BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Minh Phượng

SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON

NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT

NGƯỜI CÙNG QUÊ CỦA PHAN TỨ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN KHA

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn, biết ơn chân thành đến:

TS. Nguyễn Văn Kha, Thầy đã tận tình định hướng, dẫn dắt, giúp đỡ và

động viên tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô phòng Sau đại học, khoa Ngữ

Văn trường ĐH Sư phạm Tp. HCM và các thầy cô giảng viên đã tạo điều kiện

và giảng dạy tôi trong suốt khóa học.

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình của cố nhà văn Phan Tứ đã tạo điều

kiện và cung cấp cho tôi nhiều tư liệu quý giá về cuộc đời của nhà văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tổ bộ môn Ngữ Văn trường

THPT Long Thới – Tp.HCM, cùng đồng nghiệp và bạn bè học viên lớp Cao

học Văn học Việt Nam khóa 21 đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá

trình học.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình, những người luôn

động viên, cổ vũ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành khóa học này.

Học viên

Nguyễn Thị Minh Phượng

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của

riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn

Kha.

Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung

thực và chưa từng được công bố trong công trình nghiên cứu nào.

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

Học viên

Nguyễn Thị Minh Phượng

MỤC LỤC

DẪN NHẬP ................................................................................................................ 1

1. Lý do, mục đích nghiên cứu của đề tài ............................................................... 1

2. Lịch sử vấn đề ..................................................................................................... 3

3. Giới hạn, phạm vi đề tài ...................................................................................... 7

4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 8

5. Đóng góp mới của luận văn ................................................................................ 9

6.Cấu trúc của luận văn ........................................................................................... 9

Chương 1 NHÀ VĂN PHAN TỨ VÀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁC TIỂU

THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ............................................................................. 11

1.1. Cuộc đời nhà văn Phan Tứ ............................................................................. 11

1.2. Sự nghiệp văn chương .................................................................................... 16

1.2.1. Quá trình sáng tác.................................................................................... 16

1.2.2. Các tác phẩm đã xuất bản: ...................................................................... 23

1.2.3. Những trăn trở của Phan Tứ về vấn đề con người trong sáng tác văn học

........................................................................................................................... 24

1.3. Hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết Người cùng quê ............................................ 32

1.3.1. Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam sau 1975 ........................................... 32

1.3.2. Sự vận động đổi mới văn học sau 1975 qua một số tác phẩm tiêu biểu

(trong phạm vi tiểu thuyết) ................................................................................ 34

Chương 2 SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU

THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG .................. 41

2.1. Con người cá nhân ......................................................................................... 41

2.2. Con người trong mối quan hệ đan xen, phức tạp .......................................... 53

2.3. Con người khát khao tận hưởng tình yêu và hạnh phúc ............................... 57

Chương 3 SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU

THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ............ 67

3.1.Sự dịch chuyển không – thời gian gắn với hành trình đời tư nhân vật ........... 67

3.1.1. Nhà văn đặt nhân vật trong nhiều loại không gian khác nhau, theo sự vận

động của nhân vật .............................................................................................. 67

3.1.2. Thời gian không theo logic tuyến tính, có thể đảo chiều một cách tự do

........................................................................................................................... 77

3.2. Kết cấu đa tuyến ............................................................................................. 84

3.2.1.Tuyến nhân vật và tuyến sự kiện đan chéo vào nhau ............................... 84

3.2.2. Sự kiện lịch sử, xã hội chi phối đời sống, số phận nhân vật ................... 90

3.3. Cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật ........................................................................ 95

3.3.1. Ngôn ngữ đối thoại .................................................................................. 95

3.3.2. Ngôn ngữ độc thoại ............................................................................... 102

KẾT LUẬN ............................................................................................................ 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 111

MỤC LỤC .............................................................................................................. 122

1

DẪN NHẬP

1. Lý do, mục đích nghiên cứu của đề tài

Từ sau cách mạng tháng Tám đến 1975, dân tộc Việt Nam tiến hành hai

cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước. Văn học trong giai đoạn

này phản ánh bức tranh hiện thực “một cách chân thực và hùng hồn” nhằm

mục đích cổ vũ, động viên khí thế đấu tranh của dân tộc. Đội ngũ nhà văn

không chỉ cầm bút mà còn cầm súng với chủ trương sáng tác: “người viết

không được tuyên truyền một chủ nghĩa lạc quan rẻ giá, nhưng người nào

cũng phải có trách nhiệm không được làm nản chí tất cả những ai đang trên

đường ra trận, đang giáp mặt với kẻ thù” [51, tr.102]. Hiện thực cách mạng,

hiện thực cuộc sống được giới văn nghệ sĩ phản ánh qua thể loại tiểu thuyết

đặc biệt là tiểu thuyết sử thi đã gặt hái thành công lớn, bởi nó là “thể loại văn

chương duy nhất luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn,

nhạy bén trước sự chuyển biến của hiện thực” [2, tr.27]. Trong giai đoạn văn

học này, độc giả biết đến tên tuổi của các nhà văn như: Hữu Mai, Nguyễn Thi,

Nguyễn Minh Châu, Phan Tứ, Nguyên Ngọc, Anh Đức,… Họ đã xây dựng

hình tượng nhân vật trung tâm của tác phẩm là người anh hùng cách mạng,

quần chúng cách mạng với vẻ đẹp hào hùng, tràn đầy lí tưởng.

Sau đại thắng mùa xuân 1975, dân tộc Việt Nam bước vào cuộc sống mới

với nhiều biến động trên các phương diện của đời sống. Văn học nghệ thuật

cần có bước tìm tòi, sáng tạo mới đáp ứng yêu cầu của thời đại. Cái mới ở đây

thể hiện ở việc khai thác, nhìn nhận những vấn đề của đời sống đặt ra từ hiện

thực. Vẫn là sự tiếp nối đề tài truyền thống về chiến tranh, nhưng sau 1975,

nhà văn có cách nhìn về hiện thực chiến tranh, trong đó trọng tâm là vấn đề

con người có nhiều tìm tòi, đổi mới. Sự đổi mới quan niệm về con người diễn

2

ra mạnh mẽ ở mảng truyện đặc biệt là thể loại tiểu thuyết. Góp phần thay đổi

diện mạo của văn học sau năm 1975 là những sáng tác của nhà văn viết về

con người trong quá trình lao động, sản xuất và con người thế sự, đời tư như:

Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Triệu Xuân, …;

con người trong cái nhìn phong tục – lịch sử: Tô Hoài, Ma Văn Kháng,…và

một loạt nhà văn với những tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh như: Hữu

Mai, Nguyễn Trọng Oánh, Nam Hà, Phan Tứ, Nguyễn Quang Sáng,…

Tìm hiểu sự đổi mới về cách nhìn con người trong văn học sau năm 1975,

luận văn của chúng tôi tập trung khảo sát bộ tiểu thuyết sử thi Người cùng quê

của Phan Tứ với mục đích sau đây:

1. Phan Tứ đã đóng góp không nhỏ tạo nên thành tựu chung của nền văn

học cách mạng Việt Nam. Bước vào nghề văn, Phan Tứ thử ngòi bút trên

nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, hồi ký và đạt được thành công

nhất định ở mỗi thể loại. Gặt hái được nhiều thành công nhất phải kể đến tiểu

thuyết của nhà văn. Ông là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến

vĩ đại của dân tộc, vừa viết văn vừa trực tiếp cầm súng đánh giặc nên ông có

vốn sống phong phú về hiện thực xã hội, về con người trong chiến tranh. Hiện

thực con người trong tác phẩm của Phan Tứ là con người miền Trung – quê

hương của nhà văn. Vấn đề “ số phận con người” trước năm 1975 được nhà

văn quan tâm và xây dựng thành công gắn liền với số phận dân tộc. Ông còn

đi sâu lí giải và biểu dương sự biến chuyển tư tưởng của người nông dân bình

thường qua hoàn cảnh thử thách đã trở thành người anh hùng cách mạng.

Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn khác trước 1975 đã góp phần làm phong

phú kho tàng văn học cách mạng bằng việc xây dựng thành công những hình

tượng nghệ thuật mang tầm vóc sử thi đẹp đẽ, lôi cuốn công chúng văn học

một thời. Sau năm 1975, sáng tác của Phan Tứ càng chứng tỏ ông là nhà văn

3

đi hết cuộc đời với niềm đam mê văn chương, lao động nghệ thuật bền bỉ,

giàu sức sáng tạo.

2. Sau 1975, trong xu thế vận động đổi mới của nền văn học, tư duy sử thi

đang có sự chuyển dịch sang tư duy tiểu thuyết, các nhà văn đều nhận thức

được sự đổi mới quan niệm nghệ thuật, trong đó cốt lõi là quan niệm nghệ

thuật về con người là hợp với xu thế khách quan. Phan Tứ là một trong số các

nhà văn nhạy bén trước yêu cầu đổi mới văn học. Là nhà văn trực tiếp sống và

sáng tác gắn bó với hai cuộc kháng chiến, với tham vọng kế tiếp truyền thống

của khuynh hướng văn học mang tính chất sử thi với yêu cầu cách tân, đổi

mới xuất phát từ hiện thực đời sống rộng lớn và phức tạp của đất nước sau

1975, Phan Tứ ôm ấp, nghiền ngẫm và cho ra đời bộ tiểu thuyết sử thi đồ sộ

Người cùng quê. Tác phẩm ra đời trước khi cả một nền văn học bước vào thời

kỳ đổi mới thật sự và sâu rộng từ năm 1986. Có thể coi Người cùng quê như

một trong những sáng tác có ý nghĩa “dò đường” góp phần cho sự đổi mới

mạnh mẽ về sau. Vì vậy, việc nghiên cứu đổi mới cách nhìn con người trong

bộ tiểu thuyết này sẽ giúp chúng ta thấy được quan điểm thẩm mĩ của nhà văn

Phan Tứ trong dòng vận động đổi mới của văn học dân tộc.

Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài: “Sự đổi mới cách nhìn về con người

trong tiểu thuyết Người cùng quê của Phan Tứ” để tìm hiểu và nghiên cứu.

2. Lịch sử vấn đề

Phan Tứ đã gặt hái được nhiều thành công lớn trên con đường sáng tạo

nghệ thuật. Trước 1975, tên tuổi của nhà văn gắn liền với tiểu thuyết sử thi

gây tiếng vang lớn trong dư luận. Khác với nhiều nhà văn cùng thời, Phan Tứ

không “tô hồng” hiện thực chiến tranh. Trong sáng tác của nhà văn, hiện thực

cuộc sống con người Việt Nam luôn sống động, chân thực. Bàn về vấn đề con

người trong sáng tác của Phan Tứ đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu:

4

2.1. Những công trình, bài viết liên quan đến vấn đề con người trong

sáng tác của nhà văn Phan Tứ trước 1975

Trong bài viết của Trần Đăng Suyền (1983) nhan đề: Phan Tứ với

những tiểu thuyết viết về chiến tranh (Văn nghệ Quân đội, số 9), tác giả cho

rằng: “Phan Tứ không tìm đến những điển hình nguyên mẫu anh hùng có sẵn

ngoài đời mà chú ý nhiều hơn tới những con người bình thường trong cuộc

sống” [92, tr.988], nhà văn chú ý “quá trình vươn tới chủ nghĩa anh hùng

cách mạng của những con người bình thường và cả những người lạc hậu

nữa” [92, tr.987]. Tác giả bài viết cũng nhận thấy hướng khai thác trong tiểu

thuyết của Phan Tứ là toàn bộ đời sống xã hội, đạo đức, tâm lý, tính cách của

con người chịu ảnh hưởng nhiều bởi chiến tranh. Chiến tranh chính là môi

trường để sàng lọc, phân hóa con người trong sáng tác của Phan Tứ. Bên cạnh

đó, Phan Tứ không chỉ miêu tả mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp đối

kháng mà còn chú ý tới thế giới bên trong của từng cá nhân, sự “giằng xé

trong mỗi con người”. Đánh giá về nhân vật trong tác phẩm của Phan Tứ, tác

giả Hoàng Mạnh Hùng (2004) trong Tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945- 1975

(Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội), nhận định rằng: những sáng

tác của Phan Tứ như Gia đình má Bảy, Mẫn và Tôi đã quan tâm đến số phận

con người và “là con người mang vẻ đẹp văn hóa, đã tiến gần tới những nhân

cách trong văn học” [43, tr.60]. Phạm Ngọc Hiền (2007) trong Thi pháp tiểu

thuyết sử thi Việt Nam 1945- 1975 (Luận án Tiến sĩ, Đại học KHXH&NV,

ĐHQG Hà Nội), khi trình bày quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng

tác văn học trước 1975, trong đó có tác phẩm của Phan Tứ, tác giả phân loại

quan niệm về con người gồm: con người đa diện và con người anh hùng. Tác

giả nhấn mạnh: “Phan Tứ quan niệm về con người không đơn giản, phiến

diện như hàng loạt nhà văn cùng thời” [37, tr.132]. Tức là con người vừa có

mặt tốt vừa có mặt xấu. Tào Thị Hải (2006) trong công trình Yếu tố sử thi

5

trong sáng tác của Phan Tứ (Luận văn tốt nghiệp, ĐH Vinh), chỉ ra nhân vật

của Phan Tứ “thường có lai lịch, có quá trình và phát triển trong sự tác động,

chi phối nhiều chiều của hoàn cảnh và những mối quan hệ đa dạng, đa chiều,

nhiều khi phức tạp” [28, tr.33].

2.2. Những công trình, bài viết liên quan đến vấn đề con người trong tiểu

thuyết Người cùng quê của Phan Tứ

Với Phan Tứ, con người luôn là đối tượng trung tâm của sự phản ánh

thông qua các sự kiện lịch sử, đời sống xã hội. Điều đó được nhà văn gửi gắm

nhiều vào bộ tiểu thuyết sử thi trường thiên Người cùng quê của đời mình.

Tác phẩm ra đời vào những ngày tháng cuối đời của nhà văn, trong thời kỳ

đất nước hòa bình nên điểm nhìn về con người của nhà văn có sự thay đổi.

Nhà nghiên cứu Đoàn Xoa (1985) trong Hội thảo về bộ tiểu thuyết “Người

cùng quê” của nhà văn Phan Tứ (đăng trên báo Quảng Nam – Đà Nẵng),

nhận xét rằng, trong Người cùng quê: “các nhân vật có cùng một quê hương,

mất nước và đói nghèo do bị áp bức bóc lột dã man, họ có những tâm trạng

khác nhau và cùng đi làm cách mạng. Họ đã đạt được mục đích trên con

đường đi là giải phóng cuộc đời họ khỏi ách thống trị của đế quốc và phong

kiến”. Theo tác giả, độc giả ở Quảng Nam – Đà Nẵng đã thấy được Người

cùng quê phản ánh hiện thực không khí cách mạng sục sôi thời kỳ tiền khởi

nghĩa và Cách mạng tháng Tám ở miền Trung lúc ấy cùng với những con

người chung một lí tưởng cách mạng. Họ đã trở thành những người làm chủ

lịch sử, làm chủ số phận của mình.

Lê Thị Đức Hạnh trong Lê Khâm – Phan Tứ…(in lại trong sách Mấy

vấn đề trong văn học Việt Nam hiện đại, Nxb KHXH Hà Nội, 1999) có

nhận xét tinh tế về Người cùng quê: “Truyện được viết công phu, đề cập nhiều

vấn đề thông qua nhiều loại nhân vật: tốt có, xấu có, trung gian có” [34,

6

tr.331]. Tức là Phan Tứ xây dựng nhiều loại nhân vật khác nhau trong tính

phức tạp, đa dạng như hiện thực đời sống đang diễn ra. Nhà nghiên cứu Đặng

Tiến (Việt kiều Pháp) lại quan tâm đến khía cạnh khác của Người cùng quê.

Đó là tính chân thật của tác phẩm: “nhân vật của anh, từ chính diện đến phản

diện đều có thể là bà con, cô bác hay bạn bè tôi” [34, tr.333]. Đó là những

con người của cuộc sống đời thường mà quanh ta đều bắt gặp. Cũng đề cập

tới tính chân thật trong xây dựng hình tượng nhân vật của Người cùng quê,

nhà văn Thanh Quế (1994) trong bài Lang thang với Phan Tứ (báo Đà

Nẵng), cho rằng: “Viết đúng sự thật, đã chứng minh người cộng sản như

những người khác, chỉ khác lý tưởng. Anh không hạ thấp nhân vật hoặc đề

cao nhân vật, anh viết đúng như nhân vật” [88]. Nhận định của Thanh Quế

cho người đọc thấy được sự khác biệt của Phan Tứ so với nhiều nhà văn khác

cùng thời. Trong khi đa số nhà văn miêu tả người cộng sản là những anh hùng

sử thi đẹp toàn diện thì Phan Tứ miêu tả cả cái bình thường, đời thường trong

những con người ấy. Nhân vật của Phan Tứ phát triển tính cách như nó vốn

có, có mặt tích cực, có mặt tiêu cực.

Mai Hương (2002) trong Lê Khâm – Phan Tứ – Nhà văn chiến sĩ (Phan

Tứ toàn tập, T.1, tr.13, Nxb Văn học) nhấn mạnh tính chất cách mạng trong

Người cùng quê: “phản ánh sự trưởng thành của nhiều tầng lớp quần chúng

cách mạng trong suốt cả chặng đường dài lịch sử dân tộc từ trước và sau

cách mạng tháng Tám” [45, tr.24]. Trong bão táp cách mạng, nhân vật của

Phan Tứ thuộc mọi thành phần, mọi lứa tuổi đều trải qua những thử thách và

trưởng thành nhanh chóng. Nguyễn Văn Kha (2006) trong cuốn Đổi mới

quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975- 2000 (Nxb ĐHQG

Tp.HCM) đã chú ý tới cách xây dựng mối quan hệ con người của Phan Tứ:

“Trong Người cùng quê…các nhân vật có quan hệ không xuôi chiều, khó

phân biệt thành hai tuyến địch – ta, tốt – xấu, thiện – ác” [50, tr.57], con

7

người được đặt trong mối quan hệ đan xen. Tác giả khẳng định con người

trong tác phẩm không chỉ là “con người trong lịch sử bị phong trào sự kiện

lịch sử cuốn hút mà con người được nhìn nhận là chủ thể của lịch sử” [50,

tr.27], quan tâm tới yếu tố cách mạng trong mỗi con người. Chính ý thức lịch

sử trong bản thân con người đã tạo nên đời sống tự nhiên của các nhân vật

trong Người cùng quê.

Từ các công trình nghiên cứu về sáng tác của nhà văn Phan Tứ, chúng tôi

nhận thấy rằng, các tác giả đều có chung nhận xét: nhà văn nhìn con người

không phiến diện, tránh được sự dễ dãi trong xây dựng nhân vật. Trong tác

phẩm Người cùng quê, các tác giả tiếp cận ở khía cạnh con người cách mạng

và sự trưởng thành của con người qua các thời kì lịch sử một cách khái quát

nhất, đề cập đến tính chân thật trong cách xây dựng nhân vật, mặt phức tạp –

sự đan xen các mối quan hệ trong đời sống con người.

Trên cơ sở tiếp thu thành tựu nghiên cứu của người đi trước, người viết

tập trung nghiên cứu sự đổi mới cách nhìn về con người của nhà văn trong

tiểu thuyết Người cùng quê.

3. Giới hạn, phạm vi đề tài

Do tính chất của đề tài, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ

nghiên cứu cách nhìn mới về con người trong tác phẩm Người cùng quê sau

1975 của Phan Tứ để thấy được sự đổi mới cách nhìn về con người của nhà

văn so với giai đoạn trước 1975.

Luận văn giới hạn tập trung nghiên cứu tiểu thuyết Người cùng quê của

Phan Tứ. Tuy nhiên, chúng tôi mở rộng sự khảo sát đến một số tiểu thuyết

như Ván bài lật ngửa, Hạt mùa sau, Giấy trắng để người đọc thấy được

không khí văn học đang có sự vận động đổi mới. Mặt khác, để có cái nhìn đối

8

sánh về con người trong sáng tác trước và sau năm 1975 của Phan Tứ, chúng

tôi mở rộng, tìm hiểu các tiểu thuyết của nhà văn trước 1975 như: Trước giờ

nổ súng, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi.

Ngoài ra, trong quá trình triển khai đề tài, luận văn còn có tham khảo

một số tác phẩm khác của các nhà văn tiêu biểu, với mong muốn làm sáng tỏ

hơn sự đổi mới về cách nhìn con người của Phan Tứ.

4. Phương pháp nghiên cứu Căn cứ vào mục đích của đề tài, yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, luận văn

sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

4.1. Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Đặt tiểu thuyết Người cùng quê trong

hệ thống sáng tác của Phan Tứ, hệ thống tác phẩm tiểu thuyết cùng thời, trong

bối cảnh lịch sử xã hội, luận văn làm sáng tỏ hơn điểm riêng biệt trong cách

nhìn về con người của Phan Tứ.

4.2. Phương pháp lịch sử: Nhân vật trong tiểu thuyết sử thi là sản phẩm của

lịch sử. Hoàn cảnh chiến tranh chuyển sang thời hòa bình, những biến động

về kinh tế - xã hội, qua lăng kính cảm thụ hiện thực của nhà văn đều để lại

dấu ấn trong tác phẩm và nhân vật. Vì vậy, khi nghiên cứu sự đổi mới cách

nhìn về con người của Phan Tứ trong Người cùng quê cần sử dụng phương

pháp lịch sử để tìm hiểu.

4.3. Phương pháp so sánh: Mỗi giai đoạn sáng tác, nhà văn có thẩm mĩ nghệ

thuật riêng. Bằng việc so sánh với tư duy nghệ thuật của nhà văn trước 1975,

sẽ giúp chúng ta thấy được sự đổi mới cách nhìn của nhà văn về hiện thực

cuộc sống, nhất là hiện thực con người. Sử dụng phương pháp này, người đọc

thấy sự khác biệt thẩm mĩ nghệ thuật giữa Phan Tứ và các nhà văn cùng thời,

thấy được nét riêng của Phan Tứ về cách nhìn con người.

9

4.4. Hướng tiếp cận thi pháp học: Luận văn sử dụng các kiến thức về thi

pháp học để phân tích các yếu tố hình thức của tác phẩm như thời gian –

không gian, kết cấu – cốt truyện, ngôn ngữ cũng như cách xây dựng nhân vật

của Phan Tứ, qua đó làm sáng tỏ hơn cái nhìn đổi mới về con người sau năm

1975 trong tiểu thuyết Người cùng quê của nhà văn.

5. Đóng góp mới của luận văn 5.1. Trong những năm qua, nhiều bài viết, bài nghiên cứu về Phan Tứ đánh

giá vị trí cũng như đóng góp của ông đối với nền văn học nước nhà. Với đề tài

này, luận văn của chúng tôi mong muốn cung cấp cho độc giả một cái nhìn

mới của nhà văn Phan Tứ về con người sau 1975.

5.2. Thông qua việc phân tích các biểu hiện của sự đổi mới trong cách nhìn

con người của nhà văn, chúng tôi khẳng định sự đổi mới cách nhìn con người

trong bộ tiểu thuyết này là phù hợp với xu hướng vận động đổi mới về quan

niệm con người trong văn học thời kỳ mới. Từ đó góp tiếng nói khẳng định sự

đóng góp của Phan Tứ cho sự vận động đổi mới của văn học Việt Nam sau

1975.

6.Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Dẫn nhập (10 trang), Kết luận (4 trang), Tài liệu tham

khảo (gồm 141 mục), Phụ lục (14 trang), luận văn gồm ba chương chính:

Chương 1: Nhà văn Phan Tứ và hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết Người cùng

quê

Ở chương này, chúng tôi trình bày cuộc đời cũng như đóng góp trong

sự nghiệp văn chương của Phan Tứ; sự ra đời của bộ tiểu thuyết Người cùng

quê trong bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1975 có nhiều thay đổi và không khí

văn học sau 1975 (trong phạm vi tiểu thuyết) đang có sự vận động đổi mới.

10

Chương 2: Sự đổi mới cách nhìn về con người trong tiểu thuyết Người cùng

quê từ phương diện nội dung

Tiếp tục cảm hứng sử thi trong tiểu thuyết trước 1975, tiểu thuyết Người

cùng quê khám phá những chiều kích của đời sống con người Việt Nam, thể

hiện cái nhìn nhân văn của Phan Tứ. Con người được nhìn nhận từ bình diện

cá nhân, đặt trong những mối quan hệ đan xen, có niềm khát khao tận hưởng

về tình yêu và hạnh phúc.

Chương 3: Sự đổi mới cách nhìn về con người trong tiểu thuyết Người cùng

quê từ phương diện nghệ thuật

Cùng với sự đổi mới cách nhìn về con người, trong tiểu thuyết Người

cùng quê nhà văn Phan Tứ sử dụng những biện pháp nghệ thuật miêu tả thời

gian, không gian gắn với sự vận động của con người; xây dựng kết cấu đa

tuyến; ngôn ngữ mang tính cá thể.

11

Chương 1

NHÀ VĂN PHAN TỨ VÀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁC

TIỂU THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ

1.1. Cuộc đời nhà văn Phan Tứ

Phan Tứ là một trong những nhà văn có quan niệm sống và làm việc hết

sức nghiêm khắc, thẳng thắn, trung thực. Đó là đức tính mà ông được thừa

hưởng từ người cha của mình. Cả cuộc đời ông gắn bó với đề tài chiến tranh

bằng nhiệt huyết: “Cuộc đời tôi từ hồi 14 tuổi cho đến nay 64 tuổi hoàn toàn

là sống trong chiến tranh, cho nên tôi rất tha thiết viết về chiến tranh. Viết ra,

hay dở còn tùy bạn đọc. Tôi chỉ muốn nói một điều thôi: Không ai ép mình đi

theo kháng chiến chống Pháp, không ai ép mình đi theo kháng chiến chống

Mỹ thì bây giờ cũng không ai ép mình viết cả... Chỉ ân hận là đã không kịp

làm trọn công việc...” [136].

Phan Tứ tên thật là Lê Khâm, con thứ 4 trong gia đình, nguyên quán xã

Quế Châu, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Ông sinh ra trong một gia đình

trí thức yêu nước: cha là Lê Ấm (1897-1976), từng làm Đốc học ở trường

Quốc học Huế, mẹ là bà Phan Thị Châu Liên - con gái đầu của nhà Chí sĩ

Phan Châu Trinh. Tuy sinh ở Bình Định nhưng suốt thời niên thiếu, Phan Tứ

lại sống ở quê cha, xã Quế Phong, Quế Sơn, Quảng Nam. Bản thân ông từ

nhỏ đã giỏi về môn văn và tiếng Pháp. Năm 15 tuổi, ông tham gia hoạt động

trong đội tuyên truyền xung phong của tỉnh Quảng Nam, làm liên lạc chuyển

tài liệu, báo chí bí mật và tham gia cướp chính quyền ở địa phương trong

Cách mạng tháng Tám.

Năm 1950, ông nhập ngũ, được kết nạp vào Đảng (20/3/1950), theo

học Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, phân hiệu Trung Bộ, học tập huấn

12

luyện ở vùng Cồn Kênh - Thanh Hóa. Cùng với cặp kính cận luôn “ngự” trên

đôi mắt tươi cười, Phan Tứ là một con người nhiều tài năng, hát hay, đàn giỏi,

viết báo tường cho đơn vị rất hấp dẫn và luôn chan hòa với mọi người, đặc

biệt với nhân dân vùng đóng quân. Cuối năm 1951, ông được phân công theo

đội quân tình nguyện Việt Nam sang chiến đấu ở chiến trường Hạ Lào. Năm

1954, ông từ Hạ Lào hành quân về Cảng Quy Nhơn tập kết ra Bắc, nén lòng

không ghé thăm gia đình đang sống ở miền Tây Quảng Nam. Những tháng

ngày gian khổ ở Lào được nhà văn ghi lại qua dòng hồi tưởng trong nhật ký

chiến trường về những trải nghiệm của ông: “Những cuộc hành quân dưới

nắng trời gay gắt, trong những cơn khát ghê gớm, đi trên những đường mòn

đầy sỏi đá làm trầy da chân, làm phồng dộp và sưng húp chân. Uống nước thì

là nước ao, phải rẽ lăng quăng và nòng nọc để múc. Các cuộc hành quân trên

cao nguyên Bôlôvên: lạnh đến rung cả rừng núi…đỉa và vắt vô kể, thiếu thuốc

hút, cháo nấu với măng rừng cho qua bữa” [53, tr.62]. Ba năm ở Lào, nhà

văn đã tích lũy cho bản thân vốn sống từ thực tiễn đấu tranh đầy khó khăn

gian khổ. Thực tế đó giúp ông sáng tác thành công hai tiểu thuyết lớn Bên kia

biên giới, Trước giờ nổ súng. Phan Tứ chính thức bước vào sự nghiệp văn học

với hai tác phẩm viết về chiến trường Lào, đặc biệt Trước giờ nổ súng dịch ra

tiếng Lào và xây dựng kịch bản phim “Bản anh hùng ca số 5” được bạn Lào

đánh giá tốt.

Năm 1958, ông theo học khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Kể từ

đây, trong con người của Phan Tứ có sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa nhà văn

và chiến sĩ cách mạng. Lớp học có 25 sinh viên và 6 lưu học sinh, duy nhất

Phan Tứ là người có tác phẩm đã xuất bản (Bên kia biên giới). Phan Tứ được

bầu làm tổ trưởng tổ sáng tác. Phan Tứ nổi tiếng: “Khắc khổ. Điều độ. Mực

thước”. Trong thời gian này, ông vừa học vừa viết tiểu thuyết Trước giờ nổ

13

súng. Đặc biệt khả năng ghi chép của nhà văn được anh Nùng – bạn học cùng

lớp cam đoan chưa có nhà văn nào ghi nhiều, bền bỉ như Phan Tứ bất kể lúc

nào (giờ nghỉ, xem diễn văn nghệ…), thời gian biểu chặt chẽ thực thi như kỉ

luật quân sự, học tập chăm chỉ, nghiêm túc và học đều các môn kể cả môn

khó nuốt như ngôn ngữ, tiếng Nga.

Sau khi tốt nghiệp năm 1961, hiện thực cách mạng miền Nam luôn giục

giã thôi thúc ông “trở về”, “vào trong kia”, “lên chiến khu”, Phan Tứ đã trở

lại công tác tại chiến trường miền Nam, làm phái viên tuyên truyền khu ủy

Liên khu V, ủy viên đảng đoàn Văn nghệ Khu 5 và viết văn dưới bút danh

Phan Tứ. Tuy được cấp chế độ sinh hoạt của cán bộ nhưng thiếu thốn quá

nhiều, Phan Tứ phải tự xoay sở tìm chỗ sáng tác (nóc ông Bền – làng

Thượng), tìm kiếm lương thực. Vừa chống chọi với khó khăn trong thời chiến

tranh (sốt rét, thiếu lương thực, bom đạn..), ông vừa sáng tác với khát khao:

“viết được một tiểu thuyết về miền Nam chiến tranh”. Từ thực tiễn sáng tác,

nhà văn tự rút ra nhược điểm của bản thân: “tìm cảm hứng trong những tình

huống đặc biệt và nhân vật kiệt xuất và không đi sâu vào những mâu thuẫn

giữa người và người với những tình tiết tế nhị hoặc thô thiển” [53, tr.95]. Để

có cái nhìn hoàn thiện hơn, Phan Tứ quyết định đi thực tế ở Kỳ Liên. Sống

bên cạnh đồng bào, đồng chí của mình, Phan Tứ luôn tâm niệm rằng phải:

“tắm mình trong cuộc sống, vừa chung tay xây dựng nó, vừa rèn giũa mình,

chắt chiu gạn lọc mỗi ngày đêm lấy vài nét độc đáo của nó, không ngừng suy

nghĩ và cảm xúc về nó, nghiền ngẫm tìm cách tái hiện nó” [45, tr.16-17].

Chính ý thức ấy, quan niệm về đời, về nghề ấy đã thúc đẩy Phan Tứ gan góc

bám thực tế, bám phong trào “trải đời, trải đạn” và viết văn. Nhà văn “tắm

mình trong cuộc sống” bằng cách xông pha, lăn lộn với thực tế chiến trường,

tìm hiểu những hoàn cảnh khác nhau và những con người cụ thể cũng như

14

chia sẻ đau thương mất mát với họ. Vì thế, ông có điều kiện hiểu về con

người cách mạng hơn.

Năm 1962, thời kỳ đau khổ tột cùng của nhân dân miền Nam chống càn

của Mỹ – Diệm, Phan Tứ tham gia tổ chức đấu tranh du kích, tiếp xúc với

những con người, những cuộc đời trong những tình huống cụ thể, khốc liệt.

Những khó khăn liên tiếp xảy ra, đấu tranh chính trị ở Kỳ Khương, chống

khủng bố trắng, chống càn ở Kỳ Thanh, tham gia võ trang tuyên truyền…

Phan Tứ đã thanh thản sống và vượt qua tất cả mọi thử thách. Ông đã ghi lại

một cách cảm động tâm sự của ông trong những ngày thật đáng nhớ: “Tôi

không băn khoăn gì trước những khó khăn ấy, bởi thực tế cách mạng miền

Nam cuốn hút tôi rất dữ dội. Tôi đã sống lại những năm tháng vừa chiến đấu

vừa xây dựng cơ sở hạ Lào hồi chống Pháp, nhưng sung sướng hơn trước

nhiều là tôi đang hoạt động trên đất quê hương mà tôi luôn thương nhớ”

[120, tr.82]. Sau đó, ông tiếp tục cuộc hành trình đi trường Tân binh 27, tổ

chức lớp học của cán bộ tuyên truyền xã. Trên đường hành quân tới Nóc ông

Thiêng, chứng kiến đồn Trà My giặc bị tiêu diệt, Phan Tứ dấy lên suy nghĩ

thích chiến đấu trực tiếp hơn là làm công tác chính trị và ông “đã hoàn toàn

tự nguyện dấn thân vào những nguy hiểm này”. Nằm trong bệnh viện vì sốt

rét tái phát nhưng ông vẫn không ngừng ghi chép và sáng tác. Vì sự thật cuộc

sống chiến trường vô cùng khắc nghiệt, chỉ “một mảnh bom, một viên đạn lạc,

một cơn sốt biến chứng có thể bẻ gẫy ngòi bút bất cứ lúc nào” [120, tr.82-83].

Chưa có điều kiện viết tác phẩm dài hơi: “cuốn tiểu thuyết dài ông hằng ao

ước được viết đang lớn dần lên trong óc”, nhưng ông đã phải gác lại để phục

vụ cuộc chiến đấu trước đã. Qua quá trình chiến đấu, học tập, nhà văn cũng

phát hiện ra mặt trái của tấm huy chương, mặt trái của con người.

15

Năm 1963, địch càn trên quy mô lớn và dữ dội. Nhà văn quay trở lại

sống ở cơ sở cách mạng, tham gia Đại hội đại biểu Đảng bộ Đảng nhân dân

cách mạng Tam Kỳ, Đại hội du kích huyện Tam Kỳ, nghe báo cáo các gương

điển hình…Tham gia công tác Mỹ vận, Phan Tứ tự trau dồi vốn tiếng Anh

nhưng ông cũng tự thú: những câu chuyện ăn chơi của tên lính Mỹ đã gợi cho

ông nhớ lại cuộc sống bình yên ngày trước. Điều đó làm ông trở nên khó tính

trước các trở ngại và sự thiếu thốn.

Năm 1966 do sức khỏe yếu và chịu ảnh hưởng bởi tác động của chất độc

hóa học, ông được đưa ra Bắc để chữa bệnh, công tác tại Hội Liên hiệp Văn

học nghệ thuật Việt Nam, giữ chức quyền Tổng biên tập Nhà xuất bản Giải

phóng. Bảy năm ở miền Bắc làm công tác đối ngoại, sáng tác và hoạt động

trong Hội nhà văn, ông tiếp tục ghi thêm 15 cuốn sổ nhật ký với 2400 trang về

thực tế đời sống và hoạt động chiến tranh phá hoại, viết bằng cả các thứ tiếng

Anh, Pháp, Lào và tiếng Nga. Trong nhật ký chiến trường của Phan Tứ, đây

đó ta bắt gặp những dòng thể hiện quyết tâm và lối sống luôn đặt ra định mức

của ông. Như có chỗ ông ghi hướng phấn đấu: “Ít nhất một năm không sốt

rét”, hoặc “Viết một truyện trong ba tháng”.

Tháng 12 năm 1974, nhà văn - chiến sĩ Phan Tứ đi B lần hai để sống tiếp,

để lấy tài liệu cho cuốn tiểu thuyết mà ông dốc toàn bộ sức lực, tài năng để

“chơi một canh bạc lớn trong đời văn nghiệp của mình”; tham gia chiến dịch

tổng tiến công 1975 và đi thực tế các tỉnh Nam Bộ.

Từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 2 năm 1980, ông về sinh sống và làm

việc tại quê hương Quảng Nam. Ông từng là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật

tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn, Ủy viên

Ban Thư ký (Ban thường vụ) Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa III.

16

Từ 1993 đến tháng 4 năm 1995 ông chữa bệnh do hậu quả chất độc màu

da cam, tiếp tục hoàn thành bộ tiểu thuyết Người cùng quê.

