BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ SINH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN

MỚI Ở HUYỆN LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI, 2021

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ SINH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN

MỚI Ở HUYỆN LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 8 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. TRỊNH ĐỨC HƯNG

HÀ NỘI, 2021

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả

nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa

từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã

được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn

gốc.

Bắc Ninh, ngày tháng năm 2021

Người làm luận văn

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã

nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ,

động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng

và biết ơn sâu sắc tới TS. Trịnh Đức Hưng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều

công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực

hiện đề tài.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào

tạo sau đại học, Học viện Hành chính quốc gia đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá

trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức

UBND huyện Lương Tài đặc biệt là Văn phòng điều phối chương trình NTM

huyện Lương Tài đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực

hiện đề tài.

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo

mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi

hoàn thành luận văn../.

DANH MỤC VIẾT TẮT

MTQG : Mục tiêu quốc gia

NTM : Nông thôn mới

BCĐ : Ban Chỉ đạo

HĐND-UBND : Hội đồng nhân dân- Ủy ban nhân dân

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

GTNT : Giao thông nông thôn

HTX : Hợp tác xã

KTXH : Kinh tế xã hội

XD NTM : Xây dựng nông thôn mới

NNNDNT : Nông nghiệp nông dân nông thôn

NT : Nông thôn

MTTQ : Mặt trận Tổ quốc

NLTC : Nguồn lực tài chính

BTXH : Bảo trợ xã hội

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1

CHƯƠNG 1 ..................................................................................................... 10

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC .............................................. 10

VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ........................................................... 10

1.1. Một số khái niệm cơ bản .......................................................................... 10

1.1.1. Khái niệm về quản lý ............................................................................ 10

1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước ................................................................. 11

1.1.3. Khái niệm về nông thôn, phát triển nông thôn...................................... 11

1.1.4. Khái niệm về nông thôn mới ................................................................. 12

1.1.5. Khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới .................... 13

1.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ............. 15

1.2.1. Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới ........................................... 15

1.2.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới .......... 16

1.2.3. Đặc trưng, nguyên tắc của xây dựng nông thôn mới ............................ 17

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn

mới ................................................................................................................... 19

1.3.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ở mỗi địa phương ....................... 19

1.3.2. Đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán địa phương ............................. 20

1.3.3. Sự lãnh đạo của Đảng ........................................................................... 21

1.3.4. Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước phát triển kinh tế, thu hút đầu tư vào

nông nghiệp, nông thôn ................................................................................... 22

1.3.5. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương ............................ 22

1.3.6. Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ địa phương................................. 23

1.3.7. Nhận thức và sự tham gia của người dân về chương trình xây dựng nông

thôn mới .......................................................................................................... 23

1.3.8. Lợi ích của các đối tượng đóng góp cho chương trình ......................... 24

1.4. Chủ thể, nội dung xây dựng nông thôn mới ............................................ 25

1.4.1. Chủ thể xây dựng nông thôn mới ......................................................... 25

1.4.2. Nội dung của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ............... 28

1.5. Bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở một

số địa phương trong tỉnh và những bài học rút ra cho huyện Lương Tài, tỉnh

Bắc Ninh .......................................................................................................... 33

1.5.1. Kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở một

số huyện trong tỉnh .......................................................................................... 33

1.5.2. Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn chỉ đạo xây dựng nông thôn mới

mà huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh có thể tham khảo và vận dụng ............. 35

Tiểu kết chương 1 ............................................................................................ 38

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH .............. 39

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở

huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh .................................................................... 39

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Lương Tài...................... 39

2.1.2. Về văn hóa, phong tục tập quán của địa phương .................................. 40

2.1.3. Nhận thức cấp ủy Đảng về vai trò quản lý nhà nước về chương trình xây

dựng nông thôn mới ........................................................................................ 41

2.1.4. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của huyện Lương Tài .................. 42

2.1.5. Về nguồn nhân lực ................................................................................ 42

2.1.6. Sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện Chương trình xây

dựng nông thôn mới ........................................................................................ 43

2.1.7. Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý của huyện Lương Tài ................ 43

2.2. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện

Lương Tài trong thời gian qua ........................................................................ 44

2.2.1. Những thuận lợi, khó khăn trong quản lý nhà nước về xây dựng nông

thôn mới ở huyện Lương Tài .......................................................................... 44

2.2.2. Chủ trương, quan điểm của tỉnh Bắc Ninh về xây dựng nông thôn

mới ................................................................................................................... 46

2.2.3. Thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lương

Tài trong thời gian qua .................................................................................... 47

2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện

Lương Tài trong thời gian qua ........................................................................ 49

2.3.1. Kết quả đạt được và nguyên nhân ......................................................... 49

2.2.2. Những yếu kém, hạn chế và nguyên nhân ............................................ 60

Tiểu kết chương 2 ............................................................................................ 62

CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC

NINH ĐẾN NĂM 2025 .................................................................................. 63

3.1. Quan điểm của Đảng, của tỉnh Bắc Ninh về xây dựng nông thôn mới ... 63

3.1.1. Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới ............................... 63

3.1.2. Chủ trương, quan điểm của tỉnh Bắc Ninh về xây dựng nông thôn

mới ................................................................................................................... 64

3.2. Phương hướng, mục tiêu xây dựng nông thôn mới ở huyện Lương Tài tỉnh

Bắc Ninh từ nay đến năm 2025 ....................................................................... 66

3.2.1. Phương hướng ....................................................................................... 66

3.2.2. Mục tiêu................................................................................................. 67

3.3. Các giải pháp chủ yếu quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở

huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh đến năm 2025 ............................................. 68

3.3.1. Giải pháp ban hành, hướng dẫn, triển khai văn bản quy phạm pháp luật

và cơ chế, chính sách trong xây dựng nông thôn mới .................................... 68

3.3.2. Giải pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục nâng cao nhận thức về xây

dựng nông thôn mới ........................................................................................ 69

3.3.3. Kiện toàn bộ máy quản lý, đẩy mạnh huy động nguồn lực đầu tư ....... 69

3.3.4. Tăng cường quản lý thanh tra kiểm tra của các cấp, các ngành và nhân

dân trong xây dựng nông thôn mới ................................................................. 70

Tiểu kết Chương 3 ........................................................................................... 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 73

1. Kết luận ....................................................................................................... 73

2. Kiến nghị ..................................................................................................... 73

2.1.1. Đối với các Bộ, ngành ở Trung ương ................................................... 73

2.1.2. Đối với tỉnh ........................................................................................... 73

2.1.3. Đối với cấp xã ....................................................................................... 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 76

PHỤ LỤC SỐ LIỆU ........................................................................................ 79

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Với khoảng 70% dân số sống trên địa bàn, nông thôn nước ta luôn chiếm

một vị trí quan trọng trong quá trình lịch sử hình thành quốc gia dân tộc và

trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt

Nam qua các giai đoạn cách mạng, nông dân luôn là lực lượng hùng hậu, trung

thành nhất đi theo Đảng, góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc.

Là địa bàn chiến lược, là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế xã hội bền

vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản

sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái, những năm qua, Đảng và

Nhà nước ta đã có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về phát triển nông nghiệp, nông

thôn và nông dân. Trực tiếp và toàn diện nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội

nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn với quan điểm:

cần có bước phát triển mới về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó chú

trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn; xây dựng nền

nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại hóa, bền vững; xây dựng nông thôn

mới có kết hạ tầng KT-XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản

xuất hợp lý, xã hội nông thôn ổn định xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên

minh công nông và đội ngũ trí thức thành nền tảng bền vững, bảo đảm thực hiện

thành công sự nghiệp CNH, HĐH theo định hướng XHCN. XD NTM chính là

giải pháp quan trọng thiết thực nhằm cụ thể hóa mục tiêu Nghị quyết Hội nghị

lần thứ 7, BCH TW khóa X đã đề ra, tạo động lực quan trọng cho sự nghiệp

CNH, HĐH, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn.

Nông thôn mới có thể khái quát theo 5 nội dung cơ bản là: làng xã văn

minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh

1

tế hàng hóa; đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, nông thôn ngày càng

cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản

lý dân chủ. Trên cơ sở các nội dung của Nghị quyết 26-NQ/TW, Chính phủ đã

ban hành Quyết định 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 về Chương trình mục tiêu

Quốc gia xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 – 2020, nêu rõ 19 tiêu chí

và 7 nhóm giải pháp. Có thể nói, đây là một chương trình trọng tâm, xuyên suốt

của Nghị quyết 26-NQ/TW, là chương trình khung, tổng thể phát triển nông

thôn với 11 nội dung lớn, tổng hợp của 16 chương trình mục tiêu quốc gia và

14 chương trình trình hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai ở địa bàn nông thôn

trên phạm vi cả nước. Chính vì vậy thực hiện thành công chương trình xây dựng

nông thôn mới sẽ không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân nông thôn

mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, chính trị, xã hội

chung trong cả nước. Tuy nhiên, quá trình triển khai XD NTM trên địa bàn

huyện vẫn còn có những khó khăn cả về cơ chế chính sách, nguồn lực đầu tư,

về nhận thức của đội ngũ cán bộ có lúc, có nơi chưa thật đầy đủ và chưa tích

cực vào cuộc, ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao đời sống vật chất và

tinh thần cho cư dân nông thôn mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp

phát triển kinh tế, chính trị, xã hội chung trong cả nước.

Huyện Lương Tài là một huyện nông nghiệp thuộc tỉnh Bắc Ninh xa

trung tâm, điều kiện về kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, nhưng với sự cố

gắng của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân trong huyện, đến hết năm

2017, đã có 08/13 xã được công nhận xã nông thôn mới, phấn đấu đến năm

2020, huyện được công nhận huyện nông thôn mới. Việc thực hiện Chương

trình MTQG về NTM trong những năm qua đã đạt được những kết quả đáng

phấn khởi, kinh tế xã hội phát triển ổn định, tốc độ phát triển kinh tế hàng năm

đều tăng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; thu nhập đầu người

2

tăng; diện mạo nông thôn ngày càng khởi sắc; kết cấu hạ tầng về giao thông,

thủy lợi, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa được quan tâm đầu tư, từng bước

đáp ứng nhu cầu sản xuất, phục vụ dân sinh; an ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội ngày càng được củng cố; cảnh quan môi trường nông thôn được cải

thiện; đời sống về vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên.

Tuy nhiên, quá trình triển khai XD NTM trên địa bàn huyện vẫn còn có

những khó khăn cả về cơ chế chính sách, nguồn lực đầu tư, về nhận thức của

đội ngũ cán bộ có lúc, có nơi chưa thật đầy đủ và chưa tích cực vào cuộc, ảnh

hưởng không nhỏ đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cư

nông thôn

Xuất phát từ thực tiễn: Vấn đề cốt lõi của XD NTM chính là nâng cao

thu nhập, mức sống của cư dân nông thôn, tạo sự hài lòng của người dân đối

với quản lý, điều hành của chính quyền Nhà nước các cấp. Song phải xác định:

XD NTM là nhiệm vụ lâu dài, không thể nhanh chóng hoàn thành trong ngày

một ngày hai, và XD NTM cũng chưa kết thúc khi các địa phương hoàn thành

các tiêu chí đề ra mà cần tiếp tục duy trì và nâng cao hơn chất lượng các tiêu

chí đã đạt được. Chính vì vậy, cần phải có những nghiên cứu lý luận, khảo sát

và đánh giá thực tiễn, tìm giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà

nước về XD NTM trên địa bàn nông thôn cả nước nói chung cũng như ở huyện

Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh nói riêng nhằm mở ra triển vọng mới trên lộ trình

xây dựng môi trường sống tốt đẹp hơn cho cộng đồng.

Từ những lý do trên đây, và qua kinh nghiệm từ thực tiễn, đề tài

“Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lương Tài tỉnh Bắc

Ninh” được tác giả lựa chọn làm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên ngành

Quản lý công.

3

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói chung, xây dựng NTM nói riêng

là đề tài được nhiều tác giả, các nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu:

Đặng Kim Sơn trong cuốn sách "Công nghiệp hóa từ nông nghiệp - Lý

luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam" của Nxb Nông nghiệp,

Hà Nội, năm 2001. Đã điểm lại một số học thuyết kinh tế trong phát triển

nông nghiệp như: các lý thuyết phát triển nông nghiệp theo giai đoạn, lý thuyết

liên kết giữa các lĩnh vực kinh tế, lý thuyết về vai trò của Nhà nước trong nền

kinh tế thị trường... giới thiệu thực tiễn thành công và thất bại của một số nền

kinh tế châu Á điển hình như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc

trong quá trình phát triển nông nghiệp và trong bối cảnh tiến hành CNH, từ đó

tóm lược một số bài học kinh nghiệp và lý luận phát triển chính thức rút ra từ

CNH. Đồng thời, nhìn lại quá trình phát triển nông nghiệp Việt Nam từ năm

1945 đến nay, những thời cơ, thách thức, đề nghị về chính sách, cách tiến hành

để phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn tới.

Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh với bài viết: “Xây dựng mô hình nông

thôn mới ở nước ta hiện nay” Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2009.

Phân tích chủ yếu ba vấn đề: thứ nhất, nông thôn Việt Nam trước yêu cầu

mới; thứ hai, hình dung ban đầu về những tiêu chí của mô hình NTM; thứ ba,

về những nhân tố chính của mô hình NTM như: kinh tế, chính trị, văn hóa,

con người, môi trường... Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình NTM có

mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều

hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo

hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên

tinh thần. Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định

chính sách.

4

Nguyễn Văn Bích trong cuốn sách "Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại" của Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, năm 2007. Đã nhìn nhận một cách khá toàn diện lịch sử phát triển

nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta trong thế kỷ XX, nhất là 20 năm

đổi mới. Trong đó, nội dung nghiên cứu được kết cấu theo các giai đoạn: thứ

nhất, nông nghiệp; nông thôn Việt Nam dưới chế độ thuộc địa, nửa phong

kiến (1901 - 1945); thứ hai, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam từ khi ra đời

nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến giải phóng miền Nam, thống nhất đất

nước (1945 - 1975); thứ ba, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau ngày giải

phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng cơ

sở vật chất kỹ thuật của CNXH (1976 - 1986); thứ tư, nông nghiệp, nông thôn

Việt Nam 20 năm đổi mới (1986 - 2006). Cuốn sách đã làm sáng tỏ nhiều vấn

đề lý luận, thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn, về quan hệ sản xuất, cơ

chế quản lý. Đặc biệt, đã nêu được bối cảnh về sự phát triển của nền kinh tế

nước ta nói chung, nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng.

Đề tài “Quản lý nhà nước về XD NTM trên địa bàn huyện Hương Khê,

tỉnh Hà Tĩnh” của Nguyễn Thị Quy, Luận văn thạc sỹ hành chính công năm

2015, đề cập đến những kết quả đạt được, những khó khăn trong quản lý nhà

nước về XD NTM tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh từ đó đề xuất một số

giải pháp nhằm nâng cao hơn hiệu quả của chương trình trong thời gian tới.

Xây dựng NTM là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm phát

triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao mức sống của cư dân ở nông thôn. Để

thực hiện chủ trương này, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh đã kịp thời cụ thể

hóa trong những văn bản nhất định. Luận văn đã tiếp cận, làm rõ một số nội

dung sau:

5

1. Khái niệm Quản lý nhà nước về xây dựng NTM, đặc trưng, nguyên

tắc của xây dựng NTM, các tiêu chí và nhân tố ảnh hưởng cũng như kinh

nghiệm của một địa phương trong thực hiện xây dựng NTM...

2. Bức tranh tổng thể về quá trình triển khai, thực hiện các tiêu chí xây

dựng NTM ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh đã được phân tích khái quát.

Thực tế quá trình xây dựng NTM ở huyện Lương Tài, Bắc Ninh đã đạt được

những kết quả, đặc biệt trong các lĩnh vực quy hoạch, hệ thống tiêu chí về

điện, bưu điện, xóa đói giảm nghèo, nhà ở hay hệ thống chính trị ở cơ sở và an

ninh trật tự xã hội ở nông thôn.

Bên cạnh những kết quả đạt được, luận văn sẽ tiếp tục làm sáng tỏ những

vấn đề đặt ra như sau:

Thứ nhất, xây dựng NTM trong phát triển KT - XH ở địa phương cấp huyện.

Thứ hai, đặc điểm của NTM theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia

về xây dựng NTM, sự khác biệt trong đặc điểm của NTM hiện nay so với đặc

điểm nông thôn trước khi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây

dựng NTM theo 19 tiêu chí.

Thứ ba, những yếu tố tác động đến hoạt động xây dựng NTM, các chủ

thể trong xây dựng NTM và phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng

NTM hiện nay.

Thứ tư, thực tiễn xây dựng NTM trong phát triển KT - XH ở huyện

Lương Tài tỉnh Bắc Ninh, những kết quả đạt được, những vấn đề tồn tại, phát

sinh và nguyên nhân của những tồn tại đó trong quá trình triển khai thực

hiện xây dựng NTM. Từ những tồn tại, nguyên nhân để đề xuất phương

hướng và giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh việc thực hiện xây dựng NTM ở

huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh giai đoạn đến năm 2025.

6

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn

3.1. Mục đích

Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về XD

NTM và kết quả phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về XD NTM

ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh từ đó xác định những khó khăn, hạn chế,

nguyên nhân của những tồn tại cần khắc phục và đề xuất các giải pháp nhằm

nâng cao hơn hiệu quả quản lý nhà nước về XD NTM trên địa bàn, hướng tới

mục tiêu hoàn thành 100% số xã trong huyện đạt tiêu chí xã NTM, đồng thời

duy trì và nâng cao hơn các tiêu chí theo chuẩn NTM tại các xã đã đạt chuẩn

và được công nhận xã NTM.

