BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH --------------------- PHẠM ANH HOA THIÊN NHIÊN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MARK TWAIN
Chuyên ngành : Văn học Nước ngoài Mã số : 60 22 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Đào Ngọc Chương
Thành phố Hồ Chí Minh – 2007
MARK TWAIN (1835 – 1910)
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mark Twain, bút danh của Samuel Langhorne Clemens (1835 – 1910) được coi là
người đã khai sinh ra nền văn học hiện đại Mĩ, theo cách nhìn của Ernest Hemingway; là
Lincoln của văn học Mĩ như cách gọi của William Dean Howells. Cùng với nhiều tác giả
khác ở thế kỉ XIX, ông đã góp phần tạo nên bản sắc Mĩ cho nền văn học non trẻ vốn chịu
ảnh hưởng văn học Anh quốc. Về mặt này, ngòi bút hiện thực của ông, dựa trên thứ tiếng
Mĩ “bình dân, sống động, khoẻ khoắn” cùng chất uy-mua đặc trưng vùng biên cương, đã vẽ
nên những khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, cuốn hút và đậm chất Mĩ. Nổi bật trong những
bức tranh ấy là hình ảnh dòng Mississipi hùng vĩ và cuộc sống gắn với những chuyến phiêu
lưu của những con người miền Tây…
Tuy nhiên, các sáng tác của Mark Twain, đặc biệt là hai tác phẩm đỉnh cao là Những
cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn đặt trong
bối cảnh của nước Mĩ cuối thế kỉ XIX, còn chứa đựng cả những vấn đề của thời đại. Trong
các tác phẩm của ông, thiên nhiên miền Tây hoang dã với những dấu tích của văn minh
nông nghiệp được các nhân vật say sưa khám phá. Vì vậy, thiên nhiên hoang dã ấy còn
mang ý nghĩa đặc biệt như là sự phản đối nền văn minh công nghiệp bấy giờ. Một cách nhìn
nào đó, nó gợi lên vấn đề quay về quá khứ để tìm tính cách, bản chất con người.
Như vậy các tác phẩm của Mark Twain, đặc biệt hai tiểu thuyết đỉnh cao của ông
không chỉ mang ý nghĩa thẩm mĩ mà còn chứa đựng những vấn đề xã hội và triết học sâu
sắc. Đây là hướng và đồng thời là lí do khiến chúng tôi khảo sát “Thiên nhiên trong tiểu
thuyết của Mark Twain”.
Hơn nữa ở Việt Nam, ông là một trong số ít tác giả văn học Mĩ được lựa chọn để
giảng dạy cả trong chương trình dành cho sinh viên cũng như học sinh phổ thông trung học.
Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã quan tâm đến nhiều phương diện, nhiều vấn đề về ông, về
tác phẩm của ông như chúng tôi sẽ tổng thuật trong phần Lịch sử vấn đề sau đây, nhưng
chưa thực sự tập trung nghiên cứu vấn đề thiên nhiên như biểu tượng đặc biệt của cái nhìn
thẩm mĩ và triết lí. Chính vì thế việc chúng tôi nghiên cứu vấn đề thiên nhiên trong tiểu
thuyết của Mark Twain mang một ý nghiã thiết thực. Những gì luận văn của chúng tôi đạt
được sẽ góp thêm một tiếng nói, một cách đánh giá vào dòng nghiên cứu và giảng dạy tác
phẩm của Mark Twain, ít nhất là ở nước ta hiện nay.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát, lí giải vấn đề thiên nhiên
trong tiểu thuyết của Mark Twain với hai ý nghĩa chính : thiên nhiên như là tự nhiên và
thiên nhiên như là bản chất con người nhân vật. Ở ý nghiã thứ nhất chúng tôi tìm hiểu
không gian gắn với những cuộc phiêu lưu của các nhân vật. Còn trong ý nghĩa thứ hai đó là
sự thuần phác trong đời sống tinh thần của các nhân vật được bộc lộ qua các hành động.
Chính trọng tâm này đã dẫn chúng tôi đến việc giới hạn chỉ tìm hiểu vấn đề thiên
nhiên trong hai tiểu thuyết nổi tiếng của Mark Twain là Những cuộc phiêu lưu của Tom
Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Bởi vì, chỉ trong hai tác phẩm
đỉnh cao này của Mark Twain thì hai ý nghĩa trên của thiên nhiên mới được nhà văn thể
hiện trong mối tương tác hoàn chỉnh nhất của chúng.
3. Lịch sử vấn đề
Từ việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu như trên, chúng tôi, trong quá
trình thu thập tài liệu cho luận văn của mình, đã đặc biệt chú ý đến những ý kiến của các
nhà nghiên cứu về hai ý nghĩa tự nhiên và bản chất của thiên nhiên trong tiểu thuyết của
Mark Twain.
3.1. Thiên nhiên như là tự nhiên
Ở nước ngoài, các nhà nghiên cứu khi hướng sự chú ý vào yếu tố thiên nhiên trong
sáng tác của Mark Twain đã đưa ra những lí giải khác nhau. Năm 1948, trong lời giới thiệu
nhân dịp xuất bản cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, NXB Holt, Rinehart
and Winston, Lionel Trilling đã đặc biệt chú ý đến hình ảnh dòng sông, dòng Mississippi,
như một thế giới đối lập với nước Mĩ công nghiệp cuối thế kỉ XIX và nhìn nhận nó như một
vị thần trong hành trình của Huck và Jim.
Đối diện với thần tiền (money-god) vẫn là vị thần sông (river-god), với những vũ khí
phê phán lặng lẽ – ánh sáng, không gian, những khoảng lặng, sự tĩnh mịch và sự đe
dọa… [74, tr.15].
Còn Leo Marx, trong bài viết “The Pilot and Passenger : Landscape Conventions
and the Style of Huckleberry Finn” được in trong cuốn Mark Twain a collection of critical
essays do Henry Nash Smith biên soạn, NXB Prentice – Hall, 1963, đã so sánh ba đoạn văn
tả cảnh bình minh trên sông Mississippi trong ba tác phẩm Cuộc sống trên dòng Mississippi,
Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Từ
đó, Leo Marx chỉ ra những nét đặc biệt của cảnh đẹp thiên nhiên trong cuốn Huckleberry
Finn. Nét riêng ấy được tác giả lí giải thông qua điểm nhìn của người kể chuyện :
Là người tham dự, Huck nhiều lúc hòa vào dòng sông mà mình đang kể. Do đó cảnh
vật là sự trần thuật trực tiếp của cậu. Phong cảnh được miêu tả bằng nhiều chi tiết
cụ thể, nhưng chúng đến với chúng ta như những ấn tượng chủ quan. Tất cả các giác
quan của người kể chuyện thì sống động và thông qua chúng, tính chất quí giá của
những sự việc cụ thể trở nên nổi bật. [72, tr.56].
Đồng thời, khi xem xét những bức tranh phong cảnh của Mark Twain, tác giả Leo
Marx còn tiến hành liên hệ với những qui ước và phong cách miêu tả thiên nhiên trong văn
chương nói chung để chỉ ra những nét địa phương của phong cảnh miền Tây và văn phong
của ông. Cảnh bình minh trên đảo Jackson trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom
Sawyer được đánh giá là “một cách nói mới về phong cảnh” vì bên cạnh việc sử dụng nghệ
thuật nhân cách hóa quen thuộc đến mức nhàm chán trong văn chương tả cảnh truyền thống,
Mark Twain đã “phá vỡ phong cách của một họa sĩ” khi ông đặc tả một con sâu xanh (the
microscopic focus upon the green worm) vốn được coi là chi tiết không quí phái, không
xứng với những cảnh đẹp như tranh. [72, tr.53].
Có thể nói đây là bài viết khá chi tiết về thiên nhiên trong các sáng tác của Mark
Twain. Tác giả đã xem xét các bức tranh phong cảnh từ góc độ văn phong của nhà văn miền
Tây này. Điều này chỉ có thể tiến hành khi xem xét nguyên tác.
Còn giới nghiên cứu trong nước khi nhắc đến thiên nhiên trong các sáng tác của
Mark Twain thường lí giải chúng như những biểu hiện của bút pháp hiện thực. Các nhà
nghiên cứu hầu hết đều ca ngợi thành công của Mark Twain ở phương diện miêu tả rất sống
động những nét đặc trưng của thiên nhiên biên cương miền Tây trong các tác phẩm của
mình.
Trước năm 1975, trong cuốn sách giáo khoa dành cho chương trình Đệ nhất ABC
sinh ngữ Đại cương văn học sử Mĩ của Đắc Sơn, NXB Khai Trí, Sài Gòn 1961, tác giả viết :
Những cuộc sinh hoạt trên dòng sông, ngoài nội cỏ hay trong cảnh hoang dã của
Hoa Kì đều được mô tả một cách thực thể dưới ngòi bút của Mark Twain qua các tác
phẩm “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”, “Cuộc sống trên sông
Mississippi”… [49, tr.43].
Bối cảnh thiên nhiên miền Tây còn được đánh giá là một trong ba điểm tạo nên tính
hấp dẫn, lôi cuốn người đọc trong các tác phẩm của Mark Twain, bên cạnh “tài kể chuyện
sống động, duyên dáng” và chất “humour”. Đó chính là nhận định của Trần Văn Hoàn
nhân dịp xuất bản cuốn “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer”, trên tạp chí Diễn đàn Mĩ
năm 1967:
… khoảng giữa thế kỉ XIX đã chiếm một địa vị quan trọng trong sáng tác của Mark
Twain : theo chân tác giả, độc giả lần lượt tái diễn cuộc thám hiểm trên trường
giang Mississippi hùng vĩ, cuộc khai phá những đồng cỏ mênh mông đến tận chân
trời của vùng Trung Mĩ…[30, tr.138].
Như vậy, dù mới chỉ dừng ở mức độ giới thiệu nhưng cả hai bài viết đều coi thiên
nhiên như là yếu tố tạo nên nét địa phương trong các sáng tác của Mark Twain.
Sau thời điểm 1975, bài phê bình đầu tiên về các sáng tác của Mark Twain là của tác
giả Lê Đình Cúc. Đó là bài viết “Ngòi bút hiện thực phê phán và nghệ thuật hài hước của
Mark Twain” đăng trên Tạp chí Văn học số 3, tháng 5 – 6 năm 1986. Trong quá trình lí giải
tính hiện thực, Lê Đình Cúc có nhắc đến hai không gian “… trường học, nhà thờ đối lập
hoàn toàn với đời sống, với thiên nhiên…”. Tác giả đã viết khá chi tiết về cái tù túng, ngột
ngạt của không gian nhà thờ, trường học mà chưa nói đến nét hấp dẫn của không gian dòng
sông, hòn đảo trong những cuộc phiêu lưu của Tom, Huck và các bạn. Đối với hành trình
của Huck và Jim, tác giả đánh giá là để “chuồn khỏi cái “thế giới văn minh”của tầng lớp
quí tộc tư sản” nhưng chưa chú ý đến sự liên hệ giữa hành trình ấy và các hình ảnh thiên
nhiên. Đây là điều chúng tôi sẽ nói kĩ trong chương thứ hai của luận văn này.
Đến năm 1988, khi xuất bản cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, nhà xuất
bản Văn học đã in bài giới thiệu của tác giả Hồng Sâm. Các hình ảnh thiên nhiên trong cuốn
tiểu thuyết này cũng được Hồng Sâm nhắc đến như là một sự đối lập với nhà thờ, trường
học. Đồng thời bài viết còn chỉ ra được nét lôi cuốn, hấp dẫn của các hình ảnh thiên nhiên
trong những chuyến phiêu lưu của Tom :
… Và thiên nhiên được miêu tả tuyệt vời : Dòng sông Mississippi mênh mang, bãi cát
trắng ngập ánh mặt trời, khu rừng vắng diễm lệ, hang Mc Daugal huyền bí kì ảo.
Thiên nhiên có tâm hồn, “trầm tư mặc tưởng”, “sáng láng” “ru cái ngủ để sắp sửa
bước vào lao động” rồi “tỉnh hẳn và hoạt động lao xao. Thiên nhiên dịu dàng an ủi
khi các em buồn, nghiêm khắc hoặc nổi giận khi các em thấy mình có lỗi. [62, tr.13].
Đây có thể coi là ý kiến đầu tiên thể hiện sự chú ý tới các hình ảnh thiên nhiên cụ thể
với ý nghĩa là không gian phiêu lưu mặc dù trọng tâm mà tác giả muốn bàn luận vẫn là giá
trị phê phán của tác phẩm.
Sau này, trong một bài viết khác của Lê Đình Cúc, điều đó cũng được nhắc đến. Khi
bàn luận về cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Lê Đình Cúc nhìn nhận :
Chương XIX của “Huck Finn”là một trong những chương thơ mộng nhất của
tác phẩm và của văn chương Mark Twain. Trong khi Huck khám phá hai bờ sông với
bao nhiêu quang cảnh kì thú và hùng vĩ của thiên nhiên thì cũng là dịp Huck chứng
kiến những truyền thống văn hóa của người Mĩ ở những thị trấn tỉnh lẻ. [16, tr.349 –
350].
Đó là nhận định từ bài viết “Truyện thiếu nhi của Mark Twain” đăng trên Tạp chí
Văn học số tháng 6 năm 1997. Tuy ra đời sau bài viết đầu tiên về Mark Twain mà chúng tôi
đã nêu ở trên khá lâu nhưng tác giả vẫn chú trọng tới ngòi bút hiện thực và đánh giá thiên
nhiên như là một nét bổ sung cho tính hiện thực ấy và do đó mọi hình ảnh thiên nhiên sẽ có
“giá trị lịch sử”. Phải chăng vì vậy mà sau này tác giả Lê Đình Cúc đã ghép hai bài viết
thành một và cho in trong cuốn Tác gia văn học Mĩ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 2004,
dưới tiêu đề “Mark Twain (1835 – 1910) – “Đến người bán quan tài cũng phải xót xa
thương tiếc” khi nhà văn qua đời”.
Như vậy có thể thấy các nhà nghiên cứu đã quan tâm nhiều đến tính hiện thực của
yếu tố thiên nhiên trong các tác phẩm của Mark Twain mà chưa gắn nó với truyền thống
phiêu lưu cũng như thể loại tiểu thuyết phiêu lưu của Mĩ để xem xét. Chỉ đến bài viết
“Những cuộc phiêu lưu của Huckle Berry Finn”- nhân vật người kể chuyện và hành trình
của thời đại”, 1997 (bản photocopy) của tác giả Đào Ngọc Chương, vấn đề này mới được
được đề cập đến. Theo chúng tôi, Đào Ngọc Chương đã lí giải một cách khá thuyết phục ý
nghĩa xã hội, lịch sử của hành trình “chối bỏ” văn minh đi về phía thiên nhiên hoang dã của
hai nhân vật Huck và Jim khi đánh giá thiên nhiên như là những biểu tượng :
Cả hai cuộc chạy trốn trên (của Huck và Jim) đều hướng đến tự do theo nghĩa thoát
thoát khỏi những qui định xã hội, tìm về với thiên nhiên mà rừng và sông là những
biểu trưng. Chính vì thế mà cả hành trình là một biểu trưng. [11, tr.19].
Chính sự lí giải này về các hình ảnh thiên nhiên sẽ soi rọi những đặc điểm riêng của
chủ nghĩa hiện thực Mĩ trong tiểu thuyết của Mark Twain. Đây chính là một gợi ý để chúng
tôi tiến hành tìm hiểu vấn đề thiên nhiên trong sáng tác của nhà văn miền Tây này.
Một bài viết khác về Mark Twain khá ngắn gọn nhưng có nhắc đến thiên nhiên trong
tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Đó là phần giới thiệu về Mark
Twain trong cuốn Phác thảo văn học Mĩ của Kathryn Vanspanckeren, Nxb Văn nghệ thành
phố Hồ Chí Minh, 2001 do Lê Đình Sinh và Hồng Chương dịch :
Đoạn kết mang đến cho độc giả phiên bản trái ngược với huyền thoại cổ điển về
thành công của nước Mĩ : đó là con đường rộng mở dẫn đến miền đất hoang dã chưa
bị xâm phạm, cách xa những ảnh hưởng suy đồi đạo đức của cái gọi là “văn minh”.
[68, tr.122].
Và trung tâm của miền đất hoang dã ấy là “hình ảnh con sông hùng vĩ nhưng đầy
cạm bẫy, luôn luôn thay đổi cũng là nét chính trong bức tranh phong cảnh giàu tưởng
tượng của ông.” [68, tr.123].
Tuy chỉ mang tính chất giới thiệu, nhưng tác giả đã nêu được ý nghĩa của thiên nhiên
khi thể hiện cái nhìn của Mark Twain về xã hội công nghiệp.
Một tác giả khác là Lê Huy Bắc trong cuốn Văn học Mĩ, NXB Đại học Sư phạm 2002
đã dành hẳn chương hai viết về Mark Twain. Không gian trong Những cuộc phiêu lưu của
Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn chỉ được nhắc đến như là
“không gian tồn tại” của các nhân vật. Và sau khi phân tích các sự kiện trả thù, rượt đuổi
mà Huck và Jim tình cờ được chứng kiến trong hành trình của mình, tác giả Lê Huy Bắc kết
luận :
Thế giới của Tom và Huck càng hoang sơ bao nhiêu thì càng dễ nổ ra bạo lực khốc
hại bấy nhiêu. [5, tr.195].
Như vậy nét hoang sơ của thiên nhiên hai bên bờ dòng Mississippi được gắn với “thế
giới bạo lực” chứ không được nhìn nhận như một sự “về nguồn” để phản đối xã hội công
nghiệp.
Khi xem xét thiên nhiên như là không gian sống và hành động của các nhân vật trong
sáng tác của Mark Twain, các nhà nhiên cứu dù chỉ nhắc đến hay có lí giải thì đều chú ý đến
nét hoang sơ của nó. Đây cũng chính là điều chúng tôi chúng tôi sẽ trình bày kĩ trong
chương hai của luận văn. Tuy nhiên chúng tôi sẽ xem xét nó trong mối quan hệ với thể loại
phiêu lưu cũng như với quan niệm của Mark Twain về thời đại.
3.2. Thiên nhiên như là bản chất
Về ý nghĩa thứ hai này của thiên nhiên, bài viết của tác giả Lionel Trilling khi giới
thiệu cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn mà chúng tôi đã nói đến ở phần
trên có đề cập đến vai trò của dòng sông trong việc dẫn dắt những suy nghĩ và hành động
của Huck. Theo tác giả, chính dòng sông khiến cuốn sách này trở thành một tuyệt tác :
“Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn” là một tuyệt tác bởi nó kể về một vị
thần – đó là sức mạnh với ý chí dẫn đường, và đối với con người, là hiện thân của ý
niệm đạo đức vĩ đại. [74, tr.7].
Nhân vật Huck Finn, vì vậy được Lionel Trilling nhìn nhận như một “đầy tớ” của
“thần sông”. Điều này, nhắc đến ảnh hưởng của thuyết Siêu nghiệm lên cách nhìn thiên
nhiên của Mark Twain. Thiên nhiên có vai trò dẫn dắt trực giác và nhờ nó con người có thể
đến với chân lí. Bài viết đã chỉ ra những trạng thái khác nhau của dòng sông và “tâm trạng
khuây khỏa” cùng “lòng biết ơn” của Huck mỗi khi quay lại dòng sông sau mỗi chuyến vào
đất liền, để từ đó khẳng định vai trò của thiên nhiên trong việc dẫn dắt nhận thức của Huck
trước các vấn đề xã hội.
Tuy nhiên hành trình của Huck và Jim còn gắn với một hình ảnh thiên nhiên khác
cũng trở đi trở lại trong tác phẩm dù ít lần hơn dòng sông, mà Lionel Trilling chưa chú ý
đến. Đó chính là khu rừng, nơi mà Huck nghĩ đến đầu tiên mỗi khi cảm thấy buồn bực; là
không gian bình yên có tác dụng che chở, an ủi nhân vật. Chúng tôi sẽ nói kĩ hơn điều này
trong chương hai của luận văn.
Cũng trong bài giới thiệu này, tác giả Lionel Trilling đã nhắc đến “bản chất đạo
đức” của nhân vật Huck Finn sau khi điểm qua nhiều hành động của Huck; từ việc tìm
người cứu bọn cướp trên chiếc tàu sắp đắm đến việc cảnh báo cho Đức Vua và Quận Công
những tai họa… đặc biệt là quyết định cứu Jim sau những đấu tranh nội tâm :
…Và tính quả cảm dần hình thành khi dưới sự thúc giục của cảm xúc, Huck bỏ qua
những qui luật đạo đức vốn được xem là mặc nhiên và quyết tâm giúp Jim trốn chạy
khỏi kiếp nô lệ… và ngay khi quyết định đi theo lương tri mách bảo và nói cho Jim
biết, Huck đã lấy được những tình cảm hài lòng và nồng ấm của đức hạnh [74, tr.12].
Chúng tôi, trong chương ba của luận văn sẽ xem xét vấn đề thiên nhiên như là bản
chất thuần phác của các nhân vật mà trong đó vấn đề lương tâm, đạo đức trên chỉ là một
khía cạnh.
Vấn đề Thiên nhiên - bản chất cũng được Beernard Noel và Stanley Geist nhắc đến
trong Dictionnaire des personnages, Laffont Bompaini – Paris khi nhận xét về hai nhân vật
Tom Sawyer và Huck Finn. Theo Beernard Noel, Tom
là đứa trẻ có ý thức bẩm sinh về những giá trị chân thực của cộng đồng nên đã trở
thành người thích làm sáng tỏ và khôi phục công lí. Dù em chơi trò Robin Hood hay
đi tìm của chôn dấu, em luôn chọc ngang vào các công việc của người đời để khôi
phục lại cái trật tự mà lương tri và lí trí của những người lớn không duy trì được.
[46, tr.67].
Và đây là nhận xét của Stanley Geist về nhân vật Huck Finn :
… xa lạ với những tín ngưỡng và tập quán của nền văn minh. Huck chỉ thấy thân
thiết gắn bó với các lực lượng tự nhiên và những điều huyền bí ẩn dấu trong tự
nhiên. Hoài nghi trước những cảnh tượng đời sống của những con người văn minh,
Huck nói về cuộc sống ấy như thể chú bị ngăn cách bởi một bức tường thủy tinh
trong suốt. [46, tr.69].
Cả hai tác giả đã nhắc đến bản chất thuần phác trong các nhân vật của Mark Twain.
Bản chất ấy bộc lộ trong các trò phiêu lưu trẻ con của Tom; còn đối với Huck, nó bộc lộ
thông qua những suy nghĩ và hành động trong suốt cuộc hành trình về với thiên nhiên. Điều
này nhắc đến cái nhìn triết lí về thiên nhiên của Mark Twain mà chúng tôi sẽ lí giải ở
chương ba của luận văn.
Về vấn đề thiên nhiên như là bản chất trong sáng tác của Mark Twain, các nhà
nghiên cứu trong nước dường như chưa thật sự quan tâm. Nó thường chỉ được nhắc đến mà
chưa chú ý lí giải. Tác giả Lê Hồng Sâm, năm 1988, trong lời giới thiệu cuốn Những cuộc
phiêu lưu của Tom Sawyer, có nhắc đến sự chống đối “có tính chất bản năng” của nhân vật
khi phân tích giá trị phê phán xã hội của tác phẩm thông qua những hành động nghịch ngợm
của Tom ở nhà thờ và trường học. Lê Huy Bắc thì lại đánh giá việc Huck cứu Jim là “hành
động theo lương tri, theo bản chất của con người.” [5, tr.187]. Do đó “Hành trình đơn độc
đưa Jim chạy trốn của Huck là hành trình mang tính cách mạng nhất trong tư duy của một
người da trắng.” [5, tr.193].
Như vậy cái bản chất mà Lê Huy Bắc nhắc đến nghiêng về ý thức, về lí trí nhiều hơn
sự thuần phác mà chúng tôi muốn nói đến khi tìm hiểu các nhân vật trong chương thứ ba.
Cho đến nay, theo chúng tôi, tác giả Đào Ngọc Chương là người đã có những chú ý
về vấn đề này. Trong bài viết “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”- nhân vật
người kể chuyện và hành trình của thời đại” mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên, tác giả đã chỉ
ra một ý nghĩa mới mẻ là “đi tìm bản sắc dân tộc” trong hành trình hướng về thiên nhiên
của Huck và Jim. Bản chất thuần phác của các nhân vật có thể xem như một phần trong bản
sắc ấy. Sau này, như một sự nhân tiện khi bàn về yếu tố phiêu lưu trong đặc điểm kết cấu -
cốt truyện tiểu thuyết của Hemingway, Đào Ngọc Chương đã nhắc đến Mark Twain:
Kiệt tác “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”của Mark Twain ở nửa sau
thế kỉ XIX là một trường hợp đặc biệt vừa kết hợp cảm quan về một thiên nhiên khoáng đạt
như là cái nôi của con người đầy chất tư tưởng với cảm quan về một hiện thực xã hội Mĩ
đang sống trong thứ văn hóa Thanh giáo đầy chất giáo điều. [13, tr.139].
Khi nhắc đến vấn đề tư tưởng và tinh thần trong tiểu thuyết phiêu lưu Mĩ, mà trong
đó các hình ảnh thiên nhiên chứa đựng những ý nghĩa tượng trưng đặc biệt, ý kiến nói trên
của Đào Ngọc Chương đã mở ra một hướng cần thiết để có thể lí giải vấn đề thiên nhiên –
bản chất trong tiểu thuyết của Mark Twain.
Trên đây là các ý kiến, kiến giải của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về các
phương diện mà chúng tôi quan tâm trong sáng tác của Mark Twain. Dĩ nhiên việc tổng
thuật không thể nào đầy đủ nhưng chắc rằng đã phác họa được những nét chính của các vấn
đề một cách nghiêm túc và trung thực. Điều rõ ràng là có rất nhiều hướng tiếp cận sáng tác
của Mark Twain mà hướng nào cũng nhằm khám phá thế giới nghệ thuật của ông.
Tuy vậy, chưa có công trình nào thực sự đi sâu vào khảo sát, lí giải vấn đề thiên
nhiên trong tiểu thuyết của Mark Twain một cách có hệ thống theo hai ý nghĩa tự nhiên và
bản chất. Hướng đi này, theo chúng tôi, sẽ mở ra một cách nhìn nhận mới về chủ nghĩa hiện
thực và tiểu thuyết phiêu lưu Mĩ trong hai sáng tác đỉnh cao của Mark Twain.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Trong các sáng tác của Mark Twain, ta thấy trở đi trở lại những hình ảnh của
vùng sông nước biên giới phiá Tây gắn với dòng Mississipi hùng vĩ. Điều này có mối quan
hệ với cuộc đời ông, nhất là trong thời kì tuổi thơ và những ngày tháng tuổi trẻ say mê học
việc lái tàu. Trong trường hợp này, phương pháp nghiên cứu tiểu sử tác giả được coi là cần
thiết khi chúng tôi tiến hành lí giải vấn đề cụ thể là thiên nhiên trong tác phẩm của Mark
Twain.
4.2. Nếu không gắn các tác phẩm của Mark Twain với bối cảnh ra đời của chúng là
Nước Mĩ thế kỉ XIX khi mà sự quan tâm đến nền văn hóa nông nghiệp như là một phản ứng
của thời đại thì sẽ không thể lí giải đầy đủ ý nghiã của các hình ảnh thiên nhiên. Do đó, từ
đây phương pháp nghiên cứu xã hội học có lúc sẽ được chúng tôi vận dụng đến để tìm hiểu
ý nghĩa biểu trưng của thiên nhiên trong sáng tác của Mark Twain.
4.3. Mặc dù trong trong hai cuốn tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer
và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn có cùng bối cảnh là sông nước miền biên
giới phía Tây, các nhân vật thì trở đi trở lại trong cả hai tác phẩm nhưng chúng ra đời cách
nhau tám năm và chứa đựng những ý nghiã cũng không hoàn toàn giống nhau mà có sự phát
triển. Vì thế khảo sát thiên nhiên trong hai tác phẩm ấy, chúng tôi còn vận dụng phương
pháp so sánh đối chiếu để tìm ra sự phát triển của các ý nghiã chứa đựng trong hình ảnh
thiên nhiên.
4.4. Các hình ảnh thiên nhiên chỉ được xác định là có chứa đựng những ý nghiã sâu
rộng hơn ý nghĩa thông thường khi chúng xuất hiện liên tục trong tác phẩm. Chính vì vậy
mà chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp thống kê để khảo sát tần số xuất hiện của các hình
ảnh thiên nhiên cụ thể nhằm lí giải ý nghiã của thiên nhiên nói chung trong sáng tác của
Mark Twain.
Trên đây là những phương pháp nghiên cứu chính mà chúng tôi sẽ vận dụng trong
quá trình khảo sát thiên nhiên trong tiểu thuyết của Mark Twain. Dĩ nhiên trong trường hợp
thật cần thiết chúng tôi sẽ vận dụng thêm những phương pháp hỗ trợ khác.
5. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát vấn đề thiên nhiên trong tiểu thuyết của Mark Twain, chúng tôi trước hết
hướng tới lí giải một vấn đề cụ thể mang ý nghĩa thẩm mĩ, xã hội và triết học mà nhà văn
thể hiện như một thành công của dòng văn học mang tính chất miền rất đặc trưng trong văn
học Mĩ thế kỉ XIX.
Đồng thời, khi lí giải vấn đề trong phạm vi cụ thể ấy, chúng tôi cũng muốn khẳng
định những đóng góp hết sức cơ bản của Mark Twain cho nền văn xuôi hiện thực Mĩ , cũng
như góp thêm một ý kiến vào việc nghiên cứu và giảng dạy các sáng tác của Mark Twain.
6. Bố cục luận văn
Luận văn gồm 3 phần chính : Phần mở đầu, Phần nội dung có ba chương và Phần kết
luận
6.1. Mở đầu
Trong phần này, chúng tôi khẳng định sự cần thiết của đề tài thông qua việc nêu lí do
chọn đề tài, trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, bố cục của
luận văn.
Trong mục Lịch sử vấn đề chúng tôi tổng thuật những kiến giải của các nhà nghiên
cứu viết về hai phương diện của thiên nhiên trong hai tiểu thuyết quan trọng của Mark
Twain. Từ đó, chúng tôi xác định cụ thể đề tài nghiên cứu của mình.
Riêng trong mục Phương pháp nghiên cứu, chúng tôi không chỉ liệt kê các phương
pháp được vận dụng trong luận văn mà còn chỉ ra ý nghĩa cần thiết của các phương pháp ấy
trong việc triển khai đề tài
6.2. Chương 1 : Thiên nhiên trong văn học
Chương này chúng tôi lí giải hai ý nghĩa của thiên nhiên là tự nhiên và bản chất.
Đồng thời sẽ làm sáng tỏ chúng thông qua một số dẫn chứng cụ thể trong một số tác phẩm
văn chương thế giới. Tiếp theo chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu vấn đề thiên nhiên trong văn học
Mĩ thế kỉ XIX để từ đó chỉ ra những nét kế thừa và phát triển của Mark Twain khi miêu tả
thiên nhiên. Đây sẽ là chương có vị trí nền tảng để từ đó khảo sát các nội dung trong hai
chương sau.
6.3. Chương 2 : Thiên nhiên như là tự nhiên – không gian phiêu lưu
Đây là chương mà chúng tôi sẽ khảo sát các hình ảnh thiên nhiên cụ thể trong hai tiểu
thuyết của Mark Twain là Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu
của Huck Finn với ý nghĩa là không gian sống và hành động của các nhân vật. Các hình ảnh
thiên nhiên sẽ được chúng tôi tìm hiểu trong mối quan hệ với tiểu thuyết phiêu lưu và chủ
nghĩa hiện thực Mĩ. Từ đó, chúng tôi hướng đến việc làm rõ cách nhìn của nhà văn đối với
xã hội công nghiệp.
6.4. Chương 3 : Thiên nhiên như là bản chất – sự thuần phác của các nhân
vật
Chúng tôi sẽ lí giải một ý nghĩa khác của thiên nhiên ở chương này. Đó là bản chất
thuần phác của con người được biểu hiện qua thái độ đối với những chuẩn mực xã hội; qua
suy nghĩ và hành động, qua cách xử lí tình huống của các nhân vật Tom Sawyer, Huck Finn
trong các cuộc phiêu lưu. Vấn đề bản chất thuần phác cũng sẽ được tìm hiểu để có thể làm
sáng tỏ được quan niệm của Mark Twain về con người, về xã hội đương thời thông qua thái
độ đề cao sự thuần phác trong bản chất các nhân vật của nhà văn.
6.5. Phần kết luận
Trong phần này chúng tôi tổng kết những ý kiến của luận văn. Từ đó khẳng một
cách nhìn đối với các tác phẩm của Mark Twain.
Chương 1
THIÊN NHIÊN TRONG VĂN HỌC
1.1. Thiên nhiên - đối tượng miêu tả của văn chương
Khái niệm Thiên nhiên (nature) vốn chứa nhiều nội dung phong phú; trong đó hai ý
nghĩa thường được nhắc đến nhiều nhất là : tự nhiên và bản chất. Về ý nghiã thứ nhất, Từ
điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, NXB Khoa học học xã hội, Hà Nội – 1977 định nghiã
:
Thiên nhiên (tự nhiên) là toàn bộ những vật tồn tại ở chung quanh con người và
không phải do sức người làm nên.
Còn trong Oxford Advanced Learner’s Dictionary, 7th edition – 2006 ngoài ý nghĩa
thứ nhất giống như trên còn đưa ra ý nghĩa thứ hai của nature như sau :
Use to describe behavious that is part of the character that a person or an animal
was born with.
Do đó cũng dễ hiểu khi Thiên nhiên trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học từ điạ lí, sinh học đến triết học, xã hội học… Mỗi ngành sẽ tìm hiểu, nghiên cứu
Thiên nhiên từ những góc độ, những quan điểm khác nhau. Thành quả của các nghiên cứu
ấy ngày càng khẳng định vai trò, ảnh hưởng to lớn của thiên nhiên với toàn bộ đời sống trên
trái đất.
