BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Minh Phượng
SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON
NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT
NGƯỜI CÙNG QUÊ CỦA PHAN TỨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN KHA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn, biết ơn chân thành đến:
TS. Nguyễn Văn Kha, Thầy đã tận tình định hướng, dẫn dắt, giúp đỡ và
động viên tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô phòng Sau đại học, khoa Ngữ
Văn trường ĐH Sư phạm Tp. HCM và các thầy cô giảng viên đã tạo điều kiện
và giảng dạy tôi trong suốt khóa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình của cố nhà văn Phan Tứ đã tạo điều
kiện và cung cấp cho tôi nhiều tư liệu quý giá về cuộc đời của nhà văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tổ bộ môn Ngữ Văn trường
THPT Long Thới – Tp.HCM, cùng đồng nghiệp và bạn bè học viên lớp Cao
học Văn học Việt Nam khóa 21 đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình, những người luôn
động viên, cổ vũ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành khóa học này.
Học viên
Nguyễn Thị Minh Phượng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn
Kha.
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung
thực và chưa từng được công bố trong công trình nghiên cứu nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên
Nguyễn Thị Minh Phượng
MỤC LỤC
DẪN NHẬP ................................................................................................................ 1
1. Lý do, mục đích nghiên cứu của đề tài ............................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ..................................................................................................... 3
3. Giới hạn, phạm vi đề tài ...................................................................................... 7
4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 8
5. Đóng góp mới của luận văn ................................................................................ 9
6.Cấu trúc của luận văn ........................................................................................... 9
Chương 1 NHÀ VĂN PHAN TỨ VÀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁC TIỂU
THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ............................................................................. 11
1.1. Cuộc đời nhà văn Phan Tứ ............................................................................. 11
1.2. Sự nghiệp văn chương .................................................................................... 16
1.2.1. Quá trình sáng tác.................................................................................... 16
1.2.2. Các tác phẩm đã xuất bản: ...................................................................... 23
1.2.3. Những trăn trở của Phan Tứ về vấn đề con người trong sáng tác văn học
........................................................................................................................... 24
1.3. Hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết Người cùng quê ............................................ 32
1.3.1. Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam sau 1975 ........................................... 32
1.3.2. Sự vận động đổi mới văn học sau 1975 qua một số tác phẩm tiêu biểu
(trong phạm vi tiểu thuyết) ................................................................................ 34
Chương 2 SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU
THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG .................. 41
2.1. Con người cá nhân ......................................................................................... 41
2.2. Con người trong mối quan hệ đan xen, phức tạp .......................................... 53
2.3. Con người khát khao tận hưởng tình yêu và hạnh phúc ............................... 57
Chương 3 SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU
THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ............ 67
3.1.Sự dịch chuyển không – thời gian gắn với hành trình đời tư nhân vật ........... 67
3.1.1. Nhà văn đặt nhân vật trong nhiều loại không gian khác nhau, theo sự vận
động của nhân vật .............................................................................................. 67
3.1.2. Thời gian không theo logic tuyến tính, có thể đảo chiều một cách tự do
........................................................................................................................... 77
3.2. Kết cấu đa tuyến ............................................................................................. 84
3.2.1.Tuyến nhân vật và tuyến sự kiện đan chéo vào nhau ............................... 84
3.2.2. Sự kiện lịch sử, xã hội chi phối đời sống, số phận nhân vật ................... 90
3.3. Cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật ........................................................................ 95
3.3.1. Ngôn ngữ đối thoại .................................................................................. 95
3.3.2. Ngôn ngữ độc thoại ............................................................................... 102
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 111
MỤC LỤC .............................................................................................................. 122
1
DẪN NHẬP
1. Lý do, mục đích nghiên cứu của đề tài
Từ sau cách mạng tháng Tám đến 1975, dân tộc Việt Nam tiến hành hai
cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước. Văn học trong giai đoạn
này phản ánh bức tranh hiện thực “một cách chân thực và hùng hồn” nhằm
mục đích cổ vũ, động viên khí thế đấu tranh của dân tộc. Đội ngũ nhà văn
không chỉ cầm bút mà còn cầm súng với chủ trương sáng tác: “người viết
không được tuyên truyền một chủ nghĩa lạc quan rẻ giá, nhưng người nào
cũng phải có trách nhiệm không được làm nản chí tất cả những ai đang trên
đường ra trận, đang giáp mặt với kẻ thù” [51, tr.102]. Hiện thực cách mạng,
hiện thực cuộc sống được giới văn nghệ sĩ phản ánh qua thể loại tiểu thuyết
đặc biệt là tiểu thuyết sử thi đã gặt hái thành công lớn, bởi nó là “thể loại văn
chương duy nhất luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn,
nhạy bén trước sự chuyển biến của hiện thực” [2, tr.27]. Trong giai đoạn văn
học này, độc giả biết đến tên tuổi của các nhà văn như: Hữu Mai, Nguyễn Thi,
Nguyễn Minh Châu, Phan Tứ, Nguyên Ngọc, Anh Đức,… Họ đã xây dựng
hình tượng nhân vật trung tâm của tác phẩm là người anh hùng cách mạng,
quần chúng cách mạng với vẻ đẹp hào hùng, tràn đầy lí tưởng.
Sau đại thắng mùa xuân 1975, dân tộc Việt Nam bước vào cuộc sống mới
với nhiều biến động trên các phương diện của đời sống. Văn học nghệ thuật
cần có bước tìm tòi, sáng tạo mới đáp ứng yêu cầu của thời đại. Cái mới ở đây
thể hiện ở việc khai thác, nhìn nhận những vấn đề của đời sống đặt ra từ hiện
thực. Vẫn là sự tiếp nối đề tài truyền thống về chiến tranh, nhưng sau 1975,
nhà văn có cách nhìn về hiện thực chiến tranh, trong đó trọng tâm là vấn đề
con người có nhiều tìm tòi, đổi mới. Sự đổi mới quan niệm về con người diễn
2
ra mạnh mẽ ở mảng truyện đặc biệt là thể loại tiểu thuyết. Góp phần thay đổi
diện mạo của văn học sau năm 1975 là những sáng tác của nhà văn viết về
con người trong quá trình lao động, sản xuất và con người thế sự, đời tư như:
Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Triệu Xuân, …;
con người trong cái nhìn phong tục – lịch sử: Tô Hoài, Ma Văn Kháng,…và
một loạt nhà văn với những tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh như: Hữu
Mai, Nguyễn Trọng Oánh, Nam Hà, Phan Tứ, Nguyễn Quang Sáng,…
Tìm hiểu sự đổi mới về cách nhìn con người trong văn học sau năm 1975,
luận văn của chúng tôi tập trung khảo sát bộ tiểu thuyết sử thi Người cùng quê
của Phan Tứ với mục đích sau đây:
1. Phan Tứ đã đóng góp không nhỏ tạo nên thành tựu chung của nền văn
học cách mạng Việt Nam. Bước vào nghề văn, Phan Tứ thử ngòi bút trên
nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, hồi ký và đạt được thành công
nhất định ở mỗi thể loại. Gặt hái được nhiều thành công nhất phải kể đến tiểu
thuyết của nhà văn. Ông là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến
vĩ đại của dân tộc, vừa viết văn vừa trực tiếp cầm súng đánh giặc nên ông có
vốn sống phong phú về hiện thực xã hội, về con người trong chiến tranh. Hiện
thực con người trong tác phẩm của Phan Tứ là con người miền Trung – quê
hương của nhà văn. Vấn đề “ số phận con người” trước năm 1975 được nhà
văn quan tâm và xây dựng thành công gắn liền với số phận dân tộc. Ông còn
đi sâu lí giải và biểu dương sự biến chuyển tư tưởng của người nông dân bình
thường qua hoàn cảnh thử thách đã trở thành người anh hùng cách mạng.
Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn khác trước 1975 đã góp phần làm phong
phú kho tàng văn học cách mạng bằng việc xây dựng thành công những hình
tượng nghệ thuật mang tầm vóc sử thi đẹp đẽ, lôi cuốn công chúng văn học
một thời. Sau năm 1975, sáng tác của Phan Tứ càng chứng tỏ ông là nhà văn
3
đi hết cuộc đời với niềm đam mê văn chương, lao động nghệ thuật bền bỉ,
giàu sức sáng tạo.
2. Sau 1975, trong xu thế vận động đổi mới của nền văn học, tư duy sử thi
đang có sự chuyển dịch sang tư duy tiểu thuyết, các nhà văn đều nhận thức
được sự đổi mới quan niệm nghệ thuật, trong đó cốt lõi là quan niệm nghệ
thuật về con người là hợp với xu thế khách quan. Phan Tứ là một trong số các
nhà văn nhạy bén trước yêu cầu đổi mới văn học. Là nhà văn trực tiếp sống và
sáng tác gắn bó với hai cuộc kháng chiến, với tham vọng kế tiếp truyền thống
của khuynh hướng văn học mang tính chất sử thi với yêu cầu cách tân, đổi
mới xuất phát từ hiện thực đời sống rộng lớn và phức tạp của đất nước sau
1975, Phan Tứ ôm ấp, nghiền ngẫm và cho ra đời bộ tiểu thuyết sử thi đồ sộ
Người cùng quê. Tác phẩm ra đời trước khi cả một nền văn học bước vào thời
kỳ đổi mới thật sự và sâu rộng từ năm 1986. Có thể coi Người cùng quê như
một trong những sáng tác có ý nghĩa “dò đường” góp phần cho sự đổi mới
mạnh mẽ về sau. Vì vậy, việc nghiên cứu đổi mới cách nhìn con người trong
bộ tiểu thuyết này sẽ giúp chúng ta thấy được quan điểm thẩm mĩ của nhà văn
Phan Tứ trong dòng vận động đổi mới của văn học dân tộc.
Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài: “Sự đổi mới cách nhìn về con người
trong tiểu thuyết Người cùng quê của Phan Tứ” để tìm hiểu và nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề
Phan Tứ đã gặt hái được nhiều thành công lớn trên con đường sáng tạo
nghệ thuật. Trước 1975, tên tuổi của nhà văn gắn liền với tiểu thuyết sử thi
gây tiếng vang lớn trong dư luận. Khác với nhiều nhà văn cùng thời, Phan Tứ
không “tô hồng” hiện thực chiến tranh. Trong sáng tác của nhà văn, hiện thực
cuộc sống con người Việt Nam luôn sống động, chân thực. Bàn về vấn đề con
người trong sáng tác của Phan Tứ đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu:
4
2.1. Những công trình, bài viết liên quan đến vấn đề con người trong
sáng tác của nhà văn Phan Tứ trước 1975
Trong bài viết của Trần Đăng Suyền (1983) nhan đề: Phan Tứ với
những tiểu thuyết viết về chiến tranh (Văn nghệ Quân đội, số 9), tác giả cho
rằng: “Phan Tứ không tìm đến những điển hình nguyên mẫu anh hùng có sẵn
ngoài đời mà chú ý nhiều hơn tới những con người bình thường trong cuộc
sống” [92, tr.988], nhà văn chú ý “quá trình vươn tới chủ nghĩa anh hùng
cách mạng của những con người bình thường và cả những người lạc hậu
nữa” [92, tr.987]. Tác giả bài viết cũng nhận thấy hướng khai thác trong tiểu
thuyết của Phan Tứ là toàn bộ đời sống xã hội, đạo đức, tâm lý, tính cách của
con người chịu ảnh hưởng nhiều bởi chiến tranh. Chiến tranh chính là môi
trường để sàng lọc, phân hóa con người trong sáng tác của Phan Tứ. Bên cạnh
đó, Phan Tứ không chỉ miêu tả mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp đối
kháng mà còn chú ý tới thế giới bên trong của từng cá nhân, sự “giằng xé
trong mỗi con người”. Đánh giá về nhân vật trong tác phẩm của Phan Tứ, tác
giả Hoàng Mạnh Hùng (2004) trong Tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945- 1975
(Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội), nhận định rằng: những sáng
tác của Phan Tứ như Gia đình má Bảy, Mẫn và Tôi đã quan tâm đến số phận
con người và “là con người mang vẻ đẹp văn hóa, đã tiến gần tới những nhân
cách trong văn học” [43, tr.60]. Phạm Ngọc Hiền (2007) trong Thi pháp tiểu
thuyết sử thi Việt Nam 1945- 1975 (Luận án Tiến sĩ, Đại học KHXH&NV,
ĐHQG Hà Nội), khi trình bày quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng
tác văn học trước 1975, trong đó có tác phẩm của Phan Tứ, tác giả phân loại
quan niệm về con người gồm: con người đa diện và con người anh hùng. Tác
giả nhấn mạnh: “Phan Tứ quan niệm về con người không đơn giản, phiến
diện như hàng loạt nhà văn cùng thời” [37, tr.132]. Tức là con người vừa có
mặt tốt vừa có mặt xấu. Tào Thị Hải (2006) trong công trình Yếu tố sử thi
5
trong sáng tác của Phan Tứ (Luận văn tốt nghiệp, ĐH Vinh), chỉ ra nhân vật
của Phan Tứ “thường có lai lịch, có quá trình và phát triển trong sự tác động,
chi phối nhiều chiều của hoàn cảnh và những mối quan hệ đa dạng, đa chiều,
nhiều khi phức tạp” [28, tr.33].
2.2. Những công trình, bài viết liên quan đến vấn đề con người trong tiểu
thuyết Người cùng quê của Phan Tứ
Với Phan Tứ, con người luôn là đối tượng trung tâm của sự phản ánh
thông qua các sự kiện lịch sử, đời sống xã hội. Điều đó được nhà văn gửi gắm
nhiều vào bộ tiểu thuyết sử thi trường thiên Người cùng quê của đời mình.
Tác phẩm ra đời vào những ngày tháng cuối đời của nhà văn, trong thời kỳ
đất nước hòa bình nên điểm nhìn về con người của nhà văn có sự thay đổi.
Nhà nghiên cứu Đoàn Xoa (1985) trong Hội thảo về bộ tiểu thuyết “Người
cùng quê” của nhà văn Phan Tứ (đăng trên báo Quảng Nam – Đà Nẵng),
nhận xét rằng, trong Người cùng quê: “các nhân vật có cùng một quê hương,
mất nước và đói nghèo do bị áp bức bóc lột dã man, họ có những tâm trạng
khác nhau và cùng đi làm cách mạng. Họ đã đạt được mục đích trên con
đường đi là giải phóng cuộc đời họ khỏi ách thống trị của đế quốc và phong
kiến”. Theo tác giả, độc giả ở Quảng Nam – Đà Nẵng đã thấy được Người
cùng quê phản ánh hiện thực không khí cách mạng sục sôi thời kỳ tiền khởi
nghĩa và Cách mạng tháng Tám ở miền Trung lúc ấy cùng với những con
người chung một lí tưởng cách mạng. Họ đã trở thành những người làm chủ
lịch sử, làm chủ số phận của mình.
Lê Thị Đức Hạnh trong Lê Khâm – Phan Tứ…(in lại trong sách Mấy
vấn đề trong văn học Việt Nam hiện đại, Nxb KHXH Hà Nội, 1999) có
nhận xét tinh tế về Người cùng quê: “Truyện được viết công phu, đề cập nhiều
vấn đề thông qua nhiều loại nhân vật: tốt có, xấu có, trung gian có” [34,
6
tr.331]. Tức là Phan Tứ xây dựng nhiều loại nhân vật khác nhau trong tính
phức tạp, đa dạng như hiện thực đời sống đang diễn ra. Nhà nghiên cứu Đặng
Tiến (Việt kiều Pháp) lại quan tâm đến khía cạnh khác của Người cùng quê.
Đó là tính chân thật của tác phẩm: “nhân vật của anh, từ chính diện đến phản
diện đều có thể là bà con, cô bác hay bạn bè tôi” [34, tr.333]. Đó là những
con người của cuộc sống đời thường mà quanh ta đều bắt gặp. Cũng đề cập
tới tính chân thật trong xây dựng hình tượng nhân vật của Người cùng quê,
nhà văn Thanh Quế (1994) trong bài Lang thang với Phan Tứ (báo Đà
Nẵng), cho rằng: “Viết đúng sự thật, đã chứng minh người cộng sản như
những người khác, chỉ khác lý tưởng. Anh không hạ thấp nhân vật hoặc đề
cao nhân vật, anh viết đúng như nhân vật” [88]. Nhận định của Thanh Quế
cho người đọc thấy được sự khác biệt của Phan Tứ so với nhiều nhà văn khác
cùng thời. Trong khi đa số nhà văn miêu tả người cộng sản là những anh hùng
sử thi đẹp toàn diện thì Phan Tứ miêu tả cả cái bình thường, đời thường trong
những con người ấy. Nhân vật của Phan Tứ phát triển tính cách như nó vốn
có, có mặt tích cực, có mặt tiêu cực.
Mai Hương (2002) trong Lê Khâm – Phan Tứ – Nhà văn chiến sĩ (Phan
Tứ toàn tập, T.1, tr.13, Nxb Văn học) nhấn mạnh tính chất cách mạng trong
Người cùng quê: “phản ánh sự trưởng thành của nhiều tầng lớp quần chúng
cách mạng trong suốt cả chặng đường dài lịch sử dân tộc từ trước và sau
cách mạng tháng Tám” [45, tr.24]. Trong bão táp cách mạng, nhân vật của
Phan Tứ thuộc mọi thành phần, mọi lứa tuổi đều trải qua những thử thách và
trưởng thành nhanh chóng. Nguyễn Văn Kha (2006) trong cuốn Đổi mới
quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975- 2000 (Nxb ĐHQG
Tp.HCM) đã chú ý tới cách xây dựng mối quan hệ con người của Phan Tứ:
“Trong Người cùng quê…các nhân vật có quan hệ không xuôi chiều, khó
phân biệt thành hai tuyến địch – ta, tốt – xấu, thiện – ác” [50, tr.57], con
7
người được đặt trong mối quan hệ đan xen. Tác giả khẳng định con người
trong tác phẩm không chỉ là “con người trong lịch sử bị phong trào sự kiện
lịch sử cuốn hút mà con người được nhìn nhận là chủ thể của lịch sử” [50,
tr.27], quan tâm tới yếu tố cách mạng trong mỗi con người. Chính ý thức lịch
sử trong bản thân con người đã tạo nên đời sống tự nhiên của các nhân vật
trong Người cùng quê.
Từ các công trình nghiên cứu về sáng tác của nhà văn Phan Tứ, chúng tôi
nhận thấy rằng, các tác giả đều có chung nhận xét: nhà văn nhìn con người
không phiến diện, tránh được sự dễ dãi trong xây dựng nhân vật. Trong tác
phẩm Người cùng quê, các tác giả tiếp cận ở khía cạnh con người cách mạng
và sự trưởng thành của con người qua các thời kì lịch sử một cách khái quát
nhất, đề cập đến tính chân thật trong cách xây dựng nhân vật, mặt phức tạp –
sự đan xen các mối quan hệ trong đời sống con người.
Trên cơ sở tiếp thu thành tựu nghiên cứu của người đi trước, người viết
tập trung nghiên cứu sự đổi mới cách nhìn về con người của nhà văn trong
tiểu thuyết Người cùng quê.
3. Giới hạn, phạm vi đề tài
Do tính chất của đề tài, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ
nghiên cứu cách nhìn mới về con người trong tác phẩm Người cùng quê sau
1975 của Phan Tứ để thấy được sự đổi mới cách nhìn về con người của nhà
văn so với giai đoạn trước 1975.
Luận văn giới hạn tập trung nghiên cứu tiểu thuyết Người cùng quê của
Phan Tứ. Tuy nhiên, chúng tôi mở rộng sự khảo sát đến một số tiểu thuyết
như Ván bài lật ngửa, Hạt mùa sau, Giấy trắng để người đọc thấy được
không khí văn học đang có sự vận động đổi mới. Mặt khác, để có cái nhìn đối
8
sánh về con người trong sáng tác trước và sau năm 1975 của Phan Tứ, chúng
tôi mở rộng, tìm hiểu các tiểu thuyết của nhà văn trước 1975 như: Trước giờ
nổ súng, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi.
Ngoài ra, trong quá trình triển khai đề tài, luận văn còn có tham khảo
một số tác phẩm khác của các nhà văn tiêu biểu, với mong muốn làm sáng tỏ
hơn sự đổi mới về cách nhìn con người của Phan Tứ.
4. Phương pháp nghiên cứu Căn cứ vào mục đích của đề tài, yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, luận văn
sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Đặt tiểu thuyết Người cùng quê trong
hệ thống sáng tác của Phan Tứ, hệ thống tác phẩm tiểu thuyết cùng thời, trong
bối cảnh lịch sử xã hội, luận văn làm sáng tỏ hơn điểm riêng biệt trong cách
nhìn về con người của Phan Tứ.
4.2. Phương pháp lịch sử: Nhân vật trong tiểu thuyết sử thi là sản phẩm của
lịch sử. Hoàn cảnh chiến tranh chuyển sang thời hòa bình, những biến động
về kinh tế - xã hội, qua lăng kính cảm thụ hiện thực của nhà văn đều để lại
dấu ấn trong tác phẩm và nhân vật. Vì vậy, khi nghiên cứu sự đổi mới cách
nhìn về con người của Phan Tứ trong Người cùng quê cần sử dụng phương
pháp lịch sử để tìm hiểu.
4.3. Phương pháp so sánh: Mỗi giai đoạn sáng tác, nhà văn có thẩm mĩ nghệ
thuật riêng. Bằng việc so sánh với tư duy nghệ thuật của nhà văn trước 1975,
sẽ giúp chúng ta thấy được sự đổi mới cách nhìn của nhà văn về hiện thực
cuộc sống, nhất là hiện thực con người. Sử dụng phương pháp này, người đọc
thấy sự khác biệt thẩm mĩ nghệ thuật giữa Phan Tứ và các nhà văn cùng thời,
thấy được nét riêng của Phan Tứ về cách nhìn con người.
9
4.4. Hướng tiếp cận thi pháp học: Luận văn sử dụng các kiến thức về thi
pháp học để phân tích các yếu tố hình thức của tác phẩm như thời gian –
không gian, kết cấu – cốt truyện, ngôn ngữ cũng như cách xây dựng nhân vật
của Phan Tứ, qua đó làm sáng tỏ hơn cái nhìn đổi mới về con người sau năm
1975 trong tiểu thuyết Người cùng quê của nhà văn.
5. Đóng góp mới của luận văn 5.1. Trong những năm qua, nhiều bài viết, bài nghiên cứu về Phan Tứ đánh
giá vị trí cũng như đóng góp của ông đối với nền văn học nước nhà. Với đề tài
này, luận văn của chúng tôi mong muốn cung cấp cho độc giả một cái nhìn
mới của nhà văn Phan Tứ về con người sau 1975.
5.2. Thông qua việc phân tích các biểu hiện của sự đổi mới trong cách nhìn
con người của nhà văn, chúng tôi khẳng định sự đổi mới cách nhìn con người
trong bộ tiểu thuyết này là phù hợp với xu hướng vận động đổi mới về quan
niệm con người trong văn học thời kỳ mới. Từ đó góp tiếng nói khẳng định sự
đóng góp của Phan Tứ cho sự vận động đổi mới của văn học Việt Nam sau
1975.
6.Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập (10 trang), Kết luận (4 trang), Tài liệu tham
khảo (gồm 141 mục), Phụ lục (14 trang), luận văn gồm ba chương chính:
Chương 1: Nhà văn Phan Tứ và hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết Người cùng
quê
Ở chương này, chúng tôi trình bày cuộc đời cũng như đóng góp trong
sự nghiệp văn chương của Phan Tứ; sự ra đời của bộ tiểu thuyết Người cùng
quê trong bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1975 có nhiều thay đổi và không khí
văn học sau 1975 (trong phạm vi tiểu thuyết) đang có sự vận động đổi mới.
10
Chương 2: Sự đổi mới cách nhìn về con người trong tiểu thuyết Người cùng
quê từ phương diện nội dung
Tiếp tục cảm hứng sử thi trong tiểu thuyết trước 1975, tiểu thuyết Người
cùng quê khám phá những chiều kích của đời sống con người Việt Nam, thể
hiện cái nhìn nhân văn của Phan Tứ. Con người được nhìn nhận từ bình diện
cá nhân, đặt trong những mối quan hệ đan xen, có niềm khát khao tận hưởng
về tình yêu và hạnh phúc.
Chương 3: Sự đổi mới cách nhìn về con người trong tiểu thuyết Người cùng
quê từ phương diện nghệ thuật
Cùng với sự đổi mới cách nhìn về con người, trong tiểu thuyết Người
cùng quê nhà văn Phan Tứ sử dụng những biện pháp nghệ thuật miêu tả thời
gian, không gian gắn với sự vận động của con người; xây dựng kết cấu đa
tuyến; ngôn ngữ mang tính cá thể.
11
Chương 1
NHÀ VĂN PHAN TỨ VÀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁC
TIỂU THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ
1.1. Cuộc đời nhà văn Phan Tứ
Phan Tứ là một trong những nhà văn có quan niệm sống và làm việc hết
sức nghiêm khắc, thẳng thắn, trung thực. Đó là đức tính mà ông được thừa
hưởng từ người cha của mình. Cả cuộc đời ông gắn bó với đề tài chiến tranh
bằng nhiệt huyết: “Cuộc đời tôi từ hồi 14 tuổi cho đến nay 64 tuổi hoàn toàn
là sống trong chiến tranh, cho nên tôi rất tha thiết viết về chiến tranh. Viết ra,
hay dở còn tùy bạn đọc. Tôi chỉ muốn nói một điều thôi: Không ai ép mình đi
theo kháng chiến chống Pháp, không ai ép mình đi theo kháng chiến chống
Mỹ thì bây giờ cũng không ai ép mình viết cả... Chỉ ân hận là đã không kịp
làm trọn công việc...” [136].
Phan Tứ tên thật là Lê Khâm, con thứ 4 trong gia đình, nguyên quán xã
Quế Châu, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Ông sinh ra trong một gia đình
trí thức yêu nước: cha là Lê Ấm (1897-1976), từng làm Đốc học ở trường
Quốc học Huế, mẹ là bà Phan Thị Châu Liên - con gái đầu của nhà Chí sĩ
Phan Châu Trinh. Tuy sinh ở Bình Định nhưng suốt thời niên thiếu, Phan Tứ
lại sống ở quê cha, xã Quế Phong, Quế Sơn, Quảng Nam. Bản thân ông từ
nhỏ đã giỏi về môn văn và tiếng Pháp. Năm 15 tuổi, ông tham gia hoạt động
trong đội tuyên truyền xung phong của tỉnh Quảng Nam, làm liên lạc chuyển
tài liệu, báo chí bí mật và tham gia cướp chính quyền ở địa phương trong
Cách mạng tháng Tám.
Năm 1950, ông nhập ngũ, được kết nạp vào Đảng (20/3/1950), theo
học Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, phân hiệu Trung Bộ, học tập huấn
12
luyện ở vùng Cồn Kênh - Thanh Hóa. Cùng với cặp kính cận luôn “ngự” trên
đôi mắt tươi cười, Phan Tứ là một con người nhiều tài năng, hát hay, đàn giỏi,
viết báo tường cho đơn vị rất hấp dẫn và luôn chan hòa với mọi người, đặc
biệt với nhân dân vùng đóng quân. Cuối năm 1951, ông được phân công theo
đội quân tình nguyện Việt Nam sang chiến đấu ở chiến trường Hạ Lào. Năm
1954, ông từ Hạ Lào hành quân về Cảng Quy Nhơn tập kết ra Bắc, nén lòng
không ghé thăm gia đình đang sống ở miền Tây Quảng Nam. Những tháng
ngày gian khổ ở Lào được nhà văn ghi lại qua dòng hồi tưởng trong nhật ký
chiến trường về những trải nghiệm của ông: “Những cuộc hành quân dưới
nắng trời gay gắt, trong những cơn khát ghê gớm, đi trên những đường mòn
đầy sỏi đá làm trầy da chân, làm phồng dộp và sưng húp chân. Uống nước thì
là nước ao, phải rẽ lăng quăng và nòng nọc để múc. Các cuộc hành quân trên
cao nguyên Bôlôvên: lạnh đến rung cả rừng núi…đỉa và vắt vô kể, thiếu thuốc
hút, cháo nấu với măng rừng cho qua bữa” [53, tr.62]. Ba năm ở Lào, nhà
văn đã tích lũy cho bản thân vốn sống từ thực tiễn đấu tranh đầy khó khăn
gian khổ. Thực tế đó giúp ông sáng tác thành công hai tiểu thuyết lớn Bên kia
biên giới, Trước giờ nổ súng. Phan Tứ chính thức bước vào sự nghiệp văn học
với hai tác phẩm viết về chiến trường Lào, đặc biệt Trước giờ nổ súng dịch ra
tiếng Lào và xây dựng kịch bản phim “Bản anh hùng ca số 5” được bạn Lào
đánh giá tốt.
Năm 1958, ông theo học khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Kể từ
đây, trong con người của Phan Tứ có sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa nhà văn
và chiến sĩ cách mạng. Lớp học có 25 sinh viên và 6 lưu học sinh, duy nhất
Phan Tứ là người có tác phẩm đã xuất bản (Bên kia biên giới). Phan Tứ được
bầu làm tổ trưởng tổ sáng tác. Phan Tứ nổi tiếng: “Khắc khổ. Điều độ. Mực
thước”. Trong thời gian này, ông vừa học vừa viết tiểu thuyết Trước giờ nổ
13
súng. Đặc biệt khả năng ghi chép của nhà văn được anh Nùng – bạn học cùng
lớp cam đoan chưa có nhà văn nào ghi nhiều, bền bỉ như Phan Tứ bất kể lúc
nào (giờ nghỉ, xem diễn văn nghệ…), thời gian biểu chặt chẽ thực thi như kỉ
luật quân sự, học tập chăm chỉ, nghiêm túc và học đều các môn kể cả môn
khó nuốt như ngôn ngữ, tiếng Nga.
Sau khi tốt nghiệp năm 1961, hiện thực cách mạng miền Nam luôn giục
giã thôi thúc ông “trở về”, “vào trong kia”, “lên chiến khu”, Phan Tứ đã trở
lại công tác tại chiến trường miền Nam, làm phái viên tuyên truyền khu ủy
Liên khu V, ủy viên đảng đoàn Văn nghệ Khu 5 và viết văn dưới bút danh
Phan Tứ. Tuy được cấp chế độ sinh hoạt của cán bộ nhưng thiếu thốn quá
nhiều, Phan Tứ phải tự xoay sở tìm chỗ sáng tác (nóc ông Bền – làng
Thượng), tìm kiếm lương thực. Vừa chống chọi với khó khăn trong thời chiến
tranh (sốt rét, thiếu lương thực, bom đạn..), ông vừa sáng tác với khát khao:
“viết được một tiểu thuyết về miền Nam chiến tranh”. Từ thực tiễn sáng tác,
nhà văn tự rút ra nhược điểm của bản thân: “tìm cảm hứng trong những tình
huống đặc biệt và nhân vật kiệt xuất và không đi sâu vào những mâu thuẫn
giữa người và người với những tình tiết tế nhị hoặc thô thiển” [53, tr.95]. Để
có cái nhìn hoàn thiện hơn, Phan Tứ quyết định đi thực tế ở Kỳ Liên. Sống
bên cạnh đồng bào, đồng chí của mình, Phan Tứ luôn tâm niệm rằng phải:
“tắm mình trong cuộc sống, vừa chung tay xây dựng nó, vừa rèn giũa mình,
chắt chiu gạn lọc mỗi ngày đêm lấy vài nét độc đáo của nó, không ngừng suy
nghĩ và cảm xúc về nó, nghiền ngẫm tìm cách tái hiện nó” [45, tr.16-17].
Chính ý thức ấy, quan niệm về đời, về nghề ấy đã thúc đẩy Phan Tứ gan góc
bám thực tế, bám phong trào “trải đời, trải đạn” và viết văn. Nhà văn “tắm
mình trong cuộc sống” bằng cách xông pha, lăn lộn với thực tế chiến trường,
tìm hiểu những hoàn cảnh khác nhau và những con người cụ thể cũng như
14
chia sẻ đau thương mất mát với họ. Vì thế, ông có điều kiện hiểu về con
người cách mạng hơn.
Năm 1962, thời kỳ đau khổ tột cùng của nhân dân miền Nam chống càn
của Mỹ – Diệm, Phan Tứ tham gia tổ chức đấu tranh du kích, tiếp xúc với
những con người, những cuộc đời trong những tình huống cụ thể, khốc liệt.
Những khó khăn liên tiếp xảy ra, đấu tranh chính trị ở Kỳ Khương, chống
khủng bố trắng, chống càn ở Kỳ Thanh, tham gia võ trang tuyên truyền…
Phan Tứ đã thanh thản sống và vượt qua tất cả mọi thử thách. Ông đã ghi lại
một cách cảm động tâm sự của ông trong những ngày thật đáng nhớ: “Tôi
không băn khoăn gì trước những khó khăn ấy, bởi thực tế cách mạng miền
Nam cuốn hút tôi rất dữ dội. Tôi đã sống lại những năm tháng vừa chiến đấu
vừa xây dựng cơ sở hạ Lào hồi chống Pháp, nhưng sung sướng hơn trước
nhiều là tôi đang hoạt động trên đất quê hương mà tôi luôn thương nhớ”
[120, tr.82]. Sau đó, ông tiếp tục cuộc hành trình đi trường Tân binh 27, tổ
chức lớp học của cán bộ tuyên truyền xã. Trên đường hành quân tới Nóc ông
Thiêng, chứng kiến đồn Trà My giặc bị tiêu diệt, Phan Tứ dấy lên suy nghĩ
thích chiến đấu trực tiếp hơn là làm công tác chính trị và ông “đã hoàn toàn
tự nguyện dấn thân vào những nguy hiểm này”. Nằm trong bệnh viện vì sốt
rét tái phát nhưng ông vẫn không ngừng ghi chép và sáng tác. Vì sự thật cuộc
sống chiến trường vô cùng khắc nghiệt, chỉ “một mảnh bom, một viên đạn lạc,
một cơn sốt biến chứng có thể bẻ gẫy ngòi bút bất cứ lúc nào” [120, tr.82-83].
Chưa có điều kiện viết tác phẩm dài hơi: “cuốn tiểu thuyết dài ông hằng ao
ước được viết đang lớn dần lên trong óc”, nhưng ông đã phải gác lại để phục
vụ cuộc chiến đấu trước đã. Qua quá trình chiến đấu, học tập, nhà văn cũng
phát hiện ra mặt trái của tấm huy chương, mặt trái của con người.
15
Năm 1963, địch càn trên quy mô lớn và dữ dội. Nhà văn quay trở lại
sống ở cơ sở cách mạng, tham gia Đại hội đại biểu Đảng bộ Đảng nhân dân
cách mạng Tam Kỳ, Đại hội du kích huyện Tam Kỳ, nghe báo cáo các gương
điển hình…Tham gia công tác Mỹ vận, Phan Tứ tự trau dồi vốn tiếng Anh
nhưng ông cũng tự thú: những câu chuyện ăn chơi của tên lính Mỹ đã gợi cho
ông nhớ lại cuộc sống bình yên ngày trước. Điều đó làm ông trở nên khó tính
trước các trở ngại và sự thiếu thốn.
Năm 1966 do sức khỏe yếu và chịu ảnh hưởng bởi tác động của chất độc
hóa học, ông được đưa ra Bắc để chữa bệnh, công tác tại Hội Liên hiệp Văn
học nghệ thuật Việt Nam, giữ chức quyền Tổng biên tập Nhà xuất bản Giải
phóng. Bảy năm ở miền Bắc làm công tác đối ngoại, sáng tác và hoạt động
trong Hội nhà văn, ông tiếp tục ghi thêm 15 cuốn sổ nhật ký với 2400 trang về
thực tế đời sống và hoạt động chiến tranh phá hoại, viết bằng cả các thứ tiếng
Anh, Pháp, Lào và tiếng Nga. Trong nhật ký chiến trường của Phan Tứ, đây
đó ta bắt gặp những dòng thể hiện quyết tâm và lối sống luôn đặt ra định mức
của ông. Như có chỗ ông ghi hướng phấn đấu: “Ít nhất một năm không sốt
rét”, hoặc “Viết một truyện trong ba tháng”.
Tháng 12 năm 1974, nhà văn - chiến sĩ Phan Tứ đi B lần hai để sống tiếp,
để lấy tài liệu cho cuốn tiểu thuyết mà ông dốc toàn bộ sức lực, tài năng để
“chơi một canh bạc lớn trong đời văn nghiệp của mình”; tham gia chiến dịch
tổng tiến công 1975 và đi thực tế các tỉnh Nam Bộ.
Từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 2 năm 1980, ông về sinh sống và làm
việc tại quê hương Quảng Nam. Ông từng là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật
tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn, Ủy viên
Ban Thư ký (Ban thường vụ) Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa III.
16
Từ 1993 đến tháng 4 năm 1995 ông chữa bệnh do hậu quả chất độc màu
da cam, tiếp tục hoàn thành bộ tiểu thuyết Người cùng quê.
Ngày 17 tháng 4 năm 1995 tại thành phố Đà Nẵng, Phan Tứ từ trần khi
còn dang dở bộ tiểu thuyết Người cùng quê. Tang lễ của ông được tổ chức tại
Nhà Văn hóa trung tâm TP Đà Nẵng, đã có một vòng hoa viếng của bạn đọc
có dòng chữ “Mẫn và tôi sống mãi ”.
