BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM
VÕ HỒNG SA LUẬN VĂN THẠC SĨ SO SÁNH TU TỪ TRONG
TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ ANH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
3
QUY ƢỚC VIẾT TẮT
CSSS: Cở sở so sánh
ĐHQG: Đại học Quốc gia
ĐH & TCCN: Đại học và trung cấp chuyên nghiệp
GD: Giáo Dục
HN: Hà Nội
KHXH: Khoa học xã hội
Nxb: Nhà xuất bản
Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
SSTT: So sánh tu từ
C-V: chủ ngữ - vị ngữ
TN: tục ngữ
4
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tục ngữ (TN) có liên hệ mật thiết với hầu hết mọi lĩnh vực của đời
sống, từ việc thể hiện tƣ duy, lối sống, thái độ sống đến việc hỗ trợ làm đẹp
lời nói con ngƣời. Ngƣời Việt Nam xem TN nhƣ “hạt cườm của tư duy bác
học”, là “giọt đọng trong văn chương” [16]. Alfred Lord Tennyson – nhà thơ
nổi tiếng ở Anh vào thế kỉ XIX – ca ngợi TN “là những đồ châu báu mãi mãi lấp lánh trên ngón tay trỏ vươn dài của mọi thời đại”(1) [18, tr.7]. Có thể
khẳng định không một thể loại nào của văn học dân gian đƣợc sử dụng
thƣờng xuyên nhƣ TN. Ở Việt Nam cũng nhƣ nhiều quốc gia khác trên thế
giới, các nhà văn có tài thƣờng là những ngƣời biết quý trọng và sử dụng rất
sáng tạo vốn TN của dân tộc mình. Do đó, khi nghiên cứu văn học nói chung
và văn học dân gian nói riêng, chúng ta không thể bỏ qua thể loại TN.
Trong TN, so sánh là một biện pháp tu từ phổ biến. Từ xƣa ông cha ta
đã nhận ra không có cách nào làm cho ngƣời nghe nhanh chóng hiểu những
điều mình nói bằng một sự so sánh cụ thể. Thủ pháp này góp phần hữu hiệu
vào việc miêu tả, khắc họa những bài học kinh nghiệm trong TN thông qua
những mối tƣơng quan về mặt hình ảnh. Do đó, tìm hiểu so sánh tu từ (SSTT)
trong TN Việt sẽ góp phần làm rõ đặc điểm của thể loại và nâng cao chất
lƣợng giảng dạy TN Việt ở nhà trƣờng các cấp hiện nay.
Hơn nữa, trong xu thế hội nhập hiện nay, tiếng Anh đang đƣợc sử
dụng phổ biến và trở thành ngôn ngữ chính thức ở nhiều quốc gia. Ở Việt
Nam càng ngày càng có nhiều ngƣời học và sử dụng tiếng Anh. Do đó, những
(1) “Proverbs are jewels that on the stretched forefinger of all time sparkle forever.”
hiểu biết về SSTT nói riêng và TN Anh nói chung sẽ giúp ngƣời học không
5
chỉ biết mà còn hiểu sâu sắc hơn về ngôn ngữ và nền văn hóa của đất nƣớc
này.
Cuối cùng, việc tìm hiểu sự tƣơng đồng và khác biệt giữa SSTT trong
TN Việt và TN Anh sẽ ít nhiều làm rõ tƣ duy thẩm mỹ và bản sắc văn hóa của
mỗi dân tộc. Hiểu ngƣời cũng là một cách để hiểu mình hơn. Hi vọng rằng
đây sẽ là một tài liệu hữu ích cho việc giảng dạy và học tập chuyên đề TN của
học sinh, sinh viên Việt Nam ở nhà trƣờng các cấp cũng nhƣ của sinh viên
nƣớc ngoài ở các khoa Việt Nam học.
Đó là lý do ngƣời viết chọn đề tài “SSTT trong TN Việt và TN Anh”
làm đối tƣợng nghiên cứu.
0.2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Việc nghiên cứu so sánh tu từ trong TN Việt và TN Anh đã ít nhiều
đƣợc đề cập đây đó trong các công trình nghiên cứu chung về TN.
Ở Việt Nam, nhiều chuyên luận về TN có giá trị đã ra đời dƣới góc
nhìn của các nhà nghiên cứu văn học dân gian nhƣ: TN Việt Nam của Chu
Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri [12], Tìm hiểu thi pháp TN Việt
Nam của Phan Thị Đào [14], Tục ngữ Việt Nam – cấu trúc và thi pháp của
Nguyễn Thái Hòa [24], Khảo và luận về tục ngữ người Việt của Triều Nguyên
[47], Văn học dân gian Việt Nam [77], Thi pháp văn học dân gian [57],….
Những công trình này thƣờng xoay quanh các vấn đề: xác định khái niệm, tìm
hiểu nội dung và hình thức diễn đạt của TN, mối quan hệ giữa TN và các thể
loại văn học khác. Các tác giả cũng ít nhiều có nói đến SSTT.
Chu Xuân Diên trong quyển “TN Việt Nam” (Nxb. KHXH, 1993) đã
có những nhận xét ngắn gọn, hợp lí về lối ví von, so sánh. Trƣớc tiên, ông cho
rằng “Có thể tìm thấy hình thức ví von so sánh trong những câu TN mà các
6
phán đoán thực hiện tư tưởng khẳng định về một đặc điểm nào đó của đối
tượng bằng cách so sánh, liên hệ đối tượng ấy với đối tượng khác. Thí dụ:
“Cơm với cá như mạ với con”, “Ăn cơm không rau như đau không thuốc”,
“Xe không bánh như cánh không lông”, “Vợ chồng như đũa có đôi”, “Con
có cha như nhà có nóc”, “Lòng người nhu bể khôn dò”,…” [12, tr.170]
Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến một biến dạng của cấu trúc so sánh,
trong đó, hai vế là hai phán đoán riêng biệt, gắn bó với nhau bằng mối quan
hệ so sánh, có thể diễn đạt bằng liên từ “cũng như”. Thí dụ: “Người đẹp về
lụa (cũng như) lúa tốt về phân”, “Canh suông khéo nấu thì ngon (cũng như)
mẹ già khéo nói thì con đắt chồng”, “Miếng ngon nhớ lâu (cũng như) lời đau
nhớ đời”, “Chim khôn chưa bắt đã bay (cũng như) người khôn chưa nói dang
tay đỡ lời”, “Uốn cây từ thuở còn non (cũng như) dạy con từ thuở con còn
ngây thơ”. [12, tr.170]
Trong quy mô của một công trình nghiên cứu chung về TN, kết quả
nghiên cứu của tác giả về SSTT chỉ dừng lại ở mức độ khái quát.
Trong công trình “Tìm hiểu thi pháp TN Việt Nam” (Nxb. Thuận Hóa,
Huế, 2001) , khi trình bày các thủ pháp tạo nghĩa trong TN, Phan Thị Đào có
đề cập đến SSTT. Sau khi trình bày khái niệm so sánh, tác giả chú ý khu biệt
giữa so sánh nghệ thuật trong ca dao và TN. Ở ca dao, “cái cần so sánh
thường là những cái trừu tượng, thuộc phạm trù tinh thần (thân phận người
con gái, quan hệ tình yêu lứa đôi,…), cái dùng để so sánh phần nhiều là
những cái cụ thể, thuộc phạm trù vật chất (hạt mưa sa, con hạc đầu đình, tấm
lụa đào, giếng giữa đàng, miếng cau khô, cây quế giữa rừng, lửa mới nhen,
trăng mới mọc, đèn mới khêu, con ong, con tằm,…) và qua cái dùng để so
sánh, cái cần so sánh được cụ thể hóa.” [14, tr.141]
7
Trong khi đó, ở TN, theo tác giả, tình hình khác hẳn. “Cái cần so sánh
lẫn cái dùng để so sánh hầu hết là cái cụ thể, tuy khác loại nhưng đều thuộc
phạm trù vật chất. Vai trò chủ yếu của vế dùng để so sánh không thiên về
hướng cụ thể hóa mà thiên về hướng khái quát hóa, “quy luật hóa” điều được
nêu lên ở vế cần so sánh.” [14, tr.142]
Tác giả còn đề cập đến cơ sở so sánh (CSSS): “chuẩn mực so sánh
trong TN cũng rất đa dạng. Bởi thế, qua TN, chúng ta có thể tìm thấy những
cách liên tưởng bất ngờ, góp phần tạo ra cho người đọc những ấn tượng thẩm
mỹ khá phong phú”; tác dụng của so sánh: “nghiêng về nhận thức, nghiêng về
lí trí”; cấu trúc của so sánh: “do sự hạn chế về độ dài của câu nên so sánh
trong TN thường là so sánh đơn, rất ít kiểu so sánh chuỗi như trong ca dao”.
[14, tr.142]
Ở công trình “Thi pháp văn học dân gian” (Nxb. GD, 2000), Lê
Trƣờng Phát cũng đề cập ngắn gọn đến phép so sánh. Về phƣơng diện cấu
trúc, tác giả cho rằng so sánh thƣờng đƣợc thể hiện bằng hai vế, vế đầu là hiện
tƣợng cần đƣợc biểu đạt một cách hình tƣợng, vế sau là hiện tƣợng dùng để so
sánh. TN rất cô đúc, ngắn gọn nên lối so sánh chuỗi rất hiếm mà thƣờng xuất
hiện lối so sánh đơn. Về từ ngữ, tác giả cho rằng giữa hai vế đƣợc nối với
nhau bằng kết từ so sánh: như, như là, như thể, bằng, hơn,…Tác dụng của so
sánh trong TN thiên về hƣớng khái quát hóa, quy luật hóa; nghiêng về lí trí,
nhận thức. [57, tr.114 – 115]
Quan niệm của ông tƣơng đối thống nhất với quan niệm của Phan Thị
Đào trong chuyên luận “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam”. Tuy nhiên,
việc ông cho rằng về phƣơng diện cấu trúc, so sánh thƣờng đƣợc thể hiện
bằng hai vế là chƣa chính xác. Đồng thời, khi liệt kê các kết từ so sánh, ông
liệt kê cả từ “hơn” vào, trong khi cơ sở liên tƣởng của SSTT là dựa trên mối
8
quan hệ tƣơng đồng, chứ không nhằm xác định sự hơn thua giữa các đối
tƣợng.
Trong công trình “TN Việt Nam – cấu trúc và thi pháp” (Nxb. KHXH,
1996), Nguyễn Thái Hòa khi trình bày về kiểu câu có quan hệ so sánh tƣơng
đƣơng đã có những gợi ý vô cùng hữu ích về các từ nối. Chẳng hạn, từ so
sánh sẽ vắng mặt khi giữa phần nêu và phần báo có kiến trúc sóng đôi khá
chặt hoặc có sự đối nghĩa. Còn “như” đƣợc dùng trong các so sánh có tính
chất miêu tả, khi có một số nét nghĩa giống nhau giữa hai loại, hai sự kiện hay
hiện tƣợng đƣợc đƣa ra so sánh. “Bằng” là so sánh về giá trị. “Là” thì đƣợc
dùng trong kiểu câu so sánh có tính chất tƣờng giải, có tính hình tƣợng, đồng
thời thể hiện thái độ khen chê rõ rệt. [24, tr.84 – 93]
Nhìn chung, tuy chỉ mới dừng lại ở mức ngắn gọn và sơ lƣợc nhƣng
những nhận định trên đây là gơ ̣i ý ban đầu quý báu cho nh ững nghiên cứu cụ
thể về sau.
Ở Anh, khi tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về SSTT, Pierini Patrizia trong công trình “Simile in English: from description to translation” (2) nhận
(2) “While metaphor has attracted interest and research in a number of different disciplines –
philosophy, linguistics, cognitive psychology, literary theory and criticism – with an extraordinary
amount of papers and books on the subject, simile is much less investigated.” “Simile is a figure of
speech used in general language as well as specialized language, in everyday conversation as well
as literary, journalistic and promotional texts. Research on simile is carried out within rhetoric
(e.g. Mortara Garavelli 2002, 251 – 252), literary studies (e.g. Wellek & Warren 1973, 186 – 211),
linguistics and psycholinguistics (Ortony 1993; Miller 1993, Bredin 1998), often discussing simile
along with metaphor.”
thấy: trong khi thủ pháp ẩn dụ thu hút sự tìm hiểu của nhiều ngành khác nhau
9
nhƣ triết học, ngôn ngữ học, tâm lí học, lí thuyết và phê bình văn học,…với
vô số các bài báo và sách nghiên cứu thì SSTT ít đƣợc quan tâm hơn, chỉ
đƣợc đề cập lƣớt qua khi nhân tiện (simply mentioned in passing) trong các
công trình chung về tu từ học (nhƣ Mortara Garavelli, 2002, tr.251 – 252), nghiên cứu văn học (Wellek & Warren, Theory of literature, Penguin, 2nd
edition, 1973, tr. 186 – 211), ngôn ngữ học và ngôn ngữ tâm lý (Andrew
Ortony, Miller, George A., Images and models, Similes and metaphors, Cambridge University Press, 2nd edition, 1993; Hugh Bredin, Comparisons
and similes, Queen’s University, Northen Ireland, United Kingdom, 1998)
[103].
Còn SSTT trong TN Anh chỉ đƣợc các nhà nghiên cứu liệt kê rải rác
trong các công trình về văn bản học chứ chƣa thấy tài liệu nào chuyên viết về
vấn đề này.
Intensifying similes in English của Svartengren T. Hilding [108] là
công trình sƣu tầm về các SSTT xuất hiện trong ngôn ngữ và văn học Anh nói
chung, trong đó tác giả có trích dẫn cả các SSTT trong TN, từ các nguồn sau:
Ray, Complete Collection of English Proverbs, Cambridge, 1670.
Hazlitt, W. C, English Proverbs and Proverbial Phrases, 1904,
London.
Coivan, PS, Frank C, A Dictionary of the Proverbs relating to the
Sea, Greensborough, 1894.
Ở đây, SSTT đƣợc sắp xếp theo các đề tài: trí tuệ, tính cách (similes
referring to mind and character), cơ thể ngƣời (similes chiefly referring to the
human body); hình dáng, màu sắc, kích cỡ, hình thức và bản chất của sự vật
(similes otherwise referring to form, to colour, size, the surface and substance
10
of things); SSTT có ý nghĩa cụ thể (definite similes) và có ý nghĩa tổng quát
(indefinite or general similes).
Ngoài phần sƣu tầm, tác giả có bài giới thiệu về công trình ở đầu
quyển sách. Tác giả có trình bày quan niệm của mình về SSTT qua một số ví
dụ:
(1) The giant whom Jack killed was as high as a house.
(Tên khổng lồ mà Jack giết cao như một ngôi nhà.)
(2) The bricklayer thinks that his scaffold was just as high as a house.
(Người thợ nề nghĩ rằng giàn giáo của anh ta cao vừa bằng ngôi nhà.)
Trƣờng hợp (1) là một SSTT, còn trƣờng hợp (2) chỉ là một sự đo
lƣờng, ƣớc lƣợng xác thực, không có giá trị tu từ.
Ngoài việc sƣu tầm các SSTT, tác giả còn hi vọng rằng quyển sách
này sẽ tìm ra phần nào sở thích, kinh nghiệm, hoàn cảnh sống, cách nhìn, quan điểm của những ngƣời sáng tạo ra chúng. (3)
Với tƣ cách là một công trình sƣu tầm về SSTT trong văn học Anh nói
chung và TN nói riêng, “Intensifying similes in English” chỉ dừng lại ở việc
liệt kê ra những SSTT trong TN mà chƣa có sự miêu tả cụ thể về đặc điểm,
(3) “The aim of this work is not only to collect these similes, but to try to find out the
human interests behind them, the experiences and the circumstances of life and the outlook upon
life that have helped to create them.”
bản chất của chúng.
11
Trong bài báo “Comparisions and similes” của Bredin, Hugh
(Queen’s University, 1998), ở phƣơng diện ngôn ngữ, ông đề cập đến 2 vấn
đề: so sánh và SSTT. Ông cho rằng sự khác biệt giữa so sánh thông thƣờng và
SSTT nằm ở chỗ SSTT là so sánh vị ngữ, nhằm miêu tả về chủ ngữ. Còn so
sánh thông thƣờng là một so sánh đối xứng, trong đó chủ ngữ và vị ngữ hoàn
toàn độc lập. Trong các so sánh thông thƣờng, chủ ngữ và vị ngữ có thể thay thế cho nhau mà nghĩa của câu không thay đổi. (4)
Ở phần cuối của bài viết, ông cũng chỉ ra SSTT hoàn toàn khác biệt, độc lập với ẩn dụ (5). Cả so sánh và ẩn dụ đều đƣợc thiết lập dựa trên mối quan
hệ giữa hai thực thể nhất định, nhƣng hai biện pháp tu từ này khác nhau ở 3
phƣơng diện sau: SSTT đối chiếu các thực thể đƣợc đề cập văn bản với nhau,
trong khi ẩn dụ so sánh thực thể này với một khái niệm hoàn toàn khác; SSTT
có thể có nghĩa đen hoặc nghĩa bóng, ẩn dụ thì chỉ đƣợc hiểu theo nghĩa bóng;
SSTT đƣợc đánh dấu bằng nhiều phƣơng tiện thể hiện quan hệ so sánh khác
nhau, ẩn dụ thì không có dấu hiệu nào trên bề mặt. Có lẽ còn có một sự khác
biệt nữa giữa hai biện pháp tu từ này, xét về mặt ảnh hƣởng, tác động, SSTT
(4) “The difference between a simile and an ordinary comparison, however, is that similes are predicative comparisons (in which the predicate describes the subject), and ordinary comparisons are symmetrical comparisons (in which the subject and the predicate are referentially independent). In the latter, but not in the former, the subject and the predicate can be intersubstituted without any consequential change of meaning. Some concluding remarks deal with simile in discourse and in literature, and demonstrate that simile is quite different from, and independent of, metaphor.”
(5) “Both simile and metaphor establish a connection between two entities, but the two figures differ in three respects: simile compares the entities, while metaphor conceptually assimilates them to one another; the former can be literal or non-literal, the later is only non-literal; the former is signalled by a variety of comparision markers, the later has no surface marker. Probably, there is also a difference in impact: a simile usually has less power, suggestiveness and effectiveness than a good metaphor.”
ít có sức thu hút, tính chất gợi mở và hiệu quả, ấn tƣợng bằng ẩn dụ tu từ. [84]
12
Quan niệm của Hugh Bredin đƣợc đánh giá rất cao ở Anh và đƣợc
nhiều nhà nghiên cứu sau này kế thừa, trích dẫn.
Trong công trình sƣu tầm văn bản Fifteen thousand useful phrases/
Striking similes (Funk & Wagnalls company, 1917), Kleiser Grenville đã
dành chƣơng 8 để liệt kê các SSTT nổi bật tổng hợp từ nhiều nguồn khác
nhau gồm thành ngữ, TN, các tác phẩm văn học viết, báo chí,… [92]
Ngoài ra, ở Anh còn có hai quyển từ điển về SSTT của Wilstach & Frank Jenners: A dictionary of similes (6); Ruth Paris & Robert Baldwin: The Book of Similes(7). Các quyển từ điển này liệt kê SSTT theo thứ tự A – B – C,
cũng lấy từ nhiều nguồn khác nhau nhƣ văn học dân gian, sách vở, kinh thánh,
các tác phẩm văn học viết,…
Trong các giáo trình về văn học Anh nhƣ Introduction to English
folklore [80]; English literature [87]; A course in British literature [98]; Lịch
sử văn học Anh quốc [40] …; ngƣời viết cũng không thấy các nhà nghiên cứu
đề cập đến vấn đề SSTT trong TN.
Tóm lại, theo tài liệu chúng tôi tìm đƣợc, các nhà nghiên cứu văn
học, ngôn ngữ ở Anh chƣa xem SSTT trong TN của nƣớc họ là một đối tƣợng
nghiên cứu riêng biệt.
Về việc nghiên cứu đối chiếu giữa TN Việt và TN Anh, hiện nay
công việc này chủ yếu vẫn dừng lại ở việc so sánh TN về phƣơng diện văn
hóa nhƣ: “Khảo luận về TN người Việt [47] của Triều Nguyên, “Dấu ấn văn
hóa qua TN” [10] của Nguyễn Đức Dân, “So sánh TN Anh – Việt trong quá
trình hình thành và phát triển” [25] của Nguyễn Thƣợng Hùng, “Một số biểu (6) London, G.G. Harrap & Company, 1917. (7) Illustrated by David Austin, Publishing: Routledge & Kegan Paul, London, 1982.
13
hiện của văn hóa qua các thành ngữ, TN có từ chỉ bộ phận cơ thể người trong
tiếng Anh và tiếng Việt” [17] của Nguyễn Thị Vân Đông, “Ngôn ngữ với việc
phản ánh các yếu tố văn hóa và nhân sinh quan – thông qua TN Việt, Anh”
[41] của Nguyễn Văn Mƣời, … Một số kết quả nghiên cứu của các công trình
trên là định hƣớng quý báu cho ngƣời viết khi đi vào lí giải dấu ấn văn hóa
qua SSTT trong TN ở chƣơng III của luận văn.
Về nghiên cứu đối chiếu SSTT trong TN Việt và Anh, ngƣời viết tìm
đƣợc bài viết “Phép tỉ dụ trong TN Việt – Anh” của Trần Văn Phƣớc, Hoàng
Kim Anh [59]. Bài viết này đƣợc triển khai theo thứ tự: khái niệm phép tỉ dụ,
cấu trúc, phân loại, đặc điểm về ngôn ngữ của tỉ dụ Việt Anh, đặc điểm về văn
hóa của tỉ dụ Việt Anh. Ở phần cấu trúc phép tỉ dụ, hai tác giả cho rằng cấu
trúc này vô cùng đơn giản, gồm hai thành tố, đƣợc nối với nhau bằng liên từ.
Nhƣng khi liệt kê liên từ, họ có sự nhầm lẫn giữa so sánh logic và SSTT khi
liệt kê cả dạng so sánh hơn “-er than”, “more than” trong TN Anh, “không
bằng, chẳng bằng, không tày, chẳng tày, hơn” trong TN Việt.
Ở phần phân loại, các tác giả phân loại phép tỉ dụ theo quan điểm của Juozas Tininis (8) (dựa vào thành tố thứ nhất – trƣớc từ nối) và IR. Galperin (9)
(dựa vào thành tố thứ hai – sau từ nối). Nhƣng ngay từ đầu, các tác giả đã có
một sự nhầm lẫn. Đó là việc nhập nhằng giữa khái niệm thành ngữ và TN,
nên đã dẫn cả những ví dụ minh họa sau:
TN Việt:
-Béo như chim ra ràng.
-Nhanh như ngựa chạy trạm.
(8) Juozas Tininis (1971), Similes in Lithuanian Folk Proverbs, Lituanus Foundation, Inc., Lituania.
(9) I.R. Galperin (1971), Stylistics, Higher School Publishing House, Moscow
-Nháo nhác như gà lạc mẹ.
14
TN Anh:
-Like a drowned rat. (Nhƣ chuột chết chìm.)
-To swim like a duck. (Bơi nhƣ vịt.)
-As snug as a bug in a rug. (Thoải mái và ấm áp nhƣ rệp
trong chăn.)
-To fit like a glove. (Vừa vặn nhƣ chiếc găng tay.)
-To stick to somebody like a leech. (Dính ai nhƣ đỉa.)
-To eat like a pig. (Ăn nhƣ heo/lợn.)
Còn trong phần đặc điểm về ngôn ngữ trong tỉ dụ Anh, Việt, các tác
giả đƣa ra ba luận điểm: tính âm thanh của lời nói (lặp vần, lặp âm đầu), tính
đa thành tố (hai vế, ba vế so sánh), tính tiềm ẩn của liên từ so sánh. Trong
phần đặc điểm về văn hóa của tỉ dụ trong TN Việt Anh, họ đƣa ra ba luận
điểm: tính dân tộc, tính hài hƣớc châm biếm, tính sáo ngữ. Các luận điểm
thƣờng ngắn, không có sự lí giải và chỉ đƣợc chứng minh bằng vài câu TN (có
lẫn cả thành ngữ).
Nhìn chung, trong giới hạn của một bài viết ngắn đăng trên tạp chí, hai
tác giả không thể đào sâu để nói cho đủ, nói cho hết về vấn đề này. Phƣơng
pháp nghiên cứu còn chƣa hợp lí, tài liệu khảo sát chƣa xác đáng, dẫn đến kết
quả chỉ mới dừng lại ở mức định hƣớng, gợi ý sơ lƣợc cho những công trình
sau.
Tóm lại, trong phạm vi tài liệu mà ngƣời viết tìm hiểu đƣợc, chƣa có
công trình nào xem SSTT trong TN của ngƣời Việt và ngƣời Anh là đối tƣợng
nghiên cứu riêng biệt, chƣa có khảo sát nào thật sâu để làm nổi bật giá trị của
chúng. Trên tinh thần kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi
trƣớc, ngƣời viết hi vọng rằng có thể làm sáng tỏ phần nào sự tƣơng đồng và
15
dị biệt qua SSTT trong TN Việt và TN Anh dƣới góc độ ngôn ngữ học và văn
hóa học.
0.3. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
So sánh bao gồm so sánh logic và SSTT. Trong luận văn này, ngƣời
viết chỉ khảo sát thủ pháp so sánh với tƣ cách là phƣơng thức diễn đạt tu từ
“khi đối chiếu hai sự vật hiện tượng khác loại trong thực tế khách quan,
không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó,
nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng”. [31, tr.
157 – 159]
Ẩn dụ cũng là một phƣơng thức so sánh mà bản thân sự vật hiện tƣợng
đƣợc nói đến đã bị giấu đi một cách kín đáo. Luận văn sẽ không khảo sát thủ
pháp so sánh ngầm này mà chỉ tìm hiểu những biện pháp so sánh cụ thể trong
đó yếu tố đƣợc so sánh và yếu tố so sánh hiện diện rõ trên văn bản.
SSTT có thể đƣợc nghiên cứu từ nhiều góc độ, từ nhiều quan điểm
khác nhau, nhƣng ở luận văn này, do thời gian và khả năng có hạn, ngƣời viết
chỉ khảo sát các SSTT trong TN Việt và TN Anh từ góc độ ngôn ngữ học và
văn hóa học.
Ngoài ra, ngƣời viết không coi việc sƣu tầm văn bản, minh định
những vấn đề còn tồn nghi là nhiệm vụ cần giải quyết mà sẽ sử dụng kết quả
nghiên cứu của các công trình từ điển học đã đƣợc công bố rộng rãi. Cụ thể,
cơ sở của việc thống kê phân loại và khảo sát sẽ là:
+ Về TN Việt, ngƣời viết sử dụng các văn bản đƣợc in trong quyển
“TN Việt Nam” của Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri [12]. Sách
này gồm hai phần, phần nghiên cứu về TN do Chu Xuân Diên chấp bút, còn
phần biên soạn các câu TN do Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri
16
thực hiện. Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam sƣu tập TN với tƣ cách là
một thể loại riêng biệt, công phu. Trong đó, 4206 câu TN Việt đƣợc sắp xếp
theo hệ thống 73 đề tài rất khoa học. Công trình đƣợc giới nghiên cứu ở Việt
Nam đánh giá rất cao.
+ Về TN Anh, ngƣời viết chọn khảo sát các văn bản đƣợc in trong
quyển “The Penguin Dictionary of Proverbs” (Penguin Books) [86]. Ở Anh,
đây là quyển từ điển đơn ngữ tƣơng đối đầy đủ về TN gồm 6708 câu đƣợc sắp
xếp theo hệ thống 188 đề tài hợp lí. Trong mỗi đề tài, các câu TN đƣợc sắp
xếp theo từng nhóm thể hiện các khía cạnh khác nhau của đề tài. Đây là tài
liệu tham khảo vô cùng cần thiết cho những công trình nghiên cứu chuyên sâu
về TN Anh. Sách do nhà xuất bản rất uy tín ở Anh là Penguin ấn hành. Phần
chuyển ngữ các câu TN đƣợc in trong sách từ tiếng Anh sang tiếng Việt là do
ngƣời viết thực hiện.
Nhìn chung, mức độ bao quát và tần số xuất hiện của các hình ảnh
so sánh có thể sẽ dao động khi đối chiếu kết quả thống kê giữa công trình này
và công trình khác nhƣng chắc chắn rằng, những hình ảnh quen thuộc có ảnh
hƣởng đến đời sống vật chất và tinh thần của mỗi dân tộc sẽ có tần số xuất
hiện cao trong tất cả các công trình.
Sở dĩ ngƣời viết chọn khảo sát hai công trình văn bản học này vì
chúng đã tạo đƣợc tiếng vang rất lớn trong giới nghiên cứu, trong đó TN đƣợc
khảo sát với tƣ cách là một thể loại riêng biệt, không có sự nhập nhằng với
thành ngữ, và chúng đều đƣợc phân loại theo đề tài. Điều đó sẽ giúp chúng ta
có thể theo dõi đƣợc vốn TN phong phú, đa dạng của ngƣời xƣa “không phải
là trong trạng thái rời rạc, mà là trong một hệ thống nội dung liên tục, qua đó
hình dung được một cách tổng quát về xã hội và con người thời xưa từ các
17
lĩnh vực đời sống lao động, đời sống vật chất, đời sống xã hội, đến lĩnh vực đời sống tinh thần.” [12, tr. 191]
0.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Những phƣơng pháp chủ yếu mà ngƣời viết sử dụng trong quá trình
thực hiện luận văn gồm:
- Phƣơng pháp thống kê – phân loại: Đây là phƣơng pháp đƣợc tiến
hành đầu tiên nhằm cung cấp những dữ kiện, số liệu chính xác, tạo
cơ sở thực tế tin cậy cho các kết luận khoa học. Sử dụng phƣơng
pháp thống kê, ngƣời viết tiến hành phân loại các vấn đề theo nội
dung nghiên cứu yêu cầu. Đơn vị thống kê nhỏ nhất là từ thể hiện
quan hệ so sánh và lớn nhất là cả câu TN.
- Phƣơng pháp so sánh – đối chiếu: Đây là phƣơng pháp quan trọng
để làm nổi bật đặc trƣng văn hóa, quan niệm thẩm mỹ và trình độ
nhận thức của ngƣời sáng tạo. Đối tƣợng so sánh đối chiếu là SSTT
trong TN của ngƣời Việt và ngƣời Anh. Nội dung so sánh đối chiếu
là về hai phƣơng diện ngôn ngữ và văn hóa. Chẳng hạn, qua thao tác
so sánh, ngƣời viết nhận ra hình ảnh ma quỷ qua SSTT trong TN
Việt mang tính chất tiêu cực, còn trong TN thì mang cả tính chất
tiêu cực lẫn trung hòa.
- Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp: Dựa trên cơ sở phân tích các
thành tố so sánh cụ thể, ngƣời viết tiến hành khái quát những đặc
điểm tƣơng đồng và dị biệt để tổng hợp thành hệ thống các giá trị
của phép SSTT trong TN mỗi nƣớc ở phƣơng diện ngôn ngữ và văn
hóa.
- Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành: TN không chỉ đề cập đến
những kinh nghiệm trong sản xuất và đời sống của nhân dân mà còn
18
là nơi lƣu giữ lời ăn tiếng nói, phong tục tập quán, tín ngƣỡng của
ngƣời bình dân. Đƣợc lan truyền chủ yếu bằng phƣơng thức ghi nhớ
và truyền miệng, TN bị chi phối bởi môi trƣờng văn hóa dân gian
mà nó tồn tại. Do đó, để tiếp cận đƣợc với đối tƣợng này, chúng ta
cần có một phƣơng pháp nghiên cứu tổng hợp: nghiên cứu liên
ngành. Những kiến thức về các ngành khoa học khác nhƣ lịch sử,
địa lí, dân tộc học, xã hội học, đất nƣớc học,… sẽ giúp chúng ta hiểu
đƣợc các quan niệm khác nhau còn đƣợc lƣu giữ trong TN của mỗi
nƣớc. Chẳng hạn những hiểu biết về địa lí, khí hậu, về loại hình văn
hóa của dân tộc Việt và dân tộc Anh sẽ giúp ngƣời viết lí giải sự
khác biệt về hệ động thực vật, phƣơng thức sản xuất, cách tƣ duy,
nhân sinh quan của ngƣời Việt và ngƣời Anh trong luận văn.
0.5. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Về phương diện khoa học:
+ Luận văn góp phần làm rõ bản chất c ủa thể loa ̣i TN nói chung và
SSTT trong TN của hai dân tộc nói riêng. Đây là một công trình nghiên cứu
chuyên ngành hẹp, đi sâu tìm hiểu giá trị của phép SSTT trong TN Việt và
Anh thông qua tầm nhìn liên ngành.
+ SSTT trong TN thể hiện những tƣơng đồng và dị biệt trong cách tƣ
duy, tri nhận về sự vật của ngƣời bản ngữ. Nó đƣợc coi là phƣơng tiện để
khám phá ra những bí mật của quá trình tƣ duy cũng nhƣ những kinh nghiệm
đƣợc hình thành trong quá trình con ngƣời và giới tự nhiên tƣơng tác với nhau.
Qua SSTT trong TN của ngƣời Việt và ngƣời Anh, chúng ta có thể thấy đƣợc
văn hóa Việt, tinh thần Việt cũng nhƣ văn hóa Anh, tinh thần Anh. Đồng thời
cũng hiểu thêm phần nào cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ của hai dân tộc; về
lối cảm, lối nghĩ, lối diễn đạt riêng của mỗi nƣớc.
19
- Về phương diện thực tiễn:
+ Khi đi vào hƣớng nghiên cứu đối chiếu này, chúng ta có điều kiện
làm sáng tỏ thêm vấn đề đặc trƣng tâm lí cộng đồng trong chiều sâu ngôn ngữ,
văn hóa. Đây là cơ sở giúp ta mở rộng hiểu biết, tạo tiền đề cho quá trình hội
nhập.
+ Luận văn góp phần vào quá trình trang bị những tiền đề tâm lí – văn
hóa – xã hội, làm cơ sở cho việc hiểu sâu ngôn ngữ, trực tiếp góp phần nâng
cao chất lƣợng giảng dạy và học tập tiếng Anh cho ngƣời Việt cũng nhƣ tiếng
Việt cho ngƣời Anh.
+ Phần phụ lục ghi chép đầy đủ và có hệ thống về các trƣờng hợp
SSTT trong TN Việt và TN Anh có khả năng ứng dụng vào việc giảng dạy và
nghiên cứu về TN nói chung cũng nhƣ SSTT nói riêng.
0.6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Kết cấu luận văn ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung chính
gồm có các chƣơng mục sau:
Chương I: Những vấn đề chung về SSTT trong TN Việt và TN Anh
Trong chƣơng I, ngƣời viết sẽ trình bày khái quát các quan niệm khác
nhau về TN cũng nhƣ SSTT trong TN, từ đó lựa chọn cho mình một quan
niệm nhất quán để tiến hành việc khảo sát, nghiên cứu. Chƣơng I là cơ sở, nền
tảng cho các chƣơng sau.
Chương II: SSTT trong TN Việt và TN Anh, nhìn từ góc độ ngôn ngữ
học
Ở chƣơng II, tiếp cận SSTT dƣới góc độ ngôn ngữ học, ngƣời viết sẽ đi
vào làm rõ sự giống nhau và bản sắc riêng của mỗi dân tộc khi miêu tả từng
thành tố trong cấu trúc của SSTT. Việc lựa chọn có tính chất nhất quán đặc
20
điểm, cấu tạo của các yếu tố trong SSTT là dấu hiệu quan trọng cho phép ta
nhận diện đƣợc phong cách riêng của mỗi dân tộc. Để đánh giá các yếu tố
trong cấu trúc SSTT, ngƣời viết sẽ chú ý tìm hiểu xem các yếu tố trong so
sánh có đầy đủ không, cấu tạo và đặc điểm của chúng, …
Chương III: SSTT trong TN Việt và TN Anh, nhìn từ góc độ văn hoá
học.
Qua SSTT, chúng ta có thể nhận ra những đặc trƣng của phong cách
thời đại, phong cách dân tộc. Là đề tài vận dụng một khái niệm của phong
cách học (SSTT) vào việc tìm hiểu một thể loại văn học dân gian, ngƣời viết
sẽ khảo sát những nét tƣơng đồng và dị biệt trong quan niệm thẩm mỹ, bản
sắc văn hoá và trình độ nhận thức của mỗi dân tộc qua quá trình phân tích các
câu TN có chứa SSTT. Đó không chỉ là ngôn ngữ mà còn là dấu tích của các
nền văn hoá.
Ngoài ra luận văn còn có phần Phụ lục với 135 câu TN Việt có SSTT
và 178 câu TN Anh có SSTT. Các SSTT này đƣợc thống kê theo yêu cầu của
chính văn, chia thành 12 bảng. Trong đó, SSTT trong TN Việt và Anh đƣợc
phân loại theo yếu tố A, B về phƣơng diện đề tài và phƣơng diện từ vựng – cú
pháp. CSSS trong TN Việt và Anh đƣợc phân loại theo cấu tạo của chúng.
Ngoài ra còn có phụ lục về các hình ảnh lặp đi lặp lại ở yếu tố B trong SSTT
của TN Việt và Anh và bảng kê các số liệu đã đƣợc sử dụng trong luận văn.
Phần chuyển ngữ từ Anh sang Việt là do ngƣời viết thực hiện.
21
Phần thứ hai: NỘI DUNG
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SSTT TRONG TN VIỆT
VÀ TN ANH
1.1. KHÁI NIỆM TỤC NGỮ
1.1.1. Khái niệm TN ở Việt Nam
1.1.1.1. Khái niệm TN dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu văn học
Ở Việt Nam, khi tìm hiểu về TN các nhà nghiên cứu văn học thƣờng
nêu ra một số đặc trƣng sau đây:
+ Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao Việt Nam [56, tr. 39]:
“TN là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh
nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán.”
+ Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Văn học dân gian Việt Nam,
[26, tr.244]
“Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân
lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỉ.”
+ Bùi Mạnh Nhị, Tục ngữ// Văn học dân gian – những công trình
nghiên cứu [ 48, tr. 254]:
“Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp
điệu, hình ảnh và thường mang nhiều nghĩa, thể hiện những kinh nghiệm của
nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội), được nhân dân áp
dụng vào đời sống, tư duy và lời ăn tiếng nói hàng ngày.”
22
+ Hoàng Tiến Tựu, Văn học dân gian Việt Nam [77, tr.109]:
“TN là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu
lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức
những câu nói ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền”.
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã tìm hiểu, đào sâu
nghiên cứu TN ở cả phƣơng diện nội dung và hình thức.Theo các ý kiến trên,
nội dung của tục ngữ xoay quanh các kinh nghiệm, tri thức của dân gian; dƣới
hình thức một câu, ngắn gọn, súc tích, có vần điệu, giàu hình ảnh; do nhân
dân lao động sáng tạo và lƣu truyền qua nhiều thế kỉ. Những ý kiến trên đã
đặt nền móng vững chắc cho một quan niệm đầy đủ về TN.
Để việc nghiên cứu nhất quán và hiệu quả, trong quá trình làm việc,
chúng tôi xin dựa vào định nghĩa TN của Chu Xuân Diên và các tác giả khác
trong tiểu luận về “TN Việt Nam”. Trƣớc hết, quan niệm này đã cho ngƣời
đọc cái nhìn bao quát nhƣng cụ thể về TN, cho thấy vai trò của TN trong việc
phản ánh lối sống của con ngƣời trong từng thời đại, với lối nghĩ của nhân
dân và lối nói của dân tộc. Đó “là sản phẩm của sự nhận thức của nhân dân
về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan, chứa đựng và phản ánh
tri thức của nhân dân”, có chức năng “làm phong phú thêm những kinh
nghiệm sống của con người, từ đó xác định cho con người những phương
châm xử thế phù hợp”, với lối nói “có hình ảnh”, “hàm súc”, “bằng một
hình thái tu từ” và“bằng ngôn ngữ thẩm mĩ”. [12, tr.172]
1.1.1.2. Khái niệm TN dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu ngôn
ngữ học:
Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học cho ta góc nhìn khác về TN.
23
Cù Đình Tú trong “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ” [74,
tr. 39 – 49] dựa vào tiêu chí chức năng cho rằng: “TN cũng như các sáng tạo
khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo. Nó thông
báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới
khách quan. Do vậy mỗi TN đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn
một ý tưởng. Đó cũng là lí do giải thích TN có cấu tạo là các kết cấu hai
trung tâm”.
Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” [6, tr.72], dựa
vào tiêu chí cấu tạo và ngữ nghĩa, cho rằng TN và thành ngữ đƣợc phân biệt
trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tƣ duy. Theo ông, thành ngữ biểu thị
khái niệm, TN biểu thị phán đoán. “Nghĩa của thành ngữ tương đương với
nghĩa của cụm từ…Nghĩa của TN là một phán đoán, một sự đánh giá, một sự
khẳng định về một chân lí nào đó, nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh”
Hoàng Văn Hành trong “Tục ngữ theo cách nhìn của ngữ nghĩa học”
[22, tr. 59- 63] dựa vào tiêu chí cấu tạo và ngữ nghĩa, ông đã xem xét TN nhƣ
một phức thể đa diện và quan niệm TN là câu thông điệp nghệ thuật: “Khi nói
TN là những câu – thông điệp nghệ thuật là cùng một lúc chúng ta nhấn mạnh
hai đặc trưng bản chất, không tách rời nhau của nó: Một là, TN là câu,
nhưng là câu đặc biệt khác với mọi câu nói thông thường ở tư cách là làm
thông điệp nghệ thuật”.
Trong một hƣớng tiếp cận khác, Nguyễn Thái Hòa (Tục ngữ Việt Nam
– cấu trúc và thi pháp) khẳng định TN là loại “phát ngôn đặc biệt” [24, tr. 47
– 48]. Trong công trình của mình, tác giả đã xem xét TN trên các bình diện
thể chất, cấu trúc và chức năng. Ông kết luận:
24
+ TN là những phát ngôn hình thành trong lời thoại hàng ngày. Đó là
những đơn vị lời nói nhƣng tồn tại trong kí ức cộng đồng nhƣ là một đơn vị
ngôn ngữ, nói nhƣ J.Lyons là “những phát ngôn làm sẵn”.
+ Giữa thành ngữ (cụm từ cố định) là đơn vị cơ bản của phát ngôn và
TN (những phát ngôn làm sẵn) có những hình thức trung gian cũng nhƣ giữa
TN và ca dao cũng tồn tại những hình thức trung gian tƣơng đồng về chức
năng và cấu trúc. Nhƣng những hình thức trung gian ấy là chỗ “giáp ranh thú
vị” (R. Jakobson) không lớn so với tổng số TN khảo sát.
+ Gọi là “những phát ngôn làm sẵn” có thể nhầm lẫn với một số phát
ngôn làm sẵn khác tồn tại trong lời nói, chƣa phản ánh đầy đủ những đặc
trƣng của TN. Vì vậy, chúng tôi quan niệm TN là những phát ngôn đặc biệt –
hình thành từ trong lời thoại hàng ngày nhưng tồn tại như một đơn vị ngôn
ngữ, (…) có cơ cấu ngữ nghĩa cú pháp đa dạng, có khuôn hình cố định, làm
cơ sở cho sự tái hiện, lưu giữ và sản sinh những kiểu nói TN. [24, tr. 72]
Nhìn chung, theo các nhà ngôn ngữ, tục ngữ là những phát ngôn
làm sẵn, diễn đạt một tƣ tƣởng hoàn chỉnh, có chức năng thông báo với cấu
tạo cố định, tƣơng đƣơng với một phán đoán trọn vẹn.
Ở bình diện ngôn ngữ, quan điểm về TN của Chu Xuân Diên trong
quyển “TN Việt Nam” mà ngƣời viết chọn làm cơ sở để tiến hành việc nghiên
cứu của mình, cũng rất gần với quan điểm của các nhà ngôn ngữ học khi cho
rằng TN “là một đơn vị thông báo”, “đơn vị câu độc lập”, “là loại câu cố
định về thành phần và cấu trúc, bền vững về ngữ nghĩa”, nội dung của TN
“được diễn đạt thông qua những tư tưởng khẳng định hoặc phủ định của các
phán đoán”, “được tái hiện dưới dạng làm sẵn khi được sử dụng trong lời
nói”, “TN thoạt tiên và trước hết thuộc ngôn ngữ nói” [12, tr. 119, 158, 159].
25
1.1.2. Khái niệm về TN ở Anh:
Theo Wolfgang Mieder trong “Proverbs are out of season” (Oxford
University Press, 1993), TN là “những câu nói ngắn gọn, được phổ biến rộng
rãi của dân gian thể hiện sự thông thái, chân lí, đạo đức và những quan niệm
truyền thống dưới hình thức ẩn dụ, cố định và dễ nhớ, nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”. (10) [97]
Từ điển tục ngữ Oxford (The Oxford dictionary of proverbs, 2007) bổ
sung thêm: TN là những câu nói phổ biến và cổ xưa được lặp đi lặp lại, đặc
biệt chúng thường ngắn và diễn tả một cách sinh động thực tiễn, hoặc những kinh nghiệm, quan sát. (11) [100]
Nhà nghiên cứu Richard L. Berry thì quan niệm: TN là những câu nói
ngắn gọn chứa đựng sự thông thái hoặc diễn đạt những kinh nghiệm cụ thể,
rõ ràng. Chúng chứa đựng rất nhiều giá trị văn hóa của con người. TN Anh
được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm văn học viết, văn học
dân gian, kinh thánh, lịch sử và kinh nghiệm thông thuờng. Chúng rất có giá trị và là chìa khóa để hiểu người Anh.(12)
Theo từ điển bách khoa toàn thƣ trên mạng, trang tiếng Anh
(10) A proverb is a short, generally known sentence of the folk which contains wisdom, truth, morals,
and traditional views in a metaphorical, fixed and memorizable form and which is handed down
from generation to generation. (11) “An old and common saying which is often repeated; especially, a sentence which briefly and forcibly expresses some practical truth, or the result of experience and observation.”
(12) “Proverbs are sayings, which contain wisdom or express an idea clearly without using many words. They contain a great deal of the accumulated culture of the people. English proverbs come from many sources including literature, folk tales, the bible, history and simple wisdom. They are very valuable and are a key to understanding English people.”(Website: RichardBerry.com)
(http://en.wikipedia.org), khái niệm “TN” (proverb) có nguồn gốc từ tiếng
26
Latinh “proverbium”(13). “Đó là những câu nói ngắn gọn, cụ thể được phổ
biến rộng rãi và được lặp đi lặp lại, thể hiện chân lý dựa vào các giác quan
thông thường hay những kinh nghiệm thực tiễn của loài người.”
Sau khi thống kê lại, ngƣời viết thấy quan niệm về TN của ngƣời Việt
và ngƣời Anh tƣơng đối giống nhau chứ không có sự khác biệt quá lớn: đó là
những câu nói ngắn gọn, sinh động, có ý nghĩa khái quát, có tính truyền
thống, nhằm truyền đạt kinh nghiệm của người xưa.
Nhìn chung, ngƣời Việt và ngƣời Anh đều có kho tàng phong phú về
TN của dân tộc mình. Ở Việt Nam, công trình sƣu tầm giới thiệu TN đồ sộ
nhất là quyển “Kho tàng TN người Việt” của Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn
Luân, Nguyễn Thúy Loan, Phan Lan Hƣơng [29]. Đây là công trình giới thiệu
TN với số câu nhiều nhất - 16.098 câu (có trong 52 đầu sách - 63 tập, trong đó
cuốn xuất bản sớm nhất là năm 1896, và mới nhất đƣợc in năm 1999), có ghi
xuất xứ và các dị bản trong trƣờng hợp một câu có nhiều bản. Về TN Anh,
hiện nay cuốn từ điển đầy đủ nhất, đồ sộ nhất là quyển “The Oxford
dictionary of English proverbs” của Smith William George, Wilson F.P.,
Wilson Joanna [106]. Sách dày 950 trang, bao gồm khoảng 10540 câu TN
Anh. Nhƣ vậy, kho tàng TN của ngƣời Việt và ngƣời Anh quả là giàu có.
Nội dung của TN Việt và TN Anh cũng rất phong phú, đa dạng, bao
quát hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống. Đó có thể là các kinh nghiệm của dân
gian về thiên nhiên, lao động sản xuất, về các mối quan hệ trong gia đình và
ngoài xã hội, các quan niệm về nhân sinh, tôn giáo, tín ngƣỡng,…Nhìn chung,
đề tài của TN Việt và TN vô cùng rộng lớn, bất cứ lĩnh vực nào dân gian khi
(13) A proverb, (from the Latin proverbium), is a simple and concrete saying popularly known and repeated, which expresses a truth, based on common sense or the practical experience of humanity.
có kinh nghiệm đều có thể đúc kết thành TN.
