BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Tú Trinh
HIỆN TƯỢNG EPIPHANY TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN “NGƯỜI DUBLIN” CỦA JAMES JOYCE
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Tú Trinh
HIỆN TƯỢNG EPIPHANY TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN “NGƯỜI DUBLIN” CỦA JAMES JOYCE
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài Mã số:
60 22 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐÀO NGỌC CHƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi.
Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng công
bố ở các công trình khác.
Người viết luận văn
Lê Thị Tú Trinh
Lớp Cao học Văn học nước ngoài K19
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với PSG.TS Đào Ngọc Chương _ người thầy
hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Xin cảm ơn các thầy cô tổ Văn học nước ngoài, các thầy cô khoa Ngữ văn,
phòng Sau Đại học trường ĐHSP Tp. HCM, gia đình và bạn bè đã góp ý, giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tp. Hồ Chí Minh ngày 25 tháng 11 năm 2011
Người viết
Lê Thị Tú Trinh
Lớp Cao học Văn học nước ngoài K19
MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Mở đầu ............................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HIỆN TƯỢNG EPIPHANY VÀ “NGƯỜI
DUBLIN” CỦA JAMES JOYCE
1.1. Epiphany- từ tôn giáo đến nghệ thuật. ............................................................ 15
1.2. Về tập truyện ngắn “Người Dublin” ............................................................... 31
1.2.1. “Người Dublin” – tập truyện bộc lộ tâm hồn người nghệ sĩ James Joyce
...................................................................................................................... 31
1.2.2. “Người Dublin” và thể loại truyện ngắn hiện đại ............................. 34
1.2.3 Vị trí của “Người Dublin” trong sự nghiệp sáng tác của James Joyce ...... 37
Tiểu kết chương 1....................................................................................................... 40
CHƯƠNG 2: EPIPHANY VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT CỦA “NGƯỜI
DUBLIN”
2.1. Đặc trưng của những nhân vật liên quan đến hiện tượng epiphany trong “Người
Dublin” ............................................................................................................... 43
2.1.1. Nhân vật bị giam cầm trong nhà tù cuộc sống ................................... 43
2.1.2. Những nhân vật với khát vọng vượt thoát khỏi nhà tù cuộc sống ........... 53
2.2 Hiện tượng epiphany của các nhân vật trong “Người Dublin” .................. 58
2.2.1 Thời gian của hiện tượng epiphany .................................................... 58
2.2.2 Không gian của những khoảnh khắc Epiphany .................................. 63
2.2.3. Điểm rơi epiphany của nhân vật ........................................................ 70
Tiểu kết chương 2....................................................................................................... 78
CHƯƠNG 3: ĐỘC GIẢ “NGƯỜI DUBLIN” VÀ HIỆN TƯỢNG PIPHANY
3.1 Vài nét về mỹ học tiếp nhận .............................................................................. 81
3.2 Lối viết khơi gợi epiphany cho độc giả “Người Dublin” ............................ 85
3.2.1 Độc giả và điểm rơi epiphany của nhân vật ........................................ 85
3.2.2. “Người Dublin” với cách kiến tạo các epiphany hướng về độc giả ..... 88
.......................................................................................................... 118
Tiểu kết chương 3..................................................................................................... 116
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 120
PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học thế giới từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX đã chứng kiến một
bước ngoặc quan trọng để lại tên tuổi những nhà cách tân vĩ đại như James Joyce
(1882-1941), Marcel Proust (1871-1922), Franz Kafka(1883- 1924), Virginia Woolf
(1882-1941)...Một trong những tên tuổi ấy, nhà văn Ai-len, James Joyce nổi lên như
một hiện tượng, một cây bút tiên phong của văn học chủ nghĩa hiện đại. Nghiên cứu
các sáng tác của James Joyce là một trong những bước tiếp cận nền văn học hiện đại
thế giới, kéo gần lại khoảng cách giữa nền văn học dân tộc và nhân loại.
1.2 Con đường sáng tạo của James Joyce đi từ những thể nghiệm ban đầu tới
những bước đột phá càng về sau càng đa dạng, phức tạp, càng đòi hỏi người tiếp nhận
sự kiên nhẫn và đam mê cao độ. Joyce thể hiện tài năng của mình trên nhiều lĩnh vực:
truyện ngắn, thơ, kịch và tiểu thuyết. Tuy các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá
rất cao những cách tân của James Joyce ở thể loại tiểu thuyết nhưng không vì thế mà
truyện ngắn của ông bị xem nhẹ. “Người Dublin” được xem là tập truyện ngắn góp
phần tạo nên diện mạo truyện ngắn hiện đại. Nếu nghiên cứu dưới góc nhìn liên văn
bản thì những đề tài truyện ngắn còn trở lại và phát triển hơn trong các kiệt tác tiểu
thuyết của Joyce sau này. Điều này gợi ý người viết bắt đầu đi vào thế giới nghệ thuật
của James Joyce từ “Người Dublin”, tập truyện ngắn duy nhất của ông.
1.3 Khi sáng tác “Người Dublin” Joyce muốn tạo ra một chuỗi epiphany nhằm
thức tỉnh tinh thần dân tộc ông cho nên epiphany chính là hiện tượng chi phối tư
tưởng và nghệ thuật của nhà văn trong toàn tập truyện. Epiphany còn là chìa khóa của
toàn bộ thế giới nghệ thuật James Joyce hơn nữa cũng là hiện tượng chi phối sáng tác
của nhiều nhà văn khác như là một lối viết, một mục đích sáng tác của các nhà văn
hiện đại chủ nghĩa. Hiện tượng Epiphany trong “Người Dublin” là vấn đề nhiều gợi
mở cho người muốn tìm hiểu về những cách tân của James Joyce ở lĩnh vực truyện
ngắn. Epiphany sẽ hé lộ cho chúng ta cái tôi sáng tạo của nhà văn, những bí ẩn tâm
hồn của người Dublin nói riêng và con người hiện đại nói chung. Người viết sẽ dùng
khái niệm epiphany như chìa khóa bước vào thế giới nghệ thuật “Người Dublin” hi
vọng tiếp cận được với một cách tân truyện ngắn hiện đại nhằm phục vụ cho việc tìm
hiểu, giới thiệu một bậc thầy văn chương thế giới trong bối cảnh nền văn học phương
Tây hiện đại đang ngày càng hấp dẫn độc giả và giới nghiên cứu Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
2.1 Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này dựa trên phát biểu của chính
James Joyce về tập truyện ngắn của mình. Trong một bức thư gửi cho một người bạn
vào tháng 8 năm 1904, ông đã gọi tập truyện của mình là “một chuỗi epiphany”, cách
gọi như thế còn được lặp lại lần nữa trong bức thư gửi cho anh trai ông sau đó. Và
cũng chính Joyce thông qua diễn ngôn của Stephan Dedalus, nhân vật trung tâm trong
“Stephen Hero”, tập bản thảo đầu tay mang tính tự thuật của nhà văn đã giải thích:
“Epiphany là một biểu hiện tinh thần bất ngờ trong những lời nói thông tục, trong cử
chỉ hoặc một giai đoạn đáng nhớ của tâm trí” [70]. Theo đó thì ý tưởng về việc sáng
tác một chuỗi epiphany về đời sống Dublin đến với ông khi ông (trong vai Stephen
Dedalus) đi bộ qua một con phố tồi tàn của Dublin và tình cờ nghe được những lời
đứt quãng của cuộc trò chuyện giữa một người đàn ông và một người phụ nữ trẻ.
Cuộc nói chuyện với những lời nói tầm thường, nhát gừng, gãy ra như những mảnh
vụn ấy lại bất ngờ tiết lộ bản chất của đối tượng, khiến ông cảm nhận được nó như là
tình trạng tê liệt của thành phố này. Ông nảy ra ý tưởng mình sẽ là người nghệ sĩ ghi
chép lại những thời điểm của những nhận thức đột ngột như thế trong một tập truyện
nghiêm túc mà ông gọi là “một chuỗi epiphany”. Nhà nghiên cứu Hofbauer Randy
cho rằng James Joyce sử dụng hiện tượng epiphany để tiếp thêm sức mạnh cho người
anh hùng Stephen (hay là chính chàng thanh niên James Joyce) để anh ta đến gần hơn
với ước mơ trở thành một nghệ sĩ. Theo Hofbauer, epiphany có thể giúp người nghệ
sĩ thấy được linh hồn , bản chất của đối tượng dù nó chỉ ẩn hiện sau lớp vỏ bề ngoài .
Từ những tiết lộ của nhà văn mà các công trình nghiên cứu “Người Dublin”
thường rất chú trọng đến hiện tượng epiphany.
Hiện tượng epiphany trong tập truyện ngắn của James Joyce thể hiện ý đồ nghệ
thuật của tác giả đồng thời chính nó chi phối cách kể chuyện của ông, do đó các công
trình nghiên cứu “Người Dublin” xem xét hiện tượng epiphany đã chi phối bút pháp
kể chuyện của James Joyce như thế nào để từ đó tạo ra những thời khắc bừng ngộ của
các nhân vật trong truyện và lôi kéo sự tham gia của độc giả vào việc hoàn thiện chủ
đề tư tưởng của tác phẩm.
Mark Bendle trong bài viết “Tê liệt và epiphany trong Người Dublin” (Paralysis
and epiphany in Dubliners ) xem epiphany như là một hiện tượng góp phần quan
trọng thể hiện chủ đề của tập truyện – tình trạng tê liệt của các cư dân Dublin qua
những khoảnh khắc epiphany của các nhân vật. Tác giả bài viết đi phân tích thời điểm
epiphany của một số nhân vật trong “Người Dublin” và rút ra nhận xét rằng tại những
thời khắc ấy họ nhận ra tình cảnh bế tắc của mình nhưng thường là họ không kiên
quyết vượt thoát ra khỏi tình trạng ấy, thất vọng nhưng không giải quyết được bế tắc
và cam chịu một cách tê liệt hoặc là trút giận vào con cái chẳng hạn như Little
Chandle trong “Một đám mây nhỏ” hoặc Farington trong “Những bản sao”.
Francesca Valente trong công trình “Người Dublin của Joyce như là những
epiphany” (Joyce’s Dubliners as Epiphanies)[75] đã nghiên cứu sâu sắc hiện tượng
epiphany trong tập truyện ngắn này của Joyce. Ông cho rằng không chỉ “Người
Dublin” mà toàn bộ các sáng tác của Joyce là một loạt các epiphany. Francesca chú ý
đến thủ pháp kết cấu các truyện ngắn để tạo thời điểm cho các epiphany xuất hiện.
Đó là thời điểm mà các giác quan của nhân vật có sự tương tác với nhau như là mắt
nhìn thấy và tai cùng lắng nghe. Các chuỗi epiphany của nhân vật góp phần thể hiện
chủ đề của tập truyện là tình trạng tù túng, tê liệt mà các cư dân thành phố đang phải
chịu đựng. Qua đó có thể thấy được thấp thoáng cái tôi James Joyce cũng bị mắc kẹt
đâu đó giữa những ràng buộc gia đình, tôn giáo hay chính trị của xã hội Ailen. Theo
nhà nghiên cứu này, epiphany của nhân vật cũng là epiphany của người nghệ sĩ
James Joyce. Công trình này chưa chú ý đến vai trò của người đọc nhưng nó quan
tâm đến dụng ý của nhà văn trong việc “viết một chương trong lịch sử đạo đức của
dân tộc mình”.
Trong khi đó thì Garry Martin Leonard lại cho rằng “ Cuốn Người Dublin là
một chương quan trọng trong sự phát triển ngòi bút của người nghệ sĩ Joyce hơn là
một chương trong lịch sử xã hôi Dublin” [71]. Bởi vì theo Garry, epiphany đã trở
thành một kĩ thuật giúp tác giả “Người Dublin” thiết lập một liên kết thẩm mỹ giữa
tác giả, văn bản và người đọc. Có thể nói công trình nghiên cứu “ Đọc lại Dubliner:
Dưới cái nhìn của Lacan” (Reading Dubliners again: a Lacanian perspectiev) [71]
của Garry Martin Leonard đã xem xét hiện tượng epiphany trong “Người Dublin”
của James Joyce dưới những phương pháp luận nghiên cứu văn học rất hiện đại. Ông
đánh giá cao khái niệm ephiphany và cho rằng không chỉ của riêng Joyce, epiphany
còn phát triển thành một phương thức sáng tác của văn học hiện đại và đương đại.
Thêm một điều thú vị nữa là Garry còn chú ý đến hiện tượng tương đồng của hiện
tượng epiphany trong văn học hiện đại phương Tây với quan niệm sáng tác “ý tại
ngôn ngoại” của văn học phương Đông. Từ đó ông đề cao vai trò của epiphany trong
việc kêu gọi người đọc tham gia bằng trí tưởng tượng, bằng trải nghiệm của mình
trong việc tiếp nhận “Người Dublin”. Garry tán đồng quan niệm của Beja khi cho
rằng epiphany của Jamemes Joyce thường hướng đến người đọc hơn là nhân vật.
Những ý kiến của Garry Martin Leonard thực sự là những gợi ý rất thú vị để chúng
tôi tìm hiểu epiphany trong “Người Dublin” của James Joyce dưới quan niệm của mỹ
học tiếp nhận.
Cũng đồng quan điểm về vai trò của người đọc, Wallace Gray trong một bài giới
thiệu tập truyện “Người Dublin” đã đưa ra nhận định “ Ý định khởi đầu của nhà văn
không được diễn tả như một thông báo cuối cùng. Chính người đọc sẽ quyết định xem
mỗi câu chuyện sẽ phát ra một ý mỉa mai hay đồng cảm” [78] .Chính vì thế mà James
Joyce sử dụng lối viết giản lược (style of scrupulous meanness) và tập truyện ngắn
này của ông được cho là điểm khởi đầu của chủ nghĩa hiện đại, chống lại lối viết của
thế kỉ XIX. Wallace tiếp cận “Người Dublin” trên cả hai bình diện: một là phản ánh
đời sống đầy thất bại của các cư dân Dublin từ trẻ thơ, phụ nữ, những người đàn ông
trưởng thành; hai là qua các biểu tượng và motip phản ánh bản chất con người nói
chung vào khoảng giao thời hai thế kỉ. Nhà nghiên cứu rất chú ý đến phong cách viết
của James Joyce nhất là tính chất song đôi vừa hiện thực vừa tượng trưng; các độc
thoại tự sự và những câu văn lặp lại những hình ảnh theo khuôn mẫu; lối văn xuôi tự
nhiễm lây phong cách của nhân vật, chẳng hạn khi miêu tả cử chỉ và ngôn ngữ của
Lyly (Cõi chết) ông dùng lối văn của ngững người đầy tớ gái, sau đó khi miêu tả vũ
hội ông chuyển sang dùng ngôn ngữ của tầng lớp trung lưu, cứ như là khi miêu tả đến
nhân vật nào ông sẽ để cho nhân vật đó cầm tay mình mà viết. Wallace đánh giá đó
chính là lối viết của một nhà văn hiện đại. Thêm một nét độc đáo trong cách viết của
Joyce được Wallace nhấn mạnh nữa là lối văn chuyển hoán ở câu thứ hai (
chiasmus). Cũng như các nhà nghiên cứu khác khi tìm hiểu “Người Dublin” của
James Joyce, Wallace không thể bỏ qua hiện tượng epiphany trong các truyện ngắn.
Nhà ngiên cứu so sánh và phát hiện ra điểm tương đồng giữa quan niệm về người
nghệ sĩ có khả năng epiphany của James Joyce với “ Phương pháp soi sáng chi tiết”
của Ezra Pound. Joyce cho rằng người nghệ sĩ có khả năng phát hiện ra những biểu
hiện tinh thần bất ngờ dù chỉ qua những khoảnh khắc vụn vặt, tầm thường của cuộc
sống; Ezra Pound cũng cho rằng nhà thơ chỉ cần lựa chọn một chi tiết không quan
trọng trong một bối cảnh hoặc một giai đoạn lịch sử là đã có thể soi sáng bản chất xã
hội đó.
Tập “Người Dublin” do nhà xuất bản David Campbell, London in năm 1991 có
phần giới thiệu rất sâu sắc của nhà nghiên cứu Jonh Kelly. Trước hết, Jonh khái quát
ba đề tài mà theo ông được Joyce theo đuổi trong cả cuộc đời sáng tác của mình:
Niềm khao khát tự do; mối quan hệ giữa hiểu biết thực tế và nghệ thuật tượng trưng;
mối quan hệ tác giả, tác phẩm và độc giả. Ở đề tài tự do, Jonh tìm ra cái tôi James
Joyce trong khát vọng tự do của các nhân vật, khát khao trốn thoát khỏi những ràng
buộc của tôn giáo, chính trị và dân tộc để bước vào một cuộc sống có ý nghĩa thật sự;
Ở đề tài mối quan hệ giữa kinh nghiệm thực tế và nghệ thuật tượng trưng, nhà
nghiên cứu cho rằng Joyce đã đi tìm một kiểu, một kĩ thuật viết để có thể nối những
điều tầm thường trong cuộc sống vào trong một cuốn sách sao cho sự phản xạ trở lại
sẽ tạo ra một ý nghĩa rộng hơn. Đó chính là thời điểm epiphany, nơi một đối tượng
nhỏ mọn nhất được soi sáng bằng việc tăng tột độ sự tượng trưng, ám chỉ của chúng
và tạo ra một sự cộng hưởng của trí tưởng tượng. Đề tài thứ hai này chính là tiền đề
cho đề tài thứ ba để đạt mục đích sáng tác của nhà văn là tạo ảnh hưởng lên độc giả
nhằm báo động về một cuộc sống nhỏ nhen, tù đọng. Nhìn chung, ba mảng đề tài mà
Jonh Kelly phân tích đã bao quát phần lớn quan niệm và kỹ thuật sáng tác “Người
Dublin” của James Joyce, chỉ vì phạm vi của một bài giới thiệu sách nên nhà nghiên
cứu mới chỉ gợi và hướng đi tiếp được mở ra với nhiều khả năng hơn cho đề tài của
chúng tôi.
Nhà nghiên cứu văn học hiện đại người Nhật Bản- Suzuki Takashi trong một báo
cáo khoa học về James Joyce được đọc tại đại học Aoyamagakuin, Nhật Bản
“Epiphany trong Người Dublin” (Epiphanies in Dubliners) [77] quan tâm đến cách
thức mà nhà văn để cho một Epiphany xuất hiện trong truyện ngắn. Ông phân tích
nhiều truyện ngắn tiêu biểu để chứng minh cho sự đa dạng trong thủ pháp tái hiện
epiphany của Joyce. Có những khi epiphany xuất hiện trực tiếp rõ ràng cho người đọc
dễ nắm bắt ví dụ epiphany của Jimmy ở cuối truyện “Sau cuộc đua”; có những
epiphany xuất hiện tại thời điểm có sự chuyển dịch không gian, thời gian, ánh sáng
và bóng tối như “Hai chàng ga lăng”; cũng có khi epiphany xuất hiện nhờ vào yếu
tố tình cờ, ngẫu nhiên như trong “Một cuộc chạm trán”.Suzuki còn chú ý đến mối
liên hệ có tính phát triển giữa các nhân vật trong các truyện ngắn khác nhau. Ông cho
rằng Gabriel có thể là phiên bản trưởng thành của các cậu bé trong “Một cuộc chạm
trán”. Gabriel không còn ở tuổi ngây thơ nên các khát vọng, sự ngưỡng mộ hướng
và tới một thế giới khác với xã hội Ailen tù túng được thể hiện rõ ràng và mãnh liệt
hơn cũng vì thế mà sự thất vọng cũng cay đắng hơn. Những phân tích của Suzuki
Takashi gợi ra rất nhiều khía cạnh có thể đào sâu vào thế giới nhân vật của “Người
Dublin”. Bài viết còn gợi ý cho chúng ta về sự đa dạng của các dạng thức và thời
điểm epiphany trong tập truyện.
Các nhà văn của chủ nghĩa hiện đại chống lại lối viết của các nhà văn hiện thực
thế kỉ XIX bằng việc sáng tạo ra một lối viết hoàn toàn mới thay vì miêu tả hiện thực
từ bên ngoài bản thân nó, các nhà văn hiện đại miêu tả một hiện thực nằm sâu trong
bản chất của đối tượng. Một trong những cây bút tiên phong của lối viết hiện đại ấy
chính là James Joyce và tác phẩm đầu tiên phá vỡ các nguyên tắc của chủ nghĩa hiện
thực kinh điển chính là “Người Dublin” của Joyce. Đó là ý kiến của Codell D.K. Yee
trong công trình “Theo từ ngữ dến với James Joyce: tái hiện lại một cách viết” ( The
word according to James Joyce: reconstruction representation) [68]. Codell đã dẫn
và chứng minh ý kiến của Colin MacCabe rằng Joyce bắt đầu phá vỡ nguyên tắc của
chủ nghĩa hiện thực với khái niệm epiphany. Sự thiếu vắng các ngữ cảnh hoặc sự
miêu tả không đầy đủ làm cho những hiểu biết về các truyện ngắn đôi khi nằm ngoài
văn bản, đòi hỏi người đọc phải có khả năng phán đoán. Joyce không chịu trách
nhiệm hoàn toàn nội dung của văn bản mà đó là câu hỏi mà người đọc phải trả lời
bằng sự tương tác qua lại giữa những thông tin ít ỏi mà văn bản cung cấp với trải
nghiệm của bản thân anh ta. Ý kiến của Codell bổ sung cho các ý kiến của các nhà
nghiên cứu khác, cung cấp thêm những thông tin thú vị cho việc tìm hiểu “Người
Dublin”
2.2. Ở trên chúng tôi đã giới thiệu một số công trình nghiên cứu có liên quan đến
hiện tượng epiphany trong “Người Dublin” của các nhà nghiên cứu nước ngoài.
Nghiên cứu về James Joyce và truyện ngắn của ông ở trong nước trên thực tế chưa có
nhiều công trình chuyên sâu.
Những năm cuối thế kỉ XX trong một số công trình về văn học phương Tây hiện
đại các nhà nghiên cứu như Hoàng Nhân, Hoàng Trinh, Phương Lựu, Đỗ Đức Hiểu,
Phùng Văn Tửu… có nhắc đến tên tuổi James Joyce như một tác giả tiêu biểu của
chủ nghĩa hiện đại với những cách tân trong tiểu thuyết, khai sinh ra kỹ thuật dòng ý
thức. Thời điểm đó chưa có bài viết nào đi sâu khám phá thế giới nghệ thuật của nhà
văn tiên phong này, tên tuổi ông được nhắc đến cùng với tên tuổi các nhà văn hiện
đại khác mà không có sự nhấn mạnh đáng kể nào.
Đến đầu thế kỉ XXI, Nguyễn Thế vinh với sự giúp đỡ của Susan J.Dadam, một
người Mỹ rất có tâm huyết với James Joyce, đã dịch cuốn tiểu thuyết đầu tay “Chân
dung một chàng trai trẻ” (A portrait of the artist as a young man) ra tiếng Việt. Cũng
chính Nguyễn Thế Vinh sưu tầm và giới thiệu một số bài đánh giá chung về sự
nghiệp Joyce tổng hợp lại trong Tạp chí văn học nước ngoài số 6-2005. Trong số tạp
chí này còn có một bài “Phê bình hình thức tác phẩm Cõi chết” của Susan j. Adam.
Bài viết phân tích những yếu tố thần thoại Xen-tơ, Na-uy và La mã trong truyện ngắn
Cõi chết, bóc tách nhiều lớp vỏ huyền thoại và văn học dân gian bao trùm lên hoặc ẩn
hiện trong nhiều lớp ngôn từ của truyện ngắn được đánh giá là hay nhất thế kỉ XX
này.
Cùng thời gian này, Lê Huy Bắc trong ấn phẩm “ Đặc trưng truyện ngắn Anh
Mỹ” [4] đã nhận định truyện ngắn của Joyce là truyện ngắn “Đốn ngộ” (epiphany)
một trong ba đặc trưng của truyện ngắn hiện đại Anh – Mỹ . Nhà nghiên cứu đã
mượn một khái niệm tu tập của phật giáo Thiền Tông để dịch từ Epiphany của Joyce.
Theo đó ông giải thích “Đốn ngộ có nghĩa là nhân vật đạt đến sự giác ngộ về bản
chất tồn tại, cái đẹp hay giá trị nhân văn nào đó chỉ trong một khoảnh khắc được
chiếu rọi bởi những tiêu chí tự thân của bản thể”.[4,207] Có thể nói Lê Huy Bắc là
người đầu tiên quan tâm đến truyện ngắn của James Joyce và xác nhận đặc trưng
trong lối viết truyện ngắn của nhà văn. Ông cũng chú ý đến cả sự “đốn ngộ” của độc
giả , tuy nhiên ông lại cho rằng độc giả sẽ chỉ “đốn ngộ” tại giây phút “đốn ngộ của
nhân vật”. Khi khảo sát sự xuất hiện của hiện tượng Epiphany của độc giả “Người
Dublin” chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng và bổ sung hướng nghiên cứu này.
Cùng quan niệm với nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc, Lê Minh Kha trong luận văn
thạc sĩ “Góc khuất cái tôi James Joyce trong Người Dublin” dành một phần để khai
thác hiện tượng epiphany đối với các nhân vật của “Người Dublin” nhưng Lê Minh
Kha gọi đó là khoảnh khắc “bừng ngộ” của nhân vật. Lê Minh Kha không chú trọng
đến epiphany của độc giả cùng với nhân vật mà chú ý đên góc khuất cái tôi James
Joyce trong những thời điểm bừng ngộ ấy. Người viết nhấn mạnh “ Sự bừng ngộ của
nhân vật thường diễn ra trên hai phương diện: nhận thức về đời và ý thức về mình.
Trong đó ý thức về mình là vấn đề cốt lõi. Ý thức về mình gắn liền với sự bừng tỉnh
của cái tôi- cái tôi như một cá thể tự do, không nô lệ.”[26,79] Và cái tôi trong từng
nhân vật ẩn hiện bóng hình cùa tác giả với ý thức phản tỉnh dù không đưa được các
nhân vật của Joyce vượt thoát khỏi cuộc sống bế tắc nhưng là dấu hiệu cho khát vọng
mạnh mẽ của người nghệ sĩ James Joyce sẽ làm một cuộc tẩu thoát sau này. Khi nhắc
đến sự tiếp nhận của người đọc Lê Minh Kha cho rằng những khoảnh khắc bừng ngộ
của nhân vật sẽ ghi một dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Tác giả luận văn chưa
đẩy lên thành sự bừng ngộ của độc giả có lẽ vì điều đó nằm ngoài phạm vi đề tài
nghiên cứu của anh.
Ngoài một số công trình trên, trong nước ta còn một luận án tiến sĩ của
Nguyễn Linh Chi, một người chuyên tâm và say mê nghiên cứu James Joyce trong
nhiều năm gần đây. Đề tài mà cô nghiên cứu là “Nhân vật Stephen Dedalus của
James Joyce và mô típ mê cung”. Vậy đối tượng và phạm vi của công trình sẽ là các
tiểu thuyết của Joyce. Tuy thế, hiện tượng Epiphany vốn là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt
các tác phẩm của Joyce cũng sẽ là một phần trong “ cái mê cung” mà Joyce xây
dựng. Tác giả luận án này xem epiphany như là “một dấu hiệu của tâm điểm để từ đó
người bị giam giữ (trong mê cung) có thể thoát ra ngoài”[7,15]. Trong hành trình
khám phá mê cung, Nguyễn Linh Chi nhận ra cái kết cấu vòng tròn trong kỹ thuật
epiphany của James Joyce. Đây là một gợi ý quý báu nếu chúng ta dự định xem xét
kết cấu các truyện ngắn trong “Người Dublin” vì đó là kiểu kết cấu quen thuộc của
James Joyce.
Để chuẩn bị cho công trình luận án chuyên sâu và nghiêm túc của mình, trước
đó, Nguyễn Linh Chi đã biên soạn ấn phẩm “Tác gia tác phẩm văn học trong nhà
trường- James Joyce”. Cuốn sách đã khái quát cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của
nhà văn trong đó dành một phần giới thiệu tập truyện “Người Dublin”. Nhà nghiên
cứu có sơ lược về chủ đề, kết cấu của tập truyện nhưng chỉ dừng ở mức giới thiệu chứ
không đi sâu vào khía cạnh nào.
Khi “Người Dublin” được dịch giả Vũ Mai Trang xuất bản năm 2009, nhà văn
Mai Thục đã viết một bài giới thiệu khá công phu cho tập truyện. Trong đó nhà văn
cũng rất chú ý đến hiện tượng epiphany như là một đặc trưng cơ bản của các truyện
ngắn nghĩa là một tập truyện hé lộ những bí ẩn tâm hồn con người hiện đại. Mai Thục
dùng “hiển lộ” để dịch “Epiphany”, theo đó, các truyện ngắn sẽ lần lượt bộc lộ
“những bí ẩn, những khoảng tối nằm sâu trong tâm hồn con người trong cái xã hội tê
liệt, tù đọng, dối trá, đói khổ, tối tăm, bế tắc…của Dublin” [25,15] … “Là những
khoảnh khắc bất ngờ, ngẫu nhiên, bình thường và lặng lẽ, là giây phút mà tính cách
bên trong của con người bỗng hiển lộ qua những chi tiết sinh hoạt thường ngày chân
thật” [25,15]. Mai Thục không lí giải sâu nhưng có vẻ như nhà văn xem epiphany
trong “Người Dublin” là một khía cạnh của thủ pháp miêu tả tâm hồn nhân vật tại
một thời điểm đặc biệt nào đó, thời điểm mà người đọc có thể nhìn rõ bản chất nhân
vật, rộng hơn là chiều sâu tâm hồn con người Dublin. Bài giới thiệu cũng khái quát
những nét cơ bản về phong cách nghệ thuật của James Joyce trong tập truyện, đó là
cách kể kiệm lời để người đọc tự suy ngẫm và kết luận, cốt truyện không rõ ràng,
không có xung đột kịch tính…Dừng lại ở giới hạn của một bài giới thiệu sách, bài
viết chưa cung cấp cho chúng ta cái nhìn sâu sắc nhưng nhìn chung cũng một lần nữa
khẳng định epiphany là một đặc trưng quan trọng của tập truyện “Người Dublin”.
Hướng theo những gợi ý của nhà văn Mai Thục, khóa luận tốt nghiệp của Lê
Thị Như Vân “Nghệ thuật kể chuyện trong Người Dublin của James Joyce” cũng
xem epiphany của Joyce là “phút tâm hồn hiển lộ”. Theo tác giả khóa luận, nghệ
thuật kết cấu cốt truyện của James Joyce trong “Người Dublin” gồm hai đặc trưng:
một là truyện không có cốt truyện; hai là xây dựng phút tâm hồn hiển lộ. “Điều làm
nên đặc sắc cho truyện của Joyce chính là cách ông xây dựng những khoảnh khắc,
những giây phút mà tính cách bên trong của con người bỗng hiển lộ qua những chi
tiết sinh hoạt thường ngày, chân thật.” [60,42] Có thể thấy khóa luận đã bám sát ý
kiến của nhà văn Mai Thục khi nhận định và phân tích epiphany trong “Người
Dublin”. Đó là quan niệm xem epiphany như một khoảnh khắc bất ngờ hé lộ bí ẩn
tâm hồn nhân vật và James Joyce đã cố tình tạo ra những khoảnh khắc ấy một cách tự
nhiên và chân thật nhất. Đề cao tài năng của James Joyce trong việc xây dựng “phút
tâm hồn hiển lộ” làm nên sức hấp dẫn cho các truyện ngắn nhưng cả Mai Thục là Lê
Thị Như Vân đều chưa đi sâu lí giải các thủ pháp mà Joyce sử dụng để kiến tạo thời
khắc ấy. Chúng tôi sẽ tiếp thu gợi mở này và cố gắng đi xa hơn cho phù hợp với mục
đích đề tài của mình.
2.3. Quá trình tìm hiểu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy rằng các nhà nghiên
cứu nước ta đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến các sáng tác của James Joyce nhưng
cho đến thời điểm hiện tại chỉ có các công trình tập trung khảo sát tiểu thuyết của
Joyce hoặc nghiên cứu truyện ngắn của ông ở phương diện “Góc khuất cái tôi nhà
văn” hoặc “Nghệ thuật tự sự”, chưa có công trình nào chuyên sâu nghiên cứu hiện
tượng epiphany trong tập truyện ngắn người Dublin của James Joyce dù đã có vài ý
kiến mang tính gợi mở. Trong khi đó các công trình liên quan đến đề tài này ở nước
ngoài lại tương đối phong phú và đa dạng. Các nhà nghiên đã đề cập đến nhiều hướng
tiếp cận truyện ngắn James Joyce dưới sự chi phối của hiện tượng epiphany: từ chủ
đề của tập truyện, cách viết của tác giả và cả vai trò của người đọc. Tuy nhiên, số
lượng khá nhiều nhưng nội dung còn phân tán. Điều này vừa là thuận lợi cho chúng
tôi trong việc tìm kiếm tư liệu, tiếp thu các gợi ý quí báu nhưng cũng chính là thách
thức khi chúng tôi quyết tâm tìm một hướng đi của riêng mình để không lặp lại thành
tựu của những người đi trước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
“Người Dublin” là tập truyện ngắn duy nhất của James Joyce và hiện nay ở Việt
Nam cũng chỉ có một bản dịch của Vũ Mai Trang do Công ty sách Bách Việt và nhà
xuất bản Văn học phát hành. Tập truyện là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trên
cơ sở đối sánh với nguyên bản tiếng Anh “Dubliners” của nhà xuất bản David
Campbell, London phát hành năm 1991.
Với đề tài “Hiện tượng Epiphany trong tập truyện ngắn người Dublin của
James Joyce” chúng tôi sẽ đi tìm một cách hiểu khái niệm Epiphany mà James Joyce
sử dụng trong tập truyện ngắn duy nhất này của ông.
Epiphany là hiện tượng giúp nhà văn thể hiện chủ đề của tập truyện mà ông gọi
là “ một chuỗi epiphany để thức tỉnh tinh thần dân tộc”. Vậy Epiphany đã chi phối
các thủ pháp nghệ thuật của nhà văn từ việc khắc họa bức chân dung tinh thần của
nhân vật đến việc bộc lộ cái tôi của mình và sử dụng các biểu tượng, cách kết
cấu…nhằm hướng đến hiện tượng Epiphany của độc giả- đối tượng mà nhà văn
muốn đánh thức.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sau khi cân nhắc chúng tôi quyết định sẽ vận dụng ba phương pháp chính trong
quá trình nghiên cứu đề tài này: phương pháp văn hóa lịch sử, phương pháp phân
tích cấu trúc, phương pháp hiện tượng học. Bên cạnh đó sẽ cần thêm một số phương
pháp và thao tác hổ trợ khác như phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê.
Trước hết, phương pháp văn hóa- lịch sử sẽ giúp chúng tôi tìm hiểu ý nghĩa
của điều kiện sinh sống tự nhiên cùng những di sản tích tụ từ xa xưa của dân tộc
Ailen lên các sáng tác của James Joyce. Chủng tộc, môi trường dường như đều ghi
dấu ấn sâu đậm lên các truyện ngắn của ông dù ông có là một nhà văn lưu vong, xa
cách tổ quốc, từ bỏ tôn giáo truyền thống của gia đình và dân tộc. Hyppolyte Taine,
nhà nghiên lỗi lạc người Pháp đã viết rằng: “nghệ thuật chỉ tổng kết cái mà lịch sử đã
tạo nên” có nghĩa là dù với những phương pháp đặc thù của riêng mình thì việc sáng
tạo nghệ thuật cũng là một hiện tượng văn hóa phản ảnh trung thành lịch sử. Điều này
hoàn toàn phù hợp với dụng ý của James Joyce khi sáng tác “Người Dublin” là “Viết
một chương trong lịch sử đạo đức của dân tộc” mình.
Với cách kể chuyện đầy ẩn ý của James Joyce chúng tôi thấy rằng có thể vận
dụng phương pháp giải cấu trúc theo quan niệm của Roland Barthes để “phân cắt tác
phẩm” thành từng “đơn vị đọc” sau đó sẽ mượn các mật mã của tác phẩm để phân
giải và mở rộng ý nghĩa của nó. Chúng tôi đặc biệt tâm đắc với lối ví von của Roland
Barthes “đọc tác phẩm cũng như động tách bóc củ hành, không hề có lõi gốc bên
trong”. Quan niệm này rất gần gũi với việc đọc các truyện ngắn của James Joyce
cũng như tất cả các tác phẩm khác của ông.
Với phương pháp cấu trúc, chúng ta sẽ khám phá được “mô thức tự sự” của
James Joyce trong “Người Dublin”. Đó là kiểu trần thuật lấy nhân vật làm trung tâm
với điểm nhìn đa dạng, đa chiều với dụng công xây dựng không gian thời gian nghệ
thuật nhằm khơi gợi được hiện tượng epiphany của cả nhân vật và người đọc. Cái
“mô thức tự sự” này thể hiện quan niệm của tác giả về bản chất con người và bức
tranh xã hội (hay nói khác đi là “mô hình quan niệm về con người và thế giới của tác
giả”(Đào Ngọc Chương) ).
Phương pháp quan trọng thứ ba mà chúng tôi lựa chọn cho luận văn của mình là
phương pháp Hiện tượng học. Phương pháp này có hạt nhân tư tưởng là triết học
hiện tượng của Edmund Husserl được học giả người Ba Lan Roman Ingarden phát
triển thành lí luận văn học. Trong luận văn này chúng tôi vận dụng phương pháp phân
tích kết cấu tác phẩm thành các lớp của Roman Ingarden và đặc biệt chú ý đến tầng
bậc thứ tư “Tầng bậc mô thức hóa”. Mỗi tác phẩm văn học, theo Roman là một
“khách thể mang tính ý hướng” và khách thể ấy chỉ được xuất hiện hạn chế với một
số phương diện cơ bản gọi là mô thức, còn rất nhiều “điểm không xác định” chờ
người đọc lấp đầy. Những điểm không xác định sẽ được gợi ý từ những điểm đã xác
định trong tác phẩm. Do đó chúng tôi có tham vọng sẽ dựa vào những gợi ý trong các
truyện ngắn của James Joyce để thâm nhập vào các tầng bậc ý nghĩa của tác phẩm
liên quan đến hiện tượng epiphany mà Joyce muốn gợi ra ở người đọc truyện ngắn
của mình. Ở đây nếu kết hợp với phương pháp trực giác và thấu cảm chúng ta sẽ có
đủ hai cách cụ thể hóa cái mô thức trong từng truyện ngắn. Một là, như trên đã trình
bày, người đọc có thể từ những gợi ý trong tác phẩm để suy tưởng lấp đầy các
khoảng trống; hai là, tưởng tượng, liên tưởng theo ý hướng của mình.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng sẽ tiến hành so sánh đối chiếu các
dạng nhân vật, không gian, thời gian hoặc các kết cấu khác nhau giữa các truyện
ngắn. Song song đó cũng cần thống kê các thời điểm mà hiện tượng epiphany xuất
hiện, các dạng nhân vật… vì vậy so sánh và thống kê sẽ là những công cụ hổ trợ đắc
lực cho các phương pháp chính ở trên.
5. Dự kiến đóng góp của luận văn
Ý nghĩa khoa học: trong luận văn này, chúng tôi cố gắng đề xuất và lí giải một
cách hiểu về hiện tượng Epiphany mà Joyce xem như một tiêu chí sáng tác. Vận dụng
cách hiểu ấy chúng tôi tiến hành khảo sát sự chi phối của hiện tượng epiphany đối với
việc hình thành các đặc trưng của nhân vật; nghệ thuật xây dựng thời gian, không
gian và điểm rơi epiphany nơi các nhân vật đạt được sự nhận thức bất ngờ về bản
thân và thế giới. Luận văn cũng nghiên cứu lối viết của James Joyce nhằm hướng tới
và khơi gợi hiện tượng epiphany nơi độc giả “Người Dublin”.
Ý nghĩa thực tiễn: James Joyce là một nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện đại.
Tác phẩm của ông không chỉ được các nhà nghiên cứu say mê mà còn được đưa vào
chương trình học của rất nhiều trường phổ thông và đại học danh tiếng trên thế giới.
Nhưng ở Việt Nam ta, tên tuổi, sự nghiệp và tác phẩm của Joyce hãy còn vắng bóng
và chưa được quan tâm đúng mức.Với luận văn của mình, chúng tôi hi vọng có thể
góp phần thúc đẩy niềm hứng thú nghiên cứu và học tập tác phẩm của Joyce ở trường
đại học. Luận văn cũng sẽ là tiền đề cho việc nghiên cứu hiện tượng epiphany trong
các sáng tác khác của James Joyce .
6. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm 3 phần:
Phần mở đầu với sáu mục nhỏ: sau phần lí do chọn đề tài, người viết đi vào Lịch
sử vấn đề để khái quát tình hình nghiên cứu “Người Dublin” ở trong và ngoài nước.
Mục thứ ba sẽ giới hạn lại đối tượng và phạm vi nghiên cứu vì tập truyện duy nhất
của James Joyce có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau. Phương pháp nghiên cứu cũng
cần được xác định bởi nó là chìa khóa để người viết thâm nhập vào đối tượng nghiên
cứu của mình. Hai mục cuối của phần này là dự kiến đóng góp và cấu trúc của luận
văn.
Phần nội dung với ba chương: Chương 1 của luận văn dành một phần quan
trọng để giới thuyết hiện tượng epiphany từ trong tôn giáo đến với văn học. Kế đến là
phần xác định vị trí của tập truyện “Người Dublin” trong thể loại truyện ngắn hiện
đại, trong sự nghiệp sáng tác cũng như trong việc giúp người đọc nhận ra góc khuất
tâm hồn của tác giả James Joyce. Trong khi chương 2 dành để nghiên cứu thế giới
nhân vật của “Người Dublin” dưới sự chi phối của hiện tượng epiphany thì chương
ba khám phá lối viết của nhà văn nhằm gợi epiphany từ phía độc giả. Hai chương cơ
bản này sẽ soi chiếu vào nhau để làm sáng tỏ dụng công nghệ thuật của James Joyce
trong việc thực hiện ý đồ nghệ thuật của mình.
Cuối cùng là Phần kết luận tổng kết lại kết quả nghiên cứu trước khi giới thiệu
phần phụ lục và danh mục tài liệu mà người viết đã tham khảo trong quá trình làm
việc với đề tài của mình.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HIỆN TƯỢNG EPIPHANY VÀ
“NGƯỜI DUBLIN” CỦA JAMES JOYCE
1.1. Epiphany- từ tôn giáo đến nghệ thuật.
Epiphany vốn có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp cổ “epiphaneia” được hiểu là biểu
hiện hay ấn tượng trước một sự đột hiện, nó còn có nghĩa là một hiện tượng của cảm
giác, ý thức, sự đột ngột hiểu, nắm bắt được bản chất, ý nghĩa của một đối tượng.
Giống như trong trò chơi ghép hình (Jigsaw puzzle), khi mà người chơi đã gắn mảnh
ghép cuối cùng vào, thế là toàn bộ bức tranh hiện ra rõ ràng, đầy đủ hay một thông tin
nhỏ không đáng kể lại bỗng làm hiện ra bản chất sâu xa, huyền bí của hiện tượng.