Trong văn học, khi bước vào tác phẩm, thiên nhiên trở thành một thành tố đặc biệt,
hàm chứa những ý nghĩa sâu sắc thường góp phần tạo hiện tượng đa nghĩa. Nói cách khác,
trong tác phẩm văn chương thiên nhiên một mặt đã được nâng lên thành hình tượng không
gian – thứ không gian mang nghĩa không gian tâm trạng… Mặt khác trở thành những biểu
hiện của bản chất người nơi nhân vật.
Trong tác phẩm văn chương thiên nhiên luôn luôn tồn tại như những “không gian
thực” mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ nơi nào trong vũ trụ này; đồng thời nhiều khi nó đạt đến
mức biểu tượng, chứa đựng những ý nghiã sâu xa, khái quát. Trong văn chương thế giới từ
cổ đại cho đến đương đại, từ phương Đông sang phương Tây, thiên nhiên luôn tồn tại song
hành cùng các nhân vật. Những hình ảnh thiên nhiên cụ thể xuất hiện trong các tác phẩm
văn chương (đặc biệt là tác phẩm tự sự) có vai trò quan trọng trong việc thể hiện hành động,
tư tưởng tình cảm của nhân vật. Việc miêu tả thiên nhiên trong những trường hợp này chính
là tạo ra bối cảnh cho câu chuyện diễn tiến. Có thể nói yếu tố thiên nhiên là “vật liệu” không
thể thiếu trong quá trình sáng tác văn chương của các tác giả. Tuy nhiên có thể biến thiên
nhiên thành những hình tượng đa chiều, giàu sức biểu hiện hay không thì còn tùy thuộc vào
điểm nhìn, vào cảm quan, vào năng lực… của từng tác giả, vào cấu trúc văn bản, vào đặc
điểm của từng thể loại văn học…
Bên cạnh đó, sự song hành của yếu tố thiên nhiên với các nhân vật trong tác phẩm
văn chương còn chứa đựng một nội hàm nữa. Đó chính là sự thể hiện bản chất tự nhiên của
con người. Khi để nhân vật gần gũi với thiên nhiên, suy nghĩ và hành động theo trực giác là
các tác giả muốn khắc hoạ bản chất thuần phác của nhân vật. Ý nghĩa này của thiên nhiên
trong các tác phẩm văn chương có nguồn gốc từ những đặc điểm lịch sử – xã hội – văn hoá
cụ thể mà chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn trong mục 1.1.2 - Thiên nhiên như là bản chất,
ở phần sau.
Tiếp theo, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu những biểu hiện hai ý nghĩa trên của thiên
nhiên trong một số tác phẩm văn chương cụ thể.
1.1.1. Thiên nhiên như là tự nhiên
Về ý nghiã này, khái niệm thiên nhiên trùng khớp với khái niệm không gian tự nhiên
quen thuộc. Khi được hiểu là không gian, thì thiên nhiên
gắn không tách rời với thời gian, vừa là nơi chứa đựng những gì có thể xảy ra – theo
ý nghiã đó, nó tượng trưng cho trạng thái hỗn mang của các gốc nguồn – vừa là nơi
chứa đựng những gì đã thực hiện – khi đó nó tượng trưng cho vũ trụ, cho thế giới đã
được tổ chức. [8, tr.486].
Như vậy một khu rừng, một dòng sông, một ngọn núi… đều là không gian tự nhiên
hiện thực, đều thuộc về thiên nhiên, về vũ trụ. Vì không gian hiện thực là cơ sở làm nảy sinh
nhận thức, cảm nhận về không gian của các tác giả nên trong tác phẩm văn chương chúng
được biểu hiện hết sức đa dạng, phong phú. Dưới ngòi bút miêu tả của các nhà văn, thiên
nhiên hiện ra có khi rất cụ thể, chân thực; có khi lung linh, huyền ảo, sâu lắng. Tìm hiểu một
cách chi tiết, đầy đủ tất cả những biểu hiện như thế của thiên nhiên quả thật không dễ dàng
gì. Do đó, với mục đích xây dựng cơ sở lí luận và thực tế cho nội dung chương hai của luận
văn (Thiên nhiên như là tự nhiên – không gian phiêu lưu) chúng tôi, ở đây sẽ chỉ nói về hai
biểu hiện của hình tượng thiên nhiên: Thiên nhiên – không gian sống và hành động, Thiên
nhiên – không gian nội tâm, mà theo chúng tôi là khá phổ biến trong các tác phẩm văn
chương.
1.1.1.1. Thiên nhiên – không gian sống và hành động
Đây là dạng tồn tại phổ biến, quen thuộc của thiên nhiên trong văn học. Khi nhìn
nhận thiên nhiên như là không gian sống và hành động của các nhân vật trong một tác phẩm
văn chương là chúng ta đang nói đến lớp nghĩa đầu tiên của hình tượng thiên nhiên. Ẩn sau
các hình ảnh thiên nhiên còn có thể có nhiều ý nghĩa khác nữa xa hơn, rộng hơn bản thân
chúng, nhưng thiên nhiên trước tiên được hiểu là bối cảnh cuả câu chuyện gắn liền với mọi
hoạt động của các nhân vật. Thông qua việc miêu tả các bối cảnh khác nhau, chúng ta còn
có thể hiểu được quan niệm về thiên nhiên của các tác giả cũng rất khác nhau từ Đông sang
Tây, từ cổ chí kim.
Với ý nghiã này, thiên nhiên đã xuất hiện trong sử thi Homer, mặc dù tác giả chỉ tập
trung miêu tả hành động của các nhân vật anh hùng theo đúng đặc trưng của thể loại sử thi.
Trong Iliad, dù tác giả không trực tiếp miêu tả nhưng chúng ta vẫn nhận ra những nét riêng
của không gian khi theo dõi hoạt động của các nhân vật. Đó là cảnh bình minh khi mà hai
bên giao tranh tạm ngưng chiến để nhặt xác người chết :
Trên đồng rộng mặt trời vừa tỏa sáng,
Vượt ra khỏi đại dương sâu phẳng lặng
Để băng mình lên bát ngát trời cao,
Thì người Tơ-roa và người Ac-gôx gặp nhau.
Và ở đó khó có thể nhận ra từng kẻ một.
Họ lấy nước rửa lớp bùn máu còn bê bết,
Và lệ tuôn trào, chất xác chết lên xe…
[31, (1), tr.222].
Hay cảnh đêm yên tĩnh trước một trận đánh khác :
Quân Tơ-roa đốt bùng lên bao ngọn lửa hồng trước thành quách I-li-ông
Nghìn đống lửa sáng trưng cháy giữa cánh đồng,
Cạnh mỗi đống, năm chục người ngồi châu bên ánh rọi,
Và lũ ngựa nhai đại mạch trắng và lúa mì dai chờ đợi,…
[31, (1), tr.249 – 250].
Có thể nói trong Iliad, song hành với những trận đánh ác liệt, những người anh hùng
là không gian chiến trận rộng lớn với thành quách, cánh đồng…
Sang đến Odyssey, cùng với hành trình hồi hương gian nan của Ulysses, không gian
mở rộng hơn nhiều và Homer cũng chú ý miêu tả thiên nhiên chi tiết hơn. Khác với Achilles
– chiến binh, Ulysses – kẻ hải hồ phải vượt qua vô số thử thách trên hải trình dài mười năm
của mình. Do đó không gian biển cả có thể nói bao trùm tác phẩm. Khi Ulysses bỏ qua lời
cảnh báo của nữ thần Calypso, đóng bè vượt biển, Homer đã miêu tả cảnh bão tố trên biển
rất thực:
… một ngọn sóng cao ngất, khủng khiếp, xông tới, xô vào người và lật úp chiếc bè.
Người bị hất khỏi bè, phải buông rời tay lái. Cột buồm bị mọi thứ gió cùng hợp lực
đánh vào dữ dội, bẻ gãy làm đôi, tung các mảnh ra xa, sàn bè cũng rơi chìm xuống
bể. [32, tr.38].
Và khi Ulysses cố bơi đến chiếc bè, trèo lên đó thì :
Những ngọn sóng khổng lồ liền đẩy chiếc bè khắp chốn, lắc lư theo dòng nước. Như
những cây gai mắc chằng vào nhau thành một bó bị gío bắc mùa thu quét đi khắp
cánh đồng, chiếc bè cũng bị gió đẩy đi đó đây trên mặt biển, khi thì gió nam trao cho
gió bắc, khi thì gió đông lại nhường cho gió tây đuổi. [32, tr.39].
Tất nhiên, thiên nhiên ở đây không chỉ là không gian mà nó còn là hiện thân của thử
thách mà hành động vùng vẫy chống chọi của người anh hùng “muôn vàn trí xảo” chính là
tinh thần, là khát vọng chinh phục thiên nhiên của người Hy Lạp nói riêng và của người
phương Tây nói chung. Sau khi bước ra khỏi những cuộc chinh chiến, con người bước vào
thời kì xây dựng với khát vọng ấy. Do đó theo bước chân của Ulysses là những không gian
khác nhau biểu thị sự phát triển khác nhau của nhiều vùng đất. Có khi là vùng đất phát triển
với những lâu đài tráng lệ, những vườn cây xanh tốt :
Trong khi ấy, Ulysses đi về phía lâu đài nổi tiếng của Ankinoos. Trước khi đặt bước
lên ngưỡng của đồng, người dừng lại, lòng rối bời vì bao nhiêu ý nghĩ. Ngôi nhà cao
của Akinoos hào hiệp sáng rực như ánh mặt trời hoặc ánh trăng đêm. Từ ngưỡng
cửa đến cuối nhà, hai bên tả hữu đều là tường đồng, trên có đường diềm bằng men
xanh. Nhà chắc chắn, cửa bằng vàng, bậu cửa bằng bạc, đóng vào ngưỡng cửa
đồng. Mi cửa cũng bằng bạc, và vòng cửa bằng vàng… Xa hơn một quãng là vườn
nho xanh tốt; bên phía vườn dại nắng và bằng phẳng, nho đang phơi dưới ánh mặt
trời, còn ở phía vườn kia, từng tốp thợ gặt, kẻ hái, người đạp nho rộn rã… [32, tr.56
– 57].
Nhưng cũng có khi lại là hang động trên núi cao của gã khổng lồ một mắt, hay hòn
đảo hoang vắng “không có một vết chân người khiến dê phải sợ” tượng trưng cho sự lạc
hậu của một vùng đất khác…
Vẫn xem xét ý nghĩa này, khi tìm hiểu các sử thi nổi tiếng của Ấn Độ, chúng ta sẽ
thấy có một sự khác biệt trong cách nhìn thiên nhiên. Khác với tinh thần khát khao chinh
phục thiên nhiên của phương Tây, người phương Đông sống hòa đồng với thiên nhiên, coi
con người là một phần của thiên nhiên. Do đó, trong Mahabharata, không gian núi rừng
thâm sâu mà các anh hùng Pandava sống mười hai năm lưu đầy, rất chú trọng được miêu tả.
Khu rừng mà Arjuna bước vào để bắt đầu thực hành tu luyện quả thực tuyện đẹp :
Chàng một mình dấn bước vào khu rừng khủng khiếp đầy cỏ gai, cây, hoa, trái đủ
loại, đủ loại sinh vật có cánh, đủ loại muông thú. Khi chàng bắt đầu bước vào khu
rừng không một dấu chân người đó, trên không vang rền tiếng trống, tiếng tù và. Một
cơn mưa xối xả và những đám mây lớn trùm khắp bầu trời làm mặt đất đột nhiên rợp
mát. . . Trên núi muôn ngàn loài cây cối xanh tươi giữa những thảm cỏ xanh, vang
lừng tiếng muôn loài chim ca hát. Những dòng sông uốn lượn, vang tiếng lảnh lót
của vịt nước, thiên nga, cò hạc… Trên bờ sông, tiếng những con chim công ngọt
ngào như rót mật vào tai. [28, tr.218].
Bên cảnh vẻ đẹp nên thơ, nguyên sơ của không gian rừng núi, thiên nhiên ở đây còn
mang ý nghĩa giác ngộ tâm linh. Hòa hợp với thiên nhiên con người sẽ tìm được bản ngã
của mình, sẽ trưởng thành và ngộ ra chân lí. Không gian này vì thế đối lập với không gian
kinh đô do con người tạo nên cũng được miêu tả khá chi tiết trong sử thi Mahabharata. Đối
lập, bởi lẽ con người sẽ trở thành nô lệ của dục vọng, của lòng tham trong chính những lâu
đài nguy nga tráng lệ kia.
Sử thi An Độ, bên cạnh Mahabharata, không thể không nhắc đến Ramayana. Thiên
nhiên trong Ramayana xuất hiện nhiều hơn và đặc sắc hơn. Tuy nhiên ý nghĩa là không
gian sống và hành động của nhân vật dường như mờ nhạt hơn ý nghĩa Thiên nhiên – không
gian nội tâm. Do đó chúng tôi sẽ nói về thiên nhiên trong sử thi Ramayana ở phần sau.
Khi tìm hiểu thiên nhiên như là không gian sống và hành động của các nhân vật trong
tác phẩm văn chương, chúng ta còn khám phá được những nét vừa riêng biệt vừa tiêu biểu
của thiên nhiên ở những quốc gia khác nhau. Những bức tranh phong cảnh các mùa trong
năm; hình ảnh một ngọn núi, một dòng sông… thường được các nhà văn miêu tả hết sức chi
tiết và sống động. Đó chính là những không gian mở thường rất rộng rãi, khoáng đạt. Thông
qua kiểu không gian ấy chúng ta còn có thể hiểu được phần nào phong cách của từng nhà
văn. Cảnh vật mùa xuân qua ngòi bút của Lev Tolstoy, hồi sinh mạnh mẽ, tràn đầy sức sống
và rất Nga:
Cỏ già năm ngoái xanh tốt lại, cỏ non năm nay như kim đâm tủa trên mặt đất; những
chồi cây tuyết cầu, phúc bồn tử và bạch dương dính nháp, sực nức mùi hương, đều
căng nhựa và quanh rặng liễu tắm nắng vàng tươi, đàn ong bị nhốt suốt mùa đông
trong túp lều bằng cành cây, lại thoát ra, vo ve bay lộn. Chim sơn ca không ai trông
thấy tuôn tiếng hót trên đồng cỏ nhung tơ và ruộng rạ phủ băng, chim te te than vãn
bên bờ những thung lũng và bãi lầy ngập nước lũ còn ứ đọng; tít trên cao, sếu và
ngỗng trời bay qua cất tiếng kêu mừng mùa xuân. Đàn súc vật trụi lông mới loáng
thoáng mọc lại, rống lên chạy trên bãi cỏ, cừu non chân cẳng leo khoeo nhảy lon ton
quanh đàn cừu mẹ đã gọt lông đang kêu be be; trẻ con thoăn thoắt chạy dọc những
con đường nhỏ đang se dần vết chân không của chúng, tiếng phụ nữ rộn lên vui vẻ
bên bờ đầm nơi họ đang giặt vải và tiếng rìu của nông dân đang chữa lại cày bừa,
vang vang trong các sân nhà. Mùa xuân thật sự đã về. [57, tr.268].
Còn với Yasunari Kawabata, cảnh vật mùa xuân ở cố đô Kioto cũng hồi sinh nhưng
tĩnh lặng, êm ả hơn nhiều.
Họ xuôi lối mòn lại gần hồ. Ngay sát bờ, đám lá nhọn đuôi diều tươi lên mơn
mởn, còn loài hoa súng thì khẽ đung đưa êm ả, trải rộng trên mặt nước những chiếc
lá tròn trĩnh. Gần hồ anh đào không mọc.
Vòng qua hồ, Sinichi và Chieko ra tới con đường hẹp. Nơi đây, dưới tán lá
xanh ngự trị cảnh tranh tối tranh sáng. Mùi lá non và đất ẩm phảng phất. Phút chốc
con đường đã dẫn họ tới một khu vườn rộng có hồ ở giữa. Hồ lớn hơn cái hồ mà họ
vừa đi qua. Cảnh vật vụt trở nên sáng sủa nhờ những cây anh đào đầy hoa in bóng
trên mặt nước hồ. [36, tr.19].
Không thể phủ nhận là cả Lev Tolstoy và Yasunari Kawabata đều có biệt tài miêu tả
thiên nhiên. Họ giống nhau ở chỗ đều gắn bó với thiên nhiên, yêu thiên nhiên và cảm nhận
thiên nhiên hết sức tinh tế. Tolstoy từng sống nhiều năm tại trại ấp của mình, thân thuộc với
những cánh đồng bát ngát, những người nông dân chất phác. Còn Kawabata thì đặc biệt yêu
quí Kioto, ông luôn coi nơi đây như quê hương của mình. Tuy vậy quan điểm của hai ông
về thiên nhiên thì không hoàn toàn giống nhau. Tolsoy cho rằng vẻ đẹp của thiên nhiên là ở
chỗ nó có thực, mang nhiều sắc thái khác nhau và chứa đựng sức sống mạnh mẽ. Do đó ông
thường miêu tả thiên nhiên rất thực và rất chi tiết. Còn Kawabata, với quan điểm duy mĩ đã
chú trọng vào những nét đẹp tiêu biểu của thiên nhiên. Các không gian mà Kawabata miêu
tả không chỉ là những bức tranh mang đậm màu sắc Nhật Bản mà còn phảng phất trong đó
quan niệm Thần đạo (Shinto) rất quen thuộc của người dân xứ Phù Tang.
Thiên nhiên như là tự nhiên ấy tiếp tục tồn tại trong tác phẩm văn chương đương đại.
Dẫu tác giả có đưa vào nó những hàm nghĩa mới mẻ, những mối quan hệ mới mẻ (ví dụ
trong các tác phẩm hậu hiện đại) thì nó vẫn thế : thiên nhiên – tự nhiên.
Như vậy, chúng tôi vừa nói đến ý nghĩa đầu tiên cũng là ý nghĩa phổ biến nhất của
thiên nhiên trong tác phẩm văn chương : thiên nhiên như là tự nhiên được hiểu là môi
trường hành động của nhân vật. Bây giờ chúng tôi sẽ nói đến ý nghĩa thứ hai của thiên
nhiên. Đó là không gian nội tâm.
1.1.1.2. Thiên nhiên – không gian nội tâm
Mọi hình ảnh thiên nhiên đều mang ý nghĩa là không gian sống và hành động của
nhân vật nhưng không phải tất cả các không gian trong tác phẩm văn chương đều có thể là
không gian nội tâm. Thiên nhiên chỉ trở thành không gian nội tâm khi các nhà văn dùng việc
miêu tả thiên nhiên như là một phương tiện để diễn tả những những trạng thái tinh thần
phức tạp của con người. Tất nhiên không phải vì bất lực trong việc diễn tả tâm lí mà nhà văn
phải dùng đến cách này. Nhưng quả thật, một bức tranh thiên nhiên xuất hiện đúng lúc tỏ ra
rất đắc địa trong việc thể hiện những rung động của lòng người và với độc giả, nó cũng
giúp sự cảm nhận tự nhiên hơn, dễ dàng hơn.
Trong văn học phương Đông, từ xưa, tả cảnh ngụ tình được coi là một bút pháp quen
thuộc. Như trên chúng tôi đã nói, sử thi “Ramayana” của An Độ có thể coi là một dẫn
chứng tiêu biểu. Thiên nhiên trong “Ramayana” được miêu tả với dung lượng nhiều và rất
chi tiết. Trong suốt cuộc lưu đầy mười bốn năm của hoàng tử Rama, mỗi khi buồn bã, nhớ
mong hay đau khổ, các nhân vật đều tìm đến với thiên nhiên. Đây là cảnh hồ Pampa, vào
mùa xuân :
… nước hồ sao mà trong vắt như pha lê, có gì khác chất ngọc lỏng trên nước da màu
lơ? Những bông sen đỏ rộ nở mới nhiều làm sao! Những rặng cây viền quanh bờ mới
duyên dáng chưa! Và những cây cối cành lá sum xuê nom mới giống các đỉnh đồi
làm sao!...
… bây giờ là mùa xuân, mùa của tình yêu. Xem, ngọn gió dịu dàng đang nhẹ thổi,
hoa đang nở rộ, và rừng ngào ngạt hương hoa. Trông kìa! Trông những cây nở hoa
đang trút trận mưa hoa có khác gì những giọt mưa từ trên trời đổ xuống…
… Mùa xuân, như lửa, đang thiêu đốt anh đến là khổ – hoa Ashoka đỏ là than hồng,
tiếng vo ve của đàn ong là tiếng lửa vèo vèo, và lá màu đồng thau là ngọn lửa!... [68,
(2), tr.5 – 6].
Thiên nhiên khi nên thơ, đẹp đẽ làm dịu lòng người; khi tràn đầy hương hoa, tương
phản với cảnh ngộ như trêu tức nhân vật; lúc rực rỡ, chói chang thiêu đốt lòng những kẻ yêu
nhau đang phải cách xa. Các sắc thái khác nhau của thiên nhiên rõ ràng đã có tác dụng rất
đáng kể khi thể hiện những diễn biến tình cảm trong nội tâm nhân vật. Không gian rừng núi
đã trở thành không gian nội tâm. Khi ấy thiên nhiên chính là cánh cửa mở vào tâm hồn
nhân vật.
Các tác giả phương Tây cũng thông qua thiên nhiên để diễn tả nội tâm nhân vật. Với
Lev Tolstoy, đó là một phương tiện hữu hiệu để gợi nên “vô số” những ý nghĩa sâu xa mà
một tác phẩm văn chương có thể chứa đựng. Trong tiểu thuyết Anna Karenina, trên sân ga
xe lửa, khi Anna gặp lại Vrolski, cơn bão tuyết “điên cuồng như không gì cản được” mà
nhà văn miêu tả khá chi tiết chính là để nói về cơn giông tố trong cõi lòng Anna lúc đó.
Nàng vừa vui sướng vừa kinh hoàng khi nghe Vrolski nói chàng rời Mạc-tư-khoa cùng nàng
là để “có mặt ở chỗ nào có bà”. Cơn bão tuyết vì thế còn được hiểu như một dự báo về
những đau khổ, dằn vặt mà đôi tình nhân ấy sẽ phải trải qua.
Khi thiên nhiên được miêu tả như những không gian nội tâm, đôi khi nó còn mang
những ý nghĩa ẩn dụ khác nhau tùy theo quan điểm của từng tác giả. Trong tiểu thuyết Xứ
tuyết của Yasunari Kawabata, chúng ta có thể thấy điều này rất rõ. Tác giả đã kể lại một
chuyện tình buồn trên nền không gian trong trắng, thanh bạch của tuyết. Với 131 lần xuất
hiện của từ “tuyết” trong toàn bộ tác phẩm, không gian xứ tuyết vì thế đã trở thành biểu
tượng chứa đựng khát vọng của một lữ khách suốt đời khao khát tìm kiếm cái đẹp. Ý nghĩa
này còn chứa đựng trong những không gian tuyết được miêu tả rất nên thơ. Cũng là tuyết
nhưng lúc thì “lấp lóa dịu dàng trong ánh sáng”; lúc lại “đang rơi vẽ nên những hào
quang, nhảy múa quanh dáng của Komako”…
Điều thú vị là không gian tuyết này cũng rất thường gặp trong tác phẩm của Jack
London. Tuy nhiên, với nhà văn Mĩ này, ý nghĩa ẩn dụ của nó lại khác hẳn. Không gian
trắng xóa, lạnh lẽo trở đi trở lại trong các sáng tác của Jack London vừa thể hiện khát vọng
chinh phục thiên nhiên của con người; lại vừa tượng trưng cho sự thách thức của thiên nhiên
mà con người khó lòng chinh phục. Không gian tuyết mà Jack London miêu tả thường bao
la, trắng toát :
Tuyết trắng một màu, chỗ nào băng ùn lại nhiều, mặt tuyết cuộn lên thành những đợt
sóng gợn lăn tăn. Từ Bắc xuống Nam, xa hút tầm mắt, tuyết trải trắng một màu mênh
mang… [40, tr.268].
Và cũng thường im lặng đến rợn người vì trong đó thường ẩn chứa những tai họa
khôn lường :
Xung quanh là một sự im lặng đến rùng rợn – không một tiếng động nhỏ nào trong
khu rừng bị tuyết ngập trắng. Cái lạnh và sự im lặng làm đông giá trái tim và cặp
môi run run của thiên nhiên. [40, tr.82].
Như vậy, khi thiên nhiên được xem là không gian nội tâm thì nó thường trở thành
một nhân vật trữ tình khác bên cạnh nhân vật chính. Nhân vật thiên nhiên này có khi là tấm
gương phản chiếu nội tâm nhân vật; có khi lại trở thành một người bạn thầm lặng cảm thông
cho nỗi niềm của nhân vật. Cũng có khi thiên nhiên đối lập với nhân vật; thách thức ý chí,
bản năng sinh tồn của nhân vật…
Thiên nhiên trong văn học bên cạnh ý nghĩa là không gian sống và hành động của
nhân vật còn mang ý nghĩa như là bản chất tự nhiên, thuần phác của con người. Bây giờ
chúng tôi sẽ trình bày ý nghĩa thứ hai này của thiên nhiên.
1.1.2. Thiên nhiên như là bản chất
1.1.2.1. Quá trình hình thành quan niệm thiên nhiên như là bản chất
Cách hiểu thiên nhiên như là bản chất có liên quan đến ngành nhân học và dân tộc
học. Như chúng ta đã biết , ở phương Tây việc tìm hiểu, nghiên cứu về những vấn đề xã hội
đã được các triết gia quan tâm từ thời cổ đại. Thế kỉ XVIII, các nhà nghiên cứu phương Tây
đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến khái niệm Tự nhiên khi nghiên cứu về những người
nguyên thủy. Những câu chuyện du lịch và mô tả các tập quán của các dân tộc xa xôi được
mở rộng. Nếu như trước đó, những người nguyên thủy Châu Phi, Châu Mĩ và Châu Úc
thường được mô tả một cách ghê tởm thì ở thế kỉ XVIII này các nhà nghiên cứu hết sức đề
cao họ. Có thể nói đây là thời kì thắng thế của huyền thoại “người dã man tốt”. Tiêu biểu
cho quan niện này phải kể đến Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778), triết gia Pháp nổi
tiếng. Khác với Platon, người đã quan niệm rằng có thể thay đổi bản chất con người bằng
việc thay đổi những thể chế xã hội của con người. Đối với Rousseau, tất cả mọi cái bóp méo
và đè bẹp bản chất con người đều là sai. “Con người tự nhiên cũng có nghĩa là con người
hiện thực”. Do đó quay về với tự nhiên có nghĩa là quay về với tính người căn bản của con
người, là cái phải được giải thoát ra khỏi mọi ràng buộc giả tạo. Con người đẻ ra tự do, con
người đáng lẽ phải được tự do nhưng lại phải sống trong xiềng xích.
Trong luận văn “Bàn về nguồn gốc và những cơ sở của sự bất bình đẳng giữa người
và người”, Rousseau đã miêu tả người dã man như là một sự hoàn hảo của nhân loại :
Một con người trong đó không có bất cứ cái gì giả tạo mà một tiến trình lịch sử lâu
dài đem lại. Đó là một con người từ trong thiên nhiên mà ra, khát thì uống nước
suối, giường là dưới gốc cây đã cung cấp thức ăn, và tình trạng đó chính là tuổi thơ
của thế giới. Mọi sự tiến bộ về sau tưởng như đưa tới sự hoàn chỉnh của con người,
nhưng về thực chất thì lại đưa đến sự suy đồi của nòi giống. [21, tr.12 – 13].
Trong các tác phẩm của mình, Rousseau thường miêu tả những bức tranh tuyệt đẹp
về cảnh hồ, cảnh đêm trăng, cảnh núi rừng, những con đường nhỏ, con suối… Ông cũng ca
ngợi cuộc sống nơi thôn dã với những người nông dân thật thà, chất phác, bình dị, tốt bụng.
Như vậy có thể thấy Rousseau muốn dựa vào thiên nhiên làm nơi của trật tự, của sự hòa
hợp.
Thực ra quan điểm này cũng đã từng được Montaigne (1533 – 1592), nhà nhân văn
chủ nghĩa người Pháp nói đến từ cuối thế kỉ XVI. Trong chương sách nổi tiếng “Những
người dã man” ông đã viết về những người da đỏ ở Brazil như sau :
Ở họ, những phẩm chất và đức tính có thật, hữu ích nhất và tự nhiên nhất, thể hiện
ra một cách sinh động và mạnh mẽ… Những luật của tự nhiên mà không bị những
luật của chúng ta làm cho hư hỏng đi, còn đang chi phối họ… Như vậy, tôi xem các
dân tộc ấy là dã man, là vì họ còn ít tiếp nhận cách thế của trí tuệ con người và còn
gần gũi với sự chất phác nguyên thủy của họ. Và họ còn đang ở trong tình trạng
trong sáng đến nỗi nhiều khi tôi lấy làm bực rằng người ta không biết đến họ sớm
hơn, từ những ngày mà có những người có thể đánh giá họ đúng hơn chúng ta. [21,
tr.8 – 9].
Điều này cho thấy, nguyên tắc xuất phát điểm của Montaigne là tính tự nhiên và sự
gần gũi với thiên nhiên. Ong còn khẳng định nguyên tắc này nhiều lần trong Những tiểu
luận của mình: “Tất cả những gì xảy ra đúng như tự nhiên đều đáng tôn trọng”. Hay
“…biết tự biểu hiện ra một cách xứng đáng trong bản chất tự nhiên của mình là một dấu
hiệu của sự hoàn thiện”. [21, tr.10].
Tất cả làm nên một trào lưu tư tưởng về nguồn, tức là quay về tìm hiểu xã hội chất
phác thời nguyên thủy, mà đỉnh cao của nó là ở thế kỉ XVIII.
Sang đến thế kỉ XIX, ngành xã hội học bước vào thời kì xây dựng, thường được gọi
là xã hội học cổ điển, các nhà nhân học và dân tộc học bắt đầu sự mô tả khách quan các xã
hội nguyên thủy. Đến đây, ta thấy có sự “gặp nhau” giữa folklore và dân tộc học. Hai phạm
trù cơ bản mà các định nghĩa về folklore thường xoay quanh chính là : phạm trù truyền
thống và phạm trù dân chúng. Do đó, kết quả nghiên cứu của folklore sẽ bổ sung cho những
công trình nghiên cứu của dân tộc học. Vai trò chủ yếu của nó là phát hiện trong các dân tộc
văn minh, những tàn dư của tâm tính nguyên thủy để từ đó có thể hiểu về bản chất của con
người cổ xưa. Những phát hiện trong quá trình tìm kiếm đã khiến các nhà folklore học nhận
ra rằng :
Ở các thời kì trước kia, sự biến đổi chậm chạp hơn và kém thường xuyên hơn, vì vậy
mà những phong tục và tín ngưỡng thuở đó phải mất thời gian để hình thành và trở
nên cố thủ sâu trong tiềm thức chủng tộc. Những mẫu mực nguyên thủy này đã chín
muồi và chín mọng giống như những mảnh gỗ đã được đánh bóng và vẫn tồn tại dai
dẳng dưới cái vỏ bề ngoài vội vã của những nền văn minh ngày hôm nay đã làm
chúng ta kinh ngạc bởi vẻ đẹp của chúng mỗi khi chúng ta có dịp bắt gặp và phát
hiện ra chúng. Chúng có vẻ đẹp đó bởi vì chúng được hình thành và phát triển một
cách chậm rãi trong mối quan hệ gần gũi với bản thân thiên nhiên và đồng thời phản
ánh sự đối xứng và giản dị của thiên nhiên. [21, tr.42].
Ở phạm trù dân chúng, từ việc phân chia các tầng lớp xã hội với những đặc điểm
riêng biệt, các nhà folklore cũng đã có những phát hiện có thể giúp lí giải vấn đề bản chất tự
nhiên của con người cổ xưa. Trong rất nhiều phát hiện, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới đối
tượng trẻ em và vấn đề địa vị xã hội vì đây chính là một trong những cơ sở quan trọng giúp
lí giải bản chất thuần phác nơi các nhân vật của Mark Twain trong chương thứ ba của luận
văn.
Theo các nhà nghiên cứu thì cùng với hai đối tượng là phụ nữ và người già, trẻ em
chính là nơi kí thác một nền văn hóa được lưu truyền bên rìa văn hóa của người lớn. Những
trò chơi, những bài hát … của chúng được xem như những hình thức đã bị biến chất đi của
những nghi lễ, tập tục của người lớn xưa kia. Có nghĩa là ở đối tượng này vẫn còn những
dấu vết thể hiện bản chất tự nhiên của con người trong những xã hội cổ xưa. Bản chất ấy
trong con nguời còn được folklore lí giải thông qua các truyền thuyết, phong tục tập quán,
tín ngưỡng của người bình dân, của dân chúng, của những tầng lớp ít bị biến đổi nhất bởi sự
giáo dục học hành, ít chịu sự ảnh hưởng nhất của sự tiến bộ văn hóa. Ở những con người
này, mọi suy nghĩ và hành động đều thể hiện sự tự nhiên, thần phác bởi họ sống bên ngoài
những qui định xã hội, những quan điểm đạo đức chuẩn mực.
Chúng tôi vừa sơ lược trình bày những tư tưởng của các nhà xã hội học về vấn đề
bản chất tự nhiên của người cổ xưa trong quá trình phát triển của ngành học này ở phương
Tây. Đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, điều này trở nên đặc biệt có ý nghĩa bởi sự phát
triển của chủ nghĩa tư bản có nguy cơ xâm lấn, tàn phá thiên nhiên ngày càng nghiêm trọng.
Khi ấy việc quay về với thiên nhiên còn mang thêm những ý nghĩa khác nữa mà chúng tôi
sẽ trình bày kĩ hơn khi nói về Mark Twain ở các chương sau.
1.1.2.2. Sự thể hiện thiên nhiên như là bản chất trong văn chương
Như trên chúng tôi đã trình bày, quan niệm thiên nhiên như là bản chất đã trở thành
một trào lưu tư tưởng của châu Âu trong một thời gian dài, đặc biệt là vào thế kỉ XVIII. Đối
với các nhà văn, tư tưởng này giúp đem lại cho họ cái nhìn mới về xã hội, về con người.
Quan điểm duy lí, những tiến bộ của khoa học, sự văn minh của xã hội ngày càng làm cho
con người trở nên khô cứng, xa rời bản chất tự nhiên của mình. Do đó, để các nhân vật quay
về với thiên nhiên cũng là cách mà các nhà văn bày tỏ sự phản đối xã hội. Trong các tác
phẩm văn chương, chúng ta bắt gặp những biểu hiện hết sức đa dạng của quan điểm ấy.
