chính dẫn tới sự gia tăng dân

số đột biến trên một vùng hay lãnh thổ.

- Sự chuyển dịch đất đai từ mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang công

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và đất thổ cư.

Đứng trên lập trường của những nhà quản lý và kinh tế, đô thị hóa “là quá

trình cấu trúc lại chức năng của khu vực nông thôn, là quá trình gia tăng phát triển

công nghiệp và dịch vụ. Và vì vậy đô thị hóa thường được hiểu như là quá trình

song song với sự phát triển công nghiệp và cuộc cách mạng công nghệ, gia tăng các

hoạt động phi nông nghiệp hội tụ trên một không gian nhất định” [71, tr.15].

Dưới góc độ xã hội, bản chất của đô thị hóa là sự khám phá ra các hình thức

sinh hoạt mới của con người bên cạnh sự phá vỡ các quan hệ truyền thống được

hình thành trong dân cư nông nghiệp. Đó là quá trình biến đổi các mối quan hệ theo

kết cấu gia đình - họ hàng – xóm giềng – làng xã – xã hội sang gia đình – đường

phố - xã hội; biến đổi môi trường thiên nhiên sinh thái theo mối giao hòa nhà vườn

– lũy tre làng – đồng lúa sang môi trường thiên nhiên sinh thái theo kết cấu nhà

(chung cư) – đường phố - công sở. Chính vì vậy John Macionis nêu lên trong cuốn

sách giáo khoa xã hội học (1988) rằng “Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố

dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể (transform) nhiều kiểu mẫu (patterns) của

đời sống xã hội” [32, tr.70].

Ngoài ra, đô thị hóa còn là sự phổ biến và lan truyền những khuôn mẫu hành

vi, ứng xử vốn đặc trưng của người dân đô thị tới các vùng nông thôn. Nói cách

khác, đó chính là sự lan truyền của lối sống đô thị, văn hóa đô thị. Tác giả Tôn Nữ

Quỳnh Trân trong Văn hóa làng xã trước sự thách thức của đô thị tại thành phố Hồ

Chí Minh nhận định: “Xét trên phương diện cách sống, đô thị hóa là một sự thay đổi

lối sống và đồng thời thay đổi khung cảnh sống. Xét trên quan điểm sinh thái nhân

văn thì đô thị hóa là một quá trình chuyển động làm thay đổi lối sống và cảnh quan

của một hệ thống quần cư từ hệ sinh thái nông thôn sang hệ sinh thái kinh tế xã hội

đô thị. Xét trên bình diện văn hóa thì đô thị hóa là quá trình chuyển đổi văn hóa

làng xã thành văn hóa đô thị...” [70, tr.13].

Có thể thấy rằng đô thị hóa là một phạm trù rộng lớn, đề cập một cách sâu

sắc, toàn diện đến quá trình chuyển đổi mạnh mẽ các lĩnh vực trong đời sống từ

kinh tế, xã hội, văn hóa đến khoa học kỹ thuật và cả không gian cư trú của con

người. Giáo sư Đàm Trung Phường đã tổng kết: “Đô thị hóa là một quá trình

chuyển dịch lao động, từ hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên

sẵn có như nông, lâm, ngư nghiệp, khai khoáng phân tán trên một diện tích rộng

khắp, hầu như toàn quốc sang những hoạt động tập trung hơn như chế biến sản xuất,

xây dựng cơ bản, vận tải, sửa chữa, dịch vụ thương mại, tài chính, văn hóa xã hội,

khoa học kỹ thuật,... Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với động thái phát triển

không gian kinh tế - xã hội, trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của lực

lượng sản xuất, của nền văn hóa và phương thức tổ chức lối sống xã hội... Do vậy,

có thể nói đô thị hóa là một quá trình diễn biến về kinh tế, xã hội, văn hóa, không

gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó diễn ra sự phát triển

nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa,

sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị

song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự” [48, tr.7].

Mặc dù còn nhiều cách nhìn khác nhau về đô thị hóa nhưng nhìn chung các

nhà khoa học đều thống nhất với nhau đô thị hóa là một vấn đề mang tính tất yếu

khách quan của sự phát triển, có tính phổ biến toàn cầu trên phạm vi rộng lớn. Đó là

hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp diễn ra trong thời gian lâu dài để chuyển biến

các xã hội nông nghiệp – nông dân – nông thôn sang các xã hội đô thị - công nghiệp

– thị dân, là biểu hiện của văn minh nhân loại.

Ngày nay, đô thị Việt Nam nói chung và đô thị Biên Hòa nói riêng đang ở

giai đoạn phát triển mạnh cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có thể

thấy rằng cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra phương thức sản xuất mới, làm

thay đổi lực lượng sản xuất ở cả khu vực nông thôn và thành thị, đồng thời làm

chuyển biến tích cực mối quan hệ sản xuất giữa hai khu vực này. Trong giai đoạn

hiện nay, cách mạng công nghiệp chính là động lực cơ bản của đô thị hóa. Tuy

nhiên hàng loạt vấn đề liên quan đến quá trình đô thị hóa đã và đang đặt ra đối với

các cấp quản lý. Vì vậy, để phát triển đô thị một cách bền vững (bao gồm bền vững

về môi trường, bền vững về kinh tế, về chính trị, về dân số và bền vững về văn hóa)

1.2. Khái quát quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa trước năm

1986

cần có chiến lược lâu dài và kết hợp hài hòa các thành tố trên.

1.2.1. Tổng quan về thành phố Biên Hòa

1.2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Thành phố Biên Hòa về mặt địa lý, nằm ở phía Tây tỉnh Đồng Nai, phía Bắc

giáp huyện Vĩnh Cửu, phía Nam và Tây Nam giáp huyện Long Thành và huyện

Thủ Đức (thành phố Hồ Chí Minh), phía Đông giáp huyện Thống Nhất, phía Tây

giáp huyện Thuận An và huyện Tân Uyên (Bình Dương).

Thành phố có diện tích 154.67km2, dân số đến năm 2005 là 541.495 ngàn

người, trong đó người Kinh chiếm hơn 90%, còn lại là các dân tộc Hoa, Nùng,

Tày,… với 26 đơn vị hành chính cấp cơ sở gồm 23 phường và 3 xã.

Các phường là: An Bình, Bình Đa, Bửu Hòa, Bửu Long, Hòa Bình, Hố Nai,

Long Bình, Long Bình Tân, Quang Vinh, Quyết Thắng, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tân

Biên, Tân Hiệp, Tân Hòa, Tân Mai, Tân Tiến, Tân Phong, Tân Vạn, Thanh Bình,

Thống Nhất, Trảng Dài, Trung Dũng.

3 xã gồm: Hiệp Hòa, Hóa An, Tân Hạnh.

Nằm hai bên bờ sông Đồng Nai nhưng chủ yếu bên phía tả ngạn, Biên Hòa

thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có hai mùa: mùa mưa kéo dài từ tháng 4

đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau; nhiệt độ bình quân hàng năm tương đối cao 270C nhưng chênh lệch giữa các tháng ít (nhiệt độ cao nhất trung bình năm là 32.50C, nhiệt độ thấp nhất trung bình năm là 230C); độ ẩm bình quân

79%/năm. Lượng nước vào mùa mưa chiếm 85%/năm và chủ yếu là mưa cơn chóng

tạnh. Số giờ nắng trung bình khá cao, ngay trong mùa mưa cũng có trên 5,4

giờ/ngày, vào mùa khô là trên 8 giờ/ngày. Ngoài ra, ở Biên Hòa còn có thuận lợi là

hầu như không có gió bão thiên tai. Vì vậy các hoạt động sản xuất diễn ra được liên

tục, không bị ảnh hưởng nhiều.

Chế độ thủy văn của sông Đồng Nai ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống sông

rạch trong khu vực. Đoạn sông Đồng Nai qua thành phố dài khoảng 10km, phân

thành nhánh phụ tạo nên Cù lao Hiệp Hòa. Sông Đồng Nai chính là nguồn nước mặt

lớn nhất cung cấp nước ngọt cho toàn thành phố, đồng thời đảm bảo nguồn năng

lượng điện phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất.

Về địa chất kiến tạo của thành phố Biên Hòa, có cấu tạo địa chất vùng rìa

Đông – Nam, miền kiến tạo Nam Trung Bộ bao gồm:

- Đá cổ nhất thấy được là các trầm tích, trầm tích núi lửa, phun trào và xâm

nhập Mejojoi với bề dày 100 – 150 m, chủ yếu ở phường Bửu Long.

- Trầm tích lục nguyên Jura sớm lộ ra ở phía Đông – Bắc trên một diện rộng

và chìm dần theo hướng Nam và Tây – Nam. Ở khu vực trầm tích này lộ ra tạo nên

những rừng lồi lớn so với tỉnh trên 8m.

- Các trầm tích phun trào có tuổi từ Jura muộn đến Kreta, lộ ra ở Bửu Long,

Long Bình với thành phần chính là cát kết, cuội kết, andejit.

- Trầm tích trước đệ tứ duy nhất trong vùng (Plioxen N) nằm ở khu vực Hố

Nai, Long Bình, lộ ra dưới dạng đồi gồm sét, sét pha với cao độ đỉnh 5m – 10m đến

40m – 50m, chiều dày thay đổi từ 30m – 70m.

- Trầm tích sông Pleistoxen sớm (aQI - + b) chủ yếu ở khu vực Long Bình,

Hố Nai có cao độ bề mặt từ 10m – 50m.

- Thành tạo Bazan Xuân Lộc chỉ lộ thành một dãy Đông – Nam và rải rác tại

Long Bình. Phần bề mặt đã phân hóa thành đất đỏ dày 3m – 5m.

- Các trầm tích sông trẻ và hiện đại tạo thành các thềm sông có thành phần

thạch học phân lớp từ cát cuội sỏi đến cát pha sét.

Nhìn chung, đất ở Biên Hòa chủ yếu là đất phù sa cổ, đất cát, đất sét,… ít

màu mỡ, do vậy sản xuất nông nghiệp không đem lại hiệu quả cao. Nhưng ngược lại làm công nghiệp rất tốt vì nền đất có độ chịu lực cao, bình quân 25 kg/cm2. Đó

cũng là một trong những lý do lý giải tại sao Biên Hòa trở thành một đô thị công

nghiệp điển hình của cả nước.

Trong thành phố Biên Hòa có một số điểm khoáng sản, chủ yếu là Kaolin,

Laterít và sét được phân bố:

- Laterít: tập trung nhiều ở phường Long Bình trên diện tích là 3m2 với chiều

dày từ 1m – 3m, tạo thành khối rắn chắc, ở Hố Nai nhiều chỗ bị sói mòn thành sỏi

rắn chắc.

- Sét Kaolin: ở khu vực nghĩa trang với diện tích khá rộng. Tại Tân Mai, tầng

sét Kaolin có màu trắng, cát thạch anh, bột thạch anh.

- Sét gạch ngói: phân bố nhiều ở xã An Hòa (về hướng Long Thành). Ngoài

ra còn có than bùn (ở Hóa An), với diện tích khá rộng, thường lẫn sét màu đen. Vì

vậy, ở Biên Hòa sớm phát triển các nghề truyền thống nổi tiếng: làng gốm Bửu

Hòa, Tân Vạn; nghề khắc đá Bửu Long, sản xuất đồ gỗ và mây tre ở Tân Biên.

Như vậy vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi chính là những yếu tố quan

trọng giúp Biên Hòa tiến nhanh trong quá trình đô thị hóa.

1.2.1.2. Thành phố Biên Hòa trong không gian kinh tế phía Nam

Biên Hòa là thành phố trung tâm của tỉnh Đồng Nai

Trước năm 1986, Biên Hòa đã là thành phố trung tâm của tỉnh Đồng Nai.

Trong 20 năm tiến hành đổi mới, Biên Hòa luôn khẳng định vị trí trung tâm chính

trị, kinh tế và văn hóa, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, đầu mối giao thông, giao lưu của

tỉnh, có vị trí quan trọng về an ninh và quốc phòng. Ghi nhận vai trò và sự phát triển

của thành phố, tháng 5 năm 1993 Biên Hòa được Nhà nước chính thức công nhận là

đô thị loại II, có cơ cấu kinh tế công nghiệp – thương mại – dịch vụ và du lịch. Từ

đó đến nay, Biên Hòa luôn luôn xứng đáng là lá cờ đầu trong quá trình phát triển

kinh tế - xã hội của tỉnh, là trung tâm công nghiệp quan trọng không những riêng

Đồng Nai mà còn là trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, có tốc độ đô thị hóa

nhanh.

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Biên Hòa có 80 cơ quan, đơn vị, ban ngành

của Trung ương, quân khu 7 và địa phương. Trong tiến trình đi lên công nghiệp hóa,

hiện đại hóa, thành phố có nhiều khu công nghiệp (KCN) lớn thu hút hàng tỉ USD

vốn đầu tư hàng năm, điển hình là 4 KCN đã được chính phủ phê duyệt với cơ sở hạ

tầng hiện đại, hoàn chỉnh: KCN Biên Hòa 1, KCN Biên Hòa 2, KCN Amata và

KCN Loteco đã đi vào hoạt động với cơ sở hạ tầng đồng bộ. Ngoài ra chính phủ

cũng đã phê duyệt khu công nghiệp Hố Nai và KCN Sông Mây, tỉnh đã quy hoạch

KCN Bàu Xéo.

Một trong những nguyên nhân thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh,

mạnh trong thời gian qua, đưa Biên Hòa trở thành đô thị loại II của cả nước, có vai

trò quan trọng đối với tỉnh, chính là yếu tố con người. Chính quyền thành phố đã có

nhiều biện pháp tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế - văn hóa phát triển; đồng

thời xây dựng hai bản quy hoạch thành phố năm 1993 và năm 2002 để định hướng

sự phát triển mang tính đồng bộ và lâu dài (đến năm 2020).

Biên Hòa trong không gian kinh tế phía Nam

Biên Hòa là cửa ngõ phía Đông Sài Gòn, cách trung tâm thành phố Hồ Chí

Minh 30km theo Xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1A, cách thành phố Vũng Tàu 90km theo

Quốc lộ 51. Ngoài ba đường lộ, Biên Hòa còn có liên tỉnh lộ 16 nối liền với các tỉnh

Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh; liên tỉnh lộ 24 đi Trị An; tiếp giáp với quốc lộ

20 để đi Tây Nguyên. Tuyến đường sắt Thống Nhất qua ga Biên Hòa tại phường

Thống Nhất và ga Long Lạc ở phường Tân Hòa. Từ Biên Hòa có thể theo đường

sông đến thành phố Hồ Chí Minh, ra biển và đến các tỉnh miền Tây Nam Bộ - vùng

đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó nhận thấy Biên Hòa là một đầu mối giao thông

quan trọng đối với khu vực và quốc gia. Từ Biên Hòa có thể đến nhiều nơi trong

nước.

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam hiện nay bao gồm: Thành phố Hồ Chí

Minh, tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An, Bà Rịa-Vũng Tàu với tổng diện tích là 27.794km2 và tổng dân số là 11.993.000 người. Đây là khu

vực tăng trưởng mạnh nhất của cả nước, thể hiện trên các mặt: mức tăng trưởng

kinh tế bình quân 11,2%/năm, tốc độ tăng GDP là 10,4%. GDP năm 2000: 31,1%,

tổng sản phẩm công nghiệp năm 2000 chiếm 54,48% cả nước với kim ngạch xuất

khẩu là 57,7 triệu USD, hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài lên đến 17.363

triệu USD (chiếm 48,5% cả nước) [38, tr.42]; tập trung hệ thống kỹ thuật hạ tầng

hiện đại gồm đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không, …

Nơi đây hiện có 3 thành phố lớn: TP. Hồ Chí Minh (đô thị cấp quốc gia); đô

thị loại 2: Biên Hòa; Vũng Tàu (đô thị trung tâm vùng) và 6 thị xã, trung tâm cấp

tỉnh (Thủ Dầu Một, Bà Rịa, Long Khánh, Xuân Lộc, Đồng Xoài, Tây Ninh và Tân

An). Trong đó Biên Hòa là thành phố công nghiệp với năng lực mạnh nhất hiện nay

ở khu vực Nam Bộ, lại nằm ở tâm điểm của vùng kinh tế trọng điểm nên có nhiều

điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh.

Nếu như thành phố Hồ Chí Minh là hạt nhân trong vùng đô thị Nam Bộ thì

Biên Hòa là mắt xích quan trọng trong việc hình thành dải đô thị đối trọng với TP.

Hồ Chí Minh, mà điểm khởi đầu là thành phố Biên Hòa và kết thúc là thành phố

Vũng Tàu, các thành phố nằm trong dải là Biên Hòa - Nhơn Thạch - Long Thành -

Phú Mỹ - Bà Rịa - Long Đất - Long Hải - Vũng Tàu. Dải đô thị này kéo dài từ giáp

Bình Phước xuống bờ biển Đông theo trục Tây - Bắc - Đông Nam, có độ dài chừng

110km. Theo dự tính đến năm 2020 dải đô thị này sẽ có khoảng 3 triệu dân, đủ đối

trọng được với TP. Hồ Chí Minh khi đó là khoảng 10.000.000 dân, tỉ lệ sẽ là 1/3.

Xu hướng phát triển hiện nay và sắp tới của các đô thị là sát lại gần nhau, tạo

thành các chùm, các chuỗi đô thị. Thành phố Biên Hòa tiếp giáp với quận 9 và quận

Thủ Đức - cửa ngõ của TP. Hồ Chí Minh. Vì vậy khoảng cách địa lý bị thu hẹp

nhanh chóng do cả hai đang trong tiến trình mở rộng về không gian theo kiểu vết

dầu loang. Nếu trước kia đến cầu Sài Gòn mới coi như là đến TP. Hồ Chí Minh, thì

nay đến ngã tư Thủ Đức đã coi như đến sát thành phố.

Hiện tại mối quan hệ giữa Biên Hòa và Hồ Chí Minh ngày càng trở nên mật

thiết. Một bộ phận dân cư TP. Hồ Chí Minh lao động, làm việc tại Biên Hòa. Biên

Hòa phát triển sẽ hỗ trợ cho thành phố Hồ Chí Minh giảm sức ép về dân số, các dịch

vụ xã hội, văn hóa, giáo dục,…. Vì vậy có quan điểm cho rằng Biên Hòa là đô thị vệ

tinh của TP. Hồ Chí Minh [23, tr.16-23].

Trong mối quan hệ quốc tế và khu vực thì Đồng Nai nói chung và TP. Biên

Hòa nói riêng có một vị thế và ảnh hưởng nhất định. Trong các KCN Biên Hòa 1,

Biên Hòa 2, Amata, Loteco đều có mặt các nhà đầu tư của các quốc gia khác nhau

trên thế giới, có nhiều các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia. Ảnh hưởng của thành

phố Biên Hòa đã vượt ra khỏi biên giới hành chính quy ước và hướng tới không

gian kinh tế, văn hóa - xã hội rộng lớn hơn của toàn vùng.

Như vậy, đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực miền Nam,

trong mối tương quan với các đô thị khác, Biên Hòa có vai trò rất quan trọng. Là

một trong ba đỉnh của tam giác đô thị ở miền Nam (gồm Biên Hòa, TP.Hồ Chí

Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu). Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh là đô thị cấp quốc gia,

có vai trò chủ đạo như một nhạc trưởng; Biên Hòa và Vũng Tàu là đô thị loại II. Tất

cả các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung và các cụm công nghiệp lớn, quan

trọng nhất ở miền Nam đều tập trung với mật độ cao ở ba thành phố này.

Nếu như Vũng Tàu là thành phố - đô thị - mang chức năng điển hình là du

lịch, thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đa chức năng thì Biên Hòa từ lâu đã được

định hướng và phát triển là đô thị công nghiệp của cả nước, có vai trò thúc đẩy sự

phát triển kinh tế của miền Nam. Quyết định của thủ tướng chính phủ tháng 11 năm

2003 ghi rõ Biên Hòa “là trung tâm công nghiệp và đầu mối giao lưu quan trọng của

vùng Thành phố Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ, vùng kinh tế trọng điểm phía

Nam. Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, đầu mối

giao thông, giao lưu của tỉnh Đồng Nai…”

Nói về vai trò và định hướng phát triển của đô thị Biên Hòa trong thời gian

tới, giáo sư Nguyễn Minh Hòa đã nhận định: “Thành phố Biên Hòa có vị trí cực kì

quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Nhìn lại cả khu vực phía Nam,

chỉ riêng có Biên Hòa được coi là thành phố công nghiệp. Còn thành phố Hồ Chí

Minh là thành phố đa chức năng. Về giao thông, Biên Hòa nằm ở vị trí tâm điểm

giao cắt của các đường giao thông quan trọng. Tương quan với các đô thị trong

vùng như Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Phan Thiết, Thủ Dầu Một,… Biên

Hòa cũng nằm ở vị trí tâm điểm. Nếu vùng kinh tế trọng điểm chỉ có 7 tỉnh và 1

thành phố thì khái niệm vùng đô thị lại mang tính kết nối các đô thị lại với nhau.

Trong cả hai khái niệm này, thành phố Biên Hòa đóng vai trò quan trọng. Trong

tương lai, Biên Hòa sẽ được nâng cấp lên Thành phố đô thị loại I… Biên Hòa và

Thành Phố Hồ Chí Minh gần như hợp thành một, do nằm quá gần nhau. Thành phố

Hồ Chí Minh có ảnh hưởng đến Biên Hòa nhưng là ảnh hưởng tương hỗ.” [96].

1.2.2. Khái quát quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa trước năm 1986

1.2.2.1. Sơ lược địa giới hành chính thành phố Biên Hòa

Biên Hòa là một bộ phận của tỉnh Đồng Nai, do vậy để có cái nhìn tổng quan

về sự phát triển của Biên Hòa không thể không đặt trong bối cảnh hình thành và

phát triển của tỉnh. Theo sử sách ghi lại, Biên Hòa trước đây nằm ở trung tâm vùng

đất Đồng Nai – Gia Định, là vùng đất mới ở phương Nam của Tổ quốc. Xưa kia,

vùng này hoang vu, dân cư thưa thớt, chưa được khai phá. Từ khoảng thế kỉ XVI

cha ông ta đến lập nghiệp ở Đồng Nai. Họ vốn là những người dân ở Đàng Ngòai,

vì không chịu nổi cảnh binh đao, sự bóc lột của các tập đoàn phong kiến Trịnh –

Nguyễn nên đã tìm mọi cách để đi xuống phía Nam. Cùng đến xây dựng Biên Hòa

– Đồng Nai còn có một số người Hoa di cư theo tổng binh Trần Thượng Xuyên vào

năm 1679, lập ra thương cảng Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa thuộc thành phố Biên

Hòa). Trong suốt thế kỷ XVIII, Cù lao Phố trở thành trung tâm thương mại lớn giao

dịch với bên ngoài của miền Đông Nam Bộ. Đến năm 1776 trong trận chiến giữa

quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh, Cù lao Phố bị tàn phá.

Năm 1698 chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh (còn có tên Nguyễn Hữu Kính)

được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lược xứ Đàng Trong, đã thành lập dinh

Trấn Biên - tiền thân của tỉnh Đồng Nai sau này. Vì vậy các nhà nghiên cứu lấy sự

kiện này làm mốc ra đời của tỉnh Đồng Nai và thành phố Biên Hòa.

Năm Gia Long thứ 7 (1808), toàn miền Nam từ Bình Thuận trở vào được gọi

là Gia Định thành gồm 5 trấn. Tên gọi dinh Trấn Biên trước đây được đổi thành trấn

Biên Hòa, huyện Phước Long thuộc dinh Trấn Biên được nâng lên thành phủ Phước

Long gồm 4 huyện: Phước Chánh, Bình An, Long Thành, Phước An gồm 8 tổng,

310 xã, thôn, phường [14, tr.133]. Thành phố Biên Hòa là một phần của huyện

Phước Chánh – trung tâm của trấn Biên Hòa. Đến năm 1832 vua Minh Mạng bãi

bỏ chế độ trấn, trấn Biên Hòa đổi thành tỉnh Biên Hòa gồm 1 phủ 4 huyện (như năm

1808).

Sau khi chiếm được Nam Kỳ, buộc nhà Nguyễn ký hòa ước năm 1862, thực

dân Pháp bắt đầu đặt lên vùng đất này sự cai trị. Vì vậy, tỉnh Biên Hòa đã nhiều lần

thay đổi tên gọi cũng như địa giới hành chính. Năm 1864 tỉnh Biên Hòa chia thành

2 tiểu khu là Biên Hòa và Bà Rịa. Tuy nhiên cách phân chia này nặng tính chất quân

quản. Vì vậy thực dân Pháp lại thay đổi để mang tính dân sự hơn. Năm 1867 tỉnh

Biên Hòa được chia làm 5 sở tham biện:

- Biên Hòa, tỉnh lỵ ở quận Châu Thành Biên Hòa, huyện Phước Chánh.

- Bà Rịa, tỉnh lỵ ở quận Châu Thành Bà Rịa, huyện Phước An.

- Long Thành, lỵ sở ở làng Long Thành, huyện Long Thành.

- Bình An, tỉnh lỵ ở Châu Thành Thủ Dầu Một, huyện Bình An.

- Nghĩa An, lỵ sở ở Thủ Đức, huyện Nghĩa An.

Trên cơ sở của lần thay đổi này, đến năm 1871 tỉnh Biên Hòa chỉ còn lại 3 sở

tham biện: Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa. Từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, hạt

tham biện Biên Hòa trở thành tỉnh theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của

Toàn quyền Đông Dương về việc đổi tên tất cả các hạt tham biện thành tỉnh. Theo

tài liệu của Tòa bố Biên Hòa năm 1923, thành phố Biên Hòa khi ấy gồm địa lý hành

chính các làng thuộc 4 tổng:

* Tổng Phước Vĩnh Thượng:

- Làng Bình Trước có 8 ấp: Tân Lân, Tân Thành, Lân Thị, Phước Lư, Vĩnh

Thanh, Bàu Hang, Đồng Lách, Sông Mây

- Làng Bình An có 2 ấp: Bình Đa, An Hảo

- Làng Nhị Hòa có 3 ấp: Bình Kính, Tân Mỹ, Tành Hưng

- Làng Tam Hòa có 4 ấp: Bình Hòa, Bình Quan, Hòa Quới, Long Quới

- Làng Nhứt Hòa có 4 ấp: Bình Tư, Bình Xương, Hưng Phú (về sau, 3 làng

Nhứt Hòa, Nhị Hòa, Tam Hòa sát nhập thành làng HIệp Hòa-tức vùng Cù

lao Phố)

- Làng Tân Lại

- Làng Vĩnh Cửu

* Tổng Phước Vĩnh Trung

- Làng Bửu Long có 2 ấp: Bình Điện, Bạch Khôi

- Làng Tân Phong

* Tổng Long Vĩnh Thượng

- Làng An Hòa (Bến Gỗ), làng Long Bình, làng Long Hưng

* Tổng Chánh Mỹ Thượng:

- Làng Mỹ Khánh

- Làng Tân Hạnh, làng Tân Vạn

Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945, chính quyền nhân nhân dân tại

Biên Hòa được xây dựng từ tỉnh đến cơ sở. Khi ấy cơ quan lãnh đạo tỉnh Biên Hòa

và quận Châu Thành đặt tại xã Bình Trước (là trung tâm tỉnh lỵ). Sau ngày thực dân

Pháp chiếm Biên Hòa (24 – 10 – 1945), tổ chức hành chính vẫn được giữ nguyên.

Sau năm 1954, thực dân Pháp thua trận, đế quốc Mĩ thay chân nhằm biến

miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Để dễ dàng kiểm soát và đàn áp phong trào

cách mạng, tỉnh Biên Hòa được chia thành 2 tỉnh: Biên Hòa và Long Khánh, nhưng

Biên Hòa vẫn là tỉnh quan trọng trong các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Vài năm sau,

theo Nghị định số 140-BNV/HC/ND của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 2/5/1957, tỉnh

 Quận Châu Thành, quận lỵ tại Bình Trước; có 3 tổng: Phước Vĩnh Thượng,

Biên Hòa mới gồm có 4 quận, 11 tổng, 84 xã:

Phước Vĩnh Trung, Long Vĩnh Thượng. Về mặt địa lý, quận Châu Thành

 Quận Long Thành, quận lỵ: Phước Lộc Xã; có 2 tổng: Thành Tuy Thượng,

chính là thành phố Biên Hòa ngày nay.

 Quận Dĩ An, quận lỵ: An Bình Xã; có 3 tổng: An Thủy, Chánh Mỹ Thượng,

Thành Tuy Hạ.

 Quận Tân Uyên, quận lỵ: Uyên Hưng; có 3 tổng: Chánh Mỹ Trung, Chánh

Long Vĩnh Hạ.

Mỹ Hạ, An Phước Hạ [77, tr.278, 279, 280].

Ngày 9/9/1960, một phần đất quận Long Thành được tách ra lập quận Nhơn

Trạch, quận lỵ đặt tại Phú Thạnh. Quận Nhơn Trạch có 2 tổng: Thành Tuy Trung

(gồm 7 xã) và Thành Tuy Hạ (gồm 6 xã).

Đến năm 1963, quận Châu Thành được đổi tên là quận Đức Tu gồm các xã:

Bình Trước, Tam Hiệp (quận lỵ đặt tại đây), Bùi Tiếng (Tân Mai), Hiệp Hòa, Tân

Vạn, Bửu Long, Tân Hạnh, Tân Ba, Long Bình và giữ đến tháng 4/1975. Ngoài ra

còn có một quận mới được thành lập – quận Công Thanh (tách ra từ quận Châu

Thành và quận Tân Uyên), gồm 2 tổng: Thanh Quan (6 xã), Thanh Phong (6 xã).

Dù liên tục bị xáo trộn về mặt địa giới và hành chính, dưới chính quyền Sài

Gòn, thành phố Biên Hòa luôn giữ vị trí quan trọng, là địa bàn chiến lược về quân

sự và kinh tế sau Sài Gòn ở miền Nam.

Về phía cách mạng, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời thì tổ chức Đảng

và cán bộ Đảng được xây dựng ở trung tâm Biên Hòa. Nhà nước Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã nhiều lần tách

nhập tỉnh Biên Hòa với các tỉnh Thủ Dầu Một, Bà Rịa - Long Khánh, với các tên

gọi: Biên Hoà, Long Khánh, Thủ Biên, Bà Biên, Bà Rịa - Long Khánh, U, phân khu

4, phân khu Thủ Biên, tỉnh Tân Phú.

Năm 1948 ta đổi tên quận Châu Thành thành huyện Vĩnh Cửu, thị xã Biên

Hòa được thành lập trực tiếp dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Biên Hòa (gồm các khu

phố nội ô tỉnh lỵ quận Châu Thành – tức xã Bình Trước và một số ấp, xã huyện lân

cận).

Từ tháng 5 năm 1951 đến cuối năm 1954, chính quyền Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa sáp nhập tỉnh Biên Hòa với tỉnh Thủ Dầu Một thành tỉnh Thủ Biên. Thị

xã Biên Hòa được mở rộng thêm diện tích do sáp nhập một số xã thuộc huyện Vĩnh

Cửu để làm bàn đạp đứng chân họat động như Tam Hiệp, Hiệp Hòa, Tân Thành.

Trong thời kỳ 1954 – 1975, thị xã Biên Hòa là một đơn vị tương đương cấp

huyện. Cuối năm 1954, tỉnh Thủ Biên được tách ra lập thành hai tỉnh: Biên Hòa và

Thủ Dầu Một. Tỉnh Biên Hòa khi đó bao gồm thị xã Biên Hòa và 5 huyện: Vĩnh

Cửu, Long Thành, Tân Uyên, Xuân Lộc và Bà Rá.

Chỉ trong thời gian rất ngắn sau đó, từ năm 1960 đến 1961, tỉnh Thủ Biên

được tái lập rồi lại chia tách thành Thủ Dầu Một, Biên Hòa và Phước Thành. Do

vậy, tỉnh Biên Hòa được thành lập lại gồm các huyện Vĩnh Cửu, Long Thành, Nhơn

Trạch và thị xã Biên Hòa.

Tháng 4 năm 1964, thị xã Biên Hòa được tách ra thành lập một đơn vị hành

chính riêng, trực thuộc Khu ủy miền Đông. Đầu năm 1965, do yêu cầu nhiệm vụ

mới của cách mạng, khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào chiến trường miền Nam, tiến hành

chiến lược chiến tranh cục bộ, thị xã Biên Hòa được nâng lên thành một đơn vị

tương đương cấp tỉnh, có phiên hiệu là U1, gồm thị xã Biên Hòa, huyện Vĩnh Cửu.

Đến tháng 10 năm 1967, chuẩn bị cho cuộc tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân

1968, U1 được mở rộng thêm địa bàn là huyện Trảng Bom (nay là huyện Thống

Nhất).

Từ tháng 5 năm 1971 đến tháng 10 năm 1972, thị xã Biên Hòa trực thuộc

phân khu 5. Tháng 10 năm 1972, thực hiện chỉ thị của Trung ương Cục miền Nam,

các phân khu bị giải thể, tỉnh Bà Rịa - Long Khánh và tỉnh Biên Hòa được lập lại.

Thị xã Biên Hòa lại trở về tỉnh Biên Hòa dưới sự lãnh đạo của khu ủy miền Đông.

Tháng 6 năm 1973, do tính chất quan trọng của vùng đô thị, trung ương Cục

miền Nam quyết định tách tỉnh Biên Hòa thành hai đơn vị ngang cấp tỉnh: Biên Hòa

nông thôn có các huyện: Vĩnh Cửu, Trảng Bàng, Long Thành, Nhơn Trạch, Duyên

Hải, Cao Su; Biên Hòa đô thị (được gọi là thành phố Biên Hòa) gồm thị xã Biên

Hòa và một số vùng phụ cận.

Từ đó thị xã Biên Hòa được nâng lên thành thành phố. Sau khi đất nước

được thống nhất năm 1975, vào tháng 2 năm 1976, thành phố Biên Hòa trở thành

trung tâm, tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Nai khi ba tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa - Long Khánh,

Tân Phú được hợp nhất thành một.

Có thể hình dung quá trình thay đổi địa giới hành chính của thành phố Biên

Hòa từ năm 1975 đến nay một cách cụ thể qua bảng sau:

BIÊN HÒA

Bảng 1.2. Tổ chức hành chính thành phố Biên Hòa qua các năm

1976

1985

1990

1992

1995

156,32 km2

158,08 km2

158,08 km2

Xã Hóa An

Xã Hóa An

Xã Hóa An

Xã Hóa An

Xã Hóa An

Xã Tân Hạnh

Xã Tân Hạnh

Xã Tân Hạnh

Xã Tân Hạnh

Xã Tân Hạnh

Xã Hiệp Hòa

Xã Hiệp Hòa

Xã Hiệp Hòa

Xã Hiệp Hòa

Xã Hiệp Hòa

Xã Bửu Hòa

Ph. Bửu Hòa

Ph. Bửu Hòa

Ph. Bửu Hòa

Ph. Bửu Hòa

Xã Tân Vạn

Ph. Tân Vạn

Ph. Tân Vạn

Ph. Tân Vạn

Ph. Tân Vạn

Xã Long Bình

Xã Long Bình

Xã Long Bình

Xã Long Bình

Ph. Long Bình

Tân

Tân

Tân

Tân

Tân

Ph. Thanh Bình

Ph. Thanh Bình

Ph. Thanh Bình

Ph. Thanh Bình

Ph. Thanh Bình

Ph. Trung Dũng

Ph. Trung Dũng

Ph. Trung Dũng

Ph. Trung Dũng

Ph. Trung Dũng

Ph. Quang Vinh

Ph. Quang Vinh

Ph. Quang Vinh

Ph. Quang Vinh

Ph. Quang Vinh

Ph. Quyết Thắng Ph. Quyết Thắng Ph. Quyết Thắng Ph. Quyết Thắng Ph. Quyết Thắng

Ph. Thống Nhất

Ph. Thống Nhất

Ph. Thống Nhất

Ph. Thống Nhất

Ph. Thống Nhất

Ph. Tân Mai

Ph. Tân Mai

Ph. Tân Mai

Ph. Tân Mai

Ph. Tân Mai

Xã Tân Thành

Xã Tân Bửu

Xã Tân Bửu

Xã Tân Bửu

Ph. Bửu Long

Ph. An Bình

Ph. An Bình

Ph. An Bình

Ph. An Bình

Ph. An Bình

Xã Tân Phong

Ph. Tân Phong

Ph. Tân Phong

Ph. Tân Phong

Ph. Tân Phong

Ph. Trảng Dài

Ph.Tân Tiến

Ph.Tân Tiến

Ph.Tân Tiến

Ph.Tân Tiến

Ph.Tân Tiến

Ph. Tân Hiệp

Ph. Tam Hiệp

Ph. Tam Hiệp

Ph. Tam Hiệp

Ph. Tam Hiệp

Ph. Tam Hiệp

Ph. Hòa Bình

Ph. Hòa Bình

Ph. Hòa Bình

Ph. Hòa Bình

Ph. Hòa Bình

Ph. Tam Hòa

Ph. Tam Hòa

Ph. Tam Hòa

Ph. Tam Hòa

Ph. Tam Hòa

Ph. Long Bình

Ph. Bình Đa

Ph. Bình Đa

Ph. Bình Đa

Ph. Hố Nai 1

Ph. Hố Nai 1

Ph. Hố Nai 1

Ph. Hố Nai 1

Ph. Tân Biên

Ph. Tân Biên

Ph. Tân Biên

Ph. Tân Biên

Ph. Tân Hòa

Ph. Tân Hòa

Ph. Tân Hòa

Ph. Tân Hòa

8 xã, 11 phường

5 xã, 17 phường

5 xã, 18 phường

5 xã, 18 phường

3 xã, 23 phường

Nguồn: [79, tr.284 ]

Như vậy, thành phố Biên Hòa được hình thành từ một làng, một xã ở vị trí

trung tâm tỉnh lỵ - xã Bình Trước, kết hợp với một số ấp liền ranh phát triển dần

tiến lên đô thị loại II. Tiến trình đó thể hiện sức sống và sự phát triển không ngừng

của thành phố; đồng thời ngày càng khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của thành

phố.

1.2.2.2. Quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa trước năm 1986

Thành phố Biên Hòa, do vị trí chiến lược nên trong hai thời kỳ kháng chiến

chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ luôn là địa bàn nóng bỏng. Trải qua nhiều

thăng trầm, thành phố lớn lên cùng với sự phát triển của tỉnh nói riêng và Nam Bộ

nói chung.