3.2. Nhiệm vụ

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới.

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới.

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu

quả quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc

Ninh.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung của

quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.

4.2. Phạm vi

- Về nội dung: nghiên cứu về những nội dung trong hoạt động quản lý

nhà nước nhằm thực hiện các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới tại các xã

thuộc huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh.

7

- Về không gian: Nghiên cứu về quản lý nhà nước trong xây dựng nông

thôn mới ở các xã trong phạm vi huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.

- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước về xây

dựng nông thôn mới, từ khi bắt đầu triển khai tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc

Ninh từ năm 2015 đến nay và định hướng đến năm 2025.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa

Mác– Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng, Nhà nước, của

các Bộ, ngành về xây dựng nông thôn mới; những chủ trương, biện pháp nhằm

xây dựng nông thôn mới của Huyện ủy, HĐND và UBND huyện Lương Tài,

tỉnh Bắc Ninh.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chú

trọng phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải…đặc biệt Luận văn

sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp thống kê: Thu thập các tài liệu, số liệu đã có tại các cơ

quan trong huyện và các xã, thị trấn trên địa bàn huyện; Ban chỉ đạo xây dựng

nông thôn mới huyện Lương Tài, từ đó phân tích và rút ra những kết quả đánh

giá khách quan, dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tiếp theo.

- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin công bố chính thức

của các cơ quan nhà nước, tài liệu dựa trên cơ sở điều tra các xã trên địa bàn

huyện theo bảng biểu ứng với các tiêu chí nông thôn mới do các cơ quan chức

năng của huyện cung cấp.

8

- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp tại địa bàn xây dựng nông

thôn mới tại huyện Lương Tài nhằm thu thập những thông tin cần thiết về vấn

đề xây dựng nông thôn mới.

- Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp nghiên cứu, thu thập số liệu,

xử lý số liệu...

6. Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề cốt yếu và cấp thiết nhất để

nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới. Đặc biệt là

phân tích, đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn

mới huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất các phương hướng, giải

pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nông

thôn mới ở địa phương trong thời gian tới theo hướng bền vững.

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, vận

dụng những kinh nghiệm hay trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng

nông thôn mới.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

3 chương.

Chương 1. Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn

mới.

Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại

huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.

Chương 3. Quan điểm của Đảng và các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà

nước về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2020 - 2025.

9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Khái niệm về quản lý

Quản lý là một hoạt động tất yếu khách quan, diễn ra ở mọi tổ chức dù

quy mô nhỏ hay lớn, có cấu trúc đơn giản hay phức tạp. Xã hội càng phát triển,

trình độ hiệp tác và phân công lao động càng cao thì yêu cầu về công tác quản

lý ngày càng hoàn thiện. Do quản lý gắn liền với phát triển kinh tế xã hội, nên

trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Theo F.W.Taylor, quản

lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết được họ đã

hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất và rẻ nhất. Theo Henry Faylo, quản

lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo,

kiểm tra các nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn

lực khác của tổ chức nhằm đạt mục tiêu đã định trước. Mary Parker Follett

trong “Quản trị học đại cương” cho rằng, quản lý là nghệ thuật đạt mục tiêu

thông qua con người.

Ngoài ra còn có quan niệm cho rằng: Quản lý là hoạt động có tính tổ

chức nhằm duy trì và phát triển một tập hợp người để cùng nhau thực hiện có

hiệu quả các nhiệm vụ và mục tiêu đã được đặt ra; “Quản lý là quá trình phối

hợp các hoạt động liên quan đến mục đích công việc để chúng được triển khai

một cách có hiệu quả và hiệu xuất tốt thông qua những người khác”; “Quản lý

là việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả và đạt hiệu xuất

10

tốt, thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực

của tổ chức”.

Tóm lại, quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch của

chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có

hiệu quả các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) bằng một hệ thống các chính

sách, luật lệ, nguyên tắc, các phương pháp cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu

đặt ra một cách hiệu quả nhất.

1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước

Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự

tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá

trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các

mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và

nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc

XHCN”.

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà

nước, được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong

quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt.

1.1.3. Khái niệm về nông thôn, phát triển nông thôn

Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn. Nông

thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân với sản

xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Sự khác biệt về công tác quản lý giữa

nông thôn và thành thị trên thực tế, nông thôn với cấp quản lý xã, thôn, bản;

còn thành thị với cấp quản lý phường, thị trấn.

11

Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ

NN&PTNT, thì: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị

các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là

UBND xã".

Vậy, nông thôn là địa bàn sinh sống chủ yếu của người nông dân gắn với

hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính và được quản lý bởi chính quyền

cấp xã.

Phát triển nông thôn là sự phát triển ở khu vực nông thôn, nhằm nâng

cao vị thế KTXH cho người dân nông thôn thông qua việc sử dụng có hiệu quả

các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực.

Cho đến hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này:

Theo Ngân hàng thế giới (WB) thì: “Phát triển nông thôn là một chiến lược

nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể -

người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những

người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”.

Theo Nguyễn Quế Hương (2013) thì Phát triển nông thôn là một quá

trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi

trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự

hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác. Quan niệm này khá phù hợp

với điều kiện của nước ta hiện nay.

1.1.4. Khái niệm về nông thôn mới

Hiện chưa có một khái niệm đầy đủ về NTM, đã có một số diễn giải và

phân tích về khái niệm thế nào là NTM, như theo ông Hồ Xuân Hùng “NTM

trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố

và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm

12

nội dung cơ bản sau: (i) làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; (ii) sản

xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; (iii) đời sống về

vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao; (iv) bản sắc

văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển; (v) xã hội nông thôn an ninh tốt,

quản lý dân chủ”.

Với tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị

lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân,

nông thôn thì nông thôn mới có 05 đặc trưng và 19 tiêu chí:

Các đặc trưng của nông thôn mới: Kinh tế phát triển, đời sống vật chất

và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao; nông thôn phát triển theo quy

hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được

bảo vệ; dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát

huy; an ninh tốt, quản lý dân chủ; chất lương hệ thống chính trị được nâng cao...

- 19 tiêu chí xã nông thôn mới: 1 quy hoạch, 2 giao thông, 3 thủy lợi, 4

điện, 5 trường học, 6 cơ sở vật chất văn hóa, 7 chợ, 8 bưu điện, 9 nhà ở dân cư,

10 thu nhập, 11 tỷ lệ hộ nghèo, 12 cơ cấu lao động, 13 hình thức tổ chức sản

xuất, 14 giáo dục, 15 y tế, 16 văn hóa, 17 môi trường, 18 hệ thông chính trị xã

hội vững mạnh, 19 an ninh trật tự xã hội.

Riêng đối với huyện nông thôn mới có 9 tiêu chí: 1 quy hoạch, 2 giao

thông, 3 thủy lợi, 4 điện, 5 y tế - văn hóa – giáo dục, 6 sản xuất, 7 môi trường,

8 an ninh, trật tự xã hội, 9 chỉ đạo xây dựng nông thôn mới.

1.1.5. Khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

- Khái niệm về xây dựng Nông thôn mới

XD NTM là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ

thống chính trị, là nguyện vọng thiết tha bao đời của giai cấp nông dân, đồng

13

thời là quy luật tất yếu của sự nghiệp phát triển đất nước. NTM không chỉ là

vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.

XD NTM vừa là mục tiêu, yêu cầu của sự phát triển bền vững, vừa là

nhiệm vụ cấp bách, vừa là chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt trong sự

nghiệp cách mạng mang tính nhân văn sâu sắc.

XD NTM bao gồm tất cả các vấn đề gắn với đời sống của người dân và

môi trường, không gian sống ở khu vực nông thôn (giáo dục, y tế, nhà cửa,

dịch vụ công cộng, cơ sở vật chất, năng lực lãnh đạo, quản lý, bảo tồn và phát

huy giá trị các di sản văn hóa cũng như các vấn đề kinh tế của địa phương

nói chung, kinh tế ngành nói riêng), là một quá trình ổn định, bền vững với

những thay đổi kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường hướng tới hội nhập bền

vững trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường. Mục tiêu

trọng tâm là nâng cao được đời sống dân cư tại cộng đồng và được sống trong

một xã hội nông thôn năng động, văn hoá hiện đại nhưng vẫn giữ được bản

sắc văn hoá truyền thống, đồng thời ở đó môi trường được bảo vệ và ngày

càng được tôn tạo.

Như vậy, XD NTM là thực hiện chương trình phát triển toàn diện,

vững chắc nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm nâng cao đời sống người

dân và sự phát triển. Đó là quá trình thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã

hội, môi trường; trong đó có hàm ý là tạo ra những “con người mới” có văn

hoá trong môi trường NTM.

Từ khái niệm “Quản lý nhà nước” và khái niệm về “xây dựng nông thôn

mới”, có thể hiểu: Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới chính là việc

Nhà nước thực hiện vai trò của mình thông qua việc hoạch định chiến lược, xây

dựng các chính sách, kế hoạch và triển khai các chương trình hỗ trợ nhằm tác

động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn, làm cho nông

14

thôn phát triển toàn diện và đồng bộ, có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại;

làng xã văn minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế

hàng hóa; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được

nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị vững mạnh và

được tăng cường; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần

của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng XHCN.

1.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

1.2.1. Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới

Một là: Do kết cấu hạ tầng điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn

nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ; nhiều hạng mục công trình đã

xuống cấp, tỷ lệ GTNT được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít được quan

tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện

nông thôn chưa thực sự an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn

rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều

nơi xuống cấp. Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc

gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển.

Hai là: Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến

còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng

nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ

trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp;

cơ giới hoá chưa đồng bộ.

Ba là: Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào

nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành

phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ. Kinh tế hộ, kinh tế trang

trại, HTX còn nhiều yếu kém. Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có

15

việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua

đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao.

Bốn là: Do đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều

nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang

phục…); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát. Hiện nay, KT-

XH khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch.

Năm là: Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất

nước, cần 3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật. Qua việc XD NTM

sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH.

Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công

nghiệp, không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó.

1.2.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

Một là: Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước xây dựng nông thôn

mới là chủ trương có tầm chiến lược trong sự nghiệp CNH - HĐH xây dựng,

bảo vệ Tổ quốc góp phần nâng cao đời sống và thay đổi bộ mặt của nông thôn.

Hoạt động đòi hỏi sự tham gia của người dân với vai trò là chủ thể chính bên

cạnh sự hỗ trợ của chính quyền. Tuy nhiên để đảm bảo tính thống nhất từ mục

tiêu đến cách thức thực hiện trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường,

định hướng xã hội chủ nghĩa, về lý luận và thực tiễn, Nhà nước có vai trò không

thể thiếu đối với hoạt động xây dựng nông thôn mới.

Nhà nước, với chức năng quản lý của mình khắc phục những hạn chế của

việc điều tiết thị trường trong hoạt động xây dựng nông thôn mới, bảo đảm thực

hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; giải quyết những mâu thuẫn lợi ích

kinh tế - xã hội phổ biến, thường xuyên và cơ bản trong xây dựng nông thôn

mới như: mâu thuẫn giữa nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà nông; mâu thuẫn

16

giữa lợi ích kinh tế và những giá trị xã hội bằng quyền lực, chính sách và sức

mạnh kinh tế của mình. Mặt khác, vai trò QLNN của nhà nước rất quan trọng

nhằm đảm bảo vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn được giải quyết đồng

bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước.

Hai là: Xuất phát từ thực tế quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn

mới và những hạn chế của hoạt động xây dựng nông thôn mới hiện nay.

Trong quá trình lãnh đạo đất nước, với nhận thức sâu sắc về đặc điểm của

nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền nông nghiệp lạc hậu, Đảng Cộng sản

Việt Nam luôn khẳng định tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông

thôn. Sự đột phá đầu tiên về chính sách của Đảng trong thời kỳ đổi mới cũng

được khởi đầu từ lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tuy nhiên, xây

dựng nông thôn mới là công việc diễn ra trong thời kỳ dài và có nhiều người

tham gia, nên muốn có kết quả phải có sự quản lý của Nhà nước.

Bên cạnh những kết quả đạt được, nhiều mô hình xây dựng nông thôn

mới có nhiều biểu hiện lệch lạc: Xây dựng NTM có tính phong trào, chạy theo

thành tích, chưa coi trọng vai trò chủ thể của người dân, nhiều địa phương chỉ

tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng, không chú trọng chuyển đổi, tổ chức sản

xuất, nâng cao đời sống nhân dân. Thậm chí có nơi vay vốn, đầu tư hạ tầng

trước dẫn đến công nợ vượt khả năng chi trả, vi phạm pháp luật và tạo dư luận

xấu trong nhân dân… Từ thực tiễn ấy, việc tăng cường vai trò của nhà nước

trong quản lý thực hiện xây dựng nông thôn mới là cần thiết.

1.2.3. Đặc trưng, nguyên tắc của xây dựng nông thôn mới

* Đặc trưng của xây dựng nông thôn mới: Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn

xây dựng NTM” (Nhà xuất bản Lao động 2010), đặc trưng của NTM thời kỳ

CNH –HĐH, giai đoạn 2010-2020, bao gồm:

17

- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn

được nâng cao;

- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội

hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;

- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;

- An ninh tốt, quản lý dân chủ.

- Chất lương hệ thống chính trị được nâng cao...

* Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

Nội dung XD NTM hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được qui

định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

XD NTM theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân

cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu

chí, quy chuẩn, xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn. Các hoạt

động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết

định và tổ chức thực hiện.

Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục

tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác

đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần

thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần

kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư.

Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã

hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy

hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch. Công khai, minh bạch

về quản lý, sử dụng các nguồn lực, phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và

tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Chương trình xây dựng NTM

18

Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính

quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch,

tổ chức thực hiện; Hình thành cuộc vận động “Toàn dân xây dựng nông thôn

mới" do MTTQ chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng

lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới.

* Các bước thực hiện

Theo Thông tư số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày

13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu

tư, Bộ Tài chính thì XD NTM có 7 bước, gồm:

Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện;

Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây

dựng NTM (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện);

Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ

tiêu chí quốc gia NTM;

Bước 4: Xây dựng quy hoạch NTM của xã;

Bước 5: Lập, phê duyệt đề án XD NTM của xã;

Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án;

Bước 7: Giám sát, đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện chương trình.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xây dựng nông

thôn mới

1.3.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ở mỗi địa phương

Vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng lớn đến sự

phát triển của mỗi địa phương, đến việc thu hút vốn đầu tư và phát triển KTXH.

Những địa bàn có vị trí thuận lợi, gần các khu đô thị, khu công nghiệp, khu vực

có nhiều nguồn tài nguyên,...dễ thu hút vốn đầu tư hơn các khu vực khác.

19

Sự biến đổi trong tự nhiên ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông

nghiệp và đời sống của cư dân nông thôn. Trong những năm qua và dự báo

cùng với sự biến đổi khí hậu, sản xuất nông nghiệp nước ta sẽ chịu nhiều tác

động trên các khía cạnh:

+ Ảnh hưởng đến sử dụng đất cho nông nghiệp bởi mất diện tích do

nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, sạt lở, hoang mạc hóa… Biến đổi khí hậu làm

thay đổi tính thích hợp của nền sản xuất nông nghiệp với cơ cấu khí hậu. Sự

giảm dần cường độ lạnh trong mùa đông, tăng cường thời gian nắng nóng dẫn

đến tình trạng mất dần hoặc triệt tiêu tính phù hợp giữa các loại cây, con trên

các vùng sinh thái.

+ Làm chậm đi quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sản xuất

hàng hóa và đa dạng hóa cũng như làm biến dạng nền nông nghiệp cổ truyền.

+ Biến đổi khí hậu gây nhiều khó khăn cho công tác thủy lợi, khả năng

tiêu thoát nước ra biển giảm đi rõ rệt, mực nước các sông dâng lên, đỉnh lũ

tăng thêm, uy hiếp các tuyến đê sông ở các tỉnh phía Bắc, đê bao và bờ bao ở các

tỉnh phía Nam; diện tích ngập úng mở rộng, thời gian ngập úng kéo dài. Nhu cầu

tiêu nước, cấp nước gia tăng vượt khả năng đáp ứng của nhiều hệ thống thủy lợi.

Mặt khác, dòng chảy lũ gia tăng có khả năng vượt quá các thông số thiết kế hồ,

đập, tác động tới an toàn hồ đập và quản lý tài nguyên nước…

Ngoài ra, các điều kiện về kinh tế xã hội như: cơ sở hạ tầng, thu nhập

của người dân, trình độ của lao động địa phương càng thuận lợi, phát triển cao

thì càng thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư vào phát triển KTXH.

1.3.2. Đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán địa phương

Nông thôn là nơi bảo tồn, lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa

truyền thống của dân tộc. Những giá trị đặc sắc trong văn hóa dân tộc đó đã

20

và đang tác động không nhỏ đến sự phát triển con người và xã hội nói chung,

xây dựng NTM nói riêng. Tuy nhiên, cùng với quá trình CNH, HĐH, quá

trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng ở nhiều vùng nông thôn dẫn đến nhiều

giá trị văn hóa bị mai một, nhiều hủ tục lạc hậu ăn sâu trong lối sống và suy

nghĩ đã trở thành trở lực đối với xây dựng NTM. Giữ gìn bản sắc văn hóa,

phong tục, tín ngưỡng đóng vai trò quan trọng, góp phần nâng cao đời sống tinh

thần của người dân. Nông thôn Việt nam hiện lưu giữ khá nhiều phong tục tập

quán, một số vùng miền vẫn còn những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan đang ảnh

hưởng đến hiệu quả xây dựng nông thôn mới.

