VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN QUYẾT CHIẾN

QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN

TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

CHO NGƯỜI TÂM THẦN TỈNH THÁI BÌNH

Ngành: Công tác xã hội

Mã số: 8 76 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. NGUYỄN TRUNG HẢI

HÀ NỘI, 2019

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Đề tài do cá

nhân tôi nghiên cứu; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có

nguồn trích dẫn; bố cục, phông chữ của luận văn đúng với quy định và đề tài chưa

từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

HỌC VIÊN

Nguyễn Quyết Chiến

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.................................................................................................................... 1

Chương 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝCÔNG TÁC XÃ HỘI

ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN............................................................................. 10

1.1. Lý luận về vấn đề tâm thần và người tâm thần .................................................. 10

1.2. Lý luận về “Quản lý Công tác xã hội đối với người tâm thần” .......................... 21

1.3. Lý thuyết quản lý công tác xã hội ...................................................................... 25

1.4. Các hoạt động quản lý công tác xã hội đối với người tâm thần.......................... 29

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý công tác xã hội đối với người tâm

thần. .......................................................................................................................... 34

Chương 2.THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI

NGƯỜI TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC VÀ PHỤC HỒI

CHỨC NĂNG CHO NGƯỜI TÂM THẦN TỈNH THÁI BÌNH ....................... 42

2.1. Sơ lược về địa bàn và khách thể nghiên cứu ...................................................... 42

2.2. Sơ lược về khách thể nghiên cứu ...................................................................... 44

2.3. Thực trạng hoạt động quản lý công tác xã hội đối với người tâm thần tại trung

tâm chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần Thái Bình ....................... 45

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động quản lý tại Trung tâm ................. 58

Chương 3.GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ

HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC VÀ

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO NGƯỜI TÂM THẦN TỈNH THÁI BÌNH... 66

3.1. Quan điểm, chính sách về các hoạt động quản lý đối với người tâm thần ......... 66

3.2. Các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý đối với người tâm

thần tại trung tâm ..................................................................................................... 68

KẾT LUẬN ............................................................................................................. 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CTXH : Công tác xã hội

2. NTT : Người tâm thần

3. NV CTXH : Nhân viên công tác xã hội

4. QL CTXH : Quản lý công tác xã hội

5. CBVC : Cán bộ viên chức

6. NLĐ : Người lao động

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội ngày càng phát tiển, sự hội nhập kinh tế thị trường, con người phải đối

mặt với bao khó khăn, thách thức, áp lực kinh tế, cuộc sống, nhu cầu của con người

ngày càng cao song hành với sự phát triển của toàn xã hội là những hệ lỵ, nhiều

người rơi vào tình trạng stress, khủng hoảng, hoang mang, lo âu...lâu ngày dẫn đến

tâm thần, rối nhiễu tâm trí để nhiều gánh nặng cho chính bản thân, gia đình và toàn xã

hội. Theo thống kê của Bộ Y tế vào năm 2017, tại Việt Nam, có khoảng 15% dân số

mắc các rối loạn tâm thần phổ biến liên quan tới stress, 3 triệu người bị rối loạn tâm

thần nặng. Còn thông báo tại Viện Sức khỏe tâm Thần cho thấy có 30% dân số Việt

Nam mắc các bệnh rối loạn tâm thần, trong đó tỷ lệ trầm cảm chiếm 25%. Căng

thẳng thần kinh (stress) đang ngày trở thành một vấn nạn không loại trừ một ai trong

cuộc sống hiện đại.Các yếu tố gây stress, nếu kéo dài, sẽ gây đến tình trạng trầm cảm,

chiếm đến 35% trong các trường hợp bị rối loạn tâm thần. Các vấn đề trầm cảm rõ

nhất là người bệnh mất hết hứng thú, không có khả năng tập trung, ảnh hưởng rõ ràng

nhất đến công việc. Ngoài ra, người bệnh cũng có những biểu hiện suy yếu về mặt

sức khỏe, cơ thể, rối loạn về giấc ngủ, rối loạn về ăn uống, thậm chí có những vấn đề

Chính vì điều đó em đề tài: “Quản lý công tác xã hội đối với người tâm

về sinh hoạt vợ chồng, bạn bè, gần như ảnh hưởng tới mọi mặt của cuộc sống.

thần tại Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh

TháiBình” làm đề tài nghiên cứu của mình.

Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người tâm thần Thái Bình

được thành lập tháng 4 năm 1979 khi mới thành lập mang tên là Trung tâm điều

dưỡng người tâm thần có công, được tỉnh Thái Bình, Ti Thương binh (nay là Sở lao

động Thương binh và Xã hội) giao nhiệm vụ; Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi

dưỡng và phục hồi chức năng cho người tâm thần đặc biệt nặng, người rối nhiễu tâm

trí trong đó số người tâm thần nói chung và người có công bị mắc bệnh tâm

thần.Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Sở Lao động Thương binh

1

và Xã hội tỉnh Thái Bình Trung tâm đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao,

thực hiện các chế độ chính sách cho đối tượng đảm bảo theo đúng quy định. Do vậy

đời sống của đối tượng được cải thiện, sức khỏe, bệnh lý tạm ổn định, số đối tượng

tái phát cơn giảm, đối tượng bớt phá phách đập phá.Hiện nay Trung tâm đang quản lý

và chăm sóc cho 240 đối tượng là người tâm thần đặc biệt nặng, trong đó có cả đối

tượng là Người có công và đối tượng Bảo trợ xã hội. Do điều kiện đặc thù Ban Giám

đốc Trung tâm rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ,

tập huấn song đội ngũ cán bộ trực tiếp làm quản lý Công tác xã hội còn hạn chế cả về

chất lượng, số lượng chủ yếu tham gia các khóa học về chuyên môn y tế, và một số

chuyên ngành khác.

CTXH là một tiến trình, sử dụng các kỹ năng, phương pháp hỗ trợ, tương tác

đến cá nhân, nhóm, cộng đồng những người yếu thế, có hoàn cảnh khó khăn trong xã

hội vì vậy các hoạt động CTXH đã và đang được chứng minh thông qua nhiều hoạt

động thực tiễn. Tại một số tỉnh thành các hoạt động CTXH đã và đang được cấp có

thẩm quyền quan tâm chính vì vậy một số dịch vụ mà nhân viên, cộng tác viên

CTXH kết nối mang lại hiệu quả cho nhóm, cá nhân đối tượng yếu thế trong xã hội.

Điều này phần nào phù hợp với tình hình thực tiễn tại cơ sởtrong công tác quản lý

người tâm thần, song hiện tại Trung tâm còn gặp phải nhiều khó khăntrong công tác

quản lýđối với người tâm thần đặc biệt nặng, dù đã có những mặt đã thực hiện tốt tuy

nhiên do nhiều nguyên nhân nên hoạt động này còn có một số hạn chế nhất định.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ngay từ những năm tháng chiến tranh “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong

một bức thư gửi đồng bào toàn quốc ngay sau khi cách mạng thành công và Nhà

nước Việt Nam độc lập ra đời”.

Với tấm lòng yêu thương dân, Bác Hồ kêu gọi: "Vậy tôi xin đề nghị với đồng

bào cả nước và tôi xin thực hành trước; Cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng

nhịn ba bữa. Ðem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo". Lời kêu gọi của

Người đã nhanh chóng được nhân dân khắp nơi hưởng ứng. Trước khi đong gạo

bỏ nồi nấu cơm, mỗi gia đình lấy ra một nắm bỏ vào trong hũ, trong vại, "tích tiểu

2

thành đại", rồi mang biếu tặng người thiếu đói. Lương thực từ những "Hũ gạo tình

thương", "Hũ gạo kháng chiến"... không chỉ được đem cứu giúp người nghèo, mà còn

để góp phần nuôi quân đánh giặc.

Thực hiện lời dậy của Bác trong những năm qua Đảng, Nhà nước, các cấp, các

ngành, các tổ chức đoàn thể, hội, các nhà hảo tâm, mạnh thường quân thường xuyên

quan tâm chăm lo cho đối tượng yếu thế, đồng bào vùng cao, các địa phương gặp kho

khăn do thiên tai, hạn hán…thông qua các chính sách hỗ trợ, trợ giúp, xóa đói giảm

nghèo…được thực hiện thông qua các hoạt động, các trương trình vận động trên các

phương tiện thông tin đại chúng đối với cộng đồng, nhóm, cá nhân gặp hoàn cảnh

khó khăn, đặc biệt khó khăn với phương châm lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá

rách nhiều cùng phát triển toàn diện, bền vững , tiến bộ và bình đẳng của xã hội. Tuy

nhiên, trong các khâu xây dựng, triển khai do đây là lĩnh vực mới nên bước đầu chỉ

tập trung vào tìm hiểu nhu cầu và xây dựng các kế hoạch trợ giúp cụ thể, chưa chú

trọng nhiều đến vấn đề quản lý công tác này.

Trong quá trình nghiên cứu các tài liệu có rất nhiều tác giả cả trong và ngoài

nước đã viết và trình bày trên diễn đàn, các hội thảo khoa học về CTXH đối với các

nhóm người yếu thế, các giải pháp, phương hướng đặt ra, mục tiêu hướng tới sự phát

triển toàn diện, bền vững, tiến bộ và bình đẳng của xã hội trong giai đoạn phát triển

đất nước. Trong số các tác giả có Tiến sĩ Hà Thị Thư đã đưa ra “Những giải pháp tiếp

cận về CTXH đối với người khuyết tật, các mô hình hỗ trợ, các phương pháp tiếp

cận, các chương trình chính sách của nhà nước đối với người khuyết tật, vai trò của

nhân viên công tác xã hội đối với người khuyết tật, các kỹ năng làm việc với người

khuyết tật”. [23]

Đối với người khuyết tật nói chung người tâm thần nói riêng có rất nhiều tác

giả nghiên cứu viết bài trong đó tác giả Phạm Văn Hải đã phản ánh những vấn đề lý

luận và thực tiễn về thực trạng công tác xã hội nhóm đối với người có công bị tâm

thần từ thực tiễn Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người tâm thần

tỉnh Thái Bình, đưa ra những giải pháp can thiệp, hộ trợ, trợ giúp trên phương diện

CTXH nhóm đối với người tâm thần đặc biệt nặng của Trung tâm và đi sâu vào

3

nhóm đối tượng là người có công bị mắc bệnh tâm thần thông qua các hoạt động hỗ

trợ, phục hồi chức năng cho họ, đưa các kỹ năng, kiến thức CTXH vào thực tiễn đối

với người tâm thần.

Trong các nhóm đối tượng là người khuyết tật theo Luật Người khuyết tật

được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7

thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010. Đối tượng người mắc bệnh tâm thần được các

nước trên thế giới, Việt Nam quan tâm vì đối tượng này có những đặc thù riêng “khả

năng tư duy, ý thức, hành vi không tự chủ và đặc biệt là họ được pháp luận công nhận

là mất hành vi dân sự” họ có thể gây ra nhiều ảnh hưởng, hệ lụy cho cộng đồng, xã

hội chí vì điều đó các hoạt động quản lý, chăm sóc, phục vụ rất cần được cộng đồng,

xã hội quan tâm, hỗ trợ, trợ giúp thông qua các hoạt động tại các Trung tâm Bảo trợ,

tại cộng đồng.

Sau 5 năm thực hiện Đề án trợ giúp người tàn tật giai đoạn 2006-2010, việc

ban hành các văn bản pháp luật, triển khai thực hiện các chính sách, chế độ trợ giúp

người khuyết tật (NKT), trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, xã hội và gia đình

đối với NKT đã từng bước được nâng cao; quyền và nghĩa vụ của họ đã được quy

định tương đối đầy đủ, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động trợ giúp, góp phần

cải thiện, nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của đa số NKT.

Các cấp từ Trung ương đến địa phương đã tích cực triển khai thực hiện chính

sách hỗ trợ người khuyết tật trong các lĩnh vực: trợ cấp xã hội, giảm nghèo, dạy nghề

tạo việc làm, khám, chữa bệnh, cấp học bổng, miễn giảm học phí, tạo điều kiện thuận

lợi cho NKT tiếp cận các công trình công cộng… nhờ vậy, đời sống của NKT được

cải thiện rõ rệt, vị thế của họ ngày càng được khẳng định trong các hoạt động kinh tế,

xã hội.

Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách trợ giúp NKT còn nhiều bất cập, một

số quy định của pháp luật về NKT còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa cụ thể và chưa

chú trọng đề ra các biện pháp khả thi trong tổ chức thực hiện.

Trong những năm gần đây không chỉ Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành

quan tâm nhiều đến chính sách an sinh xã hội mà cá tổ chức trong và ngoài nước, các

4

cá nhân có nhiều hoạt động, chương trình, hội thảo, chuyên đề, các khóa tập huấn,

công trình nghiên cứu… có liên quan đến quan tâm đến các hoạt động hỗ trợ cho

người khuyết tật nói chung, người tâm thần nói riêng, hàng năm Cục bảo trợ tổ chức

hội nghị Tổng kết công tác Bảo trợ xã hội trên toàn quốc có sự tham gia của đại diện

các cấp, các ngành, các tổ chức trong và ngoài nước, lãnh đạo Sở Lao động Thương

binh và Xã hội các tỉnh thành trên cả nước và đại diện các Trung tâm Bảo trợ xã hội

để đánh giá công tác bảo trợ xã hội trong năm, phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu

năm sau, các kiến nghị, đề xuất về những tồn tại, khó khăn tại cơ sở cần tháo gỡ.

Qua quá trình tổng quan về một số công trình nghiên cứu về công tác xã hội

đối với người khuyết tật nói chung, người tâm thần nói riêng và hệ thống chính sách

giành cho những đối tượng này có thể thấy rằng họ là nhóm xã hội đặc biệt yếu thế

đang được cộng đồng quan tâm, các nghiên cứu hiện mới chỉ tập trung tìm hiểu ở một

số khía cạnh khác nhau (chủ yếu là tập trung vào các can thiệp chính sách). Tuy nhiên

những can thiệp chuyên sâu như quản lý CTXH đối với người tâm thần gần như bị bỏ

ngỏ. Trên thực tế tại tỉnh Thái Bình công tác quản lý, chăm sóc người tâm thần chưa

được quan tâm, nhiều xã phường cán bộ làm chín sách còn không biết hết các thủ tục

chính sách có liên quan đến đối tượng này, cộng đồng, gia đình đa phần nghĩ họ bị

tâm thần chẳng giúp gì cho gia đình được coi như người bỏ đi, chính thân nhân đối

tượng chẳng hề quan tâm đến việc họ làm gì, ăn uống ra sao, để đi lang thang đói thì

về, chẳng quan tâm đến có ảnh hưởng gì đến cộng đồng xã hội chính vì điều đó

những năm gần đây trên cả nước đã xẩy ra những vụ án bi thương có liên quan đến

người tâm thần gây ra, vì vậy cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, công

đồng xã hội đến đối tượng người tâm thần. Do đó việc nghiên cứu tập trung vào quản

lý CTXH đối với người tâm thần sẽ rất hữu ích và cần thiết.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý CTXH với người

tâm thần tại Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh

Thái Bình từ đó đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt

5

động quản lý công tác xã hội đối với người tâm thần tại Trung tâm.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Mô tả và đóng góp thêm những lý luận nhằm làm sáng tỏ hơn một số khái

niệm về người tâm thần, sức khỏe tâm thần, và quản lý công tác xã hội đối với người

tâm thần .

Trên cơ sở thực tiễn tại Trung tâm về công tác quản lý, điều hành, thực hiện

nhiệm vụ tiếp nhận, chăm sóc, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng cho người tâm thần

nói chung và quản lý CTXH đối với người tâm thần để đánh giá, nhìn nhận chung về

công tác quản lý mang tính khả quan, hữu hiệu, mạng lại kết quả cho chính đối tượng.

Phân tích những điểm đã làm được, chưa làm được trong công tác quản lý

CTXH đối với người tâm thần nhằm xác định yêu cầu, nhiệm vụ đồng thời chỉ ra

được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CTXH đối với người tâm thần .

Từ những yêu cầu thực tế đối với người tâm thần đang được quản lý tại Trung

tâm đang gặp phải những khó khăn, vướng mắc đề xuất một số giải pháp cơ bản có

thể mang lại hiệu quả trong công tác quản lý trên phương diện CTXH đối nhóm đối

tượng này.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý công tác xã hội đối với người tâm thần .

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Một số hoạt động của quản lý công tác xã hội với người

tâm thần .

Phạm vi không gian và thời gian: Tại Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức

năng cho người tâm thần tỉnh Thái Bình; Thời gian: 2010 - 2019

Phạm vi khách thể:

Cán bộ quản lý (Ban Giám đốc, các trưởng, phó trưởng phòng,khoa) làm việc

tại Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Thái Bình.

Cán bộ phòng Công tác xã hội, cán bộ các phòng, khoa nơi trực tiếp quản lý,

6

chăm sóc, nuôi dưỡng, phục vụ và phục hồi chức năng cho đối tượng tại Trung tâm.

Người tâm thần tạm ổn định về sức khỏe, bệnh lý đang trong quá trình phục

hồi thử tái hòa nhập cộng đồng.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Là phương pháp thu thập thông tin từ các kênh thông tin, một số nghiên

cứu và các tài liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước, trong đó phải

kể đến hệ thống văn bản chính sách của Đảng, Nhà nước đã được triển khai

thực hiện như Đề án 1215 “Chăm sóc phục hồi chức năng cho người tâm thần

và rối nhiễu tâm thần dựa vào cộng đồng”, Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày

21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối

tượng BTXH. Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ

quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết

tật. Nghị định 103/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2017, Thông tư số 33/TT-

BLĐTBXH ngày 29 tháng 12 năm 2017. Thông tư 02/2018/TTg-BLĐTBXH

5.1 Phương pháp phân tích tài liệu

ngày 27/4/2018 Quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật làm cơ sở xây dựng giá

của Sở Lao động Thương binh và Xã hội về việc tiếp nhận đối tượng bảo trợ

xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp và đối

tượng tự nguyện vào cơ sở trợ giúp xã hội cấp tỉnh…và một số Giáo trình có

liên quan đến lĩnh vực người tâm thần, các văn bản pháp luật có liên quan

khác về vấn đề này. Các tài liệu, văn bản, báo cáo thường niên hàng năm về

công tác quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng của Trung tâm

trong giai đoạn 2010 đến 2019.

dịch vụ trợ giúp xã hội.Công văn số 477/SLĐTBXH-BTXH ngày 30/3/2018

Hoạt động quản lý thông qua việc quan sát việc thực hiện nhiệm vụ của

đội ngũ cán bộ thông qua việc quản lý, chăm sóc, điều trị, nuôi dưỡng và phục

hồi chức năng cho người tâm thần theo nhiều cách thức, hình thức khác nhau

được diễn ra hàng ngàythông qua sinh hoạt, ăn, ngủ, nghỉ, điều trị và đặc biệt

là quá trình phục hồi chức năng bằng bằng máy tập, lao động sản xuất, lao

động trị liệu, hoạt động văn nghệ giải trí…thông qua quan sát thái độ, hành vi,

các hành động giữa các đối tượng với nhau, cách tiếp xúc, tiếp cận của đội

7

5.2. Phương pháp quan sát

ngũ cán bộ với đối tượng trên mọi lĩnh vực sinh hoạt hàng ngày đối với từng

đối tượng, nhóm đối tượng.

Cách thức quản lý, cách thức điều hànhthông qua các hoạt động của đối

tượng, cách phản hồi, phản ứng lại của đối tượng qua cử chỉ, lời nói, hành vi,

hành động...

Quan sát quá trình tham vấn, tư vấn của nhân viên phòng Công tác xã hội

đối với người dân đến hỏi các thủ tục, một số điều kiện cần và đủ khi xin đối

tượng vào Trung tâm, chủ yếu đối với thân nhân đối tượng đang được quản lý

trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, chỉ dẫn người nhà đối tượng trong việc dùng

thuốc, các biểu hiện tái phát cơn thường hay xảy ra khi ở Trung tâm (đối với

những đối tượng được gia đình xin đó về gia đình trong thời gian ngắn).

5.3. Phương pháp phỏng vấn sâu

Sử dụng phương pháp này, học viên mong muốn phân tích và tìm hiểu sâu

các vấn đề liên quan tới các nội dung nghiên cứu, cụ thể là các hoạt động quản lý

CTXH đối với người tâm thần. Các nhóm khách thể được phỏng vấn sâu trong

nghiên cứu bao gồm: Cán bộ quản lý, lãnh đạo tại trung tâm; Nhân viên cung cấp

dịch vụ CTXH trực tiếp đối với người tâm thần .

Đây sẽ là phương pháp chính của nghiên cứu để thu thập các thông tin trực

tiếp phục vụ cho các nội dung nghiên cứu. Cụ thể là:

+ Ban Giám đốc: 01 người

+ Cán bộ quản lý trong trung tâm là trưởng, phó phòng: 03 người

+ Cán bộ viên chức trong trung tâm: 05 người

+Người tâm thần tạm ổn định về sức khỏe, bệnh lý đang trong quá trình

phục hồi thử tái hòa nhập cộng đồng: 4 người

Tổng số: 09 cán bộ và 4 đối tượng

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Bằng phương pháp tiếp cận công tác xã hội, đề tài tổng hợp khung lý luận

nghiên cứu, đồng thời cũng là cơ sở lý luận của công tác xã hội trong công tác

8

quản lý đối với người tâm thần phân liệt đặc biệt nặng. Qua đó đã tổng hợp được

các khái niệm, mục tiêu, nội dung, phương pháp, tiến trình công tác xã hội, các

nhân tố ảnh hưởng và cơ sở luật pháp liên quan.

Là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm các hoạt động công tác xã hội

nói chung và công tác quản lý đối với người tâm thần nói riêng.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài nghiên cứu giúp chúng ta hiểu được thực tế việc quản lý người tâm

thần trên các khía cạnh, phương diện khác nhau như; Việc quản lý hồ sơ, quản lý

đối tượng sau khi vào Trung tâm, quản lý việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ viên

chức (CBVC), người lao động(NLĐ) trong việc quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng,

phục vụ và phục hồi chức năng đối với người tâm thần tại Trung tâm.

Thông qua việc đánh giá hiệu quả cũng như những yếu tố tác động, kết quả

của nghiên cứu sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý CTXH từ đó mang lại những lợi

ích, dịch vụ tốt nhất cho người tâm thần tại Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức

năng cho người tâm thần tỉnh Thái Bình.

7. Kết cấu của luận văn

Kết cấu Luận văn gồm 5 phần; Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh

mục, biểu mẫu.

Luận văn có 3 chương.

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội đối với người

tâm thần .

- Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội đối với người tâm thần tại

Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Thái Bình.

- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả Quản lý công tác xã hội đối với

người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho

9

người tâm thần tỉnh Thái Bình.

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN

1.1. Lý luận về tâm thần và người tâm thần

1.1.1. Khái niệm tâm thần, người tâm thần

- Tâm thần

Tâm thần học là một môn Y học chuyên nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng,

bệnh nguyên, bệnh sinh, các phương pháp điều trị và dự phòng bệnh tâm thần . Bệnh

tâm thần là sự biến đổi chức năng hoạt động của não, gây nên các rối loạn về cảm

giác, tri giác, ý thức, tư duy, cảm xúc, chú ý và trí nhớ, từ đó dẫn đến các rối loạn

hành vi, tác phong làm cho người bệnh mất sự hoà hợp với xã hội[12].

Sức khỏe tâm thần là khả năng của bộ máy tâm lý hoạt động một cách hoàn

toàn hợp lý, có hiệu quả và đương đầu một cách mềm dẻo trước những tình huống

khó khăn mà vẫn có thể tìm lại được sự cân bằng cho mình. Như vậy, muốn có sức

khỏe tâm thần cần phải:

Tạo được sự thích nghi với môi trường sống, sự sảng khoái về tinh thần, có

mối quan hệ tốt đẹp với người khác, nghĩa là với những người thân trong gia đình,

với bạn bè, với những người cùng học, cùng làm.

Làm chủ stress, stress là nỗ lực của cơ thể để thích nghi với những đổi thay.

Vậy cần giữ được cân bằng tâm lý sao cho có thể đương đầu và giải quyết

một cách có hiệu quả những xung đột tâm lý với bản thân và với những người khác.

Nói chung, thư giãn hay căng thẳng, tập trung tư tưởng vào một sự kiện này hay

chuyển sang một sự kiện khác là khả năng tự nhiên ở mỗi người. Tuy nhiên, khi bộ

máy tâm lý bị quá tải, vượt quá giới hạn để tự hồi phục, tự điều chỉnh thì người

bệnh cần một quá trình luyện tập hoặc điều trị.

- Sức khoẻ tâm thần

- Chăm sóc sức khỏe tâm thần:

Là quá trình theo dõi, điều trị, trị liệu, phục hồi chức năng kết hợp nuôi

dưỡng, chăm sóc, hướng dẫn… thông qua các hoạt động can thiệp, trợ giúp về mặt

thực thể, thần kinh và các giác quan nhằm mục đích cải thiện sức khỏe, bệnh lý và

10

tinh thần.

Khả năng tận hưởng cuộc sống

Khả năng phục hồi

Khả năng cân bằng

Khả năng phát triển cá nhân

Sự linh hoạt

- Rối nhiễu tâm trí

Theo định nghĩa về sức khỏe của WHO thì sức khỏe tâm trí là một bộ phận tạo

nên sức khỏe ở mỗi chúng ta. Rối nhiễu tâm trí (mental disorders) biểu thị sự lệch lạc

về sức khỏe tâm thần, đây không phải là bệnh mới, nói đúng hơn, đó là sự nhìn nhận

mới về tình trạng sức khỏe tâm trí theo hướng dự phòng, điều trị sớm bệnh tâm thần

(mental illness).

Là một tình trạng chung có biểu hiện lệch lạc về sức khỏe tâm thần trong một

thời gian đủ dài vượt khỏi sự tự điều chỉnh trở lại cân bằng của cơ thể và cần phải có

sự can thiệp chuyên môn để tránh vòng xoắn rối nhiễu nặng dần dẫn đến các tổn

thương khó hồi phục.

1.1.2. Nguyên nhân của bệnh tâm thần

Có rất nhiều nguyên nhân làm cho con người mắc bệnh tâm thần là vấn đề

phúc tạp đối với các nhà nghiên cứu về bệnh tâm thần trong và ngoài nước. Hiện nay,

một số bệnh đã được xác định rõ nguyên nhân những vẫn còn bệnh chưa nhận định

rõ.Xung quanh vấn đề bệnh nguyên và bệnh sinh các bệnh tâm thần còn tồn tại nhiều

quan điểm và giả thuyết khác nhau.

 Nguyên nhân thực thể

Do tác động của môi trường, kinh tế, xã hội, tâm lý, tình cảm, những xung đột,

trầm cảm… ảnh hưởng đến não bộ gây trở ngại hoạt động của não.

Do tổn thương trực tiếp đến tổ chức não: Chấn thương sọ não; nhiễm trùng

thần kinh (viêm não, giang mai, thần kinh…); nhiễm độc thần kinh (nghiện rượu, ma

túy, nhiễm độc thực phẩm, nhiễm độc hóa chất công nghiệp, nông nghiệp…); các

bệnh mạch máu não, các tổn thương não khác (u não, teo não, xơ rải rác, tai biến

11

mạch máu não…)

Do các bệnh cơ thể ảnh hưởng đến hoạt động não: các bệnh nội khoa, nội

tiết;các bệnh về chuyển hóa và thiếu sinh tố…

 Nguyên nhân tâm lý:

Loạn thần xuất hiện nhanh trong thời gian dưới hai tuần, có khi khởi phát đột

ngột trong vòng 48 giờ.

Trước khi bệnh cảnh loạn thần xuất hiện thường có các triệu chứng báo trước: Người bệnh lo lắng sợ hãi, rối loạn giấc ngủ, hành vi tác phong trở nên khác thường, không tương xứng với hoàn cảnh.

Căng thẳng tâm lý dẫn đến bệnh tâm căn, rối loạn dạng cơ thể, rối loạn phân ly.

Rối loạn hành vi ở thiếu niên do giáo dục không đúng, môi trường xã hội

không thuận lợi.

