ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TÔ THỊ TIẾN

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP,

KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN VÂN ĐỒN,

TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2017 – 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Thái Nguyên, 2020

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TÔ THỊ TIẾN

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP,

KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN VÂN ĐỒN,

TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2017 - 2019

Ngành: Quản lý đất đai

Mã số ngành: 8.85.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thanh Hải

Thái Nguyên, 2020

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung

thực, đầy đủ và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc nghiên cứu thực tế tại địa phương

để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn

đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./.

Tác giả luận văn

Tô Thị Tiến

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được bản luận văn này, trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn

TS. Nguyễn Thanh Hải đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện

đề tài. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo tại

khoa Quản lý Tài Nguyên, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài.

Tôi xin chân thành cảm ơn phòng tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên

chức, nhân viên Ủy ban nhân dân huyện Vân Đồn, phòng Tài nguyên và Môi

trường huyện Vân Đồn, Cơ quan Thanh tra - Kiểm tra huyện Vân Đồn, Văn phòng

Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện Vân Đồn, Ủy ban nhân dân các xã,

thị trấn thuộc huyện Vân Đồn đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, thực hiện

đề tài.

Tôi xin chân thành cảm ơn tới những người thân trong gia đình và đồng

nghiệp đã động viên, khích lệ, tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình

thực hiện đề tài này.

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Tô Thị Tiến

iii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii

MỤC LỤC ................................................................................................................ iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT..................................................................... vi

DANH MỤC CÁC BẢNG ..................................................................................... vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ..................................................................................... viii

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1

1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1

2. Mục tiêu của đề tài .................................................................................................. 2

3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................... 3

3.1. Ý nghĩa khoa học ................................................................................................. 3

3.2. Ý nghĩa thực tiễn .................................................................................................. 3

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................... 4

1.1. Cơ sở lý luận và vai trò của công tác tiếp dân, xử lý đơn thư tranh chấp và

khiếu nại về đất đai ..................................................................................................... 4

1.1.1. Cơ sở lý luận ..................................................................................................... 4

1.1.2. Vai trò của giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại trong lĩnh vực đất đai

hiện nay ....................................................................................................................... 6

1.1.3. Cơ sở pháp lý của công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, tranh chấp và khiếu nại về

đất đai .......................................................................................................................... 7

1.2. Tình hình giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của một số nước trên thế

giới............................................................................................................................... 9

1.2.1. Nhật Bản ............................................................................................................ 9

1.2.2. Cộng hòa Liên bang Đức ................................................................................ 12

1.2.3. Hàn Quốc ........................................................................................................ 14

1.3. Tình hình tiếp dân, xử lý tranh chấp, khiếu nại về đất đai tại Việt Nam ........... 17

1.3.1. Khái quát chung .............................................................................................. 17

1.3.2. Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giải quyết đơn

thư, tranh chấp và khiếu nại về đất đai ...................................................................... 19

iv

1.3.3. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại về đất

đai hiện nay ............................................................................................................... 20

1.3.4. Kết quả tiếp nhận và xử lý đơn thư, tranh chấp, khiếu nại về đất đai ở Việt

Nam giai đoạn 2017-2019 ......................................................................................... 28

1.4. Tình hình tiếp dân, xử lý đơn thư tranh chấp, khiếu nại đất đai tại Quảng

Ninh .......................................................................................................................... 29

1.5. Đánh giá chung .................................................................................................. 31

Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 33

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 33

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................... 33

2.1.2. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................... 33

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ...................................................................... 33

2.3. Nội dung nghiên cứu .......................................................................................... 33

2.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng công tác quản lý, sử dụng

đất đai của huyện Vân Đồn ....................................................................................... 33

2.3.2. Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của huyện Vân

Đồn giai đoạn 2017 - 2019 ........................................................................................ 33

2.3.3. Khó khăn, tồn tại và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác

giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai tại huyện Vân Đồn ................................ 34

2.4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 34

2.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp ................................................ 34

2.4.2. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp ................................................ 34

2.3.3. Phương pháp tổng hợp và xử lý tài liệu, số liệu ............................................. 35

2.3.4. Phương pháp so sánh đánh giá ........................................................................ 35

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................. 36

3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất

đai của huyện Vân Đồn ............................................................................................. 36

3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường ............................... 36

3.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội ................................................................ 39

3.1.3. Thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất đai của huyện Vân Đồn ................ 41

v

3.2. Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của huyện Vân

Đồn giai đoạn 2017 - 2019 ........................................................................................ 47

3.2.1. Công tác chỉ đạo và quy trình công tác tiếp dân, giải quyết tranh chấp, khiếu

nại về đất đai của huyện Vân Đồn ............................................................................ 47

3.2.2. Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của huyện Vân

Đồn giai đoạn 2017 - 2019 ........................................................................................ 51

3.2.3. Đánh giá giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của huyện

Vân Đồn thông qua ý kiến của người dân ................................................................. 65

3.3. Khó khăn, tồn tại và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giải

quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai tại huyện Vân Đồn ....................................... 67

3.3.1. Khó khăn, tồn tại trong công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai tại

huyện Vân Đồn ......................................................................................................... 67

3.3.2. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giải quyết tranh chấp,

khiếu nại về đất đai tại huyện Vân Đồn .................................................................... 70

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 74

1. Kết luận ................................................................................................................. 74

2. Kiến nghị ............................................................................................................... 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 77

vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNQSD Chứng nhận quyền sử dụng đất

ĐGHC Địa giới hành chính

GCN Giấy chứng nhận

GPMB Giải phóng mặt bằng

QĐHC Quyết định hành chính

QSDĐ Quyền sử dụng đất

QPPL Quy phạm pháp luật

TN&MT Tài nguyên và Môi trường

UBND Ủy ban nhân dân

VPĐKQSDĐ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Tổng hợp công tác tiếp dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh .......................31

Bảng 1.2. Tổng hợp công tác giải quyết khiếu nại tại tỉnh Quảng Ninh ...................31

Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2019 của huyện Vân Đồn ............................46

Bảng 3.2. Tổng hợp phiếu điều tra về thực hiện công tác tiếp dân, xử lý đơn thư ...50

Bảng 3.3. Tổng hợp công tác tiếp dân trên địa bàn huyện Vân Đồn

giai đoạn 2017 - 2019 ................................................................................................52

Bảng 3.4. Tổng hợp tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn thư trên địa bàn huyện Vân

Đồn giai đoạn 2017 - 2019 ........................................................................................53

Bảng 3.5. Phân loại nội dung tranh chấp, khiếu nại trên địa bàn huyện Vân Đồn giai

đoạn 2017 - 2019 .......................................................................................................56

Bảng 3.6. Kết quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai tại huyện Vân Đồn

giai đoạn 2017- 2019 .................................................................................................58

Bảng 3.7. Tổng hợp kết quả giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Vân Đồn giai

đoạn 2017 - 2019 .......................................................................................................59

Bảng 3.8. Tổng hợp kết quả giải quyết khiếu nại đất đai tại huyện Vân Đồn

giai đoạn 2017 - 2019 ................................................................................................60

Bảng 3.9. Nguyên nhân, hạn chế chính dẫn đến tranh chấp, khiếu nại về đất đai trên

địa bàn huyện Vân Đồn .............................................................................................64

Bảng 3.10. Tổng hợp ý kiến của hộ gia đình, cá nhân có đơn thư kiến nghị, phản

ánh, tranh chấp, khiếu nại về đất đai đối với kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm

quyền .........................................................................................................................66

viii

Hình 3.1. Vị trí địa lý huyện Vân Đồn (Khu kinh tế Vân Đồn)................................35

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.2. Sơ đồ quy trình tiếp công dân tại Trụ sở tiếp dân của huyện Vân Đồn ....49

Hình 3.3. Sơ đồ quy trình phân loại, xử lý đơn thư tại UBND huyện Vân Đồn.......50

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là

thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư,

xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và là thành quả

cách mạng của cả dân tộc Việt Nam. Không chỉ vậy, đất đai còn có vị trí cố định,

tính giới hạn về không gian, tính vô hạn về thời gian sử dụng. Những đặc tính

không một loại tư liệu nào có thể thay thế trong quá trình sản xuất.

Tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ cùng với sức ép của sự gia tăng dân số

kéo theo nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao, đất đai trở thành bất động sản có giá

trị cực lớn. Do đó, việc quản lý nhà nước bằng pháp luật về đất đai ngày càng được

tăng cường, điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

và trở thành cơ sở pháp lý quan trọng huy động nguồn lực đất đai phát triển nền

kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong những năm gần đây, công tác quản lý Nhà nước về đất đai vẫn còn

nhiều bất cập, bên cạnh những địa phương, đơn vị thực hiện quản lý và sử dụng đất

đúng pháp luật vẫn còn không ít địa phương, đơn vị buông lỏng công tác quản lý

đất đai. Việc thực hiện pháp luật đất đai chưa tốt không chỉ đối với các chủ sử dụng

đất mà ngay cả với cơ quan Nhà nước. Do vậy, vẫn xảy ra nhiều vi phạm: sử dụng

đất không đúng mục đích, lấn chiếm đất đai, mua bán trái phép, giao đất và cấp đất

không đúng thẩm quyền... dẫn đến các tranh chấp, đơn thư, kiếu nại ngày càng

nhiều. Theo thống kê của Thanh tra nhà nước, hàng năm có khoảng 10 vạn vụ khiếu

kiện liên quan đến đất đai, chiếm 70% tổng số vụ khiếu kiện của công dân gửi đến

cơ quan nhà nước. Trong đó phần lớn các vụ việc liên quan khiếu nại về đền bù,

giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất. Tính phức tạp của tranh chấp đất

đai, khiếu nại không chỉ bắt nguồn từ những xung đột gay gắt về lợi ích kinh tế, từ

hệ quả của sự quản lý thiếu hiệu quả của cơ quan công quyền, sự bất hợp lý và thiếu

đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật đất đai... mà còn do những nguyên nhân

có tính lịch sử trong quản lý và sử dụng đất qua các thời kỳ.

2

Giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại là một trong những nội dung quan

trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai nhằm giải quyết các mâu thuẫn,

bức xúc trong quan hệ đất đai, liên quan đến nhiều quy định pháp luật, các quan hệ

xã hội phức tạp và quyền lợi của người dân, tổ chức. Do đó, đây là vấn đề luôn

được nhiều cấp, nhiều ngành quan tâm, thậm chí thu hút sự quan tâm của toàn xã

hội đối với những vụ việc có tính chất điển hình. Những năm qua, công tác giải

quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại của cơ quan nhà nước đã thu được nhiều kết

quả khả quan, đã từng bước khôi phục, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá

nhân, tổ chức, đồng thời qua công tác giải quyết cấc cấp, ngành đã kịp thời uốn nắn,

chấn chỉnh những sơ hở trong quản lý nhà nước. Nhưng vẫn tồn tại một số vụ việc

giải quyết chưa đúng, còn chậm, chưa mạnh và dứt điểm, số vụ việc phát sinh tăng,

số vụ được giải quyết hiệu quả chưa cao dẫn tới tình trạng khiếu nại vượt cấp ngày

càng tăng.

Vân Đồn là một huyện đảo của tỉnh Quảng Ninh, đang trên đà phát triển,

trọng tâm là ngành du lịch - dịch vụ với định hướng trở thành một trong 03 đơn vị

hành chính - kinh tế đặc biệt của Việt Nam đã thu hút các tập đoàn lớn trong và

ngoài nước triển khai dự án đầu tư, nổi bật như Dự án Cảng hàng không Quảng

Ninh, Casino quốc tế Vân Đồn, Khu đô thị Phương Đông... Do đó, công tác quản lý

nhà nước về đất đai luôn được cấp uỷ, chính quyền đặc biệt chú trọng và cũng đã

đạt được những kết quả nhất định. Song bên cạnh đó, tồn tại nhiều nguyên phát sinh

đơn thư, tranh chấp, kiếu nại về đất đai, đặc biệt liên quan đến công tác bồi thường,

giải phóng mặt bằng và tranh chấp quyền sử dụng đất ảnh hưởng đến quá trình phát

triển kinh tế và ổn định xã hội của địa phương.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá công

tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh

Quảng Ninh giai đoạn 2017 - 2019”.

2. Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá được công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai thuộc

thẩm quyền giải quyết của UBND huyện Vân Đồn giai đoạn 2017 - 2019.

3

- Phân tích được nguyên nhân, thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải

pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai trên địa

bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

3. Ý nghĩa của đề tài

3.1. Ý nghĩa khoa học

Góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về quy trình, trình

tự, thủ tục giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai hiện nay.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp các cơ quan quản lý đất đai của

huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp, khiếu

nại về đất đai trong thời gian tới.

Là tài liệu tham khảo cho người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong

sử dụng đất và thực hiện đúng các thủ tục khiếu nại trong lĩnh vực đất đai.

4

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở lý luận và vai trò của công tác tiếp dân, xử lý đơn thư tranh chấp và

khiếu nại về đất đai

Từ năm 1945, ngay sau khi đất nước giành độc lập, Đảng và Nhà nước ta

1.1.1. Cơ sở lý luận

luôn quan tâm đến việc sử dụng đất. Tuy nhiên, quản lý xã hội bằng pháp luật của

Nhà nước còn bộc lộ không ít khuyết điểm, yếu kém; chưa ngang tầm với nhiệm vụ

của thời kỳ đổi mới và chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại. Sự lạc hậu và những bất

cập trong xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật đã tạo ra những khe hở trong

sản xuất, kinh doanh và các mặt hoạt động khác, làm nảy sinh những hiện tượng

tiêu cực và vi phạm pháp luật, phần nào làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước nảy

sinh mâu thuẫn, những mâu thuẫn này được thể hiện thông qua các vụ tranh chấp,

Giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai là một trong những nội dung quản

khiếu nại về đất đai có xu hướng tăng và ngày càng phức tạp (Lê Tiến Hào, 2011).

lý nhà nước về đất đai đã được quy định trong Luật đất đai 1993, Luật đất đai năm

2003, Luật đất đai năm 2013. Giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai với ý nghĩa

là một nội dung của công tác quản lý nhà nước đối với đất đai, là hoạt động của cơ

quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn, hành vi

vi phạm pháp luật trong nội bộ các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tham gia vào

quan hệ đất đai, tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm phục hồi

lại các quyền lợi bị xâm phạm, đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các

hành vi vi phạm pháp luật đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007).

Với chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai thì tranh chấp, khiếu nại về đất

đai thường chỉ là vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng liên

quan đến địa giới hành chính hoặc quyền sử dụng liên quan đến tài sản. Giải quyết

mọi trường hợp tranh chấp về đất đai phải đảm bảo nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu

toàn dân do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; kiên quyết

bảo vệ những thành quả cách mạng về ruộng đất, đồng thời sửa lại theo đúng pháp

luật những trường hợp xử lý không đúng. Giải quyết tranh chấp về đất đai phải

5

nhằm mục đích phát triển sản xuất, ổn định và từng bước cải thiện đời sống của

nhân dân.

a. Khái niệm về tiếp công dân và xử lý đơn thư

Việc tiếp nhận và xử lý đơn thư là bước đầu trong quy trình giải quyết tranh

chấp, khiếu nại về đất đai và những bức xúc của công dân về quyết định hành chính,

hành vi hành chính hoặc những thắc mắc, tranh chấp... của người dân tại cơ quan

nhà nước có thẩm quyền giải quyết.

- Tiếp công dân: là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm tiếp

công dân theo quy định tại Điều 4 của Luật Tiếp công dân 2013 đón tiếp để lắng

nghe, tiếp nhận khiếu nại hành chính, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích,

hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại hành chính, kiến nghị, phản

ánh theo đúng quy định của pháp luật (Luật Tiếp công dân, 2013).

- Xử lý đơn thư: là công việc của cán bộ chuyên môn và cán bộ tiếp dân thực

hiện trước và sau khi tiếp nhận đơn thư nhằm giúp công tác khiếu nại của người dân

và công tác giải quyết khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền diễn ra nhanh

gọn và đúng pháp luật (Luật Tiếp công dân, 2013).

b. Khái niệm khiếu nại và giải quyết khiếu nại

- Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo

thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem

xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ,

công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hành vi đó là trái pháp luật, xâm hại

quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Luật Khiếu nại, 2013).

- Giải quyết khiếu nại: Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ

liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc

hành vi hành chính về quản lý đất đai. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành

chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố

tụng hành chính (Luật Đất đai, 2013).

c. Khái niệm về tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai

- Tranh chấp đất đai: là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất

giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.

6

- Giải quyết tranh chấp đất đai: Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa

các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp

luật nhằm xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai.

1.1.2. Vai trò của giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại trong lĩnh vực đất đai

hiện nay

Đơn thư, tranh chấp, khiếu nại liên quan đến lĩnh vực đất đai là hiện tượng

xảy ra ngày càng phổ biến khi nền kinh tế đất nước thay đổi từ bao cấp sang nền

kinh tế thị trường. Nhà nước thực hiện phương thức quản lý đất đai mới thông qua

việc trao quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đình, tổ chức nhằm tạo quyền chủ

động cho cá nhân, tổ chức trong sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, việc đổi mới

phương thức quản lý cùng những bất cập từ hệ thống pháp luật cũng như sự thiếu

hiệu quả trong công tác quản lý đất đai trước đã khiến tình trạng đơn thư, khiếu nại,

tranh chấp về đất đai ngày càng gia tăng về số lượng và là nguyên nhân gây mất ổn

định về chính trị, xã hội. Do đó, việc giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại về

đất đai một cách hiệu quả đóng vai trò, ý nghĩa quan trọng:

Thứ nhất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và là biện

pháp thực thi dân chủ thực sự. Mục đích của khiếu nại là để bảo vệ, khôi phục

quyền và lợi ích hợp pháp do pháp luật quy định của chủ thể khiếu nại trước sự xâm

phạm của cá nhân có thẩm quyền hoặc cơ quan nhà nước. Quyền khiếu nại của công

dân luôn giữ một vị trí quan trọng trong chế độ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công

dân được Hiến pháp và pháp luật công nhận. Việc mở rộng và đảm bảo các quyền

của công dân, trước hết là quyền khiếu nại là sự phản ánh khách quan, đầy đủ hiện

thực nền dân chủ.

Thứ hai, đảm bảo quyền khiếu nại của công dân là một trong những hình

thức giám sát việc thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước, hạn chế những sai

lầm, thiếu sót trong hoạt động quản lý. Trao quyền khiếu nại cho công dân cũng là

cách Nhà nước bảo vệ lợi ích của mình, củng cố, giám sát bộ máy của mình tránh

những sai lầm, thiếu sót trong quá trình quản lý, đồng thời tăng cường mối quan hệ

giữa nhà nước và công dân, xây dựng lòng tin của quần chúng đối với Đảng, đối với

7

Nhà nước, đối với chế độ. Hình thức giám sát này thực tế cho thấy rất hiệu quả vì

khi lợi ích bị cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xâm phạm, bất kỳ chủ thể

nào cũng có những phản ứng để bảo vệ lợi ích của mình. Những phản ứng này theo

tính tự giác và thường rất quyết liệt cho đến khi quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể

khiếu nại được khôi phục. Sở dĩ như vậy vì xuất phát từ tâm lý chủ thể khiếu nại là

luôn muốn được cơ quan, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền giải quyết sự việc theo ý

nguyện của mình một cách nhanh chóng, do đó chủ thể khiếu nại sẽ bằng mọi cách

chứng minh sự sai xót, vi phạm trong quyết định hành chính, hành vi hành chính

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo nhận thức chủ quan của họ. Bên cạnh đó,

pháp luật cho phép chủ thể khiếu nại có thể tự mình thực hiện quyền khiếu nại hoặc

ủy quyền cho người khác khiếu nại. Trao quyền khiếu nại cho công dân, Nhà nước

được cung cấp những tài liệu, chứng cứ hoặc được tiếp nhận những phản ánh về sai

xót trong quá trình quản lý của mình. Do đó, những thiếu xót, sai phạm của cá nhân,

cơ quan nhà nước có thẩm quyền được phát hiện và giải quyết kịp thời.

Tuy nhiên, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khiếu nại chỉ được đảm

bảo thực hiện nếu có sự phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ của cá nhân, cơ quan quản lý nhà

nước giải quyết đơn thư, khiếu nại, tranh chấp. Điều đó đòi hỏi cá nhân, cơ quan

giải quyết phải công tâm, thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ giải quyết tranh chấp,

khiếu nại đã được pháp luật quy định.

1.1.3. Cơ sở pháp lý của công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, tranh chấp và khiếu nại

về đất đai

- Luật Đất đai năm 2013.

- Luật Khiếu nại năm 2011.

- Luật Tiếp công dân năm 2013.

- Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

- Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi

tiết một số điều của Luật Khiếu nại.

- Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi

tiết một số điều của Luật Tiếp công dân.

8

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi

tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về

giá đất.

- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về

miễn giảm tiền sử dụng đất.

- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về

bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

- Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi

tiết một số điều của Luật Tiếp công dân.

- Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định

về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

- Nghị định số 104/2014/NĐ-CP ngày 14/11/2014 của Chính phủ quy định

về khung giá đất.

- Thông tư số 07/2011/TT-TTCP ngày 28/7/2011 của Thanh tra Chính phủ

về hướng dẫn quy trình tiếp công dân.

- Thông tư liên tịch số 18/2011/TTLT-BTP-BNV ngày 19/10/2011 của Bộ

Tư pháp và Bộ Nội vụ về hướng dẫn nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của

Sở tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh và phòng Tư pháp thuộc UBND cấp huyện về bồi

thường Nhà nước.

- Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ

quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành hính.

- Thông tư số 06/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 của Thanh tra Chính phủ

quy định quy trình tiếp công dân.

- Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 của Thanh tra Chính phủ

quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh.

- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ TN&MT quy

định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.

- Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn

chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân giải quyết khiếu nại, tố cáo.

9

1.2. Tình hình giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của một số nước trên

thế giới

Giải quyết tranh chấp, khiếu nại là hoạt động bình thường của bất kỳ nhà

nước nào khi mà nền hành chính hướng tới việc phục vụ và cung cấp dịch vụ đến

người dân. Có thể nói, trong quá trình hoạt động, kể cả việc ban hành các văn bản

quy phạm pháp luật đến việc tổ chức thực hiện không trách khỏi những sai sót làm

ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của cá nhân, hộ gia đình và tổ chức sử dụng đất.

