BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM

VÕ HỒNG SA LUẬN VĂN THẠC SĨ SO SÁNH TU TỪ TRONG

TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ ANH

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010

3

QUY ƢỚC VIẾT TẮT

CSSS: Cở sở so sánh

ĐHQG: Đại học Quốc gia

ĐH & TCCN: Đại học và trung cấp chuyên nghiệp

GD: Giáo Dục

HN: Hà Nội

KHXH: Khoa học xã hội

Nxb: Nhà xuất bản

Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

SSTT: So sánh tu từ

C-V: chủ ngữ - vị ngữ

TN: tục ngữ

4

Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU

0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tục ngữ (TN) có liên hệ mật thiết với hầu hết mọi lĩnh vực của đời

sống, từ việc thể hiện tƣ duy, lối sống, thái độ sống đến việc hỗ trợ làm đẹp

lời nói con ngƣời. Ngƣời Việt Nam xem TN nhƣ “hạt cườm của tư duy bác

học”, là “giọt đọng trong văn chương” [16]. Alfred Lord Tennyson – nhà thơ

nổi tiếng ở Anh vào thế kỉ XIX – ca ngợi TN “là những đồ châu báu mãi mãi lấp lánh trên ngón tay trỏ vươn dài của mọi thời đại”(1) [18, tr.7]. Có thể

khẳng định không một thể loại nào của văn học dân gian đƣợc sử dụng

thƣờng xuyên nhƣ TN. Ở Việt Nam cũng nhƣ nhiều quốc gia khác trên thế

giới, các nhà văn có tài thƣờng là những ngƣời biết quý trọng và sử dụng rất

sáng tạo vốn TN của dân tộc mình. Do đó, khi nghiên cứu văn học nói chung

và văn học dân gian nói riêng, chúng ta không thể bỏ qua thể loại TN.

Trong TN, so sánh là một biện pháp tu từ phổ biến. Từ xƣa ông cha ta

đã nhận ra không có cách nào làm cho ngƣời nghe nhanh chóng hiểu những

điều mình nói bằng một sự so sánh cụ thể. Thủ pháp này góp phần hữu hiệu

vào việc miêu tả, khắc họa những bài học kinh nghiệm trong TN thông qua

những mối tƣơng quan về mặt hình ảnh. Do đó, tìm hiểu so sánh tu từ (SSTT)

trong TN Việt sẽ góp phần làm rõ đặc điểm của thể loại và nâng cao chất

lƣợng giảng dạy TN Việt ở nhà trƣờng các cấp hiện nay.

Hơn nữa, trong xu thế hội nhập hiện nay, tiếng Anh đang đƣợc sử

dụng phổ biến và trở thành ngôn ngữ chính thức ở nhiều quốc gia. Ở Việt

Nam càng ngày càng có nhiều ngƣời học và sử dụng tiếng Anh. Do đó, những

(1) “Proverbs are jewels that on the stretched forefinger of all time sparkle forever.”

hiểu biết về SSTT nói riêng và TN Anh nói chung sẽ giúp ngƣời học không

5

chỉ biết mà còn hiểu sâu sắc hơn về ngôn ngữ và nền văn hóa của đất nƣớc

này.

Cuối cùng, việc tìm hiểu sự tƣơng đồng và khác biệt giữa SSTT trong

TN Việt và TN Anh sẽ ít nhiều làm rõ tƣ duy thẩm mỹ và bản sắc văn hóa của

mỗi dân tộc. Hiểu ngƣời cũng là một cách để hiểu mình hơn. Hi vọng rằng

đây sẽ là một tài liệu hữu ích cho việc giảng dạy và học tập chuyên đề TN của

học sinh, sinh viên Việt Nam ở nhà trƣờng các cấp cũng nhƣ của sinh viên

nƣớc ngoài ở các khoa Việt Nam học.

Đó là lý do ngƣời viết chọn đề tài “SSTT trong TN Việt và TN Anh”

làm đối tƣợng nghiên cứu.

0.2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Việc nghiên cứu so sánh tu từ trong TN Việt và TN Anh đã ít nhiều

đƣợc đề cập đây đó trong các công trình nghiên cứu chung về TN.

Ở Việt Nam, nhiều chuyên luận về TN có giá trị đã ra đời dƣới góc

nhìn của các nhà nghiên cứu văn học dân gian nhƣ: TN Việt Nam của Chu

Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri [12], Tìm hiểu thi pháp TN Việt

Nam của Phan Thị Đào [14], Tục ngữ Việt Nam – cấu trúc và thi pháp của

Nguyễn Thái Hòa [24], Khảo và luận về tục ngữ người Việt của Triều Nguyên

[47], Văn học dân gian Việt Nam [77], Thi pháp văn học dân gian [57],….

Những công trình này thƣờng xoay quanh các vấn đề: xác định khái niệm, tìm

hiểu nội dung và hình thức diễn đạt của TN, mối quan hệ giữa TN và các thể

loại văn học khác. Các tác giả cũng ít nhiều có nói đến SSTT.

Chu Xuân Diên trong quyển “TN Việt Nam” (Nxb. KHXH, 1993) đã

có những nhận xét ngắn gọn, hợp lí về lối ví von, so sánh. Trƣớc tiên, ông cho

rằng “Có thể tìm thấy hình thức ví von so sánh trong những câu TN mà các

6

phán đoán thực hiện tư tưởng khẳng định về một đặc điểm nào đó của đối

tượng bằng cách so sánh, liên hệ đối tượng ấy với đối tượng khác. Thí dụ:

“Cơm với cá như mạ với con”, “Ăn cơm không rau như đau không thuốc”,

“Xe không bánh như cánh không lông”, “Vợ chồng như đũa có đôi”, “Con

có cha như nhà có nóc”, “Lòng người nhu bể khôn dò”,…” [12, tr.170]

Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến một biến dạng của cấu trúc so sánh,

trong đó, hai vế là hai phán đoán riêng biệt, gắn bó với nhau bằng mối quan

hệ so sánh, có thể diễn đạt bằng liên từ “cũng như”. Thí dụ: “Người đẹp về

lụa (cũng như) lúa tốt về phân”, “Canh suông khéo nấu thì ngon (cũng như)

mẹ già khéo nói thì con đắt chồng”, “Miếng ngon nhớ lâu (cũng như) lời đau

nhớ đời”, “Chim khôn chưa bắt đã bay (cũng như) người khôn chưa nói dang

tay đỡ lời”, “Uốn cây từ thuở còn non (cũng như) dạy con từ thuở con còn

ngây thơ”. [12, tr.170]

Trong quy mô của một công trình nghiên cứu chung về TN, kết quả

nghiên cứu của tác giả về SSTT chỉ dừng lại ở mức độ khái quát.

Trong công trình “Tìm hiểu thi pháp TN Việt Nam” (Nxb. Thuận Hóa,

Huế, 2001) , khi trình bày các thủ pháp tạo nghĩa trong TN, Phan Thị Đào có

đề cập đến SSTT. Sau khi trình bày khái niệm so sánh, tác giả chú ý khu biệt

giữa so sánh nghệ thuật trong ca dao và TN. Ở ca dao, “cái cần so sánh

thường là những cái trừu tượng, thuộc phạm trù tinh thần (thân phận người

con gái, quan hệ tình yêu lứa đôi,…), cái dùng để so sánh phần nhiều là

những cái cụ thể, thuộc phạm trù vật chất (hạt mưa sa, con hạc đầu đình, tấm

lụa đào, giếng giữa đàng, miếng cau khô, cây quế giữa rừng, lửa mới nhen,

trăng mới mọc, đèn mới khêu, con ong, con tằm,…) và qua cái dùng để so

sánh, cái cần so sánh được cụ thể hóa.” [14, tr.141]

7

Trong khi đó, ở TN, theo tác giả, tình hình khác hẳn. “Cái cần so sánh

lẫn cái dùng để so sánh hầu hết là cái cụ thể, tuy khác loại nhưng đều thuộc

phạm trù vật chất. Vai trò chủ yếu của vế dùng để so sánh không thiên về

hướng cụ thể hóa mà thiên về hướng khái quát hóa, “quy luật hóa” điều được

nêu lên ở vế cần so sánh.” [14, tr.142]

Tác giả còn đề cập đến cơ sở so sánh (CSSS): “chuẩn mực so sánh

trong TN cũng rất đa dạng. Bởi thế, qua TN, chúng ta có thể tìm thấy những

cách liên tưởng bất ngờ, góp phần tạo ra cho người đọc những ấn tượng thẩm

mỹ khá phong phú”; tác dụng của so sánh: “nghiêng về nhận thức, nghiêng về

lí trí”; cấu trúc của so sánh: “do sự hạn chế về độ dài của câu nên so sánh

trong TN thường là so sánh đơn, rất ít kiểu so sánh chuỗi như trong ca dao”.

[14, tr.142]

Ở công trình “Thi pháp văn học dân gian” (Nxb. GD, 2000), Lê

Trƣờng Phát cũng đề cập ngắn gọn đến phép so sánh. Về phƣơng diện cấu

trúc, tác giả cho rằng so sánh thƣờng đƣợc thể hiện bằng hai vế, vế đầu là hiện

tƣợng cần đƣợc biểu đạt một cách hình tƣợng, vế sau là hiện tƣợng dùng để so

sánh. TN rất cô đúc, ngắn gọn nên lối so sánh chuỗi rất hiếm mà thƣờng xuất

hiện lối so sánh đơn. Về từ ngữ, tác giả cho rằng giữa hai vế đƣợc nối với

nhau bằng kết từ so sánh: như, như là, như thể, bằng, hơn,…Tác dụng của so

sánh trong TN thiên về hƣớng khái quát hóa, quy luật hóa; nghiêng về lí trí,

nhận thức. [57, tr.114 – 115]

Quan niệm của ông tƣơng đối thống nhất với quan niệm của Phan Thị

Đào trong chuyên luận “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam”. Tuy nhiên,

việc ông cho rằng về phƣơng diện cấu trúc, so sánh thƣờng đƣợc thể hiện

bằng hai vế là chƣa chính xác. Đồng thời, khi liệt kê các kết từ so sánh, ông

liệt kê cả từ “hơn” vào, trong khi cơ sở liên tƣởng của SSTT là dựa trên mối

8

quan hệ tƣơng đồng, chứ không nhằm xác định sự hơn thua giữa các đối

tƣợng.

Trong công trình “TN Việt Nam – cấu trúc và thi pháp” (Nxb. KHXH,

1996), Nguyễn Thái Hòa khi trình bày về kiểu câu có quan hệ so sánh tƣơng

đƣơng đã có những gợi ý vô cùng hữu ích về các từ nối. Chẳng hạn, từ so

sánh sẽ vắng mặt khi giữa phần nêu và phần báo có kiến trúc sóng đôi khá

chặt hoặc có sự đối nghĩa. Còn “như” đƣợc dùng trong các so sánh có tính

chất miêu tả, khi có một số nét nghĩa giống nhau giữa hai loại, hai sự kiện hay

hiện tƣợng đƣợc đƣa ra so sánh. “Bằng” là so sánh về giá trị. “Là” thì đƣợc

dùng trong kiểu câu so sánh có tính chất tƣờng giải, có tính hình tƣợng, đồng

thời thể hiện thái độ khen chê rõ rệt. [24, tr.84 – 93]

Nhìn chung, tuy chỉ mới dừng lại ở mức ngắn gọn và sơ lƣợc nhƣng

những nhận định trên đây là gơ ̣i ý ban đầu quý báu cho nh ững nghiên cứu cụ

thể về sau.

Ở Anh, khi tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về SSTT, Pierini Patrizia trong công trình “Simile in English: from description to translation” (2) nhận

(2) “While metaphor has attracted interest and research in a number of different disciplines –

philosophy, linguistics, cognitive psychology, literary theory and criticism – with an extraordinary

amount of papers and books on the subject, simile is much less investigated.” “Simile is a figure of

speech used in general language as well as specialized language, in everyday conversation as well

as literary, journalistic and promotional texts. Research on simile is carried out within rhetoric

(e.g. Mortara Garavelli 2002, 251 – 252), literary studies (e.g. Wellek & Warren 1973, 186 – 211),

linguistics and psycholinguistics (Ortony 1993; Miller 1993, Bredin 1998), often discussing simile

along with metaphor.”

thấy: trong khi thủ pháp ẩn dụ thu hút sự tìm hiểu của nhiều ngành khác nhau

9

nhƣ triết học, ngôn ngữ học, tâm lí học, lí thuyết và phê bình văn học,…với

vô số các bài báo và sách nghiên cứu thì SSTT ít đƣợc quan tâm hơn, chỉ

đƣợc đề cập lƣớt qua khi nhân tiện (simply mentioned in passing) trong các

công trình chung về tu từ học (nhƣ Mortara Garavelli, 2002, tr.251 – 252), nghiên cứu văn học (Wellek & Warren, Theory of literature, Penguin, 2nd

edition, 1973, tr. 186 – 211), ngôn ngữ học và ngôn ngữ tâm lý (Andrew

Ortony, Miller, George A., Images and models, Similes and metaphors, Cambridge University Press, 2nd edition, 1993; Hugh Bredin, Comparisons

and similes, Queen’s University, Northen Ireland, United Kingdom, 1998)

[103].

Còn SSTT trong TN Anh chỉ đƣợc các nhà nghiên cứu liệt kê rải rác

trong các công trình về văn bản học chứ chƣa thấy tài liệu nào chuyên viết về

vấn đề này.

Intensifying similes in English của Svartengren T. Hilding [108] là

công trình sƣu tầm về các SSTT xuất hiện trong ngôn ngữ và văn học Anh nói

chung, trong đó tác giả có trích dẫn cả các SSTT trong TN, từ các nguồn sau:

 Ray, Complete Collection of English Proverbs, Cambridge, 1670.

 Hazlitt, W. C, English Proverbs and Proverbial Phrases, 1904,

London.

 Coivan, PS, Frank C, A Dictionary of the Proverbs relating to the

Sea, Greensborough, 1894.

Ở đây, SSTT đƣợc sắp xếp theo các đề tài: trí tuệ, tính cách (similes

referring to mind and character), cơ thể ngƣời (similes chiefly referring to the

human body); hình dáng, màu sắc, kích cỡ, hình thức và bản chất của sự vật

(similes otherwise referring to form, to colour, size, the surface and substance

10

of things); SSTT có ý nghĩa cụ thể (definite similes) và có ý nghĩa tổng quát

(indefinite or general similes).

Ngoài phần sƣu tầm, tác giả có bài giới thiệu về công trình ở đầu

quyển sách. Tác giả có trình bày quan niệm của mình về SSTT qua một số ví

dụ:

(1) The giant whom Jack killed was as high as a house.

(Tên khổng lồ mà Jack giết cao như một ngôi nhà.)

(2) The bricklayer thinks that his scaffold was just as high as a house.

(Người thợ nề nghĩ rằng giàn giáo của anh ta cao vừa bằng ngôi nhà.)

Trƣờng hợp (1) là một SSTT, còn trƣờng hợp (2) chỉ là một sự đo

lƣờng, ƣớc lƣợng xác thực, không có giá trị tu từ.

Ngoài việc sƣu tầm các SSTT, tác giả còn hi vọng rằng quyển sách

này sẽ tìm ra phần nào sở thích, kinh nghiệm, hoàn cảnh sống, cách nhìn, quan điểm của những ngƣời sáng tạo ra chúng. (3)

Với tƣ cách là một công trình sƣu tầm về SSTT trong văn học Anh nói

chung và TN nói riêng, “Intensifying similes in English” chỉ dừng lại ở việc

liệt kê ra những SSTT trong TN mà chƣa có sự miêu tả cụ thể về đặc điểm,

(3) “The aim of this work is not only to collect these similes, but to try to find out the

human interests behind them, the experiences and the circumstances of life and the outlook upon

life that have helped to create them.”

bản chất của chúng.

11

Trong bài báo “Comparisions and similes” của Bredin, Hugh

(Queen’s University, 1998), ở phƣơng diện ngôn ngữ, ông đề cập đến 2 vấn

đề: so sánh và SSTT. Ông cho rằng sự khác biệt giữa so sánh thông thƣờng và

SSTT nằm ở chỗ SSTT là so sánh vị ngữ, nhằm miêu tả về chủ ngữ. Còn so

sánh thông thƣờng là một so sánh đối xứng, trong đó chủ ngữ và vị ngữ hoàn

toàn độc lập. Trong các so sánh thông thƣờng, chủ ngữ và vị ngữ có thể thay thế cho nhau mà nghĩa của câu không thay đổi. (4)

Ở phần cuối của bài viết, ông cũng chỉ ra SSTT hoàn toàn khác biệt, độc lập với ẩn dụ (5). Cả so sánh và ẩn dụ đều đƣợc thiết lập dựa trên mối quan

hệ giữa hai thực thể nhất định, nhƣng hai biện pháp tu từ này khác nhau ở 3

phƣơng diện sau: SSTT đối chiếu các thực thể đƣợc đề cập văn bản với nhau,

trong khi ẩn dụ so sánh thực thể này với một khái niệm hoàn toàn khác; SSTT

có thể có nghĩa đen hoặc nghĩa bóng, ẩn dụ thì chỉ đƣợc hiểu theo nghĩa bóng;

SSTT đƣợc đánh dấu bằng nhiều phƣơng tiện thể hiện quan hệ so sánh khác

nhau, ẩn dụ thì không có dấu hiệu nào trên bề mặt. Có lẽ còn có một sự khác

biệt nữa giữa hai biện pháp tu từ này, xét về mặt ảnh hƣởng, tác động, SSTT

(4) “The difference between a simile and an ordinary comparison, however, is that similes are predicative comparisons (in which the predicate describes the subject), and ordinary comparisons are symmetrical comparisons (in which the subject and the predicate are referentially independent). In the latter, but not in the former, the subject and the predicate can be intersubstituted without any consequential change of meaning. Some concluding remarks deal with simile in discourse and in literature, and demonstrate that simile is quite different from, and independent of, metaphor.”

(5) “Both simile and metaphor establish a connection between two entities, but the two figures differ in three respects: simile compares the entities, while metaphor conceptually assimilates them to one another; the former can be literal or non-literal, the later is only non-literal; the former is signalled by a variety of comparision markers, the later has no surface marker. Probably, there is also a difference in impact: a simile usually has less power, suggestiveness and effectiveness than a good metaphor.”

ít có sức thu hút, tính chất gợi mở và hiệu quả, ấn tƣợng bằng ẩn dụ tu từ. [84]

12

Quan niệm của Hugh Bredin đƣợc đánh giá rất cao ở Anh và đƣợc

nhiều nhà nghiên cứu sau này kế thừa, trích dẫn.

Trong công trình sƣu tầm văn bản Fifteen thousand useful phrases/

Striking similes (Funk & Wagnalls company, 1917), Kleiser Grenville đã

dành chƣơng 8 để liệt kê các SSTT nổi bật tổng hợp từ nhiều nguồn khác

nhau gồm thành ngữ, TN, các tác phẩm văn học viết, báo chí,… [92]

Ngoài ra, ở Anh còn có hai quyển từ điển về SSTT của Wilstach & Frank Jenners: A dictionary of similes (6); Ruth Paris & Robert Baldwin: The Book of Similes(7). Các quyển từ điển này liệt kê SSTT theo thứ tự A – B – C,

cũng lấy từ nhiều nguồn khác nhau nhƣ văn học dân gian, sách vở, kinh thánh,

các tác phẩm văn học viết,…

Trong các giáo trình về văn học Anh nhƣ Introduction to English

folklore [80]; English literature [87]; A course in British literature [98]; Lịch

sử văn học Anh quốc [40] …; ngƣời viết cũng không thấy các nhà nghiên cứu

đề cập đến vấn đề SSTT trong TN.

Tóm lại, theo tài liệu chúng tôi tìm đƣợc, các nhà nghiên cứu văn

học, ngôn ngữ ở Anh chƣa xem SSTT trong TN của nƣớc họ là một đối tƣợng

nghiên cứu riêng biệt.

Về việc nghiên cứu đối chiếu giữa TN Việt và TN Anh, hiện nay

công việc này chủ yếu vẫn dừng lại ở việc so sánh TN về phƣơng diện văn

hóa nhƣ: “Khảo luận về TN người Việt [47] của Triều Nguyên, “Dấu ấn văn

hóa qua TN” [10] của Nguyễn Đức Dân, “So sánh TN Anh – Việt trong quá

trình hình thành và phát triển” [25] của Nguyễn Thƣợng Hùng, “Một số biểu (6) London, G.G. Harrap & Company, 1917. (7) Illustrated by David Austin, Publishing: Routledge & Kegan Paul, London, 1982.

13

hiện của văn hóa qua các thành ngữ, TN có từ chỉ bộ phận cơ thể người trong

tiếng Anh và tiếng Việt” [17] của Nguyễn Thị Vân Đông, “Ngôn ngữ với việc

phản ánh các yếu tố văn hóa và nhân sinh quan – thông qua TN Việt, Anh”

[41] của Nguyễn Văn Mƣời, … Một số kết quả nghiên cứu của các công trình

trên là định hƣớng quý báu cho ngƣời viết khi đi vào lí giải dấu ấn văn hóa

qua SSTT trong TN ở chƣơng III của luận văn.

Về nghiên cứu đối chiếu SSTT trong TN Việt và Anh, ngƣời viết tìm

đƣợc bài viết “Phép tỉ dụ trong TN Việt – Anh” của Trần Văn Phƣớc, Hoàng

Kim Anh [59]. Bài viết này đƣợc triển khai theo thứ tự: khái niệm phép tỉ dụ,

cấu trúc, phân loại, đặc điểm về ngôn ngữ của tỉ dụ Việt Anh, đặc điểm về văn

hóa của tỉ dụ Việt Anh. Ở phần cấu trúc phép tỉ dụ, hai tác giả cho rằng cấu

trúc này vô cùng đơn giản, gồm hai thành tố, đƣợc nối với nhau bằng liên từ.

Nhƣng khi liệt kê liên từ, họ có sự nhầm lẫn giữa so sánh logic và SSTT khi

liệt kê cả dạng so sánh hơn “-er than”, “more than” trong TN Anh, “không

bằng, chẳng bằng, không tày, chẳng tày, hơn” trong TN Việt.

Ở phần phân loại, các tác giả phân loại phép tỉ dụ theo quan điểm của Juozas Tininis (8) (dựa vào thành tố thứ nhất – trƣớc từ nối) và IR. Galperin (9)

(dựa vào thành tố thứ hai – sau từ nối). Nhƣng ngay từ đầu, các tác giả đã có

một sự nhầm lẫn. Đó là việc nhập nhằng giữa khái niệm thành ngữ và TN,

nên đã dẫn cả những ví dụ minh họa sau:

TN Việt:

-Béo như chim ra ràng.

-Nhanh như ngựa chạy trạm.

(8) Juozas Tininis (1971), Similes in Lithuanian Folk Proverbs, Lituanus Foundation, Inc., Lituania.

(9) I.R. Galperin (1971), Stylistics, Higher School Publishing House, Moscow

-Nháo nhác như gà lạc mẹ.

14

TN Anh:

-Like a drowned rat. (Nhƣ chuột chết chìm.)

-To swim like a duck. (Bơi nhƣ vịt.)

-As snug as a bug in a rug. (Thoải mái và ấm áp nhƣ rệp

trong chăn.)

-To fit like a glove. (Vừa vặn nhƣ chiếc găng tay.)

-To stick to somebody like a leech. (Dính ai nhƣ đỉa.)

-To eat like a pig. (Ăn nhƣ heo/lợn.)

Còn trong phần đặc điểm về ngôn ngữ trong tỉ dụ Anh, Việt, các tác

giả đƣa ra ba luận điểm: tính âm thanh của lời nói (lặp vần, lặp âm đầu), tính

đa thành tố (hai vế, ba vế so sánh), tính tiềm ẩn của liên từ so sánh. Trong

phần đặc điểm về văn hóa của tỉ dụ trong TN Việt Anh, họ đƣa ra ba luận

điểm: tính dân tộc, tính hài hƣớc châm biếm, tính sáo ngữ. Các luận điểm

thƣờng ngắn, không có sự lí giải và chỉ đƣợc chứng minh bằng vài câu TN (có

lẫn cả thành ngữ).

Nhìn chung, trong giới hạn của một bài viết ngắn đăng trên tạp chí, hai

tác giả không thể đào sâu để nói cho đủ, nói cho hết về vấn đề này. Phƣơng

pháp nghiên cứu còn chƣa hợp lí, tài liệu khảo sát chƣa xác đáng, dẫn đến kết

quả chỉ mới dừng lại ở mức định hƣớng, gợi ý sơ lƣợc cho những công trình

sau.

Tóm lại, trong phạm vi tài liệu mà ngƣời viết tìm hiểu đƣợc, chƣa có

công trình nào xem SSTT trong TN của ngƣời Việt và ngƣời Anh là đối tƣợng

nghiên cứu riêng biệt, chƣa có khảo sát nào thật sâu để làm nổi bật giá trị của

chúng. Trên tinh thần kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi

trƣớc, ngƣời viết hi vọng rằng có thể làm sáng tỏ phần nào sự tƣơng đồng và

15

dị biệt qua SSTT trong TN Việt và TN Anh dƣới góc độ ngôn ngữ học và văn

hóa học.

0.3. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

So sánh bao gồm so sánh logic và SSTT. Trong luận văn này, ngƣời

viết chỉ khảo sát thủ pháp so sánh với tƣ cách là phƣơng thức diễn đạt tu từ

“khi đối chiếu hai sự vật hiện tượng khác loại trong thực tế khách quan,

không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó,

nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng”. [31, tr.

157 – 159]

Ẩn dụ cũng là một phƣơng thức so sánh mà bản thân sự vật hiện tƣợng

đƣợc nói đến đã bị giấu đi một cách kín đáo. Luận văn sẽ không khảo sát thủ

pháp so sánh ngầm này mà chỉ tìm hiểu những biện pháp so sánh cụ thể trong

đó yếu tố đƣợc so sánh và yếu tố so sánh hiện diện rõ trên văn bản.

SSTT có thể đƣợc nghiên cứu từ nhiều góc độ, từ nhiều quan điểm

khác nhau, nhƣng ở luận văn này, do thời gian và khả năng có hạn, ngƣời viết

chỉ khảo sát các SSTT trong TN Việt và TN Anh từ góc độ ngôn ngữ học và

văn hóa học.

Ngoài ra, ngƣời viết không coi việc sƣu tầm văn bản, minh định

những vấn đề còn tồn nghi là nhiệm vụ cần giải quyết mà sẽ sử dụng kết quả

nghiên cứu của các công trình từ điển học đã đƣợc công bố rộng rãi. Cụ thể,

cơ sở của việc thống kê phân loại và khảo sát sẽ là:

+ Về TN Việt, ngƣời viết sử dụng các văn bản đƣợc in trong quyển

“TN Việt Nam” của Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri [12]. Sách

này gồm hai phần, phần nghiên cứu về TN do Chu Xuân Diên chấp bút, còn

phần biên soạn các câu TN do Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri

16

thực hiện. Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam sƣu tập TN với tƣ cách là

một thể loại riêng biệt, công phu. Trong đó, 4206 câu TN Việt đƣợc sắp xếp

theo hệ thống 73 đề tài rất khoa học. Công trình đƣợc giới nghiên cứu ở Việt

Nam đánh giá rất cao.

+ Về TN Anh, ngƣời viết chọn khảo sát các văn bản đƣợc in trong

quyển “The Penguin Dictionary of Proverbs” (Penguin Books) [86]. Ở Anh,

đây là quyển từ điển đơn ngữ tƣơng đối đầy đủ về TN gồm 6708 câu đƣợc sắp

xếp theo hệ thống 188 đề tài hợp lí. Trong mỗi đề tài, các câu TN đƣợc sắp

xếp theo từng nhóm thể hiện các khía cạnh khác nhau của đề tài. Đây là tài

liệu tham khảo vô cùng cần thiết cho những công trình nghiên cứu chuyên sâu

về TN Anh. Sách do nhà xuất bản rất uy tín ở Anh là Penguin ấn hành. Phần

chuyển ngữ các câu TN đƣợc in trong sách từ tiếng Anh sang tiếng Việt là do

ngƣời viết thực hiện.

Nhìn chung, mức độ bao quát và tần số xuất hiện của các hình ảnh

so sánh có thể sẽ dao động khi đối chiếu kết quả thống kê giữa công trình này

và công trình khác nhƣng chắc chắn rằng, những hình ảnh quen thuộc có ảnh

hƣởng đến đời sống vật chất và tinh thần của mỗi dân tộc sẽ có tần số xuất

hiện cao trong tất cả các công trình.

Sở dĩ ngƣời viết chọn khảo sát hai công trình văn bản học này vì

chúng đã tạo đƣợc tiếng vang rất lớn trong giới nghiên cứu, trong đó TN đƣợc

khảo sát với tƣ cách là một thể loại riêng biệt, không có sự nhập nhằng với

thành ngữ, và chúng đều đƣợc phân loại theo đề tài. Điều đó sẽ giúp chúng ta

có thể theo dõi đƣợc vốn TN phong phú, đa dạng của ngƣời xƣa “không phải

là trong trạng thái rời rạc, mà là trong một hệ thống nội dung liên tục, qua đó

hình dung được một cách tổng quát về xã hội và con người thời xưa từ các

17

lĩnh vực đời sống lao động, đời sống vật chất, đời sống xã hội, đến lĩnh vực đời sống tinh thần.” [12, tr. 191]

0.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Những phƣơng pháp chủ yếu mà ngƣời viết sử dụng trong quá trình

thực hiện luận văn gồm:

- Phƣơng pháp thống kê – phân loại: Đây là phƣơng pháp đƣợc tiến

hành đầu tiên nhằm cung cấp những dữ kiện, số liệu chính xác, tạo

cơ sở thực tế tin cậy cho các kết luận khoa học. Sử dụng phƣơng

pháp thống kê, ngƣời viết tiến hành phân loại các vấn đề theo nội

dung nghiên cứu yêu cầu. Đơn vị thống kê nhỏ nhất là từ thể hiện

quan hệ so sánh và lớn nhất là cả câu TN.

- Phƣơng pháp so sánh – đối chiếu: Đây là phƣơng pháp quan trọng

để làm nổi bật đặc trƣng văn hóa, quan niệm thẩm mỹ và trình độ

nhận thức của ngƣời sáng tạo. Đối tƣợng so sánh đối chiếu là SSTT

trong TN của ngƣời Việt và ngƣời Anh. Nội dung so sánh đối chiếu

là về hai phƣơng diện ngôn ngữ và văn hóa. Chẳng hạn, qua thao tác

so sánh, ngƣời viết nhận ra hình ảnh ma quỷ qua SSTT trong TN

Việt mang tính chất tiêu cực, còn trong TN thì mang cả tính chất

tiêu cực lẫn trung hòa.

- Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp: Dựa trên cơ sở phân tích các

thành tố so sánh cụ thể, ngƣời viết tiến hành khái quát những đặc

điểm tƣơng đồng và dị biệt để tổng hợp thành hệ thống các giá trị

của phép SSTT trong TN mỗi nƣớc ở phƣơng diện ngôn ngữ và văn

hóa.

- Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành: TN không chỉ đề cập đến

những kinh nghiệm trong sản xuất và đời sống của nhân dân mà còn

18

là nơi lƣu giữ lời ăn tiếng nói, phong tục tập quán, tín ngƣỡng của

ngƣời bình dân. Đƣợc lan truyền chủ yếu bằng phƣơng thức ghi nhớ

và truyền miệng, TN bị chi phối bởi môi trƣờng văn hóa dân gian

mà nó tồn tại. Do đó, để tiếp cận đƣợc với đối tƣợng này, chúng ta

cần có một phƣơng pháp nghiên cứu tổng hợp: nghiên cứu liên

ngành. Những kiến thức về các ngành khoa học khác nhƣ lịch sử,

địa lí, dân tộc học, xã hội học, đất nƣớc học,… sẽ giúp chúng ta hiểu

đƣợc các quan niệm khác nhau còn đƣợc lƣu giữ trong TN của mỗi

nƣớc. Chẳng hạn những hiểu biết về địa lí, khí hậu, về loại hình văn

hóa của dân tộc Việt và dân tộc Anh sẽ giúp ngƣời viết lí giải sự

khác biệt về hệ động thực vật, phƣơng thức sản xuất, cách tƣ duy,

nhân sinh quan của ngƣời Việt và ngƣời Anh trong luận văn.

0.5. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

- Về phương diện khoa học:

+ Luận văn góp phần làm rõ bản chất c ủa thể loa ̣i TN nói chung và

SSTT trong TN của hai dân tộc nói riêng. Đây là một công trình nghiên cứu

chuyên ngành hẹp, đi sâu tìm hiểu giá trị của phép SSTT trong TN Việt và

Anh thông qua tầm nhìn liên ngành.

+ SSTT trong TN thể hiện những tƣơng đồng và dị biệt trong cách tƣ

duy, tri nhận về sự vật của ngƣời bản ngữ. Nó đƣợc coi là phƣơng tiện để

khám phá ra những bí mật của quá trình tƣ duy cũng nhƣ những kinh nghiệm

đƣợc hình thành trong quá trình con ngƣời và giới tự nhiên tƣơng tác với nhau.

Qua SSTT trong TN của ngƣời Việt và ngƣời Anh, chúng ta có thể thấy đƣợc

văn hóa Việt, tinh thần Việt cũng nhƣ văn hóa Anh, tinh thần Anh. Đồng thời

cũng hiểu thêm phần nào cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ của hai dân tộc; về

lối cảm, lối nghĩ, lối diễn đạt riêng của mỗi nƣớc.

19

- Về phương diện thực tiễn:

+ Khi đi vào hƣớng nghiên cứu đối chiếu này, chúng ta có điều kiện

làm sáng tỏ thêm vấn đề đặc trƣng tâm lí cộng đồng trong chiều sâu ngôn ngữ,

văn hóa. Đây là cơ sở giúp ta mở rộng hiểu biết, tạo tiền đề cho quá trình hội

nhập.

+ Luận văn góp phần vào quá trình trang bị những tiền đề tâm lí – văn

hóa – xã hội, làm cơ sở cho việc hiểu sâu ngôn ngữ, trực tiếp góp phần nâng

cao chất lƣợng giảng dạy và học tập tiếng Anh cho ngƣời Việt cũng nhƣ tiếng

Việt cho ngƣời Anh.

+ Phần phụ lục ghi chép đầy đủ và có hệ thống về các trƣờng hợp

SSTT trong TN Việt và TN Anh có khả năng ứng dụng vào việc giảng dạy và

nghiên cứu về TN nói chung cũng nhƣ SSTT nói riêng.

0.6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Kết cấu luận văn ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung chính

gồm có các chƣơng mục sau:

Chương I: Những vấn đề chung về SSTT trong TN Việt và TN Anh

Trong chƣơng I, ngƣời viết sẽ trình bày khái quát các quan niệm khác

nhau về TN cũng nhƣ SSTT trong TN, từ đó lựa chọn cho mình một quan

niệm nhất quán để tiến hành việc khảo sát, nghiên cứu. Chƣơng I là cơ sở, nền

tảng cho các chƣơng sau.

Chương II: SSTT trong TN Việt và TN Anh, nhìn từ góc độ ngôn ngữ

học

Ở chƣơng II, tiếp cận SSTT dƣới góc độ ngôn ngữ học, ngƣời viết sẽ đi

vào làm rõ sự giống nhau và bản sắc riêng của mỗi dân tộc khi miêu tả từng

thành tố trong cấu trúc của SSTT. Việc lựa chọn có tính chất nhất quán đặc

20

điểm, cấu tạo của các yếu tố trong SSTT là dấu hiệu quan trọng cho phép ta

nhận diện đƣợc phong cách riêng của mỗi dân tộc. Để đánh giá các yếu tố

trong cấu trúc SSTT, ngƣời viết sẽ chú ý tìm hiểu xem các yếu tố trong so

sánh có đầy đủ không, cấu tạo và đặc điểm của chúng, …

Chương III: SSTT trong TN Việt và TN Anh, nhìn từ góc độ văn hoá

học.

Qua SSTT, chúng ta có thể nhận ra những đặc trƣng của phong cách

thời đại, phong cách dân tộc. Là đề tài vận dụng một khái niệm của phong

cách học (SSTT) vào việc tìm hiểu một thể loại văn học dân gian, ngƣời viết

sẽ khảo sát những nét tƣơng đồng và dị biệt trong quan niệm thẩm mỹ, bản

sắc văn hoá và trình độ nhận thức của mỗi dân tộc qua quá trình phân tích các

câu TN có chứa SSTT. Đó không chỉ là ngôn ngữ mà còn là dấu tích của các

nền văn hoá.

Ngoài ra luận văn còn có phần Phụ lục với 135 câu TN Việt có SSTT

và 178 câu TN Anh có SSTT. Các SSTT này đƣợc thống kê theo yêu cầu của

chính văn, chia thành 12 bảng. Trong đó, SSTT trong TN Việt và Anh đƣợc

phân loại theo yếu tố A, B về phƣơng diện đề tài và phƣơng diện từ vựng – cú

pháp. CSSS trong TN Việt và Anh đƣợc phân loại theo cấu tạo của chúng.

Ngoài ra còn có phụ lục về các hình ảnh lặp đi lặp lại ở yếu tố B trong SSTT

của TN Việt và Anh và bảng kê các số liệu đã đƣợc sử dụng trong luận văn.

Phần chuyển ngữ từ Anh sang Việt là do ngƣời viết thực hiện.

21

Phần thứ hai: NỘI DUNG

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SSTT TRONG TN VIỆT

VÀ TN ANH

1.1. KHÁI NIỆM TỤC NGỮ

1.1.1. Khái niệm TN ở Việt Nam

1.1.1.1. Khái niệm TN dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu văn học

Ở Việt Nam, khi tìm hiểu về TN các nhà nghiên cứu văn học thƣờng

nêu ra một số đặc trƣng sau đây:

+ Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao Việt Nam [56, tr. 39]:

“TN là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh

nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán.”

+ Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Văn học dân gian Việt Nam,

[26, tr.244]

“Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân

lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỉ.”

+ Bùi Mạnh Nhị, Tục ngữ// Văn học dân gian – những công trình

nghiên cứu [ 48, tr. 254]:

“Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp

điệu, hình ảnh và thường mang nhiều nghĩa, thể hiện những kinh nghiệm của

nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội), được nhân dân áp

dụng vào đời sống, tư duy và lời ăn tiếng nói hàng ngày.”

22

+ Hoàng Tiến Tựu, Văn học dân gian Việt Nam [77, tr.109]:

“TN là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu

lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức

những câu nói ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền”.

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã tìm hiểu, đào sâu

nghiên cứu TN ở cả phƣơng diện nội dung và hình thức.Theo các ý kiến trên,

nội dung của tục ngữ xoay quanh các kinh nghiệm, tri thức của dân gian; dƣới

hình thức một câu, ngắn gọn, súc tích, có vần điệu, giàu hình ảnh; do nhân

dân lao động sáng tạo và lƣu truyền qua nhiều thế kỉ. Những ý kiến trên đã

đặt nền móng vững chắc cho một quan niệm đầy đủ về TN.

Để việc nghiên cứu nhất quán và hiệu quả, trong quá trình làm việc,

chúng tôi xin dựa vào định nghĩa TN của Chu Xuân Diên và các tác giả khác

trong tiểu luận về “TN Việt Nam”. Trƣớc hết, quan niệm này đã cho ngƣời

đọc cái nhìn bao quát nhƣng cụ thể về TN, cho thấy vai trò của TN trong việc

phản ánh lối sống của con ngƣời trong từng thời đại, với lối nghĩ của nhân

dân và lối nói của dân tộc. Đó “là sản phẩm của sự nhận thức của nhân dân

về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan, chứa đựng và phản ánh

tri thức của nhân dân”, có chức năng “làm phong phú thêm những kinh

nghiệm sống của con người, từ đó xác định cho con người những phương

châm xử thế phù hợp”, với lối nói “có hình ảnh”, “hàm súc”, “bằng một

hình thái tu từ” và“bằng ngôn ngữ thẩm mĩ”. [12, tr.172]

1.1.1.2. Khái niệm TN dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu ngôn

ngữ học:

Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học cho ta góc nhìn khác về TN.

23

Cù Đình Tú trong “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ” [74,

tr. 39 – 49] dựa vào tiêu chí chức năng cho rằng: “TN cũng như các sáng tạo

khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo. Nó thông

báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới

khách quan. Do vậy mỗi TN đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn

một ý tưởng. Đó cũng là lí do giải thích TN có cấu tạo là các kết cấu hai

trung tâm”.

Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” [6, tr.72], dựa

vào tiêu chí cấu tạo và ngữ nghĩa, cho rằng TN và thành ngữ đƣợc phân biệt

trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tƣ duy. Theo ông, thành ngữ biểu thị

khái niệm, TN biểu thị phán đoán. “Nghĩa của thành ngữ tương đương với

nghĩa của cụm từ…Nghĩa của TN là một phán đoán, một sự đánh giá, một sự

khẳng định về một chân lí nào đó, nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh”

Hoàng Văn Hành trong “Tục ngữ theo cách nhìn của ngữ nghĩa học”

[22, tr. 59- 63] dựa vào tiêu chí cấu tạo và ngữ nghĩa, ông đã xem xét TN nhƣ

một phức thể đa diện và quan niệm TN là câu thông điệp nghệ thuật: “Khi nói

TN là những câu – thông điệp nghệ thuật là cùng một lúc chúng ta nhấn mạnh

hai đặc trưng bản chất, không tách rời nhau của nó: Một là, TN là câu,

nhưng là câu đặc biệt khác với mọi câu nói thông thường ở tư cách là làm

thông điệp nghệ thuật”.

Trong một hƣớng tiếp cận khác, Nguyễn Thái Hòa (Tục ngữ Việt Nam

– cấu trúc và thi pháp) khẳng định TN là loại “phát ngôn đặc biệt” [24, tr. 47

– 48]. Trong công trình của mình, tác giả đã xem xét TN trên các bình diện

thể chất, cấu trúc và chức năng. Ông kết luận:

24

+ TN là những phát ngôn hình thành trong lời thoại hàng ngày. Đó là

những đơn vị lời nói nhƣng tồn tại trong kí ức cộng đồng nhƣ là một đơn vị

ngôn ngữ, nói nhƣ J.Lyons là “những phát ngôn làm sẵn”.

+ Giữa thành ngữ (cụm từ cố định) là đơn vị cơ bản của phát ngôn và

TN (những phát ngôn làm sẵn) có những hình thức trung gian cũng nhƣ giữa

TN và ca dao cũng tồn tại những hình thức trung gian tƣơng đồng về chức

năng và cấu trúc. Nhƣng những hình thức trung gian ấy là chỗ “giáp ranh thú

vị” (R. Jakobson) không lớn so với tổng số TN khảo sát.

+ Gọi là “những phát ngôn làm sẵn” có thể nhầm lẫn với một số phát

ngôn làm sẵn khác tồn tại trong lời nói, chƣa phản ánh đầy đủ những đặc

trƣng của TN. Vì vậy, chúng tôi quan niệm TN là những phát ngôn đặc biệt –

hình thành từ trong lời thoại hàng ngày nhưng tồn tại như một đơn vị ngôn

ngữ, (…) có cơ cấu ngữ nghĩa cú pháp đa dạng, có khuôn hình cố định, làm

cơ sở cho sự tái hiện, lưu giữ và sản sinh những kiểu nói TN. [24, tr. 72]

Nhìn chung, theo các nhà ngôn ngữ, tục ngữ là những phát ngôn

làm sẵn, diễn đạt một tƣ tƣởng hoàn chỉnh, có chức năng thông báo với cấu

tạo cố định, tƣơng đƣơng với một phán đoán trọn vẹn.

Ở bình diện ngôn ngữ, quan điểm về TN của Chu Xuân Diên trong

quyển “TN Việt Nam” mà ngƣời viết chọn làm cơ sở để tiến hành việc nghiên

cứu của mình, cũng rất gần với quan điểm của các nhà ngôn ngữ học khi cho

rằng TN “là một đơn vị thông báo”, “đơn vị câu độc lập”, “là loại câu cố

định về thành phần và cấu trúc, bền vững về ngữ nghĩa”, nội dung của TN

“được diễn đạt thông qua những tư tưởng khẳng định hoặc phủ định của các

phán đoán”, “được tái hiện dưới dạng làm sẵn khi được sử dụng trong lời

nói”, “TN thoạt tiên và trước hết thuộc ngôn ngữ nói” [12, tr. 119, 158, 159].

25

1.1.2. Khái niệm về TN ở Anh:

Theo Wolfgang Mieder trong “Proverbs are out of season” (Oxford

University Press, 1993), TN là “những câu nói ngắn gọn, được phổ biến rộng

rãi của dân gian thể hiện sự thông thái, chân lí, đạo đức và những quan niệm

truyền thống dưới hình thức ẩn dụ, cố định và dễ nhớ, nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”. (10) [97]

Từ điển tục ngữ Oxford (The Oxford dictionary of proverbs, 2007) bổ

sung thêm: TN là những câu nói phổ biến và cổ xưa được lặp đi lặp lại, đặc

biệt chúng thường ngắn và diễn tả một cách sinh động thực tiễn, hoặc những kinh nghiệm, quan sát. (11) [100]

Nhà nghiên cứu Richard L. Berry thì quan niệm: TN là những câu nói

ngắn gọn chứa đựng sự thông thái hoặc diễn đạt những kinh nghiệm cụ thể,

rõ ràng. Chúng chứa đựng rất nhiều giá trị văn hóa của con người. TN Anh

được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm văn học viết, văn học

dân gian, kinh thánh, lịch sử và kinh nghiệm thông thuờng. Chúng rất có giá trị và là chìa khóa để hiểu người Anh.(12)

Theo từ điển bách khoa toàn thƣ trên mạng, trang tiếng Anh

(10) A proverb is a short, generally known sentence of the folk which contains wisdom, truth, morals,

and traditional views in a metaphorical, fixed and memorizable form and which is handed down

from generation to generation. (11) “An old and common saying which is often repeated; especially, a sentence which briefly and forcibly expresses some practical truth, or the result of experience and observation.”

(12) “Proverbs are sayings, which contain wisdom or express an idea clearly without using many words. They contain a great deal of the accumulated culture of the people. English proverbs come from many sources including literature, folk tales, the bible, history and simple wisdom. They are very valuable and are a key to understanding English people.”(Website: RichardBerry.com)

(http://en.wikipedia.org), khái niệm “TN” (proverb) có nguồn gốc từ tiếng

26

Latinh “proverbium”(13). “Đó là những câu nói ngắn gọn, cụ thể được phổ

biến rộng rãi và được lặp đi lặp lại, thể hiện chân lý dựa vào các giác quan

thông thường hay những kinh nghiệm thực tiễn của loài người.”

Sau khi thống kê lại, ngƣời viết thấy quan niệm về TN của ngƣời Việt

và ngƣời Anh tƣơng đối giống nhau chứ không có sự khác biệt quá lớn: đó là

những câu nói ngắn gọn, sinh động, có ý nghĩa khái quát, có tính truyền

thống, nhằm truyền đạt kinh nghiệm của người xưa.

Nhìn chung, ngƣời Việt và ngƣời Anh đều có kho tàng phong phú về

TN của dân tộc mình. Ở Việt Nam, công trình sƣu tầm giới thiệu TN đồ sộ

nhất là quyển “Kho tàng TN người Việt” của Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn

Luân, Nguyễn Thúy Loan, Phan Lan Hƣơng [29]. Đây là công trình giới thiệu

TN với số câu nhiều nhất - 16.098 câu (có trong 52 đầu sách - 63 tập, trong đó

cuốn xuất bản sớm nhất là năm 1896, và mới nhất đƣợc in năm 1999), có ghi

xuất xứ và các dị bản trong trƣờng hợp một câu có nhiều bản. Về TN Anh,

hiện nay cuốn từ điển đầy đủ nhất, đồ sộ nhất là quyển “The Oxford

dictionary of English proverbs” của Smith William George, Wilson F.P.,

Wilson Joanna [106]. Sách dày 950 trang, bao gồm khoảng 10540 câu TN

Anh. Nhƣ vậy, kho tàng TN của ngƣời Việt và ngƣời Anh quả là giàu có.

Nội dung của TN Việt và TN Anh cũng rất phong phú, đa dạng, bao

quát hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống. Đó có thể là các kinh nghiệm của dân

gian về thiên nhiên, lao động sản xuất, về các mối quan hệ trong gia đình và

ngoài xã hội, các quan niệm về nhân sinh, tôn giáo, tín ngƣỡng,…Nhìn chung,

đề tài của TN Việt và TN vô cùng rộng lớn, bất cứ lĩnh vực nào dân gian khi

(13) A proverb, (from the Latin proverbium), is a simple and concrete saying popularly known and repeated, which expresses a truth, based on common sense or the practical experience of humanity.

có kinh nghiệm đều có thể đúc kết thành TN.