Khi viết Robinson Cruso, hẳn Daniel Defoe không chỉ muốn kể một câu chuyện hấp
dẫn với nhiều tình tiết li kì. Trong suốt gần ba mươi năm, một mình trên hòn đảo hoang
vắng, Robinson gần như quay trở về với cuộc sống nguyên thủy. Chàng gắn bó với thiên
nhiên, sống trong lều, mặc đồ làm từ da dê… Vậy mà không những không cảm thấy thiếu
thốn, khổ sơ, Robinson còn tìm được những giây phút thư thái, yêu đời giữa thiên nhiên
“thanh tú”.
Trong tác phẩm, bản chất tự nhiên còn thể hiện qua nhân vật Friday. Mọi suy nghĩ,
hành động của nhân vật này đều thể hiện sự thuần phác. Từ nỗi sợ hãi ban đầu khi được
Robinson cứu thoát, cách bày tỏ lòng biết ơn… đến sự lúng túng, ngượng nghịu khi được
mặc quần áo… và đặc biệt là lòng trung thành vô hạn đối với ông chủ. Friday đem lại niềm
vui cho Robinson và hơn thế “Bản chất trong sạch và lành mạnh của anh (Friday) đã chinh
phục được tình cảm của tôi (Robinson).” [22, tr.207].
Một biểu hiện khác của bản chất thuần phác nơi con người thường được nhắc đến
trong các tác phẩm văn chương là tính dục. Những khát khao, những hành vi liên quan đến
tính dục thường được lí giải có liên quan đến sức mạnh của thiên nhiên. Tiểu thuyết Chữ A
màu đỏ của Nathaniel Hawthorne khi nhấn mạnh vào chủ đề “tội ác” và hình phạt đã dựa
trên tình tiết chính có liên quan đến vấn đề bản chất của con người. Mối tình của chàng mục
sư trẻ tuổi Arthur Dimmesdale với cô thợ thêu xinh đẹp, quyến rũ Hester Prynne chính là
nguyên nhân của mọi dằn vặt đau khổ của các nhân vật. Tuy nhiên tác giả thể hiện nó không
phải như một tội lỗi, mà là một sức mạnh của thiên nhiên. Ở cuộc gặp gỡ trong rừng, trước
sự suy sụp của mục sư Arthur Dimmesdale, Hester Prynne đã khẳng định : “Điều chúng ta
đã làm có một tính thánh hóa của riêng nó.” [27, tr.279].
Và khi chàng mục sư chấp nhận sự giải thoát bằng việc đồng ý cùng người tình và
con gái bỏ trốn, cũng như khi Hester Prynne “tháo chữ A màu đỏ ra khỏi ngực và vứt nó ra
xa trên đám lá vàng úa” [27, 289] thì cũng chính là lúc hai kẻ tình nhân tội nghiệp ấy tìm
lại được niềm vui trong cuộc sống. Nhà văn đã thể hiện quan điểm của mình về bản chất tự
nhiên của con người bằng cách miêu tả vẻ bừng sáng của cảnh vật khu rừng lúc đó và nhận
xét :
Sự thông cảm của Thiên nhiên là vậy đó – cái Thiên nhiên hoang dã, ngoại đạo của
rừng núi, không bao giờ khuất phục trước pháp luật của con người, cũng không bao
giờ chịu sự soi sáng bởi chân lí cao siêu – sự thông cảm của Thiên nhiên với niềm
vui sướng của hai linh hồn này là như vậy đó! Tình yêu, dù là mới nở, hay là vừa
thức dậy sau một giấc ngủ như chết, đều luôn tạo ra nắng tươi, rót vào quả tim đầy
ắp những ánh huy hoàng rực rỡ, chan chứa đến mức nó tràn ra cả thế giới bên
ngoài. [27, tr.291].
Cũng thể hiện tư tưởng trên, Thomas Mann, trong tác phẩm cuối cùng của mình là
Ao ảnh đã lí giải những thay đổi của cơ thể, những rung động tình yêu, những ham muốn
thể xác của nhân vật nữ chính, bà Rosalie von Tummler, một góa phụ đang bước vào tuổi
ngũ tuần, bằng sức mạnh kì diệu của thiên nhiên. Tác phẩm ngắn, tình tiết không nhiều, chủ
đề thiên nhiên như là tính dục được thể hiện chủ yếu qua những cuộc đối thoại của bà
Rosalie và cô con gái Anna, một thiếu nữ thông minh, sống bằng lí trí, luôn tìm cách đè nén
những tình cảm tự nhiên của bản thân. Nếu người mẹ coi những rung động của mình trước
vẻ cường tráng của một một chàng trai hai mươi lăm tuổi là điều kì diệu mà thiên nhiên ban
tặng cho thể xác, thì cô gái, ngược lại cho rằng :”Tinh thần gắn với thiên nhiên không kém
gì thể xác”. [43, tr.30].
Cả hai quan điểm đều được thể hiện gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên. Từ “thiên
nhiên” trở đi trở lại rất nhiều lần trong toàn bộ tác phẩm qua suy nghĩ của cả hai nhân vật.
Lúc nào cũng thế, nhất là khi bà mặc tình buông thả theo cơn đam mê thiên nhiên
của bà, và bà luôn thử đưa cô con gái sống thiên về lí trí đến với nó. [43, tr.18].
… và tới năm mươi tuổi, chúng ta đã cùn nhụt, khả năng sinh đẻ của chúng ta tàn lụi,
và trước thiên nhiên ta chỉ còn là mớ đổ nát. [43, tr.29].
… nó (Anna) đã lầm, bởi nó không tin vào phép lạ, nó không biết rằng thiên nhiên có
thể tạo nên một sự nảy nở kì diệu của tâm hồn ngay khi đã muộn… [43, tr.43].
Những chuyện của thiên nhiên, thiên nhiên kì diệu, bí ẩn, toàn năng thỉnh thoảng vẫn
tác động lên chúng ta một cách kì lạ, mâu thuẫn, thậm chí không thể hiểu được nữa.
[43, tr.53].
Sự hòa điệu giữa linh hồn và thể xác chắc chắn là một điều tốt đẹp, cần thiết, và mẹ
tự hào và hạnh phúc được thiên nhiên, thiên nhiên của mẹ, ban phát nó cho mẹ một
cách kì diệu. Nhưng sự hòa điệu giữa cuộc sống và những niềm tin đạo đức nhận
được trong nôi lại còn thiết yếu hơn [43, tr.78] (lời cô con gái)...
Và cứ thế, một cách giản dị, nhà văn khẳng định sự đồng tình của mình về tính tốt
đẹp trong bản chất tự nhiên của con người.
Cũng vấn đề thiên nhiên như là bản chất, nhưng đến Jack London, trong kiệt tác
Tiếng gọi nơi hoang dã, ta thấy cả một quá trình đấu tranh nội tâm được miêu tả hết sức
sống động. Bản chất hoang dã luôn tiềm ẩn trong con chó Buck cho dù khi nó đang sống
cuộc sống văn minh, êm ả ở nhà ông thẩm phán Miller; hay khi bị bắt phải gia nhập đoàn
chó kéo xe cho những kẻ tìm vàng, sống theo “luật của dùi cui và răng nanh”. Rất nhiều
lần cái “huyết thống của nguyên thủy” ấy lôi kéo nó, vẫy gọi nó, nhất là khi nó sống giữa
thiên nhiên hoang sơ, lạnh giá của miền Bắc. Tuy vậy những ảnh hưởng của sự văn minh
hóa, đặc biệt là tình cảm sâu đậm với John Thornton như một sợi dây níu giữ nó lại. Vì vậy,
việc Thornton chết cũng giống như sợi dây ấy bị đứt và bản chất hoang dã đã chiến thắng
nên việc Buck quay về đời sống của loài sói hoang là tất yếu. Hình tượng con chó Buck vì
thế có thể coi như một ẩn dụ về bản chất tự nhiên của loài người. Trong trường hợp này
những lí giải bằng phân tâm học tỏ ra rất hữu hiệu. Cuộc sống văn minh kéo con người xa
bản chất tự nhiên của mình, buộc họ phải luôn hướng về ý thức. Tuy nhiên đây là điều có
thể bị phá vỡ bởi bản chất tự nhiên cũng giống như vô thức khiến con người bất cứ lúc nào
cũng có thể quay trở lại hành động đúng với bản chất người của mình.
Như vậy, trong các tác phẩm văn chương, ý nghĩa thứ hai của thiên nhiên, thiên
nhiên như là bản chất, được thể hiện thông qua những hành động, những suy nghĩ của các
nhân vật trong nhiều tình huống khác nhau. Nhưng tất cả đều nhằm khẳng định bản chất
thuần phác của con người có nguồn gốc gần gũi với thiên nhiên.
1.2. Thiên nhiên trong văn học Mĩ nửa đầu thế kỉ XIX
1.2.1. Thiên nhiên trong văn học lãng mạn Mĩ và Chủ nghĩa Siêu nghiệm
Nền văn học non trẻ của nước Mĩ, cho đến mười năm đầu của thế kỉ XIX không có
thành tựu nào nổi bật, yếu tố văn học Anh vẫn còn chi phối. Chỉ đến khi bước vào thời kì
lãng mạn, văn học Mĩ mới thật sự “cất cánh”. Đó là khoảng thời gian từ 1820 đến 1860.
Nhiều tác phẩm ra đời trong thời kì này được đánh giá cao cả ở Anh quốc và Châu Âu vì
các tác giả của chúng đã xây dựng được những tính cách Mĩ điển hình, miêu tả được những
bối cảnh Mĩ tiêu biểu. Tức là họ đã đem lại bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc mình.
Chính vì vậy mà nhiều người vẫn gọi đây là thời kì Phục hưng của văn học Mĩ, thậm chí
cho rằng văn học Mĩ chỉ bắt đầu từ đây.
Liên quan đến đề tài luận văn của mình, chúng tôi chú ý đến yếu tố thiên nhiên trong
văn học lãng mạn Mĩ. Điều này có hai lí do. Thứ nhất, theo chúng tôi, thiên nhiên chính là
một yếu tố quan trọng tạo nên giá trị cho văn học Mĩ thời kì này. Với ý nghĩa là tự nhiên,
thiên nhiên đặc trưng của nước Mĩ từ cây cối, sông hồ, núi non… đều rộng lớn, bao la đã
được các tác giả tái hiện trong tác phẩm của mình hết sức sống động. Độc giả bị cuốn hút
không chỉ bởi những tính cách mới mẻ, độc đáo rất Mĩ của các nhân vật mà còn đặc biệt
thích thú khi khám phá những không gian vừa nên thơ vừa hùng vĩ của một nước Mĩ huyền
thoại. Thứ hai, cách nhìn thiên nhiên của các tác giả lãng mạn sau này có ảnh hưởng tới
Mark Twain. Trong các tác phẩm của mình, Mark Twain không chỉ tiếp tục miêu tả thiên
nhiên như là không gian mang đậm chất Mĩ mà còn phát triển thêm những ý nghĩa mới của
thiên nhiên, như chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.
Sự quay về với đề tài Mĩ, thiên nhiên Mĩ của các tác giả thời kì này có thể coi là một
tất yếu, bởi lẽ sau hàng thế kỉ “theo đuôi” văn học Anh quốc, các tác giả hẳn đều chịu một
áp lực là phải làm sao để tạo ra một nền văn học riêng xứng đáng với một quốc gia tiên
phong. Tuy vậy phải chờ đến “hiệu lệnh” của Ralph W. Emerson thì điều đó mới trở thành
hiện thực. Năm 1837, tức sáu mươi mốt năm sau ngày tuyên bố độc lập (1776), trong bài
phát biểu nổi tiếng “Học giả Mĩ”, Emerson nêu :
Sự học hỏi kéo dài các nước khác, đã chấm dứt. Hàng triệu người quanh ta đang ào
ào bước vào cuộc sống, không thể mãi mãi cung cấp cho họ những đề tài cũ của
những mùa gặt nước ngoài. [44, tr.243 – 244].
Sau đó, trong tập “Luận văn” thứ hai (1844), ông kêu gọi các nhà thơ hãy sử dụng
“chất liệu vô cùng quí giá” ở ngay trên đất Mĩ,
chính sách của chúng ta, những nơi đánh cá của chúng ta, những người da đen, da
đỏ của chúng ta… Dưới con mắt của chúng ta, nước Mĩ là một bài thơ, địa lí bao la
của nó làm choáng trí tưởng tượng của chúng ta, không cần đợi lâu mới ra thơ. [44,
tr.244].
Emerson không chỉ là người kêu gọi tinh thần độc lập của các trí thức Mĩ mà ông còn
là người đứng đầu phong trào Siêu nghiệm rất có ảnh hưởng đối với văn học Mĩ thời kì này.
Dựa trên tư tưởng của Chủ nghĩa Siêu nghiệm, ông đã kêu gọi khai sinh chủ nghĩa cá nhân
Mĩ, lấy tự nhiên làm cảm hứng sáng tạo. Vậy thiên nhiên có ý nghĩa như thế nào trong quan
niệm của các nhà siêu nghiệm?
Phong trào Siêu nghiệm trong văn học là sự phản ứng chống lại chủ nghĩa duy lí thế
kỉ thứ mười tám và là biểu hiện của khuynh hướng nhân bản trong các trào lưu tư
tưởng thế kỉ thứ mười chín [68, tr.66].
Trào lưu này tiếp nhận ba nguồn tư tưởng : triết học Kant, Hindu giáo và Tin lành.
Khi bàn về vấn đề nhận thức, Kant trong cuốn Phê bình lí trí thuần túy đã nhắc đến hai yếu
tố không gian và thời gian. Theo ông, không gian và thời gian không phải là những thực tế
ngoại giới, mà là trực giác thuần túy và là điều kiện tiên quyết để ta có thể có kinh nghiệm
về sự vật. Nếu không gian là hình thái trực giác hướng ngoại thì thời gian là hình thức trực
giác nội tâm. Chủ nghĩa Siêu nghiệm đồng tình với những lí giải ấy nơi Kant về khả năng tri
thức của con người và coi thiên nhiên là hiện thân của tinh thần trong thế giới tri thức.
Emerson từng nói : “Thiên nhiên là biểu tượng của tinh thần. Thế giới là tinh thần ngưng
kết lại.”. Ngoài ra quan niệm : linh hồn mỗi cá nhân là một tiểu vũ trụ và nó hợp nhất với
thế giới là một đại vũ trụ của Hindu giáo, cùng với niềm tin của các tín đồ Tin lành (duy
nhất thần giáo) : Chúa là một ánh sáng phổ biến, tức là có sự hợp nhất của Thế giới và
Thượng đế, cả hai cũng ảnh hưởng tới tư tưởng tìm về thiên nhiên, khám phá thiên nhiên
của Chủ nghĩa Siêu nghiệm.
Nhiều tác phẩm xuất sắc thời kì này của văn học Mĩ chịu ảnh hưởng của tư tưởng nói
trên. Cũng chính nó đem lại những ý nghĩa đặc biệt cho các bức tranh thiên nhiên trong văn
học lãng mạn Mĩ và cả sau này. Chúng tôi sẽ điểm qua một vài tác phẩm tiêu biểu để làm rõ
hơn điều đó.
1.2.2. Thiên nhiên – hiện thân của tư tưởng và bối cảnh Mĩ
1.2.2.1. Thiên nhiên hoang dã vùng biên cương
Thực ra trước thời kì Lãng mạn, đã có một số tác giả sử dụng các chủ đề về Mĩ, các
bối cảnh lịch sử gắn với thiên nhiên đặc trưng của nước Mĩ. Tiêu biểu trong số đó chính là
trường hợp của James Fenimore Cooper (1789 – 1851). Ông nổi tiếng với một loạt tiểu
thuyết biên cương mà hấp dẫn nhất trong số đó là cuốn Người cuối cùng của bộ lạc
Mohicans. Câu chuyện xảy ra trong bối cảnh cuộc chiến tranh Anh – Pháp ở Bắc Mĩ, thời
trước khi các thuộc địa Anh đòi độc lập. Thông qua câu chuyện đầy chất phiêu lưu của
chàng thanh niên da đỏ Uncas, người cuối cùng của bộ lạc Mohicans và những người bạn da
trắng của mình, nhà văn đã thể hiện quan điểm của ông về kiểu nhân vật là những con người
ít học, yêu thích thiên nhiên và tự do với tâm hồn trong sáng, chính trực. Bối cảnh của
những cuộc trốn chạy, rượt đuổi trong tác phẩm chính là không gian hoang dã vùng biên
cương phía Bắc Hoa Kì, nơi giáp với biên giới Canada. Những cánh rừng rậm rạp, những
thác nước, vực thẳm, hang động của vùng Ngũ Hồ mở đầu tác phẩm đã được giới thiệu ngay
:
B ắc Mĩ năm 1757.
Dọc con đường ranh giới phân chia những vùng thuộc địa của Anh và Pháp,
phần đất nằm giữa thượng nguồn sông Hudson và các hồ tiếp cận là nơi xảy ra nhiều
trận đánh ác liệt nhất. Địa thế thiên nhiên ở đó thuận lợi cho những cuộc di chuyển
quân hơn bất cứ nơi nào. Mặt nước hồ Champlain trải dài từ biên giới Canada đến
phần tận cùng của tỉnh giáp với New York, tạo thành một hành lang thiên nhiên mà
Pháp cần phải chiếm nếu muốn thắng kẻ thù. Hồ Saint Luc là phần nối dài về hướng
Nam của hồ Champlain; dọc theo hai bên bờ hồ này là các khu rừng dễ đi lại, chạy
đến tận bờ sông Hudson tại một nơi mà ghe thuyền có thể lưu thông dễ dàng, trừ
những đoạn có thác ghềnh. [14, tr.9 – 10].
Bỏ qua những chi tiết liên quan đến chiến đấu, hành quân, không gian biên cương với
sự rộng lớn, bao la của rừng núi, sông hồ nơi đây đã giới thiệu được nét tiêu biểu nhất của
bối cảnh nước Mĩ. Tất nhiên thiên nhiên ấy còn được miêu tả khá chi tiết trong tác phẩm với
nhiều trạng thái khác nhau. Có khi là hình ảnh âm u, vắng vẻ của “vòm rừng bao la che phủ
cả con sông tạo thành một bóng đen mờ trên mặt nước” [14, tr.21]; có khi rộng lớn, thoáng
đãng với cảnh “mặt trời đang mọc lên ở phía bên kia của thung lũng sông Horican” [14,
tr.79]. Bối cảnh biên cương ấy, sau này được Mark Twain tiếp tục làm phong phú thêm
bằng những nét đậm chất sông nước miền Tây. Điều thú vị là cả Cooper và Clemens đều
nhìn về thiên nhiên, ca ngợi vẻ hoang dã của nó như một hiện thân của nước Mĩ và cùng thể
hiện thái độ phản kháng. Cooper phản đối việc hủy hoại thiên nhiên của những người khai
phá, còn Clemens phản đối sự tàn phá thiên nhiên của xã hội công nghiệp. Chính do cách
nhìn ấy mà trong tác phẩm của hai ông thiên nhiên còn là hiện thân của những hoài niệm về
một nước Mĩ mà nét hoang dã của nó từng được xem là một niềm tự hào.
Như vậy có thể xem Cooper là người tiên phong trong việc đưa thiên nhiên Mĩ vào
trong tác phẩm. Sau này, trong những tác phẩm lãng mạn, khi triết lí Siêu nghiệm của
Emerson có ảnh hưởng rộng rãi thì thiên nhiên xuất hiện với nhiều ý nghĩa khác nhau. Tìm
hiểu vấn đề này trong hai tác phẩm Walden của Henry David Thoreau và Moby Dick của
Herman Melvill chúng ta có thể có cái nhìn đầy đủ hơn.
2.2. Thiên nhiên như là chốn ẩn cư 1.2.
Henry David Thoreau (1817 – 1862) vẫn được coi là nhà Siêu nghiệm tiêu biểu nhất.
Hưởng ứng lời kêu gọi quay về với thiên nhiên của Emerson, ông không chỉ dùng ngòi bút
mà còn dọn đến vùng thiên nhiên hẻo lánh Walden Pond để sống một mình, trong một túp
lều giữa thiên nhiên, cảm nhận và viết về nó. Những trải nghiệm về cuộc sống ở nơi thiên
nhiên hoang vu ấy được kể lại trong tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Walden. Thiên nhiên
trong cuốn sách này là hiện thân của chốn ẩn cư bởi nó hiện ra với những nét thân thiết,
bình dị như một người bạn của tác giả, qua ngòi bút miêu tả chi tiết, chính xác và một văn
phong mượt mà, nên thơ. Hình ảnh trung tâm trong tác phẩm là hồ Walden được tác giả lần
lượt miêu tả ở cả bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, với những chân dung khác nhau ở và cảm
nhận cũng với nhiều ý nghĩa. Đây là cảnh hồ vào cuối mùa hạ :
This small lake was of most value as a neighbor in the intervals of a gentle rain-
storm in August, when, both air and water being perfectly still, but the sky overcast,
mid-afternoon had all the serenity of evening, and the wood thrush sang around, and
was heard from shore to shore. A lake like this is never smoother than such a time;
and the clear portion of the air above it being, shallow and darkened by clouds, the
water, full of light and reflections, becomes a lower heaven itself so much the more
important. [73, tr.47 – 48].
Cảnh vật hiện ra với nhiều chi tiết gợi tả sự thay đổi của cảnh vật bởi cơn mưa cuối
hè. Tác giả tập trung quan sát và miêu tả rất kĩ bề mặt hồ. Từ sự phẳng lặng (smooth) đến
cảm giác nông và tối (shallow and dark)… Tất cả khiến ta hình dung tác giả như đang chìm
đắm hoàn toàn vào cảnh vật. Có rất nhiều bức tranh như thế trong tác phẩm. Chúng giới
thiệu một đặc điểm nữa cũng hấp dẫn không kém cảnh vật miền biên cương ở tác phẩm của
Cooper hay Mark Twain trong toàn bộ bối cảnh Mĩ : vẻ nên thơ, êm đềm.
Cách cảm nhận thiên nhiên như thế, đã cho thấy Thoreau chịu ảnh hưởng của phương
pháp Thiền định ở châu Á. Điều này không có gì ngạc nhiên bởi Chủ nghĩa Siêu nghiệm có
tiếp nhận ảnh hưởng từ Hindu giáo. Điều quan trọng là bằng cách nhìn thiên nhiên ấy của
mình, nhà văn đã khiến cho mọi người cũng có cái nhìn yêu thích ấy trước thiên nhiên nước
Mĩ. Nói như Emerson thì :
Thoreau đã dành thiên tài của mình để viết một cách say sưa về các cánh đồng, các
quả đồi, các sông hồ của thành phố quê hương, nên ông đã làm cho tất cả các độc
giả Mĩ hiểu biết và mê thích chúng. [44, tr.244 – 245].
Cũng thông qua việc hoà nhập với thiên nhiên, Thoreau còn cảm nhận vai trò “dẫn
dắt” của nó đối với nhận thức của con người. Cảm nhận ấy thể hiện qua việc đặc tả cảnh hồ
chỉ bằng một so sánh rất độc đáo :
A lake is the landscape’s most beautiful and expressive feature. It is earth’s eye;
looking into which beholder measures the depth of his own nature. The fluviatile
trees next to the shore are the slender eyelashes which fringe it, anh the wooded hills
and cliffs around are its overhanging brows. [73, tr.105].
Khi hình dung hồ như con mắt nhìn với đầy vẻ trong sáng, mượt mà của hàng cây
ven hồ như bờ mi, của đồi, dốc bao quanh như đôi chân mày lơ lửng, Thoreau không chỉ
gây ấn tượng về vẻ đẹp thiên nhiên mà còn tạo ra một liên tưởng về chiều sâu của bản chất,
của tâm hồn, điều mà con người có thể cảm nhận dễ dàng hơn khi ở giữa thiên nhiên. Cuốn
Walden đã khiến Thoreau trở thành một tác giả siêu nghiệm được yêu quí nhất có lẽ cũng vì
quan niệm ấy của ông về thiên nhiên.
1.2.2.3. Thiên nhiên v ũ trụ
Cũng chịu ảnh hưởng của Chủ nghĩa Siêu nghiệm như Thoreau nhưng cách nhìn
thiên nhiên, cụ thể là biển cả, của Melvill (1819 – 1891) trong Moby Dick còn thể hiện cả
thái độ phản bác. Các nhân vật của ông cũng được trực giác dẫn dắt hoà nhập với thiên
nhiên. Nhưng ông không cho rằng con người có thể hiểu được tự nhiên. Hành trình săn cá
voi được thuật lại rất hấp dẫn trong suốt cuốn sách này “là một ẩn dụ lớn về khát vọng hiểu
biết” [68, 99]. Vì thế bản thân biển rộng lớn và Moby Dick là tượng trưng cho vũ trụ. Và
hành trình của Ahab cùng Ishmael là hành trình khám phá bí ẩn vũ trụ theo hai cách khác
nhau : hành động (Ahab), trầm tưởng (Ishmael). Đào ngọc Chương khi xem xét kết cấu của
tác phẩm Moby Dick đã nhận xét :
Hành trình của Ahab là để chứng minh sức mạnh của con người và thực hiện khát
vọng. Còn hành trình của Ishmael là khám phá bí ẩn của thế giới và chỗ đứng khiêm
nhường như của kẻ bên lề, người ngoài cuộc, một thực thể chẳng lấy gì làm quan
trọng trong thiên nhiên. [12, tr.83].
Sự gục ngã của Ahab ở cuối tác phẩm vì thế tượng trưng cho sự thất bại của khát
vọng ấy trước những nguy hiểm chết người luôn ẩn chứa trong thiên nhiên. Tuy nhiên hành
trình khám phá ấy không vì thế mà kết thúc bởi cuối tác phẩm, nhờ chiếc quan tài của
Queequeg mà Ishmael được cứu sống và điều đó có nghĩa là một cuộc khám phá thiên nhiên
khác lại bắt đầu. Thiên nhiên vì thế còn tượng trưng cho những thử thách mà con người luôn
tìm cách vượt qua. Nó thể hiện chất nổi loạn tư tưởng, một đặc điểm của văn học lãng mạn
Mĩ. Đặc điểm này sẽ được Mark Twain tiếp tục trong kiệt tác Những cuộc phiêu lưu của
Hucklebery Finn với hành trình đi tìm tự do của hai nhân vật Huck và Jim.
Tất nhiên bên cạnh những ý nghĩa tượng trưng nói trên, trong cuốn Moby Dick chúng
ta cũng bắt gặp những bức tranh cảnh vật rất đẹp trên biển cả. Nó là một không gian khác
nữa trong bối cảnh thiên nhiên rộng lớn của nước Mĩ bên cạnh vẻ đẹp của rừng núi, sông hồ
mà chúng tôi đã điểm qua ở trên. Vẻ đẹp của đại dương thường được nhà văn miêu tả kèm
với những hình ảnh so sánh mang tính chất khoa trương thường gặp trong sử thi. Kiểu như :
Một ngày tươi sáng, nền trời xanh thẳm không một gợn mây, êm ái như một thiếu nữ
mơ màng, trong khi biển rộng như một chàng thanh niên đang say sưa trong giấc
mộng yêu đương. Trên không trung, vài cánh chim điểm trắng nền trời tựa như linh
hồn cao cả của không gian…[42, tr.254].
Hỡi vẻ đẹp tuyệt diệu kia, dung nhan của người yêu không đẹp bằng ngươi. Nhưng
khốn thay, cá mập lại sống trong lòng ngươi. [42, tr.217].
Vẻ đẹp của cảnh vật vì thế cũng mang ý nghĩa tượng trưng chứ không chi tiết, nên
thơ như những trang viết của Thoraeu. Mặc dù vậy nó tỏ ra rất phù hợp với một tác phẩm
mà thiên nhiên được nâng lên thành biểu tượng ngang tầm với vũ trụ.
Như vậy có thể thấy, trong văn học lãng mạn Mĩ, thiên nhiên với ý nghĩa là tự nhiên
được quan tâm đặc biệt. Bên cạnh ý nghĩa là không gian sống và hành động của các nhân
vật như trong bất kì tác phẩm văn chương nào, thiên nhiên trong các tác phẩm lãng mạn của
Mĩ còn chứa đựng những ý nghĩa tượng trưng sâu sắc mà qua đó các nhà văn thể hiện được
quan điểm của mình trước những vấn đề xã hội cụ thể.
Các ý nghĩa đó của thiên nhiên sau này sẽ được tiếp tục trong văn học hiện thực Mĩ
tất nhiên là gắn với những bối cảnh xã hội nửa sau thế kỉ XIX. Khi mà nước Mĩ, sau cuộc
nội chiến kéo dài bốn năm (1861 – 1865), với sự chiến thắng của các tiểu bang công nghiệp
miền Bắc, bước vào giai đoạn phát triển với tốc độ chóng mặt. Sự bành trướng lãnh thổ diễn
ra từ đầu thế kỉ XIX đến thời nội chiến đã đem lại cho quốc gia này một diện tích khổng lồ,
cùng với nó là sự vô tận về tài nguyên. Đây được xem là một nhân tố quan trọng khiến canh
nông, kĩ nghệ, thương mại thời kì này đều phát triển. Những thành tựu to lớn của cuộc cách
mạng khoa học kĩ thuật ở Mĩ nửa cuối thế kỉ XIX là biểu hiện cao nhất của sự phát triển tư
bản chủ nghĩa. Điều này mang lại nhiều thay đổi tích cực và cả tiêu cực. Việc thiên nhiên có
nguy cơ bị tàn phá nghiêm trọng cùng với sự phát triển là một minh chứng. Cùng với hành
trình Tây tiến, những vùng đất hoang sơ nơi biên cương miền Tây ngày càng bị thu hẹp.
Chính thực tế này đã tác động vào sự ra đời của những tác phẩm hiện thực và đem lại những
ý nghĩa mới cho yếu tố thiên nhiên trong các tác phẩm thời kì này. Thiên nhiên trong tiểu
thuyết của Mark Twain đánh dấu giai đoạn phát triển mới mẻ, mang tính hiện đại này của
văn học Mĩ.
Chương 2
THIÊN NHIÊN NHƯ LÀ TỰ NHIÊN –
KHÔNG GIAN PHIÊU LƯU
2.1. Tinh thần biên cương và tiểu thuyết phiêu lưu của Mark Twain
Trong thế kỉ XIX lịch sử Hoa Kì là một cuộc Tây tiến, đẩy lùi dần “biên cương” đến
tận Thái Bình Dương. Khái niệm “miền Tây – miền biên cương” ở Mĩ không có ý nghiã cố
định mà biên cương cứ xa dần bờ biển Đại Tây Dương, băng qua miền Trung Tây rồi đến
Viễn Tây (phiá Tây sông Mississippi). Hành trình vượt biển đi tìm vùng đất mới ấy và hành
trình “Tây tiến” mở rộng lãnh thổ đã hình thành nên tinh thần phiêu lưu nơi người Mĩ. Họ
ưa thích mạo hiểm, luôn hướng đến sự đổi mới, xa lạ với những gì tù đọng. Có thể nói tinh
thần phiêu lưu đã tạo nên một nét nổi bật trong tính cách Mĩ.
Khi những người Mĩ từ bỏ cuộc sống đã ổn định theo khuôn mẫu Anh quốc ở miền
Đông để xê dịch về phiá Tây, họ không chỉ gặp những vùng đất hoang mênh mông vô cùng
hấp dẫn nhưng không kém phần nguy hiểm mà còn tiếp xúc với những điều đơn giản của xã
hội nguyên thủy thuộc về người da đỏ vốn rất xa lạ với họ. Miền biên cương này vì thế còn
được coi là “điểm gặp gỡ giữa con người hoang dã và con người văn minh” (F.J. Turner).
Sở dĩ chúng tôi nhắc đến các yếu tố lịch sử xã hội nói trên vì chúng biểu hiện khá rõ
trong các sáng tác của Mark Twain, đặc biệt là hai cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom
Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn.
Theo Phan Cự Đệ, tiểu thuyết phiêu lưu là một thuật ngữ có nội dung rất rộng, bao
gồm nhiều loại tiểu thuyết khác nhau từ tiểu thuyết du kí, tiểu thuyết hiệp sĩ thời trung cổ…
đến tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết trinh thám… Do đó :
Trong tiểu thuyết phiêu lưu, những biến cố bất ngờ, đầy kịch tính xảy ra dồn dập
trong cốt truyện. Nhân vật đi lang thang nơi chân trời góc bể hoặc dấn thân vào
những nguy hiểm, phần nhiều là những nguy hiểm chết người để hoàn thành một sứ
mệnh, chinh phục một vùng đất hoang, một xứ sở xa lạ, phát hiện ra một kho báu,
khám phá một vụ án, một bí mật, có khi là bí mật của cả một quốc gia. [25, (7),
tr.91].
Những tính chất trên khiến tiểu thuyết phiêu lưu luôn hấp dẫn người đọc và nó có
mặt trong nhiều nền văn học. Riêng ở Mĩ, truyền thống phiêu lưu của lịch sử, tinh thần ưa
thích mạo hiểm của mỗi cá nhân mà chúng tôi vừa nêu trên, là một nguyên nhân khiến kiểu
tiểu thuyết này đặc biệt phát triển. Ngay từ thời kì thuộc địa, yếu tố phiêu lưu đã được tìm
thấy trong những ghi chép của các nhà khai phá. Sau này tiểu thuyết phiêu lưu có mặt trong
cả văn học lãng mạn, văn học hiện thực và hiện đại Mĩ. Tất nhiên trong mỗi thời kì văn học,
các tác phẩm hướng tới những vấn đề tư tưởng khác nhau nhưng tính chất phiêu lưu thì
không đổi.
Đến Mark Twain, tính chất phiêu lưu ấy được thể hiện bằng ngòi bút hiện thực “tự
do một cách sâu sắc và tiềm tàng sức mạnh phản kháng xã hội”. Do đó, trong các tác phẩm
của Mark Twain, ông không chỉ tiếp tục những đặc trưng của tiểu thuyết phiêu lưu Mĩ mà
còn thể hiện được những ý nghĩa mới mẻ đằng sau những chuyện phiêu lưu của các nhân
vật.