Dưới thời Pháp thuộc, diện mạo kinh tế - xã hội của thành phố bắt đầu thay

đổi. Năm 1906 thực dân Pháp tiến hành trồng cây cao su tại đồn điền Suy-da-na

(Suzana), từ đó phát triển thêm nhiều đồn điền xung quanh nội ô Biên Hòa và miền

Đông Nam Bộ. Năm 1909 nhà máy cưa Tân Mai được thành lập lấy tên là BIF

(Bienhoa Industrielles & Forestieres) tức Kỹ nghệ lâm sản Biên Hòa để khai thác

gỗ và các lọai lâm sản khác. Trường bá nghệ Biên Hòa (nay là trường Mỹ thuật

trang trí Đồng Nai) được xây dựng từ năm 1903 để khai thác sự khéo tay của các

nghệ nhân Biên Hòa. Đồng thời hệ thống đường giao thông được đầu tư xây dựng

như xây cầu Rạch Cát, cầu Gành qua sông Đồng Nai, công nghiệp – thủ công

nghiệp được đẩy mạnh với mặt hàng công nghiệp chế biến, nổi tiếng là đường Biên

Hòa. Từ một nền kinh tế nông thôn tự cung tự cấp của người dân trước đây dần dần

chuyển sang sản xuất và cung cấp hàng hóa, phục vụ cho kinh tế thị trường, chủ yếu

là đưa về Sài Gòn để xuất khẩu.

Sự khởi động của quá trình đô thị hóa còn gắn liền với sự xuất hiện các công

sở hoặc dinh thự của các viên chức cao cấp đế quốc. Vì vậy trong xã hội có sự phân

hóa. Ngoài thực dân tư bản phương Tây, xuất hiện tầng lớp tư bản người bản xứ và

giữ vai trò đáng kể trong nền kinh tế. Đó là các điền chủ với những trang trại, đồn

điền, nhà máy, công ty… chiếm hữu phần lớn đất đai canh tác.

Trong khi đó, tầng lớp nhân dân bị bần cùng hóa nghiêm trọng bởi chính

sách cướp đoạt ruộng đất và khai thác nông nghiệp của thực dân Pháp. Họ trở thành

tá điền, làm thuê trên chính mảnh đất quê hương. Đặc biệt là hiện tượng dân từ các

nơi khác nhập cư làm tăng quy mô dân số Biên Hòa, hình thành đội ngũ công nhân

làm việc trong các nhà máy hoặc các đồn điền cao su. Như vậy chính sách cai trị và

khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tác động trực tiếp đến quá trình đô thị hóa

ở thành phố Biên Hòa.

Sau năm 1954, thực dân Pháp thua trận ở Điên Biên Phủ buộc phải rút khỏi

Việt Nam, chấm dứt sự cai trị ở thành phố Biên Hòa. Ngay sau đó, đế quốc Mỹ can

thiệp vào Việt Nam. Từ đây quá trình đô thị hóa ở Biên Hòa chịu sự quản lý của Mỹ

và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Một mặt, Biên Hòa được tập trung xây dựng trở thành một cứ điểm, một

trung tâm đầu não quân sự, chính trị ở miền Đông Nam bộ với những cơ quan đặc

biệt như: Nha đặc cảnh miền Đông, trung tâm huấn chính Biên Hòa (nhà lao Tân

Hiệp), cơ quan cố vấn viện trợ quân sự Mỹ MAAG (trụ sở chính ở Sài Gòn); một

căn cứ quân sự lớn với sân bay Biên Hòa, căn sứ sư đoàn 4 dã chiến,…

Mặt khác, Biên Hòa tiếp tục được đầu tư phát triển nhằm phục vụ cho công

cuộc khai thác thuộc địa của đế quốc. Từ năm 1959, chính quyền Việt Nam Cộng

hòa đã tiến hành phá ủi căn cứ cách mạng Bình Đa, khẩn trương xây dựng xa lộ Sài

Gòn – Biên Hòa, đồng thời nhiều cơ sở sản xuất mới mọc lên như Cogido, Vicado,

cán – kéo dây đồng trên khu vực Bình Đa – An Hảo. Đến năm 1963, Công ty

khuếch trương công kỹ nghệ Biên Hòa (Sonadezi, thuộc các tập đoàn tư bản) tiến

hành xây dựng khu kỹ nghệ Biên Hòa trên diện tích 376 hecta/tổng số 520 hecta đất

tại phường An Bình. Từ đó máy móc của nhiều nước: Mỹ, Nhật, Tây Đức, Đài

Loan,… cùng với chuyên viên các nước tư bản đổ xô vào Biên Hòa. Trong 12 năm

(1963 – 1974), Sonadezi đã xây dựng 94 nhà máy các loại, sản xuất nhiều mặt hàng

cung cấp cho thị trường miền Nam. Đây chính là khu công nghiệp lớn nhất miền

Nam trước giải phóng và cũng là khu công nghiệp lớn của nước Việt Nam sau ngày

thống nhất. Sự xuất hiện của khu kỹ nghệ Biên Hòa góp phần đẩy nhanh quá trình

đô thị hóa thành phố Biên Hòa.

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, thành phố Biên Hòa - được xác định là

trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Nai – có nhiều thuận lợi

và cũng không ít khó khăn.

Sau khi quy định lại vùng lãnh thổ, diện tích tự nhiên của thành phố còn

14.900 ha, trong đó đất nông nghiệp rất ít, lại phân tán (3.400 ha). Dân số tăng

nhanh (từ 218.514 năm 1976 lên 395.837 năm 1985), chủ yếu do biến động cơ học

từ 0.35% đến 2.35%. Vì vậy nguồn lao động dồi dào 120.000 – 140.000 người, lao

động nông nghiệp chiếm khoảng 20.000 người. Lao động công nghiệp – tiểu thủ

công nghiệp (CN – TTCN) khoảng từ 20.000 người – 24.000 người, còn lại là lao

động trong các ngành dịch vụ (DV), thương mại (TM) và số cán bộ, công nhân,

viên chức.

Do chính sách khai thác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, sau chiến tranh,

cơ cấu kinh tế của thành phố đa dạng song chưa xác định rõ nét, nhiều loại ngành

hàng đang trong thời kì xây dựng. Tuy nhiên có một số ngành CN - TTCN đã tạo

được cơ sở ổn định và có ưu thế phát triển như: gạch, ngói, sành, gốm, cơ khí sửa

chữa, chế biến lương thực - thực phẩm, lâm sản, đan lát, chăn nuôi. Các hoạt động

thương mại, dịch vụ, y tế, giáo dục khá phát triển. Đặc biệt việc tiếp quản trọn vẹn

khu kỹ nghệ Biên Hòa là thuận lợi, giúp Biên Hòa ngay từ đầu xác định hướng phát

triển trở thành trung tâm công nghiệp lớn của cả nước.

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, thành phố Biên Hòa trước giải phóng là đô

thị địch tạm chiếm, do đó phải gánh chịu những khó khăn khá nặng nề do chiến

tranh tàn phá, do chế độ Mỹ - Diệm để lại như tệ nạn mãi dâm, trộm cướp, xì ke,

bụi đời, hàng vạn người không có công ăn việc làm. Cuộc sống của một thành phố

tiêu thụ với trên 30 vạn dân, sống chủ yếu bằng mua bán, phục vụ cho bộ máy chiến

tranh tại một vùng chiến thuật quan trọng đang đặt ra những vấn đề phải giải quyết.

Lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, nguyên liệu thiếu thốn và ngày càng khan

hiếm. Nạn đầu cơ tăng giá xuất hiện. Điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội hết sức

khó khăn.

Vì vậy, biện pháp cấp bách hàng đầu mà Đảng bộ và chính quyền thành phố

Biên Hòa ưu tiên thực hiện là cứu đói, hỗ trợ cho những người thiếu gạo, tạo điều

kiện cho họ trở về quê cũ hoặc đi làm ăn ở vùng kinh tế mới; giải quyết việc làm

cho hơn 1 vạn người thất nghiệp; tổ chức học tập, cải tạo tại chỗ cho 3 vạn người đã

tham gia trong bộ máy chính quyền cũ. Đồng thời tiến hành cải quan hệ sản xuất cũ,

xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa (XHCN), phát triển kinh tế, văn

hóa, xã hội theo định hướng XHCN. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của thành phố.

Trong hai năm đầu (1976 – 1977), thành phố tiến hành công hữu hóa các cơ

sở công nghiệp của những tư sản đã bỏ ra nước ngoài; cải tạo tư sản nhỏ, thành lập

công ty hợp doanh. Trong những năm sau, thành phố thực hiện cải tạo quan hệ sản

xuất tư sản thương nghiệp đối với 13 mặt hàng trong ngành vật tư kỹ thuật, điện

máy và công nghệ phẩm; trên các lĩnh vực y tế, văn hóa, giáo dục tư nhân. Đi đôi

với cải tạo XHCN, thành phố sắp xếp lại sản xuất theo hướng quốc doanh và tập

thể. Kết quả trong 10 năm (từ 1975 – 1985) đã hình thành 15 xí nghiệp quốc doanh;

95 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và hợp tác xã mua bán; 2 hợp tác xã nông nghiệp

và khai thác chế biến nguyên liệu; 22 trạm trại và đội chuyên ngành.

Từ một đô thị tạm chiếm, phi sản xuất, thành phố Biên Hòa đã lớn lên từng

ngày, diện tích nông nghiệp, năng suất lúa tăng hàng năm đáp ứng được nhu cầu

tiêu dùng của người dân. Tính đến năm 1986 sản lượng lương thực của thành phố

làm ra đủ cung cấp cho gần 6 vạn hộ nông nghiệp, bình quân lương thực mỗi nhân

khẩu nông nghiệp tăng từ 123 kg/năm (1976), 245 kg/năm (1980) đến 330 kg/năm

(1985) [4, tr.340]. CN - TTCN đều tăng, công nghiệp tăng 4 lần trong khi tiểu thủ

công nghiệp tăng 6 lần.

Tuy nhiên sự phát triển đó diễn ra không đều. Những ngành, nhóm sản phẩm

phát triển là những nghề truyền thống của địa phương như làm gạch, ngói hay đan

lát, mây tre; trong khi đó một số ngành và sản phẩm bị thu hẹp như hóa chất, chế

biến lương thực, chế biến lâm sản, dệt gia công, may xuất khẩu,…

Đây là những ngành phát triển do chính sách đầu tư phát triển của đế quốc

Mỹ. Chiến tranh kết thúc, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, đồng thời một đội ngũ chuyên

viên có trình độ chưa được tạo ra để vận hành, quản lý nhà máy. Hoạt động thương

mại chậm phát triển do không chủ động được việc thu mua, chủ yếu tiếp nhận

nguồn hàng từ trên phân phối về để bán ra, quá trình phân phố lưu thông còn tách

rời sản xuất. Đối tượng phục vụ còn bó hẹp trong khu vực Nhà nước, chức năng

phân phối cho toàn xã hội còn bỏ ngõ. Chỉ từ năm 1982 hoạt động lưu thông hàng

hóa mới có bắt đầu thay đổi.

Nhìn chung trong giai đoạn 10 năm đầu sau ngày độc lập (1975 – 1985), tình

hình kinh tế - xã hội của thành phố Biên Hòa có phát triển nhưng chậm chạp. Thành

phố vừa phải khắc phục những hậu quả của chiến tranh để lại, vừa phải tìm tòi, sáng

tạo trong cơ chế bao cấp vốn kìm hãm sức sản xuất vốn có. Vì vậy quá trình đô thị

hóa không có nhiều biến đổi.

Tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh

dấu bước ngoặt của cách mạng nước ta. Đại hội quyết định đổi mới toàn diện, mà

trước hết là đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế để đưa đất nước thoát khỏi tình

trạng nghèo nàn, lạc hậu. Vì vậy từ năm 1986 đến năm 1996, Biên Hòa tập trung

vào nhiệm vụ đảm bảo lương thực cho người dân, bước đầu phát triển kinh tế nhiều

thành phần trên các ngành; chú ý nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật thành phố.

Đó là những thành tựu đáng mừng chứng tỏ quá trình đô thị hóa của thành phố diễn

ra mạnh, đang từng bước thâm nhập vào đời sống của người dân, bộ mặt thành phố

cũng được khang trang hơn trước.

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, giai đoạn từ năm 1995 – 2005, tốc độ

đô thị hóa ở Biên Hòa phát triển nhanh cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, đa dạng,

phong phú về văn hóa, quy mô dân số ngày càng lớn. Thành phố đã tập trung huy

động được mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế

cao và ổn định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp – tiểu thủ công

nghiệp và dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị tương đối đồng bộ và hiện đại.

Từ đó góp phần quan trọng, tạo điều kiện thực hiện các hoạt động khoa học công

nghệ, giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa, chăm lo các đối tượng chính sách, giải quyết

* Tiểu kết chương 1

việc làm cho người lao động,…

Từ khi thực dân Pháp vào xâm lược và đặt ách thống trị lên vùng đất này cho

đến khi trở thành “sân sau” của Sài Gòn dưới thời Mỹ - Việt Nam cộng hòa, Biên

Hòa ngày càng được khẳng định vai trò quan trọng. Đây vốn là một trung tâm quân

sự - nơi đặt các cơ quan chỉ huy, các căn cứ quân sự, kho tàng - đồng thời là một

vùng kinh tế chiến lược nằm trong chính sách khai thác thuộc địa. Vì vậy Biên Hòa

dần tập trung đông người, kinh tế có chiều hướng phát triển. Đặc biệt dưới sự quản

lý của chế độ Việt Nam Cộng hòa, Biên Hòa sôi động với các hoạt động phi nông

nghiệp, chủ yếu là sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ - mua bán.

Có thể nhận thấy quá trình đô thị hóa thành phố Biên Hòa lệ thuộc vào yếu tố bên

ngoài chứ không phải do sự tăng trưởng về kinh tế và thay đổi xã hội.

Hòa bình được lập lại, Biên Hòa có cơ hội để phát huy yếu tố nội lực nhằm

đẩy nhanh hơn quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên do đặc điểm vừa bước ra khỏi chiến

tranh (đây cũng là đặc điểm chung của cả nước trong quá trình phát triển) nên tốc

độ đô thị hóa chậm.

Từ năm 1986 cùng với chủ trương cải cách đổi mới, Đảng và Nhà nước đã

ban hành chính sách mở cửa, khuyến khích các thành phần phát triển kinh tế theo

định hướng XHCN, năng lực sản xuất được cải thiện, kinh tế đất nước phát triển

mạnh mẽ. Trong bối cảnh chung ấy, Đảng bộ và nhân dân thành phố Biên Hòa tập

trung xây dựng và phát triển thành phố về mọi mặt. Biên Hòa đã, đang và sẽ khẳng

định vai trò là thành phố công nghiệp của cả nước, đô thị lọai II, trung tâm kinh tế -

chính trị của tỉnh Đồng Nai.

Chương 2

NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ CẢNH QUAN

MÔI TRƯỜNG, CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KINH TẾ

TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH

PHỐ BIÊN HÒA (1986 – 2005)

Cảnh quan môi trường và cơ sở hạ tầng của một đô thị được xem như “phần

cứng” phản ánh sự phát triển về quy mô và chất lượng của đô thị đó, là yếu tố đầu

2.1. Cảnh quan và môi trường

tiên dễ nhận thấy trong quá trình đô thị hóa.

2.1.1. Cảnh quan

Quá trình đô thị hóa đã đem đến cảnh quan mới cho thành phố Biên Hòa.

Các yếu tố sinh thái của một vùng nông thôn dần biến mất và được thay thế bằng

cảnh quan của đô thị hiện đại. Không gian yên tĩnh, những ngôi nhà xây theo kiểu

ba gian với vườn cây ăn trái, hàng rào, bờ tre hay chỉ là những mảnh đất hoang như

“lột xác” trở thành những ngôi nhà kiên cố, những tòa nhà chung cư khang trang

với đầy đủ tiện nghi, được điểm xuyến bởi hàng cây bên đường, công viên, hồ

nước. Phố xá sầm uất tấp nập các hoạt động mua – bán, người đi kẻ lại trên các con

đường không kể ngày đêm. Những con đường chính được nâng cấp, mặt đường

rộng hơn chia làm nhiều làn xe.

Từ năm 1986 trở lại đây, đô thị Biên Hòa mở rộng không gian bằng sự

chuyển đổi nâng cấp của một số xã thành phường, tổ, khu phố; sự xuất hiện của

những phường mới (cụ thể năm 1985 Biên Hòa có 5 xã và 17 phường, đến năm

2005 thì còn 3 xã cùng 23 phường). Đây là dấu hiệu đáng mừng cho thấy sự phát

triển của thành phố. Lối sống đô thị đã dần xâm nhập vào đời sống người dân ở

nông thôn. Người dân trở nên bận rộn hơn trong thời gian biểu của mình, khác với

kiểu sinh hoạt ở nông thôn.

Tuy nhiên đô thị hóa cũng đang làm biến dạng, méo mó những yếu tố thuộc

về văn hóa truyền thống địa phương. Người dân Biên Hòa, do đặc điểm lịch sử,

sống với nhau chan hòa theo quan hệ huyết thống, nặng tình làng nghĩa xóm. Ngày

nay, cách cư xử ấy bị phai nhạt theo kết cấu gia đình – phố - xã hội.

Nhà cửa mọc lên san sát tạo thành dãy, thành phố ở những phường trung

tâm. Đường phố trở nên chật chội, thu hẹp. Những con ngách nhỏ hình thành len

sâu trong những khu dân cư do việc xây nhà lấn đường. Còn ở những phường mới

như Long Bình, Trảng Dài,… đô thị mang tính tự phát nên những ngôi nhà được

xây không theo quy hoạch, đa phần là nhà trái phép trên những mảnh đất nông

nghiệp. Các khu này không có mạng lưới cấp thoát nước, không có công trình công

cộng và cây xanh. Hệ thống điện thì đa số do dân tự chăng mắc. Đường nhựa,

đường đất, đường đá xen lẫn nhau làm nên sự phát triển không hài hòa. Vì vậy an

ninh trật tự phức tạp, chất lượng cuộc sống của người dân chưa cao.

Xa vùng trung tâm hơn, tại các xã Hiệp Hòa, Hóa An, Tân Hạnh mức độ đô

thị hóa thấp, cảnh quan nông thôn vẫn còn khá phổ biến tuy phần nào bị biến đổi.

Hình ảnh vườn cây, ruộng lúa, bến đò xưa xen lẫn những khu đất được phân lô,

những ngôi nhà kiểu hiện đại khá phổ biến. Do vậy thành phố cần nhanh chóng đưa

ra quy hoạch phát triển có hiệu quả đối với các phường mới, xã này.

Đô thị phát triển, các cơ sở xản xuất, khu công nghiệp mọc lên nhiều với sự

đa dạng của ngành nghề cũng góp phần tác động đến sự đổi thay trong cảnh quan

thành phố Biên Hòa. Đó là sự xuất hiện của những nhà máy, xí nghiệp lớn có vẻ

ngoài hiện đại; những con đường trải nhựa được tô điểm bởi hàng cây bằng lăng,

cây điệp,….trong các khu công nghiệp Biên Hòa 1, Biên Hòa 2, Amata, Loteco.

Đèn đường luôn sáng trong sự hối hả của người công nhân vào ca hoặc tan ca. Khu

vực xung quanh đó cũng thay đổi nhanh không kém. Dân cư đông đúc hẳn lên, các

chợ tự phát hình thành tại các ngã ba, ngã tư, các khu nhà trọ cho công nhân, các

cửa hàng tạp hóa, quán ăn, quán nhậu, giải khát… mọc lên nhiều.

Một thay đổi khác trong cảnh quan đô thị chính là sự xuất hiện của những

yếu tố công cộng. Kinh tế phát triển làm bùng nổ các loại dịch vụ cùng với các biển

quảng cáo màu sắc rực rỡ. Người dân hành xử theo những chỉ dẫn của biển báo. Rõ

nhất là việc đặt những bảng chỉ tên đường. Hệ thống giao thông thuận lợi nối liền

nhà ở - cơ quan, trường học, xí nghiệp, chợ,…. Cuộc sống công nghiệp đòi hỏi

người dân phải sử dụng các phương tiện đi lại nhiều hơn. Trước đây, các hoạt động

vui chơi – giải trí diễn ra chủ yếu trước khoảng 7, 8 giờ tối, còn hiện nay đây là thời

điểm bắt đầu. Các khu nhà chung cư mới xuất hiện ngày càng nhiều, công viên

được sửa sang.

Như vậy, đô thị hóa đã tạo cho Biên Hòa “một bộ mặt” mới, khang trang,

hiện đại hơn nhưng chưa đồng đều giữa các nơi. Mặt khác, nó tác động đến mặt trái

của cuộc sống, đó là tình trạng ô nhiễm trong các nhà máy, xí nghiệp, ô nhiễm

nguồn nước,…

2.1.2. Môi trường

Môi trường sống gắn bó hữu cơ với cuộc sống của con người, cũng như với

sự tồn tại và phát triển bền vững của xã hội. Nói đến môi trường đô thị trước hết là

nói đến hệ thống cây xanh được trồng ở hai ven đường, ở công viên, có tác dụng

trong việc cải thiện môi sinh, tổ chức sự nghỉ ngơi cho dân cư và làm đẹp bộ mặt

thành phố.

Từ những năm đầu của thập niên 1990, trong bản quy hoạch chi tiết phát

triển thành phố năm 1993, nhiều biện pháp để bảo vệ môi trường thành phố đã được

đưa ra như xây mới công viên dọc sông Đồng Nai và các công viên nhỏ ở trong các

khu dân cư; cải tạo công viên Vườn Mít, công viên 30 – 4; trồng và sửa sang cây

xanh dọc một số tuyến đường như đường 5, đường Quốc lộ 1K. Ngoài ra thành phố

còn chú ý cải tạo, mở rộng khu du lịch Bửu Long, khu vui chơi giải trí nghỉ dưỡng

Hiệp Hòa, hồ Suối Mai, khu cắm trại nghỉ dưỡng Lâm Viên. Đây là những “mảng

xanh” trong lòng thành phố, không chỉ có tác dụng góp phần điều hòa môi trường

không khí mà còn giúp người dân thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng, từ

đó tái tạo sức lao động.

Tuy nhiên hiện nay do sự phát triển mạnh của kinh tế và quá trình đô thị hóa

tự phát nên vấn đề môi trường đang đứng trước nhiều khó khăn. Thành phố đang

đánh mất dần sự trong lành của không khí. Nếu như trước đây, sông Đồng Nai hiền

hòa, đem lại sự mát mẻ cho thành phố thì ngày nay, không chỉ dòng sông mà không

khí cũng đang bị ô nhiễm bởi tiếng ồn, khói bụi của các nhà máy xí nghiệp, phương

tiện giao thông,… Các con suối trong nội ô thành phố cũng trong tình cảnh tương tự

do tiếp nhận nước thải sinh hoạt, chăn nuôi và từ các cơ sở sản xuất. Môi trường

nước dưới đất cũng ô nhiễm do việc sử dụng các giếng chưa hợp vệ sinh của các

khu dân cư.

Trong khu vực dân cư, do thành phố Biên Hòa sử dụng hệ thống thoát nước

chung cho cả nước thải và nước mưa được xây dựng chủ yếu từ thời Pháp – Mỹ,

trong khi đó thành phố liên tục được mở rộng, vì vậy các tuyến thoát nước đều quá

tải. Việc đổ rác của một bộ phận người dân chưa có ý thức cũng góp phần làm hư

hại hệ thống thoát nước. Ở những chợ, khu vực ven sông như cầu Sắt ở phường

Trảng Dài luôn bị nước ứ đọng sau khi mưa lớn.

Từ năm 1993 trở lại đây, thành phố đã tiến hành cải tạo và xây mới một số

tuyến cống và mương thoát nước (khu công viên Biên Hùng, dọc đường Phan Châu

Trinh, đường Cách mạng Tháng Tám). Tuy nhiên hệ thống xử lý nước tập trung

hoàn toàn chưa có. Các công trình chỉ xử lý cục bộ bằng bể tự hoại, tự thấm hoặc xả

ra mương, cống nước mưa trong khi các bể này không được xử lý hóa chất, hút cặn

thường xuyên, vì vậy chất lượng nước thải không đạt yêu cầu, gây ô nhiễm chung.

Tại các khu công nghiệp tập trung đều có hệ thống thoát nước thải riêng,

riêng KCN Biên Hòa 1 vẫn dùng hệ thống thoát chung. Việc này gây ô nhiễm sông

Đồng Nai trầm trọng. Đã có nhiều dự án nhằm cải tạo hạ tầng khu công nghiệp, cụ

thể năm 2000 công ty Sonadezi đã lập kế hoạch xây dựng hế thống thoát nước bẩn

cho KCN. Tuy nhiên hiện nay dự án đó tỏ ra không hiệu quả vì mỗi ngày các nhà máy ở KCN Biên Hoà 1 có lượng nước thải khoảng 15.000m3/ngày đêm, nhưng chỉ

có 16 nhà máy ký hợp đồng đưa nước thải về xử lý ở nhà máy xử lý nước thải tập trung với khoảng 200m3/ngày đêm, còn lại đều đổ thẳng ra sông Đồng Nai....

Vì vậy năm 2008 UBND tỉnh đã chấp thuận phương án chuyển đổi công

năng của KCN này thành khu thương mại - dịch vụ. Ở những KCN Biên Hòa 2,

Amata, Loteco tuy đã có trạm xử lý nước thải tập trung nhưng kết quả kiểm tra cho

thấy chất lượng nước thải công nghiệp sau xử lý thường vượt tiêu chuẩn cho phép.

Trái với nỗi ám ảnh từ các khu công nghiệp, vấn đề nước thải từ y tế có phần

sáng sủa hơn. Đến năm 2004 toàn thành phố có 4 bệnh viện và 3 trung tâm y tế có

hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn. Năm 2005, 75% nước thải bệnh viện đã

được xử lý đạt chuẩn.

Rác thải cũng là một nguyên nhân chính làm nên sự ô nhiễm môi trường của

thành phố. Theo số liệu Thống kê của Trung tâm Bảo vệ Môi trường, Biên Hòa có

lượng rác thải sinh hoạt trung bình 0.8kg/người/ngày. Toàn thành phố có 150 – 170

tấn rác thải/ngày. Công ty vệ sinh thu gom rác chỉ đạt khoảng 70% lượng rác này

đem về khu vực Trảng Dài để đổ và chôn. Do vậy năm 1996 – 1997, thành phố đã

xây dựng một trạm xử lý rác tại ngã 3 Tân Phong nhưng nhà máy hoạt động 1 năm

thì ngưng. Việc phân loại rác tại nguồn cũng đã được tiến hành. 30% – 50% rác thải

được chôn lấp hợp vệ sinh, số còn lại xử lý làm phân Compost. Tuy nhiên hiện nay

bãi rác ở phường Trảng Dài đang trở nên quá tải vì rác của các khu công nghiệp

không có khả năng tái sử dụng cũng được đưa về đây, đồng thời bị ô nhiễm nặng vì

sự phân hủy các chất hữu cơ có trong rác.

Nghĩa địa cũng là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho môi

trường bị ô nhiễm vì hiện nay, số mồ mả do nhân dân tự chôn và chôn theo các

khu nghĩa địa cũ chiếm ≈ 176,24 ha, nằm rải rác khắp thành phố Biên Hòa, đặc

biệt là khu vực các phường ven đô – nơi có nhiều nhà vườn và các Xứ đạo dọc

Quốc lộ 1. Thành phố đã đặt vấn đề tập trung việc chôn cất vào nghĩa địa chung,

đồng thời có dự án xây dựng lò thiêu xác tại khu vực nghĩa trang và nghĩa địa hiện

có ở phường Tân Biên.

Biên Hòa là một thành phố - đô thị công nghiệp nằm bên bờ sông. Trước tình

hình ô nhiễm, để bảo vệ dòng sông Đồng Nai và sông Cái, thành phố tiến hành thực

hiện quy định về khoảng cách ly nhằm ngăn chặn sự xâm hại của con người, kết

hợp với việc tổ chức không gian cây xanh. Hệ thống công viên, cây xanh và mặt

nước được mở rộng với diện tích khoảng 1.762 ha, trong đó có 581 ha gồm cây

xanh công viên thành phố, cây xanh trong các khu dân cư và 1.181 ha cây xanh

công viên du lịch sinh thái [38, tr.4]. Đồng thời thành phố tiến hành di dời các cơ sở

công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư

vào các cụm, khu công nghiệp tập trung; ngừng khai thác đá tại các mỏ đá Hóa An,

Tân Vạn và Tân Hạnh, đảm bảo sau năm 2010 không còn các cơ sở sản xuất gây ô

nhiễm trong nội ô.

Để giải quyết bài toán về rác thải, thành phố Biên Hòa đang phục hồi trạm

xử lý rác ở phường Trảng Dài, ngoài ra xây dựng bãi đổ và xử lý rác ở Hố Nai

(thuộc huyện Thống Nhất, phía Đông Bắc của thành phố) với quy mô 10 ha và 1

nhà máy trong giai đoạn đầu (đến năm 2010); củng cố và tăng cường về phương

tiện, quy mô thu gom và vận chuyển rác sinh hoạt của thành phố, bố trí nhiều thùng

rác tại các khu vực trung tâm, khu thương mại, khu du lịch nhằm giảm tình trạng ô

nhiễm không khí.

Do sự quá tải của nghĩa địa và nghĩa trang cũ ở phường Tân Biên trong khi

quỹ đất có hạn, thành phố một mặt xây thêm nghĩa địa tại phường Long Bình, mặt

khác đầu tư kinh phí để xây lò hỏa táng để giảm diện tích nghĩa địa.

Bên cạnh những biện pháp mà thành phố đang tiến hành để khắc phục sự ô

nhiễm, cần phải đưa vấn đề bảo vệ môi trường trở thành quy định đối với các cơ sở

sản xuất và thực hiện tốt công tác kiểm tra; nghiêm trị đối với những hành vi xâm

phạm đến môi trường; đồng thời tác động đến ý thức của người dân trong việc tham

gia thực hiện các hoạt động làm trong sạch môi trường như không xả rác bừa bãi,

2.2. Chuyển biến về cơ sở hạ tầng

giữ vệ sinh công cộng,…

Đô thị hóa, nhìn về một khía cạnh, đó là sự phát triển của cơ sở hạ tầng với

hệ thống giao thông vận tải, hệ thống điện, nước, các công trình công cộng,…

nhằm phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của con người. Nhìn vào cơ sở hạ tầng,

có thể đánh giá được mức độ cũng như tốc độ phát triển của một đô thị. Đồng thời

đó cũng là sự khác biệt lớn giữa một trung tâm đô thị với một vùng nông thôn.

Thành phố Biên Hòa sau ngày giải phóng được thừa hưởng gần như nguyên

vẹn cơ sở hạ tầng đã được xây dựng từ thời thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tuy

nhiên do mục đích phục vụ cho việc khai thác thuộc địa tối đa nên cơ sở hạ tầng

được xây dựng không mang tính đồng bộ, tập trung ở những phường “cũ” – vốn là

nơi đóng các cơ quan chỉ huy – hoặc ở KCN Biên Hòa 1. Hơn nữa, trải qua nhiều

năm, do chiến tranh tàn phá, sự thiếu thốn về kinh phí duy tu bảo dưỡng và do sự

quá tải của lượng dân cư từ miền Bắc và miền Trung vào lập nghiệp nên cơ sở hạ

tầng nhanh chóng bị xuống cấp.

Nhìn chung trong khoảng thời gian từ năm 1975 – 1985, do nhiều nguyên

nhân, sự chú ý, quan tâm phát triển cơ sở hạ tầng gần như bị bỏ ngõ. Từ năm 1986,

thực hiện chủ trương đổi mới, thành phố Biên Hòa đã tăng cường vốn cho xây dựng

cơ bản. Từ đó bộ mặt cơ sở hạ tầng thay đổi rõ rệt.

2.2.1. Giao thông vận tải

Ngành giao thông vận tải đã từng bước đáp ứng nhu cầu đi lại của người

dân và lưu thông hàng hóa của các ngành kinh tế xã hội. Để tiến hành việc duy tu,

sửa chữa những tuyến đường bị hư hỏng và xây dựng những tuyến đường mới,

thành phố đã không ngừng tăng kinh phí cho ngành giao thông. Cụ thể giai đoạn

từ 1996 – 2000 số vốn đầu tư là 210,40 tỷ đồng, chỉ trong 5 năm sau từ 2001 –

2005 tăng nhanh lên 1.093,40 tỷ đồng [54]. Hiện nay trên địa bàn thành phố có

trên 1200 cơ sở doanh nghiệp, chiếm tỉ trọng 67% về vốn và 32% số lao động của

ngành vận tải toàn tỉnh.

Trong nội ô thành phố, nhiều tuyến đường đã được mở rộng khang trang

sạch đẹp và lắp đặt hệ thống chiếu sáng, đáp ứng nhu cầu đi lại vào ban đêm của

người dân. Ngoài ra, thành phố tiến hành sửa chữa thường xuyên các tuyến đường

bị hư hỏng. Bên cạnh việc đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước, sự đóng góp

của nhân dân và hỗ trợ của các doanh nghiệp cũng góp phần thực hiện xã hội hóa

giao thông. Trong 5 năm từ 2000 – 2005, số vốn huy động từ trong dân là 21,76 tỷ

đồng [69, tr.44].

Số lượng vận tải hàng hóa và hành khách tăng nhanh qua số liệu một số

năm:

Bảng 2.1. Khối lượng hàng hóa và hành khách vận chuyển của ngành giao

thông TP. Biên Hòa qua các năm 1985 – 2005

1985

1990

1995

2000

2005

KL hàng hóa vận

631,50

912,50

4.637,00

6.385,00

13.010,00

chuyển

KL hành khách

1.519,40

2.216,00

3.552,80

6.073,00

15.547,00

vận chuyển

ĐVT: 1000 tấn, ngàn người

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Từ năm 1985 đến 2005, khối lượng hàng hóa và hành khách vận chuyển

luôn tăng, ở những thời điểm 5 năm sau thường cao gấp đôi so với 5 năm trước.

Riêng 5 năm từ 1990 đến năm 1995 lượng hàng hóa được vận chuyển tăng

đột biến, hơn 4 lần so với 5 năm trước đó. Nguyên nhân là từ năm 1990 sản xuất

phát triển mạnh, người dân đã quen với nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị

trường, không còn sự bỡ ngỡ lúng túng như ở giai đoạn đầu. Đặc biệt một số năm

gần đây do nhu cầu đi lại ngày càng nhiều, hệ thống xe buýt ra đời và đáp ứng khá

tốt, không chỉ trong phạm vi thành phố Biên Hòa mà còn đi ra các huyện khác

trong tỉnh và những tỉnh bạn, nhất là thành phố Hồ Chí Minh.

2.2.1.1. Giao thông đường bộ

Trong thời gian từ năm 1985 đến 1990, do kinh phí bị giới hạn nên thành

phố chỉ tiến hành sửa chữa được một số tuyến đường nông thôn như Tân Hạnh,

Thống Nhất, Long Bình Tân và các tuyến đường trong khu công nghiệp Biên Hòa

1. Hệ thống đường nội ô còn bị xuống cấp, trở nên chật hẹp so với yêu cầu phát

triển của thành phố.

Năm 1993 thành phố tiến hành lập quy hoạch chi tiết phát triển đến năm

2000, xác định Biên Hòa là “trung tâm kinh tế chính trị văn hóa xã hội của tỉnh

Đồng Nai, là một thành phố công nghiệp lớn của cả nước và là một trung tâm

trọng điểm kinh tế phía nam….có ý nghĩa quan trọng về mặt an ninh quốc phòng

đối với khu vực” [38, tr.3] nên hệ thống giao thông phát triển mạnh, trong đó các

tuyến đường giao thông đường bộ đối ngoại được chú ý xây dựng, sửa chữa.

Thành phố đã xây dựng đoạn quốc lộ 51 từ ngã ba Vũng Tàu đến cổng số

11 với tên gọi quốc lộ 1A, từ đó tạo thành ngã ba, một hướng đi lên Đông Bắc

nhập vào quốc lộ 1A tại Trảng Bom, một hướng theo Quốc lộ 51 đi Vũng Tàu.

Quốc lộ 51 đã được Bộ giao thông cải tạo nâng cấp thành xa lộ. Đây là con đường

độc đạo nối thành phố Vũng Tàu với các tỉnh Nam Bộ nên lưu lượng xe rất lớn.

Quốc lộ 1K là con đường quốc lộ ở phía bắc thành phố Biên Hòa, đi qua trung tâm

thành phố và nối liền với thành phố Hồ Chí Minh… Do tính chất quan trọng nên

Quốc lộ 1K đã được cải tạo và nâng cấp, mặt đường rộng rãi (9m) với hai bên lề

thông thoáng.

Như vậy, ở Biên Hòa tập trung nhiều quốc lộ và tỉnh lộ: Xa lộ Hà Nội,

quốc lộ 1K, quốc lộ 1A, quốc lộ 15, tỉnh lộ 16,…

Đối với mạng giao thông nội thị của thành phố Biên Hòa có nhiều biến đổi.

Số lượng con đường chính được xây mới rất khiêm tốn. Theo nội dung quy hoạch

giao thông nội thị năm 1993, thành phố sẽ xây thêm nhiều tuyến đường chính

nhưng kết quả thực hiện chỉ có một, đó là đường Trảng Dài ở phía bắc thành phố

Biên Hòa với chiều dài 3km, chiều rộng 7m. Tuy nhiên rất nhiều tuyến đường nội

bộ trong các KCN Biên Hòa 2, KCN Amata được xây dựng mới. Đặc biệt với sự

tự nguyện đóng góp của người dân, các tuyến đường trong khu dân cư được hình

thành, trải nhựa với mặt đường rộng, tạo nên bộ mặt mới cho thành phố.

Song song với việc xây mới thành phố cũng đã tiến hành duy tu, sửa chữa,

nâng cấp mở rộng các tuyến đường cũ. Điển hình phải nói đến Quốc lộ 15, đoạn

trong thành phố dài 5,05km được mở rộng mặt đường 10,5m; ngoài ra còn có vỉa

hè dành cho người đi bộ rộng 5m, tạo sự thuận lợi cho người đi bộ lưu thông. Bên

cạnh đó là quốc lộ 1 cũ được cải tạo để đáp ứng kịp thời lượng xe và người đi lại.

Ở đoạn từ ngã tư Vườn Mít đến cầu Tân Hiệp đã được chuyển thành đường đôi;

còn đoạn từ Chợ Đồn – cầu Ghềnh và cầu Rạch Cát đến ngã tư Vườn Mít, từ cầu

Tân Hiệp đi Hố Nai với tổng chiều dài 12,555 km được mở rộng theo quy hoạch.