27

Về phƣơng diện nghệ thuật, TN Anh và Việt đều mang tính chất ngắn

gọn, súc tích, đa nghĩa với lối nói giàu hình ảnh thông qua các biện pháp tu từ

nhƣ so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,… Tuy nhiên, do tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập

nên TN Việt rất giàu nhạc tính với vần, nhịp và sự hòa đối. Còn tiếng Anh là

ngôn ngữ biến hình, đa âm tiết nên TN của họ không có đặc điểm này mà chỉ

là những lời nói bình thƣờng, gần với phong cách của văn học viết. Về hình

thức, TN Việt có thể gồm một, hai hoặc ba vế trở lên, trong đó nhiều nhất là

loại câu có hai vế với kết cấu đối xứng, nhịp nhàng, giàu nhạc điệu. Trong khi

đó, TN Anh chủ yếu gồm một mệnh đề độc lập, chứa một phán đoán duy nhất.

Tóm lại, từ những bài học triết lí khô khan, TN Việt và Anh trở nên

hấp dẫn hơn và đi vào lòng ngƣời một cách dễ dàng là do nhiều nguyên nhân,

trong đó có đóng góp không hề nhỏ của biện pháp SSTT.

1.2. SSTT TRONG TỤC NGỮ

Cách đây gần 2500 năm, Aristote (384 – 322 trƣớc công nguyên)

trong cuốn “Nghệ thuật thi ca” nổi tiếng đã đề cập đến phép tu từ so sánh.

Hégel (1770 – 1831) trong cuốn “Mĩ học” cũng có bàn luận về so sánh.

1.2.1. Khái niệm SSTT

Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam, “so sánh” là

lối đối chiếu hai hay nhiều đối tƣợng có dấu hiệu giống và khác nhau về hình

thức bên ngoài hay tính chất bên trong. Cách nói này nhằm mục đích giải

thích, miêu tả, đánh giá hoặc biểu lộ tình cảm về đối tƣợng đƣợc nói đến. Nhờ

so sánh, ta thấy rõ bản chất của sự vật, hiện tƣợng đƣợc phản ánh. Đây là hình

thức rất phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, vì nó giúp ngƣời nghe hiểu

điều mình muốn nói một cách nhanh chóng.

28

Còn “tu từ”, theo nghĩa từ nguyên Hán Việt, “tu” là sửa chữa cho

hay, cho tốt đẹp hơn, “từ” là từ ngữ, lời nói, câu viết. Theo Từ điển tiếng Việt

của Hoàng Phê (Viện ngôn ngữ học, 2002, tr. 1059), “tu từ” là những thuộc

tính biểu cảm của các phƣơng tiện ngôn ngữ, giúp lời văn hay hơn, đẹp hơn.

Ở phƣơng Tây, ngƣời ta dùng khái niệm tƣơng đồng là “figura”, có

nguồn gốc từ tiếng Latinh. “Figura” có nghĩa là bóng bẩy, có sức hấp dẫn, lôi

cuốn. “Figura” đƣợc các nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam dịch ra thành

nhiều thuật ngữ khác nhau nhƣ biện pháp tu từ, mỹ từ pháp,…Với tƣ cách là

một thuật ngữ khoa học, “figura” đƣợc xem là những cách thức diễn đạt bóng

bẩy, gợi cảm, có sức hấp dẫn, lôi cuốn khi trình bày.

Về khái niệm SSTT, Cù Đình Tú trong Phong cách học tiếng Việt

cho rằng: “SSTT là sự đối chiếu hai sự vật (về tính chất, trạng thái, sự việc) A

và B cùng có một dấu hiệu chung nào đấy giống nhau. A là sự vật chưa biết,

nhờ qua B mà người đọc biết A hoặc hiểu thêm về A (…)

SSTT còn gọi là so sánh hình ảnh, đó là một sự so sánh không đồng

loại, không cùng một phạm trù chung, miễn là có một nét tương đồng nào đó

về mặt nhận thức hay tâm lý (thí dụ: con mắt và ngôi sao, trái tim đau thương

và một cái cốc vỡ). Đó là một sự so sánh có giá trị hình tượng và giá trị biểu

cảm”. [73, tr. 100 – 103]

Đinh Trọng Lạc trong“99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng

Việt” cũng quan niệm tƣơng tự: “So sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, SSTT)

là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng

khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ

có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác

mới mẻ về đối tượng.” [31, tr. 154 – 159]

29

Chẳng hạn trong câu TN “Người ta hoa đất”, con ngƣời đƣợc so

sánh với một hình ảnh cụ thể là “hoa” dựa trên cơ sở mối quan hệ tƣơng

đồng: con ngƣời và hoa đều là tinh túy của đất trời, đều là cái đẹp cần đƣợc

nâng niu. Hai sự vật đƣợc đem ra so sánh ở đây hoàn toàn khác loại: ngƣời và

hoa. Chính hình ảnh hoa đã nâng cảm xúc thẩm mỹ vƣợt lên mức thông

thƣờng.

Nhƣ vậy, SSTT (hay còn gọi là so sánh nghệ thuật, so sánh văn

chƣơng, so sánh hình ảnh) chính là “đôi cánh giúp chúng ta bay vào thế giới

của cái đẹp, của tưởng tượng hơn là đến ngưỡng của logic học.”[30]

Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu Anh, Richard L. Berry cho rằng: SSTT (14) được sử dụng khi chúng ta muốn nói cái này giống cái kia.

Chúng được giới thiệu bởi các từ: “like”, “as..as..”. Có nhiều giá trị văn hóa

tồn tại trong SSTT.

Theo Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh, SSTT là 1 hình thái của lời nói

mà trong đó hai sự vật khác nhau được mang ra so sánh trong một cụm từ được giới thiệu bằng “like” hoặc “as”. (15)[88]

Chẳng hạn nhƣ câu:

Curses, like chickens, come home to roost (Những lời nguyền rủa

giống nhƣ lũ gà lại quay về chuồng nhà mình mà đậu.)

Lời nguyền rủa và lũ gà là hai sự vật hiện tƣợng khác loại, nhƣng

( 14 ) Similes are used when we say that something is like something else. They are usually introduced with the words “…like…” or “as…as…”. There is a great cultural value in similes. (Trích từ website: RichardBerry.com) (15) “A figure of speech in which two essentially unlike things are compared, often in a phrase introduced by like or as.”

dân gian đã phát hiện ra điểm giống nhau giữa chúng: gà quay về chuồng của

30

mình mà đậu cũng nhƣ lời nguyền rủa sẽ quay về làm hại chính chủ nhân của

nó – sự độc ác lại rơi xuống đầu của những kẻ độc ác!

Tóm lại, với các nhà ngôn ngữ ở Anh, tiêu biểu là Bredin Hugh,

SSTT là biện pháp tu từ ngữ nghĩa dựa vào sự đối chiếu, là quá trình tƣ duy quan trọng khi chúng ta suy nghĩ và phát ngôn về thế giới chung quanh. (16)

[ 84]

Nhìn chung, quan niệm của các nhà nghiên cứu về SSTT không có

sự khác biệt nào quá lớn. Để nhất quán trong quá trình làm việc, ngƣời viết

xin chọn quan điểm của Cù Đình Tú về SSTT để làm cơ sở cho việc khảo sát.

Về việc phân biệt SSTT với so sánh logic, ta thấy so sánh trong TN

thuộc hai dạng: so sánh logic (còn đƣợc gọi là so sánh luận lí, so sánh định

lƣợng) và SSTT (còn đƣợc gọi là so sánh hình ảnh, so sánh văn chƣơng).

Cù Đình Tú cho rằng trong phép so sánh luận lí, “cái được so sánh

và cái so sánh là đối tượng cùng loại và mục đích của sự so sánh là xác lập

sự tương đương giữa hai đối tượng. Trong SSTT tình hình diễn ra có khác.

Các đối tượng được đưa ra so sánh là các đối tượng khác loại và mục đích

của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối

tượng. Muốn nhấn mạnh vào tính chất này có nhà ngôn ngữ học dùng thuật

ngữ “so sánh hình ảnh”. Chính do mục đích diễn tả một cách hình ảnh này

mà các phép SSTT ít nhiều đều khập khiễng, đều mang tính chất khoa

(16)“Simile is a semantic figure based on comparision, a mental process playing a central role in

the way we think and talk about the world...”

trương.” [72, tr. 272]

31

Đinh Trọng Lạc cũng phân biệt rất rạch ròi hai khái niệm này trong

quyển “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” của mình. Tác giả

khẳng định: “trong so sánh luận lí, cái được so sánh và cái so sánh là các đối

tượng cùng loại và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tương đương giữa

hai đối tượng”. Chẳng hạn, SSTT: “Mặt tươi như hoa”, còn so sánh luận lí:

“Mặt con cũng tròn như mặt mẹ”. [31]

Nhƣ vậy, những câu TN mà đối tƣợng đƣa ra so sánh là đồng loại

kiểu nhƣ: “Lệnh ông không bằng cồng bà”; “Thuốc không hay bằng thang”;

“Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại”; “Nhất thủ, nhì vĩ”; …không thuộc

phạm vi khảo sát của luận văn. Các câu so sánh logic này chỉ phản ánh một

kinh nghiệm, một quan niệm dựa trên cơ sở xác định sự hơn thua giữa các đối

tƣợng. Còn những câu TN đƣợc cấu tạo bằng biện pháp so sánh mà trong đó,

các đối tƣợng đƣợc đƣa ra so sánh là khác loại, dựa trên cơ sở liên tƣởng

tƣơng đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của đối tƣợng này thông

qua đặc điểm, thuộc tính của đối tƣợng kia một cách hình tƣợng mới chính là

đối tƣợng nghiên cứu của luận văn. Chúng đƣợc sử dụng rất phổ biến trong

TN, phản ánh cách tƣ duy, lối nghĩ của nhân dân.

Tóm lại, SSTT khác với so sánh logic ở:

+ tính dị loại (không cùng 1 loại) của sự vật hiện tƣợng.

+ tính hình tƣợng, tính biểu cảm

Chỉ có SSTT mới đem lại xúc cảm thẩm mĩ, là cơ sở để ngƣời ta có

thể nhận ra những nét riêng của ngƣời sử dụng. Do đó, chúng cần đƣợc khảo

sát.

32

1.2.2. Cấu trúc của SSTT:

Theo Hoàng Văn Hành trong “Về bản chất của thành ngữ so sánh

tiếng Việt” [21], Nguyễn Thị Bích Thủy trong “Cấu trúc tỉ dụ trong thơ Tố

Hữu” [69], một SSTT nói chung có thể gồm đến 5 yếu tố ở dạng đầy đủ:

A (t1) như B (t2)

Trong đó, A là yếu tố cần so sánh, tức cái đƣợc hay bị so sánh; t1 là

thuộc tính của A; B là cái dùng làm chuẩn để so sánh, hay còn đƣợc gọi là cái

so sánh; t2 là thuộc tính của B; “như” là từ thể hiện quan hệ so sánh.

Các nhà nghiên cứu khác thì cho rằng t1 và t2 ở cấu trúc so sánh có 5

thành tố là thuộc tính riêng của A và B, mà khi đã hình thành cấu trúc so sánh

thì giữa A và B phải có ít nhất 1 thuộc tính trở thành thuộc tính chung – chính

điểm chung này làm nảy sinh mối liên tƣởng tƣơng đồng – chứ không phải

thuộc tính của sự vật nào vẫn đi với sự vật ấy. Do đó, mô hình trên chƣa chỉ

ra đƣợc đâu là thuộc tính chung, làm cơ sở cho sự so sánh.

Lê Trƣờng Phát trong Thi pháp văn học dân gian [57, tr.114] thì quan

niệm SSTT chỉ gồm 2 yếu tố: “Về phương diện cấu trúc, so sánh thường

được thể hiện bằng hai vế. Vế đầu là hiện tượng cần được biểu đạt (cái được

biểu đạt) một cách hình tượng. Vế sau là hiện tượng dùng để so sánh (cái

biểu đạt).”

Trƣớc đây, trong sách Tiếng Việt dạy học sinh lớp 6 của nhà xuất bản

Giáo dục, 1995 [1], mô hình so sánh chỉ gồm 3 yếu tố: A – từ so sánh – B.

Yếu tố CSSS nếu có xuất hiện thì bị đẩy về A, coi đó là thuộc tính của A.

Việc hƣớng dẫn học sinh chỉ quan tâm đến những sự vật nào, hình ảnh nào

đƣợc so sánh với nhau mà không hỏi xem các sự vật đó có tính chất, trạng

thái gì chung là một thiếu sót lớn. Chỉ khi nào biết đƣợc những tính chất,

33

trạng thái chung đó thì mới hiểu đƣợc vì sao những sự vật tƣởng chừng nhƣ

xa lạ lại có thể đem so sánh với nhau, mang lại bao xúc cảm và nhận thức

trong lòng ngƣời tiếp nhận.

Còn một số tác giả khác nhƣ Nguyễn Thế Lịch [ 36], Cù Đình Tú [72],

Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa [ 30], Đỗ Thị Kim Liên [37] cho rằng các

SSTT bao gồm 4 yếu tố cơ bản ở dạng đầy đủ (cái được/bị so sánh, cái so

sánh, CSSS, từ so sánh), tùy hoàn cảnh, mục đích sử dụng mà số lƣợng các

yếu tố có thể bớt đi. Trong khi các tác giả khác cho rằng so sánh gồm hai yếu

tố (yếu tố đƣợc so sánh – yếu tố so sánh) hay ba yếu tố (yếu tố đƣợc/bị so

sánh – từ so sánh – yếu tố so sánh) đều không tách ra một thành phần của cấu

trúc so sánh là yếu tố CSSS, đều cho thuộc tính đƣợc nói đến hay ngầm ẩn

thuộc yếu tố đƣợc/ bị so sánh (A) thì việc phân tích cấu trúc so sánh thành 4

yếu tố đã làm hiện ra CSSS, hiện ra thuộc tính chung giữa các sự vật đem so

sánh với nhau. Yếu tố CSSS nhất thiết phải có, nếu không xuất hiện ở dạng

hiển ngôn thì ở dạng ngầm ẩn.

Khi viết về SSTT trong tiếng Anh, Patrizia Pierini [103] quan niệm

cấu trúc của một SSTT gồm ba phần: chủ thể (thực thể đƣợc miêu tả), phƣơng

tiện (thực thể đem ra so sánh với chủ đề), chúng liên kết với nhau bằng từ thể

hiện quan hệ so sánh. Còn điểm tƣơng đồng (thuộc tính chung giữa chủ thể và phƣơng tiện so sánh) có thể đƣợc đề cập rõ ràng hoặc ẩn đi.(17) Quan niệm này

về cơ bản cũng chỉ ra đƣợc 4 yếu tố của cấu trúc SSTT ở dạng đầy đủ.

(17) “A simile can be defined as the statement of a similarity relation between two entities, essentially different but thought to be alike in one or more respects. It has a tripartite structure, consisting of: topic (the entity descibred by the simile), vehicle (the entity to which the topic is compared), accompanied by a comparision marker. Similarity feature(s) (the properties shared by topic and vehicle), which can be expressed explicitly or left unsaid.”

Nhƣ vậy, ta sẽ có mô hình cấu trúc của SSTT nhƣ sau:

34

Bảng 1.1: Cấu trúc đầy đủ của SSTT

Yếu tố đƣợc/ bị CSSS Từ thể hiện Yếu tố so sánh

so sánh quan hệ so

sánh

 Gái có chồng đeo gông vào cổ nhƣ

nhƣ đĩa Đàn bà cạn lòng

nhƣ vôi Đàn ông bạc nghĩa

Curses (lời come home to roost like (nhƣ) chickens (lũ gà)

nguyền rủa) (quay về chuồng

nhà mình mà đậu)

 Time (thời gian) is (là) money (tiền bạc)

Yếu tố đƣợc/ bị so sánh (kí hiệu là A) có thể là 1 từ, 1 ngữ hoặc nhiều

cấu trúc chủ vị.

Yếu tố so sánh (kí hiệu là B) hay còn gọi là yếu tố đƣa ra làm chuẩn

để so sánh cũng đƣợc thể hiện bằng một từ, một ngữ, một hoặc nhiều cấu trúc

chủ vị. Một yếu tố đƣợc/ bị so sánh có thể tƣơng ứng với nhiều yếu tố so sánh,

chẳng hạn: “Gái có chồng như chông như mác/ Gái không chồng như rác như

rơm.”

CSSS (t) – nét tƣơng đồng giữa yếu tố đƣợc so sánh và yếu tố chuẩn

để so sánh – có thể đƣợc nêu ra hoặc giấu đi. Khi CSSS đƣợc nêu ra, các nhà

ngôn ngữ học gọi đây là SSTT nổi, nếu nó bị giấu đi, ta có SSTT chìm. Mà dù

có đƣợc nêu ra, nó vẫn luôn chứa đựng những liên tƣởng vô tận khác ở ngƣời

đọc.

35

Từ so sánh là từ nối yếu tố A và B, thể hiện quan hệ so sánh.

Nhƣ vậy, mô hình đầy đủ của SSTT là:

A – Cở sở so sánh – Từ so sánh – B

Tùy trƣờng hợp mà trật tự của các yếu tố có thể thay đổi hoặc bớt đi

một số yếu tố trong mô hình trên.

Cái hay, giá trị đặc biệt của một so sánh chính là việc lựa chọn yếu tố

so sánh. Một so sánh mới lạ nhƣng vẫn đủ để cho phép ngƣời đọc có thể phát

hiện ra nét tƣơng đồng giữa nó với yếu tố đƣợc so sánh là một so sánh hay.

Từ đó, chúng ta sẽ có thêm nhận thức mới, sâu sắc hơn về đối tƣợng và cả

thái độ, tình cảm của dân gian với đối tƣợng ấy nữa. Chẳng hạn trong câu:

Phải duyên thì dính như keo

Trái duyên chổng chểnh như kèo đục vênh.

Theo Cù Đình Tú trong Phong cách học TV, sự gắn bó của tình yêu so

sánh với sự gắn bó của keo với nhau hay của keo với một vật khác thì đó là

một sự so sánh không phải không hay, vì ngƣời so sánh đã phát hiện rất đúng

đắn nét giống nhau giữa hai đối tƣợng khác loại (tình yêu và keo), nhƣng cách

so sánh này không thật mới mẻ, bất ngờ. Khi dân gian so sánh sự không gắn

bó của tình yêu với sự nghễnh ngãng của cái kèo nhà bị đục vênh thì quả là

một sự so sánh vừa độc đáo vừa mang sắc thái dân tộc, vì cách so sánh này

không phải dễ nhận thấy, dễ phát hiện, cho nên nó luôn mới mẻ, gợi hình, gợi

cảm. Phép so sánh ở đây mộc mạc, chân chất, chính xác và pha màu hài hƣớc

của trí tuệ dân gian. [73, tr. 102]

1.2.3. Tác dụng của SSTT

SSTT trong TN giúp ta hiểu tường tận, sâu sắc hơn về môi trường

cảnh quan, cuộc sống, xã hội, con người,…, đặc biệt là những vấn đề trừu

36

tượng, vô hình, khó nắm bắt. Chẳng hạn trong câu “Đời người như ngọn nến”,

đời ngƣời, kiếp ngƣời là một khái niệm mơ hồ, trừu tƣợng, khó nắm bắt. Tác

giả dân gian đã cụ thể hóa bằng cách ví nó nhƣ một ngọn nến vì cả hai đều

ngắn ngủi, yếu ớt, chóng tàn.

Đôi lúc SSTT còn nhằm khái quát hóa, quy luật hóa điều được nêu lên,

nghiêng về nhận thức lí trí. Ở câu “Hatred is a blind as love” (Oán thù cũng

mù nhƣ tình yêu), cái cần so sánh và cái dùng để so sánh đều là cái trừu tƣợng,

tuy khác loại nhƣng cùng thuộc phạm trù tinh thần. Câu TN không thiên về

hƣớng cụ thể hóa nhƣ ở trên mà thiên về hƣớng khái quát hóa: oán thù và tình

yêu giống nhau vì đều mù quáng, không sáng suốt.

Ngoài ra, SSTT còn cung cấp thêm thông tin về đặc trưng văn hóa,

quan niệm thẩm mỹ và trình độ nhận thức của người sáng tạo. Chẳng hạn, khi

nói về tầm quan trọng của lƣơng thực, ngƣời Việt ví von “Cơm tẻ, mẹ ruột”,

ngƣời Anh thì nói khác: “Bread is the staff of life” (Bánh mì là chiếc gậy của

cuộc sống). Hình ảnh cơm của ngƣời Việt và bánh mì của ngƣời Anh đã hé

mở cho ta thấy sự khác biệt giữa hai phƣơng thức sản xuất, hai nền văn hóa.

Không chỉ miêu tả đối tƣợng, SSTT còn bao gồm cả sự giải thích,

đánh giá và biểu lộ tình cảm. Chẳng hạn trong câu “Quan thấy kiện như kiến

thấy mỡ”, hình ảnh so sánh ở đây thể hiện thái độ bình giá rõ rệt của nhân dân:

phê phán, đả kích, châm biếm.

Khi nói về tác dụng của SSTT, Patrizia Pierini [103] quan niệm SSTT

sẽ giúp việc giao tiếp súc tích và hiệu quả, chúng là một trong những công cụ

của ngôn ngữ học (các biện pháp tu từ) nhằm mở rộng nguồn tài nguyên đa

dạng về ngôn ngữ. Ngoài ra, SSTT còn có chức năng nhƣ một công cụ tri

nhận giúp chúng ta bay vào thế giới của sự tƣởng tƣợng thông qua cách thiết

37

lập sự tƣơng đồng. Trong các văn bản văn học, SSTT còn có chức năng thẩm mỹ, là những cách nói sáng tạo, đầy bất ngờ về các sự vật, hiện tƣợng. (18)

Nhƣ vậy, tìm hiểu SSTT cũng đồng nghĩa với việc bƣớc vào thế giới

nghệ thuật độc đáo, giàu hình tƣợng, giàu cảm xúc của TN Việt và Anh. Sự

hấp dẫn, cái hay cái đẹp của nội dung và hình thức phép SSTT đã góp phần

làm cho TN trở thành những tác phẩm nghệ thuật đích thực.

1.3. TIẾP CẬN SSTT TRONG TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ

ANH TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC VÀ VĂN HÓA HỌC

SSTT trong TN là một đề tài nghiên cứu khá hấp dẫn. Trong luận văn

này, ngƣời viết không chỉ nghiên cứu SSTT trong ngữ Việt và TN Anh từ góc

độ ngôn ngữ học mà còn nghiên cứu từ góc độ văn hóa học. Những luận điểm

đƣợc nêu ra trong các chƣơng tiếp theo sẽ làm sáng tỏ đặc trƣng của SSTT hai

dân tộc Việt, Anh theo quan điểm của phong cách học và trình bày những đặc

trƣng văn hóa ẩn tàng dƣới hình thức ngôn ngữ ấy.

Ở chƣơng II, để tìm ra phong cách riêng của mỗi dân tộc khi kiến tạo

các SSTT, ngƣời viết tiến hành phân xuất cấu trúc SSTT ra từng thành tố

riêng lẻ để tiện cho việc quan sát, khái quát hóa. Ở mỗi yếu tố, ngƣời viết sẽ

lần lƣợt trình bày các kết quả thống kê, phân loại chúng trong TN Việt, Anh;

cấu tạo và đặc điểm của chúng. Từ đó, chúng ta sẽ hiểu đƣợc tại sao các nhà

nghiên cứu đã nói TN của ngƣời Việt giàu sắc độ tu từ hơn TN Anh [28, tr.6].

available. Secondly, they can function as cognitive tools for thought in that they enable us to think of the world in novel, alternative ways, namely, they can create relations of similarity….. In literary texts – be it fiction, poetry or drama – similes fulfil an aesthetic function, and are usually creative, a way of talking about something in a surprising way.”

Mô tả cấu trúc SSTT nhìn từ góc độ ngôn ngữ là một công việc đòi hỏi sự tỉ (18) “Similes can fulfil various functions. First, they serve to communicate concisely and efficiently: they are one of a set of linguistic devices (figures of speech) which extend the linguistic resources

38

mỉ và chính xác mà thông qua đó, ngƣời viết có thể đƣa ra những đặc điểm về

phƣơng diện ngôn ngữ và tƣ duy, làm nền tảng cho việc khám phá đặc trƣng

văn hóa dân tộc qua SSTT trong TN Việt, Anh.

TN vừa là nơi phản ánh đặc điểm ngôn ngữ, tài năng sử dụng ngôn

ngữ của nhân dân, vừa là nơi thể hiện tập trung sâu sắc nhất trí tuệ, truyền

thống văn hóa, phong tục của dân gian. Do đó, khi đã làm rõ cơ chế sáng tạo,

đặc điểm, giá trị của SSTT với tƣ cách là những đơn vị ngôn ngữ đầy tính

nghệ thuật, chúng ta có thể khám phá những đặc trƣng văn hóa ở cả phƣơng

diện vật chất lẫn tinh thần của ngƣời Việt và ngƣời Anh.

Ở chƣơng III, để nhận diện đƣợc bức tranh văn hóa xã hội của mỗi

dân tộc còn in dấu trong TN, ngƣời viết sẽ tiến hành xem xét trên bình diện

câu chứ không dừng lại ở từng thành tố riêng lẻ nữa. Chu Xuân Diên [12]

trong công trình của mình đã phân loại TN theo ba nhóm đề tài: quan hệ giữa

con ngƣời và giới tự nhiên, con ngƣời và đời sống xã hội, con ngƣời và đời

sống tinh thần. Kế thừa quan điểm này, ngƣời viết sẽ triển khai chƣơng III

thành hai vấn đề lớn: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trong SSTT của

TN Việt, Anh. Trong phần văn hóa vật chất, ngƣời viết sẽ khảo sát về mối

quan hệ giữa con ngƣời và giới tự nhiên, con ngƣời và đời sống vật chất. Ở

phần văn hóa tinh thần, ngƣời viết sẽ trình bày những đặc trƣng văn hóa trong

đời sống xã hội và đời sống tinh thần của ngƣời Việt và ngƣời Anh. Nghiên

cứu, tìm hiểu về văn hóa là một công việc vô cùng lí thú. Trên tinh thần “nói

có sách, mách có chứng”, dựa trên những kết quả thống kê khảo sát cụ thể,

ngƣời viết hi vọng có thể bƣớc đầu đƣa ra cách lí giải thuyết phục về bức

tranh văn hóa toàn cảnh của mỗi dân tộc qua các SSTT trong TN của nƣớc họ.

39

Tóm lại, TN nói chung và SSTT trong TN nói riêng là cứ liệu đáng tin

cậy để nghiên cứu phong cách ngôn ngữ và đặc trƣng văn hóa dân tộc của

ngƣời Việt và ngƣời Anh.

40

Chương 2:

SO SÁNH TU TỪ TRONG TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ

ANH, NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TU TỪ HỌC

Cách thức, tần suất sử dụng các phƣơng tiện tu từ trong TN phản

ánh khá trung thực quan niệm và kĩ năng vận dụng ngôn ngữ nghệ thuật của

mỗi dân tộc. Theo khảo sát, ngƣời Việt có khuynh hƣớng sử dụng SSTT

Bảng 2.1: Thống kê tỉ lệ câu SSTT trong TN Việt và TN Anh

TN Việt

TN Anh

Tổng số câu TN có SSTT

135

178

Tổng số câu TN khảo sát

4206

6708

nhiều hơn ngƣời Anh.

Tỉ lệ % câu TN có SSTT

3.2

2.65

Để nhận diện đặc điểm và giá trị nghệ thuật của các SSTT, ngƣời

viết sẽ xem xét từ các yếu tố cấu tạo.

2.1. Đặc điểm của yếu tố được / bị so sánh (A) trong TN Việt và TN

Anh:

Ngƣời viết sẽ trình bày đặc điểm của yếu tố đƣợc/ bị so sánh (A) và

yếu tố so sánh (B) theo thứ tự sau:

- Kết quả thống kê, phân loại theo đề tài.

- Cấu tạo.

- Đặc điểm.

41

2.1.1. Kết quả thống kê, phân loại theo đề tài

Bảng 2.2: Phân loại yếu tố A trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo

Số lƣợng yếu

Số lƣợng yếu

tố A trong

tố A trong

đề tài

TN Việt

TN Anh

Đề tài

Tự nhiên 10 5

Động vật 1 1

Con ngƣời và giới tự nhiên Thực vật 6 2

Cơ thể ngƣời 4 10

Vật thể nhân tạo 14 13

Ẩm thực, giải trí 11 10

Con ngƣời và đời sống vật chất Kinh nghiệm lao động 3 7

sản xuất

Quan hệ gia đình 56 7

Con ngƣời và đời sống xã hội Quan hệ xã hội 10 40

Quan niệm về nhân 48 83

sinh Con ngƣời và đời sống tinh thần

Quan niệm về tôn 3 9

giáo, tín ngƣỡng

Tổng cộng 166 187

Theo kết quả thống kê, yếu tố A trong TN Việt và TN Anh thuộc

nhiều đề tài khác nhau (xem thêm phụ lục 4 và phụ lục 6).

Yếu tố đƣợc/ bị so sánh chủ yếu trong TN Việt là quan hệ gia đình (56)

và quan niệm về nhân sinh (48). Đây chính là đề tài ngƣời Việt rất quan tâm,

42

vì ở phƣơng Đông gia đình có vai trò rất quan trọng, hơn gấp nhiều lần so với

vai trò của gia đình ở phƣơng Tây, nơi coi trọng con ngƣời cá nhân. Còn

những câu TN thể hiện quan niệm về nhân sinh của nhân ta lại chiếm số

lƣợng nhiều và đƣợc phổ biến rộng rãi là vì theo Chu Xuân Diên [12, tr.107 –

109], nó thể hiện sự nhận thức của nhân dân về những mâu thuẫn giữa lí

tƣởng sống, giữa những truyền thống đạo đức tốt đẹp với thực tế cay đắng của

xã hội đƣơng thời. Nó có vai trò hƣớng dẫn nhân dân áp dụng, phát huy

những truyền thống đạo đức, tƣ tƣởng ấy một cách thực tế, phù hợp với

những đối tƣợng và hoàn cảnh khác nhau.

Bên cạnh đó, yếu tố A trong SSTT của TN Việt ít đề cập đến động vật

vì chúng không phải là chủ thể quan trọng cần tìm hiểu (1 lần), ít trình bày về

kinh nghiệm lao động sản xuất (chỉ có 3 lần: làm ruộng không trâu, làm

ruộng có trâu, uốn cây từ thuở còn non) và tôn giáo tín ngưỡng (3 lần: phải

duyên, trái duyên, miệng bà đồng). Vì kinh nghiệm lao động sản xuất đa phần

là những ghi chép có tính chất tƣờng giải, chủ yếu đƣợc hiểu theo nghĩa đen,

ít có cách nói ví von so sánh (xem thêm phần “Kinh nghiệm lao động” trong

TN Việt Nam của Chu Xuân Diên [12]). Còn quan niệm về tôn giáo tín

ngưỡng ít giữ vai trò là đối tƣợng đƣợc/ bị so sánh mà thƣờng là đối tƣợng

chuẩn để so sánh, hƣớng tới (11 lần):

-Gái lớn trong nhà như ma chửa cất.

-Ăn cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống.

-Vợ chồng may rủi là duyên/ Vợ chồng hòa thuận là tiên trên đời.

Còn ngƣời Anh thì chủ yếu muốn so sánh về quan hệ xã hội (40) và

quan niệm về nhân sinh (83). Vấn đề quan tâm của ngƣời Anh có khác ngƣời

Việt. Trong khi ngƣời Việt chú trọng quan hệ gia đình máu mủ ruột rà:

43

-Con có cha như nhà có nóc.

-Con có mẹ như măng ấp bẹ.

-Con có mạ như thiên hạ có vua.

-Anh em như chân tay.

-Chị em gái như cái nhân sâm.

đến những mối quan hệ phức tạp hơn trong gia đình truyền thống:

-Mẹ chồng là lông cánh phượng / Cha chồng là tượng mới tô/ Nàng

dâu là bồ chịu chửi.

-Bố vợ là rợ cọc chèo / Mẹ vợ là bèo trôi sông /Chàng rể là ông Ba Vì.

-Ăn trầu không có rễ như rể nằm nhà ngoài.

-Chị em dâu như bầu nước lã.

thì ngƣời Anh chú trọng hơn các mối quan hệ xã hội với:

+ bạn bè: a merry companion (người bạn vui vẻ), life without a friend

(cuộc sống không có bạn), friendship (tình bạn)

+ các tầng lớp trong xã hội: nobility without ability (nhà quý tộc không

có năng lực), a gentleman without an estate (quý ông không có tài sản),

gentility (địa vị cao quý), great birth (dòng dõi),…

+ các nghề nghiệp khác nhau: a physician (bác sĩ), a client twixt his

attorney and counsellor (khách hàng đứng ở giữa luật sư và người cố vấn),

sailors (thủy thủ), soldiers (người lính), the liar and the murderer (kẻ dối trá

và tên sát nhân), a whore in a fine dress (cô gái điếm trong bộ quần áo

đẹp),…

44

+ các tính cách khác nhau của các hạng ngƣời khác nhau: great talkers

(người nói nhiều), a flatterer (kẻ xu nịnh), a blab (người ba hoa), an ilde

person (người lười biếng),…

Cả hai dân tộc đều quan tâm đến các quan niệm đa dạng về nhân sinh.

Đây là vấn đề quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi dân tộc. Tuy nhiên

mức độ và đối tƣợng đƣợc nói đến có khác nhau (ngƣời Việt: 48 lần, ngƣời

Anh 81 lần).

Bảng 2.3: So sánh đề tài của yếu tố A trong TN Việt và TN Anh

Đề tài của TN Việt TN Anh

yếu tố A

Con ngƣời vênh váo, ngƣời ta x 2, ngƣời sloth (lƣời biếng), a man

và sự hình già, mỗi năm mỗi tuổi, đàn without reason (ngƣời không

dung về ông x 4, đàn bà x 3, ngƣời x có lí tƣởng), ignorance and

con ngƣời 2, lòng ngƣời, ngông nghênh incuriousity (sự làm lơ và

nhăng nhít, phũ (phàng) x 2, không tò mò), liberty (tự do),

ngãi. brag (khoe khoang, khoác lác).

Tổng cộng: 19 lần Tổng cộng: 5 lần

Lời nói – lời nói x 2, ngƣời sa lời nói, deeds (việc làm), words (lời

việc làm, nói đúng, nói với ngƣời say, nói), slander (lời phỉ báng), an

dƣ luận nói. englishman’s word (lời nói

của 1 ngƣời Anh), an honesty

man’s word (lời của ngƣời

trung thực), promises x 2 (lời

hứa), proverbs (TN), silence

45

x2 (sự yên lặng), quietness (sự

yên tĩnh), speech (lời nói),

gossips (chuyện ngồi lê đôi

mách), the secret (bí mật).

Tổng cộng: 14 lần

Tổng cộng: 6 lần

Tốt xấu – đẹp x 3, xấu, ngƣời đẹp vì wickedness with beauty (sự

đẹp xấu lụa, dữ, ác. độc ác với nhan sắc), a fair

woman without virtue (ngƣời

phụ nữ đẹp mà không có đức

hạnh), beauty x 2 (cái đẹp), a

good conscience x 4 (lƣơng

tâm trong sạch), conscience

(lƣơng tâm), cruelty (tàn ác),

virtue (đạo đức), virtue and

happiness (đạo đức và hạnh

phúc).

Tổng cộng: 7 lần Tổng cộng: 12 lần

Khôn dại khôn, dại, ngƣời dốt, ngƣời

không học.

Tổng cộng: 4 lần

Chăm chỉ - thấy việc.

lƣời biếng

46

Tổng cộng: 1 lần

Thiếu - đủ có tiền x 2, không tiền x 2, content (hài lòng, thỏa mãn), a

tiền vào nhà khó. contented mind (cảm giác thỏa

mãn), enough (đầy đủ), a

man’s discontent (sự không

Tổng cộng: 5 lần hài lòng của con ngƣời).

Tổng cộng: 4 lần

Thời gian, một lần dọn nhà, lênh đênh. time x 2 (thời gian), life x 4

sự phát (cuộc đời), every day of the

triển – suy life (mỗi ngày trong đời), a

tàn, sự thay change (sự thay đổi), hope x 2

đổi, lòng (hi vọng), mere wishes (những

tin, hi vọng điều ƣớc suông).

Tổng cộng: 2 lần Tổng cộng: 11 lần

Yếu – khoẻ, cứu bệnh.

mạnh Tổng cộng: 2 lần

Nhiều – ít, to, rẻ.

số lƣợng – Tổng cộng: 2 lần chất lƣợng

Danh tiếng, fame x 5 (danh tiếng),

thƣởng common fame (tiếng tăm

phạt thông thƣờng), a good name

47

(tiếng tốt), credit lost (mất uy

tín), honour without profit

(danh tiếng mà không có lợi

nhuận), reward and

punishment (thƣởng và phạt),

pride (tự hào, kiêu hãnh).

Tổng cộng: 11 lần

laughter (nụ cƣời), mirth (sự Vui – buồn

vui vẻ), joy and sorrow (vui và

buồn).

Tổng cộng: 3 lần

honesty (sự trung thực), plain Sự thật, lẽ

dealing (thẳng thắn), truth x 2 phải, ngay

(sự thật), mistrust (không tin, thẳng–gian

ngờ vực). dối

Tổng cộng: 5

love x 2 (tình yêu), love Yêu - ghét

without return (yêu không

quay đầu lại), hatred (oán thù),

war, hunting and love (chiến

tranh, săn bắn và tình yêu).

Tổng cộng: 5 lần

Giáo dục, music (âm nhạc), learning (sự

48

văn hóa học hành), wit without

nghệ thuật learning (nhanh trí mà không

chịu học hành), learning in the

breast of a bad man (sự học

hành trong ngƣời của kẻ xấu),

zeal without knowledge (nhiệt

tình mà ngu dốt), skill and

confident (kỹ năng và tự tin),

literature(văn học), knowledge

(kiến thức), pratice (thực

hành).

Tổng cộng: 9 lần

war (chiến tranh), fear (sự sợ Nhƣờng

hãi), patience (kiên nhẫn) , nhịn, tranh

revenge (trả thù). chấp, sự

giận dữ, Tổng cộng: 4 lần kiện cáo

Nhƣ vậy, những vấn đề nhân sinh đƣợc ngƣời Việt quan tâm nhất là:

con người và sự hình dung về con người (19 lần); tốt xấu – đẹp xấu (7 lần);

lời nói – việc làm, dư luận (6 lần); thiếu đủ (5 lần).

Ngƣời Anh thì chú ý nhiều đến: lời nói – việc làm, dư luận (14 lần);

tốt xấu – đẹp xấu (12 lần); danh tiếng, thưởng phạt (11 lần); thời gian, phát

triển – suy tàn, sự thay đổi, lòng tin, hi vọng (11 lần); giáo dục, văn hoá nghệ

thuật (9 lần).

49

Qua khảo sát trên, chúng ta có thể thấy yếu tố A trong SSTT của TN

Anh có những đề tài mà TN Việt không có nhƣ: nhường nhịn, tranh chấp, sự

giận dữ, kiện cáo; danh tiếng, thưởng phạt; giáo dục văn hoá nghệ thuật; yêu

- ghét. Trong khi đề tài đƣợc nhắc đến nhiều nhất ở yếu tố A của TN Việt là

con ngƣời và sự hình dung về con ngƣời (19 lần) thì yếu tố A của TN Anh lại

đề cập nhiều đến lời nói – việc làm (14 lần).

Ngoài ra, động thực vật không phải là vấn đề ngƣời Anh thắc mắc,

quan tâm, chúng không phải là đối tƣợng chủ đạo, nên ít đƣợc đề cập với tƣ

cách là yếu tố đƣợc/ bị so sánh.

Ngƣời Anh chú ý nhiều đến vấn đề tôn giáo hơn ngƣời Việt vì quan

niệm về tôn giáo ăn sâu vào tâm thức của họ với những giáo lí và luật lệ

nghiêm ngặt thể hiện qua nhiều mặt trong đời sống hàng ngày. Còn với ngƣời

Việt, đạo trời hòa hợp với lẽ đời, tự do, không bắt buộc. (xem thêm chƣơng

III, phần 3.3.2.2, Quan niệm về tôn giáo, tín ngƣỡng)

Sự quan tâm đến giới tự nhiên, đặc biệt là vấn đề thời tiết của ngƣời

Anh thể hiện qua các SSTT cũng nhạt hơn ngƣời Việt. Trong khi yếu tố A

trong SSTT của ngƣời Việt đề cập đến mưa, gió, ruộng, đất (tổng cộng: 10

lần, đặc biệt, trong đó có 3 lần nói đến mƣa: nước mưa, mưa tháng ba, mưa

tháng sáu; 2 lần nói đến gió: gió thổi, một nạm gió) thì ngƣời Anh chỉ nói đến

“the change of the weather”(sự thay đổi của thời tiết),“the air of a

window”(gió ngoài cửa sổ), “march”(tháng ba). (tổng cộng: 5 lần).

2.1.2. Cấu tạo của A:

Để có thể thấy đƣợc những quy tắc, quy luật hoạt động đặc trƣng của

mỗi ngôn ngữ ảnh hƣởng đến quá trình sáng tạo, hình thành và ý nghĩa của

50

các SSSTT nhƣ thế nào, ngƣời viết tiến hành phân loại yếu tố A theo tiêu chí

từ vựng, cú pháp.

Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống, dựa vào sự phân biệt về

những nét đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa, những đặc điểm chung xuất

phát từ ý nghĩa ngữ pháp và thể hiện ở chức năng ngữ pháp trong câu, các nhà

ngôn ngữ học phân chia lớp từ cơ bản của một ngôn ngữ thành các phạm trù

từ vựng – ngữ pháp. Dựa vào ý nghĩa khái quát bao trùm cả một lớp từ và khả

năng kết hợp cũng nhƣ chức năng cú pháp của nó trong câu, ngƣời viết sẽ tiến

hành phân loại yếu tố A theo các tập hợp sau: danh từ và danh ngữ, động từ

và động ngữ, tính từ và tính ngữ, kết cấu chủ-vị (có chức năng đảm nhiệm vai

trò thành phần câu, tƣơng đƣơng một cụm từ)

Bảng 2.4: Phân loại yếu tố A trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo tiêu chí

từ vựng, cú pháp

Yếu tố A TN Việt TN Anh

Số lƣợng Tỉ lệ % Số lƣợng Tỉ lệ %

yếu tố A yếu tố A

Danh từ/ danh ngữ 36.7 179 95.7 61

Động từ/ động ngữ 22 13.3 0 0

Tính từ/ tính ngữ 20 12 0 0

Kết cấu chủ-vị 63 38 8 4.3

Tổng cộng 166 100 % 187 100 %

51

Trong TN Việt, ở yếu tố A, kết cấu chủ - vị (38%) đƣợc sử dụng nhiều

nhất, kế đó là danh từ/ danh ngữ (36.7%). Tiếp theo là động từ/ động ngữ

(13.3%) và tính từ/ tính ngữ (12%). Kết cấu chủ - vị đƣợc sử dụng nhiều nhất

vì ngƣời Việt ƣa ví von, liên tƣởng những phán đoán, vấn đề trọn vẹn ý nghĩa.

Chẳng hạn trong một số trƣờng hợp sau:

-Con nhà có cố có ông/ Như cây có cội như sông có nguồn.

-Hoa thơm ai chẳng nâng niu/ Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề.

-Nứa trôi sông không giập thì gãy/ Gái chồng rẫy chẳng chứng nọ

cũng tật kia.

Để ngƣời đọc thấy hết sự tƣơng đồng giữa con nhà và cây, giữa hoa

thơm và người khôn, giữa nứa trôi sông và gái chồng rẫy, dân gian đã triển

khai yếu tố A thành các kết cấu chủ vị đầy đủ để thuyết minh cho rõ ràng, cụ

thể hơn.

Sau đó mới là các câu nêu vấn đề ngắn gọn thông qua cụm danh từ/

danh ngữ:

-Của là cuống ruột.

-Lời nói gói vàng.

-Cơm tẻ mẹ ruột.

Cuối cùng là các hoạt động, trạng thái, tính chất của sự vật hiện tƣợng

thông qua động từ/ động ngữ, tính từ / tính ngữ:

-Cứu bệnh như cứu hỏa.

-Nói đúng như gãi vào chỗ ngứa.

-Vênh váo như bố vợ phải đấm.

-Khỏe như voi không coi cũng ngã.

Yếu tố A trong TN Anh có sự khác biệt. Danh từ/ danh ngữ (179)

đƣợc sử dụng nhiều nhất (95.7%), sau đó mới là kết cấu chủ vị (8, chỉ chiếm

52

4.3%). Khác với ngƣời Việt, ngƣời Anh dùng yếu tố A hầu hết là danh từ

hoặc danh ngữ (chứa thêm thông tin bổ nghĩa cho danh từ) vì tính chất gọn, rõ

của chúng. Yếu tố đƣợc/ bị so sánh chỉ xuất hiện dƣới dạng nêu vấn đề, các

yếu tố còn lại sẽ bổ sung, làm rõ nghĩa cho chúng:

-Wine is a turncoat. (danh từ)

(Rƣợu là kẻ phản bội.)

-The mouth is the executioner and the doctor of the body. (danh

từ)

(Cái miệng là đao phủ và là bác sĩ của cơ thể.)

-A dry cough is the trumpeter of death. (danh ngữ: mạo từ + tính

từ + danh từ)

(Tiếng ho khan là lính thổi kèn của thần chết.)

-A great dowry is a bed full of brambles. (danh ngữ: mạo từ +

tính từ + danh từ)

(Của hồi môn nhiều là một cái giƣờng đầy gai.)

Còn động từ/ động ngữ, tính từ/ tính ngữ thì chúng không đƣợc sử

dụng trong yếu tố đƣợc/ bị so sánh vì theo quy luật của tiếng Anh, chúng

không thể đứng đầu câu, đảm nhiệm chức năng làm chủ ngữ. Muốn đứng đầu

câu, các động từ nguyên mẫu phải thêm “-ing” để chuyển thành các danh

động từ. Do đó, TN Anh không thể nói “Learn in the breast of a bad man is as

a sword in the hand of a mad man” mà phải nói là ““Learning in the breast of

a bad man is as a sword in the hand of a mad man” (Sự học trong đầu kẻ xấu

cũng như thanh gươm trong tay người điên).

Còn với tiếng Việt, bất kì một hoạt động, trạng thái, tính chất nào cũng

đều có thể đảm nhiệm vai trò chủ thể:

-Ăn cơm không rau như đánh nhau không có người gỡ.

-Nói thì như mây như gió/ Cho thì thằng mõ không xong.

-Đẹp như rối không mối không xong.

53

-Xấu như ma vinh hoa cũng đẹp.

Tóm lại, theo tiêu chí từ vựng – cú pháp, cấu tạo của yếu A trong

SSTT của TN Việt linh hoạt hơn TN Anh. Trong khi ngƣời Việt chuộng cách

thuyết minh cụ thể, rõ ràng thì ngƣời Anh chuộng cách nói ngắn gọn, súc tích.

2.1.3. Đặc điểm của A

Trong TN Việt, có nhiều SSTT mà trọng tâm ngữ nghĩa nằm ở yếu tố

A. A là cái cần nhấn mạnh, cần đƣợc so sánh, B chỉ là phần bổ sung, liên

tƣởng, ví von:

-Gió thổi là chổi trời.

-Tấc đất tấc vàng.

-Con có cha như nhà có nóc/ Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

-Tiền của như nước thuỷ triều.

-Người không học như ngọc không mài.

Cũng có trƣờng hợp A chỉ là yếu tố đƣa đẩy, gợi hứng; còn B mới thật

sự là yếu tố đƣợc nhấn mạnh, là trọng tâm ngữ nghĩa mà ngƣời phát ngôn

muốn truyền đạt:

-Thuyền theo lái, gái theo chồng.

-Hoa thơm ai chẳng nâng niu/Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề.

-Vàng sa xuống giếng khôn tìm/ Người sa lời nói như chim sổ lồng.

-Uốn cây từ thuở còn non / Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.

Ở đây có sự tiềm ẩn của liên từ “cũng như”. Chẳng hạn ở ví dụ cuối

cùng, cách nuôi dạy con cái mới là vấn đề chính đƣợc đề cập đến. Nó đƣợc ví

với cách uốn cây, hay nói cách khác, cách uốn cây chỉ là phần rào đón, đƣa

đẩy. Cây phải uốn lúc còn nhỏ, còn dẻo dai, lúc đó muốn uốn cách nào cũng

không sợ gãy. Dạy trẻ con cũng giống nhƣ vậy. Lúc trẻ còn thơ dại, trí óc dễ

54

lĩnh hội những điều mắt thấy tai nghe, lại chƣa đến thời kì bƣớng bỉnh nên

cha mẹ dễ dạy dỗ, uốn nắn.

Tóm lại, trong TN Việt, tùy theo hoàn cảnh, mục đích giao tiếp cụ thể

mà yếu tố A hay B đƣợc nhấn mạnh hơn.

