BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ------------------------------------- NGUYỄN THÙY DƯƠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ LUẬN VĂN THẠC SỸ

NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS. NGHIÊM SỸ THƯƠNG

HÀ NỘI - 2013

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, nội dung luận văn là kết quả của sự tìm tòi,

nghiên cứu, sưu tầm từ nhiều nguồn tài liệu và liên hệ với thực tiễn. Các

số liệu trong luận văn là trung thực không sao chép từ bất cứ luận văn

hoặc đề tài nghiên cứu nào trước đó.

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung đã trình bày.

Tác giả

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

NGUYỄN THÙY DƯƠNG

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình theo học chương trình cao học quản trị kinh doanh của

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và nhất là trong thời gian nghiên cứu, hoàn

thiện luận văn ngày hôm nay là kết quả của một quá trình học tập cùng với sự say

mê và dày công nghiên cứu của bản thân mình. Nhưng để tôi có được kết quả này là

nhờ sự giảng dạy, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy, cô Trường Đại học Bách Khoa Hà

Nội và sự ủng hộ của các đồng nghiệp, bạn bè vag gia đình.

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu,Viện Đào tại sau Đại học, các

giảng viên Viện kinh tế và Quản lý Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã giảng

dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong khóa học và trong quá trình thực hiện luận

văn này.

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS. Nghiªm

Sü Th−¬ng người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp Ngân hàng

TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ nơi tôi công tác để hoàn

thành tốt luận văn này.

Và trong thời gian học tập cũng như thời gian làm luận văn, tôi nhận được sự

cộng tác chân thành của các học viên cùng học và tôi xin được gửi lời cám ơn tới họ

về sự cộng tác và giúp đỡ trong thời gian qua.

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã ủng hộ tôi trong suốt

thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp.

Hà Nội, tháng 09 năm 2013

Xin chân thành cám ơn!

Tác giả

NGUYÔN THUú D¦¥NG

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

LỜI NÓI ĐẦU ...........................................................................................................1

CHƯƠNG 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .............................3

1.1 .TỔNG QUAN VỀ NHTM ...............................................................................3

1.1.1. Khái niệm và chức năng của NHTM ........................................................3

1.2. HOẠT ĐỘNGTÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.................6

1.2.1. Khái niệm hoạt động tín dụng ...................................................................6

1.2.2. Các hình thức cho vay ...............................................................................7

1.2.3. Sự cần thiết của hoạt động cho vay...........................................................8

1.2.4. Nguyên tắc của hoạt động cho vay ...........................................................8

1.2.5. Tín dụng trung và dài hạn .........................................................................9

1.3. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI.....................................................................................................17

1.3.1. Khái niệm chất lượng tín dụng trung và dài hạnngân hàng ......................17

1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn................................18

1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ....................................21

Kết luận chương 1 ...............................................................................................26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI

HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

SÔNG NHUỆ ...........................................................................................................27

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

2.1 TỔNG QUAN VỀ NH TMCP CÔNG THƯƠNG VN - CHI NHÁNH

SÔNG NHUỆ VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG CÁC

NĂM QUA ...........................................................................................................27

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương

Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ ....................................................................27

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ...........................28

2.1.3 Các sản phẩm và dịch vụ của NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ............30

2.1.4 Kết quả kinh doanh chủ yếu....................................................................31

2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI

NHCTVN - CHI NHÁNH SÔNG NHỤÊ ............................................................35

2.2.1 Một số quy định về cho vay trung và dài hạn tại NHCTVN - Chi nhánh

Sông Nhuệ. ........................................................................................................35

2.2.2 Thực trạng Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHCTVN - Chi

nhánh Sông Nhuệ. .............................................................................................40

2.3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN

TẠI NHCTVN - CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ.....................................................53

2.3.1. Những kết quả đạt được ..........................................................................53

2.3.2. Những hạn chế trong hoạt động cho vay trung và dài hạn .....................55

2.4.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng............................................................59

2.4.3. Nguyên nhân từ phía ngân hàng..............................................................62

Kết luận chương 2 ...................................................................................................66

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VN -

CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ ..................................................................................67

3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG

TMCP CÔNG THƯƠNG VN - CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ............................67

3.1.1 Mục tiêu, định hướng hoạt động kinh doanh năm 2012 của Chi nhánh

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

Sông Nhuệ .........................................................................................................67

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

3.1.2 Quan điểm về chất lượng hoạt động cho vay của NH TMCP Công

thương VN - Chi nhánh Sông Nhuệ..................................................................68

3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNGDÀI HẠN

TẠI NHCTVN - CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ.....................................................70

3.2.1 Nâng cao chất lượng thẩm định các khoản vay .......................................70

3.2.2. Tăng cường giám sát chặt chẽ khoản vay, kiểm tra việc thực hiện các

điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tín dụng...............................................75

3.2.3 Quản lý rủi ro nhằm xử lý kịp thời các khoản vay có vấn đề, hạn chế

thấp nhất tổn thất cho ngân hàng ......................................................................77

3.2.4 Tăng cường hiệu quả công tác thu thập và xử lý thông tin ...............78

3.2.5. Nhóm giải pháp khác: .............................................................................79

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ....................................................................................83

3.3.1 Kiến nghị với nhà nước và Ngân hàng nhà nước Việt Nam....................83

3.3.2. Kiến nghị với Ngân Hàng TMCP Công Thương VN .............................85

Kết luận chương 3 ...................................................................................................85

KẾT LUẬN ..............................................................................................................86

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................87

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NHCTVN: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

NHTM: Ngân hàng thương mại

NHNN: Ngân hàng Nhà nước

DNNN: Doanh nghiệp nhà nước.

DNNQD: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

VND: Việt Nam đồng

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả huy động vốn của chi nhánh Sông Nhuệ 3 năm gần đây............32

Bảng 2.2: Tình hình cho vay tại chi nhánh Sông Nhuệ ............................................42

Bảng 2.3: Cho vay trung dài hạn phân theo thành phần kinh tế ...............................44

Bảng 2.4: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ .............................................................46

Bảng 2.5: Nợ quá hạn phân theo thành phần kinh tế ................................................48

Bảng 2.6: Dư nợ quá hạn khó đòi theo nguyên nhân đến 31/12/2012......................49

Bảng 2.7: Lợi nhuậncủa chi nhánh ...........................................................................50

Bảng 2.8: Thu nhập từ hoạt động tín dụng Trung dài hạn ........................................51

Bảng 2.9: Vòng quay vốn tín dụng ...........................................................................52

Bảng 2.10: Lượng khách hàng vay vốn Trung dài hạn.............................................52

Bảng 2.11: Lượng khách hàng vay vốn Trung dài hạn.............................................60

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

Bảng 2.12: Thống kê về Cán bộ tín dụng .................................................................63

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

LỜI NÓI ĐẦU

1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong nhiều năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách để

định hướng phát triển kinh tế xã hội theo xu hướng hội nhập, đặc biệt trong đó là

đòn bẩy tài chính thông qua hệ thống các tổ chức tín dụng.

Đối với các ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng

trung dài hạn nói riêng là hoạt động tạo ra doanh thu và lợi nhuận chủ yếu, nó quyết

định sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Tuy nhiên, do những yếu tố khách

quan lẫn yếu tố chủ quan, hoạt động tín dụng, đặc biệt là tín dụng trung và dài hạn

(đặc thù thời gian cho vay dài, chịu ảnh huởng rất lớn từ những biến động của nền

kinh tế) tại các ngân hàng thương mại nước ta hiện nay còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.

Do điều kiện kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế không ổn định, do khủng hoảng

tài chính và suy thoái kinh tế thế giới kéo dài, đặc biệt là khu vực châu Âu đã tác

động lớn đến hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế của Việt Nam. Mặt khác, các

giải pháp kích thích kinh tế, nới lỏng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa cũng

đã tạo điều kiện cho tín dụng ngân hàng tăng trưởng nhanh, bình quân 30,6%/năm.

Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu trong toàn hệ thống ngân hàng đến

cuối năm 2012 ước khoảng 8,6-10% trên tổng dư nợ (khoảng 2,5-2,8 triệu tỷ

đồng).Mặc dù các ngân hàngđã cố gắng tập trung thời gian và nguồn lực cho công

tác xử lý nợ, nhưng kết quả còn hạn chế. Sở dĩ nợ xấu tăng nhanh trong năm 2012

là do hệ quả phát sinh và tích tụ của sự tăng trưởng nóng tín dụng từ một số năm

trước và do nhiều nguyên nhân khác nhau. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng tín

dụng là mối quan tâm của không chỉ các nhà lãnh đạo ngân hàng mà còn của các

nhà quản lý kinh tế.

Là một nhân viên làm việc trong lĩnh vực ngân hàng, nhận thức rất rõ những

rủi ro trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn cũng như sự cần thiết của việc nâng

cao chất lượng tín dụng, với những kiến thức đã được trang bị trong trường cộng

với những kinh nghiệm làm việc thực tế, tôi chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng tín

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

1

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi

nhánh Sông Nhuệ” làm luận văn tốt nghiệp.

2. Mục đích nghiên cứu

- Trình bày một cách có hệ thống những lý luận cơ bản về tín dụng nói chung

và chất lượng tín dụng nói riêng.

- Phân tích thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng

TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ.

- Đưa ra một số giải pháp chính nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và

dài hạn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn .

- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong hoạt động của Ngân hàng TMCP Công

thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ.

4. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp

- Phương pháp phân tích so sánh, kết hợp phân tích định tính, định lượng

5. Những đóng góp của luận văn

Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân

hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ, trên cơ sở đó đưa ra

một số giải pháp nâng cao và hoàn thiện .

6. Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu và kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận

văn được kết cấu làm ba phần:

Phần I: Cơ sở lý luận về Ngân hàng Thương mại và chất lượng tín dụng trung

và dài hạn của Ngân hàng Thương mại.

Phần II: Phân tích thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân

hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ

Phần III: Các giải pháp nâng cao chất lượng tín trung và dài hạn tại Ngân hàng

TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

2

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

CHƯƠNG 1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 .TỔNG QUAN VỀ NHTM

1.1.1. Khái niệm và chức năng của NHTM

1.1.1.1. Khái niệm

Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí quan

trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước. Có rất nhiều khái niệm khác

nhau về NHTM:

Ở Mỹ : Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp

dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.

Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương

mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc

của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài

nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.

Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng khoản 1 và khoản 7 Điều 20 đã xác

định "tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ

ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp

các dịch vụ thanh toán" và trong các loại hình tổ chức tín dụng thì " ngân hàng là

một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền

gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực

hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán".

Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài

chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản

là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn

cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ

của xã hội.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

3

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

1.1.1.2 Chức năng của NHTM

• Làm thủ quĩ cho xã hội

Thực hiện chức năng này NHTM nhận tiền gửi của công chúng, các doanh

nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu cầu rút tiền

và chi tiền của họ.

Đối với khách hàng, thông qua việc gửi tiền vào ngân hàng, họ không những

được đảm bảo an toàn về tài sản mà còn thu được một khoản lợi tức từ ngân hàng

(tuy nhiên cũng không loại trừ trường hợp rủi ro khi ngân hàng mất khả năng thanh

toán, không đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng).

Đối với ngân hàng, chức năng này là cơ sở để ngân hàng thực hiện chức năng

trung gian thanh toán, đồng thời tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho ngân hàng thương

mại thực hiện chức năng trung gian tín dụng.

• Làm trung gian thanh toán

Ngân hàng làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu

của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng

hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và

các khoản thu khác theo lệnh của họ.

Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh

tế. Trước hết, thanh toán không dùng tiền mặt góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông

tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn. Điều này cũng góp phần tăng nhanh tốc độ

lưu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất

xã hội.

Việc cung ứng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất lượng làm

tăng uy tín cho ngân hàng và do đó tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn tiền gửi.

• Làm trung gian tín dụng

Ngân hàng làm trung gian tín dụng khi nó là cầu nối giữa người có vốn dư

thừa và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ

tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay đối với

nền kinh tế, mà chủ yếu là ngắn hạn. Với chức năng này ngân hàng vừa đóng vai trò

là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

4

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Làm trung gian tín dụng xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá

trình tái sản xuất xã hội. Sở dĩ ngân hàng làm được chức năng này vì nó là một tổ

chức chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, có khả năng nhận biết được tình hình

cung cầu về tín dụng. Thông qua việc thu hút tiền gửi với một khối lượng lớn, ngân

hàng có thể giải quyết mối quan hệ giữa cung cầu tín dụng cả về khối lượng vốn

cho vay và thời gian cho vay.

• Vai trò khác

Có thể kể đến như hệ thống ngân hàng thương mại đã góp phần vào tăng

cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài và vốn đầu tư ra nước ngoài. Ở đây các ngân

hàng thương mại tham gia ở hai khía cạnh.

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài, các ngân hàng thương mại tham gia trực tiếp

qua việc cho vay đối với nền kinh tế để tạo cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch

vụ…Tham gia gián tiếp với tư cách là môi giới bảo lãnh, tư vấn…

Đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài bằng việc mở chi nhánh ra nước ngoài, đẩy

mạnh việc cung cấp, dịch vụ tài chính giúp các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài.

Một vai trò nữa của ngân hàng thương mại là cung cấp các dịch vụ tài chính

khác cho nền kinh tế như: tư vấn, bảo lãnh, bảo hiểm, cho thuê tài chính…

1.1.1.3 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

• Huy động vốn

Đây là nghiệp vụ đầu tiên, là sự khởi tạo cho hoạt động của ngân hàng. Cho

vay được coi là hoạt động sinh lời cao do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách

để huy động vốn cho vay.Với chức năng này ngân hàng đóng vai trò là nhân tố tập

hợp các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thông qua các hình thức:

- Nhận tiền gửi của các cá nhân và tổ chức kinh tế. Đây là nguồn tiền chiếm tỉ

lệ chủ yếu trong cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng

- Nguồn đi vay: Trong quá trình kinh doanh, đôi khi NHTM có thể cũng lâm

vào tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu thanh toán chi trả hay nhu

cầu vay vốn của khách hàng. NHTM có thể vay ngân hàng nhà nước, vay các tổ

chức tín dụng khác, vay trên thị trường liên ngân hàng… đây là nguồn vốn rất cần

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

5

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

thiết và quan trọng, vì nó đáp ứng được kịp thời và đảm bảo cho hoạt động của ngân

hàng diễn ra một cách liên tục.

• Hoạt động sử dụng vốn

Vốn huy động được sẽ được ngân hàng đầu tư vào các khoản mục tài sản khác

nhau, nhằm đạt được mục tiêu mà ngân hàng đề ra.Nhìn chung sẽ được sử dụng vào

các hoạt động sau:

- Hoạt động cho vay: hoạt động này đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng,

nó chiếm tỷ trọng chủ yếu và là hoạt động cơ bản của một ngân hàng. Tuy nhiên nó lại

chứa đựng nhiều rủi ro, ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của ngân hàng.

- Các hoạt động đầu tư khác: Hoạt động này rất đa dạng và góp phần làm tăng

thêm thu nhập cho các ngân hàng. Đó là hình thức ngân hàng tham gia vào hoạt

động góp vốn, mua cổ phần của các công ty, liên doanh liên kết, mua bán chứng

khoán, cổ phiếu, trái phiếu nhằm đa dạng hoá danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro,

đem lại nhiều lợi nhuận cho các ngân hàng,

• Các hoạt động khác

NHTM thực hiện các uỷ nhiệm của khách hàng trong giao dịch thanh toán,

chuyển tiền, thu hộ, tư vấn , môi giới và nhận một khoản thu nhập về việc làm trung

gian đó.

1.2. HOẠT ĐỘNGTÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1. Khái niệm hoạt động tín dụng

Hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại, nó quyết

định sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. Hoạt

động tín dụng mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho một ngân hàng thương mại.

Cho vay là một quan hệ kinh tế, trong đó các chủ thể chuyển nhượng cho nhau

một lượng giá trị hoặc hiện vật theo những điều kiện mà hai bên cùng thoả thuận.

Cho vay của NHTM là hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng chuyển

giao cho khách hàng một lượng tiền nhất định, để sử dụng cho một mục đích nhất

định, trong thời gian thích hợp và dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Hay

nói cách khác: Cho vay là khoản tiền NHTM cung cấp cho khách hàng với cam kết

khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong trong thời gian xác định.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

6

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

1.2.2. Các hình thức cho vay

1.2.2.1. Căn cứ vào thời hạn cho vay

- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng, được sử dụng

để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp, các nhu cầu chi tiêu

ngắn hạn của cá nhân.

- Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm,

được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ,

mở rộng sản xuất kinh doanh.

- Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, thời hạn tối đa có

thể lên đến 20-30 năm, cá biệt lên tới 40 năm. Đây là loại hình tín dụng được cung

cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn: xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có

quy mô, xây dựng các xí nghiệp mới…

1.2.2.2. Căn cứ vào đối tượng cho vay

Ðối tượng cho vay của NHTM là các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu

vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng…

1.2.2.3. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn

- Cho vay bất động sản : Cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng

nhà ở, đất đai, bất động sản trong lãnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.

- Cho vay công nghiệp và thương mại: Cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu

động cho các thành phần kinh tế hoạt động trong lãnh vực công nghiệp thương mại

dịch vụ.

- Cho vay nông nghiệp: Cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như : phân

bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, lao động …

- Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cho vay các ngân hàng, các công

ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng…

- Cho vay tiêu dùng: là cho vay để đáp ứng các nhu cầu mua sắm, tiêu dung

phục vụ cho đời sống, sinh hoạt.

1.2.2.4. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Dựa trên cơ sở tài sản thế chấp, cầm cố,

hay bảo lãnh của bên thứ ba hoặc cho vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

7

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

- Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: Cho vay không có tài sản thế chấp,

cầm cố hoặc bảo lãnh mà việc cho vay này do chính các tổ chức tín dụng lựa chọn

dựa trên cơ sở các phương án vay vốn hiệu quả, khả thi và dựa vào độ tín nhiệm, uy

tín trong quan hệ tín dụng của khách hàng

1.2.3. Sự cần thiết của hoạt động cho vay

Trong nền kinh tế thị trường việc các doanh nghiệp xác định cho mình một cơ

cấu vốn tối ưu là vấn đề hết sức cần thiết trong quá trình sản xuất kinh doanh. Cơ

cấu vốn tối ưu là sự kết hợp hợp lý nhất các nguồn vốn tài trợ kinh doanh của một

doanh nghiệp nhằm mục đích tối ưu hoá giá trị thị trường của doanh nghiệp tại mức

giá vốn bình quân rẻ nhất.

Hiện nay, ở Việt Nam các thành phần kinh tế năng lực về tài chính còn thấp,

nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp là rất hạn hẹp, việc tài trợ cho sản xuất kinh

doanh là khó khăn nếu các doanh nghiệp không có nguồn tài trợ của Ngân hàng.

Lúc này, hoạt động cho vay của ngân hàng đã góp phần buộc các doanh nghiệp phải

làm ăn đúng đắn qua việc kiểm tra định kỳ các báo cáo tài chính, thúc đẩy hạch toán

kinh doanh trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó các ngân hàng luôn sẵn sàng cùng

khách hàng tháo gỡ khó khăn trong phạm vi cho phép giúp khách hàng hoạt động có

hiệu quả hơn.

Hoạt động cho vay của NHTM là nguồn tài trợ đáp ứng kịp thời về vốn cho dự

án có hiệu quả vào hoạt động. Hơn nữa, sự cần thiết về đổi mới máy móc, thiết bị là

yếu tố thiết yếu đối với các thành phần kinh tế trong giai đoạn hiện nay, để từ đó

mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh tạo ra sức cạnh tranh với

thị trường trong và ngoài nước.

Thông qua việc kiểm tra kiểm soát trong quá trình cho vay, ngân hàng đã thúc

đẩy các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và như vậy ngân hàng đã trở thành

người bạn đường đáng tin cậy, người tham mưu đắc lực cho hoạt động sản xuất,

kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.4. Nguyên tắc của hoạt động cho vay

Theo Quyết định số 1627 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra

ngày 31/12/2001 về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

8

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

khách hàng, ghi rõ: Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo thực

hiện nguyên tắc:Hoàn trả gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp

đồng tín dụng.

Các khoản cho vay của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi

của khách hàng các khoản ngân hàng vay mượn. Ngân hàng phải có trách nhiệm

hoàn trả gốc và lãi như đã cam kết. Do vậy, ngân hàng phải luôn yêu cầu bên vay

phải thực hiện đúng cam kết này. Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận

trong hợp đồng tín dụng.

Căn cứ vào mục đích cho vay của ngân hàng là phục vụ cho nhu cầu đầu tư

phát triển sản xuất và dựa vào đặc điểm của tín dụng là cho vay có hoàn trả cả gốc

và lãi, nên khi khách hàng muốn vay vốn đều phải thuyết trình và cam kết sử dụng

vốn vay đúng mục đích.

Đối với các ngân hàng việc kiểm tra, giám sát thường xuyên (trước, trong và

sau khi cho vay) đã buộc khách hàng sử dụng đúng mục đích. Điều đó đã thúc đẩy

hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, tạo cơ sở cho việc thu nợ của ngân hàng.

Bên cạnh đó phát hiện, dự báo những rủi ro có thể phát sinh, phát hiện sớm những

khoản vay có vấn đề trước khi trở nên nghiêm trọng nhằm có những giải pháp xử lý

kịp thời, tạo điều kiện phát huy tác dụng của nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

1.2.5. Tín dụng trung và dài hạn

1.2.5.1. Đặc trưng của tín dụng trung và dài hạn

• Mục đích và đối tượng cho vay

Khác với tín dụng ngắn hạn, là loại hình tín dụng được sử dụng chủ yếu để bổ

sung vốn lưu động cho doanh nghiệp. Tín dụng trung và dài hạn có mục đích đầu tư

vào các dự án có thời gian tương đối dài như các dự án xây dựng nhà xưởng, cơ sở

vật chất kỹ thuật, mua sắm máy móc, đổi mới kỹ thuật và ứng dụng khoa học công

nghệ đáp ứng cho nhu cầu phát triển trong tương lai của doanh nghiệp.

Với mục đích này, đối tượng cho vay của tín dụng trung và dài hạn là các chi

phí cấu thành trong tổng mức đầu tư của dự án không phân biệt thành phần kinh tế,

là tổ chức, cá nhân hay doanh nghiệp, bao gồm giá trị vật tư, máy móc thiết bị, công

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

9

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

nghệ, chi phí nhân công, giá thuế và chuyển nhượng đất đai, chi phí mua bảo hiểm,

giá thuê mua các tài sản và các chi phí khác. Mức cho vay của một dự án đầu tư

bằng tổng mức vốn đầu tư của dự án trừ đi vốn tự có đầu tư cho dự án của bên đi

vay, nhưng mức tối đa chỉ bằng 70% giá trị tài sản thế chấp, cầm cố. Việc sử dụng

vốn vay phải tuân thủ theo nguyên tắc: đúng mục đích và có hiệu quả cao.

• Điều kiện cho vay

Để được vay vốn khách hàng vay phải gửi đến ngân hàng đơn xin vay, luận

chứng kinh tế kỹ thuật và dự toán đã được thẩm định và được cấp trên phê duyệt,

các báo cáo tài chính trong một vài năm gần đây của đơn vị xin vay. Ngoài ra đơn

vị xin vay phải gửi đến ngân hàng bản tính toán hiệu quả của dự án, có tính toán đầy

đủ số tiền xin vay, các nguồn trả nợ và lệnh trả nợ. Ngân hàng cho vay sẽ xem xét

tài liệu nhằm đánh giá đầy đủ khả năng của đơn vị vay vốn trước khi quyết định cho

vay. Ngân hàng sẽ đánh giá trên các mặt sau:

- Tình hình tài chính của doanh nghiệp hiện tại và trong tương lai.

- Khả năng sinh lợi của dự án.

- Dự toán các luồng tiền.

- Thẩm định chi tiết về thị trường sản phẩm mà dự án dự định sẽ cung cấp, bao

gồm thị trường sản phẩm hiện tại và tương lai, trong nước và ngoài nước.

- Thẩm định cả về số lượng, giá cả và khả năng cạnh tranh của dự án.

• Nguồn vốn cho vay

Ngân hàng có thể sử dụng các nguồn vốn sau để cấp tín dụng trung và dài hạn

cho các khách hàng của mình:

- Vốn tự có: đây là nguồn vốn chủ yếu hình thành nguồn vốn cho vay trung và

dài hạn của các ngân hàng thương mại (NHTM), vốn tự có bao gồm vốn góp hoặc

vốn bổ sung thêm từ lợi nhuận không chia trong quá trình kinh doanh của ngân

hàng. Các NHTM có vốn tự có lớn sẽ có ưu thế trong hoạt động tín dụng trung và

dài hạn.Tuy nhiên nguồn vốn này trong các NHTM Việt Nam còn chiếm một tỷ lệ

thấp so với nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

10

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

- Vốn huy động và đi vay có thời hạn từ một năm trở lên:

+ Các NHTM có thể huy động vốn trong dân cư dưới các hình thức phát hành

trái phiếu dài hạn có kỳ hạn 1; 3; 5 năm, thậm chí có thể có kỳ hạn lâu hơn nữa hoặc

có thể huy động tiền gửi định kỳ dài hạn để cho vay trung và dài hạn. Tuy nhiên

nguồn vốn này hiện nay rất hạn chế do tâm lý của dân chúng không ưa thích những

khoản tiền gửi dài hạn, hoặc những trái phiếu có thời gian đáo hạn dài. Nguồn vốn

này chỉ có thể thu hút được nhiều khi mà nền kinh tế có sự tăng trưởng ổn định.

+ Vốn vay: NHTM có thể đi vay Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tuy nhiên

nguồn vốn này phụ thuộc nhiều vào chính sách tiền tệ của NHNN, đối với nguồn

vốn này các NHTM thường nằm ở thế bị động. Ngoài ra các NHTM có thể đi vay

nợ nước ngoài để cho vay trung và dài hạn, hình thức này được các NHTM trên thế

giới coi là một nguồn để tài trợ cho hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Nguồn vốn

này thường có lãi suất chấp nhận được và khối lượng lớn nhưng nguồn vốn này chỉ

nên dùng để cho vay các dự án đầu tư mà hiệu quả có thể mang lại cao, tránh trường

hợp không thanh toán được nợ.

- NHTM cũng có thể sử dụng một phần nguồn vốn huy động có kỳ hạn dưới

một năm, tỷ lệ này phụ thuộc vào những quy định của Thống đốc NHNN trong từng

thời kỳ, tỷ lệ này thường rất thấp vì yêu cầu đảm bảo thanh khoản.