Rối loạn ám ảnh, lo âu…

 Nguyên nhân do den di chuyền và các khiếm khuyết khi hình thành thai

nhi gây ra

Các di tật bẩm sinh;

Thiếu sót về hình thành nhân cách.

 Các nguyên nhân khác

Đó là sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố gây nên như; Môi trường “ gia đình, xã

hội” kính tế, điều kiện sống, áp lực công việc, tress, trầm cảm, khủng hoảng tâm lý,do

di chuyền… Các rối loạn tâm thần nội sinh thường gặp như; Bệnh tâm thần phân liệt,

rối loạn cảm xúc lưỡng cực, động kinh nguyên phát.

 Các yếu tố dễ dẫn đến mắc bệnh tâm thần

- Yếu tố di truy n

Vấn đề di truyền tất nhiên có ảnh hưởng xấu đến một số bệnh tâm thần nhưng

không phải là tuyệt đối. Có khi bệnh tâm thần xuất hiện ở một thành viên bất kỳ trong

gia đình mà không có ở các thành viên còn lại, có trường hợp cha mẹ đều có bệnh mà

con cháu vẫn khỏe mạnh bình thường. Trong trường hợp nhiễm sắc thể của den di

chuyền có vấn đề mà thế hệ thứ nhất không bị mắc bệnh tâm thần mà thế hệ thứ hai

sinh ra lai bị mắc bệnh.

12

- Yếu tố nhân cách:

Nhân cách là tổng hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý cá nhân, biểu

thị giá trị bản sắc văn hóa, xã hội của con người.

Những thuộc tính tâm lý tạo thành nhân cách thường biểu hiện ở ba cấp độ;

cấp độ bên trong cá nhân, cấp độ liên cá nhân, cấp độ biểu hiện ra bằng hoạt động và

các sản phẩm của nó.

Chính từ thuộc tính tâm lý tạo thành kết hợp những yếu tố khác ảnh hưởng

đến hệ thần kinh sau dài ngày không được điều trị, trị liệu, phục hồi là khởi nguồn

cho phát bệnh tâm thần. Khi bị bệnh tâm thần thì người có nhân cách vững bị nhẹ

hơn và hồi phục nhanh hơn.

- Tuổi tác

Tuổi tác cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách một con người, ở

bất cứ lứa tuổi nào cũng có thể khiến con người mắc bệnh tâm thần song nhìn chung

trong các giai đoạn tuổi thì giai đoạn tuổi vị thành niên, trưởng thành, trung niên

thường dễ bị phát bệnh “ trừ các yếu tố di chuyền

- Giới tính:

Tỉ lệ nam giới mắc bệnh tâm thần, rối nhiễu tâm trí nhiều hơn nữ giới “ Tại

Trung tâm số người mắc bệnh tâm thần, rối nhiễu tâm trí đang quản lý là 240 người

thì có 52 đối tượng bệnh nhân là nữ giới, 188 đối tượng là nam giới”.

Nguyên nhân chủ yếu do áp lực công việc, cuộc sống, gia đình, kinh tế, di

chuyền, nghiện các chất kích thích…mà tỉ lệ nam bị bệnh tâm thần nhiều hơn nữ. Phụ

nữ mắc bệnh tâm thần chủ yếu do áp lực cuộc sống, gia đình dẫn đến trầm cảm thời

gian dài ngày ,những rối loạn tâm thần do những sự biến động của nội tiết vào các

thời kỳ; dậy thì, kỳ kình nguyệt, sinh nở, tiền mãn kinh mà và mãn kinh...

Sức khỏe tâm thần là khả năng của bộ máy tâm lý hoạt động một cách hoàn

toàn hợp lý, có hiệu quả và đương đầu một cách mềm dẻo trước những tình huống

khó khăn mà vẫn có thể tìm lại được sự cân bằng cho mình.

Không tạo được sự thích nghi với môi trường sống, sự sảng khoái về tinh

thần, không có mối quan hệ tốt đẹp với người khác.

- Tình trạng Sức khỏe tâm thần

Sự phát tiển, sự hội nhập kinh tế thị trường, con người phải đối mặt với bao

13

khó khăn, thách thức, áp lực kinh tế, cuộc sống, nhu cầu của con người ngày càng cao

song hành với sự phát triển của toàn xã hội là những hệ lỵ, nhiều người rơi vào tình

trạng stress, khủng hoảng, hoang mang, lo âu...lâu ngày dẫn đến tâm thần, rối nhiễu

tâm trí, người bệnh cũng có những biểu hiện suy yếu về mặt sức khỏe, cơ thể, rối loạn

về giấc ngủ, rối loạn về ăn uống, thậm chí có những vấn đề về sinh hoạt vợ chồng,

bạn bè, gần như ảnh hưởng tới mọi mặt của cuộc sống, để nhiều gánh nặng cho chính

Sự mất cân bằng tâm lý, thường xuyên thể đương đầu và giải quyết những

xung đột tâm lý với bản thân và với những người khác,hay căng thẳng, tập trung tư

tưởng vào một sự kiện này hay chuyển sang một sự kiện khác là khả năng tự nhiên

ở mỗi người. Tuy nhiên, khi bộ máy tâm lý bị quá tải, vượt quá giới hạn để tự hồi

phục, tự điều chỉnh thì người bệnh cần một quá trình luyện tập hoặc điều trị.

bản thân, gia đình và toàn xã hội.

1.1.3. Một số bệnh tâm thần thường gặp

 Tâm thần phân liệt

Là một rối loạn tâm thần đặc trưng bởi một sự suy giảm quá trình suy nghĩ và

sự thiếu hụt các đáp ứng cảm xúc điển hình. Các triệu chứng thường gặp bao gồm ảo

giác, nghe thấy tiếng động hay giọng nói đến từ tâm trí và tự thức biến nó thành

những cảm xúc tiêu cực và tích cực, bởi vì sự tương tác đó đã tác động đến cảm xúc

nên dẫn đến phản ứng hành vi không rõ ràng của bệnh nhân, thỉnh thoảng thường có

thái độ căm ghét, thù hận những người thân, gia đình và xã hội. Chỉ những tác động

nhỏ đủ khiến cho người bệnh mất đi sự ý thức, nhận thức xong đó lo sợ, hoảng loạn,

giận dữ xong đó cư xử với người tác động và xung quanh với những hành vi thiếu

kiểm soát. Người bệnh không thể định được thân, tâm! rối loạn suy nghĩ; vô cảm và

thiếu động lực sống, bất ổn trí nhớ. Bệnh gây rối loạn các chức năng xã hội và ảnh

hưởng lớn đến công việc. Bệnh hay gặp ở người trẻ trưởng thành với tỉ lệ ước tính

trên toàn cầu khoảng 0.3–0.7%.

 Rối loạn trầm cảm

Là loại rối loạn khí sắc thường gặp trong tâm thần học. Bệnh do hoạt động của

bộ não bị rối loạn gây nên tạo thành những biến đổi thất thường trong suy nghĩ hành

vi và tác phong. Có thể xảy ra ở nhiều lứa tuổi nhưng phổ biến nhất là 18-45 tuổi, phụ

nữ nhiều hơn nam giới với tỉ lệ giới: nam/nữ = 1/2, giá trị này chỉ là ước chừng vì còn

14

tùy vào nền văn hóa và dân tộc.

Ước tính, có khoảng 3% đến 5% dân số thế giới có rối loạn trầm cảm rõ rệt.

Tần suất nguy cơ mắc bệnh trầm cảm trong suốt cuộc đời là 15 - 20%. Hội chứng này

có tỷ lệ cao ở những người ly thân, ly dị, thất nghiệp.

Biểu hiện thường gặp không chú ý đến diện mạo, áo quần lôi thôi, vệ sinh thân

thể kém, cử chỉ chậm chạp hoặc nóng nảy khó hiểu, giọng nói trầm buồn, đơn điệu vô

cảm...Âu lo thường xuyên cùng với sự sợ hãi lan rộng không rõ nguyên do. Tâm trạng

họ thay đổi mà không có bất kì sự kiện hay nguyên nhân nào xảy ra trước đó, hoặc sự

việc không tồi tệ đến mức cảm xúc đi xuống. Cảm giác do dự, không chắc chắn, tiêu

chuẩn và đòi hỏi cao, yêu cầu cao với người khác và với chính mình, dễ bị tổn thương,

khó thay đổi những thói quen cũ dù không còn phù hợp, luôn ở tình trạng mệt mỏi, ủ rũ

và căng thẳng, rất dễ tức giận và nổi nóng khó kiểm soát, không có hứng thú làm bất cứ

chuyện gì. Luôn có ý nghĩ tiêu cực về bản thân, và người khác, cảm giác tuyệt vọng

không còn lối thoát, không còn niềm tin vào bản thân và tương lai.

 Rối loạn lưỡng cực

Là một chứng bệnh rối loạn tâm thần gây ra sự biến đổi cảm xúc không ổn

định. Người bệnh chuyển từ cảm xúc hưng phấn (hưng cảm) sang cảm xúc ức chế

(trầm cảm). Bệnh có tính chất chu kỳ xen kẽ giữa hưng phấn và ức chế.

- Yếu tố sự khác biệt về sinh học trong cơ thể : Ở những bệnh nhân có rối loạn

lưỡng cực xuất hiện thì có các sự thay đổi vật lý trong não bộ của họ. Tầm quan trọng

của những thay đổi ở não này hiện nay vẫn còn chưa chắc chắn nhưng cuối cùng

chúng có thể giúp chỉ điểm nguyên nhân gây ra bệnh.

- Yếu tố các chất dẫn truyền thần kinh trong cơ thể : Sự mất cân bằng tự

nhiên của các chất có trong não gọi là những chất dẫn truyền thần kinh đã đóng

một vai trò vô cùng quan trọng trong bệnh rối loạn lưỡng cực này và các rối loạn

về tâm trạng khác.

- Các nội tiết tố : Mất cân bằng các nội tiết tố có thể tham gia trong việc gây ra

hay gây nên rối loạn lưỡng cực.

- Kế thừa những đặc điểm : Rối loạn lưỡng cực thường gặp hơn ở những người

có anh chị em hay là cha mẹ đã mắc bệnh. Các nhà khoa học nghiên cứu đang cố gắng

15

tìm ra các gen mà có thể được tham gia trong cơ chế gây ra rối loạn lưỡng cực.

- Môi trường: Môi trường sống và làm việc căng thẳng, lạm dụng, tổn thất hay

trải nghiệm các đau thương đáng kể khác có thể đóng một vai trò quan trọng trong rối

loạn lưỡng cực.

 Bệnh Alzheimer

Bệnh Alzheimer là một loại bệnh tiến triển ngày càng nặng dần với đặc điểm

là sự hủy diệt từ từ các tế bào thần kinh trong não. Bệnh thường khởi phát rất chậm

và dần dần theo thời gian sẽ trở nên nặng hơn. Các triệu chứng xuất hiện đầu tiên

thường là thay đổi tính tình và giảm trí nhớ.Người bệnh trở nên dễ mệt mỏi, tức giận

hoặc lo âu, người bệnh thường lấy, dùng đỗ của người khác, nhặc các đồ vật linh tinh

cất vào một chỗ, đổi đồ vật của mình mà không nhớ. Ủi quần áo hoặc vặn nước

thường quên tắt sau khi làm xong, đi đến những nơi quen thuộc thì dễ dàng nhưng

nếu đến những nơi lạ thì dễ lạc đường.Sự suy giảm trí nhớ bệnh lý này khác với sự

giảm trí nhớ nhẹ có thể gặp ở người già bình thường.Dần dần trí nhớ người bệnh

ngày càng giảm sút hơn,họ thường quên tên của món đồ mà họ muốn gọi, quên tên

các bạn thân, không hiểu các con số trên hóa đơn tính tiền, không hiểu những gì mình

đọc trong sách báo, không thể viết và không thể lập được kế hoạch làm việc hằng

ngày. Lúc này người bệnh bắt đầu khó hoà nhập vào môi trường xã hội chung quanh,

thường dễ nổi giận vô cớ, hay la lối, ăn mặc không phù hợp với hoàn cảnh. Gian

đoạn này họ ít nói, ngại tiếp súc cả với người thân và cán bộ “nếu ở trong Trung tâm

họ tránh cả cán bộ vì vậy việc chăm sóc gặp khó khăn”, nhiều trường hợp đi ra chỗ

khác không biết đường về, không biết bản thân đã ăn chưa, nhiều đối tượng sinh cáu

gắt, sé đồ vật “quần áo, giầy dép”, đêm ít ngủ, ít nói nhưg có lúc nói nhảm cả ngày…

Diễn tiến bệnh sẽ trở nên nặng hơn một cách từ từ .Thời gian sống trung bình

của người bệnh từ lúc phát bệnh đến lúc chết thường là từ 8 – 10 năm. Bệnh nhân

thường chết vì suy kiệt hoặc do các bệnh lý phối hợp như viêm phổi, bệnh tim mạch.

 Rối loạn ám sợ

Ám sợ được định nghĩa là toàn bộ các phản ứng tâm lý và cơ thể do một đối

tượng hay hoàn cảnh gây sợ gây ra. Những người mắc bệnh ám sợ thường hoang

mang, lo sợ người khác sát hại mình, đánh đập, gây thương tích cho chính mình, họ

16

sợ tất cả những người xung quanh khi tiếp xúc, hoặc là một hoàn cảnh xã hội như

trong thang máy,khi đi máy bay hay trong xe bus, khi phải nói chuyện trước đám

đông … Bệnh này gây ra hậu quả làm giảm hiệu suất trong công việc và các mối

quan hệ xã hội (do bệnh nhân sợ hãi và tránh né các hoàn cảnh có thể gây ra phản

ứng sợ hãi như không dám đi máy bay hay xe bus , không dám bước vào thang máy

… ). Các đặc điểm của ám sợ là bất thình lình cảm thấy một nỗi sợ hãi, khiếp đảm

khi đang ở trong một tình huống thực sự vô hại; hoàn toàn nhận thức rằng nỗi sợ hãi

này là quá mức và vô lý; phản ứng sợ xuất hiện hoàn toàn tự động, không thể kiểm

soát được và xâm chiếm toàn bộ con người bệnh nhân và kèm theo sự sợ hãi cực độ

là các phản ứng cơ thể như: nhịp tim nhanh, thở hụt hơi hoặc cảm giác nghẹt thở, run

rẩy, toát mồ hôi, buồn nôn, cảm giác khó chịu trong bụng, chóng mặt … và bệnh

nhân chỉ có một mong muốn duy nhất là thoát khỏi tình huống này. Sau khi thoát

khỏi đối tượng hay tình huống gây sợ bệnh nhân sẽ tìm cách tránh né chúng . Khi sự

tránh né này gây ảnh hưởng đến hiệu suất công việc hoặc các mối quan hệ xã hội thì

bệnh nhân cần phải được khám tâm thần và điều trị .

 Rối loạn lo âu lan toả

Đặc điểm của rối loạn này là bệnh nhân luôn cảm thấy lo âu và căng thẳng quá

mức hoặc không thực tế về mọi vấn đề của cuộc sống thí dụ họ luôn sợ hết tiền dù họ

vẫn còn nhiều tiền trong ngân hàng hoặc họ thường lo sợ mình hoặc người thân sắp

bị bệnh, bị tai nạn hay gặp chuyện không may mặc dù không có dấu hiệu gì đáng để

lo lắng về việc đó. Họ luôn cảm thấy bồn chồn, bất an, căng thẳng, run, nhức đầu, dễ

mệt mỏi, khó tập trung chú ý, khó ngủ …

+ Đời sống tâm lý – xã hội của người tâm thần

Đối với người tâm thần về mặt thần kinh không thường xuyên ổn định,

tùy mức độ nặng hay nhẹ họ được pháp luật công nhận mất hành vi dân sự chính

vì điều đó tâm sinh lý của họ không bình thường.

Những diễn biến tâm lý của từng người là khác nhau, có người thì cười,

nói, lảm nhảm xuốt ngày, có người thì lầm lỳ cả ngày không nó gì, người thì

thường xuyên đập phá, xé quần áo, chăn màn, đánh người khác, người thì chỉ

thích bắt côn trùng ăn, người thì chỉ thích hại chính bản thân mình…

17

1.1.4. Đặc điểm đời sống tâm lý- xã hội và nhu cầu của người tâm thần

Họ bị mắc bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau nên các hành vi tronng

sinh hoạt hàng ngày cũng có nhiều biểu hiện bất thường, để kịp thời theo dõi

nắm bắt các biểu hiện bệnh lý, tâm lý, tư tưởng, các biểu hiện khác để có phương

án kịp thời xử lý là cả một quá trình nhiều khó khăn vất vả cần phải có sự kiên

trì, lâu dài. Đặc biệt là những đối tượng có diễn biến tâm lý ổn định thì nguy cơ

tự tử lại cao, rất khó lường, ngoài ra mọi diễn biến tâm lý, tình cảm , sức khỏe

ảnh hưởng nhiều đến chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, điều trị, phục hồi, trị liệu

tâm lý cho nhóm đối tượng này rất vất vả gian nan. Chính vì thế rất cần công tác

quản lý, năm bắt tình hình phải sát sao và thường xuyên để đưa ra những dự báo

phán đoán, xử lý kịp thời trong mọi tình huống.

Người tâm thân họ vậy nhưng cũng rất mong muốn gia đình, cán bộ, cá

tổ chức, cá nhân, các hội, nhóm thiện nguyện đến thăm, động viên. Giải quyết

vấn đề tâm lý, tư tưởng là rất cần thiết đối với nhóm đối tượng này.

+ Nhu cầu của người tâm thần và gia đình

Theo tháp bậc thang nhu cầu của Maslow con người sinh ra đều có nhu

cầu, mong muốn là giống nhau, những nhu cầu cơ bản để phát triển và trưởng

thành trong một xã hội mà họ tồn tại, sinh sống và phát triển cả về thể chất và

tinh thần.

Người tâm thần cũng có nhu cầu tồn tại, nhu cầu được sẻ chia, quan

tâm, yêu thương, ăn uống để tồn tại, có những người bị bệnh do gien di

chuyền, có những người bị bệnh do áp lực cuộc sống, kinh tế, bệnh tật và các

nguyên nhân khác dẫn đến tâm thần song trước khi họ bị bệnh họ cũng có nhu

cầu như người bình thường khác nhưng do không may mắn nên họ bị bệnh.

Cũng như những người khác, người tâm thần rất cần một cuộc sống vật

chất và tinh thần đầy đủ, ấm no hạnh phúc. Họ cần người chăm sóc, chia sẻ động

viên họ nhiều hơn để vơi đi những nỗi đau mất mát, quên đi bệnh tật và hòa nhập

vào cuộc sống trong xã hội.

Nhu cầu của người tâm thần và gia đình phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác

động khác nhau, có đến 80% có hoàn cảnh khó khăn và đặc biệt khó khăn về

18

kinh tế chính vì thế các nhu cầu đối với gia đình có người mắc bệnh tâm thần

là hỗ trợ kinh tế, sinh kế cho họ, tạo điều kiện trong công tác thăm khám, điều

trị ngoài ra mong muốn của người thân trong gia đình là đưa người thân bị mắc

bệnh vào các Trung tâm Bảo trợ xã hộ công lập để được chăm sóc, nuôi dưỡng.

Đối với người tâm thần thuộc dạng khuyết tật tâm thần phân liệt và động kinh

thì dựa vào đặc điểm khuyết tật sẽ phát sinh các nhu cầu phù hợp. Đồng thời,

người tâm thần thuộc dạng khuyết tật nặng và đặc biệt nặng thì các nhu cầu

đa phần thiên về việc hỗ trợ chăm sóc y tế, chăm sóc nuôi dưỡng, và các hỗ

trợ khác liên quan đến việc giải quyết khó khăn đột xuất. Cụ thể với những

nhu cầu cơ bản sau:

Nhu cầu hỗ trợ y tế là nhu cầu thiết yếu của người tâm thần, tất cả các

trường hợp bệnh tâm thần ở mức độ nặng trở lên đều cần khám, điều trị và sử

dụng thuốc chuyên khoa, chăm sóc y tế tích cực, thường xuyên. Ngoài việc

thăm khám, điều trị thì công tác chăm sóc sức khỏe được gia đình mong muốn

hỗ trợ, tạo điều kiện thường xuyên.

Với người tâm thần không có khả năng hoặc hạn chế khả năng lao

động, tự phục vụ sinh hoạt thì nhu cầu có người chăm sóc, hỗ trợ chăm sóc

nuôi dưỡng rất cần thiết bởi thần kinh của họ không ổn định, tâm lý, tình cảm

rối loạn, thiếu hoặc không có cảm xúc, không phân biệt được ngày háng, ăn

hay chưa ăn, không tự chủ trong sinh hoạt từ việc nhỏ nhất như xúc đồ ăn,

uống nước nên rất cần người chăm sóc hỗ trợ.

Nhu cầu được kết nối với các dịch vụ hỗ trợ về mặt kinh tế, y tế, trong

đó đặc biệt là tư vấn, tham vấn về cách chăm sóc sức khỏe tâm lý, tinh thần,

trị liệu, phục hồi, nghề nghiệp phù hợp với từng nhóm đối tượng ở thể bệnh

tâm thần nhẹ. Đối với nhóm đối tượng tâm thần nặng, đặc biệt nặng gia đình

luôn mong muốn các cấp chính quyền quan tâm cho người bệnh vào các

Trung tâm Bảo trợ của Nhà nước quản lý, nhiều gia đình chia sẻ không quản

lý được người bệnh, họ không chịu thuốc, phá phách, đập phá, chửi bới, nói

lảm nhảm cả ngày lẽn đêm, đánh người thân, hàng xóm, đi lang thang không

19

biết đường về, thân thể, quần áo bẩn tưởi, hôi hám. Những đối tượng tâm thần

đặc biệt nặng thường xuyên lên cơn kích động phá phách, đánh người nhà,

hàng xóm, cộng đồng nhiều người phải nhập viện, thường xuyên đe dọa đến

tính mạng người khác chính vì thế thường nhốt cách ly rất thương tâm, bẩn,

hôi hám, gia đình không có người thường xuyên chăm sóc, gia đình kinh tế

khó khăn, nhiều gia đình bố mẹ già cả, anh em mỗi người một nơi chính vì

điều đó người nhà rất mong muốn được cho người bệnh vào các Trung tâm

Bảo trợ để quản lý đối tượng.

Đối với gia đình đối tượng họ mong muốn được tư vấn, tham vấn về

các thủ tục khi xin vào Trung tâm và quan chức năng xem xét, quan tâm, tạo

điều kiện thuận lợi.

Đối với đối tượng người tâm thần ngoài lúc họ phát cơn cũng mong

muốn được người thân quan tâm động viên, thăm hỏi, chia sẻ. Nhiều đối

tượng đang được quản lý, nuôi dưỡng tại Trung tâm rất mong muốn được gia

đình đón về nhà thăm người thân, con cái, anh chị em, muốn người thân

thường xuyên đến Trung tâm thăm họ nhất là vào các dịp lễ, tết, mong muốn

được các cơ quan đoàn thể, cán bộ quan tâm, động viên, thường xuyên tổ

chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi, tổ chức cho họ ăn thêm, cải

thiện các bữa ăn, khẩu phần ăn và đặc biệt là thi thoảng cho họ được hút

thuốc, uống nước chè…

Ngoài ra vì điều kiện sống khó khăn, thường xuyên xuất hiện những vấn

đề cần giải quyết liên quan đến tài chính gia đình.Chính những tồn tại đó đã xuất

hiện những nhu cầu cần hỗ trợ khó khăn đột xuất như tiền hoặc hiện vật từ các cá

nhân, tổ chức. Ngoài ra, những trường hợp gia đình có khả năng lao động nhưng

điều kiện kinh tế hạn chế thì thường có nhu cầu hỗ trợ sinh kế, học nghề, giới

thiệu việc làm hoặc hỗ trợ cải thiện điều kiện cơ sở vật chất.

Đối với người tâm thần và gia đình học rất cần được quan tâm từ các

cấp các ngành, các tổ chức chính trị xã hội các nhà hảo tâm, cộng đồng cùng

20

chung tay chia sẻ, động viên, hỗ trợ người bệnh và gia đình cả về sinh kế, việc

làm, kinh tế, chăm sóc sức khỏe y tế và những nhu cầu tối thiểu nhất trong

cuộc sống, trong đó sự chia sẻ không kỳ thị.

Các nhu cầu khác như hỗ trợ chế độ chính sách, tham vấn tâm lý, tập

huấn nâng cao kỹ năng chăm sóc cho người tâm thần đều được gia đình người

tâm thần mong muốn hỗ trợ với từng hoàn cảnh, điều kiện sống phù hợp.

Hình 1.1. Bậc thang nhu cầu của Maslow

1.2. Một số Khái niệm có liên quan.

 Khái niệm Quản lý

Quản lý là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều dạng. Chúng ta có thể gộp

thành 3 dạng chính:

- Quản lý các quá trình của thế giới vô sinh (nhà xưởng, ruộng đất, tài

nguyên, hầm mỏ, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, sản phẩm...).

21

- Quản lý các quá trình diễn ra trong cơ thể sống (cây trồng, vật nuôi).

- Quản lý các quá trình diễn ra trong xã hội loài người (quản lý xã hội: đảng,

nhà nước, đoàn thể quần chúng, kinh tế, các tổ chức...)

Trong phạm vi đề tài tác giả chỉ nghiên cứu ở dạng thứ ba quản lý xã hội.

Quản lý xã hội là dạng quản lý phức tạp nhất, bao gồm nhiều lĩnh vực như: quản

lý Nhà nước, quản lý hành chính công, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý

ngành. Quản lý gắn liền với quản lý nhà 3 cộng, tức là quản lý ở tầm vĩ mô, còn

thuật ngữ "quản trị" được dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh

nghiệp (kinh tế). Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý" (tiếng Việt gốc Hán) có thể

hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình "quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy

trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình “lý" là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ

chức vào thế “phát triển”.

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, ví dụ:

- Mary Parker Follet: "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực

hiện thông qua người khác".

- Robert Albanese: "Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử

dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để

đạt được mục tiêu của tổ chức".

- Harolk Kootz & Cyryl O'Donell: "Quản lý là việc thiết lập và duy trì môi

trường nơi mà cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu

hiệu và có kết quả, nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm"

- Robert Kreitner: "Quản lý là tiến trình làm việc và thông qua người khác

để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi, nhằm mạng lại kết

quả mà kế hoạch và mục tiêu đã đặt ra”.

- Harol Koontz: "Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề

ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những

người khác" (Những vấn đề cốt yếu của quản lý. NXB khoa học - Kỹ thuật, 1993).

Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần

thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức. Đó là quá trình tạo nên sức

mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt

được mục tiêu chung.

22

Quản lý bao gồm các yếu tố sau:

Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp

nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu các tác

động gián tiếp từ chủ thể quản lý, tác động có thể liên tục nhiều lần.Muốn quản lý

thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản

lý, điều này đòi hỏi phải biết định hướng đúng.

Chủ thể quản lý phải thực hành việc tác động và phải biết tác động,vì thế

chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả.Chủ thể

có thể là một người, một nhóm người; còn đối tượng có thể là con người(một hoặc

nhiều người), giới vô sinh hoặc giới sinh vật.

Tóm lại: Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản

lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu chung.

 Khái niệm C ng tác xã hội

Công tác xã hội là một khoa học xã hội ứng dụng, là một nghề chuyên

nghiệp ra đời và đầu thế kỷ 20 ở nhiều nước trên thế giới. Nó có vị trí quan trọng

trong đời sống xã hội của mỗi con người, của mỗi quốc gia. Sự ra đời và phát triển

của công tác xã hội đã đóng góp đáng kể vào việc ngăn ngừa và giải quyết các vấn

đề xã hội, góp phần bảo đảm công bằng xã hội và sự phát triển bền vừng của mỗi

quốc gia.