Trong TN Anh thì toàn bộ trọng tâm ngữ nghĩa nằm ở A – yếu tố quan

trọng, chủ đạo luôn đƣợc đƣa ra trƣớc, không có trƣờng hợp đƣa đẩy do ngƣời

Anh thích đề cập đến vấn đề một cách trực tiếp chứ không có thói quen vòng

vo, rào đón. Yếu tố B chỉ có vai trò bổ sung, làm rõ, thể hiện sự liên tƣởng

của dân gian mà thôi. Chẳng hạn:

Knowledge is a treasure but practice is the key to it. (Kiến thức là một kho báu nhƣng thực hành mới chính là

chìa khóa để mở nó)

Health is great riches. (Sức khỏe là tài sản vô giá) The wife is the key of the house. (Ngƣời vợ là chìa khóa của ngôi nhà)

Trong ví dụ đầu tiên, nhằm cụ thể hóa giá trị của kiến thức, ngƣời Anh

so sánh nó với một kho báu; nhằm nhấn mạnh vai trò của thực hành trong

việc lĩnh hội tri thức, họ ví thực hành với chìa khóa có thể mở đƣợc kho báu

kiến thức ở trên. Ở đây, yếu tố A, tức “kiến thức”, “thực hành”, “người vợ”,

“sức khỏe” mới chính là điều ngƣời Anh quan tâm.

SSTT trong TN Việt và TN Anh còn mở ra một thế giới hình ảnh vô

cùng sống động, phong phú, nhiều màu sắc, vừa thực vừa ảo, vừa khách quan

vừa chủ quan, vừa trừu tƣợng vừa chi tiết,…. Hình ảnh chứa đựng cảm xúc và

suy nghĩ của tác giả dân gian, là hiện thân của tƣ duy, ý tƣởng của hai dân tộc.

Tuỳ theo đặc điểm tƣ duy của mỗi dân tộc mà cách sử dụng hình ảnh có khác

55

nhau. Chẳng hạn, các hình ảnh liên quan đến lao động sản xuất của ngƣời

Việt mang tính chung chung, khái quát, thuần tuý là các kinh nghiệm:

-Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc.

-Làm ruộng có trâu, làm dâu có chồng.

-Uốn cây từ thuở còn non/ Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.

Còn các hình ảnh thuộc đề tài kinh nghiệm lao động sản xuất của

ngƣời Anh thì mang tính cụ thể: a good bargain (sự trả giá có lợi cho mình),

dear bought (sự mua ngọt ngào); có kèm sự đánh giá: a useful trade (sự mua

bán có ích); hoặc định lƣợng: three removals (ba lần dọn nhà).

Bên cạnh đó, ta thấy TN Việt có 166 A so sánh với 173 B. TN Anh

thì có 187 A so sánh với 198 B. Nhƣ vậy, ngoài cấu trúc 1 A – CSSS – từ so

sánh – 1 B, SSTT của ngƣời Việt và ngƣời Anh còn có những trƣờng hợp sau:

+ 1 A – B1, B2, B3,..

Ví dụ:

-Con nhà có cố có ông

Như cây có cội như sông có nguồn.

-Gái có chồng như chông như mác

Gái không chồng như rác như rơm.

-Nói thì như mây như gió

Cho thì thằng mõ không xong.

-Một cái rắm bằng nắm thuốc tiêu, bằng liều thuốc gió, bằng lọ

thuốc tiên.

Cấu trúc này nhằm cụ thể hóa, nhấn mạnh, miêu tả sâu sắc hơn yếu tố

A. Sự tăng cấp thể hiện ở B1, B2, B3,…tạo ra sức nặng, kéo ngƣời đọc theo

một hƣớng liên tƣởng chung nhất. Lối so sánh tăng cấp nhƣ vậy có khả năng

kết nối, xâu chuỗi hình ảnh tạo nên một tập hợp hình ảnh ít nhiều mang tính

hệ thống. Chẳng hạn, trong ví dụ đầu tiên, nhằm nhấn mạnh đến cội nguồn,

56

căn nguyên, gốc rễ của con ngƣời, dân gian so sánh với hai hình ảnh liên tiếp

là “cây có cội” và “sông có nguồn”. Sự xuất hiện liên tiếp của yếu tố B có tác

dụng nhấn mạnh, khắc sâu ý niệm về tổ tiên, nhắc con ngƣời phải nhớ đến

nguồn cội vì có tổ tiên thì mới có mình.

Nhƣ vậy, các B hỗ trợ nhau nói lên đặc tính nhiều chiều của A, làm

giàu thêm nhận thức của độc giả về A, mở ra nhiều liên tƣởng phong phú hơn,

nhìn sự vật hiện tƣợng ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ toàn diện hơn. Ngƣời

Việt ƣa liên tƣởng A với những sự vật hiện tƣợng cụ thể nên thích sử dụng

kiểu so sánh này

Ngƣời Anh cũng có lối tƣ duy trên:

Women are saints in church, angels in the street, and devils at home. (Phụ nữ là thánh trong nhà thờ, thiên thần trên đƣờng phố và quỷ sứ ở nhà)

The mouth is the executioner and the doctor of the body. (Cái

miệng là đao phủ và bác sĩ của cơ thể)

Các yếu tố so sánh B xuất hiện liên tiếp nhằm nói lên đặc tính của A

đƣợc nhìn từ nhiều chiều. Chẳng hạn, trong ví dụ đầu tiên, để khắc họa rõ tính

cách của phụ nữ ở nhiều phƣơng diện, nhiều khía cạnh, ngƣời Anh ví hình

ảnh của họ với thánh, thiên thần và cả quỷ sứ. Nhƣ vậy, một yếu tố A có thể

có nhiều nét nghĩa.

+ Nhiều A – 1 B:

Kết cấu này nhằm khái quát hoá sự giống nhau giữa các sự vật hiện

tƣợng. TN Việt không có trƣờng hợp SSTT nào xuất hiện theo dạng này. TN

Anh thì có:

Two daughters and a back door are three arrant thieves.

(Hai ngƣời con gái và cái cửa sau là ba tên trộm vĩ đại)

Reward and punishment are the walls of a city.

57

(Thƣởng và phạt là tƣờng thành của một thành phố)

Ignorance and incuriosity are two very soft pillows.

(Sự phớt lờ và không tò mò là hai chiếc gối rất êm ái)

War, hunting, and love are as full of trouble as pleasure.

(Chiến tranh, săn bắn và ái tình đều có nhiều nỗi buồn cũng nhƣ niềm

vui)

Trong câu ví dụ đầu tiên, ngƣời Anh nhận thấy sự giống nhau giữa hai

cô con gái và một cái cửa sau: con gái thì hay bòn của của cha mẹ mình, cũng

nhƣ cái cửa sau dễ khiến kẻ trộm lẻn vào nhà lấy mất của cải, đồ đạc quý giá.

Từ sự giống nhau đó, họ khái quát lên thành “Hai cô con gái và một cái cửa

sau là ba tên trộm vĩ đại”. Trong ví dụ cuối cùng, chiến tranh, săn bắn và ái

tình tƣởng chừng nhƣ là những hoạt động hoàn toàn khác nhau, nhƣng ngƣời

Anh đã nhận thấy điểm giống nhau giữa chúng là đều có nhiều nỗi buồn cũng

nhƣ niềm vui. Nhƣ vậy, khác với ngƣời Việt, ngƣời Anh còn thích tổng hợp,

khái quát lại những nét tƣơng đồng của các sự vật hiện tƣợng trong cấu trúc

so sánh nhiều A – 1 B.

2.2. Đặc điểm của CSSS trong TN Việt và TN Anh

Bảng 2.5: Thống kê yếu tố CSSS trong SSTT của TN Việt và TN Anh

Yếu tố CSSS TN Việt TN Anh

Số lƣợng Tỉ lệ % Số lƣợng Tỉ lệ %

CSSS CSSS

Khuyết 109 80.7 144 80.9

Có 26 19.3 34 19.1

Tổng cộng 135 100% 178 100%

58

2.2.1. Khuyết yếu tố CSSS:

Theo số liệu ở trên, ngƣời Việt (80.7%) và ngƣời Anh (80.9%) đều

chuộng lối nói súc tích ngắn gọn (khuyết yếu tố CSSS) hơn là đƣa ra mô hình

so sánh ở dạng đầy đủ:

Gió thổi là chổi trời.

Trẻ mùa hè như bè tháng sáu.

Con có mẹ như măng ấp bẹ.

Dân như cây gỗ tròn.

Marriage is a lottery. (Hôn nhân là tấm vé số)

Time is money. (Thời gian là tiền bạc)

Beauty is but a blossom. (Cái đẹp chỉ là một đóa hoa)

CSSS ở các câu TN trên đều bị khuyết, tạo nên khoảng trống, khơi gợi

trí tƣởng tƣợng của ngƣời đọc để tìm ra điểm tƣơng đồng giữa hai sự vật, hiện

tƣợng. Trong ví dụ cuối cùng, ngƣời tiếp nhận có thể nghĩ đến nhiều điểm

tƣơng đồng giữa cái đẹp và một đóa hoa, đó có thể là sự yếu ớt, cần đƣợc

nâng niu, trân trọng hay sự mong manh, ngắn ngủi, chóng phai tàn,…

Một SSTT hay là một so sánh mới lạ nhƣng vẫn đủ để cho phép ngƣời

đọc có thể phát hiện ra nét tƣơng đồng giữa yếu tố đƣợc/ bị so sánh với yếu tố

so sánh. Sự xuất hiện của yếu tố CSSS sẽ hƣớng ngƣời đọc theo cùng hƣớng

liên tƣởng với tác giả, gò bó, hạn chế khả năng tự do sáng tạo của ngƣời đọc.

Do đó, việc giấu đi CSSS sẽ khiến ngƣời đọc phải suy nghĩ, liên tƣởng để tìm

ra nét tƣơng đồng giữa hai sự vật, kích thích óc tƣởng tƣợng vô tận ở họ,

khiến họ thấy thích thú, tâm đắc khi tự mình phát hiện ra. Đây cũng chính là

điều cần rút ra khi phân tích các SSTT.

59

2.2.2. Có yếu tố CSSS:

Bảng 2.6: Cấu tạo của yếu tố CSSS trong SSTT của TN Việt và TN Anh

2.2.2.1. Cấu tạo:

Động từ/ động ngữ không lo cũng hết

ăn mòn cũng hết

lởn vởn

sa đâu ấm đấy mê mẩn x 2 dính gặp đâu úp đấy chẳng có mối tối nằm không không mối không xong ở đâu thơm đấy khôn dò không coi cũng ngã lại rút ruột ra lênh đênh

fades (phai tàn) come home to roost (về nhà mình mà đậu) ought to be a good while a-soaking (chỉ trở nên tốt khi nhúng vào nước) consumes faster than labour wears (phân hủy nhanh hơn khi lao động) better broken than kept (nên bẻ gãy hơn là giữ lại) made to be broken (được làm ra để bẻ vụn) wavering (dao động) wags (ve vẩy, lúc lắc)

Tính từ/ tính ngữ

nông nổi sâu sắc cạn lòng bạc nghĩa

chổng chểnh khôn x 2

dại x 2

sweet (ngọt ngào) good x 3 (tốt) bad x 2 (xấu, tệ) white (trắng) narrowest at its source and broadest afar off (hẹp nhất ở thượng nguồn và rộng nhất phía hạ nguồn) as well as (cũng tốt như) fine but much out of fashion (đẹp nhưng hầu hết đã lỗi thời) strong (mạnh mẽ)

TN Việt TN Anh

60

Cụm C-V nào ai bày cỗ

nhiều hƣơu cũng hết

as full of trouble as pleasure (đầy đủ niềm vui cũng như nỗi buồn) that turn all it touches into gold (nó chuyển mọi thứ nó chạm vào thành vàng) which stink in a heap, but spread abroad make the earth fruitful (nó sẽ bốc mùi hôi thối khi chất thành đống nhưng nếu rải ra thì nó sẽ làm cho mặt đất trở nên màu mỡ) they drink and talk (chúng nhậu nhẹt và bắt đầu nói) if you let it (secret) go, you art a prisoner to it (nếu bạn để bí mật ra đi, bạn đã tạo nên một tù nhân cho nó) that grows not in every one's garden (nó (bông hoa) không nở trong mọi khu vườn) that grows in the devil's garden (đóa hoa chỉ nở trong khu vườn của quỷ) some are caught, others fly away (vài con đậu, vài con bay) that can be eaten cold (món ăn có thể ăn khi nguội) for it steals half one's life (vì nó (giấc ngủ) đánh cắp hết nửa đời người) everything runs out of them (mọi thứ chảy ra ngoài chúng) she does not let it rust (cô ấy không để nó rỉ sét) the more we stir in it, the more we are entangled (chúng ta càng chuyển động thì càng bị mắc kẹt trong đó) every man plays his part (mỗi người sẽ diễn phần của mình) some to go up and some down (một số người lên và một số người xuống)

Phân tích cấu tạo của các CSSS, ta thấy ngƣời Việt và ngƣời Anh đều

ƣa sử dụng các động từ/ động ngữ, tính từ/ tính ngữ. Nhƣ vậy, CSSS thông

thƣờng sẽ là các trạng thái, tính chất, hoạt động của hai sự vật hiện tƣợng.

Tuy nhiên, ngƣời Anh ƣa sử dụng cụm chủ - vị hơn ngƣời Việt (14 trƣờng

hợp CSSS của TN Anh là cụm chủ - vị.)

61

2.2.2.2. Đặc điểm:

Trong cấu tạo của các CSSS ở trên, ta thấy xuất hiện một số lƣợng lớn

động từ biểu thị các dạng vận động khác nhau của sự vật:

Động từ trong CSSS của TN Việt: lo, hết x 3, ăn mòn, lởn vởn, sa, mê

mẩn x 2, dính, gặp, úp, nằm, xong, ở, thơm, dò, coi, ngã, rút, lênh đênh, bày.

(Tổng cộng: 22 động từ)

Động từ trong CSSS của TN Anh: roost (đậu), be (là), a-soaking

(ngâm, nhúng vào nƣớc), kept (giữ), let x 2 (để cho), go (đi), entangled

(vƣớng, mắc kẹt), catch (bắt), stink (bốc mùi), touch (chạm vào), play (đóng

vai), fade (héo tàn, nhạt phai), come (trở về, đi về), consume (phá hủy, tiêu

thụ hết), break x 2 (đập vỡ, bẻ gãy), make x 2 (làm, tạo ra), wavering (dao

động), wear (mặc), wag (lúc lắc, ve vẩy), turn (biến đổi, chuyển), spread (rải

ra, trải ra), talk (nói), do (làm), art (sáng tạo ra), grow x 2 (lớn lên, phát triển),

fly away (bay mất), steal (đánh cắp), eat (ăn), drink (uống), runs out of (chảy

ra, tuôn ra hết), rust (rỉ, mai một), stir (chuyển động, náo động), go up (đi lên),

down (đi xuống). (Tổng cộng: 38 động từ)

Để tìm ra phong cách riêng của mỗi dân tộc, ngƣời viết sẽ tiến hành

phân loại các động từ xuất hiện trong CSSS theo tiêu chí: động từ chỉ hoạt

động di chuyển có phƣơng hƣớng và không có phƣơng hƣớng; động từ chỉ tƣ

thế tĩnh tại của sự vật nhƣ Dƣ Ngọc Ngân trong “Giáo trình ngữ pháp tiếng

Việt – Phần từ loại” [42, tr.28 - 35]. Ở đây ngƣời viết xin nói rõ hơn về cách

phân loại này. Tác giả đã phân động từ ra thành hai loại lớn là động từ độc lập

và động từ không độc lập.

Động từ độc lập không có bổ ngữ bắt buộc, gồm một số nhóm nhƣ sau:

62

- Nhóm chỉ hoạt động di chuyển không có phƣơng hƣớng: đi, chạy,

nhảy, bò, lăn, trườn, bước, bay, tiến, lùi,…

- Nhóm chỉ tƣ thế tĩnh tại của sự vật: đứng, ngồi, nằm, nghỉ,…

- Nhóm chỉ hoạt động tâm lí: cười, khóc, ngủ, thức,…

- Nhóm chỉ hoạt động tự nhiên, không có chủ ý: ngã, rơi, rụng, mọc

nở,…

Động từ không độc lập đòi hỏi phải có bổ ngữ đi kèm, để làm cho ý

nghĩa của động từ đƣợc hoàn chỉnh. Nó gồm những nhóm sau:

+ động từ tác động: biểu thị những hoạt động chuyển đến một hoặc

nhiều đối tƣợng nhất định. (đọc, học, đội, mặc, viết, xây, đóng, vẽ, cắt, đánh,

tặng, mượn, mời,…)

+ động từ tình thái: chỉ những trạng thái tâm lí của con ngƣời nhƣ ý

chí, nguyện vọng, dự định, sự cần thiết, khả năng,…(muốn, mong, định, dám,

nỡ, cần, nên, có thể,…)

+ động từ tiếp thụ: chỉ trạng thái tiếp nhận một hay nhiều đối tƣợng sự

vật, sự tình có thuận lợi hay không đối với chủ thể. (được, bị, phải, chịu,…)

+ động từ tồn tại: chỉ ý tồn tại, có mặt, xuất hiện hoặc mất đi của một

đối tƣợng sự vật hay sự tình nào đó. (có, còn, xuất hiện, hiện ra, xảy ra, diễn

ra, mất,…)

+ động từ chỉ hoạt động di chuyển có phƣơng hƣớng: bao gồm: ra,

vào, lên, xuống, đến, tới, lại, về, sang, qua,…

63

+ động từ chỉ quan hệ biến hóa (chỉ sự biến hóa, chuyển biến của sự

vật: trở thành, trở nên, biến thành, thành, hóa ra,…) và quan hệ đồng nhất (là)

Tóm lại, khảo sát 22 động từ trong CSSS của TN Việt và 38 động từ

trong CSSS của TN Anh theo hai tiêu chí đã đề cập ban đầu, ta có kết quả nhƣ

sau:

Bảng 2.7: Phân loại động từ trong CSSS của TN Việt và TN Anh

Tiêu chí phân Động từ trong CSSS Động từ trong CSSS của TN

loại của TN Việt Anh

Số lƣợng Tỉ lệ % Số lƣợng Tỉ lệ %

Chỉ tƣ thế tĩnh tại nằm, ở, roost (đậu), 18.2 5.3

của sự vật, hiện dính, úp entangled (vƣớng,

tƣợng mắc kẹt)

Chỉ hoạt động di 0 go up (lên), go 0 7.9

chuyển có down (xuống),

phƣơng hƣớng come (về)

Chỉ hoạt động di lởn vởn, sa, go (đi), wave (dao 13.6 15.8

chuyển không có lênh đênh động, đung đƣa),

phƣơng hƣớng wag (lúc lắc, ve

vẩy), fly away (bay

mất), run out of

(chảy ra, tuôn ra

hết), stir (chuyển

động, náo động)

64

Nhƣ vậy, theo khảo sát ở trên, ngƣời Anh thích sử dụng các động từ

chỉ hoạt động di chuyển có hƣớng và không có hƣớng trong CSSS, còn ngƣời

Việt thì thích sử dụng các động từ chỉ tƣ thế tĩnh tại của sự vật, hiện tƣợng

(18.2%). Điều này xuất phát từ kiểu tƣ duy của hai dân tộc.

Xét về loại hình văn hóa, văn hóa Anh thuộc loại hình gốc du mục.

Nghề chăn nuôi buộc ngƣời dân phải đƣa gia súc đi tìm cỏ, sống du cƣ, nay

đây mai đó. Dù sau này có phát triển thƣơng nghiệp và cấy trồng thì chăn

nuôi vẫn giữ vai trò chủ đạo. Họ “không chí thú với cuộc sống định cư, sau

mỗi năm lại chuyển đi nơi khác” [66, tr. 21). Do đó, trong CSSS của TN Anh,

ta thấy xuất hiện nhiều động từ chỉ hoạt động di chuyển có hƣớng và không

có hƣớng:

Curse, like chicken, come home to roost.

(Lời nguyền rủa giống nhƣ lũ gà, quay về chuồng nhà mình mà đậu)

The world is a ladder for some to go up and some (go) down.

(Thế giới là một cái thang cho một vài ngƣời lên và một vài ngƣời

xuống)

A women’s tongue wags like a lamb’s tail.

(Miệng lƣỡi của phụ nữ ve vẩy nhƣ đuôi cừu)

Proverbs are like butterflies, some are caught, others fly away.

(TN nhƣ những con bƣớm, vài con bị bắt, những con khác thì bay đi

mất)

Còn Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp, nghề trồng

trọt buộc ngƣời dân phải sống định cƣ để chờ cây cối lớn lên, ra hoa, kết trái

và thu hoạch. Do đó, trong CSSS của TN Việt có nhiều động từ chỉ tƣ thế tĩnh

tại của sự vật hiện tƣợng (18.2%) hơn TN Anh (5.3%):

Ngƣời nhƣ hoa ở đâu thơm đấy.

Đẹp nhƣ rối chẳng có mối tối nằm không.

65

Nếu ngƣời Việt thiên về lối tƣ duy tĩnh tại thì ngƣời Anh lại chuộng

lối tƣ duy động, chú trọng sự vận động, phát triển của các sự vật hiện tƣợng.

Điều này để lại dấu ấn trong ngôn ngữ nói chung và trong SSTT của TN Anh

nói riêng, nhƣ khảo sát ở trên.

2.3. Đặc điểm của từ biểu thị quan hệ so sánh trong TN Việt và TN

Anh

2.3.1 Từ biểu thị quan hệ so sánh trong TN Việt:

Bảng 2.8: Thống kê từ thể hiện quan hệ so sánh trong SSTT của TN

Việt

Từ nối Số lƣợng Tỉ lệ %

nhƣ 108 63.5

28 là 16.5

 26 15.3

8 bằng 4.7

Tổng cộng 170 100 %

Các từ biểu thị quan hệ so sánh trong TN Việt đều là các từ đơn tiết

vì tính chất súc tích ngắn gọn của nó: như, bằng, là, . Các từ song tiết

không thấy xuất hiện trong TN, nhƣng lại xuất hiện nhiều trong ca dao do yêu

cầu niêm luật và để phô diễn các cung bậc khác nhau của tình cảm (bao

nhiêu…bấy nhiêu, như thể, khác chi, cũng như, tựa hồ, cầm bằng, ví như, …)

Sau đây, ngƣời viết sẽ lần lƣợt trình bày đặc điểm của các từ so sánh

đã nêu trên:

66

2.3.1.1. Như: 63.5 %

Đây là từ thể hiện quan hệ so sánh có tần số xuất hiện cao nhất trong

TN Việt. Như đƣợc sử dụng trong các SSTT có tính chất miêu tả, nhằm chỉ ra

một số nét nghĩa giống nhau giữa hai sự vật, hiện tƣợng đƣợc đƣa ra so sánh.

Chẳng hạn:

Con có cha như nhà có nóc.

Câu này nói đến địa vị quan trọng của ngƣời cha: che chở, bảo vệ các

thành viên trong gia đình. Ngƣời cha đƣợc ví nhƣ cái nóc nhà. Con còn cha sẽ

đƣợc cha che chở, bảo vệ, nâng niu, trƣớc mọi biến cố của cuộc sống, cũng

nhƣ nhà có nóc sẽ không phải lo ngại nắng mƣa, gió bão. Chính vì thế, ở đây,

ta có thể dùng các liên từ: giống như, cũng như, coi như để thay thế.

Từ so sánh này thể hiện sắc thái giả định, nhằm đƣa ra một số đặc

điểm gần gũi giữa hai sự vật khác loại, chứ không phải là đồng nhất hoàn toàn:

-Dâu năng hái như gái năng tô. (càng xinh đẹp, tươi tốt hơn)

-Gái lớn trong nhà như ma chửa cất. (khiến mọi người lo lắng,

bất an)

-Cơm tẻ mẹ ruột. (vô cùng quan trọng, là nguồn sống)

-Cứu bệnh như cứu hoả. (gấp rút, quan trọng)

-Chị em dâu như bầu nước lã. (dửng dưng, lạnh nhạt)

-Người dốt như trông vào vách.(mù mờ, chẳng hiểu gì)

Với từ so sánh này, tác giả dân gian đã phát biểu nhiều so sánh rất hay

về quan niệm sống, về tình thƣơng, lẽ phải ở trên đời:

-Người già như dâu ngả bóng.

-Đàn ông nông nổi giếng khơi/ Đàn bà sâu sắc như cơi

đựng trầu.

-Thuyền không lái như gái không chồng.

-Mẹ già như chuối chín cây.

67

-Tiền của như nước thuỷ triều.

-Người như hoa ở đâu thơm đấy.

Câu TN "Mẹ già như chuối chín cây" nói lên tấm lòng lo lắng của

ngƣời con không biết lúc nào mẹ mình không còn nữa. Hình ảnh so sánh ở

đây thật chính xác. Ngày tháng thoi đƣa, tuổi xuân của mẹ rồi cũng sẽ qua,

tuổi già sẽ đến. Nếu nhà nào có trồng nhiều chuối sẽ thấy buồng chuối chín

cây nếu đốn xuống không kịp, mỗi khi có ngọn gió thổi qua, các trái chuối đã

chín, mềm quá sẽ lần lƣợt rơi rớt, có khác gì thân mẹ bị ngọn gió thời gian

mang đi mãi mãi. Dân gian đã rất tinh ý, tài tình khi ví von tuổi già yếu đuối

của mẹ không khác chuối chín cây thông qua từ so sánh “như”, bởi vì nhƣ đã

nói ở trên, đây là từ so sánh có tính chất miêu tả.

Hình ảnh so sánh này từ TN đã đi vào ca dao và trở thành một công

thức quen thuộc, đậm đà sắc thái dân gian trong hàng loạt câu viết về chủ đề

ngƣời mẹ thông qua từ so sánh “như”:

-Mẹ già như chuối ba hương

Như xôi nếp mật, như đường mía lau.

-Mẹ già như chuối chín cây

Gió đưa mẹ rụng, con rày mồ côi.

-Mẹ già như chuối chín cây

Mong sao dâu được mỗi ngày mỗi ngoan.

-Mẹ già như chuối chín cây

Sao đấy chẳng liệu cho đây liệu cùng.

Còn câu TN “Thuyền không lái như gái không chồng” khiến

ngƣời đọc phải nao lòng trƣớc cảnh khổ riêng của những ngƣời con gái không

chồng trong xã hội cũ, phải gồng mình bƣơn chải, lăn lộn với cuộc sống, nếm

trải qua bao nỗi éo le, cùng cực của phận đàn bà. Những ngƣời phụ nữ trong

cảnh “không chồng” thƣờng khó có thể giãi bày lòng mình ra với ngƣời khác

68

bởi nhiều lẽ, vì vậy mà ít có ai thấu hiểu đƣợc nỗi niềm của họ. Tác giả dân

gian đã đúc kết lại điều đó trong câu TN trên. Thuyền không lái sẽ bị chảo

đảo, chông chênh trƣớc sóng to gió cả, có nguy cơ bị lật úp giữa dòng nƣớc

mênh mông. Ngƣời con gái không có chồng đỡ đần, sẻ chia, an ủi thì cuộc

sống quạnh quẽ, hiu hắt, chông chênh biết nhƣờng nào. Hai hình ảnh ấy có

nhiều điểm gần gũi chứ không phải đồng nhất hoàn toàn nên đƣợc dân gian

kết nối lại thông qua từ so sánh “như”, chứ không phải “bằng” hay “là”.

Không dừng lại ở việc đúc kết kinh nghiệm, câu TN góp phần thể hiện sự

chông chênh của cảnh ngộ không chồng thông qua ví von rất tài tình, rất đắt.

Tóm lại, có thể nói “như” là từ so sánh chuyên dụng trong TN

Việt, kết nối nhiều hình ảnh so sánh đẹp, mƣợt mà, bay bổng, vƣợt ra ngoài

khuôn khổ khô cứng, làm cho TN trở thành những tác phẩm nghệ thuật đích

thực, đi vào lòng bao thế hệ ngƣời Việt.

2.3.1.2. Là: (16.5 %)

Trong tiếng Việt, là có nhiều chức năng, ở đây ngƣời viết chỉ chú ý

đến nét nghĩa so sánh. Về nét nghĩa này, là có giá trị tƣơng đƣơng như, nhằm

thể hiện sự tƣơng đồng giữa hai sự vật, hiện tƣợng đƣợc đem ra so sánh. Do

đó, ta có thể thay như vào vị trí của là:

Gió thổi là/ như chổi trời.

Bố vợ là/ như rợ cọc chèo, mẹ vợ là/ như bèo trôi sông, chàng

rể là/ như ông Ba Vì.

Ngƣời ta là/ như hoa đất.

Của là/ như cuống ruột.

Ăn đƣợc ngủ đƣợc là/ như tiên/

Không ăn không ngủ là/ như tiền bỏ đi.

69

Nhƣng sắc thái ý nghĩa giữa hai từ so sánh này có sự khác biệt.

Chẳng hạn trong ví dụ đầu tiên: câu “Gió thổi là chổi trời” mang sắc thái

khẳng định, gió chính là cây chổi của đất trời quét hết sạch mọi bụi bặm trong

không khí. Nếu thay “Gió thổi như chổi trời” thì tình hình có khác. Sắc thái ý

nghĩa ở đây có thay đổi, lúc này yếu tố A “gió thổi” chỉ đƣợc ví von, giả định

như cây chổi của trời mà thôi chứ không phải khẳng định hoàn toàn đúng là

“chổi trời” nhƣ ở trƣờng hợp đầu.

Tóm lại, từ so sánh “là” có giá trị tƣơng đƣơng với “như” nhƣng có

sắc thái khác. “Là” mang sắc thái khẳng định còn “như” mang sắc thái giả

định [73, tr.101). Và“vì thế, người ta nói “Tấc đất tấc vàng” hay là “Một tấc

đất là một tấc vàng” mà không nói “Tấc đất như tấc vàng” [24, tr. 94]

2.3.1.3. Không có từ thể hiện quan hệ so sánh ( )(15.3%)

Miệng quan trôn trẻ.

Lời nói gói vàng.

Tấc đất tấc vàng.

Cơm tẻ mẹ ruột.

Nhà không móng, bóng không người.

Con giữ cha, gà giữ ổ.

Thuyền theo lái, gái theo chồng.

….

Trong các trƣờng hợp trên, từ thể hiện quan hệ so sánh vắng mặt vì

các vế có cấu trúc đối xứng khá chặt chẽ: có từ lặp lại (giữ, tấc, theo, dễ, một),

có vần liền giữa phần nêu vấn đề và phần thuyết minh (nói – gói, tẻ - mẹ,

móng – bóng, cha – gà, lái – gái) hoặc có sự đối lập/ đối xứng về ngữ nghĩa:

đất/vàng, lời nói/ gói vàng, miệng quan / trôn trẻ, cơm tẻ / mẹ ruột, lời nói –

đọi máu, nhà không móng / bóng không người, …

70

Khi nhận xét về cấu trúc này, Nguyễn Đức Dân còn thấy rằng: “Người

Việt không muốn đưa ra những nhận định một cách võ đoán, cứng nhắc hay

mang tính áp đặt mà muốn thuyết phục, làm cho người khác tin vào những

nhận định đó. Người Việt thường dùng từ ngữ có cấu trúc sóng đôi để đưa ra

một nhận định, một triết lí có căn cứ, có chứng minh. Cách chứng minh trong

trường hợp này là thực hiện phép so sánh: lấy một điều hiển nhiên được mọi

người thừa nhận đặt cạnh một điều cần chứng minh làm căn cứ chứng minh

cho tính đúng đắn của nó” [10], nhƣ trong các ví dụ sau:

-Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ sai.

-Uốn cây từ thuở còn non/ Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.

-Nứa trôi sông không giập thì gãy/ Gái chồng rẫy chẳng

chứng nọ cũng tật kia.

Ở đây, hai vế gắn bó với nhau bằng mối quan hệ liên tƣởng tƣơng

đồng. Trong ví dụ cuối cùng, ngƣời Việt dùng tính tất yếu của cây nứa khi trôi

trên sông sẽ bị va đập, cọ xát nên không dập thì gãy để làm căn cứ cho nhận

định tiếp theo “Gái chồng rẫy chẳng chứng nọ cũng tật kia”. Ngƣời Việt cho

rằng khi cách nói nhƣ vậy thì sẽ thuyết phục ngƣời nghe hơn.

Tóm lại, do tính chất ngắn gọn, kiệm lời của TN, dù yếu tố thể hiện

quan hệ so sánh vắng mặt thì câu vẫn thể hiện trọn vẹn thông báo.

2.3.1.4. Bằng: (4.7 %)

Từ thể hiện quan hệ so sánh “bằng” xuất hiện không nhiều, chỉ có

8 trƣờng hợp:

- Một cái rắm bằng nắm thuốc tiêu, bằng liều thuốc gió, bằng lọ

thuốc tiên.

- Có mẹ già bằng ba rào giậu.

- Một lần dọn nhà bằng ba lần cháy.

71

- Một nạm gió bằng một bó chèo.

- Hòn đất nỏ bằng giỏ phân.

- Một cây mít bằng sào ruộng.

So sánh ở đây là so sánh về giá trị. Chẳng hạn, câu “Một nạm gió

bằng một bó chèo” so sánh về giá trị hữu ích của “nạm gió” và “bó chèo”

đối với tàu thuyền đi trên sông, trên biển.

Do đó, bằng khác với như, “sự so sánh ở đây chủ yếu là so sánh về

giá trị chứ không phải so sánh về hiện tượng” [24, tr. 91]. Như đƣợc sử dụng

trong so sánh có tính chất miêu tả, giả định, nhằm chỉ ra một số nét nghĩa

giống nhau giữa A và B, không phải là đồng nhất hoàn toàn. Còn bằng thể

hiện giá trị của A tƣơng đƣơng với giá trị của B, nhƣ ví dụ ở trên.

Ngoài ra, các từ chỉ số lƣợng hoặc danh từ chỉ đơn vị xuất hiện sau

bằng ở đây đều có tính chất phóng đại, nhằm cƣờng điệu hóa một giá trị nào

đó của A. Ba, nắm, liều, lọ, bó, giỏ, sào là con số biểu trƣng với hàm ý là số

nhiều. Nhƣ vậy, một cái rắm, mẹ già, một lần dọn nhà, một nạm gió, hòn đất

nỏ, một cây mít sẽ có giá trị hơn hẳn các yếu tố so sánh ở vế B.

2.3.2 Từ biểu thị quan hệ so sánh trong TN Anh:

Bảng 2.9: Thống kê tần số xuất hiện của từ thể hiện quan hệ so sánh

trong SSTT của TN Anh

Từ nối Số lƣợng Tỉ lệ %

be 139 73.2

like 35 18.4

72

11 5.8 as…as…

4 2.1 as

 1 0.5

Tổng cộng 190 100%

“Like” hoặc “as” vốn đƣợc nhiều tài liệu xem nhƣ từ so sánh

chuyên dụng trong TN Anh. Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh [88] xem SSTT là

một biện pháp trong đó hai sự vật khác nhau được mang ra so sánh trong một

cụm được giới thiệu bằng “like” hoặc “as”, chẳng hạn như trong các câu

“Sao mùa đông giống như sự vắng mặt của tôi thế này!” hoặc “Vai trò của em đối với tôi cũng như thực phẩm đối với cuộc sống vậy!” (Shakespeare)(19)

Trong một quyển từ điển khác về văn hóa Anh [89], SSTT đƣợc

xem là một biện pháp phổ biến nhằm so sánh hai sự vật được xem là khác

loại. Hầu hết các SSTT được giới thiệu bằng “like” hoặc “as”, chẳng hạn “Sự nhận thức tác động đến tôi như một thùng nước lạnh”(20)

Nhƣng thực tế, động từ “be” mới là từ so sánh có tần số xuất hiện

cao nhất (73.2%). Đây là kiểu cấu trúc so sánh định nghĩa. Nếu cấu trúc so

sánh với “as” là một sự giả định (tƣơng đƣơng với “như” trong tiếng Việt) thì

“be” mang sắc thái khẳng định (giống nhƣ “là” trong tiếng Việt), nhằm “chỉ

sự tương đồng” [79, tr.180].

(19) “A figure of speech in which two essentially unlike things are compared, often in a phrase introduced by like or as, as in "How like the winter has my absence been" or "So are you to my thoughts as food to life" (Shakespeare).” (20) “A common figure of speech that explicitly compares two things usually considered different. Most similes are introduced by like or as: “The realization hit me like a bucket of cold water.”

-The mouth is wind, the pen is a track.

73

(Miệng là cơn gió, bút tích là dấu vết)

-The world is a ladder for some to go up and some down.

(Thế giới là 1 chiếc thang cho một số ngƣời leo lên và một

số khác leo xuống)

-Mere wishes are silly fishes.

(Những điều mong ƣớc suông là những con cá ngốc)

-Life is just a bowl of cherries.

(Cuộc đời chỉ là một rổ anh đào)

Với từ nối “be”, ngƣời nói qua cách dùng yếu tố B nhằm nhấn mạnh,

khẳng định một đặc điểm nào đấy đƣợc xem là thuộc tính bản chất của A. Khi

muốn khẳng định phụ nữ chẳng khác gì những cơn gió, luôn luôn thay đổi,

dao động, ngƣời Anh nói:

Women are as wavering as the wind.

(Phụ nữ thay đổi nhƣ cơn gió)

Còn tình bạn chính là một cái cây cần đƣợc nâng niu, chăm sóc, tƣới

nƣớc, bắt sâu thƣờng xuyên để cây tình bạn không héo tàn theo thời gian:

Friendship is a plant which must be often watered.

(Tình bạn là một cái cây cần đƣợc tƣới nƣớc thƣờng xuyên)

* Like (18.4%) : nghĩa là tƣơng tự, giống nhƣ, là một giới từ

(preposition), đƣợc dùng trƣớc danh từ và đại từ, thể hiện sự giống nhau giữa ai đó/ vật gì đó (21):

-Love without return is like a question without an answer.

(Yêu mà không quay đầu lại giống nhƣ câu hỏi không có câu trả

lời)

(21)“Like” is a preposition and is used before nouns and pronouns, to express sb/sth similar to

sb/sth. [101]

-Beauty fades like a flower.

74

(Cái đẹp phai tàn nhƣ một bông hoa)

-A gentleman without an estate is like a pudding without suet.

(Quý ông không có tài sản thừa kế giống nhƣ chiếc bánh pudding

thiếu lớp mỡ bao quanh)

-Proverbs are like butterflies, some are caught, others fly away.

(TN nhƣ những con bƣớm, vài con đậu, vài con bay mất)

Like còn đƣợc dùng nhƣ là một liên từ (conjunction), nối A và B:

-Affairs, like salt fish, ought to be a good while a-soaking.

(Công việc giống nhƣ cá ƣớp muối, chỉ tốt khi ngâm chúng vào nƣớc)

-Curses, like chickens, come home to roost.

(Lời nguyền rủa giống nhƣ lũ gà quay về chuồng nhà mình mà đậu)

-Fame, like a river, is narrowest at its source and broadest afar

off.

(Danh tiếng cũng giống nhƣ dòng sông, hẹp nhất ở thƣợng nguồn và

rộng nhất ở phía hạ nguồn)

Sloth, like rust, consumes faster than labour wears.

(Sự lƣời biếng giống nhƣ rỉ sắt, chỉ mất đi nhanh hơn khi lao động)

Trong TN của ngƣời bình dân Anh, like đƣợc sử dụng nhiều hơn as

vì as thƣờng đƣợc sử dụng trong văn phong rất trang trọng.

* As (2.1%) (giới từ - preposition): đƣợc dùng để thể hiện sự tƣơng

tự nhau giữa hai sự vật, hiện tƣợng (22):

-The air of a window is as the stroke of a cross-bow.

(Chỗ gió lùa ngoài cửa sổ giống như cú va đập mạnh của cái nỏ)

-Learning in the breast of a bad man is as a sword in the hand of a

(22) “used to describe sb/sth appearing to be sb/sth else.” [101]

madman.

75

(Học vấn trong đầu kẻ xấu giống như thanh gươm trong tay người

điên)

Khi nói đến sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tƣợng, cả as và like

đều có thể dùng đƣợc nhƣng nhƣ đã nói ở trên, “as” đƣợc sử dụng nhiều hơn

trong văn phong trang trọng.

Ngoài ra, “as” cũng có thể là một liên từ và đứng trƣớc một mệnh

đề, dùng để thể hiện sự tƣơng đồng giữa hai ngƣời hoặc hai vật:

Children pick up words as pigeons peas, and utter them again as

God shall please.

(Trẻ con học từ nhƣ chim bồ câu nhặt đậu, và nói lại nhƣ Chúa

muốn vậy.)

*“As..as…”: (5.8%) (trạng từ - adverb)

Đây là cụm từ so sánh thƣờng đƣợc dùng trƣớc phó từ và tính từ để

thể hiện ý so sánh hai ngƣời, hai vật, hoặc hai tình huống có điểm nào đó tƣơng đồng (23):

-Three removals are as bad as a fire.

(Ba lần dọn nhà bằng một lần cháy)

-Enough is as good as a feast.

(Đầy đủ cũng tốt nhƣ đi dự một bữa tiệc)

-When the sloe tree is as white as a sheet, sow your barley

whether it be dry or wet.

(Khi cây mận gai trắng nhƣ tấm khăn trải giƣờng, nên gieo hạt

lúa mạch của bạn dù nó khô hay ƣớt)

-Hatred is blind, as well as love.

(Oán thù cũng mù nhƣ tình yêu)

-Women are as wavering as the wind.

(23)“used when you are comparing two people or things, or two situations.” [101]

(Phụ nữ thay đổi nhƣ cơn gió)

76

Trong mẫu này, CSSS giữa A và B đƣợc nêu ra rõ ràng giữa cặp

trạng từ “as…as”: bad (tệ, xấu), good (tốt), white (trắng), well (tốt), wavering

(dao động, nao núng),…

*  (0.5%):

Khác với ngƣời Việt, ngƣời Anh hầu nhƣ không bao giờ lƣợc bỏ từ

thể hiện quan hệ so sánh, chỉ có 1 trƣờng hợp duy nhất đƣợc lƣợc bỏ:

Love is a fair garden and marriage a field of nettles.

(Tình yêu là 1 khu vƣờn xinh đẹp và hôn nhân là cánh đồng đầy cây tầm ma)

Mà ngay ở đây, sở dĩ từ thể hiện quan hệ so sánh “be” đƣợc lƣợc bỏ

là vì ở mệnh đề đầu tiên nó đã xuất hiện, nên mệnh đề phía sau cũng đƣợc

ngầm hiểu là “be”.

Tóm lại, SSTT của TN Anh ngoài những từ thể hiện quan hệ so

sánh thông dụng nhƣ “like, as, as…as…,” chúng ta còn cần chú ý thêm động

từ “to be”. Nếu “như” là từ so sánh chuyên dụng trong TN Việt thì động từ

“to be” chính là từ so sánh chuyên dụng trong TN Anh với tần số xuất hiện

nhiều nhất. Đây cũng là điều chúng ta cần lƣu ý khi dạy và học SSTT trong

tiếng Anh.

2.4. Đặc điểm của yếu tố so sánh (B) trong TN Việt và TN Anh

2.4.1. Kết quả thống kê, phân loại theo đề tài

77

Số lƣợng yếu

Số lƣợng yếu

Bảng 2.10: Phân loại yếu tố B trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo đề tài

tố B trong TN

tố B trong TN

Việt

Anh

Đề tài

Tự nhiên 12 10

Động vật 31 23

Con ngƣời và giới tự nhiên Thực vật 22 11

Cơ thể ngƣời 6 8

Vật thể nhân tạo 53 58

Con ngƣời và đời sống vật chất Ẩm thực, giải trí 3 20

Kinh nghiệm lao động 3 0

sản xuất

Quan hệ gia đình 13 1

Con ngƣời và đời sống xã hội Quan hệ xã hội 4 28

Quan niệm về nhân sinh 15 11

Quan niệm về tôn giáo, 11 28

Con ngƣời và đời sống tinh thần tín ngƣỡng

173 198 Tổng cộng

Theo kết quả thống kê ở trên, yếu tố B ở TN Việt và TN Anh đề cập

đến nhiều đề tài rất phong phú (xem thêm phụ lục 5 và phụ lục 7).

Ở yếu tố B trong cấu trúc SSTT của ngƣời Việt, vật thể nhân tạo (53

lần), động vật (31 lần), thực vật (22 lần) đƣợc sử dụng nhiều nhất. Còn ở TN

Anh, vật thể nhân tạo (57 lần), tôn giáo tín ngưỡng (28 lần), quan hệ xã hội

(28) đƣợc sử dụng nhiều nhất. Nhƣ vậy, hình ảnh xuất hiện ở yếu tố B trong

TN Việt và TN Anh có sự khác biệt. Trong khi ngƣời Việt có thiên hƣớng ví

78

von yếu tố A với các hình ảnh so sánh cụ thể, gần gũi với đời sống nông

nghiệp của dân tộc mình nhƣ vật thể nhân tạo (chổi, cƣa, bè, rào giậu, giỏ,

hom, cơi đựng trầu, kèo, cái nơm, đũa, rợ, cối xay, phản gỗ, gạch, bồ, …);

động vật (gà, cóc, quạ, cò, nòng nọc, lợn, chó, bồ nông,…); thực vật (dâu, bồ

hòn, bè ngổ, thài lài, nứa, măng, chuối, tre, bèo, nghệ,…) thì ngƣời Anh có xu

hƣớng so sánh yếu tố A với cả phạm trù vật chất chất nhƣ vật thể nhân tạo

philosopher's stone (đá tạo vàng), a sword (thanh gƣơm), the walls (bức tƣờng), a

Venice-glass (kính của nƣớc Ý), a magnifying glass (kính phóng đại), a heritage

(tài sản thừa kế), chimneys (ống khói), a weathercock (chong chóng chỉ hƣớng gió),

an axe (cái búa),…); và cả phạm trù tinh thần nhƣ tôn giáo tín ngưỡng (God

(Chúa), the divinity (thần thánh), the paradise (thiên đƣờng), the hell (địa ngục),

the purgatory (tĩnh ngục), the chapel of devotion (nhà nguyện), an angel (thiên

thần), a devil (ác quỷ), a pilgrimage (cuộc hành hƣơng), …) và các mối quan hệ

(ancient riches (của cải lỗi thời), a wagon (xe ngựa), a coat of mail (áo giáp), the

turncoat (kẻ phản bội), a flatterer (kẻ nịnh hót), a friend (ngƣời bạn), neighbours

(hàng xóm), a servant (đầy tớ), master (ông chủ),… ).

xã hội (a thief (tên trộm), a pick-purse (tên móc túi), the physician (bác sĩ), a

Ngay khi so sánh yếu tố A với các vật thể nhân tạo trong yếu tố B,

cách làm của ngƣời Anh cũng có khác với ngƣời Việt. Trong 58 lần nhắc đến

các vật thể nhân tạo thì đã có 19 lần ngƣời Anh nhắc đến tiền bạc, của cải:

-Time is money.

(Thời gian là tiền bạc.)

-Speech is silver, silence is golden.

(Nói là bạc, im lặng là vàng.)

-Quietness is a great treasure.

(Im lặng là châu báu quý giá.)

-Silence is a woman's best garment.

(Im lặng là trang sức đẹp nhất của người phụ nữ.)

79

-Promise is debt.

(Hứa là nợ nần.)

-A useful trade is a mine of gold.

(Một việc buôn bán có lợi là mỏ vàng.)

-The devil's mouth is a miser's purse.

(Miệng lưỡi của quỷ sứ là cái ví của người mất.)

-Marriage is a lottery.

(Hôn nhân là một tờ vé số.)

-Liberty is a jewel.

(Tự do là châu báu.)

-Fair play is a jewel.

(Chơi đẹp là đồ trang sức quý giá.)

-Honour without profit is a ring on the finger.

(Danh dự mà không có lợi lộc chỉ là chiếc nhẫn trên ngón tay.)

-Honesty is a fine jewel, but much out of fashion.

(Sự trung thực là trang sức quý giá nhưng đã lỗi thời.)

-Plain dealing is a jewel.

(Sự thẳng thắn là châu báu.)

-Health is great riches.

(Sức khỏe là tài sản vô giá.)

-Virtue is a jewel of great price.

(Đạo đức là trang sức quý giá.)

-A good name is a rich heritage.

(Tiếng thơm là tài sản kế thừa kếch xù.)

-Knowledge is a treasure but practice is the key to it.

(Kiến thức là một kho báu nhưng thực hành là chìa khóa để mở nó.)

-Gentility is but ancient riches.

(Dòng dõi cao quý chỉ là thứ của cải lỗi thời.)

80

Ngƣời Việt cũng nhắc đến tiền bạc, của cải, nhƣng lại thích ví von

yếu tố A với các vật dụng hàng ngày trong đời sống nông nghiệp hơn (chổi,

cưa, bè, rào giậu, giỏ, hom, cơi đựng trầu, đĩa, kèo, cái nơm, con rối, đũa, rợ

buộc chân, cối xay, chông, mác, phản gỗ, gạch, cái bồ,…)

Yếu tố B trong TN Việt ít đề cập đến kinh nghiệm lao động sản

xuất (3 lần), ẩm thực – giải trí (3 lần); ngƣời Anh cũng ít nói đến kinh nghiệm

lao động sản xuất ( 0 lần) và quan hệ gia đình (1 lần) ở yếu tố B.