Trên thực tế, việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại của mỗi nước do mô hình tổ chức

phù hợp đã dẫn tới những thành công trong hoạt động tranh chấp, khiếu nại hành

chính như Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Hàn Quốc... Với lý do trên, việc

tham khảo qua các mô hình giải quyết tranh chấp, khiếu nại hành chính ở một số

nước trên thế giới sẽ có những tác dụng nhất định cho việc sửa đổi Luật Đất đai,

Luật Khiếu nại, Luật Tố tụng hành chính... nhằm tiến tới ổn định các vấn đề xã hội

trong cả nước.

1.2.1. Nhật Bản

Để giải quyết khiếu nại hành chính, năm 1962 Nhật Bản ban hành Luật

Thẩm tra hành chính, từ đó đến nay đã sửa đổi, bổ sung, song không nhiều. Theo

đó, giải quyết khiếu nại hành chính chủ yếu được thông qua hoạt động tư vấn hành

chính do các chuyên gia tư vấn hành chính thực hiện. Hiến pháp của Nhật Bản cho

phép người dân có quyền biểu thị chính kiến của mình bằng phương pháp trưng cầu

dân ý về mọi lĩnh vực và đặc biệt là về sự tồn tại của chính quyền. Công dân có

quyền khiếu nại bất cứ hành vi và quyết định nào của Nhà nước kể cả các văn bản

qui phạm pháp luật, các chính sách của Nhà nước nếu như họ cho rằng những hoạt

động đó ảnh hưởng bất lợi đến quyền và lợi ích của họ. Hệ thống các cơ quan tiếp

nhận và giải quyết khiếu nại hành chính của Nhật Bản được tổ chức thực sự đầy đủ,

toàn diện và linh hoạt ở cả hệ thống hành pháp, tư pháp và lập pháp đảm bảo bất cứ

một khiếu nại nào của người dân cũng được xem xét thấu đáo và thoả đáng. Hệ

thống này tùy theo từng địa phương có thể thành lập ra cơ quan Thanh tra, hiện

Nhật Bản có khoảng 32 địa phương thành lập ra cơ quan Thanh tra để tiếp nhận và

giải quyết các khiếu nại của địa phương. Các cơ quan Trung ương có các bộ phận

10

tiếp nhận đơn thư ở hầu hết các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp. Bộ Nội vụ và

Truyền thông có Cục Đánh giá hành chính được giao chuyên trách đảm nhận chức

năng tiếp nhận đơn khiếu nại gửi các cơ quan hành chính ở Trung ương và khu vực.

Khi có đơn thư gửi đến thì bộ phận tiếp nhận phải phân tích và gửi cho các cơ quan

chức năng mà chủ yếu là các cơ quan hành chính theo thẩm quyền để giải quyết. Để

làm tốt chức năng này, Bộ Nội vụ và Truyền thông thành lập 50 Văn phòng đại diện

đặt ở hầu hết các tỉnh, thành phố để trực tiếp tiếp nhận và một phần giải quyết khiếu

nại của công dân. Ngoài ra Bộ Nội vụ và Truyền thông còn có Hội cứu trợ hành

chính để tư vấn cho những vụ việc khiếu nại về chính sách có tính chất phức tạp,

liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương, ngành. Một phương thức khác nữa

là có khoảng 5000 người (thường là cán bộ về hưu) tự nguyện tham gia việc tiếp

nhận các khiếu nại của người dân, họ không hưởng lương nhưng được Bộ trưởng

Bộ Nội vụ và Truyền thông ủy quyền để tiếp nhận và tư vấn cho công dân. Như

vậy, chức năng chính của Cục Đánh giá hành chính là tiếp nhận, tư vấn, chuyển đơn

cho các cơ quan hành chính ở trung ương xem xét giải quyết các vấn đề liên quan

đến người dân và thông báo cho người dân biết. Trong trường hợp mà những thông

báo đó không được thực hiện thì phải nêu rõ lý do, trường hợp không thực hiện

nhưng không được trả lời thì sẽ được báo cáo lên cấp trên và có thể bị xem xét,

đánh giá về hiệu quả hoạt động.

Về cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính, công dân tự mình khiếu nại tới cơ

quan hành chính nhà nước cấp trên quản lý trực tiếp cơ quan hành chính nhà nước

có quyết định hành chính bị khiếu nại hoặc ủy nhiệm cho Luật sư khiếu nại. Trong

quá trình giải quyết, cơ quan hành chính có thẩm quyền giải quyết tiến hành thẩm

tra nội dung khiếu nại, tổ chức để công dân trình bày nội dung khiếu nại, yêu cầu

của họ và để cơ quan hành chính có quyết định hành chính bị khiếu nại biện minh

về việc ra quyết định đó; những người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan được

tham gia buổi làm việc này. Để giải quyết khiếu nại, cơ quan hành chính có thẩm

quyền giải quyết ra quyết định có nội dung bãi khiếu nại khi có đủ căn cứ khiếu nại

vi phạm các quy định thủ tục hoặc chấm dứt việc khiếu nại khi có đủ căn khiếu nại

là không có cơ sở và khẳng định quyết định hành chính ban hành đúng pháp luật;

11

yêu cầu cơ quan hành chính cấp dưới hủy bỏ quyết định hành chính hoặc sửa đổi,

bổ sung quyết định hành chính của mình nếu vi phạm pháp luật, đồng thời khắc

phục hậu quả (nếu có). Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, công dân

có quyền khởi kiện tại Tòa án.

Về tổ chức tư vấn hành chính, như nói ở trên, hiện Nhật Bản có 50 Chi

nhánh tư vấn hành chính đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; có

khoảng 5000 chuyên gia tư vấn hành chính là những người đã nghỉ hưu, Luật sư,

Giáo sư… tự nguyện tham gia. Các công chức nhà nước không được làm chuyên

gia tư vấn hành chính. Danh sách người được đề nghị trở thành chuyên gia tư vấn

hành chính phải được Bộ Quản lý công cộng, Nội vụ, Bưu điện và Viễn thông phê

chuẩn. Những người tự nguyện làm công tác tư vấn hành chính của Nhật Bản có

nhiệm vụ tiếp nhận các khiếu nại từ người dân. Trường hợp nhận thấy khiếu nại của

công dân không có cơ sở, chuyên gia tư vấn giải thích, trả lời; trường hợp khiếu nại

của công dân có cơ sở hoặc vụ việc khiếu nại phức tạp, chuyên gia tư vấn chuyển

tới Cơ quan Đánh giá hành chính tại địa phương hoặc Trung ương và đề nghị các cơ

quan này yêu cầu các cơ quan hành chính có chức năng giải quyết, điều chỉnh các

quyết định quản lý, trả lời chuyên gia tư vấn để trả lời công dân. Các chuyên gia tư

vấn còn có thẩm quyền kiến nghị các vấn đề liên quan tới việc cải cách hành chính

của Bộ Quản lý công cộng, Nội vụ, Bưu điện và Viễn thông. Có thể thấy, hoạt động

tư vấn hành chính là giai đoạn “tiền giải quyết” khiếu nại hành chính ở Nhật Bản

và cơ chế tư vấn hành chính hàng năm đã giúp Nhật Bản xử lý ban đầu, đã góp phần

giảm khoảng 50% vụ việc khiếu nại hành chính ở giai đoạn tư vấn hành chính. Kinh

phí để duy trì hoạt động của các tổ chức tư vấn hành chính chủ yếu dựa trên nguồn

hội phí do các hội viên đóng góp và tiền chi trả của Nhà nước cho mỗi hoạt động tư

vấn thực tế, cụ thể; ngoài ra, còn có nguồn hỗ trợ từ phía Nhà nước, song khoản này

là rất nhỏ. Hoạt động tư vấn hành chính là trung lập giữa cơ quan hành chính nhà

nước và công dân trong quá trình xử lý các khiếu nại hành chính (khách quan,

không đứng về phía nào). Việc tư vấn hành chính là hoàn toàn miễn phí, song

chuyên gia tư vấn hành chính được Nhà nước Nhật Bản chi trả theo quy định đối

12

với các chi phí thực tế mà họ phải chi phí khi thực hiện tư vấn (như tiền tàu xe, chi

phí cho việc soạn, in ấn đơn từ...).

Ở Nhật Bản, Nghị viện cũng có một vai trò nhất định trong việc giải quyết

khiếu nại hành chính. Công dân có quyền đệ trình khiếu nại hành chính lên Nghị

viện, song việc đệ trình này phải được sự giới thiệu của ít nhất một Nghị sĩ hoặc

khiếu nại thông qua Nghị sĩ và Nghị sĩ đó có vai trò như người đại diện, bảo lãnh

cho người khiếu nại. Thượng viện chỉ tiếp nhận những đơn khiếu nại này trong thời

gian diễn ra kỳ họp của Nghị viện và chấm dứt trước một tuần khi Nghị viện kết

thúc kỳ họp. Sau khi nhận được đơn khiếu nại gửi tới Thượng viện, Văn phòng

Thượng viện sẽ xem xét các điều kiện theo quy định để thụ lý, đơn sẽ được đệ trình

ra Tiểu ban của Nghị viện phù hợp nội dung khiếu nại để thẩm định và phân công

xử lý. Việc xử lý từng khiếu nại tại Nghị viện được thông qua hình thức bỏ phiếu

biểu quyết. Những khiếu nại phù hợp và đã có biểu quyết của Nghị viện sẽ được gửi

cho Nội các để giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với những khiếu nại

không phù hợp sẽ không tiến hành thủ tục trên và được tuyên hủy sau kỳ họp. Nghị

sĩ giới thiệu người khiếu nại sẽ được thông báo về kết quả giải quyết khiếu nại và có

trách nhiệm thông báo cho công dân (Mạnh Hùng, 2016).

1.2.2. Cộng hòa Liên bang Đức

Cũng giống như một số nước châu Âu, quan niệm khiếu nại là việc công

dân, pháp nhân yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm

phạm hoặc bị đe dọa xâm phạm bởi hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước,

nhân viên nhà nước. Pháp luật Công hòa Liên bang Đức công nhận khiếu nại của

công dân đối với hoạt động của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó,

khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính chiếm phần lớn. Ngoài

cơ chế giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước còn có cơ chế giải

quyết theo thủ tục tố tụng của Tòa án bằng việc thành lập Tòa hành chính độc lập,

song song với Tòa tư pháp nhằm tạo thêm cơ chế giải quyết hữu hiệu, khách quan

để người dân được lựa chọn .

13

Về mặt tổ chức, Tòa hành chính được tổ chức theo ba cấp xét xử: Tòa hành

chính sơ thẩm thành lập theo địa bàn quận, huyện; Tòa hành chính phúc thẩm, thành

lập theo địa bàn tỉnh và Tòa hành chính tối cao trực thuộc Nhà nước Liên bang.

Về thẩm quyền của Tòa hành chính: Xét xử khiếu kiện của công dân đối với

quyết định hành chính cá biệt và hành vi hành chính của nhân viên cơ quan hành

chính nhà nước (không xem xét khiếu kiện đối với văn bản quy phạm pháp luật) và

việc bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính gây ra.

Nói cách khác, Toà án hành chính giải quyết các khiếu kiện thuộc về Luật Công

không liên quan đến Hiến pháp và không được đạo luật của Liên bang giao cho.

Về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính: Trước hết, người khiếu

nại khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính, hành vi

hành chính vi phạm pháp luật để được giải quyết. Trong quá trình xem xét, nếu xét

thấy quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trái pháp luật thì cơ quan hành

chính nhà nước đó phải thu hồi, sửa đổi quyết định hành chính hoặc chấm dứt hành

vi hành chính; nếu gây thiệt hại thì trước hết cơ quan hành chính nhà nước phải bồi

thường cho người khiếu nại, sau đó cá nhân công chức, viên chức có lỗi phải hoàn

trả cho cơ quan hành chính nhà nước. Để bảo đảm việc xem xét được khách quan,

công khai, pháp luật quy định người khiếu nại được gặp gỡ, trình bày hoặc tranh

luận với cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính hoặc hành vi hành

chính bị khiếu nại để thoả thuận hướng giải quyết và bồi thường thiệt hại, nếu thoả

thuận phù hợp với quy định của pháp luật thì cơ quan hành chính nhà nước ra quyết

định công nhận. Nếu người khiếu nại thấy giải quyết của cơ quan có quyết định

hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không thỏa đáng thì họ có quyền khiếu

nại lên cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp. Nếu người khiếu nại không

đồng ý với quyết định giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên thì họ

có quyền khiếu kiện đến Tòa hành chính sơ thẩm. Người khiếu nại có quyền kháng

cáo phán quyết của Tòa hành chính sơ thẩm lên Tòa hành chính phúc thẩm, kháng

cáo phán quyết của Tòa hành chính phúc thẩm lên Tòa hành chính tối cao, kháng

cáo phán quyết của Tòa hành chính tối cao lên Tòa án Hiến pháp. Tòa án Hiến pháp

14

có quyền xét xử chung thẩm đối với tất cả các vụ kiện hành chính đã được các Tòa

án cấp dưới xét xử.

Ngoài ra, Cộng hòa Liên bang Đức, có hệ thống cơ quan tài phán hành chính

hoàn toàn độc lập với Tòa án tư pháp. Cơ quan tài phán hành chính ở Đức không có

thêm chức năng tư vấn pháp lý. Trong hệ thống Tòa án hành chính có 52 Tòa án

hành chính khu vực, 16 Tòa án hành chính liên khu vực và một Tòa án hành chính

liên bang. Quyền về bảo vệ pháp luật “triệt để” của công dân trước quyền lực hành

pháp phát sinh từ Khoản 4 Điều 19 của Hiến pháp. Tính triệt để này được thể hiện ở

chỗ công dân được bảo vệ trước tất cả các văn bản hành chính hay nói cách khác,

các Tòa án phải bảo đảm sự bảo vệ pháp luật về mặt nguyên tắc chống lại tất cả

những hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan hành pháp. Các thẩm phán hành

chính có nghĩa vụ phải nghiên cứu nội dung, làm rõ việc tranh chấp và trong trường

hợp cần thiết có thể đưa ra ý kiến của mình về cách giải quyết vụ việc. Tòa án

không bị ràng buộc bởi các bằng chứng và giải trình của các bên. Bằng nguyên tắc

này, Tòa án hành chính có thể bù đắp sự không cân bằng giữa công dân và cơ quan

hành chính và có thể giúp đỡ công dân trong quá trình tố tụng (Mạnh Hùng, 2016).

1.2.3. Hàn Quốc

Giải quyết khiếu nại hành chính ở Hàn Quốc do nhiều cơ quan thực hiện: các

cơ quan hành chính, cơ quan Chống tham nhũng và Bảo vệ quyền công dân

(ACRC) và Cơ quan thanh tra, kiểm toán. Hàn quốc không có sự phân định rõ ràng

giữa khiếu nại, tố cáo hay phản ảnh, kiến nghị. Mỗi khi người dân có điều gì đó

không hài lòng và khiếu kiện thì các cơ quan nhà nước tùy từng trường hợp mà xử

lý sao cho có hiệu quả. Cơ chế giải quyết khá mềm dẻo và linh hoạt. Hàn Quốc

cũng có nhiều hình thức tiếp nhận và xử lý khiếu nại, nhưng hiện nay khiếu nại qua

mạng ngày càng nhiều và có hình thức tiếp nhận khiếu nại lưu động tại các vùng

sâu vùng xa và coi trọng việc đến tận nơi để lắng nghe và xử lý tại chỗ bằng cách

trao đổi với các bên trong tranh chấp. Công việc này mang tính chất hoà giải và

được làm ngay tại địa phương cơ sở.

Uỷ ban Chống tham nhũng và Bảo vệ quyền công dân (ACRC) là cơ quan

chịu trách nhiệm chính trong công tác này. Tại cơ quan Thanh tra, kiểm toán Hàn

15

Quốc cũng có Vụ chuyên trách về tiếp nhận và xử lý khiếu nại hành chính, ở các địa

phương dần dần cũng hình thành các bộ phận chuyên trách giúp chính quyền giải

quyết các khiếu nại của người dân. Trong giải quyết khiếu nại hành chính, Hàn

Quốc quan tâm trước hết đến việc tìm ra phương án xử lý tranh chấp thông qua hoà

giải thương lượng và thuyết phục các bên. Với những vụ việc đơn giản thì thường

gửi về cho chính cơ quan bị khiếu nại để giải quyết. Vụ việc phức tạp hơn thì các cơ

quan phối hợp để tiến hành thẩm tra, xác minh sau đó đưa ra yêu cầu với cơ quan có

trách nhiệm. Về cơ bản thì các cơ quan này không trực tiếp ban hành quyết định

giải quyết, trừ ACRC có quyền phán quyết (tài phán) đối với việc khiếu nại các

quyết định hành chính. Nếu không thoả mãn với việc giải quyết của các cơ quan

hành chính nhà nước thì người khiếu nại có thể kiện ra Tòa án theo con đường tố

tụng.

Điểm nổi bật trong giải quyết khiếu nại hành chính ở Hàn Quốc là hết sức

coi trọng công tác hoà giải và tư vấn khiếu nại. Hàn Quốc sử dụng đội ngũ tình

nguyện viên là những công chức về hưu hoặc những luật sư còn đang hành nghề

nhưng dành thời gian nhất định cho công việc này một cách tự nguyện với khoản

thù lao nhỏ bé (chủ yếu là bù đắp chi phí đi lại) tham gia vào hoạt động tư vấn

khiếu nại, tiếp và trao đổi với người khiếu nại. Cách làm này tỏ ra rất phù hợp, tránh

được tâm lý căng thẳng và sự thiếu tin tưởng của người dân khi tiếp xúc trực tiếp

ngay với các cơ quan công quyền. Tình nguyện viên là những người có nhiều kinh

nghiệm trong các lĩnh vực quản lý nhà nước nên việc tư vấn của họ tỏ ra rất hiệu

quả. Đây là cách làm hay và có thể vận dụng vào Việt Nam và cũng thể hiện xu

hướng xã hội hoá các dịch vụ công trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại hành chính.

Mặc dù có những ưu điểm nhưng trên thực tế thì cơ chế giải quyết khiếu nại hành

chính ở Hàn Quốc cũng khá phức tạp và đang tiến hành nghiên cứu, sửa đổi quy

định của pháp luật cho phù hợp và đơn giản hiệu quả hơn. Ngoài ra, Hàn Quốc cũng

xây dựng Trung tâm tích hợp thông tin hành chính để giúp người dân thuận tiện hơn

khi tiến hành các thủ tục hành chính. Tại đây, người dân có thể truy cập mọi thông

tin cần thiết và cũng có thể được tư vấn trực tiếp về những vấn đề mà họ quan tâm.

Đây là việc làm hết sức có ý nghĩa để người dân có thể vượt qua các khó khăn khi

16

thực hiện các quyền của mình và cũng giảm đi một số lượng đáng kể các khiếu nại

không cần thiết do thiếu thông tin.

Mô hình quản lý khiếu nại quốc gia của Hàn Quốc như sau:

- Bộ An toàn hành chính phụ trách chung điều hành quản lý chế độ khiếu nại

dân sự quốc gia; Ủy ban Quyền lợi quốc dân hoạt động theo Luật Chống tham

nhũng, (điều hành 100 Trung tâm hướng dẫn khiếu nại nỗi khổ qua điện thoại).

- Cơ quan Thanh tra, kiểm toán Chính phủ Hàn Quốc; cơ quan Thủ tướng

Quốc vụ, Bộ An tòan hành chính phụ trách quản lý kỷ cương công tác, những tiêu

cực trong khối công chức (tố cáo hành chính) gồm: thiết lập kỷ cương, điều tra hành

vi phạm pháp của công chức ở các cơ quan hành chính Trung ương, chính quyền

địa phương, cơ quan công.

- Cơ quan Thanh tra, kiểm toán Chính phủ; Ủy ban Quyền lợi quốc dân phụ

trách giải quyết khiếu nại nỗi khổ của người dân (khiếu nại hành chính). Cơ quan

Thanh tra, kiểm toán Chính phủ Hàn Quốc có trách nhiệm: Tiếp nhận và xử lý

khiếu nại dân sự dựa trên căn cứ vào quyền thanh tra giám sát chức vụ được qui

định trong Hiến pháp và Luật Thanh tra, kiểm toán Chính phủ; Không chịu sự tác

động của Luật Xử lý hành chính dân sự (đó là căn cứ để xử lý khiếu nại dân sự của

các cơ quan hành chính Trung ương); Thực hiện điều tra đặc biệt đối với hành vi

phạm pháp, tham nhũng của quan chức, công chức.

Việc tiếp nhận, xử lý khiếu nại dân sự của người dân, doanh nghiệp được

thực hiện bằng hai hình thức: gửi văn bản (đơn), hoặc gửi thông tin qua đường

internet thông qua “Hệ thống thông tin điều hành giải quyết khiếu nại dân sự”. Hệ

thống này được Chính phủ Hàn Quốc đầu tư, khai thác quản lý nhằm hiện đại hóa

công tác xử lý khiếu nại dân sự.

Hệ thống thông tin điều hành xử lý khiếu nại dân sự Hàn Quốc được thực

hiện qua 02 hệ thống, thứ nhất là hệ thống “Cổng tiếp nhận khiếu nại và thắc mắc

của người dân”; thứ hai là “Cổng thông tin khiếu nại Chính phủ 24”. Mỗi cơ quan

hành chính Trung ương đều có một Cổng thông tin khiếu nại riêng và trên cơ sở

chức năng, nhiệm vụ của mình để xem xét, xử lý khiếu nại thuộc chức năng, nhiệm

vụ của mình. Hai Cổng thông tin này có sự kết nối, chia sẻ thông tin với nhau, phục

17

vụ cho hoạt động xử lý khiếu nại trong cả nước, được nối mạng với 100 Trung tâm

xử lý khiếu nại ở các vùng, giúp cho Chính phủ, Quốc hội nắm chắc tình hình khiếu

nại và xử lý khiếu nại trong cả nước; vừa giản tiện cho việc khiếu nại của người

dân, doanh nghiệp; vừa giúp cho việc kiểm tra việc xử lý khiếu nại của các cơ quan

có chức trách, nhiệm vụ (Mạnh Hùng, 2016).

Tóm lại, việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại hành chính hiện nay ở mỗi

quốc gia còn tùy thuộc vào thể chế chính trị - hành chính đó mang tính dân chủ thực

sự không, có vì con người hay không. Bởi bất kỳ nhà nước nào nếu không xây dựng

được những thiết chế dân chủ thì mọi cơ quan thiết lập ra đều không thể đại diện

cho bất kỳ quyền lợi nào của người dân khi quyền và lợi ích của họ bị nhà nước

xâm phạm.