Theo từ điển công tác xã hội (1995): “ Công tác xã hội là một khoa học xã

hội ứng dụng, nhằm giúp con người hoạt động có hiệu quả về mặt tâm lý xã hội và

tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an ninh cao nhất cho con

người”[27]

Theo quan điểm của hiệp hội chuyên gia công tác xã hội Mỹ: công tác xã

hội là hoạt động chuyên môn nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng phục hồi

hay tăng cường chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp để giúp

họ thực hiện được mục đích cá nhân [14].

Theo quan điểm của Philippin: Công tác xã hội là một nghề chuyên môn,

thông qua các dịch vụ xã hội nhằm phục hồi, tăng cường mối quan hệ qua lại giữa

cá nhân và môi trường vì nền an sinh của cá nhân và toàn xãhội.

Như vậy các định nghĩa về công tác xã hội của liên đoàn chuyên nghiệp xã

23

hội quốc tế, của hiệp hội chuyên gia công tác xã hội Mỹ và Philippin tuy có sự

khác nhau trong cách diễn đạt, nhưng nội hàm của khái niệm đều có những đặc

trưng chung sau đây;

Công tác xã hội được khẳng định là một khoa học, một hoạt động mang

tính chuyên môn, chuyên nghiệp và được xã hội thừa nhận là một nghề chuyên

nghiệp, độc lập với các nghề khác trong xã hội và không thể thiếu trong đời sống

xã hội.

Nói chung công tác xã hội nhằm giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng

giải quyết những vấn đề khó khăn nảy sinh trong cuộc sống, trong quá trình tương

tác giữa cá nhân và môi trường, trong tiến trình phát triển xã hội. Từ đó, giúp họ

vượt qua khó khăn hiện tại để phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội nhằm

đem lại sự an sinh cao nhất cho con người và sự tiến bộ, công bằng xãhội.

Từ những khái niệm và phân tích trên, có thể nhận thấy: “Công tác xã hội

là một ngh chuyên môn thông qua các dịch vụ xã hội nhằm giúp đỡ cá nhân,

nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội góp phần bảo đảm

n n an sinh xãhội”.

 Khái niệm quản lý công tác xã hội

Quản lý công tác xã hộilà một phương pháp của công tác xã hội có liên

quan tới việc cung ứng và phân phối các nguồn tài nguyên xã hội giúp con người

đáp ứng nhu cầu của họ và phát huy tiềm năng bản thân.Người ta cho rằng khi

chuyển đổi các chính sách xã hội thành các chương trình và dịch vụ, nhà quản lý

công tác xã hội áp dụng một sự tổng hợp các phương pháp công tác xã hội vào

tiến trình. Theo Walter Friedlander, quản lý công tác xã hội là một phương pháp

của công tác xã hội dựa vào các nguyên tắc và kỹ thuật của khoa học quản lý nói

chung nhưng đề cập đến những công việc đặc thù của công tác xã hội là nhận diện

và giải quyết các vấn đề của con người và thỏa mãn các nhu cầu con người.

Skidmore tóm tắt quản lý công tác xã hội là “hành động của đội ngũ nhân sự sử

dụng các tiến trình xã hội để chuyển đổi các chính sách xã hội của cơ sở bằng việc

cung ứng các dịch vụ xã hội”.Theo ông đó là một tiến trình phải thực hiện với việc

điều hành một tổ chức và có liên quan đến các mục tiêu, các chính sách, đội ngũ

24

cán bộ, nhân viên, quản lý, các dịch vụ và lượng giá.

Kidneigh có quan niệm khác Skidmore, cho rằng “Quản lý công tác xã hội

là một tiến trình chuyển đổi chính sách xã hội thành các dịch vụ xã hội…trong

một tiến trình hai chiều: một là chuyển đổi chính sách thành các dịch vụ cụ thể, và

hai là sử dụng kinh nghiệm để sửa đổi chính sách”.

Từ những quan điểm này chúng ta có thể đưa ra định nghĩa tổng quát như

sau: “Quản lý công tác xã hội” là quá trình hành động của cán bộ, nhân viên sử

dụng các tiến trình xã hội để biến các chính sách xã hội của cơ sở thành các dịch

vụ xã hội nhằm góp phần giải quyết các vấn đề xã hội đáp ứng các nhu cầu phát

triển của các cá nhân, nhóm người và cộng đồng xã hội.

Chủ thể của quản lý công tác xã hội là cán bộ nắm giữ các chức vụ lãnh

đạo, quản lý, điều hành và các nhân viên thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của

quản lý công tác xã hội.

Các tiến trình căn bản được sử dụng trong quản lý công tác xã hội là: Lập

kế hoạch, tổ chức, công tác nhân sự, lãnh đạo, kiểm tra còn gọi là kiểm huấn.

 Khái niệm quản lý CTXH đối với người tâm thần

Xuất phát từ khái niệm quản lý công tác xã hội, theo tác giả, “quản lý công

tác xã hội đối với người tâm thần” là quá trình hành động của cán bộ, nhân viên sử

dụng các tiến trình xã hội để biến các chính sách xã hội của cơ sở thành các dịch

vụ xã hội nhằm góp phần giải quyết các vấn đề xã hội mà người tâm thần đang

gặp phải, đáp ứng các nhu cầu phát triển của cá nhân và nhóm người tâm thần mà

cơ sở đang quản lý.

Chủ thể của quản lý công tác xã hội đối với người tâm thần là cán bộ nắm

giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý, điều hành và các nhân viên thực hiện các chức

năng, nhiệm vụ của quản lý công tác xã hội.

Các tiến trình căn bản được sử dụng trong quản trị công tác xã hội là: Lập kế

hoạch, tổ chức, công tác nhân sự, lãnh đạo, kiểm huấn.

1.3. Lý thuyết quản lý công tác xã hội

Việc tổ chức những con người nhằm đạt các mục tiêu chung đã có từ lâu,

nhưng khoa học quản lý chỉ mới ra đời gần đây và đang phát triển hện nay. Sự tập

trung nghiên cứu về khoa học quản lý với tư cách là một khoa học riêng biệt và

25

đặc thù có thể được xem là sản phẩm của thế kỷ XX.Có nhiều cách tiếp cận

nghiên cứu khác nhau về quản lý dẫn đến sự xuất hiện các trường phái, tư tưởng

quản lý khác nhau.

Quản trị khoa họcdo Frederick Taylor đề ra vào những năm đầu 1900.

Taylor giả định rằng người công nhân được thúc đẩy chủ yếu bằng sự đảm bảo về

tài chính và bầu không khí làm việc ổn định đảm bảo được trả lương đầy đủ và

đều đặn.Họ làm việc hợp lý,họ ưa thích công việc giản đơn và cần hướng dẫn và

giám sát. Quản trị viên đưa ra áp dụng những cách thức tốt hơn để tăng năng suất

lao động của công nhân sử dụng “một phương thức tốt nhất” để làm việc. Nó nhấn

mạnh việc phân công lao động, sử dụng đồng hồ bấm giờ và nghiên cứu các động

tác. Người công nhân được xem là “con người kinh tế” hay người ta đối xử như là

cái máy, bị thúc đẩy bởi tiền thưởng, tiền hoa hồng và trả lương theo sản phẩm.

Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915), một kĩ sư người Mỹ, tác giả của lý

thuyết quản lý một cách khoa học (scientific management theory, lý thuyết quản

lý có tính khoa học hay ngắn gọn là lý thuyết quản lý khoa học). Năm 1911, tác

giả đã công bố một cuốn sách nổi tiếng và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng: Những

nguyên tắc của quản lý một cách khoa học.

Taylor cho rằng mối quan hệ giữa chủ thể quản lý gọi ngắn gọn là nhà quản

lý và đối tượng quản lý gọi ngắn gọn là nhân viên không phải là mối quan hệ đối

lập mà là quan hệ hòa hợp, hợp tác. Ông đã đưa ra định nghĩa về quản lý như sau:

“Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu

được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.

Các lý thuyết vừa trình bày ở trên chủ yếu nhấn mạnh các yếu tố con người,

yếu tố quan hệ người và yếu tố lao động. Khác hẳn các lý thuyết này, nhà xã hội

học người Đức tên là Max Weber nhấn mạnh yếu tố tổ chức, hình thức tổ chức

của quản lý.Lý thuyết của Weber gắn liền với quan niệm của ông về quyền lực,

quyền uy và hình thức tổ chức mà ông gọi là tổ chức nhiệm sở (bureaucratic

organization, tổ chức quan liêu) trong xã hội hiện đại.

26

Đặc điểm của tổ chức nhiệm sở

Theo Weber (1864 - 1920), quản lý không đơn giản là hoạt động của cá

nhân mà là thiết chế, thể chế, tổ chức của xã hội mà bất kỳ một cá nhân nào sau

khi gia nhập tổ chức đó đều phải thực hiện những quy định của tổ chức đó. Do

vậy, quản lý là việc xây dựng một tổ chức với những đặc trưng cơ bản có thể tóm

tắt như sau:

- Phân công lao động - nguyên tắc phân định thẩm quyền và trách nhiệm

trong tổ chức;

- Cấu trúc quyền lực dựa trên hệ thống tầng bậc kiểu kiến trúc kim tự tháp:

Đây là cấu trúc quyền lực kiểm soát chặt chẽ như trong quân đội, nơi các quan

chức cấp cao hơn giám sát các quan chức cấp thấp hơn trong tổ chức;

- Thiết chế hóa: Thiết lập những quy định pháp luật và những quy chế về

chức quyền, chức trách;

- Hồ sơ hóa: Quản lý dựa trên thông tin - về các nhân viên, quy trình, hồ sơ,

báo cáo, dữ liệu;

- Bằng cấp hóa: Tất cả lao động trong tổ chức phải chứng minh năng lực

của mình cho công việc thông qua giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm;

- Quyền uy: Mọi thành viên của tổ chức phải làm tròn chức trách, nhiệm vụ

của mình với thái độ phục tùng.

Lý thuyết của Weber về tổ chức nhiệm sở và nhất là quan niệm về quyền

lực, quyền uy cho thấy sự cần thiết phải làm rõ cấu trúc của tổ chức với những đặc

điểm nhất định.

Lý thuyết của Weber chỉ ra rằng nhà quản lý nói chung và nhà quản lý công

tác xã hội nói riêng là một thành viên được giao nắm giữ và thực thi các quyền

hạn và nhiệm vụ quản lý trong tổ chức và do vậy phải chịu trách nhiệm trước tổ

chức về việc thực thi của mình. Điều này không phủ nhận năng lực và phẩm chất

của cá nhân mà trái lại đề cao việc phát triển năng lực, phẩm chất cá nhân sao cho

phù hợp và đảm bảo thực thi được các chức năng, nhiệm vụ, công việc của quản

27

lý công tác xã hội trong một tổ chức nhất định.

Trường phái quản trị dựa vào mối quan hệ nhân sự ra đời sau các

nghiên cứu nổi tiếng của Elton Mayo được biết dưới tên gọi là các thí nghiệm

Hawthorn.

Các tác giả khác có đóng góp cho trường phái này là : Abraham Maslow,

Frederick Herzberg và David McClelland. Nghiên cứu của Mayo đưa đến kết luận

rằng những vấn đề xã hội (như được tham gia vào nhóm, sự thừa nhận và quan

tâm trong quản lý) cũng như nội dung công việc ành hưởng đến năng suất lao

động của người công nhân.Các nhu cầu của cá nhân phải được tổ chức xem xét để

đảm bảo năng suất cao.Khái niệm “con người xã hội” nhấn mạnh những yếu tố

phi vật chất khi thúc đầy động viên năng suất người công nhân. Làm việc phức tạp

nhiều hơn và hòa nhập với những người khác chứ không phải chuyên môn hóa và

sản xuất dây chuyền là phù hợp với các nhu cầu xã hội của con người.

Lý thuyết của Mayo nhấn mạnh một yếu tố quan trọng là quan hệ người

trong quản lý. Quan hệ quản lý thực chất là quan hệ người giữa cán bộ lãnh đạo,

quản lý mà cụ thể ở đây là nhà quản lý công tác xã hội với các nhân viên công tác

xã hội. Việc nắm bắt và tạo dựng mối quan hệ người trên cơ sở hiểu biết, tôn trọng

và cùng có lợi là cơ sở, nền tảng để quản lýcó hiệu quả.

Trường phái hành vigắn với hành vi lãnh đạo được nhận diện, lưu giữ và

xác minh. Mạng quản lý (Ô quản lý) phát triển vào những năm 1950 và được

Robert Blake và Jane Mouton hoàn chỉnh sau đó được sử dụng rộng rãi như là

khung khảo sát các kiểu lãnh đạo hiện hữu.Năm 1960, Douglas McGregor viết

một trong những cuốn sách có giá trị về lãnh đạo, đó là cuốn Khía cạnh con người

của doanh nghiệp trong đó ông đưa ra hai lý thuyết lãnh đạo dựa trên bản chất con

người và công việc. Một lý thuyết ông gọi là Thuyết X, còn cái kia là Thuyết Y.

Trường phái Quản trị ngẫu nhiên dựa vào nghiên cứu của Fred E. Fiedler.cách

quản lý tốt nhất. Thay vào đó ông cho rằng phong cách lãnh đạo tốt là cách đáp

ứng những nhu cầu của một tình huống cụ thể nào đó.Những tình huống khác

nhau cần những quyết định khác nhau và cách quản lý khác nhau.Tuy nhiên, nhà

28

quản lý sẽ đưa ra quyết định đúng đắn nếu họ đánh giá đúng nhu cầu của tình

huống và có được kỹ năng ra quyết định. Nhiều nhà giáo dục và thực hành công

tác xã hội cho rằng có năm phương pháp công tác xã hội chính, trong đó quản lý là

một: Công tác xã hội cá nhân và gia đình; Công tác xã hội nhóm; Tổ chức cộng

đồng; Nghiên cứu công tác xã hội; Quản lý công tác xã hội.

Công tác xã hội cá nhân và gia đình quan tâm giúp đỡ một cá nhân hay gia

đình với những mối quan hệ xã hội. Công tác xã hội nhóm sử dụng nhóm như là

một công cụ để giải quyết các vấn đề như trên.Tổ chức cộng đồng giải quyết các

vấn đề xã hội bao gồm nhiều người thông qua hành động của xóm giềng và cộng

đồng. Nghiên cứu là một nỗ lực thu thập và phân tích dữ liệu một cách có hệ

thống nhằm tìm ra câu trả lời cho những vấn đề trong lĩnh vực công tác xã hội: Có

thể cải thiện việc trợ giúp như thế nào? Bản chất vấn đề của thân chủ là gì?Nên

làm gì để có thể tạo ra những dịch vụ xã hội chất lượng? Quản lý công tác xã hội

được xem như là phương pháp tạo thuận lợi cho các dịch vụ xã hội và cung ứng

các dịch vụ xã hội. Quản lý hiệu quả sẽ nâng cao chất lượng của việc thực hiện

chức năng và hoạt động của cơ sở xã hội và những phương pháp thực hành công

tác xã hội của cơ sở đó. Một mặt khác quản lý được xem là một tiến trình có tính

năng động hơn là tĩnh vì các chức năng của nó được thực hiện trong một môi

trường cạnh tranh gay gắt và thay đổi. Con người thay đổi, điều kiện hoạt động

thay đổi, công nghệ thay đổi, các quy định, luật lệ thay đổi, tư duy quản lý thay

đổi, lý thuyết quản lý mới xuất hiện, phương pháp thực hành quản trị mới được

thử nghiệm.

Những tác động ảnh hưởng đến môi trường quản lý buộc quản lý phải là

một tiến trình năng động. Khuynh hướng tái cấu trúc tổ chức; sự thay đổi lực

lượng lao động; sự thay đổi về công nghệ; toàn cầu hóa.

1.4. Các hoạt động quản lý công tác xã hội đối với người tâm thần

quản lý công tác xã hội đối với người tâm thần” là quá trình hành động của cán

bộ, nhân viên sử dụng các tiến trình xã hội để biến các chính sách xã hội của cơ sở

29

thành các dịch vụ xã hội nhằm góp phần giải quyết các vấn đề xã hội mà người

tâm thần đang gặp phải, đáp ứng các nhu cầu phát triển của cá nhân và nhóm

người tâm thần mà cơ sở đang quản lý.

Đối với Trung tâm các hoạt động quản lý CTXH người tâm thần gồm:

- Lập kế hoạch tiếp nhận đối tượng đảm bảo đủ thủ tục pháp lý theo quy

định đã được thẩm tra, kiểm tra tại cơ sở, địa phương xã, phường. Sau khi tiếp

nhận đối tượng, kiểm tra tình trạng sức khỏe, bệnh lý theo hồ sơ, bệnh án đã được

cơ sở y tế kết luận.

- Phân đối tượng vào các khoa theo điều kiện sức khỏe, bệnh lý, phù hợp

với từng đối tượng.

- Giao cán bộ khoa theo dõi diễn biến tình trạng sức khỏe, bệnh lý, tái phát

cơn và các biểu hiện bất thường hàng ngày có kế hoạch, phương án xử lý.

- Thực hiện cách ly đối tượng mới nhập để tránh gây sung đột với những

đối tượng khác, trong thời gian từ 10 đến 15 ngày, nhiều đối tượng đến 30 ngày,

từng bước hòa nhập với môi trường mới.

- Quản lý đối tượng trong sinh hoạt, phục hồi chức năng, tham gia các hoạt

động văn hóa, văn nghệ, vui chơi theo nhóm…

- Tổ chức quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, hướng dẫn đối tượng tự vệ sinh

cá nhân, buồng phòng, chỗ ăn, ở.

- Để làm tốt công tác quản lý người tâm thần các phòng khoa thường xuyên

phối hợp theo chức năng, nhiệm vụ trong đó có việc; Khám, điều trị, sàng lọc,

nuôi dưỡng, chăm sóc, phục hồi, kiểm tra, thẩm tra hồ sơ, bệnh án, tiếp cận các

dịch vụ hỗ trợ, tiếp đón các cá nhân, tổ chức đến thăm tặng quà đối tượng.

- Phối hợp cùng quản lý, kiểm tra, giám sát các chế độ chính sách, các

nguồn lực bằng tiền, hiện vật từ các nguồn xã hội hóa đảm bảo công khai, minh

bạch, đối tượng được hưởng đúng, đủ các quyền lợi. Ngoài ra việc kiểm tra, giám

sát cán bộ trong thực thi công vụ, công việc được giao chức năng, nhiệm vụ của

các phòng, khoa, ngày giờ công lao động…

Căn cứ tình hình thực tiễn, thực trạng quản lý đối tượng người tâm thần tại

Trung tâm, tác giả tập trung đánh giá hoạt động quản lý CTXH đối với người tâm

30

thần trên các hoạt động sau: Hoạch định,tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, giám sát.

1.4.1. Hoạch định công tác xã hội đối với người tâm thần

Hoạch định là một chức năng cơ bản của quản lý, là một tiến trình tư duy

về điểu mong muốn đạt được và làm thế nào điều đó sẽ được hoàn thành.Nó là

một bộ phận chủ yếu của việc thực hành công tác xã hội và được xem là cần thiết

cho hoạt động của các cơ sở xã hội và việc cung ứng các dịch vụ xã hội. Hoạch

định là vạch ra những việc cần làm trước khi tiến hành. Nó nối liền khoảng cách

từ nơi chúng ta đang ở tới nơi chúng ta muốn tới. Đây là một tiến trình cần sự

tham gia của những người thực hiện (là nhân viên xã hội thực hành trực tiếp hay

tác viên cộng đồng), những người tiếp nhận các dịch vụ hay mục tiêu của hoạch

định (thân chủ hay các nhóm có tổ chức), những người ra quyết định hay người

làm chính sách và nhà quản lý. Trong quản lý công tác xã hội, hoạch định cần

thiết ở tất cả các cấp tác vụ và là bộ phận trong công việc thường ngày của mỗi

nhân viên.Nó là một bộ phận chủ yếu của công tác xã hội thực hành và được xem

là quan trọng trong tác vụ điều hành của các cơ sở xã hội và trong cung ứng các

dịch vụ xã hội.

Hoạch định công tác xã hội đối với người tâm thần là lập kế hoạch, là vạch

ra những việc cần làm trước khi tiến hành tổ chức thực hiện các hoạt động công

tác xã hội đối với người tâm thần. Cụ thể ở đây, việc hoạch định sẽ cần sự tham

gia của cán bộ viên chức trực tiếp hỗ trợ người tâm thần, các cán bộ lãnh đạo của

cơ sở để đưa ra những kế hoạch phù hợp nhất với các thân chủ ở từng giai đoạn cụ

thể. Việc hoạch định yêu cầu các đối tượng tham gia chủ yếu phải đáp ứng được

các yêu cầu như: Dự báo làm thế nào để đời sống của người tâm thần thay đổi và

cải thiện trong tương lai, đo lường nhu cầu của nhóm và cá nhân người tâm thần,

đánh giá kết quả của các cách tiếp cận khác nhau và đo lường thành tích công việc

sử dụng các mục tiêu đã thỏa thuận trước, đưa ra các dự trù tài chính, các chi phí

cần sử dụng, quan trọng nhất vẫn là cần đưa ra các nấc thang đánh giá hiệu quả

thực tế của các kế hoạch hành động.

1.4.2. Tổ chức công tác xã hội đối với người tâm thần

Tổ chức công tác xã hội (CTXH) đối với người tâm thần ở đây được hiểu là

quản lý bộ máy nhân sự tham gia hoạt động CTXH đối với người tâm thần, là

31

những tác động hợp quy luật của chủ thểquản lý nhân sự đến các khách thể quản

lý nhân sự nhằm đạt được các mục tiêu quản lý nhân sự đã đề ra.Quản lý về

nhân sự hay quản lý nguồn lực con người đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt

động của các tổ chức hay doanh nghiệp. Việc quản lý nguồn lực đòi hỏi sự hiểu

biết về con người ở nhiều khía cạnh bởi con người là yếu tố trung tâm của sự

phát triền. Cần tạo điều kiện để con người phát huy hết khả năng, giảm lãng phí

nguồn lực, tăng hiệu quả của tổ chức.

Công tác quản lý, tổ chức nhân sự giúp tìm kiếm, phát triển và duy trì đội

ngũ nhân viên và quản lý một cách có chất lượng. Không một hoạt động nào của

tổ chức mang lại hiệu quả nếu thiếu quản lý nhân sự. Hay nói cách khác, bất kỳtổ

chức nào cũng mong muốn sử dụng một cách có hiệu quả nhân sự của tổ chức để

đạt mục tiêu đặt ra.Tổ chức nhân lực làm việc đối với người tâm thần là việc khai

thác tốt nguồn lực để phục vụ cho công tác trợ giúp người tâm thần nhằm đáp ứng

tốt các nhu cầu của người tâm thần .

Quản lý về nhân lực làm việc đối với người tâm thần bao gồm quản lý về

chuyên môn nghiệpvụ của cán bộ làm việc trong lĩnh vực công tác xã hội với

người tâm thần, năng lực của cán bộ, số lượng được đào tạo trong lĩnh vực

CTXH… việc quản lý về nhân lực làm việc đối với người tâm thần được thực hiện

chặt chẽ sẽ mang lại hiệu quả đáng kể trong công tác trợ giúp người tâm thần.

Thực hiện Đề án 32 về phát triển nghề công tác xã hội trong các giai đoạn đã được

triển khai từ Trung ương xuống địa phương song trên thực tế nhiều địa phương đã

thực hiện rất tốt và nhân rộng các hình thức, mô hình hoạt động trợ giúp đối với

cộng đồng, nhóm và các nhân, tuy nhiên việc quy hoạch, hoạch định chiến lược

đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ làm CTXH chuyên, hay cộng tác viên CTXH

tại nhiều địa phương còn hạn chế chưa mang lại hiệu quả, chủ yếu cán bộ nhân

viên CTXH đã, đang làm là cán bộ ngành Lao động Thương binh và Xã hội tại các

cơ sở Bảo trợ và địa phương xã, phường chủ yếu kiêm nhiệm nên hiệu quả chưa

cao, các hình thức đào tạo, tập huấn chỉ giải quyết phần nào so với nhóm đối

tượng yếu thế và cộng đồng cần hỗ trợ, giúp đỡ, dây là điều bất cập. Tuy đã được

Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành công nhận CTXH là một nghề song để người

làm nghề được các cấp công nhận và hưởng quyền lợi theo đúng nghĩa còn gặp

32

nhiều rào cản về hành lang pháp lý, các thủ tục quy định, đại đa phần là hưởng mã

ngạch khác, các đơn vị sử dụng lao động công lập chuyển từ vị trí làm việc khác

sang làm CTXH vì đã tham gia học các lớp, các khoa đào tạo về CTXH.

1.4.3. Lãnh đạo công tác xã hội đối với người tâm thần

Một tổ chức bao giờ cũng gồm rất nhiều người, công việc của nhà quản lý

công tác xã hội là lãnh đạo, điều khiển và phối hợp hoạt động của mọi người trong

tổ chức.Nó bao gồm việc động viên những người dưới quyền, giải quyết xung đột

giữa các cá nhân, bộ phận trong tổ chức. Chính vì vậy, lãnh đạo công tác xã hội

đối với người tâm thần là ở đây, nhà quản lý cần quan tâm đến đời sống của nhân

viên cấp dưới, phải có một chương trình hữu hiệu để phát triển tài năng cá nhân;

kỹ năng đổi mới liên tục và cần phải xây dựng một môi trường thân thiện đối với

cá nhân; phải có các quy định về tự phê bình để có thể tiếp nhận những lời chỉ

trích, phê bình để có thể giải tỏa bức xúc cá nhân và tìm ra cách giải quyết đối với

những vấn đề nảy sinh.

Đối với các xung đột phát sinh, các nhà quản lý cần phải có khả năng giải

quyết nó trước khi những hậu quả của nó có thể phá huỷ tính hiệu quả của tổ chức,

do vậy khả năng giải quyết xung đột là một kỹ năng quản lý công tác xã hội. Các

chiến lược phổ biến nhất để làm giảm xung đột như: Các chiến lược né tránh, các

chiến lược can thiệp quyền lực, các chiến lược vận động tuyên truyền và các chiến

lược hóa giải.

1.4.4. Kiểm tra công tác xã hội đối với người tâm thần

Theo Robert J.Mockler, trong tác phẩm "The Management Contrl Process"

(Tiến trình kiểm tra quản lý) đã định nghĩa: "Kiểm tra quản lý là một nỗ lực có hệ

thống nhằm thiết lập những tiêu chuẩn, những hệ thống phản hồi thông tin, nhằm

so sánh những thành tựu thực hiện với định mức đã đề ra, và để đảm bảo rằng

những nguồn lực đã và đang được sử dụng có hiệu quả nhất, để đạt mục tiêu của

đơn vị"

- Mục đích.

Các nhà quản lý CTXH kiểm tra việc hoạch định, xây dựng kế hoạch trợ

giúp, kết nối các nguồn lực của nhân viên CTXH đến với đối tượng trong đó; từ

vận động chính sách đúng hành lang pháp lý theo quy định; vận động các nguồn

33

nội ngoại lực đến với đối tượng mang tính bền vững, giúp đối tượng vượt qua khó

khăn tự vươn lên trong cuộc sống, tự giải quyết vấn đề của chính họ, riêng đối

tượng người tâm thân việc nhân viên CTXH cần hỗ trợ cần thiết nhất là kết nối

với các tuyến bệnh viện để họ được thuận lợi trong việc khám, điều trị; kết nối các

nguồn lực cho gia đình đối tượng giải quyết khó khăn trước mắt và hạch định kế

hoạch lâu dài..., giúp chính đối tượng, gia đình về mặt trợ cấp, phụ cấp theo đúng

quy định được hưởng.

Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch đã đề ra về mặt thời gian,

yêu cầu công việc, kết quả thực hiện của nhân viên CTXH đối với đối tượng nhằm

đảm bảo quyền lợi chế độ chính sách, các dịch vụ hỗ trợ, trợ giúp, các hoạt động

được thực hiện một cách tốt nhất.

- Nội dung kiểm tra.