27
Về phƣơng diện nghệ thuật, TN Anh và Việt đều mang tính chất ngắn
gọn, súc tích, đa nghĩa với lối nói giàu hình ảnh thông qua các biện pháp tu từ
nhƣ so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,… Tuy nhiên, do tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập
nên TN Việt rất giàu nhạc tính với vần, nhịp và sự hòa đối. Còn tiếng Anh là
ngôn ngữ biến hình, đa âm tiết nên TN của họ không có đặc điểm này mà chỉ
là những lời nói bình thƣờng, gần với phong cách của văn học viết. Về hình
thức, TN Việt có thể gồm một, hai hoặc ba vế trở lên, trong đó nhiều nhất là
loại câu có hai vế với kết cấu đối xứng, nhịp nhàng, giàu nhạc điệu. Trong khi
đó, TN Anh chủ yếu gồm một mệnh đề độc lập, chứa một phán đoán duy nhất.
Tóm lại, từ những bài học triết lí khô khan, TN Việt và Anh trở nên
hấp dẫn hơn và đi vào lòng ngƣời một cách dễ dàng là do nhiều nguyên nhân,
trong đó có đóng góp không hề nhỏ của biện pháp SSTT.
1.2. SSTT TRONG TỤC NGỮ
Cách đây gần 2500 năm, Aristote (384 – 322 trƣớc công nguyên)
trong cuốn “Nghệ thuật thi ca” nổi tiếng đã đề cập đến phép tu từ so sánh.
Hégel (1770 – 1831) trong cuốn “Mĩ học” cũng có bàn luận về so sánh.
1.2.1. Khái niệm SSTT
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam, “so sánh” là
lối đối chiếu hai hay nhiều đối tƣợng có dấu hiệu giống và khác nhau về hình
thức bên ngoài hay tính chất bên trong. Cách nói này nhằm mục đích giải
thích, miêu tả, đánh giá hoặc biểu lộ tình cảm về đối tƣợng đƣợc nói đến. Nhờ
so sánh, ta thấy rõ bản chất của sự vật, hiện tƣợng đƣợc phản ánh. Đây là hình
thức rất phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, vì nó giúp ngƣời nghe hiểu
điều mình muốn nói một cách nhanh chóng.
28
Còn “tu từ”, theo nghĩa từ nguyên Hán Việt, “tu” là sửa chữa cho
hay, cho tốt đẹp hơn, “từ” là từ ngữ, lời nói, câu viết. Theo Từ điển tiếng Việt
của Hoàng Phê (Viện ngôn ngữ học, 2002, tr. 1059), “tu từ” là những thuộc
tính biểu cảm của các phƣơng tiện ngôn ngữ, giúp lời văn hay hơn, đẹp hơn.
Ở phƣơng Tây, ngƣời ta dùng khái niệm tƣơng đồng là “figura”, có
nguồn gốc từ tiếng Latinh. “Figura” có nghĩa là bóng bẩy, có sức hấp dẫn, lôi
cuốn. “Figura” đƣợc các nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam dịch ra thành
nhiều thuật ngữ khác nhau nhƣ biện pháp tu từ, mỹ từ pháp,…Với tƣ cách là
một thuật ngữ khoa học, “figura” đƣợc xem là những cách thức diễn đạt bóng
bẩy, gợi cảm, có sức hấp dẫn, lôi cuốn khi trình bày.
Về khái niệm SSTT, Cù Đình Tú trong Phong cách học tiếng Việt
cho rằng: “SSTT là sự đối chiếu hai sự vật (về tính chất, trạng thái, sự việc) A
và B cùng có một dấu hiệu chung nào đấy giống nhau. A là sự vật chưa biết,
nhờ qua B mà người đọc biết A hoặc hiểu thêm về A (…)
SSTT còn gọi là so sánh hình ảnh, đó là một sự so sánh không đồng
loại, không cùng một phạm trù chung, miễn là có một nét tương đồng nào đó
về mặt nhận thức hay tâm lý (thí dụ: con mắt và ngôi sao, trái tim đau thương
và một cái cốc vỡ). Đó là một sự so sánh có giá trị hình tượng và giá trị biểu
cảm”. [73, tr. 100 – 103]
Đinh Trọng Lạc trong“99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng
Việt” cũng quan niệm tƣơng tự: “So sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, SSTT)
là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng
khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ
có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác
mới mẻ về đối tượng.” [31, tr. 154 – 159]
29
Chẳng hạn trong câu TN “Người ta hoa đất”, con ngƣời đƣợc so
sánh với một hình ảnh cụ thể là “hoa” dựa trên cơ sở mối quan hệ tƣơng
đồng: con ngƣời và hoa đều là tinh túy của đất trời, đều là cái đẹp cần đƣợc
nâng niu. Hai sự vật đƣợc đem ra so sánh ở đây hoàn toàn khác loại: ngƣời và
hoa. Chính hình ảnh hoa đã nâng cảm xúc thẩm mỹ vƣợt lên mức thông
thƣờng.
Nhƣ vậy, SSTT (hay còn gọi là so sánh nghệ thuật, so sánh văn
chƣơng, so sánh hình ảnh) chính là “đôi cánh giúp chúng ta bay vào thế giới
của cái đẹp, của tưởng tượng hơn là đến ngưỡng của logic học.”[30]
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu Anh, Richard L. Berry cho rằng: SSTT (14) được sử dụng khi chúng ta muốn nói cái này giống cái kia.
Chúng được giới thiệu bởi các từ: “like”, “as..as..”. Có nhiều giá trị văn hóa
tồn tại trong SSTT.
Theo Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh, SSTT là 1 hình thái của lời nói
mà trong đó hai sự vật khác nhau được mang ra so sánh trong một cụm từ được giới thiệu bằng “like” hoặc “as”. (15)[88]
Chẳng hạn nhƣ câu:
Curses, like chickens, come home to roost (Những lời nguyền rủa
giống nhƣ lũ gà lại quay về chuồng nhà mình mà đậu.)
Lời nguyền rủa và lũ gà là hai sự vật hiện tƣợng khác loại, nhƣng
( 14 ) Similes are used when we say that something is like something else. They are usually introduced with the words “…like…” or “as…as…”. There is a great cultural value in similes. (Trích từ website: RichardBerry.com) (15) “A figure of speech in which two essentially unlike things are compared, often in a phrase introduced by like or as.”
dân gian đã phát hiện ra điểm giống nhau giữa chúng: gà quay về chuồng của
30
mình mà đậu cũng nhƣ lời nguyền rủa sẽ quay về làm hại chính chủ nhân của
nó – sự độc ác lại rơi xuống đầu của những kẻ độc ác!
Tóm lại, với các nhà ngôn ngữ ở Anh, tiêu biểu là Bredin Hugh,
SSTT là biện pháp tu từ ngữ nghĩa dựa vào sự đối chiếu, là quá trình tƣ duy quan trọng khi chúng ta suy nghĩ và phát ngôn về thế giới chung quanh. (16)
[ 84]
Nhìn chung, quan niệm của các nhà nghiên cứu về SSTT không có
sự khác biệt nào quá lớn. Để nhất quán trong quá trình làm việc, ngƣời viết
xin chọn quan điểm của Cù Đình Tú về SSTT để làm cơ sở cho việc khảo sát.
Về việc phân biệt SSTT với so sánh logic, ta thấy so sánh trong TN
thuộc hai dạng: so sánh logic (còn đƣợc gọi là so sánh luận lí, so sánh định
lƣợng) và SSTT (còn đƣợc gọi là so sánh hình ảnh, so sánh văn chƣơng).
Cù Đình Tú cho rằng trong phép so sánh luận lí, “cái được so sánh
và cái so sánh là đối tượng cùng loại và mục đích của sự so sánh là xác lập
sự tương đương giữa hai đối tượng. Trong SSTT tình hình diễn ra có khác.
Các đối tượng được đưa ra so sánh là các đối tượng khác loại và mục đích
của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối
tượng. Muốn nhấn mạnh vào tính chất này có nhà ngôn ngữ học dùng thuật
ngữ “so sánh hình ảnh”. Chính do mục đích diễn tả một cách hình ảnh này
mà các phép SSTT ít nhiều đều khập khiễng, đều mang tính chất khoa
(16)“Simile is a semantic figure based on comparision, a mental process playing a central role in
the way we think and talk about the world...”
trương.” [72, tr. 272]
31
Đinh Trọng Lạc cũng phân biệt rất rạch ròi hai khái niệm này trong
quyển “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” của mình. Tác giả
khẳng định: “trong so sánh luận lí, cái được so sánh và cái so sánh là các đối
tượng cùng loại và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tương đương giữa
hai đối tượng”. Chẳng hạn, SSTT: “Mặt tươi như hoa”, còn so sánh luận lí:
“Mặt con cũng tròn như mặt mẹ”. [31]
Nhƣ vậy, những câu TN mà đối tƣợng đƣa ra so sánh là đồng loại
kiểu nhƣ: “Lệnh ông không bằng cồng bà”; “Thuốc không hay bằng thang”;
“Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại”; “Nhất thủ, nhì vĩ”; …không thuộc
phạm vi khảo sát của luận văn. Các câu so sánh logic này chỉ phản ánh một
kinh nghiệm, một quan niệm dựa trên cơ sở xác định sự hơn thua giữa các đối
tƣợng. Còn những câu TN đƣợc cấu tạo bằng biện pháp so sánh mà trong đó,
các đối tƣợng đƣợc đƣa ra so sánh là khác loại, dựa trên cơ sở liên tƣởng
tƣơng đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của đối tƣợng này thông
qua đặc điểm, thuộc tính của đối tƣợng kia một cách hình tƣợng mới chính là
đối tƣợng nghiên cứu của luận văn. Chúng đƣợc sử dụng rất phổ biến trong
TN, phản ánh cách tƣ duy, lối nghĩ của nhân dân.
Tóm lại, SSTT khác với so sánh logic ở:
+ tính dị loại (không cùng 1 loại) của sự vật hiện tƣợng.
+ tính hình tƣợng, tính biểu cảm
Chỉ có SSTT mới đem lại xúc cảm thẩm mĩ, là cơ sở để ngƣời ta có
thể nhận ra những nét riêng của ngƣời sử dụng. Do đó, chúng cần đƣợc khảo
sát.
32
1.2.2. Cấu trúc của SSTT:
Theo Hoàng Văn Hành trong “Về bản chất của thành ngữ so sánh
tiếng Việt” [21], Nguyễn Thị Bích Thủy trong “Cấu trúc tỉ dụ trong thơ Tố
Hữu” [69], một SSTT nói chung có thể gồm đến 5 yếu tố ở dạng đầy đủ:
A (t1) như B (t2)
Trong đó, A là yếu tố cần so sánh, tức cái đƣợc hay bị so sánh; t1 là
thuộc tính của A; B là cái dùng làm chuẩn để so sánh, hay còn đƣợc gọi là cái
so sánh; t2 là thuộc tính của B; “như” là từ thể hiện quan hệ so sánh.
Các nhà nghiên cứu khác thì cho rằng t1 và t2 ở cấu trúc so sánh có 5
thành tố là thuộc tính riêng của A và B, mà khi đã hình thành cấu trúc so sánh
thì giữa A và B phải có ít nhất 1 thuộc tính trở thành thuộc tính chung – chính
điểm chung này làm nảy sinh mối liên tƣởng tƣơng đồng – chứ không phải
thuộc tính của sự vật nào vẫn đi với sự vật ấy. Do đó, mô hình trên chƣa chỉ
ra đƣợc đâu là thuộc tính chung, làm cơ sở cho sự so sánh.
Lê Trƣờng Phát trong Thi pháp văn học dân gian [57, tr.114] thì quan
niệm SSTT chỉ gồm 2 yếu tố: “Về phương diện cấu trúc, so sánh thường
được thể hiện bằng hai vế. Vế đầu là hiện tượng cần được biểu đạt (cái được
biểu đạt) một cách hình tượng. Vế sau là hiện tượng dùng để so sánh (cái
biểu đạt).”
Trƣớc đây, trong sách Tiếng Việt dạy học sinh lớp 6 của nhà xuất bản
Giáo dục, 1995 [1], mô hình so sánh chỉ gồm 3 yếu tố: A – từ so sánh – B.
Yếu tố CSSS nếu có xuất hiện thì bị đẩy về A, coi đó là thuộc tính của A.
Việc hƣớng dẫn học sinh chỉ quan tâm đến những sự vật nào, hình ảnh nào
đƣợc so sánh với nhau mà không hỏi xem các sự vật đó có tính chất, trạng
thái gì chung là một thiếu sót lớn. Chỉ khi nào biết đƣợc những tính chất,
33
trạng thái chung đó thì mới hiểu đƣợc vì sao những sự vật tƣởng chừng nhƣ
xa lạ lại có thể đem so sánh với nhau, mang lại bao xúc cảm và nhận thức
trong lòng ngƣời tiếp nhận.
Còn một số tác giả khác nhƣ Nguyễn Thế Lịch [ 36], Cù Đình Tú [72],
Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa [ 30], Đỗ Thị Kim Liên [37] cho rằng các
SSTT bao gồm 4 yếu tố cơ bản ở dạng đầy đủ (cái được/bị so sánh, cái so
sánh, CSSS, từ so sánh), tùy hoàn cảnh, mục đích sử dụng mà số lƣợng các
yếu tố có thể bớt đi. Trong khi các tác giả khác cho rằng so sánh gồm hai yếu
tố (yếu tố đƣợc so sánh – yếu tố so sánh) hay ba yếu tố (yếu tố đƣợc/bị so
sánh – từ so sánh – yếu tố so sánh) đều không tách ra một thành phần của cấu
trúc so sánh là yếu tố CSSS, đều cho thuộc tính đƣợc nói đến hay ngầm ẩn
thuộc yếu tố đƣợc/ bị so sánh (A) thì việc phân tích cấu trúc so sánh thành 4
yếu tố đã làm hiện ra CSSS, hiện ra thuộc tính chung giữa các sự vật đem so
sánh với nhau. Yếu tố CSSS nhất thiết phải có, nếu không xuất hiện ở dạng
hiển ngôn thì ở dạng ngầm ẩn.
Khi viết về SSTT trong tiếng Anh, Patrizia Pierini [103] quan niệm
cấu trúc của một SSTT gồm ba phần: chủ thể (thực thể đƣợc miêu tả), phƣơng
tiện (thực thể đem ra so sánh với chủ đề), chúng liên kết với nhau bằng từ thể
hiện quan hệ so sánh. Còn điểm tƣơng đồng (thuộc tính chung giữa chủ thể và phƣơng tiện so sánh) có thể đƣợc đề cập rõ ràng hoặc ẩn đi.(17) Quan niệm này
về cơ bản cũng chỉ ra đƣợc 4 yếu tố của cấu trúc SSTT ở dạng đầy đủ.
(17) “A simile can be defined as the statement of a similarity relation between two entities, essentially different but thought to be alike in one or more respects. It has a tripartite structure, consisting of: topic (the entity descibred by the simile), vehicle (the entity to which the topic is compared), accompanied by a comparision marker. Similarity feature(s) (the properties shared by topic and vehicle), which can be expressed explicitly or left unsaid.”
Nhƣ vậy, ta sẽ có mô hình cấu trúc của SSTT nhƣ sau:
34
Bảng 1.1: Cấu trúc đầy đủ của SSTT
Yếu tố đƣợc/ bị CSSS Từ thể hiện Yếu tố so sánh
so sánh quan hệ so
sánh
Gái có chồng đeo gông vào cổ nhƣ
nhƣ đĩa Đàn bà cạn lòng
nhƣ vôi Đàn ông bạc nghĩa
Curses (lời come home to roost like (nhƣ) chickens (lũ gà)
nguyền rủa) (quay về chuồng
nhà mình mà đậu)
Time (thời gian) is (là) money (tiền bạc)
Yếu tố đƣợc/ bị so sánh (kí hiệu là A) có thể là 1 từ, 1 ngữ hoặc nhiều
cấu trúc chủ vị.
Yếu tố so sánh (kí hiệu là B) hay còn gọi là yếu tố đƣa ra làm chuẩn
để so sánh cũng đƣợc thể hiện bằng một từ, một ngữ, một hoặc nhiều cấu trúc
chủ vị. Một yếu tố đƣợc/ bị so sánh có thể tƣơng ứng với nhiều yếu tố so sánh,
chẳng hạn: “Gái có chồng như chông như mác/ Gái không chồng như rác như
rơm.”
CSSS (t) – nét tƣơng đồng giữa yếu tố đƣợc so sánh và yếu tố chuẩn
để so sánh – có thể đƣợc nêu ra hoặc giấu đi. Khi CSSS đƣợc nêu ra, các nhà
ngôn ngữ học gọi đây là SSTT nổi, nếu nó bị giấu đi, ta có SSTT chìm. Mà dù
có đƣợc nêu ra, nó vẫn luôn chứa đựng những liên tƣởng vô tận khác ở ngƣời
đọc.
35
Từ so sánh là từ nối yếu tố A và B, thể hiện quan hệ so sánh.
Nhƣ vậy, mô hình đầy đủ của SSTT là:
A – Cở sở so sánh – Từ so sánh – B
Tùy trƣờng hợp mà trật tự của các yếu tố có thể thay đổi hoặc bớt đi
một số yếu tố trong mô hình trên.
Cái hay, giá trị đặc biệt của một so sánh chính là việc lựa chọn yếu tố
so sánh. Một so sánh mới lạ nhƣng vẫn đủ để cho phép ngƣời đọc có thể phát
hiện ra nét tƣơng đồng giữa nó với yếu tố đƣợc so sánh là một so sánh hay.
Từ đó, chúng ta sẽ có thêm nhận thức mới, sâu sắc hơn về đối tƣợng và cả
thái độ, tình cảm của dân gian với đối tƣợng ấy nữa. Chẳng hạn trong câu:
Phải duyên thì dính như keo
Trái duyên chổng chểnh như kèo đục vênh.
Theo Cù Đình Tú trong Phong cách học TV, sự gắn bó của tình yêu so
sánh với sự gắn bó của keo với nhau hay của keo với một vật khác thì đó là
một sự so sánh không phải không hay, vì ngƣời so sánh đã phát hiện rất đúng
đắn nét giống nhau giữa hai đối tƣợng khác loại (tình yêu và keo), nhƣng cách
so sánh này không thật mới mẻ, bất ngờ. Khi dân gian so sánh sự không gắn
bó của tình yêu với sự nghễnh ngãng của cái kèo nhà bị đục vênh thì quả là
một sự so sánh vừa độc đáo vừa mang sắc thái dân tộc, vì cách so sánh này
không phải dễ nhận thấy, dễ phát hiện, cho nên nó luôn mới mẻ, gợi hình, gợi
cảm. Phép so sánh ở đây mộc mạc, chân chất, chính xác và pha màu hài hƣớc
của trí tuệ dân gian. [73, tr. 102]
1.2.3. Tác dụng của SSTT
SSTT trong TN giúp ta hiểu tường tận, sâu sắc hơn về môi trường
cảnh quan, cuộc sống, xã hội, con người,…, đặc biệt là những vấn đề trừu
36
tượng, vô hình, khó nắm bắt. Chẳng hạn trong câu “Đời người như ngọn nến”,
đời ngƣời, kiếp ngƣời là một khái niệm mơ hồ, trừu tƣợng, khó nắm bắt. Tác
giả dân gian đã cụ thể hóa bằng cách ví nó nhƣ một ngọn nến vì cả hai đều
ngắn ngủi, yếu ớt, chóng tàn.
Đôi lúc SSTT còn nhằm khái quát hóa, quy luật hóa điều được nêu lên,
nghiêng về nhận thức lí trí. Ở câu “Hatred is a blind as love” (Oán thù cũng
mù nhƣ tình yêu), cái cần so sánh và cái dùng để so sánh đều là cái trừu tƣợng,
tuy khác loại nhƣng cùng thuộc phạm trù tinh thần. Câu TN không thiên về
hƣớng cụ thể hóa nhƣ ở trên mà thiên về hƣớng khái quát hóa: oán thù và tình
yêu giống nhau vì đều mù quáng, không sáng suốt.
Ngoài ra, SSTT còn cung cấp thêm thông tin về đặc trưng văn hóa,
quan niệm thẩm mỹ và trình độ nhận thức của người sáng tạo. Chẳng hạn, khi
nói về tầm quan trọng của lƣơng thực, ngƣời Việt ví von “Cơm tẻ, mẹ ruột”,
ngƣời Anh thì nói khác: “Bread is the staff of life” (Bánh mì là chiếc gậy của
cuộc sống). Hình ảnh cơm của ngƣời Việt và bánh mì của ngƣời Anh đã hé
mở cho ta thấy sự khác biệt giữa hai phƣơng thức sản xuất, hai nền văn hóa.
Không chỉ miêu tả đối tƣợng, SSTT còn bao gồm cả sự giải thích,
đánh giá và biểu lộ tình cảm. Chẳng hạn trong câu “Quan thấy kiện như kiến
thấy mỡ”, hình ảnh so sánh ở đây thể hiện thái độ bình giá rõ rệt của nhân dân:
phê phán, đả kích, châm biếm.
Khi nói về tác dụng của SSTT, Patrizia Pierini [103] quan niệm SSTT
sẽ giúp việc giao tiếp súc tích và hiệu quả, chúng là một trong những công cụ
của ngôn ngữ học (các biện pháp tu từ) nhằm mở rộng nguồn tài nguyên đa
dạng về ngôn ngữ. Ngoài ra, SSTT còn có chức năng nhƣ một công cụ tri
nhận giúp chúng ta bay vào thế giới của sự tƣởng tƣợng thông qua cách thiết
37
lập sự tƣơng đồng. Trong các văn bản văn học, SSTT còn có chức năng thẩm mỹ, là những cách nói sáng tạo, đầy bất ngờ về các sự vật, hiện tƣợng. (18)
Nhƣ vậy, tìm hiểu SSTT cũng đồng nghĩa với việc bƣớc vào thế giới
nghệ thuật độc đáo, giàu hình tƣợng, giàu cảm xúc của TN Việt và Anh. Sự
hấp dẫn, cái hay cái đẹp của nội dung và hình thức phép SSTT đã góp phần
làm cho TN trở thành những tác phẩm nghệ thuật đích thực.
1.3. TIẾP CẬN SSTT TRONG TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ
ANH TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC VÀ VĂN HÓA HỌC
SSTT trong TN là một đề tài nghiên cứu khá hấp dẫn. Trong luận văn
này, ngƣời viết không chỉ nghiên cứu SSTT trong ngữ Việt và TN Anh từ góc
độ ngôn ngữ học mà còn nghiên cứu từ góc độ văn hóa học. Những luận điểm
đƣợc nêu ra trong các chƣơng tiếp theo sẽ làm sáng tỏ đặc trƣng của SSTT hai
dân tộc Việt, Anh theo quan điểm của phong cách học và trình bày những đặc
trƣng văn hóa ẩn tàng dƣới hình thức ngôn ngữ ấy.
Ở chƣơng II, để tìm ra phong cách riêng của mỗi dân tộc khi kiến tạo
các SSTT, ngƣời viết tiến hành phân xuất cấu trúc SSTT ra từng thành tố
riêng lẻ để tiện cho việc quan sát, khái quát hóa. Ở mỗi yếu tố, ngƣời viết sẽ
lần lƣợt trình bày các kết quả thống kê, phân loại chúng trong TN Việt, Anh;
cấu tạo và đặc điểm của chúng. Từ đó, chúng ta sẽ hiểu đƣợc tại sao các nhà
nghiên cứu đã nói TN của ngƣời Việt giàu sắc độ tu từ hơn TN Anh [28, tr.6].
available. Secondly, they can function as cognitive tools for thought in that they enable us to think of the world in novel, alternative ways, namely, they can create relations of similarity….. In literary texts – be it fiction, poetry or drama – similes fulfil an aesthetic function, and are usually creative, a way of talking about something in a surprising way.”
Mô tả cấu trúc SSTT nhìn từ góc độ ngôn ngữ là một công việc đòi hỏi sự tỉ (18) “Similes can fulfil various functions. First, they serve to communicate concisely and efficiently: they are one of a set of linguistic devices (figures of speech) which extend the linguistic resources
38
mỉ và chính xác mà thông qua đó, ngƣời viết có thể đƣa ra những đặc điểm về
phƣơng diện ngôn ngữ và tƣ duy, làm nền tảng cho việc khám phá đặc trƣng
văn hóa dân tộc qua SSTT trong TN Việt, Anh.
TN vừa là nơi phản ánh đặc điểm ngôn ngữ, tài năng sử dụng ngôn
ngữ của nhân dân, vừa là nơi thể hiện tập trung sâu sắc nhất trí tuệ, truyền
thống văn hóa, phong tục của dân gian. Do đó, khi đã làm rõ cơ chế sáng tạo,
đặc điểm, giá trị của SSTT với tƣ cách là những đơn vị ngôn ngữ đầy tính
nghệ thuật, chúng ta có thể khám phá những đặc trƣng văn hóa ở cả phƣơng
diện vật chất lẫn tinh thần của ngƣời Việt và ngƣời Anh.
Ở chƣơng III, để nhận diện đƣợc bức tranh văn hóa xã hội của mỗi
dân tộc còn in dấu trong TN, ngƣời viết sẽ tiến hành xem xét trên bình diện
câu chứ không dừng lại ở từng thành tố riêng lẻ nữa. Chu Xuân Diên [12]
trong công trình của mình đã phân loại TN theo ba nhóm đề tài: quan hệ giữa
con ngƣời và giới tự nhiên, con ngƣời và đời sống xã hội, con ngƣời và đời
sống tinh thần. Kế thừa quan điểm này, ngƣời viết sẽ triển khai chƣơng III
thành hai vấn đề lớn: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trong SSTT của
TN Việt, Anh. Trong phần văn hóa vật chất, ngƣời viết sẽ khảo sát về mối
quan hệ giữa con ngƣời và giới tự nhiên, con ngƣời và đời sống vật chất. Ở
phần văn hóa tinh thần, ngƣời viết sẽ trình bày những đặc trƣng văn hóa trong
đời sống xã hội và đời sống tinh thần của ngƣời Việt và ngƣời Anh. Nghiên
cứu, tìm hiểu về văn hóa là một công việc vô cùng lí thú. Trên tinh thần “nói
có sách, mách có chứng”, dựa trên những kết quả thống kê khảo sát cụ thể,
ngƣời viết hi vọng có thể bƣớc đầu đƣa ra cách lí giải thuyết phục về bức
tranh văn hóa toàn cảnh của mỗi dân tộc qua các SSTT trong TN của nƣớc họ.
39
Tóm lại, TN nói chung và SSTT trong TN nói riêng là cứ liệu đáng tin
cậy để nghiên cứu phong cách ngôn ngữ và đặc trƣng văn hóa dân tộc của
ngƣời Việt và ngƣời Anh.
40
Chương 2:
SO SÁNH TU TỪ TRONG TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ
ANH, NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TU TỪ HỌC
Cách thức, tần suất sử dụng các phƣơng tiện tu từ trong TN phản
ánh khá trung thực quan niệm và kĩ năng vận dụng ngôn ngữ nghệ thuật của
mỗi dân tộc. Theo khảo sát, ngƣời Việt có khuynh hƣớng sử dụng SSTT
Bảng 2.1: Thống kê tỉ lệ câu SSTT trong TN Việt và TN Anh
TN Việt
TN Anh
Tổng số câu TN có SSTT
135
178
Tổng số câu TN khảo sát
4206
6708
nhiều hơn ngƣời Anh.
Tỉ lệ % câu TN có SSTT
3.2
2.65
Để nhận diện đặc điểm và giá trị nghệ thuật của các SSTT, ngƣời
viết sẽ xem xét từ các yếu tố cấu tạo.
2.1. Đặc điểm của yếu tố được / bị so sánh (A) trong TN Việt và TN
Anh:
Ngƣời viết sẽ trình bày đặc điểm của yếu tố đƣợc/ bị so sánh (A) và
yếu tố so sánh (B) theo thứ tự sau:
- Kết quả thống kê, phân loại theo đề tài.
- Cấu tạo.
- Đặc điểm.
41
2.1.1. Kết quả thống kê, phân loại theo đề tài
Bảng 2.2: Phân loại yếu tố A trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo
Số lƣợng yếu
Số lƣợng yếu
tố A trong
tố A trong
đề tài
TN Việt
TN Anh
Đề tài
Tự nhiên 10 5
Động vật 1 1
Con ngƣời và giới tự nhiên Thực vật 6 2
Cơ thể ngƣời 4 10
Vật thể nhân tạo 14 13
Ẩm thực, giải trí 11 10
Con ngƣời và đời sống vật chất Kinh nghiệm lao động 3 7
sản xuất
Quan hệ gia đình 56 7
Con ngƣời và đời sống xã hội Quan hệ xã hội 10 40
Quan niệm về nhân 48 83
sinh Con ngƣời và đời sống tinh thần
Quan niệm về tôn 3 9
giáo, tín ngƣỡng
Tổng cộng 166 187
Theo kết quả thống kê, yếu tố A trong TN Việt và TN Anh thuộc
nhiều đề tài khác nhau (xem thêm phụ lục 4 và phụ lục 6).
Yếu tố đƣợc/ bị so sánh chủ yếu trong TN Việt là quan hệ gia đình (56)
và quan niệm về nhân sinh (48). Đây chính là đề tài ngƣời Việt rất quan tâm,
42
vì ở phƣơng Đông gia đình có vai trò rất quan trọng, hơn gấp nhiều lần so với
vai trò của gia đình ở phƣơng Tây, nơi coi trọng con ngƣời cá nhân. Còn
những câu TN thể hiện quan niệm về nhân sinh của nhân ta lại chiếm số
lƣợng nhiều và đƣợc phổ biến rộng rãi là vì theo Chu Xuân Diên [12, tr.107 –
109], nó thể hiện sự nhận thức của nhân dân về những mâu thuẫn giữa lí
tƣởng sống, giữa những truyền thống đạo đức tốt đẹp với thực tế cay đắng của
xã hội đƣơng thời. Nó có vai trò hƣớng dẫn nhân dân áp dụng, phát huy
những truyền thống đạo đức, tƣ tƣởng ấy một cách thực tế, phù hợp với
những đối tƣợng và hoàn cảnh khác nhau.
Bên cạnh đó, yếu tố A trong SSTT của TN Việt ít đề cập đến động vật
vì chúng không phải là chủ thể quan trọng cần tìm hiểu (1 lần), ít trình bày về
kinh nghiệm lao động sản xuất (chỉ có 3 lần: làm ruộng không trâu, làm
ruộng có trâu, uốn cây từ thuở còn non) và tôn giáo tín ngưỡng (3 lần: phải
duyên, trái duyên, miệng bà đồng). Vì kinh nghiệm lao động sản xuất đa phần
là những ghi chép có tính chất tƣờng giải, chủ yếu đƣợc hiểu theo nghĩa đen,
ít có cách nói ví von so sánh (xem thêm phần “Kinh nghiệm lao động” trong
TN Việt Nam của Chu Xuân Diên [12]). Còn quan niệm về tôn giáo tín
ngưỡng ít giữ vai trò là đối tƣợng đƣợc/ bị so sánh mà thƣờng là đối tƣợng
chuẩn để so sánh, hƣớng tới (11 lần):
-Gái lớn trong nhà như ma chửa cất.
-Ăn cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống.
-Vợ chồng may rủi là duyên/ Vợ chồng hòa thuận là tiên trên đời.
Còn ngƣời Anh thì chủ yếu muốn so sánh về quan hệ xã hội (40) và
quan niệm về nhân sinh (83). Vấn đề quan tâm của ngƣời Anh có khác ngƣời
Việt. Trong khi ngƣời Việt chú trọng quan hệ gia đình máu mủ ruột rà:
43
-Con có cha như nhà có nóc.
-Con có mẹ như măng ấp bẹ.
-Con có mạ như thiên hạ có vua.
-Anh em như chân tay.
-Chị em gái như cái nhân sâm.
đến những mối quan hệ phức tạp hơn trong gia đình truyền thống:
-Mẹ chồng là lông cánh phượng / Cha chồng là tượng mới tô/ Nàng
dâu là bồ chịu chửi.
-Bố vợ là rợ cọc chèo / Mẹ vợ là bèo trôi sông /Chàng rể là ông Ba Vì.
-Ăn trầu không có rễ như rể nằm nhà ngoài.
-Chị em dâu như bầu nước lã.
thì ngƣời Anh chú trọng hơn các mối quan hệ xã hội với:
+ bạn bè: a merry companion (người bạn vui vẻ), life without a friend
(cuộc sống không có bạn), friendship (tình bạn)
+ các tầng lớp trong xã hội: nobility without ability (nhà quý tộc không
có năng lực), a gentleman without an estate (quý ông không có tài sản),
gentility (địa vị cao quý), great birth (dòng dõi),…
+ các nghề nghiệp khác nhau: a physician (bác sĩ), a client twixt his
attorney and counsellor (khách hàng đứng ở giữa luật sư và người cố vấn),
sailors (thủy thủ), soldiers (người lính), the liar and the murderer (kẻ dối trá
và tên sát nhân), a whore in a fine dress (cô gái điếm trong bộ quần áo
đẹp),…
44
+ các tính cách khác nhau của các hạng ngƣời khác nhau: great talkers
(người nói nhiều), a flatterer (kẻ xu nịnh), a blab (người ba hoa), an ilde
person (người lười biếng),…
Cả hai dân tộc đều quan tâm đến các quan niệm đa dạng về nhân sinh.
Đây là vấn đề quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi dân tộc. Tuy nhiên
mức độ và đối tƣợng đƣợc nói đến có khác nhau (ngƣời Việt: 48 lần, ngƣời
Anh 81 lần).
Bảng 2.3: So sánh đề tài của yếu tố A trong TN Việt và TN Anh
Đề tài của TN Việt TN Anh
yếu tố A
Con ngƣời vênh váo, ngƣời ta x 2, ngƣời sloth (lƣời biếng), a man
và sự hình già, mỗi năm mỗi tuổi, đàn without reason (ngƣời không
dung về ông x 4, đàn bà x 3, ngƣời x có lí tƣởng), ignorance and
con ngƣời 2, lòng ngƣời, ngông nghênh incuriousity (sự làm lơ và
nhăng nhít, phũ (phàng) x 2, không tò mò), liberty (tự do),
ngãi. brag (khoe khoang, khoác lác).
Tổng cộng: 19 lần Tổng cộng: 5 lần
Lời nói – lời nói x 2, ngƣời sa lời nói, deeds (việc làm), words (lời
việc làm, nói đúng, nói với ngƣời say, nói), slander (lời phỉ báng), an
dƣ luận nói. englishman’s word (lời nói
của 1 ngƣời Anh), an honesty
man’s word (lời của ngƣời
trung thực), promises x 2 (lời
hứa), proverbs (TN), silence
45
x2 (sự yên lặng), quietness (sự
yên tĩnh), speech (lời nói),
gossips (chuyện ngồi lê đôi
mách), the secret (bí mật).
Tổng cộng: 14 lần
Tổng cộng: 6 lần
Tốt xấu – đẹp x 3, xấu, ngƣời đẹp vì wickedness with beauty (sự
đẹp xấu lụa, dữ, ác. độc ác với nhan sắc), a fair
woman without virtue (ngƣời
phụ nữ đẹp mà không có đức
hạnh), beauty x 2 (cái đẹp), a
good conscience x 4 (lƣơng
tâm trong sạch), conscience
(lƣơng tâm), cruelty (tàn ác),
virtue (đạo đức), virtue and
happiness (đạo đức và hạnh
phúc).
Tổng cộng: 7 lần Tổng cộng: 12 lần
Khôn dại khôn, dại, ngƣời dốt, ngƣời
không học.
Tổng cộng: 4 lần
Chăm chỉ - thấy việc.
lƣời biếng
46
Tổng cộng: 1 lần
Thiếu - đủ có tiền x 2, không tiền x 2, content (hài lòng, thỏa mãn), a
tiền vào nhà khó. contented mind (cảm giác thỏa
mãn), enough (đầy đủ), a
man’s discontent (sự không
Tổng cộng: 5 lần hài lòng của con ngƣời).
Tổng cộng: 4 lần
Thời gian, một lần dọn nhà, lênh đênh. time x 2 (thời gian), life x 4
sự phát (cuộc đời), every day of the
triển – suy life (mỗi ngày trong đời), a
tàn, sự thay change (sự thay đổi), hope x 2
đổi, lòng (hi vọng), mere wishes (những
tin, hi vọng điều ƣớc suông).
Tổng cộng: 2 lần Tổng cộng: 11 lần
Yếu – khoẻ, cứu bệnh.
mạnh Tổng cộng: 2 lần
Nhiều – ít, to, rẻ.
số lƣợng – Tổng cộng: 2 lần chất lƣợng
Danh tiếng, fame x 5 (danh tiếng),
thƣởng common fame (tiếng tăm
phạt thông thƣờng), a good name
47
(tiếng tốt), credit lost (mất uy
tín), honour without profit
(danh tiếng mà không có lợi
nhuận), reward and
punishment (thƣởng và phạt),
pride (tự hào, kiêu hãnh).
Tổng cộng: 11 lần
laughter (nụ cƣời), mirth (sự Vui – buồn
vui vẻ), joy and sorrow (vui và
buồn).
Tổng cộng: 3 lần
honesty (sự trung thực), plain Sự thật, lẽ
dealing (thẳng thắn), truth x 2 phải, ngay
(sự thật), mistrust (không tin, thẳng–gian
ngờ vực). dối
Tổng cộng: 5
love x 2 (tình yêu), love Yêu - ghét
without return (yêu không
quay đầu lại), hatred (oán thù),
war, hunting and love (chiến
tranh, săn bắn và tình yêu).
Tổng cộng: 5 lần
Giáo dục, music (âm nhạc), learning (sự
48
văn hóa học hành), wit without
nghệ thuật learning (nhanh trí mà không
chịu học hành), learning in the
breast of a bad man (sự học
hành trong ngƣời của kẻ xấu),
zeal without knowledge (nhiệt
tình mà ngu dốt), skill and
confident (kỹ năng và tự tin),
literature(văn học), knowledge
(kiến thức), pratice (thực
hành).
Tổng cộng: 9 lần
war (chiến tranh), fear (sự sợ Nhƣờng
hãi), patience (kiên nhẫn) , nhịn, tranh
revenge (trả thù). chấp, sự
giận dữ, Tổng cộng: 4 lần kiện cáo
Nhƣ vậy, những vấn đề nhân sinh đƣợc ngƣời Việt quan tâm nhất là:
con người và sự hình dung về con người (19 lần); tốt xấu – đẹp xấu (7 lần);
lời nói – việc làm, dư luận (6 lần); thiếu đủ (5 lần).
Ngƣời Anh thì chú ý nhiều đến: lời nói – việc làm, dư luận (14 lần);
tốt xấu – đẹp xấu (12 lần); danh tiếng, thưởng phạt (11 lần); thời gian, phát
triển – suy tàn, sự thay đổi, lòng tin, hi vọng (11 lần); giáo dục, văn hoá nghệ
thuật (9 lần).
49
Qua khảo sát trên, chúng ta có thể thấy yếu tố A trong SSTT của TN
Anh có những đề tài mà TN Việt không có nhƣ: nhường nhịn, tranh chấp, sự
giận dữ, kiện cáo; danh tiếng, thưởng phạt; giáo dục văn hoá nghệ thuật; yêu
- ghét. Trong khi đề tài đƣợc nhắc đến nhiều nhất ở yếu tố A của TN Việt là
con ngƣời và sự hình dung về con ngƣời (19 lần) thì yếu tố A của TN Anh lại
đề cập nhiều đến lời nói – việc làm (14 lần).
Ngoài ra, động thực vật không phải là vấn đề ngƣời Anh thắc mắc,
quan tâm, chúng không phải là đối tƣợng chủ đạo, nên ít đƣợc đề cập với tƣ
cách là yếu tố đƣợc/ bị so sánh.
Ngƣời Anh chú ý nhiều đến vấn đề tôn giáo hơn ngƣời Việt vì quan
niệm về tôn giáo ăn sâu vào tâm thức của họ với những giáo lí và luật lệ
nghiêm ngặt thể hiện qua nhiều mặt trong đời sống hàng ngày. Còn với ngƣời
Việt, đạo trời hòa hợp với lẽ đời, tự do, không bắt buộc. (xem thêm chƣơng
III, phần 3.3.2.2, Quan niệm về tôn giáo, tín ngƣỡng)
Sự quan tâm đến giới tự nhiên, đặc biệt là vấn đề thời tiết của ngƣời
Anh thể hiện qua các SSTT cũng nhạt hơn ngƣời Việt. Trong khi yếu tố A
trong SSTT của ngƣời Việt đề cập đến mưa, gió, ruộng, đất (tổng cộng: 10
lần, đặc biệt, trong đó có 3 lần nói đến mƣa: nước mưa, mưa tháng ba, mưa
tháng sáu; 2 lần nói đến gió: gió thổi, một nạm gió) thì ngƣời Anh chỉ nói đến
“the change of the weather”(sự thay đổi của thời tiết),“the air of a
window”(gió ngoài cửa sổ), “march”(tháng ba). (tổng cộng: 5 lần).
2.1.2. Cấu tạo của A:
Để có thể thấy đƣợc những quy tắc, quy luật hoạt động đặc trƣng của
mỗi ngôn ngữ ảnh hƣởng đến quá trình sáng tạo, hình thành và ý nghĩa của
50
các SSSTT nhƣ thế nào, ngƣời viết tiến hành phân loại yếu tố A theo tiêu chí
từ vựng, cú pháp.
Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống, dựa vào sự phân biệt về
những nét đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa, những đặc điểm chung xuất
phát từ ý nghĩa ngữ pháp và thể hiện ở chức năng ngữ pháp trong câu, các nhà
ngôn ngữ học phân chia lớp từ cơ bản của một ngôn ngữ thành các phạm trù
từ vựng – ngữ pháp. Dựa vào ý nghĩa khái quát bao trùm cả một lớp từ và khả
năng kết hợp cũng nhƣ chức năng cú pháp của nó trong câu, ngƣời viết sẽ tiến
hành phân loại yếu tố A theo các tập hợp sau: danh từ và danh ngữ, động từ
và động ngữ, tính từ và tính ngữ, kết cấu chủ-vị (có chức năng đảm nhiệm vai
trò thành phần câu, tƣơng đƣơng một cụm từ)
Bảng 2.4: Phân loại yếu tố A trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo tiêu chí
từ vựng, cú pháp
Yếu tố A TN Việt TN Anh
Số lƣợng Tỉ lệ % Số lƣợng Tỉ lệ %
yếu tố A yếu tố A
Danh từ/ danh ngữ 36.7 179 95.7 61
Động từ/ động ngữ 22 13.3 0 0
Tính từ/ tính ngữ 20 12 0 0
Kết cấu chủ-vị 63 38 8 4.3
Tổng cộng 166 100 % 187 100 %
51
Trong TN Việt, ở yếu tố A, kết cấu chủ - vị (38%) đƣợc sử dụng nhiều
nhất, kế đó là danh từ/ danh ngữ (36.7%). Tiếp theo là động từ/ động ngữ
(13.3%) và tính từ/ tính ngữ (12%). Kết cấu chủ - vị đƣợc sử dụng nhiều nhất
vì ngƣời Việt ƣa ví von, liên tƣởng những phán đoán, vấn đề trọn vẹn ý nghĩa.
Chẳng hạn trong một số trƣờng hợp sau:
-Con nhà có cố có ông/ Như cây có cội như sông có nguồn.
-Hoa thơm ai chẳng nâng niu/ Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề.
-Nứa trôi sông không giập thì gãy/ Gái chồng rẫy chẳng chứng nọ
cũng tật kia.
Để ngƣời đọc thấy hết sự tƣơng đồng giữa con nhà và cây, giữa hoa
thơm và người khôn, giữa nứa trôi sông và gái chồng rẫy, dân gian đã triển
khai yếu tố A thành các kết cấu chủ vị đầy đủ để thuyết minh cho rõ ràng, cụ
thể hơn.
Sau đó mới là các câu nêu vấn đề ngắn gọn thông qua cụm danh từ/
danh ngữ:
-Của là cuống ruột.
-Lời nói gói vàng.
-Cơm tẻ mẹ ruột.
Cuối cùng là các hoạt động, trạng thái, tính chất của sự vật hiện tƣợng
thông qua động từ/ động ngữ, tính từ / tính ngữ:
-Cứu bệnh như cứu hỏa.
-Nói đúng như gãi vào chỗ ngứa.
-Vênh váo như bố vợ phải đấm.
-Khỏe như voi không coi cũng ngã.
Yếu tố A trong TN Anh có sự khác biệt. Danh từ/ danh ngữ (179)
đƣợc sử dụng nhiều nhất (95.7%), sau đó mới là kết cấu chủ vị (8, chỉ chiếm
52
4.3%). Khác với ngƣời Việt, ngƣời Anh dùng yếu tố A hầu hết là danh từ
hoặc danh ngữ (chứa thêm thông tin bổ nghĩa cho danh từ) vì tính chất gọn, rõ
của chúng. Yếu tố đƣợc/ bị so sánh chỉ xuất hiện dƣới dạng nêu vấn đề, các
yếu tố còn lại sẽ bổ sung, làm rõ nghĩa cho chúng:
-Wine is a turncoat. (danh từ)
(Rƣợu là kẻ phản bội.)
-The mouth is the executioner and the doctor of the body. (danh
từ)
(Cái miệng là đao phủ và là bác sĩ của cơ thể.)
-A dry cough is the trumpeter of death. (danh ngữ: mạo từ + tính
từ + danh từ)
(Tiếng ho khan là lính thổi kèn của thần chết.)
-A great dowry is a bed full of brambles. (danh ngữ: mạo từ +
tính từ + danh từ)
(Của hồi môn nhiều là một cái giƣờng đầy gai.)
Còn động từ/ động ngữ, tính từ/ tính ngữ thì chúng không đƣợc sử
dụng trong yếu tố đƣợc/ bị so sánh vì theo quy luật của tiếng Anh, chúng
không thể đứng đầu câu, đảm nhiệm chức năng làm chủ ngữ. Muốn đứng đầu
câu, các động từ nguyên mẫu phải thêm “-ing” để chuyển thành các danh
động từ. Do đó, TN Anh không thể nói “Learn in the breast of a bad man is as
a sword in the hand of a mad man” mà phải nói là ““Learning in the breast of
a bad man is as a sword in the hand of a mad man” (Sự học trong đầu kẻ xấu
cũng như thanh gươm trong tay người điên).
Còn với tiếng Việt, bất kì một hoạt động, trạng thái, tính chất nào cũng
đều có thể đảm nhiệm vai trò chủ thể:
-Ăn cơm không rau như đánh nhau không có người gỡ.
-Nói thì như mây như gió/ Cho thì thằng mõ không xong.
-Đẹp như rối không mối không xong.
53
-Xấu như ma vinh hoa cũng đẹp.
Tóm lại, theo tiêu chí từ vựng – cú pháp, cấu tạo của yếu A trong
SSTT của TN Việt linh hoạt hơn TN Anh. Trong khi ngƣời Việt chuộng cách
thuyết minh cụ thể, rõ ràng thì ngƣời Anh chuộng cách nói ngắn gọn, súc tích.
2.1.3. Đặc điểm của A
Trong TN Việt, có nhiều SSTT mà trọng tâm ngữ nghĩa nằm ở yếu tố
A. A là cái cần nhấn mạnh, cần đƣợc so sánh, B chỉ là phần bổ sung, liên
tƣởng, ví von:
-Gió thổi là chổi trời.
-Tấc đất tấc vàng.
-Con có cha như nhà có nóc/ Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.
-Tiền của như nước thuỷ triều.
-Người không học như ngọc không mài.
Cũng có trƣờng hợp A chỉ là yếu tố đƣa đẩy, gợi hứng; còn B mới thật
sự là yếu tố đƣợc nhấn mạnh, là trọng tâm ngữ nghĩa mà ngƣời phát ngôn
muốn truyền đạt:
-Thuyền theo lái, gái theo chồng.
-Hoa thơm ai chẳng nâng niu/Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề.
-Vàng sa xuống giếng khôn tìm/ Người sa lời nói như chim sổ lồng.
-Uốn cây từ thuở còn non / Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.
Ở đây có sự tiềm ẩn của liên từ “cũng như”. Chẳng hạn ở ví dụ cuối
cùng, cách nuôi dạy con cái mới là vấn đề chính đƣợc đề cập đến. Nó đƣợc ví
với cách uốn cây, hay nói cách khác, cách uốn cây chỉ là phần rào đón, đƣa
đẩy. Cây phải uốn lúc còn nhỏ, còn dẻo dai, lúc đó muốn uốn cách nào cũng
không sợ gãy. Dạy trẻ con cũng giống nhƣ vậy. Lúc trẻ còn thơ dại, trí óc dễ
54
lĩnh hội những điều mắt thấy tai nghe, lại chƣa đến thời kì bƣớng bỉnh nên
cha mẹ dễ dạy dỗ, uốn nắn.
Tóm lại, trong TN Việt, tùy theo hoàn cảnh, mục đích giao tiếp cụ thể
mà yếu tố A hay B đƣợc nhấn mạnh hơn.