1.3.3. Sự lãnh đạo của Đảng

Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X đã đề ra Nghị quyết số 26-NQ/TW,

đề cập một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về phát triển NNNDNT, trong

đó có XD NTM. Nghị quyết khẳng định: NNNDNT có vai trò to lớn, chiếm vị

trí quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy các vấn đề

về NNNDNT phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH,

HĐH. Đó không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân, ở khu vực NT mà là nhiệm

vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ban hành

Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị

quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X về NNNDNT; đã thống nhất nhận thức,

hành động về NNNDNT và chương trình mục tiêu quốc gia XD NTM.

Nối tiếp Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nghị

quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2011 - 2016 cũng

đã nêu: “Tiếp tục triển khai chương trình xây dựng NTM phù hợp với đặc điểm

từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và

phát huy nét văn hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam”.

21

Thực hiện đường lối của Đảng, thời gian qua phong trào XD NTM ở các

địa phương đã thu hút sự tham gia tích cực của các cấp ủy Đảng, chính quyền,

các tổ chức đoàn thể và nhân dân, bước đầu làm thay đổi đáng kể diện mạo khu

vực NT tại nhiều địa phương, đời sống vật chất và tinh thần của người dân có

bước tiến bộ rõ rệt. Tuy nhiên quá trình XD NTM còn bộc lộ nhiều hạn chế. Đây

là một chương trình mới nên phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm, năng lực thực

tiễn của cán bộ các cấp chưa nhiều, công tác chỉ đạo, triển khai còn lúng túng.

Trong nhận thức một bộ phận nhân dân vẫn cho rằng xây dựng NTM là dự án

do Nhà nước đầu tư, do đó còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Chính vì

vậy trong thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương,

đường lối của Đảng, để mọi người dân đều nhận thức được trách nhiệm của mình

và sẵn sàng chung sức xây dựng NTM.

1.3.4. Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước phát triển kinh tế, thu hút

đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

Các chính sách kinh tế bao gồm cả các chính sách của Trung ương và

của địa phương. Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động lớn nhất đến

kết quả huy động vốn đầu tư. Các chính sách này nhằm thu hút vốn đầu tư trong

và ngoài nước đầu tư ở các địa phương. Nguồn vốn đầu tư này vừa tạo nguồn

thu cho các nhà đầu tư, tạo nguồn thu cho nhà nước thông qua thuế. Hơn nữa,

là vấn đề tạo việc làm cho lao động địa phương, hỗ trợ các hoạt động phát triển

kinh tế ở các địa phương thông qua việc đầu tư hạ tầng cơ sở,…

1.3.5. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Chiến lược phát triển KTXH của các địa phương ảnh hưởng trực tiếp đến

kêt quả huy động các nguồn lực thực hiện chương trình. Ở những địa phương

có điều kiện phát triển mọi mặt nó làm giảm số lượng vốn cần hoàn thành các

tiêu chí của chương trình vì các tiêu chí đánh giá gần như đã đạt. Những xã

22

nghèo, kết cấu hạ tầng nông thôn yếu kém thì chính quyền địa phương có nhu

cầu phát triển KTXH càng lớn, đòi hỏi sự đóng góp của người dân nông thôn

nhiều hơn. Các chiến lược phát triển được định hướng dài hạn, ổn định là điều

kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư. Ngoài ra, cũng cần

tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, có các chính sách khuyến khích

đầu tư,...mới nâng cao được huy động vốn để phát triển kinh tế xã hội.

1.3.6. Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ địa phương

Lãnh đạo chương trình ở các cấp giữ vai trò quan trọng trong định hướng

mục tiêu, kế hoạch hành động và xây dựng lòng tin của cộng đồng về sự thành

công của chương trình cũng như đảm bảo sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính để

thực hiện. Đối với người lãnh đạo có trách nhiệm, hiểu biết, có trình độ, tạo

được lòng tin với nhân dân thì sẽ vận động được người dân tham gia nhiệt tình

trong quá trình thực hiện chương trình. Hơn nữa, cán bộ địa phương là những

người gần dân nhất, hiểu được tâm tư nguyện vọng của người dân sẽ đưa ra

được những hướng đầu tư đúng đắn và hợp lòng dân. Đội ngũ cán bộ phải được

đào tạo sâu về chuyên môn, phải nghiên cứu, đầu tư sao cho có hiệu quả cao

nhất, tránh thất thoát, lãng phí vốn đầu tư. Các nhân tố này tác động trực tiếp

đến hiệu quả của công cuộc đầu tư nói chung và của từng dự án đầu tư nói

riêng. Nếu năng lực chuyên môn thấp, công tác quản lý kém thì sẽ dẫn đến kết

qủa đầu tư.

1.3.7. Nhận thức và sự tham gia của người dân về chương trình xây

dựng nông thôn mới

Đây là nhân tố ảnh hưởng lớn đến kết quả huy động NLTC cho chương

trình XD NTM ở các địa phương. Việc nhận thức đúng và đủ về nội dung của

chương trình sẽ làm cho quá trình xây dựng được thực hiện bài bản, chủ động

23

trong quá trình thực hiện các nội dung đặc biệt là công tác huy động và sử dụng

nguồn lực phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

Công tác tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan

trọng hàng đầu trong việc tổ chức thực hiện chương trình, là nhiệm vụ của các

cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở. Chất lượng của công tác tuyên truyền

quyết định đến nhận thức của người dân về chương trình và mức độ sẵn lòng

tham gia đóng góp. Khi người dân hiểu về vai trò của Chương trình xây dựng

nông thôn mới, hiểu rõ nội dung, phương pháp, cách làm, nghĩa vụ và trách

nhiệm trong việc XDNTM người dân sẽ chủ động trong việc tham gia thực hiện

chương trình, từng bước xóa bỏ tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước trong

quá trình thực hiện.

Sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện chương trình xây

dựng NTM dựa vào việc huy động cộng đồng để tận dụng các nguồn lực địa

phương được coi là một hình thức quan trọng để phát triển các địa phương vì

cộng đồng hiểu rõ nhất về những khó khăn mà họ phải đối mặt để tìm ra những

giải pháp cần thiết để giải quyết những khó khăn này.

Sự sẵn lòng tham gia đóng góp của người dân cho chương trình XD NTM

chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: khả năng tài chính, kết quả công tác tuyên

truyền vận động, tính công khai, minh bạch trong quá trình huy động...

1.3.8. Lợi ích của các đối tượng đóng góp cho chương trình

Khi tham gia đóng góp cho chương trình thì sẽ có lợi ích gì? Là câu hỏi

mà các đối tượng tham gia đóng góp sẽ đặt ra. Vì vậy, khi thực hiện các chính

sách huy động nguồn lực để thực hiện chương trình, các địa phương cũng cần

xác định các lợi ích mà các đối tượng tham gia đóng góp được nhận. Chẳng

hạn, để huy động nguồn từ các doanh nghiệp thì địa phương cần có các chính

24

sách ưu đãi cho doanh nghiệp về thuế, về các thủ tục, về mở rộng sản xuất,...Đối

với nguồn huy động từ người dân, thì người dân là chủ thể của chương trình, là

người hưởng thụ thành quả chương trình XD NTM, tuy nhiên, để người dân

tham gia một cách tự nguyện thì cần phải làm tốt công tác tuyên truyền để người

dân hiểu những lợi ích mà họ sẽ được hưởng khi thực hiện chương trình này,

vì trình dộ dân trí ở mỗi địa phương khác nhau nên cần có các hình thức tuyên

truyền phù hợp.

1.4. Chủ thể, nội dung xây dựng nông thôn mới

1.4.1. Chủ thể xây dựng nông thôn mới

Cấp Trung ương:

Cấp Trung ương đứng đầu là Chính phủ có vai trò đặc biệt quan trọng

trong QLNN về xây dựng NTM. Chính phủ là cấp hoạch định chính sách, chiến

lược, xây dựng chính sách, kế hoạch, và triển khai các chương trình hỗ trợ cho

phát triển NTM đồng bộ trên các phương diện.

Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng

NTM giai đoạn 2010 - 2020 có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành việc thực

hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM và các chương trình

khác liên quan đến nội dung xây dựng NTM.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực Chương

trình, có vai trò: Giúp Ban Chỉ đạo Trung ương chỉ đạo thực hiện Chương trình;

chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch 5 năm và

hàng năm về mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp và nhu cầu kinh phí thực hiện

Chương trình gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính để tổng hợp báo cáo

Chính phủ; đôn đốc, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Chương trình của

25

các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương, tổng hợp báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương và Chính phủ.

Văn phòng điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia về xây

dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 là cơ quan tham mưu, giúp việc Ban Chỉ đạo

Trung ương; đồng thời giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

trong việc thực hiện nhiệm vụ là cơ quan thường trực về chỉ đạo, triển khai và

QLNN thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn

2010 – 2020. Văn phòng Điều phối trung ương có chức năng, nhiệm vụ: Xây

dựng chương trình, kế hoạch công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương; kế hoạch

phối hợp, kiểm tra, giám sát và hướng dẫn các cơ quan, đơn vị và địa phương

tham gia thực hiện Chương trình. Nghiên cứu, tham mưu, đề xuất cơ chế, chính

sách và cơ chế phối hợp hoạt động liên ngành để thực hiện có hiệu quả Chương

trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020.

Cấp tỉnh:

UBND tỉnh là cấp triển khai và QLNN thực hiện chương trình xây dựng

NTM, có vai trò như sau: Tổ chức triển khai các chương trình trên địa bàn; Phân

công, phân cấp trách nhiệm của từng cấp và các ban, ngành cùng cấp trong việc

tổ chức thực hiện chương trình theo nguyên tắc tăng cường phân cấp và đề cao

tinh thần trách nhiệm cho cơ sở; chỉ đạo lồng ghép có hiệu quả các chương trình,

dự án trên địa bàn; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc quản lý thực hiện chương

trình và thực hiện chế độ báo cáo hàng năm.

Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM tỉnh, đặt

dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch UBND tỉnh và chịu trách nhiệm trước

Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh về

lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia

xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh.

26

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ trì Chương trình

mục tiêu quốc gia và QLNN về xây dựng NTM. Giúp Ban Chỉ đạo tỉnh chỉ đạo

thực hiện Chương trình; chủ trì và phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan xây

dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm về mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp và nhu

cầu kinh phí thực hiện Chương trình; đôn đốc, kiểm tra, giám sát tình hình thực

hiện Chương trình của các sở, ban, ngành, các địa phương.

Văn phòng Điều phối thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng

NTM cấp tỉnh; là cơ quan giúp việc Ban Chỉ đạo, Ủy Ban nhân dân tỉnh về chỉ

đạo, triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn

trên địa bàn tỉnh.

Cấp huyện:

UBND cấp huyện có vai trò như sau: Tổ chức triển khai và QLNN các

chương trình xây dựng NTM trên địa bàn; phân công, phân cấp trách nhiệm của

từng phòng ban trong việc tổ chức thực hiện chương trình theo nguyên tắc tăng

cường phân cấp và đề cao tinh thần trách nhiệm cho cơ sở; chỉ đạo lồng ghép

có hiệu quả các chương trình, dự án trên địa bàn; thường xuyên kiểm tra, giám

sát việc quản lý thực hiện chương trình và thực hiện chế độ báo cáo hàng năm.

Ban chỉ đạo xây dựng NTM cấp huyện có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân

dân huyện chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc

gia xây dựng NTM trên trên địa bàn huyện.

Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ trì và tham

mưu QLNN về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM.

Văn phòng điều phối thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng

NTM cấp huyện thuộc phòng Nông nghiệp và PTNT, là cơ quan giúp việc Ban

chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM huyện và Ủy ban nhân

27

dân huyện. Có nhiệm vụ điều phối; thực hiện một số nhiệm vụ thuộc Chương trình

mục tiêu quốc gia xây dựng NTM do cấp huyện thực hiện.

Cấp xã:

UBND cấp xã có vai trò như sau: Tổ chức triển khai, QLNN các chương

trình trên địa bàn; phân công, phân cấp trách nhiệm của từng bộ phận trong việc

tổ chức thực hiện chương trình theo nguyên tắc tăng cường phân cấp và đề cao

tinh thần trách nhiệm cho cấp dưới.

Ban Chỉ đạo xây dựng NTM cấp xã có nhiệm vụ giúp Đảng ủy, Hội đồng

nhân dân, Ủy ban nhân dân xã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Chương

trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM trên địa bàn xã.

Ban Quản lý xây dựng NTM xã giúp cho Ban Chỉ đạo xã quản lý, điều

hành và tổ chức triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây

dựng NTM trên địa bàn xã.

1.4.2. Nội dung của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

1.4.2.1. Định hướng chiến lược, quy hoạch

Để mô hình nông thôn mới mang tính kế thừa và bổ sung, phát triển theo

hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề quy hoạch được đặt lên hàng đầu,

trở thành tiêu chí đầu tiên. Nếu quy hoạch không đi trước một bước và không

có chất lượng thì xây dựng nông thôn mới sẽ gặp khó khăn và không đi đến

đích, từ đó vấn đề quy hoạch nông thôn mới là khâu quan trọng, có ý nghĩa

quyết định trong vấn đề xây dựng nông thôn mới. Tiêu chí quy hoạch thể hiện

tính hợp lý trong sắp xếp, bố trí các khu vực nông thôn, đảm bảo kết cấu hạ

tầng nông thôn được bền vững.

Để thực hiện định hướng phát triển nhà nước cần tiến hành:

Phân tích, đánh giá thực trạng của hoạt động xây dựng nông thôn mới,

những nhân tố trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến quá trình thực hiện các

tiêu chí trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

28

Hoạch định xây dựng nông thôn mới gồm: hoạch định đường lối phát

triển, hoạch định chính sách phát triển, chương trình mục tiêu và dự án để phát

triển nông thôn.

1.4.2.2. Huy động nguồn lực tài chính

Nguồn lực tài chính là nhân tố không thể thiếu trong quá trình phát triển

kinh tế, xã hội của một quốc gia nói chung và đối với chương trình NTM nói

riêng. Huy động, phân bố và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính là vấn đề

mang tính thời sự. Trong điều kiện nguồn lực tài chính cho chương trình còn

hạn chế, việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính càng trở nên

quan trọng hơn. Cần phải đa dạng hóa việc huy động các nguồn lực tài chính

cho XD NTM vì tổng nguồn vốn để xây dựng chương trình là rất lớn, không

thể chỉ huy động từ một nguồn. Mà vốn từ ngân sách Trung ương là cần thiết

để tạo đà, tạo niềm tin cho nhân dân, là cơ sở huy động vốn khác từ: ngân sách

địa phương, đóng góp của nhân dân, vốn lồng ghép các chương trình mục tiêu

trên địa bàn; huy động vốn của các doanh nghiệp thông qua các hình thức thu

hút đầu tư, liên doanh, liên kết... huy động nguồn lực đóng góp của các đối

tượng trong xã bằng tiền, bằng hiện vật, bằng ngày công lao động, hiến đất…

1.4.2.3. Quản lý nguồn nhân lực

Đó là đội ngũ cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý nhà nước, những người

trực tiếp điều hành các hoạt động xây dựng nông thôn mới. Có chính sách đào

tạo và phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nứơc về xây dựng nông thôn mới

thông qua chương trình đào tạo mới và đào tạo lại nguồn nhân lực hiện có. Có

chính sách khuyến khích, ưu đãi đặc biệt để thu hút nhân tài tham gia vào đội

ngũ quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới.

29

Tổ chức các lớp tập huấn nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông

thôn mới cho đội ngũ nhân lực phụ trách xây dựng nông thôn mới tại địa

phương.

Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực quản lý nhà nước

về xây dựng nông thôn mới có vị trí đặc biệt quan trọng, đóng vai trò thúc đẩy,

tạo bước chuyển mạnh mẽ về năng lực, trình độ đội ngũ này.

1.4.2.4. Quản lý về tổ chức bộ máy

Khi đề cập đến hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới,

một trong những nhân tố quan trọng có tính chất quyết định là vấn đề tổ chức

bộ máy quản lý xây dựng nông thôn mới. Đây là nội dung quan trọng bởi bộ

máy quản lý nhà nước được kiện toàn thì các công tác định hướng, tổ chức hoạt

động hỗ trợ, kiểm tra và giám sát mới được thực hiện tốt. Hệ thống cơ quan

quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới gồm:

Cấp Trung ương: thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục

tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. Trong đó, Trưởng

Ban Chỉ đạo là đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ, các Phó Trưởng Ban Chỉ

đạo là đồng chí Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Phó

Trưởng ban thường trực); đồng chí Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn ( Phó Trưởng ban chuyên trách ) và đồng chí Phó Chủ nhiệm Văn

phòng Chính phủ. Thành viên là các Bộ ngành, các cơ quan trung ương đoàn

thể có liên quan.

Cấp tỉnh, thành phố: thành lập Ban chỉ đạo Nông thôn mới tỉnh, Thành

phố. Trong đó, Trưởng ban là đồng chí Phó Bí thư thường trực tỉnh, Thành phố,

Phó Trưởng ban là đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Giám đốc Sở

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các thành viên thuộc các Sở ngành, đoàn

30

thể có liên quan. Ủy ban nhân dân tỉnh, Thành phố thành lập Tổ công tác giúp

việc Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới gồm thành viên thuộc

các bộ phận nghiệp vụ chuyên môn của các sở, ngành, đoàn thể liên quan. Tổ

trưởng là Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là Cơ quan

Thường trực của Tổ công tác giúp việc; thực hiện chức năng – nhiệm vụ là Văn

phòng điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của

tỉnh, thành phố.

