BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH --------------------- PHẠM ANH HOA THIÊN NHIÊN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MARK TWAIN

Chuyên ngành : Văn học Nước ngoài Mã số : 60 22 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Đào Ngọc Chương

Thành phố Hồ Chí Minh – 2007

MARK TWAIN (1835 – 1910)

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Mark Twain, bút danh của Samuel Langhorne Clemens (1835 – 1910) được coi là

người đã khai sinh ra nền văn học hiện đại Mĩ, theo cách nhìn của Ernest Hemingway; là

Lincoln của văn học Mĩ như cách gọi của William Dean Howells. Cùng với nhiều tác giả

khác ở thế kỉ XIX, ông đã góp phần tạo nên bản sắc Mĩ cho nền văn học non trẻ vốn chịu

ảnh hưởng văn học Anh quốc. Về mặt này, ngòi bút hiện thực của ông, dựa trên thứ tiếng

Mĩ “bình dân, sống động, khoẻ khoắn” cùng chất uy-mua đặc trưng vùng biên cương, đã vẽ

nên những khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, cuốn hút và đậm chất Mĩ. Nổi bật trong những

bức tranh ấy là hình ảnh dòng Mississipi hùng vĩ và cuộc sống gắn với những chuyến phiêu

lưu của những con người miền Tây…

Tuy nhiên, các sáng tác của Mark Twain, đặc biệt là hai tác phẩm đỉnh cao là Những

cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn đặt trong

bối cảnh của nước Mĩ cuối thế kỉ XIX, còn chứa đựng cả những vấn đề của thời đại. Trong

các tác phẩm của ông, thiên nhiên miền Tây hoang dã với những dấu tích của văn minh

nông nghiệp được các nhân vật say sưa khám phá. Vì vậy, thiên nhiên hoang dã ấy còn

mang ý nghĩa đặc biệt như là sự phản đối nền văn minh công nghiệp bấy giờ. Một cách nhìn

nào đó, nó gợi lên vấn đề quay về quá khứ để tìm tính cách, bản chất con người.

Như vậy các tác phẩm của Mark Twain, đặc biệt hai tiểu thuyết đỉnh cao của ông

không chỉ mang ý nghĩa thẩm mĩ mà còn chứa đựng những vấn đề xã hội và triết học sâu

sắc. Đây là hướng và đồng thời là lí do khiến chúng tôi khảo sát “Thiên nhiên trong tiểu

thuyết của Mark Twain”.

Hơn nữa ở Việt Nam, ông là một trong số ít tác giả văn học Mĩ được lựa chọn để

giảng dạy cả trong chương trình dành cho sinh viên cũng như học sinh phổ thông trung học.

Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã quan tâm đến nhiều phương diện, nhiều vấn đề về ông, về

tác phẩm của ông như chúng tôi sẽ tổng thuật trong phần Lịch sử vấn đề sau đây, nhưng

chưa thực sự tập trung nghiên cứu vấn đề thiên nhiên như biểu tượng đặc biệt của cái nhìn

thẩm mĩ và triết lí. Chính vì thế việc chúng tôi nghiên cứu vấn đề thiên nhiên trong tiểu

thuyết của Mark Twain mang một ý nghiã thiết thực. Những gì luận văn của chúng tôi đạt

được sẽ góp thêm một tiếng nói, một cách đánh giá vào dòng nghiên cứu và giảng dạy tác

phẩm của Mark Twain, ít nhất là ở nước ta hiện nay.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát, lí giải vấn đề thiên nhiên

trong tiểu thuyết của Mark Twain với hai ý nghĩa chính : thiên nhiên như là tự nhiên và

thiên nhiên như là bản chất con người nhân vật. Ở ý nghiã thứ nhất chúng tôi tìm hiểu

không gian gắn với những cuộc phiêu lưu của các nhân vật. Còn trong ý nghĩa thứ hai đó là

sự thuần phác trong đời sống tinh thần của các nhân vật được bộc lộ qua các hành động.

Chính trọng tâm này đã dẫn chúng tôi đến việc giới hạn chỉ tìm hiểu vấn đề thiên

nhiên trong hai tiểu thuyết nổi tiếng của Mark Twain là Những cuộc phiêu lưu của Tom

Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Bởi vì, chỉ trong hai tác phẩm

đỉnh cao này của Mark Twain thì hai ý nghĩa trên của thiên nhiên mới được nhà văn thể

hiện trong mối tương tác hoàn chỉnh nhất của chúng.

3. Lịch sử vấn đề

Từ việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu như trên, chúng tôi, trong quá

trình thu thập tài liệu cho luận văn của mình, đã đặc biệt chú ý đến những ý kiến của các

nhà nghiên cứu về hai ý nghĩa tự nhiên và bản chất của thiên nhiên trong tiểu thuyết của

Mark Twain.

3.1. Thiên nhiên như là tự nhiên

Ở nước ngoài, các nhà nghiên cứu khi hướng sự chú ý vào yếu tố thiên nhiên trong

sáng tác của Mark Twain đã đưa ra những lí giải khác nhau. Năm 1948, trong lời giới thiệu

nhân dịp xuất bản cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, NXB Holt, Rinehart

and Winston, Lionel Trilling đã đặc biệt chú ý đến hình ảnh dòng sông, dòng Mississippi,

như một thế giới đối lập với nước Mĩ công nghiệp cuối thế kỉ XIX và nhìn nhận nó như một

vị thần trong hành trình của Huck và Jim.

Đối diện với thần tiền (money-god) vẫn là vị thần sông (river-god), với những vũ khí

phê phán lặng lẽ – ánh sáng, không gian, những khoảng lặng, sự tĩnh mịch và sự đe

dọa… [74, tr.15].

Còn Leo Marx, trong bài viết “The Pilot and Passenger : Landscape Conventions

and the Style of Huckleberry Finn” được in trong cuốn Mark Twain a collection of critical

essays do Henry Nash Smith biên soạn, NXB Prentice – Hall, 1963, đã so sánh ba đoạn văn

tả cảnh bình minh trên sông Mississippi trong ba tác phẩm Cuộc sống trên dòng Mississippi,

Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Từ

đó, Leo Marx chỉ ra những nét đặc biệt của cảnh đẹp thiên nhiên trong cuốn Huckleberry

Finn. Nét riêng ấy được tác giả lí giải thông qua điểm nhìn của người kể chuyện :

Là người tham dự, Huck nhiều lúc hòa vào dòng sông mà mình đang kể. Do đó cảnh

vật là sự trần thuật trực tiếp của cậu. Phong cảnh được miêu tả bằng nhiều chi tiết

cụ thể, nhưng chúng đến với chúng ta như những ấn tượng chủ quan. Tất cả các giác

quan của người kể chuyện thì sống động và thông qua chúng, tính chất quí giá của

những sự việc cụ thể trở nên nổi bật. [72, tr.56].

Đồng thời, khi xem xét những bức tranh phong cảnh của Mark Twain, tác giả Leo

Marx còn tiến hành liên hệ với những qui ước và phong cách miêu tả thiên nhiên trong văn

chương nói chung để chỉ ra những nét địa phương của phong cảnh miền Tây và văn phong

của ông. Cảnh bình minh trên đảo Jackson trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom

Sawyer được đánh giá là “một cách nói mới về phong cảnh” vì bên cạnh việc sử dụng nghệ

thuật nhân cách hóa quen thuộc đến mức nhàm chán trong văn chương tả cảnh truyền thống,

Mark Twain đã “phá vỡ phong cách của một họa sĩ” khi ông đặc tả một con sâu xanh (the

microscopic focus upon the green worm) vốn được coi là chi tiết không quí phái, không

xứng với những cảnh đẹp như tranh. [72, tr.53].

Có thể nói đây là bài viết khá chi tiết về thiên nhiên trong các sáng tác của Mark

Twain. Tác giả đã xem xét các bức tranh phong cảnh từ góc độ văn phong của nhà văn miền

Tây này. Điều này chỉ có thể tiến hành khi xem xét nguyên tác.