Trong Kitô giáo, epiphany là hiện tượng liên quan đến một thời điểm, thời điểm
Chúa Jêsu “tỏ mình”, tức là biểu lộ Thiên tính trước sự chiêm ngưỡng, bái vọng của
ba nhà đạo sĩ phương Đông, những người đầu tiên đến với Người. Tự điển thuật ngữ
thần học mục epiphany chú giải:
_Hiển linh: epiphaneia: sự xuất hiện, tỏ ra
a. Những lần tỏ hiện của các thần linh trong Thánh Kinh
b. Lễ Hiển Linh, lễ Ba Vua, mừng vào ngày 6 tháng giêng (hoặc chúa
nhật tiếp đó) tưởng niệm biến cố Thiên Chúa “tỏ mình” cho dân ngoại qua
việc ba nhà đạo sĩ đến thờ lạy Chúa Hài Đồng. Các giáo hội phương Đông
mừng ba biến cố “tỏ hiện” của chúa Giêsu: tỏ hiện cho ba nhà đạo sĩ, tỏ hiện
ở sông Giodan khi lãnh phép rửa và tỏ hiện tại tiệc cưới Cana.[52,98]
Ngày 6 tháng 1, mười hai ngày sau khi Chúa giáng sinh, ba nhà đạo sĩ phương
Đông (các nhà trí thức ở vùng Babilon, phía đông xứ Palestin) đi theo một ngôi sao
dẫn đường đến vùng Bethlehem, tỉnh Juda, đất nước Do Thái để dâng quà mừng
Chúa hài đồng. Lúc bấy giờ, đất nước Do Thái chịu sự thống trị của đế quốc La Mã,
nhân dân sống trong cuộc sống nô lệ tối tăm. Tiên tri Isaia tiên đoán Đấng cứu thế sẽ
xuất hiện và thành Giêrusalem của Do Thái sẽ thành trung tâm ánh sáng. Vào ngày
con Chúa giáng sinh làm người, ánh sáng sẽ xuất hiện trên bầu trời Giêrusalem. Sự
việc đã xảy ra đúng như lời tiên tri, một ngôi sao sáng xuất hiện trên bầu trời nhưng
các thượng tế và luật sĩ, những người lo việc tư tế của thành Jerusalem lại không
quan tâm và nhân dân trong thành vẫn không hề hay biết Đấng cứu thế, vị “Vua của
dân Do Thái” đã giáng sinh. Các nhà đạo sĩ thông tuệ ở phương Đông đã quan sát
được ánh sao sáng tượng trưng cho dấu hiệu chào đời của con Thiên Chúa. Họ đã làm
một cuộc hành trình vượt qua nhiều khó khăn để đến bái lạy Chúa. Cuộc hành trình
không hề suôn sẻ vì có nhiều lúc ánh sao chỉ đường đột ngột biến mất nhưng nhờ
lòng tin và sự kiên trì của họ mà ngôi sao lại hiện ra. Ánh sao đó về sau trong thần
học Kitô giáo gọi là Ánh Sáng Tin Mừng. Tương truyền, việc Đấng cứu thế được sinh
ra đã có nhiều tín hiệu như những lời tiên tri trong các quyển Kinh Thánh có từ nhiều
thế kỉ trước, ngôi sao mới xuất hiện trên bầu trời và khi Chúa hài đồng ra đời còn có
một dàn đồng ca của các thiên thần
Những dấu hiệu ấy, các nhà tư tế của Jerusalem đều biết. Nhưng Chúa không
được sinh ra ở kinh thành giàu có, sang trọng mà sinh ra tại làng Bethlehem hẻo lánh,
nghèo nàn và trong sự thờ ơ, không tìm đến của các nhà tư tế Do Thái. Chỉ có những
nhà đạo sĩ ngoại đạo, từ xa xôi tìm đến với lòng thành kính chân thành mới là những
người đầu tiên được chiêm bái Chúa. Chúa được sinh ra giữa đêm đông giá rét và
nằm trong máng cỏ, nơi các mục đồng trú tạm để canh giữ bầy gia súc. Các nhà đạo
sĩ quì bái lạy một hài nhi bé nhỏ trong một bối cảnh đơn sơ như thế là vì họ đã có cái
nhìn epiphany, cái nhìn mang tính thiên khải. Ba món quà mà họ mang theo cũng bày
tỏ tấm lòng tôn sùng của họ trước Chúa.Đó là vàng, nhũ hương và mộc dược. Vàng
tượng trưng cho uy quyền của vua chúa. Khi dâng vàng cho Chúa Jesu, ba nhà đạo sĩ
đã tôn xưng Ngài là Vua của thế gian, vua trên các vị vua. Nhũ hương tượng trưng
cho thiên tính của Chúa hài đồng. Dâng nhũ hương, các nhà đạo sĩ đã xác tín Chúa
hài đồng là Chúa Con, là Đấng Cứu Thế, đại diện cho Thiên Chúa (Chúa Trời- Chúa
Cha). Mộc dược lại tượng trưng cho nhân tính của Chúa hài đồng. Chúa tuy là con
của Thiên Chúa nhưng cũng có nhân tính như con người, cũng sẽ phải trải qua cái
chết để cứu chuộc cho tội lỗi của con người.
Ngày 6 tháng 1 hàng năm trở thành ngày Lễ ba Vua để kỉ niệm sự kiện các nhà
đạo sĩ đến bái lạy Chúa như trên đã trình bày.Vốn họ là ba nhà chiêm tinh, những nhà
đạo sĩ thông thái nhưng họ đã trở thành biểu tượng cho tinh thần cao quí, một tinh
thần khát khao chân lí, hướng đến cái thiện, điều lành bằng một lương tâm trong sáng
nên đã được tôn xưng là Vua. Lễ ba Vua tượng trưng cho thiện chí tìm kiếm đức tin
vì ba nhà đạo sĩ Babilon ấy là dân ngoại đạo, không biết những lời hứa của Thiên
Chúa trong Kinh Thánh, không được các lời tiên tri dẫn đường, chỉ có ngôi sao của
niềm tin đưa họ đến với Đấng cứu thế. Họ tìm đến với Chúa vì lòng tôn kính Chúa
chứ không phải vì lợi ích của bản thân họ. Sự cao quí đó khiến họ xứng đáng được
tôn xưng. Về sau, lễ Ba Vua dần được gọi là Lễ Epiphany nhằm nhấn mạnh Hồng Ân
Thiên Chúa. Thiện chí của các nhà đạo sĩ là một khởi đầu và Hồng Ân của Chúa là
kết quả của cuộc hành trình. Những điều ấy sẽ còn mở ra nhiều epiphany khác cho
toàn thể con người không phân biệt sắc tộc trên thế giới.
Epiphany theo tự điển thuật ngữ thần học có nghĩa là Hiển Linh[…] chỉ việc
Chúa biểu lộ Thiên tính, Hồng Ân của mình cho con người và những người có đức
tin, lòng kính Chúa sẽ được cứu chuộc. Ba nhà đạo sĩ phương Đông là những người
ngoại đạo, từ nơi xa xôi đến, không phải là dân nước Chúa (Thánh Kinh gọi là dân
ngoại). Vì vậy Lễ Hiển Linh được gọi là Lễ Giáng sinh của dân ngoại, là dịp Chúa
biểu lộ Thiên tính của mình cho dân ngoại. Từ đó, Hồng Ân của Chúa không chỉ
dành cho các tín đồ Kitô giáo mà là cho tất cả mọi người không phân biệt màu da,
giai cấp, dân tộc.
Epiphany là thời điểm Chúa hiển linh trước sự mặc khải của mọi người. Từ đó trở
thành một lễ quan trọng của Kitô giáo. Từ ngày 24 tháng 12 đến ngày 6 tháng 1 là
mười hai ngày của một mùa Giáng Sinh. Lễ Epiphany còn là dịp để các tín đồ Kitô
giáo bày tỏ sự sám hối cho các tội lỗi trong quá khứ khi quá thờ ơ, không mang ánh
sáng Tin Mừng đến cho muôn dân, không quan tâm tìm Chúa mặc dù nhận được các
điềm báo chỉ dẫn (dấu chỉ) sự ra đời của Chúa. Vào dịp lễ Epiphany, các tín hữu Kitô
giáo cũng bày tỏ tình thân ái và tình bằng hữu, bỏ đi sự cố chấp và các thành kiến,
các mối bất hòa để trở nên thông cảm, gần gũi với nhau hơn.
Trong thần học Kitô giáo, Epiphany ban đầu chỉ thời điểm Chúa Jesu hiển lộ
thiên tính của mình trước các đạo sĩ phương Đông vào ngày 6 tháng 1. Sau này,
Epiphany còn chỉ chung các hiện tượng Chúa hoặc các thánh biểu lộ sự linh thánh
của mình cho con người nhận biết. Chẳng hạn, sự kiện Chúa nhận phép rửa tội ở sông
Jordan. Lúc bấy giờ, Chúa Jesu rời ngôi làng mà mình cư trú, bắt đầu lên đường thực
hiện sứ mạng cứu thế. Chưa có ai nhận ra Người là Đức Chúa, chưa có ai thờ phụng
Người. Khi Người đến sông Jordan thì Thánh Joan đang tiến hành phép rửa tội cho
các tín đồ. Chúa cũng bước xuống dòng sông nhận phép rửa dù Người chưa bao giờ
phạm một tội lỗi nào. Thánh Joan bằng cái nhìn thông tuệ đã nhận ra Người nhưng
Người bảo cứ để như thế vì đó là một trong những việc Chúa cần phải trải qua cùng
với con người. Khi Chúa nhận xong phép rửa thì Chúa thánh thần trong biểu tượng
chim bồ câu đã hiện ra trên đầu Người đồng thời Thiên Chúa từ trên trời cao phán
truyền xác nhận Chúa Jesu chính là Con của Thiên Chúa, là Đấng cứu thế. Đó là một
Epiphany cho tất cả tín đồ Thiên chúa có mặt tại sông Jordan lúc ấy.
Một câu chuyện Chúa hiển linh khác cũng thường được nhắc đến trong các bài
giảng vào dịp lễ Epiphany .Đó là câu chuyện Chúa hóa nước lã thành rượu tại tiệc
cưới ở Cana. Đây là lần đầu tiên Chúa biểu lộ quyền năng của mình trước các môn đệ
và rất đông người dự tiệc cưới. Theo Kinh Thánh Tân Ước kể lại, Chúa cùng các môn
đồ đi dự một tiệc cưới ở vùng Cana, tiệc cưới của một người họ hàng nên cả Mẹ
Maria cũng tới dự. Do sự sơ sót của chủ nhà nên giữa lúc bữa tiệc đang tưng bừng thì
hết rượu. Đối với gia chủ và đôi tân hôn thì đó là một sự xấu hổ, lúng túng. Đức Mẹ
Maria đã nhờ Chúa Jesu giúp đỡ gia đình ấy. Dù lúc này chưa tới giờ khắc Chúa biểu
lộ sự linh thánh của mình nhưng vì vâng lời Mẹ, Chúa đã biến sáu chum nước lã
thành sáu chum rượu ngon trước sự bất ngờ của mọi người. Đây được xem là lần biểu
lộ quyền năng công khai đầu tiên của Chúa, một Epiphany khiến các môn đệ mới
theo Người càng thêm tin tưởng, kính phục. Câu chuyện hiển linh tại tiệc cưới này
mang một ý nghĩa giáo lí sâu sắc mà các linh mục thường giảng trong các dịp lễ
Epiphany hoặc trong các buổi học giáo lí liên quan đến ý nghĩa thiêng liêng, bền chặt
của hôn nhân, gia đình. Sự kiện Chúa hiển linh tại tiệc cưới chứng minh mối quan
tâm của Người tới một trong những vấn đề trọng đại nhất của con người- vấn đề hôn
nhân. Kinh thánh Tân Ước cũng ghi lại rất nhiều trường hợp Chúa biểu lộ quyền năng
để cứu giúp cpn người. Mỗi lần như vậy được xem là một Epiphany, tức một lần
Chúa hiển linh. Cho đến ngày nay, các câu chuyện hiển linh của Chúa theo đức tin
của các tín đồ Kitô giáo vẫn thường xuyên xảy ra ở khắp nơi trên thế giới.
Epiphany trong thần học Kitô giáo ban đầu là thời điểm Đức Chúa Jêsu bộc lộ
thiên tính của mình trước những nhà đạo sĩ , sau đó có thêm nghĩa chỉ sự hiển linh
của Chúa và các thánh nhằm mặc khải một chân lí nào đó cho các tín đồ. Nó vừa chỉ
một lễ hội Kitô giáo vừa chỉ một hiện tượng thần học diễn ra tại những thời điểm bất
ngờ khi con người đột ngột nhận ra sự mầu nhiệm mà đức tin mang lại.
Không chỉ trong Kitô giáo mà cả các tôn giáo khác, Epiphany cũng có ý nghĩa
là sự đột ngột nhận thức bản thể. Từ đó, nó soi chiếu vào bản chất thế giới và thay đổi
các suy nghĩ, hành động của mình. “Chí tôn ca” (Bhagavad Gita), một kinh điển của
Ấn Độ giáo xuất hiện một Epiphany của Arjuna khi chàng nhận ra Krishna, người
đánh xe cho mình trong cuộc chiến thực sự là vị thần tượng trưng cho toàn vũ trụ.
“Chí tôn ca” là bài ca linh thánh, là “một bài thơ triết lí có vẻ đẹp phi thường”, là
một phần của áng sử thi đồ sộ Mahabharata. Cuốn sử thi này kể về cuộc chiến tranh
giữa các anh em nhà Pandava và các anh em Kaurava. Họ vốn là các anh em con chú
con bác với nhau có cùng tổ phụ là đức vua Bharata. Các anh em Pandava phải chiến
đấu để giành lại vương quốc đã bị các Kaurava đoạt lấy một cách bất công. Trong
phe Pandava thì Arjuna là anh hùng có sức mạnh chiến đấu mang tính chủ lực. Chàng
lại còn được Krishna đánh chiến xa và kiêm luôn vai trò người hướng đạo tinh thần.
Thế nhưng, khi cuộc chiến sắp bắt đầu, Arjuna nhìn sang bên kia chiến tuyến chỉ thấy
toàn anh em, bạn hữu, sư phụ thân thiết và đáng kính của mình. Chàng bỗng muốn
rời bỏ cuộc chiến mà chàng cho rằng dù có chiến thắng cũng sẽ rất đau lòng. Thái độ
của Arjuna thể hiện một quan niệm nhân văn của triết lí Hindu giáo, đó là Ahimsa
(Bất tổn sinh-không làm hại bất cứ sinh mạng nào). Đúng lúc này thì Krishna, vốn là
hóa thân của Thần bảo vệ Vishnu đã bộc lộ bản chất thần thánh của mình để khuyên
nhủ Arjuna. Chí tôn ca chính là bài ca tổng hợp các triết lí mà sau khi giác ngộ được,
người anh hùng Arjuna đã nhận thức được bổn phận của mình. Chàng đã chiến đấu
như là một vũ khí trong tay thần Bảo vệ vũ trụ, chống lại cái ác và sự bất công để
thiết lập lại một trật tự công bằng, bình đẳng và bác ái. Bằng cách hiến đời mình
thành một tặng vật cho Đấng Chí tôn, Arjuna đã vừa thực hiện được bổn phận đẳng
cấp Võ sĩ (Kshatriya) của mình vừa đạt được sự giải thoát (Moksha) linh hồn khỏi
dục vọng. Đó chính là hành động chính đáng của người anh hùng: hành động vô cầu!
Epiphany của Arjuna không chỉ là việc nhận biết bản thể thần linh của Vishnu trong
vai Krishna mà còn hơn thế chính là sự nhận thức được bổn phận và con đường thực
hiện bổn phận cũng là con đường giải thoát, điều mà các tín đồ Hindu giáo luôn
hướng tới.
Trong Phật giáo, hiện tượng “Ngộ” cũng có nghĩa là epiphany khi người tu hành
nhận ra bản chất của vũ trụ và đạt chân lí từ cách tu tập Thiền. “Ngộ là một thuật ngữ
của Thiền Tông được dùng để chỉ sự nhận thức, trực nhận, thấu hiểu xuyên suốt”
[36]. Theo đó, Ngộ là cốt lõi của Thiền, là một nhãn quan mới phóng thẳng vào cuộc
sống, vào vũ trụ. Nhãn quan ấy khác hẳn cách nhìn, nếp nghĩ mà ta vẫn vận dụng
trong cuộc sống hằng ngày. Tư duy thông thường của chúng ta chủ yếu dựa trên sự
phân tích, tổng hợp rồi lí luận nhưng Ngộ lại là một trực giác phóng thẳng vào bản
chất của sự vật để khám phá ra một thế giới chưa bao giờ hiển lộ trước đó. Khi người
tu hành đã đạt được Ngộ rồi thì sẽ nhìn vào thế giới với một quan điểm mới lạ hoàn
toàn. Thế giới hiện ra sẽ thâm trầm và tươi mới hơn. Dường như có một phép lạ thổi
ánh sáng nhiệm mầu lên tư tưởng của người tu hành khiến họ cảm nhận được tất cả
các mâu thuẫn, dị biệt đều đồng nhất, đều dung thông với nhau trong một toàn thể
thân thiết và nhịp nhàng. Chính thế mà Khai Ngộ được xem là một cuộc tái thiết toàn
bộ cuộc đời con người bởi sự Ngộ của Thiền gắn liền với cuộc sống toàn diện, khác
với hiện tượng chúng ta bất ngờ tìm được một lối thoát cho một bế tắc, tìm được lời
giải cho một bài toán hóc búa trong cuộc sống hằng ngày. Sự so sánh trên là của
Daisezt Teitaro Suzuki trong cuốn “Thiền Luận”. Ông cho rằng hiện tượng bất ngờ
tìm ra được lời giải cho một bài toán hóc búa, tìm được giải pháp cho một vấn đề
đang bế tắc kiểu đột ngột nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm cũng có thể miễn
cưỡng gọi là Ngộ. Nhưng “Ngộ” kiểu ấy thì đơn giản, hạn chế và phiến diện còn Ngộ
của Thiền là một cuộc cách mạng toàn triệt như sự khai sinh của một con người là
“hoa tâm nở”, là “đổi cung đàn”, là “tâm thông”. Chướng ngại mà Ngộ san bằng
không phải chỉ là giải thoát thế bế tắc cho một tình huống mà là mở ra một chân trời
mới “cao rộng vô biên, cổ kim thu trọn” như là một cứu cánh cho cuộc đời vốn đang
chìm trong mê muội _ một cứu cánh mà Thiền mang đến cho người tu hành để họ có
được trạng thái hoàn toàn tự do trong tâm hồn.
Epiphany với nghĩa là sự hiểu biết đột ngột cũng trở thành một hiện tượng thú vị
trong các ngành khoa học tự nhiên, khi mà các phát minh đột ngột đến với nhà khoa
học từ sự gợi ý của một hiện tượng trong đời sống (chứ không hẳn là trong nghiên
cứu). Nguyên lí Archimedes ra đời trong một dịp tình cờ khi nhà bác học Archimedes
bước vào bồn tắm làm nước tràn ra ngoài và ông nhận thấy lượng nước tràn ra ngoài
bằng với khối lượng cơ thể đắm vào trong nước. Ông có thể dùng nguyên lí này để
tính khối lượng vàng trong chiếc vương miện của nhà vua. Giải pháp cho một vấn đề
hóc búa lại đến vào lúc bất ngờ khiến ông phải reo lên “Eureka !”. Những phát minh
kiểu như thế còn gọi là hiện tượng aha chỉ sự bất ngờ phát hiện ra, bất ngờ tìm ra giải
pháp cho một vấn đề bằng một khoảnh khắc tư duy đột phá, về tính chất nó tương
ứng với hiện tượng epiphany.
Câu chuyện quả táo chín rụng xuống đã đem đến cho Isaac Newton “Định luật
vạn vật hấp dẫn”, chuyện Phridrich August Kekule mơ thấy con rắn cắn vào đuôi của
nó mà phát hiện ra cấu trúc vòng Ben-zen, chuyện James Watt nhìn ấm nước pha trà
sôi mà nghĩ đến máy hơi nước là những giai thoại có tính eureka – một dạng
epiphany trong khoa học. Nhờ những khoảnh khắc như thế mà những phát minh tầm
cỡ đã ra đời mang đến bao nhiêu tiến bộ cho nhân loại.
Từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX xuất hiện những trào lưu tư tưởng có ảnh
hưởng rất lớn đến bước chuyển mình của văn học với sự ra đời của Chủ nghĩa hiện
đại trong văn học nghệ thuật phương Tây. Điều đặc biệt là hạt nhân tư tưởng của các
trường phái mới này thường có liên quan với nhau, được vận dụng triệt để trong văn
học nghệ thuật và rất gần gũi với hiện tượng epiphany.
Mở đầu với Arthur Schopenhauer (1788- 1860) nhà triết học vĩ đại người Đức,
tác giả của công trình nổi tiếng “Thế giới là ý dục và biểu tượng” (1818). Kiệt tác này
thâu tóm toàn bộ quan điểm triết học của Schopenhauer đến nỗi những tác phẩm khác
của ông được xem như phần chú giải cho nó và ông trở thành người luận giải cho
kinh điển của chính mình. Bằng một văn phong cụ thể, sáng rõ, đậm chất hài hước,
Schopenhauer dẫn dắt người đọc theo quan điểm thế giới như sự cấu thành của ý dục,
từ ý dục dẫn tới đấu tranh và sự đấu tranh sẽ dẫn tới đau khổ. Tác phẩm mở đầu với
câu “Thế giới là ý nghĩ của tôi!” cho thấy lập trường của Schopenhauer là con người
chỉ có thể tri nhận thế giới bằng cảm giác và ý tưởng, con người chỉ biết được vật
chất qua tâm thức. Cái bản chất của thực tại không thể được tri nhận từ ngoài vào
trong nghĩa là từ vật liệu cấu thành cái vỏ vật chất của nó đi dần vào tư tưởng; chúng
ta chỉ có thể nắm bắt được bản chất của thực tại bằng trực giác nghĩa là phải ngay lập
tức đi vào trong khám phá chính tâm thức mình thì mới lấy được chìa khóa mở ra
ngoại giới. Ngoài việc là một biểu tượng trong tâm thức con người, thế giới trong
quan niệm của Schopenhauer còn là một thế giới của ý dục và vì thế nó còn là một
thế giới đầy cái ác và sự khổ đau mà chỉ có tri kiến mới khiến người ta thoát khỏi ý
dục. Theo ông, khi sự chiêm ngắm tri thức thoát ra khỏi vòng nô lệ của ý dục thì
chính là lúc nghệ thuật đang thực hiện nhiệm vụ của mình. Nghệ thuật là một cái gì
đó đặc thù nhưng lại chứa đựng cái phổ quát về con người, về thế giới. “Nghệ thuật
cao cả hơn khoa học vì khoa học tiến hành nhờ quá trình tích trữ và lí luận trong khi
nghệ thuật đạt đến đích ngay qua trực giác và sự trình bày. Khoa học chỉ cần có tài
là đủ nhưng nghệ thuật đòi hỏi phải có thiên tài”.[66] Cách quan niệm và giải thích
về thế giới như vậy khiến cho tư tưởng của Schopenhauer ảnh hưởng và có chỗ đứng
trong nghệ thuật vững vàng hơn là trong khoa học và đời sống. Chúng tôi bắt gặp sự
gần gũi giữa quan niệm về trực giác nghệ thuật của Schopenhauer với hiện tượng
epiphany trong văn học. Nghệ thuật trong đó có văn học nhận thức thế giới bằng trực
giác theo như quan niệm của Schopenhauer cũng giống như James Joyce nắm bắt bản
chất hiện thực bằng một thoáng epiphany và tái tạo cái khoảnh khắc ấy trong các
truyện ngắn của mình.
Sang đầu thế kỉ XX, Heri Bergson (1859-1941), một nhà triết học người Pháp đã
khai sinh ra triết học trực giác, trào lưu tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống
và văn học nghệ thuật. Trong nhận thức luận của triết học trực giác, Bergson đưa ra
hai cách tri nhận một sự vật hiện tượng trong thế giới. Cách thứ nhất là chúng ta sẽ đi
xung quanh sự vật và cách thứ hai chúng ta vào trong sự vật. Theo Bergson, với cách
thứ nhất, tri thức mà ta nhận được sẽ tùy vào chỗ chúng ta đứng để quan sát. Ở mỗi vị
trí quan sát khác nhau sẽ rút ra được một tri thức khác nhau về sự vật. Tri thức có từ
việc quan sát lại được diễn tả bằng các kí hiệu mà kí hiệu thì luôn luôn “không hoàn
hảo so với sự vật mà các kí hiệu đó diễn tả”[45,344]. Cách tri nhận này được
Bergson gọi là cách phân tích, một phương pháp nhận thức và lí giải sự vật của khoa
học. Chúng ta cũng biết rằng khoa học tự nhiên ở giai đoạn đầu thế kỉ XX đạt được
những thành tựu vô cùng rực rỡ.
Bergson là một nhà siêu hình học, ông không có ý bác bỏ khoa học nhưng ông
nghi ngờ rằng phương pháp tư duy của khoa học không thể là phương pháp nhận thức
đầy đủ và duy nhất. Ông nêu lên cách thứ hai ngoài cách phân tích để nhận thức sự
vật hiện tượng. Đó là tư duy bằng trực giác. Bergson quan niệm rằng có ít nhất một
thực tại mà chúng ta có thể nắm bắt được từ bên trong, bằng trực giác chứ không phải
bằng phân tích: “Đó là bản ngã- cái tôi của chúng ta tồn tại qua thời gian”. Trực giác
là một loại đồng cảm trí tuệ cho phép ý thức của chúng ta đồng hóa với đối tượng khi
chúng ta có một cái nhìn không phân biệt với sự vật được nhìn, một nhận thức tiếp
xúc, thậm chí trùng với sự vật.
Trong khi tư duy phân tích tiến hành bằng việc chia cắt thực tại thành các bộ
phận tĩnh tại, tách rời độc lập, làm tiêu diệt bản chất của đối tượng thì “suy nghĩ trực
giác là suy nghĩ trong thời gian”, “trực giác, vì gắn liền với thời gian tức là sự tăng
trưởng, nó nhận thức được trong đó một sự liên tục không đứt quãng của một cái mới
không thể biết trước; nó thấy, nó biết rằng trí tuệ tự rút ra nơi mình nhiều hơn những
gì nó có, và tinh thần chính là ở đó, và thực tại thấm nhuần tinh thần là một sáng
tạo.” [66,346]. Trực giác phát hiện ra được rằng bản ngã là một sự tồn tại trong thời
gian, là một dòng chảy liên tục. Không có hình ảnh, kí hiệu nào có thể diễn tả được
bản ngã chỉ có trực giác mới nắm bắt được bản ngã như nó vốn tồn tại và tồn tại trong
thời gian.
Phương pháp nhận thức trực giác mà Bergson đề xướng đã có ảnh hưởng rõ rệt
trong văn học đầu thế kỉ XX. Dù James Joyce không có tuyên bố nào chứng tỏ ông có
ảnh hưởng trào lưu triết học trực giác. Nhưng chúng tôi nhận ra sự tương đồng giữa
nhận thức thế giới bằng trực giác kiểu Henri Bergson với khoảnh khắc epiphany của
người nghệ sĩ James Joyce. Đó là kiểu nhìn thấu thị, xuyên thẳng vào bản chất sâu
sắc của đối tượng tại thời khắc nó vẫn đang vận động và phát triển, không cần đến tư
duy phân tích và lí giải mà đi ngay vào bên trong đối tượng. Nếu ta vận dụng trực
giác hay cũng chính là epiphany vào trong văn học, nó không chỉ giúp nhà văn tri
nhận con người và thế giới, giúp cho nhân sinh quan của nhân vật trở nên sâu sắc bất
ngờ mà còn giúp cho người đọc có con đường ngắn nhất chinh phục tác phẩm ở phần
cốt lõi nhất. Bergson cũng từng đưa ra ví dụ về việc phân tích tác phẩm văn học.
Chẳng hạn khi chúng ta phân tích một nhân vật trong tiểu thuyết, ta thấy được sự cố
gắng của tác giả trong việc miêu tả diện mạo và tính cách nhân vật qua các hành
động, đối thoại…nhưng “tất cả những điều này không bao giờ tương đương được với
cái cảm giác đơn sơ và duy nhất mà tôi có thể cảm nghiệm nếu tôi chỉ cần một giây
lát đồng hóa mình với nhân vật trong truyện” [66,344].
Hiện tượng epiphany có mặt trong nhiều lĩnh vực tôn giáo, khoa học tự nhiên,
triết học và văn học nhưng không ở đâu nó bộc lộ được hết tính chất vừa huyền bí
vừa thế tục vừa muôn màu muôn vẻ đầy sáng tạo như là trong văn học.
Austin Nichols, một nhà nghiên cứu người Mỹ, trong chuyên khảo “Những vần
thơ epiphany” (The Poetics of Epiphany) đã khám phá nguồn gốc khái niệm
epiphany trong văn học. Theo nhà nghiên cứu này, epiphany lần đầu tiên được đưa
vào văn học là nhờ công của William Wordsworth (1770-1850 ) nhà thơ lãng mạn
người Anh, rất nổi tiếng vào cuối thế kỉ XIX . Wordsworth ảnh hưởng bởi triết học
Kant, chủ trương nhận thức thế giới bằng trực giác và coi thế giới vốn là một biểu
tượng, chú ý đến các khoảnh khắc của sự mặc khải tại một “điểm của thời gian”
(spots of time), theo cách đánh giá của Austin Nichols thì đó chính là kiểu epiphany
của Wordsworth. Với nhà thơ, có nghĩa là cảm giác bất ngờ của sự mặc khải khi mà
ta có thể nhận thức một đối tượng phổ biến. Wordsworth có một phát biểu rất nổi
tiếng từng được xem như tuyên ngôn cho trào lưu văn học lãng mạng đầu thế kỉ XIX
“Tôi đã nói rằng thơ là sự tuôn trào, bột phát những tình cảm mãnh liệt: nó bắt
nguồn từ trong cảm xúc được nhớ lại trong sự bình tâm; cảm xúc được chiêm nghiệm
cho tới lúc, do một thứ phản ứng đặc biệt, sự bình tâm dần dần biến mất và một cảm
xúc khác thân thuộc với cái trước đó là đối tượng của sự chiêm nghiệm lần lần nảy
sinh và nó thật sự tồn tại trong tâm tưởng” [67]
Bài thơ “Hoa thủy tiên” (Daffodils) thể hiện rõ cảm xúc mà Wordsworth đã
phát biểu. Đây là một trong những bài thơ được yêu thích nhất của thời kì văn học
lãng mạng.
The Daffodils
I wandered lonely as a cloud
That floats on high o'er vales and hills,
When all at once I saw a crow
A host, of golden daffodils;
Beside the lake, beneath the trees,
Fluttering and dancing in the breeze.
Continuous as the stars that shine
And twinkle on the milky way,
They stretched in never-ending line
Along the margin of a bay:
Ten thousand saw I at a glance,
Tossing their heads in sprightly dance.
The waves beside them danced; but they
Out-did the sparkling waves in glee:
A poet could not but be gay,
In such a jocund company:
I gazed--and gazed--but little thought
What wealth the show to me had brought:
For oft, when on my couch I lie
In vacant or in pensive mood,
They flash upon that inward eye
Which is the bliss of solitude;
And then my heart with pleasure fills,
And dances with the daffodils.
William Wordsworth
Thuỷ tiên
Là đám mây tôi lang thang phiêu bạt
Trôi bềnh bồng trên thung lũng đồi nương
Rồi bất chợt một loài hoa hiển hiện
Thuỷ tiên vàng, ôi từng đoá yêu thương
Dưới hàng cây bên cạnh hồ soi bóng
Gió nhẹ rung trong điệu múa nghê thường
Vẫn triền miên như sao trời lấp lánh
Và lung linh trên dải sáng Ngân Hà
Ngàn hoa kia phơi mình đến ngút mắt
Quanh mặt hồ bên bờ nước bao la
Chỉ một thoáng muôn ngàn hoa trỗi dậy
Ngẩng cao đầu theo nhịp điệu hoan ca
Sóng nhấp nhô cùng hoa chung nhịp bước
Nhưng đâu bằng sự rạng rỡ hân hoan
Là thi sĩ lẽ nào tôi quên được
Hoà niềm vui để kết nghĩa bạn vàng
Tôi miên man ngắm ngàn hoa vời vợi
Cảnh trí này là sản nghiệp trời ban
Có nhiều khi trên chiếc giường ngơi nghỉ
Tâm hồn tôi trống rỗng hoặc triền miên
Chợt loé lên trong thẳm sâu ký ức
Niềm hân hoan cô quạnh lẫn ưu phiền
Và trái tim bỗng tràn trề hạnh phúc
Bước chân hoà theo điệu múa thuỷ tiên.
(Liễu Nga Đoan dịch)
Bài thơ được khơi nguồn cảm hứng từ một sự kiện đời thường ngày 15 tháng 4
năm 1802, khi Wordsworth cùng với chị gái của mình, Dorothy đi dạo chơi gần hồ
Ullswater và tình cờ trông thấy một thảm hoa thủy tiên vàng rực tuyệt đẹp. Cảm xúc
trước sự tuyệt mỹ của thiên nhiên bất chợt tuôn trào và được lưu giữ trong tâm tưởng
nhà thơ cho đến khi nó chợt bừng dậy, trái tim tràn cảm xúc bởi những hình ảnh đẹp
đẽ của hoa thủy tiên có thể xua tan những trầm tư, cô đơn trong tâm hồn mà thay
bằng niềm vui sướng hạnh phúc bất tận trong thầm lặng. Đó là lí do tại sao nhà thơ
ngây ngất trước vẻ đẹp của thảm hoa vàng mà mãi đến hai năm sau, 1804 bài thơ
“Hoa thủy tiên” mới ra đời. Hiện tượng epiphany đến với Wordsworth không chỉ là
lúc ông tình cờ bắt gặp và ngây ngất trước vẻ đẹp rực rỡ của hoa thủy tiên mà là khi
nhà thơ trong phút cô đơn, trầm tư, chán nản chợt thấy hình ảnh hoa bừng sáng trong
tâm trí như một tia sáng của sự bừng ngộ để ông nhận ra được giá trị của vẻ đẹp thiên
nhiên, cái đẹp ấy xua tan bóng tối của sự ưu sầu.
William Wordsworth được xem là nhà thơ của những đột phá, của những bùng
nổ đột ngột như cơn gió xoáy của cảm xúc, thường thì trước thiên nhiên hùng vĩ, đẹp
đẽ. “Surprize” (sự ngạc nhiên) là từ mà nhà thơ hay sử dụng như là một Epiphany
của riêng ông, “Surprized by joy” (ngạc nhiên bởi niềm vui). Robert Langbaum, nhà
nghiên cứ văn học Anh trong công trình “Chế độ epiphany trong thơ Wordsworth”
(The Epiphanic Mode in Wordsworth ‘s Poetry) cho rằng đó là một cú sốc của cuộc
sống bình thường, của tinh thần bí ẩn hoặc có thể là của một quyền lực từ bên ngoài-
sự thông báo của một cõi vô hình tồn tại phía sau thế giới khiến nhà thơ có một nhận
thức đột hiện hay thoáng qua. Còn chính Wordsworth lại miêu tả nó như là một sự
xuất hiện làm ông bối rối với niềm vui sướng của những suy nghĩ cao thượng, một
cảm xúc tuyệt vời; của điều gì đó hòa trộn giữa sự xa hơn và sâu hơn rất nhiều. ( theo
The Prelude)
Epiphany như thế xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm bất hủ “The Prelude”, một
bài thơ không vần mang tính tự truyện của Wordsworth. Nhà thơ đã có những giây
phút được chiếu rọi bởi một tia sáng huyền bí, một loại tia sáng nhấp nháy đến rất đột
ngột và cũng biến mất rất nhanh như khi nó đến khiến cho người nghệ sĩ lo lắng một
ngày nào đó, thứ ánh sáng ấy sẽ không xuất hiện nữa khiến ông rơi vào lối mòn của
sự nhận thức, không có gì đột phá mới mẻ trong sáng tác.
“I see by glimpses now; when age comes on
May scarcely see at all (The Prelude)
( Tôi nhìn thấy bằng cái nhìn thoáng hiện bây giờ; đến thời kì nào đó có lẽ hầu như
không thấy gì cả)
Trong “The Prelude”, hiện tượng epiphay đến với tâm trí nhà thơ như là một thứ
ánh sáng đột ngột, hão huyền một cách lãng mạn tại một thời điểm bất ngờ mà chủ
thể không biết trước. Các tia sáng của một epiphany thường đến rất nhẹ nhàng và đôi
khi nhiều tia sáng như thế xảy ra cùng lúc nhưng hoàn toàn ngẫu nhiên, bất ngờ “bởi
một sự va chạm ngẫu nhiên và một sự tình cờ kì lạ” (The Prelude) . Worsworth cho
đó chính là điều thú vị nhất của hiện tượng epiphany vì nó không rõ ràng, không phải
lúc nào cũng dễ dàng nắm bắt mà trái lại nó liên tục gây bất ngờ khi ta nắm bắt được
nó vào lúc ta không chú ý nhất. Càng thú vị hơn giữa lúc ta đang bế tắc mà nó đột
ngột xuất hiện như ánh sáng lóe lên tại một khoảnh khắc đột ngột, một trải nghiệm
bất ngờ đến từ bên ngoài các suy nghĩ và lí luận thông thường. Epiphany như một
thách thức với những điều ta từng nhận thức và chiêm nghiệm, nó sẵn sàng lật đổ tất
cả những suy tư, phân tích của lí tính hay kinh nhiệm, nó phá vỡ mọi qui luật nhân
quả và chính vì thế mà đối với người nghệ sĩ Wordsworth nó là sự khởi đầu vô giá vì
nó giúp ông không rơi vào những lối mòn của suy nghĩ, nhận thức hay kinh nghiệm.
Wordsworth đã mở đầu cho thơ ca lãng mạng thế kỉ XIX. Bắt đầu từ ông, các nhà
thơ trữ tình sử dụng hiện tượng epiphany như một yếu tố hấp dẫn của nội dung thơ
ca. Ashton Nichols, trong chuyên khảo “Những vần thơ của epiphany” (The Poetics
of Epiphany) đã khám phá nguồn gốc hiện tượng epiphany trong thơ ca của
Wordsworth với khái niệm “điểm thời gian” ( Spots of Time) và tiếp tục theo dõi sự
vận dụng và phát triển của hiện tượng này trong thơ ca của Coleridge, Shelley,
Browning, Tennyson, Hopkins đến Yeats và Eliot… Trong suốt chuyên khảo của
mình, Nichols tập trung theo dõi để có thể chỉ ra sự giống và khác nhau trong cách
tiếp cận, nắm bắt và sử dụng “Epiphany văn học” trong tác phẩm của các tác giả.
Cùng quan điểm với Nichols, Morris Beja (giáo sư danh dự của Đại học bang
Ohio_Hoa Kì, chuyên nghiên cứu và giảng dạy văn học hiện đại), trong công trình
nổi tiếng “Epiphany trong tiểu thuyết hiện đại” (Epiphany in the Modern Novel) đã
khẳng định William Wordsworth là nhà thơ lãng mạn mở đầu cho dòng văn học
epiphany .Ông cũng khẳng định James Joyce là nhà văn hiện đại đầu tiên có ý thức sử
dụng epiphany như một tiêu chí sáng tác.
Từ các công trình của các nhà nghiên cứu nổi tiếng mà chúng tôi có cơ hội tham
khảo, chúng tôi có thể tin rằng: hiện tượng Epiphany từ trong thơ trữ tình bước sang
các sáng tác văn xuôi ngắn và đi vào địa hạt tiểu thuyết một cách nhẹ nhàng và đầy
thuyết phục. Thực tế là đã có một dòng văn học epiphany vẫn trôi chảy mạnh mẽ từ
trào lưu lãng mạng thế kỉ XIX đến văn học hiện đại đầu thế kỉ XX và vẫn đang tồn tại
trong văn học đương đại. Và ngày nay, khi nhắc đến “văn học epiphany”, các nhà
nghiên cứu lại đưa ra những dẫn chứng bằng tác phẩm của James Joyce, nhà văn hiện
đại nổi tiếng Ailen.
Mặc dù James Joyce không phải là người sáng tạo ra “văn học epiphany” nhưng
ông chính là nhà văn đầu tiên có ý thức sử dụng epiphany như là một tiêu chí sáng tác
cũng đồng thời là một khía cạnh nội dung trong nhiều sáng tác ban đầu của mình
(Anh hùng Stephen, Người Dublin). Các tiểu thuyết lớn về sau tuy Joyce không dụng
công đưa epiphany thành chủ đề chính nhưng hiện tượng này vẫn xuất hiện tại những
khoảnh khắc bất ngờ nhất trong dòng ý thức miên man của các nhân vật. Các
epiphany trong tiểu thuyết của Joyce được cho là sâu sắc và khó nắm bắt hơn rất
nhiều so với các áng văn xuôi thời kì đầu của ông. Hiện tượng epiphany mà Joyce sử
dụng trong tác phẩm của mình có nguồn gốc từ trong tôn giáo nhưng Joyce đã gạt bỏ
ý nghĩa thần học để kéo hiện tượng này về thế tục. Epiphany của James Joyce hoàn
toàn mang tính đời sống thường ngày chứ không còn màu sắc của một hiện tượng
huyền bí, thiên khải.
James Joyce sinh năm 1882 tại Rathgar, ngoại ô thủ đô Dublin_ Ailen. Ông
được hưởng nền giáo dục đầu đời tại những trường dòng Công giáo. Tháng 9 năm
1888, Joyce bắt đầu thời tiểu học tại trường Clongowes Wood College, một trường
dòng Tên (tên Chúa Jêsu) nổi tiếng và học ba năm ở đó. Sau đó là một khoảng thời
gian ngắn phải gián đoạn việc học hành do tài chính của gia đình. Nhưng đến tháng 4
năm 1893 nhờ sự giúp đỡ của cha John Conmee, người từng là hiệu trưởng trường
Clongowes, Joyce được cấp học bổng vào học tại trường Belvedere College, cũng là
một trường dòng tu lớn. Năm 1895, Joyce 15 tuổi có một cơ hội được vào Hội tương
tế Đức Mẹ nhờ vào thái độ học tập tích cực và hành vi đạo đức tốt. Nhưng Joyce đã
từ chối vinh dự đó vì trong ông tư tưởng hoài nghi tôn giáo cứ lớn dần. Joyce tốt
nghiệp xuất sắc trường Belvedere năm 1898 và bước vào một mùa hè với bao ý nghĩ
đen tối do mất lòng tin vào thói đạo đức giả của nhà thờ. Điều đó cuối cùng dẫn đến
quyết định từ bỏ tôn giáo và bước theo con đường tự do của người nghệ sĩ. Dù từ bỏ
tôn giáo nhưng James Joyce đã được đào tạo và thấm nhuần các tư tưởng Công Giáo
La Mã. Joyce nhận ra sự biến đổi bản thể trong tôn giáo cũng giống như sự cố gắng
thoát thai thành một nghệ sĩ của ông. Đó chính là một cảm giác epiphany mà nhân vật
Stephen trong “Chân dung một nghệ sĩ trẻ” đã trải qua. (Stephen Dedalus được nhận
định chính là nhân vật tự thuật của James Joyce).
Theo James Joyce, mọi con người và sự vật đều có bản chất riêng tồn tại trong
chính bản thân nó, không lệ thuộc vào sức mạnh tôn giáo hay chính trị. Ông dùng
hiện tượng epiphany để phác thảo ý tưởng cho các truyện ngắn của mình và hiện
tượng này liên quan đến cả các tiểu thuyết lớn ra đời sau đó. Tước bỏ cái vỏ thần học,
hiện tượng epiphany được Joyce dùng để diễn đạt các câu chuyện khi mà nhân vật
chính bất ngờ nhận ra và thay đổi nhận thức của họ về bản thân hoặc thế giới. Chính
điều đó làm thay đổi hoàn toàn nhận thức, tình cảm của nhân vật. Epiphany còn là
phương pháp sáng tác giúp James Joyce truyền những thông điệp của người nghệ sĩ
đến độc giả. Bằng việc sử dụng hiện tượng epiphany để xây dựng tác phẩm, James
Joyce đưa cả tác giả, nhân vật, người đọc vào trong một trò chơi sáng tạo đầy bất ngờ
và say mê.
Epiphany là một hiện tượng phổ biến, xuất hiện trong nhiều lĩnh vực đời sống,
khoa học và nghệ thuật. Epiphany trong văn học có nguồn gốc từ trong tôn giáo thần
học nhưng tùy cách tiếp cận và vận dụng của từng nhà văn mà khi đi vào các sáng tác
văn học nó vẫn giữ màu sắc thần học hay là được kéo gần lại với đời sống thế tục.
Văn học epiphany không bắt đầu từ James Joyce nhưng từ tác phẩm của ông,
Epiphany chính thức trở thành một hiện tượng quan trọng và phổ biến, thu hút sự
dụng công sáng tạo của các tác giả cũng như sự chú ý của các nhà nghiên cứu và độc
giả.
1.2. Về tập truyện ngắn “Người Dublin”
1.2.1. “Người Dublin” – tập truyện bộc lộ tâm hồn người nghệ sĩ James Joyce
James Joyce viết “Người Dublin” từ năm 1904 đến năm 1907 nhưng mãi đến
năm 1914 tập truyện mới được xuất bản sau nhiều lần bị từ chối và phải thương
lượng. Khi nhà xuất bản Maunsel & Co từ chối in tập truyện ngắn này, Joyce đã viết
thư cho ông tổng biên tập và phàn nàn “Đâu phải lỗi tại tôi mà máng tro, mùi cỏ úa
và mùi cá thối luẩn quất trong những câu chuyện của tôi. Tôi tin với một tinh thần
nghiêm chỉnh rằng ông sẽ làm ngưng trệ tiến trình văn minh ở Ai-len bằng hành động
ngăn ngừa nhân dân Ai-len có một cái nhìn đúng đắn về bản thân họ trong tấm
gương nhẵn bóng tuyệt vời của tôi”[76]. Sau đó nhà xuất bản Grant Richards sau
nhiều cân nhắc, tranh cãi đã chấp nhận phát hành tập truyện ngắn của James Joyce.