Trong TN Anh thì toàn bộ trọng tâm ngữ nghĩa nằm ở A – yếu tố quan
trọng, chủ đạo luôn đƣợc đƣa ra trƣớc, không có trƣờng hợp đƣa đẩy do ngƣời
Anh thích đề cập đến vấn đề một cách trực tiếp chứ không có thói quen vòng
vo, rào đón. Yếu tố B chỉ có vai trò bổ sung, làm rõ, thể hiện sự liên tƣởng
của dân gian mà thôi. Chẳng hạn:
Knowledge is a treasure but practice is the key to it. (Kiến thức là một kho báu nhƣng thực hành mới chính là
chìa khóa để mở nó)
Health is great riches. (Sức khỏe là tài sản vô giá) The wife is the key of the house. (Ngƣời vợ là chìa khóa của ngôi nhà)
Trong ví dụ đầu tiên, nhằm cụ thể hóa giá trị của kiến thức, ngƣời Anh
so sánh nó với một kho báu; nhằm nhấn mạnh vai trò của thực hành trong
việc lĩnh hội tri thức, họ ví thực hành với chìa khóa có thể mở đƣợc kho báu
kiến thức ở trên. Ở đây, yếu tố A, tức “kiến thức”, “thực hành”, “người vợ”,
“sức khỏe” mới chính là điều ngƣời Anh quan tâm.
SSTT trong TN Việt và TN Anh còn mở ra một thế giới hình ảnh vô
cùng sống động, phong phú, nhiều màu sắc, vừa thực vừa ảo, vừa khách quan
vừa chủ quan, vừa trừu tƣợng vừa chi tiết,…. Hình ảnh chứa đựng cảm xúc và
suy nghĩ của tác giả dân gian, là hiện thân của tƣ duy, ý tƣởng của hai dân tộc.
Tuỳ theo đặc điểm tƣ duy của mỗi dân tộc mà cách sử dụng hình ảnh có khác
55
nhau. Chẳng hạn, các hình ảnh liên quan đến lao động sản xuất của ngƣời
Việt mang tính chung chung, khái quát, thuần tuý là các kinh nghiệm:
-Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc.
-Làm ruộng có trâu, làm dâu có chồng.
-Uốn cây từ thuở còn non/ Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.
Còn các hình ảnh thuộc đề tài kinh nghiệm lao động sản xuất của
ngƣời Anh thì mang tính cụ thể: a good bargain (sự trả giá có lợi cho mình),
dear bought (sự mua ngọt ngào); có kèm sự đánh giá: a useful trade (sự mua
bán có ích); hoặc định lƣợng: three removals (ba lần dọn nhà).
Bên cạnh đó, ta thấy TN Việt có 166 A so sánh với 173 B. TN Anh
thì có 187 A so sánh với 198 B. Nhƣ vậy, ngoài cấu trúc 1 A – CSSS – từ so
sánh – 1 B, SSTT của ngƣời Việt và ngƣời Anh còn có những trƣờng hợp sau:
+ 1 A – B1, B2, B3,..
Ví dụ:
-Con nhà có cố có ông
Như cây có cội như sông có nguồn.
-Gái có chồng như chông như mác
Gái không chồng như rác như rơm.
-Nói thì như mây như gió
Cho thì thằng mõ không xong.
-Một cái rắm bằng nắm thuốc tiêu, bằng liều thuốc gió, bằng lọ
thuốc tiên.
Cấu trúc này nhằm cụ thể hóa, nhấn mạnh, miêu tả sâu sắc hơn yếu tố
A. Sự tăng cấp thể hiện ở B1, B2, B3,…tạo ra sức nặng, kéo ngƣời đọc theo
một hƣớng liên tƣởng chung nhất. Lối so sánh tăng cấp nhƣ vậy có khả năng
kết nối, xâu chuỗi hình ảnh tạo nên một tập hợp hình ảnh ít nhiều mang tính
hệ thống. Chẳng hạn, trong ví dụ đầu tiên, nhằm nhấn mạnh đến cội nguồn,
56
căn nguyên, gốc rễ của con ngƣời, dân gian so sánh với hai hình ảnh liên tiếp
là “cây có cội” và “sông có nguồn”. Sự xuất hiện liên tiếp của yếu tố B có tác
dụng nhấn mạnh, khắc sâu ý niệm về tổ tiên, nhắc con ngƣời phải nhớ đến
nguồn cội vì có tổ tiên thì mới có mình.
Nhƣ vậy, các B hỗ trợ nhau nói lên đặc tính nhiều chiều của A, làm
giàu thêm nhận thức của độc giả về A, mở ra nhiều liên tƣởng phong phú hơn,
nhìn sự vật hiện tƣợng ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ toàn diện hơn. Ngƣời
Việt ƣa liên tƣởng A với những sự vật hiện tƣợng cụ thể nên thích sử dụng
kiểu so sánh này
Ngƣời Anh cũng có lối tƣ duy trên:
Women are saints in church, angels in the street, and devils at home. (Phụ nữ là thánh trong nhà thờ, thiên thần trên đƣờng phố và quỷ sứ ở nhà)
The mouth is the executioner and the doctor of the body. (Cái
miệng là đao phủ và bác sĩ của cơ thể)
Các yếu tố so sánh B xuất hiện liên tiếp nhằm nói lên đặc tính của A
đƣợc nhìn từ nhiều chiều. Chẳng hạn, trong ví dụ đầu tiên, để khắc họa rõ tính
cách của phụ nữ ở nhiều phƣơng diện, nhiều khía cạnh, ngƣời Anh ví hình
ảnh của họ với thánh, thiên thần và cả quỷ sứ. Nhƣ vậy, một yếu tố A có thể
có nhiều nét nghĩa.
+ Nhiều A – 1 B:
Kết cấu này nhằm khái quát hoá sự giống nhau giữa các sự vật hiện
tƣợng. TN Việt không có trƣờng hợp SSTT nào xuất hiện theo dạng này. TN
Anh thì có:
Two daughters and a back door are three arrant thieves.
(Hai ngƣời con gái và cái cửa sau là ba tên trộm vĩ đại)
Reward and punishment are the walls of a city.
57
(Thƣởng và phạt là tƣờng thành của một thành phố)
Ignorance and incuriosity are two very soft pillows.
(Sự phớt lờ và không tò mò là hai chiếc gối rất êm ái)
War, hunting, and love are as full of trouble as pleasure.
(Chiến tranh, săn bắn và ái tình đều có nhiều nỗi buồn cũng nhƣ niềm
vui)
Trong câu ví dụ đầu tiên, ngƣời Anh nhận thấy sự giống nhau giữa hai
cô con gái và một cái cửa sau: con gái thì hay bòn của của cha mẹ mình, cũng
nhƣ cái cửa sau dễ khiến kẻ trộm lẻn vào nhà lấy mất của cải, đồ đạc quý giá.
Từ sự giống nhau đó, họ khái quát lên thành “Hai cô con gái và một cái cửa
sau là ba tên trộm vĩ đại”. Trong ví dụ cuối cùng, chiến tranh, săn bắn và ái
tình tƣởng chừng nhƣ là những hoạt động hoàn toàn khác nhau, nhƣng ngƣời
Anh đã nhận thấy điểm giống nhau giữa chúng là đều có nhiều nỗi buồn cũng
nhƣ niềm vui. Nhƣ vậy, khác với ngƣời Việt, ngƣời Anh còn thích tổng hợp,
khái quát lại những nét tƣơng đồng của các sự vật hiện tƣợng trong cấu trúc
so sánh nhiều A – 1 B.
2.2. Đặc điểm của CSSS trong TN Việt và TN Anh
Bảng 2.5: Thống kê yếu tố CSSS trong SSTT của TN Việt và TN Anh
Yếu tố CSSS TN Việt TN Anh
Số lƣợng Tỉ lệ % Số lƣợng Tỉ lệ %
CSSS CSSS
Khuyết 109 80.7 144 80.9
Có 26 19.3 34 19.1
Tổng cộng 135 100% 178 100%
58
2.2.1. Khuyết yếu tố CSSS:
Theo số liệu ở trên, ngƣời Việt (80.7%) và ngƣời Anh (80.9%) đều
chuộng lối nói súc tích ngắn gọn (khuyết yếu tố CSSS) hơn là đƣa ra mô hình
so sánh ở dạng đầy đủ:
Gió thổi là chổi trời.
Trẻ mùa hè như bè tháng sáu.
Con có mẹ như măng ấp bẹ.
Dân như cây gỗ tròn.
Marriage is a lottery. (Hôn nhân là tấm vé số)
Time is money. (Thời gian là tiền bạc)
Beauty is but a blossom. (Cái đẹp chỉ là một đóa hoa)
CSSS ở các câu TN trên đều bị khuyết, tạo nên khoảng trống, khơi gợi
trí tƣởng tƣợng của ngƣời đọc để tìm ra điểm tƣơng đồng giữa hai sự vật, hiện
tƣợng. Trong ví dụ cuối cùng, ngƣời tiếp nhận có thể nghĩ đến nhiều điểm
tƣơng đồng giữa cái đẹp và một đóa hoa, đó có thể là sự yếu ớt, cần đƣợc
nâng niu, trân trọng hay sự mong manh, ngắn ngủi, chóng phai tàn,…
Một SSTT hay là một so sánh mới lạ nhƣng vẫn đủ để cho phép ngƣời
đọc có thể phát hiện ra nét tƣơng đồng giữa yếu tố đƣợc/ bị so sánh với yếu tố
so sánh. Sự xuất hiện của yếu tố CSSS sẽ hƣớng ngƣời đọc theo cùng hƣớng
liên tƣởng với tác giả, gò bó, hạn chế khả năng tự do sáng tạo của ngƣời đọc.
Do đó, việc giấu đi CSSS sẽ khiến ngƣời đọc phải suy nghĩ, liên tƣởng để tìm
ra nét tƣơng đồng giữa hai sự vật, kích thích óc tƣởng tƣợng vô tận ở họ,
khiến họ thấy thích thú, tâm đắc khi tự mình phát hiện ra. Đây cũng chính là
điều cần rút ra khi phân tích các SSTT.
59
2.2.2. Có yếu tố CSSS:
Bảng 2.6: Cấu tạo của yếu tố CSSS trong SSTT của TN Việt và TN Anh
2.2.2.1. Cấu tạo:
Động từ/ động ngữ không lo cũng hết
ăn mòn cũng hết
lởn vởn
sa đâu ấm đấy mê mẩn x 2 dính gặp đâu úp đấy chẳng có mối tối nằm không không mối không xong ở đâu thơm đấy khôn dò không coi cũng ngã lại rút ruột ra lênh đênh
fades (phai tàn) come home to roost (về nhà mình mà đậu) ought to be a good while a-soaking (chỉ trở nên tốt khi nhúng vào nước) consumes faster than labour wears (phân hủy nhanh hơn khi lao động) better broken than kept (nên bẻ gãy hơn là giữ lại) made to be broken (được làm ra để bẻ vụn) wavering (dao động) wags (ve vẩy, lúc lắc)
Tính từ/ tính ngữ
nông nổi sâu sắc cạn lòng bạc nghĩa
chổng chểnh khôn x 2
dại x 2
sweet (ngọt ngào) good x 3 (tốt) bad x 2 (xấu, tệ) white (trắng) narrowest at its source and broadest afar off (hẹp nhất ở thượng nguồn và rộng nhất phía hạ nguồn) as well as (cũng tốt như) fine but much out of fashion (đẹp nhưng hầu hết đã lỗi thời) strong (mạnh mẽ)
TN Việt TN Anh
60
Cụm C-V nào ai bày cỗ
nhiều hƣơu cũng hết
as full of trouble as pleasure (đầy đủ niềm vui cũng như nỗi buồn) that turn all it touches into gold (nó chuyển mọi thứ nó chạm vào thành vàng) which stink in a heap, but spread abroad make the earth fruitful (nó sẽ bốc mùi hôi thối khi chất thành đống nhưng nếu rải ra thì nó sẽ làm cho mặt đất trở nên màu mỡ) they drink and talk (chúng nhậu nhẹt và bắt đầu nói) if you let it (secret) go, you art a prisoner to it (nếu bạn để bí mật ra đi, bạn đã tạo nên một tù nhân cho nó) that grows not in every one's garden (nó (bông hoa) không nở trong mọi khu vườn) that grows in the devil's garden (đóa hoa chỉ nở trong khu vườn của quỷ) some are caught, others fly away (vài con đậu, vài con bay) that can be eaten cold (món ăn có thể ăn khi nguội) for it steals half one's life (vì nó (giấc ngủ) đánh cắp hết nửa đời người) everything runs out of them (mọi thứ chảy ra ngoài chúng) she does not let it rust (cô ấy không để nó rỉ sét) the more we stir in it, the more we are entangled (chúng ta càng chuyển động thì càng bị mắc kẹt trong đó) every man plays his part (mỗi người sẽ diễn phần của mình) some to go up and some down (một số người lên và một số người xuống)
Phân tích cấu tạo của các CSSS, ta thấy ngƣời Việt và ngƣời Anh đều
ƣa sử dụng các động từ/ động ngữ, tính từ/ tính ngữ. Nhƣ vậy, CSSS thông
thƣờng sẽ là các trạng thái, tính chất, hoạt động của hai sự vật hiện tƣợng.
Tuy nhiên, ngƣời Anh ƣa sử dụng cụm chủ - vị hơn ngƣời Việt (14 trƣờng
hợp CSSS của TN Anh là cụm chủ - vị.)
61
2.2.2.2. Đặc điểm:
Trong cấu tạo của các CSSS ở trên, ta thấy xuất hiện một số lƣợng lớn
động từ biểu thị các dạng vận động khác nhau của sự vật:
Động từ trong CSSS của TN Việt: lo, hết x 3, ăn mòn, lởn vởn, sa, mê
mẩn x 2, dính, gặp, úp, nằm, xong, ở, thơm, dò, coi, ngã, rút, lênh đênh, bày.
(Tổng cộng: 22 động từ)
Động từ trong CSSS của TN Anh: roost (đậu), be (là), a-soaking
(ngâm, nhúng vào nƣớc), kept (giữ), let x 2 (để cho), go (đi), entangled
(vƣớng, mắc kẹt), catch (bắt), stink (bốc mùi), touch (chạm vào), play (đóng
vai), fade (héo tàn, nhạt phai), come (trở về, đi về), consume (phá hủy, tiêu
thụ hết), break x 2 (đập vỡ, bẻ gãy), make x 2 (làm, tạo ra), wavering (dao
động), wear (mặc), wag (lúc lắc, ve vẩy), turn (biến đổi, chuyển), spread (rải
ra, trải ra), talk (nói), do (làm), art (sáng tạo ra), grow x 2 (lớn lên, phát triển),
fly away (bay mất), steal (đánh cắp), eat (ăn), drink (uống), runs out of (chảy
ra, tuôn ra hết), rust (rỉ, mai một), stir (chuyển động, náo động), go up (đi lên),
down (đi xuống). (Tổng cộng: 38 động từ)
Để tìm ra phong cách riêng của mỗi dân tộc, ngƣời viết sẽ tiến hành
phân loại các động từ xuất hiện trong CSSS theo tiêu chí: động từ chỉ hoạt
động di chuyển có phƣơng hƣớng và không có phƣơng hƣớng; động từ chỉ tƣ
thế tĩnh tại của sự vật nhƣ Dƣ Ngọc Ngân trong “Giáo trình ngữ pháp tiếng
Việt – Phần từ loại” [42, tr.28 - 35]. Ở đây ngƣời viết xin nói rõ hơn về cách
phân loại này. Tác giả đã phân động từ ra thành hai loại lớn là động từ độc lập
và động từ không độc lập.
Động từ độc lập không có bổ ngữ bắt buộc, gồm một số nhóm nhƣ sau:
62
- Nhóm chỉ hoạt động di chuyển không có phƣơng hƣớng: đi, chạy,
nhảy, bò, lăn, trườn, bước, bay, tiến, lùi,…
- Nhóm chỉ tƣ thế tĩnh tại của sự vật: đứng, ngồi, nằm, nghỉ,…
- Nhóm chỉ hoạt động tâm lí: cười, khóc, ngủ, thức,…
- Nhóm chỉ hoạt động tự nhiên, không có chủ ý: ngã, rơi, rụng, mọc
nở,…
Động từ không độc lập đòi hỏi phải có bổ ngữ đi kèm, để làm cho ý
nghĩa của động từ đƣợc hoàn chỉnh. Nó gồm những nhóm sau:
+ động từ tác động: biểu thị những hoạt động chuyển đến một hoặc
nhiều đối tƣợng nhất định. (đọc, học, đội, mặc, viết, xây, đóng, vẽ, cắt, đánh,
tặng, mượn, mời,…)
+ động từ tình thái: chỉ những trạng thái tâm lí của con ngƣời nhƣ ý
chí, nguyện vọng, dự định, sự cần thiết, khả năng,…(muốn, mong, định, dám,
nỡ, cần, nên, có thể,…)
+ động từ tiếp thụ: chỉ trạng thái tiếp nhận một hay nhiều đối tƣợng sự
vật, sự tình có thuận lợi hay không đối với chủ thể. (được, bị, phải, chịu,…)
+ động từ tồn tại: chỉ ý tồn tại, có mặt, xuất hiện hoặc mất đi của một
đối tƣợng sự vật hay sự tình nào đó. (có, còn, xuất hiện, hiện ra, xảy ra, diễn
ra, mất,…)
+ động từ chỉ hoạt động di chuyển có phƣơng hƣớng: bao gồm: ra,
vào, lên, xuống, đến, tới, lại, về, sang, qua,…
63
+ động từ chỉ quan hệ biến hóa (chỉ sự biến hóa, chuyển biến của sự
vật: trở thành, trở nên, biến thành, thành, hóa ra,…) và quan hệ đồng nhất (là)
Tóm lại, khảo sát 22 động từ trong CSSS của TN Việt và 38 động từ
trong CSSS của TN Anh theo hai tiêu chí đã đề cập ban đầu, ta có kết quả nhƣ
sau:
Bảng 2.7: Phân loại động từ trong CSSS của TN Việt và TN Anh
Tiêu chí phân Động từ trong CSSS Động từ trong CSSS của TN
loại của TN Việt Anh
Số lƣợng Tỉ lệ % Số lƣợng Tỉ lệ %
Chỉ tƣ thế tĩnh tại nằm, ở, roost (đậu), 18.2 5.3
của sự vật, hiện dính, úp entangled (vƣớng,
tƣợng mắc kẹt)
Chỉ hoạt động di 0 go up (lên), go 0 7.9
chuyển có down (xuống),
phƣơng hƣớng come (về)
Chỉ hoạt động di lởn vởn, sa, go (đi), wave (dao 13.6 15.8
chuyển không có lênh đênh động, đung đƣa),
phƣơng hƣớng wag (lúc lắc, ve
vẩy), fly away (bay
mất), run out of
(chảy ra, tuôn ra
hết), stir (chuyển
động, náo động)
64
Nhƣ vậy, theo khảo sát ở trên, ngƣời Anh thích sử dụng các động từ
chỉ hoạt động di chuyển có hƣớng và không có hƣớng trong CSSS, còn ngƣời
Việt thì thích sử dụng các động từ chỉ tƣ thế tĩnh tại của sự vật, hiện tƣợng
(18.2%). Điều này xuất phát từ kiểu tƣ duy của hai dân tộc.
Xét về loại hình văn hóa, văn hóa Anh thuộc loại hình gốc du mục.
Nghề chăn nuôi buộc ngƣời dân phải đƣa gia súc đi tìm cỏ, sống du cƣ, nay
đây mai đó. Dù sau này có phát triển thƣơng nghiệp và cấy trồng thì chăn
nuôi vẫn giữ vai trò chủ đạo. Họ “không chí thú với cuộc sống định cư, sau
mỗi năm lại chuyển đi nơi khác” [66, tr. 21). Do đó, trong CSSS của TN Anh,
ta thấy xuất hiện nhiều động từ chỉ hoạt động di chuyển có hƣớng và không
có hƣớng:
Curse, like chicken, come home to roost.
(Lời nguyền rủa giống nhƣ lũ gà, quay về chuồng nhà mình mà đậu)
The world is a ladder for some to go up and some (go) down.
(Thế giới là một cái thang cho một vài ngƣời lên và một vài ngƣời
xuống)
A women’s tongue wags like a lamb’s tail.
(Miệng lƣỡi của phụ nữ ve vẩy nhƣ đuôi cừu)
Proverbs are like butterflies, some are caught, others fly away.
(TN nhƣ những con bƣớm, vài con bị bắt, những con khác thì bay đi
mất)
Còn Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp, nghề trồng
trọt buộc ngƣời dân phải sống định cƣ để chờ cây cối lớn lên, ra hoa, kết trái
và thu hoạch. Do đó, trong CSSS của TN Việt có nhiều động từ chỉ tƣ thế tĩnh
tại của sự vật hiện tƣợng (18.2%) hơn TN Anh (5.3%):
Ngƣời nhƣ hoa ở đâu thơm đấy.
Đẹp nhƣ rối chẳng có mối tối nằm không.
65
Nếu ngƣời Việt thiên về lối tƣ duy tĩnh tại thì ngƣời Anh lại chuộng
lối tƣ duy động, chú trọng sự vận động, phát triển của các sự vật hiện tƣợng.
Điều này để lại dấu ấn trong ngôn ngữ nói chung và trong SSTT của TN Anh
nói riêng, nhƣ khảo sát ở trên.
2.3. Đặc điểm của từ biểu thị quan hệ so sánh trong TN Việt và TN
Anh
2.3.1 Từ biểu thị quan hệ so sánh trong TN Việt:
Bảng 2.8: Thống kê từ thể hiện quan hệ so sánh trong SSTT của TN
Việt
Từ nối Số lƣợng Tỉ lệ %
nhƣ 108 63.5
28 là 16.5
26 15.3
8 bằng 4.7
Tổng cộng 170 100 %
Các từ biểu thị quan hệ so sánh trong TN Việt đều là các từ đơn tiết
vì tính chất súc tích ngắn gọn của nó: như, bằng, là, . Các từ song tiết
không thấy xuất hiện trong TN, nhƣng lại xuất hiện nhiều trong ca dao do yêu
cầu niêm luật và để phô diễn các cung bậc khác nhau của tình cảm (bao
nhiêu…bấy nhiêu, như thể, khác chi, cũng như, tựa hồ, cầm bằng, ví như, …)
Sau đây, ngƣời viết sẽ lần lƣợt trình bày đặc điểm của các từ so sánh
đã nêu trên:
66
2.3.1.1. Như: 63.5 %
Đây là từ thể hiện quan hệ so sánh có tần số xuất hiện cao nhất trong
TN Việt. Như đƣợc sử dụng trong các SSTT có tính chất miêu tả, nhằm chỉ ra
một số nét nghĩa giống nhau giữa hai sự vật, hiện tƣợng đƣợc đƣa ra so sánh.
Chẳng hạn:
Con có cha như nhà có nóc.
Câu này nói đến địa vị quan trọng của ngƣời cha: che chở, bảo vệ các
thành viên trong gia đình. Ngƣời cha đƣợc ví nhƣ cái nóc nhà. Con còn cha sẽ
đƣợc cha che chở, bảo vệ, nâng niu, trƣớc mọi biến cố của cuộc sống, cũng
nhƣ nhà có nóc sẽ không phải lo ngại nắng mƣa, gió bão. Chính vì thế, ở đây,
ta có thể dùng các liên từ: giống như, cũng như, coi như để thay thế.
Từ so sánh này thể hiện sắc thái giả định, nhằm đƣa ra một số đặc
điểm gần gũi giữa hai sự vật khác loại, chứ không phải là đồng nhất hoàn toàn:
-Dâu năng hái như gái năng tô. (càng xinh đẹp, tươi tốt hơn)
-Gái lớn trong nhà như ma chửa cất. (khiến mọi người lo lắng,
bất an)
-Cơm tẻ mẹ ruột. (vô cùng quan trọng, là nguồn sống)
-Cứu bệnh như cứu hoả. (gấp rút, quan trọng)
-Chị em dâu như bầu nước lã. (dửng dưng, lạnh nhạt)
-Người dốt như trông vào vách.(mù mờ, chẳng hiểu gì)
Với từ so sánh này, tác giả dân gian đã phát biểu nhiều so sánh rất hay
về quan niệm sống, về tình thƣơng, lẽ phải ở trên đời:
-Người già như dâu ngả bóng.
-Đàn ông nông nổi giếng khơi/ Đàn bà sâu sắc như cơi
đựng trầu.
-Thuyền không lái như gái không chồng.
-Mẹ già như chuối chín cây.
67
-Tiền của như nước thuỷ triều.
-Người như hoa ở đâu thơm đấy.
Câu TN "Mẹ già như chuối chín cây" nói lên tấm lòng lo lắng của
ngƣời con không biết lúc nào mẹ mình không còn nữa. Hình ảnh so sánh ở
đây thật chính xác. Ngày tháng thoi đƣa, tuổi xuân của mẹ rồi cũng sẽ qua,
tuổi già sẽ đến. Nếu nhà nào có trồng nhiều chuối sẽ thấy buồng chuối chín
cây nếu đốn xuống không kịp, mỗi khi có ngọn gió thổi qua, các trái chuối đã
chín, mềm quá sẽ lần lƣợt rơi rớt, có khác gì thân mẹ bị ngọn gió thời gian
mang đi mãi mãi. Dân gian đã rất tinh ý, tài tình khi ví von tuổi già yếu đuối
của mẹ không khác chuối chín cây thông qua từ so sánh “như”, bởi vì nhƣ đã
nói ở trên, đây là từ so sánh có tính chất miêu tả.
Hình ảnh so sánh này từ TN đã đi vào ca dao và trở thành một công
thức quen thuộc, đậm đà sắc thái dân gian trong hàng loạt câu viết về chủ đề
ngƣời mẹ thông qua từ so sánh “như”:
-Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp mật, như đường mía lau.
-Mẹ già như chuối chín cây
Gió đưa mẹ rụng, con rày mồ côi.
-Mẹ già như chuối chín cây
Mong sao dâu được mỗi ngày mỗi ngoan.
-Mẹ già như chuối chín cây
Sao đấy chẳng liệu cho đây liệu cùng.
Còn câu TN “Thuyền không lái như gái không chồng” khiến
ngƣời đọc phải nao lòng trƣớc cảnh khổ riêng của những ngƣời con gái không
chồng trong xã hội cũ, phải gồng mình bƣơn chải, lăn lộn với cuộc sống, nếm
trải qua bao nỗi éo le, cùng cực của phận đàn bà. Những ngƣời phụ nữ trong
cảnh “không chồng” thƣờng khó có thể giãi bày lòng mình ra với ngƣời khác
68
bởi nhiều lẽ, vì vậy mà ít có ai thấu hiểu đƣợc nỗi niềm của họ. Tác giả dân
gian đã đúc kết lại điều đó trong câu TN trên. Thuyền không lái sẽ bị chảo
đảo, chông chênh trƣớc sóng to gió cả, có nguy cơ bị lật úp giữa dòng nƣớc
mênh mông. Ngƣời con gái không có chồng đỡ đần, sẻ chia, an ủi thì cuộc
sống quạnh quẽ, hiu hắt, chông chênh biết nhƣờng nào. Hai hình ảnh ấy có
nhiều điểm gần gũi chứ không phải đồng nhất hoàn toàn nên đƣợc dân gian
kết nối lại thông qua từ so sánh “như”, chứ không phải “bằng” hay “là”.
Không dừng lại ở việc đúc kết kinh nghiệm, câu TN góp phần thể hiện sự
chông chênh của cảnh ngộ không chồng thông qua ví von rất tài tình, rất đắt.
Tóm lại, có thể nói “như” là từ so sánh chuyên dụng trong TN
Việt, kết nối nhiều hình ảnh so sánh đẹp, mƣợt mà, bay bổng, vƣợt ra ngoài
khuôn khổ khô cứng, làm cho TN trở thành những tác phẩm nghệ thuật đích
thực, đi vào lòng bao thế hệ ngƣời Việt.
2.3.1.2. Là: (16.5 %)
Trong tiếng Việt, là có nhiều chức năng, ở đây ngƣời viết chỉ chú ý
đến nét nghĩa so sánh. Về nét nghĩa này, là có giá trị tƣơng đƣơng như, nhằm
thể hiện sự tƣơng đồng giữa hai sự vật, hiện tƣợng đƣợc đem ra so sánh. Do
đó, ta có thể thay như vào vị trí của là:
Gió thổi là/ như chổi trời.
Bố vợ là/ như rợ cọc chèo, mẹ vợ là/ như bèo trôi sông, chàng
rể là/ như ông Ba Vì.
Ngƣời ta là/ như hoa đất.
Của là/ như cuống ruột.
Ăn đƣợc ngủ đƣợc là/ như tiên/
Không ăn không ngủ là/ như tiền bỏ đi.
69
Nhƣng sắc thái ý nghĩa giữa hai từ so sánh này có sự khác biệt.
Chẳng hạn trong ví dụ đầu tiên: câu “Gió thổi là chổi trời” mang sắc thái
khẳng định, gió chính là cây chổi của đất trời quét hết sạch mọi bụi bặm trong
không khí. Nếu thay “Gió thổi như chổi trời” thì tình hình có khác. Sắc thái ý
nghĩa ở đây có thay đổi, lúc này yếu tố A “gió thổi” chỉ đƣợc ví von, giả định
như cây chổi của trời mà thôi chứ không phải khẳng định hoàn toàn đúng là
“chổi trời” nhƣ ở trƣờng hợp đầu.
Tóm lại, từ so sánh “là” có giá trị tƣơng đƣơng với “như” nhƣng có
sắc thái khác. “Là” mang sắc thái khẳng định còn “như” mang sắc thái giả
định [73, tr.101). Và“vì thế, người ta nói “Tấc đất tấc vàng” hay là “Một tấc
đất là một tấc vàng” mà không nói “Tấc đất như tấc vàng” [24, tr. 94]
2.3.1.3. Không có từ thể hiện quan hệ so sánh ( )(15.3%)
Miệng quan trôn trẻ.
Lời nói gói vàng.
Tấc đất tấc vàng.
Cơm tẻ mẹ ruột.
Nhà không móng, bóng không người.
Con giữ cha, gà giữ ổ.
Thuyền theo lái, gái theo chồng.
….
Trong các trƣờng hợp trên, từ thể hiện quan hệ so sánh vắng mặt vì
các vế có cấu trúc đối xứng khá chặt chẽ: có từ lặp lại (giữ, tấc, theo, dễ, một),
có vần liền giữa phần nêu vấn đề và phần thuyết minh (nói – gói, tẻ - mẹ,
móng – bóng, cha – gà, lái – gái) hoặc có sự đối lập/ đối xứng về ngữ nghĩa:
đất/vàng, lời nói/ gói vàng, miệng quan / trôn trẻ, cơm tẻ / mẹ ruột, lời nói –
đọi máu, nhà không móng / bóng không người, …
70
Khi nhận xét về cấu trúc này, Nguyễn Đức Dân còn thấy rằng: “Người
Việt không muốn đưa ra những nhận định một cách võ đoán, cứng nhắc hay
mang tính áp đặt mà muốn thuyết phục, làm cho người khác tin vào những
nhận định đó. Người Việt thường dùng từ ngữ có cấu trúc sóng đôi để đưa ra
một nhận định, một triết lí có căn cứ, có chứng minh. Cách chứng minh trong
trường hợp này là thực hiện phép so sánh: lấy một điều hiển nhiên được mọi
người thừa nhận đặt cạnh một điều cần chứng minh làm căn cứ chứng minh
cho tính đúng đắn của nó” [10], nhƣ trong các ví dụ sau:
-Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ sai.
-Uốn cây từ thuở còn non/ Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.
-Nứa trôi sông không giập thì gãy/ Gái chồng rẫy chẳng
chứng nọ cũng tật kia.
Ở đây, hai vế gắn bó với nhau bằng mối quan hệ liên tƣởng tƣơng
đồng. Trong ví dụ cuối cùng, ngƣời Việt dùng tính tất yếu của cây nứa khi trôi
trên sông sẽ bị va đập, cọ xát nên không dập thì gãy để làm căn cứ cho nhận
định tiếp theo “Gái chồng rẫy chẳng chứng nọ cũng tật kia”. Ngƣời Việt cho
rằng khi cách nói nhƣ vậy thì sẽ thuyết phục ngƣời nghe hơn.
Tóm lại, do tính chất ngắn gọn, kiệm lời của TN, dù yếu tố thể hiện
quan hệ so sánh vắng mặt thì câu vẫn thể hiện trọn vẹn thông báo.
2.3.1.4. Bằng: (4.7 %)
Từ thể hiện quan hệ so sánh “bằng” xuất hiện không nhiều, chỉ có
8 trƣờng hợp:
- Một cái rắm bằng nắm thuốc tiêu, bằng liều thuốc gió, bằng lọ
thuốc tiên.
- Có mẹ già bằng ba rào giậu.
- Một lần dọn nhà bằng ba lần cháy.
71
- Một nạm gió bằng một bó chèo.
- Hòn đất nỏ bằng giỏ phân.
- Một cây mít bằng sào ruộng.
So sánh ở đây là so sánh về giá trị. Chẳng hạn, câu “Một nạm gió
bằng một bó chèo” so sánh về giá trị hữu ích của “nạm gió” và “bó chèo”
đối với tàu thuyền đi trên sông, trên biển.
Do đó, bằng khác với như, “sự so sánh ở đây chủ yếu là so sánh về
giá trị chứ không phải so sánh về hiện tượng” [24, tr. 91]. Như đƣợc sử dụng
trong so sánh có tính chất miêu tả, giả định, nhằm chỉ ra một số nét nghĩa
giống nhau giữa A và B, không phải là đồng nhất hoàn toàn. Còn bằng thể
hiện giá trị của A tƣơng đƣơng với giá trị của B, nhƣ ví dụ ở trên.
Ngoài ra, các từ chỉ số lƣợng hoặc danh từ chỉ đơn vị xuất hiện sau
bằng ở đây đều có tính chất phóng đại, nhằm cƣờng điệu hóa một giá trị nào
đó của A. Ba, nắm, liều, lọ, bó, giỏ, sào là con số biểu trƣng với hàm ý là số
nhiều. Nhƣ vậy, một cái rắm, mẹ già, một lần dọn nhà, một nạm gió, hòn đất
nỏ, một cây mít sẽ có giá trị hơn hẳn các yếu tố so sánh ở vế B.
2.3.2 Từ biểu thị quan hệ so sánh trong TN Anh:
Bảng 2.9: Thống kê tần số xuất hiện của từ thể hiện quan hệ so sánh
trong SSTT của TN Anh
Từ nối Số lƣợng Tỉ lệ %
be 139 73.2
like 35 18.4
72
11 5.8 as…as…
4 2.1 as
1 0.5
Tổng cộng 190 100%
“Like” hoặc “as” vốn đƣợc nhiều tài liệu xem nhƣ từ so sánh
chuyên dụng trong TN Anh. Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh [88] xem SSTT là
một biện pháp trong đó hai sự vật khác nhau được mang ra so sánh trong một
cụm được giới thiệu bằng “like” hoặc “as”, chẳng hạn như trong các câu
“Sao mùa đông giống như sự vắng mặt của tôi thế này!” hoặc “Vai trò của em đối với tôi cũng như thực phẩm đối với cuộc sống vậy!” (Shakespeare)(19)
Trong một quyển từ điển khác về văn hóa Anh [89], SSTT đƣợc
xem là một biện pháp phổ biến nhằm so sánh hai sự vật được xem là khác
loại. Hầu hết các SSTT được giới thiệu bằng “like” hoặc “as”, chẳng hạn “Sự nhận thức tác động đến tôi như một thùng nước lạnh”(20)
Nhƣng thực tế, động từ “be” mới là từ so sánh có tần số xuất hiện
cao nhất (73.2%). Đây là kiểu cấu trúc so sánh định nghĩa. Nếu cấu trúc so
sánh với “as” là một sự giả định (tƣơng đƣơng với “như” trong tiếng Việt) thì
“be” mang sắc thái khẳng định (giống nhƣ “là” trong tiếng Việt), nhằm “chỉ
sự tương đồng” [79, tr.180].
(19) “A figure of speech in which two essentially unlike things are compared, often in a phrase introduced by like or as, as in "How like the winter has my absence been" or "So are you to my thoughts as food to life" (Shakespeare).” (20) “A common figure of speech that explicitly compares two things usually considered different. Most similes are introduced by like or as: “The realization hit me like a bucket of cold water.”
-The mouth is wind, the pen is a track.
73
(Miệng là cơn gió, bút tích là dấu vết)
-The world is a ladder for some to go up and some down.
(Thế giới là 1 chiếc thang cho một số ngƣời leo lên và một
số khác leo xuống)
-Mere wishes are silly fishes.
(Những điều mong ƣớc suông là những con cá ngốc)
-Life is just a bowl of cherries.
(Cuộc đời chỉ là một rổ anh đào)
Với từ nối “be”, ngƣời nói qua cách dùng yếu tố B nhằm nhấn mạnh,
khẳng định một đặc điểm nào đấy đƣợc xem là thuộc tính bản chất của A. Khi
muốn khẳng định phụ nữ chẳng khác gì những cơn gió, luôn luôn thay đổi,
dao động, ngƣời Anh nói:
Women are as wavering as the wind.
(Phụ nữ thay đổi nhƣ cơn gió)
Còn tình bạn chính là một cái cây cần đƣợc nâng niu, chăm sóc, tƣới
nƣớc, bắt sâu thƣờng xuyên để cây tình bạn không héo tàn theo thời gian:
Friendship is a plant which must be often watered.
(Tình bạn là một cái cây cần đƣợc tƣới nƣớc thƣờng xuyên)
* Like (18.4%) : nghĩa là tƣơng tự, giống nhƣ, là một giới từ
(preposition), đƣợc dùng trƣớc danh từ và đại từ, thể hiện sự giống nhau giữa ai đó/ vật gì đó (21):
-Love without return is like a question without an answer.
(Yêu mà không quay đầu lại giống nhƣ câu hỏi không có câu trả
lời)
(21)“Like” is a preposition and is used before nouns and pronouns, to express sb/sth similar to
sb/sth. [101]
-Beauty fades like a flower.
74
(Cái đẹp phai tàn nhƣ một bông hoa)
-A gentleman without an estate is like a pudding without suet.
(Quý ông không có tài sản thừa kế giống nhƣ chiếc bánh pudding
thiếu lớp mỡ bao quanh)
-Proverbs are like butterflies, some are caught, others fly away.
(TN nhƣ những con bƣớm, vài con đậu, vài con bay mất)
Like còn đƣợc dùng nhƣ là một liên từ (conjunction), nối A và B:
-Affairs, like salt fish, ought to be a good while a-soaking.
(Công việc giống nhƣ cá ƣớp muối, chỉ tốt khi ngâm chúng vào nƣớc)
-Curses, like chickens, come home to roost.
(Lời nguyền rủa giống nhƣ lũ gà quay về chuồng nhà mình mà đậu)
-Fame, like a river, is narrowest at its source and broadest afar
off.
(Danh tiếng cũng giống nhƣ dòng sông, hẹp nhất ở thƣợng nguồn và
rộng nhất ở phía hạ nguồn)
Sloth, like rust, consumes faster than labour wears.
(Sự lƣời biếng giống nhƣ rỉ sắt, chỉ mất đi nhanh hơn khi lao động)
Trong TN của ngƣời bình dân Anh, like đƣợc sử dụng nhiều hơn as
vì as thƣờng đƣợc sử dụng trong văn phong rất trang trọng.
* As (2.1%) (giới từ - preposition): đƣợc dùng để thể hiện sự tƣơng
tự nhau giữa hai sự vật, hiện tƣợng (22):
-The air of a window is as the stroke of a cross-bow.
(Chỗ gió lùa ngoài cửa sổ giống như cú va đập mạnh của cái nỏ)
-Learning in the breast of a bad man is as a sword in the hand of a
(22) “used to describe sb/sth appearing to be sb/sth else.” [101]
madman.
75
(Học vấn trong đầu kẻ xấu giống như thanh gươm trong tay người
điên)
Khi nói đến sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tƣợng, cả as và like
đều có thể dùng đƣợc nhƣng nhƣ đã nói ở trên, “as” đƣợc sử dụng nhiều hơn
trong văn phong trang trọng.
Ngoài ra, “as” cũng có thể là một liên từ và đứng trƣớc một mệnh
đề, dùng để thể hiện sự tƣơng đồng giữa hai ngƣời hoặc hai vật:
Children pick up words as pigeons peas, and utter them again as
God shall please.
(Trẻ con học từ nhƣ chim bồ câu nhặt đậu, và nói lại nhƣ Chúa
muốn vậy.)
*“As..as…”: (5.8%) (trạng từ - adverb)
Đây là cụm từ so sánh thƣờng đƣợc dùng trƣớc phó từ và tính từ để
thể hiện ý so sánh hai ngƣời, hai vật, hoặc hai tình huống có điểm nào đó tƣơng đồng (23):
-Three removals are as bad as a fire.
(Ba lần dọn nhà bằng một lần cháy)
-Enough is as good as a feast.
(Đầy đủ cũng tốt nhƣ đi dự một bữa tiệc)
-When the sloe tree is as white as a sheet, sow your barley
whether it be dry or wet.
(Khi cây mận gai trắng nhƣ tấm khăn trải giƣờng, nên gieo hạt
lúa mạch của bạn dù nó khô hay ƣớt)
-Hatred is blind, as well as love.
(Oán thù cũng mù nhƣ tình yêu)
-Women are as wavering as the wind.
(23)“used when you are comparing two people or things, or two situations.” [101]
(Phụ nữ thay đổi nhƣ cơn gió)
76
Trong mẫu này, CSSS giữa A và B đƣợc nêu ra rõ ràng giữa cặp
trạng từ “as…as”: bad (tệ, xấu), good (tốt), white (trắng), well (tốt), wavering
(dao động, nao núng),…
* (0.5%):
Khác với ngƣời Việt, ngƣời Anh hầu nhƣ không bao giờ lƣợc bỏ từ
thể hiện quan hệ so sánh, chỉ có 1 trƣờng hợp duy nhất đƣợc lƣợc bỏ:
Love is a fair garden and marriage a field of nettles.
(Tình yêu là 1 khu vƣờn xinh đẹp và hôn nhân là cánh đồng đầy cây tầm ma)
Mà ngay ở đây, sở dĩ từ thể hiện quan hệ so sánh “be” đƣợc lƣợc bỏ
là vì ở mệnh đề đầu tiên nó đã xuất hiện, nên mệnh đề phía sau cũng đƣợc
ngầm hiểu là “be”.
Tóm lại, SSTT của TN Anh ngoài những từ thể hiện quan hệ so
sánh thông dụng nhƣ “like, as, as…as…,” chúng ta còn cần chú ý thêm động
từ “to be”. Nếu “như” là từ so sánh chuyên dụng trong TN Việt thì động từ
“to be” chính là từ so sánh chuyên dụng trong TN Anh với tần số xuất hiện
nhiều nhất. Đây cũng là điều chúng ta cần lƣu ý khi dạy và học SSTT trong
tiếng Anh.
2.4. Đặc điểm của yếu tố so sánh (B) trong TN Việt và TN Anh
2.4.1. Kết quả thống kê, phân loại theo đề tài
77
Số lƣợng yếu
Số lƣợng yếu
Bảng 2.10: Phân loại yếu tố B trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo đề tài
tố B trong TN
tố B trong TN
Việt
Anh
Đề tài
Tự nhiên 12 10
Động vật 31 23
Con ngƣời và giới tự nhiên Thực vật 22 11
Cơ thể ngƣời 6 8
Vật thể nhân tạo 53 58
Con ngƣời và đời sống vật chất Ẩm thực, giải trí 3 20
Kinh nghiệm lao động 3 0
sản xuất
Quan hệ gia đình 13 1
Con ngƣời và đời sống xã hội Quan hệ xã hội 4 28
Quan niệm về nhân sinh 15 11
Quan niệm về tôn giáo, 11 28
Con ngƣời và đời sống tinh thần tín ngƣỡng
173 198 Tổng cộng
Theo kết quả thống kê ở trên, yếu tố B ở TN Việt và TN Anh đề cập
đến nhiều đề tài rất phong phú (xem thêm phụ lục 5 và phụ lục 7).
Ở yếu tố B trong cấu trúc SSTT của ngƣời Việt, vật thể nhân tạo (53
lần), động vật (31 lần), thực vật (22 lần) đƣợc sử dụng nhiều nhất. Còn ở TN
Anh, vật thể nhân tạo (57 lần), tôn giáo tín ngưỡng (28 lần), quan hệ xã hội
(28) đƣợc sử dụng nhiều nhất. Nhƣ vậy, hình ảnh xuất hiện ở yếu tố B trong
TN Việt và TN Anh có sự khác biệt. Trong khi ngƣời Việt có thiên hƣớng ví
78
von yếu tố A với các hình ảnh so sánh cụ thể, gần gũi với đời sống nông
nghiệp của dân tộc mình nhƣ vật thể nhân tạo (chổi, cƣa, bè, rào giậu, giỏ,
hom, cơi đựng trầu, kèo, cái nơm, đũa, rợ, cối xay, phản gỗ, gạch, bồ, …);
động vật (gà, cóc, quạ, cò, nòng nọc, lợn, chó, bồ nông,…); thực vật (dâu, bồ
hòn, bè ngổ, thài lài, nứa, măng, chuối, tre, bèo, nghệ,…) thì ngƣời Anh có xu
hƣớng so sánh yếu tố A với cả phạm trù vật chất chất nhƣ vật thể nhân tạo
philosopher's stone (đá tạo vàng), a sword (thanh gƣơm), the walls (bức tƣờng), a
Venice-glass (kính của nƣớc Ý), a magnifying glass (kính phóng đại), a heritage
(tài sản thừa kế), chimneys (ống khói), a weathercock (chong chóng chỉ hƣớng gió),
an axe (cái búa),…); và cả phạm trù tinh thần nhƣ tôn giáo tín ngưỡng (God
(Chúa), the divinity (thần thánh), the paradise (thiên đƣờng), the hell (địa ngục),
the purgatory (tĩnh ngục), the chapel of devotion (nhà nguyện), an angel (thiên
thần), a devil (ác quỷ), a pilgrimage (cuộc hành hƣơng), …) và các mối quan hệ
(ancient riches (của cải lỗi thời), a wagon (xe ngựa), a coat of mail (áo giáp), the
turncoat (kẻ phản bội), a flatterer (kẻ nịnh hót), a friend (ngƣời bạn), neighbours
(hàng xóm), a servant (đầy tớ), master (ông chủ),… ).
xã hội (a thief (tên trộm), a pick-purse (tên móc túi), the physician (bác sĩ), a
Ngay khi so sánh yếu tố A với các vật thể nhân tạo trong yếu tố B,
cách làm của ngƣời Anh cũng có khác với ngƣời Việt. Trong 58 lần nhắc đến
các vật thể nhân tạo thì đã có 19 lần ngƣời Anh nhắc đến tiền bạc, của cải:
-Time is money.
(Thời gian là tiền bạc.)
-Speech is silver, silence is golden.
(Nói là bạc, im lặng là vàng.)
-Quietness is a great treasure.
(Im lặng là châu báu quý giá.)
-Silence is a woman's best garment.
(Im lặng là trang sức đẹp nhất của người phụ nữ.)
79
-Promise is debt.
(Hứa là nợ nần.)
-A useful trade is a mine of gold.
(Một việc buôn bán có lợi là mỏ vàng.)
-The devil's mouth is a miser's purse.
(Miệng lưỡi của quỷ sứ là cái ví của người mất.)
-Marriage is a lottery.
(Hôn nhân là một tờ vé số.)
-Liberty is a jewel.
(Tự do là châu báu.)
-Fair play is a jewel.
(Chơi đẹp là đồ trang sức quý giá.)
-Honour without profit is a ring on the finger.
(Danh dự mà không có lợi lộc chỉ là chiếc nhẫn trên ngón tay.)
-Honesty is a fine jewel, but much out of fashion.
(Sự trung thực là trang sức quý giá nhưng đã lỗi thời.)
-Plain dealing is a jewel.
(Sự thẳng thắn là châu báu.)
-Health is great riches.
(Sức khỏe là tài sản vô giá.)
-Virtue is a jewel of great price.
(Đạo đức là trang sức quý giá.)
-A good name is a rich heritage.
(Tiếng thơm là tài sản kế thừa kếch xù.)
-Knowledge is a treasure but practice is the key to it.
(Kiến thức là một kho báu nhưng thực hành là chìa khóa để mở nó.)
-Gentility is but ancient riches.
(Dòng dõi cao quý chỉ là thứ của cải lỗi thời.)
80
Ngƣời Việt cũng nhắc đến tiền bạc, của cải, nhƣng lại thích ví von
yếu tố A với các vật dụng hàng ngày trong đời sống nông nghiệp hơn (chổi,
cưa, bè, rào giậu, giỏ, hom, cơi đựng trầu, đĩa, kèo, cái nơm, con rối, đũa, rợ
buộc chân, cối xay, chông, mác, phản gỗ, gạch, cái bồ,…)
Yếu tố B trong TN Việt ít đề cập đến kinh nghiệm lao động sản
xuất (3 lần), ẩm thực – giải trí (3 lần); ngƣời Anh cũng ít nói đến kinh nghiệm
lao động sản xuất ( 0 lần) và quan hệ gia đình (1 lần) ở yếu tố B.
