BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Thu Hằng
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ SỬ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ VĂN ĐẠT
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ tận tình
của các thầy cô giáo, bạn bè, anh chị em đồng nghiệp và những người thân trong gia
đình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Lê Văn Đạt, giảng viên trường
Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, người đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá
trình xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Ban lãnh đạo, cùng các thầy cô giáo Khoa Lịch
sử, trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức và thực hiện thành
công khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (2006 – 2009) , tạo cơ
hội học tập nâng cao trình độ về lĩnh vực mà tôi tâm huyết.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường trung học phổ thông Ngô
Quyền, các cơ quan ban ngành của thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai đã giúp đỡ
tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn Phòng khoa học công nghệ - sau đại học, trường Đại học
sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn được hoàn
thành đúng tiến độ.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN - TTCN : công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
DV : dịch vụ
GTSX : giá trị sản xuất
KCN : khu công nghiệp
NLTS : nông lâm thủy sản
Nxb : nhà xuất bản
Ph : phường
TM : thương mại
TP : thành phố
UBND : ủy ban nhân dân
XHCN : xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, Việt Nam có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, đạt
được những thành tựu to lớn về mọi mặt. Kèm theo đó là quá trình đô thị hóa, một
hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, chuyển biến các xã hội nông nghiệp – nông
dân – nông thôn sang các xã hội đô thị - công nghiệp – thị dân. Ở Việt Nam, do sự
phát triển chậm chạp của công nghiệp và thương nghiệp trong lịch sử nên hầu hết
các đô thị mang chức năng tổng hợp, vừa là trung tâm chính trị, vừa là trung tâm
kinh tế, đồng thời giữ vai trò trung tâm văn hóa. Hiện nay, quá trình đô thị hóa gắn
liền với sự phát triển của công nghiệp hóa, mà biểu hiện của nó là sự hình thành các
khu công nghiệp, khu chế xuất, các khu kinh tế mở có quy mô, chất lượng phát triển
khác nhau.
Cùng với sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu, Đồng Nai
có vị trí chiến lược hết sức quan trọng, là một đỉnh trong tam giác tăng trưởng kinh
tế trọng điểm phía nam của cả nước; tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố (Bà Rịa-Vũng
Tàu, Bình Dương, Lâm Đồng, Bình Thuận, TP. Hồ Chí Minh). Hòa cùng công cuộc
đổi mới của đất nước từ năm 1986, Đồng Nai đang tiến nhanh, tiến mạnh trên con
đường hiện đại hóa nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Nhiều đô thị
đã và đang giữ vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của tỉnh như Biên Hòa,
Long Khánh, Xuân Lộc, Long Thành, Nhơn Trạch. Trong đó, Biên Hòa đã được
nhà nước công nhận là đô thị loại II, trở thành đô thị đối trọng với thành phố Hồ Chí
Minh, nằm trong kế hoạch phát triển kinh tế đô thị phía Nam của cả nước. Tại Biên
Hòa, nhiều khu công nghiệp khác nhau với quy mô lớn, nhỏ đã được xây dựng, hoạt
động có công suất cao. Giữ vai trò quan trọng, thành phố Biên Hòa nhận được sự
quan tâm của các cấp lãnh đạo, thu hút được nhiều dự án đầu tư từ trong và ngoài
nước, hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kĩ thuật tương đối phát triển.
Song song với những thuận lợi có được từ vị trí và tiềm năng phát triển, quá
trình đô thị hóa diễn ra ở Biên Hòa còn gặp nhiều khó khăn: bất cập trong quản lí,
tính không đồng bộ trong quy hoạch, những hệ lụy mà đô thị hóa đem lại như môi
trường tự nhiên bị thoái hóa, môi trường văn hóa bị ảnh hưởng và các vấn đề xã hội
khác.
Để thực hiện quá trình đô thị hóa thành phố Biên Hòa theo đúng tinh thần
quy hoạch và tránh những hạn chế, sai lầm có thể mắc phải, cần có cái nhìn cụ thể
và khái quát, xem xét quá trình đô thị hóa ấy diễn ra như thế nào, những nhân tố
khách quan và chủ quan tác động, chi phối. Trên cơ sở đó có những bài học kinh
nghiệm phục vụ cho sự nghiệp chung công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh và cả
nước, đặc biệt trong giai đoạn mở cửa, hội nhập với quốc tế. Điều này có ý nghĩa
thời sự, mang tính thực tiễn cao; đồng thời khắc họa sâu thêm kiến thức khoa học
đối với người viết, đảm bảo tính toàn diện trong nghiên cứu lịch sử không chỉ dừng
lại ở lịch sử quân sự - chính trị mà còn là tất cả những gì xảy ra liên quan đến con
người và xã hội loài người.
Là một người dân của tỉnh Đồng Nai, một giáo viên giảng dạy ở trường trung
học phổ thông, tìm hiểu về quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa cũng chính là
tìm hiểu về lịch sử phát triển của vùng đất này trong quá trình hơn 20 năm kể từ
ngày đổi mới. Đó sẽ là những nội dung được truyền đến học sinh trong các giờ dạy
lịch sử địa phương, giáo dục cho các em lòng tự hào và tinh thần trách nhiệm đối
với địa phương.
Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài
“Quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai) giai đoạn 1986 -
2005” làm luận văn cuối khóa học.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích của việc nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu sự chuyển biến trên tất cả
lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa ở thành phố Biên Hòa trong quá trình đô thị hóa từ năm
1986 đến năm 2005. Nghiên cứu còn làm rõ những tác động của quá trình đô thị hóa
đối với sự phát triển chung của thành phố, rút ra một số đặc điểm và bài học kinh
nghiệm trong quá trình đô thị hóa; từ đó đề ra một số định hướng để làm nền tảng cho
sự phát triển bền vững trong tương lai.
III. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Đô thị hóa là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và trải qua 3
giai đoạn phát triển: giai đoạn tiền công nghiệp, giai đoạn công nghiệp hình thành
và phát triển, giai đoạn hậu công nghiệp. Ở Việt Nam, các đô thị cũng được hình
thành sớm. Cuốn “Đô thị cổ Việt Nam” của Viện sử học, Hà Nội, 1989 đã miêu tả,
giới thiệu 13 đô thị cổ ra đời và phát triển trong khoảng thời gian từ thế kỉ III đến
thế kỉ XIX. Trong đó có những đô thị đã bị mai một hoàn toàn nhưng cũng có
những đô thị tồn tại và liên tục phát triển cho đến hôm nay, trở thành đô thị hiện
đại, tiêu biểu như Thăng Long – Hà Nội. Tuy nhiên vấn đề quy hoạch đô thị chưa
thấy được đề cập đến.
Năm 1995, ấn phẩm “ Đô thị Việt Nam” gồm hai tập của tác giả Đàm Trung
Phường ra đời đánh dấu bước phát triển trong việc nghiên cứu đô thị hóa. Theo giáo
sư “cho đến giữa thập niên 90 vẫn chưa có ai viết sách và tiếp cận một cách có hệ
thống, toàn diện về vấn đề quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam” [48, tr.56].
Tác phẩm nghiên cứu của giáo sư đã đánh giá thực trạng mạng lưới đô thị
Việt Nam hiện nay, nghiên cứu – định hướng phát triển đô thị trong bối cảnh đô thị
hóa thế giới và bước đầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Đồng thời tác
giả còn trình bày mở rộng những khái niệm về đô thị học trong mối quan hệ với
những tiến bộ của khoa học mới, đem đến những thông tin có tính chất tham khảo
về vấn đề đô thị. Có thể xem đây là công trình quan trọng để tiếp cận các vấn đề lí
luận về đô thị nói chung cũng như về đô thị hóa nói riêng. Tuy nhiên, “Đô thị Việt
Nam” có hạn chế là chưa đi sâu vào từng đô thị.
Cuốn sách khác có nội dung liên quan là “Đô thị hóa tại Việt Nam và Đông
Nam Á” của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á do Nxb thành phố Hồ Chí Minh
ấn hành vào năm 1996. Cuốn sách đã đề cập một cách cụ thể nhiều khía cạnh khác
nhau của hiện tượng đô thị hóa trong bối cảnh lịch sử ngày nay. Chương một đề cập
đến xu thế đô thị hóa của một số thành phố tại Việt Nam và Đông Nam Á, trong đó
nhấn mạnh đến thành phố Hồ Chí Minh, nơi có tốc độ đô thị hóa cao nhất của cả
nước. Chương hai nêu lên những vấn đề đặt ra từ quá trình đô thị hóa như nhu cầu
quản lý đô thị, bảo vệ môi trường, tình trạng tăng dân số cơ học; đồng thời nêu ra
một số kinh nghiệm trong phát triển đô thị của các nước Đông Nam Á. Chương ba
nhấn mạnh đến vấn đề môi trường nhân văn, môi trường văn hóa của con người
trong quá trình đô thị hóa. Chương bốn dựng lại tiến trình đô thị hóa trong lịch sử,
giới thiệu một số đô thị cổ ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
Năm 1998, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn “Đô thị hóa và chính
sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” của tác giả
Trần Ngọc Hiên, Trần Văn Chử. Ngoài nội dung đề cập đến những vấn đề mang
tính lý thuyết chung về đô thị hóa trong giai đoạn hiện nay: đô thị hóa lấy tăng
trưởng kinh tế, lấy con người làm trung tâm; cuốn sách còn tập trung phân tích,
đánh giá thực trạng đô thị Việt Nam, phát hiện các vấn đề nảy sinh và làm rõ vai trò
quan trọng của các chính sách tác động đến sự phát triển đô thị ở nước ta.
Ngoài ra còn hàng loạt công trình nghiên cứu viết về các vấn đề khác nhau
của đô thị hóa như “Dân số và nhà ở đô thị Việt Nam” của Phạm Văn Trình (Nxb
TP. Hồ Chí Minh, 1996), “Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay” của Nguyễn
Thanh Tuấn (Nxb Văn hóa thông tin, 2006), “Đời sống văn hóa đô thị và khu công
nghiệp Việt Nam” (Nxb Văn hóa Thông tin, 2005) của tác giả Đình Quang, “Vấn đề
nhà ở đô thị trong nền kinh tế thị trường của thế giới thứ ba” (Nxb Khoa học Xã
hội, 1996), tác giả là Trịnh Duy Luân và Michael Leaf,...
Như vậy, nhìn chung các sách viết về về đô thị hóa ở Việt Nam tương đối
nhiều, đặc biệt trong giai đoạn từ sau năm 1975. Song các công trình này hầu hết
dừng lại ở những vấn đề mang tính lý luận hoặc nghiên cứu về các đô thị lớn: TP.
Hồ Chí Minh và Hà Nội. Các đô thị loại II như thành phố Biên Hòa ở tỉnh Đồng Nai
chưa thấy được đề cập đến một cách nghiêm túc, đầu đủ.
Điển hình phải kể đến Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thủy với nhan
đề “Quá trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 – 1996”. Luận án đã
trình bày quá trình đô thị hóa ở các quận huyện ven đô thành phố Hồ Chí Minh như
Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả
đã làm rõ quá trình biến đổi của các quận huyện trong khoảng thời gian hơn 20 năm
(1975 - 1996) trên tất cả các mặt, trong đó tập trung vào sự thay đổi về cơ cấu kinh
tế và cơ sở hạ tầng của các địa bàn khảo sát.
Năm 2008, Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Tấn Tự nghiên cứu về “Quá
trình đô thị hóa huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh (1986-2003)” đã đóng
góp một cách tiếp cận mới về đô thị hóa, dựng lại bức tranh chuyển đổi từ một vùng
nông nghiệp sang thành thị ở Bình Chánh, đưa ra những nhận xét, kiến nghị cho sự
phát triển trong tương lai.
Tài liệu sớm nhất đề cập đến lịch sử kinh tế xã hội ở thành phố Biên Hòa là
“Gia Định thành thông chí” của tác giả Trịnh Hoài Đức. Cuốn “Biên Hòa – Đồng
Nai 300 năm hình thành và phát triển” (của Nxb Đồng Nai, 1998) được viết nhân
dịp Đồng Nai – Biên Hòa tròn 300 tuổi kể từ khi Nguyễn Hữu Cảnh vào khai phá
năm 1698. Tác phẩm đã trình bày về lịch sử phát triển của vùng đất, đồng thời có đề
cập đến đặc điểm kinh tế Đồng Nai trước và sau thời kì đổi mới cho đến năm 2000.
Tuy nhiên bức tranh về đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa vẫn chưa được khắc họa.
Năm 2001, Nxb Đồng Nai cho ra đời ấn phấm “Địa chí Đồng Nai” gồm 5 tập, trình
bày rất cụ thể về lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh nhà trên các nội dung:
tổng quan, lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa - xã hội. Thành phố Biên Hòa chỉ được
đề cập đến một cách sơ lược trong sự phát chung đó.
Nhằm tổng kết, đánh giá những kết quả đạt được kể từ ngày giải phóng đến
năm 2000, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã xuất bản cuốn “Đồng Nai 25 năm
xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội” (năm 2002). Có thể nói đây là tài liệu tham
khảo có giá trị cho chúng tôi khi nghiên cứu về thành phố Biên Hòa. Tiếp đến năm
2005 Nxb Chính trị Quốc gia cho ra đời cuốn “Đồng Nai thế và lực mới trong thế kỉ
XXI”, một tài liệu tham khảo quan trọng, cung cấp cái nhìn khái quát về trình độ,
tốc độ phát triển của tỉnh nhà trong bối cảnh toàn cầu mới, giới thiệu với bạn đọc
toàn cảnh kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện
nay.
Ngoài ra, đề cập đến thành phố Biên Hòa còn có các khóa luận tốt nghiệp
của sinh viên, trong đó phải kể đến đề tài “Công nghiệp hóa – Đô thị hóa và sự
phân hóa giàu nghèo ở thành phố Biên Hòa” của tác giả Lê Thị Kiều Trang, khoa
Địa Lí trường Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh năm 2004. Đề tài miêu tả một
cách chung nhất sự phát triển của thành phố trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm
2000, trong đó tập trung vào sự phân hóa mức sống của người dân. Tuy nhiên đề tài
chưa làm rõ được những biến đổi về văn hóa – xã hội, đánh giá những tác động mà
quá trình đô thị hóa đem lại.
Trên đây là một số công trình của các tác giả có liên quan đến đề tài mà
chúng tôi đã tham khảo. Chắc chắn rằng sẽ còn những công trình, những bài viết mà
chúng tôi chưa có dịp tham khảo hoặc còn tản mát đâu đó mà chúng tôi chưa có cơ
hội tiếp cận. Trong quá trình viết đề tài, chúng tôi sẽ cố gắng tham khảo tất cả
những công trình của những người đi trước, qua đó có thể kế thừa những kết quả
đạt được, đồng thời bổ sung những khiếm khuyết mà các tác giả chưa đề cập đến
hoặc do lịch sử biến đổi và thời gian vượt qua.
IV. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Như tên đề tài chỉ rõ, đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình đô thị
hóa diễn ra ở thành phố Biên Hòa ở tỉnh Đồng Nai. Cụ thể đề tài sẽ đi sâu nghiên
cứu quá trình đô thị hóa đã diễn ra như thế nào, những yếu tố nào tác động đến quá
trình ấy và những bài học được rút ra trong quá trình đô thị hóa.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là trong không gian xác định: thành phố Biên
Hòa của tỉnh Đồng Nai, trong thời gian cụ thể từ năm 1986 đến năm 2005, vì đây là
giai đoạn lịch sử có nhiều biến đổi quan trọng và sâu sắc đối với thành phố Biên
Hòa của tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung.
Để hoàn thành đề tài, nhiệm vụ được đặt ra cần phải thực hiện là:
- Nghiên cứu lí luận về các khái niệm đô thị, đô thị hóa và lịch sử của quá
trình đô thị hóa thành phố Biên Hòa làm cơ sở lí luận cho đề tài.
- Tìm hiểu, điều tra về quá trình phát triển của đô thị Biên Hòa trên các
nội dung kinh tế - xã hội – văn hóa cũng như các vấn đề phát sinh trong quá trình
ấy.
- Rút ra những đặc điểm, bài học kinh nghiệm của thành phố Biên Hòa
trong gần 20 năm (1986 – 2005) tiến hành đô thị hóa, đưa ra những giải pháp có
tính chất tham khảo cho sự phát triển của thành phố.
V. NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quá trình thực hiện đề tài là quá trình xử lí tài liệu khác nhau từ các nguồn
tư liệu:
- Các văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ, UBND tỉnh Đồng Nai, các văn bản đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai.
- Đặc biệt là các số liệu Thống kê, báo cáo năm của các cơ quan chức năng
có liên quan đến vấn đề đô thị hóa, các văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Biên
Hòa. Đây là cơ sở chính để chúng tôi thực hiện đề tài.
- Tài liệu khác là các sách viết về vùng đất Đồng Nai xưa cũng như Biên
Hòa hiện nay sẽ giúp chúng tôi dựng lại lịch sử phát triển của vùng đất Đồng Nai -
Biên Hòa đến trước năm 1986.
- Tài liệu thứ tư tạo cơ sở lý luận cho đề tài chính là các chuyên khảo, công
trình nghiên cứu, bài viết, các tham luận khoa học của các tác giả, các nhà nghiên
cứu về đô thị và đô thị hóa.
- Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ thực hiện khảo sát, điền dã để thu thập thêm tư
liệu thực tế cho đề tài và còn các trang Web liên quan đến nội dung đề tài.
Trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp được sử dụng chủ yếu để
nghiên cứu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Tuy nhiên, vì đô thị hóa
là một quá trình diễn ra phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau nên trong
khuôn khổ của luận văn, chúng tôi còn sử dụng phương pháp điều tra thực tế,
phương pháp so sánh sử học, phương pháp nghiên cứu liên ngành: thống kê toán
học, so sánh, tổng hợp … Việc vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau
sẽ giúp cho đề tài nghiên cứu có được kết quả xác thực hơn.
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Thông qua việc thực hiện đề tài, chúng tôi tái hiện lại một cách khách quan,
trung thực quá trình đô thị hóa thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai trong khoảng
20 năm thực hiện đổi mới (từ năm 1986 đến năm 2005), đồng thời làm sáng tỏ quá
trình chuyển biến của từng thành tố thuộc vấn đề đô thị hóa, đó là sự chuyển biến
của địa phương và cộng đồng tại chỗ trong lĩnh vực nghề nghiệp, văn hóa, lối
sống…trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội.
- Luận văn bước đầu phân tích, đánh giá những yếu tố chủ quan và khách
quan tác động đến quá trình đô thị hóa của thành phố Biên Hòa, rút ra một số bài
học kinh nghiệm mang tính chất định hướng, trên cơ sở đó có những đề xuất, kiến
nghị về quá trình đô thị hóa thành phố trong tương lai.
- Dựng lại bức tranh đô thị hóa thành phố Biên Hòa trong thời gian đổi mới,
luận văn đã tiếp cận và hệ thống hóa nhiều tư liệu khác nhau, góp phần nghiên cứu
về lịch sử thành phố Biên Hòa nói riêng và tỉnh Đồng Nai nói chung, đồng thời
phục vụ cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương ở trường phổ thông.
VII. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Luận văn ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung gồm có ba chương.
- Chương 1: Tổng quan về đô thị hóa và khái quát quá trình đô thị hóa ở thành
phố Biên Hòa trước năm 1986.
- Chương 2: Những chuyển biến về cảnh quan môi trường, cơ sở hạ tầng và
kinh tế trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa (1986 – 2005).
- Chương 3: Chuyển biến về dân cư và đời sống dân cư ở thành phố Biên Hòa
trong quá trình đô thị hóa (1986 – 2005).
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ KHÁI QUÁT
QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ
BIÊN HÒA TRƯỚC NĂM 1986
1.1. Đô thị và đô thị hóa
1.1.1. Đô thị
Đô thị là một trong những dấu hiệu lâu đời nhất của nền văn minh nhân loại,
bắt đầu có khoảng 4000 năm đến 6000 năm trước đây hoặc lâu hơn nữa. Khi đó, đô
thị chỉ là nơi tập trung khá đông người hoạt động nông nghiệp. Trải qua thời gian,
những đô thị được hình thành sau hàng loạt biến động về dân cư, thủ công nghiệp,
công nghiệp và thương mại. Ngày nay, những thay đổi về khoa học kỹ thuật và kinh
tế làm biến đổi sâu sắc cấu trúc, chức năng, kiến trúc và quy mô dân số đô thị cũng
như tỉ lệ dân cư đô thị.
Nói một cách ngắn gọn và dễ hiểu, đô thị là nơi tập trung dân cư đông với
mật độ dân số cao, lấy hoạt động kinh tế phi nông nghiệp làm ngành kinh tế chính
và có điều kiện sinh hoạt theo hướng tiến bộ, văn minh hơn so với những vùng xung
quanh.
Điều này đã được phản ánh tương đối trọn vẹn trong cách định nghĩa về đô
thị của Bách khoa toàn thư Hoa Kỳ, rằng đô thị (city) như một cách sử dụng thông
thường chỉ một tập hợp dân cứ có quy mô đáng kể, chỉ một nơi mà điều kiện sống
trái ngược với đời sống nông thôn và đời sống hoang dã. Nó là một hiện thực chung
của xã hội văn minh.
Ở Việt Nam, xuất phát từ lịch sử hình thành đô thị cổ, các nhà nghiên cứu
chỉ ra rằng khái niệm đô thị gồm hai thành tố: đô, thành, trấn, xã hàm nghĩa chức
năng hành chính – chính trị; thị có nghĩa là chợ, mang hàm nghĩa kinh tế. Chức
năng chính trị lấn át chức năng kinh tế.
Giáo sư Cao Xuân Phổ đã phát biểu: “Trong tiếng Việt, có nhiều từ để chỉ khái
niệm đô thị: đô thị, thành phố, thị trấn, thị xã,... Các từ đó đều có hai thành tố: đô
thành, trấn, xã hàm nghĩa chức năng hành chính; thị, phố có nghĩa là chợ. Thời
trước, chức năng hành chính lấn át chức năng kinh tế, bộ phận đảm nhận cai quản
đô thị là do Nhà nước bổ nhiệm. Đô thị phương Tây có ít tính chính trị hơn và thiên
về chức năng kinh tế” [47, tr.103].
Tuy nhiên đây không là đặc điểm duy nhất của đô thị Việt Nam thời hiện đại.
Bên cạnh yếu tố “đô”, “thành” còn có những yếu tố khác đóng vai trò quan trọng
như giao thông, điện nước, giáo dục, văn hóa, y tế,... Chính vì vậy theo các tác giả
của công trình khoa học Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, “Đô thị là điểm dân
cư tập trung với mức độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở
thích hợp, là trung tâm chuyên ngành tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc
một vùng trong tỉnh, huyện” [2, tr.14].
Cách định nghĩa này cũng tương đồng với quan điểm của nhà nước được thể
hiện trong nghị định số 132/HĐBT ngày 5/5/1990 về việc phân loại đô thị và phân
cấp quản lý đô thị. Theo đó, đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản:
1. Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ nhất định.
2. Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn).
3. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 60% trở lên trong tổng số lao động; là
nơi sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển.
4. Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặc
điểm từng vùng.
5. Mật độ dân cư được xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm
từng vùng.
Cũng theo Nghị định này, ở Việt Nam có 5 loại đô thị:
- Đô thị loại I: là đô thị rất lớn; trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội,
khoa học kỹ thuật, du lịch, giao thông, công nghiệp, giao dịch quốc tế có vai trò
thúc đẩy sự phát triển của cả nước; có số dân từ 1 triệu người trở lên với tỉ suất hàng
hóa cao, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 90% trở lên trong tổng số lao động; có cơ
sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng đồng bộ; có mật độ dân cư bình quân 15.000 người/km2 trở lên.
- Đô thị loại II: là đô thị lớn; trung tâm kinh tế, văn hóa – xã hội, sản xuất
công nghiệp, du lịch – dịch vụ, giao thông, giao dịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển của một vùng lãnh thổ; có số dân từ 35 vạn người đến dưới 1 triệu người;
sản xuất hàng hóa phát triển, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 90% trở lên trong tổng số lao động; mật độ dân cư bình quân là 12.000 người/km2 trở lên.
- Đô thị loại III: là đô thị trung bình lớn; trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa
– xã hội, là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung, du lịch – dịch
vụ; có vai trò thúc đẩy phát triển một tỉnh, hoặc từng lĩnh vực đối với vùng lãnh thổ;
dân số từ 10 vạn người đến dưới 35 vạn người (vùng núi có thể thấp hơn); sản xuất
hàng hóa tương đối phát triển, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 80% trở lên trong
tổng số lao động; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng từng mặt; mật độ dân cư bình quân 10.000 người/km2 trở lên (vùng núi có
thể thấp hơn).
- Đô thị loại IV: là đô thị trung bình nhỏ; trung tâm tổng hợp chính trị, kinh
tế, văn hóa – xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, thương nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hay một
vùng trong tỉnh; dân cư từ 3 vạn người đến 10 vạn người (vùng núi có thể thấp
hơn); là nơi sản xuất hàng hóa, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 70% trở lên trong
tổng số lao động; đã và đang đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng từng phần; mật độ dân cư 8000 người/km2 trở lên (vùng núi có thể thấp
hơn).
- Đô thị loại V: là đô thị nhỏ, trung tâm tổng hợp kinh tế - xã hội, hoặc trung
tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp,... có vai trò thúc đẩy sự phát triển
của một huyện, một vùng trong tỉnh hoặc một vùng trong huyện; dân số từ 4000
người đến dưới 3 vạn người (vùng núi có thể thấp hơn); tỉ lệ lao động phi nông
nghiệp từ 60% trở lên trong tổng số lao động; bước đầu xây dựng một số công trình công cộng và hạ tầng kỹ thuật; mật độ dân cư bình quân 6000 người/km2 (vùng núi
có thể thấp hơn).
Đối với đô thị loại I và loại II do Trung ương quản lí.
Đối với đô thị loại III và loại IV do tỉnh quản lí.
Đối với đô thị loại V do huyện quản lí.
Như vậy, theo Nghị định này thì TP. Biên Hòa là đô thị loại III.
Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, đô thị ở Việt Nam phát
triển nhanh chóng về chất lượng và số lượng, đặc biệt là quy mô của các đô thị.
Nghị định 132/HĐBT tỏ ra không còn phù hợp, vì vậy ngày 5/10/2001 Nghị định số
72/2001/ NĐ - CP được ban hành thay thế cho Nghị định 132 về việc phân loại đô
thị và cấp quản lý đô thị. Theo quy định pháp lý về đô thị, đô thị nước ta là các
điểm dân cư tập trung có đủ hai điều kiện sau:
- Đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn được các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quyết định thành lập.
- Về trình độ phát triển: 1- Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên
ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ nhất định
nhất định, nhỏ nhất cũng phải là tiểu vùng trong huyện; 2- Quy mô dân số tối thiểu
của nội thành, nội thị là 4.000 người; 3- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 65% trở
lên trong tổng số lao động của nội thành, nội thị; 4- Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và
các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị đạt 70% mức quy định đối với từng
loại đô thị; 5- Mật độ dân cư được xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm từng vùng, tối thiểu 2000người/km2.
Theo đó, đô thị Việt Nam được chia làm 6 loại:
- Đô thị loại đặc biệt là đô thị rất lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước, dân số trên 1,5 triệu người, mật độ dân số trung bình trên 15.000 người/km2,
tỉ lệ lao động phi nông nghiệp/tổng số lao động trên 90%.
- Đô thị loại I: là những đô thị lớn có chức năng là trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, du lịch – dịch vụ,... giữ vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh; quy mô dân số từ 50 vạn người trở lên, mật độ dân số từ 12.000 người/km2 trở lên với tỉ lệ lao động
phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 85%.
- Đô thị loại II: là những đô thị trung bình lớn, phải đảm bảo các chức năng
là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa,... trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả
nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên
tỉnh hoặc một số lĩnh vực của cả nước, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp/ tổng số lao
động trên 80%, dân số lớn hơn hoặc bằng 250.000 người, mật độ dân số từ 10.000 người/km2 trở lên.
- Đô thị loại III: là đô thị loại trung bình, giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh; tỉ lệ lao
động phi nông nghiệp/ tổng số lao động trên 75%, dân số trên 100.000 người, mật độ dân số từ 8000 người/km2 trở lên.
- Đô thị loại IV: là đô thị loại trung bình nhỏ; giữ vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh; tỉ lệ lao động phi nông
nghiệp/ tổng số lao động trên 70%, dân số trên 50.000 người, mật độ dân số trung bình trên 6000 người/km2 trở lên.
- Đô thị loại V: là đô thị loại nhỏ với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc
chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hóa và dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của một huyện hoặc cụm xã; tỉ lệ lao động phi nông nghiệp/
tổng số lao động trên 65%; dân số trên 4.000 người; mật độ dân số trung bình trên 2000 người/km2 .
Theo dõi thêm bảng phân loại tổng hợp đô thị trên cơ sở của nhiều tiêu chí
sau:
Bảng 1.1. Phân loại đô thị ở Việt Nam theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP
Lao động Một độ Loại Vai trò trung tâm Dân số Hạ tầng cơ sở phi nông đô thị (chủ yếu) (người) nghiệp (%) dân số (người/km2)
Đặc Quốc gia > 1.500.000 > 90 Đồng bộ, hoàn chỉnh > 15.000 biệt
Quốc gia và liên Nhiều mặt đồng bộ, I > 500.000 > 85 > 12.000 tỉnh hoàn chỉnh
Quốc gia (một số Nhiều mặt tiến tới đồng II > 250.000 > 80 > 10.000 lĩnh vực), liên tỉnh bộ, hoàn chỉnh
Liên tỉnh (một số Từng mặt đồng bộ, hoàn III > 100.000 > 75 > 8.000 lĩnh vực), tỉnh chỉnh
Từng mặt tiến tới đồng IV Tỉnh, liên huyện > 50.000 > 70 > 6.000 bộ, hoàn chỉnh
Đã hoặc đang xây dựng, Huyện, tiểu vùng V > 4.000 > 65 > 2.000 chưa đồng bộ và hoàn (cụm xã) chỉnh
Nguồn: [29, tr.142]
Ngoài ra, Nghị định còn đưa ra những tiêu chuẩn phân loại đô thị áp dụng
cho các trường hợp đặc biệt như ở vùng núi, miền cao, vùng sâu, vùng xa,... và quy
định việc phân loại cấp quản lí đô thị gồm:
- Thành phố trực thuộc Trung ương phải là đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại I.
- Thành phố và thị xã thuộc tỉnh phải là đô thị loại II hoặc đô thị loại III, IV.
- Thị trấn thuộc huyện phải là đô thị loại IV hoặc đô thị loại V.
Tóm lại, ngày nay, đô thị được hiểu là một khu dân cư tập trung có những
đặc điểm:
- Về cấp quản lí, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ra quyết định thành lập.
- Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn như là trung
tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố trực thuộc trung
ương, vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện...
Ngoài ra, đô thị phải là nơi có dân số tập trung cao và hoạt động sống chủ
yếu của cư dân trong khu vực ấy là những hoạt động phi nông nghiệp...[71, tr.19].
1.1.2. Đô thị hóa
Đô thị hóa được hiểu là một quá trình vận động kinh tế - xã hội – văn hóa
phức tạp, là quá trình nâng cao vai trò của thành phố đối với sự phát triển của xã
hội. Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực như cơ cấu kinh tế, quy
mô và sự phân bố dân cư, kết cấu nghề nghiệp, cơ sở hạ tầng, lối sống, văn hóa,...
Khái niệm đô thị hóa được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra định
nghĩa tùy theo quan điểm và góc độ tiếp cận.
Trong Từ điển tiếng Việt, để định nghĩa về khái niệm đô thị hóa và nhấn
mạnh hơn vai trò của thành thị đối với sự phát triển xã hội, các tác giả viết: “Đô thị
hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai
trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội” [86, tr.13].
Từ góc độ dân số, đô thị hóa “...theo nghĩa hẹp là sự phát triển hệ thống
thành phố nhất là các thành phố lớn, tăng tỉ trọng dân số đô thị trong nước, trong
khu vực và thế giới...”
Định nghĩa ngắn gọn hơn “Đô thị hóa là sự phát triển tỉ trọng dân số các khu
vực đô thị” [56, tr.120]. Đây là cách xem xét vấn đề dựa trên chủ yếu sự thay đổi số
lượng dân cư theo hướng tập trung ngày một cao hơn tại một địa điểm, từ đó đánh
giá mức độ đô thị hóa của một thành phố.
Theo các nhà địa lý, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian, mật
độ dân cư, thương mại, dịch vụ hoặc các hoạt động khác mang tính chất phi nông
nghiệp tại một khu vực. Quá trình đô thị hóa được thể hiện ở các nội dung:
- Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có. Sự thay đổi này thường không
phải là tác nhân chính đối với sự phát triển của đô thị vì mức độ tăng dân số tự
nhiên của thành phố không cao hơn so với vùng nông thôn.
- Sự chuyển dịch dân cư từ vùng nông thôn ra thành thị, nói rộng hợn là sự
nhập cư từ các vùng đến đô thị. Đây là nghuyên nhân chính dẫn tới sự gia tăng dân
số đột biến trên một vùng hay lãnh thổ.
- Sự chuyển dịch đất đai từ mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và đất thổ cư.
Đứng trên lập trường của những nhà quản lý và kinh tế, đô thị hóa “là quá
trình cấu trúc lại chức năng của khu vực nông thôn, là quá trình gia tăng phát triển
công nghiệp và dịch vụ. Và vì vậy đô thị hóa thường được hiểu như là quá trình
song song với sự phát triển công nghiệp và cuộc cách mạng công nghệ, gia tăng các
hoạt động phi nông nghiệp hội tụ trên một không gian nhất định” [71, tr.15].
Dưới góc độ xã hội, bản chất của đô thị hóa là sự khám phá ra các hình thức
sinh hoạt mới của con người bên cạnh sự phá vỡ các quan hệ truyền thống được
hình thành trong dân cư nông nghiệp. Đó là quá trình biến đổi các mối quan hệ theo
kết cấu gia đình - họ hàng – xóm giềng – làng xã – xã hội sang gia đình – đường
phố - xã hội; biến đổi môi trường thiên nhiên sinh thái theo mối giao hòa nhà vườn
– lũy tre làng – đồng lúa sang môi trường thiên nhiên sinh thái theo kết cấu nhà
(chung cư) – đường phố - công sở. Chính vì vậy John Macionis nêu lên trong cuốn
sách giáo khoa xã hội học (1988) rằng “Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố
dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể (transform) nhiều kiểu mẫu (patterns) của
đời sống xã hội” [32, tr.70].
Ngoài ra, đô thị hóa còn là sự phổ biến và lan truyền những khuôn mẫu hành
vi, ứng xử vốn đặc trưng của người dân đô thị tới các vùng nông thôn. Nói cách
khác, đó chính là sự lan truyền của lối sống đô thị, văn hóa đô thị. Tác giả Tôn Nữ
Quỳnh Trân trong Văn hóa làng xã trước sự thách thức của đô thị tại thành phố Hồ
Chí Minh nhận định: “Xét trên phương diện cách sống, đô thị hóa là một sự thay đổi
lối sống và đồng thời thay đổi khung cảnh sống. Xét trên quan điểm sinh thái nhân
văn thì đô thị hóa là một quá trình chuyển động làm thay đổi lối sống và cảnh quan
của một hệ thống quần cư từ hệ sinh thái nông thôn sang hệ sinh thái kinh tế xã hội
đô thị. Xét trên bình diện văn hóa thì đô thị hóa là quá trình chuyển đổi văn hóa
làng xã thành văn hóa đô thị...” [70, tr.13].
Có thể thấy rằng đô thị hóa là một phạm trù rộng lớn, đề cập một cách sâu
sắc, toàn diện đến quá trình chuyển đổi mạnh mẽ các lĩnh vực trong đời sống từ
kinh tế, xã hội, văn hóa đến khoa học kỹ thuật và cả không gian cư trú của con
người. Giáo sư Đàm Trung Phường đã tổng kết: “Đô thị hóa là một quá trình
chuyển dịch lao động, từ hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên
sẵn có như nông, lâm, ngư nghiệp, khai khoáng phân tán trên một diện tích rộng
khắp, hầu như toàn quốc sang những hoạt động tập trung hơn như chế biến sản xuất,
xây dựng cơ bản, vận tải, sửa chữa, dịch vụ thương mại, tài chính, văn hóa xã hội,
khoa học kỹ thuật,... Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với động thái phát triển
không gian kinh tế - xã hội, trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, của nền văn hóa và phương thức tổ chức lối sống xã hội... Do vậy,
có thể nói đô thị hóa là một quá trình diễn biến về kinh tế, xã hội, văn hóa, không
gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó diễn ra sự phát triển
nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa,
sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị
song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự” [48, tr.7].
Mặc dù còn nhiều cách nhìn khác nhau về đô thị hóa nhưng nhìn chung các
nhà khoa học đều thống nhất với nhau đô thị hóa là một vấn đề mang tính tất yếu
khách quan của sự phát triển, có tính phổ biến toàn cầu trên phạm vi rộng lớn. Đó là
hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp diễn ra trong thời gian lâu dài để chuyển biến
các xã hội nông nghiệp – nông dân – nông thôn sang các xã hội đô thị - công nghiệp
– thị dân, là biểu hiện của văn minh nhân loại.
Ngày nay, đô thị Việt Nam nói chung và đô thị Biên Hòa nói riêng đang ở
giai đoạn phát triển mạnh cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có thể
thấy rằng cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra phương thức sản xuất mới, làm
thay đổi lực lượng sản xuất ở cả khu vực nông thôn và thành thị, đồng thời làm
chuyển biến tích cực mối quan hệ sản xuất giữa hai khu vực này. Trong giai đoạn
hiện nay, cách mạng công nghiệp chính là động lực cơ bản của đô thị hóa. Tuy
nhiên hàng loạt vấn đề liên quan đến quá trình đô thị hóa đã và đang đặt ra đối với
các cấp quản lý. Vì vậy, để phát triển đô thị một cách bền vững (bao gồm bền vững
về môi trường, bền vững về kinh tế, về chính trị, về dân số và bền vững về văn hóa)
1.2. Khái quát quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa trước năm
1986
cần có chiến lược lâu dài và kết hợp hài hòa các thành tố trên.
1.2.1. Tổng quan về thành phố Biên Hòa
1.2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Thành phố Biên Hòa về mặt địa lý, nằm ở phía Tây tỉnh Đồng Nai, phía Bắc
giáp huyện Vĩnh Cửu, phía Nam và Tây Nam giáp huyện Long Thành và huyện
Thủ Đức (thành phố Hồ Chí Minh), phía Đông giáp huyện Thống Nhất, phía Tây
giáp huyện Thuận An và huyện Tân Uyên (Bình Dương).
Thành phố có diện tích 154.67km2, dân số đến năm 2005 là 541.495 ngàn
người, trong đó người Kinh chiếm hơn 90%, còn lại là các dân tộc Hoa, Nùng,
Tày,… với 26 đơn vị hành chính cấp cơ sở gồm 23 phường và 3 xã.
Các phường là: An Bình, Bình Đa, Bửu Hòa, Bửu Long, Hòa Bình, Hố Nai,
Long Bình, Long Bình Tân, Quang Vinh, Quyết Thắng, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tân
Biên, Tân Hiệp, Tân Hòa, Tân Mai, Tân Tiến, Tân Phong, Tân Vạn, Thanh Bình,
Thống Nhất, Trảng Dài, Trung Dũng.
3 xã gồm: Hiệp Hòa, Hóa An, Tân Hạnh.
Nằm hai bên bờ sông Đồng Nai nhưng chủ yếu bên phía tả ngạn, Biên Hòa
thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có hai mùa: mùa mưa kéo dài từ tháng 4
đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau; nhiệt độ bình quân hàng năm tương đối cao 270C nhưng chênh lệch giữa các tháng ít (nhiệt độ cao nhất trung bình năm là 32.50C, nhiệt độ thấp nhất trung bình năm là 230C); độ ẩm bình quân
79%/năm. Lượng nước vào mùa mưa chiếm 85%/năm và chủ yếu là mưa cơn chóng
tạnh. Số giờ nắng trung bình khá cao, ngay trong mùa mưa cũng có trên 5,4
giờ/ngày, vào mùa khô là trên 8 giờ/ngày. Ngoài ra, ở Biên Hòa còn có thuận lợi là
hầu như không có gió bão thiên tai. Vì vậy các hoạt động sản xuất diễn ra được liên
tục, không bị ảnh hưởng nhiều.
Chế độ thủy văn của sông Đồng Nai ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống sông
rạch trong khu vực. Đoạn sông Đồng Nai qua thành phố dài khoảng 10km, phân
thành nhánh phụ tạo nên Cù lao Hiệp Hòa. Sông Đồng Nai chính là nguồn nước mặt
lớn nhất cung cấp nước ngọt cho toàn thành phố, đồng thời đảm bảo nguồn năng
lượng điện phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất.
Về địa chất kiến tạo của thành phố Biên Hòa, có cấu tạo địa chất vùng rìa
Đông – Nam, miền kiến tạo Nam Trung Bộ bao gồm:
- Đá cổ nhất thấy được là các trầm tích, trầm tích núi lửa, phun trào và xâm
nhập Mejojoi với bề dày 100 – 150 m, chủ yếu ở phường Bửu Long.
- Trầm tích lục nguyên Jura sớm lộ ra ở phía Đông – Bắc trên một diện rộng
và chìm dần theo hướng Nam và Tây – Nam. Ở khu vực trầm tích này lộ ra tạo nên
những rừng lồi lớn so với tỉnh trên 8m.
- Các trầm tích phun trào có tuổi từ Jura muộn đến Kreta, lộ ra ở Bửu Long,
Long Bình với thành phần chính là cát kết, cuội kết, andejit.
- Trầm tích trước đệ tứ duy nhất trong vùng (Plioxen N) nằm ở khu vực Hố
Nai, Long Bình, lộ ra dưới dạng đồi gồm sét, sét pha với cao độ đỉnh 5m – 10m đến
40m – 50m, chiều dày thay đổi từ 30m – 70m.
- Trầm tích sông Pleistoxen sớm (aQI - + b) chủ yếu ở khu vực Long Bình,
Hố Nai có cao độ bề mặt từ 10m – 50m.
- Thành tạo Bazan Xuân Lộc chỉ lộ thành một dãy Đông – Nam và rải rác tại
Long Bình. Phần bề mặt đã phân hóa thành đất đỏ dày 3m – 5m.
- Các trầm tích sông trẻ và hiện đại tạo thành các thềm sông có thành phần
thạch học phân lớp từ cát cuội sỏi đến cát pha sét.