Đào Ngọc Chương, khi bàn về tiểu thuyết phiêu lưu đã chỉ ra mối quan hệ giữa nhân
vật và kết cấu – cốt truyện của thể loại này như sau :
Tiểu thuyết phiêu lưu luôn gắn liền với kiểu nhân vật hành động. Hành động và mục
tiêu của hành động là toàn bộ sự quan tâm của nhân vật phiêu lưu, là bản thân sự
tồn tại của nhân vật… Và vì thế kết cấu – cốt truyện phiêu lưu phải là một chuỗi các
sự biến thường là do hành động của nhân vật gây ra mà sự biến nào cũng có thể đẩy
nhân vật đến những điểm mút (thời gian và không gian) bất ngờ, và hành động cứ
thế tiếp tục, tiếp diễn. [13, tr.122 – 123].
Hai cuốn Tom Sawyer và Huck Finn mà chúng tôi đang khảo sát, quả thật đáp ứng
được các yêu cầu trên của tiểu thuyết phiêu lưu. Tom, Huck, Joe và sau này là Huck và Jim
không quan tâm tới những buổi học ở trường, những buổi cầu kinh ở nhà thờ hay những qui
định đạo đức mà mọi người tuân thủ. Chúng bàn bạc, lên kế hoạch và thực hiện những cuộc
phiêu lưu của mình một cách say mê, thích thú dù với những mục đích khác nhau để đi làm
cướp biển, để tìm của chôn dấu hay để được tự do. Trong những chuyến phiêu lưu của mình
bọn trẻ đã gặp hết biến cố này đến biến cố khác, mà hầu hết đều bất ngờ, hồi hộp khiến
chúng “sợ rúm cả người”, đẩy chúng tới chỗ phải hành động tiếp. Có thể nói những hành
động của các nhân vật ở nghĩa địa, ở ngôi nhà hoang, ở trong hang… trong cuốn Tom
Sawyer; chuyến hành trình gắn với vô số chuyện bất ngờ của Huck và Jim trong cuốn Huck
Finn đã thể hiện rõ nhất kiểu kết cấu – cốt truyện nói trên.
Nhưng điều làm nên giá trị to lớn, sức hấp dẫn dài lâu cho hai tác phẩm này chính là
những ý nghĩa thời đại của các chuyện phiêu lưu kia. Trong phạm vi đề tài của mình, chúng
tôi chỉ xem xét ý nghĩa ấy thông qua các hình ảnh thiên nhiên trong các chuyến phiêu lưu.
Trước hết thiên nhiên với ý nghĩa tự nhiên được miêu tả hoàn toàn đối lập với những không
gian thuộc xã hội văn minh là cách mà Mark Twain bày tỏ sự phản đối xã hội công nghiệp.
Hơn nữa trong các sáng tác của ông, vẻ đẹp hoang sơ, nét đặc trưng của thiên nhiên miền
Tây hiện lên hết sức chân thực, tự nhiên qua mọi hình ảnh, mọi chi tiết, từ dòng sông, hòn
đảo đến ngôi làng, nhà thờ… Nó là một biểu hiện cụ thể của khuynh hướng vùng miền
trong các sáng tác của Mark Twain. Thiên nhiên được nhìn ngắm không phải bằng sự ngạc
nhiên thích thú của một người từ xa đến bị choáng ngợp bởi sự rộng lớn, hùng vĩ của cảnh
quan địa lí, mà bằng sự gắn bó máu thịt với nó. Điều này nhắc chúng ta nhớ đến cuộc đời
Mark Twain, người vẫn được coi là nhà văn lớn đầu tiên xuất thân từ một vùng nội địa của
nước Mĩ. Ông sinh bên phía bờ Tây dòng Mississippi tại Florida, Missouri; sống những năm
thơ ấu hạnh phúc, tinh nghịch tại Hannibal, Missouri, một thị trấn nhỏ còn duy trì chế độ nô
lệ, nằm phía trên St Louis khoảng một trăm dặm; tuổi trẻ phiêu bạt của ông gắn liền với
những chuyến xuôi ngược dòng Mississippi. Chính những kí ức ấy đã tạo nên nét đáng yêu,
quyến rũ rất tiêu biểu cho các tác phẩm của ông nói chung và những bức tranh cảnh vật nói
riêng. Điều này sẽ được chúng tôi sẽ trình bày kĩ hơn trong các phần sau khi đi vào tìm hiểu
nội dung Thiên nhiên như là tự nhiên trong hai tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Tom
Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn với ý nghĩa là không gian để các
nhân vật thực hiện mọi hành động phiêu lưu.
2.2. Thiên nhiên trong Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer
Tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (1876) mở đầu cho việc ra đời
hàng loạt tác phẩm mang tính chất phiêu lưu trong sự nghiệp của Mark Twain. Những kí ức
tuổi thơ trở thành chất liệu chính cho cuốn sách này và có lẽ nhờ thế mà nó sống động và
quyến rũ lạ thường. Những con người, những sinh hoạt, những khung cảnh thiên nhiên nơi
thị trấn St Petersburg, đặc biệt là nhân vật chính - cậu bé Tom Sawyer với những cuộc
phiêu lưu hấp dẫn của mình đã gợi lại chân thực những năm tháng thơ ấu của tác giả ở
Hannibal, bên dòng Mississipi. Xét riêng về những trang viết miêu tả thiên nhiên như là
không gian tự nhiên của hành động nhân vật, chúng ta có thể thấy rõ điều này.
Bối cảnh của cuốn Tom Sawyer là sự đan xen giữa hai không gian; một bên là Thị
trấn St Petersburg, nơi các nhân vật sống, với một bên là đảo Jackson, rừng, sông, hang
động… gắn với những chuyến phiêu lưu của các nhân vật. Trong những trang miêu tả
không gian thứ hai, người đọc dễ dàng nhận thấy những nét tiêu biểu của thiên nhiên miền
Tây nước Mĩ. Đó là sự rộng lớn, hoang sơ, vắng vẻ, tiềm ẩn nhiều bí mật cũng như những
hiểm nguy luôn thách thức tinh thần chinh phục, khám phá của con người. Do đó nó cũng
chính là không gian thích hợp nhất cho một cốt truyện phiêu lưu, gắn liền với những sự kiện
bất ngờ trong các chuyến phiêu lưu của Tom và các bạn. Ngoài sự tương phản giữa không
gian sống của thị trấn tù túng, gò bó và không gian tự nhiên của phiêu lưu tự do, hấp dẫn
trong toàn bộ tác phẩm, chúng tôi, khi khảo sát các hình ảnh thiên nhiên cụ thể gắn với
những chuyến phiêu lưu của các nhân vật cũng nhận thấy nét đối lập khá rõ trong kiểu
không gian thiên nhiên này. Đó là vẻ quyến rũ, êm đềm của sông, của rừng nơi đảo Jackson
và vẻ âm u, rùng rợn của nghĩa địa, nhà hoang…
2.2.1. Thị trấn St Petersburg : không gian thu nhỏ của xã hội văn minh
Đây không phải là thứ không gian mà đề tài chúng tôi quan tâm nhưng nó là thứ
không gian đối trọng với không gian tự nhiên. Và trong thế đối trọng ấy, xuất hiện cái nhìn
về thiên nhiên vừa mang ý nghĩa xã hội vừa mang ý nghĩa triết lí của Mark Twain. Không
gian đối trọng ấy chính là thị trấn St Petersburg với nhà thờ, trường học… Nơi đây chính là
thế giới của những qui ước xã hội gò bó, những thói quen khiến cuộc sống của mọi người
trở nên tù túng, nhàm chán, tất nhiên là trong con mắt của bọn trẻ. St Petersburg không chỉ
gợi lại thị trấn Hannibal, nơi mà Mark Twain đã sống tám năm thơ ấu đẹp đẽ mà nó còn là
hình ảnh tiêu biểu của một thị trấn kiểu Mĩ hồi thế kỉ XIX. Công cuộc viễn chinh về phiá
Tây thời kì đầu đã góp phần định hình tính cách cộng đồng ở Mĩ nên thời gian sau họ hầu
như đều sống trong các thị trấn hoặc làng. Điều này khiến họ có thể quây quần dựa vào
nhau mà chống chọi lại môi trường sống khắc nghiệt và còn có thể xây dựng những mối
quan hệ gắn bó với nhau vốn là bản chất của con người. Thị trấn St Petersburg quả thật
mang những nét như vậy. Giữa thiên nhiên rộng lớn còn nhiều nét hoang sơ, mỗi gia đình
sống trong một ngôi nhà có hàng rào bao quanh vườn. Mọi người trong thị trấn hàng tuần
gặp nhau ở nhà thờ. Họ chia sẻ với nhau mọi niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống hàng ngày.
Khi những đứa trẻ trốn nhà ra đi họ gặp nhau than khóc, khi ngỡ bọn trẻ đã chết thì “một sự
yên tĩnh bất thường đè nặng trên thị trấn”, rồi họ cùng nhau tập trung ở nhà thờ để cầu
nguyện; hay giữa đêm khuya họ sẵn sàng ra khỏi nhà với súng ống trên tay khi biết hàng
xóm của mình đang gặp nguy hiểm…
Nhưng đó là thế giới của người lớn, người lớn có thể thấy dễ chịu, ấm áp với tất cả
những điều trên nhưng bọn trẻ con thì không. Đối với chúng, việc ngày ngày phải răm rắp
tuân thủ những qui định do người lớn đề ra quả thật là ngạt thở. Với Tom Sawyer những lúc
ở nhà thờ, ở trường học là thử thách ghê gớm. Do đó Mark Twain đã luôn sử dụng nghệ
thuật tương phản khi miêu tả không gian trang nghiêm của hai nơi ấy cùng với những trò
tếu táo của Tom.
Hàng tuần cứ vào sáng chủ nhật là bọn trẻ phải đến nhà thờ để học :
nhà thờ chỉ là một ngôi nhà nhỏ, kiến trúc đơn sơ, cái gác chuông ở trên nóc trông
chẳng khác gì một hàng rào chung quanh các gốc cây làm bằng ván gỗ thông ghép
lại! [63, (1), tr.70 – 71].
Trong không gian ấy, bài giảng đầy thành kính của thầy hiệu trưởng thường diễn ra
cùng lúc với những chuyện gây lộn, những trò nghịch ngợm và trong tiếng “tiếng dậm
chân, tiếng xì xào lan ra khắp tứ phía”.
Không gian trường học cũng không khác hơn là mấy. “Ngôi trường nhỏ làm bằng
ván ghép đứng chơ vơ cách xa làng xóm” [63, (1), tr.122] là nơi Tom buộc phải đến mỗi
ngày sau khi đã tìm mọi phương cách để tránh né mà không xong. Không khí trong lớp học
càng trở nên tẻ nhạt hơn khi được đặt trong thế so sánh với thiên nhiên bên ngoài.
Tiếng học bài rì rầm như ru ngủ của hai mươi nhăm đứa trẻ có tác dụng màu nhiệm
làm tâm hồn tê mê như tiếng đàn ong vo ve. Xa xa đồi Cardiff hiện ra với những
sườn đồi xanh dịu sau làn không khí nóng rung rinh trông xa như phơn phớt màu tím
nhạt… [63, (1), tr.131].
Ngay cả buổi lễ tổng kết năm học cũng vậy. Dù “… trong trường đèn thắp sáng
trưng, chăng hoa kết lá, trang hoàng rực rỡ.” [64, (2), tr.60] nhưng mọi chuyện diễn ra
trong không gian trang trọng ấy đều kệnh cỡm, lộn xộn, từ việc Tom đọc bài diễn văn “với
một vẻ hung hăng tuyệt mĩ, hoa chân múa tay như điên như cuồng, rồi bỗng nhiên ngắc
ngang giữa quãng.” [64, (2), tr.62]; đến các bài luận suớt mướt được các nữ sinh đọc như
những cái máy ghi âm…
Những không gian gò bó hạn hẹp ấy đối với những chú bé “hư hỏng” như Tom
Sawyer, Huck Finn… hiển nhiên là không thể chịu nổi và rất dễ hiểu nếu chúng tìm cách
thoát khỏi những nơi ấy để tìm đến với một thế giới khác, một không gian tự do, bay bổng
hơn nơi đảo Jackson.
Hai không gian tiêu biểu là nhà thờ và trường học ở thị trấn St Petersburg, vẫn được
các nhà nghiên cứu trong nước đặc biệt chú ý như là những biểu hiện tập trung của chủ
nghĩa hiện thực trong các sáng tác của Mark Twain. Còn chúng tôi, với đề tài của mình chỉ
tìm hiểu hai không gian ấy dưới góc độ không gian tù túng đối lập với không gian tự nhiên
rộng lớn của hành trình phiêu lưu của các nhân vật. Đó là thứ không gian rừng và sông
quyến rũ, nghĩa địa và nhà hoang âm u.
2.2.2. Đảo Jackson – thiên đường của tự do
Đảo Jackson được ba tên “cướp biển”, Tom, Huck và Joe chọn làm nơi ẩn náu bởi vị
trí hết sức lí tưởng của nó :
Về phía dưới St Petersburg ba dặm, ở một chỗ con sông Mississippi rộng chừng hơn
một dặm, có một hòn đảo dài và hẹp, cây cối mọc thành rừng, ở đầu có một dải cát
nông; nơi đó dùng làm nơi tụ họp rất tốt. Trên đảo không có người ở; hòn đảo ở mãi
đằng xa về phía bờ bên kia, ngang với một khu rừng rậm rạp hầu như hoàn toàn
không có dân cư. [63, (1), tr.221].
Một đặc điểm nổi bật của hòn đảo được nhắc đến tới hai lần là nó gắn với rừng :
“cây cối mọc thành rừng”, “ngang với một khu rừng rậm rạp”. Tom và các bạn, khi quyết
định “từ bỏ” cuộc sống văn minh nơi trị trấn đã hướng đến với rừng một cách hết sức tự
nhiên. Không gian rừng với sự vắng vẻ, yên tĩnh là nơi đầu tiên bọn trẻ nghĩ tới khi muốn
thoát khỏi sự gò bó của gia đình, của trường học vì trong cảm nhận của chúng rừng là nơi có
thể che chở, vỗ về, an ủi. Cảm thức ấy về rừng sẽ trở nên rõ rệt hơn trong cuốn Huck Finn
sau này.
Thế rồi, sau khi chuẩn bị, bọn trẻ lên đường trên một cái bè gỗ nhỏ, xuôi theo dòng
sông, ngang qua làng “đang yên lành ngủ bên kia dải nước bao la in bóng trời sao lấp
lánh” [63, (1), tr.228] để đến đảo. Sau đêm đầu tiên “phè phỡn” trên đảo, Tom tỉnh giấc và
chứng kiến cảnh vật kì diệu của thiên nhiên một buổi sớm mai trong rừng:
Trời mới tảng sáng, ánh sáng mờ mờ một màu xám nhạt, không khí mát mẻ; trong
cái yên lặng tĩnh mịch bao trùm khu rừng có một cảm giác thư thái và thanh bình
tuyệt thú. Không một chiếc lá nào lay động; không một âm thanh nào đến phá rối sự
trầm tư mặc tưởng của thiên nhiên vĩ đại. Sương đọng thành những chuỗi hạt nhỏ
trên lá cây, ngọn cỏ. Một lớp tro trắng phủ trên đống lửa, một tia khói xanh nhỏ như
sợi chỉ bốc thẳng lên trời… Ở đằng xa, mãi sâu trong rừng một con chim lên tiếng
gọi; một con chim khác hót trả lời; một lát sau có tiếng chim gõ kiến mổ lộp độp.
Màu sáng nhạt mát dịu của buổi sáng trắng dần, các âm thanh nổi lên mỗi lúc một
nhiều, cuộc sống dần dần biểu hiện. Cảnh kì diệu của thiên nhiên đang giũ cái ngủ
để sắp sửa bước vào lao động, diễn ra trước con mắt mơ mộng của Tom [63, (1),
tr.238 – 239].
Vẻ đẹp như tranh của cảnh vật là điều không phải bàn cãi. Nhưng nếu chúng ta xem
xét nó từ góc độ điểm nhìn của người kể chuyện thì có thể thấy những ý nghĩa khác đằng
sau vẻ đẹp thiên nhiên. Trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Mark Twain
thuật lại câu chuyện từ điểm nhìn của một người trưởng thành nhìn lại tuổi thơ của mình.
Do đó cảnh vật trên không phải do Tom trực tiếp ngắm nhìn. Nó là sự quan sát và miêu tả
của nhà văn. Ông như một họa sĩ trước tiên phác họa cái nền cho toàn bộ cảnh vật rồi sau
đó bổ sung từng chi tiết nhỏ và cuối cùng đặt bức tranh trước mắt Tom. Vai trò người kể
chuyện - nhà văn ấy còn lộ rõ qua hai lần sử dụng phép nhân hóa quen thuộc trong văn
chương tả cảnh truyền thống. Lần thứ nhất là “Không một chiếc lá nào lay động; không một
âm thanh nào đến phá rối sự trầm tư mặc tưởng của thiên nhiên vĩ đại”. Và lần thứ hai còn
cầu kì hơn “Cảnh kì diệu của thiên nhiên đang giũ cái ngủ để sắp sửa bước vào lao động”.
Bởi thế Tom chỉ lướt qua cảnh vật rồi tập trung vào “chơi” với một con sâu. Nơi nhân vật
chưa thể hiện sự hoà nhập với không gian rừng như Huck sau này.
Cũng chính vì vậy mà trong nhiều bức tranh cảnh vật, hành động của bọn trẻ được
miêu tả nổi bật hơn việc miêu tả không gian. Tức là chúng không hòa nhập hoàn toàn vào
cảnh vật mà cảnh vật chỉ là không gian làm nền cho hành động diễn ra mà thôi. Trong
những ngày ở trên đảo, mọi hoạt động của Tom và các bạn gắn với dòng sông và khu rừng.
Nơi dòng sông, chúng “cười nói reo hò ầm ĩ” và “đuổi nhau, nhảy đè lên người nhau trong
làn nước trong suốt không sâu lắm trên bãi cát trắng” [63, (1), tr.242]. Còn khu rừng là nơi
chúng thám hiểm và phát hiện ra nhiều điều kì thú :
Chúng thoăn thoắt bước đi, khi phải nhảy qua những thân cây gỗ mục, khi thì vướng
bụi rậm, phải rẽ cây mà đi, len lỏi giữa những gốc cây to hùng vĩ ngự trị trong rừng,
dây nho bám chằng chịt chung quanh, từ trên ngọn cây rủ xuống đến tận mặt đất
chẳng khác gì những tua lòng thòng quanh mũ miện. Thỉnh thoảng chúng lại gặp một
chỗ rất thú, có cỏ mọc hoa chen, trông như một tấm thảm nạm trân châu ngọc bích.
[63, (1), tr.244].
Giữa một không gian hoang sơ như thế, bọn trẻ còn phát hiện ra sự thú vị của một
cuộc sống thiếu thốn tiện nghi. Khi dùng “lá sồi hay lá đào to làm chén” uống nước suối,
Huck nhận thấy một “hương vị ngọt ngào” đặc biệt; khi bắt cá ở dưới sông lên, rán ăn
ngay, “chúng rất ngạc nhiên khi thấy món cá ngon tuyệt”. Nét hồn nhiên, trong trẻo ấy của
bọn trẻ giữa thiên nhiên quả thật khác xa nếu đặt nó trong sự so sánh với không gian của thị
trấn St Petersburg nói trên. Về điểm này, Lê Hồng Sâm trong bài giới thiệu nhân dịp xuất
bản cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, nhà xuất bản Văn học, 1988 cũng đã nhận
xét :
Thông qua những cảm xúc trong trẻo và bộc trực chỉ có thể có ở trẻ thơ, tác giả còn
muốn phê bình một số qui ước được người lớn phục tùng, muốn đánh giá lại một số
giá trị xã hội đương thời thừa nhận, cái xã hội theo ông làm cho vẻ tươi mát, hồn
nhiên trong tâm hồn các em bị nhợt nhạt, thui chột… [62, tr.8].
Bởi thế, khi đang đắm mình trong sự hấp dẫn, lôi cuốn của thiên nhiên trên đảo
Jackson, bọn trẻ “càng mừng” khi phát hiện cái bè, vật nối chúng với mọi người ở thị trấn
St Petersburg, đã bị dòng nước cuốn trôi đi mất. Lí do để chúng mừng là “vì cái bè trôi đi
như vậy cũng chẳng khác nào như đã tiêu huỷ cái cầu giữa chúng với cuộc sống văn minh”.
[63, (1), tr.242]. Đó cũng chính là điều bọn trẻ đã quyết định trong cái đêm đầu tiên trên
đảo. Sau khi “phè phỡn với nhau một bữa một cách tự nhiên phóng khoáng giữa cánh rừng
già trên một hòn đảo chưa từng có ai đặt chân tới và không có người, ở cách xa những nơi
mọi người qua lại”, Tom và các bạn đã quyết định “sẽ không bao giờ còn quay trở về với
thế giới văn minh nữa”. [63, (1), tr.230]. Miêu tả thứ thiên nhiên đối lập với thế giới văn
minh ấy là cách tác giả thể hiện tư tưởng phản kháng của mình.
Trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, chúng ta còn bắt gặp những
khung cảnh thiên nhiên được miêu tả như những không gian nội tâm. Đó cũng là không gian
rừng và sông nhưng không mĩ lệ, không nên thơ như trong các dẫn chứng trên mà gắn với
những tâm trạng khác nhau của Tom. Khi bị dì Polly mắng oan, Tom ra sông, ngồi trên bè
gỗ mà “ngắm nhìn mặt nước mêng mang ảm đạm” [63, (1), tr.59]; hay khi giận dỗi với
Becky, Tom trốn khỏi lớp học để đi :
… thẳng tới giữa rừng và ngồi xuống đám rêu xanh dưới một gốc cây sồi lớn cành lá
rườm rà. Không có lấy một hơi gió nhẹ; cái oi bức lúc giữa trưa làm cho đến cả chim
chóc cũng phải im tiếng hót; cảnh vật im lìm như chết… [63, (1), tr.147].
Dạng không gian này không nhiều trong tác phẩm nhưng chúng cũng góp phần biểu
hiện cảm thức của Tom về thiên nhiên như một chốn quay về. Bởi sau mỗi lần đến với rừng
và sông ấy, Tom thấy vơi bớt nỗi phiền muộn và khi quay về thị trấn lại có thể hào hứng bắt
tay vào một chuyện phiêu lưu mới. Cũng chính vì xuất hiện không nhiều nên các hình ảnh
rừng và sông trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer chưa trở thành biểu tượng
mà mới chỉ dừng lại ở mức độ là không gian sống và hành động của các nhân vật mà thôi.
Cái nhìn về thiên nhiên của Mark Twain trong cuốn sách này vì thế cũng có thể hiểu là
những dự cảm ban đầu của ông về thời đại.
Mặc dù vậy, với ý nghĩa là không gian phiêu lưu của các nhân vật, những hình ảnh
thiên nhiên rừng và sông trên đảo Jackson trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom
Sawyer vẫn là thứ thiên nhiên tuyệt diệu nhất. Chúng đem lại sự trong sáng, bình yên cho
các nhân vật và có thể đặt ra cho chúng ta những suy nghĩ về cái gọi là xã hội văn minh,
hiện đại.
2.2.3. Nghĩa địa, Ngôi nhà có ma, hang Mc.Dougal – không gian bí ẩn, hấp dẫn
Những chuyến phiêu lưu của chú bé Tom và các bạn còn gắn với những không gian
khác nữa. Chúng âm u, rùng rợn và do đó như chúng tôi đã nói ở trên, chúng phần nào đối
lập với cái trong trẻo, nên thơ của đảo Jackson. Chính nét âm u, rùng rợn đó đã đẩy chúng
về phía tự nhiên, khoác lên chúng sắc màu của thiên nhiên. Đó là không gian nghĩa địa, nơi
Tom và Huck vô tình chứng kiến tội ác giết người của tên lai da đỏ Joe Injun; đó là ngôi nhà
có ma, nơi mà bọn trẻ tình cờ phát hiện ra việc bọn cướp có vàng; và đó là hang Mc.Dougal,
nơi Tom và Becky bị lạc. Có thể nói đây là những kiểu không gian tiêu biểu cho bất cứ cuốn
tiểu thuyết phiêu lưu nào và chúng cũng là không gian đặc trưng của vùng biên cương miền
Tây nươc Mĩ hồi thế kỉ XIX.
Thông qua miêu tả của Mark Twain, các không gian ấy hiện lên rất chi tiết.
Đây là một nghĩa địa theo kiểu cũ ở miền Tây; nằm ở trên đồi, cách xa làng chừng
một dặm rưỡi. Chung quanh có một hàng rào cũ bằng ván đã mục nát, xiêu vẹo, chỗ
thì nghiêng về phía bên trong, chỗ thì ngã về phía bên ngoài, không một chỗ nào còn
đứng thẳng. Cỏ dại mọc um tùm khắp trong nghĩa địa. Tất cả những mả cũ đều chìm
ngập trong đám cỏ, ở đây không có lấy một tấm bia đá nào; chỉ có những tấm bảng
gỗ đầu đã vẹt tròn cả góc, bị mọt và mối xông, cắm xiêu vẹo trên các ngôi mộ,
nghiêng mình tìm chỗ dựa nhưng không có. [63, (1), tr.163].
Còn đây là một gian phòng trong ngôi nhà có ma :
… gian phòng đã mất hết ván sàn chỉ còn trơ đất, cỏ dại mọc kín, vôi vữa trên trần lở
hết, một cái lò sưởi cũ, những cửa sổ trơ khung, một cái cầu thang đổ nát; và khắp
nơi, chỗ nào cũng đầy những mạng nhện xơ xác, nhện đã bỏ đi từ lâu.” [64, (2),
tr.126].
Nét hoang tàn, đổ nát là đặc điểm bao trùm các cảnh vật. Cùng với chúng là tâm
trạng hồi hộp, căng thẳng của các nhân vật bởi chính trong những không gian ấy Tom và
Huck đã gặp các biến cố bất ngờ khiến chúng vừa sợ hãi vừa thích thú vì phát hiện ra những
bí mật “chết người”. Những không gian như thế này đã “tô điểm ” thêm cho các cuộc phiêu
lưu những sắc màu li kì, hấp dẫn.
Cũng là những khung cảnh âm u, rùng rợn nhưng có lúc tác giả lại miêu tả xen với
nét huyền bí, nên thơ. Đó chính là không gian hang Mc.Dougal, nơi diễn ra cuộc phiêu lưu
cuối cùng của Tom trong tác phẩm khi chú bé bị lạc cùng với “người yêu” Becky :
Cửa hang ở trên sườn núi cao – miệng hang hình chữ A. Cái cửa lớn bằng gỗ sồi ở
miệng hang khi đó để ngỏ không đóng. Bên trong là một khoảng trống như một gian
phòng nhỏ, lạnh như trong nhà nước đá, với một bức vách thiên nhiên bằng đá vôi,
mồ hôi đá lạnh toát ra thành giọt như sương đọng. Đứng trong hang sâu thăm thẳm
tối om nhìn ra ngoài thung lũng xanh tươi chan hòa ánh nắng thật là một cảnh vừa
lãng mạn vừa huyền bí. [64, (2), tr.166 – 167].
Mấy ngày bị nhốt trong hang, Tom và Becky khi sợ hãi, lúc hốt hoảng và cả thích
thú, ngạc nhiên khi khám phá ra những cảnh đẹp độc đáo. Quang cảnh cái động là một thí
dụ tiêu biểu :
Chúng tìm thấy một chỗ có một cái động lớn từ trên trần rủ xuống vô vàn những nhũ
đá lấp lánh dài và to bằng bắp chân;…chẳng mấy chốc chúng tới một con suối trông
rất mê li, chỗ nó chảy qua toàn nạm pha lê lóng lánh như sương đọng… [64, (2),
tr.205].
Vẫn là sự quan sát, miêu tả chi tiết và khách quan của một người trưởng thành đứng
ở hiện tại để nhìn lại quá khứ của mình. Nên cảnh vật hiện ra với nhiều chi tiết đẹp, bóng
bẩy. Tất cả tạo thành thứ không gian rất thích hợp với tình huống truyện khi mà Tom tuy sợ
hãi nhưng cũng rất hạnh phúc vì có Becky bên cạnh. Do đó sự kết hợp hai đặc điểm âm u và
nên thơ nói trên của cảnh vật đã tạo ra không chỉ không gian phiêu lưu mà còn là không
gian tâm trạng nữa.
Các hình ảnh thiên nhiên trong trẻo, nên thơ và bí ẩn, hấp dẫn mà chúng tôi vừa tìm
hiểu ở trên, đã tạo nên một không gian phiêu lưu với nhiều màu sắc khác nhau trong tác
phẩm Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer. Không gian ấy gợi lên nhiều ý nghĩa. Trước
hết, chúng là những hình ảnh tái hiện cụ thể, chân thực một vùng đất gắn liền với những
năm tháng tuổi thơ của nhà văn. Đồng thời chúng cũng chứa đựng những nét hoang sơ của
thiên nhiên vùng biên cương miền Tây nước Mĩ nói chung vào khoảng đầu thế kỉ XIX.
Quan trọng hơn là chúng thể hiện cảm thức của Mark Twain về thời đại, việc gắn bó với
thiên nhiên chính là một biểu hiện của thái độ phê phán gay gắt thời đại công nghiệp. Điều
này sẽ trở nên rõ ràng hơn nếu chúng ta đặt khung cảnh thiên nhiên nói trên bên cạnh không
gian thị trấn St Petersburg với nhà thờ, trường học và những qui ước gò bó của xã hội văn
minh.
Và như vậy, khi chỉ ra những nét tương phản giữa cái xã hội văn minh thu nhỏ ở St
Petersburg với thiên nhiên hoang sơ của đảo Jackson, chúng tôi muốn khẳng định tự điều đó
đã nói lên quan điểm của tác giả về một vấn đề xã hội lúc bấy giờ : văn minh công nghiệp
không hẳn là tốt, nhất là đối với tâm hồn con người. Đứng trước hai không gian đối lập nói
trên của thiên nhiên, trong tiểu thuyết Tom Sawyer, chúng ta thấy, nhà văn để Tom và các
bạn đi đi về về giữa hai không gian ấy nhiều lần trong các hành trình phiêu lưu của mình.
Dòng sông trong mát, khu rừng hoang sơ của đảo Jackson không giữ chân Tom và các bạn
lâu. Khi ở đảo thì chúng thấy lo lắng, nhớ nhà; còn khi ở thị trấn thì lại cảm thấy tù túng đến
khó chịu. Với Huck và Jim sau này trong cuốn Huck Finn, sự việc trở nên khác hẳn. Cả hai
từ thị trấn đi thẳng về phía thiên nhiên và vẫn là không gian phiêu lưu nhưng thiên nhiên mở
rộng hơn nhiều, nét hoang dã cũng “đậm đặc” hơn và qua đó những vấn đề quan niệm về xã
hội, về con người, về thời đại của nhà văn cũng bộc lộ rõ ràng hơn, sâu sắc hơn. Vì vậy :
…thực ra Tom không trốn khỏi cộng đồng như một phản ứng xã hội mang tính đối
lập và triết lí theo kiểu Huck sau này trong “Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn”
mà chỉ là một cách tạo cơ hội, tạo điều kiện để xây dựng một thế giới khác, thế giới
tuổi thơ đầy tưởng tượng, bay bổng, lộng lẫy, hấp dẫn, thần bí và sách vở. [10,
tr.16].
2.3. Thiên nhiên trong Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn
Tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn (1884) được Mark Twain khởi
thảo ngay sau khi xuất bản Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (1876) nhưng vì nhiều lí
do ông phải gác lại vài lần và mãi đến tám năm sau mới hoàn thành. Nó chính là kiệt tác của
ông và của cả nền văn học Mĩ mà ý kiến đánh giá của Ernest Hemingway “Toàn bộ nền văn
học Mĩ hiện đại ra đời từ tác phẩm này” là một minh chứng.
Nhân vật chính Huck Finn, từng đồng hành với Tom Sawyer trong cuốn Những cuộc
phiêu lưu của Tom Sawyer , bây giờ, trong vai trò người kể chuyện đã thuật lại rất hấp dẫn
hành trình trốn chạy của mình và Jim, một nô lệ da đen. Huck muốn trốn chạy khỏi người
cha tàn ác của mình và những thiện chí muốn khai hóa “văn minh” của bà quả phụ Douglas
và cô Watson; còn Jim muốn trốn chạy khỏi những trói buộc của đời sống nô lệ. Cả hai thực
hiện hành trình đến với tự do theo nghĩa thoát khỏi những qui định xã hội, trên một chiếc
bè, xuôi dòng Mississippi tìm về với thiên nhiên. Tác phẩm cuốn hút độc giả từ đầu đến
cuối bởi nhiều tình tiết bất ngờ, gay cấn xảy ra với Huck và Jim trong suốt chuyến đi đúng
với tính chất của một tiểu thuyết phiêu lưu. Đó cũng là một nguyên nhân khiến nó trở thành
tác phẩm best seller ngay sau khi xuất bản.
Nhưng đó chỉ là “bề nổi” của tác phẩm. Hành trình hướng thẳng đến thiên nhiên của
Huck và Jim còn chứa đựng những ý nghĩa xã hội, ý nghĩa triết lí sâu xa mà chúng ta, để
hiểu được cần phải đặt tác phẩm vào trong bối cảnh mà nó ra đời. Cuộc cách mạng kĩ thuật
ở nước Mĩ cuối thế kỉ XIX như chúng tôi đã trình bày ở trên khiến quốc gia này trở nên
hùng mạnh; đồng thời văn minh công nghiệp cũng khiến con người thay đổi nhận thức về
các giá trị hiện đại. Do đó, lúc bấy giờ ở Mĩ sự bừng tỉnh về một nền văn hóa nông nghiệp
mà kết quả là ngành Folklore học Mĩ ra đời vào năm 1888, được xem như là một phản ứng
với xã hội công nghiệp. Cả hai đã tác động đến quan điểm của Mark Twain về những vấn đề
con người, đất nước, xã hội đương thời. Và do đó, trong các tác phẩm của mình, bằng sự
quan tâm đặc biệt đến cuộc sống ở một vùng đất biên giới gắn liền với thiên nhiên sông
nước đặc trưng, ông đã bộc lộ thái độ phê phán xã hội công nghiệp theo một cách riêng.