Tổng hợp cả yếu tố A và yếu tố B, chúng ta thấy ngƣời Việt chú
trọng sử dụng các hình ảnh thuộc đề tài quan hệ gia đình hơn là quan hệ xã
hội, còn ngƣời Anh thì ngƣợc lại:
Bảng 2.11: Thống kê hình ảnh ở yếu tố A và yếu tố B thuộc đề tài quan hệ gia
đình và quan hệ xã hội trong SSTT của TN Việt và TN Anh
TN Việt TN Anh
Yếu tố Yếu tố Tổng Yếu tố Yếu tố Tổng
A B cộng A B cộng
56 13 7 1 Quan hệ gia đình 69 8
10 4 40 28 Quan hệ xã hội 14 68
Cách sử dụng hình ảnh này thể hiện tính cách và lối tƣ duy của hai
dân tộc: ngƣời Việt – tƣ duy hƣớng nội: hƣớng về gia đình, các mối quan hệ
ruột thịt; ngƣời Anh – tƣ duy hƣớng ngoại: hƣớng về các mối quan hệ ngoài
xã hội. Chẳng hạn khi nói về kinh nghiệm sản xuất, ngƣời Việt ví von chúng
-Làm ruộng có trâu, làm dâu có chồng.
-Uốn cây từ thuở còn non/ Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.
với các mối quan hệ cha con, vợ chồng:
81
Ngƣời Anh thì ví kinh nghiệm sản xuất của họ với tính cách các hạng
ngƣời ngoài xã hội:
-Building is a thief.
(Việc xây dựng là một tên trộm)
-A good bargain is a pick-purse.
(Sự trả giá tốt là một tên móc túi)
Nói về sự cần thiết giữa các thành phần để tạo nên một món ăn hoàn
hảo, ngƣời Việt liên tƣởng:
Ăn trầu không có rễ như rể nằm nhà ngoài.
Ngƣời Anh thì nghĩ đến sự tƣơng đồng với các tầng lớp khác nhau:
-A gentleman without an estate is like a pudding without suet.
(Quý ông không có tài sản giống nhƣ chiếc bánh pudding không
có lớp mỡ bao quanh.)
-Nobility, without ability, is like a pudding wanting suet.
(Giới quý tộc không có năng lực giống nhƣ chiếc bánh pudding
cần có lớp mỡ bao quanh.)
Về ẩm thực – giải trí, ở yếu tố B của cấu trúc SSTT, ngƣời Anh dùng
nhiều hình ảnh so sánh thuộc đề tài này (20 lần), còn ngƣời Việt thì ngƣợc lại,
sử dụng rất ít (3 lần).
2.4.2. Cấu tạo của B:
Bảng 2.12: Phân loại yếu tố B trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo tiêu
chí từ vựng, cú pháp
TN Việt TN Anh
Yếu tố B
Số lƣợng Tỉ lệ % Số lƣợng Tỉ lệ %
82
Danh từ/ danh ngữ 52 182 92 90
7 12 0 0 Động từ/ động ngữ
0 0 0 0 Tính từ/ tính ngữ
71 8 Cụm chủ vị 41 16
Tổng cộng 173 100 198 100
Mô hình SSTT của TN Việt có vế A và B có cấu tạo phong phú, đa
dạng hơn TN Anh.
Ở yếu tố B, danh từ/ danh ngữ (52%) và cụm chủ-vị (41%) vẫn
đƣợc ngƣời Việt chuộng sử dụng nhất. Kế đó là động từ/ động ngữ (7%). Tính
từ/ tính ngữ không thấy xuất hiện ở yếu tố B. Nhƣ vậy, ở phạm vi khảo sát
của luận văn, một tính chất không thể đảm đƣơng vai trò yếu tố so sánh trong
TN Việt (B).
SSTT của TN Việt xuất hiện nhiều cụm chủ vị ở yếu tố B (41%)
hơn hẳn TN Anh (8%), trong khi đó, TN Anh chuộng sử dụng kết cấu danh
từ/danh ngữ ở yếu tố B (92%) hơn hẳn TN Việt (52%); vì nhƣ đã nói ở phần
cấu tạo của yếu tố A (chƣơng II, phần 2.1.2), ngƣời Anh thích cách nói ngắn
gọn, còn ngƣời Việt thích lí giải cho đến “ngọn nguồn lạch sông” nên chuộng
sử dụng những ví von so sánh dài hơn để nói cho hết, cho trọn vẹn ý nghĩa.
Chẳng hạn trong một số trƣờng hợp sau:
-Ăn cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống.
-Trai phải hơi vợ như cò bợ phải trời mưa.
-Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống.
83
-Con không cha thì con trễ/ Cây không rễ thì cây hư.
-Trai tơ lấy phải nạ dòng/ Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu.
Ở ví dụ cuối cùng, để ngƣời đọc thấy đƣợc sự không xứng hợp giữa
trai tơ và nạ dòng, dân gian đã triển khai yếu tố B thành kết cấu chủ vị đầy đủ
“Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu” để thuyết minh cho rõ ràng, cụ thể
hơn về A.
Ở yếu tố B trong SSTT của TN Anh, cũng giống nhƣ ở yếu tố A,
động từ/ động ngữ và tính từ/ tính ngữ không xuất hiện, vì phạm vi hoạt động
của tính từ/ tính ngữ và động từ/ động ngữ trong tiếng Anh rất hạn chế, chúng
không thể đứng độc lập một mình, do đó không thể đảm đƣơng vai trò yếu tố
đƣợc/bị so sánh hay yếu tố so sánh. Tính từ/ tính ngữ chỉ có thể đứng sau
động từ “to be” để bổ sung ý nghĩa tính chất cho chủ từ hoặc đứng trƣớc
danh từ để bổ nghĩa cho danh từ đó. Còn động từ/ động ngữ muốn đứng độc
lập giữ chức năng của yếu tố A hay B thì ta phải thêm “-ing” vào sau động từ
đó, biến động từ/ động ngữ ấy thành danh động từ. Do đó, trong tiếng Anh,
yếu tố B chủ yếu đƣợc cấu tạo từ danh từ/ danh ngữ (92%), một số ít đƣợc
cấu tạo từ cụm chủ - vị (8%).
Nhƣ vậy, mô hình SSTT của ngƣời Anh có thể viết gọn lại nhƣ sau:
Bảng 2.13: Mô hình SSTT của TN Anh
danh từ/ danh ngữ danh từ / danh ngữ
từ nối CSSS
cụm chủ-vị cụm chủ-vị
2.4.3. Đặc điểm của B:
Để gửi gắm những bài học kinh nghiệm, dân gian dùng cách nói rất
giàu hình ảnh thông qua sự ví von, so sánh. Đó là khả năng tái hiện những tri
84
thức kinh nghiệm một cách cụ thể sinh động bằng những từ ngữ gợi cảm, gợi
hình, gợi thanh. Đây chính là điểm đặc sắc của yếu tố B trong SSTT. Các hình
ảnh không chỉ tác động vào trí tƣởng tƣợng của ngƣời đọc mà còn giúp họ có
đƣợc ấn tƣợng sâu sắc về sự vật hiện tƣợng đƣợc nói đến, tạo khoảng không
cho suy tƣởng và phán đoán. Đây cũng là nơi tác giả kí thác tình cảm, cách
đánh giá, quan niệm sống của mình.
Trong TN Việt, hình ảnh ở yếu tố B rất phong phú, đa dạng, gồm:
cái trừu tƣợng, cái chi tiết, cái khái quát, cái cụ thể, cái cảm tính, lí tính,…, ít
khi có sự lặp lại, chỉ có một số trƣờng hợp lặp lại nhƣ ngƣời viết đã liệt kê ở
phụ lục…tr…
Các hình ảnh đã xuất hiện rồi thì chỉ lặp lại 1 lần (6 trƣờng hợp:
người khôn, rối, giỏ, hom, bèo, cơm không rau), có 1 trƣờng hợp lặp lại 3 lần
(chó) và 1 trƣờng hợp lặp lại 4 lần (hoa), 2 trƣờng hợp lặp lại 5 lần (tiền và
vàng), 1 trƣờng hợp lặp lại 6 lần (tiên). Đây là trƣờng từ vựng thuộc nền văn
hóa gốc nông nghiệp với các loại động thực vật, đồ vật quen thuộc của các cƣ
dân lúa nƣớc nhƣ: rối, giỏ, hom, bèo, hoa, chó, cơm không rau, tiền, vàng.
Ngoài ra, còn có một hình ảnh thuộc đề tài tôn giáo, tín ngƣỡng: tiên (6 lần).
Những yếu tố lặp đi lặp lại này là những tín hiệu đáng lƣu ý, hé mở cho ta biết
thói quen trong tƣ duy liên tƣởng của ngƣời Việt.
TN Anh có hiện tƣợng lặp lại khá nhiều ở B, với tổng cộng 22
trƣờng hợp lặp lại, trong đó có 13 trƣờng hợp lặp lại 1 lần, 5 trƣờng hợp lặp
lại 3 lần, 2 trƣờng hợp lặp lại 4 lần, 2 trƣờng hợp lặp lại 5 lần (xem thêm phụ
lục…tr….)
Những hình ảnh xuất hiện nhiều lần này là tín hiệu rất đáng chú ý,
hé mở những đặc văn hóa dân tộc vô cùng thú vị. Chúng thuộc các đề tài: tôn
85
giáo (13 hình ảnh), của cải (10 hình ảnh), tiệc tùng (4 hình ảnh), kẻ trộm (4
hình ảnh), món ăn (4 hình ảnh),…
Trong đó, hình ảnh về Cơ Đốc giáo chiếm số lƣợng nhiều nhất, kế
đó là hình ảnh về của cải, tài sản. Do dân tộc Anh phát triển thƣơng nghiệp từ
rất sớm, nên cách đánh giá, tƣ duy liên tƣởng của họ luôn gắn liền với giá trị
vật chất, với món hàng, của cải trao đổi. Ngoài ra, đời sống tinh thần và trí tuệ
của ngƣời Anh chịu ảnh hƣởng lâu dài và sâu sắc của văn hóa Cơ Đốc giáo.
Trƣớc kia cũng nhƣ hiện nay, Cơ Đốc giáo vẫn là một bộ phận cấu thành lớn
nhất trong văn hóa Anh (xem them chƣơng III, phần 3.3.2.2). Do đó, những
hình ảnh về đạo Cơ Đốc xuất hiện và lặp đi lặp lại trong vế B của TN Anh,
nhiều nhất ở đây là nhóm hình ảnh về: the devil (con quỷ), the God (Chúa
trời), angel (thiên thần), the death (thần chết).
Đồng thời, tình cảm, thái độ của dân gian cũng thể hiện rất rõ qua
yếu tố B trong SSTT của hai dân tộc. Những hình ảnh đẹp, mang giá trị tích
cực ngoài chức năng làm yếu tố so sánh ra còn thể hiện thái độ ca ngợi, đồng
tình, trân trọng:
-Lời nói, gói vàng.
-Con có mạ như thiên hạ có vua.
-Tấc đất tấc vàng.
-Anh em như chân tay.
-Người như hoa ở đâu thơm đấy.
-Virtue is a jewel of great price.
(Đạo đức là trang sức vô cùng quý giá)
-The wife is the key of the house.
(Ngƣời vợ là chìa khóa của ngôi nhà)
-A useful trade is a mine of gold.
(Việc buôn bán thuận lợi là một mỏ vàng)
86
-Skill and confidence are an unconquered army.
(Kỹ năng và sự tự tin là đội quân bất khả chiến bại)
-Bread is the staff of life.
(Bánh mì là chiếc gậy của cuộc sống)
Còn những hình ảnh tiêu cực đƣợc dùng để thể hiện thái độ bỡn cợt,
mỉa mai, châm biếm, đả kích:
-Miệng quan trôn trẻ.
-Trai tơ lấy phải nạ dòng/ Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu.
-Bố chồng là lông lợn hạch/ Mẹ chồng là đách lợn sề/ Nàng dâu
mới về là bà hoàng hậu.
-Miệng bà đồng như lồng chim khướu.
-Trai thấy gái lạ như quạ thấy gà con.
-The law is an ass.
(Luật pháp là một con lừa)
-Women in state affairs are like monkeys in glass-shops.
(Nữ quan chức giống nhƣ con khỉ trong tủ kính cửa hiệu)
-A woman's tongue wags like a lamb's tail.
(Lƣỡi của ngƣời phụ nữ ve vẩy nhƣ đuôi cừu)
-Gossips are frogs, they drink and talk.
(Ngƣời thích chuyện tầm phào giống nhƣ lũ ếch, chúng uống say và
tán dóc)
“Miệng quan” – miệng của viên chức đại diện cho luật pháp phong
kiến thời xƣa, nơi phát ngôn cho luật pháp lại đƣợc ví với cái trôn của trẻ con
là một sự hạ bệ, trào lộng sâu cay. Còn “bố chồng/ mẹ chồng” đƣợc ví nhƣ
lông lợn hạch, đách lợn sề là một sự mỉa mai cực độ.
TN Anh cũng có những hình ảnh so sánh rất thú vị. Pháp luật đƣợc
ví nhƣ một con lừa – biểu tƣợng của sự ngu ngốc, đần độn trong văn học Anh.
Những nữ quan chức làm việc cho chính quyền nhà nƣớc thì đƣợc ví nhƣ con
khỉ ở trong tủ kính. Còn lƣỡi của ngƣời phụ nữ đƣợc ví với đuôi của con cừu,
87
vì chúng luôn ve vẩy, nghĩa là luôn thay đổi, lật lọng. Nhƣ vậy, yếu tố B còn
ẩn tàng nụ cƣời hài hƣớc, châm biếm của trí tuệ dân gian.
Ngoài ra, do tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập nên có hiện tƣợng B lặp
lại vần của A, giúp các vế trong SSTT gắn kết chặt chẽ, dễ thuộc, dễ nhớ:
Vần liền:
-Mƣa tháng ba hoa đất
-Cơm tẻ mẹ ruột.
-Nhà không móng, bóng không ngƣời.
-Trai có vợ nhƣ rợ buộc chân
-Con giữ cha, gà giữ ổ.
Vần cách:
-Cơm không rau nhƣ nhà giàu chết không kèn trống.
-Con không cha thì con trễ, cây không rễ thì cây hƣ.
-Bố chồng là lông cánh phượng/ Mẹ chồng là tượng mới
tô/ Nàng dâu là bồ nghe chửi.
-Bố vợ là rợ cọc chèo/ Mẹ vợ là bèo trôi sông/ Chàng rể là
ông Ba Vì.
Tổng cộng có 110/ 135 trƣờng hợp lặp vần ở yếu tố B (81.5%). Sự
lặp lại vần kết hợp với cách ngắt nhịp đã góp phần tạo ra giai điệu, nhạc tính
cho câu TN, làm cho chúng trở thành những tác phẩm nghệ thuật đích thực.
Chỉ có 25 (18.5%) trƣờng hợp không có hiện tƣợng này:
-Đàn ông như cái nơm, gặp đâu úp đấy. -Chồng như (đó) giỏ, vợ như hom. -Vợ chồng như đũa có đôi. -Trai có vợ như lỗ tiền chôn. -Trai có vợ như giỏ có hom. -Mẹ già như chuối chín cây. -Con đàn như tre ấm bụi. -Anh em như chân tay. -Vênh váo như bố vợ phải đấm.
88
-Con trai ở nhà vợ như chó nằm (chui) gầm chạn. -Tiền của như nước thủy triều. -Của là cuống ruột. -Việc quan như lửa đốt đầu. -Lính tuần là ao rượu. -Miệng quan trôn trẻ. -Ơn dân như hạt cơm dính mỡ. -Dân như cây gỗ tròn. -Lòng người như bể khôn dò. -Nói đúng như gãi vào chỗ ngứa. -Người dốt như trông vào vách. -Tiền là gạch, ngãi là vàng. -Ăn như con tằm lại rút ruột ra. -To như chuối hột nào ai bày cỗ. -Rẻ như bèo nhiều hươu cũng hết. -Một cây mít bằng sào ruộng.
Còn TN Anh là ngôn ngữ biến hình, đa tiết nên rất hiếm có hiện
tƣợng lặp vần ở yếu tố B. Khảo sát 178 trƣờng hợp SSTT trong TN Anh,
ngƣời viết thấy chỉ có 6 trƣờng hợp lặp vần (3.4%):
-He that is a blab is a scab. (Kẻ khoác lác nhƣ bệnh ghẻ) -Gossips are frogs, they drink and talk. (Ngƣời thích chuyện tầm phào là lũ ếch, chúng uống say và nói) -A man without reason is a beast in season. (Ngƣời sống không có lí tƣởng là một con thú trong mùa săn bắn) -Learning in the breast of a bad man is as a sword in the hand of a madman. (Việc học trong bụng dạ của kẻ xấu cũng giống nhƣ thanh gƣơm
trong tay của một ngƣời điên)
-An apple-pie without some cheese is like a kiss without a squeeze. (Bánh táo không có phó mát nhƣ một nụ hôn không đƣợc ôm chặt) -Nobility, without ability, is like a pudding wanting suet. (Nhà quý tộc không có tài năng giống nhƣ bánh pudding cần thêm
lớp mỡ cứng bao quanh)
Nhƣ vậy, với sự phối hợp nhịp nhàng giữa vần và nhịp, SSTT trong
TN Việt giàu nhạc tính hơn SSTT trong TN Anh.
89
*****
Tóm lại, ngƣời Việt có khuynh hƣớng sử dụng SSTT nhiều hơn
ngƣời Anh. Tổng số SSTT của ngƣời Việt là 135/ 4206 câu, chiếm 3.2 %,
tổng số SSTT trong TN Anh là 178/ 6708 câu, chiếm tỉ lệ 2.65%. Nhƣ vậy,
TN của ngƣời Việt giàu sắc độ tu từ hơn.
Với các kết quả nghiên cứu đã trình bày ở chƣơng II, ngƣời viết
thấy trong SSTT của TN Anh, toàn bộ gánh nặng ngữ nghĩa nằm ở A, vấn đề
quan trọng nhất luôn đƣợc đƣa ra trƣớc, không có trƣờng hợp ví von, đƣa đẩy.
Còn ở TN Việt, tùy theo hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà A hay B đƣợc nhấn
mạnh hơn. Hình ảnh ở yếu tố A trong TN Việt mang tính chất kinh nghiệm,
khái quát; còn ở TN Anh mang tính thực nghiệm, cụ thể. TN Việt không có
lối so sánh nhiều A – 1 B nhằm khái quát hóa sự giống nhau giữa các sự vật
hiện tƣợng nhƣ TN Anh. Cấu tạo yếu tố A của TN Việt đa dạng, phong phú
hơn TN Anh.
Về CSSS, ngƣời Việt và ngƣời Anh đều chuộng lối nói ngắn gọn,
hàm súc, khuyết yếu tố CSSS. Việc giấu đi CSSS thể hiện tinh thần dân chủ
trong việc tiếp nhận các SSTT của hai dân tộc, chừa khoảng trống cho ngƣời
đọc suy nghĩ, liên tƣởng. Trong một số ít mô hình so sánh ở dạng đầy đủ còn
lại, CSSS trong TN Việt thể hiện lối tƣ duy tĩnh tại của các cƣ dân làm nông
nghiệp; còn CSSS trong TN Anh thể hiện lối tƣ duy động, luôn nhìn sự vật
hiện tƣợng luôn trong trạng thái vận động, thay đổi.
Từ so sánh chuyên dụng của TN Việt là “như”, của TN Anh là động
từ “to be”. Trong TN Việt, các từ so sánh song tiết không thấy xuất hiện, có
nhiều trƣờng hợp không có từ thể hiện quan hệ so sánh. Trong TN Anh, trong
khi nhiều tài liệu xem “as” và “like” là từ so sánh chuyên dụng thì thực tế
90
khảo sát đã chứng minh động từ “to be” mới là từ thể hiện quan hệ so sánh có
tần số xuất hiện cao nhất.
Ở yếu tố B, hình ảnh so sánh trong TN Việt phong phú hơn TN Anh,
ít có sự lặp lại. Việc sử dụng hình ảnh ở B thể hiện rõ thái độ, tình cảm của
hai dân tộc: khi thì đồng tình, ngợi ca, khi thì mỉa mai, bỡn cợt,… SSTT trong
TN Việt cũng giàu nhạc tính hơn TN Anh, cấu tạo cũng phong phú hơn,
không chỉ dừng lại ở danh từ/ danh ngữ hay cụm chủ vị ở cả hai yếu tố so
sánh A và B.
Nhƣ vậy những chất liệu có tần số xuất hiện cao trong các SSTT đã
chứng tỏ vị trí quan trọng của chúng trong tƣ duy liên tƣởng và phong cách
ngôn ngữ của mỗi dân tộc. Ngoài ra, chúng còn phản ánh đời sống vật chất và
tinh thần của ngƣời Việt và ngƣời Anh. Ngƣời viết sẽ trình bày vấn đề này
trong chƣơng tiếp theo: “SSTT trong TN Việt và TN Anh, nhìn từ góc độ văn
hóa học”.
91
Chương 3:
SSTT TRONG TN VIỆT VÀ TN ANH, NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
VĂN HOÁ HỌC
Lê Đình Bích mở đầu quyển từ điển đối chiếu TN Anh – Việt của
mình bằng câu: “TN không chỉ là ngôn ngữ, TN còn là dấu tích của một nền
văn hóa”[3, tr.5]. Quả thật, không chỉ là lời nói trơn tru, hàm súc, thể hiện
những triết lí trong cuộc sống đời thƣờng, TN còn là nơi chứa đựng giá trị văn
hóa của mỗi dân tộc. Để nhận diện bức tranh văn hóa xã hội của mỗi dân tộc
còn in dấu trong các SSTT, ngƣời viết sẽ khảo sát chƣơng này trên bình diện
câu chứ không dừng lại ở từng thành tố riêng lẻ nữa.
3.1. Khái niệm “đặc trƣng văn hóa dân tộc”
Theo Trần Ngọc Thêm, văn hóa là “một hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt
động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình” [67, tr. 25]. Nhƣ vậy, hiểu văn hoá là những giá trị vật chất
và tinh thần, tồn tại lâu đời do con ngƣời tạo ra thì dân tộc nào cũng có văn
hoá. Có những giá trị văn hoá mang tính phổ quát chung cho cả nhân loại và
có những giá trị văn hoá mang tính đặc thù riêng biệt, chỉ có ở cộng đồng này
mà không thấy rõ ở cộng đồng khác. Những giá trị văn hoá đặc thù ấy chính
là đặc trƣng văn hoá của mỗi dân tộc. Những nét trội này làm thành các giá trị
cơ bản, tiêu biểu, có tính bền vững; cùng với các giá trị khác, chúng làm
thành nền văn hoá. Nhƣ vậy, đặc trưng văn hoá của một dân tộc chính là
những giá trị tiêu biểu về tinh thần và vật chất mà dân tộc đã tích luỹ trong
quá trình lịch sử, nó có tính bền vững, có ý nghĩa lâu dài, có giá trị khu
92
biệt(24). Tìm hiểu văn hoá dân tộc chính là tìm hiểu những đặc trƣng ấy, vì
“chỉ có sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác, so sánh cái của mình với cái
của người khác mới được phép coi những yếu tố nào đó của một nền văn hóa
có địa vị đặc trưng khu biệt”. [64, tr. 20]
TN vừa là sự kiện văn hóa, vừa là hệ thống ký hiệu ghi nhận và thể
hiện các sự kiện văn hóa. Các nhà tâm lý học và nhân chủng học đều đồng
tình rằng TN phản ánh hiện thực văn hóa và xã hội của một dân tộc. Chính
điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau, đặc tính dân tộc và nền văn hóa khác
nhau đã khiến cho TN của hai dân tộc Việt, Anh có những điểm khác nhau rõ
rệt. Chẳng hạn, SSTT với đề tài “quan hệ gia đình” trong TN Việt phong phú
hơn TN Anh, đề tài “quan hệ xã hội” trong TN Anh phong phú hơn TN Việt.
TN chính là tấm gƣơng soi rõ tâm hồn của mỗi dân tộc. Qua TN, chúng ta sẽ
khám phá đƣợc nhiều điều vô cùng thú vị về các nền văn hóa.
Nhìn chung hình ảnh so sánh trong TN Việt và Anh là những đối
tƣợng hết sức quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của ngƣời dân mỗi nƣớc.
Cái riêng đƣợc bộc lộ ở sự lựa chọn đối tƣợng cụ thể nào và dùng nó biểu
trƣng cho cái gì. Có khi cùng một ý tƣởng nhƣng mỗi dân tộc lại chọn một đối
tƣợng riêng để biểu thị. Chẳng hạn, khi muốn khẳng định vai trò vô cùng cần
thiết của lƣơng thực, thực phẩm đối với cuộc sống, ngƣời Việt dùng hình ảnh
“cơm tẻ” còn ngƣời Anh thì nói đến “bánh mì”:
-Cơm tẻ mẹ ruột.
-Bread is the staff of life.
(Bánh mì là chiếc gậy của cuộc sống)
Cũng có khi các dân tộc đều chọn cùng một đối tƣợng nhƣng lại
(24) Theo PGS. Phan Mậu Cảnh (2008), Đặc trưng văn hóa, cội nguồn văn hóa và sự thể hiện chúng trong ca dao người Việt, nguồn: vienvhnn.net
muốn nói đến những vấn đề khác nhau:
93
-Người ta hoa đất.
-Beauty fades like a flower.
(Cái đẹp phai tàn nhƣ một bông hoa)
Trong SSTT, ngƣời Việt chú ý đến vẻ đẹp, giá trị của một đóa hoa
và dùng “hoa” để so sánh với con ngƣời còn ngƣời Anh lại chú ý đến sự
mong manh, chóng phai tàn của nó.
Trong chƣơng này, ngƣời viết sẽ trình bày đặc trƣng văn hóa dân tộc
qua SSTT trong TN Việt và TN Anh ở bình diện văn hóa vật chất và văn hóa
tinh thần.
3.2. Văn hóa vật chất qua SSTT trong TN Việt và TN Anh
3.2.1. Con người và giới tự nhiên
3.2.1.1. Tự nhiên
Trong các SSTT, khi đề cập đến giới tự nhiên, ngƣời Việt chú ý đến
các sự vật hiện tƣợng sau: gió thổi là chổi trời, một nạm gió bằng một bó
chèo, gió vào nhà trống, mây, gió, nước mưa là cưa trời, trời mưa, mưa tháng
ba hoa đất, mưa tháng sáu máu rồng, sông có nguồn, bể, nước thủy triều,
giếng khơi, nước lã, lửa, tấc đất tấc vàng, ruộng đầu chợ, ruộng giữa đồng,
ruộng không phân, ruộng, hòn đất nỏ bằng giỏ phân.
Ngƣời Anh thì quan tâm đến: the wind x 2 (gió), the air of a window
(không khí ngoài cửa sổ), change of the weather (sự thay đổi của thời tiết), a
dry tempest (cơn bão khô), a river (sông), fire x 2 (lửa), a fair garden (khu
vườn đẹp), a little garden with very sour weeds (khu vườn nhỏ với những hạt
giống xấu), a field (cánh đồng), a field of nettles (cánh đồng trồng cây tầm
ma).
94
Theo khảo sát ở trên, ta thấy ngƣời Việt quan tâm đến vấn đề thời
tiết nhiều hơn ngƣời Anh. Trần Ngọc Thêm khi ngiên cứu về các loại hình
văn hóa cũng khẳng định các cƣ dân nông nghiệp nhƣ ngƣời Việt có nhu cầu
tính toán thời tiết để trồng trọt cao hơn nhiều so với dân du mục, tiêu biểu là
ngƣời Anh [67, tr.163]. Trong SSTT, ngƣời Việt có 4 lần nói đến gió, 4 lần
nói đến mƣa, 1 lần nói đến mây; còn ngƣời Anh có 4 lần nói đến gió bão, 1
lần nói đến sự thay đổi của thời tiết.
Theo Nguyễn Đức Dân trong Dấu ấn văn hóa qua tục ngữ, những
cách nói trong TN có liên quan tới thiên nhiên, khí hậu, môi trường sống của
dân tộc ấy[10]. Do nƣớc Việt và nƣớc Anh thủy thổ không đồng nhất, vùng
khí hậu hoàn toàn khác nhau nên mối quan hệ với tự nhiên cũng khác nhau.
Việt Nam là nƣớc có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với hệ thống sông ngòi,
kênh rạch dày đặc; còn nƣớc Anh có khí hậu lạnh với các đồng cỏ khô và cao.
Đất đai của ngƣời Việt chủ yếu là đồng bằng, bao gồm đất để ở và để canh tác.
Đất là đại diện của sự hiền hòa, thân thiện với con ngƣời. Ruộng đất chính là
tài sản vô giá, ngƣời nông dân Việt Nam không thể xa rời ruộng đất:
-Tấc đất tấc vàng.
-Hòn đất nỏ bằng giỏ phân.
Trong các SSTT có đến 6 lần ngƣời Việt nói đến ruộng đất. Theo
Nguyễn Văn Nở trong Biểu trưng Trời và Đất trong tục ngữ Việt, “việc sở
hữu ruộng đất là nỗi khát khao bao đời của người nông dân, vì có đất sẽ có
thóc gạo, có miếng cơm manh áo” [51, tr.30]. Vì vậy, ngƣời Việt vô cùng trân
trọng giá trị của ruộng đất. Đồng ruộng vốn là không gian tự nhiên, nhƣng
trong nhận thức của nhân dân, nó đã trở thành không gian xã hội, với tất cả sự
gắn bó thân thuộc của con ngƣời.
Còn đất đai của ngƣời Anh là các cao nguyên rộng lớn với những
cánh đồng bát ngát (a field, a field of nettles) và những khu vƣờn xinh đẹp (a
95
fair garden, a little garden). Ngƣời Anh không có tƣ tƣởng phải sở hữu cho
bằng đƣợc đất đai mà thích rày đây mai đó theo các đàn gia súc.
Với ngƣời Việt, do lãnh thổ của họ ở trong một môi trƣờng tự nhiên
với sông nƣớc bao quanh con ngƣời nên yếu tố này chiếm vị trí rất đặc biệt,
chi phối, ảnh hƣởng đến nhiều mặt trong cuộc sống xã hội. Với tƣ cách là yếu
tố quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp, “nước” đƣợc đề cập đến
9/22 lần, với các dạng thức khác nhau : nước mưa là cưa trời, trời mưa, mưa
tháng ba hoa đất, mưa tháng sáu máu rồng, sông có nguồn, bể, nước thủy
triều, giếng khơi, nước lã. Đây chính là thành tố văn hóa số một trong tâm
thức của ngƣời Việt, Nguyễn Văn Chiến [7, tr.45] thể hiện mối quan hệ này
nhƣ sau:
TRỜI (THƢỢNG)
CON NGƢỜI (NHÂN)
NƢỚC (THỦY)
ĐẤT ĐAI (HẠ)
Chính vì có nƣớc ngƣời nông dân mới trồng trọt đƣợc nên họ phân
rõ: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Có nƣớc tất có cá – thực phẩm
chính trong bữa ăn của ngƣời nông dân. Nƣớc giúp cây, hoa, rau dưa, cỏ tƣơi
tốt. Nƣớc chảy thành sông, suối, nên ngƣời Việt phải di chuyển bằng thuyền,
đò, bè, ghe, mảng, … Những phong tục sinh hoạt cộng đồng cũng liên quan
đến nƣớc: hội đua thuyền, bơi chải, kết đèn hoa đăng; tục thờ cá, rắn, thuỷ
thần; nghệ thuật dân gian cũng dựa trên bối cảnh của nƣớc: rối nước, chèo,
các điệu hò, điệu lý diễn ra trên sông hồ, bến bãi…
96
Tóm lại, nền văn hóa Việt Nam là văn hóa nông nghiệp trồng lúa
nƣớc, phụ thuộc rất nhiều vào khí hậu, thời tiết, mà thế giới tự nhiên, theo
quan niệm dân gian - nhất là với ngƣời dân làm ruộng - là một không gian cao
siêu, huyền bí, có mọi quyền uy, chi phối cuộc sống con ngƣời. Do đó, ngƣời
nông dân luôn cầu trời phật sao cho “mưa thuận gió hòa”, “mưa nắng phải
thì…”.
Còn ngƣời Anh với địa hình đồng cỏ khô, cao và khí hậu ôn đới
thích hợp với việc chăn nuôi và thƣơng mại, họ thƣờng xuyên phải đƣa đàn
gia súc đi tìm các bãi cỏ khác nên dẫn đến tâm lí xem thƣờng thiên nhiên, ít
quan tâm đến vấn đề thời tiết. Chính sự khác biệt về điều kiện tự nhiên (địa lí
– khí hậu) là nguồn gốc sâu xa của sự khác biệt về văn hóa giữa ngƣời Việt và
ngƣời Anh.
3.2.1.2. Động thực vật
Theo Nguyễn Thanh Tùng, “Việt Nam thuộc loại hình văn hoá gốc
nông nghiệp nên trồng trọt quan trọng hơn chăn nuôi, còn nước Anh thuộc
loại hình văn hoá gốc du mục nên chăn nuôi quan trọng hơn” [76, tr. 127].
Ngay trong từng đề tài, sự quan tâm của ngƣời Anh và ngƣời Việt cũng hoàn
toàn khác nhau.
Với nền văn hoá thiên về gốc nông nghiệp, ngƣời Việt đề cập đến :
chó, gà, cóc, miêu (mèo), quạ thấy gà con, cò bợ, rồng, nòng nọc, phượng,
lợn hạch, lợn sề, ông Ba Vì, bồ nông, rái, vích, mày mạy, đòng đong, kiến,
khỉ, tê giác, chim, voi, con tằm, hổ, trâu.
Đó là những con vật quanh nhà: lợn, gà, mèo, chó, … hay gắn với
công việc đồng áng: trâu, tằm, cóc, nòng nọc, đòng đong (cá nhỏ, sống ở ao,
ruộng), …Chim chóc, côn trùng ở Việt Nam là các loài chủ yếu sống ở vùng
97
sông nƣớc nhƣ: cò bợ, bồ nông, rồng, phượng, mày mạy (ấu trùng của chuồn
chuồn), quạ, … Ngoài ra còn có một số con vật ở rừng nhiệt đới nhƣ: hổ, ông
Ba Vì, khỉ, tê giác, voi,…
Một số động vật nƣớc mặn cũng xuất hiện trong SSTT vì bờ biển
Việt Nam rất dài, các động vật nƣớc mặn cũng rất phong phú nhƣng ngƣời
Việt chỉ quan tâm đến đặc điểm, cách sống của chúng:
Khôn như rái, dại như vích.
Họ dành nhiều sự quan tâm hơn đến các động vật sống ở nƣớc ngọt
và gia cầm, chim chóc. Trong tâm thức ngƣời Việt, chim muông đã trở thành
một phần quan trọng với con ngƣời. Có một số loài mang nghĩa biểu trƣng
nhƣ cò, rồng, phượng,…Trong đó, con cò là loài chim kiếm ăn ở đồng ruộng
gần gũi với ngƣời nông dân hơn cả. Chính cái vẻ vất vả nhƣng thanh cao của
cò đã khiến ngƣời Việt thích dùng hình ảnh của nó biểu thị đời sống, đức tính
của mình.
Còn con trâu thì đặc biệt đƣợc ngƣời nông dân yêu thƣơng hơn các
con vật khác. Nó có nhiều nét tính cách giống ngƣời nông dân: cần cù, yêu
lao động, chịu thƣơng chịu khó, hiền lành. Nó là bạn đồng cam cộng khổ với
họ ngoài ruộng: “làm ruộng có trâu” thì cũng vui vẻ, hạnh phúc, đỡ vất vả
nhƣ “làm dâu có chồng”.
Theo Trần Ngọc Thêm, “điều kiện tự nhiên miền Tây-Bắc của thế
giới thuận lợi cho việc chăn nuôi, vì vậy chăn nuôi du mục ở đây rất phát
triển” [67, tr.54]. Do nghề chính của cƣ dân Anh là chăn nuôi và săn bắn nên
SSTT trong TN của họ thƣờng đề cập đến: horses (ngựa), an ass (lừa), a
beast (con thú lớn), a dog (chó), a lamb (cừu), a fish (cá), a wolf (sói),
pigeons (bồ câu), chickens (gà), frogs (ếch), a goose twixt two foxes (con
ngỗng giữa hai con cáo), a lion (sư tử), butterflies (bươm bướm), monkeys
(con khỉ), wasps (ong bắp cày).
98
Trong đó, con cừu (lamb) đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc
sống của ngƣời Anh, cừu vừa là tài sản vừa là nguồn cung cấp sữa, thịt và len
cho các cƣ dân du mục. Con cừu lại hiền lành nên các tín đồ của đạo Cơ Đốc
đƣợc ví là con chiên, Chúa chính là ngƣời chăn chiên. Từ cổ xƣa, ngƣời
phƣơng Tây nói chung và ngƣời Anh nói riêng đã nuôi cừu, ít làm nghề nông,
phần đông lo việc mục súc và hàng hải. Do đó, họ rất yêu quý đàn cừu của
mình.
Thêm vào đó, các con thú săn bắt cũng xuất hiện nhiều: lion (sư tử),
wolf (sói), fox (cáo), beast (con thú lớn),.. Phƣơng tiện cho việc săn bắt,
chuyên chở hàng hóa của họ là chó (dog), ngựa (horse). Theo Phạm Văn Bình,
ngƣời Anh rất thích chó và ngựa: “Họ sẽ nói một cách trìu mến với và về các
con chó, con ngựa của họ, điều này còn nhiều hơn là cái việc mà họ thường
làm với bạn bè và gia đình của mình” [4, tr.183].
Ngƣời Anh chú ý khai thác những nét đặc trƣng về hình thức, động
tác, bản năng, tập tính của mỗi loài để so sánh với chủ thể, từ đó quyết định
thái độ ca ngợi hay phê phán, đả kích. Chẳng hạn, những con thú hoang đều
mang sắc thái tình cảm âm tính:
-As a wolf is like a dog, so is a flatterer like a friend. (Con sói nhìn thì giống con chó, cũng nhƣ kẻ xu nịnh nhìn thì tƣởng
nhƣ một ngƣời bạn)
-He dies like a beast who has done no good when he lived. (Kẻ không làm việc tốt khi còn sống sẽ chết nhƣ một con quái vật) -A client twixt his attorney and counsellor is like a goose twixt two
foxes.
(Một khách hàng ở giữa luật sƣ và ngƣời cố vấn pháp luật của mình
giống nhƣ con ngỗng ở giữa hai con cáo)
-Women in state affairs are like monkeys in glass-shops. (Các nữ viên chức giống nhƣ con khỉ trong tủ kính các cửa hiệu)
99
Nhƣ vậy, SSTT trong TN Anh nói nhiều về động vật và mỗi con vật
đều là các biểu tƣợng hoặc có truyền thuyết của riêng nó (khác với các con
vật Việt Nam):
+ con chó: trung thành, thân thiện và chia sẻ
+ cáo: xảo trá, quỷ quyệt
+ lừa: đần độn
+ ngựa: vật linh, sang trọng, sức mạnh, cái thiện, sự chiến thắng
+ sói: độc ác
+ cừu: hiền lành
+ sƣ tử: sức mạnh, sự dũng mãnh
Tóm lại, trong các SSTT nói về động vật, kinh nghiệm chăn nuôi
của ngƣời Anh nhìn chung mang quy mô lớn hơn, chứ không phải chỉ là
những con vật ở quanh nhà nhƣ ngƣời Việt.
Về thực vật, cây cỏ hoa lá xuất hiện nhiều lần trong SSTT của TN
Việt gồm có: hoa, bồ hòn, bè ngổ, thài lài, nứa, măng ấp bẹ, tre ấm bụi, củi
tre, cơm tẻ, lúa, rơm, bèo, dâu, chuối, chuối hột, cây mít, nghệ, nhân sâm, cây
không rễ, cây có cội, cây gỗ tròn.
Việt Nam là một quốc gia có thảm thực vật vô cùng phong phú vì
nằm trong vành đai nhiệt đới, nóng ẩm mƣa nhiều, phù hợp cho các hệ thực
vật phát triển. Trƣờng thực vật xuất hiện nhiều trong SSTT của TN Việt là các
loại cây dùng làm thực phẩm trong cuộc sống hàng ngày nhƣ: cơm tẻ, nghệ,
măng, bè ngổ, nhân sâm, … ; một số loại cây ăn quả vùng nhiệt đới nhƣ: mít,
chuối, chuối hột, …; các loại cây cho lá, cho gỗ nhƣ: nứa, tre, cây gỗ, bồ hòn,
dâu, bèo,…
Trong đó nổi bật là cây“lúa” - cây lƣơng thực chủ yếu, với các dạng
tồn tại khác nhƣ “cơm tẻ”, “rơm”. Các loài cây và hoa xuất hiện ở đây đều
100
mang đặc trƣng của vùng khí hậu nhiệt đới. Đặc biệt, “hoa” giữ một vai trò
quan trọng trong cuộc sống của ngƣời Việt, SSTT có 5 lần nhắc đến “hoa”.
Trong câu “Mưa tháng ba hoa đất”, hình ảnh “hoa” không nhằm chỉ một đóa
hoa cụ thể nào mà dùng để biểu trƣng cho cái đẹp, sự xanh tốt, sức sống của
vạn vật nói chung sau cơn mƣa.
Nếu hoa là tinh túy của cỏ cây thì con ngƣời chính là tinh túy của
đất trời:
-Ngƣời ta hoa đất. -Ngƣời nhƣ hoa ở đâu thơm đấy.
So sánh hoa với ngƣời là một quan niệm, một triết lý vô cùng nhân
văn. Cơ sở liên tƣởng ở đây là mối quan hệ tƣơng đồng về tính chất: giữa
hƣơng hoa và lòng ngƣời, giữa sắc hoa và nhân diện. “Hoa thơm” đƣợc so
sánh với những ngƣời khôn ngoan, nhân hậu, có văn hóa, trọng đạo nghĩa.
Những ngƣời nhƣ thế luôn đƣợc mọi ngƣời trân trọng, nâng niu:
-Hoa thơm ai chẳng nâng niu/ Ngƣời không ai chẳng kính yêu mọi
bề.
-Hoa thơm ai chẳng muốn đeo/Ngƣời khôn ai chẳng nâng niu bên
mình.
Tóm lại, SSTT trong TN Việt đề cập phần lớn đến các loài thực vật
ƣa nƣớc của vùng nhiệt đới nóng ẩm.
Trong TN Anh, hình ảnh thực vật trong SSTT gồm có: a flower
(hoa), a blossom (hoa của cây ăn quả), flax (cây lanh), a black plum (mận
đen), a white plum (mận trắng), the sloe tree (cây mận gai), cherry (anh đào),
barley (lúa mạch), weeds (cỏ dại), brambles (bụi cây mâm xôi), straw (rơm),
...
Phần lớn các từ chỉ thực vật gắn liền với việc gieo trồng ở vùng lạnh
và khô của ngƣời Anh, quan trọng nhất là nghề trồng kê mạch. Các từ chỉ kê
mạch và sản phẩm của nó xuất hiện nhiều: barley (lúa mạch), bread (bánh
mì), straw (rơm), …Ngƣời Anh rất có kinh nghiệm trồng những loại cây ăn
101
quả điển hình của vùng giá rét nhƣ: black plum (mận đen), white plum (mận
trắng), sloe tree (cây mận gai), cherry (anh đào), …; và các cây lấy sợi, lấy
gỗ nhƣ: flax (cây lanh), bramble (bụi mâm xôi), tree without fruit (cây không
có quả),…Ngƣời Anh cũng đặc biệt yêu hoa, thƣờng ví vẻ đẹp của hoa với
những phẩm chất cao quý của con ngƣời:
Patience is a flower that grows not in every one's garden. (Sự kiên nhẫn là một đóa hoa mà không phải khu vƣờn
nào cũng có)
Họ cũng chú ý đến một đặc điểm khác nữa của hoa là sự mong
manh, yếu ớt, chóng tàn:
-Beauty is but a blossom. (Cái đẹp chỉ là một đóa hoa) -Beauty fades like a flower. (Cái đẹp phai tàn nhƣ một bông hoa)
Tóm lại, điều kiện tự nhiên của nƣớc Anh thuận lợi hơn cho việc
chăn nuôi, trồng trọt chỉ giữ một vai trò nhỏ bé. Dấu ấn nghề trồng kê mạch
và các thực vật vùng lạnh và khô còn in đậm trong SSTT của TN Anh.
3.2.1.3. Cơ thể người
Bộ phận cơ thể ngƣời phản ánh sự tri nhận của con ngƣời về chính
mình. Trong TN của nƣớc nào cũng có những từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời, vì
“con người giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ vũ trụ. Đại vũ trụ được thu nhỏ
lại trong con người nhưng con người cũng từ đó “phóng ảnh” của nó ra toàn
bộ vũ trụ và quá trình nhận thức thế giới, xã hội và chính bản thân nó. Vì vậy,
từ chỉ bộ phận cơ thể người có vị trí quan trọng…” [17, tr. 31]. Ngƣời Việt và
ngƣời Anh tuy có nhiều điểm giống nhau nhƣng cũng có không ít khác biệt
khi nói đến các bộ phận cơ thể ngƣời.
102
Các từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong TN Việt gồm có: chân tay,
chân, mặt, bụng, máu, cuống ruột, ruột, dạ, lòng, bóng, trôn trẻ, thân, mình,
miệng, một mắt, đầu.
Trong đó, chân có thể đi lại, không cố định một chỗ nên nó dùng để
chỉ sự thay đổi. Khi bị ràng buộc, dân gian Việt Nam ví nhƣ:
Trai có vợ như rợ buộc chân.
Chân và tay có mối quan hệ gần gũi, không thể tách rời, nên đƣợc
ngƣời Việt dùng để chỉ mối quan hệ gia đình keo sơn gắn bó:
Anh em như chân tay.
Ngƣời Việt xem xét con ngƣời qua khuôn mặt để có thể biết đƣợc
nội tâm của con ngƣời, vì mặt đối diện với thế giới xung quanh và có khả
năng thể hiện các sắc thái tình cảm của con ngƣời một cách rõ rệt nhất:
“Chƣa đánh đƣợc ngƣời mặt đỏ như vang”: thể hiện sự tức giận
“Đánh đƣợc ngƣời rồi mặt vàng như nghệ”: lo lắng, sợ hãi
Còn “đầu” là cơ quan chỉ huy của toàn bộ cơ thể: “Quân vô tướng
như hổ vô đầu”.
Bên cạnh đó, theo Nguyễn Đức Tồn [70], ngƣời Việt hết sức coi
trọng trục tâm thận và lấy bụng (lòng/ dạ/ ruột) làm cơ sở xuất phát của cảm
giác. Tác giả viết “theo quan niệm của dân gian, bụng là nơi định vị hay chứa
đựng trí tuệ con người và là bộ phận biết tính toán, suy nghĩ”. Ngoài ý nghĩa
biểu trƣng cho trí tuệ, ý chí, về phƣơng diện tinh thần, bụng có thể biểu trƣng
cho tất cả các cung bậc của tình cảm con ngƣời. Vì bụng có không gian rộng
rãi cho phép nó “có thể co giãn một cách năng động hơn nên chứa đựng được
nhiều tình cảm hơn; và các bộ phận trong bụng đều ở dạng mềm khiến cho
bụng sau khi nghĩ sẽ có cách xử lí vấn đề không quá rắn như đầu – nơi ngự
trị của lí trí trong phạm vi chật hẹp của hộp xương sọ cứng nhắc…Mặt khác,
vị trí của lòng/ bụng/ dạ/ ruột trong sự phân bố của cơ thể là ở phía dưới, nếu
103
tính theo độ nông sâu thì những gì ở đây có lẽ sẽ có chiều sâu hơn so với các
bộ phận ở phía trên. Theo đó, bụng /lòng / dạ được xem như là nơi sâu kín
nhất để người bản ngữ tiếng Việt có thể gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình
vào trong đó” [32, tr.32]. Do đó, ta thấy trong TN so sánh có các cách ví von
sau:
-Lòng người như bể khôn dò. -Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ. -Của là cuống ruột.
Các từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong TN Anh gồm có: tongue
(lưỡi), the mouth (miệng), the eyes (mắt), bond (xương), a face (gương mặt), a
throat (cổ họng), a brain (trí não), mind (trí tuệ), the breath (hơi thở), a span
(gang tay), scab (ghẻ), hand (tay), heart (trái tim).
Trong các SSTT của TN Anh, ngƣời Anh rất coi trọng việc giao tiếp.