Còn giới nghiên cứu trong nước khi nhắc đến thiên nhiên trong các sáng tác của

Mark Twain thường lí giải chúng như những biểu hiện của bút pháp hiện thực. Các nhà

nghiên cứu hầu hết đều ca ngợi thành công của Mark Twain ở phương diện miêu tả rất sống

động những nét đặc trưng của thiên nhiên biên cương miền Tây trong các tác phẩm của

mình.

Trước năm 1975, trong cuốn sách giáo khoa dành cho chương trình Đệ nhất ABC

sinh ngữ Đại cương văn học sử Mĩ của Đắc Sơn, NXB Khai Trí, Sài Gòn 1961, tác giả viết :

Những cuộc sinh hoạt trên dòng sông, ngoài nội cỏ hay trong cảnh hoang dã của

Hoa Kì đều được mô tả một cách thực thể dưới ngòi bút của Mark Twain qua các tác

phẩm “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”, “Cuộc sống trên sông

Mississippi”… [49, tr.43].

Bối cảnh thiên nhiên miền Tây còn được đánh giá là một trong ba điểm tạo nên tính

hấp dẫn, lôi cuốn người đọc trong các tác phẩm của Mark Twain, bên cạnh “tài kể chuyện

sống động, duyên dáng” và chất “humour”. Đó chính là nhận định của Trần Văn Hoàn

nhân dịp xuất bản cuốn “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer”, trên tạp chí Diễn đàn Mĩ

năm 1967:

… khoảng giữa thế kỉ XIX đã chiếm một địa vị quan trọng trong sáng tác của Mark

Twain : theo chân tác giả, độc giả lần lượt tái diễn cuộc thám hiểm trên trường

giang Mississippi hùng vĩ, cuộc khai phá những đồng cỏ mênh mông đến tận chân

trời của vùng Trung Mĩ…[30, tr.138].

Như vậy, dù mới chỉ dừng ở mức độ giới thiệu nhưng cả hai bài viết đều coi thiên

nhiên như là yếu tố tạo nên nét địa phương trong các sáng tác của Mark Twain.

Sau thời điểm 1975, bài phê bình đầu tiên về các sáng tác của Mark Twain là của tác

giả Lê Đình Cúc. Đó là bài viết “Ngòi bút hiện thực phê phán và nghệ thuật hài hước của

Mark Twain” đăng trên Tạp chí Văn học số 3, tháng 5 – 6 năm 1986. Trong quá trình lí giải

tính hiện thực, Lê Đình Cúc có nhắc đến hai không gian “… trường học, nhà thờ đối lập

hoàn toàn với đời sống, với thiên nhiên…”. Tác giả đã viết khá chi tiết về cái tù túng, ngột

ngạt của không gian nhà thờ, trường học mà chưa nói đến nét hấp dẫn của không gian dòng

sông, hòn đảo trong những cuộc phiêu lưu của Tom, Huck và các bạn. Đối với hành trình

của Huck và Jim, tác giả đánh giá là để “chuồn khỏi cái “thế giới văn minh”của tầng lớp

quí tộc tư sản” nhưng chưa chú ý đến sự liên hệ giữa hành trình ấy và các hình ảnh thiên

nhiên. Đây là điều chúng tôi sẽ nói kĩ trong chương thứ hai của luận văn này.

Đến năm 1988, khi xuất bản cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, nhà xuất

bản Văn học đã in bài giới thiệu của tác giả Hồng Sâm. Các hình ảnh thiên nhiên trong cuốn

tiểu thuyết này cũng được Hồng Sâm nhắc đến như là một sự đối lập với nhà thờ, trường

học. Đồng thời bài viết còn chỉ ra được nét lôi cuốn, hấp dẫn của các hình ảnh thiên nhiên

trong những chuyến phiêu lưu của Tom :

… Và thiên nhiên được miêu tả tuyệt vời : Dòng sông Mississippi mênh mang, bãi cát

trắng ngập ánh mặt trời, khu rừng vắng diễm lệ, hang Mc Daugal huyền bí kì ảo.

Thiên nhiên có tâm hồn, “trầm tư mặc tưởng”, “sáng láng” “ru cái ngủ để sắp sửa

bước vào lao động” rồi “tỉnh hẳn và hoạt động lao xao. Thiên nhiên dịu dàng an ủi

khi các em buồn, nghiêm khắc hoặc nổi giận khi các em thấy mình có lỗi. [62, tr.13].

Đây có thể coi là ý kiến đầu tiên thể hiện sự chú ý tới các hình ảnh thiên nhiên cụ thể

với ý nghĩa là không gian phiêu lưu mặc dù trọng tâm mà tác giả muốn bàn luận vẫn là giá

trị phê phán của tác phẩm.

Sau này, trong một bài viết khác của Lê Đình Cúc, điều đó cũng được nhắc đến. Khi

bàn luận về cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Lê Đình Cúc nhìn nhận :

Chương XIX của “Huck Finn”là một trong những chương thơ mộng nhất của

tác phẩm và của văn chương Mark Twain. Trong khi Huck khám phá hai bờ sông với

bao nhiêu quang cảnh kì thú và hùng vĩ của thiên nhiên thì cũng là dịp Huck chứng

kiến những truyền thống văn hóa của người Mĩ ở những thị trấn tỉnh lẻ. [16, tr.349 –

350].

Đó là nhận định từ bài viết “Truyện thiếu nhi của Mark Twain” đăng trên Tạp chí

Văn học số tháng 6 năm 1997. Tuy ra đời sau bài viết đầu tiên về Mark Twain mà chúng tôi

đã nêu ở trên khá lâu nhưng tác giả vẫn chú trọng tới ngòi bút hiện thực và đánh giá thiên

nhiên như là một nét bổ sung cho tính hiện thực ấy và do đó mọi hình ảnh thiên nhiên sẽ có

“giá trị lịch sử”. Phải chăng vì vậy mà sau này tác giả Lê Đình Cúc đã ghép hai bài viết

thành một và cho in trong cuốn Tác gia văn học Mĩ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 2004,

dưới tiêu đề “Mark Twain (1835 – 1910) – “Đến người bán quan tài cũng phải xót xa

thương tiếc” khi nhà văn qua đời”.

Như vậy có thể thấy các nhà nghiên cứu đã quan tâm nhiều đến tính hiện thực của

yếu tố thiên nhiên trong các tác phẩm của Mark Twain mà chưa gắn nó với truyền thống

phiêu lưu cũng như thể loại tiểu thuyết phiêu lưu của Mĩ để xem xét. Chỉ đến bài viết

“Những cuộc phiêu lưu của Huckle Berry Finn”- nhân vật người kể chuyện và hành trình

của thời đại”, 1997 (bản photocopy) của tác giả Đào Ngọc Chương, vấn đề này mới được

được đề cập đến. Theo chúng tôi, Đào Ngọc Chương đã lí giải một cách khá thuyết phục ý

nghĩa xã hội, lịch sử của hành trình “chối bỏ” văn minh đi về phía thiên nhiên hoang dã của

hai nhân vật Huck và Jim khi đánh giá thiên nhiên như là những biểu tượng :

Cả hai cuộc chạy trốn trên (của Huck và Jim) đều hướng đến tự do theo nghĩa thoát

thoát khỏi những qui định xã hội, tìm về với thiên nhiên mà rừng và sông là những

biểu trưng. Chính vì thế mà cả hành trình là một biểu trưng. [11, tr.19].

Chính sự lí giải này về các hình ảnh thiên nhiên sẽ soi rọi những đặc điểm riêng của

chủ nghĩa hiện thực Mĩ trong tiểu thuyết của Mark Twain. Đây chính là một gợi ý để chúng

tôi tiến hành tìm hiểu vấn đề thiên nhiên trong sáng tác của nhà văn miền Tây này.