Hành trình đi tìm tự do bằng cách hướng thẳng đến thiên nhiên của Huck và Jim chính là
mang ý nghĩa này. Đồng thời :
Trong một bối cảnh như thế, “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn” còn là
một cách đi tìm tính cách của dân tộc Mĩ trên cơ sở bày tỏ những quan điểm về con
người khi tìm về với cái quá khứ của một quốc gia trước Nội chiến lúc dân Mĩ biên
cương giáp mặt với thiên nhiên trong thời kì khai phá. [11, tr.18].
Hai ý nghĩa trên của cuộc hành trình thực ra có quan hệ tương tác với nhau bởi chúng
gắn bó chặt chẽ với yếu tố thiên nhiên. Tìm hiểu vấn đề thiên nhiên chính là để chỉ ra các
tầng ý nghĩa ấy của hành trình.
Chúng ta đều đã biết, hành trình của Huck bắt đầu từ khu rừng cách thị trấn St
Petersburg ba dặm, xuôi theo dòng Mississippi, Huck đến đảo Jackson và phát hiện ra Jim.
Cả hai vượt sông trên một chiếc bè, lúc thì đi bên phía bờ Tây, Missouri; lúc lại dạt sang bờ
Illinois ở phía Đông. Ngày giấu bè vào một chỗ kín đáo, trốn trong rừng. Đêm đến lại lênh
đênh trên sông. Vì thế hành trình ấy gắn chặt với hai hình ảnh thiên nhiên là rừng và sông.
Trong toàn bộ tác phẩm Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn hai hình ảnh rừng và
sông trở đi trở lại rất nhiều lần. Cụ thể : rừng xuất hiện 52 lần và sông “đậm đặc” hơn với
243 lần. Và như thế chúng đã đạt đến mức độ biểu trưng, có thể chứa đựng những ý nghĩa
xa hơn, rộng hơn bản thân chúng. Khi hiểu rừng và sông như những biểu trưng thì hành
trình của Huck và Jim cũng trở thành biểu trưng và vì thế chúng ta có thể tìm thấy ở hành
trình ấy những tầng nghĩa khác nhau.
Khám phá hành trình ấy, do đó không thể không đi vào tìm hiểu các biểu tượng rừng
và sông. Chính vì vậy, sau đây chúng tôi sẽ lần lượt tìm hiểu các biểu tượng ấy với ý nghĩa :
thiên nhiên – tự nhiên.
2.3.1. Rừng – không gian của cảm thức sống
Nếu như trong cuốn Tom Sawyer, hình ảnh rừng chỉ được tập trung miêu tả trong
chương XIV, khi Tom và các bạn sống trên trên đảo Jackson vài ngày thì trong cuốn Huck
Finn rừng trải dài theo suốt hành trình. Những cánh rừng bao la, rậm rạp, hoang vu hai bên
bờ dòng Mississippi được miêu tả khá kĩ trong tác phẩm với nhiều sắc thái khác nhau, ở
những thời điểm khác nhau. Chỉ mất một đêm chèo xuồng Huck đã đến được đảo Jackson
vào lúc “trời đã bắt đầu xam xám” và bước vào rừng ngủ một giấc. Và đây là cảm nhận của
Huck khi tỉnh dậy trong rừng:
Lúc tôi tỉnh dậy mặt trời đã lên cao lắm rồi, tôi đoán lúc ấy đã hơn tám giờ. Tôi nằm
trên cỏ, trong bóng râm mát lạnh, đầu nghĩ đến nhiều thứ. Tôi cảm thấy được nghỉ
ngơi, vừa vững dạ, vừa thoả thích. Qua một vài khoảng trống, tôi có thể trông thấy
mặt trời. Chung quanh toàn là cây to nên chỗ nào cũng tối cả. Cũng có chỗ ánh nắng
xuyên qua kẽ lá chiếu xuống mặt đất, và ánh nắng chỗ đó rung rinh như có một làn
gió nhẹ thổi qua. Một đôi sóc ngồi trên cành nhìn tôi rúc rích kêu một cách thân mật.
[66, tr.73].
Rồi ba ngày sau Huck phát hiện ra Jim cũng ở trên đảo. Từ đấy rừng gắn bó với đôi
bạn :
Ban ngày chúng tôi có thể chèo xuồng đi khắp trên đảo. Trời khá lạnh. Ở trong rừng
sâu thì lại càng tối, mặc dầu bên ngoài trời vẫn nắng. Chúng tôi cho xuồng đi lách
giữa những thân cây. Có nhiều chỗ nho trĩu xuống vướng cả lối đi, phải quay lại đi
vòng lối khác. Những chỗ có cây mục đổ xuống có thể có thỏ; có rắn, và những con
vật khác. [66, tr.92].
Từ điểm nhìn của nhân vật người kể chuyện, Huck hòa vào khu rừng, quan sát cảnh
vật và miêu tả bằng chính sự cảm nhận của bản thân. Hoàn cảnh, suy nghĩ có thể khác nhau
nhưng hình ảnh rừng thì không thay đổi. Luôn luôn là không gian yên bình, tươi mát của
nhiều loại cây : từ “cây to” che khuất cả mặt trời đến cây dây leo “trĩu xuống vướng cả lối
đi” hay “cây mục đổ xuống” làm thành chỗ ở cho những con vật khác… Sự hoà quyện của
Huck với không gian rừng còn được thể hiện qua sự cảm nhận rất giống nhau trong hai đoạn
văn nói trên về không khí trong rừng. Trong cả hai đoạn văn, chúng ta đều bắt gặp cảm nhận
của nhân vật về cái mát mẻ khi ở dưới những bóng râm trong rừng (chúng tôi không dùng từ
“lạnh” như bản dịch vì trong nguyên tác, tác giả dùng “cool” và “ mighty cool”); về cảm
giác thích thú khi nhìn ngắm vài tia nắng mặt trời lấp lánh xuyên qua những tán lá dày
trong rừng.
Tôi nằm trên cỏ, trong bóng râm mát lạnh… Chung quanh toàn là cây to nên chỗ
nào cũng tối cả” và “ Trời khá lạnh. Ở trong rừng sâu thì lại càng tối.
Cũng có chỗ ánh nắng xuyên qua kẽ lá chiếu xuống mặt đất…” và “Ở trong rừng
sâu thì lại càng tối, mặc dầu bên ngoài trời vẫn nắng.
Điều đó có nghĩa là Huck cảm nhận rừng bằng mọi giác quan và dường như đã trở
thành một bộ phận của nó. Vì thế việc cậu bé cảm thấy “được nghỉ ngơi, vừa vững dạ, vừa
thoả thích” (rested and ruther comfortable and satisfied) [75, tr.164] khi ở trong rừng là
điều hết sức tự nhiên. Ở đây chúng ta thấy ảnh hưởng của Chủ nghĩa Siêu nghiệm lên cách
nhìn thiên nhiên của Mark Twain. Khi đến với rừng (và cả sông), Huck cảm nhận sự đồng
nhất với thiên nhiên và dưới sự dẫn dắt của chính thiên nhiên, Huck đã tìm ra “chân lí”. Đó
chính là sự tuyệt diệu của cuộc sống tự do.
Ý nghĩa rừng là không gian của cảm thức sống sẽ rõ ràng hơn khi chúng ta xem xét
một bức tranh khác của rừng, khu rừng trong cơn mưa :
Đó là một cơn giông thường xảy ra vào mùa hè. Trời càng tối, nhìn ra ngoài mọi vật
xanh xanh tím tím rất đẹp. Nước mưa đổ xuống nhiều đến nỗi những ngọn cây cao
cao một chút là nhìn cũng không rõ; trông chỉ như những cái mạng nhện. Rồi mỗi
cơn gió thổi đến thì kéo những cây ấy ngã xuống và biến đổi cả cái màu xám nhạt ở
dưới những cành lá. Rồi lại một trận gió khác dữ hơn cuốn đến bắt những cành cây
phải vươn ra như những cánh tay thú vật; rồi sau đó, đến lúc chỗ nào cũng biến sang
màu xanh màu tím cả rồi thì – úi chà, bỗng sáng hẳn lên, trong cơn giông bão ấy cứ
thử nhìn lên những ngọn cây xa xa mà xem, lại có thể thấy nó xa hơn lúc nãy hàng
trăm thước; rồi thì chỉ trong một giây đồng hồ lại tối như bưng; lúc đó mới nghe
thấy tiếng sét vang lên một cách khủng khiếp, rồi đến những tiếng rầm rầm, dần dần
từ trên cao vọng xuống và đi đến tận phía bên kia thế giới, y như tiếng người ta lăn
một cái thùng rỗng xuống cầu thang vậy – mà cầu thang dài cơ – cái tiếng nó cũng
rầm rầm như vậy. [66, tr.91 – 92].
Lúc này Huck đang cùng Jim ngồi trong một cái hang trên đảo Jackson mà cả hai vừa
phát hiện ra và quyết định đây sẽ là “mái ấm” của họ. Bởi thế tâm trạng Huck rất thoải mái
và cậu bé hoàn toàn chú tâm vào cảnh vật. Cơn mưa trong rừng được miêu tả hết sức chi
tiết từ màu sắc, đường nét, chuyển động đến âm thanh. Trong cơn mưa dữ dội ấy, rừng vẫn
hiện lên rất rõ qua 6 lần xuất hiện hình ảnh các ngọn cây, cành lá. Tức là rừng chi phối cảm
nhận của nhân vật, trở thành hình ảnh trung tâm trong bức tranh cảnh vật. Không những thế,
việc miêu tả rừng còn gắn liền với phép so sánh quen thuộc, nhưng các hình ảnh so sánh lại
rất mộc mạc “trông chỉ như những cái mạng nhện” hay “vươn ra như những cánh tay thú
vật”. Đó chính là ngôn ngữ của Huck chứ không phải cách diễn đạt hoa mĩ của tác giả như
trong cuốn Tom Sawyer mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên. Như vậy cảnh rừng được quan sát
bởi Huck và được diễn tả cũng bằng ngôn ngữ của Huck. Nó thể hiện việc nhân vật hoà
nhập hoàn toàn với thiên nhiên. Bên cạnh đó, trong bức tranh cảnh vật trên, chúng ta còn bắt
gặp thái độ thích thú của Huck khi ngắm cơn mưa. Không sợ hãi, không cuống quýt vì giữa
rừng bất chợt gặp mưa giông, sấm chớp, mà ngược lại Huck còn “thưởng thức” điều đó một
cách khoan khoái, dễ chịu. Và Huck chia xẻ với Jim bằng câu nói :
Thú quá Jim ạ! (Jim, this is nice,) Tôi chỉ muốn ở đây chứ không đi đâu cả. [66,
tr.92].
Cái thích thú mà Huck cảm nhận chính là sự tự do, thoải mái khi sống giữa thiên
nhiên và cảm thức sống ấy là do không gian rừng mang lại cho Huck.
Như vậy, rừng trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn không chỉ là
một trong những hình ảnh có thể gợi lên khung cảnh hoang dã của miền Tây biên cương
thời kì khai phá mà còn mang ý nghĩa biểu trưng. Nó tượng trưng cho tự do, là chốn ẩn cư
có thể che chở, đem đến sự thoải mái, bình yên và vì thế có vai trò dẫn dắt suy nghĩ, soi
sáng nhận thức cho Huck. Vai trò ấy của rừng khiến Huck luôn hướng về nó và cảm nhận
được một sức sống tràn trề mỗi khi đến với rừng.
2.3.1.1. Rừng – chốn quay về
Không chỉ đợi đến khi trốn khỏi thị trấn vào rừng sống Huck mới cảm nhận được ý
nghĩa của rừng. Mà ngay từ đầu tác phẩm, Huck đã luôn hướng về rừng như thể giữa cậu bé
và rừng có một mối liên hệ “thần bí” nào đó. Kết thúc cuốn Tom Sawyer, Huck được bà quả
phụ Douglas đem về nuôi và vì thế cuốn Huck Finn mở đầu bằng những trang kể về cuộc
sống mới của Huck tại ngôi nhà sang trọng trên đồi Cardiff. Cậu bé không thể chịu nổi việc
phải mặc những bộ quần áo mới khiến “toát cả mồ hôi và người như bị trói chặt lại”, và
những sinh hoạt đều đặn như rung chuông ngồi vào bàn ăn đúng giờ, ăn xong phải nghe
giảng về Kinh thánh… Do đó những lúc thấy cô đơn, tù túng, Huck thường ngồi bên cửa sổ
nghe “Tiếng lá xào xạc trong rừng”. Khi không sao hiểu nổi những lời dạy của cô Watson
thì Huck “ngồi tít trong rừng và nghĩ ngợi rất lâu”. Khi được giải thích rằng việc cầu
nguyện là để được hưởng lộc về tinh thần, Huck thấy “thật khó hiểu quá” và cậu bé “lại đi
ra phía ngoài rừng và cứ quanh quẩn bới óc nghĩ về chuyện đó rất lâu” và đi đến quyết
định là “thôi không băn khoăn gì về chuyện đó nữa, cứ để mặc kệ nó đấy.” [66, tr.32]. Ở
đây, chúng ta bắt gặp sự giống nhau trong cảm thức thiên nhiên giữa Huck và Tom : thiên
nhiên – chốn quay về. Cả hai nhân vật đều hướng đến với rừng mỗi khi gặp chuyện buồn
bực hay khó chịu. Có khác chăng là nơi Huck điều này diễn ra nhiều hơn, thường xuyên
hơn. Do đó sau này Huck đã hướng thẳng đến với rừng mà không chút nhớ nhung hay nuối
tiếc cuộc sống “văn minh” ở thị trấn St Petersburg như Tom.
Nghĩ đến rừng như chốn quay về chính là một biểu hiện của cảm thức sống mà chúng
tôi đã nói ở phần trên. Với cảm thức ấy, mỗi khi đến với rừng, Huck không chỉ tận hưởng
không gian tự do, hấp dẫn mà trong ý nghĩ của cậu bé luôn xuất hiện sự so sánh cảm giác
thoải mái mà rừng mang lại với cảm giác tù túng mà cuộc sống văn minh mang lại.
Ngay từ những ngày đầu ở nhà bà quả phụ, vì không thể “gò mình làm thế nào cho
đúng với mọi điều khuôn phép” nên Huck đã từng trốn đi để “lại được tự do, thỏa thích”.
Nhưng viễn cảnh được tham gia vào băng cướp “Tom Sawyer” đã khiến Huck quay về và
cố chịu đựng cuộc sống ở nhà và ở trường học. Thế nhưng “Sống trong một ngôi nhà, ngủ
trên một chiếc giường riêng, lắm khi tôi cũng thấy nó trói buộc mình thế nào ấy.” Vậy nên
“thỉnh thoảng tôi vẫn hay lẩn ra ngủ ngoài rừng. Đối với tôi như vậy là nghỉ ngơi được”
[66, tr.39]. Hai cảnh sống trái ngược và hai cách cảm nhận cũng hoàn toàn khác nhau.
Chúng soi vào nhau và cái này làm nổi bật cái kia. Sự “trói buộc” của văn minh càng khiến
Huck nhận thức rõ hơn giá trị của cuộc sống gắn với rừng. Cách thể hiện sự đối lập giữa
thiên và cuộc sống văn minh kiểu như thế này cho thấy sự thống nhất trong cái nhìn của nhà
văn về thời đại công nghiệp.
Cảm nhận rừng như là chốn quay về trong thế đối sánh với cuộc sống tiện nghi còn
được thể hiện nhiều lần trong tác phẩm. Cụ thể nhất có lẽ là suy nghĩ của Huck trong những
ngày bị bố bắt vào rừng sống. Cậu bé không hề cảm thấy hối tiếc mà ngược lại rất thích thú
:
Thật là một kiểu lười biếng mà dễ chịu. Suốt ngày thoải mái, chỉ hút thuốc, câu cá,
không sách vở mà cũng chẳng học hành gì. Khoảng hai tháng sau thì quần áo của tôi
đã bẩn thỉu, rách bươm cả. Tôi cũng không nghĩ rằng trước đây ở với mụ góa đã có
lúc nào tôi thích như vậy không. Vì ở đó phải giặt giũ quần áo. Phải ăn bằng bát,
bằng đĩa, phải chải đầu, phải đi ngủ và dậy đúng giờ. Phải luôn luôn lo nghĩ đến
quyển sách quyển vở, lại bị cô Watson nói ra nói vào suốt ngày. Tôi không thiết quay
trở về nơi ấy nữa… Những ngày sống ở rừng thật là thú vị, đâu đâu cũng thấy khoái
như thế cả. [66, tr.53 – 54].
Nếu như trước đây lúc còn sống lang thang, mỗi khi bị ông bố nát rượu đánh đập,
Huck “luôn luôn bỏ chạy vào rừng” để trốn thì giờ đây khi bị (hay được) bố kéo ra khỏi
cuộc sống văn minh, nhốt trong rừng, Huck có thời gian tận hưởng sự “thú vị”, khoan khoái
mà rừng ban tặng. Những trói buộc của cuộc sống trước đó khiến Huck nhận ra giá trị của
cuộc sống giữa thiên nhiên. Cũng chính cuộc sống thoải mái ấy trong rừng đã giúp Huck đi
đến quyết định bỏ trốn khỏi người cha độc ác và nơi cậu bé nghĩ đến chính là đảo Jackson
nơi có những cánh rừng rậm rạp, vắng vẻ mà nó từng biết rất kĩ khi đi làm cướp biển cùng
Tom Sawyer và Joe Harper trước đây. Có thể đây là chi tiết nối kết hai tác phẩm để hướng
tới cùng một cảm thức về thiên nhiên. Huck không chỉ cảm thấy bình yên, được che chở khi
ở trong rừng mà cậu bé còn luôn cảm thấy như được tiếp thêm sức mạnh mỗi khi đến với
rừng.
2.3.1.2. Rừng – nơi truyền sức sống
Tác giả đã dành hẳn ba chương để kể về những ngày Huck sống trên đảo, ban đầu là
một mình, sau đó thì cùng với Jim. Tâm trạng nhân vật được nhắc đến nhiều lần mà lần nào
cũng là sự thích thú, an tâm, thoải mái. Khi đến được đảo rồi, sau một giấc ngủ, tỉnh dậy
Huck “cảm thấy được nghỉ ngơi, vừa vững dạ, vừa thỏa thích”. Còn khi cùng Jim nấp trong
hang, ngắm nhìn khu rừng chìm trong cơn mưa và nhấm nháp thức ăn, Huck đã nói : “Thú
quá Jim ạ!”. Sau này khi buộc phải rời đảo, gắn với dòng sông nhiều hơn thì vai trò của
rừng vẫn vậy. Cứ sau một đêm dài lênh đênh trên sông, tảng sáng Huck và Jim lại ghé vào
rừng ngủ, ăn uống và nghỉ ngơi cho lại sức chờ đêm xuống đi tiếp.
Vai trò truyền sức sống của rừng còn thể hiện qua những trang miêu tả sinh hoạt của
hai kẻ đào tẩu ấy trong những ngày lưu lại trên đảo Jackson. Huck và Jim không phải bận
tâm lo nghĩ bất cứ điều gì bởi rừng có mọi thứ mà họ cần. Trời nắng có thể ngủ ngay dưới
những “bóng râm mát lạnh”, trời mưa thì đã có “cái hang rộng bằng hai ba căn phòng
ghép lại” [66, tr.90] và thức ăn thì lúc nào cũng dồi dào bởi những con vật sống trên đảo,
sau cơn mưa thường bị đói nên chỉ cần “chèo xuồng đến tận nơi, thò tay ra là bắt được
ngay” [66, tr.93]. Có khi đôi bạn còn “bắt được một con cá he lớn bằng người, dài gần hai
thước nặng gần một trăm cân.” [66, tr.99]. Cuộc sống hoang sơ gần như của người nguyên
thuỷ vậy. Nó đem lại sức mạnh cả về tinh thần lẫn vật chất cho Huck. Vì thế có thể nói rừng
“hiện ra như một thứ đất mẹ để con người lấy lại sức đã mất.” [13, tr.140].
Cuộc sống như vậy gợi nhớ đến những ngày Huck trốn ra đảo Jackson cùng Tom
Sawyer. Dù khi đó ra đảo là để làm cướp biển chứ không phải để trốn chạy cuộc sống văn
minh như bây giờ, nhưng đều tuyệt thú như nhau. Trong những ngày làm cướp biển trên
đảo, không gian rừng hiện ra nên thơ, trong trẻo như chính những trò nghịch ngợm, những
vui đùa của bọn trẻ. Còn bây giờ, vẫn không gian ấy nhưng nó hiện ra rộng lớn hơn, hoang
sơ hơn và hai kẻ ghét văn minh là Huck và Jim thật sự hòa hợp với thiên nhiên. Họ thật sự
trở thành một bộ phận của khu rừng ấy, không cảm thấy sự khác biệt nào. Điều này gợi nhớ
cái nhìn phương Đông : con người và vạn vật đồng nhất thể mà Mark Twain ảnh hưởng từ
Chủ nghĩa Siêu nghiệm. Cái nhìn ấy cũng là cách mà nhà văn bày tỏ quan niệm của mình về
thời đại công nghiệp.
Và tất nhiên không gian rừng này còn gắn với với những chi tiết phiêu lưu bất ngờ,
hồi hộp nữa. Từ việc Huck chứng kiến cảnh mọi người đi tìm xác mình đến sự lo sợ khi
phát hiện ra có dấu vết người trên đảo. Rồi cùng Jim thám hiểm rừng, hang trên đảo hay
việc Jim bị rắn cắn… Các chi tiết ấy không chỉ gợi lên tính chất phiêu lưu của tác phẩm mà
qua chúng bản chất thuần phác của Huck và Jim cũng được bộc lộ. Do đó các chi tiết ấy sẽ
được chúng tôi tìm hiểu kĩ hơn trong chương thứ ba của luận văn.
Theo chúng tôi, các đặc điểm vừa trình bày ở trên của không gian rừng trong cuốn
Huck Finn tập trung thể hiện ý nghĩa của một biểu trưng cho tự do. Từ đây, chúng tôi sẽ đi
vào tìm hiểu hình ảnh dòng sông cũng với ý nghĩa biểu tượng như thế.
2.3.2. Dòng sông – vị thần dẫn dắt
Cùng với rừng, dòng sông gắn liền với hành trình của Huck và Jim. Với 243 lần xuất
hiện trong suốt cả tác phẩm, dòng sông hoàn toàn có thể được coi là một nhân vật trong
cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Nó xuất hiện với nhiều “chân dung”
khác nhau từ êm đềm, nên thơ với trăng, sao; đến dữ dội, bất kham với sương mù, mưa
giông. Nếu trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, dòng sông êm ả, trong trẻo
như chính những kí ức của Mark Twain về thời thơ ấu thì dòng sông trong cuốn “Huck
Finn” có thể coi là những kí ức sống động của một người say mê nghề hàng hải, từng phiêu
bạt nhiều năm trên dòng Mississippi xưa. Cùng với rừng, sông vừa là không gian phiêu lưu
vừa có tác dụng dẫn dắt nhận thức cho Huck. Chính dòng sông vĩ đại này đã đưa Huck và
Jim từ chốn văn minh đến thẳng với thiên nhiên. Mọi biến cố mà hai nhân vật gặp phải
trong suốt cuộc hành trình đều gắn liền với dòng sông. Xuôi theo dòng sông, Huck suy nghĩ,
hành động và nhận thức mọi việc. Hoà mình vào dòng sông, nhân vật tự tìm ra “chân lí”. Đó
là sự thoải mái, thích thú của tự do; sự ấm áp, ngọt ngào của tình bạn, tình người. Nói như
Lionel Trilling thì dòng sông đã “dung dưỡng lòng hào hiệp của ai yêu nó và cố hoà vào
dòng chảy của nó” [74, 8].
Cùng được xem xét như những biểu trưng trong hành trình của Huck và Jim nhưng
so với rừng, dòng sông còn chứa đựng thêm những tầng nghĩa khác. Khác với những cánh
rừng, dòng sông có tên gọi cụ thể. Nó chính là dòng Mississippi vĩ đại gắn liền với lịch sử
Hoa Kì, đặc biệt là công cuộc Tây tiến của dân tộc này. Do đó việc xuôi theo dòng sông ấy
trong suốt chuyến hành trình, cũng có nghĩa là Huck và Jim đang đi lại hành trình phiêu lưu
của dân tộc. Điều này nhắc đến motif thường gặp trong nhiều tiểu thuyết phiêu lưu của Mĩ.
Đó là việc để nhân vật thực hiện “hành trình ngang qua xứ sở mà nhìn ngắm, phê phán và
suy nghĩ” [13, tr.139]. Không chỉ tiếp tục motif này, Mark Twain còn gắn nó với bối cảnh
thiên nhiên đặc trưng vùng biên cương miền Tây. Và “Thế là cuộc hành trình lại mang một
ý nghĩa mới mẻ : đi tìm bản sắc dân tộc.” [11, tr.20]. Tức là khi xem xét dòng sông (và cả
rừng) như những biểu tượng chúng ta sẽ tìm thấy một ý nghĩa biểu trưng nữa của hành trình.
Vì thế nét hoang sơ, dữ dội của dòng sông như nói được những gian lao, nguy hiểm trong
hành trình; nét êm đềm, nên thơ của dòng sông như nói được cái trong trẻo, thánh thiện
trong tâm hồn của Huck và cả Jim. Hiểu theo nghĩa này thì có thể nói dòng sông đã khiến
hành trình đi tìm tự do ấy sáng lên nhiều ý nghĩa khác nhau dưới ánh sáng của biểu tượng.
2.3.2.1. Dòng sông dữ dội
Sau những ngày tự do trên đảo Jackson, Huck và Jim buộc phải lên bè rời đảo khi
biết Jim đang bị lùng bắt. Từ đây cuộc sống của họ gắn với dòng Mississippi, cụ thể là ở
phần con sông phân chia hai bang Missouri và Illinois. Họ xuôi xuống phía Nam, dự định
đến đến Cairo, điểm tận cùng của Illinois, nơi hai con sông Mississippi và Ohio gặp nhau,
rồi “sẽ đem bán cái bè đi và lên một chiếc tàu thủy rồi cứ thế ngược sông Ohio qua những
bang tự do” [66, tr.140]. Dọc theo chuyến hành trình, nhiều lần Huck miêu tả “ngoại hình”
của nó ở những vị trí khác nhau :
“Phía bên bờ Missouri là núi, còn bên bờ Illinois thì toàn là cây to. Quãng sông này
có con lạch chảy về phía bờ Missouri…” [66, tr.114]. “Chỗ này sông rộng một cách
khủng khiếp, hai bên bờ toàn những cây cao và to, như một bức tường lớn, vươn lên
đến gần các ngôi sao.” [66, tr.144]. “Sông rất rộng, và hai bờ kín đặc những cây to;
nhìn rặng cây như chẳng thấy có chỗ nào ánh sáng mặt trời lọt qua được.” [66,
tr.149]. “Qua sông dài đến hai dặm, xa lắc, phải lâu lắm mới qua được.” [66,
tr.162]. “Con sông vừa to vừa rộng – có chỗ đến một dặm, dặm rưỡi” [66, tr.194].
“Chỗ này hai bên bờ sông đều có làng mạc.” [66, tr.253]…
Trong cảm nhận của Huck, nổi bật là sự rộng lớn của dòng sông. Mọi miêu tả hầu
như chỉ tập trung vào chiều rộng của nó : “sông rộng một cách khủng khiếp”, “ Sông rất
rộng”, “Qua sông dài đến hai dặm, xa lắc”… Điều này không hề là tưởng tượng hay
phóng đại. Nếu đối chiếu với sự mô tả dòng sông này trong những sách địa lí, chúng ta sẽ
thấy đó chính là những chi tiết gợi tả chân thực nhất.
Sông Mississippi là một con sông ở Bắc Mĩ. Theo ngôn ngữ cổ Ojibwe, tên
“Mississippi” từ misi-ziibi, có nghĩa là “sông lớn”. Sông có chiều dài 2320 miles từ
hồ Itasca đến vịnh Mexico… Tại hồ Itasca, nơi hẹp nhất, sông rộng khoảng 20 – 30
feet và hơn 4 dặm là chiều rộng đo được tại hồ Onalaska. [http://vi.wikipedia.org/].
Đi liền với dòng sông rộng lớn ấy là những dải đất ven sông cũng mênh mông không
kém. Trong không gian này, sự hoang sơ, vắng vẻ là nét nổi bật. Hầu hết là cảnh “hai bờ kín
đặc những cây to”. Lâu lâu mới gặp một chỗ mà “hai bên bờ sông đều có làng mạc” là nơi
những người đi mở cõi xưa chọn làm nơi cư trú quây quần bên nhau . Tất cả bổ sung cho
nhau gợi lên một không gian biên cương thời khai phá, đậm chất miền Tây.
Trong những ngày xuôi theo dòng sông, Huck và Jim không ít lần chứng kiến sự dữ
dội của nó. Thường gặp nhất chính là những cơn mưa trên sông.
Chúng tôi gặp một cơn giông lớn vào quãng quá nửa đêm, sấm chớp ầm ầm, mưa đổ
xuống ào ào… Khi chớp lóe lên, trông thấy cả một dải sông lớn và hai bên bờ là
những mỏm đá cao ngất. [66, tr.117].
Cứ vài giây đồng hồ lại chớp lòe lên một cái, soi sáng rõ những mỏm đất trắng xóa
một quãng dài đến nửa dặm. Qua những làn mưa, các bạn có thể thấy những hòn
đảo như bị phủ một màn bụi, và cây cối như quay cuồng trong gió. Rồi thấy soẹt!
Um-ùm-ùm-rùm-ùm-ùm, tiếng sấm gầm lên, rống lên ở nơi xa xa, rồi thôi, rồi chốc
nữa lại lóe lên… [66, tr.210].
Vẫn là cái nhìn của một người đang hoà mình vào mưa gió trên sông chứ không phải
sự quan sát từ “phía bên kia” của một người kể chuyện khách quan. Huck tiếp nhận sự dữ
dội của dòng sông một cách khá bình thản với tư thế đang cảm thụ bản thể thiên nhiên.
Trong tiếng “sấm chớp ầm ầm, mưa đổ xuống ào ào”, cậu bé vẫn chú ý đến không gian xa
rộng xung quanh con sông. Đó là “những mỏm đá cao ngất” hai bên bờ hay “những mỏm
đất trắng xóa một quãng dài đến nửa dặm”. Chính vì vậy mà thiên nhiên dường như được
kéo đến gần độc giả hơn bởi họ đang “thưởng thức” thiên nhiên thông qua sự cảm nhận của
chính Huck, một người đang hướng đến thiên nhiên với khát vọng tự do mãnh liệt trong
lòng.
Mọi hình ảnh, âm thanh trong các bức tranh cảnh vật trên vì thế gợi nhớ đến cảnh vật
khu rừng trong cơn mưa mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên khi nói về rừng. Dù giờ đây, Huck
đang ngồi trong cái lều dựng tạm bằng mấy mảnh ván trên bè để ngắm mưa chứ không phải
trong cái hang an toàn trên đảo Jackson nhưng cách cảm nhận thiên nhiên thì vẫn thế. Cậu
bé không hề có cảm giác lo sợ, hoảng hốt khi ở giữa thiên nhiên dù là thiên nhiên dữ dội.
Cảnh mưa trên sông không nhiều màu sắc, không có các hình ảnh so sánh cụ thể như cảnh
vật rừng trong cơn mưa nhưng vẫn hiện lên rõ nét qua sự quan sát và hoà nhập của chính
Huck với thiên nhiên. Khi hiểu như thế về mối quan hệ giữa Huck và dòng sông, chúng ta
sẽ dễ dàng chia sẻ ý kiến của Lionel Trilling :
Bản thân Huck là người đầy tớ của thần sông và biết rõ bản chất linh thiêng của vị
chúa mình thờ phụng. [74, tr.7 – 8].
Tuy nhiên không phải lúc nào Huck cũng bình thản như vậy trước sự nguy hiểm của
dòng sông. Trong chương XV của tác phẩm, Mark Twain đã miêu tả cảnh sương mù trên
sông :
Đến đêm thứ hai, sương mù bỗng phủ dày đặc nên chúng tôi phải tìm đến một cái
khe để buộc bè lại. Vì không nên liều lĩnh đi trong sương mù… Sương mù càng
xuống nặng, làm tôi đâm lo sợ đến nửa phút đồng hồ không cựa quậy gì được…
Không có bè ở đây thì lại càng không nhìn được xa quá hai chục thước… Chính cái
lúc tôi vừa đến gần đó (cái bè) thì lại đâm ngay vào một màn sương mù dày đặc hơn
nữa, không sao biết lối; khác nào như một người đã chết hẳn rồi. [66, tr.140 – 141].
Thêm một nét hiện thực nữa khi viết về dòng sông. Cùng với những cơn mưa giông,
cảnh sương mù này khiến chúng ta dễ dàng hơn khi hình dung ra vẻ dữ dội của nó. Nhưng ở
đây điều chúng tôi quan tâm hơn là tâm trạng của Huck. Nỗi lo sợ của cậu bé được nhắc đi
nhắc lại, không chỉ “lo sợ đến nửa phút đồng hồ không cựa quậy gì được” và “khác nào
như một người đã chết hẳn rồi”, mà còn “hai bàn tay run lên”, “trống ngực đập thình
thịch”, “cảm thấy mình như nằm chết ngất trên mặt nước”… [66, tr.141 – 142]. Giữa đêm,
trên dòng sông mênh mông, bị quây bởi sương mù dày đặc thì tâm trạng hốt hoảng ấy cũng
dễ hiểu. Thế nhưng nỗi lo sợ của Huck còn một nguyên nhân nữa : cậu bé nhận ra việc mình
lạc mất Jim. Đây mới là nguyên nhân chính. Nó khiến Huck hết “vểnh tai” nghe ngóng
tiếng hú của Jim, lại ra sức “hú gọi” bạn và khi nghĩ Jim “có lẽ thế là đi đứt” thì cậu bé
không sao “chợp mắt” được. Sau này, trong suốt chuyến đi, đôi bạn còn lạc mất nhau rồi
gặp lại nhiều lần nữa. Thế nhưng đây là lần lạc nhau đầu tiên và nó khiến Huck, cũng lần
đầu tiên nhận ra ý nghĩa của việc có Jim đồng hành với mình trong hành trình. Như thế dòng
sông đã “dạy” Huck về tình bạn. Chính trong lúc hành động trên sông, giữa sự nguy hiểm,
lừa mị của màn sương mù Huck đã nhận thức được sự nồng ấm mà tình bạn mang lại, hiểu
được giá trị của tình cảm ấy. Đây có thể coi là bài học đầu tiên mà cậu nhận từ “ông thầy”
thiên nhiên.