Cấp huyện: thành lập Ban chỉ đạo Nông thôn mới huyện gồm Trưởng

Ban Chỉ đạo là đồng chí Bí thư Huyện uỷ; Phó Ban Chỉ đạo là đồng chí Phó

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, các thành viên là các trưởng phòng, ban và

Các văn bản của Ban Chỉ đạo do đồng chí Trưởng Ban Chỉ đạo là Bí thư

Huyện uỷ ký và sử dụng con dấu của Huyện uỷ; các đồng chí Phó Trưởng Ban

Chỉ đạo là Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện ký sử dụng con dấu

của Uỷ ban nhân dân huyện; các thành viên Ban Chỉ đạo sử dụng con dấu của

cơ quan mình trong công tác chỉ đạo, phối hợp, hướng dẫn chuyên môn đối với

các phòng ban chức năng huyện và các xã - thị trấn thuộc phạm trách nhiệm

đựơc giao.

Cấp xã: thành lập Ban quản lý xây dựng Nông thôn mới do Chủ tịch Uỷ

ban nhân dân xã làm Trưởng ban; Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Uỷ ban

nhân dân xã làm Phó Trưởng ban, thành viên là đại diện Hội đồng nhân dân,

Uỷ ban nhân dân và các ngành đoàn thể liên quan, trưởng các ấp. Thành viên

Ban quản lý xã chủ yếu hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm.

Ở thôn, bản, ấp: thành lập Ban phát triển thôn, thành viên do cộng đồng

thôn trực tiếp bầu và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã quyết định công nhận. Các

1.4.2.5. Quản lý về phát triển kinh tế

31

Phát triển kinh tế là mục tiêu cơ bản của đề án NTM. Phát triển kinh tế

nhằm giúp người nông dân có đời sống ấm no, sung túc hơn. Quản lý về phát

triển kinh tế bao gồm: Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thực hiện dồn

điền dồn thửa, Xây dựng mô hình sản xuất mới hiệu quả, Giải quyết việc làm,

nâng cao thu nhập cho người dân…

1.4.2.6. Quản lý việc phát triển cơ sở hạ tầng

Hạ tầng KT-XH là các công trình được xây dựng để phục vụ cộng đồng

có ý nghĩa kinh tế và xã hội nhằm nâng cao đời sống cộng đồng nơi đó. Phát

triển hạ tầng KT-XH nông thôn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế,

văn hóa – xã hội ở nông thôn. Bởi khi một khu vực nông thôn có phát triển về

hạ tầng kinh tế như có nhiều khu sản xuất tập trung, đường giao thông thuận

tiện cho thông thương… thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế.

Hay tại vùng đó có các cơ sở hạ tầng văn hóa như y tế, văn hóa, giáo dục… thì

sẽ góp phần nâng cao đời sống của người dân.

1.4.2.7. Quản lý việc tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới

Tuyên truyền, vận động là yêu cầu cần thiết để đội ngũ cán bộ, đảng viên,

đoàn viên, hội viên và nhân dân hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng, mục tiêu

phương pháp, cách làm xây dựng nông thôn mới, từ đó tự giác, chủ động tham

gia với nhà nước. Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn, phức tạp lần đầu

tiên được thực hiện ở nước ta, do vậy các cấp ủy Đảng, chính quyền phải làm

tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân và các thành phần kinh tế cùng

tham gia. Thủ tướng Chính phủ đã phát động phong trào thi đua “Cả nước

chung sức xây dựng nóng thôn mới”, nhiều bộ, ngành và tỉnh, thành đã hưởng

ứng, cụ thể hóa thành phong trào thi đua ở đơn vị, địa phương có tác động rất

lớn đến sự quan tâm, hỗ trợ các nguồn lực và động viên tinh thần của toàn xã

hội đối với nông dân, nông thôn. Ban Chỉ đạo các cấp đã chủ động biên tập các

32

quyển sổ tay hướng dẫn, tài liệu hỏi đáp tập huấn, tuyên truyền đến các cấp,

các ngành và người dân. Các báo, đài tăng cường đưa các tin bài, phóng sự, xây

dựng các chuyên trang, chuyên mục phố biến các hoạt động của chương trình.

1.4.2.8. Quản lý việc thanh tra, kiểm tra

Thanh tra, kiểm tra các hoạt động xây dựng nông thôn mới là việc nhà

nước xem xét, đánh giá tình trạng đạt hay không đạt các tiêu chí về xây dựng

nông thôn mới và theo dõi, xem xét việc thực thi các hoạt động có đạt 19 tiêu

chí trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

Đây là nội dung quản lý cần được thực thi thường xuyên và nghiêm túc

vì hoạt động xây dựng nông thôn mới dựa trên Bộ tiêu chí Quốc gia về nông

thôn mới. Trên cơ sở kiểm tra nhà nứơc rút ra những kết luận, nguyên nhân,

kinh nghiệm và đề ra những giải pháp phát huy những mặt tích cực, hạn chế

những mặt tiêu cực, đồng thời điều chỉnh các tiêu chí cho phù hợp với tình hình

thực tế của địa phương.

1.5. Bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn

mới ở một số địa phương trong tỉnh và những bài học rút ra cho huyện

Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh

1.5.1. Kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn

mới ở một số huyện trong tỉnh

1.5.1.1. Kinh nghiệm chỉ đạo xây dựng NTM huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh có một thị trấn và 13 xã, năm 2014 cả

huyện chỉ có xã Tân Chi đạt chuẩn NTM; năm 2015 thêm 7 xã nữa được công

nhận; đến năm 2016, 5 xã còn lại của huyện được công nhận đạt chuẩn NTM.

Sau 6 năm thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM, với sự nỗ lực của

các cấp, các ngành, địa phương, đặc biệt là sự đồng thuận chung tay, góp sức của

33

nhân dân trong huyện. Tính đến hết năm 2016 tất cả 13 xã của huyện Tiên Du

đã hoàn thành 19 tiêu chí, được công nhận đạt chuẩn NTM. Cùng với thị xã Từ

Sơn, huyện Tiên Du đã được công nhận huyện đạt chuẩn NTM giai đoạn 2016 -

2020. Đây cũng là hai đơn vị cấp huyện đầu tiên của tỉnh Bắc Ninh đạt chuẩn

NTM trong số hơn 30 huyện đạt chuẩn trên cả nước.

Sau khi có sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, UBND huyện Tiên Du

đã khẩn trương triển khai công tác xây dựng đề án, kế hoạch thực hiện Chương

trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện. Sau hơn 7 năm triển khai huyện đã

đạt được những kết quả nổi bật, xây dựng NTM đã góp phần làm cho kinh tế

tăng trưởng nhanh, trung bình kinh tế tăng trưởng 9,5%/năm; cơ cấu kinh tế

chuyển dịch theo hướng tích cực; sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng

công nghiệp hóa, tạo sản xuất hàng hóa hiệu quả; các khu, cụm công nghiệp

tiếp tục thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư và sản xuất, kinh doanh; cơ sở hạ

tầng nông thôn từng bước được xây dựng đồng bộ; quy mô giáo dục - đào tạo

được giữ vững, ổn định, chất lượng giáo dục đứng trong tốp đầu của tỉnh; an

ninh xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân được đảm bảo; đời sống về vật chất

và tinh thần của nhân dân được tăng lên rõ rệt; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể chính trị - xã hội có nhiều đổi mới; vai trò lãnh đạo của Ban

chấp hành Đảng bộ huyện, sự điều hành của UBND huyện ngày càng được

khẳng định đem lại niềm tin cho nhân dân.

1.5.1.2. Kinh nghiệm chỉ đạo xây dựng NTM thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Từ Sơn hiện là một trong những đơn vị dẫn đầu của cả tỉnh về phát triển

kinh tế - xã hội, có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch

theo hướng CNH, HĐH. Đến hết năm 2017, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng

cơ bản 64,3%; dịch vụ - thương mại 33,9%; nông nghiệp giảm còn 1,8%; tỷ lệ

hộ nghèo còn 1,7%; thu nhập bình quân đầu người đạt 4.209 USD/năm. Thị xã

34

đã đầu tư xây dựng hệ thống điện chiếu sáng, đường giao thông, trường học,

trạm y tế, nhà văn hóa - khu thể thao, cung cấp nước sạch, xử lý vệ sinh môi

trường theo hướng xây dựng NTM gắn với phát triển đô thị. Từ đó phát huy thế

mạnh, tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh CNH, HĐH, đảm bảo phát triển bền

vững, gắn với đô thị hóa theo hướng văn minh, hiện đại. Phát triển công nghiệp

công nghệ cao, nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và xây dựng NTM,

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và an sinh xã hội nhằm phấn đấu xây dựng

thị xã Từ Sơn thành đô thị loại III vào năm 2020.

Kết quả đến hết năm 2016 có 5/5 xã được công nhận đạt chuẩn NTM bao

gồm: xã Tương Giang được công nhận năm 2014; xã Phù Khê, Hương Mạc và

Phù Chẩn được công nhận năm 2015; xã Tam Sơn được công nhận đạt chuẩn

năm 2016. Thị xã Từ Sơn được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận

huyện đạt chuẩn NTM năm 2016. Để có thể thực hiện mục tiêu đón đầu khi Từ

Sơn trở thành đô thị loại 3 vào năm 2020 theo lộ trình, thị xã Từ Sơn cần tiếp

tục duy trì các kết quả đạt được và xây dựng NTM theo hướng đô thị hóa, lấy

người dân làm trung tâm và huy động sự ủng hộ của nhân dân để tạo sự phát

triển bền vững. Đây là một trong những huyện của tỉnh Bắc Ninh đi đầu trong

phong trào xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.

1.5.2. Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn chỉ đạo xây dựng nông

thôn mới mà huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh có thể tham khảo và vận dụng

1.5.2.1. Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tập trung của các cấp ủy Đảng,

chính quyền và các tổ chức từ Trung ương đến cơ sở

Thực tế chỉ ra rằng nơi nào các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các tổ chức

quan tâm, tập trung chỉ đạo cụ thể, sâu sát, quyết liệt, có cách làm năng động,

sáng tạo, phát huy được lợi thế của địa phương, cán bộ, đảng viên gương mẫu,

nhân dân nhiệt tình ủng hộ thì ở đó kết quả xây dựng nông thôn mới đạt thành

35

tích cao. Trong xây dựng nông thôn mới, vai trò đội ngũ cán bộ rất quan trọng,

do vậy cần tăng cường xây dựng, đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán

bộ có đủ trình độ, năng lực để tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn

mới. Có quy chế phân công, phân cấp rõ ràng và tăng cường công tác kiểm tra,

giám sát, kịp thời rút kinh nghiệm trong quá trình triển khai.

1.5.2.2. Làm tốt quản lý công tác tuyên truyền, vận động

Để cán bộ và nhân dân nhận thức rõ vai trò chủ thể trong xây dựng nông

thôn mới là người dân. Người dân phải được tự làm là chính và họ là người

được hưởng thụ, Nhà nước chỉ có vai trò hỗ trợ, lợi ích của người dân là động

lực và sự tham gia của cộng đồng dân cư là bí quyết thành công. Từ đó tạo sự

thống nhất về nhận thức, quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo, có sự tham gia của cả hệ

thống chính trị (Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể) và mọi tầng lớp

nhân dân, huy động cao mọi nguồn lực của xã hội cả về trí tuệ, công sức và

kinh phí để xây dựng nông thôn mới.

1.5.2.3. Thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở

Đảm bảo công khai cho các tổ chức đoàn thể, cán bộ, đảng viên và mọi

người dân được tham gia đóng góp xây dựng và giám sát quá trình thực hiện

quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới ở địa phương. Chủ động phân cấp

để cộng đồng dân cư có thể trực tiếp tham gia xây dựng các công trình; phát

huy vai trò giám sát của Ban giám sát cộng đồng để đảm bảo chất lượng công

trình, phát huy hiệu quả vốn đầu tư để nhân dân tin tưởng và tích cực tham gia

xây dựng nông thôn mới. Đồng thời phải thường xuyên kiểm tra, phát hiện

những đơn vị làm tốt và những vấn đề còn tồn tại; kịp thời tháo gỡ các khó

khăn vướng mắc, đánh giá sơ kết rút kinh nghiệm, nhân ra diện rộng những

điển hình hay, cách làm sáng tạo.

36

1.5.2.4. Lựa chọn bước đi, cách làm phù hợp với điều kiện của huyện

Trong phát triển sản xuất: đối với sản xuất nông nghiệp chọn quy hoạch

vùng sản xuất và dồn điền đổi thửa là khâu đột phá; thực hiện chuyển đổi lại cơ

cấu, phương thức sản xuất để nâng cao hiệu quả là then chốt. Trong sản xuất

công nghiệp, dịch vụ chọn những sản phẩm, nghề là thế mạnh của địa phương,

tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng, giao thông, điện, nước, đào tạo nhân lực,

dạy nghề... để khuyến khích phát triển nâng cao thu nhập cho người dân.

Trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn: ưu tiên đầu

tư các công trình phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Trong đó chọn giao thông

nông thôn là khâu đột phá bắt đầu từ đường thôn, xóm, liên thôn, liên xã; lồng

ghép các chương trình, dự án về thủy lợi, cơ sở trường học, y tế, nước sạch,

môi trường, nhà ở,... để phục vụ Chương trình xây dựng nông thôn mới.

1.5.2.5. Coi trọng chỉ đạo điểm và xây dựng mô hình

Lựa chọn những xã điểm có ưu thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

để xây dựng điển hình; qua đó, đánh giá, rút kinh nghiệm chỉ đạo và tổ chức

thực hiện, đồng thời là nơi tham quan, học tập cho cán bộ và người dân trực

tiếp nhìn thấy hiệu quả, lợi ích của việc xây dựng nông thôn mới. Ưu tiên đầu

tư cho các công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển sản xuất và đời sống

của người dân như: hỗ trợ làm đường giao thông nông thôn, dồn điền đổi thửa,

trường học, trạm y tế, nước sạch, vệ sinh môi trường,...

1.5.2.6. Sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng

Kịp thời biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tổ chức, hộ gia đình

có nhiều đóng góp xây dựng nông thôn mới trên các phương tiện thông tin đại

chúng, nhất là trên hệ thống truyền thanh cơ sở và trên các diễn đàn về xây

dựng nông thôn mới ở địa phương.

37

Tiểu kết chương 1

Xây dựng Nông thôn mới là một trong những chủ trương, đường lối của

Đảng và Nhà nước, nhằm để thay đổi bộ mặt của nông thôn Việt Nam. Giúp

cho Nông thôn Việt Nam thay đổi từ trong ra ngoài. Từ đường sá, nhà ở, đời

sống sinh hoạt đến phát triển kinh tế. Để làm được những điều đó, Đảng và Nhà

nước ta đã huy động mọi nguồn lực để xây dựng nông thôn mới. Đưa ra các

chủ trương, đường lối, ngoài ra cong tác quản lý nhà nước của cơ quan chính

quyền cũng có vai trò to lớn trong việc xây dựng NTM nói chung và khu dân

cư nông thôn mới kiểu mẫu nói riêng. Các cơ quan chính quyền đã xây dựng

kế hoạch, chiến lược nhằm phát huy một cách triệt để các nguồn lực và nguồn

vốn để xây dựng NTM một cách hiệu quả nhất.

Trong điều kiện hiện nay, nếu không có sự định hướng đúng đắn của lý

luận khoa học thì hoạt động thực tiễn sẽ trở nên mò mẫm, mất phương hướng.

Để lý luận phát huy vai trò định hướng cho hoạt động thực tiễn, chúng ta phải

thường xuyên bổ sung, phát triển lý luận, vận dụng lý luận để giải đáp những

vấn đề do thực tiễn đổi mới đặt ra. Những cơ sở lý luận, thực tiễn và kinh

nghiệm xây dựng nông thôn mới của các địa phương sẽ giúp cho huyện Lương

Tài, tỉnh Bắc Ninh phát hiện những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý nhà

nước, qua đó đề ra những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về xây dựng

nông thôn mới có tính khả thi và những kiến nghị để làm tốt hơn việc xây dựng

nông thôn mới.

38

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN

MỚI Ở HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xây dựng nông

thôn mới ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Lương Tài

Vị trí địa lý: Huyện Lương Tài nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Ninh

trong vùng châu thổ sông Hồng. Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Bắc Ninh

32 km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 47 km về phía Tây Nam; với tổng diện

tích đất tự nhiên 105,91 km2, chiếm 12,87% diện tích của tỉnh; vị trí tiếp giáp

với các huyện:

- Phía Bắc giáp huyện Gia Bình;

- Phía Nam giáp huyện Cẩm Giàng (tỉnh Hải Dương);

- Phía Đông giáp thành phố Chí Linh và huyện Nam Sách của tỉnh Hải

Dương, sông Thái Bình là ranh giới tự nhiên;

- Phía Tây giáp huyện Thuận Thành.

Huyện có 14 đơn vị hành chính (trong đó 13 xã và 01 thị trấn), dân số

104.469 nhân khẩu. Trên địa bàn huyện Lương Tài có các tuyến đường giao

thông quan trọng chạy qua như các tuyến tỉnh lộ: TL 280, TL 281, TL 284, TL

285 nối Lương Tài với Gia Bình, Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, nối Lương Tài

với Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương.