Một bài viết khác về Mark Twain khá ngắn gọn nhưng có nhắc đến thiên nhiên trong

tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Đó là phần giới thiệu về Mark

Twain trong cuốn Phác thảo văn học Mĩ của Kathryn Vanspanckeren, Nxb Văn nghệ thành

phố Hồ Chí Minh, 2001 do Lê Đình Sinh và Hồng Chương dịch :

Đoạn kết mang đến cho độc giả phiên bản trái ngược với huyền thoại cổ điển về

thành công của nước Mĩ : đó là con đường rộng mở dẫn đến miền đất hoang dã chưa

bị xâm phạm, cách xa những ảnh hưởng suy đồi đạo đức của cái gọi là “văn minh”.

[68, tr.122].

Và trung tâm của miền đất hoang dã ấy là “hình ảnh con sông hùng vĩ nhưng đầy

cạm bẫy, luôn luôn thay đổi cũng là nét chính trong bức tranh phong cảnh giàu tưởng

tượng của ông.” [68, tr.123].

Tuy chỉ mang tính chất giới thiệu, nhưng tác giả đã nêu được ý nghĩa của thiên nhiên

khi thể hiện cái nhìn của Mark Twain về xã hội công nghiệp.

Một tác giả khác là Lê Huy Bắc trong cuốn Văn học Mĩ, NXB Đại học Sư phạm 2002

đã dành hẳn chương hai viết về Mark Twain. Không gian trong Những cuộc phiêu lưu của

Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn chỉ được nhắc đến như là

“không gian tồn tại” của các nhân vật. Và sau khi phân tích các sự kiện trả thù, rượt đuổi

mà Huck và Jim tình cờ được chứng kiến trong hành trình của mình, tác giả Lê Huy Bắc kết

luận :

Thế giới của Tom và Huck càng hoang sơ bao nhiêu thì càng dễ nổ ra bạo lực khốc

hại bấy nhiêu. [5, tr.195].

Như vậy nét hoang sơ của thiên nhiên hai bên bờ dòng Mississippi được gắn với “thế

giới bạo lực” chứ không được nhìn nhận như một sự “về nguồn” để phản đối xã hội công

nghiệp.

Khi xem xét thiên nhiên như là không gian sống và hành động của các nhân vật trong

sáng tác của Mark Twain, các nhà nhiên cứu dù chỉ nhắc đến hay có lí giải thì đều chú ý đến

nét hoang sơ của nó. Đây cũng chính là điều chúng tôi chúng tôi sẽ trình bày kĩ trong

chương hai của luận văn. Tuy nhiên chúng tôi sẽ xem xét nó trong mối quan hệ với thể loại

phiêu lưu cũng như với quan niệm của Mark Twain về thời đại.

3.2. Thiên nhiên như là bản chất

Về ý nghĩa thứ hai này của thiên nhiên, bài viết của tác giả Lionel Trilling khi giới

thiệu cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn mà chúng tôi đã nói đến ở phần

trên có đề cập đến vai trò của dòng sông trong việc dẫn dắt những suy nghĩ và hành động

của Huck. Theo tác giả, chính dòng sông khiến cuốn sách này trở thành một tuyệt tác :

“Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn” là một tuyệt tác bởi nó kể về một vị

thần – đó là sức mạnh với ý chí dẫn đường, và đối với con người, là hiện thân của ý

niệm đạo đức vĩ đại. [74, tr.7].

Nhân vật Huck Finn, vì vậy được Lionel Trilling nhìn nhận như một “đầy tớ” của

“thần sông”. Điều này, nhắc đến ảnh hưởng của thuyết Siêu nghiệm lên cách nhìn thiên

nhiên của Mark Twain. Thiên nhiên có vai trò dẫn dắt trực giác và nhờ nó con người có thể

đến với chân lí. Bài viết đã chỉ ra những trạng thái khác nhau của dòng sông và “tâm trạng

khuây khỏa” cùng “lòng biết ơn” của Huck mỗi khi quay lại dòng sông sau mỗi chuyến vào

đất liền, để từ đó khẳng định vai trò của thiên nhiên trong việc dẫn dắt nhận thức của Huck

trước các vấn đề xã hội.

Tuy nhiên hành trình của Huck và Jim còn gắn với một hình ảnh thiên nhiên khác

cũng trở đi trở lại trong tác phẩm dù ít lần hơn dòng sông, mà Lionel Trilling chưa chú ý

đến. Đó chính là khu rừng, nơi mà Huck nghĩ đến đầu tiên mỗi khi cảm thấy buồn bực; là

không gian bình yên có tác dụng che chở, an ủi nhân vật. Chúng tôi sẽ nói kĩ hơn điều này

trong chương hai của luận văn.

Cũng trong bài giới thiệu này, tác giả Lionel Trilling đã nhắc đến “bản chất đạo

đức” của nhân vật Huck Finn sau khi điểm qua nhiều hành động của Huck; từ việc tìm

người cứu bọn cướp trên chiếc tàu sắp đắm đến việc cảnh báo cho Đức Vua và Quận Công

những tai họa… đặc biệt là quyết định cứu Jim sau những đấu tranh nội tâm :

…Và tính quả cảm dần hình thành khi dưới sự thúc giục của cảm xúc, Huck bỏ qua

những qui luật đạo đức vốn được xem là mặc nhiên và quyết tâm giúp Jim trốn chạy

khỏi kiếp nô lệ… và ngay khi quyết định đi theo lương tri mách bảo và nói cho Jim

biết, Huck đã lấy được những tình cảm hài lòng và nồng ấm của đức hạnh [74, tr.12].

Chúng tôi, trong chương ba của luận văn sẽ xem xét vấn đề thiên nhiên như là bản

chất thuần phác của các nhân vật mà trong đó vấn đề lương tâm, đạo đức trên chỉ là một

khía cạnh.

Vấn đề Thiên nhiên - bản chất cũng được Beernard Noel và Stanley Geist nhắc đến

trong Dictionnaire des personnages, Laffont Bompaini – Paris khi nhận xét về hai nhân vật

Tom Sawyer và Huck Finn. Theo Beernard Noel, Tom

là đứa trẻ có ý thức bẩm sinh về những giá trị chân thực của cộng đồng nên đã trở

thành người thích làm sáng tỏ và khôi phục công lí. Dù em chơi trò Robin Hood hay

đi tìm của chôn dấu, em luôn chọc ngang vào các công việc của người đời để khôi

phục lại cái trật tự mà lương tri và lí trí của những người lớn không duy trì được.

[46, tr.67].

Và đây là nhận xét của Stanley Geist về nhân vật Huck Finn :

… xa lạ với những tín ngưỡng và tập quán của nền văn minh. Huck chỉ thấy thân

thiết gắn bó với các lực lượng tự nhiên và những điều huyền bí ẩn dấu trong tự

nhiên. Hoài nghi trước những cảnh tượng đời sống của những con người văn minh,

Huck nói về cuộc sống ấy như thể chú bị ngăn cách bởi một bức tường thủy tinh

trong suốt. [46, tr.69].

Cả hai tác giả đã nhắc đến bản chất thuần phác trong các nhân vật của Mark Twain.

Bản chất ấy bộc lộ trong các trò phiêu lưu trẻ con của Tom; còn đối với Huck, nó bộc lộ

thông qua những suy nghĩ và hành động trong suốt cuộc hành trình về với thiên nhiên. Điều

này nhắc đến cái nhìn triết lí về thiên nhiên của Mark Twain mà chúng tôi sẽ lí giải ở

chương ba của luận văn.

Về vấn đề thiên nhiên như là bản chất trong sáng tác của Mark Twain, các nhà

nghiên cứu trong nước dường như chưa thật sự quan tâm. Nó thường chỉ được nhắc đến mà

chưa chú ý lí giải. Tác giả Lê Hồng Sâm, năm 1988, trong lời giới thiệu cuốn Những cuộc

phiêu lưu của Tom Sawyer, có nhắc đến sự chống đối “có tính chất bản năng” của nhân vật

khi phân tích giá trị phê phán xã hội của tác phẩm thông qua những hành động nghịch ngợm

của Tom ở nhà thờ và trường học. Lê Huy Bắc thì lại đánh giá việc Huck cứu Jim là “hành

động theo lương tri, theo bản chất của con người.” [5, tr.187]. Do đó “Hành trình đơn độc

đưa Jim chạy trốn của Huck là hành trình mang tính cách mạng nhất trong tư duy của một

người da trắng.” [5, tr.193].