Nhìn chung, đất ở Biên Hòa chủ yếu là đất phù sa cổ, đất cát, đất sét,… ít
màu mỡ, do vậy sản xuất nông nghiệp không đem lại hiệu quả cao. Nhưng ngược lại làm công nghiệp rất tốt vì nền đất có độ chịu lực cao, bình quân 25 kg/cm2. Đó
cũng là một trong những lý do lý giải tại sao Biên Hòa trở thành một đô thị công
nghiệp điển hình của cả nước.
Trong thành phố Biên Hòa có một số điểm khoáng sản, chủ yếu là Kaolin,
Laterít và sét được phân bố:
- Laterít: tập trung nhiều ở phường Long Bình trên diện tích là 3m2 với chiều
dày từ 1m – 3m, tạo thành khối rắn chắc, ở Hố Nai nhiều chỗ bị sói mòn thành sỏi
rắn chắc.
- Sét Kaolin: ở khu vực nghĩa trang với diện tích khá rộng. Tại Tân Mai, tầng
sét Kaolin có màu trắng, cát thạch anh, bột thạch anh.
- Sét gạch ngói: phân bố nhiều ở xã An Hòa (về hướng Long Thành). Ngoài
ra còn có than bùn (ở Hóa An), với diện tích khá rộng, thường lẫn sét màu đen. Vì
vậy, ở Biên Hòa sớm phát triển các nghề truyền thống nổi tiếng: làng gốm Bửu
Hòa, Tân Vạn; nghề khắc đá Bửu Long, sản xuất đồ gỗ và mây tre ở Tân Biên.
Như vậy vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi chính là những yếu tố quan
trọng giúp Biên Hòa tiến nhanh trong quá trình đô thị hóa.
1.2.1.2. Thành phố Biên Hòa trong không gian kinh tế phía Nam
Biên Hòa là thành phố trung tâm của tỉnh Đồng Nai
Trước năm 1986, Biên Hòa đã là thành phố trung tâm của tỉnh Đồng Nai.
Trong 20 năm tiến hành đổi mới, Biên Hòa luôn khẳng định vị trí trung tâm chính
trị, kinh tế và văn hóa, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, đầu mối giao thông, giao lưu của
tỉnh, có vị trí quan trọng về an ninh và quốc phòng. Ghi nhận vai trò và sự phát triển
của thành phố, tháng 5 năm 1993 Biên Hòa được Nhà nước chính thức công nhận là
đô thị loại II, có cơ cấu kinh tế công nghiệp – thương mại – dịch vụ và du lịch. Từ
đó đến nay, Biên Hòa luôn luôn xứng đáng là lá cờ đầu trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh, là trung tâm công nghiệp quan trọng không những riêng
Đồng Nai mà còn là trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, có tốc độ đô thị hóa
nhanh.
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Biên Hòa có 80 cơ quan, đơn vị, ban ngành
của Trung ương, quân khu 7 và địa phương. Trong tiến trình đi lên công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, thành phố có nhiều khu công nghiệp (KCN) lớn thu hút hàng tỉ USD
vốn đầu tư hàng năm, điển hình là 4 KCN đã được chính phủ phê duyệt với cơ sở hạ
tầng hiện đại, hoàn chỉnh: KCN Biên Hòa 1, KCN Biên Hòa 2, KCN Amata và
KCN Loteco đã đi vào hoạt động với cơ sở hạ tầng đồng bộ. Ngoài ra chính phủ
cũng đã phê duyệt khu công nghiệp Hố Nai và KCN Sông Mây, tỉnh đã quy hoạch
KCN Bàu Xéo.
Một trong những nguyên nhân thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh,
mạnh trong thời gian qua, đưa Biên Hòa trở thành đô thị loại II của cả nước, có vai
trò quan trọng đối với tỉnh, chính là yếu tố con người. Chính quyền thành phố đã có
nhiều biện pháp tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế - văn hóa phát triển; đồng
thời xây dựng hai bản quy hoạch thành phố năm 1993 và năm 2002 để định hướng
sự phát triển mang tính đồng bộ và lâu dài (đến năm 2020).
Biên Hòa trong không gian kinh tế phía Nam
Biên Hòa là cửa ngõ phía Đông Sài Gòn, cách trung tâm thành phố Hồ Chí
Minh 30km theo Xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1A, cách thành phố Vũng Tàu 90km theo
Quốc lộ 51. Ngoài ba đường lộ, Biên Hòa còn có liên tỉnh lộ 16 nối liền với các tỉnh
Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh; liên tỉnh lộ 24 đi Trị An; tiếp giáp với quốc lộ
20 để đi Tây Nguyên. Tuyến đường sắt Thống Nhất qua ga Biên Hòa tại phường
Thống Nhất và ga Long Lạc ở phường Tân Hòa. Từ Biên Hòa có thể theo đường
sông đến thành phố Hồ Chí Minh, ra biển và đến các tỉnh miền Tây Nam Bộ - vùng
đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó nhận thấy Biên Hòa là một đầu mối giao thông
quan trọng đối với khu vực và quốc gia. Từ Biên Hòa có thể đến nhiều nơi trong
nước.
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam hiện nay bao gồm: Thành phố Hồ Chí
Minh, tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An, Bà Rịa-Vũng Tàu với tổng diện tích là 27.794km2 và tổng dân số là 11.993.000 người. Đây là khu
vực tăng trưởng mạnh nhất của cả nước, thể hiện trên các mặt: mức tăng trưởng
kinh tế bình quân 11,2%/năm, tốc độ tăng GDP là 10,4%. GDP năm 2000: 31,1%,
tổng sản phẩm công nghiệp năm 2000 chiếm 54,48% cả nước với kim ngạch xuất
khẩu là 57,7 triệu USD, hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài lên đến 17.363
triệu USD (chiếm 48,5% cả nước) [38, tr.42]; tập trung hệ thống kỹ thuật hạ tầng
hiện đại gồm đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không, …
Nơi đây hiện có 3 thành phố lớn: TP. Hồ Chí Minh (đô thị cấp quốc gia); đô
thị loại 2: Biên Hòa; Vũng Tàu (đô thị trung tâm vùng) và 6 thị xã, trung tâm cấp
tỉnh (Thủ Dầu Một, Bà Rịa, Long Khánh, Xuân Lộc, Đồng Xoài, Tây Ninh và Tân
An). Trong đó Biên Hòa là thành phố công nghiệp với năng lực mạnh nhất hiện nay
ở khu vực Nam Bộ, lại nằm ở tâm điểm của vùng kinh tế trọng điểm nên có nhiều
điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh.
Nếu như thành phố Hồ Chí Minh là hạt nhân trong vùng đô thị Nam Bộ thì
Biên Hòa là mắt xích quan trọng trong việc hình thành dải đô thị đối trọng với TP.
Hồ Chí Minh, mà điểm khởi đầu là thành phố Biên Hòa và kết thúc là thành phố
Vũng Tàu, các thành phố nằm trong dải là Biên Hòa - Nhơn Thạch - Long Thành -
Phú Mỹ - Bà Rịa - Long Đất - Long Hải - Vũng Tàu. Dải đô thị này kéo dài từ giáp
Bình Phước xuống bờ biển Đông theo trục Tây - Bắc - Đông Nam, có độ dài chừng
110km. Theo dự tính đến năm 2020 dải đô thị này sẽ có khoảng 3 triệu dân, đủ đối
trọng được với TP. Hồ Chí Minh khi đó là khoảng 10.000.000 dân, tỉ lệ sẽ là 1/3.
Xu hướng phát triển hiện nay và sắp tới của các đô thị là sát lại gần nhau, tạo
thành các chùm, các chuỗi đô thị. Thành phố Biên Hòa tiếp giáp với quận 9 và quận
Thủ Đức - cửa ngõ của TP. Hồ Chí Minh. Vì vậy khoảng cách địa lý bị thu hẹp
nhanh chóng do cả hai đang trong tiến trình mở rộng về không gian theo kiểu vết
dầu loang. Nếu trước kia đến cầu Sài Gòn mới coi như là đến TP. Hồ Chí Minh, thì
nay đến ngã tư Thủ Đức đã coi như đến sát thành phố.
Hiện tại mối quan hệ giữa Biên Hòa và Hồ Chí Minh ngày càng trở nên mật
thiết. Một bộ phận dân cư TP. Hồ Chí Minh lao động, làm việc tại Biên Hòa. Biên
Hòa phát triển sẽ hỗ trợ cho thành phố Hồ Chí Minh giảm sức ép về dân số, các dịch
vụ xã hội, văn hóa, giáo dục,…. Vì vậy có quan điểm cho rằng Biên Hòa là đô thị vệ
tinh của TP. Hồ Chí Minh [23, tr.16-23].
Trong mối quan hệ quốc tế và khu vực thì Đồng Nai nói chung và TP. Biên
Hòa nói riêng có một vị thế và ảnh hưởng nhất định. Trong các KCN Biên Hòa 1,
Biên Hòa 2, Amata, Loteco đều có mặt các nhà đầu tư của các quốc gia khác nhau
trên thế giới, có nhiều các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia. Ảnh hưởng của thành
phố Biên Hòa đã vượt ra khỏi biên giới hành chính quy ước và hướng tới không
gian kinh tế, văn hóa - xã hội rộng lớn hơn của toàn vùng.
Như vậy, đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực miền Nam,
trong mối tương quan với các đô thị khác, Biên Hòa có vai trò rất quan trọng. Là
một trong ba đỉnh của tam giác đô thị ở miền Nam (gồm Biên Hòa, TP.Hồ Chí
Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu). Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh là đô thị cấp quốc gia,
có vai trò chủ đạo như một nhạc trưởng; Biên Hòa và Vũng Tàu là đô thị loại II. Tất
cả các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung và các cụm công nghiệp lớn, quan
trọng nhất ở miền Nam đều tập trung với mật độ cao ở ba thành phố này.
Nếu như Vũng Tàu là thành phố - đô thị - mang chức năng điển hình là du
lịch, thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đa chức năng thì Biên Hòa từ lâu đã được
định hướng và phát triển là đô thị công nghiệp của cả nước, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế của miền Nam. Quyết định của thủ tướng chính phủ tháng 11 năm
2003 ghi rõ Biên Hòa “là trung tâm công nghiệp và đầu mối giao lưu quan trọng của
vùng Thành phố Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ, vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam. Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, đầu mối
giao thông, giao lưu của tỉnh Đồng Nai…”
Nói về vai trò và định hướng phát triển của đô thị Biên Hòa trong thời gian
tới, giáo sư Nguyễn Minh Hòa đã nhận định: “Thành phố Biên Hòa có vị trí cực kì
quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Nhìn lại cả khu vực phía Nam,
chỉ riêng có Biên Hòa được coi là thành phố công nghiệp. Còn thành phố Hồ Chí
Minh là thành phố đa chức năng. Về giao thông, Biên Hòa nằm ở vị trí tâm điểm
giao cắt của các đường giao thông quan trọng. Tương quan với các đô thị trong
vùng như Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Phan Thiết, Thủ Dầu Một,… Biên
Hòa cũng nằm ở vị trí tâm điểm. Nếu vùng kinh tế trọng điểm chỉ có 7 tỉnh và 1
thành phố thì khái niệm vùng đô thị lại mang tính kết nối các đô thị lại với nhau.
Trong cả hai khái niệm này, thành phố Biên Hòa đóng vai trò quan trọng. Trong
tương lai, Biên Hòa sẽ được nâng cấp lên Thành phố đô thị loại I… Biên Hòa và
Thành Phố Hồ Chí Minh gần như hợp thành một, do nằm quá gần nhau. Thành phố
Hồ Chí Minh có ảnh hưởng đến Biên Hòa nhưng là ảnh hưởng tương hỗ.” [96].
1.2.2. Khái quát quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa trước năm 1986
1.2.2.1. Sơ lược địa giới hành chính thành phố Biên Hòa
Biên Hòa là một bộ phận của tỉnh Đồng Nai, do vậy để có cái nhìn tổng quan
về sự phát triển của Biên Hòa không thể không đặt trong bối cảnh hình thành và
phát triển của tỉnh. Theo sử sách ghi lại, Biên Hòa trước đây nằm ở trung tâm vùng
đất Đồng Nai – Gia Định, là vùng đất mới ở phương Nam của Tổ quốc. Xưa kia,
vùng này hoang vu, dân cư thưa thớt, chưa được khai phá. Từ khoảng thế kỉ XVI
cha ông ta đến lập nghiệp ở Đồng Nai. Họ vốn là những người dân ở Đàng Ngòai,
vì không chịu nổi cảnh binh đao, sự bóc lột của các tập đoàn phong kiến Trịnh –
Nguyễn nên đã tìm mọi cách để đi xuống phía Nam. Cùng đến xây dựng Biên Hòa
– Đồng Nai còn có một số người Hoa di cư theo tổng binh Trần Thượng Xuyên vào
năm 1679, lập ra thương cảng Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa thuộc thành phố Biên
Hòa). Trong suốt thế kỷ XVIII, Cù lao Phố trở thành trung tâm thương mại lớn giao
dịch với bên ngoài của miền Đông Nam Bộ. Đến năm 1776 trong trận chiến giữa
quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh, Cù lao Phố bị tàn phá.
Năm 1698 chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh (còn có tên Nguyễn Hữu Kính)
được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lược xứ Đàng Trong, đã thành lập dinh
Trấn Biên - tiền thân của tỉnh Đồng Nai sau này. Vì vậy các nhà nghiên cứu lấy sự
kiện này làm mốc ra đời của tỉnh Đồng Nai và thành phố Biên Hòa.
Năm Gia Long thứ 7 (1808), toàn miền Nam từ Bình Thuận trở vào được gọi
là Gia Định thành gồm 5 trấn. Tên gọi dinh Trấn Biên trước đây được đổi thành trấn
Biên Hòa, huyện Phước Long thuộc dinh Trấn Biên được nâng lên thành phủ Phước
Long gồm 4 huyện: Phước Chánh, Bình An, Long Thành, Phước An gồm 8 tổng,
310 xã, thôn, phường [14, tr.133]. Thành phố Biên Hòa là một phần của huyện
Phước Chánh – trung tâm của trấn Biên Hòa. Đến năm 1832 vua Minh Mạng bãi
bỏ chế độ trấn, trấn Biên Hòa đổi thành tỉnh Biên Hòa gồm 1 phủ 4 huyện (như năm
1808).
Sau khi chiếm được Nam Kỳ, buộc nhà Nguyễn ký hòa ước năm 1862, thực
dân Pháp bắt đầu đặt lên vùng đất này sự cai trị. Vì vậy, tỉnh Biên Hòa đã nhiều lần
thay đổi tên gọi cũng như địa giới hành chính. Năm 1864 tỉnh Biên Hòa chia thành
2 tiểu khu là Biên Hòa và Bà Rịa. Tuy nhiên cách phân chia này nặng tính chất quân
quản. Vì vậy thực dân Pháp lại thay đổi để mang tính dân sự hơn. Năm 1867 tỉnh
Biên Hòa được chia làm 5 sở tham biện:
- Biên Hòa, tỉnh lỵ ở quận Châu Thành Biên Hòa, huyện Phước Chánh.
- Bà Rịa, tỉnh lỵ ở quận Châu Thành Bà Rịa, huyện Phước An.
- Long Thành, lỵ sở ở làng Long Thành, huyện Long Thành.
- Bình An, tỉnh lỵ ở Châu Thành Thủ Dầu Một, huyện Bình An.
- Nghĩa An, lỵ sở ở Thủ Đức, huyện Nghĩa An.
Trên cơ sở của lần thay đổi này, đến năm 1871 tỉnh Biên Hòa chỉ còn lại 3 sở
tham biện: Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa. Từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, hạt
tham biện Biên Hòa trở thành tỉnh theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của
Toàn quyền Đông Dương về việc đổi tên tất cả các hạt tham biện thành tỉnh. Theo
tài liệu của Tòa bố Biên Hòa năm 1923, thành phố Biên Hòa khi ấy gồm địa lý hành
chính các làng thuộc 4 tổng:
* Tổng Phước Vĩnh Thượng:
- Làng Bình Trước có 8 ấp: Tân Lân, Tân Thành, Lân Thị, Phước Lư, Vĩnh
Thanh, Bàu Hang, Đồng Lách, Sông Mây
- Làng Bình An có 2 ấp: Bình Đa, An Hảo
- Làng Nhị Hòa có 3 ấp: Bình Kính, Tân Mỹ, Tành Hưng
- Làng Tam Hòa có 4 ấp: Bình Hòa, Bình Quan, Hòa Quới, Long Quới
- Làng Nhứt Hòa có 4 ấp: Bình Tư, Bình Xương, Hưng Phú (về sau, 3 làng
Nhứt Hòa, Nhị Hòa, Tam Hòa sát nhập thành làng HIệp Hòa-tức vùng Cù
lao Phố)
- Làng Tân Lại
- Làng Vĩnh Cửu
* Tổng Phước Vĩnh Trung
- Làng Bửu Long có 2 ấp: Bình Điện, Bạch Khôi
- Làng Tân Phong
* Tổng Long Vĩnh Thượng
- Làng An Hòa (Bến Gỗ), làng Long Bình, làng Long Hưng
* Tổng Chánh Mỹ Thượng:
- Làng Mỹ Khánh
- Làng Tân Hạnh, làng Tân Vạn
Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945, chính quyền nhân nhân dân tại
Biên Hòa được xây dựng từ tỉnh đến cơ sở. Khi ấy cơ quan lãnh đạo tỉnh Biên Hòa
và quận Châu Thành đặt tại xã Bình Trước (là trung tâm tỉnh lỵ). Sau ngày thực dân
Pháp chiếm Biên Hòa (24 – 10 – 1945), tổ chức hành chính vẫn được giữ nguyên.
Sau năm 1954, thực dân Pháp thua trận, đế quốc Mĩ thay chân nhằm biến
miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Để dễ dàng kiểm soát và đàn áp phong trào
cách mạng, tỉnh Biên Hòa được chia thành 2 tỉnh: Biên Hòa và Long Khánh, nhưng
Biên Hòa vẫn là tỉnh quan trọng trong các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Vài năm sau,
theo Nghị định số 140-BNV/HC/ND của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 2/5/1957, tỉnh
Quận Châu Thành, quận lỵ tại Bình Trước; có 3 tổng: Phước Vĩnh Thượng,
Biên Hòa mới gồm có 4 quận, 11 tổng, 84 xã:
Phước Vĩnh Trung, Long Vĩnh Thượng. Về mặt địa lý, quận Châu Thành
Quận Long Thành, quận lỵ: Phước Lộc Xã; có 2 tổng: Thành Tuy Thượng,
chính là thành phố Biên Hòa ngày nay.
Quận Dĩ An, quận lỵ: An Bình Xã; có 3 tổng: An Thủy, Chánh Mỹ Thượng,
Thành Tuy Hạ.
Quận Tân Uyên, quận lỵ: Uyên Hưng; có 3 tổng: Chánh Mỹ Trung, Chánh
Long Vĩnh Hạ.
Mỹ Hạ, An Phước Hạ [77, tr.278, 279, 280].
Ngày 9/9/1960, một phần đất quận Long Thành được tách ra lập quận Nhơn
Trạch, quận lỵ đặt tại Phú Thạnh. Quận Nhơn Trạch có 2 tổng: Thành Tuy Trung
(gồm 7 xã) và Thành Tuy Hạ (gồm 6 xã).
Đến năm 1963, quận Châu Thành được đổi tên là quận Đức Tu gồm các xã:
Bình Trước, Tam Hiệp (quận lỵ đặt tại đây), Bùi Tiếng (Tân Mai), Hiệp Hòa, Tân
Vạn, Bửu Long, Tân Hạnh, Tân Ba, Long Bình và giữ đến tháng 4/1975. Ngoài ra
còn có một quận mới được thành lập – quận Công Thanh (tách ra từ quận Châu
Thành và quận Tân Uyên), gồm 2 tổng: Thanh Quan (6 xã), Thanh Phong (6 xã).
Dù liên tục bị xáo trộn về mặt địa giới và hành chính, dưới chính quyền Sài
Gòn, thành phố Biên Hòa luôn giữ vị trí quan trọng, là địa bàn chiến lược về quân
sự và kinh tế sau Sài Gòn ở miền Nam.
Về phía cách mạng, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời thì tổ chức Đảng
và cán bộ Đảng được xây dựng ở trung tâm Biên Hòa. Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã nhiều lần tách
nhập tỉnh Biên Hòa với các tỉnh Thủ Dầu Một, Bà Rịa - Long Khánh, với các tên
gọi: Biên Hoà, Long Khánh, Thủ Biên, Bà Biên, Bà Rịa - Long Khánh, U, phân khu
4, phân khu Thủ Biên, tỉnh Tân Phú.
Năm 1948 ta đổi tên quận Châu Thành thành huyện Vĩnh Cửu, thị xã Biên
Hòa được thành lập trực tiếp dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Biên Hòa (gồm các khu
phố nội ô tỉnh lỵ quận Châu Thành – tức xã Bình Trước và một số ấp, xã huyện lân
cận).
Từ tháng 5 năm 1951 đến cuối năm 1954, chính quyền Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa sáp nhập tỉnh Biên Hòa với tỉnh Thủ Dầu Một thành tỉnh Thủ Biên. Thị
xã Biên Hòa được mở rộng thêm diện tích do sáp nhập một số xã thuộc huyện Vĩnh
Cửu để làm bàn đạp đứng chân họat động như Tam Hiệp, Hiệp Hòa, Tân Thành.
Trong thời kỳ 1954 – 1975, thị xã Biên Hòa là một đơn vị tương đương cấp
huyện. Cuối năm 1954, tỉnh Thủ Biên được tách ra lập thành hai tỉnh: Biên Hòa và
Thủ Dầu Một. Tỉnh Biên Hòa khi đó bao gồm thị xã Biên Hòa và 5 huyện: Vĩnh
Cửu, Long Thành, Tân Uyên, Xuân Lộc và Bà Rá.
Chỉ trong thời gian rất ngắn sau đó, từ năm 1960 đến 1961, tỉnh Thủ Biên
được tái lập rồi lại chia tách thành Thủ Dầu Một, Biên Hòa và Phước Thành. Do
vậy, tỉnh Biên Hòa được thành lập lại gồm các huyện Vĩnh Cửu, Long Thành, Nhơn
Trạch và thị xã Biên Hòa.
Tháng 4 năm 1964, thị xã Biên Hòa được tách ra thành lập một đơn vị hành
chính riêng, trực thuộc Khu ủy miền Đông. Đầu năm 1965, do yêu cầu nhiệm vụ
mới của cách mạng, khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào chiến trường miền Nam, tiến hành
chiến lược chiến tranh cục bộ, thị xã Biên Hòa được nâng lên thành một đơn vị
tương đương cấp tỉnh, có phiên hiệu là U1, gồm thị xã Biên Hòa, huyện Vĩnh Cửu.
Đến tháng 10 năm 1967, chuẩn bị cho cuộc tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân
1968, U1 được mở rộng thêm địa bàn là huyện Trảng Bom (nay là huyện Thống
Nhất).
Từ tháng 5 năm 1971 đến tháng 10 năm 1972, thị xã Biên Hòa trực thuộc
phân khu 5. Tháng 10 năm 1972, thực hiện chỉ thị của Trung ương Cục miền Nam,
các phân khu bị giải thể, tỉnh Bà Rịa - Long Khánh và tỉnh Biên Hòa được lập lại.
Thị xã Biên Hòa lại trở về tỉnh Biên Hòa dưới sự lãnh đạo của khu ủy miền Đông.
Tháng 6 năm 1973, do tính chất quan trọng của vùng đô thị, trung ương Cục
miền Nam quyết định tách tỉnh Biên Hòa thành hai đơn vị ngang cấp tỉnh: Biên Hòa
nông thôn có các huyện: Vĩnh Cửu, Trảng Bàng, Long Thành, Nhơn Trạch, Duyên
Hải, Cao Su; Biên Hòa đô thị (được gọi là thành phố Biên Hòa) gồm thị xã Biên
Hòa và một số vùng phụ cận.
Từ đó thị xã Biên Hòa được nâng lên thành thành phố. Sau khi đất nước
được thống nhất năm 1975, vào tháng 2 năm 1976, thành phố Biên Hòa trở thành
trung tâm, tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Nai khi ba tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa - Long Khánh,
Tân Phú được hợp nhất thành một.
Có thể hình dung quá trình thay đổi địa giới hành chính của thành phố Biên
Hòa từ năm 1975 đến nay một cách cụ thể qua bảng sau:
BIÊN HÒA
Bảng 1.2. Tổ chức hành chính thành phố Biên Hòa qua các năm
1976
1985
1990
1992
1995
156,32 km2
158,08 km2
158,08 km2
Xã Hóa An
Xã Hóa An
Xã Hóa An
Xã Hóa An
Xã Hóa An
Xã Tân Hạnh
Xã Tân Hạnh
Xã Tân Hạnh
Xã Tân Hạnh
Xã Tân Hạnh
Xã Hiệp Hòa
Xã Hiệp Hòa
Xã Hiệp Hòa
Xã Hiệp Hòa
Xã Hiệp Hòa
Xã Bửu Hòa
Ph. Bửu Hòa
Ph. Bửu Hòa
Ph. Bửu Hòa
Ph. Bửu Hòa
Xã Tân Vạn
Ph. Tân Vạn
Ph. Tân Vạn
Ph. Tân Vạn
Ph. Tân Vạn
Xã Long Bình
Xã Long Bình
Xã Long Bình
Xã Long Bình
Ph. Long Bình
Tân
Tân
Tân
Tân
Tân
Ph. Thanh Bình
Ph. Thanh Bình
Ph. Thanh Bình
Ph. Thanh Bình
Ph. Thanh Bình
Ph. Trung Dũng
Ph. Trung Dũng
Ph. Trung Dũng
Ph. Trung Dũng
Ph. Trung Dũng
Ph. Quang Vinh
Ph. Quang Vinh
Ph. Quang Vinh
Ph. Quang Vinh
Ph. Quang Vinh
Ph. Quyết Thắng Ph. Quyết Thắng Ph. Quyết Thắng Ph. Quyết Thắng Ph. Quyết Thắng
Ph. Thống Nhất
Ph. Thống Nhất
Ph. Thống Nhất
Ph. Thống Nhất
Ph. Thống Nhất
Ph. Tân Mai
Ph. Tân Mai
Ph. Tân Mai
Ph. Tân Mai
Ph. Tân Mai
Xã Tân Thành
Xã Tân Bửu
Xã Tân Bửu
Xã Tân Bửu
Ph. Bửu Long
Ph. An Bình
Ph. An Bình
Ph. An Bình
Ph. An Bình
Ph. An Bình
Xã Tân Phong
Ph. Tân Phong
Ph. Tân Phong
Ph. Tân Phong
Ph. Tân Phong
Ph. Trảng Dài
Ph.Tân Tiến
Ph.Tân Tiến
Ph.Tân Tiến
Ph.Tân Tiến
Ph.Tân Tiến
Ph. Tân Hiệp
Ph. Tam Hiệp
Ph. Tam Hiệp
Ph. Tam Hiệp
Ph. Tam Hiệp
Ph. Tam Hiệp
Ph. Hòa Bình
Ph. Hòa Bình
Ph. Hòa Bình
Ph. Hòa Bình
Ph. Hòa Bình
Ph. Tam Hòa
Ph. Tam Hòa
Ph. Tam Hòa
Ph. Tam Hòa
Ph. Tam Hòa
Ph. Long Bình
Ph. Bình Đa
Ph. Bình Đa
Ph. Bình Đa
Ph. Hố Nai 1
Ph. Hố Nai 1
Ph. Hố Nai 1
Ph. Hố Nai 1
Ph. Tân Biên
Ph. Tân Biên
Ph. Tân Biên
Ph. Tân Biên
Ph. Tân Hòa
Ph. Tân Hòa
Ph. Tân Hòa
Ph. Tân Hòa
8 xã, 11 phường
5 xã, 17 phường
5 xã, 18 phường
5 xã, 18 phường
3 xã, 23 phường
Nguồn: [79, tr.284 ]
Như vậy, thành phố Biên Hòa được hình thành từ một làng, một xã ở vị trí
trung tâm tỉnh lỵ - xã Bình Trước, kết hợp với một số ấp liền ranh phát triển dần
tiến lên đô thị loại II. Tiến trình đó thể hiện sức sống và sự phát triển không ngừng
của thành phố; đồng thời ngày càng khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của thành
phố.
1.2.2.2. Quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa trước năm 1986
Thành phố Biên Hòa, do vị trí chiến lược nên trong hai thời kỳ kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ luôn là địa bàn nóng bỏng. Trải qua nhiều
thăng trầm, thành phố lớn lên cùng với sự phát triển của tỉnh nói riêng và Nam Bộ
nói chung.
Dưới thời Pháp thuộc, diện mạo kinh tế - xã hội của thành phố bắt đầu thay
đổi. Năm 1906 thực dân Pháp tiến hành trồng cây cao su tại đồn điền Suy-da-na
(Suzana), từ đó phát triển thêm nhiều đồn điền xung quanh nội ô Biên Hòa và miền
Đông Nam Bộ. Năm 1909 nhà máy cưa Tân Mai được thành lập lấy tên là BIF
(Bienhoa Industrielles & Forestieres) tức Kỹ nghệ lâm sản Biên Hòa để khai thác
gỗ và các lọai lâm sản khác. Trường bá nghệ Biên Hòa (nay là trường Mỹ thuật
trang trí Đồng Nai) được xây dựng từ năm 1903 để khai thác sự khéo tay của các
nghệ nhân Biên Hòa. Đồng thời hệ thống đường giao thông được đầu tư xây dựng
như xây cầu Rạch Cát, cầu Gành qua sông Đồng Nai, công nghiệp – thủ công
nghiệp được đẩy mạnh với mặt hàng công nghiệp chế biến, nổi tiếng là đường Biên
Hòa. Từ một nền kinh tế nông thôn tự cung tự cấp của người dân trước đây dần dần
chuyển sang sản xuất và cung cấp hàng hóa, phục vụ cho kinh tế thị trường, chủ yếu
là đưa về Sài Gòn để xuất khẩu.
Sự khởi động của quá trình đô thị hóa còn gắn liền với sự xuất hiện các công
sở hoặc dinh thự của các viên chức cao cấp đế quốc. Vì vậy trong xã hội có sự phân
hóa. Ngoài thực dân tư bản phương Tây, xuất hiện tầng lớp tư bản người bản xứ và
giữ vai trò đáng kể trong nền kinh tế. Đó là các điền chủ với những trang trại, đồn
điền, nhà máy, công ty… chiếm hữu phần lớn đất đai canh tác.
Trong khi đó, tầng lớp nhân dân bị bần cùng hóa nghiêm trọng bởi chính
sách cướp đoạt ruộng đất và khai thác nông nghiệp của thực dân Pháp. Họ trở thành
tá điền, làm thuê trên chính mảnh đất quê hương. Đặc biệt là hiện tượng dân từ các
nơi khác nhập cư làm tăng quy mô dân số Biên Hòa, hình thành đội ngũ công nhân
làm việc trong các nhà máy hoặc các đồn điền cao su. Như vậy chính sách cai trị và
khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tác động trực tiếp đến quá trình đô thị hóa
ở thành phố Biên Hòa.
Sau năm 1954, thực dân Pháp thua trận ở Điên Biên Phủ buộc phải rút khỏi
Việt Nam, chấm dứt sự cai trị ở thành phố Biên Hòa. Ngay sau đó, đế quốc Mỹ can
thiệp vào Việt Nam. Từ đây quá trình đô thị hóa ở Biên Hòa chịu sự quản lý của Mỹ
và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Một mặt, Biên Hòa được tập trung xây dựng trở thành một cứ điểm, một
trung tâm đầu não quân sự, chính trị ở miền Đông Nam bộ với những cơ quan đặc
biệt như: Nha đặc cảnh miền Đông, trung tâm huấn chính Biên Hòa (nhà lao Tân
Hiệp), cơ quan cố vấn viện trợ quân sự Mỹ MAAG (trụ sở chính ở Sài Gòn); một
căn cứ quân sự lớn với sân bay Biên Hòa, căn sứ sư đoàn 4 dã chiến,…
Mặt khác, Biên Hòa tiếp tục được đầu tư phát triển nhằm phục vụ cho công
cuộc khai thác thuộc địa của đế quốc. Từ năm 1959, chính quyền Việt Nam Cộng
hòa đã tiến hành phá ủi căn cứ cách mạng Bình Đa, khẩn trương xây dựng xa lộ Sài
Gòn – Biên Hòa, đồng thời nhiều cơ sở sản xuất mới mọc lên như Cogido, Vicado,
cán – kéo dây đồng trên khu vực Bình Đa – An Hảo. Đến năm 1963, Công ty
khuếch trương công kỹ nghệ Biên Hòa (Sonadezi, thuộc các tập đoàn tư bản) tiến
hành xây dựng khu kỹ nghệ Biên Hòa trên diện tích 376 hecta/tổng số 520 hecta đất
tại phường An Bình. Từ đó máy móc của nhiều nước: Mỹ, Nhật, Tây Đức, Đài
Loan,… cùng với chuyên viên các nước tư bản đổ xô vào Biên Hòa. Trong 12 năm
(1963 – 1974), Sonadezi đã xây dựng 94 nhà máy các loại, sản xuất nhiều mặt hàng
cung cấp cho thị trường miền Nam. Đây chính là khu công nghiệp lớn nhất miền
Nam trước giải phóng và cũng là khu công nghiệp lớn của nước Việt Nam sau ngày
thống nhất. Sự xuất hiện của khu kỹ nghệ Biên Hòa góp phần đẩy nhanh quá trình
đô thị hóa thành phố Biên Hòa.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, thành phố Biên Hòa - được xác định là
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Nai – có nhiều thuận lợi
và cũng không ít khó khăn.
Sau khi quy định lại vùng lãnh thổ, diện tích tự nhiên của thành phố còn
14.900 ha, trong đó đất nông nghiệp rất ít, lại phân tán (3.400 ha). Dân số tăng
nhanh (từ 218.514 năm 1976 lên 395.837 năm 1985), chủ yếu do biến động cơ học
từ 0.35% đến 2.35%. Vì vậy nguồn lao động dồi dào 120.000 – 140.000 người, lao
động nông nghiệp chiếm khoảng 20.000 người. Lao động công nghiệp – tiểu thủ
công nghiệp (CN – TTCN) khoảng từ 20.000 người – 24.000 người, còn lại là lao
động trong các ngành dịch vụ (DV), thương mại (TM) và số cán bộ, công nhân,
viên chức.
Do chính sách khai thác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, sau chiến tranh,
cơ cấu kinh tế của thành phố đa dạng song chưa xác định rõ nét, nhiều loại ngành
hàng đang trong thời kì xây dựng. Tuy nhiên có một số ngành CN - TTCN đã tạo
được cơ sở ổn định và có ưu thế phát triển như: gạch, ngói, sành, gốm, cơ khí sửa
chữa, chế biến lương thực - thực phẩm, lâm sản, đan lát, chăn nuôi. Các hoạt động
thương mại, dịch vụ, y tế, giáo dục khá phát triển. Đặc biệt việc tiếp quản trọn vẹn
khu kỹ nghệ Biên Hòa là thuận lợi, giúp Biên Hòa ngay từ đầu xác định hướng phát
triển trở thành trung tâm công nghiệp lớn của cả nước.
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, thành phố Biên Hòa trước giải phóng là đô
thị địch tạm chiếm, do đó phải gánh chịu những khó khăn khá nặng nề do chiến
tranh tàn phá, do chế độ Mỹ - Diệm để lại như tệ nạn mãi dâm, trộm cướp, xì ke,
bụi đời, hàng vạn người không có công ăn việc làm. Cuộc sống của một thành phố
tiêu thụ với trên 30 vạn dân, sống chủ yếu bằng mua bán, phục vụ cho bộ máy chiến
tranh tại một vùng chiến thuật quan trọng đang đặt ra những vấn đề phải giải quyết.
Lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, nguyên liệu thiếu thốn và ngày càng khan
hiếm. Nạn đầu cơ tăng giá xuất hiện. Điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội hết sức
khó khăn.
Vì vậy, biện pháp cấp bách hàng đầu mà Đảng bộ và chính quyền thành phố
Biên Hòa ưu tiên thực hiện là cứu đói, hỗ trợ cho những người thiếu gạo, tạo điều
kiện cho họ trở về quê cũ hoặc đi làm ăn ở vùng kinh tế mới; giải quyết việc làm
cho hơn 1 vạn người thất nghiệp; tổ chức học tập, cải tạo tại chỗ cho 3 vạn người đã
tham gia trong bộ máy chính quyền cũ. Đồng thời tiến hành cải quan hệ sản xuất cũ,
xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa (XHCN), phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội theo định hướng XHCN. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của thành phố.
Trong hai năm đầu (1976 – 1977), thành phố tiến hành công hữu hóa các cơ
sở công nghiệp của những tư sản đã bỏ ra nước ngoài; cải tạo tư sản nhỏ, thành lập
công ty hợp doanh. Trong những năm sau, thành phố thực hiện cải tạo quan hệ sản
xuất tư sản thương nghiệp đối với 13 mặt hàng trong ngành vật tư kỹ thuật, điện
máy và công nghệ phẩm; trên các lĩnh vực y tế, văn hóa, giáo dục tư nhân. Đi đôi
với cải tạo XHCN, thành phố sắp xếp lại sản xuất theo hướng quốc doanh và tập
thể. Kết quả trong 10 năm (từ 1975 – 1985) đã hình thành 15 xí nghiệp quốc doanh;
95 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và hợp tác xã mua bán; 2 hợp tác xã nông nghiệp
và khai thác chế biến nguyên liệu; 22 trạm trại và đội chuyên ngành.
Từ một đô thị tạm chiếm, phi sản xuất, thành phố Biên Hòa đã lớn lên từng
ngày, diện tích nông nghiệp, năng suất lúa tăng hàng năm đáp ứng được nhu cầu
tiêu dùng của người dân. Tính đến năm 1986 sản lượng lương thực của thành phố
làm ra đủ cung cấp cho gần 6 vạn hộ nông nghiệp, bình quân lương thực mỗi nhân
khẩu nông nghiệp tăng từ 123 kg/năm (1976), 245 kg/năm (1980) đến 330 kg/năm
(1985) [4, tr.340]. CN - TTCN đều tăng, công nghiệp tăng 4 lần trong khi tiểu thủ
công nghiệp tăng 6 lần.
Tuy nhiên sự phát triển đó diễn ra không đều. Những ngành, nhóm sản phẩm
phát triển là những nghề truyền thống của địa phương như làm gạch, ngói hay đan
lát, mây tre; trong khi đó một số ngành và sản phẩm bị thu hẹp như hóa chất, chế
biến lương thực, chế biến lâm sản, dệt gia công, may xuất khẩu,…
Đây là những ngành phát triển do chính sách đầu tư phát triển của đế quốc
Mỹ. Chiến tranh kết thúc, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, đồng thời một đội ngũ chuyên
viên có trình độ chưa được tạo ra để vận hành, quản lý nhà máy. Hoạt động thương
mại chậm phát triển do không chủ động được việc thu mua, chủ yếu tiếp nhận
nguồn hàng từ trên phân phối về để bán ra, quá trình phân phố lưu thông còn tách
rời sản xuất. Đối tượng phục vụ còn bó hẹp trong khu vực Nhà nước, chức năng
phân phối cho toàn xã hội còn bỏ ngõ. Chỉ từ năm 1982 hoạt động lưu thông hàng
hóa mới có bắt đầu thay đổi.
Nhìn chung trong giai đoạn 10 năm đầu sau ngày độc lập (1975 – 1985), tình
hình kinh tế - xã hội của thành phố Biên Hòa có phát triển nhưng chậm chạp. Thành
phố vừa phải khắc phục những hậu quả của chiến tranh để lại, vừa phải tìm tòi, sáng
tạo trong cơ chế bao cấp vốn kìm hãm sức sản xuất vốn có. Vì vậy quá trình đô thị
hóa không có nhiều biến đổi.
Tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh
dấu bước ngoặt của cách mạng nước ta. Đại hội quyết định đổi mới toàn diện, mà
trước hết là đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế để đưa đất nước thoát khỏi tình
trạng nghèo nàn, lạc hậu. Vì vậy từ năm 1986 đến năm 1996, Biên Hòa tập trung
vào nhiệm vụ đảm bảo lương thực cho người dân, bước đầu phát triển kinh tế nhiều
thành phần trên các ngành; chú ý nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật thành phố.
Đó là những thành tựu đáng mừng chứng tỏ quá trình đô thị hóa của thành phố diễn
ra mạnh, đang từng bước thâm nhập vào đời sống của người dân, bộ mặt thành phố
cũng được khang trang hơn trước.
Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, giai đoạn từ năm 1995 – 2005, tốc độ
đô thị hóa ở Biên Hòa phát triển nhanh cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, đa dạng,
phong phú về văn hóa, quy mô dân số ngày càng lớn. Thành phố đã tập trung huy
động được mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế
cao và ổn định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp – tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị tương đối đồng bộ và hiện đại.
Từ đó góp phần quan trọng, tạo điều kiện thực hiện các hoạt động khoa học công
nghệ, giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa, chăm lo các đối tượng chính sách, giải quyết
* Tiểu kết chương 1
việc làm cho người lao động,…
Từ khi thực dân Pháp vào xâm lược và đặt ách thống trị lên vùng đất này cho
đến khi trở thành “sân sau” của Sài Gòn dưới thời Mỹ - Việt Nam cộng hòa, Biên
Hòa ngày càng được khẳng định vai trò quan trọng. Đây vốn là một trung tâm quân
sự - nơi đặt các cơ quan chỉ huy, các căn cứ quân sự, kho tàng - đồng thời là một
vùng kinh tế chiến lược nằm trong chính sách khai thác thuộc địa. Vì vậy Biên Hòa
dần tập trung đông người, kinh tế có chiều hướng phát triển. Đặc biệt dưới sự quản
lý của chế độ Việt Nam Cộng hòa, Biên Hòa sôi động với các hoạt động phi nông
nghiệp, chủ yếu là sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ - mua bán.
Có thể nhận thấy quá trình đô thị hóa thành phố Biên Hòa lệ thuộc vào yếu tố bên
ngoài chứ không phải do sự tăng trưởng về kinh tế và thay đổi xã hội.
Hòa bình được lập lại, Biên Hòa có cơ hội để phát huy yếu tố nội lực nhằm
đẩy nhanh hơn quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên do đặc điểm vừa bước ra khỏi chiến
tranh (đây cũng là đặc điểm chung của cả nước trong quá trình phát triển) nên tốc
độ đô thị hóa chậm.