1.3. Tình hình tiếp dân, xử lý tranh chấp, khiếu nại về đất đai tại Việt Nam

1.3.1. Khái quát chung

Tình hình giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại nhìn chung vẫn diễn biến

phức tạp và gay gắt ở một số địa phương, nhất là những thời điểm diễn ra các sự

kiện chính trị quan trọng như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và

Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và

đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Đặc biệt, tình hình khiếu kiện đông

người tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường có đoàn lên tới vài trăm người

với thái độ bức xúc, gay gắt, nhiều lần tập trung lên Trung ương. Đáng chú ý, các

đoàn công dân khiếu kiện đông người có sự liên kết với nhau, tổ chức chặt chẽ và

được sự ủng hộ lương thực, tiền của một số tổ chức tự phát.

Các vụ việc khiếu nại phức tạp, chủ yếu là về bồi thường, hỗ trợ, giải phóng

mặt bằng, thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội; khiếu nại

đòi lại cơ sở tôn giáo; khiếu nại đòi lại nhà đất trước đây có sử dụng nhưng nay tổ

chức, cá nhân khác sử dụng; khiếu nại tranh chấp đất đai trong nhân dân; có những

trường hợp từ việc khiếu nại nhưng không đạt được mục đích đã chuyển sang tố cáo

cán bộ, công chức giải quyết. Đáng lo ngại là khiếu nại đang bị kẻ xấu lợi dụng kích

động, xuyên tạc, bôi xấu, đe doạ và ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, tác động tiêu

cực vào tâm lý, của cán bộ, nhân dân (Thanh tra chính phủ, 2016).

18

Tại khu vực Miền Trung - Tây Nguyên, tình hình khiếu nại tố của công dân

tuy có giảm về số lượng nhưng lại tăng về số vụ việc và số đoàn đông người. Xuất

hiện nhiều vụ việc có tính chất phức tạp liên quan tới việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí

tái định canh, định cư; việc bố trí đất sản xuất; tranh chấp đất đai liên quan đến đất

có nguồn gốc nông lâm trường. Tại các tỉnh, thành phố khu vực phía nam, tình hình

khiếu nại của công dân có chiều hướng giảm cả về số lượng đoàn đông người và số

vụ việc. Tuy nhiên, theo đánh giá chung, vẫn còn tình trạng công dân tập trung

đông người kéo về Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh khiếu nại. Phần lớn vụ việc

pháp sinh từ những năm trước, đã được cấp, ngành giải quyết theo thẩm quyền. Có

những vụ việc đã được cơ quan, bộ, ngành trung ương phối hợp với địa phương

kiểm tra, rà soát, giải quyết (Khánh An, 2017).

Tình hình khiếu nại của công dân khu vực phía Bắc tuy có giảm về số lượng

ngườu và số đoàn đông người nhưng lại xuất hiện nhiều vụ việc có tính chất gay

gắt, phức tạp, có hành vi vi phạm pháp luật như vụ việc khiếu kiện, giữ người trái

pháp luật tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội

(4/2017); vụ việc tập trung đông người phản đối, ngăn cản cưỡng chế thu hồi đất

thực hiện dự án xây dựng tỉnh lộ 277 đoạn từ thị xã Từ Sơn đến thị trấn Chờ (huyện

Phong Yên) tỉnh Bắc Ninh (4/2017); khiếu khiện của hàng trăm hộ dân liên quan đế

công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án cải tại, nâng cấp Quốc lộ

18 đoạn qua thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; vụ việc trên 200 hộ tiểu thương phán

đối di chuyển chợ Đông Đăng (tỉnh Lạng Sơn), đơn thư của công dân liên quan đến

Chợ Ninh Hiệp (Hà Nội); khiếu kiện của các đoàn đông người tại Hà Nội phán ánh

liên quan thu hồi đất thực hiện dự án xây dựng Khu đô thị phường Dương Nội (Hà

Nội), phường Cổ Nhuế (quận Bắc Từ Liêm), công dân quận Hoàng Mai,... Đa số

các vụ việc khiếu kiện đông người, phức tạp tại các tỉnh thành phố khu vực miền

Bắc (cũng như cả nước nói chung) thời gian qua, hầu hết là các vụ việc cũ để lại, đã

được chức năng xem xét, giải quyết nhiều lần, tuy nhiên công dân vẫn khiếu kiện

với thái độ gay gắt, bức xúc, ít nhiều ảnh hưởng tình hình trật tự an toàn xã hội trên

địa bàn, nhất là tại các thời điểm diễn ra kỳ họp Trung ương, họp Quốc hội,... (Cổng

thông tin điện tử Thanh tra Chính phủ, 2017).

19

1.3.2. Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giải quyết

đơn thư, tranh chấp và khiếu nại về đất đai

Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác giải

quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại về đất đai, phát huy quyền làm chủ của nhân

dân, gắn với việc xây dựng bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Các Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và đến Hiến

pháp năm 2013 đều nghi nhận quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản

của công dân và quy định việc khiếu nại phải được xem xét và giải quyết nhanh

chóng, trong thời gian pháp luật quy định. Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã ban hành

nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, văn bản pháp luật để không ngừng nâng cao chất lượng,

hiệu quả của công tác giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại về đất đai.

Nhằm thể chế hoá quyền khiếu nại của công dân và trách nhiệm của cơ quan

Nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc, góp

phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế chủ nghĩa, Nhà nước ta đã ban hành

Luật Khiếu nại năm 1998. Luật này đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004,

2005. Năm 2010 ban hành Luật Tố tụng hành chính. Năm 2011, đã ban hành Luật

Khiếu nại. Năm 2013 ban hành Luật Tiếp công dân. Cùng với đó là các Nghị định

và Thông tư hướng dẫn thi hành Luật.

Trước tình hình đơn thư, tranh chấp, khiếu nại về đất đai đang là một thách

thức đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Giải quyết dứt điểm, có hiệu quả

vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc duy trì sự ổn định chính trị, trật tự

an toàn xã hội tại địa phương. Đổi mới công tác giải quyết đơn thư, tranh chấp,

khiếu nại về đất đai, tiếp nhận ý kiến phản hồi từ tổ chức, cá nhân để hoàn thiện và

xây dựng hệ thống quản lý đất đai (thể chế, bộ máy tổ chức), quan tâm thấu đáo đến

lợi ích thiết thực của người dân để giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai đạt

hiệu quả cao, góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị xã hội là vấn đề cấp

bách, là yêu cầu đang đặt ra hiện nay đối với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Để cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và tạo cơ sở chính sách

pháp lý cho công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai, từ năm 2004 Nhà

nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật từ Luật đến các Nghị định,

20

Quyết định, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn và các văn bản quy định về trách nhiệm,

quyền hạn của các cơ quan hành chính Nhà nước để áp dụng giải quyết đơn thư,

khiếu nại về đất đai. Các văn bản đã được ban hành qua các thời kỳ, thể hiện sự lợi

hại của người dân nhằm phù hợp với thực tiễn của từng giai đoạn và hướng đến sự

thống nhất, khắc phục sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật quy định

vấn đề này.

Hệ thống các văn bản pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm

quyền tại địa phương từ Nghị quyết đến Quyết định, Chỉ thị, Hướng dẫn được ban

hành để cụ thể hoá việc thực hiện công tác giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại,

về đất đai tại địa phương.

1.3.3. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại về

đất đai hiện nay

Việc giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại trong lĩnh vực đất đai của các cơ

quan hành chính Nhà nước theo trình tự, thủ tục quy định của Luật khiếu nại 2011,

Luật Đất đai 2013, Luật tiếp dân năm 2013 và các văn bản hướng dẫn. Cụ thể như sau:

1.3.3.1. Về tiếp nhận và xử lý đơn thư

Công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư là công việc bước đầu trong quy

trình tiếp nhận, giải quyết tranh chấp, khiếu nại và những bức xúc của công dân về

quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc những thắc mắc, tranh chấp… của

người dân tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết.

a. Địa điểm tiếp công dân và bộ phận tiếp công dân

- Tại các Bộ, ngành: Sau khi Luật Tiếp công dân được ban hành và có hiệu

lực, Bộ trưởng đã giao cho Thanh tra Bộ là cơ quan thường trực tiếp công dân của

Bộ. Tại một số Bộ, Thanh tra Bộ đã thành lập phòng có chức năng, nhiệm vụ tiếp

công dân. Bộ Tài nguyên và Môi trường có Phòng Tiếp dân và xử lý đơn; Bộ Tài

chính có Phòng Quản lý các vấn đề khiếu nại của công dân; tại Bộ Giao thông vận

tải có Phòng Thanh tra thực hiện nhiệm vụ chuyên trách công tác tiếp công dân, giải

quyết khiếu nại và phòng, chống tham nhũng; Bộ Ngoại giao có Phòng Thanh tra,

tiếp công dân và giải quyết khiếu nại.

21

Tại một số Bộ, không thành lập Phòng Tiếp công dân riêng mà Thanh tra Bộ

cử cán bộ, công chức làm nhiệm vụ thường trực tiếp công dân (Bộ Lao động,

Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,

Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nội vụ).

- Tại các Sở, ngành ở địa phương: Giám đốc các Sở, ngành đã bố trí Phòng

Tiếp công dân và phân công cho Thanh tra Sở thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân.

Trên cơ sở đó, Chánh Thanh tra Sở, phân công cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân

thường xuyên.

- Tại cấp huyện: Công dân chủ yếu đến gặp Ban Tiếp công dân cấp huyện tại

Trụ sở Tiếp công dân cấp huyện để khiếu nại, kiến nghị, phản ánh. Do đó, các

phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện hầu như không bố trí địa

điểm riêng để tiếp công dân mà chỉ phân công cán bộ tiếp công dân trong trường

hợp công dân đến cơ quan mình để khiếu nại, kiến nghị, phản ánh.

Ở cấp xã: Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn là người trực tiếp phụ

trách công tác tiếp công dân; thường bố trí công chức Văn phòng - Thống kê hoặc

công chức địa chính, Tư pháp - Hộ tịch kiêm nhiệm làm nhiệm vụ tiếp công dân

thường xuyên tại địa điểm tiếp công dân của xã để tiếp nhận, xử lý các đơn thư

khiếu nại, kiến nghị, phản ánh, tranh chấp của nhân dân (Phạm Thị Phượng, 2018).

b. Quy trình tiếp công dân

Bước 1: Giai đoạn tiếp xúc ban đầu.

- Giới thiệu tên cán bộ tiếp công dân, chức vụ.

- Yêu cầu công dân xuất trình giấy tờ tùy thân như: Chứng minh thư nhân

dân, giấy giới thiệu, giấy ủy quyền (nếu được ủy quyền) và tiến hành thủ tục kiểm

tra, đối chiếu các giấy tờ cũng như ghi chép, phản ánh vào sổ tiếp công dân các

thông tin cơ bản về công dân được tiếp.

Bước 2: Giai đoạn chính tiếp dân.

- Tiếp nhận đơn thư khiếu nại, đề nghị, phản ánh. Nếu khiếu nại trực tiếp

bằng lời nói thì cán bộ tiếp dân phải hướng dẫn công dân viết đơn hoặc ghi chép lại

thành bản ghi lời đề nghị, khiếu nại. Trong trường hợp có nhiều người đến kiến

22

nghị, khiếu nại về cùng một nội dung thì cán bộ tiếp công dân yêu cầu họ cử đại

diện để trình bày trung thực về sự việc.

- Yêu cầu người đến khiếu nại, đề nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại

cung cấp các tài liệu, chứng cứ có liên quan (nếu có).

- Nghiên cứu, đánh giá, phân loại, xử lý khiếu nại, đề nghị, phản ánh theo

quy định của pháp luật.

Bước 3: Giai đoạn kết thúc.

- Thông qua biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ có liên quan và yêu cầu

người đề nghị, khiếu nại, phản ánh ký hoặc điểm chỉ xác nhận.

- Ghi nhận đầy đủ nội dung khiếu nại, đề nghị, phản ánh vào sổ tiếp dân.

c. Quy trình xử lý, phân loại đơn thư:

Bước 1: Tiếp nhận đơn thư

Tiếp nhận đơn thư được gửi đến: Qua đường bưu điện, do cơ quan cấp trên,

các cơ quan khác chuyển đến, nhận trực tiếp khi tiếp công dân.

Bước 2: Phân loại đơn thư

- Đơn thư khiếu nại; Đơn kiến nghị; Đơn phản ánh.

- Đơn thư thuộc thẩm quyền hay không thuộc thẩm quyền

- Đơn thư đủ điều kiện thụ lý hay không đủ điều kiện thụ lý.

Bước 3: Xử lý đơn thư

- Đối với đơn thư khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết và đủ điều kiện thụ

lý thì tiếp nhận để thụ lý để giải quyết. Trong trường hợp đơn thư khiếu nại có chữ

ký của nhiều người thì hướng dẫn người công dân viết thành đơn riêng để thực hiện

khiếu nại.

- Đối với trường hợp đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết nhưng

không đủ điều kiện thụ lý giải quyết thì báo cáo, tham mưu cho Lãnh đạo ban hành

văn bản trả lời cho người khiếu nại biết lý do không thụ lý.

- Đối với đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thì tham

mưu Lãnh đạo xử lý từng nội dung theo quy định của pháp luật KNTC.

- Đối với đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết, đơn khiếu nại đã

có quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 thì báo cáo, tham mưu với Lãnh đạo ban

23

hành văn bản chỉ dẫn, trả lời một lần cho người khiếu nại, nếu người khiếu nại gửi

kèm giấy tờ, các tài liệu là bản gốc liên quan đến vụ việc khiếu nại thì trả lại các

giấy tờ, tài liệu đó cho người khiếu nại.

- Thời gian xử lý đơn thư khiếu nại chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày tiếp nhận.

1.3.3.2. Về giải quyết khiếu nại

a. Thẩm quyền giải quyết

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và Thủ trưởng cơ quan

thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, huyện thuộc tỉnh: có thẩm quyền giải

quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của

mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện: Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với

quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình. Giải quyết khiếu nại lần hai

đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết lần đầu

nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với

quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình. Giải quyết khiếu nại lần hai

đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

cấp huyện, Giám đốc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu

nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết. Giải quyết

tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm

vi quản lý của mình (Luật Khiếu nại, 2011).

b. Trình tự giải quyết khiếu nại:

Thụ lý giải quyết khiếu nại: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được

khiếu nại thuộc thẩm quyền mà không thuộc một trong các trường hợp được quy định

tại Điều 11 của Luật Khiếu nại năm 2011, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại

lần đầu phải thụ lý giải quyết; thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan,

tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước

cùng cấp biết, trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do.

24

Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu: Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu

không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải

quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu,

vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ

ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn

nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.

Xác minh nội dung khiếu nại:

* Trong thời hạn quy định tại Điều 28 của Luật Khiếu nại năm 2011, người

có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu có trách nhiệm sau đây:

+ Kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của

người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp, nếu khiếu nại đúng thì ra quyết

định giải quyết khiếu nại ngay;

+ Trường hợp chưa có cơ sở kết luận nội dung khiếu nại thì tự mình tiến hành

xác minh, kết luận nội dung khiếu nại hoặc giao cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp

hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm (sau đây gọi chung là người có trách

nhiệm xác minh) xác minh nội dung khiếu nại, kiến nghị giải quyết khiếu nại.

* Việc xác minh phải bảo đảm khách quan, chính xác, kịp thời thông qua các

hình thức sau đây:

+ Kiểm tra, xác minh trực tiếp tại địa điểm phát sinh khiếu nại;

+ Kiểm tra, xác minh thông qua các tài liệu, chứng cứ mà người khiếu nại,

người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp;

+ Các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

* Người có trách nhiệm xác minh có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

+ Yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có

liên quan cung cấp thông tin, tài liệu và chứng cứ về nội dung khiếu nại;

+ Yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có

liên quan giải trình bằng văn bản về nội dung liên quan khiếu nại;

+ Triệu tập người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có

liên quan;

+ Trưng cầu giám định;

25

+ Tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác minh khác theo quy định của pháp luật;

+ Báo cáo kết quả xác minh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả

xác minh.

* Báo cáo kết quả xác minh gồm các nội dung sau đây:

Đối tượng xác minh; Thời gian tiến hành xác minh; Người tiến hành xác

minh; Nội dung xác minh; Kết quả xác minh; Kết luận và kiến nghị nội dung giải

quyết khiếu nại.

* Tổ chức đối thoại:

Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu yêu cầu của người khiếu

nại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại còn khác nhau thì người giải quyết

khiếu nại tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền

và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung

khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại; việc đối thoại

phải tiến hành công khai, dân chủ. Kết quả đối thoại là một trong các căn cứ để giải

quyết khiếu nại.

* Quyết định giải quyết khiếu nại.

Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu gồm các nội dung sau đây: Ngày,

tháng, năm ra quyết định; tên, địa chỉ người khiếu nại, người bị khiếu nại; nội dung

khiếu nại; kết quả xác minh nội dung khiếu nại; kết quả đối thoại (nếu có); căn cứ

pháp luật để giải quyết khiếu nại; kết luận nội dung khiếu nại; giữ nguyên, sửa đổi,

bổ sung hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành

vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại;

việc bồi thường thiệt hại cho người bị khiếu nại (nếu có); quyền khiếu nại lần hai,

quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.

* Gửi quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định giải quyết khiếu

nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết

khiếu nại cho người khiếu nại, thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người giải quyết

khiếu nại hoặc người có thẩm quyền, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cơ quan,

tổ chức, cá nhân đã chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp

(Luật Khiếu nại, 2011).

26

1.3.3.3. Về giải quyết tranh chấp

a. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

- Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn: Tổ chức hòa giải tranh chấp giữa

các bên tranh chấp.

- Tòa án nhân dân: Giải quyết tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng

nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai 2013

và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất khi hòa giải không thành.

- Chủ tịch UBND cấp huyện, thị xã, thành phố: Giải quyết tranh chấp đất đai

mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ

quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 đối với tranh chấp giữa hộ gia đình, cá

nhân, cộng đồng dân cư với nhau; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì

có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân

theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Giải quyết tranh chấp đất đai mà đương

sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại

Điều 100 của Luật Đất đai 2013 đối với tranh chấp giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo,

người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì

giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến

Bộ trưởng Bộ TN&MT hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp

luật về tố tụng hành chính.

b. Trình tự giải quyết tranh chấp đất đai:

Trước hết, dù theo trình tự tố tụng tại Tòa án hay trình tự giải quyết tại cơ

quan hành chính thì thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã vẫn là bắt buộc. Tuy nhiên,

Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh

chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở, nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến

UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất

đai tại địa phương mình với thành phần Hội đồng hòa giải cấp xã gồm: Chủ tịch

hoặc Phó Chủ tịch UBND là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp

27

đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã,

phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; công

chức Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc

Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã), công chức Tư pháp

- Hộ tịch xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội

Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí

Minh… (Luật đất đai, 2013).

Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã được thực hiện trong

thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết. Việc hòa

giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải

thành hoặc hòa giải không thành của UBND cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến

các bên tranh chấp, lưu tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp. Trường hợp hòa

giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp

xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp

tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở

Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác để trình UBND cùng cấp

quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Nghị định

43, 2014).

Giải quyết tranh chấp đất đai theo trình tự tố tụng (dân sự): việc giải quyết

tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định chung tại Bộ luật tố tụng

dân sự. Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người

đại diện hợp pháp để khởi khiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền (Tòa án nơi có bất

động sản đó).

Người khởi khiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cớ đến Tòa án

có thẩm quyền, thực hiện việc tạm ứng án phí và hoàn chỉnh hồ sơ, đơn khởi kiện

theo yêu cầu của Tòa án. Khi Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án, sẽ tiến hành hòa

giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Khác với hoạt

động hòa giải trước khi khởi kiện, đây là giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải

quyết vụ án dân sự do chính Tòa án chủ trì và tiến hành. Nếu hòa giải thành thì Tòa

28

án sẽ lập biên bản hòa giải thành, hết 07 ngày mà các bên đương sự không thay đổi

ý kiến thì tranh chấp chính thức kết thúc. Nếu hòa giải không thành thì Tòa án quyết

định đưa vụ án ra xét xử. Ngay trong quá trình xét xử, các đương sự vẫn có thể thỏa

thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nếu không đồng ý các bên vẫn có quyền

kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Giải quyết tranh chấp đất đai theo trình tự hành chính: Người có đơn yêu cầu

giải quyết tranh chấp đất đai nộp đơn tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Chủ

tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao trách nhiệm cơ quan tham mưu giải

quyết. Cơ quan tham mưu có nhiệm vụ thẩm tra, xác minh vụ việc, tổ chức hòa giải

giữa các bên tranh chấp, tổ chức cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn

giải quyết tranh chấp đất đai (nếu cần thiết) và hoàn chỉnh hồ sơ trình Chủ tịch Ủy

ban nhân dân cùng cấp ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai.

Ngoài ra, nếu đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp

lần đầu của cấp huyện, tỉnh thì vẫn có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân theo quy

định của pháp luật tố tụng hành chính. Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các

cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội trong việc lựa chọn phương thức bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải

quyết tranh chấp đất đai.

1.3.4. Kết quả tiếp nhận và xử lý đơn thư, tranh chấp, khiếu nại về đất đai ở Việt

Nam giai đoạn 2017-2019

Trong những năm gần đây, tình hình đơn thư, tranh chấp, khiếu nại diễn biến

rất phức tạp. Số lượng đơn thư, tranh chấp, khiếu nại khởi kiện tại Toàn án nhân

dân các cấp liên quan đến lĩnh vực đất đai luôn chiếm tỉ lệ cao và có xu hướng ngày

càng tăng. Bên cạnh đó, việc giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại ở một số địa

phương chưa nhận được sự đồng tình của người dân, dẫn đến nhiều vụ việc kéo dài,

qua nhiều cấp khác nhau; nhiều bản án, quyết định của Toà án đã tuyên và có hiệu

lực pháp luật nhưng chưa được thực thi.

Tổng số lượt công dân đến cơ quan hành chính nhà nước các cấp từ năm

2017-2019 trên cả nước là 1.171.311 lượt (bình quân 390.437 lượt/năm), riêng năm

2019 là 424.985 lượt công dân. Trong đó:

29

Năm 2017, các cơ quan hành chính nhà nước các cấp đã tiếp 352.102 lượt

công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (giảm 8,5% so với năm 2016),

với 220.015 vụ việc, có 4.621 đoàn đông người (tăng 10,2%), đã giải quyết

26.120/31.142 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ 83,9% (khiếu

nại 20.718/24.540 vụ việc, đạt 84,4%). Qua giải quyết khiếu nại đã kiến nghị thu

hồi cho Nhà nước, trả lại cho tập thể, cá nhân 54,2 tỷ đồng, 32,7 ha đất; bảo vệ

quyền lợi cho 1.634 tập thể, cá nhân; kiến nghị xử lý vi phạm hành chính 416 người

(đã xử lý 297 người), chuyển cơ quan điều tra 12 vụ, 06 đối tượng (Chính phủ, 2017).