Như vậy cái bản chất mà Lê Huy Bắc nhắc đến nghiêng về ý thức, về lí trí nhiều hơn

sự thuần phác mà chúng tôi muốn nói đến khi tìm hiểu các nhân vật trong chương thứ ba.

Cho đến nay, theo chúng tôi, tác giả Đào Ngọc Chương là người đã có những chú ý

về vấn đề này. Trong bài viết “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”- nhân vật

người kể chuyện và hành trình của thời đại” mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên, tác giả đã chỉ

ra một ý nghĩa mới mẻ là “đi tìm bản sắc dân tộc” trong hành trình hướng về thiên nhiên

của Huck và Jim. Bản chất thuần phác của các nhân vật có thể xem như một phần trong bản

sắc ấy. Sau này, như một sự nhân tiện khi bàn về yếu tố phiêu lưu trong đặc điểm kết cấu -

cốt truyện tiểu thuyết của Hemingway, Đào Ngọc Chương đã nhắc đến Mark Twain:

Kiệt tác “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”của Mark Twain ở nửa sau

thế kỉ XIX là một trường hợp đặc biệt vừa kết hợp cảm quan về một thiên nhiên khoáng đạt

như là cái nôi của con người đầy chất tư tưởng với cảm quan về một hiện thực xã hội Mĩ

đang sống trong thứ văn hóa Thanh giáo đầy chất giáo điều. [13, tr.139].

Khi nhắc đến vấn đề tư tưởng và tinh thần trong tiểu thuyết phiêu lưu Mĩ, mà trong

đó các hình ảnh thiên nhiên chứa đựng những ý nghĩa tượng trưng đặc biệt, ý kiến nói trên

của Đào Ngọc Chương đã mở ra một hướng cần thiết để có thể lí giải vấn đề thiên nhiên –

bản chất trong tiểu thuyết của Mark Twain.

Trên đây là các ý kiến, kiến giải của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về các

phương diện mà chúng tôi quan tâm trong sáng tác của Mark Twain. Dĩ nhiên việc tổng

thuật không thể nào đầy đủ nhưng chắc rằng đã phác họa được những nét chính của các vấn

đề một cách nghiêm túc và trung thực. Điều rõ ràng là có rất nhiều hướng tiếp cận sáng tác

của Mark Twain mà hướng nào cũng nhằm khám phá thế giới nghệ thuật của ông.

Tuy vậy, chưa có công trình nào thực sự đi sâu vào khảo sát, lí giải vấn đề thiên

nhiên trong tiểu thuyết của Mark Twain một cách có hệ thống theo hai ý nghĩa tự nhiên và

bản chất. Hướng đi này, theo chúng tôi, sẽ mở ra một cách nhìn nhận mới về chủ nghĩa hiện

thực và tiểu thuyết phiêu lưu Mĩ trong hai sáng tác đỉnh cao của Mark Twain.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Trong các sáng tác của Mark Twain, ta thấy trở đi trở lại những hình ảnh của

vùng sông nước biên giới phiá Tây gắn với dòng Mississipi hùng vĩ. Điều này có mối quan

hệ với cuộc đời ông, nhất là trong thời kì tuổi thơ và những ngày tháng tuổi trẻ say mê học

việc lái tàu. Trong trường hợp này, phương pháp nghiên cứu tiểu sử tác giả được coi là cần

thiết khi chúng tôi tiến hành lí giải vấn đề cụ thể là thiên nhiên trong tác phẩm của Mark

Twain.

4.2. Nếu không gắn các tác phẩm của Mark Twain với bối cảnh ra đời của chúng là

Nước Mĩ thế kỉ XIX khi mà sự quan tâm đến nền văn hóa nông nghiệp như là một phản ứng

của thời đại thì sẽ không thể lí giải đầy đủ ý nghiã của các hình ảnh thiên nhiên. Do đó, từ

đây phương pháp nghiên cứu xã hội học có lúc sẽ được chúng tôi vận dụng đến để tìm hiểu

ý nghĩa biểu trưng của thiên nhiên trong sáng tác của Mark Twain.

4.3. Mặc dù trong trong hai cuốn tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer

và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn có cùng bối cảnh là sông nước miền biên

giới phía Tây, các nhân vật thì trở đi trở lại trong cả hai tác phẩm nhưng chúng ra đời cách

nhau tám năm và chứa đựng những ý nghiã cũng không hoàn toàn giống nhau mà có sự phát

triển. Vì thế khảo sát thiên nhiên trong hai tác phẩm ấy, chúng tôi còn vận dụng phương

pháp so sánh đối chiếu để tìm ra sự phát triển của các ý nghiã chứa đựng trong hình ảnh

thiên nhiên.

4.4. Các hình ảnh thiên nhiên chỉ được xác định là có chứa đựng những ý nghiã sâu

rộng hơn ý nghĩa thông thường khi chúng xuất hiện liên tục trong tác phẩm. Chính vì vậy

mà chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp thống kê để khảo sát tần số xuất hiện của các hình

ảnh thiên nhiên cụ thể nhằm lí giải ý nghiã của thiên nhiên nói chung trong sáng tác của

Mark Twain.

Trên đây là những phương pháp nghiên cứu chính mà chúng tôi sẽ vận dụng trong

quá trình khảo sát thiên nhiên trong tiểu thuyết của Mark Twain. Dĩ nhiên trong trường hợp

thật cần thiết chúng tôi sẽ vận dụng thêm những phương pháp hỗ trợ khác.

5. Mục đích nghiên cứu

Khảo sát vấn đề thiên nhiên trong tiểu thuyết của Mark Twain, chúng tôi trước hết

hướng tới lí giải một vấn đề cụ thể mang ý nghĩa thẩm mĩ, xã hội và triết học mà nhà văn

thể hiện như một thành công của dòng văn học mang tính chất miền rất đặc trưng trong văn

học Mĩ thế kỉ XIX.

Đồng thời, khi lí giải vấn đề trong phạm vi cụ thể ấy, chúng tôi cũng muốn khẳng

định những đóng góp hết sức cơ bản của Mark Twain cho nền văn xuôi hiện thực Mĩ , cũng

như góp thêm một ý kiến vào việc nghiên cứu và giảng dạy các sáng tác của Mark Twain.

6. Bố cục luận văn

Luận văn gồm 3 phần chính : Phần mở đầu, Phần nội dung có ba chương và Phần kết

luận

6.1. Mở đầu

Trong phần này, chúng tôi khẳng định sự cần thiết của đề tài thông qua việc nêu lí do

chọn đề tài, trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, bố cục của

luận văn.

Trong mục Lịch sử vấn đề chúng tôi tổng thuật những kiến giải của các nhà nghiên

cứu viết về hai phương diện của thiên nhiên trong hai tiểu thuyết quan trọng của Mark

Twain. Từ đó, chúng tôi xác định cụ thể đề tài nghiên cứu của mình.

Riêng trong mục Phương pháp nghiên cứu, chúng tôi không chỉ liệt kê các phương

pháp được vận dụng trong luận văn mà còn chỉ ra ý nghĩa cần thiết của các phương pháp ấy

trong việc triển khai đề tài

6.2. Chương 1 : Thiên nhiên trong văn học

Chương này chúng tôi lí giải hai ý nghĩa của thiên nhiên là tự nhiên và bản chất.

Đồng thời sẽ làm sáng tỏ chúng thông qua một số dẫn chứng cụ thể trong một số tác phẩm

văn chương thế giới. Tiếp theo chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu vấn đề thiên nhiên trong văn học

Mĩ thế kỉ XIX để từ đó chỉ ra những nét kế thừa và phát triển của Mark Twain khi miêu tả

thiên nhiên. Đây sẽ là chương có vị trí nền tảng để từ đó khảo sát các nội dung trong hai

chương sau.