Ngày 17 tháng 4 năm 1995 tại thành phố Đà Nẵng, Phan Tứ từ trần khi

còn dang dở bộ tiểu thuyết Người cùng quê. Tang lễ của ông được tổ chức tại

Nhà Văn hóa trung tâm TP Đà Nẵng, đã có một vòng hoa viếng của bạn đọc

có dòng chữ “Mẫn và tôi sống mãi ”.

1.2. Sự nghiệp văn chương

1.2.1. Quá trình sáng tác

Sự nghiệp văn chương của nhà văn Phan Tứ là một hành trang gắn liền

với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc. Từ truyện

ngắn Một ngày bên đồn địch, tiểu thuyết Bên kia biên giới, Trước giờ nổ súng

viết về kháng chiến chống Pháp đến những tác phẩm ra đời ngay trong khói

lửa của cuộc kháng chiến chống Mĩ: Về làng, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi,

Trại S.T.18 và Người cùng quê như một bộ biên niên sử phản ánh trung thực

những bước đi đầy khó khăn nhưng tất thắng của cách mạng miền Nam.

Trước khi viết cái gì ông đều làm đề cương chi tiết đưa bạn bè đọc, cấp trên

xem xét và góp ý. Cuộc sống quân ngũ khắc nghiệt đã rèn cho Phan Tứ một

nếp sống chặt chẽ, ngăn nắp và điều này ảnh hưởng tới phong cách sáng tác

của ông. Đó là “phong cách hiện thực tỉnh táo”. Bên cạnh đó, theo tác giả

Trần Đăng Suyền thì ngòi bút Phan Tứ có “cái duyên thầm, đôi khi pha chút

hóm hỉnh”. Nhà văn đặt ra chỉ tiêu một tháng một truyện ngắn, hai mươi trang

tiểu thuyết. Vì vậy cuối đời, Phan Tứ có số lượng tác phẩm phong phú, dày

dặn.

Sau truyện ngắn đầu tay Một ngày bên đồn địch (1957) chưa gây được

tiếng vang lớn, đến năm 1958 ông cho xuất bản tiểu thuyết Bên kia biên giới.

17

Theo Nguyễn Gia Nùng – người bạn của Phan Tứ đã kể lại tâm sự của nhà

văn: “sở dĩ anh viết Bên kia biên giới vì sau những năm tháng tham gia chiến

đấu chống Pháp ở nước bạn Lào, anh bị thương, có một thời gian dài phải

nằm điều trị trong bệnh viện. Thời gian ấy, anh có điều kiện đọc nhiều sách

nhất. Tủ sách của bệnh viện và sách nhờ bạn bè tìm giúp anh đều đọc hết và

anh rất ngạc nhiên là chưa thấy có sách nào viết về bộ đội tình nguyện Việt

Nam chiến đấu ở chiến trường Lào” [86, tr.315].Từ trên giường bệnh, Phan

Tứ âm thầm “thai nghén” tác phẩm này và ít lâu sau khi ra viện ông cho xuất

bản. Ông kể rằng: “Khi ra Bắc tập kết, tụi mình đóng quân ở miền tây Nghệ

An. Ngoài lúc luyện tập, làm công tác dân vận, rảnh rỗi mình ngồi ghi lại

những chuyện hồi mình sống ở Lào. Lúc đầu, mình lấy tên tập bản thảo đó là

Những người tình nguyện….. Mình phải viết đi viết lại tới bốn lần, đến năm

1958 mới được in với tên Bên kia biên giới” [89, tr.868]. Khi theo học trường

Tổng hợp, nhà văn bắt tay vào viết và hoàn thành cuốn tiểu thuyết thứ hai với

tay nghề vững vàng hơn: Trước giờ nổ súng cũng lấy đề tài từ cuộc sống và

chiến đấu của bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Lào. Qua hai tác phẩm, nhà

văn đã đặt ra vấn đề nóng bỏng về chiến tranh, về tinh thần Quốc tế vô sản,

tinh thần đoàn kết giữa hai dân tộc. Cả hai tiểu thuyết trên đều ca ngợi, biểu

dương chủ nghĩa anh hùng cách mạng cũng như phê phán mặt tiêu cực, thoái hóa của nhân vật chiến sĩ.

Năm 1960, ông cho xuất bản tập truyện ngắn Trở về Hà Nội và tiểu thuyết

Trước giờ nổ súng. Trong gần 7 năm ở miền Bắc, Phan Tứ “luôn hình dung

miền Nam là một kho thuốc súng đang đợi châm ngòi, chỉ cần một mồi lửa gí

vào là Mỹ - ngụy tan xác ngay” [120, tr.83]. Nhưng khi ông đi phát động quần

chúng ở khu V thì thấy thực tế không đơn giản như vậy. Ông nghĩ rằng nên có

bài viết về một mặt khác của hiện thực: “quá trình vươn tới chủ nghĩa anh

18

hùng cách mạng của những con người bình thường và cả những người lạc

hậu nữa” [120, tr.84]. Về làng (1964) ra đời trong hoàn cảnh đó, gồm 12

truyện ngắn với bút pháp hiện thực già dặn, sắc sảo, kết cấu gọn gàng và lời

văn trong sáng đã đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình sáng tạo nghệ

thuật của ông. Nhân vật được xây dựng từ góc độ chuyển biến tư tưởng qua

những băn khoăn vướng mắc, cuối cùng tìm ra con đường đi theo cách mạng.

Tuy nhiên những nhân vật có tính bi kịch chưa được khai thác sâu vào tâm

trạng với những dày vò quá phức tạp. Theo Nguyên Ngọc thì “Những sáng

tác này của Phan Tứ có liên quan máu thịt với cuộc tranh cãi quyết liệt mà

anh - và tất cả chúng tôi lao vào hồi bấy giờ. Vấn đề nóng bỏng nhất lúc này

là đánh giá quần chúng, nhận thức về quần chúng và bao giờ cũng vậy quan

trọng nhất là nhận thức về các khối quần chúng ấy, quần chúng trung gian,

đông đảo, “số đông im lặng”. Họ sẽ đi với ai trong bão tố này?” [78, tr.368].

Phan Tứ đã nói về ý định đặt tên tập truyện ngắn Về làng: “cái tên ấy cũng

phản ánh nỗi khát khao của tôi trong những năm dài chiến đấu ở Hạ Lào và

tập kết ra miền Bắc: tôi ao ước được về đánh giặc ngay trên làng quê tôi,

vùng đồng bằng Quảng Nam thân yêu” [120, tr.85].

Từ cuối năm 1962, Phan Tứ trở về Tứ Mỹ sống tại cơ sở gia đình cách mạng

(nhà bà Tôn). Tại đây, Phan Tứ đã “thai nghén” quyển tiểu thuyết Gia đình

má Bảy. Gia đình má Bảy là bức tranh toàn diện và sâu sắc, phản ánh cách

mạng miền Nam trong bước ngoặt lịch sử những năm 1960 - 1961. Với tiểu

thuyết này, Phan Tứ đã tái hiện con đường đi tới chủ nghĩa anh hùng cách

mạng của tập thể quần chúng thông qua nhân vật trung tâm là bà mẹ của một

gia đình. Tiểu thuyết này đã khắc phục nhược điểm trong cách xây dựng nhân

vật ở Về làng. Nhà văn đã mô tả nhân vật với quá trình phát triển của tính

cách, phân tích tâm trạng trong sự chuyển biến vươn lên phù hợp với không

khí của phong trào đồng khởi. Trong nhật ký chiến trường, Phan Tứ đã ghi lại

19

phác thảo chân dung cho tập “Má Bảy” (tức Gia đình Má Bảy), thấy được quá

trình diễn biến tư tưởng của nhân vật má Bảy:

“ 1. Thôn xóm. Nhà má Bảy

Hình dáng. Tính nết: chăm, thật thà, nói lẹ.

Chồng con. Ruộng đất. Vui và buồn trong đời. Tính nết về già. Thờ Phật.

2. Một tối: (gần Tết, tháng Chạp) Sạn đi ráp về. Đứa cháu con cảnh sát

trưởng Rân. Mẹ con xô xát. Sâm buôn ham tiền ăn diện. Đêm Gành tới. Má

lạy van sợ giết con, rồi sợ địch khủng bố. Sâm hỏi thăm anh. Sau: thấy yên,

liên lạc tiếp. Thuế khóa, học tố.

3. Đêm khởi nghĩa: Trà Thọ nổi trước hai đêm. Mít tinh tố khổ. Sạn lên tố, má

lo. Thấy rầm rộ, hạ uy thế địch, má tin. Thắc mắc sao không cho hợp pháp,

cán bộ gạt (tên Gành, dân biển, vui, hăng, chủ quan, tiểu tư sản). Sạn du kích.

Má nuôi cán bộ. Sâm nữ thanh niên bị nghi quen lính và buôn. Bê an ủi..….”

[53, tr.806-807]. Qua nhiều lần chỉnh sửa, đến cuối tháng 12 năm 1965, Phan

Tứ viết lại và hoàn thành tiểu thuyết Gia đình Má Bảy. Trong tiểu thuyết này,

Phan Tứ “phải “lên gân” mới tăng được độ lãng mạn” [53, tr.442]. “Gia đình

má Bảy được viết bằng tấm lòng của những người chiến sĩ, người con yêu quý

của miền Nam, học tập và trưởng thành trên đất Bắc, trở về quê hương nơi

chôn rau cắt rốn, tôn vinh, ngợi ca má Bảy, bà mẹ anh dũng vô danh đại diện

cho hàng ngàn bà mẹ sau này được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ

Việt Nam anh hùng” [129]. Năm 1968, ông xuất bản tiểu thuyết Gia đình má

Bảy, tập truyện ngắn Trong đám mía.

Tháng 3 năm 1965, giặc Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng rồi vào Chu Lai. Ông

đã xuống vùng nam Tam Kỳ để lấy tài liệu và có một cô gái tên là Phận trong

Ban Tuyên huấn Tam Kỳ dẫn đường cho nhà văn. Cô gái ấy về sau trở thành

nhân vật Mẫn trong tiểu thuyết Mẫn và Tôi. Tiểu thuyết này được sáng tác

20

trên chất liệu trải nghiệm cuộc đời của nhà văn. Tác phẩm tái hiện chân thực

cuộc chiến đấu của Làng Cá thuộc Khu V với đế quốc Mỹ trong hai cuộc

chiến tranh đặc biệt và cục bộ. Trung tâm của truyện là xây dựng những tính

cách anh hùng tiêu biểu cho lớp thanh niên: cô Mẫn – bí thư chi bộ xã Tam

Sa; Thiêm – cán bộ quân chủ lực. Mẫn và tôi đánh dấu một bước phát triển

mới của Phan Tứ về phương diện nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Tác phẩm

đáp ứng được nhu cầu cấp bách của thời đại bấy giờ: “Làm sao có những tác

phẩm lớn để ghi lại những trang sử oanh liệt, những tác phẩm bao quát, miêu

tả lại những giai đoạn lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước này”

(trích lược bài nói chuyện của Thủ tướng Phạm Văn Đồng với anh chị em làm

công tác văn học nghệ thuật ngày 6 - 2- 1973, Báo Văn nghệ, số 314, ngày 7-

9 - 1973). Với Gia đình má Bảy và Mẫn và tôi, “Phan Tứ có tham vọng dựng

lên những bức tranh quy mô rộng lớn, xứng với tầm vóc hoàng tráng của

cuộc chiến đấu đã đi vào lịch sử và làm vang động thế giới” [126, tr.767].

Năm 1972, ông lần lượt cho xuất bản: bút ký Măng mọc trong lửa, tiểu thuyết

Mẫn và tôi. Với Trại S.T.18 (xuất bản 1974) – kết quả của 6 tháng (1963)

công tác tại trại tù binh Mỹ. Dưới hình thức là nhật ký của một phóng viên,

Phan Tứ tái hiện cuộc chiến đấu căng thẳng, không đổ máu nhưng gian khổ

của chiến sĩ giải phóng Việt Nam trong việc huấn luyện tù binh Mỹ. Tác

phẩm là sự cắt nghĩa nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của

chân lí cách mạng: “Ta càng đổ máu thì càng khao khát thêm bạn bớt thù, ta

càng nắm chắc phần thắng thì càng đối xử cao thượng với kẻ đang hoặc sẽ

thua trận, ta càng nhân đạo thì chính nghĩa của ta càng tỏa sáng trên trái đất

này”[44]. Sau đêm Đà Nẵng giải phóng (1975), Phan Tứ viết tùy bút Khi cuộc

sống vượt xa ước mơ và hàng loạt bút ký phóng sự phản ánh kịp thời không

khí miền Nam sau những ngày thống nhất. Đến năm 1984 hồi ký Trong mưa

núi ra đời chứa đựng những kỷ niệm không quên trong thời hoạt động cách

21

mạng và sáng tác đầy gian khổ, bền bỉ và tràn trề nhiệt huyết của nhà văn.

Tiếp đó, ba tập tiểu thuyết Người cùng quê (1985) được xuất bản. Người cùng

quê là bộ tiểu thuyết mà nhà văn đã nung nấu ngay từ năm 1961. Trong những

năm ở khu B, lúc ngồi bên bếp lửa, vừa nướng sắn ăn, vừa kể chuyện, nhà văn

tâm sự: “mình đang chuẩn bị để viết một cuốn sách có chủ đề ôm trùm thời

gian dài: sự trưởng thành của những tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của

Đảng qua các thời kỳ chống Nhật, chống Pháp, chống Mỹ” [88]. Trong di bút

của nhà văn viết ngày 11/8/1990 có đoạn: “Tôi đã chuẩn bị viết bộ tiểu thuyết

Người cùng quê từ năm 1974, cố thu thập vốn sống trực tiếp và gián

tiếp….tuy rất nhiều người bạn và nhiều người quen thường chê trách tôi là

dại, là tụt hậu, viết về đề tài chiến tranh, viết dài…..tôi nghĩ về cuối đời cầm

bút nên có một cái gì đền ơn trả nghĩa đối với đồng bào, đồng chí nên cứ lì

lợm theo đuổi tác phẩm này” [103, tr.743]. Những suy tư của nhà văn về việc

hình thành tác phẩm mà ông coi là công trình văn học của cuộc đời mình đã

được nhà văn thổ lộ: “tiểu thuyết Gia đình mà tôi coi như tác phẩm của cả

cuộc đời văn học của mình: Tôi sẽ cống hiến cả cuộc đời cho nó. Mục tiêu ấy

còn xa vời nhưng chắc chắn giấc mơ đó sẽ được thực hiện. Tôi sẽ viết trong 5

hay 7 năm, chậm và kín đáo trong lúc sống ở một cơ sở nào đó, tại làng quê

của tôi ở miền Nam hay trong một nông trường nào đó ở miền Bắc” [53,

tr.43], “Chuyện nghĩ đêm qua: Có thể mở rộng phạm vi Một gia đình đến đầu

Cách mạng tháng Tám được không? Bòng mời vào thanh niên Phan Anh.

Cam chăn trâu chạy theo biểu tình. Bòng vỡ Mặt trận Nha Trang. Cam đi

học. Bưởi công tác phụ nữ. Thanh Yên vào thiếu nhi. Ông Chanh nông + thợ

vặt. Bà Chanh gây khó khăn cho phụ nữ. Bưởi lấy một du kích chết. Bòng ra

Bắc lần 1, học Lục quân 50. Cam cày đến 53, du kích, đi thanh niên xung

phong nhảy theo bộ đội. Diên quân giới về đóng gần, bị thương tật, lấy Bưởi.

Làng thành vùng du kích giáp ranh từ 48. Sai lầm tổng động viên 50 – 51.

22

Bòng dẫn vợ về cuối 53, khi quê hương giải phóng. Cụ Chanh vào Hội đồng

nhân dân, làm thủ quỹ, nhận thu lúa 10 mẫu công điền cho du kích…” [53,

tr.70]. Đây chính là một phần cốt truyện và kết cấu ban đầu mà nhà văn hình

dung ra để sau hòa bình tạo dựng lên một tác phẩm dày dặn, phong phú về

cuộc sống chiến tranh trên quê hương của nhà văn, với tựa đề Người cùng

quê. Nhà văn cũng đưa ra dự định về dung lượng tác phẩm: “Tiếp đó đến hòa

bình. Phần kháng chiến chiếm độ 1/3. Thanh niên chiếm 2/3 hoặc hơn kháng

chiến ít nhất 500 trang. Thanh niên 1000 trang đủ không? Chắc không đủ.

Hòa bình 4 giai đoạn: Địch chiếm đến tập kết + Những năm 54 – 57 + Giai

đoạn 5 8 – 61 + Thắng lợi. Nghĩa là gấp rưỡi số dự tính. Đồ sộ đấy. Nghĩ kỹ

xem sức làm nổi bộ Chiến tranh và Hòa bình ấy không? 10 năm?” [53, tr.71].

Sau này, khi trở về cuộc sống đời thường, ngồi trước trang giấy cùng với tập

đề cương bản thảo, nhà văn đã hồi tưởng, sắp xếp, chọn lọc, tái hiện lại những

sự kiện, chi tiết… của tiểu thuyết Người cùng quê. Những năm cuối đời, do di

chứng chất độc da cam, nhà văn nằm trong bệnh viện nhưng vẫn chắt chiu sức

lực sáng tác. Căn bệnh quái ác khiến ông chỉ hoàn thành được 3 tập, còn tập

thứ 4 mới ở dạng bản thảo. Qua những sáng tác, Phan Tứ chứng tỏ khả năng

phát hiện và giải quyết sâu sắc bằng hình tượng nghệ thuật những vấn đề tư

tưởng có ý nghĩa thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn: từ

vấn đề bản chất anh hùng, nhân đạo của quân đội cách mạng, sự gắn bó giữa

cách mạng dân tộc và cách mạng dân chủ, những vấn đề chiến tranh của cách

mạng miền Nam…đến vấn đề có ý nghĩa nhân văn cao cả như: tình yêu và lý

tưởng cách mạng, tình bạn, tình đồng chí trong thực tiễn đấu tranh, sự tiếp nối

truyền thống cách mạng giữa các thế hệ trong hai cuộc kháng chiến,

v.v…Nhà văn không chỉ có ý thức làm việc nghiêm túc trong sáng tác, ngay

cả công việc viết nhật ký chiến trường, Phan Tứ cũng thể hiện là một người

làm việc khoa học và chuyên nghiệp. Để đảm bảo tính bảo mật, nhà văn viết

23

bằng các thứ tiếng: Pháp, Lào, Nga, Anh và ghi chép đầy đủ từng ngày, từng

giai đoạn, từng sự việc. Những trang nhật ký chi li kỹ lưỡng, chẳng hạn:

“Nhật ký chiến trường của Phan Tứ - quyển VII AB từ đầu năm 1962, cụ thể

là từ 8.1.1962 đến 25.1. 1962”.

Với hành trình lao động nghệ thuật bền bỉ, nghiêm túc, sáng tạo, những

sáng tác của nhà văn ngày càng đạt tới trình độ khái quát nghệ thuật cao. Sức

hấp dẫn và giá trị trong các sáng tác của Phan Tứ chính là khả năng phát hiện

và giải quyết sâu sắc những vấn đề tư tưởng cấp thiết của đời sống cách

mạng. Nhìn lại quá trình sáng tác của Phan Tứ, chúng ta thấy ông là một trong

số ít nhà văn gắn bó đến cùng với đề tài chiến tranh cách mạng bằng những

trải nghiệm đấu tranh gian khổ đầy nhiệt huyết của mình.

1.2.2. Các tác phẩm đã xuất bản:

Bên kia biên giới (tiểu thuyết, 1958, tái bản 1978)

Trước giờ nổ súng (tiểu thuyết, 1960, 1961, 1969, 1976, 1977)

Trở về Hà Nội (truyện ngắn, 1960)

Trên đất Lào (bút ký, 1961)

Về làng (tập truyện 1964, 1976): Một buổi chợ, Nhà tôi, Tấm ảnh, Chè

đầu xuân, Mở cửa, Khó hiểu, Về làng, Sức mạnh mới, Chông ba lá….

Trong đám mía (truyện ngắn, 1968)

Gia đình má Bảy (tiểu thuyết, 1968, tái bản 1971, 1972, 1975, 1984)

Măng mọc trong lửa (bút ký, 1972, 1977)

Mẫn và tôi (tiểu thuyết, 1972, 1975, 1978, 1987, 1995, 1999)

Trại S.T. 18 (tiểu thuyết, 1974)

Trong mưa núi (hồi ký, 1984, 1985)

Sông Hằng mẹ tôi (dịch từ tiếng Pháp, tiểu thuyết Ấn Độ, 1984, 1985)

Người cùng quê (tiểu thuyết 3 tập, 1985, 1995, 1997)

24

Từ chiến trường khu 5 (nhật ký, 2011)

* Những truyện, ký lẻ: Ông già làng Tó, Từ Cánh đồng Chum đến Bản Ban,

Lòng dân, Tiếng trống.

* Ngoài ra còn một số truyện ngắn in chung với nhiều tác giả khác, bút ký,

hồi ký.

* Các giải thưởng văn học:

Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu (năm 1965)

Giải thưởng 30 năm (1945 - 1975) của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng

(năm 1975)

Giải thưởng văn học loại A mười năm (1975 – 1985) của tỉnh Quảng

Nam - Đà Nẵng (năm 1985)

Giải thưởng văn học loại A mười năm (1985 – 1995) của tỉnh Quảng

Nam - Đà Nẵng (năm 1995)

Người cùng quê – Thưởng sách hay năm 1995 của Nhà xuất bản Hội

Nhà Văn.

Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000.

1.2.3. Những trăn trở của Phan Tứ về vấn đề con người trong

sáng tác văn học Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, các nhà văn đã xây dựng

nhiều hình tượng nghệ thuật mang tính chất sử thi, đạt tới trình độ khái quát

cao. Điều đó giúp họ thể hiện cá tính sáng tạo cũng như năng lực quan sát về

hiện thực đời sống, đặc biệt hiện thực về con người trong bão táp cách mạng.

Phan Tứ là một trong những nhà văn trưởng thành trong quân ngũ, được sống,

chiến đấu trực tiếp nên có điều kiện am hiểu về hiện thực chiến tranh, hiện

thực con người. Khác với các nhà văn cùng thời hướng ngòi bút tiếp cận con

25

người trên các đề tài khác nhau (người lính, người công nhân, nông dân, đề tài

lao động sản xuất, ...), gắn với đời sống chính trị, xã hội, đạo đức, nhân sinh,

Phan Tứ trước và sau chiến tranh trung thành với thể loại đề tài chiến tranh,

đối tượng được tiếp cận mang tính sử thi. Đó chính là nét riêng của Phan Tứ.

Bằng vốn sống thực tiễn đấu tranh, cùng với cây bút mang phong cách “hiện

thực tỉnh táo”, Phan Tứ đã xây dựng nên những sự kiện, nhân vật mang tầm

khái quát trước hiện thực đời sống. Những “bộ mặt” con người hiện lên trong

chiến tranh rất đa dạng và phong phú. Nhà văn cũng nhìn thẳng vào sự thật để

tái hiện trong trang viết của mình. Chính vì vậy, Phan Tứ là một trong rất ít

các nhà văn ngay từ ngày đầu cầm bút đã có cái nhìn tinh anh về bản chất con

người. Từ đây, Phan Tứ xác định cho mình một quan niệm nghệ thuật nghiêm

túc, nhất là trong cách nhìn về con người. Những nhân vật trong sáng tác của

Phan Tứ không đơn diện, đầy phức tạp. Trong những tháng ngày ở vùng

Trung Trung Bộ, ta với địch xen nhau trong thế cài răng lược, những khó

khăn liên tiếp xảy ra: địch đàn áp, khủng bố, cơ sở cách mạng bị cô lập, cán

bộ phải “nhảy núi”. Phan Tứ đã kịp thời phản ánh sự trưởng thành của khối

quần chúng, làm thay đổi cục diện cách mạng, dấy lên một phong trào đồng

khởi khí thế, làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch. Nhà văn chủ

yếu chọn đối tượng mô tả là những con người bình thường, có lòng yêu nước

bị dồn nén trước sự kìm kẹp của kẻ thù. Tuy nhiên, con đường đến với cách

mạng của họ cũng trải qua một quá trình diễn biến tâm trạng phức tạp, có mặt

tiêu cực, mặt tích cực và cả một quá trình đấu tranh căng thẳng, không ít

giằng xé. Ông Sần (Về làng): “gần 60 tuổi đầu ông chưa hề biết cái sướng

được đánh con trâu nhà, cày đám ruộng nhà” [118, tr.564]. Yêu nước nhưng

có tư tưởng cầu an bảo mạng không dám đấu tranh nhưng khi biết cách mạng

chia ruộng đất cho họ thì ông dứt khoát cùng bà con đấu tranh giữ đất. Như

vậy, Phan Tứ nhận thấy quyền lợi ruộng đất, đặc biệt sự gắn bó của người

26

nông dân với ruộng đất bao đời này ăn sâu vào tiềm thức là động lực để con

người vươn lên. Hay chị Phước (Một buổi chợ), chồng bị giặc giết, chị muốn

yên phận để nuôi con, muốn quên đi hình ảnh cô du kích ngày xưa hay hát

hay cười, “nén lấy từng cơn giận, bịt lấy từng tia hy vọng mơ ước, cố tập cho

mình chai đi, trơ đi thành câm điếc”. Khi chứng kiến cái chết của nữ đảng

viên cộng sản Trần Thị Út, chị nức nở kêu lên và chị bốc dúm cát thấm máu

người cộng sản đem về đặt lên bàn thờ chồng. Phan Tứ đã khơi dậy tình cảm

chân chính của con người trong hoàn cảnh chiến tranh bị vùi lấp, nó bị tiềm

ẩn khi ngọn gió cách mạng ùa vào thì sự thức tỉnh của con người mạnh hơn

bao giờ hết. Cô Cúc (Con đĩ) vốn là cô gái đẹp, trong trắng và bị bắt trong lần

đòi ký hiệp thương, bị vu oan và rơi vào bẫy Ty trưởng công an, bị làm nhục

và trở thành vợ của quan tay sai. Từ đây, cô trượt dài con đường ăn chơi, sa

đọa. Cô xa lánh gia đình nhưng trong một trận càn lớn của địch, gia đình cô

tan nát (mẹ và em bị giải, thằng em trai bị thương). Cúc khóc và muốn làm lại

cuộc đời. Cách mạng đang dần thấm vào máu chị. Cuối cùng Cúc tham gia

cuộc biểu tình của dân làng và tố cáo tội ác của thằng Bòng (kẻ rất si mê Cúc)

và bị hắn bắn chết.

Không còn đơn thuần miêu tả chuyển biến tư tưởng cách mạng của cá

nhân, Phan Tứ cho thấy sự trưởng thành cách mạng của một gia đình nông

dân ở Gia đình má Bảy trong không khí đồng khởi mãnh liệt, tiêu biểu nhân

vật má Bảy. Má một lòng sắt son với cách mạng. Đã có lúc ngấm mệt sau

những ngày bị bắt bớ, tra tấn, má tưởng mình có thể sống bình yên nếu tạm

ngưng hoạt động cách mạng. Nhưng lúc nghĩ đến “anh em mình vẫn hoạt

động”, thì chỉ “chớp mắt” và “ý nghĩ ấy chỉ lóe thành chấm sáng yếu ớt chứ

không bốc cháy trong má nữa”. Nhưng Mỹ - Diệm đâu để gia đình má yên,

Tư Sỏi – con trai má vì sợ mẹ và em bị bọn chúng đánh đập nên dằn lòng

lãnh súng vào dân vệ. Khi cán bộ quay trở lại hoạt động, má xin lỗi Đảng,

27

giao hai đứa con cho Đảng, và bản thân má tham gia hoạt động: vạch tội tên

ác ôn Phổ, lãnh đạo công tác binh vận,… Thử thách lớn nhất với má là chứng

kiến địch tra tấn đứa con gái của má – Út Sâm: “máu ứa đầy mình” và nghe

tiếng Sâm rú lên khi địch đóng dấu đỏ rực cháy xèo xèo trên da thịt con. Má

không khóc, không van xin chỉ dùng ánh mắt khuyên con cố gắng chịu đựng.

Cuối cùng gia đình má cũng như bao người khác chỉ có con đường duy nhất

vùng lên đồng khởi giành chính quyền, giải phóng làng xóm. Không phải

ngẫu nhiên mà Phan Tứ miêu tả quá trình vươn tới chủ nghĩa anh hùng cách

mạng của những con người bình thường và cả những con người lạc hậu nữa

bởi: họ chiếm số đông trong quần chúng cách mạng. Thời kỳ này, Phan Tứ

sống và hoạt động, gắn bó với người dân, người lính. Chứng kiến cuộc chiến

tranh nhân dân đầy đau thương như rất đỗi hào hùng nên ông có điều kiện

hiểu con người quần chúng, nhận ra sức mạnh tiềm ẩn của những con người

“một nắng hai sương” nhưng trong sâu thẳm tình cảm gắn bó quê hương, tình

yêu thương con người, tinh thần nghĩa vụ, nhất là họ thấy con đường cách

mạng là ánh sáng đưa cuộc đời họ thoát khỏi những kìm kẹp của kẻ thù. Phải

là những người cán bộ có lòng tin sâu xa vào quần chúng, phải là nhà văn –

cán bộ quần chúng mới hiểu tận gốc rễ họ.

Nếu Về làng, Gia đình má Bảy, nhà văn chú ý tới quá trình trưởng thành

cách mạng của những con người bình thường thì đến Mẫn và tôi, Phan Tứ tập

trung vào thế hệ trẻ, tiêu biểu như Mẫn, trong hoàn cảnh giữa ta và địch đang

chạy đua căng thẳng ở vùng vành đai ác liệt quanh căn cứ Chu Lai. Từ nhỏ,

Mẫn mang nặng “nợ nước, thù nhà” sâu sắc. Mười bảy tuổi, cô được kết nạp

vào Đảng, “lấy bảy năm công tác bù vào việc thiếu tháng”. Hai mươi tuổi,

Mẫn vừa gánh vác việc nhà vừa làm tròn trọng trách đối với đất nước. Cô đã

sớm đảm nhiệm công việc nặng nề: làm xã đội trưởng du kích, bí thư chi bộ

xã, đảng ủy viên của cả một vành đai mười hai xã và trải qua nhiều thử thách

28

gay go, ác liệt, bao mối quan hệ phong phú và tiếp xúc với nhiều loại người

khác nhau. “Trong chân lý lớn của cách mạng Mẫn phải tự tìm những cái

chân lý nhỏ của từng việc, từng ngày, phải dám quyết định và gánh hết trách

nhiệm đôi khi quá nặng phải biết làm cho cái đúng thắng cái sai” [119]. Sự

trưởng thành nhanh chóng đến không kịp nhận thấy của Mẫn khiến người yêu

cô - Thiêm cũng phải ngỡ ngàng: “không biết bao giờ tôi mới hết ngạc nhiên

về Mẫn”. Phan Tứ đã xây dựng thành công cô Mẫn trở thành một nhân vật

điển hình, giàu sức sống. Nhà nghiên cứu – phê bình Phan Cự Đệ đã nhận xét

“Mẫn và tôi là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nền văn nghệ giải phóng có

khuynh hướng mở rộng tầm vóc sử thi”. Phan Tứ cho người đọc thấy một sự

mẫn cảm chính trị, dám nhìn thẳng vào tâm trạng tiêu cực để bộc lộ sự hiểu

biết, thông cảm với con người và cho người đọc thấy “thép đã tôi thế đấy”,

con người chịu sự chi phối của hoàn cảnh và tác động trở lại hoàn cảnh như

thế nào. Từ trong gian khổ hy sinh, những con người bình thường kiên trinh

sẽ trở thành viên ngọc “càng mài càng sáng”. Ngược lại môi trường đó cũng

là nơi thử thách, sàng lọc, đào thải những kẻ thoái hóa, biến chất, gây không ít

tổn thất cho cách mạng. Với tâm niệm và sự sắc sảo của mình, Phan Tứ mạnh

dạn “bóc lớp sơn son thiếp vàng của tượng thần để thấy lớp đất sét bên

trong”. Trong khi nhiều nhà văn có xu hướng “tô hồng” hiện thực thì Phan Tứ

chọn cho mình một hướng đi mới. Đó là lối viết hiện thực tỉnh táo với những

mặt đa diện của nó. Trước giờ nổ súng, Bên kia biên giới hiện lên với tất cả

cái tốt - cái xấu, cái anh hùng, cái đớn hèn vv….Con người dưới ngòi bút của

Phan Tứ ngay từ thời kỳ đầu sáng tác cũng đa dạng, phong phú, phức tạp.

Phan Tứ không né tránh sự thật. Đó là Chánh (Trước giờ nổ súng) chỉ nghĩ

đến quyền lợi cá nhân mà không thấy trách nhiệm cộng đồng. Chánh tình

nguyện qua Lào vì nghĩ đó là nơi có thể ăn chơi trác táng thỏa thích: “Nghe

đâu quân ta sang bên ấy uống rượu cần cứ tít cung thang, dân cho gà lợn ăn

29

mứa, lại tán gái suốt đêm chả ai nói gì, Chánh hăm hở đi” [52, tr.383].

Nhưng đây không còn là bước chân nhiệt huyết của chiến sĩ đánh giặc mà là

của một kẻ phàm phu. Ý thức vô kỷ luật của Chánh thể hiện qua lời nói thô

tục và hành động uống lén rượu trên đường đi. Sau đó, hắn cưỡng hiếp Pha

không thành và quyết định đảo ngũ. Tham mưu trưởng trung đoàn Đặng được

miêu tả vừa có công vừa có tội. Là người nghiêm khắc trong giờ giấc làm việc

nhưng lại cứng nhắc trong xử lý các công văn khẩn dẫn đến sự chậm trễ tai

hại cho cấp dưới, vô tình gây thảm cảnh cho đội CC3, “nỗi hối hận giày vò

cắn xé anh nhiều…thương đội CC3, hổ thẹn, nhục nhã ”. Phan Tứ miêu tả anh

ta là người vừa đáng thương vừa đáng ghét. Trung đội trưởng Lương đôi lúc

có vẻ “nhẫn tâm” làm cho người ta dễ sợ hãi, tiểu đội phó Khiêm có tính ghen

tuông hay nghi ngờ, chiến sĩ Sử mang trong mình chất tiểu tư sản “còn tự ái,

kiêu ngầm, sống cô độc”. Qua những nhân vật này, Phan Tứ quan niệm : dẫu

một người anh hùng có cao cả đến mấy cũng chưa hẳn đã hoàn mỹ và tác giả

còn “đặt ra yêu cầu tìm hiểu xem con người đã được thử thách như thế nào,

những phẩm chất mới của họ đã được hình thành ra sao” [58, tr.78]. Trong

khi hầu hết các tiểu thuyết cách mạng thời chống Mỹ né tránh những mặt trái

của chiến sĩ và mâu thuẫn nội bộ của phe ta thì Phan Tứ mạnh dạn lột tả nó.

Tư tưởng này tiếp tục chi phối trong tiểu thuyết Mẫn và tôi (tiêu biểu nhân vật

Tám Liệp). Ngay từ đầu, Phan Tứ đã có cách nhìn, cách cảm về con người hết

sức chân thật, sâu sắc. Điều này có phần giống như lời phát biểu của

L.Tolstoi: “Con người như những dòng sông…mỗi con sông khi thì hẹp, khi

thì chảy xiết, khi thì đục, khi thì ấm. Con người cũng vậy” [37, tr.142]. Đồng

thời, nhà văn miêu tả “những con người thép”, “những hạt gạo trên sàng” là

con người bình thường (khác với nhiều nhà văn đưa vào tác phẩm những điển

hình anh hùng nguyên mẫu ngoài đời), có lai lịch, có quá trình và phát triển

trong sự tác động, chi phối của hoàn cảnh. Phẩm chất anh hùng của nhân vật

30

qua đó cũng được bộc lộ một cách tự nhiên, không ồn ào, gân cốt, tránh được

những gán ghép ngẫu nhiên trong tính cách, có sức sống, giàu sức thuyết

phục: đại đội trưởng Lương (Trước giờ nổ súng); má Bảy, Út Sâm (Gia đình

má Bảy); Thiêm, Mẫn (Mẫn và tôi)…Có thể nói, Phan Tứ trước 1975 đã có

cái nhìn con người gắn với cộng đồng, gắn với sự nghiệp cách mạng. Nhà văn

đã xây dựng được những hình tượng nghệ thuật mang tầm khái quát (như

nhân vật Lương, má Bảy, Mẫn….) đại diện cho tập thể, một cộng đồng đang

lớn mạnh trước bão táp cách mạng. Xét đến cùng, Phan Tứ am hiểu về con

người, chủ yếu người nông dân là do: “Từ 14 tuổi anh sống xa gia đình, được

bao bọc trong tình yêu thương của nông dân….Trong cuộc viễn chinh 15 năm

qua lăn lộn trong cuộc sống, một mình lao theo cách mạng và cố gắng tiến

cho kịp những anh hùng không tên, anh cảm thấy gắn bó thiết tha với nông

dân, bộ đội hơn bao giờ hết. Trong suốt cuộc đời sáng tác của anh, anh sẽ

trung thành với công nông binh, sẽ mãi mãi sống với họ và viết văn ca ngợi

họ…” [85, tr.514-515].