Năm 2018, các cơ quan hành chính nhà nước các cấp đã tiếp 394.224 lượt

công dân với 271.249 vụ việc (giảm 15% so với năm 2017), có 4.475 đoàn đông

người; xử lý 177.709 đơn đủ điều kiện; giải quyết 23.573 vụ việc khiếu nại, tố cáo

thuộc thẩm quyền (đạt 83,7%). Thông qua giải quyết khiếu nại đã kiến nghị thu hồi

cho nhà nước và trả lại cho công dân 2.968 tỷ đồng, 100 ha đất; trả lại quyền lợi cho

1.505 người, kiến nghị xử lý hành chính 469 người, chuyển cơ quan điều tra 06 vụ,

08 đối tượng. Tiếp tục kiểm ta, rà soát, giải quyết 531vụ việc đủ điều kiện ban hành

thông báo chấm dứt thụ lý (84,6%), đã ban hành 269 thông báo chấm dứt. Hiện có 13 địa

phương báo cáo không có vụ việc phức tạp, kéo dài (Thanh tra Chính phủ, 2019).

Năm 2019, các cơ quan hành chính nhà nước các cấp đã tiếp 424.985 lượt

công dân (tăng 1,6% so với năm 2018) với 256.231 vụ việc (giảm 5,5 % so với năm

2018), có 4.254 đoàn đông người (giảm 4,9 % so với năm 2018); xử lý 177.433 đơn

đủ điều kiện; giải quyết 2.133 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền (đạt

86,4%). Thông qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã kiến nghị thu hồi cho

Nhà nước và trả lại cho công dân 66 tỷ đồng, trên 15 ha đất; trả lại quyền lợi cho

1.433 người, kiến nghị xử lý hành chính 399 người, chuyển cơ quan điều tra 13vụ,

126 đối tượng (Thanh tra Chính phủ, 2020).

1.4. Tình hình tiếp dân, xử lý đơn thư tranh chấp, khiếu nại đất đai tại

Quảng Ninh

Tỉnh Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế

trọng điểm phía bắc, nơi hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã

hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong

30

những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt chính trị - kinh tế cùng

với việc triển khai nhiều dự án trọng điểm, phải thu hồi đất của người dân để thực

hiện các dự án. Do đó, tình hình tranh chấp, khiếu nại của công dân tiếp tục phát

sinh, phổ biến trong lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, nhờ có sự vào cuộc tích cực của

các cấp, ngành, địa phương, đơn vị liên quan, đặc biệt là sự chủ động, tích cực của

Thanh tra tỉnh, cấp uỷ, chính quyền địa phương, nên tỷ lệ vụ việc được giải quyết

hằng năm luôn đạt cao, đơn thư tồn đọng giảm đáng kể.

Giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019, nội dung đơn thư, khiếu kiện trên địa

bàn tỉnh Quảng Ninh chủ yếu vẫn tập trung vào một số lĩnh vực, như: công tác thu

hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, tài định cư, công tác quản lý đất đai,…

Giai đoạn này, cùng với việc tổ chức thực hiện Luật Đất đai, Luật khiếu nại và các

văn bản hướng dẫn thi hành, Chỉ thị số 09/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương

Đảng, Thông báo số 130-TB/TW của Bộ Chính trị, Thông báo số 321/TB-VPCP

của Văn phòng Chính Phủ, Chỉ thị số 14/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các

Chỉ thị của Tỉnh uỷ. Ủy ban nhân dân tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo Thủ trưởng các

sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố tập trung

giải quyết dứt điểm các vụ việc tranh chấp, khiếu nại, đặc biệt là các vụ việc khiếu

nại đông người, phức tạp, tồn đọng, kéo dài trên địa bàn; khẩn trương, nghiêm túc

tổ chức thực hiện các ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Tỉnh ủy

về giải quyết tranh chấp, khiếu nại. Do đó, số vụ việc công dân khiếu kiện vượt cấp

lên Trung ương giảm; cơ bản những vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài từ nhiều

năm đã được giải quyết dứt điểm, tạo được sự đồng thuận cao trong quần chúng

nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh, đảm bảo an ninh quốc

phòng, trật tự an toàn xã hội. Công tác tiếp dân, giải quyết tranh chấp, khiếu nại tiếp

tục được các cấp, các ngành trong tỉnh quan tâm, triển khai thực hiện theo đúng quy

định của Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, Luật tiếp công dân và các văn bản hướng

dẫn thi hành. Theo tổng hợp về công tác tiếp dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai

đoạn 2017-2019 thì các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp trong tỉnh đã tiếp

25.135 lượt công dân, với 17.658 vụ việc; có 532 lượt đoàn đông người, với 528 vụ

việc công dân đến khiếu nại, kiến nghị, phản ánh.

31

Bảng 1.1. Tổng hợp công tác tiếp dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Tiếp dân Tại cơ quan hành chính Trong đó tiếp đoàn

Nhà nước các cấp đông người

Năm Số vụ khiếu nại, tố cáo, Lượt tiếp Lượt đoàn Số vụ kiến nghị, phản ánh

7.053 178 175 2017 9.037

5.482 169 168 2018 6.985

5.123 185 185 2019 9.113

17.658 532 528 Tổng số 25.135

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo hàng năm của UBND tỉnh Quảng Ninh)

Tổng số vụ việc khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành

chính các cấp là 2.052 vụ việc, đã giải quyết được 1.680 vụ việc, đạt tỷ lệ 81,8%.

Phân tích từ kết quả giải quyết 1.680 vụ việc khiếu nại cho thấy: có 124 (7,3%) vụ

việc khiếu nại đúng; 1159 (68,9 %) vụ việc khiếu nại sai; 137 (8,1%) vụ việc khiếu

nại đúng một phần; 262 (15,7%) vụ việc công dân rút đơn. (Bảng 1.2)

Bảng 1.2. Tổng hợp công tác giải quyết khiếu nại tại tỉnh Quảng Ninh

Kết quả giải quyết Tổng số vụ

khiếu nại Tổng số vụ Khiếu Khiếu thuộc thẩm khiếu nại đã Khiếu nại có Rút nại đúng Năm quyền giải giải quyết nại sai đúng, có đơn

quyết sai

674 2017 544 55 49 381 59

698 2018 542 31 51 380 80

680 2019 594 38 35 398 123

262 Tổng 2052 1680 124 1159 135

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo hàng năm của UBND tỉnh Quảng Ninh)

1.5. Đánh giá chung

Nghiên cứu tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn đã giúp cho tác giả thực

hiện đề tài, hiểu được lĩnh vực nghiên cứu một cách thấu đáo về: cơ sở pháp lý,

thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai, Kinh

32

nghiệm trong và ngoài nước từ bài học kinh nghiệm, đề tài học, áp dụng phương

pháp tư duy hệ thống, logic trong nghiên cứu giải quyết các vấn đề phải dựa trên cơ

sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn trong mối quan hệ nhân quả.

Thực tiễn cho thấy có nhiều các nghiên cứu điều tra đánh giá kết quả công tác

tiếp dân, giải quyết đơn thư tranh chấp, khiếu nại tại nhiều địa phương trên toàn

quốc và trong những khoảng thời gian khác nhau. Các nghiên cứu đều được tác giả

nghiên cứu những kết quả đánh giá sát thực với từng địa phương, từ đó rút ra những

giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai.

Tuy nhiên để đánh giá, phân tích một cách đúng đắn và có tính chất chuyên

sâu theo từng thời điểm thì những đề tài nghiên cứ về lĩnh vực tranh chấp, khiếu nại

liên quan đất đai vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn hiện nay. Không chỉ

riêng các tỉnh thành trong cả nước cũng như tại các cấp huyện rất cần được

đánh giá thường xuyên hơn nữa, đặc biệt đối với huyện Vân Đồn là một huyện

trọng điểm của tỉnh Quảng Ninh việc đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu

khiếu nại về đất đai phải được chú tâm một cách thường xuyên và sâu sát nhằm

phục vụ cho mục đích chung của huyện nhà đó là đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn

hóa, xã hội, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị trên địa bàn.

33

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại

về đất đai thuộc thẩm quyền của UBND huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh và các

văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

2.1.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Thu thập thông tin trên địa bàn huyện Vân Đồn.

- Về thời gian: Thu thập số liệu, tài liệu từ giai đoạn từ 2017 đến 2019.

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8 năm 2019 đến tháng 8 năm 2020.

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng công tác quản lý, sử dụng

đất đai của huyện Vân Đồn

- Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường.

- Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Vân Đồn.

- Thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất đai của huyện Vân Đồn.

2.3.2. Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của huyện

Vân Đồn giai đoạn 2017 - 2019

- Công tác chỉ đạo và quy trình công tác tiếp dân, giải quyết tranh chấp,

khiếu nại về đất đai của huyện Vân Đồn.

- Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của huyện

Vân Đồn giai đoạn 2017 - 2019.

- Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của huyện

Vân Đồn thông qua ý kiến của người dân.

34

2.3.3. Khó khăn, tồn tại và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác

giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai tại huyện Vân Đồn

- Khó khăn, tồn tại trong công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai

tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giải quyết tranh

chấp, khiếu nại về đất đai tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp

Tìm hiểu các văn bản pháp luật, các văn bản dưới luật, các tạp chí chuyên

ngành và các tài liệu có liên quan đến đất đai, việc giải quyết đơn thư, khiếu nại,

tranh chấp trong lĩnh vực đất đai do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành;

nghiên cứu công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại và tranh chấp trong lĩnh vực

đất đai trên địa bàn huyện Vân Đồn.

Thu thập thông tin, số liệu liên quan đến giải quyết đơn thư, tranh chấp,

khiếu nại tại Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn; Phòng Tài nguyên và Môi trường

huyện, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện, Thanh tra huyện, Văn phòng

thuộc UBND huyện,...

2.4.2. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp

Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra trực tiếp

thông qua bộ câu hỏi có sẵn và điều tra bổ sung từ thực địa. Đối tượng điều tra bao

gồm 2 nhóm đối tượng:

- Nhóm đối tượng là các cán bộ quản lý thuộc các cơ quan quản lý nhà nước

phụ trách giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại đất đai bao gồm: Chủ tịch

UBND, Công chức địa chính 12 xã, thị trấn; 02 cán bộ, viên chức phụ trách tại Cơ

quan Kiểm tra -Thanh tra huyện; phòng Tài nguyên và Môi trường huyện; phòng

Tư pháp huyện.

+ Tổng số phiếu điều tra là: 30 phiếu.

+ Các tiêu chí đánh giá: Thông tin chung về đối tượng được điều tra. Nguyên

nhân chính dẫn đến tranh chấp, khiếu nại về đất đai. Hạn chế chính trong công tác

35

giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai. Giải pháp chính nâng cao hiệu quả giải

quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai.

- Nhóm đối tượng là các hộ gia đình, cá nhân có tranh chấp, khiếu nại về đất

đai trên địa bàn 12 xã, thị trấn của huyện Vân Đồn

+ Tổng số phiếu điều tra là: 120 phiếu (40 phiếu tiếp dân, 40 phiếu tranh

chấp, 40 phiếu khiếu nại) theo khu vực do biến động đất đai khác nhau (02 xã, thị trấn

trung tâm huyện:15 phiếu/xã, thị trấn; 5 xã giáp khu trung tâm huyện:10 phiếu/xã; 5 xã

miền núi, hải đảo: 5 phiếu/xã).

+ Các tiêu chí đánh giá: Thông tin chung về đối tượng được điều tra. Diện

tích sử dụng, các vướng mắc trong quá trình sử dụng (kiến nghị, phản ánh, tranh

chấp, khiếu nại), nguyên nhân, quá trình, chất lượng giải quyết, sự hài lòng và đề

xuất khác.

2.3.3. Phương pháp tổng hợp và xử lý tài liệu, số liệu

Trên cơ sở số liệu tài liệu thu thập được, tiến hành tổng hợp trình bày kết

quả: các số liệu được thu thập, tính toán, phân tích theo các bảng, biểu kết hợp với

phần thuyết minh. Các số liệu đầu vào thu thập được phân tích, xử lý bằng phần

mềm Excel để xử lý và tổng hợp dữ liệu phục vụ cho xây dựng báo cáo tổng hợp.

2.3.4. Phương pháp so sánh, đánh giá

Sau khi dùng phương pháp điều tra, thu thập tài liệu số liệu hiện có, tiến hành

so sánh, đánh giá tình hình và kết quả giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại hàng

năm... để phân tích và đưa ra kết luận.

36

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng công tác quản lý, sử dụng

đất đai của huyện Vân Đồn

3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

a. Vị trí địa lý

Vân Đồn là một huyện miền núi, hải đảo nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh

Quảng Ninh, được hợp thành bởi hai quần đảo Cái Bầu và Vân Hải, có ranh giới địa

lý được giới hạn như sau: Phía Bắc giáp huyện Tiên Yên, huyện Đầm Hà; Phía

Đông giáp huyện đảo Cô Tô; Phía Nam giáp thành phố Hạ Long, Phía Tây giáp TP

Cẩm Phả (UBND huyện Vân Đồn, 2019).

Hình 3.1: Vị trí địa lý huyện Vân Đồn (Khu kinh tế Vân Đồn)

Vân Đồn có tổng diện tích đất tự nhiên là 583,73 km2 (chiếm 9,55% diện tích

đất tỉnh Quảng Ninh) chia thành 12 đơn vị hành chính gồm thị trấn Cái Rồng, 11 xã

với hơn 81 làng mạc (7 xã trên đảo Cái Bầu là các xã Đông Xá, Hạ Long, Bình Dân,

Đoàn Kết, Đài Xuyên, Vạn Yên; 5 xã thuộc tuyến đảo Vân Hải là các xã Minh Châu,

Quan Lạn, Ngọc Vừng, Bản Sen, Thắng Lợi).

37

b. Địa hình, địa mạo

Huyện đảo Vân Đồn gồm 600 hòn đảo lớn nhỏ nằm trong vịnh Bái Tử Long, có

hơn 20 đảo đất có người ở. Lớn nhất là đảo Cái Bầu rộng 309,41km2 (chiếm 56%),

trong đó có thị trấn huyện lỵ và 6 xã. Địa hình các đảo đa dạng và phức tạp, có

nhiều đồi núi, chủ yếu là núi đá vôi độ cao từ 200 - 300m. Địa hình thấp dần từ phía

đông xuống phía tây, độ cao trung bình từ 40m so với mực nước biển, độ dốc trung

bình 250. Vùng núi trong đất liền có độ cao từ 100 đến 150 m so với mặt nước biển, bị

chia cắt mạnh có độ dốc lớn (từ 18-250), thường bị xói mòn, rửa trôi làm giảm độ phì

của đất (UBND huyện Vân Đồn, 2019).

c. Khí hậu, thời tiết

Vân Đồn bị chi phối bởi khí hậu duyên hải, ảnh hưởng và tác động của biển,

tạo ra những vùng sinh thái hỗn hợp miền núi ven biển. Trong năm thường chia làm

hai mùa rõ rệt: Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10; mùa đông khô

lạnh, có gió Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình

hàng năm đạt 23,3oC. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2095,3 -

2339,5mm/năm (UBND huyện Vân Đồn, 2019).

c. Thuỷ văn

Vân Đồn có tổng số 25 hồ đập chứa nước trong đó có một số đập khá lớn nằm

ở các xã như: Hồ chứa nước Đồng Dọng khoảng 679,0 ha; Hồ đập Khe Mai xã

Đoàn Kết trên 26,0 ha; Đập Voòng Tre xã Đài Xuyên có diện tích trên 12,0 ha. Hệ

thống hồ đập, sông suối ở Vân Đồn thường thiếu nước về mùa khô cho nên có ảnh

hưởng đến việc cung cấp nước cho nông nghiệp và sinh hoạt của con người.

Vân Đồn là huyện ít sông suối, chỉ có 1 con sông lớn là sông Voi Lớn có chiều

dài 18km. Hệ thống sông suối ở Vân Đồn thường nhỏ, ngắn và dốc. Chảy theo

hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi đổ ra biển (UBND huyện Vân Đồn, 2019).

3.1.1.2. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

a. Tài nguyên đất, rừng

Đất của Vân Đồn khá rộng, còn ở dạng tương đối hoang sơ, chia thành 2

khu, đất liền và các đảo. Đất đai khá đa dạng, có đủ các loại: đất liền, hải đảo; đất

38

mặt và cả thềm lục địa thuận lợi cho phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, đa

dạng hóa cây trồng vật nuôi.

Rừng ở Vân Đồn chiếm 68% diện tích đất tự nhiên, phong phú với nhiều chủng

loại, đặc biệt vườn Quốc gia Bái Tử Long gồm những khu rừng nguyên sinh quý giá

như Rừng Trà Ngọ, rừng Trâm Minh Châu, rừng Ba Mùn.. Đặc biệt đảo Ba Mùn là

một vùng rừng nguyên sinh, từ năm 1977 đã được Nhà nước quy định là rừng cấm

Quốc gia bảo vệ thiên nhiên (UBND huyện Vân Đồn, 2019).

b. Tài nguyên nước

Lượng nước ở Vân Đồn do địa hình chia cắt thành các đảo nên sông suối rất ít,

dòng chảy nhỏ, mùa mưa chiếm 75-85% lượng mưa cả năm. Cho nên lượng nước

mặt ở Vân Đồn chủ yếu là nước mưa và nước ở các hồ chứa bao gồm các hồ đập:

Voòng Tre, Khe Bòng, Khe Mai, Đồng Dọng...

Nước ngầm tương đối phong phú với trữ lượng đã tìm kiếm thăm dò tại khu

vực Kế Bào khoảng 14.200 m3/ngày đêm, có nơi đào khoảng 3- 4m đã đến mạch

nước ngầm (UBND huyện Vân Đồn, 2019).

c. Tài nguyên biển

Vân Đồn có thềm lục địa rộng lớn 1.620,83 km2 (gấp 3 lần diện tích đất nổi

của huyện) nằm trong vịnh Bái Tử Long, có nhiều vũng vịnh, bãi triều ven biển và

rừng ngập mặn tạo nên nguồn hải sản khá phong phú như: Mực ống, tôm, cua, cá,

nhuyễn thể, bào ngư, ốc biển,... có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Tập trung

nhiều ở vùng quần đảo Vân Hải, khả năng cho phép khai thác hàng năm từ 10-15

ngàn tấn; trong đó khai thác cá nổi khoảng từ 7- 9 ngàn tấn/năm.

d. Tài nguyên du lịch

Vân Đồn là một quần đảo nằm giữa đảo Cô Tô và vịnh Hạ Long có hàng

trăm hòn đảo lớn nhỏ với những hình thù đa dạng tạo nên một vẻ đẹp huyền diệu,

thêm vào đó sự hấp dẫn bởi các làng đảo như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc

Vừng,.... Do đó, Vân Đồn được xếp vào một trong trong 4 trung tâm du lịch của

tỉnh Quảng Ninh, đây là điều kiện thuận lợi để thu hút thêm nhiều lượt khách du

lịch thăm quan nghỉ dưỡng tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên (UBND huyện Vân Đồn,

2019).

39

3.1.1.3. Cảnh quan, môi trường

Môi trường Vân Đồn hiện được đánh giá trong lành, chưa bị tác động nhiều

bởi các yếu tố con người. Tuy nhiên, đã xuất hiện một số hiện tượng ô nhiễm do

triển khai nhiều dự án trọng điểm của tỉnh, của huyện, xây dựng cơ sở hạ tầng, vận

chuyển nguyên vật liệu ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường không khí,

bụi, nước thải, vật liệu thải.

Để phát triển kinh tế đi đôi bảo vệ bền vững môi trường, Vân Đồn tập trung

huy động nguồn lực phòng ngừa, kiểm soát tình trạng ô nhiễm môi trường sống như

xây dựng hệ thống thu gom và xử lý rác thải, chất thải trên địa bàn, đến nay tỷ lệ

chất thải rắn được thu gom đạt 75%; Xây dựng chương trình định kỳ 1 - 2 lần/tháng

thực hiện ngày Chủ nhật xanh; tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi

trường tới nhân dân,…(UBND huyện Vân Đồn, 2019).

3.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

3.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Kinh tế phát triển toàn diện, tốc độ tăng giá trị sản xuất luôn ở mức cao, bình

quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt 17,9%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo

đúng hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng

ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Tổng thu ngân sách nhà nước 5 năm ước đạt

2.474,2 tỷ đồng, tăng bình quân đạt 113%/năm. Thu nhập bình quân đầu người năm

2020 đạt khoảng 4.000 USD/người, gấp 2,3 lần so với năm 2015 (UBND huyện

Vân Đồn, 2020).

a. Khu vực kinh tế nông nghiệp

3.1.2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

Triển khai thực hiện tái cơ cấu ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản theo hướng

nâng cao giá trị sản xuất và phát triển bền vững và đã đạt những kết quả quan trọng:

Tốc độ tăng bình quân 10,7%/năm ước năm 2020 giá trị sản xuất đạt 1.720 tỷ đồng,

tăng 66,3% so với năm 2015.Tổng sản lượng thủy sản từ năm 2016 đến năm 2020

đạt 136.633 tấn, tăng bình quân năm 9,3%. Sản lượng lương thực có hạt bình quân

ước thực hiện giai đoạn 2016 - 2020 là 2.605,3 tấn/năm;. Số lượng đàn gia súc, gia

40

cầm trên địa bàn huyện bình quân giai đoạn 2016- 2020 đạt 91.311 con (UBND

huyện Vân Đồn, 2020).

b. Khu vực kinh tế công nghiệp

Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng bình quân 19,8%/năm,

năm 2020 giá trị sản xuất ước đạt 2.120 tỷ đồng, tăng 2,46 lần so với năm 2015. Số

cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tăng bình quân hàng năm 4,1%, đến năm

2020 đạt 308 cơ sở tăng 22,2% so với năm 2015. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu

giữ ổn định và tăng qua các năm như: cát thủy tinh tăng 18,3%; chế biên hải sản các

loại tăng 4,3%, gỗ xẻ tăng 7,9%… (UBND huyện Vân Đồn, 2020).

c. Khu vực kinh tế dịch vụ

Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành thương mại, dịch vụ đạt 23,6%, năm

2020 giá trị sản xuất đạt 2.275 tỷ đồng, tăng 56,7% so với năm 2015. Tổng mức bán

lẻ hàng hóa giai đoạn 2016 - 2020 đạt 6.015,9 tỷ đồng, tăng bình quân 20,8%/năm.