6.3. Chương 2 : Thiên nhiên như là tự nhiên – không gian phiêu lưu

Đây là chương mà chúng tôi sẽ khảo sát các hình ảnh thiên nhiên cụ thể trong hai tiểu

thuyết của Mark Twain là Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu

của Huck Finn với ý nghĩa là không gian sống và hành động của các nhân vật. Các hình ảnh

thiên nhiên sẽ được chúng tôi tìm hiểu trong mối quan hệ với tiểu thuyết phiêu lưu và chủ

nghĩa hiện thực Mĩ. Từ đó, chúng tôi hướng đến việc làm rõ cách nhìn của nhà văn đối với

xã hội công nghiệp.

6.4. Chương 3 : Thiên nhiên như là bản chất – sự thuần phác của các nhân

vật

Chúng tôi sẽ lí giải một ý nghĩa khác của thiên nhiên ở chương này. Đó là bản chất

thuần phác của con người được biểu hiện qua thái độ đối với những chuẩn mực xã hội; qua

suy nghĩ và hành động, qua cách xử lí tình huống của các nhân vật Tom Sawyer, Huck Finn

trong các cuộc phiêu lưu. Vấn đề bản chất thuần phác cũng sẽ được tìm hiểu để có thể làm

sáng tỏ được quan niệm của Mark Twain về con người, về xã hội đương thời thông qua thái

độ đề cao sự thuần phác trong bản chất các nhân vật của nhà văn.

6.5. Phần kết luận

Trong phần này chúng tôi tổng kết những ý kiến của luận văn. Từ đó khẳng một

cách nhìn đối với các tác phẩm của Mark Twain.

Chương 1

THIÊN NHIÊN TRONG VĂN HỌC

1.1. Thiên nhiên - đối tượng miêu tả của văn chương

Khái niệm Thiên nhiên (nature) vốn chứa nhiều nội dung phong phú; trong đó hai ý

nghĩa thường được nhắc đến nhiều nhất là : tự nhiên và bản chất. Về ý nghiã thứ nhất, Từ

điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, NXB Khoa học học xã hội, Hà Nội – 1977 định nghiã

:

Thiên nhiên (tự nhiên) là toàn bộ những vật tồn tại ở chung quanh con người và

không phải do sức người làm nên.

Còn trong Oxford Advanced Learner’s Dictionary, 7th edition – 2006 ngoài ý nghĩa

thứ nhất giống như trên còn đưa ra ý nghĩa thứ hai của nature như sau :

Use to describe behavious that is part of the character that a person or an animal

was born with.

Do đó cũng dễ hiểu khi Thiên nhiên trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành

khoa học từ điạ lí, sinh học đến triết học, xã hội học… Mỗi ngành sẽ tìm hiểu, nghiên cứu

Thiên nhiên từ những góc độ, những quan điểm khác nhau. Thành quả của các nghiên cứu

ấy ngày càng khẳng định vai trò, ảnh hưởng to lớn của thiên nhiên với toàn bộ đời sống trên

trái đất.

Trong văn học, khi bước vào tác phẩm, thiên nhiên trở thành một thành tố đặc biệt,

hàm chứa những ý nghĩa sâu sắc thường góp phần tạo hiện tượng đa nghĩa. Nói cách khác,

trong tác phẩm văn chương thiên nhiên một mặt đã được nâng lên thành hình tượng không

gian – thứ không gian mang nghĩa không gian tâm trạng… Mặt khác trở thành những biểu

hiện của bản chất người nơi nhân vật.

Trong tác phẩm văn chương thiên nhiên luôn luôn tồn tại như những “không gian

thực” mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ nơi nào trong vũ trụ này; đồng thời nhiều khi nó đạt đến

mức biểu tượng, chứa đựng những ý nghiã sâu xa, khái quát. Trong văn chương thế giới từ

cổ đại cho đến đương đại, từ phương Đông sang phương Tây, thiên nhiên luôn tồn tại song

hành cùng các nhân vật. Những hình ảnh thiên nhiên cụ thể xuất hiện trong các tác phẩm

văn chương (đặc biệt là tác phẩm tự sự) có vai trò quan trọng trong việc thể hiện hành động,

tư tưởng tình cảm của nhân vật. Việc miêu tả thiên nhiên trong những trường hợp này chính

là tạo ra bối cảnh cho câu chuyện diễn tiến. Có thể nói yếu tố thiên nhiên là “vật liệu” không

thể thiếu trong quá trình sáng tác văn chương của các tác giả. Tuy nhiên có thể biến thiên

nhiên thành những hình tượng đa chiều, giàu sức biểu hiện hay không thì còn tùy thuộc vào

điểm nhìn, vào cảm quan, vào năng lực… của từng tác giả, vào cấu trúc văn bản, vào đặc

điểm của từng thể loại văn học…

Bên cạnh đó, sự song hành của yếu tố thiên nhiên với các nhân vật trong tác phẩm

văn chương còn chứa đựng một nội hàm nữa. Đó chính là sự thể hiện bản chất tự nhiên của

con người. Khi để nhân vật gần gũi với thiên nhiên, suy nghĩ và hành động theo trực giác là

các tác giả muốn khắc hoạ bản chất thuần phác của nhân vật. Ý nghĩa này của thiên nhiên

trong các tác phẩm văn chương có nguồn gốc từ những đặc điểm lịch sử – xã hội – văn hoá

cụ thể mà chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn trong mục 1.1.2 - Thiên nhiên như là bản chất,

ở phần sau.

Tiếp theo, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu những biểu hiện hai ý nghĩa trên của thiên

nhiên trong một số tác phẩm văn chương cụ thể.

1.1.1. Thiên nhiên như là tự nhiên

Về ý nghiã này, khái niệm thiên nhiên trùng khớp với khái niệm không gian tự nhiên

quen thuộc. Khi được hiểu là không gian, thì thiên nhiên

gắn không tách rời với thời gian, vừa là nơi chứa đựng những gì có thể xảy ra – theo

ý nghiã đó, nó tượng trưng cho trạng thái hỗn mang của các gốc nguồn – vừa là nơi

chứa đựng những gì đã thực hiện – khi đó nó tượng trưng cho vũ trụ, cho thế giới đã

được tổ chức. [8, tr.486].

Như vậy một khu rừng, một dòng sông, một ngọn núi… đều là không gian tự nhiên

hiện thực, đều thuộc về thiên nhiên, về vũ trụ. Vì không gian hiện thực là cơ sở làm nảy sinh

nhận thức, cảm nhận về không gian của các tác giả nên trong tác phẩm văn chương chúng

được biểu hiện hết sức đa dạng, phong phú. Dưới ngòi bút miêu tả của các nhà văn, thiên

nhiên hiện ra có khi rất cụ thể, chân thực; có khi lung linh, huyền ảo, sâu lắng. Tìm hiểu một

cách chi tiết, đầy đủ tất cả những biểu hiện như thế của thiên nhiên quả thật không dễ dàng

gì. Do đó, với mục đích xây dựng cơ sở lí luận và thực tế cho nội dung chương hai của luận

văn (Thiên nhiên như là tự nhiên – không gian phiêu lưu) chúng tôi, ở đây sẽ chỉ nói về hai

biểu hiện của hình tượng thiên nhiên: Thiên nhiên – không gian sống và hành động, Thiên

nhiên – không gian nội tâm, mà theo chúng tôi là khá phổ biến trong các tác phẩm văn

chương.