Từ năm 1986 cùng với chủ trương cải cách đổi mới, Đảng và Nhà nước đã
ban hành chính sách mở cửa, khuyến khích các thành phần phát triển kinh tế theo
định hướng XHCN, năng lực sản xuất được cải thiện, kinh tế đất nước phát triển
mạnh mẽ. Trong bối cảnh chung ấy, Đảng bộ và nhân dân thành phố Biên Hòa tập
trung xây dựng và phát triển thành phố về mọi mặt. Biên Hòa đã, đang và sẽ khẳng
định vai trò là thành phố công nghiệp của cả nước, đô thị lọai II, trung tâm kinh tế -
chính trị của tỉnh Đồng Nai.
Chương 2
NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ CẢNH QUAN
MÔI TRƯỜNG, CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KINH TẾ
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH
PHỐ BIÊN HÒA (1986 – 2005)
Cảnh quan môi trường và cơ sở hạ tầng của một đô thị được xem như “phần
cứng” phản ánh sự phát triển về quy mô và chất lượng của đô thị đó, là yếu tố đầu
2.1. Cảnh quan và môi trường
tiên dễ nhận thấy trong quá trình đô thị hóa.
2.1.1. Cảnh quan
Quá trình đô thị hóa đã đem đến cảnh quan mới cho thành phố Biên Hòa.
Các yếu tố sinh thái của một vùng nông thôn dần biến mất và được thay thế bằng
cảnh quan của đô thị hiện đại. Không gian yên tĩnh, những ngôi nhà xây theo kiểu
ba gian với vườn cây ăn trái, hàng rào, bờ tre hay chỉ là những mảnh đất hoang như
“lột xác” trở thành những ngôi nhà kiên cố, những tòa nhà chung cư khang trang
với đầy đủ tiện nghi, được điểm xuyến bởi hàng cây bên đường, công viên, hồ
nước. Phố xá sầm uất tấp nập các hoạt động mua – bán, người đi kẻ lại trên các con
đường không kể ngày đêm. Những con đường chính được nâng cấp, mặt đường
rộng hơn chia làm nhiều làn xe.
Từ năm 1986 trở lại đây, đô thị Biên Hòa mở rộng không gian bằng sự
chuyển đổi nâng cấp của một số xã thành phường, tổ, khu phố; sự xuất hiện của
những phường mới (cụ thể năm 1985 Biên Hòa có 5 xã và 17 phường, đến năm
2005 thì còn 3 xã cùng 23 phường). Đây là dấu hiệu đáng mừng cho thấy sự phát
triển của thành phố. Lối sống đô thị đã dần xâm nhập vào đời sống người dân ở
nông thôn. Người dân trở nên bận rộn hơn trong thời gian biểu của mình, khác với
kiểu sinh hoạt ở nông thôn.
Tuy nhiên đô thị hóa cũng đang làm biến dạng, méo mó những yếu tố thuộc
về văn hóa truyền thống địa phương. Người dân Biên Hòa, do đặc điểm lịch sử,
sống với nhau chan hòa theo quan hệ huyết thống, nặng tình làng nghĩa xóm. Ngày
nay, cách cư xử ấy bị phai nhạt theo kết cấu gia đình – phố - xã hội.
Nhà cửa mọc lên san sát tạo thành dãy, thành phố ở những phường trung
tâm. Đường phố trở nên chật chội, thu hẹp. Những con ngách nhỏ hình thành len
sâu trong những khu dân cư do việc xây nhà lấn đường. Còn ở những phường mới
như Long Bình, Trảng Dài,… đô thị mang tính tự phát nên những ngôi nhà được
xây không theo quy hoạch, đa phần là nhà trái phép trên những mảnh đất nông
nghiệp. Các khu này không có mạng lưới cấp thoát nước, không có công trình công
cộng và cây xanh. Hệ thống điện thì đa số do dân tự chăng mắc. Đường nhựa,
đường đất, đường đá xen lẫn nhau làm nên sự phát triển không hài hòa. Vì vậy an
ninh trật tự phức tạp, chất lượng cuộc sống của người dân chưa cao.
Xa vùng trung tâm hơn, tại các xã Hiệp Hòa, Hóa An, Tân Hạnh mức độ đô
thị hóa thấp, cảnh quan nông thôn vẫn còn khá phổ biến tuy phần nào bị biến đổi.
Hình ảnh vườn cây, ruộng lúa, bến đò xưa xen lẫn những khu đất được phân lô,
những ngôi nhà kiểu hiện đại khá phổ biến. Do vậy thành phố cần nhanh chóng đưa
ra quy hoạch phát triển có hiệu quả đối với các phường mới, xã này.
Đô thị phát triển, các cơ sở xản xuất, khu công nghiệp mọc lên nhiều với sự
đa dạng của ngành nghề cũng góp phần tác động đến sự đổi thay trong cảnh quan
thành phố Biên Hòa. Đó là sự xuất hiện của những nhà máy, xí nghiệp lớn có vẻ
ngoài hiện đại; những con đường trải nhựa được tô điểm bởi hàng cây bằng lăng,
cây điệp,….trong các khu công nghiệp Biên Hòa 1, Biên Hòa 2, Amata, Loteco.
Đèn đường luôn sáng trong sự hối hả của người công nhân vào ca hoặc tan ca. Khu
vực xung quanh đó cũng thay đổi nhanh không kém. Dân cư đông đúc hẳn lên, các
chợ tự phát hình thành tại các ngã ba, ngã tư, các khu nhà trọ cho công nhân, các
cửa hàng tạp hóa, quán ăn, quán nhậu, giải khát… mọc lên nhiều.
Một thay đổi khác trong cảnh quan đô thị chính là sự xuất hiện của những
yếu tố công cộng. Kinh tế phát triển làm bùng nổ các loại dịch vụ cùng với các biển
quảng cáo màu sắc rực rỡ. Người dân hành xử theo những chỉ dẫn của biển báo. Rõ
nhất là việc đặt những bảng chỉ tên đường. Hệ thống giao thông thuận lợi nối liền
nhà ở - cơ quan, trường học, xí nghiệp, chợ,…. Cuộc sống công nghiệp đòi hỏi
người dân phải sử dụng các phương tiện đi lại nhiều hơn. Trước đây, các hoạt động
vui chơi – giải trí diễn ra chủ yếu trước khoảng 7, 8 giờ tối, còn hiện nay đây là thời
điểm bắt đầu. Các khu nhà chung cư mới xuất hiện ngày càng nhiều, công viên
được sửa sang.
Như vậy, đô thị hóa đã tạo cho Biên Hòa “một bộ mặt” mới, khang trang,
hiện đại hơn nhưng chưa đồng đều giữa các nơi. Mặt khác, nó tác động đến mặt trái
của cuộc sống, đó là tình trạng ô nhiễm trong các nhà máy, xí nghiệp, ô nhiễm
nguồn nước,…
2.1.2. Môi trường
Môi trường sống gắn bó hữu cơ với cuộc sống của con người, cũng như với
sự tồn tại và phát triển bền vững của xã hội. Nói đến môi trường đô thị trước hết là
nói đến hệ thống cây xanh được trồng ở hai ven đường, ở công viên, có tác dụng
trong việc cải thiện môi sinh, tổ chức sự nghỉ ngơi cho dân cư và làm đẹp bộ mặt
thành phố.
Từ những năm đầu của thập niên 1990, trong bản quy hoạch chi tiết phát
triển thành phố năm 1993, nhiều biện pháp để bảo vệ môi trường thành phố đã được
đưa ra như xây mới công viên dọc sông Đồng Nai và các công viên nhỏ ở trong các
khu dân cư; cải tạo công viên Vườn Mít, công viên 30 – 4; trồng và sửa sang cây
xanh dọc một số tuyến đường như đường 5, đường Quốc lộ 1K. Ngoài ra thành phố
còn chú ý cải tạo, mở rộng khu du lịch Bửu Long, khu vui chơi giải trí nghỉ dưỡng
Hiệp Hòa, hồ Suối Mai, khu cắm trại nghỉ dưỡng Lâm Viên. Đây là những “mảng
xanh” trong lòng thành phố, không chỉ có tác dụng góp phần điều hòa môi trường
không khí mà còn giúp người dân thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng, từ
đó tái tạo sức lao động.
Tuy nhiên hiện nay do sự phát triển mạnh của kinh tế và quá trình đô thị hóa
tự phát nên vấn đề môi trường đang đứng trước nhiều khó khăn. Thành phố đang
đánh mất dần sự trong lành của không khí. Nếu như trước đây, sông Đồng Nai hiền
hòa, đem lại sự mát mẻ cho thành phố thì ngày nay, không chỉ dòng sông mà không
khí cũng đang bị ô nhiễm bởi tiếng ồn, khói bụi của các nhà máy xí nghiệp, phương
tiện giao thông,… Các con suối trong nội ô thành phố cũng trong tình cảnh tương tự
do tiếp nhận nước thải sinh hoạt, chăn nuôi và từ các cơ sở sản xuất. Môi trường
nước dưới đất cũng ô nhiễm do việc sử dụng các giếng chưa hợp vệ sinh của các
khu dân cư.
Trong khu vực dân cư, do thành phố Biên Hòa sử dụng hệ thống thoát nước
chung cho cả nước thải và nước mưa được xây dựng chủ yếu từ thời Pháp – Mỹ,
trong khi đó thành phố liên tục được mở rộng, vì vậy các tuyến thoát nước đều quá
tải. Việc đổ rác của một bộ phận người dân chưa có ý thức cũng góp phần làm hư
hại hệ thống thoát nước. Ở những chợ, khu vực ven sông như cầu Sắt ở phường
Trảng Dài luôn bị nước ứ đọng sau khi mưa lớn.
Từ năm 1993 trở lại đây, thành phố đã tiến hành cải tạo và xây mới một số
tuyến cống và mương thoát nước (khu công viên Biên Hùng, dọc đường Phan Châu
Trinh, đường Cách mạng Tháng Tám). Tuy nhiên hệ thống xử lý nước tập trung
hoàn toàn chưa có. Các công trình chỉ xử lý cục bộ bằng bể tự hoại, tự thấm hoặc xả
ra mương, cống nước mưa trong khi các bể này không được xử lý hóa chất, hút cặn
thường xuyên, vì vậy chất lượng nước thải không đạt yêu cầu, gây ô nhiễm chung.
Tại các khu công nghiệp tập trung đều có hệ thống thoát nước thải riêng,
riêng KCN Biên Hòa 1 vẫn dùng hệ thống thoát chung. Việc này gây ô nhiễm sông
Đồng Nai trầm trọng. Đã có nhiều dự án nhằm cải tạo hạ tầng khu công nghiệp, cụ
thể năm 2000 công ty Sonadezi đã lập kế hoạch xây dựng hế thống thoát nước bẩn
cho KCN. Tuy nhiên hiện nay dự án đó tỏ ra không hiệu quả vì mỗi ngày các nhà máy ở KCN Biên Hoà 1 có lượng nước thải khoảng 15.000m3/ngày đêm, nhưng chỉ
có 16 nhà máy ký hợp đồng đưa nước thải về xử lý ở nhà máy xử lý nước thải tập trung với khoảng 200m3/ngày đêm, còn lại đều đổ thẳng ra sông Đồng Nai....
Vì vậy năm 2008 UBND tỉnh đã chấp thuận phương án chuyển đổi công
năng của KCN này thành khu thương mại - dịch vụ. Ở những KCN Biên Hòa 2,
Amata, Loteco tuy đã có trạm xử lý nước thải tập trung nhưng kết quả kiểm tra cho
thấy chất lượng nước thải công nghiệp sau xử lý thường vượt tiêu chuẩn cho phép.
Trái với nỗi ám ảnh từ các khu công nghiệp, vấn đề nước thải từ y tế có phần
sáng sủa hơn. Đến năm 2004 toàn thành phố có 4 bệnh viện và 3 trung tâm y tế có
hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn. Năm 2005, 75% nước thải bệnh viện đã
được xử lý đạt chuẩn.
Rác thải cũng là một nguyên nhân chính làm nên sự ô nhiễm môi trường của
thành phố. Theo số liệu Thống kê của Trung tâm Bảo vệ Môi trường, Biên Hòa có
lượng rác thải sinh hoạt trung bình 0.8kg/người/ngày. Toàn thành phố có 150 – 170
tấn rác thải/ngày. Công ty vệ sinh thu gom rác chỉ đạt khoảng 70% lượng rác này
đem về khu vực Trảng Dài để đổ và chôn. Do vậy năm 1996 – 1997, thành phố đã
xây dựng một trạm xử lý rác tại ngã 3 Tân Phong nhưng nhà máy hoạt động 1 năm
thì ngưng. Việc phân loại rác tại nguồn cũng đã được tiến hành. 30% – 50% rác thải
được chôn lấp hợp vệ sinh, số còn lại xử lý làm phân Compost. Tuy nhiên hiện nay
bãi rác ở phường Trảng Dài đang trở nên quá tải vì rác của các khu công nghiệp
không có khả năng tái sử dụng cũng được đưa về đây, đồng thời bị ô nhiễm nặng vì
sự phân hủy các chất hữu cơ có trong rác.
Nghĩa địa cũng là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho môi
trường bị ô nhiễm vì hiện nay, số mồ mả do nhân dân tự chôn và chôn theo các
khu nghĩa địa cũ chiếm ≈ 176,24 ha, nằm rải rác khắp thành phố Biên Hòa, đặc
biệt là khu vực các phường ven đô – nơi có nhiều nhà vườn và các Xứ đạo dọc
Quốc lộ 1. Thành phố đã đặt vấn đề tập trung việc chôn cất vào nghĩa địa chung,
đồng thời có dự án xây dựng lò thiêu xác tại khu vực nghĩa trang và nghĩa địa hiện
có ở phường Tân Biên.
Biên Hòa là một thành phố - đô thị công nghiệp nằm bên bờ sông. Trước tình
hình ô nhiễm, để bảo vệ dòng sông Đồng Nai và sông Cái, thành phố tiến hành thực
hiện quy định về khoảng cách ly nhằm ngăn chặn sự xâm hại của con người, kết
hợp với việc tổ chức không gian cây xanh. Hệ thống công viên, cây xanh và mặt
nước được mở rộng với diện tích khoảng 1.762 ha, trong đó có 581 ha gồm cây
xanh công viên thành phố, cây xanh trong các khu dân cư và 1.181 ha cây xanh
công viên du lịch sinh thái [38, tr.4]. Đồng thời thành phố tiến hành di dời các cơ sở
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư
vào các cụm, khu công nghiệp tập trung; ngừng khai thác đá tại các mỏ đá Hóa An,
Tân Vạn và Tân Hạnh, đảm bảo sau năm 2010 không còn các cơ sở sản xuất gây ô
nhiễm trong nội ô.
Để giải quyết bài toán về rác thải, thành phố Biên Hòa đang phục hồi trạm
xử lý rác ở phường Trảng Dài, ngoài ra xây dựng bãi đổ và xử lý rác ở Hố Nai
(thuộc huyện Thống Nhất, phía Đông Bắc của thành phố) với quy mô 10 ha và 1
nhà máy trong giai đoạn đầu (đến năm 2010); củng cố và tăng cường về phương
tiện, quy mô thu gom và vận chuyển rác sinh hoạt của thành phố, bố trí nhiều thùng
rác tại các khu vực trung tâm, khu thương mại, khu du lịch nhằm giảm tình trạng ô
nhiễm không khí.
Do sự quá tải của nghĩa địa và nghĩa trang cũ ở phường Tân Biên trong khi
quỹ đất có hạn, thành phố một mặt xây thêm nghĩa địa tại phường Long Bình, mặt
khác đầu tư kinh phí để xây lò hỏa táng để giảm diện tích nghĩa địa.
Bên cạnh những biện pháp mà thành phố đang tiến hành để khắc phục sự ô
nhiễm, cần phải đưa vấn đề bảo vệ môi trường trở thành quy định đối với các cơ sở
sản xuất và thực hiện tốt công tác kiểm tra; nghiêm trị đối với những hành vi xâm
phạm đến môi trường; đồng thời tác động đến ý thức của người dân trong việc tham
gia thực hiện các hoạt động làm trong sạch môi trường như không xả rác bừa bãi,
2.2. Chuyển biến về cơ sở hạ tầng
giữ vệ sinh công cộng,…
Đô thị hóa, nhìn về một khía cạnh, đó là sự phát triển của cơ sở hạ tầng với
hệ thống giao thông vận tải, hệ thống điện, nước, các công trình công cộng,…
nhằm phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của con người. Nhìn vào cơ sở hạ tầng,
có thể đánh giá được mức độ cũng như tốc độ phát triển của một đô thị. Đồng thời
đó cũng là sự khác biệt lớn giữa một trung tâm đô thị với một vùng nông thôn.
Thành phố Biên Hòa sau ngày giải phóng được thừa hưởng gần như nguyên
vẹn cơ sở hạ tầng đã được xây dựng từ thời thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tuy
nhiên do mục đích phục vụ cho việc khai thác thuộc địa tối đa nên cơ sở hạ tầng
được xây dựng không mang tính đồng bộ, tập trung ở những phường “cũ” – vốn là
nơi đóng các cơ quan chỉ huy – hoặc ở KCN Biên Hòa 1. Hơn nữa, trải qua nhiều
năm, do chiến tranh tàn phá, sự thiếu thốn về kinh phí duy tu bảo dưỡng và do sự
quá tải của lượng dân cư từ miền Bắc và miền Trung vào lập nghiệp nên cơ sở hạ
tầng nhanh chóng bị xuống cấp.
Nhìn chung trong khoảng thời gian từ năm 1975 – 1985, do nhiều nguyên
nhân, sự chú ý, quan tâm phát triển cơ sở hạ tầng gần như bị bỏ ngõ. Từ năm 1986,
thực hiện chủ trương đổi mới, thành phố Biên Hòa đã tăng cường vốn cho xây dựng
cơ bản. Từ đó bộ mặt cơ sở hạ tầng thay đổi rõ rệt.
2.2.1. Giao thông vận tải
Ngành giao thông vận tải đã từng bước đáp ứng nhu cầu đi lại của người
dân và lưu thông hàng hóa của các ngành kinh tế xã hội. Để tiến hành việc duy tu,
sửa chữa những tuyến đường bị hư hỏng và xây dựng những tuyến đường mới,
thành phố đã không ngừng tăng kinh phí cho ngành giao thông. Cụ thể giai đoạn
từ 1996 – 2000 số vốn đầu tư là 210,40 tỷ đồng, chỉ trong 5 năm sau từ 2001 –
2005 tăng nhanh lên 1.093,40 tỷ đồng [54]. Hiện nay trên địa bàn thành phố có
trên 1200 cơ sở doanh nghiệp, chiếm tỉ trọng 67% về vốn và 32% số lao động của
ngành vận tải toàn tỉnh.
Trong nội ô thành phố, nhiều tuyến đường đã được mở rộng khang trang
sạch đẹp và lắp đặt hệ thống chiếu sáng, đáp ứng nhu cầu đi lại vào ban đêm của
người dân. Ngoài ra, thành phố tiến hành sửa chữa thường xuyên các tuyến đường
bị hư hỏng. Bên cạnh việc đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước, sự đóng góp
của nhân dân và hỗ trợ của các doanh nghiệp cũng góp phần thực hiện xã hội hóa
giao thông. Trong 5 năm từ 2000 – 2005, số vốn huy động từ trong dân là 21,76 tỷ
đồng [69, tr.44].
Số lượng vận tải hàng hóa và hành khách tăng nhanh qua số liệu một số
năm:
Bảng 2.1. Khối lượng hàng hóa và hành khách vận chuyển của ngành giao
thông TP. Biên Hòa qua các năm 1985 – 2005
1985
1990
1995
2000
2005
KL hàng hóa vận
631,50
912,50
4.637,00
6.385,00
13.010,00
chuyển
KL hành khách
1.519,40
2.216,00
3.552,80
6.073,00
15.547,00
vận chuyển
ĐVT: 1000 tấn, ngàn người
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Từ năm 1985 đến 2005, khối lượng hàng hóa và hành khách vận chuyển
luôn tăng, ở những thời điểm 5 năm sau thường cao gấp đôi so với 5 năm trước.
Riêng 5 năm từ 1990 đến năm 1995 lượng hàng hóa được vận chuyển tăng
đột biến, hơn 4 lần so với 5 năm trước đó. Nguyên nhân là từ năm 1990 sản xuất
phát triển mạnh, người dân đã quen với nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị
trường, không còn sự bỡ ngỡ lúng túng như ở giai đoạn đầu. Đặc biệt một số năm
gần đây do nhu cầu đi lại ngày càng nhiều, hệ thống xe buýt ra đời và đáp ứng khá
tốt, không chỉ trong phạm vi thành phố Biên Hòa mà còn đi ra các huyện khác
trong tỉnh và những tỉnh bạn, nhất là thành phố Hồ Chí Minh.
2.2.1.1. Giao thông đường bộ
Trong thời gian từ năm 1985 đến 1990, do kinh phí bị giới hạn nên thành
phố chỉ tiến hành sửa chữa được một số tuyến đường nông thôn như Tân Hạnh,
Thống Nhất, Long Bình Tân và các tuyến đường trong khu công nghiệp Biên Hòa
1. Hệ thống đường nội ô còn bị xuống cấp, trở nên chật hẹp so với yêu cầu phát
triển của thành phố.
Năm 1993 thành phố tiến hành lập quy hoạch chi tiết phát triển đến năm
2000, xác định Biên Hòa là “trung tâm kinh tế chính trị văn hóa xã hội của tỉnh
Đồng Nai, là một thành phố công nghiệp lớn của cả nước và là một trung tâm
trọng điểm kinh tế phía nam….có ý nghĩa quan trọng về mặt an ninh quốc phòng
đối với khu vực” [38, tr.3] nên hệ thống giao thông phát triển mạnh, trong đó các
tuyến đường giao thông đường bộ đối ngoại được chú ý xây dựng, sửa chữa.
Thành phố đã xây dựng đoạn quốc lộ 51 từ ngã ba Vũng Tàu đến cổng số
11 với tên gọi quốc lộ 1A, từ đó tạo thành ngã ba, một hướng đi lên Đông Bắc
nhập vào quốc lộ 1A tại Trảng Bom, một hướng theo Quốc lộ 51 đi Vũng Tàu.
Quốc lộ 51 đã được Bộ giao thông cải tạo nâng cấp thành xa lộ. Đây là con đường
độc đạo nối thành phố Vũng Tàu với các tỉnh Nam Bộ nên lưu lượng xe rất lớn.
Quốc lộ 1K là con đường quốc lộ ở phía bắc thành phố Biên Hòa, đi qua trung tâm
thành phố và nối liền với thành phố Hồ Chí Minh… Do tính chất quan trọng nên
Quốc lộ 1K đã được cải tạo và nâng cấp, mặt đường rộng rãi (9m) với hai bên lề
thông thoáng.
Như vậy, ở Biên Hòa tập trung nhiều quốc lộ và tỉnh lộ: Xa lộ Hà Nội,
quốc lộ 1K, quốc lộ 1A, quốc lộ 15, tỉnh lộ 16,…
Đối với mạng giao thông nội thị của thành phố Biên Hòa có nhiều biến đổi.
Số lượng con đường chính được xây mới rất khiêm tốn. Theo nội dung quy hoạch
giao thông nội thị năm 1993, thành phố sẽ xây thêm nhiều tuyến đường chính
nhưng kết quả thực hiện chỉ có một, đó là đường Trảng Dài ở phía bắc thành phố
Biên Hòa với chiều dài 3km, chiều rộng 7m. Tuy nhiên rất nhiều tuyến đường nội
bộ trong các KCN Biên Hòa 2, KCN Amata được xây dựng mới. Đặc biệt với sự
tự nguyện đóng góp của người dân, các tuyến đường trong khu dân cư được hình
thành, trải nhựa với mặt đường rộng, tạo nên bộ mặt mới cho thành phố.
Song song với việc xây mới thành phố cũng đã tiến hành duy tu, sửa chữa,
nâng cấp mở rộng các tuyến đường cũ. Điển hình phải nói đến Quốc lộ 15, đoạn
trong thành phố dài 5,05km được mở rộng mặt đường 10,5m; ngoài ra còn có vỉa
hè dành cho người đi bộ rộng 5m, tạo sự thuận lợi cho người đi bộ lưu thông. Bên
cạnh đó là quốc lộ 1 cũ được cải tạo để đáp ứng kịp thời lượng xe và người đi lại.
Ở đoạn từ ngã tư Vườn Mít đến cầu Tân Hiệp đã được chuyển thành đường đôi;
còn đoạn từ Chợ Đồn – cầu Ghềnh và cầu Rạch Cát đến ngã tư Vườn Mít, từ cầu
Tân Hiệp đi Hố Nai với tổng chiều dài 12,555 km được mở rộng theo quy hoạch.
Nhiều con đường nội bộ trước đây là đường đá, đường đất hoặc có mặt đường nhỏ
hẹp, không có vỉa hè thì nay đã được trải nhựa thẳng tắp, lòng đường rộng rãi đảm
bảo được hai luồng xe lưu thông, vỉa hè xuất hiện với những hàng cây hai bên
đường tạo cảnh quan cho thành phố. Theo số liệu năm 2005, toàn thành phố Biên
Hòa có 479,44 km đường bộ, trong đó đường nhựa chiếm đa số (khoảng ½) với
238,62 km, phần còn lại là đường đá (39,25 km), đường cấp phối (138,32 km) và
đường đất (63,25 km) [54].
Là một thành phố công nghiệp tập trung đông dân cư, nhất là tại các khu
công nghiệp nên vào giờ cao điểm mật độ xe dày đặc. Để giảm bớt tình trạng kẹt
xe và tạo mỹ quan, nhiều nút giao thông được xây dựng như nút giao thông Biên
Hùng ở giữa trung tâm thành phố, nút giao thông Cầu Mới, nút giao thông ở ngã
tư Vũng Tàu và nút giao thông ngã tư Tam Hiệp.
Cũng theo bản quy hoạch đô thị năm 1993, để đảm bảo lượng xe ra vào
thường xuyên tỏa đi các nơi, bến xe ngã tư Tam Hiệp được nâng cấp, trở thành bến xe đủ tiêu chuẩn với diện tích 17.000 m2. Bến xe đi thành phố Hồ Chí Minh
trong trung tâm thành phố tại đường Phan Chu Trinh trước đây nhỏ hẹp nay được
chuyển ra ngã tư Cầu Mới, thuận tiện giao thông. Đây là nơi tập trung các tuyến
xe buýt đi thành phố Hồ Chí Minh và chiều ngược lại.
Trong tương lai, để đáp ứng tốc độ tăng trưởng kinh tế, đồng thời xứng
đáng là trung tâm của tỉnh Đồng Nai và vươn tới đô thị loại I của cả nước, chính
quyền thành phố nói chung và ngành giao thông vận tải nói riêng đã lập kế hoạch
phát triển mạng lưới giao thông đường bộ.
Theo đó, Biên Hòa sẽ xây dựng tuyến đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu
bắt đầu từ quốc lộ 15, đi tới phía Đông quốc lộ 51 hiện hữu, lộ giới khoảng 120m.
Quốc lộ 1A được cải tuyến từ Trảng Bom đi song song phía bắc đường sắt, nhập
vào quốc lộ 51 tại cổng 11. Từ ngã 3 Vũng Tàu mở tuyến đường đôi có tên Đường
số 11 đi vào trung tâm thành phố. Đường Đồng Khởi sẽ được kéo dài nối Biên
Hòa với các huyện Vĩnh Cửu, Trị An. Ngoài ra một số tuyến đường khác trong
thành phố sẽ được nâng cấp, thay thế các con đường đất ở những phường mới, xã.
Tại Long Bình Tân một bến xe liên tỉnh có diện tích 2 ha sắp được xây dựng.
2.2.1.2. Các tuyến đường khác
- Ngoài tuyến đường bộ, tuyến đường sắt Bắc – Nam xuyên qua thành phố
Biên Hòa dài 17 km (trong đó đoạn đi qua nội thành dài 10,8 km) có nhiều giao
cắt với đường đô thị. Tuy nhiên cả hai nhà ga Hố Nai và Biên Hòa do được xây
dựng từ trước năm 1986 nên chưa hoàn thiện, chật hẹp, cơ sở vật chất trở nên lạc
hậu. Nhiều công trình xây dựng dọc tuyến có khoảng cách ly không an toàn. Nhìn
chung, tuyến đường sắt hiện nay chưa được khai thác tốt, chưa giữ vai trò lớn đối
với sự phát triển của thành phố nhưng lại gây cản trở đáng kể cho việc tổ chức và
phát triển giao thông đường bộ, gây ồn ào và thiếu an toàn trong sinh hoạt đô thị.
Thành phố đã có kế hoạch di dời đường sắt về phía Đông Nam, tuy nhiên
công tác này diễn ra còn chậm chạp. Vì vậy, trước mắt để đảm bảo an toàn giao
thông đô thị, ngành đường sắt cần tăng cường công tác giám sát; còn trong tương
lai đến năm 2020 thành phố sẽ xây dựng ga mới tại phường Long Bình Tân với
diện tích 40 ha, đồng thời chuyển tuyến đường sắt hiện hữu thành đường tàu chở
hành khách giữa Sài Gòn – Biên Hòa.
- Đường thủy: sông Đồng Nai chảy qua địa phận thành phố Biên Hòa dài
8,5 km có vai trò vận tải thủy rất quan trọng. Cảng Long Bình Tân có công suất
thiết kế 460.000 tấn/năm, tiếp nhận được tàu 2000 tấn. Tuy nhiên hiện nay, công
suất mới đạt ½ công suất thiết kế với một cầu tàu dài 60 m, với bãi container, bến xà lan và các phương tiện xếp dỡ hiện đại trong phạm vi lớn 90.000 m2. Ngoài ra
còn một số cảng nhỏ như cảng Cogido (thuộc nhà máy Giấy Đồng Nai) với khả
năng 200 tấn – 300 tấn/ngày.
Thành phố Biên Hòa có Cù Lao Phố - từng là một thương cảng sầm uất vào
thế kỷ XVIII – hiện nay là xã Hiệp Hòa. Để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của
người dân ở đây, từ lâu các bến đò (bến đò Hóa An, bến đò Kho, bến đò trạm Bửu
Long) luôn đảm nhận tốt vai trò vận chuyển hành khách. Có thể thấy dòng sông
Đồng Nai chảy qua thành phố Biên Hòa đã tác động không nhỏ đến hoạt động
kinh tế của thành phố. Vì vậy mạng lưới cầu, phà được chú trọng xây dựng. Số
liệu thống kê của phòng Thống kê TP. Biên Hòa năm 2005 cho biết hiện nay trong toàn thành phố có 35 chiếc cầu với chiều dài 1.893,94 km2 và ¼ bến phà với tổng
chiều dài 96,22 m, trong đó:
Cầu: ĐVT: chiếc /km2
Phà: ĐVT: bến /m
Dưới 5 tấn
Từ 5-10 tấn Trên 10 tấn Từ 5-10 tấn Trên 10 tấn
2 / 44,0
9 / 164,14
24 / 1685,84
4 / 86,74
54 / 324,54
Bảng 2.2. Mạng lưới cầu phà ở TP. Biên Hòa
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Số lượng cầu và phà có tải trọng lớn nhiều hơn số lượng cầu và phà có tải
trọng nhỏ. Điều đó chứng tỏ nhu cầu đi lại, đặc biệt là vận chuyển hàng hóa của
thành phố rất lớn nhưng việc đầu tư khai thác hết năng lực của loại hình giao
thông vận tải đường thủy, đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch trên sông vẫn chưa
được thực hiện.
Do vậy, bên cạnh những cảng và bến đò hiện có, dọc sông Cái, thành phố
dự kiến mở thêm một số bến hàng hóa như: bến tại chợ Biên Hòa, bến cảng vật
liệu xây dựng tại phía tây bắc cầu Hóa An, cảng bách hóa tại bờ đông phía bắc cầu
Đồng Nai và một số bến phục vụ hoạt động du lịch.
- Đường hàng không: trước năm 1986 thành phố Biên Hòa đã có sân bay với diện tích 40 km2 nhưng chỉ dành cho quốc phòng. Hiện nay, sân bay Biên Hòa
vẫn khẳng định vai trò quân sự của thành phố song cũng là yếu tố hạn chế sự phát
triển không gian đô thị của thành phố về hướng bắc.
Nhìn chung từ năm 1986 trở đi, đặc biệt từ năm 2000 đến 2005, thành phố
Biên Hòa đã đầu tư nhiều kinh phí để nâng cấp cải tạo đường và xây dựng mới,
đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong thành phố. Số lượng các con đường
được trải nhựa và mở rộng trong và ngoài thành phố ngày càng nhiều làm tăng lên
vai trò của Biên Hòa đối với sự phát triển của khu vực Đông Nam Bộ; đồng thời
góp phần nâng cao đời sống của người dân. Diện mạo đô thị từ đó thay đổi theo
hướng hiện đại hơn.
Tuy nhiên so với nội dung quy hoạch đô thị năm 1993, những trục đường
chính, mới chưa được xây dựng nên mạng lưới các đường còn nhiều bất hợp lý.
Một số tuyến đường dự kiến mở là rất cần thiết để giải quyết giao thông song
trong nhiều năm không được thực hiện, cụ thể là các đường: đường 5 nối dài,
đường chính dọc sông Cái… nên việc đi lại từ khu vực này đến khu vưc khác vẫn
bắt buộc đi qua ngã tư Vườn Mít, phải đi ra xa lộ Biên Hòa hoặc đi vòng rất xa
theo những tuyến đường cũ. Trong khi đó các tuyến đường được hình thành một
cách tự phát trong những khu dân cư tạo nên sự phân bố không đều về tuyến
đường cũng như về dân cư trên lãnh thổ. Ngoài ra, trên các trục đường chính, hiện
tượng ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm, đặc biệt tại các cổng trường học vẫn
thường xảy ra, chưa giải quyết được phương án tối ưu giành cho người đi bộ qua
đường, giao thông công cộng và một số vấn đề khác. Tuy nhiên, đứng về khía
cạnh nào đó, tất cả các vấn đề nêu trên chứng tỏ sự phát triển rất nhanh của thành
phố Biên Hòa. Cơ sở hạ tầng đã không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao và
tăng nhanh của người dân.
Vì vậy, ngành giao thông đã có kế hoạch xây dựng thêm một số tuyến
đường để giảm bớt lượng giao thông tập trung trên các tuyến đường hiện hữu, xây
dựng các cầu đi bộ qua đường, dành lối đi cho người đi bộ trên vỉa hè.
2.2.2. Thông tin liên lạc
Từ sau ngày thống nhất đất nước, trên cơ sở hạ tầng mà thực dân Pháp và
đế quốc Mĩ đã xây dựng, Biên Hòa kế thừa và phát triển, nâng cao khả năng phục
vụ của ngành bưu điện. Tổng giá trị nghiệp vụ liên tục tăng. Năm 1977: 23.000
đồng, năm 1979: 55.000 đồng, năm 1981: 204.000 đồng và năm 1984: 980.000
đồng. Công tác bưu điện tuy được cải tiến nhiều mặt nhưng vẫn chưa đáp ứng
được nhu cầu của thành phố [58, tr.15].
Trước yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự phát triển nhanh chóng về kinh
tế - xã hội trong giai đoạn đổi mới, hệ thống thông tin liên lạc đã không ngừng
phát triển về chất lượng và số lượng. Số tổng đài đối thoại và bưu cục liên tục
tăng. Nếu như trước đổi mới, thành phố chỉ có 2 tổng đài với 4 bưu cục, không
đáp ứng được yêu cầu của người dân. Đến năm 1995 mạng lưới bưu cục đã khá
phát triển với 10 bưu cục và 5 tổng đài, nhưng tập trung ở khu vực trung tâm,
trong khi ở một số phường, xã vẫn còn thiếu.
Năm 2005 ngành bưu điện thành phố có số tổng đài là 18 và số bưu cục là
14 được lắp đặt ở hầu hết các phường. Mạng lưới đường thư, đường phát hành báo
chí phát triển với số lượng ngày càng tăng, có xe chuyên chở riêng.
Bảng 2.3. Số tổng đài và bưu cục ở TP. Biên Hòa qua các năm 1985 – 2005
Năm Năm Năm Năm Năm
1985 1990 1995 2000 2005
Số tổng 2 3 5 11 18
đài
Số bưu 4 6 10 13 14
cục
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1990, ở Biên Hòa có khoảng 1000
máy điện thoại thuê bao cố định, đáp ứng được nhu cầu của hơn 90% đơn vị hành
chính và cơ sở sản xuất kinh doanh có máy điện thoại.
Đến năm 1995 số máy điện thoại tăng nhanh lên 9.313 máy, đảm bảo 100%
các đơn vị, doanh nghiệp và một bộ phân người dân được sử dụng điện thoại. Đặc
biệt năm 2005 đạt 76.772 máy. Như vậy, chỉ trong khoảng 10 năm (1995 – 2005),
cơ sở vật chất, khả năng phục vụ khách hàng của ngành bưu điện phát triển mạnh
mẽ, từ đó góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng không ngừng của thành phố trên tất cả
các mặt.
Bên cạnh điện thoại thuê bao cố định, điện thoại di động là một phương
tiện liên lạc hiện đại, tính tiện ích cao nên được người dân lựa chọn sử dụng ngày
càng nhiều.
Theo số liệu thống kê, từ năm 1986 cho đến năm 1995, số máy điện thoại
di động trong thành phố không đáng kể, nhưng đến năm 2000 là 13.338 máy và
năm 2005 tăng vọt lên 82.000 máy, đạt tỉ lệ 33,7 máy/100 dân (cả điện thoại di
động và cố định, trong khi năm 1990 mới đạt 4 máy/100 dân).
Để phục vụ tốt nhất cho hoạt động thông tin liên lạc diễn ra một cách liên
tục, nhanh chóng, hệ thống cơ sở vật chất trong nhiều năm qua được chú ý đầu tư,
quan tâm đúng mức. Hiện tại ở thành phố Biên Hòa có hai tổng đài Host Linea –
Ut (Ý), trong đó:
- Tổng đài Host có dung lượng lắp đặt 18.368 lines tại Biên Hòa (dung
lượng sử dụng 11.384 thuê bao).
- Tổng đài Host có dung lượng lắp đặt 4000 lines tại khu công nghiệp Long
Bình.
Bảng 2.4. Mạng lưới tổng đài vệ tinh ở TP. Biên Hòa
STT Khu vực lắp đặt Dung lượng thuê bao Loại tổng đài
Lắp đặt Đã sử dụng
1 Tam Hiệp 5568 5542 RSO - LUT
2 Quyết Thắng 4800 4781 RSO - LUT
3 Chợ Đồn 2880 2842 RSO - LUT
4 Trảng Dài 2368 2290 RSO - LUT
5 Long Bình Tân 6720 5190 RSO - LUT
6 Hố Nai 5760 5734 RSO - LUT
7 Suối Chùa 1920 1841 RSO - LUT
8 Tân Hòa 2000 1409 NEAX 61XS
9 Suối Chùa 1800 836 SOE
10 Hố Nai 1000 999 DTS
11 Long Bình Tân 960 584 DTS
Nguồn: [38, tr.37]
Qua bảng số liệu trên, có thể thấy dung lượng của một số tổng đài đã hết
số, nếu còn thì rất ít. Do vậy, thành phố sẽ tăng cường xây dựng nhiều tổng đài
mới đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân trong tương lai, cụ thể sẽ tăng
dung lượng mỗi tổng đài 100.000 số, lắp đặt thêm 13 trạm vệ tinh (đến năm
2020), đồng thời nâng dung lượng của các trạm vệ tinh hiện có.
Hệ thống truyền dẫn của thành phố không chỉ trong nội ô thành phố mà còn
liên hệ đến những nơi khác. Gồm có:
- Tuyến cáp quang thành phố Hồ Chí Minh – Vũng Tàu nhánh rẽ vào thành
phố Biên Hòa.
- Tuyến cáp quang SDH tốc độ 134 Mbit/s vòng Ring (kết nối) Tổng đài
Host Biên Hòa – Long Khánh – Long Thành và Khu công nghiệp Biên Hòa với
chiều dài 63 km, cáp 36 sợi phi kim loại.
- Tuyến cáp quang còn được sử dụng làm tuyến truyền dẫn vòng Ring Biên
Hòa – Long Bình – Trảng Dài – Thạnh Phú – Bửu Long – Hóa An – Chợ Đồn –
Hiệo Hòa – Quyết Thắng – Biên Hòa, thiết bị PLX 150/600 dung lượng lắp đặt 63
luồng E1, chiều dài tuyến 34 km, cáp 12 sợi phi kim loại và cáp.
- Ngoài ra có khoảng 1200 km tuyến cáp nội hạt loại từ 25 x 2 đến 50 x 2.
Cự ly tổng đài đến các thuê bao là 3,5 km.
Mạng viễn thông được số hóa 100%, kỹ thuật Analog được thay thế bằng
kỹ thuật số hiện đại, giúp tự động hóa hoàn toàn cuộc gọi quốc tế và liên tỉnh, từ
đó cho phép nâng cao khả năng phục vụ nhu cầu liên lạc của người dân. Các dịch
vụ viễn thông như Fax, Internet, thư từ, báo chí, dịch vụ 1080, dịch vụ 107, nhắn
tin Phonelink, cardphone được bố trí hầu hết các điểm đông dân cư.
Ngoài ra, mạng điện thoại di động Vinaphone và Mobiphone phát triển
nhanh chóng, trở nên quen thuộc với người dân. Tại thành phố Biên Hòa còn bố
trí các tổng đài dự phòng trang bị máy bộ đàm để đảm bảo thông tin liên lạc khi
cần thiết như trong công tác phòng chống bảo lụt, an ninh quốc phòng ,….
Như vậy, với nhiều ưu điểm: toàn bộ mạng chuyển mạch đã được chuyển
sang tổng đài điện tử nối mạch nhanh cho phép giải quyết ứ đọng thông tin, cấu
trúc mạng rộng rãi với các tổng đài vệ tinh,… hệ thống thông tin – viễn thông ở
Biên Hòa ngày càng hiện đại hóa. Số tổng đài, bưu cục, thuê bao liên tục tăng,
nhất là trong 10 năm từ 1995 đến 2005. Điều đó cho thấy nhu cầu cao của người
dân và khả năng phục vụ của ngành bưu chính viễn thông trong những năm gần
đây đã có tác dụng thúc đẩy các quá trình kinh tế của thành phố phát triển.
2.2.3. Hệ thống cấp điện
2.2.3.1. Nguồn điện
Trước năm 1986, về cơ bản toàn thành phố đã có điện, trừ một số vùng
nông thôn.
Từ năm 1986 - 1990, thành phố tập trung vào việc cải tạo mạng lưới điện
theo chương trình hợp tác với Liên Xô, nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu sử
dụng điện của người dân.