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tốc độ tăng bình quân 1%, năm 2020

ước đạt 4 triệu USD, tăng 5,3% so với năm 2015 (UBND huyện Vân Đồn, 2020).

3.1.2.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

* Dân số: Tính đến 30/6/2020 huyện Vân Đồn có 48.405 người, trong đó:

Dân số đô thị: 10.098 người chiếm 20,86%,

Dân số nông thôn: 38.307 người chiếm 79,14%.

Mật độ dân số bình quân toàn huyện là 82 người/km2. Tuy nhiên dân số phân

bố không đều, nơi có mật độ dân số cao như thị trấn Cái Rồng 3.918 người/km2, xã

có mật độ dân số thấp là Vạn Yên có 13 người/km2 (Chi cục thống kê huyện Vân

Đồn, 2020).

* Lao động và việc làm: Huyện có 29.293 lao động trong độ tuổi, trong đó:

Lao động thành thị: 5.992 người (tính cả công viên chức nhà nước).

Lao động nông thôn: 23.301 người.

Năm 2019 đã giải quyết việc làm cho 985 lao động chiếm 3,89%. Số lao

động trong độ tuổi chưa có việc làm 425 người chiếm 1,72% tổng số lao động.

Trong những năm qua huyện đã thu hút gần 200 dự án tạo việc làm cho hơn 3.000

41

lao động, cơ bản giải quyết được việc làm cho người lao động (Chi cục thống kê

huyện Vân Đồn, 2020).

3.1.2.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

Huyện Vân Đồn đã thu hút được nhiều nhà đầu tư lớn đầu tư các dự án mang

tính động lực từng bước đồng bộ hạ tầng Khu kinh tế. Trong giai đoạn 2016-2020

đã có 51 dự án vốn trong nước đầu tư với số vốn 24.273 tỷ đồng và 03 dự án FDI

với tổng số vốn đăng ký đầu tư 14,39 triệu USD đầu tư vào Khu kinh tế Vân

Đồn.Trong đó một số dự án lớn đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, khai thác như:

Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, đường cao tốc Hạ Long - Vân Đồn, đường nối

Cảng hàng không quốc tế đến Khu công viên phức hợp,... đã góp phần thuận lợi về

giao thông, kết nối và rút ngắn thời gian đi lại với các tỉnh, thành phố trong nước,

khu vực và quốc tế. (UBND huyện Vân Đồn, 2019).

3.1.3. Thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất đai của huyện Vân Đồn

3.1.3.1. Công tác quản lý nhà nước về đất đai của huyện Vân Đồn

* Việc tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất:

Thực hiện Luật Đất đai năm 2013 và các nghị định, văn bản hướng dẫn thi

hành, UBND huyện Vân Đồn đã tổ chức triển khai tập huấn những nội dung cơ bản

của Luật và Nghị định của Chính phủ cho cán bộ chủ chốt, chuyên môn của các

ban, ngành, đoàn thể, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn. Ban hành các văn bản

lãnh, chỉ đạo và thực hiện việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiêm

túc quy định pháp luật về đất đai. Do vậy, công tác quản lý đất đai trên địa bàn

huyện Vân Đồn được củng cố, cơ bản hoàn thành những nhiệm vụ và kế hoạch đề

ra theo đúng quy định của pháp luật.

* Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập

bản đồ hành chính

Thực hiện Chỉ thị 364/CT-HĐBT ngày 06/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng

(nay là Chính phủ) về việc hoạch định địa giới hành chính ở cả 3 cấp tỉnh, huyện,

huyện, xã; Nghị định số 52/2007/NĐ-CP ngày 02/4/2007 của Chính phủ về việc

điều chỉnh địa giới hành chính xã, đến nay huyện Vân Đồn đã hoàn thành việc phân

42

định ranh giới hành chính giữa các xã, thị trấn trong huyện và với các huyện trong

tỉnh, lập lại hồ sơ và chôn mốc giới.

* Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất

Thực hiện Kế hoạch đo đạc lập hồ sơ địa chính huyện Vân Đồn tổ chức triển

khai từ năm 2007 (đối với thị trấn Cái Rồng) và từ năm 2010 đối với các xã còn lại,

đến nay đã hoàn thành việc đo đạc lập hồ sơ địa chính với 12 xã, thị trấn.

- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1/1.000: diện tích 10.359,26 ha, thực hiện đo đạc lập

bản đồ địa chính trên 12 xã, thị trấn. Trong đó: thị trấn Cái Rồng được cấp có thẩm

quyền phê duyệt năm 2009, 11 xã còn lại được phê duyệt năm 2013.

- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1/2000: diện tích 1.082,77 ha, thực hiện đo đạc lập

bản đồ 11 xã, riêng thị trấn Cái Rồng không thực hiện đo đạc tỷ lệ bản đồ này.

- Bản đồ tỷ lệ 1/10.000: diện tích 35.717,84 ha chủ yếu là đất lâm nghiệp do đơn vị

Xí nghiệp 203 đo vẽ trên 12 xã, thị trấn được cấp có thẩm quyền phê duyệt năm 2010.

Công tác lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất được thực hiện theo quy định của

pháp luật về đất đai. Năm 2019, huyện Vân Đồn thực hiện kiểm kê đất đai đã lập

bản đồ hiện trạng sử dụng đất cho huyện và 12 xã, thị trấn.

* Công tác quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất huyện Vân Đồn giai đoạn 2010-2020 đã

được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt tại Quyết định số: 1454/QĐ-UBND ngày

29/5/2015. Đến nay, huyện đã điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất năm 2020 và công

bố, công khai theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ

cũng ban hành Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 17/2/2020 phê duyệt điều chỉnh

Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Vân Đồn đến năm 2040, xác định Vân Đồn

sẽ là khu kinh tế biển đa ngành, đa lĩnh vực, trung tâm công nghiệp giải trí có

casino, du lịch biển - đảo cao cấp, dịch vụ tổng hợp; là cửa ngõ giao thương quốc tế

để tạo ra những sản phẩm độc đáo, khác biệt, hiện đại với chất lượng cao, có thương

hiệu và khả năng cạnh tranh quốc tế; xây dựng đô thị biển đảo xanh, hiện đại, thông

minh, bền vững; có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng an ninh…

Việc lập kế hoạch sử dụng đất đã đi vào nền nếp, hàng năm UBND các xã,

thị trấn lập kế hoạch sử dụng đất trình UBND huyện phê duyệt trước tháng 11.

43

Việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất cơ

bản thực hiện theo kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

* Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất:

- Công tác giao đất: Tính đến 31/12/2019, UBND huyện Vân Đồn đã có

Quyết định giao đất cho các hộ gia đình cá nhân và các tổ chức sử dụng đất với

tổng diện tích 36.267,55 ha, chiếm 62,1% tổng diện tích tự nhiên (Hộ gia đình, cá

nhân sử dụng 15.621,70 ha; Các tổ chức kinh tế sử dụng 13.791,20 ha; Cơ quan đơn

vị của nhà nước 6.612,50 ha).

- Công tác cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất: Từ năm 2017 đến nay,

huyện Vân Đồn tạm dừng thủ tục cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất cho

đến khi quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch chung xây dựng

Vân Đồn theo định hướng là đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt được cơ quan nhà

nước có thẩm quyền phê duyệt.

- Thu hồi đất: Từ năm 2015 đến nay, UBND huyện Vân Đồn đã thực hiện thu hồi

đất 2.581,4ha với 3.399 tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng do giải phóng mặt

bằng thực hiện dự án. Việc thu hồi đất trên đã đảm bảo đúng trình tự thủ tục, người có

đất bị thu hồi được bồi thường thiệt hại theo chế độ, chính sách của Nhà nước.

* Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận:

Công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quan

tâm thực hiện ngày càng có hiệu quả. Công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính đã

được tiến hành cơ bản theo đúng quy định. Hồ sơ sau khi nghiệm thu được quản lý,

lưu trữ theo quy định. Tính luỹ kế đến tháng 6 năm 2019, diện tích đã cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình cá nhân là 11.353,09ha, trong đó Đất

ở đô thị đã cấp 48,93ha đạt 99,03% diện tích cần cấp; Đất ở nông thôn đã cấp

272,69ha đạt 87,82% diện tích cần cấp; Đất nông nghiệp đã cấp 11.031,5ha đạt

95,8% diện tích cần cấp.

* Công tác thống kê, kiểm kê đất đai

Hàng năm, các xã, thị trấn trong huyện đều thu thập và cập nhật số liệu về

diện tích đất đai theo mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng. Trong đó, công tác

kiểm kê đất đai được tiến hành định kỳ 5 năm một lần, công tác thống kê, cập nhật

44

biến động đất đai được tiến hành hàng năm. Năm 2019, huyện đã hoàn thành việc

tổng kiểm kê đất đai, chính thức đưa số liệu, tài liệu và bản đồ vào sử dụng. Nhìn

chung chất lượng công tác kiểm kê, thống kê đất đai qua các đợt đã được nâng cao.

* Công tác quản lý tài chính về đất đai:

Công tác quản lý tài chính về đất đai được triển khai thực hiện theo đúng quy

định của pháp luật. Huyện đã thực hiện ban hành nhiều văn bản và tổ chức thực

hiện việc quản lý thu, chi ngân sách như: tiền sử dụng đất, thuế thu nhập cá nhân từ

chuyển quyền bất động sản, lệ phí trước bạ, …

* Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất:

Công tác quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử

dụng đất đã được UBND huyện quan tâm thông qua việc quản lý, giám sát các hoạt

động chuyển nhượng, cho thuê đất, thu thuế, thu tiền sử dụng đất,... góp phần bảo

đảm quyền lợi cho người sử dụng đất và nguồn thu ngân sách.

Tuy nhiên, trong những năm qua là thời điểm giá đất tăng cao, vì vậy tình

trạng chuyển nhượng đất không đúng theo quy định của pháp luật diễn ra phổ biến;

tình trạng tự chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không đăng ký với cơ quan có

thẩm quyền dẫn đến công tác quản lý đất đai rất khó khăn.

* Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về

đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai:

Thời gian qua, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong quản lý, sử

dụng đất đai được huyện quan tâm chỉ đạo thực hiện và đã phát hiện, xử lý nhiều

trường hợp vi phạm, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật đất đai bảo đảm việc

thi hành pháp luật đất đai, từng bước chấn chỉnh và đưa công tác quản lý đất đai dần

vào nền nếp. Các phòng ban đã tham mưu xử lý một số vi phạm như: tự ý chuyển

đổi mục đích sử dụng đất ở xã Đài Xuyên, xây dựng công trình trái phép ở xã

Thắng Lợi, Lấn chiếm đất đai tại Vạn Yên,....; Giải quyết kịp thời các đơn thư phản

ánh, khiếu nại, tố cáo về đất đai, giải phóng mặt bằng trên địa bàn.

Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật đất đai hiện

nay vẫn còn nhiều hạn chế: số lượng vụ việc thanh tra thực hiện hàng năm

còn ít và bị động theo các vụ việc mà báo chí, dư luận phản ánh; việc kiểm tra

45

chấp hành pháp luật đất đai chưa thực hiện thường xuyên, chất lượng chưa

cao; việc xử lý vi phạm pháp luật đất đai còn chậm, chưa dứt điểm dẫn đến nhiều vụ

việc kéo dài làm giảm hiệu quả trong công tác thanh tra, kiểm tra.

* Công tác thanh tra, giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo:

Trong giai đoạn 2017-2019 tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo có xu hướng

tăng lên theo chiều hướng phức tạp, chủ yếu liên quan đến giải phóng mặt bằng.

Trước tình hình đó, huyện Vân Đồn đã có những chủ trương, chính sách triển khai

với quy mô rộng trên toàn bộ địa bàn huyện như: Tuyên truyền phổ biến giáo dục

về pháp luật, trong đó có phổ biến pháp luật khiếu nai, tố cáo; Thành lập Ban tiếp

công dân, tập huấn nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ liên quan xử lý đơn thư khiếu

nại, tố cấp xã, thị trấn; Định kỳ ngày mùng 1, 15 hàng tháng trực tiếp lãnh đạo

huyện, trưởng hoặc phó các ban, nghành sẽ tiếp công dân tại trụ sở UBND huyện để

lắng nghe, giải thích các vấn đề liên quan đất đất đai cũng như các lĩnh vực khác.

Với những nỗ lực đó tình hình tranh chấp đất đai; khiếu nại, tố cáo trong quản lý và

sử dụng đất đai từng bước được giảm thiểu, khiến tình hình chính trị ổn định, kinh

tế - xã hội càng ngày phát triển hơn.

* Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai:

Huyện Vân Đồn hiện có 01 tổ chức dịch vụ công về đất đai đó là Văn phòng

đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường. Đây là cơ quan

duy nhất được cung cấp thông tin có giá trị pháp lý về thửa đất và người sử dụng

đất, là nơi tiếp nhận, xử lý các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của công dân đối với

đất đai. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất được đảm bảo về chính sách, tài

chính, cơ sở vật chất và con người nhằm phát huy tối đa sức mạnh của cơ quan hoạt

động dịch vụ công này.

3.1.3.2. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Vân Đồn

Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2019, tổng diện tích đất tự nhiên toàn

huyện là 58.391,38 ha, bao gồm 12 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thị trấn và 11

xã. Đơn vị hành chính cấp xã có diện tích lớn nhất là xã Vạn Yên (10.582,8ha,

chiếm 18,12% diện tích toàn huyện), đơn vị hành chính cấp xã có diện tích nhỏ nhất

là thị trấn Cái Rồng (257,7ha, chiếm 0,44% diện tích tự nhiên). Huyện Vân Đồn có

46

diện tích đất đai đã được đưa vào khai thác sử dụng các mục đích phát triển kinh tế -

xã hội khá triệt để (chiếm 83,69% tổng diện tích tự nhiên). Hiện trạng sử dụng đất

huyện Vân Đồn năm 2019 được thể hiện chi tiết tại bảng 3.1.

Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2019 của huyện Vân Đồn

Diện tích

Cơ cấu

Thứ tự

Chỉ tiêu

(ha)

(%)

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN

100,00

58.391,38

1

ĐẤT NÔNG NGHIỆP

4.2438,38

72,68

1.1

Đất sản xuất nông nghiệp

1.857,01

3,18

1.2

Đất Lâm nghiệp

39.301,17

67,31

1.3

Đất nuôi trồng thuỷ sản

1.272,85

2,18

1.4

Đất nông nghiệp khác

7,35

0,01

2

ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP

6.427,54

11,01

2.1

Đất ở

554,80

0,95

2.2

Đất chuyên dùng

3445,93

5,90

2.3

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

15,09

0,03

2.4

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

78,76

0,13

2.5

Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng

2.332,00

3,99

2.6

Đất phi nông nghiệp khác

0,96

0,00

3

ĐẤT CHƯA SỬ DỤNG

9.525,45

16,31

3.1

Đất đồi núi chưa sử dụng

6.882,75

11,80

3.2

Đất đồi núi chưa sử dụng

72,96

0,12

3.3

Núi đá không có rừng cây

2.569,74

4,40 (Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vân Đồn)

Theo bảng 3.1 đất đai của huyện được chia làm 3 nhóm đất chính như sau:

- Nhóm đất nông nghiệp: có diện tích 42.438,38 ha chiếm 72,68% tổng diện

tích tự nhiên toàn huyện.

- Nhóm đất phi nông nghiệp: có diện tích 6.427,54 ha chiếm 11,01% tổng

diện tích tự nhiên toàn huyện.

- Nhóm đất chưa sử dụng: có diện tích 9.525,45 ha chiếm 16,31% tổng diện

tích tự nhiên toàn huyện.

47

3.2. Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của huyện

Vân Đồn giai đoạn 2017 - 2019

3.2.1. Công tác chỉ đạo và quy trình công tác tiếp dân, giải quyết tranh chấp,

khiếu nại về đất đai của huyện Vân Đồn

3.2.1.1. Công tác chỉ đạo giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai

Xác định vai trò của công tác tiếp dân, giải quyết tranh chấp, kiếu nại về đất

đai đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và ổn định chính trị trên địa bàn, Đảng bộ

và chính quyền huyện Vân Đồn luôn coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên,

cấp bách, lâu dài trong công tác quản lý Nhà nước góp phần đảm bảo thực hiện

quyền và nghĩa vụ của công dân. Đây còn là kênh thông tin giúp công tác lãnh đạo,

chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền huyện Vân Đồn sát với tình hình thực tiễn.

Thực hiện Thông báo số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 của Bộ Chính trị về

tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2008 đến nay và giải pháp

trong thời gian tới, Chỉ thị số 06/CT-UBND ngày 30/3/2017 của UBND tỉnh Quảng

Ninh về tăng cường công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; UBND

huyện Vân Đồn đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo như Công văn số 621/UBND

ngày 7/4/2017 về việc thực hiện Chỉ thị số: 06/CT-UBND của UBND tỉnh Quảng

Ninh; Kế hoạch số: 2223/KH-UBND ngày 30/10/2017 về việc tiếp tục kiểm tra, rà

soát, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phức tạp, kéo dài; Thông

báo số 29/TB-UBND ngày 18/01/2018 về một số chỉ đạo đối với công tác tiếp dân,

giải quyết đơn tư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Tổ chức hội nghị để quán

triệt nội dung kế hoạch, giao cho thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn xây

dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ;

xem xét, kết luận các vụ tranh chấp, khiếu nại thuộc thẩm quyền theo đúng quy định

của Luật khiếu nại, Luật đất đai và các quy định của pháp luật có liên quan đảm bảo

tính chính xác, khách quan, đáp ứng được nhiệm vụ chính trị của địa phương nhất là

các vụ việc phức tạp kéo dài nhằm giải quyết triệt để bức xúc của công dân.

Ủy ban nhân dân huyện Vân Đồn cũng đã chỉ đạo các đơn vị, cơ quan thông

tin (Phòng Văn hóa-Thông tin, Đài Truyền thanh-Truyền hình), các xã, thị trấn tăng

cường công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tiếp công dân, Luật khiếu nại, Luật Đất

đai và các văn bản pháp luật có liên quan triển khai thường xuyên sâu rộng với các

48

hình thức đa dạng, từng bước nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp

luật của các tầng lớp nhân dân. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính ở các cơ

quan, công sở, đổi mới lề lối làm việc, nâng cao năng lực, trách nhiệm của đội ngũ

cán bộ, công chức và trách nhiệm của người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ ở cơ sở. Xây dựng quy chế làm việc,

quy chế tiếp công dân. Định kỳ yêu cầu các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn báo cáo

tình hình diễn biến phát sinh các vụ việc khiếu kiện để tập trung xem xét, giải quyết

các vụ tranh chấp, khiếu nại trên địa bàn, xử lý các vụ việc đã tồn tại lâu dài và

phân nhóm được một số dạng tranh chấp, khiếu nại phức tạp, từ đó đưa ra những

giải pháp giải quyết đối với một số dạng tranh chấp, khiếu nại mới phát sinh nhất là

tăng cường việc đối thoại với công dân trong quá trình giải quyết để tuyên truyền,

giải thích quy định của pháp luật, thống nhất biện pháp giải quyết chấm dứt việc

khiếu kiện.

Công tác tiếp công dân định kỳ của huyện Vân Đồn diễn ra vào ngày mùng

01 và 15 hàng tháng, thành phần tham dự gồm đồng chí Chủ tịch UBND huyện,

đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện phụ trách, lãnh đạo Hội đồng nhân dân huyện,

các thành viên khác theo Quyết định số 2277/QĐ-UBND ngày 26/6/2018 của

UBND huyện về việc kiện toàn thành viên Ban tiếp công dân huyện Vân Đồn. Sau

mỗi kỳ tiếp công dân đều có thông báo kết quả tiếp công dân và ý kiến chỉ đạo của

UBND huyện đối với các kiến nghị, phản ánh của công dân thuộc thẩm quyền để

các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn tổ chức thực hiện đảm bảo thời gian giải quyết,

tránh gây bức xúc cho công dân.

Công tác tiếp công dân thường xuyên gồm 01 đồng chí Phó Chánh Văn

phòng HĐND&UBND huyện kiêm giữ chức Trưởng ban tiếp công dân có trình độ

thạc sĩ và 01 nhân viên Văn phòng HĐND&UBND huyện có trình độ Đại học Luật

thường trực tiếp công dân tất cả các ngày làm việc trong tuần thực hiện ghi chép,

theo dõi số lượt tiếp dân, vào sổ đăng ký đơn thư của công dân theo đúng quy định.

Công tác tiếp công dân định kỳ của cấp xã diễn ra vào ngày thứ 5 hàng tuần,

gồm đồng chí Chủ tịch UBND xã, công chức Tư pháp, công chức Địa chính - Xây

dựng, công chức Văn phòng, đại diện UB MTTQ và các đoàn thể cấp xã. Cán bộ

49

tiếp công dân thường xuyên là công chức tư pháp hoặc công chức văn phòng, có

trình độ chuyên môn từ đại học trở lên.

Hình thức, chế độ thông tin giữa cấp huyện với cấp xã và phòng ban được

thực hiện vào thứ năm hàng tuần theo chỉ đạo tại Công văn số 14/UBND-TD ngày

03/01/2018 của UBND tỉnh và báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ hàng tháng.

Việc triển khai một số ứng dụng phần mềm trên quy mô toàn huyện như: Cổng

thông tin điện tử, hệ thống Email công vụ, phần mềm quản lý, sử dụng đất, hệ thống

phần mềm quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp đã được triển khai đến các cơ

quan, đơn vị, các xã, thị trấn thuộc huyện phục vụ hiệu quả cho công tác chỉ đạo

điều hành và tác nghiệp của cán bộ, công chức tại các đơn vị.

Như vậy có thể thấy công tác chỉ đạo giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất

đai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói chung và của huyện Vân Đồn nói riêng được

cấp đảng, chính quyền quan tâm ngay từ việc tiếp dân ban đầu, được thể hiện rõ

ràng, công khai đến các công dân và nghiêm túc thực hiện theo quy định.

3.2.1.2. Quy trình công tác tiếp dân, xử lý và phân loại đơn thư

Công tác tiếp công dân, xử lý và phân loại đơn thư phản ánh, kiến nghị, tranh

chấp, khiếu nại, tố cáo được UBND huyện Vân Đồn giao Ban tiếp dân của huyện

phối hợp cùng Cơ quan Kiểm tra-Thanh tra huyện thực hiện. Tại trụ sở Tiếp công

dân huyện có niêm yết nội dung, quy chế, lịch tiếp công dân, hệ thống Camera để

công dân thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ khi đến gửi đơn thư.

Quy trình tiếp công dân được niêm yết tại Trụ sở Tiếp công dân huyện gồm 03

Bước 1. Giai đoạn tiếp xúc ban đầu

bước thể hiện theo Hình 3.2 và trình bày chi tiết tại Mục 1.3.3. Phần Tổng quan tài liệu.