1.1.1.1. Thiên nhiên – không gian sống và hành động

Đây là dạng tồn tại phổ biến, quen thuộc của thiên nhiên trong văn học. Khi nhìn

nhận thiên nhiên như là không gian sống và hành động của các nhân vật trong một tác phẩm

văn chương là chúng ta đang nói đến lớp nghĩa đầu tiên của hình tượng thiên nhiên. Ẩn sau

các hình ảnh thiên nhiên còn có thể có nhiều ý nghĩa khác nữa xa hơn, rộng hơn bản thân

chúng, nhưng thiên nhiên trước tiên được hiểu là bối cảnh cuả câu chuyện gắn liền với mọi

hoạt động của các nhân vật. Thông qua việc miêu tả các bối cảnh khác nhau, chúng ta còn

có thể hiểu được quan niệm về thiên nhiên của các tác giả cũng rất khác nhau từ Đông sang

Tây, từ cổ chí kim.

Với ý nghiã này, thiên nhiên đã xuất hiện trong sử thi Homer, mặc dù tác giả chỉ tập

trung miêu tả hành động của các nhân vật anh hùng theo đúng đặc trưng của thể loại sử thi.

Trong Iliad, dù tác giả không trực tiếp miêu tả nhưng chúng ta vẫn nhận ra những nét riêng

của không gian khi theo dõi hoạt động của các nhân vật. Đó là cảnh bình minh khi mà hai

bên giao tranh tạm ngưng chiến để nhặt xác người chết :

Trên đồng rộng mặt trời vừa tỏa sáng,

Vượt ra khỏi đại dương sâu phẳng lặng

Để băng mình lên bát ngát trời cao,

Thì người Tơ-roa và người Ac-gôx gặp nhau.

Và ở đó khó có thể nhận ra từng kẻ một.

Họ lấy nước rửa lớp bùn máu còn bê bết,

Và lệ tuôn trào, chất xác chết lên xe…

[31, (1), tr.222].

Hay cảnh đêm yên tĩnh trước một trận đánh khác :

Quân Tơ-roa đốt bùng lên bao ngọn lửa hồng trước thành quách I-li-ông

Nghìn đống lửa sáng trưng cháy giữa cánh đồng,

Cạnh mỗi đống, năm chục người ngồi châu bên ánh rọi,

Và lũ ngựa nhai đại mạch trắng và lúa mì dai chờ đợi,…

[31, (1), tr.249 – 250].

Có thể nói trong Iliad, song hành với những trận đánh ác liệt, những người anh hùng

là không gian chiến trận rộng lớn với thành quách, cánh đồng…

Sang đến Odyssey, cùng với hành trình hồi hương gian nan của Ulysses, không gian

mở rộng hơn nhiều và Homer cũng chú ý miêu tả thiên nhiên chi tiết hơn. Khác với Achilles

– chiến binh, Ulysses – kẻ hải hồ phải vượt qua vô số thử thách trên hải trình dài mười năm

của mình. Do đó không gian biển cả có thể nói bao trùm tác phẩm. Khi Ulysses bỏ qua lời

cảnh báo của nữ thần Calypso, đóng bè vượt biển, Homer đã miêu tả cảnh bão tố trên biển

rất thực:

… một ngọn sóng cao ngất, khủng khiếp, xông tới, xô vào người và lật úp chiếc bè.

Người bị hất khỏi bè, phải buông rời tay lái. Cột buồm bị mọi thứ gió cùng hợp lực

đánh vào dữ dội, bẻ gãy làm đôi, tung các mảnh ra xa, sàn bè cũng rơi chìm xuống

bể. [32, tr.38].

Và khi Ulysses cố bơi đến chiếc bè, trèo lên đó thì :

Những ngọn sóng khổng lồ liền đẩy chiếc bè khắp chốn, lắc lư theo dòng nước. Như

những cây gai mắc chằng vào nhau thành một bó bị gío bắc mùa thu quét đi khắp

cánh đồng, chiếc bè cũng bị gió đẩy đi đó đây trên mặt biển, khi thì gió nam trao cho

gió bắc, khi thì gió đông lại nhường cho gió tây đuổi. [32, tr.39].

Tất nhiên, thiên nhiên ở đây không chỉ là không gian mà nó còn là hiện thân của thử

thách mà hành động vùng vẫy chống chọi của người anh hùng “muôn vàn trí xảo” chính là

tinh thần, là khát vọng chinh phục thiên nhiên của người Hy Lạp nói riêng và của người

phương Tây nói chung. Sau khi bước ra khỏi những cuộc chinh chiến, con người bước vào

thời kì xây dựng với khát vọng ấy. Do đó theo bước chân của Ulysses là những không gian

khác nhau biểu thị sự phát triển khác nhau của nhiều vùng đất. Có khi là vùng đất phát triển

với những lâu đài tráng lệ, những vườn cây xanh tốt :

Trong khi ấy, Ulysses đi về phía lâu đài nổi tiếng của Ankinoos. Trước khi đặt bước

lên ngưỡng của đồng, người dừng lại, lòng rối bời vì bao nhiêu ý nghĩ. Ngôi nhà cao

của Akinoos hào hiệp sáng rực như ánh mặt trời hoặc ánh trăng đêm. Từ ngưỡng

cửa đến cuối nhà, hai bên tả hữu đều là tường đồng, trên có đường diềm bằng men

xanh. Nhà chắc chắn, cửa bằng vàng, bậu cửa bằng bạc, đóng vào ngưỡng cửa

đồng. Mi cửa cũng bằng bạc, và vòng cửa bằng vàng… Xa hơn một quãng là vườn

nho xanh tốt; bên phía vườn dại nắng và bằng phẳng, nho đang phơi dưới ánh mặt

trời, còn ở phía vườn kia, từng tốp thợ gặt, kẻ hái, người đạp nho rộn rã… [32, tr.56

– 57].

Nhưng cũng có khi lại là hang động trên núi cao của gã khổng lồ một mắt, hay hòn

đảo hoang vắng “không có một vết chân người khiến dê phải sợ” tượng trưng cho sự lạc

hậu của một vùng đất khác…

Vẫn xem xét ý nghĩa này, khi tìm hiểu các sử thi nổi tiếng của Ấn Độ, chúng ta sẽ

thấy có một sự khác biệt trong cách nhìn thiên nhiên. Khác với tinh thần khát khao chinh

phục thiên nhiên của phương Tây, người phương Đông sống hòa đồng với thiên nhiên, coi

con người là một phần của thiên nhiên. Do đó, trong Mahabharata, không gian núi rừng

thâm sâu mà các anh hùng Pandava sống mười hai năm lưu đầy, rất chú trọng được miêu tả.

Khu rừng mà Arjuna bước vào để bắt đầu thực hành tu luyện quả thực tuyện đẹp :

Chàng một mình dấn bước vào khu rừng khủng khiếp đầy cỏ gai, cây, hoa, trái đủ

loại, đủ loại sinh vật có cánh, đủ loại muông thú. Khi chàng bắt đầu bước vào khu

rừng không một dấu chân người đó, trên không vang rền tiếng trống, tiếng tù và. Một

cơn mưa xối xả và những đám mây lớn trùm khắp bầu trời làm mặt đất đột nhiên rợp

mát. . . Trên núi muôn ngàn loài cây cối xanh tươi giữa những thảm cỏ xanh, vang

lừng tiếng muôn loài chim ca hát. Những dòng sông uốn lượn, vang tiếng lảnh lót

của vịt nước, thiên nga, cò hạc… Trên bờ sông, tiếng những con chim công ngọt

ngào như rót mật vào tai. [28, tr.218].

Bên cảnh vẻ đẹp nên thơ, nguyên sơ của không gian rừng núi, thiên nhiên ở đây còn

mang ý nghĩa giác ngộ tâm linh. Hòa hợp với thiên nhiên con người sẽ tìm được bản ngã

của mình, sẽ trưởng thành và ngộ ra chân lí. Không gian này vì thế đối lập với không gian

kinh đô do con người tạo nên cũng được miêu tả khá chi tiết trong sử thi Mahabharata. Đối

lập, bởi lẽ con người sẽ trở thành nô lệ của dục vọng, của lòng tham trong chính những lâu

đài nguy nga tráng lệ kia.

