
0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
************************
Nguyễn Thị Thu Thủy
TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60220121
Hà Nội – 2012

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
************************
Nguyễn Thị Thu Thủy
TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60220121
Người hướng dẫn khoa học : PGS. TS Hà Văn Đức
Hà Nội – 2012

1
MỤC LỤC
1. Lí do chọn đề tài : ...................................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề : ........................................................................................................................... 4
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu: .............................................................................. 7
4. Phương pháp nghiên cứu: ............................................................................................................ 7
5. Cấu trúc luận văn: ...................................................................................................................... 8
Chương 1:Nghệ thuật xây dựng kết cấu và tạo tình huống trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy: ... 9
1.1 Nghệ thuật xây dựng kết cấu trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy : ................................................ 9
1.1.1 Kết cấu đơn tuyến : ............................................................................................................. 11
1.1.2 Kết cấu tâm lí : .................................................................................................................... 16
1.1.3 Kết cấu truyện trong truyện : ................................................................................................ 21
1.2 Nghệ thuật tạo tình huống trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy : ................................................... 27
1.2.1 Tình huống trở về : ............................................................................................................... 29
1.2.2 Tình huống lối sống mới : ..................................................................................................... 34
1.2.3 Tình huống yêu đương trắc trở : ........................................................................................... 37
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy: ........................... 42
2.1 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy: .................................................................. 43
2.1.1 Con người bi kịch: .................................................................................................................. 43
2.1.2 Con người mới : .................................................................................................................. 51
2.2 Nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy : ..................................... 56
2.2.1 Nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật thông qua hồi ức : ........................................................... 57
2.2.2 Nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật thông qua ngoại cảnh : ................................................... 58
2.2.3 Nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật thông qua các chi tiết nghệ thuật : .................................. 62
Chương 3 : Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy : ..................................... 66
3.1 Ngôn ngữ trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy : .............................................................................. 66
3.1.1 Ngôn ngữ giàu hình ảnh và tính biểu cảm : .............................................................................. 67
3.1.2 Ngôn ngữ phản ánh tư duy của người miền núi : .................................................................... 72
3.1.3 Ngôn ngữ mang tính đa thanh : .............................................................................................. 82
3.2 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy : ............................................................ 86
3.2.1 Giọng trữ tình mộc mạc nhưng sâu lắng : ................................................................................ 87
3.2.2 Giọng trầm buồn, xót xa, trăn trở :.......................................................................................... 91
Phần Kết luận ................................................................................................................ . ............ 97
Tài liệu tham khảo ......................................................................................................... . ............ 100
PHẦN MỞ ĐẦU

2
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện ngắn được hiểu là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ”.
Nếu chỉ dừng lại ở cách định danh này thì truyện ngắn đặt trong sự so sánh, đối chiếu với
tiểu thuyết chỉ khác nhau về dung lượng phản ánh. Tuy nhiên, trên thực tế, xét về bản chất,
truyện ngắn là một thể loại tự sự độc lập. Điều đó có nghĩa rằng truyện ngắn có những đặc
trưng khu biệt nó với các thể loại tự sự khác, đặc biệt là với tiểu thuyết.
“Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời
tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu
liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ.” [Từ điển thuật ngữ văn học; 314]. Bản chất này đã
quy định đặc trưng của thể loại. Nếu tiểu thuyết chiếm lĩnh đời sống trong sự toàn vẹn, đầy
đặn thì truyện ngắn giống như một lát cắt ngang của đời sống ấy. Bởi thể loại này thường
hướng tới việc phát hiện một nét bản chất trong thế giới nội tâm phức tạp, một biến cố trong
cuộc đời hoặc khắc họa một hiện tượng của đời sống. Ngay cả đến cốt truyện và kết cấu của
truyện ngắn cũng chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, một không gian hẹp và không phân
chia nhiều tầng – tuyến.
Với đặc thù nhỏ gọn, truyện ngắn ngay từ khi ra đời đã trở thành một thể loại gần gũi
với đời sống hàng ngày. Được mệnh danh là “một thể loại muôn hình muôn vẻ biến đổi
không ngừng. Nó là một vật biến hóa như quả chanh của Lọ Lem” (D.Grônôpxki), truyện
ngắn len lỏi vào mọi ngóc ngách của xã hội, bắt kịp nhanh với những chuyển biến muôn
hình vạn trạng của đời sống. Ở Việt Nam, kể từ giai đoạn xuất hiện đầu tiên vào những thập
niên đầu thế kỉ XX đến nay, loại hình nghệ thuật ngôn từ súc tích và cơ động này đã không
ngừng vận động, biến đổi để theo sát những bước thăng trầm của lịch sử, để bắt kịp với sự
phát triển của xã hội. Và đặc biệt từ sau năm 1986, sự cởi mở nhiều chiều của đời sống xã
hội đã tạo tiền đề để truyện ngắn Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ. Tư duy nghệ
thuật của các nhà văn bắt đầu thay đổi; đề tài càng lúc càng nới rộng biên độ theo hướng
tiếp cận gần gũi hơn với hiện thực đời sống vật chất và tinh thần. Truyện ngắn vì thế cũng
phản ánh hiện thực ở nhiều góc độ khác nhau với những cách nhìn khác các giai đoạn văn
học trước. Nhà văn Nguyên Ngọc khi nhận xét về truyện ngắn Việt Nam trong thời kì đổi
mới này đã nói: “ Đây có thể coi là một thời kì có nhiều truyện ngắn hay trong văn học Việt
Nam, tiếp theo “vụ được mùa truyện ngắn” những năm 1960 và một vụ mùa khác, trong
chiến tranh. Tuy nhiên truyện ngắn lần này có những khác biệt rõ rệt. Những năm 1960 từng