Từ sau năm 1991, được sự chỉ đạo của tỉnh, thành phố tiến hành xây dựng
các khu, cụm công nghiệp. Ngành điện phát triển mạnh do vị trí địa lý thuận lợi,
thành phố Biên Hòa là khu vực tiếp cận với các nguồn điện (thủy điện và nhiệt
điện) quốc gia; nhờ sự đầu tư nâng cấp mạng lưới điện, một số trạm điện được xây
dựng như Amata, Biên Hòa, Hóa An,… đủ để phụ tải vào giờ cao điểm, đảm bảo
việc sản xuất của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp và tiêu dùng của
người dân.
Hiện nay thành phố nhận điện từ 2 trạm nguồn Long Bình 220/110 KV _
125 + 250 MVA và trạm Sài Gòn 230/66/11 KV _ 168 + 125 MVA, thông qua các
trạm trung gian như:
- Long Bình – 110/15 KV – 40 MVA.
- Đồng Nai – 110/(22) 15 KV – 40 MVA, 66/15 – 20 MVA (dùng KCN
Biên Hòa 1)
- An Bình – 110/22 KV – 40 MVA
- Vicasa – 110/15 KV – 30 MVA
- Biên Hòa – 110/15 KV – 40 MVA
- Tân Mai – 66/15 KV – 20 + 25 MVA (trạm chuyên dùng)
Ngoài ra một số khu công nghiệp như Biên Hòa 2,… còn lấy điện từ trạm
110/15 KV – 40 MVA được đặt tại trạm giảm áp Long Bình. Trong tương lai, tại
khu công ngiệp Amata sẽ xây dựng một nhà máy điện có công suất 300 MVA để
cung cấp điện cho toàn khu công nghiệp và bán điện phục vụ cho các khu công
nghiệp khác.
Bên cạnh nguồn điện mà quốc gia cấp cho thành phố Biên Hòa, còn có một
số nhà máy Diesel để phát công suất tại chỗ nhằm đảm bảo cung cấp điện an toàn
và liên tục cho một số hộ tiêu thụ loại 1 như nhà máy nước Hóa An, KCN Biên
Hòa 1. Ở KCN Amata đã có 2 tổ phát điện 2 x 6,3 MVA và chuẩn bị cho vận hành
thêm một tổ máy 6,3 MVA.
Nhìn chung trên thực tế, các trạm nguồn để cung cấp điện cho các phụ tải
còn hạn chế, ví dụ như thành phố Biên Hòa chỉ có một trạm giảm áp Biên Hòa
110/15 KV – 40 MVA cấp điện cho các khu dân cư, vì vậy không đủ cung cấp cho
nhu cầu của người dân, khách hàng phải hạn chế khả năng sử dụng điện. Các nhà
máy Diesel nằm sát thành phố đều quá cũ dẫn đến tình trạng tiêu hao nhiên liệu
lớn, công suất khả dụng thấp.
2.2.3.2. Lưới truyền tải: ở Biên Hòa có các loại
Loại đường dây 220KV
- Đường dây 220 KV Trị An – Long Bình: 1 x 23 km (đi dây AC-300)
- Đường dây 220 KV Đa Nhim – Bảo Lộc – Long Bình: 1 x 238 km (đi dây
AC-400)
- Đường dây 220 KV Thủ Đức – Long Bình: 1 x 18,4 km (đi dây AC-400)
- Đường day 220 KV Bà Rịa – Phú Mỹ - Long Bình: 2 x 68 km (đi dây
AC-400)
Loại đường dây 110 KV
- Đường dây 110 KV Bà Rịa – Phú Mỹ - Long Bình
- Đường dây 110 KV Long Bình – Xuân Lộc
- Đường dây 110 KV Long Bình – Biên Hòa: 2 x 7 km (đi dây AC-240)
- Đường dây 110 KV Thủ Đức – Long Bình: 1 x 15,5 km (đi dây AC-181)
- Đường dây 110 KV Long Bình – An Bình – Amata: 2 x 2 km (đi dây AC-
181)
Loại đường dây 66 KV
- Đường dây 66 KV Thủ Đức – Đồng Nai: 1 x 15,5 km (đi dây AC-200)
- Đường dây 66 KV Đồng Nai – Tân Mai: 7 km (đi dây AC-181)
Sự tồn tại cùng lúc của nhiều loại đường dây hạn chế khả năng liên kết điện
trên lưới truyền tải, vì vậy ngành điện lực cần phải nhanh chóng chuyển đổi cấp
thấp 66 KV lên 110 KV.
2.2.3.3. Lưới phân phối và trạm hạ thế
Lưới điện phân phối hiện nay chủ yếu là lưới 15 KV, 22 KV và một số
tuyến cáp ngầm:
- Gồm có 169 km đường dây 15 KV; 6 km đường dây cáp ngầm; 93,3 km
đường dây hạ thế.
Lưới phân phối loại 15 KV – 22 KV vận hành theo chế độ trung tính nối
đất trực tiếp thuộc hệ 3 pha 4 dây, hầu hết là đường đi nổi. Song tại thành phố
Biên Hòa đã chuyển dần một phần tuyến nổi thành tuyến cáp ngầm trong dự án
cải tạo lưới điện thành phố bằng nguồn vốn ADB.
Về kết cấu lưới: sơ đồ lưới điện thành phố Biên Hòa có kết cấu mạch vòng
vận hành bình thường để hở bằng các thiết bị phân đoạn (LBS, FCO) với mục
đích dự phòng lẫn nhau về kết cấu trạm: có 2 loại trạm trong nhà và ngoài trời, cột
của đường dây sử dụng cột bêtông cốt thép ly tâm và một phần là cột gỗ Creosote.
Ngoài ra còn có cột kim loại dùng vào vị trí cột néo.
Dây dẫn gồm các loại ACSR336MCM, 185, 120, 95, 70, 50, 35 mm2 và dây đồng M-75, 38, 22 mm2. Tuyến trục chỉ có đoạn rất ngắn đi dây 336 MCM hoặc 185 mm2, còn lại đi dây 120 mm2 hoặc 95 mm2. Dây dẫn nhiều nơi chắp vá,
không đồng nhất, khả năng mang tải kém và dễ xảy ra sự cố.
Lưới hạ thế có cấp điện áp 220/380V (3 pha) và 220V (1 pha), vận hành
theo sơ đồ hình tia, sử dụng dây đồng phần lớn có tiết diện 75, 67, 50, 48, 38, 22, 11 mm2. Hiện nay lưới hạ thế đã được sử dụng cáp bọc ABC. Bán kính cung cấp
điện của mạng trung bình là 300m – 400 m.
Trạm hạ thế 15/ 0,4 KV gồm 614 trạm, 883 máy biến áp với tổng dung
lượng 158.370 KVA.
+ Sản lượng điện thương phẩm đạt bình quân 1.142 KW/người/năm.
+ Sản lượng điện sinh hoạt bình quân:,230 KW/người/năm.
+ Điện năng tiêu thụ của thành phố Biên Hòa là 470 triệu KW với tổn thất
bình quân là 8,3 %.
Nhìn chung, ưu điểm của lưới điện thành phố so với một số tỉnh khác là
phần lớn lưới điện có cấp điện áp 15KV, trong đó ½ tổng chiều dài đường dây
được thiết kế theo tiêu chuẩn cấp điện áp 22 KV và ½ tổng dung lượng trạm là
máy biến áp 15 (22)/ 0,4 KV. Do đó thuận lợi cho việc quản lý, vận hành và cải
tạo lên 22KV.
Ngoài ra, Biên Hòa là một trong các thành phố tỉ lệ tổn thất điện trên lưới
phân phối thấp (trung bình dưới 10%), chủ yếu do số khách hàng lớn sử dụng điện
cao thế và trung thế (có trạm chuyên dùng riêng). Tuy nhiên hiện nay tỉ lệ tổn thất
này đang có khuynh hướng gia tăng do mạng lưới phân phối điện không phát triển
kịp để đáp ứng yêu cầu phụ tải. Có một số tuyến phân phối quá tải, đường dây dẫn
chắp vá hoặc có tiết diện quá nhỏ, mang tải đi xa đưa đến tình trạng chất lượng
điện áp kém.
Vì vậy, thành phố đưa ra kế hoạch nhanh chóng chuyển cấp điện áp trung
thế lên cấp điện áp chuẩn hóa chung cho cả nước là 22KV theo quyết định của Bộ
Năng lượng. Đồng thời duy trì, phục hồi và có đề án xây mới các nhà máy Diesel
làm nguồn dự phòng trong trường hợp lưới điện có sự cố. Những khu vực có
đường dây 110KV đi qua nhưng chưa có trạm nguồn thì sẽ xây thêm để san tải bớt
cho trạm nguồn hiện có và tránh được phải kéo lưới điện phân phối đi xa, gây tổn
thất điện áp.
Có một điều đáng lưu ý là trong quá trình cải tạo, sửa chữa, nâng cấp hệ
thống điện phục vụ cho hoạt động của các KCN thành phố và nhu cầu sinh hoạt
của người dân, cần tính đến bộ mặt thẩm mỹ cho đô thị, tránh tình trạng lưới điện
chồng chéo lên nhau và “cạnh tranh” với đường dây của các ngành khác (như bưu
chính viễn thông), vừa làm xấu bộ mặt thành phố, vừa không đảm bảo an toàn
chung.
2.2.4. Hệ thống cấp nước
Tại Biên Hòa có 2 hệ thống cấp nước riêng biệt:
- Hệ thống cấp nước cho thành phố Biên Hòa.
- Hệ thống cấp nước cho các KCN ở Biên Hòa.
2.2.4.1. Hệ thống cấp nước thành phố: đầu tiên được thực dân Pháp xây dựng vào năm 1928 – 1930 với công suất thiết kế ban đầu là 1500 m3/ngày. Năm 1960 – 1968, Úc xây dựng thêm một số hệ thống mới với công suất 16000 m3/ngày.
Sau ngày Biên Hòa được giải phóng, năm 1982 – 1984 công ty xây dựng
Cấp thoát nước số 2 – bộ xây dựng đã thiết kế cải tạo nâng công suất lên 1.800 m3/ngày và hiện nay là 36.000 m3/ngày. Nhà máy nước Biên Hòa có nguồn nước
lấy từ sông Đồng Nai. Như vậy trước năm 1986, hệ thống cấp nước của thành phố
Biên Hòa đã đáp ứng được yêu cầu của một bộ phận dân cư ở nội ô.
Sau năm 1986, thành phố đặt ra mục tiêu là khai thác nguồn nước uống và
sinh hoạt cho khu vực dân cư xa trung tâm nội ô. Sau năm 1995, hệ thống cấp
thoát nước của Biên Hòa vừa được cải tạo, vừa được bổ sung trong các khu công
nghiệp cũ và mới. Từ đó đến nay, thành phố luôn chú ý nâng cao số hộ dân được
cấp nước sạch, đồng thời quan tâm đến xử lý thoát nước chống ngập lụt cục bộ.
Cụ thể, năm 1998 thành phố đã xây thêm nhà máy nước Long Bình công suất đợt I là 15.00 m3/ngày, năm 2002 nâng công suất lên 30.000 m3/ngày, không
những phục vụ cho dân cư thành phố mà còn phục vụ cho KCN Biên Hòa 2.
Nguồn nước của nhà máy này lấy từ Thiện Tân trên sông Đồng Nai, dẫn về nhà
máy bằng tuyến ống thô CB600. Sau khi xử lý, nước sạch được dẫn bằng tuyến
ống D400 đi theo Quốc lộ 1A và Quốc lộ 15 dẫn về trạm bơm tăng áp của khu
công nghiệp Biên Hòa 2 và cấp nước cho dân cư dọc tuyến đường.
Toàn thành phố hiện có 1 thủy đài hoạt động tốt, nằm tại quảng trường do
Úc thiết kế để điều áp. Ngoài ra, do sự phát triển không ngừng và mở rộng nên ở
những khu vực quá xa nhà máy nước, có địa hình cao nước không tới được, nhiều
trạm bơm tăng áp đã được xây dựng.
- Trạm số 1: tại phường Tân Tiến nằm trên Quốc lộ 1 được trang bị 2 bơm
Q = 150m3/h, có bể chứa nước W=1.500m3.
- Trạm số 2: nằm trên đường Đồng Khởi, gần ngã tư Tân Phong.
- Trạm tăng áp số 3 nằm cạnh quốc lộ 1A phía trên KCN Biên Hòa 1.
- Trạm tăng áp số 4 nằm trong KCN Biên Hòa 2, cung cấp nước cho KCN
này.
- Ngoài ra tại Tam Hiệp có 2 giếng nước khoan ngầm, hiện nay ngưng hoạt
động do đã sử dụng nguồn nước từ nhà máy nước Long Bình đưa về.
Qua những số liệu nêu trên cho thấy khả năng cung cấp nước sạch của
thành phố ngày càng cao (đảm bảo cho 70% dân số), điều đó phản ánh chất lượng
cuộc sống của người dân đang dần được cải thiện. Cho đến năm 2005, tổng công suất thiết kế của hệ thống cấp nước Biên Hòa lên đến 66.000 m3/ngày nhưng trong thực tế mới chỉ đạt 50.000 – 58.000 m3/ngày (do thiếu mạng phân phối). Toàn
thành phố hiện có 4 phường chưa được cấp nước là An Bình, Tân Hòa, Tân Biên,
Hố Nai. Mặt khác, tiêu chuẩn dùng nước bình quân trên lý thuyết của 1 người dân
ở Biên Hòa là 100lít/người/ngày, nhưng do rò rỉ nên chỉ đạt 67lít/người/ngày.
Vì vậy, để nâng cao năng lực phục vụ, đem lại nguồn nước sạch cho người
dân, thành phố cần đầu tư cơ sở vật chất hơn nữa để khai thác hết công suất của
các nhà máy. Mục tiêu mà thành phố đặt ra là đến năm 2010, 90% dân số được
cấp nước với tiêu chuẩn 120lít/người/ngày, năm 2020 là 100% dân số được cấp
nước với tiêu chuẩn 165lít/người/ngày [38, tr.70]. Đây cũng chính là mục tiêu
thúc đẩy sự phát triển của mạng lưới cấp nước Biên Hòa.
2.2.4.2. Hiện trạng cấp nước KCN Biên Hòa
Trong sự phát triển của thành phố, các KCN đóng một vai trò quan trọng,
là yếu tố đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Vì vậy để đảm bảo
cho các hoạt động sản xuất của nhà máy diễn ra liên tục, mạng lưới cung cấp nước
cũng khá đa dạng.
Trước năm 1986, hệ thống cấp nước cho KCN Biên Hòa 1 được xây dựng
từ lâu và nguồn nước lấy từ sông Đồng Nai.
Trong giai đoạn từ 1986 – 1996, để cung cấp đủ nước cho nhu cầu ngày
càng nhiều của các khu công nghiệp, thành phố tiến hành mở rộng nguồn cung
cấp từ nhà máy nước Thủ Đức - Thành Phố Hồ Chí Minh tới bằng đường ống BTCT Φ600 dài11,8 km với 2 bơm Q = 681 m3/h, Hb = 42,7 m, N = 150 CV và công suất tối đa là 25.000 m3/ngày. Nước được bơm vào bể chứa áp lực ở cốt 40m đầu khu công nghiệp có dung tích W = 8.640 m3. Từ bể chứa này có mạng lưới
phân phối với tổng chiều dài L = 17km, ống Φ150 – 300 dẫn tới các xí nghiệp, cơ
quan và một số hộ dân trong khu công nghiệp.
Tuy nhiên, theo điều tra của Viện Quy hoạch Đô thị Nông thôn – Bộ xây
dựng tháng 3 – 1992, tổng lượng nước tiêu thụ thực tế của các xí nghiệp thuộc KCN Biên Hòa chỉ khoảng 12.500 m3/ngày, vì còn phải cấp nước cho một số cơ
quan, khu dân cư và do rò rỉ. Do các xí nghiệp chưa hoạt động hết công suất, một
phần do thành phố Hồ Chí Minh thiếu nước nên lượng nước bơm lên có hạn chế,
do đó một số xí nghiệp phải khoan thêm giếng cục bộ để bổ sung thêm nước cho
sản xuất.
Từ năm 1996 cho đến năm 2005, nhiều dự án cấp nước cho thành phố nói
chung và các khu công nghiệp nói riêng đã được thành phố phê duyệt, đang và sẽ
đi vào hoạt động. Năm 1998 – 1999, dự án cấp nước Long Bình được thực hiện. Năm 1999, nhà máy nước Bình Anh có công suất 100.000 m3/ngày đi vào hoạt động, đã cung cấp thêm cho KCN Biên Hòa 1 là 10.000 – 15.000 m3/ngày, các khu dân cư dọc đường 30.000 – 35.000 m3/ngày và dẫn về nhà máy nước Thủ Đức 55.000 m3/ngày. Dự án cấp nước Thiện Tân có cùng công suất cũng đã được khởi
công xây dựng năm 2000, hoàn thành năm 2003, sắp tới các khu công nghiệp còn
được bổ sung thêm lượng nước từ dự án cấp nước Nhơn Trạch.
Như vậy, hệ thống cấp nước của thành phố đã hình thành từ trước năm
1986 nhưng chưa đáng kể. Từ sau năm 1986, nhất là từ những năm giữa thập niên
90 thế kỷ XX, hệ thống cấp nước được cảo tạo, nâng cấp và xây dựng nhiều hơn,
đảm bảo cung cấp nước sạch cho đại bộ phận dân cư thành phố và sản xuất của
các nhà máy. Tuy nhiên, hiện nay dòng sông Đồng Nai đang bị ô nhiễm trong khi
đây lại là nguồn cung cấp nước chủ yếu. Vì vậy, việc bảo vệ và quản lý nguồn
2.3. Chuyển biến về cơ cấu kinh tế trong quá trình đô thị hóa
nước sông Đồng Nai là mối quan tâm hàng đầu của chính quyền.
Cơ cấu kinh tế nước ta gồm ba lĩnh vực: nông – lâm - thủy sản (NLTS),
công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (CN – TTCN), thương mại – dịch vụ (TM –
DV). Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ đô thị hóa của một
vùng lãnh thổ là sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của
các ngành CN – TTCN, TM – DV.
Biên Hòa trước đổi mới đã là một thành phố có giá trị sản xuất công nghiệp
cao, tuy nhiên giá trị sản xuất của nông – lâm – thủy sản cũng không nhỏ trong khi
thương mại – dịch vụ không đáng kể. Năm 1985, giá trị sản xuất (GTSX) của khu
vực CN - TTCN chiếm khoảng 50%, nông - lâm - thủy sản chiếm 37% [40, tr.4].
Từ năm 1986, nắm bắt những lợi thế về điều kiện tự nhiên – xã hội; trong
đó quan trọng nhất là nguồn lực con người, Đảng bộ thành phố sớm xác định mục
tiêu phát triển kinh tế thành phố trong thời kì đổi mới là huy động tối đa mọi
nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế theo hướng chuyển dịch nhanh cơ cấu
ngành công nghiệp và dịch vụ, tạo động lực thúc đẩy kinh tế trên địa bàn phát
triển với tốc độ cao, xứng đáng là thành phố trung tâm công nghiệp, dịch vụ của
cả tỉnh và là đô thị có vị trí quan trọng trong khu vực.
Tháng 12 năm 1988, Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Biên Hòa lần thứ
V được triệu tập, đã xác định cơ cấu kinh tế của thành phố Biên Hòa là CN -
TTCN, TM - DV. Nông nghiệp có nhiệm vụ đảm bảo lương thực cho nhân dân
các xã ngoại thành và cung cấp nguyên liệu, nông sản hàng hóa cho thị trường
thành phố.
Kết quả từ 1986 – 1990, kinh tế bước đầu phát triển, đời sống vật chất, tinh
thần các tầng lớp nhân dân có nâng lên song chưa thật cơ bản và vững chắc. Nhiều
chính sách, chế độ được đưa ra chưa thực sự phù hợp với đặc điểm tình hình thực
tế, vì vậy khả năng khuyến khích và củng cố niềm tin của quần chúng trong sản
xuất, kinh doanh còn hạn chế.
Đến Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VI đã đề ra phương hướng, nhiệm
vụ của nhiệm kỳ 1991 – 1995, trong đó nhấn mạnh việc thực hiện nhiệm vụ kinh
tế theo hướng mở rộng sản xuất kinh doanh, động viên các thành phần kinh tế tích
cực tham gia đầu tư sản xuất, mở rộng ngành nghề truyền thống, thực hiện cơ cấu
kinh tế “công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch”. Do vậy từ năm 1991 về
sau, tốc độ phát triển kinh tế luôn đạt kế hoạch đề ra, chỉ số phát triển GDP luôn
cao hơn 100%. Quá trình đô thị hóa từ đó cũng phát triển nhanh.
Bảng 2.5. Chỉ số phát triển tổng sản phẩm GDP của TP. Biên Hòa
giai đoạn 1991 – 2005
ĐVT: %
Thời kì 1991 Thời kì Thời kì 2001
- 1995 1996 - 2000 – 2005
119,80 119,24 114,29 CN - TTCN
116,35 110,58 115,24 TM - DV
103,70 113,03 99,70 NLTS
117,87 116,18 114,29 Chỉ số chung
Nguồn: [Phòng Thống kê TP.Biên Hòa (54)]
Trong tất cả lĩnh vực, CN - TTCN là ngành có chỉ số phát triển cao nhất
qua các thời kì (riêng năm 2005, TM - DV tăng nhiều hơn cũng là sự thay đổi
thích hợp với xu hướng đô thị hóa). Nông lâm thủy sản tuy chưa thật ổn định
nhưng vẫn giữ được chỉ số tăng.
Tương ứng với chỉ số phát triển là giá trị đóng góp của các ngành vào nền
kinh tế thành phố. Đặc biệt đến năm 1995 sau thời gian dài đổi mới, giá trị tổng
sản lượng của thành phố tăng gấp 35 lần năm 1985 và gấp 150 lần của năm 1976
[4, tr.351]. Giai đoạn 10 năm từ 1995 đến 2005 tốc độ tăng thêm giá trị tổng sản
phẩm chậm lại.
Bảng 2.6. Giá trị tổng sản phẩm phân theo các ngành kinh tế của TP.
Biên Hòa qua các năm 1995 – 2005
ĐVT: triệu đồng (giá thực tế )
Lĩnh vực Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005
CN - TTCN 1.635.054 5.179.413 11.345.000
TM - DV 996.101 1.986.796 4.648.000
NLTS 78.581 165.145 192.000
Tổng sản 2.709.736 7.331.354 16.185.000
phẩm
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Như vậy từ năm 1991 đến năm 2005 kinh tế trên địa bàn thành phố Biên
Hòa đạt được nhiều thành tựu nổi bật, đặc biệt từ năm 1991 – 2000, tốc độ phát
triển nhanh, từ đó góp phần quan trọng vào thành tựu chung của cả tỉnh Đồng Nai.
Là một đô thị lớn của miền Nam, thành phố công nghiệp quan trọng của cả
nước, Biên Hòa trong quá trình đô thị hóa luôn xác định lấy công nghiệp làm
trọng tâm, đồng thời đẩy mạnh hoạt động của ngành TM - DV. Điều đó được thể
hiện rõ ở cơ cấu sản phẩm các ngành kinh tế.
Bảng 2.7. Cơ cấu tổng sản phẩm các ngành kinh tế của TP. Biên Hòa
qua các năm 1991 – 2005
Năm
Năm
Năm
Năm
1991
1995
2000
2005
52,20
60,34
70,65
70,10
CN -
TTCN
TM - DV
40,18
36,76
27,10
28,72
NLTS
7,62
2,90
2,25
1,18
ĐVT: % (giá thực tế)
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tổng sản phẩm các ngành kinh tế của TP. Biên Hòa
7.62
52.2
40.18
qua các năm 1991 – 2005
2.9
36.76
60.34
Năm 1991
1.18
28.72
70.1
Năm 1995
COÂNG NGHIEÄP-TIỂU THỦ COÂNG NGHIỆP
THƯƠNG MẠI - DÒCH VUÏ
NOÂNG LAÂM THUÛY SAÛN
Năm 2005
Qua các năm, tỉ lệ phần trăm ngành CN - TTCN luôn chiếm hơn ½ trong
toàn bộ cơ cấu ngành và có xu hướng tăng liên tục, đều đặn. TM - DV, mặc dù
chưa thật sự ổn định nhưng là lĩnh vực có đóng góp lớn thứ hai cho kinh tế của
thành phố.
Trong giai đoạn sau năm 1995, do sự mở rộng hoạt động của các KCN, sự
biến động của nền kinh tế thị trường và sự tác động từ những cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới (năm 1997) làm cho tỷ trọng đóng góp của ngành TM - DV giảm
đi nhưng lại tăng ở ngành CN – TTCN. Giá trị đóng góp của hoạt động NLTS mặc
dù có tăng nhưng xét chung trong tổng thể cơ cấu kinh tế thành phố giảm (xem
bảng 2.6 và 2.7).
Qua đó nhận thấy cơ cấu ngành kinh tế của thành phố đã chuyển dịch
nhanh và đúng hướng; ngoài ra cơ cấu thành phần kinh tế cũng có sự chuyển đổi
phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng XHCN. Năm 2005 cơ cấu của các thành phần kinh tế trên địa bàn
thành phố như sau: quốc doanh 28,31%, ngoài quốc doanh 30,22% và đầu tư nước
ngoài là 41,47% (cơ cấu tương ứng của năm 1995 là 57,04% – 24,43% – 18,53%
và năm 2000 là 39,52% – 22,18% – 38,30%).
Nhìn chung trong 20 năm qua, tốc độ phát triển kinh tế ở thành phố Biên
Hòa rất cao. Trong cơ cấu tổng sản phẩm các ngành kinh tế có sự chuyển dịch
nhanh, theo hướng nâng cao dần tỉ lệ đóng góp của CN – TTCN, TM – DV, giảm
dần tỉ lệ đóng góp của ngành NLTS, nhất là từ năm 1995 – 2005. Điều đó phản
ánh một cách rõ nét quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, đồng thời là cơ sở
thúc đẩy Biên Hòa tiến nhanh hơn nữa trên côn đường hiện đại hóa.
2.3.1. Chuyển biến về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
2.3.1.1. Tình hình chung
Trước đổi mới năm 1986, ngành CN – TTCN phát triển nhưng còn chậm
chạp và không đều, một số ngành và sản phẩm bị thu hẹp.
Từ sau năm 1986, thành phố đã xác định CN – TTCN là mũi nhọn, ngành
sản xuất chính nên tạo nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Cụ thể năm 1989
Thành ủy đã quyết định chuyển các hoạt động kinh tế từ cơ chế hạch toán bao cấp
sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN, giao quyền chủ động sản xuất, kinh
doanh cho các đơn vị kinh tế. Vì vậy giá trị sản xuất của ngành CN - TTCN trên
địa bàn thành phố đã không ngừng phát triển, liên tục tăng qua các năm.
Bảng 2.8. Giá trị sản xuất ngành CN – TTCN của TP. Biên Hòa qua các năm
1985 – 2005
Năm 1985
Năm 1990
Năm
Năm 2000
Năm
2005
1995
12.049,049
27.180,000
883,077
1.188,693
5.151,06
3
ĐVT: triệu đồng (giá cố định 1994)
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
20 năm qua, giá trị sản xuất của ngành CN – TTCN tăng đều, bình quân 5
năm sau tăng gấp đôi 5 năm trước. Riêng năm 1995 giá trị sản xuất tăng mạnh,
gần gấp 5 lần so với năm 1990. Đây là kết quả thành phố đạt được sau một thời
gian dài thực hiện đổi mới, tập trung xây dựng và phát triển các KCN, doanh
nghiệp và người dân đã quen với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có
sự chỉ đạo, quản lý của nhà nước.
Năm 2005 giá trị sản xuất của CN – TTCN tăng hơn 30 lần năm 1985, mức
tăng bình quân (giai đoạn 1991 – 2005) là 23,2%/năm, giá trị sản xuất công
nghiệp thành phố chiếm 67,6% so với sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, trong đó
công nghiệp quốc doanh tăng 13,7%/năm, công nghiệp ngoài quốc doanh là
30,7%/năm, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (từ 1995 – 2005) tăng 21,8%. Qua
đó nhận thấy công nghiệp quốc doanh là khu vực có tốc độ phát triển chậm nhất.
Trước năm 1995, công nghiệp quốc doanh là khu vực có vị trí quan trọng
trong nền công nghiệp thành phố, năm 1985 đóng góp 845.621 triệu đồng – chiếm
95,76% toàn bộ ngành công nghiệp thành phố, đến năm 1990 tỉ lệ đóng góp là
1.130916 triệu đồng – chiếm 95,14%.
Từ năm 1995 vai trò của công nghiệp quốc doanh sụt giảm, giá trị đóng
góp còn 2.746.144 triệu đồng – chiếm 53,31%, đặc biệt đến năm 2000, chỉ còn
đóng góp là 3.957.405 triệu đồng – chiếm 32,84% và năm 2005 là rất thấp:
7.770.000 triệu đồng – chiếm 28,58% [54]. Điều này cũng dễ hiểu trong điều kiện
thành phố thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, tạo điều kiện cho nhiều thành phần
kinh tế khác phát triển.
Khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh từ năm 1995 trở lại đây do được
khuyến khích phát triển đúng hướng, lại có nhiều thuận lợi về nguyên liệu và khả
năng tập trung vốn nên rất năng động trong cơ chế thị trường, có tốc độ phát triển
cao nhất (30,7%) và số cơ sở sản xuất đông nhất (năm 1985 chỉ có 945/1036 cơ sở
sản xuất toàn thành phố, đến năm 1995 tăng lên 1343/1432 cơ sở sản xuất, năm
2005 có 2266/2480 cơ sở sản xuất). Số lao động tăng nhanh từ 3018 người (năm
1985) lên 16.059 người (năm 1995) và 32.075 người (năm 2005); giá trị sản xuất
(theo giá cố định 1994) giai đoạn từ 1995 – 2000 tăng mạnh từ 277.768 triệu đồng
(1995) đến 1.125.889 triệu đồng (năm 2000) và 4.060.000 triệu đồng (năm 2005).
Sản phẩm do khu vực ngoài quốc doanh sản xuất rất đa dạng và ngày càng
tăng về số lượng các mặt hàng xuất khẩu (gốm, mây tre, may mặc, đồ mộc chế
biến, dép nhựa, bao bì…) và các mặt hàng phục vụ sản xuất và tiêu dùng của nhân
dân (lương thực, thực phẩm, cơ khí, vật liệu xây dựng,…). Phát huy thế mạnh từ
các ngành nghề có truyền thống lâu đời với tay nghề ngày càng tinh xảo, lại được
khuyến khích từ chủ trương phát triển hàng xuất khẩu, các sản phẩm của công
nghiệp ngoài quốc doanh đã có mặt ở nhiều thị trường nước ngoài như: Anh, Đức,
Pháp, Mỹ, Nhật, Úc, Hồng Kông, Đại Hàn,… mang lại số ngoại tệ đáng kể, trên
76,2 triệu USD trong 5 năm (từ 1996 – 2000).
Cùng với sự phát triển của hàng xuất khẩu, các sản phẩm phục vụ tiêu dùng
trong nước xuất hiện ngày càng nhiều với sự đa dạng về chủng loại như gạch men của Công ty gạch men Kinh Minh, năm 2000 sản xuất 1,2 triệu m2; giày dép của
công ty Bitis năm 2000 sản xuất 4,5 triệu đôi; chế biến thức ăn gia súc bình quân
tăng 12,03%/năm, sản phẩm may mặc tăng 30,85%/năm. Đặc biệt trong giai đoạn
từ năm 2000 – 2005, thành phố đã chú ý từng bước triển khai thực hiện di dời các
cơ sở sản xuất hiện hữu gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư, trong đó đã
thực hiện di dời 12 cơ sở gạch ngói với 475 lao động, diện tích 15,70 ha (tại Tân
Vạn, Hóa An, Bửu Hòa, Long Bình Tân) có cơ sở máy móc cũ kỹ, lạc hậu, gây ô
nhiễm môi trường, tiêu thụ chậm, giá thành sản phẩm cao, đang trong tình trạng
không ổn định.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ mới đóng góp cho thành phố từ
những năm 1990 trở lại đây nhưng là khu vực năng động nhất, giữ vai trò, vị trí
chiến lược quan trọng trong sự phát triển của thành phố. Trong thời gian từ 1990 –
1995, giá trị đóng góp chưa cao. Đến năm 1995 đóng góp 2.127.151 triệu đồng,
chiếm 41,30% giá trị sản xuất công nghiệp thành phố; đến năm 2000 đóng góp
6.965.755 triệu đồng, chiếm 57,81%; và năm 2005 có giá trị sản xuất là
15.350.000 triệu đồng, chiếm 56,48%.
Nguyên nhân là trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thành phố đã
chú ý mở rộng và tạo điều kiện thu hút vốn bên ngoài bằng các luật thuế mới, gần
đây nhất là Luật doanh nghiệp cùng với việc bãi bỏ 84 loại giấy phép hành nghề,
tạo môi trường thông thoáng cho sản xuất.
Với chủ trương cổ phần hóa, tăng cường đầu tư chiều sâu, đổi mới công
nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, các ngành công nghiệp thành phố Biên
Hòa năm 2005 có trình độ tự động hóa và bán tự động hóa chiếm 30,18%, cơ khí
và bán cơ khí chiếm 43,25%, thủ công chiếm 26,57%; đặc biệt khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài có trình độ tự động hóa và bán tự động hóa rất cao (70,20%).
Điều này cho thấy rõ sự chênh lệch trong kỹ thuật sản xuất giữa khu vực kinh tế
trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy để tăng tính cạnh tranh
cho các mặt hàng, cần phải chú ý các hoạt động chuyển giao công nghệ, ứng dụng
khoa học kỹ thuật vào trong sản suất, nâng cao tay nghề của đội ngũ công nhân
lao động.
Như vậy, công nghiệp thành phố phát triển mạnh và nhanh từ năm 1995,
tập trung ở khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài. Điều này sẽ tạo điều kiện để tăng cường đầu tư và sử dụng công nghệ sản
xuất cao, góp phần hiện đại hóa thành phố. Tuy nhiên công nghiệp quốc doanh
vẫn nắm giữ những ngành kinh tế chính.
2.3.1.2. Tình hình phát triển các khu công nghiệp
Trước năm 1986, thành phố đã có KCN Biên Hòa 1 tập trung nhiều các cơ
sở sản xuất của thành phố.
Từ năm 1991 đến nay, quán triệt Nghị quyết của Đảng bộ Tỉnh, thành phố
đã chủ động thực hiện các giải pháp đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng các KCN tập
trung gắn với các cụm công nghiệp vừa và nhỏ. Đến năm 2005, trên địa bàn thành
phố có 4 KCN tập trung với quy mô lớn là Biên Hòa 1, Biên Hòa 2, Amata và
Loteco thu hút nhiều dự án đầu tư nước ngoài, trở thành yếu tố quyết định tốc độ
tăng trưởng nhanh của toàn ngành công nghiệp.
Khu công nghiệp Biên Hòa 1
Quy mô diện tích: 335 ha, trong đó đất xây dựng công nghiệp hiện hữu cải
tạo và phát triển là: 231,08 ha. Trong khu công nghiệp đã có sẵn mạng lưới công
trình kỹ thuật hạ tầng được xây dựng thời Mỹ - Ngụy. Hiện nay Công ty Phát triển
Khu công nghiệp Biên Hòa (Sonadezi) được giao làm chủ đầu tư để xây dựng khu
dân cư nhằm giải tỏa di dời dân trong KCN và cải tạo chỉnh trang mạng lưới kỹ
thuật hạ tầng.
Khu công nghiệp Biên Hòa 2
Được quy hoạch và xây dựng từ năm 1992 đến tháng 9 năm 1993. Đây là
KCN được đánh giá là thành công nhất về xây dựng cơ sở hạ tầng và kêu gọi vốn
đầu tư; việc xây dựng và kinh doanh hạ tầng tại khu công nghiệp này có lợi nhuận
cao.
Hiện nay KCN Biên Hòa 2 đã cho thuê hết 261 ha, chiếm 100% tổng diện
tích cho thuê; có hệ thống giao thông hoàn chỉnh phần đường với tổng chiều dài
22,5 km; hệ thống thoát nước mưa, nước thải hoàn chỉnh với tổng chiều dài 20
km; đã xây dựng xong và đưa vào sử dụng nhà máy xử lý nước thải có công suất
4.000 m3/ngày (đưa vào hoạt động tháng 4 năm 1999); nhà máy xử lý chất thải rắn
đang được khảo sát địa điểm xây dựng; hệ thống cấp nước hoàn chỉnh và đã khai thác trạm cấp nước với công suất 15.000 m3/ngày cùng hai bể chứa có dung tích 6.000 m3 và hệ thống đường ống nước với chiều dài 23 km; đối với hệ thống điện:
đã lắp đặt xong trạm 40 MVA, hệ thống đường dây điện 22 KV dài 15 km; hệ
thống thông tin đảm bảo tốt, hoàn thiện hệ thống cây xanh đường phố.
Khu công nghiệp Amata
Được quy hoạch xây dựng năm 1993, hiện nay đã hoàn chỉnh hệ thống hạ
tầng kỹ thuật khu vực xây dựng đợt đầu 129 ha, gồm:
- Đường giao thông, cống thoát nước mưa, nước thải, hệ thống thông tin, hệ thống cấp nước công suất 2.000 m3/ngày với hệ thống đường ống dài 5 km, xây dựng xong nhà máy xử lý nước thải có công suất 1.000 m3/ngày (đã đưa vào hoạt
động từ tháng 5/1999), đã lắp đặt xong trạm 110KV/22KV – 40 MVA, đưa vào
vận hành hai trạm biến áp nhỏ 110KV/15KV – 2.600 KVA, đang xây dựng nhà
máy điện công suất 110 MW với hệ thống đường dây dài 9 km.
- Hoàn thiện hệ thống cây xanh dọc đường.
Diện tích đã cho thuê tính đến 31/10/2000 là 46,76 ha, chiếm 51% tổng
diện tích cho thuê (91,5 ha).
KCN Amata mới được xây dựng nên có chất lượng các công trình hạ tầng
tốt, sẵn sàng tiếp nhận các dự án đầu tư. Tuy nhiên giá cho thuê cao nên hiện đang
gặp khó khăn nhất định trong thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp.
Khu công nghiệp Loteco
Được thành lập vào năm 1996, là khu công nghiệp liên doanh giữa tập đoàn
đầu tư và thương mại Sojitz của Nhật Bản với Công ty Thái Sơn của Bộ Quốc
phòng có tổng vốn đầu tư 41 triệu USD. Đây là KCN có các công trình hạ tầng
được đánh giá thuộc loại tốt, hoàn chỉnh, diện tích quy hoạch: 100 ha, trong đó có
khu chế xuất, diện tích 30 ha.
Diện tích đã cho thuê 7,8 ha, chiếm 10,83% tổng diện tích cho thuê (72 ha)
- Đã hoàn chỉnh hệ thống giao thông nội bộ, hệ thống thoát nước mưa,
nước thải, hệ thống cấp nước, hệ thống thông tin.
- Xây dựng xong và đưa vào sử dụng nhà máy xử lý nước thải với công
suất 1.500 m3/ngày.
- Trạm điện công suất 3,2 MVA cùng hệ thống lưới điện dài 9,5 km.
Các cụm công nghiệp nhỏ
Ngoài các KCN tập trung với diện tích từ 100 ha trở lên, ở thành phố Biên
Hòa còn nhiều cụm công nghiệp nhỏ đã được đầu tư xây dựng.
- Cụm công nghiệp phường Tân Hiệp rộng 6 ha, bao gồm các nhà máy sản
xuất áo tắm, đàn ghi ta, các xí nghiệp may, đồ gia dụng không gây ô nhiễm.
- Cụm công nghiệp chế biến thực phẩm cạnh xa lộ Hà Nội.
- Cụm công nghiệp may mặc và thực phẩm tại đường 5 (phường Tân Tiến).
- Cụm công nghiệp thuốc lá, chế biến gỗ, vật liệu xây dựng: 6 nhà máy
(phường Long Bình).
- Cụm công nghiệp giày da và may mặc Pouchen, diện tích 19 ha (Quốc lộ
1K – xã Hóa An).
- Cụm công nghiệp giấy Tân Mai, diện tích 19 ha (phường Thống Nhất).
- Cụm công nghiệp sản xuất giày tại phường Tam Hiệp.
Nhìn chung CN - TTCN trên địa bàn thành phố có nhiều chuyển biến theo
chiều hướng tăng trưởng nhanh. Cơ cấu ngành nghề phát triển đa dạng tạo nên sự
phong phú về chủng loại các mặt hàng. Các nghề truyền thống tiếp tục được chú
trọng, tăng về số cơ sở sản xuất và sản lượng. Đáng kể nhất là các ngành nghề phục
vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu như may mặc, giày da, chế biến thực
phẩm,… đã trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn không chỉ của thành phố mà còn
của cả tỉnh, có giá trị sản xuất cao. Số doanh nghiệp ngày càng nhiều do sự thông
thoáng trong việc đăng ký kinh doanh theo luật Doanh nghiệp cũng đã góp phần lớn
vào tăng trưởng GTSX của ngành CN - TTCN. Số vốn đầu tư cho mỗi cơ sở sản
xuất được nâng cao, nhất là những cơ sở sản xuất ở các KCN Biên Hòa 1, Biên Hòa
2, Amata và Loteco, với hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đã thu hút được sự quan tâm của
các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Sự phát triển của các khu – cụm công nghiệp với hệ thống cơ sở hạ tầng -
kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh đã thu hút một lực lượng lao động dồi dào ở các
huyện trong tỉnh và các địa phương khác đến, góp phần làm cho quá trình đô thị
hóa diễn ra mạnh mẽ. Tuy nhiên, cũng chính sự phát triển nhanh chóng của hoạt
động CN - TTCN trên địa bàn thành phố, nhất là các khu - cụm công nghiệp, đặt
ra nhiều vấn đề cho xã hội. Sự ô nhiễm môi trường từ khói, bụi, nước thải công
nghiệp và sinh hoạt; sự tăng dân số cơ học quá nhanh kéo theo những hệ lụy đi
kèm đang làm giảm chất lượng cuộc sống của người dân, tạo nên nguy cơ lớn về
tình trạng phát triển không bền vững của thành phố Biên Hòa.
Hiện nay, để duy trì và đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng của CN – TTCN, thành
phố đang tiếp tục dự án giai đoạn 2 xây dựng KCN Amata với diện tích 232 ha; ưu
tiên phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, nhất là những ngành công nghiệp
mới, kỹ thuật cao như: sản xuất vật liệu mới, điện tử - viễn thông, máy móc, thiết
bị…, có ý nghĩa chiến lược lâu dài và tăng cường yếu tố phát triển bền vững cho
thành phố. Đồng thời hoàn thành việc di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm đang
nằm xen kẽ trong các khu dân cư.