Sau 1975, “dưới cái bề mặt sôi động, khá sặc sỡ và ồn ào đó là sự vận

động tự nhiên và kín đáo của những quy luật hình thành, phân nhánh, cộng

sinh của đời sống thể loại mà nền tảng của nó là trạng thái tinh thần mới của

thời đại. Một loạt những vấn đề quan trọng đã diễn ra trong văn học ở cấp độ

cao nhất là cấp độ quan niệm và ý thức nghệ thuật….nổi bật những bổ sung

toàn diện hơn về quan niệm con người…” [25, tr.91]. Các nhà văn đã dần dần

có “độ chín” về quan niệm nghệ thuật, mở rộng cái nhìn sâu sắc hơn về con

người. Một lần nữa, Phan Tứ đã chứng minh một cây bút nhạy bén hơn về

hiện thực cách mạng và đổi mới cách nhìn về con người trong tiểu thuyết

Người cùng quê. Phan Tứ khẳng định: “Ngòi bút tôi ngày càng sắc sảo, tôi

sẵn sàng theo lối viết của Nguyễn Khải, nếu tôi không sợ phản đối của độc

31

giả ở miền Nam. Sau thống nhất tôi sẽ viết tiểu thuyết gì nhỉ? ….tôi sẽ hiện

thực như Cholokhov….nếu tôi có được tài năng của ông ta ” [53, tr.761].

Vấn đề số phận con người đã được đặt ra trong các sáng tác của dòng văn

học hiện thực phê phán 1930 – 1945 với những cây bút tên tuổi như Vũ Trọng

Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao… chủ yếu hướng tới những người lao động

nhỏ bé, nghèo khổ…. Đến giai đoạn văn học cách mạng, con người cần được

nhìn nhận như nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà nhận xét: “Văn học là sự thật. Mà

sự thật chủ yếu của văn học là sự thật và con người. Nhiều năm qua văn học

chúng ta còn mắc nợ cuộc đời về sự thật. Sự thật về người nông dân Việt Nam

trong bao cơn bão táp của cách mạng và chiến tranh, về người lính suốt ba

thế hệ cầm súng đánh giặc trên đủ loại chiến trường với bao nhiêu vinh

quang, hy sinh và mất mát, về anh cán bộ nghiêm túc, lương không đủ ăn, về

người trí thức cách mạng với lòng yêu nước và những ngộ nhận ngây thơ, với

niềm tâm huyết, say mê và bao điều dằn vặt. Các nhà văn ngày nay phải trả

món nợ ấy cho đời” [108]. Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn khác đã “trả món

nợ ấy” bằng những trăn trở về số phận con người, thể hiện chiều sâu nhận

thức, trách nhiệm với đời và hướng đến bình diện con người là tổng hòa các

mối quan hệ trong tác phẩm văn học.

Trong tình hình xã hội Việt Nam sau 1975, văn học đã bám sát hiện thực

đời sống. Các nhà văn thực sự trở thành chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn

hóa. Những sáng tác tiểu thuyết của những nhà văn nói trên đã thể hiện sự

trăn trở, tìm tòi về hướng đi của xã hội Việt Nam sau chiến tranh. Trong dòng

chảy đó của văn học dân tộc, Phan Tứ có những đóng góp cho đời sống và

văn học. Với bộ tiểu thuyết Người cùng quê, Phan Tứ đã có những đổi mới

cách nhìn về con người trong dòng vận động của văn học.

32

1.3. Hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết Người cùng quê

1.3.1. Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam sau 1975

Sau những tháng ngày chìm trong biển lửa chiến tranh, dân tộc Việt

Nam đã bước sang một trang sử vàng mới. Từ đây, non sông Việt Nam thu về

một mối. Cả dân tộc bắt tay vào công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước

sau chiến tranh.

Công cuộc xây dựng đất nước trong hoà bình, sau chiến tranh là một

nhiệm vụ hết sức khó khăn. Kinh tế miền Bắc chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ,

nông nghiệp lạc hậu, cơ chế quản lý quan liêu bao cấp. Ở miền Nam, một nền

kinh tế phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh, cơ cấu mất cân đối và lệ thuộc

nặng nề vào viện trợ bên ngoài. Vì vậy, khi Mỹ rút quân, cắt giảm viện trợ,

nền kinh tế miền Nam lập tức rơi vào khủng hoảng. Đó là chưa kể đến khó

khăn ở những vùng bị tàn phá bởi chiến tranh, chất độc hóa học. Khó khăn

chồng chất khó khăn: thù trong giặc ngoài, sự bao vây cấm vận về kinh tế và

quan hệ ngoại giao, những hệ lụy do tình trạng chiến tranh kéo dài để lại rất

nặng nề như tệ nạn ma túy, lưu manh, bụi đời, mại dâm... ; số người thất

nghiệp, đặc biệt là số người mù chữ chiếm tỷ lệ lớn trong dân cư. Ngoài ra,

trong quá trình xây dựng xã hội mới, một bộ phận lãnh đạo chính quyền còn

non kém, chưa đủ năng lực đáp ứng tình hình mới của đất nước, tư duy quan

liêu bao cấp…Đó là những cản trở đẩy nền kinh tế nước ta sau 1975 rơi vào

tình trạng khủng hoảng, lạm phát, đời sống nhân dân khó khăn.

Đứng trước thực tế của đất nước, Đảng chủ trương đường lối đổi mới

nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng trên mọi phương diện

của đời sống. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV

(1976) vạch ra đường lối kinh tế: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ

33

nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh

tế nước ta đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” [125.1] và

khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con người xã

hội chủ nghĩa”. Đặc biệt, Đảng đưa ra quan niệm khi xây dựng con người

mới: “xây dựng con người phát triển toàn diện, có cuộc sống tập thể và cá

nhân hài hòa, phong phú”. Tiếp nối sự khẳng định yếu tố con người trong sự

phát triển của xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982) nhấn mạnh:

“Mỗi người được phát triển đầy đủ nhân cách, tài năng và năng khiếu của

mình, trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân, gia đình và xã hội” [125.2].

Nghị quyết 05 của Bộ chính trị đã xác định hoàn cảnh mới và nhiệm vụ mới

của văn học nghệ thuật: “văn hóa văn nghệ nước ta cũng phải đổi mới, đổi

mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm”. Để có sự đổi mới ấy, mỗi nhà văn

phải tìm tòi sáng tạo lối viết mới về tư tưởng và bút pháp đáp ứng nhu cầu

thẩm mĩ của thời đại.

Cuộc sống hoà bình sau năm 1975 đòi hỏi văn học có nội dung phản ánh

phù hợp với thực tế đất nước. Thị hiếu thẩm mĩ của độc giả thay đổi do tiếp

xúc với nhiều luồng văn hóa Đông - Tây qua các phương tiện truyền thông,

mảng văn học dịch,… có tác động lớn tới quá trình đổi mới văn học ở Việt

Nam. Nó làm thay đổi thị hiếu nghệ thuật của đông đảo độc giả, trước hết là

thị hiếu nghệ thuật của tầng lớp thanh niên. Các nhà văn từng sáng tác trong

thời kỳ chiến tranh đều nhận ra, nếu tiếp tục viết như cũ, họ sẽ tự đánh mất

độc giả. Đời sống phong phú và phức tạp của xã hội Việt Nam từ sau năm

1975 đã buộc các nhà văn Việt Nam đổi mới cách viết. Sự kết hợp của hai yêu

cầu: “một từ ngoài, từ phía quần chúng, phía cuộc sống và xã hội, phía cách

mạng như nhiều chục năm qua đã diễn ra; và một từ trong, từ chính bản thân

văn học” [63, tr.231], thúc đẩy văn học cần có sự “chuyển mình”.

34

Như đã nói, hiện thực đời sống đã khác trước, cần phải có cách tiếp cận

phù hợp tức là phải đổi mới tư duy. Quá trình đổi mới này đã diễn ra đầy khó

khăn và thử thách. Đổi mới ở đây không phải là sự phủ định sạch trơn cái cũ

để xây dựng cái mới mà phải đảm bảo tính nguyên tắc của đổi mới: vừa tiếp

thu thành tựu của văn học giai đoạn trước đó (1945- 1975), vừa khám phá

những hiện tượng cuộc sống mới qua cách nhìn mới về hiện thực, đặc biệt về

con người. Trong sự đổi mới ấy, đổi mới cách nhìn về con người là quan

trọng nhất vì con người là đối tượng trung tâm của văn học. Nó là thước đo sự

tiến bộ nghệ thuật và thể hiện thế giới quan của người nghệ sĩ trước cuộc

sống. Mỗi nhà văn có một cái nhìn, cách đánh giá, tầm nhận thức, sự lý giải

về con người. “Đây không phải là vấn đề miêu tả tâm lý nhân vật mà cơ bản

là vấn đề chủ nghĩa nhân văn, là quan niệm về con người” [108, tr.62]. Trong

tình hình đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá đang vận động và biến

đổi, sự thay đổi tư duy văn học là đòi hỏi khách quan, phù hợp với quy luật

vận động nội tại của đời sống và của bản thân văn học. Trong xu thế đó, sự

đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người là dấu hiệu của sự đổi mới về

chất của nền văn học Việt Nam trong giai đoạn mới.

1.3.2. Sự vận động đổi mới văn học sau 1975 qua một số tác phẩm

tiêu biểu (trong phạm vi tiểu thuyết)

Giai đoạn 1945- 1975, nền văn học dân tộc gắn liền với sự nghiệp giải

phóng đất nước. Văn học trong hoàn cảnh ấy phải mang tính thẩm mĩ của thời

đại là đề cao, ca ngợi con người anh hùng, tính cách anh hùng. Do đó, một

loạt tác phẩm mang âm hưởng sử thi ra đời: Xung kích, Vỡ bờ, Đất nước đứng

lên, Cao điểm cuối cùng, Trước giờ nổ súng, Mẫn và tôi, Hòn đất, Dấu chân

người lính…. Công chúng văn học trong một thời gian dài sống cùng không

khí văn học mang cảm hứng sử thi.

35

Sau 1975, đất nước ta bước sang một thời kỳ mới, từ chiến tranh chuyển

sang hòa bình, từ “đời sống bất bình thường của “ngày có giặc” (chữ dùng

của Hữu Thỉnh) chuyển sang đời sống bình thường” [12, tr.2]. Giai đoạn

1975- 1985 là bước chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh

sang nền văn học của thời kì hậu chiến. Về cơ bản, nền văn học vẫn tiếp tục

phát triển theo những quy luật và với những cảm hứng chủ đạo trong thời kì

chiến tranh chống Mĩ cứu nước. Đề tài chiến tranh và khuynh hướng sử thi

vẫn nổi trội: Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng

Oánh), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Năm 1975, họ đã sống như

thế (Nguyễn Trí Huân),... Tuy nhiên, đến đầu những năm 80, tình hình kinh tế

xã hội có nhiều biến động phức tạp cùng với quan niệm về các giá trị, chuẩn

mực, mục tiêu phấn đấu thay đổi khiến không ít người sáng tác “bày tỏ băn

khoăn nên tiếp cận hiện thực cuộc sống như thế nào: tô hồng hay bôi đen?

Viết về nhân tố tích cực hay những yếu tố tiêu cực?...” [116, tr.364].

Theo Nguyên Ngọc, thời gian này là “khoảng chân không trong văn học”.

Nhưng đây cũng là giai đoạn nhiều nhà văn mẫn cảm với cuộc sống đã nỗ lực

bằng ngòi bút của mình trên nhiều đề tài khác nhau, với những tìm tòi trăn trở

về các vấn đề xã hội, về số phận con người. Họ nhận thức được vấn đề con

người đặc biệt là chiều sâu của đời sống cá nhân là mối quan tâm hàng đầu

chứ không phải là sự kiện. Có những vấn đề hôm qua văn học chưa kịp nói

đến, chưa được đề cập, còn nhìn nhận một cách phiến diện thì nay có điều

kiện được xem xét. Ý thức cá nhân với nhu cầu đời thường đã trở lại giống

như nó vốn có. Lúc này, văn học không chỉ đề cao cái cao cả, sự xả thân mà

còn đề cập đến cái bi, cái thấp hèn, cái bản năng của con người. Trong những

tiểu thuyết viết về chiến tranh, chất sử thi đã “bắt đầu nhạt hơn so với trước

đó khi người viết tái hiện những khó khăn, tổn thất, những thất bại và xu

hướng nghiêng về con người và cuộc sống đời thường” [133]. Bích Thu trong

36

Theo dòng văn học, cho rằng văn xuôi sau 1975 đã chuyển dần tư duy sử thi

sang tư duy tiểu thuyết: “cảm hứng sáng tạo chuyển từ ngợi ca, tự hào, khâm

phục đến chiêm nghiệm, lắng đọng, suy tư. Thay vì cách nhìn đơn giản, rạch

ròi thiện ác, bạn thù, cao cả, thấp hèn là cách nhìn đa chiều, phức hợp về

hiện thực và số phận con người” [116, tr.365]. Đề tài viết về con người trong

lao động sản xuất, thế sự đời tư, các nhà văn miêu tả con người có cả: “rồng

phượng lẫn rắn rết, thiên thần và quỷ sứ”. Theo nhà văn Mạc Phi: “viết về cái

ác, cái xấu trong bản thân họ và trong cuộc sống đau đớn có phần do họ gây

nên, thực chất là nhân đạo, là có tinh thần dân chủ. Né tránh họ, cấm kỵ

không viết về cái ác, cái xấu đó chính là vô nhân đạo, vô dân chủ” [116,

tr.370]. Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng: cần biết nhìn nhận con người

như một sinh thể tuân theo quy luật sinh tồn của tự nhiên, có mặt tốt và có

mặt xấu. Như vậy, hầu hết các nhà văn đều có cái nhìn đa chiều về con người,

chú ý tới yếu tố thế sự đời tư của con người trong hiện thực cuộc sống đa

dạng. Đây là dấu hiệu của sự vận động đổi mới văn học. Các tác phẩm mang

tính chất “dò đường”, tạo tiền đề cho sự đổi mới về cách nhìn con người, đặc

biệt là con người cá nhân như: Miền cháy (1977, Nguyễn Minh Châu), Mở

rừng (1977, Lê Lựu), Đất trắng (1979- 1984, Nguyễn Trọng Oánh), Ván bài

lật ngửa (1982 – 1988, Nguyễn Trương Thiên Lý), Hạt mùa sau (1984,

Nguyễn Thị Ngọc Tú), Giấy trắng (1985, Triệu Xuân)...

Dưới đây, chúng tôi điểm lại một số tác phẩm tiêu biểu được xuất bản

trong khoảng thời gian sau 1975 đến trước thời kỳ Đổi mới nhằm tái hiện lại

không khí văn học (trong phạm vi tiểu thuyết) để thấy rõ quá trình vận động

của văn học Việt Nam từ sau 1975, trên đường tìm tòi, đổi mới. Có thể coi

Ván bài lật ngửa là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu cho sự tìm tòi, đổi

mới của văn học Việt Nam hiện đại sau 1975. Thành công của tiểu thuyết là

xây dựng nhân vật chiến sĩ tình báo Nguyễn Thành Luân dạn dày mưu trí, linh

37

hoạt trong hoạt động cách mạng dưới chính quyền Ngô Đình Diệm. Cái nhìn

con người cách mạng ở đây không còn đơn giản. Họ suy tư, tính toán trước

những hoàn cảnh, tình huống gay cấn liên quan đến sự nghiệp cách mạng và

ngay cả sự sinh tồn của họ. Đầu óc của nhân vật Luân luôn phải “căng” ra để

đấu trí với Ngô Đình Nhu, trong “một ván bài mà mọi con bài đều lật ngửa”.

Luân phải cố gắng đóng đúng vai trò một phần tử quốc gia kháng chiến và

đặc biệt anh phải biết lợi dụng tình hình thực tế của kẻ thù để khơi sâu mâu

thuẫn trong nội bộ của chúng. Để có chỗ đứng trong gia đình Ngô, Luân trải

qua không ít những thử thách cam go của Nhu. Chỉ cần sơ hở một chút thì

Luân có thể mất tính mạng. Do đó, mỗi bước hành động của Luân là sự cân

đo, đong đếm chi tiết, cẩn thận.

Nhà văn đi sâu vào thế giới nội tâm phản ánh chân thực những tâm tư của

nhân vật. “Luân nhớ mà thèm da diết cái cảnh đầm ấm quây quần anh em

đồng chí, cười nói thoải mái, vui ra vui, giận ra giận… Hằng ngày anh phải

sống trong màn kịch căng thẳng, từ cái cười cái nhún vai...đều đòi hỏi suy

tính…Liệu thần kinh anh đủ sức chịu đựng nổi cuộc tra tấn độc địa này đến

bao lâu. Ngay trong giấc ngủ, anh không có quyền mớ. Những bộ phận ghi

âm cực nhạy thu đến nhịp thở của anh” [69, tr.144]. Những tổn thất về tinh

thần đối với Luân là quá lớn. Khi anh chứng kiến cái chết của đồng bào, đồng

chí mình: ông giáo Cần, bà con ở Bầu Mây.., anh không khỏi xót xa và uất

hận trước tội ác của kẻ thù. Khoác trên mình bộ quân phục của người lính bên

kia chiến tuyến, nó không cho phép anh bộc lộ cảm xúc thật trước cái chết ấy.

Đó là sự dồn nén, ức chế tinh thần khủng khiếp mà anh phải chịu đựng. Bên

cạnh đó, Luân còn chịu những điều tiếng xấu xa, cái nhìn khinh bỉ, nghi ngờ

của đồng bào mình. Hằng ngày, Luân hy sinh thầm lặng bản thân mình cho

Tổ quốc. Hơn 20 năm qua, số phận của Luân chia đều: “một nửa trong tư thế

cán bộ công khai đảm đương các chức vụ khác nhau, sống tập thể….; một

38

nửa ngược hẳn - anh phải mang bộ quần áo ngụy, phải nghe phải nhìn phải

nói phải làm những điều đôi khi tự chúng sỉ vả anh, chen giữa đám nhơ

nhuốc, vượt những thử thách kỳ quặc đến khốn khổ….Từng phút từng giây

anh phải đối phó với trắc trở, lừa gạt, lật lọng, gian trá nham hiểm, láo

khoét…Anh sợ “chừng ấy chất độc liệu có len lỏi phần nào vào cơ thể anh

không…Sự cám dỗ của quyền lực, tiền, gái..” [69, tr.200]. Như vậy Nguyễn

Trương Thiên Lý không còn đơn giản cái nhìn nghiêng về ngợi ca con người

cách mạng. Giờ đây nhân vật của ông được đặt trong nhiều mối quan hệ xã

hội giằng chéo, rối rắm. Luân trong quan hệ với tổ chức cách mạng và các

đồng chí trong chiến khu (Sáu Đăng, Sa, Quyến…). Bên cạnh đó, Luân còn

có quan hệ với kẻ thù (gia đình họ Ngô, các phe phái trong chế độ Việt Nam

cộng hòa), với các tổ chức tôn giáo đối lập (Cao Đài, Hòa Hảo), tổ chức gián

điệp nước ngoài (phòng nhì Pháp, CIA, Trung Quốc…), với những người

sống cận kề hàng ngày (lái xe Lục, vệ sĩ Thạch). Đồng hành cùng Luân là nữ

tình báo viên Thùy Dung, người mà anh hết mực yêu thương. Cũng như Luân,

Dung cũng chịu nhiều thiệt thòi khi hoạt động trong Tổng Nha Cảnh Sát Quốc

Gia. Mối tình giữa cô và Luân ban đầu là một kịch bản nhằm che mắt kẻ thù.

Nhưng chính lý tưởng cách mạng giúp họ gần nhau bằng một tình yêu chân

thực. Trong cuộc chiến với kẻ thù, họ “không lấy nhau là hy sinh mà lấy nhau

cũng là hy sinh”. Sống trong hoàn cảnh phức tạp như vậy, nhân vật của của

Nguyễn Trương Thiên Lý phải “căng” con người mình ra, lí trí tỉnh táo, khôn

ngoan để đối phó linh hoạt với mọi tình huống. Đúng vậy: “mỗi người trong

cuộc chiến đấu này, đều phải chịu mất mát” [69, tr.133].

Với Giấy trắng, Triệu Xuân có cái nhìn sinh động về con người thông

qua câu chuyện tìm lối thoát cho xí nghiệp Hy Vọng đang rơi vào tình cảnh

thiếu giấy in, vốn hết. Song hành với nó là cuộc chiến đầy gay go, quyết liệt

giữa hai bên trong “phương án Giấy trắng”: một bên là những người tiến bộ,

39

năng động (Thịnh, Lộc, Sáng..) đang tìm mọi cách tháo gỡ khó khăn cho xí

nghiệp với một bên là những lực lượng bảo thủ, tiêu cực, cơ hội luôn ngăn

cản, chống phá (Thân, Hài, Phát, Tư Lợi…). Mặt tốt – xấu của con người

được bộc lộ rõ rệt, những suy tư, những mưu tính của con người hiện lên sống

động. Giấy trắng là một bức tranh thu nhỏ của cuộc cải cách cơ chế kinh tế –

xã hội. Trong cuộc đổi mới cơ chế cũ, con người cách mạng chân chính đã

trải qua những khó khăn và mất mát. Và cái nhìn về con người không còn

phiến diện nữa.

Cũng trong dòng vận động của văn học, Nguyễn Thị Ngọc Tú với Hạt

mùa sau có cái nhìn con người phong phú, đa dạng ở lĩnh vực nghiên cứu

khoa học. Từ câu chuyện lai giống ở một Viện nghiên cứu cây lương thực

nhưng người đọc thấy: “hiện thực cuộc sống được tái hiện trong nhiều mối

quan hệ dằng dịt, phức tạp với biết bao cảnh đời ngang trái éo le, bao hoàn

cảnh nổi chìm, gian khổ” [34, tr.308] và sự tốt xấu xen lẫn trong mỗi con

người, do mặt này hay mặt kia lấn át: “từ đó gây nên sự phân hóa, hoặc đồng

hóa trong mỗi gia đình, tức mỗi tế bào của xã hội” [33, tr.133]. Một cuộc đấu

tranh diễn ra không gay gắt mà âm thầm, phức tạp trong mỗi con người, trong

phòng thí nghiệm, từ trong mỗi gia đình, mỗi tổ công tác đến hợp tác xã hình

thành nên hai tuyến phân hóa trong đội ngũ cán bộ khoa học: một bên là kỹ sư

Triều và một số người ủng hộ anh (Trung, Nghĩa, Hảo..); một bên là ông

Thắng – Viện trưởng và một số kẻ nịnh bợ (Bính, ông Quynh…). Bên cạnh

đó, có loại nhân vật lừng khừng đứng giữa như Khang, Hy…Trong trận tuyến

này, những người tốt tự hoàn thiện mình đấu tranh chống cái ác, để trở thành

lớp người mới của xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên Nguyễn Thị Ngọc Tú không

đơn giản nghiêng về ngợi ca. “Tính cách, phẩm chất nhân vật hiện lên là qua

các xung đột, đấu tranh quyết liệt với các hiện tượng, nhân vật tiêu cực” [95,

tr.233]. Từ dòng chảy chính của câu chuyện lai tạo giống ở một Viện nghiên

40

cứu, nhà văn đã vẽ trước người đọc bức tranh rộng lớn xã hội Việt Nam sau

những năm tháng chiến tranh.

Như vậy qua một số tác phẩm, chúng ta nhận thấy tư duy văn học đang

có sự vận động từ tư duy sử thi chuyển dần sang tư duy tiểu thuyết. Tuy

nhiên, không thể khẳng định tư duy tiểu thuyết mới xuất hiện ở thời kỳ sau

1975. Thật ra, nó đã xuất hiện ở thời kỳ văn học hiện thực phê phán 1930 –

1945 với các tác phẩm của nhà văn: Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố,

Nguyễn Công Hoan…. Khi lịch sử dân tộc bước vào thời kỳ đấu tranh mới

chống Pháp – Mỹ, văn học làm nhiệm vụ cách mạng, cổ động bằng các tác

phẩm mang tính sử thi, ngợi ca đáp ứng nhu cầu hiện thực. Và khi cuộc sống

thời bình trở lại, tư duy tiểu thuyết vận động và phát triển. Mọi vấn đề của

con người cần được nhìn nhận trong tính đa chiều, đa diện. Các tác giả như

Nguyễn Trương Thiên Lý, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Triệu Xuân… đã chứng

minh năng lực cây bút khi nắm bắt hiện thực con người trong dòng văn học

đang có sự vận động đổi mới.

41

Chương 2

SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU

THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ TỪ PHƯƠNG DIỆN

NỘI DUNG

Có thể nói, sự chuyển dịch cái nhìn từ con người sử thi sang con người

thế sự – đời tư đã mở rộng chiều sâu tư duy văn học và năng lực sáng tạo của

nhà văn. Trong tiểu thuyết Người cùng quê của nhà văn Phan Tứ, dấu ấn của

sự đổi mới cách nhìn con người được thể hiện ở sự khám phá con người trên

bình diện con người cá nhân.

2.1. Con người cá nhân

Lev Tolstoi đã từng nói: “Một trong những lầm lẫn vĩ đại nhất khi xét

đoán về con người là chúng ta hay gọi và xác định người này thông minh,

người kia ngu xuẩn, người này tốt, người kia ác, người thì mạnh mẽ, người thì

yếu đuối, trong khi con người là tất cả: tất cả các khả năng đó, là cái gì luôn

luôn biến đổi” [107]. Nghĩa là chúng ta phải xem xét con người trong tính đa

diện, nhiều mặt của nó thì nhà văn mới khám phá được chiều sâu của nhân

vật. Nhà phê bình Lý Hoài Thu nhấn mạnh: “Không thỏa hiệp, không khoan

nhượng với cách nhìn nhận con người bằng cái nhìn đơn giản, một chiều, chỉ

thấy mặt tốt đẹp, mặt lý tưởng, các nhà tiểu thuyết đương đại đã đặt nhân vật

vào vòng xoay nghiệt ngã của cuộc đời với đầy đủ các sắc màu, các cực đối

lập: nhân tính và phi nhân, đạo lý và thất đức, bản ngã và phi bản ngã... và

cũng không né tránh những mặt khuất lấp của cuộc đời, kể cả "góc tăm tối

cuối cùng” [106].

Với Người cùng quê, Phan Tứ không còn cái nhìn một chiều về người

42

anh hùng, giờ đây họ cũng mang nét đời thường như bao người khác. Tiêu

biểu trong tác phẩm là nhân vật Cả Chanh – phó chủ tịch tỉnh, tỉnh ủy viên,

Giám đốc Sở hỏa xa. Chanh hy sinh bản thân mình cho đất nước (hoạt động

từ những ngày đầu cách mạng nổ ra), chịu tù đày đau đớn nhưng không hẳn

anh không dành những giây phút riêng tư nghĩ về gia đình, về hạnh phúc của

cá nhân. Con người xả thân vì nước nhưng cũng nghĩ về lợi ích của bản thân.

Những day dứt, trăn trở của Cả Chanh về lợi ích đất nước và lợi ích cá nhân

được miêu tả rõ nét qua dòng suy nghĩ: “Mỗi khi nghĩ đến Cam, Cả Chanh lại

buồn nhức nhối. Là con trưởng nam, anh được cha lo cho học chữ, học nghề

nhiều hơn, với hy vọng là đứa trước rước đứa sau, con béo kéo con gầy.

Nhưng anh không giúp được gì cho em út cả. Anh nhận mà không trả, đúng

hơn là chỉ trả cho Tổ quốc mà gần như bỏ mặc các em. Anh cố gắng tìm

thằng Cam đưa về quê, thu xếp cho nó ăn học…Chao ôi, nó có hiểu cho anh

rằng sau bấy nhiêu năm tra tấn tù đày, đau dạ dày nôn ra máu, vẫn chỉ được

hưởng mỗi ngày hai bữa cơm hẩm với rau luộc chấm nước muối” [121,

tr.425]. Ở đây, Chanh nhận thấy trách nhiệm của người con, người anh trong

gia đình mà anh không thể thoái thác. Con người cách mạng như Chanh

không còn suy nghĩ đơn giản về tình cảnh riêng của bản thân trong bối cảnh

chung của đất nước. Anh vừa lo việc nước vừa lo việc nhà, mong những điều

tốt cho người thân của mình. Trong khi Cam nằng nặc đòi về miền Nam để

“ngửi mùi thuốc súng vài tháng cũng được” thì Chanh lại muốn: “thu xếp cho

Cam tiếp tục nghiên cứu ở Liên Xô, làm luận án tiến sĩ theo đề nghị của bạn

là hơn cả. Anh Bảy Quý biết nó là đứa chỉ học chứ không ham tiền, ham ăn

chơi, chắc sẽ vui lòng giúp, tiếng nói của một ủy viên dự khuyết Bộ chính trị

nổi tiếng liêm khiết hẳn là nặng ki lô lắm” [121, tr.449]. Những trăn trở, suy

nghĩ của Chanh cũng xuất phát từ quan hệ máu mủ, huyết thống trong gia

đình, thể hiện đạo lý tình nghĩa từ bao đời nay của người Việt Nam.

43

Người cách mạng sau 1975 nghĩ về đời tư của mình không còn là ý

nghĩ thoáng qua như ý nghĩ của chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng. Có lúc

chị nghĩ nếu cả hai vợ chồng cùng hy sinh thì ai sẽ nuôi con nhưng đó chỉ là

suy nghĩ như “tia chớp yếu ớt, rất xa trong những đêm mưa mát dịu, không hề

làm xao động tới cảnh ấm cúng của mẹ con trong nhà ” [98, tr.269]. Giờ đây,

người cách mạng nhận thức về hoàn cảnh riêng của mình một cách sâu sắc.

Phan Tứ đã có cái nhìn tinh tế khi đề cập đến cuộc đời riêng tư của cá nhân.

Suy cho cùng thì “số phận và tự do của cá nhân gắn chặt với vận mệnh và tự

do của toàn xã hội, "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện để phát

triển tự do của tất cả" (C. Mác), bởi vì cách mạng xã hội chủ nghĩa xét đến

cùng, là nguyện vọng tự giải phóng của cá nhân và chủ nghĩa cộng sản”

[108]. Sau cái chết của đứa con trai đầu lòng vì bom đạn, cô Thùy – vợ Chanh

phát bệnh. Trước gia cảnh như vậy, Chanh không đành lòng nhìn vợ con đau

khổ, anh đành: “viết đơn xin nghỉ dài hạn để chữa bệnh và thu xếp việc nhà”

[121, tr.498] và “gượng mãi theo nghề xe lửa chạy đêm, sa lưới mãi trong bụi

tre gai của Ba Mậu, cố nén mãi những cơn đau dạ dày, khoán trắng mãi việc

kiếm sống nuôi nhà cho Thùy, không được nữa rồi. Đau lòng đến mấy cũng

đành rời hỏa xa thôi. Cả Chanh phải chịu rẽ bước đi ngang” [121, tr.516].

Anh ý thức được trách nhiệm của một người cha, một người chồng chưa chăm

lo cho vợ con, chưa làm đúng vai trò trụ cột trong gia đình. Anh muốn gánh

một phần trách nhiệm trong đó. Không chỉ nhận thức về hoàn cảnh riêng mà

Chanh cũng tự hiểu bản thân mình và tra vấn nghiêm khắc: “quất roi hành

xác, tự khép tội là mang nặng tư tưởng bi quan dao động, hoài nghi cá nhân

chủ nghĩa, mất lập trường…Rồi tới lúc khác, anh nhận ra mình chỉ mang

trong lòng một nỗi buồn chung chung….Buồn vì trước kia đã quá tin người,

quá bốc đồng, quá đơn giản, quá chúi mũi hùng hục, cho đến khi quả lắc

đồng hồ vung hết đà bỗng đánh ngược trở lại, quật vào lưng anh một đòn

44

phản phúc..” [121, tr.679]. Như vậy, người anh hùng trong cách nhìn của

Phan Tứ đã có ý thức bổn phận với gia đình. Đó chính là tiếng nói tự nhận

thức về bản thân mình, về hoàn cảnh riêng của mình. Điều này khiến hình

tượng người anh hùng trở lên chân thật với đời thường. Nhà văn đã trả lại cho

con người những giá trị vốn thuộc về họ mà văn học trước năm 1975 đã “làm

ngơ” hoặc cố né tránh. Cái ý thức gia đình cũng tồn tại trong bộ phận lớn

người lính được Phan Tứ miêu tả qua vấn đề ruộng cày. Họ cầm súng vì hòa

bình đất nước vì ấm no hạnh phúc muôn dân, nhưng khi những người thân

của họ sống trong cảnh nghèo khổ, họ dấy lên suy nghĩ: “ai lại để mãi cái

cảnh ngược đời, mình đi đánh giặc cứu nước, trong khi cha mẹ già cùng vợ

yếu con thơ cứ ăn cơm vay cày ruộng rẽ mãi mãi, vỗ cho mấy nhà giàu địa

chủ mập ú! Anh em giấu nhau gửi rất nhiều thư lên trung đoàn, xin phép

được ghi tên trước để khi xã mình phát động thì được phép về góp một tay ”

[121, tr.826]. Phải chăng, lợi ích quốc gia phải đi liền với lợi ích của cá nhân

thì giá trị cách mạng mới thực sự có ý nghĩa.

Cũng là sự nhận thức về bản thân trong hoàn cảnh lịch sử đầy biến

động, Khánh – sinh viên trường luật trong những ngày đầu tham gia mặt trận

Việt Minh, hăng hái thu mua súng cho cách mạng, vận động bọn địa chủ ra

đầu hàng cách mạng. Anh biết mình có công với cách mạng và tự thú nhận:

“không dám làm như Cả Chanh…..Tự tìm đến cách mạng trong đêm tối, chịu

đòn tra tấn” [121, tr.267], từng lúc thấy “mình là điệp viên quốc tế, là nhà

ngoại giao, là vị nhân sĩ trí thức, và như thế mới xứng đáng mười mấy năm

đèn sách” [121, tr.269]. Khánh hãnh diện, hồ hởi vì được móc nối với cách

mạng. Tuy nhiên, con đường Khánh đi không cùng hướng với đồng chí của

mình bởi anh đã nhận thức về sự tồn tại của bản thân: “Tại sao trong người

tôi luôn luôn có ít nhất một đôi kéo cưa lừa xẻ? Tại sao vô số người khác có

thể tin Đảng, tin chính nghĩa kháng chiến, tự tin đi theo cách mạng, còn tôi

45

lại cứ chập chờn, ngả nghiêng chao đảo, không tin ai mà cũng chẳng tin

mình?...Bên trong, tôi vẫn không biết mình thực sự là ai! ” [121, tr.841].

Bruce Weil và Heineman đã nói: “Tình yêu thương của con người có thể loại

bỏ mọi sự độc ác, bất công, vô cảm. Đôi khi, để yêu được một điều giản dị,

bình thường nhất trong cuộc đời này, người ta phải đi qua một hành trình của

máu chảy, chết chóc và tuyệt vọng”. Tất nhiên con người phải trải qua những

sai lầm, những ngộ nhận và bi kịch để tỉnh ngộ. Khánh cũng vậy. Phải chăng,

bản thân Khánh giống như lời tác giả Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Không

phải ngay từ đầu con người có thể trả lời được câu hỏi “Ta là ai”; “nghĩa là

một quá trình tự tìm mình: tìm tư tưởng, tìm tâm hồn đích thực của mình, tìm

bầu trời cảnh vật và những con người của riêng mình trong thế giới vô cùng

tận cả thiên hạ này, tìm ngôn ngữ giọng điệu không phải của ai mà của riêng

mình” [72].

Sau 1975, cuộc sống thường nhật đầy những biến động, ở đó con người

hàng ngày đối diện với nhiều xáo trộn phức tạp. Đây cũng là thời điểm để

nhiều nhà văn có điều kiện quan tâm đến đời tư, số phận từng con người.

Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn khác, hướng ngòi bút của mình khám phá

bình diện đời tư của cá nhân một cách chân thật. Phan Tứ soi tỏ cuộc sống của

nhân vật với những niềm vui, nỗi buồn, những suy tư về gia đình, về hạnh

phúc. Cả Chanh là nhân vật trung tâm của tác phẩm để Phan Tứ gửi gắm

nhiều tư tưởng, tình cảm. Không mang vẻ đẹp ngoại hình của anh hùng sử thi

trước năm 1975, Chanh chỉ “cao một mét sáu mươi, mắt hơi xếch, cằm chẻ

đôi” [121, tr.427] và cũng có điểm yếu như người bình thường: “cái tật suy

bụng ta ra bụng người, nghe khen ai là gật ngay, còn nghe chê mới bắt đầu

ngờ ngợ, hỏi vặn” [121, tr.499]. Anh còn là người mang nặng tư tưởng gia

đình. Điều này khiến Chanh phải chấp nhận điều kiện của bí thư khu ủy là

Chanh tham gia đoàn Trung ương ra Bắc để họp đồng thời có trách nhiệm

46

chữa bệnh, chữa lành các vết thương, đi tham quan nước ngoài…Chanh

không muốn đi vì công tác cách mạng còn nhiều khó khăn, ra đi thì ai sẽ thay

thế công việc của anh. Nhưng anh bí thư khu ủy đánh trúng chỗ yếu nhất của

Chanh: “Thùy có thai hơn ba tháng, ra Bắc sinh là phải. Con Bình mười hai

tuổi, đủ sức theo các bạn thiếu nhi ra học, không thể tập viết trên lá chuối

mãi được. Và anh ra đi cũng phải..” [121, tr.393]. Anh cũng không ngại ngần

khi bộc lộ công khai nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con. Đó là tình cảm gia đình trỗi

dậy: “nỗi nhớ nhà da diết qua hết chiều rộng của Đông Dương đến căn nhà

tranh nhỏ nằm nép trên bờ sông Linh, đến người vợ rất hiền lành đang nuôi

trong bụng đứa con thứ hai của anh, ở nơi có voi rống cọp gầm và máy bay

gào thét tìm giết hai mẹ con” [127, tr.691]. Nhắc đến chuyện vợ con thì nhiều

cậu lính trẻ tuy yêu vợ đấy nhưng vẫn gạt phắt đi vì coi đó là tầm thường, yếu

đuối. Trái lại, Chanh không hề che giấu tình vợ chồng trước mặt bọn địch

cũng như trước những ông bà cán bộ chê trách “tình cảm cá nhân” khi đất

nước loạn lạc. Bởi Chanh có lý do hết sức chính đáng: “tôi yêu vợ tôi chứ

không mê vợ người khác. Hai chúng tôi sống nay chết mai, hễ sai chỗ nào xin

các đồng chí cứ nói” [121, tr.138]. Dưới con mắt của Phan Tứ, người anh

hùng cách mạng không chỉ biết cuộc sống chiến tranh mà họ cũng có những

cảnh sinh hoạt đời thường. Đó là cảnh Chanh bắt cá cùng phường Linh Hạ,

săn thú trong rừng…Bên cạnh đó, Chanh có nỗi buồn khi thằng em trai Bảy

Bòng đứng về hàng ngũ kẻ thù, nhưng dường như cả nhà anh đều chịu ơn che

chở của y. Hắn được xếp vào loại ác ôn mà Đảng phải xử tử, khiến Chanh

phải chua xót: “thật không hở trời? tại sao cách mạng lép vế đến cái độ cả

một nhà theo cách mạng bấy nhiêu năm bỗng phải núp bóng một ác ôn phò

trợ? Về sau anh em gặp nhau thế nào, bốn đốm lửa mắt xói vào nhau, hai

họng súng chĩa vào nhau, ai sẽ bóp cò trước một giây ?” [121, tr.142]. Nghĩ

về gia đình, Chanh còn nhận ra: “cuộc sống hỗn tạp đầy rối ren đang chen

47

vào gia đình anh ngày càng sâu, xốc xới lên những thứ đau xót tưởng đã chìm

sâu dưới đáy trong thời chống Pháp: mẹ chồng nàng dâu, anh em ruột giành

gia tài, chị mang lựu đạn đi lùng em, em để mặc cho chị đi ở tù….Út Thanh

Yên đã dọa thêm: em lấy chồng ác ôn đó nghen, tội vạ gì mà không ảnh

hưởng của nhà Ngô..” [121, tr.219]. Không chỉ là con người mải mê với cách

mạng, Cả Chanh dường như quan sát nhiều hơn tới những mối quan hệ xung

quanh mình. Những rối ren trong cuộc sống thường nhật ở làng Linh Lâm ấy

là dấu hiệu rạn nứt tình cảm gia đình, phá vỡ nền tảng đạo đức truyền thống

bấy lâu.

Phan Tứ hướng ngòi bút quan tâm tới số phận con người trong hoàn

cảnh chiến tranh, những được – mất của con người. Bên cạnh những hào

quang của chiến thắng vẻ vang là những tổn thất của quân dân ta và cả những

tác động của nó để lại gây cho con người dằn vặt trong tâm hồn. Năm Chò

vốn là anh lính khố đỏ đi đánh thuê, vô kỷ luật, gặp Cả Chanh, vì mến phục

Chanh mà Chò đi làm cách mạng và từng bước trưởng thành trong quân ngũ

cách mạng. Con người trải qua đời lính từ những ngày cầm súng, chứng kiến

nhiều cái chết của đồng bào, của đồng đội mình khiến anh chịu đựng: “Nỗi

băn khoăn dày vò anh về người ở lại chìm sâu dưới những trăm nỗi lo toan

hàng ngày, chỉ trồi lên hành hạ anh về đêm, mỗi ngày đêm như thế lặng lẽ

khắc sâu thêm đường nhăn trên trán và để lại thêm một vài sợi bạc trên tóc”

[121, tr.896]. Đó là một sự thật mà những người lính như Năm Chò phải đối

diện hàng ngày. Chiến tranh gây ra bao nhiêu mất mát, tổn thất, nhưng có kẻ

mưu toan lấy cuộc chiến làm cơ hội thăng tiến. Nhân vật Khánh trong buổi

đầu tham gia phong trào Việt Minh với một: “giấc mộng thầm kín làm một

Napôlêông trong cách mạng vẫn chập chờn không rời Khánh” [121, tr.266].

Khánh nhận ra: “đây cũng là dịp cho những người táo bạo vọt từ cai đội lên

tướng soái, từ anh cạo giấy lên cầm đầu một nước, từ cậu sinh viên thất

48

nghiệp đang coi ấp cho quan phủ biến thành chính khách lẫy lừng với một

đảng lớn sau lưng và một đoàn hùng binh trước mặt!” [121, tr.266]. Tự anh

phá cặp da đắt tiền để may một bao súng rất đẹp với ý nghĩ: “Giấu các thứ ở

nhà vô ích, đem cho Cả Chanh mượn để chỉ huy còn được ơn nghĩa về sau”

[121, tr.271]. Đó là những toan tính vừa hướng về cách mạng nhưng cũng đầy

thiên hướng lợi ích của bản thân. Làm công tác địch vận, Khánh được đánh

giá là: “một tri thức trẻ, sớm tiến bộ, có tài, phải cái kiêu ngầm và thích sống

cô độc” [121, tr.542]. Cuộc đời của anh ta không phải là con đường thẳng như

Chanh, Cam, Tô Xáng, Bảy Quý…mà nó giống như một đồ thị hình sin,

hypecbôn. Hoàn cảnh của anh phức tạp, bị các vị lãnh đạo xếp vào hàng: xuất

thân địa chủ quan lại, bản thân tiểu tư sản (lớp trên). Khánh từng nuôi mộng

làm anh hùng cách mạng nhưng thực tế Khánh rơi vào bi kịch cuộc đời. Nhận

thức được hành vi của bản thân và Khánh tự cho mình là: “kẻ lừng khừng,

chao đảo, ngả nghiêng. Nuôi ảo tưởng là đứng trên mọi cuộc ẩu đả. Cố giữ

tâm hồn kẻ sĩ, an bần lạc đạo, rốt cuộc thì bần không chịu nổi, mà đạo thì bị

xói mòn mỗi ngày một ít” [121, tr.193] và trượt dài trên con đường đời, xa rời

đồng chí. Cuối cùng anh ta rơi vào bi kịch và đứng về chiến tuyến của chế độ

Việt Nam cộng hòa. Tính cách của mỗi người không phải được định hình

ngay từ đầu mà thường xuyên biến đổi, luôn có những bước ngoặt, bước

chuyển nhiều khi không thể lường trước được. Khánh là kiểu nhân vật như

vậy. “Số phận bi kịch được đưa vào tác phẩm giúp cho nhà văn tiến hành sự

phân tích xã hội học đối với cấu trúc của xã hội hiện đại một cách chính xác,

đồng thời cả đi sâu nghiên cứu thế giới bên trong của cá nhân một cách sâu

sắc. Hơn thế, sự phân tích xã hội học nói đây có thể được thực hiện một cách

gián tiếp, không phải trong sự đụng độ của những lực lượng xã hội, mà trong

toàn bộ sự phức tạp và sự đa dạng của cá nhân con người buộc phải ứng xử

trong tình thế bi kịch ấy, phải mang số phận bi kịch ấy ” [81]. Một con người

49

phức tạp như Khánh, từng ăn nằm với Năm Bưởi nhưng không yêu Bưởi. Khi

đứa con rơi chào đời thì anh ao ước, thèm muốn nhìn đứa bé, tìm mọi cách để

gặp con, trào dâng tình phụ tử: “hình ảnh đứa con rơi lâu nay chập chờn khi

xa khi gần chung quanh Khánh, bỗng chốc hiện lên sắc nét như một thiên

thần mũm mĩm trong tranh Phục hưng. Không chịu nổi nữa. Anh phải thấy nó

ít nhất một lần, một lần thôi, tới đâu thì tới” [121, tr.642]. Và mỗi lần tìm đến

làng Linh Lâm thăm trộm đứa con thì hình ảnh Thùy ám ảnh Khánh, rồi anh

mang trong lòng tình đơn phương với Thùy, ao ước có được cô và bé Chung.

Trong một số truyện sau 1975, bình diện đời tư cá nhân của con người

đã được nhiều nhà văn quan tâm và miêu tả thành công. Đó là cuộc sống của

những nhà chính trị Nguyễn Ánh, Nguyễn Huệ… trong tác phẩm của Nguyễn

Huy Thiệp; lão Khúng trong truyện của Nguyễn Minh Châu…Trong Phiên

chợ Giát, đời tư cá nhân gắn với nhu cầu nhận thức trước thân phận, trước

hiện thực hàng ngày. Đó là “sự trăn trở về số phận con người ở một vùng đất

khắc nghiệt bởi thiên nhiên tàn khốc, bởi sự đổ nát do chiến tranh, giặc giã”

[49, tr.123]. Cuộc đời của lão Khúng là cuộc đời của con bò Khoang. Từ một

“ả gái tơ”, đến nay bò Khoang chỉ là một “mụ già hom hem”. Lão Khúng từ

một anh nông dân gan góc, khai phá rừng hoang thành miền đất lành, qua

nhiều biến cố giờ đây Khúng là một lão già ngẩn ngơ, hay bi quan nghĩ về cái

chết. Cử chỉ giải thoát cho con bò Khoang mang ý nghĩa “tự giải thoát”, thả

bò Khoang về chốn rừng thẳm sống nhởn nhơ, tự do, lão Khúng thực hiện ảo

tưởng tự do hoang dã của mình. Và đến khi: “từ rừng sâu con bò lại quay trở

về gặp chủ nó” nói lên “sự luẩn quẩn của số kiếp bò” nhưng cũng là “sự thất

bại não nùng của ảo tưởng tự do của lão Khúng” [36, tr.202]. Nhà văn đưa ra

hai khả năng giới hạn của số phận người nông dân. Người nông dân có thể trở

thành hung thần qua giấc mơ đầu tiên: “kẻ nâng chiếc búa tạ nện đánh vào

đầu con vật là lão chứ ai” [36, tr.202]; có thể trở thành nạn nhân trong giấc

50

mơ cuối cùng, Khúng “bị đánh bằng búa tạ, chính lão là con bò! …máu me

đầm đìa” [36, tr.202]. Trong Khách ở quê ra, nhân vật Khúng chiêm nghiệm

về buồn vui, về sự được – mất ở đời khi ngồi bên ly rượu cùng với Định:

“Phàm con người ta ở đời, có cái gì hơn người, sướng vì nó chuốc lấy chua

cay cũng vì nó?” [7, tr.526]. Cũng là một cái nhìn sắc sảo về thế giới con

người sau 1975, Nguyễn Huy Thiệp miêu tả những niềm vui, nỗi buồn của

những ông vua trong cuộc sống thường nhật. Miêu tả Nguyễn Ánh (Kiếm

sắc), Nguyễn Huy Thiệp đã cho người đọc thấy một ông vua thuở hàn vi: “ta

chỉ vỏn vẹn có ba thước đất chôn đây thôi ” [99, tr.222], cũng tỏ thái độ ghen

tức và vui sướng khi kẻ thù bị tiêu diệt: “Nguyễn Huệ chết…Ánh mừng lắm,

sai mở tiệc mừng” [99, tr.222]. Ngoài ra, nhà vua còn có cái tôi cá nhân: “Vua

Gia Long không đại diện cho ai, ông chỉ chịu trách nhiệm với mình….Nhà

vua có cách nhìn thực tiễn với chính từng khắc tồn tại của bản thân mình”

[100, tr.236]. Và “Vua Gia Long biết mình “đóng trò rất giỏi trong triều đình

(chấp nhận sự tung hô của bọn quần thần; là người cha nghiêm khắc của lũ

con ích kỷ, đần độn; người chồng đáng kính của các bà vợ tầm thường…);

ông biết mình già, bất lực, quốc gia nghèo đói…” [54]. Vua Gia Long ở đây là

người: “đa mưu, túc trí, tính kiên trì, không tin ai, dùng người lấy chữ hiệp

chữ lễ làm trọng, không coi nhân, nghĩa, trí, tín ra gì. Thỉnh thoảng Ánh vào

sâu trong đất Thuận Quảng, xuất quỷ nhập thần. Người Đàng Trong sợ Ánh

hơn là thích Ánh. Ánh đi đến đâu nghe nói cũng có mây đen cuồn cuộn bay

đằng trước, dân cứ thấy có mưa là biết Ánh vừa đi qua” [99, tr.281]. Tinh tế

hơn dưới con mắt của Nguyễn Huy Thiệp, nhà vua cũng là một người có tính

xảo quyệt: Nguyễn Ánh (trong Kiếm sắc) sau khi gây dựng cơ đồ thành công

đã cho người giết chết Đặng Phú Lân – kẻ hầu người hạ nhà vua những năm

tháng khó khăn trong buổi đầu dựng nghiệp. Đặng Phú Lân đã có nhiều can

gián Nguyễn Ánh làm việc của kẻ tiểu nhân (ăn mừng khi Nguyễn Huệ chết),

51

ngăn cản Nguyễn Ánh không sa đà vào tửu sắc… Và nhà văn cũng khai thác

khía cạnh nỗi niềm riêng tư trong đời của vua Nguyễn Ánh “nhà vua là một

khối cô đơn khổng lồ” [100, tr.234]. Ông cũng khai thác những mẩu chuyện

đời tư của vua Quang Trung, chuyện tình cảm giữa Nguyễn Thị Lộ và

Nguyễn Trãi.

Mỗi con người có một số phận riêng. Có thể nói, hình ảnh người phụ

nữ trước 1975 được Phan Tứ xây dựng khá thành công, với tình cảm đặc biệt.

Họ là những người phụ nữ vùng Trung Trung Bộ không kém phần trung hậu

đảm đang “hai tay việc nước, việc nhà gọn trơn”. Họ là má Bảy (Gia đình má

Bảy), mẹ Sáu (Mẫn và tôi). Đến các chị trung niên như chị Sính (Tấm ảnh,

trong Về làng), chị Năm Tân (Gia đình má Bảy), chị Tám Giàu, chị

S.22…(Mẫn và tôi). Các chị làm cách mạng và hy sinh rất lặng lẽ. Nhiều chị

tự gánh lấy trách nhiệm vừa dìu dắt, khích lệ, đồng thời vừa học hỏi lớp trẻ để

cùng chung tay lo việc nước. Qua hàng loạt cô gái trẻ như Ngọ, Sâm (Gia

đình má Bảy), Chín Cang (Mẫn và tôi)….đặc biệt là Mẫn, tác giả càng khẳng

định vai trò, vị trí, năng lực của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng

đất nước. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, Phan Tứ chưa đề cập sâu cuộc đời

riêng của người phụ nữ. Nhà văn vẫn nhìn họ bằng cái nhìn trân trọng, với

giọng ca ngợi đằm thắm, trữ tình. Lê Thị Đức Hạnh đã nói: “đúng là, một số

chương, đoạn của Phan Tứ còn ở mức ghi chép, kể lại, ít gắn bó với việc làm

sáng tỏ số phận nhân vật” [32, tr.140].

Trong Người cùng quê, cái nhìn của nhà văn về người phụ nữ phong

phú, đa dạng hơn. Nhà văn đi sâu vào tâm tư nguyện vọng của người phụ nữ

về hạnh phúc cá nhân. Mỹ Duyên – cô gái nhảy thông minh, xinh đẹp, là vợ

ba của quan Phủ Đỉnh. Sau khi tham gia công tác Truyền bá quốc ngữ, gia

nhập đoàn biểu tình cùng các chị phụ nữ, cô thay đổi suy nghĩ. Đoạn đối thoại

với Khánh bộc lộ thái độ sống hướng tới sự trung thực, lương thiện của cô:

52

“em không muốn lương thiện với bọn đểu giả, không thể thủy chung với đứa

năm thê bảy thiếp còn thêm vài tá nhân tình” [121, tr.309] và “thèm sống có

ích, thèm được thương yêu, thèm người ta coi trọng” [121, tr.309]. Đây là ước

muốn chính đáng của con người khi ánh sáng cách mạng về với họ: “cách

mạng là đổi đời mà anh” [121, tr.309]. Cô bộc bạch tâm tư: “rồi em sẽ lấy

chồng. Lấy một người không đẹp trai như anh, ít tài giỏi hơn anh, nhưng biết

quý vợ thương con là đủ…em sẽ vun đắp hết cho chồng con” [121, tr.311].

Qua đoạn đối thoại giữa Khánh và Mỹ Duyên, đọc giả thấy Phan Tứ trân

trọng phần hướng thiện, cả những chút thiên lương còn lại ở những người phụ

nữ như Mỹ Duyên. Đây là điểm nhìn đầy nhân văn của nhà văn dành cho phụ

nữ. Cho dù nhìn ở góc độ nào thì người phụ nữ của Phan Tứ đều đáng được

cảm thông và sẻ chia. Chị Sáu Lễ - phó chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ miền

Nam Trung Bộ nhưng lại là một trong những người “tin người đến cái độ

ngây thơ” [121, tr.499]. Vợ chồng chị Sáu Lễ đều hoạt động cách mạng, chịu

đầy mất mát: chịu tù ngục, đứa con trai duy nhất chết khi chị ở tù. Khi nhìn

cảnh sống bình dị của Cả Chanh, trong lòng chị dấy lên những khát khao đời

thường mà chị không có được: “nỗi thèm thuồng không cưỡng nổi. Dù sao chị

vẫn là đàn bà. Người đàn bà nào lại không khao khát có chồng bên cạnh, có

vài đứa con quấn quýt quanh mình, có căn nhà yên ổn với vườn rau, ao cá,

mọi thứ nấu nướng hay may vá dưới tay, có nhiều người thân sẵn sàng xúm

tới để chia sẻ vui buồn. Chị chưa từng được sống êm ấm trong vai người vợ,

người mẹ” [121, tr.560]. Đó là sự bất hạnh mà một người phụ nữ như chị phải

âm thầm chịu đựng. Những thầm kín riêng tư được Phan Tứ soi từ góc khuất

trong tâm hồn người cách mạng. Họ đã hy sinh hạnh phúc giản dị của đời

mình để phục vụ Tổ quốc. Cũng là nỗi đau mà một người mẹ như Năm Bưởi

phải trải qua. Sau nhiều năm ở tù, nhiều đợt tra tấn quá dữ, Bưởi về nhà với

thân hình còm cõi, hay khạc ra máu, mang thêm nỗi đau phải trả thằng Chung

53

cho Hai Khánh – cha nó. Cô xã đội ngổ ngáo năm xưa, với gò má nhọn…dám

ngồi rèn hay đánh búa chẳng thua ai, đi đâu cũng khoác cây súng kỵ binh

Nhật, lý sự đến mức bị gọi lóng là Năm Nhím. “Nay chỉ là người đàn bà khặc

khừ, xếp loại bảng đen, cấm ra khỏi thôn, mà không cấm cũng không tự đi

nổi” [121, tr.146].

Con người chịu tác động của quy luật chiến tranh nhưng vẫn có một đời

sống riêng. Có bao nhiêu con người có bấy nhiêu số phận, bấy nhiêu thế giới

tâm hồn phức tạp. Con người khẳng định bản thân mình giữa hiện thực khi nó

được cất tiếng nói của mình, cần được mưu cầu hạnh phúc cuộc sống. Việc

mở rộng cái nhìn con người của Phan Tứ sang bình diện cá nhân là chiều sâu

của đổi mới của tư duy nghệ thuật.

2.2. Con người trong mối quan hệ đan xen, phức tạp

Con người không thể tồn tại nếu tách rời môi trường xã hội xung quanh.

Hay nói cách khác, con người luôn phải sống trong một môi trường nhất định

và bản chất con người luôn được bộc lộ thông qua những mối quan hệ trong

môi trường ấy. C.Mác nói: “Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”.

Nghĩa là, khi ta muốn tìm hiểu bản chất một con người cụ thể thì cần phải

xem xét đến những mối quan hệ xã hội của họ. Trong nhiều tác phẩm văn

học, việc xây dựng nhân vật anh hùng cũng được các nhà văn chú ý những

mối quan hệ xã hội của nó. Các nhà nghiên cứu cho rằng: “Mô tả người anh

hùng trong quan hệ xã hội của họ và mô tả người anh hùng trong quá trình

phát triển thông qua những quan hệ ấy, đó là yêu cầu của chủ nghĩa duy vật

lịch sử về mặt triết học và của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa về

mặt văn học” [91, tr.106]. Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà đề cập đến vai trò của

mối quan hệ trong tác phẩm: “cái cơ bản vẫn là nhu cầu của công chúng về

một khía cạnh của chủ đề con người trong nghệ thuật. Người ta không phải chỉ sống bằng chính trị mà phần lớn là bằng quan hệ ở đời giữa con người

54

với nhau, bằng đạo lý, văn hóa, phong tục. Tác phẩm nào mang những nội

dung này thường dễ gần gũi với công chúng đông đảo” [108].

Sau ngày hòa bình lặp lại, mối quan hệ của con người không còn đơn

giản trong giới hạn cái nhìn giữa ta và địch. Con người có muôn vàn những

mối quan hệ khác nhau trong đời sống hàng ngày: giai cấp, gia đình, tập thể,

tình cảm…..Điều này đòi hỏi mỗi cá nhân có những hành vi, ứng xử phù hợp

với từng hoàn cảnh cụ thể. Với cách nhìn này, nhà văn xây dựng nhân vật của

mình với từng cuộc đời, số phận và tính cách khác nhau ở những môi trường

khác nhau. Bằng nhãn quan của nhà văn nắm bắt sâu sắc hiện thực đời sống,

Phan Tứ đặt nhân vật của mình trong mối quan hệ nhiều chiều. Sự chuyển

dịch cách nhìn con người trong quan hệ ta – địch sang cái nhìn con người

trong mối quan hệ đa dạng, đan xen là biểu hiện của sự tìm tòi, đổi mới quan

niệm nghệ thuật về con người. Thế giới nghệ thuật trong Người cùng quê hiện

lên phong phú, phức tạp những mối quan hệ của nhân vật. Tiêu biểu là mối

quan hệ tay ba giữa Tú Đỉnh (quan phủ) – Khánh (sinh viên trường luật) –

Ximonet Mỹ Duyên (gái nhảy) biểu thị cho sự đa dạng trong mối quan hệ đời

thường của con người. Ung Viết Khánh trong quan hệ gia đình gọi Tú Đỉnh là

cha dượng, gọi Mỹ Duyên là dì ba, nhưng trong quan hệ tình cảm riêng tư thì

anh là tình địch của ông bố hờ này, là tình nhân của Mỹ Duyên. Về sau, khi

Duyên tham gia hoạt động cách mạng, quan hệ giữa Khánh, Phủ Đỉnh với Mỹ

Duyên là những kẻ đối lập nhau. Mối quan hệ giữa cô và Khánh được nối

“bằng sợi cao su khi căng khi chùng, chưa hề đứt” [121, tr.396]. Trong quan

hệ giai cấp, Khánh thuộc tầng lớp địa chủ quan lại nhưng không có ý thức

phân biệt giai cấp, chưa lần nào để người ở – thằng Cam phải “chạy ngựa” mà

“đèo luôn đứa bé giữ ngựa ngồi lên trước yên. Về gần tới ấp mới chia ngôi

chủ tớ” [121, tr.272]; ủng hộ cách mạng bằng việc mua súng nhưng không

dám lăn xả hành động cách mạng và “chỉ muốn dính vào cách mạng như

55

trước đây đi sinh hoạt Hướng đạo chiều chủ nhật, đi dạy Truyền bá quốc ngữ

mỗi tuần vài đêm” [121, tr.395]. Đó là một thái độ nửa vời, không dứt khoát.

Ngoài ra, Khánh còn mối quan hệ với tổ chức Việt quốc, với chế độ cộng hòa

Sài Gòn: “từ thân tù kiệt quệ anh bước vào quân lực, nhận lon ba bông mai

vàng đại úy, để ít lâu sau được vinh thăng lên thiếu tá. Khánh đã chứng minh

được lòng trung thành với Ngô Tổng thống bằng những chiến công chẳng

mấy ồn ào của ngành tâm lý chiến” [121, tr.107]. Từ sự đa dạng trong quan

hệ giao tiếp xã hội, Phan Tứ cho người đọc thấy một nhân vật – Khánh có

nhiều phức tạp trong đời sống nội tâm và những sự lựa chọn phức tạp, thậm

chí là sai lầm về phương diện chính trị: “Một con người rất lạ. Thể xác cường

tráng nhưng tâm hồn yếu đuối, dễ tủi hờn. Vô cùng thông minh và ham

học…nhưng ứng xử trong đời sai hết chỗ này đến vấp chỗ khác, làm khổ cô

Năm Bưởi, bị thằng Chung hành hạ như báo oán, và sai lầm nặng nhất là đi

tìm trưa tròn bóng lúc hai giờ chiều với ảo tưởng có thể xây một chế độ dân

chủ kiểu Pháp hay Anh trên đất nước này, đã đi tìm tình cảm gia đình khi mọi

con người đã thay đổi…” [121, tr.499]. Song hành với Khánh là người tình

Mỹ Duyên – một người đàn bà thông minh, sắc sảo khiến Khánh phải thất

kinh khi cô “đọc vanh vách ra những suy tính thầm kín nhất của anh bằng

những lời cắn sâu đốt thịt như axít” [121, tr.47]. Trong quan hệ với gia đình

Tú Đỉnh, cô biết đóng kịch là một bà vợ bé luôn nghe lời, biết chiều chuộng

bà vợ cả (mua tặng lễ vật, ăn chay cùng). Trong quan hệ với các hãng thông

tấn xã Nhật, Pháp, AFP, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi.. , với gia đình Laphacsơ thì

Duyên là con người khôn ngoan, nhạy bén. Trong quan hệ với cách mạng, cô

từng dạy Truyền bá quốc ngữ, trút bỏ bộ cánh lộng lẫy bằng bộ bà ba giản dị

và sau này chính Mỹ Duyên là cơ sở của Mặt trận Giải phóng. Cô đã tác động

tới Khánh quay trở về với đồng bào, đồng chí của mình. Trong quan hệ tay ba

này, có lẽ nhân vật Phủ Đỉnh biết đóng đủ các loại vai trên sân khấu hiện thực

56

đời sống thông qua các mối quan hệ của ông ta: “Từ Việt quốc nhảy sang Cần

lao nhân vị, từ thờ ông bà sang thờ Chúa, từ tri phủ sang chủ tịch Liên Việt,

sang phó tỉnh trưởng, thời nào ông cũng ngoi lên đỉnh sóng được” [121,

tr.106]. Ông ta không khác gì một con kỳ nhông thay đổi màu sắc theo thời.

Sự đa dạng những mối quan hệ trong cuộc sống hàng ngày khiến con người

trở nên phức tạp, khó nắm bắt đời tư. Nhiều khi con người phải đeo “mặt nạ”

giao tiếp trong từng đối tượng, từng hoàn cảnh cụ thể. Cũng như Phủ Đỉnh,

nhân vật Cửu Áng – nhân vật trung gian biết đóng đủ các vai: “ông chúa làng

bản xứ khi gặp chủ đồn điền Laphạt, viên lý trưởng khúm núm khi sang ấp

quan phủ, một tay thương lái lõi đời khi thăm ông Xâm Tố bên bàn đèn, và

ông xã vô cùng bình dân hồ hởi khi dạo quanh làng” [121, tr.128], là “bác

Mười Áng lần lượt làm trưởng ban Bình dân học vụ, trưởng ban Đỡ đầu dân

quân, phó Chủ tịch Liên Việt xã” [121, tr.625] trong thời kỳ cách mạng.

Con người sống không thể tách rời quan hệ cộng đồng làng xóm, gia

đình. Mối quan hệ tưởng như gần gũi, thân thuộc nhưng không đơn giản, và

đầy sự rối ren trong đó. Một gia đình cách mạng như Tư Chua lò rèn trong

những ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng là nơi dân làng Linh Lâm hội họp

đông vui. Trải qua giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ, gia đình ông bị xếp vào

loại A tình nghi can cứu, có lúc bà con lối xóm lại xa lánh, không dám ra mặt

trực tiếp giúp đỡ ông. “Ông mướn người giúp leo cây, sửa mái, chẳng ai nhận

thuê. Nhưng chỉ một vài hôm sau, dân Linh Lâm đến nhà ông, vác theo vài

cây tre mà ông biết đã ngâm tới mọc rêu, ném uỳnh xuống, nói to là trả công

rèn cuốc rựa gì đó mà ông chưa hề làm cho họ…Còn những đám trẻ không

nhận ông thuê, lại đến vì không đủ tiền công rèn, nói phải là một buổi thay

cho một ang lúa nhưng nấn ná tới ba ngày” [121, tr.144]. Người ta sợ liên lụy

đến nhà Tư Chua nhưng vẫn trí trá âm thầm giúp đỡ. Bản thân Chanh ngoài

những mối liên hệ với tập thể cách mạng, với đồng bào, nhân vật cũng được

57

đặt trong mối quan hệ gia đình đầy phức tạp. Đó là cảnh anh em ganh ghét,

hằn thù lẫn nhau, tranh giành tài sản của nhau. Tư Quýt đi học tố cộng để tố

Chanh, Năm Bưởi. Chanh đã “gặp quá nhiều gia đình chia năm xẻ bảy, tố

giác lẫn nhau, chỉ đau lòng khi mấy anh chị em trong nhà cũng theo cái đà

chung ấy” [121, tr.52]. Nhất là trong tình thế khó xử, khi Chanh có đứa em

trai – Bảy Bòng theo giặc, làm cảnh sát trưởng xã Tây Giang, đầu quân cho

biệt kích Mỹ, được “các vị cấp trên Mỹ và Việt xếp hắn vào loại cảnh sát trào

Ngô Đình Diệm, hung dữ và dốt nát, chỉ biết tra khảo, hối lộ đầy túi, ăn gan

uống huyết cộng sản” [121, tr.463]. Với gia đình – xã hội, Bảy Bòng là kẻ

phản bội vì làm tay sai của địch. Với cách mạng thì anh ta được “cơ sở ta xếp

loại ác ôn phải xử tử” [121, tr.142]. Chanh sẽ làm gì khi hai anh em giáp mặt

nhau, ai sẽ là người nổ súng đầu tiên. Bởi Bòng coi Cả Chanh, Năm Bưởi như

là kẻ thù. Bòng tuyên bố sẽ không tha cho hai người nếu bắt được. Bảy Bòng

ghét vợ chồng Tư Quýt ra mặt. Nhưng với Thùy – vợ của Chanh, Bòng tỏ ra

là một đứa em nghe lời, kính trọng, thương yêu chị hết mực, luôn tìm cách

bảo vệ Thùy và cũng phục Chanh nhất. Sự phức tạp trong mối quan hệ gia

đình Tư Chua là điển hình cho hiện thực cuộc sống hàng ngày của con người.

Bằng hình tượng nghệ thuật, Phan Tứ hình thành nên một thế giới con

người đa dạng, phức tạp trong Người cùng quê. Cái nhìn của Phan Tứ chứng

minh khả năng chiếm lĩnh hiện thực đời sống và con người một cách nhạy

bén. Chính từ những mối quan hệ, Phan Tứ đã khám phá ra chiều sâu trong

con người. Đây là biểu hiện rõ nét cảm quan hiện thực mới của nhà văn Phan

Tứ sau 1975.

2.3. Con người khát khao tận hưởng tình yêu và hạnh phúc Con người sinh ra đều có nhu cầu được sẻ chia những cảm xúc trong cuộc

sống, đặc biệt nhu cầu được cho đi và nhận lại những tình cảm yêu thương

giữa người với người. Trong những năm tháng chiến tranh, nước mất nhà tan,

58

con người đành giấu kín những tình cảm đời thường để ra đi vì nghĩa lớn. Hầu

hết tình cảm thiêng liêng của con người trong văn chương giai đoạn này đều

quy tụ về tình cảm dân tộc. “Những tình cảm riêng tư trong nhiều tác phẩm

chỉ được ghi lại những nét thấp thoáng như để làm nền cho những tình cảm

trong quan hệ cộng đồng” [58, tr.103-104]. Qua thực tiễn ở chiến trường,

Phan Tứ chiêm nghiệm: “Từ trăm ngàn trường hợp rối rắm ta sẽ tìm ra cách

giải quyết các rối rắm với một quan điểm về tình yêu và hạnh phúc: lấy hiếu

làm trinh, chung thủy với cách mạng là chung thủy với chồng” [53, tr.732].

Từ chính trải nghiệm của bản thân đã chi phối quan điểm sáng tác của Phan

Tứ. Nhà văn bộc bạch tâm tư sâu kín: “Tôi đã quá 30 tuổi, mối tình có phần

muộn màng của tôi còn có thể bị tan vỡ. Mặc kệ, nhiệm vụ trên hết. Giải

phóng rồi có thể tính sổ xem bản thân mình còn lại gì, gia đình mình và

những gì thân yêu nhất của riêng mình. Hiện tại, không tính toán gì cho cá

nhân cả” [53, tr.161]. Bằng thực tiễn, trải nghiệm, nên trong sáng tác trước

1975, Phan Tứ soi chiếu tình yêu đôi lứa, hạnh phúc cá nhân trên cơ sở tình

cảm cách mạng, tình đồng chí. Trong Trước giờ nổ súng, anh Pheng thích cô

Soan nhưng anh vẫn trả lời: “Thích chứ. Nhưng đợi độc lập đã. Đánh thắng

rồi, cô chưa lấy ai thì tôi đến hỏi” [52, tr.306]. Tuyên – Trung đoàn trưởng, bí

thư Đảng ủy cũng có cảm tình với Soan, không dám bày tỏ tình yêu đó. “Ba

mươi tuổi đầu, anh vẫn không kịp lo đến vợ con. Từ dạo vượt ngục Sơn La,

hoạt động Việt Minh bí mật, qua kháng chiến đến nay vừa tròn mười một

năm, anh chưa yêu ai, và hình như cũng chưa ai yêu anh. Anh có cảm tình với

giới phụ nữ nói chung, thấy mỗi cô gái đều mang đến cho anh một chút gì

tươi mát, êm dịu trong mười một năm căng thẳng liên miên ấy. Hết chiến dịch

đến chỉnh huấn, xong chỉnh huấn đến luyện quân, qua luyện quân đến chiến

dịch mới, bao giờ cũng có yêu cầu “tạm gác việc riêng, tập trung tư tưởng”.

Đối với yêu cầu ấy anh luôn gương mẫu, quá gương mẫu là khác” [52,

59

tr.307]. Tình yêu giữa Mẫn và Thiêm (Mẫn và tôi) không phải ngẫu nhiên mà

họ gặp nhau rồi yêu nhau ngay. Thiêm và Mẫn có nhiều mặt khác nhau: tính

nết, nghề nghiệp, về trình độ văn hóa, về sự từng trải…Hồi đầu, Thiêm cho

rằng “Mẫn không thuộc kiểu người tôi thích” [119, tr.80], xin chỉ “kính nhi

viễn chi” [119, tr.124]. Qua một thời gian, trong quan hệ công tác, họ phục

nhau mến nhau và ngày trở nên gần gũi vì cả hai có cùng một số nét căn bản

giống nhau: cùng lý tưởng, cùng ham học hỏi, cùng dám nghĩ, dám làm. Mẫn

yêu Thiêm đến mất ăn mất ngủ nhưng vẫn thấy “cái Chu Lai lù lù trước mặt”,

vẫn sợ cưới vì vướng chồng con, ảnh hưởng đến việc nước. Thiêm khao khát

cháy bỏng được gặp Mẫn, ai cũng tưởng anh sẽ tâm sự dặn dò nhưng không,

anh chỉ gặp Mẫn để yêu thương, để hỏi han tình hình chiến sự và câu chuyện

tình yêu giữa họ vẫn là học làm cách mạng, học làm người: “Sao trong đêm

trăng, hai người yêu nhau lại nói chuyện chính trị?”. Thông qua mối tình

Thiêm – Mẫn, tác giả gợi ra một số vấn đề có ý nghĩa, đặc biệt vấn đề tình

yêu và lý tưởng, làm cho đọc giả phải suy nghĩ. Tình yêu của Bê và Sâm (Gia

đình má Bảy) cũng là tình yêu nảy nở dưới hầm chống càn. Họ muốn giành

phần nguy hiểm về bản thân để người kia được an toàn: “Anh thương Quảng

và liều chết cứu Quảng. Anh yêu em, muốn ra ngoài cản địch cho em….Em

vừa giành của anh cái hạnh phúc được quên mình” [117, tr.779]. Tình yêu đó

càng được bồi đắp trong quá trình hai người giúp nhau thực hiện nhiệm vụ

cách mạng. Họ đến với nhau bằng sự cảm phục lẫn nhau trong hoạt động cách

mạng. Và chính Phan Tứ cũng có mối tình với cô Thảo ở hậu phương. Tình

yêu của họ đẹp lung linh hơn khi mang màu sắc chính trị, qua những trang thư

cô Thảo nói: “Tình yêu của em dành cho anh còn mang ý nghĩa chính trị” [53,

tr.717].