Sử thi An Độ, bên cạnh Mahabharata, không thể không nhắc đến Ramayana. Thiên

nhiên trong Ramayana xuất hiện nhiều hơn và đặc sắc hơn. Tuy nhiên ý nghĩa là không

gian sống và hành động của nhân vật dường như mờ nhạt hơn ý nghĩa Thiên nhiên – không

gian nội tâm. Do đó chúng tôi sẽ nói về thiên nhiên trong sử thi Ramayana ở phần sau.

Khi tìm hiểu thiên nhiên như là không gian sống và hành động của các nhân vật trong

tác phẩm văn chương, chúng ta còn khám phá được những nét vừa riêng biệt vừa tiêu biểu

của thiên nhiên ở những quốc gia khác nhau. Những bức tranh phong cảnh các mùa trong

năm; hình ảnh một ngọn núi, một dòng sông… thường được các nhà văn miêu tả hết sức chi

tiết và sống động. Đó chính là những không gian mở thường rất rộng rãi, khoáng đạt. Thông

qua kiểu không gian ấy chúng ta còn có thể hiểu được phần nào phong cách của từng nhà

văn. Cảnh vật mùa xuân qua ngòi bút của Lev Tolstoy, hồi sinh mạnh mẽ, tràn đầy sức sống

và rất Nga:

Cỏ già năm ngoái xanh tốt lại, cỏ non năm nay như kim đâm tủa trên mặt đất; những

chồi cây tuyết cầu, phúc bồn tử và bạch dương dính nháp, sực nức mùi hương, đều

căng nhựa và quanh rặng liễu tắm nắng vàng tươi, đàn ong bị nhốt suốt mùa đông

trong túp lều bằng cành cây, lại thoát ra, vo ve bay lộn. Chim sơn ca không ai trông

thấy tuôn tiếng hót trên đồng cỏ nhung tơ và ruộng rạ phủ băng, chim te te than vãn

bên bờ những thung lũng và bãi lầy ngập nước lũ còn ứ đọng; tít trên cao, sếu và

ngỗng trời bay qua cất tiếng kêu mừng mùa xuân. Đàn súc vật trụi lông mới loáng

thoáng mọc lại, rống lên chạy trên bãi cỏ, cừu non chân cẳng leo khoeo nhảy lon ton

quanh đàn cừu mẹ đã gọt lông đang kêu be be; trẻ con thoăn thoắt chạy dọc những

con đường nhỏ đang se dần vết chân không của chúng, tiếng phụ nữ rộn lên vui vẻ

bên bờ đầm nơi họ đang giặt vải và tiếng rìu của nông dân đang chữa lại cày bừa,

vang vang trong các sân nhà. Mùa xuân thật sự đã về. [57, tr.268].

Còn với Yasunari Kawabata, cảnh vật mùa xuân ở cố đô Kioto cũng hồi sinh nhưng

tĩnh lặng, êm ả hơn nhiều.

Họ xuôi lối mòn lại gần hồ. Ngay sát bờ, đám lá nhọn đuôi diều tươi lên mơn

mởn, còn loài hoa súng thì khẽ đung đưa êm ả, trải rộng trên mặt nước những chiếc

lá tròn trĩnh. Gần hồ anh đào không mọc.

Vòng qua hồ, Sinichi và Chieko ra tới con đường hẹp. Nơi đây, dưới tán lá

xanh ngự trị cảnh tranh tối tranh sáng. Mùi lá non và đất ẩm phảng phất. Phút chốc

con đường đã dẫn họ tới một khu vườn rộng có hồ ở giữa. Hồ lớn hơn cái hồ mà họ

vừa đi qua. Cảnh vật vụt trở nên sáng sủa nhờ những cây anh đào đầy hoa in bóng

trên mặt nước hồ. [36, tr.19].

Không thể phủ nhận là cả Lev Tolstoy và Yasunari Kawabata đều có biệt tài miêu tả

thiên nhiên. Họ giống nhau ở chỗ đều gắn bó với thiên nhiên, yêu thiên nhiên và cảm nhận

thiên nhiên hết sức tinh tế. Tolstoy từng sống nhiều năm tại trại ấp của mình, thân thuộc với

những cánh đồng bát ngát, những người nông dân chất phác. Còn Kawabata thì đặc biệt yêu

quí Kioto, ông luôn coi nơi đây như quê hương của mình. Tuy vậy quan điểm của hai ông

về thiên nhiên thì không hoàn toàn giống nhau. Tolsoy cho rằng vẻ đẹp của thiên nhiên là ở

chỗ nó có thực, mang nhiều sắc thái khác nhau và chứa đựng sức sống mạnh mẽ. Do đó ông

thường miêu tả thiên nhiên rất thực và rất chi tiết. Còn Kawabata, với quan điểm duy mĩ đã

chú trọng vào những nét đẹp tiêu biểu của thiên nhiên. Các không gian mà Kawabata miêu

tả không chỉ là những bức tranh mang đậm màu sắc Nhật Bản mà còn phảng phất trong đó

quan niệm Thần đạo (Shinto) rất quen thuộc của người dân xứ Phù Tang.

Thiên nhiên như là tự nhiên ấy tiếp tục tồn tại trong tác phẩm văn chương đương đại.

Dẫu tác giả có đưa vào nó những hàm nghĩa mới mẻ, những mối quan hệ mới mẻ (ví dụ

trong các tác phẩm hậu hiện đại) thì nó vẫn thế : thiên nhiên – tự nhiên.

Như vậy, chúng tôi vừa nói đến ý nghĩa đầu tiên cũng là ý nghĩa phổ biến nhất của

thiên nhiên trong tác phẩm văn chương : thiên nhiên như là tự nhiên được hiểu là môi

trường hành động của nhân vật. Bây giờ chúng tôi sẽ nói đến ý nghĩa thứ hai của thiên

nhiên. Đó là không gian nội tâm.

1.1.1.2. Thiên nhiên – không gian nội tâm

Mọi hình ảnh thiên nhiên đều mang ý nghĩa là không gian sống và hành động của

nhân vật nhưng không phải tất cả các không gian trong tác phẩm văn chương đều có thể là

không gian nội tâm. Thiên nhiên chỉ trở thành không gian nội tâm khi các nhà văn dùng việc

miêu tả thiên nhiên như là một phương tiện để diễn tả những những trạng thái tinh thần

phức tạp của con người. Tất nhiên không phải vì bất lực trong việc diễn tả tâm lí mà nhà văn

phải dùng đến cách này. Nhưng quả thật, một bức tranh thiên nhiên xuất hiện đúng lúc tỏ ra

rất đắc địa trong việc thể hiện những rung động của lòng người và với độc giả, nó cũng

giúp sự cảm nhận tự nhiên hơn, dễ dàng hơn.

Trong văn học phương Đông, từ xưa, tả cảnh ngụ tình được coi là một bút pháp quen

thuộc. Như trên chúng tôi đã nói, sử thi “Ramayana” của An Độ có thể coi là một dẫn

chứng tiêu biểu. Thiên nhiên trong “Ramayana” được miêu tả với dung lượng nhiều và rất

chi tiết. Trong suốt cuộc lưu đầy mười bốn năm của hoàng tử Rama, mỗi khi buồn bã, nhớ

mong hay đau khổ, các nhân vật đều tìm đến với thiên nhiên. Đây là cảnh hồ Pampa, vào

mùa xuân :

… nước hồ sao mà trong vắt như pha lê, có gì khác chất ngọc lỏng trên nước da màu

lơ? Những bông sen đỏ rộ nở mới nhiều làm sao! Những rặng cây viền quanh bờ mới

duyên dáng chưa! Và những cây cối cành lá sum xuê nom mới giống các đỉnh đồi

làm sao!...

… bây giờ là mùa xuân, mùa của tình yêu. Xem, ngọn gió dịu dàng đang nhẹ thổi,

hoa đang nở rộ, và rừng ngào ngạt hương hoa. Trông kìa! Trông những cây nở hoa

đang trút trận mưa hoa có khác gì những giọt mưa từ trên trời đổ xuống…

… Mùa xuân, như lửa, đang thiêu đốt anh đến là khổ – hoa Ashoka đỏ là than hồng,

tiếng vo ve của đàn ong là tiếng lửa vèo vèo, và lá màu đồng thau là ngọn lửa!... [68,

(2), tr.5 – 6].