Như vậy hình ảnh dòng sông dữ dội không chỉ gợi lên một cách chính xác, chân thực
không gian hoang sơ, đậm chất phiêu lưu mà nó còn là không gian được cảm nhận bởi nhân
vật Huck Finn. Trong vai trò người kể chuyện trực tiếp Huck đã quan sát, nhìn ngắm nó
bằng “thái độ phân tích của một hoa tiêu” chứ không phải bằng “cái nhìn đa cảm của các
hành khách” đang ngao du trên sông, như cách Leo Marx nói khi bàn về vai trò người kể
chuyện trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn.
Sự dữ dội của dòng sông không chỉ được khắc họa thông qua những bức tranh cảnh
vật thiên nhiên đã nêu trên. Nó còn là không gian chứa đựng những tình tiết đậm chất phiêu
lưu có tác dụng tái hiện quá khứ của một miền Tây hoang dã. Rất nhiều hình ảnh đặc trưng
của vùng sông nước này được tác giả đưa vào tác phẩm. Đó là căn nhà gỗ trôi trên sông với
xác người bên trong; là chiếc tàu thủy sắp chìm nơi bọn cướp đang thanh toán lẫn nhau…
Với mục đích tìm hiểu dòng sông như là không gian đối lập với cuộc sống văn minh, chúng
tôi đặc biệt chú ý đến chi tiết chiếc tàu thủy quật vỡ chiếc bè của Huck và Jim vào một đêm
“xám mờ mờ” trên sông. Cảnh này được miêu tả khá chi tiết :
Chúng tôi có thể nghe rõ tiếng lịch xịch nhưng không trông thấy rõ tàu thủy trước
khi nó tới gần. Chiếc tàu như đang nhằm thẳng phía chúng tôi đi lên. Thường thường
họ vẫn làm như thế để thử xem họ có thể đi sát tới mức nào mà vẫn không chạm. Có
khi cái guồng tàu của họ đập gẫy mất một mái chèo của người ta rồi, lúc đó anh lái
tàu lại còn thò đầu ra cười, tưởng như vậy là hay lắm. Chiếc tàu thủy tiến đến, chúng
tôi bụng bảo dạ có lẽ nó định liếm mình đây, mà hình như nó không có vẻ gì là tránh
ra cả. Chiếc tàu to lắm, lại đi nhanh nữa, trông như một đám mây đen to tua tủa
những guồng và có những con đom đóm ở xung quanh. Nhưng rồi bất thình lình nó
quặt ra, trông lù lù khủng khiếp, với một dãy cửa sáng lên trông như một hàm răng
lớn đỏ chót, với những guồng những lái muốn ụp cả lên đầu chúng tôi. Có một tiếng
thét gọi, rồi một hồi chuông lắc vang lên để hãm máy lại, những tiếng càu nhàu chửi,
tiếng máy rít, và vừa lúc đó Jim nhảy sang một bên, tôi cũng nhảy sang một bên, thì
chiếc guồng tàu đã quật thẳng vào cái bè của chúng tôi vỡ tan. [66, tr.160 – 161].
Giữa không gian mênh mông của dòng sông, đoạn văn trên giống như một scene cận
cảnh trên màn ảnh. Người xem nhận ngay ra sự đối lập giữa chiếc tàu thủy “to lắm” và
chiếc bè giản đơn. Đó cũng chính là sự đối lập giữa thế giới văn minh hiện đại với thiên
nhiên hoang sơ. Những chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước vào thời hoàng kim của chúng đã
khuấy động dòng Mississippi, đem đến sự náo nhiệt mỗi khi cập bờ. Nhưng trong đoạn văn
trên nó trở thành mối đe dọa của chiếc bè, cản trở hành trình đến với thiên nhiên của các
nhân vật. Bằng cái nhìn nhân hóa đối tượng, Huck khiến con tàu hiện ra như một thứ quái
vật, hiện thân của ác mộng đối với mọi phương tiện di chuyển khác trên sông. Hình ảnh
chiếc bè vỡ tan vì thế có thể tượng trưng cho những hoài niệm, những tiếc nuối của nhà văn
về quá khứ gắn liền với dòng sông xưa. Xã hội công nghiệp cũng như chiếc tàu thủy kia sẽ
nhấn chìm chiếc bè nhưng “hình ảnh huyền diệu của con sông vẫn còn ở lại, cũng mênh
mông và thay đổi như chính cuộc đời.” [68, tr.123]. Nó vì thế thể hiện được cái nhìn của
nhà văn về xã hội công nghiệp thông qua hình ảnh thiên nhiên. Hơn nữa, cái nhìn phê phán
ấy còn chi phối để ông đưa ra những tình tiết tiếp theo sau việc chiếc bè bị quật vỡ. Bởi vì
sau khi bè vỡ, Huck lạc Jim, rồi vô tình chứng kiến chuyện thù hận rồ dại giữa hai dòng họ
Shepherdsons và Grangerford và cuối cùng đôi bạn gặp lại nhau và họ tiếp tục lên đường
cùng với một tình bạn khắng khít hơn qua thử thách. Có nghĩa là chiếc tàu hơi nước cũng
giống như cái xã hội công nghiệp hiện đại kia chỉ có thể nhấn chìm chiếc bè hiện thân của
thế giới giản đơn, nhưng sẽ phải bất lực trước đạo đức. Nói cách khác cùng với sự “vỡ tan”
của chiếc bè là sự lên ngôi của tình bạn.
Trong “bức chân dung” dữ dội, nguy hiểm nói trên của dòng sông, chúng ta nhận
thấy đầy ắp những chi tiết chân xác. Vì thế bên cạnh những ý nghĩa về biểu tượng, về quan
điểm, cách nhìn… nó còn là một biểu hiện cụ thể của khuynh hướng vùng miền trong ngòi
bút hiện thực của Mark Twain. Về điều này, Lionel Trilling đã từng nhận xét :
Cảm giác nguy hiểm tiềm tàng của con sông đã cứu lấy quyển sách khỏi bất kì những
liên hệ đa cảm và lạc lõng đạo đức của hầu hết các tác phẩm tưởng tượng vốn tương
phản với cuộc sống tự nhiên và cuộc sống xã hội. [74, tr.8].
Mặc dù vậy, sự dữ dội không phải là “chân dung” duy nhất của dòng sông. Nó cũng
có những lúc êm đềm, nên thơ mà vẫn rất chân thực.
2.4.2.2. Dòng sông êm đềm
Song hành và tương phản hoàn toàn với vẻ dữ dội nói trên là hình ảnh một dòng sông
êm đềm, nên thơ rất quyến rũ. Đó thường là những đêm trời quang đãng, đầy sao. Huck và
Jim chỉ việc nằm trên bè ngắm bầu trời, trong lúc chiếc bè tự trôi theo dòng nước. Những
lúc như thế không gian thường tĩnh lặng và Huck cảm nhận điều đó một cách rất đặc biệt
trong đêm đầu tiên rời đảo, lênh đênh trên sông :
Đi trên sông lớn và lặng lẽ này nghe nó nghiêm trang làm sao ấy. Chúng tôi ngửa
nhìn sao trên trời, không lúc nào dám nghĩ đến nói to, cũng không mấy lúc cười. [66,
tr.115].
Khung cảnh xung quanh không được chú ý quan sát bằng mắt. Huck chỉ cảm nhận vẻ
“ lặng lẽ” của dòng sông. Và điều này tác động đến tâm trạng của nhân vật nhiều hơn.
Huck trầm tư hơn, thành kính hơn trước dòng sông. Đây cũng có thể coi là một biểu hiện
khác của sự hoà quyện với không gian.
Cũng có khi cảnh vật dòng sông vào ban đêm được miêu tả khá chi tiết :
Nhìn qua mặt nước, xa xa bên kia là bờ sông, và đảo. Và có lẽ có một ánh lửa, một
ngọn đèn nến trong khung cửa sổ. Có khi trên mặt nước cũng có một vài ánh lửa
nữa. Đó là đèn trên bè hay trên phà và có lẽ lại được nghe cả tiếng đàn vĩ cầm hay
tiếng hát vọng ra… Trên đầu chúng tôi chỉ có trời cao, lốm đốm những vì sao, và
chúng tôi thường nằm ngửa nhìn lên trời, bàn cãi với nhau không biết rằng những
ngôi sao đó là do ai làm ra hay tự nó có như thế. [66, tr.196 – 197].
Cảnh vật này có lẽ là ở một khúc sông mà hai bên bờ có làng mạc. Do đó nó không
hoàn toàn tĩnh lặng mà khá nhộn nhịp với tiếng đàn, tiếng hát từ xa vọng lại và ánh lửa, ánh
đèn nến từ những cửa sổ, “ánh đèn trên bè hay phà”… Trong không gian ấy, Huck hoà vào
thiên nhiên không phải một cách “trang nghiêm” như trên mà bình thản hơn. Trên dòng
sông, nhiều lần đôi bạn nằm trên bè ngắm bầu trời “lốm đốm những vì sao” trên đầu.
Những lúc ấy cảm nhận về tự do của Huck cũng rõ ràng, trong trẻo như thiên nhiên vậy.
Dòng sông trong những đêm đẹp trời như thế thường khiến Huck ý thức được niềm vui thú
mà cuộc sống tự do mang lại. Nó khác xa cuộc sống “văn minh” ngắn ngủi mà Huck từng
trải qua trước kia. Cuộc sống ấy giờ đây dường như chẳng còn lưu lại chút gì trong đầu óc
cậu bé. Huck chỉ nghĩ đến dòng sông và cuộc sống trên sông. Khi thì Huck “thấy như cả
con sông này là thuộc về chúng tôi.” [66, tr.196]; khi lại nghĩ “Sống trên một chiếc bè hay
chiếc mảng, thú vị biết bao nhiêu” [66, tr.197]. Dòng sông hay nói rộng hơn là thiên nhiên
có thể đem đến cho con người sức mạnh, niềm vui mà cuộc sống hiện đại chưa chắc làm
được.
Cũng có lúc Huck nhìn ngắm vẻ êm đềm của dòng sông không phải vào ban đêm.
Trong chương XIX, người đọc bắt gặp một cảnh bình minh tuyệt đẹp trên dòng Mississippi :
Chung quanh không một tiếng động - hoàn toàn yên tĩnh - hình như khắp cả thế giới
đều ngủ cả. Có lẽ thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng ễnh ương kêu. Vật đầu tiên trông thấy
ở bên kia mặt nước chỉ là một rặng cây dài im lặng, không thể thấy gì khác. Rồi một
mảnh nhàn nhạt trên nền trời, mảnh nhạt đó tỏa dần ra, dòng sông cũng như rộng
thêm ra nữa, không còn là đen nữa mà xam xám. Xa xa, có thể thấy những chấm đen
trôi xuôi, trôi mãi – nhưng chiếc thuyền buôn hay gì đó, những vật đen dài là những
chiếc bè gỗ. Đôi khi có thể nghe tiếng mái chèo vỗ nước, hay tiếng nói lao xao. Yên
tĩnh quá nên tiếng vang càng đi xa. Chốc chốc lại thấy một vệt trên mặt nước, nhìn kĩ
cái vệt có thể nhận thấy ngay ra đó là một cái cây đã bị nhổ bật cả rễ và cuốn trôi đi
thành thử trông như vậy, rồi sương mù cuộn tròn thành từng cuộn trên mặt nước.
Phía Đông, trời bắt đầu hửng đỏ, rồi đến sông, và có thể thấy chiếc lều gỗ ở ven
rừng phía bên kia sông… Rồi gió lành lạnh thổi vào người, nghe man mác, êm dịu,
thơm thơm mùi gỗ và hoa rừng. [66, tr.194 –195].
Sự chìm đắm của Huck vào cảnh vật thể hiện rất rõ qua đoạn văn này. Sau một đêm
đi trên sông, gần sáng đôi bạn ghé vào bờ, giấu bè và Huck ngồi “chờ ánh sáng ban ngày
đến”. Qua sự trần thuật trực tiếp của cậu, phong cảnh cụ thể trong từng chi tiết. Tất cả các
giác quan của Huck đều hướng về dòng sông và Huck cảm nhận sự biến đổi của nó theo
bước chuyển từ từ của thời gian. Các hình ảnh, mọi màu sắc, âm thanh lần lượt xuất hiện. Vì
thế đây giống như một đoạn phim hơn là một đoạn văn.
Cảnh mặt trời mọc trên mặt nước (sông, hồ và biển) thì nhiều không đếm xuể trong
văn chương. Trong văn học Mĩ thế kỉ XIX cũng rất thường gặp. Hơn nữa những qui ước
truyền thống cho việc miêu tả thiên nhiên, trước Mark Twain thường mang tính ẩn dụ, gắn
liền với những ý nghĩa triết lí khó hiểu như trường hợp Melville và Thoreau mà chúng tôi đã
trình bày. Trong đoạn văn trên, chúng ta thấy sự khác biệt của Mark Twain. Đằng sau “mặt
nạ” của Huck, nhà văn chú mục vào những hình ảnh, âm thanh hết sức quen thuộc, bình
thường. Đó là “những chiếc bè gỗ” hay “một cái cây đã bị nhổ bật cả rễ và cuốn trôi”; rồi
“tiếng ễnh ương”, “tiếng mái chèo vỗ nước”... Điều này không chỉ đem đến một phong
cách mới mẻ cho văn chương mà nó còn là sự thể hiện mối quan hệ gắn bó đặc biệt giữa
nhân vật với dòng sông. Huck đang khám phá dòng sông với tư cách vừa của người lái tàu
vừa của một hoa tiêu chứ không phải với tư cách là một du khách. Do đó việc cậu tập trung
vào mọi hình ảnh trên bề mặt dòng sông cũng là điều dễ hiểu. Với Huck, thiên nhiên, mà cụ
thể ở đây là dòng sông, còn là hiện thân của tự do. Do đó việc hoà nhập hoàn toàn vào cảnh
vật cũng chính là biểu hiện việc bản thân Huck đang cảm nhận tự do rõ nhất, cụ thể nhất.
Bức tranh nên thơ, không gian thoáng đãng, yên bình là cách thể hiện tâm trạng thư thái của
Huck khi đến với thiên nhiên cũng có nghĩa là đến với tự do. Và như thế cảnh bình minh
trên sông đã mở ra một không gian hoàn toàn trái ngược với cảnh sống tù túng, gò bó nới thị
trấn, thế giới văn minh thu nhỏ mà chúng tôi đã đề cập qua.
Sự hoà nhập của Huck vào cảnh vật ban mai nơi dòng sông sẽ càng rõ hơn nếu chúng
ta so sánh với cũng bức tranh cảnh vật ấy trong cuốn Life on the Mississippi.
I had myself called with the four o'clock watch, mornings, for one cannot see too
many summer sunrises on the Mississippi. They are enchanting. First, there is the
eloquence of silence; for a deep hush broods everywhere. Next, there is the haunting
sense of loneliness, isolation, remoteness from the worry and bustle of the world. The
dawn creeps in stealthily; the solid walls of black forest soften to gray, and vast
stretches of the river open up and reveal themselves; the water is glass-smooth, gives
off spectral little wreaths of white mist, there is not the faintest breath of wind, nor
stir of leaf; the tranquillity is profound and infinitely satisfying. Then a bird pipes up,
another follows, and soon the pipings develop into a jubilant riot of music. You see
none of the birds; you simply move through an atmosphere of song which seems to
sing itself. When the light has become a little stronger, you have one of the fairest
and softest pictures imaginable. You have the intense green of the massed and
crowded foliage near by; you see it paling shade by shade in front of you; upon the
next projecting cape, a mile off or more, the tint has lightened to the tender young
green of spring; the cape beyond that one has almost lost color, and the furthest one,
miles away under the horizon, sleeps upon the water a mere dim vapor, and hardly
separable from the sky above it and about it. And all this stretch of river is a mirror,
and you have the shadowy reflections of the leafage and the curving shores and the
receding capes pictured in it. Well, that is all beautiful; soft and rich and beautiful;
and when the sun gets well up, and distributes a pink flush here and a powder of gold
yonder and a purple haze where it will yield the best effect, you grant that you have
seen something that is worth remembering. [76, tr.93 – 94].
Hai bức tranh cảnh vật đều có những chi tiết khá giống nhau, từ sự tĩnh lặng hoàn
toàn của không gian, đến sự chuyển đổi từ từ của ánh sáng, màu sắc. Thế nhưng trong đoạn
văn trên, ta vẫn nhận ra khoảng cách của người kể chuyện với cảnh vật dù rằng trong cuốn
Life on the Mississippi nhà văn cũng tường thuật từ ngôi thứ nhất số ít. “Tôi” ở đây chính là
Mark Twain, người đang đứng trước dòng sông quen thuộc nhưng với tư cách của một
phóng viên đến từ miền Đông đang ghi lại những cảm nhận của mình về dòng sông ấy và
hướng đến việc đem lại cảm xúc cho độc giả. Do đó mọi chi tiết trong bức tranh đều đẹp
một cách hoàn hảo mà theo cách nói của ông là “Well, that is all beautiful; soft and rich and
beautiful”. Vì thế nó gần với cảnh bình minh trong khu rừng trên đảo Jackson trong cuốn
Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer hơn. Cả hai đều chứa đựng một số đặc điểm tiêu
biểu của lối tả cảnh trong văn chương truyền thống. Chúng không chứa đựng những chi tiết
thực tế mà Huck chú ý khi ngắm nhìn cảnh vật trên sông. Điều quan trọng hơn là khi Huck
đắm nình trong cảnh vật, cậu không hướng đến bất kì ai khác. Huck hướng đến thiên nhiên
như thể nó là của riêng mình. Sự tự mình “thưởng thức” ấy mới chính là hướng tới không
gian như một “hình thái trực giác hướng ngoại” để có thể dần dần tiếp nhận chân lí.
Như vậy, cùng với sự dữ dội, trạng thái êm đềm của dòng sông đã hoàn thiện bức
“chân dung” của nó. Và Huck thuộc về dòng sông ấy cả khi nó mạnh mẽ, nguy hiểm lẫn khi
nó quyến rũ mê hoặc. Chính dòng sông đã “dạy” Huck nhiều điều về bản chất phức tạp của
con người; đem đến cho Huck lòng can đảm, sự tự do… Vì thế chúng ta có thể chia xẻ ý
kiến của Lionel Trilling :
Sau mỗi chuyến đi vào đất liền, Huck quay trở về dòng sông với tâm trạng khuây
khỏa và lòng biết ơn Chúa. “[74, tr.8].
Dòng sông vì thế đưa thẳng Huck đến với thiên nhiên. Không giống như Tom trong
cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, dù rừng và sông cũng hết sức hấp dẫn, cuốn
hút nhưng Tom vẫn đi về giữa hai không gian đảo và thị trấn. Còn Huck, với sự “dẫn dắt”
của dòng sông, không hề hối tiếc về lựa chọn của mình, hành động đúng với bản chất thuần
phác của mình. Thiên nhiên trong cuốn Huck Finn cũng vì thế mà đậm chất hoang dã hơn
trong cuốn Tom Sawyer.
Thực ra hai hình ảnh rừng và sông hầu như gắn bó hoà quyện trong suốt chuyến hành
trình. Việc chúng tôi tách ra chỉ là để tiện khảo sát chúng như những biểu tượng mà thôi. Và
với ý nghĩa này chúng đã trở thành biểu trưng để chuyển tải tư tưởng và tạo nên hiện tượng
đa nghĩa cho hành trình của Huck và Jim. Chúng cũng tạo nên một không gian khoáng đạt
có thể đem đến cho con người sự thư thái, bình yên mà xã hội hiện đại không thể. Không
gian sông nước ấy quyến rũ khôn nguôi bởi lẽ nó là những hình ảnh đã in sâu trong kí ức
nhà văn và sự trở đi trở lại của sông đã đem lại nhiều ý nghĩa cho hành trình của Huck và
Jim, thể hiện cái nhìn phê phán của chính tác giả về xã hội đương thời.
Chúng tôi vừa trình bày vấn đề thiên nhiên như là tự nhiên trong hai cuốn Những
cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn với ý nghĩa
là không gian gắn liền với những chuyến phiêu lưu của các nhân vật. Sự gắn bó của Tom,
của Huck với rừng, với sông còn là một biểu hiện của bản chất thuần phác nơi các nhân vật
này. Do đó từ đây chúng tôi sẽ đi vào lí giải sự thuần phác ấy thể hiện qua những suy nghĩ
và hành động của các nhân vật.
Chương 3
THIÊN NHIÊN NHƯ LÀ BẢN CHẤT –
SỰ THUẦN PHÁC CỦA CÁC NHÂN VẬT
3.1. Thiên nhiên với ý nghĩa là bản chất thuần phác
Trong chương thứ nhất chúng tôi đã nói đến ý nghĩa thứ hai này của thiên nhiên. Bản
chất vốn là một khái niệm rộng, chứa đựng rất nhiều biểu hiện cụ thể khác nhau. Ở chương
này, chúng tôi chỉ đi vào một biểu hiện của vấn đề bản chất của con người. Đó là sự thuần
phác. Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội – 1977 định
nghiã thuần phác là sự chất phác hiền hậu. Còn Từ điển tiếng Anh Oxford Advanced Learner’s Dictionary, 7th edition – 2006 định nghĩa thuần phác (ingenuous) là honest,
innocent and willing to trust people. Như vậy, sự thuần phác có thể coi là bản chất của
những con người ít bị ảnh hưởng của văn minh, chưa biết đến giả tạo, lừa mị; những con
người mà cuộc sống gắn liền với tự nhiên. Họ chính là những con người mà Rousseau đã
mô tả rất hình ảnh “từ trong thiên nhiên mà ra, khát thì uống nước suối, giường là dưới gốc
cây đã cung cấp thức ăn” [21, tr.12]. Tức là họ sống đúng với bản chất người của mình
nhất. Cái thuần phác ấy dần mất đi khi con người ngày càng chịu nhiều ảnh hưởng từ xã hội
hiện đại. Nói cách khác, càng văn minh con người càng rời xa bản chất người. Do đó các
nhà xã hội học mới hướng sự nghiên cứu của mình vào các bộ tộc cổ xưa như là một cách
phản ứng với xã hội công nghiệp.
Và Mark Twain cũng vậy. Ông thể hiện sự phản đối của mình với hiện thực xã hội
nước Mĩ cuối thế kỉ XIX thông qua nhiều tác phẩm, dưới những góc độ khác nhau. Trong
hai cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn,
thái độ phê phán ấy không chỉ thể hiện qua sự tương phản giữa hai không gian : thiên nhiên
hoang dã và xã hội văn minh mà chúng tôi đã trình bày trong chương hai; mà còn thể hiện
qua sự thuần phác nơi các nhân vật, nhất là ở hai nhân vật Tom Sawyer và Huck Finn. Điều
đặc biệt là sự thuần phác của các nhân vật này cũng được nhà văn thể hiện bằng nghệ thuật
tương phản. Một bên là sự thuần phác vốn vẫn tiềm ẩn trong bản chất của các cậu bé với
một bên là những yếu tố “văn minh” mà chúng chịu ảnh hưởng. Nếu căn cứ vào các định
nghĩa đã nêu ở trên thì Tom và Huck không phải là những cậu bé thuần phác. Chúng nghịch
ngợm, phá phách thậm chí nhiều lúc tỏ ra tinh ranh, láu cá; nhưng sự thuần phác vẫn còn
trong bản chất và điều này được bộc lộ thông qua lời nói, suy nghĩ và hành động của chúng.
Tất nhiên xã hội mà chúng đang sống cũng có ảnh hưởng không ít. Chính vì vậy mà khi đối
diện với những qui ước, những chuẩn mực của xã hội ấy, Tom và Huck luôn phải chịu
đựng những lo lắng, dằn vặt vì các qui định của xã hội thì vốn mâu thuẫn với sự chất phác
trong con người chúng và vì thế thường “cản trở” khi chúng muốn hành động theo đúng với
bản chất tự nhiên. Trong những cuộc “đấu tranh” kiểu này, trực giác luôn dẫn dắt hành động
để cuối cùng các nhân vật sẽ đưa ra những quyết định mang tính người nhất. Chúng tôi sẽ đi
vào tìm hiểu vấn đề bản chất thuần phác từ góc độ này.
Đồng thời chúng ta cũng sẽ thấy được sự phát triển trong quan niệm của Mark Twain
về xã hội, về con người khi đi vào so sánh sự thuần phác của Tom Sawyer và Huck Finn
được ông thể hiện trong hai tác phẩm ra đời cách nhau bảy năm này. Bản chất ấy nơi nhân
vật Tom chưa rõ nét lắm nếu so với Huck. Do đó, có thể nói trong cuốn Những cuộc phiêu
lưu của Tom Sawyer vấn đề thiên nhiên như là bản chất chỉ mới mang tính chất dự báo. Chỉ
đến cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn thì điều này mới được bộc lộ rõ nét
và quyết liệt. Nói cách khác sự thuần phác nơi nhân vật Tom và Huck được thể hiện ở
những cấp độ khác nhau. Cùng đối diện với những vấn đề xã hội giống nhau nhưng suy
nghĩ, quan niệm và cách xử lí tình huống của Tom và Huck không hoàn toàn giống nhau.
Có sự khác nhau ấy một phần là do theo thời gian cái nhìn của Mark Twain về xã hội công
nghiệp Mĩ trở nên rõ nét hơn và cả do những thăng trầm của chính bản thân ông trong công
việc kinh doanh. Nếu nói đề cao sự thuần phác, để cho điều này chiến thắng trong các tác
phẩm của mình là cách mà nhà văn thể hiện thái độ phê phán thời đại công nghiệp thì thái
độ ấy gay gắt hơn ở trong cuốn Huck Finn. Chúng tôi sẽ chỉ rõ điều này hơn khi đi vào tìm
hiểu sự biểu hiện của bản chất thuần phác ở nhân vật Tom và Huck dưới đây.
3.2. Sự thuần phác của nhân vật Tom Sawyer
Bằng cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Mark Twain đã tạo ra một nhân
vật nổi tiếng trong văn học Mĩ : chú bé Tom Sawyer thông minh, tốt bụng, yêu thích và hết
sức can đảm trong những chuyến phiêu lưu nhưng cũng phá phách, ngỗ nghịch, láu cá
không kém. Khác với Huck Finn, Tom là một chú bé “văn minh”. Nó sống cùng dì Polly và
các em họ Mary, Sid; được yêu thương, quan tâm; được đi học. Tuy nhiên với Tom, một cậu
bé giàu trí tưởng tượng, ham thích phiêu lưu thì những điều ấy thật khó chịu, gò bó vì mối
quan tâm hàng đầu của nó là được sống cuộc sống “ngoài vòng pháp luật” như các nhân vật
anh hùng hảo hán mà Tom từng đọc trong sách vở. Do đó ở nhân vật Tom Sawyer, có sự
đan xen giữa sự tinh ranh, láu lỉnh và sự thuần phác tự nhiên. Nếu tìm hiểu tính cách của
Tom trong ba mối quan hệ : với trường học, trường Giáo lí; với chuyện săn tìm kho báu; và
với “cuộc tình” của Becky Thacher thì nét láu cá trong tính cách Tom thể hiện ở mối quan
hệ thứ nhất; còn nét thuần phác thì thể hiện trong hai mối quan hệ sau.
3.2.1. Sự thuần phác và chuyện phiêu lưu
Nét hấp dẫn nhất nơi nhân vật Tom Sawyer có thể nói chính là trí tưởng tượng bay
bổng tuyệt vời của cậu bé. Tom luôn tưởng tượng ra những câu chuyện kì thú mà trong đó
nó và các bạn mình được sống tự do, được hành động nghĩa hiệp như Robin Hood trong
rừng hay phiêu bạt nơi góc bể chân trời như bọn cướp biển… Và không chỉ dừng lại ở
tưởng tượng, Tom còn rủ các bạn thực hiện nhiều chuyến phiêu lưu để thỏa mãn các mơ
ước. Trong những chuyến phiêu lưu ấy, thông qua những suy nghĩ, những lời nói, những
hành động của Tom, chúng ta có thể nhận ra nét thuần phác trong bản chất cậu bé.
Câu nói nổi tiếng nhất của Tom trong tác phẩm chính là sự khẳng định :
…thà được một năm làm nghề lục lâm trong rừng Sherwood còn hơn là làm Tổng
thống Mĩ suốt đời [63, (1), tr.159].
Đó là suy nghĩ của Tom và cũng là của Joe Harper khi cả hai trốn học vào rừng chơi
trò đánh kiếm. Câu nói đã thể hiện cụ thể nhất quan niệm của Tom về quyền lực. Khi mà
quyền lực và cùng với nó là sự giàu sang đã trở thành lí tưởng mà nhiều người Mĩ cố vươn
tới thì Tom và các bạn lại cho là chẳng có nghĩa lí gì so với cuộc sống hấp dẫn của những
tay lục lâm. Cách so sánh thật là “báng bổ”. Nó “sổ tọet” những giá trị đã được xã hội mặc
nhiên thừa nhận. Với bọn trẻ, sống tự do trong rừng, hành động nghĩa hiệp như Robin Hood
xưa kia mới là cuộc sống đáng sống. Chính vì thế mà Tom mới :
… lấy làm buồn là ngày nay không còn những tay lục lâm hảo hán sống ngoài vòng
pháp luật như xưa kia, và bất giác tự hỏi không biết nền văn minh hiện đại đã mang
lại những gì để bù lại những điều thiệt thòi đó. [63, (1), tr.158 – 159].
Thái độ ấy biểu lộ phần nào sự thuần hậu của Tom cũng như chứa đựng quan niệm
của chính Mark Twain về xã hội. Quan điểm này sẽ trở nên rõ ràng hơn trong cuốn Những
cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn sau này khi ông để nhân vật Huck hồn nhiên bộc lộ
thái độ của mình đối với tiền bạc, cũng như đối với các qui định xã hội trong suốt cuộc hành
trình trốn chạy “văn minh” đi thẳng đến thiên nhiên.
Thực ra trước khi xuất bản cuốn Huck Finn, Mark Twain, vào năm 1882 có xuất bản
một cuốn truyện cũng khá nổi tiếng khác; đó là Hoàng tử và kẻ khốn cùng. Trong câu
chuyện về đứa trẻ nghèo khổ, do nhầm lẫn mà được sống cuộc sống của vị hoàng tử nhỏ
dưới thời dòng họ Tudor đang trị vì Anh quốc, chúng ta cũng có thể tìm thấy một chi tiết
tiêu biểu thể hiện sự coi thường quyền lực ấy. Đó là việc chú bé nghèo Tom Canty, khi sống
trong cung điện đã nhiều lần dùng cái đại ấn bằng vàng để đập hạt dẻ những lúc chỉ có một
mình. Với một đứa trẻ thì quyền lực, vàng ròng cũng chẳng có nghĩa lí gì so với món ăn
“khoái khẩu”. Chính vì vậy mà khi chú bé Edward Tudor, nhà vua thật trở về sau thời gian
lưu lạc, thì Tom Canty sẵn sàng chỉ chỗ giấu cái “đại ấn của nước Anh” và “mặt đỏ ửng
lên” thú nhận : “Tâu đức vua, thần dùng để đập hạt dẻ ạ!” khi được hỏi đã từng dùng cái
đại ấn ấy vào việc gì. Nét hồn nhiên đó cũng có thể coi là một biểu hiện của bản chất thuần
phác. Thực ra khi viết cuốc sách này, Mark Twain vốn chỉ coi nó là một câu chuyện thiếu
nhi. Thế nhưng ở góc độ tìm hiểu vấn đề thiên nhiên – bản chất của các nhân vật thiết nghĩ
đó cũng là một chi tiết có thể giúp nhìn rõ hơn vấn đề, nhất là đối với sự phát triển trong
cách nhìn của chính tác giả về xã hội.
Quay trở lại với nhân vật Tom Sawyer, cùng với chuyện phiêu lưu của cậu bé, chúng
ta nhớ đến sự việc một đêm Tom cùng Huck hẹn nhau ra nghĩa địa để chữa mụn cơm. Vì thế
mà hai đứa đã vô tình phải chứng kiến cảnh tên Joe lai da đỏ giết chết bác sĩ trẻ Robinson và
đổ tội cho đồng bọn là Muff Potter khiến Potter bị tống giam chờ ngày xét xử. Chính sự việc
này đã làm cho Tom mất ăn mất ngủ vì sự giằng co giữa “hai con người” trong cậu bé. Con
người thuần phác muốn Tom đứng ra tố cáo kẻ sát nhân để cứu người vô tội. Nhưng con
người “văn minh” đã “kéo” Tom lại với đủ các thứ lí do. Sự giằng co ấy khiến Tom bối rối,
khổ sở và qua cuộc đấu tranh này, nhiều suy nghĩ và hành động đã bộc lộ bản chất thuần
hậu của Tom. Ban đầu vì “bị lương tâm cắn rứt” mà Tom “ngủ không yên mất đến một
tuần lễ” [63, (1), 201]; không tham gia vào những trò chơi cảnh sát hay vụ án mà nó vốn rất
thích. Rồi để “thanh thản” hơn Tom thường đem quà vào nhà giam cho “hung thủ”. “Điều
bí mật khủng khiếp về vụ án mạng là một nỗi đau khổ vô hạn đối với Tom” [64, (2), tr.79]
trong suốt cả kì nghỉ hè. Thậm chí, khi trời nổi mưa giông Tom cũng cho là :
Vì mình đã dám thử thách sự khoan dung của những quyền lực tối cao trên trời tới
chỗ cùng cực của sự chịu đựng cho nên mới đến nông nỗi này. [64, (2), tr.81].