- Vốn nhận uỷ thác và vốn tài trợ để cho vay theo chương trình chuyển dịch cơ

cấu đầu tư của Nhà nước, tổ chức kinh tế - tài chính, tín dụng, xã hội trong và ngoài

nước. Nguồn vốn này có đặc điểm tính ổn định không cao, các dự án đầu tư thường

được chỉ định trước các NHTM chỉ là trung gian đóng vai trò quản lý, giải ngân và

thu hồi vốn đầu tư, họ không có quyền lựa chọn dự án đầu tư.

• Thời hạn cho vay

Các khoản tín dụng trung và dài hạn có thời hạn cho vay từ một năm trở lên,

được xác định căn cứ vào yêu cầu của dự án, khả năng trả nợ của người vay và tính

chất nguồn vốn của bên cho vay. Thời gian cho vay được tính từ khi bên đi vay

được nhận khoản vốn đầu tiên cho đến khi họ hoàn trả khoản nợ cuối cùng. Thông

thường các ngân hàng căn cứ vào thời gian khấu hao để xác định thời hạn cho vay.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

11

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Thời gian cho vay ngắn hoặc dài hơn quá nhiều thời gian khấu hao đều ảnh hưởng

tới quá trình trả nợ của khách hàng, vì nguồn vốn khấu hao là một trong những

nguồn chủ yếu để trả nợ cho ngân hàng

• Lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay được các NHTM tính toán sao cho vừa phải đảm bảo bù đắp

được chi phí huy động nguồn, chi phí quản lý, tỷ lệ lợi tức mong đợi, khả năng rủi

ro mất vốn đồng thời phải đảm bảo được tính cạnh tranh giữa các NHTM với nhau.

Do bản chất của tín dụng trung và dài hạn là những khoản tín dụng có thời hạn

dài do đó tính rủi ro cao, cho nên lãi suất cho vay trung và dài hạn thường cao hơn

lãi suất cho vay ngắn hạn. Lãi suất là bao nhiêu phần trăm phụ thuộc vào từng dự án

cụ thể, lĩnh vực, ngành nghề của dự án tài trợ, chính sách tín dụng của ngân hàng

cũng như sự thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Lãi suất cho vay có thể được

tính theo lãi suất cố định hay lãi suất biến đổi. Lãi suất cố định là lãi suất được giữ

nguyên không thay đổi trong suốt thời hạn vay. Còn lãi suất biến đổi là lãi suất có

thể thay đổi lên xuống trong thời hạn vay, được điều chỉnh cho phù hợp với thị

trường. Thông thường, trong tín dụng trung và dài hạn các NHTM thường sử dụng

lãi suất biến đổi để giảm thiểu rủi ro về lãi suất cho cả ngân hàng và khách hàng khi

có sự biến động tương đối của lãi suất trên thị trường.

1.2.5.2. Đặc điểm của tín dụng trung dài hạn.

Thời hạn cho vay dài: Vì hoạt động tín dụng trung và dài hạn nhằm đáp ứng

nhu cầu vốn cố định của khách hàng để mua sắm máy móc, trang thiết bị, xây dựng

cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.

Vốn đầu tư lớn : Việc đầu tư được thực hiện bởi các dự án lớn và những hoạt

động mang tầm chiến lược của các doanh nghiệp nên tỷ trọng vốn vay lớn gấp

nhiều lần so với những khoản vay ngắn hạn.

Mức độ rủi ro cao: Vì thời gian thu nợ kéo dài nên trong khoảng thời gian đó

có thể xảy ra nhiều biến động về lạm phát, về quy chế, chính sách pháp luật…

Những biến động này sẽ làm ảnh hưởng xấu đến quá trình hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp, làm cho họ chưa trả được nợ hoặc không trả được nợ cho ngân

hàng dẫn tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng bị giảm sút.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

12

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Lãi suất cao: Lãi suất cho vay, ngoài lãi suất cơ bản còn phụ thuộc vào cấu

trúc rủi ro và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất. Mức độ rủi ro cao, thời hạn vay dài thì lãi

suất sẽ cao. Như chúng ta thấy, chi phí huy động vốn trung và dài hạn - nguồn vốn

chủ yếu dùng để cho vay trung và dài hạn là rất lớn.

1.2.5.3. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn

• Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với các doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh

nghiệp phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện để nâng cao năng suất lao động,

giảm thiểu chi phí, giảm giá thành để đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị

trường, với mục tiêu là thắng trong cạnh tranh và thu được lợi nhuận cao. Về dài

hạn, các doanh nghiệp luôn cần một lượng vốn lớn để mở rộng sản xuất, xây dựng

nhà xưởng, đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị, đổi mới công nghệ... Tín dụng

trung dài hạn tạo điều kiện cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo ra thời

cơ cũng như những thách thức đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức trên

thị trường.

Tuy việc ứng dụng này là rất cần thiết, song mọi doanh nghiệp đều gặp phải

khó khăn đó là chi phí bỏ ra ban đầu lớn, bản thân vốn tự có của doanh nghiệp lại

có hạn. Trong hoàn cảnh đó, tín dụng ngân hàng, đặc biệt là tín dụng trung và dài

hạn đã có những tác động hỗ trợ tích cực trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào

hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó doanh nghiệp không ngừng nâng cao được vị

thế trên thị trường, hiệu quả của doanh nghiệp - qua đó nâng cao chất lượng hoạt

động tín dụng của NHTM.

- Tín dụng trung dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện mở

rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường.

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng sản xuất, kèm theo đó là mở

rộng thị trường hoạt động của mình. Mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh không

phải là hoạt động mà doanh nghiệp có thể tiến hành nhanh chóng một sớm một

chiều mà còn tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng là cần có nguồn

vốn dài hạn. Để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn đó, doanh nghiệp có thể huy động vốn

dưới nhiều hình thức như:

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

13

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

+ Tự tích luỹ vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.

Nguồn vốn này nó có ưu tiên là nó giúp doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm bớt

được sự phụ thuộc vào bên ngoài nhưng nó có hạn chế là doanh nghiệp không thể

tích luỹ một lượng vốn lớn trong một thời gian ngắn.

+ Phát hành cổ phiếu, trái phiếu: Doanh nghiệp có thể huy động được vốn

trung dài hạn để tiến hành sản xuất kinh doanh thông qua việc phát hành cổ phiếu

hoặc trái phiếu. Nếu doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, các cổ đông cũ phải phân

chia quyền kiểm soát mới nếu các cổ đông cũ không mua hết lượng cổ phiếu mới

phát hành. Nếu phát hành trái phiếu thì không phải doanh nghiệp nào cũng có thể

bán trái phiếu trên thị trường được vì còn phụ thuộc vào nhiều vấn đề khác như uy

tín của doanh nghiệp trên thị trường. Hơn nữa khi phát hành cổ phiếu, trái phiếu

doanh nghiệp phải chịu chi phí giao dịch cao, chi phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, lệ

phí đăng kí.

+ Với lợi thế đặc thù, tín dụng trung dài hạn của ngân hàng được các doanh

nghiệp ưa thích để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đặc biệt đối với

nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn xây dựng cơ bản là rất lớn trong khi

các nhà kinh doanh chưa tích luỹ được nhiều, chưa có nhiều thời gian để tích luỹ

vốn, tâm lí của công chúng chưa muốn đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp thì tín

dụng trung dài hạn là một nguồn vốn quan trọng đối với doanh nghiệp nhằm cải tiến

kỹ thuật mở rộng sản xuất.

- Góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả:

Trong thời hạn của khoản vay, ngân hàng thực hiện chức năng giám sát hoạt

động sử dụng vốn với tư cách là chủ sở hữu vốn cho vay đối với các doanh nghiệp.

Ngân hàng căn cứ vào các nguyên tắc tín dụng, hướng các doanh nghiệp sử dụng

vốn đúng mục đích có hiệu quả, đôn đốc khách hàng vay vốn trả gốc và lãi đúng

thời hạn thoả thuận đã ký trong hợp đồng tín dụng. Vốn vay ngân hàng phải chịu

những điều kiện ràng buộc về lãi suất, thời hạn và mục đích sử dụng tiền vay nên

các doanh nghiệp vay vốn phải có sự tính toán chi phí sản xuất hợp lý, tốc độ vòng

quay vốn nhanh, đảm bảo trả nợ ngân hàng đúng hạn và có lợi nhuận giữ lại. Mặt

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

14

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

khác, trong quá trình kiểm tra giám sát sử dụng vốn vay, ngân hàng sẽ giúp doanh

nghiệp phát hiện những nhược điểm, sai sót từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời

nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra đối với doanh nghiệp cũng như rủi ro liên quan

đối với ngân hàng thương mại. Có thể nói rằng, tín dụng ngân hàng đã ràng buộc

trách nhiệm giữa người sở hữu và người sử dụng vốn, từ đó nâng cao năng lực quản

lý vốn và quá trình sản xuất kinh doanh. Đó chính là việc giúp cho nguồn vốn đầu

tư đem lại hiệu quả cao.

-Tín dụng trung dài hạn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong việc thoả

mãn và chớp cơ hội kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp không thể thực hiện được các

dự án đầu tư do không có nguồn vốn để đáp ứng trong thời gian dài. Việc trả nợ vốn

vay trung dài hạn cũng được xây dựng theo một sự phân chia ổn định và hợp lý, do

đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả nợ một cách dễ dàng hơn.

• Tín dụng trung và dài hạn đối với hoạt động của NHTM

Hoạt động sử dụng vốn chủ yếu của các NHTM là hoạt động tín dụng. Những

khoản tín dụng trung và dài hạn với quy mô lớn, lãi suất cao, thời gian dài mang lại

nguồn thu chủ yếu cho các NHTM. Nó vừa góp phần đa dạng hoá các hình thức cho

vay trong NHTM, vừa là biện pháp để giải quyết nguồn vốn còn tồn đọng, nâng cao

hiệu quả sử dụng vốn. Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng chính là việc

ngân hàng đang tạo ra và duy trì khách hàng của mình trong tương lai, để mở rộng

phạm vi hoạt động của mình, khẳng định vai trò vị thế của mình trong nền kinh tế.

Vì vậy, mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn là mục

tiêu của các NHTM.

- Tín dụng trung dài hạn vừa mang lại lợi nhuận đồng thời nâng cao khả năng

cạnh tranh của ngân hàng.

Tín dụng trung dài hạn là hoạt động mang tính chiến lược của các NHTM. Với

những khoản tín dụng trung dài hạn có quy mô lớn, lãi suất cao mang lại lợi nhuận

cao cho ngân hàng, đồng thời thu hút khách hàng đến với ngân hàng mình, nâng cao

khả năng cạnh tranh trên thị trường

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

15

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

- Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng của mình trong tương lai, tạo

điều kiện để ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng

định vai trò, vị thế của mình trong nền kinh tế. Nếu ngân hàng không đa dạng hoá

hoạt động cho vay, đa dạng hoá khách hàng, thời hạn vay tiền thì ngân hàng không

thể đứng vững được trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh trang gay gắt của các

ngân hàng khác.

- Mặt khác tín dụng trung dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn

vốn huy động còn dư thừa tại mỗi NHTM, đồng thời là cách để ngân hàng gọi vốn

có hiệu quả, thu được lợi nhuận qua đó phát triển hoạt động của mình, tăng cường

khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác.

- Thông qua tín dụng trung dài hạn, ngân hàng thực hiện chức năng xã hội của

mình. Thực hiện nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng đã thể hiện vai trò người tài trợ lớn

đối với toàn bộ nền kinh tế, góp phần mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sản phẩm xã hội

và cải thiện đời sống nhân dân.

• Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với nền kinh tế

Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, các hoạt động kinh tế

trên thế giới đang diễn ra rất thường xuyên, sôi nổi. Nhu cầu vốn trung, dài hạn đầu

tư cho các các công trình xây dựng, hiện đại hoá công nghệ, mở rộng các ngành sản

xuất vật chất, các ngành kinh tế mũi nhọn là rất lớn. Nhu cầu này được thoả mãn

một phần bằng vốn ngân sách cấp, một phần huy động từ dân cư thông qua việc

phát hành các trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, tuy nhiên phần lớn nguồn tài

trợ vẫn là các khoản tín dụng trung và dài hạn của các NHTM. Đầu tư cho vay trung

và dài hạn trực tiếp hay gián tiếp góp phần phát triển khoa học công nghệ, tạo thêm

công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống dân cư, giảm bớt tệ nạn

cho xã hội, phát triển, tăng trưởng kinh tế đất nước.

-Tín dụng trung dài hạn có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ

cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, tăng tỷ trọng các ngành sản

xuất vật chất, là nền tảng cho phát triển kinh tế đất nước, đáp ứng nhu cầu trước mắt

cũng như lâu dài. Đầu tư cho vay trung dài hạn trực tiếp hay gián tiếp góp phần phát

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

16

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

triển khoa học công nghệ, tạo công ăn việc làm, ổn định lạm phát, nâng cao đời

sống của dân cư, phát triển lực lượng lao động giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định

- Tín dụng ngân hàng đóng vai trò tích luỹ tập trung vốn, nhờ có công cụ tín

dụng các doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất, nền kinh tế có thể tái sản

xuất mở rộng nhanh chóng hơn, Đặc biệt đối với tín dụng trung dài hạn, nó giúp các

doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung hoạt động một cách liền mạch,

không ngắt quãng và là một kênh truyền dẫn vốn có hiệu quả. Thông qua cho vay

trung dài hạn mà xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, góp phần đẩy nhanh

quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế.

-Tín dụng trung dài hạn là đòn bẩy kinh tế quan trọng trong quá trình mở rộng

quan hệ kinh tế quốc tế. Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu

hàng hoá là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế thông dụng. Vốn là nhân tố quyết

định đầu tiên cho việc thực hiện quá trình này.

1.3. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

1.3.1. Khái niệm chất lượng tín dụng trung và dài hạnngân hàng

Tín dụng ngân hàng là một sản phẩm của ngân hàng cung ứng phục vụ các

khách hàng của mình. Cũng như các sản phẩm khác nó cũng có chất lượng, tuy nhiên

vì ngành ngân hàng là một ngành kinh tế đặc biệt, liên quan chặt chẽ đến nhiều lĩnh

vực của nền kinh tế nên chất lượng tín dụng ngân hàng có những đặc trưng riêng.

Chất lượng tín dụng trung dài hạn là chất lượng của các khoản vay có thời hạn

trên một năm, được đánh giá là có chất lượng tốt khi vốn vay được sử dụng đúng mục

đích phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả, đảm bảo trả nợ

cho ngân hàng đúng hạn vừa bù đắp được chi phí, vừa có lợi nhuận vừa đem lại hiệu

quả kinh tế xã hội.

Chất lượng cho vay được xem xét trên những góc độ:

- Đối với khách hàng: Vay tiền phù hợp với mục đích sử dụng với các điều

khoản về lãi suất, kỳ hạn nợ, thủ tục đơn giản, thuận tiện đảm bảo thanh toán phù

hợp với lợi ích của khách hàng và luật pháp hiện hành nhằm đảm bảo khả năng duy

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

17

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

trì và mở rộng sản xuất, tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng.

- Đối với Ngân hàng thương mại: Cho vay cung cấp phù hợp với thực lực tài

chính và quản lý của Ngân hàng, phù hợp với chiến lược khách hàng, phù hợp với

nguyên tắc cho vay, chiến lược cạnh tranh và phát triển, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả

đúng hạn và có lãi với giá thành hợp lý, đảm bảo việc tuân thủ pháp luật hiện hành và

thực hiện vai trò của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.

- Đối với nền kinh tế: Cho vay cung cấp đáp ứng được nhu cầu vốn cho sản

xuất kinh doanh hàng hóa, đảm bảo cung cấp vốn đầy đủ, kịp thời và có hiệu quả cho

việc duy trì sản xuất. Mở rộng kinh doanh, tăng cường hiệu quả và năng lực hoạt

động của các doanh nghiệp, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội như tạo việc làm,

xoá đói giảm nghèo, xây dựng các vùng kinh tế mới, tạo điều kiện để thực thi chính

sách tiền tệ quốc gia...

1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn.

Việc đánh giá chất lượng tín dụng đối với một ngân hàng là hết sức quan

trọng. Chất lượng tín dụng biểu hiện khả năng hoạt động của ngân hàng là tốt hay

xấu, làm cơ sở để đánh giá ngân hàng. Mặt khác, việc đánh giá chất lượng tín dụng

cũng giúp cho ngân hàng có những thay đổi hợp lý, điều chỉnh hoạt động để nâng

cao khả năng cạnh tranh của mình. Việc nâng cao chất lượng tín dụng không những

làm tăng thu nhập cho ngân hàng mà còn giúp ngân hàng được an toàn. Để đánh giá

chất lượng tín dụng người ta sử dụng một số chỉ tiêu sau:

• Dư nợ và kết cấu dư nợ:

Dư nợ là tổng dư nợ qua các hình thức cấp tín dụng mà khách hàng còn nợ

ngân hàng tại một thời điểm.

Kết cấu dư nợ là tổng số nợ được phân chia theo tỷ lệ các hình thức cấp tín

dụng: Theo thời hạn cho vay, theo đơn vị tiền tệ, theo thành phần kinh tế hoặc theo

tài sản bảo đảm tiền vay…

Dư nợ tín dụng trung dài hạn

Chỉ tiêu dư nợ =

Tổng dư nợ tín dụng

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

18

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng dư nợ tín dụng trung dài hạn trên tổng dư nợ tín dụng

của ngân hàng. Qua chỉ tiêu này chúng ta có thể so sánh được quy mô của tín dụng

trung dài hạn so với tín dụng ngắn hạn của ngân hàng. Tuỳ từng ngân hàng cụ thể

và tuỳ từng thời điểm mà ngân hàng mong muốn lệ này cao sẽ đem lại cho ngân

hàng thu nhập cao do lãi suất tín dụng trung dài hạn cao song rủi ro đối với ngân

hàng cũng cao.

• Chỉ tiêu nợ quá hạn

Nợ quá hạn là chỉ tiêu định lượng cơ bản và quan trọng để xem xét, đánh giá

chất lượng hoạt động cho vay của một ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn cho biết tỷ lệ

phần trăm vốn cho vay không thực hiện đúng cam kết, vi phạm nguyên tắc cho vay.

Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao chứng tỏ chất lượng hoạt động cho vay càng thấp và

ngược lại. Nợ quá hạn bất kể do nguyên nhân khách quan hay chủ quan đều có thể

dẫn đến hậu quả xấu cho ngân hàng. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn chỉ được phép nhỏ

hơn hoặc bằng 5% mới được coi là bình thường, nếu chỉ tiêu này vượt quá 5% có

nghĩa là chất lượng hoạt động cho vay không tốt.

Nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dư nợ cho vay

Theo quyết định số 493/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của thống đốc NHNN

quy định các TCTD thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm nợ, cụ thể như sau:

Bảng 1.1: Bảng phân loại nợ

Nhóm Tính chất Tỷ lệ trích lập dự phòng

0% Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn

5%

Các khoản nợ trong hạn có khả năng thu hồi Các khoản nợ quá hạn < 90 ngày Các khoản nợ quá hạn 90 - 180 ngày 20% Nhóm 2: Nợ cần chú ý Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn

50% Nhóm 4: Nợ nghi ngờ

100% Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn Các khoản nợ quá hạn từ 181 - 360 ngày Các khoản nợ quá hạn > 360 ngày Các khoản nợ khoanh chờ CP xử lý

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

19

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

• Đánh giá lợi nhuận.

Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trung dài hạn

(1)

Dư nợ tín dụng trung dài hạn bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng trung dài hạn

của ngân hàng, cho biết một đồng dư nợ cho vay trung, dài hạn mang lại bao nhiêu

đồng lợi nhuận. Tỷ lệ cao tức lợi nhuận tín dụng trung dài hạn lớn, chất lượng cao.

Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trung dài hạn

(2)

Tổng lợi nhuận từ hoạt động ngân hàng

Chỉ tiêu này cho biết mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng trung dài hạn

vào toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ cao phản ánh chất

lượng tín dụng khả quan nhưng đồng nghĩa với việc ngân hàng chấp nhận đối mặt

với nguy cơ rủi ro tiềm tàng.

• Vòng quay vốn tín dụng

Vòng quay vốn tín dụng được tính trên cơ sở doanh số thu nợ bình quân và dư

nợ bình quân

Vòng quay vốn Doanh số thu nợtrung dài hạn trong kỳ = (Vòng) tín dụng TDH Dư nợ trung dài hạn bình quân trong kỳ

Vòng quay vốn tín dụng cho biết vốn cho vay luân chuyển nhanh hay chậm,

vòng quay vốn tín dụng càng cao, vốn tín dụng luân chuyển nhanh, hiệu quả đồng

vốn càng cao và ngược lại.

• Số lượng khách hàng vay vốn tín dụng trung dài hạn:

Lượng khách hàng vay vốn trung dài hạn có hiệu quả tăng chứng tỏ ngân hàng

đã làm tốt công tác nâng cao chất lượng tín dụng, thu hút khách hàng hiện tại và

tiềm năng chính là một lợi thế cạnh tranh cho các ngân hàng.

Để hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả, chất lượng tín dụng ngân

hàng nói chung và chất lượng tín dụng trung, dài hạn nói riêng cao thì ngân hàng

phải luôn luôn quan tâm tới các chỉ tiêu trên. Các chỉ tiêu thường xuyên được kiểm

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

20

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

tra và đánh giá giúp cho ngân hàng nhìn nhận được mặt tốt và hạn chế từ đó có

những biện pháp điều chỉnh kịp thời cho hoạt động ngân hàng mình đồng thời tránh

được rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.

1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng

1.3.3.1 Nhân tố bên ngoài

• Môi trường kinh tế

Các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước ta đang trong

quá trình đổi mới và hoàn thiện, nhiều doanh nghiệp chưa điều chỉnh kịp kế hoạch

kinh doanh với sự thay đổi của chính sách kinh tế vĩ mô hoặc có trường hợp ngộ

nhận nhu cầu thị trường dẫn đến phát triển tràn lan quá mức. Vì thế có nhiều doanh

nghiệp bị thua lỗ do không theo kịp với quá trình thay đổi chính sách quản lý kinh

tế mà hậu quả là ngân hàng cho vay phải gánh chịu. Sự biến động về chính trị, thay

đổi về chính quyền cũng tác động tới niềm tin của dân chúng, của các nhà đầu tư

qua đó ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng ngân hàng.

Nhu cầu tín dụng trong nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào sự tăng trưởng

kinh tế. Một nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng ổn định, môi trường kinh

doanh thuận lợi, nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng là cơ hội rất tốt cho các doanh

nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất do đó nhu cầu tín dụng ngân hàng trong giai đoạn

này là rất cao. Ngân hàng cũng dễ dàng cho vay vì khả năng gặp rủi ro mất vốn là

rất thấp. Trái lại trong giai đoạn kinh tế trì trệ, giảm phát, thất nghiệp cao, đầu tư

không mang lại hiệu quả, dễ thất bại, ngay cả nếu có thành công thì chưa chắc thu

nhập đó đã cao bằng tiền gửi ngân hàng cùng kỳ hạn. Thay vì đầu tư vào sản xuất,

các doanh nghiệp đem số tiền vay đó gửi vào ngân hàng để hưởng lãi. Ngân hàng

không cho vay được cũng không thể không nhận tiền gửi của khách hàng, hoạt động

của ngân hàng bị ngừng trệ, vốn của ngân hàng nằm trong tình trạng bị đóng băng

không cho vay được. Không chỉ tình hình kinh tế trong nước mà tình hình kinh tế

thế giới cũng có ảnh hưởng tới chất lượng công tác tín dụng ngân hàng. Khi thị

trường thế giới biến động mạnh, đặc biệt là ở các thị trường xuất nhập khẩu truyền

thống làm cho hoạt động xuất nhập khẩu giảm sút, các doanh nghiệp kinh doanh

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

21

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

xuất nhập khẩu không bán được hàng, chịu thua lỗ, ảnh hưởng tới công tác trả nợ

ngân hàng.

• Môi trường pháp lý

Thực tiễn cho thấy pháp luật là bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế

thị trường có điều tiết của Nhà nước. Nếu không có pháp luật hoặc pháp luật không

phù hợp với sự điều tiết của nền kinh tế thị trường thì mọi hoạt động trong nền kinh

tế đó sẽ có nhiều gian lận, thiếu công bằng và khó thực hiện trôi chảy.

So với hoạt động cho vay của ngân hàng, nhân tố pháp lý bao gồm tính đồng

bộcủa hệ thống pháp luật, tính đầy đủ, thống nhất của các văn bản lý luậnvà việc

chấp hành pháp luật. Nhân tố pháp lý có vị trí hết sức quan trọng đối với chất lượng

hoạt động Ngân hàng nói chung và chất lượng cho vay nói riêng.

Một khung pháp lý đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho hoạt động Ngân hàng mở rộng

và phát triển. Các quy định rõ ràng trong việc xét duyệt cho vay, bảo đảm tiền

vay… sẽ tạo thuận lợi cho Ngân hàng trong việc xét duyệt cho vay, giám sát thực

hiện các khoản vay cũng như thu hồi nợ… Các Ngân hàng có thể mở rộng cho vay

đến đâu phụ thuộc nhiều chế độ pháp lý.

• Môi trường chính trị-xã hội

Môi trường chính trị - xã hội ổn định sẽ giúp cho các doanh nghiệp mạnh dạn

đầu tư lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, nếu môi trường chính

trị - xã hội mà bất ổn thì các doanh nghiệp sẽ không dám mạnh dạn đầu tư mà chỉ

duy trì ở mức tái sản xuất giản đơn để bảo đảm an toàn vốn.

Tuy nhiên, không chỉ có tình hình chính trị xã hội trong nước mà cả tình hình

chính trị - xã hội thế giới cũng có ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động cho vay bởi

vì hiện nay các quan hệ kinh tế - xã hội ngày càng được mở rộng cho nên các loại

hình doanh nghiệp đa quốc gia cũng ngày càng tăng cả về số lượng và quy mô hoạt

động. Vì vậy, mọi biến động về kinh tế - xã hội thế giớiđều có ảnh hưởng tới tình

hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động cho

vay của ngân hàng.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

22

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

1.3.3.2. Nhân tố từ phía khách hàng:

- Năng lực quản lý kinh doanh của khách hàng: Sự thành bại của khách hàng

phụ thuộc chủ yếu vào khả năng thích nghi với môi trường kinh doanh và bộ máy

quản lý. Nếu bộ máy quản lý kinh doanh của khách hàng có năng lực kinh doanh

tốt, có trình độ học vấn, có khả năng xoay xở trong mọi tình huống thì tính khả thi

của dự án xin vay sẽ cao hơn. Chính vì vậy, ngân hàng không thể bỏ qua việc xem

xét đánh giá từng người cụ thể trong bộ máy quản lý.