3
để lại nhiều truyện ngắn đẹp như thơ, trong veo, trữ tình. Truyện ngắn thời kì chiến tranh thì
vạm vỡ, chắc chắn. Đặc điểm nổi bật lần này là cầm cái truyện ngắn trong tay có thể cảm
thấy cái dung lượng của nó nặng trĩu. Có những truyện ngắn, chỉ mươi mười trang thôi, mà
sức nặng có vẻ còn hơn cả một cuốn tiểu thuyết trường thiên” [Văn học Việt Nam sau 1975
– Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy; 174]. Bởi vậy, việc tìm hiểu những đặc trưng của
nghệ thuật truyện ngắn Việt Nam đương đại sẽ cho người đọc một cái nhìn khái quát về
những chuyển đổi mạnh mẽ cả về nội dung phản ánh lẫn hình thức thể hiện của thể loại này,
cũng như thấy được những đóng góp của các tác giả trong quá trình vận động đó.
Bên cạnh những đổi mới về quan điểm thẩm mĩ, tư duy nghệ thuật… văn học Việt Nam
hiện đại còn ghi nhận những chuyển biến tích cực trong đội ngũ sáng tác. Sự xuất hiện ngày
càng đông đảo của các cây bút nữ là một trong những biến chuyển đó. Những tác giả như Lê
Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh đến
những gương mặt mới như Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, DiLi… đã trở nên quen
thuộc với độc giả. Họ đem lại một luồng sinh khí mới cho văn xuôi giai đoạn này, đặc biệt
là ở mảng truyện ngắn. Mỗi người một phong cách, một hướng tiếp cận hiện thực song các
cây bút nữ đều có điểm chung là nhìn nhận và khám phá cuộc sống bằng chính sự nhạy cảm,
tinh tế của trái tim phụ nữ. Có thể nói, trong lịch sử văn học Việt Nam chưa có giai đoạn
nào “tính nữ” lại phát triển mạnh mẽ, phong phú và đặc sắc như giai đoạn này.
Kể đến các tác giả nữ của văn xuôi Việt Nam hiện đại không thể không nhắc tới Đỗ
Bích Thúy – “ người đàn bà viết văn bước ra từ dòng Nho Quế” [ 33 ]. Đỗ Bích Thúy ( sinh
năm 1975 ) là một cây bút trẻ trên văn đàn hiện nay. Chị đến với văn chương bằng một
truyện ngắn đầu tay Chuỗi hạt cườm màu xám đăng trên báo Tiền Phong và vụt tỏa sáng với
giải nhất trong cuộc thi sáng tác truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ Quân đội 1998 – 1999
với chùm ba tác phẩm nộp vào giờ chót: Sau những mùa trăng, Ngải đắng ở trên núi và
Đêm cá nổi. Không dừng lại ở những thành công ban đầu đó, Đỗ Bích Thúy tiếp tục khẳng
định khả năng của mình bằng một loạt các tác phẩm mới. Tính đến nay, cây bút nữ này đã
xuất bản được năm tập truyện ngắn: Sau những mùa trăng ( 2000 ), Những buổi chiều
ngang qua cuộc đời ( 2002 ), Kí ức đôi guốc đỏ ( 2003 ), Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (
2005 ), Mèo đen ( 2011); một tập truyện vừa: Người đàn bà miền núi ( 2007 ); một tiểu
thuyết Bóng của cây sồi ( 2005 ) và một tập tản văn Trên căn gác áp mái ( 2011). Ngoài ra,
chị còn viết kịch bản cho sân khấu kịch nói như : Cô gái xinh đẹp, Quá khứ đòi nợ, Diễm
500 đô.