Giao tiếp có nói năng bằng “miệng”, “lưỡi” và “cổ họng”. Các SSTT của họ
cho thấy sức mạnh, giá trị của “miệng lưỡi”:
-A good tongue is a good weapon. (Miệng lƣỡi khôn khéo là vũ khí lợi hại) -A woman's sword is her tongue, and she does not let it rust. (Thanh gƣơm của phụ nữ là lƣỡi của cô ta, và cô ta không để
nó hoen rỉ)
Giao tiếp còn thể hiện qua điệu bộ, cử chỉ “mắt”, “mặt”, “tay”:
A good face is a letter of recommendation. (Một gƣơng mặt đẹp là lá thƣ giới thiệu tốt)
Trong đó, đôi mắt là phần nổi trội nhất, là “cửa sổ của tâm hồn”,
chính từ đôi mắt mà ngƣời Anh cảm nhận đƣợc nhiều ý nghĩa về mặt tình cảm
và nhận thức:
-The eyes are the window of the soul. (Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn) -Learning are the eyes of mind. (Học vấn là đôi mắt của trí tuệ)
104
Chính trong quá trình giao tiếp mà họ thiết lập các mối quan hệ xã
hội cũng nhƣ quan hệ tình cảm. Trong cách tri nhận của ngƣời Anh, tim đƣợc
xem là bộ phận gắn liền với tình cảm rõ rệt nhất vì nó vận hành máu đến tất
cả các bộ phận khác của cơ thể nên rất nhạy cảm với mọi biến đổi của quá
trình tâm sinh lí. Khi lo lắng hay đau buồn ngƣời ta có cảm giác ở khoang
ngực nhƣ có vật gì đè nặng lên, khi vui thì lồng ngực căng, nở ra, khí huyết
lƣu thông. Do đó, khi nói đến các cung bậc khác nhau của tình cảm, ngƣời
Anh liên tƣởng đến trái tim, sự sợ hãi sẽ làm cho trái tim bị giam cầm:
Fear is the prison of the heart.
Nói đến tƣ duy thì ngƣời Anh đề cập đến “brain” (óc, não), “mind”
(trí tuệ) chứ không dùng hình ảnh bụng/ dạ nhƣ ngƣời Việt:
-A contented mind is a continual feast. (Vừa ý cũng giống nhƣ là đƣợc đi dự tiệc liên tục) -An idle brain is the devil's workshop. (Óc lƣời nhác là phân xƣởng của quỷ)
Cách nói này là sản phẩm của tƣ duy lí tính. Khi nói đến các vật quý
giá, ngƣời Anh so sánh chúng với “xương tủy” của mình, vì xƣơng ở bên
trong, là cái khung nâng đỡ toàn bộ cơ thể:
-An Englishman's word is his bond. (Lời nói của ngƣời Anh là xƣơng tủy của họ) -An honest man's word is as good as his bond. (Lời nói của ngƣời chân thật cũng quý nhƣ xƣơng tủy của anh
ta)
Nói đến sự mong manh thì có “hơi thở”:
Fame is but the breath of the people. (Sự nổi tiếng chỉ là hơi thở của con ngƣời)
Tóm lại, trong các SSTT, các dân tộc đều nhận thức đƣợc rất rõ
ràng rằng cơ thể ngƣời, nhất là các bộ phận bên trong là trung tâm của trải
nghiệm về tình cảm, nhận thức; tùy theo cách tri nhận khác nhau của hai dân
tộc mà sự liên tƣởng, ví von có khác.
105
3.2.2. Con người và đời sống vật chất:
3.2.2.1. Vật thể nhân tạo
Dấu ấn của nền văn hóa nông nghiệp lúa nƣớc còn in dấu rất rõ
qua các vật thể nhân tạo do ngƣời Việt sáng tạo ra trong quá trình tƣơng tác
với thiên nhiên. Lao động thì phải có công cụ lao động: “cối xay, chổi, cưa,
giỏ, hom, cái nơm, rợ, …”; phƣơng tiện di chuyển: thuyền, bè, xe. Mục đích
của lao động là tạo ra thực phẩm để ăn và của để dành: của, tiền của, ngọc,
vàng, tiền, lỗ tiền chôn. Muốn ăn thì phải có dụng cụ nấu nƣớng: đĩa, đũa, nồi
đồng, cơi đựng trầu, bồ (lúa), than. Phòng khi ốm đau thì ngƣời nông dân
phải trữ sẵn thuốc men: thuốc tiêu, thuốc gió, thuốc tiên. Để an cƣ lạc nghiệp
thì ngƣời Việt xây dựng nhà cửa và các vật dụng trong nhà nhƣ: nhà, rào
giậu, tượng mới tô, gạch, phản gỗ, kèo, tủ, kho, lồng chim, vôi.
Trong các đồ vật kể trên, đồ vật đáng chú ý nhất, có giá trị khu
biệt nhất về văn hóa là đôi đũa. Theo Trần Ngọc Thêm [67, tr. 398], “trong
khi người phương Tây phải dùng một bộ đồ ăn gồm ít nhất là thìa, nĩa, dao,
mỗi thứ thực hiện một chức năng riêng rẽ và chặt chẽ (sản phẩm của tư duy
phân tích) thì đôi đũa của người Việt Nam thực hiện một cách cực kỳ linh
hoạt hàng loạt chức năng khác nhau: gắp, và, xé, xẻ, dầm, khoắng, trộn, vét,
và nối cho cánh tay dài ra để gắp thức ăn xa”. Là dụng cụ gắp thức ăn truyền
thống của ngƣời Việt, đũa chỉ có tác dụng khi có đủ hai chiếc. Hai chiếc mà
không có sự tƣơng đồng do bị vênh hay chiếc dài chiếc ngắn thì cũng ảnh
hƣởng đến thao tác và thẩm mỹ. Do đó, dân gian dùng hình ảnh đôi đũa để ví
với tình cảm vợ chồng suốt đời gắn bó: “Vợ chồng như đũa có đôi”. Một gia
đình hạnh phúc cần sự đồng tâm hòa thuận, nhất trí và nỗ lực của cả vợ lẫn
chồng.
106
Ngoài ra, các phƣơng tiện di chuyển của ngƣời Việt cũng có sự
khác biệt. Do Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, địa hình chủ yếu là
đồng bằng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc nên phƣơng tiện di
chuyển hiệu quả nhất là thuyền, bè. Trong các công cụ lao động thì nổi bật là
các dụng cụ để bắt cá – thực phẩm chính trong bữa ăn của cƣ dân nông nghiệp
lúa nƣớc: giỏ, hom, cái nơm. Còn cối xay dùng để xay gạo, nếp thành bột, từ
đó chế biến thành các món ăn, bánh trái khác nhau. Nhà ở truyền thống của
ngƣời Việt thì phải gồm đủ kèo, cột, gạch, tủ, phản gỗ, nồi đồng, cơi trầu, rào
giậu, bồ lúa. Của cải để đo lƣờng sự giàu có, khôn dại của ngƣời Việt là thóc
gạo:
Dại như chó có lúa cũng khôn.
Đó là kết quả của sự tác động bởi nền nông nghiệp lúa nƣớc.
Ngƣời Anh cũng đề cập đến các công cụ lao động và chiến đấu
của đất nƣớc họ: a wagon (xe ngựa), an anvil (cái đe), an axe (cái búa), a
weapon (vũ khí), a cross-bow (cái nỏ/ ná), a sword (gươm). Họ cũng có của
để dành: a treasure (châu báu), silver (bạc), golden (vàng), money(tiền),
riches (của cải), fortune (gia tài), a dowry (của hồi môn), a heritage (tài sản
thừa kế), a mine of gold (mỏ vàng), a jewel (trang sức), a ring (chiếc nhẫn), a
purse (ví tiền), lottery (vé số); và cả debt (nợ nần). Nhà cửa của ngƣời Anh
cũng mang đặc trƣng riêng của vùng ôn đới với: a back door (cửa sau),
chimneys (ống khói), a weathercock (chong chóng chỉ hướng gió), a pit (hố,
hầm), the chamber (phòng), a entry (lối vào nhà), the walls (bức tường), the
window (cửa sổ), a bed (cái giường), a new house thatched with old straw
(nhà mới lợp rơm cũ), a ladder (thang), a pillow (cái gối), padlock (khóa), the
mirror (gương), pitchers (cái bình/ vò).
107
Điều đáng chú ý là của để dành của ngƣời Anh vô cùng phong phú,
bao gồm cả vàng bạc, châu báu, trang sức, tiền mặt, tài sản thừa kế, của hồi
môn, tiền trúng số,…. TN Anh nhiều lần đề cập đến sức mạnh của tiền bạc:
-Money is the only monarch.
(Tiền bạc là vị quốc vƣơng duy nhất)
-Money is the ace of trumps.
(Tiền là con bài chủ)
-Money is a good servant, but a bad master.
(Tiền là ngƣời đầy tớ tốt nhƣng là ông chủ tồi)
-Fortune is the mistress of the field.
(Của cải là bà chủ của cánh đồng)
Với ngƣời Việt, của để dành của ngƣời lao động chỉ là thóc gạo, tiền
bạc, còn phần lớn của cải có giá trị khác nằm trong tay địa chủ và chính
quyền phong kiến. Ở Anh, do thƣơng nghiệp phát triển từ rất sớm nên hàng
hóa rất dồi dào, của cải vô cùng phong phú, phần đông các thƣơng nhân có tài
sản cũng nhƣ các món nợ kếch sù đƣợc truyền từ đời này sang đời khác.
Công cụ lao động và chiến đấu của ngƣời Anh đƣợc đề cập đến
trong các SSTT là vũ khí, cái nỏ, thanh gươm để săn bắn và tự vệ, xe ngựa để
vận chuyển hàng hóa, và đe, búa để rèn kim loại. Tuyệt nhiên không thấy
công cụ lao động nào để trồng trọt, làm nông nghiệp nhƣ cối xay, chổi, cưa,
giỏ, hom, cái nơm, rợ, …của ngƣời Việt.
Về nhà cửa, ta thấy nhà của ngƣời Anh có ống khói của lò sƣởi
trong những ngày đông giá rét, có chong chóng chỉ hƣớng gió trên các thảo
nguyên mênh mông, có các hầm và các vò/ bình trữ rƣợu, với các phòng riêng
biệt, lối vào, cửa sổ, giƣờng, gối, gƣơng, cầu thang, khóa,…Nóc nhà truyền
thống của ngƣời Anh đƣợc lợp bằng rơm để giữ ấm.
108
Tóm lại, các công cụ lao động, phƣơng tiện di chuyển, của cải, tài
sản, vật dụng hàng ngày, nhà cửa của ngƣời Việt và ngƣời Anh có sự khác
biệt do điều kiện tự nhiên và phƣơng thức sản xuất của hai dân tộc không
đồng nhất.
3.2.2.2. Ẩm thực, giải trí
Việc ăn uống để duy trì sự sống là vô cùng cần thiết đối với các dân
tộc. Tuy nhiên, quan niệm này ở mỗi quốc gia có sự khác biệt.
Theo Trần Ngọc Thêm, người phương Tây với bản tính ưa hoạt
động có xu hướng coi việc ăn như điều kiện cần thiết, như phương tiện để làm
việc; triết lí phương Tây nhắc nhở; “Người ta ăn để mà sống chứ không phải
sống để mà ăn” [67, tr.342]. Còn các cƣ dân nông nghiệp lúa nƣớc với thì trái
lại, việc ăn uống là vô cùng cần thiết vì có năng lƣợng vật chất thì mới nói
đến chuyện tinh thần đƣợc. “Việc ăn đối với người Việt Nam quan trọng đến
mức một đấng toàn năng như Trời cũng không dám và không được quyền xâm
phạm: “Trời đánh còn tránh bữa ăn” [67, tr.342].
Ngƣời Việt vì vậy rất xem trọng bữa ăn hàng ngày của mình. Họ ví
von rằng:
-Ăn được ngủ được là tiên -Không ăn không ngủ là tiền bỏ đi.
Nếu nhìn vào văn hoá ẩm thực thì ta thấy rằng cƣ dân các miền có
nền văn hoá gốc du mục nhƣ ngƣời Anh thì thiên về ăn thịt và các sản phẩm
từ động vật. Còn cơ cấu bữa ăn của ngƣời Việt thì lại bộc lộ rất rõ dấu ấn của
truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nƣớc – thiên về thực vật.
Trong cơ cấu bữa ăn của ngƣời Việt, lúa gạo xếp hàng đầu, có vai
trò vô cùng quan trọng, đƣợc ví nhƣ cha mẹ:
Cơm tẻ mẹ ruột.
109
Sau lúa gạo là rau quả:
-Ăn cơm không rau như đánh nhau không có người gỡ. -Cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống.
Ngƣời Việt vốn giỏi trồng trọt lại đƣợc thiên nhiên ƣu đãi nên mùa
nào thức nấy, rau quả không thiếu thứ gì. Trong khi các cƣ dân du mục chỉ ăn
lƣơng thực và thịt, nhà giàu sang mới có thêm rau quả thì ngƣời Việt sống
giữa cái nôi của các loại cây trồng nhiệt đới nên bữa ăn không biết bao nhiêu
là rau. Hầu nhƣ loại lá cây nào ăn đƣợc đều xuất hiện trong bữa ăn của ngƣời
Việt. Ngoài việc nấu chín, rau còn dùng để ăn sống. Các món ăn truyền thống
của ngƣời Việt nhƣ bánh xèo, bún riêu, gỏi cuốn, lẩu mắm,… thƣờng ăn kèm
với rất nhiều rau.
Ngoài ra, ngƣời Việt còn ăn cá bắt đƣợc ở ao, hồ, ruộng, sông quanh
làng (Cơm với cá như mạ với con); và từ các loại thủy sản, ngƣời Việt đã chế
biến “nước mắm” để dùng làm nƣớc chấm trong các bữa ăn. Đây là một thứ
nƣớc chấm rất đặc trƣng của ngƣời Việt. Nói về sự không xứng hợp, họ cũng
liên tƣởng đến hình ảnh thứ nƣớc chấm này:
“Trai tơ lấy phải nạ dòng Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu”
Trong các SSTT, ngƣời Việt cho thấy họ nấu ăn bằng “củi tre” và
“ nồi đồng”:
-Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ sai. -Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ sai.
Ngoài các bữa cơm, ngƣời Việt còn có tập quán ăn trầu và uống
rƣợu:
Ăn trầu không có rễ như rể nằm nhà ngoài
Đây là phong tục đã có từ rất lâu đời của ngƣời Việt, có cả một
truyền thuyết về nó. Ngƣời Việt đựng trầu bằng “cơi” (đàn bà sâu sắc như cơi
đựng trầu), ăn trầu với “rễ cây”, “vôi” và cau. Ngƣời ta nhai rồi nhả bã. Việc
110
ăn trầu tạo ra một chất kích thích, khiến thơm miệng, đỏ môi, chắc răng và
khuôn mặt ngƣời ăn đỏ bừng nhƣ say rƣợu. Ngoài ra trầu còn là một bài thuốc
tốt chữa đƣợc nhiều bệnh. Với ngƣời Việt, miếng trầu đã trở thành một biểu
tƣợng văn hóa đặc biệt khi tiếp khách, cƣới xin, giỗ chạp, cám ơn, xin lỗi,…
Ngƣời Việt còn thích uống rƣợu trong các bữa ăn, các dịp tiệc tùng,
lễ lạc:
Nam vô tửu như kỳ vô phong.
Đặc biệt, rƣợu của ngƣời Việt đƣợc làm từ gạo nếp – thứ lƣơng thực
đặc sản của các cƣ dân trồng lúa nƣớc.
Trong khi đó, cơ cấu bữa ăn của ngƣời Anh thiên về ăn thịt và các
sản phẩm từ động vật nhƣ: thịt (good kitchen meat), cá (salt fish), bơ sữa
(cheese), suet (mỡ thận), bánh mì (bread).
Sau thịt cá, ngƣời Anh xem bánh mì là nguồn gốc của sự sống:
Bread is the staff of life.
Đây cũng là xứ sở của các loại bánh ngọt nổi tiếng làm từ lúa mì:
-An apple-pie without some cheese is like a kiss without a
squeeze.
(Bánh nhân táo mà không có bơ thì giống như một nụ hôn
không được ôm chặt)
-A bad custom is like a good cake... (Phong tục tồi tệ giống như một cái bánh…) -Promises are like pie-crust... (Lời hứa giống như vỏ bánh nướng…)
Việc ăn uống đối với ngƣời Anh có ảnh hƣởng vô cùng lớn đến sức
khỏe của họ, bởi vì:
The mouth is the executioner and the doctor of the body. (Cái miệng sẽ là đao phủ hay bác sĩ của cơ thể)
Ngƣời Anh đựng thức ăn bằng đĩa (dish), sử dụng nƣớc chấm là các
loại nƣớc xốt khác nhau (sauce), thích hội họp, tiệc tùng:
111
-Enough is as good as a feast. (Vừa đủ cũng quý như là được đi dự tiệc) -A good conscience is a continual feast. (Lương tâm trong sạch giống như là tiệc tùng liên miên) -A contented mind is a continual feast. (Sự hài lòng cũng giống như là được đi dự tiệc liên tục)
Họ cũng rất thích uống rƣợu, nhƣng rất cẩn thận khi uống rƣợu
trong giao tiếp vì:
-Wine is the glass of the mind. (Rượu là tấm gương của trí tuệ) -Wine is a turncoat. (Rượu là kẻ phản bội)
Nhìn chung, món ăn thông thƣờng của ngƣời Việt là cơm, rau và cá;
còn bữa ăn của ngƣời Anh gồm thịt và các sản phẩm từ động vật nhƣ bơ, mỡ,
sữa, bánh mì.
Về giải trí, khi có thời gian rảnh, ngƣời Việt thích chơi cờ (Cờ phải
nước bí như bị phải trời mưa) hoặc xem múa rối nƣớc (đẹp như rối). Đây là
một loại hình nghệ thuật dân gian vô cùng đặc sắc của những ngƣời nông dân
Việt Nam đã quen với việc ngâm bùn lội nƣớc trên ruộng lúa. Yếu tố độc đáo
của rối nƣớc là sử dụng mặt nƣớc làm sân khấu để con rối diễn trò, đóng kịch.
Buồng trò rối nƣớc (nhà rối hay thủy đình) đƣợc dựng lên giữa ao, hồ với
kiến trúc cân đối tƣợng trƣng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam. Kỹ
thuật điều khiển trong múa rối nƣớc rất đƣợc coi trọng, nó tạo nên hành động
của quân rối nƣớc trên sân khấu, đó chính là mấu chốt của nghệ thuật múa rối.
Quân rối đẹp mới chỉ có giá trị về mặt điêu khắc. Sự thành công của quân rối
nƣớc chủ yếu trông vào sự cử động của thân hình, hành động làm trò đóng
kịch của nó. Các quân rối nƣớc trình bày những cảnh đời thƣờng hàng ngày,
những sinh hoạt dung dị đến ngạc nhiên nhƣ: cha cầy, mẹ cấy, em bé chăn
trâu, quăng chài, chăn vịt, thả cá, câu ếch, cả làng vui hội vui hè, đấu vật, chọi
112
trâu, rƣớc thánh, rƣớc thần, hát chèo, hát tuồng, đánh đu, đua thuyền, thi bơi,
múa lân, múa rồng, múa tiên,... Nó cắt nghĩa rõ ràng khả năng và tài trí của
một dân tộc sinh sống bằng nghề trồng cây lúa nƣớc.
Thú vui giải trí của ngƣời Anh thì hoàn toàn khác. Với nghề chăn
nuôi, khi rảnh rỗi, họ thích giải trí bằng cách cƣỡi ngựa (horse without a
bridle, runaway horse), đấu gƣơm (sword, a coat of mail), săn bắn (war,
hunting, and love are as full of trouble as pleasure). Giải trí của ngƣời Anh
không đơn thuần dừng lại ở sự tiêu khiển mà còn là cách để luyện tập, thi thố
tài năng. Tiêu chuẩn của các cuộc chơi là chơi đẹp, đúng luật, không gian lận:
Fair play is a jewel. (Chơi đẹp là đồ trang sức quý giá)
Ngoài ra họ còn thích đọc sách:
-Literature is a good staff but a bad crutch. (Văn học là cây quyền trượng tốt nhưng là chiếc gậy tồi) -A great book is a great evil. (Quyển sách hay có sức mạnh khủng khiếp của quỷ)
hay viết thƣ (the pen, a letter), nghe nhạc (Music is the food of love - Âm nhạc
là nguồn sống của tình yêu), chơi bài (the ace of trumps, cards), nghỉ ngơi (a
rest),…
Tóm lại, những hình ảnh trên phản ánh quan niệm truyền thống về
cách ăn uống, giải trí gắn liền với nền văn hóa của ngƣời Việt và ngƣời Anh.
3.2.2.3. Kinh nghiệm lao động sản xuất
Ngƣời Việt Nam lao động chính là nông nghiệp, nên các SSTT
thƣờng xoay quanh các kinh nghiệm làm ruộng: làm ruộng không trâu, làm
giàu không thóc; làm ruộng có trâu làm dâu có chồng; lúa tốt vì phân, hòn
đất nỏ bằng giỏ phân,…hay kinh nghiệm trồng cây: uốn cây từ thuở còn non;
dâu năng hái, một cây mít bằng sào ruộng…hoặc kinh nghiệm về nghề mộc,
113
xây cất: bào, néo không mấu, nhà không móng như bóng không người…hay
nghề chèo đò trên sông rạch: Một nạm gió bằng một bó chèo, thuyền không
lái; thuyền mạnh về lái…Những kinh nghiệm này đều xuất phát từ các hoạt
động sản xuất thực tiễn của ngƣời Việt ở đồng bằng với hệ thống sông ngòi,
kênh rạch chằng chịt.
Đặc biệt trong các SSTT thuộc phạm vi khảo sát của luận văn,
ngƣời viết không thấy ngƣời Việt đề cập đến kinh nghiệm trong việc trao đổi,
mua bán. Có lẽ do với tính chất tĩnh tại của làng mạc Việt Nam, nền sản xuất
chủ yếu là tự cung tự cấp, ít có nhu cầu trao đổi, mua bán. “Mỗi làng, mỗi
nhà cố gắng tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình: mỗi nhà
có vườn rau, chuồng gà, ao cá tự đảm bảo nhu cầu về ăn; có bụi tre, rặng
xoan, gốc mít tự đảm bảo nhu cầu về ở” [67, tr. 196 - 197). Ngày xƣa, so với
nông nghiệp, thƣơng nghiệp Việt Nam kém phát triển và buôn bán không
đƣợc xem trọng: “Dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt”.
Với ngƣời Anh thì tình hình khác hẳn. Các SSTT phần lớn nói về
kinh nghiệm mua bán, trao đổi hàng hóa:
-A good bargain is a pick-purse. (Sự trả giá tốt là một tên móc túi) -Dear bought is the honey that is licked from the thorn. (Việc buôn bán ngọt ngào là mật trên gai nhọn) -Business is the salt of life. (Việc kinh doanh là muối của cuộc đời) -A useful trade is a mine of gold. (Sự buôn bán có ích là một mỏ vàng)
Có một trƣờng hợp nói về kinh nghiệm trồng lúa mạch:
When the sloe tree is as white as a sheet, sow your barley
whether it be dry or wet.
(Khi cây mận gai nở hoa trắng như tờ giấy, hãy gieo lúa
mạch của bạn dù nó khô hay ướt)
và một trƣờng hợp nói về kinh nghiệm xây dựng:
114
Building is a thief. (Xây dựng là một tên trộm)
Khác với ngƣời Việt, từ xa xƣa, nghề chăn nuôi du mục đã phổ biến
ở Anh. Khi đi từ nơi này sang nơi khác, ngƣời Anh nhận ra sự chênh lệch về
giá cả giữa các vùng, nên họ đã chuyển sang mua bán, kết hợp với chăn nuôi.
Khi hàng hóa trở nên dồi dào, lợi nhuận ngày càng tăng nhanh, các cƣ dân du
mục ở đây bỏ hẳn chăn nuôi mà chuyển sang thƣơng nghiệp. Các thƣơng
nhân này nhanh chóng trở thành lớp ngƣời đƣợc xã hội trọng vọng, kính nể vì
sự nhanh nhạy và tài trí thông minh của họ.
Tóm lại, những sự khác biệt về kinh nghiệm lao động sản xuất ở
trên đều do sự khác biệt về môi trƣờng sống và loại hình văn hóa của mỗi dân
tộc quy định.
3.3. Văn hóa tinh thần qua SSTT trong TN Việt và TN Anh
Việc nghiên cứu đối chiếu TN giữa hai nƣớc Anh – Việt là rất cần
thiết vì hai nƣớc thuộc hai truyền thống văn hóa khác nhau. Văn hóa châu Âu
dựa vào truyền thống văn hóa Địa Trung Hải, Hy Lạp, La Mã cổ, Thánh kinh
và Latinh trung cổ. Ngƣời Anh sống và trƣởng thành trong một truyền thống
tôn giáo đơn cực với hơn 1000 năm. Họ chỉ tin có một thƣợng đế. Quan niệm
của họ đơn thuần nhằm đề cao con ngƣời cá nhân, cá thể trong sự hơn thua
với cộng đồng. Khái niệm có tầm quan trọng tuyệt đối trong văn hóa phƣơng
Tây là “con người như một cá nhân”. Nói cách khác, ở phƣơng Tây, cá nhân
“một mình đứng trước đấng tạo hóa”. [76, tr. 177]
Truyền thống văn hóa phƣơng Đông thì dựa chủ yếu vào các
nguyên lý của tam giáo: Nho, Phật, Đạo. Trong đó, nổi bật lên là những quan
điểm về nhân sinh theo triết lý đa cực, trung dung. Quan niệm này không
nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa các cực mà là nơi gặp gỡ giữa các cực đoan,
hƣớng về sự hòa hợp.
115
Sự khác biệt về văn hóa tinh thần giữa ngƣời Việt và ngƣời Anh
đƣợc thể hiện rõ nhất qua các phong tục tập quán còn lƣu truyền lại, những
cảm quan về tâm linh, tôn giáo, cũng nhƣ tính cách và tƣ duy dân tộc. Do đó,
trong phần này, ngƣời viết sẽ triển khai đặc trƣng văn hóa tinh thần của mỗi
dân tộc theo trình tự: con ngƣời và đời sống xã hội, con ngƣời và đời sống
tinh thần.
3.3.1. Con người – đời sống xã hội
3.3.1.1. Quan hệ gia đình
Gia đình điển hình ở Việt Nam là gia đình mở rộng bao gồm cha mẹ,
con cái, dâu rể và thậm chí có cả những ngƣời thân thuộc. Với ngƣời Việt, gia
đình có vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của mỗi con ngƣời.
Trong 135 câu TN Việt có STTT thì đã có đến 51 câu có đề cập đến các mối
quan hệ trong gia đình.
Trong gia đình, vai trò của ngƣời cha vô cùng quan trọng. Ngƣời
cha che chở, bảo vệ cho các thành viên:
-Con có cha như nhà có nóc Con không cha như nòng nọc đứt đuôi. -Con không cha thì con trễ Cây không rễ thì cây hư. -Con giữ cha, gà giữ ổ.
Bên cạnh đó, ngƣời mẹ cũng có vai trò quan trọng không kém. Về
tài nuôi nấng, chăm sóc con cái thì ngƣời mẹ hơn hẳn ngƣời cha. Thiếu cha,
con cái vẫn có thể có cuộc sống đủ đầy, ngƣợc lại, thiếu mẹ thì phải chịu khổ
trăm bề:
-Con có mạ như thiên hạ có vua. -Con có mẹ như măng ấp bẹ.
Ngoài việc nuôi dƣỡng, ngƣời Việt còn rất quan tâm đến việc dạy dỗ
con cái. Quá trình giáo dục lí tƣởng nhất là từ khi đứa trẻ còn thơ bé:
116
Uốn cây từ thuở còn non Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.
Ngƣời Việt Nam xem con cái là biểu tƣợng của hạnh phúc trong thế
giới này và cả thế giới bên kia nữa, nên họ rất quan tâm đến việc đẻ con trai
đầu lòng. Trách nhiệm trói buộc cha mẹ và con cái với nhau. Cha mẹ yêu
thƣơng nuôi dạy con cái, con cái yêu thƣơng kính trọng cha mẹ và chăm sóc
cha mẹ khi già yếu:
-Con nhà có cố có ông Như cây có cội như sông có nguồn. -Mẹ già như chuối chín cây. -Con đàn như tre ấm bụi. -Có mẹ già bằng ba rào giậu.
Những ngƣời phụ nữ không thể sinh con sẽ bị thiên hạ đàm tiếu:
Gái có con như bồ hòn có rễ Gái không con như bè nghể (ngổ) trôi sông.
Còn anh chị em trong nhà thì nhƣờng nhịn, yêu thƣơng lẫn nhau:
-Anh em như chân tay.
-Chị em gái như cái nhân sâm
Về quan niệm hôn nhân, ngƣời Việt Nam coi hôn nhân là một nghĩa
vụ quan trọng và thiêng liêng để sinh con đẻ cái, nối dõi tông đƣờng. Trong
xã hội ngƣời Việt, việc lựa chọn bạn đời là vô cùng quan trọng, nó không phải
là vấn đề của cá nhân mà là vấn đề của hai bên cha mẹ, hai họ dựng vợ gả
chồng cho con cái. Tục lệ này xuất phát từ quyền lợi của tập thể, kéo theo sự
xác lập mối quan hệ của hai gia tộc. Do tính chất ổn định của làng xã Việt
Nam, ngƣời ta quan niệm chọn vợ chọn chồng phải chọn ngƣời cùng làng:
-Ruộng đầu chợ, vợ giữa làng. -Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng.
Khi lấy nhau, đôi trai gái phải nộp cho làng một khoảng lệ phí gọi là
“cheo” thì đám cƣới mới đƣợc xem là hợp pháp:
117
-Cưới vợ không cheo, tiền gieo xuống suối. -Cưới vợ không cheo như néo không mấu.
Khoản tiền cheo sẽ đƣợc dùng vào những việc chung của làng nhƣ
đắp đƣờng, lát gạch, xây chùa, sửa sang nơi thờ tự,… Tóm lại, lịch sử truyền
thống hôn nhân của Việt Nam luôn là lịch sử hôn nhân vì lợi ích của tập thể,
của cộng đồng.
Khi cƣới nhau rồi, việc sống chung giữa hai vợ chồng phải dựa trên
đạo bình đẳng, tƣơng thân và chung thuỷ. Sự hoà thuận giữa vợ chồng đạt
đƣợc thông qua sự nhƣờng nhịn lẫn nhau:
-Vợ chồng may rủi là duyên Vợ chồng hòa thuận là tiên trên đời.
Gia đình Việt Nam đƣợc thành lập trên cơ sở trách nhiệm, đồng
kham cộng khổ, chăm chỉ làm ăn, chung thủy trƣớc sau nhƣ một:
-Chồng cần vợ kiệm là tiên Ngông nghênh nhăng nhít là tiền bỏ đi. -Chồng như (đó) giỏ, vợ như hom. -Vợ chồng như đũa có đôi.
Ngƣời Việt không khuyến khích phụ nữ ở một mình, có đến bảy câu
SSTT nói về vấn đề này, chẳng hạn nhƣ:
-Gái lớn trong nhà như ma chửa cất.
-Gái có chồng như rồng có vây,
Gái không chồng như cối xay chết ngõng.
-Gái có chồng như chông như mác
Gái không chồng như rác như rơm.
Tóm lại, cấu trúc gia đình Việt Nam có hai lớp: nhà và họ, tứ đại
đồng đƣờng, tôn ti chặt chẽ. Chính vì nhiều thế hệ cùng sống chung dƣới một
mái nhà nên đôi khi những mâu thuẫn, xích mích vẫn thƣờng xảy ra. Các mối
quan hệ giữa mẹ chồng – nàng dâu, chị dâu - em chồng, ba mẹ vợ – con rể vô
118
cùng phức tạp, đƣợc ghi lại rõ nét trong các SSTT. Có tất cả 8 câu nói về vấn
đề này, tiêu biểu có thể kể đến các trƣờng hợp sau:
-Chị em dâu như bầu nước lã. -Bố chồng là lông cánh phượng/ Mẹ chồng là tượng mới tô/ Nàng
dâu là bồ nghe chửi.
-Bắt chấy cho mẹ chồng như bồ nông mò biển. -Con trai ở nhà vợ như chó nằm (chui) gầm chạn.
Trong đó nổi bật lên mâu thuẫn giữa nàng dâu và gia đình chồng,
chủ yếu là với mẹ chồng và em chồng. Họ vốn không cùng huyết thống lại
phải sống chung trong một gia đình với nhiều mâu thuẫn về quyền lợi vật chất
và tinh thần nên từ xƣa, ông bà ta đã rút ra kinh nghiệm: “Thật thà cũng thể
lái trâu/ Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng”.
Ngƣời Anh thì khác hẳn. Gia đình điển hình ở Anh là gia đình hạt
nhân, chỉ gồm cha mẹ và con cái. Ngƣời Anh không coi trọng việc đẻ con trai
hay con gái. Trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái có giới hạn và trách
nhiệm của con cái đối với cha mẹ càng có giới hạn.
Trong việc chọn bạn đời, ngƣời Anh thể hiện ý chí cá nhân, không
nghe theo ý kiến của ngƣời khác. Họ thích tự do chọn điều tốt hay xấu và tự
chịu trách nhiệm về hành động của riêng mình. Tuy nhiên, TN Anh khuyên
không nên cƣới ngƣời quá già:
A young maid married to an old man is like a new house thatched
with old straw.
(Cô gái trẻ lấy ông già giống nhƣ là ngôi nhà mới lợp bằng rơm cũ)
Họ lại có tiêu chuẩn an toàn tài chính trƣớc. Ngƣời vợ đẹp mà
không có của hồi môn thì bị ví nhƣ ngôi nhà không có đồ đạc bên trong (A
fair wife without fortune is like a house without furniture), còn với ngƣời đàn
ông thì:
A gentleman without an estate is like a pudding without suet.
119
(Quý ông không có tài sản giống như chiếc bánh pudding không có
lớp mỡ bao quanh)
Nhan sắc và đức hạnh của ngƣời phụ nữ luôn đƣợc đề cao, trân
trọng. Ngƣời phụ nữ chỉ có nhan sắc mà không có đức hạnh thì bị ví với rƣợu
nhạt:
A fair woman without virtue is like palled wine.
Gia đình là nơi ngƣời phụ nữ phát huy lợi thế của mình:
The wife is the key of the house.
(Người vợ là chìa khóa của ngôi nhà)
Phụ nữ Anh cũng đƣợc TN phản ánh là phù hợp với công việc gia
đình hơn là công việc xã hội, nhƣng cũng không bị buộc nhất thiết phải gắn
bó với công việc gia đình. TN Anh cũng cho thấy phụ nữ bị chế giễu về các
điểm yếu của họ, có đến 10 trƣờng hợp nói về vấn đề này, có thể kể ra một số
ví dụ nhƣ sau:
-Women are like wasps in their anger. (Phụ nữ giống như ong bắp cày trong cơn giận của họ.) -Women are as wavering as the wind. (Phụ nữ dao động như một cơn gió.) -A woman's tongue wags like a lamb's tail. (Lưỡi của người phụ nữ ve vẩy như cái đuôi cừu) -Two daughters and a back door are three arrant thieves. (Hai người con gái và 1 cái cửa sau là 3 tên trộm vĩ đại)
Nhìn chung, sự hình dung về hôn nhân của ngƣời Anh mang tính
thực dụng. Vợ chồng ngƣời Anh không bị ràng buộc bởi đạo nghĩa vợ chồng
nhƣ ngƣời Việt. Họ chỉ bị ràng buộc bởi tiêu chuẩn tình và tiền. Việc ly hôn,
tái giá đƣợc pháp luật và quần chúng chấp nhận. Chính lối sống tự do phóng
khoáng này mà ngƣời Anh hình dung về việc kết hôn nhƣ một cánh đồng đầy
cây tầm ma, là cái ổ khóa ràng buộc đời họ:
-Wedlock is a padlock. (Hôn nhân là ổ khóa)
120
-Love is a fair garden and marriage a field of nettles. (Tình yêu là một khu vườn đẹp còn hôn nhân là một cánh
đồng trồng đầy cây tầm ma)
hay là một điều may rủi:
-Marriage is a lottery. (Hôn nhân là tấm vé số)
Trái lại với những suy nghĩ bi quan về hôn nhân, ngƣời Anh đề
cao tình yêu say đắm và tƣ tƣởng tự do yêu đƣơng. Với họ, tình yêu là không
thể lí giải đƣợc, ngƣời đang yêu là những kẻ có những hành động khác
thƣờng, âm nhạc là môi trƣờng nuôi dƣỡng tình yêu:
-Hatred is blind, as well as love (Oán thù cũng mù nhƣ tình yêu) -Lovers are madmen. (Ngƣời đang yêu là những kẻ điên rồ) -Love is as strong as death. (Tình yêu có sức mạnh nhƣ cái chết)
Tình yêu của ngƣời Anh dựa trên sự tin tƣởng lẫn nhau, sự nghi
ngờ sẽ giết chết tình yêu: “Mistrust is an axe at the tree of love”.
Tóm lại, các mối quan hệ trong gia đình cũng nhƣ phong tục hôn
nhân của mỗi dân tộc thể hiện các đặc trƣng đƣợc quy định bởi truyền thống
văn hóa của đất nƣớc họ. Phép ứng xử trong gia đình và xã hội Việt Nam là
kính trên nhƣờng dƣới trong mọi quan hệ giao tiếp. Ở Anh, đạo Cơ Đốc vốn
đề cao sự bình đẳng giữa mọi ngƣời, bất kể tuổi tác, địa vị, học vấn trƣớc
Chúa, do đó mọi mối quan hệ dù là trong gia đình hay ngoài xã hội đều dựa
trên cơ sở bình đẳng. Việc đề cao con ngƣời cá nhân đã hình thành nên tƣ
tƣởng phóng khoáng, lối sống tự do ở ngƣời Anh, do đó mối quan hệ gia đình
và hôn nhân của ngƣời Anh rời rạc hơn, mang tính thực dụng hơn ngƣời Việt.
121
3.3.1.2. Quan hệ xã hội
Trong các mối quan hệ xã hội, ngƣời Việt chủ trƣơng sống hài hòa,
kính trên nhƣờng dƣới, tránh gây gổ, xích mích. Quan hệ giữa những ngƣời
thân tộc gắn bó chặt chẽ bằng sự trung thành, đoàn kết. Ngƣời Việt rất kính
trọng ngƣời già – biểu hiện của chữ hiếu đƣợc mở rộng và sự trân trọng tri
thức, kinh nghiệm:
Có mẹ già bằng ba rào giậu.
Điều này là do các cƣ dân nông nghiệp trồng lúa nƣớc phụ thuộc rất
nhiều vào tự nhiên, cần những ngƣời có kinh nghiệm, mà ngƣời càng già thì
càng có nhiều kinh nghiệm. Họ chính là kho tri thức và kinh nghiệm vô giá
của cộng đồng. Khi trong nhà có ngƣời già thì họ sẽ chỉ dẫn, che chở cho các
thành viên còn lại trƣớc mọi biến cố của cuộc sống.
Quan hệ xã hội của ngƣời Anh cũng dựa trên sự chân thật và sẵn
sàng giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, ngƣời lớn tuổi ở Anh không đƣợc coi trọng
bằng giới trẻ. Ngƣời Anh thƣờng gắn sự tồn tại của một con ngƣời với những
giá trị cụ thể. Ở mặt này, ngƣời già không còn tạo ra đƣợc giá trị vật chất nào
cho xã hội. Ngoài ra, các cƣ dân du mục vốn trọng sức mạnh, mà ngƣời già
thì nhƣ một cái giƣờng đầy xƣơng (“An old man is a bed full of bones”) hay
“một bệnh viện chứa đủ thứ loại bệnh”:
Old age is a hospital that takes in all diseases.
Về việc kết bạn, vốn là dân tộc hƣớng ngoại nên ngƣời Anh rất thích
kết bạn và luôn mong muốn duy trì tình bạn. Tình bạn cũng nhƣ cái cây cần
đƣợc tƣới nƣớc thƣờng xuyên:
Friendship is a plant which must be often watered.
Ngƣời bạn cũ chính là ngƣời bạn chân thành nhất:
The best mirror is an old friend.
122
(Tấm gương tốt nhất là một người bạn cũ)
Có bạn đi cùng thì con đƣờng sẽ ngắn hơn:
A merry companion is a wagon in the way. (Có người bạn đồng hành vui tính là có một chiếc xe ngựa
trên đường đi)
Sống mà không có bạn thì cuộc đời thật vô nghĩa:
-Life without a friend is death without a witness. (Sống mà không có bạn thì cũng giống như chết mà không có
ai bên cạnh.
Dị bản: -Life without a friend is a life without sun Cuộc sống không có bạn như cuộc đời vắng ánh dương)
Ngƣời Việt cũng rất trân trọng tình bạn, tuy nhiên trong phạm vi tƣ
liệu khảo sát mà ngƣời viết chọn, không thấy SSTT nào nói đến vấn đề này.
Về luật pháp, ngƣời Việt ủng hộ trách nhiệm của cá nhân đối với
luật pháp nhƣng dƣờng nhƣ họ không tin tƣởng vào bộ máy quan lại:
-Lễ vào quan như than vào lò. -Lính tuần là ao rượu. -Miệng quan trôn trẻ. -Ơn dân như hạt cơm dính mỡ. -Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ.
Mọi ngƣời bình dân Việt Nam đều muốn luật pháp phải công bằng,
vô tƣ, nhƣng thực tế họ đã không còn tin tƣởng nhiều vào việc hành xử pháp
luật của quan lại. Dù có pháp luật nhƣng chúng vẫn xem sức mạnh của đồng
tiền là lẽ phải, bao bất công oan trái đã xảy ra… Bọn quan lại, sai nha phần
lớn là lũ tham ô, ăn hối lộ, say xỉn, tìm mọi cách bóp méo sự thật để bóc lột
ngƣời dân. Ngƣời dân không thấy ích lợi gì khi đi kiện cáo, nên họ không
khuyến khích việc kiện tụng: “vô phúc đáo tụng đình”.
Ngƣời Anh cũng không mấy thiện cảm với các viên chức luật pháp,
họ ví von chúng nhƣ lũ cáo, còn ngƣời dân thƣờng là con ngỗng tội nghiệp:
123
-A client twixt his attorney and counsellor is like a goose twixt two
foxes.
(Một khách hàng ở giữa luật sư và người cố vấn pháp luật của mình
thì giống như con ngỗng ở giữa hai con cáo.)
-Women in state affairs are like monkeys in glass-shops. (Các nữ viên chức như con khỉ trong tủ kính các cửa hiệu)
Phê phán sự không kiên định, tham lam, ngu ngốc của luật pháp, TN
Anh có những liên tƣởng thú vị nhƣ sau:
-Law is an ass. (Luật pháp là một con lừa) -Law is a bottomless pit. (Pháp luật là cái hố không đáy) -Law is a lickpenny. (Luật pháp là tên móc túi)
Tuy nhiên, có một sự khác biệt giữa luật của ngƣời làm nông nghiệp
ở Việt Nam và luật của các quốc gia có nền văn hoá gốc du mục nhƣ nƣớc
Anh: “Người nông nghiệp Việt Nam có truyền thống sống thiên về tính cảm
nên ý thức pháp luật rất kém. Luật của phương Tây là luật pháp, còn luật của
ta là luật lệ. Luật chủ yếu chỉ tác động trong phạm vi những vấn đề rộng lớn
của quốc gia, còn dân chúng trong các làng xã thì vẫn sống theo lệ.” [67, tr.
211]. Chính vì thế, bọn quan lại ở Việt Nam càng dễ lợi dụng, bóc lột dân
chúng. Nhìn chung, ngƣời Việt từ xƣa đến nay đặc biệt không muốn dính
dáng với việc kiện tụng, không có mấy thiện cảm với luật pháp, nơi mà lẽ
công bằng chỉ nằm trong tay một số ít ngƣời có tiền của.
Trong các mối quan hệ xã hội khác, ngƣời Việt tỏ ra không thích
những kẻ nhậu nhẹt, hay say xỉn:
Nói với người say như vay không trả.
hay những ngƣời độc ác:
Dữ như tê giác, ác như đàn bà một mắt.
Họ cũng không tin tƣởng những ngƣời làm nghề bói toán:
124
Miệng bà đồng như lồng chim khướu.
Còn trong xã hội Anh, giới quý tộc không có năng lực bị xem là thứ
của cải lỗi thời:
-Nobility, without ability, is like a pudding wanting suet. (Nhà quý tộc không có năng lực giống như bánh pudding
cần có lớp mỡ bao quanh)
-Gentility is but ancient riches. (Dòng dõi quý tộc chỉ là thứ của cải lỗi thời) -Great birth is a very poor dish at table. (Dòng dõi là món ăn tệ trên bàn tiệc)
Bác sĩ là những ngƣời vô cùng thực dụng:
A physician is an angel when employed, but a devil when
one must pay him.
(Bác sĩ là thiên thần khi được mời đến khám bệnh, nhưng
là quỷ dữ khi ai đó trả tiền cho anh ta)
Quan điểm này hoàn toàn khác với ngƣời Việt. Ngƣời Việt có
truyền thống tôn trọng nghề dạy học và nghề y, với họ, lƣơng y nhƣ “từ mẫu”.
Ngoài ra, với bản tính trầm lặng, ngƣời Anh còn ghét những kẻ ba
hoa, nói nhiều:
-He that is a blab is a scab. (Người ba hoa như bệnh ghẻ) -Gossips are frogs, they drink and talk. (Chuyện tầm phào như lũ ếch, chúng uống say và nói) -Great talkers are like leaky pitchers, everything runs out
of them.
(Người nhiều chuyện như những cái bình bị rò rỉ, mọi thứ
chảy ra hết bên ngoài chúng)
-Brag is a good dog but dares not bite. (Sự khoác lác là một con chó tốt nhưng không dám cắn)
Đặc biệt là những kẻ xu nịnh, hay nói xấu ngƣời khác:
-The most deadly of wild beasts is a backbiter, of tame
ones a flatterer.
125
(Con quái vật hoang đã đáng chết nhất là kẻ nói xấu sau
lưng người khác, còn con quái vật được huấn luyện đáng chết là kẻ xu nịnh)
-As a wolf is like a dog, so is a flatterer like a friend. (Con sói nhìn thì giống con chó, cũng như kẻ xu nịnh nhìn
thì tưởng như một người bạn)
-A flatterer's throat is an open sepulchre. (Cổ họng của kẻ xu nịnh là nấm mộ đang mở)
Ngƣời Anh cũng ghét những kẻ lƣời biếng:
-An idle person is the devil's cushion. (Kẻ lười biếng là cái nệm của quỷ) -An idle brain is the devil's workshop. (Đầu óc lười nhác là phân xưởng của quỷ)
hay những kẻ làm nghề không đoan chính:
-A whore in a fine dress is like a clean entry to a dirty
house.
(Một cô gái điếm trong bộ quần áo đẹp cũng như một lối
vào sạch sẽ dẫn đến một căn nhà dơ bẩn)
-The liar and the murderer are children of the same
village.
(Kẻ nói dối và tên giết người là trẻ con của cùng một ngôi
làng)
-The receiver is as bad as the thief. (Người tàng trữ đồ trộm cắp cũng tệ như tên trộm)
hoặc tiêu xài một cách ngu ngốc:
Sailors get money like horses and spend it like asses. (Thủy thủ kiếm tiền như lũ ngựa và tiêu xài như con lừa)
Tóm lại, các câu SSTT trong TN Anh và TN Việt đều có nói về con
ngƣời và quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, nhƣng TN Anh hƣớng về
con ngƣời cá nhân, con ngƣời năng động trong sự đƣợc thua với cộng đồng.
Trong khi đó, TN Việt có thiên hƣớng phản ánh con ngƣời với thế cần điều
chỉnh cho phù hợp với các quan hệ xã hội. Vì ngƣời bình dân Việt Nam quan
niệm xã hội là một gia đình mở, nguyên tắc ứng xử vẫn là kính trên nhƣờng
dƣới, trọng hoà khí, tránh mất lòng ngƣời khác; còn ngƣời Anh quan niệm
126
mọi cá nhân trong xã hội đều đƣợc xem là cùng một đẳng cấp trong giao tiếp
và ứng xử, đều bình đẳng trƣớc ánh sáng và cát bụi.
3.3.2. Con người và đời sống tinh thần
3.3.2.1. Quan niệm về nhân sinh
SSTT trong TN Việt và Anh phản ánh rất đa dạng các quan niệm
khác nhau của mỗi dân tộc về nhiều khía cạnh trong cuộc sống con ngƣời.
Trƣớc hết, TN Việt cho thấy ngƣời bình dân rất quan tâm đến sự an
toàn thể xác và việc sống hài hòa với thế giới chung quanh:
-Ăn được ngủ được là tiên
Không ăn không ngủ là tiền bỏ đi.
-Một cái rắm bằng nắm thuốc tiêu, bằng liều thuốc gió,
bằng lọ thuốc tiên.