Cuối cùng sự thuần phác đã chiến thắng thông qua hành động Tom quyết định ra tòa
làm chứng cứu Potter. Nhà văn đã đề cao hành động này, tức là bày tỏ thái độ ca ngợi bản
chất người cao đẹp nơi nhân vật khi miêu tả tình cảm của mọi người trong thị trấn đối với
Tom – người “anh hùng hào quang chói lọi” một cách rất hài hước “người già thì yêu
thương trìu mến, bọn trẻ thì ghen lồng ghen lộn” [64, (1), tr.100].
Như vậy, sự thuần hậu ở nhân vật Tom quả thật được thể hiện thông qua tương phản.
Khi để nhân vật là một đứa bé đã chịu nhiều ảnh hưởng từ xã hội văn minh hiện đại suy
nghĩ và hành động dưới sự chi phối của bản chất thuần phác, Mark Twain đã cho thấy cái
nhìn của ông về thời đại công nghiệp. Nét tính cách ấy của Tom không chỉ thể hiện trong
chuyện phiêu mà cả trong cách thể hiện “tình yêu” với Becky Thacher.
3.2.2. Sự thuần phác và chuyện “tình yêu”
Chúng ta đều đã biết, bản chất là đặc tính sâu xa bên trong con người sẽ quyết định
những biểu hiện bên ngoài của người đó. Trong mối quan hệ với “cuộc tình” của cô bé
Becky, sự thuần phác của Tom cũng được biểu hiện ra bên ngoài thông qua nhiều hành
động tán tỉnh khác nhau. Tiêu biểu nhất có lẽ là những hành động trong lần đầu gặp mặt.
Khoảnh khác đầu tiên khi trông thấy Becky, “một cô bé tuyệt xinh, mắt xanh biếc, bộ tóc
vàng tết thành đôi bím dài” [63, (1), tr.50], Tom “gục ngã” liền và “bắt đầu giở đủ trò trẻ
ranh lố bịch, cố “giương vây” khoe mẽ để làm cho cô bé phải khâm phục” [63, (1), tr.52].
Nó hết “biểu diễn một trò nhào lộn nguy hiểm” lại đến “múa may trổ tài” với hi vọng cô bé
chú ý đến mình. Nói các hành động của Tom trong trường hợp này bộc lộ bản năng thuần
phác bởi lẽ cậu bé đã thể hiện tình cảm của mình một cách tự nhiên nhất, theo sự mách bảo
của trái tim, không chút ngại ngần hay e dè. Đây là điều mà không phải ai cũng có thể bộc
lộ khi gặp tình huống tương tự vì những ảnh hưởng của “văn minh” đôi khi khiến con
người phải cân nhắc, toan tính trước những tình cảm của bản thân và thường dẫn đến hành
động che giấu những cảm xúc, những rung động thật của mình. Như vậy có thể nói, chính
xã hội văn minh, chính những qui định của văn hóa đã khiến con người ngày càng xa rời
bản chất tự nhiên của mình. Những điều ấy, nhiều lúc trở thành “sợi dây” kéo con người lại
khi chúng ta muốn hành động theo sự dẫn dắt của bản năng.
Khi hiểu sự thuần phác với ý nghĩa đó có nghĩa là chúng ta đã nhìn nhận nó dưới góc
độ nhân học chứ không phải xem xét dưới góc độ đạo đức. Những chuẩn mực đạo đức sẽ
ngày càng nhiều hơn cùng với sự văn minh hiện đại của xã hội. Tuân theo nó có nghĩa là
chúng ta đang xa rời bản chất tự nhiên của mình. Mà điều này thì các nhà xã hội học không
đồng tình. Họ hết sức đề cao sự tự nhiên của những con người cổ xưa.
Biết biểu hiện ra một cách xứng đáng trong bản chất tự nhiên của mình là một dấu
hiệu của sự hoàn thiện [21, tr.10].
Đó là ý kiến của Montaigne. Còn Rousseau thì từng khẳng định “Con người tự nhiên
cũng có nghĩa là con người hiện thực”. Việc Mark Twain để các nhân vật của mình bộc lộ
sự thuần phác tiềm ẩn trong bản chất cũng với ý nghĩa tương tự. Nó là cách ông phản đối
những qui định đạo đức của xã hội hiện đại đi ngược lại với sự phát triển tự nhiên của con
người. Sau này, trong kiệt tác Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, ông sẽ thể hiện
điều đó rõ ràng hơn khi để Tom đồng tình với Huck trong việc trả tự do cho Jim. Làm việc
đó là hai câu bé đã đi ngược lại những qui định của xã hội về vấn đề nô lệ, tức là hành động
ấy sai trái về mặt đạo đức. Thế nhưng đó lại là hành động rất đáng ca ngợi bởi ý nghĩa nhân
văn của nó và là biểu hiện cao nhất của sự thuần phác nơi nhân vật Tom và Huck. Chúng tôi
sẽ trở lại điều này khi tìm hiểu bản chất của nhân vật Huck Finn.
3.2.3. Sự thuần phác và chuyện mê tín
Cả hai cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của
Huckleberry Finn đều có những chi tiết thể hiện chuyện mê tín dị đoan của các nhân vật.
Trong lời nói đầu cuốn Tom Sawyer, Mark Twain có nhắc đến điều này
Những điều mê tín dị đoan kì quặc nói đến ở đây đều là những chuyện rất phổ biến
trong đám thiếu nhi và dân nô lệ ở miền Tây hồi xảy ra câu chuyện này [63].
Tuy nhiên, bối cảnh xã hội nước Mĩ nửa cuối thế kỉ XIX, khi hai cuốn sách trên ra
đời, nhất là cuốn Huck Finn, đã khiến những chi tiết mê tín dị đoan ấy được quan tâm đặc
biệt. Đây chính là thời kì mà cuộc cách mạng kĩ thuật đã tác động đến quốc gia này một
cách mãnh liệt.
Và dĩ nhiên trong bối cảnh chung như vậy, giống châu Au, một sự bừng tỉnh về một
nền văn hóa nông nghiệp như là phản ứng mà việc hình thành ngành Folklore học ở
Mĩ năm 1888 là một nỗ lực. [11, tr.18].
Trong bối cảnh như vậy, các nhà nghiên cứu quan tâm tới các chi tiết mê tín dị đoan
trong tác phẩm của Mark Twain như là những tàn dư của nền văn hóa nông nghiệp cổ xưa.
Còn chúng tôi tìm hiểu chúng như là một biểu hiện của sự thuần phác nơi các nhân vật. Nét
hồn hậu, thơ ngây của Tom và Huck và sau này là của Huck và Jim sẽ bộc lộ rõ ràng hơn
qua việc chúng tin tưởng và làm theo những điều mê tín dị đoan. Trước hết là trong cuốn
Tom Sawyer.
Những chuyện mê tín mà Tom biết và tin tưởng thì rất nhiều. Cậu bé răm rắp thực
hành tất cả mọi điều ấy dù khi đang ở một mình hay khi rủ Huck Finn cùng làm. Sau khi cãi
nhau với Becky, trong lòng buồn bực, Tom bỏ vào rừng, ngang qua một ngòi nước, nó vẫn
không quên “lội từ bờ bên này sang bờ bên kia hai ba lần” [63, (1), tr.146] vì tin rằng như
thế người lớn sẽ không tìm ra. Còn khi quyết định sẽ trốn nhà đi làm cướp biển Tom đã đào
cái lỗ mà trước kia đã chôn một hòn bi để tìm lại “của cải” của mình vì tin chắc rằng hòn bi
ấy sẽ gọi tất cả những hòn bi khác cùng về. Thế nhưng khi vẫn chỉ thấy một hòn bi thì Tom
kết luận rằng “thế nào cũng phải có một phù thủy nào đó đâm chọc vào” [63, (1), tr.153].
Tom còn biết rất nhiều “phương pháp” chữa mụn cơm : nào là dùng nước mưa đọng ở hốc
của một cái cây “cụt đến tận gốc, chết lâu ngày đã mục”; hay là dùng hột đậu theo cách :
Bửa hột đậu ra làm đôi, rồi cắt hột cơm cho chảy máu, lấy máu bôi vào một nửa hột
đậu rồi đào lỗ đem chôn ở ngã ba đường vào lúc nửa đêm ở chỗ khuất bóng trăng,
còn nửa hột kia đem đốt đi [63, (1), tr.117].
vì theo Tom, như thế hai nửa hột đậu sẽ bò đi tìm nhau và kéo theo mụn cơm đi mất. Tom
và Huck còn hẹn nhau ra nghĩa địa vào lúc nửa đêm để chữa mụn cơm bằng cách chờ lũ quỉ
đến mang xác một người “độc ác” mới chết đi thì sẽ ném một con mèo chết theo và con
mèo sẽ mang mụn cơm đi cùng. Còn khi tên Joe lai da đỏ khai man trước tòa, Tom và Huck
cùng :
chờ đợi từ trên bầu trời xanh thẳm kia Thượng đế sẽ giáng một tiếng sét xuống đầu
hắn [63, (1), tr.199].
Hai cậu bé còn đến ngôi nhà ma rình bọn cướp và chợt hốt hoảng lúc nhớ ra đang là
ngày thứ sáu, ngày ma thường xuất hiện… Cứ thế, nhà văn thuật lại những chuyện mê tín
cùng với những chuyện phiêu lưu.
Có một điều đáng lưu ý là khi “thực hành” những chuyện mê tín nói trên, các nhân
vật thường đọc kèm những câu chú. Chúng là những lời nói có nhịp điệu. Thí dụ khi chữa
mụn cơm bằng xác mèo phải đọc :
Quỉ kia theo xác chết,
Mèo này theo quỉ nốt.
Hột cơm theo mèo đi
Ta với mày đoạn tuyệt. [63, (1), tr.118].
(Devil follow corpse, cat follow devil, warts follow cat, I’m done with ye!) [75, tr.37].
Hay khi muốn đuổi một con bọ ba ba, vốn “rất tin những chuyện cháy nhà” chỉ cần
đọc :
Bọ ba ba, bọ ba ba,
Sao không về nhà
Nhà mày đang cháy
Bỏ con một mình. [63, (1), tr.240].
(Lady-bug, lady-bug, fly away home,
Your house is on fire, your children’s alone;) [75, tr.65].
Điều này gợi nhớ đến những nghi lễ của các bộ tộc cổ xưa, trong đó những người
tiến hành các nghi lễ thường vừa nhảy múa vừa ngân nga những câu chú có nội dung cầu
khấn hoặc trừ tà. Theo thời gian, với sự phát triển của xã hội công nghiệp, những nghi lễ ấy
cũng mai một. Một trong những dấu tích của chúng chính là các bài chú nêu trên, thường
được bọn trẻ dùng trong các trò chơi của chúng. Các nhà xã hội học cũng đã nhận định, trẻ
em chính là một trong những đối tượng lưu giữ các yếu tố còn sót lại của một nền văn hóa
truyền thống.
Những trò chơi, những bài hát đếm… được xem như những hình thức đã bị biến chất
đi của những nghi lễ, tập tục của người lớn xưa kia. [21, tr.45].
Điều đó có nghĩa là, khi tiến hành những điều mê tín, tức là các cậu bé đang thực
hành những truyền thống cổ xưa mà không hề biết “chúng ra đời khi nào, ở nơi nào và ai
đã tạo ra chúng”. [21, tr.38]. Những câu chú mà chúng thường ngân nga chính là một trong
những biểu hiện còn sót lại của nền văn minh nông nghiệp xưa kia, khi mà những chuyện
thần bí còn chi phối đời sống xã hội.
Như vậy, chuyện mê tín dị đoan không chỉ là yếu tố có giá trị hiện thực khi Mark
Twain miêu tả cuộc sống và sinh hoạt vùng biên cương miền Tây nước Mĩ thời kì đầu thế
kỉ XIX mà còn có tác dụng khắc họa sự thuần phác của các nhân vật.
3.3. Sự thuần phác của nhân vật Huck Finn
Khi viết cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, cái nhìn của Mark Twain
về thời đại, về con người đã trở nên rõ ràng hơn. Do đó, ý nghĩa bản chất của thiên nhiên
được ông thể hiện trong tác phẩm này không còn mang tính dự báo như trong cuốn Tom
Sawyer nữa. Sự chất phác của Huck thể hiện nhất quán qua rất nhiều suy nghĩ và hành động
trong suốt chuyến hành trình. Vì thế nếu đặt bản chất thuần phác của Huck bên cạnh sự suy
thoái đạo đức bởi xã hội công nghiệp ở nước Mĩ khoảng cuối thế kỉ XIX, chúng ta cũng có
thể hiểu được thái độ phê phán của nhà văn đối với văn minh công nghiệp.
Khác với Tom, Huck Finn không sống trong môi trường “văn minh”. Cậu bé xuất
thân “cùng đinh”, lúc nào cũng lôi thôi, luộm thuộm và đã quen với việc sống tự do :
Khi trời tạnh ráo thì nó ngủ ở chỗ bậc cửa ra vào nhà người ta, khi mưa gió ướt át
thì ngủ trong một cái vỏ thùng rượu; nó không phải đi học hay đi nhà thờ hay phải
gọi ai là thầy và vâng lời một ai cả. [63, (1), tr.111].
Do không “bị” ảnh hưởng bởi bất kì sự dạy dỗ nào của cả trường học , nhà thờ lẫn
gia đình nên Huck sống và lớn lên cùng sự thuần hậu tự nhiên vốn có trong bản chất con
người. Đây là đặc điểm đáng chú ý ở Huck, cơ sở của sự thuần phác thiên nhiên. Cậu bé
nghèo, đơn độc và vô cùng trong sáng. Ở Huck, vì thế sự thuần phác được thể hiện đậm nét
hơn so với Tom. Nhân vật này không bộc lộ vẻ láu cá như Tom trong nhiều hành động,
không giàu tưởng tượng và cũng chẳng bao giờ hành động theo sách vở. Ngược lại, hoàn
cảnh khiến Huck nhanh nhẹn, khôn ngoan và thực tế hơn Tom trong hành động. Dù là hành
động tự bảo vệ hay hành động vì người khác, Huck đều nghe theo sự mách bảo của bản
năng đạo đức hay sự điều khiển của một trái tim thánh thiện. Sự ảnh hưởng của thế giới văn
minh đối với cậu không nhiều, có chăng chỉ là những qui ước xã hội lâu đời, cụ thể là những
qui định của nền văn hoá duy trì chế độ nô lệ ở miền Nam Hoa Kì, mà Huck vẫn coi là
đương nhiên vì chẳng biết những điều khác hơn, tiến bộ hơn. Chính điều này khiến trong
Huck cũng có lúc diễn ra sự “giằng co” giữa con người thuần phác và con người “văn minh”
như Tom. Do đó chúng tôi cũng sẽ xem xét bản chất của nhân vật Huck Finn trong mối
quan hệ với chuyện phiêu lưu, tình bạn, chuyện mê tín.
3.3.1. Sự thuần phác và chuyện phiêu lưu
3.3.1.1. Thái độ đối với tiền bạc
Điểm giống nhau giữa Huck và Tom chính là sự ưa thích chuyện phiêu lưu, mạo
hiểm, dù rằng trong chuyện này Huck luôn chỉ biết làm theo những “sáng kiến” của Tom.
Vì thế chúng từng cùng nhau đi làm hải tặc ở trên đảo Jackson, rồi lại làm lục lâm trong
rừng Sherwood và cả cùng nhau đi tìm kho báu ở khắp nơi, từ căn nhà có ma, đến quán trọ
và tận trong hang sâu. Trong những chuyến phiêu lưu hấp dẫn ấy, nhiều lần Huck thể hiện
thái độ của mình đối với tiền bạc. Trong chuyến phiêu lưu cuối cùng ở cuốn Tom Sawyer,
dù hăm hở đi tìm kho báu là để trở nên giàu có nhưng trước viễn cảnh do Tom vẽ ra :
… đào được một cái nồi đồng trong đó có một trăm đồng đô la hoen gỉ… hay một cái
hòm gỗ mục đầy kim cương. [64, (2), tr.107 – 108].
thì Huck lập tức nhận phần mình là “chỗ một trăm đồng đô la kia thôi” còn kim cương thì
“nhường” cho Tom vì “tao không cần”. Trong xã hội công nghiệp, khi mà đồng tiền đã xác
lập vị trí số một của mình thì thái độ ấy của Huck khiến nó đối lập hẳn với số đông. Thế
cũng có nghĩa là sự thuần phác sẽ không có chỗ trong cái xã hội ấy. Sự chất phác của Huck
còn hiện ra rõ hơn khi cậu bé bày tỏ ước mơ
Tao sẽ ngày nào cũng ăn patê và uống một cốc sôđa và gánh xiếc nào qua đây tao
cũng đi xem. [64, (2), tr.110 – 111].
khi Tom hỏi sẽ làm gì nếu may mắn tìm được của chôn giấu. Điều ấy thật khác xa với thái
độ của người lớn khi chúng ta so sánh cái cách mà những người dân trong thị trấn đối xử
với Huck và Tom sau khi biết chúng vớ được tới “trên mười hai ngàn đôla” :
Tom và Huck đi đến đâu cũng được người ta săn đón vồ vập, trố mắt nhìn tỏ vẻ hết
sức thán phục. Chúng không còn nhớ được những câu phát biểu của mình trước kia
có một giá trị gì không; nhưng giờ đây mỗi lời nói của chúng đều được người ta vồ
lấy và quí như vàng, được người ta nhắc đi nhắc lại mãi. [64, (2), tr.265].
Trong cái xã hội ấy, đồng tiền khiến người ta nghiễm nhiên trở thành thần tượng bất
kể quá khứ có ra sao. Sự săn đón vồ vập của những người lớn đã biểu thị rõ thái độ đối với
tiền. Thế nhưng với Huck, cuộc sống mới giàu sang cùng sự ngưỡng mộ, trọng vọng của
mọi người lại làm cậu bé khổ sở. Sau ba tuần “dũng cảm chịu đựng những đau khổ ấy”,
Huck bỏ trốn. Khi Tom tìm được nó trong “mấy thùng rượu bỏ không ở phía đằng sau lò
sát sinh cũ” [64, (2), tr.269], Huck tâm sự với thằng bạn chí cốt như sau :
Mày thử nghĩ mà xem, thật thế, giàu sang không phải như người ta vẫn thường khoe,
giàu sang chỉ là mua lấy cái khổ, cái vất vả vào thân, lúc nào cũng chỉ muốn chết đi
cho rảnh… Tom ạ, nếu không có món tiền chết tiệt kia thì tao đâu có đến nỗi phải
chịu những chuyện khổ sở như thế này; thôi mày lấy nốt cái phần của tao đi, rồi
thỉnh thoảng cho tao một hào… [64, (2), tr.272].
Một đứa bé “vô giáo dục” như Huck Finn, đối diện với đồng tiền bỗng trở thành triết
gia khi đưa ra những nhận xét hết sức chí lí về tiền và những hệ lụy của nó. Những lời tâm
sự trên quả thật rất phù hợp với bản chất của Huck , đứa trẻ mà sự thuần phác còn chưa bị
lòng tham làm cho mất đi. Nhưng thái độ ấy sẽ rất buồn cười nếu ta nhìn nó bằng những con
mắt của của người lớn. Thái độ đối với tiền bạc của Huck sẽ bị xem là “ba xạo” và nó sẽ bị
gọi là một chi tiết “khiên cưỡng” trong tác phẩm nếu chúng ta không xem xét nó trong mối
liên hệ giữa việc đề cao bản chất thuần phác của nhân vật với cảm thức của chính nhà văn
về thời đại. Bởi sau này trong cuốn Huckleberry Finn, ông còn tiếp tục để Huck đối diện với
tiền bằng tâm hồn trong sáng như pha lê ấy. Khi buộc phải theo lão Vua đến nhà Peter Wilk,
Huck một lần nữa lại được tận mắt nhìn thấy rất nhiều tiền. Đó là sáu ngàn đô la tiền mặt
mà ông Peter Wilk quá cố để lại cho các con gái nhưng đang bị Vua và Quận Công chiếm
đoạt. Khi tìm ra chỗ giấu số tiền ấy, cầm nó trên tay, giữa đêm khuya không ai biết nhưng
trong đầu Huck không mảy may nghĩ đến việc chiếm nó cho riêng mình mà chỉ lo làm sao
có thể giấu những kẻ lừa đảo kia và lúc thích hợp thì sẽ báo cho các cô gái cả tin tội nghiệp
kia. Trong đầu óc thuần phác của Huck không có chỗ của lòng tham, sự ti tiện.
Thái độ ấy của Huck đối với tiền cũng giống hệt như thái độ của Tom đối với quyền
lực mà chúng tôi đã nêu ở phần trước đó. Tom thích làm Robin Hood hơn làm tổng thống
Mĩ; Huck thì chọn cuộc sống tự do và dứt khoát từ bỏ tiền bạc. Sự kết hợp hai thái độ ấy của
các cậu bé sẽ giúp chúng ta hình dung đầy đủ hơn một khía cạnh của vấn đề bản chất thuần
phác. Như vậy từ cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer đến cuốn Những cuộc phiêu
lưu của Huckleberry Finn thái độ phủ nhận của nhà văn đối với những giá trị vật chất mà xã
hội đương thời công nhận cũng hoàn chỉnh hơn, rõ ràng hơn.
3.3.1.2. Thái độ đối với mọi người
Nơi nhân vật Huck, sự thuần phác còn biểu lộ qua rất nhiều hành động cứu giúp
người khác một cách vô điều kiện, bất kể họ là người tốt hay xấu. Chính cái bản chất đáng
quí ấy đã khiến Huck luôn lo lắng hơn đến những khó khăn của người khác, thậm chí khi
chứng kiến những kẻ xấu gặp nạn, cậu bé cũng áy náy không yên.
Ở cuối cuốn Tom Sawyer, trong một đêm đi rình tên Joe và đồng bọn của hắn để
mong tìm ra nơi cất giấu thùng vàng, vô tình Huck biết bà quả phụ Douglas sắp gặp nguy.
Nỗi sợ hãi ban đầu đã khiến Huck muốn co giò bỏ chạy, nhưng bản chất thuần hậu giữ nó
lại, nhắc Huck nhớ việc “bà quả phụ Douglas đã nhiều lần tỏ ra tốt với nó” [64, (2),
tr.173]. Nên cuối cùng Huck đã chạy đi tìm người có thể giúp đỡ.
Sau này trong cuốn Huckleberry Finn, gắn với hành trình phiêu lưu của Huck và Jim
là rất nhiều chuyện như thế. Tiêu biểu nhất có thể kể đến việc Huck giúp các cô cô gái nhà
Wilks thoát khỏi sự lừa đảo bỉ ổi của lão Vua, giữ lại được gia tài. Bản chất lương thiện
không cho phép Huck đồng tình với việc lừa đảo nhưng ban đầu cậu bé cũng chỉ nghĩ đến
việc làm sao bản thân mình thoát khỏi được lão Vua và anh chàng Quận Công mà thôi. Thế
nhưng sự tốt bụng, dịu hiền của các cô gái đã đánh thức Huck khiến cậu suy nghĩ và đi đến
hành động theo sự mách bảo của trái tim thánh thiện :
Tôi cảm thấy mình cũng xấu xa, hèn hạ quá, và tự nghĩ tôi sẽ phải cố làm thế nào mà
giấu số tiền kia đi cho các cô ấy mới được. [66, tr.281].
Cũng chính trái tim ấy hướng dẫn Huck tìm ra phương cách hành động tốt nhất và
khiến các cô gái tin mình. Khi hướng về người khác, nghĩ cho người khác, Huck thường hay
tự trách mình, luôn cảm thấy mình có lỗi. Cảm giác đó của Huck cứ trở đi trở lại mỗi khi
Huck bị buộc phải chứng kiến chuyện không may của người khác, bất kể người khác đó là
ai.
Ở trên chúng tôi đã nhắc đến việc Huck tốt cả với những kẻ xấu. Đây chính là những
chi tiết có thể làm rõ mức độ thuần phác đậm nét hơn trong bản chất của Huck so với nhân
vật Tom Sawyer. Sau khi chứng kiến vụ thanh toán lẫn nhau của bọn cướp trên tàu Walter
Scott, Huck và Jim vất vả lắm mới thoát khỏi chiếc tàu đang đắm. Thế nhưng việc đầu tiên
Huck nghĩ đến sau khi thoát là làm cách nào để cứu bọn cướp đang bị kẹt trên tàu. Sau khi
vừa khóc vừa bịa ra một câu chuyện hoàn hảo để mong có người đến giúp mà không có kết
quả, Huck đã nhìn chiếc tàu đang chìm dần trên sông với tâm trạng :
…cảm thấy hơi buồn về đám cướp, nhưng cũng không buồn lắm, vì tôi nghĩ nếu như
thiên hạ người ta có thể mặc nhiên được thì tôi cũng có thể chịu được. [66, tr.131].
Như vậy không chỉ tốt bụng mà Huck còn rất thành thật. Trong suy nghĩ của cậu,
chúng ta không thấy có một chút giả vờ thương cảm nào. Thái độ thành thật ấy cũng chính
là một biểu hiện có thể làm sáng tỏ bản chất thuần hậu nơi nhân vật này.
Cũng chính bản chất đạo đức ấy đã chi phối những suy nghĩ và hành động của Huck
sau này, khi gặp phải hai kẻ lừa đảo là Vua và Quận Công. Không giống như bọn cướp
không quen biết nói trên, hai nhân vật này ập lên và xâm chiếm chiếc bè của Huck và Jim
rồi thi nhau hành hạ, bóc lột, lôi kéo đôi bạn. Huck hiểu rất rõ bản chất xấu xa, gian xảo của
chúng và đã tìm mọi cách để không dính dáng đến những kẻ vô lại ấy nữa. Thế nhưng khi
khi đang sống yên ấm ở nhà dì Sally, biết việc mọi người sẽ vạch mặt Vua và Quận Công,
Huck đã tìm cách trốn ra khỏi nhà để đi báo cho chúng biết vì sợ “họ sẽ bị nguy”. Đến khi
chứng kiến cảnh hai tên lừa đảo khắp người bôi hắc ín, bị kẹp vào một thanh sắt để giải đi,
Huck đã nghĩ :
Tôi thấy cảnh đó cũng động lòng và lấy làm tiếc cho hai cái tên khốn kiếp đáng
thương ấy; tôi cảm thấy như mình sẽ không còn có thể nào nghĩ đến hình phạt gì
khác hơn đối với họ nữa. Trông ghê tởm thật cơ. Sao con nguời đối với con người lại
có thể độc ác một cách ghê tởm như thế được. [66, tr.360].
Có nghĩa là con người Huck không hề biết đến sự ghét bỏ hay thù hận. Tâm trạng
băn khoăn không sao hiểu nổi sự độc ác của con người trong việc đối xử với đồng loại của
Huck là sự xác nhận cao nhất bản chất thuần phác nơi nhân vật. Cái tính người ấy phải
chăng đã bị những tiến bộ, những luật lệ của xã hội hiện đại làm cho mất đi?
Khi tìm hiểu bản chất của nhân vật Huck Finn bộc lộ như thế nào trong mối quan hệ
với mọi người, chúng tôi nhận thấy có một nét giống nhau trong một số tình huống. Đó là
việc nói dối cừ khôi và thành thục của cậu mỗi khi gặp tình huống nguy hiểm. Nếu không lí
giải điều này, e rằng sẽ có sự mâu thuẫn trong việc đánh giá bản chất thuần phác nơi nhân
vật. Khi đang trốn trên đảo Jackson vì muốn dò la tình hình, Huck đã giả gái, đến cuối tỉnh
gặp một người đàn bà lạ mặt và vừa kể cho bà ta nghe câu chuyện “hư cấu” về mình vừa
thăm dò động tĩnh của việc mình và Jim biến mất; hay chuyện cứu toán cướp nói trên. Đặc
biệt là sau này để cứu Jim khỏi nguy hiểm Huck còn hành động theo kiểu đó nhiều lần. Có
lần trước nguy cơ Jim bị phát hiện, Huck đã thản nhiên mời những tay săn lùng nô lệ bỏ
trốn lại chỗ cái bè, rồi lấp lửng nhắc đến căn bệnh đậu mùa và giả vờ buồn bã khi chúng bỏ
đi vì sợ lây bệnh. Hay câu chuyện về gia đình li tán “chẳng để lại một thứ gì khác ngoài số
tiền mười sáu đô la với anh da đen là Jim” [66, tr.207] cho Huck, khi Vua và Quận Công
tỏ ra nghi ngờ Jim là nô lệ bỏ trốn. Những câu chuyện như thế được Huck “sáng tác” rất
nhanh và “diễn” rất tự nhiên. Những câu chuyện có thể khác nhau về nội dung nhưng chúng
rất giống nhau ở tình huống ra đời. Đó là những lúc nguy cấp cần phải tự bảo vệ bản thân và
người khác thoát khỏi nguy hiểm. Như vậy chuyện nói dối của Huck là việc làm mang tính
tự vệ, thể hiện bản năng tồn tại của con người chứ không phải là loại hành động thể hiện bản
chất giả dối. So sánh với những hành động láu lỉnh của Tom Sawyer, chúng ta sẽ thấy sự
khác nhau. Khi Tom vờ vịt thích công việc quét vôi hàng rào thì mục đích rõ ràng của cậu
bé là kiếm người làm giúp để vừa thu lợi vừa không phải làm việc. Rồi khi gạ bọn trẻ đổi
thẻ ở trường học Giáo lí, Tom cũng đã tính trước sẽ dùng những cái thẻ kiếm được một cách
“bất chính” ấy để được “tôn vinh”. Cùng là hành động nói dối nhưng ở Tom là sự bộc lộ sự
ranh mãnh, còn ở Huck lại là sự bộc lộ bản năng tự vệ. Điều này có ở Huck cũng là điều dễ
hiểu bởi hoàn cảnh sống lang thang từ nhỏ, luôn phải đối phó với người cha nát rượu đã
khiến bản năng sinh tồn nơi Huck phát triển mạnh mẽ. Bản năng ấy gợi nhớ đến chi tiết
Huck tạo dựng cái chết giả của mình để trốn khỏi sự giam cầm của bố ở phần đầu tác phẩm.
Rõ ràng Huck đã tính toán rất kĩ lưỡng mọi việc, từ việc tạo hiện trường giả đến việc chuẩn
bị lương thực mang theo, rồi nơi đến, giờ khởi hành… Tất cả là để được tồn tại, sau nữa là
để được sống tự do chứ không phải là loại hành động mang tính chất lừa dối.
Như vậy, có thể thấy bản chất thuần phác ở nhân vật Huck Finn đậm nét, nổi trội hơn
ở nhân vật Tom Sawyer. Mọi hành động của Huck đều theo sự dẫn dắt của bản chất, nếu
không muốn nói là bản năng, ấy. Sự đấu tranh giữa con người thuần phác và con người văn
minh thể hiện nhiều hơn nơi Tom thì ở nhân vật Huck điều đó tập trung biểu hiện qua
những chi tiết liên quan đến việc thả tự do cho Jim mà chúng tôi sẽ trình bày dưới đây.
3.3.2. Sự thuần phác và tình bạn
Mối quan hệ giữa Huck, chú bé da trắng nghèo và Jim, người nô lệ da đen bỏ trốn
trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn chứa đựng rất nhiều ý nghĩa. Nó là
sự tiếp nối :
Một hiện tượng đặc biệt trong dòng tiểu thuyết phiêu lưu của Mĩ là hệ hai nhân vật
thành một cặp lưỡng tính theo kiểu Don Quixote với Pansa.” [13, tr.147].
Qua cặp nhân vật này, Mark Twain muốn nói đến những vấn đề thời đại và thể hiện ý
nghĩa của một cuộc cách mạng tư tưởng. Đây là điều chúng tôi đã đề cập đến trong chương
thứ hai của luận văn. Sở dĩ nhắc lại điều này bởi thông qua mối quan hệ nói trên giữa Huck
và Jim, còn có thể làm rõ vấn đề bản chất thuần phác của nhân vật Huck Finn.
Trong suốt hành trình đi tìm tự do của mình, bên cạnh “ông thầy” thiên nhiên, thì
Huck còn học được nhiều điều từ Jim nữa. Sự hiểu biết, cảm thông, gắn bó của đôi bạn hình
thành và ngày càng trở nên sâu đậm hơn sau những biến cố gặp phải trong suốt chuyến đi.
Vì vậy “Người nô lệ bỏ trốn – Jim, trở thành một người cha tinh thần đối với Huck.” [68,
tr.123].
Cũng như bất kì người miền Nam nào khác, trong suy nghĩ của Huck, một người da
đen thì luôn ngờ nghệch và cố chấp, không thể có những tình cảm đặc biệt. Thế nhưng
những ngày sống cùng Jim đã khiến Huck hiểu hơn về những người nô lệ. Trong cái đêm
sương mù trên sông mà chúng tôi đã nêu ở trên, Huck lạc mất Jim và khi gặp lại đã đùa Jim
rằng tất cả chỉ là một giấc mơ. Jim đã “trách móc” Huck bằng những lời sau :
Sau khi tôi đã mệt quá với chuyện loay hoay ở đó rồi mà gọi cậu mãi không thấy, tôi
mới đi ngủ, mà trong lòng tôi thì đau đớn vô cùng vì đã mất cậu. Tôi cũng chẳng cần
biết là tôi và cái bè ra sao nữa. Lúc tôi tỉnh dậy thì lại thấy cậu trở về nguyên vẹn, tôi
ứa nước mắt ra, có thể quì xuống mà hôn chân cậu, vì tôi mừng quá đỗi. [66, tr.148].
Có thể coi đây là bài học đầu tiên Huck nhận được từ Jim. Nó tác động đến Huck thật
mãnh liệt :
Tôi cảm thấy mình thật xấu xa đến nỗi suýt nữa tôi lại muốn cúi xuống hôn chân Jim
để hắn quay lại…
Đến mười lăm phút qua tôi mới đứng dậy được, đến xin lỗi trước mặt một người da
đen. Nhưng làm việc đó xong rồi, không bao giờ tôi còn phải ăn năn hối hận nữa.
[66, tr.148].