- Năng lực tài chính của khách hàng:Thể hiện ở khối lượng vốn tự có và tỷ lệ

vốn tự có trên tổng nguồn vốn khách hàng sử dụng. Điều kiện tín dụng quy định

một tỷ lệ cụ thể tối thiểu của vốn tự có trên tổng nguồn vốn để xác định lượng vốn

tối đa mà khách hàng có thể vay ở ngân hàng. Nếu khách hàng sử dụng vốn vượt

quá khả năng về vốn tự có thì hiện tượng chiếm dụng vốn lẫn nhau sẽ xảy ra, nhiều

trường hợp khách hàng làm ăn thua lỗ nảy sinh ý định chiếm dụng vốn thậm chí lừa

đảo. Vì vậy, khả năng trả nợ cho ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng. Năng lực tài chính còn

thể hiện ở khả năng thanh toán là sự so sánh giữa số tiền khách hàng có thể thanh

toán và các khoản nợ phải thanh toán. Việc đáp ứng nhu cầu thanh toán còn phụ

thuộc khá lớn vào cơ cấu tài sản của doanh nghiệp xếp theo tính lỏng. Năng lực tài

chính càng cao, khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng càng lớn, góp phần nâng

cao chất lượng tín dụng.

- Hiệu quả đầu tư của khách hàng: Nếu khách hàng sử dụng tiền vay đúng đối

tượng mục đích xin vay thì hồ sơ xin vay mà khách hàng gửi đến Ngân hàng mới có

giá trị thực tiễn. Nếu khách hàng sử dụng tiền vay không đúng đối tượng và mục đích

xin vay sẽ gây khó khăn cho Ngân hàng trong quá trình quản lý sự vận động của đồng

vốn, ảnh hưởng tới công tác kiểm tra kiểm soát của Ngân hàng đối với khách hàng

trong quá trình cho vay, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.

-Tài sản bảo đảm: Mức độ bảo đảm tiền vay là một trong những nhân tố nhằm

giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Đây là biện pháp nhằm

ràng buộc trách nhiệm của khách hàng vay đối với khoản vay ngân hàng thông qua

các biện pháp bảo đảm tiền vay như thế chấp, cầm cố tài sản của khách hàng vay,

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

23

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay hay bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ

ba. Khách hàng vay có tài sản bảo đảm sẽ làm tăng độ an toàn của khoản vay hơn

những khách hàng vay không có tài sản bảo đảm.

1.3.3.3 Nhân tố từ phía Ngân hàng:

• Năng lực và trình độ cán bộ

Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng là yêu cầu hàng đầu đối với

mỗi ngân hàng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động và khả năng tạo

lợi nhuận của ngân hàng. Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong

quản lý vốn tín dụng nói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung. Kinh tế càng

phát triển, các quan hệ kinh tế càng phức tạp, cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi

trình độ của người lao động càng cao. Đội ngũ cán bộ ngân hàng có chuyên môn

nghiệp vụ giỏi, có đạo đức, có năng lực sẽ là điều kiện tiền đề để ngân hàng tồn tại

và phát triển. Nếu chất lượng con người tốt thì họ sẽ thực hiện tốt các nhiệm vụ

trong việc thẩm định dự án, đánh giá tài sản thế chấp, giám sát số tiền vay và có các

biện pháp hữu hiệu trong việc thu hồi nợ vay, hay xử lý các tình huống phát sinh

trong quan hệ tín dụng của ngân hàng giúp ngân hàng có thể ngăn ngừa, hoặc giảm

nhẹ thiệt hại khi những rủi ro xảy ra khi thực hiện một khoản cho vay.

• Công tác thẩm định dự án

Thẩm định dự án đầu tư là việc xem xét một cách khách quan, toàn diện các

nội dung ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của dự án trước khi ra quyết định đầu

tư và cho phép đầu tư. Mục đích của việc thẩm định dự án là giúp cho ngân hàng rút

ra các kết luận chính xác về tính khả thi của dự án, bao gồm hiệu quả kinh tế và khả

năng trả nợ ngân hàng từ đó ngân hàng có thể ra các quyết định cho vay hoặc từ

chối. Cũng từ quá trình thẩm định, ngân hàng có thể tham gia tư vấn, góp ý cho chủ

đầu tư đồng thời căn cứ vào đó để xác định số tiền cho vay, thời hạn cho vay cũng

như hình thức trả gốc và lãi, tạo điều kiện cho khách hàng hoạt động có hiệu quả.

Nếu việc thẩm định không được thực hiện đúng với trình tự, nội dung không đầy

đủ, chính xác thì khả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng là rất lớn. Tuy nhiên, nếu

quá trình thẩm định diễn ra quá thận trọng, tốn nhiều gian, quá trình cho vay có

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

24

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

nhiều thủ tục rườm rà thì ngân hàng sẽ bỏ lỡ cơ hội đầu tư, làm giảm tính hiệu quả

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tất nhiên chất lượng tín dụng của ngân

hàng sẽ giảm sút.

• Thông tin tín dụng

Trong hoạt động của các ngân hàng hiện nay, việc xác định thông tin tín dụng

là một tiêu chí cực kỳ quan trọng giúp cho các ngân hàng phát triển ổn định, lành

mạnh. Nếu ngân hàng nắm rõ về thông tin của khách hàng vay sẽ có những quyết

sách đúng đắn về việc quyết định cho vay hay không cho vay và theo dõi, quản lý

khoản cho vay với mục đích đảm bảo an toàn và hiệu quả đối với khoản vốn cho

vay, đảm bảo hạn chế được rủi ro, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay.

Thông tin tín dụng có thể được thu được từ nhiều nguồn khác nhau như thông tin từ

các nguồn cung cấp thông tin, đến cơ sở của khách hàng trực tiếp xem xét, thông tin

từ hồ sơ xin vay vốn. Thông tin càng đầy đủ, chính xác và kịp thời, toàn diện thì

khả năng ngăn ngừa rủi ro càng lớn, chất lượng hoạt động cho vay càng cao.

• Công tác kiểm tra giám sát tín dụng

Sau khi giải ngân cho khách hàng các Ngân hàng cần kiểm tra, giám sát tín

dụng một cách chặt chẽ để đảm bảo rằng khách hàng sử dụng đúng mục đích vốn

vay, không vi phạm pháp luật. Nếu khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục

đích, hay vi phạm pháp luật thì khả năng mất vốn là rất lớn, Ngân hàng sẽ không

thu hồi được vốn và lãi đúng hạn và ảnh hưởng đến chất lượng khoản vay.

• Chính sách tín dụng

Mỗi Ngân hàng đều xây dựng một chính sách tín dụng riêng, nó có ý nghĩa

quyết định sự thành công hay thất bại của một ngân hàng thương mại. Đây là kim

chỉ nam cho hoạt động tín dụng, là văn bản thể hiện chiến lược và đường lối của

ngân hàng thương mại trong việc thực thi các giao dịch cho vay đơn lẻ cũng như

chiến lược cho vay trong từng thời kỳ. Trong đó có quy trình về một nghiệp vụ cho

vay chuẩn để quy định trình tự các bước tiến hành trong quá trình xét duyệt cho

vay, thu nợ nhằm đảm bảo các khoản vay để tạo ra các khoản vay chất lượng tốt.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

25

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

• Tuân thủ quy trình tín dụng:

Quy trình tín dụng bao gồm những quy định cần phải thực hiện trong quá

trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Nó được bắt đầu từ khi

thẩm định hồ sơ, xét duyệt cho vay, phát tiền vay, kiểm tra quá trình sử dụng vốn ,

thu lãi, cho đến khi thu hồi được nợ. Chất lượng tín dụng có đảm bảo hay không tuỳ

thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở từng bước và sự phối hợp chặt chẽ ,

nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng.

• Cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại của ngân hàng

Việc ứng dụng các công nghệ hiện đại giúp cho ngân hàng có thể tiếp cận

được những thông tin phục vụ cho công tác thẩm định tốt nhất trên các mặt: thông

tin về khách hàng, thông tin về dự án (tính hiệu quả của dự án, xu hướng phát triển

đối với sản phẩm của dự án, thông tin về thị trường, giá cả, cạnh tranh...) một cách

nhanh chóng và chuẩn xác nhất, thông tin quản lý đối với các khách hàng lớn vay

vốn của nhiều tổ chức tín dụng. Độ tin cậy của các thông tin này là yếu tố trước tiên

để cán bộ tín dụng ra quyết định cho vay và ảnh hưởng rất lớn đến độ an toàn của

món vay.

Tóm lại, việc nâng cao chất lượng tín dụng chịu tác động của rất nhiều nhân

tố ảnh hưởng: như điều kiện của nền kinh tế xã hội, môi trường pháp lý cùng với

các nhân tố về khả năng quản lý, cơ sở vật chất, trình độ của đội ngũ nhân viên. Để

nâng cao chất lượng tín dụng cần phải nắm vững các nhân tố ảnh hưởng tới nó để từ

đó tìm ra các biện pháp tạo cơ sở cho sự thành công của hoạt động tín dụng đóng

góp vào sự ổn định chung của ngân hàng.

Kết luận chương 1

Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng và chất lượng tín

dụng trung và dài hạn tại NHTM có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm trang bị

những kiến thức cơ bản để chúng ta nhìn nhận và đánh giá một cách đầy đủ, chính

xác về thực trạng chất lượng tín dụng của một Ngân hàng thương mại nào đó, từ đó

đề ra những giải pháp phù hợp có tính khả thi cao trong việc góp phần nâng cao

chất lượng tín dụng để bảo đảm cho NHTM kinh doanh ổn định,phát triển bền vững

và có hiệu quả cao.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

26

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN

TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM -

CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ

2.1 TỔNG QUAN VỀ NH TMCP CÔNG THƯƠNG VN - CHI NHÁNH SÔNG

NHUỆ VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG CÁC NĂM QUA

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương

Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ

Ngân hàng TMCP Côngthương Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ (Vietinbank

Sông Nhuệ) tiền thân là chi nhánh cấp 2 trực thuộc NHCT Hà Tây, đến tháng 7/2006

được nâng cấp thành chi nhánh cấp 1 NHCT Sông Nhuệ trực thuộc Ngân hàng

TMCP Công Thương Việt Nam (NHCTVN) theo quyết định của HĐQT NHCT Việt

Nam, có trụ sở tại: Lô A7, đường 430, Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội.

Ngay từ khi thành lập, dù chỉ là chi nhánh nhỏ trong hệ thống NHCT nhưng để

đứng vững, tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, Chi nhánh Sông Nhuệ

đã và đang tìm hướng đi riêng thích hợp cho mình, chủ động mở rộng màng lưới để

huy động vốn và đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của các thành phần kinh tế trên địa

bàn và khu vực. Từng bước mở rộng, nâng cao chất lượng các hoạt động nghiệp vụ

để ngày càng phục vụ khách hàng tốt hơn như các nghiệp vụ bảo lãnh, mở L/C, dịch

vụ thanh toán, kinh doanh ngoại tệ… và còn kết hợp với hội sở NHCTVN mở các

đợt khuyến mại, tặng quà khách hàng. Tuy nhiên, trong hoạt động của mình,chi

nhánh Sông Nhuệ luôn đảm bảo hai yếu tố: an toàn vốn, lợi nhuận hợp lý đi đôi với

việc góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Nhuệ hoạt động

trên cơ sở phương hướng, nhiệm vụ được giao theo chủ trương của NHCTVNdựa

trên phương châm: “Phát triển, an toàn, hiệu quả” và “Sự thành công của mọi khách

hàng cũng là sự thành công của NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ”.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

27

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ là chi nhánh cấp 1, hoạt động theo quy chế

tổ chức do NHCTVNban hành dưới sự chỉ đạo của Ban giám đốc gồm: một giám

đốc và ba phó giám đốc phụ trách những mảng công việc khác nhau, giám sát hoạt

động kinh doanh của Ngân hàng. Cụ thể:

• Giám đốc:

- Điều hành chung.

- Trực tiếp phụ trách công tác tổ chức cán bộ, công tác kế hoạch và công tác

thi đua khen thưởng, phòng Quản lý rủi ro và nợ có vấn đề.

- Phụ trách công tác kinh doanh, trực tiếp điều hành công tác huy động vốn

đối với các doanh nghiệp có quan hệ tiền gửi tại NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ,

trực tiếp ký cho vay các món vay của hộ tư nhân cá thể và các món vay vượt mức

phân công đối với phó giám đốc, tham gia thẩm định các món vay không trực tiếp

ký cho vay.

• Phó giám đốc:

- Trực tiếp ký giải quyết cho vay đối với khách hàng là doanh nghiệp có số dư

tiền vay từ 10 tỷ đồng trở xuống, tham gia thẩm định các món vay không trực tiếp

ký cho vay.

- Trực tiếp phụ trách công tác kế toán, điện toán, công tác tiền tệ kho quỹ và

điều hành các quỹ tiết kiệm, điều hành công tác cân đối vốnvà công tác thống kê

báo cáo.

- Trực tiếp phụ trách công tác hành chính quản trị.

- Phụ trách công tác quản trị chi nhánh trên hệ thống INCAS.

Mô hình tổ chức của chi nhánh như sau:

Ban giám đốc

Phòng tiền tệ kho quỹ

Phòng Khách hàng

Phòng QLRR & NCVĐ

Phòng Tổ chức hành chính

Các quỹ tiết kiệm

Các phòng giao dịch

Phòng kế toán thanh toán

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

28

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

(*) Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban:

Căn cứ vào đặc điểm, tính chất và chức năng hoạt động của ngành ngân hàng

với sự chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh ngân hàng trên địa

bàn thành phố Hà Nội. NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ đang dần dần đổi mới cơ

cấu và tổ chức nhằm đạt được một cơ cấu tổ chức hoàn thiện, một mạng lưới hoạt

động phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương để nâng cao chất

lượng hoạt động.

Tất cả các phòng ban chức năng được kết hợp và gắn bó chặt chẽ với nhau

nhằm đạt được mục đích là quản lý nhân sự có hiệu quả và chất lượng công việc

được nâng cao. Mô hình tổ chức hoạt động của NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

gồm các phòng, tổ nghiệp vụ sau:

• Phòng khách hàng:

Là phòng có chức năng tìm kiếm, tiếp thị, tư vấn, hỗ trợ, chăm sóc và duy trì

quan hệ thường xuyên với các Khách hàng.

Hướng dẫn khách hàng cung cấp, hoàn thiện hồ sơ đề nghị vay vốn, bảo lãnh,

chiết khấu, ủy thác, đầu tư và các hình thức cấp tín dụng khác bao gồm cả các hình

thức tài trợ thương mại

Theo dõi, quản lý các khoản cho vay, bảo lãnh, tài sản đảm bảo.

• Phòng kế toán thanh toán:

Có chức năng tham mưu cho Ban lãnh đạo chi nhánh và thực hiện nhiệm vụ

giao dịch với khách hàng, mở tài khoản cho khách hàng, thanh toán các nghiệp vụ

phát sinh, thu chi tiền mặt cho khách hàng (nội tệ, ngoại tệ) thực hiện các nghiệp vụ

thanh toán không dùng tiền mặt, lập báo cáo kế toán hàng tháng, hàng năm.

• Phòng tiền tệ kho quỹ:

Là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý quỹ tiền mặt theo quy

định của NHNN và NHCT. Thu tiền và ứng tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm

giao dịch trong ca, ngoài quầy, thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi

tiền mặt lớn.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

29

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

• Phòng quản lý rủi ro và nợ có vấn đề:

Là phòng nghiệp vụ thực hiện chức năng thẩm định và đề xuất quyết định tín

dụng cho khách hàng có quan hệ tín dụng tại chi nhánh. Thực hiện triển khai các

công việc QLRR tín dụng, QLRR tác nghiệp toàn bộ hoạt động tại chi nhánh.

• Phòng tổ chức hành chính:

Là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ chức cán bộ và đào tạo tại chi nhánh

theo đúng chủ trương chính sách của nhà nước và quy định của NH TMCP CT VN.

Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh tại chi

nhánh, thực hiện công tác bảo vệ, an ninh an toàn chi nhánh.

• Các quỹ tiết kiệm và các phòng giao dịch trực thuộc:

Các quỹ tiết kiệm có chức năng, nhiệm vụ và quy trình nghiệp vụ thực hiện

theo những quy chế ban hành về tổ chức và hoạt động của quỹ tiết kiệm và phòng

giao dịch.

2.1.3 Các sản phẩm và dịch vụ của NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Trong thời gian qua NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ đã đứng vững và phát

triển trên thương trường, là một trong những ngân hàng hoạt động và kinh doanh có

hiệu quả. Chi nhánh luôn đạt được sự tín nhiệm và hài lòng của khách hàng bởi các

loại hình dịch vụ đa dạng.

• Huy động vốn

Nhận các loại tiền gửi tiết kiệm với nhiều hình thức phong phú hấp dẫn: Tiền

gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm tích luỹ.

Tiền gửi không kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ của các cá nhân, tổ chức kinh tế.

• Cho vay, đầu tư vốn

Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ với các khách hàng là

cá nhân, tổ chức kinh tế; Đồng tài trợ và cho vay hợp vốn đối với các dự án lớn,

thời gian hoàn vốn dài; Cho vay tiêu dung; Đầu tư trên thị trường vốn, thị trường

tiền tệ trong nước…

• Thanh toán quốc tế

Phát hành, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu, thông báo xác nhận; Chuyển

tiền quốc tế.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

30

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

• Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ

Thanh toán séc, uỷ nhiệm thu (UNT), uỷ nhiệm chi (UNC), chuyển tiền;

Thanh toán điện tử liên ngân hàng; Chuyển tiền trong nước; Chi trả lương cho

doanh nghiệp qua tài khoản; Kinh doanh ngoại tệ;Thu, chi hộ tiền mặt VNĐ và

ngoại tệ.

• Dịch vụ thẻ và ngân hàng điện tử

Dịch vụ SMS Banking, dịch vụ Vietinbank at home...Dịch vụ thẻ ATM, thẻ

Visa card, thẻ Master card.

• Bảo lãnh

Phát hành thư bảo lãnh, xác nhận bảo lãnh: Bão lãnh dự thầu,bảo lãnh thực

hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh bảo hành...

2.1.4 Kết quả kinh doanh chủ yếu

Trong bối cảnh tình hình kinh tế và tiền tệ thế giới diễn biến phức tạp những

năm gần đây đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình phát triển kinh tế nước ta nói

chung và hoạt động ngành ngân hàng nói riêng, NHCTVN - Chi nhánh Sông Nhuệ

cũng không nằm ngoài ảnh hưởng đó. Nhận thức sâu sắc diễn biến thực tế, dưới sự

chỉ đạo sát sao của NHCTVN, chi nhánh Sông Nhuệ đã thực hiện tích cực các chủ

trương chính sách của Chính phủ, NHNN và NHCTVN, với sự chỉ đạo quyết liệt,

đúng đắn, kịp thời và kiểm soát tốt mọi hoạt động, sự đoàn kết nhất trí của Lãnh đạo

và Cán bộ Công nhân viên nên hoạt động kinh doanh năm 2012 của Chi nhánh đã

thu được kết quả tốt đẹp, góp phần ổn định và nâng cao đời sống của người lao

động, tiếp tục củng cố vị thế của chi nhánh trên toàn hệ thống NHCTVN.

• Công tác huy động vốn.

Bất kỳ ngân hàng nào cũng rất chú trọng đến hoạt động này, Công tác huy

động vốn luôn là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân

hàng. Muốn mở rộng hoạt động tín dụng của mình, Ngân hàng cần phải mở rộng

hoạt động huy động vốn. Bởi vì hoạt động chính của ngân hàng là "đi vay để cho

vay". Nói cách khác, vốn là phương tiện quyết định năng lực kinh doanh, năng lực

tài chính, sự nỗ lực của Ngân hàng và vốn là hoạt động cơ bản để đánh giá hiệu quả

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

31

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

kinh doanh cũng như uy tín của ngân hàng trên thị trường. Nhận thức được điều đó,

nên ngay từ thành lập, NHCTVN - Chi nhánh Sông Nhuệ luôn chú trọng đến hoạt

động này. Đây là một trong những công tác chủ yếu nhằm mở rộng và nâng cao

hiệu quả hoạt động của mình.

Một mặt NHCTVN - Chi nhánh Sông Nhuệ đã thu hút được nguồn vốn tạm

thời nhàn rỗi trong dân cư tạo thu nhập cho họ, mặt khác lại ổn định mở rộng quy

mô tín dụng với các thành phần kinh tế. Ngân hàng đã đa dạng hóa nhiều hình thức

huy động của mình, như nhận tiền gửi với nhiều thời hạn khác nhau giúp khách

hàng dễ lựa chọn và tính đến hiệu quả trong việc gửi tiền của mình để thu hút lượng

tiền nhàn rỗi trong dân cư, các loại tiền gửi thanh toán của khách hàng, đồng thời

ngân hàng cũng linh hoạt trong việc áp dụng khung lãi suất phù hợp.

Bảng 2.1: Kết quả huy động vốn của chi nhánh Sông Nhuệ 3 năm gần đây

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2010

2011

2012

2011/2010

2012/2011

Tỷ

Tỷ

Tỷ

ST

trọng

ST

trọng

ST

trọng

(+)(-) %

(+)(-) %

%

%

%

Tổng nguồn vốn

820

100

1165

100

989

100 +345 42.07

-176

-15,1

Theo đối tượng huy động

1.TG tổ chức KT

265

32,3

231 19,83

309

31,24

-34

-12,83

78

33,76

2.TG tiết kiệm của

321

39,2

334 28,67

376

38,01 +13

4,05

42

12,57

Dân cư

3.TG Kho bạc NN

234

28,5

150 12,88

104

10,51

-84

-35,97

-46

-30,66

4.Nhận vốn ủy thác,

-

-

450 38,62

200

20,22 +450

-

-250

-55,55

Đầu tư cho vay

Theo loại tiền

1.VNĐ

705

86,0

971 83,35

954 96,46 +266 37,73

-17

-1,75

2.Ngoại tệ

115

14,0

194 16.65

35

3,54 +79

68,7

-159

-81,95

Quy về VNĐ

(Báo cáo tổng kết của NHCTVN -CN Sông Nhuệ năm2010, 2011, 2012)

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

32

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Qua số liệu trên có thể thấy: Trong 3 năm vừa qua nguồn vốn huy động của

chi nhánh có nhiều biến động. Cụ thể là:

+ Năm 2011 huy động đạt 1165 tỷ đồng, tăng 42,07% so với năm 2010.

Nguồn vốn huy động tăng mạnh thể hiện sự tin tưởng của khách hàng đối với

chi nhánh về đảm bảo an toàn vốn. Đồng thời, Chi nhánh còn đặt chất lượng dịch vụ

cùng với chính sách khách hàng đa dạng là ưu tiên hàng đầu,để xây dựng lợi thế

cạnh tranh, uy tín trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Bước sang năm 2011, Chính Phủ ban hành thêm nhiều chính sách ổn định kinh

tế, ngành Ngân hàng cũng đóng một vai trò quan trọng trong ổn định thị trường tiền

tệ. Do đó khi NHNN thực hiện chính sách: Quy định lãi suất tiền gửi VND

14%/năm, ngoại tệ2%/năm cho các tổ chức tín dụng, thêm vào đó giá vàng thị

trường tăng cao khiến nguồn huy động vốn từ việc tiền gửi tiết kiệm dân cư có xu

hướng tăng chậm lại, tăng 4,05% so với năm 2010. Bởi tâm lý tích trữ vàng của

người dân, họ thường rút tiền gửi tại ngân hàng để mua vàng khi giá vàng luôn tăng

cao trong giai đoạn này.Trước tình hình đó, chi nhánh đã thực hiện thêm nhiều biện

pháp để duy trì nguồn vốn huy động từ các khách hàng truyền thống, mở rộng đối

tượng huy động, cụ thể là việc huy động từ việc nhận vốn ủy thác & đầu tư cho vay

đạt 450 tỷ đồng, đảm bảo nguồn vốn cung cấp nhu cầu cho vay của nền kinh tế, bù

đắp sự giảm sút của nguồn vốn huy động từ tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, năm

2011 giảm 35,97% so với năm 2010.

+ Năm 2012 huy động vốn chỉ đạt 989 tỷ đồng, giảm 15,1% so với năm 2011

Kết quả này là do những khó khăn chung của ngành ngân hàng cũng như của

nền kinh tế, Chính phủ sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát.

Năm 2012 là năm mà kinh tế Việt Nam đã trải qua rất nhiều biến động lớn, từ bất

động sản đóng băng, vỡ nợ, tín dụng đen, lạm phát tăng cao kỷ lục đến thị trường

chứng khoán có một năm ảm đạm… Trước tình hình đó, Chính phủ và Ngân hàng

Nhà nước cũng đã có những chính sách, quyết định kịp thời và quyết liệt nhằm ổn

định kinh tế, giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp và giải cứu nợ xấu cho các ngân

hàng. Đặc biệt là những tháng đầu năm do lạm phát tăng cao, các ngân hàng gặp

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

33

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

khó khăn, nguồn vốn huy động của toàn hệ thống có xu hướng giảm. Nền kinh tế đã

chứng kiến 6 lần giảm lãi suất huy động và cho vay. Tính đến cuối năm ,NHNN đã

đưa trần lãi suất huy động xuống còn 8%/năm. Chính những yếu tố tác động không

tốt đến nền kinh tế trong những năm qua khiến cho NHCTVN- Chi nhánh Sông

Nhuệ phải có những bước đi thận trọng. Địa bàn Hà Đông là thị trường đang nổi về

bất động sản, có nhiều dự án được triển khai đã thu hút nguồn vốn tiền mặt rất lớn

cả VND và USD… nên nguồn tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế đều rất hạn

hẹp. Tuy nhiên bằng các chính sách, biện pháp huy động vốn linh hoạt, đưa ra nhiều

sản phẩm tiền gửi thiết thực có lợi cho khách hàng và sự tận tâm phục vụ, chi nhánh

vẫn duy trì được nguồn vốn huy động khá tốt so với kế hoạch đề ra.