Tổng hợp cả yếu tố A và yếu tố B, chúng ta thấy ngƣời Việt chú

trọng sử dụng các hình ảnh thuộc đề tài quan hệ gia đình hơn là quan hệ xã

hội, còn ngƣời Anh thì ngƣợc lại:

Bảng 2.11: Thống kê hình ảnh ở yếu tố A và yếu tố B thuộc đề tài quan hệ gia

đình và quan hệ xã hội trong SSTT của TN Việt và TN Anh

TN Việt TN Anh

Yếu tố Yếu tố Tổng Yếu tố Yếu tố Tổng

A B cộng A B cộng

56 13 7 1 Quan hệ gia đình 69 8

10 4 40 28 Quan hệ xã hội 14 68

Cách sử dụng hình ảnh này thể hiện tính cách và lối tƣ duy của hai

dân tộc: ngƣời Việt – tƣ duy hƣớng nội: hƣớng về gia đình, các mối quan hệ

ruột thịt; ngƣời Anh – tƣ duy hƣớng ngoại: hƣớng về các mối quan hệ ngoài

xã hội. Chẳng hạn khi nói về kinh nghiệm sản xuất, ngƣời Việt ví von chúng

-Làm ruộng có trâu, làm dâu có chồng.

-Uốn cây từ thuở còn non/ Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.

với các mối quan hệ cha con, vợ chồng:

81

Ngƣời Anh thì ví kinh nghiệm sản xuất của họ với tính cách các hạng

ngƣời ngoài xã hội:

-Building is a thief.

(Việc xây dựng là một tên trộm)

-A good bargain is a pick-purse.

(Sự trả giá tốt là một tên móc túi)

Nói về sự cần thiết giữa các thành phần để tạo nên một món ăn hoàn

hảo, ngƣời Việt liên tƣởng:

Ăn trầu không có rễ như rể nằm nhà ngoài.

Ngƣời Anh thì nghĩ đến sự tƣơng đồng với các tầng lớp khác nhau:

-A gentleman without an estate is like a pudding without suet.

(Quý ông không có tài sản giống nhƣ chiếc bánh pudding không

có lớp mỡ bao quanh.)

-Nobility, without ability, is like a pudding wanting suet.

(Giới quý tộc không có năng lực giống nhƣ chiếc bánh pudding

cần có lớp mỡ bao quanh.)

Về ẩm thực – giải trí, ở yếu tố B của cấu trúc SSTT, ngƣời Anh dùng

nhiều hình ảnh so sánh thuộc đề tài này (20 lần), còn ngƣời Việt thì ngƣợc lại,

sử dụng rất ít (3 lần).

2.4.2. Cấu tạo của B:

Bảng 2.12: Phân loại yếu tố B trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo tiêu

chí từ vựng, cú pháp

TN Việt TN Anh

Yếu tố B

Số lƣợng Tỉ lệ % Số lƣợng Tỉ lệ %

82

Danh từ/ danh ngữ 52 182 92 90

7 12 0 0 Động từ/ động ngữ

0 0 0 0 Tính từ/ tính ngữ

71 8 Cụm chủ vị 41 16

Tổng cộng 173 100 198 100

Mô hình SSTT của TN Việt có vế A và B có cấu tạo phong phú, đa

dạng hơn TN Anh.

Ở yếu tố B, danh từ/ danh ngữ (52%) và cụm chủ-vị (41%) vẫn

đƣợc ngƣời Việt chuộng sử dụng nhất. Kế đó là động từ/ động ngữ (7%). Tính

từ/ tính ngữ không thấy xuất hiện ở yếu tố B. Nhƣ vậy, ở phạm vi khảo sát

của luận văn, một tính chất không thể đảm đƣơng vai trò yếu tố so sánh trong

TN Việt (B).

SSTT của TN Việt xuất hiện nhiều cụm chủ vị ở yếu tố B (41%)

hơn hẳn TN Anh (8%), trong khi đó, TN Anh chuộng sử dụng kết cấu danh

từ/danh ngữ ở yếu tố B (92%) hơn hẳn TN Việt (52%); vì nhƣ đã nói ở phần

cấu tạo của yếu tố A (chƣơng II, phần 2.1.2), ngƣời Anh thích cách nói ngắn

gọn, còn ngƣời Việt thích lí giải cho đến “ngọn nguồn lạch sông” nên chuộng

sử dụng những ví von so sánh dài hơn để nói cho hết, cho trọn vẹn ý nghĩa.

Chẳng hạn trong một số trƣờng hợp sau:

-Ăn cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống.

-Trai phải hơi vợ như cò bợ phải trời mưa.

-Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống.

83

-Con không cha thì con trễ/ Cây không rễ thì cây hư.

-Trai tơ lấy phải nạ dòng/ Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu.

Ở ví dụ cuối cùng, để ngƣời đọc thấy đƣợc sự không xứng hợp giữa

trai tơ và nạ dòng, dân gian đã triển khai yếu tố B thành kết cấu chủ vị đầy đủ

“Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu” để thuyết minh cho rõ ràng, cụ thể

hơn về A.

Ở yếu tố B trong SSTT của TN Anh, cũng giống nhƣ ở yếu tố A,

động từ/ động ngữ và tính từ/ tính ngữ không xuất hiện, vì phạm vi hoạt động

của tính từ/ tính ngữ và động từ/ động ngữ trong tiếng Anh rất hạn chế, chúng

không thể đứng độc lập một mình, do đó không thể đảm đƣơng vai trò yếu tố

đƣợc/bị so sánh hay yếu tố so sánh. Tính từ/ tính ngữ chỉ có thể đứng sau

động từ “to be” để bổ sung ý nghĩa tính chất cho chủ từ hoặc đứng trƣớc

danh từ để bổ nghĩa cho danh từ đó. Còn động từ/ động ngữ muốn đứng độc

lập giữ chức năng của yếu tố A hay B thì ta phải thêm “-ing” vào sau động từ

đó, biến động từ/ động ngữ ấy thành danh động từ. Do đó, trong tiếng Anh,

yếu tố B chủ yếu đƣợc cấu tạo từ danh từ/ danh ngữ (92%), một số ít đƣợc

cấu tạo từ cụm chủ - vị (8%).

Nhƣ vậy, mô hình SSTT của ngƣời Anh có thể viết gọn lại nhƣ sau:

Bảng 2.13: Mô hình SSTT của TN Anh

danh từ/ danh ngữ danh từ / danh ngữ

từ nối CSSS

cụm chủ-vị cụm chủ-vị

2.4.3. Đặc điểm của B:

Để gửi gắm những bài học kinh nghiệm, dân gian dùng cách nói rất

giàu hình ảnh thông qua sự ví von, so sánh. Đó là khả năng tái hiện những tri

84

thức kinh nghiệm một cách cụ thể sinh động bằng những từ ngữ gợi cảm, gợi

hình, gợi thanh. Đây chính là điểm đặc sắc của yếu tố B trong SSTT. Các hình

ảnh không chỉ tác động vào trí tƣởng tƣợng của ngƣời đọc mà còn giúp họ có

đƣợc ấn tƣợng sâu sắc về sự vật hiện tƣợng đƣợc nói đến, tạo khoảng không

cho suy tƣởng và phán đoán. Đây cũng là nơi tác giả kí thác tình cảm, cách

đánh giá, quan niệm sống của mình.

Trong TN Việt, hình ảnh ở yếu tố B rất phong phú, đa dạng, gồm:

cái trừu tƣợng, cái chi tiết, cái khái quát, cái cụ thể, cái cảm tính, lí tính,…, ít

khi có sự lặp lại, chỉ có một số trƣờng hợp lặp lại nhƣ ngƣời viết đã liệt kê ở

phụ lục…tr…

Các hình ảnh đã xuất hiện rồi thì chỉ lặp lại 1 lần (6 trƣờng hợp:

người khôn, rối, giỏ, hom, bèo, cơm không rau), có 1 trƣờng hợp lặp lại 3 lần

(chó) và 1 trƣờng hợp lặp lại 4 lần (hoa), 2 trƣờng hợp lặp lại 5 lần (tiền và

vàng), 1 trƣờng hợp lặp lại 6 lần (tiên). Đây là trƣờng từ vựng thuộc nền văn

hóa gốc nông nghiệp với các loại động thực vật, đồ vật quen thuộc của các cƣ

dân lúa nƣớc nhƣ: rối, giỏ, hom, bèo, hoa, chó, cơm không rau, tiền, vàng.

Ngoài ra, còn có một hình ảnh thuộc đề tài tôn giáo, tín ngƣỡng: tiên (6 lần).

Những yếu tố lặp đi lặp lại này là những tín hiệu đáng lƣu ý, hé mở cho ta biết

thói quen trong tƣ duy liên tƣởng của ngƣời Việt.

TN Anh có hiện tƣợng lặp lại khá nhiều ở B, với tổng cộng 22

trƣờng hợp lặp lại, trong đó có 13 trƣờng hợp lặp lại 1 lần, 5 trƣờng hợp lặp

lại 3 lần, 2 trƣờng hợp lặp lại 4 lần, 2 trƣờng hợp lặp lại 5 lần (xem thêm phụ

lục…tr….)

Những hình ảnh xuất hiện nhiều lần này là tín hiệu rất đáng chú ý,

hé mở những đặc văn hóa dân tộc vô cùng thú vị. Chúng thuộc các đề tài: tôn

85

giáo (13 hình ảnh), của cải (10 hình ảnh), tiệc tùng (4 hình ảnh), kẻ trộm (4

hình ảnh), món ăn (4 hình ảnh),…

Trong đó, hình ảnh về Cơ Đốc giáo chiếm số lƣợng nhiều nhất, kế

đó là hình ảnh về của cải, tài sản. Do dân tộc Anh phát triển thƣơng nghiệp từ

rất sớm, nên cách đánh giá, tƣ duy liên tƣởng của họ luôn gắn liền với giá trị

vật chất, với món hàng, của cải trao đổi. Ngoài ra, đời sống tinh thần và trí tuệ

của ngƣời Anh chịu ảnh hƣởng lâu dài và sâu sắc của văn hóa Cơ Đốc giáo.

Trƣớc kia cũng nhƣ hiện nay, Cơ Đốc giáo vẫn là một bộ phận cấu thành lớn

nhất trong văn hóa Anh (xem them chƣơng III, phần 3.3.2.2). Do đó, những

hình ảnh về đạo Cơ Đốc xuất hiện và lặp đi lặp lại trong vế B của TN Anh,

nhiều nhất ở đây là nhóm hình ảnh về: the devil (con quỷ), the God (Chúa

trời), angel (thiên thần), the death (thần chết).

Đồng thời, tình cảm, thái độ của dân gian cũng thể hiện rất rõ qua

yếu tố B trong SSTT của hai dân tộc. Những hình ảnh đẹp, mang giá trị tích

cực ngoài chức năng làm yếu tố so sánh ra còn thể hiện thái độ ca ngợi, đồng

tình, trân trọng:

-Lời nói, gói vàng.

-Con có mạ như thiên hạ có vua.

-Tấc đất tấc vàng.

-Anh em như chân tay.

-Người như hoa ở đâu thơm đấy.

-Virtue is a jewel of great price.

(Đạo đức là trang sức vô cùng quý giá)

-The wife is the key of the house.

(Ngƣời vợ là chìa khóa của ngôi nhà)

-A useful trade is a mine of gold.

(Việc buôn bán thuận lợi là một mỏ vàng)

86

-Skill and confidence are an unconquered army.

(Kỹ năng và sự tự tin là đội quân bất khả chiến bại)

-Bread is the staff of life.

(Bánh mì là chiếc gậy của cuộc sống)

Còn những hình ảnh tiêu cực đƣợc dùng để thể hiện thái độ bỡn cợt,

mỉa mai, châm biếm, đả kích:

-Miệng quan trôn trẻ.

-Trai tơ lấy phải nạ dòng/ Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu.

-Bố chồng là lông lợn hạch/ Mẹ chồng là đách lợn sề/ Nàng dâu

mới về là bà hoàng hậu.

-Miệng bà đồng như lồng chim khướu.

-Trai thấy gái lạ như quạ thấy gà con.

-The law is an ass.

(Luật pháp là một con lừa)

-Women in state affairs are like monkeys in glass-shops.

(Nữ quan chức giống nhƣ con khỉ trong tủ kính cửa hiệu)

-A woman's tongue wags like a lamb's tail.

(Lƣỡi của ngƣời phụ nữ ve vẩy nhƣ đuôi cừu)

-Gossips are frogs, they drink and talk.

(Ngƣời thích chuyện tầm phào giống nhƣ lũ ếch, chúng uống say và

tán dóc)

“Miệng quan” – miệng của viên chức đại diện cho luật pháp phong

kiến thời xƣa, nơi phát ngôn cho luật pháp lại đƣợc ví với cái trôn của trẻ con

là một sự hạ bệ, trào lộng sâu cay. Còn “bố chồng/ mẹ chồng” đƣợc ví nhƣ

lông lợn hạch, đách lợn sề là một sự mỉa mai cực độ.

TN Anh cũng có những hình ảnh so sánh rất thú vị. Pháp luật đƣợc

ví nhƣ một con lừa – biểu tƣợng của sự ngu ngốc, đần độn trong văn học Anh.

Những nữ quan chức làm việc cho chính quyền nhà nƣớc thì đƣợc ví nhƣ con

khỉ ở trong tủ kính. Còn lƣỡi của ngƣời phụ nữ đƣợc ví với đuôi của con cừu,

87

vì chúng luôn ve vẩy, nghĩa là luôn thay đổi, lật lọng. Nhƣ vậy, yếu tố B còn

ẩn tàng nụ cƣời hài hƣớc, châm biếm của trí tuệ dân gian.

Ngoài ra, do tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập nên có hiện tƣợng B lặp

lại vần của A, giúp các vế trong SSTT gắn kết chặt chẽ, dễ thuộc, dễ nhớ:

Vần liền:

-Mƣa tháng ba hoa đất

-Cơm tẻ mẹ ruột.

-Nhà không móng, bóng không ngƣời.

-Trai có vợ nhƣ rợ buộc chân

-Con giữ cha, gà giữ ổ.

Vần cách:

-Cơm không rau nhƣ nhà giàu chết không kèn trống.

-Con không cha thì con trễ, cây không rễ thì cây hƣ.

-Bố chồng là lông cánh phượng/ Mẹ chồng là tượng mới

tô/ Nàng dâu là bồ nghe chửi.

-Bố vợ là rợ cọc chèo/ Mẹ vợ là bèo trôi sông/ Chàng rể là

ông Ba Vì.

Tổng cộng có 110/ 135 trƣờng hợp lặp vần ở yếu tố B (81.5%). Sự

lặp lại vần kết hợp với cách ngắt nhịp đã góp phần tạo ra giai điệu, nhạc tính

cho câu TN, làm cho chúng trở thành những tác phẩm nghệ thuật đích thực.

Chỉ có 25 (18.5%) trƣờng hợp không có hiện tƣợng này:

-Đàn ông như cái nơm, gặp đâu úp đấy. -Chồng như (đó) giỏ, vợ như hom. -Vợ chồng như đũa có đôi. -Trai có vợ như lỗ tiền chôn. -Trai có vợ như giỏ có hom. -Mẹ già như chuối chín cây. -Con đàn như tre ấm bụi. -Anh em như chân tay. -Vênh váo như bố vợ phải đấm.

88

-Con trai ở nhà vợ như chó nằm (chui) gầm chạn. -Tiền của như nước thủy triều. -Của là cuống ruột. -Việc quan như lửa đốt đầu. -Lính tuần là ao rượu. -Miệng quan trôn trẻ. -Ơn dân như hạt cơm dính mỡ. -Dân như cây gỗ tròn. -Lòng người như bể khôn dò. -Nói đúng như gãi vào chỗ ngứa. -Người dốt như trông vào vách. -Tiền là gạch, ngãi là vàng. -Ăn như con tằm lại rút ruột ra. -To như chuối hột nào ai bày cỗ. -Rẻ như bèo nhiều hươu cũng hết. -Một cây mít bằng sào ruộng.

Còn TN Anh là ngôn ngữ biến hình, đa tiết nên rất hiếm có hiện

tƣợng lặp vần ở yếu tố B. Khảo sát 178 trƣờng hợp SSTT trong TN Anh,

ngƣời viết thấy chỉ có 6 trƣờng hợp lặp vần (3.4%):

-He that is a blab is a scab. (Kẻ khoác lác nhƣ bệnh ghẻ) -Gossips are frogs, they drink and talk. (Ngƣời thích chuyện tầm phào là lũ ếch, chúng uống say và nói) -A man without reason is a beast in season. (Ngƣời sống không có lí tƣởng là một con thú trong mùa săn bắn) -Learning in the breast of a bad man is as a sword in the hand of a madman. (Việc học trong bụng dạ của kẻ xấu cũng giống nhƣ thanh gƣơm

trong tay của một ngƣời điên)

-An apple-pie without some cheese is like a kiss without a squeeze. (Bánh táo không có phó mát nhƣ một nụ hôn không đƣợc ôm chặt) -Nobility, without ability, is like a pudding wanting suet. (Nhà quý tộc không có tài năng giống nhƣ bánh pudding cần thêm

lớp mỡ cứng bao quanh)

Nhƣ vậy, với sự phối hợp nhịp nhàng giữa vần và nhịp, SSTT trong

TN Việt giàu nhạc tính hơn SSTT trong TN Anh.

89

*****

Tóm lại, ngƣời Việt có khuynh hƣớng sử dụng SSTT nhiều hơn

ngƣời Anh. Tổng số SSTT của ngƣời Việt là 135/ 4206 câu, chiếm 3.2 %,

tổng số SSTT trong TN Anh là 178/ 6708 câu, chiếm tỉ lệ 2.65%. Nhƣ vậy,

TN của ngƣời Việt giàu sắc độ tu từ hơn.

Với các kết quả nghiên cứu đã trình bày ở chƣơng II, ngƣời viết

thấy trong SSTT của TN Anh, toàn bộ gánh nặng ngữ nghĩa nằm ở A, vấn đề

quan trọng nhất luôn đƣợc đƣa ra trƣớc, không có trƣờng hợp ví von, đƣa đẩy.

Còn ở TN Việt, tùy theo hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà A hay B đƣợc nhấn

mạnh hơn. Hình ảnh ở yếu tố A trong TN Việt mang tính chất kinh nghiệm,

khái quát; còn ở TN Anh mang tính thực nghiệm, cụ thể. TN Việt không có

lối so sánh nhiều A – 1 B nhằm khái quát hóa sự giống nhau giữa các sự vật

hiện tƣợng nhƣ TN Anh. Cấu tạo yếu tố A của TN Việt đa dạng, phong phú

hơn TN Anh.

Về CSSS, ngƣời Việt và ngƣời Anh đều chuộng lối nói ngắn gọn,

hàm súc, khuyết yếu tố CSSS. Việc giấu đi CSSS thể hiện tinh thần dân chủ

trong việc tiếp nhận các SSTT của hai dân tộc, chừa khoảng trống cho ngƣời

đọc suy nghĩ, liên tƣởng. Trong một số ít mô hình so sánh ở dạng đầy đủ còn

lại, CSSS trong TN Việt thể hiện lối tƣ duy tĩnh tại của các cƣ dân làm nông

nghiệp; còn CSSS trong TN Anh thể hiện lối tƣ duy động, luôn nhìn sự vật

hiện tƣợng luôn trong trạng thái vận động, thay đổi.

Từ so sánh chuyên dụng của TN Việt là “như”, của TN Anh là động

từ “to be”. Trong TN Việt, các từ so sánh song tiết không thấy xuất hiện, có

nhiều trƣờng hợp không có từ thể hiện quan hệ so sánh. Trong TN Anh, trong

khi nhiều tài liệu xem “as” và “like” là từ so sánh chuyên dụng thì thực tế

90

khảo sát đã chứng minh động từ “to be” mới là từ thể hiện quan hệ so sánh có

tần số xuất hiện cao nhất.

Ở yếu tố B, hình ảnh so sánh trong TN Việt phong phú hơn TN Anh,

ít có sự lặp lại. Việc sử dụng hình ảnh ở B thể hiện rõ thái độ, tình cảm của

hai dân tộc: khi thì đồng tình, ngợi ca, khi thì mỉa mai, bỡn cợt,… SSTT trong

TN Việt cũng giàu nhạc tính hơn TN Anh, cấu tạo cũng phong phú hơn,

không chỉ dừng lại ở danh từ/ danh ngữ hay cụm chủ vị ở cả hai yếu tố so

sánh A và B.

Nhƣ vậy những chất liệu có tần số xuất hiện cao trong các SSTT đã

chứng tỏ vị trí quan trọng của chúng trong tƣ duy liên tƣởng và phong cách

ngôn ngữ của mỗi dân tộc. Ngoài ra, chúng còn phản ánh đời sống vật chất và

tinh thần của ngƣời Việt và ngƣời Anh. Ngƣời viết sẽ trình bày vấn đề này

trong chƣơng tiếp theo: “SSTT trong TN Việt và TN Anh, nhìn từ góc độ văn

hóa học”.

91

Chương 3:

SSTT TRONG TN VIỆT VÀ TN ANH, NHÌN TỪ GÓC ĐỘ

VĂN HOÁ HỌC

Lê Đình Bích mở đầu quyển từ điển đối chiếu TN Anh – Việt của

mình bằng câu: “TN không chỉ là ngôn ngữ, TN còn là dấu tích của một nền

văn hóa”[3, tr.5]. Quả thật, không chỉ là lời nói trơn tru, hàm súc, thể hiện

những triết lí trong cuộc sống đời thƣờng, TN còn là nơi chứa đựng giá trị văn

hóa của mỗi dân tộc. Để nhận diện bức tranh văn hóa xã hội của mỗi dân tộc

còn in dấu trong các SSTT, ngƣời viết sẽ khảo sát chƣơng này trên bình diện

câu chứ không dừng lại ở từng thành tố riêng lẻ nữa.

3.1. Khái niệm “đặc trƣng văn hóa dân tộc”

Theo Trần Ngọc Thêm, văn hóa là “một hệ thống hữu cơ các giá trị

vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt

động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và

xã hội của mình” [67, tr. 25]. Nhƣ vậy, hiểu văn hoá là những giá trị vật chất

và tinh thần, tồn tại lâu đời do con ngƣời tạo ra thì dân tộc nào cũng có văn

hoá. Có những giá trị văn hoá mang tính phổ quát chung cho cả nhân loại và

có những giá trị văn hoá mang tính đặc thù riêng biệt, chỉ có ở cộng đồng này

mà không thấy rõ ở cộng đồng khác. Những giá trị văn hoá đặc thù ấy chính

là đặc trƣng văn hoá của mỗi dân tộc. Những nét trội này làm thành các giá trị

cơ bản, tiêu biểu, có tính bền vững; cùng với các giá trị khác, chúng làm

thành nền văn hoá. Nhƣ vậy, đặc trưng văn hoá của một dân tộc chính là

những giá trị tiêu biểu về tinh thần và vật chất mà dân tộc đã tích luỹ trong

quá trình lịch sử, nó có tính bền vững, có ý nghĩa lâu dài, có giá trị khu

92

biệt(24). Tìm hiểu văn hoá dân tộc chính là tìm hiểu những đặc trƣng ấy, vì

“chỉ có sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác, so sánh cái của mình với cái

của người khác mới được phép coi những yếu tố nào đó của một nền văn hóa

có địa vị đặc trưng khu biệt”. [64, tr. 20]

TN vừa là sự kiện văn hóa, vừa là hệ thống ký hiệu ghi nhận và thể

hiện các sự kiện văn hóa. Các nhà tâm lý học và nhân chủng học đều đồng

tình rằng TN phản ánh hiện thực văn hóa và xã hội của một dân tộc. Chính

điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau, đặc tính dân tộc và nền văn hóa khác

nhau đã khiến cho TN của hai dân tộc Việt, Anh có những điểm khác nhau rõ

rệt. Chẳng hạn, SSTT với đề tài “quan hệ gia đình” trong TN Việt phong phú

hơn TN Anh, đề tài “quan hệ xã hội” trong TN Anh phong phú hơn TN Việt.

TN chính là tấm gƣơng soi rõ tâm hồn của mỗi dân tộc. Qua TN, chúng ta sẽ

khám phá đƣợc nhiều điều vô cùng thú vị về các nền văn hóa.

Nhìn chung hình ảnh so sánh trong TN Việt và Anh là những đối

tƣợng hết sức quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của ngƣời dân mỗi nƣớc.

Cái riêng đƣợc bộc lộ ở sự lựa chọn đối tƣợng cụ thể nào và dùng nó biểu

trƣng cho cái gì. Có khi cùng một ý tƣởng nhƣng mỗi dân tộc lại chọn một đối

tƣợng riêng để biểu thị. Chẳng hạn, khi muốn khẳng định vai trò vô cùng cần

thiết của lƣơng thực, thực phẩm đối với cuộc sống, ngƣời Việt dùng hình ảnh

“cơm tẻ” còn ngƣời Anh thì nói đến “bánh mì”:

-Cơm tẻ mẹ ruột.

-Bread is the staff of life.

(Bánh mì là chiếc gậy của cuộc sống)

Cũng có khi các dân tộc đều chọn cùng một đối tƣợng nhƣng lại

(24) Theo PGS. Phan Mậu Cảnh (2008), Đặc trưng văn hóa, cội nguồn văn hóa và sự thể hiện chúng trong ca dao người Việt, nguồn: vienvhnn.net

muốn nói đến những vấn đề khác nhau:

93

-Người ta hoa đất.

-Beauty fades like a flower.

(Cái đẹp phai tàn nhƣ một bông hoa)

Trong SSTT, ngƣời Việt chú ý đến vẻ đẹp, giá trị của một đóa hoa

và dùng “hoa” để so sánh với con ngƣời còn ngƣời Anh lại chú ý đến sự

mong manh, chóng phai tàn của nó.

Trong chƣơng này, ngƣời viết sẽ trình bày đặc trƣng văn hóa dân tộc

qua SSTT trong TN Việt và TN Anh ở bình diện văn hóa vật chất và văn hóa

tinh thần.

3.2. Văn hóa vật chất qua SSTT trong TN Việt và TN Anh

3.2.1. Con người và giới tự nhiên

3.2.1.1. Tự nhiên

Trong các SSTT, khi đề cập đến giới tự nhiên, ngƣời Việt chú ý đến

các sự vật hiện tƣợng sau: gió thổi là chổi trời, một nạm gió bằng một bó

chèo, gió vào nhà trống, mây, gió, nước mưa là cưa trời, trời mưa, mưa tháng

ba hoa đất, mưa tháng sáu máu rồng, sông có nguồn, bể, nước thủy triều,

giếng khơi, nước lã, lửa, tấc đất tấc vàng, ruộng đầu chợ, ruộng giữa đồng,

ruộng không phân, ruộng, hòn đất nỏ bằng giỏ phân.

Ngƣời Anh thì quan tâm đến: the wind x 2 (gió), the air of a window

(không khí ngoài cửa sổ), change of the weather (sự thay đổi của thời tiết), a

dry tempest (cơn bão khô), a river (sông), fire x 2 (lửa), a fair garden (khu

vườn đẹp), a little garden with very sour weeds (khu vườn nhỏ với những hạt

giống xấu), a field (cánh đồng), a field of nettles (cánh đồng trồng cây tầm

ma).

94

Theo khảo sát ở trên, ta thấy ngƣời Việt quan tâm đến vấn đề thời

tiết nhiều hơn ngƣời Anh. Trần Ngọc Thêm khi ngiên cứu về các loại hình

văn hóa cũng khẳng định các cƣ dân nông nghiệp nhƣ ngƣời Việt có nhu cầu

tính toán thời tiết để trồng trọt cao hơn nhiều so với dân du mục, tiêu biểu là

ngƣời Anh [67, tr.163]. Trong SSTT, ngƣời Việt có 4 lần nói đến gió, 4 lần

nói đến mƣa, 1 lần nói đến mây; còn ngƣời Anh có 4 lần nói đến gió bão, 1

lần nói đến sự thay đổi của thời tiết.

Theo Nguyễn Đức Dân trong Dấu ấn văn hóa qua tục ngữ, những

cách nói trong TN có liên quan tới thiên nhiên, khí hậu, môi trường sống của

dân tộc ấy[10]. Do nƣớc Việt và nƣớc Anh thủy thổ không đồng nhất, vùng

khí hậu hoàn toàn khác nhau nên mối quan hệ với tự nhiên cũng khác nhau.

Việt Nam là nƣớc có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với hệ thống sông ngòi,

kênh rạch dày đặc; còn nƣớc Anh có khí hậu lạnh với các đồng cỏ khô và cao.

Đất đai của ngƣời Việt chủ yếu là đồng bằng, bao gồm đất để ở và để canh tác.

Đất là đại diện của sự hiền hòa, thân thiện với con ngƣời. Ruộng đất chính là

tài sản vô giá, ngƣời nông dân Việt Nam không thể xa rời ruộng đất:

-Tấc đất tấc vàng.

-Hòn đất nỏ bằng giỏ phân.

Trong các SSTT có đến 6 lần ngƣời Việt nói đến ruộng đất. Theo

Nguyễn Văn Nở trong Biểu trưng Trời và Đất trong tục ngữ Việt, “việc sở

hữu ruộng đất là nỗi khát khao bao đời của người nông dân, vì có đất sẽ có

thóc gạo, có miếng cơm manh áo” [51, tr.30]. Vì vậy, ngƣời Việt vô cùng trân

trọng giá trị của ruộng đất. Đồng ruộng vốn là không gian tự nhiên, nhƣng

trong nhận thức của nhân dân, nó đã trở thành không gian xã hội, với tất cả sự

gắn bó thân thuộc của con ngƣời.

Còn đất đai của ngƣời Anh là các cao nguyên rộng lớn với những

cánh đồng bát ngát (a field, a field of nettles) và những khu vƣờn xinh đẹp (a

95

fair garden, a little garden). Ngƣời Anh không có tƣ tƣởng phải sở hữu cho

bằng đƣợc đất đai mà thích rày đây mai đó theo các đàn gia súc.

Với ngƣời Việt, do lãnh thổ của họ ở trong một môi trƣờng tự nhiên

với sông nƣớc bao quanh con ngƣời nên yếu tố này chiếm vị trí rất đặc biệt,

chi phối, ảnh hƣởng đến nhiều mặt trong cuộc sống xã hội. Với tƣ cách là yếu

tố quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp, “nước” đƣợc đề cập đến

9/22 lần, với các dạng thức khác nhau : nước mưa là cưa trời, trời mưa, mưa

tháng ba hoa đất, mưa tháng sáu máu rồng, sông có nguồn, bể, nước thủy

triều, giếng khơi, nước lã. Đây chính là thành tố văn hóa số một trong tâm

thức của ngƣời Việt, Nguyễn Văn Chiến [7, tr.45] thể hiện mối quan hệ này

nhƣ sau:

TRỜI (THƢỢNG)

CON NGƢỜI (NHÂN)

NƢỚC (THỦY)

ĐẤT ĐAI (HẠ)

Chính vì có nƣớc ngƣời nông dân mới trồng trọt đƣợc nên họ phân

rõ: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Có nƣớc tất có cá – thực phẩm

chính trong bữa ăn của ngƣời nông dân. Nƣớc giúp cây, hoa, rau dưa, cỏ tƣơi

tốt. Nƣớc chảy thành sông, suối, nên ngƣời Việt phải di chuyển bằng thuyền,

đò, bè, ghe, mảng, … Những phong tục sinh hoạt cộng đồng cũng liên quan

đến nƣớc: hội đua thuyền, bơi chải, kết đèn hoa đăng; tục thờ cá, rắn, thuỷ

thần; nghệ thuật dân gian cũng dựa trên bối cảnh của nƣớc: rối nước, chèo,

các điệu hò, điệu lý diễn ra trên sông hồ, bến bãi…

96

Tóm lại, nền văn hóa Việt Nam là văn hóa nông nghiệp trồng lúa

nƣớc, phụ thuộc rất nhiều vào khí hậu, thời tiết, mà thế giới tự nhiên, theo

quan niệm dân gian - nhất là với ngƣời dân làm ruộng - là một không gian cao

siêu, huyền bí, có mọi quyền uy, chi phối cuộc sống con ngƣời. Do đó, ngƣời

nông dân luôn cầu trời phật sao cho “mưa thuận gió hòa”, “mưa nắng phải

thì…”.

Còn ngƣời Anh với địa hình đồng cỏ khô, cao và khí hậu ôn đới

thích hợp với việc chăn nuôi và thƣơng mại, họ thƣờng xuyên phải đƣa đàn

gia súc đi tìm các bãi cỏ khác nên dẫn đến tâm lí xem thƣờng thiên nhiên, ít

quan tâm đến vấn đề thời tiết. Chính sự khác biệt về điều kiện tự nhiên (địa lí

– khí hậu) là nguồn gốc sâu xa của sự khác biệt về văn hóa giữa ngƣời Việt và

ngƣời Anh.

3.2.1.2. Động thực vật

Theo Nguyễn Thanh Tùng, “Việt Nam thuộc loại hình văn hoá gốc

nông nghiệp nên trồng trọt quan trọng hơn chăn nuôi, còn nước Anh thuộc

loại hình văn hoá gốc du mục nên chăn nuôi quan trọng hơn” [76, tr. 127].

Ngay trong từng đề tài, sự quan tâm của ngƣời Anh và ngƣời Việt cũng hoàn

toàn khác nhau.

Với nền văn hoá thiên về gốc nông nghiệp, ngƣời Việt đề cập đến :

chó, gà, cóc, miêu (mèo), quạ thấy gà con, cò bợ, rồng, nòng nọc, phượng,

lợn hạch, lợn sề, ông Ba Vì, bồ nông, rái, vích, mày mạy, đòng đong, kiến,

khỉ, tê giác, chim, voi, con tằm, hổ, trâu.

Đó là những con vật quanh nhà: lợn, gà, mèo, chó, … hay gắn với

công việc đồng áng: trâu, tằm, cóc, nòng nọc, đòng đong (cá nhỏ, sống ở ao,

ruộng), …Chim chóc, côn trùng ở Việt Nam là các loài chủ yếu sống ở vùng

97

sông nƣớc nhƣ: cò bợ, bồ nông, rồng, phượng, mày mạy (ấu trùng của chuồn

chuồn), quạ, … Ngoài ra còn có một số con vật ở rừng nhiệt đới nhƣ: hổ, ông

Ba Vì, khỉ, tê giác, voi,…

Một số động vật nƣớc mặn cũng xuất hiện trong SSTT vì bờ biển

Việt Nam rất dài, các động vật nƣớc mặn cũng rất phong phú nhƣng ngƣời

Việt chỉ quan tâm đến đặc điểm, cách sống của chúng:

Khôn như rái, dại như vích.

Họ dành nhiều sự quan tâm hơn đến các động vật sống ở nƣớc ngọt

và gia cầm, chim chóc. Trong tâm thức ngƣời Việt, chim muông đã trở thành

một phần quan trọng với con ngƣời. Có một số loài mang nghĩa biểu trƣng

nhƣ cò, rồng, phượng,…Trong đó, con cò là loài chim kiếm ăn ở đồng ruộng

gần gũi với ngƣời nông dân hơn cả. Chính cái vẻ vất vả nhƣng thanh cao của

cò đã khiến ngƣời Việt thích dùng hình ảnh của nó biểu thị đời sống, đức tính

của mình.

Còn con trâu thì đặc biệt đƣợc ngƣời nông dân yêu thƣơng hơn các

con vật khác. Nó có nhiều nét tính cách giống ngƣời nông dân: cần cù, yêu

lao động, chịu thƣơng chịu khó, hiền lành. Nó là bạn đồng cam cộng khổ với

họ ngoài ruộng: “làm ruộng có trâu” thì cũng vui vẻ, hạnh phúc, đỡ vất vả

nhƣ “làm dâu có chồng”.

Theo Trần Ngọc Thêm, “điều kiện tự nhiên miền Tây-Bắc của thế

giới thuận lợi cho việc chăn nuôi, vì vậy chăn nuôi du mục ở đây rất phát

triển” [67, tr.54]. Do nghề chính của cƣ dân Anh là chăn nuôi và săn bắn nên

SSTT trong TN của họ thƣờng đề cập đến: horses (ngựa), an ass (lừa), a

beast (con thú lớn), a dog (chó), a lamb (cừu), a fish (cá), a wolf (sói),

pigeons (bồ câu), chickens (gà), frogs (ếch), a goose twixt two foxes (con

ngỗng giữa hai con cáo), a lion (sư tử), butterflies (bươm bướm), monkeys

(con khỉ), wasps (ong bắp cày).

98

Trong đó, con cừu (lamb) đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc

sống của ngƣời Anh, cừu vừa là tài sản vừa là nguồn cung cấp sữa, thịt và len

cho các cƣ dân du mục. Con cừu lại hiền lành nên các tín đồ của đạo Cơ Đốc

đƣợc ví là con chiên, Chúa chính là ngƣời chăn chiên. Từ cổ xƣa, ngƣời

phƣơng Tây nói chung và ngƣời Anh nói riêng đã nuôi cừu, ít làm nghề nông,

phần đông lo việc mục súc và hàng hải. Do đó, họ rất yêu quý đàn cừu của

mình.

Thêm vào đó, các con thú săn bắt cũng xuất hiện nhiều: lion (sư tử),

wolf (sói), fox (cáo), beast (con thú lớn),.. Phƣơng tiện cho việc săn bắt,

chuyên chở hàng hóa của họ là chó (dog), ngựa (horse). Theo Phạm Văn Bình,

ngƣời Anh rất thích chó và ngựa: “Họ sẽ nói một cách trìu mến với và về các

con chó, con ngựa của họ, điều này còn nhiều hơn là cái việc mà họ thường

làm với bạn bè và gia đình của mình” [4, tr.183].

Ngƣời Anh chú ý khai thác những nét đặc trƣng về hình thức, động

tác, bản năng, tập tính của mỗi loài để so sánh với chủ thể, từ đó quyết định

thái độ ca ngợi hay phê phán, đả kích. Chẳng hạn, những con thú hoang đều

mang sắc thái tình cảm âm tính:

-As a wolf is like a dog, so is a flatterer like a friend. (Con sói nhìn thì giống con chó, cũng nhƣ kẻ xu nịnh nhìn thì tƣởng

nhƣ một ngƣời bạn)

-He dies like a beast who has done no good when he lived. (Kẻ không làm việc tốt khi còn sống sẽ chết nhƣ một con quái vật) -A client twixt his attorney and counsellor is like a goose twixt two

foxes.

(Một khách hàng ở giữa luật sƣ và ngƣời cố vấn pháp luật của mình

giống nhƣ con ngỗng ở giữa hai con cáo)

-Women in state affairs are like monkeys in glass-shops. (Các nữ viên chức giống nhƣ con khỉ trong tủ kính các cửa hiệu)

99

Nhƣ vậy, SSTT trong TN Anh nói nhiều về động vật và mỗi con vật

đều là các biểu tƣợng hoặc có truyền thuyết của riêng nó (khác với các con

vật Việt Nam):

+ con chó: trung thành, thân thiện và chia sẻ

+ cáo: xảo trá, quỷ quyệt

+ lừa: đần độn

+ ngựa: vật linh, sang trọng, sức mạnh, cái thiện, sự chiến thắng

+ sói: độc ác

+ cừu: hiền lành

+ sƣ tử: sức mạnh, sự dũng mãnh

Tóm lại, trong các SSTT nói về động vật, kinh nghiệm chăn nuôi

của ngƣời Anh nhìn chung mang quy mô lớn hơn, chứ không phải chỉ là

những con vật ở quanh nhà nhƣ ngƣời Việt.

Về thực vật, cây cỏ hoa lá xuất hiện nhiều lần trong SSTT của TN

Việt gồm có: hoa, bồ hòn, bè ngổ, thài lài, nứa, măng ấp bẹ, tre ấm bụi, củi

tre, cơm tẻ, lúa, rơm, bèo, dâu, chuối, chuối hột, cây mít, nghệ, nhân sâm, cây

không rễ, cây có cội, cây gỗ tròn.

Việt Nam là một quốc gia có thảm thực vật vô cùng phong phú vì

nằm trong vành đai nhiệt đới, nóng ẩm mƣa nhiều, phù hợp cho các hệ thực

vật phát triển. Trƣờng thực vật xuất hiện nhiều trong SSTT của TN Việt là các

loại cây dùng làm thực phẩm trong cuộc sống hàng ngày nhƣ: cơm tẻ, nghệ,

măng, bè ngổ, nhân sâm, … ; một số loại cây ăn quả vùng nhiệt đới nhƣ: mít,

chuối, chuối hột, …; các loại cây cho lá, cho gỗ nhƣ: nứa, tre, cây gỗ, bồ hòn,

dâu, bèo,…

Trong đó nổi bật là cây“lúa” - cây lƣơng thực chủ yếu, với các dạng

tồn tại khác nhƣ “cơm tẻ”, “rơm”. Các loài cây và hoa xuất hiện ở đây đều

100

mang đặc trƣng của vùng khí hậu nhiệt đới. Đặc biệt, “hoa” giữ một vai trò

quan trọng trong cuộc sống của ngƣời Việt, SSTT có 5 lần nhắc đến “hoa”.

Trong câu “Mưa tháng ba hoa đất”, hình ảnh “hoa” không nhằm chỉ một đóa

hoa cụ thể nào mà dùng để biểu trƣng cho cái đẹp, sự xanh tốt, sức sống của

vạn vật nói chung sau cơn mƣa.

Nếu hoa là tinh túy của cỏ cây thì con ngƣời chính là tinh túy của

đất trời:

-Ngƣời ta hoa đất. -Ngƣời nhƣ hoa ở đâu thơm đấy.

So sánh hoa với ngƣời là một quan niệm, một triết lý vô cùng nhân

văn. Cơ sở liên tƣởng ở đây là mối quan hệ tƣơng đồng về tính chất: giữa

hƣơng hoa và lòng ngƣời, giữa sắc hoa và nhân diện. “Hoa thơm” đƣợc so

sánh với những ngƣời khôn ngoan, nhân hậu, có văn hóa, trọng đạo nghĩa.

Những ngƣời nhƣ thế luôn đƣợc mọi ngƣời trân trọng, nâng niu:

-Hoa thơm ai chẳng nâng niu/ Ngƣời không ai chẳng kính yêu mọi

bề.

-Hoa thơm ai chẳng muốn đeo/Ngƣời khôn ai chẳng nâng niu bên

mình.

Tóm lại, SSTT trong TN Việt đề cập phần lớn đến các loài thực vật

ƣa nƣớc của vùng nhiệt đới nóng ẩm.

Trong TN Anh, hình ảnh thực vật trong SSTT gồm có: a flower

(hoa), a blossom (hoa của cây ăn quả), flax (cây lanh), a black plum (mận

đen), a white plum (mận trắng), the sloe tree (cây mận gai), cherry (anh đào),

barley (lúa mạch), weeds (cỏ dại), brambles (bụi cây mâm xôi), straw (rơm),

...

Phần lớn các từ chỉ thực vật gắn liền với việc gieo trồng ở vùng lạnh

và khô của ngƣời Anh, quan trọng nhất là nghề trồng kê mạch. Các từ chỉ kê

mạch và sản phẩm của nó xuất hiện nhiều: barley (lúa mạch), bread (bánh

mì), straw (rơm), …Ngƣời Anh rất có kinh nghiệm trồng những loại cây ăn

101

quả điển hình của vùng giá rét nhƣ: black plum (mận đen), white plum (mận

trắng), sloe tree (cây mận gai), cherry (anh đào), …; và các cây lấy sợi, lấy

gỗ nhƣ: flax (cây lanh), bramble (bụi mâm xôi), tree without fruit (cây không

có quả),…Ngƣời Anh cũng đặc biệt yêu hoa, thƣờng ví vẻ đẹp của hoa với

những phẩm chất cao quý của con ngƣời:

Patience is a flower that grows not in every one's garden. (Sự kiên nhẫn là một đóa hoa mà không phải khu vƣờn

nào cũng có)

Họ cũng chú ý đến một đặc điểm khác nữa của hoa là sự mong

manh, yếu ớt, chóng tàn:

-Beauty is but a blossom. (Cái đẹp chỉ là một đóa hoa) -Beauty fades like a flower. (Cái đẹp phai tàn nhƣ một bông hoa)

Tóm lại, điều kiện tự nhiên của nƣớc Anh thuận lợi hơn cho việc

chăn nuôi, trồng trọt chỉ giữ một vai trò nhỏ bé. Dấu ấn nghề trồng kê mạch

và các thực vật vùng lạnh và khô còn in đậm trong SSTT của TN Anh.

3.2.1.3. Cơ thể người

Bộ phận cơ thể ngƣời phản ánh sự tri nhận của con ngƣời về chính

mình. Trong TN của nƣớc nào cũng có những từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời, vì

“con người giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ vũ trụ. Đại vũ trụ được thu nhỏ

lại trong con người nhưng con người cũng từ đó “phóng ảnh” của nó ra toàn

bộ vũ trụ và quá trình nhận thức thế giới, xã hội và chính bản thân nó. Vì vậy,

từ chỉ bộ phận cơ thể người có vị trí quan trọng…” [17, tr. 31]. Ngƣời Việt và

ngƣời Anh tuy có nhiều điểm giống nhau nhƣng cũng có không ít khác biệt

khi nói đến các bộ phận cơ thể ngƣời.

102

Các từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong TN Việt gồm có: chân tay,

chân, mặt, bụng, máu, cuống ruột, ruột, dạ, lòng, bóng, trôn trẻ, thân, mình,

miệng, một mắt, đầu.

Trong đó, chân có thể đi lại, không cố định một chỗ nên nó dùng để

chỉ sự thay đổi. Khi bị ràng buộc, dân gian Việt Nam ví nhƣ:

Trai có vợ như rợ buộc chân.

Chân và tay có mối quan hệ gần gũi, không thể tách rời, nên đƣợc

ngƣời Việt dùng để chỉ mối quan hệ gia đình keo sơn gắn bó:

Anh em như chân tay.

Ngƣời Việt xem xét con ngƣời qua khuôn mặt để có thể biết đƣợc

nội tâm của con ngƣời, vì mặt đối diện với thế giới xung quanh và có khả

năng thể hiện các sắc thái tình cảm của con ngƣời một cách rõ rệt nhất:

“Chƣa đánh đƣợc ngƣời mặt đỏ như vang”: thể hiện sự tức giận

“Đánh đƣợc ngƣời rồi mặt vàng như nghệ”: lo lắng, sợ hãi

Còn “đầu” là cơ quan chỉ huy của toàn bộ cơ thể: “Quân vô tướng

như hổ vô đầu”.

Bên cạnh đó, theo Nguyễn Đức Tồn [70], ngƣời Việt hết sức coi

trọng trục tâm thận và lấy bụng (lòng/ dạ/ ruột) làm cơ sở xuất phát của cảm

giác. Tác giả viết “theo quan niệm của dân gian, bụng là nơi định vị hay chứa

đựng trí tuệ con người và là bộ phận biết tính toán, suy nghĩ”. Ngoài ý nghĩa

biểu trƣng cho trí tuệ, ý chí, về phƣơng diện tinh thần, bụng có thể biểu trƣng

cho tất cả các cung bậc của tình cảm con ngƣời. Vì bụng có không gian rộng

rãi cho phép nó “có thể co giãn một cách năng động hơn nên chứa đựng được

nhiều tình cảm hơn; và các bộ phận trong bụng đều ở dạng mềm khiến cho

bụng sau khi nghĩ sẽ có cách xử lí vấn đề không quá rắn như đầu – nơi ngự

trị của lí trí trong phạm vi chật hẹp của hộp xương sọ cứng nhắc…Mặt khác,

vị trí của lòng/ bụng/ dạ/ ruột trong sự phân bố của cơ thể là ở phía dưới, nếu

103

tính theo độ nông sâu thì những gì ở đây có lẽ sẽ có chiều sâu hơn so với các

bộ phận ở phía trên. Theo đó, bụng /lòng / dạ được xem như là nơi sâu kín

nhất để người bản ngữ tiếng Việt có thể gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình

vào trong đó” [32, tr.32]. Do đó, ta thấy trong TN so sánh có các cách ví von

sau:

-Lòng người như bể khôn dò. -Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ. -Của là cuống ruột.

Các từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong TN Anh gồm có: tongue

(lưỡi), the mouth (miệng), the eyes (mắt), bond (xương), a face (gương mặt), a

throat (cổ họng), a brain (trí não), mind (trí tuệ), the breath (hơi thở), a span

(gang tay), scab (ghẻ), hand (tay), heart (trái tim).

Trong các SSTT của TN Anh, ngƣời Anh rất coi trọng việc giao tiếp.