Nhiều con đường nội bộ trước đây là đường đá, đường đất hoặc có mặt đường nhỏ

hẹp, không có vỉa hè thì nay đã được trải nhựa thẳng tắp, lòng đường rộng rãi đảm

bảo được hai luồng xe lưu thông, vỉa hè xuất hiện với những hàng cây hai bên

đường tạo cảnh quan cho thành phố. Theo số liệu năm 2005, toàn thành phố Biên

Hòa có 479,44 km đường bộ, trong đó đường nhựa chiếm đa số (khoảng ½) với

238,62 km, phần còn lại là đường đá (39,25 km), đường cấp phối (138,32 km) và

đường đất (63,25 km) [54].

Là một thành phố công nghiệp tập trung đông dân cư, nhất là tại các khu

công nghiệp nên vào giờ cao điểm mật độ xe dày đặc. Để giảm bớt tình trạng kẹt

xe và tạo mỹ quan, nhiều nút giao thông được xây dựng như nút giao thông Biên

Hùng ở giữa trung tâm thành phố, nút giao thông Cầu Mới, nút giao thông ở ngã

tư Vũng Tàu và nút giao thông ngã tư Tam Hiệp.

Cũng theo bản quy hoạch đô thị năm 1993, để đảm bảo lượng xe ra vào

thường xuyên tỏa đi các nơi, bến xe ngã tư Tam Hiệp được nâng cấp, trở thành bến xe đủ tiêu chuẩn với diện tích 17.000 m2. Bến xe đi thành phố Hồ Chí Minh

trong trung tâm thành phố tại đường Phan Chu Trinh trước đây nhỏ hẹp nay được

chuyển ra ngã tư Cầu Mới, thuận tiện giao thông. Đây là nơi tập trung các tuyến

xe buýt đi thành phố Hồ Chí Minh và chiều ngược lại.

Trong tương lai, để đáp ứng tốc độ tăng trưởng kinh tế, đồng thời xứng

đáng là trung tâm của tỉnh Đồng Nai và vươn tới đô thị loại I của cả nước, chính

quyền thành phố nói chung và ngành giao thông vận tải nói riêng đã lập kế hoạch

phát triển mạng lưới giao thông đường bộ.

Theo đó, Biên Hòa sẽ xây dựng tuyến đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu

bắt đầu từ quốc lộ 15, đi tới phía Đông quốc lộ 51 hiện hữu, lộ giới khoảng 120m.

Quốc lộ 1A được cải tuyến từ Trảng Bom đi song song phía bắc đường sắt, nhập

vào quốc lộ 51 tại cổng 11. Từ ngã 3 Vũng Tàu mở tuyến đường đôi có tên Đường

số 11 đi vào trung tâm thành phố. Đường Đồng Khởi sẽ được kéo dài nối Biên

Hòa với các huyện Vĩnh Cửu, Trị An. Ngoài ra một số tuyến đường khác trong

thành phố sẽ được nâng cấp, thay thế các con đường đất ở những phường mới, xã.

Tại Long Bình Tân một bến xe liên tỉnh có diện tích 2 ha sắp được xây dựng.

2.2.1.2. Các tuyến đường khác

- Ngoài tuyến đường bộ, tuyến đường sắt Bắc – Nam xuyên qua thành phố

Biên Hòa dài 17 km (trong đó đoạn đi qua nội thành dài 10,8 km) có nhiều giao

cắt với đường đô thị. Tuy nhiên cả hai nhà ga Hố Nai và Biên Hòa do được xây

dựng từ trước năm 1986 nên chưa hoàn thiện, chật hẹp, cơ sở vật chất trở nên lạc

hậu. Nhiều công trình xây dựng dọc tuyến có khoảng cách ly không an toàn. Nhìn

chung, tuyến đường sắt hiện nay chưa được khai thác tốt, chưa giữ vai trò lớn đối

với sự phát triển của thành phố nhưng lại gây cản trở đáng kể cho việc tổ chức và

phát triển giao thông đường bộ, gây ồn ào và thiếu an toàn trong sinh hoạt đô thị.

Thành phố đã có kế hoạch di dời đường sắt về phía Đông Nam, tuy nhiên

công tác này diễn ra còn chậm chạp. Vì vậy, trước mắt để đảm bảo an toàn giao

thông đô thị, ngành đường sắt cần tăng cường công tác giám sát; còn trong tương

lai đến năm 2020 thành phố sẽ xây dựng ga mới tại phường Long Bình Tân với

diện tích 40 ha, đồng thời chuyển tuyến đường sắt hiện hữu thành đường tàu chở

hành khách giữa Sài Gòn – Biên Hòa.

- Đường thủy: sông Đồng Nai chảy qua địa phận thành phố Biên Hòa dài

8,5 km có vai trò vận tải thủy rất quan trọng. Cảng Long Bình Tân có công suất

thiết kế 460.000 tấn/năm, tiếp nhận được tàu 2000 tấn. Tuy nhiên hiện nay, công

suất mới đạt ½ công suất thiết kế với một cầu tàu dài 60 m, với bãi container, bến xà lan và các phương tiện xếp dỡ hiện đại trong phạm vi lớn 90.000 m2. Ngoài ra

còn một số cảng nhỏ như cảng Cogido (thuộc nhà máy Giấy Đồng Nai) với khả

năng 200 tấn – 300 tấn/ngày.

Thành phố Biên Hòa có Cù Lao Phố - từng là một thương cảng sầm uất vào

thế kỷ XVIII – hiện nay là xã Hiệp Hòa. Để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của

người dân ở đây, từ lâu các bến đò (bến đò Hóa An, bến đò Kho, bến đò trạm Bửu

Long) luôn đảm nhận tốt vai trò vận chuyển hành khách. Có thể thấy dòng sông

Đồng Nai chảy qua thành phố Biên Hòa đã tác động không nhỏ đến hoạt động

kinh tế của thành phố. Vì vậy mạng lưới cầu, phà được chú trọng xây dựng. Số

liệu thống kê của phòng Thống kê TP. Biên Hòa năm 2005 cho biết hiện nay trong toàn thành phố có 35 chiếc cầu với chiều dài 1.893,94 km2 và ¼ bến phà với tổng

chiều dài 96,22 m, trong đó:

Cầu: ĐVT: chiếc /km2

Phà: ĐVT: bến /m

Dưới 5 tấn

Từ 5-10 tấn Trên 10 tấn Từ 5-10 tấn Trên 10 tấn

2 / 44,0

9 / 164,14

24 / 1685,84

4 / 86,74

54 / 324,54

Bảng 2.2. Mạng lưới cầu phà ở TP. Biên Hòa

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Số lượng cầu và phà có tải trọng lớn nhiều hơn số lượng cầu và phà có tải

trọng nhỏ. Điều đó chứng tỏ nhu cầu đi lại, đặc biệt là vận chuyển hàng hóa của

thành phố rất lớn nhưng việc đầu tư khai thác hết năng lực của loại hình giao

thông vận tải đường thủy, đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch trên sông vẫn chưa

được thực hiện.

Do vậy, bên cạnh những cảng và bến đò hiện có, dọc sông Cái, thành phố

dự kiến mở thêm một số bến hàng hóa như: bến tại chợ Biên Hòa, bến cảng vật

liệu xây dựng tại phía tây bắc cầu Hóa An, cảng bách hóa tại bờ đông phía bắc cầu

Đồng Nai và một số bến phục vụ hoạt động du lịch.

- Đường hàng không: trước năm 1986 thành phố Biên Hòa đã có sân bay với diện tích 40 km2 nhưng chỉ dành cho quốc phòng. Hiện nay, sân bay Biên Hòa

vẫn khẳng định vai trò quân sự của thành phố song cũng là yếu tố hạn chế sự phát

triển không gian đô thị của thành phố về hướng bắc.

Nhìn chung từ năm 1986 trở đi, đặc biệt từ năm 2000 đến 2005, thành phố

Biên Hòa đã đầu tư nhiều kinh phí để nâng cấp cải tạo đường và xây dựng mới,

đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong thành phố. Số lượng các con đường

được trải nhựa và mở rộng trong và ngoài thành phố ngày càng nhiều làm tăng lên

vai trò của Biên Hòa đối với sự phát triển của khu vực Đông Nam Bộ; đồng thời

góp phần nâng cao đời sống của người dân. Diện mạo đô thị từ đó thay đổi theo

hướng hiện đại hơn.

Tuy nhiên so với nội dung quy hoạch đô thị năm 1993, những trục đường

chính, mới chưa được xây dựng nên mạng lưới các đường còn nhiều bất hợp lý.

Một số tuyến đường dự kiến mở là rất cần thiết để giải quyết giao thông song

trong nhiều năm không được thực hiện, cụ thể là các đường: đường 5 nối dài,

đường chính dọc sông Cái… nên việc đi lại từ khu vực này đến khu vưc khác vẫn

bắt buộc đi qua ngã tư Vườn Mít, phải đi ra xa lộ Biên Hòa hoặc đi vòng rất xa

theo những tuyến đường cũ. Trong khi đó các tuyến đường được hình thành một

cách tự phát trong những khu dân cư tạo nên sự phân bố không đều về tuyến

đường cũng như về dân cư trên lãnh thổ. Ngoài ra, trên các trục đường chính, hiện

tượng ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm, đặc biệt tại các cổng trường học vẫn

thường xảy ra, chưa giải quyết được phương án tối ưu giành cho người đi bộ qua

đường, giao thông công cộng và một số vấn đề khác. Tuy nhiên, đứng về khía

cạnh nào đó, tất cả các vấn đề nêu trên chứng tỏ sự phát triển rất nhanh của thành

phố Biên Hòa. Cơ sở hạ tầng đã không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao và

tăng nhanh của người dân.

Vì vậy, ngành giao thông đã có kế hoạch xây dựng thêm một số tuyến

đường để giảm bớt lượng giao thông tập trung trên các tuyến đường hiện hữu, xây

dựng các cầu đi bộ qua đường, dành lối đi cho người đi bộ trên vỉa hè.

2.2.2. Thông tin liên lạc

Từ sau ngày thống nhất đất nước, trên cơ sở hạ tầng mà thực dân Pháp và

đế quốc Mĩ đã xây dựng, Biên Hòa kế thừa và phát triển, nâng cao khả năng phục

vụ của ngành bưu điện. Tổng giá trị nghiệp vụ liên tục tăng. Năm 1977: 23.000

đồng, năm 1979: 55.000 đồng, năm 1981: 204.000 đồng và năm 1984: 980.000

đồng. Công tác bưu điện tuy được cải tiến nhiều mặt nhưng vẫn chưa đáp ứng

được nhu cầu của thành phố [58, tr.15].

Trước yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự phát triển nhanh chóng về kinh

tế - xã hội trong giai đoạn đổi mới, hệ thống thông tin liên lạc đã không ngừng

phát triển về chất lượng và số lượng. Số tổng đài đối thoại và bưu cục liên tục

tăng. Nếu như trước đổi mới, thành phố chỉ có 2 tổng đài với 4 bưu cục, không

đáp ứng được yêu cầu của người dân. Đến năm 1995 mạng lưới bưu cục đã khá

phát triển với 10 bưu cục và 5 tổng đài, nhưng tập trung ở khu vực trung tâm,

trong khi ở một số phường, xã vẫn còn thiếu.

Năm 2005 ngành bưu điện thành phố có số tổng đài là 18 và số bưu cục là

14 được lắp đặt ở hầu hết các phường. Mạng lưới đường thư, đường phát hành báo

chí phát triển với số lượng ngày càng tăng, có xe chuyên chở riêng.

Bảng 2.3. Số tổng đài và bưu cục ở TP. Biên Hòa qua các năm 1985 – 2005

Năm Năm Năm Năm Năm

1985 1990 1995 2000 2005

Số tổng 2 3 5 11 18

đài

Số bưu 4 6 10 13 14

cục

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1990, ở Biên Hòa có khoảng 1000

máy điện thoại thuê bao cố định, đáp ứng được nhu cầu của hơn 90% đơn vị hành

chính và cơ sở sản xuất kinh doanh có máy điện thoại.

Đến năm 1995 số máy điện thoại tăng nhanh lên 9.313 máy, đảm bảo 100%

các đơn vị, doanh nghiệp và một bộ phân người dân được sử dụng điện thoại. Đặc

biệt năm 2005 đạt 76.772 máy. Như vậy, chỉ trong khoảng 10 năm (1995 – 2005),

cơ sở vật chất, khả năng phục vụ khách hàng của ngành bưu điện phát triển mạnh

mẽ, từ đó góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng không ngừng của thành phố trên tất cả

các mặt.

Bên cạnh điện thoại thuê bao cố định, điện thoại di động là một phương

tiện liên lạc hiện đại, tính tiện ích cao nên được người dân lựa chọn sử dụng ngày

càng nhiều.

Theo số liệu thống kê, từ năm 1986 cho đến năm 1995, số máy điện thoại

di động trong thành phố không đáng kể, nhưng đến năm 2000 là 13.338 máy và

năm 2005 tăng vọt lên 82.000 máy, đạt tỉ lệ 33,7 máy/100 dân (cả điện thoại di

động và cố định, trong khi năm 1990 mới đạt 4 máy/100 dân).

Để phục vụ tốt nhất cho hoạt động thông tin liên lạc diễn ra một cách liên

tục, nhanh chóng, hệ thống cơ sở vật chất trong nhiều năm qua được chú ý đầu tư,

quan tâm đúng mức. Hiện tại ở thành phố Biên Hòa có hai tổng đài Host Linea –

Ut (Ý), trong đó:

- Tổng đài Host có dung lượng lắp đặt 18.368 lines tại Biên Hòa (dung

lượng sử dụng 11.384 thuê bao).

- Tổng đài Host có dung lượng lắp đặt 4000 lines tại khu công nghiệp Long

Bình.

Bảng 2.4. Mạng lưới tổng đài vệ tinh ở TP. Biên Hòa

STT Khu vực lắp đặt Dung lượng thuê bao Loại tổng đài

Lắp đặt Đã sử dụng

1 Tam Hiệp 5568 5542 RSO - LUT

2 Quyết Thắng 4800 4781 RSO - LUT

3 Chợ Đồn 2880 2842 RSO - LUT

4 Trảng Dài 2368 2290 RSO - LUT

5 Long Bình Tân 6720 5190 RSO - LUT

6 Hố Nai 5760 5734 RSO - LUT

7 Suối Chùa 1920 1841 RSO - LUT

8 Tân Hòa 2000 1409 NEAX 61XS

9 Suối Chùa 1800 836 SOE

10 Hố Nai 1000 999 DTS

11 Long Bình Tân 960 584 DTS

Nguồn: [38, tr.37]

Qua bảng số liệu trên, có thể thấy dung lượng của một số tổng đài đã hết

số, nếu còn thì rất ít. Do vậy, thành phố sẽ tăng cường xây dựng nhiều tổng đài

mới đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân trong tương lai, cụ thể sẽ tăng

dung lượng mỗi tổng đài 100.000 số, lắp đặt thêm 13 trạm vệ tinh (đến năm

2020), đồng thời nâng dung lượng của các trạm vệ tinh hiện có.

Hệ thống truyền dẫn của thành phố không chỉ trong nội ô thành phố mà còn

liên hệ đến những nơi khác. Gồm có:

- Tuyến cáp quang thành phố Hồ Chí Minh – Vũng Tàu nhánh rẽ vào thành

phố Biên Hòa.

- Tuyến cáp quang SDH tốc độ 134 Mbit/s vòng Ring (kết nối) Tổng đài

Host Biên Hòa – Long Khánh – Long Thành và Khu công nghiệp Biên Hòa với

chiều dài 63 km, cáp 36 sợi phi kim loại.

- Tuyến cáp quang còn được sử dụng làm tuyến truyền dẫn vòng Ring Biên

Hòa – Long Bình – Trảng Dài – Thạnh Phú – Bửu Long – Hóa An – Chợ Đồn –

Hiệo Hòa – Quyết Thắng – Biên Hòa, thiết bị PLX 150/600 dung lượng lắp đặt 63

luồng E1, chiều dài tuyến 34 km, cáp 12 sợi phi kim loại và cáp.

- Ngoài ra có khoảng 1200 km tuyến cáp nội hạt loại từ 25 x 2 đến 50 x 2.

Cự ly tổng đài đến các thuê bao là 3,5 km.

Mạng viễn thông được số hóa 100%, kỹ thuật Analog được thay thế bằng

kỹ thuật số hiện đại, giúp tự động hóa hoàn toàn cuộc gọi quốc tế và liên tỉnh, từ

đó cho phép nâng cao khả năng phục vụ nhu cầu liên lạc của người dân. Các dịch

vụ viễn thông như Fax, Internet, thư từ, báo chí, dịch vụ 1080, dịch vụ 107, nhắn

tin Phonelink, cardphone được bố trí hầu hết các điểm đông dân cư.

Ngoài ra, mạng điện thoại di động Vinaphone và Mobiphone phát triển

nhanh chóng, trở nên quen thuộc với người dân. Tại thành phố Biên Hòa còn bố

trí các tổng đài dự phòng trang bị máy bộ đàm để đảm bảo thông tin liên lạc khi

cần thiết như trong công tác phòng chống bảo lụt, an ninh quốc phòng ,….

Như vậy, với nhiều ưu điểm: toàn bộ mạng chuyển mạch đã được chuyển

sang tổng đài điện tử nối mạch nhanh cho phép giải quyết ứ đọng thông tin, cấu

trúc mạng rộng rãi với các tổng đài vệ tinh,… hệ thống thông tin – viễn thông ở

Biên Hòa ngày càng hiện đại hóa. Số tổng đài, bưu cục, thuê bao liên tục tăng,

nhất là trong 10 năm từ 1995 đến 2005. Điều đó cho thấy nhu cầu cao của người

dân và khả năng phục vụ của ngành bưu chính viễn thông trong những năm gần

đây đã có tác dụng thúc đẩy các quá trình kinh tế của thành phố phát triển.

2.2.3. Hệ thống cấp điện

2.2.3.1. Nguồn điện

Trước năm 1986, về cơ bản toàn thành phố đã có điện, trừ một số vùng

nông thôn.

Từ năm 1986 - 1990, thành phố tập trung vào việc cải tạo mạng lưới điện

theo chương trình hợp tác với Liên Xô, nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu sử

dụng điện của người dân.

Từ sau năm 1991, được sự chỉ đạo của tỉnh, thành phố tiến hành xây dựng

các khu, cụm công nghiệp. Ngành điện phát triển mạnh do vị trí địa lý thuận lợi,

thành phố Biên Hòa là khu vực tiếp cận với các nguồn điện (thủy điện và nhiệt

điện) quốc gia; nhờ sự đầu tư nâng cấp mạng lưới điện, một số trạm điện được xây

dựng như Amata, Biên Hòa, Hóa An,… đủ để phụ tải vào giờ cao điểm, đảm bảo

việc sản xuất của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp và tiêu dùng của

người dân.

Hiện nay thành phố nhận điện từ 2 trạm nguồn Long Bình 220/110 KV _

125 + 250 MVA và trạm Sài Gòn 230/66/11 KV _ 168 + 125 MVA, thông qua các

trạm trung gian như:

- Long Bình – 110/15 KV – 40 MVA.

- Đồng Nai – 110/(22) 15 KV – 40 MVA, 66/15 – 20 MVA (dùng KCN

Biên Hòa 1)

- An Bình – 110/22 KV – 40 MVA

- Vicasa – 110/15 KV – 30 MVA

- Biên Hòa – 110/15 KV – 40 MVA

- Tân Mai – 66/15 KV – 20 + 25 MVA (trạm chuyên dùng)

Ngoài ra một số khu công nghiệp như Biên Hòa 2,… còn lấy điện từ trạm

110/15 KV – 40 MVA được đặt tại trạm giảm áp Long Bình. Trong tương lai, tại

khu công ngiệp Amata sẽ xây dựng một nhà máy điện có công suất 300 MVA để

cung cấp điện cho toàn khu công nghiệp và bán điện phục vụ cho các khu công

nghiệp khác.

Bên cạnh nguồn điện mà quốc gia cấp cho thành phố Biên Hòa, còn có một

số nhà máy Diesel để phát công suất tại chỗ nhằm đảm bảo cung cấp điện an toàn

và liên tục cho một số hộ tiêu thụ loại 1 như nhà máy nước Hóa An, KCN Biên

Hòa 1. Ở KCN Amata đã có 2 tổ phát điện 2 x 6,3 MVA và chuẩn bị cho vận hành

thêm một tổ máy 6,3 MVA.

Nhìn chung trên thực tế, các trạm nguồn để cung cấp điện cho các phụ tải

còn hạn chế, ví dụ như thành phố Biên Hòa chỉ có một trạm giảm áp Biên Hòa

110/15 KV – 40 MVA cấp điện cho các khu dân cư, vì vậy không đủ cung cấp cho

nhu cầu của người dân, khách hàng phải hạn chế khả năng sử dụng điện. Các nhà

máy Diesel nằm sát thành phố đều quá cũ dẫn đến tình trạng tiêu hao nhiên liệu

lớn, công suất khả dụng thấp.

2.2.3.2. Lưới truyền tải: ở Biên Hòa có các loại

 Loại đường dây 220KV

- Đường dây 220 KV Trị An – Long Bình: 1 x 23 km (đi dây AC-300)

- Đường dây 220 KV Đa Nhim – Bảo Lộc – Long Bình: 1 x 238 km (đi dây

AC-400)

- Đường dây 220 KV Thủ Đức – Long Bình: 1 x 18,4 km (đi dây AC-400)

- Đường day 220 KV Bà Rịa – Phú Mỹ - Long Bình: 2 x 68 km (đi dây

AC-400)

 Loại đường dây 110 KV

- Đường dây 110 KV Bà Rịa – Phú Mỹ - Long Bình

- Đường dây 110 KV Long Bình – Xuân Lộc

- Đường dây 110 KV Long Bình – Biên Hòa: 2 x 7 km (đi dây AC-240)

- Đường dây 110 KV Thủ Đức – Long Bình: 1 x 15,5 km (đi dây AC-181)

- Đường dây 110 KV Long Bình – An Bình – Amata: 2 x 2 km (đi dây AC-

181)

 Loại đường dây 66 KV

- Đường dây 66 KV Thủ Đức – Đồng Nai: 1 x 15,5 km (đi dây AC-200)

- Đường dây 66 KV Đồng Nai – Tân Mai: 7 km (đi dây AC-181)

Sự tồn tại cùng lúc của nhiều loại đường dây hạn chế khả năng liên kết điện

trên lưới truyền tải, vì vậy ngành điện lực cần phải nhanh chóng chuyển đổi cấp

thấp 66 KV lên 110 KV.

2.2.3.3. Lưới phân phối và trạm hạ thế

Lưới điện phân phối hiện nay chủ yếu là lưới 15 KV, 22 KV và một số

tuyến cáp ngầm:

- Gồm có 169 km đường dây 15 KV; 6 km đường dây cáp ngầm; 93,3 km

đường dây hạ thế.

Lưới phân phối loại 15 KV – 22 KV vận hành theo chế độ trung tính nối

đất trực tiếp thuộc hệ 3 pha 4 dây, hầu hết là đường đi nổi. Song tại thành phố

Biên Hòa đã chuyển dần một phần tuyến nổi thành tuyến cáp ngầm trong dự án

cải tạo lưới điện thành phố bằng nguồn vốn ADB.

Về kết cấu lưới: sơ đồ lưới điện thành phố Biên Hòa có kết cấu mạch vòng

vận hành bình thường để hở bằng các thiết bị phân đoạn (LBS, FCO) với mục

đích dự phòng lẫn nhau về kết cấu trạm: có 2 loại trạm trong nhà và ngoài trời, cột

của đường dây sử dụng cột bêtông cốt thép ly tâm và một phần là cột gỗ Creosote.

Ngoài ra còn có cột kim loại dùng vào vị trí cột néo.

Dây dẫn gồm các loại ACSR336MCM, 185, 120, 95, 70, 50, 35 mm2 và dây đồng M-75, 38, 22 mm2. Tuyến trục chỉ có đoạn rất ngắn đi dây 336 MCM hoặc 185 mm2, còn lại đi dây 120 mm2 hoặc 95 mm2. Dây dẫn nhiều nơi chắp vá,

không đồng nhất, khả năng mang tải kém và dễ xảy ra sự cố.

Lưới hạ thế có cấp điện áp 220/380V (3 pha) và 220V (1 pha), vận hành

theo sơ đồ hình tia, sử dụng dây đồng phần lớn có tiết diện 75, 67, 50, 48, 38, 22, 11 mm2. Hiện nay lưới hạ thế đã được sử dụng cáp bọc ABC. Bán kính cung cấp

điện của mạng trung bình là 300m – 400 m.

Trạm hạ thế 15/ 0,4 KV gồm 614 trạm, 883 máy biến áp với tổng dung

lượng 158.370 KVA.

+ Sản lượng điện thương phẩm đạt bình quân 1.142 KW/người/năm.

+ Sản lượng điện sinh hoạt bình quân:,230 KW/người/năm.

+ Điện năng tiêu thụ của thành phố Biên Hòa là 470 triệu KW với tổn thất

bình quân là 8,3 %.

Nhìn chung, ưu điểm của lưới điện thành phố so với một số tỉnh khác là

phần lớn lưới điện có cấp điện áp 15KV, trong đó ½ tổng chiều dài đường dây

được thiết kế theo tiêu chuẩn cấp điện áp 22 KV và ½ tổng dung lượng trạm là

máy biến áp 15 (22)/ 0,4 KV. Do đó thuận lợi cho việc quản lý, vận hành và cải

tạo lên 22KV.

Ngoài ra, Biên Hòa là một trong các thành phố tỉ lệ tổn thất điện trên lưới

phân phối thấp (trung bình dưới 10%), chủ yếu do số khách hàng lớn sử dụng điện

cao thế và trung thế (có trạm chuyên dùng riêng). Tuy nhiên hiện nay tỉ lệ tổn thất

này đang có khuynh hướng gia tăng do mạng lưới phân phối điện không phát triển

kịp để đáp ứng yêu cầu phụ tải. Có một số tuyến phân phối quá tải, đường dây dẫn

chắp vá hoặc có tiết diện quá nhỏ, mang tải đi xa đưa đến tình trạng chất lượng

điện áp kém.

Vì vậy, thành phố đưa ra kế hoạch nhanh chóng chuyển cấp điện áp trung

thế lên cấp điện áp chuẩn hóa chung cho cả nước là 22KV theo quyết định của Bộ

Năng lượng. Đồng thời duy trì, phục hồi và có đề án xây mới các nhà máy Diesel

làm nguồn dự phòng trong trường hợp lưới điện có sự cố. Những khu vực có

đường dây 110KV đi qua nhưng chưa có trạm nguồn thì sẽ xây thêm để san tải bớt

cho trạm nguồn hiện có và tránh được phải kéo lưới điện phân phối đi xa, gây tổn

thất điện áp.

Có một điều đáng lưu ý là trong quá trình cải tạo, sửa chữa, nâng cấp hệ

thống điện phục vụ cho hoạt động của các KCN thành phố và nhu cầu sinh hoạt

của người dân, cần tính đến bộ mặt thẩm mỹ cho đô thị, tránh tình trạng lưới điện

chồng chéo lên nhau và “cạnh tranh” với đường dây của các ngành khác (như bưu

chính viễn thông), vừa làm xấu bộ mặt thành phố, vừa không đảm bảo an toàn

chung.

2.2.4. Hệ thống cấp nước

Tại Biên Hòa có 2 hệ thống cấp nước riêng biệt:

- Hệ thống cấp nước cho thành phố Biên Hòa.

- Hệ thống cấp nước cho các KCN ở Biên Hòa.

2.2.4.1. Hệ thống cấp nước thành phố: đầu tiên được thực dân Pháp xây dựng vào năm 1928 – 1930 với công suất thiết kế ban đầu là 1500 m3/ngày. Năm 1960 – 1968, Úc xây dựng thêm một số hệ thống mới với công suất 16000 m3/ngày.

Sau ngày Biên Hòa được giải phóng, năm 1982 – 1984 công ty xây dựng

Cấp thoát nước số 2 – bộ xây dựng đã thiết kế cải tạo nâng công suất lên 1.800 m3/ngày và hiện nay là 36.000 m3/ngày. Nhà máy nước Biên Hòa có nguồn nước

lấy từ sông Đồng Nai. Như vậy trước năm 1986, hệ thống cấp nước của thành phố

Biên Hòa đã đáp ứng được yêu cầu của một bộ phận dân cư ở nội ô.

Sau năm 1986, thành phố đặt ra mục tiêu là khai thác nguồn nước uống và

sinh hoạt cho khu vực dân cư xa trung tâm nội ô. Sau năm 1995, hệ thống cấp

thoát nước của Biên Hòa vừa được cải tạo, vừa được bổ sung trong các khu công

nghiệp cũ và mới. Từ đó đến nay, thành phố luôn chú ý nâng cao số hộ dân được

cấp nước sạch, đồng thời quan tâm đến xử lý thoát nước chống ngập lụt cục bộ.

Cụ thể, năm 1998 thành phố đã xây thêm nhà máy nước Long Bình công suất đợt I là 15.00 m3/ngày, năm 2002 nâng công suất lên 30.000 m3/ngày, không

những phục vụ cho dân cư thành phố mà còn phục vụ cho KCN Biên Hòa 2.

Nguồn nước của nhà máy này lấy từ Thiện Tân trên sông Đồng Nai, dẫn về nhà

máy bằng tuyến ống thô CB600. Sau khi xử lý, nước sạch được dẫn bằng tuyến

ống D400 đi theo Quốc lộ 1A và Quốc lộ 15 dẫn về trạm bơm tăng áp của khu

công nghiệp Biên Hòa 2 và cấp nước cho dân cư dọc tuyến đường.

Toàn thành phố hiện có 1 thủy đài hoạt động tốt, nằm tại quảng trường do

Úc thiết kế để điều áp. Ngoài ra, do sự phát triển không ngừng và mở rộng nên ở

những khu vực quá xa nhà máy nước, có địa hình cao nước không tới được, nhiều

trạm bơm tăng áp đã được xây dựng.

- Trạm số 1: tại phường Tân Tiến nằm trên Quốc lộ 1 được trang bị 2 bơm

Q = 150m3/h, có bể chứa nước W=1.500m3.

- Trạm số 2: nằm trên đường Đồng Khởi, gần ngã tư Tân Phong.

- Trạm tăng áp số 3 nằm cạnh quốc lộ 1A phía trên KCN Biên Hòa 1.

- Trạm tăng áp số 4 nằm trong KCN Biên Hòa 2, cung cấp nước cho KCN

này.

- Ngoài ra tại Tam Hiệp có 2 giếng nước khoan ngầm, hiện nay ngưng hoạt

động do đã sử dụng nguồn nước từ nhà máy nước Long Bình đưa về.

Qua những số liệu nêu trên cho thấy khả năng cung cấp nước sạch của

thành phố ngày càng cao (đảm bảo cho 70% dân số), điều đó phản ánh chất lượng

cuộc sống của người dân đang dần được cải thiện. Cho đến năm 2005, tổng công suất thiết kế của hệ thống cấp nước Biên Hòa lên đến 66.000 m3/ngày nhưng trong thực tế mới chỉ đạt 50.000 – 58.000 m3/ngày (do thiếu mạng phân phối). Toàn

thành phố hiện có 4 phường chưa được cấp nước là An Bình, Tân Hòa, Tân Biên,

Hố Nai. Mặt khác, tiêu chuẩn dùng nước bình quân trên lý thuyết của 1 người dân

ở Biên Hòa là 100lít/người/ngày, nhưng do rò rỉ nên chỉ đạt 67lít/người/ngày.

Vì vậy, để nâng cao năng lực phục vụ, đem lại nguồn nước sạch cho người

dân, thành phố cần đầu tư cơ sở vật chất hơn nữa để khai thác hết công suất của

các nhà máy. Mục tiêu mà thành phố đặt ra là đến năm 2010, 90% dân số được

cấp nước với tiêu chuẩn 120lít/người/ngày, năm 2020 là 100% dân số được cấp

nước với tiêu chuẩn 165lít/người/ngày [38, tr.70]. Đây cũng chính là mục tiêu

thúc đẩy sự phát triển của mạng lưới cấp nước Biên Hòa.

2.2.4.2. Hiện trạng cấp nước KCN Biên Hòa

Trong sự phát triển của thành phố, các KCN đóng một vai trò quan trọng,

là yếu tố đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Vì vậy để đảm bảo

cho các hoạt động sản xuất của nhà máy diễn ra liên tục, mạng lưới cung cấp nước

cũng khá đa dạng.

Trước năm 1986, hệ thống cấp nước cho KCN Biên Hòa 1 được xây dựng

từ lâu và nguồn nước lấy từ sông Đồng Nai.

Trong giai đoạn từ 1986 – 1996, để cung cấp đủ nước cho nhu cầu ngày

càng nhiều của các khu công nghiệp, thành phố tiến hành mở rộng nguồn cung

cấp từ nhà máy nước Thủ Đức - Thành Phố Hồ Chí Minh tới bằng đường ống BTCT Φ600 dài11,8 km với 2 bơm Q = 681 m3/h, Hb = 42,7 m, N = 150 CV và công suất tối đa là 25.000 m3/ngày. Nước được bơm vào bể chứa áp lực ở cốt 40m đầu khu công nghiệp có dung tích W = 8.640 m3. Từ bể chứa này có mạng lưới

phân phối với tổng chiều dài L = 17km, ống Φ150 – 300 dẫn tới các xí nghiệp, cơ

quan và một số hộ dân trong khu công nghiệp.

Tuy nhiên, theo điều tra của Viện Quy hoạch Đô thị Nông thôn – Bộ xây

dựng tháng 3 – 1992, tổng lượng nước tiêu thụ thực tế của các xí nghiệp thuộc KCN Biên Hòa chỉ khoảng 12.500 m3/ngày, vì còn phải cấp nước cho một số cơ

quan, khu dân cư và do rò rỉ. Do các xí nghiệp chưa hoạt động hết công suất, một

phần do thành phố Hồ Chí Minh thiếu nước nên lượng nước bơm lên có hạn chế,

do đó một số xí nghiệp phải khoan thêm giếng cục bộ để bổ sung thêm nước cho

sản xuất.

Từ năm 1996 cho đến năm 2005, nhiều dự án cấp nước cho thành phố nói

chung và các khu công nghiệp nói riêng đã được thành phố phê duyệt, đang và sẽ

đi vào hoạt động. Năm 1998 – 1999, dự án cấp nước Long Bình được thực hiện. Năm 1999, nhà máy nước Bình Anh có công suất 100.000 m3/ngày đi vào hoạt động, đã cung cấp thêm cho KCN Biên Hòa 1 là 10.000 – 15.000 m3/ngày, các khu dân cư dọc đường 30.000 – 35.000 m3/ngày và dẫn về nhà máy nước Thủ Đức 55.000 m3/ngày. Dự án cấp nước Thiện Tân có cùng công suất cũng đã được khởi

công xây dựng năm 2000, hoàn thành năm 2003, sắp tới các khu công nghiệp còn

được bổ sung thêm lượng nước từ dự án cấp nước Nhơn Trạch.

Như vậy, hệ thống cấp nước của thành phố đã hình thành từ trước năm

1986 nhưng chưa đáng kể. Từ sau năm 1986, nhất là từ những năm giữa thập niên

90 thế kỷ XX, hệ thống cấp nước được cảo tạo, nâng cấp và xây dựng nhiều hơn,

đảm bảo cung cấp nước sạch cho đại bộ phận dân cư thành phố và sản xuất của

các nhà máy. Tuy nhiên, hiện nay dòng sông Đồng Nai đang bị ô nhiễm trong khi

đây lại là nguồn cung cấp nước chủ yếu. Vì vậy, việc bảo vệ và quản lý nguồn

2.3. Chuyển biến về cơ cấu kinh tế trong quá trình đô thị hóa

nước sông Đồng Nai là mối quan tâm hàng đầu của chính quyền.

Cơ cấu kinh tế nước ta gồm ba lĩnh vực: nông – lâm - thủy sản (NLTS),

công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (CN – TTCN), thương mại – dịch vụ (TM –

DV). Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ đô thị hóa của một

vùng lãnh thổ là sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của

các ngành CN – TTCN, TM – DV.

Biên Hòa trước đổi mới đã là một thành phố có giá trị sản xuất công nghiệp

cao, tuy nhiên giá trị sản xuất của nông – lâm – thủy sản cũng không nhỏ trong khi

thương mại – dịch vụ không đáng kể. Năm 1985, giá trị sản xuất (GTSX) của khu

vực CN - TTCN chiếm khoảng 50%, nông - lâm - thủy sản chiếm 37% [40, tr.4].

Từ năm 1986, nắm bắt những lợi thế về điều kiện tự nhiên – xã hội; trong

đó quan trọng nhất là nguồn lực con người, Đảng bộ thành phố sớm xác định mục

tiêu phát triển kinh tế thành phố trong thời kì đổi mới là huy động tối đa mọi

nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế theo hướng chuyển dịch nhanh cơ cấu

ngành công nghiệp và dịch vụ, tạo động lực thúc đẩy kinh tế trên địa bàn phát

triển với tốc độ cao, xứng đáng là thành phố trung tâm công nghiệp, dịch vụ của

cả tỉnh và là đô thị có vị trí quan trọng trong khu vực.

Tháng 12 năm 1988, Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Biên Hòa lần thứ

V được triệu tập, đã xác định cơ cấu kinh tế của thành phố Biên Hòa là CN -

TTCN, TM - DV. Nông nghiệp có nhiệm vụ đảm bảo lương thực cho nhân dân

các xã ngoại thành và cung cấp nguyên liệu, nông sản hàng hóa cho thị trường

thành phố.

Kết quả từ 1986 – 1990, kinh tế bước đầu phát triển, đời sống vật chất, tinh

thần các tầng lớp nhân dân có nâng lên song chưa thật cơ bản và vững chắc. Nhiều

chính sách, chế độ được đưa ra chưa thực sự phù hợp với đặc điểm tình hình thực

tế, vì vậy khả năng khuyến khích và củng cố niềm tin của quần chúng trong sản

xuất, kinh doanh còn hạn chế.

Đến Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VI đã đề ra phương hướng, nhiệm

vụ của nhiệm kỳ 1991 – 1995, trong đó nhấn mạnh việc thực hiện nhiệm vụ kinh

tế theo hướng mở rộng sản xuất kinh doanh, động viên các thành phần kinh tế tích

cực tham gia đầu tư sản xuất, mở rộng ngành nghề truyền thống, thực hiện cơ cấu

kinh tế “công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch”. Do vậy từ năm 1991 về

sau, tốc độ phát triển kinh tế luôn đạt kế hoạch đề ra, chỉ số phát triển GDP luôn

cao hơn 100%. Quá trình đô thị hóa từ đó cũng phát triển nhanh.