Trong thư gửi nhà xuất bản này ông bày tỏ ý định của ông là “viết một chương trong
lịch sử đạo đức của dân tộc tôi và chọn Dublin làm bối cảnh bởi vì theo tôi thành phố
này là trung tâm của sự tê liệt”. [ 60, 72]
Chủ đề “tê liệt” (paralysis) xuất hiện ngay trong truyện ngắn đầu tiên “Chị em
gái” (the Sisters) và từ đó xuyên suốt toàn tập truyện. Bản thân nhà văn từng bày tỏ
rằng ông đã viết những truyện ngắn của mình với một sự đắn đo, cân nhắc khi thể
hiện “cái mùi đặc biệt của sự thối nát” mà ông hi vọng nó có thể nổi lên trên những
câu chuyện (“The special odour of corruption wich I hope, floats over my stories”).
Những lời bộc bạch trên hé lộ ý tưởng, mục đích của nhà văn khi xây dựng tập
truyện ngắn như một chuỗi epiphany_ để thức tỉnh tinh thần dân tộc mình. Mặc dù
khi bắt tay viết “Người Dublin” cũng là khoảng thời gian James Joyce bắt đầu bước
vào cuộc sống tha hương, rời xa thành phố mà ông sinh ra và lớn lên. Suốt cuộc đời
sống nơi xứ lạ nhưng Dublin luôn tồn tại day dứt trong ông. Thành phố trung tâm của
một Ai-len tù đọng, tê liệt về mọi mặt chính trị, xã hội, tôn giáo, với những mảng
hiện thực đen tối, ngột ngạt, với những cư dân đang sống trong sự tẻ nhạt, dối trá, lo
âu, trì trệ mà ông đã sống và trải nghiệm, luôn luôn thôi thúc ông viết một cái gì đó
để kêu gọi, để thức tỉnh tinh thần của đồng bào mình.
Mặc khác, khi viết về người Dublin, Joyce cũng là đang tự viết về mình, một
người Dublin đang sống tha hương. Trên mỗi trang sách, Joyce vừa là chủ thể sáng
tạo vừa là một phần của khách thể thẩm mỹ. Tập truyện ngắn ẩn chứa những góc
khuất cái tôi tác giả với đời sống và tâm hồn cũng từng trải qua những bế tắc, dằn vặt,
hoài nghi trước một xã hội Ai-len bị chia cắt sâu sắc bởi các thể chế chính trị và tôn
giáo. Người đọc có thể thấu hiểu cuộc đời nhà văn qua việc tìm hiếu dấu ấn cái tôi
nghệ sĩ trong tác phẩm của anh ta. Chân dung tinh thần James Joyce phản chiếu
không chỉ trong tiểu thuyết tự thuật mà còn trong các truyện ngắn, những phác thảo
ngắn gọn như là những lát cắt qua từng thời gian cụ thể trong cuộc đời Joyce nhất là
thời tuổi trẻ đến khoảng 25 tuổi, khi hoàn thành truyện ngắn cuối cùng “ Cõi Chết”.
Khi viết “ Người Dublin”, James Joyce không chỉ nhằm thức tỉnh tinh thần dân
tộc mình mà còn nhằm bộc lộ cái tôi người nghệ sĩ với những trải nghiệm cuộc đời
trên quê hương Dublin. Với dụng ý ấy, James Joyce đã sắp xếp 15 truyện ngắn theo
từng giai đoạn của đời người. Ba truyện đầu; Chị em gái ( The Sisters), Một cuộc
chạm trán (An Encounter), Araby (Araby) viết về thời thơ ấu; bốn truyện kế tiếp:
Eveline (Eveline), Sau cuộc đua (After the Race), Hai chàng ga-lăng (Two Gallants),
Nhà trọ (The Boarding House) viết về thời thanh niên; bốn truyện kế tiếp: Đám mây
nhỏ (A Little Cloud), Những bản sao (Counterparts), Đất sét (Clay), Một trường hợp
đau lòng (A Painful Case) viết về cuộc sống trưởng thành; và cuối cùng là bốn truyện
ngắn: Ngày Thường Xuân trong phòng Hội Đồng ( Ivy Day in the Committee Room),
Một người mẹ (A Mother), Ân sủng (Grace), Người chết ( The Dead) viết về đời sống
cộng đồng. Các nhân vật trong truyện ít nhiều đều mang dáng dấp cuộc đời James
Joyce như lời nhận định của nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc: “Câu chuyện của Joyce
luôn thuộc về một cá nhân cho dù các cá nhân đó đều mang hình bóng của ông trên
suốt những chặng đường đời” [4,209]. Góc khuất cái tôi mà Jamse Joyce thể hiện
trong các truyện ngắn không chỉ là hình bóng cuộc đời ông mà chính là cái góc tâm
hồn đầy dằn vặt, suy tư của ông trước những vấn đề bế tắc của cá nhân, gia đình và
xã hội. Cậu bé không tên trong “Chị em gái” sớm phải đầy trăn trở trước niềm hoài
nghi các giá trị của giáo hội và giới cha xứ ; nhà thơ trẻ tuổi Litle Chandler trong
“Một đám mây nhỏ”, không thể thoát khỏi những ràng buộc của gia đình và xã hội để
thực hiện hoài bảo nghệ thuật của mình hay Gariel trong “Người chết” không xác
định được giá trị của mình, luôn lấp lửng, nước đôi giữa các trạng thái...Có thể nói
rằng tất cả nhân vật trong “Người Dublin” đều một phần nào đó thể hiện một khía
cạnh, một giai đoạn, một vấn đề trong tâm hồn tác giả. Xét từ góc độ này chúng ta có
thể thấy James Joyce sáng tác tập truyện ngắn theo một kết cấu có dụng ý như vậy
ngoài việc phản ánh hiện thực đời sống, tâm hồn người Dublin còn bộc lộ những góc
khuất trong tâm hồn mình. Bộc lộ một cách khéo léo bằng những thủ pháp tự sự độc
đáo và mới mẻ nhất.
Dublin trong tâm thức James Joyce không phải chỉ có cái vẻ chật chội, ngột
ngạt, tù túng; cuộc sống của người dân Dublin không phải chỉ được ông nhìn thấy sự
bế tắc, quẩn quanh, tê liệt. Dublin còn là quê hương, nơi Joyce sinh ra và lớn lên với
dòng máu dân tộc Ai-len không ngừng luân chuyển trong người. Tình yêu quê hương
luôn nhắc ông nhớ về một thành Dublin xinh đẹp với những công dân nhiệt tình và
hiếu khách. Trong thư gửi nhà xuất bản sau khi hoàn thành và sắp xếp ổn thỏa trật tự
các truyện ngắn, Joyce có nêu một mục đích sáng tác rất cảm động “Bạn hãy nhớ
rằng Dublin đã có lịch sử hàng ngàn năm, nó là thành phố thứ hai của đế quốc Anh,
nó lớn gấp ba lần Venice, nó có cái vẻ kì lạ mà không nghệ sĩ nào giới thiệu nó với
thế giới” [78]. James Joyce đối với quê hương đâu chỉ có nỗi thất vọng, chán nản mà
trong ông vẫn đau đáu một tình yêu và niềm tự hào. Khi bắt đầu viết truyện ngắn cuối
cùng của tập truyện, “Người chết”, Joyce đã thổ lộ “Đôi khi tư duy Ailen nhắc nhở tôi
rằng tôi không cần thiết phải khắc nghiệt! Tôi chưa từng thấy thành phố nào thoải
mái sau khi rời khỏi nó ngoại trừ Pari. Tôi đã không miêu tả đảo nhỏ ngây thơ và
hiếu khách của mình [78]. Joyce viết những dòng này khi đang trải qua những ngày
tồi tệ ở Roma, ông phải làm việc 10 giờ một ngày trong một ngân hàng ở đây với thu
nhập không đủ nuôi sống cái gia đình nhỏ ba người của mình. Cuộc sống khốn khó
nơi xứ người, trong mùa đông lạnh giá khiến ông càng hoài niệm về cố hương. Trong
tâm trạng đó, “Người chết” ra đời có phần miêu tả tính cách Ai-len rộng lượng, hiếu
khách và ấm áp. Có thể thấy dù không thể sống ở đất nước mình nhưng Dublin luôn
trong trái tim Joyce và ông không bao giờ quên mình là một đứa con của dân tộc Ai-
len. James Joyce chọn cuộc sống tha hương ở Trieste, Roma rồi Pari để nhớ về
Dublin tha thiết hơn trong những tác phẩm của mình.
1.2.2. “Người Dublin” và thể loại truyện ngắn hiện đại
Thế kỉ XX đánh dấu một bước ngoặc lớn trong tiến trình văn học phương Tây
với sự ra đời của chủ nghĩa hiện đại (modernism), một trào lưu sáng tác với tinh thần
tự do vô tận, không ngừng tìm tòi và thể hiện những cách nghĩ, cách viết mới mẻ, táo
bạo. Chủ nghĩa hiện đại mở ra khả năng cho những cách tân vô hạn về hình thức và
phương thức biểu hiện. Một trong những tên tuổi làm nên những cách tân ấy chính là
James Joyce. Khi nhắc đến những đóng góp của ông người ta thường nhấn mạnh đến
sự đổi mới thể loại tiểu thuyết với kĩ thuật dòng ý thức được vận dụng đến mức điêu
luyện. Nói như thế không có nghĩa là ông không có những tìm tòi đáng kể cho truyện
ngắn, một thể loại ngày càng được chú ý nhiều hơn trong thế kỉ XX. “Người Dublin”
được giới nghiên cứu đánh giá là tập truyện mở đầu cho phong cách truyện ngắn hiện
đại, là một trong những điểm mốc trong cuộc đấu tranh của chủ nghĩa hiện đại chống
lại nội dung và phong cách văn chương hiện thực thế kỉ XIX. Những cách tân mạnh
mẽ cho thể loại truyện ngắn của James Joyce ghi dấu ấn lên rất nhiều nhà văn nổi
tiếng sau này như: Ernest Hemingway,Garcia Marguez, Saul Bellow, Jorge Luis
Borges, Frank O’ Connor…
Đầu thế kỉ XX là thời kì lên ngôi của truyện ngắn, những nhà văn lớn đều có
những thể nghiệm với thể loại này. Hàng loạt nhà văn, nhà thơ, kịch tác gia đều thể
nghiệm với truyện ngắn và để lại cho văn đàn cả một kho truyện ngắn xuất sắc. Nếu
như truyện ngắn thế kỉ XIX coi trọng tình huống gay cấn và hành động ly kì, ngoạn
mục thì sang thế kỉ XX công nghệ điện ảnh và truyền hình đã thực hiện điều đó tốt
hơn rất nhiều. Tiêu chí giải trí bằng việc đọc cũng đã có các tạp chí ra đời như nấm
sau mưa đáp ứng. Truyện ngắn thời kì này chỉ còn con đường tồn tại và phát triển là
phải tìm cho mình một hình thức mới hấp dẫn hơn. Với sự nhạy bén của những người
nghệ sĩ, các tác giả cùng bước vào những thể nghiệm hình thức mới cho dù hình thức
là yếu tố khó nắm bắt so với tình tiết hay cốt truyện. Truyện ngắn hiện đại dần bỏ các
xung đột trong cốt truyện và chuyển sang cấu trúc mới, xoay quanh các xung đột tâm
lí, mô tả các hành động tinh tế và các sự kiện đời thường. Đây thật sự là những tìm
tòi, cách tân rất đáng trân trọng của những cây bút lớn mặc dù ban đầu họ đã phải
nhận sự phản hồi tiêu cực từ các độc giả quen với kiểu truyện truyền thống. Họ cho
rằng chẳng có gì được kể trong các truyện ngắn như vậy. Tuy nhiên số lượng độc giả
có đòi hỏi cao hơn về nghệ thuật ngày càng quan tâm và say mê tìm hiểu để đi đến sự
đồng cảm với người sáng tác. Và truyện ngắn bước sang một khúc quanh mới trong
tiến trình phát triển.
Truyện ngắn đầu thế kỉ XX thực sự thay đổi sâu sắc về nội dung và hình thức
thể hiện và James Joyce là một trong những cây bút tiên phong trong sự thay đổi đó.
Tính đột phá bắt đầu từ hệ đề tài và đối tượng được miêu tả trong các truyện ngắn.
Trong khi các nhà văn hiện thực thuần túy nhất cũng cố gắng dùng ẩn dụ để phủ một
bức màn nghệ thuật lên bức tranh cuộc sống khi đưa nó vào tác phẩm thì các truyện
ngắn của Joyce đề cập đến những đề tài cuộc sống như nó vốn có. Những vấn đề của
Dublin như linh mục buôn thần bán thánh, học sinh trường dòng trốn học, đàn ông
nghiện rượu bét nhè, bạo hành gia đình, cờ bạc, mại dâm, ăn cắp vặt, tống tiền và tự
tử. Đặc biệt hơn là những tên gọi đi từ thành phố Dublin vào thẳng trong tác phẩm
mà không cần qua thủ pháp ẩn dụ nào. Các tên đường phố, công viên, tên nhà hàng,
quán rượu, cửa hàng, nhà hát, nhà ga… đều có thể tra tìm trên danh mục bưu điện.
Truyện ngắn của ông không tập trung vào một cốt truyện hấp dẫn không có
những tình tiết li kì, lôi cuốn mà là những dòng tâm trạng, những xung đột nội tâm
như những đợt sóng ngầm trong lòng nhân. Những câu chuyện không có cốt truyện,
miêu tả những vặt vãnh hằng ngày quanh các đường phố, cửa hàng, quán rượu hay
những ngôi nhà đầy bóng tối của Dublin. Ở một số truyện ngắn có thể xem là có cốt
truyện thì kết cấu cốt truyện cũng bị phá vỡ. Nhà văn tạo ra một độ nén và để cho cốt
truyện bùng vỡ trong người đọc khi họ tiếp xúc với tác phẩm. “Eveline” là một
truyện ngắn như thế. Gần hết cả dung lượng truyện là dòng nội tâm của nhân vật
chính, đan xen cả những hồi ức tràn về từ quá khứ, những cảm xúc của hiện tại và dự
cảm cho tương lai. Cái kết của truyện được xây dựng trong vài dòng ngắn ngủi ở cuối
truyện và ta chỉ thấy quyết định cuối cùng của cô gái là không lên đường với người
yêu còn vì sao cô lại thay đổi đột ngột như thế thì nhà văn và nhân vật không tiết lộ.
Loại truyện ngắn như thế hỏi một cách đọc khác và đây cũng là một đặc điểm của
truyện ngắn hiện đại.
Từ khi quyết định đi theo con đường của một người nghệ sĩ, Joyce đã có một
tuyên ngôn: “Người nghệ sĩ, giống như sự sáng tạo của Chúa, phải ở trong hoặc phía
sau hoặc bên ngoài hoặc bên trên công trình của mình, vô hình, tinh tế trong sự tồn
tại, không quan tâm phần đã cắt ra của những móng tay mình” [35,482]. Joyce đã
thực hiện nghiêm túc tuyên ngôn đó trong tập truyện ngắn duy nhất và cũng là những
áng văn xuôi nghệ thuật đầu tay của ông. Những câu chuyện trong người Dublin
được trần thuật bằng nhiều giọng điệu, nhiều điểm nhìn linh hoạt nhưng nổi bật lên
vẫn là giọng trần thuật khách quan và điểm nhìn được chuyển vào bên trong nhân vật
để cho những người Dublin tự nhìn vào cuộc sống và tâm hồn mình tại những thời
khắc epiphany để nhận thức về cuộc đời cũng như bản chất con người. Joyce chưa
phô diễn kĩ thuật dòng ý thức trong các truyện ngắn của mình nhưng sử dụng rất
nhiều độc thoại nội tâm theo lối phân tích tâm lí dẫn dắt người đọc cùng đi vào thế
giới tâm hồn đầy phong phú và bí ẩn của con người. Ý định của nhà văn không được
diễn tả như một thông điệp cuối cùng, chính người đọc sẽ tiếp tục cuộc hành trình
sáng tạo và quyết định nội dung của thông điệp, thậm chí cả giọng điệu mỉa mai hay
đồng cảm của từng câu chuyện.
Joyce là một nghệ sĩ rất quan tâm đến phương tiện và cách thức diễn đạt cho nên
mỗi tác phẩm của ông đều là những cách tân khiến chúng không chỉ mới lạ và khác
biệt với các tác phẩm của nhà văn khác mà còn với chính những tác phẩm còn lại của
Joyce. Không chỉ hiện đại trong hình thức, truyện ngắn James Joyce còn là những thể
nghiệm ngôn ngữ độc đáo, tinh tế. Truyện ngắn đầu tiên của James Joyce “Chị em
gái” (The sisters) in trên tờ Ailen Homestead ngày 13 tháng 8 năm 1904 đã làm một
cuộc cách mạng của Chủ nghĩa hiện đại với hiện thực trần trụi và tự do vượt qua giới
hạn của thứ ngôn ngữ văn hoa, dài dòng hoặc đầy cảm xúc. Câu chuyện ngay thời
điểm đó đã không được tiếp nhận nồng nhiệt vì sự xa lạ của nó, một câu chuyện
không có gì để kể lại !
Tập “Người Dublin” khi hoàn tất cũng mất rất nhiều thời gian và công sức mới
đến được với độc giả vì không tìm được nhà xuất bản đồng ý in ấn và phát hành do
những nội dung và ngôn ngữ mới lạ của nó có thể gây bất ngờ và thậm chí tức giận
cho độc giả đương thời. Phải mất cả thập kỉ cùng với bao tranh luận, tham vấn, kiện
tụng cả việc tiêu hủy những bản sách đã được in ra để đấu tranh cho tập truyện mang
tính cách mạng này. Joyce nhận thức được Ailen không sẵn sàng đón nhận cho ông
như nó đã không sẵn sàng từ mấy thập kỉ qua nhưng ông vẫn kiên định với ý tưởng
viết về những gì bình thường mà đáng chú ý, những điều mà ông muốn gửi gắm đến
độc giả, cho dù cuối cùng chỉ có hai hay ba người đọc tác phẩm của ông.
1.2.3 Vị trí của “Người Dublin” trong sự nghiệp sáng tác của James Joyce
James Joyce sáng tác không nhiều: 3 tập thơ “Nhạc phòng” (Chamber Music,
1907), “Những bài thơ một xu”(Poems Pennyeach, 1927), “Colleted Poems”
(Colleted Poems, 1936); 3 tiểu thuyết “Chân dung một nghệ sĩ trẻ” (A Portrait of the
Artist as a Young Man,1916), “Ulysses” (Ulysses ,1922), “Sự thức tỉnh của người
Finnegan” (Fennagan Wake, 1939); 1 vở kịch “Sự lưu đày” (Exiles,1918) và tập
truyện ngắn duy nhất “Người Dublin” ( Dubliners, 1914). Joyce bắt đầu sáng tác
truyện ngắn từ lời đề nghị của George Russell yêu cầu ông viết một câu chuyện đơn
giản mà lôi cuốn để in trên tờ báo Ailen Homestead để có một món nhuận bút giữa
lúc gia cảnh đang túng quẫn. George Russell là nhân vật có ảnh hưởng đến con
đường sáng tạo của James Joyce, ông vừa là một nhà nghệ sĩ đa tài, một nhà nghiên
cứu phê bình, là chính trị gia và sau hết là một biên tập viên. Chính George Russell
đã khuyến khích James Joyce sáng tác và giới thiệu ông với các nhà văn Ai-len
đương thời. George Russell cũng được hóa thân thành một nhân vật trong “Ulysses”
sau này. Lời mời của George Russell là động lực để tháng 8 năm 1904 Joyce cho ra
đời truyện ngắn đầu tiên “Chị em gái” (The Sisters) dưới bút danh Stephen Deadalus.
Truyện ngắn này đã khơi nguồn cảm hứng, chuẩn bị quan điểm, chủ đề và giọng điệu
cho các câu chuyện tiếp theo. Ông tâm sự với bạn bè rằng việc mà mình đang cố gắng
làm có sự tương đồng với với những bí ẩn của thánh lễ. Viết những truyện ngắn để
mang đến cho mọi người những niềm vui trí tuệ hay tinh thần, bằng ngòi bút của
mình “chuyển bánh mì của cuộc sống vào trong nghệ thuật” [78] nhằm nâng cao đời
sống tinh thần và đạo đức. Theo James Joyce, người nghệ sĩ phải biết phát hiện ra
những biểu hiện tinh thần bất ngờ trong những lời nói hàng ngày, trong những cử chỉ
hoặc trong một ý tưởng nào đó chợt lóe lên trong tâm trí của chính họ.
Dù sự tiếp nhận của công chúng dành cho “Chị em gái” khá lạnh nhạt nhưng
sau đó một tháng, khoảng tháng 9 năm 1904, truyện ngắn thứ hai “Eveline” đã ra đời.
Tháng 10 năm đó là một bước ngoặc trong cuộc đời James Joyce khi ông cùng người
yêu là Nora rời Dublin sang sống và dạy học ở Pola, một thành phố cách Trieste 150
dặm trên bờ biển Adriatie thuộc miền đông bắc Ý. Từ tháng 12 năm 1904 đến tháng 1
năm 1905, Joyce viết 2 truyện ngắn “Sau cuộc đua” và “Đất sét”. Cùng lúc đó, ông
dành nhiều thời gian hơn để viết tiểu thuyết tự truyện “Chân dung một nghệ sĩ trẻ”.
Năm 1905 là năm ông hoàn thành nhiều truyện ngắn quan trọng: Một trường hợp đau
lòng, Nhà nội trú, Bản sao, Ngày Thường Xuân trong Phòng Hội Đồng, Một cuộc
chạm trán, Một người mẹ, Araby và Ân sủng. Sau đó, ông hoàn thành các câu chuyện
còn lại: Một đám mây nhỏ, Hai chàng Galang và tiến hành sắp xếp thứ tự các các câu
chuyện theo dụng ý tạo lập một chuỗi epiphany phản ánh từng chặng trong cuộc đời
một con người.
Năm 1906, Joyce và gia đình nhỏ của mình sống chật vật ở Roma và trong hoàn
cảnh đó ông đã viết lại “Một trường hợp đau lòng” cùng lúc với việc bắt tay viết
“Ulysses”. Cũng trong năm đó ông có hợp đồng xuất bản tập thơ “Nhạc phòng” và
mặc dù thơ của ông được nhiều người đánh giá là “những vần thơ đẹp và đầy kĩ
năng” nhưng ông lại cho rằng “Một trang của “Một đám mây nhỏ” mang lại cho tôi
niềm vui nhiều hơn tất cả những câu thơ của tôi”[78]. Mùa đông năm 1906-1907
khơi nguồn cảm hứng cho Joyce viết “Người chết” sau những ngày tồi tệ sống ở
Roma. “Người chết” là truyện ngắn cuối cùng, được ông viết và gửi bổ sung cho nhà
xuất bản nhưng câu chuyện ấy lại làm tăng giá trị cho toàn tập truyện. Nó được đánh
giá là một trong những áng văn xuôi hay nhất của thế kỉ XX.
“Người Dublin” là một cột mốc quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của James
Joyce dù nó có vẻ khiêm nhường trước sự vĩ đại của “Ulysses” và “Sự thức tỉnh của
người Finnegans” nhưng nó đã khơi nguồn cảm hứng đầu tiên cho những tiểu thuyết
đồ sộ ấy. Năm 1906, lúc sắp hoàn thành “Người Dublin”, Joyce đã nảy ra ý tưởng
gọi những cư dân Dublin của mình bằng cái tên Ulysses, những anh hùng lang thang
vô định, quẩn quanh trong cái thành phố như một mê cung không lối thoát mà lòng
thì bề bộn những khát vọng, trăn trở và bế tắc.
“Người Dublin” bao chứa những chủ đề, những thể nghiệm nghệ thuật mang
tính cách mạng làm nên phong cách James Joyce. Từ những đề tài về hiện thực đen
tối của Dublin, hiện thực tâm hồn con người Dublin đến cả những góc khuất tâm hồn
người nghệ sĩ James Joyce đều được khơi nguồn ở tập truyện này và còn trở lại trong
các tác phẩm khác. Luận văn thạc sĩ của Lê Minh Kha từng khẳng định rằng “để hiểu
về Joyce cũng như các tác phẩm sau này của ông, không thể không bắt đầu từ tập
truyện này” [26,2]. Quả vậy, các tác phẩm của James Joyce thường có liên quan mật
thiết với nhau, đặc biệt rất dễ nhận thấy là 15 truyện ngắn của “Người Dublin” có sự
liên văn bản với các tác phẩm khác. Vở kịch duy nhất của James Joyce, “Sự lưu đày”,
dựa trên nền câu chuyện “Cõi chết” được phát triển lên, xoay quanh mối quan hệ tình
cảm vợ chồng, bạn bè và những trăn trở về tình yêu, lòng chung thủy… Mỗi câu
chuyện trong “Người Dublin” là một lát cắt, một mảnh vỡ (chữ dùng của nhà nghiên
cứu Đào Ngọc Chương) của một cuộc đời mà nếu lắp ghép lại theo tuyến tính nó sẽ
thành một biến thể của tự truyện “Chân dung một nghệ sĩ trẻ”, một phần của tiểu
thuyết “Ullysses” và “Sự thức tỉnh của người Finnegans”.
Theo chúng tôi sở dĩ tất cả các tác phẩm văn xuôi của James Joyce đều có sự
liên hệ với nhau là vì trong mỗi tác phẩm đều ẩn khuất cái tôi nhà văn; đều có bối
cảnh và nhân vật là thành phố và cư dân Dublin và đều thể hiện những đề tài về hiện
thực cuộc sống và bí ẩn tâm hồn con người thành phố này trong những vấn đề dân
tộc, tôn giáo và nghệ thuật.
“Người Dublin” là một chuỗi những áng văn xuôi ra đời trong thời kì đầu của
một sự nghiệp sáng tác mà James Joyce theo đuổi suốt cả cuộc đời. Tập truyện phản
ánh những góc khuất nội tâm của người nghệ sĩ James Joyce trong những trăn trở về
hiện thực cuộc sống nơi thành phố quê hương với những gam màu tối sáng đặc trưng
của nó. Những thể nghiệm nghệ thuật mới mẻ và độc đáo, những hệ đề tài hiện thực
và phong phú khiến tập truyện không chỉ giữ vị trí tiên phong trong thể loại truyện
ngắn hiện đại mà còn có giá trị khơi nguồn cho mạch sáng tác đầy tâm huyết của
người nghệ sĩ James Joyce. Khi viết “Người Dublin” James Joyce chủ trương sáng
tạo một chuỗi epiphany để thức tỉnh tinh thần dân tộc mình. Vậy, hiện tượng
epiphany sẽ được Joyce vận dụng như thế nào trong tập truyện ngắn duy nhất này để
đạt được mục đích nghệ thuật mà chính ông đã đề ra.
Tiểu kết chương 1
Trong chương I, chúng tôi đi tìm hiểu hai vấn đề mang tính nền tảng cho luận
văn. Đó là cách hiểu hiện tượng epiphany và những vấn đề của tập truyện ngắn
“Người Dublin”.
Epiphany là một khái niệm có nguồn gốc từ trong Kitô giáo. Epiphany có nghĩa
là sự biểu hiện đột ngột bản chất của một đối tượng. Nó cũng có nghĩa là sự đột ngột
nhận ra bản chất của con người và thế giới. Nó vừa liên quan đến đối tượng vừa liên
quan đến chủ thể nhận thức. Bản chất của nó có liên quan tới các tôn giáo khác và cả
các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. Từ trong tôn giáo, epiphany trở thành
một khuynh hướng sáng tác văn học rất được các nhà nghiên cứu quan tâm. Nhà thơ
lãng mạng Anh thế kỉ XIX William Wordsworth được xem là người đầu tiên đưa
hiện tượng epiphany vào văn học. Song, đến James Joyce, epiphany mới thực sự trở
thành một tiêu chí sáng tác vừa biểu hiện nội dung tư tưởng vừa chi phối thủ pháp
nghệ thuật của người nghệ sĩ.
James Joyce đưa epiphany vào tác phẩm đầu tay của mình, tập truyện ngắn
“Người Dublin” mà ông gọi là một chuỗi epiphany. Tập truyện thể hiện cái nhìn của
nhà văn về hiện thực cuộc sống của đồng bào ông. Nó bộc lộ mong ước của một nhà
văn tuy sống tha hương nhưng luôn hướng về quê hương, luôn khao khát làm một cái
gì đó để các cư dân Dublin có cái nhìn sáng suốt hơn vào cuộc sống của chính họ, để
sống có ý nghĩa hơn. “Người Dublin” cũng là tập truyện ngắn có vị trí quan trọng
trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn James Joyce. Nó là tác phẩm đầu tay, thể
nghiệm những ý đồ và thủ pháp nghệ thuật mà ông sẽ tiếp tục phát triển trong suốt sự
nghiệp của mình. Đồng thời tập truyện cũng có vai trò như một tác phẩm tiên phong
cho những cách tân của truyện ngắn hiện đại thế giới.
CHƯƠNG 2: EPIPHANY VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT CỦA “NGƯỜI
DUBLIN”
Truyện ngắn là một loại hình tự sự, cũng như tiểu thuyết, nó sống chủ yếu bằng
nhân vật. Nhân vật văn học theo chúng tôi quan niệm trước tiên là con người được
nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng các phương tiện của nghệ thuật ngôn từ, là
“hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn
vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ”[3,249]. Văn học phản ánh cuộc đời mà
con người luôn là đối tượng trung tâm, là cái còn đọng lại nhiều nhất trong người đọc
khi khép lại tác phẩm.
Nhân vật ngoài chức năng khái quát những tính cách, những mảng hiện thực
cuộc sống còn thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời. Khi xây dựng nhân vật,
nhà văn dụng công làm cho nó cất lên tiếng nói mà nhà văn muốn gửi gắm với cuộc
đời, thể hiện những vấn đề mà nhà văn muốn truyền đi trong tác phẩm. Qua nhân vật,
chúng ta có thể đánh giá được quan niệm của nhà văn về con người cũng đồng thời
có thể nắm bắt được hình ảnh cuộc đời của chính nhà văn. Bởi thế mà mỗi nhà văn
thường có một nhân vật trung tâm thể hiện phong cách và cả những khía cạnh đời tư
của mình. Đời sống của nhân vật trong loại hình tự sự đã có một bề dày thời gian, đã
định hình được những qui tắc riêng tương đối ổn định, chẳng hạn khi phân tích nhân
vật trong một tác phẩm người ta thường chú ý đến ngoại hình, ngôn ngữ, hành động,
tâm trạng…Khi văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng bước sang giai đoạn hiện
đại chủ nghĩa thì thi pháp nhân vật cũng như các yếu tố khác, có nhiều cách tân và
biến động. Văn chương hiện đại tập trung phản ánh cái hiện thực bên trong tâm hồn
con người và cho đó mới là thứ hiện thực chân thật nhất.. Nhà văn Virginia Woolf
(1882_1941) đã phê phán các nhà văn hiện thực truyền thống rằng họ chỉ viết ra
những sự tình không cần thiết, lãng phí kỹ xảo và sức lực tinh thần để làm cho những
cái tạm thời, vụn vặt trở thành cái có vẻ chân thực, vĩnh cửu và họ chỉ quan tâm đến
thân thể chứ không phải tâm hồn. Trong khi đó, cũng theo V.Woolf, các nhà văn hiện
đại chủ nghĩa như James Joyce là người theo chủ nghĩa tinh thần không tiếc bất kì giá
nào để làm rõ nội tâm con người.
Mỗi nhà nghiên cứu khi tìm hiểu các tác phẩm tự sự của James Joyce đều có
những hướng khác nhau trong cách tiếp cận nghệ thuật xây dựng nhân vật. Trong
phần này chúng tôi tập trung khảo sát cách thức dùng hiện tượng epiphany để bộc lộ
thế giới tinh thần của các nhân vật trung tâm trong tập truyện ngắn “Người Dublin”.
Không phải nhân vật nào trong các truyện ngắn cũng có hoặc cũng hé lộ ra những
khoảnh khắc epiphany liên quan đến cái nhìn sâu sắc vào bản chất con người và thế
giới, chúng tôi chỉ khảo sát nhóm nhân vật có những đặc trưng riêng như là điều kiện
chuẩn bị cho một epiphany xuất hiện.
2.1. Đặc trưng của những nhân vật liên quan đến hiện tượng epiphany trong
“Người Dublin”
2.1.1. Nhân vật bị giam cầm trong nhà tù cuộc sống
Chủ đề chính xuyên suốt tập truyện “Người Dublin” là “tê liệt”(paralysis) . Chủ
đề ấy được phát biểu ngay trong truyện ngắn đầu tiên “Chị em gái”: “Mỗi đêm, nhìn
lên cửa sổ nhà ông tôi lại thầm thì từ tê liệt” [25,29]. Và James Joyce khi phát biểu
về mục đích sáng tác tập truyện ngắn này cũng từng thố lộ rằng ông lấy Dublin làm
bối cảnh vì thành phố này theo ông là trung tâm của tình trạng tê liệt. Trong cái thành
phố tê liệt về cả đạo đức, trí tuệ, tinh thần ấy, các nhân vật là hóa thân của đủ mọi loại
người từ học sinh, viên chức, người hầu, những kẻ lang thang vô công rỗi nghề đến
cả cha xứ hay những người hoạt động chính trị, văn hóa… đủ mọi lứa tuổi từ ấu thơ,
thanh niên hay người trưởng thành. Nguyên nhân của tình trạng tê liệt được nhà văn
cố gắng lôi ra kì hết nhằm giúp những cư dân thành phố có cái nhìn thông suốt hơn
về chính mình, về môi trường sống của mình. Đó là những rào cản, những ràng buộc
từ tình hình chính trị, từ các thể chế nhà thờ đến tình trạng nghèo túng của hoàn cảnh
gia đình và những thói quen không thể từ bỏ…
Khi James Joyce viết “Người Dublin”, đất nước Ai-len đang là một nước thuộc
địa của vương quốc Anh, một nước Ai-len Công giáo nằm dưới sự cai trị của nước
Anh Tin Lành và tình trạng này kéo dài từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XX một phần
Ai-len mới tuyên bố độc lập. Những cư dân Dublin trong tác phẩm của Joyce là
những cư dân của một đất nước không có tự do. Những ám ảnh của một dân tộc mất
chủ quyền, một dân tộc nhược tiểu chi phối không nhỏ lên tinh thần họ. Có thể nhận
thấy ngay từ nhân vật thiếu niên trong “Một cuộc chạm trán” đã bị nỗi mặc cảm này
chi phối. Cậu bé không tên trong truyện, khi chạm trán với người đàn ông xa lạ làm
hỏng kế hoạch phiêu lưu của cậu, đã tìm cách nói dối tên họ với người đàn ông. Khi
đặt tên giả, cậu ta chọn cho mình tên Smith, một cái tên Anh và đặt cho bạn là
Murphy, một cái tên Ai-len vì “trước đây tôi vẫn luôn hơi khinh thường nó” [25,63].
Nhân vật Jimmy trong truyện “Sau cuộc đua” vừa ngưỡng mộ “phong cách vững
vàng bình thản của chàng người Anh” [25,94]. Khi cảm thấy sống lại lòng yêu nước,
vốn được truyền sang từ người cha, Jimmy đã làm cho người Anh ấy giận điên lên.
Nhưng rồi khi kết thúc ván bài, Jimmy cũng thất bại trước những người nước ngoài
trong đó có gã người Anh tên Routh. Hình ảnh những người Anh xuất hiện trong các
truyện ngắn của Joyce thường gắn với một thất bại nào đó của một nhân vật người
Ai-len như kiểu Farrington trong “Những bản sao” thất bại trước một cuộc vật tay
với Weathers, một cuộc đấu sức được các bạn của anh ta gọi là “cứu thể diện quốc
gia”. Và thất bại ê chề đã làm cho Farrington chua chát, cáu giận dữ tợn. Chúng ta có
thể thấy rằng, một trong những ẩn ức của các nhân vật “Người Dublin” là nỗi đau thất
bại của cả một dân tộc chứ không phải là của một người Ai-len với một người Anh cụ
thể nào.
Đi cùng với những ẩn ức về tình hình chính trị là những ràng buộc của các thể
chế nhà thờ. Các nhân vật trung tâm trong “Người Dublin” hầu hết là người Công
giáo, tôn giáo truyền thống của Ai-len. Thỉnh thoảng trong các truyện ngắn có thấp
thoáng hình bóng của những người Tin Lành, tôn giáo du nhập từ nước Anh cai trị.
Thái độ của những người Công giáo đối với những người Tin lành trong truyện mang
ít nhiều quan niệm của tác giả James Joyce. Đó là thái độ có sự phân biệt do tác động
của ý thức dân tộc nhưng ít nhiều là có những cảm tình kín đáo có lẽ vì tôn giáo
không phải là lí do chính quyết định bản chất con người là tốt hay xấu, tiến bộ hay trì
trệ. Ở đây chúng ta sẽ không bàn nhiều về sự phân biệt hay ảnh hưởng của sự phân
biệt ấy lên các nhân vật trong “Người Dublin”. Đó có lẽ là vấn đề của một cách tiếp
cận khác. Trong phần này, chúng ta sẽ bàn về những rào cản tôn giáo ảnh hưởng đến
đời sống tinh thần của mọi cư dân Dublin trong truyện ngắn của James Joyce.
Trong 15 truyện ngắn của “Người Dublin” thì có hai truyện lấy đề tài chính là tôn
giáo đó là “Chị em gái’ và “Ân sủng” nhưng tất cả các truyện còn lại đều ít nhiều có
nhắc đến vấn đề tôn giáo với các nhân vật chịu ảnh hưởng từ tôn giáo khiến họ bị ám
ảnh, bị ràng buộc không thể thực hiện tự do cá nhân. James Joyce miêu tả nhân vật
với rất nhiều hình ảnh của đôi mắt, những đôi mắt bị nước mắt làm mờ đi hay những
đôi mắt kính phủ đầy hơi nước. Nhà nghiên cứu người Ý Francesca Valente, trong
bài viết “Người Dublin của James Joyce như là những epiphany” (Joyce ‘s Dubliners
as epiphanies) cho rằng Joyce muốn ám chỉ rằng xã hội Ai-len bị chi phối bởi nhà
thờ, niềm tin tôn giáo đã che mờ mắt họ. Cậu bé trong “Chị em gái” là bị ám ảnh tôn
giáo rõ rệt nhất. Ảnh hưởng tôn giáo đè nặng lên tâm hồn đáng lẽ phải còn rất ngây
thơ của cậu bắt nguồn từ linh mục James Flynn, người đã dạy cậu rất nhiều điều và
còn kì vọng rất nhiều vào cậu
Ông đã dạy tôi cách phát âm tiếng Latin sao cho đúng. Ông còn kể cho
tôi nghe những câu chuyện về khu hầm mộ và về Napoleon Ponaparte, và
ông từng giải thích cho tôi ý nghĩa của các lễ Misa khác nhau và về những
kiểu lễ phục khác nhau của linh mục. Đôi khi ông giải khuây bằng cách đặt
những câu hỏi khó cho tôi, hỏi tôi người ta nên làm gì trong một số hoàn
cảnh hoặc liệu những tội lỗi thế này thế kia là đáng tội chết hay có thể được
tha thứ hay đơn thuần chỉ là những khiếm khuyết. [25,36-37]
Những điều linh mục nói với cậu bé có vẻ là quá tầm so với một trí óc còn non
nớt, nhưng không phải vì vậy mà cậu bé, nhân vật xưng tôi ấy có cảm giác ngột ngạt
mất tự do mà ở đây, theo dòng suy nghĩ và tâm trạng của cậu trước cái tin linh mục
qua đời chúng ta có thể phát hiện ra một nguyên nhân sâu xa khác. Một người đã dạy
cậu bé nhiều điều, đã kì vọng nhiều vào cậu thế mà khi người ấy chết đi câu bé lại có
cái cảm giác được tự do như một con mồi được giải phóng. Cậu bé không thổ lộ với
ai, thậm chí còn cố tình che giấu tâm trạng của mình trước sự dò xét của những người
xung quanh. Nhưng theo dòng tâm trạng, hồi tưởng cả những giấc mơ chúng ta có thể
nhận thấy cảm giác hoài nghi, thiếu tin tưởng của một cậu bé nhỏ tuổi nhưng thông
minh, nhạy cảm trước một kẻ có vị thế cao trong giáo hội nhưng hình như đã phạm
tội buôn thần bán thánh và đằng sau lớp áo thầy tu là những tham vọng những ám ảnh
tình dục không lành mạnh. Cậu bé ấy đã sớm phải hiểu biết về những phức tạp và
huyền bí của các thể chế nhà thờ và đáng lo ngại hơn là cậu còn cảm nhận được mặt
trái không mấy tốt đẹp của các thể chế ấy cũng như của những linh mục thi hành các
thể chế. Những hiểu biết quá sớm ấy đã như một sợi dây vô hình trói buộc cậu bé vào
trong những ám ảnh khôn nguôi khiến cậu bé phải tìm mọi cách quên nó đi mà vẫn
cảm thấy nó thật đen tối và đáng sợ. Cậu bé cứ đi dọc những con phố xung quanh
ngôi nhà ấy mặc dù không dám vào, cái màu xám xịt của gương mặt người bị liệt cứ
ám lấy cậu, cứ chạy theo cậu để xưng tội và cả khi cố nghĩ về lễ Giáng Sinh cũng
không giúp cậu bé thoát khỏi những cơn mơ của tội lỗi. Dù cái chết vì tê liệt và đột
quỵ của linh mục Flynn mang lại cảm giác tự do cho cậu nhưng những ám ảnh đen
tối từ nhà thờ và giới tu sĩ có lẽ sẽ còn đeo đẳng ám ảnh không nguôi trong tâm hồn
và dẫn đến những tổn thương cho cuộc sống trưởng thành của cậu sau này.
Ở những câu chuyện mà đề tài chính không phải là vấn đề tôn giáo thì các nhân
vật của “Người Dublin” cũng vẫn chịu một áp lực vô hình từ các thành kiến hay thể
chế tôn giáo. Đó là nhân vật Doran trong “Nhà trọ” với tâm trạng lo lắng hoang
mang sau buổi xưng tội: “Hình ảnh buổi xưng tội tối qua ám ảnh làm anh đau nhói;
ông linh mục đã lôi ra từng chi tiết lố bịch nhất của vụ yêu đương, và đến lúc cuối đã
phóng đại tội lỗi của anh đến nỗi anh gần như cảm thấy biết ơn vô vàn khi được ban
một cơ hội chuộc tội” [25,129]. Một chàng trai trẻ, lỡ dính vào một vụ yêu đương
vụng trộm, không phải lỗi hoàn toàn ở anh ta, thế mà sau đó bên cạnh bao áp lực
khác, áp lực từ tôn giáo càng khiến anh không thể vùng vẫy thoát khỏi cái bẫy tình
mà mình trót rơi vào.
Cậu bé không tên trong “Araby”, Eveline trong truyện ngắn cùng tên cũng là
những nhân vật trẻ tuổi sớm chịu ảnh hưởng những hình ảnh, ám ảnh liên quan đến
linh mục, nhà thờ và bao nhiêu tri thức tôn giáo cũ kỹ, hao mòn sức sống. Hình ảnh
nhà thờ, linh mục, trường dòng, thánh lễ, sách giáo lí… trở đi trở lại trong các truyện
ngắn như một nỗi ám ảnh đè nặng lên suy nghĩ, hành động của các nhân vật và chúng
ta có thể thấy lại hình ảnh cậu bé James Joyce trải qua suốt thời thơ ấu trong các
trường Công giáo khắc nghiệt.
Phân biệt chính trị, rào cản tôn giáo là những bức tường cầm tù các nhân vật
“Người Dublin” trong một xã hội tù túng, ngột ngạt nhưng không chỉ có thế, tình
trạng nghèo đói cũng là một trong những nhà tù của mọi cư dân Dublin. Như chúng
ta đã biết, từ năm 1801, Ai-len bị sáp nhập vào vương quốc Anh, hình thành nên “đại
vương quốc Anh và Bắc Ai-len” thường được gọi là “liên hiệp vương quốc Anh”.
Trên thực tế sự thống nhất này không hề giải quyết được “vấn đề Ai-len” mà còn có
những tác động tiêu cực lên bộ mặt chính trị, xã hội, kinh tế của đảo quốc này. Ai-len
càng ngày càng suy thoái kinh tế và lệ thuộc rất nhiều vào vương quốc Anh. Từ thời
gian này cho đến những năm đầu thế kỉ XX, xã hội Ai-len chìm trong bế tắc, tối tăm
của sự nghèo đói, dốt nát, trì trệ không lối thoát. Hiện thực đen tối đó đã đi vào các
sáng tác của James Joyce, một nhà văn lưu vong nhưng vẫn nặng lòng với quê hương
đất nước.