Giao tiếp có nói năng bằng “miệng”, “lưỡi” và “cổ họng”. Các SSTT của họ

cho thấy sức mạnh, giá trị của “miệng lưỡi”:

-A good tongue is a good weapon. (Miệng lƣỡi khôn khéo là vũ khí lợi hại) -A woman's sword is her tongue, and she does not let it rust. (Thanh gƣơm của phụ nữ là lƣỡi của cô ta, và cô ta không để

nó hoen rỉ)

Giao tiếp còn thể hiện qua điệu bộ, cử chỉ “mắt”, “mặt”, “tay”:

A good face is a letter of recommendation. (Một gƣơng mặt đẹp là lá thƣ giới thiệu tốt)

Trong đó, đôi mắt là phần nổi trội nhất, là “cửa sổ của tâm hồn”,

chính từ đôi mắt mà ngƣời Anh cảm nhận đƣợc nhiều ý nghĩa về mặt tình cảm

và nhận thức:

-The eyes are the window of the soul. (Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn) -Learning are the eyes of mind. (Học vấn là đôi mắt của trí tuệ)

104

Chính trong quá trình giao tiếp mà họ thiết lập các mối quan hệ xã

hội cũng nhƣ quan hệ tình cảm. Trong cách tri nhận của ngƣời Anh, tim đƣợc

xem là bộ phận gắn liền với tình cảm rõ rệt nhất vì nó vận hành máu đến tất

cả các bộ phận khác của cơ thể nên rất nhạy cảm với mọi biến đổi của quá

trình tâm sinh lí. Khi lo lắng hay đau buồn ngƣời ta có cảm giác ở khoang

ngực nhƣ có vật gì đè nặng lên, khi vui thì lồng ngực căng, nở ra, khí huyết

lƣu thông. Do đó, khi nói đến các cung bậc khác nhau của tình cảm, ngƣời

Anh liên tƣởng đến trái tim, sự sợ hãi sẽ làm cho trái tim bị giam cầm:

Fear is the prison of the heart.

Nói đến tƣ duy thì ngƣời Anh đề cập đến “brain” (óc, não), “mind”

(trí tuệ) chứ không dùng hình ảnh bụng/ dạ nhƣ ngƣời Việt:

-A contented mind is a continual feast. (Vừa ý cũng giống nhƣ là đƣợc đi dự tiệc liên tục) -An idle brain is the devil's workshop. (Óc lƣời nhác là phân xƣởng của quỷ)

Cách nói này là sản phẩm của tƣ duy lí tính. Khi nói đến các vật quý

giá, ngƣời Anh so sánh chúng với “xương tủy” của mình, vì xƣơng ở bên

trong, là cái khung nâng đỡ toàn bộ cơ thể:

-An Englishman's word is his bond. (Lời nói của ngƣời Anh là xƣơng tủy của họ) -An honest man's word is as good as his bond. (Lời nói của ngƣời chân thật cũng quý nhƣ xƣơng tủy của anh

ta)

Nói đến sự mong manh thì có “hơi thở”:

Fame is but the breath of the people. (Sự nổi tiếng chỉ là hơi thở của con ngƣời)

Tóm lại, trong các SSTT, các dân tộc đều nhận thức đƣợc rất rõ

ràng rằng cơ thể ngƣời, nhất là các bộ phận bên trong là trung tâm của trải

nghiệm về tình cảm, nhận thức; tùy theo cách tri nhận khác nhau của hai dân

tộc mà sự liên tƣởng, ví von có khác.

105

3.2.2. Con người và đời sống vật chất:

3.2.2.1. Vật thể nhân tạo

Dấu ấn của nền văn hóa nông nghiệp lúa nƣớc còn in dấu rất rõ

qua các vật thể nhân tạo do ngƣời Việt sáng tạo ra trong quá trình tƣơng tác

với thiên nhiên. Lao động thì phải có công cụ lao động: “cối xay, chổi, cưa,

giỏ, hom, cái nơm, rợ, …”; phƣơng tiện di chuyển: thuyền, bè, xe. Mục đích

của lao động là tạo ra thực phẩm để ăn và của để dành: của, tiền của, ngọc,

vàng, tiền, lỗ tiền chôn. Muốn ăn thì phải có dụng cụ nấu nƣớng: đĩa, đũa, nồi

đồng, cơi đựng trầu, bồ (lúa), than. Phòng khi ốm đau thì ngƣời nông dân

phải trữ sẵn thuốc men: thuốc tiêu, thuốc gió, thuốc tiên. Để an cƣ lạc nghiệp

thì ngƣời Việt xây dựng nhà cửa và các vật dụng trong nhà nhƣ: nhà, rào

giậu, tượng mới tô, gạch, phản gỗ, kèo, tủ, kho, lồng chim, vôi.

Trong các đồ vật kể trên, đồ vật đáng chú ý nhất, có giá trị khu

biệt nhất về văn hóa là đôi đũa. Theo Trần Ngọc Thêm [67, tr. 398], “trong

khi người phương Tây phải dùng một bộ đồ ăn gồm ít nhất là thìa, nĩa, dao,

mỗi thứ thực hiện một chức năng riêng rẽ và chặt chẽ (sản phẩm của tư duy

phân tích) thì đôi đũa của người Việt Nam thực hiện một cách cực kỳ linh

hoạt hàng loạt chức năng khác nhau: gắp, và, xé, xẻ, dầm, khoắng, trộn, vét,

và nối cho cánh tay dài ra để gắp thức ăn xa”. Là dụng cụ gắp thức ăn truyền

thống của ngƣời Việt, đũa chỉ có tác dụng khi có đủ hai chiếc. Hai chiếc mà

không có sự tƣơng đồng do bị vênh hay chiếc dài chiếc ngắn thì cũng ảnh

hƣởng đến thao tác và thẩm mỹ. Do đó, dân gian dùng hình ảnh đôi đũa để ví

với tình cảm vợ chồng suốt đời gắn bó: “Vợ chồng như đũa có đôi”. Một gia

đình hạnh phúc cần sự đồng tâm hòa thuận, nhất trí và nỗ lực của cả vợ lẫn

chồng.

106

Ngoài ra, các phƣơng tiện di chuyển của ngƣời Việt cũng có sự

khác biệt. Do Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, địa hình chủ yếu là

đồng bằng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc nên phƣơng tiện di

chuyển hiệu quả nhất là thuyền, bè. Trong các công cụ lao động thì nổi bật là

các dụng cụ để bắt cá – thực phẩm chính trong bữa ăn của cƣ dân nông nghiệp

lúa nƣớc: giỏ, hom, cái nơm. Còn cối xay dùng để xay gạo, nếp thành bột, từ

đó chế biến thành các món ăn, bánh trái khác nhau. Nhà ở truyền thống của

ngƣời Việt thì phải gồm đủ kèo, cột, gạch, tủ, phản gỗ, nồi đồng, cơi trầu, rào

giậu, bồ lúa. Của cải để đo lƣờng sự giàu có, khôn dại của ngƣời Việt là thóc

gạo:

Dại như chó có lúa cũng khôn.

Đó là kết quả của sự tác động bởi nền nông nghiệp lúa nƣớc.

Ngƣời Anh cũng đề cập đến các công cụ lao động và chiến đấu

của đất nƣớc họ: a wagon (xe ngựa), an anvil (cái đe), an axe (cái búa), a

weapon (vũ khí), a cross-bow (cái nỏ/ ná), a sword (gươm). Họ cũng có của

để dành: a treasure (châu báu), silver (bạc), golden (vàng), money(tiền),

riches (của cải), fortune (gia tài), a dowry (của hồi môn), a heritage (tài sản

thừa kế), a mine of gold (mỏ vàng), a jewel (trang sức), a ring (chiếc nhẫn), a

purse (ví tiền), lottery (vé số); và cả debt (nợ nần). Nhà cửa của ngƣời Anh

cũng mang đặc trƣng riêng của vùng ôn đới với: a back door (cửa sau),

chimneys (ống khói), a weathercock (chong chóng chỉ hướng gió), a pit (hố,

hầm), the chamber (phòng), a entry (lối vào nhà), the walls (bức tường), the

window (cửa sổ), a bed (cái giường), a new house thatched with old straw

(nhà mới lợp rơm cũ), a ladder (thang), a pillow (cái gối), padlock (khóa), the

mirror (gương), pitchers (cái bình/ vò).

107

Điều đáng chú ý là của để dành của ngƣời Anh vô cùng phong phú,

bao gồm cả vàng bạc, châu báu, trang sức, tiền mặt, tài sản thừa kế, của hồi

môn, tiền trúng số,…. TN Anh nhiều lần đề cập đến sức mạnh của tiền bạc:

-Money is the only monarch.

(Tiền bạc là vị quốc vƣơng duy nhất)

-Money is the ace of trumps.

(Tiền là con bài chủ)

-Money is a good servant, but a bad master.

(Tiền là ngƣời đầy tớ tốt nhƣng là ông chủ tồi)

-Fortune is the mistress of the field.

(Của cải là bà chủ của cánh đồng)

Với ngƣời Việt, của để dành của ngƣời lao động chỉ là thóc gạo, tiền

bạc, còn phần lớn của cải có giá trị khác nằm trong tay địa chủ và chính

quyền phong kiến. Ở Anh, do thƣơng nghiệp phát triển từ rất sớm nên hàng

hóa rất dồi dào, của cải vô cùng phong phú, phần đông các thƣơng nhân có tài

sản cũng nhƣ các món nợ kếch sù đƣợc truyền từ đời này sang đời khác.

Công cụ lao động và chiến đấu của ngƣời Anh đƣợc đề cập đến

trong các SSTT là vũ khí, cái nỏ, thanh gươm để săn bắn và tự vệ, xe ngựa để

vận chuyển hàng hóa, và đe, búa để rèn kim loại. Tuyệt nhiên không thấy

công cụ lao động nào để trồng trọt, làm nông nghiệp nhƣ cối xay, chổi, cưa,

giỏ, hom, cái nơm, rợ, …của ngƣời Việt.

Về nhà cửa, ta thấy nhà của ngƣời Anh có ống khói của lò sƣởi

trong những ngày đông giá rét, có chong chóng chỉ hƣớng gió trên các thảo

nguyên mênh mông, có các hầm và các vò/ bình trữ rƣợu, với các phòng riêng

biệt, lối vào, cửa sổ, giƣờng, gối, gƣơng, cầu thang, khóa,…Nóc nhà truyền

thống của ngƣời Anh đƣợc lợp bằng rơm để giữ ấm.

108

Tóm lại, các công cụ lao động, phƣơng tiện di chuyển, của cải, tài

sản, vật dụng hàng ngày, nhà cửa của ngƣời Việt và ngƣời Anh có sự khác

biệt do điều kiện tự nhiên và phƣơng thức sản xuất của hai dân tộc không

đồng nhất.

3.2.2.2. Ẩm thực, giải trí

Việc ăn uống để duy trì sự sống là vô cùng cần thiết đối với các dân

tộc. Tuy nhiên, quan niệm này ở mỗi quốc gia có sự khác biệt.

Theo Trần Ngọc Thêm, người phương Tây với bản tính ưa hoạt

động có xu hướng coi việc ăn như điều kiện cần thiết, như phương tiện để làm

việc; triết lí phương Tây nhắc nhở; “Người ta ăn để mà sống chứ không phải

sống để mà ăn” [67, tr.342]. Còn các cƣ dân nông nghiệp lúa nƣớc với thì trái

lại, việc ăn uống là vô cùng cần thiết vì có năng lƣợng vật chất thì mới nói

đến chuyện tinh thần đƣợc. “Việc ăn đối với người Việt Nam quan trọng đến

mức một đấng toàn năng như Trời cũng không dám và không được quyền xâm

phạm: “Trời đánh còn tránh bữa ăn” [67, tr.342].

Ngƣời Việt vì vậy rất xem trọng bữa ăn hàng ngày của mình. Họ ví

von rằng:

-Ăn được ngủ được là tiên -Không ăn không ngủ là tiền bỏ đi.

Nếu nhìn vào văn hoá ẩm thực thì ta thấy rằng cƣ dân các miền có

nền văn hoá gốc du mục nhƣ ngƣời Anh thì thiên về ăn thịt và các sản phẩm

từ động vật. Còn cơ cấu bữa ăn của ngƣời Việt thì lại bộc lộ rất rõ dấu ấn của

truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nƣớc – thiên về thực vật.

Trong cơ cấu bữa ăn của ngƣời Việt, lúa gạo xếp hàng đầu, có vai

trò vô cùng quan trọng, đƣợc ví nhƣ cha mẹ:

Cơm tẻ mẹ ruột.

109

Sau lúa gạo là rau quả:

-Ăn cơm không rau như đánh nhau không có người gỡ. -Cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống.

Ngƣời Việt vốn giỏi trồng trọt lại đƣợc thiên nhiên ƣu đãi nên mùa

nào thức nấy, rau quả không thiếu thứ gì. Trong khi các cƣ dân du mục chỉ ăn

lƣơng thực và thịt, nhà giàu sang mới có thêm rau quả thì ngƣời Việt sống

giữa cái nôi của các loại cây trồng nhiệt đới nên bữa ăn không biết bao nhiêu

là rau. Hầu nhƣ loại lá cây nào ăn đƣợc đều xuất hiện trong bữa ăn của ngƣời

Việt. Ngoài việc nấu chín, rau còn dùng để ăn sống. Các món ăn truyền thống

của ngƣời Việt nhƣ bánh xèo, bún riêu, gỏi cuốn, lẩu mắm,… thƣờng ăn kèm

với rất nhiều rau.

Ngoài ra, ngƣời Việt còn ăn cá bắt đƣợc ở ao, hồ, ruộng, sông quanh

làng (Cơm với cá như mạ với con); và từ các loại thủy sản, ngƣời Việt đã chế

biến “nước mắm” để dùng làm nƣớc chấm trong các bữa ăn. Đây là một thứ

nƣớc chấm rất đặc trƣng của ngƣời Việt. Nói về sự không xứng hợp, họ cũng

liên tƣởng đến hình ảnh thứ nƣớc chấm này:

“Trai tơ lấy phải nạ dòng Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu”

Trong các SSTT, ngƣời Việt cho thấy họ nấu ăn bằng “củi tre” và

“ nồi đồng”:

-Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ sai. -Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ sai.

Ngoài các bữa cơm, ngƣời Việt còn có tập quán ăn trầu và uống

rƣợu:

Ăn trầu không có rễ như rể nằm nhà ngoài

Đây là phong tục đã có từ rất lâu đời của ngƣời Việt, có cả một

truyền thuyết về nó. Ngƣời Việt đựng trầu bằng “cơi” (đàn bà sâu sắc như cơi

đựng trầu), ăn trầu với “rễ cây”, “vôi” và cau. Ngƣời ta nhai rồi nhả bã. Việc

110

ăn trầu tạo ra một chất kích thích, khiến thơm miệng, đỏ môi, chắc răng và

khuôn mặt ngƣời ăn đỏ bừng nhƣ say rƣợu. Ngoài ra trầu còn là một bài thuốc

tốt chữa đƣợc nhiều bệnh. Với ngƣời Việt, miếng trầu đã trở thành một biểu

tƣợng văn hóa đặc biệt khi tiếp khách, cƣới xin, giỗ chạp, cám ơn, xin lỗi,…

Ngƣời Việt còn thích uống rƣợu trong các bữa ăn, các dịp tiệc tùng,

lễ lạc:

Nam vô tửu như kỳ vô phong.

Đặc biệt, rƣợu của ngƣời Việt đƣợc làm từ gạo nếp – thứ lƣơng thực

đặc sản của các cƣ dân trồng lúa nƣớc.

Trong khi đó, cơ cấu bữa ăn của ngƣời Anh thiên về ăn thịt và các

sản phẩm từ động vật nhƣ: thịt (good kitchen meat), cá (salt fish), bơ sữa

(cheese), suet (mỡ thận), bánh mì (bread).

Sau thịt cá, ngƣời Anh xem bánh mì là nguồn gốc của sự sống:

Bread is the staff of life.

Đây cũng là xứ sở của các loại bánh ngọt nổi tiếng làm từ lúa mì:

-An apple-pie without some cheese is like a kiss without a

squeeze.

(Bánh nhân táo mà không có bơ thì giống như một nụ hôn

không được ôm chặt)

-A bad custom is like a good cake... (Phong tục tồi tệ giống như một cái bánh…) -Promises are like pie-crust... (Lời hứa giống như vỏ bánh nướng…)

Việc ăn uống đối với ngƣời Anh có ảnh hƣởng vô cùng lớn đến sức

khỏe của họ, bởi vì:

The mouth is the executioner and the doctor of the body. (Cái miệng sẽ là đao phủ hay bác sĩ của cơ thể)

Ngƣời Anh đựng thức ăn bằng đĩa (dish), sử dụng nƣớc chấm là các

loại nƣớc xốt khác nhau (sauce), thích hội họp, tiệc tùng:

111

-Enough is as good as a feast. (Vừa đủ cũng quý như là được đi dự tiệc) -A good conscience is a continual feast. (Lương tâm trong sạch giống như là tiệc tùng liên miên) -A contented mind is a continual feast. (Sự hài lòng cũng giống như là được đi dự tiệc liên tục)

Họ cũng rất thích uống rƣợu, nhƣng rất cẩn thận khi uống rƣợu

trong giao tiếp vì:

-Wine is the glass of the mind. (Rượu là tấm gương của trí tuệ) -Wine is a turncoat. (Rượu là kẻ phản bội)

Nhìn chung, món ăn thông thƣờng của ngƣời Việt là cơm, rau và cá;

còn bữa ăn của ngƣời Anh gồm thịt và các sản phẩm từ động vật nhƣ bơ, mỡ,

sữa, bánh mì.

Về giải trí, khi có thời gian rảnh, ngƣời Việt thích chơi cờ (Cờ phải

nước bí như bị phải trời mưa) hoặc xem múa rối nƣớc (đẹp như rối). Đây là

một loại hình nghệ thuật dân gian vô cùng đặc sắc của những ngƣời nông dân

Việt Nam đã quen với việc ngâm bùn lội nƣớc trên ruộng lúa. Yếu tố độc đáo

của rối nƣớc là sử dụng mặt nƣớc làm sân khấu để con rối diễn trò, đóng kịch.

Buồng trò rối nƣớc (nhà rối hay thủy đình) đƣợc dựng lên giữa ao, hồ với

kiến trúc cân đối tƣợng trƣng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam. Kỹ

thuật điều khiển trong múa rối nƣớc rất đƣợc coi trọng, nó tạo nên hành động

của quân rối nƣớc trên sân khấu, đó chính là mấu chốt của nghệ thuật múa rối.

Quân rối đẹp mới chỉ có giá trị về mặt điêu khắc. Sự thành công của quân rối

nƣớc chủ yếu trông vào sự cử động của thân hình, hành động làm trò đóng

kịch của nó. Các quân rối nƣớc trình bày những cảnh đời thƣờng hàng ngày,

những sinh hoạt dung dị đến ngạc nhiên nhƣ: cha cầy, mẹ cấy, em bé chăn

trâu, quăng chài, chăn vịt, thả cá, câu ếch, cả làng vui hội vui hè, đấu vật, chọi

112

trâu, rƣớc thánh, rƣớc thần, hát chèo, hát tuồng, đánh đu, đua thuyền, thi bơi,

múa lân, múa rồng, múa tiên,... Nó cắt nghĩa rõ ràng khả năng và tài trí của

một dân tộc sinh sống bằng nghề trồng cây lúa nƣớc.

Thú vui giải trí của ngƣời Anh thì hoàn toàn khác. Với nghề chăn

nuôi, khi rảnh rỗi, họ thích giải trí bằng cách cƣỡi ngựa (horse without a

bridle, runaway horse), đấu gƣơm (sword, a coat of mail), săn bắn (war,

hunting, and love are as full of trouble as pleasure). Giải trí của ngƣời Anh

không đơn thuần dừng lại ở sự tiêu khiển mà còn là cách để luyện tập, thi thố

tài năng. Tiêu chuẩn của các cuộc chơi là chơi đẹp, đúng luật, không gian lận:

Fair play is a jewel. (Chơi đẹp là đồ trang sức quý giá)

Ngoài ra họ còn thích đọc sách:

-Literature is a good staff but a bad crutch. (Văn học là cây quyền trượng tốt nhưng là chiếc gậy tồi) -A great book is a great evil. (Quyển sách hay có sức mạnh khủng khiếp của quỷ)

hay viết thƣ (the pen, a letter), nghe nhạc (Music is the food of love - Âm nhạc

là nguồn sống của tình yêu), chơi bài (the ace of trumps, cards), nghỉ ngơi (a

rest),…

Tóm lại, những hình ảnh trên phản ánh quan niệm truyền thống về

cách ăn uống, giải trí gắn liền với nền văn hóa của ngƣời Việt và ngƣời Anh.

3.2.2.3. Kinh nghiệm lao động sản xuất

Ngƣời Việt Nam lao động chính là nông nghiệp, nên các SSTT

thƣờng xoay quanh các kinh nghiệm làm ruộng: làm ruộng không trâu, làm

giàu không thóc; làm ruộng có trâu làm dâu có chồng; lúa tốt vì phân, hòn

đất nỏ bằng giỏ phân,…hay kinh nghiệm trồng cây: uốn cây từ thuở còn non;

dâu năng hái, một cây mít bằng sào ruộng…hoặc kinh nghiệm về nghề mộc,

113

xây cất: bào, néo không mấu, nhà không móng như bóng không người…hay

nghề chèo đò trên sông rạch: Một nạm gió bằng một bó chèo, thuyền không

lái; thuyền mạnh về lái…Những kinh nghiệm này đều xuất phát từ các hoạt

động sản xuất thực tiễn của ngƣời Việt ở đồng bằng với hệ thống sông ngòi,

kênh rạch chằng chịt.

Đặc biệt trong các SSTT thuộc phạm vi khảo sát của luận văn,

ngƣời viết không thấy ngƣời Việt đề cập đến kinh nghiệm trong việc trao đổi,

mua bán. Có lẽ do với tính chất tĩnh tại của làng mạc Việt Nam, nền sản xuất

chủ yếu là tự cung tự cấp, ít có nhu cầu trao đổi, mua bán. “Mỗi làng, mỗi

nhà cố gắng tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình: mỗi nhà

có vườn rau, chuồng gà, ao cá tự đảm bảo nhu cầu về ăn; có bụi tre, rặng

xoan, gốc mít tự đảm bảo nhu cầu về ở” [67, tr. 196 - 197). Ngày xƣa, so với

nông nghiệp, thƣơng nghiệp Việt Nam kém phát triển và buôn bán không

đƣợc xem trọng: “Dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt”.

Với ngƣời Anh thì tình hình khác hẳn. Các SSTT phần lớn nói về

kinh nghiệm mua bán, trao đổi hàng hóa:

-A good bargain is a pick-purse. (Sự trả giá tốt là một tên móc túi) -Dear bought is the honey that is licked from the thorn. (Việc buôn bán ngọt ngào là mật trên gai nhọn) -Business is the salt of life. (Việc kinh doanh là muối của cuộc đời) -A useful trade is a mine of gold. (Sự buôn bán có ích là một mỏ vàng)

Có một trƣờng hợp nói về kinh nghiệm trồng lúa mạch:

When the sloe tree is as white as a sheet, sow your barley

whether it be dry or wet.

(Khi cây mận gai nở hoa trắng như tờ giấy, hãy gieo lúa

mạch của bạn dù nó khô hay ướt)

và một trƣờng hợp nói về kinh nghiệm xây dựng:

114

Building is a thief. (Xây dựng là một tên trộm)

Khác với ngƣời Việt, từ xa xƣa, nghề chăn nuôi du mục đã phổ biến

ở Anh. Khi đi từ nơi này sang nơi khác, ngƣời Anh nhận ra sự chênh lệch về

giá cả giữa các vùng, nên họ đã chuyển sang mua bán, kết hợp với chăn nuôi.

Khi hàng hóa trở nên dồi dào, lợi nhuận ngày càng tăng nhanh, các cƣ dân du

mục ở đây bỏ hẳn chăn nuôi mà chuyển sang thƣơng nghiệp. Các thƣơng

nhân này nhanh chóng trở thành lớp ngƣời đƣợc xã hội trọng vọng, kính nể vì

sự nhanh nhạy và tài trí thông minh của họ.

Tóm lại, những sự khác biệt về kinh nghiệm lao động sản xuất ở

trên đều do sự khác biệt về môi trƣờng sống và loại hình văn hóa của mỗi dân

tộc quy định.

3.3. Văn hóa tinh thần qua SSTT trong TN Việt và TN Anh

Việc nghiên cứu đối chiếu TN giữa hai nƣớc Anh – Việt là rất cần

thiết vì hai nƣớc thuộc hai truyền thống văn hóa khác nhau. Văn hóa châu Âu

dựa vào truyền thống văn hóa Địa Trung Hải, Hy Lạp, La Mã cổ, Thánh kinh

và Latinh trung cổ. Ngƣời Anh sống và trƣởng thành trong một truyền thống

tôn giáo đơn cực với hơn 1000 năm. Họ chỉ tin có một thƣợng đế. Quan niệm

của họ đơn thuần nhằm đề cao con ngƣời cá nhân, cá thể trong sự hơn thua

với cộng đồng. Khái niệm có tầm quan trọng tuyệt đối trong văn hóa phƣơng

Tây là “con người như một cá nhân”. Nói cách khác, ở phƣơng Tây, cá nhân

“một mình đứng trước đấng tạo hóa”. [76, tr. 177]

Truyền thống văn hóa phƣơng Đông thì dựa chủ yếu vào các

nguyên lý của tam giáo: Nho, Phật, Đạo. Trong đó, nổi bật lên là những quan

điểm về nhân sinh theo triết lý đa cực, trung dung. Quan niệm này không

nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa các cực mà là nơi gặp gỡ giữa các cực đoan,

hƣớng về sự hòa hợp.

115

Sự khác biệt về văn hóa tinh thần giữa ngƣời Việt và ngƣời Anh

đƣợc thể hiện rõ nhất qua các phong tục tập quán còn lƣu truyền lại, những

cảm quan về tâm linh, tôn giáo, cũng nhƣ tính cách và tƣ duy dân tộc. Do đó,

trong phần này, ngƣời viết sẽ triển khai đặc trƣng văn hóa tinh thần của mỗi

dân tộc theo trình tự: con ngƣời và đời sống xã hội, con ngƣời và đời sống

tinh thần.

3.3.1. Con người – đời sống xã hội

3.3.1.1. Quan hệ gia đình

Gia đình điển hình ở Việt Nam là gia đình mở rộng bao gồm cha mẹ,

con cái, dâu rể và thậm chí có cả những ngƣời thân thuộc. Với ngƣời Việt, gia

đình có vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của mỗi con ngƣời.

Trong 135 câu TN Việt có STTT thì đã có đến 51 câu có đề cập đến các mối

quan hệ trong gia đình.

Trong gia đình, vai trò của ngƣời cha vô cùng quan trọng. Ngƣời

cha che chở, bảo vệ cho các thành viên:

-Con có cha như nhà có nóc Con không cha như nòng nọc đứt đuôi. -Con không cha thì con trễ Cây không rễ thì cây hư. -Con giữ cha, gà giữ ổ.

Bên cạnh đó, ngƣời mẹ cũng có vai trò quan trọng không kém. Về

tài nuôi nấng, chăm sóc con cái thì ngƣời mẹ hơn hẳn ngƣời cha. Thiếu cha,

con cái vẫn có thể có cuộc sống đủ đầy, ngƣợc lại, thiếu mẹ thì phải chịu khổ

trăm bề:

-Con có mạ như thiên hạ có vua. -Con có mẹ như măng ấp bẹ.

Ngoài việc nuôi dƣỡng, ngƣời Việt còn rất quan tâm đến việc dạy dỗ

con cái. Quá trình giáo dục lí tƣởng nhất là từ khi đứa trẻ còn thơ bé:

116

Uốn cây từ thuở còn non Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.

Ngƣời Việt Nam xem con cái là biểu tƣợng của hạnh phúc trong thế

giới này và cả thế giới bên kia nữa, nên họ rất quan tâm đến việc đẻ con trai

đầu lòng. Trách nhiệm trói buộc cha mẹ và con cái với nhau. Cha mẹ yêu

thƣơng nuôi dạy con cái, con cái yêu thƣơng kính trọng cha mẹ và chăm sóc

cha mẹ khi già yếu:

-Con nhà có cố có ông Như cây có cội như sông có nguồn. -Mẹ già như chuối chín cây. -Con đàn như tre ấm bụi. -Có mẹ già bằng ba rào giậu.

Những ngƣời phụ nữ không thể sinh con sẽ bị thiên hạ đàm tiếu:

Gái có con như bồ hòn có rễ Gái không con như bè nghể (ngổ) trôi sông.

Còn anh chị em trong nhà thì nhƣờng nhịn, yêu thƣơng lẫn nhau:

-Anh em như chân tay.

-Chị em gái như cái nhân sâm

Về quan niệm hôn nhân, ngƣời Việt Nam coi hôn nhân là một nghĩa

vụ quan trọng và thiêng liêng để sinh con đẻ cái, nối dõi tông đƣờng. Trong

xã hội ngƣời Việt, việc lựa chọn bạn đời là vô cùng quan trọng, nó không phải

là vấn đề của cá nhân mà là vấn đề của hai bên cha mẹ, hai họ dựng vợ gả

chồng cho con cái. Tục lệ này xuất phát từ quyền lợi của tập thể, kéo theo sự

xác lập mối quan hệ của hai gia tộc. Do tính chất ổn định của làng xã Việt

Nam, ngƣời ta quan niệm chọn vợ chọn chồng phải chọn ngƣời cùng làng:

-Ruộng đầu chợ, vợ giữa làng. -Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng.

Khi lấy nhau, đôi trai gái phải nộp cho làng một khoảng lệ phí gọi là

“cheo” thì đám cƣới mới đƣợc xem là hợp pháp:

117

-Cưới vợ không cheo, tiền gieo xuống suối. -Cưới vợ không cheo như néo không mấu.

Khoản tiền cheo sẽ đƣợc dùng vào những việc chung của làng nhƣ

đắp đƣờng, lát gạch, xây chùa, sửa sang nơi thờ tự,… Tóm lại, lịch sử truyền

thống hôn nhân của Việt Nam luôn là lịch sử hôn nhân vì lợi ích của tập thể,

của cộng đồng.

Khi cƣới nhau rồi, việc sống chung giữa hai vợ chồng phải dựa trên

đạo bình đẳng, tƣơng thân và chung thuỷ. Sự hoà thuận giữa vợ chồng đạt

đƣợc thông qua sự nhƣờng nhịn lẫn nhau:

-Vợ chồng may rủi là duyên Vợ chồng hòa thuận là tiên trên đời.

Gia đình Việt Nam đƣợc thành lập trên cơ sở trách nhiệm, đồng

kham cộng khổ, chăm chỉ làm ăn, chung thủy trƣớc sau nhƣ một:

-Chồng cần vợ kiệm là tiên Ngông nghênh nhăng nhít là tiền bỏ đi. -Chồng như (đó) giỏ, vợ như hom. -Vợ chồng như đũa có đôi.

Ngƣời Việt không khuyến khích phụ nữ ở một mình, có đến bảy câu

SSTT nói về vấn đề này, chẳng hạn nhƣ:

-Gái lớn trong nhà như ma chửa cất.

-Gái có chồng như rồng có vây,

Gái không chồng như cối xay chết ngõng.

-Gái có chồng như chông như mác

Gái không chồng như rác như rơm.

Tóm lại, cấu trúc gia đình Việt Nam có hai lớp: nhà và họ, tứ đại

đồng đƣờng, tôn ti chặt chẽ. Chính vì nhiều thế hệ cùng sống chung dƣới một

mái nhà nên đôi khi những mâu thuẫn, xích mích vẫn thƣờng xảy ra. Các mối

quan hệ giữa mẹ chồng – nàng dâu, chị dâu - em chồng, ba mẹ vợ – con rể vô

118

cùng phức tạp, đƣợc ghi lại rõ nét trong các SSTT. Có tất cả 8 câu nói về vấn

đề này, tiêu biểu có thể kể đến các trƣờng hợp sau:

-Chị em dâu như bầu nước lã. -Bố chồng là lông cánh phượng/ Mẹ chồng là tượng mới tô/ Nàng

dâu là bồ nghe chửi.

-Bắt chấy cho mẹ chồng như bồ nông mò biển. -Con trai ở nhà vợ như chó nằm (chui) gầm chạn.

Trong đó nổi bật lên mâu thuẫn giữa nàng dâu và gia đình chồng,

chủ yếu là với mẹ chồng và em chồng. Họ vốn không cùng huyết thống lại

phải sống chung trong một gia đình với nhiều mâu thuẫn về quyền lợi vật chất

và tinh thần nên từ xƣa, ông bà ta đã rút ra kinh nghiệm: “Thật thà cũng thể

lái trâu/ Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng”.

Ngƣời Anh thì khác hẳn. Gia đình điển hình ở Anh là gia đình hạt

nhân, chỉ gồm cha mẹ và con cái. Ngƣời Anh không coi trọng việc đẻ con trai

hay con gái. Trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái có giới hạn và trách

nhiệm của con cái đối với cha mẹ càng có giới hạn.

Trong việc chọn bạn đời, ngƣời Anh thể hiện ý chí cá nhân, không

nghe theo ý kiến của ngƣời khác. Họ thích tự do chọn điều tốt hay xấu và tự

chịu trách nhiệm về hành động của riêng mình. Tuy nhiên, TN Anh khuyên

không nên cƣới ngƣời quá già:

A young maid married to an old man is like a new house thatched

with old straw.

(Cô gái trẻ lấy ông già giống nhƣ là ngôi nhà mới lợp bằng rơm cũ)

Họ lại có tiêu chuẩn an toàn tài chính trƣớc. Ngƣời vợ đẹp mà

không có của hồi môn thì bị ví nhƣ ngôi nhà không có đồ đạc bên trong (A

fair wife without fortune is like a house without furniture), còn với ngƣời đàn

ông thì:

A gentleman without an estate is like a pudding without suet.

119

(Quý ông không có tài sản giống như chiếc bánh pudding không có

lớp mỡ bao quanh)

Nhan sắc và đức hạnh của ngƣời phụ nữ luôn đƣợc đề cao, trân

trọng. Ngƣời phụ nữ chỉ có nhan sắc mà không có đức hạnh thì bị ví với rƣợu

nhạt:

A fair woman without virtue is like palled wine.

Gia đình là nơi ngƣời phụ nữ phát huy lợi thế của mình:

The wife is the key of the house.

(Người vợ là chìa khóa của ngôi nhà)

Phụ nữ Anh cũng đƣợc TN phản ánh là phù hợp với công việc gia

đình hơn là công việc xã hội, nhƣng cũng không bị buộc nhất thiết phải gắn

bó với công việc gia đình. TN Anh cũng cho thấy phụ nữ bị chế giễu về các

điểm yếu của họ, có đến 10 trƣờng hợp nói về vấn đề này, có thể kể ra một số

ví dụ nhƣ sau:

-Women are like wasps in their anger. (Phụ nữ giống như ong bắp cày trong cơn giận của họ.) -Women are as wavering as the wind. (Phụ nữ dao động như một cơn gió.) -A woman's tongue wags like a lamb's tail. (Lưỡi của người phụ nữ ve vẩy như cái đuôi cừu) -Two daughters and a back door are three arrant thieves. (Hai người con gái và 1 cái cửa sau là 3 tên trộm vĩ đại)

Nhìn chung, sự hình dung về hôn nhân của ngƣời Anh mang tính

thực dụng. Vợ chồng ngƣời Anh không bị ràng buộc bởi đạo nghĩa vợ chồng

nhƣ ngƣời Việt. Họ chỉ bị ràng buộc bởi tiêu chuẩn tình và tiền. Việc ly hôn,

tái giá đƣợc pháp luật và quần chúng chấp nhận. Chính lối sống tự do phóng

khoáng này mà ngƣời Anh hình dung về việc kết hôn nhƣ một cánh đồng đầy

cây tầm ma, là cái ổ khóa ràng buộc đời họ:

-Wedlock is a padlock. (Hôn nhân là ổ khóa)

120

-Love is a fair garden and marriage a field of nettles. (Tình yêu là một khu vườn đẹp còn hôn nhân là một cánh

đồng trồng đầy cây tầm ma)

hay là một điều may rủi:

-Marriage is a lottery. (Hôn nhân là tấm vé số)

Trái lại với những suy nghĩ bi quan về hôn nhân, ngƣời Anh đề

cao tình yêu say đắm và tƣ tƣởng tự do yêu đƣơng. Với họ, tình yêu là không

thể lí giải đƣợc, ngƣời đang yêu là những kẻ có những hành động khác

thƣờng, âm nhạc là môi trƣờng nuôi dƣỡng tình yêu:

-Hatred is blind, as well as love (Oán thù cũng mù nhƣ tình yêu) -Lovers are madmen. (Ngƣời đang yêu là những kẻ điên rồ) -Love is as strong as death. (Tình yêu có sức mạnh nhƣ cái chết)

Tình yêu của ngƣời Anh dựa trên sự tin tƣởng lẫn nhau, sự nghi

ngờ sẽ giết chết tình yêu: “Mistrust is an axe at the tree of love”.

Tóm lại, các mối quan hệ trong gia đình cũng nhƣ phong tục hôn

nhân của mỗi dân tộc thể hiện các đặc trƣng đƣợc quy định bởi truyền thống

văn hóa của đất nƣớc họ. Phép ứng xử trong gia đình và xã hội Việt Nam là

kính trên nhƣờng dƣới trong mọi quan hệ giao tiếp. Ở Anh, đạo Cơ Đốc vốn

đề cao sự bình đẳng giữa mọi ngƣời, bất kể tuổi tác, địa vị, học vấn trƣớc

Chúa, do đó mọi mối quan hệ dù là trong gia đình hay ngoài xã hội đều dựa

trên cơ sở bình đẳng. Việc đề cao con ngƣời cá nhân đã hình thành nên tƣ

tƣởng phóng khoáng, lối sống tự do ở ngƣời Anh, do đó mối quan hệ gia đình

và hôn nhân của ngƣời Anh rời rạc hơn, mang tính thực dụng hơn ngƣời Việt.

121

3.3.1.2. Quan hệ xã hội

Trong các mối quan hệ xã hội, ngƣời Việt chủ trƣơng sống hài hòa,

kính trên nhƣờng dƣới, tránh gây gổ, xích mích. Quan hệ giữa những ngƣời

thân tộc gắn bó chặt chẽ bằng sự trung thành, đoàn kết. Ngƣời Việt rất kính

trọng ngƣời già – biểu hiện của chữ hiếu đƣợc mở rộng và sự trân trọng tri

thức, kinh nghiệm:

Có mẹ già bằng ba rào giậu.

Điều này là do các cƣ dân nông nghiệp trồng lúa nƣớc phụ thuộc rất

nhiều vào tự nhiên, cần những ngƣời có kinh nghiệm, mà ngƣời càng già thì

càng có nhiều kinh nghiệm. Họ chính là kho tri thức và kinh nghiệm vô giá

của cộng đồng. Khi trong nhà có ngƣời già thì họ sẽ chỉ dẫn, che chở cho các

thành viên còn lại trƣớc mọi biến cố của cuộc sống.

Quan hệ xã hội của ngƣời Anh cũng dựa trên sự chân thật và sẵn

sàng giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, ngƣời lớn tuổi ở Anh không đƣợc coi trọng

bằng giới trẻ. Ngƣời Anh thƣờng gắn sự tồn tại của một con ngƣời với những

giá trị cụ thể. Ở mặt này, ngƣời già không còn tạo ra đƣợc giá trị vật chất nào

cho xã hội. Ngoài ra, các cƣ dân du mục vốn trọng sức mạnh, mà ngƣời già

thì nhƣ một cái giƣờng đầy xƣơng (“An old man is a bed full of bones”) hay

“một bệnh viện chứa đủ thứ loại bệnh”:

Old age is a hospital that takes in all diseases.

Về việc kết bạn, vốn là dân tộc hƣớng ngoại nên ngƣời Anh rất thích

kết bạn và luôn mong muốn duy trì tình bạn. Tình bạn cũng nhƣ cái cây cần

đƣợc tƣới nƣớc thƣờng xuyên:

Friendship is a plant which must be often watered.

Ngƣời bạn cũ chính là ngƣời bạn chân thành nhất:

The best mirror is an old friend.

122

(Tấm gương tốt nhất là một người bạn cũ)

Có bạn đi cùng thì con đƣờng sẽ ngắn hơn:

A merry companion is a wagon in the way. (Có người bạn đồng hành vui tính là có một chiếc xe ngựa

trên đường đi)

Sống mà không có bạn thì cuộc đời thật vô nghĩa:

-Life without a friend is death without a witness. (Sống mà không có bạn thì cũng giống như chết mà không có

ai bên cạnh.

Dị bản: -Life without a friend is a life without sun Cuộc sống không có bạn như cuộc đời vắng ánh dương)

Ngƣời Việt cũng rất trân trọng tình bạn, tuy nhiên trong phạm vi tƣ

liệu khảo sát mà ngƣời viết chọn, không thấy SSTT nào nói đến vấn đề này.

Về luật pháp, ngƣời Việt ủng hộ trách nhiệm của cá nhân đối với

luật pháp nhƣng dƣờng nhƣ họ không tin tƣởng vào bộ máy quan lại:

-Lễ vào quan như than vào lò. -Lính tuần là ao rượu. -Miệng quan trôn trẻ. -Ơn dân như hạt cơm dính mỡ. -Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ.

Mọi ngƣời bình dân Việt Nam đều muốn luật pháp phải công bằng,

vô tƣ, nhƣng thực tế họ đã không còn tin tƣởng nhiều vào việc hành xử pháp

luật của quan lại. Dù có pháp luật nhƣng chúng vẫn xem sức mạnh của đồng

tiền là lẽ phải, bao bất công oan trái đã xảy ra… Bọn quan lại, sai nha phần

lớn là lũ tham ô, ăn hối lộ, say xỉn, tìm mọi cách bóp méo sự thật để bóc lột

ngƣời dân. Ngƣời dân không thấy ích lợi gì khi đi kiện cáo, nên họ không

khuyến khích việc kiện tụng: “vô phúc đáo tụng đình”.

Ngƣời Anh cũng không mấy thiện cảm với các viên chức luật pháp,

họ ví von chúng nhƣ lũ cáo, còn ngƣời dân thƣờng là con ngỗng tội nghiệp:

123

-A client twixt his attorney and counsellor is like a goose twixt two

foxes.

(Một khách hàng ở giữa luật sư và người cố vấn pháp luật của mình

thì giống như con ngỗng ở giữa hai con cáo.)

-Women in state affairs are like monkeys in glass-shops. (Các nữ viên chức như con khỉ trong tủ kính các cửa hiệu)

Phê phán sự không kiên định, tham lam, ngu ngốc của luật pháp, TN

Anh có những liên tƣởng thú vị nhƣ sau:

-Law is an ass. (Luật pháp là một con lừa) -Law is a bottomless pit. (Pháp luật là cái hố không đáy) -Law is a lickpenny. (Luật pháp là tên móc túi)

Tuy nhiên, có một sự khác biệt giữa luật của ngƣời làm nông nghiệp

ở Việt Nam và luật của các quốc gia có nền văn hoá gốc du mục nhƣ nƣớc

Anh: “Người nông nghiệp Việt Nam có truyền thống sống thiên về tính cảm

nên ý thức pháp luật rất kém. Luật của phương Tây là luật pháp, còn luật của

ta là luật lệ. Luật chủ yếu chỉ tác động trong phạm vi những vấn đề rộng lớn

của quốc gia, còn dân chúng trong các làng xã thì vẫn sống theo lệ.” [67, tr.

211]. Chính vì thế, bọn quan lại ở Việt Nam càng dễ lợi dụng, bóc lột dân

chúng. Nhìn chung, ngƣời Việt từ xƣa đến nay đặc biệt không muốn dính

dáng với việc kiện tụng, không có mấy thiện cảm với luật pháp, nơi mà lẽ

công bằng chỉ nằm trong tay một số ít ngƣời có tiền của.

Trong các mối quan hệ xã hội khác, ngƣời Việt tỏ ra không thích

những kẻ nhậu nhẹt, hay say xỉn:

Nói với người say như vay không trả.

hay những ngƣời độc ác:

Dữ như tê giác, ác như đàn bà một mắt.

Họ cũng không tin tƣởng những ngƣời làm nghề bói toán:

124

Miệng bà đồng như lồng chim khướu.

Còn trong xã hội Anh, giới quý tộc không có năng lực bị xem là thứ

của cải lỗi thời:

-Nobility, without ability, is like a pudding wanting suet. (Nhà quý tộc không có năng lực giống như bánh pudding

cần có lớp mỡ bao quanh)

-Gentility is but ancient riches. (Dòng dõi quý tộc chỉ là thứ của cải lỗi thời) -Great birth is a very poor dish at table. (Dòng dõi là món ăn tệ trên bàn tiệc)

Bác sĩ là những ngƣời vô cùng thực dụng:

A physician is an angel when employed, but a devil when

one must pay him.

(Bác sĩ là thiên thần khi được mời đến khám bệnh, nhưng

là quỷ dữ khi ai đó trả tiền cho anh ta)

Quan điểm này hoàn toàn khác với ngƣời Việt. Ngƣời Việt có

truyền thống tôn trọng nghề dạy học và nghề y, với họ, lƣơng y nhƣ “từ mẫu”.

Ngoài ra, với bản tính trầm lặng, ngƣời Anh còn ghét những kẻ ba

hoa, nói nhiều:

-He that is a blab is a scab. (Người ba hoa như bệnh ghẻ) -Gossips are frogs, they drink and talk. (Chuyện tầm phào như lũ ếch, chúng uống say và nói) -Great talkers are like leaky pitchers, everything runs out

of them.

(Người nhiều chuyện như những cái bình bị rò rỉ, mọi thứ

chảy ra hết bên ngoài chúng)

-Brag is a good dog but dares not bite. (Sự khoác lác là một con chó tốt nhưng không dám cắn)

Đặc biệt là những kẻ xu nịnh, hay nói xấu ngƣời khác:

-The most deadly of wild beasts is a backbiter, of tame

ones a flatterer.

125

(Con quái vật hoang đã đáng chết nhất là kẻ nói xấu sau

lưng người khác, còn con quái vật được huấn luyện đáng chết là kẻ xu nịnh)

-As a wolf is like a dog, so is a flatterer like a friend. (Con sói nhìn thì giống con chó, cũng như kẻ xu nịnh nhìn

thì tưởng như một người bạn)

-A flatterer's throat is an open sepulchre. (Cổ họng của kẻ xu nịnh là nấm mộ đang mở)

Ngƣời Anh cũng ghét những kẻ lƣời biếng:

-An idle person is the devil's cushion. (Kẻ lười biếng là cái nệm của quỷ) -An idle brain is the devil's workshop. (Đầu óc lười nhác là phân xưởng của quỷ)

hay những kẻ làm nghề không đoan chính:

-A whore in a fine dress is like a clean entry to a dirty

house.

(Một cô gái điếm trong bộ quần áo đẹp cũng như một lối

vào sạch sẽ dẫn đến một căn nhà dơ bẩn)

-The liar and the murderer are children of the same

village.

(Kẻ nói dối và tên giết người là trẻ con của cùng một ngôi

làng)

-The receiver is as bad as the thief. (Người tàng trữ đồ trộm cắp cũng tệ như tên trộm)

hoặc tiêu xài một cách ngu ngốc:

Sailors get money like horses and spend it like asses. (Thủy thủ kiếm tiền như lũ ngựa và tiêu xài như con lừa)

Tóm lại, các câu SSTT trong TN Anh và TN Việt đều có nói về con

ngƣời và quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, nhƣng TN Anh hƣớng về

con ngƣời cá nhân, con ngƣời năng động trong sự đƣợc thua với cộng đồng.

Trong khi đó, TN Việt có thiên hƣớng phản ánh con ngƣời với thế cần điều

chỉnh cho phù hợp với các quan hệ xã hội. Vì ngƣời bình dân Việt Nam quan

niệm xã hội là một gia đình mở, nguyên tắc ứng xử vẫn là kính trên nhƣờng

dƣới, trọng hoà khí, tránh mất lòng ngƣời khác; còn ngƣời Anh quan niệm

126

mọi cá nhân trong xã hội đều đƣợc xem là cùng một đẳng cấp trong giao tiếp

và ứng xử, đều bình đẳng trƣớc ánh sáng và cát bụi.

3.3.2. Con người và đời sống tinh thần

3.3.2.1. Quan niệm về nhân sinh

SSTT trong TN Việt và Anh phản ánh rất đa dạng các quan niệm

khác nhau của mỗi dân tộc về nhiều khía cạnh trong cuộc sống con ngƣời.

Trƣớc hết, TN Việt cho thấy ngƣời bình dân rất quan tâm đến sự an

toàn thể xác và việc sống hài hòa với thế giới chung quanh:

-Ăn được ngủ được là tiên

Không ăn không ngủ là tiền bỏ đi.

-Một cái rắm bằng nắm thuốc tiêu, bằng liều thuốc gió,

bằng lọ thuốc tiên.