Trong thời gian qua, Chi nhánh Sông Nhuệ có nguồn huy động chủ yếu từ

VNĐ.Tuy tỷ lệ huy động từ ngoai tệ chỉ chiếm 10-17% nhưng nguồn vốn này có xu

hướng tăng mạnh trong năm 2011 với mức tăng 68,7%. Sở dĩ có sự tăng trưởng như

vậy là do sự trượt giá của Việt Nam đồng người dân muốn nắm giữ ngoại tệ, họ

thường rút tiền gửi từ Đồng Việt Nam chuyển sang tiền gửi bằng ngoại tệ. Tuy

nhiên tỷ lệ này giảm mạnh trong năm 2012 với mức giảm 81,95%. Nguyên nhân là

do khủng hoảng kinh tế thế giới, sản xuất, xuất khẩu trong nước giảm sút, nguồn

vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp vào Việt Nam cũng sụt giảm mạnh khiến cho lượng

vốn ngoại tệ không được dồi dào. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước liên tiếp đưa ra

các biện pháp hạn chế đôla hóa tạo xu hướng khách hàng chuyển từ gửi USD sang

gửi tiền đồng, hoạt động cho vay USD của các ngân hàng bị siết chặt từ cuối tháng

3, khi chỉ người tạo ra ngoại tệ (xuất khẩu) mới được vay vốn USD.

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước chiếm tỷ trọng nhỏ và có xu hướng giảm qua

các năm chứng tỏ chi nhánh Sông Nhuệ đã xử lý rất tốt về khả năng thanh khoản

của mình.

• Công tác tín dụng:

Trong một số năm gần đây hoạt động tín dụng của Chi nhánh đã đạt được

một số kết quả đáng ghi nhận. Năm 2012, dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 1.615,8 tỷ

đồng, đạt 95,05 kế hoạch TW giao, so với đầu năm tăng 552 tỷ đồng, tỷ lệ tăng

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

34

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

trưởng là 52% so với năm 2011. Với nguồn huy động vốn ổn định, Chi nhánh có

điều kiện để mở rộng tín dụng hơn nữa.

• Hoạt động tài trợ thương mại

Qua quá trình phát triển và đổi mới, hoạt động tài trợ thương mại đã tạo được

lòng tin và uy tín đối với khách hàng, tạo lợi thế để mở rộng hoạt động tín dụng đối

nội, tăng nguồn vốn ngoại tệ. Trên cơ sở nguồn vốn ngoại tệ tăng trưởng ổn định,

Chi nhánh không chỉ đáp ứng nhu cầu của khách hàng vay vốn mà còn thường

xuyên điều một lượng vốn ngoại tệ về NHCT VN để cân đối chung trong toàn hệ

thống. Hệ thống tài trợ thương mại đã góp phần đáng kể vào kết quả kinh doanh

chung của chi nhánh.

• Công tác kế toán tài chính và kết quả kinh doanh

Công tác kế toán thanh toán là một trong những hoạt động trung tâm của ngân

hàng. Chi nhánh đã chú trọng nâng cao phong cách giao tiếp, thực hiện triển khai

kịp thời các chương trình ứng dụng công nghệ Ngân hàng hiện đại, đảm bảo thanh

toán kịp thời chính xác và an toàn cho khách hàng.

Thu phí từ hoạt động kinh doanh là 7,2 tỷ đồng đạt 96% kế hoạch NHCT VN

giao năm 2012, trong đó:Phí từ hoạt động chuyển tiền là:2,7 tỷ đồng chiếm 38% ;

Phí từ hoạt động tín dụng là 2,6 tỷ đồng chiếm 36 %; Phí từ các hoạt động khác là

1,9 triệu đồng chiếm 26%.

Phối hợp chặt chẽ với phòng Tổ chức hành chính và các phòng liên quan trong

việc đáp ứng nhu cầu mua sắm công cụ lao động thiết yếu để phục vụ cho công tác

kinh doanh trên tinh thần chống lãng phí, tiết kiệm chi tiêu theo nội dung và kế

hoạch của NHCTVN.

2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI

NHCTVN - CHI NHÁNH SÔNG NHỤÊ

2.2.1 Một số quy định về cho vay trung và dài hạn tại NHCTVN - Chi nhánh

Sông Nhuệ.

- Mục đích cho vay: Mục đích tài trợ cho vay trung và dài hạn nhằm đáp ứng

nhu cầu vốn cho các dự án có thời gian thu hồi chậm. Cụ thể là các dự án có khả

năng thu hồi vốn từ 1 năm trở lên.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

35

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Mục đích cho vay của ngân hàng còn nhằm sử dụng nguồn vốn huy động dư

thừa tại ngân hàng cho các dự án, đem lại cho các dự án những khoản lợi nhuận

đồng thời mang lại thu nhập cho chính ngân hàng.Nhìn chung mục đích cho vay

trung và dài hạn của ngân hàng thương mại là nhằm mục tiêu đem lại lợi nhuận cho

ngân hàng, duy trì sự hoạt động của ngân hàng.Ngoài ra một số khoản cho vay

trung dài hạn của các ngân hàng thương mại không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận mà

cho vay theo sự uỷ thác của chính phủ, uỷ thác của ngân hàng thế giới.

- Đối tượng cho vay: Đối tượng cho vay trung và dài hạn của NHCTVN gồm

nhiều loại khách hàng khác nhau.Trong chính sách tín dụng của ngân hàng luôn có

sự ưu tiên và mở rộng các loại khách hàng khác nhau, vì vậy doanh số cho vay

trung và dài hạn của ngân hàng và của các chi nhánh luôn chiếm tỷ lệ cao.Đối tượng

cho vay trung và dài hạn theo quy định của ngân hàng bao gồm: Hộ kinh doanh cá

thể, các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, công ty TNHH, hợp tác xã,

các tổ chức kinh tế chính trị xã hội…

-Thời hạn cho vay trung và dài hạn: Theo quy định hiện nay của ngân hàng

nhà nước Việt Nam và cũng là quy định của NHCTVN. Cho vay trung hạn, có thời

hạn từ 12 tháng đến 5 năm, cho vay dài hạn có thời hạn trên 5 năm và thời hạn có

thể lên đến 20-30 năm, một số trường hợp có thể lên đến 40 năm.

- Nguồn vốn cho vay: Theo quy định của NHCTVNnguồn vốn để cho vay

trung và dài hạn của ngân hàng và của các chi nhánh trực thuộc NHCTVNlà từ

nguồn vốn huy động của ngân hàng. Nguồn huy động là từ nguồn trung và dài hạn

của chi nhánh và một phần nguồn vốn huy động ngắn hạn được sử dụng để cho vay

trung và dài hạn theo tỷ lệ quy định của NHNN.

- Lãi suất tín dụng trung và dài hạn: Lãi suất cho vay của chi nhánh được xác

định trên cơ sở lãi suất cho vay trung và dài hạn của NHNN và NHCTVN, lãi suất

trên thị trường, số tiền vay, thời hạn cho vay,loại khách hàng.

- Mức tín dụng: Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng trên cơ sở xem xét

nhu cầu của khách hàng và khả năng đáp ứng của ngân hàng.Khi xác định hạn mức

cấp tín dụng cho khách hàng theo quy định của NHCTVN và tại chi nhánh phải

được tính cụ thể bảo đảm các nguyên tắc tín dụng của NHCTVNvà của NHNN.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

36

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Đối với tín dụng trung và dài hạn số tiền cho vay được tính toán như sau:

Tín dụng ngân hàng = Nhu cầu đầu tư - Các nguồn khác tham gia tài trợ.

Nếu khách hàng chưa vay, các điều kiện đảm bảo, ngân hàng có thể cho vay

bằng với nhu cầu vừa tính. Nếu khách hàng đang vay ngân hàng thì số tiền có thể

cho vay thêm là:

Số tiền có thể cho vay thêm = nhu cầu vay ngắn hạn ngân hàng trong kỳ - Dư

nợ đến thời điểm xin vay.

- Tài sản đảm bảo:

Theo quy định hiện nay của NHCTVN và của NHNN tài sản dùng để đảm bảo

cho các khoản vay trung và dài hạn đó là tài sản hình thành từ bản thân vốn đi vay,

các tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay, có thể bảo đảm được thực hiện

bởi bên thứ 3.

- Phương thức cho vay: Nhằm đáp ứng được cho nhu cầu đa dạng của khách

hàng ngân hàng có các phương thức cho vay trung và dài hạn như: Cho vay đầu tư

nhà xưởng, mua sắm máy móc- thiết bị, cho vay tiêu dùng.

- Quy trình cho vay tại Chi nhánh Sông Nhuệ

Bước 1: Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng về hồ sơ vay vốn: Cán bộ tín

dụng làm đầu mối tiếp nhận, hướng dẫn khách hàng về hồ sơ vay vốn, kiểm tra tính

đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ, gồm: Hồ sơ pháp lý, Hồ sơ vay vốn, Hồ sơ tài sản đảm

bảo, Hồ sơ tài chính.

Bước 2: Phân tích tín dụng

Cán bộ tín dụng nghiên cứu, thẩm định hồ sơ theo những nội dung sau:

(cid:153) Đánh giá chung về khách hàng:

- Năng lực pháp lý.

- Uy tín, tính cách của khách hàng.

- Mô hình tổ chức, bố trí lao động.

- Quản trị điều hành của doanh nghiệp.

- Ngành nghề kinh doanh, đánh giá môi trường kinh doanh của khách hàng.

-Các rủi ro chủ yếu.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

37

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

(cid:153) Tình hình tài chính của doanh nghiệp:

- Đánh giá về sự chính xác, trung thực của Báo cáo tài chính.

- Phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế tài chính.

(cid:153) Mục đích sử dụng vốn: Dự án/ Phương án sản xuất kinh doanh, khả năng

vay trả.

(cid:153) Bảo đảm tiền vay.

(cid:153) Xác định phương thức và nhu cầu vay:

Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà Chi nhánh có thể cấp tín dụng cho khách

hàng theo một trong số các phương thức sau:

- Cho vay từng lần.

- Cho vay theo hạn mức.

-Cho vay theo dự án đầu tư.

(cid:153) Xem xét khả năng nguồn vốn của Chi nhánh, lãi suất áp dụng cho khoản

vay, thời hạn cho vay hợp lý.

Bước 3: Xét duyệt cho vay, ký hợp đồng tín dụng.

Sau khi nghiên cứu, thẩm định các điều kiện vay vốn, cán bộ tín dụng lập tờ

trình thẩm định khách hàng và trình lên cấp trên để xét duyệt cho vay. Nội dung xét

duyệt vay của lãnh đạo phải xác định rõ: Số tiền cho vay, lãi suất cho vay, thời hạn

cho vay, các điều kiện trước và sau khi giải ngân, các điều kiện khác.

Hoàn thành các thủ tục khác theo quy định: Công chứng các giấy tờ, chuyển

quyền thụ hưởng bảo hiểm cho ngân hàng, đăng ký giao dịch đảm bảo…

Ký hợp đồng tín dụng, bảo đảm tiền vay.

Làm thủ tục giao nhận giấy tờ và tài sản bảo đảm tiền vay.

Bước 4: Giải ngân, kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay.

(cid:153) Giải ngân:

- Ngân hàng giải ngân căn cứ vào các chứng từ của khách hàng, đó là:

+ Hợp đồng cung ứng vật tư, hàng hóa, dịch vụ.

+ Biên bản nghiệm thu, hóa đơn, chứng từ xuất nhập kho, dự toán, hoặc kế

hoạch chi phí…

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

38

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

+ Các thủ tục công chứng chuyển giao tài sản bảo đảm đã hoàn tất theo quy định

- Chứng từ của ngân hàng bao gồm:

+ Bảng kê rút vốn vay,khế ước nhận nợ kèm các chứng từ chứng minh mục

đích sử dụng vốn đối với cho vay.

+ Ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi.

(cid:153) Cán bộ tín dụng nhập thông tin vào chương trình cho vay và luân chuyển

chứng từ.

(cid:153) Kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay:

- Theo dõi khoản vay: Cán bộ tín dụng thường xuyên theo dõi khoản vay theo

các nội dung:

+ Theo dõi nợ vay trên BDS và trên hồ sơ giấy.

+ Khai thác phần mềm điện toán.

+ Kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay, vật tư đảm bảo nợ vay.

+ Kiểm tra hồ sơ chứng từ: Kiểm tra trước, trong và sau khi giải ngân.

+ Kiểm tra tại đơn vị vay vốn.

+ Lập biên bản kiểm tra.

- Theo dõi phân tích khách hàng về:

+ Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, bảo

đảm nợ vay.

Bước 5: Thu nợ, lãi, phí và xử lý phát sinh:

(cid:153) Theo dõi việc thực hiện hợp đồng tín dụng của khách hàng:

Cán bộ tín dụng thường xuyên theo dõi thông qua hợp đồng tín dụng, chứng từ

kế toán, sổ sách, báo cáo, BDS…

Theo dõi việc trả nợ, gốc, lãi có đầy đủ, đúng hạn không.

Theo dõi những nghĩa vụ khác trong hợp đồng tín dụng: Ký quỹ, hoạt động

luân chuyển tiền gửi…

(cid:153) Xử lý các phát sinh trong quá trình cho vay.

(cid:153) Xử lý các tranh chấp trong hợp đồng tín dụng.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

39

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng:

(cid:153) Tất toán khế ước, khoản vay.

(cid:153) Giải tỏa các hợp đồng bảo đảm tài sản:

- Kiểm tra tình trạng giấy tờ, tài sản cầm cố, thế chấp.

- Thủ tục xuất kho giấy tờ, tài sản cầm cố, thế chấp.

(cid:153) Thanh lý hợp đồng tín dụng.

(cid:153) Đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm.

(cid:153) Lấy ý kiến phản ánh của khách hàng.

(cid:153) Lưu hồ sơ.

- Quy trình thẩm định dự án đầu tư: Thẩm định dự án trong cho vay trung và

dài hạn là yếu tố rất quan trọng. Trong quy trình tín dụng của NHCTVN và tại chi

nhánh quy định rõ ràng các bước trong thẩm định một dự án đầu tư.

• Thu thập tài liệu, thông tin cần thiết cho việc đánh giá phân tích.

• Xử lý thông tin, đánh giá phân tích.

• Nội dung thẩm định dự án đầu tư gồm:

+ Thẩm định tư cách pháp nhân vay vốn.

+ Phân tích tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính của doanh

nghiệp trong những năm gần đây( ít nhất là 3 năm liên tục gần đây) gồm:

♦ Phân tích tình hình tài chính.

♦ Thẩm định sự cần thiết phải đầu tư.

♦ Thẩm định về phương diện kỹ thuật như thẩm định về quy mô, về mặt công

nghệ và trang thiết bị, về phương diện tổ chức, quản lý vận hành của dự án.

♦ Thẩm định tính khả thi của dự án về nội dung kinh tế tài chính. Đặc biệt

phải tính toán kỹ lưỡng 2 chỉ tiêu quan trọng nhất là : Giá trị hiện tại ròng NPV và

tỷ suất thu hồi vốn nội tại IRR.

2.2.2 Thực trạng Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHCTVN - Chi

nhánh Sông Nhuệ.

Trong suốt quá trình hoạt động, NHCTVN - Chi nhánh Sông Nhuệ không

ngừng nâng cao uy tín, hình ảnh của mình không chỉ trong địa bàn quận Hà Đông

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

40

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

mà còn mở rộng trên các khu vực khác. Ngân hàng có các khách hàng truyền thống

lớn như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Công ty Cổ phần Sông Đà 10, Công ty Cổ

phần Sông Đà 5, Công ty Cổ phần Sông Đà 6, Công ty Cổ phần Tập đoàn Xây dựng

và du lịch Bình Minh, Công ty thông tin Viễn thông Điện lực Việt Nam, Công ty

TNHH Một thành viên Dệt 19/5 Hà Nội… Nguồn vốn mà ngân hàng cho vay đã tạo

điều kiện tốt hơn cho hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp, giúp các doanh

nghiệp tồn tại và phát triển hơn.

NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ luôn đặt mục tiêu hiệu quả, an toàn vốn lên

hàng đầu. Vì vậy, mọi khoản vay đều phải được tuân thủ theo đúng nguyên tắc cho

vay. Tiền vay phát ra phải đúng mục đích trong hợp đồng tín dụng. Sau khi cho vay,

cán bộ tín dụng phải luôn kiểm tra giám sát khoản vay, đôn đốc khách hàng trả nợ

không để khoản vay không được hoàn trả theo đúng nguyên tắc.

Ngân hàng đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế trên địa bàn, chú trọng cho vay

các ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương và đất nước. Điều này cũng có vai trò

thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đem lại nguồn thu nhập

lớn cho Ngân hàng và cho Ngân sách nhà nước.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

41

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

2.2.2.2. Các chỉ tiêu

a/ Dư nợ và kết cấu dư nợ cho vay

Bảng 2.2: Tình hình cho vay tại chi nhánh Sông Nhuệ

Đơn vị: Tỷ đồng

So sánh So sánh Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2011/2010 2012/2011

Doanh số cho vay 1.023 1.628 2.421 59% 48,7

Doanh số thu nợ 1.403 1.680 79% 19,7% 783

Tổng dư nợ 1.075 1.615,8 + 23,5% + 50,3 % 870

1. Phân theo thời gian

+Ngắn hạn 664,5 720,8 921 + 8,5% +27,8 % Tỷ trọng 76,4% 67% 57%

+Trung dài hạn 205,5 354,2 694,8 + 72,4% + 96 % Tỷ trọng 23,6% 33% 43%

2. Phân theo TPPK

+ DN Nhà nước 190 240 678 + 26,3% + 182% Tỷ trọng 21,8% 22,3% 42%

+ DN ngoài quốc doanh 547 640 694 + 17% + 8,4% Tỷ trọng 62,8% 59,9% 43%

+ Tư nhân cá thể 133 195 243,8 + 46,6% + 25% Tỷ trọng 15,4 % 18,2% 15%

(Nguồn: Báo cáo tổng kết của NHCTVN-CN Sông Nhuệ năm2010,2011, 2012)

Xét tổng dư nợ đối với nền kinh tế: Dư nợ tín dụng tăng trưởng tốt qua các

năm. Cụ thể năm 2010 là 870 tỷ đồng , năm 2011 đạt 1.075 tỷ đồng tăng 23,5% so

với năm 2010, năm 2012 tăng 50,3% so với năm 2011, đạt 1615,8 tỷ đồng

Xét cơ cấu dư nợ phân theo thời gian:

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

42

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Trong hoạt động cho vay của ngân hàng, các khoản cho vay ngắn hạn được

coi là có tính thanh khoản cao hơn so với cho vay trung dài hạn. Vì vậy tại chi

nhánh Sông Nhuệ các khoản cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao hơn cho vay

trung dài hạn. Cụ thể dư nợ ngắn hạn của từng năm như sau: Năm 2010 đạt 664,5 tỷ

đồng chiếm 76,4% tổng dư nợ; năm 2011 đạt 720,8 tỷ đồng, tỷ trọng giảm xuống

còn 67%. Năm 2012, dư nợ trung hạn tăng 200,2 tỷ, đạt 95,05%kế hoạch Trung

ương giao. Đây là một mức gia tăng ấn tượng, là một sự cố gắng, nỗ lực phấn đấu

lớn của toàn bộ cán bộ NHCTVN- chi nhánh Sông Nhuệ trong bối cảnh kinh tế thế

giới có nhiều khó khăn, lạm phát tăng cao.... Dư nợ ngắn hạn giảm là do các khoản

nợ ngắn hạn đã được thu hồi đúng hạn.

Trong những năm gần đây dư nợ tín dụng trung và dài hạn liên tục tăng. Nếu

năm 2010 dư nợ tín dụng trung dài hạn chỉ đạt 205,5 tỷ đồng thì đến năm 2011 đã

tăng lên 354,2 tỷ đồng với mức tăng là 72,4% so với năm 2010. Và năm 2012 là

694,8 tỷ đồng với mức tăng là 96% so với năm 2011. Nguồn vốn trung dài hạn của

NHCTVN-Chi nhánh Sông Nhuệ chủ yếu được đầu tư cho các khách hàng truyền

thống là những doanh nghiệp nhà nước lớn và các Doanh nghiệp có uy tín, có dự án

xây dựng, phát triển tại các khu vực trọng điểm trong và ngoài nước như đầu tư máy

móc thiết bị, nâng cao năng lực thi công như máy đào hầm, máy khoan hầm, máy

nén khí, xe cẩu tự hành để thi công những công trình trọng điểm của nhà nước như

thuỷ điện Sơn La, thuỷ điện Lai Châu, thuỷ điện Huội Quảng, thuỷ điện Nậm

Chiến, thuỷ điện An Khê, thủy điện Xêkaman cho Công ty cổ phần Sông Đà 10,

Công ty cổ phần Sông Đà 6, đầu tư vốn cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Công ty

thông tin viễn thông điện lực, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các ngành công

nghiệp mới.

Xét cơ cấu dư nợ phân theo thành phần kinh tế: Dư nợ cho vay Doanh

nghiệp nhà nước( DNNN) chiếm tỷ trọng thấp hơn so với dư nợ cho vay các Doanh

nghiệp ngoài quốc doanh( DNNQD).

Cụ thể: Năm 2010 là 190 tỷ đồng chiếm 21,8%, năm 2011 là 240 tỷ đồng chiếm

22,3%, năm 2012 tăng lên 678 tỷ đồng chiếm 42% trên tổng dư nợ cho vay, cho vay

tư nhân cá thể chỉ chiếm 15%.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

43

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Hiện nay rất nhiều các DNNQD đã chứng tỏ được tiềm năng phát triển cũng

như năng lực kinh doanh của mình, do vậy chi nhánh đang rất tích cực mở rộng cho

vay đối vớicác DNNQD. Cụ thể dư nợ tín dụng của khối ngoài quốc doanh năm

2010 là 547 tỷ đồng chỉ chiếm 62,8%, năm 2011tăng lên 640 tỷ đồng chiếm 59,9 %,

năm 2012 tiếp tục tăng đạt 694 tỷ đồng chiếm 43% tổng dư nợ cho vay.

* Diễn biến cho vay trung dài hạn theo thành phần kinh tế.

Bảng 2.3: Cho vay trung dài hạn phân theo thành phần kinh tế

Đơn vị: Tỷ đồng

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chỉ tiêu

Số dư % Số dư % Số dư %

1. DN Nhà nước 119,94 58,37 267,65 75,1 558,8 80,4

2.DN ngoài Quốc doanh 50,98 24,8 53,6 15,1 100,1 14,4

3. Tư nhân cá thể 34,58 16,83 32,95 9 35,9 5,2

Tổng cộng 205,5 100 354,2 100 694,8 100

(Nguồn: Báo cáo tổng kết của NHCTVN -CN Sông Nhuệ năm 2010, 2011,2012)

Cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng trên địa bàn khá gay gắt, chi nhánh

không thể đứng vững và phát triển nếu chỉ dựa vào các khách hàng nhà nước truyền

thống. Vì vậy chi nhánh đã thực hiện chủ trương cho vay đa thành phần kinh tế.

Trong đó tỷ trọng cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà

nước chiếm tỷ lệ lớn thể hiện đúng quan điểm phát triển kinh tế của Đảng và Nhà

nước coi kinh tế Nhà nước là lực lượng chủ đạo trong điều tiết nền kinh tế đất nước.

Khách hàng Nhà nước là khách hàng truyền thống của chi nhánh, chiếm tỷ

trọng khoảng 75 % tổng dư nợ trung và dài hạn tập trung ở hai khách hàng chính là

: Các công ty thuộc tập đoàn Sông Đà, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Công ty thông

tin viễn thông điện lực.

Ba năm trở lại đây, chi nhánh đã đầu tư lớn cho các Công ty thuộc tập đoàn

Sông Đà nhằm giúp công ty mua máy móc thiết bị nâng cao năng lực thi công, nâng

cao tính cạnh tranh. Trong năm 2012, NHCT Sông Nhuệ đã đầu tư mua máy móc

thiết bị cho Tập đoàn Dầu khí Việt Namvới doanh số là: 160 tỷ đồng, Công ty Cổ

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

44

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

phần Sông Đà 10 để thi công các công trình thủy điện Huội Quảng, Lai Châu, Nậm

Chiến trị giá là 107 tỷ đồng, đầu tư cho Công ty CP Sông Đà 5 là 85 tỷ đồng, Công

ty CP Sông Đà 6 là 96 tỷ đồng... Kết quả năm 2011, các công ty đạt doanh thu trên

trên 80tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người là lợi nhuận

1.000tỷ, 7.000.000đ/người.

Tỷ trọng cho vay thành phần kinh tế ngoài quốc doanh lại rất khiêm tốn, năm

2010 chỉ chiếm 24,8% và đến năm 2011, 2012 giảm xuống chỉ còn hơn 14% tập

trung ở một số doanh nghiệp truyền thống như: Công ty TNHH BMM, Công ty

TNHH Minh Hiền, Công ty CP Mỹ Hưng.....

Đến đầu năm 2012, chi nhánh mở rộng cho vay tín dụng trung dài hạn với các

khách hàng ngoài quốc doanh như: Công ty CP xây dựng Đức Thắng, Công ty

TNHH Đồng Tiến, công ty TNHH Hồng Anh (hoạt động trong lĩnh vực xây dựng),

công ty CP du lịch Bình Minh, Công ty TNHH Tuấn Hải (vận tải hành

khách)…Đây không phải là những khách hàng hoàn toàn mới đối với ngân hàng.

Họ là những khách hàng truyền thống có quan hệ tín dụng lâu dài với ngân hàng

nhưng chủ yếu là quan hệ tín dụng ngắn hạn. Có nhiều khách hàng mới trước đây

chỉ là hộ sản xuất kinh doanh nay thành lập thành doanh nghiệp tư nhân hay công ty

TNHH như công ty TNHH Hồng Anh; Công ty TNHH Tuấn Hải … Điều này

khẳng định kinh tế trên địa bàn vẫn chuyển mình mạnh mẽ.

Tỷ trọng cho vay theo thành phần kinh tế ngoài quốc doanh theo số liệu trên

còn rất khiêm tốn so với số hộ sản xuất kinh doanh được cấp giấy phép theo quy

định lên tới 4.725 hộ. Đây là một tiềm năng mà NHCT còn chưa khai thác hết.

Trên địa bàn quận Hà Đông có khá nhiều doanh nghiệp liên doanh và 100%

vốn đầu tư nước ngoài tuy nhiên chi nhánhSông Nhuệ chưa tiếp cận khách hàng

này bởi quan hệ của chi nhánh với loại hình khách hàng này còn nhiều khó khăn

và hạn chế. Thủ tục cho vay của NHCT với loại hình doanh nghiệp này còn nhiều

khó khăn. Vốn đầu tư thường đầu tư vào trung và dài hạn là chủ yếu ngay từ ban

đầu còn vốn vay ngân hàng chủ yếu là vốn bổ sung hoạt động kinh doanh (vốn

ngắn hạn).