2.3.2. Chuyển biến về nông nghiệp
Đô thị hóa là một quá trình gắn liền với nhiều yếu tố, để hình dung và đánh
giá được mức độ đô thị hóa của một thành phố cần gắn quá trình ấy với hoạt động
sản xuất nông nghiệp. Giá trị đóng góp của ngành nông nghiệp trong tổng giá trị
toàn bộ nền kinh tế, số lao động tham gia sản xuất nông nghiệp trong tổng số lao
động và diện tích đất dùng để sản xuất nông nghiệp là những yếu tố quan trọng để
tái hiện quá trình đô thị hóa.
Ở Biên Hòa trước năm 1986, nông nghiệp có đóng góp lớn cho nền kinh tế
thành phố, sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 37% trong tổng cơ cấu các ngành
kinh tế của thành phố [62, tr.364].
Tuy nhiên với chủ trương tập trung chuyển đổi nền kinh tế thành phố theo
hướng công – nông nghiệp, từ năm 1986 về sau, tỷ trọng đóng góp của sản xuất
nông nghiệp giảm rất mạnh, đến năm 1991 còn 7,62%.
Tiếp tục thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, từ năm 1991 đến nay, ngành
nông nghiệp chỉ chiếm tỉ lệ rất ít trong cơ cấu các ngành kinh tế: 2,90 % (năm
1995) và 2,25% (năm 2000), chỉ còn 1,18 % (năm 2005).
Điều này cho thấy nhân dân Biên Hòa đã thực hiện rất tốt chủ trương của
Đảng bộ thành phố trong quá trình phát triển đô thị, là tăng tỉ trọng của ngành CN
- TTCN, TM - DV, giảm dần tỉ trọng của ngành NLTS.
Sau năm 1975, để khắc phục tình trạng thiếu lương thực và giải quyết việc
làm cho người lao động, thành phố rất quan tâm đầu tư cho sản xuất nông nghiệp.
Vì vậy số lao động cao, năm 1990 là 15.000 người. Năm 1995 tăng lên 18.119
người.
Từ năm 1995 - 2005, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp bắt đầu giảm:
năm 2000 là 10.478 người và năm 2005 chỉ còn 10.265 người. Nguyên nhân là do
một bộ phận người lao động đã chuyển sang làm việc trong các ngành CN –
TTCN hoặc TM – DV.
Trước năm 1986, diện tích đất nông - lâm nghiệp là 4.615 ha, đến năm
2002, theo kết quả đều tra của Phòng Thống kê TP. Biên Hòa, là 5.037,43 ha,
chiếm 32,58% diện tích đất thành phố [38, tr.104]. Qua 20 năm, diện tích đất thay
đổi không đáng kể.
Hiện nay, quỹ đất chưa sử dụng của thành phố còn rất ít: 100,53 ha, chiếm
tỉ lệ 0,65%. Vì vậy khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp là không thể.
Trong khi đó quá trình đô thị hóa làm xuất hiện nhiều khu - cụm công nghiệp,
nhiều khu vui chơi, nhà cao tầng, nhà chung cư. Như vậy để xây dựng phát triển
đô thị Biên Hòa, thành phố sẽ phải thực hiện chuyển đổi chức năng từ các loại đất
khác, trong đó có đất nông nghiệp.
Rõ ràng, sản xuất nông nghiệp của thành phố hiện nay chịu sự tác động của
nhiều yếu tố: diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần do nhu cầu phát triển các
KCN tập trung và xu hướng đô thị hóa, thời tiết một số năm diễn biến không
thuận lợi, dịch bệnh phát sinh trên diện rộng, giá tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
không ổn định… Nhờ triển khai, thực hiện kịp thời có hiệu quả các chính sách
phát triển nông nghiệp và đổi mới khu vực nông thôn của Đảng bộ thành phố; đẩy
mạnh thâm canh tăng vụ, vận động chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp
với từng vùng để tăng hiệu quả kinh tế, áp dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật tiên
tiến vào sản xuất,… nên giá trị sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển.
2.3.2.1. Trồng trọt
Năm 1975, thành phố có khoảng 3.200 ha đất gieo trồng, chiếm khoảng
20,5% diện tích đất tự nhiên. Đến năm 1985, nhờ tích cực khai hoang nên diện
tích đất trồng được mở rộng, tăng lên 3.893 ha.
Tuy nhiên từ sau năm 1986, diện tích đất nông nghiệp tăng không đáng kể.
Đến năm 2002 là 3.902,05 chiếm 25, 23% diện tích đất thành phố [38, tr 104], tập
trung chủ yếu ở Hiệp Hòa, Long Bình, Tân Hạnh, Bửu Long, Hóa An, Hố Nai,
Thống Nhất và một số phường xã khác.
Tuy nhiên trước sức ép của quá trình đô thị hóa, diện tích đất để trồng các
loại cây đang có xu hướng giảm (và trong tương lai sẽ còn giảm). Để thực hiện
mục tiêu đảm bảo lương thực thực phẩm cho thành phố và thích ứng với thực tiễn,
ngành nông nghiệp đã linh hoạt tìm con đường phát triển bằng cách chuyển đổi cơ
cấu cây trồng. Một số nơi diện tích trồng lúa được chuyển sang trồng rau đậu các
loại, các loại cây ngắn ngày để tăng vụ; đồng thời thành phố còn chú ý tăng diện
tích cây ăn trái gắn với quy hoạch du lịch sinh thái. Nhìn vào bảng số liệu diện
tích cây trồng hằng năm dưới đây để hình dung được sự chuyển đổi ấy.
Bảng 2.9. Diện tích các loại cây trồng của TP. Biên Hòa qua các năm
1985 – 2005
Năm 1985
Năm
Năm 2005
1995
Cây lương thực
3.164
1.837
888
ĐVT: ha
Cây củ có bột
489
126
20
Rau đậu các loại
1387
2291
2199
Cây công nghiệp hàng
504
227
40
năm
5544
4439
3147
Tổng
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Qua bảng số liệu, diện tích nhóm cây lương thực, cây củ có bột và cây công
nghiệp hàng năm đều giảm; riêng đối với diện tích trồng rau đậu các loại tăng.
Trong giai đoạn 10 năm 1986 – 1995, thực hiện chủ trương chuyển đổi cây trồng
của thành phố từ 1985 đến 1995, diện tích rau đậu các loại tăng nhanh, tuy nhiên
trong 10 năm sau từ 1995 đến 2005, diện tích có phần suy giảm.
Nguyên nhân là do sự phát triển, mở rộng quy mô sản xuất của các ngành
nghề thủ công – công nghiệp, tình trạng biến đất nông nghiệp thành đất định cư
của người dân. Đặc biệt từ năm 2000 trở lại đây, thành phố thực hiện phát triển
nông nghiệp sạch, trong đó quan tâm đến việc trồng rau an toàn. Kết quả là đã
hình thành các vùng chuyên canh rau xanh: xã Tân Hạnh, phường Tân Mai, Tân
Tiến, Tân Phong, Trảng Dài, Tam Hiệp phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người
dân.
Diện tích cây trồng của thành phố thay đổi, từ đó làm ảnh hưởng đến sản
lượng các loại cây trồng.
Bảng 2.10. Sản lượng các loại cây trồng của TP. Biên Hòa qua các năm
Năm 1985
Năm 1995
Năm 2005
3.303,6
6.235,1
9.482,2
1. Cây lương thực
3.137,6
6.020,4
9.477,0
- Lúa
166,0
214,7
5,2
- Bắp
171,0
888,3
3.029,8
2. Cây củ có bột
-
-
286,8
- Khoai lang
171,0
888,3
2.743,0
- Khoai mì
1985 – 2005 ĐVT: Tấn
35.095,3
25.449,6
13.616,3
3. Rau đậu các loại
35.061,7
25.335,3
13.510,7
- Rau các loại
33,6
114.,3
105,6
- Đậu các loại
72
412,8
5.142,4
4. Cây công nghiệp hàng
năm
72
223,0
442,2
- Đậu phộng
-
189,8
4.700,2
- Mía
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Đối với nhóm cây lương thực, năm 1985, do vừa bước ra khỏi chiến tranh,
đang trong giai đoạn khôi phục kinh tế, diện tích trồng cây lương thực so với các
nhóm cây khác là nhiều nhất (3.164 ha), sản lượng đạt được cũng rất cao, đứng
thứ hai (9.482,2 tấn), trong đó chủ yếu là sản lượng cây lúa, sản lượng cây bắp rất
thấp.
Đến năm 1995, do thực hiện chủ trương chuyển đổi cây trồng, giảm diện
tích trồng lúa, tăng diện tích trồng rau đậu nên diện tích trồng cây lương thực
giảm còn 1.837 ha, sản lượng cây lương thực cũng giảm, đạt 6.235,1 tấn; đến năm
2005 tiếp tục giảm về diện tích và sản lượng. Mặc dù vậy, nhóm cây lương thực
luôn giữ vị trí quan trọng thứ hai trong sự phát triển chung của ngành nông nghiệp
thành phố.
Phát triển nhanh và mạnh nhất là nhóm cây rau đậu các loại. Năm 1985,
diện tích trồng cây rau đậu là 1.387 ha (đứng thứ hai, sau nhóm cây lương thực),
sản lượng là 13.616,3 tấn – cao nhất. 20 năm sau, cả diện tích và sản lượng đều
tăng, đứng đầu so với các loại cây trồng khác (năm 2005: diện tích đạt 2.199 ha,
năng suất đạt 35.095,3 tấn) trong đó tập trung phát triển là các loại rau. Điều này
phần nào phản ánh chủ trương phát triển nông nghiệp của thành phố đã được thực
hiện đúng hướng, trong tương lai ngành nông nghiệp cần bám sát hơn nữa sự chỉ
đạo của thành phố, tăng sản xuất các loại rau an toàn, vệ sinh, vừa đảm bảo an
toàn cho người tiêu dùng vừa bảo vệ môi trường.
Riêng hai nhóm cây củ có bột và cây công nghiệp, nhìn chung trong 20
năm từ 1985 đến năm 2005, giảm cả diện tích lẫn sản lượng cây trồng. Diện tích
trồng cây công nghiệp hàng năm của Biên Hòa vào thời điểm năm 1985 cao,
chiếm 504 ha nhưng đến năm 2005, khi thành phố tập trung phát triển CN –
TTCN, TM - DV thì diện tích chỉ còn 40 ha. Đặc biệt là cây mía, nếu trước 1995
còn được sản xuất thì sau năm 1995 đã không được tiến hành trồng ở thành phố.
Đối với cây củ có bột, khoai lang cũng là loại sản phẩm tương tự.
2.3.2.2. Chăn nuôi
Trước năm 1986, việc chăn nuôi heo, bò, gia cầm phát triển nhưng cũng chỉ
đáp ứng được hơn một nửa nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Đến tháng 12/1988, Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố đã xác định cơ cấu
kinh tế của thành phố, đồng thời đặt ra nhiệm vụ đối với nông nghiệp là phải đảm
bảo lương thực cho nhân dân, cung cấp nguyên liệu, nông sản hàng hóa cho thị
trường thành phố. Vì vậy trong suốt 20 năm qua, nông nghiệp thành phố, trong đó
có hoạt động chăn nuôi phát triển mạnh về số lượng đàn gia súc gia cầm so với
trước đổi mới.
Bảng 2.11. Số lượng đàn gia súc và gia cầm của TP. Biên Hòa qua các năm
1985 – 2005
Năm 1985
Năm 1995
Năm 2005
A. Đàn gia súc
24.969
102.919
164.714
- Đàn trâu
517
312
100
- Đàn bò
3.612
2.578
2.614
- Đàn heo
20.840
100.029
162.000
795
704
182
B. Đàn gia cầm
146
751
668
- Gà
27
39
30
- Vịt
9
5
6
- Ngan,
ngỗng
ĐVT: Con
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Qua bảng số liệu, giai đoạn từ năm 1986 – 1995 số lượng đàn gia súc và
gia cầm của Biên Hòa tăng rất nhanh, trung bình năm 1995 tăng hơn 4 lần so với
năm 1986.
Từ năm 1996 – 2005, tốc độ tăng chậm lại, đàn gia súc chỉ tăng 1,6 lần và
đàn gia cầm giảm. Riêng trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, ngành chăn
nuôi của thành phố chịu nhiều tác động, ảnh hưởng bởi dịch bệnh, đặc biệt là dịch
cúm gia cầm năm 2004 nên số lượng đàn gia cầm không tăng.
Do sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tập trung trồng các loại cây rau đậu, do
tình trạng thiếu đồng cỏ nên số lượng đàn trâu và đàn bò cũng có xu hướng giảm
qua các năm, nhất là đàn trâu. Trong 5 năm từ 1995 đến 2000, tốc độ phát triển
bình quân của đàn bò, trâu là 1,61 %, đàn bò tăng 2,49 % và đàn trâu tăng 7,46 %.
Việc chăn nuôi bò sữa ở thành phố gặp nhiều khó khăn về tiền vốn, thiếu nơi tiêu
thụ sản phẩm ổn định nên số lượng tăng không đáng kể, từ 137 con đến 155 con
[60, tr.1945].
Tuy nhiên, để phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ ngày càng nhiều của người
dân, đàn heo lại tăng nhanh. Với những thuận lợi về nguồn thức ăn chế biến và
mạng lưới thú y tuyên truyền phòng chống dịch bệnh phát triển rộng khắp các
phường, xã; công tác truyền giống, phối giống,… tạo động lực thúc đẩy sự phát
triển nhanh đàn heo và đàn gia cầm. Đến nay thành phố đã hình thành các vùng
chăn nuôi tập trung ở các phường: Long Bình, Hố Nai, Trảng Dài, có thể hạn chế
đến mức tối đa sự ô nhiễm mà hoạt động kinh tế này mang lại.
Hoạt động nuôi trồng thủy sản của thành phố trước năm 1986 có 77 ha, từ
sau năm 1986 được chú ý duy trì hàng năm với diện tích trên 100 ha, nhưng về cơ
cấu có thay đổi phù hợp với khả năng về kỹ thuật và điều kiện của thành phố.
Theo sự thống kê của thành phố Biên Hòa, dựa trên tình hình sản xuất thực tế,
ngành nông nghiệp thành phố đã đưa ra một số chỉ tiêu chủ yếu về nuôi trồng thủy
sản như sau:
Bảng 2.12. Một số chỉ tiêu nuôi trồng thủy sản của TP. Biên Hòa qua các
năm 1985 - 2005
1985
1990
1995
2000
2005
1) Diện tích nuôi trồng thủy sản
102
100
104
134
133
(ha)
- Cá
102
97
97
133
133
- Tôm
-
3
7
1
-
2) Sản lượng thủy sản (tấn)
300
397
472
507
1.975
- Cá
300
395
467
505
1.975
- Tôm
-
2
5
2
-
3) Nuôi cá bè
88
107
135
157
323
- Số hộ nuôi
136
181
238
280
631
- Số bè cá - Diện tích bè cá (m3)
2.448
3.258
4.284
5040
11.358
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Phát huy lợi thế của một thành phố có điều kiện tự nhiên nằm bên dòng
sông Đồng Nai, hoạt động nuôi cá và tôm được chú ý. Nhìn chung qua các năm,
sản lượng thủy sản thu hoạch đều tăng. Tăng mạnh nhất là giai đoạn từ năm 2000
– 2005, tổng sản lượng thủy sản tăng khoảng 3,8 lần, trong đó chủ yếu là cá.
Diện tích nuôi cá giống của thành phố nhiều, có biến động trong giai đoạn
từ năm 1990 đến 1995 (giảm từ 102 ha xuống 97 ha do người dân chuyển sang
nuôi trồng thử nghiệm tôm) nhưng đến năm 2000 đã đi vào ổn định với 133 ha. Số
hộ nuôi cá, số bè cá luôn đảm bảo tăng đều đặn. Vì vậy sản lượng cá cũng phát
triển thêm, riêng năm 2005 tăng mạnh, đủ cung cấp các loại cá giống cho tỉnh và
vùng lân cận.
Trong 10 năm từ 1990 đến 2000, tôm cũng được nuôi trồng nhằm làm tăng
sản lượng thủy sản chung của thành phố và cung cấp một phần nhu cầu của người
dân. Tuy nhiên từ năm 2000 trở lại đây, do điều kiện không thuận lợi, cộng với
người dân không có kinh nghiệm trong việc nuôi trồng, kết quả không cao nên đến
năm 2005, tôm đã không còn là loại thực phẩm có đóng góp cho giá trị nông
nghiệp của thành phố. Hiện nay do điều kiện giao thông vận tải thuận lợi, lượng
tôm ở thành phố chủ yếu có nguồn gốc từ các tỉnh miền Tây đưa về.
Quá trình đô thị hóa không chỉ tác động đến hoạt động sản xuất lương thực,
làm cho diện tích đất trồng các loại cây không tăng mà còn làm chậm lại quá trình
mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản. Để khắc phục điều đó, việc nuôi trồng thủy
sản của thành phố tập trung vào việc nuôi cá bè, số hộ nuôi cá bè liên tục phát
triển, nhất là trong vòng 5 năm qua, từ 157 hộ năm 2000 đến 323 hộ năm 2005; số
bè cá vì vậy tăng mạnh từ 280 bè cá đến 631 bè cá (gấp khoảng 2,2 lần trong khi
các năm trước đó có tăng nhưng không cao, cao nhất như năm 1995 cũng chỉ tăng
gấp 1,3 lần năm 1990).
Việc nuôi cá bè và công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản hiện nay được duy
trì tại các phường, xã tiếp giáp vùng sông nước đã góp phần tích cực trong việc
tạo ra sản lượng thủy sản hàng năm cao, phục vụ đủ nhu cầu tiêu thụ của nhân
dân, đảm bảo dinh dưỡng cần thiết cho mỗi bữa ăn, qua đó nâng cao chất lượng
cuộc sống. Năm 2005 thành phố đã hoàn chỉnh và triển khai đề án quy hoạch làng
cá bè phù hợp với cảnh quan sinh thái trên sông Đồng Nai; nhằm quản lý và bảo
vệ môi trường cảnh quan ven sông.
Cùng với hoạt động trồng trọt và chăn nuôi thì hoạt động dịch vụ nông
nghiệp qua các năm phát triển nhanh.
Nếu như trước năm 1986 chiếm khoảng 1,68% tổng giá trị sản xuất nông
nghiệp. Năm 1995 tăng nhẹ, đạt 1,8%. Tuy nhiên trong thời gian từ năm 1995 –
2005 phát triển nhanh hơn. Năm 2000 đạt 4.098 triệu đồng, chiếm 2,14% và đến
năm 2005 giá trị sản xuất dịch vụ nông nghiệp đạt 4.600 triệu đồng, nâng tỷ trọng
đóng góp lên 2,43% [40, tr.16].
Công tác thủy lợi được quan tâm đầu tư nâng cấp, xây dựng các công trình
kênh dẫn nước, trạm bơm Nhựt Hòa, hệ thống thoát nước Gò Me. Mặt khác, công
tác bảo vệ thực vật và khuyến nông, tập huấn kỹ thuật, khảo nghiệm, thực nghiệm
các loại giống cây trồng đã góp phần đáng kể trong việc phòng trừ sâu bệnh, đẩy
nhanh mức tăng trưởng cây con trong nông nghiệp.
Là đô thị công nghiệp có tỉ trọng đóng góp của ngành công nghiệp luôn cao
nhưng hoạt động lâm nghiệp vẫn được duy trì với chủ trương bảo vệ diện tích
trồng rừng, phát triển diện tích cây xanh, tập trung từng bước cân bằng môi trường
sinh thái. Để tăng thêm mảng xanh cho thành phố và tô điểm thêm vẻ đẹp cho đô
thị, hàng năm thành phố tổ chức trồng cây xanh dọc theo các tuyến đường phố và
trong các khu công nghiệp, các khu vực khai thác tài nguyên đất, đá, đồng thời
duy trì 7 ha khu vườn cây lưu niệm với các loại gỗ quý vừa tạo bóng mát, vừa trở
thành rừng phòng hộ môi trường cảnh quan cho thành phố.
Tóm lại, ngành nông nghiệp trong 20 năm đổi mới phát triển cùng với sự lớn
mạnh của thành phố Biên Hòa. Năm 2005 giá trị sản xuất nông nghiệp thành phố
tăng gấp 3,3 lần so với năm 1985, mức tăng bình quân giai đoạn 1986 – 2005 là
8,3%/năm [77, tr.154]. Tuy nhiên trong quá trình hiện đại hóa, so với tốc độ phát
phát triển của CN – TTCN và TM – DV, tốc độ phát triển của ngành NLTS chậm
hơn là phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
Giai đoạn từ 1995 - 2005, sản xuất nông nghiệp ở thành phố đã có sự thay
đổi lớn về số nhân khẩu. Cơ cấu GTSX nông nghiệp có sự chuyển dịch theo
hướng tăng tỷ trọng đóng góp của chăn nuôi (năm 1985 chăn nuôi chiếm 41,3%,
trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp, năm 1995 chiếm 51,21%, năm 2000 là
70,78% và năm 2005 lên tới 74,83%), đồng thời thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây
trồng.
Hiện nay, phát triển nông nghiệp phải gắn liền công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người dân, vừa đảm bảo
môi trường. Vì vậy, trong Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Biên Hòa lần thứ
IX (nhiệm kỳ 2005 – 2010) đã đưa ra phương hướng phát triển của lĩnh vực nông,
lâm, ngư nghiệp. Nội dung chủ yếu là tăng cường áp dụng các đề tài nghiên cứu
khoa học, tiếp tục triển khai trồng rau an toàn, phát triển cây ăn trái gắn liền với
du lịch sinh thái, giảm dần giá trị chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp. Chấm dứt
tình trạng chăn nuôi xen lẫn trong khu dân cư. Phát triển các mô hình nuôi trồng
thủy sản trên sông Đồng Nai đúng quy hoạch.
2.3.3. Chuyển biến về thương mại – dịch vụ
2.3.3.1. Thương mại
Trong nền kinh tế thành phố, hoạt động TM – DV đóng vai trò quan trọng
trong việc lưu thông hàng hóa và đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của người
dân.
Trước năm 1986 hoạt động phân phối lưu thông hàng hóa diễn ra ở hai khu
vực: quốc doanh và ngoài quốc doanh. Dù có sự khác nhau trong cơ chế, phương
thức hoạt động và hiệu quả nhưng lại có đặc điểm chung là chủ yếu dựa vào lượng
hàng từ trên giao và cấp xuống là chính. Vì vậy thương nghiệp thành phố không
chủ động được hoạt động thu mua, hoạt động phân phối lưu thông tách rời sản
xuất, việc phục vụ bó hẹp trong khu vực nông nghiệp nên chưa làm tốt chức năng
phân phối cho toàn xã hội. Năm 1985 tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt
432.265 triệu đồng [54].
Sau năm 1986, trong thời gian đầu đổi mới, Đại hội Đảng bộ thành phố Biên
Hòa lần thứ V xác định nhiệm vụ của ngành TM – DV là “phát triển thương nghiệp
quốc doanh, đặc biệt là hợp tác xã mua bán phường xã phải chuyển sang kinh
doanh, thay đổi phướng thức và phong cách kinh doanh có hiệu quả, nắm nguồn
hàng…có từ 40% hàng hóa sản xuất tại địa phương….” [58, tr.39,40]. Năm 1995
tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 1.299.884 triệu đồng, gấp 3 lần năm 1985.
Đến năm 1996, Đại hội Đảng bộ thành phố Biên Hòa lần thứ VII xác định lại
mục tiêu của ngành TM - DV thành phố là phải phát triển theo hướng cung ứng
nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm cho các vùng công nghiệp trong tỉnh. Điều này đòi
hỏi sự nỗ lực rất lớn của ngành. Đồng thời phát triển mạng lưới bán lẻ nhỏ khắp
vùng dân cư, khu công nghiệp, tăng nhanh tố độ phát triển các loại hình dịch vụ.
Nhờ có được sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời đó nên từ năm 1996 – 2005, tốc
độ phát triển của ngành luôn vượt so với chỉ tiêu. Năm 2005 đạt 7.743.500 triệu
đồng, gấp 18 lần so với năm 1985 và gấp 5 lần so với năm 1995.
Trong 5 năm từ 1995 – 2000, hoạt động TM – DV có tốc độ phát triển bình
quân là 14,10%/năm, từ năm 2001 – 2005 chỉ số phát triển là 15,24%/năm và
chiếm hơn 57% giá trị tăng thêm ngành TM – DV toàn tỉnh, đóng góp gần 80%
giá trị xuất khẩu của tỉnh.
Thương nghiệp quốc doanh từ chỗ bị động, kém phát triển, sau một thời
gian đổi mới đã được khôi phục, hoạt động có hiệu quả, góp phần tích cực tham
gia ổn định và điều hòa giá cả, hàng hóa trên thị trường.
Hiện nay có nhiều quầy hàng, cửa hàng, đại lý,… thuộc thương nghiệp
quốc doanh được mở nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng và yêu cầu sản xuất của
người dân, đồng thời thu mua các loại nông sản hàng hóa của các cơ sở sản xuất.
Năm 2005, thương nghiệp quốc doanh trên địa bàn chiếm 24,65% giá trị toàn
ngành, mức tăng bình quân hàng năm là 21,76%/năm [61, tr.82]. Năm 2000 thành
phố có 17 đơn vị doanh nghiệp (tăng 1 so với năm 1995) với 2.450 lao động, trong
đó nổi bật lên công ty Dịch vụ Môi trường đô thị Biên Hòa đã đầu tư trên 4 tỉ
đồng để trang bị các loại xe chuyên dùng phục vụ quản lý điện và thu gom rác.
Điều đó cho thấy ý thức về xây dựng cơ sở hạ tầng và bảo vệ môi trường của
thành phố cao.
Ngoài ra còn có công ty Thương mại – dịch vụ Biên Hòa, hiện có 10 đơn vị
trực thuộc kinh doanh hàng tiêu dùng, dịch vụ ăn uống khách sạn, giải trí du lịch,
dịch vụ in ấn. Tuy nhiên do được hình thành trên cơ sở giải thể, sáp nhập của một
số đơn vị nên nguồn vốn hạn chế, cơ sở vật chất xuống cấp, phân tán, việc mở
rộng quy mô kinh doanh gặp nhiều khó khăn.
Thương nghiệp ngoài quốc doanh phát triển rất nhanh. Năm 1985 toàn
thành phố có 4.159 đơn vị kinh doanh, đến năm 1995 là 8.207 đơn vị (trong đó có
91 doanh nghiệp, số còn lại là hộ cá thể) với tổng số lao động gần 12 ngàn người,
năm 2005 nâng lên 20.302 đơn vị (gồm 505 doanh nghiệp và 19.802 hộ cá thể)
thu hút trên 35.000 lao động.
Với phạm vi trải rộng từ các chợ đến các quầy bán lẻ trong dân cư ở từng
khóm, ấp, xã, thương nghiệp ngoài quốc doanh là khu vực rất năng động, nhạy
bén trong việc chuyển đổi cơ cấu mặt hàng, linh hoạt trong việc huy động các
nguồn vốn, đã góp phần điều hòa hàng hóa đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Để duy trì và đẩy mạnh giá trị đóng góp của ngành TM – DV trong tổng
GTSX các ngành kinh tế, hiện nay thành phố đã lập nhiều phương án kêu gọi,
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các thành phần kinh tế đầu tư mở
rộng các loại hình dịch vụ, thương mại, nhất là các loại hình dịch vụ mới, cao cấp
với quy mô lớn, hiện đại. Đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của khối doanh
nghiệp nhà nước để giữ vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đảm bảo phát triển
theo định hướng XHCN
2.3.3.2. Hoạt động xuất nhập khẩu
Đô thị hóa là một quá trình gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ
nông nghiệp sang các lĩnh vực khác. Ở thành phố Biên Hòa, quá trình đô thị hóa
gắn liền với sự phát triển, mở rộng của hoạt động ngoại thương.
Trong những năm đầu sau ngày giải phóng, giá trị xuất khẩu của thành phố
nhìn chung tăng nhưng chậm, năm 1984 đạt 64.075.000 đồng [62, tr.267].
Từ năm 1986 - 1995 hoạt động xuất nhập khẩu của Biên Hòa chủ yếu là ủy
thác, kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1995 có tăng so với năm 1985 nhưng giá trị
xuất khẩu ở mức thấp.
Từ sau năm 1995, thành phố chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế
với các nước trên thế giới. Việc Việt Nam gia nhập vào tổ chức ASEAN đã tạo
nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố mở rộng thị trường
xuất khẩu ra bên ngoài. Từ đó tăng nhanh khối lượng hàng hóa xuất khẩu truyền
thống (như gốm sứ, hàng nông sản) và phát triển thêm một số mặt hàng mới (như
giày dép, đồ gỗ, hàng may mặc).
Ngoài ra đã có sự tham gia xuất khẩu của khu vực công nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài với các sản phẩm: giày thể thao, dệt may, linh kiện điện tử, máy
tính,… Hiện nay, trong xu thế hội nhập và mở cửa quốc tế, thị trường xuất khẩu
hàng hóa của thành phố được mở rộng, sang cả các nước Châu Âu như Anh, Pháp,
Đức, Hà Lan,… và Châu Mĩ, vừa góp phần thúc đẩy nền kinh tế thành phố đi lên,
vừa là dịp để giới thiệu về đất nước, quê hương với bạn bè thế giới.
Năm 1995 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 473,7 triệu USD, đến năm
2000 đạt 2.021,3 triệu USD, tốc độ tăng bình quân là 33,67%, vượt mục tiêu
18,33%. Trong 5 năm từ 2000 – 2005, tốc độ phát triển hoạt động xuất nhập khẩu
giảm so với giai đoạn 1995 – 2000, đạt 19,06%/năm, tuy nhiên vẫn vượt mục tiêu
mà nghị quyết thành phố đề ra (11% - 12%). Nguyên nhân là do sự biến động, suy
thoái của nền kinh tế thế giới đã tác động đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và
thành phố Biên Hòa nói riêng [60, tr.149]. Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu trên
địa bàn thành phố đạt 2.411,6 triệu USD (tăng 10,6 lần năm 1995) và chiếm 77,5
% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh Đồng Nai. Điều đó cho thấy giá trị xuất khẩu
của thành phố có đóng góp rất lớn cho nền kinh tế của tỉnh. Bình quân mỗi năm
giai đoạn 1996 – 2005 xuất khẩu tăng 26,6%.
Cùng với xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu tiếp tục phát triển nhanh trong
thời gian qua. Năm 2005 kim ngạch nhập khẩu đạt 3.145,9 triệu USD (chiếm
81,3% kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn tỉnh) và tăng 15,2 lần so với năm 1995
đạt mức bình quân 31,3%/năm. Sự tăng trưởng, phát triển liên tục của hoạt động
xuất nhập khẩu chứng tỏ Biên Hòa là một thành phố có nền kinh tế năng động và
tăng trưởng nhanh.
2.3.3.3. Hoạt động dịch vụ
Sự phát triển của một thành phố trong quá trình tiến lên đô thị hóa, ngoài
việc căn cứ vào tỉ trọng đóng góp của các ngành kinh tế, vào tỉ lệ tăng dân số,…
thì hoạt động dịch vụ cũng phần nào phản ánh mức độ phát triển kinh tế và đời
sống người dân.
Trước đổi mới 1986, do thực hiện cơ chế bao cấp nên việc trao đổi, buôn
bán hàng hóa ở các chợ diễn ra bị hạn chế.
Sau đổi mới, các chợ mọc lên nhiều ở tận các phường, xã, nhất là từ năm
1995, khi nền kinh tế thành phố phát triển mạnh, lượng hàng hóa được bày bán
với số lượng nhiều, mặt hàng đa dạng, phong phú.
Theo khảo sát của UBND thành phố, năm 2005 thành phố có 46 chợ, riêng chợ loại I và II chiếm 47.663 m2. Tuy nhiên đa số các chợ được xây dựng từ lâu
nên cơ sở vật chất đều xuống cấp, công tác phòng cháy, chữa cháy và vệ sinh
kém, công tác quy hoạch ở một số nơi chưa hợp lý.
Vì vậy thành phố đang tiến hành sửa chữa, nâng cấp các chợ theo quy
hoạch giai đoạn 2000 – 2010 có 25 chợ, trong đó 2 chợ loại I, 6 chợ loại II và 17
chợ loại III, giải tỏa các chợ lấn chiếm lòng, lề đường ảnh hưởng đến trật tự giao
thông. Tiêu biểu giai đoạn từ năm 2000 – 2005, thành phố hoàn thành xây dựng
mới chợ đầu mối Hóa An và đang thi công xây dựng lại chợ Biên Hòa, chợ Sặt.
Để thu hút vốn đầu tư, thành phố triển khai thực hiện đa dạng hóa các thành phần
kinh tế tham gia đầu tư kinh doanh khai thác chợ theo Nghị định 02/CP. Kết quả
có 2 chợ đã được giao cho doanh nghiệp nhà nước kinh doanh khai thác.
Là một thành phố công nghiệp, văn minh, ngoài việc sắp xếp lại mạng lưới
chợ, từ năm 1998 đến nay trên địa bàn thành phố phát triển mô hình siêu thị. Sớm
nhất và có diện tích lớn nhất là siêu thị Cora (sau đổi tên là Big C) tại khu trung
tâm thương mại ngã tư Vũng Tàu, ngoài ra còn có siêu thị liên doanh giữa
Bihimex và Sài Gòn Co.op, khu thương xá tại phường Thanh Bình và khu liên
hợp TM – DV tại phường Tân Mai, góp phần làm cho hoạt động TM – DV trên
địa bàn thêm phong phú, đa dạng, tạo nên bộ mặt hiện đại cho thành phố. Đồng
thời thu hút nguồn lao động tại chỗ, tạo cơ hội giải quyết việc làm cho người dân.
Hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố mặc dù chưa phải là ngành kinh
tế quan trọng nhưng cũng có bước phát triển nhanh về các mặt trong những năm
qua.
Năm
Năm
Năm
Năm
1990
1995
2000
2005
Số khách sạn
5
5
5
12
- Số giường
238
245
259
575
- Số phòng
153
158
164
302
Số xe phục vụ khách
9
9
11
15
du lịch
Bảng 2.13. Cơ sở vật chất phục vụ ngành du lịch của TP. Biên Hòa
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Qua bảng số liệu, trong vòng 10 năm từ 1990 – 2000, số khách sạn, số
giường, số phòng và số xe phục vụ khách du lịch tăng không đáng kể; từ năm
2000 đến 2005, trong 5 năm số khách sạn tăng vọt, gấp hơn 2 lần, kéo theo là sự
tăng thêm về số giường, số phòng.
Trong giai đoạn 1991 – 2005, lượt khách du lịch tăng bình quân là 10,8%,
doanh thu tăng bình quân đạt 7,2%.
Theo khảo sát năm 2005, thành phố có một khách sạn 3 sao, 2 khách sạn 2
sao, 1 khách sạn 1 sao. Tuy nhiên những con số đó còn rất khiêm tốn, chưa thể
hiện được vị trí, vai trò quan trọng của thành phố Biên Hòa đối với toàn tỉnh và
các thành phố khác, chưa tương xứng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế
trong quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa.
Để thu hút khách du lịch và phục vụ nhu cầu giải trí của người dân, thành
phố Biên Hòa đã tiến hành đầu tư phát triển một số tuyến, điểm du lịch mới: Văn
miếu Trấn Biên, bến đò An Hảo, bến đò Nguyễn Văn Trị để khai thác tuyến du
lịch dọc sông Đồng Nai. Đồng thời tiến hành xây mới và nâng cấp các công viên
cây xanh, các khu vui chơi hiện hữu như khu du lịch Bửu Long, công viên quảng
trường tỉnh, công viên Biên Hùng và các công viên khác; tiến hành xây dựng các
dự án đầu tư khai thác các khu dịch vụ du lịch sinh thái: Cù lao Ba Xê, Cù lao Cỏ,
Cù lao Hiệp Hòa,… Hiện nay thành phố đã rà soát quy hoạch đất cho ngành TM –
DV để đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư bằng nhiều hình thức khác nhau.
Các dịch vụ như: vận tải, xây dựng, bưu điện, dịch vụ phục vụ các khu
công nghiệp tiếp tục phát triển. Nhiều thành phần kinh tế đã tham gia phát triển
với một số loại hình dịch vụ như tin học, tư vấn, xây dựng, giáo dục – đào tạo
(trong 5 năm 2000 – 2005 phát triển 4 trường dân lập), ngân hàng và tín dụng, vệ
sinh môi trường, đặc biệt loại dịch vụ xây nhà ở cho công nhân các KCN, nhà ở
cho thuê, nhà ở phục vụ tạm cư, phục vụ tái định cư, nhà ở cho hộ có thu nhập
thấp.
Riêng về dịch vụ cho thuê phòng trọ phát triển rất nhanh ở nơi có nhiều
KCN và chủ yếu là tự phát trong nhân dân. Nguyên nhân là do tốc độ đô thị hóa
nhanh và sự phát triển mạnh các KCN trên địa bàn thành phố đã thu hút một
lượng dân từ các vùng, tỉnh thành khác đến. Nếu như năm 2000 có khoảng 2000
hộ kinh doanh phòng trọ với gần 7000 phòng [60, tr.151] thì đến năm 2005 đã lên
đến 5000 hộ (tăng gấp 2,5 lần), chưa tính đến các nhà tập thể của các doanh
nghiệp xây dựng cho thuê hoặc nhà ở tập thể của công ty, xí nghiệp.
Tuy nhiên căn cứ theo quy định ban hành kèm theo Quyết định 4231 của
UBND tỉnh thì đa số các điểm kinh doanh cho thuê phòng trọ đều không đảm bảo
đủ điều kiện nên không được tỉnh cấp giấy phép kinh doanh. Đây là bài toán khó
cho thành phố mà quá trình đô thị hóa đem lại, có ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng cuộc sống của một bộ phận dân cư và các vấn đề xã hội khác.
Tóm lại, trong giai đoạn từ 1986 – 2005, ngành TM – DV của thành phố
liên tục phát triển, mạnh nhất là từ 1995 đến nay. Do thực hiện chính sách mở cửa
thông thoáng, tháo gỡ chế độ bao cấp nên hoạt động trao đổi, buôn bán hàng hóa
trong và ngoài nước diễn ra mạnh mẽ, lượng hàng hóa trên thị trường dồi dào và
đa dạng, phong phú; tình hình xuất nhập khẩu tăng mạnh kéo theo hoạt động dịch
vụ cũng tăng.
Sự phát triển của TM – DV đã thu hút một bộ phận dân cư từ sản xuất nông
nghiệp và di dân từ các vùng ra thành thị, góp phần giải tỏa áp lực công ăn việc
làm và lao động thất nghiệp, các khu dân cư – thương mại - vui chơi giải trí mọc
lên nhiều làm cho bộ mặt thành phố thay đổi. Đó là sự chuyển đổi đúng hướng
trong quá trình phát triển đô thị của thành phố, giảm dần vai trò của sản xuất nông
nghiệp và tăng dần tỉ trọng đóng góp của CN - TTCN, DV - TM.
Bên cạnh đó thành phố Biên Hòa cũng có những hạn chế nhất định trong
thời gian qua như hoạt động dịch vụ còn yếu kém so với tiềm năng, chưa quản lý
được hiện tượng cho thuê phòng trọ,…
Vì vậy, nhiệm vụ hiện nay của ngành TM – DV là tiếp tục nâng tỷ trọng
trong cơ cấu GTSX các ngành kinh tế. Ưu tiên phát triển những ngành dịch vụ có
tính chất mũi nhọn, đột phá như dịch vụ nhà ở cho các đối tượng tái định cư, công
nhân, sinh viên, chuyên gia nước ngoài làm việc trong các KCN; phát tiển mạng
lưới chợ, siêu thị, trung tâm thương mại – dịch vụ; phát triển hệ thống giao thông
* Tiểu kết chương 2
phục vụ công nhân và dân cư; phát triển dịch vụ y tế kỹ thuật cao.
Đô thị hóa là một quá trình, trong 20 năm qua đã tác động sâu sắc đến sự
phát triển của thành phố, làm thay đổi nhanh chóng cảnh quan và môi trường. Nhà
cửa khang trang mọc san sát, phố liền phố thay thế dần các vườn cây nông nghiệp
hoặc những vùng đất bỏ hoang. Hệ thống cơ sở hạ tầng - kỹ thuật: điện, nước,
giao thông ngày càng được mở rộng, phổ biến, hiện đại. Cơ cấu kinh tế chuyển
dịch theo hướng giảm tỉ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất CN -
TTCN, TM - DV.
Trong lĩnh vực công nghiệp, ưu tiên phát triển công nghiệp nhẹ và công
nghiệp truyền thống, đẩy mạnh xuất khẩu, thực hiện tốt các chính sách mở cửa thu
hút vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN. Trong nông nghiệp, nét nổi bật là đang
hình thành các vùng trồng rau sạch, an toàn và các trang trại chăn nuôi tập trung.
Hoạt động thương mại diễn ra sôi động, việc mua bán trao đổi hàng hóa không
ngừng phát triển thông qua hệ thống các chợ, siêu thị.
Tuy nhiên đô thị hóa đã và đang đặt ra nhiều vấn đề, tạo ra áp lực đối với
công tác quản lý. Để phát triển lâu dài, thành phố cần tăng cường áp dụng các
thành tựu khoa học - công nghệ vào trong sản xuất để nâng cao chất lượng sản
phẩm, tạo khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Đồng thời để đẩy mạnh hoạt
động du lịch, quảng bá hình ảnh về một Biên Hòa có truyền thống lịch sử, có nền
kinh tế công nghiệp phát triển năng động, cần chú ý kết hợp giữa du lịch sinh thái
trên sông Đồng Nai với các điểm du lịch văn hóa (Bửu Long, Trấn Biên) và tham
quan các KCN.
Chương 3
CHUYỂN BIẾN VỀ DÂN CƯ VÀ ĐỜI SỐNG
DÂN CƯ Ở THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TRONG
QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA (1986 – 2005)
3.1. Sự phát triển dân số và lao động
3.1.1. Sự phát triển dân số
Theo từ điển tiếng Việt, đô thị hóa là “quá trình tập trung dân cư ngày càng
đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của
xã hội”. Như vậy, “dân số đô thị là động lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội của đô thị, là cơ sở để phân loại đô thị trong quản lý và xác định quy
mô đất đai của đô thị, để xác định khối lượng nhà ở, công trình công cộng cũng như
mạng lưới công trình kỹ thuật khác” [66, tr.93]. Với vai trò quan trọng nêu trên, sự
phát triển dân số chính là một cơ sở để dựng lại bức tranh đô thị hóa ở thành phố
Biên Hòa.