1.2. Sự nghiệp văn chương
1.2.1. Quá trình sáng tác
Sự nghiệp văn chương của nhà văn Phan Tứ là một hành trang gắn liền
với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc. Từ truyện
ngắn Một ngày bên đồn địch, tiểu thuyết Bên kia biên giới, Trước giờ nổ súng
viết về kháng chiến chống Pháp đến những tác phẩm ra đời ngay trong khói
lửa của cuộc kháng chiến chống Mĩ: Về làng, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi,
Trại S.T.18 và Người cùng quê như một bộ biên niên sử phản ánh trung thực
những bước đi đầy khó khăn nhưng tất thắng của cách mạng miền Nam.
Trước khi viết cái gì ông đều làm đề cương chi tiết đưa bạn bè đọc, cấp trên
xem xét và góp ý. Cuộc sống quân ngũ khắc nghiệt đã rèn cho Phan Tứ một
nếp sống chặt chẽ, ngăn nắp và điều này ảnh hưởng tới phong cách sáng tác
của ông. Đó là “phong cách hiện thực tỉnh táo”. Bên cạnh đó, theo tác giả
Trần Đăng Suyền thì ngòi bút Phan Tứ có “cái duyên thầm, đôi khi pha chút
hóm hỉnh”. Nhà văn đặt ra chỉ tiêu một tháng một truyện ngắn, hai mươi trang
tiểu thuyết. Vì vậy cuối đời, Phan Tứ có số lượng tác phẩm phong phú, dày
dặn.
Sau truyện ngắn đầu tay Một ngày bên đồn địch (1957) chưa gây được
tiếng vang lớn, đến năm 1958 ông cho xuất bản tiểu thuyết Bên kia biên giới.
17
Theo Nguyễn Gia Nùng – người bạn của Phan Tứ đã kể lại tâm sự của nhà
văn: “sở dĩ anh viết Bên kia biên giới vì sau những năm tháng tham gia chiến
đấu chống Pháp ở nước bạn Lào, anh bị thương, có một thời gian dài phải
nằm điều trị trong bệnh viện. Thời gian ấy, anh có điều kiện đọc nhiều sách
nhất. Tủ sách của bệnh viện và sách nhờ bạn bè tìm giúp anh đều đọc hết và
anh rất ngạc nhiên là chưa thấy có sách nào viết về bộ đội tình nguyện Việt
Nam chiến đấu ở chiến trường Lào” [86, tr.315].Từ trên giường bệnh, Phan
Tứ âm thầm “thai nghén” tác phẩm này và ít lâu sau khi ra viện ông cho xuất
bản. Ông kể rằng: “Khi ra Bắc tập kết, tụi mình đóng quân ở miền tây Nghệ
An. Ngoài lúc luyện tập, làm công tác dân vận, rảnh rỗi mình ngồi ghi lại
những chuyện hồi mình sống ở Lào. Lúc đầu, mình lấy tên tập bản thảo đó là
Những người tình nguyện….. Mình phải viết đi viết lại tới bốn lần, đến năm
1958 mới được in với tên Bên kia biên giới” [89, tr.868]. Khi theo học trường
Tổng hợp, nhà văn bắt tay vào viết và hoàn thành cuốn tiểu thuyết thứ hai với
tay nghề vững vàng hơn: Trước giờ nổ súng cũng lấy đề tài từ cuộc sống và
chiến đấu của bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Lào. Qua hai tác phẩm, nhà
văn đã đặt ra vấn đề nóng bỏng về chiến tranh, về tinh thần Quốc tế vô sản,
tinh thần đoàn kết giữa hai dân tộc. Cả hai tiểu thuyết trên đều ca ngợi, biểu
dương chủ nghĩa anh hùng cách mạng cũng như phê phán mặt tiêu cực, thoái hóa của nhân vật chiến sĩ.
Năm 1960, ông cho xuất bản tập truyện ngắn Trở về Hà Nội và tiểu thuyết
Trước giờ nổ súng. Trong gần 7 năm ở miền Bắc, Phan Tứ “luôn hình dung
miền Nam là một kho thuốc súng đang đợi châm ngòi, chỉ cần một mồi lửa gí
vào là Mỹ - ngụy tan xác ngay” [120, tr.83]. Nhưng khi ông đi phát động quần
chúng ở khu V thì thấy thực tế không đơn giản như vậy. Ông nghĩ rằng nên có
bài viết về một mặt khác của hiện thực: “quá trình vươn tới chủ nghĩa anh
18
hùng cách mạng của những con người bình thường và cả những người lạc
hậu nữa” [120, tr.84]. Về làng (1964) ra đời trong hoàn cảnh đó, gồm 12
truyện ngắn với bút pháp hiện thực già dặn, sắc sảo, kết cấu gọn gàng và lời
văn trong sáng đã đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình sáng tạo nghệ
thuật của ông. Nhân vật được xây dựng từ góc độ chuyển biến tư tưởng qua
những băn khoăn vướng mắc, cuối cùng tìm ra con đường đi theo cách mạng.
Tuy nhiên những nhân vật có tính bi kịch chưa được khai thác sâu vào tâm
trạng với những dày vò quá phức tạp. Theo Nguyên Ngọc thì “Những sáng
tác này của Phan Tứ có liên quan máu thịt với cuộc tranh cãi quyết liệt mà
anh - và tất cả chúng tôi lao vào hồi bấy giờ. Vấn đề nóng bỏng nhất lúc này
là đánh giá quần chúng, nhận thức về quần chúng và bao giờ cũng vậy quan
trọng nhất là nhận thức về các khối quần chúng ấy, quần chúng trung gian,
đông đảo, “số đông im lặng”. Họ sẽ đi với ai trong bão tố này?” [78, tr.368].
Phan Tứ đã nói về ý định đặt tên tập truyện ngắn Về làng: “cái tên ấy cũng
phản ánh nỗi khát khao của tôi trong những năm dài chiến đấu ở Hạ Lào và
tập kết ra miền Bắc: tôi ao ước được về đánh giặc ngay trên làng quê tôi,
vùng đồng bằng Quảng Nam thân yêu” [120, tr.85].
Từ cuối năm 1962, Phan Tứ trở về Tứ Mỹ sống tại cơ sở gia đình cách mạng
(nhà bà Tôn). Tại đây, Phan Tứ đã “thai nghén” quyển tiểu thuyết Gia đình
má Bảy. Gia đình má Bảy là bức tranh toàn diện và sâu sắc, phản ánh cách
mạng miền Nam trong bước ngoặt lịch sử những năm 1960 - 1961. Với tiểu
thuyết này, Phan Tứ đã tái hiện con đường đi tới chủ nghĩa anh hùng cách
mạng của tập thể quần chúng thông qua nhân vật trung tâm là bà mẹ của một
gia đình. Tiểu thuyết này đã khắc phục nhược điểm trong cách xây dựng nhân
vật ở Về làng. Nhà văn đã mô tả nhân vật với quá trình phát triển của tính
cách, phân tích tâm trạng trong sự chuyển biến vươn lên phù hợp với không
khí của phong trào đồng khởi. Trong nhật ký chiến trường, Phan Tứ đã ghi lại
19
phác thảo chân dung cho tập “Má Bảy” (tức Gia đình Má Bảy), thấy được quá
trình diễn biến tư tưởng của nhân vật má Bảy:
“ 1. Thôn xóm. Nhà má Bảy
Hình dáng. Tính nết: chăm, thật thà, nói lẹ.
Chồng con. Ruộng đất. Vui và buồn trong đời. Tính nết về già. Thờ Phật.
2. Một tối: (gần Tết, tháng Chạp) Sạn đi ráp về. Đứa cháu con cảnh sát
trưởng Rân. Mẹ con xô xát. Sâm buôn ham tiền ăn diện. Đêm Gành tới. Má
lạy van sợ giết con, rồi sợ địch khủng bố. Sâm hỏi thăm anh. Sau: thấy yên,
liên lạc tiếp. Thuế khóa, học tố.
3. Đêm khởi nghĩa: Trà Thọ nổi trước hai đêm. Mít tinh tố khổ. Sạn lên tố, má
lo. Thấy rầm rộ, hạ uy thế địch, má tin. Thắc mắc sao không cho hợp pháp,
cán bộ gạt (tên Gành, dân biển, vui, hăng, chủ quan, tiểu tư sản). Sạn du kích.
Má nuôi cán bộ. Sâm nữ thanh niên bị nghi quen lính và buôn. Bê an ủi..….”
[53, tr.806-807]. Qua nhiều lần chỉnh sửa, đến cuối tháng 12 năm 1965, Phan
Tứ viết lại và hoàn thành tiểu thuyết Gia đình Má Bảy. Trong tiểu thuyết này,
Phan Tứ “phải “lên gân” mới tăng được độ lãng mạn” [53, tr.442]. “Gia đình
má Bảy được viết bằng tấm lòng của những người chiến sĩ, người con yêu quý
của miền Nam, học tập và trưởng thành trên đất Bắc, trở về quê hương nơi
chôn rau cắt rốn, tôn vinh, ngợi ca má Bảy, bà mẹ anh dũng vô danh đại diện
cho hàng ngàn bà mẹ sau này được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ
Việt Nam anh hùng” [129]. Năm 1968, ông xuất bản tiểu thuyết Gia đình má
Bảy, tập truyện ngắn Trong đám mía.
Tháng 3 năm 1965, giặc Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng rồi vào Chu Lai. Ông
đã xuống vùng nam Tam Kỳ để lấy tài liệu và có một cô gái tên là Phận trong
Ban Tuyên huấn Tam Kỳ dẫn đường cho nhà văn. Cô gái ấy về sau trở thành
nhân vật Mẫn trong tiểu thuyết Mẫn và Tôi. Tiểu thuyết này được sáng tác
20
trên chất liệu trải nghiệm cuộc đời của nhà văn. Tác phẩm tái hiện chân thực
cuộc chiến đấu của Làng Cá thuộc Khu V với đế quốc Mỹ trong hai cuộc
chiến tranh đặc biệt và cục bộ. Trung tâm của truyện là xây dựng những tính
cách anh hùng tiêu biểu cho lớp thanh niên: cô Mẫn – bí thư chi bộ xã Tam
Sa; Thiêm – cán bộ quân chủ lực. Mẫn và tôi đánh dấu một bước phát triển
mới của Phan Tứ về phương diện nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Tác phẩm
đáp ứng được nhu cầu cấp bách của thời đại bấy giờ: “Làm sao có những tác
phẩm lớn để ghi lại những trang sử oanh liệt, những tác phẩm bao quát, miêu
tả lại những giai đoạn lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước này”
(trích lược bài nói chuyện của Thủ tướng Phạm Văn Đồng với anh chị em làm
công tác văn học nghệ thuật ngày 6 - 2- 1973, Báo Văn nghệ, số 314, ngày 7-
9 - 1973). Với Gia đình má Bảy và Mẫn và tôi, “Phan Tứ có tham vọng dựng
lên những bức tranh quy mô rộng lớn, xứng với tầm vóc hoàng tráng của
cuộc chiến đấu đã đi vào lịch sử và làm vang động thế giới” [126, tr.767].
Năm 1972, ông lần lượt cho xuất bản: bút ký Măng mọc trong lửa, tiểu thuyết
Mẫn và tôi. Với Trại S.T.18 (xuất bản 1974) – kết quả của 6 tháng (1963)
công tác tại trại tù binh Mỹ. Dưới hình thức là nhật ký của một phóng viên,
Phan Tứ tái hiện cuộc chiến đấu căng thẳng, không đổ máu nhưng gian khổ
của chiến sĩ giải phóng Việt Nam trong việc huấn luyện tù binh Mỹ. Tác
phẩm là sự cắt nghĩa nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của
chân lí cách mạng: “Ta càng đổ máu thì càng khao khát thêm bạn bớt thù, ta
càng nắm chắc phần thắng thì càng đối xử cao thượng với kẻ đang hoặc sẽ
thua trận, ta càng nhân đạo thì chính nghĩa của ta càng tỏa sáng trên trái đất
này”[44]. Sau đêm Đà Nẵng giải phóng (1975), Phan Tứ viết tùy bút Khi cuộc
sống vượt xa ước mơ và hàng loạt bút ký phóng sự phản ánh kịp thời không
khí miền Nam sau những ngày thống nhất. Đến năm 1984 hồi ký Trong mưa
núi ra đời chứa đựng những kỷ niệm không quên trong thời hoạt động cách
21
mạng và sáng tác đầy gian khổ, bền bỉ và tràn trề nhiệt huyết của nhà văn.
Tiếp đó, ba tập tiểu thuyết Người cùng quê (1985) được xuất bản. Người cùng
quê là bộ tiểu thuyết mà nhà văn đã nung nấu ngay từ năm 1961. Trong những
năm ở khu B, lúc ngồi bên bếp lửa, vừa nướng sắn ăn, vừa kể chuyện, nhà văn
tâm sự: “mình đang chuẩn bị để viết một cuốn sách có chủ đề ôm trùm thời
gian dài: sự trưởng thành của những tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng qua các thời kỳ chống Nhật, chống Pháp, chống Mỹ” [88]. Trong di bút
của nhà văn viết ngày 11/8/1990 có đoạn: “Tôi đã chuẩn bị viết bộ tiểu thuyết
Người cùng quê từ năm 1974, cố thu thập vốn sống trực tiếp và gián
tiếp….tuy rất nhiều người bạn và nhiều người quen thường chê trách tôi là
dại, là tụt hậu, viết về đề tài chiến tranh, viết dài…..tôi nghĩ về cuối đời cầm
bút nên có một cái gì đền ơn trả nghĩa đối với đồng bào, đồng chí nên cứ lì
lợm theo đuổi tác phẩm này” [103, tr.743]. Những suy tư của nhà văn về việc
hình thành tác phẩm mà ông coi là công trình văn học của cuộc đời mình đã
được nhà văn thổ lộ: “tiểu thuyết Gia đình mà tôi coi như tác phẩm của cả
cuộc đời văn học của mình: Tôi sẽ cống hiến cả cuộc đời cho nó. Mục tiêu ấy
còn xa vời nhưng chắc chắn giấc mơ đó sẽ được thực hiện. Tôi sẽ viết trong 5
hay 7 năm, chậm và kín đáo trong lúc sống ở một cơ sở nào đó, tại làng quê
của tôi ở miền Nam hay trong một nông trường nào đó ở miền Bắc” [53,
tr.43], “Chuyện nghĩ đêm qua: Có thể mở rộng phạm vi Một gia đình đến đầu
Cách mạng tháng Tám được không? Bòng mời vào thanh niên Phan Anh.
Cam chăn trâu chạy theo biểu tình. Bòng vỡ Mặt trận Nha Trang. Cam đi
học. Bưởi công tác phụ nữ. Thanh Yên vào thiếu nhi. Ông Chanh nông + thợ
vặt. Bà Chanh gây khó khăn cho phụ nữ. Bưởi lấy một du kích chết. Bòng ra
Bắc lần 1, học Lục quân 50. Cam cày đến 53, du kích, đi thanh niên xung
phong nhảy theo bộ đội. Diên quân giới về đóng gần, bị thương tật, lấy Bưởi.
Làng thành vùng du kích giáp ranh từ 48. Sai lầm tổng động viên 50 – 51.
22
Bòng dẫn vợ về cuối 53, khi quê hương giải phóng. Cụ Chanh vào Hội đồng
nhân dân, làm thủ quỹ, nhận thu lúa 10 mẫu công điền cho du kích…” [53,
tr.70]. Đây chính là một phần cốt truyện và kết cấu ban đầu mà nhà văn hình
dung ra để sau hòa bình tạo dựng lên một tác phẩm dày dặn, phong phú về
cuộc sống chiến tranh trên quê hương của nhà văn, với tựa đề Người cùng
quê. Nhà văn cũng đưa ra dự định về dung lượng tác phẩm: “Tiếp đó đến hòa
bình. Phần kháng chiến chiếm độ 1/3. Thanh niên chiếm 2/3 hoặc hơn kháng
chiến ít nhất 500 trang. Thanh niên 1000 trang đủ không? Chắc không đủ.
Hòa bình 4 giai đoạn: Địch chiếm đến tập kết + Những năm 54 – 57 + Giai
đoạn 5 8 – 61 + Thắng lợi. Nghĩa là gấp rưỡi số dự tính. Đồ sộ đấy. Nghĩ kỹ
xem sức làm nổi bộ Chiến tranh và Hòa bình ấy không? 10 năm?” [53, tr.71].
Sau này, khi trở về cuộc sống đời thường, ngồi trước trang giấy cùng với tập
đề cương bản thảo, nhà văn đã hồi tưởng, sắp xếp, chọn lọc, tái hiện lại những
sự kiện, chi tiết… của tiểu thuyết Người cùng quê. Những năm cuối đời, do di
chứng chất độc da cam, nhà văn nằm trong bệnh viện nhưng vẫn chắt chiu sức
lực sáng tác. Căn bệnh quái ác khiến ông chỉ hoàn thành được 3 tập, còn tập
thứ 4 mới ở dạng bản thảo. Qua những sáng tác, Phan Tứ chứng tỏ khả năng
phát hiện và giải quyết sâu sắc bằng hình tượng nghệ thuật những vấn đề tư
tưởng có ý nghĩa thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn: từ
vấn đề bản chất anh hùng, nhân đạo của quân đội cách mạng, sự gắn bó giữa
cách mạng dân tộc và cách mạng dân chủ, những vấn đề chiến tranh của cách
mạng miền Nam…đến vấn đề có ý nghĩa nhân văn cao cả như: tình yêu và lý
tưởng cách mạng, tình bạn, tình đồng chí trong thực tiễn đấu tranh, sự tiếp nối
truyền thống cách mạng giữa các thế hệ trong hai cuộc kháng chiến,
v.v…Nhà văn không chỉ có ý thức làm việc nghiêm túc trong sáng tác, ngay
cả công việc viết nhật ký chiến trường, Phan Tứ cũng thể hiện là một người
làm việc khoa học và chuyên nghiệp. Để đảm bảo tính bảo mật, nhà văn viết
23
bằng các thứ tiếng: Pháp, Lào, Nga, Anh và ghi chép đầy đủ từng ngày, từng
giai đoạn, từng sự việc. Những trang nhật ký chi li kỹ lưỡng, chẳng hạn:
“Nhật ký chiến trường của Phan Tứ - quyển VII AB từ đầu năm 1962, cụ thể
là từ 8.1.1962 đến 25.1. 1962”.
Với hành trình lao động nghệ thuật bền bỉ, nghiêm túc, sáng tạo, những
sáng tác của nhà văn ngày càng đạt tới trình độ khái quát nghệ thuật cao. Sức
hấp dẫn và giá trị trong các sáng tác của Phan Tứ chính là khả năng phát hiện
và giải quyết sâu sắc những vấn đề tư tưởng cấp thiết của đời sống cách
mạng. Nhìn lại quá trình sáng tác của Phan Tứ, chúng ta thấy ông là một trong
số ít nhà văn gắn bó đến cùng với đề tài chiến tranh cách mạng bằng những
trải nghiệm đấu tranh gian khổ đầy nhiệt huyết của mình.
•
1.2.2. Các tác phẩm đã xuất bản:
•
Bên kia biên giới (tiểu thuyết, 1958, tái bản 1978)
•
Trước giờ nổ súng (tiểu thuyết, 1960, 1961, 1969, 1976, 1977)
•
Trở về Hà Nội (truyện ngắn, 1960)
•
Trên đất Lào (bút ký, 1961)
Về làng (tập truyện 1964, 1976): Một buổi chợ, Nhà tôi, Tấm ảnh, Chè
•
đầu xuân, Mở cửa, Khó hiểu, Về làng, Sức mạnh mới, Chông ba lá….
•
Trong đám mía (truyện ngắn, 1968)
•
Gia đình má Bảy (tiểu thuyết, 1968, tái bản 1971, 1972, 1975, 1984)
•
Măng mọc trong lửa (bút ký, 1972, 1977)
•
Mẫn và tôi (tiểu thuyết, 1972, 1975, 1978, 1987, 1995, 1999)
•
Trại S.T. 18 (tiểu thuyết, 1974)
•
Trong mưa núi (hồi ký, 1984, 1985)
•
Sông Hằng mẹ tôi (dịch từ tiếng Pháp, tiểu thuyết Ấn Độ, 1984, 1985)
Người cùng quê (tiểu thuyết 3 tập, 1985, 1995, 1997)
24
•
Từ chiến trường khu 5 (nhật ký, 2011)
* Những truyện, ký lẻ: Ông già làng Tó, Từ Cánh đồng Chum đến Bản Ban,
Lòng dân, Tiếng trống.
* Ngoài ra còn một số truyện ngắn in chung với nhiều tác giả khác, bút ký,
hồi ký.
•
* Các giải thưởng văn học:
•
Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu (năm 1965)
Giải thưởng 30 năm (1945 - 1975) của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng
•
(năm 1975)
Giải thưởng văn học loại A mười năm (1975 – 1985) của tỉnh Quảng
•
Nam - Đà Nẵng (năm 1985)
Giải thưởng văn học loại A mười năm (1985 – 1995) của tỉnh Quảng
•
Nam - Đà Nẵng (năm 1995)
Người cùng quê – Thưởng sách hay năm 1995 của Nhà xuất bản Hội
•
Nhà Văn.
Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000.
1.2.3. Những trăn trở của Phan Tứ về vấn đề con người trong
sáng tác văn học Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, các nhà văn đã xây dựng
nhiều hình tượng nghệ thuật mang tính chất sử thi, đạt tới trình độ khái quát
cao. Điều đó giúp họ thể hiện cá tính sáng tạo cũng như năng lực quan sát về
hiện thực đời sống, đặc biệt hiện thực về con người trong bão táp cách mạng.
Phan Tứ là một trong những nhà văn trưởng thành trong quân ngũ, được sống,
chiến đấu trực tiếp nên có điều kiện am hiểu về hiện thực chiến tranh, hiện
thực con người. Khác với các nhà văn cùng thời hướng ngòi bút tiếp cận con
25
người trên các đề tài khác nhau (người lính, người công nhân, nông dân, đề tài
lao động sản xuất, ...), gắn với đời sống chính trị, xã hội, đạo đức, nhân sinh,
Phan Tứ trước và sau chiến tranh trung thành với thể loại đề tài chiến tranh,
đối tượng được tiếp cận mang tính sử thi. Đó chính là nét riêng của Phan Tứ.
Bằng vốn sống thực tiễn đấu tranh, cùng với cây bút mang phong cách “hiện
thực tỉnh táo”, Phan Tứ đã xây dựng nên những sự kiện, nhân vật mang tầm
khái quát trước hiện thực đời sống. Những “bộ mặt” con người hiện lên trong
chiến tranh rất đa dạng và phong phú. Nhà văn cũng nhìn thẳng vào sự thật để
tái hiện trong trang viết của mình. Chính vì vậy, Phan Tứ là một trong rất ít
các nhà văn ngay từ ngày đầu cầm bút đã có cái nhìn tinh anh về bản chất con
người. Từ đây, Phan Tứ xác định cho mình một quan niệm nghệ thuật nghiêm
túc, nhất là trong cách nhìn về con người. Những nhân vật trong sáng tác của
Phan Tứ không đơn diện, đầy phức tạp. Trong những tháng ngày ở vùng
Trung Trung Bộ, ta với địch xen nhau trong thế cài răng lược, những khó
khăn liên tiếp xảy ra: địch đàn áp, khủng bố, cơ sở cách mạng bị cô lập, cán
bộ phải “nhảy núi”. Phan Tứ đã kịp thời phản ánh sự trưởng thành của khối
quần chúng, làm thay đổi cục diện cách mạng, dấy lên một phong trào đồng
khởi khí thế, làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch. Nhà văn chủ
yếu chọn đối tượng mô tả là những con người bình thường, có lòng yêu nước
bị dồn nén trước sự kìm kẹp của kẻ thù. Tuy nhiên, con đường đến với cách
mạng của họ cũng trải qua một quá trình diễn biến tâm trạng phức tạp, có mặt
tiêu cực, mặt tích cực và cả một quá trình đấu tranh căng thẳng, không ít
giằng xé. Ông Sần (Về làng): “gần 60 tuổi đầu ông chưa hề biết cái sướng
được đánh con trâu nhà, cày đám ruộng nhà” [118, tr.564]. Yêu nước nhưng
có tư tưởng cầu an bảo mạng không dám đấu tranh nhưng khi biết cách mạng
chia ruộng đất cho họ thì ông dứt khoát cùng bà con đấu tranh giữ đất. Như
vậy, Phan Tứ nhận thấy quyền lợi ruộng đất, đặc biệt sự gắn bó của người
26
nông dân với ruộng đất bao đời này ăn sâu vào tiềm thức là động lực để con
người vươn lên. Hay chị Phước (Một buổi chợ), chồng bị giặc giết, chị muốn
yên phận để nuôi con, muốn quên đi hình ảnh cô du kích ngày xưa hay hát
hay cười, “nén lấy từng cơn giận, bịt lấy từng tia hy vọng mơ ước, cố tập cho
mình chai đi, trơ đi thành câm điếc”. Khi chứng kiến cái chết của nữ đảng
viên cộng sản Trần Thị Út, chị nức nở kêu lên và chị bốc dúm cát thấm máu
người cộng sản đem về đặt lên bàn thờ chồng. Phan Tứ đã khơi dậy tình cảm
chân chính của con người trong hoàn cảnh chiến tranh bị vùi lấp, nó bị tiềm
ẩn khi ngọn gió cách mạng ùa vào thì sự thức tỉnh của con người mạnh hơn
bao giờ hết. Cô Cúc (Con đĩ) vốn là cô gái đẹp, trong trắng và bị bắt trong lần
đòi ký hiệp thương, bị vu oan và rơi vào bẫy Ty trưởng công an, bị làm nhục
và trở thành vợ của quan tay sai. Từ đây, cô trượt dài con đường ăn chơi, sa
đọa. Cô xa lánh gia đình nhưng trong một trận càn lớn của địch, gia đình cô
tan nát (mẹ và em bị giải, thằng em trai bị thương). Cúc khóc và muốn làm lại
cuộc đời. Cách mạng đang dần thấm vào máu chị. Cuối cùng Cúc tham gia
cuộc biểu tình của dân làng và tố cáo tội ác của thằng Bòng (kẻ rất si mê Cúc)
và bị hắn bắn chết.
Không còn đơn thuần miêu tả chuyển biến tư tưởng cách mạng của cá
nhân, Phan Tứ cho thấy sự trưởng thành cách mạng của một gia đình nông
dân ở Gia đình má Bảy trong không khí đồng khởi mãnh liệt, tiêu biểu nhân
vật má Bảy. Má một lòng sắt son với cách mạng. Đã có lúc ngấm mệt sau
những ngày bị bắt bớ, tra tấn, má tưởng mình có thể sống bình yên nếu tạm
ngưng hoạt động cách mạng. Nhưng lúc nghĩ đến “anh em mình vẫn hoạt
động”, thì chỉ “chớp mắt” và “ý nghĩ ấy chỉ lóe thành chấm sáng yếu ớt chứ
không bốc cháy trong má nữa”. Nhưng Mỹ - Diệm đâu để gia đình má yên,
Tư Sỏi – con trai má vì sợ mẹ và em bị bọn chúng đánh đập nên dằn lòng
lãnh súng vào dân vệ. Khi cán bộ quay trở lại hoạt động, má xin lỗi Đảng,
27
giao hai đứa con cho Đảng, và bản thân má tham gia hoạt động: vạch tội tên
ác ôn Phổ, lãnh đạo công tác binh vận,… Thử thách lớn nhất với má là chứng
kiến địch tra tấn đứa con gái của má – Út Sâm: “máu ứa đầy mình” và nghe
tiếng Sâm rú lên khi địch đóng dấu đỏ rực cháy xèo xèo trên da thịt con. Má
không khóc, không van xin chỉ dùng ánh mắt khuyên con cố gắng chịu đựng.
Cuối cùng gia đình má cũng như bao người khác chỉ có con đường duy nhất
vùng lên đồng khởi giành chính quyền, giải phóng làng xóm. Không phải
ngẫu nhiên mà Phan Tứ miêu tả quá trình vươn tới chủ nghĩa anh hùng cách
mạng của những con người bình thường và cả những con người lạc hậu nữa
bởi: họ chiếm số đông trong quần chúng cách mạng. Thời kỳ này, Phan Tứ
sống và hoạt động, gắn bó với người dân, người lính. Chứng kiến cuộc chiến
tranh nhân dân đầy đau thương như rất đỗi hào hùng nên ông có điều kiện
hiểu con người quần chúng, nhận ra sức mạnh tiềm ẩn của những con người
“một nắng hai sương” nhưng trong sâu thẳm tình cảm gắn bó quê hương, tình
yêu thương con người, tinh thần nghĩa vụ, nhất là họ thấy con đường cách
mạng là ánh sáng đưa cuộc đời họ thoát khỏi những kìm kẹp của kẻ thù. Phải
là những người cán bộ có lòng tin sâu xa vào quần chúng, phải là nhà văn –
cán bộ quần chúng mới hiểu tận gốc rễ họ.
Nếu Về làng, Gia đình má Bảy, nhà văn chú ý tới quá trình trưởng thành
cách mạng của những con người bình thường thì đến Mẫn và tôi, Phan Tứ tập
trung vào thế hệ trẻ, tiêu biểu như Mẫn, trong hoàn cảnh giữa ta và địch đang
chạy đua căng thẳng ở vùng vành đai ác liệt quanh căn cứ Chu Lai. Từ nhỏ,
Mẫn mang nặng “nợ nước, thù nhà” sâu sắc. Mười bảy tuổi, cô được kết nạp
vào Đảng, “lấy bảy năm công tác bù vào việc thiếu tháng”. Hai mươi tuổi,
Mẫn vừa gánh vác việc nhà vừa làm tròn trọng trách đối với đất nước. Cô đã
sớm đảm nhiệm công việc nặng nề: làm xã đội trưởng du kích, bí thư chi bộ
xã, đảng ủy viên của cả một vành đai mười hai xã và trải qua nhiều thử thách
28
gay go, ác liệt, bao mối quan hệ phong phú và tiếp xúc với nhiều loại người
khác nhau. “Trong chân lý lớn của cách mạng Mẫn phải tự tìm những cái
chân lý nhỏ của từng việc, từng ngày, phải dám quyết định và gánh hết trách
nhiệm đôi khi quá nặng phải biết làm cho cái đúng thắng cái sai” [119]. Sự
trưởng thành nhanh chóng đến không kịp nhận thấy của Mẫn khiến người yêu
cô - Thiêm cũng phải ngỡ ngàng: “không biết bao giờ tôi mới hết ngạc nhiên
về Mẫn”. Phan Tứ đã xây dựng thành công cô Mẫn trở thành một nhân vật
điển hình, giàu sức sống. Nhà nghiên cứu – phê bình Phan Cự Đệ đã nhận xét
“Mẫn và tôi là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nền văn nghệ giải phóng có
khuynh hướng mở rộng tầm vóc sử thi”. Phan Tứ cho người đọc thấy một sự
mẫn cảm chính trị, dám nhìn thẳng vào tâm trạng tiêu cực để bộc lộ sự hiểu
biết, thông cảm với con người và cho người đọc thấy “thép đã tôi thế đấy”,
con người chịu sự chi phối của hoàn cảnh và tác động trở lại hoàn cảnh như
thế nào. Từ trong gian khổ hy sinh, những con người bình thường kiên trinh
sẽ trở thành viên ngọc “càng mài càng sáng”. Ngược lại môi trường đó cũng
là nơi thử thách, sàng lọc, đào thải những kẻ thoái hóa, biến chất, gây không ít
tổn thất cho cách mạng. Với tâm niệm và sự sắc sảo của mình, Phan Tứ mạnh
dạn “bóc lớp sơn son thiếp vàng của tượng thần để thấy lớp đất sét bên
trong”. Trong khi nhiều nhà văn có xu hướng “tô hồng” hiện thực thì Phan Tứ
chọn cho mình một hướng đi mới. Đó là lối viết hiện thực tỉnh táo với những
mặt đa diện của nó. Trước giờ nổ súng, Bên kia biên giới hiện lên với tất cả
cái tốt - cái xấu, cái anh hùng, cái đớn hèn vv….Con người dưới ngòi bút của
Phan Tứ ngay từ thời kỳ đầu sáng tác cũng đa dạng, phong phú, phức tạp.
Phan Tứ không né tránh sự thật. Đó là Chánh (Trước giờ nổ súng) chỉ nghĩ
đến quyền lợi cá nhân mà không thấy trách nhiệm cộng đồng. Chánh tình
nguyện qua Lào vì nghĩ đó là nơi có thể ăn chơi trác táng thỏa thích: “Nghe
đâu quân ta sang bên ấy uống rượu cần cứ tít cung thang, dân cho gà lợn ăn
29
mứa, lại tán gái suốt đêm chả ai nói gì, Chánh hăm hở đi” [52, tr.383].
Nhưng đây không còn là bước chân nhiệt huyết của chiến sĩ đánh giặc mà là
của một kẻ phàm phu. Ý thức vô kỷ luật của Chánh thể hiện qua lời nói thô
tục và hành động uống lén rượu trên đường đi. Sau đó, hắn cưỡng hiếp Pha
không thành và quyết định đảo ngũ. Tham mưu trưởng trung đoàn Đặng được
miêu tả vừa có công vừa có tội. Là người nghiêm khắc trong giờ giấc làm việc
nhưng lại cứng nhắc trong xử lý các công văn khẩn dẫn đến sự chậm trễ tai
hại cho cấp dưới, vô tình gây thảm cảnh cho đội CC3, “nỗi hối hận giày vò
cắn xé anh nhiều…thương đội CC3, hổ thẹn, nhục nhã ”. Phan Tứ miêu tả anh
ta là người vừa đáng thương vừa đáng ghét. Trung đội trưởng Lương đôi lúc
có vẻ “nhẫn tâm” làm cho người ta dễ sợ hãi, tiểu đội phó Khiêm có tính ghen
tuông hay nghi ngờ, chiến sĩ Sử mang trong mình chất tiểu tư sản “còn tự ái,
kiêu ngầm, sống cô độc”. Qua những nhân vật này, Phan Tứ quan niệm : dẫu
một người anh hùng có cao cả đến mấy cũng chưa hẳn đã hoàn mỹ và tác giả
còn “đặt ra yêu cầu tìm hiểu xem con người đã được thử thách như thế nào,
những phẩm chất mới của họ đã được hình thành ra sao” [58, tr.78]. Trong
khi hầu hết các tiểu thuyết cách mạng thời chống Mỹ né tránh những mặt trái
của chiến sĩ và mâu thuẫn nội bộ của phe ta thì Phan Tứ mạnh dạn lột tả nó.
Tư tưởng này tiếp tục chi phối trong tiểu thuyết Mẫn và tôi (tiêu biểu nhân vật
Tám Liệp). Ngay từ đầu, Phan Tứ đã có cách nhìn, cách cảm về con người hết
sức chân thật, sâu sắc. Điều này có phần giống như lời phát biểu của
L.Tolstoi: “Con người như những dòng sông…mỗi con sông khi thì hẹp, khi
thì chảy xiết, khi thì đục, khi thì ấm. Con người cũng vậy” [37, tr.142]. Đồng
thời, nhà văn miêu tả “những con người thép”, “những hạt gạo trên sàng” là
con người bình thường (khác với nhiều nhà văn đưa vào tác phẩm những điển
hình anh hùng nguyên mẫu ngoài đời), có lai lịch, có quá trình và phát triển
trong sự tác động, chi phối của hoàn cảnh. Phẩm chất anh hùng của nhân vật
30
qua đó cũng được bộc lộ một cách tự nhiên, không ồn ào, gân cốt, tránh được
những gán ghép ngẫu nhiên trong tính cách, có sức sống, giàu sức thuyết
phục: đại đội trưởng Lương (Trước giờ nổ súng); má Bảy, Út Sâm (Gia đình
má Bảy); Thiêm, Mẫn (Mẫn và tôi)…Có thể nói, Phan Tứ trước 1975 đã có
cái nhìn con người gắn với cộng đồng, gắn với sự nghiệp cách mạng. Nhà văn
đã xây dựng được những hình tượng nghệ thuật mang tầm khái quát (như
nhân vật Lương, má Bảy, Mẫn….) đại diện cho tập thể, một cộng đồng đang
lớn mạnh trước bão táp cách mạng. Xét đến cùng, Phan Tứ am hiểu về con
người, chủ yếu người nông dân là do: “Từ 14 tuổi anh sống xa gia đình, được
bao bọc trong tình yêu thương của nông dân….Trong cuộc viễn chinh 15 năm
qua lăn lộn trong cuộc sống, một mình lao theo cách mạng và cố gắng tiến
cho kịp những anh hùng không tên, anh cảm thấy gắn bó thiết tha với nông
dân, bộ đội hơn bao giờ hết. Trong suốt cuộc đời sáng tác của anh, anh sẽ
trung thành với công nông binh, sẽ mãi mãi sống với họ và viết văn ca ngợi
họ…” [85, tr.514-515].