Kiểm tra tổng thể, tổng quan việc thực hiện chủ trương theo mục tiêu, kế

hoach đã được nhà quản lý thống nhất triển khai trên mọi phương diện, đánh giá

tiến độ, mức độ hoàn thành, kết quả từ đó có định hướng phát triển. Nhưng cách

thức kiểm tra này chỉ có thể thích hợp với các cơ sở nhỏ hoặc khi các hoạt động còn

đơn giản. Khi cơ sở phát triển, số lượng hoạt động nhiều, tính chất công việc phức

tạp thì cách kiểm tra này sẽ khó thực hiện được.Trường hợp này, nhà quản lý phải

chọn ra những điểm cần được quan tâm đặc biệt để xác định nội dung kiểm tra.

Để làm tốt nội dung kiểm tra cần xác định vấn đề cần kiểm tra, mục tiêu

trọng tâm, trọng điểm cần tiến hành kiểm tra, đánh giá, không kiểm tra dàn trải,

hình thức nhằm mang lại hiệu quả cao nhất và mục đích hướng tới là đối tượng là

người được hưởng lợi đúng nghĩa.

Các tiêu chuẩn kiểm tra trọng yếu có thể là các tiêu chuẩn vật chất, tiêu

chuẩn phí tổn, tiêu chuẩn chương trình và các tiêu chuẩn vô hình (sự tín nhiệm, sự

ủng hộ hay sự ưa thích …)

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý công tác xã hội đối với

người tâm thần.

1.5.1. Đặc điểm của ngh

34

- Các nhà quản lý làm việc trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực.

- Các nhà quản lý làm việc liên tục, ít khi được nghỉ ngơi.

- Các nhà quản lý làm việc với nhịp độ căng thẳng.

- Các nhà quản lý làm việc, tiếp cận theo nhiều cách trên phương tiện thông

tin đại chúng.

- Các nhà quản lý thực hiện công việc của họ chủ yếu thông qua mối quan

hệ con người.

Chính từ những đặc tính trên của công việc quản lý mà John Kotter, một

nhà tư vấn và nghiên cứu quản lý, đã cho rằng có hai hoạt động mang tính then

chốt đối với thành công của một nhà quản lý, đó là: thiết lập chương trình nghị sự

và làm việc theo mạng lưới. Thông qua thiết lập chương trình nghị sự, nhà quản lý

giỏi phát triển các ưu tiên hành động cho thục hiện mục đích, bao gồm các mục

tiêu và kế hoạch trong khuôn khổ ngắn và dài hạn.

Đối với đối tượng là người tâm thần, đặc điểm nghề nghiệp ảnh hưởng

nhiều đến quá trình quản lý công tác xã hội do yếu tố đặc thù của công việc, do

trình độ và do sự chênh lệch về độ tuổi.Trên thực tế thì nhiều tỉnh thành người

đứng đầu địa phương, lãnh đạo các ban ngành từ tỉnh xuống đến địa phương cũng

chưa, không hiểu vai trò của nghề CTXH, mục đích, ý nghĩa của nghề quan trong

trong đời sống xã hội, trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho người dân. Chính vì

điều này là rào cản đối với đối tượng yếu thế nói chung người tâm thần nói riêng,

là đối tượng hạn chế về nhận thức, tư duy để hiểu về vai trò của nghề công tác xã

hội, cho rằng nhân viên công tác xã hội đến là hỗ trợ họ để họ được chăm sóc và

trợ cấp về tiền về chính sách...Đồng thời hệ thống cung cấp dịch vụ công tác xã

hội các cấp chưa được thiết lập một cách cơ bản, hệ thống và đồng bộ để việc

quản lý được thuận lợi.

1.5.2. Năng lực nhà quản lý

* Phẩm chất

- Chính trực

Đối với người công tác, làm việc trong lĩnh vực CTXH nói chung, các

35

Trung tâm quản lý, chăm sóc người tâm thần nói riêng cần sự hy sinh mới có thể

làm tốt công việc. Các nhà quản lý trong lĩnh vực này rất cần sự công tâm, công

minh trên phương diện quản lý trên các mặt; chế độ chính sách, quyền lợi của cán

bộ và đối tượng, các nguồn lực về vật chất được hỗ trợ…cần công minh, công

khai, rõ ràng, cụ thể thì cán bộ, người dân, thân nhân đối tượng mới tin tưởng và

đối tượng với được hưởng quyền lợi. Những phẩm chất này có thể coi như một

hình mẫu tiêu biểu để mọi người noi theo, cũng như giúp cho toàn bộ tổ chức,

doanh nghiệp xây dựng những giá trị văn hoá hữu hiệu và có sức mạnh lớn lao.

Đối với người tâm thần nói chung, người tâm thần đặc biệt nặng đang được

quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm Chăm sóc và phục hồi chức năng

cho người tâm thần thì bản thân họ và gia đình gặp rất nhiều khó khăn, vất vả

trong cuộc sống họ được Nhà nước quan tâm, chăm lo chính vì thế trong công tác

quản lý, điều hành, chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cần sự công bằng, công tâm,

khách quan, tạo lòng tin cho chính dối tượng và gia đinh họ, nhân dân yên tâm tin

tưởng vào sự chăm sóc, nuôi dưỡng, phục hồi của cán bộ Trung tâm, nhân dân tin

tưởng vào chế độ chính sách của Đảng, Nhà nước về chính sách an sinh xã hội.

- Cống hiến

Các nhà quản lý trong lĩnh vực CTXH đã có phẩm chất chính trực vì đối

tượng vì cộng đồng, xã hội thì họ sẽ công hiến công sức, thời gian, sự nhiệt tình để

đạt mục tiêu chung cho cơ quan, đơn vị là phát triển bền vững và đối tượng họ

đang quản lý, chăm sóc tại Trung tâm hay ngoài cộng đồng đều được hưởng các

dịch vụ tốt nhất, được động viên, hỗ trợ tốt nhất từ các nguồn lực, chế độ chính

sách của Đảng, Nhà nước. Hay nói cách khác, họ phải cống hiến toàn bộ những gì

mình có đối với nhiệm vụ được giao, cống hiến bản thân để thành công, để dẫn dắt

người khác.

- Ham thích công việc, say sưa và hết long với công viêc

- Có trách nhiệm cao, có tinh thần vượt khó

- Sâu sát, tỉ mỉ

- Kiên trì theo đuổi mục đích

36

- Khoan dung.

Trong công tác chăm sóc người tâm thần thì ngoài cống hiến phải có tâm

bởi đại đa phần thần kinh không ổn định lúc thế này, lúc thế kia, có khi cả ngày

không nói gì nhưng hôm thì nói lảm nhảm cả ngày, cán bộ bảo không nghe, có khi

đánh cả cán bộ trọng thương, hỏi họ bảo hưng phấn đánh thôi...chính vì thế từ cán

bộ lãnh đạo Trung tâm, lãnh đạo phòng, khoa và cán bộ cần có một tấm lòng, yêu

nghề, thương đối tượng, hi sinh cả thời gian, công sức, chịu áp lực công việc thì

mới làm và hoàn thành tốt được nhiệm vụ được giao.

Ở môi trường cùng chung sống với người tâm thần ảnh hưởng rất nhiều đến

cảm súc, tâm lý, tình cảm của mỗi cán bộ, trong số cán bộ của Trung tâm hiện tại

có 2 cán bộ bị ảnh hưởng “trầm cảm, ít nói, không muốn tiếp xúc với người khác”.

Chính vì thế mỗi cán bộ viên chức và người lao động càn có sự công hiến, hi sinh

tuổi trẻ, thời gian để làm tốt công việc.

* Kiến thức cần có ở nhà quản lý

+ Về chuyên môn, nghiệp vụ: Hiểu biết và nắm vững chế độ, chính sách

của từng nhóm đối tượng, hiểu biết về nghề CTXH, nắm vững các kỹ năng căn

bản, các tiến trình trợ giúp… của CTXH, các vấn đề tâm lý của từng nhóm đối

tượng, hiểu biết về vấn đề chuyên môn y tế trong công tác khám, điều trị đối với

đối tượng người tâm thần và một số chuyên ngành theo lĩnh vực chuyên môn

được giao.

Riêng đối với tập thể cán bộ làm công tác quản lý, chăm sóc và phục hồi

chức năng cho người tâm thần tại Trung tâm, được lãnh đạo bố trí tham gia các

lớp đào tạo dài hạn, ngắn hạn, tập tuấn về công tác xã hội, công tác chăm sóc y tế,

sức khỏe, quản lý, cách thức, tâm lý…đối với người tâm thần.

+ Kiến thức về cuộc sống sâu, rộng và đa dạng: Là kiến thức tổng quát về

kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội về ngành, các lĩnh vực hoạt động liên quan, kiến

thức về môi trường, các thủ tục hành chính, chế độ chính sách, các xu hướng phát

triển chủ đạo. Thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chủ động

học hỏi, tìm hiểu các văn bản của Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành để làm tốt

37

công việc, nhiệm vụ được giao và triển khai nhiệm vụ cho cấp dưới thực hiện.

*Kỹ năng cần có ở nhà quản lý

Trong số các kỹ năng thì kỹ năng về hoạch định, xây dựng mục tiêu, kế

hoạch để triển khai thực hiện rất quan trọng trong cơ quan, đơn vị, trên cơ sở đó

xá định được mục tiêu cần làm và phát triển đối với cơ quan, đơn vị trong các giai

đoạn và hàng năm.Hoạch định là quá trình thiết lập các mục tiêu, xây dựng các

chiến lược và kế hoạch để thực hiện các mục tiêu. Trong quá trình này, nhà quản

lý phải dự kiến được các khó khăn, trở ngại, những biến động của môi trường kinh

doanh và có những kế hoạch dự phòng.

- Kỹ năng tạo động lực làm việc

- Kỹ năng giao tiếp; Đây là kỹ năng rất cần thiết trong mọi mối quan hệ

trên dưới, ngang bằng trong cuộc sống cũng như trong công việc hàng ngày giữa

con người với nhau trong xã hội.

Kỹ năng này đòi hỏi sự tinh tế, linh hoạt và kiến thức cũng như kinh

nghiệm xã hội của nhà quản lý.Mục tiêu của kỹ năng này là nâng cao sự hiểu biết

và tôn trọng lẫn nhau trên cơ sở nhận diện và công nhận các giá trị và nhu cầu của

các đối tượng giao tiếp. Công nhận và chia sẻ các giá trị và thành tựu của người

khác hoàn toàn không phải là việc đơn giản dù giá trị đó là của cấp dưới hay đồng

nghiệp, hoặc cấp trên.

- Kỹ năng hợp tác thống nhất trong tập thể

- Kỹ năng thích ứng với đòi hỏi, yêu cầu nhiệm vụ, công việc trước sự biến

động, thay đổi của xã hội phát triển.

- Kỹ năng xử lý thông tin và năng lực tư duy

- Kỹ năng tự động viên

1.5.3. Cơ chế, chính sách

Đối với các nhóm đối tượng yếu thế thì chính sách, chế độ rất quan trong

đối với họ, chủ yếu dựa vào sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cơ chế, chính sách

trong những năm gần đây cũng nhiều thuận lợi,đối tượng chính sách, đối tượng xã

38

hội được hưởng lợi.

Các chế độ chính sách được thể chế hóa qua hệ thống văn bản quy phạm

pháp luật, triển khai qua hệ thống văn bản của các cấp từ Trung ương đến địa

phương qua hệ thống ngành dọc đó là sự nhân văn của Đảng, Nhà nước đối với

các tầng lớp nhân dân và đối tượng yếu thế, những người gặp khó khăn trong cuộc

sống. Phản ánh bản chất, chức năng của Nhà nước, đồng thời tác động trực tiếp

hay gián tiếp đếnmọi hoạt động xã hội.

Cơ chế chính sách được thể chế hóa qua hệ thống pháp chế gồm: Văn bản

quy phạm pháp luật như; Hiến pháp, các bộ luật, nghị định, thông tư, hướng dẫn,

quy định, quy tắc, chế định…, nhằm hài hòa các quyền lợi và trách nhiệm của

mỗi công dân, mọi tổ chức trong một trật tự xã hội, hướng tới sự tổng hòa các lợi

ích của cộng đồng. Thể chế đóng vai trò định hướng, hướng dẫn, tạo khuôn khổ

cho việc tổ chức, vận hành xã hội nhằm phát triển nền tảng, văn hóa, kinh tế,

chính trị, xã hội.

Cơ chế, chính sách được cụ thể hóa, thể chế hóa thông qua hệ thống chính

sách, chế tài, chế độ ưu đãi đối với nhóm đối tượng nói chung, người tâm thần nói

riêng. Một thể chế tôn trọng quyền làm chủ của các chủ thể xã hội, tạo thuận lợi

cho các chủ thể thực hiện các hoạt động mưu sinh sẽ khơi dậy được các sáng kiến,

tài năng của cộng đồng xã hội cho phát triển bền vững và ổn định.

Đất nước càng phát triển, điều kiện sống càng tăng cao, chất lượng cuộc

sống ngày tốt nên tuy nhiên trên thực tế do điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa các

tỉnh thành khác nhau nên mức trợ cấp cho đối tượng người tâm thần cũng có khác

nhau. Hiện tại với mức trợ cấp, phụ cấp của đối tượng người tâm thân, rối nhiễu

tâm trí đăc biệt nặng tại Trung tâm còn gặp nhiều khó khăn; Chế độ ăn chỉ có

810.000 đồng/tháng; các trang cấp theo quy định tại Thông tư 02/2018/TTg-

BLĐTBXH ngày 27/4/2018 Quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật làm cơ sở

xây dựng giá dịch vụ trợ giúp xã hội. Tại mục B thì với đối tượng là người tâm

thần thì định mức này các cơ sở Bảo trợ đối với người tâm thần gặp nhiều khó

39

khăn khi thực hiện.

1.5.4. Cơ sở vật chất và nguồn kinh phí

Cơ sở vật chất và ngân sách là một trong những yếu tố ảnh hưởng quan trọng

quyết định đếnchất lượng của việc quản lý nói chung và quản lý CTXH nói

riêng.Nhận thức được vị trí, vai trò tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm

qua Chính phủ và các địa phương đã có nhiều chủ trương và biện pháp trong công

tác quy hoạch và tăng cường cơ sở vật chất cho công tác trợ giúp người tâm thần,

chú trọng đầu tư cơ sở vật chất cho các cơ sở bảo trợ xã hội đảm bảo đạt tiêu

chuẩn theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Tỉnh cũng đã tập

trung thực hiện nghiêm túc các qui định về quản lý tài chính, tài sản, luật ngân

sách, luật kế toán; Bám sát yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tế từng đơn vị để

bố trí kinh phí đầu tư cho công tác này trước mắt cũng như lâu dài như: đầu tư cơ

sở hạ tầng, trang thiết bị phương tiện kỹ thuật, nâng cao đời sống,vật chất văn hóa

tinh thần cho người tâm thần. Công tác quản lý tài chính tài sản đã khai thác sử

dụng hợp lý tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn ngân sách.

Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế hạn hẹp, nhiều lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư

nên việc tập trung tài chính cho người tâm thần của tỉnh trên thực tế vẫn chưa thể

đáp ứng được nhu cầu.Cần tiếp tục có các giải pháp phù hợp trong việc đa dạng

hóa hình thức huy động nguồn lực tài chính cho công tác này.

Theo Quyết định 1215/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ

về việc Phê duyệt đề án trợ giúp xã hội và Phục hồi chức năng chongười tâm thần,

rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011 – 2020.

Thực hiện đề án Trung tâm được đầu tư xây dựng các hạng mục nhà hành

chính công vụ và 2 dãy nhà ở cho đối tượng và khuôn viên, khu vui chơi tuy nhiên

theo thiết kế dự án xây dựng thì 2 dãy nhà ở của đối tượng Bảo trợ xã hội chưa hợp

lý với đối tượng là người tâm thần, đến thời điểm này xuống cấp ảnh hưởng nhiều

đến khâu quản lý, chăm sóc, theo dõi, giám sát, kiểm tra tình hình của đối tượng.

Hiện tại 2 khu nhà ở của đối tượng người có công bị mắc bệnh tâm thần

được Đảng, Nhà nước, các cấp quan tâm hơn được đầu tư sửa chữa khang trang,

40

sạch đẹp hơn song khuôn viên hẹp, khu vui chơi của đối tượng hạn chế.

Nguồn kinh phí cấp hàng năm từ nguồn ngân sách từ Trung ương, Tỉnh cho

đối tượng cũng hạn chế, nhất là nguồn kinh phí cho đối tượng Bảo trợ xã hội do

Tỉnh cấp rất hạn chế nên gặp nhiều khó khăn cũng một phần do điều kiện kinh tế

của Tỉnh hạn chế, nhiều khó khăn.

Chính vì điều kiện cơ sở vật chất kinh phí nhiều hạn chế ảnh hưởng đến điều

kiện sống hàng ngày của đối tượng, nhất là khi bệnh nhân ốm đau, đi viện; Công

tác quản lý, kiểm tra, giám sát, theo dõi đối tượng bị ảnh hưởng.

Tiểu kết chương

Chương 1 tác giả đề cập đến những vấn đề lý luận về các khái niệm có liên

quan đến lĩnh vực nghiên cứu về quản lý công tác xã hội đối với người tâm thần.

Những khái niệm này làm rõ về khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

của đề tài. Đồng thời, chương này cũng xác định các hoạt động quản lý công tác

xã hội với người tâm thần gồm: Quản lý về công tác hoạch định chính sách đối

với người tâm thần , công tác tổ chức nhân lực làm việc với người tâm thần , công

tác lãnh đạo công tác xã hội với người tâm thần và kiểm tra, giám sát các hoạt

động công tác xã hội đối với người tâm thần. Trên cơ sở lý luận, các khái niệm,

nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng có liên quan nhằm vận dụng cơ sở lý luận vào

thực tiến công tác quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng phục hồi chức năng cho người

tâm thân trên phương diện CTXH để vận dụng kiến thức, kỹ năng, phương pháp,

tiến trình nhằm hỗ trợ, giúp đỡ đối tượng người thần về chế độ, chính sách, các

nguồn lực trong và ngoài nước, các yếu tố ảnh hưởng đếnhoạt động quản lý công

tác xã hội đối với người tâm thần.

Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở chương 1 sẽ định hướng cho việc

nghiên cứu đề tài “Quản lý công tác xã hội đối với người tâm thần tại Trung tâm

41

Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh TháiBình”.

Chương 2

QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN TẠI

TRUNG TÂM CHĂM SÓC VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO NGƯỜI

TÂM THẦN TỈNH THÁI BÌNH

2.1. Sơ lược về địa bàn và khách thể nghiên cứu

Đi u kiện tự nhiên

Thái Bình là tỉnh ven biển, thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, nằm trong

vùng ảnh hưởng của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng

Ninh. Phía Bắc giáp với tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng; phía Tây và Tây

Nam giáp với tỉnh Nam Định và Hà Nam; phía Đông giáp với vịnh Bắc Bộ. Diện

tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.546,54 km2. Toàn tỉnh gồm có 8 huyện, 1 thành phố

là: Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư

và thành phố Thái Bình với tổng số 284 xã, phường, thị trấn.

Đi u kiện kinh tế

Thái Bình là tỉnh tiếp giáp với Hải Phòng –Nam Định - Hà Nội, là tỉnh

thành phát triển nhanh mạnh và bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,

Thái Bình có nguồn lực con người tham gia vào các hoạt động lao động, sản xuất

tạo ra nhiều sản phẩm, lương thực, thực phẩm, hàng hóa…là địa phương cung

cấp các nguồn nhân lực cho các tỉnh lân cận và trên cả nước. Ngoài ra với vị trí

địa lý Thái Bình có diện tích đường ven biển dài đây là thế mạnh để người dân

khai thác thủy hải sản, nuôi các loại hải sản cung cấp cho địa phương trong tỉnh

và các tỉnh thành trong cả nước, xuất khẩu ra nước ngoài, Tỉnh có thế mạnh là có

cảng biển Diêm Điền huyện Thái thuy đang được tu tạo nâng cấp là nơi giao

thương hàng hóa giữa các tỉnh và nước ngoài, ngoài ra lượng khí đốt, than nâu,

nguồn nước khoáng tại huyện Tiền Hải và Thái Thuỵ cũng là thế mạnh để phát

triển kinh tế và là nguồn thu ngân sách cho tỉnh và địa phương trong công cuộc

xây dựng và phát triển của Tỉnh. Trong những năm gần đây Tỉnh ủy, Ủy Ban

nhân dân tỉnh xây dựng hành lang pháp lý, cơ chế mở, tạo điều kiện cho các cá

nhân, tổ chức, doanh nghiệp, tập đoàn đầu tư vào Tỉnh trên mọi phương diện sản

xuất, kinh doanh các loại hình dịch vụ từng bước xậy dựng trở thành cụm công

42

nghiệp trong khu vực song bên cạnh đó mặt trái của sự phát triển kéo theo những

hệ lụy mang lại cho cộng đồng, xã hội, đây là mặt trái của sự phát triển trong giai

đoạn hiện nay.

2.1.1. Sơ lược v trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người

tâm thần tỉnh Thái Bình.

- Lịch sử hình thành và phát triển

Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người tâm thần Thái Bình

được thành lập tháng 4 năm 1979 khi mới thành lập mang tên là Trung tâm điều

dưỡng người tâm thần có công, được tỉnh Thái Bình, Ti Thương binh (nay là Sở

lao động Thương binh và Xã hội) giao nhiệm vụ; Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc,

nuôi dưỡng và phục hồi chức năng cho người tâm thần đặc biệt nặng, người rối

nhiễu tâm trí trong đó số người tâm thần nói chung và người có công bị mắc

bệnh tâm thần. Trung tâm có chức năng tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi

dưỡng và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí (trong

đó có cả đối tượng là người có công bị bệnh tâm thần).

2.1.2.Chức năng

Trung tâm có chức năng quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và phục hồi chức

năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí (trong đó có cả đối tượng là

người có công bị bệnh tâm thần).

2.1.3. Nhiệm vụ

Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng cho đối

tượng là người tâm thần có hành vi nguy hiểm cho cộng đồng, lang thang hoặc

tâm thần nặng thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ

quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và

có kết luận mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc

diện hộ nghèo.(Theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính

phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết

tật). Tham vấn, tư vấn cho người dân về thủ tục hành chính, điều kiện cần và đủ

để đưa đối tượng vào Trung tâm theo đúng quy định, cách thức chăm sóc, quản

lý đối tượng ở gia đình, các biểu hiện khi đối tượng phát cơn kích động...

2.1.4. Bộ máy tổ chức

Tổng số cán bộ viên chức và người lao động; 73 người, trong đó:

43

+ Ban giám đốc; 03 người.

+ Phòng Y tế Phục hồi chức năng : 10 người.

+ Phòng Tổ chức Hành chính Tổng hợp: 18 người, trong đó;

- 8 người làm công tác nấu ăn phục vụ bệnh nhân.

- 10 người làm công việc chuyên môn.

+ Phòng Công tác Xã hội : 02 người.

+ Khoa Bệnh nhân nặng đặc biệt: 10 người.

+ Khoa Bệnh nhân nặng: 10 người.

+ Khoa Bệnh nhân thuyên giảm: 11 người.

+ Khoa Bệnh nhân nữ tổng hợp: 9 người.

Giám đốc

Phó Giám đốc

Phó Giám đốc

Phụ trách phòng Công tác xã hội

Theo dõi Khoa bệnh nhân nặng

Theo dõi Khoa bệnh nhân thuyên giảm

Theo dõi phòng Y tế phục hồi chức năng

Theo dõi Khoa bệnh nhân nữ tổng hợp

Theo dõi Khoa bệnh nhân đặc biệt nặng

Phụ trách phòng Hành chính Tổng hợp

2.2. Sơ lược về khách thể nghiên cứu

- Tổng số cán bộ trực tiếp làm công tác tiếp nhận hồ sơ, quản lý, chăm sóc,

nuôi dưỡng, phục vụ và phục hồi chức năng cho đối tượng là 59người và 14 cán

bộ viên chức và người lao động dán tiếp phục vụ trong đó cáo 3 đồng chí trong

Ban Giám đốc, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị;

+ Trình độ Thạc sỹ có 02 người.

+ Trình độ Đại học có 26 người.

+ Trình độ Cao đẳng có 10 người.

44

+ Trình độ Trung cấp có 30 người.

+ Trình độ Sơ cấp có 05 người.

+ Trung cấp Lý luận chính trị 07 người.

+ Quản lý nhà nước; - Chuyên viên chính 01 người; - Chuyên viên 11 người.

- Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người tâm thần (Sở LĐ-

TB&XH Thái Bình) hiện đang quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, chăm sóc và

phục hồi chức năng cho 240 đối tượng tâm thần, rối nhiễu tâm trí đặc biệt nặng

(có 184 đối tượng nam, 56 đối tượng nữ), trong 240 đối tượng thì:

+ Đối tượng Người có công là 66 đối tượng(có 33 đối tượng là thương

bệnh binh,02 đối tượng là thân nhân liệt sỹ, 31 đối tượng con của người hoạt

động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học).

+ Đối tượng Bảo trợ xã hội (BTXH) là 169 người.

+ Đối tượng Mất sức lao động là 05 người.

- Đặc thù của người bệnh tâm thần mãn tính, hầu hết đối tượng không còn

khả năng lao động trị liệu để phục hồi chức năng, không còn khả năng tự phục

vụ được bản thân chính vìvậy việc quản lý, chăm sóc,nuôi dưỡng, điều trị đưa họ

vào nề nếp cần thời gian dài và cả một quá trình gian khổ. Người tâm thần nặng,

khi gia đình không còn khả năng quản lý, nuôi dưỡng gây hưởng tới trật tự cộng

đồng ngã hội đình, xã hội và tới cả tiêm thuốc, lao động trị liệu để phục hồi chức

năng, ăn uống cần nhiều cán bộ, nhiều đối tượng không tự ăn được phải bón từng

miếng cơm muỗng cháo, từng thìa sữa. Nhiều đối tượng sa sút cả về tinh thần,

sức khỏe và thể lực, già cả ốm yếu, ngoài bệnh tâm thần họ còn mắc những bệnh

lý đa khoa khác như lao phổi nặng, bệnh da liễu, tim mạch, các bệnh liên quan

đến đường ruột, đường hô hấp... nên việc quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và điều

trị cho họ là một công việc khó khăn, vất vả. Do vậy công tác quản lý, chăm sóc,

tâm. Xác định nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm các đồng chí lãnh đạo xây dựng

kế hoạch cụ thể, phân công công việc, nhiệm vụ rõ ràng, cải thiện, nâng cao chất

lượng phục vụ, mỗi CBVC, NLĐ như là người thân của đối tượng.

2.3. Thực trạng hoạt động quản lý công tác xã hội đối với người tâm

thần tại Trung tâm

2.3.1. Hoạch định công tác xã hội đối với người tâm thần

Trên thực tế cán bộ viên chức (CBVC), người lao động (NLĐ) nói chung

45

và cán bộ phòng CTXH họ cũng hiểu chưa rõ về mục đích của việc hoạch định

trong quản lý đối với người tâm thần, họ chỉ thực hiện mục tiêu, kế hoạch hoạt động

của Trung tâm theo chức năng, nhiệm vụ được giao được triển khai từ đầu năm.Căn

cứ Kế hoạch của Trung tâm các phòng, khoa xây dựng kế hoạch nhiệm vụ được

phân công theo tháng, quý, năm để thực hiện, đại đa số các ý kiến hầu hết cho rằng

đây là hoạt động nhằm định hướng đúng đắn theo chủ trương, mục tiêu, kế hoạch,

phương hướng đề ra và mọi hoạt động, yêu cầu của Cấp ủy, ban Giám đốc, lãnh đạo

phòng, khoa để thực hiện nhằm hướng tới mục đích đáp ứng tốt nhất trong công tác

quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng cho đối tượng, làm sao để

nâng cao thể trạng sức khỏe, bệnh lý ổn định để có thể sàng lọc đối tượng đủ điều

kiện cho tái hòa nhập cộng đồng đó là mục tiêu đặt ra.