Điều kiện tự nhiên: Về khí hậu, Lương Tài thuộc vùng khí hậu nhiệt

đới gió mùa, có mùa đông lạnh và không khác biệt nhiều so với các tỉnh lân

39

cận của Đồng bằng sông Hồng. Về địa hình - địa chất, địa hình của huyện

tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang

Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Đuống, sông Thái Bình.

Về đặc điểm thuỷ văn, Lương Tài có 2 hệ thống sông lớn chảy qua gồm: sông

Đuống và sông Thái Bình rất thuận lợi cho giao thông vận tải đường thủy cũng

như cung cấp một lượng nước dồi dào cho sản xuất nông nghiệp.

Điều kiện kinh tế xã hội: Tổng sản phẩm (GDP) giai đoạn 2011 - 2019

tăng bình quân 6,5% năm; năm 2019, tổng sản phẩm (GDP) ước đạt 3.993,5 tỷ

đồng, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng: Khu vực Công nghiệp -

Xây dựng chiếm 35,7%; khu vực Dịch vụ chiếm 41,9%; khu vực Nông nghiệp

và thuỷ sản chiếm 22,4%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn tiếp cận đa chiều năm 2019

còn 1,43% (khu vực nông thôn đã trừ hộ bảo trợ xã hội là 1,35%); thu nhập

bình quân đầu người đạt 46,2 triệu đồng/người/năm. Hạ tầng nông thôn với

nhiều công trình về giao thông, trường học, thiết chế văn hóa,... được đầu tư

nâng cấp và tu bổ sửa chữa. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, giảm nghèo

và an sinh xã hội được quan tâm. Chất lượng giáo dục - đào tạo duy trì trong

tốp đầu của tỉnh. Cảnh quan môi trường nông thôn có chuyển biến tích cực;

2.1.2. Về văn hóa, phong tục tập quán của địa phương

Vùng đất và con người Lương Tài có bề dày truyền thống lịch sử, văn

hóa và có tinh thần yêu nước nồng nàn. Đồng thời, cũng là vùng đất hiếu học,

khoa bảng, là quê hương của nhiều vị đỗ đạt cao trong các khoa thi thời phong

kiến như Vũ Giới, Phạm Quang Tiến, Nguyễn Đình Tú, Vũ Miễn, Lương Phùng

Thìn, Đào Phùng Thái, Nguyễn Bạt Tụy,... danh nhân văn hóa - khoa bảng Hàn

Thuyên, danh nhân nổi tiếng của Việt Nam thời nhà Trần, ông được xem là

người phát triển, phổ biến chữ Nôm của Việt Nam.

40

Lương Tài là miền quê có hệ thống di sản văn hóa đa dạng, đặc sắc với

nhiều di tích lịch sử, lễ hội, trò chơi dân gian; tổng số 62 di tích lịch sử, trong

đó có 12 di tích đã xếp hạng cấp quốc gia và 50 di tích cấp tỉnh. Người dân

Lương Tài có truyền thống yêu lao động, cần cù và khéo léo, nhân dân trong

Huyện chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng (lúa nước). Từ xưa ngoài nghề trồng

lúa nước, Lương Tài còn có một số nghề phụ phục vụ nhu cầu của địa phương

như: Nghề đan lưới đánh cá ở các xã Phú Lương, Trung Chính; nghề làm bánh

đa ở thôn Tử Nê, xã Tân Lãng; nghề đúc đồng ở thôn Quảng Bố, nghề Gỗ mỹ

nghệ ở thôn Lĩnh Mai, xã Quảng Phú…

Đảng bộ và nhân dân Lương Tài có bề dày truyền thống văn hiến và cách

mạng; hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được củng cố vững chắc, đời sống

vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao. Ghi nhận những

thành tích đã đạt được, huyện Lương Tài đã được Chủ tịch nước tặng thưởng

Huân chương lao động hạng III vào năm 2014; Huyện có 06 xã được Nhà nước

phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (Quảng Phú, Lâm

Thao, Trừng Xá, Trung Kênh, An Thịnh và Phú Hòa).

2.1.3. Nhận thức cấp ủy Đảng về vai trò quản lý nhà nước về chương

trình xây dựng nông thôn mới

Việc đầu tư xây dựng NTM mới là điều hết sức cần thiết, làm cho kết

cấu hạ tầng KT-XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức

sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ; bảo vệ

môi trường sinh thái; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân khu

vực nông thôn; việc xây dựng NTM thành công rút ngắn khoảng cách giữa nông

thôn với thành thị, trong đó người dân đóng vai trò là chủ thể hết sức quan

trọng; nội lực được xác định là nguồn lực căn bản để thực hiện xây dựng NTM.

41

2.1.4. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của huyện Lương Tài

Huyện Lương Tài đã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bên cạnh đó

tiếp tục giữ vững phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, tăng

cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, thực hiện cơ giới hóa, chuyển đổi bộ

giống,... đã đưa giá trị sản xuất một ha canh tác năm 2019 đạt trên 131,22 triệu

đồng. Lương Tài liên tục là huyện dẫn đầu về năng xuất lúa của toàn tỉnh; huyện

đã quy hoạch ổn định các vùng sản xuất lúa hàng hoá tập trung với quy mô từ

5-20 ha/vùng, sản xuất 2 vụ lúa/năm; hình thành được trang trại chăn nuôi xa

khu dân cư có quy mô lớn; xây dựng được mô hình sản xuất rau theo tiêu chuẩn

VietGap.

Tổng sản phẩm (GRDP) của huyện Lương Tài giai đoạn 2011 - 2019

tăng bình quân 6,5%/năm; thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn

năm 2019 đạt 46,2 triệu đồng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực

tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ (năm 2019, tỷ trọng Nông nghiệp chiếm

22,4%, tăng 0,4% so với năm 2018; Công nghiệp - TTCN và xây dựng chiếm

35,7%, tăng 0,5% so với năm 2018; Dịch vụ chiếm 41,9%, tăng 01% so với

năm 2018); diện tích lúa ổn định 9.144 ha/năm; năng suất lúa bình quân 64

tạ/ha; thu ngân sách tăng bình quân 13,9%/năm; chi đầu tư phát triển tăng bình

quân 20%/năm.

2.1.5. Về nguồn nhân lực

Theo số liệu thống kê của phòng thống kê huyện Lương Tài, năm 2012,

dân số trung bình của huyện là 104.469 nghìn người, trong đó dân số nữ

chiếm khoảng 50,8% so với dân số toàn huyện, dân số thành thị chiếm trên

26%, số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 65% dân số. Mật độ dân

số trung bình hiện nay là 1.037 người/km2, mật độ dân số cao, lực lượng lao

42

động trẻ, trong khi diện tích đất sản xuất lớn, tạo thuận lợi cho địa phương

trong việc giải quyết công ăn việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn,

nhất là thực hiện các tiêu chí về NTM.

Thông qua các lớp đào tạo nghề, người lao động đã được nâng cao trình

độ kiến thức về khoa học kỹ thuật, kỹ năng làm việc, tác phong công nghiệp,...

góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và chuyển dịch cơ cấu lao động

nông thôn từ nông nghiệp chuyển dần sang lao động phi nông nghiệp. Đến nay,

số lao động có việc làm của 13 xã là 57.570/60.963 lao động, đạt 94,4%.

2.1.6. Sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện Chương

trình xây dựng nông thôn mới

Sự tham gia của người dân, của cộng đồng trong xây dựng NTM là một

trong những yếu tố cơ bản để nâng cao tính dân chủ ở nông thôn, người dân

trực tiếp tham gia phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất, thực hiện CNH-HĐH

nông nghiệp, nông thôn; chủ động xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH; tham gia

vào quá trình quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng NTM; xây dựng và

giữ gìn đời sống văn hóa; đảm bảo vệ sinh môi trường; duy trì ổn định về trật

tự xã hội. Từ đó huy động được cả cộng đồng tham gia tích cực vào các quá

trình XD NTM, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,

công bằng, văn minh.

2.1.7. Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý của huyện Lương Tài

Mọi chủ trương, chính sách nói chung, chính sách về nông nghiệp, nông

thôn, nông dân nói riêng dù có đúng đắn đến đâu, khả năng hiện thực hóa chúng

suy cho cùng phụ thuộc trước hết vào những con người cụ thể. Trong đó, đội

ngũ cán bộ lãnh đạo ở cơ sở là những người xây dựng, tổ chức triển khai thực

hiện những nội dung cụ thể trong chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng

43

NTM. Nếu cán bộ có tri thức, am hiểu điều kiện thực tiễn, có tâm, sáng tạo thì

khả năng triển khai các chương trình thành công sẽ cao hơn và ngược lại. Do

đó, việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM nhanh hay

chậm, có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ cán bộ lãnh

đạo ở cơ sở trong việc huy động các nguồn lực, tuyên truyền, vận dộng nhân

dân và tổ chức thực hiện chương trình.

2.2. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn

mới ở huyện Lương Tài trong thời gian qua

2.2.1. Những thuận lợi, khó khăn trong quản lý nhà nước về xây dựng

nông thôn mới ở huyện Lương Tài

2.2.1.1. Thuận lợi

- Về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội:vị trí địa lý thuận lợi phát triển

kinh tế, GDP từ 2011 - 2019 tăng bình quân 6,5% năm, ...

- Về văn hóa, phong tục tập quán củađịa phương phong phú, có bề dày

truyền thống văn hiến và cách mạng; hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở

được củng cố vững chắc.

- Về nguồn nhân lực dồi dào, số người trong độ tuổi lao động chiếm

khoảng 65% dân số.

- Về chiến lược phát triển KT – XH: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, bên cạnh đó tiếp tục giữ vững phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng

hàng hóa, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, thực hiện cơ giới hóa,

chuyển đổi bộ giống,...

- Được sự ủng hộ cao và tham gia của người dân.

- Nhận thức cấp ủy Đảng từ Huyện đến cơ sở thôn, xã vềvai trò quản lý

nhà nướcvề chương trình XD NTM.

44

- Năng lực của cán bộ quản lý ở huyện, ở xã, ở thôn.

Ngoài ra còn có các chính sách của nhà nước của tỉnh Bắc Ninh về xây

dựng NTM về hội nhập kinh tế quốc tế.

2.2.1.2. Khó khăn

- Huyện có điểm xuất phát thấp nên bước khởi đầu tham gia Chương

trình xây dựng nông thôn mới còn gặp nhiều khó khăn;

Việc tổ chức, quán triệt các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh,

của huyện ở một số xã, thị trấn còn hạn chế. Một số cán bộ ở cơ sở, một bộ

phận nhân dân nhận thức về xây dựng nông thôn mới còn chưa đầy đủ, do đó

khi triển khai ở cơ sở thời gian đầu còn lúng túng;

- Quá trình triển khai ở cấp cơ sở chưa thực sự coi trọng thực hiện toàn

diện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại,

nhận thức chưa đầy đủ về nội dung, phương pháp, cách làm.

- Một số địa phương trong xây dựng nông thôn mới chủ yếu tập trung

xây dựng cơ sở hạ tầng, chưa chú trọng đúng mức để phát triển sản xuất, nâng

cao thu nhập, giảm nghèo, phát triển văn hóa, cải thiện môi trường. Việc thực

hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, chưa

đồng bộ; phát triển ngành nghề dịch vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông

thôn còn nhiều khó khăn;

- Kinh tế tuy tăng trưởng cao nhưng chưa bền vững. Quy mô sản xuất

kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhỏ;

- Sản phẩm nông nghiệp của huyện chưa có sức cạnh tranh lớn, việc liên

doanh, liên kết trong sản xuất chưa nhiều, sản phẩm nông nghiệp khi tiêu thụ

chủ yếu phụ thuộc thị trường trong nước;

45

- Giá cả thị trường không ổn định, tình hình dịch bệnh trên cây trồng,

đàn vật nuôi, sự biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ hàng năm vẫn xảy ra gây ảnh

hưởng, tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Huyện.

2.2.2. Chủ trương, quan điểm của tỉnh Bắc Ninh về xây dựng nông

thôn mới

Việc đầu tư xây dựng NTM mới là điều hết sức cần thiết, làm cho kết

cấu hạ tầng KT-XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức

sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ; bảo vệ

môi trường sinh thái; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân khu

vực nông thôn; việc xây dựng NTM thành công rút ngắn khoảng cách giữa nông

thôn với thành thị, trong đó người dân đóng vai trò là chủ thể hết sức quan

trọng; nội lực được xác định là nguồn lực căn bản để thực hiện xây dựng NTM.

Tỉnh Bắc Ninh đã có chủ trương xây dựng NTM từ rất sớm. Ngay sau

khi Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khoá X ra Nghị quyết số

26-NQ/TW, ngày 05 tháng 8 năm 2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

ngày 9 tháng 10 năm 2008 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (Khóa

XVII) đã ban hành Chương trình hành động số 53-Ctr/TU về việc thực hiện

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông

nghiệp, nông dân, nông thôn. Trong tháng 10 năm 2008 các Đảng ủy trực

thuộc, Huyện ủy, Thị ủy, Thành ủy và Đảng ủy các xã, phường, thị trấn đã

xây dựng kế hoạch thực hiện với mục tiêu xây dựng, phát triển nền nông

nghiệp hàng hóa đô thị hiện đại, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng; phát triển

nông nghiệp kết hợp với công nghiệp, dịch vụ nhằm giải quyết việc làm, nâng

cao thu nhập... thực hiện có hiệu quả, bền vững xây dựng NTM.

Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh ban hành Quyết định số 168/2010/QĐ-

UBND về việc phê duyệt Đề án xây dựng NTM tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010

46

- 2020. Mục tiêu đặt ra là: giai đoạn 2011 - 2015, trong năm 2011 phấn đấu

có 8 xã đạt chuẩn NTM để đến năm 2015 có 50 xã (bằng 50%) đạt chuẩn

NTM; giai đoạn 2016 - 2020, phấn đấu có thêm 30 xã (bằng 30%) đạt chuẩn

NTM, để đến hết năm 2020 toàn Tỉnh có 80% số xã đạt chuẩn NTM.

2.2.3. Thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện

Lương Tài trong thời gian qua

2.2.3.1. Hệ thống quản lý, thực hiện Chương trình sớm được thành lập

UBND huyện Lương Tài đã sớm thành lập Ban Chỉ đạo huyện, Tổ giúp

việc Ban Chỉ đạo (năm 2016, UBND huyện thành lập Văn phòng Điều phối

nông thôn mới huyện); phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới trên địa bàn

huyện, xây dựng kế hoạch thực hiện giai đoạn 2016 - 2020, lấy xã Trung Kênh

làm xã điểm xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo 100% các xã thành lập Ban chỉ

đạo xây dựng nông thôn mới do đồng chí Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban.

2.2.3.2. Huy động được cả hệ thống chính trị và nhân dân cùng chung

tay, góp sức xây dựng nông thôn mới

Các tổ chức chính trị trong huyện Lương Tài đã phối hợp phát động

phong trào thi đua thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, thông qua

các cuộc vận động như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu

dân cư” nay là “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”

gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; “Cựu chiến binh gương mẫu,

chung sức đồng lòng xây dựng nông thôn mới”; thanh niên xung kích, thanh

niên tình nguyện bảo vệ môi trường nông thôn, lập thân lập nghiệp; phụ nữ với

cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch”, xây dựng đường hoa, tuyến

đường tự quản; nông dân với phong trào “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh

giỏi"

47

2.2.3.3. Lựa chọn tiêu chí dễ làm trước, khó làm sau, ưu tiên cho các tiêu

chí phục vụ trực tiếp phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân

Giai đoạn 2011 - 2019, huyện Lương Tài đã đầu tư xây dựng mới, cải

tạo, nâng cấp hàng trăm công trình cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình xây dựng

nông thôn mới với tổng số vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng, nhờ đó đến nay 100%

các tuyến đường giao thông đã được nhựa hóa, bê tông hóa; 100% xã có lưới

điện quốc gia và sử dụng điện đảm bảo thường xuyên, an toàn; 14/14 xã, thị

trấn đạt chuẩn Quốc gia về Y tế giai đoạn đến năm 2020; 100% trường học các

cấp đạt chuẩn Quốc gia. Ngoài ra trên địa bàn huyện đã xây dựng 06 dự án

nước sạch, đảm bảo 100% dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh;

xây dựng 99 điểm tập kết rác thải và đang xây dựng khu xử lý chất thải rắn tại

xã An Thịnh.

2.2.3.4. Thực hiện đồng bộ các chế độ, chính sách về an sinh xã hội

Hằng năm, các cấp, các ngành trong huyện Lương Tài đã tạo việc làm

ổn định cho các lao động làm việc ở các doanh nghiệp khoảng trên 3000 lao

động. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới trên địa bàn huyện Lương Tài giảm mạnh

hàng năm, cuối năm 2019 còn 1,43%;

2.2.3.5. Đẩy mạnh phát triển giáo dục - đào tạo; nâng cao chất lượng

khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

Trong những năm qua, chất lượng giáo dục - đào tạo của huyện Lương

Tài luôn duy trì trong tốp đầu của tỉnh; huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục

mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục Tiểu học mức độ 3, phổ cập giáo dục

THCS mức độ 2;

Trung tâm Y tế huyện Lương Tài có quy mô 180 giường bệnh và mạng

lưới y tế cơ sở trên địa bàn huyện luôn đảm bảo tốt công tác khám, chữa bệnh

cho nhân dân trên địa bàn.