Trong suốt mười lăm truyện ngắn của mình, James Joyce tái hiện một Dublin,
trung tâm của Ai-len, trung tâm của sự nghèo đói đến mức tê liệt trong cảnh sống và
cách sống của các nhân vật. Hầu như tất cả các truyện ngắn đều có nhắc đến tiền,
những đồng xu, đồng shilling, đồng floia… xuất hiện đều đều trong các truyện ngắn
như những nhân vật không có nhân dạng nhưng lại có vị trí và tầm quan trọng khiến
các nhân vật đích thực nhiều khi phải khốn đốn. Eveline (Eveline), Farrington
(Những bản sao), Litle Chandler (Đám mây nhỏ)… là những nạn nhân của cuộc sống
nghèo khổ, tối tăm, bị trói chặt vào cuộc sống và công việc để kiếm tiền. Eveline làm
việc vất vả, kiếm tiền lo cho gia đình và cũng vì tiền bạc eo hẹp, vì cuộc sống khó
khăn, chật vật mà gia đình cô lâm vào cảnh ngột ngạt không thể chịu nỗi. Farrington
trong truyện “Những bản sao” là mẫu nhân viên chán ngấy công việc đang làm, căm
tức ông chủ hắc ám mà vẫn phải bám lấy công việc chỉ vì những đồng tiền ít ỏi. Litle
Chandler phải từ bỏ mơ ước của mình vì trách nhiệm với gia đình, trong đó có nhiều
vật dụng chưa trả hết nợ, còn cần phải làm công việc trái với sở trường và đam mê
của mình để kiếm tiền. Họ là những nhân vật cứ loay hoay trong cái vòng luẩn quẩn
của cuộc sống nghèo túng đến bào mòn cả những hoài bão tốt đẹp, bào mòn cả tâm
hồn.
Giữa cuộc sống nghèo khổ, bế tắc, người ta không chỉ trở thành nạn nhân của
đồng tiền mà còn có thể bán lương tâm mình để mưu cầu tiền bạc. Đó là trường hợp
của “Hai chàng galăng”, Lenehan và Corley, hai thanh niên khỏe mạnh hào hoa lại
sống bằng âm mưu lừa dối để gạt tiền những cô gái nghèo nàn, tội nghiệp . Tồi tệ
hơn, họ còn coi đó như là những chiến công của mình, lạnh lùng, kiêu hãnh khi cầm
trong tay đồng tiền vàng của cô hầu gái nhẹ dạ. Vì si mê, cô nàng đã trở thành có thể
là kẻ cắp, có thể là kẻ dại dột nhưng dù sao cũng là nạn nhân trực tiếp của tình yêu
mù quáng và là nạn nhân gián tiếp của đồng tiền giữa cuộc sống đói khổ, tối tăm, đầy
dối trá.
Mỉa mai hơn nữa là những trường hợp đồng tiền đã làm tha hóa những mục
đích, những giá trị vốn thiêng liêng, cao quí. Bà Kearney, một người mẹ chuẩn bị chu
đáo cho con gái cưng tham gia một buổi hòa nhạc vì tinh thần phục hưng văn hóa dân
tộc. Bản thân bà cũng nhiệt tình giúp đỡ, tư vấn cho những người tổ chức. Có vẻ như
người phụ nữ ấy cũng có ý thức với văn hóa, nghệ thuật, với phong trào phục hưng
dân tộc. Thế nhưng tất cả các nhân vật khác và cả chúng ta đều không khỏi bất ngờ
khi tất cả các mục đích tốt đẹp ban đầu bị bóc trần bản chất giả dối của nó chỉ vì hai
đồng ghine. Một quí bà tử tế, sang trọng tức giận phát rồ chỉ vì mấy đồng tiền, quên
mất hình ảnh tốt đẹp mà mình cố gắng tạo dựng trước đó.
Cũng như bà Kearney, những người đàn ông trong “Ngày Thường Xuân trong
Phòng Hội Đồng” làm việc dưới danh nghĩa Đảng dân tộc. Họ đi vận động phiếu
bầu cho một quan chức quản lí việc thi hành luật hỗ trợ cho người nghèo. Nhưng họ
biết rõ bản chất giả dối, tư lợi của người mà họ đang giúp việc, họ khinh ghét ông ta,
họ làm việc chiếu lệ và chỉ chăm chăm chờ “những đồng xèng” của ông ta. Họ ca
ngợi vị lãnh tụ Parnell, họ phê phán giới chính trị gia, họ bàn tán những chuyện quốc
gia đại sự nhưng quanh quẩn một lúc họ lại nhắc đến tiền. Những người đàn ông
không giấu nổi sự túng thiếu ngặt nghèo, đến vài chai bia cũng không thể tự mua
được. Rõ ràng là những nhân vật trong “Người Dublin” bị vây hãm trong một cuộc
sống nghèo khổ, bế tắc. Sự cùng quẩn trong cuộc sống khiến tâm hồn họ cũng rơi vào
tăm tối, tê liệt mọi tình cảm, cảm xúc, lòng trắc ẩn, vị tha. Và cuộc sống vì nghèo
túng mà trở nên giả dối, vô cảm trở thành một phần của một Dublin tù đọng, tê liệt.
Các nhân vật của “Người Dublin” bị cầm tù trong cuộc sống nghèo khổ, quẩn
quanh, bế tắc, trong một xã hội bị chia cắt về chính trị, bị áp đặt bởi các thể chế nhà
thờ khiến họ thường không tự ý thức được hoàn cảnh sống mà như chết dần chết mòn
của mình. Một số lớn các nhân vật còn bị ám ảnh nặng nề bởi cái chết, bởi những
người đã chết. 7 trên 15 truyện ngắn của “Người Dublin” có hiện tượng này. Trong
đó, ở truyện “Đất sét” nhân vật bị ám ảnh bởi cái chết còn 6 truyện ngắn kia thì nhân
vật bị ám ảnh bởi những người thân, người quen biết đã chết. Có thể nói những người
chết là những nhân vật tuy không còn tồn tại trong đời sống nhưng vẫn tồn tại trong
tâm hồn, trong kí ức, vẫn còn ám ảnh khôn nguôi đối với những người đang sống.
“Người Chết”, truyện ngắn cuối cùng của tập truyện và cũng là tác phẩm được
đánh giá rất cao không chỉ trong phạm vi 15 truyện ngắn của James Joyce mà còn
được xem là một trong những áng văn xuôi xuất sắc nhất thế kỉ XX. Ngay từ tựa đề
đã thể hiện nỗi ám ảnh về cái chết, người chết. Khác với “Chị em gái” nhân vật
người chết xuất hiện suốt chiều dài câu chuyện, ở đây nhân vật người chết chỉ được
nhắc đến hoặc nhớ đến trong những khoảnh khắc nào đó nhưng sức ám ảnh thì vô
cùng day dứt. Đầu tiên là kí ức về người mẹ quá cố chợt hiện về thoáng qua tâm trí
nhân vật nam chính, Gabriel Conroy, chỉ là thoáng qua mà “Bóng tối lướt qua một
thoáng trên gương mặt anh khi nhớ lại bà đã sưng sỉa phản đối chuyện hôn nhân của
anh thế nào. Mấy lời khinh rẻ của bà giờ vẫn còn ám ảnh tâm trí anh” [25,339]. Với
một người mẹ là niềm tự hào của gia đình, là người thông minh nhất nhà Mokan,
người phụ nữ đảm đang và nghiêm khắc mà trong kí ức của con trai lại là một vùng
bóng tối khó chịu. Hình như tính nghiêm khắc, tự quyết định vận mệnh của con cái
đã khiến bà không có được hình ảnh một người mẹ hiền trong lòng con trai, cả khi bà
đã qua đời. Người mẹ quá cố của Gariel khiến chúng ta liên tưởng đến bà Kearney
trong “Một người mẹ”, hình mẫu của người mẹ độc đoán trong mối quan hệ với con
cái, để rồi khi chết đi cũng còn để lại nỗi ám ảnh tiêu cực trong tim các con của mình.
Mẹ của Gariel, người đã giúp anh có được bằng của đại học Royal, đã giúp em trai
anh, Constantine, trở thành một cha phó đáng kính tại Balbriggan, không cần biết các
con trai của bà có hoài bão, đam mê với con đường do bà chọn hay không. Có lẽ cách
yêu thương, lo lắng và giáo dục của bà đã để lại nhiều ám ảnh cho các con của bà.
Hình ảnh người chết ám ảnh sâu sắc, mạnh mẽ đến các nhân vật trong truyện
ngắn “Người chết” chính là Michael Furey, người bạn trai thời thiếu nữ của Gretta.
Đối với Gretta, một người con trai đã chết vì mình chắc chắn sẽ là một kỉ niệm buồn
không thể nào quên dù cho năm tháng trôi qua với biết bao biến cố, thăng trầm của
cuộc đời. Có điều, cô đã chôn chặt kỉ niệm đó khiến bao nhiêu năm sống chung mà
Gariel không hề biết có sự tồn tại của một tình yêu đầu đời bi thảm như thế trong tim
vợ mình, nếu không có dịp tình cờ trong dạ tiệc ở nhà Mokan, nơi Gretta được nghe
lại bài dân ca “Cô gái làng Augrim”. Kỉ niệm xưa với hình ảnh cậu bạn trẻ tuổi ướt
lướt thướt đứng dưới gốc cây sau vườn để từ biệt mình. Một hình ảnh ám ảnh sâu sắc
sống lại trong tâm trí khiến Gretta như chìm vào một vùng suy tư hoàn toàn cách biệt
với những khao khát bùng cháy trong lòng người chồng lúc đó. Đó là dịp duy nhất
khiến Gabriel biết được bí mật trong tâm hồn vợ mình nhưng cũng từ đó nỗi ám ảnh
trong tim Gretta chuyển sang cư ngụ trong tâm hồn nhạy cảm của Gabriel. Câu
chuyện tuy đã kết thúc tại thời điểm đó nhưng có lẽ nỗi ám ảnh sẽ còn dai dẳng trong
suốt cuộc đời vợ chồng của Gabriel và Gretta khi mà hình ảnh chàng Furey đã chết vì
tình yêu ngày xưa khiến cho Gabriel nhận thức được bản chất tình yêu của mình dành
cho vợ. Người chết ấy đã làm sống lại trong tâm hồn Gabriel nhiều cảm nhận sâu sắc
mà chúng ta còn phải bàn đến trong phần sau nhưng nỗi ám ảnh khôn nguôi thì có thể
thấy ngay trong biểu hiện của Gabriel
Nước mắt tràn mi anh và trong bóng tối chập choạng anh tưởng
tượng anh đang nhìn thấy hình dáng một chàng trai đứng dưới cái cây lướt
thướt nước mưa. Gần đó là những hình bóng khác. Hồn anh đã đến gần cõi
ấy, nơi ở của cơ man người chết. Anh ý thức được, sự tồn tại chập chờn và
lập lòe của họ. Chính bản thân anh cũng đang tan mờ dần vào một thế giới
xám mịn: chính cái thế giới hiện hữu, nơi những người chết đó có một thời
từng sống, giờ cũng đang tan ra và mòn đi. [25,401-402] .
Nỗi ám ảnh trong lòng Gabriel không chỉ có một người chết là Furey mà còn
có “những người khác”. Có lẽ vì điều này mà một số dịch giả khi chuyển ngữ truyện
ngắn này đã dịch tựa đề là “Cõi chết”. Thế giới của những người chết luôn ám ảnh
mơ hồ trong cả truyện ngắn cuối cùng này cũng như trong toàn tập truyện “Người
Dublin”. Có đôi khi thế giới người sống và thế giới người chết xích lại gần nhau, hòa
lẫn vào nhau, những người chết đi lại, mỉm cười nhìn những người sống, đang sống
mòn mỏi, vật vờ.
Buổi tiệc cuối năm ở nhà Mokan mà Gabriel và Getta vừa tham dự cũng vậy, có
rất nhiều những người thượng lưu trí thức, có âm nhạc, khiêu vũ, có đầy thức ăn và
rượu ngon. Mọi người đi lại, đàn hát, nói chuyện sôi nổi với nhau nhưng đều cố giấu
một ám ảnh nào đó trong dòng suy nghĩ của riêng mình. Dù có vẻ như họ đang hòa
đồng cùng nhau nhưng thật ra họ cô đơn bên nhau để mỗi người theo đuổi những nỗi
niềm riêng và nỗi ám ảnh riêng về một người thân nào đó không còn trong đời sống.
Những người đã khuất nhưng vẫn còn ảnh hưởng đến cuộc sống của người thân
mình và những ám ảnh đó trong “Người Dublin” đã biến thành những sự soi chiếu
khiến các nhân vật nhận thức được nhiều hơn về cuộc sống hiện tại. Các nhân vật
người chết nhiều khi là điều kiện để các nhân vật người đang sống có những nhận
thức đột ngột (epiphany) về cuộc đời mình. Tuy nhiên đó là vấn đề của phần tiếp
theo. Ở đây chúng ta sẽ xem xét ám ảnh của những người đã chết như một cái bóng
trùm lên cuộc đời các nhân vật khác khiến họ dù cố vùng vẫy cũng không làm sao
vượt thoát ra ngoài cái bóng ấy.
Eveline trong truyện ngắn cùng tên là một trường hợp như thế. Hình ảnh người mẹ
đã chết phủ một cái bóng u ám trùm lên cuộc đời cô khiến cô cảm nhận được cuộc
đời đầy những hi sinh vụn vặt của mình rồi đây có thể chỉ còn lại là một cơn điên
loạn. Tuy nhiên, Eveline biết thế mà không làm sao thoát ra được bởi lời hứa với
người mẹ đã chết của mình sẽ chăm sóc gia đình đến khi nào cô còn có thể. Cuộc đời
đau khổ của mẹ cô và cái chết của bà ghi một dấu ấn vô cùng sâu sắc lên tâm hồn dịu
dàng, mang tính mẹ hiền Ai-len của cô và nỗi ám ảnh trách nhiệm đó mãi mãi giam
cầm cô trong cái vòng luẩn quẩn của thói quen, của trách nhiệm và sự chịu đựng.
Sự ám ảnh của cái chết như một trong những bức tường ngăn cản khát vọng vượt
thoát của các nhân vật là một chủ đề xuyên suốt tập “Người Dublin” góp phần kiến
tạo chủ đề trung tâm là tê liệt. Bắt đầu từ “Chị em gái”, kết thúc là “Người chết” đều
có sự xuất hiện của nhân vật người chết còn ám ảnh đến các nhân vật đang sống. Nếu
xét theo kết cấu có dụng ý cho toàn tập truyện chúng ta sẽ thấy rằng ám ảnh bởi
người chết có ở tất cả giai đoạn của cuộc đời nhân vật. Tuổi ấu thơ, cậu bé trong “Chị
em gái” đã chịu nỗi ám ảnh triền miên sau cái chết của vị linh mục cùng với những
ảnh hưởng tiêu cực về tôn giáo mà ông tác động lên cậu mà chúng ta đã phân tích ở
trên. Ở tuổi thanh niên, cái chết của người thân ám ảnh, dồn nén khát vọng tình yêu
và tự do của cô gái trẻ Eveline. Ở tuổi trưởng thành chúng ta có nhân vật Duffy, ông
cũng bị ám ảnh bởi cái chết thương tâm của bà Sinico. Người phụ nữ ấy hình như đã
tìm thấy được sự đồng cảm của một tình yêu từ ông để khỏa lấp chuỗi ngày cô đơn
nhàm chán của cuộc đời mình. Ông cũng cảm thấy như thế nhưng ông không có lòng
can đảm vượt lên trên các định kiến xã hội cùng rào cản lối sống đã thành thói quen.
Ông bỏ mặc bà để rồi khi biết tin bà chết, cái chết của bà đã tác động mạnh đến tâm
hồn ông, ám ảnh, day dứt ông. Nếu như khi bà còn sống, ông có thể bỏ rơi bà thì khi
bà đã trở thành người chết ông không thôi ám ảnh, ám ảnh bởi cuộc sống cô đơn mòn
mỏi dài dằng dặc đang chờ đợi ông phía trước.
Ở cả ba giai đoạn của đời người, các nhân vật của James Joyce đều phải chịu sự
ám ảnh bởi cái chết. Điều đó không còn là vấn đề của một cá nhân mà đã trở thành
vấn đề của cả xã hôi Ai-len tù động, sống mà như đang chết dần chết mòn. Đến cả
trong đời sống chính trị, nỗi ám ảnh từ người đã chết cũng xuất hiện. Truyện ngắn
“Ngày Thường xuân trong Phòng Hội Đồng” có khá nhiều nhân vật nhưng nhân vật
trung tâm hình như là một người đã chết. Truyện ngắn này lấy đề tài mâu thuẫn chính
trị giữa Anh và Ai-len đang lên cao vào những năm đầu thế kỉ XX. Vào ngày Thường
xuân (Ivy Day), ngày 6 tháng 10, các nhân vật trong truyện cài một chiếc lá thường
xuân trên ve áo để tưởng nhớ vị lãnh tụ Đảng Dân Tộc Parnell. Họ bàn bạc về chuyện
phiếu bầu, chuyện tiền công, chuyện thái tử Anh sắp sang thăm Ai-len và họ nhắc rất
nhiều đến Parnell. Ông ấy đã chết do sự phản bội của chính những người đồng bào
và giờ đây họ tưởng nhớ đến ông, ca ngợi ông nhưng thật ra họ không hiểu gì về ông.
Cái họ quan tâm nhất chúng ta đã nói ở trên, đó chỉ là tiền công vận động phiếu bầu.
Nhưng họ vẫn nhắc nhiều như bị ám ảnh bởi một Parnell đã chết, bởi vì họ cố che
giấu cái mục đích tầm thường của họ khi tham gia vào các hoạt động chính trị lúc bấy
giờ.
Có nhiều khoảng lặng khi họ nhắc hoặc khi họ đọc thơ ca ngợi Parnell, những
khoảng lặng như thế cũng xuất hiện nhiều trong các truyện ngắn có sự ám ảnh bởi
người chết hoặc cái chết. Cậu bé trong “Chị em gái”, Eveline trong truyện cùng tên,
ông Duffy trong “Một trường hợp đau lòng”, Gabrielvà Gretta trong “Người
chết”… đều im lặng, tách mình ra khỏi xung quanh khi nỗi ám ảnh về một người đã
chết xuất hiện trong tâm trí họ. Nỗi ám ảnh đó, họ cố giấu thật sâu trong tâm tư,
không muốn cho những người xung quanh phát hiện ra vì dường như trước những
người đã chết họ cảm thấy mình thật sự là một tù nhân của cuộc sống. Nhìn từ một
góc độ nào đó, những người chết đã được giải thoát khỏi một cuộc sống ngột ngạt, tù
túng để lại những người sống vẫn tiếp tục loay hoay tìm một lối thoát cho mình. Nhìn
cái chết như một sự giải thoát thật sự không phải là cái nhìn tích cực, tiến bộ nhưng
trong hoàn cảnh sống tối tăm, bế tắc của Dublin lúc bấy giờ có lẽ những người chết
lại là người chiến thắng còn người sống thật ra cũng chỉ là những cái bóng mờ, mòn
mỏi, sống mà như chết. Chính vì vậy mà họ, những người còn sống, luôn có những
khát vọng vượt thoát ra khỏi cuộc sống tù túng hiện tại bằng một cách gì đó khác hơn
là cái chết.
2.1.2. Những nhân vật với khát vọng vượt thoát khỏi nhà tù cuộc sống
Như một qui luật của tự nhiên, khi con người bị giam cầm, tù túng thì trong họ
bùng lên một khát vọng tự do mãnh liệt. Những nhân vật trong “Người Dublin” của
James Joyce cũng vậy, bị giam giữ quá lâu trong cuộc sống tối tăm, bế tắc, ngột ngạt,
họ cũng nuôi dưỡng trong mình những khát vọng vượt thoát để đến với vùng trời tự
do, tươi sáng hơn. Khát vọng tự do, là một trong ba đề tài mà James Joyce theo đuổi
khi viết “Người Dublin”. Trong cái vòng luẩn quẩn của thói quen, của trách nhiệm
trói buộc con người đến tê liệt, chúng ta vẫn bắt gặp thấp thoáng những ước mơ đẹp
đẽ, những hoài bảo ấp ủ từ thời tuổi trẻ dù cho có bị chìm lấp thì thi thoảng nó vẫn
sống dậy như ngọn lửa được khơi từ trong mớ tro tàn. Đó có thể là ước mơ có một
tình yêu thật sự, ước mơ theo đuổi một ngành nghệ thuật, ước mơ được sống cho
hạnh phúc của mình hay đơn giản hơn, ước mơ được một lần tự do thoát khỏi những
ám ảnh nhàm chán của cuộc sống thường nhật. Những ước mơ ấy, trong các truyện
ngắn có khi được thể hiện rõ ràng, cũng có khi được nhân vật khéo léo che giấu chỉ
tình cờ bị phát hiện qua các tiết lộ bất ngờ của cử chỉ, lời nói hoặc một dòng suy nghĩ
của chính nhân vật. Đó cũng chính là lúc hiện tượng epiphany của người đọc xuất
hiện mà chúng ta sẽ bàn đến ở phần sau.
Ngay từ những truyện ngắn được xếp ở đầu tập truyện thuộc nhóm truyện về thời
niên thiếu với các nhân vật còn là học sinh, chịu ảnh hưởng từ thể chế giáo dục của
các trường dòng, chúng ta đã nhận thấy những khát vọng vượt thoát mạnh mẽ. Các
nhân vật tuổi thiếu niên này là những nhân vật không tên đồng thời chính là nhân vật
trần thuật, trực tiếp tự sự về cuộc sống, suy nghĩ, mơ ước của mình. Trong 15 truyện
ngắn chỉ có ba truyện mở đầu này là được kể ở ngôi thứ nhất, những dòng bộc bạch
nội tâm của nhân vật xem chừng vô cùng chân thật. Có lẽ, theo dụng ý của tác giả,
những nhân vật thiếu niên còn vô tư trong việc bộc lộ thái độ và suy nghĩ nên ở phần
viết này tác giả đã để cho các nhân vật tự do bộc lộ các suy nghĩ và hành động của
mình ra thế giới xung quanh. Nhờ thế chúng ta dễ dàng nắm bắt được các khát vọng
tự do của các cậu bé vốn từ nhỏ đã bị nhà trường Công giáo gò ép trong những nội
qui hà khắc, ngột ngạt.
Cậu bé trong “Chị em gái” không có tự do tư tưởng, bị ràng buộc bởi các giáo lí
phức tạp mà vị linh mục nhồi nhét vào đầu óc non nớt của cậu. Cậu bị ám ảnh ngay
cả trong mơ nên niềm khao khát của cậu là thoát khỏi sự ám ảnh, để được tự do trong
việc tìm ra chân lí của cuộc đời. Cậu bé trong “Một cuộc chạm trán” quá chán ngán
trường học gò bó với những thầy giáo cũng là thầy tu nghiêm khắc, độc đoán. Cậu
muốn thoát ra, muốn có một cuộc phiêu lưu thực sự rời khỏi thế giới trường học tù
túng. Không chỉ có cậu mà các bạn cậu cũng có ước mơ như thế dù không phải ai
cũng có can đảm thực hiện. Cuộc sống và cả việc học tập có lẽ không có chút hứng
thú nào đối với cậu bé trong truyện “Araby” cho nên cậu gửi gắm khát khao của
mình vào một tình yêu đơn phương thầm kín với chị gái của bạn mình. Việc tha thiết
muốn đi đến hội chợ Araby ngoài việc mong muốn làm vừa lòng người bạn gái còn
ngầm chứa trong đó một khát vọng muốn làm một cuộc hành trình rời khỏi môi
trường sống vốn quá tẻ nhạt, nhàm chán hàng ngày, đến với một nơi khác lạ, mới mẻ
và có phần huyền bí, quyến rũ.
Khi các nhân vật bước vào tuổi thanh niên hay trưởng thành, các khát vọng càng
chìm khuất và chỉ bộc lộ ra dưới những hình thức khó nhận biết hơn. Họ đã đủ chững
chạc và khôn ngoan để biết rằng cuộc sống của họ đã trở thành thói quen, tấm lưới
trùm lấy họ ngày càng thít chặt và càng ước mơ càng thất vọng mà thôi. Vì thế mà,
chúng ta phải đọc thấy niềm khát khao vùng vẫy trong những biểu hiện khác lạ giữa
cuộc sống của chính bản thân họ. Nhân vật Farrington trong “Những bản sao” không
bộc lộ rằng anh ta mong muốn điều gì nhưng chúng ta vẫn biết được anh ta chán ngán
hoàn cảnh hiện tại. Hiện tại của anh là công việc hết sức đơn điệu, nhàm chán: chép
lại bằng tay các loại giấy tờ, hợp đồng. Một công việc tẻ ngắt bị đặt dưới sự giám sát
khắt khe của một ông quản lí người Anh khó tính, cáu bẳn. Gia cảnh cũng chẳng sáng
sủa gì khiến anh không muốn trở về nhà. Người đàn ông ấy có nhà, có công sở để
làm việc nhưng cả hai nơi đều là nhà tù chật hẹp, tối tăm nên chắc chắn rằng anh luôn
khao khát thoát khỏi đó. Anh thể hiện khát vọng thoát khỏi công việc hiện tại và trì
hoãn việc về nhà bằng một ước muốn nung nấu suốt cả ngày: đi ra ngoài, tới la cà ở
các quán rượu.
Hướng đến một không gian khác, không gian bên ngoài, là điều mà các nhân
vật rất hay thể hiện. Họ hay ngồi hoặc đứng bên cửa sổ mà nhìn ra ngoài hoặc ước gì
mình được ra bên ngoài thoát khỏi cái thực tại tù túng. Gabriel trong “Người chết”,
giữa lúc buổi tiệc đang đông đúc, ồn ào lại đứng một mình hướng tâm tư ra bên ngoài
.
Hẳn bên ngoài trời đang trong lành lắm! Giá như giờ được một mình
dạo bước dọc theo sông rồi xuyên qua công viên thì thật sung sướng! Tuyết
chắc đang bám đầy trên những cành cây và đọng thành một cái mũ lấp lánh
trên đầu tượng đài tướng Wellington. Giá mà bây giờ được ở đó thì chắc hẳn
dễ chịu hơn nhiều là phải ngồi ở bàn ăn! [25,348].
Không gian ngoài kia rõ ràng là khoáng đạt, trong lành hơn cái căn phòng nhỏ
bé đầy người mà anh đang đứng. Có cái gì đó ngột ngạt, giả tạo trong không khí vui
vẻ, cởi mở, tưng bừng này khiến Gabriel chỉ muốn chạy khỏi nó như chạy khỏi cuộc
sống quen thuộc vốn dần trở nên nhàm chán của anh với công việc với các mối giao
du thiếu hẳn sự chân thành và say mê.
Từ việc hướng đến không gian bên ngoài phát triển thành cảm thức ly hương ẩn
khuất trong tâm hồn các nhân vật. Họ không chỉ muốn bước ra một vùng không gian
bên ngoài các khung cửa mà còn muốn đi xa hơn, đến một đất nước khác, rời xa Ai-
len. Góc khuất cái tôi James Joyce bộc lộ rõ rệt ở cảm thức ly hương này như Lê
Minh Kha từng nhận xét “với Người Dublin, cảm thức tha hương được biểu hiện rõ
qua hệ thống nhân vật” [26,75]. Khác với Lê Minh Kha chúng tôi gọi khát vọng của
nhân vật hướng đến một quốc gia khác là cảm thức ly hương theo nghĩa là khát vọng
rời xa quê hương nơi bản thân vốn không đạt được cuộc sống tự do, hạnh phúc.
Eveline (Eveline) hi vọng mình sẽ hạnh phúc hơn khi cùng với người yêu đến Buenos
Aires, Litle Chandle ( Đám mây nhỏ ) thì nghĩ rằng “Không còn nghi ngờ gì: nếu
muốn thành công người ta phải đi thật xa. Không thể làm được gì ở Dublin này”
[25,141]. Khát vọng đi xa khỏi đất nước để tự do theo đuổi ước mơ trở thành một nhà
thơ, một nghệ sĩ, một người có đời sống sôi nổi ấy cũng chính là ước mơ thời trẻ của
của James Joyce. Nhà văn đã biến ước mơ đó thành một trong các động lực của mình
và đã vượt thoát được khỏi những sợi dây ràng buộc của gia đình, tôn giáo, dân tộc
để trở thành một nghệ sĩ. Trong khi nhân vật của ông đã không thể làm được vì
không đủ can đảm dứt bỏ sợi dây ràng buộc với gia đình, với công việc, với thói
quen.
Mỗi nhân vật của “Người Dublin” đều vùng vẫy theo cách riêng của mình hi
vọng vượt thoát khỏi nhà tù cuộc sống. Có đôi khi sự vượt thoát mà họ chọn lại đưa
họ vào những bế tắc khác hơn hoặc biến cuộc đời họ thành bi kịch hơn. Farrington
chọn rượu làm phương tiện lẩn trốn khỏi cuộc sống và công việc tẻ nhạt của mình.
Nhưng kết thúc câu chuyện chính anh cũng phải cay đắng nhận ra rượu cũng không
thể giúp anh ta quên đi thực tế thất bại của mình, nó càng đẩy anh ta vào cơn nông
nổi đáng ân hận hơn. Cuối cùng, gần như vô thức, anh ta trút nỗi bực bội vào con trai,
nhân vật yếu đuối bé nhỏ hơn anh ta và lệ thuộc vào anh ta. Little Chandle cũng vậy,
không đủ can đảm thoát khỏi Ai-len đến với nước Anh để thực hiện ước mơ thành thi
sĩ của mình, anh ta trút giận vào đứa con bé bỏng để rồi sau đó càng thấy day dứt
hơn, càng lún sâu vào tuyệt vọng hơn. Có một nhân vật bằng sự vùng vẫy tuyệt vọng
của mình coi như đã thoát khỏi cuộc sống cô đơn tù ngục mặc dù cách thoát đó thật
sự là một bi kịch, một trường hợp đau lòng. Đó là trường hợp của bà Sinico nhân vật
nữ chính trong “Một trường hợp đau lòng”. Ở lần vượt thoát thứ nhất, bà tìm đến tình
cảm chân thành cùng ông Duffy. Bà đã thất bại thảm thương vì ông là tù nhân tình
nguyện của định kiến và thói quen. Lần kế tiếp, cũng như Farrington, bà tìm đến rượu
và không ai, trừ ông Duffy hiểu rõ vì rượu hay vì nỗi tuyệt vọng mà bà tìm đến giải
pháp cuối cùng cho đời mình: tự tử trước đầu xe lửa!
Thế giới của những người Dublin là thế giới giam hãm con người trong cuộc
sống bế tắc đến ngạt thở khiến mỗi người trong số họ đều khao khát vùng thoát đến
một cuộc sống mới tự do hơn nhưng cuối cùng tất cả họ đều thất vọng, không thể
thực hiện được ước muốn của mình. Không dễ để nhân vật nhận rằng họ thật sự đã
thất bại và còn nhận thức được nguyên nhân nỗi thất bại của mình, nhận ra bản chất
mềm yếu của chính mình, của những người xung quanh và của cả thế giới mà mình
đang sống. Bằng cách xây dựng các thời khắc epiphany, James Joyce đã tạo điều kiện
cho các nhân vật có cái nhìn sâu sắc và hiểu biết về bản thân và thế giới.
2.2 Hiện tượng epiphany của các nhân vật trong “Người Dublin”
2.2.1 Thời gian của hiện tượng epiphany
Epiphany là hiện tượng chỉ xuất hiện trong một thời điểm lóe sáng đột ngột của
tâm trí, nó liên quan mật thiết với yếu tố thời gian- hình thức tồn tại mọi sự vật hiện
tượng. Trong văn học, epiphany gắn liền với yếu tố thời gian nghệ thuật. Thời gian
nghệ thuật trong phần viết này được chúng tôi triển khai theo quan niệm: “thời gian
mà ta có thể thể nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với tính liên tục và độ dài
của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với các chiều thời gian hiện tại, quá khứ, hay
tương lai.” [48,83]. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng thời gian nghệ thuật vừa
mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan. Vì là thời gian được sáng tạo nên nó
mang tính chủ quan và gắn liền với vận động tâm lí, bản thân nó cũng có thể đảo
chiều theo qui luật riêng của tâm lí, tâm trạng. Song người nghệ sĩ sáng tạo ra thời
gian nghệ thuật bằng chất liệu nghệ thuật, gắn với điều này nó sẽ mang tính khách
quan tương đối. Thời gian nghệ thuật vừa là công cụ sáng tạo trong tay người nghệ sĩ
vừa thể hiện quan niệm của người nghệ sĩ về cuộc đời và con người. Đối với các nhà
văn hiện đại, thời gian nghệ thuật trở thành công cụ linh hoạt nhất để thể hiện ý thức
sáng tạo chủ động, tự do của họ. Các nhà văn lớn đầu thế kỉ XX đều rất có ý thức sử
dụng thời gian nghệ thuật để bộc lộ quan niệm của mình về chiều sâu nội tâm của con
người trong sự vận động của thế giới. Quả thật, “thời gian nghệ thuật là một biểu
tượng, một tượng trưng thể hiện một quan niệm của nhà văn về cuộc đời và con
người”[48,84] . Gắn liền với quan niệm nghệ thuật về con người của chủ nghĩa hiện
đại, các nhà văn đi sâu khám phá thế giới bên trong con người, rút ngắn thời gian trần
thuật và kéo dãn đến tối đa thời gian tâm lí của nhân vật. Họ xáo trộn các bình diện
thời gian, M.Proust xem “con người là tổng thể của các kí ức” [48,113], W.Faulkner
thì quan niệm “con người là tổng thể mọi quá khứ của họ” [48,113]
Là một nhà văn tiên phong của chủ nghĩa hiện đại, James Joyce cũng rất có ý
thức sáng tạo với yếu tố thời gian trong tác phẩm của mình. Thời gian trong tiểu
thuyết của Joyce mang đậm chất chủ quan. Ông khắc họa thời gian vật chất như
người ta cảm thấy. Trong tập truyện ngắn “Người Dublin”, quan niệm thời gian mang
đậm tính chủ quan chưa được đẩy đến mức cực đoan nhưng cũng bắt đầu có những
thể nghiệm độc đáo với kỹ thuật dãn nhịp thời gian trần thuật, xáo trộn các chiều thời
gian nhằm tạo bất ngờ cho những khoảnh khắc xuất hiện của một epiphany.
Mỗi tác phẩm tự sự đều dùng một thời gian trần thuật để trình bày thời gian
được trần thuật (gồm thời gian sự kiện, thời gian nhân vật…). Theo Trần Đình Sử
“Sự sắp xếp, phối trí của thời gian được trần thuật vào thời gian trần thuật mới tạo
ra được thời gian nghệ thuật thật sự”[48,91] . Và chúng tôi cho rằng cách sắp xếp
phối trí đó thể hiện tài năng và quan niệm của người nghệ sĩ đối với nghệ thuật và
cuộc đời. Trong các tác phẩm văn học hiện đại, không bao giờ thời gian trần thuật và
thời gian được trần thuật trùng khít vào nhau mà luôn có sự xoay đảo đa phương, đa
chiều. Nói đến các truyện ngắn của James Joyce, nhà văn Mai Thục đã gọi đó là lối
trần thuật “đa chiều lạ lẫm”. Sự lạ lẫm ấy thể hiện ở những tương quan phức tạp giữa
thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật trong mỗi truyện ngắn.
Trong mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và thời gian sự kiện, khảo sát các
truyện ngắn của Joyce chúng ta sẽ thấy sự vận dụng điêu luyện các thủ pháp dãn nhịp
trần thuật. Thủ pháp này gắn bó với nhịp điệu trần thuật chậm rãi, kéo dài một sự
kiện trong một khung thời gian giới hạn. Truyện ngắn “Ngày Thường Xuân trong
Phòng hội Đồng” chỉ có một sự việc là những người đàn ông đi vận động phiếu bầu
trong một ngày mưa rét, không thể làm việc được, họ gặp nhau ở phòng Hội Đồng và
tán gẫu. Sự việc chỉ có thế, xoanh quanh câu chuyện nhàm chán của họ mà kéo dài
thời gian trần thuật đến lê thê. Kể chuyện như thế nhưng người đọc vẫn say mê theo
dõi đến hết truyện, không phải để xem kết cục thế nào vì truyện này không hề có
chuyện. Người ta đọc để cảm nhận, thấm thía mùi vị của cuộc sống quẩn quanh, vô
nghĩa đến chán chường của những con người Dublin. Truyện ngắn “Ân sủng” cũng
có kết cấu thời gian như vậy. Chúng ta dễ dàng nhận thấy một thời lượng rất dài được
dùng để trình diễn dung lượng rất nghèo nàn. Cũng một nhóm đàn ông trong một
buổi tối dài, bàn luận bất tận về đề tài tôn giáo, giáo lí và các linh mục. Càng phô
trương hiểu biết càng thấy sự rỗng tuếch trong tri thức và tâm hồn, càng bộc lộ một
cuộc sống bế tắc, tha hóa chẳng biết vin vào đâu, đành chọn tôn giáo dù thật sự niềm
tin ấy cũng rất mơ hồ và không hề kiên định. Kiểu phối trí thời gian nghệ thuật này
không dẫn đến hiện tượng epiphany của các nhân vật vì họ cứ mãi chìm đắm trong
dòng chảy miên man của những câu chuyện nhạt nhẽo, giả dối, chẳng nhận thức được
gì về bản chất cuộc sống và cả hoàn cảnh của bản thân mình. Epiphany trong kiểu
truyện này thường dành cho người đọc nhiều hơn.
Epiphany của nhân vật xuất hiện bất ngờ và thú vị hơn trong sự đảo chiều của các
phương diện thời gian cùng với thủ pháp trần thuật phi tuyến tính. Ở đây chúng ta sẽ
xét mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và thời gian nhân vật. Đây là kiểu phối trí
thời gian sở trường và độc đáo của James Joyce, một nhà văn hiện đại luôn hướng
đến nội tâm con người trong nghệ thuật.
Thời gian nhân vật bao gồm thời gian tiểu sử và thời gian tâm lí. Trong truyện
ngắn của James Joyce, thời gian tiểu sử không hề xuất hiện, nhân vật không được
giới thiệu nguồn gốc xuất thân, hoàn cảnh gia đình. Bước vào truyện nhân vật đã tồn
tại như thế và không có nhiều giải thích cho tiểu sử. Vậy nên tác giả dồn bút lực và
kỹ thuật để xây dựng cái gọi là thời gian tâm lí của nhân vật. Những câu chuyện của
Joyce không có nhiều hành động bên ngoài, nếu có cũng chỉ là đi bộ loanh quanh
trong thành phố. Nhân vật thường ngồi hoặc đứng suy tư bên cửa sổ và nếu có hành
động đi thì cũng chẳng vì mục đích gì mà là đi để suy nghĩ. Vậy các hành động đều là
hành động bên trong, hành động tâm lí cho nên thời gian cũng tuần hoàn mãnh liệt
trong dòng tâm tư của nhân vật là chủ yếu. Trong cái dòng tâm tư miên man, bất tận
ấy, kí ức, hồi tưởng, tưởng tượng đan xen nhau, lần lượt xuất hiện hoặc đồng hiện.
Khi truyện ngắn tập trung thể hiện cái thời gian bên trong tâm hồn thì thời gian
trần thuật phải được dồn nén lại. Thủ pháp này được sử dụng rất nhiều, hầu như có
mặt ở tất cả truyện ngắn của Joyce. “Eveline” là một trong những truyện ngắn có kết
cấu thời gian độc đáo nhất. Diễn biến truyện chỉ xảy ra trong một buổi chiều từ lúc
Eveline ngồi bên của sổ và suy nghĩ cho đến khi cô đến bến tàu theo hẹn với người
yêu. Khung thời gian trần thuật hạn hẹp của một buổi chiều mà dồn chứa trong đó
bao nhiêu là sự kiện của cuộc đời nhân vật. Những kỉ niệm hồi thơ bé, kỉ niệm về anh
trai, bạn bè và người mẹ đau khổ; cảm nhận về ngôi nhà thân quen mà bao năm nay
cô chăm sóc; những kỉ niệm không vui khi làm việc ở cửa hàng; cách đối xử khắc
nghiệt của cha cô gần đây; kỉ niệm về mối tình mới chớm nở của cô với Frank…
Hiện tại, quá khứ và cả tương lai cùng hiện ra và chen chúc nhau một cách rất hợp lí
trong dòng suy tư của nhân vật. Thời gian đồng hiện trong mớ kí ức không được sắp
xếp theo một thứ tự tuyến tính nào mà câu chuyện vẫn trôi chảy. Tài năng của James
Joyce là đã tạo ra sự phối kết thời gian và sự kiện hết sức khéo léo, phù hợp với qui
luật tâm lí. Mỗi một bước chuyển thời gian sự kiện dù nhanh chóng nhưng không hề
gây hụt hẫng, khó chấp nhận cho người đọc. Từ nhà mình, Eveline nhìn ra phố, khu
phố gợi nhớ về những kỉ niệm vui đùa ở đó cùng anh em và bạn bè, những người thân
quen đã rời xa và cô cũng sắp xa nhà, nghĩ đến nhà cô lại có cảm xúc về “tổ ấm khắc
nghiệt” của mình...Từ hiện tại, lùi về quá khứ; từ quá khứ, hiện tại được gọi đến và
cũng từ trong hiện tại và quá khứ nản lòng, hình ảnh tương lai được dựng nên… Mọi
chuyện đều có logic của nó, cái logic của tâm tư tình cảm con người vốn không thể
đong đo, sắp đặt bằng các phương tiện lý tính.
Tất cả các câu chuyện còn lại trong “Người Dublin” đều có sự dồn nén thời
gian trong một trường đoạn quan trọng nhất của nó. Ở “Araby” là khoảng thời gian
từ 7 giờ đến 10 tối thứ bảy, từ khi cậu bé chuẩn bị đến khi cậu tới được hội chợ. Sự
chờ đợi, lo lắng dày vò tâm tư khiến cậu cảm nhận sự bức bối của thời gian. Thời
gian trôi đã chậm nhưng nhịp chuyển động của các nhân vật xung quanh lại càng trì
hoãn làm cậu bé phải chịu đựng thử thách căng thẳng trong nội tâm đang rất nôn
nóng của mình. Cậu bé có cùng tâm trạng như Lenehan trong “Hai chàng Ga lăng”,
cũng cảm nhận thời gian bằng tâm trạng sốt ruột, dồn nén tâm tư đến cực độ.
Lenehan thì phải đi bộ suốt một vòng thành phố cho đỡ sốt ruột trong khi cậu bé
trong “Araby” phải chịu đựng nhìn thời gian trôi mà không thể làm gì hơn được.
Thời gian nhân vật, ở đây là thời gian tâm lí tồn tại trong nội tâm nhân vật một
cách đa phương, đa diện chính là mạch diễn biến chính của các truyện ngắn. Trong
khi thời gian vật lí, thời gian xã hội của những câu chuyện thì trôi chảy chậm chạp
trong một đời sống trì trệ, quẩn quanh, bế tắc thì thời gian tâm lí lại là một thế giới vô
cùng sinh động. Khắc họa sự đối lập đó, James Joyce muốn bày ra cho người Dublin
cảm nhận hiện thực đời sống của mình, không chỉ là hiện thực bên ngoài mà còn là
hiện thực bên trong tâm hồn con người. Trong cuộc sống tẻ nhạt, tù túng hàng ngày,
con người hiện ra với trạng thái tê liệt, nhưng đau đáu trong nội tâm vẫn tồn tại
những khát vọng vùng thoát khỏi nhà tù cuộc sống. Người ta cứ mãi tranh luận xem
Joyce là nhà văn bi quan hay lạc quan chính vì hai mảng đối lập này trong các sáng
tác của ông. Giao điểm giữa hai mảng hiện thực này trong thời gian nghệ thuật của
các truyện ngắn là điểm rơi epiphany mà nhà văn đã dụng công xây dựng.
Ngoài mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật, trong
các truyện ngắn của James Joyce còn một số vấn đề thời gian cũng rất đáng quan tâm.
Đó chính là việc tái hiện rất nhiều thời gian buổi chiều và thời gian đêm. Đây là thời
gian của tự nhiên nhưng trong tác phẩm văn học nó cũng chứa đầy dụng ý của tác giả
nhằm phản ánh cuộc sống và tâm hồn nhân vật. Các câu chuyện nếu không phải mở
đầu bằng thời gian của chiều hoặc đêm thì đoạn quan trong nhất cũng thường rơi vào
khoảng thời gian này. Có 13 trên tổng số 15 truyện ngắn của “Người dublin” được
xây dựng nội dung trên cái nền của thời gian đêm tối: Chị em gái, Araby, Eveline,
Sau cuộc đua, Hai chàng ga lăng, Đám mây nhỏ, Những bản sao, Đất sét, Một
trường hợp đau lòng, Ngày Thường Xuân trong phòng Hội Đồng, Một người mẹ, Ân
sủng và Người chết.
Chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà các câu chuyện của Joyce đều diễn ra vào
thời gian đêm như vậy. Đó thật sự là một dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Đêm đến
sau một ngày các nhân vật của chúng ta phải vật lộn với những cuộc mưu sinh. Hoạt
động nội tâm, hoạt động nói lên bản chất, tâm tư thật nhất của họ chỉ còn khoảng
thời gian của đêm để bộc lộ. Sau một ngày dài, con người ta mệt mỏi, thời gian đêm
chính là thời gian người ta dễ bộc lộ hết nỗi dằn vặt hay khát vọng của họ, là khoảng
thời gian tuyệt vời để tác giả góp nhặt các khoảnh khắc epiphany của nhân vật. Thời
gian đêm cũng là thời gian của các hoạt động tôn giáo, nghệ thuật. Thời gian đêm
cũng là thời gian của tội lỗi, u mê và sự phản tỉnh. Các câu chuyện của Joyce còn tạo
sự đối lập giữa thời gian ban ngày với nắng ấm, trời đẹp và thời gian đêm thì u ám,
lạnh lẽo; thời gian của ban ngày thì rất ít xuất hiện, nếu có cũng lướt qua rất nhanh
nhường chỗ cho đêm tối đến sớm và kéo dài. Tạo dựng một bức tranh Dublin về đêm
với những con người, đường phố, quán rượu hay trong những ngôi nhà với những
ngọn đèn không đủ sáng, James Joyce muốn vẽ nên bức tranh thành phố với diện
mạo thật nhất của nó. Những nhân vật như Jimmy, James Duffy, Litle Chandle,
Farrington, Corley, Lenehan, Garbriel chỉ có đêm mới là thời gian để họ bộc lộ bản
ngã của mình trong những khát vọng, u mê hay tha hóa nhất có thể. James Duffy suốt
cả ngày có thể sống trong những thói quen đã thành quan niệm, lạnh lùng vô cảm với
chính cả bản thân mình. Chỉ có khi đêm về, dưới sự ám ảnh cái chết của bà Sinico,
ông mới bộc lộ ra sự đau xót thực sự cho bà và cho bản thân ông. Ông mới cảm nhận
hết sự cô đơn sẽ theo ông suốt quãng đời còn lại. Đêm là khoảng thời gian thích hợp
nhất cho Duffy nhìn thẳng vào tâm hồn và hoàn cảnh của mình. Corley, Lenehan,
những nhân vật tiêu biểu cho bộ mặt đen tối, cho sự tha hóa của cuộc sống Dublin
cũng chỉ có thể hoạt động và bộc lộ bản chất của mình khi đêm đến. Thời gian đêm
cùng không gian thành phố đầy bóng tối sẽ là bối cảnh cho các khoảnh khắc
epiphany của nhân vật.
2.2.2 Không gian của những khoảnh khắc Epiphany
Hiện tượng Epiphany không chỉ gắn bó chặt chẽ với thời gian nghệ thuật trong
tác phẩm mà còn cần được thể hiện trong một không gian nghệ thuật nhất định.
“Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật” [48,115]. Mọi
hình tượng nghệ thuật đều phải có không gian của nó cũng như mọi nhân vật đều cần
có môi trường để tồn tại. Nếu như không gian là một phạm trù của thế giới khách
quan thì không gian nghệ thuật, một phạm trù nghệ thuật lại mang tính chủ quan.
Không gian nghệ thuật là sáng tạo của người nghệ sĩ, nó thể hiện góc nhìn và quan
niệm về thế giới của người nghệ sĩ. Nhà văn xây dựng cho tác phẩm của mình một
không gian nghệ thuật bằng góc nhìn và quan niệm ấy. Không gian nghệ thuật ấy sẽ
cùng với thời gian nghệ thuật và các yếu tố khác
giúp nhà văn thể hiện mô hình quan niệm về con người và thế giới (quan niệm thi
pháp của nhà nghiên cứu Đào Ngọc Chương).
Hầu hết các câu chuyện trong “Người Dublin” diễn ra trong thời gian trần thuật
là đêm cho nên không gian của chúng cũng được bóng tối bao trùm. Từ không gian
công cộng đến không gian gia đình đến cả không gian tâm tưởng cũng đầy bóng tối.
Bóng tối như một bức màn đen dành cho sân khấu Dublin để các nhân vật trình diễn
cuộc sống và tâm hồn mình.Ở bảng phụ lục số 1, chúng tôi đã khảo sát các kiểu
không gian và đặc điểm của chúng để có thể thấy rõ hơn sự chuyển dịch không gian
thường mang lại cho nhân vật một khoảnh khắc epiphany về bản thân hoặc về con
người và cuộc sống. Các kiểu không gian phổ biến trong “Người Dublin” là không
gian phòng, nhà, phố xá, công sở và quán rượu. Đặc điểm thường bắt gặp là sự chật
chội, ngột ngạt, tù túng, tối tăm tượng trưng cho một xã hội Dublin trì trệ, tê liệt.
Không gian thành phố với những con đường, quảng trường, công viên, vườn hoa
có mặt trong tất cả các truyện ngắn. Đó là nơi để nhân vật thực hiện hành hành động
hiếm hoi của mình là đi - đi bộ loanh quanh vô mục đích hoặc quên mất mục đích
chính là gì. Đi như là một hành động phổ biến của các nhân vật trong “Người
Dublin”, đi như đang tìm kiếm một lối thoát để rồi cuối cùng nhận ra thành phố như
một mê cung không có lối thoát nào mặc cho người ta rẻ từ phố này sang phố nọ
vòng vèo, quanh co rồi trở về điểm xuất phát. Dù có mục đích hay không thì các nhân
vật trong “Người Dublin” đều đi ra phố rồi trở về nhà mà không có giải pháp nào cho
sự bế tắc của mình.
Theo bước chân của nhân vật Lenehan (Hai chàng ga lăng) chúng ta có thể
khảo sát được một vòng tròn Dublin. Cuộc hành trình của Lenehan không biết được
khởi hành từ đâu chỉ thấy khi câu chuyện bắt đầu anh ta đã đang đi cùng với người
bạn của mình. Chia tay bạn ở vườn Stephen’s Green anh ta lại tiếp tục đi đến phố
Hume, đi dọc vườn Merrion Square, dọc theo vườn Duke’s Lawn, lại loanh quanh
vườn Stephen’s Green… Sau đó anh ta còn đi rất nhiều, rất nhiều suốt mấy tiếng
đồng hồ quanh thành phố để rồi cuối cùng cũng quay về vườn Stephen’s Green. Một
vòng tròn - cái vòng luẩn quẩn của số phận một con người thừa thải, vô công rỗi
nghề, sống mòn, sống bám giữa khi tuổi đời mới trạc ba mươi. Vòng tròn Dublin là
không gian rất thực của Ai-len. James Joyce đã đưa hình ảnh thành phố như nó vốn
có vào trong tác phẩm của mình. Nếu có một tấm bản đồ Dublin trong tay chúng ta có
thể dễ dàng dõi theo hành trình của các nhân vật, sẽ thấy được bằng mắt bi kịch quẩn
quanh bế tắc của những con người bị giam cầm trong thành phố mê cung của mình.
Anh ta đi lơ vơ vòng quanh vườn Stephen’s Green rồi đi xuống phố
Grafton. Mặc dù hai mắt không bỏ sót chi tiết nào của những đám đông anh
ta đi xuyên qua, chúng làm vậy một cách ủ ê. Những thứ đáng lẽ ra phải đầy
quyến rũ, giờ anh ta thấy thật tầm thường, và còn chẳng thèm đáp lại những
cái liếc mắt mời gọi. Anh ta biết anh ta sẽ phải nói rất nhiều, phải khoác lác
và mua vui, mà đầu óc và cổ họng anh ta giờ quá mệt mỏi cho những trò như
vậy. Chuyện phải làm gì mấy tiếng đồng hồ từ bây giờ cho đến khi gặp lại
Corley làm anh ta bực mình ít nhiều. Anh ta không nghĩ ra có thể làm gì
ngoài việc cứ tiếp tục đi thế này. Anh ta rẽ sang trái khi đến góc vườn
Rutland Square, và cảm thấy dễ chịu hơn chút ít trên con phố tối vắng ngắt,
vẻ buồn thảm của nó hợp với tâm trạng anh ta [25,113-114].
Nếu như thời gian được kết cấu theo tâm trạng nhân vật thì không gian cũng
được kết cấu và miêu tả qua tâm trạng. Bởi thế mà dù các con phố nhân vật đi qua là
những con phố sang trọng, những khu vườn lớn và đẹp đi chăng nữa thì họ cũng
không nhìn thấy cái vẻ sáng sủa hay lộng lẫy của nó. Qua cái nhìn chán nản chỉ thấy
có bóng tối, sự u ám và những vòng tròn không có điểm khởi đầu không có chỗ kết
thúc. Cái kết cấu vòng tròn tượng trưng cho mê cung xuất hiện trong “Người Dublin”
đẩy các nhân vật bước vào cuộc hành trình tuyệt vọng và bao giờ rồi cũng trở về chỗ
xuất phát hoặc trở về cái nhà tù riêng-nhà của mình.
Nhà, không gian riêng, tổ ấm của con người, nơi của sum họp gia đình, nơi của
sự quan tâm, sẻ chia và hạnh phúc. Nhưng trong “Người Dublin”, nhà thực sự là một
nhà tù nhỏ ngột ngạt, chật chội của các nhân vật. Những ngôi nhà thường được miêu
tả có mặt tiền màu nâu với không gian bên trong cũng phủ đầy bóng tối. Nơi đây thật
sự nhỏ bé, chật chội, tù túng và thay cho sự đầm ấm là cảm giác lạnh lẽo, ngột ngạt
khiến chính nhân vật cũng muốn tự rời bỏ tổ ấm của mình. Nhân vật Eveline khi
quyết định ra đi đến một chân trời hạnh phúc, đã chăm chú quan sát lại ngôi nhà mà
mình sắp rời xa
Nhà mình! Cô quay nhìn căn phòng, ngắm từng món đồ thân quen tuần
nào cô cũng phủi bụi trong từng ấy năm trời, lần nào cũng tự hỏi ở quái đâu
ra mà lắm bụi thế. Có thể cô sẽ không bao giờ được nhìn lại những thứ quen
thuộc này nữa, những thứ cô chưa bao giờ tưởng tượng sẽ phải xa rời. Vậy
mà cũng trong từng ấy năm cô chưa từng tìm hiểu về ông cha cố trong bức
ảnh ố vàng treo phía tường bên trên cái đàn đạp hơi đã hỏng, cạnh bản in
màu bài hứa nguyện với thánh Margaret Alacoque, xem ông tên là
gì…[25,77-78]
Nhà của Eveline phủ một lớp bụi tượng trưng cho thời gian, lại còn bao nhiêu
thứ cũ kĩ như bức ảnh ông cha cố ố vàng, cái đàn hỏng và còn bài hứa nguyện… toàn
những thứ cũ kỹ và ám ảnh gợi sự chán chường, gò bó khiến cô muốn vùng bỏ chạy.
Farrington trong “Những bản sao” cũng rất chán ngán khi phải trở về nhà nơi có gian
bếp tối tăm và lạnh lẽo. Nhà của James Duffy là một không gian đầy ám ảnh
Một ngôi nhà cổ ảm đạm và từ cửa sổ ông có thể nhìn vào một nhà máy
rượu bỏ hoang hoặc nhìn xa lên phía dòng sông cạn nước chia đôi Dublin.
Bốn bức tường cao trong căn phòng không trải thảm của ông không treo bức
tranh nào. Ông đã tự mình mua từng món đồ trong phòng: một khung giường
sắt màu đen, một chậu rửa bằng sắt, bốn cái ghế mây, một giá treo quần áo,
một thùng đựng than sưởi, cái chắn than, bàn là sắt và một cái bàn vuông
loại vừa đựng giấy tờ vừa làm bàn viết. Giá sách được làm từ những giá gỗ
trắng lợi dụng chỗ hốc tường. Giường được phủ ga nệm trắng, phía dưới phủ
một tấm len dạ lớn màu đen đỏ. Một mảnh gương nhỏ treo phía trên bồn rửa
và vào ban ngày thì chiếc đèn có chụp màu trắng là vật trang trí duy nhất
trên bệ lò sưởi [ 25,198-199].
Một không gian sống không thể tù túng, đơn điệu hơn với căn phòng chỉ có hai
màu chủ đạo là đen và trắng. Một chút màu đỏ lạc lõng không đủ xua đi cái lạnh lẽo
của không gian cũng như chút tình nồng nhiệt của bà Sinico đã không đủ sức kéo ông
ra khỏi nhà tù của thói quen và định kiến.
Khi rời những ngôi nhà với không gian chật hẹp tù túng, các nhân vật của
“Người Dublin” đến với không gian công sở, trường học, quán rượu, cửa
hàng…nhưng dường như không có ở đâu họ tìm thấy sự thoải mái cho sinh hoạt và
tâm hồn. Nơi nào cũng như những phòng giam nhỏ trói chặt người ta với công việc
nhàm chán, với việc học hành tẻ ngắt. Joyce không miêu tả chi tiết mà chỉ lướt qua
các không gian công sở, quán rượu nhưng những nét chấm phá ấy đủ gợi ra những
không gian tù túng khác của Dublin để chúng ta thấy rằng dù nhân vật có sự dịch
chuyển không gian thì cũng rơi từ bế tắc này sang bế tắc khác. Đấy cũng là một trong
những lí do của cảm thức ly hương, của cái nhìn tâm tưởng luôn hướng ra bên ngoài
mà chúng ta đã nói đến ở phần đặc trưng nhân vật. Sự dịch chuyển không gian không
mở ra một chân trời mới nào của hi vọng. Từ không gian phòng làm việc ngột ngạt,
các nhân vật di chuyển đến những quán rượu nghèo nàn u ám đầy những người đàn
ông thất chí, bét nhè; lang thang trên đường phố tối tăm rồi trở về những ngôi nhà
nhỏ, lạnh lẽo, đầy bóng tối. Một ngày của những người đàn ông như Farrington,
Little Chandle, Doran, Kenan và bao nhiêu người đàn ông khác của Dublin quẩn
quanh như thế. Thử nhìn vào không gian một quán rượu phổ biến ở Dublin chúng ta
sẽ tổng kết được đời sống bế tắc cùng cực của những người đàn ông ấy. Những quán
rượu là những căn phòng nhỏ “nóng bức sặc mùi” nhưng lúc nào cũng “rất đông và
ầm ĩ tiếng nói cười chạm cốc”. Những người đàn ông gọi hết chầu rượu này đến chầu
rượu khác vừa uống vừa lo lắng cho ngân quĩ đang cạn dần, vừa bàn tán những
chuyện vô bổ, tầm phào. Có khi một chuyện được kể đi kể lại nhiều lần, tìm những
cái cớ vụn vặt nhất để nốc rượu. Có quá nhiều quán rượu ở thành phố Dublin và đó là
những không gian mà các nhân vật nam của James Joyes tìm đến để trốn thực tế thất
bại của mình nhưng bao giờ cũng thế, khi ra khỏi đó họ càng cảm nhận sự thất bại ê
chề hơn. Đó là cảm giác của Farrington “Anh ta đã tự làm hại mình ở văn phòng, đi
cầm đồng hồ, tiêu sạch tiền; và thậm chí đến say cũng không cảm thấy. Anh ta lại
cảm thấy khát và anh ta muốn được trở lại quán rượu nóng bức sặc mùi” [25,180].
Farrington cũng như các nhân vật khác cũng nuôi một khát vọng vượt thoát khỏi sự
tù túng của những không gian mà mình chán ngán. Những vùng vẫy, cố gắng của họ
lại không mang lại kết quả mà họ mong muốn. Họ nhận ra điều đó trong khoảnh khắc
epiphany!
Hiện tượng epiphany của các nhân vật thường xuất hiện giữa các ranh giới
không gian từ chật hẹp tù túng chuyển sang rộng rãi, khoáng đạt hơn. Eveline từ ngôi
nhà u ám của mình chuyển đến không gian bến tàu rộng lớn, cậu bé trong “Một cuộc
chạm trán” trốn khỏi trường học làm một cuộc phiêu lưu bên ngoài, nhân vật xưng
tôi trong “Araby” di chuyển từ không gian ngôi nhà đến hội chợ…Sự dịch chuyển
không gian tạo điều kiện xáo trộn và cũng là sự cố gắng vượt thoát của nhân vật và
epiphany sẽ giúp họ nhận ra hoàn cảnh của mình. Cậu bé trong “Một cuộc chạm
trán” đã chủ động, cố gắng sắp xếp cho mình và bạn một ngày phiêu lưu thật sự để
“thoát khỏi sự mệt mỏi của cuộc sống nơi trường học ít nhất là một ngày”[25,51] .
Nhân vật nhỏ tuổi này chưa bị giam cầm trong thói quen đến mức tê liệt, cậu vẫn rất
hào hứng với sự tự do. Tuy nhiên cậu nhanh chóng nhận ra thành phố mê cung, một
nhà tù lớn, không thể cung cấp cho người ta sự tự do thật sự. Thoát khỏi những bài
học nghiêm khắc của các thầy tu trong trường dòng, cậu lại gặp phải một người đàn
ông với bài rao giảng đậm mùi đạo đức giả. Sẽ không có ở đâu trong thành phố này
cậu được tự do thật sự. Những cậu bé như thế rồi sẽ lớn lên trong các không gian
quen thuộc của thành phố này, nhiệt huyết dần dần tắt lịm để rồi trở thành những
Litle Chandle, Farrington, Lenehan hay Gabriel. Một số trong các nhân vật này vì
sống quen trong sự giam hãm, như con chim bị nhốt trong chiếc lồng bé nhỏ dễ
choáng ngợp, sợ hãi trước một khoảng trời rộng lớn mênh mông. Eveline là một
trường hợp như thế. Cô còn có khát vọng vượt thoát khỏi cuộc sống gia đình chỉ có
bổn phận và sự hà khắc để đến với một khung trời khác có thể được tự do và hạnh
phúc. Đó là một cơ hội mà cô đã bỏ qua chỉ vì rào cản của thói quen, chỉ vì choáng
ngợp trước cái viễn cảnh thế giới mới mẻ mà cô không dự cảm được là hạnh phúc
thật sự hay là bất hạnh nhiều hơn. Nhiệt tình để phiêu lưu của một cậu học sinh trung
học như trong “Một cuộc chạm trán” đã không còn nữa ở cô gái thanh niên khi bước
vào cuộc sống thật sự. Và đến lứa tuổi trưởng thành thì người ta chỉ còn mong tìm
cách trốn trong những cơn say hoặc hành hạ con cái hoặc bám víu tạm bợ vào ân
sủng của tôn giáo.
Trong những không gian đầy bóng tối, các nhân vật của “Người Dublin” hướng
đến ánh sáng như là một qui luật tự nhiên của thị giác. Trong bóng tối, sự xuất hiện
của ánh sáng là một trong những dấu hiệu của hiện tượng epiphany. Hình ảnh đôi mắt
“rực lên” của cậu bé cuối truyện “Araby” gợi một tia sáng cho epiphany của chính
cậu về thân phận của mình. Trong bóng tối của hội chợ đang tắt đèn, đóng cửa, cậu
bé chợt nhận ra bao ảo tưởng phù hoa của mình bây giờ đang vụt tắt. Cuối truyện
“Sau cuộc đua” Nhân vật Jimmy đang chìm trong “trạng thái đê mê tăm tối” thì anh
bạn Villona mở cửa ra và “một làn ánh sáng xám mờ” của bình minh lọt vào căn
phòng mờ tối, đánh dấu khoảnh khắc epiphany của Jimmy. Bình minh lên, ánh sáng
sẽ đẩy lùi niềm say mê tăm tối, để Jimmy nhận ra mình sẽ hối hận cho sự điên cuồng
của mình khi bước vào cuộc đua với những người ngoại quốc mà không cân nhắc
được sự thảm bại của mình. Trong “Một trường hợp đau lòng”, khi nhân vật Duffy
đi bộ quanh các con đường đầy bóng tối, ông “nhìn về phía dòng sông lấp lánh uốn
lượn quanh Dublin” và cảm nhận hết sự cô đơn “bị bỏ rơi ngoài bữa tiệc cuộc sống”
và ông nhớ bà Sinico, ám ảnh và ăn năn về cái chết của bà. Sử dụng một tia sáng dù
là nhỏ nhoi, cũng lóe lên, nổi bật bởi không gian tối tăm xung quanh, James Joyce
đánh dấu hiện tượng epiphany của các nhân vật như những tia chớp lóe lên rồi biến
mất nếu nhân vật không kịp thời nắm bắt, nó sẽ vụt qua. Khi bắt đầu đưa hiện tượng
epiphany vào trong tác phẩm văn học, nhà thơ Wordsworth cũng xác nhận rằng nó là
khoảnh khắc bất ngờ và thú vị, thú vị nhất là ở chỗ nó đến không báo trước và rất dễ
tan biến đi nếu người nghệ sĩ hoặc nhân vật của anh ta không nắm bắt kịp. Trong
truyện ngắn của Joyce cũng thế, nhiều khi nhân vật đứng trước một dấu hiệu mà
không hề đạt được cảm giác epiphany về bản chất của mình và thế giới. Đó là trường
hợp của Lenehan ở cuối truyện “Hai chàng ga-lăng”. Khi Corley xòe bàn tay mình
ra “một đồng tiền vàng nhỏ tỏa sáng giữa lòng bàn tay”. Cũng một ánh sáng lóe lên
giữa lòng bóng tối nhưng hai nhân vật không epiphany được gì, họ đã nhường phần
đó cho độc giả.
Không gian nghệ thuật của “Người Dublin” chính là không gian thành phố này
được cấu trúc như một vòng tròn, như một mê cung phủ đầy bóng tối. Trong cái mê
cung lớn ấy bao gồm các phòng giam nhỏ hẹp hơn là nhà cửa, quán rượu, công sở
hay trường học. Tất cả tạo thành một tấm lưới trói chặt các nhân vật trong thói quen,
trong hoàn cảnh mà họ không thể tìm ra lối thoát ngoại trừ tại những khoảnh khắc
epiphany.
2.2.3. Điểm rơi epiphany của nhân vật
Trong “Người Dublin”, James Joyce đã xây dựng một hệ thống nhân vật với
những đặc trưng riêng, có đời sống hằng ngày và đời sống nội tâm được đặt trong
một thời gian và không gian đặc thù nhằm tạo tiền đề cho những khoảnh khắc cái
nhìn sâu sắc và đột ngột vào bản chất con người và thế giới. Chúng tôi gọi những
khoảnh khắc như thế là “điểm rơi epiphany”
“Điểm rơi epiphany” là cách gọi được chúng tôi chọn dùng để diễn đạt khoảnh
khắc mà hiện tượng epiphany lóe sáng lên trong tâm hồn và ý thức nhân vật. Trong
khi tâm trạng của các nhân vật trong “Người Dublin” là những dòng chảy miên man
đan xen các sự kiện hiện tại, hồi tưởng quá khứ và dự cảm tương lai thì tại một thời
điểm nào đấy một ánh sáng lóe lên thay đổi hoàn toàn nhận thức của nhân vật về bản
chất con người và hoàn cảnh xung quanh. James Joyce chưa thật sự phô diễn kỹ thuật
dòng ý thức trong các truyện ngắn của mình nhưng nhân vật với thế giới nội tâm hết
sức phong phú đã là những thể nghiệm xuất sắc cho nghệ thuật miêu tả tâm lí trong
văn xuôi hiện đại. Các nhân vật trong “Người Dublin” như chúng ta khảo sát ở phần
đặc trưng đã cho thấy họ có một thế giới tâm hồn đầy biến động. Nhân vật không có
những hành động hướng ra thế giới bên ngoài mà xoáy sâu vào các hành động bên
trong. Tác giả dành rất nhiều thời gian trần thuật để bộc lộ thế giới nội tâm của nhân
vật, dành cho nhân vật cả dung lượng của câu chuyện để bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc.
Họ cũng luôn luôn có thời gian để quan sát và nhận xét về con người và hoàn cảnh
xung quanh nhưng không bao giờ nhìn thấy bản chất của mọi thứ. Chỉ có khi ánh
sáng epiphany xuất hiện tại một điểm rơi nhất định họ mới nhận ra cái bản chất sâu
kín đó của một con người hay một vấn đề.
Francesca Valente cho rằng: “Các nhân vật trong người Dublin không nhận thức
bằng sự tương tác lẫn nhau giữa các giác quan mà chủ yếu bằng thị giác chỉ trừ một
số trường hợp _ thời điểm epiphany. Epiphany xảy ra trong thời điểm mọi giác quan
đồng thanh tương ứng với nhau, tạo ra một biến đổi từ không nhận thức đến sự đột
ngột nhận thức hoàn cảnh của mình” [75]. Quả thật, các nhân vật trong “Người
Dublin” nhận thức hoàn cảnh bằng mắt là chủ yếu. Ở ba câu chuyện đầu tiên kể về
thời niên thiếu chúng ta nhận thấy các nhân vật nhỏ tuổi của Joyce thường chủ yếu
dùng mắt để quan sát thế giới xung quanh và đưa ra các suy nghĩ nhận xét của riêng
mình từ kết quả của sự quan sát ấy. Không chỉ các nhân vật thiếu niên mà các nhân
vật trưởng thành trong tất cả truyện ngắn còn lại đều luôn luôn nhìn để nhận thức thế
giới xung quanh và thường không nhận thức được bản chất thực sự của thế giới ấy vì
dường như có nhiều tấm màn che mờ nhận thức của họ. Đó có thể là áp lực từ nhà
thờ, từ gia đình, từ công việc, từ dư luận xã hội hay chỉ từ các định kiến của bản thân.
Chúng ta nhận thấy tác giả rất chú ý miêu tả những đôi mắt, những cặp kính
mắt bị che mờ… chẳng hạn nhân vật Doran trong “Nhà Trọ” đã đối diện với vấn đề
trách nhiệm trong chuyện tình vụng trộm với Polly, con gái bà chủ nhà trọ với một
đôi mắt bị che mờ.
Mr Doran thực sự đã cảm thấy rất lo lắng suốt sáng Chủ nhật đó. Anh
cố cạo râu đến hai lần, nhưng lần nào tay cũng run đến nỗi buộc phải dừng
lại. Cằm anh sau ba ngày không cạo xuất hiện một viền ria đỏ nhạt bao
quanh, và cứ hai hay ba phút một làn hơi nước lại tụ trên mắt kính làm anh
phải bỏ chúng ra và lấy khăn mùi soa lau… Đi xuống thang gác, kính của
anh bị phủ đầy hơi mờ đến nỗi anh phải gỡ chúng ra lau[25,129] .
Nhân vật Joe trong “Đất Sét” cũng có một đôi mắt nhòe đi như thế ở cuối
truyện “…và mắt nó đẫm lệ đến nỗi nó không tìm được thứ nó đang tìm”[25,197].
Chúng tôi cho rằng những đôi mắt bị nhòe đi như thế là dụng ý của Joyce trong việc
thể hiện tình trạng bị che mờ nhận thức của các nhân vật. Chính vì nhận thức bị che
mờ, các nhân vật của “Người Dublin” cần những “điểm rơi epiphany” để có thể một
lần nắm bắt bản chất của mình và thế giới xung quanh.
“Điểm rơi epiphany” được tạo ra thường là do một biến cố hay một gợi ý nhỏ
nhưng rất bất ngờ, rất đắt giá đủ để xua tan sự u tối của tâm trí làm bừng lên khoảnh
khắc tự nhận thức. Một phút lóe sáng đột ngột của tâm hồn đủ để nhân vật hiểu biết
sâu sắc về nhiều vấn đề của cuộc sống. Ở bảng phụ lục số 2,
khi khảo sát các điểm rơi epiphany của nhân vật trong người Dublin, chúng tôi nhận
thấy nó thường rơi vào cuối những câu chuyện với các dấu hiệu là một thứ ánh sáng
phát ra từ một vật nào đó. Ánh sáng của một hình ảnh đi cùng với một âm thanh được
sử dụng như một tác động song song kích thích đồng thời hai giác quan thị giác và
thính giác của nhân vật. “Điểm rơi epiphany” của cậu bé trong “Araby” xuất hiện khi
âm thanh của tiếng thông báo từ đầu dãy hành lang rằng đèn của hội chợ sẽ tắt vào
lúc ấy. Cùng lúc, đôi mắt cậu rực lên uất ức và giận dữ khi cậu chợt nhận ra mình
“như một sinh vật bị phù hoa dẫn dắt và cười nhạo”. Điểm rơi epiphany của Eveline
thì lại xảy ra cùng với “một hồi chuông làm nhói tim cô”. Âm thanh của hồi chuông
ấy cùng với ánh sáng rực phát ra từ những cửa sổ tròn của con tàu kích thị cả thị giác
và thính giác của nhân vật khiến cô như bừng tỉnh. Eveline nhận ra mình thật sự là
một tù nhân của cuộc sống, của trách nhiệm với gia đình. Những kỉ niệm, những thói
quen, những lời đã hứa, trước đó vốn làm cô chán ngán, khiếp sợ muốn vùng chạy
trốn thì giờ đây đang níu chân cô, ràng buộc cuộc đời cô. Eveline sẽ mãi là tù nhân
của cuộc sống nhàm chán, khổ sở ấy, mãi mãi cô không thể thoát ra. Đó là lí do của
cơn tuyệt vọng đang ùa đến trong cô.
Những điểm rơi epiphany là thời khắc giúp con người có cái nhìn sâu sắc và
hiểu biết về bản thân và thế giới. Mà một trong những điều quan trọng nhất con người
hiện đại cần nhận thức rõ đó chính là nhận thức về bản thân. Vậy nên, trước nhất, các
nhân vật trong “Người Dublin” cần những “điểm rơi epiphany” để tự nhận thức góc
khuất trong tâm hồn mình. Cuộc sống với guồng quay đều đều của nó khiến những
công dân Dublin bị cuốn trôi theo và ít khi có dịp nhìn sâu vào bên trong tâm hồn
mình để soi vào góc tối tâm hồn, để sống lại các khát vọng bị chìm khuất. Khi có một
sự kiện, một hình ảnh nào đó đột ngột gợi lên khiến nhân vật như bừng tỉnh trong một
thoáng nhìn lại và nhận ra chính mình. Chàng trai trẻ Jimmy (Sau cuộc đua) được sự
chăm lo của gia đình, được giáo dục bởi các trường học danh tiếng của phương Tây
và choáng ngợp trước sự hào nhoáng của những người bạn nước ngoài. Anh ta không
nhận thức được hoàn cảnh, khả năng và cả khát vọng thật sự của bản thân mà cứ như
con thiêu thân lao vào những đam mê hào nhoáng, lao vào cuộc đua vui không cân
sức với những người nước ngoài. Để rồi đến khi thảm bại, Jimmy mới nhận ra sai lầm
của mình. “Điểm rơi epiphany” của nhân vật Jimmy xảy ra ở cuối truyện với tia sáng
lóe lên từ cánh cửa được người bạn người Hungari mở ra và câu nói của bạn “Bình
minh rồi, các ngài!”. Ánh sáng bình minh xua đi bóng tối của sự điên cuồng của tuổi
trẻ, đẩy nhân vật vào một luồng sáng epiphany và anh ta chợt nhận ra mình chỉ là kẻ
say mê ánh sáng phù hoa, chạy đuổi theo và tự hào về những giá trị vốn không thuộc
về bản thân mình. “Anh ta biết rồi anh ta sẽ hối hận vào sáng hôm sau…” nhưng
điều anh ta nhận biết ấy chỉ đến với ý thức của anh ta sau một cuộc đua dài không cân
sức và sau thảm bại của anh ta. Ánh sáng và âm thanh xuất hiện đột ngột cùng lúc đã
khơi dậy sự bừng tỉnh làm thành điểm rơi epiphany của Jimmy.
Câu chuyện với nhân vật có “điểm rơi epiphany” giúp nhận thức về chính bản
thân mình sâu sắc và ám ảnh nhất chính là “Người chết”. Gabriel, nhân vật trung
tâm, nổi bật nhất khi xuất hiện nhưng luôn cố che giấu những bối rối, lúng túng, mất
tự tin của mình. Anh thể hiện ra bên ngoài là một người đàn ông trung lưu chững
chạc, có học thức, có hạnh phúc, được mọi người trọng vọng nhưng trong nội tâm
anh luôn che giấu những ẩn ức của mình. Khéo che giấu đến nỗi chính anh cũng
không nhận thức được giá trị thật, bản chất thật của mình cho đến thời điểm
epiphany. Điểm rơi epiphany của Gabriel cũng xảy ra vào cuối truyện. Từ câu chuyện
tình đầu mà người vợ yêu kể lại đầy nước mắt và ám ảnh, Gabriel nhận thức sâu sắc
hơn về cuộc sống và tình yêu của mình. Từ trước đến nay, anh vẫn cho đó là một
cuộc sống sôi nổi và có ý nghĩa, vẫn cho rằng tình yêu mình dành cho vợ là đủ nồng
nàn, say đắm. Giờ anh nhận ra cuộc sống mình thật mòn mỏi, thật ra là đang chết dần,
chết mòn trong khi sống và tình yêu của mình chẳng thể so sánh với tình yêu của
chàng thanh niên đã chết. Anh còn nhận ra “thà can đảm sang thế giới bên kia, trong
hào quang sáng chói của một niềm đam mê nào đó, hơn là cứ mờ dần và lụi tàn một
cách ảm đạm cùng tuổi tác” [25,401]. Rồi cùng với ánh sáng le lói chạm vào kính
cửa sổ anh lại nhận ra “Đã đến lúc anh phải bắt đầu chuyến đi miền Tây của mình”
[25,402]. James Joyce rất hay dùng ánh sáng lóe lên giữa không gian mờ tối để làm
xuất hiện các khoảnh khắc Epiphany của nhân vật. Ở đây, ánh sáng mong manh của
những bông tuyết rơi xiên xiên dưới ánh đèn đường đã thức tỉnh tâm trí Gabriel khiến
anh nhận ra cần kết thúc cuộc sống quẩn quanh, mòn mỏi, trốn tránh bản thân mình,
ru ngủ chính mình vì chuyến đi về miền Tây (cõi chết) của cuộc đời gần như đã hiện
ra.
Epiphany không chỉ giúp các nhân vật tự nhận thức bản thân mình mà còn là tia
sáng để họ soi vào bản chất của những con người trong xã hội mà họ đang cùng tồn
tại. Hai trong ba truyện ngắn về tuổi thiếu niên có các epiphany của nhân vật về
những người xung quanh. Đầu tiên là cậu bé trong “Chị em gái” có một cái nhìn sâu
vào bản chất người linh mục đã nhiều gắn bó và ảnh hưởng đến cậu. Từ cái tin cha
James Flyn đã chết vì bị liệt, tâm hồn cậu bé luôn ngổn ngang bao nhiêu là suy nghĩ
và ám ảnh. Những kỉ niệm khi ông còn sống, những lời bàn tán đầy ẩn ý của những
người xung quanh đẩy cậu bé vào trong một mê cung của những ý nghĩ rối loạn, mơ
hồ. Giữa những dòng suy tưởng hỗn độn, trong bóng tối tĩnh lặng, những hình ảnh
quen thuộc ùa về như một giấc mơ và cậu có được một điểm lóe sáng trong ý thức.
Điểm rơi epiphany giúp cậu tri nhận về bản chất thật sự của ông linh mục già
Trong bóng tối gian phòng tôi tưởng tượng ra mình lại đang nhìn thấy
gương mặt xám xịt nặng nề của người liệt. Tôi kéo chăn trùm kín đầu và cố
gắng nghĩ về lễ Giáng sinh. Nhưng khuôn mặt xám vẫn không chịu buông tha
tôi. Nó mấp máy; và tôi hiểu nó muốn xưng tội. Tôi thấy linh hồn tôi lùi về
một vùng dễ chịu và tội lỗi; và ở đó tôi lại thấy gương mặt kia đang chờ tôi.
Nó bắt đầu xưng tội với tôi bằng một giọng thầm thì và tôi tự hỏi tại sao nó
luôn mỉm cười và tại sao đôi môi của nó lại ướt rượt nước bọt thế kia. Nhưng
rồi tôi nhớ lại rằng nó đã chết bởi bệnh liệt và tôi cảm thấy tôi cũng đang hơi
mỉm cười như để tha thứ tội buôn thần bán thánh của nó[25,33-34] .
Một điểm rơi epiphany xảy ra gần như là trong vô thức. Ở đây không có ánh
sáng thật sự như các epiphany khác mà chỉ có ánh sáng mang tính biểu tượng khi cậu
bé cố nghĩ về lễ Giáng sinh. Trong tiềm thức của cậu bé đang cố gắng quên đi nỗi ám
ảnh đen tối, các hình ảnh là những cử chỉ, thói quen hàng ngày của ông linh mục chợt
hiện về. Đó là đôi môi luôn mỉm cười và ướt rượt nước bọt, một hình ảnh của nhục
cảm khiến cậu bé nhận ra tội lỗi buôn thần bán thánh của linh mục. “Chị em gái” là
truyện ngắn đầu tiên được James Joyce cho xuất bản trên tờ Home’s Tead và nó đã
nhận được sự phản ứng gay gắt từ phía nhà thờ Công giáo bởi những ám chỉ “trần
trụi và tự do vượt quá giới hạn của nó” [78]
James Joyce quan niệm mọi người, mọi sự vật đều có bản chất riêng tồn tại
trong chính nó, nó sẽ không lệ thuộc vào sức mạnh chính trị hay tôn giáo. Tuy nhiên,
bản chất thật của con người thường được che đậy bằng một vỏ bọc bên ngoài để con
người có thể hòa nhập hoặc lừa dối mọi người xung quanh. Con người sẽ khó nhận
thức được bản chất của người đối diện nếu không nhìn xuyên qua lớp vỏ bọc bên
ngoài ấy. Vì thế mà Joyce sử dụng hiện tượng epiphany như một sự soi rọi bất ngờ
khiến nhân vật nhận ra bản chất con người, một cái nhìn thấu thị xuyên qua lớp vỏ
bọc bên ngoài. Một số nhà nghiên cứu còn cho rằng epiphany là phút tâm hồn hiển lộ,
có nghĩa là con người tự bộc lộ bản chất bên trong của mình qua lời nói, cử chỉ và
những phút giây ấy được những người xung quanh nắm bắt một cách tình cờ. Quan
điểm của chúng tôi trong phần viết này cho rằng epiphany là hiện tượng mà nhân vật
có thể thông qua các biểu hiện tình cờ của người đối diện để nhận chân bản chất của
đối tượng. Chẳng hạn trường hợp epiphany của cậu bé trong “Một cuộc chạm trán”.
Cậu bé đã nhìn thấu được bản chất giả dối của người đàn ông qua bài rao giảng có vẻ
rất mô phạm, rất đạo đức của hắn. Người đàn ông đã tự hé lộ bản chất của mình qua
sự mâu thuẫn trong bài nói chuyện dài dòng, nhưng cậu bé cũng rất tinh tế khi phát
hiện ra và hơn thế còn cảm thấy ghê sợ con người hai mặt kia. Truyện “Một cuộc
chạm trán” có điểm rơi epiphany xảy ra ở phần kết giống với đa số các truyện khác.
Trong điểm rơi epiphany ấy, cậu bé nhân vật chính không những nhìn thấu được bản
chất người đàn ông kia mà còn có dịp tự nhận thức về chính bản thân mình như một
sự phản tỉnh
Giọng của tôi có chút gì như là can đảm bắt buộc, và tôi thấy xấu hổ vì
cái mưu kế ti tiện của mình. Tôi phải gọi to cái tên đó một lần nữa thì
Mahony mới nhìn thấy tôi và hú lên trả lời. Tim tôi đập mới ghê chứ khi nhìn
thấy nó chạy qua bãi đất về phía tôi! Nó chạy như đang đến cứu viện cho tôi.
Và tôi thấy hối hận; bởi tận đáy lòng, trước đây tôi vẫn luôn hơi khinh
thường nó[25,63] .
Đây là một điểm rơi epiphany hiếm hoi xuất hiện vào thời gian ban ngày nên tác
giả không sử dụng tác nhân ánh sáng. Nhưng âm thanh vang vọng cả bãi đất của tiếng
gọi bạn kết hợp với hình ảnh cậu bạn chạy về hướng mình đã kiến tạo điểm rơi
epiphany cho sự phản tỉnh của nhân vật xưng tôi. Có lẽ cậu bé đã có những ảo tưởng
về bản thân mình cũng như có những nhận thức sai lầm về bạn bè hay những người
xung quanh từ trước đến nay. Cậu phát hiện ra mình cũng có lúc sợ hãi phải chạy trốn
một con người và đứa bạn mình vốn coi thường bấy giờ lại như một vị cứu tinh. Loại
epiphany như thế còn trở lại nếu chúng ta khảo sát toàn tập truyện theo cái kết cấu
vòng tròn của nó bởi nhân vật trưởng thành Gabriel sau này cũng có một thời khắc tự
nhận thức như vậy, đánh đổ những ảo tưởng về bản thân mình.
Các nhân vật của “Người Dublin” sống trong tình trạng quẩn quanh, bế tắc, họ
chán ngán hoàn cảnh của mình và từ trong sâu thẳm tâm hồn, nhân vật nào cũng nuôi
một khát vọng thoát khỏi hoàn cảnh ấy tìm đến một cuộc sống thật sự có ý nghĩa. Tuy
nhiên, những thất bại xảy ra thường xuyên từ tuổi ấu thơ đến tuổi trưởng thành trong
nhiều lĩnh vực khiến họ dần dần tự chôn vùi các khao khát tự giải thoát cho mình. Chỉ
khi có một kích thích từ các nhân vật khác thì khát vọng xưa mới bừng tỉnh. Chẳng
hạn, Eveline nhờ vào sự tác động của Frank và tình yêu với anh khiến cô khao khát
một lần tự tìm hạnh phúc cho mình. Little Chandle phải nhờ đến sự kiện người bạn
thân là Gallaher thành công trong nghề kí giả ở Anh trở về thăm quê hương mới thức
dậy được giấc mơ của mình. Chandle cũng có một thời đầy ước mơ và khao khát
nhưng cái khao khát ấy đã bị chôn vùi tự bao giờ bởi bao nhiêu trách nhiệm đè nặng
trên vai. Gia đình nhỏ với bao thứ chi tiêu, bao thứ đồ mua sắm chưa trả hết nợ đã vùi
anh vào cái công việc chán ngắt và xa rời ước mơ tươi đẹp của mình. Sự can đảm
vượt thoát và đạt đến thành công của bạn đã làm anh bừng tỉnh. Khát vọng được thổi
bùng trở lại, điều kiện để vượt thoát cũng được tạo ra, tuy nhiên các nhân vật vào
phút cuối lại buông tay thất bại và đó là khi sự ý thức về hoàn cảnh của họ xuất hiện.
Hầu hết các nhân vật chỉ nhận thức sâu sắc hoàn cảnh bất lực thật sự của mình tại một
điểm rơi epiphany. Trong nhà tù của thói quen của sự áp chế về tôn giáo hay cuộc
sống đói nghèo, họ thường hoang mang không ý thức được hoàn cảnh và thân phận
của mình. Nhưng đến lúc làm một cuộc vượt thoát thì họ lại cam chịu thất bại và họ ý
thức được tình cảnh của mình. Họ là tù nhân của cuộc sống và họ nhận ra chắc rằng
họ không thể thoát khỏi nhà tù ấy. Eveline (Eveline), Little Chandle (Đám mây nhỏ),
Farrington (Những bản sao), Duffy (Một trường hợp đau lòng) là những tù nhân của
cuộc sống và họ đã nhận ra điều đó ở cuối chặng đường đúng hơn là ở ngõ cụt trên
con đường tìm lối thoát của họ. Một ngõ cụt do chính tâm lí con chim quen sống
trong lồng của họ tự tạo nên! Sự hiểu biết sâu sắc hoàn cảnh sống của mình đáng lẽ
phải đến sau một thời gian dài phát triển nhận thức thì nó lại bất ngờ đến trong một
thời điểm, một điểm rơi epiphany.