“Xác định rõ mục tiêu, kế hoạch trong từng giai đoạn làm ti n đ cho sự

phát triển và là định hướng hàng năm nhằmhoạch định c ng việc, nhiệm vụ

trong quá trình thực hiện nhiệm vụ rất quan trọng cho sự phát triển.Nhưng thực

tế, ngh CTXH còn mới và việc vận dụng quản lý trong lĩnh vực CTXH tuy đã

triển khai phổ biến th ng qua các khoa học, tập huấn ngắn hạn, dài hạn song

anh em cán bộcũng chưa hiểu rõ hết vai trò của người làm CTXH chuyên nghiệp

và nhiệm vụ của người làm ngh .Chính đi u này việc hoạch định/lập kế hoạch

kh ng cụ thể, chi tiết sẽ làm mọi người lúng túng và kh ng có định hướng cũng

như sẽ bị động rất nhi u khi triển khai c ng việc” PVS, Nam, 43 tuổi, cán bộ

Theo Quyết định số2018/QĐ-UBND ngày 15/9/2008 của UBNDtỉnh

Thái Bình về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trung

tâm Chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần thuộc Sở Lao động

Thương binh và Xã hội tỉnh. Trung tâm có chức năng tiếp nhận, quản lý,

chăm sóc, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng cho người tâm thần và người rối

nhiễu tâm trí (trong đó có đối tượng là người có công bị bệnh tâm thần);

“Trên cương vị là lãnh đạo với chức năng, nhiệm vụ được giao, thực hiện sự

chỉ đạo của Sở trong việc quản lý, đi u hành t i rất quan tâm đến việc hoạch

định/lập kế hoạch, định hướng cho sự phát triển trong các giai đoạn, xây

dựng mục tiêu, kế hoạch c ng tác hàng năm, làm căn cứ cho việc đánh giá kết

quả hoạt độngvà phương hướng năm tiếp theo, t i nghĩ đối với cơ quan sự

46

lãnh đạo trung tâm.

nghiệp, các tổ chức nào cũng vậy, đây là cơ sở cho việc lãnh đạo, đi u hành,

quản lý” PVS, nam, 40 tuổi, cán bộ lãnh đạo trung tâm.

Căn cứ Đề án xây dựng, phát triển Trung tâm giai đoạn 2015-2020 và nhiệm

vụ chính trị hàng năm của đơn vị báo cáo định kỳ, thường niên theo quy định của

Sở. Sở Lao động Thương binh và Xã hội giao Trung tâm là cơ quan tham mưu cho

Sở dự thảo một số lĩnh vực có liên quan đến chế độ, chính sách đối với người tâm

thần. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) Tỉnh giao Sở Lao động – Thương binh và

Xã hội là cơ quan chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, đơn vị liên quan dự thảo các

nội dung đến quyền lợi, chế độ chính sách đối với người tâm thần trình UBND

Tỉnh. Thực hiện Kế hoạch phát triển Trung tâm giai đoạn 2015-2020 Sở giao Trung

tâm triển khai báo cáo định kỳ hàng năm, ngoài ra hàng quý, 6 tháng, một năm Sở

có sự kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện. Không chỉ có Sở kiểm tra mà

các cơ quan chức năng, các cấp các ngành từ Trung ương, Tỉnh cũng định kỳ kiểm

tra, giám sát đồng thời yeu cầu báo cáo theo định kỳ.

Thực hiện Luật Người khuyết tật và các văn bản hướng dẫn; Nghị định

28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật kuyết tật; Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH ngày

12/11/2012 của Bộ Lao động - TB&XH, hướng dẫn một số điều của Nghị định

số 28/2012/NĐ-CP…

Trung tâm đã tham mưu trình Sở Lao động – Thương binh Xã hội báo

cáo Tỉnh ủy, UBND Tỉnh nâng mức trợ cấp và hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng

tháng đối với đối tượng người tâm thần thuộc diện Bảo trợ xã hộitại Trung tâm

nói riêng, trên địa bàn Tỉnh; Kế hoạch số 4621/KH-UBND ngày 19/11/2012 của

Ủy ban nhân dân tỉnh về thực hiện Đề ántrợ giúp xã hội và phục hồi chức năng

cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2012 –

2015; Kế hoạch số 4151/KH-BND ngày 09/10/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh

về thực hiện Đề ántrợ giúp người tâm thần tỉnh Thái Bình giai đoạn 2013 –

2020; Các kế hoạch triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người

tâm thần hàng năm trên địa bàn tỉnh…

Việc xây dựng chính sách của Tỉnh những năm qua cơ bản đảm bảo đầy

đủ các yếu tố trong một quy trình xây dựng và ban ngành chính sách như: Bám

47

sát vào các mục tiêu, chủ trương của Đảng và Nhà nước; trước khi xây dựng

chính sách đều tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng của vấn đề và nhu cầu của

người dân hoặc địa phương mà chính sách sẽ tác động đến; xây dựng chính sách

đảm bảo sự phù hợp với thực tiễn bối cảnh và khả năng ngân sách của Trung tâm

hoặc các nguồn huy động khác… Việc triển khai các kế hoạch cần có những

định hướng rõ ràng, cụ thể và kịp thời để các hoạt động không chỉ hướng đến

hiện tại mà còn hướng đến tương lai và sẵn sàng đối phó với những tình huống

thay đổi có thể xảy ra.

“Trong buổi phát bánh kẹo, thuốc lá giữa các đồng chí trong ban Giám

đốc và đối tượng tôi có hỏi đối tượng PĐT năm nay 47 tuổi quê Hưng Hà v việc

chăm sóc, phục vụ, chế độ ăn hàng ngày đối với anh và tất các đối tượng anh nói

cán bộ quan tâm thường xuyên hỏi han, động viên, chúng t i ăn uống được thức

ăn thay đổi cũng đảm bảo, chúng t i thích ăn chay cũng ngon, các anh quan tâm

cho chúng t i ít nước chè, có đoàn nào v thăm anh bảo cho chúng t i điếu

thuốc”… đây là đối tượng của khoa đặc biệt nặng.

Làm việc, trao đổi vớiTrưởng khoa bệnh nhân nặngcủa Trung tâm về Kế

hoạch phát triển đơn vị và định hướng cho công tác quản lý đối với người tâm

thần trong giai đoạn tới, cán bộchia sẻ: “Để phát triển Trung tâm trong tương lai

hay triển khai bất cứ một hoạt động nào chúng ta cần xây dựng kế hoạch, hoạch

định các nhiệm vụ ngắn hạn và dài hạn. Đối với đối tượng là người tâm thần,

chúng tacần tính đến những định hướng cho thời điểm hiện tại và thời gian sắp

tới. Bên cạnh đó cũng có những nhìn nhận, có những kế hoạch dự phòng đối với

những sự thay đổi thực tế để định hướng thay đổi đem lại hiệu quả cao cho công

tác này”- Nữ, 36 tuổi, cán bộ quản lý khoa.

Hiệnnay, để đảm bảo quyền lợi và lợi ích tốt nhất cho đối tượng người

tâm thần, UBND tỉnh Thái bình đã phê duyệt các kế hoạch ngắn hạn;Kế hoạch

77/KH - UBND về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân

dân giai đoạn 2018 - 2012; kế hoạch tập huấn nâng cao trình độ cho đội ngũ

nhân viên CTXH và cộng tác viên CTXH ngắn hạn và dài hạn, ngoài ra việc

triển khai đề án 32, quy định 647/QĐ-TTg của chính phủ, phê duyệt Đề án chăm

sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm

HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và

48

trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-

2020; ngoài ra Sở LĐTBXH cũng triển khai hoạch định kế hoạch phát triển các

Trung tâm đến năm 2030. Trong những năm qua cấp ủy, ban Giám đốc đã trình,

tham mưucho Sở Lao động TBXH tỉnh Thái Bình trình UBND tỉnh hoạch định

các kế hoạch, nâng mức trợ cấp ti n ăn, ti n thuốc, các vật dụng trong sinh hoạt

cho đối tượng để đảm bảo tốt nhất cho đời sống, mức sống của người tâm thần

thuộc diện đối tượng Bảo trợ xã hội. Hiện nay, ngoài việc thực hiện theo Đ án

32 của chính phủ; Tỉnh Thái Bình cũng rất quan tâm đến công tác đào tạo, tập

huấn nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên CTXH và các cộng tác viên tại các

cơ sở và cộng đồng…”

Tuy nhiên việc thực hiện nhiệm vụ này ở địa phương cũng còn gặp một số

khó khăn như: Vì nguồn lực tài chính của Tỉnh còn hạn hẹp nên để đảm bảo các

chương trình, kế hoạch đều vận hành được lại cần phải chia nhỏ hơn nữa các

nguồn lực, khiến nguồn lực trở nên dàn trải, kết quả trợ giúp không rõ nét, hiệu

quả thấp; Việc đánh giá công tác tổ chức thực hiện các kế hoạch, đề án ở Trung

tâm cũng gặp khó khăn do đội ngũ cán bộ phụ trách công tác này ở Trung tâm

còn khá mỏng. “Do nguồn kinh phí dự toánNhà nước cấp hàng còn hạn hẹp, các

nguồn tài trợ từ bên ngoài những năm gần đây cũng có nhưng ít chủ yếu là để

chăm lo, phục vụ đối tượng vì thế các kế hoạch khi triển khai hoạt động cũng

phải chia nhỏ để đảm bảo các kế hoạch đã xây dựng đ u được thực hiện. Tuy

nhiên, chính vì khi đưa kế hoạch vào thực hiện sẽ phát sinh thêm rất nhi u vấn

đ thay đổi nên có những kế hoạch cũng muốn là nhưng nguồn kinh phí hạn chế

nên đành chịu chưa thực hiện được”.Tại phiên họp giao ban các đồng chí trong

ban Giám đốc, lãnh đạo phòng, khoa.

Để thực hiện tốt công tác xã hội đối với người tâm thần cần có một tổ chức

cụ thể đứng ra thực hiện chức năng của quản lý, điều hành, chỉ đạo, tổ chức có liên

quan đến các hoạt động thành lập, xây dựng nên bộ khung quản lý trong tổ chức,

bao gồm các khâu (được phân chia thành bộ phận theo chức năng riêng biệt theo vị

trí việc làm) và các cấp độ (cao, trung và cơ sở) để đảm nhận những hoạt động cần

thiết, xác lập các mối quan hệ và nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa các bộ

phận đó. Hay nói một cách tổng quát thì tổ chức là một hoạt động bao gồm việc

thiết lập cơ cấu tổ chức bộ máy, tổ chức nhân sự và tổ chức công việc.

49

2.3.2. Thực hiện công tác xã hội đối với người tâm thần

Trung tâm Chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần với cơ

cấu bộ máy tổ chức cán bộ chủ yêu bao gồm: Ban Giám đốc (Giám đốc và hai

phó giám đốc) và các phòng, khoachuyên môn; Phòng Hành chính – Tổng hợp,

phòng Y tế phục hồi chức năng; phòng Công tác xã hội và 04khoaquản lý, chăm

sóc, nuôi dưỡng đối tượng. Tổ chức bộ máy là một hệ thống mở, từ ban Giám

đốc và các phòng, khoa chuyên môn có mối tương tác, quan hệ, hỗ trợ và tác

động qua lại và thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của ban Giám đốc, chịu

sự kiểm tra, giám sát của Giám đốc và các phó Giám đốc phụ trách với phương

trâm“ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” gắn quyền lợi, trách nhiệm, vai trò

của cá nhân trong chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện của

mỗi cán bộ viên chức, người lao động.

Ban Giám đốc cùng lãnh đạo phòng, khoa thực hiện đúng những quy định

của Đảng, Nhà nước đối với cán bộ viên chức, người lao động, luôn tạo điều

kiện cho cán bộ tham gia các lớp đào tạo, nâng cao kiến thức, kỹ năng, chuyên

môn nghiệp vụ, lý luận chính trị…Thực hiện khen thưởng, kỷ luật đúng quy định

đảm bảo công bằng, khách quan, dân chủ tạo động lực, khích lệ để cán bộ phấn

đấu, phát triển. Trung tâm xây dựng nội quy, quy chế, quy định để triển khai đến

cán bộ thực hiện ngoài tra Cấp ủy, Ban Giám đốc cũng triển khai các văn bản,

hướng dẫn của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành đến cán bộ đảng viên và

người lao động biết để thực hiện.

Để xây dựng kế hoạch hoạt động cho cơ quan, đơn vị cần sự tham gia

thống nhất của tập thể lãnh đạo, cấp ủy, lãnh đạo phòng ban để thống nhất mục

tiêu, kế hoạch, phương hướng hoạt động trong từng gia đoạn đã được hoạch định

làm cơ sở cho phòng ban xây dựng kế hoạch thực hiện. Việc thống nhất trong

lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành sẽ giúp đội ngũ cán bộ viên chức, người lao động

theo định hướng, mục tiêu, kế hoạch đã đề ra nhằm thực hiện, hoàn thành tốt

công việc nhiệm vụ, các hoạt động theo đó sẽ được rõ ràng và thực hiện tốt hơn.

Trong các hoạt động hỗ trợ người tâm thần.“Khi có nhiệm vụ cần chỉ đạo, cấp

ủy, ban Giám đốc thống nhất chủ trương giao các đồng chí Phó Giám đốc phụ

trách trực tiếp chỉ đạo kế hoạch phối hợp với lãnh đạo các phòng, khoa triển

50

khai đến CBVC, NLĐ được biết để thực hiện theo nguyên tắc mệnh lệnh, trong

quá trình thực hiện sẽ báo cáo kết quả hoặc các vấn đ phát sinh với người lãnh

đạo trực phụ trách”.

Ngoài ra việc xây dựng bộ máy tổ chức luôn cần gắn với mục tiêu của tổ

chức, áp dụng nguyên tắc này sẽ giúp bộ máy tổ chức không quá dư thừa và

cũng không quá thiếu dẫn đến áp lực trong công việc. Đó là do với những mục

tiêu trong phần hoạch định cần thực hiện, bộ máy tổ chức sẽ được xây dựng theo

những mục tiêu đó.

Nhưng thực tế vấn đề thống nhất chỉ huy còn hạn chế, ví dụ cụ thể các

chức danh quản lý thực hiện quản lý công tác xã hội đối với người tâm thần chỉ

kiêm nhiệm, chưa có người thực hiện chuyên môn chuyên trách. “Tại Trung tâm

có 2 phòng chưa bổ nhiệm được Trưởng phòng nên 2 đồng chí Phó Giám đốc

kiêm nhiệm, phụ trách lu n phòng C ng tác xã hội, phòng Hành chính, tổng

hợp”. – PVS, Nữ, 38 tuổi, cán bộ trung tâm.

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao Cấp ủy, ban Giám đốc phân công,

giao nhiệm vụ cụ thể cho từng phòng, khoa phù hợp điều kiện thực tiễn trong

từng giai đoạn cụ thể, theo nguyên tắc tổ chức, cơ cấu tổ chức thì quyền lực

trong tổ chức cũng được quy định cụ thể theochức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

được giao theo lĩnh vực hoạt động.Vấn đề còn tồn tại chính là cách thức thực thi,

thực hiện và công tác kiểm tra, giám sát,nội dung này sẽ được phân tích chi tiết

hơn trong phần lãnh đạo.

Bộ máy tổ chức này tại Tỉnh Thái Bình được thể hiện trong các Quyết

định thành lập Ban chỉ đạo thực hiện các kế hoạch: Kế hoạch triển khai thực hiện

Đề án Phát triển nghề công tác xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2009

- 2020; Kế hoạch thực hiện Đề án Trợ giúp Người khuyết tật tỉnh Thái Bình giai

đoạn 2014- 2020; Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án trợ giúp xã hội và phục

hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng

tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011-2020.

2.3.3. Lãnh đạo công tác xã hội đối với người tâm thần

Một tổ chức bao giờ cũng gồm rất nhiều người, công việc của nhà quản lý

công tác xã hội là lãnh đạo, điều khiển và phối hợp hoạt động của mọi người

trong tổ chức. Bao gồm việc động viên, khích lệ những người dưới quyền, giải

51

quyết xung đột giữa các cá nhân, bộ phận trong tổ chức.

Công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo, điều hành nhằm mục đích đạt được

kết quả theo mục tiêu kế hoạch đề ra đối với cơ quan, đơn vị. Chức năng lãnh

đạo, quản lý bao hàm các công tác chỉ huy, phối hợp và điều hành, biểu hiện mối

quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, giữa người ra mệnh lệnh và

người thực hiện mệnh lệnh.Mục đích của chức năng lãnh đạo là làm cho tất cả

mọi người, mọi thành viên nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm và thực hiện tốt

nhiệm vụ của mình, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu chung của

tổ chức.

Tóm lại hoạt động quản lý, quản lý CTXH là hoạch định, lập kế hoạch

xác định đối tượng trợ giúp, thực hiện các bước trong tiến trình trợ giúp của

nhân viên CTXH đối với nhóm đối tượng, cá nhân, cộng đồng, hoạt động quản

lý giúp nhà lãnh đạo điều hành, chỉ đạo cấp dưới trong việc triển khai kế hoạch

đã đề ra đạt kết quả, hiệu quả cao nhất.

Phân tích cách thức chỉ đạo, điều hành, quản lý của Ban Giám đốc và đội

ngũ cán bộ lãnh đạo các phòng, khoa trong công tác quản lý CTXH đối với

người tâm thần ở Trung tâm mang lại hiệu quả trong việc chỉ đạo mang tính

trọng tâm, trọng điểm, chủ yếu tập trung vào các hoạt động như: Hoạt động ra

quyết định và mệnh lệnh; Hoạt động hướng dẫn của người chỉ huy; Hoạt động

đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra, giám sát.

Trên phương diện quản lý CTXH cách thức lãnh đạo, điều hành chủ yếu

xác định rõ mục tiêu cần thực hiện, nhóm đối tượng, từ đó giao nhiệm vụ, thực

hiện theo tiến trình CTXH, kiểm tra, giám sát, kiểm huấn kết quả thực hiện,

lượng giá, kết thúc.Các hoạt động động viên khuyến khích còn chưa được tập

trung nhiều,có một số lý do giải thích cho vấn đề này. Trong môi trường quản lý,

chăm sóc, phục vụ người tâm thần đôi khi cũng mắc bệnh nghề nghiệp, có nhiều

trường hợp chính cán bộ trong quá trình làm việc mắc bệnh, ngoài ra đối với

người tâm thần việc đối tượng đánh bất ngờ cán bộ thường xẩy ra, nhiều khi

xung đột với đối tượng, áp lực từ chính thân nhân đối tượng, từ phía cơ quan ban

ngành chính vì điều này cán bộ làm việc trong Trung tâm thường hay áp đặt

tránh các xung đột với đối tượng “bệnh nghề nghiệp”.Hơn nữa,với đặc thù trong

lĩnh vực chăm sóc người tâm thần, làm việc nhiều với người tâm thần nên việc

52

hướng dẫn và đôn đốc sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho người bệnh tâm thần.Chịu tác

động bởi bối cảnh trong công việc nên đôi khi các nhà lãnh đạo cũng áp dụng

nguyên tắc đó vào trong công việc ở cơ quan, tổ chức.Tuy nhiên cần hiểu rằng

trong lĩnh vực CTXH, mặc dù chúng ta cần linh hoạt và tùy vào từng trường hợp

để đưa ra quyết định lãnh đạo, nhưng bản chất của CTXH không phải là sự ép

buộc mà cần là sự chủ động, nhiệt tình và tự nguyện tham gia.

“Khi có nhiệm vụ cần chỉ đạo, các đồng chí phó Giám đốc phụ trách sẽ

trực tiếp chỉ đạo kế hoạch với lãnh đạo các phòng, khoađể triển phòng, khoa

triển khai đến cán bộ để thực hiệnvà báo cáo kết quả hoặc các vấn đ phát sinh

với người lãnh đạo trực tiếp”.

Các hoạt động động viên khuyến khích còn chưa được tập trung nhiều,có

một số lý do giải thích cho vấn đề này.

Trong các buổi họp giao ban hàng tuần, ngoài việc đưa ra các ý kiến chỉ

đạo, nhắc nhở v các nội dung c ng việc, kế hoạch, Lãnh đạoTrung tâm cũng

thường có những lời nhắc nhở, động viên, khích lệ cán bộ, nhân viên đồng thời

cũng phân loại đánh giá chất lượng c ng việc, kết quả thực hienj nhiệm vụ đối

với tập thể và cá nhân CBVC, NLĐ các phòng khoa đảm bảo dân chủ, khách

quan, công khai.

Để quản lý, chăm sóc người bệnh tâm thần đặc biệt nặng hiện tại thì khó

khăn lớn nhất là diễn biến tư tưởng của bệnh nhân, cán bộ kh ng thường xuyên

theo dõi diễn biến sức khỏe, bệnh lý, nhu cầu, mong muốn và các biểu hiện tiêu

cực là bệnh nhân sẵn sàng tìm đến cái chết bất kỳ lúc nào và bằng nhi u hình

thức, đây là vấn đ rất đáng ngại với các đồng chí trong ban Giám đốc và tập

thể cán bộ, ngoài ra tuổi đời đối tượng ngày càng cao, sức khỏe yếu bệnh đa

khoa phát sinh nhi u, hay tái phát cơn nhất là các dịp nắng nóng, thay đổi thời

tiết, người thân không còn hoặc đi làm ăn xa kh ng có mặt tại địa phương nên

mỗi khi đối tượng có vấn đ gì rất khó khăn trong việc chăm sóc, phục vụ.Làm

việc trong m i trường quản lý, chăm sóc, nu i dưỡng người tâm thần nam nay

gần 30 năm t i thấy đối tượng những năm gần đây được quan tâm rất nhi u từ

Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành, các tổ chức đoàn thể, cá nhân động viên

thăm hỏi nên đời sống của đối tượng được nâng lên cả v vật chất lẫn tinh thần

chức trước kia khổ lắm, vất vả lắm, ăn đói, bênh tật, đối tượng tái phát cơn liên

53

tục, đi u kiện hoàn cảnh gia đình họ thì khó khăn, mỗi đối tượng tâm thần khác

nhau nên công tác phục vụ vất vả, khó khăn. Thấu hiểu được những khó khăn,

vất vả đó, ban Giám đốc thường xuyên quan tâm, động viên, khích lệ bằng cả

tinh thần, vật chất để cán bộ có thêm động lực làm việc, vượt qua khó khăn, trở

ngại ấy – PVS, Nam, 58 tuổi, Phó phòng Hành chính – Tổng hợp.

Nhìn chung công tác quản lý đối tượng người tâm thần tại Trung tâm chủ

yếu trên phương diện quản lý hành chính, quản lý CTXH đối với người tâm thần

chủ yếu là tham vấn, tư vấn cho người dân về thủ tục, văn bản có liên quan đến

đầu vào của đối tượng theo đúng quy định và quản lý hồ sơ đối tượng, triển khai

các hoạt động văn hóa, văn nghề, phục hồi chức năng, lao động tăng gia, lao

động trị liệu, nhóm đối tượng tự quản, kết nối các nguồn lực từ tổ chức, cá nhân

đến động viên thăm hỏi cả về vật chất lẫn tinh thần…Công tác quản lý nói chung

được triển khai theo mục tiêu, kế hoạch hoạt động của Trung tâm từ đầu năm

làm cơ sở cho phòng, khoa chuyên môn xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể

theo lĩnh vực chuyên môn được giao.

2.3.4. Kiểm tra công tác xã hội đối với người tâm thần

Trong các hoạt động quản lý công tác xã hội nói chung và đặc thù trong lĩnh

vực chăm sóc người tâm thần nói riêng, hoạt động kiểm tra là vô cùng cần thiết vì

nhóm đối tượng chăm sóc ở đây hầu hết là không có đầy đủ về thể chất và trí

tuệ.Đây là vấn đề sau cùng của nhà quản lý cần xử lý,sau những mục tiêu đã được

đặt ra, những vấn đề đã được xác định, việc bố trí cơ cấu tổ chức, tuyển chọn, huấn

luyện đã được tiến hành nhưng trong quá trình thực hiện công việc của cá nhân và

bộ phận trong tổ chức có thể vẫn có sai sót, hạn chế. Để đảm bảo công việc được

thực hiện theo đúng kế hoạch, nhà quản lý phải theo dõi hoạt động của nhân viên,

của tổ chức và so sánh kết quả hoạt động với mục tiêu, kế hoạch đề ra để đưa các

hoạt động đi đúng hướng, đạt được hiệu quả như mong đợi.

“T i vào Trung tâm cũng lâu rồi tôi thấy Giám đốc hay xuống kiểm tra

cán bộ làm hàng ngày và hỏi han, động viên chúng tôi, nhi u lần cho chúng tôi

thuốc lá, Anh H phó Giám đốc và anh thì thường xuyên xuống kiểm tra, giám sát

cán bộ làm, chăm sóc chúng t i nhất là kiểm tra khi chúng t i ăn, thường xuyên

thay đổi món ăn cho chúng t i” – Đối tượng NQT 51 tuổi, quê Đông Hưng là

54

bệnh binh mất sức lao động 61%, đối tượng khoa bệnh nhân nặng.

Hội nghị Tổng kết của Tỉnh trong kế hoạch phát triển kinh tế, chính trị,

văn hóa, xã hội các đồng chí thường vụ Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân rất quan tâm

đến vấn đề an sinh xã hội, qua tâm đến đối tượng người có công với cách mạng,

thân nhân gia đình chính sách và các đối tượng Bảo trợ xã hội song do điều kiện

kinh tế của Tỉnh còn hạn chế nên trợ cấp cho các đối tượng Bảo trợ thực hiện

theo đúng quy định mà không có hỗ trợ thêm chính vì thế đời sống của đối tượng

Bảo trợ trên toàn Tỉnh còn gặp nhiều khó khăn “ đối tượng người tâm thần đặc

biệt nặng đang được quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm mỗi tháng có

810.000 đồng /người/tháng”. Tuy nhiên tìm hiểu về những vướng mắc và hạn

chế về công tác quản lý và chăm sóc người tâm thần thì vấn đề nhận thức của

người dân về việc quan tâm đúng mực và đúng cách đối với những người tâm

thần do điều kiện kinh tế xã hội ở các địa phương còn nhiều khó khăn; hay chính

quyền địa phương một số huyện, xã chưa có những hoạt động, giải pháp thực sự

có hiệu quả thiết thực trong việc tìm hiểu, vận động người nhà bệnh nhân tâm

thần cho họ nhập viện điều trị; bất cập nhất thời điểm hiện tại là cán bộ làm

chính sách cấp xã, phường chỉ có 01 người mà công việc thì nhiều, nhiều đầu

mối nên để họ quan tâm đến những đối tượng yếu thế nói chung, người tâm thần

nói riên là không thể làm hết được chính điều đó nên 1 địa phương nào có đối

tượng là người tâm thân bình thường thì gia đình phải quản lý hoặc để đi lang

thang chỉ có trường hợp nào phá phách ảnh hưởng đến cộng đồng, gia đình

không đủ điều kiện trông coi thì mới làm các thủ tục cho vào Trung tâm.“Quản

lý công tác xã hội với người tâm thần tại Trung tâm lu n được các đồng chí

trong ban Giám đốc chú trọng bắt đầu từ công tác tham vấn, tư vấn, tiếp nhận

hồ sơ đầu vào, quản lý hồ, vận động các nguồn lực từ bên ngoài đến thăm động

viên đối tượng cả vật chất lẫn tinh thần, tổ chức các hoạt động trò chơi, giao lưu

văn nghệ với đối tượng, phục hồi chức năng qua máy tập, lao động tăng gia, trị

liệu tâm lý...Để làm tốt được việc này ngoài việc triển khai đến phòng Công tác

xã hội, các phòng, khoa khác, giao phòng Công tác xã hội chủ trì xây dựng kế

hoạch phối hợp với các phòng, khoa khác để thực hiện, trong quá trình thực hiện

có sự kiểm tra, giám sát của lãnh đạo phụ trách v kết quả, thời gian, tiến độ

thực hiện, th ng qua đó đánh giá sát thực hợ trong công tác phân loại đánh giá

55

hàng tháng, quý năm đảm bảo công bằng, khách quan, dân chủ”.

Trung tâm thành lập 2 đội kiểm tra, giám sát do 2 đồng chí phó Giám đốc

phụ trách làm tổ trưởng, thành viên là lãnh đạo các phòng, khoa, đại diện các

đoàn thể tiến hành kiểm tra chéo việc thực hiện nhiệm vụ của các phòng, khoa

làm căn cứ để các phòng, khoa đánh giá phân loại cán bộ hàng tháng, quý, năm.