Một khi cơ thể có bệnh phải nhanh chóng chữa trị vì “Cứu bệnh như

cứu hỏa”. Ngƣời bình dân Anh cũng quan tâm đến vấn đề an toàn thể xác,

sức khỏe đối với họ là vàng bạc: “Health is great riches”. Họ còn đƣa ra

nhiều lời khuyên cụ thể để giữ sức khỏe nhƣ phải cƣời thƣờng xuyên, giữ tinh

thần sảng khoái, không phiền muộn:

-Laughter is the best medicine.

(Cười là liều thuốc tốt nhất)

-Mirth is the sugar of life.

(Sự vui vẻ là vị ngọt của cuộc đời)

không nên ra đứng ngoài gió:

The air of a window is as the stroke of a cross-bow.

(Gió lùa ngoài cửa sổ như cú đập của một cái ná)

Sau sức khỏe, mối bận tâm rất lớn đối với mỗi dân tộc là luôn luôn

phải tự xét mình để giữ đạo đức. Có nhiều SSTT xoay quanh các vấn đề đạo

đức nhƣ tốt – xấu, đẹp – xấu, thiện – ác, chân thật – giả dối, chăm chỉ – lƣời

127

biếng,… Tinh thần nổi bật trong quan niệm về nhân sinh qua SSTT của TN

Việt là sự hài hòa và tin tƣởng ở bản thân, biết tự lực cánh sinh, hạn chế ham

muốn, tránh những ƣớc mơ hão huyền. Còn tinh thần nổi bật trong quan niệm

về nhân sinh qua SSTT của TN Anh là đức tin vào thƣợng đế, biết giữ gìn đạo

đức, tránh xa tội lỗi.

Ở Việt Nam, từ ngàn xƣa, đạo làm ngƣời đối với họ là tự lực cánh

sinh, tức là phải tự nuôi lấy thân mình, không nhờ vả ai. Đó là quan niệm

nhân sinh của ngƣời bình dân, còn phƣơng thức thực hiện ý thức này của họ

là cần cù và nhẫn nại. Do đó, ngƣời Việt ghét nhất là những kẻ làm biếng, ăn

bám:

-Thấy việc như đĩ thấy cha

Thấy ăn lởn vởn như gà thấy ngô.

-Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.

Bởi vì họ quan niệm:

-Của như non, ăn mòn cũng hết.

-Của như kho, không lo cũng hết.

Chỉ có dựa vào đôi bàn tay của bản thân tạo ra của cải vật chất nuôi

sống bản thân và xã hội mới là phƣơng kế lâu bền nhất. Ngoài tinh thần tự lực,

ngƣời Việt còn rất trọng nghĩa khí:

Tiền là gạch, ngãi là vàng.

TN Việt ghét những kẻ “cạn lòng”, “bạc nghĩa”

-Đàn bà cạn lòng như đĩa

Đàn ông bạc nghĩa như vôi.

Với ngƣời Anh, về phƣơng diện đạo đức, họ cho rằng chỉ đức hạnh

mới là cái đẹp tồn tại vĩnh hằng:

Virtue is a jewel of great price.

(Đạo đức là trang sức vô cùng có giá trị.)

128

Ngƣời Anh hình dung lƣơng tâm trong sạch của con ngƣời nhƣ

những chiếc gối êm ái (A good conscience is a soft pillow); hoặc là những bữa

tiệc liên tục (A good conscience is a continual feast); hay là chiếc áo giáp tốt

nhất (A good conscience is like a coat of mail). Trong khi sự độc ác nhƣ một

tên bạo chúa (Cruelty is a tyrant that's always attended with fear) thì lƣơng

tâm trong sạch lại là vị thần có uy quyền tối cao (A good conscience is the

best divinity). Và chỉ những ai có đạo đức thì mới đƣợc hạnh phúc, vì:

Virtue and happiness are mother and daughter.

(Đạo đức và hạnh phúc là mẹ và con gái)

Bên cạnh đó, ngƣời Anh còn rất ghét sự gian dối, họ đối đãi với

nhau trên cơ sở chân thật, bởi vì họ tin rằng sự thật là con gái của Chúa:

“Truth is God's daughter”. Kẻ nào làm trái ý Chúa sẽ bị trừng phạt. Do đó, sự

chân thật đƣợc nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong TN Anh:

-Truth is a spectre that scares many.

(Sự thật là bóng ma dọa nhiều ngƣời)

-Plain dealing is a jewel.

(Sự chân thật là trang sức quý giá)

-An honest man's word is as good as his bond.

(Lời nói của ngƣời chân thật cũng quý nhƣ xƣơng tủy của

anh ta)

Về bản thân, cơ sở quyết định sự hành động của ngƣời Việt là trung

dung, hƣớng về hòa hợp, còn của ngƣời Anh là phân cực, hƣớng về hành

động nên SSTT trong TN Anh có đề cập đến một vấn đề mà SSTT trong TN

Việt không thấy xuất hiện. Đó là sự tranh chấp, giận dữ, kiện cáo:

-He that gives honour to his enemy, is like to an ass.

(Ngƣời nhƣờng danh dự cho kẻ thù của mình là một con

lừa)

-Revenge is a dish that can be eaten cold.

129

(Trả thù là một món ăn có thể để nguội)

Theo G.S Trần Ngọc Thêm, chính điều kiện tự nhiên và xã hội đã

sản sinh nền văn hóa gốc nông nghiệp của ngƣời Việt với những đặc trƣng âm

tính nhƣ: sống thì muốn yên ổn một chỗ, với thiên nhiên thì ƣa hòa hợp, với

con ngƣời và xã hội thì mềm dẻo, hiếu hòa, trọng nghĩa, bao dung, chín bỏ

làm mƣời,… [67, tr.105]. Từ đó, ta mới thấy câu TN so sánh “Chửa đánh

được người mặt đỏ như vang/ Đánh được người rồi mặt vàng như nghệ” của

ngƣời Việt vô cùng lí thú. Khi có mâu thuẫn thì ngƣời Việt cũng “đỏ mặt”

giận dữ, nhƣng khi lỡ tay đánh ngƣời rồi thì vô cùng lo sợ “mặt vàng như

nghệ”. Còn điều kiện tự nhiên và xã hội ở khu vực Tây Bắc thế giới mà điển

hình là nƣớc Anh đã sinh ra nền văn hóa gốc du mục với những đặc trƣng

dƣơng tính nhƣ sống thì ƣa xê dịch, với thiên nhiên thì có tham vọng chinh

phục, chế ngự, với con ngƣời và xã hội thì cứng rắn, hiếu thắng, rạch ròi, ƣa

bạo lực. Do đó, khi có mâu thuẫn, ngƣời Anh mong muốn giải quyết bằng vũ

lực và có tham vọng buộc đối phƣơng phải khuất phục hoàn toàn, nếu không

thì chẳng khác gì một con lừa.

Trong giao tiếp, ngƣời Việt khuyên nên nói năng dịu dàng, cân nhắc

cẩn thận trƣớc khi nói, sợ làm ngƣời khác mất lòng:

-Lời nói, gói vàng. -Một lời nói, một đọi máu. -Vàng sa xuống giếng khôn tìm Người sa lời nói như chim sổ lồng.

Dù khuyên mọi ngƣời giao tiếp tế nhị, khéo léo nhƣng ngƣời Việt

không đánh giá cao những ngƣời nói hay mà làm dở:

Nói thì như mây như gió Cho thì thằng mõ không xong.

130

TN Anh đặc biệt lại có khuynh hƣớng đề cao sự im lặng hơn là lời

nói. Điều này lặp đi lặp lại khá nhiều lần trong SSTT, thể hiện bản tính trầm

lặng của ngƣời Anh:

-Quietness is a great treasure. (Im lặng là kho báu vô giá) -Speech is silver, silence is golden. (Nói là bạc, im lặng là vàng) -Silence is a woman's best garment. (Im lặng là trang sức đẹp nhất của ngƣời phụ nữ)

Vốn không thích nói nhiều, ngƣời Anh đánh giá cao những ngƣời có

lời nói và việc làm đi đôi với nhau. Giống với ngƣời Việt, dân tộc Anh cũng

rất ghét những ngƣời ba hoa, nói nhiều làm ít hoặc không làm gì cả:

-He that is a blab is a scab. (Ngƣời ba hoa là bệnh ghẻ) -Gossips are frogs, they drink and talk. (Chuyện tầm phào là lũ ếch, chúng chỉ biết uống say và tán dóc) -Deeds are fruits, words are but leaves. (Việc làm là quả, lời nói chỉ là lá mà thôi.) -A man of words and not of deeds is like a garden full of weeds. (Ngƣời chỉ nói mà không làm giống nhƣ một khu vƣờn đầy cỏ

dại.)

Ngƣời Anh cũng không thích nói vòng vo hay nói xấu ngƣời khác,

vì họ tin rằng:

Curses, like chickens, come home to roost. (Những lời nguyền rủa cũng nhƣ lũ gà, sẽ quay về chuồng nhà

mình mà đậu)

Họ cũng rất xem trọng lời hứa, coi đó nhƣ món nợ nhất định phải trả:

“Promise is debt”.

Nguyễn Thanh Tùng khi khảo sát thành ngữ, TN Anh Việt cũng

nhận thấy trong việc giao tiếp, ngƣời Việt khuyên nên nói năng dịu dàng, cân

nhắc cẩn thận trƣớc khi nói. Ngƣời Anh có bản tính trầm lặng, khi giao tiếp

thì không thích vòng vo mà thích đi thẳng vào vấn đề ngay từ đầu. Việc phải

131

cân nhắc kĩ càng điều mình sắp nói làm ngƣời Anh có cảm giác không đƣợc

tự do, thoải mái bộc lộ suy nghĩ của bản thân. [77, tr. 183]

Về danh dự, ngƣời Việt rất coi trọng danh dự, việc bảo vệ danh dự

còn quý trọng hơn cả mạng sống vì đó không chỉ là danh dự của cá nhân mà

còn là danh dự của cả dòng họ:“Trâu chết để da, người ta chết để tiếng”.

Ngƣời Anh cũng coi trọng danh dự, uy tín:

-Fame is the perfume of heroic deeds. (Danh tiếng là hƣơng thơm của những hành động anh hùng) -Fame is a magnifying glass. (Danh tiếng là chiếc kính phóng đại) -Fame, like a river, is narrowest at its source and broadest afar

off.

(Danh tiếng nhƣ một con sông, hẹp nhất ở thƣợng nguồn và rộng

nhất ở phía hạ nguồn)

Nhƣng khác với ngƣời Việt, danh dự phải có lợi lộc đi kèm thì mới

đƣợc ngƣời Anh coi trọng. Nếu danh dự mà không có tiền bạc thì cũng chỉ

nhƣ chiếc nhẫn đeo trên ngón tay để khoe cho mọi ngƣời thấy mà thôi, chứ

không thể sử dụng, chẳng khác nào có tiếng mà không có miếng (Honour

without profit is a ring on the finger). Và một khi thanh danh mà bị mất thì

chẳng khác nào tấm kính quý giá bị vỡ, không bao giờ có thể hàn gắn lại đƣợc

nữa: “Credit lost is like a Venice-glass broken”.

Về trí tuệ, học vấn, ngƣời Việt rất xem trọng những ngƣời khôn

ngoan, hiểu biết:

- Người không học như ngọc không mài. - Người dốt như trông vào vách. - Hoa thơm ai chẳng nâng niu Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề. - Hoa thơm ai chẳng muốn đeo Người khôn ai chẳng nâng niu bên mình.

Ngƣời bình dân Anh cũng thấy đƣợc sức mạnh của kiến thức:

-Knowledge is power.

132

(Kiến thức là sức mạnh) -Learning is the eyes of the mind. (Học vấn là đôi mắt của trí tuệ) -Wit without learning is like a tree without fruit. (Thông minh mà không học hành thì nhƣ cái cây không có

trái)

-Learning in the breast of a bad man is as a sword in the

hand of a madman.

(Kiến thức trong đầu kẻ xấu thì cũng nhƣ thanh gƣơm

trong tay ngƣời điên)

-Zeal without knowledge is a runaway horse. (Nhiệt tình mà không có kiến thức là một con ngựa lồng

lên)

Nhƣng họ còn thấy một yếu tố cần thiết khác nữa là phải đem sự

học ứng dụng vào thực tế: “Knowledge is a treasure but practice is the key to

it” (Kiến thức là một kho báu nhƣng thực hành là chìa khóa để mở kho báu

đó)

Ngoài kiến thức, kĩ năng và sự tự tin cũng quan trọng không kém:

Skill and confidence are an unconquered army. (Kĩ năng và sự tự tin là đội quân bất khả chiến bại)

Đây chính là điểm khác biệt trong sự học của ngƣời Việt và ngƣời

Anh.

Về thời gian, phạm trù thời gian với ngƣời Anh quan trọng hơn với

ngƣời Việt do những khác biệt về điều kiện tự nhiên (địa lý – khí hậu) và xã

hội (lịch sử - kinh tế) quy định. Ngƣời Anh không thể ngồi đợi cỏ mọc để

nuôi gia súc, hơn nữa, họ phải chạy nhanh hơn các con thú mà họ muốn săn

bắt. Do đó, thời gian với các cƣ dân du mục thật sự là vàng bạc:

-Time is money. (Thời gian là tiền bạc) -Time is a file that wears and makes no noise. (Thời gian là tên láu cá không tạo ra tiếng động nào) -Life is but a span. (Đời ngƣời chỉ là một gang tay)

133

-March comes in like a lion and goes out like a lamb. (Tháng ba đến nhƣ sƣ tử và đi nhƣ cừu) -Life is a shadow. (Cuộc đời chỉ là một cái bóng.) -Every day of the life is a leaf in the history. (Mỗi ngày trong đời là một trang trong lịch sử.)

Ngƣời Anh yêu thích, mong chờ sự thay đổi:

A change is as good as a rest. (Sự thay đổi cũng tốt nhƣ một sự nghỉ ngơi)

Ngƣời Việt cũng cảm nhận đƣợc bƣớc đi của thời gian: “Mỗi năm

mỗi tuổi như đuổi xuân đi”. Nhƣng ngƣời Việt với nền văn hóa tĩnh, thời gian

không trở thành nỗi ám ảnh quá lớn với họ. SSTT của TN Việt chỉ có một câu

duy nhất nói về phạm trù thời gian trong khi TN Anh có một loạt câu nhƣ đã

trích dẫn ở trên.

Tóm lại, tuy cùng phản ảnh các mặt của đời sống cộng đồng nhƣng

TN Anh phản ánh nhiều hơn và rõ hơn xu hƣớng thiên về cuộc sống vật chất

thông qua cách xử thế thiết thực, nặng về hiệu lực kinh tế, công bằng, sòng

phẳng trong mọi quan hệ. Trong khi đó TN Việt Nam thiên về việc răn dạy,

chủ yếu hƣớng tới sự hòa hợp giữa thể xác và tinh thần, bao dung, mềm dẻo

trong ứng xử với mọi ngƣời.

3.3.2.2. Quan niệm về tôn giáo, tín ngưỡng

Về vấn đề tâm linh, theo Nguyễn Đức Dân, người Việt theo đạo

Phật. Đạo Cơ Đốc chỉ vào Việt Nam vài thế kỉ gần đây và vẫn chỉ chiếm một

bộ phận nhỏ. Vì vậy, những từ ngữ về đạo Phật xuất hiện rất nhiều trong TN

Việt Nam và biểu trưng cho nhiều ý nghĩa khác nhau mà những dân tộc khác

lại dùng hình ảnh khác [10]. Ngƣợc lại, ở Anh, đạo Cơ Đốc là chính thống và

phổ biến nên bóng dáng của tôn giáo này xuất hiện nhiều trong TN Anh.

134

Do đó, ta thấy lòng tin của ngƣời Việt vào Trời, Phật không khác gì

lòng tin của ngƣời bình dân Anh đối với Chúa, chỉ khác là ngƣời Việt không

đến nhà thờ để hành đạo hay cầu nguyện và cảm ơn Chúa trƣớc mỗi bữa ăn

mà lòng tin ấy đã hòa lẫn với lẽ sống, đạo hiếu của họ một cách tự nhiên hài

hòa.

Từ những năm đầu công nguyên, Phật giáo đã nhanh chóng lan rộng

trong nhân dân Việt Nam. Những ngƣời truyền bá đạo Phật thƣờng sống gần

gũi nhân dân, hàng ngày thuyết giáo cho nhân dân nghe những tƣ tƣởng từ bi

bác ái của nhà Phật. Truyền thống sẵn có của dân tộc Việt Nam đã dễ dàng

hòa quyện với giáo lí nhà Phật và tạo nên một chủ nghĩa nhân đạo tích cực

mang màu sắc Việt Nam, một nhân tố bền vững trong nhân sinh quan ngƣời

Việt. Trong SSTT của TN Việt, ta thấy còn lƣu lại một số dấu ấn của Phật

giáo.

Ngƣời bình dân Việt Nam quan niệm:

-Chồng già vợ trẻ là tiên Vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần. -Phải duyên thì dính như keo Trái duyên chổng chểnh như kèo đục vênh. -Vợ chồng may rủi là duyên Vợ chồng hòa thuận là tiên trên đời.

Chữ Duyên của nhà Phật nói lên toàn bộ mối tƣơng quan giữa mọi

ngƣời từ nhiều đời đến nay, bắt nguồn từ thuyết duyên khởi (nhân duyên sinh),

là một trong những giáo lí quan trọng nhất của đạo Phật. Thuyết này chỉ rõ là

mọi hiện tƣợng tâm lí và vật lí tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên

hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một

yếu tố khác, làm thành một vòng với mƣời hai yếu tố: “Nếu cái này tồn tại thì

cái kia hình thành. Cái này phát sinh thì cái kia phát sinh. Cái này không tồn

135

tại thì cái kia không hình thành. Cái này diệt thì cái kia diệt” (Thuyết duyên

khởi, nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/).

Ngƣời Việt rất hiểu đạo Phật, chữ “có duyên” hay “vô duyên”

thƣờng dùng trong đời sống hàng ngày của mọi ngƣời là do ảnh hƣởng Phật

giáo mà có. Đó là phần trời định dành cho mỗi ngƣời, về khả năng có mối

quan hệ, hòa hợp, gắn bó với ai đó trong cuộc đời. Chuyện vợ chồng phải tùy

thuộc vào duyên số. Nếu có duyên thì dù ở xa ngàn dặm cũng gặp nhau, còn

không có duyên dù đối diện trƣớc mặt cũng không thông cảm nhau đƣợc.

Ngƣời Việt khi thấy đôi nào thƣơng mến nhau thì cho là hai ngƣời đó có

duyên nợ với nhau. Dù muốn dù không chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, ai

có duyên với mình, mình mới có thể thân mến, ai không có duyên với mình,

dù gặp nhau hoài mình cũng không có chút cảm tình gì.

Bên cạnh đó, niềm tin của ngƣời Việt còn chịu ảnh hƣởng của Đạo

giáo. Cơ sở lí luận của nó là đạo gia – học thuyết do Lão Tử đề xƣớng và

Trang Tử hoàn thiện. Lão Tử cho rằng trƣớc khi trời đất đƣợc hình thành đã

có tồn tại một vật chất nguyên thuỷ hỗn độn chƣa phân tách, vật chất nguyên

thuỷ chính là căn nguyên hình thành vạn vật trong vũ trụ. Ông gọi vật chất

không biết tên này là “Đạo. “Đạo” sinh ra vạn vật nhƣng làm cho vật nào

thành ra vật ấy và tồn tại đƣợc trong vũ trụ là do “Đức”. Công lao của Lão Tử

là đã trình bày thành học thuyết những tƣ tƣởng của truyền thống văn hóa

nông nghiệp phƣơng Nam. “Đạo” chính là triết lí tôn trọng tự nhiên, còn

“Đức” chính là sự phạm trù hóa việc tự nhiên tồn tại theo luật âm dƣơng biến

đổi. Sau này đạo giáo phát triển và biển đổi thành các tôn giáo thờ thần tiên

với thuật phù chú, bói toán, gieo quẻ, đoán mộng.

Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Nó đã tìm thấy ở đây

những tín ngƣỡng tƣơng đồng đã có sẵn từ xa xƣa. Từ rất lâu, ngƣời Việt cổ

136

đã rất sùng bái ma thuật, phù phép. Họ tin rằng con ngƣời ta khi trải qua một

thời kỳ tu luyện nhất định thì sẽ có thể trƣờng sinh bất tử, có nhiều phép lạ và

trở thành thần tiên. Thần tiên là những nhân vật huyền thoại với đẹp khác

thƣờng, có nhiều phép nhiệm màu và có cuộc sống rất yên vui, sung sƣớng.

Nơi họ ở là thế giới của sự bất tử và hạnh phúc vĩnh cửu. Do đó, ngƣời bình

dân Việt Nam khi nghĩ đến cái đẹp, cái thiện, hay sự sung sƣớng hạnh phúc

liền liên tƣởng đến các vị thần tiên, đến thế giới của thần tiên:

-Đẹp như tiên lo phiền cũng xấu. -Ăn được ngủ được là tiên. -Vợ chồng hòa thuận là tiên trên đời. -Một cái rắm bằng nắm thuốc tiêu, bằng liều thuốc gió,

bằng lọ thuốc tiên.

- Chồng già vợ trẻ là tiên.

Ngoài ra, SSTT của ngƣời Việt còn đề cập đến phong tục tang ma:

Cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống.

Câu trên nhấn mạnh tầm quan trọng của rau đối với bữa ăn ngƣời Việt,

cũng nhƣ sự không thể thiếu vắng kèn trống trong phong tục tang ma của họ.

Tập tục này bắt nguồn từ tục nhảy múa tiễn đƣa ngƣời chết của ngƣời Việt cổ

mà ngày nay tại một số vùng núi sâu vẫn còn. Ngƣời Việt Nam quan niệm

rằng sống gửi thác về (sinh kí tử quy), chết là trở về với tổ tiên bên kia thế

giới, nên họ rất bình tĩnh khi đối diện với cái chết. Trong đám tang, nhiều gia

đình thƣờng mời đội kèn đến đánh trống, thổi sáo, kéo đàn gọi là “Đội kèn

giải” để đệm cho con cháu khóc mỗi khi có ngƣời tới phúng viếng. Các nhà

khá giả thì càng không để thiếu nghi thức này. Họ còn thuê ngƣời khóc mƣớn

cho tăng vẻ thƣơng nhớ, sầu thảm. Khi có ngƣời đến phúng viếng chia buồn,

đám sẽ nổi nhạc, vừa trống vừa kèn, ngân nga kể lể, âm điệu lúc lên bổng

xuống trầm thể hiện sự thê lƣơng thật não lòng, ai nghe cũng rƣng rƣng xúc

động. Nhà đám nào không có đội kèn giải thì xem nhƣ hiu quạnh lắm.

137

Còn ở Anh, đời sống tinh thần và trí tuệ của họ chịu ảnh hƣởng lâu

dài và sâu sắc của Cơ Đốc giáo, do đó, so sánh tu từ trong TN Anh xuất hiện

nhiều hình ảnh của đạo Cơ Đốc: devil (quỷ), monk (thầy tu), cloister (tu viện),

church (nhà thờ), Satan (quỷ Satan), God (chúa), angel (thiên thần), saints

(các vị thánh), pilgrimage (cuộc hành hương), chapel (nhà nguyện), devotion

(sự cầu nguyện), divinity (thần thánh), hell (địa ngục), paradise (thiên đường),

purgatory (luyện ngục). Trƣớc kia cũng nhƣ hiện nay, Cơ Đốc giáo vẫn là

một bộ phận cấu thành lớn nhất trong văn hóa Anh. Dù là một ngƣời vô thần

thì ngƣời Anh vẫn chịu ảnh hƣởng của tƣ tƣởng và văn hóa Cơ Đốc giáo. Lịch

sử đã chứng minh rằng Cơ Đốc giáo ra đời nhằm chống lại sự bất công và tàn

bạo của xã hội nô lệ. Chúa Giêsu xuất hiện nhƣ một đấng cứu thế, đem lại

tình thƣơng và lòng hy vọng cho những con ngƣời đau khổ, bị bạc đãi, bị coi

thƣờng trong xã hội đó.

Trong TN Anh, nhà thờ là nơi dựa trên yếu tố tinh thần để giáo dục

đạo đức theo một niềm tin nhất định, đóng vai trò nhƣ là một trung tâm thuyết

giáo, nơi hành lễ, cầu nguyện của giáo dân, nơi tổ chức lễ tang, truy điệu, cầu

hồn cho những ngƣời đã khuất. Máu của những ngƣời chết vì đạo đƣợc ví nhƣ

hạt giống góp phần xây dựng nên nơi linh thiêng này:

The blood of the martyrs is the seed of the church.

Phạm vi hoạt động của các tu sĩ là trong nhà thờ, khi ra khỏi nhà thờ,

họ nhƣ cá ra khỏi mặt nƣớc:

A monk out of his cloister is like a fish out of water.

Các tín đồ của Cơ Đốc giáo rất ngoan đạo. Những ngƣời không có

đạo bị ví nhƣ con ngựa không có cƣơng:

A man without religion is like a horse without a bridle.

Với ngƣời Anh, giáo lí Cơ Đốc đã có tác động mạnh vào việc hình

thành nhân sinh quan của dân tộc. Kinh Tân ƣớc và Cựu ƣớc viết về lòng

138

nhân ái, thƣơng ngƣời qua những lời nói và việc làm của Giêsu. Giêsu dạy

con ngƣời phải sống trong sạch, chung thủy, không tham lam, không trộm cắp,

không dối trá,…Những kẻ làm việc xấu sẽ chết một cách đau đớn nhƣ một

con quái vật, không đƣợc lên thiên đƣờng:

He dies like a beast who has done no good while he lived.

Còn những ngƣời có lƣơng tâm trong sáng thì sẽ sống an lành hạnh

phúc chẳng khác các vị thánh:

A good conscience is the best divinity.

Ngƣời Anh ghét sự dối trá bởi sự thật chính là “con gái của Chúa”:

Truth is God's daughter.

Giáo lí của đạo Cơ Đốc khuyên ngƣời ta hãy tin vào thƣợng đế, hy

vọng và tìm kiếm một tƣơng lai tốt đẹp hơn, bởi đời ngƣời chỉ là một cuộc

hành hƣơng (Life is a pilgrimage), cuộc sống ở thiên đƣờng mới là vĩnh cửu.

Do đó, khi sống, con ngƣời phải nhân từ với chính bản thân và đồng loại.

Ngƣời Anh tin tuyệt đối vào sự phán xét của Chúa, mọi việc do

Chúa định đoạt. Nguyễn Văn Mƣời khi khảo sát cả kho tàng TN Anh cũng

không thấy câu nào thể hiện khả năng làm chủ số mệnh của ngƣời Anh [41, tr.

98]. Còn quan điểm của ngƣời bình dân Việt Nam là chấp nhận số mệnh

nhƣng không nản lòng, vẫn tin là con ngƣời có thể làm chủ đƣợc số mệnh.

Ngƣời Việt tin vào sự phán xét của Trời, Phật nhƣng đôi khi cũng nghi ngờ sự

phán xét ấy. Ngƣời Việt cũng tin là có thể thắng Trời.

SSTT trong TN Anh còn xuất hiện nhiều hình ảnh ma, quỷ (devil).

Hình ảnh này thể hiện những quan niệm văn hóa và cảm nhận rất khác nhau

của hai dân tộc Việt, Anh.

Trong SSTT của TN Việt, hình ảnh ma quỷ là đại diện cho cái xấu,

cái ác, mang ý nghĩa tiêu cực:

Xấu như ma vinh hoa cũng đẹp.

139

Dân gian dùng hình ảnh này khi muốn nguyền rủa ai đó; chê ai đó

xấu xí; muốn nói ai đó tính tình hung dữ, nóng nảy; muốn nói ai độc ác, nham

hiểm; …Nói chung, hình ảnh quỷ trong tiềm thức của ngƣời Việt gắn liền với

sự xấu xí, độc ác, nham hiểm, phá hoại sự bình yên trong đời sống của con

ngƣời. Từ xƣa, ngƣời ta đã có tục trồng cây nêu trƣớc sân vào ngày Tết để

xua đuổi quỷ.

Còn trong SSTT của TN Anh, hình ảnh ma quỷ (devil) mang cả ý

nghĩa tiêu cực và trung hòa. Xét ở mặt tiêu cực, ma quỷ tƣợng trƣng cho cái

ác, cái xấu, tội lỗi:

-Wickedness with beauty is the devil's hook baited. (Sự độc ác với cái đẹp là mồi câu của quỷ) -Cards are the devil's books. (Bài bạc là sách vở của quỷ) -A physician is an angel when employed, but a devil when

one must pay him.

(Bác sĩ là thiên thần khi được mời đến, nhưng là quỷ sứ

khi ai đó phải trả tiền cho ông ta)

Ngoài ra, hình ảnh ma quỷ trong SSTT của TN Anh còn đƣợc dùng

với ý nghĩa trung hòa, dùng để chỉ những ngƣời nghịch ngợm hay nhằm diễn

tả sự thần tình, sức mạnh của quỷ:

A woman is flax, man is fire, the devil comes and blows the

bellows.

(Phụ nữ là những sợi lanh, đàn ông là lửa, một con quỷ

đến và nghịch ngợm thổi vào ống bể.)

Trong truyện cổ dân gian của ngƣời Anh thậm chí còn có cả những

con quỷ hiền, hay giúp đỡ ngƣời, chẳng hạn con quỷ ở trại Phenđơn “chẳng

hại ai bao giờ”, “trừ khi có ai trêu chọc chúng”, khi “ông chủ có việc gì cấp

bách như xay lúa, giặt giũ, làm vườn, quỷ đều giúp ông chu đáo” [62, tr. 525

– 526]. Nửa đêm nó còn đi mời thầy thuốc về chữa bệnh cho bà chủ. Điều này

hoàn toàn khác với TN Việt.

140

*****

Tóm lại, khi khảo sát SSTT của TN Việt và TN Anh ở góc độ văn

hóa, ngƣời viết rút ra đƣợc một số kết luận nhƣ sau:

Về văn hóa vật chất, trong mối quan hệ với tự nhiên, ngƣời Việt

quan tâm đến vấn đề thời tiết hơn ngƣời Anh. Để sản xuất nông nghiệp, ngƣời

Việt nhận thấy “nƣớc” là thành tố quan trọng hàng đầu, nên luôn cầu trời phật

sao cho “mƣa thuận gió hòa”. Còn ngƣời Anh với lối sống du cƣ nay đây mai

đó ít phụ thuộc vào thiên nhiên nên dẫn đến tâm lí xem nhẹ thời tiết.

Về hệ động thực vật, trong khi ngƣời Việt quan tâm đến hệ thực vật

ở vùng sông nƣớc với khí hậu nóng ẩm thì ngƣời Anh quan tâm đến hệ thực

vật vùng ôn đới với khí hậu lạnh và khô; trong khi ngƣời Việt quan tâm đến

gia cầm, chim chóc và các con vật gắn với việc đồng áng thì ngƣời Anh quan

tâm đến đàn gia súc và các con vật săn bắt.

Khi nói về các bộ phận cơ thể ngƣời, ngƣời Việt hay nói đến chân,

tay, mặt, bụng, lòng, ruột,…, xem các bộ phận lòng, dạ, ruột là cơ sở xuất

phát của cảm giác. Ngƣời Anh nói đến miệng, lưỡi, mắt, tim, xương,…, trong

đó, tim thể hiện tình cảm cảm xúc của con ngƣời, miệng lƣỡi là thứ vũ khí vô

cùng sắc bén trong giao tiếp.

Các vật thể nhân tạo đƣợc đề cập đến trong TN Việt là sản phẩm

của nền nông nghiệp lúa nƣớc, từ công cụ lao động; phƣơng tiện di chuyển;

dụng cụ nấu nƣớng; cho đến của để dành. Ngƣời Anh với phƣơng thức sản

xuất chính là chăn nuôi, săn bắn và thƣơng mại thƣờng đề cập đến vũ khí, cái

nỏ, thanh gươm để săn bắn và chiến đấu với kẻ thù; xe ngựa để vận chuyển

hàng hóa; và đe, búa để rèn kim loại. Của để dành của họ đặc biệt phong phú

và có giá trị.

Về ẩm thực và giải trí, cƣ dân các miền có nền văn hoá gốc du mục

nhƣ ngƣời Anh thì thiên về ăn lúa mì, thịt và các sản phẩm từ thịt, còn cơ cấu

141

bữa ăn của ngƣời Việt thì lại bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền thống văn hoá

nông nghiệp lúa nƣớc – thiên về thực vật (cơm, rau, cá). Khi rảnh rỗi, ngƣời

Việt thích chơi cờ và xem rối nƣớc, ngƣời Anh thì thích giải trí bằng cách

cƣỡi ngựa, đấu gƣơm, săn bắn, nghe nhạc,…

Về kinh nghiệm lao động sản xuất, ngƣời Việt có nhiều kinh nghiệm

trong việc làm ruộng, trồng trọt, nghề mộc, chèo đò. Ngƣời Anh thì đặc biệt

rất giàu kinh nghiệm trong việc mua bán, trao đổi hàng hóa.

Về văn hóa tinh thần, trong các mối quan hệ gia đình, gia đình Việt

Nam là gia đình mở rộng gồm cha mẹ, ông bà, con cháu, dâu rể,…cùng chung

sống trên cơ sở yêu thƣơng, nhƣờng nhịn lẫn nhau. Trách nhiệm, bổn phận

trói buộc mọi ngƣời lại với nhau. Còn gia đình điển hình của ngƣời Anh là gia

đình hạt nhân, mỗi thành viên có quyền tự do và phải chịu trách nhiệm về

hành động của riêng mình. Họ ca ngợi tình yêu nhƣng lại không tin tƣởng ở

hôn nhân, việc ly hôn đƣợc pháp luật và dƣ luận thừa nhận.

Trong các mối quan hệ xã hội, ngƣời Việt chủ trƣơng sống hài hòa,

tránh đụng chạm, xích mích. TN Anh hƣớng về con ngƣời cá nhân, con ngƣời

năng động trong sự đƣợc thua với cộng đồng. Ngƣời Việt có truyền thống tôn

trọng ngƣời lớn tuổi. Ngƣời Anh trọng quan hệ bạn bè. Với luật pháp, ngƣời

Việt và ngƣời Anh đều không mấy tin tƣởng. Trong các mối quan hệ khác,

ngƣời Việt không có thiện cảm với những kẻ say xỉn, độc ác, gian dối. Ngƣời

Anh xem thƣờng giới quý tộc không có năng lực, những kẻ ba hoa, xu nịnh,

lƣời biếng, làm nghề không đoan chính,…

Về các quan niệm sống, hai dân tộc đều chú ý đến sức khỏe, an toàn

của thể xác và việc giữ đạo đức. Tuy cùng phản ảnh các mặt của đời sống

cộng đồng nhƣng TN Anh phản ánh nhiều hơn và rõ hơn xu hƣớng thiên về

cuộc sống vật chất thông qua cách xử thế thiết thực, nặng về hiệu lực kinh tế,

công bằng, sòng phẳng; còn ngƣời Việt thiên về việc răn dạy, chủ yếu hƣớng

142

tới sự hòa hợp giữa thể xác và tinh thần, bao dung, mềm dẻo trong ứng xử với

mọi ngƣời.

Về tôn giáo tín ngƣỡng, các SSTT của ngƣời Việt còn lƣu lại nhiều

dấu ấn của Phật giáo, Đạo giáo kết hợp với các tín ngƣỡng cổ truyền của

ngƣời Việt cổ. SSTT trong TN Anh thể hiện lòng tin của ngƣời dân vào Cơ

Đốc giáo, mọi việc đều do chúa phán xét, định đoạt.

Nhƣ vậy, tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã trình bày ở chƣơng III,

chúng ta có thể hình dung một bức tranh toàn cảnh về văn hóa vật chất và văn

hóa tinh thần của mỗi dân tộc đƣợc thể hiện sinh động qua SSTT trong TN

Việt và TN Anh.

143

Phần thứ ba: KẾT LUẬN

Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian nổi tiếng V.P. Anhikin đã viết: “Nhà

sử học tìm trong TN những chứng tích xa xưa. Luật sư xem TN như bộ luật

của nhân dân, nhà dân tộc học tìm lại ở đó những phong tục tập quán lâu đời

đã mất. Triết gia qua TN nghiệm hiểu hệ tư tưởng dân gian” [3, tr. 5]. Quả

thật với tƣ cách là kho tàng lƣu giữ những kinh nghiệm, tri thức cuộc sống,

phản ánh ý thức, phong tục tập quán của dân tộc, TN hiển nhiên là nguồn tƣ

liệu quý giá và là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và

nhân văn, trong đó có văn học. Vận dụng một khái niệm của phong cách học

là SSTT vào việc nghiên cứu TN, trong luận văn này, chúng tôi đã trình bày

các đặc điểm của SSTT trong TN Việt và TN Anh từ góc độ ngôn ngữ học và

văn hóa học. Có thể tóm lƣợc lại những kết quả nghiên cứu nhƣ sau:

Trong chƣơng I, ngƣời viết đã trình bày khái quát quan niệm của các

nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học về TN để tìm cho mình một định

nghĩa nhất quán trong quá trình làm việc. Đó “là sản phẩm của sự nhận thức

của nhân dân về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan, chứa đựng

và phản ánh tri thức của nhân dân”, có chức năng “làm phong phú thêm

những kinh nghiệm sống của con người, từ đó xác định cho con người những

phương châm xử thế phù hợp”. Ở bình diện ngôn ngữ, TN “là một đơn vị

thông báo”, “đơn vị câu độc lập”, “là loại câu cố định về thành phần và cấu

trúc, bền vững về ngữ nghĩa”, nội dung của TN “được diễn đạt thông qua

những tư tưởng khẳng định hoặc phủ định của các phán đoán”, “được tái

hiện dưới dạng làm sẵn khi được sử dụng trong lời nói”, “TN thoạt tiên và

trước hết thuộc ngôn ngữ nói”. [12, tr.119, 158-159]

Còn SSTT (còn đƣợc gọi là so sánh hình ảnh) là một sự so sánh

không đồng loại, không cùng một phạm trù chung, miễn là có một nét tƣơng

144

đồng nào đó về mặt nhận thức hay tâm lí (thí dụ: con mắt và ngôi sao, trái tim

đau thƣơng và một cái cốc vỡ). Đó là một sự so sánh có giá trị hình tƣợng và

giá trị biểu cảm.

SSTT có cấu trúc gồm bốn yếu tố: yếu tố đƣợc/ bị so sánh (A),

CSSS, từ so sánh, yếu tố so sánh (B). của SSTT. Thủ pháp nghệ thuật này có

tác dụng cụ thể hóa những vấn đề trừu tƣợng; cung cấp thêm thông tin về đặc

trƣng văn hóa, quan niệm thẩm mĩ và trình độ nhận thức của ngƣời sáng tạo;

thể hiện thái độ bình giá rõ rệt của nhân dân. Ngƣời viết cũng trình bày hƣớng

tiếp cận SSTT ở các chƣơng sau. Chƣơng I là chƣơng cơ sở, đóng vai trò là

nền tảng của luận văn.

Ở chƣơng II, ngƣời Việt có khuynh hƣớng sử dụng SSTT nhiều hơn

ngƣời Anh. Tổng số SSTT của ngƣời Việt là 135/ 4206 câu, chiếm 3.2 %,

tổng số SSTT trong TN Anh là 178/ 6708 câu, chiếm tỉ lệ 2.65%. Nhƣ vậy,

TN của ngƣời Việt giàu sắc độ tu từ hơn.

Trong yếu tố đƣợc/ bị SSTT của TN Việt và Anh, đề tài quan hệ gia

đình và thời tiết đƣợc ngƣời Việt quan tâm hơn. Ngƣời Anh thì chú ý đến

quan hệ xã hội và vấn đề tôn giáo hơn. Về cấu tạo, động từ/ động ngữ và tính

từ/ tính ngữ không xuất hiện trong yếu tố A của SSTT trong TN Anh, ngƣời

Việt thì chuộng sử dụng kết cấu chủ - vị ở vị trí này. Về đặc điểm, toàn bộ

gánh nặng ngữ nghĩa của SSTT trong TN Anh nằm ở yếu tố A, vấn đề quan

trọng nhất luôn đƣợc đƣa ra trƣớc, không có trƣờng hợp ví von, đƣa đẩy. Còn

ở TN Việt, tùy theo hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà A hay B đƣợc nhấn mạnh

hơn. TN Việt không có lối so sánh nhiều A – 1 B nhằm khái quát hóa sự

giống nhau giữa các sự vật hiện tƣợng nhƣ TN Anh.

Về CSSS, ngƣời Việt và ngƣời Anh đều chuộng lối nói ngắn gọn,

hàm súc, khuyết yếu tố CSSS. Việc giấu đi CSSS thể hiện tinh thần dân chủ

145

trong việc tiếp nhận các SSTT của hai dân tộc, chừa khoảng trống cho ngƣời

đọc suy nghĩ, liên tƣởng. Trong một số ít mô hình so sánh ở dạng đầy đủ còn

lại, CSSS trong TN Việt thể hiện lối tƣ duy tĩnh tại của các cƣ dân làm nông

nghiệp; còn CSSS trong TN Anh thể hiện lối tƣ duy động, luôn nhìn sự vật

hiện tƣợng luôn trong trạng thái vận động, thay đổi.

Từ so sánh chuyên dụng của TN Việt là “như”, của TN Anh là động

từ “to be”. Trong TN Việt, các từ so sánh song tiết không thấy xuất hiện, có

nhiều trƣờng hợp không có từ thể hiện quan hệ so sánh. Khác với TN Việt,

SSTT trong TN Anh nhất định phải có từ thể hiện quan hệ so sánh.

Ở yếu tố B, khi phân loại theo đề tài, ngƣời Việt nói nhiều nhất đến

các vật thể nhân tạo, động thực vật; còn ngƣời Anh đề cập nhiều nhất đến vật

thể nhân tạo, quan niệm về tôn giáo tín ngưỡng và quan hệ xã hội. Trong đề

tài vật thể nhân tạo, ngƣời Việt hay đề cập đến các vật dụng hàng ngày trong

đời sống nông nghiệp còn ngƣời Anh nhắc nhiều đến tiền bạc, của cải có giá

trị. Về cấu tạo, cũng giống nhƣ ở yếu tố A, động từ/ động ngữ, tính từ/ tính

ngữ không xuất hiện trong yếu tố B của SSTT trong TN Anh vì theo quy tắc

của tiếng Anh, chúng không thể đứng độc lập để tạo thành phần câu. Về đặc

điểm, hình ảnh so sánh ở yếu tố B trong TN Việt phong phú hơn TN Anh, ít

có sự lặp lại nhƣ TN Anh. Việc sử dụng hình ảnh ở B thể hiện rõ thái độ, tình

cảm của hai dân tộc: khi thì đồng tình, ngợi ca, khi thì mỉa mai, bỡn cợt,…

SSTT trong TN Việt cũng giàu nhạc tính hơn TN Anh với sự xuất hiện của

vần và nhịp.

Ở chƣơng III, về văn hóa vật chất, trong mối quan hệ với tự nhiên,

ngƣời Việt quan tâm đến vấn đề thời tiết hơn ngƣời Anh, các cƣ dân nông

nghiệp nhƣ ngƣời Việt có nhu cầu tính toán thời tiết để trồng trọt cao hơn

nhiều so với cƣ dân du mục nhƣ ngƣời Anh. Đối với ngƣời Việt, ruộng đất là

146

tài sản vô giá. Để sản xuất nông nghiệp, ngƣời Việt nhận thấy “nƣớc” là thành

tố quan trọng hàng đầu, nên luôn cầu trời phật sao cho “mƣa thuận gió hòa”.

Còn ngƣời Anh với lối sống du cƣ nay đây mai đó ít phụ thuộc vào thiên

nhiên nên dẫn đến tâm lí xem nhẹ thời tiết.

Về hệ động thực vật, trong khi ngƣời Việt quan tâm đến hệ thực vật

ƣớt ở vùng sông nƣớc thì ngƣời Anh quan tâm đến hệ thực vật khô vùng ôn

đới; trong khi ngƣời Việt quan tâm đến gia cầm, chim chóc và các con vật gắn

với việc đồng áng thì ngƣời Anh quan tâm đến đàn gia súc (cừu), các con vật

săn bắt (cáo, sói, sƣ tử) và phƣơng tiện săn bắt, chuyên chở hàng hóa (chó và

ngựa).

Khi nói về các bộ phận cơ thể ngƣời, ngƣời Việt hay nói đến chân,

tay, mặt, bụng, lòng, ruột,…, xem các bộ phận lòng, dạ, ruột là cơ sở xuất

phát của cảm giác. Ngƣời Anh nói đến miệng, lưỡi, mắt, tim, xương,…, trong

đó, tim thể hiện tình cảm cảm xúc của con ngƣời, miệng lưỡi là thứ vũ khí vô

cùng sắc bén trong giao tiếp.

Các vật thể nhân tạo đƣợc đề cập đến trong TN Việt là sản phẩm

của nền nông nghiệp lúa nƣớc, từ công cụ lao động:“cối xay, chổi, cưa, giỏ,

hom, cái nơm, rợ, …”; phƣơng tiện di chuyển: thuyền, bè, xe; dụng cụ nấu

nƣớng: đĩa, đũa, nồi đồng, cơi đựng trầu, bồ (lúa), than; cho đến của để dành:

thóc gạo. Ngƣời Anh với phƣơng thức sản xuất chính là chăn nuôi, săn bắn và

thƣơng mại thƣờng đề cập đến vũ khí, cái nỏ, thanh gươm để săn bắn và chiến

đấu với kẻ thù; xe ngựa để vận chuyển hàng hóa; và đe, búa để rèn kim loại.

Của để dành của họ đặc biệt phong phú và có giá trị.

Về ẩm thực và giải trí, cƣ dân các miền có nền văn hoá gốc du mục

nhƣ ngƣời Anh thì thiên về ăn thịt (thịt, bơ, mỡ, sữa, bánh mì), còn cơ cấu

bữa ăn của ngƣời Việt thì lại bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền thống văn hoá

nông nghiệp lúa nƣớc – thiên về thực vật (cơm, rau, cá). Khi rảnh rỗi, ngƣời

147

Việt thích chơi cờ và xem rối nƣớc, ngƣời Anh thì thích giải trí bằng cách

cƣỡi ngựa, đấu gƣơm, săn bắn, viết thƣ, nghe, chơi bài,…

Về kinh nghiệm lao động sản xuất, ngƣời Việt có nhiều kinh nghiệm

trong việc làm ruộng, trồng trọt, nghề mộc, chèo đò. Ngƣời Anh thì đặc biệt

rất giàu kinh nghiệm trong việc mua bán, trao đổi hàng hóa.

Về văn hóa tinh thần, trong các mối quan hệ gia đình, gia đình Việt

Nam là gia đình mở rộng gồm cha mẹ, ông bà, con cháu, dâu rể,…cùng chung

sống trên cơ sở yêu thƣơng, nhƣờng nhịn lẫn nhau. Trách nhiệm, bổn phận

trói buộc mọi ngƣời lại với nhau. Còn gia đình điển hình của ngƣời Anh là gia

đình hạt nhân, mỗi thành viên có quyền tự do và phải chịu trách nhiệm về

hành động của riêng mình. Họ ca ngợi tình yêu nhƣng lại không tin tƣởng ở

hôn nhân, việc ly hôn đƣợc pháp luật và dƣ luận thừa nhận.

Trong các mối quan hệ xã hội, ngƣời Việt chủ trƣơng sống hài hòa,

tránh đụng chạm, xích mích. TN Anh hƣớng về con ngƣời cá nhân, con ngƣời

năng động trong sự đƣợc thua với cộng đồng. Ngƣời Việt có truyền thống tôn

trọng ngƣời lớn tuổi. Ngƣời Anh vốn rất coi trọng quan hệ bạn bè. Với luật

pháp, ngƣời Việt và ngƣời Anh đều không mấy tin tƣởng. Trong các mối quan

hệ khác, ngƣời Việt không có thiện cảm với những kẻ say xỉn, độc ác, lƣời

biếng, gian dối. Ngƣời Anh xem thƣờng giới quý tộc không có năng lực,

những kẻ ba hoa, xu nịnh, làm nghề không đoan chính,…Tóm lại, ngƣời Việt

và ngƣời Anh đều xem trọng những ngƣời ngay thẳng, thành thật. Ngoài ra,

ngƣời Việt thích những ngƣời chăm chỉ, còn ngƣời Anh thích những ngƣời

giỏi giang, tài năng.