Bước 2. Giai đoạn chính tiếp dân

Bước 3.Giai đoạn kết thúc

Quy trình tiếp công dân

Hình 3.2: Sơ đồ quy trình tiếp công dân tại Trụ sở tiếp dân của huyện Vân Đồn

(Nguồn: UBND huyện Vân Đồn)

50

Trong khi tiến hành tiếp dân, cán bộ tiếp dân thực hiện phân loại và xử lý

đơn thư theo quy trình tiếp dân và xử lý đơn thư gồm 3 bước theo Hình 3.2 và trình

bày chi tiết tại Mục 1.3.3. Phần Tổng quan tài liệu.

Bước 1. Tiếp nhận đơn thư

Bước 2. Phân loại đơn thư

Bước 3. Xử lý đơn thư

Quy trình phân loại, xử lý đơn thư

Hình 3.3: Sơ đồ quy trình phân loại, xử lý đơn thư tại UBND huyện Vân Đồn

(Nguồn: UBND huyện Vân Đồn)

Qua quy trình công tác tiếp dân, xử lý và phân loại đơn thư tại huyện Vân

Đồn có thể thấy: Công tác tiếp công dân, xử lý và phân loại đơn thư phản ánh, kiến

nghị, tranh chấp, khiếu nại, tố cáo được UBND huyện Vân Đồn áp dụng theo đúng

quy định tại Luật khiếu nại 2011, Luật Đất đai 2013, Luật tiếp dân năm 2013 và các

văn bản hướng dẫn.

Bảng 3.2. Tổng hợp phiếu điều tra về thực hiện công tác tiếp dân, xử lý đơn thư

Tổng số

Ý kiến khác

Đúng quy định

Chưa đúng quy định

TT Đơn vị hành chính

Số phiếu

Số phiếu

Số phiếu

Số phiếu

1 Xã Đông Xá 2 Xã Hạ Long

Tỷ lệ (%) 8,3 12,5

Tỷ lệ (%) 7,5 10,8

9 13

10 15

1 2

Tỷ lệ (%) 0,8 1,7

Tỷ lệ (%) - -

- -

3 Xã Vạn Yên 4 Xã Bình Dân 5 Xã Đoàn Kết

8,3 8,3 8,3

7,5 8,3 7,5

9 10 9

10 10 10

1 - 1

0,8 - 0,8

- - -

- - -

6 Xã Đài Xuyên 7 Xã Bản Sen 8 Xã Minh Châu 9 Xã Quan Lạn

8,3 4,2 4,2 4,2

8,3 4,2 3,4 3,4

10 5 4 4

10 5 5 5

- - 1 1

- - 0,8 0,8

- - - -

- - - -

10 Xã Ngọc Vừng

4,2

4,2

5

5

-

-

-

-

51

11 Xã Thắng Lợi 12 T.Trấn Cái Rồng

5 15

4,2 12,5

5 13

4,2 10,8

- 2

- 1,7

- -

- -

13 UBND huyện (Ban

15

12,5

13

10,8

2

1,7

-

-

tiếp dân)

Tổng số

-

-

120

100

109

90,9

11

9,1

(Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực tế)

Theo kết quả điều tra (được tổng hợp tại bảng 3.2) cho thấy đánh

giá của người dân về việc thực hiện công tác tiếp dân, thời gian giải quyết các vụ

việc theo quy định tại Ban tiếp công dân huyện Vân Đồn và UBND xã, thị trấn có

109/120 phiếu đánh giá là đúng quy định và 11/120 phiếu có ý kiến khác. Như vậy

có thể nói công tác tiếp dân tại huyện Vân Đồn được đánh giá cơ bản đảm bảo đúng

quy trình và quy định.

3.2.2. Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của huyện

Vân Đồn giai đoạn 2017 - 2019

Kể từ khi Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập khu kinh tế Vân Đồn

với mục tiêu trở thành trung tâm du lịch sinh thái biển đảo chất lượng cao và dịch

vụ cao cấp, đến nay kinh tế - xã hội của huyện đã có sự thay đổi rõ rệt, rất nhiều dự

án, công trình xây dựng đã và đang được gấp rút triển khai góp phần thay đổi diện

mạo Vân Đồn. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực vẫn còn

có mặt hạn chế, cơ chế chính sách của nhà nước có nhiều thay đổi, một số chính

sách chưa phù hợp với điều kiện thực tế địa phương, ý thức, trình độ hiểu biết về

pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế dẫn đến tình trạng tranh chấp, khiếu nại

của công dân có những diễn biến phức tạp qua các năm.

Theo tổng hợp, bình quân mỗi năm trên địa bàn huyện Vân Đồn có hàng

trăm lượt công dân đến trụ sở Tiếp công dân của huyện để kiến nghị, phản ánh,

khiếu nại, tố cáo. Giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019, toàn huyện đã tiếp 1.251

lượt công dân với 1.084 vụ, tiếp 48 lượt đoàn đông người với 48 vụ việc. Qua việc

tiếp công dân, giải quyết đơn thư, kiến nghị, phản ánh, tranh chấp, khiếu nại giúp

chính quyền địa phương nắm được tâm tư, nguyện vọng của người dân, mặt khác

cũng phản ánh được tình hình quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực giúp các cơ

quan hành chính Nhà nước khắc phục, hạn chế các yếu kém, sai phạm thông qua

phản ánh của người dân. Kết quả công tác tiếp dân thể hiện qua bảng 3.3 như sau:

52

Bảng 3.3. Tổng hợp công tác tiếp dân trên địa bàn huyện Vân Đồn

giai đoạn 2017 - 2019

Trong đó tiếp đoàn Tiếp dân trên địa bàn huyện đông người

Năm Số vụ khiếu nại, tố cáo, Lượt tiếp Lượt đoàn Số vụ kiến nghị, phản ánh

281 05 05 2017 271

370 25 25 2018 382

433 18 18 2019 598

1.084 48 48 Tổng số 1.251

(Nguồn: Tổng hợp Báo cáo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tham

nhũng năm 2017-2019 của Cơ quan kiểm tra - Thanh tra huyện Vân Đồn)

Tổng số đơn tiếp nhận trong năm của 3 năm (từ năm 2017 đến 2019) là

1.777 đơn, số lượng đơn qua các năm có xu hướng tăng, cao nhất là năm 2019 với

628 đơn thư, chiếm 35,3% tổng số đơn thư. Bình quân mỗi năm có 592 đơn thư

được tiếp nhận tại trụ sở tiếp dân của UBND huyện Vân Đồn. Nội dung kiến nghị,

phản ánh, khiếu nại, tranh chấp, tố cáo của công dân chủ yếu về lĩnh vực đất đai

như: bồi thường giải phóng mặt bằng; hỗ trợ, bố trí tái định cư; thu hồi đất; cấp

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tố cáo cán bộ quản lý làm sai chính sách, tiêu

cực trong quản lý đất đai…

Sau khi kiểm tra, phân loại, xử lý thì tổng số đơn không đúng thẩm quyền giải

quyết của UBND huyện là 164 đơn, chiếm 9,2% tổng số đơn thư. Nguyên nhân là

do công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nhận thức pháp luật về đất đai của

nhân dân còn nhiều hạn chế đã gửi đơn đến nhiều cấp, nhiều ngành mặc dù vụ việc

đang được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục;

trong đó có một số vụ khiếu nại vượt cấp, không thuộc thẩm quyền giải quyết. Tuy

nhiên, cán bộ tiếp dân, xử lý đơn thư đã giải thích kịp thời và hướng dẫn công dân

đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được giải quyết theo đúng quy định của

pháp luật.

53

Tổng số đơn thư tiếp nhận thuộc thẩm quyền giải quyết từ năm 2017 đến

2019 của UBND huyện là 1.613 đơn. Tổng đơn thư năm trước chuyển sang là 21

đơn. Tổng số đơn phải giải quyết trong năm của 3 năm là 1.634 đơn, trong đó phân

loại đơn có 1.441 đơn kiến nghị, phản ánh chiếm 88,2 %; 58 đơn tranh chấp chiếm

3,5%; 127 đơn khiếu nại chiếm 7,8%; 08 đơn tố cáo chiếm 0,5%. Tỷ lệ đơn thư kiến

nghị, phản ánh đều chiếm tỷ lệ cao qua từng năm, trung bình 81,1%. Tỷ lệ đơn thư

tranh chấp, khiếu nại chiếm tỷ lệ dưới 10% cho thấy công tác quản lý Nhà nước

trong các lĩnh vực của các cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn huyện Vân

Đồn là khá tốt.

Công tác tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn đã được Cơ quan Kiểm tra -Thanh

tra, Ban tiếp công dân huyện Vân Đồn tham mưu xử lý chính xác, kịp thời, giúp

công tác giải quyết đơn thư kiến nghị, phản ánh, tranh chấp, khiếu nại đảm bảo theo

đúng trình tự, thủ tục của Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, hạn chế tình trạng khiếu

kiện kéo dài của công dân.

Bảng 3.4. Tổng hợp tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn thư trên địa bàn huyện

Vân Đồn giai đoạn 2017 - 2019

Tổng Đơn Phân loại đơn phải giải quyết Đơn Tổng số đơn thuộc năm số đơn Kiến tiếp thẩm Năm trước phải nghị, Tranh Khiếu Tố nhận quyền chuyển giải phản chấp nại cáo trong giải sang quyết ánh năm quyết

2017 534 499 7 506 452 15 34 05

2018 591 491 9 500 422 24 52 02

2019 652 623 5 628 567 19 41 01

Tổng 1.777 1.613 21 1.634 1.441 58 127 08

(Nguồn: Tổng hợp Báo cáo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tham

nhũng năm 2017-2019 của Cơ quan kiểm tra - Thanh tra huyện Vân Đồn)

Trong tổng số 58 đơn tranh chấp với 58 vụ việc phải giải quyết trong 3 năm

(năm 2017 đến 2019) thì 100% các vụ việc tranh chấp thuộc lĩnh vực đất đai. Cao

54

nhất là năm 2018 với 24 vụ chiếm 41,4% tổng số vụ, thấp nhất là năm 2017 với 15

vụ chiếm 25,7% tổng số vụ của cả giai đoạn. Các vụ tranh chấp về đất đai trên địa

bàn huyện Vân Đồn tuy không nhiều nhưng phát sinh phức tạp do đất đai ngày càng

có giá trị kinh kế, vì thế mà các vụ tranh chấp xảy ra thường là anh, chị, em ruột,

hàng xóm với nhau gây mất trật tự an toàn xã hội, hạn chế những khiếu nại phát

sinh không đáng có. Tranh chấp về ranh giới thửa đất chiếm một tỉ lệ khá cao so với

tổng số vụ việc tranh chấp (chiếm 62,1%). Nội dung tranh chấp này tập trung về

ranh giới giữa các thửa đất của các hộ liền kề, tranh chấp về đường đi giữa các hộ

gia đình, ranh giới tường rào,… Nguyên nhân là do ranh giới thửa đất giữa người sử

dụng trước đây thường chưa được xác định một cách rõ ràng, quá trình canh tác, sử

dụng đất đã làm thay đổi ranh giới, hệ thống bản đồ chưa đảm bảo độ chính xác cao,

bên cạnh đó công tác quản lý nhà nước về đất đai ở một số xã còn chưa tốt.

Tranh chấp về quyền sử dụng đất chiếm 31% tổng số vụ tranh chấp, chủ yếu

về phân chia tài sản thừa kế, tranh chấp về quyền sử dụng đất do yếu tố lịch sử để

lại, tranh chấp giữa hai bên đã có thỏa thuận mua bán bằng giấy tờ viết tay nhưng

không hợp tác để làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Tranh

chấp chiếm tỉ lệ thấp nhất là đòi lại nhà, đất chiếm 6,9% trong tổng số vụ tranh

chấp. Phát sinh là do hộ gia đình không cần dùng đến nhà, đất đã cho hộ khác mượn

nay giá đất tăng hoặc gia đình có nhu cầu sử dụng nên đòi lại nhưng hộ mượn đất,

nhà không trả; chuyển đi sinh sống ở nơi khác để lại đất đai nhờ trông coi,... Với số

lượng các vụ tranh chấp phát sinh ở nhiều dạng và phức tạp đã trở thành vấn đề

nóng đòi hỏi cấp ủy Đảng, chính quyền các xã, thị trấn phải giải quyết tốt thông qua

hòa giải, để giữ được mối đoàn kết trong thôn xóm, nhằm hạn chế những khiếu nại

phát sinh không đáng có lên cấp trên. (Bảng 3.5)

Trong tổng số 127 đơn khiếu nại với 127 vụ việc phải giải quyết của 3 năm từ

năm 2017 đến năm 2019 thì vụ việc thuộc lĩnh vực đất đai là 124 đơn chiếm tỷ lệ

97,6%. Tỷ lệ đơn khiếu nại thuộc lĩnh vực đất đai hàng năm đều chiếm tỷ lệ cao,

nhất là năm 2018 do thông tin Vân Đồn trở thành một trong 03 khu kinh tế của Việt

Nam khi Luật Đặc khu được trình Quốc hội thông qua; nhiều công trình, dự án

trọng điểm được đầu tư, xây dựng như Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, cao tốc

55

Hạ Long - Vân Đồn, khu đô thị Phương Đông,… đã phát sinh nhiều vụ khiếu nại

liên quan đến đất đai. Khiếu nại về thu hồi đất, bồi thường, GPMB thường chiếm tỷ

lệ cao với 68,5% so với tổng số các đơn thư khiếu nại. Để thực hiện được các dự

án, Nhà nước đã tiến hành thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, UBND huyện là cơ

quan triển khai thực hiện các quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư cho các hộ dân có đất bị thu hồi để thực hiện các dự án. Tuy nhiên, vấn đề bồi

thường GPMB chưa thỏa đáng, còn những sai sót nhất định đã gây nên nhiều bức

xúc trong nhân dân, khiến công tác giải phóng mặt bằng triểu khai dự án bị gián

đoạn, chậm trễ, gặp nhiều khó khăn do phải giải quyết đơn khiếu nại sau đó tiếp tục

vận động, thuyết phục người dân bàn giao đất để thực hiện dự án. Nguyên nhân

khiếu nại ở nội dung này chủ yếu do người dân đòi giá bồi thường cao hơn so với

giá nhà nước quy định, giá bồi thường của các dự án thấp hơn so với giá thị trường

điển hình điển hình như dự án đầu tư Khu dân cư Trung tâm Thị trấn Cái Rồng do

Công ty cổ phân đầu tư và phát triển Vương Long làm chủ đầu tư có giá đất bồi

thường (đất ở) cao nhất là 7.000.000 đồng, giá đất nông nghiệp 42.000.000 đồng;

sau khi hoàn thành hạ tầng, dự án chuyển nhượng có giá trung bình từ 25-30 triệu

đồng/m2, một số cán bộ làm công tác bồi thường, GPMB tính thiếu khối lượng, áp

dụng chính sách không đầy đủ, bố trí TĐC không đúng đối tượng, công tác tuyên

truyền, vận động nhân dân chưa kịp thời, sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các ban

ngành, đoàn thể đã gây bức xúc, mất niềm tin của người dân vào chính quyền. Do

vậy, việc bồi thường giải phóng mặt bằng đang là một vấn đề nóng của huyện Vân

Đồn trong giai đoạn hiện nay.

Khiếu nại về công tác quản lý đất đai có 37/227 đơn khiếu nại, chiếm 29,1%

tổng số đơn thư. Việc khiếu nại này là do nguyên nhân sai sót của cơ quan có thẩm

quyền như việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về tên chủ sử dụng, diện

tích, giao đất không đối tượng giao đất, hạn mức giao đất, nghĩa vụ tài chính khi

được giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,… Nguyên nhân là do việc

cấp GCNQSDĐ theo bản đồ địa chính còn nhiều sai sót do diện tích thực tế còn sai

lệch với bản đồ, quy hoạch treo hoặc do nhận thức của người dân còn hạn chế. Tiêu

biểu như dự án Xây dựng quần thể sân Golf, khách sạn 5 sao và khu nghỉ dưỡng tại

56

Ao Tiên có chủ trương thu hồi đất, Quyết định thu hồi đất từ năm 2006 tại xã Hạ

Long, huyện Vân Đồn cho đến nay dự án vẫn chưa triển khai GPMB nên việc cấp

đổi, cấp mới hay các giao dịch về đất đai vẫn tạm dừng ảnh hưởng đến 295 hộ gia

đình, cá nhân có đất nằm trong dự án. Ngoài ra còn nội dung khiếu nại quyết định

hành chính về đất đai như xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp về đất đai do một số

bộ phận người dân không nắm rõ về Luật Đất đai và Luật khiếu nại nên phát sinh

tình trạng vi phạm pháp luật hoặc các trường hợp lấn chiếm, vi phạm quy tắc xây

dựng; một số người mặc dù khá am hiểu pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, khi

bị phát hiện và xử phạt thì ngoan cố khiếu nại. Bên cạnh đó, cũng có phần trách

nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết, như: ra quyết định

xử phạt sai đối tượng, bị nhầm lẫn, sai tên chủ sử dụng; việc thi hành quyết định xử

phạt có sai sót hoặc sai pháp luật; việc ra quyết định không đúng căn cứ pháp luật;

việc ra quyết định quá nhẹ hoặc quá nặng (về mức phạt hoặc hình thức phạt) hoặc

thiếu trách nhiệm, thiếu khách quan.. (Bảng 3.5)

Số lượng đơn thư tranh chấp, khiếu nại trong năm 2019 giảm rõ rệt so với năm

trước phần lớn là do sự tập trung cao độ của cả hệ thống chính trị vào công tác

GPMB, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đặc biệt là công tác giải quyết tranh chấp,

khiếu nại được chú trọng nên số lượng đơn thư được giải quyết triệt để và kịp thời.

Bảng 3.5. Phân loại nội dung tranh chấp, khiếu nại trên địa bàn

huyện Vân Đồn giai đoạn 2017 - 2019

Tranh chấp

Khiếu nại

Nội dung

Nội dung

Đơngiải quyết

Đơngiải quyết

Năm

Khác

Khác

Số đơn

Số vụ

Số đơn

Số vụ

Quản lý đất đai

Ranh giới thửa đất

Đòi lại nhà, đất

Quyền sử dụng đất

Thu hồi, bồi thường, GPMB

2017 2018 2019 Tổng

15 24 19 58

15 24 19 58

9 12 15 36

1 3 0 4

5 9 4 18

0 0 0 0

34 52 41 127

34 52 41 127

7 18 12 37

26 32 29 87

1 2 0 3

(Nguồn: Tổng hợp Báo cáo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tham

nhũng năm 2017-2019 của Cơ quan kiểm tra - Thanh tra huyện Vân Đồn )

57

Trong ba năm (từ 2017 đến 2019) số lượng các vụ tranh chấp, khiếu nại về

đất đai mà các cơ quan hành chính của huyện Vân Đồn đã xem xét, xác minh, giải

quyết luôn chiếm tỷ lệ tăng cao theo đà tăng của số vụ việc tranh chấp, khiếu nại.

Trong số 58 vụ việc tranh chấp về đất đai, số đơn thư đã giải quyết thành

công đạt 53/58 tổng số vụ tranh chấp về đất đai chiếm 91,4%, đây là tỷ lệ khá cao.

Tỷ lệ này cho thấy việc giải quyết tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện Vân Đồn

được thực hiện khá tốt từ việc chú trọng, quan tâm công tác hòa giải cho đến thực

hiện đúng theo quy định của pháp luật để giữ mối đoàn kết trong nội bộ nhân dân.

Số vụ tranh chấp đất đai tồn động chiếm 8,6% đang trong thời hiệu, quá trình xác

minh. Nguyên nhân chủ yếu do các vụ tranh chấp không có giấy tờ, hồ sơ, từ chỗ

cho mượn, cho tặng, thừa kế không rõ ràng đến khi đất đai có giá bắt đầu phát sinh

tranh chấp.Trong quá trình giải quyết tranh chấp, một số vụ việc còn mang tính chủ

quan, phiến diện, thiếu căn cứ. Khi các bên liên quan vắng mặt hoặc không liên lạc

được, không đồng ý thì không tổ chức đối thoại, không xem xét kỹ nguyên nhân để

giải quyết thấu tình, đạt lý. Một số cán bộ phụ trách giải quyết chưa tích cực giải

quyết triệt để hồ sơ để tình trạng tồn đọng kéo dài, gây bức xúc cho người dân.

(Bảng 3.6)

Trong số 124 vụ việc khiếu nại về đất đai, số đơn thư đã được giải quyết là

115 vụ chiếm 92,7%. Kết quả này thể hiện sự cố gắng, nỗ lực của cơ quan hành

chính nhà nước huyện Vân Đồn trong công tác giải quyết khiếu nại liên quan đến

đất đai thông qua việc chú trọng đối thoại với người khiếu nại, tăng cường phối hợp

giữa các ngành, các cấp với nhau để có biện pháp giải quyết đúng pháp luật, có lý,

có tình, khả thi từ đó chất lượng quyết định giải quyết khiếu nại ngày càng nâng lên;

việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại được chú trọng và đạt kết quả cao hơn.

Tuy vẫn còn 09 vụ chiếm 7,3% khiếu nại đất đai tồn đọng cần phải xác minh trên

nhiều góc độ và rất nhiều thành phần tham gia xác minh, dẫn đến thời hạn xử lý kéo

dài qua các năm, đẩy tồn đọng sang các năm khác liên quan đến giải quyết cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường,

GPMB khi nhà nước thu hồi đất. Nhưng nhìn chung, công tác giải quyết khiếu nại

58

về đất đai của huyện Vân Đồn đã được thực hiện tương đối tốt, cơ bản theo trình tự,

thủ tục quy định. (Bảng 3.6)

Bảng 3.6. Kết quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai tại huyện Vân

Đồn giai đoạn 2017- 2019

Tranh chấp Khiếu nại

Tỷ lệ Tỷ lệ Số đơn Số đơn Số đơn Số đơn Số đơn tồn Số đơn tồn Năm đã giải tồn đã giải tồn đơn đọng đơn đọng quyết đọng quyết đọng (%) (%)

0 33 31 15 15 0 6,1 2 2017

8,3 50 46 24 22 2 8,0 4 2018

15,8 41 38 19 16 3 7,3 3 2019

53 5 7,3 9 Tổng số 5 8,6 124 115

(Nguồn: Tổng hợp Báo cáo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tham

nhũng năm 2017-2019 của Cơ quan kiểm tra - Thanh tra huyện Vân Đồn )

Phân tích từ kết quả giải quyết tranh chấp đất đai cho thấy: có 27 vụ việc hoà

giải thành chiếm 51,0 %; 21 vụ việc có quyết định của UBND huyện chiếm 39,6%;

05 vụ việc có Bản án của Toà chiếm 9,4%. Tỷ lệ vụ việc tranh chấp hoà giải thành

công đạt khá cao cho thấy công tác phân tích, giải thích, khuyến khích giải quyết

theo hướng thoả thuận về quyền lợi giữa các bên được các xã, thị trấn trên địa bàn

thực hiện tương đối tốt cũng như nhận thức của các đương sự về căn nguyên và hậu

quả của việc tranh chấp. Tuy nhiên, tỷ lệ vụ việc tranh chấp có quyết định của

UBND huyện cũng chiếm tỉ lệ không nhỏ chủ yếu do một số đối tượng đòi hỏi

quyền lợi không đúng quy định của pháp luật, thường cố tình không nghe phân tích,

giải thích theo hướng hòa giải.