Việc kiểm tra, giám sát dựa trên nội quy, quy định của phòng, khoa và Trung

tâm song đảm bảo các nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát. Làm việc với cán bộ

Phạm Thị Hồng, 34 tuổi viên chức thuộc phòng Y tế phục hồi chức năng về việc

kiểm tra, giám sát của 2 tổ kiểm tra “Đây là đi u cần làm thường xuyên để nâng

cao vai trò, trách nhiệm của mỗi cá nhân trong công việc qua đó đánh giá sát

thực hơn đảm bảo sự công bằng, khách quan, kịp thời động viên kịp thời cán bộ

nhiệt tình trong công việc, hăng hái tham gia cá hoạt động phong trào của

Trung tâm đồng thời uốn nắn, giáo dục, kiểm điểm những cán bộ vi phạm nội

quy, quy định của phòng, khoa và Trung tâm”

Quản lý giám sát và đánh giá kiểm tra các hoạt động của các phòng,

khoalà công việc phức tạp, động chạm đến cá nhân, tập thể đòi hỏi cần triển

khai, tiến hành đồng bộ và có sự phối hợp vào cuộc của tất cả Trung tâm từ lãnh

đạo đến CBVC, NLĐ. Qua khảo sát,tìm hiểu về vấn đề này các ý kiến cho rằng

công tác phối hợp giữa các phòng, khoa trong việc thực hiệnquản lý, chăm sóc,

thăm khám thực hiện đồng bộ, thường xuyên, kịp thời nắm bắt tình trạng sức

khỏe, bệnh lý, các nhu cầu và nhất là diễn biến tư tưởng của đối tượng để có kế

hoạch, biện pháp can thiệp kịp thời.

Với chức năng, nhiệm vụ được giao; Quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và

phục hồi chức năng cho người tâm thần, xác định nhiệm vụ trọng tâm ban Giám

đốc xây dựng Kế hoạch phân công một cách rõ ràng nhiệm vụ, công việc cho các

tập thể phòng, khoa và cá nhân nhằm đảm bảo tốt nhất công tác chăm sóc đối

tượng, đảm bảo quyền lợi tốt cho bệnh nhân.

Thực hiện sự chỉ đạo của Giám đốc các thành viên trong 2 tổ kiểm tra hàng

tháng có trách nhiệm báo cáo công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ

chuyên môn của phòng, khoa trên lĩnh vực giao quản lý song quá trình thực hiện

một số cán bộ thì việc kiểm tra có thời điểm chưa được duy trì liên tục bởi cá thành

viên đều tham gia trực quản lý họ cần phải nghỉ ngơi, ngoài ra cán bộ còn nghỉ phép

56

chính vì điều đó mà công tác kiểm tra, giám sát cũng còn hạn chế.

Việc công khai các chế độ chính sách, tiêu chuẩn theo quy định đối với

cán bộ, đối tượng và các khoản do các cấp các ngành, các tổ chức, đoàn thể, cá

nhân các nhà hảo tâm hàng tháng, hàng quý, các dịp lễ tết trên bảng tin cơ quan

là hình thức giám sát, kiểm tra của cán bộ, nhân dân, cấp trên đã thể hiện sự công

khai, minh bạch ngoài ra các đoàn thanh tra, kiểm tra của Bộ, Tỉnh, Ngành được

thực hiện định kỳ, đột xuất.

“Có lần t i thấy có đoàn v kiểm tra Trung tâm, họ cũng đến các phòng

bệnh để xem nữa mà” – Đối tượng NTN, 52 tuổi, bệnh nhân khoa nữ.

Theo quy định của Sở Lao động Thương binh Xã hội tỉnh Thái Bình, Trung

tâm đã chủ động thành lập các tổ kiểm tra, giám sát, linh hoạt thực hiện việc thực

hiện các hình thức kiểm tra, đánh giá, giám sát đảm bảo mục đích tăng cường giám

sát việc thực hiện nhiệm vụ của tập thể và cá nhân, đánh giá trên tất cả các mặt công

tác trong đó thương xuyên kiểm tra các chế độ ăn hàng ngày về thực phẩm, khẩu

phần, thực đơn ăn có được công khai hàng ngày trên bảng tin của Trung tâm không,

công khai tiền dư ăn, tiền từ nguồn xã hội hóa do các đoàn đến thăm, việc sử dụng

nguồn tiền xã hội hóa có đúng mục đích, tất cả đề được công khai để cán bộ và thân

nhân đối tượng được biết. Tổ chức kiểm tra thực hiện các chính sách đối với người

tâm thần, nhất là lĩnh vực trợ cấp thường xuyên.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Sở Lao động việc kiểm tra, giám sát và báo

cáo kết quả hoạt động của Trung tâm định kỳ hàng tháng, quý, 6 tháng đầu năm,

cả năm được thực hiện nghiêm túc bằng văn bản chính vì vậy chủ trương chỉ đạo

của Sở Lao động kịp thời đối với Trung tâm, trong nhiều năm qua luôn hoàn

thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Khi được hỏi về thái độ quan tâm và chỉ

đạo của cơ quan cấp trênvới việc giám sát, đánh giá và kiểm tra về công tác quản

lý CTXH đối với các đối tượng người tâm thần.

“Ban Giám đốc triển khai kịp thời nhừng văn bản của cấp trên đến CBVC, NLĐ

được biết, các cơ quan ban ngành từ Trung ương đến Tỉnh Sở Lao động định kỳ

hay đốt xuất xuống kiểm tra Trung tâm, thăm nơi ăn, chỗ ở của đối tượng, mọi

quy n lợi chế độ của cán bộ và đối tượng đ u được công khai – VNB cán bộ

khoa bệnh nhân Nữ tổng hợp”

Tìm hiểu về hình thức giám sát, kiểm tra theo kế hoạch thường xuyên

57

hằng năm đối với vấn đề chăm sóc và điều trị bệnh cho người tâm thần, kết quả

cho thấy vấn đề này được trung tâm rất coi trọng. Qua hoạt động này nắm được

kết quả, quá trình thực hiện của các phòng nghiệp vụ phụ trách, cũng như cán bộ,

nhân viên thực hiện để mình có những đề xuất, kiến nghị điều chỉnh, thay đổi để

hoạt động thực hiện các năm sau hiệu quả hơn. Ngoài ra trong các mục tiêu đưa

ra trong hình thức này tính kịp thời được thể hiện khá cụ thể điều này bất cứ cán

bộ cũng nhận thức được “Thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên, chúng tôi luôn tiến

hành kiểm tra, giám sát thường xuyên các vấn đ đối với người tâm thần để nắm

bắt được kịp thời tình trạng sức khỏe, bệnh lý, tâm lý của từng nhóm đối tượng,

các nhu cầu, mong muốn của họ như muốn v thăm gia đình, người thân hay

muốn uống nước chè hàng ngày…để có giải pháp giải quyết, can thiệp kịp thời,

hạn chế tình huống không mong muốn sẩy ra”.

Công tác kiểm tra giám sát và đánh giá tình trạng đối với người tâm thần

cần có những đợt kiểm tra đột xuất để đánh giá một cách khách quan và chân

thực nhất về tình trạng của người bệnh, tránh tình trạng chống đối, đối phó đối

với một đội ngũ làm việc với người tâm thần. Trong quá trình các phòng nghiệp

vụ và cán bộ, nhân viên chuyên môn thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ

công tác xã hội tại Trung tâm, nhiều đối tượng khi tỉnh táo có ý kiến với lãnh

đạo về việc chăm sóc, phục vụ, chế độ ăn, thức ăn hàng ngày…qua đó năm bắt

được ý kiến để chỉnh sửa , tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, ngoài racác

phòng, khoa phối hợpgiám sát, kiểm tra tình hình thực hiện các hoạt động cung

cấp dịch vụ CTXH.

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động quản lý tại Trung tâm

Do diều kiện đặc thù nên việc ảnh hưởng đến công tác quản lý ảnh hưởng

bởi các yếu tố sau:

Các trang thiết bị vận chuyển, sơ cấp cứu tại chỗ còn thiếu và chưa có

Máy tập phục hồi chức năng cho đối tượng đã được trang bị song còn thiếu.

Phần lớn đối tượng tuổi đời cao, sức khỏe, khả năng miễn dịch yếu, thời tiết

thường xuyên thay đổi ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh lý phát sinh “bệnh đa

khoa”.

Thời tiết thay đổi ảnh hưởng đến vấn đề thần kinh, nhiều đối tượng lên cơn

58

kính động dài ngày.

Lượng thuốc điều trị ít chủ yếu là thuốc thế hệ cũ do kinh phí được cấp mua

thuốc cho đối tượng thấp.

Trang thiết bị phục vụ nấu ăn cho đối tượng được trang bị song chưa đáp

ứng được yêu cầu nhiệm vụ “Trung tâm vẫn sử dụng than bùn để đun”.

Không có khu xử lý rác thải riêng biệt hiện tại thuê người thu gom, một

phần rác thải y tế tự đốt.

Trình độ chuyên môn y của cán bộ còn hạn chế do vậy chỉ dừng ở mức độ

khám, đo huyết áp, sơ cứu ban đầu, cấp phát thuốc theo phác đồ của bệnh viện

tâm thần Tỉnh, chủ yếu dựa và kinh nghiệm và các khóa tập huấn ngắn hạn.

Chế độ trợ cấp tiền ăn cho đối tượng Bảo trợ xã hội thấp trong khi giá cả

các loại thực phẩm trên thị trường ngày càng tăng.

Khu nhà ở của đối tượng xây dựng chưa phù hợp với đối tượng người tâm thần.

2.4.1. Đặc điểm của ngh

Tuy được công nhận là một nghề song nghề CTXH ít người quan tâm, biết

đến và tại Việt Nam là rất mới, đối với Thái Bình, thực hiện đề án phát triển

nghề công tác xã hội chỉ triển khai bước đầu, tạo được sự nhận thức, chủ yếu là

cán bộ trong ngành Lao động Thương binh Xã hội và cán bộ ở một số cơ sở giáo

dục, cơ sở dạy nghề có tham gia tổ chức dạy và tập huấn trong lĩnh vực công tác

xã hội. Tùy thuộc và điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và quan trong nhất là

sự quan tâm của người đứng đầu Tỉnh, Thành về sự hiểu biết nghề CTXH quan

trong đối với việc an sinh xã hội như thế nào từ đó việc phát triển mạng lưới

nhân viên, cộng tác viên CTXH mới được quan tâm, chú trọng.

Đối với nhà quản lý khi làm việc trong lĩnh vực này thường phải có sự

tâm huyêt, tận tâm, hy sinh về cả thời gian, công sức, có tinh thần trách nhiệm,

yêu nghề, nhân từ, đồng cảm, sẻ chia, chịu áp lực trước nhiệm vụ, công việc mới

có thể làm tốt công tác quản lý, chăm sóc, phục vụ đối tượng.Nhịp độ công việc

là rất căng thẳng và đòi hỏi nhà quản lý cần có sự phân bổ thời gian và linh hoạt

để giải quyết các vấn đề, cách tiếp cận, thu thập thông tin, cung cấp thông tin

trên các phương tiện thông tin đại chúng. “Với áp lực công việc, ngay cả các

đồng chí trong ban Giám đốc rất cần trang bị cho mình nhi u kiến thức, sự hiểu

biết v ngh công tác xã hội, các kỹ năng trong quản lý, chăm sóc người tâm

59

thần và “sức khỏe” để có thể ứng phó với sức nặng của công việc; chúng tôi

luôn phải linh hoạt và phân công công việc hợp lý, thiết lập các chương trình ưu

tiên hành động cho việc thực hiện các mục tiêu và kế hoạch trong khuôn khổ

ngắn hạn và dài hạn…”

Đối với đối tượng là người tâm thần, đặc điểm nghề nghiệp ảnh hưởng

nhiều đến quá trình quản lý công tác xã hội do yếu tố đặc thù của công việc, do

trình độ và do nhận thức (mức độ mắc bệnh năng, nhẹ của bệnh nhân). Nhiều

cán bộ cơ sở cũng chưa nắm bắt, hiểu biết về nghề CTXH để làm gì, vai trò ra

sao trong xã hội, có liên quan gì đến việc cung cấp dịch vụ gì cho người dân.

PVS cán bộ PTTh 34 tuổi cán bộ phòng Công tác xã hội “Quản lý công tác xã

hội với đối tượng người tâm thần có hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý cần có sự hiểu

biết v tâm lý và đặc điểm tính cách của đối tượng, bệnh án của người bệnh, vì

sự chênh lệch v nhận thức là giới hạn cho việc hiểu được vấn đ này. Ngoài ra

việc hoạch định triển khai các hoạt động đòi hỏi chúng tôi cần nắm được các

kiến thức chuyên sâu v nhóm đối tượng này để từ đó có được sự thiết lập đồng

bộ v hệ thống các dịch vụ xã hội ở trung tâm và trên địa bàn….”

2.4.2. Năng lực nhà quản lý

CTXH là một nghề vì vậy năng lực của nhà quản lý CTXH phải được đào

tạo cơ bản, chuyên sâu về CTXH mới đủ trình độ, kiến thức, kỹ năng để lãnh

đạo quản lý mới có hiệu quả.

Trong số 17 cán bộ quản lý, viên chức của Trung tâm mà tác giả tiến hành

phỏng vấn sâu , có 5 người có thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm làm công tác xã

hội, có 12 người có thâm niên công tác trong ngành Lao động – Thương binh và

Xã hội trên 7 năm trở lên. Như vậy, có thể thấy đa số cán bộ quản lý công tác xã

hội là những người có nhiều kinh nghiệm trong công tác, bên cạnh khả năng bao

quát nhiệm vụ chung, họ còn am hiểu sâu về đơn vị công tác, tạo lập được nhiều

mối quan hệ trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Bên cạnh đó, họ còn

có khả năng truyền đạt sự hiểu biết, kinh nghiệm làm việc cho cấp dưới… và quan

trọng hơn cả, các yếu tố trên cũng góp phần giúp họ ra những quyết định đúng

đắn trong những chiến lược chung và trong việc sử dụng nhân sự, tài chính, các

nguồn lực khác để triển khai những mục tiêu chiến lược ấy.

Thực hiện phỏng vấn đối với CBVC đã tưng tham gia các khóa đào tạo từ

60

Trung cấp đến Đại học CTXH của Trung tâm. PVS anh BTNgh 58 tuổi phó

phòng Hành chính – Tổng hợp “Hiện nay ở cấp quản lý, Trung tâm có 05 người

có chuyên môn c ng tác xã hội, trong đó có 01 người trình độ thạc sỹ CTXH, 04

người trình độ đại học. Hiện tại t i thấy việc bố trí,sắp xếp nhân sự phù hợpvới

đi u kiện thực tiễn của đơn vị, và phát huy được khả năng của mọi người song

trước yêu cầu nhiệm vụ cần quan tâm đào tạo thêm v chuyên ngành c ng tác xã

hội tại các lớp theo Đ án 32, tuy nhiên việc cử cán bộ nhân viên đi nâng cao

chuyên m n, trình độ này sẽ cần khá nhi u thời gian”.

Trên thực tế không phải lãnh đạo Trung tâm nào cũng có chuyên môn về

CTXH,hơn nữa trong lĩnh vực CTXH với người tâm thần thì họ lại càng gặp khó

khăn. Với việc triển khai thực hiện Đề án Phát triển nghề công tác xã hội Theo

Quyết định 32 của Thủ tướng chính phủ; Đề án Trợ giúp Người khuyết tật giai

đoạn 2012-2020; Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm

thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020 theo Quyết

định số 1215/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ, vẫn thực hiện

theo mô hình quản lý truyền thống nên đội ngũ cán bộ quản lý gặp nhiều khó

khăn trong việc triển khai, điều hành các hoạt động này.

2.4.3. Cơ chế, chính sách

Đối với các nhóm đối tượng yếu thế nói chung, người tâm thần nói riêng

thì chính sách, chế độ rất quan trong đối với họ, chủ yếu dựa vào sự quan tâm

của Đảng, Nhà nước, cơ chế, chính sách trong những năm gần đây cũng nhiều

thuận lợi, đối tượng chính sách, đối tượng xã hội được hưởng lợi.

Các chế độ chính sách được triển khai thực hiện từ Trung ương đến địa

phương qua hệ thống ngành dọc, được phân theo cấp độ quản lý, mang tính đồng

bộ, cụ thể, dễ triển khai, dễ thực hiện,ngươi dân dễ tiếp cận, nhất là các chế độ,

chính sáchđược đảm bảo đúng đối tượng, các tầng lớp nhân dân và đối tượng

yếu thế trong xã hội dễ tiếp cận nhất điều này phản ánh bản chất, chức năng của

Nhà nước, đồng thời tác động trực tiếp hay gián tiếp đến mọi hoạt động xã hội.

Cơ chế chính sách được thể chế hóa qua hệ thống pháp chế gồm: Văn bản

quy phạm pháp luật như; Hiến pháp, các bộ luật, nghị định, thông tư, hướng dẫn,

quy định, quy tắc, chế định…, nhằm hài hòa các quyền lợi và trách nhiệm của

mỗi công dân, mọi tổ chức trong một trật tự xã hội, hướng tới sự tổng hòa các lợi

61

ích của cộng đồng. Thể chế đóng vai trò định hướng, hướng dẫn, tạo khuôn khổ

cho việc tổ chức, vận hành xã hội nhằm phát triển nền tảng, văn hóa, kinh tế,

chính trị, xã hội.

Trên thực tế, người bình thường mắc tâm thần do nhiều nguyên nhân khác

nhau, có những nguyên nhân chung và có những nguyên nhân riêng, đặc thù từ

mỗi nhóm người bệnh. Tuy vậy, vật chất, tinh thần của người tâm thần đang gặp

rất nhiều khó khăn; sức khỏe và điều kiện môi trường chăm sóc, điều kiện để

người mắc tâm thần hòa nhập cộng đồng còn gặp nhiều hạn chế.

Mạng lưới nhân viên, công tác viên, cán bộ làm quản lý CTXH tại Thái Bình

mới chỉ phát triển tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội và các tuyến bệnh viện tuy nhiên

lực lượng rất mỏng, chưa đáp ứng nhu cầu của xã hội. Trong đó tại Trung tâm

Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người tâm thần phòng CTXH có 03 nhân viên

trên tổng số 240 bệnh nhân mắc bệnh tâm thần phân liệt đặc biệt nặng.

PVS, PTTh 33 tuổi nhân viên CTXH phòng Công tác xã hội “Thực hiện

công tác quản lý CTXH đối tượng người tâm thần dựa trên cơ sở hành lang pháp

lý trong nước và các c ng ước v quy n con người; mọi chiến lược lu n được

tuân thủ theo quy định chung; những ý kiến sáng tạo lu n được khuyến khích

nhưng vẫn phải trong quy định chung…”

Mặc dù được triển khai theo đúng quy định từ cấp Trung ương xuống địa

phương tuy nhiên thực tế tại Thái Bình các hoạt động của cơ sở vẫn còn thiếu

quy chuẩn. Hiện nay cũng như nhiều địa phương chưa có văn bản nào quy định

về tiêu chuẩn đối với nhân viên CTXH nên việc đảm bảo về trình độ và đạo đức

nghề nghiệp vẫn còn nhiều kẽ hở nên đã ảnh hưởng nhiều đến kết quả chung của

chiến lược đưa ra. Tập thểcán bộ Trung tâm: “Xác định chăm sóc bệnh nhân mắc

bệnh tâm thần là công việc rất vất vả và nguy hiểm, vì vậy đội ngũ cán bộ tại các

khoa, phòng y tế phục hồi chức năng thường xuyên quan tâm, chăm sóc, gần gũi

với người bệnh để hiểu rõ tâm tính cũng như tâm lý của từng người, từ đó đưa ra

phương án đi u trị hiệu quả. Luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tình thương và

sự nhân văn, yêu ngh , sự cống hiến và bằng tất cả vì tình yêu thương giữa con

người với con người…” Điều này đặt ra câu hỏi cho các cấp chính quyền các cấp

quan tâm hơn nữa đến những người làm công việc quản lý, chăm sóc, nuôi

dưỡng người tâm thần về; Chế độ phụ cấp, thang bảng lương cụ thể cho nhân

62

viên CTXH. Thực tế cho thấy hiện nay nhân viên CTXH chưa có những biên chế

nhất định, chế độ phụ cấp nghề đối với nhân viên CTXH mặc dù họ là người

thường xuyên tiếp xúc và làm việc với các đối tượng đặc thù là người tâm thần

có thể sẽ phải gặp những rủi ro không mong muốn từ chính đối tượng mà không

ai có thể biết trước được. “Trên thực tế cán bộ của Trung tâm đang được áp

dụng thang bảng lương và các chế độ theo đầu vào chủ yếu ở trình độ sơ cấp,

trung cấp chiếm đa số và theo ngạch y tế và một số mã ngạch khác, không phải

bảng lương chuyên biệt dành cho nhân viên xã hội. T i cũng đang nóng lòng chờ

đợi Chính phủ ban hành chế độ, thang bảng lương riêng biệt dành cho nhân viên

công tác xã hội chuyên nghiệ.”. Tất cả các cán bộ đã qua các lớp đào tạo nghề

công tác xã hội từ Trung cấp đến Thạc sỹ đều mong muốn vậy.

Tuy nhiên bên cạnh đó hầu hết những nội dung cơ bản của Luật người

khuyết tật đều đã có văn bản hướng dẫn thi hành nhưng vẫn còn một số vấn đề

Luật ban hành, quy định mang tính nguyên tắc chung, cần phải có văn bản

hướng dẫn cụ thể cho từng nhóm đối tượngđể cấp cơ sở triển khai phù hợp với

thực tiễn, sát thực tế.

2.4.4. Cơ sở vật chất và nguồn kinh phí

Trong lĩnh vực quản lý, kinh phí cũng có tác động lớn tới các hoạt động

này, khi có nguồn kinh phí dồi dào sẽ giúp nhà quản lý hoạch định tốt hơn, khả

thi hơn. Việc có nguồn lực và triển khai hợp lý cũng là một nhân tố quan trọng

khích lệ nhân viên trong các hoạt động nghề nghiệp.Ngay cả khi yếu tố chuyên

môn của nhân viên và năng lực quản lý tốt thì cơ chế chính sách vẫn là điều kiện

thiết yếu để hỗ trợ các hoạt động quản lý CTXH đạt được hiệu quả cao.Đặc biệt

trong các cơ quan tổ chức công lập, cơ chế chính sách sẽ là định hướng quan

trọng cho các hoạt động quản lý.

Kinh phí thực hiện các chính sách đối với người khuyết tật nói chung và

người tâm thần nói riêng được ngân sách nhà nước đảm bảo theo phân cấp của

Luật Ngân sách nhà nước và huy động từ sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân

trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. Hiện tại các nguồn kinh phí

của nghề công tác xã hội đều được lấy từ ngân sách của nhà nước, các nguồn

kinh phí cho các hoạt động của nghề công tác xã hội chưa thường xuyên và

chậm. Hàng năm, căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ các sở, ngành, địa phương xây

63

dựng dự toán ngân sách gửi cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

về ngân sách. Tỉnh khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân tham gia chăm

sóc người khuyết tật, người tâm thần thông qua việc cung cấp tài chính để các tổ

chức xã hội thực hiện các chương trình, đề án theo định hướng chung của nhà

nước.Tổ chức việc lồng ghép các chương trình dự án khác với thực hiện các chỉ

tiêu kế hoạch thực hiện trung tâm đề ra.

“Gần đến Quốc khánh 2/9 có đoàn nào v thăm cho bánh kẹo, thuốc lá

chúng t i kh ng anh Chiến ơi?, chúng t i có được ăn thêm kh ng? –ĐVB 45

tuổi khoa bệnh nhân nặng đặc biệt.

“Nóng quá anh Chiến ơi chúng e kh ng ăn nổi, mệt lắm, anh bổ xung

quạt cho chúng em”. NgĐT 37 tuổi, bệnh nhân khoa thuyên giảm.

Tuy nhiên, do nguồn ngân sách tỉnh còn hạn chế nên việc đầu tư đổi mới

cơ sở vật chất còn chậm. “Mặc dù đi u kiện cơ sở vật chất cũng như trang thiết

bị chăm sóc cho người bệnh còn nhi u thiếu thốn nhưng những năm qua, tập thể

cán bộ viên chức, người lao động Trung tâm lu n xác định phải nỗ lực vượt qua

mọi khó khăn để chăm sóc, nu i dưỡng, tạo mọi đi u kiện có thể để quan tâm

đến đối tượng, đặc biệt là đối tượng tâm thần là người có công với cách mạng

cần được quan tâm, chu đáo và đầy đủ, giúp họ sớm hòa nhập cộng đồng” -

Nhận định vấn đề, xác định nhiệm vụ, hoạch định/xây dựng kế hoạch, thống nhất

chủ trương chung trong ban Giám đốc triển khai trong giao ban với lãnh đạo

phòng, khoa.

Công tác sửa chữa, nâng cấp, xây mới bổ sung cơ sở vật chất của Trung

tâm được các cấp, các ngành quan tâm song để có tiến hành càn nhiều thủ tục

hành chính, các cấp phê duyệt do vậy để thực hiện được còn khó khăn . Những

khó khăn trên đã phần nào gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác hỗ trợ và

chăm sóc người tâm thần về nhiều mặt. Giám đốc Trung tâm“Mặc dù quản lý

CTXH kh ng hướng tới lợi nhuận nhưng nguồn kinh phí kịp thời cũng sẽ thực

hiện sửa chữa, mua sắm các trang thiết bịnhanh hơn, thuận lợi hơn cho hoạt

động quản lý. Hơn nữa nhóm đối tượng của Trung tâm là người tâm thần, rối

nhiễu tâm trí đặc biệt nặng nên khả năng để tham gia vào các hoạt động lao

động sản xuất chỉ được số ít các đối tượng làm được, do đó cũng chưa tạo ra thu

64

nhập thêm cho chính đối tượng. Như vậy nếu có sự quan tâm của lãnh đạo Tỉnh

trong lĩnh vực này thì các hoạt động can thiệp trực tiếp nói chung và quản lý

CTXH nói riêng sẽ hiệu quả hơn nhi u”.

Tiểu kết chương

Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý CTXH với người tâm thần tại

Trung tâm cho thấy đội ngũ cán bộ quản lý ở đây đã có những nhận thức và

thực hiện khá tốt các hoạt động quản lý trong phạm vi công việc được phân

công. Đã có sự phối hợp giữa công việc từ ban Giám đốc đến các lãnh đạo

phòng, khoa trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nói chung, quản lý trên phương

diện CTXH đối với đối tượng người tâm thần tại Trung tâm, việc triển khai các

hoạt động, quản lý, chăm sóc và hỗ trợ, kết nối các nguồn lực được thực hiện

duy trì, thường xuyên kết nối các nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân đến thăm hỏi

động viên đối tượng bằng cả tinh thần và vật chất. làm tốt công tác quản lý, kiểm

tra, giám sát về chế độ chính sách, các nguồn tại trợ bằng tiền và hiện vật đảm

bảo công khai đến tận tay đối tượng có sự giám sát của tập thể cán bộ, nhân dân,

thân nhân đối tượng, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện nhiệm vụ, công việc

cuả CBVC, NLĐ. Bên cạnh đó, tác giả cũng đi sâu tìm hiểu, phân tích các yếu tố

ảnh hưởng đến quản lý công tác xã hội với người tâm thần tại Trung tâm. Tuy

nhiên do một số yếu tố chủ quan và khách quan như yếu tố chính sách, năng lực

của đội ngũ CBVC, NLĐ trực tiếp thực hiện nghề CTXH… nên đã hạn chế hiệu

quả của những hoạt động này. Đây chính là cơ sở để nghiên cứu đề xuất những

giải pháp nhằm khắc phục và nâng cao hơn nữa hoạt động quản lý CTXH với

65

người tâm thần.