48

2.2.3.6. Phát triển văn hóa gắn với tâm linh, tín ngưỡng

Lương Tài là huyện có bề dày văn hóa và truyền thống cách mạng. Trong

sự nghiệp “Dựng nước và giữ nước” hàng ngàn năm qua của dân tộc, vùng đất

Lương Tài địa linh đã sinh thành nhiều nhân kiệt, tiêu biểu như: Hàn Thuyên,

Vũ Giới, Phạm Quang Tiến,… Huyện Lương Tài đã thực hiện tốt công tác bảo

tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn.

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn

minh” đã đi vào cuộc sống, việc thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính

trị, Nghị quyết số 20, 191 của Hội đồng nhân dân tỉnh về nếp sống văn minh

được duy trì thành nề nếp, được nhân dân hưởng ứng tích cực. Công tác bảo tồn

và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn được quan tâm. Hoạt

động của các câu lạc bộ văn hóa - văn nghệ ngày càng phong phú, đa dạng. Phong

trào thể dục, thể thao quần chúng có bước phát triển mới với trên 30% số dân

thường xuyên tham gia luyện tập thể dục, thể thao.

2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn

mới ở huyện Lương Tài trong thời gian qua

2.3.1. Kết quả đạt được và nguyên nhân

2.3.1.1. Ban hành, hướng dẫn, tổ chức triển khai các văn bản qui phạm

pháp luật về thực hiện xây dựng NTM

- Ngày 14/3/2011, UBND huyện Lương Tài đã ban hành Quyết định số

358/QĐ-UBND về việc Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình mục

tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới do Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng

ban; Quyết định số 359/QĐ-UBND về việc Thành lập Tổ chỉ đạo xã điểm do

Phó Chủ tịch UBND huyện làm Tổ trưởng; Quyết định số 360/QĐ-UBND về

việc Thành lập Tổ giúp việc Ban chỉ đạo do Phó Trưởng phòng Nông nghiệp

49

và PTNT làm Tổ trưởng. Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng

nông thôn mới huyện Lương Tài thường xuyên được kiện toàn khi có sự thay

đổi thành viên tại các Quyết định

- Ngày 12/5/2016, UBND Huyện ban hành Quyết định số 680/QĐ-

UBND về việc thành lập Văn phòng điều phối xây dựng NTM huyện giai đoạn

2016 - 2020 và được kiện toàn tại Quyết định số 963/QĐ-UBND ngày

12/6/2017;

- Ngày 16/11/2017, UBND Huyện ban hành Kế hoạch số 55/KH-UBND

về thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2018 - 2020;

- Ngày 11/10/2018, UBND Huyện ban hành Kế hoạch số 58/KH-UBND

về xây dựng huyện đạt chuẩn nông thôn mới.

Kết quả đạt được: Thời gian qua, việc tiển khai thực hiện các văn bản

của Huyện Lương Tài đã đạt một số kết quả nhất định. Qua giám sát, đã có

đánh giá ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa,

tổ chức thực hiện về xây dựng nông thôn mới. Cùng với đó, cũng đã nhận định

khái quát tình hình: tổ chức triển khai, quán triệt trong nội bộ cán bộ, đảng viên

từ cấp huyện đến cơ sở và tuyên truyền, phổ biến ra quần chúng nhân dân nhận

thức về xây dựng nông thôn mới là chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, tạo sự

đồng thuận trong nội bộ và nhân dân, khuyến khích, động viên mọi người nâng

cao tinh thần trách nhiệm tham gia, đóng góp xây dựng nông thôn mới.

2.3.1.2. Quản lý việc chỉ đạo điều hành

Sau khi UBND Huyện ban hành Kế hoạch về việc xây dựng huyện đạt

chuẩn nông thôn mới, UBND Huyện đã chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và PTNT

- Cơ quan thường trực BCĐ cùng với UBND các xã trên địa bàn triển khai thực

hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới.

50

UBND Huyện thành lập Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện,

tiến hành rà soát từng tiêu chí xây dựng nông thôn mới của từng xã, xây dựng

kế hoạch, lộ trình thực hiện Chương trình; hướng dẫn các xã thực hiện nội dung

xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch đề ra. Đồng thời yêu cầu các thành viên

Ban chỉ đạo theo dõi, báo cáo kết quả thực hiện các tiêu chí do ngành phụ trách,

UBND các xã báo cáo kết quả thực hiện Chương trình của xã mình về Ban chỉ

đạo huyện qua Phòng Nông nghiệp và PTNT định kỳ hàng tháng theo quy định.

Trên cơ sở đó giúp Ban chỉ đạo huyện, UBND Huyện nắm bắt tiến độ và có

biện pháp chỉ đạo, xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình

thực hiện Chương trình.

2.3.1.3. Quản lý việc tuyên truyền, đào tạo, tập huấn

Văn phòng Điều phối NTM huyện đã phối hợp với các ngành, đoàn thể

của huyện và tỉnh mở 16 lớp đào tạo, tập huấn cho 1.180 lượt cán bộ phụ trách

nông thôn mới cấp huyện, xã và người dân trên địa bàn. Cung cấp 400 cuốn tài

liệu cho Ban chỉ đạo NTM huyện, Ban chỉ đạo NTM xã, phát 18.000 tờ rơi với

nội dung tuyên truyền về NTM; phối hợp với Đài Phát thanh huyện phát sóng

108 chuyên đề về tuyên truyền thực hiện xây dựng nông thôn mới (bình quân

mỗi tháng 01 chuyên đề có thời lượng là 20 - 30 phút), trong đó tập trung vào

tuyên truyền các văn bản, kế hoạch chỉ đạo của các cấp về thực hiện Chương

trình xây dựng NTM. Ngoài ra, Đài Phát thanh huyện đã viết và sử dụng 432

tin, bài đưa vào chuyên mục trong tuần và trong các chương trình phát thanh

hàng ngày. Nội dung phản ánh về các hoạt động của các ngành và các địa

phương cũng như nêu gương các tập thể, cá nhân điển hình trên địa bàn huyện

trong công tác xây dựng NTM.

2.3.1.4.. Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực

51

- Bộ máy và cán bộ làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về xây dựng nông

thôn mới tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh:

Đối với cấp huyện:

- Ban Chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

cấp huyện được kiện toàn tổ chức và hoạt động đúng quy định:

+ Việc thành lập, kiện toàn Ban chỉ đạo: Ngày 14/3/2011, UBND Huyện

ban hành Quyết định số 358/QĐ-UBND thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình

MTQG xây dựng nông thôn mới huyện giai đoạn 2010 - 2020. Từ khi thành lập

đến nay, Ban Chỉ đạo huyện đã 10 lần được kiện toàn tại các Quyết định của

Chủ tịch UBND Huyện: Quyết định số 1773/QĐ-UBND ngày 11/07/2012,

Quyết định số 2232/QĐ-UBND ngày 21/10/2014, Quyết định số 664/QĐ-

UBND ngày 10/4/2015, Quyết định số 1435/QĐ-UBND ngày 17/7/2015,

Quyết định số 1669/QĐ-UBND ngày 17/11/2016, Quyết định số 962/QĐ-

UBND ngày 12/6/2017, Quyết định số 1547/QĐ-UBND ngày 03/10/2017,

Quyết định số 1238/QĐ-UBND ngày 06/9/2018, Quyết định số 1016/QĐ-

UBND ngày 08/4/2019 và Quyết định số 2028/QĐ-UBND ngày 18/9/2019;

+ Có quy chế quản lý, phân công trách nhiệm cụ thể: Ban Chỉ đạo

Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới huyện có 25 thành viên, đồng

chí Chủ tịch UBND Huyện làm Trưởng ban, đồng chí Phó Chủ tịch UBND

Huyện làm Phó Trưởng ban thường trực, đồng chí Trưởng Phòng Nông nghiệp

và PTNT làm Phó trưởng ban, các thành viên còn lại là trưởng các phòng, ban,

ngành của Huyện. Trong quá trình thực hiện, Ban chỉ đạo đã phân công nhiệm

vụ phụ trách tiêu chí và phụ trách các xã cho từng thành viên trong Ban chỉ đạo;

- Văn phòng Điều phối nông thôn mới huyện được tổ chức và hoạt động

đúng quy định:

52

Văn phòng Điều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Lương

Tài giai đoạn 2016-2020 được Chủ tịch UBND Huyện thành lập tại Quyết định số

680/QĐ-UBND ngày 12/5/2016; kiện toàn tại Quyết định số 963/QĐ-UBND

ngày 12/6/2017. Văn phòng có tổng số 13 thành viên do đồng chí Phó Chủ tịch

Thường trực UBND huyện làm Chánh văn phòng, chịu trách nhiệm trước Chủ

tịch UBND huyện, Trưởng BCĐ huyện và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động

của Văn phòng điều phối nông thôn mới huyện.

Văn phòng điều phối nông thôn mới huyện do Phòng Nông nghiệp và

PTNT làm cơ quan thường trực, có chức năng giúp BCĐ huyện quản lý và tổ

chức thực hiện chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới trên địa bàn, có

nhiệm vụ:

+ Xây dựng Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo Chương trình MTQG

xây dựng nông thôn mới huyện giai đoạn 2016 - 2020 trình Trưởng Ban Chỉ

đạo phê duyệt; đồng thời xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác của

Ban Chỉ đạo huyện; chuẩn bị nội dung, chương trình hội nghi, hội thảo và báo

cáo theo yêu cầu của Ban Chỉ đạo tỉnh, huyện;

+ Xây dựng kế hoạch 5 năm, hằng năm về mục tiêu, nhiệm vụ và các giải

pháp, nhu cầu kinh phí thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn

mới trên địa bàn huyện báo cáo Ban Chỉ đạo;

+ Tham mưu giúp Ban Chỉ đạo huyện triển khai, tổ chức thực hiện các

chương trình, kế hoạch xây dựng nông thôn mới đến năm 2020. Tổ chức kiểm

tra, giám sát, tổng hợp báo cáo kết quả, kiến nghị đề xuất biện pháp giải quyết

những vấn đề mới phát sinh trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa

bàn huyện;

53

+ Chuẩn bị nội dung, chương trình cho các cuộc họp, hội nghị, hội thảo

của Ban Chỉ đạo huyện và các báo cáo theo yêu cầu của Trưởng Ban Chỉ đạo;

+ Lập dự trù kinh phí phục vụ hoạt động hàng năm của Ban Chỉ đạo

Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới huyện và Văn phòng Điều phối

nông thôn mới huyện, trình Ban Chỉ đạo phê duyệt và triển khai thực hiện theo

quy định;

+ Quản lý kinh phí, trang thiết bị, tài sản và bảo quản hồ sơ, tài liệu của

Ban Chỉ đạo huyện theo quy định của pháp luật.

Đối với cấp xã:

UBND các xã đã thành lập Ban Quản lý xã, trong đó Chủ tịch UBND xã

làm Trưởng ban, mỗi xã bố trí một cán bộ chuyên trách giúp UBND xã trực

tiếp điều hành thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Nhiệm vụ, quyền

hạn của Ban Quản lý xã:

UBND các xã cũng đã ban hành Quyết định thành lập Ban Phát triển các

thôn, trong đó Trưởng thôn làm Trưởng ban để quản lý điều hành xây dựng

nông thôn mới. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Phát triển thôn:

Tổ chức lấy ý kiến của người dân tham gia góp ý vào bản quy hoạch, vận

động nhân dân tham gia phong trào thi đua giữa các xóm, các hộ tập trung cải

tạo ao, vườn, chỉnh trang cổng ngõ, tường rào để có cảnh quan đẹp. Tổ chức

hướng dẫn và quản lý vệ sinh môi trường trong thôn; cải tạo hệ thống tiêu, thoát

nước; cải tạo, khôi phục các ao hồ sinh thái; trồng cây xanh nơi công cộng, xử

lý rác thải.

Tự giám sát cộng đồng các công trình xây dựng cơ bản trên địa bàn thôn.

Đảm bảo an ninh, trật tự thôn xóm; xây dựng và tổ chức thực hiện hương ước,

nội quy thôn.

54

- Quản lý và sử dụng các nguồn lực

* Về huy động nguồn vốn

Đến nay, tổng kinh phí đã huy động xây dựng nông thôn mới trên địa

bàn huyện Lương Tài đã thực hiện là: 2.790.133 triệu đồng, trong đó:

- Ngân sách Trung ương: 10.656 triệu đồng, chiếm 0,38%;

- Ngân sách tỉnh: 1.084.104 triệu đồng, chiếm 38,85%;

- Ngân sách huyện: 127.051 triệu đồng, chiếm 4,55%;

- Ngân sách xã: 31.762 triệu đồng, chiếm 1,13%;

- Vốn nhân dân đóng góp: 80.560 triệu đồng, chiếm 2,88%;

- Vốn tín dụng: 1.456.000 triệu đồng, chiếm 52,18%.

* Quản lý sử dụng vốn

Nguồn vốn được nhà nước cấp trên hỗ trợ đã được huyện phân bổ, quản

lý, sử dụng đúng nguyên tắc, đúng mục đích, đúng đối tượng, đây là nguồn lực

chủ yếu trong đầu tư, hỗ trợ các xã, thôn xóm thực hiện Chương trình. Ngân sách

cấp huyện tập trung ưu tiên đầu tư xây dựng, hoàn thiện các tiêu chí về trường

học, giao thông, kênh mương nội đồng, nhà văn hóa xã, thôn, trạm y tế và đầu

tư sản xuất.

Đối với nguồn vốn của nhân dân đóng góp: việc huy động đóng góp của

nhân dân trên địa bàn huyện được thực hiện đúng quy định, đảm bảo công khai,

dân chủ, do người dân tự bàn bạc, quyết định, không áp đặt. Nhân dân trực tiếp

quản lý, quyết định đầu tư, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn do mình đóng góp

thông qua Ban phát triển thôn, Ban giám sát cộng đồng đã đảm bảo được sự

đồng thuận trong nhân dân, đáp ứng được yêu cầu tiến độ và chất lượng xây

dựng công trình phúc lợi ở các thôn, xóm trên toàn huyện.

55

2.3.1.5. Quản lý việc kiểm tra, hướng dẫn thực hiện

HĐND, UBND huyện, Ban Chỉ đạo xây dựng NTM huyện, Văn phòng

Điều phối NTM huyện đã tổ chức nhiều đoàn công tác thường xuyên rà soát,

đánh giá tình hình, đồng thời kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn tiến độ triển khai

thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM tại các xã đăng ký

đạt chuẩn. Qua đó kịp thời động viên, đôn đốc và có giải pháp tháo gỡ những

khó khăn, vướng mắc cho các địa phương để đẩy nhanh tiến độ thực hiện xây

dựng NTM ở các địa phương.

UBND Huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đưa nhiệm vụ xây dựng nông

thôn mới là nội dung trọng tâm, thường kỳ vào chương trình công tác, các hội

nghị của Huyện ủy, UBND Huyện nhằm kịp thời nắm bắt tiến độ cũng như tháo

gỡ những khó khăn, vướng mắc và có biện pháp chỉ đạo kịp thời.

2.2.3.6.. Quản lý việc lập quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch

Xác định khâu lập đồ án quy hoạch và Đề án xây dựng nông thôn mới là

nhiệm vụ trọng tâm quan trọng, làm cơ sở, tiền đề triển khai lập kế hoạch dài

hạn và từng năm để thực hiện có hiệu quả Chương trình, nên ngay từ năm 2011,

các xã trên địa bàn huyện đã triển khai lập đồ án quy hoạch và đề án xây dựng

nông thôn mới. Quá trình lập quy hoạch và xây dựng đề án nông thôn mới đều

có sự tham gia của cán bộ, đảng viên và cộng đồng dân cư từ ý tưởng đến huy

động nguồn lực. Đến tháng 12/2012, có 13/13 xã trên địa bàn huyện hoàn thành

công tác quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới; đồng thời thực hiện điều

chỉnh, bổ sung theo quy định tại Thông tư Liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-

BNNPTNT-BTNMT ngày 28/11/2013.

2.2.3.7. Quản lý việc xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu

56

* Về Giao thông

Trong giai đoạn 2011- 2019, các xã huyện Lương Tài đã nhựa hóa, bê tông

hóa thêm 352,5 km đường giao thông của các xã (gồm: 35 km đường trục xã, 146

km đường trục thôn, 85,5 km đường ngõ xóm, 86 km đường trục chính nội đồng).

Đến nay, 634/634km đường giao thông nông thôn đã được cứng hóa đạt chuẩn,

cụ thể:

- Có 185/185 km (đạt tỷ lệ 100%) đường trục chính nội đồng được bê

tông, rải cấp phối đá dăm hoặc đã lu lèn, đảm bảo vận chuyển hàng hóa thuận

tiện quanh năm, tăng 168km (tương ứng 90,8%) so với năm 2011.

* Về Thủy lợi

Đến hết năm 2019, trên địa bàn huyện có 93 trạm bơm, trong đó: Công

ty TNHH MTV Khai thác CTTL Nam Đuống quản lý 10 trạm (tưới 4.908 ha,

tiêu 30.082 ha), các xã, thị trấn quản lý 83 trạm bơm (tưới 5.748ha, tiêu 5.261

ha), tổng lưu lượng 163.220 m3/h. Huyện có tổng số 449 tuyến kênh trong đó:

Công ty TNHH MTV Khai thác CTTL Nam Đuống quản lý 42 tuyến kênh (22

kênh tưới, 20 kiêu tiêu); các xã, thị trấn quản lý 407 tuyến kênh (261 kênh tưới,

146 kênh tiêu. Toàn huyện đã kiên cố hóa được 291 km kênh tưới, kênh tiêu;

nạo, vét trên 220 km tuyến kênh mương do xã quản lý. Hằng năm, huyện tổ

chức thực hiện trục vớt khoảng 10.000 m3 bèo để khơi thông dòng chảy, phục

vụ tưới, tiêu nước.