Sau 1975, “dưới cái bề mặt sôi động, khá sặc sỡ và ồn ào đó là sự vận
động tự nhiên và kín đáo của những quy luật hình thành, phân nhánh, cộng
sinh của đời sống thể loại mà nền tảng của nó là trạng thái tinh thần mới của
thời đại. Một loạt những vấn đề quan trọng đã diễn ra trong văn học ở cấp độ
cao nhất là cấp độ quan niệm và ý thức nghệ thuật….nổi bật những bổ sung
toàn diện hơn về quan niệm con người…” [25, tr.91]. Các nhà văn đã dần dần
có “độ chín” về quan niệm nghệ thuật, mở rộng cái nhìn sâu sắc hơn về con
người. Một lần nữa, Phan Tứ đã chứng minh một cây bút nhạy bén hơn về
hiện thực cách mạng và đổi mới cách nhìn về con người trong tiểu thuyết
Người cùng quê. Phan Tứ khẳng định: “Ngòi bút tôi ngày càng sắc sảo, tôi
sẵn sàng theo lối viết của Nguyễn Khải, nếu tôi không sợ phản đối của độc
31
giả ở miền Nam. Sau thống nhất tôi sẽ viết tiểu thuyết gì nhỉ? ….tôi sẽ hiện
thực như Cholokhov….nếu tôi có được tài năng của ông ta ” [53, tr.761].
Vấn đề số phận con người đã được đặt ra trong các sáng tác của dòng văn
học hiện thực phê phán 1930 – 1945 với những cây bút tên tuổi như Vũ Trọng
Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao… chủ yếu hướng tới những người lao động
nhỏ bé, nghèo khổ…. Đến giai đoạn văn học cách mạng, con người cần được
nhìn nhận như nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà nhận xét: “Văn học là sự thật. Mà
sự thật chủ yếu của văn học là sự thật và con người. Nhiều năm qua văn học
chúng ta còn mắc nợ cuộc đời về sự thật. Sự thật về người nông dân Việt Nam
trong bao cơn bão táp của cách mạng và chiến tranh, về người lính suốt ba
thế hệ cầm súng đánh giặc trên đủ loại chiến trường với bao nhiêu vinh
quang, hy sinh và mất mát, về anh cán bộ nghiêm túc, lương không đủ ăn, về
người trí thức cách mạng với lòng yêu nước và những ngộ nhận ngây thơ, với
niềm tâm huyết, say mê và bao điều dằn vặt. Các nhà văn ngày nay phải trả
món nợ ấy cho đời” [108]. Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn khác đã “trả món
nợ ấy” bằng những trăn trở về số phận con người, thể hiện chiều sâu nhận
thức, trách nhiệm với đời và hướng đến bình diện con người là tổng hòa các
mối quan hệ trong tác phẩm văn học.
Trong tình hình xã hội Việt Nam sau 1975, văn học đã bám sát hiện thực
đời sống. Các nhà văn thực sự trở thành chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn
hóa. Những sáng tác tiểu thuyết của những nhà văn nói trên đã thể hiện sự
trăn trở, tìm tòi về hướng đi của xã hội Việt Nam sau chiến tranh. Trong dòng
chảy đó của văn học dân tộc, Phan Tứ có những đóng góp cho đời sống và
văn học. Với bộ tiểu thuyết Người cùng quê, Phan Tứ đã có những đổi mới
cách nhìn về con người trong dòng vận động của văn học.
32
1.3. Hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết Người cùng quê
1.3.1. Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam sau 1975
Sau những tháng ngày chìm trong biển lửa chiến tranh, dân tộc Việt
Nam đã bước sang một trang sử vàng mới. Từ đây, non sông Việt Nam thu về
một mối. Cả dân tộc bắt tay vào công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước
sau chiến tranh.
Công cuộc xây dựng đất nước trong hoà bình, sau chiến tranh là một
nhiệm vụ hết sức khó khăn. Kinh tế miền Bắc chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ,
nông nghiệp lạc hậu, cơ chế quản lý quan liêu bao cấp. Ở miền Nam, một nền
kinh tế phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh, cơ cấu mất cân đối và lệ thuộc
nặng nề vào viện trợ bên ngoài. Vì vậy, khi Mỹ rút quân, cắt giảm viện trợ,
nền kinh tế miền Nam lập tức rơi vào khủng hoảng. Đó là chưa kể đến khó
khăn ở những vùng bị tàn phá bởi chiến tranh, chất độc hóa học. Khó khăn
chồng chất khó khăn: thù trong giặc ngoài, sự bao vây cấm vận về kinh tế và
quan hệ ngoại giao, những hệ lụy do tình trạng chiến tranh kéo dài để lại rất
nặng nề như tệ nạn ma túy, lưu manh, bụi đời, mại dâm... ; số người thất
nghiệp, đặc biệt là số người mù chữ chiếm tỷ lệ lớn trong dân cư. Ngoài ra,
trong quá trình xây dựng xã hội mới, một bộ phận lãnh đạo chính quyền còn
non kém, chưa đủ năng lực đáp ứng tình hình mới của đất nước, tư duy quan
liêu bao cấp…Đó là những cản trở đẩy nền kinh tế nước ta sau 1975 rơi vào
tình trạng khủng hoảng, lạm phát, đời sống nhân dân khó khăn.
Đứng trước thực tế của đất nước, Đảng chủ trương đường lối đổi mới
nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng trên mọi phương diện
của đời sống. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
(1976) vạch ra đường lối kinh tế: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ
33
nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh
tế nước ta đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” [125.1] và
khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con người xã
hội chủ nghĩa”. Đặc biệt, Đảng đưa ra quan niệm khi xây dựng con người
mới: “xây dựng con người phát triển toàn diện, có cuộc sống tập thể và cá
nhân hài hòa, phong phú”. Tiếp nối sự khẳng định yếu tố con người trong sự
phát triển của xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982) nhấn mạnh:
“Mỗi người được phát triển đầy đủ nhân cách, tài năng và năng khiếu của
mình, trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân, gia đình và xã hội” [125.2].
Nghị quyết 05 của Bộ chính trị đã xác định hoàn cảnh mới và nhiệm vụ mới
của văn học nghệ thuật: “văn hóa văn nghệ nước ta cũng phải đổi mới, đổi
mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm”. Để có sự đổi mới ấy, mỗi nhà văn
phải tìm tòi sáng tạo lối viết mới về tư tưởng và bút pháp đáp ứng nhu cầu
thẩm mĩ của thời đại.
Cuộc sống hoà bình sau năm 1975 đòi hỏi văn học có nội dung phản ánh
phù hợp với thực tế đất nước. Thị hiếu thẩm mĩ của độc giả thay đổi do tiếp
xúc với nhiều luồng văn hóa Đông - Tây qua các phương tiện truyền thông,
mảng văn học dịch,… có tác động lớn tới quá trình đổi mới văn học ở Việt
Nam. Nó làm thay đổi thị hiếu nghệ thuật của đông đảo độc giả, trước hết là
thị hiếu nghệ thuật của tầng lớp thanh niên. Các nhà văn từng sáng tác trong
thời kỳ chiến tranh đều nhận ra, nếu tiếp tục viết như cũ, họ sẽ tự đánh mất
độc giả. Đời sống phong phú và phức tạp của xã hội Việt Nam từ sau năm
1975 đã buộc các nhà văn Việt Nam đổi mới cách viết. Sự kết hợp của hai yêu
cầu: “một từ ngoài, từ phía quần chúng, phía cuộc sống và xã hội, phía cách
mạng như nhiều chục năm qua đã diễn ra; và một từ trong, từ chính bản thân
văn học” [63, tr.231], thúc đẩy văn học cần có sự “chuyển mình”.
34
Như đã nói, hiện thực đời sống đã khác trước, cần phải có cách tiếp cận
phù hợp tức là phải đổi mới tư duy. Quá trình đổi mới này đã diễn ra đầy khó
khăn và thử thách. Đổi mới ở đây không phải là sự phủ định sạch trơn cái cũ
để xây dựng cái mới mà phải đảm bảo tính nguyên tắc của đổi mới: vừa tiếp
thu thành tựu của văn học giai đoạn trước đó (1945- 1975), vừa khám phá
những hiện tượng cuộc sống mới qua cách nhìn mới về hiện thực, đặc biệt về
con người. Trong sự đổi mới ấy, đổi mới cách nhìn về con người là quan
trọng nhất vì con người là đối tượng trung tâm của văn học. Nó là thước đo sự
tiến bộ nghệ thuật và thể hiện thế giới quan của người nghệ sĩ trước cuộc
sống. Mỗi nhà văn có một cái nhìn, cách đánh giá, tầm nhận thức, sự lý giải
về con người. “Đây không phải là vấn đề miêu tả tâm lý nhân vật mà cơ bản
là vấn đề chủ nghĩa nhân văn, là quan niệm về con người” [108, tr.62]. Trong
tình hình đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá đang vận động và biến
đổi, sự thay đổi tư duy văn học là đòi hỏi khách quan, phù hợp với quy luật
vận động nội tại của đời sống và của bản thân văn học. Trong xu thế đó, sự
đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người là dấu hiệu của sự đổi mới về
chất của nền văn học Việt Nam trong giai đoạn mới.
1.3.2. Sự vận động đổi mới văn học sau 1975 qua một số tác phẩm
tiêu biểu (trong phạm vi tiểu thuyết)
Giai đoạn 1945- 1975, nền văn học dân tộc gắn liền với sự nghiệp giải
phóng đất nước. Văn học trong hoàn cảnh ấy phải mang tính thẩm mĩ của thời
đại là đề cao, ca ngợi con người anh hùng, tính cách anh hùng. Do đó, một
loạt tác phẩm mang âm hưởng sử thi ra đời: Xung kích, Vỡ bờ, Đất nước đứng
lên, Cao điểm cuối cùng, Trước giờ nổ súng, Mẫn và tôi, Hòn đất, Dấu chân
người lính…. Công chúng văn học trong một thời gian dài sống cùng không
khí văn học mang cảm hứng sử thi.
35
Sau 1975, đất nước ta bước sang một thời kỳ mới, từ chiến tranh chuyển
sang hòa bình, từ “đời sống bất bình thường của “ngày có giặc” (chữ dùng
của Hữu Thỉnh) chuyển sang đời sống bình thường” [12, tr.2]. Giai đoạn
1975- 1985 là bước chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh
sang nền văn học của thời kì hậu chiến. Về cơ bản, nền văn học vẫn tiếp tục
phát triển theo những quy luật và với những cảm hứng chủ đạo trong thời kì
chiến tranh chống Mĩ cứu nước. Đề tài chiến tranh và khuynh hướng sử thi
vẫn nổi trội: Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng
Oánh), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Năm 1975, họ đã sống như
thế (Nguyễn Trí Huân),... Tuy nhiên, đến đầu những năm 80, tình hình kinh tế
xã hội có nhiều biến động phức tạp cùng với quan niệm về các giá trị, chuẩn
mực, mục tiêu phấn đấu thay đổi khiến không ít người sáng tác “bày tỏ băn
khoăn nên tiếp cận hiện thực cuộc sống như thế nào: tô hồng hay bôi đen?
Viết về nhân tố tích cực hay những yếu tố tiêu cực?...” [116, tr.364].
Theo Nguyên Ngọc, thời gian này là “khoảng chân không trong văn học”.
Nhưng đây cũng là giai đoạn nhiều nhà văn mẫn cảm với cuộc sống đã nỗ lực
bằng ngòi bút của mình trên nhiều đề tài khác nhau, với những tìm tòi trăn trở
về các vấn đề xã hội, về số phận con người. Họ nhận thức được vấn đề con
người đặc biệt là chiều sâu của đời sống cá nhân là mối quan tâm hàng đầu
chứ không phải là sự kiện. Có những vấn đề hôm qua văn học chưa kịp nói
đến, chưa được đề cập, còn nhìn nhận một cách phiến diện thì nay có điều
kiện được xem xét. Ý thức cá nhân với nhu cầu đời thường đã trở lại giống
như nó vốn có. Lúc này, văn học không chỉ đề cao cái cao cả, sự xả thân mà
còn đề cập đến cái bi, cái thấp hèn, cái bản năng của con người. Trong những
tiểu thuyết viết về chiến tranh, chất sử thi đã “bắt đầu nhạt hơn so với trước
đó khi người viết tái hiện những khó khăn, tổn thất, những thất bại và xu
hướng nghiêng về con người và cuộc sống đời thường” [133]. Bích Thu trong
36
Theo dòng văn học, cho rằng văn xuôi sau 1975 đã chuyển dần tư duy sử thi
sang tư duy tiểu thuyết: “cảm hứng sáng tạo chuyển từ ngợi ca, tự hào, khâm
phục đến chiêm nghiệm, lắng đọng, suy tư. Thay vì cách nhìn đơn giản, rạch
ròi thiện ác, bạn thù, cao cả, thấp hèn là cách nhìn đa chiều, phức hợp về
hiện thực và số phận con người” [116, tr.365]. Đề tài viết về con người trong
lao động sản xuất, thế sự đời tư, các nhà văn miêu tả con người có cả: “rồng
phượng lẫn rắn rết, thiên thần và quỷ sứ”. Theo nhà văn Mạc Phi: “viết về cái
ác, cái xấu trong bản thân họ và trong cuộc sống đau đớn có phần do họ gây
nên, thực chất là nhân đạo, là có tinh thần dân chủ. Né tránh họ, cấm kỵ
không viết về cái ác, cái xấu đó chính là vô nhân đạo, vô dân chủ” [116,
tr.370]. Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng: cần biết nhìn nhận con người
như một sinh thể tuân theo quy luật sinh tồn của tự nhiên, có mặt tốt và có
mặt xấu. Như vậy, hầu hết các nhà văn đều có cái nhìn đa chiều về con người,
chú ý tới yếu tố thế sự đời tư của con người trong hiện thực cuộc sống đa
dạng. Đây là dấu hiệu của sự vận động đổi mới văn học. Các tác phẩm mang
tính chất “dò đường”, tạo tiền đề cho sự đổi mới về cách nhìn con người, đặc
biệt là con người cá nhân như: Miền cháy (1977, Nguyễn Minh Châu), Mở
rừng (1977, Lê Lựu), Đất trắng (1979- 1984, Nguyễn Trọng Oánh), Ván bài
lật ngửa (1982 – 1988, Nguyễn Trương Thiên Lý), Hạt mùa sau (1984,
Nguyễn Thị Ngọc Tú), Giấy trắng (1985, Triệu Xuân)...
Dưới đây, chúng tôi điểm lại một số tác phẩm tiêu biểu được xuất bản
trong khoảng thời gian sau 1975 đến trước thời kỳ Đổi mới nhằm tái hiện lại
không khí văn học (trong phạm vi tiểu thuyết) để thấy rõ quá trình vận động
của văn học Việt Nam từ sau 1975, trên đường tìm tòi, đổi mới. Có thể coi
Ván bài lật ngửa là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu cho sự tìm tòi, đổi
mới của văn học Việt Nam hiện đại sau 1975. Thành công của tiểu thuyết là
xây dựng nhân vật chiến sĩ tình báo Nguyễn Thành Luân dạn dày mưu trí, linh
37
hoạt trong hoạt động cách mạng dưới chính quyền Ngô Đình Diệm. Cái nhìn
con người cách mạng ở đây không còn đơn giản. Họ suy tư, tính toán trước
những hoàn cảnh, tình huống gay cấn liên quan đến sự nghiệp cách mạng và
ngay cả sự sinh tồn của họ. Đầu óc của nhân vật Luân luôn phải “căng” ra để
đấu trí với Ngô Đình Nhu, trong “một ván bài mà mọi con bài đều lật ngửa”.
Luân phải cố gắng đóng đúng vai trò một phần tử quốc gia kháng chiến và
đặc biệt anh phải biết lợi dụng tình hình thực tế của kẻ thù để khơi sâu mâu
thuẫn trong nội bộ của chúng. Để có chỗ đứng trong gia đình Ngô, Luân trải
qua không ít những thử thách cam go của Nhu. Chỉ cần sơ hở một chút thì
Luân có thể mất tính mạng. Do đó, mỗi bước hành động của Luân là sự cân
đo, đong đếm chi tiết, cẩn thận.
Nhà văn đi sâu vào thế giới nội tâm phản ánh chân thực những tâm tư của
nhân vật. “Luân nhớ mà thèm da diết cái cảnh đầm ấm quây quần anh em
đồng chí, cười nói thoải mái, vui ra vui, giận ra giận… Hằng ngày anh phải
sống trong màn kịch căng thẳng, từ cái cười cái nhún vai...đều đòi hỏi suy
tính…Liệu thần kinh anh đủ sức chịu đựng nổi cuộc tra tấn độc địa này đến
bao lâu. Ngay trong giấc ngủ, anh không có quyền mớ. Những bộ phận ghi
âm cực nhạy thu đến nhịp thở của anh” [69, tr.144]. Những tổn thất về tinh
thần đối với Luân là quá lớn. Khi anh chứng kiến cái chết của đồng bào, đồng
chí mình: ông giáo Cần, bà con ở Bầu Mây.., anh không khỏi xót xa và uất
hận trước tội ác của kẻ thù. Khoác trên mình bộ quân phục của người lính bên
kia chiến tuyến, nó không cho phép anh bộc lộ cảm xúc thật trước cái chết ấy.
Đó là sự dồn nén, ức chế tinh thần khủng khiếp mà anh phải chịu đựng. Bên
cạnh đó, Luân còn chịu những điều tiếng xấu xa, cái nhìn khinh bỉ, nghi ngờ
của đồng bào mình. Hằng ngày, Luân hy sinh thầm lặng bản thân mình cho
Tổ quốc. Hơn 20 năm qua, số phận của Luân chia đều: “một nửa trong tư thế
cán bộ công khai đảm đương các chức vụ khác nhau, sống tập thể….; một
38
nửa ngược hẳn - anh phải mang bộ quần áo ngụy, phải nghe phải nhìn phải
nói phải làm những điều đôi khi tự chúng sỉ vả anh, chen giữa đám nhơ
nhuốc, vượt những thử thách kỳ quặc đến khốn khổ….Từng phút từng giây
anh phải đối phó với trắc trở, lừa gạt, lật lọng, gian trá nham hiểm, láo
khoét…Anh sợ “chừng ấy chất độc liệu có len lỏi phần nào vào cơ thể anh
không…Sự cám dỗ của quyền lực, tiền, gái..” [69, tr.200]. Như vậy Nguyễn
Trương Thiên Lý không còn đơn giản cái nhìn nghiêng về ngợi ca con người
cách mạng. Giờ đây nhân vật của ông được đặt trong nhiều mối quan hệ xã
hội giằng chéo, rối rắm. Luân trong quan hệ với tổ chức cách mạng và các
đồng chí trong chiến khu (Sáu Đăng, Sa, Quyến…). Bên cạnh đó, Luân còn
có quan hệ với kẻ thù (gia đình họ Ngô, các phe phái trong chế độ Việt Nam
cộng hòa), với các tổ chức tôn giáo đối lập (Cao Đài, Hòa Hảo), tổ chức gián
điệp nước ngoài (phòng nhì Pháp, CIA, Trung Quốc…), với những người
sống cận kề hàng ngày (lái xe Lục, vệ sĩ Thạch). Đồng hành cùng Luân là nữ
tình báo viên Thùy Dung, người mà anh hết mực yêu thương. Cũng như Luân,
Dung cũng chịu nhiều thiệt thòi khi hoạt động trong Tổng Nha Cảnh Sát Quốc
Gia. Mối tình giữa cô và Luân ban đầu là một kịch bản nhằm che mắt kẻ thù.
Nhưng chính lý tưởng cách mạng giúp họ gần nhau bằng một tình yêu chân
thực. Trong cuộc chiến với kẻ thù, họ “không lấy nhau là hy sinh mà lấy nhau
cũng là hy sinh”. Sống trong hoàn cảnh phức tạp như vậy, nhân vật của của
Nguyễn Trương Thiên Lý phải “căng” con người mình ra, lí trí tỉnh táo, khôn
ngoan để đối phó linh hoạt với mọi tình huống. Đúng vậy: “mỗi người trong
cuộc chiến đấu này, đều phải chịu mất mát” [69, tr.133].
Với Giấy trắng, Triệu Xuân có cái nhìn sinh động về con người thông
qua câu chuyện tìm lối thoát cho xí nghiệp Hy Vọng đang rơi vào tình cảnh
thiếu giấy in, vốn hết. Song hành với nó là cuộc chiến đầy gay go, quyết liệt
giữa hai bên trong “phương án Giấy trắng”: một bên là những người tiến bộ,
39
năng động (Thịnh, Lộc, Sáng..) đang tìm mọi cách tháo gỡ khó khăn cho xí
nghiệp với một bên là những lực lượng bảo thủ, tiêu cực, cơ hội luôn ngăn
cản, chống phá (Thân, Hài, Phát, Tư Lợi…). Mặt tốt – xấu của con người
được bộc lộ rõ rệt, những suy tư, những mưu tính của con người hiện lên sống
động. Giấy trắng là một bức tranh thu nhỏ của cuộc cải cách cơ chế kinh tế –
xã hội. Trong cuộc đổi mới cơ chế cũ, con người cách mạng chân chính đã
trải qua những khó khăn và mất mát. Và cái nhìn về con người không còn
phiến diện nữa.
Cũng trong dòng vận động của văn học, Nguyễn Thị Ngọc Tú với Hạt
mùa sau có cái nhìn con người phong phú, đa dạng ở lĩnh vực nghiên cứu
khoa học. Từ câu chuyện lai giống ở một Viện nghiên cứu cây lương thực
nhưng người đọc thấy: “hiện thực cuộc sống được tái hiện trong nhiều mối
quan hệ dằng dịt, phức tạp với biết bao cảnh đời ngang trái éo le, bao hoàn
cảnh nổi chìm, gian khổ” [34, tr.308] và sự tốt xấu xen lẫn trong mỗi con
người, do mặt này hay mặt kia lấn át: “từ đó gây nên sự phân hóa, hoặc đồng
hóa trong mỗi gia đình, tức mỗi tế bào của xã hội” [33, tr.133]. Một cuộc đấu
tranh diễn ra không gay gắt mà âm thầm, phức tạp trong mỗi con người, trong
phòng thí nghiệm, từ trong mỗi gia đình, mỗi tổ công tác đến hợp tác xã hình
thành nên hai tuyến phân hóa trong đội ngũ cán bộ khoa học: một bên là kỹ sư
Triều và một số người ủng hộ anh (Trung, Nghĩa, Hảo..); một bên là ông
Thắng – Viện trưởng và một số kẻ nịnh bợ (Bính, ông Quynh…). Bên cạnh
đó, có loại nhân vật lừng khừng đứng giữa như Khang, Hy…Trong trận tuyến
này, những người tốt tự hoàn thiện mình đấu tranh chống cái ác, để trở thành
lớp người mới của xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên Nguyễn Thị Ngọc Tú không
đơn giản nghiêng về ngợi ca. “Tính cách, phẩm chất nhân vật hiện lên là qua
các xung đột, đấu tranh quyết liệt với các hiện tượng, nhân vật tiêu cực” [95,
tr.233]. Từ dòng chảy chính của câu chuyện lai tạo giống ở một Viện nghiên
40
cứu, nhà văn đã vẽ trước người đọc bức tranh rộng lớn xã hội Việt Nam sau
những năm tháng chiến tranh.
Như vậy qua một số tác phẩm, chúng ta nhận thấy tư duy văn học đang
có sự vận động từ tư duy sử thi chuyển dần sang tư duy tiểu thuyết. Tuy
nhiên, không thể khẳng định tư duy tiểu thuyết mới xuất hiện ở thời kỳ sau
1975. Thật ra, nó đã xuất hiện ở thời kỳ văn học hiện thực phê phán 1930 –
1945 với các tác phẩm của nhà văn: Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố,
Nguyễn Công Hoan…. Khi lịch sử dân tộc bước vào thời kỳ đấu tranh mới
chống Pháp – Mỹ, văn học làm nhiệm vụ cách mạng, cổ động bằng các tác
phẩm mang tính sử thi, ngợi ca đáp ứng nhu cầu hiện thực. Và khi cuộc sống
thời bình trở lại, tư duy tiểu thuyết vận động và phát triển. Mọi vấn đề của
con người cần được nhìn nhận trong tính đa chiều, đa diện. Các tác giả như
Nguyễn Trương Thiên Lý, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Triệu Xuân… đã chứng
minh năng lực cây bút khi nắm bắt hiện thực con người trong dòng văn học
đang có sự vận động đổi mới.
41
Chương 2
SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU
THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ TỪ PHƯƠNG DIỆN
NỘI DUNG
Có thể nói, sự chuyển dịch cái nhìn từ con người sử thi sang con người
thế sự – đời tư đã mở rộng chiều sâu tư duy văn học và năng lực sáng tạo của
nhà văn. Trong tiểu thuyết Người cùng quê của nhà văn Phan Tứ, dấu ấn của
sự đổi mới cách nhìn con người được thể hiện ở sự khám phá con người trên
bình diện con người cá nhân.
2.1. Con người cá nhân
Lev Tolstoi đã từng nói: “Một trong những lầm lẫn vĩ đại nhất khi xét
đoán về con người là chúng ta hay gọi và xác định người này thông minh,
người kia ngu xuẩn, người này tốt, người kia ác, người thì mạnh mẽ, người thì
yếu đuối, trong khi con người là tất cả: tất cả các khả năng đó, là cái gì luôn
luôn biến đổi” [107]. Nghĩa là chúng ta phải xem xét con người trong tính đa
diện, nhiều mặt của nó thì nhà văn mới khám phá được chiều sâu của nhân
vật. Nhà phê bình Lý Hoài Thu nhấn mạnh: “Không thỏa hiệp, không khoan
nhượng với cách nhìn nhận con người bằng cái nhìn đơn giản, một chiều, chỉ
thấy mặt tốt đẹp, mặt lý tưởng, các nhà tiểu thuyết đương đại đã đặt nhân vật
vào vòng xoay nghiệt ngã của cuộc đời với đầy đủ các sắc màu, các cực đối
lập: nhân tính và phi nhân, đạo lý và thất đức, bản ngã và phi bản ngã... và
cũng không né tránh những mặt khuất lấp của cuộc đời, kể cả "góc tăm tối
cuối cùng” [106].
Với Người cùng quê, Phan Tứ không còn cái nhìn một chiều về người
42
anh hùng, giờ đây họ cũng mang nét đời thường như bao người khác. Tiêu
biểu trong tác phẩm là nhân vật Cả Chanh – phó chủ tịch tỉnh, tỉnh ủy viên,
Giám đốc Sở hỏa xa. Chanh hy sinh bản thân mình cho đất nước (hoạt động
từ những ngày đầu cách mạng nổ ra), chịu tù đày đau đớn nhưng không hẳn
anh không dành những giây phút riêng tư nghĩ về gia đình, về hạnh phúc của
cá nhân. Con người xả thân vì nước nhưng cũng nghĩ về lợi ích của bản thân.
Những day dứt, trăn trở của Cả Chanh về lợi ích đất nước và lợi ích cá nhân
được miêu tả rõ nét qua dòng suy nghĩ: “Mỗi khi nghĩ đến Cam, Cả Chanh lại
buồn nhức nhối. Là con trưởng nam, anh được cha lo cho học chữ, học nghề
nhiều hơn, với hy vọng là đứa trước rước đứa sau, con béo kéo con gầy.
Nhưng anh không giúp được gì cho em út cả. Anh nhận mà không trả, đúng
hơn là chỉ trả cho Tổ quốc mà gần như bỏ mặc các em. Anh cố gắng tìm
thằng Cam đưa về quê, thu xếp cho nó ăn học…Chao ôi, nó có hiểu cho anh
rằng sau bấy nhiêu năm tra tấn tù đày, đau dạ dày nôn ra máu, vẫn chỉ được
hưởng mỗi ngày hai bữa cơm hẩm với rau luộc chấm nước muối” [121,
tr.425]. Ở đây, Chanh nhận thấy trách nhiệm của người con, người anh trong
gia đình mà anh không thể thoái thác. Con người cách mạng như Chanh
không còn suy nghĩ đơn giản về tình cảnh riêng của bản thân trong bối cảnh
chung của đất nước. Anh vừa lo việc nước vừa lo việc nhà, mong những điều
tốt cho người thân của mình. Trong khi Cam nằng nặc đòi về miền Nam để
“ngửi mùi thuốc súng vài tháng cũng được” thì Chanh lại muốn: “thu xếp cho
Cam tiếp tục nghiên cứu ở Liên Xô, làm luận án tiến sĩ theo đề nghị của bạn
là hơn cả. Anh Bảy Quý biết nó là đứa chỉ học chứ không ham tiền, ham ăn
chơi, chắc sẽ vui lòng giúp, tiếng nói của một ủy viên dự khuyết Bộ chính trị
nổi tiếng liêm khiết hẳn là nặng ki lô lắm” [121, tr.449]. Những trăn trở, suy
nghĩ của Chanh cũng xuất phát từ quan hệ máu mủ, huyết thống trong gia
đình, thể hiện đạo lý tình nghĩa từ bao đời nay của người Việt Nam.
43
Người cách mạng sau 1975 nghĩ về đời tư của mình không còn là ý
nghĩ thoáng qua như ý nghĩ của chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng. Có lúc
chị nghĩ nếu cả hai vợ chồng cùng hy sinh thì ai sẽ nuôi con nhưng đó chỉ là
suy nghĩ như “tia chớp yếu ớt, rất xa trong những đêm mưa mát dịu, không hề
làm xao động tới cảnh ấm cúng của mẹ con trong nhà ” [98, tr.269]. Giờ đây,
người cách mạng nhận thức về hoàn cảnh riêng của mình một cách sâu sắc.
Phan Tứ đã có cái nhìn tinh tế khi đề cập đến cuộc đời riêng tư của cá nhân.
Suy cho cùng thì “số phận và tự do của cá nhân gắn chặt với vận mệnh và tự
do của toàn xã hội, "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện để phát
triển tự do của tất cả" (C. Mác), bởi vì cách mạng xã hội chủ nghĩa xét đến
cùng, là nguyện vọng tự giải phóng của cá nhân và chủ nghĩa cộng sản”
[108]. Sau cái chết của đứa con trai đầu lòng vì bom đạn, cô Thùy – vợ Chanh
phát bệnh. Trước gia cảnh như vậy, Chanh không đành lòng nhìn vợ con đau
khổ, anh đành: “viết đơn xin nghỉ dài hạn để chữa bệnh và thu xếp việc nhà”
[121, tr.498] và “gượng mãi theo nghề xe lửa chạy đêm, sa lưới mãi trong bụi
tre gai của Ba Mậu, cố nén mãi những cơn đau dạ dày, khoán trắng mãi việc
kiếm sống nuôi nhà cho Thùy, không được nữa rồi. Đau lòng đến mấy cũng
đành rời hỏa xa thôi. Cả Chanh phải chịu rẽ bước đi ngang” [121, tr.516].
Anh ý thức được trách nhiệm của một người cha, một người chồng chưa chăm
lo cho vợ con, chưa làm đúng vai trò trụ cột trong gia đình. Anh muốn gánh
một phần trách nhiệm trong đó. Không chỉ nhận thức về hoàn cảnh riêng mà
Chanh cũng tự hiểu bản thân mình và tra vấn nghiêm khắc: “quất roi hành
xác, tự khép tội là mang nặng tư tưởng bi quan dao động, hoài nghi cá nhân
chủ nghĩa, mất lập trường…Rồi tới lúc khác, anh nhận ra mình chỉ mang
trong lòng một nỗi buồn chung chung….Buồn vì trước kia đã quá tin người,
quá bốc đồng, quá đơn giản, quá chúi mũi hùng hục, cho đến khi quả lắc
đồng hồ vung hết đà bỗng đánh ngược trở lại, quật vào lưng anh một đòn
44
phản phúc..” [121, tr.679]. Như vậy, người anh hùng trong cách nhìn của
Phan Tứ đã có ý thức bổn phận với gia đình. Đó chính là tiếng nói tự nhận
thức về bản thân mình, về hoàn cảnh riêng của mình. Điều này khiến hình
tượng người anh hùng trở lên chân thật với đời thường. Nhà văn đã trả lại cho
con người những giá trị vốn thuộc về họ mà văn học trước năm 1975 đã “làm
ngơ” hoặc cố né tránh. Cái ý thức gia đình cũng tồn tại trong bộ phận lớn
người lính được Phan Tứ miêu tả qua vấn đề ruộng cày. Họ cầm súng vì hòa
bình đất nước vì ấm no hạnh phúc muôn dân, nhưng khi những người thân
của họ sống trong cảnh nghèo khổ, họ dấy lên suy nghĩ: “ai lại để mãi cái
cảnh ngược đời, mình đi đánh giặc cứu nước, trong khi cha mẹ già cùng vợ
yếu con thơ cứ ăn cơm vay cày ruộng rẽ mãi mãi, vỗ cho mấy nhà giàu địa
chủ mập ú! Anh em giấu nhau gửi rất nhiều thư lên trung đoàn, xin phép
được ghi tên trước để khi xã mình phát động thì được phép về góp một tay ”
[121, tr.826]. Phải chăng, lợi ích quốc gia phải đi liền với lợi ích của cá nhân
thì giá trị cách mạng mới thực sự có ý nghĩa.
Cũng là sự nhận thức về bản thân trong hoàn cảnh lịch sử đầy biến
động, Khánh – sinh viên trường luật trong những ngày đầu tham gia mặt trận
Việt Minh, hăng hái thu mua súng cho cách mạng, vận động bọn địa chủ ra
đầu hàng cách mạng. Anh biết mình có công với cách mạng và tự thú nhận:
“không dám làm như Cả Chanh…..Tự tìm đến cách mạng trong đêm tối, chịu
đòn tra tấn” [121, tr.267], từng lúc thấy “mình là điệp viên quốc tế, là nhà
ngoại giao, là vị nhân sĩ trí thức, và như thế mới xứng đáng mười mấy năm
đèn sách” [121, tr.269]. Khánh hãnh diện, hồ hởi vì được móc nối với cách
mạng. Tuy nhiên, con đường Khánh đi không cùng hướng với đồng chí của
mình bởi anh đã nhận thức về sự tồn tại của bản thân: “Tại sao trong người
tôi luôn luôn có ít nhất một đôi kéo cưa lừa xẻ? Tại sao vô số người khác có
thể tin Đảng, tin chính nghĩa kháng chiến, tự tin đi theo cách mạng, còn tôi
45
lại cứ chập chờn, ngả nghiêng chao đảo, không tin ai mà cũng chẳng tin
mình?...Bên trong, tôi vẫn không biết mình thực sự là ai! ” [121, tr.841].
Bruce Weil và Heineman đã nói: “Tình yêu thương của con người có thể loại
bỏ mọi sự độc ác, bất công, vô cảm. Đôi khi, để yêu được một điều giản dị,
bình thường nhất trong cuộc đời này, người ta phải đi qua một hành trình của
máu chảy, chết chóc và tuyệt vọng”. Tất nhiên con người phải trải qua những
sai lầm, những ngộ nhận và bi kịch để tỉnh ngộ. Khánh cũng vậy. Phải chăng,
bản thân Khánh giống như lời tác giả Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Không
phải ngay từ đầu con người có thể trả lời được câu hỏi “Ta là ai”; “nghĩa là
một quá trình tự tìm mình: tìm tư tưởng, tìm tâm hồn đích thực của mình, tìm
bầu trời cảnh vật và những con người của riêng mình trong thế giới vô cùng
tận cả thiên hạ này, tìm ngôn ngữ giọng điệu không phải của ai mà của riêng
mình” [72].
Sau 1975, cuộc sống thường nhật đầy những biến động, ở đó con người
hàng ngày đối diện với nhiều xáo trộn phức tạp. Đây cũng là thời điểm để
nhiều nhà văn có điều kiện quan tâm đến đời tư, số phận từng con người.
Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn khác, hướng ngòi bút của mình khám phá
bình diện đời tư của cá nhân một cách chân thật. Phan Tứ soi tỏ cuộc sống của
nhân vật với những niềm vui, nỗi buồn, những suy tư về gia đình, về hạnh
phúc. Cả Chanh là nhân vật trung tâm của tác phẩm để Phan Tứ gửi gắm
nhiều tư tưởng, tình cảm. Không mang vẻ đẹp ngoại hình của anh hùng sử thi
trước năm 1975, Chanh chỉ “cao một mét sáu mươi, mắt hơi xếch, cằm chẻ
đôi” [121, tr.427] và cũng có điểm yếu như người bình thường: “cái tật suy
bụng ta ra bụng người, nghe khen ai là gật ngay, còn nghe chê mới bắt đầu
ngờ ngợ, hỏi vặn” [121, tr.499]. Anh còn là người mang nặng tư tưởng gia
đình. Điều này khiến Chanh phải chấp nhận điều kiện của bí thư khu ủy là
Chanh tham gia đoàn Trung ương ra Bắc để họp đồng thời có trách nhiệm
46
chữa bệnh, chữa lành các vết thương, đi tham quan nước ngoài…Chanh
không muốn đi vì công tác cách mạng còn nhiều khó khăn, ra đi thì ai sẽ thay
thế công việc của anh. Nhưng anh bí thư khu ủy đánh trúng chỗ yếu nhất của
Chanh: “Thùy có thai hơn ba tháng, ra Bắc sinh là phải. Con Bình mười hai
tuổi, đủ sức theo các bạn thiếu nhi ra học, không thể tập viết trên lá chuối
mãi được. Và anh ra đi cũng phải..” [121, tr.393]. Anh cũng không ngại ngần
khi bộc lộ công khai nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con. Đó là tình cảm gia đình trỗi
dậy: “nỗi nhớ nhà da diết qua hết chiều rộng của Đông Dương đến căn nhà
tranh nhỏ nằm nép trên bờ sông Linh, đến người vợ rất hiền lành đang nuôi
trong bụng đứa con thứ hai của anh, ở nơi có voi rống cọp gầm và máy bay
gào thét tìm giết hai mẹ con” [127, tr.691]. Nhắc đến chuyện vợ con thì nhiều
cậu lính trẻ tuy yêu vợ đấy nhưng vẫn gạt phắt đi vì coi đó là tầm thường, yếu
đuối. Trái lại, Chanh không hề che giấu tình vợ chồng trước mặt bọn địch
cũng như trước những ông bà cán bộ chê trách “tình cảm cá nhân” khi đất
nước loạn lạc. Bởi Chanh có lý do hết sức chính đáng: “tôi yêu vợ tôi chứ
không mê vợ người khác. Hai chúng tôi sống nay chết mai, hễ sai chỗ nào xin
các đồng chí cứ nói” [121, tr.138]. Dưới con mắt của Phan Tứ, người anh
hùng cách mạng không chỉ biết cuộc sống chiến tranh mà họ cũng có những
cảnh sinh hoạt đời thường. Đó là cảnh Chanh bắt cá cùng phường Linh Hạ,
săn thú trong rừng…Bên cạnh đó, Chanh có nỗi buồn khi thằng em trai Bảy
Bòng đứng về hàng ngũ kẻ thù, nhưng dường như cả nhà anh đều chịu ơn che
chở của y. Hắn được xếp vào loại ác ôn mà Đảng phải xử tử, khiến Chanh
phải chua xót: “thật không hở trời? tại sao cách mạng lép vế đến cái độ cả
một nhà theo cách mạng bấy nhiêu năm bỗng phải núp bóng một ác ôn phò
trợ? Về sau anh em gặp nhau thế nào, bốn đốm lửa mắt xói vào nhau, hai
họng súng chĩa vào nhau, ai sẽ bóp cò trước một giây ?” [121, tr.142]. Nghĩ
về gia đình, Chanh còn nhận ra: “cuộc sống hỗn tạp đầy rối ren đang chen
47
vào gia đình anh ngày càng sâu, xốc xới lên những thứ đau xót tưởng đã chìm
sâu dưới đáy trong thời chống Pháp: mẹ chồng nàng dâu, anh em ruột giành
gia tài, chị mang lựu đạn đi lùng em, em để mặc cho chị đi ở tù….Út Thanh
Yên đã dọa thêm: em lấy chồng ác ôn đó nghen, tội vạ gì mà không ảnh
hưởng của nhà Ngô..” [121, tr.219]. Không chỉ là con người mải mê với cách
mạng, Cả Chanh dường như quan sát nhiều hơn tới những mối quan hệ xung
quanh mình. Những rối ren trong cuộc sống thường nhật ở làng Linh Lâm ấy
là dấu hiệu rạn nứt tình cảm gia đình, phá vỡ nền tảng đạo đức truyền thống
bấy lâu.
Phan Tứ hướng ngòi bút quan tâm tới số phận con người trong hoàn
cảnh chiến tranh, những được – mất của con người. Bên cạnh những hào
quang của chiến thắng vẻ vang là những tổn thất của quân dân ta và cả những
tác động của nó để lại gây cho con người dằn vặt trong tâm hồn. Năm Chò
vốn là anh lính khố đỏ đi đánh thuê, vô kỷ luật, gặp Cả Chanh, vì mến phục
Chanh mà Chò đi làm cách mạng và từng bước trưởng thành trong quân ngũ
cách mạng. Con người trải qua đời lính từ những ngày cầm súng, chứng kiến
nhiều cái chết của đồng bào, của đồng đội mình khiến anh chịu đựng: “Nỗi
băn khoăn dày vò anh về người ở lại chìm sâu dưới những trăm nỗi lo toan
hàng ngày, chỉ trồi lên hành hạ anh về đêm, mỗi ngày đêm như thế lặng lẽ
khắc sâu thêm đường nhăn trên trán và để lại thêm một vài sợi bạc trên tóc”
[121, tr.896]. Đó là một sự thật mà những người lính như Năm Chò phải đối
diện hàng ngày. Chiến tranh gây ra bao nhiêu mất mát, tổn thất, nhưng có kẻ
mưu toan lấy cuộc chiến làm cơ hội thăng tiến. Nhân vật Khánh trong buổi
đầu tham gia phong trào Việt Minh với một: “giấc mộng thầm kín làm một
Napôlêông trong cách mạng vẫn chập chờn không rời Khánh” [121, tr.266].
Khánh nhận ra: “đây cũng là dịp cho những người táo bạo vọt từ cai đội lên
tướng soái, từ anh cạo giấy lên cầm đầu một nước, từ cậu sinh viên thất
48
nghiệp đang coi ấp cho quan phủ biến thành chính khách lẫy lừng với một
đảng lớn sau lưng và một đoàn hùng binh trước mặt!” [121, tr.266]. Tự anh
phá cặp da đắt tiền để may một bao súng rất đẹp với ý nghĩ: “Giấu các thứ ở
nhà vô ích, đem cho Cả Chanh mượn để chỉ huy còn được ơn nghĩa về sau”
[121, tr.271]. Đó là những toan tính vừa hướng về cách mạng nhưng cũng đầy
thiên hướng lợi ích của bản thân. Làm công tác địch vận, Khánh được đánh
giá là: “một tri thức trẻ, sớm tiến bộ, có tài, phải cái kiêu ngầm và thích sống
cô độc” [121, tr.542]. Cuộc đời của anh ta không phải là con đường thẳng như
Chanh, Cam, Tô Xáng, Bảy Quý…mà nó giống như một đồ thị hình sin,
hypecbôn. Hoàn cảnh của anh phức tạp, bị các vị lãnh đạo xếp vào hàng: xuất
thân địa chủ quan lại, bản thân tiểu tư sản (lớp trên). Khánh từng nuôi mộng
làm anh hùng cách mạng nhưng thực tế Khánh rơi vào bi kịch cuộc đời. Nhận
thức được hành vi của bản thân và Khánh tự cho mình là: “kẻ lừng khừng,
chao đảo, ngả nghiêng. Nuôi ảo tưởng là đứng trên mọi cuộc ẩu đả. Cố giữ
tâm hồn kẻ sĩ, an bần lạc đạo, rốt cuộc thì bần không chịu nổi, mà đạo thì bị
xói mòn mỗi ngày một ít” [121, tr.193] và trượt dài trên con đường đời, xa rời
đồng chí. Cuối cùng anh ta rơi vào bi kịch và đứng về chiến tuyến của chế độ
Việt Nam cộng hòa. Tính cách của mỗi người không phải được định hình
ngay từ đầu mà thường xuyên biến đổi, luôn có những bước ngoặt, bước
chuyển nhiều khi không thể lường trước được. Khánh là kiểu nhân vật như
vậy. “Số phận bi kịch được đưa vào tác phẩm giúp cho nhà văn tiến hành sự
phân tích xã hội học đối với cấu trúc của xã hội hiện đại một cách chính xác,
đồng thời cả đi sâu nghiên cứu thế giới bên trong của cá nhân một cách sâu
sắc. Hơn thế, sự phân tích xã hội học nói đây có thể được thực hiện một cách
gián tiếp, không phải trong sự đụng độ của những lực lượng xã hội, mà trong
toàn bộ sự phức tạp và sự đa dạng của cá nhân con người buộc phải ứng xử
trong tình thế bi kịch ấy, phải mang số phận bi kịch ấy ” [81]. Một con người
49
phức tạp như Khánh, từng ăn nằm với Năm Bưởi nhưng không yêu Bưởi. Khi
đứa con rơi chào đời thì anh ao ước, thèm muốn nhìn đứa bé, tìm mọi cách để
gặp con, trào dâng tình phụ tử: “hình ảnh đứa con rơi lâu nay chập chờn khi
xa khi gần chung quanh Khánh, bỗng chốc hiện lên sắc nét như một thiên
thần mũm mĩm trong tranh Phục hưng. Không chịu nổi nữa. Anh phải thấy nó
ít nhất một lần, một lần thôi, tới đâu thì tới” [121, tr.642]. Và mỗi lần tìm đến
làng Linh Lâm thăm trộm đứa con thì hình ảnh Thùy ám ảnh Khánh, rồi anh
mang trong lòng tình đơn phương với Thùy, ao ước có được cô và bé Chung.
Trong một số truyện sau 1975, bình diện đời tư cá nhân của con người
đã được nhiều nhà văn quan tâm và miêu tả thành công. Đó là cuộc sống của
những nhà chính trị Nguyễn Ánh, Nguyễn Huệ… trong tác phẩm của Nguyễn
Huy Thiệp; lão Khúng trong truyện của Nguyễn Minh Châu…Trong Phiên
chợ Giát, đời tư cá nhân gắn với nhu cầu nhận thức trước thân phận, trước
hiện thực hàng ngày. Đó là “sự trăn trở về số phận con người ở một vùng đất
khắc nghiệt bởi thiên nhiên tàn khốc, bởi sự đổ nát do chiến tranh, giặc giã”
[49, tr.123]. Cuộc đời của lão Khúng là cuộc đời của con bò Khoang. Từ một
“ả gái tơ”, đến nay bò Khoang chỉ là một “mụ già hom hem”. Lão Khúng từ
một anh nông dân gan góc, khai phá rừng hoang thành miền đất lành, qua
nhiều biến cố giờ đây Khúng là một lão già ngẩn ngơ, hay bi quan nghĩ về cái
chết. Cử chỉ giải thoát cho con bò Khoang mang ý nghĩa “tự giải thoát”, thả
bò Khoang về chốn rừng thẳm sống nhởn nhơ, tự do, lão Khúng thực hiện ảo
tưởng tự do hoang dã của mình. Và đến khi: “từ rừng sâu con bò lại quay trở
về gặp chủ nó” nói lên “sự luẩn quẩn của số kiếp bò” nhưng cũng là “sự thất
bại não nùng của ảo tưởng tự do của lão Khúng” [36, tr.202]. Nhà văn đưa ra
hai khả năng giới hạn của số phận người nông dân. Người nông dân có thể trở
thành hung thần qua giấc mơ đầu tiên: “kẻ nâng chiếc búa tạ nện đánh vào
đầu con vật là lão chứ ai” [36, tr.202]; có thể trở thành nạn nhân trong giấc
50
mơ cuối cùng, Khúng “bị đánh bằng búa tạ, chính lão là con bò! …máu me
đầm đìa” [36, tr.202]. Trong Khách ở quê ra, nhân vật Khúng chiêm nghiệm
về buồn vui, về sự được – mất ở đời khi ngồi bên ly rượu cùng với Định:
“Phàm con người ta ở đời, có cái gì hơn người, sướng vì nó chuốc lấy chua
cay cũng vì nó?” [7, tr.526]. Cũng là một cái nhìn sắc sảo về thế giới con
người sau 1975, Nguyễn Huy Thiệp miêu tả những niềm vui, nỗi buồn của
những ông vua trong cuộc sống thường nhật. Miêu tả Nguyễn Ánh (Kiếm
sắc), Nguyễn Huy Thiệp đã cho người đọc thấy một ông vua thuở hàn vi: “ta
chỉ vỏn vẹn có ba thước đất chôn đây thôi ” [99, tr.222], cũng tỏ thái độ ghen
tức và vui sướng khi kẻ thù bị tiêu diệt: “Nguyễn Huệ chết…Ánh mừng lắm,
sai mở tiệc mừng” [99, tr.222]. Ngoài ra, nhà vua còn có cái tôi cá nhân: “Vua
Gia Long không đại diện cho ai, ông chỉ chịu trách nhiệm với mình….Nhà
vua có cách nhìn thực tiễn với chính từng khắc tồn tại của bản thân mình”
[100, tr.236]. Và “Vua Gia Long biết mình “đóng trò rất giỏi trong triều đình
(chấp nhận sự tung hô của bọn quần thần; là người cha nghiêm khắc của lũ
con ích kỷ, đần độn; người chồng đáng kính của các bà vợ tầm thường…);
ông biết mình già, bất lực, quốc gia nghèo đói…” [54]. Vua Gia Long ở đây là
người: “đa mưu, túc trí, tính kiên trì, không tin ai, dùng người lấy chữ hiệp
chữ lễ làm trọng, không coi nhân, nghĩa, trí, tín ra gì. Thỉnh thoảng Ánh vào
sâu trong đất Thuận Quảng, xuất quỷ nhập thần. Người Đàng Trong sợ Ánh
hơn là thích Ánh. Ánh đi đến đâu nghe nói cũng có mây đen cuồn cuộn bay
đằng trước, dân cứ thấy có mưa là biết Ánh vừa đi qua” [99, tr.281]. Tinh tế
hơn dưới con mắt của Nguyễn Huy Thiệp, nhà vua cũng là một người có tính
xảo quyệt: Nguyễn Ánh (trong Kiếm sắc) sau khi gây dựng cơ đồ thành công
đã cho người giết chết Đặng Phú Lân – kẻ hầu người hạ nhà vua những năm
tháng khó khăn trong buổi đầu dựng nghiệp. Đặng Phú Lân đã có nhiều can
gián Nguyễn Ánh làm việc của kẻ tiểu nhân (ăn mừng khi Nguyễn Huệ chết),
51
ngăn cản Nguyễn Ánh không sa đà vào tửu sắc… Và nhà văn cũng khai thác
khía cạnh nỗi niềm riêng tư trong đời của vua Nguyễn Ánh “nhà vua là một
khối cô đơn khổng lồ” [100, tr.234]. Ông cũng khai thác những mẩu chuyện
đời tư của vua Quang Trung, chuyện tình cảm giữa Nguyễn Thị Lộ và
Nguyễn Trãi.
Mỗi con người có một số phận riêng. Có thể nói, hình ảnh người phụ
nữ trước 1975 được Phan Tứ xây dựng khá thành công, với tình cảm đặc biệt.
Họ là những người phụ nữ vùng Trung Trung Bộ không kém phần trung hậu
đảm đang “hai tay việc nước, việc nhà gọn trơn”. Họ là má Bảy (Gia đình má
Bảy), mẹ Sáu (Mẫn và tôi). Đến các chị trung niên như chị Sính (Tấm ảnh,
trong Về làng), chị Năm Tân (Gia đình má Bảy), chị Tám Giàu, chị
S.22…(Mẫn và tôi). Các chị làm cách mạng và hy sinh rất lặng lẽ. Nhiều chị
tự gánh lấy trách nhiệm vừa dìu dắt, khích lệ, đồng thời vừa học hỏi lớp trẻ để
cùng chung tay lo việc nước. Qua hàng loạt cô gái trẻ như Ngọ, Sâm (Gia
đình má Bảy), Chín Cang (Mẫn và tôi)….đặc biệt là Mẫn, tác giả càng khẳng
định vai trò, vị trí, năng lực của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng
đất nước. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, Phan Tứ chưa đề cập sâu cuộc đời
riêng của người phụ nữ. Nhà văn vẫn nhìn họ bằng cái nhìn trân trọng, với
giọng ca ngợi đằm thắm, trữ tình. Lê Thị Đức Hạnh đã nói: “đúng là, một số
chương, đoạn của Phan Tứ còn ở mức ghi chép, kể lại, ít gắn bó với việc làm
sáng tỏ số phận nhân vật” [32, tr.140].
Trong Người cùng quê, cái nhìn của nhà văn về người phụ nữ phong
phú, đa dạng hơn. Nhà văn đi sâu vào tâm tư nguyện vọng của người phụ nữ
về hạnh phúc cá nhân. Mỹ Duyên – cô gái nhảy thông minh, xinh đẹp, là vợ
ba của quan Phủ Đỉnh. Sau khi tham gia công tác Truyền bá quốc ngữ, gia
nhập đoàn biểu tình cùng các chị phụ nữ, cô thay đổi suy nghĩ. Đoạn đối thoại
với Khánh bộc lộ thái độ sống hướng tới sự trung thực, lương thiện của cô:
52
“em không muốn lương thiện với bọn đểu giả, không thể thủy chung với đứa
năm thê bảy thiếp còn thêm vài tá nhân tình” [121, tr.309] và “thèm sống có
ích, thèm được thương yêu, thèm người ta coi trọng” [121, tr.309]. Đây là ước
muốn chính đáng của con người khi ánh sáng cách mạng về với họ: “cách
mạng là đổi đời mà anh” [121, tr.309]. Cô bộc bạch tâm tư: “rồi em sẽ lấy
chồng. Lấy một người không đẹp trai như anh, ít tài giỏi hơn anh, nhưng biết
quý vợ thương con là đủ…em sẽ vun đắp hết cho chồng con” [121, tr.311].
Qua đoạn đối thoại giữa Khánh và Mỹ Duyên, đọc giả thấy Phan Tứ trân
trọng phần hướng thiện, cả những chút thiên lương còn lại ở những người phụ
nữ như Mỹ Duyên. Đây là điểm nhìn đầy nhân văn của nhà văn dành cho phụ
nữ. Cho dù nhìn ở góc độ nào thì người phụ nữ của Phan Tứ đều đáng được
cảm thông và sẻ chia. Chị Sáu Lễ - phó chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ miền
Nam Trung Bộ nhưng lại là một trong những người “tin người đến cái độ
ngây thơ” [121, tr.499]. Vợ chồng chị Sáu Lễ đều hoạt động cách mạng, chịu
đầy mất mát: chịu tù ngục, đứa con trai duy nhất chết khi chị ở tù. Khi nhìn
cảnh sống bình dị của Cả Chanh, trong lòng chị dấy lên những khát khao đời
thường mà chị không có được: “nỗi thèm thuồng không cưỡng nổi. Dù sao chị
vẫn là đàn bà. Người đàn bà nào lại không khao khát có chồng bên cạnh, có
vài đứa con quấn quýt quanh mình, có căn nhà yên ổn với vườn rau, ao cá,
mọi thứ nấu nướng hay may vá dưới tay, có nhiều người thân sẵn sàng xúm
tới để chia sẻ vui buồn. Chị chưa từng được sống êm ấm trong vai người vợ,
người mẹ” [121, tr.560]. Đó là sự bất hạnh mà một người phụ nữ như chị phải
âm thầm chịu đựng. Những thầm kín riêng tư được Phan Tứ soi từ góc khuất
trong tâm hồn người cách mạng. Họ đã hy sinh hạnh phúc giản dị của đời
mình để phục vụ Tổ quốc. Cũng là nỗi đau mà một người mẹ như Năm Bưởi
phải trải qua. Sau nhiều năm ở tù, nhiều đợt tra tấn quá dữ, Bưởi về nhà với
thân hình còm cõi, hay khạc ra máu, mang thêm nỗi đau phải trả thằng Chung
53
cho Hai Khánh – cha nó. Cô xã đội ngổ ngáo năm xưa, với gò má nhọn…dám
ngồi rèn hay đánh búa chẳng thua ai, đi đâu cũng khoác cây súng kỵ binh
Nhật, lý sự đến mức bị gọi lóng là Năm Nhím. “Nay chỉ là người đàn bà khặc
khừ, xếp loại bảng đen, cấm ra khỏi thôn, mà không cấm cũng không tự đi
nổi” [121, tr.146].
Con người chịu tác động của quy luật chiến tranh nhưng vẫn có một đời
sống riêng. Có bao nhiêu con người có bấy nhiêu số phận, bấy nhiêu thế giới
tâm hồn phức tạp. Con người khẳng định bản thân mình giữa hiện thực khi nó
được cất tiếng nói của mình, cần được mưu cầu hạnh phúc cuộc sống. Việc
mở rộng cái nhìn con người của Phan Tứ sang bình diện cá nhân là chiều sâu
của đổi mới của tư duy nghệ thuật.
2.2. Con người trong mối quan hệ đan xen, phức tạp
Con người không thể tồn tại nếu tách rời môi trường xã hội xung quanh.
Hay nói cách khác, con người luôn phải sống trong một môi trường nhất định
và bản chất con người luôn được bộc lộ thông qua những mối quan hệ trong
môi trường ấy. C.Mác nói: “Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”.
Nghĩa là, khi ta muốn tìm hiểu bản chất một con người cụ thể thì cần phải
xem xét đến những mối quan hệ xã hội của họ. Trong nhiều tác phẩm văn
học, việc xây dựng nhân vật anh hùng cũng được các nhà văn chú ý những
mối quan hệ xã hội của nó. Các nhà nghiên cứu cho rằng: “Mô tả người anh
hùng trong quan hệ xã hội của họ và mô tả người anh hùng trong quá trình
phát triển thông qua những quan hệ ấy, đó là yêu cầu của chủ nghĩa duy vật
lịch sử về mặt triết học và của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa về
mặt văn học” [91, tr.106]. Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà đề cập đến vai trò của
mối quan hệ trong tác phẩm: “cái cơ bản vẫn là nhu cầu của công chúng về
một khía cạnh của chủ đề con người trong nghệ thuật. Người ta không phải chỉ sống bằng chính trị mà phần lớn là bằng quan hệ ở đời giữa con người
54
với nhau, bằng đạo lý, văn hóa, phong tục. Tác phẩm nào mang những nội
dung này thường dễ gần gũi với công chúng đông đảo” [108].
Sau ngày hòa bình lặp lại, mối quan hệ của con người không còn đơn
giản trong giới hạn cái nhìn giữa ta và địch. Con người có muôn vàn những
mối quan hệ khác nhau trong đời sống hàng ngày: giai cấp, gia đình, tập thể,
tình cảm…..Điều này đòi hỏi mỗi cá nhân có những hành vi, ứng xử phù hợp
với từng hoàn cảnh cụ thể. Với cách nhìn này, nhà văn xây dựng nhân vật của
mình với từng cuộc đời, số phận và tính cách khác nhau ở những môi trường
khác nhau. Bằng nhãn quan của nhà văn nắm bắt sâu sắc hiện thực đời sống,
Phan Tứ đặt nhân vật của mình trong mối quan hệ nhiều chiều. Sự chuyển
dịch cách nhìn con người trong quan hệ ta – địch sang cái nhìn con người
trong mối quan hệ đa dạng, đan xen là biểu hiện của sự tìm tòi, đổi mới quan
niệm nghệ thuật về con người. Thế giới nghệ thuật trong Người cùng quê hiện
lên phong phú, phức tạp những mối quan hệ của nhân vật. Tiêu biểu là mối
quan hệ tay ba giữa Tú Đỉnh (quan phủ) – Khánh (sinh viên trường luật) –
Ximonet Mỹ Duyên (gái nhảy) biểu thị cho sự đa dạng trong mối quan hệ đời
thường của con người. Ung Viết Khánh trong quan hệ gia đình gọi Tú Đỉnh là
cha dượng, gọi Mỹ Duyên là dì ba, nhưng trong quan hệ tình cảm riêng tư thì
anh là tình địch của ông bố hờ này, là tình nhân của Mỹ Duyên. Về sau, khi
Duyên tham gia hoạt động cách mạng, quan hệ giữa Khánh, Phủ Đỉnh với Mỹ
Duyên là những kẻ đối lập nhau. Mối quan hệ giữa cô và Khánh được nối
“bằng sợi cao su khi căng khi chùng, chưa hề đứt” [121, tr.396]. Trong quan
hệ giai cấp, Khánh thuộc tầng lớp địa chủ quan lại nhưng không có ý thức
phân biệt giai cấp, chưa lần nào để người ở – thằng Cam phải “chạy ngựa” mà
“đèo luôn đứa bé giữ ngựa ngồi lên trước yên. Về gần tới ấp mới chia ngôi
chủ tớ” [121, tr.272]; ủng hộ cách mạng bằng việc mua súng nhưng không
dám lăn xả hành động cách mạng và “chỉ muốn dính vào cách mạng như
55
trước đây đi sinh hoạt Hướng đạo chiều chủ nhật, đi dạy Truyền bá quốc ngữ
mỗi tuần vài đêm” [121, tr.395]. Đó là một thái độ nửa vời, không dứt khoát.
Ngoài ra, Khánh còn mối quan hệ với tổ chức Việt quốc, với chế độ cộng hòa
Sài Gòn: “từ thân tù kiệt quệ anh bước vào quân lực, nhận lon ba bông mai
vàng đại úy, để ít lâu sau được vinh thăng lên thiếu tá. Khánh đã chứng minh
được lòng trung thành với Ngô Tổng thống bằng những chiến công chẳng
mấy ồn ào của ngành tâm lý chiến” [121, tr.107]. Từ sự đa dạng trong quan
hệ giao tiếp xã hội, Phan Tứ cho người đọc thấy một nhân vật – Khánh có
nhiều phức tạp trong đời sống nội tâm và những sự lựa chọn phức tạp, thậm
chí là sai lầm về phương diện chính trị: “Một con người rất lạ. Thể xác cường
tráng nhưng tâm hồn yếu đuối, dễ tủi hờn. Vô cùng thông minh và ham
học…nhưng ứng xử trong đời sai hết chỗ này đến vấp chỗ khác, làm khổ cô
Năm Bưởi, bị thằng Chung hành hạ như báo oán, và sai lầm nặng nhất là đi
tìm trưa tròn bóng lúc hai giờ chiều với ảo tưởng có thể xây một chế độ dân
chủ kiểu Pháp hay Anh trên đất nước này, đã đi tìm tình cảm gia đình khi mọi
con người đã thay đổi…” [121, tr.499]. Song hành với Khánh là người tình
Mỹ Duyên – một người đàn bà thông minh, sắc sảo khiến Khánh phải thất
kinh khi cô “đọc vanh vách ra những suy tính thầm kín nhất của anh bằng
những lời cắn sâu đốt thịt như axít” [121, tr.47]. Trong quan hệ với gia đình
Tú Đỉnh, cô biết đóng kịch là một bà vợ bé luôn nghe lời, biết chiều chuộng
bà vợ cả (mua tặng lễ vật, ăn chay cùng). Trong quan hệ với các hãng thông
tấn xã Nhật, Pháp, AFP, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi.. , với gia đình Laphacsơ thì
Duyên là con người khôn ngoan, nhạy bén. Trong quan hệ với cách mạng, cô
từng dạy Truyền bá quốc ngữ, trút bỏ bộ cánh lộng lẫy bằng bộ bà ba giản dị
và sau này chính Mỹ Duyên là cơ sở của Mặt trận Giải phóng. Cô đã tác động
tới Khánh quay trở về với đồng bào, đồng chí của mình. Trong quan hệ tay ba
này, có lẽ nhân vật Phủ Đỉnh biết đóng đủ các loại vai trên sân khấu hiện thực
56
đời sống thông qua các mối quan hệ của ông ta: “Từ Việt quốc nhảy sang Cần
lao nhân vị, từ thờ ông bà sang thờ Chúa, từ tri phủ sang chủ tịch Liên Việt,
sang phó tỉnh trưởng, thời nào ông cũng ngoi lên đỉnh sóng được” [121,
tr.106]. Ông ta không khác gì một con kỳ nhông thay đổi màu sắc theo thời.
Sự đa dạng những mối quan hệ trong cuộc sống hàng ngày khiến con người
trở nên phức tạp, khó nắm bắt đời tư. Nhiều khi con người phải đeo “mặt nạ”
giao tiếp trong từng đối tượng, từng hoàn cảnh cụ thể. Cũng như Phủ Đỉnh,
nhân vật Cửu Áng – nhân vật trung gian biết đóng đủ các vai: “ông chúa làng
bản xứ khi gặp chủ đồn điền Laphạt, viên lý trưởng khúm núm khi sang ấp
quan phủ, một tay thương lái lõi đời khi thăm ông Xâm Tố bên bàn đèn, và
ông xã vô cùng bình dân hồ hởi khi dạo quanh làng” [121, tr.128], là “bác
Mười Áng lần lượt làm trưởng ban Bình dân học vụ, trưởng ban Đỡ đầu dân
quân, phó Chủ tịch Liên Việt xã” [121, tr.625] trong thời kỳ cách mạng.
Con người sống không thể tách rời quan hệ cộng đồng làng xóm, gia
đình. Mối quan hệ tưởng như gần gũi, thân thuộc nhưng không đơn giản, và
đầy sự rối ren trong đó. Một gia đình cách mạng như Tư Chua lò rèn trong
những ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng là nơi dân làng Linh Lâm hội họp
đông vui. Trải qua giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ, gia đình ông bị xếp vào
loại A tình nghi can cứu, có lúc bà con lối xóm lại xa lánh, không dám ra mặt
trực tiếp giúp đỡ ông. “Ông mướn người giúp leo cây, sửa mái, chẳng ai nhận
thuê. Nhưng chỉ một vài hôm sau, dân Linh Lâm đến nhà ông, vác theo vài
cây tre mà ông biết đã ngâm tới mọc rêu, ném uỳnh xuống, nói to là trả công
rèn cuốc rựa gì đó mà ông chưa hề làm cho họ…Còn những đám trẻ không
nhận ông thuê, lại đến vì không đủ tiền công rèn, nói phải là một buổi thay
cho một ang lúa nhưng nấn ná tới ba ngày” [121, tr.144]. Người ta sợ liên lụy
đến nhà Tư Chua nhưng vẫn trí trá âm thầm giúp đỡ. Bản thân Chanh ngoài
những mối liên hệ với tập thể cách mạng, với đồng bào, nhân vật cũng được
57
đặt trong mối quan hệ gia đình đầy phức tạp. Đó là cảnh anh em ganh ghét,
hằn thù lẫn nhau, tranh giành tài sản của nhau. Tư Quýt đi học tố cộng để tố
Chanh, Năm Bưởi. Chanh đã “gặp quá nhiều gia đình chia năm xẻ bảy, tố
giác lẫn nhau, chỉ đau lòng khi mấy anh chị em trong nhà cũng theo cái đà
chung ấy” [121, tr.52]. Nhất là trong tình thế khó xử, khi Chanh có đứa em
trai – Bảy Bòng theo giặc, làm cảnh sát trưởng xã Tây Giang, đầu quân cho
biệt kích Mỹ, được “các vị cấp trên Mỹ và Việt xếp hắn vào loại cảnh sát trào
Ngô Đình Diệm, hung dữ và dốt nát, chỉ biết tra khảo, hối lộ đầy túi, ăn gan
uống huyết cộng sản” [121, tr.463]. Với gia đình – xã hội, Bảy Bòng là kẻ
phản bội vì làm tay sai của địch. Với cách mạng thì anh ta được “cơ sở ta xếp
loại ác ôn phải xử tử” [121, tr.142]. Chanh sẽ làm gì khi hai anh em giáp mặt
nhau, ai sẽ là người nổ súng đầu tiên. Bởi Bòng coi Cả Chanh, Năm Bưởi như
là kẻ thù. Bòng tuyên bố sẽ không tha cho hai người nếu bắt được. Bảy Bòng
ghét vợ chồng Tư Quýt ra mặt. Nhưng với Thùy – vợ của Chanh, Bòng tỏ ra
là một đứa em nghe lời, kính trọng, thương yêu chị hết mực, luôn tìm cách
bảo vệ Thùy và cũng phục Chanh nhất. Sự phức tạp trong mối quan hệ gia
đình Tư Chua là điển hình cho hiện thực cuộc sống hàng ngày của con người.
Bằng hình tượng nghệ thuật, Phan Tứ hình thành nên một thế giới con
người đa dạng, phức tạp trong Người cùng quê. Cái nhìn của Phan Tứ chứng
minh khả năng chiếm lĩnh hiện thực đời sống và con người một cách nhạy
bén. Chính từ những mối quan hệ, Phan Tứ đã khám phá ra chiều sâu trong
con người. Đây là biểu hiện rõ nét cảm quan hiện thực mới của nhà văn Phan
Tứ sau 1975.
2.3. Con người khát khao tận hưởng tình yêu và hạnh phúc Con người sinh ra đều có nhu cầu được sẻ chia những cảm xúc trong cuộc
sống, đặc biệt nhu cầu được cho đi và nhận lại những tình cảm yêu thương
giữa người với người. Trong những năm tháng chiến tranh, nước mất nhà tan,
58
con người đành giấu kín những tình cảm đời thường để ra đi vì nghĩa lớn. Hầu
hết tình cảm thiêng liêng của con người trong văn chương giai đoạn này đều
quy tụ về tình cảm dân tộc. “Những tình cảm riêng tư trong nhiều tác phẩm
chỉ được ghi lại những nét thấp thoáng như để làm nền cho những tình cảm
trong quan hệ cộng đồng” [58, tr.103-104]. Qua thực tiễn ở chiến trường,
Phan Tứ chiêm nghiệm: “Từ trăm ngàn trường hợp rối rắm ta sẽ tìm ra cách
giải quyết các rối rắm với một quan điểm về tình yêu và hạnh phúc: lấy hiếu
làm trinh, chung thủy với cách mạng là chung thủy với chồng” [53, tr.732].
Từ chính trải nghiệm của bản thân đã chi phối quan điểm sáng tác của Phan
Tứ. Nhà văn bộc bạch tâm tư sâu kín: “Tôi đã quá 30 tuổi, mối tình có phần
muộn màng của tôi còn có thể bị tan vỡ. Mặc kệ, nhiệm vụ trên hết. Giải
phóng rồi có thể tính sổ xem bản thân mình còn lại gì, gia đình mình và
những gì thân yêu nhất của riêng mình. Hiện tại, không tính toán gì cho cá
nhân cả” [53, tr.161]. Bằng thực tiễn, trải nghiệm, nên trong sáng tác trước
1975, Phan Tứ soi chiếu tình yêu đôi lứa, hạnh phúc cá nhân trên cơ sở tình
cảm cách mạng, tình đồng chí. Trong Trước giờ nổ súng, anh Pheng thích cô
Soan nhưng anh vẫn trả lời: “Thích chứ. Nhưng đợi độc lập đã. Đánh thắng
rồi, cô chưa lấy ai thì tôi đến hỏi” [52, tr.306]. Tuyên – Trung đoàn trưởng, bí
thư Đảng ủy cũng có cảm tình với Soan, không dám bày tỏ tình yêu đó. “Ba
mươi tuổi đầu, anh vẫn không kịp lo đến vợ con. Từ dạo vượt ngục Sơn La,
hoạt động Việt Minh bí mật, qua kháng chiến đến nay vừa tròn mười một
năm, anh chưa yêu ai, và hình như cũng chưa ai yêu anh. Anh có cảm tình với
giới phụ nữ nói chung, thấy mỗi cô gái đều mang đến cho anh một chút gì
tươi mát, êm dịu trong mười một năm căng thẳng liên miên ấy. Hết chiến dịch
đến chỉnh huấn, xong chỉnh huấn đến luyện quân, qua luyện quân đến chiến
dịch mới, bao giờ cũng có yêu cầu “tạm gác việc riêng, tập trung tư tưởng”.
Đối với yêu cầu ấy anh luôn gương mẫu, quá gương mẫu là khác” [52,
59
tr.307]. Tình yêu giữa Mẫn và Thiêm (Mẫn và tôi) không phải ngẫu nhiên mà
họ gặp nhau rồi yêu nhau ngay. Thiêm và Mẫn có nhiều mặt khác nhau: tính
nết, nghề nghiệp, về trình độ văn hóa, về sự từng trải…Hồi đầu, Thiêm cho
rằng “Mẫn không thuộc kiểu người tôi thích” [119, tr.80], xin chỉ “kính nhi
viễn chi” [119, tr.124]. Qua một thời gian, trong quan hệ công tác, họ phục
nhau mến nhau và ngày trở nên gần gũi vì cả hai có cùng một số nét căn bản
giống nhau: cùng lý tưởng, cùng ham học hỏi, cùng dám nghĩ, dám làm. Mẫn
yêu Thiêm đến mất ăn mất ngủ nhưng vẫn thấy “cái Chu Lai lù lù trước mặt”,
vẫn sợ cưới vì vướng chồng con, ảnh hưởng đến việc nước. Thiêm khao khát
cháy bỏng được gặp Mẫn, ai cũng tưởng anh sẽ tâm sự dặn dò nhưng không,
anh chỉ gặp Mẫn để yêu thương, để hỏi han tình hình chiến sự và câu chuyện
tình yêu giữa họ vẫn là học làm cách mạng, học làm người: “Sao trong đêm
trăng, hai người yêu nhau lại nói chuyện chính trị?”. Thông qua mối tình
Thiêm – Mẫn, tác giả gợi ra một số vấn đề có ý nghĩa, đặc biệt vấn đề tình
yêu và lý tưởng, làm cho đọc giả phải suy nghĩ. Tình yêu của Bê và Sâm (Gia
đình má Bảy) cũng là tình yêu nảy nở dưới hầm chống càn. Họ muốn giành
phần nguy hiểm về bản thân để người kia được an toàn: “Anh thương Quảng
và liều chết cứu Quảng. Anh yêu em, muốn ra ngoài cản địch cho em….Em
vừa giành của anh cái hạnh phúc được quên mình” [117, tr.779]. Tình yêu đó
càng được bồi đắp trong quá trình hai người giúp nhau thực hiện nhiệm vụ
cách mạng. Họ đến với nhau bằng sự cảm phục lẫn nhau trong hoạt động cách
mạng. Và chính Phan Tứ cũng có mối tình với cô Thảo ở hậu phương. Tình
yêu của họ đẹp lung linh hơn khi mang màu sắc chính trị, qua những trang thư
cô Thảo nói: “Tình yêu của em dành cho anh còn mang ý nghĩa chính trị” [53,
tr.717].