Sau ngày đất nước giải phóng, thành phố Biên Hòa đứng trước nhiều khó
khăn. Để giải tỏa bớt áp lực, nhất là về dân số, thành phố đã tạo điều kiện cho 10
vạn người trở về quê cũ và đi lập nghiệp vùng kinh tế mới. Ngoài ra thành phố còn
tổ chức đưa hơn 300 thanh niên xung phong về các nông trường của tỉnh khai hoang
mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp. Vì vậy dân số thành phố giai đoạn 1975 –
1980 tăng không đáng kể.
Tuy nhiên trong 5 năm sau đó từ 1980 – 1985, do sự trì trệ của nền kinh tế kế
hoạch tập trung, bao cấp trên cả nước lên đến đỉnh điểm khiến cho đời sống của
người dân lâm vào tình trạng khó khăn và bị đe dọa, một lượng di dân từ những
vùng nông thôn và các tỉnh khác đã đổ về đây với hi vọng có được một cuộc sống
“dễ thở” hơn. Quy mô dân số lại tăng, từ 242.762 người năm 1980 đến 290.841
người năm 1986. Trong khi đó, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố từ năm
1980 trở đi luôn giảm đều do cuộc sống khó khăn và kết quả của chính sách vận
động sinh đẻ có kế hoạch (từ 2,34% năm 1980 đến năm 1985 giảm xuống 2,11%).
Từ năm 1986, Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần VI quyết định công
cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, trong đó nhiệm vụ ưu tiên là phải xóa bỏ cơ chế
quản lí kinh tế bao cấp, quan liêu để tiến lên nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Nắm bắt chủ trương của Đảng, Đảng bộ thành phố nhanh chóng xác định mục tiêu
phát triển của Biên Hòa là phải ưu tiên phát triển công nghiệp; mở rộng sản xuất.
Đây chính là động lực đẩy nhanh quá trình đô thị hóa diễn ra.
1985
1990
1995
2000
2005
- Dân số (người)
290.841
363.843
423.824
484.667
505.595
- Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên
2,11
1,95
1,72
1,26
1,13
(%)
- Tỉ lệ tăng dân số cơ học (%)
0,35
1,04
2,35
3,96
0,67
Bảng 3.1. Tình hình dân số TP. Biên Hòa qua các năm 1985 - 2005
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
[77, tr.375], [61 tr.164]
Nhìn vào bảng số liệu, từ năm 1985 cho đến năm 2000 số dân của thành phố
Biên Hòa tăng mạnh. Trong 5 năm từ năm 2000 – 2005 tốc độ tăng chậm lại (tăng
20.935 người trong khi các giai đoạn 5 năm trước tăng ít nhất khoảng 60.000
người).
Năm 1985, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên cao 2,11%. Tuy nhiên sau năm 1986, tỉ
lệ tăng dân số tự nhiên luôn giảm, đặc biệt giảm mạnh trong 5 năm từ 1995 – 2000
(từ 1,72% xuống 1,26%). Việc giảm tỉ lệ tăng dân số tự nhiên còn phản ánh sự
chuyển biến trong đời sống tinh thần của cư dân đô thị, vì từ lâu người Việt Nam
vẫn có quan niệm “trời sinh voi sinh cỏ”.
Trong khi đó tỉ lệ tăng dân số cơ học lại phát triển đều. Điều đó chứng tỏ sự
phình ra của quy mô dân số thành phố chủ yếu do sự nhập cư của lượng di dân từ
nhiều nơi khác nhau. Năm 1995 Đảng bộ thành phố chủ trương mở rộng quan hệ
hợp tác kinh tế với các nước, các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đã mở rộng
thị trường xuất khẩu đến hơn 20 nước trên thế giới, đồng thời khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài cũng được tham gia vào thị trường xuất khẩu nên nhu cầu tuyển dụng
lao động cao, vì vậy sự tăng lên mạnh mẽ của lượng dân nhập cư là điều dễ hiểu.
Riêng từ năm 2000 - 2005, tỉ lệ tăng dân số cơ học giảm so với các giai đoạn
trước đó (còn 0,67% năm 2005). Nguyên nhân là do sự cạnh tranh của nhiều KCN
mới ngoài địa bàn thành phố Biên Hòa như Gò Dầu, Nhơn Trạch, Bình Dương,…
và chủ trương phát triển kinh tế CN - TTCN của các địa phương đã lôi kéo bộ phận
dân cư ở lại quê hương.
Sự phân bố dân cư không đều, tập trung ở các phường nội thành cũ như
Trung Dũng, Thanh Bình, Quyết Thắng, Hòa Bình, Quang Vinh, mật độ trung bình hơn 10.000 người/1km2. Đối với các phường mới phát triển mở rộng và các xã ngoại ô, sự phân bố dân cư thưa dần với mật độ trung bình khoảng 2000 người/km2, thấp nhất là phường Long Bình chỉ có 867người/km2 (tuy nhiên nếu trừ đi phần diện tích 1.666.58 ha đất quốc phòng thì mật độ trung bình là 1665 người/km2).
Theo dõi bảng 3.2 để thấy rõ hơn:
Bảng 3.2. Hiện trạng dân số và diện tích các phường, xã ở TP. Biên Hòa
Tên phường xã
Diện tích Số khẩu
Mật độ
Phân loại
(người/km2)
(ha)
(người)
P.Trung Dũng
82,67
17.715
21.429
Loại 1: trên 16000 người/km2
P.Thanh Bình
36,25
6.471
17.851
P.Hòa Bình
55,06
8.994
16.335
P.Tam Hòa
121,77
17.391
14.288
P.Tân Mai
135,22
17.678
13.045
P.Tam Hiệp
220,12
26.378
11.983
Loại 2: từ 11000 - 15000 người/km2
P.Quang Vinh
110,96
12.991
11.708
P.Quyết Thắng
137,17
15.674
11.427
P.Bình Đa
124,04
13.957
11.252
theo tổng điều tra 1999
P.Tân Tiến
131,41
12.920
9.832
P.Tân Hòa
410,28
28.803
7.020
P.Hố Nai
389,13
24.492
6.294
Loại 3: từ 6000 - 10000 người/km2
P.Thống Nhất
341,32
19.804
5.082
P.Tân Biên
614,44
28.567
4.469
P.Tân Hiệp
343,23
12.160
3.834
P.Bửu Hòa
408,10
15.290
3.747
P.Tân Vạn
443,66
12.718
2.867
Loại 4: từ 2000 - 5000 người/km2
P.An Bình
1040,47
29.646
2.849
P.Bửu Long
575,42
14.615
2.540
X.Hóa An
682,40
14.317
2.098
P.Long Bình Tân
1143,87
20.416
1.785
P.Tân Phong
1686,18
26.432
1.568
X.Hiệp Hòa
694,65
9.948
1.432
Loại 5: dưới 2000 người/km2
X.Tân Hạnh
609,42
6.970
1.144
P.Trảng Dài
1429,17
15.420
1.079
P.Long Bình
3500,12
30.338
867
THÀNH THỊ
429.870
3.188
Kể cả
lực
lượng
công an, bộ đội,
NÔNG THÔN
31.235
1.572
tổng số là 467.318
TỔNG
15466,77
461.105
2.981
người
Nguồn: [38, tr.107]
Những phường được xếp vào loại 1 và loại 2 là những phường có quá trình
đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ và sớm, tập trung các cơ quan hành chính của thành phố
và tỉnh, hoạt động thương mại và dịch vụ phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại,
nên mật độ dân cư cao.
Những phường, xã xếp ở nhóm thứ 4 và thứ 5 có diện tích rộng hơn, nhưng
phát triển muộn nên mật độ dân cư thấp hơn. Tuy nhiên những phường này hiện nay
có tốc độ đô thị hóa cao, hầu hết lượng dân nhập cư từ các tỉnh khác đến thành phố
đều chọn Long Bình, Trảng Dài hay Long Bình Tân làm nơi định cư do chi phí sinh
hoạt thấp, lại gần những KCN mới như Amata, Loteco, Biên Hòa 2.
Sự phát triển của một đô thị nếu chỉ dựa trên sự phát triển dân số thì không
đủ mà phải được căn cứ trên tỉ lệ số dân phân theo khu vực thành thị và khu vực
nông thôn. Một thành phố có quá trình đô thị hóa phát triển thì dân số cũng sẽ
chuyển dịch từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị, gắn liền với các hoạt
Bảng 3.3. Số dân thành thị và nông thôn ở TP. Biên Hòa qua các năm 1980 - 2005
1980
1985
1990
1995
2000
2005
- Khu vực thành
56.442
70.820
317.414
396.840
453.377
505.595
thị (Người)
- Tỉ lệ (%)
23,25
24,35
87,24
93,63
93,54
93,37
- Khu vực nông
186.320
220.021
46.429
26.984
31.290
35.900
thôn (Người)
- Tỉ lệ (%)
76,75
75,65
12,76
6,37
6,46
6,63
động sản xuất phi nông nghiệp. Ở Biên Hòa, tỉ lệ ấy được thể hiện như sau:
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Trước năm 1986, số dân của thành phố Biên Hòa ở khu vực thành thị không
nhiều, chiếm tỉ lệ dưới 25% và tăng chậm.
Trong 5 năm từ 1986 – 1990 dân số khu vực thành thị tăng đột biến, dân số
khu vực nông thôn giảm mạnh do chủ trương đổi mới của Đảng bộ xác định lấy CN
– TTCN, TM – DV làm nhiệm vụ ưu tiên phát triển hàng đầu. Ngoài ra, sau một
thời gian từ năm 1975 – 1985 mặc dù thành phố luôn nỗ lực đảm bảo lương thực –
thực phẩm cho người dân nhưng kết quả không khả quan khiến cho tâm lí của một
bộ phận dân cư chán nản; đúng lúc nhà nước tiến hành cải cách nên họ được “bung”
ra để sản xuất, tham gia vào các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp.
Trong 5 năm tiếp theo, dân số thành thị tiếp tục tăng do năm 1995 thành phố
có sự thay đổi trong quản lý hành chính, tăng đơn vị phường, giảm đơn vị xã.
Từ năm 1995 – 2005, số dân giữa khu vực nông thôn và thành thị có sự do
động nhẹ. Tuy nhiên nếu so sánh các tỉ lệ này với tỉ lệ chung của một đô thị là có
trên 65% dân số không tham gia vào ngành kinh tế nông nghiệp thì Biên Hòa là một
thành phố có quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ (năm 1999, số dân thành thị của
tỉnh Đồng Nai là 30,5%, cả nước là 23,5%).
Như vậy ở Biên Hòa, song song với sự phát triển về quy mô dân số, quá trình
chuyển dịch dân cư từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị diễn ra mạnh mẽ.
Điều đó nói lên quá trình đô thị hóa của thành phố ngày càng đi vào chiều sâu.
3.1.2. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động
Như đã trình bày ở trên, số dân của thành phố liên tục tăng từ năm 1986 trở
lại đây, trong đó chủ yếu là do lượng dân nhập cư từ các huyện trong tỉnh, các tỉnh
thành khác đến. Họ tham gia vào hoạt động của các xí nghiệp, nhà máy trong các
KCN tập trung. Trên cơ sở ấy có thể khẳng định rằng ở Biên Hòa lực lượng lao
động dồi dào. Chỉ trong 5 năm từ 1990 đến năm 1995, nguồn lao động tăng khoảng
79.000 người trong các ngành kinh tế quốc dân (tăng 71,8% trong 5 năm, trung bình
14,4%/năm). Từ năm 1995 đến năm 2000 tăng 41.2000 lao động, bình quân
4,4%/năm.
Mặc dù số lượng người lao động tăng cao qua các năm nhưng thành phố có
rất nhiều nỗ lực trong công tác giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần
giảm tỉ lệ thất nghiệp và ổn định cuộc sống người dân.
Bảng 3.4. Giải quyết việc làm cho người lao động ở TP. Biên Hòa
Thời kì 1991 - 1995
Thời kì 1996 - 2000
Thời kì 2001 - 2005
Chỉ tiêu
46.339
82.736
85.338
3.229
17.275
4.65
19.603
21.028
14.155
Tổng số Lao động vào làm việc ở doanh nghiệp nhà nước Lao động vào làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh Lao động làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
14.428
30.126
24.418
Giải quyết việc làm tại chỗ
9.079
14.067
41.772
Xuất khẩu lao động
-
343
240 Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
ĐVT: Người
Trong các thời kì, tổng số lao động được giải quyết việc làm luôn tăng. Đặc
biệt thời kì 1996 – 2000, do sự bung ra, mở cửa của nền kinh tế, thành phố Biên
Hòa tiến hành quy hoạch, phát triển nhiều KCN nên số người có việc làm tăng
nhanh và cao, gần gấp đôi 5 năm thời kì 1991 – 1995. Điều đó chứng tỏ Biên Hòa
luôn là thành phố có sức hút mạnh đối với người lao động, đồng thời góp phần đẩy
nhanh quá trình hiện đại hóa, ổn định và nâng cao đời sống người dân.
Lao động chủ yếu được đưa vào làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và giải quyết việc làm tại chỗ theo
các chương trình, mục tiêu quốc gia. Tỉ lệ xuất khẩu lao động ra nước ngoài thấp.
Trước năm 1995 thành phố không có số liệu thống kê. Sau năm 1995 đã đưa được
lao động ra nước ngoài làm việc nhưng ít.
Về năng suất và trình độ lao động, qua số liệu điều tra toàn diện về “Lực
lượng chuyên môn kĩ thuật năm 1995” do Cục Thống kê và Sở khoa học công nghệ
và môi trường Đồng Nai phối hợp tổ chức, kết quả thành phố Biên Hòa là nơi tập
trung chủ yếu về lực lượng chuyên môn và kĩ thuật của tỉnh, chiếm tỉ lệ chung là
51,10%/năm, trong đó nhiều nhất là lao động có trình độ tiến sĩ (chiếm 91% của
tỉnh), kế đến là lao động có trình độ cao học – thạc sĩ (79%).
Trình độ chuyên môn
Số lượng
Cơ cấu (%)
So với toàn
(người)
tỉnh
61%
46
8.889
- Sơ cấp – công nhân kĩ
39%
27
5.195
thuật
39%
6
1.217
- Trung học chuyên nghiệp
62%
20.5
3.849
- Cao đẳng
79%
0,4
43
- Đại học
91%
0,1
11
- Cao học – thạc sĩ
- Tiến sĩ
19.202
100%
51,10%
Tổng cộng
Bảng 3.5. Trình độ của lực lượng lao động ở TP. Biên Hòa
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Qua bảng số liệu, lao động có trình độ kĩ thuật sơ cấp chiếm tỉ lệ cao nhất
(46%), chiếm tỉ lệ thấp nhất là lao động có trình độ tiến sĩ (0,4%). Tuy nhiên đặt
trong bối cảnh quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ thì trình độ lực
lượng lao động theo cơ cấu chưa thật sự thích hợp, lực lượng công nhân có tay nghề
kĩ thuật còn thấp, không tương xứng với vai trò của một đô thị công nghiệp trong cả
nước. Nếu xuất phát từ thực tiễn hoạt động của hàng trăm ngàn công nhân đang làm
việc trong các khu công nghiệp, đặc biệt các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có
thể thấy rằng khả năng thích ứng của công nhân với các nghề nghiệp đòi hỏi trình
độ là rất cao.
Điều đó đặt ra bài toán cho thành phố trong quản lí lao động, phải gắn giải
quyết vấn đề việc làm với nâng cao trình độ nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, lao động
có trình độ cao đẳng, đại học, cao học, tiến sĩ còn thấp so với khả năng của thành
phố. Việc Việt Nam gia nhập vào thị trường kinh tế thế giới là một cơ hội, đồng
thời là thách thức lớn của thành phố Biên Hòa trong quá trình phát triển; do vậy yêu
cầu về lao động có trình độ cao sẽ trở nên gay gắt.
Quá trình đô thị hóa đã tác động đến diễn biến cơ cấu lao động trong các khu
vực kinh tế thay đổi theo hướng lao động trong khu vực CN – TTCN, TM – DV
tăng, khu vực NLTS giảm:
Bảng 3.6. Phân bố lao động trong các ngành kinh tế ở TP. Biên Hòa
a. Số lao động. ĐVT: ngàn người
Lĩnh vực
Năm 1990
Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005
CN - TTCN
a. 54
a. 43,9
a. 95,3
a. 164,8
b.49,1%
b. 23,25%
b. 41,1%
b. 56%
a. 126,9
a. 117,9
a. 119,7
TM - DV
a. 41
b. 37,3%
b. 67,1%
b. 51,2%
b. 40,6%
NLTS
a. 15
a. 18,1
a. 17
a. 10,3
b. 13,6%
b. 9,6%
b. 7,4%
b. 3,4%
b. Tỉ trọng lao động. ĐVT: %
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
[69, tr.36]
Trước năm 1986, nguồn lao động của thành phố có khoảng 10.000 người,
trong đó 20% tham gia vào sản xuất nông nghiệp [62, tr 258].
Đến năm 1990, tổng số lao động tăng nhẹ nhưng tỉ lệ lao động trong các
ngành kinh tế có sự chuyển dịch mạnh. Lao động làm việc trong lĩnh vực CN –
TTCN, TM - DV cao, chiếm 86,4%.
Năm 1995 mặc dù có sự thay đổi đột ngột giữa tỉ lệ lao động làm việc trong
lĩnh vực CN – TTCN và TM - DV so với năm 1990, nhưng nếu xét tổng chung vẫn
cao so với 9,6% lao động đang làm việc trong ngành NLTS.
Đem so sánh số liệu này với tiêu chuẩn chung của một đô thị loại II có số lao
động phi nông nghiệp trên tổng số lao động là trên 80% có thể thấy rõ tình hình
hoạt động kinh tế và sự phát triển của thành phố.
Đến năm 2005, lao động trong khối NLTS giảm, chỉ còn 10,3 ngàn người,
chiếm 3,4%. Nguyên nhân là do một số lao động nông nghiệp chuyển sang hoạt
động một số ngành khác thuộc khu vực dịch vụ và công nghiệp. Sự phân bố lao
động như vậy phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế cả nước đang trong
giai đoạn chuyển dịch công nghiệp hóa và sự phát triển của các KCN trên địa bàn
thành phố, phù hợp với xu hướng chuyển dịch chung trong cơ cấu lao động của các
đô thị và định hướng phát triển dài hạn của thành phố Biên Hòa.
Ngoài ra trên địa bàn thành phố còn có đội ngũ cán bộ quản lí. Lực lượng lao
động này chủ yếu làm việc trong các cơ quan trung ương, tỉnh và thành phố, giữ vai
trò điều hành nền kinh tế xã hội thành phố, quy định sự phát triển của thành phố.
Như vậy trong hai mươi năm qua, quá trình đô thị hóa ở Biên Hòa diễn ra
cùng với sự tăng lên không ngừng về quy mô dân số và chuyển dịch cơ cấu lao
động, trình độ tay nghề của người lao động từng bước được nâng cao thông qua
hoạt động của các trường nghề, cao đẳng, trung cấp,… Vấn đề giải quyết việc làm
cho người lao động cũng được thực hiện tương đối tốt hàng năm.
3.2. Sự chuyển biến trong đời sống vật chất
Qua hai mươi năm đổi mới, đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn Biên Hòa
có những biến đổi sâu sắc. Sự biến đổi được thể hiện ở diện mạo chung, tác động
đến từng cá nhân, gia đình. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, thu nhập
bình quân đầu người tăng, các tiện nghi sinh hoạt gia đình dần được bổ sung, đời
sống văn hóa – tinh thần được cải thiện và nâng cao.
3.2.1. Nhà ở và mức sống
3.2.1.1. Nhà ở
Đây là một tiêu chí để đánh giá chất lượng cuộc sống, đặc biệt là đối với dân
cư sống trong một đô thị lớn như Biên Hòa. Nhà ở được chia làm 3 loại: nhà kiên
cố, nhà bán kiên cố và nhà tạm.
Trước đổi mới, do mục tiêu được xác định hàng đầu là ổn định đời sống kinh
tế nên thành phố ưu tiên việc cải tạo các hộ tư sản kinh doanh nhà – đất, xóa bỏ tình
trạng chiếm dụng nhà bất hợp lí, thực hiện chế độ nhà nước quản lí, phân phối, bố
trí lại nhà ở. Số nhà được xây mới còn ít, chủ yếu là do nhân dân tự xây với chất
lượng thấp. Năm 1986, số nhà tạm ở thành phố Biên Hòa cao, chiếm 40% [58,
tr.15].
Vì vậy trong thời kì đổi mới, bên cạnh phát triển kinh tế, thành phố rất quan
tâm đến vấn đề nhà ở cho cán bộ và nhân dân. Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố
lần thứ V năm 1988 đã nêu rõ: “Động viên tối đa sức tự lo của quần chúng. Nhà
nước huy động thêm nhiều loại nguồn vốn để xây dựng nhà ở; bán lại hoặc cho thuê
những người chưa có nhà ở dưới nhiều hình thức” [58, tr.42].
Đến năm 1995, tỉ lệ nhà tạm giảm nhanh còn 19,75%, số nhà kiên cố nhiều
chiếm 71,25%, nhà bán kiên cố không lớn, chỉ có 9%.
Sau năm 1995, nhiệm vụ mà Đảng bộ thành phố đề ra trong Đại hội Đại biểu
làn thứ VII là tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ để tạo một bộ mặt kiến trúc
mới của đô thị loại II. Các ngôi nhà lụp xụp, một tầng được thay thế bằng nhà cao
tầng hiện đại, kiến trúc đẹp. Nhiều khu dân cư được xây dựng.
Vì vậy đến năm 2005, số nhà kiên cố được xây thêm không nhiều lắm
(chiếm tỉ lệ 77,65%), tỉ lệ nhà bán kiên cố tăng nhanh (chiếm 22%) thay thế những
ngôi nhà tạm (chỉ còn 0,35%). Điều đó cho thấy cuộc sống vật chất của người dân
đã được nâng lên đáng kể, đồng thời phản ánh tâm lí “an cư lạc nghiệp” của một bộ
phận dân nhập cư đến thành phố [54].
Tuy nhiên những số liệu này chưa phản ánh hết diễn biến thực tế việc xây
dựng nhà ở thành phố Biên Hòa hiện nay. Hiện tượng xây nhà không giấy phép phổ
biến, nhất là ở phường Trảng Dài và Long Bình Tân, con số lên đến cả ngàn trường
hợp. Theo số liệu thống kê của UBND phường, Trảng Dài có diện tích khoảng
1.400ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm khoảng 50% và có tới 80% diện tích đất
nông nghiệp vẫn chưa có sổ đỏ. Nơi đây công tác quy hoạch chi tiết cho các khu
phố còn thiếu nên rất nhiều người nhập cư, công nhân lao động đổ xô vào đây mua
đất. Dân số của phường tăng lên rất nhanh, trong đó đa số người tạm trú chiếm phần
lớn, nhu cầu về nhà ở phát sinh quá mạnh khiến cho công tác quản lí gặp nhiều khó
khăn.
Còn tại phường Long Bình Tân, tình trạng nhà xây trái phép trên đất đã công
bố quy hoạch cũng diễn ra phổ biến. Không chỉ làm nhà, nhiều hộ dân còn xây dựng
thêm các công trình phụ để mở rộng diện tích. Đứng dưới góc độ quản lí, hiện
tượng nêu trên là vi phạm pháp luật cần được chấn chỉnh; nhưng dưới góc độ phát
triển xã hội, phản ánh nhu cầu về nhà ở rất cao của người dân.
Bên cạnh những ngôi nhà do tư nhân xây dựng, nhiều khu dân cư và chung
cư được xây dựng, nhất là trong giai đoạn 2000 – 2005, như khu dân cư phường
Bửu Long, Bửu Hòa, Bình Đa, Trảng Dài, Thống Nhất và các chung cư có quy mô,
đẹp ở phường An Bình, khu nhà liên kế ở xã Hóa An, chung cư Nguyễn Văn Trỗi
do công ty kinh doanh nhà Đồng Nai làm chủ đầu tư…
Nhà chung cư là một lựa chọn đang được nhiều người yêu thích vì dân số
ngày càng đông trong khi quỹ đất ngày càng khan hiếm. So với những ngôi nhà tư,
những căn hộ trong chung cư luôn được chú ý đến tính tiện tích cho cuộc sống hiện
đại. Vì vậy trong tương lai, giải pháp nhà chung cư sẽ còn được phát triển hơn nữa
bởi tác động của quá trình đô thị hóa đem lại.
Tuy nhiên, nhà chung cư hiện nay chỉ phù hợp với những người có thu nhập
ổn định và tương đối, lao động phổ thông còn rất hạn chế trong khả năng sở hữu
một căn hộ chung cư, nhất là những đối tượng di dân. Họ vẫn sống chủ yếu trong
các khu phòng trọ có chất lượng không tốt hoặc tự xây nhà không có giấy phép.
Vì vậy, biện pháp trước mắt mà thành phố Biên Hòa thực hiện là tăng cường
kiểm soát tình trạng xây dựng nhà ở, giải quyết những ngôi nhà tạm, nhà lụp xụp,
nhà lấn chiếm sông suối theo quy hoạch. Về lâu dài, thành phố nâng sự quản lí ở
tầm vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có nơi ăn chỗ ở ổn định bằng
nhiều chính sách xã hội, giải quyết tình trạng. Qua đó góp phần hình thành sự hiện
đại của một đô thị văn minh.
3.2.1.2. Mức sống
Sản xuất phát triển đạt được những thành tựu to lớn, các chủ trương chính
sách về nâng cao mức sống dân cư của Đảng, nhà nước cũng như của thành phố là
tiền đề quan trọng, tạo thuận lợi trong việc thực hiện các hoạt động xã hội nhằm
không ngừng nâng cao đời sống vật chất cho người.
Mức thu nhập bình quân đầu người/tháng trong 10 năm từ 1995 đến 2005
tăng bình quân 8,93%/năm [69, tr.49]. Trong bước phát triển chung đó sự phân tầng
mức sống trong dân cư là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên dù chênh lệch, đa số
các hộ vẫn mua sắm được các thiết bị phục vụ nhu cầu đi lại, giải trí như ti vi, xe
máy, điện thoại,... Mặt khác, việc phát triển cơ sở hạ tầng càng tiếp thêm điều kiện
cho người dân có thuận lợi trong việc trang bị và sử dụng các phương tiện đó. Đến
năm 2005 tỉ lệ hộ dùng điện đạt 100%. So với năm 1995, số máy điện thoại trên
100 dân tăng nhanh từ 1,95% lên 66,70%. Tỉ lệ hộ có ti vi, xe máy rất cao (gần
95%).
Năm 1995
Năm 2000
Năm 2005
Bảng 3.7. Một số chỉ tiêu về đời sống dân cư ở TP. Biên Hòa
100 97 66,70 94,50 94,90 75,20
99 82,50 7,90 83,25 69,38 70,00
89,19 67,20 1,95 68,08 55,14 50,20
- Tỉ lệ dùng điện (%) - Tỉ lệ hộ dùng nước sạch - Số máy điện thoại/100 dân (máy) - Tỉ lệ hộ có ti vi (%) - Tỉ lệ hộ có xe máy (%) - Tỉ lệ hộ có radio (%)
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Không những sử dụng phần tích lũy để mua sắm trang thiết bị sinh hoạt,
người dân còn dùng phần thu nhập để sửa chữa, xây dựng, nâng cấp nhà ở. Số hộ có
nhà kiên cố, bán kiên cố ngày càng tăng trong khi số nhà tạm giảm mạnh. Phần chi
cho giáo dục, y tế chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí được cải thiện.
3.2.2. Giáo dục – y tế
3.2.2.1. Giáo dục
Giáo dục có một vai trò quan trọng đối với quá trình đô thị hóa của Biên
Hòa, là nhân tố chủ quan chi phối sự phát triển. Những năm trước đổi mới, nhiệm
vụ của giáo dục là thanh toán nạn mù chữ. Trung bình cứ 3 người dân trong thành
phố có 1 người đi học. Mặc dù thành phố đầu tư 11 triệu đồng để xây dựng cơ sở
vật chất nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về cơ sở vật chất. Chất lượng giáo
dục thấp, chất lượng đạo đức và chính trị của học sinh còn đáng lo ngại hơn.
Từ năm 1986 đến nay, hệ thống giáo dục phổ thông phát triển nhanh và được
sắp xếp lại một bước theo hướng đa dạng hóa giáo dục và nâng cao chất lượng đào
tạo. Số học sinh, giáo viên, trường học, lớp học đều tăng qua các năm.
Bảng 3.8. Tình hình giáo dục của TP. Biên Hòa qua các năm 1985 – 2005
a. Số lớp học phân theo cấp lớp
Năm 1985
Năm 1995
Năm 2005
a
b
a
b
a
b
1979
2559
3082
4728
Tổng số
1710
2167
227
318
183
378
598
952
Mẫu giáo, mầm non
872
850
1095
1079
1237
1656
Cấp 1
465
776
504
811
747
1467
Cấp 2
b. Số giáo viên phân theo cấp lớp
Cấp 3
223
197
291
653
146 500 Nguồn: [Phòng Thống kê TP.Biên Hòa (54)]
Qua 20 năm, số giáo viên và lớp học các cấp đều tăng, nhất là năm 2005, số
giáo viên tăng gấp 2 lần so với năm 1985. Trong vòng 10 năm từ 1995 trở lại đây,
số giáo viên và lớp học tăng nhiều hơn so với 10 năm trước đó.
Nguyên nhân là do kinh tế phát triển, đời sống của người dân được nâng cao,
vì vậy sự đầu tư cho giáo dục của thành phố và của chính bản thân mỗi người ngày
càng cao.
Trong quá trình phát triển, thành phố đã huy động tốt nguồn lực xã hội chăm
lo cho sự nghiệp giáo dục. Bằng nguồn vốn ngân sách xã hội hóa giáo dục, đến năm
2005-2006 Biên Hòa cơ bản hoàn thành trương chình kiên cố hóa trường lớp giai
đoạn 1. Hầu hết các chỉ tiêu giáo dục đều đạt, thực hiện tốt mục tiêu nâng cao dân
trí, 100% phường xã đạt chuẩn quốc gia về công tác xóa mù chữ - phổ cập giáo dục
đúng độ tuổi và phổ cập bậc trung học cơ sở, đạt chuẩn phổ cập bậc trung học theo
tiêu chuẩn tạm thời của tỉnh. Tất cả các phường xã đều có trung tâm giáo dục cộng
đồng. Hàng năm việc huy động học sinh ra lớp ở các bậc học đều đạt 100%, tỉ lệ
học sinh bỏ học và lưu dưới 1%.
- Ngành học mầm non: đến năm 2005 phát triển đều khắp ở các phường với
43 trường, trong đó có 27 trường công lập, 16 trường dân lập với 15.370 cháu theo
học, bình quân mỗi năm tăng 10,89% số cháu được đi học, đạt chỉ tiêu kế hoạch về
huy động các cháu vào học. Có 1 trường đạt chuẩn quốc gia. Đặc biệt trong vài năm
gần đây đã triển khai thực hiện đầy đủ các chuyên đề quy định của Bộ Giáo dục –
Đào tạo; chăm sóc, nuôi dạy cháu tốt, không để xảy ra tình trạng ngộ độc thực
phẩm. Trẻ em được xếp kênh A đạt 97,12%, kênh B đạt 2,28%, không còn kênh C
kể từ năm học 1999 -2000 [61, tr.80].
Kết quả này cũng dễ hiểu trong hoàn cảnh đô thị hóa, công nghiệp hóa, các
bậc phụ huynh không có thời gian ở nhà thường xuyên để chăm sóc con cái. Trong
khi đó do phổ biến lối sống gia đình nhỏ nên sự giúp đỡ từ phía ông bà không đáng
kể. Vì vậy giải pháp nhà trẻ, mầm non được lựa chọn nhiều. Trẻ em ngoài việc được
chăm sóc còn được các cô giáo dạy dỗ những nhận biết đầu tiên về thế giới. Tuy
nhiên hiện nay công tác quản lí các nhà trẻ, mẫu giáo còn lỏng lẻo; số nhà trẻ tư,
nhóm trẻ không đăng ký, không đạt yêu cầu nhiều.
- Ngành học phổ thông: khối giáo dục tiểu học phát triển nhanh, trên địa bàn
thành phố năm 2000 có 38 trường và một trường có lớp thuộc khối trung học cơ sở
với 48.405 học sinh.
Tỉ lệ huy động trẻ em vào lớp 1 hàng năm đều có bước phát triển: năm 1991
là 96%, năm 1999 là 99,68% và năm 2000 đến nay là 100%. Bên cạnh đó số học
sinh bỏ học các năm trước được huy động trở lại lớp đạt 62,23% (năm 1999) và
70% (năm 2000) [60, tr.163].
Đến năm 2005, khối trung học cơ sở có 23 trường với 747 lớp, gần gấp đôi
so với năm 1985 là 465 lớp, trong đó có trường THCS Trần Hưng Đạo đã được
nhận Huy chương lao động hạng 1 và được tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng trong
thời kì đổi mới. Như vậy hệ thống trường lớp đã được xây dựng đến từng phường,
đáp ứng nhu cầu tăng cao của người dân.
Toàn thành phố hiện nay có 13 trường phổ thông trung học, trong đó có 1
trường chuyên Lương Thế Vinh của tỉnh. Ngoài ra còn có những trường thực hiện
chương trình thí điểm của Bộ giáo dục, đạt kết quả cao như Nguyễn Trãi, Ngô
Quyền.
Chất lượng giảng dạy và học tập các cấp được nâng lên rõ rệt. Trong giai
đoạn từ 1986 – 1995, thành phố đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học. Từ năm
1996 – 2005, chương trình trung cơ sở cũng đã được phổ cập trong toàn dân. Hiện
nay thành phố đang tiến tới phổ cập giáo dục trung học phổ thông. Điều này cho
thấy trình độ dân trí của người dân được nâng lên rõ rệt, mức sống được cải thiện.
Đến năm 2005 trên địa bàn thành phố có 4 trường tiểu học, 2 trường trung
học cơ sở và 2 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia.
Thành phố đã triển khai tốt việc thay sách giáo khoa các lớp. Giáo viên chủ
động trong đổi mới phương pháp giảng dạy, bước đầu ứng dụng công nghệ thông
tin, chú ý khai thác tính tích cực của học sinh trong giờ học. Chất lượng học tập của
học sinh có tiến bộ. Tỉ lệ học sinh tiểu học tốt nghiệp đạt 98,5%, 100% trẻ em tốt
nghiệp tiểu học đều được vào lớp 6, trong đó tỉ lệ học sinh thi tốt nghiệp loại giỏi
chiếm từ 22 – 25%. Đối với bậc trung học cơ sở, tỉ lệ học sinh lên lớp hàng năm là
99%, tỉ lệ đậu tốt nghiệp cao 93%-98,5%, trong đó loại giỏi chiếm từ 18% - 24%.
Hàng năm số học sinh giỏi cấp tỉnh của thành phố đạt nhiều giải tỉnh.
- Bên cạnh hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, cao đẳng, chuyên
nghiệp ngày càng phát triển đa dạng với các loại hình đào tạo. Ở Biên Hòa hiện nay
có 1 trường đại học dân lập Lạc Hồng, thu hút 1695 sinh viên. Đây chính là nơi đào
tạo, bồi dưỡng nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu của
quá trình công nghiệp hóa.
Hoạt động của các trường chuyên nghiệp, dạy nghề không ngừng phát triển
về quy mô. Năm 1985 thành phố có 5 trường giáo dục chuyên nghiệp, 3 trường dạy
nghề và 1 trường Cao đẳng Sư phạm đồng Nai với 1825 người tham gia học trong
các trường chuyên nghiệp và 983 người tham gia học nghề.
Đến năm 2005, thành phố có thêm 1 trường Cao đẳng Sonadezi đào tạo cho
4000 sinh viên, số trường dạy nghề là 6. Tổng số học viên trong các trường tăng
mạnh, gồm 7747 học viên trường chuyên nghiệp và 15692 học viên trường nghề.
Như vậy trong 20 năm đổi mới, giáo dục thành phố không ngừng phát triển
liên tục về số lượng và chất lượng. Sự phát triển ấy tạo nên động lực đẩy nhanh quá
trình đô thị hóa, công nghiệp hóa. Tuy nhiên số lượng các trường Cao đẳng, Đại
học, chuyên nghiệp như vậy là còn ít và chưa tạo được uy tín trong xã hội. Vì vậy
thành phố cần nâng cao chất lượng giáo dục hơn nữa, mở thêm nhiều trường đào
tạo, kể cả cấp đại học để đáp ứng ngội ngũ cán bộ tri thức, chuyên gia và công nhân
kỹ thuật cho các khu công nghiệp nói riêng và cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội nói
riêng.
3.2.2.2. Y tế
Trước đổi mới, hoạt động y tế của thành phố Biên Hòa vừa thiếu vừa yếu.
Thành phố mới chỉ có 1 phòng y tế, 1 bệnh viện đa khoa (với 150 – 200 giường), 22
trạm y tế phường xã, 21 tổ chức y học dân tộc; 1 công ty dược và 25 cơ sở đại lý
thuốc chuyên doanh, 1 đội vệ sinh phòng dịch, 6 phòng khám ngoài giờ, 6 tổ hợp
chuyên khoa. Lực lượng y tế thành phố khám và chữa trị từ 10 vạn đến 30 vạn
người. Từ khi công cuộc đổi mới diễn ra, kinh tế phát triển, đời sống vật chất của
người dân được nâng cao, nhu cầu khám chữa bệnh vì thế gia tăng [62, tr.273].
Trong giai đoạn 1986 – 1990, thành phố đã xây dựng hoàn thành cơ bản
bệnh viện Đa khoa với 200 giường bệnh cùng các trạm xá 23 phường, xã.
Đến năm 2005, mạng lưới y tế phát triển đến từng phường, xã. Thành phố
từng bước đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho các trung tâm y tế; đáp ứng tốt
hơn công tác phòng, khám và chữa bệnh. 26/26 trạm y tế ở các phường, xã có bác sĩ
phục vụ (tăng tỉ lệ từ 69,23% năm 2000 lên 100% năm 2005), 164/164 khu phố có
nhân viên sức khỏe cộng đồng hoạt động phối hợp với lực lượng cộng tác viên các
chương trình y tế.
Với hệ thống y tế phát triển rộng, hiện đại, số bệnh nhân chết ở địa phương
các phường giảm mạnh, nếu như năm 1985 rất nhiều 1.075 người thì đến năm 1995
là 720 người, năm 2005 hoàn toàn không có trường hợp nào. Đây là kết quả đáng
mừng của ngành y tế, ghi nhận sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ y tế địa phương và
thành phố [61, tr.92].
Ngoài ra ở Biên Hòa còn có 1 trung tâm y tế TP. Biên Hòa và bệnh viện Đa
khoa Biên Hòa, 11 trung tâm y tế và một bệnh viện cấp tỉnh và trung ương.
Không chỉ tăng về cơ sở, số nhân viên y tế nhà nước cũng nhiều hơn (xem
bảng 3.9). Tuy nhiên trong năm 2005 số dược tá giảm mạnh do chuyển từ khu vực
nhà nước sang khu vực tư nhân.
Bảng 3.9. Nhân viên y tế nhà nước của TP. Biên Hòa
[ĐVT: Người]
Tổng số Bác sĩ Y sĩ Dược sĩ Kỹ thuật viên y Kỹ thuật dược 1985 1391 155 210 42 51 - 1995 1589 280 220 61 60 - 2000 1926 356 210 99 63 3 2005 2077 393 264 82 75 3
tế 100 365 68 400 100 380 98 390 132 456 110 497 60 550 150 500
Dược tá Y tá Nữ hộ sinh Cán bộ y khác Nguồn: [Phòng Thống kê TP.Biên Hòa (54)]
Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình được quan tâm chú trọng, thành
phố Biên Hòa thường xuyên đẩy mạnh hoạt động của đội ngũ cán bộ chuyên trách
và cộng tác viên ở 26 phường xã, các khu phố khóm, ấp trong việc tuyên truyền vận
động nhân dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình, tác động tới mọi tầng lớp dân cư.
Từ đó số người áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại ngày càng cao.
Nếu như năm 1995 có 48% cặp vợ chồng áp dụng biện pháp sinh đẻ có kế
hoạch, đến năm 2000 có 53.371 người và năm 2005 là 57648 người, chiếm tỉ lệ trên
90%.
Vì vậy, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm mạnh, vượt mục tiêu 1,13% mà Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIII đưa ra. Điều này sẽ giúp cho thành
phố giảm bớt áp lực dân số trong khi số người nhập cư từ bên ngoài không giảm.
Việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ em là một hoạt động thường xuyên của
ngành y tế thành phố. Để đảm bảo sự phát triển toàn diện, tốt nhất cho trẻ em, thành
phố luôn thực hiện đầy đủ chương trình tiêm chủng mở rộng đủ các loại vácxin,
khống chế tới mức thấp nhất các bệnh nguy hiểm.
Từ năm 1986 – 1995, việc tiêm chủng phòng ngừa 6 bệnh cho trẻ em đạt kết
quả tốt, trên 95% hàng năm. Tuy nhiên tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao [59,
tr.18]. Đến năm 2005 giảm tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 13,5%.
Trong tình hình an ninh trật tự tương đối phức tạp, các tệ nạn xã hội phát
sinh nhiều, thành phố tiến hành thực hiện truyền thông phòng chống dịch AIDS ở
cộng đồng dân cư, tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho các đối tượng bị nhiễm HIV.
Bên cạnh hệ thống dịch vụ y tế nhà nước, dịch vụ y tế tư nhân xuất hiện ngày
càng nhiều, nhất là từ năm 2000 phát triển rất mạnh. Các phòng khám tư xuất hiện ồ
ạt, tuy nhiên với quy mô nhỏ, hầu hết là các hộ cá thể. Do vậy công tác quản lý của
nhà nước cần phải được tăng cường, thường xuyên tổ chức kiểm tra, xử lý những
trường hợp vi phạm.
Như vậy cùng với sự lớn mạnh của thành phố, lĩnh vực y tế cũng phát triển.
Tại Biên Hòa tập trung nhiều cơ sở y tế với đội ngũ cán bộ có trình độ. Để nâng cao
chất lượng khám chữa bệnh cho người dân, thành phố đang tiến hành xây mới bệnh
viện Đồng Nai có quy mô 700 giường, được trang thiết bị hiện đại. Đồng thời nâng
3.3. Sự chuyển biến trong đời sống văn hóa – tinh thần
cấp bệnh viện Thống Nhất và một số trung tâm y tế.
3.3.1. Các hoạt động văn hóa – văn nghệ - thể dục thể thao
Là thành phố trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Đồng Nai, do đó
lĩnh vực hoạt động văn hóa thông tin trên địa bàn thành phố có vai trò rất quan
trọng, kết quả hoạt động văn hóa, thông tin của thành phố luôn gắn chặt với mục
tiêu định hướng phát triển cũng như yêu cầu của tỉnh. Trong thời gian qua, hoạt
động văn hóa thông tin trên địa bàn thành phố phát triển không ngừng trên các mặt.