Bảng 2.5. Chỉ số phát triển tổng sản phẩm GDP của TP. Biên Hòa

giai đoạn 1991 – 2005

ĐVT: %

Thời kì 1991 Thời kì Thời kì 2001

- 1995 1996 - 2000 – 2005

119,80 119,24 114,29 CN - TTCN

116,35 110,58 115,24 TM - DV

103,70 113,03 99,70 NLTS

117,87 116,18 114,29 Chỉ số chung

Nguồn: [Phòng Thống kê TP.Biên Hòa (54)]

Trong tất cả lĩnh vực, CN - TTCN là ngành có chỉ số phát triển cao nhất

qua các thời kì (riêng năm 2005, TM - DV tăng nhiều hơn cũng là sự thay đổi

thích hợp với xu hướng đô thị hóa). Nông lâm thủy sản tuy chưa thật ổn định

nhưng vẫn giữ được chỉ số tăng.

Tương ứng với chỉ số phát triển là giá trị đóng góp của các ngành vào nền

kinh tế thành phố. Đặc biệt đến năm 1995 sau thời gian dài đổi mới, giá trị tổng

sản lượng của thành phố tăng gấp 35 lần năm 1985 và gấp 150 lần của năm 1976

[4, tr.351]. Giai đoạn 10 năm từ 1995 đến 2005 tốc độ tăng thêm giá trị tổng sản

phẩm chậm lại.

Bảng 2.6. Giá trị tổng sản phẩm phân theo các ngành kinh tế của TP.

Biên Hòa qua các năm 1995 – 2005

ĐVT: triệu đồng (giá thực tế )

Lĩnh vực Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005

CN - TTCN 1.635.054 5.179.413 11.345.000

TM - DV 996.101 1.986.796 4.648.000

NLTS 78.581 165.145 192.000

Tổng sản 2.709.736 7.331.354 16.185.000

phẩm

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Như vậy từ năm 1991 đến năm 2005 kinh tế trên địa bàn thành phố Biên

Hòa đạt được nhiều thành tựu nổi bật, đặc biệt từ năm 1991 – 2000, tốc độ phát

triển nhanh, từ đó góp phần quan trọng vào thành tựu chung của cả tỉnh Đồng Nai.

Là một đô thị lớn của miền Nam, thành phố công nghiệp quan trọng của cả

nước, Biên Hòa trong quá trình đô thị hóa luôn xác định lấy công nghiệp làm

trọng tâm, đồng thời đẩy mạnh hoạt động của ngành TM - DV. Điều đó được thể

hiện rõ ở cơ cấu sản phẩm các ngành kinh tế.

Bảng 2.7. Cơ cấu tổng sản phẩm các ngành kinh tế của TP. Biên Hòa

qua các năm 1991 – 2005

Năm

Năm

Năm

Năm

1991

1995

2000

2005

52,20

60,34

70,65

70,10

CN -

TTCN

TM - DV

40,18

36,76

27,10

28,72

NLTS

7,62

2,90

2,25

1,18

ĐVT: % (giá thực tế)

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tổng sản phẩm các ngành kinh tế của TP. Biên Hòa

7.62

52.2

40.18

qua các năm 1991 – 2005

2.9

36.76

60.34

Năm 1991

1.18

28.72

70.1

Năm 1995

COÂNG NGHIEÄP-TIỂU THỦ COÂNG NGHIỆP

THƯƠNG MẠI - DÒCH VUÏ

NOÂNG LAÂM THUÛY SAÛN

Năm 2005

Qua các năm, tỉ lệ phần trăm ngành CN - TTCN luôn chiếm hơn ½ trong

toàn bộ cơ cấu ngành và có xu hướng tăng liên tục, đều đặn. TM - DV, mặc dù

chưa thật sự ổn định nhưng là lĩnh vực có đóng góp lớn thứ hai cho kinh tế của

thành phố.

Trong giai đoạn sau năm 1995, do sự mở rộng hoạt động của các KCN, sự

biến động của nền kinh tế thị trường và sự tác động từ những cuộc khủng hoảng

kinh tế thế giới (năm 1997) làm cho tỷ trọng đóng góp của ngành TM - DV giảm

đi nhưng lại tăng ở ngành CN – TTCN. Giá trị đóng góp của hoạt động NLTS mặc

dù có tăng nhưng xét chung trong tổng thể cơ cấu kinh tế thành phố giảm (xem

bảng 2.6 và 2.7).

Qua đó nhận thấy cơ cấu ngành kinh tế của thành phố đã chuyển dịch

nhanh và đúng hướng; ngoài ra cơ cấu thành phần kinh tế cũng có sự chuyển đổi

phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước

theo định hướng XHCN. Năm 2005 cơ cấu của các thành phần kinh tế trên địa bàn

thành phố như sau: quốc doanh 28,31%, ngoài quốc doanh 30,22% và đầu tư nước

ngoài là 41,47% (cơ cấu tương ứng của năm 1995 là 57,04% – 24,43% – 18,53%

và năm 2000 là 39,52% – 22,18% – 38,30%).

Nhìn chung trong 20 năm qua, tốc độ phát triển kinh tế ở thành phố Biên

Hòa rất cao. Trong cơ cấu tổng sản phẩm các ngành kinh tế có sự chuyển dịch

nhanh, theo hướng nâng cao dần tỉ lệ đóng góp của CN – TTCN, TM – DV, giảm

dần tỉ lệ đóng góp của ngành NLTS, nhất là từ năm 1995 – 2005. Điều đó phản

ánh một cách rõ nét quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, đồng thời là cơ sở

thúc đẩy Biên Hòa tiến nhanh hơn nữa trên côn đường hiện đại hóa.

2.3.1. Chuyển biến về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

2.3.1.1. Tình hình chung

Trước đổi mới năm 1986, ngành CN – TTCN phát triển nhưng còn chậm

chạp và không đều, một số ngành và sản phẩm bị thu hẹp.

Từ sau năm 1986, thành phố đã xác định CN – TTCN là mũi nhọn, ngành

sản xuất chính nên tạo nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Cụ thể năm 1989

Thành ủy đã quyết định chuyển các hoạt động kinh tế từ cơ chế hạch toán bao cấp

sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN, giao quyền chủ động sản xuất, kinh

doanh cho các đơn vị kinh tế. Vì vậy giá trị sản xuất của ngành CN - TTCN trên

địa bàn thành phố đã không ngừng phát triển, liên tục tăng qua các năm.

Bảng 2.8. Giá trị sản xuất ngành CN – TTCN của TP. Biên Hòa qua các năm

1985 – 2005

Năm 1985

Năm 1990

Năm

Năm 2000

Năm

2005

1995

12.049,049

27.180,000

883,077

1.188,693

5.151,06

3

ĐVT: triệu đồng (giá cố định 1994)

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

20 năm qua, giá trị sản xuất của ngành CN – TTCN tăng đều, bình quân 5

năm sau tăng gấp đôi 5 năm trước. Riêng năm 1995 giá trị sản xuất tăng mạnh,

gần gấp 5 lần so với năm 1990. Đây là kết quả thành phố đạt được sau một thời

gian dài thực hiện đổi mới, tập trung xây dựng và phát triển các KCN, doanh

nghiệp và người dân đã quen với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có

sự chỉ đạo, quản lý của nhà nước.

Năm 2005 giá trị sản xuất của CN – TTCN tăng hơn 30 lần năm 1985, mức

tăng bình quân (giai đoạn 1991 – 2005) là 23,2%/năm, giá trị sản xuất công

nghiệp thành phố chiếm 67,6% so với sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, trong đó

công nghiệp quốc doanh tăng 13,7%/năm, công nghiệp ngoài quốc doanh là

30,7%/năm, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (từ 1995 – 2005) tăng 21,8%. Qua

đó nhận thấy công nghiệp quốc doanh là khu vực có tốc độ phát triển chậm nhất.

Trước năm 1995, công nghiệp quốc doanh là khu vực có vị trí quan trọng

trong nền công nghiệp thành phố, năm 1985 đóng góp 845.621 triệu đồng – chiếm

95,76% toàn bộ ngành công nghiệp thành phố, đến năm 1990 tỉ lệ đóng góp là

1.130916 triệu đồng – chiếm 95,14%.

Từ năm 1995 vai trò của công nghiệp quốc doanh sụt giảm, giá trị đóng

góp còn 2.746.144 triệu đồng – chiếm 53,31%, đặc biệt đến năm 2000, chỉ còn

đóng góp là 3.957.405 triệu đồng – chiếm 32,84% và năm 2005 là rất thấp:

7.770.000 triệu đồng – chiếm 28,58% [54]. Điều này cũng dễ hiểu trong điều kiện

thành phố thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, tạo điều kiện cho nhiều thành phần

kinh tế khác phát triển.

Khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh từ năm 1995 trở lại đây do được

khuyến khích phát triển đúng hướng, lại có nhiều thuận lợi về nguyên liệu và khả

năng tập trung vốn nên rất năng động trong cơ chế thị trường, có tốc độ phát triển

cao nhất (30,7%) và số cơ sở sản xuất đông nhất (năm 1985 chỉ có 945/1036 cơ sở

sản xuất toàn thành phố, đến năm 1995 tăng lên 1343/1432 cơ sở sản xuất, năm

2005 có 2266/2480 cơ sở sản xuất). Số lao động tăng nhanh từ 3018 người (năm

1985) lên 16.059 người (năm 1995) và 32.075 người (năm 2005); giá trị sản xuất

(theo giá cố định 1994) giai đoạn từ 1995 – 2000 tăng mạnh từ 277.768 triệu đồng

(1995) đến 1.125.889 triệu đồng (năm 2000) và 4.060.000 triệu đồng (năm 2005).

Sản phẩm do khu vực ngoài quốc doanh sản xuất rất đa dạng và ngày càng

tăng về số lượng các mặt hàng xuất khẩu (gốm, mây tre, may mặc, đồ mộc chế

biến, dép nhựa, bao bì…) và các mặt hàng phục vụ sản xuất và tiêu dùng của nhân

dân (lương thực, thực phẩm, cơ khí, vật liệu xây dựng,…). Phát huy thế mạnh từ

các ngành nghề có truyền thống lâu đời với tay nghề ngày càng tinh xảo, lại được

khuyến khích từ chủ trương phát triển hàng xuất khẩu, các sản phẩm của công

nghiệp ngoài quốc doanh đã có mặt ở nhiều thị trường nước ngoài như: Anh, Đức,

Pháp, Mỹ, Nhật, Úc, Hồng Kông, Đại Hàn,… mang lại số ngoại tệ đáng kể, trên

76,2 triệu USD trong 5 năm (từ 1996 – 2000).

Cùng với sự phát triển của hàng xuất khẩu, các sản phẩm phục vụ tiêu dùng

trong nước xuất hiện ngày càng nhiều với sự đa dạng về chủng loại như gạch men của Công ty gạch men Kinh Minh, năm 2000 sản xuất 1,2 triệu m2; giày dép của

công ty Bitis năm 2000 sản xuất 4,5 triệu đôi; chế biến thức ăn gia súc bình quân

tăng 12,03%/năm, sản phẩm may mặc tăng 30,85%/năm. Đặc biệt trong giai đoạn

từ năm 2000 – 2005, thành phố đã chú ý từng bước triển khai thực hiện di dời các

cơ sở sản xuất hiện hữu gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư, trong đó đã

thực hiện di dời 12 cơ sở gạch ngói với 475 lao động, diện tích 15,70 ha (tại Tân

Vạn, Hóa An, Bửu Hòa, Long Bình Tân) có cơ sở máy móc cũ kỹ, lạc hậu, gây ô

nhiễm môi trường, tiêu thụ chậm, giá thành sản phẩm cao, đang trong tình trạng

không ổn định.

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ mới đóng góp cho thành phố từ

những năm 1990 trở lại đây nhưng là khu vực năng động nhất, giữ vai trò, vị trí

chiến lược quan trọng trong sự phát triển của thành phố. Trong thời gian từ 1990 –

1995, giá trị đóng góp chưa cao. Đến năm 1995 đóng góp 2.127.151 triệu đồng,

chiếm 41,30% giá trị sản xuất công nghiệp thành phố; đến năm 2000 đóng góp

6.965.755 triệu đồng, chiếm 57,81%; và năm 2005 có giá trị sản xuất là

15.350.000 triệu đồng, chiếm 56,48%.

Nguyên nhân là trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thành phố đã

chú ý mở rộng và tạo điều kiện thu hút vốn bên ngoài bằng các luật thuế mới, gần

đây nhất là Luật doanh nghiệp cùng với việc bãi bỏ 84 loại giấy phép hành nghề,

tạo môi trường thông thoáng cho sản xuất.

Với chủ trương cổ phần hóa, tăng cường đầu tư chiều sâu, đổi mới công

nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, các ngành công nghiệp thành phố Biên

Hòa năm 2005 có trình độ tự động hóa và bán tự động hóa chiếm 30,18%, cơ khí

và bán cơ khí chiếm 43,25%, thủ công chiếm 26,57%; đặc biệt khu vực có vốn

đầu tư nước ngoài có trình độ tự động hóa và bán tự động hóa rất cao (70,20%).

Điều này cho thấy rõ sự chênh lệch trong kỹ thuật sản xuất giữa khu vực kinh tế

trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy để tăng tính cạnh tranh

cho các mặt hàng, cần phải chú ý các hoạt động chuyển giao công nghệ, ứng dụng

khoa học kỹ thuật vào trong sản suất, nâng cao tay nghề của đội ngũ công nhân

lao động.

Như vậy, công nghiệp thành phố phát triển mạnh và nhanh từ năm 1995,

tập trung ở khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước

ngoài. Điều này sẽ tạo điều kiện để tăng cường đầu tư và sử dụng công nghệ sản

xuất cao, góp phần hiện đại hóa thành phố. Tuy nhiên công nghiệp quốc doanh

vẫn nắm giữ những ngành kinh tế chính.

2.3.1.2. Tình hình phát triển các khu công nghiệp

Trước năm 1986, thành phố đã có KCN Biên Hòa 1 tập trung nhiều các cơ

sở sản xuất của thành phố.

Từ năm 1991 đến nay, quán triệt Nghị quyết của Đảng bộ Tỉnh, thành phố

đã chủ động thực hiện các giải pháp đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng các KCN tập

trung gắn với các cụm công nghiệp vừa và nhỏ. Đến năm 2005, trên địa bàn thành

phố có 4 KCN tập trung với quy mô lớn là Biên Hòa 1, Biên Hòa 2, Amata và

Loteco thu hút nhiều dự án đầu tư nước ngoài, trở thành yếu tố quyết định tốc độ

tăng trưởng nhanh của toàn ngành công nghiệp.

 Khu công nghiệp Biên Hòa 1

Quy mô diện tích: 335 ha, trong đó đất xây dựng công nghiệp hiện hữu cải

tạo và phát triển là: 231,08 ha. Trong khu công nghiệp đã có sẵn mạng lưới công

trình kỹ thuật hạ tầng được xây dựng thời Mỹ - Ngụy. Hiện nay Công ty Phát triển

Khu công nghiệp Biên Hòa (Sonadezi) được giao làm chủ đầu tư để xây dựng khu

dân cư nhằm giải tỏa di dời dân trong KCN và cải tạo chỉnh trang mạng lưới kỹ

thuật hạ tầng.

 Khu công nghiệp Biên Hòa 2

Được quy hoạch và xây dựng từ năm 1992 đến tháng 9 năm 1993. Đây là

KCN được đánh giá là thành công nhất về xây dựng cơ sở hạ tầng và kêu gọi vốn

đầu tư; việc xây dựng và kinh doanh hạ tầng tại khu công nghiệp này có lợi nhuận

cao.

Hiện nay KCN Biên Hòa 2 đã cho thuê hết 261 ha, chiếm 100% tổng diện

tích cho thuê; có hệ thống giao thông hoàn chỉnh phần đường với tổng chiều dài

22,5 km; hệ thống thoát nước mưa, nước thải hoàn chỉnh với tổng chiều dài 20

km; đã xây dựng xong và đưa vào sử dụng nhà máy xử lý nước thải có công suất

4.000 m3/ngày (đưa vào hoạt động tháng 4 năm 1999); nhà máy xử lý chất thải rắn

đang được khảo sát địa điểm xây dựng; hệ thống cấp nước hoàn chỉnh và đã khai thác trạm cấp nước với công suất 15.000 m3/ngày cùng hai bể chứa có dung tích 6.000 m3 và hệ thống đường ống nước với chiều dài 23 km; đối với hệ thống điện:

đã lắp đặt xong trạm 40 MVA, hệ thống đường dây điện 22 KV dài 15 km; hệ

thống thông tin đảm bảo tốt, hoàn thiện hệ thống cây xanh đường phố.

 Khu công nghiệp Amata

Được quy hoạch xây dựng năm 1993, hiện nay đã hoàn chỉnh hệ thống hạ

tầng kỹ thuật khu vực xây dựng đợt đầu 129 ha, gồm:

- Đường giao thông, cống thoát nước mưa, nước thải, hệ thống thông tin, hệ thống cấp nước công suất 2.000 m3/ngày với hệ thống đường ống dài 5 km, xây dựng xong nhà máy xử lý nước thải có công suất 1.000 m3/ngày (đã đưa vào hoạt

động từ tháng 5/1999), đã lắp đặt xong trạm 110KV/22KV – 40 MVA, đưa vào

vận hành hai trạm biến áp nhỏ 110KV/15KV – 2.600 KVA, đang xây dựng nhà

máy điện công suất 110 MW với hệ thống đường dây dài 9 km.

- Hoàn thiện hệ thống cây xanh dọc đường.

Diện tích đã cho thuê tính đến 31/10/2000 là 46,76 ha, chiếm 51% tổng

diện tích cho thuê (91,5 ha).

KCN Amata mới được xây dựng nên có chất lượng các công trình hạ tầng

tốt, sẵn sàng tiếp nhận các dự án đầu tư. Tuy nhiên giá cho thuê cao nên hiện đang

gặp khó khăn nhất định trong thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp.

 Khu công nghiệp Loteco

Được thành lập vào năm 1996, là khu công nghiệp liên doanh giữa tập đoàn

đầu tư và thương mại Sojitz của Nhật Bản với Công ty Thái Sơn của Bộ Quốc

phòng có tổng vốn đầu tư 41 triệu USD. Đây là KCN có các công trình hạ tầng

được đánh giá thuộc loại tốt, hoàn chỉnh, diện tích quy hoạch: 100 ha, trong đó có

khu chế xuất, diện tích 30 ha.

Diện tích đã cho thuê 7,8 ha, chiếm 10,83% tổng diện tích cho thuê (72 ha)

- Đã hoàn chỉnh hệ thống giao thông nội bộ, hệ thống thoát nước mưa,

nước thải, hệ thống cấp nước, hệ thống thông tin.

- Xây dựng xong và đưa vào sử dụng nhà máy xử lý nước thải với công

suất 1.500 m3/ngày.

- Trạm điện công suất 3,2 MVA cùng hệ thống lưới điện dài 9,5 km.

 Các cụm công nghiệp nhỏ

Ngoài các KCN tập trung với diện tích từ 100 ha trở lên, ở thành phố Biên

Hòa còn nhiều cụm công nghiệp nhỏ đã được đầu tư xây dựng.

- Cụm công nghiệp phường Tân Hiệp rộng 6 ha, bao gồm các nhà máy sản

xuất áo tắm, đàn ghi ta, các xí nghiệp may, đồ gia dụng không gây ô nhiễm.

- Cụm công nghiệp chế biến thực phẩm cạnh xa lộ Hà Nội.

- Cụm công nghiệp may mặc và thực phẩm tại đường 5 (phường Tân Tiến).

- Cụm công nghiệp thuốc lá, chế biến gỗ, vật liệu xây dựng: 6 nhà máy

(phường Long Bình).

- Cụm công nghiệp giày da và may mặc Pouchen, diện tích 19 ha (Quốc lộ

1K – xã Hóa An).

- Cụm công nghiệp giấy Tân Mai, diện tích 19 ha (phường Thống Nhất).

- Cụm công nghiệp sản xuất giày tại phường Tam Hiệp.

Nhìn chung CN - TTCN trên địa bàn thành phố có nhiều chuyển biến theo

chiều hướng tăng trưởng nhanh. Cơ cấu ngành nghề phát triển đa dạng tạo nên sự

phong phú về chủng loại các mặt hàng. Các nghề truyền thống tiếp tục được chú

trọng, tăng về số cơ sở sản xuất và sản lượng. Đáng kể nhất là các ngành nghề phục

vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu như may mặc, giày da, chế biến thực

phẩm,… đã trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn không chỉ của thành phố mà còn

của cả tỉnh, có giá trị sản xuất cao. Số doanh nghiệp ngày càng nhiều do sự thông

thoáng trong việc đăng ký kinh doanh theo luật Doanh nghiệp cũng đã góp phần lớn

vào tăng trưởng GTSX của ngành CN - TTCN. Số vốn đầu tư cho mỗi cơ sở sản

xuất được nâng cao, nhất là những cơ sở sản xuất ở các KCN Biên Hòa 1, Biên Hòa

2, Amata và Loteco, với hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đã thu hút được sự quan tâm của

các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Sự phát triển của các khu – cụm công nghiệp với hệ thống cơ sở hạ tầng -

kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh đã thu hút một lực lượng lao động dồi dào ở các

huyện trong tỉnh và các địa phương khác đến, góp phần làm cho quá trình đô thị

hóa diễn ra mạnh mẽ. Tuy nhiên, cũng chính sự phát triển nhanh chóng của hoạt

động CN - TTCN trên địa bàn thành phố, nhất là các khu - cụm công nghiệp, đặt

ra nhiều vấn đề cho xã hội. Sự ô nhiễm môi trường từ khói, bụi, nước thải công

nghiệp và sinh hoạt; sự tăng dân số cơ học quá nhanh kéo theo những hệ lụy đi

kèm đang làm giảm chất lượng cuộc sống của người dân, tạo nên nguy cơ lớn về

tình trạng phát triển không bền vững của thành phố Biên Hòa.

Hiện nay, để duy trì và đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng của CN – TTCN, thành

phố đang tiếp tục dự án giai đoạn 2 xây dựng KCN Amata với diện tích 232 ha; ưu

tiên phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, nhất là những ngành công nghiệp

mới, kỹ thuật cao như: sản xuất vật liệu mới, điện tử - viễn thông, máy móc, thiết

bị…, có ý nghĩa chiến lược lâu dài và tăng cường yếu tố phát triển bền vững cho

thành phố. Đồng thời hoàn thành việc di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm đang

nằm xen kẽ trong các khu dân cư.

2.3.2. Chuyển biến về nông nghiệp

Đô thị hóa là một quá trình gắn liền với nhiều yếu tố, để hình dung và đánh

giá được mức độ đô thị hóa của một thành phố cần gắn quá trình ấy với hoạt động

sản xuất nông nghiệp. Giá trị đóng góp của ngành nông nghiệp trong tổng giá trị

toàn bộ nền kinh tế, số lao động tham gia sản xuất nông nghiệp trong tổng số lao

động và diện tích đất dùng để sản xuất nông nghiệp là những yếu tố quan trọng để

tái hiện quá trình đô thị hóa.

Ở Biên Hòa trước năm 1986, nông nghiệp có đóng góp lớn cho nền kinh tế

thành phố, sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 37% trong tổng cơ cấu các ngành

kinh tế của thành phố [62, tr.364].

Tuy nhiên với chủ trương tập trung chuyển đổi nền kinh tế thành phố theo

hướng công – nông nghiệp, từ năm 1986 về sau, tỷ trọng đóng góp của sản xuất

nông nghiệp giảm rất mạnh, đến năm 1991 còn 7,62%.

Tiếp tục thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, từ năm 1991 đến nay, ngành

nông nghiệp chỉ chiếm tỉ lệ rất ít trong cơ cấu các ngành kinh tế: 2,90 % (năm

1995) và 2,25% (năm 2000), chỉ còn 1,18 % (năm 2005).

Điều này cho thấy nhân dân Biên Hòa đã thực hiện rất tốt chủ trương của

Đảng bộ thành phố trong quá trình phát triển đô thị, là tăng tỉ trọng của ngành CN

- TTCN, TM - DV, giảm dần tỉ trọng của ngành NLTS.

Sau năm 1975, để khắc phục tình trạng thiếu lương thực và giải quyết việc

làm cho người lao động, thành phố rất quan tâm đầu tư cho sản xuất nông nghiệp.

Vì vậy số lao động cao, năm 1990 là 15.000 người. Năm 1995 tăng lên 18.119

người.

Từ năm 1995 - 2005, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp bắt đầu giảm:

năm 2000 là 10.478 người và năm 2005 chỉ còn 10.265 người. Nguyên nhân là do

một bộ phận người lao động đã chuyển sang làm việc trong các ngành CN –

TTCN hoặc TM – DV.

Trước năm 1986, diện tích đất nông - lâm nghiệp là 4.615 ha, đến năm

2002, theo kết quả đều tra của Phòng Thống kê TP. Biên Hòa, là 5.037,43 ha,

chiếm 32,58% diện tích đất thành phố [38, tr.104]. Qua 20 năm, diện tích đất thay

đổi không đáng kể.

Hiện nay, quỹ đất chưa sử dụng của thành phố còn rất ít: 100,53 ha, chiếm

tỉ lệ 0,65%. Vì vậy khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp là không thể.

Trong khi đó quá trình đô thị hóa làm xuất hiện nhiều khu - cụm công nghiệp,

nhiều khu vui chơi, nhà cao tầng, nhà chung cư. Như vậy để xây dựng phát triển

đô thị Biên Hòa, thành phố sẽ phải thực hiện chuyển đổi chức năng từ các loại đất

khác, trong đó có đất nông nghiệp.

Rõ ràng, sản xuất nông nghiệp của thành phố hiện nay chịu sự tác động của

nhiều yếu tố: diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần do nhu cầu phát triển các

KCN tập trung và xu hướng đô thị hóa, thời tiết một số năm diễn biến không

thuận lợi, dịch bệnh phát sinh trên diện rộng, giá tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

không ổn định… Nhờ triển khai, thực hiện kịp thời có hiệu quả các chính sách

phát triển nông nghiệp và đổi mới khu vực nông thôn của Đảng bộ thành phố; đẩy

mạnh thâm canh tăng vụ, vận động chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp

với từng vùng để tăng hiệu quả kinh tế, áp dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật tiên

tiến vào sản xuất,… nên giá trị sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển.

2.3.2.1. Trồng trọt

Năm 1975, thành phố có khoảng 3.200 ha đất gieo trồng, chiếm khoảng

20,5% diện tích đất tự nhiên. Đến năm 1985, nhờ tích cực khai hoang nên diện

tích đất trồng được mở rộng, tăng lên 3.893 ha.

Tuy nhiên từ sau năm 1986, diện tích đất nông nghiệp tăng không đáng kể.

Đến năm 2002 là 3.902,05 chiếm 25, 23% diện tích đất thành phố [38, tr 104], tập

trung chủ yếu ở Hiệp Hòa, Long Bình, Tân Hạnh, Bửu Long, Hóa An, Hố Nai,

Thống Nhất và một số phường xã khác.

Tuy nhiên trước sức ép của quá trình đô thị hóa, diện tích đất để trồng các

loại cây đang có xu hướng giảm (và trong tương lai sẽ còn giảm). Để thực hiện

mục tiêu đảm bảo lương thực thực phẩm cho thành phố và thích ứng với thực tiễn,

ngành nông nghiệp đã linh hoạt tìm con đường phát triển bằng cách chuyển đổi cơ

cấu cây trồng. Một số nơi diện tích trồng lúa được chuyển sang trồng rau đậu các

loại, các loại cây ngắn ngày để tăng vụ; đồng thời thành phố còn chú ý tăng diện

tích cây ăn trái gắn với quy hoạch du lịch sinh thái. Nhìn vào bảng số liệu diện

tích cây trồng hằng năm dưới đây để hình dung được sự chuyển đổi ấy.

Bảng 2.9. Diện tích các loại cây trồng của TP. Biên Hòa qua các năm

1985 – 2005

Năm 1985

Năm

Năm 2005

1995

Cây lương thực

3.164

1.837

888

ĐVT: ha

Cây củ có bột

489

126

20

Rau đậu các loại

1387

2291

2199

Cây công nghiệp hàng

504

227

40

năm

5544

4439

3147

Tổng

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Qua bảng số liệu, diện tích nhóm cây lương thực, cây củ có bột và cây công

nghiệp hàng năm đều giảm; riêng đối với diện tích trồng rau đậu các loại tăng.

Trong giai đoạn 10 năm 1986 – 1995, thực hiện chủ trương chuyển đổi cây trồng

của thành phố từ 1985 đến 1995, diện tích rau đậu các loại tăng nhanh, tuy nhiên

trong 10 năm sau từ 1995 đến 2005, diện tích có phần suy giảm.

Nguyên nhân là do sự phát triển, mở rộng quy mô sản xuất của các ngành

nghề thủ công – công nghiệp, tình trạng biến đất nông nghiệp thành đất định cư

của người dân. Đặc biệt từ năm 2000 trở lại đây, thành phố thực hiện phát triển

nông nghiệp sạch, trong đó quan tâm đến việc trồng rau an toàn. Kết quả là đã

hình thành các vùng chuyên canh rau xanh: xã Tân Hạnh, phường Tân Mai, Tân

Tiến, Tân Phong, Trảng Dài, Tam Hiệp phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người

dân.

Diện tích cây trồng của thành phố thay đổi, từ đó làm ảnh hưởng đến sản

lượng các loại cây trồng.

Bảng 2.10. Sản lượng các loại cây trồng của TP. Biên Hòa qua các năm

Năm 1985

Năm 1995

Năm 2005

3.303,6

6.235,1

9.482,2

1. Cây lương thực

3.137,6

6.020,4

9.477,0

- Lúa

166,0

214,7

5,2

- Bắp

171,0

888,3

3.029,8

2. Cây củ có bột

-

-

286,8

- Khoai lang

171,0

888,3

2.743,0

- Khoai mì

1985 – 2005 ĐVT: Tấn

35.095,3

25.449,6

13.616,3

3. Rau đậu các loại

35.061,7

25.335,3

13.510,7

- Rau các loại

33,6

114.,3

105,6

- Đậu các loại

72

412,8

5.142,4

4. Cây công nghiệp hàng

năm

72

223,0

442,2

- Đậu phộng

-

189,8

4.700,2

- Mía

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Đối với nhóm cây lương thực, năm 1985, do vừa bước ra khỏi chiến tranh,

đang trong giai đoạn khôi phục kinh tế, diện tích trồng cây lương thực so với các

nhóm cây khác là nhiều nhất (3.164 ha), sản lượng đạt được cũng rất cao, đứng

thứ hai (9.482,2 tấn), trong đó chủ yếu là sản lượng cây lúa, sản lượng cây bắp rất

thấp.

Đến năm 1995, do thực hiện chủ trương chuyển đổi cây trồng, giảm diện

tích trồng lúa, tăng diện tích trồng rau đậu nên diện tích trồng cây lương thực

giảm còn 1.837 ha, sản lượng cây lương thực cũng giảm, đạt 6.235,1 tấn; đến năm

2005 tiếp tục giảm về diện tích và sản lượng. Mặc dù vậy, nhóm cây lương thực

luôn giữ vị trí quan trọng thứ hai trong sự phát triển chung của ngành nông nghiệp

thành phố.

Phát triển nhanh và mạnh nhất là nhóm cây rau đậu các loại. Năm 1985,

diện tích trồng cây rau đậu là 1.387 ha (đứng thứ hai, sau nhóm cây lương thực),

sản lượng là 13.616,3 tấn – cao nhất. 20 năm sau, cả diện tích và sản lượng đều

tăng, đứng đầu so với các loại cây trồng khác (năm 2005: diện tích đạt 2.199 ha,

năng suất đạt 35.095,3 tấn) trong đó tập trung phát triển là các loại rau. Điều này

phần nào phản ánh chủ trương phát triển nông nghiệp của thành phố đã được thực

hiện đúng hướng, trong tương lai ngành nông nghiệp cần bám sát hơn nữa sự chỉ

đạo của thành phố, tăng sản xuất các loại rau an toàn, vệ sinh, vừa đảm bảo an

toàn cho người tiêu dùng vừa bảo vệ môi trường.

Riêng hai nhóm cây củ có bột và cây công nghiệp, nhìn chung trong 20

năm từ 1985 đến năm 2005, giảm cả diện tích lẫn sản lượng cây trồng. Diện tích

trồng cây công nghiệp hàng năm của Biên Hòa vào thời điểm năm 1985 cao,

chiếm 504 ha nhưng đến năm 2005, khi thành phố tập trung phát triển CN –

TTCN, TM - DV thì diện tích chỉ còn 40 ha. Đặc biệt là cây mía, nếu trước 1995

còn được sản xuất thì sau năm 1995 đã không được tiến hành trồng ở thành phố.

Đối với cây củ có bột, khoai lang cũng là loại sản phẩm tương tự.

2.3.2.2. Chăn nuôi

Trước năm 1986, việc chăn nuôi heo, bò, gia cầm phát triển nhưng cũng chỉ

đáp ứng được hơn một nửa nhu cầu tiêu dùng của người dân.

Đến tháng 12/1988, Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố đã xác định cơ cấu

kinh tế của thành phố, đồng thời đặt ra nhiệm vụ đối với nông nghiệp là phải đảm

bảo lương thực cho nhân dân, cung cấp nguyên liệu, nông sản hàng hóa cho thị

trường thành phố. Vì vậy trong suốt 20 năm qua, nông nghiệp thành phố, trong đó

có hoạt động chăn nuôi phát triển mạnh về số lượng đàn gia súc gia cầm so với

trước đổi mới.

Bảng 2.11. Số lượng đàn gia súc và gia cầm của TP. Biên Hòa qua các năm

1985 – 2005

Năm 1985

Năm 1995

Năm 2005

A. Đàn gia súc

24.969

102.919

164.714

- Đàn trâu

517

312

100

- Đàn bò

3.612

2.578

2.614

- Đàn heo

20.840

100.029

162.000

795

704

182

B. Đàn gia cầm

146

751

668

- Gà

27

39

30

- Vịt

9

5

6

- Ngan,

ngỗng

ĐVT: Con

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Qua bảng số liệu, giai đoạn từ năm 1986 – 1995 số lượng đàn gia súc và

gia cầm của Biên Hòa tăng rất nhanh, trung bình năm 1995 tăng hơn 4 lần so với

năm 1986.

Từ năm 1996 – 2005, tốc độ tăng chậm lại, đàn gia súc chỉ tăng 1,6 lần và

đàn gia cầm giảm. Riêng trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, ngành chăn

nuôi của thành phố chịu nhiều tác động, ảnh hưởng bởi dịch bệnh, đặc biệt là dịch

cúm gia cầm năm 2004 nên số lượng đàn gia cầm không tăng.

Do sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tập trung trồng các loại cây rau đậu, do

tình trạng thiếu đồng cỏ nên số lượng đàn trâu và đàn bò cũng có xu hướng giảm

qua các năm, nhất là đàn trâu. Trong 5 năm từ 1995 đến 2000, tốc độ phát triển

bình quân của đàn bò, trâu là 1,61 %, đàn bò tăng 2,49 % và đàn trâu tăng 7,46 %.

Việc chăn nuôi bò sữa ở thành phố gặp nhiều khó khăn về tiền vốn, thiếu nơi tiêu

thụ sản phẩm ổn định nên số lượng tăng không đáng kể, từ 137 con đến 155 con

[60, tr.1945].

Tuy nhiên, để phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ ngày càng nhiều của người

dân, đàn heo lại tăng nhanh. Với những thuận lợi về nguồn thức ăn chế biến và

mạng lưới thú y tuyên truyền phòng chống dịch bệnh phát triển rộng khắp các

phường, xã; công tác truyền giống, phối giống,… tạo động lực thúc đẩy sự phát

triển nhanh đàn heo và đàn gia cầm. Đến nay thành phố đã hình thành các vùng

chăn nuôi tập trung ở các phường: Long Bình, Hố Nai, Trảng Dài, có thể hạn chế

đến mức tối đa sự ô nhiễm mà hoạt động kinh tế này mang lại.

Hoạt động nuôi trồng thủy sản của thành phố trước năm 1986 có 77 ha, từ

sau năm 1986 được chú ý duy trì hàng năm với diện tích trên 100 ha, nhưng về cơ

cấu có thay đổi phù hợp với khả năng về kỹ thuật và điều kiện của thành phố.

Theo sự thống kê của thành phố Biên Hòa, dựa trên tình hình sản xuất thực tế,

ngành nông nghiệp thành phố đã đưa ra một số chỉ tiêu chủ yếu về nuôi trồng thủy

sản như sau:

Bảng 2.12. Một số chỉ tiêu nuôi trồng thủy sản của TP. Biên Hòa qua các

năm 1985 - 2005

1985

1990

1995

2000

2005

1) Diện tích nuôi trồng thủy sản

102

100

104

134

133

(ha)

- Cá

102

97

97

133

133

- Tôm

-

3

7

1

-

2) Sản lượng thủy sản (tấn)

300

397

472

507

1.975

- Cá

300

395

467

505

1.975

- Tôm

-

2

5

2

-

3) Nuôi cá bè

88

107

135

157

323

- Số hộ nuôi

136

181

238

280

631

- Số bè cá - Diện tích bè cá (m3)

2.448

3.258

4.284

5040

11.358

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Phát huy lợi thế của một thành phố có điều kiện tự nhiên nằm bên dòng

sông Đồng Nai, hoạt động nuôi cá và tôm được chú ý. Nhìn chung qua các năm,

sản lượng thủy sản thu hoạch đều tăng. Tăng mạnh nhất là giai đoạn từ năm 2000

– 2005, tổng sản lượng thủy sản tăng khoảng 3,8 lần, trong đó chủ yếu là cá.

Diện tích nuôi cá giống của thành phố nhiều, có biến động trong giai đoạn

từ năm 1990 đến 1995 (giảm từ 102 ha xuống 97 ha do người dân chuyển sang

nuôi trồng thử nghiệm tôm) nhưng đến năm 2000 đã đi vào ổn định với 133 ha. Số

hộ nuôi cá, số bè cá luôn đảm bảo tăng đều đặn. Vì vậy sản lượng cá cũng phát

triển thêm, riêng năm 2005 tăng mạnh, đủ cung cấp các loại cá giống cho tỉnh và

vùng lân cận.

Trong 10 năm từ 1990 đến 2000, tôm cũng được nuôi trồng nhằm làm tăng

sản lượng thủy sản chung của thành phố và cung cấp một phần nhu cầu của người

dân. Tuy nhiên từ năm 2000 trở lại đây, do điều kiện không thuận lợi, cộng với

người dân không có kinh nghiệm trong việc nuôi trồng, kết quả không cao nên đến

năm 2005, tôm đã không còn là loại thực phẩm có đóng góp cho giá trị nông

nghiệp của thành phố. Hiện nay do điều kiện giao thông vận tải thuận lợi, lượng

tôm ở thành phố chủ yếu có nguồn gốc từ các tỉnh miền Tây đưa về.