60
Khi chiến tranh kết thúc, hạnh phúc và nhu cầu riêng tư của con người
được bày tỏ cởi mở hơn, cảm xúc gần với đời thường. “Quả đã một thời nhiều
người tin rằng "chính trị là thống soái", giai cấp là cái thấm vào tất cả mọi
ngõ ngách của đời sống, xuyên suốt con người từ đầu tới chân, dường như
mọi nỗi đau của kiếp người đều gắn với bất công giai cấp, với chính trị phản
động, ngay đến tình yêu, dù là yêu một bông hoa hay một con người thì mọi
thứ cũng đều mang tính giai cấp cả. Cách vận dụng quan điểm giai cấp triệt
để đến mức dung tục và đôi khi nghiệt ngã ấy đã làm héo mòn phần nào dòng
nhân văn trong văn học chúng ta. Nó vừa che khuất những giá trị nhân đạo
tốt đẹp của văn học quá khứ và văn học nước ngoài, vừa cản trở những người
sáng tác nói lên những gì thầm kín trong "cõi nhân gian bé tí" của con người”
[108]. Sau 1975, Phan Tứ phóng khoáng hơn trong cái nhìn tình yêu đôi lứa.
Nhân vật của ông thể hiện tình cảm một cách chân thành, cởi mở. Họ yêu
nhau vì mến nhau bằng cảm xúc đời thường, không còn là sự kết hợp giữa
tình cảm chính trị và tình cảm cá nhân. Đó là tình yêu giữa anh cán bộ với cô
gái bình dân, tình yêu của cô du kích với anh chàng sinh viên luật, tình yêu
giữa cô gái nhảy đầm với con trai quan phủ….Tất cả tình yêu đó xuất phát từ
rung cảm trái tim của con người bình thường. Nhân vật Phan Chanh không
che giấu cảm xúc dâng trào trong lòng với cô Thùy – con gái của ông Hai Rề
làm cùng ngành hỏa xa với anh. Anh cũng có hành động bối rối, vụng về của
tâm trạng đang yêu: “anh luống cuống hôn vội vàng vào má, vào tai, vào cổ
Thùy. Thùy vừa ngước mặt lên, anh hôn luôn vào trán, vào mũi” [121, tr.438].
Anh cũng thổn thức khi bày tỏ tình yêu: “Anh yêu em khủng khiếp. Thùy ơi,
nhứt định cưới nhau nghen Thùy? Nói đi em. Hẹn cắn cưa đi em, cho anh yên
bụng” [121, tr.439]. Đúng vậy: “Các nhà tiểu thuyết muốn triển khai tác
phẩm cả chiều rộng lẫn chiều sâu, cho nhân vật trải nghiệm trong không
gian, thời gian rộng và các cung bậc tình cảm đa dạng, sinh động phức tạp”
61
[121, tr.103-104]. Để cho nhân vật sống với những con sóng tình cảm của
mình, nhà văn mới xây dựng được tính chân thật trong tác phẩm. Chanh cũng
không kiềm lòng khi về làm thanh tra ngành Hỏa xa toàn Trung Bộ, tranh thủ
đến gặp cô Thùy với lời lẽ hết sức thương nhớ: “anh chạy về gấp thăm em,
đừng giận, tại anh nhớ em quá..” [121, tr.440]. Có khi, tình yêu cũng chỉ từ
một phía nhưng nó giúp con người nuôi bao hy vọng. Cô du kích Năm Bưởi
được mệnh danh là Năm Nhím đã mang trong lòng tình yêu đơn phương với
cậu con trai quan phủ - Hai Khánh: “Trời sập em không sợ, nhứt đánh nhì đày
em không sợ, chỉ sợ anh không thương em…” [121, tr.546]. Bưởi gặp Khánh
trong bệnh xá, Bưởi chăm sóc chu đáo cho anh, rồi: “Bưởi mê cuồng, Khánh
chỉ yếu lòng và thương hại” [121, tr.547]. Và chính sức hút kì lạ đến mãnh
liệt của tình yêu khiến con người trở nên tính toán. Cái nhiệt huyết của người
lính đi tình nguyện đã xen lẫn động cơ cá nhân. Tám Thống tính vốn hay ghen
đi tình nguyện sang Lào vì muốn được gần người yêu – y tá Lan và đòi cuới
ngay. Cuối cùng Lan phải đính hôn để Thống yên tâm công tác. Không bao
lâu, đám cưới hai người diễn ra nhanh chóng trước khi họ tập kết hành quân
hai nẻo, Lan lấy Thống với lý do đơn giản: “tìm hiểu lâu, thấy hợp nhau, cùng
xây dựng” [121, tr.89]. Nếu như hình ảnh người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến
nay hiện lên với đức tính chung thủy, thủ tiết thờ chồng thì giờ đây họ bỏ qua
đạo đức phong kiến vốn ràng buộc hạnh phúc của con người, họ đi theo tiếng
gọi của con tim, cần một bàn tay chở che, yêu thương, san sẻ với họ những
khó khăn trong cuộc sống. Sau khi chồng hy sinh, Lan đến với Cam qua dòng
suy nghĩ: “Anh Thống, anh Cam, các anh có hiểu được lúc này em đang cần
một người đàn ông trong nhà không” [121, tr.90]. Lan mến Cam từ lâu nhưng
lại lấy Thống và khi Thống hy sinh, tình cảm năm xưa trỗi dậy, Lan vẫn còn
yêu Cam. Nhận được thư của Cam, cô ngất ngây trong hạnh phúc: “chỉ gặp
mấy tiếng hạnh phúc, hạnh phúc, hạnh phúc. Cái hạnh phúc vô cùng khao
62
khát đang đến với Hoàng Lan” [121, tr.150]. Người đọc không khỏi xao
xuyến trước những lời nồng nàn tha thiết của Cam dành cho Lan: “anh yêu
em, anh yêu mẹ con em, anh muốn là chồng em, em có chịu làm vợ anh
không?” [121, tr.150]. Tình yêu với nhiều cung bậc cảm xúc và nó cũng là
lãnh địa không có biên giới: mối tình công khai hay mối tình vụng trộm. Tình
yêu giữa Khánh và Duyên là mối tình vụng trộm giữa bà mẹ kế – Mỹ Duyên
với con trai của chồng (Phủ Đỉnh) – Ung Viết Khánh. Lúc đầu Khánh tỏ ra
“lạnh lùng” nhìn bằng “ánh mắt khinh bỉ và giận dữ” đối với cô gái nhảy khét
tiếng phá của và ngoa ngoắt Mỹ Duyên, nhưng trong lần trót nhận lời thách,
Khánh chở dì Ba đi thăm núi Non Nước, đã phải lòng cô này: “Duyên ơi, con
quỷ và nàng tiên của anh ơi, em có thể là bạn trăm năm hay chỉ là cô gái lẳng
lơ tìm thêm dấm ớt, em sẽ đi luôn hay trở về, em sẽ là dì Ba hay vợ anh?”
[121 ,tr.392].
Tự do yêu đương là tiền đề giúp con người hướng đến con người với nhu
cầu tự nhiên. Con người là sản phẩm của tự nhiên không thể không quan tâm
đến nhu cầu: ăn, ở, mặc, đi lại,... Là sản phẩm của xã hội, con người dần ý
thức được sao cho ăn mặc có văn hóa. Nhưng do một thời gian dài chiến tranh
khốc liệt, con người chịu đựng tinh thần khắc khổ, ép mình vào lối sống, lối
suy nghĩ khổ hạnh dẫn đến một số nhu cầu tự nhiên bị hạ thấp hoặc bị né
tránh trong các sáng tác. Tiểu thuyết sử thi 1945– 1975 rất kỵ việc miêu tả
bản năng gốc của người chiến sĩ. Điều ấy hoàn toàn có lý vì đó là cái thời
“nén tình riêng vì nghĩa lớn”. Đó là sự thật mà Phan Tứ đã nói: “Tôi tình cờ
đọc thư vợ của cán bộ gửi cho chồng nhắc lại những kỷ niệm cuộc sống ái ân
lúc gần gũi….Liên hệ bản thân: luôn tự đè nén những ham muốn tình dục,
luôn nói đùa: “Đừng nói chuyện đàn bà với tôi, tôi đã là thầy tu, gần thành
Phật rồi!” Rõ ràng anh em đã sống không bình thường nhưng đã phải cố tạo
cho thành bình thường” [53, tr.353].
63
Vấn đề tình yêu, hạnh phúc của con người sau 1975 gắn chặt với việc
giải phóng con người cá nhân. Tiểu thuyết hôm nay phá vỡ bức tường kiêng
kỵ đó để đi sâu vào nhu cầu tự nhiên chính đáng của con người, để tìm hiểu
những vẻ đẹp tình cảm riêng tư, những khát khao tình dục rất đời thường của
con người. Đúng vậy, con người sống trước hết có nghĩa là ăn, ở, mặc và
những việc khác nữa. Trong các việc khác này, chắc chắn có vấn đề tình dục.
Sau năm 1975 đánh giá công bằng, ở những tác phẩm chân chính, việc đề
cập yếu tố tình dục giúp tác phẩm trở nên chân thật, “người hơn”, mang giá trị
nhân bản của nó. Lunatsarxki nói về sinh hoạt tình dục như sau: “từ tình yêu
giới tính sẽ tạo ra những tuyệt phẩm của hạnh phúc và khoái cảm mà người
đàn ông và người đàn bà thuộc các thế hệ trước nằm mơ cũng không thể thấy
được” [27]. Chính Phan Tứ cũng tâm sự trong nhật ký chiến trường: “Tôi đã
trải qua 17 năm chiến đấu….Có lúc bị một ham muốn xác thịt giày
vò….Nhưng tự chủ bản thân trở thành thói quen và đến nay tôi vẫn sống
trong trắng” [53, tr.533]. Và ông cũng kể lại rằng, trong quá trình sống ở nhà
dân, có không ít cô gái, chị phụ nữ cố tình phô bày cơ thể trần trụi như mời
gọi ông. Thực ra, những người đó đang khao khát nhục thể. Đó là nhu cầu
bình thường của con người nhưng bị kìm nén bởi hoàn cảnh khách quan. Hiểu
được quy luật cuộc sống của con người nên trong sáng tác Phan Tứ cũng
không né tránh khi để nhân vật có đời sống bản năng chân thật. Với Người
cùng quê, Phan Tứ chú ý tới cảm xúc tình yêu nhục thể của con người. Đó là
giây phút ái ân giữa cặp vợ chồng hay tình nhân: Mỹ Duyên – Khánh, Khánh
– Năm Bưởi, Chanh – Thùy, Sáu Cam – Hoàng Lan. Trong bất cứ hoàn cảnh
nào, nhu cầu thể xác của con người không thể thiếu. Cả Chanh hiện thân của
nhân vật anh hùng nhưng cũng không bỏ qua phần bản năng trong con người.
Đó là cảnh Thùy: “liếc nhìn cửa hang, thong thả cởi áo, phơi bộ ngực trần nở
nang, trắng muốt….Chanh ghé môi hôn….Làn da đàn bà thơm mát khiến anh
64
choáng váng. Anh quên bẵng lời tự hứa lần này sẽ không đưa tai họa vào
bụng vợ” [121, tr.54]. Mỗi lần Thùy lên xanh thăm Chanh là họ lao vào nhau:
“chỉ nửa giờ hay một tiếng sau, em đã tự lao vào anh, tự hiến thân cho anh
như một cô gái trinh lần đầu biết ái ân. Và anh cũng không cưỡng nổi mình,
anh quên hết, quên rằng tất cả tội vạ sẽ do em lãnh đủ” [121, tr.227]. Và
Thùy đưa ra lý do “vợ chồng vắng lâu quá, gặp hồi yếu đuối, tránh sao khỏi”
[121, tr.227]. Bản năng ấy cũng không cưỡng lại được khi Thùy đã có thai
hơn ba tháng: “nhẹ nhẹ cũng được, không sao đâu anh. Tội nghiệp” [121,
tr.432]. Phan Tứ đã có cách nhìn mới mẻ khi miêu tả người phụ nữ chủ động
trong chuyện chăn gối. Lan là người đưa ra ý kiến trước với Cam: “Đêm nay
chúng mình là vợ chồng!”. Lần đầu tiên trong đời, Sáu Cam biết làm chồng.
Lan càng biết rõ Cam hơn, “những vụng về của trai tân đối với đàn bà đã một
đời chồng con rất dễ nhận ra” [121, tr.152]. Đôi tình nhân Khánh – Duyên
được Phan Tứ miêu tả với đời sống nhục dục phóng khoáng: “Khánh lao vào
ôm ghì Duyên trong tay. Họ không nghe tiếng còi báo động réo to dần phía
Nhà hát lớn…” [121, tr.147], cùng với cử chỉ suồng sã: “Họ không xuống
buồng ngủ dưới nhà, ăn uống xong nằm luôn trên gác. Duyên trải chiếu
xuống sàn phủ thêm tấm ra, mắc màn vào các cọc đèn, rất thạo…Hai giờ sau,
họ rời nhau” [121, tr.45- 46]. Nếu như Lan, Duyên, Thùy được gần gũi bên
người yêu thương mình, thì Năm Bưởi có khao khát của mối tình đơn phương
với Hai Khánh. Cô yêu Khánh chân thành, tự nguyện trao thân cho anh.
Khánh không yêu Năm Bưởi nhưng vẫn ăn nằm với cô. Đó không hẳn là sự
thương hại và sự đáp tình của một chàng trai chịu ơn cô gái đã yêu và chăm
sóc chu đáo cho mình trong lúc ốm đau. Nhìn trên bình diện nhục dục, hành
động của anh bắt nguồn từ bản năng của người đàn ông, nhu cầu sinh lý của
con người. Đúng như Freud quan niệm: “Tất cả các hiện tượng tâm thần của
con người về bản chất là hiện tượng vô thức. Vô thức là phạm trù chủ yếu
65
trong đời sống tâm lí của con người. Mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt
nguồn trong vô thức và tuỳ theo tương quan của những lực lượng thôi thúc và
ngăn cản được biểu hiện ra theo những qui luật khác hẳn với ý thức”
[141]. Trong các loại vô thức thì đam mê tính dục có một vị trí đặc biệt quan
trọng trong toàn bộ đời sống tâm lí của con người.
Phan Tứ còn nhắc đến đời sống bản năng của người phụ nữ khi có
chồng đi tập kết ngoài bắc hay lên núi quá lâu, vẫn không chịu bỏ chồng
nhưng vẫn có một hai đứa con “tự túc”. Họ giải thích: “lo hết lứa tuổi sinh nở,
tự kiếm đứa con phòng khi về già…. người chồng lấy vợ khác hay chưa không
biết, các chị chỉ cần một đứa con làm bạn” [121, tr.228]. Nhưng Phan Tứ đã
nhìn sâu xa trong vấn đề ấy là nhu cầu tất yếu – nhu cầu bản năng, con người
không thể sống nếu thiếu những sinh hoạt đời tư vợ chồng. Đây là thực tế mà
nhà văn được chứng kiến trong những năm chiến đấu ở Trung Trung Bộ. Từ
chiến trường khu V, Phan Tứ đã ghi lại: “Một số phụ nữ có chồng tập kết làm
chuyện “tự túc” với sự tính toán tỉ mỉ: nếu tôi không có con trong 5 năm, thế
là phản tự nhiên, sinh con sẽ nguy hiểm, hoặc sẽ không có con được. Nếu
chúng tôi có một đứa con và chỉ một thôi, chồng sẽ tha thứ…Tôi trông thấy
nhiều ông chồng cách mạng rộng lượng bỏ qua. Nếu anh ta cắt đứt thì tôi sẽ
sống với con, đối với tôi thế là đủ (Nhưng người ta vặn lại: ở miền Nam, các
cô mới hứa hôn chờ đợi tốt hơn nhiều so với các bà vợ đã có 1 hoặc 2 đứa
con, điều này làm thất bại mọi dự đoán. Vì sao? Không phải vì cần có con mà
họ phạm lỗi, nhưng là vì ham muốn nhục dục)” [53, tr.299]. Phan Tứ lí giải
bằng trái tim cảm thông với tâm sự riêng tư của người phụ nữ, dành cho họ
những tình cảm trìu mến, trân trọng. Họ là những người mẹ, người chị đã âm
thầm chịu đựng nhiều hy sinh trong những năm tháng chiến tranh. Mỗi trang
viết của Phan Tứ về họ đầy ắp sự yêu thương. Qua nhật ký chiến trường, nhà
văn thổ lộ: “Tình yêu chiếm 2/3 trái tim của người phụ nữ, sống không thể yêu
66
là một nỗi dày vò đối với họ. Đến với chúng ta, sống trong tập thể nhiều
người đàn ông trung hậu, mạnh mẽ, trong trắng, họ cảm thấy yên tâm, và nhớ
lại cuộc sống tình cảm, họ để cho nhu cầu yêu thương không dè dặt của họ
tuôn tràn. Mặc kệ nếu tình yêu nhục thể kế tiếp đó: mỗi người trong chúng tôi
sẽ là một ông chồng tốt, tốt hơn nhiều so với các ước vọng của họ trước khi
“liều” [53, tr.257].
Sau 1975, Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn khác đề cập đến chuyện
tình yêu – tình dục một cách tự nhiên chân thực không phải để phê phán nhu
cầu con người trong hiện thực chiến tranh mà với sự cảm thông sâu sắc. Đó là
biểu hiện của tư tưởng nhân văn, tiếng nói cho khát vọng con người.
Con người là đối tượng trung tâm của văn học, là lăng kính của nhà văn
trong cách nhìn, cách cảm về hiện thực xã hội. Vì vậy, sự thật về con người là
thước đo giá trị thẩm mĩ của nhà văn. Phan Tứ đã làm được công việc nghệ
thuật của nhà sáng tạo nghệ thuật chân chính. Đó là tái hiện con người trong
tính chân thật của nó. Con người với tất cả biểu hiện sự phong phú, phức tạp
trong đời sống hàng ngày. Tiếp tục cảm hứng sử thi trong tiểu thuyết trước
1975, bộ tiểu thuyết Người cùng quê khám phá chiều kích của đời sống con
người Việt Nam, thể hiện cái nhìn nhân văn về con người của Phan Tứ. Nhà
văn đào sâu và mở rộng bình diện khám phá con người, đó là một cách tân
mới về quan niệm thẩm mĩ. Điều này khẳng định Phan Tứ bước đầu xác lập
được những tiêu chí giá trị phù hợp với cách nhìn con người trong thời đại
mới.
67
Chương 3
SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON NGƯỜI
TRONG TIỂUTHUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ
TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT
3.1.Sự dịch chuyển không – thời gian gắn với hành trình đời tư nhân vật
3.1.1. Nhà văn đặt nhân vật trong nhiều loại không gian khác nhau, theo
sự vận động của nhân vật
Không gian nghệ thuật là một trong những yếu tố cấu thành thi pháp thể
loại. Nhất là đối với tiểu thuyết sử thi – một thể loại vốn được xác định nhờ
sự mở rộng không gian sự kiện. Nhà văn với mong ước rằng “đứa con tinh
thần” của mình có dung lượng lớn như tiểu thuyết đều băn khoăn về việc đặt
các nhân vật đông đảo vào một không gian cụ thể ra sao? “Bởi không gian
nghệ thuật không chỉ có chức năng làm bối cảnh câu chuyện mà điều quan
trọng hơn, nó là một phương tiện thể hiện tính cách nhân vật và tư tưởng tác
phẩm. Đặc biệt là đối với tiểu thuyết sử thi, tính hoành tráng của không gian
là một phẩm chất quan trọng để xác định đặc trưng của thể loại. Bởi vậy,
hình tượng không gian luôn làm day dứt các nhà văn sử thi Việt Nam thời
chiến tranh” [132]. Trong giai đoạn 1945 - 1975, tiểu thuyết sử thi mô tả bức
tranh rộng lớn của hiện thực chiến tranh, nên con người thường được đặt
trong không gian rộng lớn – không gian công cộng. Đó là nơi tụ họp đông
người như chiến trường, cơ quan, làng xã,…. “Không gian công cộng có tác
dụng rèn luyện phẩm chất, ý chí của nhân vật. Có thể xem loại không gian
này như là một thủ pháp nghệ thuật để dung chứa những nhân vật có tầm vóc
lớn lao” [37, tr.49].
68
Trong âm hưởng sử thi của hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống giặc ngoại
xâm, Phan Tứ và nhiều nhà văn khác có cùng thẩm mĩ nghệ thuật, xây dựng
kiểu không gian công cộng để người anh hùng thể hiện năng lực, phẩm chất,
bản lĩnh của mình trong hoàn cảnh thử thách. Và thước đo nhân cách con
người trong chiến tranh chính là sự trải nhiệm của họ ở những môi trường
rộng lớn, đầy nguy hiểm và họ có ước mơ không ngừng đi xa. Do đó, không
gian này được gắn liền với bước chân của con người. Ví dụ, trong Trước giờ
nổ súng, Phan Tứ chú trọng xây dựng kiểu không gian thiên nhiên – không
gian cản trở bao gồm rất nhiều hình ảnh dữ dội để thử sức lực và trí não đội
trinh sát CC3 đang trên đường từ Pà Thạc trở về nộp gấp tài liệu cho ban chỉ
huy mặt trận bộ để kịp mở chiến dịch: “đội CC3 gặp dãy núi đá xám dựng
đứng cao ngợp mắt. Chòm thông thưa trên đỉnh giống một hàng cò lêu đêu
ngước mỏ lên mổ trời. Cảnh núi đơn giản đến dễ sợ. Mây móc vào ngọn
thông, thông cắm vào đỉnh núi, đá sừng sững thành vại đổ xuống thung lũng
sâu đầy ngọn cây nhọn như cái hố chông. Chim đứt đường không đủ sức vượt
núi cũng tránh xa quãng đèo chết lặng này” [52, tr.415]. Trong Mẫn và tôi,
không gian được nhà văn chủ yếu miêu tả ở Làng Cá khu V trong năm bản lề
cuộc chiến tranh đặc biệt và cục bộ, ta và địch giành giật quyết liệt tạo nên sự
phức hợp không gian qua lời than thở của một đại úy quốc gia: “Một nước hai
miền, tỉnh quận hai miền, tới một làng hai miền, hai chế độ, sống sao nổi”.
Nhờ cách kết hợp không gian này, thích hợp cho việc tạo kịch tính cho câu
chuyện, sự đối chọi gay gắt giữa hai ta và địch.
Sau 1975, Người cùng quê ra đời, bao quát cả một giai đoạn lịch sử
rộng lớn từ thời kỳ tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám đến kháng chiến
chống Pháp, chống Mỹ, mở ra không gian rộng lớn, trong đó chứa nhiều
không gian khác nhau (không gian chiến trường, không gian đời tư, không
gian tâm linh, không gian thiên nhiên, không gian xã hội….), để nhân vật
69
tham gia các sự kiện. Xét về mặt địa lý, nhân vật của Phan Tứ được trải
nghiệm trong nhiều không gian qua các tỉnh, thành khác nhau: Vũng Tàu,
Biên Hòa, Phan Thiết, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Nẵng, Quảng Nam, Nghệ
Tĩnh, Thanh Hóa, Hà Nội, Phú Thọ, Hải Phòng… và kéo dài sang tận nước
Lào, Nga. Mỗi không gian đều mang tính chất di chuyển theo hoạt động của
con người và gắn liền với một sự kiện nào đó. Để tạo nên một không gian
hoành tráng, đòi hỏi nhà văn phải có tầm bao quát hiện thực và sự tái hiện chi
tiết không trùng lặp. Phan Tứ đã đặt nhân vật từ không gian hẹp đến không
gian rộng lớn và ngược lại, từ thành phố này đến thành phố khác, từ thành thị
đến thôn quê, rừng núi… Khi tạo ra một không gian hoành tráng, dung chứa
nhiều loại không gian khác nhau, nhà văn phải biết chọn một “không gian
điểm” để từ đó triển khai ra nhiều không gian khác, đồng thời miêu tả sự vận
động của tính cách và bước đi của nhân vật qua nhiều chặng đường lịch sử
khác nhau. Chẳng hạn, Phan Chanh là nhân vật trung tâm của tiểu thuyết, xuất
hiện trong bối cảnh xã hội ngột ngạt, đói kém, quân Nhật vào Đông Dương
thế chỗ cho Pháp. Sau 2 tháng vượt ngục từ KonTum, điểm dừng chân đầu
tiên của Chanh là không gian đường phố Quy Nhơn nhằm mục đích móc nối
với cơ sở cách mạng. Đây là không gian đầu tiên để Chanh gặp lại những
người bạn năm xưa và đứa em trai đang chịu cảnh lang thang, đói khổ. Từ
không gian này, Cả Chanh di chuyển tới nhiều không gian khác để thực hiện
những hành động cụ thể, loại không gian này gần gũi với đời sống của con
người: không gian gặp gỡ giữa Chanh và Năm Chò cùng đứa em trai Sáu Cam
sau 9 năm xa cách ở “góc buồng trong” của căn nhà; không gian ẩn náu của
Chanh trong căn buồng của cô Thùy (con gái của ông Hai Rề làm cùng hỏa xa
với Chanh ngày trước) để dò la tin tức cách mạng. Sau khi bắt liên lạc với
lãnh đạo, tình thế cách mạng khó khăn cần phải phát triển cơ sở, Chanh được
cấp trên điều về các địa bàn tạo nên một sức ép không gian: “Nên sắp đặt về
70
ngay Quảng Nam, móc nối tại Hội An, nhận chỉ thị xong là về thẳng quê gốc”
[121, tr.78]. Từ đây, con đường hoạt động cách mạng của Chanh được mở
rộng ra nhiều địa điểm khác nhau. Đó là không gian của “một căn nhà tranh
nằm lọt trong xóm ngoại ô, gần cây số Một từ Hội An lên Vĩnh Điện” [121,
tr.93], nơi mà Chanh, Năm Chò, Sáu Cam sinh sống và tìm cách móc nối cơ
sở; không gian trong: “chiếc thuyền rớ của gia đình Tô Xáng, biến thành trạm
giao thông của tỉnh ủy” [121, tr.101] và Chanh trở thành anh chân sào, mặc
chiếc áo nhuộm chàm với miếng vá trắng ở cùi tay làm tín hiệu, liên lạc với
cấp trên là chị Sáu Lễ – tỉnh ủy viên. Trên chuyến hành trình của nhân vật,
con người không thể bỏ qua không gian vốn gắn bó với họ từ thuở lọt lòng,
đó là không gian gia đình, không gian quê hương. Trở về Linh Lâm, Chanh
được sống trong không khí gia đình ấm cúng, gặp lại những người thân sau
bao năm thoát li. Đồng thời anh được giao nhiệm vụ về làng Linh Lâm để
thành lập đội du kích của xã. Từ đây, các đội du kích đều tham gia buổi lễ
chào cờ ở không gian quảng trường tổng An Sơn với bầu không khí trang
nghiêm, khiến ai nấy không khỏi xúc động. Năm Bưởi “run quá”, Chanh “ứa
nước mắt” và mọi người “nhìn theo lá cờ đỏ thong thả nhích lên, càng vươn
cao càng xòe rộng, quẫy mạnh, khi tới đỉnh thì đập cánh thành tiếng phật
phật nghe rất rõ” [121, tr.280]. Để khẳng định bản lĩnh và trách nhiệm của
bản thân trước biến động của đất nước, con người sử thi không chỉ dừng lại ở
môi trường nhỏ bé mà họ luôn có khát vọng được thử sức ở những môi trường
mới đầy những khó khăn và phức tạp hơn. Phan Chanh là kiểu anh hùng như
vậy. Chanh tình nguyện sang giúp đỡ cách mạng Lào. Sự dịch chuyển hoạt
động của nhân vật Cả Chanh cũng nhằm biểu dương tình hữu nghị giữa hai
nước Việt – Lào. Trong không gian nước Lào, Chanh cùng đồng đội sinh hoạt
trong nhiều không gian nhỏ hơn: không gian “ngôi làng” Hạt Khẹ, không gian
“cái lán nhỏ lợp lá mây giữa rốn một khu rừng mây”[121, tr.674]. Sống ở
71
nước bạn, Chanh học cách ăn mặc, chữ viết, tiếng nói, phong tục tập quán,
những kiểu đi đứng nằm ngồi của Lào. Giờ đây, trong con người Chanh có sự
tích hợp cả hai không gian Việt và không gian Lào. Về sau, Phan Tứ đưa nhân
vật Phan Chanh trải nghiệm trong nhiều không gian: không gian xã hội miền
Bắc trong những năm đi tập kết sau 1954, không gian nước Nga với chuyến
thăm quan học tập. Bên cạnh nhân vật Chanh, các nhân vật cách mạng khác
cũng thử sức trong nhiều không gian khác nhau. Tiêu biểu là không gian
chiến trường. Đây là không gian hữu hiệu nhất chứng minh được tài năng của
nhân vật sử thi cũng như phản ánh cả những mặt thắng lợi, mặt thất bại của
quân dân ta, như không gian: miền Đông Nam Bộ đầy bom đạn ác liệt, mặt
trận Trung Bộ, mặt trận khu tình nguyện Hạ Lào – Đông Bắc Miên. Chẳng
hạn, đại đội của Năm Chò đương đầu với những khó khăn: bom đạn của giặc,
mâu thuẫn trong nội bộ quân ta khiến cho không gian chiến trường ấy càng
thêm căng thẳng và quyết liệt. Khó khăn, hiểm nguy bao nhiêu càng làm con
người ý chí kiên cường bấy nhiêu: “luồng đạn của Năm Chò quật nhào ngay
tổ dẫn đầu, quét sâu táo bạo vào hàng quân đi bên trái”, hai trăm đồng đội
của anh “hét như sấm, xốc súng lao xuống” giết chết tám mươi lính Nhật
trong vòng 6 phút. Như vậy, độc giả thấy được Phan Tứ tạo dựng thành công
loại không gian chiến trường với những cảnh bom đạn, cả những giây phút
hào hùng làm người đọc nín thở, chờ đợi và vui mừng trong cảnh chiến công.
Bên cạnh Chanh, Năm Chò thì các nhân vật như Bảy Quý, Hai Thỉnh, Tô
Xáng….và nhiều chiến sĩ khác đều phải trải qua không gian này.
Song hành với những bước phát triển cách mạng Việt Nam là sự gắn liền
với quá trình chiến đấu và học tập của con người. Con người trải qua nhiều
không gian khác nhau, ở mỗi không gian là khẳng định năng lực và sự trưởng
thành nhanh chóng của họ. Nhân vật Sáu Cam là một điển hình. Anh là thế hệ
thanh niên tiếp nối truyền thống cách mạng cha ông. Từ nhỏ, Cam có tuổi thơ
72
không êm đềm phải xa không gian gia đình, sau đó sống lang thang ở không
gian đường phố. Chính gian khổ ấy, giúp Cam có thêm nghị lực và đến với
cách mạng sớm. Sự nghiệp học hành thôi thúc Cam có những tiến bộ vượt bậc
ở nhiều không gian trường học khác nhau: Trường trung học bình dân, trường
chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng, lục quân Trần Quốc Tuấn, đại học Tổng
hợp Hà Nội, nghiên cứu sinh bên Nga. Đó là kết quả tất yếu của những ngày
tháng siêng năng, ý chí tự học của Sáu Cam. Ngoài ra, anh còn khẳng định
năng lực của bản thân ở không gian chiến trường: có công lớn khi dạy đại đội
của Năm Chò đánh công kiên; không gian tập thể: tham gia đoàn thu
dung;…Mới ba mươi lăm tuổi đời, Cam trở thành “một trí thức cộng sản trẻ,
nổi tiếng học giỏi, được số đông nghiên cứu sinh coi là đặc biệt thông minh,
sẽ thành cán bộ đầu ngành về văn hóa dân gian Đông Á và Nam Á” [121,
tr.441]. Nhờ không gian rộng lớn vượt khỏi phạm vi đất nước Việt Nam nhỏ
bé, Phan Tứ dường như muốn cung cấp cho bạn đọc về một cái nhìn mới đối
với con người vốn xuất phát điểm rất thấp nhưng có thể làm nên những kỳ
tích. Qua nhân vật Cam, nhà văn gieo cho người đọc niềm tin mãnh liệt: lớp
thanh niên kế cận của Đảng sẽ có đủ tố chất và sức mạnh để lèo lái con
thuyền cách mạng Việt Nam đến bến bờ thắng lợi. Như vậy, bước chân của
nhân vật sử thi ngang dọc khắp nơi, không ngừng được mở rộng. Căn cứ để
đánh giá nhân cách con người trong chiến tranh đó là họ phải có ước mơ đi
xa, xông pha vào những nơi nguy hiểm và khó khăn nhất của cuộc sống. Nhân
vật của Phan Tứ đã làm được điều đó. Họ vừa mang trong mình cái vĩ đại
người anh hùng sử thi vừa mang yếu tố đời thường bằng cách sống và làm
việc trong sự đa dạng của các loại không gian khác nhau.
Cái tài của Phan Tứ đã tạo được rất nhiều không gian nhỏ trong không
gian rộng lớn. Để cho những cuộc hành trình của nhân vật được phát triển,
Phan Tứ đã để họ “di chuyển” vào nhiều loại không gian. Đặc điểm của
73
không gian di chuyển trong Người cùng quê là rộng lớn, đa dạng. Chính nhờ
đặc điểm này, tác phẩm có sức lôi cuốn người đọc, dung chứa một kho tàng
trí thức về văn hóa, phong tục nước Lào, Nga. Như nhà nghiên cứu Việt kiều
Đặng Tiến đã nói: “lịch sử đã cung cấp cho Phan Tứ một cốt truyện mà không
một bộ óc cá nhân nào có thể tưởng tượng ra nổi” [34, tr.327]. Tiểu thuyết
chứa dung lượng lớn để miêu tả không gian sinh hoạt: làng Linh Lâm (tế lễ,
chợ phiên, phường dẫy cá…), gia đình ông Tư Chua (cảnh lò rèn, may vá…),
vợ chồng Cả Chanh với “một nhà tranh nhỏ hơn, vách trát đất” [121, tr.557],
khu nhà tập thể “mười sáu thước vuông” của mẹ con Hoàng Lan, ấp Phủ
Đỉnh…và khắc họa cả không gian sinh hoạt của dân tộc Lào. Với đầy đủ các
phương diện: ngôn ngữ, con người, trang phục, nhà cửa, vui chơi, tín
ngưỡng…Phan Tứ đã đưa người đọc đến một nước bạn Lào đa dạng văn hóa
qua những trang sách về chiến tranh. Chứng tỏ, những năm tháng tình nguyện
bên chiến trường Lào của Phan Tứ đã cung cấp cho ông những vốn tư liệu
quý giá. Cái nhìn của Phan Tứ còn mở rộng ra chân trời xa với tầm hiểu biết
sâu sắc. Đó là nước Nga – xứ tuyết trắng với lễ hội trượt tuyết, những mùa
Giáng sinh ấm áp – là nơi Sáu Cam học tập, là nơi những đoàn cán bộ của
Trung ương đi thăm quan và học hỏi kinh nghiệm. Chúng ta còn bắt gặp trong
Người cùng quê nhiều ngôn ngữ khác nhau: tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Lào,
tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp. Ta còn thấy dấu ấn nước ngoài qua chi tiết
thuyền tàu cập bến vào Hải Phòng: “tàu Đaiun Maru của Nhật, Plêiát của Hi
Lạp, Ki rốp của Liên Xô, Đimitrốp của Bungari” [121, tr.19] và những món
ăn: trứng cá Nga, dồi Đức, pho mát Hà Lan, tôm hùm Bắc Phi, cơm rang Ấn
Độ. Ngoài ra, người đọc được mở rộng tầm nhìn khi Phan Tứ để nhân vật
Cam đưa đoàn Việt Nam đi tham quan các nước Cộng hòa Trung Á:
Uzbêkixtan, Azerbaigian,v.v… Như vậy, điểm nhìn của Phan Tứ luôn mở
rộng không chỉ trong phạm vi Việt Nam mà còn hướng đến các nước trên thế
74
giới. Không gian của cốt truyện luôn sinh động, điểm dừng của nhân vật vì
thế cũng đa dạng, phong phú, góp phần tạo nên loại không gian rộng lớn.
Trong Người cùng quê, độc giả còn được tiếp cận với không gian tâm
linh, không gian tôn giáo: miếu thờ cá ông voi, chùa Cầu (Hội An), tháp bà
Pônaga (Nha Trang), miếu đình ở làng Linh Lâm, nhà thờ Thiên chúa giáo.
Đây là những không gian mà con người ít nhiều phải trải qua và gắn bó với
nó. Nhà văn còn hướng ngòi bút tới không gian công cộng: Nhà khách xã
Linh Giang – Quảng Nam để mọi người dừng chân; nông trường Sao Vàng –
Thanh Hóa, Hòn Gai – Quảng Ninh, Hà Nội với những trường đại học, bệnh
viện, những cửa hàng mậu dịch,...Con người sống không chỉ trong không gian
hiện tại mà họ còn hướng về không gian kỷ niệm, không gian tâm tưởng. Việc
nhắc đến loại không gian này, giúp người đọc khám phá sắc nét hơn về chiều
sâu nhân vật. Chẳng hạn, Khánh nghẹn ngào khi nhớ lại kỷ niệm năm xưa qua
không gian: “vạt cỏ êm lọt giữa những bụi sim lòa xòa rậm lá kia là nơi anh
với Mỹ Duyên “loạn” với nhau một lần. Xa hơn nữa có cái rãnh đất nẻ đầy lá
khô, anh giấu hai cây súng mua cho du kích Linh Lâm. Giữa đường từ dương
Nai này đi truông Dơi, anh đặt chỗ hẹn gặp và hộp thư cạnh gốc cây si già,
Năm Chò hay thằng Sáu Cam đến hai ngày một lần nhận tin anh báo về “phe
địch thủ”..” [121, tr.646-647]. Nỗi nhớ nhà của Chanh khi anh đang hoạt
động ở Lào qua không gian tâm tưởng: “nỗi nhớ nhà da diết qua hết chiều
rộng của Đông Dương đến căn nhà tranh nhỏ nằm nép bên bờ sông Linh, đến
người vợ rất hiền lành đang nuôi trong bụng đứa con thứ hai của anh, nơi có
voi rống cọp gầm và máy bay gào thét tìm giết hai mẹ con” [121, tr.691].