Đến nay, 4.834/4.984 ha diện tích đất nông nghiệp được tưới tiêu chủ

động, đạt tỷ lệ 97% (năm 2011, diện tích đất nông nghiệp được tưới tiêu chủ

động là 2.150/4.984 ha, đạt tỷ lệ 43,1%).

* Về điện nông thôn

Hệ thống đường dây, trạm biến áp tại các xã đều được đầu tư cải tạo và

nâng cấp thường xuyên, đảm bảo 100% các xã đều có hệ thống điện nông thôn

57

đạt chuẩn. Số hộ dân của 13/13 xã được sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ

các nguồn là 36.964/36.964 hộ (hộ theo công tơ điện), đạt tỷ lệ 100% (năm

2011 là 99,95%).

* Về trường học

Giai đoạn 2011-2019, các xã trên địa bàn huyện Lương Tài đã xây mới,

nâng cấp, sửa chữa 135 công trình trường học các cấp với tổng kinh phí là 560,1

tỷ đồng. Đến nay, có 43/43 trường học các cấp (mầm non, tiểu học, trung học

cơ sở) tại 13 xã đều đạt chuẩn Quốc gia, đạt tỷ lệ 100% (năm 2011 là 60,9%),

cụ thể:

- Cấp mầm non: 14/14 trường (tỷ lệ 100%) đạt chuẩn Quốc gia (trong

đó có 10 trường đạt chuẩn mức độ 2 và 04 trường đạt mức độ 1);

- Cấp tiểu học: 16/16 trường (tỷ lệ 100%) đạt chuẩn Quốc gia (trong đó

có 13 trường đạt chuẩn mức độ 2 và 03 trường đạt mức độ 1);

- Cấp trung học cơ sở: 12/12 trường (tỷ lệ 100%) đạt chuẩn Quốc gia;

- Trường TH&THCS (liên cấp): 01/01 trường (tỷ lệ 100%) đạt chuẩn

Quốc gia.

2.2.3.8. Quản lý về phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập cho

người dân

- Việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi: thực hiện Nghị

quyết số 03-NQ/HU ngày 02/10/2017 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện

Lương Tài về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa và thực hiện Kế hoạch

số 53 ngày 10/11/2017 của UBND huyện về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên

đất lúa giai đoạn 2018 - 2020. Trong những năm qua, các xã đã chủ động, tích

cực thực hiện tốt việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đã chuyển được hơn

277,24 ha, trong đó: 184,66 ha từ trồng lúa sang sản xuất rau, mầu tập trung;

58

22,24 ha chuyển sang trồng cây ăn quả tập trung; 70,34 ha chuyển đổi sang mô

hình sản xuất lúa - cá tập trung.

- Về xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung: trên địa bàn huyện

đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung như: vùng lúa chất lượng

cao tại các xã: An Thịnh, Bình Định, Quảng Phú, Lâm Thao, Trung Chính, thị

trấn Thứa; cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, đậu tương): Trung Kênh, An Thịnh,

Minh Tân; vùng rau mầu tập trung tại các xã: Minh Tân, Trung Kênh, Lai Hạ,

An Thịnh (trong đó: Bí xanh trồng nhiều ở xã Phú Hoà; Hành tỏi trồng nhiều ở

xã An Thịnh, Trung Kênh; Cà rốt trồng nhiều ở xã Minh Tân, Lai Hạ, Trung

Kênh, Trung Chính; Ớt trồng nhiều ở An Thịnh, Trung Kênh; Khoai lang trồng

nhiều ở xã An Thịnh...);

- Về mô hình kinh tế: trên địa bàn các xã đã hình thành nhiều mô hình

kinh tế đem lại hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt, phải kể đến bước tiến đáng kể

của 04 doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất trồng trọt: Công ty Cổ phần Tập đoàn

Hồ gươm, Công ty TNHH xuất nhập khẩu nông sản Hải Phong, Công ty Cổ

phần Agritex, Công ty TNHH xuất nhập khẩu Vĩnh Cửu. Hoạt động sản xuất

của các doanh nghiệp này tập trung chủ yếu vào trồng các loại cây rau, màu, sơ

chế và bao tiêu sản phẩm cho người dân trong vùng,... đã và đang tạo việc làm

cho lao động địa phương, có những đóng góp quan trọng vào phát triển nông

nghiệp của huyện.

Nguyên nhân

Việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí của các bộ, ngành Trung ương

được kịp thời đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình triển khai, thực hiện; Cơ

chế chính sách được ban hành để thúc đẩy tiến độ thực hiện Chương trình xây

dựng NTM

59

Công tác tuyên truyền về chính sách và nội dung xây dựng NTM đã được

thường xuyên quan tâm hình thức tuyên truyền phong phú, đặc biệt là ở cấp xã.

Nhận thức của người dân về chủ trương xây dựng NTM được nâng lên,

việc huy động các nguồn lực của xã tham gia xây dựng NTM đã thu hút các

nguồn vốn đầu tư, nhất là nguồn lực xã hội hóa để xây dựng NTM.

Công tác chỉ đạo điều hành đã đồng bộ giữa các cấp, các ngành trong

triển khai thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Nhiều địa phương đã chú trọng áp dụng các tiến bộ KHKT trong việc lựa

chọn xây dựng mô hình sản xuất có hiệu quả.

2.2.2. Những yếu kém, hạn chế và nguyên nhân

2.2.2.1. Tồn tại, hạn chế

Xây dựng nông thôn mới là vấn đề rất lớn, quan trọng, nhiều lĩnh vực,

liên quan nhiều đến lợi ích, quyền lợi, nghĩa vụ của các tầng lớp nhân dân, bên

cạnh những kết quả đã đạt được còn bộc lộ những khó khăn, tồn tại:

- Việc tổ chức, quán triệt các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh,

của huyện ở một số xã, thị trấn còn hạn chế. Một số cán bộ ở cơ sở, một bộ

phận nhân dân nhận thức về xây dựng nông thôn mới còn chưa đầy đủ, do đó

khi triển khai ở cơ sở thời gian đầu còn lúng túng;

- Quá trình triển khai ở cấp cơ sở chưa thực sự coi trọng thực hiện toàn

diện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại,

nhận thức chưa đầy đủ về nội dung, phương pháp, cách làm và các chính sách

của Nhà nước liên quan đến xây dựng nông thôn mới. Chưa huy động được

tổng lực cho phong trào xây dựng nông thôn mới, nguồn vốn chủ yếu dựa vào

hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và một phần do nhân dân đóng góp để xây dựng;

60

- Một số địa phương trong xây dựng nông thôn mới chủ yếu tập trung xây

dựng cơ sở hạ tầng, chưa chú trọng đúng mức để phát triển sản xuất, nâng cao

thu nhập, giảm nghèo, phát triển văn hóa, cải thiện môi trường. Việc thực hiện

chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, chưa đồng bộ;

phát triển ngành nghề dịch vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn còn

nhiều khó khăn;

- Chế độ thông tin, báo cáo của các địa phương, các ngành có lúc, có nơi

còn chưa kịp thời, chưa đầy đủ, độ tin cậy chưa cao.

2.2.2.2. Nguyên nhân

- Một số cơ chế, chính sách chưa được ban hành đầy đủ và thống nhất

như: quy định cơ chế lồng ghép vốn; cách tính các chỉ tiêu thu nhập bình quân

đầu người, lao động có việc làm, lao động đã qua đào tạo,… Một số chính sách

đã ban hành qua thực hiện phát sinh những bất cập, không còn phù hợp nhưng

chưa được bổ sung, sửa đổi kịp thời;

- Nhận thức của một số cán bộ, đảng viên, nhân dân còn chưa đầy đủ,

thiếu thống nhất, còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ đầu tư của Nhà nước. Một số có

tư tưởng nóng vội, chạy theo phong trào, thành tích;

- Trong lãnh đạo, chỉ đạo còn có lúc, có đơn vị chưa thực sự kiên quyết,

thiếu chủ động, sáng tạo, nhất là việc nghiên cứu, bàn biện pháp, cách thức triển

khai thực hiện các nội dung của Chương trình, vì vậy kết quả ở một số xã còn

hạn chế;

- Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành có việc còn thiếu kịp thời, chưa

chặt chẽ, nhất là thời kỳ đầu thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới;

- Đội ngũ cán bộ giúp việc các cấp làm việc kiêm nhiệm, đa số là mới,

kinh nghiệm về quản lý xây dựng nông thôn mới còn ít, trong khi khối lượng

công việc nhiều, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực,…

61

Tiểu kết chương 2

Xây dựng nông thôn mới ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh đã đạt được

những kết quả nhất định. Từ những phân tích về thực trạng công tác quản lý

nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện Lương Tài có thế thấy sự đồng

lòng quyết tâm của Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân trong huyện huyện.

Qua phân tích về thực trạng công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn

mới tại huyện Lương Tài đã chỉ rõ tồn tại, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần

phải giải quyết trong xây dựng nông thôn mới. Từ đó là cơ sở để định hướng,

nghiên cứu những giải pháp, kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả Chương

trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới của Huyện trong thời gian

tới.

62

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN LƯƠNG TÀI,

TỈNH BẮC NINH ĐẾN NĂM 2025

3.1. Quan điểm của Đảng, của tỉnh Bắc Ninh về xây dựng nông thôn

mới

3.1.1. Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới

Quan điểm của Đảng vẫn lấy Nghị quyết Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày

5 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông

nghiệp, nông thôn, nông dân làm kim chỉ nam cho Chương trình của xây dựng

nông thôn mới.

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực

lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định

chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân

tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước.

Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng

bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công

nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng

hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong mối quan

hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của

quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công

nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn

diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt.

63

Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh

thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai,

rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc

tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao

nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh

các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát

triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân.

Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả

hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước,

tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn

định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đàm đà bản sắc dân

tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng

cao đời sống nông dân.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa

xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta khẳng định xây dựng nông thôn

mới là một nhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của

đất nước. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ phương hướng,

nhiệm vụ của xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là: Tiếp tục triển khai

chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo

các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn

hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam.

3.1.2. Chủ trương, quan điểm của tỉnh Bắc Ninh về xây dựng nông

thôn mới

Trong giai đoạn mới 2021-2025, quan điểm chủ trương của tỉnh Bắc Binh

64

là: quán triệt thực hiện các Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước và đặc

biệt thực hiện Quyết định số 1689/QĐ-TTg ngày 11 tháng 10 năm 2021 của

Thủ tướng Chính phủ về Ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số

25/2021/QH15 ngày 28 tháng 7 năm 2021 của Quốc hội về việc phê duyệt chủ

trương đầu tư Chương Trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai

đoạn 2021-2025.

Tiếp tục thực hiện Quyết định 1620/QĐ-TTg ngày 20 tháng 9 năm 2011

của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức phong trào thi đua “cả nước chung sức xây

dựng nông thôn mới”. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (khóa XVIII) đã

ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 14/4/2011 về xây dựng nông thôn mới

tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 – 2020; Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh ban hành

Quyết định số 168/2010/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án xây dựng NTM

tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 - 2020. Mục tiêu đặt ra là: giai đoạn 2011 -

2015, trong năm 2011 phấn đấu có 8 xã đạt chuẩn NTM để đến năm 2015 có

50 xã (bằng 50%) đạt chuẩn NTM; giai đoạn 2016 - 2020, phấn đấu có thêm

30 xã (bằng 30%) đạt chuẩn NTM, để đến hết năm 2020 toàn Tỉnh có 80%

số xã đạt chuẩn NTM.

Xây dựng nông thôn mới theo hướng truyền thống, văn minh, hiện đại,

có kết cấu hạ tầng phù hợp với quy hoạch không gian làng, xã, quy hoạch kinh

tế - xã hội của ngành và địa phương; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân

tộc; đảm bảo môi trường sinh thái…

Nhanh chóng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, rút

ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn nâng cao dân trí, đào

tạo nguồn nhân lực, xây dựng giai cấp nông dân mới theo ý thức tự vươn lên,

có khả năng làm chủ nông thôn mới. Đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an

toàn xã hội.

65

3.2. Phương hướng, mục tiêu xây dựng nông thôn mới ở huyện

Lương Tài tỉnh Bắc Ninh từ nay đến năm 2025

3.2.1. Phương hướng

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động, quát triệt nhận thức đối với

cán bộ làm công tác nông thôn mới và người dân, cộng đồng về mục tiêu, nhiệm

vụ triển khai kế hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn. Xác định rõ xây

dựng nông thôn mới là quá trình liên tục, có điểm bắt đầu nhưng không có điểm

kết thúc, các xã sau khi đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới cần tiếp

tục phấn đấu nâng cao chất lượng các tiêu chí và hướng tới xây dựng nông thôn

mới kiểu mẫu.

- Chú trọng đến chất lượng cuộc sống của người dân, như : việc làm cho

người lao động, nâng cao thu nhập, mức hưởng thụ văn hóa của người dân, giữ

gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của cộng đồng; công tác bảo vệ môi

trường, xây dựng cảnh quan sáng – xanh – sạch – đẹp; xây dựng mối quan hệ

tình làng, nghĩa xóm tốt đẹp, công tác đảm bảo an toàn an ninh trật tự ở khu

dân cư nông thôn…

- Xây dựng nông thôn mới là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho

người dân nông thôn, tạo dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó tình làng nghĩa

xóm, sẳn sàng giúp đỡ, sẻ chia lẫn nhau. Khi triển khai xây dựng khu dân cư

nông thôn mới, phải lấy vai trò của cộng đồng dân cư là chính, phải để cộng

đồng dân cự tự bàn bạc, thống nhất lựa chọn lĩnh vực phù hợp, là điểm mạnh

của cộng đồng để phấn đấu trở thành kiểu mẫu; chính quyền chỉ là người hướng

dẫn, hỗ trợ. Khi triển khai thực hiện các nội dung nói trên cơ quan chính quyền

các cấp cần phối hợp chặt chẽ với Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính

66

trị – xã hội các cấp để tuyên truyền, vận động tổ chức để cho người dân

tham gia.

- Hằng năm tổ chức khen thưởng cá nhân tiêu biểu, tôn vinh các tổ chức

kinh tế hợp tác (THT, HTX), doanh nghiệp có đóng góp tích cực, hiệu quả cho

xây dựng NTM trên địa bàn

3.2.2. Mục tiêu

- Phấn đấu đến năm 2025, huyện có từ 1-2 xã đạt chuẩn nông thôn mới

kiểu mẫu và có 30% xã đạt các tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao;

- Phấn đấu giá trị sản xuất bình quân trồng trọt và thủy sản đạt trên 160,75

triệu đồng/ha/năm;

- Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xã

hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, dân trí nâng cao, môi

trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được đảm bảo, hệ thống chính trị

ở nông thôn được tăng cường.

- Thu thập bình quân đầu người đạt 50,4 triệu đồng/người/năm;

- Giá trị sản xuất trồng trọt trên 01 ha canh tác đạt 134,55 triệu đồng/ha;

- Duy trì 100% số xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế giai đoạn đến năm 2020;

- Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 93,5%;

- Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên đạt trên 95%;

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65%;

- Duy trì 100% trường học ở cả 4 cấp đạt chuẩn Quốc gia;

- Tỷ lệ hộ được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa” đạt 91%;

- Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch theo quy định đạt 95%.

67

3.3. Các giải pháp chủ yếu quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn

mới ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh đến năm 2025

3.3.1. Giải pháp ban hành, hướng dẫn, triển khai văn bản quy phạm

pháp luật và cơ chế, chính sách trong xây dựng nông thôn mới

- Cần ban hành các văn bản quy định, phân cấp rõ ràng trong công tác

tuyên truyền, phổ biến các quy định liên quan đến xây dựng NTM đến người

dân.

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về xây dựng

nông thôn mới tại huyện.

- Tiếp tục rà soát hệ thống chính sách, pháp luật về xây dựng nông thôn

mới; kịp thời bổ sung, sửa đổi hoặc bãi bỏ những văn bản không còn phù hợp,

nhằm nâng cao hiệu quả thực thi của văn bản.

- Hoàn thiện, nắm bắt kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng,

Chính phủ và tỉnh Bắc Ninh để từ đó có những cơ chế, chính sách phù hợp

nhằm đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Lương Tài.

- Xây dựng, triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện xây

dựng nông thôn mới trên địa bàn Huyện;

- Tổ chức lại các hình thức sản xuất đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành

nông nghiệp gắn với liên kết tiêu thụ nông sản và từng bước hình thành vùng

sản xuất tập trung. Phát triển hợp tác xã kiểu mới, nâng cao hiệu quả hoạt động

của các hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất cung cấp các dịch vụ đầu vào với giá

thấp, chất lượng cao cho các hộ xã viên, tổ chức tiêu thụ sản phẩm với giá có

lợi nhất cho các hộ xã viên. Tuyên truyền, vận động để chuyển dần từ mô hình

kinh tế hộ sang mô hình kinh tế liên kết hộ.

68

3.3.2. Giải pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục nâng cao nhận thức

về xây dựng nông thôn mới

- Tiếp tục quán triệt và tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách

về xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, nhằm nâng cao nhận thức và tạo

sự chuyển biến tích cực trong từng hành động của người dân.

- Tiếp tục vận động xã hội hóa thực hiện Chương trình trên cơ sở phù

hợp với sức dân; khơi dậy, phát huy tính tự giác, tự nguyện của người dân, công

khai rõ ràng để tạo sự tin tưởng cho các tổ chức, cá nhân hỗ trợ, giám sát thực

hiện.

- Phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân tham gia giám sát quá trình

xây dựng nông thôn mới; tham gia bảo quản tốt các công trình, dự án hạ tầng

kinh tế-xã hội nông thôn trên địa bàn.