Quá trình đô thị hóa không chỉ tác động đến hoạt động sản xuất lương thực,

làm cho diện tích đất trồng các loại cây không tăng mà còn làm chậm lại quá trình

mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản. Để khắc phục điều đó, việc nuôi trồng thủy

sản của thành phố tập trung vào việc nuôi cá bè, số hộ nuôi cá bè liên tục phát

triển, nhất là trong vòng 5 năm qua, từ 157 hộ năm 2000 đến 323 hộ năm 2005; số

bè cá vì vậy tăng mạnh từ 280 bè cá đến 631 bè cá (gấp khoảng 2,2 lần trong khi

các năm trước đó có tăng nhưng không cao, cao nhất như năm 1995 cũng chỉ tăng

gấp 1,3 lần năm 1990).

Việc nuôi cá bè và công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản hiện nay được duy

trì tại các phường, xã tiếp giáp vùng sông nước đã góp phần tích cực trong việc

tạo ra sản lượng thủy sản hàng năm cao, phục vụ đủ nhu cầu tiêu thụ của nhân

dân, đảm bảo dinh dưỡng cần thiết cho mỗi bữa ăn, qua đó nâng cao chất lượng

cuộc sống. Năm 2005 thành phố đã hoàn chỉnh và triển khai đề án quy hoạch làng

cá bè phù hợp với cảnh quan sinh thái trên sông Đồng Nai; nhằm quản lý và bảo

vệ môi trường cảnh quan ven sông.

Cùng với hoạt động trồng trọt và chăn nuôi thì hoạt động dịch vụ nông

nghiệp qua các năm phát triển nhanh.

Nếu như trước năm 1986 chiếm khoảng 1,68% tổng giá trị sản xuất nông

nghiệp. Năm 1995 tăng nhẹ, đạt 1,8%. Tuy nhiên trong thời gian từ năm 1995 –

2005 phát triển nhanh hơn. Năm 2000 đạt 4.098 triệu đồng, chiếm 2,14% và đến

năm 2005 giá trị sản xuất dịch vụ nông nghiệp đạt 4.600 triệu đồng, nâng tỷ trọng

đóng góp lên 2,43% [40, tr.16].

Công tác thủy lợi được quan tâm đầu tư nâng cấp, xây dựng các công trình

kênh dẫn nước, trạm bơm Nhựt Hòa, hệ thống thoát nước Gò Me. Mặt khác, công

tác bảo vệ thực vật và khuyến nông, tập huấn kỹ thuật, khảo nghiệm, thực nghiệm

các loại giống cây trồng đã góp phần đáng kể trong việc phòng trừ sâu bệnh, đẩy

nhanh mức tăng trưởng cây con trong nông nghiệp.

Là đô thị công nghiệp có tỉ trọng đóng góp của ngành công nghiệp luôn cao

nhưng hoạt động lâm nghiệp vẫn được duy trì với chủ trương bảo vệ diện tích

trồng rừng, phát triển diện tích cây xanh, tập trung từng bước cân bằng môi trường

sinh thái. Để tăng thêm mảng xanh cho thành phố và tô điểm thêm vẻ đẹp cho đô

thị, hàng năm thành phố tổ chức trồng cây xanh dọc theo các tuyến đường phố và

trong các khu công nghiệp, các khu vực khai thác tài nguyên đất, đá, đồng thời

duy trì 7 ha khu vườn cây lưu niệm với các loại gỗ quý vừa tạo bóng mát, vừa trở

thành rừng phòng hộ môi trường cảnh quan cho thành phố.

Tóm lại, ngành nông nghiệp trong 20 năm đổi mới phát triển cùng với sự lớn

mạnh của thành phố Biên Hòa. Năm 2005 giá trị sản xuất nông nghiệp thành phố

tăng gấp 3,3 lần so với năm 1985, mức tăng bình quân giai đoạn 1986 – 2005 là

8,3%/năm [77, tr.154]. Tuy nhiên trong quá trình hiện đại hóa, so với tốc độ phát

phát triển của CN – TTCN và TM – DV, tốc độ phát triển của ngành NLTS chậm

hơn là phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

Giai đoạn từ 1995 - 2005, sản xuất nông nghiệp ở thành phố đã có sự thay

đổi lớn về số nhân khẩu. Cơ cấu GTSX nông nghiệp có sự chuyển dịch theo

hướng tăng tỷ trọng đóng góp của chăn nuôi (năm 1985 chăn nuôi chiếm 41,3%,

trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp, năm 1995 chiếm 51,21%, năm 2000 là

70,78% và năm 2005 lên tới 74,83%), đồng thời thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây

trồng.

Hiện nay, phát triển nông nghiệp phải gắn liền công nghiệp hóa, hiện đại

hóa, vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người dân, vừa đảm bảo

môi trường. Vì vậy, trong Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Biên Hòa lần thứ

IX (nhiệm kỳ 2005 – 2010) đã đưa ra phương hướng phát triển của lĩnh vực nông,

lâm, ngư nghiệp. Nội dung chủ yếu là tăng cường áp dụng các đề tài nghiên cứu

khoa học, tiếp tục triển khai trồng rau an toàn, phát triển cây ăn trái gắn liền với

du lịch sinh thái, giảm dần giá trị chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp. Chấm dứt

tình trạng chăn nuôi xen lẫn trong khu dân cư. Phát triển các mô hình nuôi trồng

thủy sản trên sông Đồng Nai đúng quy hoạch.

2.3.3. Chuyển biến về thương mại – dịch vụ

2.3.3.1. Thương mại

Trong nền kinh tế thành phố, hoạt động TM – DV đóng vai trò quan trọng

trong việc lưu thông hàng hóa và đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của người

dân.

Trước năm 1986 hoạt động phân phối lưu thông hàng hóa diễn ra ở hai khu

vực: quốc doanh và ngoài quốc doanh. Dù có sự khác nhau trong cơ chế, phương

thức hoạt động và hiệu quả nhưng lại có đặc điểm chung là chủ yếu dựa vào lượng

hàng từ trên giao và cấp xuống là chính. Vì vậy thương nghiệp thành phố không

chủ động được hoạt động thu mua, hoạt động phân phối lưu thông tách rời sản

xuất, việc phục vụ bó hẹp trong khu vực nông nghiệp nên chưa làm tốt chức năng

phân phối cho toàn xã hội. Năm 1985 tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt

432.265 triệu đồng [54].

Sau năm 1986, trong thời gian đầu đổi mới, Đại hội Đảng bộ thành phố Biên

Hòa lần thứ V xác định nhiệm vụ của ngành TM – DV là “phát triển thương nghiệp

quốc doanh, đặc biệt là hợp tác xã mua bán phường xã phải chuyển sang kinh

doanh, thay đổi phướng thức và phong cách kinh doanh có hiệu quả, nắm nguồn

hàng…có từ 40% hàng hóa sản xuất tại địa phương….” [58, tr.39,40]. Năm 1995

tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 1.299.884 triệu đồng, gấp 3 lần năm 1985.

Đến năm 1996, Đại hội Đảng bộ thành phố Biên Hòa lần thứ VII xác định lại

mục tiêu của ngành TM - DV thành phố là phải phát triển theo hướng cung ứng

nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm cho các vùng công nghiệp trong tỉnh. Điều này đòi

hỏi sự nỗ lực rất lớn của ngành. Đồng thời phát triển mạng lưới bán lẻ nhỏ khắp

vùng dân cư, khu công nghiệp, tăng nhanh tố độ phát triển các loại hình dịch vụ.

Nhờ có được sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời đó nên từ năm 1996 – 2005, tốc

độ phát triển của ngành luôn vượt so với chỉ tiêu. Năm 2005 đạt 7.743.500 triệu

đồng, gấp 18 lần so với năm 1985 và gấp 5 lần so với năm 1995.

Trong 5 năm từ 1995 – 2000, hoạt động TM – DV có tốc độ phát triển bình

quân là 14,10%/năm, từ năm 2001 – 2005 chỉ số phát triển là 15,24%/năm và

chiếm hơn 57% giá trị tăng thêm ngành TM – DV toàn tỉnh, đóng góp gần 80%

giá trị xuất khẩu của tỉnh.

Thương nghiệp quốc doanh từ chỗ bị động, kém phát triển, sau một thời

gian đổi mới đã được khôi phục, hoạt động có hiệu quả, góp phần tích cực tham

gia ổn định và điều hòa giá cả, hàng hóa trên thị trường.

Hiện nay có nhiều quầy hàng, cửa hàng, đại lý,… thuộc thương nghiệp

quốc doanh được mở nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng và yêu cầu sản xuất của

người dân, đồng thời thu mua các loại nông sản hàng hóa của các cơ sở sản xuất.

Năm 2005, thương nghiệp quốc doanh trên địa bàn chiếm 24,65% giá trị toàn

ngành, mức tăng bình quân hàng năm là 21,76%/năm [61, tr.82]. Năm 2000 thành

phố có 17 đơn vị doanh nghiệp (tăng 1 so với năm 1995) với 2.450 lao động, trong

đó nổi bật lên công ty Dịch vụ Môi trường đô thị Biên Hòa đã đầu tư trên 4 tỉ

đồng để trang bị các loại xe chuyên dùng phục vụ quản lý điện và thu gom rác.

Điều đó cho thấy ý thức về xây dựng cơ sở hạ tầng và bảo vệ môi trường của

thành phố cao.

Ngoài ra còn có công ty Thương mại – dịch vụ Biên Hòa, hiện có 10 đơn vị

trực thuộc kinh doanh hàng tiêu dùng, dịch vụ ăn uống khách sạn, giải trí du lịch,

dịch vụ in ấn. Tuy nhiên do được hình thành trên cơ sở giải thể, sáp nhập của một

số đơn vị nên nguồn vốn hạn chế, cơ sở vật chất xuống cấp, phân tán, việc mở

rộng quy mô kinh doanh gặp nhiều khó khăn.

Thương nghiệp ngoài quốc doanh phát triển rất nhanh. Năm 1985 toàn

thành phố có 4.159 đơn vị kinh doanh, đến năm 1995 là 8.207 đơn vị (trong đó có

91 doanh nghiệp, số còn lại là hộ cá thể) với tổng số lao động gần 12 ngàn người,

năm 2005 nâng lên 20.302 đơn vị (gồm 505 doanh nghiệp và 19.802 hộ cá thể)

thu hút trên 35.000 lao động.

Với phạm vi trải rộng từ các chợ đến các quầy bán lẻ trong dân cư ở từng

khóm, ấp, xã, thương nghiệp ngoài quốc doanh là khu vực rất năng động, nhạy

bén trong việc chuyển đổi cơ cấu mặt hàng, linh hoạt trong việc huy động các

nguồn vốn, đã góp phần điều hòa hàng hóa đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

Để duy trì và đẩy mạnh giá trị đóng góp của ngành TM – DV trong tổng

GTSX các ngành kinh tế, hiện nay thành phố đã lập nhiều phương án kêu gọi,

khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các thành phần kinh tế đầu tư mở

rộng các loại hình dịch vụ, thương mại, nhất là các loại hình dịch vụ mới, cao cấp

với quy mô lớn, hiện đại. Đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của khối doanh

nghiệp nhà nước để giữ vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đảm bảo phát triển

theo định hướng XHCN

2.3.3.2. Hoạt động xuất nhập khẩu

Đô thị hóa là một quá trình gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ

nông nghiệp sang các lĩnh vực khác. Ở thành phố Biên Hòa, quá trình đô thị hóa

gắn liền với sự phát triển, mở rộng của hoạt động ngoại thương.

Trong những năm đầu sau ngày giải phóng, giá trị xuất khẩu của thành phố

nhìn chung tăng nhưng chậm, năm 1984 đạt 64.075.000 đồng [62, tr.267].

Từ năm 1986 - 1995 hoạt động xuất nhập khẩu của Biên Hòa chủ yếu là ủy

thác, kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1995 có tăng so với năm 1985 nhưng giá trị

xuất khẩu ở mức thấp.

Từ sau năm 1995, thành phố chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế

với các nước trên thế giới. Việc Việt Nam gia nhập vào tổ chức ASEAN đã tạo

nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố mở rộng thị trường

xuất khẩu ra bên ngoài. Từ đó tăng nhanh khối lượng hàng hóa xuất khẩu truyền

thống (như gốm sứ, hàng nông sản) và phát triển thêm một số mặt hàng mới (như

giày dép, đồ gỗ, hàng may mặc).

Ngoài ra đã có sự tham gia xuất khẩu của khu vực công nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài với các sản phẩm: giày thể thao, dệt may, linh kiện điện tử, máy

tính,… Hiện nay, trong xu thế hội nhập và mở cửa quốc tế, thị trường xuất khẩu

hàng hóa của thành phố được mở rộng, sang cả các nước Châu Âu như Anh, Pháp,

Đức, Hà Lan,… và Châu Mĩ, vừa góp phần thúc đẩy nền kinh tế thành phố đi lên,

vừa là dịp để giới thiệu về đất nước, quê hương với bạn bè thế giới.

Năm 1995 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 473,7 triệu USD, đến năm

2000 đạt 2.021,3 triệu USD, tốc độ tăng bình quân là 33,67%, vượt mục tiêu

18,33%. Trong 5 năm từ 2000 – 2005, tốc độ phát triển hoạt động xuất nhập khẩu

giảm so với giai đoạn 1995 – 2000, đạt 19,06%/năm, tuy nhiên vẫn vượt mục tiêu

mà nghị quyết thành phố đề ra (11% - 12%). Nguyên nhân là do sự biến động, suy

thoái của nền kinh tế thế giới đã tác động đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và

thành phố Biên Hòa nói riêng [60, tr.149]. Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu trên

địa bàn thành phố đạt 2.411,6 triệu USD (tăng 10,6 lần năm 1995) và chiếm 77,5

% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh Đồng Nai. Điều đó cho thấy giá trị xuất khẩu

của thành phố có đóng góp rất lớn cho nền kinh tế của tỉnh. Bình quân mỗi năm

giai đoạn 1996 – 2005 xuất khẩu tăng 26,6%.

Cùng với xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu tiếp tục phát triển nhanh trong

thời gian qua. Năm 2005 kim ngạch nhập khẩu đạt 3.145,9 triệu USD (chiếm

81,3% kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn tỉnh) và tăng 15,2 lần so với năm 1995

đạt mức bình quân 31,3%/năm. Sự tăng trưởng, phát triển liên tục của hoạt động

xuất nhập khẩu chứng tỏ Biên Hòa là một thành phố có nền kinh tế năng động và

tăng trưởng nhanh.

2.3.3.3. Hoạt động dịch vụ

Sự phát triển của một thành phố trong quá trình tiến lên đô thị hóa, ngoài

việc căn cứ vào tỉ trọng đóng góp của các ngành kinh tế, vào tỉ lệ tăng dân số,…

thì hoạt động dịch vụ cũng phần nào phản ánh mức độ phát triển kinh tế và đời

sống người dân.

Trước đổi mới 1986, do thực hiện cơ chế bao cấp nên việc trao đổi, buôn

bán hàng hóa ở các chợ diễn ra bị hạn chế.

Sau đổi mới, các chợ mọc lên nhiều ở tận các phường, xã, nhất là từ năm

1995, khi nền kinh tế thành phố phát triển mạnh, lượng hàng hóa được bày bán

với số lượng nhiều, mặt hàng đa dạng, phong phú.

Theo khảo sát của UBND thành phố, năm 2005 thành phố có 46 chợ, riêng chợ loại I và II chiếm 47.663 m2. Tuy nhiên đa số các chợ được xây dựng từ lâu

nên cơ sở vật chất đều xuống cấp, công tác phòng cháy, chữa cháy và vệ sinh

kém, công tác quy hoạch ở một số nơi chưa hợp lý.

Vì vậy thành phố đang tiến hành sửa chữa, nâng cấp các chợ theo quy

hoạch giai đoạn 2000 – 2010 có 25 chợ, trong đó 2 chợ loại I, 6 chợ loại II và 17

chợ loại III, giải tỏa các chợ lấn chiếm lòng, lề đường ảnh hưởng đến trật tự giao

thông. Tiêu biểu giai đoạn từ năm 2000 – 2005, thành phố hoàn thành xây dựng

mới chợ đầu mối Hóa An và đang thi công xây dựng lại chợ Biên Hòa, chợ Sặt.

Để thu hút vốn đầu tư, thành phố triển khai thực hiện đa dạng hóa các thành phần

kinh tế tham gia đầu tư kinh doanh khai thác chợ theo Nghị định 02/CP. Kết quả

có 2 chợ đã được giao cho doanh nghiệp nhà nước kinh doanh khai thác.

Là một thành phố công nghiệp, văn minh, ngoài việc sắp xếp lại mạng lưới

chợ, từ năm 1998 đến nay trên địa bàn thành phố phát triển mô hình siêu thị. Sớm

nhất và có diện tích lớn nhất là siêu thị Cora (sau đổi tên là Big C) tại khu trung

tâm thương mại ngã tư Vũng Tàu, ngoài ra còn có siêu thị liên doanh giữa

Bihimex và Sài Gòn Co.op, khu thương xá tại phường Thanh Bình và khu liên

hợp TM – DV tại phường Tân Mai, góp phần làm cho hoạt động TM – DV trên

địa bàn thêm phong phú, đa dạng, tạo nên bộ mặt hiện đại cho thành phố. Đồng

thời thu hút nguồn lao động tại chỗ, tạo cơ hội giải quyết việc làm cho người dân.

Hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố mặc dù chưa phải là ngành kinh

tế quan trọng nhưng cũng có bước phát triển nhanh về các mặt trong những năm

qua.

Năm

Năm

Năm

Năm

1990

1995

2000

2005

Số khách sạn

5

5

5

12

- Số giường

238

245

259

575

- Số phòng

153

158

164

302

Số xe phục vụ khách

9

9

11

15

du lịch

Bảng 2.13. Cơ sở vật chất phục vụ ngành du lịch của TP. Biên Hòa

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Qua bảng số liệu, trong vòng 10 năm từ 1990 – 2000, số khách sạn, số

giường, số phòng và số xe phục vụ khách du lịch tăng không đáng kể; từ năm

2000 đến 2005, trong 5 năm số khách sạn tăng vọt, gấp hơn 2 lần, kéo theo là sự

tăng thêm về số giường, số phòng.

Trong giai đoạn 1991 – 2005, lượt khách du lịch tăng bình quân là 10,8%,

doanh thu tăng bình quân đạt 7,2%.

Theo khảo sát năm 2005, thành phố có một khách sạn 3 sao, 2 khách sạn 2

sao, 1 khách sạn 1 sao. Tuy nhiên những con số đó còn rất khiêm tốn, chưa thể

hiện được vị trí, vai trò quan trọng của thành phố Biên Hòa đối với toàn tỉnh và

các thành phố khác, chưa tương xứng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế

trong quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa.

Để thu hút khách du lịch và phục vụ nhu cầu giải trí của người dân, thành

phố Biên Hòa đã tiến hành đầu tư phát triển một số tuyến, điểm du lịch mới: Văn

miếu Trấn Biên, bến đò An Hảo, bến đò Nguyễn Văn Trị để khai thác tuyến du

lịch dọc sông Đồng Nai. Đồng thời tiến hành xây mới và nâng cấp các công viên

cây xanh, các khu vui chơi hiện hữu như khu du lịch Bửu Long, công viên quảng

trường tỉnh, công viên Biên Hùng và các công viên khác; tiến hành xây dựng các

dự án đầu tư khai thác các khu dịch vụ du lịch sinh thái: Cù lao Ba Xê, Cù lao Cỏ,

Cù lao Hiệp Hòa,… Hiện nay thành phố đã rà soát quy hoạch đất cho ngành TM –

DV để đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư bằng nhiều hình thức khác nhau.

Các dịch vụ như: vận tải, xây dựng, bưu điện, dịch vụ phục vụ các khu

công nghiệp tiếp tục phát triển. Nhiều thành phần kinh tế đã tham gia phát triển

với một số loại hình dịch vụ như tin học, tư vấn, xây dựng, giáo dục – đào tạo

(trong 5 năm 2000 – 2005 phát triển 4 trường dân lập), ngân hàng và tín dụng, vệ

sinh môi trường, đặc biệt loại dịch vụ xây nhà ở cho công nhân các KCN, nhà ở

cho thuê, nhà ở phục vụ tạm cư, phục vụ tái định cư, nhà ở cho hộ có thu nhập

thấp.

Riêng về dịch vụ cho thuê phòng trọ phát triển rất nhanh ở nơi có nhiều

KCN và chủ yếu là tự phát trong nhân dân. Nguyên nhân là do tốc độ đô thị hóa

nhanh và sự phát triển mạnh các KCN trên địa bàn thành phố đã thu hút một

lượng dân từ các vùng, tỉnh thành khác đến. Nếu như năm 2000 có khoảng 2000

hộ kinh doanh phòng trọ với gần 7000 phòng [60, tr.151] thì đến năm 2005 đã lên

đến 5000 hộ (tăng gấp 2,5 lần), chưa tính đến các nhà tập thể của các doanh

nghiệp xây dựng cho thuê hoặc nhà ở tập thể của công ty, xí nghiệp.

Tuy nhiên căn cứ theo quy định ban hành kèm theo Quyết định 4231 của

UBND tỉnh thì đa số các điểm kinh doanh cho thuê phòng trọ đều không đảm bảo

đủ điều kiện nên không được tỉnh cấp giấy phép kinh doanh. Đây là bài toán khó

cho thành phố mà quá trình đô thị hóa đem lại, có ảnh hưởng rất lớn đến chất

lượng cuộc sống của một bộ phận dân cư và các vấn đề xã hội khác.

Tóm lại, trong giai đoạn từ 1986 – 2005, ngành TM – DV của thành phố

liên tục phát triển, mạnh nhất là từ 1995 đến nay. Do thực hiện chính sách mở cửa

thông thoáng, tháo gỡ chế độ bao cấp nên hoạt động trao đổi, buôn bán hàng hóa

trong và ngoài nước diễn ra mạnh mẽ, lượng hàng hóa trên thị trường dồi dào và

đa dạng, phong phú; tình hình xuất nhập khẩu tăng mạnh kéo theo hoạt động dịch

vụ cũng tăng.

Sự phát triển của TM – DV đã thu hút một bộ phận dân cư từ sản xuất nông

nghiệp và di dân từ các vùng ra thành thị, góp phần giải tỏa áp lực công ăn việc

làm và lao động thất nghiệp, các khu dân cư – thương mại - vui chơi giải trí mọc

lên nhiều làm cho bộ mặt thành phố thay đổi. Đó là sự chuyển đổi đúng hướng

trong quá trình phát triển đô thị của thành phố, giảm dần vai trò của sản xuất nông

nghiệp và tăng dần tỉ trọng đóng góp của CN - TTCN, DV - TM.

Bên cạnh đó thành phố Biên Hòa cũng có những hạn chế nhất định trong

thời gian qua như hoạt động dịch vụ còn yếu kém so với tiềm năng, chưa quản lý

được hiện tượng cho thuê phòng trọ,…

Vì vậy, nhiệm vụ hiện nay của ngành TM – DV là tiếp tục nâng tỷ trọng

trong cơ cấu GTSX các ngành kinh tế. Ưu tiên phát triển những ngành dịch vụ có

tính chất mũi nhọn, đột phá như dịch vụ nhà ở cho các đối tượng tái định cư, công

nhân, sinh viên, chuyên gia nước ngoài làm việc trong các KCN; phát tiển mạng

lưới chợ, siêu thị, trung tâm thương mại – dịch vụ; phát triển hệ thống giao thông

* Tiểu kết chương 2

phục vụ công nhân và dân cư; phát triển dịch vụ y tế kỹ thuật cao.

Đô thị hóa là một quá trình, trong 20 năm qua đã tác động sâu sắc đến sự

phát triển của thành phố, làm thay đổi nhanh chóng cảnh quan và môi trường. Nhà

cửa khang trang mọc san sát, phố liền phố thay thế dần các vườn cây nông nghiệp

hoặc những vùng đất bỏ hoang. Hệ thống cơ sở hạ tầng - kỹ thuật: điện, nước,

giao thông ngày càng được mở rộng, phổ biến, hiện đại. Cơ cấu kinh tế chuyển

dịch theo hướng giảm tỉ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất CN -

TTCN, TM - DV.

Trong lĩnh vực công nghiệp, ưu tiên phát triển công nghiệp nhẹ và công

nghiệp truyền thống, đẩy mạnh xuất khẩu, thực hiện tốt các chính sách mở cửa thu

hút vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN. Trong nông nghiệp, nét nổi bật là đang

hình thành các vùng trồng rau sạch, an toàn và các trang trại chăn nuôi tập trung.

Hoạt động thương mại diễn ra sôi động, việc mua bán trao đổi hàng hóa không

ngừng phát triển thông qua hệ thống các chợ, siêu thị.

Tuy nhiên đô thị hóa đã và đang đặt ra nhiều vấn đề, tạo ra áp lực đối với

công tác quản lý. Để phát triển lâu dài, thành phố cần tăng cường áp dụng các

thành tựu khoa học - công nghệ vào trong sản xuất để nâng cao chất lượng sản

phẩm, tạo khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Đồng thời để đẩy mạnh hoạt

động du lịch, quảng bá hình ảnh về một Biên Hòa có truyền thống lịch sử, có nền

kinh tế công nghiệp phát triển năng động, cần chú ý kết hợp giữa du lịch sinh thái

trên sông Đồng Nai với các điểm du lịch văn hóa (Bửu Long, Trấn Biên) và tham

quan các KCN.

Chương 3

CHUYỂN BIẾN VỀ DÂN CƯ VÀ ĐỜI SỐNG

DÂN CƯ Ở THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TRONG

QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA (1986 – 2005)

3.1. Sự phát triển dân số và lao động

3.1.1. Sự phát triển dân số

Theo từ điển tiếng Việt, đô thị hóa là “quá trình tập trung dân cư ngày càng

đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của

xã hội”. Như vậy, “dân số đô thị là động lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế,

văn hóa, xã hội của đô thị, là cơ sở để phân loại đô thị trong quản lý và xác định quy

mô đất đai của đô thị, để xác định khối lượng nhà ở, công trình công cộng cũng như

mạng lưới công trình kỹ thuật khác” [66, tr.93]. Với vai trò quan trọng nêu trên, sự

phát triển dân số chính là một cơ sở để dựng lại bức tranh đô thị hóa ở thành phố

Biên Hòa.

Sau ngày đất nước giải phóng, thành phố Biên Hòa đứng trước nhiều khó

khăn. Để giải tỏa bớt áp lực, nhất là về dân số, thành phố đã tạo điều kiện cho 10

vạn người trở về quê cũ và đi lập nghiệp vùng kinh tế mới. Ngoài ra thành phố còn

tổ chức đưa hơn 300 thanh niên xung phong về các nông trường của tỉnh khai hoang

mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp. Vì vậy dân số thành phố giai đoạn 1975 –

1980 tăng không đáng kể.

Tuy nhiên trong 5 năm sau đó từ 1980 – 1985, do sự trì trệ của nền kinh tế kế

hoạch tập trung, bao cấp trên cả nước lên đến đỉnh điểm khiến cho đời sống của

người dân lâm vào tình trạng khó khăn và bị đe dọa, một lượng di dân từ những

vùng nông thôn và các tỉnh khác đã đổ về đây với hi vọng có được một cuộc sống

“dễ thở” hơn. Quy mô dân số lại tăng, từ 242.762 người năm 1980 đến 290.841

người năm 1986. Trong khi đó, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố từ năm

1980 trở đi luôn giảm đều do cuộc sống khó khăn và kết quả của chính sách vận

động sinh đẻ có kế hoạch (từ 2,34% năm 1980 đến năm 1985 giảm xuống 2,11%).

Từ năm 1986, Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần VI quyết định công

cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, trong đó nhiệm vụ ưu tiên là phải xóa bỏ cơ chế

quản lí kinh tế bao cấp, quan liêu để tiến lên nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.

Nắm bắt chủ trương của Đảng, Đảng bộ thành phố nhanh chóng xác định mục tiêu

phát triển của Biên Hòa là phải ưu tiên phát triển công nghiệp; mở rộng sản xuất.

Đây chính là động lực đẩy nhanh quá trình đô thị hóa diễn ra.

1985

1990

1995

2000

2005

- Dân số (người)

290.841

363.843

423.824

484.667

505.595

- Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên

2,11

1,95

1,72

1,26

1,13

(%)

- Tỉ lệ tăng dân số cơ học (%)

0,35

1,04

2,35

3,96

0,67

Bảng 3.1. Tình hình dân số TP. Biên Hòa qua các năm 1985 - 2005

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

[77, tr.375], [61 tr.164]

Nhìn vào bảng số liệu, từ năm 1985 cho đến năm 2000 số dân của thành phố

Biên Hòa tăng mạnh. Trong 5 năm từ năm 2000 – 2005 tốc độ tăng chậm lại (tăng

20.935 người trong khi các giai đoạn 5 năm trước tăng ít nhất khoảng 60.000

người).

Năm 1985, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên cao 2,11%. Tuy nhiên sau năm 1986, tỉ

lệ tăng dân số tự nhiên luôn giảm, đặc biệt giảm mạnh trong 5 năm từ 1995 – 2000

(từ 1,72% xuống 1,26%). Việc giảm tỉ lệ tăng dân số tự nhiên còn phản ánh sự

chuyển biến trong đời sống tinh thần của cư dân đô thị, vì từ lâu người Việt Nam

vẫn có quan niệm “trời sinh voi sinh cỏ”.

Trong khi đó tỉ lệ tăng dân số cơ học lại phát triển đều. Điều đó chứng tỏ sự

phình ra của quy mô dân số thành phố chủ yếu do sự nhập cư của lượng di dân từ

nhiều nơi khác nhau. Năm 1995 Đảng bộ thành phố chủ trương mở rộng quan hệ

hợp tác kinh tế với các nước, các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đã mở rộng

thị trường xuất khẩu đến hơn 20 nước trên thế giới, đồng thời khu vực có vốn đầu tư

nước ngoài cũng được tham gia vào thị trường xuất khẩu nên nhu cầu tuyển dụng

lao động cao, vì vậy sự tăng lên mạnh mẽ của lượng dân nhập cư là điều dễ hiểu.

Riêng từ năm 2000 - 2005, tỉ lệ tăng dân số cơ học giảm so với các giai đoạn

trước đó (còn 0,67% năm 2005). Nguyên nhân là do sự cạnh tranh của nhiều KCN

mới ngoài địa bàn thành phố Biên Hòa như Gò Dầu, Nhơn Trạch, Bình Dương,…

và chủ trương phát triển kinh tế CN - TTCN của các địa phương đã lôi kéo bộ phận

dân cư ở lại quê hương.

Sự phân bố dân cư không đều, tập trung ở các phường nội thành cũ như

Trung Dũng, Thanh Bình, Quyết Thắng, Hòa Bình, Quang Vinh, mật độ trung bình hơn 10.000 người/1km2. Đối với các phường mới phát triển mở rộng và các xã ngoại ô, sự phân bố dân cư thưa dần với mật độ trung bình khoảng 2000 người/km2, thấp nhất là phường Long Bình chỉ có 867người/km2 (tuy nhiên nếu trừ đi phần diện tích 1.666.58 ha đất quốc phòng thì mật độ trung bình là 1665 người/km2).

Theo dõi bảng 3.2 để thấy rõ hơn:

Bảng 3.2. Hiện trạng dân số và diện tích các phường, xã ở TP. Biên Hòa

Tên phường xã

Diện tích Số khẩu

Mật độ

Phân loại

(người/km2)

(ha)

(người)

P.Trung Dũng

82,67

17.715

21.429

Loại 1: trên 16000 người/km2

P.Thanh Bình

36,25

6.471

17.851

P.Hòa Bình

55,06

8.994

16.335

P.Tam Hòa

121,77

17.391

14.288

P.Tân Mai

135,22

17.678

13.045

P.Tam Hiệp

220,12

26.378

11.983

Loại 2: từ 11000 - 15000 người/km2

P.Quang Vinh

110,96

12.991

11.708

P.Quyết Thắng

137,17

15.674

11.427

P.Bình Đa

124,04

13.957

11.252

theo tổng điều tra 1999

P.Tân Tiến

131,41

12.920

9.832

P.Tân Hòa

410,28

28.803

7.020

P.Hố Nai

389,13

24.492

6.294

Loại 3: từ 6000 - 10000 người/km2

P.Thống Nhất

341,32

19.804

5.082

P.Tân Biên

614,44

28.567

4.469

P.Tân Hiệp

343,23

12.160

3.834

P.Bửu Hòa

408,10

15.290

3.747

P.Tân Vạn

443,66

12.718

2.867

Loại 4: từ 2000 - 5000 người/km2

P.An Bình

1040,47

29.646

2.849

P.Bửu Long

575,42

14.615

2.540

X.Hóa An

682,40

14.317

2.098

P.Long Bình Tân

1143,87

20.416

1.785

P.Tân Phong

1686,18

26.432

1.568

X.Hiệp Hòa

694,65

9.948

1.432

Loại 5: dưới 2000 người/km2

X.Tân Hạnh

609,42

6.970

1.144

P.Trảng Dài

1429,17

15.420

1.079

P.Long Bình

3500,12

30.338

867

THÀNH THỊ

429.870

3.188

Kể cả

lực

lượng

công an, bộ đội,

NÔNG THÔN

31.235

1.572

tổng số là 467.318

TỔNG

15466,77

461.105

2.981

người

Nguồn: [38, tr.107]

Những phường được xếp vào loại 1 và loại 2 là những phường có quá trình

đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ và sớm, tập trung các cơ quan hành chính của thành phố

và tỉnh, hoạt động thương mại và dịch vụ phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại,

nên mật độ dân cư cao.

Những phường, xã xếp ở nhóm thứ 4 và thứ 5 có diện tích rộng hơn, nhưng

phát triển muộn nên mật độ dân cư thấp hơn. Tuy nhiên những phường này hiện nay

có tốc độ đô thị hóa cao, hầu hết lượng dân nhập cư từ các tỉnh khác đến thành phố

đều chọn Long Bình, Trảng Dài hay Long Bình Tân làm nơi định cư do chi phí sinh

hoạt thấp, lại gần những KCN mới như Amata, Loteco, Biên Hòa 2.

Sự phát triển của một đô thị nếu chỉ dựa trên sự phát triển dân số thì không

đủ mà phải được căn cứ trên tỉ lệ số dân phân theo khu vực thành thị và khu vực

nông thôn. Một thành phố có quá trình đô thị hóa phát triển thì dân số cũng sẽ

chuyển dịch từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị, gắn liền với các hoạt

Bảng 3.3. Số dân thành thị và nông thôn ở TP. Biên Hòa qua các năm 1980 - 2005

1980

1985

1990

1995

2000

2005

- Khu vực thành

56.442

70.820

317.414

396.840

453.377

505.595

thị (Người)

- Tỉ lệ (%)

23,25

24,35

87,24

93,63

93,54

93,37

- Khu vực nông

186.320

220.021

46.429

26.984

31.290

35.900

thôn (Người)

- Tỉ lệ (%)

76,75

75,65

12,76

6,37

6,46

6,63

động sản xuất phi nông nghiệp. Ở Biên Hòa, tỉ lệ ấy được thể hiện như sau:

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Trước năm 1986, số dân của thành phố Biên Hòa ở khu vực thành thị không

nhiều, chiếm tỉ lệ dưới 25% và tăng chậm.

Trong 5 năm từ 1986 – 1990 dân số khu vực thành thị tăng đột biến, dân số

khu vực nông thôn giảm mạnh do chủ trương đổi mới của Đảng bộ xác định lấy CN

– TTCN, TM – DV làm nhiệm vụ ưu tiên phát triển hàng đầu. Ngoài ra, sau một

thời gian từ năm 1975 – 1985 mặc dù thành phố luôn nỗ lực đảm bảo lương thực –

thực phẩm cho người dân nhưng kết quả không khả quan khiến cho tâm lí của một

bộ phận dân cư chán nản; đúng lúc nhà nước tiến hành cải cách nên họ được “bung”

ra để sản xuất, tham gia vào các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp.

Trong 5 năm tiếp theo, dân số thành thị tiếp tục tăng do năm 1995 thành phố

có sự thay đổi trong quản lý hành chính, tăng đơn vị phường, giảm đơn vị xã.

Từ năm 1995 – 2005, số dân giữa khu vực nông thôn và thành thị có sự do

động nhẹ. Tuy nhiên nếu so sánh các tỉ lệ này với tỉ lệ chung của một đô thị là có

trên 65% dân số không tham gia vào ngành kinh tế nông nghiệp thì Biên Hòa là một

thành phố có quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ (năm 1999, số dân thành thị của

tỉnh Đồng Nai là 30,5%, cả nước là 23,5%).

Như vậy ở Biên Hòa, song song với sự phát triển về quy mô dân số, quá trình

chuyển dịch dân cư từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị diễn ra mạnh mẽ.

Điều đó nói lên quá trình đô thị hóa của thành phố ngày càng đi vào chiều sâu.

3.1.2. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động

Như đã trình bày ở trên, số dân của thành phố liên tục tăng từ năm 1986 trở

lại đây, trong đó chủ yếu là do lượng dân nhập cư từ các huyện trong tỉnh, các tỉnh

thành khác đến. Họ tham gia vào hoạt động của các xí nghiệp, nhà máy trong các

KCN tập trung. Trên cơ sở ấy có thể khẳng định rằng ở Biên Hòa lực lượng lao

động dồi dào. Chỉ trong 5 năm từ 1990 đến năm 1995, nguồn lao động tăng khoảng

79.000 người trong các ngành kinh tế quốc dân (tăng 71,8% trong 5 năm, trung bình

14,4%/năm). Từ năm 1995 đến năm 2000 tăng 41.2000 lao động, bình quân

4,4%/năm.

Mặc dù số lượng người lao động tăng cao qua các năm nhưng thành phố có

rất nhiều nỗ lực trong công tác giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần

giảm tỉ lệ thất nghiệp và ổn định cuộc sống người dân.

Bảng 3.4. Giải quyết việc làm cho người lao động ở TP. Biên Hòa

Thời kì 1991 - 1995

Thời kì 1996 - 2000

Thời kì 2001 - 2005

Chỉ tiêu

46.339

82.736

85.338

3.229

17.275

4.65

19.603

21.028

14.155

Tổng số Lao động vào làm việc ở doanh nghiệp nhà nước Lao động vào làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh Lao động làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

14.428

30.126

24.418

Giải quyết việc làm tại chỗ

9.079

14.067

41.772

Xuất khẩu lao động

-

343

240 Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

ĐVT: Người

Trong các thời kì, tổng số lao động được giải quyết việc làm luôn tăng. Đặc

biệt thời kì 1996 – 2000, do sự bung ra, mở cửa của nền kinh tế, thành phố Biên

Hòa tiến hành quy hoạch, phát triển nhiều KCN nên số người có việc làm tăng

nhanh và cao, gần gấp đôi 5 năm thời kì 1991 – 1995. Điều đó chứng tỏ Biên Hòa

luôn là thành phố có sức hút mạnh đối với người lao động, đồng thời góp phần đẩy

nhanh quá trình hiện đại hóa, ổn định và nâng cao đời sống người dân.