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

45

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Khách hàng là tư nhân cá thể gần như không tăng trong năm 2012, do chủ

trương, chính sách cho vay của NHNN cũng như NHCTVN không cho vay tín chấp

cán bộ công nhân viên. Khách hàng tư nhân cá thể vay trung dài hạn chủ yếu là

khách hàng kinh doanh dịch vụ, vận tải và cho vay tiêu dùng.

b/ Chỉ tiêu nợ quá hạn trung dài hạn:

Là một chỉ tiêu phản ánh độ an toàn của tín dụng trung dài hạn, có quan hệ mật

thiết với chất lượng tín dụng trung dài hạn của một ngân hàng. Ngân hàng sẽ không

thực hiện nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn nếu nhận thấy có dấu hiệu mất

an toàn: thể hiện ở tình trạng nợ quá hạn và đặc biệt là tình trạng nợ khó đòi.

Bảng 2.4: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1. Tổng dư nợ 870 1.075 1.615,8

- Nợ quá hạn 26,2 32 51,5

- Tỷ lệ NQH 3,01% 2,98% 3,19%

2. Dư nợ trung, dài hạn 205,5 354,2 694,8

- NQH trung, dài hạn 11,5 14.3 30.2

- Tỷ lệ NQH trung dài hạn/ Dư nợ 5,6% 4% 4,35%

trung dài hạn

(Nguồn: Báo cáo tín dụng chi nhánh Sông Nhuệ năm 2010, 2011, 2012)

Nhìn vào bảng nợ quá hạn trên chúng ta thấy rằng so với toàn hệ thống thì rủi

ro của chi nhánh NHCT Sông Nhuệ là thấp (<5%), chủ yếu ở đây là cho vay ngắn

hạn, thời hạn vay ngắn, khách hàng có khả năng trả nợ đúng hạn. Tuy nhiên một

thực tế đặt ra là theo quy chế cho vay của NHNN và NHCT thì nhiều khoản nợ vay

đến hạn không trả được nợ gốc và lãi ngay sẽ được gia hạn nợ hay điều chỉnh kỳ

hạn trả nợ. Quy chế này giúp cho ngân hàng có thể tạm thời giảm bớt tình trạng nợ

quá hạn gia tăng, giúp khách hàng có thêm một khoảng thời gian để tăng khả năng

trả nợ cho ngân hàng nhưng nếu quá lạm dụng nó thì cũng đồng thời ảnh hưởng xấu

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

46

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

đến khả năng thu nợ, ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng tức là gây ảnh hưởng

xấu đến chất lượng tín dụng ngân hàng.

Ba năm gần đây nợ quá hạn đối với tín dụng trung, dài hạn tăng nhanh. Tỷ

trọng nợ trung, dài hạn quá hạn so với tổng dư nợ trung, dài hạn không cao: năm

2010 là 5,6%, năm 2011 giảm xuống còn 4%, đến năm 2012là 4,35%. Riêng năm

2012, dư nợ quá hạn trung dài hạn tăng cao (15,9tỷ đồng) là do phát sinh nợ quá

hạn của công ty TNHH Mỹ Hưng( Đầu tư nhà xưởng), công ty TNHH Thành Nam(

Đầu tư dây truyền sản xuất bia), Công ty TNHH Lộc Tài( Đầu tư nhà xưởng) và

phát sinh ở 1 số Khách hàng vay tiêu dùng( Xây nhà, mua đất) .

Tỷ trọng này thoạt nhìn thì ta thấy vẫn còn an toàn nhưng do dư nợ cho vay tín

dụng trung dài hạn mới tăng mạnh vào năm 2011, kỳ thu nợ lại dài nên những rủi ro

tiềm ẩn rất lớn. Nếu không làm tốt công tác giám sát thực hiện vốn vay và đôn đốc

thu nợ tốt thì khả năng gia tăng nợ quá hạn là cao.

Ví dụ như Doanh nghiệp tư nhân Thành Nam có một dự án sản xuất bia và

nước giải khát, do nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng không trả nợ đúng hạn:

Doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất không hợp lý, đầu tư từ 2000 lít/ ngày

lên đến 6000 lít/ ngày mà vốn vay là chủ yếu nên đẩy chi phí lên quá cao; Chất

lượng sản xuất bia còn thấp, thị trường tiêu thụ nhỏ hẹp, khâu tiếp thị quảng cáo,

chính sách bán hàng không hợp lý nên khả năng tiêu thụ thấp…. Do quản lý yếu

kém mà việc nhận định lên kế hoạch sản xuất kinh doanh không hợp lý, đầu tư cho

các đại lý nhưng không quản lý chặt chẽ dẫn đến việc thất thoát tài sản…Một

nguyên nhân nữa là trong quá trình cho vay, ngân hàng đã không nắm bắt được đầy

đủ thông tin để ra quyết định dẫn đến tình trạng không thu hồi đúng hạn nợ vay,

phải chuyển sang nợ quá hạn. Hiện nay, chi nhánh đang phối hợp với đơn vị thu nợ

bằng việc bán đấu giá dây truyền sản xuất bia trị giá khoảng 500 triệu và thu 30

triệu còn lại từ các nguồn khác. Chi nhánh đang quyết liệt trong công tác thu hồi nợ

xấu, không để phát sinh nợ quá hạn.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng trung dài hạn của chi nhánh là cao và có nhiều tiềm

năng, chỉ tiêu nợ quá hạn cho thấy chi nhánh phải không ngừng cải tiến quy trình tín

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

47

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

dụng, tăng cường giám sát khoản vay, có biện pháp xử lý kịp thời các khoản vay có

dấu hiệu không bình thường, tăng cường công tác thẩm định dự án, chất lượng cán bộ

tín dụng cũng không ngừng được nâng cao. Trong điều kiện trên địa bàn có rất nhiều

NHTM hoạt động, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng không thể tránh khỏi, để thu hút

khách hàng thì chất lượng tín dụng phải được đặt lên hàng đầu.

Bảng 2.5: Nợ quá hạn phân theo thành phần kinh tế

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Tổng NQH trung dài hạn 11.500 14.300 30.200

1. Doanh nghiệp nhà nước 0 0 0

2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 9.815 12.703 23.250

3. Kinh tế tư nhân cá thể 1.685 1.597 6.950

(Nguồn: Báo cáo tín dụng chi nhánh NHCT Sông Nhuệ năm 2010, 2011, 2012)

Đối với DNNN không có tình trạng phát sinh nợ quá hạn. Đây là điểm đáng

mừng, tuy vậy thực trạng hoạt động của hai doanh nghiệp ngoài quốc doanh lớn của

ngân hàng là công ty TNHH Mỹ Hưng, công ty TNHH Thành Nam, công ty TNHH

Lộc Tài hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm nên

ngân hàng sẽ cần phải thận trọng hơn trong quyết định cấp tín dụng và tăng cường

độ giám sát thực hiện hoạt động kinh doanh của hai khách hàng này.

Đối với đối tượng khách hàng là tư nhân cá thể. Đây là những đối tượng khách

hàng làm cho chi nhánh hết sức đau đầu trong thực hiện công tác thu hồi nợ. Do

hoạt động sản xuất kinh doanh còn nhiều hạn chế, tình hình Bất động sản trầm lắng

dẫn đến người vay không bán được đất, không trả nợ đúng hạn cho ngân hàng.

- Tình trạng nợ trung dài hạn khó đòi của chi nhánh đến 31/12/2012

Để dẫn tới tình trạng nợ khó đòi có rất nhiều nguyên nhân, ở đây ta tập trung

vào phân tích hai loại nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân do chủ quan của cán bộ

tín dụng và nguyên nhân khách quan về phía khách hàng. Riêng nguyên nhân về

phía khách hàng lại được chia thành: Do sản xuất kinh doanh thua lỗ, do doanh

nghiệp giải thể hoặc ngừng sản xuất, do không bán được Bất động sản, và các

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

48

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

nguyên nhân còn lại được xếp vào các nguyên nhân khác. Số liệu ở biểu dưới đây sẽ

cho ta biết tình trạng nợ khó đòi của chi nhánh đến thời điểm 31/12/2012.

Bảng 2.6: Dư nợ quá hạn khó đòi theo nguyên nhân đến 31/12/2012

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu Số tiền %

1. Tổng dư nợ trung dài hạn quá hạn 30.200 100

2. Nợ trung dài hạn khó đòi 21.302 73,84%

3. Nguyên nhân nợ trung dài hạn khó đòi:

- Do chủ quan cán bộ tín dụng

- Do khách quan:

+ Do sản xuất kinh doanh thua lỗ 15.504 73%

+ Do doanh nghiệp giải thể, ngừng sản xuất 500 2%

+ Do không bán được Bất động sản 4.156 19%

+ Do các nguyên nhân khác 142 6%

(Nguồn: Báo cáo tín dụng chi nhánh Sông Nhuệ năm 2010, 2011, 2012)

Tỷ lệ nợ trung dài hạn khó đòi so với tổng nợ trung dài hạn quá hạn là 73,84%,

tỷ lệ này cao chứng tỏ các khoản nợ quá hạn đều sắp chuyển sang nợ khó đòi. Quan

sát nguyên nhân của những khoản nợ khó đòi thấy tập trung lớn vào nguyên nhân

sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, quản lý yếu kém thua lỗ (do sản xuất kinh doanh

thua lỗ là 73%). Có thể nói nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng sản xuất kinh

doanh thua lỗ là do vấn đề quản lý, như ví dụ của công ty TNHH Thành Nam, Công

ty TNHH Mỹ Hưng.

Dư nợ khó đòi do nguyên nhân không bán được Bất động sản cũng chiếm một

tỷ lệkhá lớn so tổng nợ khó đòi. Những khoản nợ khó đòi này chủ yếu là những

khoản cho vay mua đất. Đến nay, chi nhánh đang hạn chế bớt cho vay đối tượng

này nhưng đồng thời cũng tìm biện pháp tạo điều kiện giúp đỡ những khách hàng

này tháo gỡ khó khăn như đấu giá, tìm người có nhu cầu mua thật sự .

Các nguyên nhân khác ngoài bốn nguyên nhân trên có tổng nợ khó đòi là

1.142 triệu chiếm tỷ trọng 6%, một tỷ lệ không nhỏmà chi nhánh cần xem xét cụ thể

chi tiết từng món vay để có thể thu hồi được.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

49

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

c/ Chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận

Chỉ tiêu phản ánh rõ ràng nhất hiệu quả cho vay vẫn là lợi nhuận mà nó mang

lại cho Ngân hàng, có nghĩa là thu nhập sau khi đã trừ đi các chi phí. Hoạt động cho

vay là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho Chi nhánh.

Bảng 2.7: Lợi nhuậncủa chi nhánh

Đơn vị: Tỷ đồng

Tăng Năm Năm Tỷ trọng Tỷ trọng Chỉ tiêu (%) 2012 2011

I. Tổng thu nhập 131.830 100% 414.713 100% 215

1. Thu lãi hoạt động tín dụng

113.044 85,75 237.700 57,31 110

2. Thu lãi kinh doanh ngoại tệ 0,25 488 0,11 327 49

3. Thu lãi điều hòa vốn

7,10 150.373 36,26 1.506 9.363

4. Thu phí dịch vụ

2,52 7.237 1,75 3.322 118

5. Thu khác

4,38 25.415 4,57 5.774 340

II. Tổng chi phí 89.196 100% 369.850 100% 315

42.634 44.863 52

I. Lợi nhuận của chi nhánh

(Nguồn: Báo cáo tổng kết của chi nhánh Sông Nhuệ năm 2011,2012)

Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động cho vay trên tổng lợi nhuận của chi nhánh tăng

qua các năm cho thấy sự tăng trưởng thu nhập từ hoạt động cho vay luôn tỷ lệ thuận

với sự tăng trưởng của tổng thu nhập.

Qua bảng số liệu trên, ta thấy thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng

khá cao, năm 2011 là 85,75% tổng thu nhập của chi nhánh, năm 2012 chỉ đạt

57,31%. Xét về số tuyệt đối thì thu nhập từ hoạt động cho vay của Chi nhánh năm

2011 là 113.044 tỷ đồng, năm 2012 tăng lên 237.700 tỷ đồng. Đây chưa phải là một

kết quả cao vì trước đây Chi nhánh vẫn còn dựa vào thu nhập từ thu lãi tiền gửi

NHNN và thu lãi điều hoà do cơ chế của NHCT cho phép Chi nhánh huy động vốn

với giá rẻ nhưng bán lại cho hội sở NHCT với giá cao. Tuy nhiên từ năm 2011 trở

đi, chi nhánh thường xuyên phải huy động vốn với lãi suất cao và phải mua vốn từ

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

50

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

hội sở NHCT để cho vay nên buộc phải tăng hiệu suất sử dụng vốn để tăng thu lãi

cho vay. Măt khác, do phải trích lập Dự phòng rủi ro nhiều từ các khoản nợ quá hạn

làm giảm lợi nhuận chi nhánh. Dù vậy, khi so sánh giữa thu nhập từ hoạt động cho

vay với tổng thu nhập thì hoạt động cho vay tại chi nhánh vẫn còn chiếm tỷ trọng

khá lớn, điều này nói lên vai trò quan trọng không thể thiếu của cho vay đối với

hoạt động kinh doanh của chi nhánh.

Bảng 2.8: Thu nhập từ hoạt động tín dụng Trung dài hạn

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1. Lợi nhuận từ tín dụng trung, dài hạn 4.2 5.8 8.6

2. Dư nợ tín dụng trung dài hạn bình quân 180.2 303 644

3. Tổng lợi nhuận ngân hàng 31.5 42.6 44.9

Tỷ suất sinh lời của tín dụng trung dài hạn 2.33 1.91 1.34

13.33 Mức đóng góp của tín dụng trung dài hạn 13.62 19.15

(Nguồn: Báo cáo tín dụng chi nhánh Sông Nhuệ năm 2010, 2011, 2012)

Theo số liệu trên ta thấy cả tỷ suất sinh lời của tín dụng trung dài hạn lẫn

mức đóng góp của tín dụng trung dài hạn vào tổng lợi nhuận ngân hàng đều rất

thấp. Mỗi một đồng tín dụng trung dài hạn bỏ ra chỉ thu được về khoảng 0.01 đồng

lợi nhuận, đây là con số rất thấp bởi lợi nhuận ngân hàng, đặc biệt là thu nhập hoạt

động chi nhánh vẫn dựa trên tín dụng là chính, thu nhập từ các hoạt động dịch vụ

khác còn rất hạn chế.

Mức đóng góp của tín dụng trung dài hạn chiếm trung bình khoảng 15% là

mức đóng góp chưa phải là cao, ngân hàng xác định phải tăng lợi nhuận thêm từ các

hoạt động dịch vụ khác bởi lãi suất cho vay trong thời gian này vẫn đang ở mức

cao, cho vay tập trung các DNNN là khách hàng truyền thống cho nên lãi suất cho

vay là thấp.

Từ kết quả phân tích về lợi nhuận tín dụng trung dài hạn cho thấy nâng cao

chất lượng tín dụng còn chưa hợp lý mặc dù dư nợ vẫn tăng trưởng khá.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

51

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

d/ Vòng quay vốn tín dụng

Bảng 2.9: Vòng quay vốn tín dụng

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1.Doanh số thu nợ trung dài hạn 96.6 114.15 143.9

2.Dư nợ tín dụngtrung dài hạn bình quân 180.2 303 644

3. Vòng quay vốn tín dụng (1/2) 0,5 0,4 0,2

(Nguồn: Báo cáo tín dụng chi nhánh NHCT Sông Nhuệ năm 2010, 2011, 2012)

Qua số liệu bảng 2.9 ta thấy: Vòng quay vốn tín dụng TDH có xu hướng giảm

dần từ 0,5 vòng năm 2010 xuống còn 0,4 năm 2011, đến năm 2012 còn0,2 vòng.

Điều đó thể hiện trong các năm gần đây, vốn phát huy hiệu quả chưa cao. Các

khoản vay đến hạn đã phải gia hạn nợ hoặc điều chỉnh kỳ hạn nợ cho khách hoặc

khách hàng không trả được nợ. Vì vậy giải quyết nợ khó đòi để thu hồi vốn, kịp

thời xử lý các món nợ quá hạn không để phát sinh sang nợ xấu là vấn đề kiên

quyết hàng đầu tại chi nhánh Sông Nhuệ.

e/ Lượng khách hàng vay

Bảng 2.10: Lượng khách hàng vay vốn Trung dài hạn

Đơn vị: Khách hàng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1. Lượng KH đến giao dịch TD 287 326 404

Trong đó: KH trung dài hạn 103 125 185

2. Số khách hàng còn dư nợ (31.12) 235 297 385

Trong đó: KH trung dài hạn 98 115 152

(Nguồn: Báo cáo tín dụng chi nhánh Sông Nhuệ năm 2010,2011, 2012)

Số khách hàng đến vay vốn tại chi nhánh năm sau cao hơn năm trước nhưng

vẫn còn thấp, chỉ chiếm phần nhỏ trong lượng Khách hàng đến vay tiền tại chi nhánh.

Việc thực hiện tiếp xúc, thẩm định và cho vay khách hàng đều là trực tiếp giúp cho

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

52

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

chi nhánh sớm lựa chọn được khách hàng truyền thống và lâu dài nhưng chi phí cho

một món vay thường cao, thời gian thẩm định dài. Do đó áp lực công việc với cán bộ

tín dụng của chi nhánh còn khá lớn, hiệu quả công việc chưa cao.

2.3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN

TẠI NHCTVN - CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ

2.3.1. Những kết quả đạt được

Trong điều kiện kinh doanh có nhiều khó khăn do địa bàn chật hẹp mà có quá

nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng cùng cạnh tranh gay gắt, nhưng Chi nhánh Sông

Nhuệ đã không ngừng cố gắng, luôn đưa ra chính sách cho vay phù hợp tại từng

thời điểm kinh doanh. Hoạt động tín dụng trung và dài hạn đã góp một phần vào sự

thành công trong hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Sông Nhuệ, chất lượng tín

dụng trung và dài hạn vẫn được đảm bảo thể hiện qua sự tăng trưởng của tín dụng

trung và dài hạn cũng như tỷ lệ nợ quá hạn vẫn giữ ở mức an toàn.

• Tín dụng trung dài hạn tăng lên cả về khối lượng và tỷ trọng:

Trong những năm qua, mặc dù có nhiều khó khăn do khả năng hấp thụ vốn của

nền kinh tế thấp nhưng dư nợ tín dụng trung dài hạn vẫn tăng trưởng với tốc độ lớn.

Chi nhánh Sông Nhuệ đã thực hiện tốt việc cung ứng vốn tín dụng trung dài hạn cho

nền kinh tế vừa đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng của các doanh nghiệp vừa tạo

ra một đội ngũ khách hàng truyền thống.

• Thủ tục cho vay đơn giản phù hợp quy chế cho vay:

Chi nhánh vẫn từng bước giảm bớt mọi thủ tục đối với các nghiệp vụ nhưng

vẫn đảm bảo độ an toàn tối đa.

Khách hàng được hướng dẫn làm thủ tục rất chu đáo, tận tình, ngoài ra còn

được cán bộ tín dụng tư vấn cho hoạt động kinh doanh của khách hàng. Quá trình

thẩm định một món vay diễn ra chặt chẽ hơn. Ví dụ, với mỗi món vay đều có từ hai

cán bộ tín dụng trở lên thẩm định. Với những khoản vay lớn có tài sản thế chấp thì

có cả lãnh đạo (giám đốc, phó giám đốc) cùng tham gia thẩm định, do đó công tác

thẩm định mang tính khách quan hơn.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

53

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Việc thẩm định món vay dựa trên rất nhiều các chỉ tiêu: tính khả thi của dự án,

tính chất pháp lý và năng lực pháp lý của khách hàng, tình hình tài chính của khách

hàng, uy tín của khách hàng, tình hình thị trường và dự báo tương lai của sản phẩm

dự án... Sau khi cho vay, các cán bộ tín dụng rất có trách nhiệm trong công tác giám

sát sử dụng vốn vay đúng mục đích và thường xuyên đôn đốc thực hiện tốt nghĩa vụ

trả nợ.

• Thời gian xét duyệt nhanh chóng:

Trước đây thời gian để xét duyệt một món vay không xác định thời gian, có

những món vay khách hàng không chờ đợi được phải chuyển hướng vay khác. Đến

nay thời hạn xét duyệt tối đa là 10 ngày kể từ sau khi nhận được hồ sơ xin vay vốn.

Riêng chi nhánh, đa số các món vay được xét duyệt cho vay chỉ trong vòng khoảng

4-5 ngày. Định giá tài sản thế chấp theo giá thị trường cũng tạo điều kiện cho khách

hàng tiếp cận được vốn ngân hàng theo đúng quy định cho vay

• Đội ngũ cán bộ tín dụng ngày càng được củng cố và nâng cao về trình độ,

đạo đức và nghiệp vụ tín dụng:

Có thể nói những đổi mới trong công tác tín dụng không chỉ bởi những quy

định mới trong quy chế mà còn được quyết định bởi trình độ, đạo đức, nghiệp vụ ...

của các cán bộ tín dụng. Với phương châm đầu tư để đổi mới toàn bộ đội ngũ cán

bộ tín dụng, chi nhánh đã tạo điều kiện cho các cán bộ tín dụng thường xuyên cho

đi học tiếp thu về nghiệp vụ và những thay đổi mới trong hoạt động tín dụng. Thay

đội ngũ quản lý trực tiếp mới. Tuyển mới những cán bộ tín dụng trẻ có trình độ, có

lòng nhiệt tình và hăng say công việc, những đổi mới này đã tạo nên luồng sinh khí

mới cho toàn bộ chi nhánh.

Đặc biệt, marketing ngân hàng cũng được thực hiện một cách rõ nét hơn. Tinh

thần thái độ phục vụ khách hàng thay được quán triệt và đổi rõ rệt ở từng cán bộ tín

dụng: Phục vụ chu đáo, hướng dẫn tận tình với phong cách rất trang nhã và lịch sự

đã tạo cho khách hàng một tâm lý thoải mái và thu hút được ngày càng nhiều khách

hàng đến giao dịch với chi nhánh hơn.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

54

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

• Về công tác kiểm tra, giám soát trước, trong và sau khi cho vay của chi

nhánh đã thực hiện tốt.Cùng với việc thực hiện nghiêm túc quy trình cho vay

theo quy định của NHNN cũng như các quy định do ngân hàng đề ra đã làm cho

chất lượng các khoản tín dụng trung dài hạn trong thời gian gần đây được nâng

cao rõ rệt.

2.3.2. Những hạn chế trong hoạt động cho vay trung và dài hạn

Qua đánh giá thực trạng hoạt động cho vay nói chung ta thấy NHCTVN - chi

nhánh Sông Nhuệ là một Ngân hàng có chất lượng hoạt động cho vay tốt. Nhưng

bên cạnh những kết quả đạt được, công tác cho vay tại chi nhánh Sông Nhuệ còn có

nhiều hạn chế cần phải giải quyết như:

Doanh số, dư nợ cho vay trung và dài hạn còn rất thấp so với tổng doanh số và

dư nợ cho vay. Năm 2012, dư nợ cho vay trung và dài hạn đã tăng mạnh nhưng chỉ

cho vay tập trung đầu tư vào một số doanh nghiệp lớn, như vậy nếu doanh nghiệp

có gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh do nguyên nhân chủ quan hay khách quan

thì Ngân hàng cũng sẽ bị tổn thất lớn. Cơ cấu cho vay trung dài hạn đã có sự điều

chỉnh giữa các thành phần kinh tế, chi nhánh cần triển khai một số biện pháp để

trong các năm sắp tới không để xảy ra tình trạng đó.

Trong thời gian gần đây, nguồn vốn huy động của Chi nhánh đã xuất hiện

nhiều khoản có kì hạn dài rất phù hợp để cho vay trung hạn và dài hạn nhằm giảm

thiểu rủi ro về thanh khoản. Nhưng chi nhánh đã không tận dụng được lợi thế này

để mở rộng cho vay trung hạn và dài hạn. Lý do này ảnh hưởng lớn tới doanh số

cho vay trung hạn và dài hạn trong các năm gần đây.

- Tỷ lệ nợ quá hạn đang có xu hướng tăng cao, năm 2012, nợ xấu là 30.2 tỷ

đồng, tăng 15,9 tỷ so với năm 2011, tập trung ở Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và

hộ tư nhân cá thể. Nguồn trả nợ của tín dụng trung và dài hạn thường được xác định

trước là khấu hao và 1 phần lợi nhuận sau thuế. Tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn cao

hơn rất nhiều so với tín dụng ngắn hạn, chi nhánh cần hạn chế tốc độ tăng của tỷ lệ

nợ quá hạn, sau đó giảm thấp tỷ lệ này ở một mức độ có thể chấp nhận được.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

55

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

- Công tác thu hồi nợ xấu còn chưa được chú trọng, chi nhánh cũng đã thành

lập tổ thu nợ nhưng phát huy hiệu quả chưa cao, do vậy thu hồi nợ xấu rất khiêm

tốn, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn chi nhánh.

- Thu nhập đạt được từ hoạt động cho vay trung dài hạn ở mức tương đối thấp

trong tổng thu nhập của Ngân hàng qua từng năm, chưa tương xứng với quy mô dư

nợ cho vay của Ngân hàng

- Chất lượng thẩm định khách hàng, thẩm định dự án đầu tư vẫn còn hạn chế

do hoạt động thu thập thông tin yếu và không đa dạng, thông tin về ngành quá thiếu

thốn ngay cả nguồn thông tin thu thập từ trung tâm phòng ngừa rủi ro NHNN cũng

rất sơ sài do đó ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định. Mặc khác, số liệu nhiều khách

hàng cung cấp thiếu tính minh bạch, chính xác. Với quy mô hoạt động cho vay lớn

và ngày càng mở rộng tại Chi nhánh Sông Nhuệ đòi hỏi trình độ chuyên môn và

kinh nghiệm của cán bộ tín dụng rất cao. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ tín dụng tại

Chi nhánh Sông Nhuệ hiện nay đang trong giai đoạn trẻ hóa, mặc dù rất nhiệt tình

và năng động nhưng sự thiếu kinh nghiệm cộng với khả năng nắm bắt các chế độ

thể lệ nghiệp vụ còn hạn chế đã làm cho việc tư vấn, hướng dẫn khách hàng trong

việc lập hồ sơ vay vốn, việc quản lý nợ vay, tài sản thế chấp, … gặp nhiều khó

khăn, dễ phát sinh rủi ro cho ngân hàng, khách hàng phải mất nhiều thời gian cho

việc bổ sung hồ sơ làm ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của khách hàng. Hơn nữa,

có những dự án lớn chi nhánh phải giải trình NHCTVNkhiến thời gian thẩm định bị

kéo dài, gây chán nản cho khách hàng.