60

Khi chiến tranh kết thúc, hạnh phúc và nhu cầu riêng tư của con người

được bày tỏ cởi mở hơn, cảm xúc gần với đời thường. “Quả đã một thời nhiều

người tin rằng "chính trị là thống soái", giai cấp là cái thấm vào tất cả mọi

ngõ ngách của đời sống, xuyên suốt con người từ đầu tới chân, dường như

mọi nỗi đau của kiếp người đều gắn với bất công giai cấp, với chính trị phản

động, ngay đến tình yêu, dù là yêu một bông hoa hay một con người thì mọi

thứ cũng đều mang tính giai cấp cả. Cách vận dụng quan điểm giai cấp triệt

để đến mức dung tục và đôi khi nghiệt ngã ấy đã làm héo mòn phần nào dòng

nhân văn trong văn học chúng ta. Nó vừa che khuất những giá trị nhân đạo

tốt đẹp của văn học quá khứ và văn học nước ngoài, vừa cản trở những người

sáng tác nói lên những gì thầm kín trong "cõi nhân gian bé tí" của con người”

[108]. Sau 1975, Phan Tứ phóng khoáng hơn trong cái nhìn tình yêu đôi lứa.

Nhân vật của ông thể hiện tình cảm một cách chân thành, cởi mở. Họ yêu

nhau vì mến nhau bằng cảm xúc đời thường, không còn là sự kết hợp giữa

tình cảm chính trị và tình cảm cá nhân. Đó là tình yêu giữa anh cán bộ với cô

gái bình dân, tình yêu của cô du kích với anh chàng sinh viên luật, tình yêu

giữa cô gái nhảy đầm với con trai quan phủ….Tất cả tình yêu đó xuất phát từ

rung cảm trái tim của con người bình thường. Nhân vật Phan Chanh không

che giấu cảm xúc dâng trào trong lòng với cô Thùy – con gái của ông Hai Rề

làm cùng ngành hỏa xa với anh. Anh cũng có hành động bối rối, vụng về của

tâm trạng đang yêu: “anh luống cuống hôn vội vàng vào má, vào tai, vào cổ

Thùy. Thùy vừa ngước mặt lên, anh hôn luôn vào trán, vào mũi” [121, tr.438].

Anh cũng thổn thức khi bày tỏ tình yêu: “Anh yêu em khủng khiếp. Thùy ơi,

nhứt định cưới nhau nghen Thùy? Nói đi em. Hẹn cắn cưa đi em, cho anh yên

bụng” [121, tr.439]. Đúng vậy: “Các nhà tiểu thuyết muốn triển khai tác

phẩm cả chiều rộng lẫn chiều sâu, cho nhân vật trải nghiệm trong không

gian, thời gian rộng và các cung bậc tình cảm đa dạng, sinh động phức tạp”

61

[121, tr.103-104]. Để cho nhân vật sống với những con sóng tình cảm của

mình, nhà văn mới xây dựng được tính chân thật trong tác phẩm. Chanh cũng

không kiềm lòng khi về làm thanh tra ngành Hỏa xa toàn Trung Bộ, tranh thủ

đến gặp cô Thùy với lời lẽ hết sức thương nhớ: “anh chạy về gấp thăm em,

đừng giận, tại anh nhớ em quá..” [121, tr.440]. Có khi, tình yêu cũng chỉ từ

một phía nhưng nó giúp con người nuôi bao hy vọng. Cô du kích Năm Bưởi

được mệnh danh là Năm Nhím đã mang trong lòng tình yêu đơn phương với

cậu con trai quan phủ - Hai Khánh: “Trời sập em không sợ, nhứt đánh nhì đày

em không sợ, chỉ sợ anh không thương em…” [121, tr.546]. Bưởi gặp Khánh

trong bệnh xá, Bưởi chăm sóc chu đáo cho anh, rồi: “Bưởi mê cuồng, Khánh

chỉ yếu lòng và thương hại” [121, tr.547]. Và chính sức hút kì lạ đến mãnh

liệt của tình yêu khiến con người trở nên tính toán. Cái nhiệt huyết của người

lính đi tình nguyện đã xen lẫn động cơ cá nhân. Tám Thống tính vốn hay ghen

đi tình nguyện sang Lào vì muốn được gần người yêu – y tá Lan và đòi cuới

ngay. Cuối cùng Lan phải đính hôn để Thống yên tâm công tác. Không bao

lâu, đám cưới hai người diễn ra nhanh chóng trước khi họ tập kết hành quân

hai nẻo, Lan lấy Thống với lý do đơn giản: “tìm hiểu lâu, thấy hợp nhau, cùng

xây dựng” [121, tr.89]. Nếu như hình ảnh người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến

nay hiện lên với đức tính chung thủy, thủ tiết thờ chồng thì giờ đây họ bỏ qua

đạo đức phong kiến vốn ràng buộc hạnh phúc của con người, họ đi theo tiếng

gọi của con tim, cần một bàn tay chở che, yêu thương, san sẻ với họ những

khó khăn trong cuộc sống. Sau khi chồng hy sinh, Lan đến với Cam qua dòng

suy nghĩ: “Anh Thống, anh Cam, các anh có hiểu được lúc này em đang cần

một người đàn ông trong nhà không” [121, tr.90]. Lan mến Cam từ lâu nhưng

lại lấy Thống và khi Thống hy sinh, tình cảm năm xưa trỗi dậy, Lan vẫn còn

yêu Cam. Nhận được thư của Cam, cô ngất ngây trong hạnh phúc: “chỉ gặp

mấy tiếng hạnh phúc, hạnh phúc, hạnh phúc. Cái hạnh phúc vô cùng khao

62

khát đang đến với Hoàng Lan” [121, tr.150]. Người đọc không khỏi xao

xuyến trước những lời nồng nàn tha thiết của Cam dành cho Lan: “anh yêu

em, anh yêu mẹ con em, anh muốn là chồng em, em có chịu làm vợ anh

không?” [121, tr.150]. Tình yêu với nhiều cung bậc cảm xúc và nó cũng là

lãnh địa không có biên giới: mối tình công khai hay mối tình vụng trộm. Tình

yêu giữa Khánh và Duyên là mối tình vụng trộm giữa bà mẹ kế – Mỹ Duyên

với con trai của chồng (Phủ Đỉnh) – Ung Viết Khánh. Lúc đầu Khánh tỏ ra

“lạnh lùng” nhìn bằng “ánh mắt khinh bỉ và giận dữ” đối với cô gái nhảy khét

tiếng phá của và ngoa ngoắt Mỹ Duyên, nhưng trong lần trót nhận lời thách,

Khánh chở dì Ba đi thăm núi Non Nước, đã phải lòng cô này: “Duyên ơi, con

quỷ và nàng tiên của anh ơi, em có thể là bạn trăm năm hay chỉ là cô gái lẳng

lơ tìm thêm dấm ớt, em sẽ đi luôn hay trở về, em sẽ là dì Ba hay vợ anh?”

[121 ,tr.392].

Tự do yêu đương là tiền đề giúp con người hướng đến con người với nhu

cầu tự nhiên. Con người là sản phẩm của tự nhiên không thể không quan tâm

đến nhu cầu: ăn, ở, mặc, đi lại,... Là sản phẩm của xã hội, con người dần ý

thức được sao cho ăn mặc có văn hóa. Nhưng do một thời gian dài chiến tranh

khốc liệt, con người chịu đựng tinh thần khắc khổ, ép mình vào lối sống, lối

suy nghĩ khổ hạnh dẫn đến một số nhu cầu tự nhiên bị hạ thấp hoặc bị né

tránh trong các sáng tác. Tiểu thuyết sử thi 1945– 1975 rất kỵ việc miêu tả

bản năng gốc của người chiến sĩ. Điều ấy hoàn toàn có lý vì đó là cái thời

“nén tình riêng vì nghĩa lớn”. Đó là sự thật mà Phan Tứ đã nói: “Tôi tình cờ

đọc thư vợ của cán bộ gửi cho chồng nhắc lại những kỷ niệm cuộc sống ái ân

lúc gần gũi….Liên hệ bản thân: luôn tự đè nén những ham muốn tình dục,

luôn nói đùa: “Đừng nói chuyện đàn bà với tôi, tôi đã là thầy tu, gần thành

Phật rồi!” Rõ ràng anh em đã sống không bình thường nhưng đã phải cố tạo

cho thành bình thường” [53, tr.353].

63

Vấn đề tình yêu, hạnh phúc của con người sau 1975 gắn chặt với việc

giải phóng con người cá nhân. Tiểu thuyết hôm nay phá vỡ bức tường kiêng

kỵ đó để đi sâu vào nhu cầu tự nhiên chính đáng của con người, để tìm hiểu

những vẻ đẹp tình cảm riêng tư, những khát khao tình dục rất đời thường của

con người. Đúng vậy, con người sống trước hết có nghĩa là ăn, ở, mặc và

những việc khác nữa. Trong các việc khác này, chắc chắn có vấn đề tình dục.

Sau năm 1975 đánh giá công bằng, ở những tác phẩm chân chính, việc đề

cập yếu tố tình dục giúp tác phẩm trở nên chân thật, “người hơn”, mang giá trị

nhân bản của nó. Lunatsarxki nói về sinh hoạt tình dục như sau: “từ tình yêu

giới tính sẽ tạo ra những tuyệt phẩm của hạnh phúc và khoái cảm mà người

đàn ông và người đàn bà thuộc các thế hệ trước nằm mơ cũng không thể thấy

được” [27]. Chính Phan Tứ cũng tâm sự trong nhật ký chiến trường: “Tôi đã

trải qua 17 năm chiến đấu….Có lúc bị một ham muốn xác thịt giày

vò….Nhưng tự chủ bản thân trở thành thói quen và đến nay tôi vẫn sống

trong trắng” [53, tr.533]. Và ông cũng kể lại rằng, trong quá trình sống ở nhà

dân, có không ít cô gái, chị phụ nữ cố tình phô bày cơ thể trần trụi như mời

gọi ông. Thực ra, những người đó đang khao khát nhục thể. Đó là nhu cầu

bình thường của con người nhưng bị kìm nén bởi hoàn cảnh khách quan. Hiểu

được quy luật cuộc sống của con người nên trong sáng tác Phan Tứ cũng

không né tránh khi để nhân vật có đời sống bản năng chân thật. Với Người

cùng quê, Phan Tứ chú ý tới cảm xúc tình yêu nhục thể của con người. Đó là

giây phút ái ân giữa cặp vợ chồng hay tình nhân: Mỹ Duyên – Khánh, Khánh

– Năm Bưởi, Chanh – Thùy, Sáu Cam – Hoàng Lan. Trong bất cứ hoàn cảnh

nào, nhu cầu thể xác của con người không thể thiếu. Cả Chanh hiện thân của

nhân vật anh hùng nhưng cũng không bỏ qua phần bản năng trong con người.

Đó là cảnh Thùy: “liếc nhìn cửa hang, thong thả cởi áo, phơi bộ ngực trần nở

nang, trắng muốt….Chanh ghé môi hôn….Làn da đàn bà thơm mát khiến anh

64

choáng váng. Anh quên bẵng lời tự hứa lần này sẽ không đưa tai họa vào

bụng vợ” [121, tr.54]. Mỗi lần Thùy lên xanh thăm Chanh là họ lao vào nhau:

“chỉ nửa giờ hay một tiếng sau, em đã tự lao vào anh, tự hiến thân cho anh

như một cô gái trinh lần đầu biết ái ân. Và anh cũng không cưỡng nổi mình,

anh quên hết, quên rằng tất cả tội vạ sẽ do em lãnh đủ” [121, tr.227]. Và

Thùy đưa ra lý do “vợ chồng vắng lâu quá, gặp hồi yếu đuối, tránh sao khỏi”

[121, tr.227]. Bản năng ấy cũng không cưỡng lại được khi Thùy đã có thai

hơn ba tháng: “nhẹ nhẹ cũng được, không sao đâu anh. Tội nghiệp” [121,

tr.432]. Phan Tứ đã có cách nhìn mới mẻ khi miêu tả người phụ nữ chủ động

trong chuyện chăn gối. Lan là người đưa ra ý kiến trước với Cam: “Đêm nay

chúng mình là vợ chồng!”. Lần đầu tiên trong đời, Sáu Cam biết làm chồng.

Lan càng biết rõ Cam hơn, “những vụng về của trai tân đối với đàn bà đã một

đời chồng con rất dễ nhận ra” [121, tr.152]. Đôi tình nhân Khánh – Duyên

được Phan Tứ miêu tả với đời sống nhục dục phóng khoáng: “Khánh lao vào

ôm ghì Duyên trong tay. Họ không nghe tiếng còi báo động réo to dần phía

Nhà hát lớn…” [121, tr.147], cùng với cử chỉ suồng sã: “Họ không xuống

buồng ngủ dưới nhà, ăn uống xong nằm luôn trên gác. Duyên trải chiếu

xuống sàn phủ thêm tấm ra, mắc màn vào các cọc đèn, rất thạo…Hai giờ sau,

họ rời nhau” [121, tr.45- 46]. Nếu như Lan, Duyên, Thùy được gần gũi bên

người yêu thương mình, thì Năm Bưởi có khao khát của mối tình đơn phương

với Hai Khánh. Cô yêu Khánh chân thành, tự nguyện trao thân cho anh.

Khánh không yêu Năm Bưởi nhưng vẫn ăn nằm với cô. Đó không hẳn là sự

thương hại và sự đáp tình của một chàng trai chịu ơn cô gái đã yêu và chăm

sóc chu đáo cho mình trong lúc ốm đau. Nhìn trên bình diện nhục dục, hành

động của anh bắt nguồn từ bản năng của người đàn ông, nhu cầu sinh lý của

con người. Đúng như Freud quan niệm: “Tất cả các hiện tượng tâm thần của

con người về bản chất là hiện tượng vô thức. Vô thức là phạm trù chủ yếu

65

trong đời sống tâm lí của con người. Mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt

nguồn trong vô thức và tuỳ theo tương quan của những lực lượng thôi thúc và

ngăn cản được biểu hiện ra theo những qui luật khác hẳn với ý thức”

[141]. Trong các loại vô thức thì đam mê tính dục có một vị trí đặc biệt quan

trọng trong toàn bộ đời sống tâm lí của con người.

Phan Tứ còn nhắc đến đời sống bản năng của người phụ nữ khi có

chồng đi tập kết ngoài bắc hay lên núi quá lâu, vẫn không chịu bỏ chồng

nhưng vẫn có một hai đứa con “tự túc”. Họ giải thích: “lo hết lứa tuổi sinh nở,

tự kiếm đứa con phòng khi về già…. người chồng lấy vợ khác hay chưa không

biết, các chị chỉ cần một đứa con làm bạn” [121, tr.228]. Nhưng Phan Tứ đã

nhìn sâu xa trong vấn đề ấy là nhu cầu tất yếu – nhu cầu bản năng, con người

không thể sống nếu thiếu những sinh hoạt đời tư vợ chồng. Đây là thực tế mà

nhà văn được chứng kiến trong những năm chiến đấu ở Trung Trung Bộ. Từ

chiến trường khu V, Phan Tứ đã ghi lại: “Một số phụ nữ có chồng tập kết làm

chuyện “tự túc” với sự tính toán tỉ mỉ: nếu tôi không có con trong 5 năm, thế

là phản tự nhiên, sinh con sẽ nguy hiểm, hoặc sẽ không có con được. Nếu

chúng tôi có một đứa con và chỉ một thôi, chồng sẽ tha thứ…Tôi trông thấy

nhiều ông chồng cách mạng rộng lượng bỏ qua. Nếu anh ta cắt đứt thì tôi sẽ

sống với con, đối với tôi thế là đủ (Nhưng người ta vặn lại: ở miền Nam, các

cô mới hứa hôn chờ đợi tốt hơn nhiều so với các bà vợ đã có 1 hoặc 2 đứa

con, điều này làm thất bại mọi dự đoán. Vì sao? Không phải vì cần có con mà

họ phạm lỗi, nhưng là vì ham muốn nhục dục)” [53, tr.299]. Phan Tứ lí giải

bằng trái tim cảm thông với tâm sự riêng tư của người phụ nữ, dành cho họ

những tình cảm trìu mến, trân trọng. Họ là những người mẹ, người chị đã âm

thầm chịu đựng nhiều hy sinh trong những năm tháng chiến tranh. Mỗi trang

viết của Phan Tứ về họ đầy ắp sự yêu thương. Qua nhật ký chiến trường, nhà

văn thổ lộ: “Tình yêu chiếm 2/3 trái tim của người phụ nữ, sống không thể yêu

66

là một nỗi dày vò đối với họ. Đến với chúng ta, sống trong tập thể nhiều

người đàn ông trung hậu, mạnh mẽ, trong trắng, họ cảm thấy yên tâm, và nhớ

lại cuộc sống tình cảm, họ để cho nhu cầu yêu thương không dè dặt của họ

tuôn tràn. Mặc kệ nếu tình yêu nhục thể kế tiếp đó: mỗi người trong chúng tôi

sẽ là một ông chồng tốt, tốt hơn nhiều so với các ước vọng của họ trước khi

“liều” [53, tr.257].

Sau 1975, Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn khác đề cập đến chuyện

tình yêu – tình dục một cách tự nhiên chân thực không phải để phê phán nhu

cầu con người trong hiện thực chiến tranh mà với sự cảm thông sâu sắc. Đó là

biểu hiện của tư tưởng nhân văn, tiếng nói cho khát vọng con người.

Con người là đối tượng trung tâm của văn học, là lăng kính của nhà văn

trong cách nhìn, cách cảm về hiện thực xã hội. Vì vậy, sự thật về con người là

thước đo giá trị thẩm mĩ của nhà văn. Phan Tứ đã làm được công việc nghệ

thuật của nhà sáng tạo nghệ thuật chân chính. Đó là tái hiện con người trong

tính chân thật của nó. Con người với tất cả biểu hiện sự phong phú, phức tạp

trong đời sống hàng ngày. Tiếp tục cảm hứng sử thi trong tiểu thuyết trước

1975, bộ tiểu thuyết Người cùng quê khám phá chiều kích của đời sống con

người Việt Nam, thể hiện cái nhìn nhân văn về con người của Phan Tứ. Nhà

văn đào sâu và mở rộng bình diện khám phá con người, đó là một cách tân

mới về quan niệm thẩm mĩ. Điều này khẳng định Phan Tứ bước đầu xác lập

được những tiêu chí giá trị phù hợp với cách nhìn con người trong thời đại

mới.

67

Chương 3

SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON NGƯỜI

TRONG TIỂUTHUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ

TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT

3.1.Sự dịch chuyển không – thời gian gắn với hành trình đời tư nhân vật

3.1.1. Nhà văn đặt nhân vật trong nhiều loại không gian khác nhau, theo

sự vận động của nhân vật

Không gian nghệ thuật là một trong những yếu tố cấu thành thi pháp thể

loại. Nhất là đối với tiểu thuyết sử thi – một thể loại vốn được xác định nhờ

sự mở rộng không gian sự kiện. Nhà văn với mong ước rằng “đứa con tinh

thần” của mình có dung lượng lớn như tiểu thuyết đều băn khoăn về việc đặt

các nhân vật đông đảo vào một không gian cụ thể ra sao? “Bởi không gian

nghệ thuật không chỉ có chức năng làm bối cảnh câu chuyện mà điều quan

trọng hơn, nó là một phương tiện thể hiện tính cách nhân vật và tư tưởng tác

phẩm. Đặc biệt là đối với tiểu thuyết sử thi, tính hoành tráng của không gian

là một phẩm chất quan trọng để xác định đặc trưng của thể loại. Bởi vậy,

hình tượng không gian luôn làm day dứt các nhà văn sử thi Việt Nam thời

chiến tranh” [132]. Trong giai đoạn 1945 - 1975, tiểu thuyết sử thi mô tả bức

tranh rộng lớn của hiện thực chiến tranh, nên con người thường được đặt

trong không gian rộng lớn – không gian công cộng. Đó là nơi tụ họp đông

người như chiến trường, cơ quan, làng xã,…. “Không gian công cộng có tác

dụng rèn luyện phẩm chất, ý chí của nhân vật. Có thể xem loại không gian

này như là một thủ pháp nghệ thuật để dung chứa những nhân vật có tầm vóc

lớn lao” [37, tr.49].

68

Trong âm hưởng sử thi của hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống giặc ngoại

xâm, Phan Tứ và nhiều nhà văn khác có cùng thẩm mĩ nghệ thuật, xây dựng

kiểu không gian công cộng để người anh hùng thể hiện năng lực, phẩm chất,

bản lĩnh của mình trong hoàn cảnh thử thách. Và thước đo nhân cách con

người trong chiến tranh chính là sự trải nhiệm của họ ở những môi trường

rộng lớn, đầy nguy hiểm và họ có ước mơ không ngừng đi xa. Do đó, không

gian này được gắn liền với bước chân của con người. Ví dụ, trong Trước giờ

nổ súng, Phan Tứ chú trọng xây dựng kiểu không gian thiên nhiên – không

gian cản trở bao gồm rất nhiều hình ảnh dữ dội để thử sức lực và trí não đội

trinh sát CC3 đang trên đường từ Pà Thạc trở về nộp gấp tài liệu cho ban chỉ

huy mặt trận bộ để kịp mở chiến dịch: “đội CC3 gặp dãy núi đá xám dựng

đứng cao ngợp mắt. Chòm thông thưa trên đỉnh giống một hàng cò lêu đêu

ngước mỏ lên mổ trời. Cảnh núi đơn giản đến dễ sợ. Mây móc vào ngọn

thông, thông cắm vào đỉnh núi, đá sừng sững thành vại đổ xuống thung lũng

sâu đầy ngọn cây nhọn như cái hố chông. Chim đứt đường không đủ sức vượt

núi cũng tránh xa quãng đèo chết lặng này” [52, tr.415]. Trong Mẫn và tôi,

không gian được nhà văn chủ yếu miêu tả ở Làng Cá khu V trong năm bản lề

cuộc chiến tranh đặc biệt và cục bộ, ta và địch giành giật quyết liệt tạo nên sự

phức hợp không gian qua lời than thở của một đại úy quốc gia: “Một nước hai

miền, tỉnh quận hai miền, tới một làng hai miền, hai chế độ, sống sao nổi”.

Nhờ cách kết hợp không gian này, thích hợp cho việc tạo kịch tính cho câu

chuyện, sự đối chọi gay gắt giữa hai ta và địch.

Sau 1975, Người cùng quê ra đời, bao quát cả một giai đoạn lịch sử

rộng lớn từ thời kỳ tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám đến kháng chiến

chống Pháp, chống Mỹ, mở ra không gian rộng lớn, trong đó chứa nhiều

không gian khác nhau (không gian chiến trường, không gian đời tư, không

gian tâm linh, không gian thiên nhiên, không gian xã hội….), để nhân vật

69

tham gia các sự kiện. Xét về mặt địa lý, nhân vật của Phan Tứ được trải

nghiệm trong nhiều không gian qua các tỉnh, thành khác nhau: Vũng Tàu,

Biên Hòa, Phan Thiết, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Nẵng, Quảng Nam, Nghệ

Tĩnh, Thanh Hóa, Hà Nội, Phú Thọ, Hải Phòng… và kéo dài sang tận nước

Lào, Nga. Mỗi không gian đều mang tính chất di chuyển theo hoạt động của

con người và gắn liền với một sự kiện nào đó. Để tạo nên một không gian

hoành tráng, đòi hỏi nhà văn phải có tầm bao quát hiện thực và sự tái hiện chi

tiết không trùng lặp. Phan Tứ đã đặt nhân vật từ không gian hẹp đến không

gian rộng lớn và ngược lại, từ thành phố này đến thành phố khác, từ thành thị

đến thôn quê, rừng núi… Khi tạo ra một không gian hoành tráng, dung chứa

nhiều loại không gian khác nhau, nhà văn phải biết chọn một “không gian

điểm” để từ đó triển khai ra nhiều không gian khác, đồng thời miêu tả sự vận

động của tính cách và bước đi của nhân vật qua nhiều chặng đường lịch sử

khác nhau. Chẳng hạn, Phan Chanh là nhân vật trung tâm của tiểu thuyết, xuất

hiện trong bối cảnh xã hội ngột ngạt, đói kém, quân Nhật vào Đông Dương

thế chỗ cho Pháp. Sau 2 tháng vượt ngục từ KonTum, điểm dừng chân đầu

tiên của Chanh là không gian đường phố Quy Nhơn nhằm mục đích móc nối

với cơ sở cách mạng. Đây là không gian đầu tiên để Chanh gặp lại những

người bạn năm xưa và đứa em trai đang chịu cảnh lang thang, đói khổ. Từ

không gian này, Cả Chanh di chuyển tới nhiều không gian khác để thực hiện

những hành động cụ thể, loại không gian này gần gũi với đời sống của con

người: không gian gặp gỡ giữa Chanh và Năm Chò cùng đứa em trai Sáu Cam

sau 9 năm xa cách ở “góc buồng trong” của căn nhà; không gian ẩn náu của

Chanh trong căn buồng của cô Thùy (con gái của ông Hai Rề làm cùng hỏa xa

với Chanh ngày trước) để dò la tin tức cách mạng. Sau khi bắt liên lạc với

lãnh đạo, tình thế cách mạng khó khăn cần phải phát triển cơ sở, Chanh được

cấp trên điều về các địa bàn tạo nên một sức ép không gian: “Nên sắp đặt về

70

ngay Quảng Nam, móc nối tại Hội An, nhận chỉ thị xong là về thẳng quê gốc”

[121, tr.78]. Từ đây, con đường hoạt động cách mạng của Chanh được mở

rộng ra nhiều địa điểm khác nhau. Đó là không gian của “một căn nhà tranh

nằm lọt trong xóm ngoại ô, gần cây số Một từ Hội An lên Vĩnh Điện” [121,

tr.93], nơi mà Chanh, Năm Chò, Sáu Cam sinh sống và tìm cách móc nối cơ

sở; không gian trong: “chiếc thuyền rớ của gia đình Tô Xáng, biến thành trạm

giao thông của tỉnh ủy” [121, tr.101] và Chanh trở thành anh chân sào, mặc

chiếc áo nhuộm chàm với miếng vá trắng ở cùi tay làm tín hiệu, liên lạc với

cấp trên là chị Sáu Lễ – tỉnh ủy viên. Trên chuyến hành trình của nhân vật,

con người không thể bỏ qua không gian vốn gắn bó với họ từ thuở lọt lòng,

đó là không gian gia đình, không gian quê hương. Trở về Linh Lâm, Chanh

được sống trong không khí gia đình ấm cúng, gặp lại những người thân sau

bao năm thoát li. Đồng thời anh được giao nhiệm vụ về làng Linh Lâm để

thành lập đội du kích của xã. Từ đây, các đội du kích đều tham gia buổi lễ

chào cờ ở không gian quảng trường tổng An Sơn với bầu không khí trang

nghiêm, khiến ai nấy không khỏi xúc động. Năm Bưởi “run quá”, Chanh “ứa

nước mắt” và mọi người “nhìn theo lá cờ đỏ thong thả nhích lên, càng vươn

cao càng xòe rộng, quẫy mạnh, khi tới đỉnh thì đập cánh thành tiếng phật

phật nghe rất rõ” [121, tr.280]. Để khẳng định bản lĩnh và trách nhiệm của

bản thân trước biến động của đất nước, con người sử thi không chỉ dừng lại ở

môi trường nhỏ bé mà họ luôn có khát vọng được thử sức ở những môi trường

mới đầy những khó khăn và phức tạp hơn. Phan Chanh là kiểu anh hùng như

vậy. Chanh tình nguyện sang giúp đỡ cách mạng Lào. Sự dịch chuyển hoạt

động của nhân vật Cả Chanh cũng nhằm biểu dương tình hữu nghị giữa hai

nước Việt – Lào. Trong không gian nước Lào, Chanh cùng đồng đội sinh hoạt

trong nhiều không gian nhỏ hơn: không gian “ngôi làng” Hạt Khẹ, không gian

“cái lán nhỏ lợp lá mây giữa rốn một khu rừng mây”[121, tr.674]. Sống ở

71

nước bạn, Chanh học cách ăn mặc, chữ viết, tiếng nói, phong tục tập quán,

những kiểu đi đứng nằm ngồi của Lào. Giờ đây, trong con người Chanh có sự

tích hợp cả hai không gian Việt và không gian Lào. Về sau, Phan Tứ đưa nhân

vật Phan Chanh trải nghiệm trong nhiều không gian: không gian xã hội miền

Bắc trong những năm đi tập kết sau 1954, không gian nước Nga với chuyến

thăm quan học tập. Bên cạnh nhân vật Chanh, các nhân vật cách mạng khác

cũng thử sức trong nhiều không gian khác nhau. Tiêu biểu là không gian

chiến trường. Đây là không gian hữu hiệu nhất chứng minh được tài năng của

nhân vật sử thi cũng như phản ánh cả những mặt thắng lợi, mặt thất bại của

quân dân ta, như không gian: miền Đông Nam Bộ đầy bom đạn ác liệt, mặt

trận Trung Bộ, mặt trận khu tình nguyện Hạ Lào – Đông Bắc Miên. Chẳng

hạn, đại đội của Năm Chò đương đầu với những khó khăn: bom đạn của giặc,

mâu thuẫn trong nội bộ quân ta khiến cho không gian chiến trường ấy càng

thêm căng thẳng và quyết liệt. Khó khăn, hiểm nguy bao nhiêu càng làm con

người ý chí kiên cường bấy nhiêu: “luồng đạn của Năm Chò quật nhào ngay

tổ dẫn đầu, quét sâu táo bạo vào hàng quân đi bên trái”, hai trăm đồng đội

của anh “hét như sấm, xốc súng lao xuống” giết chết tám mươi lính Nhật

trong vòng 6 phút. Như vậy, độc giả thấy được Phan Tứ tạo dựng thành công

loại không gian chiến trường với những cảnh bom đạn, cả những giây phút

hào hùng làm người đọc nín thở, chờ đợi và vui mừng trong cảnh chiến công.

Bên cạnh Chanh, Năm Chò thì các nhân vật như Bảy Quý, Hai Thỉnh, Tô

Xáng….và nhiều chiến sĩ khác đều phải trải qua không gian này.

Song hành với những bước phát triển cách mạng Việt Nam là sự gắn liền

với quá trình chiến đấu và học tập của con người. Con người trải qua nhiều

không gian khác nhau, ở mỗi không gian là khẳng định năng lực và sự trưởng

thành nhanh chóng của họ. Nhân vật Sáu Cam là một điển hình. Anh là thế hệ

thanh niên tiếp nối truyền thống cách mạng cha ông. Từ nhỏ, Cam có tuổi thơ

72

không êm đềm phải xa không gian gia đình, sau đó sống lang thang ở không

gian đường phố. Chính gian khổ ấy, giúp Cam có thêm nghị lực và đến với

cách mạng sớm. Sự nghiệp học hành thôi thúc Cam có những tiến bộ vượt bậc

ở nhiều không gian trường học khác nhau: Trường trung học bình dân, trường

chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng, lục quân Trần Quốc Tuấn, đại học Tổng

hợp Hà Nội, nghiên cứu sinh bên Nga. Đó là kết quả tất yếu của những ngày

tháng siêng năng, ý chí tự học của Sáu Cam. Ngoài ra, anh còn khẳng định

năng lực của bản thân ở không gian chiến trường: có công lớn khi dạy đại đội

của Năm Chò đánh công kiên; không gian tập thể: tham gia đoàn thu

dung;…Mới ba mươi lăm tuổi đời, Cam trở thành “một trí thức cộng sản trẻ,

nổi tiếng học giỏi, được số đông nghiên cứu sinh coi là đặc biệt thông minh,

sẽ thành cán bộ đầu ngành về văn hóa dân gian Đông Á và Nam Á” [121,

tr.441]. Nhờ không gian rộng lớn vượt khỏi phạm vi đất nước Việt Nam nhỏ

bé, Phan Tứ dường như muốn cung cấp cho bạn đọc về một cái nhìn mới đối

với con người vốn xuất phát điểm rất thấp nhưng có thể làm nên những kỳ

tích. Qua nhân vật Cam, nhà văn gieo cho người đọc niềm tin mãnh liệt: lớp

thanh niên kế cận của Đảng sẽ có đủ tố chất và sức mạnh để lèo lái con

thuyền cách mạng Việt Nam đến bến bờ thắng lợi. Như vậy, bước chân của

nhân vật sử thi ngang dọc khắp nơi, không ngừng được mở rộng. Căn cứ để

đánh giá nhân cách con người trong chiến tranh đó là họ phải có ước mơ đi

xa, xông pha vào những nơi nguy hiểm và khó khăn nhất của cuộc sống. Nhân

vật của Phan Tứ đã làm được điều đó. Họ vừa mang trong mình cái vĩ đại

người anh hùng sử thi vừa mang yếu tố đời thường bằng cách sống và làm

việc trong sự đa dạng của các loại không gian khác nhau.

Cái tài của Phan Tứ đã tạo được rất nhiều không gian nhỏ trong không

gian rộng lớn. Để cho những cuộc hành trình của nhân vật được phát triển,

Phan Tứ đã để họ “di chuyển” vào nhiều loại không gian. Đặc điểm của

73

không gian di chuyển trong Người cùng quê là rộng lớn, đa dạng. Chính nhờ

đặc điểm này, tác phẩm có sức lôi cuốn người đọc, dung chứa một kho tàng

trí thức về văn hóa, phong tục nước Lào, Nga. Như nhà nghiên cứu Việt kiều

Đặng Tiến đã nói: “lịch sử đã cung cấp cho Phan Tứ một cốt truyện mà không

một bộ óc cá nhân nào có thể tưởng tượng ra nổi” [34, tr.327]. Tiểu thuyết

chứa dung lượng lớn để miêu tả không gian sinh hoạt: làng Linh Lâm (tế lễ,

chợ phiên, phường dẫy cá…), gia đình ông Tư Chua (cảnh lò rèn, may vá…),

vợ chồng Cả Chanh với “một nhà tranh nhỏ hơn, vách trát đất” [121, tr.557],

khu nhà tập thể “mười sáu thước vuông” của mẹ con Hoàng Lan, ấp Phủ

Đỉnh…và khắc họa cả không gian sinh hoạt của dân tộc Lào. Với đầy đủ các

phương diện: ngôn ngữ, con người, trang phục, nhà cửa, vui chơi, tín

ngưỡng…Phan Tứ đã đưa người đọc đến một nước bạn Lào đa dạng văn hóa

qua những trang sách về chiến tranh. Chứng tỏ, những năm tháng tình nguyện

bên chiến trường Lào của Phan Tứ đã cung cấp cho ông những vốn tư liệu

quý giá. Cái nhìn của Phan Tứ còn mở rộng ra chân trời xa với tầm hiểu biết

sâu sắc. Đó là nước Nga – xứ tuyết trắng với lễ hội trượt tuyết, những mùa

Giáng sinh ấm áp – là nơi Sáu Cam học tập, là nơi những đoàn cán bộ của

Trung ương đi thăm quan và học hỏi kinh nghiệm. Chúng ta còn bắt gặp trong

Người cùng quê nhiều ngôn ngữ khác nhau: tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Lào,

tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp. Ta còn thấy dấu ấn nước ngoài qua chi tiết

thuyền tàu cập bến vào Hải Phòng: “tàu Đaiun Maru của Nhật, Plêiát của Hi

Lạp, Ki rốp của Liên Xô, Đimitrốp của Bungari” [121, tr.19] và những món

ăn: trứng cá Nga, dồi Đức, pho mát Hà Lan, tôm hùm Bắc Phi, cơm rang Ấn

Độ. Ngoài ra, người đọc được mở rộng tầm nhìn khi Phan Tứ để nhân vật

Cam đưa đoàn Việt Nam đi tham quan các nước Cộng hòa Trung Á:

Uzbêkixtan, Azerbaigian,v.v… Như vậy, điểm nhìn của Phan Tứ luôn mở

rộng không chỉ trong phạm vi Việt Nam mà còn hướng đến các nước trên thế

74

giới. Không gian của cốt truyện luôn sinh động, điểm dừng của nhân vật vì

thế cũng đa dạng, phong phú, góp phần tạo nên loại không gian rộng lớn.

Trong Người cùng quê, độc giả còn được tiếp cận với không gian tâm

linh, không gian tôn giáo: miếu thờ cá ông voi, chùa Cầu (Hội An), tháp bà

Pônaga (Nha Trang), miếu đình ở làng Linh Lâm, nhà thờ Thiên chúa giáo.

Đây là những không gian mà con người ít nhiều phải trải qua và gắn bó với

nó. Nhà văn còn hướng ngòi bút tới không gian công cộng: Nhà khách xã

Linh Giang – Quảng Nam để mọi người dừng chân; nông trường Sao Vàng –

Thanh Hóa, Hòn Gai – Quảng Ninh, Hà Nội với những trường đại học, bệnh

viện, những cửa hàng mậu dịch,...Con người sống không chỉ trong không gian

hiện tại mà họ còn hướng về không gian kỷ niệm, không gian tâm tưởng. Việc

nhắc đến loại không gian này, giúp người đọc khám phá sắc nét hơn về chiều

sâu nhân vật. Chẳng hạn, Khánh nghẹn ngào khi nhớ lại kỷ niệm năm xưa qua

không gian: “vạt cỏ êm lọt giữa những bụi sim lòa xòa rậm lá kia là nơi anh

với Mỹ Duyên “loạn” với nhau một lần. Xa hơn nữa có cái rãnh đất nẻ đầy lá

khô, anh giấu hai cây súng mua cho du kích Linh Lâm. Giữa đường từ dương

Nai này đi truông Dơi, anh đặt chỗ hẹn gặp và hộp thư cạnh gốc cây si già,

Năm Chò hay thằng Sáu Cam đến hai ngày một lần nhận tin anh báo về “phe

địch thủ”..” [121, tr.646-647]. Nỗi nhớ nhà của Chanh khi anh đang hoạt

động ở Lào qua không gian tâm tưởng: “nỗi nhớ nhà da diết qua hết chiều

rộng của Đông Dương đến căn nhà tranh nhỏ nằm nép bên bờ sông Linh, đến

người vợ rất hiền lành đang nuôi trong bụng đứa con thứ hai của anh, nơi có

voi rống cọp gầm và máy bay gào thét tìm giết hai mẹ con” [121, tr.691].