Quả thật không dễ dàng chút nào cho Huck để “đến xin lỗi trước mặt một người da
đen”. Thế nhưng hành động mang tính cách mạng ấy đã đem lại cho Huck sự ấm áp trong
tâm hồn bởi từ đây cậu được đồng hành với một người bạn chứ không phải với một nô lệ bỏ
trốn nữa. Do đó nó không chỉ là hành động thể hiện bản chất thuần phác mà còn là hành
động đầu tiên xác lập tình bạn giữa Huck và Jim. Cứ thế nhiều lần khác nữa trong chuyến
hành trình Huck còn được nghe thêm những quan niệm (cũng rất thuần phác) của Jim về
cuộc sống, con người; những tâm sự của Jim về gia đình, kế hoạch tương lai … Đồng thời
Huck còn được nhận sự quan tâm, chăm sóc của Jim trong suốt chuyến đi, điều mà lúc còn
ở trong thị trấn không bao giờ Huck nhận được. Tất cả như một chất keo dần dần gắn kết họ
lại bằng một thứ tình cảm hết sức trong sạch, thánh thiện. Và đến cuối cuộc hành trình, khi
Jim bị lão Vua lừa bán đi mất thì cũng là lúc mà Huck thực sự cảm nhận được ý nghĩa lớn
lao của tình cảm ấy. Cậu thấy hụt hẫng, đau đớn như vừa mất đi một người ruột thịt.
Tôi gọi to một tiếng, rồi một tiếng nữa – lại một tiếng nữa; chạy hết ngả này ngả
khác vào rừng, hú lên, hét lên, nhưng vô ích – Jim đã đi mất rồi. Tôi ngồi xuống
khóc, không thể nào kìm được nữa. [66, tr.332].
Nỗi đau khổ của Huck được bày tỏ cũng theo cách rất tự nhiên, không hề che dấu,
ngại ngần gì. Hình ảnh Huck hết “gọi to” rồi lại chạy, hú, hét tìm Jim và cuối cùng bật khóc
khiến người đọc liên tưởng đến cảnh tượng một con thú lạc mất con đang hoảng loạn, đau
khổ đến điên cuồng giữa rừng sâu. Thì ra cuộc sống giữa thiên nhiên không chỉ đem lại cho
Huck tự do mà còn có thể đem lại cho cậu bé những tình cảm mà trước đó nó không hề biết
là có ở trên đời. Cách biểu lộ sự đau đớn ấy của Huck khiến chúng ta liên tưởng đến cảnh
tượng Tom bày tỏ tình cảm với Becky mà chúng tôi đã nêu ở phần trên. Tâm trạng và cảnh
ngộ hoàn toàn khác nhau nhưng cách mà hai cậu bé bày tỏ tình cảm thì rất giống nhau. Cả
hai đều thành thực với tình cảm của mình và bộc lộ chúng ra bên ngoài một cách hết sức tự
nhiên.
Trở lại với nhân vật Huck Finn, chúng ta thấy rằng chính sự gắn bó và những tình
cảm đối với Jim đã khiến cuộc đấu tranh nội tâm của Huck ở chương thứ XVI diễn ra đầy
kịch tính, khi cả hai tưởng đã đến được Cairo, nơi Jim có thể đi đến những bang không còn
chế độ nô lệ để bắt đầu cuộc sống tự do. Nó giống như một cuộc kiểm tra đạo đức dành cho
Huck. Trái tim thuần phác mách bảo Huck để cho Jim đi, nhưng ý thức vốn rất xa lạ với
những qui ước đạo đức lại “đe doạ” cậu, khiến cậu thấy mình có lỗi, thậm chí run sợ. Khi
cái ý thức ấy “lấn lướt”, Huck đi đến quyết định sẽ giao nộp Jim. Điều này làm cho Huck
thấy :
… dễ chịu, sung sướng, nhẹ như một chiếc lông bay bổng. Bao nhiêu những cái bứt
rứt đều tiêu tan cả.” [66, tr.152].
Thế rồi trong khi quay xuồng vào bờ để thực hiện ý định trên, khi nghe Jim hét với
theo những lời biết ơn, ca ngợi lòng tốt của mình, Huck lại cảm thấy “hình như ruột gan tôi
bị bật cả ra ngoài” [66, 153] và khi giáp mặt những người đi bắt nô lệ thì rất tự nhiên bằng
trái tim trực cảm, Huck che dấu, bảo vệ Jim rất khéo léo bằng câu chuyện về bệnh đậu mùa
đã nói ở trên. Biết chắc là Jim thoát khỏi nguy hiểm lần này rồi nhưng Huck vẫn băn khoăn
không biết mình đã làm đúng hay sai. Chính vì vậy mà cậu cứ loay hoay mãi với những suy
nghĩ hết sức thật thà :
… nếu lúc này mình làm điều phải và đưa Jim ra, thì có phải bấy giờ thấy dễ thở hơn
không? Nhưng tôi lại nói : không. Nếu như thế thì mình sẽ thấy khổ tâm chứ, sẽ thấy
bứt rứt như chính bây giờ mình đang bứt rứt đây. Rồi tôi lại tự bảo: học làm điều
phải để làm gì trong khi làm điều phải thì khổ tâm và làm điều trái thì không thấy
phiền lòng gì cả. [66, tr.156].
Có thể coi bản chất thuần phác chính là nguyên nhân nỗi khổ sở mà Huck phải chịu
đựng. Thế nhưng ngay trong những suy nghĩ trên, Huck đã thể hiện sự lựa chọn của mình
rồi. Huck sẽ không làm “điều phải” nữa vì nó khiến cậu “khổ tâm” tức là Huck đã nghiêng
về phía lương tâm thuần khiết. Trong trường hợp này bản năng đạo đức nơi Huck đã đặt nó
vào thế đối đầu với xã hội. Sự lựa chọn, do đó không thể không khó khăn. Nếu so sánh với
việc Tom bị lương tâm cắn rứt khi không dám ra cứu Muff Potter trong cuốn Những cuộc
phiêu lưu của Tom Sawyer thì cuộc đấu tranh nội tâm của Huck gay go hơn nhiều. Nó cũng
cao hơn về mặt ý nghĩa. Huck phải đối mặt với vấn đề đạo đức lớn hơn nhiều so với chuyện
cứu hay không cứu một người vô tội khỏi cảnh tù đầy của Tom. Bản chất thuần phác đậm
nét hơn cũng khiến Huck khổ sở hơn Tom và điều quan trọng là trong cuộc đấu tranh của
Huck ta thấy rõ hơn vai trò của trực giác trong hành động biểu lộ bản chất ấy.
Sau này, ở cuối tác phẩm, một lần nữa Huck lại phải trải qua thử thách tương tự. Chỉ
có điều hành động của Huck dứt khoát hơn, quyết liệt hơn. Đó là lúc đang ở nhà dì Sally,
Huck quyết định viết thư gửi cô Watson (người chủ nô lệ của Jim) tố cáo Jim khi biết hắn bị
ông Silas Phelps bắt nhốt. Nhưng toàn bộ cuộc hành trình đầy bất trắc với Jim sống dậy.
Trong đầu Huck như diễn ra một đoạn phim quay chậm trong đó các hình ảnh quá khứ cứ từ
từ lướt qua :
Rồi lại nghĩ đến cả chuyến đi xuôi con sông này, và tôi luôn luôn thấy hình ảnh Gim
ở trước mặt: ngày cũng như đêm, có khi dưới trăng, có khi trong cơn dông tố, chúng
tôi vẫn dập dềnh trôi đi, nói chuyện, hát cười. Rồi tôi thấy hình như không có chỗ
nào mà mình đáng phải độc ác với hắn, chỉ thấy hắn tốt. Tôi thấy Gim ở trên bè đứng
gác thay cho tôi, đáng lẽ gọi tôi dậy thì hắn vẫn để tôi ngủ; thấy Gim sung sướng
mừng rỡ biết bao nhiêu khi thấy tôi thoát khỏi sương mù trở về; rồi đến lúc tôi ra
đầm gặp lại Gim ở vùng đồn điền kia; nhiều lần như thế; và bao giờ Gim cũng gọi
tôi bằng cái tên thân yêu, chiều chuộng tôi, có thể vì tôi mà làm gì cũng làm. Luôn
luôn bao giờ Jim cũng tốt như vậy. [66, tr.336].
Dòng hồi tưởng ấy nhắc nhớ lại những ngày tháng phiêu lưu của đôi bạn. Hình ảnh
dòng sông vừa êm đềm vừa dữ dội bây giờ làm nền cho những kí ức tốt đẹp về Jim. Huck
nhớ như in các sự kiện cùng trải qua với Jim trên dòng sông ấy và cảm nhận rõ rệt tấm lòng
bao dung của một người cha, người anh; tâm hồn chân thực của một người bạn nơi người nô
lệ ấy. Trở đi trở lại trong kí ức của cậu bé là ý nghĩ về sự lương thiện, hiền lành, tốt bụng
của Jim : “Rồi tôi thấy hình như không có chỗ nào mà mình đáng phải độc ác với hắn, chỉ
thấy hắn tốt.” Hay “Luôn luôn bao giờ Jim cũng tốt như vậy.”.
Chính những kí ức ấy đã đẩy Huck tới một quyết định:
Tôi nhặt mảnh giấy lên, mân mê trong tay. Tôi run người lên, vì bây giờ tôi phải
quyết định một lần chót, một trong hai điều đây. Tôi biết lắm. Tôi suy nghĩ một phút,
nín thở, rồi tự bảo: “Thôi được, mình sẽ đành đi xuống địa ngục” – và xé toang
mảnh giấy. [66, tr.336].
Trong cuộc đấu tranh lần này, ý thức dường như “lép vế” hơn so với trái tim. Trái
tim thuần phác khiến Huck không hề ngại ngần chuyện sẽ “đi xuống địa ngục” và dẫn dắt
Huck tới hành động “xé toang mảnh giấy” kia. Hành động dũng cảm ấy đánh dấu sự chiến
thắng hoàn toàn của bản chất thuần hậu trong con người Huck. Nó cũng chính là chi tiết
quan trọng biểu hiện chất nổi loạn tư tưởng mà nhà văn muốn thể hiện trong tác phẩm bởi
nó phủ nhận những qui định mà xã hội công nhận. Bằng hành động ấy, Huck đã tự đặt mình
vào thế đối đầu với xã hội. Cái cách nhà văn đặt cậu bé cao hơn những chuẩn mực xã hội đã
thể hiện sự đồng tình của ông với những hành động xuất phát từ bản chất thuần phác của
con người.
Như vậy tình bạn của Huck và Jim tượng trưng cho những gì thánh thiện nhất. Theo
như cách nói của Lionel Trilling thì “Huck và Jim thực sự dựng lên một cộng đồng các
thánh trên chiếc bè” [74, tr.11]. Cộng đồng ấy, vì vậy hoàn toàn đối nghịch với xã hội
đương thời và cũng chính nó là môi trường khiến bản chất thuần phác của con người có thể
bộc lộ và toả sáng.
3.3.3. Sự thuần phác và chuyện mê tín
Ở trên, chúng tôi đã nhắc đến việc ngành folklore học ở Mĩ ra đời năm 1888 như một
phản ứng với sự phát triển công nghiệp. Việc quay về tìm hiểu nền văn hoá nông nghiệp
trước đó là mối quan tâm hàng đầu của các nhà xã hội học lúc bấy giờ. Mark Twain cũng
với quan niệm ấy đã đưa vào cuốn Huckleberry Finn những chi tiết có thể gợi nhắc đến nền
văn hoá nông nghiệp đó. Đó chính là những chuyện mê tín. Cũng giống như Tom trong
cuốn Tom Sawyer, Huck và cả Jim rất tin vào những chuyện loại này trong suốt hành trình
của mình. Để những câu chuyện mê tín chi phối các nhân vật cũng là một cách nhà văn thể
hiện bản chất thuần phác của họ. Nếu trước kia Huck thường bàn bạc và thực hiện những
chuyện ấy cùng Tom thì bây giờ đi với Jim, cậu bé còn biết thêm nhiều chuyện “hay ho”
hơn nhờ Jim dạy cho. Do đó chúng không chỉ biểu lộ sự chất phác của Huck (và cả Jim) mà
còn mở ra một phương diện khá thú vị trong đời sống tinh thần của người da đen. “Thế giới
Huck đang sống được trang bị hoàn hảo để thích nghi với tính thần” [74, tr.8] là ý kiến của
Lionel Trilling về vấn đề này.
Trong cuốn Huckleberry Finn, những chuyện mê tín dị đoan ảnh hưởng tới Huck có
thể xếp vào hai loại. Đó là những chuyện điềm báo và những điều kiêng kị. Huck tin tưởng
tuyệt đối vào những điềm báo nên cậu bé luôn sợ hãi cuống cuồng mỗi khi gặp phải. Các
điềm báo có thể khác nhau nhưng phản ứng của Huck trước chúng thì luôn giống nhau. Mở
đầu tác phẩm, dù trong lòng đang “vô cùng buồn thảm” vì phải sống cảnh “tù đày” ở nhà bà
goá Douglas, nhưng khi “một con nhện ở đâu nhảy đến, lồm cồm bò trên vai áo”, Huck vẫn
không quên “chồm dậy, quay đi quay lại một chỗ đến ba bốn vòng, rồi lại làm dấu trước
ngực rất nhiều lần”. Sau đó là “lấy sợi dây buộc chặt mớ tóc trên đầu để làm cái bùa đuổi
yêu quái đi” vì tin rằng “đó là một điều xấu và rồi tôi sẽ gặp rủi ro” [66, tr.20]. Huck
không chỉ tin vào những điềm báo tình cờ, cậu còn rất tin vào chuyện bói toán vì cho rằng
nhờ việc này mà có thể biết trước mọi chuyện để mà tránh. Tiêu biểu cho loại niềm tin này
là việc Huck sau khi phát hiện ra dấu vết của bố đã chạy đến nhờ Jim dùng búi lông “có con
ma nó biết tất cả mọi thứ” bên trong để đoán xem “bố tôi sẽ làm gì và có ý định ở lại đây
không” [66, tr.42]. Chỉ sau khi Huck trả tiền thì búi lông mới cho cậu bé biết các tiên đoán
của mình :
Chưa biết là ông bố cậu sẽ làm gì ở đây. Có thể ông ấy sẽ đi xa, cũng có thể ông ấy
định ở lại…Nhưng còn cậu thì không hề gì. Đời cậu sẽ gặp nhiều cái rắc rối, mà
cũng có nhiều cái vui mừng đấy. Có khi cậu bị đau đớn, lại có khi ốm yếu, nhưng rồi
lần nào cậu cũng trở lại lành mạnh như thường… [66, tr.43 – 44].
Nghe những lời phán nước đôi ấy, tất nhiên Huck rất sợ. Bởi thế khi về phòng thấy
ông bố đã ngồi sẵn trong đó, cậu bé hết “khiếp sợ” lại “kinh hãi”.
Sau này khi cùng thực hiện chuyến phiêu lưu, Huck còn được Jim nhắc nhở nhiều lần
về những điều nếu làm sẽ gặp phải chuyện không may vì Jim “biết hầu hết” các thứ điềm
báo hiệu trên đời. Đây là chuyện mê tín thuộc dạng thứ hai : những điều kiêng kị. Những
chuyện loại này rất nhiều trong niềm tin của Huck. Nào là người bắn chim đang bay sẽ bị :
“chết đấy”, hoặc ai vào“lúc mặt trời lặn mà đem rũ cái khăn trải bàn” [66 – tr.86] thì chắc
chắn sau đó sẽ gặp phải điều rủi ro, hay “sờ vào da rắn lột sẽ gặp điều không may nhất trên
đời” [66, tr.96 – 97], rồi là “nhìn mặt trăng lưỡi liềm qua phía bên trái của mình là một
trong những điều không cẩn thận và dại dột nhất” [66, tr.99]. Và tất nhiên chúng cũng
khiến Huck phải lo sợ không kém so với những chuyện điềm báo đã kể trên. Điều đặc biệt
là niềm tin của Huck vào chúng ngày càng được củng cố vững chắc hơn nhất là sau một
điềm báo nào đó lại tình cờ xảy ra sự việc trùng hợp. Tiêu biểu cho niềm tin loại này có thể
kể đến câu chuyện ở chương thứ X “Sờ vào cái da rắn lột sẽ ra sao" trong tác phẩm. Đó là
khi Huck và Jim còn ở trên đảo Jackson, trong một lần vô tình Huck “tìm thấy cái da rắn lột
ở trên đỉnh gò” [66 – tr.96]. Thoạt đầu Huck không tin nhưng sau đó vì sự đùa nghịch của
cậu mà Jim bị rắn cắn. Đầu óc ngây thơ của Huck đã bị một phen thử thách. Cậu vừa tin là
do cái da rắn lột nó báo oán, vừa ân hận vì việc làm của mình khiến bạn gặp nguy hiểm.
Chính vì vậy mà khi Jim qua khỏi, Huck đã :
… nghĩ bụng nhất định từ nay sẽ không mó vào cái da rắn lột nữa, vì bây giờ đã thấy
nó tai hại như thế nào rồi. [66 – tr.98].
Các tình tiết có liên quan đến chuyện mê tín dị đoan của các nhân vật trong cả cuốn
Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn” quả thật
chứa đựng nhiều ý nghĩa. Trước hết chúng làm cho những câu chuyện phiêu lưu của Tom và
Huck thêm màu sắc bí ẩn; chúng còn là biểu hiện của những tàn dư của xã hội nông nghiệp
và đặc biệt chúng bộc lộ một nét trong bản chất thuần phác của các nhân vật. Những tàn dư
như thế sẽ còn gây cho chúng ta vô vàn những thú vị nếu chúng ta nhìn tác phẩm dưới góc
nhìn văn hoá (học).
Chúng tôi vừa trình bày ý nghĩa thứ hai của vấn đề thiên nhiên : thiên nhiên – bản
chất trong hai tiểu thuyết của Mark Twain Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và
Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Cùng với ý nghĩa thứ nhất : thiên nhiên –
không gian phiêu lưu, vấn đề bản chất của các nhân vật Tom Sawyer và Huck Finn cũng sẽ
giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về những giá trị nhân văn sâu sắc mà nhà văn muốn
gởi gắm vào những đứa con tinh thần của mình.
KẾT LUẬN
1. Như vậy là chúng tôi đã giải quyết đề tài của mình dưới ít nhất ba cấp độ: thiên
nhiên với hai ý nghĩa tự nhiên và bản chất trong văn học, thiên nhiên như là tự nhiên và
thiên nhiên như là bản chất trong hai tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và
Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn.
Khi khảo sát vấn đề thiên nhiên với với hai ý nghĩa tự nhiên và bản chất trong văn
học, chúng tôi đã kết hợp tìm hiểu song song những vấn đề về lí luận và dẫn chứng trong
một số tác phẩm văn chương (tự sự) tiêu biểu của thế giới từ cổ đại đến hiện đại. Điều này
giúp tạo ra cái nhìn khái quát về vấn đề để từ đó có thể đi vào trọng tâm của luận văn là
Thiên nhiên như là tự nhiên và Thiên nhiên như là bản chất trong hai tiểu thuyết Những
cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn.
Đối với vấn đề Thiên nhiên như là tự nhiên trong hai tiểu thuyết nói trên của Mark
Twain, mặc dù chứa đựng rất nhiều ý nghĩa khác nhau nhưng chúng tôi chỉ tập trung xem
xét thiên nhiên dưới góc độ là không gian gắn liền với những cuộc phiêu lưu của các nhân
vật và chỉ xem xét chúng ở những khía cạnh có thể làm rõ thái độ phê phán gay gắt của nhà
văn về xã hội công nghiệp đương thời.
Cuối cùng là Thiên nhiên như là bản chất cũng trong hai cuốn Những cuộc phiêu lưu
của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Chúng tôi cũng chỉ xem
xét sự thuần phác trong bản chất của hai nhân vật chính là Tom Sawyer và Huck Finn cũng
với mục đích làm rõ cái nhìn của nhà văn về thời đại và con người.
Với mục đích đó chúng tôi đã cố gắng chỉ ra những ý nghĩa xã hội, triết lí trong hai
tiểu thuyết đỉnh cao của Mark Twain chỉ thông qua vấn đề thiên nhiên. Như vậy chúng tôi,
một cách gián tiếp đã chỉ ra được những nét riêng trong ngòi bút hiện thực của Mark Twain.
2. Theo chúng tôi khuynh hướng vùng miền trong các sáng tác của Mark Twain là
một trong những điểm quan trọng làm nên giá trị, sự hấp dẫn cho các tác phẩm của ông nói
chung và hai cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của
Huckleberry Finn nói riêng. Tiếp cận giá trị ấy thông qua vấn đề thiên nhiên như là tự
nhiên, chúng tôi đã khảo sát hai hình ảnh nổi bật là rừng và sông gắn với không gian phiêu
lưu của các nhân vật như những biểu tượng chứa đựng ý nghĩa đối lập với thế giới văn
minh. Đặt tự nhiên trong thế đối trọng với xã hội công nghiệp hiện đại, theo chúng tôi sẽ
làm nổi bật được nét bí ẩn mà quyến rũ rất đặc trưng của không gian miền Tây biên cương
nước Mĩ thời kì đầu thế kỉ XIX, nơi mà Mark Twain gắn bó cả tuổi thơ và một phần đời thời
trai trẻ phiêu bạt của mình.
Riêng ý nghĩa bản chất của thiên nhiên, chúng tôi đã chỉ ra sự thuần phác của hai
nhân vật là Tom Sawyer và Huck Finn thông qua các mối quan hệ của chúng với chuyện
phiêu lưu, chuyện mê tín và trong mối quan hệ với những người xung quanh. Khi tìm hiểu
vấn đề này, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến sự đấu tranh giữa bản năng đạo đức nơi các
nhân vật với những ảnh hưởng của xã hội văn minh để nhấn mạnh đến sự chiến thắng cuối
cùng của tính thuần phác. Nét thuần phác trong bản chất của các nhân vật tạo cho chúng tính
cách khác hẳn các nhân vật toan tính, mánh khoé, thực dụng thường gặp trong văn học hiện
thực. Kết hợp với không gian hoang sơ trong các chuyến phiêu lưu, các nhân vật vì thế tạo
ra một thế giới đối lập với thế giới văn minh hiện đại.
3. Luận văn của chúng tôi lần đầu tiên tiếp cận sáng tác của Mark Twain từ góc độ
thiên nhiên. Thông qua việc tìm hiểu thiên nhiên trong hai tiểu thuyết đỉnh cao của ông,
chúng tôi đã làm rõ được một số nét đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực Mĩ trong các tác
phẩm của nhà văn vĩ đại này.
Yếu tố hiện thực trong các tác phẩm của Mark Twain là điều mà các nhà nghiên cứu
trong nước đã rất quan tâm và cũng có không ít những bài viết có giá trị. Chúng tôi không
theo các cách lí giải ấy nhưng những ý kiến ấy đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc lựa
chọn hướng khảo sát của mình. Việc có nhiều nghiên cứu về Mark Twain từ những góc độ
khác nhau, thậm chí trái ngược nhau mà vẫn khám phá ra những giá trị mới mẻ chỉ chứng tỏ
rằng ông là một hiện tượng văn học lớn không chỉ của văn chương Hoa Kì mà còn của cả
thế giới.
TƯ LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
1. Aristole (1997), Nghệ thuật thơ ca, Tập thể dịch giả, Tạp chí Văn học nước ngoài, (1),
trang 180 – 221.
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Bakhtin Mikhail (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, Nxb Hội
nhà văn, Hà Nội.
4. Barnet Sylvan… (1992), Nhập môn văn học, Hoàng Ngọc Hiến dịch và giới thiệu,
Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội.
5. Lê Huy Bắc (2002), Văn học Mĩ, Nxb Đại học Sư phạm.
6. Bigelow Albert Paine (1957), Thởu hoa niên của văn hào Mark Twain, Anh Phương
dịch, Nxb Thời đại.
7. Borges Luis Jorge (1999) “Nathaniel Hawthorne – Người mộng mơ”, Nguyễn Trung
Đức dịch, Tạp chí Văn học (8), trang 75 – 86.
8. Chevalier Jean và Gheerbrant Alain (2002) Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, tập
thể dịch giả, Nxb Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du.
9. Đào Ngọc Chương (1997), “Mark Twain (1835 – 1910) trong truyền thống văn học
Mĩ”, Bình luận văn học, niên giám 1997, cuốn 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà
Nội.
10. Đào Ngọc Chương (1997), “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer – điểm nhìn
của người kể chuyện và những hiệu quả nghệ thuật”, Bản photocopy.
11. Đào Ngọc Chương (1997), “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn – Nhân
vật người kể chuyện và hành trình của thời đại”, Bản photocopy.
12. Đào Ngọc Chương (2000), Moby Dick và truyền thống tiểu thuyết Mĩ, Tạp chí văn
học (3), trang 79 – 84.
13. Đào Ngọc Chương (2003), Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của Ernest Hemingway,
Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
14. James Fenimore Cooper (1986), Người cuối cùng của bộ lạc Mohicans, Phan Minh
Hồng và Mai Thái Lộc dịch, Nxb Mũi Cà Mau.
15. Lê Đình Cúc (1986) “Ngòi bút hiện thực phê phán và nghệ thuật hài hước của Mark
Twain”, Tạp chí Văn học (3), trang 65 – 75.
16. Lê Đình Cúc (2004), Tác gia văn học Mĩ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
17. Lê Đình Cúc (2001) “William Dean Howells (1831 – 1920) – Người gieo trồng và
vun xới nền văn học Mĩ”, Tạp chí Văn học (3), trang 17 – 26
18. Lê Đình Cúc (2002) “Văn học Mĩ – Thử nhận diện”, Tạp chí Văn học (4), trang 52 –
58.
19. Lê Đình Cúc (2004), Trích dẫn những bài phê bình tác gia văn học Mĩ : Thế kỉ XVIII
– XX, Nxb Khoa học xã hội.
20. Nguyễn Văn Dân (1996), Một số quan niệm về văn học - nghệ thuật của các học
thuyết mĩ học phương Tây hiện đại, Tạp chí Văn học nước ngoài (6) trang 176
– 188.
21. Chu Xuân Diên (1995), Văn hóa dân gian (folklore) và phương pháp nghiên cứu liên
ngành, Tủ sách đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
22. Daniel Defoe (2003), Robinson Cruso, Hoàng Thái Anh dịch, Nxb Kim Đồng.
23. Nguyễn Đức Đàn (1996), Hành trình văn học Mĩ, Nxb Văn học Hà Nội.
24. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
25. Phan Cự Đệ (2003), “Tiểu thuyết phiêu lưu và tiểu thuyết tâm lí”, Tạp chí Nhà văn,
(7), trang 81 – 110.
26. Lê Minh Đức, Nguyễn Nghị (1994), Lịch sử nước Mĩ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà
Nội.
27. Nathaniel Hawthorne (1988), Chữ A màu đỏ, Lâm Hoài dịch, Nxb Văn học.
28. Phan Thu Hiền (1999), Sử thi An Độ, tập 1 : Mahabharata, Nxb Giáo dục.
29. Hoàng Ngọc Hiến (2003), Nhập môn văn học và phân tích thể loại, Nxb Đà Nẵng.
30. Trần Văn Hoàn (1967), “Làm quen với Mark Twain”, Tạp chí Diễn đàn Mĩ (6),
trang 138 – 143.
31. Homere (1997), Anh hùng ca Iliade, tập 1, Hoàng Hữu Đản dịch, Nxb Văn học Hà
Nội.
32. Homere (1982), Odyssey , Phan Thị Miến dịch, Nxb Văn học.
33. Hughes Holly (1999) “Văn học Mĩ (1600 – 1914)”, Lê Xuân Mai dịch, Tạp chí Văn
học (10), trang 75 – 84.
34. Lê Quang Huy (2002), Đôi điều cần biết về nước Mĩ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
35. Nguyễn Thái Yên Hương (2005), Liên bang Mĩ : đặc điểm xã hội văn hoá, Nxb Văn
hóa thông tin, Hà Nội.
36. Yasunari Kawabata (1988), Cố đô, Thái Văn Hiếu dịch, Nxb Hải Phòng.
37. Khraptrenko (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, Lê
Sơn, Nguyễn Minh dịch, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
38. Kundera, K. (1998), Nghệ thuật tiểu thuyết, Nguyên Ngọc dịch, Nxb Đà Nẵng.
39. Thanh Lê, chủ biên (2003), Xã hội học phương Tây, Nxb Thanh niên.
40. Jack London (2002), Truyện ngắn chọn lọc, Tập thể dịch giả, Nxb Văn học.
41. Phương Lựu (1999), Lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX, Nxb Văn học,
Hà Nội.
42. Herman Melvill (1987), Cá voi trắng, Công Ba và Sơn Mĩ dịch, Nxb Mũi Cà Mau.
43. Thomas Mann (1998), Ao ảnh, Huỳnh Phan Anh dịch, Nxb Văn học.
44. Hữu Ngọc (1995), Hồ sơ văn hoá Mỹ, Nxb Thế giới, Hà Nội.
45. Plar. K. O (2001), Mark Twain, Thu Thủy dịch, Nxb Trẻ.
46. Vũ Tiến Quỳnh, biên soạn (1995), Phê bình, bình luận văn học”, Nxb Văn nghệ
thành phố Hồ Chí Minh.
47. Lê Hồng Sâm, Đặng Thị Hạnh (1981), Văn học lãng mạn và hiện thực phương Tây
thế kỉ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
48. Schultz A. Emily và Lavenda H. Robert (2001), Nhân học – một quan điểm về tình
trạng nhân sinh, Tập thể dịch giả, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
49. Đắc Sơn (1961), Đại cương văn học sử Mĩ, Nxb Khai trí, Sài Gòn.
50. Trúc Sơn (1963), Tìm hiểu bản sắc dân tộc Mĩ qua tiểu thuyết Mĩ, Tạp chí Quê
hương (43), trang 213 – 224.
51. Tập thể tác giả (1966), Văn chương Hoa Kì và các thể văn – thi ca Hoa Kì khác, Lê
Bá Kông và Phan Khải dịch, Nxb Diên Hồng, Sài Gòn.
52. Tập thể tác giả (1990), Văn học phương Tây, Nxb Giáo dục.
53. Tập thể tác giả (1995), Những bậc thầy văn chương thế giới, tư tưởng và quan niệm.
Nxb Văn học.
54. Tập thể tác giả (1995), Tìm hiểu Lí luận văn học phương Tây hiện đại, Nxb Văn học
Hà Nội.
55. Tập thể tác giả (2001), Tiếp cận đương đại văn hóa Mỹ, Nxb Văn hóa Thông tin.
56. Tzvetan Todorov (2004), Mikhail Bakhtin – Nguyên lí đối thoại, Đào Ngọc Chương
dịch, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
57. Lev Tolstoy (2003), Anna Karênina, Nhị Ca, Dương Tường dịch, Nxb Văn học.
58. Lê Ngọc Trà (1989), “Một số vấn đề về bản chất văn học”, Giáo trình lí luận văn
học, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
59. Lê Ngọc Trà (1990), Lí luận và văn học, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.
60. Hoàng Trinh (1999), Phương Tây – Văn học và con người, Nxb Hội nhà văn.
61. Lương Duy Trung (1998), “Một số tác giả của thơ ca Mĩ thế kỉ thứ XIX”, Tạp chí
Văn học, (4), trang 48 – 54.
62. Mark Twain (1988), Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Ngụy Mộng Huyền và
Hoàng Văn Phương dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.
63. Mark Twain (1997), Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, tập 1, Ngụy Mộng
Huyền và Hoàng Văn Phương dịch, Nxb Đồng Nai.
64. Mark Twain (1997), Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, tập 2, Ngụy Mộng
Huyền và Hoàng Văn Phương dịch, Nxb Đồng Nai.
65. Mark Twain (1998), Hoàng tử nhỏ và chú bé nghèo khổ, Minh Châu dịch, Nxb Kim
Đồng.
66. Mark Twain (2002), Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn, Xuân Oanh dịch, Nxb
Văn học.
67. Valmiki (1988), Sử thi Ramayana, Phạm Thủy Ba dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.
68. Vanspanckeren Kathryn (2001), Phác thảo văn học Mĩ, Lê Đình Sinh và Hồng
Chương dịch, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.
69. Walt Whitman (1981), Lá cỏ, Vũ Cận và Đào Xuân Quí dịch, Nxb Văn học.
70. Wyck Van Brooks (1966), Những năm trưởng thành : Lịch sử văn chương Hoa Kì
trong những năm 1885 – 1915, Từ An Tùng dịch, Nxb Tin đức thư xã, Sài
Gòn.
71. Wanning Esther (1995), Sốc văn hóa Mĩ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
TIẾNG ANH
72. Henry Nash Smith, biên soạn (1963), Mark Twain a collection of critical essays,
Nxb Prentice – Hall.
73. Henry David Thoreau “Walden”(http://thoreau.eserver.org/walden 1a.htm1)
74. Mark Twain (1948), Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Nxb Holt,
Rinehart and Winston.
75. Mark Twain (2004), “The complete illustrated works of Mark Twain”, Nxb Bounty
books.
76. Mark Twain “Life on the Mississippi” (http://mark-twain.classic-
letterature.co.uk/life-on-the-mississippi/ebook)
Mark Twain nhận bằng Tiến sĩ văn chương danh dự
của đại học Oxford năm 1907
http://www.answers.com/topic/mark-twain-dlitt-jpg
Chữ kí của Mark Twain
http://www.keyagallery.com/inv_Mark_Twain.htm
Ngôi nhà Mark Twain sống từ 1871 đến 1908 tại Hartford, Connecticut.
http://www.galenfrysinger.com/missouri_mark_twain.htm
Bìa cuốn “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer”
Nhà xuất bản: Holt, Rinehart and Winston
http://csmt.cde.ca.gov/images/0030544610.jpg
Bìa cuốn “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer”
Nhà xuất bản: Blackstone Audio, Inc.
http://images.contentreserve.com/ImageType-100/0887-1/%7BA6A563AB-6D0F-4F5F-
86CD-49952F4B3963%7DImg100.jpg
Bìa cuốn “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”
Nhà xuất bản: Bantam Classic
http://fater.blogspot.com/2005_09_01_archive.html
Bìa cuốn “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”
Nhà xuất bản: Troll Illustrated Classic
http://freeenglishebooks.blogspot.com/2007/08/adventures-of-huckleberry-finn.html
Lưu vực sông Mississppi
http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%ACnh:Mississippi-map.gif
Hành trình của Huck và Jim
Ngã ba của các sông Mississippi và Ohio tại Cairo, Illinois.
http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%ACnh:CairoIL_from_space_annotated.jp