- Tuy đã đạt được kết quả tích cực trong công tác huy động vốn nhưng tỷ lệ

tăng vốn huy động tại địa phương còn thấp, chưa khai thác tối đa nguồn vốn nhàn

rỗi trong dân cư. Công tác tuyên truyền tiếp thị về huy động vốn còn hạn chế, mới

sử dụng các hình thức, cơ chế huy động truyền thống, chưa áp dụng các hình thức

huy động tiên tiến, có tính hấp dẫn, nguồn vốn đi vay và huy động từ bên ngoài còn

chiếm tỷ trọng cao, đồng thời dẫn đến dư nợ cho vay thấp so với nhu cầu nguồn vốn

trung và dài hạn của khách hàng

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

56

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

- NHCTVN- chi nhánh Sông Nhuệ chưa thực sự chủ động trong quá trình cho

vay trung dài hạn đối với các dự án có quy mô vốn lớn. Là một chi nhánh của

NHCTVN, do vậy trong quá trình hoạt động của mình, chi nhánh Sông Nhuệvẫn

phải tuân thủ theo những quy định chung của NHCTVN. Theo quy định,giới tín

dụng của một khách hàng của chi nhánh không được vượt quá 65 tỷ VNĐ, nếu

vượt quá con số trên, phải trình NHCTVNxem xét. Nhưng trên thực tế các dự án

đầu tư trung dài hạn thường cần một lượng vốn khá lớn, và có khi con số đó vượt

quá 65 tỷ VNĐ. Khi đó chi nhánh Sông Nhuệ phải trình lên NHCTVNsẽ phức tạp,

làm mất thời gian của khách hàng có khi lỡ mất cơ hội đầu tư.

- Thị trường khách hàng còn chưa được khai thác triệt để, thị trường còn bị

bỏ ngỏ nhiều nhất là thị trường ngoài quốc doanh - một thị trường đầy tiềm năng

hứa hẹn mang lại nhiều lợi nhuận nhưng rủi ro cũng rất cao.Số lượng khách hàng

vay trung dài hạn có quan hệ tín dụng với Chi nhánh từ năm 2012 tăng ít so với

khách hàng vay vốn tại chi nhánh, mặc dù đã có nhiều chính sách ưu tiên của Chi

nhánh đối với từng loại hình khách hàng. Điều đó thể hiện tốc độ tăng chậm và

không tương xứng với các chính sách ưu tiên cho các Doanh nghiệp ngoài quốc

doanh của Chi nhánh trong thời gian qua cũng như so với số lượng Doanh nghiệp

ngoài quốc doanh trên địa bàn Quận Hà Đông nói riêng và địa bàn Thành phố Hà

Nội nói chung.

2.4. Nguyên nhân của những hạn chế

Những hạn chế trên của Chi nhánh do rất nhiều các nguyên nhân khác nhau

mang lại. Chúng ta có thể phân ra thành 3 nhóm nguyên nhân: Nguyên nhân thuộc

về phía Ngân hàng, nguyên nhân thuộc về phía khách hàng và nguyên nhân thuộc

về bên ngoài

2.4.1. Nguyên nhân bên ngoài

• Môi trường kinh tế :

Trong giai đoạn 2010-2012 việc huy động tiền gửi của tất cả các ngân hàng

thương mại trong nước gặp nhiều khó khăn, tạo ra cuộc đua lãi suất hết sức căng

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

57

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

thẳng giữa các ngân hàng. Lãi suất đầu vào tăng nhanh khiến cho lãi suất cho vay

của các ngân hàng vì thế cũng tăng theo với tốc độ cao. Nếu như ở cuối năm 2010

lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại chỉ dao động từ 11% đến 12%/năm

đối với tiền VNĐ và khoảng 4 đến 5%/năm đối với Đô la Mỹ thì đến cuối năm 2010

các con số này đã tăng lên gấp đôi. Thực trạng này đã và đang ảnh hưởng tiêu cực

tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng xấu tới chất lượng

tín dụng của các ngân hàng thương mại nói chung và NHCTVN- Chi nhánh Sông

Nhuệ nói riêng.

Tình hình kinh tế năm 2012 cũng không mấy sáng sủa, cùng với sự ảnh hưởng

chung của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng rất

nặng nề, thể hiện ở ngay việc kinh doanh bất động sản, chỉ số VN index liên tiếp

giảm mạnh làm cho giới đầu tư về lĩnh vực này lao đao. Kinh doanh Ngân hàng là

một lĩnh vực nhạy cảm mà những yếu tố này sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp, rất nhiều

các khoản nợ cho vay mua chứng khoán trở thành khoản nợ quá hạn hoặc khoản nợ

khó đòi.

• Môi trường pháp lý

Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và chính sách khuyến khích

hỗ trợ các Doanh nghiệp, cá nhân tuy nhiên thực tế triển khai thực hiện còn nhiều

hạn chế, chưa tạo được hành lang pháp lý cần thiết trong việc tiếp cận nguồn vốn tín

dụng Ngân hàng. Vấn đề pháp lý về thế chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất còn nhiều

thủ tục rườm rà gây khó khăn cho các Doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng. Hoạt

động của các khách hàng chưa được sự kiểm tra thường xuyên của các cơ quan

chức năng Nhà nước nên tình trạng làm ăn phi pháp, giả tạo giấy tờ, lừa đảo, trốn

thuế… còn tồn tại nhiều gây mất niền tin cho các NHTM. Các tổ chức xã hội nghề

nghiệp của Doanh nghiệp với số lượng ít, hoạt động chưa hiệu quả, chưa đáp ứng

được chức năng là cầu nối giữa các Doanh nghiệp với các NHTM.

Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng tuy đã được cải

thiện nhiều nhưng chưa đồng bộ, chưa phù hợp với môi trường cạnh tranh của cơ

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

58

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

chế thị trường. Thủ tục và điều kiện cho vay quá rườm rà, phức tạp đã khiến cho

Ngân hàng phải từ chối nhiều khoản cho vay vì khách hàng không đáp ứng được

đầy đủ các điều kiện vay vốn.

Hoạt động của Ngân hàng trong điều kiện hành lang pháp lý vừa thiếu lại

không đồng bộ, không ổn định, đôi khi không rõ ràng, hoặc có luật mà không thực

hiện được. Ví dụ; vấn đề gán nợ, xiết nợ, thế chấp đất đai, phát mãi tài sản. Ví dụ,

Luật đất đai còn hạn chế quyền chủ động xử lý tài sản đảm bảo là quyền sử dụng

đất thế chấp tại Ngân hàng. Theo quy định luật đất đai, việc phát mãi tài sản bảo

đảm là quyền sử dụng đất phải được thực hiện theo trình tự bán đấu giá và phải xin

phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi thực hiện bán đấu giá. Quy định

này làm cho quá trình xử lý tài sản bị kéo dài và làm tăng chi phí chờ xử lý, gây

thiệt hại không nhỏ cho ngân hàng.

2.4.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng

Hiện nay các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn rất cao nhưng rất khó đáp ứng

được các tiêu chí của Ngân hàng. Một số nguyên nhân dẫn đến doanh nghiệpchưa

được vay vốn, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là:

- Năng lực của cán bộ quản lý doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu phát

triển của nền kinh tế thị trường, có doanh nghiệp sau khi được ngân hàng tư vấn

giúp đỡ vay trung dài hạn vẫn hết sức lúng túng trong việc điều hành dự án dẫn đến

hiệu quả dự án giảm sút thậm chí không có hiệu quả. Hiệu quả sử dụng vốn của các

khách hàng kém, họ làm ăn thua lỗ, hoặc không có hiệu quả kinh tế, do vậy họ

không trả được gốc và lãi đúng hạn cho Chi nhánh, ảnh hưởng đến chất lượng tín

dụng của Chi nhánh.Uy tín và khả năng quản lý doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp

được thể hiện ở hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian

dài, đủ để tạo được vị thế của sản phẩm do doanh nghiệp đó sản xuất ra trên thị

trường. Về điều này thì đa số các chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa có

được, do hiện nay số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm ăn có hiệu quả

và tạo ra hình ảnh riêng cho mình trên thị trường còn ít. Hơn nữa trình độ quản lý

của người chủ doanh nghiệp nhìn chung chưa cao, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

59

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

của mình, mang tính chủ quan, do vậy các cán bộ tín dung tại Chi nhánh luôn cân

nhắc yếu tố này khi quyết định cho vay.

Ngoài ra, không thể không kể tới tình trạng một số doanh nghiệp ngoài quốc

doanh có tình trạng làm ăn thiếu trung thực, sử dụng vốn sai mục đích, cung cấp

những thông tin không đúng sự thật cho ngân hàng nhằm chiếm dụng vốn của ngân

hàng. Điều này tạo ra một ấn tượng xấu cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

trong mắt các ngân hàng làm họ càng thận trọng khi quyết định cho các doanh

nghiệp này vay vốn.

Bảng 2.11: Lượng khách hàng vay vốn Trung dài hạn

Tài sản bảo đảm

Chấm điểm xếp loại

Trình độ Giám đốc

Chỉ tiêu

Số lượng

Loại A

Số KH chuyển quá hạn

Dưới ĐH

Dưới hạng A

Có TSBĐ

Không có TSBĐ

ĐH/ Trên ĐH

7

6

1

0

7

7

0

0

1. DN NN 2. DN NQD

55

5

50

51

4

10

45

7

90

10

80

90

15

75

10

3. Tư nhân cá thể

17

Tổng

131

141

152

11

21

32

120 (Nguồn: Báo cáo tín dụng chi nhánh Sông Nhuệ năm 2010, 2011, 2012)

- Doanh nghiệp không có đủ vốn tự có để tham gia dự án: Tiềm lực tài chính

của hầu hết các doanh nghiệp ở nước ta còn rất hạn chế, khả năng độc lập tài chính

thấp, tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án rất ít (thường không quá 30%) do đó

việc ngân hàng cho vay trung và dài hạn với tỷ lệ cao cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi

ro.Nhiều doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để đầu tư cho các dự án lớn tuy nhiên

vốn tự có của các doanh nghiệp tham gia vào dự án là rất nhỏ. Do vậy ngân hàng

chưa tin tưởng để cho các doanh nghiệp này vay.

- Doanh nghiệp không đủ tài sản thế chấp hợp pháp: Đối với các doanh nghiệp

ngoài quốc doanh muốn đi vay phải có tài sản thế chấp để đảm bảo vốn vay, phòng

ngừa rủi ro khi dự án sản xuất kinh doanh gặp khó khăn ngoài dự kiến, dẫn đến hoạt

động kinh doanh không có hiệu quả. Hiện nay chủ yếu các doanh nghiệp thế chấp

bằng tài sản cố định hoặc bất động sản nhưng việc xác định giá trị thực tế của các

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

60

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

tài sản còn gặp nhiều khó khăn, độ chính xác thấp, các văn bản quy định có liên

quan còn một số chồng chéo và mâu thuẫn.Nhiều doanh nghiệp không đáp ứng

được tài sản đảm bảo cho khoản vay. Do họ không chứng minh được quyền sở hữu

hợp pháp về tài sản của mình khi vay vốn.

- Hiệu quả đầu tư của dự án chưa cao

Doanh nghiệp có qui mô tài chính nhỏ sẽ khó khăn khi phải đối mặt với những

biến động lớn của thị trường. Mặt khác, trình độ chung của các Doanh nghiệp ngoài

quốc doanh thấp, khả năng nhanh nhạy nắm bắt cơ hội trong nền kinh tế thị trường

không cao, họ chưa có đủ kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh đối

ngoại nên có những khe hở trong hợp đồng kinh tế, có thể dẫn tới thua lỗ trong kinh

doanh. Khi vay vốn theo dự án thì hiệu quả của các dự án do Doanh nghiệp lập

thường mang tính chủ quan của chủ doanh nghiệp, chưa lường hết được tình hình

thị trường đầu vào, đầu ra một cách hợp lý. Chính điều này là nguyên nhân cơ bản

dẫn tới Chi nhánh khó có thể tìm được một dự án khả thi, có hiệu quả kinh tế để mở

rộng hơn nữa cho vay trung và dài hạn mà vẫn có thể đảm bảo được chất lượng tín

dụng của các khoản vay này.

- Không có các dự án khả thi: Để sản xuất kinh doanh hiệu quả, ngân hàng

phải lựa chọn dự án có tính khả thi cao để đẩu tư. Một dự án có tính khả thi phải

được xây dựng trên cơ sở khoa học, thông tin đầy đủ, phân tích đánh giá tình hình

một cách chính xác, vì vậy dự án phải được nghiên cứu tỉ mỉ, phải do người có đầy

đủ chuyên môn, kinh nghiệm, trách nhiệm xây dựng và thẩm định. Trong thực tế

hầu hết các doanh nghiệp không thể tự xây dựng dự án đầu tư trung và dài hạn có

những doanh nghiệp có ý tưởng đầu tư kế hoạch làm ăn lớn nhưng không lập được

kế hoạch dưới dạng bảng, biểu theo yêu cầu của ngân hàng. Cán bộ tín dụng nhiều

khi phải giúp đỡ người vay tính toán và lập phương án trả nợ, giúp doanh nghiệp

lập kế hoạch lưu chuyển vốn trong năm để biết lượng tiền chu chuyển từ nguồn nào,

chi vào mục đích gì, cân đối thu chi để ngân hàng có cơ sở ấn định thời gian, số tiền

giải ngân, thời hạn cho vay, số tiền thu nợ để tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn

thành kế hoạch sản xuất kinh doanh và ngân hàng thu được nợ.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

61

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

2.4.3. Nguyên nhân từ phía ngân hàng

a/ Năng lực và trình độ cán bộ:

Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động ngân hàng

nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Để thực hiện được các công việc của một

quá trình vay vốn thì năng lực và trình độ của cán bộ tín dụng là một nhân tố rất quan

trọng, nó quyết định đến chất lượng tín dụng, chất lượng dịch vụ và hình ảnh của

NHTM và từ đó quyết định đến hiệu quả tín dụng của ngân hàng. Trình độ, năng

lực của một số cán bộ tín dụng tại chi nhánh tuy đã được nâng lên song vẫn chưa

đáp ứng được yêu cầu phát triển. Một cán bộ tín dụng phải đảm nhận tất cả các khâu

của quá trình cho vay. Đối với những dự án lớn một cán bộ tín dụng phải làm tất cả

các việc từ tiếp xúc với khách hàng, thu thập các thông tin về khách hàng, phân tích,

thẩm định dự án đến giám sát và quản lý tiền vay. Với khối lượng công việc lớn như

vậy thì việc sai sót trong quá trình cho vay của cán bộ tín dụng là điều không thể

tránh khỏi.

Bởi vậy, cần dành một quỹ thời gian để hướng dẫn tổ chức tập huấn, bồi

dưỡng kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, chú trọng nghiệp vụ marketing, kỹ năng

bán hàng, thương thảo hợp đồng và văn hoá kinh doanh nghiệp.

b/ Công tác thẩm định dự án:

Để ra quyết định cấp tín dụng đúng đắn, chính xác, có hiệu quả đảm bảo khả

năng thu hồi nợ đúng hạn cả gốc và lãi cần phải dựa trên kết quả thẩm định chính

xác. Do vậy, chất lượng tín dụng của NHTM phụ thuộc rất nhiều vào việc thẩm

định tín dụng.

Công tác thẩm định tín dụng đòi hỏi khả năng nhạy bén và trình độ chuyên

môn cao. Thẩm định tín dụng bao gồm rất nhiều khâu và rất nhiều công việc: Thẩm

định khách hàng vay vốn, thẩm định khả năng và nguồn trả nợ, lãi vay của khách

hàng; thẩm định tính pháp lý của tài sản đảm bảo nợ vay; thẩm định giá trị tài chính

của tài sản đảm bảo nợ vay; thẩm định dự án… Để có định quyết định cho vay thì

khâu thẩm định món vay là một khâu vô cùng quan trọng. Nó quyết định đến 70%

việc khoản vay đó có được giải ngân hay không. Thực trạng công tác thẩm định tại

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

62

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Chi nhánh Sông Nhuệ còn nhiều bất cập. Việc đánh giá khả năng cạnh tranh, khả

năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp đòi hỏi ở cán bộ thẩm định khả năng phân

tích, tổng hợp và óc phán đoán mới nắm được tình hình. Cán bộ thẩm định không

xác định chính xác được tính tiên tiến của kỹ thuật công nghệ áp dụng, chưa xác

định được công nghệ, thiết bị, công suất có trong dự án có phù hợp với nhu cầu của

thị trường hay không? Có đảm bảo tính đồng bộ không? Có phù hợp với điều kiện

sản xuất ở Việt Nam không?(Về thời tiết khí hậu, độ ẩm…) ảnh hưởng không nhỏ

tới chất lượng tín dụng nói chung và hoạt động của ngân hàng nói riêng. Về thu

thập và xử lý thông tin của khách hàng, cán bộ thẩm định mới chỉ dừng lại ở việc

kiểm tra xem xét thông tin của khách hàng trên cơ sở những tài liệu do khách hàng

cung cấp trong hồ sơ vay vốn mà chưa chủ động tìm hiểu thông tin khách hàng,

kiểm tra tính chính xác của thông tin mà khách hàng cung cấp.

Việc thẩm định dự án là bài toán khó đối với Ngân hàng, khác với phương án

vay vốn, dự án là độc lập với khả năng tài chính và những quy định về pháp luật

riêng. Để đọc và hiểu dự án đầu tư không phải cán bộ kinh doanh nào cũng thực

hiện được. Dự án có các thông số kỹ thuật mà để hiểu được nó yêu cầu phải đọc

được nó, tài chính dự án với giá trị lớn và rất phức tạp, khó khăn trong việc bóc tách

và tính toán các chỉ tiêu.Hiện tại ở chi nhánh Sông Nhuệ chỉ có một số cán bộ tín

dụng có kinh nghiệm và thâm niên thực hiểu thẩm định dự án đầu tư.

Bảng 2.12: Thống kê về Cán bộ tín dụng

Trình độ

Số năm kinh nghiệm

Phòng

Trên

Số lượng

ĐH

>3 năm < 3 năm

Số CB học về nghiệp vụ NH

Số CB làm tốt thẩm định DA

ĐH

13

02

11

06

07

11

05

Phòng khách hàng Phòng GD 01

03

0

03

0

03

02

01

Phòng GD 02

03

0

03

0

03

02

01

19

13

06

02

17

15

07

Tổng số (Nguồn: Báo cáo tín dụng chi nhánh Sông Nhuệ năm 2010, 2011, 2012)

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

63

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

c/ Thông tin tín dụng:

Trong các quan hệ tín dụng thì các bên tham gia thường không hiểu biết đầy

đủ chính xác về nhau để có những quyết định đúng đắn. Việc thiếu thông tin đã

khiến ngân hàng có sự lựa chọn đối nghịch, người cần vay vốn cho nhu cầu sản xuất

kinh doanh có hiệu quả thì không được ngân hàng cho vay, trong khi đó những

doanh nghiệp, dự án làm ăn có nhiều rủi ro thì lại được vay vốn. Kèm theo đó là rủi

ro đạo đức do thông tin không cân xứng tạo ra, chủ doanh nghiệp lập ra thông tin

giả mạo để lừa ngân hàng... dẫn đến chất lượng tín dụng bị giảm thấp.

d/ Công tác kiểm tra giám sát tín dụng:

Đây là công việc rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng. Nó gắn liền với

hoạt động của từng nghiệp vụ trong hoạt động ngân hàng cũng như toàn bộ quy

trình tín dụng, nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời những sai sót khi nó mới bắt

đầu xảy ra. Tại chi nhánh Sông Nhuệ, công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa

được thực hiện thường xuyên và nghiêm túc. Việc kiểm tra trước, trong và sau khi

cho vay chưa đầy đủ hoặc còn mang tính hình thức, chưa phát hiện kịp thời và có

biện pháp chỉnh sửa những tồn tại trong quá trình cho vay và việc sử dụng vốn vay

của khách hàng.

e) Công tác cho vay thiếu chặt chẽ:

+ Do cho vay thiếu tài sản bảo đảm: Việc thực hiện thế chấp tài sản bảo đảm

của nhiều cơ sở hoặc một số món hồ sơ thế chấp cho vay trung dài hạn còn nhiều

thiếu sót. Trong giai đoạn này, tài sản thế chấp cho vay chủ yếu là quyền sử dụng

đất và nhà xưởng nhưng quyền sử dụng đất còn nhiều vướng mắc mà vẫn cho vay

dẫn đến khi xảy ra tranh chấp gây khó khăn cho thu hồi vốn tín dụng. Hoặc có

trường hợp do thiếu thông tin cho nên tài sản thế chấp được khách hàng đem thế

chấp vay ở nhiều tổ chức tín dụng một lúc dẫn tới thu hồi nợ gặp khó khăn.

+ Cho vay đầu tư do thiếu sót ở khâu thẩm định và theo dõi sử dụng vốn vay

không chặt chẽ dẫn đến việc không thu hồi nợ được đúng hạn

+ Định kỳ hạn cho vay chưa sát thực tế: có trường hợp khi cho vay cán bộ tín

dụng không thẩm định kỹ càng đã định kỳ hạn nợ quá ngắn so với chu kỳ luân

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

64

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

chuyển vốn dẫn tới việc khách hàng không trả được nợ đúng hạn phải chuyển sang

nợ quá hạn.

f/ Quy trình cho vay :

Việc xây dựng quy trình, quy chế tín dụng được ban lãnh đạo ngân hàng rất

quan tâm, có bộ phận/phòng ban chuyên trách thực hiện công việc này. Tuy nhiên,

một số quy trình, quy chế tín dụng được xây dựng và sửa đổi không có tính hệ

thống, vừa gây lãng phí thời gian thẩm định và xét duyệt, đồng thời dễ tạo ra những

rủi ro tiềm ẩn cho ngân hàng khi cho vay.

Điều kiện vay vốn trung và dài hạn khá khắt khe: Ngân hàng Công thương chỉ

cho vay vốn trung và dài hạn khi doanh nghiệp đó có số vốn tự có hình thành nên

tài sản của khoản tiền vay là 50%, DNNQD có qui mô tài chính nhỏ nên không đáp

ứng được điều kiện này. Thường thì Ngân hàng ưu tiên cho vay trung và dài hạn đối

với các Khách hàng có quan hệ tín dụng lâu dài với ngân hàng và thường là các

doanh nghiệp nhà nước. Các DNNQDhoặc các doanh nghiệp lần đầu có quan hệ với

Chi nhánh, cán bộ tín dụng thường e ngại khi giải quyết các khoản cho vay do sợ

gặp rủi ro đối với các khoản nợ.

Đặc biệt là năm 2010 là năm bắt đầu thực hiện các QĐ 221; 222;/QĐ-HĐQT ngày 3/4/2010 của HĐQT_ NHCTVN ban hành với định hướng là tăng cường tín dụng sàng lọc khách hàng. Do vậy, khi áp dụng các qui định này các Doanh nghiệp đã gặp nhiều khó khăn vướng mắc vì thực tế nhiều khách hàng vốn chủ sở hữu thấp, tình hình tài chính không lành mạnh, tài sản đảm bảo tiền vay không đủ tính pháp lý nên không đủ điều kiện vay ngân hàng, bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng như các Chi nhánh vẫn gặp khó khăn trong các thủ tục về giấy tờ, việc thẩm định định giá tài sản chưa thực sự mềm dẻo, các ngân hàng trên địa bàn định giá nhà đất còn chênh lệch nhau, nên đã ảnh hưởng đến tín dụng. Một số doanh nghiệp truyền thống sản xuất kinh doanh hiệu quả, nhưng hạn mức NHCT duyệt giảm. Hay một doanh nghiệp có phương án khả thi nhưng theo cơ chế tín dụng khi chấm điểm xếp hạng khách hàng thì phải trình NHCT VN nên ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của khách hàng, do vậy các doanh nghiệp phải thực hiện chuyển vay và thanh toán tại các NHTM khác. Đối tượng khách hành Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cho vay tiêu dùng được khuyến khích nhưng không tăng trưởng được vì nhiều chính sách

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

65

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

ưu tiên khuyến khích cho các đối tượng này chưa rõ ràng vẫn hoạt động theo khuôn mẫu cũ như các đối tượng khác

g/ Hoạt động cho vay mới chỉ chú trọng đến các Doanh nghiệp nhà nước, chưa chú trọng phát triển khách hàng mới

Dư nợ tín dụng trung và dài hạn khá cao nhưng chỉ tập trung ở các doanh nghiệp Nhà nước (năm 2011 là 75,1% và năm 2012 là 80,4%). Đây là một hạn chế của Ngân hàng làm cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh khó có thể huy động vốn từ Ngân hàng. Hơn nữa với tình hình hiện nay, xu hướng mở rộng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, chủ trương của Chính phủ là cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, chính điều này sẽ làm giảm các doanh nghiệp nhà nước và tăng nhanh các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Vì vậy Ngân hàng cần phải chú trọng hơn nữa vào lĩnh vực này vì nó sẽ là các khách hàng tiềm tàng trong tương lai.

Kết luận chương 2: Như vậy, trong vài năm mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng diễn biến tình hình kinh tế xã hội của nước ta và trên thế giới. Nhưng kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Sông Nhuệ trong những năm gần đây đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ. Tổng nguồn vốn huy động tăng đều trong các năm, không có tình trạng ứ đọng vốn, về các hoạt động khác thì doanh số cũng ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng. Hoạt động cho vay trung hạn và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Sông Nhuệ đang dần được thực hiện một cách có hiệu quả, ngân hàng đã chủ động tiếp cận với khách hàng, củng cố khách hàng truyền thống, và phát triển khách hàng mới, đặc biệt là các khách hàng tiềm năng. Điều này không chỉ đem lại lợi nhuận cho ngân hàng giúp ngân hàng hoạt động có hiệu quả. Chính vì vậy Chi nhánh đã xây dựng một đội ngũ khách hàng hợp lý, dư nợ trung hạn và dài hạn đang ngày một tăng thêm. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Sông Nhuệ đã đổi mới và nâng cao chất lượng công nghệ hiện đại phục vụ cho các hoạt động ngân hàng được tốt hơn.

Bên cạnh những kết quả đạt được của Chi nhánh, thì vẫn còn một số yếu tố gây cản trở đến phát triển cho vay trung hạn và dài hạn. Do vậy để có thể nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn Chi nhánh cần thực hiện các giải pháp phù hợp nhằm khắc phục những hạn chế và phát huy thế mạnh của mình.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

66

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

CHƯƠNG 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VN

- CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ

3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG

TMCP CÔNG THƯƠNG VN - CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ

3.1.1 Mục tiêu, định hướng hoạt động kinh doanh năm 2012 của Chi nhánh

Sông Nhuệ

Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, phát triển đất nước đến năm

2012, chủ trương tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống tài chính - ngân hàng theo

tinh thần Nghị quyết Đại hội X và đề án cơ cấu lại NHCTVN đến năm 2012 là :

“Xây dựng NHCTVN thành một ngân hàng chủ lực và hiện đại của nhà nước, hoạt

động kinh doanh có hiệu quả, tài chính lành mạnh, có kỹ thuật công nghệ cao, kinh

doanh đa năng, chiếm thị phần lớn ở Việt Nam”.