Các nhân vật của “Người Dublin” sống một cuộc sống tù túng, ngột ngạt, bế tắc
do chịu sự ảnh hưởng từ sự chia cắt chính trị, từ các thể chế tôn giáo, từ cuộc sống
đói nghèo và cả những ám ảnh khôn nguôi về những người thân quen đã chết. Họ như
những tù nhân của cuộc sống, tê liệt giữa quê hương Dublin. Chính vì thế, mỗi người
trong số họ đều ẩn chứa một khát vọng vượt thoát để tìm kiếm một cuộc sống tự do,
một cuộc sống có ý nghĩa thật sự. Tuy nhiên khi có cơ hội để làm một cuộc vùng
thoát thật sự, các nhân vật lại dùng dằng, bỏ lỡ. Họ cứ luôn quanh quẩn trong cái
vòng cuộc sống bế tắc, tối tăm, không nhận thức được bản thân cũng như hoàn cảnh
của mình. Chỉ đến các điểm rơi epiphany, họ mới có cái nhìn thấu suốt, chớp nhoáng,
trong khoảnh khắc mặc khải bản chất con người và hoàn cảnh sống. Điểm rơi
epiphany của nhân vật được nhà văn James Joyce xây dựng tại một giao điểm của
thời gian dồn nén, đảo chiều và một giao điểm không gian sáng - tối, rộng - hẹp. Sự
xáo trộn các bình diện không gian và thời gian đẩy nhân vật đến giới hạn của điểm
rơi epiphany. Mỗi nhân vật có điểm rơi khác nhau. Từ điểm rơi này, nhân vật thường
bị đẩy quay trở lại. Một vòng tròn mới hiện ra nhưng tâm đã thay đổi khi ánh sáng
epiphany soi chiếu vào nhận thức. Sau phút epiphany, nhân vật có một nhận thức sâu
sắc hơn về bản thân, khiến họ thay đổi nhận thức và tình cảm của mình. Nhưng các
nhân vật tuy có thay đổi cái nhìn mà không có sự thay đổi hành động, nhận thức hoàn
cảnh chỉ làm họ thêm tuyệt vọng và tê liệt chính là trạng thái của họ, là chủ đề của
“Người Dublin”.
Tiểu kết chương 2
Hiện tượng epiphany chi phối nghệ thuật xây dựng nhân vật của James Joyce
trong “Người Dublin”. Thế giới nhân vật của “Người Dublin” mang dáng dấp của
các cư dân thành phố Dublin và thấp thoáng hình bóng của tác giả James Joyce. Đó là
những con người sống trong nhà tù cuộc sống. Họ không có tự do để vươn tới một
cuộc sống có ý nghĩa thực sự. Xung quanh họ là những rào cản của tôn giáo, của tình
trạng chia cắt chính trị, của cuộc sống đói nghèo bế tắc và của cả thành kiến, thói
quen, sức ỳ của chính bản thân họ. Dù trong các nhân vật luôn nung nấu một khát
vọng vượt thoát ra khỏi hoàn cảnh sống hiện tại nhưng tất cả họ rồi cũng không sao
thực hiện đựơc khát vọng của mình. Các rào cản cuộc sống không chỉ ràng buộc họ
mà còn che mờ nhận thức khiến họ không nắm bắt được bản chất của con người, của
hoàn cảnh và cả những góc khuất trong tâm hồn mình.
Joyce xây dựng những điểm rơi epiphany để các nhân vật của ông có được cái
nhìn thấu suốt vào trong bản chất và hoàn cảnh của mình. Điểm rơi epiphany thường
xuất hiện trong một bối cảnh thời gian và không gian đặc thù của Dublin. Đó là
những khoảng không gian mê cung phủ đầy bóng tối giao nhau với những dòng thời
gian tâm trạng miên man trong tâm hồn các nhân vật. Ở những thời điểm đầy xáo
trộn ấy, có những khoảnh khắc tia sáng của hiện tượng epiphany chiếu rọi vào nhận
thức của nhân vật khiến họ bừng ngộ ra các vấn đề cốt lõi như đã nói ở trên. Nhưng
sự nhận thức đột ngột ấy không khiến họ can đảm hơn, mạnh mẽ hơn để làm một
cuộc vượt thoát thật sự. Sự nhận thức tại một điểm rơi epiphany hiếm hoi chỉ khiến
họ nhìn sâu hơn vào tâm hồn mình hoặc nhìn rõ hơn vào bản chất cuộc sống để rồi
thất vọng hơn, cô đơn hơn, bế tắc hơn.
CHƯƠNG 3: ĐỘC GIẢ “NGƯỜI DUBLIN” VÀ HIỆN TƯỢNG
EPIPHANY
Khi sáng tác “Người Dublin”, James Joyce quan niệm ông sẽ viết “Một chương
trong lịch sử đạo đức của dân tộc”[75] với tham vọng lôi ra kì hết các triệu chứng tê
liệt của mọi hạng người, mọi giai cấp trong xã hội nhằm thức tỉnh đồng bào mình.
Ông miêu tả trong những câu chuyện của mình tình trạng bất lực, thất vọng và cái
chết của cư dân trong cái thành phố tê liệt cả đạo đức, trí tuệ và tinh thần. Bằng một
chuỗi mười lăm epiphany, Joyce hi vọng người Dublin có cái nhìn tốt hơn về chính
mình hoặc về hoàn cảnh của mình. Từ trong ý đồ sáng tác, hình bóng độc giả đã là
đối tượng hướng đến của nhà văn. Ý thức viết cho ai và viết để làm gì chi phối lối
viết của ông, một lối viết được chính ông gọi là “tiết giảm về nghĩa” (style of
scrupulous meanness). Đó là lối viết tạo nhiều chỗ trống, khơi gợi sự đồng sáng tạo
của độc giả, đồng thời tạo ra hiệu quả epiphany ở người đọc về bản thân mình, về
hiện thực cuộc sống về con người và thế giới. Với lối viết như thế, Joyce phô bày một
gương mặt mới của chủ nghĩa hiện thực. Hiện thực trong truyện ngắn của ông không
được miêu tả một cách chi tiết có kèm theo thái độ đánh giá của tác giả mà là những
mảng hiện thực được tái hiện một cách chớp nhoáng trong một tia chớp lóe lên_ một
epiphany của nhà văn được tái tạo thành epiphany của nhân vật nhằm kêu gọi một
epiphany sâu sắc hơn ở độc giả. Vậy nên, nhà văn chỉ tái hiện rất nhanh và không
bình luận gì thêm. Trong việc đọc truyện ngắn của Joyce, vai trò đồng sáng tạo, tự do
đánh giá của người đọc là vô cùng to lớn. Đấy chính là khía cạnh dân chủ, giá trị hiện
đại trong lối viết James Joyce.
Mục đích và phương pháp sáng tác của James Joyce thể hiện trong “Người
Dublin” gặp gỡ một hướng nghiên cứu văn học ra đời đầu thế kỉ XX _ mỹ học tiếp
nhận. Điều đó gợi ý chúng tôi đưa ra quyết định tiếp cận truyện ngắn James Joyce
dưới ánh sáng của lí luận tiếp nhận. Vấn đề cần được xác định rõ ngay từ khi bắt đầu
là: ở đây chúng tôi sẽ không nghiên cứu lịch sử tiếp nhận “Người Dublin” mà là
nghiên cứu phong cách viết hướng tới người đọc của tác giả “Người Dublin”. Đây là
một nhánh, một hướng của mỹ học tiếp nhận, hướng được nhiều nhà nghiên cứu Việt
Nam và thế giới đánh giá cao hơn so với hướng nghiên cứu lịch sử tiếp nhận.
3.1 Vài nét về mỹ học tiếp nhận
Trường phái Mỹ học tiếp nhận còn được gọi là trường phái Konstanz, do hai
giáo sư của đại học Konstanz (Đức) là Hans Robert Jauss (1921_1997) và Wolfgan
Iser (1926_2007) khởi xướng. Những tiền đề của lí luận tiếp nhận vốn có từ xu
hướng nghiên cứu lấy văn bản tác phẩm làm trung tâm (nghiên cứu bên trong) như
chủ nghĩa hình thức Nga, chủ nghĩa nghĩa cấu trúc… Các nhà hình thức Nga lập luận
rằng hiện thực và tư tưởng được phản ánh trong tác phẩm vốn là vấn đề của sử học,
xã hội học, triết học hay tâm lí học còn tính văn học mới là đối tượng của nghiên cứu
phê bình văn học. Tính văn học, theo họ, là nghệ thuật vận dụng các thủ pháp lạ hóa
ngôn ngữ hàng ngày để đưa vào tác phẩm văn học. Rõ ràng khái niệm “lạ hóa” của
chủ nghĩa hình thức là hướng đến người đọc. Chính sự lạ hóa của nghệ thuật sẽ khơi
gợi cảm xúc thẩm mỹ của người đọc đối với những hình ảnh vốn đã quá quen thuộc
trong cuộc sống.
Đối với chủ nghĩa cấu trúc, tuy quan điểm của mỹ học tiếp nhận là phủ định
nhưng trong đó lại có sự kế thừa. Chủ nghĩa cấu trúc quan niệm tác phẩm văn học là
một văn bản gồm những lời văn được đan dệt lại một cách có nghệ thuật và mỗi
người đọc sẽ có một cách lí giải khác nhau. Đây cũng là một tiền đề của mỹ học tiếp
nhận khi nó rất chú trọng đến vai trò của người đọc. Sang đến chủ nghĩa hậu cấu trúc
thì vai trò của người đọc càng được nhấn mạnh. Người đọc dựa vào cấu trúc nội tại
của tác phẩm để phân giải các tầng bậc ý nghĩa, mở rộng đến vô cùng tận các lớp
nghĩa mà tác phẩm có thể hàm chứa.
Ngoài sự phủ định có kế thừa đối với chủ nghĩa cấu trúc, mỹ học tiếp nhận còn
có sự kế thừa thành tựu của các hệ lí thuyết khác trong đó có hiện tượng học và giải
thích học. Những nhà nghiên cứu theo quan điểm của hiện tượng học cho rằng kết
quả cảm thụ một tác phẩm văn học là do tính ý hướng của người đọc về tác phẩm mà
có. Họ khuyên độc giả khi tiếp cận tác phẩm nên bỏ qua các kiến giải của người khác
để tập trung phát huy tính chủ động sáng tạo của mình trong lí giải và cảm thụ. Công
trình “Tác phẩm văn học nghệ thuật” của nhà hiện tượng học người Ba Lan Roman
Ingarden (1893_1970)có ảnh hưởng nhiều đến các nhà mỹ học tiếp nhận sau này.
Song song đó, giải thích học hiện đại, cụ thể là tên tuổi của Hans Georg Gadamer
(1900_2002) cũng ảnh hưởng rõ rệt đến lí thuyết tiếp nhận. Ông quan niệm ý nghĩa
của một tác phẩm văn học là một quá trình trong đó bao gồm sự cảm thụ, sự tiếp nhận
của các lớp độc giả ở từng thời điểm khác nhau.
Các tiền đề lí thuyết như trên đã tạo điều kiện mở đường cho mỹ học tiếp nhận
ra đời khoảng giữa thế kỉ XX. Tuy cùng là người đặt nền móng cho mỹ học tiếp nhận
nhưng giữa hai vị giáo sư sáng lập, ngoài những quan điểm chung cũng có những
kiến giải riêng tùy theo sở trường và quan niệm của từng người.
Giáo sư Hans Robert Jauss là người khởi xướng đầu tiên của trường phái
Konstanz với tuyên ngôn “Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa văn
học”. Jauss cho rằng các nhà làm lịch sử văn học phải dựa vào lịch sử tiếp nhận bởi
vì ông phân biệt rõ văn bản là do nhà văn sáng tạo ra và chỉ khi nó được người đọc
tiếp nhận thì mới trở thành tác phẩm văn học. Sự tiếp nhận của người đọc là có sáng
tạo chứ không hoàn toàn như ý đồ sáng tác ban đầu của nhà văn. Khái niệm trung tâm
trong hệ lí thuyết của Jauss là “Tầm đón đợi” (horizon of expection). Tầm đón đợi
được hình thành từ những trải nghiệm của người đọc cùng với các đặc điểm tâm lí,
tính cách và cả thời điểm tiếp xúc với tác phẩm. Nhà văn có tài là người có thể ý thức
được Tầm đón đợi của độc giả để kết hợp với ý đồ chủ quan của mình tạo thành tác
phẩm thì mới có được hiệu quả cao từ sự tiếp nhận của người đọc. Jauss gọi đó là “sự
khách thể hóa tầm đón đợi”
Những sự chờ đợi đặc trưng mà tác giả có thể tính đến ở công chúng,
trong trường hợp không có những tính hiệu thể hiện chúng vẫn có thể xác
nhận được nhờ ba yếu tố nêu lên trước một cách chung chung: Đầu tiên là từ
những chuẩn mực đã quen thuộc hoặc từ thi pháp nội tại của thể loại; thứ hai
là từ mối quan hệ ẩn kín đối với những tác phẩm quen thuộc của môi trường
văn học; thứ ba là từ mâu thuẫn giữa hư cấu và hiện thực, chức năng thi
pháp và thực tiễn của ngôn ngữ mà người đọc nhạy cảm thường xuyên có khả
năng so sánh. Yếu tố thứ ba bao gồm cả việc người đọc có thể nhận biết tác
phẩm mới trong tầm đón đợi văn học hẹp hơn hoặc trong tầm nhìn rộng hơn
của kinh nghiệm sống của mình[17]
Một tác phẩm văn học lớn khi ra đời có thể vượt xa tầm đón đợi của độc giả và có
thể bị lớp độc giả đầu tiên khước từ, lạnh nhạt. “ Khoảng cách thẩm mỹ” là khái
niệm Jauss dùng để chỉ “khoảng cách giữa tầm đón đợi có sẵn và một tác phẩm mới
xuất hiện” [20]. Cần một thời gian cho một quá trình tiếp nhận để khẳng định giá trị
thực sự của một tác phẩm văn học. Nếu sự tiếp nhận tác phẩm mới ấy làm “thay đổi
tầm đón đợi” của độc giả thì chính là sự khẳng định tính chất nghệ thuật của tác
phẩm. Trường hợp một tác phẩm ra đời rơi đúng vào Tầm đón đợi của độc giả, được
tiếp nhận nồng nhiệt, dễ dàng ngay thì tác phẩm đó không có giá trị thực sự mà chỉ là
tác phẩm của “nghệ thuật nấu nướng” (culinary art), hay “nghệ thuật giải trí”
(entertainment art). Vốn là một nhà văn học sử, Jauss tập trung vào hoạt động tiếp
nhận trên một bình diện rộng lớn của các giai tầng xã hội hoặc các thời đại khác nhau
trên cùng một tác phẩm văn học, chú ý đến tính tập thể, tính xã hội của hoạt động tiếp
nhận. Vậy, Jauss chính là thiên về nghiên cứu lịch sử tiếp nhận văn học.
Người đồng khởi xướng mỹ học tiếp nhận với Hans Robert Jauss là Wolfgan
Iser (1926_2007) . Giữa hai nhà nghiên cứu có sự thống nhất về quan điểm coi tác
phẩm văn học là sự gặp gỡ giữa văn bản do nhà văn sáng tác ra và sự đọc của độc giả.
Chỉ có qua hành động đọc thì văn bản mới thành tác phẩm.
Nhưng về quan điểm riêng, giữa hai ông có ít nhiều khác biệt. Iser là một nhà lí
luận phê bình, nghiên cứu về tự sự học. Khi khởi xướng mỹ học tiếp nhận, Iser tập
trung vào sự tiếp nhận từ hành động đọc cụ thể với hệ thống lí luận khá chặt chẽ, dễ
thuyết phục. Trong quan niệm của Iser, văn bản tác phẩm khi ra đời không chứa một
ý nghĩa xác định mà có một hiện tượng điều chỉnh, đối thoại. Trong quá trình sáng
tác, nhà văn nghĩ đến một “người đọc tiềm ẩn” và gửi vào văn bản không chỉ có ý đồ
chủ quan mà còn cố ý bỏ nhiều khoảng trống để khơi gợi sự tưởng tượng, đồng sáng
tạo của người đọc. Một văn bản tác phẩm như thế gọi là “văn bản tiềm ẩn” có “kết
cấu vẫy gọi”. Ý nghĩa của tác phẩm sẽ do sự tương tác qua lại giữa văn bản và người
đọc. Người đọc dựa vào các trải nghiệm của bản thân từ cuộc sống, tình cảm, học vấn
…để thâm nhập và mở ra các nghĩa tiềm ẩn mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm. Việc
đọc thật sự là một hoạt động chủ động, tích cực và sáng tạo. Việc đọc không chỉ biến
một văn bản thành một tác phẩm mà còn biến người đọc thành chủ thể sáng tạo. Bản
thân tác phẩm thì cần phải chứa đựng những thủ pháp nghệ thuật có khả năng lôi
cuốn, khơi gợi được sự đồng sáng tạo nơi người đọc.
Đỗ Lai Thúy trong phần giới thiệu bài tiểu luận “Lịch sử văn học như là sự
khiêu khích đối với khoa văn học” của Hans Robert Jauss trên trang Evăn đã kiến giải
quan điểm của Iser về một văn bản có kết cấu vẫy gọi như sau:
_Văn bản phải có những điểm trắng, những điểm chưa xác định, chưa
nói hết, lập lờ, nhiều bè, nhiều tầng bậc tình tiết. Những điểm trắng này sẽ
kích thích người đọc bằng trí tưởng tượng của mình lấp đầy, tức biến văn
bản thành tác phẩm.
_Văn bản vừa phải đáp ứng sự quen thuộc của người đọc, vừa phủ định
nó, để kích thích người đọc tìm hiểu, khám phá văn bản.
_Văn bản phải chứa đựng nhiều dự phóng, những kiến tạo trước để đáp
ứng một loại người đọc nào đó sẽ hình thành trong và sau khi đọc. Đó là
người đọc tìm ẩn.[53]
Về khái niệm “người đọc tiềm ẩn”, Iser cho rằng nó không đồng nhất với bất kì
người đọc có thực nào, nó được tạo ra bởi chính văn bản. Văn bản đóng vai trò chỉ
dẫn người đọc vì nó luôn có khả năng tạo ra các lớp nghĩa liên tục và các lớp nghĩa
ấy đều có mối liên quan với người đọc tiềm ẩn. Dưới sự hướng dẫn của người đọc
tiềm ẩn, người đọc thực thụ sẽ dần bóc tách các lớp nghĩa của văn bản. Tất nhiên
người đọc thực thụ cũng sẽ kết hợp với tính chủ động, sáng tạo và cái nền văn hóa
của mình để mở rộng biên độ nghĩa của tác phẩm.
Trên đây là những khái niệm trung tâm trong lí luận của Iser mà chúng tôi sẽ
vận dụng khi nghiên cứu ý tưởng và lối viết truyện ngắn của James Joyce. Trong bài
viết của mình, chúng tôi không đi khám phá vai trò của người đọc, cũng không tìm
hiểu sự tiếp nhận truyện ngắn của James Joyce qua thời gian như thế nào mà tập
trung khai thác “các khoảng bỏ trống” trong cái “kết cấu vẫy gọi” của các truyện
ngắn, xem đó như là một lối viết của James Joyce nhằm tạo ra epiphany_những
khoảnh khắc bừng ngộ của độc giả về nhân vật của “Người Dublin” cũng như về con
người và thế giới.
3.2 Lối viết khơi gợi epiphany cho độc giả “Người Dublin”
3.2.1 Độc giả và điểm rơi epiphany của nhân vật
Trong các truyện ngắn, tại thời điểm các nhân vật đạt được trạng thái epiphany
thì người đọc cũng bừng sáng cùng với những nhận thức bất ngờ về bản chất con
người và hiện thực cuộc sống. Nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc nhận định: “Tại thời
điểm nhân vật Đốn ngộ (epiphany), độc giả cũng choáng ngợp trước những xúc cảm
thiêng liêng ấy. Bởi đó là căn nguyên của sự sống. Cái có trước mọi ý thức của con
người” [4,207]. Dõi theo quá trình từ không nhận thức đến đột ngột nhận thức của
nhân vật trong suốt chiều dài câu chuyện, người đọc chứng kiến khoảnh khắc
epiphany của nhân vật và từ đó chuyển thành một epiphany cho chính bản thân mình.
Tại các điểm rơi epiphany của nhân vật, người đọc cũng có sự bừng sáng đột ngột
của một epiphany tuy có cùng tâm điểm nhưng lại có biên độ rộng hơn nhiều so với
nhân vật. Trong khi nhân vật có thể epiphany về bản chất của chính mình, góc tối tâm
hồn của của một nhân vật khác hoặc hoàn cảnh không lối thoát của họ thì người đọc
lại có một epiphany sâu rộng hơn. Lẽ tất nhiên, độc giả cũng sẽ epiphany những điều
mà các nhân vật vừa đột ngột sáng tỏ. Ngoài ra, độc giả sẽ còn có cái nhìn sâu hơn
vào hoàn cảnh vào bản chất và cả vào tương lai của nhân vật
Ở các điểm rơi epiphany của nhân vật về một góc khuất mới hé lộ của bản chất,
của cái tôi riêng mình thì người đọc có thể tự động chuyển epiphany ấy thành
epiphany của mình nếu như người đọc có sự đồng cảm, đồng trải nghiệm trong cuộc
sống như chính nhân vật. Các tình huống mà con người trải qua trong “Người
Dublin” không chỉ là những tính huống cá biệt mà có tính phổ quát bởi trong thế giới
rộng lớn này ở đâu mà con người không cần có những lúc tự nhìn sâu vào trong tâm
hồn mình, tự phản tỉnh về giá trị, về sự tồn tại của bản thân mình. Người đọc sẽ bắt
gặp chính mình trong khoảnh khắc một nhân vật nào đó trong “Người Dublin” mặc
khải về cái tôi của họ. Chẳng hạn như một cảm giác cay đắng và uất hận khi nhận ra
mình là “một sinh vật bị phù hoa dẫn dắt và cười nhạo” như nhân vật xưng tôi trong
“Araby”; hay cảm thấy mình không thể thoát khỏi gánh nặng trách nhiệm với gia
đình như Litle Chandle hay Eveline.
Các epiphany về hoàn cảnh cũng vậy. Không chỉ có các nhân vật của “Người
Dublin” trong một phút giây nào đó tự nhận thức được mình là tù nhân không thể
trốn thoát khỏi cuộc sống tù túng, ngột ngạt tối tăm. Ai trong cuộc đời cũng có thể là
nạn nhân bị cầm tù trong chính các thói quen, trong các quan niệm và định kiến của
tôn giáo hay xã hội. Chúng ta có thể không đồng tình thậm chí lên án Mr Duffy trong
“Một trường hợp đau lòng” nhưng trong một thời điểm nào đó của cuộc sống, có khi
chúng ta chợt nhận ra mình cũng ở vào hoàn cảnh như thế và cũng sắp đưa ra một
quyết định như thế. Mr Duffy chắc cũng có những khát khao tình yêu và hạnh phúc
nhưng đã không vượt qua nỗi các định kiến và hoàn cảnh. Khi mọi thứ vuột khỏi tầm
tay, ông rơi xuống một epiphany về hoàn cảnh, ông nhận ra mình đã bị đuổi khỏi bữa
tiệc của cuộc sống, mình sẽ cô độc và sống mòn trong những ngày còn lại. Điểm rơi
epiphany của ông sẽ gợi ánh sáng epiphany trong người đọc để chúng ta có một cái
nhìn thấu suốt hơn và một cách giải quyết vần đề khác hơn. Và có khi, chúng ta tránh
được nỗi ray rứt mà nhân vật đã trải qua.
Tương tự như thế, các epiphany về bản chất con người và thế giới của nhân vật
cũng có thể chuyển thành các kinh nghiệm epiphany của người đọc trong việc quan
sát và nhận xét con người và thế giới mà mình đang tồn tại. Tại điểm rơi epiphany
của nhân vật các cậu bé trong truyện “Chị em gái” hoặc “Một cuộc chạm trán”
người đọc cũng chợt bừng ngộ về bản chất những nhân vật mà các cậu bé có dịp thấu
hiểu. Điểm rơi epiphany của cậu bé trong “Araby” cung cấp cho người đọc một kinh
nghiệm về sự thất vọng, về một thế giới không có chỗ cho những ước mơ, khát vọng
vươn tới cái đẹp, sự thánh thiện. Trong một cuộc sống phủ trùm bóng tối, người ta
thường hướng tới một cái gì tươi sáng, đẹp đẽ để rồi khi bừng ngộ ra mình “là một
sinh vật bị phù hoa dẫn dắt và cười nhạo” sự thất vọng sẽ trở thành cơn uất ức và
giận dữ.
Tóm lại, từ một epiphany của nhân vật, người đọc, thông qua sự đồng cảm có
thể epiphany về bản chất cũng như về hoàn cảnh của mình. Hơn thế nữa, từ epiphany
ấy, khác hơn các nhân vật, người đọc sẽ có một kinh nghiệm trong cuộc sống và nếu
như họ có một bản lĩnh dứt khoát hơn họ có thể giải quyết tốt hơn hoàn cảnh của
mình. Điều này nói lên tầm vóc một James Joyce quốc tế vì tuy sáng tác trên nền
cảnh Dublin nhưng Joyce thật sự chỉ lấy Dublin làm trung tâm để phản ánh một thế
giới rộng lớn hơn, bất kì nơi đâu có cuộc sống ngột ngạt như Dublin, có những con
người quẩn quanh tìm lối thoát và do dự trước khả năng vượt thoát như những người
Dublin này.
Biên độ rộng hơn của các epiphany của người đọc so với nhân vật còn thể hiện
ở chỗ trong khi nhân vật epiphany về hoàn cảnh của mình nhưng chỉ thay đổi nhận
thức mà không thể thay đổi hành động thì người đọc lại có dịp nhìn sâu hơn và xa
hơn vào tương lai của nhân vật. Ở điểm rơi epiphany của từng nhân vật, mỗi người
đọc sẽ có những kinh nghiệm epiphany khác nhau và biên độ dao động cũng tùy
thuộc vào độ từng trải, hoàn cảnh, tâm lí, cá tính của từng người đọc khác nhau.
Những nhân vật như Litle Chandler (Đám mây nhỏ), Eveline (Eveline), Doran (Nhà
trọ), Farrington (Những bản sao) hay Duffy (Một trường hợp đau lòng) có thể
epiphany ra thân phận tù nhân cuộc sống của họ nhưng họ không thể hành động để
thoát khỏi nó. Họ để cho người đọc phải đối diện với một epiphany về cuộc sống
tương lai dằng dặt của họ sau này. Khi Eveline đột ngột thay đổi quyết định, không
chạy trốn cùng Frank ngay trên bến tàu xuất phát thì độc giả có thể nhìn thấy những
ngày tháng sau này cô ấy sẽ tiếp tục sống như thế nào trong hoàn cảnh gia đình, với
trách nhiệm và công việc nhàm chán, khổ sở và còn cả với những dằn vặt, hối hận
dày vò tâm tư nữa.
Epiphany vừa là ý tưởng thôi thúc James Joyce sáng tác vừa là chìa khóa tạo
hứng thú cho độc giả khi tiếp nhận “Người Dublin”. Những dấu hiệu có vẻ tầm
thường, vụn vặt của cuộc sống được Joyce bắt chộp được rồi biến thành tiêu chí sáng
tác của mình để gửi gắm các thông điệp epiphany vào tác phẩm. Rồi từ các epiphany
của nhân vật trong tác phẩm, người đọc đạt được một nhận thức thẩm mỹ đặc biệt –
thẩm mỹ epiphany. Vậy, từ tình huống cuộc sống đến với ý tưởng nhà văn rồi trở
thành điểm rơi epiphany của nhân vật sau đó đến với nhận thức người đọc thật sự là
một quá trình, một liên kết thẩm mỹ. Theo Morris Beja, một giáo sư chuyên nghiên
cứu về tác phẩm của James Joyce tại đại học Ohio thì Epiphany trong các truyện ngắn
của Joyce hướng đến người đọc nhiều hơn là hướng đến nhân vật. Ý kiến này quả
thật rất có cơ sở vì suy cho cùng, nhân vật chính là “con người cụ thể được miêu tả
trong tác phẩm văn học”. Những con người Dublin và rộng hơn nữa là con người
trên thế giới mà tác giả điển hình hóa vào trong tác phẩm của mình đều mang hình
bóng độc giả. Cái bóng của người đọc nghiêng xuống từng ý tưởng epiphany của các
truyện ngắn nói chung và từng nhân vật nói riêng. Tuy nhiên với lối viết “tiết giảm về
nghĩa” nhằm tạo những góc khuất (gnomon), những khoảng trống như “Một lời mời
gọi sự suy ngẫm thông minh của độc giả” (cách nói của Henri Benac) thì epiphany
của nhân vật chưa thỏa mãn yêu cầu nghệ thuật mà nhà văn đặt ra. Cần những
epiphany sâu sắc hơn từ phía người đọc. Đó là động lực thôi thúc James Joyce trong
quá trình sáng tác để ông dụng công tạo ra “kết cấu vẫy gọi” của từng truyện cũng
như của toàn tập truyện.
3.2.2. “Người Dublin” với cách kiến tạo các epiphany hướng về độc giả
Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài nhận định sáng tác của James Joyce là một
quá trình hơn là một kiệt tác tĩnh tại. Joyce sử dụng các epiphany như một yếu tố
tham gia vào quá trình ngôn ngữ tác động đến nhận thức. Epiphany cũng liên quan
đến chức năng của văn học, nó thay cho quá trình truyền tải tri thức một cách giáo
điều bằng sự tự động hóa quá trình đọc. Nó đánh tan các suy đoán theo kiểu thông
thường bằng hiện tượng mặc khải đột ngột.
Epiphany kết nối công việc sáng tác của nhà văn với vai trò của người đọc là
một dấu ấn riêng trong phương pháp hư cấu của James Joyce. Không chỉ có một mình
tác giả xác định ý nghĩa của tác phẩm mà người đọc cũng tham gia một phần quan
trọng vào việc xây dựng ý nghĩa đó. Jacques Lacan (1901_1981), nhà phân tâm học
người Pháp, đã nghiên cứu các sáng tác của Joyce dưới ánh sáng phân tâm học. Ông
cho rằng khi đọc “Người Dublin”, người đọc nên cố gắng phá vỡ cách đọc một văn
bản cố định, bao gồm cả những dự định của Joyce. Sự thật thì có nhiều khoảng trống
trong văn bản cần người đọc lấp đầy. Người đọc có thể sử dụng các cách diễn giải
khác nhau để quan sát những gì đã biết và suy ra những gì chưa biết dựa vào những
gợi ý tiềm ẩn của tác giả. Có nghĩa là người đọc cũng không thể tùy ý diễn giải trái
ngược hoàn toàn với dự định của tác giả mà cần phải lưu tâm những gì văn bản cung
cấp, cộng với những gì xuất hiện trong trí tưởng tượng của mình để hoàn thành các
epiphany. Lối viết của James Joyce là cố ý để trống nhiều khoảng trong văn bản dành
cho trí tưởng tượng của độc giả bằng thủ pháp tạo ra các epiphany cho người đọc.
Cũng giống như cách thưởng thức một bức tranh thủy mặc phương Đông điển hình,
đọc truyện ngắn James Joyce người đọc sẽ bất ngờ đạt được những trải nghiệm thú
vị. Để tạo được sức hấp dẫn cho các truyện ngắn của mình, gợi các epiphany của
người đọc, Joyce thường viết với sự mờ hóa các ý nghĩa, sử dụng hệ thống biểu
tượng phong phú cùng với những dòng độc bạch nội tâm của nhân vật và kết cấu
truyện ngắn của mình theo hình chuỗi epiphany.
3.2.2.1. Kết cấu chuỗi epiphany
Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật, trong đó kết cấu là yếu tố cơ bản
làm nên tính chỉnh thể đó. Theo từ điển thuật ngữ văn học, “kết cấu là phương tiện
cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật có chức năng đa dạng bộc lộ tốt chủ đề tư
tưởng của tác phẩm; triển khai trình bày hấp dẫn cốt truyện, tổ chức điểm nhìn trần
thuật của tác giả tạo nên tính toàn vẹn của tác phẩm như là một hiện tượng thẩm
mỹ” [16]. Trong loại hình tự sự, kết cấu là phương diện phản ánh mối quan hệ giữa
hình thức thẩm mỹ và nội dung phản ánh. Nó thể hiện các thao tác nghệ thuật của nhà
văn khi xây dựng tác phẩm đồng thời được tái hiện trong sự tiếp nhận của độc giả.
Nhà nghiên cứu Lê Thời Tân nêu lên yêu cầu khi phân tích kết cấu của một tác phẩm
văn học chúng ta cần “chú ý tách bạch hai quá trình khác biệt – quá trình sáng tác/
viết tác phẩm và quá trình tiếp nhận/ đọc tác phẩm” [45]. Trong quá trình tiếp nhận,
kết cấu của tác phẩm sẽ được tái phát hiện và dĩ nhiên cái kết cấu tái phát hiện ấy
không hoàn toàn trùng khít với kết cấu mà nhà văn đã xây dựng. Quan niệm này đặc
biệt phù hợp khi tiếp cận các truyện ngắn của James Joyce.
“Người Dublin” là một tập truyện ngắn gồm 15 truyện vừa có tính độc lập vừa
có sự liên kết với nhau về ý tưởng, về chủ đề và về kết cấu nội tại. Người đọc có thể
tiếp xúc tập truyện theo ngẫu hứng không cần theo kết cấu mà Joyce đã sắp xếp một
cách có dụng ý. Dù đọc theo kiểu ngẫu hứng thì bức tranh về cuộc sống và con người
Dublin cũng hiện lên sống động trong các epiphany của người đọc nhưng có lẽ đọc
theo kết cấu toàn tập sẽ mang đến một cái nhìn toàn diện và có hệ thống. Giống như
khi ta quan sát một chuỗi hạt, từng viên đá khác nhau được nhìn dưới góc nhìn và ánh
sáng khác nhau sẽ mang màu sắc khác nhau và khi ngắm cả xâu chuỗi, vẻ đẹp của
chỉnh thể sẽ là sự tổng hòa vẻ đẹp của mỗi đơn vị.Vậy, nếu nhìn tổng thể toàn tập thì
“Người Dublin” có kết cấu hình chuỗi,một chuỗi những câu chuyện trong đó có sự
liên kết chủ đề và liên kết các điểm rơi epiphany của từng nhân vật trong từng truyện.
Nếu khảo sát từng truyện ngắn riêng rẻ thì các truyện ngắn của Joyce mang tính
hiện đại rõ nhất cũng chính là ở lối kết cấu. Truyện bắt đầu với nhân vật, thời gian và
không gian cụ thể và cứ thế diễn tiến theo trình tự tâm lí của nhân vật nhưng điều bất
ngờ cho người đọc là cái kết thúc gần như quay về với sự khởi đầu. Chúng tôi gọi lối
kết cấu này là “kết cấu vòng tròn tâm lí”. Trước hết, đa số truyện ngắn của Joyce
không chú ý đến cốt truyện, đến các xung đột kịch tính mà chủ yếu xoay quanh diễn
biến nội tâm của nhân vật. Nhân vật bước vào thế giới truyện với trạng thái của một
cá nhân bị cầm tù trong xã hội Dublin và loay hoay tìm cách thoát khỏi với bao nhiêu
dằn vặt có lúc gần như là bùng nổ nhưng cuối cùng cũng quay về với trạng thái bất
lực, thất bại của một tù nhân vẫn ở nguyên trong phòng giam chật hẹp của mình. Một
khoảnh khắc epiphany thoáng qua không cứu vãn được tình hình bởi họ bị dìm chặt
trong quán tính, thói quen trong sự sợ hãi mà họ không đủ sức vùng thoát dù có lúc
họ đã kịp nhận thức được hoàn cảnh của mình. Sau nữa, Joyce xây dựng trong khung
trần thuật của mình một không gian thành phố như một nhà tù mang dáng dấp một
mê cung phủ trùm bởi thời gian đêm đầy bóng tối. Trong cái vòng quẩn quanh đó,
nhân vật hầu như không có hoạt động gì khác hơn là đi loanh quanh và chìm đắm vào
dòng nội tâm của chính mình. Những điều đó làm nên một kết cấu vòng tròn của tâm
lí. Không có sự kiện kịch tính, mở đầu và kết thúc vẫn là màu sắc hoài nghi, tuyệt
vọng của nhân vật. Cậu bé trong “Chị em gái” bắt đầu băn khoăn về cái chết của vị
linh mục từ khi ông bị bệnh liệt đến khi ông bị đột quị lần thứ ba và không còn hi
vọng gì nữa. Tâm trạng cậu luôn cố tìm lối thoát khỏi sự ám ảnh nhưng rồi cuối cùng
cái chết của ông không hề mang đến sự giải thoát cho cậu mà vẫn khiến cậu không
nguôi nỗi băn khoăn. Kết thúc truyện không có dấu hiệu nào chứng tỏ cậu đã được
giải thoát khỏi ông và những hoài nghi về con người ông. Cái vòng tròn tâm lí ấy gợi
cho người đọc một epiphany về sự bế tắc của con người trong cuộc sống, trong niềm
tin và cả niềm hi vọng. Các trường hợp khác trong tập truyện cũng bàng bạc những
cảm giác như thế. Tuy nhiên, cái vòng tròn mà James Joyce xây dựng khi đi vào sự
tiếp nhận của người đọc có thể dãn rộng ra hoặc rẽ sang một hướng khác, làm phá vỡ
kết cấu vòng tròn. Đó là khi người đọc trong trường hợp có cùng hoàn cảnh với nhân
vật lại từ kinh nghiệm epiphany trong truyện mà rút ra một cách giải quyết khác cho
cuộc đời mình. Có lẽ, đó là điều nhà văn mong đợi khi chuyển những thông điệp của
mình đến với độc giả.
Tập truyện của James Joyce được chính ông sắp xếp thành bốn phần: ba truyện
về thời niên thiếu, ba truyện về thời thanh niên, năm truyện về cuộc sống trưởng
thành và bốn truyện về đời sống công cộng. Khi khảo sát từng truyện, rồi đến từng
phần và cuối cùng là cả tập truyện, chúng tôi nhận ra những vòng tròn lồng vào nhau,
một số cắt nhau, một số có quan hệ đồng tâm. Thử hình dung để thấy dụng ý kết cấu
của tác giả, từ những vòng tròn tâm lí của tuổi thiếu niên lớn dần lên, mở rộng ra đến
đời sống trưởng thành, đời sống công cộng. James Joyce đã ném một hòn đá xuống
mặt hồ và nó tạo thành những vòng sóng đồng tâm lan rộng ra từng đợt trong tâm hồn
người đọc. Câu chuyện của từng nhân vật xưng tôi trong ba truyện ngắn đầu tiên gợi
lên một epiphany về những thất bại, đúng hơn là sự vỡ mộng của tuổi thiếu thời trong
vòng kìm tỏa của trường dòng, của gia đình và xã hội. Các nhân vật nhỏ tuổi ấy lần
lượt có các điểm rơi epiphany để rồi vỡ mộng về bản chất con người, bản chất cuộc
đời ngay ở ngưỡng cửa bước vào cuộc sống thành niên. Người đọc epiphany được
rằng trong một xã hội thối nát thì ngay cả trẻ con cũng trở thành nạn nhân của tình
trạng thối nát ấy.
Từ tâm lí vỡ mộng đầu đời, các nhân vật bước vào tuổi thanh niên và tuổi
trưởng thành với những trải nghiệm cay đắng hơn về sự bất lực và thất bại của bản
thân trong hoàn cảnh gia đình, trong cuộc sống khốn khổ và trong các định kiến khắt
khe của tôn giáo và xã hội. Chúng ta có thể dõi theo mạch kết cấu từng phần của tập
truyện bước trưởng thành của các cậu bé lớn lên dưới sự ảnh hưởng nặng nề của nền
giáo dục công giáo, tiếp tục gặp nhiều trở ngại và bế tắc trong cuộc sống trưởng
thành. Họ trở thành những Jimmy, Corley, Lenehan, Doran rồi sau đó là Little
Chander, Farrington, James Dyffy…Các thất vọng ngày càng lớn hơn, cay đắng hơn,
những khát vọng tình yêu hạnh phúc nếu từng có cũng bị vùi lấp dần để cuối cùng,
cuộc sống rơi vào một vòng quay vô cảm, tàn nhẫn, vô nghĩa lí. Nếu như những năm
tháng của thời niên thiếu họ còn khát vọng tự do, còn mong chờ vào tình yêu như một
cứu cánh thì khi thành niên khát vọng tự do bị gửi gắm vào cơn vùng vẫy điên cuồng
mà tuyệt vọng còn tình yêu thì biến thành những con tính khô khan, nặng nề, ám ảnh.
Bước sang tuổi trưởng thành, họ càng lún sâu, càng ẩn mình khép kín vào trong thói
quen của gia đình và công việc. Họ chôn vùi các ước mơ, hoài bão và tình yêu bây
giờ hầu như đã chết, đã biến mất như một khái niệm không đáng tin cậy, như một
chén thánh bị vỡ mất từ lâu. Kết cấu của tập truyện định hướng cho người đọc từng
bước tiến vào cuộc đời dài và vô vọng của từng cá nhân người Dublin để từ đó khái
quát lên thành một cuộc sống rộng lớn hơn với nỗi thất vọng ngày càng to lớn, khó
cứu vãn hơn.
Trong bảng phụ lục số 3, chúng tôi thống kê các loại thất vọng mà nhân vật của
“Người Dublin” chạm phải khi ánh sáng epiphany vụt hiện lên trong ý thức của
họ.Theo kết cấu của tập truyện, các nhân vật dần trưởng thành và các thất vọng dần
cũng đến gần ranh giới của sự tuyệt vọng. Ở các truyện ngắn “Đất sét”, “Ngày
Thường xuân trong phòng Hội đồng”, “Một người mẹ” và “Ân sủng” các nhân vật
không có điểm rơi epiphany và vì thế cũng không bộc lộ những nỗi thất vọng về con
người và cuộc sống trong một khoảnh khắc nhận thức và tự nhận thức bất ngờ. Sự
thất vọng của họ ẩn vào trong cách sống mòn mỏi, nhàm chán thường nhật. Có ba
trong số bốn truyện này nằm ở phần đời sống công cộng và từ đó, chúng tôi nhận
thấy ở các truyện thuộc phần này, nhân vật không đạt trạng thái epiphany mà họ chỉ
cung cấp các gợi ý cho những eppiphany của người đọc. Với cái nhìn bao quát toàn
tập truyện, độc giả sẽ có một cảm quan về xã hội Dublin một cách toàn diện.
Điều mà người đọc thâu tóm được qua kết cấu tập truyện là những thất bại, bế
tắc của cá nhân làm hiện ra rõ ràng sự trì trệ, giả dối, thối nát của đời sống cộng đồng.
Và sau hết, cả xã hội Dublin bị khoanh tròn trong cái vòng cuộc sống tù đọng, khiến
con người mất đi khả năng sống có ý nghĩa, sống cho ra sống, thế là họ chỉ còn là
những người sống vật vờ, ám ảnh khôn nguôi, sống như đã chết. Đó chính là
epiphany của người đọc khi bao quát cái kết cấu vòng tròn của toàn tập truyện. Thử
đọc lại hai câu chuyện mở đầu và kết thúc tập “Người Dublin” chúng ta sẽ thấy giao
điểm của đường tròn. Truyện “Chị em gái” hoàn toàn có thể đổi lấy nhan đề “Người
chết”. Có vẻ còn hợp lí hơn vì người chết James Flynn mới là nhân vật chính chứ
không phải hai chị em gái của ông. Trong khi đó, “Người chết” ở cuối tập truyện
xoay quanh bữa tiệc ở nhà hai chị em Mokan. Vậy thì hai truyện này nếu muốn,
người đọc có thể hoán đổi tựa đề cho nhau. Thêm nữa, truyện “Chị em gái” bắt đầu
với hình ảnh cậu bé xưng “tôi” đứng bên ngoài nhìn vào cửa sổ tưởng tượng về ông
linh mục đã chết vì tê liệt ở trong nhà; kết thúc truyện “Người chết”, Gabriel đứng
bên cửa sổ nhìn ra ngoài nghĩ về những người chết trong đó có cậu thanh niên
Michael Furey đã chết vì tình yêu với vợ mình. Khép lại vòng tròn “Người Dublin”,
James Joyce mở ra một lời kêu gọi sự suy tư của độc giả về một cuộc sống với những
ám ảnh, một cuộc sống mở đầu và kết thúc với những người chết, những người chết
len lỏi, đi vào trong thế giới những người đang sống. Từ kết cấu tập truyện, người
đọc sẽ nhận thức sâu sắc cuộc sống trong mê cung không lối thoát của những cư dân
Dublin và rút ra một kinh ngiệm cho cuộc sống của chính mình, của cộng đồng mình.
Kết cấu vòng tròn tâm lí của “Người Dublin” gợi lên trong người đọc epiphany
về một cuộc sống ngưng trệ, tù đọng, quẩn quanh mà không có lối thoát cho bất kì ai.
Kiểu kết cấu này là một dụng công của James Joyce, vừa thể hiện một lối viết hiện
đại vừa tạo cơ hội khơi gợi hiện tượng epiphany của người đọc. Nó nằm trong ý đồ
sáng tác của nhà văn nhằm thức tỉnh tinh thần dân tộc mình và có lẽ sâu xa hơn thế là
một lời kêu gọi thức tỉnh giữa một thế giới ngày càng trở thành mê cung giam hãm
con người trong các đường ngang rẽ dọc của những lo toan, hoài nghi và tuyệt vọng.