Về các quan niệm sống, hai dân tộc đều chú ý đến sức khỏe, an toàn

của thể xác và việc giữ đạo đức. Về bản thân, cơ sở quyết định sự hành động

của ngƣời Việt là trung dung, hƣớng về hòa hợp, còn của ngƣời Anh là phân

cực, hƣớng về hành động nên SSTT trong TN Anh có đề cập đến một vấn đề

148

mà SSTT trong TN Việt không thấy xuất hiện: đó là sự tranh chấp, giận dữ,

kiện cáo. Trong giao tiếp, SSTT của TN Việt khuyên nên nói năng dịu dàng,

cân nhắc cẩn thận trƣớc khi nói. Ngƣời Anh có bản tính trầm lặng, khi giao

tiếp thì không thích vòng vo mà thích đi thẳng vào vấn đề ngay từ đầu. Việc

phải cân nhắc kĩ càng điều mình sắp nói làm ngƣời Anh có cảm giác không

đƣợc tự do, thoải mái bộc lộ suy nghĩ của bản thân. Về danh dự, ngƣời Việt

và ngƣời Anh đều trọng danh dự nhƣng khác với ngƣời Việt, danh dự phải đi

kèm với lợi lộc thì mới đƣợc ngƣời Anh coi trọng. Về học vấn, cả hai dân tộc

đều thấy đƣợc tầm quan trọng của học vấn, trí tuệ nhƣng SSTT của TN Anh

còn nhấn mạnh việc nên đem sự học ứng dụng vào thực tế. Về thời gian,

phạm trù này quan trọng với ngƣời Anh hơn ngƣời Việt, nhiều SSTT trong

TN Anh thể hiện sự ám ảnh về sự trôi chảy không ngừng của thời gian.

Tóm lại, tuy cùng phản ảnh các mặt của đời sống cộng đồng nhƣng

TN Anh phản ánh nhiều hơn và rõ hơn xu hƣớng thiên về cuộc sống vật chất

thông qua cách xử thế thiết thực, nặng về hiệu lực kinh tế, công bằng, sòng

phẳng; còn ngƣời Việt thiên về việc răn dạy, chủ yếu hƣớng tới sự hòa hợp

giữa thể xác và tinh thần, bao dung, mềm dẻo trong ứng xử với mọi ngƣời.

Về tôn giáo tín ngƣỡng, các SSTT của ngƣời Việt còn lƣu lại nhiều

dấu ấn của Phật giáo, Đạo giáo kết hợp với các tín ngƣỡng cổ truyền của

ngƣời Việt cổ. SSTT trong TN Anh thể hiện lòng tin của ngƣời dân vào Cơ

Đốc giáo. Ngƣời Việt cũng tin vào Trời, Phật nhƣ một đấng toàn năng nhƣng

vẫn cho rằng nỗ lực của con ngƣời có thể giúp họ làm chủ đƣợc cuộc đời

mình. Ngƣời Anh tin hoàn toàn vào Chúa, mọi việc đều do Chúa phán xét,

định đoạt.

Tóm lại, hai dân tộc Việt Anh cách xa nhau về địa lí, do đó hoàn

cảnh lịch sử, kinh tế, sự phát triển xã hội, trình độ văn hóa và điều kiện sống

hoàn toàn khác nhau, nên các chất liệu đƣợc sử dụng trong SSTT của TN của

149

mỗi nƣớc cũng khác nhau. Việc lựa chọn các chất liệu phản ánh tâm hồn, tính

cách, lối suy nghĩ và quan niệm nhân sinh của họ, đồng thời cũng thể hiện

thái độ đánh giá, tình cảm về đối tƣợng đƣợc nói đến.

Trong thời gian và khả năng có hạn, ngƣời viết chỉ hi vọng phác họa

đƣợc phần nào bản sắc riêng của mỗi dân tộc qua các SSTT trong TN nhìn ở

góc độ ngôn ngữ học và văn hóa học. Việc nghiên cứu SSTT trong TN theo

nhiều định hƣớng khác nhau còn hứa hẹn nhiều triển vọng và thành tựu trong

giai đoạn hiện nay, chẳng hạn nhƣ nghiên cứu SSTT trong phạm vi rộng hơn,

không chỉ dừng lại ở TN của hai dân tộc Việt, Anh; hoặc nghiên cứu cả các

thủ pháp so sánh ngầm nhƣ ẩn dụ và nhân hóa. Chúng tôi thiết nghĩ đây sẽ là

những vấn đề thú vị cần đƣợc tìm hiểu sâu hơn, chi tiết hơn.

Việt Nam đang trên đà hội nhập kinh tế phát triển cùng với các nƣớc

khác trên thế giới, ngày càng có nhiều ngƣời Anh, Mỹ và các quốc gia nói

tiếng Anh đến Việt Nam đầu tƣ, sinh sống; cũng nhƣ ngày càng có nhiều

ngƣời Việt Nam học ngôn ngữ và văn hóa Anh để giao lƣu, học hỏi và phát

triển. Vì vậy chúng tôi hy vọng rằng luận văn sẽ đóng góp đƣợc phần nào vào

việc biên soạn tài liệu giảng dạy chuyên đề TN Việt Nam ở nhà trƣờng các

cấp và các trƣờng dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài hiện nay, cũng nhƣ

giúp ích cho ngƣời Việt tiếp cận với TN Anh từ phƣơng diện ngôn ngữ và văn

hóa trong quá trình học tiếng.

150

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Diệp Quang Ban, Lê Xuân Thại (1995), Tiếng Việt 6, tập II, Sách giáo

viên, Nxb. GD, TP.HCM.

2. Trần Vĩnh Bảo (2005), Một vòng quanh các nước: Anh, Nxb. Văn hóa

thông tin, HN.

3. Lê Đình Bích, Trần Quỳnh Dân (1986), TN Anh – Việt, Đại học Cần

Thơ.

4. Phạm Văn Bình (1999), Truyền thống và phong tục nước Anh, Nxb.

Hải Phòng.

5. PGS.TS. Phan Mậu Cảnh (2008), Đặc trưng văn hóa, cội nguồn văn

hóa và sự thể hiện chúng trong ca dao người Việt, Vinh. Nguồn:

www.vienvhnn.net

6. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. GD, HN.

7. Nguyễn Văn Chiến (2002), “Nƣớc – một biểu tƣợng văn hóa đặc thù

trong tâm thức ngƣời Việt và từ “nƣớc” trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số

15, tr. 41 – 49.

8. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận – ghi chép và suy nghĩ,

Nxb. KHXH, HN.

9. Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thị Yên (1983), “Thang độ, phép so sánh và

sự phủ định”, Ngôn ngữ, số 3, tr.21 – 29.

10. Nguyễn Đức Dân (1999), “Dấu ấn văn hoá qua TN”, Kiến thức ngày

nay, số 329.

11. Nguyễn Đức Dân (2002), Nỗi oan thì, mà, là, Nxb. Trẻ, TP.HCM.

12. Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri (1993), TN Việt Nam –

Tái bản lần 2, Nxb. KHXH, HN.

13. Đặng Anh Đào (CB) (1997), Văn học phương Tây, Nxb. GD, HN.

151

14. Phan Thị Đào (2001), Tìm hiểu thi pháp TN Việt Nam (Giải thƣởng

Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam 1997), Nxb. Thuận Hóa, Huế.

15. Hoàng Minh Đạo (2006), “Tiếp cận TN từ góc độ văn hóa học”, Văn

hóa dân gian, số 1(103).

16. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam,

Nxb. KHXH, HN.

17. Nguyễn Thị Vân Đông (2008), “Một số biểu hiện của văn hóa qua các

thành ngữ TN có từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong tiếng Anh và tiếng

Việt”, Ngôn ngữ & đời sống, số 10, tr. 28 – 31.

18. Gerd De Ley, Lê Thành dịch (2005), Từ điển TN thế giới, Nxb. Lao

động, HN.

19. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. ĐH &

THCN, HN.

20. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ

văn học, Nxb. ĐHQG HN, HN.

21. Hoàng Văn Hành (1976), “Về bản chất của thành ngữ so sánh tiếng

Việt”, Ngôn ngữ, số 1.

22. Hoàng Văn Hành (1980), TN trong cách nhìn của ngữ nghĩa học, Ngôn

ngữ, số 4, tr.59 – 63.

23. Hoàng Văn Hành (2004), Thành ngữ học tiếng Việt, Viện ngôn ngữ

học, Nxb. KHXH, HN.

24. Nguyễn Thái Hoà (1997), TN Việt Nam - cấu trúc và thi pháp, Nxb.

KHXH, HN.

25. Nguyễn Thƣợng Hùng (1991), “So sánh TN Anh, Việt trong quá trình

hình thành và phát triển”, Văn hóa dân gian, số 4, tr. 71 – 73.

26. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (2002), Văn học dân gian Việt Nam,

Nxb. GD, HN.

152

27. Vũ Ngọc Khánh (2007), Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb.

GD, TP.HCM.

28. Lƣu Quý Khƣơng (2003), “So sánh logic và so sánh tu từ”, Ngôn ngữ,

số 6.

29. Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Luân, Nguyễn Thúy Loan, Phan Lan

Hƣơng (2002), Kho tàng TN người Việt (2 tập), Nxb. VHTT, HN.

30. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2004), Phong cách học tiếng Việt,

Nxb. GD, TP.HCM.

31. Đinh Trọng Lạc (1998), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt,

Nxb. GD, TP.HCM, tr.157 – 159.

32. Ly Lan (2009), Biểu trƣng tình cảm bằng các bộ phận cơ thể từ góc

nhìn tri nhận của ngƣời bản ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, Tạp chí Ngôn

ngữ, số 12, tr. 25-36.

33. Nguyễn Lân (2007), Từ điển thành ngữ - TN Việt Nam, Nxb. KHXH,

TP.HCM.

34. Nguyễn Thế Lịch (1988), “Các yếu tố và cấu trúc so sánh nghệ thuật”,

Tiếng Việt (Số phụ của tạp chí Ngôn ngữ), số 1.

35. Nguyễn Thế Lịch (2001), “Cấu trúc so sánh trong tiếng Việt”, Ngôn

ngữ, số 8-9.

36. Nguyễn Thế Lịch (2009), “Yếu tố cơ sở so sánh trong cấu trúc so sánh

nghệ thuật”, Ngôn ngữ, số 3, tr. 1-13.

37. Đỗ Thị Kim Liên (2006), “Khảo sát các TN Việt có nhóm từ chỉ quan

hệ thân tộc biểu thị quan hệ so sánh”, Ngôn ngữ, số 5.

38. Đỗ Thị Kim Liên (2006), “Trƣờng ngữ nghĩa về cây lúa và các sản

phẩm từ lúa phản ánh đặc trƣng văn hóa lúa nƣớc trong TN ngƣời Việt”,

Văn hóa dân gian, số 4 (106).

39. Bùi Đức Mãn (2008), Lược sử nước Anh, Nxb. Tổng hợp TP.HCM.

153

40. Michael Alexander, Cao Hùng Lynh dịch (2006), Lịch sử văn học Anh

quốc, Nxb.VHTT, TP.HCM.

41. Nguyễn Văn Mƣời (1996), Ngôn ngữ với việc phản ánh các yếu tố văn

hóa và nhân sinh quan (thông qua TN Việt, Anh), Luận án Phó tiến sĩ

Khoa học Ngữ văn, Trƣờng Đại học KHXH & NV, HN.

42. Dƣ Ngọc Ngân (2002), Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt – Phần từ loại,

ĐH. Sƣ Phạm, TP.HCM.

43. Hoàng Kim Ngọc (2009), So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình, Nxb.

KHXH, HN.

44. Phan Ngọc (2001), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn học, HN.

45. Vũ Thế Ngọc (2007), Từ điển TN Việt - Anh, Anh - Việt thông dụng,

Nxb. ĐHQG TP.HCM.

46. Bùi Văn Nguyên (1980), Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1, Nxb.

KHXH, HN.

47. Triều Nguyên (2006), Khảo luận về TN người Việt, Nxb. GD, HN.

48. Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2002), Văn

học dân gian – Những công trình nghiên cứu, Nxb. GD, TP.HCM.

49. Nguyễn Văn Nở (2004), “Biểu trƣng “hoa” trong TN Việt Nam”,

Nguồn sáng dân gian, số 1.

50. Nguyễn Văn Nở (2005), “Dấu ấn tự nhiên, văn hóa và con ngƣời trong

thành ngữ và TN Nam Bộ”, Ngôn ngữ và đời sống, số 9 (119), tr. 24 –

28.

51. Nguyễn Văn Nở (2006), “Biểu trƣng Trời và Đất trong TN Việt”,

Ngôn ngữ và đời sống, số 9 (131), tr. 28 – 31.

52. Nguyễn Văn Nở (2006), “Dấu ấn văn hóa – dân tộc qua chất liệu biểu

trƣng đồ dùng trong TN Việt Nam”, Ngôn ngữ và đời sống, số 5 (127).

154

53. Nguyễn Văn Nở (2006), “Dấu ấn văn hóa dân tộc qua chất liệu biểu

trƣng động vật và thực vật trong TN Việt Nam”, Ngôn ngữ và đời sống,

số 10 (132).

54. Nguyễn Văn Nở (2006), “Dấu ấn văn hoá - dân tộc qua chất liệu biểu

trƣng tự nhiên và từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong TN”, Ngôn ngữ và

đời sống, số 12.

55. Nguyễn Văn Nở (2007), Biểu trưng trong TN Việt Nam, Luận án Tiến

sĩ Ngữ văn, Trƣờng Đại học KHXH&NV, TP.HCM.

56. Vũ Ngọc Phan (1978), TN ca dao Việt Nam, Nxb. KHXH, HN.

57. Lê Trƣờng Phát (2000), Thi pháp văn học dân gian, Nxb. GD, HN.

58. Bùi Phụng (1995), TN Anh – Việt tường giải, Nxb. KHXH, HN.

59. Trần Văn Phƣớc, Hoàng Kim Anh (2008), “Phép tỷ dụ trong TN Việt

và Anh”, Khoa học công nghệ, ĐH. Đà Nẵng, số 4.

60. Phan Văn Quế (2000), “Quỷ trong thành ngữ, TN tiếng Anh và tiếng

Việt”, Ngôn ngữ và đời sống, số 7, tr. 31.

61. Phan Văn Quế (2000), “Gà, khỉ, chuột, ngựa trong TN và thành ngữ

tiếng Anh và tiếng Việt”, Ngôn ngữ và đời sống, số 3, tr. 27 – 28.

62. Trƣờng Tân dịch (2003), Truyện cổ vương quốc Anh, Nxb. VHTT, HN.

63. Lý Toàn Thắng (2004), Ngôn ngữ học tri nhận – từ lí thuyết đại cương

đến thực tiễn tiếng Việt, Nxb. Phƣơng Đông, TP.HCM.

64. Nguyễn Quý Thành (1998), “Dấu ấn văn hóa trong TN”, Văn hóa dân

gian, số 4.

65. Nguyễn Quý Thành (2001), Cấu trúc cú pháp - ngữ nghĩa của TN Việt

(Trong sự so sánh với TN của một số dân tộc khác), Luận án Tiến sĩ

Khoa học Ngữ văn, Trƣờng ĐH KHXH&NV, TP. HCM, 2001.

66. Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. GD, TP.HCM.

155

67. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb.

Tổng hợp TP. HCM.

68. Trần Thị Ánh Thu (2005), Phép so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên

và thơ Tố Hữu, Trƣờng ĐH KHXH&NV, TP.HCM.

69. Nguyễn Thị Bích Thủy (2005), “Cấu trúc tỉ dụ trong thơ Tố Hữu”, Tạp

chí Ngôn ngữ, số 6.

70. Nguyễn Đức Tồn (2008), Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và

tư duy, Nxb. KHXH, HN.

71. Nguyễn Thế Truyền (2003), “Vài điều lí thú về phép so sánh”, Ngôn

ngữ và đời sống, số 3.

72. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb,

ĐH & THCN, 1983, tr. 270 – 278.

73. Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình (1982), Phong

cách học tiếng Việt, Nxb. GD, Trƣờng ĐHSP TP.HCM.

74. Cù Đình Tú (1973), “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ với TN”,

Ngôn ngữ, số 1.

75. Lê Ngọc Tú (1999), TN Anh – Pháp – Việt và một số thành ngữ, danh

ngôn, Nxb. KHXH, HN.

76. Nguyễn Thanh Tùng (2003), Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa

của nhóm từ chỉ động thực vật tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh), Luận

án Tiến sĩ Ngữ văn, Trƣờng ĐH KHXH & NV, TP. HCM.

77. Hoàng Tiến Tựu (1993), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb. GD, HN.

78. Trần Quốc Vƣợng (2005), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. GD, HN.

79. Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Anh – Việt, Nxb. KHXH,

TP.HCM.

156

Tiếng Anh

80. Afford Violet, Introduction to English folklore, source:

http://books.google.com.vn/

81. Asher, R.E. (1994), The Encyclopedia of Language and Linguistics,

Pergamon Press, London.

82. Bassnett, Susan (1997), Studying British cultures: an introduction,

Routledge Publishing, London.

83. Bohn Henry G. (1813), A complete collection of English proverbs,

London, England.

84. Bredin, Hugh (1998), Comparision and similes, Queen’s University,

Northern Ireland, United Kingdom.

85. Crowther Jonathan, Kavanagh Kathryn (1999), Oxford guide to British

and American culture, Oxford University Press, London.

86. Fergusson Rosalind, Law Jonathan (2001), The Penguin dictionary of

proverbs, Penguin Books, 2nd edition, London, England.

87. Griffith Benjamin W. (1991), English literature, Barron’s educational

series, New York.

88. Houghton Mifflin company (2009), Dictionary of the English

language, 4th edition.

89. Houghton Mifflin company (2005), New dictionary of cultural literacy,

3rd edition.

90. Johnson Albert (1960), Common English proverbs, Longman, England.

91. Kirkpatrick Betty (2007), Proverbs, Learners Publishing, Singapore.

92. Kleiser Grenville (1917), Fifteen thousand useful phrases/ Striking similes, 15th edition, Funk & Wagnalls company, New York and

London.

157

93. Lakoff G. & Johnson M. (1980), Metaphor we live by, The university

of Chicago Press, Chicago and London.

94. Manser Martin H. (2007), Dictionary of proverbs, 2nd edition, Facts on

file publishing, New York, America.

95. McDowall David (2002) Britain in Close-Up, New Edition, Youth

Publishing House.

96. Mieder W. (1986), The Prentice – Hall encyclopedia of world

proverbs, The Prentice – Hall, New York.

97. Mieder W. (1993), Proverbs are out of season, Oxford University

Press, London.

98. Nguyen Thi Kieu Thu, Nguyen Thi Ngoc Dung (2008), A course in

British literature, Vietnam national university HCM city publishing

house, HCMC.

99. O’Driscoll, Jame (1999), Britain, Oxford University Press, England.

100. Oxford University Press (2007), The Oxford dictionary of proverbs,

5th edition, England.

101. Oxford University Press (2000), Oxford advanced learner’s

dictionary, 8th edition.

102. Pei Mario (1949), The story of language, Lippincott Publishing,

Philadelphia, p. 194.

103. Pierini Patrizia (2007), Simile in English: from description to

translation, source http://www.ucm.es/info/circulo/

104. Ridout R., Clifford Witting (1969), English proverbs explained, Pan

Books Publishing, London.

105. Seaton Anne, Kirkpatrick Betty (2004), Similes & metaphors,

Learners Publishing, Singapore.

158

106. Smith. William George, Wilson F.P., Wilson Joanna (1970), The

Oxford dictionary of English proverbs”, Publisher: Oxford University Press, 3rd, Pages: 950.

107. Stone, Jon R. (2006), The Routledge book of world proverbs,

Routledge Taylor & Francis group, London & New York.

108. Svartengren T.Hilding (1918), Intensifying similes in English,

Inaugural dissertation.

109. Westermarck Edward, Wit and wisdom in Morocco, Routledge

Publishing, London, 1930, p. 85. Source: http://books.google.com.vn/

110. White Anya Burghes, Ngô Thị Phƣơng Thiện (2006), British studies,

Legacy of the past, Vietnam national university HCM city publishing

house, HCMC.

159

PHỤ LỤC

 * 

LỜI NÓI ĐẦU

Trong phụ lục này, ngƣời viết đã khảo sát và phân loại 135 câu TN

có SSTT trong tổng số 4206 câu TN Việt trong quyển “TN Việt Nam” của

Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri (tái bản lần 2, Nxb. KHXH,

HN, 1993) và 178 câu SSTT trong tổng số 6708 câu TN Anh trong quyển “The Penguin Dictionary of Proverbs” (Penguin Books, 2nd edition, London,

England, 2001, Edited by Rosalind Fergusson, Contributions by Jonathan

Law) theo cấu trúc SSTT gồm bốn yếu tố để tìm ra đặc điểm của chúng, tạo ra

cơ sở, nền tảng cho những kết quả nghiên cứu trong luận văn.

Phụ lục bao gồm những nội dung và cách sắp xếp nhƣ sau:

STT

TÊN PHỤ LỤC

TRANG

1

Các số liệu thống kê đƣợc sử dụng trong luận văn

161

2

Thống kê các câu TN có chứa SSTT trong TN Việt

166

3

Thống kê các câu TN có chứa SSTT trong TN Anh

171

4

Phân loại yếu tố A trong SSTT của TN Việt theo đề tài

183

5

Phân loại yếu tố B trong SSTT của TN Việt theo đề tài

187

6

Phân loại yếu tố A, B trong SSTT của TN Việt theo tiêu chí

193

từ vựng – cú pháp

7

Thống kê các hình ảnh lặp lại ở yếu tố B trong SSTT của

197

160

TN Việt

8

Phân loại yếu tố A trong SSTT của TN Anh theo đề tài

199

9

Phân loại yếu tố B trong SSTT của TN Anh theo đề tài

204

10

Phân loại yếu tố A, B trong SSTT của TN Anh theo tiêu chí

210

từ vựng – cú pháp

11

Thống kê các hình ảnh lặp lại ở yếu tố B trong SSTT của

211

TN Anh

12 Cấu tạo của CSSS trong SSTT của TN Việt và TN Anh

215

Chúng tôi hy vọng phần phụ lục này sẽ là tài liệu bổ ích cho những

ai muốn tìm hiểu về SSTT trong TN Việt cũng nhƣ TN Anh.

161

Phụ lục 1:

CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

Ở phụ lục này, ngƣời viết chỉ liệt kê ra những bảng có số liệu mà thôi,

những bảng khác ngƣời viết đã trình bày trong chính văn.

Ngoài ra, trong các bảng, tổng cộng các yếu tố A, CSSS, từ so sánh, B

sẽ không hoàn toàn trùng khớp với số lƣợng câu SSTT trong TN mỗi nƣớc vì một

câu SSTT có thể có nhiều A, nhiều B hoặc nhiều từ thể hiện quan hệ so sánh. Chẳng

hạn, tục ngữ Việt có 135 câu SSTT nhƣng có đến 166 yếu tố A, 135 CSSS, 170 từ

thể hiện quan hệ so sánh, 173 yếu tố B.

Bảng 2.1. Thống kê tỉ lệ câu SSTT trong TN Việt và TN Anh

TN Việt

TN Anh

Tổng số câu TN có so sánh tu từ

135

178

Tổng số câu TN khảo sát

4206

6708

Tỉ lệ % câu TN có so sánh tu từ

3.2

2.65

Bảng 2.2: Phân loại yếu tố A trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo đề tài

Số lƣợng

Số lƣợng

yếu tố A

yếu tố A

Đề tài

trong

trong TN

TN Việt

Anh

Tự nhiên

10

5

Động vật

1

1

Con ngƣời và giới tự nhiên

Thực vật

6

2

Cơ thể ngƣời

4

10

Vật thể nhân tạo

14

13

Con ngƣời và đời sống vật chất

Ẩm thực, giải trí

11

10

Kinh nghiệm lao động

3

7

162

sản xuất

Quan hệ gia đình

56

7

Con ngƣời và đời sống xã hội

Quan hệ xã hội

10

40

Quan niệm về nhân sinh

48

83

Quan niệm về tôn giáo,

3

9

Con ngƣời và đời sống tinh thần

tín ngƣỡng

Tổng cộng

166

187

Bảng 2.4: Phân loại yếu tố A trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo tiêu chí từ

vựng, cú pháp

Yếu tố A

TN Việt

TN Anh

Số lƣợng

Tỉ lệ %

Số lƣợng

Tỉ lệ %

yếu tố A

yếu tố A

Danh từ/ danh ngữ

36.7

179

95.7

61

Động từ/ động ngữ

22

13.3

0

0

Tính từ/ tính ngữ

20

12

0

0

Kết cấu chủ vị

63

38

8

4.3

Tổng cộng

166

100 %

187

100 %

Bảng 2.5: Thống kê yếu tố CSSS trong SSTT của TN Việt và TN Anh

Yếu tố CSSS

TN Việt

TN Anh

Số lƣợng

Số lƣợng

Tỉ lệ %

Tỉ lệ %

CSSS

CSSS

163

Khuyết

109

80.7

144

80.9

26

19.3

34

19.1

Tổng cộng

135

100%

178

100%

Bảng 2.8: Thống kê từ thể hiện quan hệ so sánh trong SSTT của TN Việt

Từ nối

Số lƣợng Tỉ lệ %

nhƣ

108

63.5

28

16.5

26

15.3

bằng

8

4.7

Tổng cộng

170

100 %

Bảng 2.9: Thống kê tần số xuất hiện của từ thể hiện quan hệ so sánh trong SSTT

của TN Anh

Từ thể hiện quan hệ

Số lƣợng

Tỉ lệ %

so sánh

be

139

73.2

like

35

18.4

as…as…

11

5.8

164

as

2.1

4

0.5

1

Tổng cộng

100%

190

Bảng 2.10: Phân loại yếu tố B trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo đề tài

Số lƣợng

Số lƣợngg

yếu tố B

yếu tố B

Đề tài

trong TN

trong TN

Việt

Anh

Tự nhiên

12

10

Động vật

31

23

Con ngƣời và giới tự nhiên

Thực vật

22

11

Cơ thể ngƣời

6

8

Vật thể nhân tạo

53

58

Con ngƣời và đời sống vật chất

Ẩm thực, giải trí

3

20

Kinh nghiệm lao động

3

0

sản xuất

Quan hệ gia đình

13

1

Con ngƣời và đời sống xã hội

Quan hệ xã hội

4

28

Quan niệm về nhân

15

9

sinh

Con ngƣời và đời sống tinh thần

Quan niệm về tôn giáo,

11

30

tín ngƣỡng

Tổng cộng

173

198

165

Bảng 2.11: Thống kê hình ảnh ở yếu tố A và yếu tố B thuộc đề tài quan hệ gia đình

và quan hệ xã hội trong SSTT của TN Việt và TN Anh

TN Việt

TN Anh

Yếu tố

Yếu tố

Tổng

Yếu tố

Yếu tố

Tổng

A

B

cộng

A

B

cộng

56

7

1

Quan hệ gia đình

13

8

69

10

40

28

Quan hệ xã hội

4

68

14

Bảng 2.12: Phân loại yếu tố B trong SSTT của TN Việt và TN Anh theo

tiêu chí từ vựng, cú pháp

TN Việt

TN Anh

Yếu tố B

Số lƣợng

Tỉ lệ %

Số lƣợng

Tỉ lệ %

Danh từ/ danh ngữ

52

182

92

90

Động từ/ động ngữ

7

0

0

12

Tính từ/ tính ngữ

0

0

0

0

Cụm chủ vị

41

16

8

71

Tổng cộng

173

100

198

100

166

Phụ lục 2: THỐNG KÊ CÁC CÂU TỤC NGỮ CÓ CHỨA SSTT TRONG

TỤC NGỮ VIỆT

Trong phụ lục 2 và 3, ngƣời viết trình bày các câu tục ngữ có chứa SSTT theo

trình tự xuất hiện của chúng trong tài liệu khảo sát, tức là theo số trang.

STT

SSTT trong TN Việt

Trang

1 Gió thổi là chổi trời

193

2 Nƣớc mƣa là cƣa trời

193

3 Mƣa tháng ba hoa đất

198

4 Mƣa tháng sáu máu rồng

198

5 Tấc đất tấc vàng

198

6 Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc

198

7 Ruộng đầu chợ, vợ giữa làng

198

8 Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng

198

9 Ruộng không phân nhƣ thân không của

203

10 Dâu năng hái nhƣ gái năng tô

210

11 Cơm tẻ mẹ ruột

212

12 Ăn cơm không rau nhƣ đánh nhau không có ngƣời gỡ

215

13 Cơm không rau nhƣ nhà giàu chết không kèn trống

216

14 Cơm vào dạ nhƣ vạ vào mình

218

15 Ăn đƣợc ngủ đƣợc là tiên/Không ăn không ngủ là tiền bỏ đi

219

16 Nhà không móng, bóng không ngƣời

219

17 Xe không bánh nhƣ cánh không lông

222

18 Của nhƣ kho, không lo cũng hết

223

19 Của nhƣ non, ăn mòn cũng hết

223

20 Thấy việc nhƣ đĩ thấy cha/ Thấy ăn lởn vởn nhƣ gà thấy ngô

224

21 Cứu bệnh nhƣ cứu hỏa

230

Một cái rắm bằng nắm thuốc tiêu, bằng liều thuốc gió, bằng lọ thuốc tiên

22

231

23 Con nhà có cố có ông / Nhƣ cây có cội nhƣ sông có nguồn

233

24 Trẻ mùa hè nhƣ bè tháng sáu

235

167

25 Mỗi năm mỗi tuổi nhƣ đuổi xuân đi

235

26 Ngƣời già nhƣ dâu ngả bóng

235

27 Có mẹ già bằng ba rào giậu

235

28 Đàn ông nhƣ giỏ, đàn bà nhƣ hom

238

29 Đàn ông nông nổi giếng khơi/ Đàn bà sâu sắc nhƣ cơi đựng trầu

238

30 Đàn bà cạn lòng nhƣ đĩa/ Đàn ông bạc nghĩa nhƣ vôi

238

31 Phận gái nhƣ cái bầu, sa đâu ấm đấy

238

32 Gái lớn trong nhà nhƣ ma chửa cất

239

33 Thuyền không lái nhƣ gái không chồng

239

Voi trên rừng không bành không tróc/Gái không chồng nhƣ cóc

34

cụt đuôi

239

Gái có con nhƣ bồ hòn có rễ/Gái không con nhƣ bè nghể (ngổ) trôi

35

sông

240

36 Nam vô tửu nhƣ kỳ vô phong

240

37 Nam thực nhƣ hổ, nữ thực nhƣ miêu

241

38 Trai thấy gái lạ nhƣ quạ thấy gà con

241

39 Trai tơ lấy phải nạ dòng/ Nhƣ nƣớc mắm thối chấm lòng lợn thiu

242

40 Bố dòng lấy đƣợc gái tơ/ Đêm nằm mê mẩn nhƣ mơ thấy vàng

242

41 Nạ dòng lấy đƣợc trai tơ/ Đêm nằm mê mẩn nhƣ mơ đƣợc vàng

242

Phải duyên thì dính nhƣ keo/Trái duyên chổng chểnh nhƣ kèo đục vênh

42

242

43 Chồng già vợ trẻ là tiên/ Vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần

243

44 Đàn ông nhƣ cái nơm, gặp đâu úp đấy

244

45 Đẹp nhƣ rối, chẳng có mối tối nằm không

245

46 Đẹp nhƣ rối, không mối không xong

245

47 Cƣới vợ không cheo nhƣ néo không mấu

246

48 Cƣới vợ không cheo, tiền gieo xuống suối

246

49 Lấy vợ không cheo nhƣ kèo neo không mấu

246

50 Trai phải hơi vợ nhƣ cò bợ phải trời mƣa

246

51 Gái phải hơi trai nhƣ thài lài phải cứt chó

246

52 Chồng cần vợ kiệm là tiên/Ngông nghênh nhăng nhít là tiền bỏ đi

247

53 Chồng nhƣ (đó) giỏ, vợ nhƣ hom

247

168

54 Vợ chồng may rủi là duyên/ Vợ chồng hòa thuận là tiên trên đời

247

55 Vợ chồng nhƣ đũa có đôi

248

56 Trai có vợ nhƣ lỗ tiền chôn

248

57 Trai có vợ nhƣ giỏ có hom

248

58 Trai có vợ nhƣ rợ buộc chân

248

59 Làm ruộng có trâu, làm dâu có chồng

249

60 Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng

249

Gái có chồng nhƣ rồng có vây/Gái không chồng nhƣ cối xay chết

61

ngõng

249

Gái có chồng nhƣ chông nhƣ mác/Gái không chồng nhƣ rác nhƣ

62

rơm

249

Gái có chồng nhƣ gông đeo cổ/Gái không chồng nhƣ phản gỗ long đanh

63

249

64 Thuyền theo lái, gái theo chồng

249

65 Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ sai

251

66 Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ sai

251

Nứa trôi sông không giập thì gẫy/Gái chồng rẫy chẳng chứng nọ

67

cũng tật kia

252

68 Con giữ cha, gà giữ ổ

254

69 Con có cha nhƣ nhà có nóc/Con không cha nhƣ nòng nọc đứt đuôi

254

70 Con không cha thì con trễ, cây không rễ thì cây hƣ

254

71 Con có mẹ nhƣ măng ấp bẹ

254

72 Con có mạ nhƣ thiên hạ có vua

254

73 Mẹ già nhƣ chuối chín cây

255

74 Con đàn nhƣ tre ấm bụi

256

75 Chị em dâu nhƣ bầu nƣớc lã/ Chị em gái nhƣ cái nhân sâm

259

76 Anh em nhƣ chân tay

259

Bố chồng là lông cánh phƣợng/ Mẹ chồng là tƣợng mới tô/ Nàng dâu là bồ nghe chửi

77

260

Bố chồng là lông lợn hạch/ Mẹ chồng là đách lợn lang (sề)/ Nàng

78

dâu mới về là bà hoàng hậu

261

169

Bố vợ là rợ cọc chèo/ Mẹ vợ là bèo trôi sông/ Chàng rể là ông Ba

79

261

80 Vênh váo nhƣ bố vợ phải đấm

261

81 Con trai ở nhà vợ nhƣ chó nằm (chui) gầm chạn

261

82 Ăn trầu không có rễ nhƣ rể nằm nhà ngoài

261

83 Bắt chấy cho mẹ chồng nhƣ bồ nông mò biển

261

84 Tiền của nhƣ nƣớc thủy triều

268

85 Đồng tiền là chúa muôn loài/ Ngƣời ta là khách vãng lai một thời

268

86 Của là cuống ruột

268

87 Ngƣời đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân

203

88 Có tiền khôn nhƣ rái, không tiền dại nhƣ vích

271

89 Có tiền khôn nhƣ mày mạy, không tiền dại nhƣ đòng đong

272

Khôn nhƣ tiên không tiền cũng dại/Dại nhƣ chó có ló (lúa) cũng

90

khôn

272

91 Miệng bà đồng nhƣ lồng chim khƣớu

277

92 Quan thấy kiện nhƣ kiến thấy mỡ

279

93 Lễ vào quan nhƣ than vào lò

279

94 Việc quan nhƣ lửa đốt đầu

279

95 Lính tuần là ao rƣợu

280

96 Miệng quan trôn trẻ

283

97 Có độc mới đủ, có phũ nhƣ chó mới giàu

284

98 Tiền vào nhà khó nhƣ gió vào nhà trống

287

99 Ơn dân nhƣ hạt cơm dính mỡ

288

100 Dân nhƣ cây gỗ tròn

288

101 Một lần dọn nhà bằng ba lần cháy

290

102 Cờ phải nƣớc bí nhƣ bị phải trời mƣa

291

103 Ngƣời ta là hoa đất

307

104 Ngƣời nhƣ hoa ở đâu thơm đấy

307

105 Ngƣời là vàng, của là ngãi

307

106 Bụng bí rợ ăn nhƣ bào, làm nhƣ khỉ

309

107 Dữ nhƣ tê giác, ác nhƣ đàn bà một mắt

311

108 Lòng ngƣời nhƣ bể khôn dò

312

109 Lời nói, gói vàng

315

170

110 Một lời nói, một đọi máu

315

111 Vàng sa xuống giếng khôn tìm/Ngƣời sa lời nói nhƣ chim sổ lồng

316

112 Nói đúng nhƣ gãi vào chỗ ngứa

317

113 Nói với ngƣời say nhƣ vay không trả

318

114 Nói thì nhƣ mây nhƣ gió/Cho thì thằng mõ không xong

320

115 Uốn cây từ thuở còn non/Dạy con từ thuở con còn ngây thơ

321

116 Ngƣời không học nhƣ ngọc không mài

322

117 Xấu nhƣ ma vinh hoa cũng đẹp

328

118 Ngƣời dốt nhƣ trông vào vách

332

119 Hoa thơm ai chẳng nâng niu/Ngƣời khôn ai chẳng kính yêu mọi bề

333

Hoa thơm ai chẳng muốn đeo/Ngƣời khôn ai chẳng nâng niu bên

120

mình

333

121 Trâu chết để da, ngƣời ta chết để tiếng

336

122 Đẹp nhƣ tiên lo phiền cũng xấu

340

123 Tiền là gạch, ngãi là vàng

343

Chửa đánh đƣợc ngƣời mặt đỏ nhƣ vang/Đánh đƣợc ngƣời rồi mặt

124

vàng nhƣ nghệ

346

125 Khỏe nhƣ voi không coi cũng ngã

359

126 Hà tiện mới có, phũ nhƣ chó mới giàu

360

127 Ăn nhƣ con tằm lại rút ruột ra

363

128 Gặp thời thì nổi hòa huênh/ Lỗi thời thì lại lênh đênh nhƣ bèo

381

129 To nhƣ chuối hột nào ai bày cỗ

393

130 Quân vô tƣớng nhƣ hổ vô đầu

399

131 Nhà không chủ nhƣ tủ không khóa

399

132 Rẻ nhƣ bèo nhiều hƣơu cũng hết

404

133 Hòn đất nỏ bằng giỏ phân

203

134 Một cây mít bằng sào ruộng

205

135 Một nạm gió bằng một bó chèo

222

Tổng 135 câu SSTT / 4206 câu TN Việt

171

cộng:

Tỉ lệ: 3.2 %

Phụ lục 3: THỐNG KÊ CÁC CÂU TỤC NGỮ CÓ CHỨA SSTT

TRONG TỤC NGỮ ANH

STT

Trang

SSTT trong TN Anh

10

1

A black plum is as sweet as a white. Quả mận đen thì cũng ngọt như quả mận trắng.

Fine dressing is a foul house swept before the doors.

10

2

Ăn mặc đẹp là ngôi nhà hôi hám được quét ở phía trước cửa.

A whore in a fine dress is like a clean entry to a dirty house.

3

Cô gái điếm trong bộ quần áo đẹp giống như lối vào sạch sẽ của

10

một ngôi nhà bẩn thỉu.

Wickedness with beauty is the devil's hook baited.

14

4

Sự độc ác đi chung với cái đẹp là mồi câu của quỷ.

A good face is a letter of recommendation.

15

5

Một gương mặt đẹp là lá thư giới thiệu tốt.

A fair woman without virtue is like palled wine.

16

6

Người phụ nữ đẹp mà không có đạo đức thì giống như rượu nhạt.

Beauty fades like a flower.

16

7

Cái đẹp phai tàn như một bông hoa.

Beauty is but a blossom.

16

8

Cái đẹp chỉ là một đóa hoa.

19

9

Debt is an evil conscience. Nợ là lương tâm tội lỗi.

21

10

Gentility is but ancient riches. Dòng dõi cao quý chỉ là thứ của cải lỗi thời.

21

11

Nobility, without ability, is like a pudding wanting suet. Giới quý tộc không có năng lực giống như chiếc bánh pudding cần có lớp mỡ bao quanh.

12 Great birth is a very poor dish at table.

21

172

Dòng dõi cao quý là món ăn rất tồi trong bữa tiệc.

A gentleman without an estate is like a pudding without suet.

21

13

Quý ông không có tài sản giống như chiếc bánh pudding không có lớp mỡ bao quanh.

Building is a thief.

21

14

Xây dựng là một tên trộm.

22

15

A change is as good as a rest. Sự thay đổi cũng tốt như là sự nghỉ ngơi.

Three removals are as bad as a fire.

22

16

Ba lần dọn nhà thì cũng tệ như là một lần cháy.

Children pick up words as pigeon peas, and utter them again as God

shall please.

26

17

Trẻ con học từ như là chim bồ cầu nhặt đậu, và nói lại y như Chúa

muốn vậy.

A good bargain is a pick-purse.

30

18

Sự trả giá tốt là một tên móc túi.

A merry companion is a wagon in the way.

19

Có một người bạn đồng hành vui tính là có một chiếc xe ngựa trên

31

đường đi.

Brag is a good dog but dares not bite.

32

20

Sự khoác lác là một con chó tốt nhưng nó không dám cắn.

Conscience is a thousand witnesses.

33

21

Lương tâm là cả ngàn nhân chứng.

A good conscience is a soft pillow.

33

22

Lương tâm trong sạch là chiếc gối êm ái.

33

23

A good conscience is the best divinity. Lương tâm trong sạch là vị thánh tốt nhất.

33

24

A good conscience is a continual feast. Lương tâm trong sạch là những bữa tiệc liên tục.

33

25

A good conscience is like a coat of mail. Lương tâm trong sạch giống như chiếc áo giáp.

Content is the philosopher's stone, that turns all it touches into gold.

35

26

Sự hài lòng là hòn đá tạo vàng, nó chuyển mọi thứ nó chạm vào

173

thành vàng.

A contented mind is a continual feast.

27

35

Cách nghĩ hài lòng là những bữa tiệc liên tục.

Enough is as good as a feast.

28

35

Vừa đủ cũng tốt như là được đi dự tiệc.

A man's discontent is his worst evil.

29

35

Sự không hài lòng của một người là tai họa tồi tệ nhất.

When the sloe tree is as white as a sheet, sow your barley whether it

be dry or wet.

30

40

Khi cây mận gai nở hoa trắng như một tờ giấy, hãy gieo lúa mạch

của bạn dù nó khô hay ướt.

Two daughters and a back door are three arrant thieves.

31

43

Hai cô con gái và cái cửa sau là ba tên trộm vĩ đại.

The receiver is as bad as the thief.

32

44

Người chỉ biết nhận thì cũng tệ như là kẻ trộm.

Cruelty is a tyrant that's always attended with fear.

33

47

Sự tàn ác là một tên bạo chúa luôn xuất hiện cùng với sự sợ hãi.

Dear bought is the honey that is licked from the thorn.

34

48

Sự mua bán ngọt ngào là mật trên gai nhọn.

Knowledge is a treasure but practice is the key to it.

35

50

Kiến thức là một kho báu nhưng thực hành là chìa khóa để mở nó.

Death is the poor man's best physician.

36

51

Cái chết là thầy thuốc tốt nhất của người nghèo.

War is death's feast.

37

52

Chiến tranh là bữa tiệc của thần chết.

The liar and the murderer are children of the same village.

38

54

Tên nói dối và kẻ giết người là trẻ con của cùng một ngôi làng.

39

55

Deeds are fruits, words are but leaves. Hành động là quả, lời nói chỉ là lá.

40

57

Slander is a shipwreck by a dry tempest. Sự phỉ báng là vụ đắm tàu bởi một cơn bão khô.

Curses, like chickens, come home to roost.

41

59

Lời nguyền rủa giống như lũ gà, quay về chuồng nhà mình mà đậu.

174

Business is the salt of life.

42

63

Việc kinh doanh là muối của cuộc đời.

43

65

Reward and punishment are the walls of a city. Thưởng và phạt là những bức tường bảo vệ thành phố.

Wine is the glass of the mind.

44

67

Rượu là tấm gương của trí tuệ.

45

69

Wine is a turncoat. Rượu là kẻ phản bội.

Bread is the staff of life.

46

71

Bánh mì là chiếc gậy của cuộc sống.

The mouth is the executioner and the doctor of the body.

47

72

Cái miệng là đao phủ hay bác sĩ của cơ thể.

An apple-pie without some cheese is like a kiss without a squeeze.

48

Bánh nhân táo mà không có phó mát thì giống như một cái hôn mà

73

không có ôm.

He that gives honour to his enemy, is like to an ass.

49

Người nhường danh dự cho kẻ thù của mình chẳng khác gì một con

78

lừa.

England is the paradise of women, the hell of horses, and the

purgatory of servant.

50

79

Nước Anh là thiên đường của phụ nữ, địa ngục của lũ ngựa và

luyện ngục của những người đầy tớ.

England is a little garden full of very sour weeds.

51

79

Nước Anh là khu vườn nhỏ đầy những hạt giống tồi.

An Englishman's word is his bond.

52

79

Lời nói của một người Anh là cái xương của anh ta.

53

86

The eyes are the window of the soul. Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn.

Fame is the perfume of heroic deeds.

54

87

Danh tiếng là hương thơm của những hành động anh hùng.

55

87

Fame is a magnifying glass. Danh tiếng là chiếc kính phóng đại.

56

Fame is but the breath of the people.

87

175

Danh tiếng chỉ là hơi thở của con người.

Fame is a thin shadow of eternity.

87

57

Danh tiếng chỉ là cái bóng mỏng manh của sự bất diệt.

Fame, like a river, is narrowest at its source and broadest afar off.

58

Danh tiếng như một con sông, hẹp nhất ở thượng nguồn và rộng

87

nhất ở phía hạ nguồn.

87

59

A good name is a rich heritage. Tiếng thơm là tài sản kế thừa kếch xù.

Credit lost is like a Venice-glass broken.

88

60

Uy tín bị mất cũng giống như tấm kính quý bị vỡ.

Fear is the prison of the heart.

89

61

Sự sợ hãi là tù ngục của trái tim.

Music is the food of love.

90

62

Âm nhạc là thức ăn nuôi dưỡng tình yêu.

The most deadly of wild beasts is a backbiter, of tame ones a

flatterer.

91

63

Con quái vật hoang dã đáng chết nhất là kẻ nói xấu sau lưng người

khác, còn con quái vật đáng chết đã được huấn luyện là kẻ xu nịnh.

As a wolf is like a dog, so is a flatterer like a friend.

64

Con sói thì giống con chó, cũng như kẻ nịnh hót nhìn giống như một

91

người bạn.

A flatterer's throat is an open sepulchre.

91

65

Cổ họng của kẻ nịnh hót là ngôi mộ đang mở.

Change of weather is the discourse of fools.

94

66

Sự thay đổi của thời tiết giống như bài diễn văn của những kẻ ngốc.

96

67

Life without a friend is death without a witness. Sống mà không có bạn bè thì cũng như chết đi mà không có người chứng kiến.

The best mirror is an old friend.

98

68

Tấm gương tốt nhất là một người bạn cũ.

99

69

Friendship is a plant which must be often watered. Tình bạn là một cái cây cần được tưới nước thường xuyên.

70

Cards are the devil's books.

101

176

Bài bạc là sách của quỷ.

Riches are like muck, which stink in a heap, but spread abroad

71

101

make the earth fruitful. Sự giàu có giống như phân, nó sẽ bốc mùi hôi thối khi chất thành

đống, nhưng nếu rải ra nó sẽ làm đất đai màu mỡ.

Virtue and happiness are mother and daughter.

72

107

Đạo đức và hạnh phúc là mẹ và con gái.

Virtue is a jewel of great price.

73

107

Đạo đức là trang sức quý giá.

He dies like a beast who has done no good while he lived.

74

107

Người không làm điều gì tốt khi sống sẽ chết như một con quái vật.

Common fame is a liar.

75

109

Danh tiếng là kẻ nói dối.

Gossips are frogs, they drink and talk.

76

Người thích chuyện tầm phào là lũ ếch, chúng say sưa và nói huyên

109

thuyên.

He that is a blab is a scab.

77

110

Người ba hoa là bệnh ghẻ.

The secret is the prisoner; if you let it go, you art a prisoner to it.

78

Bí mật là một tên cai ngục, nếu bạn để nó đi, bạn đã tạo một tù

110

nhân cho nó.

Laughter is the best medicine.

79

116

Sự vui vẻ là phương thuốc tốt nhất.

Mirth is the sugar of life.

80

116

Vui vẻ là vị ngọt của cuộc sống.

81

116

Joy and sorrow are next door neighbours. Niềm vui và nỗi buồn là hàng xóm kế bên nhà nhau.

82

118

Affairs, like salt fish, ought to be a good while a-soaking. Công việc cũng như con khô, chỉ tốt khi đem chúng nhúng nước.

83

119

Hatred is blind, as well as love. Oán thù cũng mù như tình yêu.

Health is great riches.

84

120

Sức khỏe là tài sản vô giá.

177

The air of a window is as the stroke of a cross-bow.

85

120

Gió lùa ngoài cửa sổ giống như cú đánh của một cái ná.

The chamber of sickness is the chapel of devotion.

86

120

Phòng bệnh là nhà nguyện để cầu khấn.

A dry cough is the trumpeter of death.

87

120

Ho khan là lính thổi kèn của thần chết.

A physician is an angel when employed, but a devil when one must

88

122

pay him. Bác sĩ là thiên thần khi được mời đến, nhưng là quỷ sứ khi ai đó

phải trả tiền cho ông ta.

Plain dealing is a jewel.

89

123

Sự thẳng thắn là châu báu.

Honesty is a fine jewel, but much out of fashion.

90

124

Sự trung thực là trang sức quý giá nhưng đã lỗi thời.