Hiện thực cách mạng, hiện thực cuộc sống muôn màu muôn vẻ nên con người
không tồn tại duy nhất một tính cách. Tính cách con người thường xuyên biến
đổi và chịu sự tác động của môi trường sống. Vì vậy, trong Người cùng quê,
75
chúng ta còn bắt gặp loại không gian khá đặc biệt – không gian phức hợp: có
người về sau chuyển hẳn về phía cách mạng, có người phản cách mạng. Lúc
đầu, Mỹ Duyên được biết đến là một gái nhảy, vợ ba quan phủ ăn chơi khét
tiếng, về sau được sự tác động của cách mạng, Duyên trở thành cở sở của
Đảng. Ba Mít, Khánh, Tú Đỉnh, Quốc Trấn,…lại ngả hẳn về phía kẻ thù.
Không gian này phản ánh tính chất phức tạp bước đi của cách mạng Việt
Nam.
Muốn phản ánh mọi hoạt động của một số lượng nhân vật đông đảo cùng
thời điểm, Phan Tứ phải xen kẽ nhiều loại không gian khác nhau mà các nhân
vật tham gia trong tác phẩm. Có thể là xen kẽ, lắp ghép nhiều loại không gian:
không gian gia đình, không gian tập thể, không gian công cộng….Chẳng hạn
chương IV, tr.75, tập 3, nhà văn đang miêu tả không gian kí túc xá ở trường
đại học của Sáu Cam, sau đó lắp ghép nhiều mảng không gian khác: bệnh
viện Phủ Doãn, nhà tập thể,…Vì vậy, người đọc luôn có cảm giác được khám
phá nhiều không gian mới lạ, giúp câu chuyện không đơn điệu. Thông thường
trong nhiều tác phẩm, không gian của địch là không gian chiến trường với
đầy sự chết chóc, bom đạn và hỗn tạp, nhưng với Người cùng quê, Phan Tứ
đã cho người đọc một bức chân dung gần như hoàn thiện về nhân vật kẻ thù.
Chúng có lai lịch, có hoàn cảnh riêng, được mô tả chi tiết sống động xung
quanh không gian thân cận. Tiêu biểu là nhân vật Pie Laphacso. Ngoài tồn tại
trong không gian chiến trường, y còn có mặt trong không gian gia đình ở đồn
điền vùng Linh Lâm và không gian quê hương ở nước Pháp.
Tiểu thuyết Người cùng quê, còn hấp dẫn người đọc ở loại không gian
thiên nhiên. Đó là không gian con sông Linh: “trong vắt chảy róc rách trên
cuội dẹt” là nơi xuôi ngược của biết bao thuyền đò. Hình ảnh không gian sông
Thu Bồn hiện hình cùng năm tháng, đã gắn kết cùng những thăng trầm trong
lịch sử của con người: “Sông Thu Bồn sáng chói như tấm gương soi cắt cong
76
qoeo. Bãi cát sỏi ven sông nóng rực, chân người bước ra khỏi rợp cứ như
giẫm trên nền tro” [121, tr.531]. Ngoài ra, người đọc còn bắt gặp một không
gian thiên nhiên – không gian ánh trăng rất thơ mộng: hình ảnh trăng qua thủ
pháp nhân hóa, đối lập góp phần câu chuyện trở nên thi vị hơn, làm cho sự vật
như được hồi sinh: “Mảnh trăng hạ tuần đã lên cao, tỏa ánh xanh mát rượi
giữa trời nước” [121, tr.92]. “Trăng rằm âu yếm rưới mãi những đốm và
mảng xanh tuyệt vời xuống trần cho tất cả cùng trẻ lại. Trăng xóa trên mặt
người những nếp nhăn khắc khổ nhọc mệt. Trăng đổi màu cây cỏ mùa đại
hạn sẫm nặng ra xanh non mơn mởn tiết Thanh Minh… [121, tr.595]. Với
Phan Tứ, trăng giống như một người bạn, một cỗ máy thời gian trên con
đường hành quân của người lính: “phải nắm chắc và tính kỹ những đêm trăng
và đêm sao…nếu không muốn bò qua rào thép gai dưới trăng rằm xỏ kim
được…người lính theo dõi trăng, nhớ trăng, thèm từng giờ trăng…” [121,
tr.596]. Ngoài ra, không gian thiên nhiên được Phan Tứ khai thác để miêu tả
bức tranh sự kiện. Có khi không gian thiên nhiên trở nên bức bối, như một
báo hiệu sự kiện có tính chất căng thẳng sắp diễn ra: “Mưa trút từng cơn từ
nền mây xám đen như khói tàu dầu bốc cháy. Gió đổi chiều không ngớt, khi
thổi phía Phương Mai vào, khi mé Gành Ráng thổi ra” [121, tr.38]. “Một cơn
bão trái mùa nào đó đang dồn ứ trên thành phố mới vào Xuân. Sống giữa trời
yên biển lặng mà con người thấy như không khí bị nén ngột ngạt, sấm sét và
gió cuồng sắp ập xuống đầu” [121, tr.54]. Trong buổi tuyên thệ của đội du
kích Linh Lâm, thiên nhiên cũng góp phần chứng giám giây phút thiêng liêng
ấy: “Chiều ấy không mưa dông. Mặt trời trước khuất núi tỏa lên một vầng đỏ
rực khắp nửa bầu trời, phía núi ông Tượng cũng vắng hẳn tiếng voi rừng thi
rống trước khi ngủ. Rừng núi Linh Lâm ngừng thở, nhận vào lòng lời thề
trang nghiêm nhất của những người khởi nghĩa” [121, tr.180].
77
Nhờ cách tổ chức kiểu không gian hoành tráng, rộng lớn mà Phan Tứ đã
cung cấp một khối lượng tri thức khổng lồ về xã hội Việt Nam, tiêu biểu vùng
Trung Trung Bộ từ đầu Cách mạng tháng Tám đến giai đoạn kháng chiến
chống Mỹ. Đây cũng là loại không gian mang tính chất điển hình của tiểu
thuyết sử thi. Chẳng hạn, trong Cửa biển của Nguyên Hồng đã chọn một
không gian rất đắc địa, đó là “Cửa biển”. Từ không gian này, nhà văn cho
nhân vật lan tỏa trong nhiều không gian khác nhau. Các nhân vật từ khắp nơi
trôi dạt về cửa biển sống trong không gian trôi nổi như kiếp phù du. Trong
không gian thành thị, kiếp người này hòa lẫn cả không gian nông thôn. Họ ôm
trong lòng cả không gian cố hương khi đang sống trong không gian tha
phương. Phố cảng cũng mở cửa để đón những nhân vật đến từ những không
gian xa lạ như: Pháp, Nhật, Trung Quốc, Hồng Kông (Anh)... Cửa biển Hải
Phòng trở thành một không gian văn hóa ô hợp đủ cả Đông Tây kim cổ. Đó là
một thế giới thu nhỏ gồm đủ mọi hạng người, hoạt động trên nhiều tuyến khác
nhau tạp thành sự bề bộn của hiện thực được phản ánh. Như vậy, các nhà văn
đều có ý thức tạo dựng những không gian rộng lớn để nhân vật của họ hoạt
động đa dạng. Và càng xây dựng được nhiều loại không gian khác nhau để
nhân vật trải nghiệm thì nhà văn càng chứng tỏ tài năng của mình trong việc
bao quát hiện thực xã hội, hiện thực con người.
3.1.2. Thời gian không theo logic tuyến tính, có thể đảo chiều một cách tự do
Nhân vật sống và hoạt động trong không gian rộng lớn và đa dạng phải
có yếu tố thời gian tương xứng. Thời gian trần thuật trong Người cùng quê có
thể là thời gian vật lý, thời gian nhân vật, thời gian tập thể, thời gian lịch sử
sự kiện… các thời gian này đi cùng với các chiều (quá khứ – tương lai – hiện
tại) để tạo nên cấu trúc thời gian hoàn chỉnh cho tác phẩm. Trong Người cùng
78
quê, Phan Tứ sử dụng nhiều thủ pháp thời gian: lặp lại, hồi tưởng, chuyển đổi,
định lượng, ngưng đọng, đón trước, bất ngờ, luân phiên, kéo giãn, đảo tuyến,
dồn nén…Mỗi nhân vật đều có một thời khóa biểu, một nhịp độ hoạt động.
Các nhân vật chính được tác giả đặt trong biên độ thời gian đa dạng. Ngay từ
những trang viết đầu tiên, Phan Tứ đã tóm gọn hành trình của nhân vật Cả
Chanh trong khoảng thời gian dồn nén: “Sau hai tháng luồn lách, Cả Chanh
vượt ngục Kon Tum đã về đến Quy Nhơn. Chen lẫn vào dòng phu từ bến cảng
về, anh tìm đến xóm Ga, nơi có nhiều bạn bè và cơ sở cũ” [121, tr.10]. Tuy
nhiên, anh vẫn đang chịu sự truy lùng của cảnh sát nên mỗi bước đi phải thận
trọng, quan sát mọi thứ xung quanh và nhiều khi thời gian ngưng đọng vì gặp
những lối đi không an toàn “nửa giờ sau, anh dừng dưới một cây bàng bên bờ
sông vắng, gần nhánh đường sắt từ ga xuống bến. Không ai đuổi theo. Ngồi
nép vào gốc cây sần sùi, anh đưa tay quệt trán vào mặt bị đất bám đầy” [121,
tr.13]. Tại Quy Nhơn, Chanh tìm gặp những người bạn cũ, đứa em trai. Họ
cùng chí hướng, tìm cách liên lạc với cơ sở cách mạng. Trong tình thế cấp
bách, Chanh cùng Năm Chò được cấp trên chỉ thị từ Quy Nhơn về ngay
Quảng Nam quê nhà để xây dựng phong trào và chuẩn bị công tác cho tổng
khởi nghĩa trong khoảng thời gian dồn nén: “mười một ngày sau họ lên
đường”. Trong không khí cả nước chuẩn bị tổng khởi nghĩa, những lớp người
cùng trải qua thời gian cách mạng lớn lao: Cách mạng tháng 8/1945, đánh
đuổi thực dân Pháp, chấm dứt chế độ phong kiến, đánh đuổi phát xít Nhật. Đó
là giờ khắc lịch sử làm thay đổi diện mạo đất nước và cả số phận con người.
Khí thế cách mạng ấy lan tỏa nhanh chóng tới Hội An, Đà Nẵng và tác động
tới từng gia đình, từng con người (quan phủ, lý trưởng, gái nhảy, anh lính khố
đỏ, ông thợ rèn, sinh viên trường luật…) và cả làng Linh Lâm – vùng đất ở
miền sơn cước. Cách mạng ập đến biến người con cả của ông Tư Chua lò rèn
thành một cán bộ Việt Minh; một quan phủ Ung Viết Đỉnh luồn lách theo thời
79
thế trở thành phó Chủ tịch Liên Việt huyện Tây Quảng. Hay hình ảnh làng du
kích Linh Lâm gieo vào lòng người đọc một niềm say mê cách mạng mà Phan
Tứ đã thể hiện thành công: “ngày làm, đêm họp. Họp mãi thành quen, đêm
nào vắng tiếng loa, tự dưng họ thấy ngứa ngáy thế nào, phải chạy sang nhà
hàng xóm hỏi xem có phải mình đi rừng đi ruộng hụt nghe loa gọi không?”
[121, tr.226]. Nhà văn còn đưa người đọc vào cảm nhận sự việc chịu sức ép
về thời gian. Chẳng hạn, việc xây dựng các đội du kích: “ngày thứ nhất”, học
các điểm trong chương trình Việt Minh thì không khí cứ trầm trầm như họ
nghe quan về hiểu dụ thật. “Ngày thứ hai”, họ nói năng rầm rộ hẳn lên…Cuối
ngày thứ hai, đội du kích được thành lập, gồm hai tiểu đội, đến “ chiều thứ ba,
đội du kích được tổ chức lại thành ba tiểu đội”. Khi mọi thứ đã chuẩn bị xong
nhưng thời gian trì hoãn chỉ đợi lệnh về khởi nghĩa: “Mưa. Lại mưa nữa.
Lệnh vẫn chưa về”. Và Phan Tứ để người đọc rơi vào yếu tố thời gian “bất
ngờ” khi cánh quân Chanh kéo vào tổng An Sơn giành chính quyền thì khởi
nghĩa đã diễn ra sớm hơn một ngày, khiến ai nấy phải hành động khẩn trương,
vội vã. Cả một sự kiện tổng khởi nghĩa có tính chất bước ngoặt chỉ được Phan
Tứ miêu tả trong 60 trang sách (tr.260 - tr.320) và thời gian đúc kết dồn nén
trong một câu văn ngắn gọn: “Chỉ trong mười hai ngày, cả nước làm xong
cuộc đổi đời” [121, tr.320]. Bước sang giai đoạn cách mạng mới, thời kỳ
chống Pháp, chống Mỹ, các nhân vật phải tham gia và trải qua những thời
gian sự kiện tổng phản công, chiến dịch Đông Xuân, chống càn của Mỹ -
ngụy. Bên cạnh đó, Phan Tứ mô tả hoạt động của nhân vật, của cách mạng
thông qua nhiều mốc thời gian biên niên cụ thể: “Đà Nẵng, tháng chạp năm
1946. Quân Pháp xé hiệp định 6-3-1946, đổ bộ ào ào tới số vạn”; “Năm
1946, xưởng quân giới Cao Thắng II về đóng trong khu đồn điền La Phạt”;
“Năm 1950 sôi nổi chuẩn bị Tổng phản công cũng là năm rộn rịp nhất của
làng Linh Lâm và vùng thung lũng sông Linh được gọi là xêca đơ, tức Chiến
80
khu Hai”; Đến năm sau, 1965 máy bay Mỹ các cỡ bắt đầu ùa lên rải bom;
Tháng 2 và 3 -1976, suốt một tháng rưỡi, địch mở chiến dịch Giăngsơn Xiti
lớn nhất Đông Dương với bốn vạn quân Mỹ đánh vào vùng “Đầu não của VC
miền Nam”,v v v….
Trong tác phẩm, Phan Tứ để nhân vật tham gia nhiều hoạt động, nhiều sự
kiện ở nhiều không gian khác nhau, do đó nhiều khi nhân vật đặt trong tình
thế phải thực hiện hành động nhanh gọn. Phan Tứ đưa người đọc vào cảm
nhận thời gian gấp gáp hơn. Chẳng hạn, Chanh tranh thủ thời gian để về thăm
người yêu ở Quy Nhơn vì “anh phải đi ngay bây giờ, bộ đội đang chờ anh ở
ga Diêu Trì” [121, tr.440]; địch chuẩn bị đổ bộ Nha Trang, Chanh phải quyết
định nhanh đi đường tắt để tiếp tế cho đại đội Một và rút về mặt trận Nha
Trang. Mỗi nhân vật lại trải qua một thời gian khác nhau và cảm nhận khác
nhau về nó. Với Chanh, thời gian kéo giãn: “mất đúng một tháng rưỡi” anh
mới được ra viện trong khi công tác cách mạng bộn bề, nhưng với chiến thắng
của đội quân Năm Chò ở Xuân Lộc - Đồng Nai thì thời gian thắng lợi nhanh
gọn để khẳng định sức mạnh của đội quân: “Tất cả hết sáu phút! Sáuúu
phúuút”. Khi thời gian sự kiện năm 1949 tai nạn ập xuống gia đình Chanh:
đứa con trai đầu chết vì bom đạn khiến Chanh chịu sức ép về tâm lý, anh viết
đơn xin nghỉ dài hạn về thu xếp việc nhà. Về Linh Lâm, Chanh sống trong
thời gian gia đình với những sinh hoạt đời thường hàng ngày, còn thời gian
cách mạng tạm thời ngưng lại. Sự kết hợp giữa thời gian cách mạng và thời
gian gia đình cho thấy hình ảnh người anh hùng sử thi gắn kết hơn với cuộc
đời thường. Điều này càng tỏa sáng hơn cách nhìn về con người anh hùng
trong thời đại mới. Do yêu cầu của Đảng, Chanh sang giúp đỡ cách mạng
Lào, trải qua thời gian tập thể sống cùng đồng bào, đồng chí tình nguyện
Itxala, Chanh đã tích lũy được nhiều kiến thức về văn hóa Lào cũng như hóa
giải những bất đồng quan điểm trong nội bộ (Chín Khiết).
81
Mỗi nhân vật trong tác phẩm có cách đong đếm và sử dụng thời gian
khác nhau. Đối với người lính hành quân thì thời gian ngày- đêm được
chuyển đổi cụ thể: “người lính địch hậu quen biến đêm thành ngày nhưng
ngày lại chẳng chịu hóa thành đêm cho người được người được nghỉ trọn
giấc” [121, tr.596]. Với Sáu Cam thì quãng thời gian học ở Nghệ Tĩnh trôi
nhanh vùn vụt: “Mới đấy mà đã tám tháng qua, chóng ghê” [121, tr.601].
Cam nghĩ về Năm Chò và về bản thân trong thời gian tập kết ra bắc sau 1954
bằng phép so sánh: “bốn năm tập kết ra bắc đối với anh cứ trôi thẳng tuột,
nhẹ nhõm. Còn đối với mình, sao cứ phải lo toan quanh quẩn mãi thế?” [121,
tr.12]. Thời gian “hơn hai năm” là mức định lượng để anh lính Năm Chò nhận
ra sự trưởng thành của Sáu Cam: “hồi Nam tiến nó chưa tới nách tôi, bây giờ
nó hơn tôi nửa cái đầu”. Hai năm không ngắn cũng không dài nhưng đó là
khoảng thời gian làm con người thay đổi về cả thể chất và trí tuệ. Qua những
thời gian thử thách trong cách mạng, Năm Phi Đao từ một anh lính đê đầy
những tật xấu: ăn nói buông tuồng, ham rượu, ham gái, hay quát nạt, vô kỷ
luật…nay đã trở thành một chỉ huy ngăn nắp có kỷ luật. Thời gian cũng là
thước đo lòng chung thủy giữa Thùy và Chanh: “gần hai chục năm rồi, anh
vẫn thương yêu em tới vậy sao? Lắm người chê anh là hẹp hòi, máy móc, quá
nguyên tắc, nhưng không một ai chê anh bậy bạ với đàn bà. Anh chung thủy
với em, em cũng đền đáp bằng thủy chung” [121, tr.317]. Với đại đội 8 đóng
quân ở dãy Trường Sơn thì thời gian vật lý: “sáu ngày” là thước đo, chứng
minh cho năng lực lãnh đạo của nhân vật Lý Đằng - phó giám hiệu trường
Lục quân Quảng Ngãi, đánh vào đồn 76 lì lợm do tên Pie Laphacso cầm đầu.
Bởi “chẳng hiểu vì sao lần này một cán bộ Trường lại lọt lưới đến chỗ Năm
Chò! Vây đồn đến ngày thứ sáu rồi, bộ đội đói và bẩn, mất ngủ phờ phạc,
thương vong đến bảy người mà vẫn không chặn được pháo cối địch, trái lại
cứ phải giơ lưng mà ăn bom đạn đủ cỡ của chúng! Lính cáu kỉnh, Ban chỉ huy
82
bực tức” [121, tr.742]. Không miêu tả thời gian một cách trực tiếp nhưng hình
thức nhật ký mang tính chân thực cao, nó cho người đọc thấy hòa trộn thời
gian lịch sử sự kiện và lịch sử tâm hồn nhân vật. Chẳng hạn, thông qua những
dòng nhật ký của nhân vật Hai Khánh (hiện làm ở trại binh vận của tỉnh) –
một con người nhiều nội tâm phong phú và phức tạp. Mười trang nhật ký
(tr.721 – tr.731) bắt đầu được viết từ mốc thời gian ngày cụ thể “ngày 27-5-
1951” đến ngày “14-6-1951” miêu tả chi tiết sự kiện trong ngày mà nhân vật
trải qua cũng như được biết đến. Nó phản ánh thế giới nội tâm của Hai Khánh
với nhiều cung bậc cảm xúc khi đối diện trước các sự việc, đặc biệt là những
day dứt về hình ảnh đứa con bị bỏ rơi với Năm Bưởi: “Chung ơi, con ơi, thiên
thần của ba và quỷ dữ của ba ơi, con đừng ám ảnh ba nữa đi, ba sắp điên rồi
đây!” [121, tr.721].
Con người không chỉ sống trong thời gian hiện tại mà họ luôn có mối
liên hệ và gắn kết với thời gian trong quá khứ. Do đó, đan xen hiện tại và quá
khứ là một phương thức thể hiện cách nhìn nhận mới về con người. Trong
nhiều tác phẩm viết về chiến tranh thời kỳ đang chiến đấu, “mạch tư duy
mang tính chất so sánh của nhà văn thường gắn liền giữa hiện thực chiến
tranh đang diễn ra với việc trở lại quá khứ của nhân vật tham gia chiến tranh
để nhằm làm bật lên quá trình trưởng thành của con người trong chiến đấu.
Phép so sánh duy nhất để khám phá nhân vật tích cực – anh hùng thường là
nhắc lại quá khứ đau khổ bị áp bức của họ” [14]. Trong Người cùng quê, tác
giả sử dụng cả hai hình thức đảo ngược thời gian: tác giả lui về quá khứ để
giới thiệu quãng đời đã trải qua của nhân vật; để cho nhân vật hồi tưởng lại
những sự việc qua những suy nghĩ hoặc tự kể lại. Với hình thức này, việc
miêu tả quá khứ để giúp người đọc hiểu rõ hơn về nhân vật. Đó là những
dòng hồi tưởng về quá khứ của nhân vật: Cả Chanh, Sáu Cam, Năm Chò, Tư
Chua, Tô Xáng, Bảy Qúy…Chẳng hạn, qua lời kể của Chanh về quá khứ của
83
Năm Chò: “Hồi đánh Tây với Xiêm, hắn có dự vài trận. Hắn bạt tai cấp trên
phải vô Chí Hòa, ra sau anh, lại đi tiếp khố đỏ đóng lon cai. Rượu chè hơi
nhiều mà rất ghét Tây. Phục cộng sản lắm đó, phục từ hồi ở tù kia” [121,
tr.91]. Việc kể lại quá khứ của Năm, để thấy được tính cách ngay thẳng,
cương trực con người của Chò. Hoặc Chò xen kẽ câu chuyện trong quá khứ
của mình “rình giết thằng Tây chủ đồn điền” khi đang nói chuyện với Sáu
Cam. Thỉnh thoảng Năm kể lại từng mẩu đứt đoạn về cái “cuộc đời chó đểu”.
Hay nhắc lại về tài năng của Chanh để so sánh với hiện tại: “hồi xưa anh viết
chữ nhỏ và đẹp lắm, văn chương ngang nhà báo. Đây chữ bằng gà mái, giọng
như bô lão” [121, tr.76]. Bằng bút pháp xen kẽ hiện tại và quá khứ sẽ cho
chúng ta thấy được điểm mạnh – điểm yếu của nhân vật. Từ đó, con người
được nhìn nhận tất cả những gì thuộc về bản chất của họ.
Như trên đã nói, Phan Tứ sử dụng nhiều thủ pháp thời gian. Ví dụ, trong
chương XIII tập 3, tr.289, tác giả thông báo việc Chanh nằm mê man bên bờ
suối được Tơbon tìm thấy và dìu anh về không gian “cái chòi cũ”, chưa giải
thích chuyện gì đã xảy ra với anh. Đó là cách “đón trước” sự kiện. Tác giả
“bỏ lửng” chi tiết Chanh đang nằm trong chòi, sau đó nhà văn “hồi tưởng”
trận càn lớn “tát nước bắt cá” vào thời gian “mùa xuân năm ngoái” đầy ác liệt
tại không gian các làng du kích Blin và Blam, rồi quay lại thời gian hiện tại
“lược thuật” sự kiện “tháng ba năm nay, 1964, bùng ra trận càn lớn gấp bội
năm ngoái vào mật khu Đô Xá của Liên khu Năm kèm theo cuộc càn ác liệt
vào miền Tây của các huyện Tây Quảng, Trà Mi, Tam Kỳ” [121, tr.291] và
“chêm xen” thời gian Chanh về Tây Quảng mươi ngày sau khi địch đánh thọc
sâu, các làng được giải phóng “hoa nở trong lòng”. Phan Tứ tiếp tục kể diễn
tiến hoạt động của Chanh ở huyện ủy Tây Quảng. Từ chuyện đi câu cá ở suối
cùng con Dồ, Chanh bắt gặp đợt truy quét của địch nhưng Chanh vẫn ở thế
chủ động. Người đọc rơi vào cảm giác hồi hộp và “bất ngờ” tưởng Chanh bị
84
bắt khi địch hò hét: “Bắt sống Việt cộng…bắt sống”, anh vẫn bắn trả và không
bị bắt. Mặc dù địch tiến sát chỗ Chanh và có thể bắt sống anh nhưng nhà văn
đã giải thích sự thoát chết của anh bằng lí do: “Lâu nay vẫn thế, hễ biết Việt
cộng có thể bắn trả là chẳng đứa nào vọt lên trước: dại gì chết uổng cho đứa
khác lãnh thưởng” [121, tr.296]. Anh bị thương, mất máu nhiều, tự băng bó
vết thương trong một câu văn với biên độ ngắn: “anh chỉ đủ sức mở túi muối,
xát một nhúm vào chỗ quần bà ba rách che vết đạn xé thịt, ngất lịm luôn”
[121, tr.297]. Sự xuất hiện của cô Tơbon không có báo trước, cô dìu anh về
căn lều. Đến đây, người đọc đã giải đáp được sự kiện. Theo dõi trong vài
trang sách, người đọc không tránh khỏi sự tò mò, sự hồi hộp, điều này là do
nhà văn xây dựng được những tình tiết hấp dẫn, ly kỳ và cuốn hút độc giả.
Như vậy, không gian và thời gian nghệ thuật là một trong những yếu tố
góp phần thể hiện quan điểm nghệ thuật của nhà văn về cách nhìn con người.
Không gian và thời gian trong tiểu thuyết sử thi không chỉ hướng về tính chất
sử thi mà nó gần gũi hơn với cuộc sống con người cá nhân.
3.2. Kết cấu đa tuyến
3.2.1.Tuyến nhân vật và tuyến sự kiện đan chéo vào nhau
Nói đến kết cấu của tác phẩm là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh
động của tác phẩm” [29, tr.156]. Nó tổ chức mối liên hệ giữa các yếu tố thuộc
nội dung tác phẩm và các yếu tố thuộc hình thức, xử lý mối liên hệ giữa tuyến
sự kiện và tuyến nhân vật, tổ chức các yếu tố tự sự sinh động, miêu tả tĩnh
tại...Chính điều này giúp kết cấu giữ vai trò bộc lộ tư tưởng chủ đề tác phẩm.
Tùy theo nhu cầu phản ánh bức tranh hiện thực xã hội đến đâu thì nhà văn lựa
chọn một loại kết cấu cho tác phẩm phù hợp.
Người cùng quê mang tầm bao quát hiện thực lịch sử, hiện thực con
người đa dạng, nhiều mối quan hệ đan xen nhau, nhiều mặt khác nhau của con
người trong đời sống hàng ngày. Để đáp ứng nhiệm vụ nghệ thuật đặt ra trong
85
tác phẩm, nhà văn sử dụng hình thức kết cấu theo tuyến nhân vật. Lối kết cấu
này được dùng phổ biến trong các tiểu thuyết sử thi hiện đại. “Đặc trưng kết
cấu của những bộ tiểu thuyết sử thi hiện đại là tính cách nhiều tuyến, nhiều
bình diện, sự luân phiên giữa các cảnh khác nhau, sự đan chéo giữa những
tuyến cá nhân và những tuyến lịch sử ” [22, tr.219]. Người cùng quê là tác
phẩm có quy mô lớn trên dưới 100 nhân vật với đủ các thành phần xã hội
khác nhau: quan lại, địa chủ, trí thức, công nhân, nông dân; từ người già đến
trẻ em với nhiều tính cách khác nhau, nghề nghiệp, trình độ khác nhau. Kết
cấu xoay quanh số phận nhân vật, theo sự phát triển của các sự kiện, nhân vật
lần lượt xuất hiện và diễn biến theo trình tự của nó. Kết cấu của Người cùng
quê có hai tuyến lớn đi song song với nhau, đan chéo vào nhau: tuyến các sự
kiện chính trị, xã hội – kinh tế; tuyến gia đình, nhân vật. Trước đây, Phan Tứ
cũng như nhiều nhà văn khác chủ yếu xây dựng theo lối kết cấu đơn tuyến và
xây dựng trên một chuỗi biến cố nhất định. Tiểu thuyết Trước giờ nổ súng,
Gia đình má Bảy được xây dựng theo kết cấu đơn tuyến. Câu chuyện Trước
giờ nổ súng xảy ra trên đất Lào vào tháng 12 năm 1952 khi quân Pháp được
Mỹ giúp đỡ ra sức càn quét và Bộ tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam đang
chuẩn bị mở một chiến dịch mới. Truyện xoay quanh quá trình hoạt động của
đội trinh sát chuẩn chiến CC3. Họ có nhiệm vụ điều tra tình hình địch ở khu
vực Pà-thạc, một địa bàn mà quân tình nguyện Việt Nam và Lào dự định mở
cuộc tấn công. Nhóm trinh sát thu được kết quả, mang báo cáo trở về căn cứ.
Trên đường đi, toàn đội bị phục kích. Trải qua nhiều gian khổ cùng những
mất mát hy sinh, cuối cùng các chiến sĩ trung kiên đã mang bản thảo báo cáo
về căn cứ trước giờ nổ súng. Đến Gia đình má Bảy, Phan Tứ phản ánh sinh
động phong trào đồng khởi của một xã khu V kiên cường thông qua nhân vật
trung tâm là má Bảy. Cốt truyện xoay quanh diễn biến tư tưởng của má Bảy
và hai người con của má, nhà văn cho thấy sự trưởng thành cách mạng của
86
quần chúng xã Kỳ Bường, của nhân dân miền Trung Trung Bộ và rộng hơn
là của cả miền Nam trong bước ngoặt lịch sử 1960- 1961.
Sau 1975, Người cùng quê xây dựng nhiều sự kiện, mang nhiều chủ đề
nên kết cấu không đơn giản chỉ xoay quanh một vài nhân vật, một vài sự kiện.
Ở đây, tuyến lịch sử - sự kiện, tuyến nhân vật đan chéo vào nhau. Phan Tứ
bằng những trải nghiệm, ông chứng tỏ tài năng, bằng lao động nghệ thuật
nghiêm túc để giải quyết số phận nhân vật, mọi vấn đề trong đời sống hàng
ngày, đến từng ngóc ngách phố phường, rừng núi trong bộ tiểu thuyết còn
dang dở này. Thông qua tác phẩm này, Phan Tứ đã đạt tới thành công của
nghệ thuật tiểu thuyết sử thi hiện đại. Đó là sự hòa lẫn với nhau một cách biện
chứng giữa lịch sử và cá nhân, sự kiện và tính cách. Những mâu thuẫn xã hội
được nhà văn chuyển thành xung đột mang tính nghệ thuật, nghĩa là xung đột
giữa các số phận cá nhân. Các nhân vật cùng tồn tại trong một điều kiện xã
hội như nhau. Tuy nhiên, những biến động của lịch sử và hoàn cảnh sống đã
tác động đến cuộc đời và tính cách của con người là khác nhau. Điều này làm
nên tính đa diện trong tính cách của mỗi người. Ngay từ những ngày ở chiến
trường, Phan Tứ đã từng ấp ủ một Người cùng quê mang tầm vóc với Chiến
tranh và hòa bình, nên ông cố gắng thể hiện những biến cố cách mạng và hiện
thực con người một cách chân thực và sống động. Tham gia vào nhiều sự kiện
khác nhau, các nhân vật có quan hệ với nhau tùy theo đặc điểm về giai cấp,
tình cảm, gia đình, xã hội...tạo nên những tuyến nhân vật đa dạng: Phủ Đỉnh –
Khánh – Mỹ Duyên, Bảy Quý – Tô Xáng – Ba Dĩnh – Chanh – Năm Chò –
Cam, Chanh – Thùy, Cam – Lan, Ba Mậu – Hùng Minh – Phủ Đỉnh, tuyến gia
đình Tư Chua, tuyến gia đình Lêông Laphacsơ. Cuộc đời của các nhân vật
giống như những lát cắt qua nhiều sự việc khác nhau và tính cách của họ phát
triển trong sự đa dạng, phức tạp. Mỗi tuyến nhân vật là một bức tranh về hiện
thực con người như nhân vật cách mạng: vợ chồng Bảy Quý, Hai Thỉnh, Tô
87
Xáng, Bảy Tộ, Chanh, Năm Chò....đến lớp thanh niên tiếp nối truyền thống
đấu tranh cách mạng như Sáu Cam, Thanh Yên; nhân vật phản cách mạng:
Phủ Đỉnh, Ba Mít, Quốc Trấn, Bảy Bòng; nhân vật lừng khừng: Ung Viết
Khánh; nhân vật cơ hội: Trà Đình Mậu; nhân vật trung gian: Cửu Áng...
Chẳng hạn, một Phủ Đỉnh biết luồn lách theo thời thế, biết ngoi lên đỉnh ngọn
sóng và đứng vững trong bão táp cách mạng, ông ta xuất thân từ một quan
phủ nhưng khi phong trào Việt minh thắng lợi làm chủ tổng khởi nghĩa thì
nhanh chóng ông bước qua hàng ngũ cách mạng làm chủ tịch Liên việt xã.
Một Ung Viết Khánh lạc loài, lầm lỡ trước cuộc đời - bỏ hàng ngũ cách
mạng, bị cuốn theo chế độ cộng hòa. Một Mỹ Duyên túc trí đa mưu, từ một
nữ sinh trường đầm, cô bỏ dở dang, ăn chơi và làm vợ lẽ của quan phủ đáng
tuổi của cha mình. Với những tính toán sắc sảo, cô bòn rút tiền của ông chồng
già, đóng kịch xuất sắc làm thân vợ ba trong gia đình Phủ Đỉnh. Nhưng khi
dòng thác cách mạng diễn ra ít nhiều tác động làm thay đổi cuộc đời Duyên.
Nhờ sự thông minh và học thức, cô nhanh chóng bắt kịp với sự thay đổi của
lịch sử, làm phóng viên có tên tuổi cho nhiều tờ báo quốc tế. Cuối cùng nhờ
sự vận động của cách mạng, Duyên trở thành một cơ sở vững chắc của Đảng.
Để thấy được sự vận động tính cách của con người thì “nhân vật của Phan Tứ
thường được soi xét trong nhiều mối quan hệ xã hội và nhà văn không né
tránh việc đề cập những sự phức tạp trong các mối quan hệ giữa những con
người cùng ở trong hàng ngũ cách mạng và phần nào cả những mặt tiêu cực,
những tổn thất hy sinh khó tránh khỏi” [73, tr.456]. Phan Tứ tỏ ra chân thật
khi miêu tả cả những mặt trái trong nội bộ cách mạng của ta, phơi bày những
“ông tướng” đạo mạo, cửa quyền, hay đố kị đứng trong hàng ngũ của Đảng.