3.2.2.2 Sử dụng các biểu tượng đa dạng
Bên cạnh việc kết cấu chuỗi epiphany, truyện ngắn của James Joyce còn có
sức hấp dẫn từ hệ thống biểu tượng được sử dụng hết sức tinh tế, phong phú và đầy
sức gợi. Việc sử dụng biểu tượng trong văn học nghệ thuật là thủ pháp quen thuộc
của các nhà nghệ sĩ nhằm tạo ra sự biểu hiện nhiều tầng bậc ý nghĩa. Với một biểu
tượng cụ thể, nhà văn có thể gợi lên trong tư tưởng người đọc nhiều liên tưởng, tưởng
tượng. Biểu tượng giúp cho sự diễn đạt thêm hàm súc, đa nghĩa, đa tầng nên nó là
dấu hiệu thể hiện ý tưởng và tài năng của nhà văn. Sử dụng biểu tượng là một trong
những biệt tài của James Joyce để xây dựng những tác phẩm dành cho một hoạt động
đọc chủ động và sáng tạo. Đồng thời, việc khám phá những lớp nghĩa đằng sau biểu
tượng là điệu kiện cho một epiphany xuất hiện. Sử dụng biểu tượng là một trong
những thủ pháp có thể khơi bùng lên nhiều tia sáng epiphany nơi người đọc.
Tự điển văn học định nghĩa “Biểu tượng là một phương thức chuyển mã của lời
nói, có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng
nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con
người và cuộc đời”[16] . Có thể hiểu một cách đơn giản biểu tượng gồm cái biểu
trưng và cái được biểu trưng. Cái biểu trưng là một sự vật cụ thể đại diện cho cái
được biểu trưng; là một ý tưởng trừu tượng, chẳng hạn như chim bồ câu trong Kito
giáo là biểu tượng của Chúa Thánh Thần, trong nền văn hóa nhân loại nói chung nó
là biểu tượng cho hòa bình. Trong “Người Dublin”, Joyce sử dụng những biểu tượng
thuộc nhiều lĩnh vực như tôn giáo,dân tộc, văn hóa, nghệ thuật…rất phong phú. Đó là
những cái biểu trưng được Joyce đưa ra nhằm mục đích gợi các epiphany của người
đọc về những đều mang ý nghĩa sâu sắc hơn trong cuộc sống. Các biểu tượng ấy cũng
thể hiện đặc trưng văn hóa xã hội của đất nước Ai-len đồng thời như một yếu tố nghệ
thuật, nó cũng thể hiện quan niệm của James Joyce về con người và cuộc đời.
Các biểu tượng xuất hiện nhiều nhất trong các truyện ngắn của Joyce chính là
các biểu tượng tôn giáo. Điều này là phản ánh tất nhiên của một nhà văn được giáo
dục từ nhỏ trong các trường dòng uy tín nhất ở Dublin. Hơn thế nữa, vấn đề tôn giáo
là một trong những ẩn ức suốt thời kì James Joyce nuôi khát vọng thoát ly để trở
thành nghệ sĩ, khi đi vào truyện nó phục vụ cho đề tài tôn giáo - một trong các đề tài
xuyên suốt “Người Dublin”. Biểu tượng tôn giáo là các hình ảnh, các bí tích, các sự
vật và khái niệm đại diện cho một tôn giáo nào đó. Trong truyện ngắn của Joyce đó là
các biểu tượng Kito giáo.
Rất dễ nhận ra các tên gọi của nhân vật như Maria, Michael, Gabriel và cả
Eveline ( biến thể của Evy- eva) là các tên thánh. Không chỉ là tên gọi, các nhân vật
này còn mang đặc điểm nào đó tương đồng với vị thánh mà mình mượn tên. Maria
được cho là “một nhà hòa giải”, là một trong các phước lành (beatitudes- blessed),
một tính từ đi liền với Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, bà cũng là người phụ nữ độc thân
nhưng có hai con nuôi mà một trong hai là người mà bà đi thăm vào đêm lễ
Halloween. Michael Furey trong “Người chết” cũng xuất hiện dưới một tán cây như
dấu hiệu xuất hiện của thánh Michael, vị thánh bảo trợ con chúa trên trái đất, chống
lại điều xấu và chăm lo linh hồn những người đã chết. Gabriel, mang tên của vị sứ
thần truyền tin của chúa. Thánh Gabriel trong kinh thánh xuất hiện báo tin cho Trinh
nữ Maria, ông đến cùng với hoa Lyly, loài hoa tượng trưng cho sự trong trắng, thánh
thiện của Đức Mẹ. Trong “Người chết” nhân vật Gabriel đến và nhận ngay sự đón
tiếp của Lyly, con gái người gác cửa. Có thể xem cô cũng là một biểu tượng. Nhân
vật Eveline (Evy) hiện lên trong truyện với rất nhiều dấu hiệu mang tính biểu tượng.
Khu đất hoang mà cô cùng các bạn chơi đùa thời thơ ấu, thuở còn sung sướng tượng
trưng cho Vườn địa đàng. Người cha thường đuổi bọn cô ra khỏi khu đất vui vẻ đó
với chiếc roi mận gai. Chiếc roi ấy được cho là biểu tượng của con rắn đã xui Eva ăn
trái cấm dẫn đến việc bị đuổi khỏi địa đàng, bắt đầu cuộc sống đọa đày trả giá cho tội
lỗi.
Ngoài các nhân vật mang tên thánh, trong “Người Dublin” còn có các biểu
tượng như chén thánh, đất sét, thánh lễ ân sủng… các biểu tượng tôn giáo tạo nên
tính liên kết chủ đề trong toàn tập truyện và thường gợi các epiphany nơi nhân vật và
người đọc. Chiếc chén thánh mà cha James Flynn làm vỡ trong “Chị em gái” mang
đến cho người đọc một mặc khải bất ngờ về tội lỗi. Mẫu đất sét mà Maria bắt được
trong trò chơi cho người đọc epiphany về cái chết. Hình ảnh Michael Furey trong tâm
trí Gretta dập tắt khát vọng trong lòng Gabriel gợi một epiphany về sự ám ảnh bao
trùm của thế giới người chết lên những người đang sống. Hình ảnh Eveline bị đuổi
khỏi trò chơi vui vẻ thời thơ ấu cho một epiphany về cuộc đời sớm giã từ niềm vui,
hạnh phúc của cô. James Joyce không trình bày, thuyết minh cho những mặc khải
này. Ông chỉ âm thầm để ra một khoảng lặng đằng sau các biểu tượng tôn giáo để cho
người đọc tự có những epiphany. Tuy nhiên, đó là dụng ý của tác giả, để nắm bắt
được dấu hiệu này người đọc cần có một số hiểu biết về tôn giáo, ở đây là Kito giáo.
Garry M. Leonard cho rằng “điều tác giả dự kiến để lộ Garry M. Leonard có thể
không chắc chắn với người đọc, những đầu mối cung cấp có thể bị thiếu, có thể gây
khó hiểu hoặc thậm chí không gợi được gì cho người đọc”[71]. Đây là điều khó khăn
và cũng là điều thú vị khi trải nghiệm epiphany trong “Người Dublin” của James
Joyce.
Nếu như các biểu tượng tôn giáo có thể gây khó hiểu, làm hạn chế epiphany ở
một bộ phận độc giả thì cách thức sử dụng biểu tượng lại dễ dàng gợi epiphany cho
người đọc về quan niệm của nhà văn trước vấn đề tôn giáo. Các biểu tượng tôn giáo
được James Joyce đưa vào truyện ngắn của mình với một giọng điệu rất riêng. Giọng
điệu ấy có thể tiết lộ cho người đọc một số epiphany về thái độ của nhà văn đối với
vấn đề tôn giáo đang chi phối xã hội Dublin.
Giọng điệu trong tác phẩm văn học vốn là yếu tố rất đặc trưng thể hiện thái độ,
tư tưởng, vị thế, phong cách của tác giả. M.Khrapchenco quan niệm rằng “cái quan
trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính
mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một con người nào khác” [27,90].
Thật vậy, không ít các nhà văn sử dụng biểu tượng tôn giáo trong tác phẩm của mình
nhưng James Joyce có cách vận dụng rất độc đáo và độc đáo hơn cả là giọng điệu của
ông, giọng điệu theo chúng tôi lắng nghe đó là sự giễu nhại. Ông xây dựng một Maria
với tên và đặc trưng giống Đức Mẹ nhưng lại miêu tả chân dung Maria giống như
một phù thủy với “một cái mũi vô cùng dài và một cái cằm vô cùng dài”,một cơ thể
nhỏ xíu và khi bà cười thì mũi bà gần chạm cằm, một hình ảnh rất giống các mụ phù
thủy. Hơn nữa bà lại ra đường vào đêm Halloween như các mụ phù thủy trong truyền
thuyết. Thật là bi hài, nếu không nói là báng bổ khi một Maria (Đất sét) lại giống một
phù thủy! Các biểu tượng khác cũng bị giễu nhại như thế. Gabriel (Người chết) thì
ngay từ đầu đã bị Lyly làm cho sượng sùng, Michael (Người chết) thì đã chết bi
thương, khu đất hoang tượng trưng cho Vườn địa đàng cũng bị một người đàn ông từ
Belfast mua lại để xây những ngôi nhà xa lạ, chén thánh cũng bị đánh vỡ… tất cả đều
gợi những epiphany về sự mất lòng tin, sự suy sụp các biểu tượng thiêng liêng, Chúa
đã ở đâu giữa cuộc đời tối tăm, khốn khổ và tuyệt vọng của con người? Cái nhìn ngờ
vực của chàng trai trẻ James Joyce từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sau nhiều trải
nghiệm đã trở thành một quan niệm được bộc lộc rõ ràng trong các sáng tác đầu tay
này.
Bên cạnh vấn đề tôn giáo, vấn đề dân tộc cũng là một chủ đề chính của “Người
Dublin”. Vì vậy mà các biểu tượng của chủ nghĩa dân tộc Ailen xuất hiện rất phong
phú trong cả chiều dài tập truyện. Biểu tượng dân tộc xuất hiện và gợi nhiều suy nghĩ
của cả nhân vật và người đọc chính là biểu tượng người anh hùng Charles Parnell, thủ
lĩnh phong trào dân tộc được nhân dân tôn sùng như một “Đức vua không ngai của
Ailen”, người duy nhất có thể thắp lên tia sáng cho một Ailen độc lập thời bấy giờ và
cũng là nạn nhân của các thủ đoạn chính trị khiến sự nghiệp của ông và dân tộc ông
phải sụp đổ. Truyện “Ngày Thường Xuân trong Phòng Hội Đồng” là một truyện
ngắn thuộc nhóm truyện về đời sống cộng đồng với chủ đề chính trị phản ánh tình
hình chia cắt trong nội bộ các phe phái Ailen dân tộc và Ailen bảo thủ. Câu chuyện
xoay quanh một ngày của những thành viên đi vận động phiếu bầu cho một đại biểu
dân tộc trong cuộc Bầu cử hội đồng thành phố. Chủ đề chính trị được họ đưa ra bàn
luận suốt trong buổi chiều mưa gió trói chân họ trong Phòng Hội Đồng. Đó là ngày
Thường Xuân (Yvy day), ngày 6 tháng 10, ngày kỉ niệm Parnell. Ngày hôm ấy, các
thành viên của Đảng dân tộc Ailen cài lên ve áo chiếc lá thường xuân để tưởng nhớ
Parnell. Từ thời gian đến chiếc lá và tên tuổi Parnell đều có tính biểu tượng. Nhưng
các biểu tượng ấy như chìm khuất, lu mờ trước những lo toan về tiền công về sự giả
dối của các ứng cử viên hội đồng, chuyện thái tử Anh sắp sang thăm Ailen. Tất cả mớ
chỉ rối bao quanh biểu tượng dân tộc ấy đưa người đọc đến một epiphany về tình hình
chính trị thối nát, chỉ còn trong những lời tán dương giả dối, hời hợt. Người ta ca
ngợi Parnell, bàn bạc ra vẻ sôi nổi nhưng thực sự trong nội tâm họ chỉ ngay ngáy lo
khi nào mới được trả tiền và khi nào có bia để uống. Biểu tượng anh hùng của Parnell
chỉ còn là một hình bóng mờ nhạt, chìm khuất giữa bao toan tính của cuộc sống đói
khổ, tối tăm, giả dối.
Một nhân vật cũng mang tính biểu tượng dân tộc đó là Kathleen Kearney trong
truyện “Một người mẹ”. Cô không chỉ có cái tên trùng với Kathleen Ni Houlihan,
biểu tượng truyền thống của lòng yêu nước Ai-len mà cô còn được đào tạo để có khả
năng chơi các bản nhạc dân tộc. “Chẳng mấy chốc cái tên Kathleen Kearney bắt đầu
được người ta nhắc đến thường xuyên. Họ nói cô rất có tài âm nhạc và là một cô gái
ngoan ngoãn và, hơn nữa, cô còn là người ủng hộ phong trào khôi phục ngôn ngữ
truyền thống” [25,253]. Kathleen là một biểu tượng được dựng lên một cách có dụng
ý, một biểu tượng mờ nhạt, thiếu sức sống luôn chịu sự chi phối của người mẹ. Từ cái
tên cô đến tài năng của cô đều bị lợi dụng cho những thủ đoạn mưu cầu danh tiếng
hoặc tiền bạc. Biểu tượng ấy nhanh chóng sụp đổ khi nó vừa được dựng lên không
lâu bởi tham vọng của con người không dễ che giấu khi gặp phải tình huống ảnh
hưởng đến quyền lợi của nó. Người đọc nhận ra cái tên và hình ảnh Kathleen chỉ là
một tấm áp phích màu mè cũng như buổi hòa nhạc mà cô tham gia hay phong trào
phục hưng ngôn ngữ dân tộc. Buổi hòa nhạc thì thật thảm hại còn phong trào phục
hưng dân tộc cũng chỉ làm được tới việc người ta chào nhau bằng tiếng Ai-len hay
gửi cho nhau những tấm bưu thiếp Ai-len. Tính chất hình thức, cải lương, nữa vời
hiện rõ lên khi độc giả epiphany về bản chất biểu tượng của Kathleen.
Biểu tượng dân tộc không chỉ nằm trong tạo hình các nhân vật mà còn ở các chi
tiết nghệ thuật trong truyện, những chi tiết nhỏ nhặt, vụn vặt nhưng có sức gợi
epiphany khá lớn. Chúng tôi muốn nhắc đến các trò chơi được tổ chức, diễn biến và
kết thúc mang dáng vẻ của một biểu tượng dân tộc trong bối cảnh phong trào đấu
tranh đòi độc lập từ Anh của người Ai-len. Trước hết đó là cuộc chơi bài của Jimmy
với ba người nước ngoài, một người Anh, một người Pháp, một người Mỹ. Kết quả
ván bài đó phần thắng thuộc về người Anh; người Ai-len _ Jimmy thì thảm bại. Ván
bài bình thường giữa các chàng trai trẻ trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh giữa
lúc các nước đế quốc hùng mạnh vẫn đang tìm cách chế ngự các thuộc địa của mình
và các phong trào đấu tranh đòi độc lập theo khuynh hướng cách tân dân tộc đang
rầm rộ nhưng thực chất chỉ có cái hình thức là có thể dùng để đánh lừa mọi người.
Một cuộc chơi khác cũng được James Joyce hé lộ tính biểu tượng của nó đó là cuộc
vật tay giữa Farrington với một người Anh trong quán rượu, kết quả hiển nhiên của
nó là Farrington thất bại. Trước đó, các bạn của Farrington phải cầu cứu đến cơ bắp
to khỏe của Farrington để cứu lấy thể diện quốc gia vậy mà Farrington lại “bị đánh
bại hai lần chỉ bởi một gã oắt con” và làm “mất danh tiếng người đàn ông khỏe
nhất” của mình. Farrington, biểu tượng của một Ai-len thất bại nhưng vẫn luôn ảo
tưởng về sức mạnh của mình. Trong tâm trí anh ta, Weater, chàng người Anh kia chỉ
là một kẻ ăn chực đã làm tốn nhiều tiền của Farrington cho những chổ rượu xa xỉ của
anh ta. Cái vẻ khỏe khoắn, hào phóng, tưng bừng cuối cùng cũng bị lột bỏ để trưng ra
bộ mặt sưng sỉa của kẻ nghèo khó, thất bại từ trong các khát vọng và ảo tưởng ngông
cuồng của mình.
Biểu tượng dân tộc thường được các nhà văn thể hiện một cách trang trọng,
thành kính, thiêng liêng nhưng trong các truyện ngắn của mình, James Joyce lại xây
dựng những biểu tưởng với vẻ sa sút, méo mó thảm hại như vậy. Dễ hiểu khi có thời
người ta coi ông là đứa con phản bội của đất nước Ailen. Ông đã quay lưng lại với Tổ
quốc mình, là một nhà văn từ chối công việc phục hưng ngôn ngữ dân tộc và còn có
những lời cay độc
Tổ tiên tôi đã vứt bỏ ngôn ngữ của mình để nhận lấy một ngôn ngữ
khác…Họ đã để cho một nhúm ngoại bang đè đầu cưỡi cổ họ. cậu nghĩ rằng
tôi sẽ đem cả cuộc đời và con người tôi ra để trả những món nợ mà họ đã
mắc hay sao?” [24,343], “Tôi sẽ không phục vụ cái mà tôi không tin tưởng
nữa dù cho nó tự mệnh danh là gia đình, tổ quốc hay nhà thờ giáo hội của
tôi: và tôi sẽ tự gắng biểu lộ con người của tôi qua một lối sống hay một nghệ
thuật nào đó càng tự do bao nhiêu, càng trọn vẹn bao nhiêu thì càng hay bấy
nhiêu, và chỉ dùng những vũ khí mà tôi tự cho phép sử dụng để tự vệ - yên
lặng, lưu đày, khôn khéo” [24,420].
Joyce đã thực hiện tuyên bố của mình bắt đầu từ việc từ bỏ tôn giáo truyền
thống của gia đình, đứng ngoài phong trào dân tộc và sau đó là cuộc sống ly hương.
Nhưng có lẽ không ai hiểu Ailen, không ai đau đáu với hiện trạng đất nước như
James Joyce. Chính vì vậy mà ông cố lôi ra kì hết những tồn tại, những thối nát của
xã hội Ailen cho đồng bào mình nhận rõ và ý thức được họ đang sống trong một ao tù
như thế nào. Hiện thực chua xót còn hơn là sự giả dối ngọt ngào, lừa mị, ru ngủ con
người trong thất bại. Quan niệm của James Joyce có phần gặp gỡ đại văn hào Trung
Quốc, Lỗ Tấn (1881-1936), người sống và sáng tác cùng thời với James Joyce ở một
đất nước cách xa Ailen nhưng đang có hoàn cảnh gần giống như Ailen thời bấy giờ.
Lỗ Tấn cũng không lẫn tránh mà cố gọi cho đúng tên, kê cho đúng bệnh của quốc dân
đồng bào ông, chứng bệnh làm cho xã hội Trung Quốc trở thành một thuộc địa lạc
hậu, què quặt, lụn bại. Với những tác phẩm của mình, hai nhà văn này đều có mong
muốn đồng bào mình nhìn rõ bản chất của chính mình, của xã hội, đất nước mình như
một con bệnh cần biết rõ bệnh trạng của mình và không từ chối loại thuốc phù hợp dù
cho nó có đắng xé lòng.
Cũng như biểu tượng tôn giáo, biểu tượng dân tộc trong “Người Dublin” đưa
người đọc đến những epiphany về tình hình chính trị, xã hội, về phong trào dân tộc
đang rầm rộ ở Ai-len và còn về cái nhìn của nhà văn với vấn đề dân tộc ở đất nước
mình. Các biểu tượng xuất hiện rất nhiều trong “Người Dublin”, ngoài hai loại biểu
tượng nổi bật là tôn giáo và dân tộc còn có các biểu tượng không gian, thời gian, màu
sắc…Nhờ các biểu tượng, James Joyce có thể gợi ra những ý nghĩa vượt ra ngoài sự
diễn đạt trên bề mặt và cả bề sâu của văn bản. Chẳng hạn, những màu nâu thường
được Joyce dùng để miêu tả nhà cửa, đường phố và hình ảnh ấy khi đến với người
đọc nó trở thành một biểu tượng để epiphany về cuộc sống của các cư dân Dublin,
màu của đất cày sẽ gợi lên sự khiêm nhường và nghèo khó. Đây là con phố nơi cậu
bé trong “Araby” sinh sống, hình ảnh tiêu biểu của Dublin
North Richmond, phố cụt, là một phố vắng lặng, chỉ trừ đến giờ trường
Christian Brother giải phóng bọn con trai. Một ngôi nhà hai tầng bỏ hoang
nằm ở góc phố, xây tách khỏi nhà hàng xóm trên một khoảnh đất vuông.
Những ngôi nhà khác trong phố, ý thức được về những nhân vật đáng kính
bên trong, điềm tĩnh đứng ngắm nhìn mặt tiền màu nâu của nhau [25,64].
Khu phố mà Eveline sống, cũng gồm những ngôi nhà màu nâu nhỏ bé, khiêm
nhường như thế. Đó là nơi của những con người Dublin nghèo khổ, nghèo cả những
ước mơ. Màu nâu trở thành một biểu tượng ám ảnh của đời sống chật chội, túng
quẫn, lặng lẽ và tê liệt. Màu nâu còn được chuyển hóa vào đặc điểm của nhân vật để
tăng tính ám ảnh của một biểu tượng. Nhân vật James Duffy được miêu tả “Mặt ông,
mang toàn bộ câu chuyện cuộc đời ông, có màu nâu của những con phố Dublin”
[25,200]. Cái màu của cuộc sống tồi tàn, tăm tối ám vào gương mặt cuộc đời của các
cư dân Dublin và theo họ trong suốt những cuộc hành trình quẩn quanh, bế tắc. Trong
truyện “Người chết”, biểu tượng màu nâu đã được Joyce dùng làm tên cho một nhân
vật, ông Brown, người có mặt suốt ở nhà Mokan, gắn lì như đường gas khiến một
trong các nữ chủ nhân có lúc phải thốt lên “Brown ở khắp mọi nơi” với một giọng
điệu thật mỉa mai. Nhân vật vật này cùng với cái tên mang tính biểu tượng của ông ta
đã làm cho nhiều người chán ngán mệt mỏi mà vẫn phải cố tỏ ra lịch sự. Trong khi
đó, màu vàng lại được Joyce sử dụng khi nói đến các quyển sách truyện hay sách
kinh cũ, những bức ảnh linh mục ố vàng với thời gian. Màu vàng ấy theo tự điển biểu
tượng nó tượng trưng cho sự mục nát, tình trạng suy tàn, tuổi già và sự gần kề với sự
chết dần chết mòn. Màu sắc mang tính biểu tượng trong “Người Dublin” gợi nhiều
epiphany về đời sống, tôn giáo…tất cả là sự trì trệ, tàn lụi, hao mòn sức sống. Bóng
tối trong không gian mê cung của thành phố mà chúng tôi đã phân tích ở chương hai
cũng mang ý nghĩa biểu tượng_ một không gian sống của “Người Dublin”, biểu
tượng của nhà tù cuộc sống. Trong cái không gian chung ấy, những khung cửa sổ lại
là một biểu tượng khác, nó tượng trưng cho cuộc sống thiếu tự do và khát vọng tự do
của con người đang sống trong đó. Các nhân vật như Gabriel, Eveline, cậu bé trong
“Araby” thì từ cửa sổ của một không gian chật hẹp nhìn ra bên ngoài với khát vọng
tự giải thoát mình khỏi sự tù túng; còn cậu bé trong “Chị em gái” thì từ bên ngoài
nhìn vào khung cửa sổ phòng Cha Flynn vì ở bên trong ấy đang có người sắp chết vì
tê liệt và cậu có thể được giải thoát khỏi một tương lai tê liệt từ cái chết ấy.
Mọi chi tiết trong truyện ngắn của James Joyce đểu có ý nghĩa sâu sắc hơn
những gì nó thể hiện trên bề mặt ngôn ngữ. Biểu tượng góp phần xây dựng các tầng
sâu ý nghĩa và nó sẽ đột ngột mở ra với người đọc nhờ các epiphany. Hay có thể nói
rằng sử dụng các biểu tượng nằm trong chiến lược trần thuật nhằm khơi gợi các
epiphany từ độc giả, kích thích óc tưởng tượng để người đọc luôn trong quá trình
đồng sáng tạo với nhà văn. Thế giới biểu tượng trong 15 truyện ngắn của James
Joyce là vô cùng phong phú mà trong phần viết này chúng tôi chỉ mới khảo sát một
số biểu tượng tiêu biểu. Vấn đề vẫn còn sức hấp dẫn khá lớn nếu chúng tôi tiếp tục
hướng nghiên cứu tác phẩm của Joyce nói chung và truyện ngắn nói riêng theo hướng
mở dần các lớp biểu tượng.
3.2.2.3. Thủ pháp bỏ trống, che mờ các chi tiết trong truyện.
Chi tiết trong giới hạn tối thiểu có thể là một phần rất nhỏ liên quan đến nội
dung tác phẩm văn học. Chi tiết có thể là một nét chân dung, một hành động, cử chỉ,
lời nói của nhân vật hay một hình ảnh thiên nhiên…Dù chỉ là một phần rất nhỏ nhưng
lại rất quan trọng trong việc dẫn dắt câu chuyện, tô đậm tính cách nhân vật, thể hiện
chủ đề, tư tưởng, dụng ý của nhà văn khi sáng tác đồng thời cũng thu hút sự chú ý
của người đọc khi tiếp cận tác phẩm. Các nhà văn khi viết luôn chú ý xây dựng
những chi tiết đặc sắc, gửi gắm vào trong đó những ý tưởng nghệ thuật tinh tế khơi
gợi nhận thức và tình cảm của độc giả. Tác phẩm hấp dẫn thường có những chi tiết
bất ngờ, thú vị tạo sự thay đổi mạch truyện kích thích hứng thú của người đọc. Có
những câu chuyện khi khép lại rồi vẫn đọng lại trong tâm trí người đọc những chi tiết
đặc sắc, ám ảnh. Các tác giả của chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX rất coi trọng các chi
tiết trong tác phẩm. Các chi tiết thường bám sát đời sống nhằm vẽ nên bức tranh hiện
thực sinh động nhất trong tác phẩm. Honore dơ Banzac là một trong những nhà văn
hiện thực bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, ông cũng là cây bút bậc thầy trong việc
xây dựng các chi tiết nghệ thuật chân thực, phong phú và sắc nhọn làm cho bộ “Tấn
trò đời” của ông trở thành bức tranh hoành tráng về đời sống hiện thực nước Pháp
thế kỉ XIX.
Bước sang thế kỉ XX, các nhà văn Hiện đại chủ nghĩa với một lối viết hoàn toàn
mới, chống lại chủ nghĩa hiện thực truyền thống trên nhiều phương diện của tự sự.
Các tác phẩm thời này không còn chú trọng cốt truyện, kéo theo chi tiết truyện cũng
được đơn giản hóa. Nhà văn không cố gắng khắc họa các chi tiết sao cho thật sắc nét,
sinh động mà ưa chuộng lối phác họa, miêu tả các chi tiết ở mức độ như chạm nhẹ
vào đối tượng để dành phần còn lại cho sự tưởng tượng của độc giả. Rất nhiều cây
bút hiện đại sử dụng thủ pháp mờ hóa từ cốt truyện, kết cấu, nhân vật cho tới chi tiết
truyện. Các chi tiết thay vì được khắc họa đậm nét lại bị cố tình bỏ trống hoặc bị che
mờ, lấp lửng tạo ra tình trạng khả nghi hoặc bất khả tri về nhân vật, sự việc và cả ý
nghĩa truyện. Một nhà văn cùng thời với James Joyce, Fanz Kafka(1883_1924),
người Tiệp Khắc cũng rất nổi tiếng với lối viết khơi gợi nhiều kiến giải khác nhau từ
độc giả. Nếu độc giả thử đọc lại tác phẩm Kafka nhiều lần với nhiều quan điểm khác
nhau thì sẽ có những cách hiểu và giải thích khác nhau. Điều đó là do thế giới biểu
tượng đa nghĩa và mơ hồ, những đoạn kết có nhiều cách hiểu mà Kafka đã xây dựng
trong tác phẩm của mình. Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng đặt tác phẩm
Kafka dưới nhiều ánh sáng phê bình khác nhau sẽ nhận ra nhiều ý nghĩa khác nhau.
Với những nhà văn như James Joyce, Franz Kafka, vấn đề tiếp nhận sẽ còn thay đổi
theo thời gian. Điều đó phần lớn là do lối viết của họ.
Là nhà văn tiên phong của chủ nghĩa hiện đại, James Joyce ngay từ những sáng
tác đầu tay đã áp dụng thủ pháp mờ hóa vốn rất phù hợp với mục đích kêu gọi sự
đồng sáng tạo từ độc giả. Truyện ngắn của ông đầy các khoảng trống cần người đọc
hợp sức lấp đầy. Các khoảng trống mời người đọc tham gia vào quá trình đọc để họ
điền một số điều từ trí tưởng tượng của mình để xây dựng ý nghĩa câu chuyện. Lối
viết tạo góc khuất (Gnomon) trong “Người Dublin” được kiến tạo từ nhiều yếu tố,
phương diện trong đó có thủ pháp mờ hóa hoặc bỏ trống các chi tiết. Đó có thể là các
chi tiết về nhân thân của nhân vật, các khoảng trống, lấp lửng không rõ ý trong lời đối
thoại của nhân vật và một số sự việc xảy ra mà không có nguyên nhân hay kết quả.
Trong ba truyện ngắn đầu tiên “Chị em gái”, “Một cuộc chạm trán”, “Araby”
các chi tiết về nhân thân của nhân vật đã bị xóa mờ khiến cho người đọc cẩn thận
không tránh khỏi thắc mắc. Đầu tên cả ba nhân vật trung tâm của ba truyện ngắn này
đều không có tên. Họ là những nhân vật trần thuật xưng tôi và trong quá trình câu
chuyện dù họ không ít lần đối thoại với các nhân vật khác nhưng không lần nào tên
riêng của họ được ai gọi đến. Các nhân vật khác khi trò chuyện cùng họ, thậm chí khi
cần gọi cũng toàn dùng các đại từ thay thế như “nhóc”, “thằng bé”.Rõ ràng nhà văn
đã không quan tâm hoặc cố tình quên đặt tên cho nhân vật nhỏ tuổi của mình. Thêm
nữa, ba cậu bé xưng tôi này không được giới thiệu gì về gia đình với cha mẹ, anh em.
Họ sống với “bác” của mình và không có gì hé lộ về nhân thân của họ cả. Các tiết bị
mờ hóa này cung cấp cho người đọc những epiphany về sự tồn tại như những chiếc
bóng mờ của con người trong một xã hội bị tôn giáo ám ảnh, che mờ cá tính, tư tưởng
và vai trò của gia đình trở nên không còn quan trọng trước vai trò dẫn dắt tinh thần
của nhà thờ. Ta thấy các nhân vật nhỏ tuổi này có mối quan hệ, có sự ảnh hưởng từ
trường Dòng, với các thầy cũng là các linh mục rõ rệt hơn là với người thân trong gia
đình, kể cả cha mẹ.
Ngoài các chi tiết về nhân thân của nhân vật bị bỏ sót hoặc bị che mờ, trong
“Người Dublin” còn rất nhiều những đoạn đối thoại kiểu lấp lửng, mơ hồ, khiến
người nghe cũng như người đọc nhiều lúc phải tự mình suy đoán ý nghĩa của những
câu nói như thế. Đối thoại trong các tác phẩm tự sự và kịch thường là cánh cửa hé mở
tâm hồn, tính cách của nhân vật và cung cấp đầu mối cũng như diễn tiến của các sự
kiện. Nhưng đối thoại trong các truyện ngắn của James Joyce thì lại đưa cả nhân vật
và người đọc vào các mê cung của những chi tiết vụn vặt, mơ hồ, luôn cần sự suy
đoán và tưởng tượng. Khi bàn về Linh mục James Flynn, già Coter đã đưa ra nhiều ý
kiến ỡm ờ hiện ra trên văn bản với nhiều dấu chấm lửng “Không, tôi sẽ không nói
chính xác ông ta là thế…nhưng có một cái gì đó kì cục…có một cái gì đó kì lạ về ông
ta. Tôi sẽ nói cho các vị biết ý kiến của tôi…”.[25,30] Tuy nói rằng sẽ nói nhưng ông
lại tiếp tục nói lấp lửng “Tôi có giả thuyết riêng của tôi về chuyện này, - lão nói. - Tôi
nghĩ đây là một trong những…trường hợp cá biệt…Nhưng cũng khó mà khẳng
định…”[25,31]. Nói mà không hé lộ ra vấn đề cốt lõi, có vẻ như ông ta cũng thật sự
không hiểu hoặc hiểu mà không thể diễn đạt được. Kiểu nói như thế làm cho cậu bé
trong truyện phải “vắt óc đoán xem những câu nói dở dang của lão có nghĩa gì”.
Những câu nói dở dang của già Cotter tuy không giúp ích nhiều cho epiphany của
nhân vật “tôi” nhưng gợi cho người đọc một epiphany về nhân cách không tốt đẹp
của vị linh mục vừa qua đời.
Trong cả mười lăm truyện ngắn của “Người Dublin” chỉ có khoảng năm truyện
là có nhiều đối thoại và như một phong cách kì lạ, các nhân vật của “Người Dublin”
rất hay nói chuyện kiểu lấp lửng thông tin và người đọc phải tự rút ra ý nghĩa các câu
đối thoại bằng nhiều cách. Có thể từ lời của các nhân vật khác hoặc từ nhiều câu nói
của một nhân vật để suy ra một ý nghĩa tương đối trọn vẹn. Những người đàn ông
trong “Ngày Thường Xuân trong Phòng Hội Đồng” nói với nhau về rất nhiều
chuyện, rất nhiều người và trong các câu nói nhiều khi rất mơ hồ, không rõ nghĩa.
Câu chuyện của họ xoay theo bước chân của các nhân vật vào và ra phòng Hội Đồng
ngày hôm đó, khi nói về con trai của Già Jack, khi nói về Tierney và cha của ông ta,
nói về Colgan, về Hynes,…Mỗi câu chuyện chắp vá lại với nhau nhưng vẫn rời rạc vì
họ nói huyên thuyên dường như chỉ là để khỏa lấp mối bận tâm duy nhất là tiền công
bị trả muộn. Chính vì thế mà những câu chuyện vụn vặt ấy luôn có vẻ không đầu
không cuối và thiếu rất nhiều thông tin để người đọc có thể hiểu được bản chất vấn
đề. Nhưng dù sau với những epiphany bất ngờ từ các tiết lộ vụn vặt cũng giúp người
đọc nhận thức được ít nhiều bản chất của những nhân vật được nhắc đến. Chẳng hạn
người đàn ông “trông giống một tu sĩ khất thực hoặc một diễn viên nghèo
khổ”[25,232] được gọi là “cha Keon” nhưng các nhân vật trong truyện và cả người
đọc đều không biết “thật ra ông ấy có phải là linh mục không?” hay chỉ là “Một con
chiên ghẻ, như người ta vẫn nói”. Các thông tin về nhân vật Keon rất mập mờ và trái
chiều nhưng chính từ những trái chiều và mập mờ đó người đọc có được một
epiphany về ông ta, không thể là một linh mục hoặc một con chiên chân chính khi có
nhiều khoảng mờ ám trong nhân thân và hành tung như vậy. Không chỉ riêng Keon
mà tất cả các nhân vật được nhắc đến trong các mẫu đối thoại của truyện ngắn này
đều được nhận xét bằng nhiều ý kiến trái ngược và không rõ ràng như thế. Kiểu đối
thoại lấp lửng như thế khiến người đọc bị đẩy từ trục thông tin này sang trục thông tin
khác, xoay đảo liên tục và giữa những vòng xoáy thông tin đó một epiphany có thể
đột ngột hiện ra giúp người đọc nhận định đâu là bản chất thật của một nhân vật hoặc
đâu là cốt lõi của vấn đề. Tuy nhiên, để làm được điều đó, người đọc cần một sự tinh
nhạy và luôn bám sát các chi tiết có vẻ vụn vặt, mơ hồ mà nhà văn cung cấp trong
văn bản.
Các epiphany từ những lời đối thoại lấp lửng có thể rộng hơn dự kiến của nhà
văn khi mà một người đọc tinh tế không chỉ epiphany về đối tượng được nhắc đến
trong lời đối thoại mà còn epiphany về nhân vật đang đối thoại, cao hơn nữa là
epiphany về quan điểm của tác giả đối với đề tài của cuộc đối thoại và sau hết là một
kinh nghiệm epiphany cho chính người đọc trong đời sống. Khảo sát cuộc đối thoại
giữa những người bạn trong truyện ngắn “Ân sủng” chúng ta thấy đề tài của họ là tôn
giáo , thi thoảng bẻ ngoặc sang các đề tài khác như những cuộc trò chuyện thông
thường. Họ nhắc đến các thể chế nhà thờ, nhắc đến các Cha xứ, Linh mục, Giáo
hoàng. Lời lẽ khá là dõng dạc như là hiểu biết rất sâu sắc về tôn giáo của họ. Tuy tất
cả bọn họ là những người Công Giáo nhưng thi thoảng họ không giấu được sự
ngưỡng mộ với những người Tin Lành. Họ ra vẻ hiểu biết uyên thâm nhưng những
trích dẫn và các thông tin của họ hầu hết là sai lệch. Khi cần bày tỏ thái độ, quan
điểm với một nhân vật hay vấn đề thuộc về thể chế của nhà thờ, họ lại lấp lửng, mơ
hồ. Kể cả Mr Cungningham, người mà ai cũng khâm phục vì “Anh ta là một người
đàn ông biết phải trái, có uy tín và thông thái”[25,286]. Con người thông thái ấy
cũng rất nhiều lần nhầm lẫn kì lạ về các thông tin tôn giáo mà anh ta huyên thuyên
với các bạn. Chẳng ai nhận ra điều đó vì không ai hiểu biết đủ để nhận ra anh ta nói
sai. Qua cuộc trò chuyện của các nhân vật, người đọc bất ngờ nhận ra được rất nhiều
điều. Trước hết là về các nhân vật nổi tiếng và có uy tín trong giáo hội. Sau những lời
ca ngợi là những nghi ngờ về điều gì đó không rõ ràng, minh bạch về nhân cách hay
quan điểm. Những nhân vật đang bàn tán say sưa đó cũng dần dần bộc lộ sự rỗng
tuếch của mình cùng với những nhỏ nhen, tầm thường được khéo che giấu sau những
lời nói ra vẻ uyên bác và hành động có vẻ tốt đẹp. Thái độ của nhà văn về vấn đề tôn
giáo và bản chất con người cũng dần hé lộ qua giọng điệu kể và cách xây dựng chân
dung tinh thần các nhân vật.
Các khoảng trống trong những truyện ngắn như chúng ta vừa phân tích ở trên
được tạo ra bằng cách che giấu các chi tiết về nhân thân của nhân vật và đối thoại lấp
lửng không trọn ý. Ngoài ra lối viết tạo khoảng trống cho sự đồng sáng tạo của độc
giả còn thể hiện ở các chi tiết mang dáng dấp của một câu đố khó trả lời hoặc không
thể trả lời. Các chi tiết như thế được trải đều khắp các truyện ngắn của James Joyce,
nó thể hiện những góc khuất trong đời sống, trong tâm tư nhân vật và trở thành những
vấn đề khiến người đọc băn khoăn mãi dù đã khép lại trang sách. Cùng với cách kết
thúc mở, các chi tiết bị mờ hóa trong truyện mở rộng đến tối đa trường liên tưởng đến
vô vàn khả năng mà các sự kiện có thể diễn biến. Người đọc hoàn toàn tự do với các
kiến giải của mình với những ý kiến có thể không trùng với ý định ban đầu của tác
giả, không trùng với kiến giải của những người đọc khác. Mỗi người đọc khi tái hiện
lại nội dung của tác phẩm đều không chỉ tái hiện thế giới riêng, bên trong của tác
phẩm đó mà đã, bằng chủ quan của mình biến đổi đáng kể cái thế giới ấy. Thế là tác
phẩm sau khi đi qua lăng kính của từng người đọc nó lại có diện mạo khác so với khi
mới sinh thành. Todorov trong công trình “Đọc tựa như xây dựng” đã đưa ra một mô
hình biến đổi thế giới trong một tác phẩm cụ thể từ khi nó ra đời đến khi nó đi qua sự
tiếp nhận của độc giả:
1. Truyện kể của tác giả 4. Truyện kể của người đọc
↓ ↑
2. Thế giới tưởng tượng → 3. Thế giới tưởng tượng
do tác giả gợi lên do người đọc xây dựng[59,238]
Trong truyện kể của tác giả có thế giới tưởng tượng mà tác giả gợi lên, người
đọc sẽ căn cứ vào các gợi ý ấy cùng với những tình cảm, cảm xúc, trải nghiệm riêng
để xây dựng một thế giới tưởng tượng mới và vì thế truyện được người đọc kể lại sẽ
có nhiều điều mới mẻ. Todorov cho rằng sự khác biệt giữa chặng 2 và chặng 3 trong
sơ đồ là hoàn toàn có cơ sở vì nhà văn xây dựng tác phẩm theo hai kiểu thức: ý nghĩa
và biểu tượng hóa. Ý nghĩa hay hàm nghĩa thì người đọc có thể dễ dàng nắm bắt từ
hệ thống từ ngữ trong văn bản còn các biểu tượng thì người đọc phải suy ra và
“những điều suy ra ấy thay đổi tùy theo từng chủ thể” [54,238]. Căn cứ vào lí thuyết
“Đọc tựa như xây dựng” của Todorov, chúng tôi thấy rằng các chi tiết bị mờ hóa
hoặc bỏ lửng trong truyện ngắn James Joyce là lời kêu gọi sự tưởng tượng tự do
tương đối của độc giả. Nhà văn như một nhà nhiếp ảnh, ông bắt chộp các khoảnh
khắc của cuộc sống, tái hiện nó một cách khách quan trong tác phẩm của mình,
không giải thích, không bình luận gì thêm cứ để cho người đọc bằng trực giác hoặc
kinh nghiệm của mình cảm nhận hoặc suy ra. Chẳng hạn trong truyện ngắn “Hai
chàng galăng”, ở đoạn cuối khi Corley xòe bàn tay ra cho Lenehan nhìn thấy một
đồng tiền vàng lóe sáng lên trong bóng tối. Bằng các tiết lộ trong truyện, người đọc
biết rằng đó là đồng tiền mà anh chàng đã lừa được của cô gái nhưng Joyce không hề
tiết lộ thêm để người đọc có cơ hội nhận biết từ đâu cô gái có đồng tiền đó. Có thể là
tiền công làm việc mà cô ấy dành dụm được, cũng có thể là tiền mà cô ấy đánh cắp
của nhà chủ. Người đọc tha hồ tưởng tượng và đưa ra các ý kiến riêng của mình, mỗi
ý kiến chắc chắn sẽ có lí lẽ riêng để bảo vệ. Chi tiết bị che mờ này cũng là chi tiết
khép lại truyện tạo thành một kết thúc mở cho epiphany của người đọc về bản chất
giả dối, trơ trẽn của hai chàng trai có dáng vẻ hào hoa và chuyên dùng nó để lừa gạt
các cô gái nhẹ dạ, cả tin. Cô gái trong truyện mãi là một nhân vật đầy ẩn số với nhân
thân, hoàn cảnh, hành động và số phận sau này. Câu chuyện khép lại nhưng số phận
nhân vật thì mở ra nhiều bước ngoặc mới. Cô gái ấy sẽ ra sao khi sự việc bị bại lộ,
khi cô biết mình bị lừa dối? Ở phần đầu truyện, trong tiết lộ của Corley không phải đã
từng có những cô gái vì bị anh ta lừa dối mà rơi vào con đường sa ngã tội lỗi hay sao
!
Tương tự như cách kết thúc của “Hai chàng ga lăng”, “Nhà trọ” cũng có một
kết thúc mở với một vài chi tiết bị nhà văn bỏ trống như vậy. Chúng ta không rõ sau
cuộc nói chuyện với bà mẹ, Doran sẽ muốn nói gì với Polly. Đa số người đọc sẽ suy
đoán rằng sẽ có một lời cầu hôn, một lời xin cưới nhưng khả năng cho một đền bù
bằng tiền bạc cũng không phải là không thể xảy ra vì ngay từ đầu tác phẩm ai cũng
nhận ra bản chất cuộc sống và mục tiêu theo đuổi của Madam là gì: Tiền và một tấm
chồng cho con gái! Vậy thì một cái kết chưa hoàn kết như thế tạo ra nhiều câu chuyện
hơn cho số phận, tương lai của Doran, của Polly và cả những kế hoạch tiếp theo cho
bà mẹ của cô. Và cái kết với những chi tiết còn thiếu như vậy cũng gợi một epiphany
cho người đọc về một xã hội mà tình yêu và hôn nhân trở thành một ván cờ để người
ta tính toán chi li, đi một nước cờ sai phải trả giá bằng cả tự do của mình và hạnh
phúc sẽ là gì khi bị kìm tỏa trong cuộc sống giả dối, vụ lợi và mất tự do như thế.