Hiện thực cách mạng, hiện thực cuộc sống muôn màu muôn vẻ nên con người

không tồn tại duy nhất một tính cách. Tính cách con người thường xuyên biến

đổi và chịu sự tác động của môi trường sống. Vì vậy, trong Người cùng quê,

75

chúng ta còn bắt gặp loại không gian khá đặc biệt – không gian phức hợp: có

người về sau chuyển hẳn về phía cách mạng, có người phản cách mạng. Lúc

đầu, Mỹ Duyên được biết đến là một gái nhảy, vợ ba quan phủ ăn chơi khét

tiếng, về sau được sự tác động của cách mạng, Duyên trở thành cở sở của

Đảng. Ba Mít, Khánh, Tú Đỉnh, Quốc Trấn,…lại ngả hẳn về phía kẻ thù.

Không gian này phản ánh tính chất phức tạp bước đi của cách mạng Việt

Nam.

Muốn phản ánh mọi hoạt động của một số lượng nhân vật đông đảo cùng

thời điểm, Phan Tứ phải xen kẽ nhiều loại không gian khác nhau mà các nhân

vật tham gia trong tác phẩm. Có thể là xen kẽ, lắp ghép nhiều loại không gian:

không gian gia đình, không gian tập thể, không gian công cộng….Chẳng hạn

chương IV, tr.75, tập 3, nhà văn đang miêu tả không gian kí túc xá ở trường

đại học của Sáu Cam, sau đó lắp ghép nhiều mảng không gian khác: bệnh

viện Phủ Doãn, nhà tập thể,…Vì vậy, người đọc luôn có cảm giác được khám

phá nhiều không gian mới lạ, giúp câu chuyện không đơn điệu. Thông thường

trong nhiều tác phẩm, không gian của địch là không gian chiến trường với

đầy sự chết chóc, bom đạn và hỗn tạp, nhưng với Người cùng quê, Phan Tứ

đã cho người đọc một bức chân dung gần như hoàn thiện về nhân vật kẻ thù.

Chúng có lai lịch, có hoàn cảnh riêng, được mô tả chi tiết sống động xung

quanh không gian thân cận. Tiêu biểu là nhân vật Pie Laphacso. Ngoài tồn tại

trong không gian chiến trường, y còn có mặt trong không gian gia đình ở đồn

điền vùng Linh Lâm và không gian quê hương ở nước Pháp.

Tiểu thuyết Người cùng quê, còn hấp dẫn người đọc ở loại không gian

thiên nhiên. Đó là không gian con sông Linh: “trong vắt chảy róc rách trên

cuội dẹt” là nơi xuôi ngược của biết bao thuyền đò. Hình ảnh không gian sông

Thu Bồn hiện hình cùng năm tháng, đã gắn kết cùng những thăng trầm trong

lịch sử của con người: “Sông Thu Bồn sáng chói như tấm gương soi cắt cong

76

qoeo. Bãi cát sỏi ven sông nóng rực, chân người bước ra khỏi rợp cứ như

giẫm trên nền tro” [121, tr.531]. Ngoài ra, người đọc còn bắt gặp một không

gian thiên nhiên – không gian ánh trăng rất thơ mộng: hình ảnh trăng qua thủ

pháp nhân hóa, đối lập góp phần câu chuyện trở nên thi vị hơn, làm cho sự vật

như được hồi sinh: “Mảnh trăng hạ tuần đã lên cao, tỏa ánh xanh mát rượi

giữa trời nước” [121, tr.92]. “Trăng rằm âu yếm rưới mãi những đốm và

mảng xanh tuyệt vời xuống trần cho tất cả cùng trẻ lại. Trăng xóa trên mặt

người những nếp nhăn khắc khổ nhọc mệt. Trăng đổi màu cây cỏ mùa đại

hạn sẫm nặng ra xanh non mơn mởn tiết Thanh Minh… [121, tr.595]. Với

Phan Tứ, trăng giống như một người bạn, một cỗ máy thời gian trên con

đường hành quân của người lính: “phải nắm chắc và tính kỹ những đêm trăng

và đêm sao…nếu không muốn bò qua rào thép gai dưới trăng rằm xỏ kim

được…người lính theo dõi trăng, nhớ trăng, thèm từng giờ trăng…” [121,

tr.596]. Ngoài ra, không gian thiên nhiên được Phan Tứ khai thác để miêu tả

bức tranh sự kiện. Có khi không gian thiên nhiên trở nên bức bối, như một

báo hiệu sự kiện có tính chất căng thẳng sắp diễn ra: “Mưa trút từng cơn từ

nền mây xám đen như khói tàu dầu bốc cháy. Gió đổi chiều không ngớt, khi

thổi phía Phương Mai vào, khi mé Gành Ráng thổi ra” [121, tr.38]. “Một cơn

bão trái mùa nào đó đang dồn ứ trên thành phố mới vào Xuân. Sống giữa trời

yên biển lặng mà con người thấy như không khí bị nén ngột ngạt, sấm sét và

gió cuồng sắp ập xuống đầu” [121, tr.54]. Trong buổi tuyên thệ của đội du

kích Linh Lâm, thiên nhiên cũng góp phần chứng giám giây phút thiêng liêng

ấy: “Chiều ấy không mưa dông. Mặt trời trước khuất núi tỏa lên một vầng đỏ

rực khắp nửa bầu trời, phía núi ông Tượng cũng vắng hẳn tiếng voi rừng thi

rống trước khi ngủ. Rừng núi Linh Lâm ngừng thở, nhận vào lòng lời thề

trang nghiêm nhất của những người khởi nghĩa” [121, tr.180].

77

Nhờ cách tổ chức kiểu không gian hoành tráng, rộng lớn mà Phan Tứ đã

cung cấp một khối lượng tri thức khổng lồ về xã hội Việt Nam, tiêu biểu vùng

Trung Trung Bộ từ đầu Cách mạng tháng Tám đến giai đoạn kháng chiến

chống Mỹ. Đây cũng là loại không gian mang tính chất điển hình của tiểu

thuyết sử thi. Chẳng hạn, trong Cửa biển của Nguyên Hồng đã chọn một

không gian rất đắc địa, đó là “Cửa biển”. Từ không gian này, nhà văn cho

nhân vật lan tỏa trong nhiều không gian khác nhau. Các nhân vật từ khắp nơi

trôi dạt về cửa biển sống trong không gian trôi nổi như kiếp phù du. Trong

không gian thành thị, kiếp người này hòa lẫn cả không gian nông thôn. Họ ôm

trong lòng cả không gian cố hương khi đang sống trong không gian tha

phương. Phố cảng cũng mở cửa để đón những nhân vật đến từ những không

gian xa lạ như: Pháp, Nhật, Trung Quốc, Hồng Kông (Anh)... Cửa biển Hải

Phòng trở thành một không gian văn hóa ô hợp đủ cả Đông Tây kim cổ. Đó là

một thế giới thu nhỏ gồm đủ mọi hạng người, hoạt động trên nhiều tuyến khác

nhau tạp thành sự bề bộn của hiện thực được phản ánh. Như vậy, các nhà văn

đều có ý thức tạo dựng những không gian rộng lớn để nhân vật của họ hoạt

động đa dạng. Và càng xây dựng được nhiều loại không gian khác nhau để

nhân vật trải nghiệm thì nhà văn càng chứng tỏ tài năng của mình trong việc

bao quát hiện thực xã hội, hiện thực con người.

3.1.2. Thời gian không theo logic tuyến tính, có thể đảo chiều một cách tự do

Nhân vật sống và hoạt động trong không gian rộng lớn và đa dạng phải

có yếu tố thời gian tương xứng. Thời gian trần thuật trong Người cùng quê có

thể là thời gian vật lý, thời gian nhân vật, thời gian tập thể, thời gian lịch sử

sự kiện… các thời gian này đi cùng với các chiều (quá khứ – tương lai – hiện

tại) để tạo nên cấu trúc thời gian hoàn chỉnh cho tác phẩm. Trong Người cùng

78

quê, Phan Tứ sử dụng nhiều thủ pháp thời gian: lặp lại, hồi tưởng, chuyển đổi,

định lượng, ngưng đọng, đón trước, bất ngờ, luân phiên, kéo giãn, đảo tuyến,

dồn nén…Mỗi nhân vật đều có một thời khóa biểu, một nhịp độ hoạt động.

Các nhân vật chính được tác giả đặt trong biên độ thời gian đa dạng. Ngay từ

những trang viết đầu tiên, Phan Tứ đã tóm gọn hành trình của nhân vật Cả

Chanh trong khoảng thời gian dồn nén: “Sau hai tháng luồn lách, Cả Chanh

vượt ngục Kon Tum đã về đến Quy Nhơn. Chen lẫn vào dòng phu từ bến cảng

về, anh tìm đến xóm Ga, nơi có nhiều bạn bè và cơ sở cũ” [121, tr.10]. Tuy

nhiên, anh vẫn đang chịu sự truy lùng của cảnh sát nên mỗi bước đi phải thận

trọng, quan sát mọi thứ xung quanh và nhiều khi thời gian ngưng đọng vì gặp

những lối đi không an toàn “nửa giờ sau, anh dừng dưới một cây bàng bên bờ

sông vắng, gần nhánh đường sắt từ ga xuống bến. Không ai đuổi theo. Ngồi

nép vào gốc cây sần sùi, anh đưa tay quệt trán vào mặt bị đất bám đầy” [121,

tr.13]. Tại Quy Nhơn, Chanh tìm gặp những người bạn cũ, đứa em trai. Họ

cùng chí hướng, tìm cách liên lạc với cơ sở cách mạng. Trong tình thế cấp

bách, Chanh cùng Năm Chò được cấp trên chỉ thị từ Quy Nhơn về ngay

Quảng Nam quê nhà để xây dựng phong trào và chuẩn bị công tác cho tổng

khởi nghĩa trong khoảng thời gian dồn nén: “mười một ngày sau họ lên

đường”. Trong không khí cả nước chuẩn bị tổng khởi nghĩa, những lớp người

cùng trải qua thời gian cách mạng lớn lao: Cách mạng tháng 8/1945, đánh

đuổi thực dân Pháp, chấm dứt chế độ phong kiến, đánh đuổi phát xít Nhật. Đó

là giờ khắc lịch sử làm thay đổi diện mạo đất nước và cả số phận con người.

Khí thế cách mạng ấy lan tỏa nhanh chóng tới Hội An, Đà Nẵng và tác động

tới từng gia đình, từng con người (quan phủ, lý trưởng, gái nhảy, anh lính khố

đỏ, ông thợ rèn, sinh viên trường luật…) và cả làng Linh Lâm – vùng đất ở

miền sơn cước. Cách mạng ập đến biến người con cả của ông Tư Chua lò rèn

thành một cán bộ Việt Minh; một quan phủ Ung Viết Đỉnh luồn lách theo thời

79

thế trở thành phó Chủ tịch Liên Việt huyện Tây Quảng. Hay hình ảnh làng du

kích Linh Lâm gieo vào lòng người đọc một niềm say mê cách mạng mà Phan

Tứ đã thể hiện thành công: “ngày làm, đêm họp. Họp mãi thành quen, đêm

nào vắng tiếng loa, tự dưng họ thấy ngứa ngáy thế nào, phải chạy sang nhà

hàng xóm hỏi xem có phải mình đi rừng đi ruộng hụt nghe loa gọi không?”

[121, tr.226]. Nhà văn còn đưa người đọc vào cảm nhận sự việc chịu sức ép

về thời gian. Chẳng hạn, việc xây dựng các đội du kích: “ngày thứ nhất”, học

các điểm trong chương trình Việt Minh thì không khí cứ trầm trầm như họ

nghe quan về hiểu dụ thật. “Ngày thứ hai”, họ nói năng rầm rộ hẳn lên…Cuối

ngày thứ hai, đội du kích được thành lập, gồm hai tiểu đội, đến “ chiều thứ ba,

đội du kích được tổ chức lại thành ba tiểu đội”. Khi mọi thứ đã chuẩn bị xong

nhưng thời gian trì hoãn chỉ đợi lệnh về khởi nghĩa: “Mưa. Lại mưa nữa.

Lệnh vẫn chưa về”. Và Phan Tứ để người đọc rơi vào yếu tố thời gian “bất

ngờ” khi cánh quân Chanh kéo vào tổng An Sơn giành chính quyền thì khởi

nghĩa đã diễn ra sớm hơn một ngày, khiến ai nấy phải hành động khẩn trương,

vội vã. Cả một sự kiện tổng khởi nghĩa có tính chất bước ngoặt chỉ được Phan

Tứ miêu tả trong 60 trang sách (tr.260 - tr.320) và thời gian đúc kết dồn nén

trong một câu văn ngắn gọn: “Chỉ trong mười hai ngày, cả nước làm xong

cuộc đổi đời” [121, tr.320]. Bước sang giai đoạn cách mạng mới, thời kỳ

chống Pháp, chống Mỹ, các nhân vật phải tham gia và trải qua những thời

gian sự kiện tổng phản công, chiến dịch Đông Xuân, chống càn của Mỹ -

ngụy. Bên cạnh đó, Phan Tứ mô tả hoạt động của nhân vật, của cách mạng

thông qua nhiều mốc thời gian biên niên cụ thể: “Đà Nẵng, tháng chạp năm

1946. Quân Pháp xé hiệp định 6-3-1946, đổ bộ ào ào tới số vạn”; “Năm

1946, xưởng quân giới Cao Thắng II về đóng trong khu đồn điền La Phạt”;

“Năm 1950 sôi nổi chuẩn bị Tổng phản công cũng là năm rộn rịp nhất của

làng Linh Lâm và vùng thung lũng sông Linh được gọi là xêca đơ, tức Chiến

80

khu Hai”; Đến năm sau, 1965 máy bay Mỹ các cỡ bắt đầu ùa lên rải bom;

Tháng 2 và 3 -1976, suốt một tháng rưỡi, địch mở chiến dịch Giăngsơn Xiti

lớn nhất Đông Dương với bốn vạn quân Mỹ đánh vào vùng “Đầu não của VC

miền Nam”,v v v….

Trong tác phẩm, Phan Tứ để nhân vật tham gia nhiều hoạt động, nhiều sự

kiện ở nhiều không gian khác nhau, do đó nhiều khi nhân vật đặt trong tình

thế phải thực hiện hành động nhanh gọn. Phan Tứ đưa người đọc vào cảm

nhận thời gian gấp gáp hơn. Chẳng hạn, Chanh tranh thủ thời gian để về thăm

người yêu ở Quy Nhơn vì “anh phải đi ngay bây giờ, bộ đội đang chờ anh ở

ga Diêu Trì” [121, tr.440]; địch chuẩn bị đổ bộ Nha Trang, Chanh phải quyết

định nhanh đi đường tắt để tiếp tế cho đại đội Một và rút về mặt trận Nha

Trang. Mỗi nhân vật lại trải qua một thời gian khác nhau và cảm nhận khác

nhau về nó. Với Chanh, thời gian kéo giãn: “mất đúng một tháng rưỡi” anh

mới được ra viện trong khi công tác cách mạng bộn bề, nhưng với chiến thắng

của đội quân Năm Chò ở Xuân Lộc - Đồng Nai thì thời gian thắng lợi nhanh

gọn để khẳng định sức mạnh của đội quân: “Tất cả hết sáu phút! Sáuúu

phúuút”. Khi thời gian sự kiện năm 1949 tai nạn ập xuống gia đình Chanh:

đứa con trai đầu chết vì bom đạn khiến Chanh chịu sức ép về tâm lý, anh viết

đơn xin nghỉ dài hạn về thu xếp việc nhà. Về Linh Lâm, Chanh sống trong

thời gian gia đình với những sinh hoạt đời thường hàng ngày, còn thời gian

cách mạng tạm thời ngưng lại. Sự kết hợp giữa thời gian cách mạng và thời

gian gia đình cho thấy hình ảnh người anh hùng sử thi gắn kết hơn với cuộc

đời thường. Điều này càng tỏa sáng hơn cách nhìn về con người anh hùng

trong thời đại mới. Do yêu cầu của Đảng, Chanh sang giúp đỡ cách mạng

Lào, trải qua thời gian tập thể sống cùng đồng bào, đồng chí tình nguyện

Itxala, Chanh đã tích lũy được nhiều kiến thức về văn hóa Lào cũng như hóa

giải những bất đồng quan điểm trong nội bộ (Chín Khiết).

81

Mỗi nhân vật trong tác phẩm có cách đong đếm và sử dụng thời gian

khác nhau. Đối với người lính hành quân thì thời gian ngày- đêm được

chuyển đổi cụ thể: “người lính địch hậu quen biến đêm thành ngày nhưng

ngày lại chẳng chịu hóa thành đêm cho người được người được nghỉ trọn

giấc” [121, tr.596]. Với Sáu Cam thì quãng thời gian học ở Nghệ Tĩnh trôi

nhanh vùn vụt: “Mới đấy mà đã tám tháng qua, chóng ghê” [121, tr.601].

Cam nghĩ về Năm Chò và về bản thân trong thời gian tập kết ra bắc sau 1954

bằng phép so sánh: “bốn năm tập kết ra bắc đối với anh cứ trôi thẳng tuột,

nhẹ nhõm. Còn đối với mình, sao cứ phải lo toan quanh quẩn mãi thế?” [121,

tr.12]. Thời gian “hơn hai năm” là mức định lượng để anh lính Năm Chò nhận

ra sự trưởng thành của Sáu Cam: “hồi Nam tiến nó chưa tới nách tôi, bây giờ

nó hơn tôi nửa cái đầu”. Hai năm không ngắn cũng không dài nhưng đó là

khoảng thời gian làm con người thay đổi về cả thể chất và trí tuệ. Qua những

thời gian thử thách trong cách mạng, Năm Phi Đao từ một anh lính đê đầy

những tật xấu: ăn nói buông tuồng, ham rượu, ham gái, hay quát nạt, vô kỷ

luật…nay đã trở thành một chỉ huy ngăn nắp có kỷ luật. Thời gian cũng là

thước đo lòng chung thủy giữa Thùy và Chanh: “gần hai chục năm rồi, anh

vẫn thương yêu em tới vậy sao? Lắm người chê anh là hẹp hòi, máy móc, quá

nguyên tắc, nhưng không một ai chê anh bậy bạ với đàn bà. Anh chung thủy

với em, em cũng đền đáp bằng thủy chung” [121, tr.317]. Với đại đội 8 đóng

quân ở dãy Trường Sơn thì thời gian vật lý: “sáu ngày” là thước đo, chứng

minh cho năng lực lãnh đạo của nhân vật Lý Đằng - phó giám hiệu trường

Lục quân Quảng Ngãi, đánh vào đồn 76 lì lợm do tên Pie Laphacso cầm đầu.

Bởi “chẳng hiểu vì sao lần này một cán bộ Trường lại lọt lưới đến chỗ Năm

Chò! Vây đồn đến ngày thứ sáu rồi, bộ đội đói và bẩn, mất ngủ phờ phạc,

thương vong đến bảy người mà vẫn không chặn được pháo cối địch, trái lại

cứ phải giơ lưng mà ăn bom đạn đủ cỡ của chúng! Lính cáu kỉnh, Ban chỉ huy

82

bực tức” [121, tr.742]. Không miêu tả thời gian một cách trực tiếp nhưng hình

thức nhật ký mang tính chân thực cao, nó cho người đọc thấy hòa trộn thời

gian lịch sử sự kiện và lịch sử tâm hồn nhân vật. Chẳng hạn, thông qua những

dòng nhật ký của nhân vật Hai Khánh (hiện làm ở trại binh vận của tỉnh) –

một con người nhiều nội tâm phong phú và phức tạp. Mười trang nhật ký

(tr.721 – tr.731) bắt đầu được viết từ mốc thời gian ngày cụ thể “ngày 27-5-

1951” đến ngày “14-6-1951” miêu tả chi tiết sự kiện trong ngày mà nhân vật

trải qua cũng như được biết đến. Nó phản ánh thế giới nội tâm của Hai Khánh

với nhiều cung bậc cảm xúc khi đối diện trước các sự việc, đặc biệt là những

day dứt về hình ảnh đứa con bị bỏ rơi với Năm Bưởi: “Chung ơi, con ơi, thiên

thần của ba và quỷ dữ của ba ơi, con đừng ám ảnh ba nữa đi, ba sắp điên rồi

đây!” [121, tr.721].

Con người không chỉ sống trong thời gian hiện tại mà họ luôn có mối

liên hệ và gắn kết với thời gian trong quá khứ. Do đó, đan xen hiện tại và quá

khứ là một phương thức thể hiện cách nhìn nhận mới về con người. Trong

nhiều tác phẩm viết về chiến tranh thời kỳ đang chiến đấu, “mạch tư duy

mang tính chất so sánh của nhà văn thường gắn liền giữa hiện thực chiến

tranh đang diễn ra với việc trở lại quá khứ của nhân vật tham gia chiến tranh

để nhằm làm bật lên quá trình trưởng thành của con người trong chiến đấu.

Phép so sánh duy nhất để khám phá nhân vật tích cực – anh hùng thường là

nhắc lại quá khứ đau khổ bị áp bức của họ” [14]. Trong Người cùng quê, tác

giả sử dụng cả hai hình thức đảo ngược thời gian: tác giả lui về quá khứ để

giới thiệu quãng đời đã trải qua của nhân vật; để cho nhân vật hồi tưởng lại

những sự việc qua những suy nghĩ hoặc tự kể lại. Với hình thức này, việc

miêu tả quá khứ để giúp người đọc hiểu rõ hơn về nhân vật. Đó là những

dòng hồi tưởng về quá khứ của nhân vật: Cả Chanh, Sáu Cam, Năm Chò, Tư

Chua, Tô Xáng, Bảy Qúy…Chẳng hạn, qua lời kể của Chanh về quá khứ của

83

Năm Chò: “Hồi đánh Tây với Xiêm, hắn có dự vài trận. Hắn bạt tai cấp trên

phải vô Chí Hòa, ra sau anh, lại đi tiếp khố đỏ đóng lon cai. Rượu chè hơi

nhiều mà rất ghét Tây. Phục cộng sản lắm đó, phục từ hồi ở tù kia” [121,

tr.91]. Việc kể lại quá khứ của Năm, để thấy được tính cách ngay thẳng,

cương trực con người của Chò. Hoặc Chò xen kẽ câu chuyện trong quá khứ

của mình “rình giết thằng Tây chủ đồn điền” khi đang nói chuyện với Sáu

Cam. Thỉnh thoảng Năm kể lại từng mẩu đứt đoạn về cái “cuộc đời chó đểu”.

Hay nhắc lại về tài năng của Chanh để so sánh với hiện tại: “hồi xưa anh viết

chữ nhỏ và đẹp lắm, văn chương ngang nhà báo. Đây chữ bằng gà mái, giọng

như bô lão” [121, tr.76]. Bằng bút pháp xen kẽ hiện tại và quá khứ sẽ cho

chúng ta thấy được điểm mạnh – điểm yếu của nhân vật. Từ đó, con người

được nhìn nhận tất cả những gì thuộc về bản chất của họ.

Như trên đã nói, Phan Tứ sử dụng nhiều thủ pháp thời gian. Ví dụ, trong

chương XIII tập 3, tr.289, tác giả thông báo việc Chanh nằm mê man bên bờ

suối được Tơbon tìm thấy và dìu anh về không gian “cái chòi cũ”, chưa giải

thích chuyện gì đã xảy ra với anh. Đó là cách “đón trước” sự kiện. Tác giả

“bỏ lửng” chi tiết Chanh đang nằm trong chòi, sau đó nhà văn “hồi tưởng”

trận càn lớn “tát nước bắt cá” vào thời gian “mùa xuân năm ngoái” đầy ác liệt

tại không gian các làng du kích Blin và Blam, rồi quay lại thời gian hiện tại

“lược thuật” sự kiện “tháng ba năm nay, 1964, bùng ra trận càn lớn gấp bội

năm ngoái vào mật khu Đô Xá của Liên khu Năm kèm theo cuộc càn ác liệt

vào miền Tây của các huyện Tây Quảng, Trà Mi, Tam Kỳ” [121, tr.291] và

“chêm xen” thời gian Chanh về Tây Quảng mươi ngày sau khi địch đánh thọc

sâu, các làng được giải phóng “hoa nở trong lòng”. Phan Tứ tiếp tục kể diễn

tiến hoạt động của Chanh ở huyện ủy Tây Quảng. Từ chuyện đi câu cá ở suối

cùng con Dồ, Chanh bắt gặp đợt truy quét của địch nhưng Chanh vẫn ở thế

chủ động. Người đọc rơi vào cảm giác hồi hộp và “bất ngờ” tưởng Chanh bị

84

bắt khi địch hò hét: “Bắt sống Việt cộng…bắt sống”, anh vẫn bắn trả và không

bị bắt. Mặc dù địch tiến sát chỗ Chanh và có thể bắt sống anh nhưng nhà văn

đã giải thích sự thoát chết của anh bằng lí do: “Lâu nay vẫn thế, hễ biết Việt

cộng có thể bắn trả là chẳng đứa nào vọt lên trước: dại gì chết uổng cho đứa

khác lãnh thưởng” [121, tr.296]. Anh bị thương, mất máu nhiều, tự băng bó

vết thương trong một câu văn với biên độ ngắn: “anh chỉ đủ sức mở túi muối,

xát một nhúm vào chỗ quần bà ba rách che vết đạn xé thịt, ngất lịm luôn”

[121, tr.297]. Sự xuất hiện của cô Tơbon không có báo trước, cô dìu anh về

căn lều. Đến đây, người đọc đã giải đáp được sự kiện. Theo dõi trong vài

trang sách, người đọc không tránh khỏi sự tò mò, sự hồi hộp, điều này là do

nhà văn xây dựng được những tình tiết hấp dẫn, ly kỳ và cuốn hút độc giả.

Như vậy, không gian và thời gian nghệ thuật là một trong những yếu tố

góp phần thể hiện quan điểm nghệ thuật của nhà văn về cách nhìn con người.

Không gian và thời gian trong tiểu thuyết sử thi không chỉ hướng về tính chất

sử thi mà nó gần gũi hơn với cuộc sống con người cá nhân.

3.2. Kết cấu đa tuyến

3.2.1.Tuyến nhân vật và tuyến sự kiện đan chéo vào nhau

Nói đến kết cấu của tác phẩm là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh

động của tác phẩm” [29, tr.156]. Nó tổ chức mối liên hệ giữa các yếu tố thuộc

nội dung tác phẩm và các yếu tố thuộc hình thức, xử lý mối liên hệ giữa tuyến

sự kiện và tuyến nhân vật, tổ chức các yếu tố tự sự sinh động, miêu tả tĩnh

tại...Chính điều này giúp kết cấu giữ vai trò bộc lộ tư tưởng chủ đề tác phẩm.

Tùy theo nhu cầu phản ánh bức tranh hiện thực xã hội đến đâu thì nhà văn lựa

chọn một loại kết cấu cho tác phẩm phù hợp.

Người cùng quê mang tầm bao quát hiện thực lịch sử, hiện thực con

người đa dạng, nhiều mối quan hệ đan xen nhau, nhiều mặt khác nhau của con

người trong đời sống hàng ngày. Để đáp ứng nhiệm vụ nghệ thuật đặt ra trong

85

tác phẩm, nhà văn sử dụng hình thức kết cấu theo tuyến nhân vật. Lối kết cấu

này được dùng phổ biến trong các tiểu thuyết sử thi hiện đại. “Đặc trưng kết

cấu của những bộ tiểu thuyết sử thi hiện đại là tính cách nhiều tuyến, nhiều

bình diện, sự luân phiên giữa các cảnh khác nhau, sự đan chéo giữa những

tuyến cá nhân và những tuyến lịch sử ” [22, tr.219]. Người cùng quê là tác

phẩm có quy mô lớn trên dưới 100 nhân vật với đủ các thành phần xã hội

khác nhau: quan lại, địa chủ, trí thức, công nhân, nông dân; từ người già đến

trẻ em với nhiều tính cách khác nhau, nghề nghiệp, trình độ khác nhau. Kết

cấu xoay quanh số phận nhân vật, theo sự phát triển của các sự kiện, nhân vật

lần lượt xuất hiện và diễn biến theo trình tự của nó. Kết cấu của Người cùng

quê có hai tuyến lớn đi song song với nhau, đan chéo vào nhau: tuyến các sự

kiện chính trị, xã hội – kinh tế; tuyến gia đình, nhân vật. Trước đây, Phan Tứ

cũng như nhiều nhà văn khác chủ yếu xây dựng theo lối kết cấu đơn tuyến và

xây dựng trên một chuỗi biến cố nhất định. Tiểu thuyết Trước giờ nổ súng,

Gia đình má Bảy được xây dựng theo kết cấu đơn tuyến. Câu chuyện Trước

giờ nổ súng xảy ra trên đất Lào vào tháng 12 năm 1952 khi quân Pháp được

Mỹ giúp đỡ ra sức càn quét và Bộ tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam đang

chuẩn bị mở một chiến dịch mới. Truyện xoay quanh quá trình hoạt động của

đội trinh sát chuẩn chiến CC3. Họ có nhiệm vụ điều tra tình hình địch ở khu

vực Pà-thạc, một địa bàn mà quân tình nguyện Việt Nam và Lào dự định mở

cuộc tấn công. Nhóm trinh sát thu được kết quả, mang báo cáo trở về căn cứ.

Trên đường đi, toàn đội bị phục kích. Trải qua nhiều gian khổ cùng những

mất mát hy sinh, cuối cùng các chiến sĩ trung kiên đã mang bản thảo báo cáo

về căn cứ trước giờ nổ súng. Đến Gia đình má Bảy, Phan Tứ phản ánh sinh

động phong trào đồng khởi của một xã khu V kiên cường thông qua nhân vật

trung tâm là má Bảy. Cốt truyện xoay quanh diễn biến tư tưởng của má Bảy

và hai người con của má, nhà văn cho thấy sự trưởng thành cách mạng của

86

quần chúng xã Kỳ Bường, của nhân dân miền Trung Trung Bộ và rộng hơn

là của cả miền Nam trong bước ngoặt lịch sử 1960- 1961.

Sau 1975, Người cùng quê xây dựng nhiều sự kiện, mang nhiều chủ đề

nên kết cấu không đơn giản chỉ xoay quanh một vài nhân vật, một vài sự kiện.

Ở đây, tuyến lịch sử - sự kiện, tuyến nhân vật đan chéo vào nhau. Phan Tứ

bằng những trải nghiệm, ông chứng tỏ tài năng, bằng lao động nghệ thuật

nghiêm túc để giải quyết số phận nhân vật, mọi vấn đề trong đời sống hàng

ngày, đến từng ngóc ngách phố phường, rừng núi trong bộ tiểu thuyết còn

dang dở này. Thông qua tác phẩm này, Phan Tứ đã đạt tới thành công của

nghệ thuật tiểu thuyết sử thi hiện đại. Đó là sự hòa lẫn với nhau một cách biện

chứng giữa lịch sử và cá nhân, sự kiện và tính cách. Những mâu thuẫn xã hội

được nhà văn chuyển thành xung đột mang tính nghệ thuật, nghĩa là xung đột

giữa các số phận cá nhân. Các nhân vật cùng tồn tại trong một điều kiện xã

hội như nhau. Tuy nhiên, những biến động của lịch sử và hoàn cảnh sống đã

tác động đến cuộc đời và tính cách của con người là khác nhau. Điều này làm

nên tính đa diện trong tính cách của mỗi người. Ngay từ những ngày ở chiến

trường, Phan Tứ đã từng ấp ủ một Người cùng quê mang tầm vóc với Chiến

tranh và hòa bình, nên ông cố gắng thể hiện những biến cố cách mạng và hiện

thực con người một cách chân thực và sống động. Tham gia vào nhiều sự kiện

khác nhau, các nhân vật có quan hệ với nhau tùy theo đặc điểm về giai cấp,

tình cảm, gia đình, xã hội...tạo nên những tuyến nhân vật đa dạng: Phủ Đỉnh –

Khánh – Mỹ Duyên, Bảy Quý – Tô Xáng – Ba Dĩnh – Chanh – Năm Chò –

Cam, Chanh – Thùy, Cam – Lan, Ba Mậu – Hùng Minh – Phủ Đỉnh, tuyến gia

đình Tư Chua, tuyến gia đình Lêông Laphacsơ. Cuộc đời của các nhân vật

giống như những lát cắt qua nhiều sự việc khác nhau và tính cách của họ phát

triển trong sự đa dạng, phức tạp. Mỗi tuyến nhân vật là một bức tranh về hiện

thực con người như nhân vật cách mạng: vợ chồng Bảy Quý, Hai Thỉnh, Tô

87

Xáng, Bảy Tộ, Chanh, Năm Chò....đến lớp thanh niên tiếp nối truyền thống

đấu tranh cách mạng như Sáu Cam, Thanh Yên; nhân vật phản cách mạng:

Phủ Đỉnh, Ba Mít, Quốc Trấn, Bảy Bòng; nhân vật lừng khừng: Ung Viết

Khánh; nhân vật cơ hội: Trà Đình Mậu; nhân vật trung gian: Cửu Áng...

Chẳng hạn, một Phủ Đỉnh biết luồn lách theo thời thế, biết ngoi lên đỉnh ngọn

sóng và đứng vững trong bão táp cách mạng, ông ta xuất thân từ một quan

phủ nhưng khi phong trào Việt minh thắng lợi làm chủ tổng khởi nghĩa thì

nhanh chóng ông bước qua hàng ngũ cách mạng làm chủ tịch Liên việt xã.

Một Ung Viết Khánh lạc loài, lầm lỡ trước cuộc đời - bỏ hàng ngũ cách

mạng, bị cuốn theo chế độ cộng hòa. Một Mỹ Duyên túc trí đa mưu, từ một

nữ sinh trường đầm, cô bỏ dở dang, ăn chơi và làm vợ lẽ của quan phủ đáng

tuổi của cha mình. Với những tính toán sắc sảo, cô bòn rút tiền của ông chồng

già, đóng kịch xuất sắc làm thân vợ ba trong gia đình Phủ Đỉnh. Nhưng khi

dòng thác cách mạng diễn ra ít nhiều tác động làm thay đổi cuộc đời Duyên.

Nhờ sự thông minh và học thức, cô nhanh chóng bắt kịp với sự thay đổi của

lịch sử, làm phóng viên có tên tuổi cho nhiều tờ báo quốc tế. Cuối cùng nhờ

sự vận động của cách mạng, Duyên trở thành một cơ sở vững chắc của Đảng.

Để thấy được sự vận động tính cách của con người thì “nhân vật của Phan Tứ

thường được soi xét trong nhiều mối quan hệ xã hội và nhà văn không né

tránh việc đề cập những sự phức tạp trong các mối quan hệ giữa những con

người cùng ở trong hàng ngũ cách mạng và phần nào cả những mặt tiêu cực,

những tổn thất hy sinh khó tránh khỏi” [73, tr.456]. Phan Tứ tỏ ra chân thật

khi miêu tả cả những mặt trái trong nội bộ cách mạng của ta, phơi bày những

“ông tướng” đạo mạo, cửa quyền, hay đố kị đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Nhân vật Ba Mậu là một điển hình. Ông ta đến với Đảng, cách mạng cũng

xuất phát từ động cơ cá nhân vì đã từng “nuôi ý định tiến thân bằng báo chí,

viện dân biểu, trở nên một chính khách có tên tuổi tiêu biểu cho giới trẻ trí

88

thức tây học trẻ” [121, tr.506]. Với tâm thế mong muốn được quyền “tham

chính”, nên ông luôn tìm mọi cách tạo cho mình chỗ đứng an toàn và lợi lộc

nhất trong những chấn động rối ren của xã hội. Trong khi Chanh lao tâm về

Sở hỏa xa thì Ba Mậu ghen tức, tìm cách hạ bệ Chanh. Về sau, ông ta chọn

cho mình chỗ đứng trong “phó ty Giáo dục thuộc tỉnh khu Tư, sa vào một vụ

bê bối nào đó, đã được “đá lên” nhận việc tuyển sinh vào đại học, xoay ngay

được căn hộ khá sang ở Hà Nội” [121, tr.362]. Bên tuyến nhân vật cách mạng

là những Chanh, Bảy Quý, Tô Xáng, La Giang...sống theo lí tưởng vì sự

nghiệp giải phóng đất nước. Cuộc đời của họ gắn liền với nhà tù, chịu đựng

tra tấn của kẻ thù. Nhưng chân lý cách mạng mà họ đã lựa chọn, họ chấp nhận

hy sinh tất cả của hạnh phúc bản thân. Cuộc đời của Chanh là thước phim với

những cảnh tròn trịa về quãng đường hoạt động cách mạng cũng như đời tư

của nhân vật. Cái khổ cực mà anh đã trải qua: đói rét, bệnh tật, tù ngục….đã

không quật ngã con người Chanh: “47 tuổi mà đã đổ máu và mồ hôi trên dải

đất này tới 28 năm, từ nhà tù năm xưa tới cuộc chiến tranh cục bộ ngày nay,

từ hột gạo trên sàng, vốn quý của Đảng của dân” [121, tr.393]. Anh vẫn kiên

cường công tác cách mạng trong khi không ít cán bộ đầu thú đi kèm với nạn

tự sát của các đồng chí trung kiên mất lòng tin ở thắng lợi. Trong tuyến gia

đình thì tiêu biểu quan hệ ruột thịt của gia đình Tư Chua - mỗi đứa con trong

gia đình ông mang một tính cách. Cả Chanh tin người, theo đuổi sự nghiệp

cách mạng từ nhỏ và lập nhiều chiến công. Sáu Cam nhút nhát trở nên chững

chạc trưởng thành trên con đường học vấn – là một minh chứng cho nhận

định: “Thế đấy, ta đề cao công nông, nhưng chỉ hình dung công là phu khuân

vác, nông là người cày i tờ, mãi đến nay vẫn không tưởng tượng nổi công

nông có thể ngoi tới trình độ quốc tế” [121, tr.413]; Năm Bưởi ngang tàng

nhưng ngay thẳng, Tư Quýt ích kỷ, nhỏ nhen, Bảy Bòng theo giặc (theo ngụy,

đầu quân làm lính biệt kích Mỹ).....những phát sinh trong cuộc sống hàng

89

ngày dẫn đến tình cảm trong gia đình bị rạn nứt: anh em ghét nhau, tố nhau.