Trước đổi mới, hệ thống tổ chức văn hóa, thông tin đã hình thành từ trung
ương đến tận các phường xã, từ đội thông tin lưu động thành phố đến 44 trạm thông
tin, 12 nhà văn hóa cơ sở; cải tạo 9 đình thần, thánh thất; 1 nhà bảo tàng thành phố,
3 nhà truyền thống cơ sở; 1 thư viện thành phố với gần 2 vạn đầu sách, 22 phòng
đọc sách cơ sở; một công ty rạp chiếu bóng với 4 rạp khá lớn, 41 đội văn nghệ quần
chúng, 1 đài phát sóng ngắn, 2 đài truyền thanh cơ sở phường xã và khu trung tâm
văn hóa Biên Hùng [62, tr.272].
Sau đổi mới, các hoạt động văn hóa - thông tin - thể dục thể thao phát triển
mạnh. Đến năm 2005 thành phố đã có 27 đội thông tin lưu động, nâng số đợt phục
vụ lên 100 lần, gần gấp đôi số đội thông tin năm 1995 (15 đội với 16 đợt phục vụ).
Ngoài ra còn thực hiện 150 chuyến xe cổ động phục vụ tuyên truyền kỷ niệm các
ngày lễ lớn, tuyên truyền các chủ trương, nghị quyết của UBND thành phố. Ở
phường, xã cũng thực hiện được 80 chuyến xe tuyên truyền. Công tác phát thanh tại
chỗ được chú ý.
Ngoài việc tiến hành, tổ chức kỉ niệm các ngày lễ lớn, thành phố Biên Hòa
còn quan tâm đầu tư xây dựng nhiều công trình công cộng, vừa mang ý nghĩa văn
hóa, vừa có ý nghĩa lịch sử như xây mới văn miếu Trấn Biên, công viên và bờ kè
dọc đường Nguyễn Văn Trị; cải tạo và nâng cấp công viên Biên Hùng, xây dựng
khu liên hợp văn hóa – thể dục thể thao ở quảng trường,…
Về hoạt động văn hóa: hoạt động văn hóa mang tính chuyên nghiệp được
đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nâng cao chất lượng chuyên môn; hiện nay
các đoàn ca múa nhạc Đồng Nai, đoàn cải lương Đồng Nai đã có nhiều tiến bộ trong
hoạt động biểu diễn nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu thưởng thức văn hóa văn nghệ
của nhân dân thành phố cũng như các địa phương trong tỉnh.
Chỉ riêng trong năm 2004 đội Văn nghệ tuyên truyền thành phố đã xây dựng
23 chương trình ca nhạc, với số buổi phục vụ là 135 buổi (đạt 115,5% kế hoạch
năm), phục vụ trên 78.900 lượt người xem. Ngoài ra còn phối hợp với Thành đoàn,
Phòng Giáo dục - Đào tạo thành phố tổ chức các hội thi “Tiếng hát Vàng Anh”; liên
hoan tuyên truyền măng non thành phố Biên Hòa lần I/2004; hội diễn Hoa phượng
đỏ thành phố Biên Hòa. Thành phố còn tổ chức hội thi văn nghệ - thể thao người
cao tuổi thành phố Biên Hòa năm 2004 tại nhà hát Nam Hà. Có 18/26 đơn vị
phường xã và câu lạc bộ Văn nghệ cán bộ, phụ nữ cao tuổi tham gia (107 thí sinh
dự thi) gồm 77 tiết mục với các thể loại phong phú.
Từ năm 2000 trở lại đây, các câu lạc bộ, đội, nhóm văn nghệ cũng được
thành lập và hoạt động sôi nổi, tiêu biểu có câu lạc bộ Đờn ca tài tử Biên Hòa, câu
lạc bộ sáng tác ca khúc mới, câu lạc bộ văn nghệ cán bộ phụ nữ cao tuổi, câu lạc bộ
Chim Cảnh Cội Nguồn. Đặc biệt là câu lạc bộ Nói tiếng Anh duy trì sinh hoạt vào
sáng chủ nhật hàng tuần, đã thu hút được đông đảo các thành phần đến tham gia
(khoảng 50 đến 70 người/ tuần), nhất là sinh viên học sinh nhằm rèn luyện cho việc
học tập bộ môn tiếng Anh của mình.
Nhiều phường xã đã có quy hoạch quỹ đất dành cho xây dựng các trung tâm
văn hóa và xây dựng mới một số trung tâm văn hóa – thể dục thể thao phường.
Trong hai năm 2003 và 2004, có hai trung tâm văn hóa Bình Đa và Trảng Dài được
khánh thành đi vào hoạt động.
Từ năm 2000, thành phố đã triển khai xây dựng các tiêu chí văn hóa, trung
tâm văn hóa thông tin, củng cố ban chỉ đạo để tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động
“toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nâng cao chất lượng các khu phố
văn hóa. Nếu năm 2000 Biên Hòa có 24 khu phố với 52.500 hộ đạt chuẩn văn hóa
thì đến năm 2005 nâng số lượng lên 131 khu phố chiếm tỉ lệ 80% và 95.200 hộ với
tỉ lệ 85%; cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa là 82,84%. Ngoài ra còn có 8 chợ được
công nhận chợ văn hóa.
- Về hoạt động của thư viện: từ năm 1986 – 2003, thư viện thành phố nằm
bên bờ sông Đồng Nai, cơ sở vật chất phục vụ được xây dựng từ lâu nên xuống cấp.
Năm 2003 thư viện được chuyển về quảng trường tỉnh với cơ sở khang trang, hiện
đại hơn.
Đến năm 2004, tổng số sách của thư viện đã lên đến 25.571 đầu sách với 34
loại báo, tạp chí phục vụ cho hàng ngàn lượt độc giả. Hàng năm thư viện tổ chức
trưng bày sách mới phục vụ những ngày lễ lớn như thành lập Đảng, giải phóng
miền Nam 30/4, Quốc tế lao động 1/5, báo Xuân,…Đồng thời tiến hành luân
chuyển sách cho cơ sở 610 quyển sách (phường Bửu Long, Bình Đa, Quang Vinh,
Tân Tiến, Tân Hạnh, Long Bình).
17 phòng đọc sách ở các phường, xã được duy trì hoạt động với tổng số sách
là 7.428 quyển, 15 loại báo, tạp chí, phục vụ 27.322 lượt độc giả (trong đó có
18.211 lượt độc giả là thiếu nhi). Ngoài ra ở các cơ quan, trường học có 406.192
đầu sách, phục vụ 42.676 lượt người xem. Ở giáo xứ Ngọc Đồng (phường Tân Hòa)
còn duy trì phòng đọc sách giáo xứ với số sách tương đối nhiều 1.500 quyển, số
độc giả lên đến 17.788 người.
Hệ thống thư viện trải rộng từ trung tâm thành phố về đến các cơ sở địa
phương là dấu hiệu đáng mừng cho việc phổ biến tri thức, góp phần nâng cao trình
độ hiểu biết cho người dân. Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của độc
giả trong thời kỳ đô thị hóa mạnh mẽ, các thư viện trong thành phố cần có sự liên
kết tạo thành mạng lưới, được đầu tư nhiều loại sách báo hơn nữa, đồng thời có
nhiều hình thức tiếp cận sách với công chúng.
- Hoạt động của bảo tàng: bảo tàng Đồng Nai được thành lập từ năm 1976,
tiền thân là phòng Bảo tồn Bảo tàng trực thuộc Ty Văn hoá thông tin tỉnh Đồng Nai. Hiện nay bảo tàng Đồng Nai tọa lạc trong khuôn viên 15.000m2 có trang bị
hiện đại với 14 phòng trưng bày (diện tích là 4000m2 ), 13 phòng bảo quản, phòng
chống cháy, chống sét, thiết bị camera, máy điều hòa, máy vi tính, máy chuyên
dùng kỹ thuật số… với hơn 20.000 hiện vật, hình ảnh, tài liệu, băng ghi âm, ghi
hình... thông qua những cuộc sưu tầm, khảo sát, khai quật khảo cổ, do nhân dân
tặng, thu nhận từ một số cơ quan chức năng. 30 năm qua cùng với sự lớn mạnh
không ngừng của thành phố, Nhà bảo tàng đã không ngừng cố gắng phấn đấu làm
tốt công tác, trở thành nơi lưu giữ một khối lượng hiện vật rất phong phú có giá trị
về mặt lịch sử, văn hóa và khoa học.
- Văn miếu Trấn Biên: là văn miếu đầu tiên được xây dựng tại xứ Đàng
Trong, để tôn vinh Khổng Tử, các danh nhân văn hóa nước Việt và làm nơi đào tạo
nhân tài phục vụ cho chế độ.
Năm 1861 nơi thờ phụng trên đã bị thực dân Pháp phá bỏ. Ngày 9 tháng 12
năm 1998, một công trình mới mang tên Văn miếu Trấn Biên được khởi công khôi
phục lại trên nền văn miếu cũ tại phường Bửu Long, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai,
cách trung tâm thành phố khoảng 3km, và gần Trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu
Long trong phạm vi khoảng 2ha, với số tiền đầu tư gần 20 tỷ đồng. Đây là công
trình được xây dựng theo kiến trúc Văn miếu - Quốc Tử Giám ở Hà Nội, gồm các
hạng mục: nhà thờ chính, tả vu hữu vu, sân hành lễ...
Hàng năm, nhiều đoàn khách đến đây tham quan, kể cả các cấp lãnh đạo Nhà
nước và du khách nước ngoài. Chỉ riêng trong năm 2003, Văn miếu Trấn Biên đón
hơn 200 đoàn khách với trên 1500 lượt người, trong đó có tổng bí thư Nông Đức
Mạnh, Võ Văn Kiệt - nguyên thủ tướng chính phủ, Lê Hồng Anh - ủy viên bộ chính
trị, bộ trưởng Công An, Nguyễn Khoa Điềm - trưởng ban văn hóa tư tưởng trung
ương,…đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Ucraina, đoàn nhà báo Pháp,…
Ngoài ra, Văn miếu đã phối hợp với Tỉnh đoàn Đồng Nai tổ chức họp mặt
truyền thống hàng năm cho sinh viên đến dâng hương, phối hợp với Phòng giáo dục
– Đào tạo tổ chức long trọng lễ Tết thầy vào ngày mùng 3 âm lịch hàng năm cho
học sinh, thầy cô giáo của 36 trường học trong thành phố. Năm 2003 lễ báo công
tuyên dương học sinh giỏi và những tài năng trẻ tỉnh Đồng Nai diễn ra long trọng ở
Văn Miếu, thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo, kính trọng hiền tài.
Văn miếu Trấn Biên đã trở thành chốn linh thiêng đối với người dân Đồng
Nai nói chung và Biên Hòa nói riêng, là nét đẹp văn hóa cần gìn giữ trong thời kỳ
đô thị hóa.
- Hoạt động thể dục thể thao có tiến bộ, hàng năm thành phố Biên Hòa tổ
chức các đợt hội thao, hội thi, các hoạt động thể dục thể thao thu hút hàng ngàn
người với mọi thành phần, nhất là lực lượng thanh niên tham gia, tạo thành phong
trào thi đua rèn luyện sức khỏe rộng khắp trên địa bàn thành phố.
Từ năm 1985 – 2005, số cơ sở luyện tập và số người tham gia luyện tập tăng
thường xuyên, đều đặn qua các năm. Theo dõi bảng 3.10 để nhận thấy điều đó.
Năm 1985 Năm 1990 Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005
120
135
149
171
109
- Số cơ sở luyện
85.979
107.025
126.230
186.556
203.780
tập
-Số người luyện
tập
Bảng 3.10. Tình hình tập luyện thể dục thể thao ở TP. Biên Hòa
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Năm 2005 kết quả cuộc vận động rèn luyện theo gương Bác Hồ vĩ đại có
36,34% dân số và 27,23% gia đình đạt gia đình thể thao. Lực lượng cán bộ, huấn
luyện viên, cộng tác viên và vận động viên các bộ môn hàng năm đều tăng, nhiều
nhân tố được phát hiện và rèn luyện trở thành vận động viên có đẳng cấp.
Năm 1985 toàn thành phố có 2048 vận động viên, mười năm sau – năm 1995
- tăng gấp 1,5 lần (3220 vận động viên), đến năm 2005 tăng gần gấp 3 lần năm
1985 (6080 vận động viên).
Ngoài những công trình thể dục thể thao như sân bãi, phòng tập, nhà thi đấu
hiện có do nhà nước đầu tư xây dựng, thành phố còn phát triển được 363 câu lạc bộ,
phòng tập, điểm tập được huy động từ nguồn vốn nhà nước và nhân dân đóng góp,
điển hình như bóng đá (12 điểm), sân bóng chuyền (92 điểm), quần vợt (22 điểm),
bóng bàn (35 điểm),…
Số người tham gia luyện tập năm 2004 đạt 37,95% dân số toàn thành. Điều
đó chứng tỏ người dân không chỉ quan tâm đến thể dục thể thao để giữ gìn sức
khỏe, nâng cao thể lực cá nhân mà còn duy trì việc tổ chức các giải cấp thành phố,
tham gia 53 giải cấp tỉnh và đạt 320 huy chương các loại.
Tóm lại, trong thời gian từ 1986 – 2005, hoạt động văn hóa – văn nghệ - thể
dục thể thao của thành phố phát triển, đặc biệt giai đoạn từ năm 2000 – 2005. Người
dân được tiếp xúc với nhiều loại hình văn hóa – văn nghệ, thường xuyên tham gia
tập luyện thể dục với nhiều bộ môn. Từ đó làm lành mạnh đời sống tinh thần, góp
phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội.
Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều khó khăn đặt ra cho ngành Văn hóa như lực
lượng cán bộ văn hóa còn mỏng; cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động văn hóa –
văn nghệ - thể dục còn thiếu, chưa đồng bộ giữa các phường, xã; nhiều hoạt động
mang nặng tính phong trào, hình thức, chưa được duy trì thường xuyên. Đây thực
sự là những thử thách cần vượt qua để đưa thành phố phát triển bền vững.
Vì vậy thành phố đã tổ chức và có kế hoạch quản lý chặt chẽ các hoạt động
văn hóa nghệ thuật, hoạt động quảng cáo,… Đầu tư phát triển mạnh phong trào văn
hóa nghệ thuật, thể dục thể thao quần chúng đa dạng, đảm bảo 100% các phường xã
có nơi sinh hoạt văn hóa. Đồng thời chú ý đến công tác bảo tồn các di tích văn hóa,
lịch sử trên địa bàn thành phố, giáo dục truyền thống thông qua sinh hoạt chuyên đề
về các ngày lễ, kỉ niệm lớn 3/2, 8/3, 26/3,…
3.3.2. Chuyển biến trong lối sống dân cư
Không ai phủ nhận được những mặt tích cực mà quá trình đô thị hóa đem lại,
nó giúp Biên Hòa hòa nhập vào sự phát triển của cả nước và thế giới nhưng cũng
gây ra những xáo trộn lớn trong đời sống. Kinh tế phát triển theo hướng tập trung
trong các KCN đã hình thành trong đa số bộ phận dân cư lối sống công nghiệp.
Trước năm 1986, ngành kinh tế chính của thành phố vẫn là nông nghiệp,
người nông dân làm việc không có kế hoạch. Việc duy trì cơ chế bao cấp, tập trung
khiến cho hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp cầm chừng, không có hiệu quả nên
người công nhân cũng đem theo lối sản xuất nông nghiệp vào nơi sản xuất. Khi nhà
nước và thành phố tiến hành đổi mới, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường,
đời sống dân cư thay đổi. Thời gian trở thành vàng bạc nên con người luôn chạy
theo nó khiến cho nhịp sống trở nên hối hả, bận rộn. Hình ảnh những người dân
nhàn rỗi dường như không còn. Họ luôn tay trong nhiều loại hình công việc, từ sản
xuất trong nhà máy, cơ quan, trường học, cánh đồng đến gia đình, buôn bán, ….
Bình quân thu nhập tăng lên nhanh chóng, các loại hình dịch vụ - thương mại
phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong hưởng thụ cuộc sống của người
dân. Quán ăn, điểm hát karaoke, nhà hàng,… mọc lên nhiều. Nhiều điểm vui chơi
giải trí được xây dựng, sửa sang. Ngoài đường, xe cộ luôn đông đúc với nhiều kiểu
xe máy, xe đạp tạo nên sự nhộn nhịp cho đường phố.
Sự chuyển đổi trong lối sống của người dân còn thể hiện qua trang phục. Cách
ăn mặc của người dân nông thôn không còn cách biệt nhiều với người dân thành thị.
Ngay ở những xã Hiệp Hòa, Tân Hạnh, hình ảnh chiếc áo bà ba, nón lá rộng vành
gần như biến mất. Phổ biến nhất trong đời sống là các kiểu trang phục hiện đại như
quần Âu, quần jean, quần vải, kaki, áo sơ mi, áo thun, áo kiểu với nhiều kiểu dáng,
chất liệu được may hoặc mua sẵn. Giày dép cũng đa dạng và nhiều màu sắc.
Đồ trang sức trước đây chủ yếu là vòng, kiềng, đôi bông bằng vàng hoặc đá
quý thì nay có nhiều chủng loại hơn. Kiềng không còn được ưa chuộng nữa, nếu có
chỉ dùng trong dịp lễ cưới để đeo cho cô dâu hoặc những em bé để tránh gió.
Ngày nay, vòng đeo tay, dây chuyền, nhẫn bằng vàng hoặc bằng các kim loại
quý như bạc, bạch kim, đá được ưa thích. Kính không đơn giản chỉ để nhìn cho rõ
hơn mà đã trở thành một loại phục trang với sự đa dạng về kiểu dáng, màu sắc,
chủng loại. Giới trẻ hiện nay, nhất là lứa tuổi học sinh trung học rất năng động, luôn
tìm tòi tạo nên phong cách riêng thông qua trang phục. Chúng ta dễ dàng bắt gặp
hình ảnh những cô cậu học trò vai đeo balô, chân đi giày, mặc đầm ngắn hay quần
jean, tay đeo những chiếc vòng màu sắc sặc sỡ làm từ nhựa, đá.
Trước đây, gắn liền với hình ảnh của người phụ nữ là mái tóc dài suôn thẳng,
tiêu biểu cho nét đẹp thùy mị, đoan trang. Ngày nay, do tính chất công việc và sự
bộn rộn của cuộc sống, người phụ nữ trở nên năng động hơn với nhiều kiểu tóc
khác nhau. Điều đó cho thấy sự thay đổi lớn trong quan niệm về chuẩn mực của cái
đẹp.
Biên Hòa cũng giống với các tỉnh ở khu vực Nam Bộ, bữa ăn hàng ngày của
người dân đa dạng, tùy theo mùa. Nhưng đó là những món ăn, thức uống truyền
thống được người dân sử dụng những nguyên liệu có sẵn, chế biến tại chỗ: các loại
rau đồng, mắm cá trắng, khô sặc, rượu nếp…. Dụng cụ để nấu ăn là củi tự kiếm
được.
Từ những năm 1990 trở lại đây, kinh tế phát triển, đời sống vật chất của người
dân thay đổi hẳn. Trong gia đình, những chiếc bếp điện, bếp gas phổ biến. Lương
thực, thực phẩm được được bày bán ở các chợ quanh năm, đa dạng không thiếu loại
mặt hàng nào. Từ những năm 2000, khi hệ thống siêu thị phát triển mạnh, người dân
còn ưa thích việc đi chợ trong các siêu thị, vừa tiện lợi vừa đảm bảo an toàn vệ sinh
thực phẩm. Đồng thời đó còn là cách giảm căng thẳng của một bộ phận người dân
sau những giờ làm việc căng thẳng.
Quá trình đô thị hóa – công nghiệp hóa – hiện đại hóa làm cho quy mô gia
đình cũng biến đổi. Trước đây trong xã hội nông nghiệp, các gia đình đóng vai trò
là một lực lượng kinh tế độc lập nên cần lực lượng lao động tại chỗ. Trong xã hội
công nghiệp thì đòi hỏi một gia đình gọn nhẹ, có tính cơ động nhanh vì vậy số thành
viên trong một hộ không còn đông. Gia đình mở rộng gồm từ 3 – 4 thế hệ chung
sống đang được thay thế bằng gia đình hạt nhân chỉ có 2 thế hệ gồm cha mẹ và con
cái hoặc gia đình nửa hạt nhân (là loại gia đình hạt nhân vợ chồng chung sống với
con cái và còn tiếp nhận thêm những thành viên khác có quan hệ huyết thống như
anh chị em ruột hay họ hàng,… nhưng họ vẫn giữ vai trò người chủ, những người
khác bị phụ thuộc).
Các thành viên trong gia đình bình đẳng hơn, vợ chồng cùng nhau làm việc và
chăm sóc con. Giữa cha mẹ và các con không còn những luật lề khô cứng, khắt khe
như trước.
Đô thị hóa còn làm thay đổi không gian sống của từng hộ. Trước đây, mỗi gia
đình sống trong một ngôi nhà rộng rãi về diện tích, trong đó có nhiều thế hệ chung
sống với nhau, có cả một góc vườn để trồng các loại cây cho bóng mát hoặc hoa
quả. Đô thị phát triển, mỗi hộ chuyển dần vào trong những ngôi nhà có kiến trúc
hình hộp, chật chội về diện tích. Những người giàu có hơn thì xây nhà theo kiểu biệt
thự, hiện đại về kiến trúc, tuy diện tích có rộng nhưng lại “kín cổng cao tường”
trong quan hệ với làng xóm.
Đời sống kinh tế khấm khá hơn, những ngôi nhà lá hoàn toàn biến mất. Thay
vào đó là những ngôi nhà gạch, nhà biệt thự. Cách bài trí trong nhà cũng thay đổi.
Nhìn chung, sự du nhập văn hóa nước ngoài đang trở nên phổ biến nhưng
người dân Biên Hòa vẫn giữ được những nét tinh túy trong văn hóa, làm nên sự kết
hợp giữa truyền thống và hiện đại, sự phát triển có kế thừa và chọn lọc.
Khi nói đến những giá trị quý báu truyền thống của cư dân Biên Hòa là nói
đến đạo lý uống nước nhớ nguồn, tình làng nghĩa xóm, tinh thần đoàn kết tương
thân tương ái, sự nhạy bén với cái mới. Nơi đây là vùng đất hội tụ của nhiều thành
phần dân cư từ nhiều địa phương. Người dân thường giữ mối quan hệ giao lưu trực
tiếp với khắp các tỉnh thành trong nước và nhiều nước khác bằng quan hệ họ hàng
cho nên cái mới, cái hay và cả cái không hay được xâm nhập vào Biên Hòa rất sớm,
rất nhanh.
Đô thị hóa làm một số phong tục tập quán thay đổi theo hướng hiện đại, gọn
nhẹ hơn cho phù hợp với cuộc sống năng động nhưng không đánh mất đi thuần
phong mỹ tục. Tục thờ cúng ông bà vẫn được giữ gìn, nghi thức và cách bài trí đơn
giản, ít rườm rà hơn xưa. Đó là chất kết dính mỗi cá nhân trong một gia đình với
nhau, tạo nên sức mạnh đoàn kết, bền vững trong xã hội. Việc cưới xin từ 6 lễ nay
chỉ còn 2 lễ (lễ hỏi và lễ cưới), mang đậm ý nghĩa hai bên họ hàng và cộng đồng
chia sẻ niềm vui, trách nhiệm đối với tổ ấm mới.
Những hủ tục phiền toái của lễ tang theo lối xưa như hú vía, lăn đường, cướp
quan tài,… giảm hẳn. Tỉ lệ sinh đẻ cũng giảm nhiều, quan niệm “nhiều con, nhiều
của” trở nên lạc hậu. Vì vậy các gia đình có điều kiện hơn trong việc chăm sóc, nuôi
dạy con cái.
Trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân Biên Hòa có sự đan xen giữa
truyền thống và hiện đại. Bên cạnh các loại hình ca nhạc, tài tử, nhiều đêm thơ thì
phong trào văn nghệ quần chúng được tổ chức tại địa phương, thu hút nhiều người
tham gia.
Đình chùa chứa đựng nhiều giá trị tinh thần, là chốn thiêng liêng. Ở Biên Hòa
có 34 đình ở cả 26 phường, xã, chỉ riêng ở xã Hiệp Hòa có đến 11 đình, trong đó
đình Tân Lân được xem là một trong những đình sắc nét của tỉnh Đồng Nai. Hàng
năm, các lễ hội diễn ra ở đình vừa được tổ chức đúng trình tự, vừa lưu giữ những
giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tạo được không khí vui tươi
nên thu hút nhiều người dân địa phương tham gia.
Vì đó, thành phố rất quan tâm đến việc bảo vệ, tu sửa đình. Đặc biệt từ năm
2003, thành phố đã tiến hành khảo sát hoạt động lễ hội ở các đình, chùa (đình
Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Tri Phương, Tân Lân, chùa Đại Giác, Long Thiền) để
làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình lễ - hội truyền thống theo hướng cách tân
nhằm từng bước hướng dẫn các đình khác thống nhất thực hiện.
Bên cạnh những chuyển biến mang tính tích cực, trong lối sống của người dân
thành phố Biên Hòa xuất hiện những biểu hiện tiêu cực.
Cuộc sống công nghiệp làm cho mối quan hệ giữa các thành viên cũng không
còn gắn bó mật thiết, những bữa cơm gia đình trở nên hiếm hoi. Sự “dân chủ” và
“bình đẳng” thái quá trong một số gia đình đã gây ra không ít cảnh dở khóc đở cười.
Đây đó có những bậc cha mẹ do mải mê kiếm tiền mà quên mất trách nhiệm đối với
gia đình, con cái.
Sự phân hóa xã hội gay gắt, đặc biệt là tình trạng chênh lệch giàu – nghèo gia
tăng, số người nhập cư tăng nhanh trong thời gian qua cũng góp phần tạo nên mặt
trái trong lối sống. Ở những khu nhà trọ, sự đến và đi thường xuyên của một bộ
phân người lao động khiến cho chính quyền khó quản lý. Đồng thời họ mang theo
cả những thói quen, lối sống lạc hậu làm cho môi trường xung quanh cũng ít nhiều
bị ảnh hưởng. Ngoài đường, tình trạng xả rác bừa bãi nơi công cộng, hiện tượng vi
phạm luật giao thông không phải hiếm.
Rõ ràng, sự chuyển đổi từ đời sống nông nghiệp nghèo nàn sang nhịp sống
công nghiệp hiện đại cũng tạo nên sự hụt hẫng trong văn hóa. Ở những KCN, lương
công nhân mới gấp đôi thu nhập của nông dân thì đời sống văn hóa nảy sinh nhiều
hiện tượng phức tạp trái ngược với bản sắc truyền thống. Đó là “bản tính nông dân
được xài tiền lương công nghiệp” [67, tr.63]. Tiền lương và thời gian nhàn rỗi đây
đó được nướng vào các sòng bài, quán rượu, chỗ ăn chơi hơn là tiêu dùng cho trí
tuệ.
Trong sự phát triển của văn hóa xã hội, những yếu tố văn hóa ngoại nhập cũng
tràn vào thành phố. Phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại ở Biên Hòa được tiếp
nhận sớm và phổ biến nhanh. Số chương trình trên truyền hình thành phố tăng
nhanh nhưng phim Việt Nam có tỉ lệ còn khiêm tốn, mới đảm bảo 50% thời lượng
chiếu phim theo quy định. Những văn hóa phẩm có tính chất không lành mạnh xuất
hiện trên thị trường đã tác động đến một bộ phận người dân.
Kinh tế phát triển, trước sức mạnh của đồng tiền, một bộ phận người dân có tư
tưởng đổi đời bằng cách lấy chồng giàu hoặc người nước ngoài. Các tệ nạn xã hội
như mại dâm, ma túy chưa được giải quyết một cách triệt để.
Như vậy, đô thị hóa đã làm biến đổi sâu sắc đời sống văn hóa tinh thần của
người dân. Sự tiếp nhận những yếu tố văn hóa bên ngoài một mặt, tạo ra sự đa dạng,
phong phú, mặt khác làm “ô nhiễm môi trường văn hóa”. Do vậy, thành phố đã tăng
cường nhiều biện pháp để kiểm tra, kịp thời ngăn chặn sự phát sinh, xâm nhập của
các sản phẩm văn hóa độc hại, tiến tới tiêu diệt những hiện tượng tiêu cực trong xã
hội. Đồng thời, hướng tới việc tiếp nhận văn hóa có chọn lọc.
Ngoài ra, các hoạt động thông tin tuyên truyền nhằm loại bỏ những tín
ngưỡng cổ hũ, lạc hậu, cổ vũ cho đời sống văn hóa mới đang được triển khai mạnh
3.4. Sự phân hóa giàu nghèo
mẽ ở các địa phương.
Diện tích thành phố Biên Hòa rất nhỏ bé nhưng đây lại là một khu vực có
nền kinh tế khá phát triển. Trong thời kỳ chiến tranh, Biên Hòa cũng là một thị
trường kinh tế cho dù đó là nền kinh tế phụ thuộc vào bên ngoài, một trung tâm dịch
vụ vui chơi của binh lính Mỹ - ngụy. Sự phân hóa giàu nghèo trong dân cư thể hiện
khá rõ rệt.
Sau chiến tranh, đất nước thống nhất, hòa bình lập lại, tình hình xã hội phức
tạp. Theo định hướng chung của cả nước, thành phố Biên Hòa thực hiện nền kinh tế
XHCN mà đặc trưng là sở hữu nhà nước và tập thể, cùng với hình thức phân phối
bình quân dẫn đến sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn vì quỹ phúc lợi trên
đầu người ở khu vực nông thôn thấp hơn nhiều so với tính cho một đầu người thành
phố.
Có thể thấy rõ đặc điểm trong đời sống dân cư là rất khó khăn do tác động
của nền kinh tế, mức sống thấp, tình trạng đói nghèo nhiều nhưng sự phân hóa giữa
các thành phần dân cư trong xã hội không đến mức gay gắt vì những người nghèo
có thu nhập thấp cũng đã được đáp ứng mức sống tối thiểu.
Từ năm 1986 thành phố Biên Hòa tiến hành đổi mới, chuyển sang mô hình
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, đạt được nhiều thành tựu vượt bậc, đời
sống người dân được cải thiện không ngừng. Tuy nhiên chính sự bung ra sản xuất
của các thành phần kinh tế đã dẫn đến sự chênh lệch giàu – nghèo tăng lên nhanh
chóng. Đó là hệ quả tất yếu của quá trình đô thị hóa và là lực cản của sự phát triển
đô thị bền vững.
Trước hết là nhận diện về đói nghèo. “Đói nghĩa là không đủ ăn, còn nghèo
thì có thể đủ ăn nhưng những nhu cầu tối thiểu khác như nhà ở, phương tiện đi lại,
điều kiện học hành vẫn chưa được đảm bảo. Những người đói, nghèo là những
người có mức sống dưới mức trung bình của xã hội” [66, tr.154].
Những cơ sở để xác định, đánh giá mức độ đói nghèo của mỗi quốc gia, mỗi
khu vực có sự khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội. Về cơ
bản có thể dựa vào sự phân hóa trong thu nhập bình quân đầu người, tình trạng tài
sản, tiện nghi sinh hoạt, sự hưởng thụ các dịch vụ văn hóa, tư liệu sản xuất.
Ở thành phố Biên Hòa, căn cứ vào kết quả điều tra giàu nghèo năm 1993 có
5 loại hộ gia đình (tương ứng 5 nhóm) như sau:
1. Hộ có thu nhập cao – hộ giàu (nhóm 1)
- Thành thị: từ 500.000 đồng/1 tháng trở lên.
- Nông thôn: từ 350.0000 đồng/1 tháng trở lên.
2. Hộ có thu nhập trên trung bình – hộ khá (nhóm 2)
- Thành thị: từ 300.000 đồng đến dưới 500.000 đồng/1 tháng.
- Nông thôn: từ 200.000 đồng đến dưới 350.000 đồng/1 tháng.
3. Hộ có thu nhập trung bình – hộ trung bình (nhóm 3)
- Thành thị: từ 150.000 đồng đến 300.000 đồng/1 tháng.
- Nông thôn: từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/1 tháng.
4. Hộ có thu nhập dưới trung bình – dưới trung bình (nhóm 4)
- Thành thị: từ 70.000 đồng đến dưới 150.000 đồng/1 tháng.
- Nông thôn: từ 50.000 đồng đến dưới 100.000 đồng/1 tháng.
5. Hộ nghèo: (nhóm 5)
- Thành thị: thu nhập dưới 70.000 đồng/1 tháng.
- Nông thôn: thu nhập dưới 50.000 đồng/1 tháng.
Nếu hộ có mức thu nhập ở thành thị là 40.000 đồng và 20.000 đồng ở nông
thôn thì đó là rất nghèo. Rõ ràng đô thị hóa, hiện đại hóa đã làm tăng lên cách biệt
giữa thành thị và nông thôn. Nếu bình quân chung về thu nhập thì một năm nguồn
thu nhập của 1 hộ dân thành thị là 44.028 ngàn đồng, gấp 1,5 lần so với thu nhập
bình quân một năm của một hộ ở nông thôn là 29.256 ngàn đồng.
Ở khu vực nông thôn, do nghề nghiệp chính của người dân là nông nghiệp
nên thu nhập trong lĩnh vực này gấp 12,1 lần so với thành thị. Ở thành thị, nơi tập
trung các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ quá
trình đô thị hóa nên người dân có thêm một khoản thu nhập về cho thuê tài sản như
các dịch vụ cho thuê mặt bằng, cho thuê phòng trọ… Trong số đó có nhiều người
làm việc cho nhà nước nên khi về già họ có thêm một khoản tiền trợ cấp hưu trí. Có
thể theo dõi bảng số liệu sau đây để thấy được sự khác nhau trong thu nhập bình
quân của một hộ ở thành thị và nông thôn trong một năm.
Bảng 3.11. Thu nhập chia theo nguồn thu ở thành thị và nông thôn
Thành thị
Nông thôn
Hệ số
Nguồn thu
chênh lệch
a
b
a
b
100%
29.256
100%
44.028
Thu nhập bình quân 1 hộ/1 năm
Chia ra:
40,51%
11.851
31,47%
13.975
1,3
1. Thu nhập từ tiền lương, tiền
công
8,11%
2.372
0,67%
297
12,1
2. Thu nhập từ sản xuất NLTS
49,37%
14.443
39,50%
17.392
1,3
3. Thu nhập từ sản xuất ngành
nghề phi NLTS
-
-
1,18%
518
-
4. Thu nhập từ cho thuê tài sản
-
-
0,60%
265
-
5. Thu nhập từ hưu trí trợ cấp
2,02%
590
26,30%
11.581
13
6. Thu nhập từ các nguồn khác
ĐVT: a: 1000 đồng, b: %
Nguồn: [69, tr. 52,53]
Với tỉ lệ thu nhập phi NLTS ở nông thôn lớn, chiếm 49,37% chứng tỏ công
nghiệp hóa – hiện đại hóa xâm nhập vào đời sống dân cư ngày càng mạnh mẽ, làm
chuyển biến cơ cấu kinh tế, tăng các hoạt động tiểu thủ công nghiệp như đan lát,
làm tre nứa để xuất khẩu.
Bên cạnh sự chênh lệch giữa khu vực nông thôn và thành thị, đô thị hóa –
hiện đại hóa còn làm sâu sắc thêm sự phân tầng xã hội, nhất là ở thành thị, khoảng
cách giàu – nghèo ngày càng gia tăng.
Những người có thu nhập cao nhất chủ yếu sống trong các ngôi nhà kiên cố
khép kín (40,63%) và bán kiên cố (59,38%), không có nhà và các kiểu nhà khác và
đương nhiên là không có tình trạng không có nhà ở. Còn ở nhóm có thu nhập thấp
nhất, phổ biến là loại nhà bán kiên cố (tỉ lệ 53,13%), tỉ lệ ở nhà tạm và các kiểu nhà
khác chiếm tới 18,75%. Nhà của người dân ở nông thôn phổ biến đều là loại bán
kiên cố nhưng khác nhau ở trị giá trong ngôi nhà đó.
Ngoài ra để đánh giá sự phân hóa giàu nghèo trong đời sống dân cư, chúng ta
quan sát ở sự phân hóa tài sản. Sự khác nhau trong thu nhập đã dẫn đến sự phân hóa
tài sản. Theo tính toán của phòng Thống kê, sự phân hóa giàu nghèo dựa trên trị giá
tài sản cố định và trị giá đồ dùng lâu bền cũng chia ra theo 5 nhóm thu nhập, ở
Bảng 3.12. Chênh lệch tài sản chia theo 5 nhóm thu nhập ở thành thị và nông thôn
thành thị và nông thôn.
Chung Nhóm
Nhóm 4 Nhóm
Nhóm
Nhóm1
5
3
2
Thành thị:
- Trị giá tài sản cố
21.603
2.911
5.166
62.258
20.553
50.448
định
27.347
10.996
20.408
31.803
25.778
47.751
- Trị giá đồ dùng
lâu bền
Nông thôn:
4.000
12.700
53.750
-
-
27.275
- Trị giá tài sản cố
3.225
157.758
11.000
32.413
90.780
14.218
định.
- Trị giá đồ dùng
lâu bền
ĐVT: 1000 đồng
Nguồn: [69, tr.56]
Ở những hộ nghèo, 70% – 80% nguồn thu nhập của họ phải chi cho ăn uống,
chỉ có 20% – 30% thu nhập dùng để chi cho những khoản khác, để mua sắm những
phương tiện hiện đại có giá trị sử dụng lâu dài hay sửa chữa xây dựng nhà cửa, còn
ở những hộ có thu nhập cao thì khác. Chính vì vậy mà có sự chênh lệch cao ở nhóm
thứ 5 - nhóm có thu nhập thấp nhất và nhóm thứ 1 - nhóm có thu nhập cao nhất.
Ở thành thị, hệ số chênh lệch về trị giá tài sản cố định là 17,3 lần, giữa nhóm
thứ 4 và nhóm thứ 1 là 7 lần. Giữa hai nhóm kế tiếp nhau có khi cũng tăng lên gấp
đôi và có khi hơn, chẳng hạn như giữa nhóm thứ 3 và nhóm thứ 2 là 5,1 lần. Trong
khi trị giá tài sản cố định của nhóm 5 chỉ có 2.911.000 đồng thì ở nhóm 1 rất lớn
50.448.000 đồng. Sự khác biệt trong giá trị đồ dùng gia đình cũng được tính theo hệ
số lũy tiến, càng giàu càng xài đồ mắc tiền hơn.
Ở khu vực nông thôn khoảng cách giữa các nhóm cũng rất rõ ràng, những
người nghèo hoàn toàn không có tài sản cố định hoặc trị giá đồ dùng lâu bền thấp
(3.225.000 đồng). Trong khi những người ở nhóm 1 rất giàu, giá trị tài sản cố định
lớn, lên đến 53.750.000 đồng. Sự chênh lệch giữa hai nhóm kế tiếp nhau cũng rất
cao, ví dụ giữa nhóm thứ 5 và nhóm thứ 4 là 4,23 lần.
Như vậy, bên cạnh mặt tích cực mà quá trình đô thị hóa đem lại thì những
hạn chế, tiêu cực trong xã hội cũng nảy sinh và phát triển. Phân hóa giàu – nghèo là
một vấn đề tất yếu có tính quy luật đối với sự phát triển của thành phố Biên Hòa.
Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo có thể có nhiều, do xuất phát điểm là gia đình
nghèo, đông con, thất học dẫn đến thất nghiệp hoặc do cờ bạc, lười biếng không
chịu lao động; do sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường dẫn đến một số cơ sở
sản xuất thua lỗ, bị phá sản, công nhân thất nghiệp, bản thân người chủ cũng trở
thành kẻ trắng tay… Từ đói nghèo sẽ kéo theo nhiều hệ lụy khác, kìm hãm nhịp độ
tăng trưởng kinh tế, ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội trong vấn đề giải quyết việc làm,
an ninh trật tự, giáo giục, y tế,…
Tuy nhiên trong 20 năm qua, thành phố Biên Hòa luôn có nhiều cố gắng để
làm giảm tỉ lệ những hộ đói – nghèo, thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch thông qua
các chính sách xã hội.
Chương trình xóa đói giảm nghèo được quan tâm, đặc biệt từ những năm
1990 đã được triển khai sâu rộng trong đời sống dân cư nên việc huy động vốn và
cho vay hỗ trợ các hộ nghèo đạt kết quả tốt. Nếu như năm 1993 nguồn vốn quỹ xóa
đói giảm nghèo thành phố đạt 3 tỉ 199 triệu đồng, giải quyết cho 4132 hộ vay [59,
tr.19], đến năm 2000 nâng số vốn lên 6,2 tỉ đồng và 7558 hộ được vay từ quỹ này.
Các hộ được hỗ trợ vốn đa số đều cố gắng làm ăn có hiệu quả, thu nhập ngày
càng được tăng lên. Đời sống có phần ổn định hơn trước, xóa dần hộ đói, nâng cuộc
sống khá hơn đối với hộ nghèo. Đồng thời thành phố còn giải quyết hỗ trợ hàng
trăm triệu đồng vốn cho các đơn vị xí nghiệp, kinh tế tập thể để phát triển ngành
nghề, đầu tư phương tiện và trang thiết bị dạy nghề, tạo việc làm cho con em các gia
đình chính sách, gia đình đặc biệt khó khăn. So với cả tỉnh, Biên Hòa có tỉ lệ hộ đói
nghèo luôn thấp hơn mức chung.
Bảng 3.13. Biến động hộ đói nghèo của TP. Biên Hòa theo
Năm 1994
Năm 1999
Dân số
Hộ đói nghèo
Tỉ lệ Dân số
Hộ đói nghèo
Tỉ lệ
(hộ)
Tổng
Đói Nghèo %
(hộ)
Tổng Đói Nghèo
%
-
Tỉnh
353.165 56.898 11.824 45.074 16,11 410.768 20.333
20.333
4,95
Biên
-
Hòa
75.229
4.428
1.103
3.325
5,88
100.563
1.732
1.732
1,72
chuẩn mực cũ qua các năm 1994 – 1999
Nguồn: [Phòng Thống kê TP. Biên Hòa (54)]
Chỉ trong vòng 5 năm, từ năm 1994 đến năm 1999 số hộ đói – nghèo của
thành phố giảm nhanh, từ 5,88% xuống còn 1,72%, đặc biệt đã xóa được tình trạng
hộ đói trên địa bàn. Tuy nhiên đến năm 2000 theo tiêu chí mới xác định về hộ đói –
nghèo, tỉ lệ nêu trên lại tăng lên do một số hộ trước kia đã vượt ra khỏi đói – nghèo
nay do mức xác định cao hơn nên bị tính trở lại.