Chương 3

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI

VỚI NGƯỜI TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC VÀ PHỤC HỒI

CHỨC NĂNG CHO NGƯỜI TÂM THẦN TỈNH THÁI BÌNH

3.1. Nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối với người tâm thần

Đảng, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật giao cơ quan

quản lý Nhà nước về an sinh xã hội và công tác xã hội được Chính phủ giao cho

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, với nhiệm vụ cụ thể là thực hiện chức năng

quản lý Nhà nước về lao động, việc làm, dạy nghề, tiền lương tiền công, an toàn

lao động, người có công, bảo trợ xã hội, bảo vệ chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới,

phòng chống tệ nạn xã hội. Trong đó, người khuyết tật là một đối tượng của ngành

quản lý. Họ nhận được sự trợ giúp từ các chính sách, chương trình, dự án và sự hỗ

trợ trực tiếp từ các nhân viêncông tác xã hội trong việc đảm bảo thực hiện các

quyền và nhu cầu cơ bản.

Tại các địa phương triển khai thực hiện những chủ trương, chính sách, chế độ

đối với người khuyết tật nói chung, người tâm thần nó riêng song trên thực tế hệ

thống văn bản, hướng dẫn sát với thực tế, đối tượng, thân nhân đối tượng bớt khó

khăn, thông qua các chế độ chính sách nhóm đối tượng khuyết tật (theo luật người

khuyết tật) được quan tâm song có những văn bản, hướng dẫn giữa các cấp, các

ngành chưa mang tính đồng bộ, cụ thể, rõ ràng với từng nhóm đối tượng.

Do điều kiện kinh tế từng địa phương mà mức trợ cấp, phụ cấp cũng khác

nhau, chính vì điều đó việc quan tâm đến đối tượng người khuyết tật “quy định tại

điều 3 Luật người khuyết tật” cũng khác nhau “riêng đối với đối tượng người tâm

thần nặng đặc biệt của tỉnh Thái Bình mức trợ cấp hàng tháng được 810.000 đồng,

với mức trợ cấp này trong thời buổi giá cả leo thang việc nuôi dưỡng đối tượng

gặp rất nhiều khó khăn”.

Để làm tốt công tác quản lý CTXH đối với người tâm thần tại Trung tâm cần

được trú trọng, quan tâm trong việc hoạch định, lập kế hoạch các hoạt động, xây

dựng các mục tiêu, tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý việc thực hiện cụ thể, đồng

bộ trong đó thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện, song trước

66

hết để làm tốt vấn đề quản lý CTXH đối với người tâm thần cũng cần hiểu sâu hơn

về lĩnh vực này thì người đứng đầu địa phương, ngành, phải am hiểu, biết về vai

trò quan trọng của nghề CTXH trong đời sống xã hội hiện nay, đặc biệt là vấn đề

an sinh xã hội. Mặc dù Chính phủ đã kýban ngành Quyết định số 32/2010/QĐ-

TTg, ngày 23/3/2010 phê duyệt Đề ánphát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 –

2020 (gọi tắt là Đề án 32) song riêng Tỉnh Thái Bình việc thực hiện đề án còn

nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhu cầu của xã hội.

Quản lý CTXH đối với người tâm thần thì phải hiểu về sức khỏe tâm thần,

theo Tổ chức y tế thế giới (WHO)thì sức khỏe tâm thần là một tình trạng sức khỏe

mà mỗi cá nhân nhận thức rõ khả năng của mình, có thể đối phó với những căng

thẳng trong cuộc sống, làm việc hiệu quả và thành công và có thể đóng góp cho

cộng đồng.

Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe tâm thần là một vấn đề đang được các

cấp, các ngành, cộng đồng, xã hội quan tâm vì tính phức tạp của nhóm đối tượng

này ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến chính gia đình, cộng đồng, xã hội, cần

được xã hội quan tâm, chăm lo và đầu tư nguồn lực, công sức trong việc điều trị,

quản lý, chăm sóc.

Nhận thấy được tính cấp thiết cần phải xây dựng bộ luật về sức khoẻ tâm

thần, một chính sách quốc gia về sức khoẻ tâm thần, cũng như việc thiết lập một

đơn vị sức khoẻ tâm thần đủ mạnh trong Bộ Y tế.”Xuất phát từ thực tiễn và các

quan điểm nêu trên, Bộ Y tế có kế hoạch xây dựng dự thảo Chiến lược quốc gia về

sức khỏe tâm thần giai đoạn 2016-2025, định hướng đến năm 2030, để trình Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt. Kế hoạch tập trung vào 4 mục tiêu chính là tăng

cường lãnh đạo và điều hành hiệu quả cho sức khỏe tâm thần;

Cung cấp các dịch vụ chăm sóc về y tế và xã hội dựa vào cộng đồng toàn

diện, lồng ghép và đáp ứng nhu cầu.

Triển khai các chiến lược nhằm nâng cao sức khỏe tâm thần và dự phòng rối

loạn tâm thần, củng cố hệ thống thông tin, bằng chứng và nghiên cứu cho sức khỏe

tâm thần.

Việc triển khai Kế hoạch hành động sẽ cho phép người có rối loạn tâm thần

tiếp cận dễ dàng hơn các dịch vụ sức khỏe tâm thần và chăm sóc xã hội; Người

67

mắc các rối loạn tâm thần được điều trị bởi các nhân viên y tế có kỹ năng phù hợp

trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe đa khoa, chương trình hành động giảm khoảng

trống về sức khoẻ tâm thần GAP của WHO và các công cụ dựa trên bằng chứng

tạo thuận lợi cho quá trình này; tham gia tổ chức lại, cung cấp và đánh giá dịch vụ

nhằm đảm bảo dịch vụ chăm sóc và điều trị đáp ứng tốt hơn nhu cầu của họ; tiếp

cận nhiều hơn tới các chính sách về khuyết tật, chương trình nhà ở và sinh kế của

chính phủ, và tham gia tốt hơn trong công việc, đời sống cộng đồng và các vấn đề

dân sự

3.2. Các giải pháp cụ thể.

3.2.1. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hoạch định

Để làm tốt việc hoạch định, lập kế hoạch cho các hoạt động trong các giai

đoạn phát triển, gắn với nhiệm vụ chính trị tại Trung tâm cần:

- Xác định rõ vấn đề, nhiệm vụ cần hoạch định, lập kế hoạch thực hiện.

Để làm tốt vấn đề này người quản lý phải có tầm bao quát, đánh giá nhìn

nhận được, đưa ra nhiệm vụ cụ thể, điều phối người tổ chức thực hiện mà cụ thể là

giao nhiệm vụ cho lãnh đạo các phòng, khoa triển khai, bám sát chức năng, nhiệm

vụ được giao.

Các phòng, khoa trong quá trình triển khai thực hiện cần có sự phối hợp ngay

từ khâu; tham vấn, tư vấn về thủ tục đầu vào cho người dân; tiến hành thẩm tra,

kiểm tra về thủ tục hành chính, con người; tiếp nhận sau khi hoàn tất thủ tục pháp

lý; giao bệnh nhân về khoa thực hiện quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và phục hối

cho đối tượng, tất cả theo chu trình khép kín.

- Triển khai, tổ chức thực hiện.

Khi thực hiện các hoạt động hoạch định, các yếu tố cần xác định một cách cụ

thể thì các hoạt động hoạch định mới khả thi và có thể triển khai hiệu quả trong

thực tế. Đối với Trung tâm việc triển khai phải mang tính đồng bộ chỉ đạo quản lý,

điều hành từ Cấp ủy, Ban Giám đốc đến lãnh đạo quản lý cấp phòng, khoa và quan

trọng là người thực hiện các hoạt động và thực hiện ra sao thì cần phải có định

hướng từ người lãnh đạo quản lý, để quản lý trên phương diện CTXH đối với

người tâm thần tại cơ sở thì không phải cán bộ nào cũng thực hiện được vì đa phần

cán bộ tại Trung tâm học chuyên môn y tếchiếm 65% , cán bộ đã được đào tạo

68

chuyên ngành CTXH hoặc đã tham gia các lớp tập huấn CTXH chiếm 15%, còn

lại học theo các ngành nghề khác. Hiện tại phòng Công tác xã hội của Trung tâm

có 04 đồng chí trong đó có 01 đồng chí là Phó Giám đốc trực tiếp phụ trách phòng

chính vì điều này việc hoạch định các chương trình hoạt động gặp nhiều khó khăn.

Vấn đề nhân lực con người rất quan trọng trong khi đó việc hoạch định theo

bản chất của CTXH cần huy động nhiều ở các yếu tố nguồn nội lực để đảm bảo

tính bền vững trong các hoạt động nhằmđạt mục tiêu hướng tới mà cụ thể là đối

tượng người tâm thần được ổn định sức khỏe, bệnh lý, hưởng lợi quyền lợi chế độ

chính sách đúng, đủ,được quan tâm, chăm sóc, ổn định sức khỏe, bệnh lýcó thể tái

hòa nhập cộng đồng.

Nhận thức được vấn đề hiện tại và tương lai theo các giai đoạn phát triền của

Trung tâm, nhà quản lý phải xậy dựng kế hoạch hàng năm trong việc đào tạo nâng

cao trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và đặc biệt là cử cán

bộ tham gia các lới tập huấn về chuyên môn, trong đó thường xuyên cử cán bộ

tham gia các khóa đạo tạo, tập huấn về CTXH đây là lĩnh vực rất cần cho Trung

tâm trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, chăm sóc và phục hồi chức năng cho

người tâm thân.

Riêng nhóm đối tượng người tâm thần rất cần các hoạt động vui chơi, giải trí

thông qua các hoạt động nhóm tạo sự gắn kết, các hoạt động phục hồi, tâm lý trị

liệu…, ngoài ra việc tham vấn, tư vấn cho người dân, thân nhân đối tượng, kết nối

các dịch vụ, nguồn lực hỗ trợ cả bằng tinh thần và vật chất rất cần thiết “01 đối

tượng người tâm thần tại Trung tâm chế độ trợ cấp hàng tháng chỉ có 810.000

đồng” không có nguồn lực xã hội hóa thì rất khó khăn.

Việc triển khai thực hiện cần xác định nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, phân

chia hợp lý theo chức năng của mỗi phòng, khoa, giao việc hoạch định theo cấp độ

nhỏ để các vị trí chủ động trong công việc song nhà quản lý phải kiểm tra giám sát

về tiến độ, hiệu quả theo yêu cầu nhằm đảm bảo kế hoạch đề ra.

Tùy theo các giai đoạn phát triển để định hướng việc hoạch định mang tính bền

vững, lâu dài song các nhà quản lý phải có sự đồng thuận, đoàn kết, thống nhất trương

trình, mục tiêu đã xây dựng để ra thì kế hoạch mới thành công trên mọi lĩnh vực.

Để làm tốt công tác hoạch định chiến lược phát triển Trung tâm theo các giai

69

đoạn cần cần bám sát chủ trương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp chính quyền,

bán sát kế hoạch của Sở Lao động Thương binh Xã hội, Tỉnh ủy, UBND trong việc

triển khai xây dựng quy hoạch sắp sếp lại các cơ sở bảo trợ xã hội trên địa bàn theo

hướng là cơ sở trợ giúp xã hội, chăm sóc người tâm thần không đơn thuần là nuôi

dưỡng mà quan tâm hơn đến việc cung cấp các dịch vụ CTXH, hoạt động các cơ

sở gắn với cộng đồng.

3.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức

Mỗi một cấp quản lý hoạt động tổ chức lãnh đạo đóng vai trò hết sức quan

trọng, là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của cả hệ thống chính trị của Nhà

nước. các cấp các ngành từ Trung ương đến địa phương.

Các hoạt động tổ chức quản lý là sương sống cho để thực hiện việc hoạch

định, thực hiện kế hoạch được triển khai.

Để làm tốt hoạt động tổ chức quản lý CTXH đối với người tâm thần ở Trung

tâm người quản lý, lãnh đạo Trung tâm cần nhìn nhận đánh giá, giao việc cho bộ

phận, phòng, khoa nào làm nòng cốt triển khai các kết hoạch. Trong nhóm phòng,

khoa nòng cốt thì giao trách nhiệm quản lý cho cá nhân nào chịu trách nhiệm.

Thông thường mỗi nhiệm vụ cần triển khai nhà quản lý phải cân nhắc xem

thuộc lĩnh vực quản lý của phòng, khoa nào phù hợp với chuyên môn trong việc

thực hiện kế hoạch nhiệm vụ được hoạch định đê kết quả, năng xuất, hiệu quả

thành công.

Cần có sự phối hợp giữa các thành viên trong bộ phận tổ chức quản lý giữa các

cấp cũng rất quan trọng. Ngay chính các thành viên trong tổ chức không có sự đồng

thuận, đoàn kết thì việc triển khai nhiệm vụ cũng khó thành công như mong đợi.

Các hoạt động tổ chức nói chung, hoạt động tổ chức quản lý CTXH nói riêng

ở cấp độ nào cũng phải cần sự phục tùng mệnh lệnh của tổ chức. Trong lĩnh vực

quản lý người tâm thần tại Trung tâm việc tổ chức các hoạt động cho đối tượng

không tự chủ được hành vi, tâm lý không ổn định rất cần phải ra mệnh lệnh, ra

lệnh như: Cán bộ phải yêu cầu đối tượng xếp thành hàng khi vào ăn cơm, xếp hàng

lần lượt đi tắm, ngồi ngay ngắn khi cắt tóc, đi phục hồi chức năng, ngồi thành hàng

khi lên hội trường đón tiếp khách, trong tham gia các hoạt động vui chơi ai là

70

người bắt đầu các tiết mục, trò chơi, giao chính đối tượng ổn định về sức khỏe,

bệnh lý chịu trách nhiệm phân công thu don vệ sinh vật dụng sinh hoạt trong

phòng… Không như vậy rất khó quản lý điều hành đối với nhóm đối tượng này.

Hoạt động tổ chức quản lý rất phức tạp, nhà quản lý cần nhìn nhận, bố trí

nhân sự làm công tác tổ chức hết sức cẩn trọng; người là công tác tổ chức quản lý

phải hội tụ nhiều yếu tố trong công tác tổng hợp, nhìn nhận, đánh giá vấn đề, dự

báo các được vấn đề có thể xẩy ra trong tương lai qua đó tham mưu cho lãnh đạo

cấp trên xây dựng, hoạch định chiến lược cho các giai đoạn phát triển của đơn vị,

tổ chức.

Tại Trung tâm người làm công tác tổ chức phải biết đánh giá, dự báo cho sự

chuyển đổi hình thức tổ chức quản lý đối tượng người tâm thần trong tương lai

theo chủ trương của Đảng, Nhà nước; Đối tượng người tâm thần dựa vào cộng

đồng; xaauy dựng kế hoạch sàng lọc đối tượng tỉnh táo, ổn định về bệnh lý, sức

khỏe thử tái hòa nhập cộng đồng để cho diện tích đón đối tượng ddur điều kiện vào

Trung tâm trong thời gian tới.

Công tác tổ chức cũng khá quan trọng trong việc điều hành, chỉ đạo, quản lý

nhân sự trong cơ quan. Việc bố trí sắp xếp, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm phải phù

hợp với trình độ chuyên môn, sở trường mới phát huy được năng lực, hiệu quả. Vì

vậy ở mỗi cấp độ quản lý người làm công tác tổ chức phải nhìn nhận, đánh giá

nhân sự một cách thấu đáo, công tâm, khách quan mới mang lại hiệu quả.

Trong tổ chức quản lý CTXH đối với nhóm đối tượng người tâm thần người

là công tác quản lý ở các cấp độ cần phải có phẩm chất đạo đực, chuẩn mực, tận

tâm, tận tụy, thẳng thắn, chính trực, hi sinh…, trong hoạt động chỉ đạo, điều hành

cán bộ thực hiện nhiệm vụ phải có sự công khai, công bằng thì nhóm đối tượng

này mới được hưởng các chế độ chính sách,sự quan tâm, động viên, thăm hỏi,

chăm sóc, điều trị, phục hồi tốt nhất, họ là nhóm đối tượng thần kinh không ổn

định, mất hành vi, nhiều đối tượng không biết gì.

Trong công tác tổ chức nói chung, hoạt động tổ chức quản lý trong CTXH

nói riêng hoạt động tổ chức quản lý có những nguyên tắc riêng theo lĩnh vực ngành

nghề đặc thù riêng song công tác tổ chức góp phần vào sự phát triển và thành công

cho mỗi cấp độ quản lý. Để hoạch định tốt chiến lược phát triển nhà quản lý các

71

cấp cần sáng suốt lựa chon cá nhân có nhứng phẩm chất, tố chất trong hoạt động tổ

chức quản lý thông qua công việc hàng ngày của họ để cân nhắc, xắp sếp, đề bạt,

bổ nhiệm, giao phụ trách các nhóm nòng cốt trong các hoạt động đã được hoạch

định do nhà quản lý vạch ra.

3.2.3. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động lãnh đạo

Để nâng cao hoạt động lãnh đạo nói chung, trong việc quản lý CTXH đối với

người tâm thần nói riêng nhà lãnh đạo rất cần có sự chia sẻ, phối hợp của cấp dưới.

Nhà lãnh đạo cần phân chia, phân công, giao nhiệm vụ theo từng mảng công việc

cho cấp dưới phụ trách chỉ đạo, điều hành.

Cá nhân lãnh đạo phụ trách chuyên môn căn cứ nhiệm vụ chuyên môn chỉ

đạo lãnh đạo các phòng, ban chuyên môn thực hiện công việc được giao theo chức

năng, nhiệm vụ và chịu trách nhiệm về chuyên môn theo lĩnh vực quản lý.

Muốn làm tốt công tác lãnh đạo, điều hành nhà lãnh đạo cần ê kíp tham mưu,

giúp việc có chiều sâu theo từng mảng công việc chuyên sâu, ngoài ra cần có một

số kỹ năng cần, tố chất thiết trong các hoạt động lãnh đạo như:

+ Kỹ năng lãnh đạo: Đây là một kỹ năng không thể thiếu của một nhà quản lý.

Lãnh đạo giỏi được thử thách qua sự thành công trong việc thay đổi hệ thống và con

người. Người quản lý cần phải lãnh đạo giỏi để thay đổi sản phẩm, hệ thống và con

người một cách năng động. Nhà lãnh đạo giỏi phải là người thúc đẩy quá trình quyết

định một vấn đề và trao cho nhân viên của họ quyết định vấn đề đó.Nếu là một nhà

lãnh đạo giỏi, quyền lực sẽ tự đến nhưng cũng phải biết khai thác quyền lực của

những người khác. Nhà lãnh đạo phải thúc đẩy quá trình quyết định và làm cho quá

trình đó hoạt động.

- Những kỹ năng cần thiết

+ Kỹ năng lập kế hoạch: Nhà lãnh đạo, quản lý là người ra quyết định và toàn

bộ bộ máy sẽ hoạt động theo quyết định đó. Quyết định của nhà quản lý ảnh hưởng

rất lớn tới sự phát triển của cơ quan, đơn vị. Một kế hoạch sai lầm rất có thể sẽ đưa

đến những hậu quả khó lường.Vì vậy kỹ năng lập kế hoạch rất quan trọng để đảm

bảo cho nhà quản lý có thể đưa ra những kế hoạch hợp lý và hướng toàn bộ nhân

viên làm việc theo mục tiêu của kế hoạch đã định. Khi kế hoạch được hoàn thành,

nhà quản lý phải chuyển tải thông tin kế hoạch cho cấp trên và cấp dưới để tham

khảo ý kiến. Trong suốt quá trình thực hiện kế hoạch, người quản lý sẽ cần đến

72

những công cụ giải quyết vấn đề và khi cần thiết, phải ra và thực thi các quyết định

trong quyền hạn của mình.

+ Kỹ năng giải quyết vấn đề: Quá trình giải quyết vần đề có thể được tiến hành

qua các bước sau: nhận diện vấn đề, tìm nguyên cớ của vấn đề, phân loại vấn đề, tìm

giải pháp và lựa chọn giải pháp tối ưu. Một nhà quản lý giỏi sẽ tiến hành quá trình

này một cách khéo léo và hiệu quả.

+ Kỹ năng giao tiếp tốt: Nhà lãnh đạo cần phải thành thạo giao tiếp bằng văn

nói và cả văn viết, phải biết cách gây ấn tượng bằng giọng nói, ngôn ngữ cơ thể, đôi

mắt và cách diễn đạt dễ hiểu, thuyết phục. Khả năng giao tiếp tốt cũng phát huy tác

dụng trong quản lý nhân sự. Mức độ sáng tạo hay lòng say mê công việc lại phụ

thuộc vào khả năng tạo động lực cho nhân viên để khẳng định lòng trung thành và

sự cam kết của người lao động. Một nhà lãnh đạo quản lý nhận ra mình có đầy đủ

các kỹ năng cần thiết trên thì cũng không có gì phải lo lắng. Để trở nên người lãnh

đạo quản lý hiệu quả, cần xác định được công việc của một người lãnh đạo phải làm

để đạt được các mục tiêu của tổ chức, cùng với và thông qua các cá nhân.

- Những tố chất cần có của người lãnh đạo

+ Niềm say mê:Người lãnh đạo hiệu quả là người luôn khát khao làm được

điều gì đó đóng góp cho xã hội, hoặc chí ít là cho mình. Không có sự say mê, thì

một nhà lãnh

đạo sẽ không thể có được những quyết định táo bạo và tâm huyết.

+ Sự hiểu biết và tính ham học hỏi:Người lãnh đạo không thể điều hành tốt nếu

họ không hiểu biết gì về lĩnh vực hoạt động. Ngoài những kiến thức cơ bản trong

lĩnh vực hoạt động của mình, nguời lãnh đạo còn phải đọc nhiều và luôn có tinh

thần học hỏi để không ngừng nâng cao kiến thức, nhận biết và cập nhật những thông

tin và tri thức mới.

+ Nhìn xa trông rộng: Tố chất này khác với niềm say mê, song ở khía cạnh nào

đó, nó lại không tách biệt khỏi niềm say mê. Nếu một người không quan tâm đến

một đối tượng, một vấn đề, một hệ thống nào đó, thì người đó sẽ không chú tâm

dành thời gian tìm hướng giải quyết. Tuy nhiên, người lãnh đạo, ngoài niềm say mê,

còn phải có tầm nhìn, cách nhìn nhận và những ý tưởng nhất định trước những thay

đổi, để từ đó vạch ra, những biện pháp phù hợp.

73

+ Óc sáng tạo: Người lãnh đạo luôn phải suy nghĩ để làm sao đưa ra những

chiến lược thực hiện tầm nhìn một cách hiệu quả nhất. Trong bất cứ công việc nào,

cũng cần phát huy trí sáng tạo để thực hiện công việc nhanh nhất, hiệu quả nhất,

chất lượng đảm bảo nhất.

+ Khả năng truyền đạt thông tin: Người lãnh đạo phải có khả năng diễn thuyết

và truyền đạt thông tin để thuyết phục những người khác tin tưởng, nghe theo và

làm theo.

+ Khả năng lập Kế hoạch và tổ chức: Người lãnh đạo là người luôn nhìn thấy

những việc cần làm và có khả năng giúp tập thể lập kế hoạch và tổ chức việc thực hiện.

+ Khả năng làm việc theo nhóm: Người lãnh đạo cần phải có khả năng hoạt

động cùng những người khác, biết lắng nghe, sống trung thực và cởi mở, biết sắp

xếp và bố trí công việc cho nhân viên một cách khoa học và hợp lý, biết cách giải

quyết và dàn xếp những mâu thuẫn nội bộ.

+ Tài xoay xở: Người lãnh đạo cần có nghị lực rất lớn, khi khó khắn, họ không

nản chí. Khi công việc xem ra quá khó, họ sẽ tìm cách tiếp cận khác,họ luôn tìm

kiếm các giải pháp cho vấn đề, để từ đó lựa chọn hướng đi tối ưu.

+ Lòng dũng cảm: Người lãnh đạo là người có một trong những công việc

khắc nghiệt nhất. Lãnh đạo điều hành phải luôn xác định rõ, họ là đại diện cho ai và

cần phải làm gì, phải dũng cảm và cương quyết trong các vấn đề liên quan đến sự

sinh tồn và phát triển của tổ chức, như việc bổ nhiệm, sa thải.

+ Sẵn sàng chấp nhận rủi ro: Người lãnh đạo tài năng là người không trốn

tránh trước thực tế giảm sút, biết lường trước những kịch bản xấu nhất có thể xảy ra

khi đó, họ cần có kế hoạch hỗ trợ.

Đối với việc lãnh đạo quản lý CTXH trong lĩnh vực người tâm thần tại Trung

tâm người lãnh đạo ngoài các kỹ năng, tố chất cần có kiến thức hiểu biết về CTXH

bởi đặc thù nhiệm vụ công việc để có thể quản lý điều hành trong việc tham vấn,

tư vấn, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng làm việc với cá nhân, kỹ năng kết

+ Sự tự tin: Một người lãnh đạo thật sự phải luôn có lòng tin vào chính mình.

Thông thường, sự tự tin này hình thành từ sự thật là bất cứ một người lãnh đạo nào

cũng đã từng trải qua thời gian dài rèn luyện những kỹ năng trong công việc, tích

lũy vốn kiến thức rộng cùng với sự thông minh sẵn có. Bên cạnh đó, cho dù không

74

nối các nguồn lực hỗ trợ, trợ giúp, ngoài ra cũng cần có thêm:

có những kỹ năng, kinh nghiệm kia thì cũng là người biết nhận thức, học hỏi điều đó

từ những người khác.

+ Tính kiên định:Một người lãnh đạo mạnh mẽ cần phải có lập trường vững

vàng trong các quyết định của mình. Tuy nhiên, điều này không bao gồm những tư

tưởng bảo thủ, ngoan cố không biết sửa chữa những sai lầm. Hơn nữa phải biết

nghiêng về lẽ phải trong việc phân xử các xung đột trong nội bộ.

+ Biết chấp nhận sự mạo hiểm:Đối với đặc thù quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng

và phục hồi chức năng cho người tâm thần đặc biệt nặng nhiều người không dám

mạo hiểm bởi vì họ sợ phải nhận lấy thất bại. Tuy nhiên là một người lãnh đạo có

tham vọng, cần phải tự hỏi chính mình rằng liệu sự mạo hiểm đó có đáng giá hay

không?

Nếu vì cộng đồng, vì xã hội cần biết vượt qua rào cản tâm lý lo sợ, e ngại và

dũng cảm đương đầu với thử thách.

+ Sự kiên trì:Người lãnh đạo không bao giờ đầu hàng khó khăn khi chưa thật

sự đối đầu với nó. Mọi thứ không phải luôn luôn dễ dàng, là người lãnh đạo cần biết

thử trải nghiệm cho sự thành công.

+ Sự quả quyết:Người lãnh đạo không được trông chờ trong việc đưa ra những

quyết định quan trọng trong khi những người khác thường cố gắng tránh xa nó. Cho

dù những quyết định này đôi khi sẽ tạo ra những tác động lớn ảnh hưởng đến mối

quan hệ với những người xung quanh phải chấp nhận điều đó. Sự cả nể, nhân

nhượng trong cách đưa ra quyết định có thể dẫn bạn đến những sai lầm khi tạo tiền

lệ xấu dẫn đến việc làm mất đi vị thế của người lãnh đạo.

+ Sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân:Với yêu cầu nhiệm vụ khi tiếp xúc hàng

ngày với người tâm thần bất cứ khi nào, thời điểm nào họ cũng gây những nguy

hiểm cho chính người quản lý, cán bộ chính vì vậy người lãnh đạo Trung tâm phải

tốn rất nhiều thời gian và công sức để quản lý tốt những người dưới quyền và công

việc của mình. Thậm chí, sự bận rộn đó còn chiếm cả những khoảng thời gian riêng

tư dành cho bản thân và gia đình.

+ Khả năng thích nghi:Người lãnh đạo có tài cần phải nhận thức được điều đó

và phải biết thức thời trong việc thích nghi và chấp nhận thay đổi nhất là trong điều

kiện, môi trường quản lý người tâm thần. Phải luôn cập nhật những kỹ năng,

phương pháp để thúc đẩy sự phát triển trong công việc. Nó đòi hỏi phải thật sự yêu

75

thích công việc của mình cùng với những công sức và sự nỗ lực không ngơi nghỉ để

có thể hội tụ được những phẩm chất cần có của người lãnh đạo.