Một khi cơ thể có bệnh phải nhanh chóng chữa trị vì “Cứu bệnh như
cứu hỏa”. Ngƣời bình dân Anh cũng quan tâm đến vấn đề an toàn thể xác,
sức khỏe đối với họ là vàng bạc: “Health is great riches”. Họ còn đƣa ra
nhiều lời khuyên cụ thể để giữ sức khỏe nhƣ phải cƣời thƣờng xuyên, giữ tinh
thần sảng khoái, không phiền muộn:
-Laughter is the best medicine.
(Cười là liều thuốc tốt nhất)
-Mirth is the sugar of life.
(Sự vui vẻ là vị ngọt của cuộc đời)
không nên ra đứng ngoài gió:
The air of a window is as the stroke of a cross-bow.
(Gió lùa ngoài cửa sổ như cú đập của một cái ná)
Sau sức khỏe, mối bận tâm rất lớn đối với mỗi dân tộc là luôn luôn
phải tự xét mình để giữ đạo đức. Có nhiều SSTT xoay quanh các vấn đề đạo
đức nhƣ tốt – xấu, đẹp – xấu, thiện – ác, chân thật – giả dối, chăm chỉ – lƣời
127
biếng,… Tinh thần nổi bật trong quan niệm về nhân sinh qua SSTT của TN
Việt là sự hài hòa và tin tƣởng ở bản thân, biết tự lực cánh sinh, hạn chế ham
muốn, tránh những ƣớc mơ hão huyền. Còn tinh thần nổi bật trong quan niệm
về nhân sinh qua SSTT của TN Anh là đức tin vào thƣợng đế, biết giữ gìn đạo
đức, tránh xa tội lỗi.
Ở Việt Nam, từ ngàn xƣa, đạo làm ngƣời đối với họ là tự lực cánh
sinh, tức là phải tự nuôi lấy thân mình, không nhờ vả ai. Đó là quan niệm
nhân sinh của ngƣời bình dân, còn phƣơng thức thực hiện ý thức này của họ
là cần cù và nhẫn nại. Do đó, ngƣời Việt ghét nhất là những kẻ làm biếng, ăn
bám:
-Thấy việc như đĩ thấy cha
Thấy ăn lởn vởn như gà thấy ngô.
-Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.
Bởi vì họ quan niệm:
-Của như non, ăn mòn cũng hết.
-Của như kho, không lo cũng hết.
Chỉ có dựa vào đôi bàn tay của bản thân tạo ra của cải vật chất nuôi
sống bản thân và xã hội mới là phƣơng kế lâu bền nhất. Ngoài tinh thần tự lực,
ngƣời Việt còn rất trọng nghĩa khí:
Tiền là gạch, ngãi là vàng.
TN Việt ghét những kẻ “cạn lòng”, “bạc nghĩa”
-Đàn bà cạn lòng như đĩa
Đàn ông bạc nghĩa như vôi.
Với ngƣời Anh, về phƣơng diện đạo đức, họ cho rằng chỉ đức hạnh
mới là cái đẹp tồn tại vĩnh hằng:
Virtue is a jewel of great price.
(Đạo đức là trang sức vô cùng có giá trị.)
128
Ngƣời Anh hình dung lƣơng tâm trong sạch của con ngƣời nhƣ
những chiếc gối êm ái (A good conscience is a soft pillow); hoặc là những bữa
tiệc liên tục (A good conscience is a continual feast); hay là chiếc áo giáp tốt
nhất (A good conscience is like a coat of mail). Trong khi sự độc ác nhƣ một
tên bạo chúa (Cruelty is a tyrant that's always attended with fear) thì lƣơng
tâm trong sạch lại là vị thần có uy quyền tối cao (A good conscience is the
best divinity). Và chỉ những ai có đạo đức thì mới đƣợc hạnh phúc, vì:
Virtue and happiness are mother and daughter.
(Đạo đức và hạnh phúc là mẹ và con gái)
Bên cạnh đó, ngƣời Anh còn rất ghét sự gian dối, họ đối đãi với
nhau trên cơ sở chân thật, bởi vì họ tin rằng sự thật là con gái của Chúa:
“Truth is God's daughter”. Kẻ nào làm trái ý Chúa sẽ bị trừng phạt. Do đó, sự
chân thật đƣợc nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong TN Anh:
-Truth is a spectre that scares many.
(Sự thật là bóng ma dọa nhiều ngƣời)
-Plain dealing is a jewel.
(Sự chân thật là trang sức quý giá)
-An honest man's word is as good as his bond.
(Lời nói của ngƣời chân thật cũng quý nhƣ xƣơng tủy của
anh ta)
Về bản thân, cơ sở quyết định sự hành động của ngƣời Việt là trung
dung, hƣớng về hòa hợp, còn của ngƣời Anh là phân cực, hƣớng về hành
động nên SSTT trong TN Anh có đề cập đến một vấn đề mà SSTT trong TN
Việt không thấy xuất hiện. Đó là sự tranh chấp, giận dữ, kiện cáo:
-He that gives honour to his enemy, is like to an ass.
(Ngƣời nhƣờng danh dự cho kẻ thù của mình là một con
lừa)
-Revenge is a dish that can be eaten cold.
129
(Trả thù là một món ăn có thể để nguội)
Theo G.S Trần Ngọc Thêm, chính điều kiện tự nhiên và xã hội đã
sản sinh nền văn hóa gốc nông nghiệp của ngƣời Việt với những đặc trƣng âm
tính nhƣ: sống thì muốn yên ổn một chỗ, với thiên nhiên thì ƣa hòa hợp, với
con ngƣời và xã hội thì mềm dẻo, hiếu hòa, trọng nghĩa, bao dung, chín bỏ
làm mƣời,… [67, tr.105]. Từ đó, ta mới thấy câu TN so sánh “Chửa đánh
được người mặt đỏ như vang/ Đánh được người rồi mặt vàng như nghệ” của
ngƣời Việt vô cùng lí thú. Khi có mâu thuẫn thì ngƣời Việt cũng “đỏ mặt”
giận dữ, nhƣng khi lỡ tay đánh ngƣời rồi thì vô cùng lo sợ “mặt vàng như
nghệ”. Còn điều kiện tự nhiên và xã hội ở khu vực Tây Bắc thế giới mà điển
hình là nƣớc Anh đã sinh ra nền văn hóa gốc du mục với những đặc trƣng
dƣơng tính nhƣ sống thì ƣa xê dịch, với thiên nhiên thì có tham vọng chinh
phục, chế ngự, với con ngƣời và xã hội thì cứng rắn, hiếu thắng, rạch ròi, ƣa
bạo lực. Do đó, khi có mâu thuẫn, ngƣời Anh mong muốn giải quyết bằng vũ
lực và có tham vọng buộc đối phƣơng phải khuất phục hoàn toàn, nếu không
thì chẳng khác gì một con lừa.
Trong giao tiếp, ngƣời Việt khuyên nên nói năng dịu dàng, cân nhắc
cẩn thận trƣớc khi nói, sợ làm ngƣời khác mất lòng:
-Lời nói, gói vàng. -Một lời nói, một đọi máu. -Vàng sa xuống giếng khôn tìm Người sa lời nói như chim sổ lồng.
Dù khuyên mọi ngƣời giao tiếp tế nhị, khéo léo nhƣng ngƣời Việt
không đánh giá cao những ngƣời nói hay mà làm dở:
Nói thì như mây như gió Cho thì thằng mõ không xong.
130
TN Anh đặc biệt lại có khuynh hƣớng đề cao sự im lặng hơn là lời
nói. Điều này lặp đi lặp lại khá nhiều lần trong SSTT, thể hiện bản tính trầm
lặng của ngƣời Anh:
-Quietness is a great treasure. (Im lặng là kho báu vô giá) -Speech is silver, silence is golden. (Nói là bạc, im lặng là vàng) -Silence is a woman's best garment. (Im lặng là trang sức đẹp nhất của ngƣời phụ nữ)
Vốn không thích nói nhiều, ngƣời Anh đánh giá cao những ngƣời có
lời nói và việc làm đi đôi với nhau. Giống với ngƣời Việt, dân tộc Anh cũng
rất ghét những ngƣời ba hoa, nói nhiều làm ít hoặc không làm gì cả:
-He that is a blab is a scab. (Ngƣời ba hoa là bệnh ghẻ) -Gossips are frogs, they drink and talk. (Chuyện tầm phào là lũ ếch, chúng chỉ biết uống say và tán dóc) -Deeds are fruits, words are but leaves. (Việc làm là quả, lời nói chỉ là lá mà thôi.) -A man of words and not of deeds is like a garden full of weeds. (Ngƣời chỉ nói mà không làm giống nhƣ một khu vƣờn đầy cỏ
dại.)
Ngƣời Anh cũng không thích nói vòng vo hay nói xấu ngƣời khác,
vì họ tin rằng:
Curses, like chickens, come home to roost. (Những lời nguyền rủa cũng nhƣ lũ gà, sẽ quay về chuồng nhà
mình mà đậu)
Họ cũng rất xem trọng lời hứa, coi đó nhƣ món nợ nhất định phải trả:
“Promise is debt”.
Nguyễn Thanh Tùng khi khảo sát thành ngữ, TN Anh Việt cũng
nhận thấy trong việc giao tiếp, ngƣời Việt khuyên nên nói năng dịu dàng, cân
nhắc cẩn thận trƣớc khi nói. Ngƣời Anh có bản tính trầm lặng, khi giao tiếp
thì không thích vòng vo mà thích đi thẳng vào vấn đề ngay từ đầu. Việc phải
131
cân nhắc kĩ càng điều mình sắp nói làm ngƣời Anh có cảm giác không đƣợc
tự do, thoải mái bộc lộ suy nghĩ của bản thân. [77, tr. 183]
Về danh dự, ngƣời Việt rất coi trọng danh dự, việc bảo vệ danh dự
còn quý trọng hơn cả mạng sống vì đó không chỉ là danh dự của cá nhân mà
còn là danh dự của cả dòng họ:“Trâu chết để da, người ta chết để tiếng”.
Ngƣời Anh cũng coi trọng danh dự, uy tín:
-Fame is the perfume of heroic deeds. (Danh tiếng là hƣơng thơm của những hành động anh hùng) -Fame is a magnifying glass. (Danh tiếng là chiếc kính phóng đại) -Fame, like a river, is narrowest at its source and broadest afar
off.
(Danh tiếng nhƣ một con sông, hẹp nhất ở thƣợng nguồn và rộng
nhất ở phía hạ nguồn)
Nhƣng khác với ngƣời Việt, danh dự phải có lợi lộc đi kèm thì mới
đƣợc ngƣời Anh coi trọng. Nếu danh dự mà không có tiền bạc thì cũng chỉ
nhƣ chiếc nhẫn đeo trên ngón tay để khoe cho mọi ngƣời thấy mà thôi, chứ
không thể sử dụng, chẳng khác nào có tiếng mà không có miếng (Honour
without profit is a ring on the finger). Và một khi thanh danh mà bị mất thì
chẳng khác nào tấm kính quý giá bị vỡ, không bao giờ có thể hàn gắn lại đƣợc
nữa: “Credit lost is like a Venice-glass broken”.
Về trí tuệ, học vấn, ngƣời Việt rất xem trọng những ngƣời khôn
ngoan, hiểu biết:
- Người không học như ngọc không mài. - Người dốt như trông vào vách. - Hoa thơm ai chẳng nâng niu Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề. - Hoa thơm ai chẳng muốn đeo Người khôn ai chẳng nâng niu bên mình.
Ngƣời bình dân Anh cũng thấy đƣợc sức mạnh của kiến thức:
-Knowledge is power.
132
(Kiến thức là sức mạnh) -Learning is the eyes of the mind. (Học vấn là đôi mắt của trí tuệ) -Wit without learning is like a tree without fruit. (Thông minh mà không học hành thì nhƣ cái cây không có
trái)
-Learning in the breast of a bad man is as a sword in the
hand of a madman.
(Kiến thức trong đầu kẻ xấu thì cũng nhƣ thanh gƣơm
trong tay ngƣời điên)
-Zeal without knowledge is a runaway horse. (Nhiệt tình mà không có kiến thức là một con ngựa lồng
lên)
Nhƣng họ còn thấy một yếu tố cần thiết khác nữa là phải đem sự
học ứng dụng vào thực tế: “Knowledge is a treasure but practice is the key to
it” (Kiến thức là một kho báu nhƣng thực hành là chìa khóa để mở kho báu
đó)
Ngoài kiến thức, kĩ năng và sự tự tin cũng quan trọng không kém:
Skill and confidence are an unconquered army. (Kĩ năng và sự tự tin là đội quân bất khả chiến bại)
Đây chính là điểm khác biệt trong sự học của ngƣời Việt và ngƣời
Anh.
Về thời gian, phạm trù thời gian với ngƣời Anh quan trọng hơn với
ngƣời Việt do những khác biệt về điều kiện tự nhiên (địa lý – khí hậu) và xã
hội (lịch sử - kinh tế) quy định. Ngƣời Anh không thể ngồi đợi cỏ mọc để
nuôi gia súc, hơn nữa, họ phải chạy nhanh hơn các con thú mà họ muốn săn
bắt. Do đó, thời gian với các cƣ dân du mục thật sự là vàng bạc:
-Time is money. (Thời gian là tiền bạc) -Time is a file that wears and makes no noise. (Thời gian là tên láu cá không tạo ra tiếng động nào) -Life is but a span. (Đời ngƣời chỉ là một gang tay)
133
-March comes in like a lion and goes out like a lamb. (Tháng ba đến nhƣ sƣ tử và đi nhƣ cừu) -Life is a shadow. (Cuộc đời chỉ là một cái bóng.) -Every day of the life is a leaf in the history. (Mỗi ngày trong đời là một trang trong lịch sử.)
Ngƣời Anh yêu thích, mong chờ sự thay đổi:
A change is as good as a rest. (Sự thay đổi cũng tốt nhƣ một sự nghỉ ngơi)
Ngƣời Việt cũng cảm nhận đƣợc bƣớc đi của thời gian: “Mỗi năm
mỗi tuổi như đuổi xuân đi”. Nhƣng ngƣời Việt với nền văn hóa tĩnh, thời gian
không trở thành nỗi ám ảnh quá lớn với họ. SSTT của TN Việt chỉ có một câu
duy nhất nói về phạm trù thời gian trong khi TN Anh có một loạt câu nhƣ đã
trích dẫn ở trên.
Tóm lại, tuy cùng phản ảnh các mặt của đời sống cộng đồng nhƣng
TN Anh phản ánh nhiều hơn và rõ hơn xu hƣớng thiên về cuộc sống vật chất
thông qua cách xử thế thiết thực, nặng về hiệu lực kinh tế, công bằng, sòng
phẳng trong mọi quan hệ. Trong khi đó TN Việt Nam thiên về việc răn dạy,
chủ yếu hƣớng tới sự hòa hợp giữa thể xác và tinh thần, bao dung, mềm dẻo
trong ứng xử với mọi ngƣời.
3.3.2.2. Quan niệm về tôn giáo, tín ngưỡng
Về vấn đề tâm linh, theo Nguyễn Đức Dân, người Việt theo đạo
Phật. Đạo Cơ Đốc chỉ vào Việt Nam vài thế kỉ gần đây và vẫn chỉ chiếm một
bộ phận nhỏ. Vì vậy, những từ ngữ về đạo Phật xuất hiện rất nhiều trong TN
Việt Nam và biểu trưng cho nhiều ý nghĩa khác nhau mà những dân tộc khác
lại dùng hình ảnh khác [10]. Ngƣợc lại, ở Anh, đạo Cơ Đốc là chính thống và
phổ biến nên bóng dáng của tôn giáo này xuất hiện nhiều trong TN Anh.
134
Do đó, ta thấy lòng tin của ngƣời Việt vào Trời, Phật không khác gì
lòng tin của ngƣời bình dân Anh đối với Chúa, chỉ khác là ngƣời Việt không
đến nhà thờ để hành đạo hay cầu nguyện và cảm ơn Chúa trƣớc mỗi bữa ăn
mà lòng tin ấy đã hòa lẫn với lẽ sống, đạo hiếu của họ một cách tự nhiên hài
hòa.
Từ những năm đầu công nguyên, Phật giáo đã nhanh chóng lan rộng
trong nhân dân Việt Nam. Những ngƣời truyền bá đạo Phật thƣờng sống gần
gũi nhân dân, hàng ngày thuyết giáo cho nhân dân nghe những tƣ tƣởng từ bi
bác ái của nhà Phật. Truyền thống sẵn có của dân tộc Việt Nam đã dễ dàng
hòa quyện với giáo lí nhà Phật và tạo nên một chủ nghĩa nhân đạo tích cực
mang màu sắc Việt Nam, một nhân tố bền vững trong nhân sinh quan ngƣời
Việt. Trong SSTT của TN Việt, ta thấy còn lƣu lại một số dấu ấn của Phật
giáo.
Ngƣời bình dân Việt Nam quan niệm:
-Chồng già vợ trẻ là tiên Vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần. -Phải duyên thì dính như keo Trái duyên chổng chểnh như kèo đục vênh. -Vợ chồng may rủi là duyên Vợ chồng hòa thuận là tiên trên đời.
Chữ Duyên của nhà Phật nói lên toàn bộ mối tƣơng quan giữa mọi
ngƣời từ nhiều đời đến nay, bắt nguồn từ thuyết duyên khởi (nhân duyên sinh),
là một trong những giáo lí quan trọng nhất của đạo Phật. Thuyết này chỉ rõ là
mọi hiện tƣợng tâm lí và vật lí tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên
hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một
yếu tố khác, làm thành một vòng với mƣời hai yếu tố: “Nếu cái này tồn tại thì
cái kia hình thành. Cái này phát sinh thì cái kia phát sinh. Cái này không tồn
135
tại thì cái kia không hình thành. Cái này diệt thì cái kia diệt” (Thuyết duyên
khởi, nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/).
Ngƣời Việt rất hiểu đạo Phật, chữ “có duyên” hay “vô duyên”
thƣờng dùng trong đời sống hàng ngày của mọi ngƣời là do ảnh hƣởng Phật
giáo mà có. Đó là phần trời định dành cho mỗi ngƣời, về khả năng có mối
quan hệ, hòa hợp, gắn bó với ai đó trong cuộc đời. Chuyện vợ chồng phải tùy
thuộc vào duyên số. Nếu có duyên thì dù ở xa ngàn dặm cũng gặp nhau, còn
không có duyên dù đối diện trƣớc mặt cũng không thông cảm nhau đƣợc.
Ngƣời Việt khi thấy đôi nào thƣơng mến nhau thì cho là hai ngƣời đó có
duyên nợ với nhau. Dù muốn dù không chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, ai
có duyên với mình, mình mới có thể thân mến, ai không có duyên với mình,
dù gặp nhau hoài mình cũng không có chút cảm tình gì.
Bên cạnh đó, niềm tin của ngƣời Việt còn chịu ảnh hƣởng của Đạo
giáo. Cơ sở lí luận của nó là đạo gia – học thuyết do Lão Tử đề xƣớng và
Trang Tử hoàn thiện. Lão Tử cho rằng trƣớc khi trời đất đƣợc hình thành đã
có tồn tại một vật chất nguyên thuỷ hỗn độn chƣa phân tách, vật chất nguyên
thuỷ chính là căn nguyên hình thành vạn vật trong vũ trụ. Ông gọi vật chất
không biết tên này là “Đạo. “Đạo” sinh ra vạn vật nhƣng làm cho vật nào
thành ra vật ấy và tồn tại đƣợc trong vũ trụ là do “Đức”. Công lao của Lão Tử
là đã trình bày thành học thuyết những tƣ tƣởng của truyền thống văn hóa
nông nghiệp phƣơng Nam. “Đạo” chính là triết lí tôn trọng tự nhiên, còn
“Đức” chính là sự phạm trù hóa việc tự nhiên tồn tại theo luật âm dƣơng biến
đổi. Sau này đạo giáo phát triển và biển đổi thành các tôn giáo thờ thần tiên
với thuật phù chú, bói toán, gieo quẻ, đoán mộng.
Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Nó đã tìm thấy ở đây
những tín ngƣỡng tƣơng đồng đã có sẵn từ xa xƣa. Từ rất lâu, ngƣời Việt cổ
136
đã rất sùng bái ma thuật, phù phép. Họ tin rằng con ngƣời ta khi trải qua một
thời kỳ tu luyện nhất định thì sẽ có thể trƣờng sinh bất tử, có nhiều phép lạ và
trở thành thần tiên. Thần tiên là những nhân vật huyền thoại với đẹp khác
thƣờng, có nhiều phép nhiệm màu và có cuộc sống rất yên vui, sung sƣớng.
Nơi họ ở là thế giới của sự bất tử và hạnh phúc vĩnh cửu. Do đó, ngƣời bình
dân Việt Nam khi nghĩ đến cái đẹp, cái thiện, hay sự sung sƣớng hạnh phúc
liền liên tƣởng đến các vị thần tiên, đến thế giới của thần tiên:
-Đẹp như tiên lo phiền cũng xấu. -Ăn được ngủ được là tiên. -Vợ chồng hòa thuận là tiên trên đời. -Một cái rắm bằng nắm thuốc tiêu, bằng liều thuốc gió,
bằng lọ thuốc tiên.
- Chồng già vợ trẻ là tiên.
Ngoài ra, SSTT của ngƣời Việt còn đề cập đến phong tục tang ma:
Cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống.
Câu trên nhấn mạnh tầm quan trọng của rau đối với bữa ăn ngƣời Việt,
cũng nhƣ sự không thể thiếu vắng kèn trống trong phong tục tang ma của họ.
Tập tục này bắt nguồn từ tục nhảy múa tiễn đƣa ngƣời chết của ngƣời Việt cổ
mà ngày nay tại một số vùng núi sâu vẫn còn. Ngƣời Việt Nam quan niệm
rằng sống gửi thác về (sinh kí tử quy), chết là trở về với tổ tiên bên kia thế
giới, nên họ rất bình tĩnh khi đối diện với cái chết. Trong đám tang, nhiều gia
đình thƣờng mời đội kèn đến đánh trống, thổi sáo, kéo đàn gọi là “Đội kèn
giải” để đệm cho con cháu khóc mỗi khi có ngƣời tới phúng viếng. Các nhà
khá giả thì càng không để thiếu nghi thức này. Họ còn thuê ngƣời khóc mƣớn
cho tăng vẻ thƣơng nhớ, sầu thảm. Khi có ngƣời đến phúng viếng chia buồn,
đám sẽ nổi nhạc, vừa trống vừa kèn, ngân nga kể lể, âm điệu lúc lên bổng
xuống trầm thể hiện sự thê lƣơng thật não lòng, ai nghe cũng rƣng rƣng xúc
động. Nhà đám nào không có đội kèn giải thì xem nhƣ hiu quạnh lắm.
137
Còn ở Anh, đời sống tinh thần và trí tuệ của họ chịu ảnh hƣởng lâu
dài và sâu sắc của Cơ Đốc giáo, do đó, so sánh tu từ trong TN Anh xuất hiện
nhiều hình ảnh của đạo Cơ Đốc: devil (quỷ), monk (thầy tu), cloister (tu viện),
church (nhà thờ), Satan (quỷ Satan), God (chúa), angel (thiên thần), saints
(các vị thánh), pilgrimage (cuộc hành hương), chapel (nhà nguyện), devotion
(sự cầu nguyện), divinity (thần thánh), hell (địa ngục), paradise (thiên đường),
purgatory (luyện ngục). Trƣớc kia cũng nhƣ hiện nay, Cơ Đốc giáo vẫn là
một bộ phận cấu thành lớn nhất trong văn hóa Anh. Dù là một ngƣời vô thần
thì ngƣời Anh vẫn chịu ảnh hƣởng của tƣ tƣởng và văn hóa Cơ Đốc giáo. Lịch
sử đã chứng minh rằng Cơ Đốc giáo ra đời nhằm chống lại sự bất công và tàn
bạo của xã hội nô lệ. Chúa Giêsu xuất hiện nhƣ một đấng cứu thế, đem lại
tình thƣơng và lòng hy vọng cho những con ngƣời đau khổ, bị bạc đãi, bị coi
thƣờng trong xã hội đó.
Trong TN Anh, nhà thờ là nơi dựa trên yếu tố tinh thần để giáo dục
đạo đức theo một niềm tin nhất định, đóng vai trò nhƣ là một trung tâm thuyết
giáo, nơi hành lễ, cầu nguyện của giáo dân, nơi tổ chức lễ tang, truy điệu, cầu
hồn cho những ngƣời đã khuất. Máu của những ngƣời chết vì đạo đƣợc ví nhƣ
hạt giống góp phần xây dựng nên nơi linh thiêng này:
The blood of the martyrs is the seed of the church.
Phạm vi hoạt động của các tu sĩ là trong nhà thờ, khi ra khỏi nhà thờ,
họ nhƣ cá ra khỏi mặt nƣớc:
A monk out of his cloister is like a fish out of water.
Các tín đồ của Cơ Đốc giáo rất ngoan đạo. Những ngƣời không có
đạo bị ví nhƣ con ngựa không có cƣơng:
A man without religion is like a horse without a bridle.
Với ngƣời Anh, giáo lí Cơ Đốc đã có tác động mạnh vào việc hình
thành nhân sinh quan của dân tộc. Kinh Tân ƣớc và Cựu ƣớc viết về lòng
138
nhân ái, thƣơng ngƣời qua những lời nói và việc làm của Giêsu. Giêsu dạy
con ngƣời phải sống trong sạch, chung thủy, không tham lam, không trộm cắp,
không dối trá,…Những kẻ làm việc xấu sẽ chết một cách đau đớn nhƣ một
con quái vật, không đƣợc lên thiên đƣờng:
He dies like a beast who has done no good while he lived.
Còn những ngƣời có lƣơng tâm trong sáng thì sẽ sống an lành hạnh
phúc chẳng khác các vị thánh:
A good conscience is the best divinity.
Ngƣời Anh ghét sự dối trá bởi sự thật chính là “con gái của Chúa”:
Truth is God's daughter.
Giáo lí của đạo Cơ Đốc khuyên ngƣời ta hãy tin vào thƣợng đế, hy
vọng và tìm kiếm một tƣơng lai tốt đẹp hơn, bởi đời ngƣời chỉ là một cuộc
hành hƣơng (Life is a pilgrimage), cuộc sống ở thiên đƣờng mới là vĩnh cửu.
Do đó, khi sống, con ngƣời phải nhân từ với chính bản thân và đồng loại.
Ngƣời Anh tin tuyệt đối vào sự phán xét của Chúa, mọi việc do
Chúa định đoạt. Nguyễn Văn Mƣời khi khảo sát cả kho tàng TN Anh cũng
không thấy câu nào thể hiện khả năng làm chủ số mệnh của ngƣời Anh [41, tr.
98]. Còn quan điểm của ngƣời bình dân Việt Nam là chấp nhận số mệnh
nhƣng không nản lòng, vẫn tin là con ngƣời có thể làm chủ đƣợc số mệnh.
Ngƣời Việt tin vào sự phán xét của Trời, Phật nhƣng đôi khi cũng nghi ngờ sự
phán xét ấy. Ngƣời Việt cũng tin là có thể thắng Trời.
SSTT trong TN Anh còn xuất hiện nhiều hình ảnh ma, quỷ (devil).
Hình ảnh này thể hiện những quan niệm văn hóa và cảm nhận rất khác nhau
của hai dân tộc Việt, Anh.
Trong SSTT của TN Việt, hình ảnh ma quỷ là đại diện cho cái xấu,
cái ác, mang ý nghĩa tiêu cực:
Xấu như ma vinh hoa cũng đẹp.
139
Dân gian dùng hình ảnh này khi muốn nguyền rủa ai đó; chê ai đó
xấu xí; muốn nói ai đó tính tình hung dữ, nóng nảy; muốn nói ai độc ác, nham
hiểm; …Nói chung, hình ảnh quỷ trong tiềm thức của ngƣời Việt gắn liền với
sự xấu xí, độc ác, nham hiểm, phá hoại sự bình yên trong đời sống của con
ngƣời. Từ xƣa, ngƣời ta đã có tục trồng cây nêu trƣớc sân vào ngày Tết để
xua đuổi quỷ.
Còn trong SSTT của TN Anh, hình ảnh ma quỷ (devil) mang cả ý
nghĩa tiêu cực và trung hòa. Xét ở mặt tiêu cực, ma quỷ tƣợng trƣng cho cái
ác, cái xấu, tội lỗi:
-Wickedness with beauty is the devil's hook baited. (Sự độc ác với cái đẹp là mồi câu của quỷ) -Cards are the devil's books. (Bài bạc là sách vở của quỷ) -A physician is an angel when employed, but a devil when
one must pay him.
(Bác sĩ là thiên thần khi được mời đến, nhưng là quỷ sứ
khi ai đó phải trả tiền cho ông ta)
Ngoài ra, hình ảnh ma quỷ trong SSTT của TN Anh còn đƣợc dùng
với ý nghĩa trung hòa, dùng để chỉ những ngƣời nghịch ngợm hay nhằm diễn
tả sự thần tình, sức mạnh của quỷ:
A woman is flax, man is fire, the devil comes and blows the
bellows.
(Phụ nữ là những sợi lanh, đàn ông là lửa, một con quỷ
đến và nghịch ngợm thổi vào ống bể.)
Trong truyện cổ dân gian của ngƣời Anh thậm chí còn có cả những
con quỷ hiền, hay giúp đỡ ngƣời, chẳng hạn con quỷ ở trại Phenđơn “chẳng
hại ai bao giờ”, “trừ khi có ai trêu chọc chúng”, khi “ông chủ có việc gì cấp
bách như xay lúa, giặt giũ, làm vườn, quỷ đều giúp ông chu đáo” [62, tr. 525
– 526]. Nửa đêm nó còn đi mời thầy thuốc về chữa bệnh cho bà chủ. Điều này
hoàn toàn khác với TN Việt.
140
*****
Tóm lại, khi khảo sát SSTT của TN Việt và TN Anh ở góc độ văn
hóa, ngƣời viết rút ra đƣợc một số kết luận nhƣ sau:
Về văn hóa vật chất, trong mối quan hệ với tự nhiên, ngƣời Việt
quan tâm đến vấn đề thời tiết hơn ngƣời Anh. Để sản xuất nông nghiệp, ngƣời
Việt nhận thấy “nƣớc” là thành tố quan trọng hàng đầu, nên luôn cầu trời phật
sao cho “mƣa thuận gió hòa”. Còn ngƣời Anh với lối sống du cƣ nay đây mai
đó ít phụ thuộc vào thiên nhiên nên dẫn đến tâm lí xem nhẹ thời tiết.
Về hệ động thực vật, trong khi ngƣời Việt quan tâm đến hệ thực vật
ở vùng sông nƣớc với khí hậu nóng ẩm thì ngƣời Anh quan tâm đến hệ thực
vật vùng ôn đới với khí hậu lạnh và khô; trong khi ngƣời Việt quan tâm đến
gia cầm, chim chóc và các con vật gắn với việc đồng áng thì ngƣời Anh quan
tâm đến đàn gia súc và các con vật săn bắt.
Khi nói về các bộ phận cơ thể ngƣời, ngƣời Việt hay nói đến chân,
tay, mặt, bụng, lòng, ruột,…, xem các bộ phận lòng, dạ, ruột là cơ sở xuất
phát của cảm giác. Ngƣời Anh nói đến miệng, lưỡi, mắt, tim, xương,…, trong
đó, tim thể hiện tình cảm cảm xúc của con ngƣời, miệng lƣỡi là thứ vũ khí vô
cùng sắc bén trong giao tiếp.
Các vật thể nhân tạo đƣợc đề cập đến trong TN Việt là sản phẩm
của nền nông nghiệp lúa nƣớc, từ công cụ lao động; phƣơng tiện di chuyển;
dụng cụ nấu nƣớng; cho đến của để dành. Ngƣời Anh với phƣơng thức sản
xuất chính là chăn nuôi, săn bắn và thƣơng mại thƣờng đề cập đến vũ khí, cái
nỏ, thanh gươm để săn bắn và chiến đấu với kẻ thù; xe ngựa để vận chuyển
hàng hóa; và đe, búa để rèn kim loại. Của để dành của họ đặc biệt phong phú
và có giá trị.
Về ẩm thực và giải trí, cƣ dân các miền có nền văn hoá gốc du mục
nhƣ ngƣời Anh thì thiên về ăn lúa mì, thịt và các sản phẩm từ thịt, còn cơ cấu
141
bữa ăn của ngƣời Việt thì lại bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền thống văn hoá
nông nghiệp lúa nƣớc – thiên về thực vật (cơm, rau, cá). Khi rảnh rỗi, ngƣời
Việt thích chơi cờ và xem rối nƣớc, ngƣời Anh thì thích giải trí bằng cách
cƣỡi ngựa, đấu gƣơm, săn bắn, nghe nhạc,…
Về kinh nghiệm lao động sản xuất, ngƣời Việt có nhiều kinh nghiệm
trong việc làm ruộng, trồng trọt, nghề mộc, chèo đò. Ngƣời Anh thì đặc biệt
rất giàu kinh nghiệm trong việc mua bán, trao đổi hàng hóa.
Về văn hóa tinh thần, trong các mối quan hệ gia đình, gia đình Việt
Nam là gia đình mở rộng gồm cha mẹ, ông bà, con cháu, dâu rể,…cùng chung
sống trên cơ sở yêu thƣơng, nhƣờng nhịn lẫn nhau. Trách nhiệm, bổn phận
trói buộc mọi ngƣời lại với nhau. Còn gia đình điển hình của ngƣời Anh là gia
đình hạt nhân, mỗi thành viên có quyền tự do và phải chịu trách nhiệm về
hành động của riêng mình. Họ ca ngợi tình yêu nhƣng lại không tin tƣởng ở
hôn nhân, việc ly hôn đƣợc pháp luật và dƣ luận thừa nhận.
Trong các mối quan hệ xã hội, ngƣời Việt chủ trƣơng sống hài hòa,
tránh đụng chạm, xích mích. TN Anh hƣớng về con ngƣời cá nhân, con ngƣời
năng động trong sự đƣợc thua với cộng đồng. Ngƣời Việt có truyền thống tôn
trọng ngƣời lớn tuổi. Ngƣời Anh trọng quan hệ bạn bè. Với luật pháp, ngƣời
Việt và ngƣời Anh đều không mấy tin tƣởng. Trong các mối quan hệ khác,
ngƣời Việt không có thiện cảm với những kẻ say xỉn, độc ác, gian dối. Ngƣời
Anh xem thƣờng giới quý tộc không có năng lực, những kẻ ba hoa, xu nịnh,
lƣời biếng, làm nghề không đoan chính,…
Về các quan niệm sống, hai dân tộc đều chú ý đến sức khỏe, an toàn
của thể xác và việc giữ đạo đức. Tuy cùng phản ảnh các mặt của đời sống
cộng đồng nhƣng TN Anh phản ánh nhiều hơn và rõ hơn xu hƣớng thiên về
cuộc sống vật chất thông qua cách xử thế thiết thực, nặng về hiệu lực kinh tế,
công bằng, sòng phẳng; còn ngƣời Việt thiên về việc răn dạy, chủ yếu hƣớng
142
tới sự hòa hợp giữa thể xác và tinh thần, bao dung, mềm dẻo trong ứng xử với
mọi ngƣời.
Về tôn giáo tín ngƣỡng, các SSTT của ngƣời Việt còn lƣu lại nhiều
dấu ấn của Phật giáo, Đạo giáo kết hợp với các tín ngƣỡng cổ truyền của
ngƣời Việt cổ. SSTT trong TN Anh thể hiện lòng tin của ngƣời dân vào Cơ
Đốc giáo, mọi việc đều do chúa phán xét, định đoạt.
Nhƣ vậy, tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã trình bày ở chƣơng III,
chúng ta có thể hình dung một bức tranh toàn cảnh về văn hóa vật chất và văn
hóa tinh thần của mỗi dân tộc đƣợc thể hiện sinh động qua SSTT trong TN
Việt và TN Anh.
143
Phần thứ ba: KẾT LUẬN
Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian nổi tiếng V.P. Anhikin đã viết: “Nhà
sử học tìm trong TN những chứng tích xa xưa. Luật sư xem TN như bộ luật
của nhân dân, nhà dân tộc học tìm lại ở đó những phong tục tập quán lâu đời
đã mất. Triết gia qua TN nghiệm hiểu hệ tư tưởng dân gian” [3, tr. 5]. Quả
thật với tƣ cách là kho tàng lƣu giữ những kinh nghiệm, tri thức cuộc sống,
phản ánh ý thức, phong tục tập quán của dân tộc, TN hiển nhiên là nguồn tƣ
liệu quý giá và là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và
nhân văn, trong đó có văn học. Vận dụng một khái niệm của phong cách học
là SSTT vào việc nghiên cứu TN, trong luận văn này, chúng tôi đã trình bày
các đặc điểm của SSTT trong TN Việt và TN Anh từ góc độ ngôn ngữ học và
văn hóa học. Có thể tóm lƣợc lại những kết quả nghiên cứu nhƣ sau:
Trong chƣơng I, ngƣời viết đã trình bày khái quát quan niệm của các
nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học về TN để tìm cho mình một định
nghĩa nhất quán trong quá trình làm việc. Đó “là sản phẩm của sự nhận thức
của nhân dân về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan, chứa đựng
và phản ánh tri thức của nhân dân”, có chức năng “làm phong phú thêm
những kinh nghiệm sống của con người, từ đó xác định cho con người những
phương châm xử thế phù hợp”. Ở bình diện ngôn ngữ, TN “là một đơn vị
thông báo”, “đơn vị câu độc lập”, “là loại câu cố định về thành phần và cấu
trúc, bền vững về ngữ nghĩa”, nội dung của TN “được diễn đạt thông qua
những tư tưởng khẳng định hoặc phủ định của các phán đoán”, “được tái
hiện dưới dạng làm sẵn khi được sử dụng trong lời nói”, “TN thoạt tiên và
trước hết thuộc ngôn ngữ nói”. [12, tr.119, 158-159]
Còn SSTT (còn đƣợc gọi là so sánh hình ảnh) là một sự so sánh
không đồng loại, không cùng một phạm trù chung, miễn là có một nét tƣơng
144
đồng nào đó về mặt nhận thức hay tâm lí (thí dụ: con mắt và ngôi sao, trái tim
đau thƣơng và một cái cốc vỡ). Đó là một sự so sánh có giá trị hình tƣợng và
giá trị biểu cảm.
SSTT có cấu trúc gồm bốn yếu tố: yếu tố đƣợc/ bị so sánh (A),
CSSS, từ so sánh, yếu tố so sánh (B). của SSTT. Thủ pháp nghệ thuật này có
tác dụng cụ thể hóa những vấn đề trừu tƣợng; cung cấp thêm thông tin về đặc
trƣng văn hóa, quan niệm thẩm mĩ và trình độ nhận thức của ngƣời sáng tạo;
thể hiện thái độ bình giá rõ rệt của nhân dân. Ngƣời viết cũng trình bày hƣớng
tiếp cận SSTT ở các chƣơng sau. Chƣơng I là chƣơng cơ sở, đóng vai trò là
nền tảng của luận văn.
Ở chƣơng II, ngƣời Việt có khuynh hƣớng sử dụng SSTT nhiều hơn
ngƣời Anh. Tổng số SSTT của ngƣời Việt là 135/ 4206 câu, chiếm 3.2 %,
tổng số SSTT trong TN Anh là 178/ 6708 câu, chiếm tỉ lệ 2.65%. Nhƣ vậy,
TN của ngƣời Việt giàu sắc độ tu từ hơn.
Trong yếu tố đƣợc/ bị SSTT của TN Việt và Anh, đề tài quan hệ gia
đình và thời tiết đƣợc ngƣời Việt quan tâm hơn. Ngƣời Anh thì chú ý đến
quan hệ xã hội và vấn đề tôn giáo hơn. Về cấu tạo, động từ/ động ngữ và tính
từ/ tính ngữ không xuất hiện trong yếu tố A của SSTT trong TN Anh, ngƣời
Việt thì chuộng sử dụng kết cấu chủ - vị ở vị trí này. Về đặc điểm, toàn bộ
gánh nặng ngữ nghĩa của SSTT trong TN Anh nằm ở yếu tố A, vấn đề quan
trọng nhất luôn đƣợc đƣa ra trƣớc, không có trƣờng hợp ví von, đƣa đẩy. Còn
ở TN Việt, tùy theo hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà A hay B đƣợc nhấn mạnh
hơn. TN Việt không có lối so sánh nhiều A – 1 B nhằm khái quát hóa sự
giống nhau giữa các sự vật hiện tƣợng nhƣ TN Anh.
Về CSSS, ngƣời Việt và ngƣời Anh đều chuộng lối nói ngắn gọn,
hàm súc, khuyết yếu tố CSSS. Việc giấu đi CSSS thể hiện tinh thần dân chủ
145
trong việc tiếp nhận các SSTT của hai dân tộc, chừa khoảng trống cho ngƣời
đọc suy nghĩ, liên tƣởng. Trong một số ít mô hình so sánh ở dạng đầy đủ còn
lại, CSSS trong TN Việt thể hiện lối tƣ duy tĩnh tại của các cƣ dân làm nông
nghiệp; còn CSSS trong TN Anh thể hiện lối tƣ duy động, luôn nhìn sự vật
hiện tƣợng luôn trong trạng thái vận động, thay đổi.
Từ so sánh chuyên dụng của TN Việt là “như”, của TN Anh là động
từ “to be”. Trong TN Việt, các từ so sánh song tiết không thấy xuất hiện, có
nhiều trƣờng hợp không có từ thể hiện quan hệ so sánh. Khác với TN Việt,
SSTT trong TN Anh nhất định phải có từ thể hiện quan hệ so sánh.
Ở yếu tố B, khi phân loại theo đề tài, ngƣời Việt nói nhiều nhất đến
các vật thể nhân tạo, động thực vật; còn ngƣời Anh đề cập nhiều nhất đến vật
thể nhân tạo, quan niệm về tôn giáo tín ngưỡng và quan hệ xã hội. Trong đề
tài vật thể nhân tạo, ngƣời Việt hay đề cập đến các vật dụng hàng ngày trong
đời sống nông nghiệp còn ngƣời Anh nhắc nhiều đến tiền bạc, của cải có giá
trị. Về cấu tạo, cũng giống nhƣ ở yếu tố A, động từ/ động ngữ, tính từ/ tính
ngữ không xuất hiện trong yếu tố B của SSTT trong TN Anh vì theo quy tắc
của tiếng Anh, chúng không thể đứng độc lập để tạo thành phần câu. Về đặc
điểm, hình ảnh so sánh ở yếu tố B trong TN Việt phong phú hơn TN Anh, ít
có sự lặp lại nhƣ TN Anh. Việc sử dụng hình ảnh ở B thể hiện rõ thái độ, tình
cảm của hai dân tộc: khi thì đồng tình, ngợi ca, khi thì mỉa mai, bỡn cợt,…
SSTT trong TN Việt cũng giàu nhạc tính hơn TN Anh với sự xuất hiện của
vần và nhịp.
Ở chƣơng III, về văn hóa vật chất, trong mối quan hệ với tự nhiên,
ngƣời Việt quan tâm đến vấn đề thời tiết hơn ngƣời Anh, các cƣ dân nông
nghiệp nhƣ ngƣời Việt có nhu cầu tính toán thời tiết để trồng trọt cao hơn
nhiều so với cƣ dân du mục nhƣ ngƣời Anh. Đối với ngƣời Việt, ruộng đất là
146
tài sản vô giá. Để sản xuất nông nghiệp, ngƣời Việt nhận thấy “nƣớc” là thành
tố quan trọng hàng đầu, nên luôn cầu trời phật sao cho “mƣa thuận gió hòa”.
Còn ngƣời Anh với lối sống du cƣ nay đây mai đó ít phụ thuộc vào thiên
nhiên nên dẫn đến tâm lí xem nhẹ thời tiết.
Về hệ động thực vật, trong khi ngƣời Việt quan tâm đến hệ thực vật
ƣớt ở vùng sông nƣớc thì ngƣời Anh quan tâm đến hệ thực vật khô vùng ôn
đới; trong khi ngƣời Việt quan tâm đến gia cầm, chim chóc và các con vật gắn
với việc đồng áng thì ngƣời Anh quan tâm đến đàn gia súc (cừu), các con vật
săn bắt (cáo, sói, sƣ tử) và phƣơng tiện săn bắt, chuyên chở hàng hóa (chó và
ngựa).
Khi nói về các bộ phận cơ thể ngƣời, ngƣời Việt hay nói đến chân,
tay, mặt, bụng, lòng, ruột,…, xem các bộ phận lòng, dạ, ruột là cơ sở xuất
phát của cảm giác. Ngƣời Anh nói đến miệng, lưỡi, mắt, tim, xương,…, trong
đó, tim thể hiện tình cảm cảm xúc của con ngƣời, miệng lưỡi là thứ vũ khí vô
cùng sắc bén trong giao tiếp.
Các vật thể nhân tạo đƣợc đề cập đến trong TN Việt là sản phẩm
của nền nông nghiệp lúa nƣớc, từ công cụ lao động:“cối xay, chổi, cưa, giỏ,
hom, cái nơm, rợ, …”; phƣơng tiện di chuyển: thuyền, bè, xe; dụng cụ nấu
nƣớng: đĩa, đũa, nồi đồng, cơi đựng trầu, bồ (lúa), than; cho đến của để dành:
thóc gạo. Ngƣời Anh với phƣơng thức sản xuất chính là chăn nuôi, săn bắn và
thƣơng mại thƣờng đề cập đến vũ khí, cái nỏ, thanh gươm để săn bắn và chiến
đấu với kẻ thù; xe ngựa để vận chuyển hàng hóa; và đe, búa để rèn kim loại.
Của để dành của họ đặc biệt phong phú và có giá trị.
Về ẩm thực và giải trí, cƣ dân các miền có nền văn hoá gốc du mục
nhƣ ngƣời Anh thì thiên về ăn thịt (thịt, bơ, mỡ, sữa, bánh mì), còn cơ cấu
bữa ăn của ngƣời Việt thì lại bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền thống văn hoá
nông nghiệp lúa nƣớc – thiên về thực vật (cơm, rau, cá). Khi rảnh rỗi, ngƣời
147
Việt thích chơi cờ và xem rối nƣớc, ngƣời Anh thì thích giải trí bằng cách
cƣỡi ngựa, đấu gƣơm, săn bắn, viết thƣ, nghe, chơi bài,…
Về kinh nghiệm lao động sản xuất, ngƣời Việt có nhiều kinh nghiệm
trong việc làm ruộng, trồng trọt, nghề mộc, chèo đò. Ngƣời Anh thì đặc biệt
rất giàu kinh nghiệm trong việc mua bán, trao đổi hàng hóa.
Về văn hóa tinh thần, trong các mối quan hệ gia đình, gia đình Việt
Nam là gia đình mở rộng gồm cha mẹ, ông bà, con cháu, dâu rể,…cùng chung
sống trên cơ sở yêu thƣơng, nhƣờng nhịn lẫn nhau. Trách nhiệm, bổn phận
trói buộc mọi ngƣời lại với nhau. Còn gia đình điển hình của ngƣời Anh là gia
đình hạt nhân, mỗi thành viên có quyền tự do và phải chịu trách nhiệm về
hành động của riêng mình. Họ ca ngợi tình yêu nhƣng lại không tin tƣởng ở
hôn nhân, việc ly hôn đƣợc pháp luật và dƣ luận thừa nhận.
Trong các mối quan hệ xã hội, ngƣời Việt chủ trƣơng sống hài hòa,
tránh đụng chạm, xích mích. TN Anh hƣớng về con ngƣời cá nhân, con ngƣời
năng động trong sự đƣợc thua với cộng đồng. Ngƣời Việt có truyền thống tôn
trọng ngƣời lớn tuổi. Ngƣời Anh vốn rất coi trọng quan hệ bạn bè. Với luật
pháp, ngƣời Việt và ngƣời Anh đều không mấy tin tƣởng. Trong các mối quan
hệ khác, ngƣời Việt không có thiện cảm với những kẻ say xỉn, độc ác, lƣời
biếng, gian dối. Ngƣời Anh xem thƣờng giới quý tộc không có năng lực,
những kẻ ba hoa, xu nịnh, làm nghề không đoan chính,…Tóm lại, ngƣời Việt
và ngƣời Anh đều xem trọng những ngƣời ngay thẳng, thành thật. Ngoài ra,
ngƣời Việt thích những ngƣời chăm chỉ, còn ngƣời Anh thích những ngƣời
giỏi giang, tài năng.