Bên cạnh một số chi tiết để mở cho nhiều cách giải thích khác nhau, Joyce còn
tạo ra nhiều chi tiết gần như không có đầu mối để giải thích. Chẳng hạn trường hợp
hai đứa bé mà Eveline có trách nhiệm phải chăm sóc. Truyện không hé lộ một chi tiết
nào về nguồn gốc cũng như mối quan hệ của Eveline và hai đứa trẻ. Khó có thể là hai
người em nhỏ của cô vì cô đã từng khẳng định rằng khi mẹ cô mất, các anh chị em cô
đều đã khôn lớn. Vậy có thể nào là con của người anh trai Ernest đã mất? hay là hai
đứa trẻ mồ côi nào đó mà cô nhận chăm sóc… Không thể trả lời chính xác cho câu
hỏi ấy chỉ có thể nhận thấy rằng, hai đứa bé là một phần trách nhiệm của Eveline, một
trong những sợi dây ràng buộc, níu kéo khiến cô không thể vượt thoát khỏi hoàn cảnh
của mình. Đồng thời từ chi tiết về hai đứa trẻ, người đọc còn có thể epiphany về tâm
hồn dịu dàng như người mẹ hiền đầy tình thương và trách nhiệm với những đứa bé
chắc chắc không thể là con ruột của cô. Càng không thể giải thích rõ cội nguồn của
hai đứa bé càng cảm nhận thấy tấm lòng bao dung và nhân hậu của Eveline và càng
cảm nhận được sự bế tắc, không có lối thoát cho những con người hiền lành như vậy
trong xã hội Ai-len, một xã hội đề cao nam quyền.
Còn nhiều chi tiết không thể giải thích trong “Người Dublin” do thiếu hẳn
những chi tiết liên quan hoặc không có lời nhận xét mang tính chỉ dẫn nào từ tác giả.
Không ai biết túi bánh mận của Maria (Đất sét) đã bị bỏ quên ở đâu và vì sao, có liên
quan đến người đàn ông người Anh lịch sự mà bà gặp trên xe điện hay không vì cuộc
sống vốn không có câu trả lời cho những trường hợp bỏ quên như thế. Số phận
Farrington (Những bản sao) buổi chiều hôm đó và cả sau này sẽ ra sao khi anh ta vừa
chọc tức ông chủ của mình? Bà Sinico (Một trường hợp đau lòng) thật sự đã bị tai
nạn do say rượu hay là đã tự tìm cái chết? Nhân vật Kenan (Ân sủng)rồi có nhận được
ân sủng để thay đổi thói quen, nhận thức và cuộc đời của mình? Những người đàn
ông trong phòng Hội đồng rồi có được trả tiền công như đã hứa?... Rất nhiều, rất
nhiều các khoảng trống mở ra cho tưởng tượng và sáng tạo của người đọc từ các chi
tiết bị bỏ sót hoặc bị mờ hóa trong truyện. Mỗi chi tiết bị bỏ sót khi được tái tạo bằng
lăng kính chủ quan của độc giả sẽ tạo ra các epiphany khác nhau về bản chất nhân vật
hoặc hiện thực xã hội trong tác phẩm đồng thời cũng mang đến những kinh nghiệm
khác nhau cho mỗi cá nhân người đọc.
3.2.2.4.Epiphany từ các dòng độc thoại nội tâm của nhân vật
Đóng góp lớn nhất của James Joyce cho văn xuôi hiện đại là kỹ thuật dòng ý
thức được sử dụng rất thành công trong các tiểu thuyết vĩ đại của ông. Kỹ thuật này
chưa được phô diễn trong “Người Dublin” nhưng độc thoại nội tâm được sử dụng
với trình độ điêu luyện và giàu sáng tạo có thể được xem là những thể nghiệm của
dòng ý thức. Độc thoại nội tâm làm tăng tính khách quan cho các câu chuyện của
“Người Dublin”. Trong phần viết này chúng tôi sử dụng khái niệm “Độc thoại nội
tâm là phát ngôn của nhân vật nói với chính bản thân, trực tiếp phản ánh quá trình
tâm lí bên trong; kiểu độc thoại thầm, mô phỏng hoạt động suy nghĩ, xúc cảm của
con người trong dòng chảy trực tiếp của nó”. [16]. Từ quan niệm về độc thoại nội
tâm như một dòng suy nghĩ, cảm xúc bên trong tâm hồn nhân vật, chúng tôi tiến hành
khảo sát kỹ thuật này trong các truyện ngắn của James Joyce như một kỹ thuật trần
thuật góp phần gợi các epiphany của người đọc về bản chất, về những khát vọng và
bế tắc trong tâm tư các nhân vật.
Trong mười lăm truyện ngắn của “Người Dublin” chỉ có “Ngày Thường xuân
trong phòng Hội đồng” và “Ân sủng” là sử dụng đối thoại làm phương pháp trần
thuật chủ yếu. Tất cả các truyện ngắn còn lại chủ yếu dùng độc thoại và nổi bật nhất
là độc thoại nội tâm, để bộc lộ suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật. Một số đối thoại
trong “Một cuộc chạm trán”, “Hai chàng ga lăng” lại có vẻ như là độc thoại vì trong
cuộc thoại ấy chỉ có một người nói và người kia chủ yếu là nghe. Người đàn ông
trong “Một cuộc chạm trán” huyên thuyên suốt buổi gặp gỡ còn nhân vật cậu bé
xưng tôi chỉ có nghe, vừa nghe vừa thầm độc thoại thầm với chính mình. Ở truyện
“Hai chàng ga lăng”, khi hai nhân vật chính song hành cùng nhau trên đường, chỉ có
Corney là luôn ba hoa về thành tích chinh phục và gạt gẫm các cô gái còn Lenehan
thì thỉnh thoảng điểm vào vài lời tán dương nhát gừng, chiếu lệ. Trong “Một đám
mây nhỏ”, nhân vật Gallaher cũng nói suốt cuộc gặp và Litle Chandler vừa nghe vừa
khuyến khích bạn bằng những câu hỏi. Kiểu đối thoại - độc thoại này cũng gợi
epiphany về nhân vật nhất là người nói nhưng sâu sắc và chân thật hơn có lẽ là các
độc thoại nội tâm của nhân vật.
Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn của James Joyce đa dạng về hình thức và
thể hiện một trong những cách tân của ông đối với kỹ thuật này. Ba truyện ngắn đầu
tiên được trần thuật theo ngôi thứ nhất, nhân vật kể chuyện cũng là nhân vật trung
tâm của tác phẩm. Mười hai truyện ngắn còn lại được trần thuật theo ngôi thứ ba, có
một người kể chuyện ẩn mặt trần thuật lại nội dung truyện. Kể chuyện theo ngôi thứ
nhất hay thứ ba thì cũng là những hình thức tự sự truyền thống, phổ biến trong lịch sử
truyện ngắn. Nhưng điều đặc biệt trong phong cách truyện ngắn của James Joyce
chính là sự hòa lẫn giọng điệu của người kể chuyện và nhân vật. Sự hòa điệu tinh tế
đến mức rất khó tách bạch đâu là ngôn ngữ tự sự, đâu là ngôn ngữ tinh thần- ngôn
ngữ nội tâm của nhân vật. Và ở đây tuy truyện được kể theo ngôi thứ ba nhưng bóng
dáng, vai trò của người kể chuyện hầu như vô cùng mờ nhạt. Điều này có thể giải
thích bằng quan niệm sáng tác của James Joyce khi ông khẳng định người nghệ sĩ cần
vô tư với tác phẩm mình tạo ra như vô tư trước phần bị cắt rời của chiếc móng tay.
Chính vì thế mà người kể chuyện, ở đây có thể tạm xem là tác giả, không hề bước
vào câu chuyện, không nhận xét, bình luận hay thuyết minh một dòng nào, cứ để cho
câu chuyện tự do diễn tiến và bất cứ khi nào nhân vật cần bộc lộ những suy nghĩ thầm
kín trong nội tâm thì dòng độc thoại cứ tự nhiên hòa vào dòng chảy tự sự của văn bản
truyện. Thậm chí có những truyện gần như toàn bộ chiều dài văn bản là dòng tâm tư
của nhân vật được một người kể chuyện vô hình tái hiện lại một cách khách quan
nhất. Đó là trường hợp của “Eveline”, một trong những thiên truyện đẹp mà buồn của
“Người Dublin”. Từ đầu đến cuối truyện ngắn “Eveline” là cả một dòng chảy triền
miên của độc thoại nội tâm của nhân vật chính. Thời gian trần thuật ngưng đọng lại
trong một buổi chiều để cho thời gian nội tâm của nhân vật trôi chảy miên man, đảo
chiều liên tục thành những vòng xoáy êm đềm mà buồn bã giữa hiện tại, quá khứ và
tương lai. Eveline sắp đến giờ hẹn ra đi cùng với người yêu. Thời gian cô còn lại
không nhiều nhưng cô cứ ngồi như thế, bên cửa sổ, nhìn ra ngoài phố, nhìn ngôi nhà
mình và miên man suy nghĩ, hồi tưởng. Quá khứ từ thời tuổi thơ xa xôi đến thời gian
gần đây lũ lượt kéo về cùng đan xen với những u buồn, bế tắc của hiện tại và những
ước mơ, dự cảm cho tương lai. Trong cái khung không gian và thời gian chật hẹp,
dòng tâm tư của nhân vật chảy tràn, vượt thoát ra, mở rộng không gian và thời gian
tâm tưởng. Qua những dòng tự sự của nội tâm ấy, thế giới tâm hồn của nhân vật hiển
lộ ra thành một epiphany cho người đọc về một thiếu nữ có trái tim dịu dàng, đôn hậu
và một hoàn cảnh sống khắc nghiệt, tù túng, vùi nén những ước mơ khát vọng hạnh
phúc vào trong những hi sinh vụn vặt của đời thường.
Ở nhiều câu chuyện khác, giữa những dòng tự sự đang trôi chảy, tác giả để cho
dòng nội tâm của nhân vật hòa vào. Sự tiếp xúc đột ngột giữa hai dòng: tự sự và độc
thoại nội tâm lại không gợn lên một chút xao động nào trong mạch trần thuật. Theo
Wallace Gray, có sự ảnh hưởng phong cách (stylistic infection) trong quá trình sáng
tác của Joyce. Cụ thể là khi ông miêu tả nhân vật nào trong truyện ngắn thì sẽ dùng
ngôn ngữ của nhân vật ấy làm ngôn ngữ trần thuật. Chẳng hạn khi miêu tả Lyly, con
gái người gác cổng ở đầu truyện ngắn “Người chết” Joyce đã dùng ngôn ngữ của
người lao động bình dân, cụ thể là ngôn ngữ của những cô hầu gái:
Lyly the caretaker ‘s daughter, wer literally run off her feet. Hardly had
she brought one gentleman into the little pantry behind the office on the
ground floor and helped him off with his overcoat than the wheezy hall-door
bell clanged again and she had to scamper along the bare hallway to let in
another guest. It wes well for her she had not to attend to the ladies also.
[73,199]
Cách dùng cụm từ “wer literally run off her feet” (nghĩa đen chạy ra khỏi đôi
chân của cô ấy), là cách nói của những người bình dân. Động từ “were” được nói trại
đi thành “wer” và từ “figuratively” (nghĩa bóng) được nói thành “literally”( theo
nghĩa đen). Cách sử dụng ngôn ngữ như thế sẽ gây khó khăn trong quá trình dịch,
khiến người dịch phải dịch thoát đi và trong trường hợp “Người Dublin” thì đã
không thể hiện được dụng ý nghệ thuật của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ.
(Lyly, con gái người gác cổng, đúng là đang vắt chân lên cổ. Cô mới
vừa dẫn một quí ông vào phòng xép đằng sau phòng làm việc dưới tầng một
và giúp quí ông cởi áo khoác thì chuông ngoài sảnh lại rè rè vang lên và cô
lại phải vội vàng chạy qua hành lang đón vị khách tiếp theo. May mà cô
không phải đứng đón cả các quí bà) [25,319]
Còn khi miêu tả vũ hội ở đoạn sau, Joyce lại dùng ngôn ngữ của tầng lớp trung
lưu:
“Gabriel could not listen while Mary Jane was playing her Academy
piece, full of runs and difficult passages, to the hushed drawing-room. He
liked music but the piece she was playing had no melody for him and he
doubted whether it had any melody for the other listeners, though they had
begged Mary Jane to play something. Four young men, who had come from
the refreshment-room to stand in the doorway at the sound of the piano, had
gone away quietly in couples after a few minutes. The only persons who
seemed to follow the music were Mary Jane herself, her hands racing along
the key-board or lifted from it at the pauses like those of a priestess in
momentary imprecation, and Aunt Kate standing at her elbow to turn the
page.” [73,211-212]
(Gabrien không tài nào tập trung được để nghe bản Academy Mary
Jane đang chơi, đầy những cung những nhịp phức tạp, cho cả phòng lặng
phắc lắng nghe. Anh thích âm nhạc nhưng bản nhạc cô đang chơi đối với anh
chẳng có giai điệu gì hết và anh nghi ngờ liệu những người khác có thấy nó
có giai điệu gì không, mặc dù chính họ đã van nài Mary Jane chơi một bản gì
đó. Bốn người đàn ông trẻ, khi nghe thấy tiếng đàn piano vang lên bèn từ
phòng ăn đi ra đứng ở lối đi, nhưng giờ họ đã lại, hai người một, im lặng
biến mất chỉ sau mấy phút. Những người duy nhất có vẻ đang thật sự dõi theo
bản nhạc là Mary Jane, hai tay cô lướt dọc phím đàn hoặc nâng lên ở những
chỗ nghỉ như những ngón tay của một nữ tu đang lẩm bẩm lời nguyền rủa
thoáng chốc nào đó, và dì Kate đứng bên cạnh phía khuỷu tay cô giúp lật bản
nhạc. [ 25,337]
Những đoạn như thế này thường không gây trở ngại cho người dịch vì nó là
thứ tiếng Anh chuẩn của tầng lớp có học thức cao. Khi mà ngôn ngữ của nhân vật có
cùng phong cách với ngôn ngữ người kể chuyện thì những độc thoại nội tâm của
nhân vật xen vào giữa dòng trần thuật không tạo ra bất cứ sự đối lập nào.
Những truyện ngắn của Joyce là những áng tự sự nội tâm, miêu tả những góc
khuất tâm hồn của những cư dân Dublin giữa cuộc sống nghèo khổ, bế tắc, tối tăm
dưới sức ỳ của quán tính, thói quen và dưới áp lực của gia đình, tôn giáo và xã hội.
Chính những dòng bộc lộ nội tâm sẽ hé lộ cho chúng ta thấy được những góc khuất
ấy. Đó có thể là một nét nhân cách bị biến dạng, một cái tôi đầy trăn trở, khát vọng
hay những dục vọng thấp hèn của con người mà họ không để lộ ra trong cuộc sống
thường ngày. Những nhân vật như Lenehan, Doran, Little Chandle, Farrington, James
Duffy, Gabriel nếu không có những giây phút tự bộc lộ nội tâm của chính mình thì
không ai có thể biết được những gì họ cố che giấu đằng sau công việc, thói quen,
cách ứng xử hàng ngày.
Lenehan ( Hai chàng ga lăng) luôn cố gắng “nói thật nhiều, phải khoác lác và
mua vui”. Đó là biểu hiện thường xuyên của anh ta trước mặt mọi người. Khi chỉ có
một mình, tâm tư anh ta lại đầy phiền muộn
Hình ảnh này bỗng làm anh ta thấy thấm thía sự nghèo nàn của cái ví
tiền cũng như sinh lực của chính mình. Anh ta đã chán ngán cảnh lông bông,
luôn bên bờ vực túng bấn, chán những mưu đồ, mánh khóe này kia. Đến
tháng mười một này anh ta đã ba mốt tuổi. Chẳng lẽ không bao giờ anh ta có
được một công việc tử tế? Chẳng lẽ không bao giờ có được một căn nhà của
chính mình? Anh ta nghĩ sẽ sung sướng dễ chịu làm sao khi có một lò sưởi
ấm áp để ngồi bên cạnh và một bữa tối ngon lành để được ngồi xuống
ăn”[25,115-116]
Những dòng tâm tư ấy hé lộ cho người đọc một epiphany về một góc khuất
trong con người Lenehan. Cứ theo những biểu hiện bề ngoài có lẽ anh ta chỉ gây
được cảm giác khinh ghét hoặc ghê tởm cho người đọc nhưng trong nội tâm của anh
ta cũng có những dằn vặt rất đáng cảm thông, những ước mơ rất đỗi bình dị. Nhờ
những dòng bộc bạch tâm tư ấy mà anh ta không hoàn toàn là kẻ đáng khinh trong
tâm trí người đọc. Ở đây có chút gì đó xót thương, thông cảm cho một con người dù
đang sống trong đáy ao tù nhưng vẫn còn chút khát vọng vươn lên, vùng thoát khỏi
cuộc sống ấy.
James Duffy (Một trường hợp đau lòng) cũng là một nhân vật mà chúng ta chỉ
có thể nắm bắt được góc khuất tâm hồn nhờ vào những bộc lộ nội tâm của chính ông.
Cuộc sống hằng ngày với sự nề nếp đến từng chi tiết và các quan niệm sống được
trưng ra khiến không ai có thể nhìn được vào sâu trong tâm hồn ông. Khi chia tay bà
Sinico, bốn năm trôi qua, ông vẫn sống bình thường như thế. Đến khi đọc được thông
tin về cái chết của bà cũng không ai có thể nhận thấy được diễn biến thái độ hay tâm
trạng của ông. Nếu không có những dòng tâm tư được ông bộc lộ với riêng mình có
lẽ ông sẽ mãi là nhân vật vô cảm trong lòng người đọc. Độc thoại nội tâm của Duffy
hé lộ tâm hồn và trái tim ông, nó cũng có cảm xúc dạt dào, cũng có sự cảm thương,
chua xót và ân hận
Ông dè sẻn từng chút một để giữ sự đứng đắn chính trực của cuộc đời
ông; giờ ông cảm thấy mình bị bỏ rơi ngoài bữa tiệc của cuộc sống. Một con
người dường như đã đem lòng yêu ông và ông đã từ chối cuộc sống và hạnh
phúc của bà: ông đã đẩy bà đến sự đê tiện, một cái chết đáng hổ thẹn. Ông
biết những hình hài đang nằm dưới chân tường kia đang quan sát ông và
muốn ông đi khỏi. Không ai muốn ông; ông bị đẩy ra ngoài bữa tiệc của cuộc
sống [25,216].
Những dòng tự vấn muộn màng đó vừa là một epiphany cho chính nhân vật vừa
là một epiphany cho độc giả. Có lẽ James Duffy từ trước vẫn nghĩ mình có thể sống
đứng đắn, chính trực và vô cảm như thế ở ngoài rìa bữa tiệc cuộc sống. Chỉ đến khi
tâm hồn tự nó lên tiếng, tự nó dày vò ông, ông mới thấm thía nỗi ân hận và cô đơn
khi cảm nhận được hết viễn ảnh cuộc sống đơn điệu của mình trong những ngày còn
lại. Người đọc có một epiphany về con người Duffy thật sự ẩn đằng sau một Duffy
đạo mạo, đường hoàng với những thói quen và lối sống bất di bất dịch của mình. Một
epiphany có thể chuyển thành kinh nghiệm sống quí giá cho mỗi con người trong
cuộc sống.
Độc thoại nội tâm trong các truyện ngắn của James Joyce được sử dụng theo
một phong cách mới mẻ và độc đáo. Đó là những dòng tâm tư của nhân vật được hòa
lẫn với những dòng trần thuật của mỗi câu chuyện mà không gây ra bất cứ tì vết nào
của sự chắp ghép. Nó bộc lộ chiều sâu tâm hồn, tư tưởng của các nhân vật, những
điều mà người Dublin che giấu kín đáo đằng sau vẻ mặt của đời thường. Nó giúp hé
lộ những góc khuất bí ẩn trong tâm hồn con người và làm bừng sáng độc giả với
những trải nghiệm epiphany về chiều sâu nội tâm, thế giới chân thật nhất trong mỗi
con người.
Tiểu kết chương 3
Dưới ánh sáng của mỹ học tiếp nhận, chúng tôi nghiên cứu lối viết của James
Joyce trong tập “Người Dublin”. Đó là lối viết “tiết giảm về nghĩa”, tạo ra những
văn bản có “kết cấu vẫy gọi” nhằm khơi gợi các trạng thái epiphany của độc giả.
Độc giả “Người Dublin” có thể đạt được trạng thái epiphany tại các điểm rơi
epiphany của nhân vật. Đó là điều tất nhiên nhưng James Joyce còn dụng công tạo ra
rất nhiều khoảng trống, nhiều điểm gợi mở đề người đọc có những epiphany sâu sắc.
Các thủ pháp nghệ thuật từ cách kết cấu đến việc che mờ chi tiết đều có tác dụng khơi
gợi sự đồng sáng tạo của người đọc.
Từng truyện ngắn trong “Người Dublin” có kết cấu vòng tròn tâm lí và 15 truyện
ngắn có một sợi dây xâu lại với nhau tạo thành một chuỗi epiphany giúp người đọc
trải nghiệm các khoảnh khắc nhận thức và tự nhận thức. Việc sử dụng các biểu tượng
đa dạng từ tôn giáo, dân tộc đến đời sống cũng góp phần tạo ra nhiều lớp nghĩa cho
các truyện ngắn. Thủ pháp che mờ hoặc bỏ trống các chi tiết thì có tác dụng kích
thích sự tưởng tượng và kêu gọi một cách đọc chủ động. Trong khi đó, các dòng độc
thoại nội tâm của nhân vật lại hé lộ những góc khuất trong tâm hồn các nhân vật giúp
người đọc có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn vào bản chất con người trong xã hội
hiện đại.
KẾT LUẬN
1.Epiphany là một hiện tượng mang tính tôn giáo, thần học. Nó có nguồn gốc từ
trong Kinh Thánh của Kitô giáo nhưng bản chất của nó cũng tương đồng với các hiện
tượng của các tôn giáo khác như Giác Ngộ trong Hindu giáo hay Ngộ trong Phật
giáo. Tính chất đột ngột soi rạng của hiện tượng này còn có thể tìm thấy trong các
ngành khoa học tự nhiên, trong tâm lí, triết học và khi đi vào văn học nó trở nên hấp
dẫn hơn nhiều dưới sự vận dụng sáng tạo của các nhà nghệ sĩ.
Nhà văn James Joyce không phải là người đầu tiên đưa epiphany vào văn học
nhưng ông là người đầu tiên sử dụng hiện tượng này như một tiêu chí sáng tác và
“Người Dublin” là tập truyện ngắn được ông sáng tạo như một chuỗi epiphany với
mục đích rất cụ thể.
2. Nghiên cứu hiện tượng epiphany trong tập “Người Dublin” chúng tôi thấy
rằng James Joyce đã sử dụng hiện tượng này để bộc lộ những góc khuất trong tâm
hồn các nhân vật. Các nhân vật của “Người Dublin” với những hoàn cảnh và khát
vọng đặc thù sẽ đạt được những khoảnh khắc epiphany tại những điểm rơi nhất định.
Để đến được điểm rơi epiphany của nhân vật, trước đó, James Joyce đã xây dựng
những dạng thức không gian và thời gian nghệ thuật để tạo nền cảnh.Thời gian nghệ
thuật trong “Người Dublin” là sự tương tác giữa thời gian trần thuật và thời gian
nhân vật. Trong đó, thời gian trần thuật được dãn nhịp, kéo dài nhằm thể hiện một
cuộc sống tẻ nhạt nhàm chán, quẩn quanh, bế tắc; còn thời gian nhân vật thì xoáy vào
thời gian tâm lí nơi những khát vọng bị dồn nén lại, kéo căng ra dày vò tâm trí đưa
nhân vật đến với những điểm epiphany bừng lên đột ngột để họ có thể nhận ra nhiều
điều liên quan đến bản thân hoặc bản chất của thế giới xung quanh.
Không gian nghệ thuật trong “Người Dublin” được kết cấu như những nhà tù
chật chội được xếp đặt trong một mê cung phủ đầy bóng tối. Trong không gian ấy các
nhân vật cố vùng vẫy, cố thoát thân nhưng hầu như họ không tìm ra được lối thoát
nào. Chỉ tại các điểm rơi epiphany nhân vật mới bất ngờ nhận ra họ thật sự không thể
hoặc không đủ sức mạnh để tự giải thoát cho mình. Tại các điểm nhất định của thời
gian và không gian cùng với các tia sáng bất ngờ của nhận thức nhân vật thường đạt
được nhận thức mang tính đột ngột, bất ngờ. Chúng tôi gọi những khoảnh khắc như
thế là những điểm rơi epiphany. Những điểm rơi epiphany sẽ giúp nhân vật tự nhận
thức hoặc nhận thức được rõ ràng, chân thực hoàn cảnh, bản chất của thế giới xung
quanh. Sự thay đổi nhận thức lại không được đẩy đến sự thay đổi hành động nên các
nhân vật của “Người Dublin” vốn là những tù nhân, vẫn cứ là những tù nhân của
cuộc sống. Điều đó tạo thành trạng thái tê liệt của các cư dân và của cả thành phố
Dublin. James Joyce xây dựng chuỗi epiphany “Người Dublin” với mục đích thức
tỉnh tinh thần dân tộc mình để những người Dublin trong thực tế cuộc sống sẽ có thể
thay đổi từ nhận thức đến hành động nhằm thoát ra khỏi cuộc sống tù túng, ngột ngạt
và đi đến một cuộc sống thật sự có ý nghĩa.
3.Với mục đích sáng tác như trên, James Joyce đã chọn cho mình một lối viết
hướng đến người đọc. Đó là lối viết tạo nhiều khoảng trống với những gợi ý giúp
người đọc có thể chủ động và sáng tạo trong hoạt động đọc của mình. Các truyện
ngắn của James Joyce đòi hỏi người đọc phải có một cách tiếp cận mới. Họ cần có sự
đồng sáng tạo để lấp đầy các khoảng trống trong văn bản, mở các lớp biểu tượng, giải
mã kết cấu và thâm nhập dòng tâm tư của nhân vật. Làm được như thế người đọc sẽ
khám phá được các nẻo khuất trong tâm hồn các nhân vật của “Người Dublin”, khám
phá cái tôi nhà văn đồng thời đó cũng là một dịp soi chiếu vào tâm hồn của chính
mình.
4. Tìm hiểu tập truyện ngắn “Người Dublin” của James Joyce dưới ánh sáng của
hiện tượng epiphany, chúng tôi có dịp đi sâu khám phá chủ đề tư tưởng cũng như các
thủ pháp nghệ thuật của một cây bút bậc thầy. Nếu có điều kiện so sánh với các cây
bút truyện ngắn khác cùng thời hoặc so sánh với cách xây dựng các điểm rơi
epiphany trong tiểu thuyết của Joyce thì luận văn sẽ làm nổi bật hơn về thi pháp thể
loại và thi pháp tác giả. Chúng tôi hi vọng hướng nghiên cứu đó sẽ được tiếp tục
trong các công trình sau này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Tiếng Việt
1. Alberes R. M (2003), Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn hóa châu Âu thế kỉ
XX, Nxb Lao động Hà Nội.
2. A.V. Dranov ( 2002), Mỹ học tiếp nhận, Tạp chí văn học số 3.
3 . Lại Nguyên Ân (1991), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà
Nội.
4. Lê Huy Bắc (2009), Đặc trưng truyện ngắn Anh _ Mỹ, Nxb ĐHSP, Hà
Nội
5. Lê Huy Bắc (2004), Phê bình_ Lý luận văn học Anh Mỹ ,Nxb Giáo Dục,
Hà Nội.
6. Lê Nguyên Cẩn ( Chủ biên), Nguyễn linh Chi (biên soạn) (2006), Tác gia
tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường_ James Joyce, Nxb
ĐHSP, Hà Nội.
7. Nguyễn Linh Chi , Nhân vật Stephen Dedalus của James Joyce và mô típ
mê cung, Bản tóm tắt Luận án tiến sĩ văn học, Trường ĐHKHXH và
nhân văn Hà Nội
8. Đào Ngọc Chương (2003), Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của Enest
Hemingway, Nxb Đại học quốc gia, TP.HCM.
9. Đào Ngọc Chương (2010),Truyện ngắn dưới ánh sáng so sánh,Nxb Văn
hóa- Thông tin, tp. HCM.
10. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học lí luận và ứng dụng,Nxb
Giáo Dục,Hà Nội.
11. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb
Giáo Dục, Hà Nội.
12. Lê Tiến Dũng (2003), Lý luận văn học, Nxb ĐHQG TPHCM.
13. Đặng Anh Đào (2001), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện
đại, Nxb ĐHQG Hà Nội.
14. Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân, Phùng Văn Tửu…(2007), Văn học phương
Tây, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
15. Hà Minh Đức ( 2008), Lý luận văn học, Nxb Giáo Dục, Nà Nội.
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1998), Từ điển thuật ngữ
văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội .
17. Hans Robert Jauss (200), Lịch sử văn học như là sự thách thức khoa
nghiên cứu văn học, Tạp chí văn học nước ngoài số 1
18. Hamburger Kate (2004), Logic học về các thể loại văn học, Vũ Hoàng
Địch, Trần Ngọc Vương dịch, Nxb ĐHQG Hà Nội.
19. Nguyễn Văn Hạnh, Ý kiến của Lenin về mối quan hệ giữa văn học và đời
sống, Tạp chí văn học số 4, 1971
20. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại, Nxb Giáo
dục, Hà Nội
21. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo
Dục, Hà Nội.
22. Đỗ Khánh Hoan (!969), Lịch sử văn học Anh quốc, Nxb sáng tạo, Sài
Gòn.
23. James Joyce (2009), Chân dung một nghệ sĩ trẻ, Linh Chi dịch, Nxb Hội
nhà văn, Hà Nội
24. James Joyce (2009), Người Dublin, Vũ mai Trang dịch, Nxb Văn học,
Hà Nội.
25. Lê Minh Kha (2010) ,Góc khuất cái tôi James Joyce trong Người
Dublin, luận văn Thạc sĩ văn học, Trường ĐHSP Hà Nội
26. Kharapchenkô (1978), M.b, Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát
triển của văn học, Lê Sơn _ nguyễn Minh dịch, Nxb Tác phẩm mới Hà
nội
27. Cao Kim Lan (2008), Lý thuyết về điểm nhìn nghệ thuật của R. Scholes
và R. Kellogg, Tạp chí nghiên cứu văn học số 9.
28. Cao Kim Lan (2011), Mấy vấn đề thi pháp cốt truyện,
http://phongdiep.net
29. Phương Lựu (1999), Mười trường phái lí luận phê bình văn học phương
tây đương đại, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
30. Phương Lựu (1996), Tiếp nhận văn học,Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
31. Phương Lựu (2001), Tìm hiểu lí luận văn học phương Tây hiện đại, Nxb
Văn học, Hà Nội.
32. Mara Wishingrad,Chân dung nghệ sĩ, Nguyễn Thế Vinh dịch, tạp chí
VHNN số 6 – 2005
33. Manfed Naumann (1998), Song đề của “Mỹ học tiếp nhận, Tạp chí văn
học số 4.
34. Michael Alexander (2006), Lịch sử văn học Anh Quốc, Cao Hùng Lynh
dịch, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
35. Ngộ , http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%99
36. Nguyễn Tri Nguyên (2006), 100 nhà văn thế giới thế kỉ XX, Nxb Hà Nội.
37. Vương Trí Nhàn (2001), Sổ tay truyện ngắn, Nxb Văn nghệ Tp HCM.
38. Hoàng Nhân (1979), Lịch sử văn học phương Tây, Nxb Giáo dục,
HàNội.
39. Nhân vật trong tác phẩm văn học, xem trang mạng
http://nghiahungb.net/@forum/showthread.php?t=3543
40. Nhóm tác giả (2003), Thuật ngữ thần học Anh _ Việt, Học viện Đa Minh,
Tp HCM.
41. Huỳnh Như Phương (1995), Tác phẩm và người đọc, Trong “ Lý luận
văn học_ Vấn đề và suy nghĩ”, Nxb Giáo Dục ,Hà Nội
42. Poxpelop Nicolaevich Ghenatdi (chủ biên) (1998), Dẫn luận nghiên cứu
văn học, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà dịch, Nxb Giáo
Dục, Hà Nội.
43. Phan Văn Sĩ (1986), Về tư tưởng và văn học hiện đại phương Tây, Nxb
ĐH và THCN.
44. Samuel Enoch Stumf (2004), Lịch sử triết học và các luận đề, Đỗ văn
Thuấn và Lưu Văn Hy dịch, Nxb lao động, Hà Nội.
45. Susan J. Adams, Phê bình hình thức tác phẩm “Cõi chết”, Nguyễn Thế
Vinh dịch, Tạp chí VHNN, số 6_ 2005
46. Trần Đình Sử (2008), chủ biên,2 tập, Nxb ĐHSP,Hà Nội.
47. Trần Đình Sử (2005) tuyển tập, Nxb giáo dục,Hà Nội.
48. Lê Thời Tân, Kết cấu tác phẩm văn học dưới ánh sáng cấu trúc luận,
http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=7814
49. Lê Thời Tân (2008), Tự sự học: Tên gọi, lược sử và một số vấn đề lý
thuyết, Tạp chí nghiên cứu văn học số 9.
50. Bùi Việt Thắng (2002), Truyện ngắn_ Những vấn đề lý thuyết và thực
tiễn thể loại, Nxb ĐHQG Hà Nội.
51. Phạm Thị Thật, Các nhà văn Pháp đương đại và thi pháp truyện ngắn,
Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 25, 2009
52. Thuật ngữ thần học (2003), Học viện Đa Minh, TpHCM
53. Đỗ Lai Thúy (2004), Giới thiệu “Lịch sử văn học như là sự khiêu khích
đối với khoa học văn học”, http://evan.vnexpress.net/news/phe-
binh/2004/01/3b9ad3f8/
54. Lộc Phương Thủy (2007), Lí luận – phê bình văn học thế giới thế kỉ XX,
Nxb Giáo dục ,Hà Nội.
55. Lê Ngọc Trà, Phùng Quí Nhâm (1997), Lí luận văn học, nxb ĐHQG
TP.HCM.
56. Hoàng Trinh (1998), Giao tiếp trong văn học, Tạp chí văn học số 4.
57. Hoàng Trinh (1980), Văn học so sánh và vấn đề tiếp nhận văn học, Tạp
chí văn học số, 1980
58. Phùng Văn Tửu, Một phương diện của truyện ngắn, Tạp chí văn học 2-
1996 .
59. Tzvetan Todorov (2008), Thi pháp văn xuôi, Đặng Anh Đào – Lê Hồng
Sâm dịch, Nxb ĐHSP, Hà Nội.
60. Lê Thị Như Vân (2010), Nghệ thuật kể chuyện trong người Dublin của
James Joyce, Khóa luận tốt nghiệp văn học, trường ĐHKHXH và Nhân
văn, Tp. HCM
61. Huỳnh Vân (1990), Nhà văn, bạn đọc và hàng hóa sách hay văn học và
sự dị trị, Tạp chí văn học số 6.
62. Huỳnh Vân (1990), Quan hệ văn học_ Hiện thực với vấn đề tiếp nhận,
tác động và giao tiếp thẫm mỹ, trong “Văn học và hiện thực”, Nxb
KHXH, TP HCM.
63. Huỳnh Vân (2009), Vấn đề tầm đón đợi và xác định tính nghệ thuật của
văn học trong Mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss, Tạp chí nghiên
cứu văn học số 3.
64. Nguyễn Thế Vinh , Vài nét về nền văn học Ailen, tạp chí VHNN, số 6 –
2005
65. Nguyễn Thế Vinh, James Joyce – chân dung một nghệ sĩ, tạp chí VHNN
số 6 – 2005
66. Will Durant (2008), Câu chuyện triết học, Bửu Đích, Trí Hải dịch,Nxb
* Tiếng Anh
VHTT, Hà Nội.
67.Alfred J.Drake, Not on W.W ,http://ajdrake-212-fall-
09.blogspot.com/2009/08/week-02.html.
68. Codell D.K Yee, The word according to James Joyce: reconstruction
representation, Associate university Presses,1997
69.David Pierce, Reading Joyce, Pearson Education Limited, United
Kingdom, 2008
70. Dublin literature Guide, http://www.teachervision.fen.com/curriculum-
planning/teaching-methods/3518.html
71. Garry M. Leonard, Reading Dubliner again : A Lacanian perspective,
http://muse.jhu.edu/journals/modern_fiction_studies/v041/41.2br_leonard.html
72. Harold Bloom, Biography of James Jyce, Chealse Houre Publishers,
United Kingdom,2003
73. James Joyce (1991), Dubliners, Lond: David Campbell.
74. John Wyse Jackson and bernarrd McGinley, James Joyce ‘s Dubliners,
Reed Books Ltd, Great Britain
75. Joyce ‘s Dubliners as Epiphany,
http:www.Themodernword.com/Joyce/paper_Valente. Html
http://wwwproessay.com/essay-topics/james-joyce/one-good-lookat-
76. One Good Look at themselves Epiphany in Dubliners ,
themselves-epiphany
77. Takashi Suzuki, Epipphanies in Dubliners, http://www.hmt.u-
toyama.ac.jp/kenkyu/kiyo47/suzukit47.pdf
78. Wallace Gray, James Joyce ‘s Dubliners, http://www.mendele.com
79. Wim Tigges (1999), (edition Rodopi), Moment of moment_ Aspects of
the Literary Epiphany, B. V Amsterdam_ Atlanta, GA.
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: KHÔNG GIAN CỦA NHỮNG KHOẢNH KHẮC EPIPHANY
Truyện 1. Chị em gái
Kiểu không gian Đường phố; những căn phòng
2.Một cuộc chạm trán
3.Araby phòng,
Trường học và đường phố. Những căn đường phố và hội chợ.
4. Eveline
5. Sau cuộc đua
Nhà cửa ,phố xá, cửa hàng, bến tàu. Nhà cửa, phố xá và phòng.
6.Hai chàng ga lăng 7.Nhà trọ Đường phố, quán ăn Phòng
8.Đám mây nhỏ sở,đường phố,
Công quán rượu, nhà
9.Những bản sao
Công sở, quán rượu, nhà
10.Đất sét
Công sở, đường phố, nhà Nhà, đường phố
tăm, chật chội, Phòng hội đồng
11.Một trường hợp đau lòng 12. Ngày thường xuân trong phòng hội đồng 13. Một người mẹ thớt, ảm đạm, Phòng hòa nhạc
14.Ân sủng 15. Người chết Đặc điểm Đối lập sáng tối, ngột ngạt, tù túng, đầy hoang mang và hoài nghi. Ngột ngạt, tù túng, quẩn quanh. Đầy bóng tối,ngột ngạt, căng thẳng, u buồn và thất vọng Tối tăm, bụi bặm, ngột ngạt và căng thẳng. Đối lập sáng tối, không gian phòng chật hẹp, u ám. Tối tăm, quẩn quanh. Nhiều khoảng tối che giấu những điều giả dối, âm mưu. Phố xá trưng ra cảnh tồi tàn, quán rượu ồn ào sôi nổi và nhà thì như một chiếc lồng giam Tối tăm, ngột ngạt, lạnh lẽo, quán rượu thì ồn ào, xô bồ Chật chội, vòng vèo, xa lạ Đơn điệu, tẻ nhạt, tối tăm Tối nghèo nàn Thưa căng thẳng Phòng và giáo đường Chật chội, mờ tối Phòng tiệc, phòng ngủ Chật chội, gò bó
Phụ lục 2: CÁC ĐIỂM RƠI EPIPHANY CỦA NHÂN VẬT
Truyện Ánh sáng (Thị Âm thanh (Thính Điểm rơi
1. Chị em gái
giác) Mang tính biểu tượng_ Lễ Giáng Sinh giác) Giọng thầm thì xưng tội của ông linh mục
2.Một cuộc chạm trán
3. Araby
Đôi mắt tôi rực lên
4. Eveline
Những cửa sổ của con tàu sáng rực đèn Tiếng nhân vật tôi gọi bạn vang cả bãi đất Tiếng thông báo của hội chợ sắp tắt đèn Tiếng chuông, tiếng Frank gào lên gọi cô
Tiếng người bạn Hungary báo là đã bình minh
6.Hai chàng ga lăng
7.Nhà trọ
Tiếng mẹ gọi dưới nhà
5. Sau cuộc đua Ánh sáng hắt vào từ khung cửa vừa được mở Đồng tiền vàng sáng giữa tỏa lòng bàn tay Đám gối màu trắng làm bừng lên trong tâm trí Polly ánh sáng kỉ niệm
8.Đám mây nhỏ Hai má Chandler
rực lên xấu hổ
epiphany Cậu bé nhận ra bản chất buôn thánh thần bán của linh mục Cậu bé tự nhận thức về bản thân mình. Cậu bé nhận ra bản chất của cuộc đời Eveline nhận ra mình không thể vượt thoát, mình là tù nhân mãi cuộc của mãi sống Jimmy nhận ra mình là con thiêu thân thảm hại. Nhân vật không rơi điểm có epiphany Polly nhớ ra điều cô đang đợi (còn Doran với đôi mắt luôn bị che mờ, không có rơi điểm epiphany Chandler ý thức được thân phận tù nhân cuộc sống của mình
9.Những bản sao Căn bếp tối tăm lạnh lẽo _Không có ánh sáng Tiếng đứa bé tiếng khóc, Chandler hét nó và tiếng người vợ giận dữ Tiếng đứa con trai ré lên vì bị đòn đau
10.Đất sét
Maria bị bịt mắt Không ai nói cho bà biết bà đã bắt được đất sét và bà đã hát sai Farrington không còn tỉnh táo để nhận ra bản chất và hoàn cảnh của mình Maria không có được điều kiện để Epiphany về hoàn cảnh của
trường
11.Một hợp đau lòng
Ánh đèn thành phố rực rỡ, dòng sông lấp lánh
Mr Hynes với gương mặt đỏ bừng
12.Ngày Thường xuân trong phòng Hội đồng 13. Một người mẹ Đôi mắt quắt lên
của bà Kearney Tiếng động cơ của đoàn tàu, tiếng bà Sinico vang tai trong ông tay, Tiếng vỗ tiếng chai bia bật nắp ra Những nốt nhạc vang lên
14. Ân sủng
15. Người chết tuyết rơi
thuyết Tiếng giảng của cha Purdon Tiếng dịu nhẹ
Vầng sáng màu đỏ xa xa phía trước Ánh sáng le lói chạm vào kính cửa sổ
mình. Mr Duffy nhận ra mình bị đẩy ra tiệc khỏi bữa cuộc sống, mình cô độc Các nhân vật không có điểm rơi epiphany Các nhân vật có thể nhận ra bản chất bà Kearney Các nhân vật không có điểm rơi epiphany Gabriel nhận ra mình đang đến gần hơn thế giới của những người chết.
Phụ lục 3: CÁC LOẠI THẤT VỌNG CỦA NHÂN VẬT
1. Chị em gái
Cậu bé xưng tôi- người kể chuyện
2. Một cuộc chạm trán Cậu bé xưng tôi-người
kể chuyện
3.Araby
Cậu bé xưng tôi- người kể chuyện
4.Eveline Eveline
tắc,
lối
5.Sau cuộc đua Jimmy
6.Hai chàng ga lăng Lenehan
7.Nhà trọ Doran
8.Đám mây nhỏ Little Chandler
9. Những bản sao Farrington
James Duffy
10.Một trường hợp đau lòng 11.Người chết Gabriel Conroy
Thất vọng về bản chất vị linh mục đại diện cho các thể chế tôn giáo. Thất vọng về bản chất con người, về thói đạo đức giả. Thất vọng về sự phù hoa của cuộc đời và sự phù phiếm của ước mơ. Thất vọng về hoàn cảnh tuyệt vọng, bế không thoát của mình. Thất vọng về các ảo tưởng của bản thân Thất vọng về hoàn cảnh sống mòn mỏi, bế tắc, tối tăm của mình Thất vọng về tình yêu và hôn nhân Thất vọng về hoàn cảnh bế tắc không lối thoát, không thể đạt được ước mơ. Thất vọng về công việc và gia đình, hoàn cảnh bế tắc, tối tăm. Thất vọng về chính bản thân mình Thất vọng về bản thân mình trong tình yêu, gia đình và cuộc sống
Phụ lục 4:
Con sông Liffey chia Dublin thành hai bờ Nam- Bắc với những khác biệt sâu sắc về chính trị, tôn giáo và kinh tế
James Joyce (1882_1941
Bìa cuốn “Dubliners” do Grant richards xuất bản 1914
Bìa cuốn “Người Dublin” do Vũ Mai Trang chuyển ngữ
Dublin về đêm