An honest man's word is as good as his bond.

91

124

Lời nói của người chân thật cũng quý như xương tủy của anh ta.

Honour without profit is a ring on the finger.

92

124

Danh dự mà không có lợi lộc chỉ là chiếc nhẫn trên ngón tay.

Hope is the poor man's bread.

93

125

Hi vọng là bánh mì của người nghèo.

Hope is but the dream of those that wake.

94

125

Hi vọng chỉ là giấc mơ của những người đã tỉnh giấc.

Hunger is good kitchen meat.

95

127

Cái đói là miếng thịt ngon trong bếp.

96

127

Hunger is the best sauce. Cái đói là nước chấm tốt nhất.

97

129

An idle brain is the devil's workshop. Một cái đầu lười biếng là phân xưởng của quỷ.

98

129

An idle person is the devil's cushion. Kẻ lười biếng là cái nệm của quỷ.

Sloth, like rust, consumes faster than labour wears.

99

129

Sự lười biếng cũng như rỉ sét, tan biến nhanh hơn khi lao động.

178

Ignorance and incuriosity are two very soft pillows.

100

130

Sự ngu dốt và không tò mò là hai chiếc gối rất êm ái.

101

134

Fair play is a jewel. Chơi đẹp là đồ trang sức quý giá.

Learning is the eye of the mind.

102

136

Học vấn là đôi mắt của trí tuệ.

103

136

Wit without learning is like a tree without fruit. Thông minh mà không chịu học thì giống như cái cây không có trái.

Learning in the breast of a bad man is as a sword in the hand of a

104

madman.

137

Học vấn trong đầu kẻ xấu là thanh gươm trong tay người điên.

The law is an ass.

105

138

Pháp luật là một con lừa.

Law is a bottomless pit.

106

139

Pháp luật là một cái hố không đáy.

A client twixt his attorney and counsellor is like a goose twixt two

foxes.

107

139

Khách hàng ở giữa luật sư và người cố vấn pháp luật của mình

giống như con ngỗng ở giữa hai con cáo.

Law is a lickpenny.

108

139

Luật pháp lá một tên móc túi.

Custom is the plague of wise men, and the idol of fools.

109

Phong tục là bệnh dịch đối với người thông minh và là thần tượng

140

của những kẻ ngu đần.

A bad custom is like a good cake, better broken than kept.

110

140

Phong tục cổ hủ giống như một chiếc bánh ngon, tốt nhất nên bẻ vụn ra hơn là giữ nó.

111

141

Liberty is a jewel. Tự do là vàng bạc.

Life is but a span.

112

142

Đời người chỉ bằng một gang tay.

113

143

Life is a pilgrimage. Đời người là một cuộc hành hương.

179

Life is a shadow.

114

143

Cuộc đời chỉ là một cái bóng.

115

143

Every day of the life is a leaf in the history. Mỗi ngày trong đời là một trang trong lịch sử.

Life is just a bowl of cherries.

116

143

Đời người chỉ là một rổ anh đào.

117

144

Lovers are madmen. Những người đang yêu là những kẻ điên.

Love is as strong as death.

118

145

Tình yêu cũng có sức mạnh như cái chết.

War, hunting, and love are as full of trouble as pleasure.

119

Chiến tranh, săn bắn và tình yêu có nhiều nỗi buồn cũng như niềm

146

vui.

Love without return is like a question without an answer.

120

148

Yêu mà không quay đầu lại cũng như câu hỏi không có đáp án.

Fortune is the mistress of the field.

121

150

Sự giàu có là bà chủ của cánh đồng.

Wedlock is a padlock.

122

153

Hôn nhân là cái ổ khóa.

Marriage is a lottery.

123

154

Hôn nhân là một tờ vé số.

A great dowry is a bed full of brambles.

124

155

Của hồi môn nhiều là một cái giường đầy gai.

A young maid married to an old man is like a new house thatched

with old straw.

125

155

Cô gái trẻ lấy một người đàn ông già giống như ngôi nhà mới lợp bằng rơm cũ.

126

157

The wife is the key of the house. Người vợ là chìa khóa của ngôi nhà.

127

158

Love is a fair garden and marriage a field of nettles. Tình yêu là một khu vườn đẹp và hôn nhân là cánh đồng trồng đầy cây tầm ma.

128 A man without reason is a beast in season.

160

180

Người sống không có lí tưởng là một con thú hoang trong mùa săn

bắn.

129

161

The devil's mouth is a miser's purse. Miệng lưỡi của quỷ sứ là cái ví của người mất.

March comes in like a lion and goes out like a lamb.

130

163

Tháng ba đến nhanh như sư tử và đi như cừu.

131

170

A useful trade is a mine of gold. Một việc buôn bán có lợi là mỏ vàng.

Sailors get money like horses and spend it like asses.

132

172

Thủy thủ kiếm tiền như ngựa và tiêu xài chúng như con lừa.

Soldiers in peace are like chimneys in summer.

133

172

Người lính trong thời bình giống như ống khói trong mùa hè.

Old age is a hospital that takes in all diseases.

134

173

Người già là một bệnh viện chứa đủ loại bệnh.

Zeal without knowledge is a runaway horse.

135

179

Nhiệt tình mà thiếu hiểu biết giống như con ngựa lồng lên.

Patience is a flower that grows not in every one's garden.

136

179

Kiên nhẫn là một đóa hoa không nở ở mọi khu vườn.

Pride is a flower that grows in the devil's garden.

137

194

Sự kiêu căng là một đóa hoa nở trong khu vườn của quỷ.

Promises are like pie-crust, made to be broken.

138

196

Lời hứa là cái vỏ bánh, được làm ra để bẻ vụn.

Promise is debt.

139

196

Hứa là nợ.

Proverbs are like butterflies, some are caught, others fly away. TN như những con bươm bướm,vài con bị bắt được, những con

140

197

khác thì bay mất.

141

201

A man without religion is like a horse without a bridle. Người không có đạo như ngựa không có cương.

142

204

The blood of the martyrs is the seed of the church. Máu của những người tử vì đạo là hạt giống của nhà thờ.

The church is an anvil which has worn out many hammers.

143

204

Nhà thờ là một cái đe làm mòn nhiều cây búa.

181

A monk out of his cloister is like a fish out of water.

144

204

Tu sĩ ra khỏi tu viện giống như cá ra khỏi nước.

145

209

Revenge is a dish that can be eaten cold. Sự trả thù là một món ăn có thể ăn nguội.

Silence is a woman's best garment.

146

218

Im lặng là trang sức đẹp nhất của người phụ nữ.

147

218

Quietness is a great treasure. Im lặng là châu báu quý giá.

Speech is silver, silence is golden.

148

218

Nói là bạc, im lặng là vàng.

Skill and confidence are an unconquered army.

149

219

Kĩ năng và sự tự tin là đội quân bất khả chiến bại.

Sleep is the greatest thief, for it steals half one's life.

150

220

Giấc ngủ là tên trộm vĩ đại nhất vì nó cướp mất nửa đời người.

A solitary man is either a beast or an angel.

151

223

Người cô độc có thể là một con quái vật hoặc là một thiên thần

A good tongue is a good weapon.

152

233

Miệng lưỡi là vũ khí tuyệt vời.

Great talkers are like leaky pitchers, everything runs out of them.

153

Những người nhiều chuyện như cái bình bị rò rỉ, mọi thứ chảy ra

235

bên ngoài chúng.

Time is money.

154

238

Thời gian là tiền bạc.

Time is a file that wears and makes no noise.

155

238

Thời gian là gã láu cá không tạo ra tiếng động nào.

Mistrust is an axe at the tree of love.

156

243

Không tin tưởng lẫn nhau là chiếc búa đốn ngã cây tình yêu.

157

243

Truth is God's daughter. Sự thật là con gái của Chúa.

158

245

Truth is a spectre that scares many. Sự thật là bóng ma nhát nhiều người.

Money is the only monarch.

159

251

Tiền là vị quốc vương duy nhất.

182

Money is the ace of trumps.

160

252

Tiền là con bài chủ cao nhất.

161

252

Money is a good servant, but a bad master. Tiền là một người đầy tớ tốt nhưng là một ông chủ tồi.

Mere wishes are silly fishes.

162

259

Những điều mong ước suông là những con cá ngốc.

163

262

Women are the snares of Satan. Phụ nữ là cái bẫy của quỷ Satan.

Women are the devil's nets.

164

262

Phụ nữ là cạm bẫy của quỷ.

Women are like wasps in their anger.

165

262

Phụ nữ giống như ong bắp cày trong cơn giận của họ.

Women in state affairs are like monkeys in glass-shops.

166

262

Những nữ viên chức giống như lũ khỉ trong tủ kính cửa hiệu.

A woman is a weathercock.

167

263

Phụ nữ là chong chóng chỉ hướng gió.

Women are as wavering as the wind.

168

263

Phụ nữ thay đổi như cơn gió.

Women are saints in church, angels in the street, and devils at home.

169

Phụ nữ là thánh trong nhà thờ, thiên thần trên đường phố và quỷ ở

263

nhà.

A woman's sword is her tongue, and she does not let it rust.

170

Thanh gươm của người phụ nữ là cái lưỡi của cô ta, và cô ta không

264

bao giờ để nó bị rỉ sét.

A woman's tongue wags like a lamb's tail.

171

264

Lưỡi của người phụ nữ ve vẩy như đuôi cừu.

172

265

A woman is flax, man is fire, the devil comes and blows the bellows. Phụ nữ là những sợi lanh, đàn ông là lửa, một con quỷ đến và

nghịch ngợm thổi vào ống bể.

173

266

The world is a net, the more we stir in it, the more we are entangled. Thế gian là một cái lưới, chúng ta càng chuyển động thì càng bị mắc kẹt trong đó.

183

The world is a stage and every man plays his part.

174

266

Thế gian là một sân khấu mà mỗi người đóng một vai.

175

The world is a ladder for some to go up and some down. Thế gian là một cái thang cho một vài người leo lên và những kẻ

266

khác leo xuống.

The mouth is wind, the pen is a track.

176

268

Miệng là cơn gió, bút viết là dấu tích.

Literature is a good staff but a bad crutch.

177

269

Văn học là cây quyền trượng tốt nhưng là một chiếc gậy tồi.

A great book is a great evil.

178

269

Một quyển sách hay là một thảm họa khủng khiếp.

Tổng cộng: 178 câu SSTT/ 6708 câu TN Anh Tỉ lệ 2.65 %

Phụ lục 4: PHÂN LOẠI YẾU TỐ A TRONG SSTT CỦA TỤC NGỮ VIỆT

THEO ĐỀ TÀI

Đề tài

Yếu tố A

Số lƣợng

Con ngƣời và giới tự nhiên

Tự nhiên

10

Thực vật

6

gió thổi nƣớc mƣa mƣa tháng ba mƣa tháng sáu tấc đất ruộng đầu chợ ruộng giữa đồng ruộng không phân hòn đất nỏ một nạm gió dâu năng hái cơm tẻ

184

1

củi tre hoa thơm x 2 cây mít trâu

Động vật

Cơ thể ngƣời

4

cái rắm mặt đỏ mặt vàng bụng bí rợ

Đồ vật

14

11

Ăn mặc, vui chơi

3

Kinh nghiệm sản xuất

Con ngƣời và đời sống vật chất

nhà không móng xe không bánh của x 4 tiền của đồng tiền tiền nhà không chủ thuyền không lái thuyền mạnh về lái nồi đồng thuyền theo lái ăn cơm không rau cơm không rau cơm vào dạ ăn đƣợc ngủ đƣợc không ăn không ngủ thấy ăn nam thực nữ thực ăn trầu không có rễ cờ phải nƣớc bí ăn làm ruộng không trâu làm ruộng có trâu

185

uốn cây từ thuở còn non

56

Quan hệ gia đình

Con ngƣời và đời sống xã hội

phận gái mẹ già con nhà có cố có ông trẻ mùa hè gái lớn trong nhà gái không chồng x 4 gái có con gái không con trai tơ lấy phải nạ dòng bố dòng lấy đƣợc gái tơ nạ dòng lấy đƣợc trai tơ chồng già vợ trẻ vợ già chồng trẻ trai phải hơi vợ gái phải hơi trai chồng cần vợ kiệm chồng vợ vợ chồng x 3 trai có vợ x 3 gái có chồng x 3 gái chồng rẫy con giữ cha con có cha con không cha x2 con có mẹ con có mạ mẹ già con đàn chị em dâu chị em gái anh em bố chồng x 2 mẹ chồng x 2 nàng dâu x 2

186

Quan hệ xã hội

10

bố vợ mẹ vợ chàng rể con trai ở nhà vợ bắt chấy cho mẹ chồng cƣới vợ không cheo x 2 lấy vợ không cheo nam vô tửu trai thấy gái lạ quan thấy kiện lễ vào quan việc quan lính tuần miệng quan ơn dân dân quân vô tƣớng

Con ngƣời và đời sống tinh thần

48

Quan niệm về nhân sinh

cứu bệnh mỗi năm mỗi tuổi ngƣời già đàn ông x 4 đàn bà x 3 đẹp x 3 vênh váo ngƣời ta x 2 có tiền x 2 không tiền x 2 khôn dại phũ (phàng) x 2 tiền vào nhà khó ngƣời x 2 thấy việc dữ ác

187

3

Quan niệm về tôn giáo, tín ngƣỡng

lòng ngƣời lời nói x 2 ngƣời sa lời nói nói đúng nói với ngƣời say nói ngƣời không học xấu ngƣời dốt ngãi khỏe lênh đênh to rẻ ngƣời đẹp vì lụa một lần dọn nhà ngông nghênh nhăng nhít phải duyên thì dính trái duyên chổng chểnh miệng bà đồng

166

Tổng cộng

Phụ lục 5: PHÂN LOẠI YẾU TỐ B TRONG SSTT CỦA TỤC NGỮ VIỆT

THEO ĐỀ TÀI

Con ngƣời và giới tự nhiên

Tự nhiên

12

non sông có nguồn nƣớc thủy triều lửa đốt đầu gió gió vào nhà trống trời mƣa

Đề tài Yếu tố B Số lƣợng

188

bể

mây giếng khơi nƣớc lã ruộng

máu rồng cánh không lông gà thấy ngô cóc cụt đuôi hổ

miêu quạ thấy gà con cò bợ phải trời mƣa rồng có vây

gà giữ ổ nòng nọc đứt đuôi lông cánh phƣợng lông lợn hạch đách lợn sề

Động vật

31

ông Ba Vì chó nằm gầm chạn bồ nông mò biển rái vích

mày mạy đòng đong chó x 3 kiến thấy mỡ khỉ tế giác chim sổ lồng voi con tằm

189

hổ vô đầu

hoa đất x 2 cây có cội dâu ngả bóng bồ hòn có rễ

bè nghể trôi sông thài lài phải cứt chó nứa trôi sông cây không rễ thì cây hƣ măng ấp bẹ

Thực vật

22

chuối chín cây tre ấm bụi cái nhân sâm bèo trôi sông

lúa tốt vì phân cây gỗ tròn hoa bèo x 2 chuối hột

nghệ rơm bóng không ngƣời chân tay

6

Bộ phận cơ thể ngƣời

cuống ruột trôn trẻ máu thân không của

Đồ vật

53

Con ngƣời - đời sống vật chất

chổi trời cƣa trời tấc vàng tiền bỏ đi

190

kho

thuốc tiêu thuốc gió thuốc tiên bè tháng sáu rào giậu giỏ x 2 hom vang cơi đựng trầu

đĩa vôi cái bầu kỳ vô phong keo

kèo đục vênh cái nơm rối x 2 tiền bỏ đi x 2 tiền gieo xuống suối

giỏ phân hom đũa có đôi lỗ tiền chôn giỏ có hom

rợ buộc chân cối xay chết ngõng chông mác

rác tủ không khóa gông đeo cổ phản gỗ long đanh vàng x 2

191

nhà có nóc

gạch tƣợng mới tô bồ nghe chửi rợ cọc chèo lồng chim khƣớu than vào lò ngãi gói vàng ngọc không mài

kèo neo không mấu nƣớc mắm thối chấm lòng lợn thiu

3

Ăn mặc, vui chơi

hạt cơm dính mỡ ao rƣợu néo không mấu

3

Kinh nghiệm sản xuất

bào chèo

13

Quan hệ trong gia đình

vợ giữa làng chồng giữa làng gái năng tô mẹ ruột đĩ thấy cha bố vợ phải đấm rể nằm nhà ngoài gái không chồng làm dâu có chồng gái mạnh về chồng gái theo chồng chồng xấu dễ sai

Con ngƣời và đời sống xã hội

192

dạy con

4

Quan hệ xã hội

thiên hạ có vua bà hoàng hậu chúa muôn loài khách vãng lai một thời

Con ngƣời và đời sống tinh thần

làm giàu không thóc đánh nhau không có ngƣời gỡ vạ vào mình cứu hỏa đuổi xuân đi

15

Quan niệm về nhân sinh

mơ thấy vàng mơ đƣợc vàng trông vào vách ngƣời ta chết để tiếng vay không trả

ba lần cháy gãi vào chỗ ngứa đàn bà một mắt ngƣời khôn x 2

11

Quan niệm về tôn giáo, tín ngƣỡng

nhà giàu chết không kèn trống tiên x 5 ma chửa cất ma duyên nợ nần duyên tiên trên đời

Tổng cộng

173

193

Phụ lục 6: PHÂN LOẠI YẾU TỐ A, B TRONG SSTT CỦA TỤC NGỮ VIỆT

THEO TIÊU CHÍ TỪ VỰNG – CÚ PHÁP

1/ Yếu tố A:

Động từ/ Động ngữ

Cụm C-V

Danh từ/ Danh ngữ

Tính từ/ Tính ngữ

làm ruộng không trâu

nƣớc mƣa mƣa tháng ba

ăn cơm không rau

gió thổi con nhà có cố có ông

đẹp x2 đẹp ngông nghênh nhăng nhít

mƣa tháng sáu

ăn đƣợc ngủ đƣợc

con không cha thì con trễ

nứa trôi sông không

không ăn không ngủ thấy việc thấy ăn lởn vởn

trâu chết để da

tấc đất mặt đỏ mặt vàng một nạm gió một cây mít cơm tẻ

thuyền không lái

vênh váo khôn x 3 dại x 3 phũ x 2 dữ ác

giập thì gãy con giữ cha gái có con gái không con

cứu bệnh có mẹ già phải duyên thì dính trái duyên chổng chểnh

gái không chồng

một lời nói ngƣời dốt

đêm nằm mê mẩn x 2 bắt chấy cho mẹ

xấu khỏe

nam vô tửu

chồng

nam thực

tiền ngãi của

lỗi thời to rẻ

ăn trầu không có rễ một lần dọn nhà

nữ thực

trai thấy gái lạ trai tơ lấy phải nạ dòng

của một cái rắm

ăn x 2 làm

cƣới vợ không cheo

nói đúng

cƣới vợ không cheo

nói với ngƣời say

trẻ mùa hè mỗi năm mỗi tuổi ngƣời già

lấy vợ không cheo trai phải hơi vợ

nói uốn cây từ thuở còn

non

gái phải hơi trai chồng cần vợ kiệm vợ chồng may rủi vợ chồng hòa thuận

đàn ông đàn bà phận gái lời nói chồng già vợ trẻ vợ già chồng trẻ đàn ông

trai có vợ x 3 làm ruộng có trâu thuyền mạnh về lái

194

chồng vợ vợ chồng mẹ già con đàn chị em dâu chị em gái anh em bố chồng x 2 mẹ chồng x 2 nàng dâu bố vợ mẹ vợ chàng rể tiền của đồng tiền ngƣời ta của miệng bà đồng việc quan lính tuần miệng quan ơn dân dân ngƣời ta ngƣời ngƣời

gái có chồng x 3 gái không chồng x 3 thuyền theo lái củi tre dễ nấu nồi đồng dễ nấu ruộng đầu chợ ruộng giữa đồng con có cha con không cha con có mẹ con có mạ con trai ở nhà vợ ngƣời đẹp vì lụa quan thấy kiện lễ vào quan tiền vào nhà khó cờ phải nƣớc bí ngƣời sa lời nói nhà không móng xe không bánh quân vô tƣớng nhà không chủ cơm không rau cơm vào dạ nàng dâu mới về gái lớn trong nhà ngƣời không học hoa thơm ai chẳng

nâng niu ruộng không phân

của lòng ngƣời đàn ông x 2 đàn bà x 2

dâu năng hái hòn đất nỏ

61

22

20

63

Tổng cộng: 166 yếu tố A

195

2/ Yếu tố B:

Cụm C-V

Danh từ/ Danh ngữ

cƣa trời

nhà giàu chết không kèn trống

Động từ/ Động ngữ làm giàu không thóc đánh nhau không có

chổi trời

ngƣời gỡ

tiền bỏ đi

hoa đất máu rồng tấc vàng giỏ phân sào ruộng bó chèo chó

cứu hỏa đuổi xuân đi mơ thấy vàng mơ đƣợc vàng néo không mấu bị phải trời mƣa bào

đĩ thấy cha gà thấy ngô cây có cội dâu ngả bóng sông có nguồn bè nghể (ngổ) trôi sông quạ thấy gà con nƣớc mắm thối chấm lòng lợn

gãi vào chỗ ngứa

thiu

tủ không khóa

mẹ ruột voi tiên bèo x 2 chuối hột kho non

vay không trả trông vào vách

ma chửa cất cóc cụt đuôi bồ hòn có rễ kỳ vô phong kèo đục vênh

gái theo chồng

rồng có vây

rợ buộc chân

nắm thuốc tiêu bè tháng sáu ba rào giậu giỏ giếng khơi đĩa hom vôi cơi đựng trầu liều thuốc gió lọ thuốc tiên miêu keo duyên nợ nần cái bầu

chồng xấu dễ sai x 2 tiền gieo xuống suối cò bợ phải trời mƣa thài lài phải cứt chó gông đeo cổ phản gỗ long đanh cối xay chết ngõng làm dâu có chồng gái mạnh về chồng giỏ có hom đũa có đôi tiền bỏ đi gái chồng rẫy chẳng chứng nọ

hổ

cũng tật kia

196

tiên cái nơm rối rối con tằm lỗ tiền chôn chông mác rác rơm giỏ hom tiên duyên tiên trên đời bầu nƣớc lã cái nhân sâm chân tay lông cánh phƣợng lông lợn hạch đách lợn sề

gà giữ ổ nhà có nóc nòng nọc đứt đuôi cây không rễ thì cây hƣ măng ấp bẹ thiên hạ có vua chuối chín cây tre ấm bụi tƣợng mới tô bồ nghe chửi bèo trôi sông bố vợ phải đấm chó nằm gầm chạn rể nằm nhà ngoài bồ nông mò biển khách vãng lai một thời lúa tốt vì phân kiến thấy mỡ than vào lò lửa đốt đầu gió vào nhà trống

hạt cơm dính mỡ

bà hoàng hậu rợ cọc chèo ông Ba Vì nƣớc thủy triều

chim sổ lồng gái không chồng ngọc không mài

chúa muôn loài

bóng không ngƣời

cánh không lông

cuống ruột rái vích mày mạy đòng đong tiên chó lồng chim khƣớu ao rƣợu

hổ vô đầu gái năng tô kèo neo không mấu vợ giữa làng chồng giữa làng thân không của dạy con từ thuở con còn ngây thơ vạ vào mình ngƣời khôn ai chẳng kính yêu

trôn trẻ

mọi bề

197

ngƣời khôn ai chẳng nâng niu bên

mình ngƣời ta chết để tiếng

chó cây gỗ tròn ba lần cháy hoa đất hoa vàng ngãi tê giác khỉ đàn bà một mắt bể gói vàng một đọi máu mây gió ma tiên gạch vàng vang nghệ

71

90

12

Tổng cộng: 173 yếu tố B

Phụ lục 7:

1/ “Tiên”:

-Ăn được ngủ được là tiên...

-Chồng già vợ trẻ là tiên/ Vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần.

-Chồng cần vợ kiệm là tiên… -Vợ chồng may rủi là duyên/ Vợ chồng hòa thuận là tiên trên đời.

-Đẹp như tiên lo phiền cũng xấu.

-Khôn như tiên không tiền cũng dại…

2/ Giỏ & hom:

THỐNG KÊ CÁC HÌNH ẢNH LẶP LẠI Ở YẾU TỐ B TRONG SSTT CỦA TN VIỆT

198

-Trai có vợ như giỏ có hom.

-Đàn ông như giỏ, đàn bà như hom

3/ Rối:

-Đẹp như rối, không mối không xong.

-Đẹp như rối, chẳng có mối tối nằm không.

4/ Tiền:

-Cưới vợ không cheo, tiền gieo xuống suối.

-Ngông nghênh nhăng nhít là tiền bỏ đi.

-Trai có vợ như lỗ tiền chôn.

-Đồng tiền là chúa muôn loài/ Người ta là khách vãng lai một thời.

-Tiền của như nước thủy triều.

5/ Hoa:

-Người ta là hoa đất.

-Người như hoa ở đâu thơm đấy.

6/ Hoa thơm, ngƣời khôn:

-Hoa thơm ai chẳng nâng niu Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề.

-Hoa thơm ai chẳng muốn đeo Người khôn ai chẳng nâng niu bên mình.

7/ Vàng:

-Người là vàng, của là ngãi.

-Lời nói, gói vàng.

-Tiền là gạch, ngãi là vàng.

-Bố dòng lấy được gái tơ/ Đêm nằm mê mẩn như mơ thấy vàng.

-Nạ dòng lấy được trai tơ/ Đêm nằm mê mẩn như mơ được vàng.

8/ Bèo:

-Rẻ như bèo nhiều hươu cũng hết.

-Gặp thời thì nổi hòa huênh/ Lỗi thời thì lại lênh đênh như bèo.

9/ Chó:

-Hà tiện mới có, phũ như chó mới giàu.

-Có độc mới đủ, có phũ như chó mới giàu.

-Khôn như tiên không tiền cũng dại/Dại như chó có ló (lúa) cũng khôn.

199

10/ Cơm không rau:

-Ăn cơm không rau như đánh nhau không có người gỡ.

-Cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống.

Phụ lục 8: PHÂN LOẠI YẾU TỐ A TRONG SSTT CỦA TỤC NGỮ ANH

THEO ĐỀ TÀI

Con ngƣời và giới tự nhiên

Tự nhiên

5

England x 2 (nƣớc Anh) change of the weather (sự thay đổi của thời tiết) the air of a window (gió ngoài cửa sổ) march (tháng ba)

Động vật

1

Thực vật

2

10

Cơ thể ngƣời

a wolf (con sói) a black plum (cây mận đen) the sloe tree (cây mận gai) a good face (gƣơng mặt đẹp) the mouth x2 (cái miệng) the eyes (mắt) a flatterer's throat (cổ họng) health (sức khỏe) a cough (ho) a brain (não) a tongue x 2 (lƣỡi)

13

Đồ vật

Con ngƣời và đời sống vật chất

a back door (cửa sau) the mirror (tấm kính) debt (nợ)

Đề tài Yếu tố A Số lƣợng

200

10

Ăn mặc, vui chơi

riches (của cải) the chamber of sickness(căn phòng bệnh) fortune (gia tài) a dowry (của hồi môn) money x 3 (tiền) a women's sword (thanh gƣơm) the pen (cây viết) a book (quyển sách) fine dressing (mặc đẹp) wine x 2 (rƣợu) bread (bánh mì) an apple-pie without some cheese (bánh nhân táo không có phó mát) cards (bài bạc) hunger x 2 (cái đói) fair play (chơi đẹp) sleep (giấc ngủ)

7

Kinh nghiệm lao động, sản xuất

building (xây dựng) a bargain (sự trả giá) dear bought (việc mua ngọt ngào) business (kinh doanh) affairs(việc buôn bán) trade (thƣơng mại) three removals (ba lần chuyển nhà)

7

Quan hệ gia đình

Con ngƣời và đời sống xã hội

40

Quan hệ xã hội

children x 2 (trẻ con) two daughters(hai cô con gái) the wife(ngƣời vợ) wedlock(tình trạng có gia đình) marriage x 2(hôn nhân) nobility (quý tộc) a merry companion (ngƣời bạn vui tính)

201

a friend(ngƣời bạn) friendship(tình bạn) a physician(bác sĩ) law x 2(luật sƣ) a client (khách hàng) a young maid (cô gái trẻ) a woman x 2 (ngƣời phụ nữ) man (ngƣời đàn ông) the world x 3 (thế giới) sailors (thủy thủ) soldiers (ngƣời lính) women x 6 (những ngƣời phụ nữ) the receiver (ngƣời nhận) the liar and the murderer (kẻ nói dối và tên giết ngƣời) a whore (cô gái điếm) a solitary man (ngƣời đàn ông đơn độc) great talkers (những ngƣời nhiều chuyện) a flatterer (ngƣời nịnh hót) who has done no good while he lived (ngƣời không làm gì tốt khi còn sống) a blab (ngƣời ba hoa) an ilde person (kẻ lƣời biếng) lovers (những ngƣời đang yêu) he that gives honour to his enemy (ngƣời nhƣờng danh dự cho kẻ thù) a gentleman without an estate (quý ông không có tài sản) custom x 2 (phong tục) old age (tuổi già) gentility (ngƣời thuộc dòng dõi cao quý) great birth (ngƣời thuộc tầng lớp quý tộc)

202

Con ngƣời và đời sống tinh thần

83

Quan niệm về nhân sinh

wickedness with beauty (sự độc ác và cái đẹp) a fair woman without virtue(ngƣời phụ nữ đẹp không có đức hạnh) beauty x 2 (cái đẹp) a change (sự thay đổi) brag (sự khoe khoang) conscience x 5 (lƣơng tâm) content (sự hài lòng) a contented mind (đầu óc thỏa mãn) enough (vừa đủ) a man's discontent (sự không hài lòng) cruelty (sự tàn bạo) war (chiến tranh) deeds (hành động) words x 2 (lời nói) slander (lời phỉ báng) reward and punishment (thƣởng và phạt) fame x 6 (danh tiếng) a good name (tiếng tốt) credit lost (mất uy tín) fear (sự sợ hãi) music (âm nhạc) virtue and happiness (đạo đức và hạnh phúc) virtue (đạo đức) gossips (những ngƣời ngồi lê đôi mách) the secret (bí mật) laughter (nụ cƣời) mirth (sự vui vẻ) joy and sorrow (niềm vui và nỗi buồn) hatred(oán thù) plain dealing (sự thẳng thắn)

203

honesty (thành thật) an honesty man's word (lời nói của ngƣời thành thật) honour without profit (danh dự mà không có lợi nhuận) hope x 2 (niềm hi vọng) sloth (sự lƣời biếng) ignorance and incuriousity (sự ngu dốt và không tò mò) learning (học vấn) wit without learning (thông minh mà không học) knowledge (kiến thức) practice (thực hành) learning in the breast of a bad man (học vấn trong đầu óc của kẻ xấu) liberty (sự tự do) life x 4 (cuộc đời) every day of the life (mỗi ngày trong đời) love x 2 (tình yêu) war, hunting and love (chiến tranh, săn bắn và tình yêu) love without return (yêu mà không quay đầu lại) a man without reason (ngƣời sống không có lí tƣởng) zeal without knowledge (nhiệt tình mà thiếu hiểu biết) patience (kiên nhẫn) pride (tự hào) promises x 2 (lời hứa) proverbs (TN) revenge (sự trả thù) silence x 2 (im lặng) quietness (sự yên tĩnh) speech (lời nói) skill and confidence (kĩ năng và sự tự tin) time x 2 (thời gian)

204

mistrust (sự nghi ngờ) truth x 2 (sự thật) mere wishes (mong ƣớc suông) literature (văn học)

9

Quan niệm về tôn giáo, tín ngƣỡng

curses (những lời nguyền rủa) beasts x 2 (quái vật) the devil's mouth (miệng của quỷ) a man without religion (ngƣời không có đạo) the blood of the martyrs (máu của kẻ tử vì đạo) the church (nhà thờ) death (cái chết) a monk out of his cloister (thầy tu ra khỏi tu viện)

Tổng cộng:

187

Phụ lục 9: PHÂN LOẠI YẾU TỐ B TRONG SSTT CỦA TN ANH THEO ĐỀ

TÀI

Con ngƣời và giới tự nhiên

10

Tự nhiên

Động vật

fire x 2 (lửa) a shipwreck (nạn đắm tàu) a little garden full of very sour weeds (khu vƣờn nhỏ đầy hạt giống xấu) a river (dòng sông) a shadow (bóng râm) a field of nettles (cánh đồng trồng cây tầm ma) the wind x 2 (cơn gió) a fair garden (khu vƣờn đẹp) pigeons (bồ câu) chickens (gà) an ass x 3 (con lừa)

Đề tài Yếu tố B Số lƣợng

205

a dog x2 (con chó) muck (phân động vật) a beast x2 (con thú lớn) frogs (ếch) a goose twixt two foxes (con ngỗng giữa hai con cáo) a lion (sƣ tử) a lamb (cừu) horses x3 (ngựa) butterflies (bƣơm bƣớm) a fish x2 (cá) monkeys (khỉ) a lamb's tail (đuôi cừu) wasps (ong bắp cày)

11

Thực vật

8

Cơ thể ngƣời

a white plum (cây mận trắng) a flower x 3 (hoa) a blossom (hoa) fruits (quả) leaves (lá) a plant (cây) a tree without fruit (cây không có trái) flax (cây lanh) cherry (anh đào) bond x 2 (xƣơng) the breath (hơi thở) a scab (ghẻ, vảy ở vết thƣơng sắp lành) the plague (bệnh truyền nhiễm) a span (gang tay) tongue (lƣỡi) the eye (mắt)

Con ngƣời và đời sống vật chất

58

Vật thể nhân tạo

a house x 2 (ngôi nhà) a letter of recommendation (thƣ giới thiệu)

206

ancient riches (của cải lỗi thời) debt (nợ) a wagon (xe ngựa) a pillow x 2 (cái gối) a coat of mail (áo giáp) the philosopher's stone (đá tạo vàng) a sheet (tờ giấy) a sword (thanh gƣơm) the walls (bức tƣờng) the glass of the mind (tấm gƣơng của trí tuệ) the staff of life (chiếc gậy của cuộc sống) the window of the soul (cửa sổ tâm hồn) the perfume of heroic deeds (hƣơng thơm của những hành động anh hùng) a magnifying glass (kính phóng đại) a heritage (tài sản thừa kế) a Venice-glass (kính của nƣớc Ý) the prison of the heart (tù ngục của trái tim) a jewel of great price (trang sức quý giá) the medicine (thuốc men) great riches (của cải) a cross-bow (cái ná) a jewel x 4 (trang sức) a ring (chiếc nhẫn) a bottomless pit (hố không đáy) padlock (cái ổ khóa) lottery (vé số) a bed full of brambles (chiếc giƣờng đầy gai) a new house thatched with old straw (căn nhà mới lợp rơm cũ) treasure x 2(tài sản)

207

the key x 2 (chìa khóa) a miser's purse (chiếc ví) a mine of gold (mỏ vàng) chimneys (ống khói) a hospital (bệnh viện) an anvil (cái đe) garment (trang sức) silver (bạc) golden (vàng) a good weapon (vũ khí lợi hại) leaky pitchers (cái bình bị rò rỉ) money (tiền bạc) an axe (cái búa) a weathercock (chong chóng chỉ hƣớng gió) a net (cái lƣới) a good staff (cây quyền trƣợng tốt) a bad crutch (cái nạng tồi) rust (rỉ sét) a stage (sân khấu) a ladder (cái thang)

20

Ăn mặc, vui chơi

palled wine (rƣợu nhạt) a pudding x 2 (bánh pudding) a very poor dish (món ăn dở) a rest (nghỉ ngơi) a feast x 3 (tiệc tùng) the honey (mật ong) the food (thức ăn) the sugar (đƣờng) the salt (muối) salt fish (cá khô) the bread (bánh mì) meat (thịt) the sauce (nƣớc chấm) a cake (chiếc bánh ngọt) pie-crust (vỏ bánh) a dish (món ăn)

208

the ace of trumps (con át chủ bài)

1

Quan hệ gia đình

Con ngƣời và đời sống xã hội

28

Quan hệ xã hội

mother and daughter (mẹ và con gái) a thief x 4 (tên trộm) a pick-purse (tên móc túi) a witnesses (nhân chứng) a tyrant (tên bạo chúa) the physician (bác sĩ) children of the same village (trẻ con cùng một ngôi làng) a turncoat (kẻ phản bội) the executioner (đao phủ) the doctor (bác sĩ) a backbiter (kẻ nói xấu sau lƣng) a flatterer (kẻ nịnh hót) a friend x 2 (ngƣời bạn) a liar (ngƣời nói dối) the prisoner (tù nhân) neighbours (hàng xóm) a lickpenny (móc túi) the idol of fools (thần tƣợng của kẻ ngốc) madmen (ngƣời điên) the mistress (bà chủ) an army (quân đội) the monarch (quốc vƣơng) a servant (đầy tớ) master (ông chủ) a file (gã láu cá) evil x 2 (thảm họa, tai họa)

Con ngƣời và đời sống tinh thần

11

Quan niệm về nhân sinh

an evil conscience (lƣơng tâm tội lỗi) a kiss without a squeeze (cái hôn mà không ôm chặt) a thin shadow of eternity (cái bóng của sự trƣờng tồn)

209

the discourse of fools (bài diễn văn của kẻ ngốc) love (tình yêu) the dream (giấc mộng) a leaf in the history (một trang trong lịch sử) pleasure (điều thú vị) a question without an answer (câu hỏi không có câu trả lời) the devil's hook baited (mồi câu của quỷ) God (Chúa) the divinity (thần thánh) an sepulchre (ngôi mộ) the paradise (thiên đƣờng) the hell (địa ngục) the purgatory (tĩnh ngục)

28

Quan niệm về tôn giáo, tín ngƣỡng

death x 2 (cái chết) the devil's books (sách của quỷ) the chapel of devotion (nhà nguyện) the trumpeter of death (lính thổi kèn của thần chết) an angel x 3 (thiên thần) a devil x2 (ác quỷ) the devil's workshop (phân xƣởng của quỷ) the devil's cushion (cái nệm của quỷ) a pilgrimage (cuộc hành hƣơng) devil's nets (lƣới của quỷ) saints (thánh) death's feast (bữa tiệc của thần chết) the seed of the church (hạt giống của nhà thờ) a beast (con quái vật) God's daughter (con gái của Chúa)

210

a spectre (bóng ma) the snares of Satan (bẫy của quỷ Satan)

Tổng cộng:

198

Phụ lục 10: PHÂN LOẠI YẾU TỐ A, B TRONG SSTT CỦA TỤC NGỮ ANH

THEO TIÊU CHÍ TỪ VỰNG – CÚ PHÁP

Yếu tố A

Cụm C-V

Danh từ

March A wolf Debt Money Friendship War

Curse ….

children pick up words children utter them (words) again he that is a blab march comes in march goes out a young maid married to an old man he who has done no good while he lived he that gives honour to his enemy

179

8

Số lƣợng: Tổng: 187 yếu tố

Yếu tố B

Danh từ

Cụm C-V

Fire Wind Lamb

Cherry Sword Chimney Axe Cake God

Paradise

Angel Wagon

pigeons peas a good dog but dares not bite a foul house swept before the doors a tyrant that's always attended with fear a new house thatched with old straw the honey that is licked from the thorn the dream of those that wake god shall please a plant which must be often watered muck, which stink in a heap, but spread abroad make the earth fruitful an angel when employed, but a devil when one must pay him a flower that grows not in every one's

211

Anvil

garden a flower that grows in the devil's garden an anvil which has worn out many hammers a dish that can be eaten cold a file that wears and makes no noise

Weathercock Warsp …

16

182

Số lƣợng: Tổng: 198 yếu tố

Phụ lục 11:

1/ Rich: Gentility is but ancient riches. Dòng dõi cao quý chỉ là thứ của cải lỗi thời. Health is great riches. Sức khỏe là tài sản vô giá.

2/ A pudding wanting suet: Nobility, without ability, is like a pudding wanting suet. Giới quý tộc không có năng lực giống như chiếc bánh pudding cần có lớp mỡ bao quanh. A gentleman without an estate is like a pudding without suet. Quý ông không có tài sản giống như chiếc bánh pudding không có lớp mỡ bao quanh.

3/ Dish: Revenge is a dish that can be eaten cold. Sự trả thù là một món ăn có thể ăn nguội. Great birth is a very poor dish at table. Dòng dõi cao quý là món ăn rất tồi trong bữa tiệc.

4/ Gold: A useful trade is a mine of gold. Một việc buôn bán có lợi là mỏ vàng. Speech is silver, silence is golden. Nói là bạc, im lặng là vàng.

5/ Evil: A great book is a great evil. Một quyển sách hay là một thảm họa khủng khiếp.

THỐNG KÊ CÁC HÌNH ẢNH LẶP LẠI Ở YẾU TỐ B TRONG SSTT CỦA TN ANH

212

A man's discontent is his worst evil. Sự không hài lòng của một người là tai họa tồi tệ nhất.

6/ Bond: An honest man's word is as good as his bond. Lời nói của người chân thật cũng quý như xương tủy của anh ta. An Englishman's word is his bond. Lời nói của một người Anh là cái xương của anh ta.

7/ Friend: The best mirror is an old friend. Tấm gương tốt nhất là một người bạn cũ. As a wolf is like a dog, so is a flatterer like a friend. Con sói thì giống con chó, cũng như kẻ nịnh hót nhìn giống như một người bạn.

8/ Pillow: Ignorance and incuriosity are two very soft pillows. Sự ngu dốt và không tò mò là hai chiếc gối rất êm ái. A good conscience is a soft pillow. Lương tâm trong sạch là chiếc gối êm ái.

9/ Death: Love is as strong as death. Tình yêu cũng có sức mạnh như cái chết. Life without a friend is death without a witness. Sống mà không có bạn bè thì cũng như chết đi mà không có người chứng kiến.

10/ Treasure: Quietness is a great treasure. Im lặng là châu báu quý giá. Knowledge is a treasure but practice is the key to it. Kiến thức là một kho báu nhưng thực hành là chìa khóa để mở nó.

11/ Wind: The mouth is wind, the pen is a track. Miệng là cơn gió, bút viết là dấu tích. Women are as wavering as the wind. Phụ nữ thay đổi như cơn gió.

12/ God: Children pick up words as pigeon peas and utter them again as God shall please. (Trẻ con học từ nhƣ chim bồ câu nhặt đậu và nói lại nhƣ Chúa muốn nhƣ vậy) Truth is God’s daughter. (Sự thật là con gái của Chúa)

213

13/ Feast: A good conscience is a continual feast. Lương tâm trong sạch là những bữa tiệc liên tục. A contented mind is a continual feast. Cách nghĩ hài lòng là những bữa tiệc liên tục. Enough is as good as a feast. Vừa đủ cũng tốt như là được đi dự tiệc. War is death's feast. Chiến tranh là bữa tiệc của thần chết.

14/ Thief: Two daughters and a back door are three arrant thieves. Hai cô con gái và cái cửa sau là ba tên trộm vĩ đại. The receiver is as bad as the thief. Người chỉ biết nhận thì cũng tệ như là kẻ trộm. Sleep is the greatest thief, for it steals half one's life. Giấc ngủ là tên trộm vĩ đại nhất vì nó cướp mất nửa đời người. Building is a thief. Xây dựng là một tên trộm.

15/ Glass: Wine is the glass of the mind. Rượu là tấm gương của trí tuệ. Fame is a magnifying glass. Danh tiếng là chiếc kính phóng đại. Credit lost is like a Venice-glass broken. Uy tín bị mất cũng giống như tấm kính quý bị vỡ.

16/ Jewel: Virtue is a jewel of great price. Đạo đức là trang sức quý giá. Plain dealing is a jewel. Sự thẳng thắn là châu báu. Honesty is a fine jewel, but much out of fashion. Sự trung thực là trang sức quý giá nhưng đã lỗi thời. Fair play is a jewel. Chơi đẹp là đồ trang sức quý giá. Liberty is a jewel. Tự do là vàng bạc.

17/ Devil: Women are the devil's nets. Phụ nữ là cạm bẫy của quỷ. An idle person is the devil's cushion.

214

Kẻ lười biếng là cái nệm của quỷ. An idle brain is the devil's workshop. Một cái đầu lười biếng là phân xưởng của quỷ. Cards are the devil's books. Bài bạc là sách của quỷ. Wickedness with beauty is the devil's hook baited. Sự độc ác đi chung với cái đẹp là mồi câu của quỷ.

18/ Angel: A solitary man is either a beast or an angel. Người cô độc có thể là một con quái vật hoặc là một thiên thần. A physician is an angel when employed, but a devil when one must pay him. Bác sĩ là thiên thần khi được mời đến, nhưng là quỷ sứ khi ai đó phải trả tiền cho ông ta. Women are saints in church, angels in the street, and devils at home. Phụ nữ là thánh trong nhà thờ, thiên thần trên đường phố và quỷ ở nhà.

19/ Horse: A man without religion is like a horse without a bridle. Người không có đạo như ngựa không có cương. Zeal without knowledge is a runaway horse. Nhiệt tình mà thiếu hiểu biết giống như con ngựa lồng lên. Sailors get money like horses and spend it like asses. Thủy thủ kiếm tiền như ngựa và tiêu xài chúng như con lừa.

20/ Flower: Patience is a flower that grows not in every one's garden. Kiên nhẫn là một đóa hoa không nở ở mọi khu vườn. Pride is a flower that grows in the devil's garden. Sự kiêu căng là một đóa hoa nở trong khu vườn của quỷ. Beauty fades like a flower. Cái đẹp phai tàn như một bông hoa.

21/ Fire: Three removals are as bad as a fire. Ba lần dọn nhà thì cũng tệ như là một lần cháy. A woman is flax, man is fire, the devil comes and blows the bellows. Phụ nữ là những sợi lanh, đàn ông là lửa, bọn quỷ đến và thổi vào ống bể.

22/ Ass: The law is an ass. Pháp luật là một con lừa. He that gives honour to his enemy, is like to an ass. Người nhường danh dự cho kẻ thù của mình chẳng khác gì một con lừa.

215

Sailors get money like horses and spend it like asses. Thủy thủ kiếm tiền như ngựa và tiêu xài chúng như con lừa. Phụ lục 12: CẤU TẠO CỦA CSSS TRONG SSTT CỦA TỤC NGỮ VIỆT

VÀ TỤC NGỮ ANH

Động từ/ động ngữ không lo cũng hết

ăn mòn cũng hết

lởn vởn

sa đâu ấm đấy

mê mẩn x 2

fades (phai tàn) come home to roost (về nhà mình mà đậu) ought to be a good while a-soaking (chỉ trở nên tốt khi nhúng vào nước) consumes faster than labour wears (phân hủy nhanh hơn khi lao động) better broken than kept (nên bẻ gãy hơn là giữ lại) made to be broken (được làm ra để bẻ vụn) dính gặp đâu úp đấy wavering (dao động) chẳng có mối tối nằm không wags (ve vẩy, lúc lắc) không mối không xong ở đâu thơm đấy khôn dò không coi cũng ngã lại rút ruột ra lênh đênh

nông nổi sâu sắc cạn lòng bạc nghĩa

Tính từ/ tính ngữ

chổng chểnh khôn x 2 dại x 2

sweet (ngọt ngào) good x 3 (tốt) bad x 2 (xấu, tệ) white (trắng) narrowest at its source and broadest afar off (hẹp nhất ở thượng nguồn và rộng nhất phía hạ nguồn) as well as (cũng tốt như) fine but much out of fashion (đẹp

TN Việt TN Anh

216

Cụm C-V nào ai bày cỗ

nhiều hƣơu cũng hết

nhưng hầu hết đã lỗi thời) strong (mạnh mẽ) as full of trouble as pleasure (đầy đủ niềm vui cũng như nỗi buồn) that turn all it touches into gold (nó chuyển mọi thứ nó chạm vào thành vàng) which stink in a heap, but spread abroad make the earth fruitful (nó sẽ bốc mùi hôi thối khi chất thành đống nhưng nếu rải ra thì nó sẽ làm cho mặt đất trở nên màu mỡ) they drink and talk (chúng nhậu nhẹt và bắt đầu nói) if you let it (secret) go, you art a prisoner to it (nếu bạn để bí mật ra đi, bạn đã tạo nên một tù nhân cho nó) that grows not in every one's garden (nó (bông hoa) không nở trong mọi khu vườn) that grows in the devil's garden (đóa hoa chỉ nở trong khu vườn của quỷ) some are caught, others fly away (vài con đậu, vài con bay) that can be eaten cold (món ăn có thể ăn khi nguội) for it steals half one's life (vì nó (giấc ngủ) đánh cắp hết nửa đời người) everything runs out of them (mọi thứ chảy ra ngoài chúng) she does not let it rust (cô ấy không để nó rỉ sét) the more we stir in it, the more we are entangled (chúng ta càng chuyển động thì càng bị mắc kẹt trong đó) every man plays his part (mỗi người sẽ diễn phần của mình) some to go up and some down (một số người lên và một số người xuống)