Về các quan niệm sống, hai dân tộc đều chú ý đến sức khỏe, an toàn
của thể xác và việc giữ đạo đức. Về bản thân, cơ sở quyết định sự hành động
của ngƣời Việt là trung dung, hƣớng về hòa hợp, còn của ngƣời Anh là phân
cực, hƣớng về hành động nên SSTT trong TN Anh có đề cập đến một vấn đề
148
mà SSTT trong TN Việt không thấy xuất hiện: đó là sự tranh chấp, giận dữ,
kiện cáo. Trong giao tiếp, SSTT của TN Việt khuyên nên nói năng dịu dàng,
cân nhắc cẩn thận trƣớc khi nói. Ngƣời Anh có bản tính trầm lặng, khi giao
tiếp thì không thích vòng vo mà thích đi thẳng vào vấn đề ngay từ đầu. Việc
phải cân nhắc kĩ càng điều mình sắp nói làm ngƣời Anh có cảm giác không
đƣợc tự do, thoải mái bộc lộ suy nghĩ của bản thân. Về danh dự, ngƣời Việt
và ngƣời Anh đều trọng danh dự nhƣng khác với ngƣời Việt, danh dự phải đi
kèm với lợi lộc thì mới đƣợc ngƣời Anh coi trọng. Về học vấn, cả hai dân tộc
đều thấy đƣợc tầm quan trọng của học vấn, trí tuệ nhƣng SSTT của TN Anh
còn nhấn mạnh việc nên đem sự học ứng dụng vào thực tế. Về thời gian,
phạm trù này quan trọng với ngƣời Anh hơn ngƣời Việt, nhiều SSTT trong
TN Anh thể hiện sự ám ảnh về sự trôi chảy không ngừng của thời gian.
Tóm lại, tuy cùng phản ảnh các mặt của đời sống cộng đồng nhƣng
TN Anh phản ánh nhiều hơn và rõ hơn xu hƣớng thiên về cuộc sống vật chất
thông qua cách xử thế thiết thực, nặng về hiệu lực kinh tế, công bằng, sòng
phẳng; còn ngƣời Việt thiên về việc răn dạy, chủ yếu hƣớng tới sự hòa hợp
giữa thể xác và tinh thần, bao dung, mềm dẻo trong ứng xử với mọi ngƣời.
Về tôn giáo tín ngƣỡng, các SSTT của ngƣời Việt còn lƣu lại nhiều
dấu ấn của Phật giáo, Đạo giáo kết hợp với các tín ngƣỡng cổ truyền của
ngƣời Việt cổ. SSTT trong TN Anh thể hiện lòng tin của ngƣời dân vào Cơ
Đốc giáo. Ngƣời Việt cũng tin vào Trời, Phật nhƣ một đấng toàn năng nhƣng
vẫn cho rằng nỗ lực của con ngƣời có thể giúp họ làm chủ đƣợc cuộc đời
mình. Ngƣời Anh tin hoàn toàn vào Chúa, mọi việc đều do Chúa phán xét,
định đoạt.
Tóm lại, hai dân tộc Việt Anh cách xa nhau về địa lí, do đó hoàn
cảnh lịch sử, kinh tế, sự phát triển xã hội, trình độ văn hóa và điều kiện sống
hoàn toàn khác nhau, nên các chất liệu đƣợc sử dụng trong SSTT của TN của
149
mỗi nƣớc cũng khác nhau. Việc lựa chọn các chất liệu phản ánh tâm hồn, tính
cách, lối suy nghĩ và quan niệm nhân sinh của họ, đồng thời cũng thể hiện
thái độ đánh giá, tình cảm về đối tƣợng đƣợc nói đến.
Trong thời gian và khả năng có hạn, ngƣời viết chỉ hi vọng phác họa
đƣợc phần nào bản sắc riêng của mỗi dân tộc qua các SSTT trong TN nhìn ở
góc độ ngôn ngữ học và văn hóa học. Việc nghiên cứu SSTT trong TN theo
nhiều định hƣớng khác nhau còn hứa hẹn nhiều triển vọng và thành tựu trong
giai đoạn hiện nay, chẳng hạn nhƣ nghiên cứu SSTT trong phạm vi rộng hơn,
không chỉ dừng lại ở TN của hai dân tộc Việt, Anh; hoặc nghiên cứu cả các
thủ pháp so sánh ngầm nhƣ ẩn dụ và nhân hóa. Chúng tôi thiết nghĩ đây sẽ là
những vấn đề thú vị cần đƣợc tìm hiểu sâu hơn, chi tiết hơn.
Việt Nam đang trên đà hội nhập kinh tế phát triển cùng với các nƣớc
khác trên thế giới, ngày càng có nhiều ngƣời Anh, Mỹ và các quốc gia nói
tiếng Anh đến Việt Nam đầu tƣ, sinh sống; cũng nhƣ ngày càng có nhiều
ngƣời Việt Nam học ngôn ngữ và văn hóa Anh để giao lƣu, học hỏi và phát
triển. Vì vậy chúng tôi hy vọng rằng luận văn sẽ đóng góp đƣợc phần nào vào
việc biên soạn tài liệu giảng dạy chuyên đề TN Việt Nam ở nhà trƣờng các
cấp và các trƣờng dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài hiện nay, cũng nhƣ
giúp ích cho ngƣời Việt tiếp cận với TN Anh từ phƣơng diện ngôn ngữ và văn
hóa trong quá trình học tiếng.
150
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Diệp Quang Ban, Lê Xuân Thại (1995), Tiếng Việt 6, tập II, Sách giáo
viên, Nxb. GD, TP.HCM.
2. Trần Vĩnh Bảo (2005), Một vòng quanh các nước: Anh, Nxb. Văn hóa
thông tin, HN.
3. Lê Đình Bích, Trần Quỳnh Dân (1986), TN Anh – Việt, Đại học Cần
Thơ.
4. Phạm Văn Bình (1999), Truyền thống và phong tục nước Anh, Nxb.
Hải Phòng.
5. PGS.TS. Phan Mậu Cảnh (2008), Đặc trưng văn hóa, cội nguồn văn
hóa và sự thể hiện chúng trong ca dao người Việt, Vinh. Nguồn:
www.vienvhnn.net
6. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. GD, HN.
7. Nguyễn Văn Chiến (2002), “Nƣớc – một biểu tƣợng văn hóa đặc thù
trong tâm thức ngƣời Việt và từ “nƣớc” trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số
15, tr. 41 – 49.
8. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận – ghi chép và suy nghĩ,
Nxb. KHXH, HN.
9. Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thị Yên (1983), “Thang độ, phép so sánh và
sự phủ định”, Ngôn ngữ, số 3, tr.21 – 29.
10. Nguyễn Đức Dân (1999), “Dấu ấn văn hoá qua TN”, Kiến thức ngày
nay, số 329.
11. Nguyễn Đức Dân (2002), Nỗi oan thì, mà, là, Nxb. Trẻ, TP.HCM.
12. Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri (1993), TN Việt Nam –
Tái bản lần 2, Nxb. KHXH, HN.
13. Đặng Anh Đào (CB) (1997), Văn học phương Tây, Nxb. GD, HN.
151
14. Phan Thị Đào (2001), Tìm hiểu thi pháp TN Việt Nam (Giải thƣởng
Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam 1997), Nxb. Thuận Hóa, Huế.
15. Hoàng Minh Đạo (2006), “Tiếp cận TN từ góc độ văn hóa học”, Văn
hóa dân gian, số 1(103).
16. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam,
Nxb. KHXH, HN.
17. Nguyễn Thị Vân Đông (2008), “Một số biểu hiện của văn hóa qua các
thành ngữ TN có từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong tiếng Anh và tiếng
Việt”, Ngôn ngữ & đời sống, số 10, tr. 28 – 31.
18. Gerd De Ley, Lê Thành dịch (2005), Từ điển TN thế giới, Nxb. Lao
động, HN.
19. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. ĐH &
THCN, HN.
20. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ
văn học, Nxb. ĐHQG HN, HN.
21. Hoàng Văn Hành (1976), “Về bản chất của thành ngữ so sánh tiếng
Việt”, Ngôn ngữ, số 1.
22. Hoàng Văn Hành (1980), TN trong cách nhìn của ngữ nghĩa học, Ngôn
ngữ, số 4, tr.59 – 63.
23. Hoàng Văn Hành (2004), Thành ngữ học tiếng Việt, Viện ngôn ngữ
học, Nxb. KHXH, HN.
24. Nguyễn Thái Hoà (1997), TN Việt Nam - cấu trúc và thi pháp, Nxb.
KHXH, HN.
25. Nguyễn Thƣợng Hùng (1991), “So sánh TN Anh, Việt trong quá trình
hình thành và phát triển”, Văn hóa dân gian, số 4, tr. 71 – 73.
26. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (2002), Văn học dân gian Việt Nam,
Nxb. GD, HN.
152
27. Vũ Ngọc Khánh (2007), Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb.
GD, TP.HCM.
28. Lƣu Quý Khƣơng (2003), “So sánh logic và so sánh tu từ”, Ngôn ngữ,
số 6.
29. Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Luân, Nguyễn Thúy Loan, Phan Lan
Hƣơng (2002), Kho tàng TN người Việt (2 tập), Nxb. VHTT, HN.
30. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2004), Phong cách học tiếng Việt,
Nxb. GD, TP.HCM.
31. Đinh Trọng Lạc (1998), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt,
Nxb. GD, TP.HCM, tr.157 – 159.
32. Ly Lan (2009), Biểu trƣng tình cảm bằng các bộ phận cơ thể từ góc
nhìn tri nhận của ngƣời bản ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, Tạp chí Ngôn
ngữ, số 12, tr. 25-36.
33. Nguyễn Lân (2007), Từ điển thành ngữ - TN Việt Nam, Nxb. KHXH,
TP.HCM.
34. Nguyễn Thế Lịch (1988), “Các yếu tố và cấu trúc so sánh nghệ thuật”,
Tiếng Việt (Số phụ của tạp chí Ngôn ngữ), số 1.
35. Nguyễn Thế Lịch (2001), “Cấu trúc so sánh trong tiếng Việt”, Ngôn
ngữ, số 8-9.
36. Nguyễn Thế Lịch (2009), “Yếu tố cơ sở so sánh trong cấu trúc so sánh
nghệ thuật”, Ngôn ngữ, số 3, tr. 1-13.
37. Đỗ Thị Kim Liên (2006), “Khảo sát các TN Việt có nhóm từ chỉ quan
hệ thân tộc biểu thị quan hệ so sánh”, Ngôn ngữ, số 5.
38. Đỗ Thị Kim Liên (2006), “Trƣờng ngữ nghĩa về cây lúa và các sản
phẩm từ lúa phản ánh đặc trƣng văn hóa lúa nƣớc trong TN ngƣời Việt”,
Văn hóa dân gian, số 4 (106).
39. Bùi Đức Mãn (2008), Lược sử nước Anh, Nxb. Tổng hợp TP.HCM.
153
40. Michael Alexander, Cao Hùng Lynh dịch (2006), Lịch sử văn học Anh
quốc, Nxb.VHTT, TP.HCM.
41. Nguyễn Văn Mƣời (1996), Ngôn ngữ với việc phản ánh các yếu tố văn
hóa và nhân sinh quan (thông qua TN Việt, Anh), Luận án Phó tiến sĩ
Khoa học Ngữ văn, Trƣờng Đại học KHXH & NV, HN.
42. Dƣ Ngọc Ngân (2002), Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt – Phần từ loại,
ĐH. Sƣ Phạm, TP.HCM.
43. Hoàng Kim Ngọc (2009), So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình, Nxb.
KHXH, HN.
44. Phan Ngọc (2001), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn học, HN.
45. Vũ Thế Ngọc (2007), Từ điển TN Việt - Anh, Anh - Việt thông dụng,
Nxb. ĐHQG TP.HCM.
46. Bùi Văn Nguyên (1980), Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1, Nxb.
KHXH, HN.
47. Triều Nguyên (2006), Khảo luận về TN người Việt, Nxb. GD, HN.
48. Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2002), Văn
học dân gian – Những công trình nghiên cứu, Nxb. GD, TP.HCM.
49. Nguyễn Văn Nở (2004), “Biểu trƣng “hoa” trong TN Việt Nam”,
Nguồn sáng dân gian, số 1.
50. Nguyễn Văn Nở (2005), “Dấu ấn tự nhiên, văn hóa và con ngƣời trong
thành ngữ và TN Nam Bộ”, Ngôn ngữ và đời sống, số 9 (119), tr. 24 –
28.
51. Nguyễn Văn Nở (2006), “Biểu trƣng Trời và Đất trong TN Việt”,
Ngôn ngữ và đời sống, số 9 (131), tr. 28 – 31.
52. Nguyễn Văn Nở (2006), “Dấu ấn văn hóa – dân tộc qua chất liệu biểu
trƣng đồ dùng trong TN Việt Nam”, Ngôn ngữ và đời sống, số 5 (127).
154
53. Nguyễn Văn Nở (2006), “Dấu ấn văn hóa dân tộc qua chất liệu biểu
trƣng động vật và thực vật trong TN Việt Nam”, Ngôn ngữ và đời sống,
số 10 (132).
54. Nguyễn Văn Nở (2006), “Dấu ấn văn hoá - dân tộc qua chất liệu biểu
trƣng tự nhiên và từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong TN”, Ngôn ngữ và
đời sống, số 12.
55. Nguyễn Văn Nở (2007), Biểu trưng trong TN Việt Nam, Luận án Tiến
sĩ Ngữ văn, Trƣờng Đại học KHXH&NV, TP.HCM.
56. Vũ Ngọc Phan (1978), TN ca dao Việt Nam, Nxb. KHXH, HN.
57. Lê Trƣờng Phát (2000), Thi pháp văn học dân gian, Nxb. GD, HN.
58. Bùi Phụng (1995), TN Anh – Việt tường giải, Nxb. KHXH, HN.
59. Trần Văn Phƣớc, Hoàng Kim Anh (2008), “Phép tỷ dụ trong TN Việt
và Anh”, Khoa học công nghệ, ĐH. Đà Nẵng, số 4.
60. Phan Văn Quế (2000), “Quỷ trong thành ngữ, TN tiếng Anh và tiếng
Việt”, Ngôn ngữ và đời sống, số 7, tr. 31.
61. Phan Văn Quế (2000), “Gà, khỉ, chuột, ngựa trong TN và thành ngữ
tiếng Anh và tiếng Việt”, Ngôn ngữ và đời sống, số 3, tr. 27 – 28.
62. Trƣờng Tân dịch (2003), Truyện cổ vương quốc Anh, Nxb. VHTT, HN.
63. Lý Toàn Thắng (2004), Ngôn ngữ học tri nhận – từ lí thuyết đại cương
đến thực tiễn tiếng Việt, Nxb. Phƣơng Đông, TP.HCM.
64. Nguyễn Quý Thành (1998), “Dấu ấn văn hóa trong TN”, Văn hóa dân
gian, số 4.
65. Nguyễn Quý Thành (2001), Cấu trúc cú pháp - ngữ nghĩa của TN Việt
(Trong sự so sánh với TN của một số dân tộc khác), Luận án Tiến sĩ
Khoa học Ngữ văn, Trƣờng ĐH KHXH&NV, TP. HCM, 2001.
66. Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. GD, TP.HCM.
155
67. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb.
Tổng hợp TP. HCM.
68. Trần Thị Ánh Thu (2005), Phép so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên
và thơ Tố Hữu, Trƣờng ĐH KHXH&NV, TP.HCM.
69. Nguyễn Thị Bích Thủy (2005), “Cấu trúc tỉ dụ trong thơ Tố Hữu”, Tạp
chí Ngôn ngữ, số 6.
70. Nguyễn Đức Tồn (2008), Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và
tư duy, Nxb. KHXH, HN.
71. Nguyễn Thế Truyền (2003), “Vài điều lí thú về phép so sánh”, Ngôn
ngữ và đời sống, số 3.
72. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb,
ĐH & THCN, 1983, tr. 270 – 278.
73. Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình (1982), Phong
cách học tiếng Việt, Nxb. GD, Trƣờng ĐHSP TP.HCM.
74. Cù Đình Tú (1973), “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ với TN”,
Ngôn ngữ, số 1.
75. Lê Ngọc Tú (1999), TN Anh – Pháp – Việt và một số thành ngữ, danh
ngôn, Nxb. KHXH, HN.
76. Nguyễn Thanh Tùng (2003), Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa
của nhóm từ chỉ động thực vật tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh), Luận
án Tiến sĩ Ngữ văn, Trƣờng ĐH KHXH & NV, TP. HCM.
77. Hoàng Tiến Tựu (1993), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb. GD, HN.
78. Trần Quốc Vƣợng (2005), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. GD, HN.
79. Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Anh – Việt, Nxb. KHXH,
TP.HCM.
156
Tiếng Anh
80. Afford Violet, Introduction to English folklore, source:
http://books.google.com.vn/
81. Asher, R.E. (1994), The Encyclopedia of Language and Linguistics,
Pergamon Press, London.
82. Bassnett, Susan (1997), Studying British cultures: an introduction,
Routledge Publishing, London.
83. Bohn Henry G. (1813), A complete collection of English proverbs,
London, England.
84. Bredin, Hugh (1998), Comparision and similes, Queen’s University,
Northern Ireland, United Kingdom.
85. Crowther Jonathan, Kavanagh Kathryn (1999), Oxford guide to British
and American culture, Oxford University Press, London.
86. Fergusson Rosalind, Law Jonathan (2001), The Penguin dictionary of
proverbs, Penguin Books, 2nd edition, London, England.
87. Griffith Benjamin W. (1991), English literature, Barron’s educational
series, New York.
88. Houghton Mifflin company (2009), Dictionary of the English
language, 4th edition.
89. Houghton Mifflin company (2005), New dictionary of cultural literacy,
3rd edition.
90. Johnson Albert (1960), Common English proverbs, Longman, England.
91. Kirkpatrick Betty (2007), Proverbs, Learners Publishing, Singapore.
92. Kleiser Grenville (1917), Fifteen thousand useful phrases/ Striking similes, 15th edition, Funk & Wagnalls company, New York and
London.
157
93. Lakoff G. & Johnson M. (1980), Metaphor we live by, The university
of Chicago Press, Chicago and London.
94. Manser Martin H. (2007), Dictionary of proverbs, 2nd edition, Facts on
file publishing, New York, America.
95. McDowall David (2002) Britain in Close-Up, New Edition, Youth
Publishing House.
96. Mieder W. (1986), The Prentice – Hall encyclopedia of world
proverbs, The Prentice – Hall, New York.
97. Mieder W. (1993), Proverbs are out of season, Oxford University
Press, London.
98. Nguyen Thi Kieu Thu, Nguyen Thi Ngoc Dung (2008), A course in
British literature, Vietnam national university HCM city publishing
house, HCMC.
99. O’Driscoll, Jame (1999), Britain, Oxford University Press, England.
100. Oxford University Press (2007), The Oxford dictionary of proverbs,
5th edition, England.
101. Oxford University Press (2000), Oxford advanced learner’s
dictionary, 8th edition.
102. Pei Mario (1949), The story of language, Lippincott Publishing,
Philadelphia, p. 194.
103. Pierini Patrizia (2007), Simile in English: from description to
translation, source http://www.ucm.es/info/circulo/
104. Ridout R., Clifford Witting (1969), English proverbs explained, Pan
Books Publishing, London.
105. Seaton Anne, Kirkpatrick Betty (2004), Similes & metaphors,
Learners Publishing, Singapore.
158
106. Smith. William George, Wilson F.P., Wilson Joanna (1970), The
Oxford dictionary of English proverbs”, Publisher: Oxford University Press, 3rd, Pages: 950.
107. Stone, Jon R. (2006), The Routledge book of world proverbs,
Routledge Taylor & Francis group, London & New York.
108. Svartengren T.Hilding (1918), Intensifying similes in English,
Inaugural dissertation.
109. Westermarck Edward, Wit and wisdom in Morocco, Routledge
Publishing, London, 1930, p. 85. Source: http://books.google.com.vn/
110. White Anya Burghes, Ngô Thị Phƣơng Thiện (2006), British studies,
Legacy of the past, Vietnam national university HCM city publishing
house, HCMC.
159
PHỤ LỤC
*
LỜI NÓI ĐẦU
Trong phụ lục này, ngƣời viết đã khảo sát và phân loại 135 câu TN
có SSTT trong tổng số 4206 câu TN Việt trong quyển “TN Việt Nam” của
Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri (tái bản lần 2, Nxb. KHXH,
HN, 1993) và 178 câu SSTT trong tổng số 6708 câu TN Anh trong quyển “The Penguin Dictionary of Proverbs” (Penguin Books, 2nd edition, London,
England, 2001, Edited by Rosalind Fergusson, Contributions by Jonathan
Law) theo cấu trúc SSTT gồm bốn yếu tố để tìm ra đặc điểm của chúng, tạo ra
cơ sở, nền tảng cho những kết quả nghiên cứu trong luận văn.
Phụ lục bao gồm những nội dung và cách sắp xếp nhƣ sau:
STT
TÊN PHỤ LỤC
TRANG
1
Các số liệu thống kê đƣợc sử dụng trong luận văn
161
2
Thống kê các câu TN có chứa SSTT trong TN Việt
166
3
Thống kê các câu TN có chứa SSTT trong TN Anh
171
4
Phân loại yếu tố A trong SSTT của TN Việt theo đề tài
183
5
Phân loại yếu tố B trong SSTT của TN Việt theo đề tài
187
6
Phân loại yếu tố A, B trong SSTT của TN Việt theo tiêu chí
193
từ vựng – cú pháp
7
Thống kê các hình ảnh lặp lại ở yếu tố B trong SSTT của
197
160
TN Việt
8
Phân loại yếu tố A trong SSTT của TN Anh theo đề tài
199
9
Phân loại yếu tố B trong SSTT của TN Anh theo đề tài
204
10
Phân loại yếu tố A, B trong SSTT của TN Anh theo tiêu chí
210
từ vựng – cú pháp
11
Thống kê các hình ảnh lặp lại ở yếu tố B trong SSTT của
211
TN Anh
12 Cấu tạo của CSSS trong SSTT của TN Việt và TN Anh
215
Chúng tôi hy vọng phần phụ lục này sẽ là tài liệu bổ ích cho những
ai muốn tìm hiểu về SSTT trong TN Việt cũng nhƣ TN Anh.
161
Phụ lục 1:
CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Ở phụ lục này, ngƣời viết chỉ liệt kê ra những bảng có số liệu mà thôi,
những bảng khác ngƣời viết đã trình bày trong chính văn.
Ngoài ra, trong các bảng, tổng cộng các yếu tố A, CSSS, từ so sánh, B
sẽ không hoàn toàn trùng khớp với số lƣợng câu SSTT trong TN mỗi nƣớc vì một
câu SSTT có thể có nhiều A, nhiều B hoặc nhiều từ thể hiện quan hệ so sánh. Chẳng
hạn, tục ngữ Việt có 135 câu SSTT nhƣng có đến 166 yếu tố A, 135 CSSS, 170 từ
thể hiện quan hệ so sánh, 173 yếu tố B.
Bảng 2.1. Thống kê tỉ lệ câu SSTT trong TN Việt và TN Anh
TN Việt
TN Anh
Tổng số câu TN có so sánh tu từ
135
178
Tổng số câu TN khảo sát
4206
6708
Tỉ lệ % câu TN có so sánh tu từ
3.2
2.65
Bảng 2.2: Phân loại yếu tố A trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo đề tài
Số lƣợng
Số lƣợng
yếu tố A
yếu tố A
Đề tài
trong
trong TN
TN Việt
Anh
Tự nhiên
10
5
Động vật
1
1
Con ngƣời và giới tự nhiên
Thực vật
6
2
Cơ thể ngƣời
4
10
Vật thể nhân tạo
14
13
Con ngƣời và đời sống vật chất
Ẩm thực, giải trí
11
10
Kinh nghiệm lao động
3
7
162
sản xuất
Quan hệ gia đình
56
7
Con ngƣời và đời sống xã hội
Quan hệ xã hội
10
40
Quan niệm về nhân sinh
48
83
Quan niệm về tôn giáo,
3
9
Con ngƣời và đời sống tinh thần
tín ngƣỡng
Tổng cộng
166
187
Bảng 2.4: Phân loại yếu tố A trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo tiêu chí từ
vựng, cú pháp
Yếu tố A
TN Việt
TN Anh
Số lƣợng
Tỉ lệ %
Số lƣợng
Tỉ lệ %
yếu tố A
yếu tố A
Danh từ/ danh ngữ
36.7
179
95.7
61
Động từ/ động ngữ
22
13.3
0
0
Tính từ/ tính ngữ
20
12
0
0
Kết cấu chủ vị
63
38
8
4.3
Tổng cộng
166
100 %
187
100 %
Bảng 2.5: Thống kê yếu tố CSSS trong SSTT của TN Việt và TN Anh
Yếu tố CSSS
TN Việt
TN Anh
Số lƣợng
Số lƣợng
Tỉ lệ %
Tỉ lệ %
CSSS
CSSS
163
Khuyết
109
80.7
144
80.9
Có
26
19.3
34
19.1
Tổng cộng
135
100%
178
100%
Bảng 2.8: Thống kê từ thể hiện quan hệ so sánh trong SSTT của TN Việt
Từ nối
Số lƣợng Tỉ lệ %
nhƣ
108
63.5
là
28
16.5
26
15.3
bằng
8
4.7
Tổng cộng
170
100 %
Bảng 2.9: Thống kê tần số xuất hiện của từ thể hiện quan hệ so sánh trong SSTT
của TN Anh
Từ thể hiện quan hệ
Số lƣợng
Tỉ lệ %
so sánh
be
139
73.2
like
35
18.4
as…as…
11
5.8
164
as
2.1
4
0.5
1
Tổng cộng
100%
190
Bảng 2.10: Phân loại yếu tố B trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo đề tài
Số lƣợng
Số lƣợngg
yếu tố B
yếu tố B
Đề tài
trong TN
trong TN
Việt
Anh
Tự nhiên
12
10
Động vật
31
23
Con ngƣời và giới tự nhiên
Thực vật
22
11
Cơ thể ngƣời
6
8
Vật thể nhân tạo
53
58
Con ngƣời và đời sống vật chất
Ẩm thực, giải trí
3
20
Kinh nghiệm lao động
3
0
sản xuất
Quan hệ gia đình
13
1
Con ngƣời và đời sống xã hội
Quan hệ xã hội
4
28
Quan niệm về nhân
15
9
sinh
Con ngƣời và đời sống tinh thần
Quan niệm về tôn giáo,
11
30
tín ngƣỡng
Tổng cộng
173
198
165
Bảng 2.11: Thống kê hình ảnh ở yếu tố A và yếu tố B thuộc đề tài quan hệ gia đình
và quan hệ xã hội trong SSTT của TN Việt và TN Anh
TN Việt
TN Anh
Yếu tố
Yếu tố
Tổng
Yếu tố
Yếu tố
Tổng
A
B
cộng
A
B
cộng
56
7
1
Quan hệ gia đình
13
8
69
10
40
28
Quan hệ xã hội
4
68
14
Bảng 2.12: Phân loại yếu tố B trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo
tiêu chí từ vựng, cú pháp
TN Việt
TN Anh
Yếu tố B
Số lƣợng
Tỉ lệ %
Số lƣợng
Tỉ lệ %
Danh từ/ danh ngữ
52
182
92
90
Động từ/ động ngữ
7
0
0
12
Tính từ/ tính ngữ
0
0
0
0
Cụm chủ vị
41
16
8
71
Tổng cộng
173
100
198
100
166
Phụ lục 2: THỐNG KÊ CÁC CÂU TỤC NGỮ CÓ CHỨA SSTT TRONG
TỤC NGỮ VIỆT
Trong phụ lục 2 và 3, ngƣời viết trình bày các câu tục ngữ có chứa SSTT theo
trình tự xuất hiện của chúng trong tài liệu khảo sát, tức là theo số trang.
STT
SSTT trong TN Việt
Trang
1 Gió thổi là chổi trời
193
2 Nƣớc mƣa là cƣa trời
193
3 Mƣa tháng ba hoa đất
198
4 Mƣa tháng sáu máu rồng
198
5 Tấc đất tấc vàng
198
6 Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc
198
7 Ruộng đầu chợ, vợ giữa làng
198
8 Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng
198
9 Ruộng không phân nhƣ thân không của
203
10 Dâu năng hái nhƣ gái năng tô
210
11 Cơm tẻ mẹ ruột
212
12 Ăn cơm không rau nhƣ đánh nhau không có ngƣời gỡ
215
13 Cơm không rau nhƣ nhà giàu chết không kèn trống
216
14 Cơm vào dạ nhƣ vạ vào mình
218
15 Ăn đƣợc ngủ đƣợc là tiên/Không ăn không ngủ là tiền bỏ đi
219
16 Nhà không móng, bóng không ngƣời
219
17 Xe không bánh nhƣ cánh không lông
222
18 Của nhƣ kho, không lo cũng hết
223
19 Của nhƣ non, ăn mòn cũng hết
223
20 Thấy việc nhƣ đĩ thấy cha/ Thấy ăn lởn vởn nhƣ gà thấy ngô
224
21 Cứu bệnh nhƣ cứu hỏa
230
Một cái rắm bằng nắm thuốc tiêu, bằng liều thuốc gió, bằng lọ thuốc tiên
22
231
23 Con nhà có cố có ông / Nhƣ cây có cội nhƣ sông có nguồn
233
24 Trẻ mùa hè nhƣ bè tháng sáu
235
167
25 Mỗi năm mỗi tuổi nhƣ đuổi xuân đi
235
26 Ngƣời già nhƣ dâu ngả bóng
235
27 Có mẹ già bằng ba rào giậu
235
28 Đàn ông nhƣ giỏ, đàn bà nhƣ hom
238
29 Đàn ông nông nổi giếng khơi/ Đàn bà sâu sắc nhƣ cơi đựng trầu
238
30 Đàn bà cạn lòng nhƣ đĩa/ Đàn ông bạc nghĩa nhƣ vôi
238
31 Phận gái nhƣ cái bầu, sa đâu ấm đấy
238
32 Gái lớn trong nhà nhƣ ma chửa cất
239
33 Thuyền không lái nhƣ gái không chồng
239
Voi trên rừng không bành không tróc/Gái không chồng nhƣ cóc
34
cụt đuôi
239
Gái có con nhƣ bồ hòn có rễ/Gái không con nhƣ bè nghể (ngổ) trôi
35
sông
240
36 Nam vô tửu nhƣ kỳ vô phong
240
37 Nam thực nhƣ hổ, nữ thực nhƣ miêu
241
38 Trai thấy gái lạ nhƣ quạ thấy gà con
241
39 Trai tơ lấy phải nạ dòng/ Nhƣ nƣớc mắm thối chấm lòng lợn thiu
242
40 Bố dòng lấy đƣợc gái tơ/ Đêm nằm mê mẩn nhƣ mơ thấy vàng
242
41 Nạ dòng lấy đƣợc trai tơ/ Đêm nằm mê mẩn nhƣ mơ đƣợc vàng
242
Phải duyên thì dính nhƣ keo/Trái duyên chổng chểnh nhƣ kèo đục vênh
42
242
43 Chồng già vợ trẻ là tiên/ Vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần
243
44 Đàn ông nhƣ cái nơm, gặp đâu úp đấy
244
45 Đẹp nhƣ rối, chẳng có mối tối nằm không
245
46 Đẹp nhƣ rối, không mối không xong
245
47 Cƣới vợ không cheo nhƣ néo không mấu
246
48 Cƣới vợ không cheo, tiền gieo xuống suối
246
49 Lấy vợ không cheo nhƣ kèo neo không mấu
246
50 Trai phải hơi vợ nhƣ cò bợ phải trời mƣa
246
51 Gái phải hơi trai nhƣ thài lài phải cứt chó
246
52 Chồng cần vợ kiệm là tiên/Ngông nghênh nhăng nhít là tiền bỏ đi
247
53 Chồng nhƣ (đó) giỏ, vợ nhƣ hom
247
168
54 Vợ chồng may rủi là duyên/ Vợ chồng hòa thuận là tiên trên đời
247
55 Vợ chồng nhƣ đũa có đôi
248
56 Trai có vợ nhƣ lỗ tiền chôn
248
57 Trai có vợ nhƣ giỏ có hom
248
58 Trai có vợ nhƣ rợ buộc chân
248
59 Làm ruộng có trâu, làm dâu có chồng
249
60 Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng
249
Gái có chồng nhƣ rồng có vây/Gái không chồng nhƣ cối xay chết
61
ngõng
249
Gái có chồng nhƣ chông nhƣ mác/Gái không chồng nhƣ rác nhƣ
62
rơm
249
Gái có chồng nhƣ gông đeo cổ/Gái không chồng nhƣ phản gỗ long đanh
63
249
64 Thuyền theo lái, gái theo chồng
249
65 Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ sai
251
66 Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ sai
251
Nứa trôi sông không giập thì gẫy/Gái chồng rẫy chẳng chứng nọ
67
cũng tật kia
252
68 Con giữ cha, gà giữ ổ
254
69 Con có cha nhƣ nhà có nóc/Con không cha nhƣ nòng nọc đứt đuôi
254
70 Con không cha thì con trễ, cây không rễ thì cây hƣ
254
71 Con có mẹ nhƣ măng ấp bẹ
254
72 Con có mạ nhƣ thiên hạ có vua
254
73 Mẹ già nhƣ chuối chín cây
255
74 Con đàn nhƣ tre ấm bụi
256
75 Chị em dâu nhƣ bầu nƣớc lã/ Chị em gái nhƣ cái nhân sâm
259
76 Anh em nhƣ chân tay
259
Bố chồng là lông cánh phƣợng/ Mẹ chồng là tƣợng mới tô/ Nàng dâu là bồ nghe chửi
77
260
Bố chồng là lông lợn hạch/ Mẹ chồng là đách lợn lang (sề)/ Nàng
78
dâu mới về là bà hoàng hậu
261
169
Bố vợ là rợ cọc chèo/ Mẹ vợ là bèo trôi sông/ Chàng rể là ông Ba
79
Vì
261
80 Vênh váo nhƣ bố vợ phải đấm
261
81 Con trai ở nhà vợ nhƣ chó nằm (chui) gầm chạn
261
82 Ăn trầu không có rễ nhƣ rể nằm nhà ngoài
261
83 Bắt chấy cho mẹ chồng nhƣ bồ nông mò biển
261
84 Tiền của nhƣ nƣớc thủy triều
268
85 Đồng tiền là chúa muôn loài/ Ngƣời ta là khách vãng lai một thời
268
86 Của là cuống ruột
268
87 Ngƣời đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân
203
88 Có tiền khôn nhƣ rái, không tiền dại nhƣ vích
271
89 Có tiền khôn nhƣ mày mạy, không tiền dại nhƣ đòng đong
272
Khôn nhƣ tiên không tiền cũng dại/Dại nhƣ chó có ló (lúa) cũng
90
khôn
272
91 Miệng bà đồng nhƣ lồng chim khƣớu
277
92 Quan thấy kiện nhƣ kiến thấy mỡ
279
93 Lễ vào quan nhƣ than vào lò
279
94 Việc quan nhƣ lửa đốt đầu
279
95 Lính tuần là ao rƣợu
280
96 Miệng quan trôn trẻ
283
97 Có độc mới đủ, có phũ nhƣ chó mới giàu
284
98 Tiền vào nhà khó nhƣ gió vào nhà trống
287
99 Ơn dân nhƣ hạt cơm dính mỡ
288
100 Dân nhƣ cây gỗ tròn
288
101 Một lần dọn nhà bằng ba lần cháy
290
102 Cờ phải nƣớc bí nhƣ bị phải trời mƣa
291
103 Ngƣời ta là hoa đất
307
104 Ngƣời nhƣ hoa ở đâu thơm đấy
307
105 Ngƣời là vàng, của là ngãi
307
106 Bụng bí rợ ăn nhƣ bào, làm nhƣ khỉ
309
107 Dữ nhƣ tê giác, ác nhƣ đàn bà một mắt
311
108 Lòng ngƣời nhƣ bể khôn dò
312
109 Lời nói, gói vàng
315
170
110 Một lời nói, một đọi máu
315
111 Vàng sa xuống giếng khôn tìm/Ngƣời sa lời nói nhƣ chim sổ lồng
316
112 Nói đúng nhƣ gãi vào chỗ ngứa
317
113 Nói với ngƣời say nhƣ vay không trả
318
114 Nói thì nhƣ mây nhƣ gió/Cho thì thằng mõ không xong
320
115 Uốn cây từ thuở còn non/Dạy con từ thuở con còn ngây thơ
321
116 Ngƣời không học nhƣ ngọc không mài
322
117 Xấu nhƣ ma vinh hoa cũng đẹp
328
118 Ngƣời dốt nhƣ trông vào vách
332
119 Hoa thơm ai chẳng nâng niu/Ngƣời khôn ai chẳng kính yêu mọi bề
333
Hoa thơm ai chẳng muốn đeo/Ngƣời khôn ai chẳng nâng niu bên
120
mình
333
121 Trâu chết để da, ngƣời ta chết để tiếng
336
122 Đẹp nhƣ tiên lo phiền cũng xấu
340
123 Tiền là gạch, ngãi là vàng
343
Chửa đánh đƣợc ngƣời mặt đỏ nhƣ vang/Đánh đƣợc ngƣời rồi mặt
124
vàng nhƣ nghệ
346
125 Khỏe nhƣ voi không coi cũng ngã
359
126 Hà tiện mới có, phũ nhƣ chó mới giàu
360
127 Ăn nhƣ con tằm lại rút ruột ra
363
128 Gặp thời thì nổi hòa huênh/ Lỗi thời thì lại lênh đênh nhƣ bèo
381
129 To nhƣ chuối hột nào ai bày cỗ
393
130 Quân vô tƣớng nhƣ hổ vô đầu
399
131 Nhà không chủ nhƣ tủ không khóa
399
132 Rẻ nhƣ bèo nhiều hƣơu cũng hết
404
133 Hòn đất nỏ bằng giỏ phân
203
134 Một cây mít bằng sào ruộng
205
135 Một nạm gió bằng một bó chèo
222
Tổng 135 câu SSTT / 4206 câu TN Việt
171
cộng:
Tỉ lệ: 3.2 %
Phụ lục 3: THỐNG KÊ CÁC CÂU TỤC NGỮ CÓ CHỨA SSTT
TRONG TỤC NGỮ ANH
STT
Trang
SSTT trong TN Anh
10
1
A black plum is as sweet as a white. Quả mận đen thì cũng ngọt như quả mận trắng.
Fine dressing is a foul house swept before the doors.
10
2
Ăn mặc đẹp là ngôi nhà hôi hám được quét ở phía trước cửa.
A whore in a fine dress is like a clean entry to a dirty house.
3
Cô gái điếm trong bộ quần áo đẹp giống như lối vào sạch sẽ của
10
một ngôi nhà bẩn thỉu.
Wickedness with beauty is the devil's hook baited.
14
4
Sự độc ác đi chung với cái đẹp là mồi câu của quỷ.
A good face is a letter of recommendation.
15
5
Một gương mặt đẹp là lá thư giới thiệu tốt.
A fair woman without virtue is like palled wine.
16
6
Người phụ nữ đẹp mà không có đạo đức thì giống như rượu nhạt.
Beauty fades like a flower.
16
7
Cái đẹp phai tàn như một bông hoa.
Beauty is but a blossom.
16
8
Cái đẹp chỉ là một đóa hoa.
19
9
Debt is an evil conscience. Nợ là lương tâm tội lỗi.
21
10
Gentility is but ancient riches. Dòng dõi cao quý chỉ là thứ của cải lỗi thời.
21
11
Nobility, without ability, is like a pudding wanting suet. Giới quý tộc không có năng lực giống như chiếc bánh pudding cần có lớp mỡ bao quanh.
12 Great birth is a very poor dish at table.
21
172
Dòng dõi cao quý là món ăn rất tồi trong bữa tiệc.
A gentleman without an estate is like a pudding without suet.
21
13
Quý ông không có tài sản giống như chiếc bánh pudding không có lớp mỡ bao quanh.
Building is a thief.
21
14
Xây dựng là một tên trộm.
22
15
A change is as good as a rest. Sự thay đổi cũng tốt như là sự nghỉ ngơi.
Three removals are as bad as a fire.
22
16
Ba lần dọn nhà thì cũng tệ như là một lần cháy.
Children pick up words as pigeon peas, and utter them again as God
shall please.
26
17
Trẻ con học từ như là chim bồ cầu nhặt đậu, và nói lại y như Chúa
muốn vậy.
A good bargain is a pick-purse.
30
18
Sự trả giá tốt là một tên móc túi.
A merry companion is a wagon in the way.
19
Có một người bạn đồng hành vui tính là có một chiếc xe ngựa trên
31
đường đi.
Brag is a good dog but dares not bite.
32
20
Sự khoác lác là một con chó tốt nhưng nó không dám cắn.
Conscience is a thousand witnesses.
33
21
Lương tâm là cả ngàn nhân chứng.
A good conscience is a soft pillow.
33
22
Lương tâm trong sạch là chiếc gối êm ái.
33
23
A good conscience is the best divinity. Lương tâm trong sạch là vị thánh tốt nhất.
33
24
A good conscience is a continual feast. Lương tâm trong sạch là những bữa tiệc liên tục.
33
25
A good conscience is like a coat of mail. Lương tâm trong sạch giống như chiếc áo giáp.
Content is the philosopher's stone, that turns all it touches into gold.
35
26
Sự hài lòng là hòn đá tạo vàng, nó chuyển mọi thứ nó chạm vào
173
thành vàng.
A contented mind is a continual feast.
27
35
Cách nghĩ hài lòng là những bữa tiệc liên tục.
Enough is as good as a feast.
28
35
Vừa đủ cũng tốt như là được đi dự tiệc.
A man's discontent is his worst evil.
29
35
Sự không hài lòng của một người là tai họa tồi tệ nhất.
When the sloe tree is as white as a sheet, sow your barley whether it
be dry or wet.
30
40
Khi cây mận gai nở hoa trắng như một tờ giấy, hãy gieo lúa mạch
của bạn dù nó khô hay ướt.
Two daughters and a back door are three arrant thieves.
31
43
Hai cô con gái và cái cửa sau là ba tên trộm vĩ đại.
The receiver is as bad as the thief.
32
44
Người chỉ biết nhận thì cũng tệ như là kẻ trộm.
Cruelty is a tyrant that's always attended with fear.
33
47
Sự tàn ác là một tên bạo chúa luôn xuất hiện cùng với sự sợ hãi.
Dear bought is the honey that is licked from the thorn.
34
48
Sự mua bán ngọt ngào là mật trên gai nhọn.
Knowledge is a treasure but practice is the key to it.
35
50
Kiến thức là một kho báu nhưng thực hành là chìa khóa để mở nó.
Death is the poor man's best physician.
36
51
Cái chết là thầy thuốc tốt nhất của người nghèo.
War is death's feast.
37
52
Chiến tranh là bữa tiệc của thần chết.
The liar and the murderer are children of the same village.
38
54
Tên nói dối và kẻ giết người là trẻ con của cùng một ngôi làng.
39
55
Deeds are fruits, words are but leaves. Hành động là quả, lời nói chỉ là lá.
40
57
Slander is a shipwreck by a dry tempest. Sự phỉ báng là vụ đắm tàu bởi một cơn bão khô.
Curses, like chickens, come home to roost.
41
59
Lời nguyền rủa giống như lũ gà, quay về chuồng nhà mình mà đậu.
174
Business is the salt of life.
42
63
Việc kinh doanh là muối của cuộc đời.
43
65
Reward and punishment are the walls of a city. Thưởng và phạt là những bức tường bảo vệ thành phố.
Wine is the glass of the mind.
44
67
Rượu là tấm gương của trí tuệ.
45
69
Wine is a turncoat. Rượu là kẻ phản bội.
Bread is the staff of life.
46
71
Bánh mì là chiếc gậy của cuộc sống.
The mouth is the executioner and the doctor of the body.
47
72
Cái miệng là đao phủ hay bác sĩ của cơ thể.
An apple-pie without some cheese is like a kiss without a squeeze.
48
Bánh nhân táo mà không có phó mát thì giống như một cái hôn mà
73
không có ôm.
He that gives honour to his enemy, is like to an ass.
49
Người nhường danh dự cho kẻ thù của mình chẳng khác gì một con
78
lừa.
England is the paradise of women, the hell of horses, and the
purgatory of servant.
50
79
Nước Anh là thiên đường của phụ nữ, địa ngục của lũ ngựa và
luyện ngục của những người đầy tớ.
England is a little garden full of very sour weeds.
51
79
Nước Anh là khu vườn nhỏ đầy những hạt giống tồi.
An Englishman's word is his bond.
52
79
Lời nói của một người Anh là cái xương của anh ta.
53
86
The eyes are the window of the soul. Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn.
Fame is the perfume of heroic deeds.
54
87
Danh tiếng là hương thơm của những hành động anh hùng.
55
87
Fame is a magnifying glass. Danh tiếng là chiếc kính phóng đại.
56
Fame is but the breath of the people.
87
175
Danh tiếng chỉ là hơi thở của con người.
Fame is a thin shadow of eternity.
87
57
Danh tiếng chỉ là cái bóng mỏng manh của sự bất diệt.
Fame, like a river, is narrowest at its source and broadest afar off.
58
Danh tiếng như một con sông, hẹp nhất ở thượng nguồn và rộng
87
nhất ở phía hạ nguồn.
87
59
A good name is a rich heritage. Tiếng thơm là tài sản kế thừa kếch xù.
Credit lost is like a Venice-glass broken.
88
60
Uy tín bị mất cũng giống như tấm kính quý bị vỡ.
Fear is the prison of the heart.
89
61
Sự sợ hãi là tù ngục của trái tim.
Music is the food of love.
90
62
Âm nhạc là thức ăn nuôi dưỡng tình yêu.
The most deadly of wild beasts is a backbiter, of tame ones a
flatterer.
91
63
Con quái vật hoang dã đáng chết nhất là kẻ nói xấu sau lưng người
khác, còn con quái vật đáng chết đã được huấn luyện là kẻ xu nịnh.
As a wolf is like a dog, so is a flatterer like a friend.
64
Con sói thì giống con chó, cũng như kẻ nịnh hót nhìn giống như một
91
người bạn.
A flatterer's throat is an open sepulchre.
91
65
Cổ họng của kẻ nịnh hót là ngôi mộ đang mở.
Change of weather is the discourse of fools.
94
66
Sự thay đổi của thời tiết giống như bài diễn văn của những kẻ ngốc.
96
67
Life without a friend is death without a witness. Sống mà không có bạn bè thì cũng như chết đi mà không có người chứng kiến.
The best mirror is an old friend.
98
68
Tấm gương tốt nhất là một người bạn cũ.
99
69
Friendship is a plant which must be often watered. Tình bạn là một cái cây cần được tưới nước thường xuyên.
70
Cards are the devil's books.
101
176
Bài bạc là sách của quỷ.
Riches are like muck, which stink in a heap, but spread abroad
71
101
make the earth fruitful. Sự giàu có giống như phân, nó sẽ bốc mùi hôi thối khi chất thành
đống, nhưng nếu rải ra nó sẽ làm đất đai màu mỡ.
Virtue and happiness are mother and daughter.
72
107
Đạo đức và hạnh phúc là mẹ và con gái.
Virtue is a jewel of great price.
73
107
Đạo đức là trang sức quý giá.
He dies like a beast who has done no good while he lived.
74
107
Người không làm điều gì tốt khi sống sẽ chết như một con quái vật.
Common fame is a liar.
75
109
Danh tiếng là kẻ nói dối.
Gossips are frogs, they drink and talk.
76
Người thích chuyện tầm phào là lũ ếch, chúng say sưa và nói huyên
109
thuyên.
He that is a blab is a scab.
77
110
Người ba hoa là bệnh ghẻ.
The secret is the prisoner; if you let it go, you art a prisoner to it.
78
Bí mật là một tên cai ngục, nếu bạn để nó đi, bạn đã tạo một tù
110
nhân cho nó.
Laughter is the best medicine.
79
116
Sự vui vẻ là phương thuốc tốt nhất.
Mirth is the sugar of life.
80
116
Vui vẻ là vị ngọt của cuộc sống.
81
116
Joy and sorrow are next door neighbours. Niềm vui và nỗi buồn là hàng xóm kế bên nhà nhau.
82
118
Affairs, like salt fish, ought to be a good while a-soaking. Công việc cũng như con khô, chỉ tốt khi đem chúng nhúng nước.
83
119
Hatred is blind, as well as love. Oán thù cũng mù như tình yêu.
Health is great riches.
84
120
Sức khỏe là tài sản vô giá.
177
The air of a window is as the stroke of a cross-bow.
85
120
Gió lùa ngoài cửa sổ giống như cú đánh của một cái ná.
The chamber of sickness is the chapel of devotion.
86
120
Phòng bệnh là nhà nguyện để cầu khấn.
A dry cough is the trumpeter of death.
87
120
Ho khan là lính thổi kèn của thần chết.
A physician is an angel when employed, but a devil when one must
88
122
pay him. Bác sĩ là thiên thần khi được mời đến, nhưng là quỷ sứ khi ai đó
phải trả tiền cho ông ta.
Plain dealing is a jewel.
89
123
Sự thẳng thắn là châu báu.
Honesty is a fine jewel, but much out of fashion.
90
124
Sự trung thực là trang sức quý giá nhưng đã lỗi thời.
An honest man's word is as good as his bond.