3.2.4. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra

Trong tất cả các hoạt động quản lý muốn thành công, đạt hiệu quả người làm

công tác lãnh đạo quản lý cần thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát cấp dưới

trong thực hiện nhiệm vụ đã được giao về thời gian, tiến độ, mức độ hoàn thành.

Trong hoạt động quản lý CTXH hoạt động kiểm tra rất cần thiết khi làm việc với

cá nhân, nhóm, cộng đồng, tùy đối tượng cần trợ giúp người làm nghề CTXH

ngoài kiến thức kỹ năng cần có sự kiểm tra, giám sát theo từng giai đoạn đã được

hoạch định, kế hoạch đề ra cho chính đối tượng dựa vào tiến trình trợ giúp. Kiểm

tra, lượng giá, đánh giá các nhiệm vụ được thực hiện và kết quả đạt được.

Đối với hoạt động kiểm tra trong quản lý đối tượng người tâm thần tại Trung

tâm cần thực hiện tốt công tác kiểm tra từ khâu:

+ Đầu vào của đối tượng trong đó có việc tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra các giấy

tờ, văn bản có liên quan có đảm bảo tính pháp lý, đúng quy định.

+ Kiểm tra, thẩm tra đối tượng thông qua chính quyền cấp cơ sở, tại địa

phương.

+ Kiểm tra tình trạng sức khỏe, bệnh lý, bệnh án của đối tượng.

+ Kiểm tra việc thực hiện các hoạt động phục hồi chức năng, tâm lý trị liệu,

các hoạt động vui chơi, giải trí của đối tượng…

+ Thường xuyên kiểm tra, theo dõi các biểu hiện bệnh lý, sức khỏe, ăn uống,

sinh hoạt hàng ngày, thời gian ngủ nghỉ, các biểu hiện tái phát cơn, các diễn biến

bất thường trong sinh hoạt sau khi đối tượng đã được tiếp nhận vào Trung tâm.

+ Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của CBVC, NLĐ trong thực thi công vụ,

chấp hành ngày giờ công lao động, thời gian trực, công tác vệ sinh môi trường,

phòng chống dịch bệnh, phòng chống lụt bão, bảo vệ an ninh trật tự…

+ Kiểm tra việc công khai các chế độ chính sách của đối tượng, cán bộ, các

nguồn tiền, hiện vật xã hội hóa khi các tổ chức, cá nhân đến thăm.

+ Kiểm tra việc công khai chế độ ăn, thực đơn ăn, khẩu phần ăn, nguồn thực

phẩm đầu vào, đầu ra hàng ngày của đối tượng xem có đảm bảo đúng quy định hay

76

không.

+ Kiểm tra, giám sát lĩnh vực đầy tư công, trong đó có xây mới, sửa chữa,

nguồn kinh phí cấp hàng năm phục vụ đối tượng, chi trả lương cán bộ và những

khoản chi khác theo quy chế chi tiêu nội bộ.

+ Kiểm tra các hoạt động của các tổ chức đoàn thể.

Công tác kiểm tra, giám sát cần được thực hiện thường xuyên nhằm hạn chế

tối đa những sai phạm, bất cập trong công tác quản lý, điều hành qua công tác

kiểm tra đánh giá tốt hơn ở mỗi khâu tổ chức từ đó đúc rút kinh nghiệm trong tổ

chức quản lý điều hành.

Xây dựng kế hoạch kiểm tra đột xuất, hay định kỳ để tránh tình trạng thực

hiện công việc một cách chiếu lệ, qua loa, đối phó. Trong công tác kiểm tra phải

tuân thủ nguyên tác, các kết quả kểm tra phải được công khai, minh bạch, có các

chế tài xử lý phù hợp khi cá nhân, tập thể, tổ chức vi phạm theo đúng luật pháp

quy định mới đủ sức răn đe, hạn chế tái phạm.

Tiểu kết chương

Qua thực tiễn hoạt động quản lý CTXH đối với người tâm thần tại Trung tâm

Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người tâm thân tỉnh Thái Bình tác giả nghiên

cứu thực trạng hoạt động quản lý CTXH đối với người tâm thần từ đó đưa ra các

nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTXH với nhóm đối

tượng này dựa trên cơ sở thực tiễn, thực trạng trong đó có nhóm giải pháp chung,

nhóm giải pháp cụ thể như: Nhóm giải pháp hoạch định, lập kế hoạch quản lý các

hoạt động chung trong Trung tâm trong đó trong tâm chủ yếu là các hoạt động của

đối tượng. Để làm tốt việc hoạch định cần tổ chức lãnh đạo từ cấp ủy, ban Giám

đốc đến lãnh đạo các phòng, khoa dự trên các kỹ năng, tố chất của người lãnh đạo

nói chung, trong công tác tổ chức kiểm tra trên lĩnh vực quản lý CTXH đối với

người tâm thần tại Trung tâm do tính chất đặc thù nhiệm vụ công việc để có thể

quản lý điều hành trong việc tham vấn, tư vấn, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ

năng làm việc với cá nhân, kỹ năng kết nối các nguồn lực hỗ trợ, trợ giúp, và một

số yếu tố của người lãnh đạo quản lý cần có khi làm việc trong môi trường quản lý,

77

nuoi dưỡng người tâm thần.

Tác giả cũng đưa ra các giải pháp trong công tác kiểm tra nói chung đối với

các hoạt động quản lý nói chung, hoạt động quản lý CTXH đối với người tâm thần

dựa trên nguyên tắc, quy định chung của hoạt động kiểm tra, giám sát.

Các nhóm giải pháp phần nào góp phần làm tốt công tác quản lý CTXH đối

với người tâm thần tại Trung tâm được tốt hơn, mang tính trọng tâm phù hợp với

chủ trương, sự chỉ đạo của Sở Lao động Thương binh Xã hội, Tỉnh ủy, UBND tỉnh

78

Thái Bình trong giai đoạn phát triển.

KẾT LUẬN

Việc xác định tính cấp thiết trong các hoạt động quản lý đối với người

tâm thần tại tại tỉnh Thái Bình nói chung còn nhiều hạn chế, nhóm đối tượng

này ở tại cộng đồng còn rất đông, theo báo cáo đánh giá tổng kết của Bệnh viên

tâm thần Tỉnh năm 2018 số đối tượng người tâm thân cả thể nhẹ, nặng, đặc biệt

nặng đã được khám, điều trị, chữa trị là trên 7 nghìn lượt, trong khi đó nguồn

ngân sách của Tỉnh cho nhóm đối tượng này còn nhiều hạn chế. Hiện tại đối với

đối tượng người tâm thần đặc biệt năng thuộc diện Bảo trợ xã hội mức trợ cấp

810.000 đồng. Đối với những đối tượng đủ điều kiện vào Trung tâm việc quản

lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng còn nhiều tồn tại hạn chế chính

vì vậy tác giả chọn Đề tài “Quản lý công tác xã hội đối với người tâm thần tại

Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh

TháiBình”làm đề tài nghiên cứu.

Từ việc nghiên cứu lý luận về quản lý CTXH đối với người tâm thần một cách

tổng quan trong đó từ các khía cạnh về đối tượng người tâm thần; quản lý CTXH đối

với người tâm thần; lý thuyết về quản lý CTXH; các hoạt động quản lý, các yếu tố ảnh

hưởng tới hoạt động quản lý CTXH đối với người tâm thần từ đó đánh giá thực trạng

quản lý CTXH đối với người tâm thần tại Trung tâm, những điểm mạnh, điểm tồn tại

trong công tác quản lý dựa trên các hoạt động hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra,

các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý, từ thực tiễn tác giả làm việc với người

lãnh đạo quản lý trong ban Giám đốc, lãnh đạo phòng, khoa, CBVC, NLĐ và một số

đối tượng người tâm thần tạm ổn định về sức khỏe, bệnh lý bằng phương pháp phỏng

vấn sâu nhằm làm rõ những tồn tại ảnh hưởng đến công tác quàn lý nói chung, quản

lý CTXH đối với người tâm thần nói riêng.

Qua đánh giá tình hình thực tiễn, thực trạng công tác quản lý CTXH đối với

người tâm thần tác giả đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTXH đối

với người tâm thần tại Trung tâm, trong đó có nhóm giải pháp chung và nhóm giải

pháp cụ thể như : Nhóm giải pháp hoạch định, lập kế hoạch quản lý các hoạt động

chung trong Trung tâm trong đó trong tâm chủ yếu là các hoạt động của đối tượng;

nhóm giải pháp tổ chức lãnh đạo; nhóm giải pháp trong hoạt động kiểm tra.

Trong các nhóm giải pháp tác giả làm rõ vấn đề trong việc hoạch định, tổ

79

chức lãnh đạo triển khai thực hiện, đồng thời kiểm tra các hoạt động nhằm hạn chế

tồn tại, kịp thời điều chỉnh, khắc phục, xử lý những vấn đề trong hoạt động quản lý

nói chung, hoạt động quản lý CTXH đối với người tâm thần tại Trung tâm.

Quá trình nghiên cứu đề xuất các giải pháp tác giả luôn bám sát chủ trương,

chính sách của Tỉnh như: Kế hoạch triển khai thực hiện đề án phát triển nghề công

tác xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2009 - 2020; Kế hoạch thực hiện Đề

án Trợ giúp Người khuyết tật tỉnh Thái Bình giai đoạn 2014- 2020; Kế hoạch triển

khai thực hiện Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần,

người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020; Bước đầu công tác

xã hội đã được hình thành và đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và sâu rộng ở mọi

lĩnh vực bao gồm cả lĩnh vực chăm sóc người khuyết tật. Qua một số nghiên cứu

cho thấy lĩnh vực này đã nhận được nhiều sự quan tâm cũng như đang được vận

dụng rộng rãi trong các cơ sở chăm sóc người tâm thần và trong cộng đồng. Tuy

nhiên do đây là lĩnh vực còn mới, các yếu tố ảnh hưởng như chính sách, nguồn lực,

tài chính cũng như đặc thù của hoạt động chăm sóc người tâm thần mà hoạt động

quản lý còn nhiều hạn chế. Tác giả làm rõ những sự hạn chế và có những giải pháp

cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực quản lý CTXH với người tâm thần

nhằm mục tiêu quản lý tốt nhất để mang lại những dịch vụ chăm sóc người tâm thần

80

tốt nhất.

DANH MỤCTÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Chí An (2006), C ng tác xã hội cá nhân, Trường Đại học Mở Thành phố

Hồ Chí Minh.

2. Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam (NCCD)

(2013), Báo cáo năm 2013 v hoạt động trợ giúp người khuyết tật Việt Nam.

3. Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (2015), Quản lý trường hợp với người

khuyết tật, Nxb. Thống kê.

4. Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (2015), Tài liệu hướng dẫn thực

hànhC ng tác xã hội với người khuyết tật, Nxb. Thống kê.

5. Nguyễn Thị Báo (2008), “Hoàn thiện pháp luật v quy n của người khuyết

tật ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội.

6. Chính phủ, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP, ngày 10/ 04/ 2012: Quy định chi

tiết và hướng dẫn thi hành một số đi u của Luật Người khuyết tật.

7. Trần Thái Dương (2014), “Bảo đảm quy n tiếp cận c ng lý, quy n được trợ

giúp pháp lý của người khuyết tật, sự tương thích của pháp luật Việt Nam

với pháp luật quốc tế”, Tạp chí Luật học số ra tháng 10 năm 2014, Đại học

Luật Hà Nội.

8. Nguyễn Thụy Diễm Hương và Th.S Tạ Thị Thanh Thủy (2012), “Thực hành

c ng tác xã hội trong lĩnh vực khuyết tật”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Ngày

Công tác xã hội thế giới, Đại học Sư phạm Hà Nội.

9. Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) (2014), C ng tác xã hội với người khuyết

tật, Nxb.Đại học Quốc Gia Hà Nội.

10. Trần Thị Thúy Lâm (2013), “Pháp luật v học ngh đối với người khuyết tật

- Thực trạng và một số khuyến nghị”, Tạp chí Luật học số ra tháng 10 năm

2013, Đại học Luật Hà Nội.

11. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) (2010), “Báo cáo khảo sát v đào tạo ngh

và tạo việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam”.

12. Nguyễn Hồi Loan - Nguyễn Thị Kim Hoa (2015), Giáo trình Công tác xã

hội đại cương, Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội.

81

13. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Nhập m n C ng tác xã hội, Nxb Lao động – xã hội

14. Đỗ Minh Nghĩa (2012), “Bảo vệ quy n nhân thân của người lao động dưới

góc độ pháp luật lao động”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội.

15. Quốc hội (2011), Luật Người khuyết tật.

16. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 32/2010/QĐ-TTg, ngày 25/03/2010: Phê

duyệt Đ án phát triển ngh C ng tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020.

17. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05/8/2012: Phê

duyệt Đ án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020.

18. Tổ chức Y tế thế giới (2001), Phân loại Quốc tế v hoạt động chức năng,

giảmkhả năng và sức khỏe của ICF, Phân loại quốc tế, Hà Nội.

19. Nguyễn Ngọc Toản (2009), Trợ giúp xã hội cho cá nhân và hộ gia đình nhằm

đảm bảo an sinh xã hội cho người khuyết tật, Tạp chí Lao động và xã hội.

20. Trần Đình Tuấn (2008), C ng tác xã hội lý thuyết và thực hành, Nxb Đại học

Quốc Gia Hà Nội.

21. Hà Thị Thư (2012), Giáo trình trung cấp ngh C ng tác xã hội với người

khuyết tật, NxbLao động-xã hội.

22. Hà Thị Thư (2012), Kỹ năng C ng tác xã hội nhóm của sinh viên ngành

C ng tác xã hội, Nxb Từ điển bách khoa.

23. Nguyễn Hiệp Thương (2011), C ng tác xã hội với trẻ khuyết tật, Tài liệu bài

giảng, Trường Đại học sư phạm Hà Nội.

24. Nguyễn Ngọc Toản (2011), Xây dựng và hoàn thiện chính sách trợ giúp xã

hội thường xuyên ở Việt Nam.

25. UNICEF (2004), Phân tích tình hình trẻ em khuyết tật Việt Nam.

26. UNFPA (2011), Người khuyết tật ở Việt Nam: Một số kết quả chủ yếu từ

Tổng đi u tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009.

27. USAID và VNAH (2015), Tài liệu tập huấn v chính sách trợ giúp người

khuyết tật, quy n và quy trình thực thi quy n của người khuyết tật, Nxb Dân trí.

28. UBND tỉnh Quảng Nam (2012), Các kế hoạch: Triển khai thực hiện Đ án

32, Đ án 1090, Đ án 1215 của tỉnh Quảng Nam.

29. Sở Lao động – TBXH tỉnh Quảng Nam (2011,2012,2013,2014,2015), Báo

82

cáo C ng tác Bảo trợ xã hội.

PHỤ LỤC 1

Gợi ý phỏng vấn sâu

Quản lý Công tác xã hội với Người khuyết tật (NTT )

(Dành cho cán bộ quản lý)

- - - - - Tuổi:……………………………….. Giới tính:……………………………….. Thời gian giữ chức vụ quản lý tại cơ sở:……………………………….. Trình độ học vấn:…………………………………. Chuyên ngành đào tạo:………………………………….

A. Hoạch định (lập kế hoạch)

1. Theo anh chị, mục đích của hoạch định là gì? Các hoạt động hoạch

định anh chị có dựa trên những mục đích này không? Nếu có xin hãy minh họa

bằng những ví dụ cụ thể.

Ghi những ví dụ cụ thể

Số TT 1

2

3

4

5

6

7

Mục đích Định hướng đúng đắn mọi hoạt động chiến lược của tổ chức Đảm bảo chủ động trong các hoạt động của đơn vị Lựa chọn phương thức tối ưu để hoàn thành các nhiệm vụ đã xác định Đảm bảo huy động và sử dụng tốt nhất những nguồn tiềm năng để thực hiện có hiệu quả các quyết định quản lý đã được xác định Đảm bảo phản ứng linh hoạt, năng động và có hiệu quả đối với mọi yếu tố tác động từ bên ngoài Đảm bảo phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng về lâu dài Khác: Xin ghi rõ 2. Khi hoạch định, anh chị có dựa theo nguyên tắc nào dưới đây? Nếu

lựa chọn nguyên tắc nào xin anh chị hãy nói rõ hơn về việc vận dụng những

nguyên tắc đó vào trong hoạt động hoạch định của anh chị

Số TT Nguyên tắc Ghi cụ thể

Đảm bảo tính khoa học 1

Đảm bảo tính hệ thống, không chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau 2

83

Đảm bảo tính kế thừa 3

Xuất phát từ nhu cầu của khách hàng/đối tượng 4

Kết hợp quyền hạn, quyền lợi và trách nhiệm 5

Chuyên môn hoá 6

Phát huy tối đa tính năng động và tự chủ của các cấp thừa hành 7

Năng động, linh hoạt và tận dụng thời cơ 8

Tập trung những ưu tiên chủ yếu 9

10 Đảm bảo tính hiệu quả

11 Khác; Xin ghi rõ

3. Anh chị đã và đang triển khai những loại hoạch định/kế hoạch nào? Ghi cụ thể Các loại kế hoạch Số TT

Lập kế hoạch phát triển cơ quan 1

Lập kế hoạch năm, kế hoạch quý 2

Lập kế hoạch tài chính, chi tiêu nội bộ 3

Lập kế hoạch nhân sự 4

Lập kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho cán bộ 5

Lập kế hoạch cho từng hoạt động 6

Lập kế hoạch nâng cao chất lượng dịch vụ cho NTT (thể 7

chất, dinh dưỡng, tinh thần, xã hội…

Khác; Xin ghi rõ 8

4. Các hoạt động hoạch định của cơ quan theo anh chị bao gồm nội

dung nào?

Số TT Nội dung của hoạch định Ghi cụ thể

Mục tiêu của tổ chức 1

Biện pháp/hoạt động để đạt được mục tiêu 2

Nguồn lực thực hiện 3

Người, cơ quan triển khai và thời gian thực hiện 4

Khác 5

5. Anh chị triển khai việc hoạch định như thế nào?

Số TT Tổ chức hoạch định Ghi cụ thể

Tự hoạch định 1

Bàn bạc trong ban lãnh đạo 2

Bàn bạc với tất cả lãnh đạo và nhân viên 3

84

Khác 4

Anh chị hãy đánh giá chung về hiệu quả của các hoạt động hoạch định này

tới công việc của Trung tâm? (Với cơ quan, với nhân viên, với NTT …)

…………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… Anh chị hãy cho biết những khó khăn nào trong việc hoạch định?

…………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… Anh chị có những Đề xuất gì để hoạt động hoạch định có hiệu quả hơn?

…………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………

B. Tổ chức

1. Anh chị cho biết, việc xây dựng bộ máy tổ chức trong cơ quan được

hình thành theo những nguyên tắc nào dưới đây? Nêu cụ thể

Nguyên tắc Ghi cụ thể Số TT

Thống nhất chỉ hủy (báo cáo với người lãnh đạo trực tiếp) 1

Gắn với mục tiêu (Tổ chức xây dựng theo mục tiêu cơ sở) 2

Hiệu quả (giảm chi phí nhưng vẫn hiệu quả) 3

Cân đối (đảm bảo trách nhiệm và quyền lợi của các phòng ban) 4

Linh hoạt (Có sự linh hoạt để đối quyền lợi của các phòng ban) 5

6 Khác

2. Anh chị cho biết tổ chức trong cơ quan có nhữngđặc trưng cơ bản

nào dưới đây? Đưa ra ví dụ cụ thể

Ghi cụ thể

Số TT 1

2

85

Đặc trưng Mục tiêu của tổ chức (rõ ràng, có tính thách thức, đảm bảo sự cam kết, luôn mở để nhận sự phản hồi, cân nhắc yếu tố phức tạp của nhiệm vụ) Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức (Các nhiệm vụ và quyền hạn có được quy định cụ thể với từng chức danh không? Có

3

4

chồng chéo hay bỏ sót nhiệm vụ không?) Cơ cấu tổ chức (có rõ ràng không?Có gắn với các nhiệm vụ và chức năng không). Mô tả cơ cấu cụ thể Quyền lực của tổ chức (Việc phân quyền như thế nào? Việc ra quyết định của lãnh đạo có được thực thi nghiêm túc Khác 5

Anh chị cho biết tổ chức bộ máy trong cơ quan có hợp lý không (năng lực

có đúng với công việc chuyên môn không?) Nêu rõ

…………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………

Việc tổ chức triển khai công việc như thế nào? Nói rõ

…………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………

Anh chị hãy đánh giá chung về hiệu quả của các hoạt động tổ chức tới

công việc chung của cơ quan? (Với cơ quan, với nhân viên, với NTT …)

…………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………

Anh chị hãy cho biết những khó khăn nào trong việc tổ chức?

…………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………

Anh chị có những đề xuất gì để hoạt động tổ chức có hiệu quả hơn?

…………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………

C. Lãnh đạo

1. Anh chị thực hiện những hoạt động lãnh đạo nào dưới đây? Hãy

cho biết cụ thể?

Số TT Hoạt động Ghi cụ thể

Hoạch định 1

86

2 Xử lý thông tin và ra quyết định

Sắp xếp tổ chức và nhân sự 3

Điều hành 4

Phối hợp các hoạt động 5

Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc 6

7 Đánh giá

8 Khác

2. Anh chị cho biết phong cách lãnh đạo của anh chị? Hãy mô tả cụ

thể

Số TT Phong cách lãnh đạo Xin mô tả cụ thể

Phong cách quyết đoán 1

Phong cách dân chủ 2

Phong cách tự do thoải mái 3

Khác 4

3. Trong hoạt động lãnh đạo, anh chị đã làm tốt hoặc chưa tốt nội dung

nào dưới đây? Nêu cụ thể Số TT Các nội dung Ghi cụ thể

Kiên nhẫn 1

Quản lý thời gian 2

Lắng nghe 3

Nhẹ nhàng, khéo léo 4

Sáng tạo/linh hoạt 5

Khác 6

Anh chị hãy đánh giá chung về hiệu quả của các hoạt động lãnh đạo tới

công việc của chính mình? (Với cơ quan, với nhân viên, với NTT …)

…………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………

Anh chị hãy cho biết những khó khăn nào trong việc lãnh đạo?

87

…………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………

Anh chị có những đề xuất gì để hoạt động lãnh đạo có hiệu quả hơn? …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………

D. Kiểm tra 1. Anh chị cho biết, khi thực hiện việc kiểm tra, anh chị áp dụng những

nguyên tắc nào? Cho biết cụ thể Số TT Nguyên tắc Ghi cụ thể

Căn cứ trên kếhoạch hoạt động của tổ chức. 1

Phù hợp với chức năng và chuyên môn của nhà quản lý 2

Sự kiểm tra phải thực hiện tại những điểm trọng yếu 3

Bảo đảm tính khách quan 4

Phù hợp với bầu không khí của tổ chức 5

Tiết kiệm (thời gian, vật lực) 6

Việc kiểm tra phải đưa đến hành động điều chỉnh 7

8 Khác

2. Khi triển khai hoạt động kiểm tra, anh chị thường làm theo những

bước nào? Số TT Các bước kiểm tra Ghi cụ thể

1 Xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra (Trước

kiểm tra)

2 Đo lường việc thực hiện (Tiến hành kiểm

tra)

3 Đánh giá, sửa chữa sai lầm (Sau kiểm tra)

Khác 4

Anh chị thường tiến hành những nội dung kiểm tra nào? Hãy cho biết cụ

thể?

…………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… Anh chị tiến hành kiểm tra theo những phương thức nào? Nêu cụ thể

88

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

Anh chị hãy đánh giá chung về hiệu quả của các hoạt động kiểm tra tới công

việc của anh chị? (Với cơ quan, với nhân viên, với NTT …)

…………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………

Anh chị hãy cho biết những khó khăn nào trong việc kiểm tra?

…………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………

Anh chị có những đề xuất gì để hoạt động kiểm tra có hiệu quả hơn?

…………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………

E. Các yếu tố tác động đến quản lý công tác xã hội

1. Anh chị hãy cho biết những yếu tố nào dưới đây tác động tới hiệu

quả của hoạt động quản lý công tác xã hội? Ghi cụ thể Số TT Các yếu tố Ghi cụ thể

1 Đặc điểm của nghề

2 Năng lực nhà quản lý

3 Năng lực của nhân viên

4

Mối quan hệ giữa nhân viên và nhà quản lý Chính sách 5

6

Các yếu tố khác như Tài chính, thời gian, cơ sở vật chất

F. Anh chị có đề xuất, khuyến nghị gì thêm về hoạt động quản lý CTXH

với NTT ?

89

…………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………

PHỤ LỤC 2

Gợi ý phỏng vấn sâu

Quản lý Công tác xã hội với Người tâm thần

(Dành cho cán bộ viên chức)

Tuổi:………………………………..

Giới tính:………………………………..

Cơ quan công tác:……………………………………………… Thời gian làm việc:………………………………..

Trình độ học vấn:…………………………………. Chuyên ngành đào tạo:………………………………….

- - - - - - - Hiệu quả trong công việc của anh chị trong 3 năm gần đây:

A. Hoạch định (lập kế hoạch)

Anh chị có được tham gia vào quá trình hoạch định không?Tham gia như

thế nào?

………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Nếu được tham gia, ý kiến của anh chị có tập thể tôn trọng không? ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Khi anh chị tham gia, các ý kiến của anh chị có lo không được giữ bí mật

không?

………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Xin anh chị hãy đánh giá chung về hiệu quả của các hoạt động hoạch định

này tới việc quản lý, chăm sóc của anh chị?

………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Anh chị đề xuất gì để hoạt động hoạch định của trung tâm có hiệu quả hơn? ………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………

B. Tổ chức

Theo anh/chị, tổ chức bộ máy như hiện nay có hợp lý không (năng lực

có đúng với công việc chuyên môn không?) Nêu rõ

90

………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Việc tổ chức triển khai công việc hiện tại? Nêu rõ

………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Khiđược tham gia vào quá trình tổ chức anh chị thấy như thế nào? ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Nếu được tham gia, ý kiến của anh chị có được tập thể cán bộ tôn trọng? ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Khi anh chị tham gia, các ý kiến của anh chị có lo không đượcgiữ bí mật? ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Anh chị có những đề xuất gì để hoạt động tổ chức có hiệu quả hơn? ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………

C. Lãnh đạo

Trong hoạt động dưới đây, lãnh đạo trung tâm đã làm tốt hoặc chưa tốt

hoạt động nào?Cho biết cụ thể? Số TT Các nội dung Ghi cụ thể

1 Kiên nhẫn

2 Quản lý thời gian

3 Lắng nghe

Nhẹ nhàng, khéo léo 4

Sáng tạo/linh hoạt 5

Khác 6

Anh chị hãy đánh giá chung về hiệu quả của các hoạt động lãnh đạo tới

quá trình thực hiện nhiệm vụ, công việc như thế nào?

………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………

Anh chị có những đề xuất gì để hoạt động lãnh đạo có hiệu quả hơn? …………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

D. Kiểm tra

Theo anh chị, Trung tâm thường tiến hành kiểm tra theo phương thức nào

để đảm bảo hơn? Nêu cụ thể?

91

………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………… Khi được tham gia vào các tổ kiểm tra thì anh chị thấy thế nào? ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Nếu được tham gia, ý kiến của anh chị có được các thành viên trong tổ

kiểm tra tôn trọng không?

………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Khi anh chị tham gia, các ý kiến của anh chị có sợ ảnh hưởng đến bản thân

không?

………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Anh chị hãy đánh giá chung về hiệu quả của các hoạt động kiểm tra tới

quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao của anh chị?

………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… Anh chị có những đề xuất gì để hoạt động kiểm tra có hiệu quả hơn? ………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………

E. Anh chị có gặp khó khăn gì trong các hoạt động quản lý lãnh đạo

không? Hãy cho biết cụ thể?

………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………

F. Anh chị có đề xuất, khuyến nghị gì thêm về hoạt động quản lý

CTXH

với NTT ?

92

………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………