Lao động chủ yếu được đưa vào làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc

doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và giải quyết việc làm tại chỗ theo

các chương trình, mục tiêu quốc gia. Tỉ lệ xuất khẩu lao động ra nước ngoài thấp.

Trước năm 1995 thành phố không có số liệu thống kê. Sau năm 1995 đã đưa được

lao động ra nước ngoài làm việc nhưng ít.

Về năng suất và trình độ lao động, qua số liệu điều tra toàn diện về “Lực

lượng chuyên môn kĩ thuật năm 1995” do Cục Thống kê và Sở khoa học công nghệ

và môi trường Đồng Nai phối hợp tổ chức, kết quả thành phố Biên Hòa là nơi tập

trung chủ yếu về lực lượng chuyên môn và kĩ thuật của tỉnh, chiếm tỉ lệ chung là

51,10%/năm, trong đó nhiều nhất là lao động có trình độ tiến sĩ (chiếm 91% của

tỉnh), kế đến là lao động có trình độ cao học – thạc sĩ (79%).

Trình độ chuyên môn

Số lượng

Cơ cấu (%)

So với toàn

(người)

tỉnh

61%

46

8.889

- Sơ cấp – công nhân kĩ

39%

27

5.195

thuật

39%

6

1.217

- Trung học chuyên nghiệp

62%

20.5

3.849

- Cao đẳng

79%

0,4

43

- Đại học

91%

0,1

11

- Cao học – thạc sĩ

- Tiến sĩ

19.202

100%

51,10%

Tổng cộng

Bảng 3.5. Trình độ của lực lượng lao động ở TP. Biên Hòa

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Qua bảng số liệu, lao động có trình độ kĩ thuật sơ cấp chiếm tỉ lệ cao nhất

(46%), chiếm tỉ lệ thấp nhất là lao động có trình độ tiến sĩ (0,4%). Tuy nhiên đặt

trong bối cảnh quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ thì trình độ lực

lượng lao động theo cơ cấu chưa thật sự thích hợp, lực lượng công nhân có tay nghề

kĩ thuật còn thấp, không tương xứng với vai trò của một đô thị công nghiệp trong cả

nước. Nếu xuất phát từ thực tiễn hoạt động của hàng trăm ngàn công nhân đang làm

việc trong các khu công nghiệp, đặc biệt các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có

thể thấy rằng khả năng thích ứng của công nhân với các nghề nghiệp đòi hỏi trình

độ là rất cao.

Điều đó đặt ra bài toán cho thành phố trong quản lí lao động, phải gắn giải

quyết vấn đề việc làm với nâng cao trình độ nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, lao động

có trình độ cao đẳng, đại học, cao học, tiến sĩ còn thấp so với khả năng của thành

phố. Việc Việt Nam gia nhập vào thị trường kinh tế thế giới là một cơ hội, đồng

thời là thách thức lớn của thành phố Biên Hòa trong quá trình phát triển; do vậy yêu

cầu về lao động có trình độ cao sẽ trở nên gay gắt.

Quá trình đô thị hóa đã tác động đến diễn biến cơ cấu lao động trong các khu

vực kinh tế thay đổi theo hướng lao động trong khu vực CN – TTCN, TM – DV

tăng, khu vực NLTS giảm:

Bảng 3.6. Phân bố lao động trong các ngành kinh tế ở TP. Biên Hòa

a. Số lao động. ĐVT: ngàn người

Lĩnh vực

Năm 1990

Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005

CN - TTCN

a. 54

a. 43,9

a. 95,3

a. 164,8

b.49,1%

b. 23,25%

b. 41,1%

b. 56%

a. 126,9

a. 117,9

a. 119,7

TM - DV

a. 41

b. 37,3%

b. 67,1%

b. 51,2%

b. 40,6%

NLTS

a. 15

a. 18,1

a. 17

a. 10,3

b. 13,6%

b. 9,6%

b. 7,4%

b. 3,4%

b. Tỉ trọng lao động. ĐVT: %

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

[69, tr.36]

Trước năm 1986, nguồn lao động của thành phố có khoảng 10.000 người,

trong đó 20% tham gia vào sản xuất nông nghiệp [62, tr 258].

Đến năm 1990, tổng số lao động tăng nhẹ nhưng tỉ lệ lao động trong các

ngành kinh tế có sự chuyển dịch mạnh. Lao động làm việc trong lĩnh vực CN –

TTCN, TM - DV cao, chiếm 86,4%.

Năm 1995 mặc dù có sự thay đổi đột ngột giữa tỉ lệ lao động làm việc trong

lĩnh vực CN – TTCN và TM - DV so với năm 1990, nhưng nếu xét tổng chung vẫn

cao so với 9,6% lao động đang làm việc trong ngành NLTS.

Đem so sánh số liệu này với tiêu chuẩn chung của một đô thị loại II có số lao

động phi nông nghiệp trên tổng số lao động là trên 80% có thể thấy rõ tình hình

hoạt động kinh tế và sự phát triển của thành phố.

Đến năm 2005, lao động trong khối NLTS giảm, chỉ còn 10,3 ngàn người,

chiếm 3,4%. Nguyên nhân là do một số lao động nông nghiệp chuyển sang hoạt

động một số ngành khác thuộc khu vực dịch vụ và công nghiệp. Sự phân bố lao

động như vậy phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế cả nước đang trong

giai đoạn chuyển dịch công nghiệp hóa và sự phát triển của các KCN trên địa bàn

thành phố, phù hợp với xu hướng chuyển dịch chung trong cơ cấu lao động của các

đô thị và định hướng phát triển dài hạn của thành phố Biên Hòa.

Ngoài ra trên địa bàn thành phố còn có đội ngũ cán bộ quản lí. Lực lượng lao

động này chủ yếu làm việc trong các cơ quan trung ương, tỉnh và thành phố, giữ vai

trò điều hành nền kinh tế xã hội thành phố, quy định sự phát triển của thành phố.

Như vậy trong hai mươi năm qua, quá trình đô thị hóa ở Biên Hòa diễn ra

cùng với sự tăng lên không ngừng về quy mô dân số và chuyển dịch cơ cấu lao

động, trình độ tay nghề của người lao động từng bước được nâng cao thông qua

hoạt động của các trường nghề, cao đẳng, trung cấp,… Vấn đề giải quyết việc làm

cho người lao động cũng được thực hiện tương đối tốt hàng năm.

3.2. Sự chuyển biến trong đời sống vật chất

Qua hai mươi năm đổi mới, đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn Biên Hòa

có những biến đổi sâu sắc. Sự biến đổi được thể hiện ở diện mạo chung, tác động

đến từng cá nhân, gia đình. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, thu nhập

bình quân đầu người tăng, các tiện nghi sinh hoạt gia đình dần được bổ sung, đời

sống văn hóa – tinh thần được cải thiện và nâng cao.

3.2.1. Nhà ở và mức sống

3.2.1.1. Nhà ở

Đây là một tiêu chí để đánh giá chất lượng cuộc sống, đặc biệt là đối với dân

cư sống trong một đô thị lớn như Biên Hòa. Nhà ở được chia làm 3 loại: nhà kiên

cố, nhà bán kiên cố và nhà tạm.

Trước đổi mới, do mục tiêu được xác định hàng đầu là ổn định đời sống kinh

tế nên thành phố ưu tiên việc cải tạo các hộ tư sản kinh doanh nhà – đất, xóa bỏ tình

trạng chiếm dụng nhà bất hợp lí, thực hiện chế độ nhà nước quản lí, phân phối, bố

trí lại nhà ở. Số nhà được xây mới còn ít, chủ yếu là do nhân dân tự xây với chất

lượng thấp. Năm 1986, số nhà tạm ở thành phố Biên Hòa cao, chiếm 40% [58,

tr.15].

Vì vậy trong thời kì đổi mới, bên cạnh phát triển kinh tế, thành phố rất quan

tâm đến vấn đề nhà ở cho cán bộ và nhân dân. Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố

lần thứ V năm 1988 đã nêu rõ: “Động viên tối đa sức tự lo của quần chúng. Nhà

nước huy động thêm nhiều loại nguồn vốn để xây dựng nhà ở; bán lại hoặc cho thuê

những người chưa có nhà ở dưới nhiều hình thức” [58, tr.42].

Đến năm 1995, tỉ lệ nhà tạm giảm nhanh còn 19,75%, số nhà kiên cố nhiều

chiếm 71,25%, nhà bán kiên cố không lớn, chỉ có 9%.

Sau năm 1995, nhiệm vụ mà Đảng bộ thành phố đề ra trong Đại hội Đại biểu

làn thứ VII là tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ để tạo một bộ mặt kiến trúc

mới của đô thị loại II. Các ngôi nhà lụp xụp, một tầng được thay thế bằng nhà cao

tầng hiện đại, kiến trúc đẹp. Nhiều khu dân cư được xây dựng.

Vì vậy đến năm 2005, số nhà kiên cố được xây thêm không nhiều lắm

(chiếm tỉ lệ 77,65%), tỉ lệ nhà bán kiên cố tăng nhanh (chiếm 22%) thay thế những

ngôi nhà tạm (chỉ còn 0,35%). Điều đó cho thấy cuộc sống vật chất của người dân

đã được nâng lên đáng kể, đồng thời phản ánh tâm lí “an cư lạc nghiệp” của một bộ

phận dân nhập cư đến thành phố [54].

Tuy nhiên những số liệu này chưa phản ánh hết diễn biến thực tế việc xây

dựng nhà ở thành phố Biên Hòa hiện nay. Hiện tượng xây nhà không giấy phép phổ

biến, nhất là ở phường Trảng Dài và Long Bình Tân, con số lên đến cả ngàn trường

hợp. Theo số liệu thống kê của UBND phường, Trảng Dài có diện tích khoảng

1.400ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm khoảng 50% và có tới 80% diện tích đất

nông nghiệp vẫn chưa có sổ đỏ. Nơi đây công tác quy hoạch chi tiết cho các khu

phố còn thiếu nên rất nhiều người nhập cư, công nhân lao động đổ xô vào đây mua

đất. Dân số của phường tăng lên rất nhanh, trong đó đa số người tạm trú chiếm phần

lớn, nhu cầu về nhà ở phát sinh quá mạnh khiến cho công tác quản lí gặp nhiều khó

khăn.

Còn tại phường Long Bình Tân, tình trạng nhà xây trái phép trên đất đã công

bố quy hoạch cũng diễn ra phổ biến. Không chỉ làm nhà, nhiều hộ dân còn xây dựng

thêm các công trình phụ để mở rộng diện tích. Đứng dưới góc độ quản lí, hiện

tượng nêu trên là vi phạm pháp luật cần được chấn chỉnh; nhưng dưới góc độ phát

triển xã hội, phản ánh nhu cầu về nhà ở rất cao của người dân.

Bên cạnh những ngôi nhà do tư nhân xây dựng, nhiều khu dân cư và chung

cư được xây dựng, nhất là trong giai đoạn 2000 – 2005, như khu dân cư phường

Bửu Long, Bửu Hòa, Bình Đa, Trảng Dài, Thống Nhất và các chung cư có quy mô,

đẹp ở phường An Bình, khu nhà liên kế ở xã Hóa An, chung cư Nguyễn Văn Trỗi

do công ty kinh doanh nhà Đồng Nai làm chủ đầu tư…

Nhà chung cư là một lựa chọn đang được nhiều người yêu thích vì dân số

ngày càng đông trong khi quỹ đất ngày càng khan hiếm. So với những ngôi nhà tư,

những căn hộ trong chung cư luôn được chú ý đến tính tiện tích cho cuộc sống hiện

đại. Vì vậy trong tương lai, giải pháp nhà chung cư sẽ còn được phát triển hơn nữa

bởi tác động của quá trình đô thị hóa đem lại.

Tuy nhiên, nhà chung cư hiện nay chỉ phù hợp với những người có thu nhập

ổn định và tương đối, lao động phổ thông còn rất hạn chế trong khả năng sở hữu

một căn hộ chung cư, nhất là những đối tượng di dân. Họ vẫn sống chủ yếu trong

các khu phòng trọ có chất lượng không tốt hoặc tự xây nhà không có giấy phép.

Vì vậy, biện pháp trước mắt mà thành phố Biên Hòa thực hiện là tăng cường

kiểm soát tình trạng xây dựng nhà ở, giải quyết những ngôi nhà tạm, nhà lụp xụp,

nhà lấn chiếm sông suối theo quy hoạch. Về lâu dài, thành phố nâng sự quản lí ở

tầm vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có nơi ăn chỗ ở ổn định bằng

nhiều chính sách xã hội, giải quyết tình trạng. Qua đó góp phần hình thành sự hiện

đại của một đô thị văn minh.

3.2.1.2. Mức sống

Sản xuất phát triển đạt được những thành tựu to lớn, các chủ trương chính

sách về nâng cao mức sống dân cư của Đảng, nhà nước cũng như của thành phố là

tiền đề quan trọng, tạo thuận lợi trong việc thực hiện các hoạt động xã hội nhằm

không ngừng nâng cao đời sống vật chất cho người.

Mức thu nhập bình quân đầu người/tháng trong 10 năm từ 1995 đến 2005

tăng bình quân 8,93%/năm [69, tr.49]. Trong bước phát triển chung đó sự phân tầng

mức sống trong dân cư là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên dù chênh lệch, đa số

các hộ vẫn mua sắm được các thiết bị phục vụ nhu cầu đi lại, giải trí như ti vi, xe

máy, điện thoại,... Mặt khác, việc phát triển cơ sở hạ tầng càng tiếp thêm điều kiện

cho người dân có thuận lợi trong việc trang bị và sử dụng các phương tiện đó. Đến

năm 2005 tỉ lệ hộ dùng điện đạt 100%. So với năm 1995, số máy điện thoại trên

100 dân tăng nhanh từ 1,95% lên 66,70%. Tỉ lệ hộ có ti vi, xe máy rất cao (gần

95%).

Năm 1995

Năm 2000

Năm 2005

Bảng 3.7. Một số chỉ tiêu về đời sống dân cư ở TP. Biên Hòa

100 97 66,70 94,50 94,90 75,20

99 82,50 7,90 83,25 69,38 70,00

89,19 67,20 1,95 68,08 55,14 50,20

- Tỉ lệ dùng điện (%) - Tỉ lệ hộ dùng nước sạch - Số máy điện thoại/100 dân (máy) - Tỉ lệ hộ có ti vi (%) - Tỉ lệ hộ có xe máy (%) - Tỉ lệ hộ có radio (%)

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Không những sử dụng phần tích lũy để mua sắm trang thiết bị sinh hoạt,

người dân còn dùng phần thu nhập để sửa chữa, xây dựng, nâng cấp nhà ở. Số hộ có

nhà kiên cố, bán kiên cố ngày càng tăng trong khi số nhà tạm giảm mạnh. Phần chi

cho giáo dục, y tế chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí được cải thiện.

3.2.2. Giáo dục – y tế

3.2.2.1. Giáo dục

Giáo dục có một vai trò quan trọng đối với quá trình đô thị hóa của Biên

Hòa, là nhân tố chủ quan chi phối sự phát triển. Những năm trước đổi mới, nhiệm

vụ của giáo dục là thanh toán nạn mù chữ. Trung bình cứ 3 người dân trong thành

phố có 1 người đi học. Mặc dù thành phố đầu tư 11 triệu đồng để xây dựng cơ sở

vật chất nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về cơ sở vật chất. Chất lượng giáo

dục thấp, chất lượng đạo đức và chính trị của học sinh còn đáng lo ngại hơn.

Từ năm 1986 đến nay, hệ thống giáo dục phổ thông phát triển nhanh và được

sắp xếp lại một bước theo hướng đa dạng hóa giáo dục và nâng cao chất lượng đào

tạo. Số học sinh, giáo viên, trường học, lớp học đều tăng qua các năm.

Bảng 3.8. Tình hình giáo dục của TP. Biên Hòa qua các năm 1985 – 2005

a. Số lớp học phân theo cấp lớp

Năm 1985

Năm 1995

Năm 2005

a

b

a

b

a

b

1979

2559

3082

4728

Tổng số

1710

2167

227

318

183

378

598

952

Mẫu giáo, mầm non

872

850

1095

1079

1237

1656

Cấp 1

465

776

504

811

747

1467

Cấp 2

b. Số giáo viên phân theo cấp lớp

Cấp 3

223

197

291

653

146 500 Nguồn: [Phòng Thống kê TP.Biên Hòa (54)]

Qua 20 năm, số giáo viên và lớp học các cấp đều tăng, nhất là năm 2005, số

giáo viên tăng gấp 2 lần so với năm 1985. Trong vòng 10 năm từ 1995 trở lại đây,

số giáo viên và lớp học tăng nhiều hơn so với 10 năm trước đó.

Nguyên nhân là do kinh tế phát triển, đời sống của người dân được nâng cao,

vì vậy sự đầu tư cho giáo dục của thành phố và của chính bản thân mỗi người ngày

càng cao.

Trong quá trình phát triển, thành phố đã huy động tốt nguồn lực xã hội chăm

lo cho sự nghiệp giáo dục. Bằng nguồn vốn ngân sách xã hội hóa giáo dục, đến năm

2005-2006 Biên Hòa cơ bản hoàn thành trương chình kiên cố hóa trường lớp giai

đoạn 1. Hầu hết các chỉ tiêu giáo dục đều đạt, thực hiện tốt mục tiêu nâng cao dân

trí, 100% phường xã đạt chuẩn quốc gia về công tác xóa mù chữ - phổ cập giáo dục

đúng độ tuổi và phổ cập bậc trung học cơ sở, đạt chuẩn phổ cập bậc trung học theo

tiêu chuẩn tạm thời của tỉnh. Tất cả các phường xã đều có trung tâm giáo dục cộng

đồng. Hàng năm việc huy động học sinh ra lớp ở các bậc học đều đạt 100%, tỉ lệ

học sinh bỏ học và lưu dưới 1%.

- Ngành học mầm non: đến năm 2005 phát triển đều khắp ở các phường với

43 trường, trong đó có 27 trường công lập, 16 trường dân lập với 15.370 cháu theo

học, bình quân mỗi năm tăng 10,89% số cháu được đi học, đạt chỉ tiêu kế hoạch về

huy động các cháu vào học. Có 1 trường đạt chuẩn quốc gia. Đặc biệt trong vài năm

gần đây đã triển khai thực hiện đầy đủ các chuyên đề quy định của Bộ Giáo dục –

Đào tạo; chăm sóc, nuôi dạy cháu tốt, không để xảy ra tình trạng ngộ độc thực

phẩm. Trẻ em được xếp kênh A đạt 97,12%, kênh B đạt 2,28%, không còn kênh C

kể từ năm học 1999 -2000 [61, tr.80].

Kết quả này cũng dễ hiểu trong hoàn cảnh đô thị hóa, công nghiệp hóa, các

bậc phụ huynh không có thời gian ở nhà thường xuyên để chăm sóc con cái. Trong

khi đó do phổ biến lối sống gia đình nhỏ nên sự giúp đỡ từ phía ông bà không đáng

kể. Vì vậy giải pháp nhà trẻ, mầm non được lựa chọn nhiều. Trẻ em ngoài việc được

chăm sóc còn được các cô giáo dạy dỗ những nhận biết đầu tiên về thế giới. Tuy

nhiên hiện nay công tác quản lí các nhà trẻ, mẫu giáo còn lỏng lẻo; số nhà trẻ tư,

nhóm trẻ không đăng ký, không đạt yêu cầu nhiều.

- Ngành học phổ thông: khối giáo dục tiểu học phát triển nhanh, trên địa bàn

thành phố năm 2000 có 38 trường và một trường có lớp thuộc khối trung học cơ sở

với 48.405 học sinh.

Tỉ lệ huy động trẻ em vào lớp 1 hàng năm đều có bước phát triển: năm 1991

là 96%, năm 1999 là 99,68% và năm 2000 đến nay là 100%. Bên cạnh đó số học

sinh bỏ học các năm trước được huy động trở lại lớp đạt 62,23% (năm 1999) và

70% (năm 2000) [60, tr.163].

Đến năm 2005, khối trung học cơ sở có 23 trường với 747 lớp, gần gấp đôi

so với năm 1985 là 465 lớp, trong đó có trường THCS Trần Hưng Đạo đã được

nhận Huy chương lao động hạng 1 và được tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng trong

thời kì đổi mới. Như vậy hệ thống trường lớp đã được xây dựng đến từng phường,

đáp ứng nhu cầu tăng cao của người dân.

Toàn thành phố hiện nay có 13 trường phổ thông trung học, trong đó có 1

trường chuyên Lương Thế Vinh của tỉnh. Ngoài ra còn có những trường thực hiện

chương trình thí điểm của Bộ giáo dục, đạt kết quả cao như Nguyễn Trãi, Ngô

Quyền.

Chất lượng giảng dạy và học tập các cấp được nâng lên rõ rệt. Trong giai

đoạn từ 1986 – 1995, thành phố đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học. Từ năm

1996 – 2005, chương trình trung cơ sở cũng đã được phổ cập trong toàn dân. Hiện

nay thành phố đang tiến tới phổ cập giáo dục trung học phổ thông. Điều này cho

thấy trình độ dân trí của người dân được nâng lên rõ rệt, mức sống được cải thiện.

Đến năm 2005 trên địa bàn thành phố có 4 trường tiểu học, 2 trường trung

học cơ sở và 2 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia.

Thành phố đã triển khai tốt việc thay sách giáo khoa các lớp. Giáo viên chủ

động trong đổi mới phương pháp giảng dạy, bước đầu ứng dụng công nghệ thông

tin, chú ý khai thác tính tích cực của học sinh trong giờ học. Chất lượng học tập của

học sinh có tiến bộ. Tỉ lệ học sinh tiểu học tốt nghiệp đạt 98,5%, 100% trẻ em tốt

nghiệp tiểu học đều được vào lớp 6, trong đó tỉ lệ học sinh thi tốt nghiệp loại giỏi

chiếm từ 22 – 25%. Đối với bậc trung học cơ sở, tỉ lệ học sinh lên lớp hàng năm là

99%, tỉ lệ đậu tốt nghiệp cao 93%-98,5%, trong đó loại giỏi chiếm từ 18% - 24%.

Hàng năm số học sinh giỏi cấp tỉnh của thành phố đạt nhiều giải tỉnh.

- Bên cạnh hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, cao đẳng, chuyên

nghiệp ngày càng phát triển đa dạng với các loại hình đào tạo. Ở Biên Hòa hiện nay

có 1 trường đại học dân lập Lạc Hồng, thu hút 1695 sinh viên. Đây chính là nơi đào

tạo, bồi dưỡng nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu của

quá trình công nghiệp hóa.

Hoạt động của các trường chuyên nghiệp, dạy nghề không ngừng phát triển

về quy mô. Năm 1985 thành phố có 5 trường giáo dục chuyên nghiệp, 3 trường dạy

nghề và 1 trường Cao đẳng Sư phạm đồng Nai với 1825 người tham gia học trong

các trường chuyên nghiệp và 983 người tham gia học nghề.

Đến năm 2005, thành phố có thêm 1 trường Cao đẳng Sonadezi đào tạo cho

4000 sinh viên, số trường dạy nghề là 6. Tổng số học viên trong các trường tăng

mạnh, gồm 7747 học viên trường chuyên nghiệp và 15692 học viên trường nghề.

Như vậy trong 20 năm đổi mới, giáo dục thành phố không ngừng phát triển

liên tục về số lượng và chất lượng. Sự phát triển ấy tạo nên động lực đẩy nhanh quá

trình đô thị hóa, công nghiệp hóa. Tuy nhiên số lượng các trường Cao đẳng, Đại

học, chuyên nghiệp như vậy là còn ít và chưa tạo được uy tín trong xã hội. Vì vậy

thành phố cần nâng cao chất lượng giáo dục hơn nữa, mở thêm nhiều trường đào

tạo, kể cả cấp đại học để đáp ứng ngội ngũ cán bộ tri thức, chuyên gia và công nhân

kỹ thuật cho các khu công nghiệp nói riêng và cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội nói

riêng.

3.2.2.2. Y tế

Trước đổi mới, hoạt động y tế của thành phố Biên Hòa vừa thiếu vừa yếu.

Thành phố mới chỉ có 1 phòng y tế, 1 bệnh viện đa khoa (với 150 – 200 giường), 22

trạm y tế phường xã, 21 tổ chức y học dân tộc; 1 công ty dược và 25 cơ sở đại lý

thuốc chuyên doanh, 1 đội vệ sinh phòng dịch, 6 phòng khám ngoài giờ, 6 tổ hợp

chuyên khoa. Lực lượng y tế thành phố khám và chữa trị từ 10 vạn đến 30 vạn

người. Từ khi công cuộc đổi mới diễn ra, kinh tế phát triển, đời sống vật chất của

người dân được nâng cao, nhu cầu khám chữa bệnh vì thế gia tăng [62, tr.273].

Trong giai đoạn 1986 – 1990, thành phố đã xây dựng hoàn thành cơ bản

bệnh viện Đa khoa với 200 giường bệnh cùng các trạm xá 23 phường, xã.

Đến năm 2005, mạng lưới y tế phát triển đến từng phường, xã. Thành phố

từng bước đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho các trung tâm y tế; đáp ứng tốt

hơn công tác phòng, khám và chữa bệnh. 26/26 trạm y tế ở các phường, xã có bác sĩ

phục vụ (tăng tỉ lệ từ 69,23% năm 2000 lên 100% năm 2005), 164/164 khu phố có

nhân viên sức khỏe cộng đồng hoạt động phối hợp với lực lượng cộng tác viên các

chương trình y tế.

Với hệ thống y tế phát triển rộng, hiện đại, số bệnh nhân chết ở địa phương

các phường giảm mạnh, nếu như năm 1985 rất nhiều 1.075 người thì đến năm 1995

là 720 người, năm 2005 hoàn toàn không có trường hợp nào. Đây là kết quả đáng

mừng của ngành y tế, ghi nhận sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ y tế địa phương và

thành phố [61, tr.92].

Ngoài ra ở Biên Hòa còn có 1 trung tâm y tế TP. Biên Hòa và bệnh viện Đa

khoa Biên Hòa, 11 trung tâm y tế và một bệnh viện cấp tỉnh và trung ương.

Không chỉ tăng về cơ sở, số nhân viên y tế nhà nước cũng nhiều hơn (xem

bảng 3.9). Tuy nhiên trong năm 2005 số dược tá giảm mạnh do chuyển từ khu vực

nhà nước sang khu vực tư nhân.

Bảng 3.9. Nhân viên y tế nhà nước của TP. Biên Hòa

[ĐVT: Người]

Tổng số Bác sĩ Y sĩ Dược sĩ Kỹ thuật viên y Kỹ thuật dược 1985 1391 155 210 42 51 - 1995 1589 280 220 61 60 - 2000 1926 356 210 99 63 3 2005 2077 393 264 82 75 3

tế 100 365 68 400 100 380 98 390 132 456 110 497 60 550 150 500

Dược tá Y tá Nữ hộ sinh Cán bộ y khác Nguồn: [Phòng Thống kê TP.Biên Hòa (54)]

Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình được quan tâm chú trọng, thành

phố Biên Hòa thường xuyên đẩy mạnh hoạt động của đội ngũ cán bộ chuyên trách

và cộng tác viên ở 26 phường xã, các khu phố khóm, ấp trong việc tuyên truyền vận

động nhân dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình, tác động tới mọi tầng lớp dân cư.

Từ đó số người áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại ngày càng cao.

Nếu như năm 1995 có 48% cặp vợ chồng áp dụng biện pháp sinh đẻ có kế

hoạch, đến năm 2000 có 53.371 người và năm 2005 là 57648 người, chiếm tỉ lệ trên

90%.

Vì vậy, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm mạnh, vượt mục tiêu 1,13% mà Nghị

quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIII đưa ra. Điều này sẽ giúp cho thành

phố giảm bớt áp lực dân số trong khi số người nhập cư từ bên ngoài không giảm.

Việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ em là một hoạt động thường xuyên của

ngành y tế thành phố. Để đảm bảo sự phát triển toàn diện, tốt nhất cho trẻ em, thành

phố luôn thực hiện đầy đủ chương trình tiêm chủng mở rộng đủ các loại vácxin,

khống chế tới mức thấp nhất các bệnh nguy hiểm.

Từ năm 1986 – 1995, việc tiêm chủng phòng ngừa 6 bệnh cho trẻ em đạt kết

quả tốt, trên 95% hàng năm. Tuy nhiên tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao [59,

tr.18]. Đến năm 2005 giảm tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 13,5%.

Trong tình hình an ninh trật tự tương đối phức tạp, các tệ nạn xã hội phát

sinh nhiều, thành phố tiến hành thực hiện truyền thông phòng chống dịch AIDS ở

cộng đồng dân cư, tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho các đối tượng bị nhiễm HIV.

Bên cạnh hệ thống dịch vụ y tế nhà nước, dịch vụ y tế tư nhân xuất hiện ngày

càng nhiều, nhất là từ năm 2000 phát triển rất mạnh. Các phòng khám tư xuất hiện ồ

ạt, tuy nhiên với quy mô nhỏ, hầu hết là các hộ cá thể. Do vậy công tác quản lý của

nhà nước cần phải được tăng cường, thường xuyên tổ chức kiểm tra, xử lý những

trường hợp vi phạm.

Như vậy cùng với sự lớn mạnh của thành phố, lĩnh vực y tế cũng phát triển.

Tại Biên Hòa tập trung nhiều cơ sở y tế với đội ngũ cán bộ có trình độ. Để nâng cao

chất lượng khám chữa bệnh cho người dân, thành phố đang tiến hành xây mới bệnh

viện Đồng Nai có quy mô 700 giường, được trang thiết bị hiện đại. Đồng thời nâng

3.3. Sự chuyển biến trong đời sống văn hóa – tinh thần

cấp bệnh viện Thống Nhất và một số trung tâm y tế.

3.3.1. Các hoạt động văn hóa – văn nghệ - thể dục thể thao

Là thành phố trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Đồng Nai, do đó

lĩnh vực hoạt động văn hóa thông tin trên địa bàn thành phố có vai trò rất quan

trọng, kết quả hoạt động văn hóa, thông tin của thành phố luôn gắn chặt với mục

tiêu định hướng phát triển cũng như yêu cầu của tỉnh. Trong thời gian qua, hoạt

động văn hóa thông tin trên địa bàn thành phố phát triển không ngừng trên các mặt.

Trước đổi mới, hệ thống tổ chức văn hóa, thông tin đã hình thành từ trung

ương đến tận các phường xã, từ đội thông tin lưu động thành phố đến 44 trạm thông

tin, 12 nhà văn hóa cơ sở; cải tạo 9 đình thần, thánh thất; 1 nhà bảo tàng thành phố,

3 nhà truyền thống cơ sở; 1 thư viện thành phố với gần 2 vạn đầu sách, 22 phòng

đọc sách cơ sở; một công ty rạp chiếu bóng với 4 rạp khá lớn, 41 đội văn nghệ quần

chúng, 1 đài phát sóng ngắn, 2 đài truyền thanh cơ sở phường xã và khu trung tâm

văn hóa Biên Hùng [62, tr.272].

Sau đổi mới, các hoạt động văn hóa - thông tin - thể dục thể thao phát triển

mạnh. Đến năm 2005 thành phố đã có 27 đội thông tin lưu động, nâng số đợt phục

vụ lên 100 lần, gần gấp đôi số đội thông tin năm 1995 (15 đội với 16 đợt phục vụ).

Ngoài ra còn thực hiện 150 chuyến xe cổ động phục vụ tuyên truyền kỷ niệm các

ngày lễ lớn, tuyên truyền các chủ trương, nghị quyết của UBND thành phố. Ở

phường, xã cũng thực hiện được 80 chuyến xe tuyên truyền. Công tác phát thanh tại

chỗ được chú ý.

Ngoài việc tiến hành, tổ chức kỉ niệm các ngày lễ lớn, thành phố Biên Hòa

còn quan tâm đầu tư xây dựng nhiều công trình công cộng, vừa mang ý nghĩa văn

hóa, vừa có ý nghĩa lịch sử như xây mới văn miếu Trấn Biên, công viên và bờ kè

dọc đường Nguyễn Văn Trị; cải tạo và nâng cấp công viên Biên Hùng, xây dựng

khu liên hợp văn hóa – thể dục thể thao ở quảng trường,…

Về hoạt động văn hóa: hoạt động văn hóa mang tính chuyên nghiệp được

đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nâng cao chất lượng chuyên môn; hiện nay

các đoàn ca múa nhạc Đồng Nai, đoàn cải lương Đồng Nai đã có nhiều tiến bộ trong

hoạt động biểu diễn nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu thưởng thức văn hóa văn nghệ

của nhân dân thành phố cũng như các địa phương trong tỉnh.

Chỉ riêng trong năm 2004 đội Văn nghệ tuyên truyền thành phố đã xây dựng

23 chương trình ca nhạc, với số buổi phục vụ là 135 buổi (đạt 115,5% kế hoạch

năm), phục vụ trên 78.900 lượt người xem. Ngoài ra còn phối hợp với Thành đoàn,

Phòng Giáo dục - Đào tạo thành phố tổ chức các hội thi “Tiếng hát Vàng Anh”; liên

hoan tuyên truyền măng non thành phố Biên Hòa lần I/2004; hội diễn Hoa phượng

đỏ thành phố Biên Hòa. Thành phố còn tổ chức hội thi văn nghệ - thể thao người

cao tuổi thành phố Biên Hòa năm 2004 tại nhà hát Nam Hà. Có 18/26 đơn vị

phường xã và câu lạc bộ Văn nghệ cán bộ, phụ nữ cao tuổi tham gia (107 thí sinh

dự thi) gồm 77 tiết mục với các thể loại phong phú.

Từ năm 2000 trở lại đây, các câu lạc bộ, đội, nhóm văn nghệ cũng được

thành lập và hoạt động sôi nổi, tiêu biểu có câu lạc bộ Đờn ca tài tử Biên Hòa, câu

lạc bộ sáng tác ca khúc mới, câu lạc bộ văn nghệ cán bộ phụ nữ cao tuổi, câu lạc bộ

Chim Cảnh Cội Nguồn. Đặc biệt là câu lạc bộ Nói tiếng Anh duy trì sinh hoạt vào

sáng chủ nhật hàng tuần, đã thu hút được đông đảo các thành phần đến tham gia

(khoảng 50 đến 70 người/ tuần), nhất là sinh viên học sinh nhằm rèn luyện cho việc

học tập bộ môn tiếng Anh của mình.

Nhiều phường xã đã có quy hoạch quỹ đất dành cho xây dựng các trung tâm

văn hóa và xây dựng mới một số trung tâm văn hóa – thể dục thể thao phường.

Trong hai năm 2003 và 2004, có hai trung tâm văn hóa Bình Đa và Trảng Dài được

khánh thành đi vào hoạt động.

Từ năm 2000, thành phố đã triển khai xây dựng các tiêu chí văn hóa, trung

tâm văn hóa thông tin, củng cố ban chỉ đạo để tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động

“toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nâng cao chất lượng các khu phố

văn hóa. Nếu năm 2000 Biên Hòa có 24 khu phố với 52.500 hộ đạt chuẩn văn hóa

thì đến năm 2005 nâng số lượng lên 131 khu phố chiếm tỉ lệ 80% và 95.200 hộ với

tỉ lệ 85%; cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa là 82,84%. Ngoài ra còn có 8 chợ được

công nhận chợ văn hóa.

- Về hoạt động của thư viện: từ năm 1986 – 2003, thư viện thành phố nằm

bên bờ sông Đồng Nai, cơ sở vật chất phục vụ được xây dựng từ lâu nên xuống cấp.

Năm 2003 thư viện được chuyển về quảng trường tỉnh với cơ sở khang trang, hiện

đại hơn.

Đến năm 2004, tổng số sách của thư viện đã lên đến 25.571 đầu sách với 34

loại báo, tạp chí phục vụ cho hàng ngàn lượt độc giả. Hàng năm thư viện tổ chức

trưng bày sách mới phục vụ những ngày lễ lớn như thành lập Đảng, giải phóng

miền Nam 30/4, Quốc tế lao động 1/5, báo Xuân,…Đồng thời tiến hành luân

chuyển sách cho cơ sở 610 quyển sách (phường Bửu Long, Bình Đa, Quang Vinh,

Tân Tiến, Tân Hạnh, Long Bình).

17 phòng đọc sách ở các phường, xã được duy trì hoạt động với tổng số sách

là 7.428 quyển, 15 loại báo, tạp chí, phục vụ 27.322 lượt độc giả (trong đó có

18.211 lượt độc giả là thiếu nhi). Ngoài ra ở các cơ quan, trường học có 406.192

đầu sách, phục vụ 42.676 lượt người xem. Ở giáo xứ Ngọc Đồng (phường Tân Hòa)

còn duy trì phòng đọc sách giáo xứ với số sách tương đối nhiều 1.500 quyển, số

độc giả lên đến 17.788 người.

Hệ thống thư viện trải rộng từ trung tâm thành phố về đến các cơ sở địa

phương là dấu hiệu đáng mừng cho việc phổ biến tri thức, góp phần nâng cao trình

độ hiểu biết cho người dân. Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của độc

giả trong thời kỳ đô thị hóa mạnh mẽ, các thư viện trong thành phố cần có sự liên

kết tạo thành mạng lưới, được đầu tư nhiều loại sách báo hơn nữa, đồng thời có

nhiều hình thức tiếp cận sách với công chúng.

- Hoạt động của bảo tàng: bảo tàng Đồng Nai được thành lập từ năm 1976,

tiền thân là phòng Bảo tồn Bảo tàng trực thuộc Ty Văn hoá thông tin tỉnh Đồng Nai. Hiện nay bảo tàng Đồng Nai tọa lạc trong khuôn viên 15.000m2 có trang bị

hiện đại với 14 phòng trưng bày (diện tích là 4000m2 ), 13 phòng bảo quản, phòng

chống cháy, chống sét, thiết bị camera, máy điều hòa, máy vi tính, máy chuyên

dùng kỹ thuật số… với hơn 20.000 hiện vật, hình ảnh, tài liệu, băng ghi âm, ghi

hình... thông qua những cuộc sưu tầm, khảo sát, khai quật khảo cổ, do nhân dân

tặng, thu nhận từ một số cơ quan chức năng. 30 năm qua cùng với sự lớn mạnh

không ngừng của thành phố, Nhà bảo tàng đã không ngừng cố gắng phấn đấu làm

tốt công tác, trở thành nơi lưu giữ một khối lượng hiện vật rất phong phú có giá trị

về mặt lịch sử, văn hóa và khoa học.