Nhân vật Ba Mậu là một điển hình. Ông ta đến với Đảng, cách mạng cũng
xuất phát từ động cơ cá nhân vì đã từng “nuôi ý định tiến thân bằng báo chí,
viện dân biểu, trở nên một chính khách có tên tuổi tiêu biểu cho giới trẻ trí
88
thức tây học trẻ” [121, tr.506]. Với tâm thế mong muốn được quyền “tham
chính”, nên ông luôn tìm mọi cách tạo cho mình chỗ đứng an toàn và lợi lộc
nhất trong những chấn động rối ren của xã hội. Trong khi Chanh lao tâm về
Sở hỏa xa thì Ba Mậu ghen tức, tìm cách hạ bệ Chanh. Về sau, ông ta chọn
cho mình chỗ đứng trong “phó ty Giáo dục thuộc tỉnh khu Tư, sa vào một vụ
bê bối nào đó, đã được “đá lên” nhận việc tuyển sinh vào đại học, xoay ngay
được căn hộ khá sang ở Hà Nội” [121, tr.362]. Bên tuyến nhân vật cách mạng
là những Chanh, Bảy Quý, Tô Xáng, La Giang...sống theo lí tưởng vì sự
nghiệp giải phóng đất nước. Cuộc đời của họ gắn liền với nhà tù, chịu đựng
tra tấn của kẻ thù. Nhưng chân lý cách mạng mà họ đã lựa chọn, họ chấp nhận
hy sinh tất cả của hạnh phúc bản thân. Cuộc đời của Chanh là thước phim với
những cảnh tròn trịa về quãng đường hoạt động cách mạng cũng như đời tư
của nhân vật. Cái khổ cực mà anh đã trải qua: đói rét, bệnh tật, tù ngục….đã
không quật ngã con người Chanh: “47 tuổi mà đã đổ máu và mồ hôi trên dải
đất này tới 28 năm, từ nhà tù năm xưa tới cuộc chiến tranh cục bộ ngày nay,
từ hột gạo trên sàng, vốn quý của Đảng của dân” [121, tr.393]. Anh vẫn kiên
cường công tác cách mạng trong khi không ít cán bộ đầu thú đi kèm với nạn
tự sát của các đồng chí trung kiên mất lòng tin ở thắng lợi. Trong tuyến gia
đình thì tiêu biểu quan hệ ruột thịt của gia đình Tư Chua - mỗi đứa con trong
gia đình ông mang một tính cách. Cả Chanh tin người, theo đuổi sự nghiệp
cách mạng từ nhỏ và lập nhiều chiến công. Sáu Cam nhút nhát trở nên chững
chạc trưởng thành trên con đường học vấn – là một minh chứng cho nhận
định: “Thế đấy, ta đề cao công nông, nhưng chỉ hình dung công là phu khuân
vác, nông là người cày i tờ, mãi đến nay vẫn không tưởng tượng nổi công
nông có thể ngoi tới trình độ quốc tế” [121, tr.413]; Năm Bưởi ngang tàng
nhưng ngay thẳng, Tư Quýt ích kỷ, nhỏ nhen, Bảy Bòng theo giặc (theo ngụy,
đầu quân làm lính biệt kích Mỹ).....những phát sinh trong cuộc sống hàng
89
ngày dẫn đến tình cảm trong gia đình bị rạn nứt: anh em ghét nhau, tố nhau.
Dù ở khía cạnh này hay khía cạnh khác thì số phận của các nhân vật là những
sợi dây ràng buộc, liên kết với nhau. Đúng như Ilia Êrenbua đã từng phát
biểu: “trong tiểu thuyết hiện đại có nhiều nhân vật hơn, số phận của họ đan
chéo vào nhau, nhà văn thường đưa người đọc từ thành phố này sang thành
phố khác, cách kết cấu khiến ta nhớ đến những cảnh nối tiếp nhau trên màn
ảnh, những đoạn cận cảnh luân phiên với những cảnh quần chúng” [47,
tr.58]. Để hoạt động của nhân vật diễn ra một cách liên tục cũng như sự phát
triển của tính cách, Phan Tứ lắp ghép nhiều không gian, nhiều cảnh khác
nhau, mở rộng bối cảnh của sử thi thêm phong phú và rộng lớn hơn. Bởi tiểu
thuyết sử thi thường “mở rộng hoàn cảnh và môi trường, đưa các nhân vật từ
hoàn cảnh hẹp ra hoàn cảnh rộng, theo dõi một khối lượng lớn nhân vật tham
gia vào tiến trình lịch sử” [22, tr.223]. Đó là những cảnh xã hội thành thị,
nông thôn, mặt trận chiến đấu, những cảnh ném bom,….kế tiếp nhau, luân
phiên nhau tạo nên một trục sự kiên liên hoàn. Đó là bối cảnh xã hội ở Quy
Nhơn, Đà Nẵng, chuyện anh lính khố đỏ Năm Phi Đao cùng đám trẻ lang
thang, những mẩu chuyện của Khánh ở ngoài Hà Nội, cảnh sinh hoạt của
người dân vùng núi Linh Lâm, chuyển tiếp không gian nước Lào, mặt trận
chiến trường ở Đồng Nai, chuyện thành lập quỹ tổng động viên và quỹ nông
đoàn, không gian xã hội miền bắc…Chẳng hạn, nhân vật Chanh được Phan
Tứ chăm chút kỹ lưỡng, với điểm di chuyển liên tục phong phú về chiều rộng
không gian từ Quy Nhơn đến Đà Nẵng, Quảng Nam, sang nước Lào, tập kết
ra bắc, thăm quan ở Nga…Ở mỗi không gian, tính cách của nhân vật lại được
soi sáng hơn vì sự phát triển tính cách con người chịu ảnh hưởng tác động từ
môi trường, hoàn cảnh sống.
90
3.2.2. Sự kiện lịch sử, xã hội chi phối đời sống, số phận nhân vật
Với một số lượng nhân vật khá lớn, mỗi nhân vật được khắc họa bằng
những nét vẽ khác nhau, các nhân vật của Phan Tứ dần dần tự vén bức màn
cuộc sống cá nhân, hoàn cảnh đất nước qua các sự kiện của xã hội. Các phong
trào xã hội, các khối người đông đảo lần lượt xuất hiện đi vào tác phẩm. Phan
Tứ đã tập trung xây dựng nhiều tuyến lịch sử, xã hội: thời kỳ tổng khởi nghĩa
cách mạng tháng Tám vùng Trung Trung Bộ; các phong trào thành lập quỹ
Tổng động viên, quỹ nông đoàn; giai đoạn tổng phản công; giai đoạn chống
càn của Mỹ- ngụy, phong trào tập kết...Mỗi tuyến sự kiện có rất nhiều nhân
vật cùng tham gia. Thông qua một số nhân vật, mỗi nhân vật được miêu tả
vào một thời điểm mà nó có khả năng phản ánh sự kiện xã hội nào đó. Phan
Tứ đã chọn ba không gian chính để phản ánh các sự kiện của xã hội cũng như
của nhân vật: vùng Trung Trung Bộ, miền Bắc, nước Lào. Miền Trung là nơi
diễn ra các phong trào cách mạng. Lấy miền Bắc tiêu biểu làm môi trường
chính trị xã hội – văn hóa. Đất nước Lào là nơi hoạt động cách mạng của
những chiến sĩ tình nguyện cũng như phản ánh nếp sinh hoạt của nước láng
giềng thâm tình này. Ngoài ra, tác giả còn mở rộng nhiều không gian khác
(nước Nga) để nhân vật tham gia các sự kiện. Phan Tứ lấy các nhân vật chính
tham gia cách mạng làm dòng chảy chính, còn các nhân vật trung gian, nhân
vật phản diện đều có vai trò, vị trí nhất định trong tác phẩm. Họ là những con
người tiêu biểu cho xã hội mà Phan Tứ không ngại ngần miêu tả cả những
“rồng phượng lẫn rắn rết” trong đó. Ông cũng không chỉ giải quyết những
vấn đề riêng lẻ của đời sống mà tập trung bao quát phản ánh và giải quyết
hàng loạt các vấn đề có ý nghĩa quan trọng của con người, của giai cấp và của
cách mạng Việt Nam. Theo nhà văn, sự kiện có nổi bật hay không thì phải
thông qua nhân vật và ngược lại tức là số phận nhân vật có mối quan hệ
khăng khít với sự kiện lịch sử, làm được điều này yêu cầu nhà văn biết bố trí
91
chi tiết, sự kiện, bố cục kết cấu phải chặt chẽ, hợp lí thì chủ đề của tác phẩm
mới toát lên được. Qua một vài nhân vật như Cả Chanh... sẽ thấy được sự kết
hợp hài hòa giữa tuyến nhân vật và tuyến sự kiện. Mở đầu tác phẩm, Phan Tứ
đã cho nhân vật Phan Chanh xuất hiện, một người mới vượt ngục KonTum về
Quy Nhơn. Anh xuất thân từ con một người thợ rèn ở làng Linh Lâm – Quảng
Nam, là người được học hành đến nơi đến chốn và là niềm tự hào của ông Tư
Chua. Nhưng anh là con người luôn trăn trở trước nỗi khổ của con người dưới
chế độ áp bức, vì vậy anh đến với cách mạng. Anh đã chứng kiến sự áp bức
của con người, không khí xã hội ngột ngạt dưới sự kìm kẹp, bắt bớ chính trị
phạm của chế độ thực dân nửa phong kiến. Dường như anh càng thấm thía
hơn nỗi đau khi con người chịu thân phận nô lệ. Ngay sau khi vượt ngục anh
cố gắng tìm cách móc nối với cơ sở cách mạng ở Quy Nhơn. Xã hội đang dần
chuyển mình khi bão táp cách mạng đang lớn dần, không khí tổng khởi nghĩa
cách mạng tháng tám đang lan tỏa tới từng nếp sống, nếp suy nghĩ của con
người.
Như trên đã nói, Phan Tứ xây dựng một số lượng nhân vật đông đảo, họ có
hoàn cảnh và xuất thân riêng. Ông đặt nhân vật của mình vào từng môi
trường, từng gia đình cụ thể để thấy được sự phát triển tính cách con người
qua năm tháng. Phong trào Việt Minh đã tác động tới từng tính cách từng số
phận nhân vật, từng giai cấp và tùy theo mỗi người tiếp thu ảnh hưởng đến
đâu. Chẳng hạn, cách mạng ập đến biến người con cả của ông Tư Chua lò rèn
thành một cán bộ Việt Minh; một quan phủ Ung Viết Đỉnh luồn lách theo thời
thế trở thành phó Chủ tịch Liên Việt huyện Tây Quảng, một Hai Khánh- sinh
viên trường Luật có giấc mơ thầm kín trở thành một Napôlêôn trong cách
mạng này, một làng vùng núi Linh Lâm biến thành làng du kích, một ông Tư
Chua lò rèn trở thành Chủ tịch xã. Đặc biệt Phan Tứ tập trung soi tỏ cuộc đời
nhân vật Chanh - kiểu nhân vật anh hùng sử thi. Anh từng có giây phút trăn
92
trở về về tình riêng về trách nhiệm của người con cả trong gia đình. Đây là
điều mới mẻ trong cách nhìn nhận về con người anh hùng sử thi mà Phan Tứ
xây dựng thành công. Cuộc đời của anh hy sinh cho đất nước, chịu bao đau
đớn tù đày, bệnh tật nhưng con người này vẫn kiên định con đường đã đi. Khi
cách mạng cần những con người tình nguyện sang giúp đỡ cách mạng Lào thì
anh sẵn sàng ra đi, tự tìm hiểu về mọi phong tục văn hóa Lào mong hòa nhập
với dân tộc Lào thì hoạt động cách mạng đối với anh đạt hiệu quả to lớn.
Tham gia cách mạng từ những ngày đầu hoạt động Việt Minh, khi cách mạng
bước sang giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ, anh lăn xả vào những nơi khó
khăn nhất, nhiều lần tính mạng của anh đối mặt sự nguy hiểm, những mâu
thuẫn trong nội bộ nhưng anh vượt qua bình thản. Anh là con người quả cảm,
tài năng. Bên cạnh Chanh là chiến sĩ cách mạng dày dạn, trung kiên: Bảy
Quý, Sáu Lễ, Tô Xáng, Ba Dĩnh, Hồng Long, Năm Chò….số phận của họ
cũng gắn liền với biến cố cách mạng và những chiến công rực rỡ và cả những
thất bại đau thương mất mát.
Qua Người cùng quê, nhà văn muốn dựng lại chuỗi các sự kiện lịch sử
của đất nước, phong trào đấu tranh cách mạng ở Trung Trung Bộ từ thời
đảo chính Nhật, đánh đuổi thực dân Pháp, chống chế độ của chính quyền Ngô
Đình Diệm, sự truy quét chống cộng của Mỹ - ngụy, giành chính quyền về tay
nhân dân. Những con người Trung Bộ tuy xuất thân từ những hoàn cảnh khác
nhau nhưng họ luôn đau đáu về quê hương. Năm Chò tập kết ra bắc, chấp
nhận mức lương thấp hơn rất nhiều ở Hải Phòng để xin về làm ở nông trường
Sao Vàng - Thanh Hóa. Bởi đây là khu vực giúp anh gặp gỡ những người
cùng quê, là cách để anh tìm đường về quê hương sớm hơn, được hòa mình
vào công cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam. Sáu Cam nghĩ thân trai nợ
nước chưa trả, anh bỏ làm luận án Tiến sĩ bên Nga trở về quê hương để ngửi
mùi thuốc súng. Có thể nói những sự kiện lịch sử đã tác động sâu sắc tới tâm
93
tư tình cảm, hành động của con người. Và khi trải qua mỗi sự kiện, con người
dần trưởng thành hơn, tin yêu vào cách mạng: cô Thùy ngoan hiền, xinh đẹp,
có phần yếu đuối và là con chiên ngoan đạo, chỉ biết nghề may vá duy nhất,
làm vợ Chanh chăm lo chu toàn cho gia đình nhà chồng, chưa từng tham gia
cách mạng. Trong những năm bị chính quyền Ngô – Diệm kiểm soát gắt gao
các gia đình có cộng sản, hạch sách đủ loại thuế, Thùy trở nên rắn rỏi, cương
quyết đáp trả bằng những lí lẽ ngay cả khi bọn chúng bắt và ép cô phải li hôn
với Chanh. Bằng tình yêu thương của chồng con, Thùy vượt qua nhiều khó
khăn và quyết định bí mật bỏ trốn lên xanh cùng với Chanh. Là vợ của cán bộ
cấp tỉnh nhưng Thùy không ỷ thế, cô đảm nhận công việc bếp núc, chăm sóc
bệnh nhân. Cô khẳng định được năng lực của mình khiến ai nấy đều thán
phục trước sự hoạt bát, năng nổ của Thùy. Cuối cùng cô được kết nạp vào
Đảng, cuộc đời bước sang một trang mới. Thùy làm người đọc nghĩ đến
những người phụ nữ Việt Nam, với nhiều phẩm chất cao đẹp. Một người vợ
chung thủy trở thành hình ảnh truyền thống cho dân tộc Việt Nam, nhất là các
bà, các mẹ, các chị vùng Trung Trung Bộ, một cá nhân tự nguyện làm hậu
phương vững chắc cho lớp người ở phía trước. Khác với Thùy, Mỹ Duyên
được khắc họa ở điểm nhìn khác. Cũng là người phụ nữ Việt Nam, nhưng
Duyên là con người hòa trộn cả hai lối sống phương Tây và Á Đông. Cô từng
học trường đầm, cặp bồ với nhiều người và cuối cùng chấp nhận làm vợ ba
của quan phủ, sau đó làm nhân tình của con trai quan phủ. Tưởng như con
người cá tính và bất trị ấy, lại có ước mơ ao ước một mái ấm gia đình với chế
độ hôn nhân một vợ một chồng. Bão táp cách mạng diễn ra, cuộc đời cô trôi
dạt nhiều nơi và cuối cùng trở thành một phóng viên có tiếng cho các tờ báo
quốc tế, đứng ngoài lề hàng ngũ của cách mạng. Trải qua bao nhiêu biến động
của xã hội, Duyên vẫn mang trong mình mối tình với Hai Khánh – con người
giờ nghiêng ngả về chế độ cộng hòa. Nhờ sự vận động của các đồng chí,
94
Duyên đã đứng trong hàng ngũ của cách mạng. Như vậy ở mỗi giai đoạn sự
kiện, Duyên có chỗ đứng khác nhau trong xã hội, số phận của cô là một biến
thiên. Nếu ở những chương đầu tiên của tác phẩm, người đọc bắt gặp một Mỹ
Duyên ít thiện cảm, thì đến đây, Duyên đã chinh phục được tình cảm, niềm
tin yêu của đọc giả. Đến hình ảnh chị Sáu Lễ, Năm Bưởi, út Thanh Yên là
người phụ nữ trung kiên bất khuất trực tiếp đấu tranh chống kẻ thù góp thêm
vào tượng đài những người phụ nữ Việt Nam anh hùng đáng trân trọng và tự
hào.
Nhà văn không chỉ xây dựng một sự kiện đơn lẻ mà đan cài nhiều sự
kiện với nhau, số phận cá nhân bị chi phối bởi tình hình, hoàn cảnh cuộc sống
cách mạng. Khi phong trào cách mạng diễn ra cũng là lúc Phan Tứ cho người
đọc thấy những mâu thuẫn cá nhân, mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc.
Tất nhiên mâu thuẫn dân tộc là lớn nhất: giữa dân ta với Nhật, Pháp, Mỹ. Tùy
từng giai đoạn cách mạng thì mâu thuẫn nào là chủ yếu. Nhưng Phan Tứ cũng
muốn phơi bày những mâu thuẫn cá nhân, mâu thuẫn giai cấp xuất phát từ
trong nội bộ gia đình, cộng đồng, cách mạng. Ví dụ, mâu thuẫn trong ngành
hỏa xa (Chanh và Trà Đình Mậu), mâu thuẫn trong hoạt động cách mạng (Lý
Đằng và Năm Chò cùng anh em ở đại đội 8), mâu thuẫn trong xã hội (Ba Mít,
Trà Đình Mậu với bà con xã Linh Lâm), mâu thuẫn gia đình (các thành viên
trong gia đình Tư Chua)….Chính từ những mâu thuẫn giữa các cá nhân khi
tham gia cùng sự kiện mới có điều kiện bộc lộ cái bản chất con người thật
nhất.
Như vậy, Người cùng quê dựng lên một bức tranh hiện thực rộng lớn mà
trong đó số phận con người chịu sự tác động của các sự kiện lịch sử - xã hội.
Hay nói cách khác, sự kiện và nhân vật phải gắn kết chặt chẽ với nhau, có
quan hệ nhiều chiều, tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật.
95
3.3. Cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật
3.3.1. Ngôn ngữ đối thoại
Ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy, nó biểu đạt suy nghĩ của con người khi
phát ra thành lời nói. Dưới góc độ của văn học, ngôn ngữ là hình thức để con
người bộc lộ tâm tư tình cảm và qua đó chúng ta thấy được tính cách, bản
chất con người. Càng về sau, nhà văn chú ý nhiều hơn yếu tố ngôn ngữ đối
thoại. Theo từ điển tiếng Việt, đối thoại là “nói chuyện qua lại trực tiếp giữa
hai người hoặc nhiều người”. Vì vậy, ngôn ngữ đối thoại là hình thức trực
diện nhất để con người bộc lộ chính kiến, tư tưởng của mình trong quá trình
giao tiếp. Do đó, mỗi người sẽ có phong cách ngôn ngữ riêng: có người nói
nhanh hay nói chậm, có người nói triết lý, trang trọng hay thân mật, giản dị…
Trước những năm 1975 với mạch sử thi bao trùm, ngôn ngữ đậm chất thơ,
trang trọng và được mỹ lệ hóa. Tuy nhiên người đọc vẫn bắt gặp thái độ tiếp
xúc thân mật, gần gũi ở giọng văn như Nguyễn Khải, Chu Văn, Nguyễn Kiên,
Phan Tứ, Nguyễn Thi… Các sáng tác trước 1975 được Phan Tứ xây dựng
chất liệu ngôn ngữ trang trọng nhưng đậm chất trữ tình. Ví dụ, Trước giờ nổ
súng biểu dương tình đoàn kết keo sơn anh em Việt Lào, nhờ tình cảm đó mà
quân dân hai nước sát cánh bên nhau vượt qua mọi khó khăn gian khổ, những
cuộc hành quân càn quét của quân thù: “Sợi dây bật căng, thít bụng anh,
Lương nghiến răng ôm ghì cây, đeo Văn Thon bằng sức bụng, người muốn
đứt làm đôi. Anh ngạt thở, há mồm không kêu ra tiếng. Văn Thon lủng lẳng
đầu dây, mắt trợn trừng:
- Cắt mau…chết cả!
Khiêm trèo vượt lên, súng quật vào núi lách cách, Khiêm nhô vai lên vừa sát
chân Văn Thon, sợi dây chùng dần, Văn Thon bám được hai tay, run lẩy bẩy.
Trên kia Lương nằm bệt xuống một chỗ, gắng thở cả mũi, mồm tai” [52,
tr.181]. Phan Tứ cũng tỏ ra có tài trong việc sử dụng lời văn trong sáng, giản
96
dị để miêu tả tính cách nhân vật – ngôn ngữ đã mang nét cá thể đặc sắc. Nó
được phát huy cao độ trong Gia đình má Bảy. Ngôn ngữ nhân vật tích cực
khác hẳn ngôn ngữ nhân vật phản diện. Chẳng hạn má Bảy có lối nói riêng
của má khi má gợi chuyện Út Sâm nhân Bê làm con nuôi: “Không phải má
nuôi nó để sau nhờ cậy gì, có điều hết thảy cán bộ du kích ai cũng có chỗ bà
con lui tới, sót lại mình nó đầu không bằng chân không rễ, nó vun đắp cho cả
xã mà rách cái áo cũng phải lui cui ngồi vá lấy, má nghĩ xót ruột quá. Thôi
thì không có công sinh thành cũng có một chút dưỡng dục” [117, tr.801-802].
Đấy là tiếng nói của một bà mẹ, bà mẹ chiến sĩ – cách mạng. Hay là ngôn ngữ
của ông Nhâm mang tính cách của một lão nông, ít nhiều có nho học, thích
dùng tích tuồng, pha chút trào phúng: “Ta nhấp cho ấm bụng rồi đi, Kinh Kha
nhập Tần phải có chất men mới hay. Phàm lãnh ấn đi sứ là không được làm
nhục quốc thể, cái đó xưa bày nay làm. Dù tụi nó giết nữa cũng đáng số, mình
bớt vài năm sống dai để con cháu nó sống đời phải không bà con?” [123,
tr.803]. Ông cũng ưa lối nói lái của người Trung Bộ: “Phần lão đây, ông nói,
mới viết sơ sơ một bài văn kiến nghị, quốc gia để chấm cho đậu tú tài, nghĩa
là “tái tù” hai lượt!”. Trong những nhân vật phản diện, ngôn ngữ cũng mang
sắc thái cá tính hóa. Ba Phổ mang ngôn ngữ của một tên ác ôn: “Các người
coi kẻ mười năm chống cộng đây, hiệp thương hiệp thiếc à? Thằng này không
chính trị với các người đâu….Cần ác là tôi ác tới chử”. Thằng Rân thì lại có
lối ăn nói của một tên theo đóm ăn tàn, xun xoe với những câu văn hoa của
một học sinh mới ra trường.
Sau 1975, hiện thực đời sống đã khác, bên cạnh chất liệu ngôn ngữ trữ
tình, Phan Tứ đưa vào những ngôn từ đậm chất đời thường. Chúng ta sẽ thấy
mỗi nhân vật trong tác phẩm có lối sử dụng vốn từ riêng biệt, đầy cá thể. Thứ
nữa, tư duy tiểu thuyết ngày càng chiếm vị thế so với tư duy sử thi, nó khám
phá các miền tối sáng, thiện ác trong mỗi con người. Do đó, nhà văn không
97
ngại ngần khi đưa vào tác phẩm của mình lối văn phong mang tính suồng sã,
thân mật mang tính khẩu ngữ, chân thật trong giọng điệu, thô nhám trong từ
ngữ…. Để cho nhân vật bộc lộ cá tính, nhà văn xây dựng lớp ngôn từ trong
giao tiếp theo lối xưng hô: mày – tao, toa – moa, tao – mi, mạ – con, tao –
bay và gia tăng khẩu ngữ bằng cách dùng đại từ nhân xưng: hắn, mụ, lão, ả,
nó; thậm chí cả những câu nói cửa miệng bày tỏ thái độ bất mãn của nhân vật:
Tổ cha thằng Nhựt, mẹ cố tổ nhà nó, Đ.mẹ mày….Qua cách dùng vốn từ địa
phương, Phan Tứ làm cho ngôn ngữ nhân vật sinh động, đặc trưng sắc thái
giọng điệu miền Trung Trung Bộ: rứa, ni, mần, nãy chừ, răng….và nhiều
thành ngữ dân gian: nói như cháo chảy, trẻ người non dạ, ngang như cua, chó
ăn đá gà ăn muối, chín bỏ làm mười, mười bảy bẻ gãy sừng trâu, lời nói
chẳng mất tiền mua, vắt cổ chày ra nước, dục tốc bất đạt…. Cách dùng
những ngôn từ giúp người đọc tiếp cận tác phẩm dễ dàng, dễ nắm bắt tâm lý
và hành động của nhân vật. Không còn là những ngôn ngữ trang trọng mà
thay vào đó, những con người làm cách mạng như Chanh, Bảy Quý, Tô
Xáng…dùng cách nói dân giã, đời thường. Họ xưng hô với nhau không phải
là “tôi” với “đồng chí”, “tôi” với” các anh” mà xưng hô ngang hàng, thân
thiết và suồng sã. Qua cuộc đối thoại giữa các nhân vật, đời sống của họ hiện
lên sống động, giản dị. Cách nói của Bảy Quý mang tính cách của một nhà
chính trị bình dân, có những sinh hoạt rất đời thường: “Sao thứ gì của mày
cũng khác đời vậy Chanh? Kiểu ba nòng tao mới thấy lần này là một” [121,
tr.571], “Rót tao ly nữa, Chanh! Rượu sắn không phạm chính sách, thêm
thuốc nam của mày vô là đáng cái bằng khen” [121, tr.572]. Hay là ngôn ngữ
của Chanh trong đối thoại với La Giang:
“ - Để dành hơi dỗ người khác, đừng cho tao đi tàu bay giấy!...Quên chưa
hỏi, thằng cha Lý Đằng tài ba cỡ nào mà Mặt trận coi o bế nó quá vậy?
98
- Nó lạ lắm mày ơi. Tao hỏi tại sao nó hay đánh chưởi bộ đội, nó xổ một
dây tiếng ta lộn với tiếng tàu” [121, tr.472-473].
Lối xưng hô ấy được sử dụng từ người lãnh đạo đến cấp dưới, cả những
người lính như Năm Chò. Giọng điệu của Chò là ngôn ngữ của một anh lính
đã va chạm nhiều với cuộc sống phiêu bạt khắp nơi. Do đó, lối xưng hô tuy
phường tuồng nhưng toát lên vẻ chân chất của anh:
“ - Từ nhỏ tới lớn, ai cũng dạy tao phải sống lương thiện. Chung cục lại,
tao thấy chẳng có đứa chó nào sạch sẽ hết” [121, tr.96] .
Người đọc còn thấy được ở Chò là một con người đầy nghĩa hiệp. Anh nhận
thằng Cam làm em nuôi – một đứa trẻ lang thang, đói rách trong khi bản thân
anh cũng không khấm khá gì:
“ - tao bớt mỗi ngày một xị rượu, tao nuôi mày” [121, tr.37]
Và Chò còn là một con người với hành động hơi vụng về trong buổi đầu đến
với cách mạng, gọi Cả Chanh là đại ca:
“ - Tôi xin có mấy lời trình với đại ca, với quý đồng chí. Tôi là thằng
Năm Chò lưu lạc bấy nhiêu năm có thêm là Năm Phi Đao. Nay được về bổn
quán cùng làm việc nghĩa với bà con mình, thiệt là vui hết sức….Bị cái tôi dốt
chánh trị lắm, ăn một cục nói một hòn, một chữ bẻ đôi chẳng hiểu, đại ca đây
dạy dỗ nhiều mà chưa khá. Thôi thì tôi biết gì bày nấu, anh em cứ ngó theo đó
mà làm…Trước hết, xin mời bà con coi trò ném phi đao!” [121, tr.177].
Qua năm tháng được rèn luyện trong chiến đấu và gian khổ, Năm Chò bỏ
được nhiều tật xấu, tác phong đĩnh đạc, ăn nói chỉn chu hơn với mọi người:
“anh khôn ra, tập đối phó với bọn sĩ quan bằng lý sự, nét mặt giọng nói,
không chen vào cử chỉ hay câu chữ nào có thể bị bắt vạ khi ghi tên vào biên
bản”.
Cuộc sống cần những thông tin ngắn gọn, mang tính tốc độ, đáp ứng nhu cầu
trao đổi thông tin trong giao tiếp. Điều đó được phát huy tối đa trong cuộc đối
99
thoại hàng ngày. Phan Tứ gia tăng câu văn tỉnh lược, hình thức câu từ rút gọn.
Chẳng hạn, ngôn ngữ của ông Tư Chua cũng nhanh, mạnh giống như công
việc lò rèn của ông:
“ - Chẻ dài thêm đầu mũi!
- Cho phía cay âu nữa. Quýt!
- Nhẹ nhẹ, Bưởi. Gõ xéo cho đục vô eo?
- Đổi búa”.
Nhịp điệu nhanh gấp, đạt thông tin tối đa được nhà văn miêu tả qua ngôn từ
của anh bạn của Năm Chò làm nghề đánh xe:
“ - Phố Hội đây bằng cái lỗ mũi, có gì mà coi. Tao đưa tụi bay đi Turan,
mới rồi đổi tên ra Đà Nẵng đó. Đi xe ngựa thôi, tới nơi còn sẵn xe đi ngắm
cảnh nữa chớ. Đi ta hè!...Bữa nay chở người nhà, gấp, không chở
khách…Đợi xe khác nghe! Đừng chưởi nghen!” [121, tr.93-94].
Tùy theo mối quan hệ xã hội hay tình cảm mà mỗi nhân vật có kiểu ngôn ngữ
khác nhau. Trong Người cùng quê, ngôn ngữ đối thoại có tính đối đáp giữa
hai nhân vật giao tiếp, tạo thành kiểu ngôn ngữ sóng đôi, như cuộc trò chuyện
giữa Khánh và Duyên. Đó là cách nói của cặp đôi yêu nhau:
“ - Gớm, Duyên lườm nguýt anh trông như con khỉ ở vườn Bách thú.
- Còn anh cứ hầm hầm như con gấu ngựa!” [121, tr.201]
“ - Em là con yêu tinh…
- Anh là gấu ngựa, trâu điên…” [121, tr.303]
Thông thường yếu tố đối thoại mang tính chất tự nhiên nhưng có khi mang
tính “đối chất” để đối phương giao tiếp nói lên suy nghĩ, nhận thức về hiện
thực. Cách nói của Cô Thùy – vợ Chanh cho thấy một con người luôn biết suy
nghĩ, biết nhận thức về hoàn cảnh. Trước những câu hỏi của anh Bảy Quý,
Thùy bày tỏ tâm tư một cách chân thật:
100
“ - Cháu về đây lần hồi tỉnh lại, cứ nghe chung quanh nói anh Chanh
phải bỏ chức giám đốc hỏa xa là tại con vợ phát điên, anh chịu lạc hậu vì lỡ
lấy nhầm con hai Thùy….Cháu rán vui để ảnh đi cho nhẹ nhàng đó bác…”
[121, tr.570].
Nhắc đến hình ảnh bà mẹ trong tiểu thuyết, Phan Tứ luôn dành những trang
văn với ngôn ngữ đằm thắm, trìu mến nhất để ca ngợi các mẹ. Sau bao tháng
ngày lăn lộn với công tác cách mạng, Chanh chỉ có thời gian bên mẹ khi anh
bị bệnh và được mẹ chăm sóc. Đấy là những phút giây hiếm hoi của tình mẫu
tử.
“ - Mồ hôi nhiều không con?
- Như tắm mẹ ơi.
- Lau cho thiệt ráo…Tù đày miết cũng phải được nghỉ chớ. Bộ mày vắng
một ngày là bên mình thua liền à?
- Không thua liền, mà sút đi chừng cái lông chân mẹ ơi!” [121, tr.230]
Cũng là tiếng nói của bà mẹ giàu lòng yêu thương nhưng cách nói người mẹ
nước Nga (bà cưu mang Cam trong thời gian anh làm nghiên cứu sinh tại xứ
sở này) đã cho người đọc thấy sự thâm tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước
Việt – Nga:
“ - Mày coi tao thế nào hả Cam? Chúng tao nghèo, mà chưa tới mức nằn
nì mời khách trọ. Học bổng của mày bao nhiêu tao biết, mày đưa thế này rồi
nhịn đói à?[121, tr.352]
“ - Này Phan Cam, con không thích gọi mẹ bằng mẹ ư? Sao cứ phải là
chiochia chứ không phải là mama?” [121, tr.353].
Thế giới nhân vật trong Người cùng quê đa dạng, Phan Tứ dày công xây dựng
cho mỗi nhân vật một giọng điệu riêng. Loại nhân vật phản diện cũng mang
một dấu ấn cá tính đặc sắc. Phủ Đỉnh từ một quan phủ, rẽ sang hàng ngũ Việt
Minh, rồi tham gia tổ chức Việt Nam quốc dân đảng và về sau đứng sang
101
hàng ngũ Việt Nam cộng hòa. Mỗi lời nói của lão mang tính triết lý, bộc lộ
con người nhiều tính toán, thâm độc, như trong cuộc đối thoại với Tư Chua,
Cửu Áng, với Khánh:
“- Chào ồi, anh Tư còn lạ gì tánh nết đàn bà. Tôi la rầy miết mà mụ Cả
không chịu bỏ cái tật vắt cổ chày ra nước” [121, tr.171].
“ - Chẳng phải tôi hữu dũng vô mưu đâu anh Cửu à. Có uy cũng phải có
ân chớ. Nhu thắng cương, nhược thắng cường, rốt cuộc răng cứng rụng
mà lưỡi mềm còn mãi, làm quan cai trị hễ quên điều đó thì gãy cổ sớm…”
[121, tr.197].
“ - Hột lúa nằm giữa hai thớt cối xay mà đòi mọc mầm hay sao cho nổi!
Con tạm theo cung cách cây lau, chịu uốn mình mà đừng để trốc gốc, qua
cơn gió lại đứng thẳng y nguyên. Rồi ông vẫn cứ là ông: còn thằng rút
cục vẫn không ra thằng!” [121, tr.206].
Đối với kẻ thù, Phan Tứ cũng tạo cho loại nhân vật này đặc trưng ngôn ngữ
riêng, mang bản chất hung hãn. Chẳng hạn, tên tướng Lâm của chế độ Việt
Nam cộng hòa có ngôn từ:
“ - Mẹ cố tổ nó chớ. Thằng thiếu tá Mắc Krugơ đi thị sát mà không thèm
báo trước cho moa. Năm phút trước khi hạ cánh nó mới biểu tham mưu
báo cho mình. Chậm chút nữa, moa cho năm bảy cây đui xết quét rụng cả
bầy” [121, tr.486].
“ - Đ.mẹ, ngu hơn heo! Tụi bây dám hành hạ thiếu tá vầy há? Muốn ra
tòa án binh, tao cho ra liền một khi! Mở khóa! ” [121, tr.271].
Ngoài ra, trong Người cùng quê Phan Tứ chêm vào nhiều ngôn ngữ khác
nhau: Nhật, Pháp, Anh, Nga, Lào và xen lẫn tiếng Việt làm cho lời nói thêm
sinh động:
“ - Bandai! Bandai Ichimaê” (Tiếng Nhật)
102
“ - On dira que c’est apolitique, doncnuisiple. Mieux vaut éviter pour eux
une deception” (Tiếng Pháp)
“ - Sorry, very sorry...It’s only a misunderstanding” (Tiếng Anh)
“ - Thửng Khná câmmacan Tò tạn Khỏeng Châm pa xắc thì nặp thử xạp”
(Tiếng Lào)
“ - Thế tại sao Việt Minh lại đánh chúng tôi? Oa rui, tai hen oa rui đex!”
“ - Ma mốtska maia, con muốn lắm chứ mẹ!”
Sự đa dạng về ngôn ngữ, giọng điệu của nhân vật, cho người đọc thấy tài
năng của Phan Tứ trong việc lựa chọn và sử dụng nhiều yếu tố ngôn ngữ, góp
phần phong phú tiếng nói của dân tộc cũng như đặc trưng ngôn ngữ vùng
Trung Trung Bộ. Nó chứng tỏ ngôn ngữ sử thi không còn chiếm ưu thế trong
các trang văn mà thay vào đó là ngôn ngữ đời thường.
3.3.2. Ngôn ngữ độc thoại
Nếu đối thoại là hình thức giao tiếp sử dụng hình thức nói năng giữa
người này với người khác thì độc thoại là dạng giao tiếp đặc biệt của ngôn
ngữ nhân vật, là hình thức nói với chính mình. Mà qua lời độc thoại đó người
tiếp nhận ngôn bản (người đọc) có thể hiểu được tâm trạng nhân vật dù đó chỉ
là kiểu ý nghĩ – tư duy bằng ngôn ngữ thầm. Theo từ điển thuật ngữ văn học,
độc thoại nội tâm là “lời phát ngôn của nhân vật nói với chính mình, thể hiện
trực tiếp quá trình tâm lí nội tâm, mô phỏng cảm xúc, suy nghĩ của con người
trong dòng chảy trực tiếp của nó” [29, tr.122]. Đây là thủ pháp hữu hiệu trong
việc phát hiện ra thế giới nội tâm của nhân vật. Nhân vật tự nói lên tâm tư
nguyện vọng hay những vui buồn…trong cuộc sống. Độc thoại là một hình
thức thanh lọc tâm hồn con người vì khi đối diện với một mình, con người dễ
dàng bộc lộ cảm xúc thật nhất trong sâu thẳm trái tim.
Cả Chanh với những suy nghĩ riêng về tình yêu, về gia đình. Là con người
của cách mạng, của quần chúng nhưng anh vẫn là con người bình thường cần
103
có giây phút riêng tư cho bản thân. Nghĩ về tình yêu, về người con gái mà anh
trao yêu thương: “Em tươi tỉnh xưng em như hồi còn nhỏ, còn anh cứ tôi với
cô như người dưng nước lã dù đêm đêm trằn trọc vì mùi dầu chải tóc của em
bốc trên gối, hương em lan khắp căn buồng nhỏ mà em nhường hẳn cho
anh…” [121, tr.350]. Sau khi nghe kể về chuyện gia đình vợ con, Chanh thầm
nghĩ về sự hy sinh của Thùy: “Em ơi, người vợ và người yêu trọn đời của anh
ơi, sao em lại chọn anh làm chồng để rước lấy khổ vào thân, vì anh với cả
nhà chịu những cái eo xèo trong nhà, nỗi cay cực kiếm chén cơm ghế khoai
sắn nuôi và thăm nuôi bấy nhiêu người ở nhà, ở lớp tố cộng, ở tù, ở núi?”