Trên cơ sở đó với phương châm “Phát triển, an toàn và hiệu quả”, toàn thể cán

bộ công nhân viên NHCTVN - chi nhánh Sông Nhuệ phấn đấu xây dựng cho mình

chiến lược kinh doanh trong thời gian tới với mục tiêu và định hướng là nâng cao

nguồn huy động, mở rộng thị trường, giảm bớt các khoản nợ quá hạn, giảm chi phí

kinh doanh nhằm nâng cao lợi nhuận của Ngân hàng, nâng cao hiệu quả kinh doanh

của Chi nhánh.

3.1.1.1. Định hướng chung

- Tận dụng cơ hội và lợi thế, uy tín của Chi nhánh để tiếp tục phát triển về mọi

mặt trong hoạt động kinh doanh. Tập trung khai thác và mở rộng cho vay các thành

phần kinh tế làm ăn có hiệu quả, dự án khả thi, tình hình tài chính lành mạnh, đáp

ứng đầy đủ các quy định về vay vốn. Tiếp tục tìm mọi giải pháp nâng cao chất

lượng hoạt động cho vay.

- Tập trung huy động nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn huy động từ dân cư,

các TCKT và các tổ chức xã hội khác. Chú trọng huy động nguồn vốn trung và dài

hạn cả ngoại tệ và nội tệ.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

67

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

- Xây dựng nền tảng khách hàng ổn định, vững mạnh; cũng cố và đẩy mạnh

quan hệ với các khách hàng VIP; mở rộng mạng lưới khách hàng thông qua mở

rộng quan hệ với các TCTD; cung cấp các dịch vụ trọn gói cho khách hàng; phát

triển các điểm chấp nhận thẻ, đại lý thu đổi ngoại tệ, thẻ ATM, thẻ TDQT.

- Củng cố và nâng cao chất lượng, sản phẩm dịch vụ cung ứng hiện có/nghiên

cứu và kiến nghị NHCTVN triển khai các sản phẩm mới (kiều hối, bảo hiểm, trung

gian thanh toán địa ốc.).

- Thực hiện cải cách hành chính, phong cách giao dịch, xây dựng văn hóa

doanh nghiệp, thương hiệu của Chi nhánh Sông Nhuệ.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ để đảm nhận được yêu cầu phát triển

hoạt động kinh doanh trong giai đoạn cạnh tranh, hội nhập.

3.1.1.2. Mục tiêu hoạt động kinh doanh

Thực hiện định hướng chiến lược kinh doanh của NHCTVN và mục tiêu phát

triển kinh tế của Quận Hà Đông - năm 2012 chi nhánh Sông Nhuệ đề ra các mục

tiêu như sau:

- Tiếp tục phát triển nguồn vốn trong nền kinh tế và nhân dân để cuối năm có

nguồn vốn huy động đạt: 2.000 tỷ đồng.

- Mở rộng cho vay và đầu tư vốn có hiệu quả đối với các thành phần kinh tế để

có dư nợ cho vay là: 2.000 tỷ đồng.

- Nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế cơ cấu lại nợ, không để nợ quá hạn

kéo dài và không để phát sinh nợ khó đòi. Tỷ lệ nợ quá hạn dưới 0,1% tổng dư nợ.

- Mở rộng và phát triển các dịch vụ truyền thống và dịch vụ mới để có tốc độ

tăng trưởng phí dịch vụ trên 50% so với năm trước. Cụ thể đi đầu thực hiện các chỉ

tiêu về thẻ, thực hiện các nghiệp vụ tài trợ thương mại, nghiệp vụ bảo lãnh.

3.1.2 Quan điểm về chất lượng hoạt động cho vay của NH TMCP Công thương

VN - Chi nhánh Sông Nhuệ

Ban lãnh đạo NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ luôn hoạt động theo chỉ đạo

của NH TMCP Công thương Việt Nam với phương châm “phát triển, an toàn, hiệu

quả”, không ngừng xây dựng Chi nhánh Sông Nhuệ thành một chi nhánh vững

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

68

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

mạnh, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, kinh doanh đa năng nhưng luôn đảm bảo

an toàn trong hoạt động kinh doanh.

Vì vậy, đối với NHCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ, hoạt động cho vay mang lại

hiệu quả cao được quan niệm như sau:

- Hoạt động cho vay là hoạt động mang lại lợi nhuận chính cho ngân hàng

nhưng không vì thế mà mở rộng hoạt động cho vay một cách ồ ạt, không có chọn

lọc. Hoạt động cho vay chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi nó mang lại lợi ích cho

cả ngân hàng và khách hàng; và phải được tuân thủ đúng các nguyên tắc cho vay,

bao gồm:

+ Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và

có hiệu quả kinh tế

+ Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi vay theo đúng thời hạn

đã cam kết trong hợp đồng tín dụng

+ Khách hàng vay vốn phải có vốn tự có tham gia vào phương án vay vốn.

- Hoạt động cho vay phải mang lại hiệu quả về mặt kinh tế cho ngân hàng.

Khoản vay được đánh giá là có hiệu quả kinh tế chỉ khi kết hợp hài hoà giữa chi phí

ngân hàng bỏ ra để có được khoản vay và chi phí theo dõi giám sát khoản vay so

với số tiền thu lãi mà khoản cho vay mang lại, sao cho lợi nhuận đạt mức cao nhất.

Nói cách khác là khoản vay mang lại khả năng sinh lợi cao nhất cho ngân hàng.

- Hoạt động cho vay phải mang lại lợi ích cho khách hàng vay vốn và xã hội,

đó chính là hiệu quả về mặt xã hội của hoạt động cho vay.

Đối với khách hàng, hoạt động cho vay phải phù hợp với mục đích sử dụng

của khách hàng, với lãi suất, kỳ hạn hợp lý thu hút được nhiều khách hàng nhưng

vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, tạo điều

kiện cho khách hàng phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

Đối với nền kinh tế xã hội, hoạt động cho vay phục vụ sản xuất, lưu thông

hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm, khai thác được khả năng tiềm tàng trong

nền kinh tế.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

69

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNGDÀI HẠN

TẠI NHCTVN - CHI NHÁNH SÔNG NHUỆ

Qua thực trạng hoạt động cho vay và định hướng phát triển của NHCTVN -

Chi nhánh Sông Nhuệ, tác giả xin đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng

tín dụng Trung dài hạn tại NHCTVN - Chi nhánh Sông Nhuệ như sau:

3.2.1 Nâng cao chất lượng thẩm định các khoản vay

Khi xét duyệt một món vay và ra quyết định cho vay, để góp phần nâng cao

hiệu quả cho vay thì chi nhánh cần thực hiện tốt công tác thẩm định dự án. Tức là

chi nhánh phải tiến hành các biện pháp phân tích và đánh giá khách hàng của mình,

đây là một việc rất quan trọng bởi vì khi đã giao tiền cho người vay thì chi nhánh

chỉ còn quyền sở hữu còn quyền sử dụng khoản tiền đó hoàn toàn phụ thuộc vào

khách hàng. Việc thẩm định cần phải đảm bảo các nội dung:

• Thẩm định tính pháp lý của doanh nghiệp.

• Hồ sơ thủ tục vay vốn phải hợp lệ, hợp pháp theo chế độ quy định.

• Tìm hiểu trình độ và đạo đức cũng như uy tín của khách hàng trên thị trường.

• Thẩm định tính khả thi, hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên hoạt động cho vay hết sức đa dạng, mỗi khoản vay đều có tính chất

đặc thù riêng, do đó ngoài các yếu tố cần thẩm định theo quy trình nêu trên, đối với

từng khoản vay cụ thể NH cần thẩm định thêm các yếu tố đặc thù riêng biệt như:

đối với cho vay theo dự án đầu tư phải xác định xem dự án có phù hợp với hoàn

cảnh kinh tế hay không, các sản phẩm và đối thủ cạnh tranh trên thị trường, chất

lượng sản phẩm mà dự án tạo ra so với các sản phẩm hiện có trên thị trường, khả

năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị phần của sản phẩm, chất lượng nguồn nguyên

liệu, khả năng phát triển của sản phẩm, các yếu tố của môi trường kinh doanh ảnh

hưởng đến dự án…; đối với cho vay cán bộ công nhân viên không có bảo đảm bằng

tài sản trả bằng thu nhập thì phải là cán bộ công nhân viên có hợp đồng lao động dài

hạn, có uy tín, có nguồn thu nhập tương đối thường xuyên và phải được cơ quan xác

nhận thu nhập…

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

70

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Hoàn thiện nội dung thẩm định

• Thẩm định chặt chẽ tính pháp lý của khoản vay

Thẩm định không đúng về tính pháp lý của khoản vay, khách hàng vay như

cho vay tư nhân cá thể không đủ năng lực hành vi, cho vay tổ chức thiếu tư cách

pháp nhân, người đại diện tổ chức không đủ thẩm quyền ký kết HĐTD, hợp đồng

bảo đảm mục đích sử dụng vốn vay không hợp pháp, tài sản đảm bảo nợ vay không

đủ điều kiện thế chấp, không thực hiện ưu tiên thanh toán đối với các giao dịch đảm

bảo… là một trong những rủi ro có khả năng gây tổn thất nặng nề nhất cho khoản

vay. Đối với cán bộ làm công tác tín dụng thì tuyệt đối không để xảy ra rủi ro này.

Thẩm định chính xác hồ sơ pháp lý của khách hàng vay sẽ bảo vệ quyền lợi của

ngân hàng và ràng buộc được trách nhiệm của khách hàng vay trước pháp luật.

Chẳng hạn việc thẩm định thẩm định hồ sơ pháp lý đối với khách hàng là pháp nhân

thì phải thỏa mãn các quy định nêu tại điều 94 của Bộ luật dân sự và người đại diện

giao dịch với ngân hàng phải là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy

quyền hợp pháp của pháp nhân. Đối với khách hàng thể nhân thì phải có năng lực

pháp luật và năng lực hành vi dân sự.

• Phân tích và đánh giá chính xác năng lực tài chính và năng lực kinh doanh

của khách hàng

Phân tích và đánh giá chính xác năng lực tài chính và năng lực kinh doanh của

khách hàng là khâu quan trọng trong công tác thẩm định, là cơ sở để ra quyết định

cho vay đúng do đó ngân hàng cần phải xem xét, đánh giá năng lực của khách hàng

vay vốn một cách cẩn thận, dưới nhiều khía cạnh để làm cơ sở thiết lập các yếu tố

của khoản vay trong trường hợp ngân hàng đồng ý cho vay như: số tiền cho vay, lãi

suất cho vay, thời hạn cho vay, phương thức cho vay và các điều kiện ràng buộc đối

với khoản vay.

Đánh giá năng lực tài chính của khách hàng vay giúp cho ngân hàng nắm được

thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, thực trạng về triển vọng và khả năng

thanh toán của khách hàng thông qua phân tích chỉ tiêu về cơ cấu tài sản có, tài sản

nợ, cơ cấu bố trí tài sản cố định và tài sản lưu động để đánh giá tính phù hợp của

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

71

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

việc bố trí cơ cấu nguồn vốn, đánh giá các chỉ tiêu tài sản có trong khâu dự trữ và

khâu luân chuyển có phù hợp với loại hình và tình hình sản xuất kinh doanh của

khách hàng không, phân tích các chỉ tiêu khả năng thanh toán để đánh giá tính cân

đối của việc sử dụng tài sản nợ và khả năng tự chủ về tài chính, phân tích các chỉ

tiêu vòng quay hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân, doanh thu trên tổng tài sản để

đánh giá khả năng và triển vọng của khách hàng, phân tích các chỉ tiêu thu nhập để

đánh giá hiệu quả hoạt động của khách hàng.

Năng lực kinh doanh của khách hàng được phân tích thông qua các yếu tố như

máy móc thiết bị, công nghệ hiện có, các yếu tố đầu vào như nguyên liệu, lao động,

các yếu tố đầu ra như thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị phần đang chiếm lĩnh, giá cả,

chất lượng sản phẩm, các dịch vụ đi kèm… để đánh giá về thực trạng và triển vọng

hoạt động kinh doanh của khách hàng trên cơ sở đó dự báo về sự tồn tại và phát

triển của doanh nghiệp trong tương lai. Đánh giá năng lực kinh doanh của các khách

hàng có quy mô lớn còn phải phân tích chiến lược kinh doanh mà khách hàng đã đề

ra gồm: chiến lược hoạch định nguồn cung cấp nguyên liệu, chiến lược về sản phẩm

và phân phối sản phẩm, chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, khả năng chiếm

lĩnh và mở rộng thị phần, chiến lược phát triển quy mô sản xuất kinh doanh, chiến

lược xây dựng thương hiệu.

• Thẩm địnhphương diện khác:

Trong qui trình thẩm định dự án thì công tác thẩm định phương diện thị

trường, kỹ thuật, quản lý không thể tách rời với việc thẩm định tài chính của dự

án. Căn cứ vào việc thẩm định thị trường đầu vào và thị trường đầu ra, cán bộ

thẩm định mới có thể dự trù được doanh thu và chi phí của dự án và sự đứng vững

của công trình khi đi vào hoạt động (thị trường có chấp nhận sản phẩm với mức

giá dự kiến như vậy hay không, sản phẩm mới có tính ưu việt hơn sản phẩm cũ

như thế nào, thói quen và tâm lý tiêu dùng của khách hàng ra sao). Căn cứ vào

việc thẩm định kỹ thuật Ngân hàng mới có thể dự trù được công suất hoạt động và

tính doanh thu. Thông thường, công suất hoạt động dự án là không đồng đều trong

các năm, những năm đầu công suất hoạt động thường thấp hơn dự kiến, vậy thì

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

72

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

việc tính doanh thu trong tất cả các năm phải có sự khác nhau, chứ không thể tính

đồng đều được.

Thực hiện việc cho điểm và xếp loại tín dụng khách hàng

Một trong những hạn chế của Ngân hàng trong quá trình quản lý khách

hàng đó chỉ là thực hiện đánh giá, xếp loại, doanh nghiệp dựa trên cảm tính

của cán bộ làm công tác tín dụng mà chưa thực sự có một tiêu chuẩn hay hệ

thống chỉ tiêu nào để thực hiện. Theo định kỳ một năm một lần, cán bộ tín

dụng của Ngân hàng sẽ tiến hành thực hiện đánh giá tín dụng của khách hàng

dựa trên các thông số như : nguồn vốn của doanh nghiệp tăng trưởng qua các

năm như thế nào, tình hình thanh toán công nợ trong đó chỉ xem xét đến các

khoản vay và trả nợ đối với ngân hàng, lợi nhuận của doanh nghiệp qua các

năm có tăng lên hay giảm xuống để từ đó "gán" cho khách hàng được xem xét

là xếp loại A (xếp loại tốt) hay B (loại trung bình) thậm chí là loại C (xếp loại

dưới trung bình). Thông qua những nhận xét và đánh giá cơ bản này cán bộ

tín dụng sẽ có cách thức đối xử với khách hàng khi họ có nhu cầu vay vốn hay

khi có quan hệ giao dịch phát sinh với ngân hàng.

Hiện nay tại chi nhánh chưa có một bộ phận hay phòng ban nào làm công

tác thu thập và xử lý các thông tin có liên quan đến khách hàng, công việc đó

được ngầm hiểu là của riêng cán bộ thẩm định và chỉ thuộc phạm vi phòng

khách hàng mà thôi. Chính vì vậy trong quá trình quản lý tín dụng hay trong

quá trình thẩm định phương án/dự án đầu tư cán bộ tín dụng không có đủ

thông tin để đánh giá về doanh nghiệp. Điều này có tác động khá lớn đến chất

lượng thẩm định khách hàng, thẩm định phương án/dự án và gây ra những sai

lầm trong quyết định cho vay. Việc xếp hạng tín dụng doanh nghiệp cần thực hiện

hàng quý/lần, để ngân hàng có thể nắm bắt tình hình khách hàng một cách cập nhật

từ đó có những phán quyết tín dụng đúng đắn.

Ngân hàng phải xây dựng và nghiên cứu hệ thống xếp loại chấm điểm khách

hàng, hiện tại ngân hàng chưa có hệ thống này. Ngân hàng có thể thuê tư vấn của

công ty Ernst and Young để xây dựng hệ thống này

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

73

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

Thành lập nhóm chuyên trách thẩm định dự án

Thẩm định dự án là một công việc không đơn giản chút nào, nó đòi hỏi cán bộ

thẩm định phải có một vốn kiến thức rất tổng hợp về thị trường, về quản trị doanh

nghiệp, về công nghệ kỹ thuật, luật pháp, xã hội. Với những yêu cầu như vậy đòi

hỏi phải có những cán bộ chuyên làm công tác thẩm định chứ không nên để cán bộ

tín dụng kiêm nghiệm như hiện nay. Bởi lẽ hầu hết các cán bộ tín dụng của ngân

hàng hiện nay chỉ được đào tạo về nghiệp vụ chuyên môn chứ không chuyên sâu về

thẩm định dự án và không có được những kiến thức chuyên ngành.

Hiện tại số lượng cán bộ tín dụng của Ngân hàng tại chi nhánh có 19 người

trong đó chỉ có 7 cán bộ đủ tiêu chuẩn thực hiện công tác thẩm định dự án đầu tư,

đã trải qua đào tạo chính quy và bồi dưỡng kiến thức chuyên về thẩm định dự án.

Với lượng cán bộ thẩm định vừa thiếu vừa không đáp ứng nhu cầu của công việc

thẩm định cũng đã ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của chi nhánh Sông Nhuệ.

Do đó, để đảm bảo chất lượng công tác thẩm định nói riêng và mục tiêu tăng trưởng

dư nợ ( nhất là đảm bảo nâng cao chất lượng thẩm định dự án trung, dài hạn) chi

nhánh nên thực hiện việc tách một phần quân số hiện nay để thành lập tổ thẩm định

dự án. Đối với những dự án nhỏ, hoặc quy mô vốn vay dưới 5 tỷ đồng thì có thể do

CBTD trực tiếp thẩm định, còn các dự án có quy mô vốn lớn đến một mức độ nhất

định, có thể trên 10 tỷ đồng thì sẽ được giao cho tổ thẩm định dự án thực hiện.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ thẩm định, chi nhánh cần kết hợp

với trường đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho cán bộ thẩm định đi học những

khoá học chuyên về thẩm định dự án, đồng thời ngân hàng có thể thuê thêm một

số chuyên gia trong lĩnh vực khác ngoài ngân hàng để tăng thêm khả năng đánh

giá dự án một cách toàn diện và chính xác. Việc chuyên môn hoá như vậy sẽ

giúp cho công tác thẩm định dự án của ngân hàng tiến hành nhanh hơn, chính

xác hơn, vừa rút ngắn thời gian chờ đợi cho khách hàn vừa bảo đảm an toàn

trong hoạt động tín dụng cho ngân hàng. Ngoài ra, sự tách biệt giữa nhiệm vụ

của tổ thẩm định dự án với CBTD còn có tác dụng hạn chế những tiêu cực phát

sinh trong quá trình thẩm định.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

74

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

3.2.2. Tăng cường giám sát chặt chẽ khoản vay, kiểm tra việc thực hiện các

điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tín dụng

Kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay là một việc làm cần thiết để phòng

ngừa và ngăn chặn rủi ro tín dụng. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên sẽ

giúp ngân hàng phát hiện kịp thời những biểu hiện sai phạm của doanh nghiệp như

sử dụng vốn sai mục đích, tẩu tán tài sản, âm mưu lừa đảo ngân hàng, đồng thời

giúp ngân hàng luôn bám sát tình hình hoạt động thực tế của dự án, nắm được

những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án của doanh nghiệp để có

biện pháp đối phó kịp thời.

Để khắc phục điều này, trong thời gian tới công tác kiểm tra, giám sát sau cho

vay cần được tiến hành chặt chẽ hơn nữa, các thông tin kiểm tra không chỉ dựa trên

những gì doanh nghiệp cung cấp mà ngân hàng cần phải chủ động tìm kiếm từ các

nguồn khác. Thông tin phục vụ cho ngân hàng không chỉ các thông tin về doanh

nghiệp mà cả các thông tin về môi trường kinh doanh và những vấn đề liên quan

khác cũng cần phải được chú ý xem xét. Qua những thông tin tổng hợp đó cho phép

ngân hàng có được cái nhìn đầy đủ, chính xác hơn về tình hình hoạt động của khách

hàng vay vốn. Bên cạnh đó, việc kiểm tra trực tiếp tại cơ sở cũng không nên tiến

hành một cách định kỳ như hiện nay mà nên tiến hành ngẫu nhiên, không thông báo

trước, chỉ có làm như vậy mới bảo đảm những gì "mắt thấy tai nghe" là trung thực.

Trong quá trình kiểm tra nếu phát hiện thấy doanh nghiệp gặp khó khăn không

thể thực hiện việc trả nợ theo đúng hợp đồng thì CBTD cũng không nên quá hoảng

hốt tìm mọi cách thu hồi nợ càng sớm càng tốt, làm như vậy sẽ càng gây khó khăn

thêm cho doanh nghiệp mà ngân hàng cũng khó có thể thu hồi được vốn đầy đủ.

Trong trường hợp đó CBTD nên báo cáo lên Ban lãnh đạo để có biện pháp xử lý kịp

thời. Từ đó xem xét vấn đề một cách thận trọng để có biện pháp phối hợp với khách

hàng cùng giải quyết khoa học số nợ qúa hạn. Có thể áp dụng hợp lý hai biện pháp :

khai thác và thanh lý, áp dụng biện pháp khai thác để xử lý các khoản nợ trong

trường hợp ngan hàng xét thấy những khó khăn là có thể vượt qua, doanh nghiệp có

thể phục hồi. Hình thức cụ thể có thể là một hoặc kết hợp nhiều biện pháp sau :

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

75

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

+ Ngân hàng tư vấn, hướng dẫn cho doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh như thị

trường, sản phẩm, đầu tư khai thác nhằm tác động đến khả năng sinh lời của tài sản

nhằm tạo ra được lợi nhuận cho doanh nghiệp.

+ Ngân hàng đề nghị doanh nghiệp quản lý chặt chẽ ngân quỹ chi tiêu, tư vấn

cho doanh nghiệp một số biện pháp tăng vốn bằng cách giải toả bớt số hàng tồn

kho, thanh lý những tài sản không sử dụng bán hoặc bớt một phần tài sản có giá trị.

+ Ngân hàng khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp cơ cấu lại hệ thống sản

xuất kinh doanh, thay đổi máy móc thiết bị và công nghệ. Với mong muốn nâng cao

năng lực sản xuất cho doanh nghiệp nhưng đồng thời khuyến khích sự chủ độngcủa

doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm nguồn tài trợ nên ngân hàng chỉ có thể cung

cấp cho doanh nghiệp có được một khoản vay ưu đãi hơn doanh nghiệp khác từ 1

đến 2%/ năm.

+ Nếu do nguyên nhân khách quan bất khả kháng (tai nạn, thiên tai, trộm cắp)

khiến doanh nghiệp không trả được nợ thì ngân hàng có thể xem xét gia hạn hoặc

điều chỉnh hợp đồng cho vay tương ứng với kỳ hạn có thể thu tiền của doanh

nghiệp. Tuy nhiên việc kéo dài kỳ hạn nợ không thể vượt quá thời hạn còn hiệu lực

trong hợp đồng tín dụng. Nếu doanh nghiệp thực sự khó khăn và ngân hàng nhận

thấy phải cần thời gian dài mới có thể khắc phục được những rủi ro thì có đề nghị

lên Hội đồng thẩm định xem xét giải quyết.

Nếu xét thấy việc áp dụng các biện pháp khai thác là không thuận lợi và không

có hy vọng thu hồi được nợ thì ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp thanh lý để xử lý

các khoản nợ khó đòi. Trong nhiều trường hợp biện pháp thanh lý chỉ được áp dụng

sau khi ngân hàng đã tiến hành một số biện pháp khác nhưng không có kết quả.

Biện pháp thanh lý hợp đồng tín dụng chỉ nên coi là giải pháp cuối cùng khi không

còn cách lựa chọn nào khác. Nói chung khi đã phải áp dụng hình thức này thì ngân

hàng cũng khó tránh khỏi những tổn thất. Chính vì vậy, điều quan trọng là phải

tránh được các nguy cơ ngay từ những khâu trước đó.

Do đặc thù kinh doanh của các khách hàng vay hết sức đa dạng nên việc kiểm

tra sử dụng vốn vay cũng rất phức tạp đòi hỏi cán bộ tín dụng phải phát huy tinh

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

76

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

thần trách nhiệm, khôn khéo và chủ động lựa chọn phương pháp và thời điểm kiểm

tra thích hợp. Đối với các doanh nghiệp thường xuyên phát sinh vay vốn thì định

kỳ hàng tháng cán bộ tín dụng tiến hành kiểm tra việc sử dụng vốn vay một lần và

kiểm tra đột xuất (khi cần thiết), qua đó kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh của

đơn vị để nắm bắt kịp thời tình hình doanh nghiệp; đối với đơn vị ít phát sinh thì

chậm nhất 15 ngày đối với giải ngân chuyển khoản và chậm nhất 05 ngày đối với

giải ngân tiền mặt cán bộ tín dụng phải kiểm tra việc sử dụng vốn vay. Trường hợp

phát hiện đơn vị sử dụng sai mục đích thì yêu cầu đơn vị phải trả nợ trước hạn.

Định kỳ hằng năm phân tích, đánh giá từng ngành hàng, từng lĩnh vực hoạt

động theo từng nhóm khách hàng để định hướng đầu tư tín dụng phù hợp hiện tại

cũng như lâu dài đảm bảo an toàn hiệu quả. Thực hiện chính sách khách hàng,

ngành hàng có chọn lọc, nâng cao chất lượng hoạt động cho vay.

Ngoài ra, ngân hàng cần định kỳ 03 tháng tiến hành phân tích đảm bảo nợ vay

và chấm điểm xếp hạng khách hàng.