- Văn miếu Trấn Biên: là văn miếu đầu tiên được xây dựng tại xứ Đàng

Trong, để tôn vinh Khổng Tử, các danh nhân văn hóa nước Việt và làm nơi đào tạo

nhân tài phục vụ cho chế độ.

Năm 1861 nơi thờ phụng trên đã bị thực dân Pháp phá bỏ. Ngày 9 tháng 12

năm 1998, một công trình mới mang tên Văn miếu Trấn Biên được khởi công khôi

phục lại trên nền văn miếu cũ tại phường Bửu Long, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai,

cách trung tâm thành phố khoảng 3km, và gần Trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu

Long trong phạm vi khoảng 2ha, với số tiền đầu tư gần 20 tỷ đồng. Đây là công

trình được xây dựng theo kiến trúc Văn miếu - Quốc Tử Giám ở Hà Nội, gồm các

hạng mục: nhà thờ chính, tả vu hữu vu, sân hành lễ...

Hàng năm, nhiều đoàn khách đến đây tham quan, kể cả các cấp lãnh đạo Nhà

nước và du khách nước ngoài. Chỉ riêng trong năm 2003, Văn miếu Trấn Biên đón

hơn 200 đoàn khách với trên 1500 lượt người, trong đó có tổng bí thư Nông Đức

Mạnh, Võ Văn Kiệt - nguyên thủ tướng chính phủ, Lê Hồng Anh - ủy viên bộ chính

trị, bộ trưởng Công An, Nguyễn Khoa Điềm - trưởng ban văn hóa tư tưởng trung

ương,…đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Ucraina, đoàn nhà báo Pháp,…

Ngoài ra, Văn miếu đã phối hợp với Tỉnh đoàn Đồng Nai tổ chức họp mặt

truyền thống hàng năm cho sinh viên đến dâng hương, phối hợp với Phòng giáo dục

– Đào tạo tổ chức long trọng lễ Tết thầy vào ngày mùng 3 âm lịch hàng năm cho

học sinh, thầy cô giáo của 36 trường học trong thành phố. Năm 2003 lễ báo công

tuyên dương học sinh giỏi và những tài năng trẻ tỉnh Đồng Nai diễn ra long trọng ở

Văn Miếu, thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo, kính trọng hiền tài.

Văn miếu Trấn Biên đã trở thành chốn linh thiêng đối với người dân Đồng

Nai nói chung và Biên Hòa nói riêng, là nét đẹp văn hóa cần gìn giữ trong thời kỳ

đô thị hóa.

- Hoạt động thể dục thể thao có tiến bộ, hàng năm thành phố Biên Hòa tổ

chức các đợt hội thao, hội thi, các hoạt động thể dục thể thao thu hút hàng ngàn

người với mọi thành phần, nhất là lực lượng thanh niên tham gia, tạo thành phong

trào thi đua rèn luyện sức khỏe rộng khắp trên địa bàn thành phố.

Từ năm 1985 – 2005, số cơ sở luyện tập và số người tham gia luyện tập tăng

thường xuyên, đều đặn qua các năm. Theo dõi bảng 3.10 để nhận thấy điều đó.

Năm 1985 Năm 1990 Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005

120

135

149

171

109

- Số cơ sở luyện

85.979

107.025

126.230

186.556

203.780

tập

-Số người luyện

tập

Bảng 3.10. Tình hình tập luyện thể dục thể thao ở TP. Biên Hòa

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Năm 2005 kết quả cuộc vận động rèn luyện theo gương Bác Hồ vĩ đại có

36,34% dân số và 27,23% gia đình đạt gia đình thể thao. Lực lượng cán bộ, huấn

luyện viên, cộng tác viên và vận động viên các bộ môn hàng năm đều tăng, nhiều

nhân tố được phát hiện và rèn luyện trở thành vận động viên có đẳng cấp.

Năm 1985 toàn thành phố có 2048 vận động viên, mười năm sau – năm 1995

- tăng gấp 1,5 lần (3220 vận động viên), đến năm 2005 tăng gần gấp 3 lần năm

1985 (6080 vận động viên).

Ngoài những công trình thể dục thể thao như sân bãi, phòng tập, nhà thi đấu

hiện có do nhà nước đầu tư xây dựng, thành phố còn phát triển được 363 câu lạc bộ,

phòng tập, điểm tập được huy động từ nguồn vốn nhà nước và nhân dân đóng góp,

điển hình như bóng đá (12 điểm), sân bóng chuyền (92 điểm), quần vợt (22 điểm),

bóng bàn (35 điểm),…

Số người tham gia luyện tập năm 2004 đạt 37,95% dân số toàn thành. Điều

đó chứng tỏ người dân không chỉ quan tâm đến thể dục thể thao để giữ gìn sức

khỏe, nâng cao thể lực cá nhân mà còn duy trì việc tổ chức các giải cấp thành phố,

tham gia 53 giải cấp tỉnh và đạt 320 huy chương các loại.

Tóm lại, trong thời gian từ 1986 – 2005, hoạt động văn hóa – văn nghệ - thể

dục thể thao của thành phố phát triển, đặc biệt giai đoạn từ năm 2000 – 2005. Người

dân được tiếp xúc với nhiều loại hình văn hóa – văn nghệ, thường xuyên tham gia

tập luyện thể dục với nhiều bộ môn. Từ đó làm lành mạnh đời sống tinh thần, góp

phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội.

Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều khó khăn đặt ra cho ngành Văn hóa như lực

lượng cán bộ văn hóa còn mỏng; cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động văn hóa –

văn nghệ - thể dục còn thiếu, chưa đồng bộ giữa các phường, xã; nhiều hoạt động

mang nặng tính phong trào, hình thức, chưa được duy trì thường xuyên. Đây thực

sự là những thử thách cần vượt qua để đưa thành phố phát triển bền vững.

Vì vậy thành phố đã tổ chức và có kế hoạch quản lý chặt chẽ các hoạt động

văn hóa nghệ thuật, hoạt động quảng cáo,… Đầu tư phát triển mạnh phong trào văn

hóa nghệ thuật, thể dục thể thao quần chúng đa dạng, đảm bảo 100% các phường xã

có nơi sinh hoạt văn hóa. Đồng thời chú ý đến công tác bảo tồn các di tích văn hóa,

lịch sử trên địa bàn thành phố, giáo dục truyền thống thông qua sinh hoạt chuyên đề

về các ngày lễ, kỉ niệm lớn 3/2, 8/3, 26/3,…

3.3.2. Chuyển biến trong lối sống dân cư

Không ai phủ nhận được những mặt tích cực mà quá trình đô thị hóa đem lại,

nó giúp Biên Hòa hòa nhập vào sự phát triển của cả nước và thế giới nhưng cũng

gây ra những xáo trộn lớn trong đời sống. Kinh tế phát triển theo hướng tập trung

trong các KCN đã hình thành trong đa số bộ phận dân cư lối sống công nghiệp.

Trước năm 1986, ngành kinh tế chính của thành phố vẫn là nông nghiệp,

người nông dân làm việc không có kế hoạch. Việc duy trì cơ chế bao cấp, tập trung

khiến cho hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp cầm chừng, không có hiệu quả nên

người công nhân cũng đem theo lối sản xuất nông nghiệp vào nơi sản xuất. Khi nhà

nước và thành phố tiến hành đổi mới, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường,

đời sống dân cư thay đổi. Thời gian trở thành vàng bạc nên con người luôn chạy

theo nó khiến cho nhịp sống trở nên hối hả, bận rộn. Hình ảnh những người dân

nhàn rỗi dường như không còn. Họ luôn tay trong nhiều loại hình công việc, từ sản

xuất trong nhà máy, cơ quan, trường học, cánh đồng đến gia đình, buôn bán, ….

Bình quân thu nhập tăng lên nhanh chóng, các loại hình dịch vụ - thương mại

phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong hưởng thụ cuộc sống của người

dân. Quán ăn, điểm hát karaoke, nhà hàng,… mọc lên nhiều. Nhiều điểm vui chơi

giải trí được xây dựng, sửa sang. Ngoài đường, xe cộ luôn đông đúc với nhiều kiểu

xe máy, xe đạp tạo nên sự nhộn nhịp cho đường phố.

Sự chuyển đổi trong lối sống của người dân còn thể hiện qua trang phục. Cách

ăn mặc của người dân nông thôn không còn cách biệt nhiều với người dân thành thị.

Ngay ở những xã Hiệp Hòa, Tân Hạnh, hình ảnh chiếc áo bà ba, nón lá rộng vành

gần như biến mất. Phổ biến nhất trong đời sống là các kiểu trang phục hiện đại như

quần Âu, quần jean, quần vải, kaki, áo sơ mi, áo thun, áo kiểu với nhiều kiểu dáng,

chất liệu được may hoặc mua sẵn. Giày dép cũng đa dạng và nhiều màu sắc.

Đồ trang sức trước đây chủ yếu là vòng, kiềng, đôi bông bằng vàng hoặc đá

quý thì nay có nhiều chủng loại hơn. Kiềng không còn được ưa chuộng nữa, nếu có

chỉ dùng trong dịp lễ cưới để đeo cho cô dâu hoặc những em bé để tránh gió.

Ngày nay, vòng đeo tay, dây chuyền, nhẫn bằng vàng hoặc bằng các kim loại

quý như bạc, bạch kim, đá được ưa thích. Kính không đơn giản chỉ để nhìn cho rõ

hơn mà đã trở thành một loại phục trang với sự đa dạng về kiểu dáng, màu sắc,

chủng loại. Giới trẻ hiện nay, nhất là lứa tuổi học sinh trung học rất năng động, luôn

tìm tòi tạo nên phong cách riêng thông qua trang phục. Chúng ta dễ dàng bắt gặp

hình ảnh những cô cậu học trò vai đeo balô, chân đi giày, mặc đầm ngắn hay quần

jean, tay đeo những chiếc vòng màu sắc sặc sỡ làm từ nhựa, đá.

Trước đây, gắn liền với hình ảnh của người phụ nữ là mái tóc dài suôn thẳng,

tiêu biểu cho nét đẹp thùy mị, đoan trang. Ngày nay, do tính chất công việc và sự

bộn rộn của cuộc sống, người phụ nữ trở nên năng động hơn với nhiều kiểu tóc

khác nhau. Điều đó cho thấy sự thay đổi lớn trong quan niệm về chuẩn mực của cái

đẹp.

Biên Hòa cũng giống với các tỉnh ở khu vực Nam Bộ, bữa ăn hàng ngày của

người dân đa dạng, tùy theo mùa. Nhưng đó là những món ăn, thức uống truyền

thống được người dân sử dụng những nguyên liệu có sẵn, chế biến tại chỗ: các loại

rau đồng, mắm cá trắng, khô sặc, rượu nếp…. Dụng cụ để nấu ăn là củi tự kiếm

được.

Từ những năm 1990 trở lại đây, kinh tế phát triển, đời sống vật chất của người

dân thay đổi hẳn. Trong gia đình, những chiếc bếp điện, bếp gas phổ biến. Lương

thực, thực phẩm được được bày bán ở các chợ quanh năm, đa dạng không thiếu loại

mặt hàng nào. Từ những năm 2000, khi hệ thống siêu thị phát triển mạnh, người dân

còn ưa thích việc đi chợ trong các siêu thị, vừa tiện lợi vừa đảm bảo an toàn vệ sinh

thực phẩm. Đồng thời đó còn là cách giảm căng thẳng của một bộ phận người dân

sau những giờ làm việc căng thẳng.

Quá trình đô thị hóa – công nghiệp hóa – hiện đại hóa làm cho quy mô gia

đình cũng biến đổi. Trước đây trong xã hội nông nghiệp, các gia đình đóng vai trò

là một lực lượng kinh tế độc lập nên cần lực lượng lao động tại chỗ. Trong xã hội

công nghiệp thì đòi hỏi một gia đình gọn nhẹ, có tính cơ động nhanh vì vậy số thành

viên trong một hộ không còn đông. Gia đình mở rộng gồm từ 3 – 4 thế hệ chung

sống đang được thay thế bằng gia đình hạt nhân chỉ có 2 thế hệ gồm cha mẹ và con

cái hoặc gia đình nửa hạt nhân (là loại gia đình hạt nhân vợ chồng chung sống với

con cái và còn tiếp nhận thêm những thành viên khác có quan hệ huyết thống như

anh chị em ruột hay họ hàng,… nhưng họ vẫn giữ vai trò người chủ, những người

khác bị phụ thuộc).

Các thành viên trong gia đình bình đẳng hơn, vợ chồng cùng nhau làm việc và

chăm sóc con. Giữa cha mẹ và các con không còn những luật lề khô cứng, khắt khe

như trước.

Đô thị hóa còn làm thay đổi không gian sống của từng hộ. Trước đây, mỗi gia

đình sống trong một ngôi nhà rộng rãi về diện tích, trong đó có nhiều thế hệ chung

sống với nhau, có cả một góc vườn để trồng các loại cây cho bóng mát hoặc hoa

quả. Đô thị phát triển, mỗi hộ chuyển dần vào trong những ngôi nhà có kiến trúc

hình hộp, chật chội về diện tích. Những người giàu có hơn thì xây nhà theo kiểu biệt

thự, hiện đại về kiến trúc, tuy diện tích có rộng nhưng lại “kín cổng cao tường”

trong quan hệ với làng xóm.

Đời sống kinh tế khấm khá hơn, những ngôi nhà lá hoàn toàn biến mất. Thay

vào đó là những ngôi nhà gạch, nhà biệt thự. Cách bài trí trong nhà cũng thay đổi.

Nhìn chung, sự du nhập văn hóa nước ngoài đang trở nên phổ biến nhưng

người dân Biên Hòa vẫn giữ được những nét tinh túy trong văn hóa, làm nên sự kết

hợp giữa truyền thống và hiện đại, sự phát triển có kế thừa và chọn lọc.

Khi nói đến những giá trị quý báu truyền thống của cư dân Biên Hòa là nói

đến đạo lý uống nước nhớ nguồn, tình làng nghĩa xóm, tinh thần đoàn kết tương

thân tương ái, sự nhạy bén với cái mới. Nơi đây là vùng đất hội tụ của nhiều thành

phần dân cư từ nhiều địa phương. Người dân thường giữ mối quan hệ giao lưu trực

tiếp với khắp các tỉnh thành trong nước và nhiều nước khác bằng quan hệ họ hàng

cho nên cái mới, cái hay và cả cái không hay được xâm nhập vào Biên Hòa rất sớm,

rất nhanh.

Đô thị hóa làm một số phong tục tập quán thay đổi theo hướng hiện đại, gọn

nhẹ hơn cho phù hợp với cuộc sống năng động nhưng không đánh mất đi thuần

phong mỹ tục. Tục thờ cúng ông bà vẫn được giữ gìn, nghi thức và cách bài trí đơn

giản, ít rườm rà hơn xưa. Đó là chất kết dính mỗi cá nhân trong một gia đình với

nhau, tạo nên sức mạnh đoàn kết, bền vững trong xã hội. Việc cưới xin từ 6 lễ nay

chỉ còn 2 lễ (lễ hỏi và lễ cưới), mang đậm ý nghĩa hai bên họ hàng và cộng đồng

chia sẻ niềm vui, trách nhiệm đối với tổ ấm mới.

Những hủ tục phiền toái của lễ tang theo lối xưa như hú vía, lăn đường, cướp

quan tài,… giảm hẳn. Tỉ lệ sinh đẻ cũng giảm nhiều, quan niệm “nhiều con, nhiều

của” trở nên lạc hậu. Vì vậy các gia đình có điều kiện hơn trong việc chăm sóc, nuôi

dạy con cái.

Trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân Biên Hòa có sự đan xen giữa

truyền thống và hiện đại. Bên cạnh các loại hình ca nhạc, tài tử, nhiều đêm thơ thì

phong trào văn nghệ quần chúng được tổ chức tại địa phương, thu hút nhiều người

tham gia.

Đình chùa chứa đựng nhiều giá trị tinh thần, là chốn thiêng liêng. Ở Biên Hòa

có 34 đình ở cả 26 phường, xã, chỉ riêng ở xã Hiệp Hòa có đến 11 đình, trong đó

đình Tân Lân được xem là một trong những đình sắc nét của tỉnh Đồng Nai. Hàng

năm, các lễ hội diễn ra ở đình vừa được tổ chức đúng trình tự, vừa lưu giữ những

giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tạo được không khí vui tươi

nên thu hút nhiều người dân địa phương tham gia.

Vì đó, thành phố rất quan tâm đến việc bảo vệ, tu sửa đình. Đặc biệt từ năm

2003, thành phố đã tiến hành khảo sát hoạt động lễ hội ở các đình, chùa (đình

Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Tri Phương, Tân Lân, chùa Đại Giác, Long Thiền) để

làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình lễ - hội truyền thống theo hướng cách tân

nhằm từng bước hướng dẫn các đình khác thống nhất thực hiện.

Bên cạnh những chuyển biến mang tính tích cực, trong lối sống của người dân

thành phố Biên Hòa xuất hiện những biểu hiện tiêu cực.

Cuộc sống công nghiệp làm cho mối quan hệ giữa các thành viên cũng không

còn gắn bó mật thiết, những bữa cơm gia đình trở nên hiếm hoi. Sự “dân chủ” và

“bình đẳng” thái quá trong một số gia đình đã gây ra không ít cảnh dở khóc đở cười.

Đây đó có những bậc cha mẹ do mải mê kiếm tiền mà quên mất trách nhiệm đối với

gia đình, con cái.

Sự phân hóa xã hội gay gắt, đặc biệt là tình trạng chênh lệch giàu – nghèo gia

tăng, số người nhập cư tăng nhanh trong thời gian qua cũng góp phần tạo nên mặt

trái trong lối sống. Ở những khu nhà trọ, sự đến và đi thường xuyên của một bộ

phân người lao động khiến cho chính quyền khó quản lý. Đồng thời họ mang theo

cả những thói quen, lối sống lạc hậu làm cho môi trường xung quanh cũng ít nhiều

bị ảnh hưởng. Ngoài đường, tình trạng xả rác bừa bãi nơi công cộng, hiện tượng vi

phạm luật giao thông không phải hiếm.

Rõ ràng, sự chuyển đổi từ đời sống nông nghiệp nghèo nàn sang nhịp sống

công nghiệp hiện đại cũng tạo nên sự hụt hẫng trong văn hóa. Ở những KCN, lương

công nhân mới gấp đôi thu nhập của nông dân thì đời sống văn hóa nảy sinh nhiều

hiện tượng phức tạp trái ngược với bản sắc truyền thống. Đó là “bản tính nông dân

được xài tiền lương công nghiệp” [67, tr.63]. Tiền lương và thời gian nhàn rỗi đây

đó được nướng vào các sòng bài, quán rượu, chỗ ăn chơi hơn là tiêu dùng cho trí

tuệ.

Trong sự phát triển của văn hóa xã hội, những yếu tố văn hóa ngoại nhập cũng

tràn vào thành phố. Phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại ở Biên Hòa được tiếp

nhận sớm và phổ biến nhanh. Số chương trình trên truyền hình thành phố tăng

nhanh nhưng phim Việt Nam có tỉ lệ còn khiêm tốn, mới đảm bảo 50% thời lượng

chiếu phim theo quy định. Những văn hóa phẩm có tính chất không lành mạnh xuất

hiện trên thị trường đã tác động đến một bộ phận người dân.

Kinh tế phát triển, trước sức mạnh của đồng tiền, một bộ phận người dân có tư

tưởng đổi đời bằng cách lấy chồng giàu hoặc người nước ngoài. Các tệ nạn xã hội

như mại dâm, ma túy chưa được giải quyết một cách triệt để.

Như vậy, đô thị hóa đã làm biến đổi sâu sắc đời sống văn hóa tinh thần của

người dân. Sự tiếp nhận những yếu tố văn hóa bên ngoài một mặt, tạo ra sự đa dạng,

phong phú, mặt khác làm “ô nhiễm môi trường văn hóa”. Do vậy, thành phố đã tăng

cường nhiều biện pháp để kiểm tra, kịp thời ngăn chặn sự phát sinh, xâm nhập của

các sản phẩm văn hóa độc hại, tiến tới tiêu diệt những hiện tượng tiêu cực trong xã

hội. Đồng thời, hướng tới việc tiếp nhận văn hóa có chọn lọc.

Ngoài ra, các hoạt động thông tin tuyên truyền nhằm loại bỏ những tín

ngưỡng cổ hũ, lạc hậu, cổ vũ cho đời sống văn hóa mới đang được triển khai mạnh

3.4. Sự phân hóa giàu nghèo

mẽ ở các địa phương.

Diện tích thành phố Biên Hòa rất nhỏ bé nhưng đây lại là một khu vực có

nền kinh tế khá phát triển. Trong thời kỳ chiến tranh, Biên Hòa cũng là một thị

trường kinh tế cho dù đó là nền kinh tế phụ thuộc vào bên ngoài, một trung tâm dịch

vụ vui chơi của binh lính Mỹ - ngụy. Sự phân hóa giàu nghèo trong dân cư thể hiện

khá rõ rệt.

Sau chiến tranh, đất nước thống nhất, hòa bình lập lại, tình hình xã hội phức

tạp. Theo định hướng chung của cả nước, thành phố Biên Hòa thực hiện nền kinh tế

XHCN mà đặc trưng là sở hữu nhà nước và tập thể, cùng với hình thức phân phối

bình quân dẫn đến sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn vì quỹ phúc lợi trên

đầu người ở khu vực nông thôn thấp hơn nhiều so với tính cho một đầu người thành

phố.

Có thể thấy rõ đặc điểm trong đời sống dân cư là rất khó khăn do tác động

của nền kinh tế, mức sống thấp, tình trạng đói nghèo nhiều nhưng sự phân hóa giữa

các thành phần dân cư trong xã hội không đến mức gay gắt vì những người nghèo

có thu nhập thấp cũng đã được đáp ứng mức sống tối thiểu.

Từ năm 1986 thành phố Biên Hòa tiến hành đổi mới, chuyển sang mô hình

kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, đạt được nhiều thành tựu vượt bậc, đời

sống người dân được cải thiện không ngừng. Tuy nhiên chính sự bung ra sản xuất

của các thành phần kinh tế đã dẫn đến sự chênh lệch giàu – nghèo tăng lên nhanh

chóng. Đó là hệ quả tất yếu của quá trình đô thị hóa và là lực cản của sự phát triển

đô thị bền vững.

Trước hết là nhận diện về đói nghèo. “Đói nghĩa là không đủ ăn, còn nghèo

thì có thể đủ ăn nhưng những nhu cầu tối thiểu khác như nhà ở, phương tiện đi lại,

điều kiện học hành vẫn chưa được đảm bảo. Những người đói, nghèo là những

người có mức sống dưới mức trung bình của xã hội” [66, tr.154].

Những cơ sở để xác định, đánh giá mức độ đói nghèo của mỗi quốc gia, mỗi

khu vực có sự khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội. Về cơ

bản có thể dựa vào sự phân hóa trong thu nhập bình quân đầu người, tình trạng tài

sản, tiện nghi sinh hoạt, sự hưởng thụ các dịch vụ văn hóa, tư liệu sản xuất.

Ở thành phố Biên Hòa, căn cứ vào kết quả điều tra giàu nghèo năm 1993 có

5 loại hộ gia đình (tương ứng 5 nhóm) như sau:

1. Hộ có thu nhập cao – hộ giàu (nhóm 1)

- Thành thị: từ 500.000 đồng/1 tháng trở lên.

- Nông thôn: từ 350.0000 đồng/1 tháng trở lên.

2. Hộ có thu nhập trên trung bình – hộ khá (nhóm 2)

- Thành thị: từ 300.000 đồng đến dưới 500.000 đồng/1 tháng.

- Nông thôn: từ 200.000 đồng đến dưới 350.000 đồng/1 tháng.

3. Hộ có thu nhập trung bình – hộ trung bình (nhóm 3)

- Thành thị: từ 150.000 đồng đến 300.000 đồng/1 tháng.

- Nông thôn: từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/1 tháng.

4. Hộ có thu nhập dưới trung bình – dưới trung bình (nhóm 4)

- Thành thị: từ 70.000 đồng đến dưới 150.000 đồng/1 tháng.

- Nông thôn: từ 50.000 đồng đến dưới 100.000 đồng/1 tháng.

5. Hộ nghèo: (nhóm 5)

- Thành thị: thu nhập dưới 70.000 đồng/1 tháng.

- Nông thôn: thu nhập dưới 50.000 đồng/1 tháng.

Nếu hộ có mức thu nhập ở thành thị là 40.000 đồng và 20.000 đồng ở nông

thôn thì đó là rất nghèo. Rõ ràng đô thị hóa, hiện đại hóa đã làm tăng lên cách biệt

giữa thành thị và nông thôn. Nếu bình quân chung về thu nhập thì một năm nguồn

thu nhập của 1 hộ dân thành thị là 44.028 ngàn đồng, gấp 1,5 lần so với thu nhập

bình quân một năm của một hộ ở nông thôn là 29.256 ngàn đồng.

Ở khu vực nông thôn, do nghề nghiệp chính của người dân là nông nghiệp

nên thu nhập trong lĩnh vực này gấp 12,1 lần so với thành thị. Ở thành thị, nơi tập

trung các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ quá

trình đô thị hóa nên người dân có thêm một khoản thu nhập về cho thuê tài sản như

các dịch vụ cho thuê mặt bằng, cho thuê phòng trọ… Trong số đó có nhiều người

làm việc cho nhà nước nên khi về già họ có thêm một khoản tiền trợ cấp hưu trí. Có

thể theo dõi bảng số liệu sau đây để thấy được sự khác nhau trong thu nhập bình

quân của một hộ ở thành thị và nông thôn trong một năm.

Bảng 3.11. Thu nhập chia theo nguồn thu ở thành thị và nông thôn

Thành thị

Nông thôn

Hệ số

Nguồn thu

chênh lệch

a

b

a

b

100%

29.256

100%

44.028

Thu nhập bình quân 1 hộ/1 năm

Chia ra:

40,51%

11.851

31,47%

13.975

1,3

1. Thu nhập từ tiền lương, tiền

công

8,11%

2.372

0,67%

297

12,1

2. Thu nhập từ sản xuất NLTS

49,37%

14.443

39,50%

17.392

1,3

3. Thu nhập từ sản xuất ngành

nghề phi NLTS

-

-

1,18%

518

-

4. Thu nhập từ cho thuê tài sản

-

-

0,60%

265

-

5. Thu nhập từ hưu trí trợ cấp

2,02%

590

26,30%

11.581

13

6. Thu nhập từ các nguồn khác

ĐVT: a: 1000 đồng, b: %

Nguồn: [69, tr. 52,53]

Với tỉ lệ thu nhập phi NLTS ở nông thôn lớn, chiếm 49,37% chứng tỏ công

nghiệp hóa – hiện đại hóa xâm nhập vào đời sống dân cư ngày càng mạnh mẽ, làm

chuyển biến cơ cấu kinh tế, tăng các hoạt động tiểu thủ công nghiệp như đan lát,

làm tre nứa để xuất khẩu.

Bên cạnh sự chênh lệch giữa khu vực nông thôn và thành thị, đô thị hóa –

hiện đại hóa còn làm sâu sắc thêm sự phân tầng xã hội, nhất là ở thành thị, khoảng

cách giàu – nghèo ngày càng gia tăng.

Những người có thu nhập cao nhất chủ yếu sống trong các ngôi nhà kiên cố

khép kín (40,63%) và bán kiên cố (59,38%), không có nhà và các kiểu nhà khác và

đương nhiên là không có tình trạng không có nhà ở. Còn ở nhóm có thu nhập thấp

nhất, phổ biến là loại nhà bán kiên cố (tỉ lệ 53,13%), tỉ lệ ở nhà tạm và các kiểu nhà

khác chiếm tới 18,75%. Nhà của người dân ở nông thôn phổ biến đều là loại bán

kiên cố nhưng khác nhau ở trị giá trong ngôi nhà đó.

Ngoài ra để đánh giá sự phân hóa giàu nghèo trong đời sống dân cư, chúng ta

quan sát ở sự phân hóa tài sản. Sự khác nhau trong thu nhập đã dẫn đến sự phân hóa

tài sản. Theo tính toán của phòng Thống kê, sự phân hóa giàu nghèo dựa trên trị giá

tài sản cố định và trị giá đồ dùng lâu bền cũng chia ra theo 5 nhóm thu nhập, ở

Bảng 3.12. Chênh lệch tài sản chia theo 5 nhóm thu nhập ở thành thị và nông thôn

thành thị và nông thôn.

Chung Nhóm

Nhóm 4 Nhóm

Nhóm

Nhóm1

5

3

2

Thành thị:

- Trị giá tài sản cố

21.603

2.911

5.166

62.258

20.553

50.448

định

27.347

10.996

20.408

31.803

25.778

47.751

- Trị giá đồ dùng

lâu bền

Nông thôn:

4.000

12.700

53.750

-

-

27.275

- Trị giá tài sản cố

3.225

157.758

11.000

32.413

90.780

14.218

định.

- Trị giá đồ dùng

lâu bền

ĐVT: 1000 đồng

Nguồn: [69, tr.56]

Ở những hộ nghèo, 70% – 80% nguồn thu nhập của họ phải chi cho ăn uống,

chỉ có 20% – 30% thu nhập dùng để chi cho những khoản khác, để mua sắm những

phương tiện hiện đại có giá trị sử dụng lâu dài hay sửa chữa xây dựng nhà cửa, còn

ở những hộ có thu nhập cao thì khác. Chính vì vậy mà có sự chênh lệch cao ở nhóm

thứ 5 - nhóm có thu nhập thấp nhất và nhóm thứ 1 - nhóm có thu nhập cao nhất.

Ở thành thị, hệ số chênh lệch về trị giá tài sản cố định là 17,3 lần, giữa nhóm

thứ 4 và nhóm thứ 1 là 7 lần. Giữa hai nhóm kế tiếp nhau có khi cũng tăng lên gấp

đôi và có khi hơn, chẳng hạn như giữa nhóm thứ 3 và nhóm thứ 2 là 5,1 lần. Trong

khi trị giá tài sản cố định của nhóm 5 chỉ có 2.911.000 đồng thì ở nhóm 1 rất lớn

50.448.000 đồng. Sự khác biệt trong giá trị đồ dùng gia đình cũng được tính theo hệ

số lũy tiến, càng giàu càng xài đồ mắc tiền hơn.

Ở khu vực nông thôn khoảng cách giữa các nhóm cũng rất rõ ràng, những

người nghèo hoàn toàn không có tài sản cố định hoặc trị giá đồ dùng lâu bền thấp

(3.225.000 đồng). Trong khi những người ở nhóm 1 rất giàu, giá trị tài sản cố định

lớn, lên đến 53.750.000 đồng. Sự chênh lệch giữa hai nhóm kế tiếp nhau cũng rất

cao, ví dụ giữa nhóm thứ 5 và nhóm thứ 4 là 4,23 lần.

Như vậy, bên cạnh mặt tích cực mà quá trình đô thị hóa đem lại thì những

hạn chế, tiêu cực trong xã hội cũng nảy sinh và phát triển. Phân hóa giàu – nghèo là

một vấn đề tất yếu có tính quy luật đối với sự phát triển của thành phố Biên Hòa.

Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo có thể có nhiều, do xuất phát điểm là gia đình

nghèo, đông con, thất học dẫn đến thất nghiệp hoặc do cờ bạc, lười biếng không

chịu lao động; do sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường dẫn đến một số cơ sở

sản xuất thua lỗ, bị phá sản, công nhân thất nghiệp, bản thân người chủ cũng trở

thành kẻ trắng tay… Từ đói nghèo sẽ kéo theo nhiều hệ lụy khác, kìm hãm nhịp độ

tăng trưởng kinh tế, ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội trong vấn đề giải quyết việc làm,

an ninh trật tự, giáo giục, y tế,…

Tuy nhiên trong 20 năm qua, thành phố Biên Hòa luôn có nhiều cố gắng để

làm giảm tỉ lệ những hộ đói – nghèo, thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch thông qua

các chính sách xã hội.

Chương trình xóa đói giảm nghèo được quan tâm, đặc biệt từ những năm

1990 đã được triển khai sâu rộng trong đời sống dân cư nên việc huy động vốn và

cho vay hỗ trợ các hộ nghèo đạt kết quả tốt. Nếu như năm 1993 nguồn vốn quỹ xóa

đói giảm nghèo thành phố đạt 3 tỉ 199 triệu đồng, giải quyết cho 4132 hộ vay [59,

tr.19], đến năm 2000 nâng số vốn lên 6,2 tỉ đồng và 7558 hộ được vay từ quỹ này.

Các hộ được hỗ trợ vốn đa số đều cố gắng làm ăn có hiệu quả, thu nhập ngày

càng được tăng lên. Đời sống có phần ổn định hơn trước, xóa dần hộ đói, nâng cuộc

sống khá hơn đối với hộ nghèo. Đồng thời thành phố còn giải quyết hỗ trợ hàng

trăm triệu đồng vốn cho các đơn vị xí nghiệp, kinh tế tập thể để phát triển ngành

nghề, đầu tư phương tiện và trang thiết bị dạy nghề, tạo việc làm cho con em các gia

đình chính sách, gia đình đặc biệt khó khăn. So với cả tỉnh, Biên Hòa có tỉ lệ hộ đói

nghèo luôn thấp hơn mức chung.

Bảng 3.13. Biến động hộ đói nghèo của TP. Biên Hòa theo

Năm 1994

Năm 1999

Dân số

Hộ đói nghèo

Tỉ lệ Dân số

Hộ đói nghèo

Tỉ lệ

(hộ)

Tổng

Đói Nghèo %

(hộ)

Tổng Đói Nghèo

%

-

Tỉnh

353.165 56.898 11.824 45.074 16,11 410.768 20.333

20.333

4,95

Biên

-

Hòa

75.229

4.428

1.103

3.325

5,88

100.563

1.732

1.732

1,72

chuẩn mực cũ qua các năm 1994 – 1999

Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]

Chỉ trong vòng 5 năm, từ năm 1994 đến năm 1999 số hộ đói – nghèo của

thành phố giảm nhanh, từ 5,88% xuống còn 1,72%, đặc biệt đã xóa được tình trạng

hộ đói trên địa bàn. Tuy nhiên đến năm 2000 theo tiêu chí mới xác định về hộ đói –

nghèo, tỉ lệ nêu trên lại tăng lên do một số hộ trước kia đã vượt ra khỏi đói – nghèo

nay do mức xác định cao hơn nên bị tính trở lại.

Bảng 3.14. Biến động hộ đói nghèo của TP. Biên Hòa theo chuẩn mực

Năm 2000

Năm 2005

Dân số

Hộ đói nghèo

Tỉ lệ Dân số

Hộ đói nghèo

Tỉ lệ

(hộ)

Tổng Đói Nghèo %

(hộ)

Tổng Đói Nghèo

%

-

Tỉnh

419.374

52.827

52.827 12,59 424.117

3.795

3.795

0,89%

-

Biên

-

-

Hòa

103.432

3.858

3.858

3,73

101.264

70

70

0,07%

mới qua các năm 2000 - 2005

Nguồn: [Phòng Thống kê TP.Biên Hòa (54)]

Qua bảng số liệu, số hộ nghèo đói của tỉnh nói chung và thành phố Biên Hòa

nói riêng so với năm 1999 là nhiều hơn, nhưng về cơ bản đã xóa được hoàn toàn hộ

đói. Đây là kết quả đáng mừng cho sự phát triển của thành phố. Mặt khác trong 5

năm từ năm 2000 đến năm 2005, tỉ lệ hộ nghèo của thành phố và tỉnh giảm nhanh,

đối với Biên Hòa là 0,07%.

So sánh giữa tỉ lệ chung của cả tỉnh và thành phố Biên Hòa thì thấy có sự

chênh lệch đáng kể, dù theo chuẩn mực mới hay cũ. Điều đó nói lên đời sống kinh

tế của người dân thành phố cao hơn, mặt khác phản ánh hiệu quả của công tác xóa

đói giảm nghèo.

Bên cạnh chính sách xóa đói giảm nghèo, thành phố Biên Hòa còn quan tâm

và thực hiện tốt phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc các đối tượng chính sách

góp phần làm giảm bớt khó khăn cho các gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có

công với nước.

Trong giai đoạn 1991 – 1995 thành phố đã trực tiếp chăm lo được 7900 đối

tượng với kinh phí 37 tỉ 738 triệu đồng, xây dựng 150 căn nhà tình nghĩa, cấp 253

sổ tiết kiệm tặng đối tượng chính sách.

Đến 5 năm 2001 – 2005, thành phố đã giải quyết dứt điểm việc xây nhà tình

nghĩa cho các đối tượng thuộc diện chính sách. Ngoài ra còn xây được 605 nhà tình

thương cho các hộ nghèo, đạt gấp 3,5 lần so với mục tiêu nghị quyết. Như vậy, các

chính sách xã hội, hoạt động từ thiện, nhân đạo, chăm lo gia đình nghèo, người tàn

tật, neo đơn, trẻ em mồ côi đã được các ngành, các cấp và đông đảo nhân dân trên

địa bàn thành phố quan tâm hỗ trợ. Từ đó góp phần làm giảm cách biệt giàu nghèo

* Tiểu kết chương 3

trong xã hội, ổn định đời sống dân cư và an ninh trật tự xã hội.

Qua 20 năm đổi mới, bộ mặt xã hội của thành phố Biên Hòa thay đổi nhanh

chóng. Sự tăng lên liên tục của quy mô dân số, trong đó chủ yếu là tăng cơ học làm

cho lực lượng lao động luôn dồi dào. Trình độ tay nghề của đội ngũ công nhân đang

từng bước được nâng cao để thích nghi với quy trình sản xuất hiện đại.

Các lĩnh vực khác phục vụ cho đời sống cũng không ngừng phát triển theo

hướng đáp ứng đầy đủ và nâng cao chất lượng cuộc sống. Hệ thống các hoạt động

phục vụ cho vui chơi – giải trí được tăng cường như sửa chữa, nâng cấp công viên

Biên Hùng, xây dựng khu chợ đêm,… Hệ thống giáo dục với số trường, lớp, giáo

viên, học sinh tăng lên qua mỗi năm, số học sinh tốt nghiệp các cấp học cao, đặc

biệt có nhiều trường đạt chuẩn quốc gia. Số bệnh viện tuy không tăng nhưng số

giường bệnh, phòng khám tư phát triển mạnh, điều đó cho thấy nhu cầu của người

dân không chỉ cần đi khám để chữa bệnh mà còn đòi hỏi chất lượng phục vụ cao.