Dù ở khía cạnh này hay khía cạnh khác thì số phận của các nhân vật là những

sợi dây ràng buộc, liên kết với nhau. Đúng như Ilia Êrenbua đã từng phát

biểu: “trong tiểu thuyết hiện đại có nhiều nhân vật hơn, số phận của họ đan

chéo vào nhau, nhà văn thường đưa người đọc từ thành phố này sang thành

phố khác, cách kết cấu khiến ta nhớ đến những cảnh nối tiếp nhau trên màn

ảnh, những đoạn cận cảnh luân phiên với những cảnh quần chúng” [47,

tr.58]. Để hoạt động của nhân vật diễn ra một cách liên tục cũng như sự phát

triển của tính cách, Phan Tứ lắp ghép nhiều không gian, nhiều cảnh khác

nhau, mở rộng bối cảnh của sử thi thêm phong phú và rộng lớn hơn. Bởi tiểu

thuyết sử thi thường “mở rộng hoàn cảnh và môi trường, đưa các nhân vật từ

hoàn cảnh hẹp ra hoàn cảnh rộng, theo dõi một khối lượng lớn nhân vật tham

gia vào tiến trình lịch sử” [22, tr.223]. Đó là những cảnh xã hội thành thị,

nông thôn, mặt trận chiến đấu, những cảnh ném bom,….kế tiếp nhau, luân

phiên nhau tạo nên một trục sự kiên liên hoàn. Đó là bối cảnh xã hội ở Quy

Nhơn, Đà Nẵng, chuyện anh lính khố đỏ Năm Phi Đao cùng đám trẻ lang

thang, những mẩu chuyện của Khánh ở ngoài Hà Nội, cảnh sinh hoạt của

người dân vùng núi Linh Lâm, chuyển tiếp không gian nước Lào, mặt trận

chiến trường ở Đồng Nai, chuyện thành lập quỹ tổng động viên và quỹ nông

đoàn, không gian xã hội miền bắc…Chẳng hạn, nhân vật Chanh được Phan

Tứ chăm chút kỹ lưỡng, với điểm di chuyển liên tục phong phú về chiều rộng

không gian từ Quy Nhơn đến Đà Nẵng, Quảng Nam, sang nước Lào, tập kết

ra bắc, thăm quan ở Nga…Ở mỗi không gian, tính cách của nhân vật lại được

soi sáng hơn vì sự phát triển tính cách con người chịu ảnh hưởng tác động từ

môi trường, hoàn cảnh sống.

90

3.2.2. Sự kiện lịch sử, xã hội chi phối đời sống, số phận nhân vật

Với một số lượng nhân vật khá lớn, mỗi nhân vật được khắc họa bằng

những nét vẽ khác nhau, các nhân vật của Phan Tứ dần dần tự vén bức màn

cuộc sống cá nhân, hoàn cảnh đất nước qua các sự kiện của xã hội. Các phong

trào xã hội, các khối người đông đảo lần lượt xuất hiện đi vào tác phẩm. Phan

Tứ đã tập trung xây dựng nhiều tuyến lịch sử, xã hội: thời kỳ tổng khởi nghĩa

cách mạng tháng Tám vùng Trung Trung Bộ; các phong trào thành lập quỹ

Tổng động viên, quỹ nông đoàn; giai đoạn tổng phản công; giai đoạn chống

càn của Mỹ- ngụy, phong trào tập kết...Mỗi tuyến sự kiện có rất nhiều nhân

vật cùng tham gia. Thông qua một số nhân vật, mỗi nhân vật được miêu tả

vào một thời điểm mà nó có khả năng phản ánh sự kiện xã hội nào đó. Phan

Tứ đã chọn ba không gian chính để phản ánh các sự kiện của xã hội cũng như

của nhân vật: vùng Trung Trung Bộ, miền Bắc, nước Lào. Miền Trung là nơi

diễn ra các phong trào cách mạng. Lấy miền Bắc tiêu biểu làm môi trường

chính trị xã hội – văn hóa. Đất nước Lào là nơi hoạt động cách mạng của

những chiến sĩ tình nguyện cũng như phản ánh nếp sinh hoạt của nước láng

giềng thâm tình này. Ngoài ra, tác giả còn mở rộng nhiều không gian khác

(nước Nga) để nhân vật tham gia các sự kiện. Phan Tứ lấy các nhân vật chính

tham gia cách mạng làm dòng chảy chính, còn các nhân vật trung gian, nhân

vật phản diện đều có vai trò, vị trí nhất định trong tác phẩm. Họ là những con

người tiêu biểu cho xã hội mà Phan Tứ không ngại ngần miêu tả cả những

“rồng phượng lẫn rắn rết” trong đó. Ông cũng không chỉ giải quyết những

vấn đề riêng lẻ của đời sống mà tập trung bao quát phản ánh và giải quyết

hàng loạt các vấn đề có ý nghĩa quan trọng của con người, của giai cấp và của

cách mạng Việt Nam. Theo nhà văn, sự kiện có nổi bật hay không thì phải

thông qua nhân vật và ngược lại tức là số phận nhân vật có mối quan hệ

khăng khít với sự kiện lịch sử, làm được điều này yêu cầu nhà văn biết bố trí

91

chi tiết, sự kiện, bố cục kết cấu phải chặt chẽ, hợp lí thì chủ đề của tác phẩm

mới toát lên được. Qua một vài nhân vật như Cả Chanh... sẽ thấy được sự kết

hợp hài hòa giữa tuyến nhân vật và tuyến sự kiện. Mở đầu tác phẩm, Phan Tứ

đã cho nhân vật Phan Chanh xuất hiện, một người mới vượt ngục KonTum về

Quy Nhơn. Anh xuất thân từ con một người thợ rèn ở làng Linh Lâm – Quảng

Nam, là người được học hành đến nơi đến chốn và là niềm tự hào của ông Tư

Chua. Nhưng anh là con người luôn trăn trở trước nỗi khổ của con người dưới

chế độ áp bức, vì vậy anh đến với cách mạng. Anh đã chứng kiến sự áp bức

của con người, không khí xã hội ngột ngạt dưới sự kìm kẹp, bắt bớ chính trị

phạm của chế độ thực dân nửa phong kiến. Dường như anh càng thấm thía

hơn nỗi đau khi con người chịu thân phận nô lệ. Ngay sau khi vượt ngục anh

cố gắng tìm cách móc nối với cơ sở cách mạng ở Quy Nhơn. Xã hội đang dần

chuyển mình khi bão táp cách mạng đang lớn dần, không khí tổng khởi nghĩa

cách mạng tháng tám đang lan tỏa tới từng nếp sống, nếp suy nghĩ của con

người.

Như trên đã nói, Phan Tứ xây dựng một số lượng nhân vật đông đảo, họ có

hoàn cảnh và xuất thân riêng. Ông đặt nhân vật của mình vào từng môi

trường, từng gia đình cụ thể để thấy được sự phát triển tính cách con người

qua năm tháng. Phong trào Việt Minh đã tác động tới từng tính cách từng số

phận nhân vật, từng giai cấp và tùy theo mỗi người tiếp thu ảnh hưởng đến

đâu. Chẳng hạn, cách mạng ập đến biến người con cả của ông Tư Chua lò rèn

thành một cán bộ Việt Minh; một quan phủ Ung Viết Đỉnh luồn lách theo thời

thế trở thành phó Chủ tịch Liên Việt huyện Tây Quảng, một Hai Khánh- sinh

viên trường Luật có giấc mơ thầm kín trở thành một Napôlêôn trong cách

mạng này, một làng vùng núi Linh Lâm biến thành làng du kích, một ông Tư

Chua lò rèn trở thành Chủ tịch xã. Đặc biệt Phan Tứ tập trung soi tỏ cuộc đời

nhân vật Chanh - kiểu nhân vật anh hùng sử thi. Anh từng có giây phút trăn

92

trở về về tình riêng về trách nhiệm của người con cả trong gia đình. Đây là

điều mới mẻ trong cách nhìn nhận về con người anh hùng sử thi mà Phan Tứ

xây dựng thành công. Cuộc đời của anh hy sinh cho đất nước, chịu bao đau

đớn tù đày, bệnh tật nhưng con người này vẫn kiên định con đường đã đi. Khi

cách mạng cần những con người tình nguyện sang giúp đỡ cách mạng Lào thì

anh sẵn sàng ra đi, tự tìm hiểu về mọi phong tục văn hóa Lào mong hòa nhập

với dân tộc Lào thì hoạt động cách mạng đối với anh đạt hiệu quả to lớn.

Tham gia cách mạng từ những ngày đầu hoạt động Việt Minh, khi cách mạng

bước sang giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ, anh lăn xả vào những nơi khó

khăn nhất, nhiều lần tính mạng của anh đối mặt sự nguy hiểm, những mâu

thuẫn trong nội bộ nhưng anh vượt qua bình thản. Anh là con người quả cảm,

tài năng. Bên cạnh Chanh là chiến sĩ cách mạng dày dạn, trung kiên: Bảy

Quý, Sáu Lễ, Tô Xáng, Ba Dĩnh, Hồng Long, Năm Chò….số phận của họ

cũng gắn liền với biến cố cách mạng và những chiến công rực rỡ và cả những

thất bại đau thương mất mát.

Qua Người cùng quê, nhà văn muốn dựng lại chuỗi các sự kiện lịch sử

của đất nước, phong trào đấu tranh cách mạng ở Trung Trung Bộ từ thời

đảo chính Nhật, đánh đuổi thực dân Pháp, chống chế độ của chính quyền Ngô

Đình Diệm, sự truy quét chống cộng của Mỹ - ngụy, giành chính quyền về tay

nhân dân. Những con người Trung Bộ tuy xuất thân từ những hoàn cảnh khác

nhau nhưng họ luôn đau đáu về quê hương. Năm Chò tập kết ra bắc, chấp

nhận mức lương thấp hơn rất nhiều ở Hải Phòng để xin về làm ở nông trường

Sao Vàng - Thanh Hóa. Bởi đây là khu vực giúp anh gặp gỡ những người

cùng quê, là cách để anh tìm đường về quê hương sớm hơn, được hòa mình

vào công cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam. Sáu Cam nghĩ thân trai nợ

nước chưa trả, anh bỏ làm luận án Tiến sĩ bên Nga trở về quê hương để ngửi

mùi thuốc súng. Có thể nói những sự kiện lịch sử đã tác động sâu sắc tới tâm

93

tư tình cảm, hành động của con người. Và khi trải qua mỗi sự kiện, con người

dần trưởng thành hơn, tin yêu vào cách mạng: cô Thùy ngoan hiền, xinh đẹp,

có phần yếu đuối và là con chiên ngoan đạo, chỉ biết nghề may vá duy nhất,

làm vợ Chanh chăm lo chu toàn cho gia đình nhà chồng, chưa từng tham gia

cách mạng. Trong những năm bị chính quyền Ngô – Diệm kiểm soát gắt gao

các gia đình có cộng sản, hạch sách đủ loại thuế, Thùy trở nên rắn rỏi, cương

quyết đáp trả bằng những lí lẽ ngay cả khi bọn chúng bắt và ép cô phải li hôn

với Chanh. Bằng tình yêu thương của chồng con, Thùy vượt qua nhiều khó

khăn và quyết định bí mật bỏ trốn lên xanh cùng với Chanh. Là vợ của cán bộ

cấp tỉnh nhưng Thùy không ỷ thế, cô đảm nhận công việc bếp núc, chăm sóc

bệnh nhân. Cô khẳng định được năng lực của mình khiến ai nấy đều thán

phục trước sự hoạt bát, năng nổ của Thùy. Cuối cùng cô được kết nạp vào

Đảng, cuộc đời bước sang một trang mới. Thùy làm người đọc nghĩ đến

những người phụ nữ Việt Nam, với nhiều phẩm chất cao đẹp. Một người vợ

chung thủy trở thành hình ảnh truyền thống cho dân tộc Việt Nam, nhất là các

bà, các mẹ, các chị vùng Trung Trung Bộ, một cá nhân tự nguyện làm hậu

phương vững chắc cho lớp người ở phía trước. Khác với Thùy, Mỹ Duyên

được khắc họa ở điểm nhìn khác. Cũng là người phụ nữ Việt Nam, nhưng

Duyên là con người hòa trộn cả hai lối sống phương Tây và Á Đông. Cô từng

học trường đầm, cặp bồ với nhiều người và cuối cùng chấp nhận làm vợ ba

của quan phủ, sau đó làm nhân tình của con trai quan phủ. Tưởng như con

người cá tính và bất trị ấy, lại có ước mơ ao ước một mái ấm gia đình với chế

độ hôn nhân một vợ một chồng. Bão táp cách mạng diễn ra, cuộc đời cô trôi

dạt nhiều nơi và cuối cùng trở thành một phóng viên có tiếng cho các tờ báo

quốc tế, đứng ngoài lề hàng ngũ của cách mạng. Trải qua bao nhiêu biến động

của xã hội, Duyên vẫn mang trong mình mối tình với Hai Khánh – con người

giờ nghiêng ngả về chế độ cộng hòa. Nhờ sự vận động của các đồng chí,

94

Duyên đã đứng trong hàng ngũ của cách mạng. Như vậy ở mỗi giai đoạn sự

kiện, Duyên có chỗ đứng khác nhau trong xã hội, số phận của cô là một biến

thiên. Nếu ở những chương đầu tiên của tác phẩm, người đọc bắt gặp một Mỹ

Duyên ít thiện cảm, thì đến đây, Duyên đã chinh phục được tình cảm, niềm

tin yêu của đọc giả. Đến hình ảnh chị Sáu Lễ, Năm Bưởi, út Thanh Yên là

người phụ nữ trung kiên bất khuất trực tiếp đấu tranh chống kẻ thù góp thêm

vào tượng đài những người phụ nữ Việt Nam anh hùng đáng trân trọng và tự

hào.

Nhà văn không chỉ xây dựng một sự kiện đơn lẻ mà đan cài nhiều sự

kiện với nhau, số phận cá nhân bị chi phối bởi tình hình, hoàn cảnh cuộc sống

cách mạng. Khi phong trào cách mạng diễn ra cũng là lúc Phan Tứ cho người

đọc thấy những mâu thuẫn cá nhân, mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc.

Tất nhiên mâu thuẫn dân tộc là lớn nhất: giữa dân ta với Nhật, Pháp, Mỹ. Tùy

từng giai đoạn cách mạng thì mâu thuẫn nào là chủ yếu. Nhưng Phan Tứ cũng

muốn phơi bày những mâu thuẫn cá nhân, mâu thuẫn giai cấp xuất phát từ

trong nội bộ gia đình, cộng đồng, cách mạng. Ví dụ, mâu thuẫn trong ngành

hỏa xa (Chanh và Trà Đình Mậu), mâu thuẫn trong hoạt động cách mạng (Lý

Đằng và Năm Chò cùng anh em ở đại đội 8), mâu thuẫn trong xã hội (Ba Mít,

Trà Đình Mậu với bà con xã Linh Lâm), mâu thuẫn gia đình (các thành viên

trong gia đình Tư Chua)….Chính từ những mâu thuẫn giữa các cá nhân khi

tham gia cùng sự kiện mới có điều kiện bộc lộ cái bản chất con người thật

nhất.

Như vậy, Người cùng quê dựng lên một bức tranh hiện thực rộng lớn mà

trong đó số phận con người chịu sự tác động của các sự kiện lịch sử - xã hội.

Hay nói cách khác, sự kiện và nhân vật phải gắn kết chặt chẽ với nhau, có

quan hệ nhiều chiều, tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật.

95

3.3. Cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật

3.3.1. Ngôn ngữ đối thoại

Ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy, nó biểu đạt suy nghĩ của con người khi

phát ra thành lời nói. Dưới góc độ của văn học, ngôn ngữ là hình thức để con

người bộc lộ tâm tư tình cảm và qua đó chúng ta thấy được tính cách, bản

chất con người. Càng về sau, nhà văn chú ý nhiều hơn yếu tố ngôn ngữ đối

thoại. Theo từ điển tiếng Việt, đối thoại là “nói chuyện qua lại trực tiếp giữa

hai người hoặc nhiều người”. Vì vậy, ngôn ngữ đối thoại là hình thức trực

diện nhất để con người bộc lộ chính kiến, tư tưởng của mình trong quá trình

giao tiếp. Do đó, mỗi người sẽ có phong cách ngôn ngữ riêng: có người nói

nhanh hay nói chậm, có người nói triết lý, trang trọng hay thân mật, giản dị…

Trước những năm 1975 với mạch sử thi bao trùm, ngôn ngữ đậm chất thơ,

trang trọng và được mỹ lệ hóa. Tuy nhiên người đọc vẫn bắt gặp thái độ tiếp

xúc thân mật, gần gũi ở giọng văn như Nguyễn Khải, Chu Văn, Nguyễn Kiên,

Phan Tứ, Nguyễn Thi… Các sáng tác trước 1975 được Phan Tứ xây dựng

chất liệu ngôn ngữ trang trọng nhưng đậm chất trữ tình. Ví dụ, Trước giờ nổ

súng biểu dương tình đoàn kết keo sơn anh em Việt Lào, nhờ tình cảm đó mà

quân dân hai nước sát cánh bên nhau vượt qua mọi khó khăn gian khổ, những

cuộc hành quân càn quét của quân thù: “Sợi dây bật căng, thít bụng anh,

Lương nghiến răng ôm ghì cây, đeo Văn Thon bằng sức bụng, người muốn

đứt làm đôi. Anh ngạt thở, há mồm không kêu ra tiếng. Văn Thon lủng lẳng

đầu dây, mắt trợn trừng:

- Cắt mau…chết cả!

Khiêm trèo vượt lên, súng quật vào núi lách cách, Khiêm nhô vai lên vừa sát

chân Văn Thon, sợi dây chùng dần, Văn Thon bám được hai tay, run lẩy bẩy.

Trên kia Lương nằm bệt xuống một chỗ, gắng thở cả mũi, mồm tai” [52,

tr.181]. Phan Tứ cũng tỏ ra có tài trong việc sử dụng lời văn trong sáng, giản

96

dị để miêu tả tính cách nhân vật – ngôn ngữ đã mang nét cá thể đặc sắc. Nó

được phát huy cao độ trong Gia đình má Bảy. Ngôn ngữ nhân vật tích cực

khác hẳn ngôn ngữ nhân vật phản diện. Chẳng hạn má Bảy có lối nói riêng

của má khi má gợi chuyện Út Sâm nhân Bê làm con nuôi: “Không phải má

nuôi nó để sau nhờ cậy gì, có điều hết thảy cán bộ du kích ai cũng có chỗ bà

con lui tới, sót lại mình nó đầu không bằng chân không rễ, nó vun đắp cho cả

xã mà rách cái áo cũng phải lui cui ngồi vá lấy, má nghĩ xót ruột quá. Thôi

thì không có công sinh thành cũng có một chút dưỡng dục” [117, tr.801-802].

Đấy là tiếng nói của một bà mẹ, bà mẹ chiến sĩ – cách mạng. Hay là ngôn ngữ

của ông Nhâm mang tính cách của một lão nông, ít nhiều có nho học, thích

dùng tích tuồng, pha chút trào phúng: “Ta nhấp cho ấm bụng rồi đi, Kinh Kha

nhập Tần phải có chất men mới hay. Phàm lãnh ấn đi sứ là không được làm

nhục quốc thể, cái đó xưa bày nay làm. Dù tụi nó giết nữa cũng đáng số, mình

bớt vài năm sống dai để con cháu nó sống đời phải không bà con?” [123,

tr.803]. Ông cũng ưa lối nói lái của người Trung Bộ: “Phần lão đây, ông nói,

mới viết sơ sơ một bài văn kiến nghị, quốc gia để chấm cho đậu tú tài, nghĩa

là “tái tù” hai lượt!”. Trong những nhân vật phản diện, ngôn ngữ cũng mang

sắc thái cá tính hóa. Ba Phổ mang ngôn ngữ của một tên ác ôn: “Các người

coi kẻ mười năm chống cộng đây, hiệp thương hiệp thiếc à? Thằng này không

chính trị với các người đâu….Cần ác là tôi ác tới chử”. Thằng Rân thì lại có

lối ăn nói của một tên theo đóm ăn tàn, xun xoe với những câu văn hoa của

một học sinh mới ra trường.

Sau 1975, hiện thực đời sống đã khác, bên cạnh chất liệu ngôn ngữ trữ

tình, Phan Tứ đưa vào những ngôn từ đậm chất đời thường. Chúng ta sẽ thấy

mỗi nhân vật trong tác phẩm có lối sử dụng vốn từ riêng biệt, đầy cá thể. Thứ

nữa, tư duy tiểu thuyết ngày càng chiếm vị thế so với tư duy sử thi, nó khám

phá các miền tối sáng, thiện ác trong mỗi con người. Do đó, nhà văn không

97

ngại ngần khi đưa vào tác phẩm của mình lối văn phong mang tính suồng sã,

thân mật mang tính khẩu ngữ, chân thật trong giọng điệu, thô nhám trong từ

ngữ…. Để cho nhân vật bộc lộ cá tính, nhà văn xây dựng lớp ngôn từ trong

giao tiếp theo lối xưng hô: mày – tao, toa – moa, tao – mi, mạ – con, tao –

bay và gia tăng khẩu ngữ bằng cách dùng đại từ nhân xưng: hắn, mụ, lão, ả,

nó; thậm chí cả những câu nói cửa miệng bày tỏ thái độ bất mãn của nhân vật:

Tổ cha thằng Nhựt, mẹ cố tổ nhà nó, Đ.mẹ mày….Qua cách dùng vốn từ địa

phương, Phan Tứ làm cho ngôn ngữ nhân vật sinh động, đặc trưng sắc thái

giọng điệu miền Trung Trung Bộ: rứa, ni, mần, nãy chừ, răng….và nhiều

thành ngữ dân gian: nói như cháo chảy, trẻ người non dạ, ngang như cua, chó

ăn đá gà ăn muối, chín bỏ làm mười, mười bảy bẻ gãy sừng trâu, lời nói

chẳng mất tiền mua, vắt cổ chày ra nước, dục tốc bất đạt…. Cách dùng

những ngôn từ giúp người đọc tiếp cận tác phẩm dễ dàng, dễ nắm bắt tâm lý

và hành động của nhân vật. Không còn là những ngôn ngữ trang trọng mà

thay vào đó, những con người làm cách mạng như Chanh, Bảy Quý, Tô

Xáng…dùng cách nói dân giã, đời thường. Họ xưng hô với nhau không phải

là “tôi” với “đồng chí”, “tôi” với” các anh” mà xưng hô ngang hàng, thân

thiết và suồng sã. Qua cuộc đối thoại giữa các nhân vật, đời sống của họ hiện

lên sống động, giản dị. Cách nói của Bảy Quý mang tính cách của một nhà

chính trị bình dân, có những sinh hoạt rất đời thường: “Sao thứ gì của mày

cũng khác đời vậy Chanh? Kiểu ba nòng tao mới thấy lần này là một” [121,

tr.571], “Rót tao ly nữa, Chanh! Rượu sắn không phạm chính sách, thêm

thuốc nam của mày vô là đáng cái bằng khen” [121, tr.572]. Hay là ngôn ngữ

của Chanh trong đối thoại với La Giang:

“ - Để dành hơi dỗ người khác, đừng cho tao đi tàu bay giấy!...Quên chưa

hỏi, thằng cha Lý Đằng tài ba cỡ nào mà Mặt trận coi o bế nó quá vậy?

98

- Nó lạ lắm mày ơi. Tao hỏi tại sao nó hay đánh chưởi bộ đội, nó xổ một

dây tiếng ta lộn với tiếng tàu” [121, tr.472-473].

Lối xưng hô ấy được sử dụng từ người lãnh đạo đến cấp dưới, cả những

người lính như Năm Chò. Giọng điệu của Chò là ngôn ngữ của một anh lính

đã va chạm nhiều với cuộc sống phiêu bạt khắp nơi. Do đó, lối xưng hô tuy

phường tuồng nhưng toát lên vẻ chân chất của anh:

“ - Từ nhỏ tới lớn, ai cũng dạy tao phải sống lương thiện. Chung cục lại,

tao thấy chẳng có đứa chó nào sạch sẽ hết” [121, tr.96] .

Người đọc còn thấy được ở Chò là một con người đầy nghĩa hiệp. Anh nhận

thằng Cam làm em nuôi – một đứa trẻ lang thang, đói rách trong khi bản thân

anh cũng không khấm khá gì:

“ - tao bớt mỗi ngày một xị rượu, tao nuôi mày” [121, tr.37]

Và Chò còn là một con người với hành động hơi vụng về trong buổi đầu đến

với cách mạng, gọi Cả Chanh là đại ca:

“ - Tôi xin có mấy lời trình với đại ca, với quý đồng chí. Tôi là thằng

Năm Chò lưu lạc bấy nhiêu năm có thêm là Năm Phi Đao. Nay được về bổn

quán cùng làm việc nghĩa với bà con mình, thiệt là vui hết sức….Bị cái tôi dốt

chánh trị lắm, ăn một cục nói một hòn, một chữ bẻ đôi chẳng hiểu, đại ca đây

dạy dỗ nhiều mà chưa khá. Thôi thì tôi biết gì bày nấu, anh em cứ ngó theo đó

mà làm…Trước hết, xin mời bà con coi trò ném phi đao!” [121, tr.177].

Qua năm tháng được rèn luyện trong chiến đấu và gian khổ, Năm Chò bỏ

được nhiều tật xấu, tác phong đĩnh đạc, ăn nói chỉn chu hơn với mọi người:

“anh khôn ra, tập đối phó với bọn sĩ quan bằng lý sự, nét mặt giọng nói,

không chen vào cử chỉ hay câu chữ nào có thể bị bắt vạ khi ghi tên vào biên

bản”.

Cuộc sống cần những thông tin ngắn gọn, mang tính tốc độ, đáp ứng nhu cầu

trao đổi thông tin trong giao tiếp. Điều đó được phát huy tối đa trong cuộc đối

99

thoại hàng ngày. Phan Tứ gia tăng câu văn tỉnh lược, hình thức câu từ rút gọn.

Chẳng hạn, ngôn ngữ của ông Tư Chua cũng nhanh, mạnh giống như công

việc lò rèn của ông:

“ - Chẻ dài thêm đầu mũi!

- Cho phía cay âu nữa. Quýt!

- Nhẹ nhẹ, Bưởi. Gõ xéo cho đục vô eo?

- Đổi búa”.

Nhịp điệu nhanh gấp, đạt thông tin tối đa được nhà văn miêu tả qua ngôn từ

của anh bạn của Năm Chò làm nghề đánh xe:

“ - Phố Hội đây bằng cái lỗ mũi, có gì mà coi. Tao đưa tụi bay đi Turan,

mới rồi đổi tên ra Đà Nẵng đó. Đi xe ngựa thôi, tới nơi còn sẵn xe đi ngắm

cảnh nữa chớ. Đi ta hè!...Bữa nay chở người nhà, gấp, không chở

khách…Đợi xe khác nghe! Đừng chưởi nghen!” [121, tr.93-94].

Tùy theo mối quan hệ xã hội hay tình cảm mà mỗi nhân vật có kiểu ngôn ngữ

khác nhau. Trong Người cùng quê, ngôn ngữ đối thoại có tính đối đáp giữa

hai nhân vật giao tiếp, tạo thành kiểu ngôn ngữ sóng đôi, như cuộc trò chuyện

giữa Khánh và Duyên. Đó là cách nói của cặp đôi yêu nhau:

“ - Gớm, Duyên lườm nguýt anh trông như con khỉ ở vườn Bách thú.

- Còn anh cứ hầm hầm như con gấu ngựa!” [121, tr.201]

“ - Em là con yêu tinh…

- Anh là gấu ngựa, trâu điên…” [121, tr.303]

Thông thường yếu tố đối thoại mang tính chất tự nhiên nhưng có khi mang

tính “đối chất” để đối phương giao tiếp nói lên suy nghĩ, nhận thức về hiện

thực. Cách nói của Cô Thùy – vợ Chanh cho thấy một con người luôn biết suy

nghĩ, biết nhận thức về hoàn cảnh. Trước những câu hỏi của anh Bảy Quý,

Thùy bày tỏ tâm tư một cách chân thật:

100

“ - Cháu về đây lần hồi tỉnh lại, cứ nghe chung quanh nói anh Chanh

phải bỏ chức giám đốc hỏa xa là tại con vợ phát điên, anh chịu lạc hậu vì lỡ

lấy nhầm con hai Thùy….Cháu rán vui để ảnh đi cho nhẹ nhàng đó bác…”

[121, tr.570].

Nhắc đến hình ảnh bà mẹ trong tiểu thuyết, Phan Tứ luôn dành những trang

văn với ngôn ngữ đằm thắm, trìu mến nhất để ca ngợi các mẹ. Sau bao tháng

ngày lăn lộn với công tác cách mạng, Chanh chỉ có thời gian bên mẹ khi anh

bị bệnh và được mẹ chăm sóc. Đấy là những phút giây hiếm hoi của tình mẫu

tử.

“ - Mồ hôi nhiều không con?

- Như tắm mẹ ơi.

- Lau cho thiệt ráo…Tù đày miết cũng phải được nghỉ chớ. Bộ mày vắng

một ngày là bên mình thua liền à?

- Không thua liền, mà sút đi chừng cái lông chân mẹ ơi!” [121, tr.230]

Cũng là tiếng nói của bà mẹ giàu lòng yêu thương nhưng cách nói người mẹ

nước Nga (bà cưu mang Cam trong thời gian anh làm nghiên cứu sinh tại xứ

sở này) đã cho người đọc thấy sự thâm tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước

Việt – Nga:

“ - Mày coi tao thế nào hả Cam? Chúng tao nghèo, mà chưa tới mức nằn

nì mời khách trọ. Học bổng của mày bao nhiêu tao biết, mày đưa thế này rồi

nhịn đói à?[121, tr.352]

“ - Này Phan Cam, con không thích gọi mẹ bằng mẹ ư? Sao cứ phải là

chiochia chứ không phải là mama?” [121, tr.353].

Thế giới nhân vật trong Người cùng quê đa dạng, Phan Tứ dày công xây dựng

cho mỗi nhân vật một giọng điệu riêng. Loại nhân vật phản diện cũng mang

một dấu ấn cá tính đặc sắc. Phủ Đỉnh từ một quan phủ, rẽ sang hàng ngũ Việt

Minh, rồi tham gia tổ chức Việt Nam quốc dân đảng và về sau đứng sang

101

hàng ngũ Việt Nam cộng hòa. Mỗi lời nói của lão mang tính triết lý, bộc lộ

con người nhiều tính toán, thâm độc, như trong cuộc đối thoại với Tư Chua,

Cửu Áng, với Khánh:

“- Chào ồi, anh Tư còn lạ gì tánh nết đàn bà. Tôi la rầy miết mà mụ Cả

không chịu bỏ cái tật vắt cổ chày ra nước” [121, tr.171].

“ - Chẳng phải tôi hữu dũng vô mưu đâu anh Cửu à. Có uy cũng phải có

ân chớ. Nhu thắng cương, nhược thắng cường, rốt cuộc răng cứng rụng

mà lưỡi mềm còn mãi, làm quan cai trị hễ quên điều đó thì gãy cổ sớm…”

[121, tr.197].

“ - Hột lúa nằm giữa hai thớt cối xay mà đòi mọc mầm hay sao cho nổi!

Con tạm theo cung cách cây lau, chịu uốn mình mà đừng để trốc gốc, qua

cơn gió lại đứng thẳng y nguyên. Rồi ông vẫn cứ là ông: còn thằng rút

cục vẫn không ra thằng!” [121, tr.206].

Đối với kẻ thù, Phan Tứ cũng tạo cho loại nhân vật này đặc trưng ngôn ngữ

riêng, mang bản chất hung hãn. Chẳng hạn, tên tướng Lâm của chế độ Việt

Nam cộng hòa có ngôn từ:

“ - Mẹ cố tổ nó chớ. Thằng thiếu tá Mắc Krugơ đi thị sát mà không thèm

báo trước cho moa. Năm phút trước khi hạ cánh nó mới biểu tham mưu

báo cho mình. Chậm chút nữa, moa cho năm bảy cây đui xết quét rụng cả

bầy” [121, tr.486].

“ - Đ.mẹ, ngu hơn heo! Tụi bây dám hành hạ thiếu tá vầy há? Muốn ra

tòa án binh, tao cho ra liền một khi! Mở khóa! ” [121, tr.271].

Ngoài ra, trong Người cùng quê Phan Tứ chêm vào nhiều ngôn ngữ khác

nhau: Nhật, Pháp, Anh, Nga, Lào và xen lẫn tiếng Việt làm cho lời nói thêm

sinh động:

“ - Bandai! Bandai Ichimaê” (Tiếng Nhật)

102

“ - On dira que c’est apolitique, doncnuisiple. Mieux vaut éviter pour eux

une deception” (Tiếng Pháp)

“ - Sorry, very sorry...It’s only a misunderstanding” (Tiếng Anh)

“ - Thửng Khná câmmacan Tò tạn Khỏeng Châm pa xắc thì nặp thử xạp”

(Tiếng Lào)

“ - Thế tại sao Việt Minh lại đánh chúng tôi? Oa rui, tai hen oa rui đex!”

“ - Ma mốtska maia, con muốn lắm chứ mẹ!”

Sự đa dạng về ngôn ngữ, giọng điệu của nhân vật, cho người đọc thấy tài

năng của Phan Tứ trong việc lựa chọn và sử dụng nhiều yếu tố ngôn ngữ, góp

phần phong phú tiếng nói của dân tộc cũng như đặc trưng ngôn ngữ vùng

Trung Trung Bộ. Nó chứng tỏ ngôn ngữ sử thi không còn chiếm ưu thế trong

các trang văn mà thay vào đó là ngôn ngữ đời thường.

3.3.2. Ngôn ngữ độc thoại

Nếu đối thoại là hình thức giao tiếp sử dụng hình thức nói năng giữa

người này với người khác thì độc thoại là dạng giao tiếp đặc biệt của ngôn

ngữ nhân vật, là hình thức nói với chính mình. Mà qua lời độc thoại đó người

tiếp nhận ngôn bản (người đọc) có thể hiểu được tâm trạng nhân vật dù đó chỉ

là kiểu ý nghĩ – tư duy bằng ngôn ngữ thầm. Theo từ điển thuật ngữ văn học,

độc thoại nội tâm là “lời phát ngôn của nhân vật nói với chính mình, thể hiện

trực tiếp quá trình tâm lí nội tâm, mô phỏng cảm xúc, suy nghĩ của con người

trong dòng chảy trực tiếp của nó” [29, tr.122]. Đây là thủ pháp hữu hiệu trong

việc phát hiện ra thế giới nội tâm của nhân vật. Nhân vật tự nói lên tâm tư

nguyện vọng hay những vui buồn…trong cuộc sống. Độc thoại là một hình

thức thanh lọc tâm hồn con người vì khi đối diện với một mình, con người dễ

dàng bộc lộ cảm xúc thật nhất trong sâu thẳm trái tim.

Cả Chanh với những suy nghĩ riêng về tình yêu, về gia đình. Là con người

của cách mạng, của quần chúng nhưng anh vẫn là con người bình thường cần

103

có giây phút riêng tư cho bản thân. Nghĩ về tình yêu, về người con gái mà anh

trao yêu thương: “Em tươi tỉnh xưng em như hồi còn nhỏ, còn anh cứ tôi với

cô như người dưng nước lã dù đêm đêm trằn trọc vì mùi dầu chải tóc của em

bốc trên gối, hương em lan khắp căn buồng nhỏ mà em nhường hẳn cho

anh…” [121, tr.350]. Sau khi nghe kể về chuyện gia đình vợ con, Chanh thầm

nghĩ về sự hy sinh của Thùy: “Em ơi, người vợ và người yêu trọn đời của anh

ơi, sao em lại chọn anh làm chồng để rước lấy khổ vào thân, vì anh với cả

nhà chịu những cái eo xèo trong nhà, nỗi cay cực kiếm chén cơm ghế khoai

sắn nuôi và thăm nuôi bấy nhiêu người ở nhà, ở lớp tố cộng, ở tù, ở núi?”