59

Bảng 3.7. Tổng hợp kết quả giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Vân Đồn

giai đoạn 2017 - 2019

Tổng số vụ Kết quả giải quyết Tổng số vụ tranh chấp tranh chấp Hòa giải thuộc thẩm Quyết định của Bản án đã giải Năm thành quyền giải UBND huyện của Tòa quyết công quyết

15 15 7 7 1 2017

24 22 11 8 3 2018

19 16 9 6 1 2019

58 53 27 21 5 Tổng

(Nguồn: Tổng hợp Báo cáo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tham

nhũng năm 2017-2019 của Cơ quan kiểm tra - Thanh tra huyện Vân Đồn )

Phân tích từ kết quả giải quyết khiếu nại cho thấy: có 5 (4,3%) vụ việc khiếu

nại đúng; 70 (60,9%) vụ việc khiếu nại sai; 10 (8,7%) vụ việc khiếu nại có đúng, có

sai; 30 (26,1%) rút đơn. Kết quả giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện

hàng năm đều đạt tỷ lệ cao trên 90%. Năm 2017 đạt kết quả giải quyết cao nhất là

93,9%. Tỷ lệ vụ việc khiếu nại sai đạt khá cao cho thấy tình hình quản lý đất đai của

huyện Vân Đồn là khá tốt, đồng thời việc phát sinh khiếu nại chủ yếu từ hiểu biết

pháp luật chưa đầy đủ của người dân và một bộ phận người dân có ý thức chấp hành

pháp luật không tốt. Huyện đã rất chú trọng đến công tác giải thích, thuyết phục

hướng dẫn, phân tích người khiếu nại hiểu căn nguyên vấn đề trên cơ sở quy định

pháp luật là khiếu nại sai, ảnh hưởng nhiều đến quyền lợi để công dân đồng ý rút

đơn khiếu nại.

60

Bảng 3.8. Tổng hợp kết quả giải quyết khiếu nại đất đai tại huyện Vân Đồn

giai đoạn 2017 - 2019

Kết quả giải quyết Tổng số vụ

khiếu nại Tổng số vụ Khiếu Khiếu

Năm thuộc thẩm khiếu nại đã nại Khiếu nại có Rút đơn quyền giải giải quyết đúng nại sai đúng,

quyết có sai

33 2017 31 1 3 18 9

50 2018 46 3 5 25 13

41 2019 38 1 2 27 8

Tổng 124 115 5 10 70 30

(Nguồn: Tổng hợp Báo cáo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tham

nhũng năm 2017-2019 của Cơ quan kiểm tra - Thanh tra huyện Vân Đồn )

Tình hình tranh chấp, khiếu nại trên địa bàn huyện Vân Đồn do nhiều nguyên

nhân, hạn chế chủ quan và khách quan khác nhau. Qua theo dõi các vụ việc tranh

chấp, khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện và tham khảo các ý kiến của các cán

bộ quản lý thuộc các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm: Chủ tịch UBND các xã,

thị trấn; công chức Địa chính các xã, thị trấn; Cơ quan Kiểm tra -Thanh tra huyện;

phòng Tài nguyên và Môi trường huyện; phòng Tư pháp huyện thông qua tổng hợp

30 phiếu điều tra, một số nguyên nhân và hạn chế chủ yếu sau:

- Sự bất cập của hệ thống chính sách pháp luật về đất đai và chính sách pháp

luật về giải quyết khiếu nại: Cơ chế chính sách về đất đai có nhiều bất cập, chậm

được bổ sung, sửa đổi, có nhiều văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành Luật Đất

đai nhưng còn nhiều vấn đề chưa rõ, còn chồng chéo, mâu thuẫn. Pháp luật về đất

đai còn nhiều điểm chưa phù hợp thực tiễn, có nhiều cách hiểu khác nhau nên khó

thực hiện. Một số chính sách liên quan trực tiếp tới người dân, được hoạch định

chưa đảm bảo hài hòa giữa quyền lợi của Nhà nước, của tập thể và của công dân,

nên đã tạo ra những yếu tố không công bằng, thiếu bền vững, ảnh hưởng tới

cuộc sống bình thường của một bộ phận nhân dân. Đặc biệt các chính sách, quy

định về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất còn nhiều bất cập và thường

61

thay đổi, trong khi đó mỗi địa phương lại có cách áp dụng khác nhau, từ đó tạo nên

sự so bì, thắc mắc giữa trường hợp này với trường hợp khác, giữa dự án này với dự

án khác... làm phát sinh nhiều khiếu nại. Việc giải quyết khiếu nại về đất đai trong

nhiều trường hợp liên quan đến rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác

nhau đòi hỏi phải cụ thể, rõ ràng, thống nhất. Tuy nhiên, khi thi hành trong thực tế

cũng không tránh khỏi những thiếu xót, mâu thuẫn, khi thực hiện có quy định thiếu,

có quy định lại thừa, có những trường hợp không có quy định để áp dụng hoặc có

quy định để áp dụng nhưng lại thuộc nhiều văn bản khác nhau dẫn đến không biết

áp dụng tại văn bản nào để giải quyết một cách chính xác, thỏa đáng theo đúng quy

định của pháp luật.

- Hạn chế trong công tác áp dụng, thi hành luật Đất đai, Khiếu nại: Công tác

quản lý đất đai của chính cấp cơ sở còn bộc lộ nhiều yếu kém, chưa nắm đúng, nắm

đủ các quy định của pháp luật dẫn đến khi tham mưu tổ chức thực hiện dẫn đến có

sự sai sót hoặc công tác quản lý nhà nước về đất đai chưa thực sự được quan tâm,

công tác thanh kiểm tra, xử lý sai phạm chưa được thực hiện nghiêm túc và kịp thời.

Tình trạng để tổ chức, cá nhân chiếm dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất không

kịp thời ngăn chặn. Việc áp dụng các quy định của pháp luật để xử lý các vụ việc

của cán bộ địa chính còn rất nhiều hạn chế, dẫn đến đơn thư khiếu kiện kéo dài; hệ

thống hồ sơ địa chính phục vụ công tác quản lý thiếu chính xác, lưu giữ không đầy

đủ, sổ sách, bản đồ, tư liệu thiếu. Việc tổ chức đo đạc bản đồ địa chính do kiểm soát

không chặt chẽ vẫn còn có những sai sót, thiếu đồng bộ, việc tự tách, gộp thửa khi

chưa có đủ cơ sở pháp lý cũng diễn ra nhiều ở các địa phương. Công tác lưu trữ tư

liệu địa chính chưa tốt dẫn đến việc xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng đất gặp

nhiều khó khăn. Công tác cấp giấy chứng nhận QSDĐ của một số xã còn chậm và

trong một số trường hợp không chính xác. Công tác kiểm tra, thanh tra chưa được

quan tâm đúng mức, trong đó công tác hậu kiểm đối với các dự án, công trình sau

khi được giao đất, cho thuê đất ít được đôn đốc xử lý. Tình trạng sử dụng đất không

đúng mục đích, không đúng tiến độ, không đầu tư hoặc chậm đầu tư thực hiện theo

dự án ít được phát hiện và xử lý kịp thời. Việc giao đất trái thẩm quyền, không đúng

đối tượng, giao sai diện tích, vị trí, sử dụng tiền thu từ đất sai quy định của

62

pháp luật hoặc người sử dụng đất đã làm đủ các nghĩa vụ theo quy định nhưng

không được hợp thức QSDĐ, cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Sự yếu kém, bất cập

trong công tác quản lý đất đai cùng với một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức

có những hành vi vụ lợi trong quản lý, sử dụng đất đai, nhũng nhiễu, thiếu công tâm

là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh những khiếu nại, tranh chấp về đất đai.

- Hạn chế trong công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại, tranh chấp: Trong tổ

chức thực hiện pháp luật về giải quyết đơn thư, tranh chấp, khiếu nại chưa làm tốt

việc hướng dẫn cụ thể theo pháp luật về việc nộp đơn để tình trạng công dân đi hết

nơi này đến nơi khác, một nội dung đơn mà gửi đi rất nhiều cơ quan. Khi phát sinh

tranh chấp, khiếu nại đã không tập trung chỉ đạo giải, phối hợp giải quyết tranh

chấp, khiếu nại về đất đai giữa các cơ quan có thẩm quyền chưa được chặt chẽ và

thống nhất, thậm chí né tránh, đùn đẩy. Một số vụ việc đã có kết luận hoặc quyết

định giải quyết nhưng không có tính khả thi trong tổ chức thi hành dẫn tới phát sinh

những khiếu kiện mới phức tạp hơn. Các vụ việc đã được giải quyết nhưng việc tổ

chức thực hiện quyết định giải quyết chưa tốt, thiếu kiểm tra, đôn đốc kịp thời để

tranh chấp, khiếu nại kéo dài, gây bức xúc, làm phát sinh những quan hệ khiếu kiện

mới phức tạp hơn. Giải quyết một vụ tranh chấp, khiếu nại đòi hỏi phải qua rất

nhiều công đoạn, do đó cần một đội ngũ những người am hiểu pháp luật, có nghiệp

vụ chuyên sâu và làm việc chuyên trách nhưng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu

nại hiện nay chủ yếu là kiêm nhiệm dẫn đến tình trạng giải quyết tranh chấp, khiếu

nại tại cơ sở còn chậm, thiếu dứt điểm, chất lượng thấp. Cùng với đó, hạn chế về cơ

sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác quản lý đất đai, tiếp dân và giải quyết tranh

chấp, khiếu nại đặc biệt là công tác lưu trữ và cập nhập dữ liệu đất đai ảnh hưởng

rất lớn trong giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai.

- Sự thiếu gương mẫu của một bộ phận cán bộ, công chức: Đất đai có giá trị

đặc biệt, nhưng trong thời gian dài trước đây đã không được quản lý tốt, dẫn tới

những sai phạm có tính phổ biến, trong đó đáng lưu ý là một bộ phận cán bộ, công

chức vì lợi ích kinh tế, đã cố tình “lách luật” để trục lợi cá nhân, để lại những hậu

quả nặng nề và gây ra những bức xúc trong dư luận xã hội. Ví dụ như việc cố tình

xác định sai nguồn gốc đất trong việc cấp giấy chứng nhận và đền bù đất khi Nhà

63

nước nước thu hồi đất là sai phạm khá phổ biến. Tình trạng buông lỏng quản lý để

lấn chiếm đất đai diễn ra phổ biến, việc chuyển nhượng trao tay trong nhân dân có

vụ việc có sự tiếp tay của cán bộ đã không tuân theo quy định của pháp luật làm

phát sinh các khiếu kiện khó giải quyết.

- Ý thức, trách nhiệm chấp hành pháp luật của một bộ phận nhân dân: Quá

trình giải quyết tranh chấp, khiếu nại nhiều trường hợp người dân mặc dù hiểu rõ

các quy định của pháp luật song cố tình không chấp hành do không thỏa mãn các

yêu cầu cá nhân nên tiếp tục đi khiếu nại, có trường hợp lợi dụng để kích động, trục

lợi tình trạng khiếu nại đông người. Nhiều người do không hiểu chính sách pháp

luật, khiếu kiện thiếu chứng cứ, nhưng cố tình đeo bám dai dẳng, cố chấp được

thua, cố tình không chấp hành quyết định giải quyết có lý có tình. Nhiều vụ việc

tranh chấp, khiếu nại về đất đai mặc dù các cấp, các ngành ở địa phương đã nỗ lực

cố gắng vận dụng chính sách giải quyết có lý, có tình, phù hợp với tình hình thực tế

và đúng với quy định của pháp luật, đã được đối thoại trực tiếp nhiều lần nhưng do

nhiều động cơ khác nhau người khiếu nại vẫn cố tình đeo bám, khiếu kiện và làm

cho tình hình trở nên phức tạp hơn.

- Hạn chế trong công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật: Công tác tuyên

truyền phổ biến pháp luật nói chung, pháp luật về đất đai, khiếu nại nói riêng cho

cán bộ, công chức nhà nước và các tầng lớp nhân dân chưa đáp ứng được yêu cầu.

Nội dung phổ biến pháp luật còn sơ sài, hình thức tuyên truyền còn đơn điệu, chưa

thu hút và tạo sự quan tâm của người dân. Bên cạnh đó, hạn chế trong vấn đề kinh

phí tổ chức, do vậy số xã, phường, thị trấn cũng như số cán bộ, công chức và nhân

dân được tuyên truyền phổ biến pháp luật chưa được nhiều và hiệu quả tuyên truyền

còn hạn chế.

64

Bảng 3.9. Nguyên nhân, hạn chế chính dẫn đến tranh chấp, khiếu nại

về đất đai trên địa bàn huyện Vân Đồn

Số Tỉ lệ TT Nội dung phiếu (%)

30 100 I Nguyên nhân chính

1 Sự bất cập trong hệ thống pháp luật Đất đai, Khiếu nại 23 76,7

2 Hạn chế trong áp dụng, thi hành luật Đất đai, Khiếu nại 18 60,0

3 Hạn chế trong công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại, tranh chấp 7 23,3

4 Sự thiếu gương mẫu của một bộ phận cán bộ, công chức 7 23,3

5 Hiểu biết pháp luật của người dân 17 56,7

6 Ý thức chấp hành pháp luật của người dân 15 50,0

7 Nguyên nhân khác 0 0,0

30 100 II Hạn chế chính trong công tác giải quyết khiếu nại về đất

đai trên địa bàn huyện Vân Đồn

1 Hạn chế trong chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền 5 16,7

huyện trong công tác quản lý đất đai, giải quyết khiếu nại,

tranh chấp

2 Đội ngũ cán bộ, công chức giải quyết khiếu nại, tranh chấp 16 53,3

còn hạn chế năng lực, kinh nghiệm

3 Hạn chế về cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác quản 12 40,0

lý đất đai, giải quyết khiếu nại, tranh chấp

4 Hạn chế khác 2 6,7

(Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực tế)

Qua tổng hợp 30 phiếu điều tra cán bộ, công chức tham gia giải quyết tranh

chấp, khiếu nại về đất đai thì nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp, khiếu nại về

đất đai trên địa bàn huyện Vân Đồn do sự bất cập của trong hệ thống pháp luật

đất đai và chính sách pháp luật về giải quyết khiếu nại với 23 phiếu chiếm tỷ lệ cao

nhất đạt 76,7 %. Tiếp theo đó, nguyên nhân do hạn chế trong áp dụng, thi hành Luật

Đất đai với 18 phiếu chiếm tỷ lệ 60,0%. Nguyên nhân do Hiểu biết pháp luật của

65

người dân với 17 phiếu chiếm tỷ lệ 56,7% và do ý thức chấp hành pháp luật của

người dân với 15 phiếu chiếm tỷ lệ 50,0%. Hạn chế chính trong công tác giải quyết

tranh chấp, khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện là Đội ngũ cán bộ, công chức

giải quyết khiếu nại, tố cáo còn hạn chế về năng lực, kinh nghiệm với 16 phiếu

chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 53,3%. Bên cạnh đó hạn hạn chế về cơ sở vật chất, kỹ thuật

phục vụ công tác quản lý đất đai, giải quyết tranh chấp, khiếu nại cũng chiếm tỷ lệ

khá cao với 12 phiếu (40,0%).

3.2.3. Đánh giá giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của

huyện Vân Đồn thông qua ý kiến của người dân

Kết quả điều tra 120 người dân có đơn gửi đến cơ quan hành chính nhà nước

đề nghị giải quyết tranh chấp, khiếu nại trên địa bàn 11 xã và 01 thị trấn đánh giá

công tác giải quyết các vụ việc tranh chấp, khiếu nại trong lĩnh vực đất đai từ khâu

tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết, thi hành quyết định; công tác lãnh chỉ đạo

của cấp ủy, điều hành của chính quyền, tổ chức thực hiện của các cơ quan tham

mưu; công tác tuyên truyền vận động của các tổ chức chính trị xã hội từ việc bố trí

con người, đầu tư cơ sở vật chất của các cấp chính quyền huyện Vân Đồn. Kết quả

khảo sát thể hiện ở bảng 3.10 như sau:

66

Bảng 3.10. Tổng hợp ý kiến của hộ gia đình, cá nhân có đơn thư kiến nghị,

phản ánh, tranh chấp, khiếu nại về đất đai đối với kết quả giải quyết của cơ

quan có thẩm quyền

Thông tin điều tra T T

Tiếp dân Số phiếu Tỷ lệ (%) Kết quả đánh giá Khiếu nại Số phiếu Tỷ lệ (%) Tranh chấp Tỷ lệ Số (%) phiếu

Tổng số phiếu điều tra 100 100 100 40 40 40

1 Về vai trò của cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền pháp luật về đất đai trên địa bàn huyện Vân Đồn

- 30 10 - 28 12 - 29 11 - 72,5 27,5 - 70,0 30,0 Rất tốt Tốt Chưa tốt

7 33 - 4 36 - 10,0 90,0 - 15,0 85,0 - Rất hài lòng Hài lòng Chưa hài lòng

Rất tin tưởng Tin tưởng Chưa tin tưởng - 80,0 20,0 10,0 90,0 - 2,5 85,0 12,5 1 34 5

Đúng quy định Chậm - 82,5 17,5 7,5 87,5 5,0 - 87,5 12,5 - 33 7

Đúng quy định Chưa đúng quy định 95,0 5,0 92,5 7,5 37 3 38 2 100 - 40 -

- 75,0 25,0 2 Về thái độ làm việc của cán bộ tiếp công dân 6 17,5 34 82,5 - - 3 Sự tin tưởng vào của cơ quan chức năng giải quyết 4 - 32 36 7 - 4 Thực hiện quy định về thời gian giải quyết các vụ việc theo pháp luật - 3 Trước thời gian quy định 35 35 5 2 5 Công tác xác minh, giải quyết vụ việc theo trình tự, thủ tục, tính khách quan 6 Kết quả giải quyết các vụ việc kiến nghị, phản ánh, khiếu nại và tranh chấp về đất đai

Chưa được giải quyết 87,5 12,5 95,0 5,0 92,5 7,5 37 3 38 2 35 5

Đầy đủ nội dung giải quyết 7 Sự thỏa đáng, hài lòng đối với việc giải quyết đơn thư, khiếu nại, tranh chấp của các cấp có thẩm quyền

Rất thỏa đáng Thỏa đáng Không thỏa đáng 2 32 5 5,0 80,0 15,0 2 31 7 - 32 8

5,0 - 77,5 80,0 17,5 20,0 (Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực tế)

67

Trên cơ sở kết quả phỏng vấn 120 người dân có đơn gửi đến cơ quan hành

chính nhà nước đề nghị giải quyết tranh chấp, khiếu nại thuộc lĩnh vực đất đai và

đã được giải quyết tại bảng 3.11 nêu trên cho thấy: Vai trò của cơ quan chuyên môn

trong việc tuyên truyền pháp luật về đất đai trên địa bàn huyện Vân Đồn được

người dân đánh giá tương đối cao. Những người có đơn đã đến cơ quan hành chính

của huyện Vân Đồn hài lòng với thái độ làm việc của cán bộ tiếp công dân (đạt

120/120 phiếu điều tra, chiếm 100%); đã đặt sự tin tưởng vào mức độ giải quyết của

cơ quan chức năng (đạt 110/120 phiếu điều tra, chiếm 91,6%). Việc xác minh, giải

quyết vụ việc theo thời gian, trình tự, thủ tục của cơ quan hành chính huyện Vân

Đồn được đánh giá trên 85,0% đảm bảo theo quy định của pháp luật; kết quả giải

quyết các vụ việc tương đối đầy đủ nội dung công dân kiến nghị, phản ánh, khiếu

nại (đạt 110/120 phiếu điều tra, chiếm 91,6%) và cơ bản làm thoả đáng, hài lòng

cho người có đơn thư, phản ánh, tranh chấp, khiếu nại (đạt 100/120 phiếu điều tra,

chiếm 83,3%).

Thông qua kết quả đánh giá về chất lượng giải quyết các vụ việc tranh chấp,

khiếu nại về đất đai có thể khẳng định công tác chỉ đạo, công tác tuyên truyền về

công tác tiếp dân, xử lý đơn thư tranh chấp, khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện

Vân Đồn đã đạt những hiệu quả khả quan nhất định.

3.3. Khó khăn, tồn tại và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công

tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai tại huyện Vân Đồn

3.3.1. Khó khăn, tồn tại trong công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai

tại huyện Vân Đồn

Sở dĩ công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại ở huyện Vân Đồn những năm

qua còn nhiều bất cập, hạn chế do những khó khăn, tồn tại chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, phối hợp và thực hiện

công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại đất đai

Một số cấp uỷ, chính quyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo còn coi nhẹ

công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại đất đai của công dân. Khi sự việc mới phát

sinh không quan tâm, xem xét, kịp thời giải quyết tạo sự bức xúc cho người có đơn,

có nơi còn đùn đẩy trách nhiệm, né tránh trong quá trình giải quyết. Trong quá trình

68

giải quyết chưa phối kết hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân còn

hạn chế trong việc phát hiện, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân;

chưa làm tốt công tác vận động thuyết phục, đối thoại, hoà giải để người khiếu nại,

tố cáo hiểu đúng chính sách pháp luật, tự giác chấp hành quyết định giải quyết của

các cơ quan có thẩm quyền. Chưa báo cáo kịp thời tình trạng đơn thư phát sinh, gây

nhiều khó khăn trong công tác tổng hợp, báo cáo và nắm bắt tình hình. Người đi

khiếu kiện thường gửi đơn nhiều lần, đến nhiều cơ quan nhưng hiện nay các cơ

quan quản lý nhà nước chưa có phần mềm quản lý đơn thư.