3.3.3. Kiện toàn bộ máy quản lý, đẩy mạnh huy động nguồn lực đầu tư

- Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức, lựa chọn những cán bộ tâm huyết,

trách nhiệm cao, đủ năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện

Chương trình trong giai đoạn mới; Quan tâm, có chính sách, quy hoạch, đào

tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm đối với những cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

trong xây dựng nông thôn mới để tạo phong trào thi đua.

- Bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng NTM tại các xã do cán bộ phụ

trách nông nghiệp kiêm nhiệm, cần bổ sung cán bộ chuyên môn cho hoạt động

quản lý xây dựng nông thôn mới tại mỗi xã.

- Về cơ cấu tổ chức: cần tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy QLNN về

xây dựng nông thôn theo hướng đầy đủ, tinh gọn, chuyên sâu; hoạt động có

hiệu lực, hiệu quả, phân định rõ trách nhiệm của từng thành viên;

69

- Về đổi mới hoạt động: cần có quy chế làm việc chặt chẽ, đồng thời phải

thực hiện theo đúng quy chế, cần quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của tập

thể và cá nhân nhất là vai trò trách nhiệm của người đứng đầu có như vậy mới

nêu cao vai trò trách nhiệm cá nhân, khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm,

duy ý chí của người đứng đầu.

- Nâng cao trách nhiệm, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ và tổ

chức lại bộ máy hoạt động của các phòng ban Huyện.

- Trong thời gian tới tiếp tục đẩy mạnh huy động mọi nguồn lực, tranh

thủ sự giúp đỡ của các cấp, các ngành, sự đóng góp của tổ chức, cá nhân, lồng

ghép các chương trình, dự án, tăng nguồn thu từ cấp và đấu giá quyền sử dụng

đất, duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí đối với các xã đã đạt chuẩn nông

thôn mới.

- Phấn đấu tăng thu ngân sách, tiết kiệm đối đa các khoản chi thường

xuyên để tăng chi đầu tư phát triển, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ đầu tư cấp

thiết

- Đặc biệt khuyến khích sự tham gia ủng hộ tích cực của người dân, nhất

là con em thành đạt của quê hương để cùng với nguồn lực nhà nước xây dựng,

cải tạo và nâng cấp các công trình phục vụ đời sống dân sinh, trọng điểm là các

tuyến đường giao thông nông thôn, hệ thống kênh mương, các khu thu gom, xử

lý rác thải nhằm bảo vệ môi trường; nâng cấp hệ thống các chợ đầu mối, chợ

nông thôn nhằm phát triển mạnh về thương mại, dịch vụ, tạo bước chuyển dịch

mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế NNNT.

3.3.4. Tăng cường quản lý thanh tra kiểm tra của các cấp, các ngành

và nhân dân trong xây dựng nông thôn mới

70

- Công tác thanh tra, kiểm tra xây dựng nông thôn mới phải được thực

hiện thường xuyên. HĐND và Ban Chỉ đạo nông thôn mới các cấp phải xây

dựng kế hoạch giám sát, kiểm tra hàng năm bằng cách tăng cường hơn nữa đi

thực tế nắm tình hình để giúp cho việc chỉ đạo được sâu sát và kịp thời, không

nên chỉ tập trung kiểm tra thông qua các hình thức nghe báo cáo, hội nghị.

- Ứng dụng, khai thác tốt hiệu quả của công nghệ thông tin trong việc hỗ

trợ kiểm tra. Phát huy vài trò của nhân dân trong giám sát đầu tư cộng đồng,

kịp thời phát hiện, đấu tranh với các hành vi tiêu cực trong đầu tư xây dựng. Có

các chế tài xử lý nhằm yêu cầu các chủ đầu tư các công trình phải thực hiện tốt

công tác công khai, minh bạch để cộng đồng dân cư giám sát, kiểm tra.

- Thực hiện tốt việc tiếp nhận, xử lý các thông tin phản hồi từ người dân,

xem đây là kênh quan trọng giúp cho xây dựng các chương trình, kế hoạch sát

hợp với tình hình của địa phương và tháo gỡ những khó hăn, vướng mắc. Để

thực hiện điều này, các cấp, các ngành chuyên môn phải thông báo, cung cấp

số điện thoại nóng để cho người dân có thể tố giác, báo cáo các hoạt động vi

phạm kịp thời được kịp thời.

- Phát huy dân chủ để mọi người dân đều được tham gia bàn bạc, thảo

luận, kiểm tra, giám sát trong quá trình xây dựng nông thôn mới theo phương

châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

- Cả hệ thống chính trị phải tổ chức phong trào thi đua phấn đấu đạt tiêu

chí và mục tiêu của từng ngành, tổ chức và các đoàn thể trong xây dựng nông

thôn mới để từ đó làm cơ sở kiểm tra, đánh giá ết quả thực hiện vào cuối năm.

Thường xuyên nắm bắt, phát hiện những cách làm hay, mô hình tốt để phổ biến

ra diện rộng, kịp thời động viên, khen thưởng các xã, các tổ chức cá nhân có

nhiều đóng góp cho Chương trình.

71

Tiểu kết Chương 3

Kế thừa những kinh nghiệm rút ra từ quá trình xây dựng nông thôn mới

của các địa phương trong tỉnh; trên cơ sở những phương hướng, nhiệm vụ, mục

tiêu mà Huyện đã đề ra đến năm 2020 là tiền đề để các cấp, ban, ngành đoàn

thể từ huyện xuống cơ sở xem xét, điều chỉnh phương thức chỉ đạo, điều hành

thực hiện tốt hơn nữa công tác quản lý nhà nước đối với Chương trình mục tiêu

quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Xây dựng nông thôn mới là cơ sở, là tiền đề cho quá trình phát triển kinh

tế - xã hội của huyện, bên cạnh những kết quả đã đạt được, CT MTQG về XD

NTM ở huyện Lương Tài còn có những khó khăn, vướng mắc. Mặc dù đã hoàn

thành song cần nâng cao hơn chất lượng chương trình XD NTM trên địa bàn

xác định bước đi phù hợp, chuẩn bị tốt về nội dung, phương pháp cách làm, cơ

chế, chính sách, xác định mối quan hệ và trách nhiệm của các cấp, các ngành

và của toàn thể nhân dân trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện. thành tựu cao

nhất để đánh giá kết quả một cách thiết thực đó là “Đời sống vật chất và tinh

thần của người dân ở nông thôn phải được nâng cao và phát triển một cách bền

vững”

Với tinh thần đó, phát huy hơn nữa những kết quả đạt được, cần sự vào

cuộc của cả hệ thống chính trị và sức mạnh của nhân dân quyết tâm đẩy mạnh

thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt nhiều

kết quả tốt hơn trong thời gian tới.

2. Kiến nghị

2.1.1. Đối với các Bộ, ngành ở Trung ương

Ban hành chính sách đãi ngộ, khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức

làm công tác XD NTM các cấp.

Có chính sách hỗ trợ các địa phương tạo điều kiện cho nông dân và các

tổ chức kinh tế ở nông thôn vay vốn tín dụng ưu đãi, nhất là các hộ phát triển

kinh tế quy mô trang trại ở địa phương.

2.1.2. Đối với tỉnh

73

Bố trí ngân sách phù hợp để địa phương thực hiện theo đúng lộ trình,

theo đó có chính sách hỗ trợ. Xây dựng quy định về huy động vốn, cơ chế lồng

ghép, quản lý các nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới chung cho cả tỉnh.

Có cơ chế cụ thể, đơn giản hơn trong thủ tục xây dựng, giải ngân và quyết toán

phần vốn nhà nước hỗ trợ đối với những công trình kỹ thuật đơn giản do cộng

đồng dân cư tự thực hiện.

Tập trung chỉ đạo quyết liệt, tăng cường kiểm tra, động viên khích lệ các

thành viên Ban chỉ đạo, cán bộ cấp dưới phải thực sự vào cuộc; thực hiện phân

công rõ ràng, cụ thể và gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao;

Tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ để nâng cao kiến thức, kỹ năng cho

đội ngũ cán bộ thực thi của các huyện, xã, thôn. (đặc biệt là các chức danh: Bí

thư Đảng ủy xã, Chủ tịch UBND xã, Bí thư Chi bộ thôn và Trưởng thôn). Sớm

lựa chọn cán bộ đủ năng lực để bổ nhiệm chuyên trách nông thôn mới tại cơ

quan Thường trực BCĐ cấp huyện.

2.1.3. Đối với cấp xã

Thường xuyên kiện toàn Ban chỉ đạo, Ban quản lý, Ban phát triển thôn

và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên. Đưa nội dung xây dựng

nông thôn mới vào các cuộc họp giao ban định kỳ để đánh giá những việc đã

làm được, những khó khăn, tồn tại nhằm giúp cho công tác chỉ đạo, điều hành

được hiệu quả hơn.

Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối

tượng, để họ dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thực hiện; làm sao để người dân thấy rằng

phát triển sản xuất tạo sinh kế cho người dân là ưu tiên hàng đầu trong chương

trình xây dựng nông thôn mới. Huy động tối đa các nguồn lực, trong đó chú

trọng vận động đóng góp ngày công, hiến đất xây dựng nông thôn mới.

74

Thực hiện có hiệu quả cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời

sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới" và phong trào

"Chung tay xây dựng nông thôn mới". Cần coi trọng việc khích lệ tinh thần thi

đua xây dựng nông thôn mới giữa các thôn, giữa các dòng họ và các hộ gia

đình.

Duy trì các tiêu chí đã đạt được, quan tâm thực hiện các tiêu chí liên quan

đến giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, môi trường và đảm bảo an ninh nông thôn.

Chú trọng việc triển khai kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ

công nghiệp và dịch vụ theo định hướng thị trường trên cơ sở phát huy tối đa

lợi thế của địa phương để nâng cao thu nhập cho người dân. Chọn một số sản

phẩm hoặc nghề là thế mạnh của địa phương để tập trung chỉ đạo, hỗ trợ ứng

dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng và hiệu quả. Quan tâm chất

lượng đào tạo nghề (nông nghiệp, phi nông nghiệp) cho nông dân theo Quyết

định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008), Nghị quyết số 26- NQ/TW, Về

nông nghiệp, nông thôn, nông dân, Hà Nội.

2. Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông

thôn mới (2016), Báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai

công tác 6 tháng cuối năm 2016, Hà Nội.

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT

ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2013), thông tư số 41/2013/TT-

BNNPTNT ngày 04/10/2013 về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc

gia về nông thôn mới, Hà Nội.

5. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2009), Thông tư số 54/2009/TT-

BNNPTNT ngày 21/8/2009 về hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về

nông thôn mới.

6. Cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM” (Nhà xuất bản Lao động 2010).

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9. Học viện Hành chính (2008), Lý luận hành chính nhà nước, Nxb. Khoa học

và Kỹ thuật, Hà Nội.

10. Hồ Xuân Hùng (2010), Những vấn đề quan tâm khi XD NTM, Bản tin ISG,

(Quý 2/2010), trang 1.

76

11. Hoàng Thị Hồng Lê (2016), “Quản lý nhà nước về xây dựng NTM ở huyện

Mỹ Đức, Hà Nội” Luận văn thạc sỹ Hành chính công – Học viện Hành

chính Quốc gia.

12. Mai Thanh Cúc (2005) "Giáo trình phát triển nông thôn” – NXB – Đại học

Nông nghiệp I Hà Nội.

13. Mai Thanh Cúc và cộng sự (2005), Giáo trình phát triển nông thôn, NXB

Nông nghiệp, Hà Nội

14. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng.

15. Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X về Nông nghiệp, nông dân,

nông thôn.

16. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Lương Tài khóa XIX, nhiệm kỳ 2015-

2020.

17. Nguyễn Thị Quy (2015), “Quản lý nhà nước về XD NTM trên địa bàn huyện

Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh”, Luận văn thạc sỹ hành chính - Học viện Hành

chính Quốc gia.

20. Paul Hersey và Ken Blanc Hard (1995), “Quản lý nguồn nhân lực” – NXB

Chính trị.

21. Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05 tháng 4 năm 2016 của Thủ tướng

Chính phủ về tiêu chí huyện nông thôn mới và quy định thị xã, thành phố

trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

22. Quyết định 27/QĐ-TTg ngày 05 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng Chính

phủ về Phê duyệt Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng

nông thôn mới giai đoạn 2011- 2015.

77

23. Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ Về

việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

24. Quyết định số 2261/QĐ-TTg ngày 15/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015-2020

25. Thủ tướng Chính phủ (2002), Quyết định số 42/2002/QĐ-TTg ngày

19/3/2002 về việc quản lý và điều hành các chương trình mục tiêu quốc gia,

Hà Nội.

26. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009

về việc ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, Hà Nội.

mới từ năm 2015-2020 huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.

27. Thông tư số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày

13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và

Đầu tư, Bộ Tài chính.

28. Trần Quang Hiển (2017) “Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước” – NXB

Tư pháp (279 tr).

29. UBND huyện Lương Tài, Báo cáo số Báo cáo số 133/BC-UBND ngày

15/11/2019 của UBND huyện Lương Tài về Kết quả xây dựng nông thôn

30. Xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh (2011), http://www.tap

chicongsan.org.vn, ngày 23/9/2011.

78

PHỤ LỤC SỐ LIỆU

Phụ lục 1

BIỂU TỔNG HỢP KẾT QUẢ THỰC HIỆN TIÊU CHÍ HUYỆN

NÔNG THÔN MỚI HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH

TT Tên tiêu chí Nội dung tiêu chí Kết quả thực hiện Tiêu chuẩn đạt chuẩn Kết quả tự đánh giá của huyện

Có quy hoạch xây dựng trên địa 1 Quy hoạch Đạt Đạt Đạt bàn huyện được phê duyệt

2.1. Hệ thống giao thông trên

địa bàn huyện đảm bảo kết nối Đạt Đạt Đạt

tới các xã 2 Giao thông

2.2. Tỷ lệ km đường huyện đạt 100% 100% Đạt chuẩn theo quy hoạch

Hệ thống thủy lợi liên xã đồng

bộ với hệ thống thủy lợi các xã 3 Thủy lợi Đạt Đạt Đạt

theo quy hoạch

Hệ thống điện liên xã đồng bộ

với hệ thống điện các xã theo 4 Điện Đạt Đạt Đạt quy hoạch, đảm bảo yêu cầu kỹ

thuật của cả hệ thống

5.1. Trung tâm y tế huyện đạt 5 Đạt Đạt Đạt chuẩn quốc gia Y tế - Văn hóa - Giáo dục

79

5.2. Trung tâm Văn hóa - Thể

thao huyện đạt chuẩn, có nhiều Đạt Đạt Đạt hoạt động văn hóa - thể thao kết

nối với các xã có hiệu quả

5.3. Tỷ lệ trường Trung học phổ ≥ 60% 100% Đạt thông đạt chuẩn

Hình thành vùng sản xuất nông

nghiệp hàng hóa tập trung; hoặc

có mô hình sản xuất theo chuỗi 6 Sản xuất Đạt Đạt Đạt giá trị, tổ chức liên kết từ sản

xuất đến tiêu thụ các sản phẩm

chủ lực của huyện.

7.1. Hệ thống thu gom, xử lý

chất thải rắn trên địa bàn huyện Đạt Đạt Đạt

đạt tiêu chuẩn

7.2. Cơ sở sản xuất, chế biến,

dịch vụ (công nghiệp, làng 7 Môi trường

nghề, chăn nuôi, chế biến lương 100% 100% Đạt thực - thực phẩm) thực hiện

đúng các quy định về bảo vệ môi

trường

Đảm bảo an toàn an ninh, trật tự 8 Đạt Đạt Đạt An ninh, trật tự xã hội xã hội

9.1. Ban Chỉ đạo Chương trình

Mục tiêu Quốc gia xây dựng 9 Đạt Đạt Đạt

Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới nông thôn mới cấp huyện được

80

kiện toàn tổ chức và hoạt động

đúng quy định

9.2. Văn phòng Điều phối

Chương trình nông thôn mới cấp Đạt Đạt Đạt huyện được tổ chức và hoạt

động đúng quy định

Nguồn: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện

81

Phụ lục 2: QUẢN LÝ HỘ NGHÈO

Hộ nghèo chưa trừ hộ nghèo BTXH

Tên xã Số hộ T T

Số hộ nghèo được hưởng BTXH Tỉ lệ hộ nghèo (%)đã trừ hộ hưởng BTXH Tỷ lệ (%) Tổng số hộ nghèo\ đã trừ hộ hưởng BTXH

Số hộ nghèo chưa trừ hộ nghèo BTXH 94 1 An Thịnh 4.151 2,26 21 73 1.77

2 Trung kênh 3.590 1,75 21 63 42 1,18

3 Mỹ Hương 2.477 1,61 14 40 26 1,06

4 Lai Hạ 1.547 2,71 18 42 24 1,57

5 Minh Tân 1.764 2,15 16 38 22 1,26

6 Trừng Xá 1.546 1,1 3 17 14 0,91

Trung 7 64 49 3.074 2,08 15 1,6 Chính

8 Phú Hòa 3.355 2,27 20 76 56 1,68

9 Tân Lãng 1.825 0,99 1 18 17 0,93

10 Quảng Phú 3.630 1,71 10 62 52 1,44

11 Bình Định 3.099 1,90 25 59 34 1,11

12 Lâm Thao 2.042 1,71 14 35 21 1,04

13 Phú Lương 1.389 1,94 7 27 13 0,95

33.48 Tổng cộng 635 1,90 185 450 1,35 9

Nguồn: Chi cục thống kê huyện

82