[121, tr.227]. Ngòi bút của Phan Tứ dần khám phá những miền sâu kín của

nội tâm , thấy được chiều sâu tâm lý nhân vật. Làm được điều này, đòi hỏi cả

sự hóa thân của nhà văn vào nhân vật. Với một số lượng nhân vật khá đông

đảo, mỗi con người có những thầm kín riêng. Tuy nhiên, kiểu nhân vật có

những hoàn cảnh sống phức tạp, vị trí đứng trong xã hội khác nhau, có lẽ

được nhà văn xây dựng nhiều đoạn độc thoại, phản ánh số phận con người

cũng như thể hiện tầm nhìn mới của nhà văn về con người trong bão táp cách

mạng. Khánh một nhân vật có hoàn cảnh xuất thân khá phức tạp và được

Phan Tứ xây dựng nhiều đoạn độc thoại nhất trong tác phẩm. Đây là nhân vật

vừa có công vừa có tội trong biến cố lịch sử. Ngay từ những ngày đầu diễn ra

phong trào Việt Minh, anh hăng hái mua súng ủng hộ cách mạng, vận động

quan lại, địa chủ đầu hàng Việt Minh, đảm nhận công việc ở ban địch vận tỉnh

Quảng Nam, khai thác hồ sơ bọn tù binh. Sau đó, Khánh chao đảo nghiêng về

chế độ chính quyền Ngô Đình Diệm. Giải thích cho hành động của bản thân,

Khánh tự bộc bạch như muốn truy tìm nguyên nhân ứng xử trong cách mạng:

“Mình nhận cách mạng là chân lý, mình theo cách mạng, nhưng tại sao khi

đụng vào một việc cụ thể nào đó mình cứ nghĩ khác, trượt sang bên cạnh mọi

người” [121, tr.294]. Độc giả thấy rõ nhất nội tâm của một con người đã ăn

104

nằm với cô Bưởi nhưng không dám nhận trách nhiệm về đứa con ngoài giá

thú qua những trang nhật ký. Nhật ký là hình thức chân thực nhất phản ánh

những sự kiện trong ngày mà nhân vật nắm bắt cũng như cảm xúc được viết

ra bằng những con chữ trên trang giấy rõ rệt. Đó là những dằn vặt, nhớ

thương về đứa trẻ vô tội cũng như khơi dậy tình phụ tử trong tâm thức của

người làm cha:

“ Chung ơi, con ơi, thiên thần của ba và quỷ dữ của ba ơi, con đừng ám ảnh

ba nữa, ba sắp điên rồi đây!....tại sao, khi Năm Bưởi đến báo tin có thai sau

những đêm ngủ với tôi, tôi lại sững sờ kinh hoảng đến câm lặng, chỉ nghĩ đến

một từ pháp lý là “thủ tiêu tang vật” như một tên trộm hạng bét? Bưởi nhận

ra ngay chân tướng của tôi, ôi chao một con tinh chồn thò đuôi sau cái lốt thư

sinh tuấn tú” [121, tr.721] và cả những ý nghĩ đầy tội lỗi “tại sao mẹ của bé

Chung không phải là Thùy?” [121, tr.730]. Trong suốt tác phẩm, chưa một

nhân vật nào có đời sống nội tâm phong phú và phức tạp như Hai Khánh. Anh

tự mổ xẻ mối quan hệ với Duyên, về sự tồn tại của bản thân trong dòng chảy

cách mạng chung của đất nước, về những tật xấu của mình: “Mình còn yêu

hay hết yêu Duyên?...Tại sao vô số người khác có thể tin Đảng, tin chính

nghĩa Kháng chiến, tự tin khi theo cách mạng, còn tôi lại cứ chập chờn, ngả

nghiêng, chao đảo, không tin ai mà cũng chẳng tin mình?...Dạo này tôi

nghiện thuốc lá, thích rượu nhưng không uống say hay la cà nhậu nhẹt, có

nhân tình biết tránh thai và tránh tiếng….Bên trong, tôi vẫn không biết mình

thực sự là ai!? ” [121, tr.841]. Khánh tự bao biện cho hành động nhận vàng

của người thân gửi cho anh trong những ngày làm công tác địch vận, coi đó là

điều tất nhiên, ngẫu nhiên nhưng cũng thấy được cái tiêu cực trong nội bộ

cách mạng: “Thì đã sao? Đã sao? Thiếu gì cán bộ đọc bản phản tỉnh đã thông

đồng với quản lý ăn xén từng chút gạo chút mắm của đơn vị để sắm kaki

ngoại, mua đồng hồ…..Mình dại ở chỗ quá thật thà, quá lí tưởng cách mạng,

105

quá nghiêm khắc với bản thân, buộc thằng Khánh phải tự lột xác như ve sầu

lột vỏ mà chẳng cần biết đến mưa to gió lớn bên ngoài” [121, tr.857]. Cuối

cùng, Khánh tự nhận, tự trả lời cho những thắc mắc trước đó: “Mình là kẻ

lừng khừng, chao đảo…Nuôi ảo tưởng là đứng trên mọi cuộc loạn đả. Cố giữ

tâm hồn kẻ sĩ, an bần lạc đạo, rốt cuộc thì bần không chịu nổi, mà đạo bị xói

mòn mỗi ngày một ít?” [121, tr.193]. Phản ánh nạn ăn hối lộ, tham ô, hám

quyền phải kể đến nhân vật Ba Mậu – vốn là một cán bộ cốt cán của Đảng

nhưng đạo đức thì suy thoái, không gây chút cảm tình với bạn đọc khi xuất

hiện. Anh ta đố kỵ với Chanh, gây mất đoàn kết trong nội bộ hỏa xa. Những

dòng độc thoại cho chúng ta thấy rõ nhất con người của y: “Nó rất thật thà,

thật thà là cha đứa dại, mình thay nó là phải thôi, đáng lẽ nó ở lại giúp mình

về nghề xe lửa thì hay tuyệt. Mình chỉ cần giữ chức giám đốc Sở hỏa xa vài

năm cho xứng với công lao làm cách mạng từ thời Mặt trận dân chủ, sau sẽ

nhường cho thằng Chanh hay ai cũng được, mình lên nữa càng hay, nếu lui

về nghỉ thì cũng là cán bộ liên khu, đỡ bị coi thường” [121, tr.641]. Việc nhận

hối lộ của Phủ Đỉnh được ông ta biện minh như sau: “Thì đã sao nào? Đã

sao? Làm cán bộ ăn cơm nhà vác ngà voi, ai mà khỏi gia đình nuôi thêm?

Biết bao nhiêu cán bộ giỏi phải rút lui vì quá túng đói, kiệt sức về cuốc đất

nuôi heo” [121, tr.707].

Như vậy, khi khảo sát ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Người cùng

quê, chúng tôi thấy ngôn ngữ đối thoại ngày càng gần hơn với hiện thực đời

sống, có độ dồn nén thông tin, bộc lộ. Đồng thời, nhà văn đã trao cho nhân vật

quyền chủ động, khách quan bộc bạch thế giới bên trong. Sử dụng bút pháp

độc thoại là một thành công để khám phá thế giới tâm hồn con người. Ngôn

ngữ giúp nhà văn thể hiện cá tính, phong cách riêng của nhà văn.

Nhân vật văn học luôn là yếu tố quan tâm hàng đầu của nhà văn, thể hiện

cách nhìn nhà văn về con người, tư tưởng khám phá con người chiều sâu nhận

106

thức. Vì vậy, khi tìm hiểu sự đổi mới cách nhìn của nhà văn về con người

không thể không nói đến nghệ thuật thể hiện cách nhìn con người trong tiểu

thuyết Người cùng quê. Phan Tứ sử dụng những biện pháp nghệ thuật miêu tả

không gian, thời gian, ngôn ngữ, kết cấu đa tuyến, để tái hiện chân thật hình

ảnh con người trong chiến tranh mang vóc dáng khác nhiều so với giai đoạn

trước 1975. Giờ đây, con người vận động gần với hiện thực cuộc sống đời

thường, được nói lên tâm tư, nguyện vọng cá nhân.

107

KẾT LUẬN

Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ kéo dài hơn 30 năm (1945-

1975), một đội ngũ các nhà văn lớn ra đời và trưởng thành nhanh chóng, họ

vừa cầm bút vừa cầm súng, họ vừa là nghệ sĩ cũng vừa là chiến sĩ trên khắp

các mặt trận như: Nguyên Ngọc, Nguyễn Thi, Anh Đức, Phan Tứ…. Phan Tứ

là một trong những cây bút xuất sắc của thế hệ nhà văn trưởng thành trong hai

cuộc kháng chiến của dân tộc. Cả cuộc đời của ông đã gắn bó với cách mạng,

với nhân dân. Phan Tứ đã “tắm mình” trong cuộc sống khói lửa chiến tranh

bằng cách “trải đời”, “trải đạn” ở những nơi gian khổ, ác liệt nhất của cuộc

chiến tranh để sống, để chiến đấu và ca ngợi vẻ đẹp của con người, của dân

tộc Việt Nam kiên cường bất khuất, anh dũng, tiêu biểu là con người và quê

hương của vùng Trung Trung Bộ.

Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn cùng thời luôn có ý thức viết về cuộc

kháng chiến vĩ đại của dân tộc, cùng với một quan niệm sống và sáng tạo

nghệ thuật nghiêm túc: “Sống thật sự vào cuộc, làm một người chiến sĩ thật

sự, tham gia hết mình trong cuộc sống như bất cứ người chiến sĩ nào, không

làm “nhà văn” chuyên ghi chép và quan sát, đứng bên cạnh, đứng bên

ngoài”. Do đó, những sáng tác của Phan Tứ gắn liền với các chặng đường của

cách mạng, và nó phải phản ánh được hiện thực cách mạng một cách chân

thật và hùng hồn. Những tác phẩm của Phan Tứ ra đời được chào đón nồng

nhiệt và ví như những trang sử vàng ghi lại những chiến công oanh liệt của

các giai đoạn lịch sử khác nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với

một tình cảm nồng hậu thủy chung, bám đất, bám làng và sống với lý tưởng

cách mạng cao đẹp. Cũng viết về chủ nghĩa anh hùng, viết về con người miền

Trung như Phan Tứ, nhưng Nguyễn Trung Thành nhấn mạnh tính chất gay

go, quyết liệt của cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp ở vùng xứ Quảng,

108

còn Phan Tứ đi sâu vào quá trình vươn lên chủ nghĩa anh hùng cách mạng của

những con người bình thường trải qua nhiều khó khăn và thử thách. Đó là vẻ

đẹp của người dân Trung Trung Bộ nói riêng cũng như của con người Việt

Nam nói chung.

Cả cuộc đời của Phan Tứ đã gắn bó với sáng tác văn chương. Văn

chương chính là phần sống còn trong con người của nhà văn. Ở Phan Tứ,

niềm say mê, sáng tạo nghệ thuật bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng. Ông đã

từng tự nhủ phải tranh thủ từng giây, từng phút để viết bởi vì “một mảnh bom,

một viên đạn, một cơn sốt biến chứng có thể bẻ gãy ngòi bút bất cứ lúc nào”.

Ông là một trong số những nhà văn gắn bó và đi đến cùng khi viết về đề tài

chiến tranh cách mạng và ông đã đi chính bằng cuộc đời cống hiến đầy nhiệt

huyết của mình. Đó cũng là kết quả tất yếu của những năm tháng khổ luyện,

những trải nghiệm, những lựa chọn cách sống của riêng Phan Tứ trong hai

cuộc kháng chiến chống quân xâm lược ấy.

Những sáng tác của Phan Tứ trước năm 1975 đã gây nhiều tiếng vang

lớn đối với công chúng văn học. Một cây bút tài năng được đánh giá có một

thế giới quan khoa học, một quan niệm nghệ thuật đúng đắn. Ông luôn

nghiêm khắc với bản thân, tránh lối viết dễ dãi, hời hợt, phải phản ánh sự vật

trong tính chân thật, đa dạng của nó. Trong khi phần đông các nhà văn có lối

văn phong theo xu hướng chung của thời đại thì Phan Tứ là một trong những

cây bút khá đặc biệt, mang một phong cách sáng tạo nghệ thuật riêng. Cũng

viết về đề tài văn học chiến tranh nhưng Phan Tứ không “ tô hồng”, trái lại

ông phản ánh nó trong tính đa diện vốn có. Tức là hiện thực chiến tranh, hiện

thực con người hiện lên có gam màu sáng tối trong quá trình vận động, phát

triển biện chứng khách quan, hợp lí. Con người chịu tác động của hoàn cảnh

109

và chiến tranh chính là môi trường để sàng lọc con người. Ở đó, con người

hiện lên có mặt tốt – xấu, mặt cao cả - mặt thấp hèn, ….

Sau năm1975, trong dòng vận động của văn học đang bước đầu chuyển

dịch từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, Phan Tứ lại một lần nữa chứng

tỏ một cây bút mẫn cảm với cuộc sống, điểm nhìn nghệ thuật về con người có

nhiều đổi mới, đáp ứng được yêu cầu phản ánh của cuộc sống. Trong Người

cùng quê, Phan Tứ đã đề cập đến yếu tố con người cá nhân – biểu hiện cao

nhất của giá trị nhân văn khi xây dựng nhân vật sử thi. Họ cần được nói lên

những suy tư cá nhân, những day dứt, trăn trở về cuộc sống, về mối quan hệ

riêng- chung, về trách nhiệm của bản thân…mà văn học trước 1975 đã không

cho con người bộc bạch tâm tư riêng của mình. Như vậy, nhà văn đưa hình

ảnh nhân vật sử thi trở nên gắn kết cuộc sống đời thường là hợp với xu thế

khách quan của nền văn học đang vận động đổi mới. Phan Tứ còn đi sâu và

mở rộng bình diện khám phá: con người với khát khao hạnh phúc cá nhân,

tình yêu đôi lứa và cả nhu cầu bản năng. Đất nước chiến tranh đồng nghĩa với

việc con người hy sinh và mất mát nhiều thứ, nhưng nhà văn nhận ra trong

hoàn cảnh khốc liệt ấy, con người cần hơn bao giờ hết những hạnh phúc đời

tư dù là nhỏ bé, mong manh. Nói đến nhu cầu cá nhân ấy, không phải để phê

phán, trái lại nhà văn ngợi ca bằng giọng văn đằm thắm, trữ tình, ông chỉ thay

mặt họ nói lên quyền được sống với đúng nghĩa của một con người. Bên cạnh

đó, Phan Tứ phản ánh một hiện thực lịch sử rộng lớn tất nhiên sẽ có một hiện

thực về đời sống, về con người cũng phải đa dạng. Trong cái bộn bề của đời

sống, con người không còn mối quan hệ duy nhất giữa hai thế giới đối lập

nhau: ta và kẻ thù. Với Người cùng quê, Phan Tứ góp phần mở rộng cho độc

giả về văn học sử thi một cái nhìn bao quát hơn về thế giới nhân vật phong

phú với nhiều mối quan hệ đan xen phức tạp. Từ những mối quan hệ ấy, Phan

Tứ đi sâu vào những đa diện trong tính cách, trong tâm hồn của con người: tốt

110

- xấu, thiện - ác…Đó là những mặt đối lập nhưng thống nhất trong thực thể

sống động- con người.

Về nghệ thuật thể hiện cách nhìn đổi mới về con người trong tiểu

thuyết Người cùng quê, Phan Tứ đặt nhân vật trải nghiệm trong nhiều không

gian – thời gian khác nhau mang tính di chuyển theo sự vận động của con

người; xây dựng ngôn ngữ nhân vật mang màu sắc cá thể, đặc biệt ngôn ngữ

vùng Trung Trung Bộ được nhà văn khai thác một cách triệt để. Các nhân vật

cách mạng trong tác phẩm trưởng thành qua năm tháng lịch sử, có nhiều phát

triển về mặt tính cách, nên Phan Tứ sử dụng lối kết cấu đa tuyến, với nhiều

loại nhân vật khác nhau được miêu tả thông qua việc tổ chức, dẫn dắt, đan xen

các tuyến nhân vật và tuyến sự kiện. Thông qua các yếu tố nghệ thuật trên,

người đọc thấy được sự vận động tư duy nghệ thuật của nhà văn về con người

cũng như có cái nhìn khách quan và đúng đắn khi đánh giá nhân vật văn học.

Bằng cái nhìn nhiều chiều mới mẻ và mở rộng bình diện khám phá,

Phan Tứ phản ánh con người trong tính toàn diện, sâu sắc, mở ra thế giới quan

tiến bộ của nhà văn trong phản ánh hiện thực con người. Nhà văn đổi mới

cách nhìn, tức là trả lại cho con người những giá trị đích thực. Vì vậy hình

tượng nhân vật trong tiểu thuyết sử thi gần với cuộc đời, với xã hội hơn. Ông

là một trong những cây bút góp phần “dò đường” cho công cuộc đổi mới văn

học những năm1986 về sau. Bằng tài năng và lao động nghệ thuật nghiêm túc,

Phan Tứ khẳng định vị trí quan trọng không nhỏ trong nền văn xuôi Việt Nam

hiện đại.

111

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phần 1: Sách, tạp chí, luận văn, luận án

1. Lại Nguyên Ân (1987), “Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu những năm

80”, Tạp chí văn học, (3).

2. M.Bakhtin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn

Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội.

3. M.Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Dostoievski, Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

4. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt

Nam sau 1975, Luận án Phó Tiến sĩ, ĐHSP - ĐHQG Hà Nội.

5. Ngô Vĩnh Bình (1986), “Giấy trắng trước những vấn đề thời sự của cuộc

sống”, Văn nghệ quân đội, (4).

6. Nguyễn Minh Châu (1987), “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn

nghệ minh họa”, Văn nghệ, (49-50).

7. Nguyễn Minh Châu (1994), Tuyển tập Nguyễn Minh Châu, Nxb Văn

học, Hà Nội.

8. Nguyễn Minh Châu (2009), Di cảo, Nxb Hà Nội.

9. Trần Cư (1967), “Vài ý kiến về nhân vật anh hùng và con người bình

thường”, Tạp chí văn học, (8).

10. Nguyễn Văn Dân (1991), Văn học - nghệ thuật và sự tiếp nhận, Nxb

Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội.

11. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội.

12. Lê Tiến Dũng (1991), “Bước phát triển của văn xuôi Việt Nam sau

1975”, Tạp chí Cửa Việt, (6).

112

13. Đinh Xuân Dũng (2001), “Nghĩ về sự biến đổi bên trong của tư duy

sáng tạo của nhà văn viết về chiến tranh”, báo Văn nghệ.

14. F. M. Dostoevski (1930), Thư từ (tiếng Nga), Moskva, tập 2.

15. Trần Trọng Đăng Đàn (1969), “Gia đình má Bảy và cách mạng miền

Nam trong bước ngoặt lịch sử những năm 1960- 1961”, Tạp chí văn

học, (7).

16. Phan Cự Đệ (1973), “Tiểu thuyết “ Mẫn và tôi” của Phan Tứ”, Tác

phẩm mới, (25).

17. Phan Cự Đệ (1980), “Nhìn lại những tác phẩm viết về chiến tranh chống

đế quốc trong ba mươi năm qua”, Tạp chí cộng sản, (12).

18. Phan Cự Đệ (1985), Tác phẩm và chân dung: phê bình - tiểu luận, Nxb

Văn học Hà Nội.

19. Phan Cự Đệ (1986), “Mấy vấn đề lý luận của văn xuôi hiện nay”, Tạp

chí văn học, (5).

20. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục,

Tp.HCM.

21. Phan Cự Đệ (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục.

22. Phan Cự Đệ (2006), Phan Cự Đệ tuyển tập, Nxb Giáo dục.

23. Hà Minh Đức (1990), “Những chặng đường phát triển của văn xuôi cách

mạng”, Văn nghệ (18/8), in lại trong: Khảo luận văn chương, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, 1997, tr.196 -214.

24. Hà Minh Đức (1995), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

25. Hà Minh Đức (chủ biên) (1998), Chặng đường mới của văn học Việt

Nam, Nxb Chính trị quốc gia.

26. Nguyễn Kiến Giang (1996), “Có những quan niệm về con người cá nhân

ở phương Đông không?” Tạp chí Nghiên cứu văn học, (1).

113

27. Đỗ Xuân Hà (1993), Sách dành cho vợ chồng trẻ, Nxb Tổng hợp Đồng

Tháp.

28. Tào Thị Hải (2006), Yếu tố sử thi trong sáng tác của Phan Tứ, Luận văn

tốt nghiệp, ĐH Vinh.

29. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ

văn học, Nxb Giáo dục.

30. Lê Thị Đức Hạnh (1975), “Phan Tứ, từ Về làng đến Mẫn và tôi”, Tạp

chí văn học, (2), tr.39.

31. Lê Thị Đức Hạnh (1978), “Hình ảnh người phụ nữ miền Nam trong

chống Mỹ qua truyện của Phan Tứ”, Tạp chí văn học, (1).

32. Lê Thị Đức Hạnh (1983), “Lê Khâm (Phan Tứ)”, in trong sách: Về một

vùng văn học, Nxb Hội văn học nghệ thuật Quảng Nam- Đà Nẵng,

tr.128-141.

33. Lê Thị Đức Hạnh (1985), “Hạt mùa sau, một thành công mới của

Nguyễn Thị Ngọc Tú”, Tạp chí văn học, (1).

34. Lê Thị Đức Hạnh (1999), Mấy vấn đề trong văn học Việt Nam hiện đại,

Nxb Khoa học xã hội.

35. Nguyễn Văn Hạnh (1993), “Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự

đổi mới cách nhìn về con người”, Tạp chí văn học, (3).

36. Hoàng Ngọc Hiến (1992), “Đọc Nguyễn Minh Châu (Từ Bức tranh đến

Phiên chợ Giát)”, in trong sách: Nguyễn Minh Châu: con người và tác

phẩm, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, tr.200-204.

37. Phạm Ngọc Hiền (2007), Thi pháp tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945-

1975, Luận án Tiến sĩ, Viện KHXH và NV.

38. Phạm Ngọc Hiền (2012), Tiểu thuyết Việt Nam 1945- 1975, Nxb Văn

học.

114

39. Bùi Hiển (1995), “Phan Tứ, nhà văn đi và viết không biết mệt”, in lại

trong sách: Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX(tập V), Nxb Hội nhà văn, 2000.

40. Đào Duy Hiệp (2001), Thời gian và tiểu thuyết, in trong: Thơ và truyện

và cuộc đời, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

41. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo

dục.

42. Hữu Hồng (1962), “Trước giờ nổ súng của Lê Khâm”, Tạp chí Nghiên

cứu văn học, (9).

43. Hoàng Mạnh Hùng (2004), Tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945- 1975,

Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội.

44. Mai Hương (sưu tầm và biên soạn) (2002), Phan Tứ toàn tập, 4tập, Nxb

Văn học.

45. Mai Hương (2002), Lê Khâm- Phan Tứ nhà văn chiến sĩ, in trong: Phan

Tứ toàn tập, Nxb Văn học.

46. Lê Thị Hương (2006), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vừa là mục

tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội”, Tạp chí Triết học, (11).

47. Ilia Êrenbua (1958), Những bút ký về nước Pháp, tr.58.

48. Nguyễn Văn Kha (1995), “Một cách nhìn về đổi mới trong hành trình

văn hóa dân tộc”, Tạp chí Tác phẩm mới, (12).

49. Nguyễn Văn Kha (2002), Văn học cảm nhận và suy nghĩ, Nxb Khoa học

xã hội.

50. Nguyễn Văn Kha (2006), Đổi mới quan niệm về con người trong truyện

Việt Nam 1975- 2000, Nxb ĐH Quốc gia Tp.HCM.

51. Kharaptrencô M.B (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát

triển văn học, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

52. Lê Khâm (1976), Trước giờ nổ súng, Nxb Văn học, Hà Nội, in lại trong

sách: Phan Tứ toàn tập, Nxb Văn học, 2002.

115

53. Lê Thị Kinh, Thanh Quế, Phương Thảo, Anh Dũng (Biên soạn) (2011),

Từ chiến trường khu 5- nhật ký và ghi chép văn học, 3tập, Nxb Văn học.

54. Cao Kim Lan (2008), “Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và

dấu vết của hệ hình thi pháp hậu hiện đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học,

(12).

55. Tôn Phương Lan (1980), “Tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975”,

Tạp chí văn học, (5), tr.24.

56. Tôn Phương Lan, Lại Nguyên Ân (1991), Nguyễn Minh Châu - con

người và tác phẩm, Nxb Hội nhà văn.

57. Tôn Phương Lan (1996), Tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh

Châu, Luận án Phó Tiến sĩ, Viện văn học Hà Nội.

58. Mã Giang Lân (2005), Văn học hiện đại Việt Nam- vấn đề tác giả, Nxb

Giáo dục.

59. Phong Lê (1963), “Mấy nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong

văn xuôi”, Tạp chí văn học, (4), tr.8.

60. Phong Lê (1986), “Con người mới và nhân vật tích cực- mục tiêu theo

đuổi và nhận diện của văn học chúng ta”, Tạp chí văn học, (1).

61. Phong Lê (1990), Văn học và hiện thực, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

62. Phong Lê (1995), Văn học và công cuộc đổi mới, Nxb Hội nhà văn.

63. Phong Lê (2009), Hiện đại hóa và đổi mới văn học, Nxb ĐH Quốc gia

Hà Nội.

64. Phong Lê, Hồ Hoàng Thanh (1983), Về một vùng văn học, Nxb Hội văn

học nghệ thuật Quảng Nam - Đà Nẵng.

65. Nguyễn Văn Long (2003), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb

Giáo dục.

66. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (2006), Văn học Việt Nam sau 1975

– Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

116

67. Phương Lựu (1997), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

68. Phương Lựu (2004), Lí luận phê bình văn học, Nxb Đà Nẵng.

69. Nguyễn Trường Thiên Lý (1987-1988), Ván bài lật ngửa, Nxb Hậu

Giang.

70. Thiếu Mai (1973), “Mẫn và tôi của Phan Tứ”, Văn nghệ quân đội số,

(8).

71. Nguyễn Đăng Mạnh (1990), Văn học Việt Nam giai đoạn (1945-1975),

Nxb Giáo dục, Hà Nội.

72. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của

nhà văn, Nxb Giáo dục.

73. Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Long (2002), Lịch sử văn học Việt

Nam, tập 3, Nxb Đại học Sư phạm.

74. Nam Mộc (1964), “Mấy nét tiêu biểu về hiện thực miền Nam trong “Về

làng” của Phan Tứ”, Tạp chí văn học, (7).

75. Vũ Tú Nam (1960), “Trước giờ nổ súng” một thành công mới của Lê

Khâm”, Tạp chí văn nghệ, (7).

76. Chu Nga (1977), Tác giả văn xuôi Việt Nam hiện đại: Từ sau 1945,

Nxb Khoa học xã hội.

77. Nguyễn Nghiệp (1974), “Mẫn và tôi, một bước phát triển mới của Phan

Tứ”, Tạp chí văn học, (2).

78. Nguyên Ngọc (2001), Chiến trường những năm tháng ấy sống và viết,

trích từ Làng Tuyên, quyển 1, Nxb Văn học.

79. Nguyễn Quang Ngọc (2006), Chương XIII – Việt Nam từ 1975 đến

nay, Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr.365-379.

80. Thanh Nguyên (1970), “Đọc “Gia đình má Bảy” của Phan Tứ, suy nghĩ

về một vài vấn đề của tiểu thuyết hiện nay”, Văn nghệ quân đội, (4).

117

81. Phạm Xuân Nguyên (1986), “Bàn về xung đột của tiểu thuyết”, Tạp chí

sông Hương, (20).

82. Phạm Xuân Nguyên (1987), “Về xu hướng thể hiện “Sự vận động của

lịch sử trong con người” ở tiểu thuyết sử thi hiện đại”, Tạp chí văn học,

(5).

83. Vương Trí Nhàn (1974), “Một cách hình dung về nhân vật tiểu thuyết”,

in trong sách: Bước đầu đến với văn học, Nxb Tác phẩm mới.

84. Trần Thị Mai Nhân (2008), Những đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam

1986 – 2000, Luận văn Tiến sĩ, ĐHKHXH&NV – Tp.HCM.

85. Hoàng Minh Nhân (2001), Mẫn và tôi sống mãi, Nxb Thanh niên, Hà

Nội.

86. Nguyễn Gia Nùng (1997), “Phan Tứ những năm ở trường đại học”, Văn

nghệ, (18).

87. Nguyễn Thị Thu Phương (2010), Nhân vật nông dân trong truyện ngắn

và tiểu thuyết Việt Nam 1986- 2000, Luận văn Thạc sĩ, ĐHKHXH&NV

Tp.HCM.

88. Thanh Quế (1994), “Lang thang với Phan Tứ”, Báo Đà Nẵng, (6).

89. Thanh Quế (2002), Phan Tứ, như tôi đã biết, in trong: Phan tứ toàn tập,

NXB Văn học, tr.868.

90. Phạm Văn Sĩ (1967),” Mấy suy nghĩ về chủ nghĩa anh hùng cách mạng

qua các tác phẩm văn học cách mạng miền Nam”, Tạp chí Văn học.

91. Phạm Văn Sĩ (1976), Văn học giải phóng miền Nam 1954- 1970, Nxb

Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội.

92. Trần Đăng Suyền (1983), “Phan Tứ với những tiểu thuyết viết về chiến

tranh”, Văn nghệ quân đội, (9).

93. Trần Đình Sử (1987), Một thời đại mới trong văn học, Nxb Văn học, Hà

Nội.

118

94. Trần Đình Sử (2001), “Mấy vấn đề trong quan niệm con người của Văn

học Việt Nam thế kỷ XX”, Tạp chí văn học, (8).

95. Trần Thị Thắng (1984), “Hạt mùa sau hay vấn đề người trí thức với hôm

nay và ngày mai”, báo Nhân dân, (4), in lại trong sách: Văn học 1975-

1985: Tác phẩm và dư luận, Nxb Hội nhà văn Hà Nội, 1997, tr.233.

96. Bùi Việt Thắng (1985), “Mấy suy nghĩ xung quanh vấn đề xây dựng

nhân vật người chiến sĩ trong tiểu thuyết viết về chiến tranh (1945-

1985)”, Văn nghệ quân đội, (10).

97. Bùi Việt Thắng (1991), “Văn xuôi gần đây và quan niệm con người”,

Tạp chí văn học, (6).

98. Nguyễn Thi (1966), Người mẹ cầm súng, Nxb Quân đội nhân dân.

99. Nguyễn Huy Thiệp (1994), Kiếm sắc, in trong tập: Những ngọn gió Hua

Tát, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

100. Nguyễn Huy Thiệp (1994), Vàng lửa, in trong tập: Những ngọn gió Hua

Tát, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

101. Nguyễn Huy Thiệp(1995), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Hội nhà văn.

102. Xuân Thiều (1988), “Viết về chiến tranh, nghĩ về đổi mới”, Tạp chí văn

học, (3+4), tr.99.

103. Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Tân (1997), Nhà văn Việt Nam hiện đại,

Nxb Hội nhà văn.

104. Bích Thu (1994), “Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau 1975

qua hệ thống mô típ chủ đề”, Tạp chí văn học, (4), tr.24.

105. Lý Hoài Thu (tuyển chọn) (2006), Phan Cự Đệ tuyển tập 1,2, Nxb Giáo

dục.

106. Lý Hoài Thu (2009), “Sự vận động của các thể văn xuôi trong văn học

thời kỳ đổi mới”, Tạp chí sông Hương, (186).

107. L.Tolstoi (1953), Toàn tập (tiếng Nga), Moskva, tập 53, tr.185.

119

108. Lê Ngọc Trà (1990), Lý luận và văn học, Nxb Trẻ Tp.HCM.

109. Ngọc Trai (1997), “Hạt mùa sau- những lời tâm sự đầy tâm huyết”, in

trong sách: Văn học 1975- 1985: Tác phẩm và dư luận, Nxb Hội nhà

văn Hà Nội, tr.234.

110. Nguyễn Thị Như Trang (1993), “Nhân vật của tiểu thuyết”, Tạp chí Văn

nghệ quân đội, (8).

111. Hải Triều (1996), Về văn học nghệ thuật, Nxb Văn học, Hà Nội.

112. Hà Xuân Trường (1986), “Bước đầu của một chuyển biến lớn”, Văn

nghệ, (23).

113. Nguyễn Thị Ngọc Tú (1984), Hạt mùa sau, Nxb Thanh niên Hà Nội.

114. Nguyễn Thị Ngọc Tú (1986), “Vài ý nghĩ khi viết Hạt mùa sau”, Văn

nghệ, (15).

115. Sơn Tùng (1961), “Truyện và tiểu thuyết”, Tạp chí văn học, (6), tr.80.

116. Nguyễn Văn Tùng (2008), Tuyển tập các bài viết về Tiểu thuyết ở Việt

Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục.

117. Phan Tứ (1971), Gia đình má Bảy, Nxb Giải phóng, in lại trong sách:

Phan Tứ toàn tập, Nxb Văn học, 2002.

118. Phan Tứ (1976), Về làng, Nxb Văn học giải phóng, in lại trong sách:

Phan Tứ toàn tập, Nxb Văn học, 2002.

119. Phan Tứ (1978), Mẫn và tôi, Nxb Thanh niên, Hà Nội, in lại trong sách:

Phan Tứ toàn tập, Nxb Văn học, 2002.

120. Phan Tứ (1983), “Tập bản thảo ấy”, Văn nghệ, (10).

121. Phan Tứ (1985), Người cùng quê, 3 tập, Nxb Đà Nẵng, in lại trong sách:

Phan Tứ toàn tập, Nxb Văn học, 2002.

122. Phan Tứ (2001), Nhật ký trích từ “Mẫn và Tôi sống mãi”, Nxb Thanh

niên, Hà Nội.

123. Từ điển Tiếng Việt (1997), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

120

124. Nguyễn Thị Hải Vân (2006), Những đổi mới của văn học Việt Nam sau

năm 1975, ĐH Quy Nhơn.

125. Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam:

125.1. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội

đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nxb Sự

thật, Hà Nội, 1977.

125.2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng Cộng Sản Việt

Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982.

125.3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng Sản

Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987.

126. Phong Vũ (2000), Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX (tập V), Nxb Hội nhà

văn.

127. Đoàn Xoa (1985), “Hội thảo về bộ tiểu thuyết Người cùng quê của nhà

văn Phan Tứ”, Báo Quảng Nam- Đà Nẵng.

128. Triệu Xuân (1985), Giấy trắng, Nxb Văn nghệ Tp.Hồ Chí Minh.

Phần 2: Các website

129. Nguyễn Như An (2007), “Phan Tứ, chàng thư sinh trở thành người

chiến sĩ, văn sĩ tài năng”, nguồn http://bulletin.vnu.edu.vn.

130. Đông Dương (2006), “Nhà văn Phan Tứ và Nhật ký chiến trường”,

nguồn http://vietbao.vn.

(2010), “Cảo thơm lần giở”, nguồn 131. Lê Năng Đông

http://baoquangnam.com.vn.

132. Phạm Ngọc Hiền (2010), “Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết “Cửa

biển” của Nguyên Hồng”, nguồn http//: phamngochien.com.

133. Tôn Phương Lan (2011), “Một cách nhận diện về sự vận động của tiểu

thuyết sử thi”, nguồn http://vannghequandoi.com.vn.

121

134. Nguyễn Quang Lập (2009), “Nhớ Phan Tứ”, nguồn http://quechoa.vn.

135. Phạm Nhật Linh (2008), “Nhà văn Phan Tứ: Chính xác như... chiếc

đồng hồ”, nguồn http://vnca.cand.com.vn.

136. Bùi Ngọc Long (2010), “Một nhà văn còn nhiều...bí ẩn”, nguồn

http://vnca.cand.com.vn.

137. Minh Ngọc (2011). “Nhật ký chiến trường của Phan Tứ”, nguồn

www.thanhnien.com.vn.

138. Đỗ Ngọc Thạch (2010), “Đổi mới quyết liệt Nguyễn Minh Châu”,

nguồn http://www.vanchuongviet.org.

139. Nguyễn Thanh Tú (2010), “Tiểu thuyết sử thi hôm nay - Những nét tìm

tòi đổi mới”, nguồn http://www.phongdiep.net.

140. Kiến Văn (2011), “Phan Tứ - niềm tin sự gắn bó một đời”, nguồn

http://www.qdnd.vn.

141. http://www.tamlyhoc.net /diendan/showthread.php?tid=1542

122

PHỤ LỤC

1./ Chân dung nhà văn Phan Tứ (1930-1995)

123

2./ Phan Tứ và những người bạn ở chiến trường khu V

3./ Phan Tứ và gia đình

124

4./ Một số hình ảnh về tủ sách của Phan Tứ

125

126

(Bác Thảo - Vợ của cố nhà văn Phan Tứ )

127

5./ Một số hình ảnh về bản thảo tiểu thuyết Người cùng quê

128

129

130

131

132

133

134

135

6./ Hình ảnh về không gian sống của cố nhà văn Phan Tứ