Công tác hòa giải ở cấp cơ sở chưa được quan tâm đúng mức, nhiều địa

phương chưa bố trí cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất, kinh nghiệm đảm nhiệm công

việc này nên việc hòa giải đạt hiệu quả chưa cao. Vẫn còn vụ việc giải quyết không

triệt để dẫn đến khiếu kiện đông người như việc khiếu kiện đông người về cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân Nam Cảng, Thị trấn Cái Rồng; vụ

khiếu kiện của 08 hộ dân thôn Bình Minh xã Ngọc Vừng do UBND xã giao trái

thẩm quyền nay không đủ điều kiện cấp GCN QSDĐ. Một số địa phương chưa làm

tốt trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp

luật về đất đai trên địa bàn như tự ý chuyển đổi mục đích, lấn chiếm, xây dựng nhà

trên đất nông nghiệp.

Thứ hai, về công tác tiếp dân, phân loại đơn thư

Một số đơn vị làm chưa tốt công tác tiếp dân, còn tình trạng ngại tiếp xúc,

đối thoại với công dân, giải thích không thấu đáo dẫn đến công dân bức xúc và gửi

đơn lên các cơ quan cấp trên yêu cầu giải quyết. Việc tiếp nhận, phân loại xử lý đơn

thư khiếu nại từ huyện đến xã đôi khi còn nhầm lẫn về “khái niệm khiếu nại quyết

định hành chính” và “khiếu nại hành vi hành chính” dẫn đến việc phân loại, xử lý

thiếu chính xác.

Thứ ba, về công tác quản lý đất đai

Những tồn tại do lịch sử để lại trong công tác giao đất, thu hồi đất, bồi

thường, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ địa chính không được chỉnh

lý đầy đủ. Việc thực hiện không triệt để các quy định của pháp luật đất đai ở các cấp

làm cho hồ sơ địa chính không đồng bộ, sổ sách, bản đồ, tư liệu thiếu; trước đây,

69

việc ban hành các văn bản về quy hoạch đất đai chậm, thiếu các văn bản về hướng

dẫn, kiểm tra, đôn đốc, xử lý vi phạm; công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu về đất đai còn

yếu, có nhiều trường hợp hồ sơ, giấy tờ lưu trữ bị thất lạc trong quá trình lưu kho,

hệ thống bản đồ địa chính của các xã, thị trấn trong toàn huyện có nhiều biến động,

chưa được chỉnh lý, cập nhật thường xuyên dẫn đến công tác quản lý đất đai và giải

quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai gặp nhiều khó khăn.

Thứ tư, về thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ

Trong nhiều vụ việc, công tác này chưa đảm bảo chính xác dẫn đến việc áp

dụng chính sách, pháp luật chưa đúng, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của

công dân. Quá trình thẩm tra, xác minh để giải quyết của các cấp, các ngành nhiều

trường hợp còn đơn giản; chưa đi sâu, tìm hiểu kỹ các tài liệu trong hồ sơ, chưa

phân tích kỹ để xác định đúng chứng cứ nên việc phân tích đôi khi còn thiếu khách

quan, một chiều; có vụ việc xảy ra không phức tạp nhưng cách giải quyết ban đầu

của chính quyền cơ sở chưa chính xác hoặc né tránh, đùn đẩy, làm phức tạp, dẫn

đến kéo dài. Vẫn có một số vụ việc vượt cấp, cùng một nội dung nhưng gửi đơn

nhiều cấp, nhiều ngành do người dân chưa nắm hết được các quy trình trong việc

khiếu nại, một số có tình khiếu nại vượt cấp do cố tình không đồng ý với kết quả

giải quyết của cấp huyện mặc dù huyện đã giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

Thứ năm, về ý thức chấp hành pháp luật của người đi khiếu kiện:

Một số vụ việc tranh chấp, khiếu nại về đất đai mặc dù đã được các ngành,

các cấp nỗ lực cố gắng vận dụng chính sách giải quyết có lý, có tình, phù hợp với

tình hình thực tế và đúng với quy định của pháp luật, đã được đối thoại trực tiếp

nhiều lần nhưng do nhiều động cơ khác nhau người khiếu nại vẫn cố tình đeo

bám, khiếu kiện và làm cho tình hình trở nên phức tạp hơn. Một số đối tượng

đi khiếu nại có hành vi vượt quá giới hạn, vi phạp pháp luật, lợi dụng quyền khiếu

nại đã có hành vi quá khích gây mất trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng đến công

tác và hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước và tình trạng người khiếu

nại gửi đơn tràn lan, vượt cấp đến nơi không có thẩm quyền giải quyết vẫn diễn ra.

70

3.3.2. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giải quyết tranh

chấp, khiếu nại về đất đai tại huyện Vân Đồn

Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai là một vấn đề nhạy cảm,

khó khăn vì nó liên quan đến quyền và lợi ích của người khiếu kiện và trách nhiệm

của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Với tình hình công tác tiếp dân, xử lý đơn

thư, tranh chấp, khiếu nại về đất đai như hiện nay để phát huy những ưu điểm, khắc

phục những hạn chế, tồn tại, nâng cao chất lượng công tác tiếp dân, xử lý đơn thư,

tranh chấp, khiếu nại trong thời gian tới UBND huyện Vân Đồn cần:

- Phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền trong việc lãnh đạo,

giám sát việc thực thi pháp luật về đất đai, pháp luật về khiếu nại

Tăng cường vai trò, trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị đối với việc

tiếp công dân và giải quyết tranh chấp, khiếu nại. Nâng cao năng lực và sức chiến

đấu của các tổ chức Đảng, hiệu quả điều hành của chính quyền cơ sở trong giải

quyết các vụ việc tranh chấp, khiếu nại. Xây dựng kế hoạch, chương trình cụ thể,

đồng thời phải có phân công trách nhiệm một cách rõ ràng để chỉ đạo, giải quyết có

hiệu quả đơn thư tranh chấp, khiếu nại trên địa bàn.

Thủ trưởng cơ quan phải chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết tranh

chấp, khiếu nại về đất đai, kể cả tham gia tố tụng tại tòa án (hạn chế việc ủy quyền

trong giải quyết tranh chấp, khiếu nại nói chung) để giải quyết tình trạng đùn đẩy,

né tránh trách nhiệm, cố bảo vệ cái sai của người tiền nhiệm.

Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc tập thể, cá nhân có trách

nhiệm trong việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại, thi hành các quyết định giải

quyết tranh chấp, khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật; kịp thời phát hiện và xử lý

nghiêm minh đối với người thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết tranh chấp,

khiếu nại, không chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết đã có hiệu lực của

cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tranh

chấp, khiếu nại đất đai

Tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai,

pháp luật về khiếu nại. Đây là giải pháp mang tính gián tiếp, theo đó, nó có tác động

71

vào ý thức nhằm không ngừng nâng cao nhận thức về đất đai của mọi cơ quan, tổ

chức và công dân thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

với sự đa dạng các hình thức, như: Các buổi nói chuyện chuyên đề, hỏi - đáp pháp

luật đất đai, khiếu nại về đất đai, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật về đất đai,

khiếu nại về đất đai, v.v. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp

luật phải đảm bảo tính thiết thực, phù hợp với đặc điểm và trình độ dân trí, tình hình

thực tế ở Vân Đồn; sử dụng triệt để các phương tiện thông tin đại chúng vào công

tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai, pháp luật về khiếu nại,

thông qua các phương tiện truyền thanh, truyền hình, trên panô, áp phích cơ động,

bản tin nội bộ, thông qua đội ngũ báo cáo viên,… tất cả là để tạo điều kiện cho

người tham gia khiếu nại có sự hiểu biết cơ bản và hiểu biết sâu để bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp của mình. Đầu tư xây dựng tủ sách pháp luật đến từng xã, thị trấn,

cung cấp đủ các văn bản pháp luật, sách tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ đối với chính

quyền cơ sở. Phát huy và đề cao vai trò của các tổ chức: Ủy ban mặt trận Tổ quốc,

Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Hội

Nông dân,... trong quá trình tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Vận động quần chúng

tham gia tích cực vào các phong trào thi đua yêu nước và cuộc vận động toàn dân

tham gia đấu tranh phòng chống các loại tội phạm.

- Nâng cao vai trò của công tác hòa giải cấp cơ sở

Nhiệm vụ của công tác hòa giải cơ sở trong việc giải quyết tranh chấp đất đai

là một nhiệm vụ quan trọng, qua đó nếu áp dụng tốt, vận dụng được đầy đủ các tổ

chức chính trị, đoàn thể xã hội sẽ giải quyết được tranh chấp đất đai một cách có lý,

có tình. Qua đó giải quyết được nhanh chóng, hiệu quả các vụ tranh chấp đất đai,

người dân giữ được tình làng nghĩa xóm nên cần thường xuyên tổ chức hội nghị tập

huấn cho các thành phần chính, nòng cốt thực hiện công tác hòa giải cơ sở này như:

Bí thư kiêm trưởng thôn, Ban công tác mặt trận thôn, …để họ biết và cùng phối hợp

với UBND xã, huyện để thực hiện hòa giải. Ngoài ra, cần đặc biệt quan tâm, đào tạo

nâng cao kiến thức pháp luật cho cán bộ thực hiện công tác tiếp công dân, giải quyết

tranh chấp, khiếu nại nhất là cán bộ cấp cơ sở để nắm chắc các quy định của pháp

luật nói chung và pháp luật về khiếu nại, giải quyết tranh chấp đất đai thì vấn đề của

72

người dân sẽ được giải quyết ngay tại cấp cơ sở và tránh khiếu nại, khiếu kiện kéo

dài, vượt cấp...

- Hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính, tăng cường công tác quản lý đất đai

Đo vẽ lại hệ thống bản đồ địa chính của các xã, thị trấn trên địa bàn toàn

huyện cho phù hợp với quy định của Luật Đất đai và phù hợp với thực tế quản lý,

sử dụng đất ở địa phương. Đầu tư xây dựng kho lưu trữ tài liệu, hồ sơ, sổ sách... về

đất đai đảm bảo công tác lưu trữ đạt hiệu quả. Thường xuyên cập nhật, chỉnh lý các

biến động về đất đai. Đẩy mạnh công tác cấp GCN QSDĐ cho các hộ gia đình, cá

nhân trên địa bàn huyện, qua đó người dân sẽ có đầy đủ các giấy tờ hợp pháp, thuận

lợi cho cả người sử dụng và cơ quan quản lý trong việc quản lý và sử dụng đất đai.

Đặc biệt chú trọng việc thực hiện thu hồi đất, bồi thường GPMB các dự án theo

đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định như công khai minh bạch thông tin về quy

hoạch, dự án, xác định giá đất cụ thể khi tính toán bồi thường đảm bảo quyền lợi

cho người bị thu hồi đất. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra về quản lý, sử

dụng đất đai, phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những yếu kém, sai phạm, xử lý nghiêm

minh các trường hợp vi phạm.

- Ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp dân và giải quyết tranh chấp,

khiếu nại về đất đai

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp dân, giải quyết tranh chấp,

khiếu nại ở huyện Vân Đồn hầu như còn yếu, cần xây dựng một cổng giao tiếp điện

tử riêng; mỗi công dân sẽ là một thành viên của mạng giao tiếp đó. Mọi hoạt động

của cơ quan nhà nước đều được cung cấp tới người dân. Các thủ tục giải quyết

khiếu nại, tố cáo đều có thể thực hiện thông qua cổng giao tiếp điện tử. Công dân

được đăng nhập, đăng ký được tiếp, đối thoại trực tuyến với người có thẩm quyền

giải quyết; gửi đơn thư tranh chấp, khiếu nại cho cơ quan có thẩm quyền. Công dân

sẽ nhận được câu trả lời về việc tranh chấp, khiếu nại, lịch hẹn gặp trực tiếp hoặc

trực tuyến đối thoại. Tại các trụ sở tiếp công dân cũng phải được trang bị các thiết

bị thông tin nhằm phục vụ cho công tác tiếp dân có hiệu quả hơn. Có thể trang bị sổ

sách bằng máy tính, người đến trụ sở tiếp dân tự mình đăng ký vào danh sách những

người cần được tiếp, nội dung sơ bộ của đơn thư để tiện cho việc phân loại. Đối với

73

những người có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế thì cán bộ tiếp

dân sẽ giúp đỡ họ thực hiện công việc này. Bảng điện tử sẽ lần lượt hiển thị tên

công dân đến lượt được vào tiếp, vị trí được tiếp và người tiếp mình. Bên cạnh đó,

xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về công tác tiếp dân, giải quyết tranh chấp, khiếu

nại; trước mắt phải tập trung đầu tư xây dựng, triển khai áp dụng phần mềm quản lý

đơn thư tranh chấp, khiếu nại để tích hợp cơ sở dữ liệu, tạo cơ sở cho việc triển khai

nối mạng hệ thống thông tin, tăng cường quản lý, theo dõi và giám sát tình hình và

công tác giải quyết đơn thư tranh chấp, khiếu nại của công dân.

- Xử lý dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, khiếu kiện kéo dài

Tiếp tục quan tâm rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức

tạp, kéo dài. Trong quá trình giải quyết cần tổ chức đối thoại công khai, dân chủ để

nắm bắt được cụ thể vụ việc, hiểu được tâm lý của người khiếu kiện để giải quyết

một cách có lý có tình và quan trọng là phải có tính khả thi để giải quyết dứt điểm

vụ việc. Đối với những vụ việc đã giải quyết hết thẩm quyền theo luật định, cần

nghiên cứu vận dụng hoặc đề xuất các biện pháp hỗ trợ để động viên, thuyết phục

công dân chấm dứt khiếu kiện.

74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Vân Đồn là một huyện đảo của tỉnh Quảng Ninh, có vị trí địa lý đặc biệt

thuận lợi cho phát triển kinh tế nhất là các ngành du lịch, dịch vụ. So với nhiều

huyện khác, Vân Đồn là nơi có nhiều dự án trọng điểm được đầu tư nên đây cũng

là một trong những huyện có số lượng đơn thư tranh chấp, khiếu nại tương đối cao,

đặc biệt là số lượng đơn thư tranh chấp, khiếu nại về đất đai.

Từ kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng công tác tiếp dân, xử lý đơn thư,

giải quyết tranh chấp, khiếu nại tại UBND huyện giai đoạn 2016-2019 đã được thực

hiện tương đối tốt với kết quả giải quyết như sau: tiếp nhận 1.441 đơn kiến nghị,

phản ánh; 182 đơn thư tranh chấp, khiếu nại về đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết,

cụ thể:

- Tổng số đơn thư tranh chấp đã tiếp nhận là 58 đơn với 58 vụ việc, phần lớn

về ranh giới thửa đất chiếm 62,1%, còn lại là tranh chấp về quyền sử dụng đất và

tranh chấp đòi lại nhà, đất. đã giải quyết 53 đơn chiếm 91,4%. Số đơn đã giải quyết

là 53 đơn, số vụ tồn động chiếm 8,6% đang trong thời hiệu, quá trình xác minh.

- Tổng số đơn thư khiếu nại tiếp nhận là 124 đơn với 124 vụ việc, phần lớn

khiếu nại về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các dự án thu hồi

đất trên địa bàn huyện chiếm 68,5%, còn lại là về công tác quản lý đất đai. Số đơn

đã giải quyết là 115 đơn chiếm 88,89%, số vụ tồn động chiếm chiếm 7,3% cần phải

xác minh trên nhiều góc độ.

- Kết quả từ điều tra phỏng vấn người dân về kết quả giải quyết tranh chấp,

khiếu nại về đất đai của cơ quan có thẩm quyền như sau: 100% người có đơn đã đến

cơ quan hành chính của huyện Vân Đồn hài lòng với thái độ làm việc của cán bộ

tiếp công dân; 91,6% đã đặt sự tin tưởng vào mức độ giải quyết của cơ quan chức

năng. 85,0% đánh giá việc xác minh, giải quyết vụ việc theo đúng quy định của

pháp luật; 91,6% đánh giá kết quả giải quyết các vụ việc tương đối đầy đủ nội dung

công dân kiến nghị, phản ánh, khiếu nại; 83,3% cơ bản làm thoả đáng, hài lòng cho

người có đơn thư, phản ánh, tranh chấp, khiếu nại.

75

Qua nghiên cứu, đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai

cho thấy: Trong những năm qua, huyện Vân Đồn đã chấp hành tốt việc thực hiện

các quy định của pháp luật về giải quyết đơn thư tranh chấp, khiếu nại về đất đai;

công tác tiếp nhận, thụ lý, giải quyết đơn được thực hiện theo đúng trình tự và

quy định. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế như: công tác lãnh đạo,

chỉ đạo, điều hành, phối hợp và thực hiện công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại

đất đai; công tác tiếp dân, phân loại đơn thư; công tác quản lý đất đai; thẩm tra, xác

minh, thu thập chứng cứ tranh chấp, khiếu nại ...dẫn đến còn một số vụ việc đơn thư

tranh chấp, khiếu nại còn tồn đọng, kéo dài.

Để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp và khiếu nại về đất đai

trên địa bàn huyện Vân Đồn cần thực hiện các giải pháp như: tăng cường công tác

tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tranh chấp, khiếu nại về đất đai; nâng

cao vai trò của công tác hòa giải cấp cơ sở; hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính,

tăng cường công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tăng cường công tác

thanh tra, kiểm tra việc quản lý và sử dụng đất; xử lý dứt điểm các vụ việc tồn đọng,

phức tạp, khiếu kiện kéo dài.

2. Kiến nghị

Từ kết quả thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện

Vân Đồn trong những năm vừa qua cho thấy tình hình tranh chấp, khiếu nại về đất

đai ngày càng tăng về tính chất phức tạp. Để tiếp tục thực hiện tốt công tác tiếp dân,

xử lý và giải quyết đơn thư tranh chấp, khiếu nại về đất đai trong thời gian tới cần

thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu như sau:

- Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật,

thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn kiến thức pháp luật cho các cán bộ chuyên

môn để nâng cao nghiệp vụ.

- Tăng cường công tác hòa giải tại cấp cơ sở, chú trọng hơn nữa đến công tác

phân tích, giải thích, tuyên truyền vận động, hướng dẫn, thuyết phục các đối tượng

có đơn thư, khuyến khích công dân rút đơn.

- Rà soát, hoàn thiện hoá hệ thống dữ liệu địa chính, bổ sung cập nhật phần

mềm lưu trữ, quản lý. Đẩy mạnh công tác cấp GCN QSDĐ cho các hộ gia đình, cá

76

nhân trên địa bàn huyện; thực hiện thu hồi đất, bồi thường GPMB theo đúng trình

tự, thủ tục pháp luật quy định đảm bảo quyền lợi cho người bị thu hồi đất.

- Tập trung giải quyết khẩn trương, dứt điểm các khiếu kiện phức tạp, kéo

dài nhất là vụ việc phức tạp, khiếu nại đông người cần tập trung giải quyết dứt điểm

để đảm bảo an ninh xã hội.

77

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chính phủ, 2017. Báo cáo số 471/BC-CP ngày 19 tháng 10 năm 2017 về công tác

giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2017.

2. Cổng thông tin điện tử Thanh tra Chính phủ (2017), Giao ban công tác thanh tra,

tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài khu vực miền Bắc.

3. Đảng bộ huyện Vân Đồn, 2020. Văn kiện đại hội đại biểu đảng bộ huyện Vân

Đồn lần thứ XXIX nhiệm kỳ 2020-2025.

4. Lê Tiến Hào, 2011. Đề tài độc lập cấp nhà nước - Khiếu nại, tố cáo hành chính,

cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp.

5. Mạnh Hùng, 2016. Giải quyết khiếu nại hành chính kinh nghiệm của một số nước

trên thế giới.

6. An Khánh, 2017. Giải quyết tận gốc thực trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài, Báo

Nhân dân điện tử.

7. Đinh Văn Minh, 2009. Tài phán hành chính ở Hoa Kỳ

8. Đỗ Đức Minh, 2015. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- những yếu tố tác động từ truyền thống và hiện đại, Tạp chí Cộng sản.

9. Phạm Thị Phượng, Trần Thị Kim Ngân, 2018. Bàn về mô hình tổ chức tiếp công

dân hiện nay ở Việt Nam và một số kiến nghị.

10. Thanh tra Chính phủ, 2019. Báo cáo tóm tắt Tổng kết công tác năm 2018 và

phương hướng nhiệm vụ năm 2019 của ngành Thanh tra.

11. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2011. Luật Khiếu nại. Nhà xuất bản chính

trị Quốc gia, Hà Nội.

12. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013. Luật Đất đai 2013. Nhà xuất bản

chính trị Quốc gia, Hà Nội.

13. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013. Luật Tiếp công dân. NXB Chính trị

Quốc gia.

14. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013. Luật Tiếp công dân, Nhà xuất bản

chính trị Quốc gia, Hà Nội.

78

15. Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007. Giáo trình quản lý nhà nước về đất đai. NXB

Nông nghiệp Hà Nội.

16. Thanh tra chính phủ, 2016. Báo cáo tổng kết 4 năm thi hành Luật khiếu nại,

Luật tố cáo.

17. UBND tỉnh Quảng Ninh, 2017. Báo cáo số 220/BC-UBND ngày 30/11/2017 về tình

hình kinh tế - xã hội năm 2017; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018.

18. UBND tỉnh Quảng Ninh, 2018. Báo cáo số 220/BC-UBND ngày 22/11/2018 về tình

hình kinh tế - xã hội năm 2018; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019.

19. UBND tỉnh Quảng Ninh, 2019. Báo cáo số 285/BC-UBND ngày 25/11/2019 về tình

hình kinh tế - xã hội năm 2019; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020.

20. UBND huyện Vân Đồn, 2017. Báo cáo số 334/BC-UBND ngày 14/11/2017 về tình

hình kinh tế - xã hội năm 2017; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018.

21. UBND huyện Vân Đồn, 2018. Báo cáo số 276/BC-UBND ngày 05/11/2018 về tình

hình kinh tế - xã hội năm 2018; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019.

22. UBND huyện Vân Đồn, 2019. Báo cáo số 314/BC-UBND ngày 28/11/2019 về tình

hình kinh tế - xã hội năm 2019; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020.

23. UBND huyện Vân Đồn, 2020. Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Vân

Đồn lần thứ XXIV nhiệm kỳ 2020-2025.

24. Thanh tra huyện Vân Đồn, 2017. Báo cáo số 373/BC-TTr ngày 15/12/2017 về

công tác tiếp dân, công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng

chống tham nhũng năm 2017.

25. Thanh tra huyện Vân Đồn, 2018. Báo cáo số 120/BC-TTr ngày 17/12/2018 về

công tác tiếp dân, công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng

chống tham nhũng năm 2018.

26. Thanh tra huyện Vân Đồn, 2019. Báo cáo số 104/BC-TTr ngày 17/12/2019 về

công tác tiếp dân, công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng

chống tham nhũng năm 2019.