91
124
Lời nói của người chân thật cũng quý như xương tủy của anh ta.
Honour without profit is a ring on the finger.
92
124
Danh dự mà không có lợi lộc chỉ là chiếc nhẫn trên ngón tay.
Hope is the poor man's bread.
93
125
Hi vọng là bánh mì của người nghèo.
Hope is but the dream of those that wake.
94
125
Hi vọng chỉ là giấc mơ của những người đã tỉnh giấc.
Hunger is good kitchen meat.
95
127
Cái đói là miếng thịt ngon trong bếp.
96
127
Hunger is the best sauce. Cái đói là nước chấm tốt nhất.
97
129
An idle brain is the devil's workshop. Một cái đầu lười biếng là phân xưởng của quỷ.
98
129
An idle person is the devil's cushion. Kẻ lười biếng là cái nệm của quỷ.
Sloth, like rust, consumes faster than labour wears.
99
129
Sự lười biếng cũng như rỉ sét, tan biến nhanh hơn khi lao động.
178
Ignorance and incuriosity are two very soft pillows.
100
130
Sự ngu dốt và không tò mò là hai chiếc gối rất êm ái.
101
134
Fair play is a jewel. Chơi đẹp là đồ trang sức quý giá.
Learning is the eye of the mind.
102
136
Học vấn là đôi mắt của trí tuệ.
103
136
Wit without learning is like a tree without fruit. Thông minh mà không chịu học thì giống như cái cây không có trái.
Learning in the breast of a bad man is as a sword in the hand of a
104
madman.
137
Học vấn trong đầu kẻ xấu là thanh gươm trong tay người điên.
The law is an ass.
105
138
Pháp luật là một con lừa.
Law is a bottomless pit.
106
139
Pháp luật là một cái hố không đáy.
A client twixt his attorney and counsellor is like a goose twixt two
foxes.
107
139
Khách hàng ở giữa luật sư và người cố vấn pháp luật của mình
giống như con ngỗng ở giữa hai con cáo.
Law is a lickpenny.
108
139
Luật pháp lá một tên móc túi.
Custom is the plague of wise men, and the idol of fools.
109
Phong tục là bệnh dịch đối với người thông minh và là thần tượng
140
của những kẻ ngu đần.
A bad custom is like a good cake, better broken than kept.
110
140
Phong tục cổ hủ giống như một chiếc bánh ngon, tốt nhất nên bẻ vụn ra hơn là giữ nó.
111
141
Liberty is a jewel. Tự do là vàng bạc.
Life is but a span.
112
142
Đời người chỉ bằng một gang tay.
113
143
Life is a pilgrimage. Đời người là một cuộc hành hương.
179
Life is a shadow.
114
143
Cuộc đời chỉ là một cái bóng.
115
143
Every day of the life is a leaf in the history. Mỗi ngày trong đời là một trang trong lịch sử.
Life is just a bowl of cherries.
116
143
Đời người chỉ là một rổ anh đào.
117
144
Lovers are madmen. Những người đang yêu là những kẻ điên.
Love is as strong as death.
118
145
Tình yêu cũng có sức mạnh như cái chết.
War, hunting, and love are as full of trouble as pleasure.
119
Chiến tranh, săn bắn và tình yêu có nhiều nỗi buồn cũng như niềm
146
vui.
Love without return is like a question without an answer.
120
148
Yêu mà không quay đầu lại cũng như câu hỏi không có đáp án.
Fortune is the mistress of the field.
121
150
Sự giàu có là bà chủ của cánh đồng.
Wedlock is a padlock.
122
153
Hôn nhân là cái ổ khóa.
Marriage is a lottery.
123
154
Hôn nhân là một tờ vé số.
A great dowry is a bed full of brambles.
124
155
Của hồi môn nhiều là một cái giường đầy gai.
A young maid married to an old man is like a new house thatched
with old straw.
125
155
Cô gái trẻ lấy một người đàn ông già giống như ngôi nhà mới lợp bằng rơm cũ.
126
157
The wife is the key of the house. Người vợ là chìa khóa của ngôi nhà.
127
158
Love is a fair garden and marriage a field of nettles. Tình yêu là một khu vườn đẹp và hôn nhân là cánh đồng trồng đầy cây tầm ma.
128 A man without reason is a beast in season.
160
180
Người sống không có lí tưởng là một con thú hoang trong mùa săn
bắn.
129
161
The devil's mouth is a miser's purse. Miệng lưỡi của quỷ sứ là cái ví của người mất.
March comes in like a lion and goes out like a lamb.
130
163
Tháng ba đến nhanh như sư tử và đi như cừu.
131
170
A useful trade is a mine of gold. Một việc buôn bán có lợi là mỏ vàng.
Sailors get money like horses and spend it like asses.
132
172
Thủy thủ kiếm tiền như ngựa và tiêu xài chúng như con lừa.
Soldiers in peace are like chimneys in summer.
133
172
Người lính trong thời bình giống như ống khói trong mùa hè.
Old age is a hospital that takes in all diseases.
134
173
Người già là một bệnh viện chứa đủ loại bệnh.
Zeal without knowledge is a runaway horse.
135
179
Nhiệt tình mà thiếu hiểu biết giống như con ngựa lồng lên.
Patience is a flower that grows not in every one's garden.
136
179
Kiên nhẫn là một đóa hoa không nở ở mọi khu vườn.
Pride is a flower that grows in the devil's garden.
137
194
Sự kiêu căng là một đóa hoa nở trong khu vườn của quỷ.
Promises are like pie-crust, made to be broken.
138
196
Lời hứa là cái vỏ bánh, được làm ra để bẻ vụn.
Promise is debt.
139
196
Hứa là nợ.
Proverbs are like butterflies, some are caught, others fly away. TN như những con bươm bướm,vài con bị bắt được, những con
140
197
khác thì bay mất.
141
201
A man without religion is like a horse without a bridle. Người không có đạo như ngựa không có cương.
142
204
The blood of the martyrs is the seed of the church. Máu của những người tử vì đạo là hạt giống của nhà thờ.
The church is an anvil which has worn out many hammers.
143
204
Nhà thờ là một cái đe làm mòn nhiều cây búa.
181
A monk out of his cloister is like a fish out of water.
144
204
Tu sĩ ra khỏi tu viện giống như cá ra khỏi nước.
145
209
Revenge is a dish that can be eaten cold. Sự trả thù là một món ăn có thể ăn nguội.
Silence is a woman's best garment.
146
218
Im lặng là trang sức đẹp nhất của người phụ nữ.
147
218
Quietness is a great treasure. Im lặng là châu báu quý giá.
Speech is silver, silence is golden.
148
218
Nói là bạc, im lặng là vàng.
Skill and confidence are an unconquered army.
149
219
Kĩ năng và sự tự tin là đội quân bất khả chiến bại.
Sleep is the greatest thief, for it steals half one's life.
150
220
Giấc ngủ là tên trộm vĩ đại nhất vì nó cướp mất nửa đời người.
A solitary man is either a beast or an angel.
151
223
Người cô độc có thể là một con quái vật hoặc là một thiên thần
A good tongue is a good weapon.
152
233
Miệng lưỡi là vũ khí tuyệt vời.
Great talkers are like leaky pitchers, everything runs out of them.
153
Những người nhiều chuyện như cái bình bị rò rỉ, mọi thứ chảy ra
235
bên ngoài chúng.
Time is money.
154
238
Thời gian là tiền bạc.
Time is a file that wears and makes no noise.
155
238
Thời gian là gã láu cá không tạo ra tiếng động nào.
Mistrust is an axe at the tree of love.
156
243
Không tin tưởng lẫn nhau là chiếc búa đốn ngã cây tình yêu.
157
243
Truth is God's daughter. Sự thật là con gái của Chúa.
158
245
Truth is a spectre that scares many. Sự thật là bóng ma nhát nhiều người.
Money is the only monarch.
159
251
Tiền là vị quốc vương duy nhất.
182
Money is the ace of trumps.
160
252
Tiền là con bài chủ cao nhất.
161
252
Money is a good servant, but a bad master. Tiền là một người đầy tớ tốt nhưng là một ông chủ tồi.
Mere wishes are silly fishes.
162
259
Những điều mong ước suông là những con cá ngốc.
163
262
Women are the snares of Satan. Phụ nữ là cái bẫy của quỷ Satan.
Women are the devil's nets.
164
262
Phụ nữ là cạm bẫy của quỷ.
Women are like wasps in their anger.
165
262
Phụ nữ giống như ong bắp cày trong cơn giận của họ.
Women in state affairs are like monkeys in glass-shops.
166
262
Những nữ viên chức giống như lũ khỉ trong tủ kính cửa hiệu.
A woman is a weathercock.
167
263
Phụ nữ là chong chóng chỉ hướng gió.
Women are as wavering as the wind.
168
263
Phụ nữ thay đổi như cơn gió.
Women are saints in church, angels in the street, and devils at home.
169
Phụ nữ là thánh trong nhà thờ, thiên thần trên đường phố và quỷ ở
263
nhà.
A woman's sword is her tongue, and she does not let it rust.
170
Thanh gươm của người phụ nữ là cái lưỡi của cô ta, và cô ta không
264
bao giờ để nó bị rỉ sét.
A woman's tongue wags like a lamb's tail.
171
264
Lưỡi của người phụ nữ ve vẩy như đuôi cừu.
172
265
A woman is flax, man is fire, the devil comes and blows the bellows. Phụ nữ là những sợi lanh, đàn ông là lửa, một con quỷ đến và
nghịch ngợm thổi vào ống bể.
173
266
The world is a net, the more we stir in it, the more we are entangled. Thế gian là một cái lưới, chúng ta càng chuyển động thì càng bị mắc kẹt trong đó.
183
The world is a stage and every man plays his part.
174
266
Thế gian là một sân khấu mà mỗi người đóng một vai.
175
The world is a ladder for some to go up and some down. Thế gian là một cái thang cho một vài người leo lên và những kẻ
266
khác leo xuống.
The mouth is wind, the pen is a track.
176
268
Miệng là cơn gió, bút viết là dấu tích.
Literature is a good staff but a bad crutch.
177
269
Văn học là cây quyền trượng tốt nhưng là một chiếc gậy tồi.
A great book is a great evil.
178
269
Một quyển sách hay là một thảm họa khủng khiếp.
Tổng cộng: 178 câu SSTT/ 6708 câu TN Anh Tỉ lệ 2.65 %
Phụ lục 4: PHÂN LOẠI YẾU TỐ A TRONG SSTT CỦA TỤC NGỮ VIỆT
THEO ĐỀ TÀI
Đề tài
Yếu tố A
Số lƣợng
Con ngƣời và giới tự nhiên
Tự nhiên
10
Thực vật
6
gió thổi nƣớc mƣa mƣa tháng ba mƣa tháng sáu tấc đất ruộng đầu chợ ruộng giữa đồng ruộng không phân hòn đất nỏ một nạm gió dâu năng hái cơm tẻ
184
1
củi tre hoa thơm x 2 cây mít trâu
Động vật
Cơ thể ngƣời
4
cái rắm mặt đỏ mặt vàng bụng bí rợ
Đồ vật
14
11
Ăn mặc, vui chơi
3
Kinh nghiệm sản xuất
Con ngƣời và đời sống vật chất
nhà không móng xe không bánh của x 4 tiền của đồng tiền tiền nhà không chủ thuyền không lái thuyền mạnh về lái nồi đồng thuyền theo lái ăn cơm không rau cơm không rau cơm vào dạ ăn đƣợc ngủ đƣợc không ăn không ngủ thấy ăn nam thực nữ thực ăn trầu không có rễ cờ phải nƣớc bí ăn làm ruộng không trâu làm ruộng có trâu
185
uốn cây từ thuở còn non
56
Quan hệ gia đình
Con ngƣời và đời sống xã hội
phận gái mẹ già con nhà có cố có ông trẻ mùa hè gái lớn trong nhà gái không chồng x 4 gái có con gái không con trai tơ lấy phải nạ dòng bố dòng lấy đƣợc gái tơ nạ dòng lấy đƣợc trai tơ chồng già vợ trẻ vợ già chồng trẻ trai phải hơi vợ gái phải hơi trai chồng cần vợ kiệm chồng vợ vợ chồng x 3 trai có vợ x 3 gái có chồng x 3 gái chồng rẫy con giữ cha con có cha con không cha x2 con có mẹ con có mạ mẹ già con đàn chị em dâu chị em gái anh em bố chồng x 2 mẹ chồng x 2 nàng dâu x 2
186
Quan hệ xã hội
10
bố vợ mẹ vợ chàng rể con trai ở nhà vợ bắt chấy cho mẹ chồng cƣới vợ không cheo x 2 lấy vợ không cheo nam vô tửu trai thấy gái lạ quan thấy kiện lễ vào quan việc quan lính tuần miệng quan ơn dân dân quân vô tƣớng
Con ngƣời và đời sống tinh thần
48
Quan niệm về nhân sinh
cứu bệnh mỗi năm mỗi tuổi ngƣời già đàn ông x 4 đàn bà x 3 đẹp x 3 vênh váo ngƣời ta x 2 có tiền x 2 không tiền x 2 khôn dại phũ (phàng) x 2 tiền vào nhà khó ngƣời x 2 thấy việc dữ ác
187
3
Quan niệm về tôn giáo, tín ngƣỡng
lòng ngƣời lời nói x 2 ngƣời sa lời nói nói đúng nói với ngƣời say nói ngƣời không học xấu ngƣời dốt ngãi khỏe lênh đênh to rẻ ngƣời đẹp vì lụa một lần dọn nhà ngông nghênh nhăng nhít phải duyên thì dính trái duyên chổng chểnh miệng bà đồng
166
Tổng cộng
Phụ lục 5: PHÂN LOẠI YẾU TỐ B TRONG SSTT CỦA TỤC NGỮ VIỆT
THEO ĐỀ TÀI
Con ngƣời và giới tự nhiên
Tự nhiên
12
non sông có nguồn nƣớc thủy triều lửa đốt đầu gió gió vào nhà trống trời mƣa
Đề tài Yếu tố B Số lƣợng
188
bể
mây giếng khơi nƣớc lã ruộng
máu rồng cánh không lông gà thấy ngô cóc cụt đuôi hổ
miêu quạ thấy gà con cò bợ phải trời mƣa rồng có vây
gà giữ ổ nòng nọc đứt đuôi lông cánh phƣợng lông lợn hạch đách lợn sề
Động vật
31
ông Ba Vì chó nằm gầm chạn bồ nông mò biển rái vích
mày mạy đòng đong chó x 3 kiến thấy mỡ khỉ tế giác chim sổ lồng voi con tằm
189
hổ vô đầu
hoa đất x 2 cây có cội dâu ngả bóng bồ hòn có rễ
bè nghể trôi sông thài lài phải cứt chó nứa trôi sông cây không rễ thì cây hƣ măng ấp bẹ
Thực vật
22
chuối chín cây tre ấm bụi cái nhân sâm bèo trôi sông
lúa tốt vì phân cây gỗ tròn hoa bèo x 2 chuối hột
nghệ rơm bóng không ngƣời chân tay
6
Bộ phận cơ thể ngƣời
cuống ruột trôn trẻ máu thân không của
Đồ vật
53
Con ngƣời - đời sống vật chất
chổi trời cƣa trời tấc vàng tiền bỏ đi
190
kho
thuốc tiêu thuốc gió thuốc tiên bè tháng sáu rào giậu giỏ x 2 hom vang cơi đựng trầu
đĩa vôi cái bầu kỳ vô phong keo
kèo đục vênh cái nơm rối x 2 tiền bỏ đi x 2 tiền gieo xuống suối
giỏ phân hom đũa có đôi lỗ tiền chôn giỏ có hom
rợ buộc chân cối xay chết ngõng chông mác
rác tủ không khóa gông đeo cổ phản gỗ long đanh vàng x 2
191
nhà có nóc
gạch tƣợng mới tô bồ nghe chửi rợ cọc chèo lồng chim khƣớu than vào lò ngãi gói vàng ngọc không mài
kèo neo không mấu nƣớc mắm thối chấm lòng lợn thiu
3
Ăn mặc, vui chơi
hạt cơm dính mỡ ao rƣợu néo không mấu
3
Kinh nghiệm sản xuất
bào chèo
13
Quan hệ trong gia đình
vợ giữa làng chồng giữa làng gái năng tô mẹ ruột đĩ thấy cha bố vợ phải đấm rể nằm nhà ngoài gái không chồng làm dâu có chồng gái mạnh về chồng gái theo chồng chồng xấu dễ sai
Con ngƣời và đời sống xã hội
192
dạy con
4
Quan hệ xã hội
thiên hạ có vua bà hoàng hậu chúa muôn loài khách vãng lai một thời
Con ngƣời và đời sống tinh thần
làm giàu không thóc đánh nhau không có ngƣời gỡ vạ vào mình cứu hỏa đuổi xuân đi
15
Quan niệm về nhân sinh
mơ thấy vàng mơ đƣợc vàng trông vào vách ngƣời ta chết để tiếng vay không trả
ba lần cháy gãi vào chỗ ngứa đàn bà một mắt ngƣời khôn x 2
11
Quan niệm về tôn giáo, tín ngƣỡng
nhà giàu chết không kèn trống tiên x 5 ma chửa cất ma duyên nợ nần duyên tiên trên đời
Tổng cộng
173
193
Phụ lục 6: PHÂN LOẠI YẾU TỐ A, B TRONG SSTT CỦA TỤC NGỮ VIỆT
THEO TIÊU CHÍ TỪ VỰNG – CÚ PHÁP
1/ Yếu tố A:
Động từ/ Động ngữ
Cụm C-V
Danh từ/ Danh ngữ
Tính từ/ Tính ngữ
làm ruộng không trâu
nƣớc mƣa mƣa tháng ba
ăn cơm không rau
gió thổi con nhà có cố có ông
đẹp x2 đẹp ngông nghênh nhăng nhít
mƣa tháng sáu
ăn đƣợc ngủ đƣợc
con không cha thì con trễ
nứa trôi sông không
không ăn không ngủ thấy việc thấy ăn lởn vởn
trâu chết để da
tấc đất mặt đỏ mặt vàng một nạm gió một cây mít cơm tẻ
thuyền không lái
vênh váo khôn x 3 dại x 3 phũ x 2 dữ ác
giập thì gãy con giữ cha gái có con gái không con
cứu bệnh có mẹ già phải duyên thì dính trái duyên chổng chểnh
gái không chồng
một lời nói ngƣời dốt
đêm nằm mê mẩn x 2 bắt chấy cho mẹ
xấu khỏe
nam vô tửu
chồng
nam thực
tiền ngãi của
lỗi thời to rẻ
ăn trầu không có rễ một lần dọn nhà
nữ thực
trai thấy gái lạ trai tơ lấy phải nạ dòng
của một cái rắm
ăn x 2 làm
cƣới vợ không cheo
nói đúng
cƣới vợ không cheo
nói với ngƣời say
trẻ mùa hè mỗi năm mỗi tuổi ngƣời già
lấy vợ không cheo trai phải hơi vợ
nói uốn cây từ thuở còn
non
gái phải hơi trai chồng cần vợ kiệm vợ chồng may rủi vợ chồng hòa thuận
đàn ông đàn bà phận gái lời nói chồng già vợ trẻ vợ già chồng trẻ đàn ông
trai có vợ x 3 làm ruộng có trâu thuyền mạnh về lái
194
chồng vợ vợ chồng mẹ già con đàn chị em dâu chị em gái anh em bố chồng x 2 mẹ chồng x 2 nàng dâu bố vợ mẹ vợ chàng rể tiền của đồng tiền ngƣời ta của miệng bà đồng việc quan lính tuần miệng quan ơn dân dân ngƣời ta ngƣời ngƣời
gái có chồng x 3 gái không chồng x 3 thuyền theo lái củi tre dễ nấu nồi đồng dễ nấu ruộng đầu chợ ruộng giữa đồng con có cha con không cha con có mẹ con có mạ con trai ở nhà vợ ngƣời đẹp vì lụa quan thấy kiện lễ vào quan tiền vào nhà khó cờ phải nƣớc bí ngƣời sa lời nói nhà không móng xe không bánh quân vô tƣớng nhà không chủ cơm không rau cơm vào dạ nàng dâu mới về gái lớn trong nhà ngƣời không học hoa thơm ai chẳng
nâng niu ruộng không phân
của lòng ngƣời đàn ông x 2 đàn bà x 2
dâu năng hái hòn đất nỏ
61
22
20
63
Tổng cộng: 166 yếu tố A
195
2/ Yếu tố B:
Cụm C-V
Danh từ/ Danh ngữ
cƣa trời
nhà giàu chết không kèn trống
Động từ/ Động ngữ làm giàu không thóc đánh nhau không có
chổi trời
ngƣời gỡ
tiền bỏ đi
hoa đất máu rồng tấc vàng giỏ phân sào ruộng bó chèo chó
cứu hỏa đuổi xuân đi mơ thấy vàng mơ đƣợc vàng néo không mấu bị phải trời mƣa bào
đĩ thấy cha gà thấy ngô cây có cội dâu ngả bóng sông có nguồn bè nghể (ngổ) trôi sông quạ thấy gà con nƣớc mắm thối chấm lòng lợn
gãi vào chỗ ngứa
thiu
tủ không khóa
mẹ ruột voi tiên bèo x 2 chuối hột kho non
vay không trả trông vào vách
ma chửa cất cóc cụt đuôi bồ hòn có rễ kỳ vô phong kèo đục vênh
gái theo chồng
rồng có vây
rợ buộc chân
nắm thuốc tiêu bè tháng sáu ba rào giậu giỏ giếng khơi đĩa hom vôi cơi đựng trầu liều thuốc gió lọ thuốc tiên miêu keo duyên nợ nần cái bầu
chồng xấu dễ sai x 2 tiền gieo xuống suối cò bợ phải trời mƣa thài lài phải cứt chó gông đeo cổ phản gỗ long đanh cối xay chết ngõng làm dâu có chồng gái mạnh về chồng giỏ có hom đũa có đôi tiền bỏ đi gái chồng rẫy chẳng chứng nọ
hổ
cũng tật kia
196
tiên cái nơm rối rối con tằm lỗ tiền chôn chông mác rác rơm giỏ hom tiên duyên tiên trên đời bầu nƣớc lã cái nhân sâm chân tay lông cánh phƣợng lông lợn hạch đách lợn sề
gà giữ ổ nhà có nóc nòng nọc đứt đuôi cây không rễ thì cây hƣ măng ấp bẹ thiên hạ có vua chuối chín cây tre ấm bụi tƣợng mới tô bồ nghe chửi bèo trôi sông bố vợ phải đấm chó nằm gầm chạn rể nằm nhà ngoài bồ nông mò biển khách vãng lai một thời lúa tốt vì phân kiến thấy mỡ than vào lò lửa đốt đầu gió vào nhà trống
hạt cơm dính mỡ
bà hoàng hậu rợ cọc chèo ông Ba Vì nƣớc thủy triều
chim sổ lồng gái không chồng ngọc không mài
chúa muôn loài
bóng không ngƣời
cánh không lông
cuống ruột rái vích mày mạy đòng đong tiên chó lồng chim khƣớu ao rƣợu
hổ vô đầu gái năng tô kèo neo không mấu vợ giữa làng chồng giữa làng thân không của dạy con từ thuở con còn ngây thơ vạ vào mình ngƣời khôn ai chẳng kính yêu
trôn trẻ
mọi bề
197
ngƣời khôn ai chẳng nâng niu bên
mình ngƣời ta chết để tiếng
chó cây gỗ tròn ba lần cháy hoa đất hoa vàng ngãi tê giác khỉ đàn bà một mắt bể gói vàng một đọi máu mây gió ma tiên gạch vàng vang nghệ
71
90
12
Tổng cộng: 173 yếu tố B
Phụ lục 7:
1/ “Tiên”:
-Ăn được ngủ được là tiên...
-Chồng già vợ trẻ là tiên/ Vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần.
-Chồng cần vợ kiệm là tiên… -Vợ chồng may rủi là duyên/ Vợ chồng hòa thuận là tiên trên đời.
-Đẹp như tiên lo phiền cũng xấu.
-Khôn như tiên không tiền cũng dại…
2/ Giỏ & hom:
THỐNG KÊ CÁC HÌNH ẢNH LẶP LẠI Ở YẾU TỐ B TRONG SSTT CỦA TN VIỆT
198
-Trai có vợ như giỏ có hom.
-Đàn ông như giỏ, đàn bà như hom
3/ Rối:
-Đẹp như rối, không mối không xong.
-Đẹp như rối, chẳng có mối tối nằm không.
4/ Tiền:
-Cưới vợ không cheo, tiền gieo xuống suối.
-Ngông nghênh nhăng nhít là tiền bỏ đi.
-Trai có vợ như lỗ tiền chôn.
-Đồng tiền là chúa muôn loài/ Người ta là khách vãng lai một thời.
-Tiền của như nước thủy triều.
5/ Hoa:
-Người ta là hoa đất.
-Người như hoa ở đâu thơm đấy.
6/ Hoa thơm, ngƣời khôn:
-Hoa thơm ai chẳng nâng niu Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề.
-Hoa thơm ai chẳng muốn đeo Người khôn ai chẳng nâng niu bên mình.
7/ Vàng:
-Người là vàng, của là ngãi.
-Lời nói, gói vàng.
-Tiền là gạch, ngãi là vàng.
-Bố dòng lấy được gái tơ/ Đêm nằm mê mẩn như mơ thấy vàng.
-Nạ dòng lấy được trai tơ/ Đêm nằm mê mẩn như mơ được vàng.
8/ Bèo:
-Rẻ như bèo nhiều hươu cũng hết.
-Gặp thời thì nổi hòa huênh/ Lỗi thời thì lại lênh đênh như bèo.
9/ Chó:
-Hà tiện mới có, phũ như chó mới giàu.
-Có độc mới đủ, có phũ như chó mới giàu.
-Khôn như tiên không tiền cũng dại/Dại như chó có ló (lúa) cũng khôn.
199
10/ Cơm không rau:
-Ăn cơm không rau như đánh nhau không có người gỡ.
-Cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống.
Phụ lục 8: PHÂN LOẠI YẾU TỐ A TRONG SSTT CỦA TỤC NGỮ ANH
THEO ĐỀ TÀI
Con ngƣời và giới tự nhiên
Tự nhiên
5
England x 2 (nƣớc Anh) change of the weather (sự thay đổi của thời tiết) the air of a window (gió ngoài cửa sổ) march (tháng ba)
Động vật
1
Thực vật
2
10
Cơ thể ngƣời
a wolf (con sói) a black plum (cây mận đen) the sloe tree (cây mận gai) a good face (gƣơng mặt đẹp) the mouth x2 (cái miệng) the eyes (mắt) a flatterer's throat (cổ họng) health (sức khỏe) a cough (ho) a brain (não) a tongue x 2 (lƣỡi)
13
Đồ vật
Con ngƣời và đời sống vật chất
a back door (cửa sau) the mirror (tấm kính) debt (nợ)
Đề tài Yếu tố A Số lƣợng
200
10
Ăn mặc, vui chơi
riches (của cải) the chamber of sickness(căn phòng bệnh) fortune (gia tài) a dowry (của hồi môn) money x 3 (tiền) a women's sword (thanh gƣơm) the pen (cây viết) a book (quyển sách) fine dressing (mặc đẹp) wine x 2 (rƣợu) bread (bánh mì) an apple-pie without some cheese (bánh nhân táo không có phó mát) cards (bài bạc) hunger x 2 (cái đói) fair play (chơi đẹp) sleep (giấc ngủ)
7
Kinh nghiệm lao động, sản xuất
building (xây dựng) a bargain (sự trả giá) dear bought (việc mua ngọt ngào) business (kinh doanh) affairs(việc buôn bán) trade (thƣơng mại) three removals (ba lần chuyển nhà)
7
Quan hệ gia đình
Con ngƣời và đời sống xã hội
40
Quan hệ xã hội
children x 2 (trẻ con) two daughters(hai cô con gái) the wife(ngƣời vợ) wedlock(tình trạng có gia đình) marriage x 2(hôn nhân) nobility (quý tộc) a merry companion (ngƣời bạn vui tính)
201
a friend(ngƣời bạn) friendship(tình bạn) a physician(bác sĩ) law x 2(luật sƣ) a client (khách hàng) a young maid (cô gái trẻ) a woman x 2 (ngƣời phụ nữ) man (ngƣời đàn ông) the world x 3 (thế giới) sailors (thủy thủ) soldiers (ngƣời lính) women x 6 (những ngƣời phụ nữ) the receiver (ngƣời nhận) the liar and the murderer (kẻ nói dối và tên giết ngƣời) a whore (cô gái điếm) a solitary man (ngƣời đàn ông đơn độc) great talkers (những ngƣời nhiều chuyện) a flatterer (ngƣời nịnh hót) who has done no good while he lived (ngƣời không làm gì tốt khi còn sống) a blab (ngƣời ba hoa) an ilde person (kẻ lƣời biếng) lovers (những ngƣời đang yêu) he that gives honour to his enemy (ngƣời nhƣờng danh dự cho kẻ thù) a gentleman without an estate (quý ông không có tài sản) custom x 2 (phong tục) old age (tuổi già) gentility (ngƣời thuộc dòng dõi cao quý) great birth (ngƣời thuộc tầng lớp quý tộc)
202
Con ngƣời và đời sống tinh thần
83
Quan niệm về nhân sinh
wickedness with beauty (sự độc ác và cái đẹp) a fair woman without virtue(ngƣời phụ nữ đẹp không có đức hạnh) beauty x 2 (cái đẹp) a change (sự thay đổi) brag (sự khoe khoang) conscience x 5 (lƣơng tâm) content (sự hài lòng) a contented mind (đầu óc thỏa mãn) enough (vừa đủ) a man's discontent (sự không hài lòng) cruelty (sự tàn bạo) war (chiến tranh) deeds (hành động) words x 2 (lời nói) slander (lời phỉ báng) reward and punishment (thƣởng và phạt) fame x 6 (danh tiếng) a good name (tiếng tốt) credit lost (mất uy tín) fear (sự sợ hãi) music (âm nhạc) virtue and happiness (đạo đức và hạnh phúc) virtue (đạo đức) gossips (những ngƣời ngồi lê đôi mách) the secret (bí mật) laughter (nụ cƣời) mirth (sự vui vẻ) joy and sorrow (niềm vui và nỗi buồn) hatred(oán thù) plain dealing (sự thẳng thắn)
203
honesty (thành thật) an honesty man's word (lời nói của ngƣời thành thật) honour without profit (danh dự mà không có lợi nhuận) hope x 2 (niềm hi vọng) sloth (sự lƣời biếng) ignorance and incuriousity (sự ngu dốt và không tò mò) learning (học vấn) wit without learning (thông minh mà không học) knowledge (kiến thức) practice (thực hành) learning in the breast of a bad man (học vấn trong đầu óc của kẻ xấu) liberty (sự tự do) life x 4 (cuộc đời) every day of the life (mỗi ngày trong đời) love x 2 (tình yêu) war, hunting and love (chiến tranh, săn bắn và tình yêu) love without return (yêu mà không quay đầu lại) a man without reason (ngƣời sống không có lí tƣởng) zeal without knowledge (nhiệt tình mà thiếu hiểu biết) patience (kiên nhẫn) pride (tự hào) promises x 2 (lời hứa) proverbs (TN) revenge (sự trả thù) silence x 2 (im lặng) quietness (sự yên tĩnh) speech (lời nói) skill and confidence (kĩ năng và sự tự tin) time x 2 (thời gian)
204
mistrust (sự nghi ngờ) truth x 2 (sự thật) mere wishes (mong ƣớc suông) literature (văn học)
9
Quan niệm về tôn giáo, tín ngƣỡng
curses (những lời nguyền rủa) beasts x 2 (quái vật) the devil's mouth (miệng của quỷ) a man without religion (ngƣời không có đạo) the blood of the martyrs (máu của kẻ tử vì đạo) the church (nhà thờ) death (cái chết) a monk out of his cloister (thầy tu ra khỏi tu viện)
Tổng cộng:
187
Phụ lục 9: PHÂN LOẠI YẾU TỐ B TRONG SSTT CỦA TN ANH THEO ĐỀ
TÀI
Con ngƣời và giới tự nhiên
10
Tự nhiên
Động vật
fire x 2 (lửa) a shipwreck (nạn đắm tàu) a little garden full of very sour weeds (khu vƣờn nhỏ đầy hạt giống xấu) a river (dòng sông) a shadow (bóng râm) a field of nettles (cánh đồng trồng cây tầm ma) the wind x 2 (cơn gió) a fair garden (khu vƣờn đẹp) pigeons (bồ câu) chickens (gà) an ass x 3 (con lừa)
Đề tài Yếu tố B Số lƣợng
205
a dog x2 (con chó) muck (phân động vật) a beast x2 (con thú lớn) frogs (ếch) a goose twixt two foxes (con ngỗng giữa hai con cáo) a lion (sƣ tử) a lamb (cừu) horses x3 (ngựa) butterflies (bƣơm bƣớm) a fish x2 (cá) monkeys (khỉ) a lamb's tail (đuôi cừu) wasps (ong bắp cày)
11
Thực vật
8
Cơ thể ngƣời
a white plum (cây mận trắng) a flower x 3 (hoa) a blossom (hoa) fruits (quả) leaves (lá) a plant (cây) a tree without fruit (cây không có trái) flax (cây lanh) cherry (anh đào) bond x 2 (xƣơng) the breath (hơi thở) a scab (ghẻ, vảy ở vết thƣơng sắp lành) the plague (bệnh truyền nhiễm) a span (gang tay) tongue (lƣỡi) the eye (mắt)
Con ngƣời và đời sống vật chất
58
Vật thể nhân tạo
a house x 2 (ngôi nhà) a letter of recommendation (thƣ giới thiệu)
206
ancient riches (của cải lỗi thời) debt (nợ) a wagon (xe ngựa) a pillow x 2 (cái gối) a coat of mail (áo giáp) the philosopher's stone (đá tạo vàng) a sheet (tờ giấy) a sword (thanh gƣơm) the walls (bức tƣờng) the glass of the mind (tấm gƣơng của trí tuệ) the staff of life (chiếc gậy của cuộc sống) the window of the soul (cửa sổ tâm hồn) the perfume of heroic deeds (hƣơng thơm của những hành động anh hùng) a magnifying glass (kính phóng đại) a heritage (tài sản thừa kế) a Venice-glass (kính của nƣớc Ý) the prison of the heart (tù ngục của trái tim) a jewel of great price (trang sức quý giá) the medicine (thuốc men) great riches (của cải) a cross-bow (cái ná) a jewel x 4 (trang sức) a ring (chiếc nhẫn) a bottomless pit (hố không đáy) padlock (cái ổ khóa) lottery (vé số) a bed full of brambles (chiếc giƣờng đầy gai) a new house thatched with old straw (căn nhà mới lợp rơm cũ) treasure x 2(tài sản)
207
the key x 2 (chìa khóa) a miser's purse (chiếc ví) a mine of gold (mỏ vàng) chimneys (ống khói) a hospital (bệnh viện) an anvil (cái đe) garment (trang sức) silver (bạc) golden (vàng) a good weapon (vũ khí lợi hại) leaky pitchers (cái bình bị rò rỉ) money (tiền bạc) an axe (cái búa) a weathercock (chong chóng chỉ hƣớng gió) a net (cái lƣới) a good staff (cây quyền trƣợng tốt) a bad crutch (cái nạng tồi) rust (rỉ sét) a stage (sân khấu) a ladder (cái thang)
20
Ăn mặc, vui chơi
palled wine (rƣợu nhạt) a pudding x 2 (bánh pudding) a very poor dish (món ăn dở) a rest (nghỉ ngơi) a feast x 3 (tiệc tùng) the honey (mật ong) the food (thức ăn) the sugar (đƣờng) the salt (muối) salt fish (cá khô) the bread (bánh mì) meat (thịt) the sauce (nƣớc chấm) a cake (chiếc bánh ngọt) pie-crust (vỏ bánh) a dish (món ăn)
208
the ace of trumps (con át chủ bài)
1
Quan hệ gia đình
Con ngƣời và đời sống xã hội
28
Quan hệ xã hội
mother and daughter (mẹ và con gái) a thief x 4 (tên trộm) a pick-purse (tên móc túi) a witnesses (nhân chứng) a tyrant (tên bạo chúa) the physician (bác sĩ) children of the same village (trẻ con cùng một ngôi làng) a turncoat (kẻ phản bội) the executioner (đao phủ) the doctor (bác sĩ) a backbiter (kẻ nói xấu sau lƣng) a flatterer (kẻ nịnh hót) a friend x 2 (ngƣời bạn) a liar (ngƣời nói dối) the prisoner (tù nhân) neighbours (hàng xóm) a lickpenny (móc túi) the idol of fools (thần tƣợng của kẻ ngốc) madmen (ngƣời điên) the mistress (bà chủ) an army (quân đội) the monarch (quốc vƣơng) a servant (đầy tớ) master (ông chủ) a file (gã láu cá) evil x 2 (thảm họa, tai họa)
Con ngƣời và đời sống tinh thần
11
Quan niệm về nhân sinh
an evil conscience (lƣơng tâm tội lỗi) a kiss without a squeeze (cái hôn mà không ôm chặt) a thin shadow of eternity (cái bóng của sự trƣờng tồn)
209
the discourse of fools (bài diễn văn của kẻ ngốc) love (tình yêu) the dream (giấc mộng) a leaf in the history (một trang trong lịch sử) pleasure (điều thú vị) a question without an answer (câu hỏi không có câu trả lời) the devil's hook baited (mồi câu của quỷ) God (Chúa) the divinity (thần thánh) an sepulchre (ngôi mộ) the paradise (thiên đƣờng) the hell (địa ngục) the purgatory (tĩnh ngục)
28
Quan niệm về tôn giáo, tín ngƣỡng
death x 2 (cái chết) the devil's books (sách của quỷ) the chapel of devotion (nhà nguyện) the trumpeter of death (lính thổi kèn của thần chết) an angel x 3 (thiên thần) a devil x2 (ác quỷ) the devil's workshop (phân xƣởng của quỷ) the devil's cushion (cái nệm của quỷ) a pilgrimage (cuộc hành hƣơng) devil's nets (lƣới của quỷ) saints (thánh) death's feast (bữa tiệc của thần chết) the seed of the church (hạt giống của nhà thờ) a beast (con quái vật) God's daughter (con gái của Chúa)
210
a spectre (bóng ma) the snares of Satan (bẫy của quỷ Satan)
Tổng cộng:
198
Phụ lục 10: PHÂN LOẠI YẾU TỐ A, B TRONG SSTT CỦA TỤC NGỮ ANH
THEO TIÊU CHÍ TỪ VỰNG – CÚ PHÁP
Yếu tố A
Cụm C-V
Danh từ
March A wolf Debt Money Friendship War
Curse ….
children pick up words children utter them (words) again he that is a blab march comes in march goes out a young maid married to an old man he who has done no good while he lived he that gives honour to his enemy
179
8
Số lƣợng: Tổng: 187 yếu tố
Yếu tố B
Danh từ
Cụm C-V
Fire Wind Lamb
Cherry Sword Chimney Axe Cake God
Paradise
Angel Wagon
pigeons peas a good dog but dares not bite a foul house swept before the doors a tyrant that's always attended with fear a new house thatched with old straw the honey that is licked from the thorn the dream of those that wake god shall please a plant which must be often watered muck, which stink in a heap, but spread abroad make the earth fruitful an angel when employed, but a devil when one must pay him a flower that grows not in every one's
211
Anvil
garden a flower that grows in the devil's garden an anvil which has worn out many hammers a dish that can be eaten cold a file that wears and makes no noise
Weathercock Warsp …
16
182
Số lƣợng: Tổng: 198 yếu tố
Phụ lục 11:
1/ Rich: Gentility is but ancient riches. Dòng dõi cao quý chỉ là thứ của cải lỗi thời. Health is great riches. Sức khỏe là tài sản vô giá.
2/ A pudding wanting suet: Nobility, without ability, is like a pudding wanting suet. Giới quý tộc không có năng lực giống như chiếc bánh pudding cần có lớp mỡ bao quanh. A gentleman without an estate is like a pudding without suet. Quý ông không có tài sản giống như chiếc bánh pudding không có lớp mỡ bao quanh.
3/ Dish: Revenge is a dish that can be eaten cold. Sự trả thù là một món ăn có thể ăn nguội. Great birth is a very poor dish at table. Dòng dõi cao quý là món ăn rất tồi trong bữa tiệc.
4/ Gold: A useful trade is a mine of gold. Một việc buôn bán có lợi là mỏ vàng. Speech is silver, silence is golden. Nói là bạc, im lặng là vàng.
5/ Evil: A great book is a great evil. Một quyển sách hay là một thảm họa khủng khiếp.
THỐNG KÊ CÁC HÌNH ẢNH LẶP LẠI Ở YẾU TỐ B TRONG SSTT CỦA TN ANH
212
A man's discontent is his worst evil. Sự không hài lòng của một người là tai họa tồi tệ nhất.
6/ Bond: An honest man's word is as good as his bond. Lời nói của người chân thật cũng quý như xương tủy của anh ta. An Englishman's word is his bond. Lời nói của một người Anh là cái xương của anh ta.
7/ Friend: The best mirror is an old friend. Tấm gương tốt nhất là một người bạn cũ. As a wolf is like a dog, so is a flatterer like a friend. Con sói thì giống con chó, cũng như kẻ nịnh hót nhìn giống như một người bạn.
8/ Pillow: Ignorance and incuriosity are two very soft pillows. Sự ngu dốt và không tò mò là hai chiếc gối rất êm ái. A good conscience is a soft pillow. Lương tâm trong sạch là chiếc gối êm ái.
9/ Death: Love is as strong as death. Tình yêu cũng có sức mạnh như cái chết. Life without a friend is death without a witness. Sống mà không có bạn bè thì cũng như chết đi mà không có người chứng kiến.
10/ Treasure: Quietness is a great treasure. Im lặng là châu báu quý giá. Knowledge is a treasure but practice is the key to it. Kiến thức là một kho báu nhưng thực hành là chìa khóa để mở nó.
11/ Wind: The mouth is wind, the pen is a track. Miệng là cơn gió, bút viết là dấu tích. Women are as wavering as the wind. Phụ nữ thay đổi như cơn gió.
12/ God: Children pick up words as pigeon peas and utter them again as God shall please. (Trẻ con học từ nhƣ chim bồ câu nhặt đậu và nói lại nhƣ Chúa muốn nhƣ vậy) Truth is God’s daughter. (Sự thật là con gái của Chúa)
213
13/ Feast: A good conscience is a continual feast. Lương tâm trong sạch là những bữa tiệc liên tục. A contented mind is a continual feast. Cách nghĩ hài lòng là những bữa tiệc liên tục. Enough is as good as a feast. Vừa đủ cũng tốt như là được đi dự tiệc. War is death's feast. Chiến tranh là bữa tiệc của thần chết.
14/ Thief: Two daughters and a back door are three arrant thieves. Hai cô con gái và cái cửa sau là ba tên trộm vĩ đại. The receiver is as bad as the thief. Người chỉ biết nhận thì cũng tệ như là kẻ trộm. Sleep is the greatest thief, for it steals half one's life. Giấc ngủ là tên trộm vĩ đại nhất vì nó cướp mất nửa đời người. Building is a thief. Xây dựng là một tên trộm.
15/ Glass: Wine is the glass of the mind. Rượu là tấm gương của trí tuệ. Fame is a magnifying glass. Danh tiếng là chiếc kính phóng đại. Credit lost is like a Venice-glass broken. Uy tín bị mất cũng giống như tấm kính quý bị vỡ.
16/ Jewel: Virtue is a jewel of great price. Đạo đức là trang sức quý giá. Plain dealing is a jewel. Sự thẳng thắn là châu báu. Honesty is a fine jewel, but much out of fashion. Sự trung thực là trang sức quý giá nhưng đã lỗi thời. Fair play is a jewel. Chơi đẹp là đồ trang sức quý giá. Liberty is a jewel. Tự do là vàng bạc.
17/ Devil: Women are the devil's nets. Phụ nữ là cạm bẫy của quỷ. An idle person is the devil's cushion.
214
Kẻ lười biếng là cái nệm của quỷ. An idle brain is the devil's workshop. Một cái đầu lười biếng là phân xưởng của quỷ. Cards are the devil's books. Bài bạc là sách của quỷ. Wickedness with beauty is the devil's hook baited. Sự độc ác đi chung với cái đẹp là mồi câu của quỷ.
18/ Angel: A solitary man is either a beast or an angel. Người cô độc có thể là một con quái vật hoặc là một thiên thần. A physician is an angel when employed, but a devil when one must pay him. Bác sĩ là thiên thần khi được mời đến, nhưng là quỷ sứ khi ai đó phải trả tiền cho ông ta. Women are saints in church, angels in the street, and devils at home. Phụ nữ là thánh trong nhà thờ, thiên thần trên đường phố và quỷ ở nhà.
19/ Horse: A man without religion is like a horse without a bridle. Người không có đạo như ngựa không có cương. Zeal without knowledge is a runaway horse. Nhiệt tình mà thiếu hiểu biết giống như con ngựa lồng lên. Sailors get money like horses and spend it like asses. Thủy thủ kiếm tiền như ngựa và tiêu xài chúng như con lừa.
20/ Flower: Patience is a flower that grows not in every one's garden. Kiên nhẫn là một đóa hoa không nở ở mọi khu vườn. Pride is a flower that grows in the devil's garden. Sự kiêu căng là một đóa hoa nở trong khu vườn của quỷ. Beauty fades like a flower. Cái đẹp phai tàn như một bông hoa.
21/ Fire: Three removals are as bad as a fire. Ba lần dọn nhà thì cũng tệ như là một lần cháy. A woman is flax, man is fire, the devil comes and blows the bellows. Phụ nữ là những sợi lanh, đàn ông là lửa, bọn quỷ đến và thổi vào ống bể.
22/ Ass: The law is an ass. Pháp luật là một con lừa. He that gives honour to his enemy, is like to an ass. Người nhường danh dự cho kẻ thù của mình chẳng khác gì một con lừa.
215
Sailors get money like horses and spend it like asses. Thủy thủ kiếm tiền như ngựa và tiêu xài chúng như con lừa. Phụ lục 12: CẤU TẠO CỦA CSSS TRONG SSTT CỦA TỤC NGỮ VIỆT
VÀ TỤC NGỮ ANH
Động từ/ động ngữ không lo cũng hết
ăn mòn cũng hết
lởn vởn
sa đâu ấm đấy
mê mẩn x 2
fades (phai tàn) come home to roost (về nhà mình mà đậu) ought to be a good while a-soaking (chỉ trở nên tốt khi nhúng vào nước) consumes faster than labour wears (phân hủy nhanh hơn khi lao động) better broken than kept (nên bẻ gãy hơn là giữ lại) made to be broken (được làm ra để bẻ vụn) dính gặp đâu úp đấy wavering (dao động) chẳng có mối tối nằm không wags (ve vẩy, lúc lắc) không mối không xong ở đâu thơm đấy khôn dò không coi cũng ngã lại rút ruột ra lênh đênh
nông nổi sâu sắc cạn lòng bạc nghĩa
Tính từ/ tính ngữ
chổng chểnh khôn x 2 dại x 2
sweet (ngọt ngào) good x 3 (tốt) bad x 2 (xấu, tệ) white (trắng) narrowest at its source and broadest afar off (hẹp nhất ở thượng nguồn và rộng nhất phía hạ nguồn) as well as (cũng tốt như) fine but much out of fashion (đẹp
TN Việt TN Anh
216
Cụm C-V nào ai bày cỗ
nhiều hƣơu cũng hết
nhưng hầu hết đã lỗi thời) strong (mạnh mẽ) as full of trouble as pleasure (đầy đủ niềm vui cũng như nỗi buồn) that turn all it touches into gold (nó chuyển mọi thứ nó chạm vào thành vàng) which stink in a heap, but spread abroad make the earth fruitful (nó sẽ bốc mùi hôi thối khi chất thành đống nhưng nếu rải ra thì nó sẽ làm cho mặt đất trở nên màu mỡ) they drink and talk (chúng nhậu nhẹt và bắt đầu nói) if you let it (secret) go, you art a prisoner to it (nếu bạn để bí mật ra đi, bạn đã tạo nên một tù nhân cho nó) that grows not in every one's garden (nó (bông hoa) không nở trong mọi khu vườn) that grows in the devil's garden (đóa hoa chỉ nở trong khu vườn của quỷ) some are caught, others fly away (vài con đậu, vài con bay) that can be eaten cold (món ăn có thể ăn khi nguội) for it steals half one's life (vì nó (giấc ngủ) đánh cắp hết nửa đời người) everything runs out of them (mọi thứ chảy ra ngoài chúng) she does not let it rust (cô ấy không để nó rỉ sét) the more we stir in it, the more we are entangled (chúng ta càng chuyển động thì càng bị mắc kẹt trong đó) every man plays his part (mỗi người sẽ diễn phần của mình) some to go up and some down (một số người lên và một số người xuống)