[121, tr.227]. Ngòi bút của Phan Tứ dần khám phá những miền sâu kín của
nội tâm , thấy được chiều sâu tâm lý nhân vật. Làm được điều này, đòi hỏi cả
sự hóa thân của nhà văn vào nhân vật. Với một số lượng nhân vật khá đông
đảo, mỗi con người có những thầm kín riêng. Tuy nhiên, kiểu nhân vật có
những hoàn cảnh sống phức tạp, vị trí đứng trong xã hội khác nhau, có lẽ
được nhà văn xây dựng nhiều đoạn độc thoại, phản ánh số phận con người
cũng như thể hiện tầm nhìn mới của nhà văn về con người trong bão táp cách
mạng. Khánh một nhân vật có hoàn cảnh xuất thân khá phức tạp và được
Phan Tứ xây dựng nhiều đoạn độc thoại nhất trong tác phẩm. Đây là nhân vật
vừa có công vừa có tội trong biến cố lịch sử. Ngay từ những ngày đầu diễn ra
phong trào Việt Minh, anh hăng hái mua súng ủng hộ cách mạng, vận động
quan lại, địa chủ đầu hàng Việt Minh, đảm nhận công việc ở ban địch vận tỉnh
Quảng Nam, khai thác hồ sơ bọn tù binh. Sau đó, Khánh chao đảo nghiêng về
chế độ chính quyền Ngô Đình Diệm. Giải thích cho hành động của bản thân,
Khánh tự bộc bạch như muốn truy tìm nguyên nhân ứng xử trong cách mạng:
“Mình nhận cách mạng là chân lý, mình theo cách mạng, nhưng tại sao khi
đụng vào một việc cụ thể nào đó mình cứ nghĩ khác, trượt sang bên cạnh mọi
người” [121, tr.294]. Độc giả thấy rõ nhất nội tâm của một con người đã ăn
104
nằm với cô Bưởi nhưng không dám nhận trách nhiệm về đứa con ngoài giá
thú qua những trang nhật ký. Nhật ký là hình thức chân thực nhất phản ánh
những sự kiện trong ngày mà nhân vật nắm bắt cũng như cảm xúc được viết
ra bằng những con chữ trên trang giấy rõ rệt. Đó là những dằn vặt, nhớ
thương về đứa trẻ vô tội cũng như khơi dậy tình phụ tử trong tâm thức của
người làm cha:
“ Chung ơi, con ơi, thiên thần của ba và quỷ dữ của ba ơi, con đừng ám ảnh
ba nữa, ba sắp điên rồi đây!....tại sao, khi Năm Bưởi đến báo tin có thai sau
những đêm ngủ với tôi, tôi lại sững sờ kinh hoảng đến câm lặng, chỉ nghĩ đến
một từ pháp lý là “thủ tiêu tang vật” như một tên trộm hạng bét? Bưởi nhận
ra ngay chân tướng của tôi, ôi chao một con tinh chồn thò đuôi sau cái lốt thư
sinh tuấn tú” [121, tr.721] và cả những ý nghĩ đầy tội lỗi “tại sao mẹ của bé
Chung không phải là Thùy?” [121, tr.730]. Trong suốt tác phẩm, chưa một
nhân vật nào có đời sống nội tâm phong phú và phức tạp như Hai Khánh. Anh
tự mổ xẻ mối quan hệ với Duyên, về sự tồn tại của bản thân trong dòng chảy
cách mạng chung của đất nước, về những tật xấu của mình: “Mình còn yêu
hay hết yêu Duyên?...Tại sao vô số người khác có thể tin Đảng, tin chính
nghĩa Kháng chiến, tự tin khi theo cách mạng, còn tôi lại cứ chập chờn, ngả
nghiêng, chao đảo, không tin ai mà cũng chẳng tin mình?...Dạo này tôi
nghiện thuốc lá, thích rượu nhưng không uống say hay la cà nhậu nhẹt, có
nhân tình biết tránh thai và tránh tiếng….Bên trong, tôi vẫn không biết mình
thực sự là ai!? ” [121, tr.841]. Khánh tự bao biện cho hành động nhận vàng
của người thân gửi cho anh trong những ngày làm công tác địch vận, coi đó là
điều tất nhiên, ngẫu nhiên nhưng cũng thấy được cái tiêu cực trong nội bộ
cách mạng: “Thì đã sao? Đã sao? Thiếu gì cán bộ đọc bản phản tỉnh đã thông
đồng với quản lý ăn xén từng chút gạo chút mắm của đơn vị để sắm kaki
ngoại, mua đồng hồ…..Mình dại ở chỗ quá thật thà, quá lí tưởng cách mạng,
105
quá nghiêm khắc với bản thân, buộc thằng Khánh phải tự lột xác như ve sầu
lột vỏ mà chẳng cần biết đến mưa to gió lớn bên ngoài” [121, tr.857]. Cuối
cùng, Khánh tự nhận, tự trả lời cho những thắc mắc trước đó: “Mình là kẻ
lừng khừng, chao đảo…Nuôi ảo tưởng là đứng trên mọi cuộc loạn đả. Cố giữ
tâm hồn kẻ sĩ, an bần lạc đạo, rốt cuộc thì bần không chịu nổi, mà đạo bị xói
mòn mỗi ngày một ít?” [121, tr.193]. Phản ánh nạn ăn hối lộ, tham ô, hám
quyền phải kể đến nhân vật Ba Mậu – vốn là một cán bộ cốt cán của Đảng
nhưng đạo đức thì suy thoái, không gây chút cảm tình với bạn đọc khi xuất
hiện. Anh ta đố kỵ với Chanh, gây mất đoàn kết trong nội bộ hỏa xa. Những
dòng độc thoại cho chúng ta thấy rõ nhất con người của y: “Nó rất thật thà,
thật thà là cha đứa dại, mình thay nó là phải thôi, đáng lẽ nó ở lại giúp mình
về nghề xe lửa thì hay tuyệt. Mình chỉ cần giữ chức giám đốc Sở hỏa xa vài
năm cho xứng với công lao làm cách mạng từ thời Mặt trận dân chủ, sau sẽ
nhường cho thằng Chanh hay ai cũng được, mình lên nữa càng hay, nếu lui
về nghỉ thì cũng là cán bộ liên khu, đỡ bị coi thường” [121, tr.641]. Việc nhận
hối lộ của Phủ Đỉnh được ông ta biện minh như sau: “Thì đã sao nào? Đã
sao? Làm cán bộ ăn cơm nhà vác ngà voi, ai mà khỏi gia đình nuôi thêm?
Biết bao nhiêu cán bộ giỏi phải rút lui vì quá túng đói, kiệt sức về cuốc đất
nuôi heo” [121, tr.707].
Như vậy, khi khảo sát ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Người cùng
quê, chúng tôi thấy ngôn ngữ đối thoại ngày càng gần hơn với hiện thực đời
sống, có độ dồn nén thông tin, bộc lộ. Đồng thời, nhà văn đã trao cho nhân vật
quyền chủ động, khách quan bộc bạch thế giới bên trong. Sử dụng bút pháp
độc thoại là một thành công để khám phá thế giới tâm hồn con người. Ngôn
ngữ giúp nhà văn thể hiện cá tính, phong cách riêng của nhà văn.
Nhân vật văn học luôn là yếu tố quan tâm hàng đầu của nhà văn, thể hiện
cách nhìn nhà văn về con người, tư tưởng khám phá con người chiều sâu nhận
106
thức. Vì vậy, khi tìm hiểu sự đổi mới cách nhìn của nhà văn về con người
không thể không nói đến nghệ thuật thể hiện cách nhìn con người trong tiểu
thuyết Người cùng quê. Phan Tứ sử dụng những biện pháp nghệ thuật miêu tả
không gian, thời gian, ngôn ngữ, kết cấu đa tuyến, để tái hiện chân thật hình
ảnh con người trong chiến tranh mang vóc dáng khác nhiều so với giai đoạn
trước 1975. Giờ đây, con người vận động gần với hiện thực cuộc sống đời
thường, được nói lên tâm tư, nguyện vọng cá nhân.
107
KẾT LUẬN
Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ kéo dài hơn 30 năm (1945-
1975), một đội ngũ các nhà văn lớn ra đời và trưởng thành nhanh chóng, họ
vừa cầm bút vừa cầm súng, họ vừa là nghệ sĩ cũng vừa là chiến sĩ trên khắp
các mặt trận như: Nguyên Ngọc, Nguyễn Thi, Anh Đức, Phan Tứ…. Phan Tứ
là một trong những cây bút xuất sắc của thế hệ nhà văn trưởng thành trong hai
cuộc kháng chiến của dân tộc. Cả cuộc đời của ông đã gắn bó với cách mạng,
với nhân dân. Phan Tứ đã “tắm mình” trong cuộc sống khói lửa chiến tranh
bằng cách “trải đời”, “trải đạn” ở những nơi gian khổ, ác liệt nhất của cuộc
chiến tranh để sống, để chiến đấu và ca ngợi vẻ đẹp của con người, của dân
tộc Việt Nam kiên cường bất khuất, anh dũng, tiêu biểu là con người và quê
hương của vùng Trung Trung Bộ.
Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn cùng thời luôn có ý thức viết về cuộc
kháng chiến vĩ đại của dân tộc, cùng với một quan niệm sống và sáng tạo
nghệ thuật nghiêm túc: “Sống thật sự vào cuộc, làm một người chiến sĩ thật
sự, tham gia hết mình trong cuộc sống như bất cứ người chiến sĩ nào, không
làm “nhà văn” chuyên ghi chép và quan sát, đứng bên cạnh, đứng bên
ngoài”. Do đó, những sáng tác của Phan Tứ gắn liền với các chặng đường của
cách mạng, và nó phải phản ánh được hiện thực cách mạng một cách chân
thật và hùng hồn. Những tác phẩm của Phan Tứ ra đời được chào đón nồng
nhiệt và ví như những trang sử vàng ghi lại những chiến công oanh liệt của
các giai đoạn lịch sử khác nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với
một tình cảm nồng hậu thủy chung, bám đất, bám làng và sống với lý tưởng
cách mạng cao đẹp. Cũng viết về chủ nghĩa anh hùng, viết về con người miền
Trung như Phan Tứ, nhưng Nguyễn Trung Thành nhấn mạnh tính chất gay
go, quyết liệt của cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp ở vùng xứ Quảng,
108
còn Phan Tứ đi sâu vào quá trình vươn lên chủ nghĩa anh hùng cách mạng của
những con người bình thường trải qua nhiều khó khăn và thử thách. Đó là vẻ
đẹp của người dân Trung Trung Bộ nói riêng cũng như của con người Việt
Nam nói chung.
Cả cuộc đời của Phan Tứ đã gắn bó với sáng tác văn chương. Văn
chương chính là phần sống còn trong con người của nhà văn. Ở Phan Tứ,
niềm say mê, sáng tạo nghệ thuật bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng. Ông đã
từng tự nhủ phải tranh thủ từng giây, từng phút để viết bởi vì “một mảnh bom,
một viên đạn, một cơn sốt biến chứng có thể bẻ gãy ngòi bút bất cứ lúc nào”.
Ông là một trong số những nhà văn gắn bó và đi đến cùng khi viết về đề tài
chiến tranh cách mạng và ông đã đi chính bằng cuộc đời cống hiến đầy nhiệt
huyết của mình. Đó cũng là kết quả tất yếu của những năm tháng khổ luyện,
những trải nghiệm, những lựa chọn cách sống của riêng Phan Tứ trong hai
cuộc kháng chiến chống quân xâm lược ấy.
Những sáng tác của Phan Tứ trước năm 1975 đã gây nhiều tiếng vang
lớn đối với công chúng văn học. Một cây bút tài năng được đánh giá có một
thế giới quan khoa học, một quan niệm nghệ thuật đúng đắn. Ông luôn
nghiêm khắc với bản thân, tránh lối viết dễ dãi, hời hợt, phải phản ánh sự vật
trong tính chân thật, đa dạng của nó. Trong khi phần đông các nhà văn có lối
văn phong theo xu hướng chung của thời đại thì Phan Tứ là một trong những
cây bút khá đặc biệt, mang một phong cách sáng tạo nghệ thuật riêng. Cũng
viết về đề tài văn học chiến tranh nhưng Phan Tứ không “ tô hồng”, trái lại
ông phản ánh nó trong tính đa diện vốn có. Tức là hiện thực chiến tranh, hiện
thực con người hiện lên có gam màu sáng tối trong quá trình vận động, phát
triển biện chứng khách quan, hợp lí. Con người chịu tác động của hoàn cảnh
109
và chiến tranh chính là môi trường để sàng lọc con người. Ở đó, con người
hiện lên có mặt tốt – xấu, mặt cao cả - mặt thấp hèn, ….
Sau năm1975, trong dòng vận động của văn học đang bước đầu chuyển
dịch từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, Phan Tứ lại một lần nữa chứng
tỏ một cây bút mẫn cảm với cuộc sống, điểm nhìn nghệ thuật về con người có
nhiều đổi mới, đáp ứng được yêu cầu phản ánh của cuộc sống. Trong Người
cùng quê, Phan Tứ đã đề cập đến yếu tố con người cá nhân – biểu hiện cao
nhất của giá trị nhân văn khi xây dựng nhân vật sử thi. Họ cần được nói lên
những suy tư cá nhân, những day dứt, trăn trở về cuộc sống, về mối quan hệ
riêng- chung, về trách nhiệm của bản thân…mà văn học trước 1975 đã không
cho con người bộc bạch tâm tư riêng của mình. Như vậy, nhà văn đưa hình
ảnh nhân vật sử thi trở nên gắn kết cuộc sống đời thường là hợp với xu thế
khách quan của nền văn học đang vận động đổi mới. Phan Tứ còn đi sâu và
mở rộng bình diện khám phá: con người với khát khao hạnh phúc cá nhân,
tình yêu đôi lứa và cả nhu cầu bản năng. Đất nước chiến tranh đồng nghĩa với
việc con người hy sinh và mất mát nhiều thứ, nhưng nhà văn nhận ra trong
hoàn cảnh khốc liệt ấy, con người cần hơn bao giờ hết những hạnh phúc đời
tư dù là nhỏ bé, mong manh. Nói đến nhu cầu cá nhân ấy, không phải để phê
phán, trái lại nhà văn ngợi ca bằng giọng văn đằm thắm, trữ tình, ông chỉ thay
mặt họ nói lên quyền được sống với đúng nghĩa của một con người. Bên cạnh
đó, Phan Tứ phản ánh một hiện thực lịch sử rộng lớn tất nhiên sẽ có một hiện
thực về đời sống, về con người cũng phải đa dạng. Trong cái bộn bề của đời
sống, con người không còn mối quan hệ duy nhất giữa hai thế giới đối lập
nhau: ta và kẻ thù. Với Người cùng quê, Phan Tứ góp phần mở rộng cho độc
giả về văn học sử thi một cái nhìn bao quát hơn về thế giới nhân vật phong
phú với nhiều mối quan hệ đan xen phức tạp. Từ những mối quan hệ ấy, Phan
Tứ đi sâu vào những đa diện trong tính cách, trong tâm hồn của con người: tốt
110
- xấu, thiện - ác…Đó là những mặt đối lập nhưng thống nhất trong thực thể
sống động- con người.
Về nghệ thuật thể hiện cách nhìn đổi mới về con người trong tiểu
thuyết Người cùng quê, Phan Tứ đặt nhân vật trải nghiệm trong nhiều không
gian – thời gian khác nhau mang tính di chuyển theo sự vận động của con
người; xây dựng ngôn ngữ nhân vật mang màu sắc cá thể, đặc biệt ngôn ngữ
vùng Trung Trung Bộ được nhà văn khai thác một cách triệt để. Các nhân vật
cách mạng trong tác phẩm trưởng thành qua năm tháng lịch sử, có nhiều phát
triển về mặt tính cách, nên Phan Tứ sử dụng lối kết cấu đa tuyến, với nhiều
loại nhân vật khác nhau được miêu tả thông qua việc tổ chức, dẫn dắt, đan xen
các tuyến nhân vật và tuyến sự kiện. Thông qua các yếu tố nghệ thuật trên,
người đọc thấy được sự vận động tư duy nghệ thuật của nhà văn về con người
cũng như có cái nhìn khách quan và đúng đắn khi đánh giá nhân vật văn học.
Bằng cái nhìn nhiều chiều mới mẻ và mở rộng bình diện khám phá,
Phan Tứ phản ánh con người trong tính toàn diện, sâu sắc, mở ra thế giới quan
tiến bộ của nhà văn trong phản ánh hiện thực con người. Nhà văn đổi mới
cách nhìn, tức là trả lại cho con người những giá trị đích thực. Vì vậy hình
tượng nhân vật trong tiểu thuyết sử thi gần với cuộc đời, với xã hội hơn. Ông
là một trong những cây bút góp phần “dò đường” cho công cuộc đổi mới văn
học những năm1986 về sau. Bằng tài năng và lao động nghệ thuật nghiêm túc,
Phan Tứ khẳng định vị trí quan trọng không nhỏ trong nền văn xuôi Việt Nam
hiện đại.
111
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phần 1: Sách, tạp chí, luận văn, luận án
1. Lại Nguyên Ân (1987), “Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu những năm
80”, Tạp chí văn học, (3).
2. M.Bakhtin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn
Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội.
3. M.Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Dostoievski, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
4. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt
Nam sau 1975, Luận án Phó Tiến sĩ, ĐHSP - ĐHQG Hà Nội.
5. Ngô Vĩnh Bình (1986), “Giấy trắng trước những vấn đề thời sự của cuộc
sống”, Văn nghệ quân đội, (4).
6. Nguyễn Minh Châu (1987), “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn
nghệ minh họa”, Văn nghệ, (49-50).
7. Nguyễn Minh Châu (1994), Tuyển tập Nguyễn Minh Châu, Nxb Văn
học, Hà Nội.
8. Nguyễn Minh Châu (2009), Di cảo, Nxb Hà Nội.
9. Trần Cư (1967), “Vài ý kiến về nhân vật anh hùng và con người bình
thường”, Tạp chí văn học, (8).
10. Nguyễn Văn Dân (1991), Văn học - nghệ thuật và sự tiếp nhận, Nxb
Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội.
11. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
12. Lê Tiến Dũng (1991), “Bước phát triển của văn xuôi Việt Nam sau
1975”, Tạp chí Cửa Việt, (6).
112
13. Đinh Xuân Dũng (2001), “Nghĩ về sự biến đổi bên trong của tư duy
sáng tạo của nhà văn viết về chiến tranh”, báo Văn nghệ.
14. F. M. Dostoevski (1930), Thư từ (tiếng Nga), Moskva, tập 2.
15. Trần Trọng Đăng Đàn (1969), “Gia đình má Bảy và cách mạng miền
Nam trong bước ngoặt lịch sử những năm 1960- 1961”, Tạp chí văn
học, (7).
16. Phan Cự Đệ (1973), “Tiểu thuyết “ Mẫn và tôi” của Phan Tứ”, Tác
phẩm mới, (25).
17. Phan Cự Đệ (1980), “Nhìn lại những tác phẩm viết về chiến tranh chống
đế quốc trong ba mươi năm qua”, Tạp chí cộng sản, (12).
18. Phan Cự Đệ (1985), Tác phẩm và chân dung: phê bình - tiểu luận, Nxb
Văn học Hà Nội.
19. Phan Cự Đệ (1986), “Mấy vấn đề lý luận của văn xuôi hiện nay”, Tạp
chí văn học, (5).
20. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục,
Tp.HCM.
21. Phan Cự Đệ (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục.
22. Phan Cự Đệ (2006), Phan Cự Đệ tuyển tập, Nxb Giáo dục.
23. Hà Minh Đức (1990), “Những chặng đường phát triển của văn xuôi cách
mạng”, Văn nghệ (18/8), in lại trong: Khảo luận văn chương, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1997, tr.196 -214.
24. Hà Minh Đức (1995), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
25. Hà Minh Đức (chủ biên) (1998), Chặng đường mới của văn học Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia.
26. Nguyễn Kiến Giang (1996), “Có những quan niệm về con người cá nhân
ở phương Đông không?” Tạp chí Nghiên cứu văn học, (1).
113
27. Đỗ Xuân Hà (1993), Sách dành cho vợ chồng trẻ, Nxb Tổng hợp Đồng
Tháp.
28. Tào Thị Hải (2006), Yếu tố sử thi trong sáng tác của Phan Tứ, Luận văn
tốt nghiệp, ĐH Vinh.
29. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ
văn học, Nxb Giáo dục.
30. Lê Thị Đức Hạnh (1975), “Phan Tứ, từ Về làng đến Mẫn và tôi”, Tạp
chí văn học, (2), tr.39.
31. Lê Thị Đức Hạnh (1978), “Hình ảnh người phụ nữ miền Nam trong
chống Mỹ qua truyện của Phan Tứ”, Tạp chí văn học, (1).
32. Lê Thị Đức Hạnh (1983), “Lê Khâm (Phan Tứ)”, in trong sách: Về một
vùng văn học, Nxb Hội văn học nghệ thuật Quảng Nam- Đà Nẵng,
tr.128-141.
33. Lê Thị Đức Hạnh (1985), “Hạt mùa sau, một thành công mới của
Nguyễn Thị Ngọc Tú”, Tạp chí văn học, (1).
34. Lê Thị Đức Hạnh (1999), Mấy vấn đề trong văn học Việt Nam hiện đại,
Nxb Khoa học xã hội.
35. Nguyễn Văn Hạnh (1993), “Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự
đổi mới cách nhìn về con người”, Tạp chí văn học, (3).
36. Hoàng Ngọc Hiến (1992), “Đọc Nguyễn Minh Châu (Từ Bức tranh đến
Phiên chợ Giát)”, in trong sách: Nguyễn Minh Châu: con người và tác
phẩm, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, tr.200-204.
37. Phạm Ngọc Hiền (2007), Thi pháp tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945-
1975, Luận án Tiến sĩ, Viện KHXH và NV.
38. Phạm Ngọc Hiền (2012), Tiểu thuyết Việt Nam 1945- 1975, Nxb Văn
học.
114
39. Bùi Hiển (1995), “Phan Tứ, nhà văn đi và viết không biết mệt”, in lại
trong sách: Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX(tập V), Nxb Hội nhà văn, 2000.
40. Đào Duy Hiệp (2001), Thời gian và tiểu thuyết, in trong: Thơ và truyện
và cuộc đời, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
41. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo
dục.
42. Hữu Hồng (1962), “Trước giờ nổ súng của Lê Khâm”, Tạp chí Nghiên
cứu văn học, (9).
43. Hoàng Mạnh Hùng (2004), Tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945- 1975,
Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội.
44. Mai Hương (sưu tầm và biên soạn) (2002), Phan Tứ toàn tập, 4tập, Nxb
Văn học.
45. Mai Hương (2002), Lê Khâm- Phan Tứ nhà văn chiến sĩ, in trong: Phan
Tứ toàn tập, Nxb Văn học.
46. Lê Thị Hương (2006), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội”, Tạp chí Triết học, (11).
47. Ilia Êrenbua (1958), Những bút ký về nước Pháp, tr.58.
48. Nguyễn Văn Kha (1995), “Một cách nhìn về đổi mới trong hành trình
văn hóa dân tộc”, Tạp chí Tác phẩm mới, (12).
49. Nguyễn Văn Kha (2002), Văn học cảm nhận và suy nghĩ, Nxb Khoa học
xã hội.
50. Nguyễn Văn Kha (2006), Đổi mới quan niệm về con người trong truyện
Việt Nam 1975- 2000, Nxb ĐH Quốc gia Tp.HCM.
51. Kharaptrencô M.B (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát
triển văn học, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
52. Lê Khâm (1976), Trước giờ nổ súng, Nxb Văn học, Hà Nội, in lại trong
sách: Phan Tứ toàn tập, Nxb Văn học, 2002.
115
53. Lê Thị Kinh, Thanh Quế, Phương Thảo, Anh Dũng (Biên soạn) (2011),
Từ chiến trường khu 5- nhật ký và ghi chép văn học, 3tập, Nxb Văn học.
54. Cao Kim Lan (2008), “Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và
dấu vết của hệ hình thi pháp hậu hiện đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học,
(12).
55. Tôn Phương Lan (1980), “Tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975”,
Tạp chí văn học, (5), tr.24.
56. Tôn Phương Lan, Lại Nguyên Ân (1991), Nguyễn Minh Châu - con
người và tác phẩm, Nxb Hội nhà văn.
57. Tôn Phương Lan (1996), Tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh
Châu, Luận án Phó Tiến sĩ, Viện văn học Hà Nội.
58. Mã Giang Lân (2005), Văn học hiện đại Việt Nam- vấn đề tác giả, Nxb
Giáo dục.
59. Phong Lê (1963), “Mấy nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong
văn xuôi”, Tạp chí văn học, (4), tr.8.
60. Phong Lê (1986), “Con người mới và nhân vật tích cực- mục tiêu theo
đuổi và nhận diện của văn học chúng ta”, Tạp chí văn học, (1).
61. Phong Lê (1990), Văn học và hiện thực, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
62. Phong Lê (1995), Văn học và công cuộc đổi mới, Nxb Hội nhà văn.
63. Phong Lê (2009), Hiện đại hóa và đổi mới văn học, Nxb ĐH Quốc gia
Hà Nội.
64. Phong Lê, Hồ Hoàng Thanh (1983), Về một vùng văn học, Nxb Hội văn
học nghệ thuật Quảng Nam - Đà Nẵng.
65. Nguyễn Văn Long (2003), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb
Giáo dục.
66. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (2006), Văn học Việt Nam sau 1975
– Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
116
67. Phương Lựu (1997), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
68. Phương Lựu (2004), Lí luận phê bình văn học, Nxb Đà Nẵng.
69. Nguyễn Trường Thiên Lý (1987-1988), Ván bài lật ngửa, Nxb Hậu
Giang.
70. Thiếu Mai (1973), “Mẫn và tôi của Phan Tứ”, Văn nghệ quân đội số,
(8).
71. Nguyễn Đăng Mạnh (1990), Văn học Việt Nam giai đoạn (1945-1975),
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
72. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của
nhà văn, Nxb Giáo dục.
73. Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Long (2002), Lịch sử văn học Việt
Nam, tập 3, Nxb Đại học Sư phạm.
74. Nam Mộc (1964), “Mấy nét tiêu biểu về hiện thực miền Nam trong “Về
làng” của Phan Tứ”, Tạp chí văn học, (7).
75. Vũ Tú Nam (1960), “Trước giờ nổ súng” một thành công mới của Lê
Khâm”, Tạp chí văn nghệ, (7).
76. Chu Nga (1977), Tác giả văn xuôi Việt Nam hiện đại: Từ sau 1945,
Nxb Khoa học xã hội.
77. Nguyễn Nghiệp (1974), “Mẫn và tôi, một bước phát triển mới của Phan
Tứ”, Tạp chí văn học, (2).
78. Nguyên Ngọc (2001), Chiến trường những năm tháng ấy sống và viết,
trích từ Làng Tuyên, quyển 1, Nxb Văn học.
79. Nguyễn Quang Ngọc (2006), Chương XIII – Việt Nam từ 1975 đến
nay, Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr.365-379.
80. Thanh Nguyên (1970), “Đọc “Gia đình má Bảy” của Phan Tứ, suy nghĩ
về một vài vấn đề của tiểu thuyết hiện nay”, Văn nghệ quân đội, (4).
117
81. Phạm Xuân Nguyên (1986), “Bàn về xung đột của tiểu thuyết”, Tạp chí
sông Hương, (20).
82. Phạm Xuân Nguyên (1987), “Về xu hướng thể hiện “Sự vận động của
lịch sử trong con người” ở tiểu thuyết sử thi hiện đại”, Tạp chí văn học,
(5).
83. Vương Trí Nhàn (1974), “Một cách hình dung về nhân vật tiểu thuyết”,
in trong sách: Bước đầu đến với văn học, Nxb Tác phẩm mới.
84. Trần Thị Mai Nhân (2008), Những đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam
1986 – 2000, Luận văn Tiến sĩ, ĐHKHXH&NV – Tp.HCM.
85. Hoàng Minh Nhân (2001), Mẫn và tôi sống mãi, Nxb Thanh niên, Hà
Nội.
86. Nguyễn Gia Nùng (1997), “Phan Tứ những năm ở trường đại học”, Văn
nghệ, (18).
87. Nguyễn Thị Thu Phương (2010), Nhân vật nông dân trong truyện ngắn
và tiểu thuyết Việt Nam 1986- 2000, Luận văn Thạc sĩ, ĐHKHXH&NV
Tp.HCM.
88. Thanh Quế (1994), “Lang thang với Phan Tứ”, Báo Đà Nẵng, (6).
89. Thanh Quế (2002), Phan Tứ, như tôi đã biết, in trong: Phan tứ toàn tập,
NXB Văn học, tr.868.
90. Phạm Văn Sĩ (1967),” Mấy suy nghĩ về chủ nghĩa anh hùng cách mạng
qua các tác phẩm văn học cách mạng miền Nam”, Tạp chí Văn học.
91. Phạm Văn Sĩ (1976), Văn học giải phóng miền Nam 1954- 1970, Nxb
Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội.
92. Trần Đăng Suyền (1983), “Phan Tứ với những tiểu thuyết viết về chiến
tranh”, Văn nghệ quân đội, (9).
93. Trần Đình Sử (1987), Một thời đại mới trong văn học, Nxb Văn học, Hà
Nội.
118
94. Trần Đình Sử (2001), “Mấy vấn đề trong quan niệm con người của Văn
học Việt Nam thế kỷ XX”, Tạp chí văn học, (8).
95. Trần Thị Thắng (1984), “Hạt mùa sau hay vấn đề người trí thức với hôm
nay và ngày mai”, báo Nhân dân, (4), in lại trong sách: Văn học 1975-
1985: Tác phẩm và dư luận, Nxb Hội nhà văn Hà Nội, 1997, tr.233.
96. Bùi Việt Thắng (1985), “Mấy suy nghĩ xung quanh vấn đề xây dựng
nhân vật người chiến sĩ trong tiểu thuyết viết về chiến tranh (1945-
1985)”, Văn nghệ quân đội, (10).
97. Bùi Việt Thắng (1991), “Văn xuôi gần đây và quan niệm con người”,
Tạp chí văn học, (6).
98. Nguyễn Thi (1966), Người mẹ cầm súng, Nxb Quân đội nhân dân.
99. Nguyễn Huy Thiệp (1994), Kiếm sắc, in trong tập: Những ngọn gió Hua
Tát, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
100. Nguyễn Huy Thiệp (1994), Vàng lửa, in trong tập: Những ngọn gió Hua
Tát, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
101. Nguyễn Huy Thiệp(1995), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Hội nhà văn.
102. Xuân Thiều (1988), “Viết về chiến tranh, nghĩ về đổi mới”, Tạp chí văn
học, (3+4), tr.99.
103. Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Tân (1997), Nhà văn Việt Nam hiện đại,
Nxb Hội nhà văn.
104. Bích Thu (1994), “Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau 1975
qua hệ thống mô típ chủ đề”, Tạp chí văn học, (4), tr.24.
105. Lý Hoài Thu (tuyển chọn) (2006), Phan Cự Đệ tuyển tập 1,2, Nxb Giáo
dục.
106. Lý Hoài Thu (2009), “Sự vận động của các thể văn xuôi trong văn học
thời kỳ đổi mới”, Tạp chí sông Hương, (186).
107. L.Tolstoi (1953), Toàn tập (tiếng Nga), Moskva, tập 53, tr.185.
119
108. Lê Ngọc Trà (1990), Lý luận và văn học, Nxb Trẻ Tp.HCM.
109. Ngọc Trai (1997), “Hạt mùa sau- những lời tâm sự đầy tâm huyết”, in
trong sách: Văn học 1975- 1985: Tác phẩm và dư luận, Nxb Hội nhà
văn Hà Nội, tr.234.
110. Nguyễn Thị Như Trang (1993), “Nhân vật của tiểu thuyết”, Tạp chí Văn
nghệ quân đội, (8).
111. Hải Triều (1996), Về văn học nghệ thuật, Nxb Văn học, Hà Nội.
112. Hà Xuân Trường (1986), “Bước đầu của một chuyển biến lớn”, Văn
nghệ, (23).
113. Nguyễn Thị Ngọc Tú (1984), Hạt mùa sau, Nxb Thanh niên Hà Nội.
114. Nguyễn Thị Ngọc Tú (1986), “Vài ý nghĩ khi viết Hạt mùa sau”, Văn
nghệ, (15).
115. Sơn Tùng (1961), “Truyện và tiểu thuyết”, Tạp chí văn học, (6), tr.80.
116. Nguyễn Văn Tùng (2008), Tuyển tập các bài viết về Tiểu thuyết ở Việt
Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục.
117. Phan Tứ (1971), Gia đình má Bảy, Nxb Giải phóng, in lại trong sách:
Phan Tứ toàn tập, Nxb Văn học, 2002.
118. Phan Tứ (1976), Về làng, Nxb Văn học giải phóng, in lại trong sách:
Phan Tứ toàn tập, Nxb Văn học, 2002.
119. Phan Tứ (1978), Mẫn và tôi, Nxb Thanh niên, Hà Nội, in lại trong sách:
Phan Tứ toàn tập, Nxb Văn học, 2002.
120. Phan Tứ (1983), “Tập bản thảo ấy”, Văn nghệ, (10).
121. Phan Tứ (1985), Người cùng quê, 3 tập, Nxb Đà Nẵng, in lại trong sách:
Phan Tứ toàn tập, Nxb Văn học, 2002.
122. Phan Tứ (2001), Nhật ký trích từ “Mẫn và Tôi sống mãi”, Nxb Thanh
niên, Hà Nội.
123. Từ điển Tiếng Việt (1997), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
120
124. Nguyễn Thị Hải Vân (2006), Những đổi mới của văn học Việt Nam sau
năm 1975, ĐH Quy Nhơn.
125. Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam:
125.1. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nxb Sự
thật, Hà Nội, 1977.
125.2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng Cộng Sản Việt
Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982.
125.3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng Sản
Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987.
126. Phong Vũ (2000), Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX (tập V), Nxb Hội nhà
văn.
127. Đoàn Xoa (1985), “Hội thảo về bộ tiểu thuyết Người cùng quê của nhà
văn Phan Tứ”, Báo Quảng Nam- Đà Nẵng.
128. Triệu Xuân (1985), Giấy trắng, Nxb Văn nghệ Tp.Hồ Chí Minh.
Phần 2: Các website
129. Nguyễn Như An (2007), “Phan Tứ, chàng thư sinh trở thành người
chiến sĩ, văn sĩ tài năng”, nguồn http://bulletin.vnu.edu.vn.
130. Đông Dương (2006), “Nhà văn Phan Tứ và Nhật ký chiến trường”,
nguồn http://vietbao.vn.
(2010), “Cảo thơm lần giở”, nguồn 131. Lê Năng Đông
http://baoquangnam.com.vn.
132. Phạm Ngọc Hiền (2010), “Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết “Cửa
biển” của Nguyên Hồng”, nguồn http//: phamngochien.com.
133. Tôn Phương Lan (2011), “Một cách nhận diện về sự vận động của tiểu
thuyết sử thi”, nguồn http://vannghequandoi.com.vn.
121
134. Nguyễn Quang Lập (2009), “Nhớ Phan Tứ”, nguồn http://quechoa.vn.
135. Phạm Nhật Linh (2008), “Nhà văn Phan Tứ: Chính xác như... chiếc
đồng hồ”, nguồn http://vnca.cand.com.vn.
136. Bùi Ngọc Long (2010), “Một nhà văn còn nhiều...bí ẩn”, nguồn
http://vnca.cand.com.vn.
137. Minh Ngọc (2011). “Nhật ký chiến trường của Phan Tứ”, nguồn
www.thanhnien.com.vn.
138. Đỗ Ngọc Thạch (2010), “Đổi mới quyết liệt Nguyễn Minh Châu”,
nguồn http://www.vanchuongviet.org.
139. Nguyễn Thanh Tú (2010), “Tiểu thuyết sử thi hôm nay - Những nét tìm
tòi đổi mới”, nguồn http://www.phongdiep.net.
140. Kiến Văn (2011), “Phan Tứ - niềm tin sự gắn bó một đời”, nguồn
http://www.qdnd.vn.
141. http://www.tamlyhoc.net /diendan/showthread.php?tid=1542
122
PHỤ LỤC
1./ Chân dung nhà văn Phan Tứ (1930-1995)
123
2./ Phan Tứ và những người bạn ở chiến trường khu V
3./ Phan Tứ và gia đình
124
4./ Một số hình ảnh về tủ sách của Phan Tứ
125
126
(Bác Thảo - Vợ của cố nhà văn Phan Tứ )
127
5./ Một số hình ảnh về bản thảo tiểu thuyết Người cùng quê
128
129
130
131
132
133
134
135
6./ Hình ảnh về không gian sống của cố nhà văn Phan Tứ