Bảng 3.14. Biến động hộ đói nghèo của TP. Biên Hòa theo chuẩn mực
Năm 2000
Năm 2005
Dân số
Hộ đói nghèo
Tỉ lệ Dân số
Hộ đói nghèo
Tỉ lệ
(hộ)
Tổng Đói Nghèo %
(hộ)
Tổng Đói Nghèo
%
-
Tỉnh
419.374
52.827
52.827 12,59 424.117
3.795
3.795
0,89%
-
Biên
-
-
Hòa
103.432
3.858
3.858
3,73
101.264
70
70
0,07%
mới qua các năm 2000 - 2005
Nguồn: [Phòng Thống kê TP.Biên Hòa (54)]
Qua bảng số liệu, số hộ nghèo đói của tỉnh nói chung và thành phố Biên Hòa
nói riêng so với năm 1999 là nhiều hơn, nhưng về cơ bản đã xóa được hoàn toàn hộ
đói. Đây là kết quả đáng mừng cho sự phát triển của thành phố. Mặt khác trong 5
năm từ năm 2000 đến năm 2005, tỉ lệ hộ nghèo của thành phố và tỉnh giảm nhanh,
đối với Biên Hòa là 0,07%.
So sánh giữa tỉ lệ chung của cả tỉnh và thành phố Biên Hòa thì thấy có sự
chênh lệch đáng kể, dù theo chuẩn mực mới hay cũ. Điều đó nói lên đời sống kinh
tế của người dân thành phố cao hơn, mặt khác phản ánh hiệu quả của công tác xóa
đói giảm nghèo.
Bên cạnh chính sách xóa đói giảm nghèo, thành phố Biên Hòa còn quan tâm
và thực hiện tốt phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc các đối tượng chính sách
góp phần làm giảm bớt khó khăn cho các gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có
công với nước.
Trong giai đoạn 1991 – 1995 thành phố đã trực tiếp chăm lo được 7900 đối
tượng với kinh phí 37 tỉ 738 triệu đồng, xây dựng 150 căn nhà tình nghĩa, cấp 253
sổ tiết kiệm tặng đối tượng chính sách.
Đến 5 năm 2001 – 2005, thành phố đã giải quyết dứt điểm việc xây nhà tình
nghĩa cho các đối tượng thuộc diện chính sách. Ngoài ra còn xây được 605 nhà tình
thương cho các hộ nghèo, đạt gấp 3,5 lần so với mục tiêu nghị quyết. Như vậy, các
chính sách xã hội, hoạt động từ thiện, nhân đạo, chăm lo gia đình nghèo, người tàn
tật, neo đơn, trẻ em mồ côi đã được các ngành, các cấp và đông đảo nhân dân trên
địa bàn thành phố quan tâm hỗ trợ. Từ đó góp phần làm giảm cách biệt giàu nghèo
* Tiểu kết chương 3
trong xã hội, ổn định đời sống dân cư và an ninh trật tự xã hội.
Qua 20 năm đổi mới, bộ mặt xã hội của thành phố Biên Hòa thay đổi nhanh
chóng. Sự tăng lên liên tục của quy mô dân số, trong đó chủ yếu là tăng cơ học làm
cho lực lượng lao động luôn dồi dào. Trình độ tay nghề của đội ngũ công nhân đang
từng bước được nâng cao để thích nghi với quy trình sản xuất hiện đại.
Các lĩnh vực khác phục vụ cho đời sống cũng không ngừng phát triển theo
hướng đáp ứng đầy đủ và nâng cao chất lượng cuộc sống. Hệ thống các hoạt động
phục vụ cho vui chơi – giải trí được tăng cường như sửa chữa, nâng cấp công viên
Biên Hùng, xây dựng khu chợ đêm,… Hệ thống giáo dục với số trường, lớp, giáo
viên, học sinh tăng lên qua mỗi năm, số học sinh tốt nghiệp các cấp học cao, đặc
biệt có nhiều trường đạt chuẩn quốc gia. Số bệnh viện tuy không tăng nhưng số
giường bệnh, phòng khám tư phát triển mạnh, điều đó cho thấy nhu cầu của người
dân không chỉ cần đi khám để chữa bệnh mà còn đòi hỏi chất lượng phục vụ cao.
Đời sống kinh tế phát triển, mức hưởng thụ cuộc sống cũng thay đổi. Trước
năm 1986, người dân phải lo sao cho đủ cái ăn, cái mặc thì bây giờ phải là ăn ngon,
mặc đẹp, ở nhà kiên cố. Tuy nhiên trong xã hội cũng xuất hiện nhiều trở ngại cho sự
phát triển của thành phố. Đó là sự phân hóa giàu – nghèo gay gắt, sự ô nhiễm môi
trường, tình trạng văn hóa bị xuống cấp trong một bộ phận thanh thiếu niên – những
người chủ tương lai của thành phố, các tệ nạn xã hội,…
Vì vậy thành phố đã xác định lấy phát triển kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm,
phát triển văn hóa – xã hội làm động lực thúc đẩy quá trình đô thị hóa. Trên cơ sở
ấy, các hoạt động xã hội được nhân rộng trong quần chúng, việc giáo dục đạo đức
truyền thống cho học sinh – sinh viên được chú ý, sửa chữa và nâng cấp hệ thống
dịch vụ.
KẾT LUẬN
Đô thị hóa là một hiện tượng khách quan, mang tính tất yếu trong sự phát
triển của loài người nói chung và thành phố Biên Hòa nói riêng. Thông qua việc
dựng lại bức tranh đô thị hóa của Biên Hòa trong 20 năm qua, tác giả rút ra một số
nhận xét sau:
1. Quá trình đô thị hóa diễn ra ở thành phố Biên Hòa từ 1986 – 2005 có
nhiều thuận lợi. Trước hết, đó chính là việc thừa hưởng toàn bộ cơ sở hạ tầng được
xây dựng từ thời Pháp thuộc, đặc biệt dưới sự cai trị của đế quốc Mĩ, điển hình nhất
là khu kỹ nghệ Biên Hòa (nay là KCN Biên Hòa 1). Trong thời kì đất nước hoà
bình, Biên Hòa sớm được xác định là trung tâm của cả tỉnh nên nhận được nhiều sự
quan tâm của các cấp chính quyền. Ngoài ra do vị trí nằm gần thành phố Hồ Chí
Minh – một đô thị phát triển vào hàng bậc nhất của nước ta, lại nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm phía nam giúp Biên Hòa nhanh tiếp cận được với trình độ khoa
học kỹ thuật cao, tạo điều kiện đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Mặt khác, xuất phát điểm của Biên Hòa là một đô thị dịch vụ thời Mĩ – ngụy, người
dân rất nhạy bén, năng động trong kinh doanh tạo nên sự đa dạng trong các ngành
nghề.
2. Khi nói đến quá trình đô thị hóa, có hai loại: đô thị hóa tự phát và đô thị
phát triển do nhà nước quản lý.
Tính tự phát được thể hiện qua hiện tượng xây dựng nhà ở tràn lan của người
dân nằm ngoài sự kiểm soát của chính quyền, qua sự quá tải của một số ngành phục
vụ,… Vì vậy, đô thị hóa tự phát thường mang lại nhiều yếu tố bất ổn cho sự phát
triển (đặc điểm này diễn ra chủ yếu ở những phường ngoại thành như Bửu Long,
Long Bình Tân, Trảng Dài).
Tính tự giác được thể hiện qua những những chủ trương, chính sách của
thành phố. Từ sau đại hội đổi mới – đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm
1986, thành phố đã phê duyệt nhiều dự án phát triển kinh tế, chủ động tháo gỡ mọi
rào cản trong thủ tục hành chính để thu hút vốn đầu tư nước ngoài; đồng thời cũng
sớm xác định vai trò là trung tâm công nghiệp của cả nước.
Mặt khác, thành phố đã tiến hành xây dựng hai bản quy hoạch tổng thể năm
1993 và năm 2002 (trong đó định hướng phát triển Biên Hòa đến năm 2020). Theo
sự quy hoạch năm 2020, thành phố Biên Hòa sẽ được mở rộng, phát triển chủ yếu
về phía Bắc, Tây Bắc và dọc hai bên bờ sông Đồng Nai tạo thành mối liên hệ hài
hòa giữa Biên Hòa và các tỉnh lân cận. Ngoài ra, việc quy hoạch chi tiết không gian
đô thị các phường cũng được thực hiện. Mục tiêu đến năm 2010, thành phố sẽ tiến
hành quy hoạch đối với 26 phường, xã.
Như vậy ở Biên Hòa diễn ra song song cả hai quá trình đô thị hóa tự phát và
tự giác. Đây cũng là đặc điểm chung của trong quá trình phát triển của các đô thị ở
Việt Nam.
3. Động lực thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra ở thành phố Biên Hòa bắt
nguồn từ 2 yêu cầu: là trung tâm kinh tế - chính trị của toàn tỉnh và yêu cầu phát
triển về kinh tế - xã hội . Ngay từ những ngày đầu sau giải phóng 1975, Biên Hòa đã
là một đô thị đồng thời được xác định là thành phố của toàn tỉnh Đồng Nai. Mặt
khác, trong khoảng thời gian từ năm 1975 đến trước đổi mới, sự khủng hoảng trầm
trọng trên tất cả lĩnh vực của đời sống trở thành nguyên nhân đòi hỏi thành phố phải
nhanh chóng phát triển. Kết quả từ năm 1986 trở lại đây, quá trình đô thị hóa đã
đem lại bộ mặt mới về kinh tế cho thành phố, mức tăng trưởng bình quân hàng năm
cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật được hoàn thiện từng bước, mức sống của người dân
được cải thiện và nâng cao…
4. Xuất phát từ đặc điểm lịch sử, quá trình đô thị hóa thành phố Biên Hòa
trong 20 năm qua có đặc điểm là sự phát triển, mở rộng không gian đô thị ở những
phường trước đây là ngoại thị như Long Bình Tân, Trảng Dài, sự phổ biến lối sống
thành thị vào nông thôn ở 3 xã Tân Hạnh, Hóa An và Hiệp Hòa; đồng thời nâng cao
dần vai trò của thành phố đối với khu vực phía Nam và của cả nước. Đặc điểm này
hoàn toàn khác với một số đô thị nhỏ hiện nay được hình thành trên cơ sở của một
vùng thuần nông. Các yếu tố đô thị (cảnh quan, cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội, dân
cư…) ngày càng phát triển theo hướng hiện đại, khang trang hơn. Các khu công
nghiệp cùng với cụm công nghiệp đựơc xây dựng nhiều hơn vừa thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, vừa góp phần giải quyết việc làm cho người lao động.
Như vậy quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa diễn ra theo chiều sâu
và chiều rộng. Tuy nhiên căn cứ trên hiện trạng sử dụng đất của thành phố năm
2002, quỹ đất chưa sử dụng còn rất ít. Vì vậy việc xây dựng phát triển đô thị Biên
Hòa trong tương lai cần phải tập trung theo chiều sâu. Điều này cũng hoàn toàn phù
hợp với xu thế phát triển của các đô thị lớn nói chung.
5. Đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa vừa diễn ra theo chiều rộng và chiều sâu,
vừa mang tính tự phát và tự giác nhưng nổi trội là sự phát triển có kế hoạch thể hiện
tính tự giác và đi vào chiều sâu. Bên cạnh đó sự quan tâm của chính quyền đã đóng
vai trò là động lực thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của thành phố; làm cho Biên
Hòa trở thành một đô thị công nghiệp của cả nước.
Điều đó được thể hiện ở tỉ trọng sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố
so với toàn tỉnh (năm 2005 giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố chiếm 67,6%
so với toàn tỉnh), qua số dự án nước ngoài đầu tư tập trung ở 4 khu công nghiệp lớn
là Amata, Loteco, Biên Hòa 1 và Biên Hòa 2. Vì vậy ở Biên Hòa, đô thị hóa gắn
liền với công nghiệp hóa. Công nghiệp hóa thúc đẩy đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ,
tạo điều kiện để nâng cao đời sống kinh tế người dân; ngược lại đô thị hóa bổ sung
thêm nguồn lao động, nâng cao trình độ dân trí, tạo nên lực lượng lao động có tay
nghề trong nhà máy xí nghiệp.
6. Bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng đem lại nhiều hệ
lụy. Lĩnh vực cơ sở hạ tầng phát triển còn chậm so với tốc độ phát triển kinh tế; giao
thông chủ yếu là chỉnh trang, chưa mở được những tuyến đường mới, chưa hình
thành mạng đường chính hợp lý. Hệ thống điện, nước chưa được đầu tư phát triển
tương xứng, vẫn còn tồn tại những nhà máy công nghiệp nằm rải rác trong khu dân
cư, không theo quy hoạch (như cụm công nghiệp Tân Mai, Tân Tiến…). Vấn đề nhà
ở trong các khu tái định cư, khu chung cư cho cán bộ công nhân, đặc biệt là ở các
khu công nghiệp tập trung, khu dân cư đô thị mới chưa được quan tâm đúng mức.
Các hoạt động dịch vụ chưa phong phú để đáp ứng nhu cầu gải trí – vui chơi của
người dân thành phố.…
Trên cơ sở tìm hiểu thực tế quá trình phát triển của thành thố Biên Hòa từ
1986 - 2005, tác giả luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm sau:
1. Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của thành phố, luôn
có những chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế địa phương.
Từ năm 1986, Đảng bộ và các cấp chính quyền thành phố Biên Hòa đã từng
bước tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, bằng nhiều biện pháp như thu hút vốn
đầu tư nước ngoài, kịp thời chỉ đạo khắc phục những hạn chế tồn đọng trong các
nhà máy, xí nghiệp. Đồng thời quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
người dân, xác định văn hóa là nền tảng, động lực phát triển kinh tế - xã hội. Kết
quả là thành phố đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả lĩnh vực, qua đó góp
phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng.
Trong tương lai, vai trò của nhà nước cần được giữ vững thông qua nâng cao
năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp gắn với thực hiện cải
cách thủ tục hành chính. Thường xuyên củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng
trong sạch vững mạnh là yếu tố quyết định mọi thắng lợi trước yêu cầu, nhiệm vụ
mới.
2. Tăng cường khối đoàn kết toàn dân, phát huy vai trò làm chủ của nhân
dân để tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện tốt những mục tiêu mà thành phố đề
ra trong quá trình đổi mới.
Lịch sử đã chứng minh rằng trong bất cứ thời đại nào, nhân dân cũng là động
lực của sự phát triển. Nắm vững bài học đó, từ 1986 – 2005, bên cạnh các chính
sách, biện pháp để phát triển kinh tế, thành phố rất quan tâm đến các công tác xã hội
như xây nhà tình thương – tình nghĩa, đền ơn đáp nghĩa đối với những người có
công với quê hương, phong trào xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người
lao động,… Đẩy mạnh các hoạt động chăm lo sự nghiệp giáo dục, y tế, văn
hóa,…Mở rộng và đa dạng các hình thức tập hợp nhân dân ở tận cơ sở, phối hợp
nhà nước và nhân dân cùng làm.
Đồng thời, thành phố bước đầu đã chú ý tạo điều kiện để người dân tiếp xúc
với các công việc quản lý và phát triển đô thị. Điều đó không chỉ đáp ứng đòi hỏi có
căn cứ khoa học về sự đổi mới công tác phát triển đô thị hiện nay mà còn phù hợp
với quan điểm “lấy dân làm gốc” của nhà nước XHCN. Sự tham gia của cộng đồng
cho phép người dân không dừng lại ở việc đóng góp, hợp tác mà còn đi sâu vào quá
trình ra quyết định của thành phố. Để làm được điều này cần phải nâng cao trình độ
dân trí, tăng cường dân chủ hóa đời sống xã hội, cố gắng khắc phục tính áp đặt từ
trên chỉ đạo xuống cơ sở.
3. Bên cạnh những biện pháp tích cực đưa Biên Hòa trở thành thành phố hiện
đại, văn minh, chính quyền còn kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tệ quan
liêu và các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội. Ngoài ra, việc tăng cường giáo dục
pháp luật, xây dựng ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật trong nhân dân, xây
dựng đô thị trật tự kỉ cương là yếu tố quan trọng, tạo thuận lợi cho sự phát triển lâu
dài. Như vậy, quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Biên Hòa gắn liền
với yêu cầu củng cố quốc phòng – an ninh.
4. Biên Hòa là một đô thị phát triển nhanh, gắn liền với công nghiệp hóa -
hiện đại hóa. Bên cạnh việc nâng cao trình độ dân trí cho toàn dân, thành phố đã tập
trung xây dựng đội ngũ trí thức và công nhân có tay nghề.
Quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, tác động sâu sắc toàn diện
trên các lĩnh vực của đời sống. Vì vậy, đội ngũ trí thức và công nhân có tay nghề là
lực lượng tiên phong trong qúa trình đổi mới, nhanh thích nghi với trình độ khoa
học – công nghệ cao.
Trong nhiều năm qua, ngành Giáo dục – Đào tạo đạt được nhiều thành tựu
đáng mừng, tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp, cao đẳng, đại học cao, tuy nhiên công tác
dạy nghề cho lao động phổ thông còn hạn chế. Hiện tượng những người sau khi
được đào tạo ở trình độ cao chuyển sang làm việc ở những tỉnh thành khác, hoặc
không được tạo điều kiện để phát huy chuyên môn vẫn còn.
Điều đó đặt ra thách thức không chỉ riêng cho ngành mà cả các cơ quan,
đoàn thể trong xã hội.
Trên cơ sở những mặt tích cực, tiến bộ và cả những hạn chế còn tồn đọng
trong quá trình đô thị hóa của thành phố giai đoạn 1986 – 2005, tác giả mạnh dạn đề
xuất một số ý kiến có tính chất tham khảo sau:
1. Trước hết về chỉ đạo quản lý, quy hoạch cần phải luôn đi trước một bước
và đồng bộ giữa xây mới và cải tạo, giữa quy hoạch bộ phận với quy hoạch tổng thể
trên tất cả các lĩnh vực, hạn chế đến mức tối đa tình trạng chính quyền đi sau gải
quyết các hệ quả do đô thị hóa tự phát để lại hay sự chồng chéo của những bản quy
hoạch mang tính vi mô và vĩ mô. Điều đó gây nhiều tốn kém, lãng phí cho nhà nước
và cho nhân dân.
Đây thực sự cũng là bài học chung cho tất cả các đô thị ở Việt Nam khi mà
trước đây, do điều kiện lịch sử và hạn chế trong nhận thức, chúng ta chưa có kế
hoạch dài hơi để phát triển đô thị. Chỉ từ sau năm 1992 việc quy hoạch đô thị được
chú ý hơn. Ở thành phố Biên Hòa, đã có hai dự án quy hoạch tổng thể vào năm
1993 và năm 2002 cho đến năm 2020. Tuy nhiên thời hạn năm 2020 thì không thể
xem là dài lâu để định hướng phát triển cho một đô thị lớn, mặt khác những nội
dung trong bản quy hoạch sau vẫn chưa thể hiện được vai trò quan trọng của thành
phố trong tương lai, khi mà người dân đang cố gắng đưa Biên Hòa trở thành đô thị
loại I của cả nước.
Một thực tế hiện nay chúng ta thường làm là quy hoạch không gian trước,
quy hoạch kinh tế - xã hội sau nên thường dẫn đến tình trạng quy hoạch treo.
Nguyên nhân là do công tác dự báo, đánh giá mức độ phát triển kinh tế - xã hội còn
yếu. Vì vậy để Biên Hòa phát triển đúng hướng và lâu dài, cần đánh giá đúng mức
vai trò, vị trí của những nhà quy hoạch đô thị.
2. Trong quy hoạch, xây dựng thành phố cần chú ý đến những yếu tố của sự
phát triển đô thị bền vững. Cụ thể phải quan tâm đúng mức đến môi trường sinh
thái. Hiện nay đứng trước tình trạng ô nhiễm môi trường do các khu công nghiệp,
thành phố đã quy hoạch di dời KCN Biên Hòa 1, chuyển đổi chức năng thành trung
tâm thương mại – dịch vụ. Tuy đây là tín hiệu đáng mừng song thành phố cần đầu
tư nhiều hơn đối với việc xây dựng các hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt, nước
thải công nghiệp và hệ thống thoát nước mưa (một bài học lớn mà quá trình đô thị
hóa ở thành phố Hồ Chí Minh đang đặt ra); đồng thời tích cực trồng cây ven đường
vừa tạo mỹ quan cho thành phố, vừa tạo ra bầu không khí trong lành, làm giảm
tiếng ồn và bụi khói do các phương tiện đi lại mang đến.
Là một thành phố - đô thị nằm bên bờ sông Đồng Nai, hiện nay dòng sông
này đang bị đe dọa bởi hoạt động của con người. Qua trường hợp sông Thị Vải bị ô
nhiễm bởi các nhà máy ở KCN Nhơn Trạch, thành phố cần nhanh chóng cải tạo,
khắc phục để trả lại sự trong sạch của sông Đồng Nai, di dời hoàn toàn các nhà máy
có công nghệ sản xuất lạc hậu, đồng thời có biện pháp xử lí mạnh đối với những cơ
sở sản xuất gây ô nhiễm.
Mặt khác, đô thị phát triển bền vững trong tương lai phải đạt được sự bền
vững về kinh tế. Cần phải tiếp tục duy trì sự chuyển đổi trong cơ cấu các ngành kinh
tế theo hướng tăng tỉ trọng các ngành CN - TTCN và TM - DV, tăng cường áp dụng
khoa học – kỹ thuật, công nghệ cao trong sản xuất để tạo ra các sản phẩm nông
nghiệp sạch và an toàn, tạo khả năng cạnh tranh của các mặt hàng trên thị trường.
Ngoài ra, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm
công bằng xã hội cũng là con đường để đi tới sự bền vững. Vì vậy thành phố cần
phải cải thiện điều kiện sống của nhóm người nghèo và thu nhập thấp thông qua
tăng khả năng, cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội, như y tế, giáo dục, việc làm. Họ
là những đối tượng nhạy cảm và dễ bị tổn thương.
Ở thành phố Biên Hòa số trường học, cấp lớp, ngành nghề, bệnh viện khá đa
dạng song vẫn chưa đáp ứng đủ trước tình trạng nhập cư của những người di dân.
Hiện tượng học sinh bỏ học vẫn còn, nhất là ở khối tiểu học và trung học cơ sở,
công tác giải tỏa đền bù cho người dân thuộc diện quy hoạch trong vài năm qua
thực hiện tương đối tốt và cần phải phát huy trong hoàn cảnh quá trình đô thị hóa
3. Trong quá trình phát triển của đô thị Biên Hòa cần chú ý đến việc tạo
diễn ra ngày càng mạnh mẽ.
dựng hình ảnh riêng,“bản sắc riêng” bằng việc kết hợp ba yếu tố: cảnh quan tự
nhiên, lịch sử và công nghiệp. Điều này sẽ tránh cho Biên Hòa trở thành bản sao
của một đô thị nào đó. Dòng sông Đồng Nai chảy qua thành phố, con sông Cái bọc
quanh Cù lao Phố tạo nên một cảnh quan mặt nước quanh co uốn khúc tuyệt đẹp, sẽ
đóng góp một yếu tố thiên nhiên quan trọng. Việc khai thác yếu tố mặt nước đúng
mức sẽ tạo dựng sắc thái đặc trưng và phong phú cho không gian đô thị Biên Hòa.
Là một vùng đất mới, Biên Hòa chỉ mới hình thành và phát triển hơn 300 năm, vì
vậy còn lưu giữ nhiều công trình văn hóa lịch sử tiêu biểu như Nhà hội Bình Trước,
Trường trang trí mỹ thuật Biên Hòa, Đài kỷ niệm, đền thờ ông Đoàn Văn Cự, đình
Tân Lân, đền thờ Nguyễn Tri Phương... Ngoài ra lợi thế của một đô thị công nghiệp
với các KCN tương đối hiện đại, hoàn chỉnh cần tiếp tục được phát huy.
4. Định hướng phát triển đô thị Biên Hòa cần đặt trong mối tương quan với
các đô thị khác ở Nam Bộ.
Thành phố Biên Hòa nằm trong một vùng phát triển rất thuận lợi, ở trung
điểm của các đầu mối giao thông quan trọng và các thành phố đóng vai trò trung
tâm các vùng như Thủ Dầu Một, Phan Thiết, TP. Hồ Chí Minh và Vũng Tàu, do
vậy trở thành nơi giao nhau của nhiều địa bàn kinh tế - văn hóa - xã hội đơn chức
năng và đa chức năng. Với lợi thế này thành phố Biên Hòa không cần phải phát
triển một số lĩnh vực mà vẫn được hưởng lợi, không nhất thiết phải phát triển các
lĩnh vực dịch vụ cao cấp mà tập trung vào các loại dịch vụ trung bình và phổ thông.
Ngoài ra, thành phố Biên Hòa có thể học lấy những bài học kinh nghiệm từ đô thị
lớn Hồ Chí Minh.
5. Đặc trưng của thành phố Biên Hòa là một đô thị công nghiệp. Vì vậy khi quy
hoạch không gian và kiến trúc KCN và khu dịch vụ kèm theo cần tính đến việc tái sử
dụng trong chiến lược dài hơi. Nghĩa là trong khi quy hoạch xây dựng các công
trình phục vụ cho các KCN cần phải tính đến là tuổi thọ của các công trình này (ở
bên trong và bên ngoài khu công nghiệp) như xưởng, nhà kho, công sở, nhà ở cho
chuyên gia, nhà lưu trú cho công nhân,... trong tương lai vài chục năm nữa những
loại hình công nghiệp nào còn tồn tại tập trung gần thành phố Biên Hòa, những loại
hình nào phải di chuyển ra các huyện, những loại hình nào không còn tồn tại nữa,
loại hình còn tiếp tục phát triển thì quy mô tới đâu, số lượng, cấp độ, trình độ thế
nào. Không nên cho các công ty có trình độ lạc hậu, quy mô nhỏ thuê đất với thời
gian quá dài, và quá lớn (hiện nay thời gian thuê thường là 50 năm và giá khoảng 3- 4 USD/m2. Do sợ khu công nghiệp không lấp đầy nên cho thuê giá thấp, ai thuê
cũng được nên khi cần lấy đất cho mục đích phát triển khác rất khó khăn.
6. Là một thành phố trước nay sống chủ yếu bằng công nghiệp, Biên Hòa
đang phải đối mặt với thách thức là nên phát triển các KCN tập trung hay các KCN
phân tán. Nếu thành phố phát triển công nghiệp tập trung, tức đặt các KCN gần
nhau, bài toán về nhà ở cho công nhân, sự đồng bộ của cơ sở hạ tầng,… đặt ra càng
gay gắt; nếu phát triển các KCN phân tán, tức đưa về các huyện, sẽ giảm được
những chi phí trong đầu tư hạ tầng kỹ thuật, tỉnh Đồng Nai phải đối mặt với các vấn
đề về môi trường, nông dân mất đất sản xuất... Vì vậy khi quy hoạch đô thị Biên
Hòa cần có sự khảo sát, nghiên cứu thật kỹ và đặt trong quan hệ tổng thể với các đô
thị của tỉnh để lựa chọn loại hình phát triển công nghiệp tập trung hay phân tán.
Tóm lại, quãng thời gian 20 năm đổi mới từ 1986 đến 2005, quá trình đô thị
hóa ở thành phố Biên Hòa diễn ra mạnh mẽ đã làm chuyển biến về kinh tế - cơ sở hạ
tầng kỹ thuật – văn hóa xã hội theo hướng hiện đại, văn minh tiến bộ hơn. Ghi nhận
sự lớn mạnh của Biên Hòa, năm 1993 Nhà nước đã quyết định công nhận đây là đô
thị loại II. Hiện nay người dân và chính quyền thành phố đang nỗ lực để đưa Biên
Hòa trở thành đô thị loại I của cả nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alan Coulthart, Nguyễn Quang và Henry Sharpe (2006), Chiến lược phát triển
đô thị: đối mặt với những thách thức về đô thị hóa nhanh chóng và chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường, Công ti in và văn hóa phẩm.
2. Nguyễn Thế Bá (1999), Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, Nxb Xây dựng.
3. Ban chấp hành Đảng bộ TP. Biên Hòa (1997), Biên Hòa – ghi nhớ tự hào,
NxbTrẻ.
4. Ban chấp hành Đảng bộ TP. Biên Hòa (1999), Lịch sử Đảng bộ TP. Biên Hòa,
Nxb Đồng Nai.
5. Trần Văn Bính (1998), Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay,
Nxb Chính trị quốc gia.
6. Bộ xây dựng (1999), Quy hoạch xây dựng các đô thị Việt Nam tập 1, Nxb Xây
dựng.
7. Bộ xây dựng (1999), Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam
đến năm 2020.
8. Cục Thống kê Đồng Nai (2002), Niên giám Thống kê 2001 (1995-2001).
9. Cục Thống kê Đồng Nai (2002), Niên giám Thống kê 2006 (2001-2006).
10. Cục Thống kê Đồng Nai (2002), Niên giám Thống kê 2007.
11. Võ Kim Cương (2004), Quản lí đô thị thời kì chuyển đổi, Nxb Xây dựng, Hà
Nội.
12. Trần Trọng Đăng Đàn (1997), “Mấy khía cạnh về đô thị hóa”, báo Sài Gòn giải
phóng 25/1/1997
13. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2005), Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại
hội VI, VII, VIII, XIX), Nxb Chính trị quốc gia.
14. Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định thành thông chí, Nxb Tổng hợp Đồng Nai.
15. Lê Quý Đức (2003), Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị, Nxb Chính trị
Quốc gia.
16. Jean Paul Lacaze (người dịch Đào Đình Bắc) (2002), Các phương pháp quy
hoạch đô thị, Nxb Thế Giới.
17. Trần Thị Hạnh (2003), Đô thị Nhơn Trạch - tỉnh Đồng Nai trong quá trình hình
thành và phát triển, Luận văn tốt nghiệp khoa Địa lí, Đại học sư phạm TP.
Hồ Chí Minh.
18. Nguyễn Văn Hạnh (1999), “Vấn đề xây dựng và quản lý đô thị”, tham luận tại
hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền vững – vai trò của nghiên cứu và giáo
dục, panel I.
19. Đỗ Hậu (CB) (2001), Xã hội học đô thị, Nxb Xây dựng, Hà Nội.
20. Nguyễn Lệ Phúc Hậu (2005), Thực trạng phát triển sản xuất của thành phố Biên
Hòa – tỉnh Đồng Nai từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Khóa luận
tốt nghiệp khoa Địa lí, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
21. Trần Ngọc Hiên, Trần Văn Chử đồng chủ biên (1998), Đô thị hóa và chính sách
phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb
Chính trị Quốc gia.
22. Nguyễn Minh Hòa (2005), Vùng đô thị châu Á và TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí
Minh.
23. Nguyễn Minh Hòa (2008), “Quan điểm vùng trong quy hoạch không gian để
phát triển các Khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất (trường hợp tỉnh
Đồng Nai và thành phố Biên Hòa”, Tạp chí Khoa học xã hội (6).
24. Đặng Thái Hoàng (2000), Lịch sử đô thị, Nxb xây dựng.
25. Học viện hành chính quốc gia (2007), Tài liệu bồi dưỡng về quản lí hành chính
nhà nước phần III: Quản lí nhà nước đối với ngành, lĩnh vực, Nxb Khoa
học và kĩ thuật.
26. Hội Khoa học Lịch sử TP. Hồ Chí Minh (2002), “Bước đầu tìm hiểu sự hình
thành và phát triển đô thị ở Nam Bộ”, Nam Bộ đất và người, Nxb Trẻ.
27. Lâm Quang Huyên (1999), “Bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng
xã hội trong quá trình đô thị hóa”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển
đô thị bền vững – vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.
28. Nguyễn Thừa Hỷ, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng (1999), Đô thị Việt Nam dưới
thời Nguyễn, Nxb Thuận Hóa.
29. Nhiêu Hội Lâm, người dịch Lê Quang Lâm (2004), Kinh tế học đô thị, Nxb
Chính trị Quốc gia.
30. Ngô Văn Lệ (1999), “Môi trường và đô thị hóa - những vấn đề đặt ra xét từ khía
cạnh xã hội”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền vững – vai
trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.
31. Nguyễn Văn Lịch (1999), “Đô thị hóa và công nghiệp hóa ở Việt Nam, đôi điều
từ kinh nghiệm vài nước Đông Nam Á”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát
triển đô thị bền vững – vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.
32. Trịnh Duy Luân (2004), Xã hội học đô thị, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
33. Trịnh Duy Luân và Michael Leaf (1996), Vấn đề nhà ở đô thị trong nền kinh tế
thị trường của thế giới thứ ba, Nxb Khoa học xã hội.
34. Lương Văn Lựu (1971), Biên Hòa sử lược toàn biên quyển 1.
35. Đào Trọng Năng, Nguyễn Thục Ý (1984), Những vấn đề quy hoạch đô thị và
dân cư, Nxb Khoa học kĩ thuật.
36. Nguyễn Thế Nghĩa, Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên (2002), Phát triển đô thị bền
vững, Nxb Khoa học xã hội.
37. Đặng Văn Phan (1999), “Tiếp cận địa lý trong nghiên cứu một số vấn đề tổ chức
không gian vùng đô thị và công nghiệp vùng phát triển kinh tế trọng điểm
phía Nam trên quan điểm bảo vệ mội trường và phát triển bền vững”, tham
luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền vững – vai trò của nghiên cứu
và giáo dục, panel I.
38. Phòng Quản lý đô thị TP. Biên Hòa (2003), Điều chỉnh quy hoạch chung thành
phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai đến năm 2020.
39. Phòng Tài nguyên và môi trường (2005), Đánh giá hiện trạng môi trường
TP.Biên Hòa và xây dựng chương trình hành động bảo vệ môi trường
đếnnăm 2010 và định hướng đến năm 2020.
40. Phòng Tài chính – kế hoạch (1996), Tập số liệu về tình hình kinh tế - xã hội
thành phố Biên Hòa từ năm 1976 đến 1995.
41. Phòng Tài chính – kế hoạch (2006), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội,
an ninh quốc phòng thực hiện năm 2006 và kế hoạch năm 2007.
42. Phòng Thống kê TP.Biên Hòa (2006), Kết quả thực hiện chỉ tiêu nghị quyết Đại
hội Đảng bộ Thành phố (giữa nhiệm kì) giai đoạn 2005 – 2010.
43. Phòng Văn hóa thông tin TP.Biên Hòa, Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2001 và
triển khai phương nhiệm vụ năm 2002.
44. Phòng Văn hóa thông tin TP.Biên Hòa, Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2002 và
triển khai phương nhiệm vụ năm 2003.
45. Phòng Văn hóa thông tin TP.Biên Hòa, Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2003 và
triển khai phương nhiệm vụ năm 2004.
46. Phòng Giáo dục TP.Biên Hòa, Bản tóm tắt thành tích của Phòng giáo dục thành
phố Biên Hòa đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai trao tặng danh hiệu
cờ thi đua xuất sắc khối các Phòng giáo dục tỉnh Đồng Nai năm học 2005 –
2006.
47. Cao Xuân Phổ (1999), “Mối quan hệ giữa đô thị hóa bền vững và phát triển
nông thôn”, tham luận tại hội thảo khoa học quốc tế, Panel III.
48. Đàm Trung Phường (1995), Đô thị Việt Nam tập 1, Nxb Xây dựng, Hà Nội.
49. Đàm Trung Phường (1995), Đô thị Việt Nam tập 2, Nxb Xây dựng, Hà Nội.
50. Đình Quang (CB) (2005), Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt
Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
51. Trương Thị Minh Sâm (1999), “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với việc phát
triển đô thị bền vững”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền
vững – vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.
52. Nguyễn Đăng Sơn (1999), “Quản lý đô thị và phát triển bền vững, vai trò của
nghiên cứu-giáo dục”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền
vững – vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I
53. Số liệu Phòng Giáo dục TP. Biên Hòa.
54. Số liệu Phòng Thống kê TP. Biên Hòa.
55. Số liệu Sở giáo dục tỉnh Đồng Nai.
56. Nguyễn Sum (1998), Dân số học đại cương, Nxb Giáo dục.
57. Nguyễn Hữu Thái (1999), “Phát triển đô thị và xã hội bền vững - nhìn từ Bắc
Mỹ, nhìn từ châu Á”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền
vững – vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.
58. Thành ủy Biên Hòa (1988), Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ TP. Biên Hòa lần
5.
59. Thành ủy Biên Hòa (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ TP. Biên Hòa lần
7.
60. Thành ủy Biên Hòa (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ TP. Biên Hòa lần
8 (nhiệm kỳ 2001 – 2005).
61. Thành ủy Biên Hòa (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ TP. Biên Hòa lần
9.
62. Thành ủy Biên Hòa (1988), 55 năm thành phố Biên Hòa (1930-1985).
63. Hà Huy Thành (1999), “Phát triển bền vững đô thị-một số vấn đề lý luận và thực
tiễn ở Việt Nam”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền vững
– vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.
64. Trương Quang Thao (2003), Đô thị học: những khái niệm mở đầu, Nxb Xây
dựng, Hà Nội
65. Nguyễn Ngọc Thích (1970), Vấn đề đô thị hóa và phát triển kinh tế tại Việt
Nam, Nxb Học viện Chính trị quốc gia
66. Nguyễn Thị Thủy (2004), Quá trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh từ
1975 đến 1996, luận án tiến sĩ sử học, TP. Hồ Chí Minh.
67. Huỳnh Văn Tới (1999), Bản sắc dân tộc và văn hóa Đồng Nai, Nxb Đồng Nai.
68. Nguyễn Thị Hồng Trang (2006), Quá trình đô thị hóa ở quận 2 thành phố Hồ
Chí Minh 1997 - 2005, Luận văn thạc sĩ Sử học, Đại học sư phạm TP. Hồ
Chí Minh.
69. Lê Thị Kiều Trang (2004), Công nghiệp hóa – Đô thị hóa và sự phân hóa giàu
nghèo ở thành phố Biên Hòa, Khóa luận tốt nghiệp khoa Địa lí, Đại học sư
phạm TP. Hồ Chí Minh.
70. Tôn Nữ Quỳnh Trân (1999), Văn hóa làng xã trước sự thách thức của đô thị hóa
tại TP. Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ.
71. Nguyễn Ngọc Tuấn (2003), Những vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường vùng
ven các đô thị lớn trong quá trình phát triển bền vững. Nxb Khoa học xã
hội.
72. Nguyễn Thanh Tuấn (2006), Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay, Nxb
Văn hóa thông tin.
73. Nguyễn Tấn Tự (2008), Quá trình đô thị hóa huyện Bình Chánh TP. Hồ Chí
Minh 1986-2003, Luận văn thạc sĩ sử học, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh.
74. UBND tỉnh Đồng Nai (1998), Biên Hòa – Đồng Nai 300 năm hình thành và
phát triển, Nxb Đồng Nai.
75. UBND tỉnh Đồng Nai (1993), Đồng Nai tiềm năng và cơ hội đầu tư, Trung tâm
thông tin khoa học – công nghệ TP. Hồ Chí Minh.
76. UBND tỉnh Đồng Nai (2002), Đồng Nai 25 năm xây dựng và phát triển kinh tế -
xã hội, Nxb Đồng Nai.
77. UBND tỉnh Đồng Nai (2005), Đồng Nai 30 năm xây dựng và phát triển kinh tế
- xã hội, Nxb Đồng Nai.
78. UBND tỉnh Đồng Nai (2001), Địa chí Đồng Nai tập 1 Tổng quan, Nxb Tổng
hợp Đồng Nai.
79. UBND tỉnh Đồng Nai (2001), Địa chí Đồng Nai tập 2 Địa lý, Nxb Tổng hợp
Đồng Nai.
80. UBND tỉnh Đồng Nai (2001), Địa chí Đồng Nai tập 3 Lịch sử, Nxb Tổng hợp
Đồng Nai.
81. UBND tỉnh Đồng Nai (2001), Địa chí Đồng Nai tập 4 Kinh tế, Nxb Tổng hợp
Đồng Nai.
82. UBND tỉnh Đồng Nai (2001), Địa chí Đồng Nai tập 5 Văn hóa - xã hội, Nxb
Tổng hợp Đồng Nai.
83. UBND tỉnh Đồng Nai (2005), Đồng Nai thế và lực mới trong thế kỉ XXI, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
84. Viện Khoa học Xã hội (1999), trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á, Đô thi hóa
tại Việt Nam và Đông Nam Á, Nxb TP. Hồ Chí Minh.
85. Viện ngân hàng thế giới (người dịch Ngô Hoàng Điệp) (2006), Đô thị hóa trong
thế giới toàn cầu hóa: quản trị Nhà nước thành tích hoạt động và tính bền
vững, Nxb Chính trị Quốc gia.
86. Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.
87. Viện sử học (1989), Đô thị cổ Việt Nam, Hà Nội.
88. Viola OEHLER (1999), “Để phát triển bền vững và công bằng: quá trình hình
thành đô thị trung tâm, mạng lưới đô thị và các cơ sở đào tạo”, tham luận
tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền vững – vai trò của nghiên cứu và
giáo dục, panel I.
89. Phan Huy Xu (1999), “Đô thị Việt Nam trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước”, tham luận tại hội thảo quốc tế phát triển đô thị bền vững
– vai trò của nghiên cứu và giáo dục, panel I.
Các trang Web
90 .w.w.w.dongnai.gov.vn
91. w.w.w.đôthịhóa
92. w.w.w.chungta.com
93. w.w.w.sonadezi
94 w.w.skydoor.net
95. w.w.w.wikipedia.org
96 htTP://my.opera.com/nguoidongnai
97. htTP://vietbao.vn
98. htTP://diaoc.tuoitre.com
PHỤ LỤC
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH ĐỒNG NAI
[Nguồn: w.w.w.skydoor.net]
[Nguồn: w.w.w.skydoor.net]
Đình Tân Lân [w.w.w.dongnai.gov.vn]
Văn miếu Trấn Biên [w.w.w.dongnai.gov.vn]
Bản đồ đô thị Biên Hòa [w.w.w.dongnai.gov.vn]
Khu trung tâm TP.Biên Hòa [w.w.w.dongnai.gov.vn]
Bản đồ giao thông TP.Biên Hòa [w.w.w.skydoor.net]
Một góc khu công nghiệp Biên Hòa 2 [w.w.w.dongnai.gov.vn]
[Nguồn: Sở địa chính Đồng Nai]
[Nguồn: Sở địa chính Đồng Nai]
[Nguồn: Sở địa chính Đồng Nai]
[Nguồn: Sở địa chính Đồng Nai]
Biên Hòa trong không gian kinh tế phía Nam [htTP://vietbao.vn]