3.2.3 Quản lý rủi ro nhằm xử lý kịp thời các khoản vay có vấn đề, hạn chế

thấp nhất tổn thất cho ngân hàng

Mặc dù đã có nhiều biện pháp an toàn để quản lý khoản vay, song hoạt động

cho vay luôn gắn liền với rủi ro nên việc tồn tại những khoản vay có vấn đề do

nhiều nguyên nhân là một điều không thể tránh khỏi, điều này có nghĩa là một bộ

phận các khoản vay trong danh mục tín dụng của ngân hàng có khả năng xảy ra

những tổn thất không thu hồi được một phần hay toàn bộ đúng như kế hoạch. Các

dấu hiệu để NH nhận biết một khoản vay có vấn đề :

- Sử dụng vốn vay sai mục đích, khách hàng vay không trung thực trong quan

hệ tín dụng.

- Thanh toán tiền vay không đúng kế hoạch, kỳ hạn các khoản vay phải điều

chỉnh liên tục.

- Tình hình kinh doanh có nhiều biến động do nguyên nhân chủ quan so với kế

hoạch kinh doanh, có sự sai lệch tương đối giữa dòng tiền thực tế so với kế hoạch

lưu chuyển tiền tệ. Có sự biến động tăng bất thường của các khoản tài sản có như

công nợ, hàng tồn kho hoặc có sự tăng đột biến của việc sử dụng đòn bẩy tài chính.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

77

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

- Không hoặc chậm trễ báo cáo tình hình tài chính cho ngân hàng, không

thuyết minh hoặc thuyết minh không rõ ràng các số liệu trong báo cáo tài chính, trì

hoãn hợp tác với việc kiểm tra thường xuyên của ngân hàng.

- Thiếu đảm bảo nợ vay do sử dụng nguồn vốn vay ngắn hạn để đầu tư trung

dài hạn hoặc trang trãi cho các khoản kinh doanh thua lỗ…

Mục tiêu của ngân hàng trong việc xử lý các khoản vay có vấn đề là tối đa hóa

tỷ lệ thu hồi các khoản vay này, để thực hiện tốt mục tiêu này bộ phận quản lý rủi ro

tại Chi nhánh Sông Nhuệ cần phải thực hiện như sau :

- Luôn giữ vững mục tiêu, tận dụng mọi cơ hội để tận thu mọi nguồn vốn đã

cho vay.

- Nắm bắt ngay, chính xác thực trạng và rủi ro của khoản vay, phân tích

nguyên nhân đưa đến khoản vay có vấn đề từ đó đề ra giải pháp, các ràng buộc đối

với khách hàng vay như cắt giảm chi phí, tăng dòng tiền, xử lý tài sản bảo đảm…

làm giảm thiểu rủi ro và tăng khả năng, tỷ lệ thu hồi đối với khoản vay.

- Giám sát thường xuyên, chặt chẽ để có thể phát hiện kịp thời mọi vấn đề phát

sinh liên quan đến khoản vay, kiểm soát mọi nguồn thu, tài sản bảo đảm mà khách

hàng cam kết dụng để trả nợ vay ngân hàng.

- Cân nhắc và dự báo toàn bộ những khả năng có thể xảy ra đối với khoản

vay để tìm giải pháp cụ thể, thích hợp, hạn chế thấp nhất mức độ tổn thất cho

khoản vay.

3.2.4 Tăng cường hiệu quả công tác thu thập và xử lý thông tin

Thông tin là yếu tố không thể thiếu được cho việc thực hiện công tác

thẩm định phương án/dự án, thẩm định khách hàng nhằm tiếp cận khả năng trả

nợ và đảm bảo an toàn vốn vay. Thông tin thu thập càng nhanh, đầy đủ, chính

xác thì càng giúp cho việc thẩm định được thuận lợi hơn. Để đảm bảo tính

chính xác, thiết thực của thông tin thì cần phải tiến hành thu thập từ nhiều

nguồn khác nhau:

- Trung tâm CIC của ngân hàng Nhà nước

- Thông tin do khách hàng xin vay vốn cung cấp

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

78

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

- Thông tin thu thập từ các cơ quan hữu quan như các cơ quan quản lý

Nhà nước, cơ quan chủ quản cấp trên, cơ quan thuế, hải quan, cơ quan quản lý

thị trường …

- Các đối tác của đơn vị vay vốn như khách hàng, bạn hàng (thông qua

điện thoại, fax …)

- Hệ thống thông tin phản hồi của các ngân hàng khác để cung cấp thông

tin lẫn nhau, ngăn ngừa các khoản vay đảo nợ. Thông tin giữa các phòng ban

trong ngân hàng, giữa phòng giao dịch và hội sở chính của ngân hàng phải

đảm bảo đa chiều, đầy đủ và chính xác về khách hàng.

- Thông tin lấy từ mạng Internet

Đồng thời phải tổ chức tốt việc xử lý thông tin nhằm chọn lọc được

những thông tin chính xác, cần thiết. Công việc thu thập và xử lý thông tin

phải được tiến hành một cách chủ động và liên tục chứ không phải đợi khi có

khách hàng đến xin vay rồi mới tiến hành. Đối với các dự án có quy mô vốn

lớn hay có nghiệp vụ chuyên môn sâu nằm ngoài khả năng của cán bộ tín

dụng thì ngân hàng có thể thuê các chuyên gia tư vấn về lĩnh vực đó để tiến

hành thẩm định một cách chính xác, tránh bị lừa đảo.

Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống thông tin dữ liệu giữa chi nhánh với hội sở

và phòng giao dịch, với các ngân hàng khác trong cùng hệ thống sẽ giúp cho ngân

hàng có thêm thông tin về doanh nghiệp mà ngân hàng quan tâm, giúp ngân hàng có

quyết định đúng đắn và hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra do thiếu thông tin

trung thực, đầy đủ, chính xác.

3.2.5. Nhóm giải pháp khác:

Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng

Cần hoàn thiện hơn nữa bộ máy kinh doanh theo hướng tinh gọn, hiệu quả, kết

hợp được năng lực kinh nghiệm của các cán bộ tín dụng cũ và các cán bộ tín dụng

mới, tiêu chuẩn hóa cán bộ tín dụng về phẩm chất đạo đức và chuyên môn nghiệp

vụ, tích cực đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nghệ thuật và kỹ

năng giao tiếp của các cán bộ tín dụng: Bởi vì con người là yếu tố quyết định sự

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

79

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

thành công trong hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, là người thực thi các

giải pháp mà các nhà quản lý đưa ra nhằm đưa hoạt động kinh doanh phát triển cao

và có hiệu quả. Hiện nay, Chi nhánh Sông Nhuệ có đội ngũ cán bộ tín dụng rất trẻ,

sự kết hợp giữa các cán bộ tín dụng cũ giàu kinh nghiệm, nắm vững chuyên môn

nghiệp vụ với các cán bộ tín dụng mới trẻ, năng động, giỏi ngoại ngữ và vi tính, có

tinh thần tìm tòi học hỏi, cầu tiến cao sẽ tạo giúp cho Chi nhánh Sông Nhuệ có một

đội ngũ nhân viên thực hiện tốt các chính sách, giải pháp đặt ra để phát triển và

nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng. Ngoài ra, việc tiêu chuẩn hoá cán bộ tín

dụng về chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức, thường xuyên đào tạo nâng

cao trình độ nghiệp vụ cán bộ sẽ giúp cho Chi nhánh Sông Nhuệ tránh được những

rủi ro do con người gây ra như tình trạng cấu kết giữa khách hàng và cán bộ tín

dụng, do trình độ cán bộ thiếu hiểu biết gây ra để từ đó đảm bảo và nâng cao được

chất lượng tín dụng.

Với hệ thống rất nhiều các NHTM tập trung trên địa bàn Hà Đông, Hà Nội như

hiện nay, thì việc cạnh tranh diễn ra rất gay gắt và quyết liệt, kể cả việc hạ thấp tiêu

chuẩn và điều kiện cho vay nhằm lôi kéo khách hàng. Trong bối cảnh như vậy thì

việc vừa không gây khó dễ cho khách hàng, vừa đủ khả năng để xác định chất

lượng thực sự của khách hàng vay vốn là vấn đề rất khó khăn đòi hỏi trình độ

chuyên môn, kinh nghiệm và khả năng giao tiếp của đội ngũ cán bộ tín dụng. Để

làm được điều này, Chi nhánh Sông Nhuệ cần phải xây dựng và đào tạo một đội

ngũ cán bộ tín dụng có năng lực trình độ, kinh nghiệm, lòng tận tụy, nhiệt tình với

công việc và đạo đức nghề nghiệp để có thể hướng dẫn tư vấn cho khách hàng, tiếp

xúc và tìm hiểu đánh giá các thông tin làm sao để khách hàng cảm thấy an tâm,

thoải mái và tin tưởng khi giao dịch, qua đó cũng kịp thời phát hiện các thông tin sai

lệch, các dấu hiệu rủi ro để kịp thời xử lý.

Ngoài ra, Chi nhánh Sông Nhuệ cần có chế độ đãi ngộ cụ thể khuyến khích vật

chất, tinh thần đối với người có tay nghề cao, trình độ chuyên môn giỏi, có đóng

góp nhiều công sức để thu hút họ công tác lâu dài với chi nhánh.

Mặt khác, Chi nhánh Sông Nhuệ cũng nên phân công riêng một bộ phận

chuyên thực hiện công chứng, đăng ký giao dịch đảm bảo để đảm bảo giải quyết hồ

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

80

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

sơ khách hàng được nhanh chóng, thuận lợi, nhằm giải quyết kịp thời nhu cầu vốn

cho khách hàng.

* Mở rộng màng lưới, đẩy mạnh hoạt động tiếp thị Ngân hàng

Hiện nay trên địa bàn hoạt động của chi nhánh có rất nhiều Ngân hàng, các tổ

chức tín dụng cạnh tranh nhau quyết liệt. Do đó, chi nhánh cần chú trọng đến việc

mở rộng màng lưới, đẩy mạnh hoạt động thông tin đại chúng, tuyên truyền, quảng

cáo về các sản phẩm mà Ngân hàng cung cấp, những chính sách ưu đãi riêng biệt

tới mọi khách hàng để cho các thành phần kinh tế nắm vững được các chủ trương

chính sách đổi mới của chi nhánh đối với các thành phần kinh tế, cho khách hàng

biết được chi nhánh đã áp dụng cơ chế tín dụng mới, thể lệ cho vay mới theo cơ chế

thị trường để họ thấy được những thiện chí của chi nhánh, thấy được những lợi ích

của mình trong quan hệ với chi nhánh. Mặt khác, quảng cáo làm cho khách hàng

hiểu được cơ chế hoạt động, các nghiệp vụ của chi nhánh để họ thấy được quyền lợi

cũng như trách nhiệm của họ đối với chi nhánh.

Hoạt động thông tin đại chúng của chi nhánh cần được tiến hành thường xuyên

hơn và liên tục trong một thời gian. Hoạt động tuyên truyền quảng cáo phải tập

trung làm nổi bật các ưu điểm của chi nhánh về sản phẩm dịch vụ, về thái độ phục

vụ của các cán bộ ngân hàng. Để hoạt động thông tin đại chúng đạt hiệu quả cao

nhất, chi nhánh cần tìm ra những kênh truyền thông hiệu quả. Trong thời gian tới,

chi nhánh cần áp dụng một số kênh tuyên truyền quảng cáo sau:

- Kênh truyền thông cá nhân, người truyền tải những thông điệp trước hết là

các nhân viên của chi nhánh và những người thân của họ. Quảng cáo qua quan hệ

giao dịch trực tiếp với khách hàng trong quá trình giải quyết nghiệp vụ cho vay.

Đây là hình thức quảng cáo đơn giản nhất và cũng là hình thức ít tốn kém nhất

nhưng hiệu quả của nó tương đối cao. Để kênh tuyên truyền này đạt hiệu quả cao

nhất thì phong cách làm việc của giao dịch viên trong quan hệ giao dịch với khách

hàng là rất quan trọng, đòi hỏi cán bộ tín dụng không chỉ giỏi về nghiệp vụ mà còn

phải có thái độ tận tình lịch thiệp với khách hàng. Nếu làm tốt điều này, không

những chi nhánh giữ được những khách hàng quen thuộc mà còn thu hút thêm được

những khách hàng mới từ đó mở rộng được hoạt động cho vay.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

81

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

- Ngoài ra, để hỗ trợ cho kênh truyền thông cá nhân, chi nhánh cần thực hiện

kênh tuyên truyền tuyên truyền phổ biến hiện nay là quảng cáo qua hệ thống thông tin

đại chúng như báo chí, truyền hình… tiến hành giao tiếp công chúng trên cơ sở trao

đổi thông tin hai chiều và truyền cho nhau những trạng thái cảm xúc tốt đẹp giữa chi

nhánh và khách hàng bằng việc tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội trong khu

vực, tổ chức nhiều cuộc toạ đàm, đối thoại với doanh nghiệp, giao lưu với các sinh

viên chuyên ngành ngân hàng tài chính của các trường đại học. Hình thức này rất có

hiệu quả trong việc tuyên truyền các thể thức giao dịch, các đợt phát hành kỳ phiếu,

áp dụng các hình thức cho vay mới… Đây cũng là một công cụ cạnh tranh tương đối

mạnh của các ngân hàng trên thế giới nhằm khuyếch trương uy tín cũng sản phẩm của

mình trên thị trường, tuy nhiên ở Việt Nam hình thức này còn rất hạn chế.

* Xây dựng chính sách khách hàng hợp lý

Do đặc trưng của ngành ngân hàng trong hoạt động của mình có quan hệ với

rất nhiều khách hàng, khách hàng của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong chất

lượng tín dụng của ngân hàng bởi những rủi ro đa phần xuất phát từ phía khách

hàng. Việc tìm kiếm và lựa chọn khách hàng lành mạnh là mục tiêu hàng đầu đối

với các ngân hàng trong việc mở rộng thị phần và tăng hiệu quả hoạt động tín dụng.

Để thu hút được nhiều khách hàng, lựa chọn được những khách hàng lành mạnh,

Ngân hàng cần xây dựng cho mình một chính sách khách hàng hợp lý. Phân loại

khách hàng và với từng đối tượng khách hàng đề ra chính sách cụ thể.

- Đối với khách hàng truyền thống: Những khách hàng truyền thống luôn là

đối tượng cần được quan tâm đặc biệt bởi những khách hàng truyền thống luôn tạo

ra sự ổn định và an toàn cho hoạt động của ngân hàng. Ngoài việc đáp ứng nguồn

vốn trung, dài hạn cho các công ty này, Ngân hàng nên mở rộng cho vay ngắn hạn

hỗ trợ cơ chế tổng thầu, đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho cáccông ty.

Trong các khách hàng của ngân hàng, có rất nhiều khách hàng thuộc lĩnh vực

xây dựng, xây lắp công trình... Do đó chi nhánh nên phát triển cho vay cả các doanh

nghiệp là nhà thầu phụ hoặc các công ty thành viên trực thuộc tổng công ty này

trong cùng một công trình, một dự án. Như vậy, chi nhánh sẽ đáp ứng được nhu cầu

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

82

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

vốn của các doanh nghiệp thi công mà không sợ các doanh nghiệp này rơi vào tình

trạng mất khả năng thanh toán. Cho vay như vậy sẽ có nhiều thuận tiện cho ngân

hàng trong thanh toán do tổng thầu và thầu phụ cùng mở tài khoản và có quan hệ tín

dụng tại một ngân hàng.

Ngoài ra, chi nhánh nên cung cấp cho những khách hàng một số dịch vụ tiện

ích, như vậy sẽ tạo nên mối quan hệ lâu dài do có sự ưu đãi riêng. Việc có được

những khách hàng truyền thống sẽ giúp cho ngân hàng rất nhiều trong việc tiết kiệm

chi phí do quá trình thẩm định giám sát món vay được giảm nhẹ so với món vay mới.

- Đối với những khách hàng mới, khách hàng tiềm năng: Việc mở rộng, thu

hút thêm khách hàng là việc làm cần thiết đối với ngân hàng, một mặt phục vụ cho

mục đích mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, mặt khác làm tăng chất lượng tín

dụng. Cùng với việc có thêm nhiều khách hàng cùng đồng nghĩa với việc lựa chọn

khách hàng lành mạnh được dễ dàng hơn, do đó mức độ rủi ro từ phía khách hàng

sẽ được giảm đi.

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.3.1 Kiến nghị với nhà nước và Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Nhà nước cần tăng cường giám sát việc thực thi pháp luật, đặc biệt là bộ Tài

chính cần tăng cường hướng dẫn, giám sát các doanh nghiệp thực thi chế độ hạch

toán kế toán. Tránh tình trạng các doanh nghiệp đưa ra các thông tin tài chính sai

lệch, gây khó khăn cho hoạt động của Ngân hàng. Nhà Nước cũng cần tăng cường

việc thực hiện chế độ kiểm toán trong các doanh nghiệp, quy định rõ trách nhiệm

của các ngành có liên quan như: cơ quan kiểm toán và các cơ quan định giá tài sản...

trong việc định giá tài sản đảm bảo nợ vay.

- Nhà nước cần có thái độ dứt khoát trong việc sắp xếp lại các doanh nghiệp

Nhà nước, chỉ để lại những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, đẩy nhanh việc cổ phần

hoá các doanh nghiệp, khi các doanh nghiệp này được bố trí lại, năng lực kinh doanh

của doanh nghiệp tăng lên và khoản vốn vay từ Ngân hàng sẽ có hiệu quả hơn.

- Chính phủ cần sớm thành lập một công ty kinh doanh mua bán nợ, tài sản thế

chấp. Hoạt động của công ty này sẽ giúp cho các Ngân hàng nhanh chóng thu hồi

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

83

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

được vốn, giảm được các chi phí do việc quản lý và phát mại tài sản tài sản thế chấp

gây ra bởi công việc này đẵ được các chuyên gia của công ty mua bán nợ đảm nhận.

- Phát huy tối đa hiệu quả hoạt động Trung Tâm thông tin tín dụng (CIC). Mặc

dù Trung Tâm thông tin tín dụng (CIC) là nơi cung cấp thông tin chính thức cho các

ngân hàng thương mại. Tuy nhiên để CIC trở thành nơi tin cậy, cung cấp những

thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời cho các NHTM nhằm phục vụ công tác

phòng ngừa, quản lý rủi ro tín dụng cần thực hiện những biện pháp sau:

• Hiện đại hóa và hoàn thiện quy trình xử lý thông tin liên tục từ khâu thu thập,

lựa chọn, phân tích, xử lý và dự đoán thông tin để kịp thời cung cấp thông tin đầy

đủ, chính xác, chất lượng hiệu quả.

• NHNN cần có quy định bắt buộc đối với tất cả các TCTD phải là thành viên

của trung tâm CIC và phải tham gia trong việc cung cấp, cập nhật thông tin, số liệu

vê khách hàng. Có biện pháp chế tài, xử lý nghiêm minh đối với ngân hàng nào cố

tình che dấu thông tin về khách hàng của mình khi có sự cố rủi ro tín dụng xảy ra.

• CIC cần mở rộng mạng lưới thông tin, có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ

quan chức năng có liên quan như chi cục thuế, chi cục thống kê, bộ kế hoạch và đầu

tư… qua nối mạng trực tiếp. Từ những thông tin thu thập được, bộ phận CIC phải

có nhiệm vụ sàng lọc thông tin, thường xuyên hoàn thiện cập nhật các số liệu về

kinh tế, tài chính doanh nghiệp nhằm cung cấp cho các NHTM.

• Xây dựng mạng lưới thông tin theo hướng quản lý tín dụng và dự báo thông

tin, CIC phải trở thành công cụ hữu hiệu giám sát từ xa của NHNN giảm thiểu đến

mức thấp nhất những rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra cho các NHTM. Hiện nay, chưa

có công ty đánh giá và xếp loại donh nghiệp, CIC cần đẩy mạnh công tác đánh giá

xếp loại doanh nghiệp để hổ trợ cho NHTM

• Vấn đề thông tin CIC cung cấp chính xác và kịp thời là vấn đề mà các ngân

hàng quan tâm hàng đầu. Do vậy, CIC cần phải đưa ra những thông tin có ích cho

các TCTD để chứng minh trung tâm thông tin của mình là địa chỉ đáng tin cậy.

- Ổn định chính sách lãi suất.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

84

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

3.3.2. Kiến nghị với Ngân Hàng TMCP Công Thương VN

Để tạo điều kiện cho NH TMCP CTVN - Chi nhánh Sông Nhuệ hoàn thành tốt

nhiệm vụ do Ban lãnh đạo NH TMCP Công thương VN giao trong môi trường kinh

doanh cạnh tranh gay gắt như hiện nay, đề nghị NH TMCP Công thương Việt Nam:

• Hỗ trợ cho chi nhánh để thực hiện chính sách ưu đãi đối với khách hàng

chiến lược, khách hàng tiềm năng nhằm giữ quan hệ tốt với những khách hàng

mang lại hiệu quả cao cho hoạt động của chi nhánh.

• N©ng cao h¬n n÷a tr×nh ®é nghiÖp vô cña c¸n bé tÝn dông, kÕt hîp víi më

réng tÇm hiÓu biÕt cña hä vÒ c¸c lÜnh vùc ho¹t ®éng s¶n xuÊt kinh doanh. Bªn c¹nh

c¸c nghiÖp vô chuyªn ngµnh Ng©n hµng, c¸c cÊp l·nh ®¹o NH nªn quan t©m t¹o

®iÒu kiÖn cho c¸n bé tiÕp cËn vµ n¾m ®−îc kiÕn thøc kinh tÕ, ph¸p luËt, x· héi, ...

• Cã nh÷ng chÝnh s¸ch khuyÕn khÝch kinh tÕ vµ tinh thÇn ®èi víi nh÷ng c¸n bé

tÝn dông cã tinh thÇn tr¸ch nhiÖm cao, n¨ng lùc chuyªn m«n giái.

• Cần cung cấp thông tin kịp thời các mặt nghiệp vụ liên quan ảnh hưởng đến

hoạt động kinh doanh, đặc biệt là thông tin về hoạt động cho vay trong phạm vi cả

nước, những thủ đoạn lừa đảo ngân hàng để Chi nhánh rút kinh nghiệm, tránh

những rủi ro có thể xẩy ra.

Kết luận chương 3

Chương này đã nêu ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao

chất lượng hoạt động cho vay tại chi nhánh Sông Nhuệ nhằm giảm thiểu rủi ro và

tăng thu nhập cho Ngân hàng.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

85

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

KẾT LUẬN

Tín dụng ngân hàng nói chung và tín dụng trung và dài hạn nói riêng đóng vai trò

quyết định tới sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng, đặc biệt khi mà sự cạnh tranh

giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, điều đó đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng

đổi mới và hoàn tự hoàn thiện. Mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài

hạn không chỉ là mong muốn riêng của NH TMCP CTVN - Chi nhánh Sông Nhuệ mà

là của toàn hệ thống ngân hàng hiện nay.

Qua việc nghiên cứu tìm hiểu về hoạt động tín dụng trung dài hạn tại NH

TMCP CTVN - Chi nhánh Sông Nhuệ, ta nhận thấy sự chuyển hướng tích cực của

hệ thống ngân hàng trong công cuộc đổi mới. Tuy nhiên bên cạnh kết quả đạt

được thì Chi nhánh Sông Nhuệcũng còn một số hạn chế nhất định. Để vững bước

đi lên đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế đòi hỏi ngân hàng phải nỗ lực

rất lớn trong việc nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn. Đây phải là mục tiêu

hàng đầu trong chiến lược phát triển của ngân hàng. Bên cạnh đó ngân hàng cũng

cần có sự phối hợp với các ngành các cấp tạo hành lang vững chắc cho hoạt động

của ngân hàng.

Chất lượng tín dụng trung vàdài hạn của các NHTM là một trong những vấn

đề nghiên cứu rộng và phức tạp, mặc dù bản than đã có nhiều cố gắng nh−ng kh«ng

thÓ tr¸nh khái nh÷ng thiÕu sãt nhÊt ®Þnh. Tác giả mong nhận đượcnhững nhận xét,

gópý của các nhà khoa học,các thầy cô giáo vànhững người quan tâmcóbản luận

văn hoàn chỉnh hơn.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

86

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Dương Đăng Chinh (2005), Lý thuyết tài chính, Học viện tài chính.

2. Feredric S. Miskin, Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, NXB Khoa học

và kỹ thuật, 2001

3. Lê Thị Mận (2010), Lý thuyết tài chính - tiền tệ, Nxb Lao động Xã hội.

4. Lê Văn Khâm (2008), Lý thuyết tài chính, Học viện tài chính.

5. Nguyễn Đăng Dờn (2009), Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Đại học Quốc gia

TP Hồ Chí Minh

6. Nguyễn Khánh Cẩm Châu (2006), Tìm hiểu về Ngân hàng thế giới, Nxb Văn hóa

Thông tin.

7. Nguyễn Thị Mùi (2006), Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Nxb Tài Chính.

8. Phan Thị Thu Hà (2007), Ngân hàng thương mại, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân.

9. Quyết Định 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng

Nhà nước Việt nam về ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối

với khách hàng

10.Quyết Định 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/05 về sửa đổi, bổ sung Quyết

Định 1627.

11.Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12/12/1997 của nước

CHXHCN Việt Nam.

12.Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số

10/2003/ QH11 ngày 15/06/2004.

12. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 ngày 12/12/1997.

13. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Lụât Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số

10/2003/QH11 ngày 17/06/2003.

14. Quyết định 493/2005/QĐ - NHNN ngày 22/04/2005 Ban hành Quy định về

phân loại nợ, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân

hàng của tổ chức tín dụng.

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

87

Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTMCPCTVN- Chi nhánh Sông Nhuệ

15. Quyết định số 18/2007/QĐ - NHNN ngày 25/04/2007 V/v bổ sung, sửa đổi một

số điều của Quy định về phân loại nợ, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng

trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng.

16. Quyết định 208/QĐ-HĐQT-NHCT35 ngày 24/02/2010 V/v Ban hành quy định

giới hạn tín dụng và thẩm quyền quyết định giới hạn tín dụng của Hội đồng quản

trị Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.

17. Quyết định 221/QĐ - HĐQT- NHCT35 ngày 26/02/2010 V/v Ban hành quy

định cho vay cá nhân, hộ gia đình của Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP

Công thương Việt Nam.

18. Quyết định 222/QĐ - HĐQT- NHCT35 ngày 26/02/2010 V/v Ban hành quy

định cho vay đối với các tổ chức kinh tế của Hội đồng quản trị Ngân hàng

TMCP Công thương Việt Nam.

19. Báo cáo tổng kết năm 2010, 2011, 2012 của Ngân hàng TMCP Công thương

VN - Chi nhánh Sông Nhuệ.

20. Websites: http://www.sbv.gov.vn

Nguyễn Thùy Dương - Lớp QTKD

88