Đời sống kinh tế phát triển, mức hưởng thụ cuộc sống cũng thay đổi. Trước

năm 1986, người dân phải lo sao cho đủ cái ăn, cái mặc thì bây giờ phải là ăn ngon,

mặc đẹp, ở nhà kiên cố. Tuy nhiên trong xã hội cũng xuất hiện nhiều trở ngại cho sự

phát triển của thành phố. Đó là sự phân hóa giàu – nghèo gay gắt, sự ô nhiễm môi

trường, tình trạng văn hóa bị xuống cấp trong một bộ phận thanh thiếu niên – những

người chủ tương lai của thành phố, các tệ nạn xã hội,…

Vì vậy thành phố đã xác định lấy phát triển kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm,

phát triển văn hóa – xã hội làm động lực thúc đẩy quá trình đô thị hóa. Trên cơ sở

ấy, các hoạt động xã hội được nhân rộng trong quần chúng, việc giáo dục đạo đức

truyền thống cho học sinh – sinh viên được chú ý, sửa chữa và nâng cấp hệ thống

dịch vụ.

KẾT LUẬN

Đô thị hóa là một hiện tượng khách quan, mang tính tất yếu trong sự phát

triển của loài người nói chung và thành phố Biên Hòa nói riêng. Thông qua việc

dựng lại bức tranh đô thị hóa của Biên Hòa trong 20 năm qua, tác giả rút ra một số

nhận xét sau:

1. Quá trình đô thị hóa diễn ra ở thành phố Biên Hòa từ 1986 – 2005 có

nhiều thuận lợi. Trước hết, đó chính là việc thừa hưởng toàn bộ cơ sở hạ tầng được

xây dựng từ thời Pháp thuộc, đặc biệt dưới sự cai trị của đế quốc Mĩ, điển hình nhất

là khu kỹ nghệ Biên Hòa (nay là KCN Biên Hòa 1). Trong thời kì đất nước hoà

bình, Biên Hòa sớm được xác định là trung tâm của cả tỉnh nên nhận được nhiều sự

quan tâm của các cấp chính quyền. Ngoài ra do vị trí nằm gần thành phố Hồ Chí

Minh – một đô thị phát triển vào hàng bậc nhất của nước ta, lại nằm trong vùng

kinh tế trọng điểm phía nam giúp Biên Hòa nhanh tiếp cận được với trình độ khoa

học kỹ thuật cao, tạo điều kiện đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

Mặt khác, xuất phát điểm của Biên Hòa là một đô thị dịch vụ thời Mĩ – ngụy, người

dân rất nhạy bén, năng động trong kinh doanh tạo nên sự đa dạng trong các ngành

nghề.

2. Khi nói đến quá trình đô thị hóa, có hai loại: đô thị hóa tự phát và đô thị

phát triển do nhà nước quản lý.

Tính tự phát được thể hiện qua hiện tượng xây dựng nhà ở tràn lan của người

dân nằm ngoài sự kiểm soát của chính quyền, qua sự quá tải của một số ngành phục

vụ,… Vì vậy, đô thị hóa tự phát thường mang lại nhiều yếu tố bất ổn cho sự phát

triển (đặc điểm này diễn ra chủ yếu ở những phường ngoại thành như Bửu Long,

Long Bình Tân, Trảng Dài).

Tính tự giác được thể hiện qua những những chủ trương, chính sách của

thành phố. Từ sau đại hội đổi mới – đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm

1986, thành phố đã phê duyệt nhiều dự án phát triển kinh tế, chủ động tháo gỡ mọi

rào cản trong thủ tục hành chính để thu hút vốn đầu tư nước ngoài; đồng thời cũng

sớm xác định vai trò là trung tâm công nghiệp của cả nước.

Mặt khác, thành phố đã tiến hành xây dựng hai bản quy hoạch tổng thể năm

1993 và năm 2002 (trong đó định hướng phát triển Biên Hòa đến năm 2020). Theo

sự quy hoạch năm 2020, thành phố Biên Hòa sẽ được mở rộng, phát triển chủ yếu

về phía Bắc, Tây Bắc và dọc hai bên bờ sông Đồng Nai tạo thành mối liên hệ hài

hòa giữa Biên Hòa và các tỉnh lân cận. Ngoài ra, việc quy hoạch chi tiết không gian

đô thị các phường cũng được thực hiện. Mục tiêu đến năm 2010, thành phố sẽ tiến

hành quy hoạch đối với 26 phường, xã.

Như vậy ở Biên Hòa diễn ra song song cả hai quá trình đô thị hóa tự phát và

tự giác. Đây cũng là đặc điểm chung của trong quá trình phát triển của các đô thị ở

Việt Nam.

3. Động lực thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra ở thành phố Biên Hòa bắt

nguồn từ 2 yêu cầu: là trung tâm kinh tế - chính trị của toàn tỉnh và yêu cầu phát

triển về kinh tế - xã hội . Ngay từ những ngày đầu sau giải phóng 1975, Biên Hòa đã

là một đô thị đồng thời được xác định là thành phố của toàn tỉnh Đồng Nai. Mặt

khác, trong khoảng thời gian từ năm 1975 đến trước đổi mới, sự khủng hoảng trầm

trọng trên tất cả lĩnh vực của đời sống trở thành nguyên nhân đòi hỏi thành phố phải

nhanh chóng phát triển. Kết quả từ năm 1986 trở lại đây, quá trình đô thị hóa đã

đem lại bộ mặt mới về kinh tế cho thành phố, mức tăng trưởng bình quân hàng năm

cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật được hoàn thiện từng bước, mức sống của người dân

được cải thiện và nâng cao…

4. Xuất phát từ đặc điểm lịch sử, quá trình đô thị hóa thành phố Biên Hòa

trong 20 năm qua có đặc điểm là sự phát triển, mở rộng không gian đô thị ở những

phường trước đây là ngoại thị như Long Bình Tân, Trảng Dài, sự phổ biến lối sống

thành thị vào nông thôn ở 3 xã Tân Hạnh, Hóa An và Hiệp Hòa; đồng thời nâng cao

dần vai trò của thành phố đối với khu vực phía Nam và của cả nước. Đặc điểm này

hoàn toàn khác với một số đô thị nhỏ hiện nay được hình thành trên cơ sở của một

vùng thuần nông. Các yếu tố đô thị (cảnh quan, cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội, dân

cư…) ngày càng phát triển theo hướng hiện đại, khang trang hơn. Các khu công

nghiệp cùng với cụm công nghiệp đựơc xây dựng nhiều hơn vừa thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế, vừa góp phần giải quyết việc làm cho người lao động.

Như vậy quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa diễn ra theo chiều sâu

và chiều rộng. Tuy nhiên căn cứ trên hiện trạng sử dụng đất của thành phố năm

2002, quỹ đất chưa sử dụng còn rất ít. Vì vậy việc xây dựng phát triển đô thị Biên

Hòa trong tương lai cần phải tập trung theo chiều sâu. Điều này cũng hoàn toàn phù

hợp với xu thế phát triển của các đô thị lớn nói chung.

5. Đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa vừa diễn ra theo chiều rộng và chiều sâu,

vừa mang tính tự phát và tự giác nhưng nổi trội là sự phát triển có kế hoạch thể hiện

tính tự giác và đi vào chiều sâu. Bên cạnh đó sự quan tâm của chính quyền đã đóng

vai trò là động lực thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của thành phố; làm cho Biên

Hòa trở thành một đô thị công nghiệp của cả nước.

Điều đó được thể hiện ở tỉ trọng sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố

so với toàn tỉnh (năm 2005 giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố chiếm 67,6%

so với toàn tỉnh), qua số dự án nước ngoài đầu tư tập trung ở 4 khu công nghiệp lớn

là Amata, Loteco, Biên Hòa 1 và Biên Hòa 2. Vì vậy ở Biên Hòa, đô thị hóa gắn

liền với công nghiệp hóa. Công nghiệp hóa thúc đẩy đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ,

tạo điều kiện để nâng cao đời sống kinh tế người dân; ngược lại đô thị hóa bổ sung

thêm nguồn lao động, nâng cao trình độ dân trí, tạo nên lực lượng lao động có tay

nghề trong nhà máy xí nghiệp.

6. Bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng đem lại nhiều hệ

lụy. Lĩnh vực cơ sở hạ tầng phát triển còn chậm so với tốc độ phát triển kinh tế; giao

thông chủ yếu là chỉnh trang, chưa mở được những tuyến đường mới, chưa hình

thành mạng đường chính hợp lý. Hệ thống điện, nước chưa được đầu tư phát triển

tương xứng, vẫn còn tồn tại những nhà máy công nghiệp nằm rải rác trong khu dân

cư, không theo quy hoạch (như cụm công nghiệp Tân Mai, Tân Tiến…). Vấn đề nhà

ở trong các khu tái định cư, khu chung cư cho cán bộ công nhân, đặc biệt là ở các

khu công nghiệp tập trung, khu dân cư đô thị mới chưa được quan tâm đúng mức.

Các hoạt động dịch vụ chưa phong phú để đáp ứng nhu cầu gải trí – vui chơi của

người dân thành phố.…

Trên cơ sở tìm hiểu thực tế quá trình phát triển của thành thố Biên Hòa từ

1986 - 2005, tác giả luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm sau:

1. Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của thành phố, luôn

có những chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế địa phương.

Từ năm 1986, Đảng bộ và các cấp chính quyền thành phố Biên Hòa đã từng

bước tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, bằng nhiều biện pháp như thu hút vốn

đầu tư nước ngoài, kịp thời chỉ đạo khắc phục những hạn chế tồn đọng trong các

nhà máy, xí nghiệp. Đồng thời quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho

người dân, xác định văn hóa là nền tảng, động lực phát triển kinh tế - xã hội. Kết

quả là thành phố đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả lĩnh vực, qua đó góp

phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng.

Trong tương lai, vai trò của nhà nước cần được giữ vững thông qua nâng cao

năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp gắn với thực hiện cải

cách thủ tục hành chính. Thường xuyên củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng

trong sạch vững mạnh là yếu tố quyết định mọi thắng lợi trước yêu cầu, nhiệm vụ

mới.

2. Tăng cường khối đoàn kết toàn dân, phát huy vai trò làm chủ của nhân

dân để tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện tốt những mục tiêu mà thành phố đề

ra trong quá trình đổi mới.

Lịch sử đã chứng minh rằng trong bất cứ thời đại nào, nhân dân cũng là động

lực của sự phát triển. Nắm vững bài học đó, từ 1986 – 2005, bên cạnh các chính

sách, biện pháp để phát triển kinh tế, thành phố rất quan tâm đến các công tác xã hội

như xây nhà tình thương – tình nghĩa, đền ơn đáp nghĩa đối với những người có

công với quê hương, phong trào xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người

lao động,… Đẩy mạnh các hoạt động chăm lo sự nghiệp giáo dục, y tế, văn

hóa,…Mở rộng và đa dạng các hình thức tập hợp nhân dân ở tận cơ sở, phối hợp

nhà nước và nhân dân cùng làm.

Đồng thời, thành phố bước đầu đã chú ý tạo điều kiện để người dân tiếp xúc

với các công việc quản lý và phát triển đô thị. Điều đó không chỉ đáp ứng đòi hỏi có

căn cứ khoa học về sự đổi mới công tác phát triển đô thị hiện nay mà còn phù hợp

với quan điểm “lấy dân làm gốc” của nhà nước XHCN. Sự tham gia của cộng đồng

cho phép người dân không dừng lại ở việc đóng góp, hợp tác mà còn đi sâu vào quá

trình ra quyết định của thành phố. Để làm được điều này cần phải nâng cao trình độ

dân trí, tăng cường dân chủ hóa đời sống xã hội, cố gắng khắc phục tính áp đặt từ

trên chỉ đạo xuống cơ sở.

3. Bên cạnh những biện pháp tích cực đưa Biên Hòa trở thành thành phố hiện

đại, văn minh, chính quyền còn kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tệ quan

liêu và các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội. Ngoài ra, việc tăng cường giáo dục

pháp luật, xây dựng ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật trong nhân dân, xây

dựng đô thị trật tự kỉ cương là yếu tố quan trọng, tạo thuận lợi cho sự phát triển lâu

dài. Như vậy, quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Biên Hòa gắn liền

với yêu cầu củng cố quốc phòng – an ninh.

4. Biên Hòa là một đô thị phát triển nhanh, gắn liền với công nghiệp hóa -

hiện đại hóa. Bên cạnh việc nâng cao trình độ dân trí cho toàn dân, thành phố đã tập

trung xây dựng đội ngũ trí thức và công nhân có tay nghề.

Quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, tác động sâu sắc toàn diện

trên các lĩnh vực của đời sống. Vì vậy, đội ngũ trí thức và công nhân có tay nghề là

lực lượng tiên phong trong qúa trình đổi mới, nhanh thích nghi với trình độ khoa

học – công nghệ cao.

Trong nhiều năm qua, ngành Giáo dục – Đào tạo đạt được nhiều thành tựu

đáng mừng, tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp, cao đẳng, đại học cao, tuy nhiên công tác

dạy nghề cho lao động phổ thông còn hạn chế. Hiện tượng những người sau khi

được đào tạo ở trình độ cao chuyển sang làm việc ở những tỉnh thành khác, hoặc

không được tạo điều kiện để phát huy chuyên môn vẫn còn.

Điều đó đặt ra thách thức không chỉ riêng cho ngành mà cả các cơ quan,

đoàn thể trong xã hội.

Trên cơ sở những mặt tích cực, tiến bộ và cả những hạn chế còn tồn đọng

trong quá trình đô thị hóa của thành phố giai đoạn 1986 – 2005, tác giả mạnh dạn đề

xuất một số ý kiến có tính chất tham khảo sau:

1. Trước hết về chỉ đạo quản lý, quy hoạch cần phải luôn đi trước một bước

và đồng bộ giữa xây mới và cải tạo, giữa quy hoạch bộ phận với quy hoạch tổng thể

trên tất cả các lĩnh vực, hạn chế đến mức tối đa tình trạng chính quyền đi sau gải

quyết các hệ quả do đô thị hóa tự phát để lại hay sự chồng chéo của những bản quy

hoạch mang tính vi mô và vĩ mô. Điều đó gây nhiều tốn kém, lãng phí cho nhà nước

và cho nhân dân.

Đây thực sự cũng là bài học chung cho tất cả các đô thị ở Việt Nam khi mà

trước đây, do điều kiện lịch sử và hạn chế trong nhận thức, chúng ta chưa có kế

hoạch dài hơi để phát triển đô thị. Chỉ từ sau năm 1992 việc quy hoạch đô thị được

chú ý hơn. Ở thành phố Biên Hòa, đã có hai dự án quy hoạch tổng thể vào năm

1993 và năm 2002 cho đến năm 2020. Tuy nhiên thời hạn năm 2020 thì không thể

xem là dài lâu để định hướng phát triển cho một đô thị lớn, mặt khác những nội

dung trong bản quy hoạch sau vẫn chưa thể hiện được vai trò quan trọng của thành

phố trong tương lai, khi mà người dân đang cố gắng đưa Biên Hòa trở thành đô thị

loại I của cả nước.

Một thực tế hiện nay chúng ta thường làm là quy hoạch không gian trước,

quy hoạch kinh tế - xã hội sau nên thường dẫn đến tình trạng quy hoạch treo.

Nguyên nhân là do công tác dự báo, đánh giá mức độ phát triển kinh tế - xã hội còn

yếu. Vì vậy để Biên Hòa phát triển đúng hướng và lâu dài, cần đánh giá đúng mức

vai trò, vị trí của những nhà quy hoạch đô thị.

2. Trong quy hoạch, xây dựng thành phố cần chú ý đến những yếu tố của sự

phát triển đô thị bền vững. Cụ thể phải quan tâm đúng mức đến môi trường sinh

thái. Hiện nay đứng trước tình trạng ô nhiễm môi trường do các khu công nghiệp,

thành phố đã quy hoạch di dời KCN Biên Hòa 1, chuyển đổi chức năng thành trung

tâm thương mại – dịch vụ. Tuy đây là tín hiệu đáng mừng song thành phố cần đầu

tư nhiều hơn đối với việc xây dựng các hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt, nước

thải công nghiệp và hệ thống thoát nước mưa (một bài học lớn mà quá trình đô thị

hóa ở thành phố Hồ Chí Minh đang đặt ra); đồng thời tích cực trồng cây ven đường

vừa tạo mỹ quan cho thành phố, vừa tạo ra bầu không khí trong lành, làm giảm

tiếng ồn và bụi khói do các phương tiện đi lại mang đến.

Là một thành phố - đô thị nằm bên bờ sông Đồng Nai, hiện nay dòng sông

này đang bị đe dọa bởi hoạt động của con người. Qua trường hợp sông Thị Vải bị ô

nhiễm bởi các nhà máy ở KCN Nhơn Trạch, thành phố cần nhanh chóng cải tạo,

khắc phục để trả lại sự trong sạch của sông Đồng Nai, di dời hoàn toàn các nhà máy

có công nghệ sản xuất lạc hậu, đồng thời có biện pháp xử lí mạnh đối với những cơ

sở sản xuất gây ô nhiễm.

Mặt khác, đô thị phát triển bền vững trong tương lai phải đạt được sự bền

vững về kinh tế. Cần phải tiếp tục duy trì sự chuyển đổi trong cơ cấu các ngành kinh

tế theo hướng tăng tỉ trọng các ngành CN - TTCN và TM - DV, tăng cường áp dụng

khoa học – kỹ thuật, công nghệ cao trong sản xuất để tạo ra các sản phẩm nông

nghiệp sạch và an toàn, tạo khả năng cạnh tranh của các mặt hàng trên thị trường.

Ngoài ra, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm

công bằng xã hội cũng là con đường để đi tới sự bền vững. Vì vậy thành phố cần

phải cải thiện điều kiện sống của nhóm người nghèo và thu nhập thấp thông qua

tăng khả năng, cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội, như y tế, giáo dục, việc làm. Họ

là những đối tượng nhạy cảm và dễ bị tổn thương.

Ở thành phố Biên Hòa số trường học, cấp lớp, ngành nghề, bệnh viện khá đa

dạng song vẫn chưa đáp ứng đủ trước tình trạng nhập cư của những người di dân.

Hiện tượng học sinh bỏ học vẫn còn, nhất là ở khối tiểu học và trung học cơ sở,

công tác giải tỏa đền bù cho người dân thuộc diện quy hoạch trong vài năm qua

thực hiện tương đối tốt và cần phải phát huy trong hoàn cảnh quá trình đô thị hóa

3. Trong quá trình phát triển của đô thị Biên Hòa cần chú ý đến việc tạo

diễn ra ngày càng mạnh mẽ.

dựng hình ảnh riêng,“bản sắc riêng” bằng việc kết hợp ba yếu tố: cảnh quan tự

nhiên, lịch sử và công nghiệp. Điều này sẽ tránh cho Biên Hòa trở thành bản sao

của một đô thị nào đó. Dòng sông Đồng Nai chảy qua thành phố, con sông Cái bọc

quanh Cù lao Phố tạo nên một cảnh quan mặt nước quanh co uốn khúc tuyệt đẹp, sẽ

đóng góp một yếu tố thiên nhiên quan trọng. Việc khai thác yếu tố mặt nước đúng

mức sẽ tạo dựng sắc thái đặc trưng và phong phú cho không gian đô thị Biên Hòa.

Là một vùng đất mới, Biên Hòa chỉ mới hình thành và phát triển hơn 300 năm, vì

vậy còn lưu giữ nhiều công trình văn hóa lịch sử tiêu biểu như Nhà hội Bình Trước,

Trường trang trí mỹ thuật Biên Hòa, Đài kỷ niệm, đền thờ ông Đoàn Văn Cự, đình

Tân Lân, đền thờ Nguyễn Tri Phương... Ngoài ra lợi thế của một đô thị công nghiệp

với các KCN tương đối hiện đại, hoàn chỉnh cần tiếp tục được phát huy.

4. Định hướng phát triển đô thị Biên Hòa cần đặt trong mối tương quan với

các đô thị khác ở Nam Bộ.

Thành phố Biên Hòa nằm trong một vùng phát triển rất thuận lợi, ở trung

điểm của các đầu mối giao thông quan trọng và các thành phố đóng vai trò trung

tâm các vùng như Thủ Dầu Một, Phan Thiết, TP. Hồ Chí Minh và Vũng Tàu, do

vậy trở thành nơi giao nhau của nhiều địa bàn kinh tế - văn hóa - xã hội đơn chức

năng và đa chức năng. Với lợi thế này thành phố Biên Hòa không cần phải phát

triển một số lĩnh vực mà vẫn được hưởng lợi, không nhất thiết phải phát triển các

lĩnh vực dịch vụ cao cấp mà tập trung vào các loại dịch vụ trung bình và phổ thông.

Ngoài ra, thành phố Biên Hòa có thể học lấy những bài học kinh nghiệm từ đô thị

lớn Hồ Chí Minh.

5. Đặc trưng của thành phố Biên Hòa là một đô thị công nghiệp. Vì vậy khi quy

hoạch không gian và kiến trúc KCN và khu dịch vụ kèm theo cần tính đến việc tái sử

dụng trong chiến lược dài hơi. Nghĩa là trong khi quy hoạch xây dựng các công

trình phục vụ cho các KCN cần phải tính đến là tuổi thọ của các công trình này (ở

bên trong và bên ngoài khu công nghiệp) như xưởng, nhà kho, công sở, nhà ở cho

chuyên gia, nhà lưu trú cho công nhân,... trong tương lai vài chục năm nữa những

loại hình công nghiệp nào còn tồn tại tập trung gần thành phố Biên Hòa, những loại

hình nào phải di chuyển ra các huyện, những loại hình nào không còn tồn tại nữa,

loại hình còn tiếp tục phát triển thì quy mô tới đâu, số lượng, cấp độ, trình độ thế

nào. Không nên cho các công ty có trình độ lạc hậu, quy mô nhỏ thuê đất với thời

gian quá dài, và quá lớn (hiện nay thời gian thuê thường là 50 năm và giá khoảng 3- 4 USD/m2. Do sợ khu công nghiệp không lấp đầy nên cho thuê giá thấp, ai thuê

cũng được nên khi cần lấy đất cho mục đích phát triển khác rất khó khăn.

6. Là một thành phố trước nay sống chủ yếu bằng công nghiệp, Biên Hòa

đang phải đối mặt với thách thức là nên phát triển các KCN tập trung hay các KCN

phân tán. Nếu thành phố phát triển công nghiệp tập trung, tức đặt các KCN gần

nhau, bài toán về nhà ở cho công nhân, sự đồng bộ của cơ sở hạ tầng,… đặt ra càng

gay gắt; nếu phát triển các KCN phân tán, tức đưa về các huyện, sẽ giảm được

những chi phí trong đầu tư hạ tầng kỹ thuật, tỉnh Đồng Nai phải đối mặt với các vấn

đề về môi trường, nông dân mất đất sản xuất... Vì vậy khi quy hoạch đô thị Biên

Hòa cần có sự khảo sát, nghiên cứu thật kỹ và đặt trong quan hệ tổng thể với các đô

thị của tỉnh để lựa chọn loại hình phát triển công nghiệp tập trung hay phân tán.

Tóm lại, quãng thời gian 20 năm đổi mới từ 1986 đến 2005, quá trình đô thị

hóa ở thành phố Biên Hòa diễn ra mạnh mẽ đã làm chuyển biến về kinh tế - cơ sở hạ

tầng kỹ thuật – văn hóa xã hội theo hướng hiện đại, văn minh tiến bộ hơn. Ghi nhận

sự lớn mạnh của Biên Hòa, năm 1993 Nhà nước đã quyết định công nhận đây là đô

thị loại II. Hiện nay người dân và chính quyền thành phố đang nỗ lực để đưa Biên

Hòa trở thành đô thị loại I của cả nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Alan Coulthart, Nguyễn Quang và Henry Sharpe (2006), Chiến lược phát triển

đô thị: đối mặt với những thách thức về đô thị hóa nhanh chóng và chuyển

đổi sang nền kinh tế thị trường, Công ti in và văn hóa phẩm.

2. Nguyễn Thế Bá (1999), Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, Nxb Xây dựng.

3. Ban chấp hành Đảng bộ TP. Biên Hòa (1997), Biên Hòa – ghi nhớ tự hào,

NxbTrẻ.

4. Ban chấp hành Đảng bộ TP. Biên Hòa (1999), Lịch sử Đảng bộ TP. Biên Hòa,

Nxb Đồng Nai.

5. Trần Văn Bính (1998), Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay,

Nxb Chính trị quốc gia.

6. Bộ xây dựng (1999), Quy hoạch xây dựng các đô thị Việt Nam tập 1, Nxb Xây

dựng.

7. Bộ xây dựng (1999), Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam

đến năm 2020.

8. Cục Thống kê Đồng Nai (2002), Niên giám Thống kê 2001 (1995-2001).

9. Cục Thống kê Đồng Nai (2002), Niên giám Thống kê 2006 (2001-2006).

10. Cục Thống kê Đồng Nai (2002), Niên giám Thống kê 2007.

11. Võ Kim Cương (2004), Quản lí đô thị thời kì chuyển đổi, Nxb Xây dựng, Hà

Nội.

12. Trần Trọng Đăng Đàn (1997), “Mấy khía cạnh về đô thị hóa”, báo Sài Gòn giải

phóng 25/1/1997

13. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2005), Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại

hội VI, VII, VIII, XIX), Nxb Chính trị quốc gia.

14. Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định thành thông chí, Nxb Tổng hợp Đồng Nai.

15. Lê Quý Đức (2003), Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị, Nxb Chính trị

Quốc gia.

16. Jean Paul Lacaze (người dịch Đào Đình Bắc) (2002), Các phương pháp quy

hoạch đô thị, Nxb Thế Giới.

17. Trần Thị Hạnh (2003), Đô thị Nhơn Trạch - tỉnh Đồng Nai trong quá trình hình

thành và phát triển, Luận văn tốt nghiệp khoa Địa lí, Đại học sư phạm TP.

Hồ Chí Minh.

18. Nguyễn Văn Hạnh (1999), “Vấn đề xây dựng và quản lý đô thị”, tham luận tại

hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền vững – vai trò của nghiên cứu và giáo

dục, panel I.

19. Đỗ Hậu (CB) (2001), Xã hội học đô thị, Nxb Xây dựng, Hà Nội.

20. Nguyễn Lệ Phúc Hậu (2005), Thực trạng phát triển sản xuất của thành phố Biên

Hòa – tỉnh Đồng Nai từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Khóa luận

tốt nghiệp khoa Địa lí, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

21. Trần Ngọc Hiên, Trần Văn Chử đồng chủ biên (1998), Đô thị hóa và chính sách

phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb

Chính trị Quốc gia.

22. Nguyễn Minh Hòa (2005), Vùng đô thị châu Á và TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí

Minh.

23. Nguyễn Minh Hòa (2008), “Quan điểm vùng trong quy hoạch không gian để

phát triển các Khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất (trường hợp tỉnh

Đồng Nai và thành phố Biên Hòa”, Tạp chí Khoa học xã hội (6).

24. Đặng Thái Hoàng (2000), Lịch sử đô thị, Nxb xây dựng.

25. Học viện hành chính quốc gia (2007), Tài liệu bồi dưỡng về quản lí hành chính

nhà nước phần III: Quản lí nhà nước đối với ngành, lĩnh vực, Nxb Khoa

học và kĩ thuật.

26. Hội Khoa học Lịch sử TP. Hồ Chí Minh (2002), “Bước đầu tìm hiểu sự hình

thành và phát triển đô thị ở Nam Bộ”, Nam Bộ đất và người, Nxb Trẻ.

27. Lâm Quang Huyên (1999), “Bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng

xã hội trong quá trình đô thị hóa”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển

đô thị bền vững – vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.

28. Nguyễn Thừa Hỷ, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng (1999), Đô thị Việt Nam dưới

thời Nguyễn, Nxb Thuận Hóa.

29. Nhiêu Hội Lâm, người dịch Lê Quang Lâm (2004), Kinh tế học đô thị, Nxb

Chính trị Quốc gia.

30. Ngô Văn Lệ (1999), “Môi trường và đô thị hóa - những vấn đề đặt ra xét từ khía

cạnh xã hội”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền vững – vai

trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.

31. Nguyễn Văn Lịch (1999), “Đô thị hóa và công nghiệp hóa ở Việt Nam, đôi điều

từ kinh nghiệm vài nước Đông Nam Á”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát

triển đô thị bền vững – vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.

32. Trịnh Duy Luân (2004), Xã hội học đô thị, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

33. Trịnh Duy Luân và Michael Leaf (1996), Vấn đề nhà ở đô thị trong nền kinh tế

thị trường của thế giới thứ ba, Nxb Khoa học xã hội.

34. Lương Văn Lựu (1971), Biên Hòa sử lược toàn biên quyển 1.

35. Đào Trọng Năng, Nguyễn Thục Ý (1984), Những vấn đề quy hoạch đô thị và

dân cư, Nxb Khoa học kĩ thuật.

36. Nguyễn Thế Nghĩa, Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên (2002), Phát triển đô thị bền

vững, Nxb Khoa học xã hội.

37. Đặng Văn Phan (1999), “Tiếp cận địa lý trong nghiên cứu một số vấn đề tổ chức

không gian vùng đô thị và công nghiệp vùng phát triển kinh tế trọng điểm

phía Nam trên quan điểm bảo vệ mội trường và phát triển bền vững”, tham

luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền vững – vai trò của nghiên cứu

và giáo dục, panel I.

38. Phòng Quản lý đô thị TP. Biên Hòa (2003), Điều chỉnh quy hoạch chung thành

phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai đến năm 2020.

39. Phòng Tài nguyên và môi trường (2005), Đánh giá hiện trạng môi trường

TP.Biên Hòa và xây dựng chương trình hành động bảo vệ môi trường

đếnnăm 2010 và định hướng đến năm 2020.

40. Phòng Tài chính – kế hoạch (1996), Tập số liệu về tình hình kinh tế - xã hội

thành phố Biên Hòa từ năm 1976 đến 1995.

41. Phòng Tài chính – kế hoạch (2006), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội,

an ninh quốc phòng thực hiện năm 2006 và kế hoạch năm 2007.

42. Phòng Thống kê TP.Biên Hòa (2006), Kết quả thực hiện chỉ tiêu nghị quyết Đại

hội Đảng bộ Thành phố (giữa nhiệm kì) giai đoạn 2005 – 2010.

43. Phòng Văn hóa thông tin TP.Biên Hòa, Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2001 và

triển khai phương nhiệm vụ năm 2002.

44. Phòng Văn hóa thông tin TP.Biên Hòa, Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2002 và

triển khai phương nhiệm vụ năm 2003.

45. Phòng Văn hóa thông tin TP.Biên Hòa, Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2003 và

triển khai phương nhiệm vụ năm 2004.

46. Phòng Giáo dục TP.Biên Hòa, Bản tóm tắt thành tích của Phòng giáo dục thành

phố Biên Hòa đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai trao tặng danh hiệu

cờ thi đua xuất sắc khối các Phòng giáo dục tỉnh Đồng Nai năm học 2005 –

2006.

47. Cao Xuân Phổ (1999), “Mối quan hệ giữa đô thị hóa bền vững và phát triển

nông thôn”, tham luận tại hội thảo khoa học quốc tế, Panel III.

48. Đàm Trung Phường (1995), Đô thị Việt Nam tập 1, Nxb Xây dựng, Hà Nội.

49. Đàm Trung Phường (1995), Đô thị Việt Nam tập 2, Nxb Xây dựng, Hà Nội.

50. Đình Quang (CB) (2005), Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt

Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

51. Trương Thị Minh Sâm (1999), “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với việc phát

triển đô thị bền vững”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền

vững – vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.

52. Nguyễn Đăng Sơn (1999), “Quản lý đô thị và phát triển bền vững, vai trò của

nghiên cứu-giáo dục”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền

vững – vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I

53. Số liệu Phòng Giáo dục TP. Biên Hòa.

54. Số liệu Phòng Thống kê TP. Biên Hòa.

55. Số liệu Sở giáo dục tỉnh Đồng Nai.

56. Nguyễn Sum (1998), Dân số học đại cương, Nxb Giáo dục.

57. Nguyễn Hữu Thái (1999), “Phát triển đô thị và xã hội bền vững - nhìn từ Bắc

Mỹ, nhìn từ châu Á”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền

vững – vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.

58. Thành ủy Biên Hòa (1988), Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ TP. Biên Hòa lần

5.

59. Thành ủy Biên Hòa (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ TP. Biên Hòa lần

7.

60. Thành ủy Biên Hòa (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ TP. Biên Hòa lần

8 (nhiệm kỳ 2001 – 2005).

61. Thành ủy Biên Hòa (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ TP. Biên Hòa lần

9.

62. Thành ủy Biên Hòa (1988), 55 năm thành phố Biên Hòa (1930-1985).

63. Hà Huy Thành (1999), “Phát triển bền vững đô thị-một số vấn đề lý luận và thực

tiễn ở Việt Nam”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền vững

– vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.

64. Trương Quang Thao (2003), Đô thị học: những khái niệm mở đầu, Nxb Xây

dựng, Hà Nội

65. Nguyễn Ngọc Thích (1970), Vấn đề đô thị hóa và phát triển kinh tế tại Việt

Nam, Nxb Học viện Chính trị quốc gia

66. Nguyễn Thị Thủy (2004), Quá trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh từ

1975 đến 1996, luận án tiến sĩ sử học, TP. Hồ Chí Minh.

67. Huỳnh Văn Tới (1999), Bản sắc dân tộc và văn hóa Đồng Nai, Nxb Đồng Nai.

68. Nguyễn Thị Hồng Trang (2006), Quá trình đô thị hóa ở quận 2 thành phố Hồ

Chí Minh 1997 - 2005, Luận văn thạc sĩ Sử học, Đại học sư phạm TP. Hồ

Chí Minh.

69. Lê Thị Kiều Trang (2004), Công nghiệp hóa – Đô thị hóa và sự phân hóa giàu

nghèo ở thành phố Biên Hòa, Khóa luận tốt nghiệp khoa Địa lí, Đại học sư

phạm TP. Hồ Chí Minh.

70. Tôn Nữ Quỳnh Trân (1999), Văn hóa làng xã trước sự thách thức của đô thị hóa

tại TP. Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ.

71. Nguyễn Ngọc Tuấn (2003), Những vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường vùng

ven các đô thị lớn trong quá trình phát triển bền vững. Nxb Khoa học xã

hội.

72. Nguyễn Thanh Tuấn (2006), Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay, Nxb

Văn hóa thông tin.

73. Nguyễn Tấn Tự (2008), Quá trình đô thị hóa huyện Bình Chánh TP. Hồ Chí

Minh 1986-2003, Luận văn thạc sĩ sử học, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh.

74. UBND tỉnh Đồng Nai (1998), Biên Hòa – Đồng Nai 300 năm hình thành và

phát triển, Nxb Đồng Nai.

75. UBND tỉnh Đồng Nai (1993), Đồng Nai tiềm năng và cơ hội đầu tư, Trung tâm

thông tin khoa học – công nghệ TP. Hồ Chí Minh.

76. UBND tỉnh Đồng Nai (2002), Đồng Nai 25 năm xây dựng và phát triển kinh tế -

xã hội, Nxb Đồng Nai.

77. UBND tỉnh Đồng Nai (2005), Đồng Nai 30 năm xây dựng và phát triển kinh tế

- xã hội, Nxb Đồng Nai.

78. UBND tỉnh Đồng Nai (2001), Địa chí Đồng Nai tập 1 Tổng quan, Nxb Tổng

hợp Đồng Nai.

79. UBND tỉnh Đồng Nai (2001), Địa chí Đồng Nai tập 2 Địa lý, Nxb Tổng hợp

Đồng Nai.

80. UBND tỉnh Đồng Nai (2001), Địa chí Đồng Nai tập 3 Lịch sử, Nxb Tổng hợp

Đồng Nai.

81. UBND tỉnh Đồng Nai (2001), Địa chí Đồng Nai tập 4 Kinh tế, Nxb Tổng hợp

Đồng Nai.

82. UBND tỉnh Đồng Nai (2001), Địa chí Đồng Nai tập 5 Văn hóa - xã hội, Nxb

Tổng hợp Đồng Nai.

83. UBND tỉnh Đồng Nai (2005), Đồng Nai thế và lực mới trong thế kỉ XXI, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

84. Viện Khoa học Xã hội (1999), trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á, Đô thi hóa

tại Việt Nam và Đông Nam Á, Nxb TP. Hồ Chí Minh.

85. Viện ngân hàng thế giới (người dịch Ngô Hoàng Điệp) (2006), Đô thị hóa trong

thế giới toàn cầu hóa: quản trị Nhà nước thành tích hoạt động và tính bền

vững, Nxb Chính trị Quốc gia.

86. Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.

87. Viện sử học (1989), Đô thị cổ Việt Nam, Hà Nội.

88. Viola OEHLER (1999), “Để phát triển bền vững và công bằng: quá trình hình

thành đô thị trung tâm, mạng lưới đô thị và các cơ sở đào tạo”, tham luận

tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền vững – vai trò của nghiên cứu và

giáo dục, panel I.

89. Phan Huy Xu (1999), “Đô thị Việt Nam trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền vững

– vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.

Các trang Web

90 .w.w.w.dongnai.gov.vn

91. w.w.w.đôthịhóa

92. w.w.w.chungta.com

93. w.w.w.sonadezi

94 w.w.skydoor.net

95. w.w.w.wikipedia.org

96 htTP://my.opera.com/nguoidongnai

97. htTP://vietbao.vn

98. htTP://diaoc.tuoitre.com

PHỤ LỤC

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH ĐỒNG NAI

[Nguồn: w.w.w.skydoor.net]

[Nguồn: w.w.w.skydoor.net]

Đình Tân Lân [w.w.w.dongnai.gov.vn]

Văn miếu Trấn Biên [w.w.w.dongnai.gov.vn]

Bản đồ đô thị Biên Hòa [w.w.w.dongnai.gov.vn]

Khu trung tâm TP.Biên Hòa [w.w.w.dongnai.gov.vn]

Bản đồ giao thông TP.Biên Hòa [w.w.w.skydoor.net]

Một góc khu công nghiệp Biên Hòa 2 [w.w.w.dongnai.gov.vn]

[Nguồn: Sở địa chính Đồng Nai]

[Nguồn: Sở địa chính Đồng Nai]

[Nguồn: Sở địa chính Đồng Nai]

[Nguồn: Sở địa chính Đồng Nai]

Biên Hòa trong không gian kinh tế phía Nam [htTP://vietbao.vn]