Thiên nhiên khi nên thơ, đẹp đẽ làm dịu lòng người; khi tràn đầy hương hoa, tương

phản với cảnh ngộ như trêu tức nhân vật; lúc rực rỡ, chói chang thiêu đốt lòng những kẻ yêu

nhau đang phải cách xa. Các sắc thái khác nhau của thiên nhiên rõ ràng đã có tác dụng rất

đáng kể khi thể hiện những diễn biến tình cảm trong nội tâm nhân vật. Không gian rừng núi

đã trở thành không gian nội tâm. Khi ấy thiên nhiên chính là cánh cửa mở vào tâm hồn

nhân vật.

Các tác giả phương Tây cũng thông qua thiên nhiên để diễn tả nội tâm nhân vật. Với

Lev Tolstoy, đó là một phương tiện hữu hiệu để gợi nên “vô số” những ý nghĩa sâu xa mà

một tác phẩm văn chương có thể chứa đựng. Trong tiểu thuyết Anna Karenina, trên sân ga

xe lửa, khi Anna gặp lại Vrolski, cơn bão tuyết “điên cuồng như không gì cản được” mà

nhà văn miêu tả khá chi tiết chính là để nói về cơn giông tố trong cõi lòng Anna lúc đó.

Nàng vừa vui sướng vừa kinh hoàng khi nghe Vrolski nói chàng rời Mạc-tư-khoa cùng nàng

là để “có mặt ở chỗ nào có bà”. Cơn bão tuyết vì thế còn được hiểu như một dự báo về

những đau khổ, dằn vặt mà đôi tình nhân ấy sẽ phải trải qua.

Khi thiên nhiên được miêu tả như những không gian nội tâm, đôi khi nó còn mang

những ý nghĩa ẩn dụ khác nhau tùy theo quan điểm của từng tác giả. Trong tiểu thuyết Xứ

tuyết của Yasunari Kawabata, chúng ta có thể thấy điều này rất rõ. Tác giả đã kể lại một

chuyện tình buồn trên nền không gian trong trắng, thanh bạch của tuyết. Với 131 lần xuất

hiện của từ “tuyết” trong toàn bộ tác phẩm, không gian xứ tuyết vì thế đã trở thành biểu

tượng chứa đựng khát vọng của một lữ khách suốt đời khao khát tìm kiếm cái đẹp. Ý nghĩa

này còn chứa đựng trong những không gian tuyết được miêu tả rất nên thơ. Cũng là tuyết

nhưng lúc thì “lấp lóa dịu dàng trong ánh sáng”; lúc lại “đang rơi vẽ nên những hào

quang, nhảy múa quanh dáng của Komako”…

Điều thú vị là không gian tuyết này cũng rất thường gặp trong tác phẩm của Jack

London. Tuy nhiên, với nhà văn Mĩ này, ý nghĩa ẩn dụ của nó lại khác hẳn. Không gian

trắng xóa, lạnh lẽo trở đi trở lại trong các sáng tác của Jack London vừa thể hiện khát vọng

chinh phục thiên nhiên của con người; lại vừa tượng trưng cho sự thách thức của thiên nhiên

mà con người khó lòng chinh phục. Không gian tuyết mà Jack London miêu tả thường bao

la, trắng toát :

Tuyết trắng một màu, chỗ nào băng ùn lại nhiều, mặt tuyết cuộn lên thành những đợt

sóng gợn lăn tăn. Từ Bắc xuống Nam, xa hút tầm mắt, tuyết trải trắng một màu mênh

mang… [40, tr.268].

Và cũng thường im lặng đến rợn người vì trong đó thường ẩn chứa những tai họa

khôn lường :

Xung quanh là một sự im lặng đến rùng rợn – không một tiếng động nhỏ nào trong

khu rừng bị tuyết ngập trắng. Cái lạnh và sự im lặng làm đông giá trái tim và cặp

môi run run của thiên nhiên. [40, tr.82].

Như vậy, khi thiên nhiên được xem là không gian nội tâm thì nó thường trở thành

một nhân vật trữ tình khác bên cạnh nhân vật chính. Nhân vật thiên nhiên này có khi là tấm

gương phản chiếu nội tâm nhân vật; có khi lại trở thành một người bạn thầm lặng cảm thông

cho nỗi niềm của nhân vật. Cũng có khi thiên nhiên đối lập với nhân vật; thách thức ý chí,

bản năng sinh tồn của nhân vật…

Thiên nhiên trong văn học bên cạnh ý nghĩa là không gian sống và hành động của

nhân vật còn mang ý nghĩa như là bản chất tự nhiên, thuần phác của con người. Bây giờ

chúng tôi sẽ trình bày ý nghĩa thứ hai này của thiên nhiên.

1.1.2. Thiên nhiên như là bản chất

1.1.2.1. Quá trình hình thành quan niệm thiên nhiên như là bản chất

Cách hiểu thiên nhiên như là bản chất có liên quan đến ngành nhân học và dân tộc

học. Như chúng ta đã biết , ở phương Tây việc tìm hiểu, nghiên cứu về những vấn đề xã hội

đã được các triết gia quan tâm từ thời cổ đại. Thế kỉ XVIII, các nhà nghiên cứu phương Tây

đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến khái niệm Tự nhiên khi nghiên cứu về những người

nguyên thủy. Những câu chuyện du lịch và mô tả các tập quán của các dân tộc xa xôi được

mở rộng. Nếu như trước đó, những người nguyên thủy Châu Phi, Châu Mĩ và Châu Úc

thường được mô tả một cách ghê tởm thì ở thế kỉ XVIII này các nhà nghiên cứu hết sức đề

cao họ. Có thể nói đây là thời kì thắng thế của huyền thoại “người dã man tốt”. Tiêu biểu

cho quan niện này phải kể đến Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778), triết gia Pháp nổi

tiếng. Khác với Platon, người đã quan niệm rằng có thể thay đổi bản chất con người bằng

việc thay đổi những thể chế xã hội của con người. Đối với Rousseau, tất cả mọi cái bóp méo

và đè bẹp bản chất con người đều là sai. “Con người tự nhiên cũng có nghĩa là con người

hiện thực”. Do đó quay về với tự nhiên có nghĩa là quay về với tính người căn bản của con

người, là cái phải được giải thoát ra khỏi mọi ràng buộc giả tạo. Con người đẻ ra tự do, con

người đáng lẽ phải được tự do nhưng lại phải sống trong xiềng xích.

Trong luận văn “Bàn về nguồn gốc và những cơ sở của sự bất bình đẳng giữa người

và người”, Rousseau đã miêu tả người dã man như là một sự hoàn hảo của nhân loại :

Một con người trong đó không có bất cứ cái gì giả tạo mà một tiến trình lịch sử lâu

dài đem lại. Đó là một con người từ trong thiên nhiên mà ra, khát thì uống nước

suối, giường là dưới gốc cây đã cung cấp thức ăn, và tình trạng đó chính là tuổi thơ

của thế giới. Mọi sự tiến bộ về sau tưởng như đưa tới sự hoàn chỉnh của con người,

nhưng về thực chất thì lại đưa đến sự suy đồi của nòi giống. [21, tr.12 – 13].

Trong các tác phẩm của mình, Rousseau thường miêu tả những bức tranh tuyệt đẹp

về cảnh hồ, cảnh đêm trăng, cảnh núi rừng, những con đường nhỏ, con suối… Ông cũng ca

ngợi cuộc sống nơi thôn dã với những người nông dân thật thà, chất phác, bình dị, tốt bụng.

Như vậy có thể thấy Rousseau muốn dựa vào thiên nhiên làm nơi của trật tự, của sự hòa

hợp.

Thực ra quan điểm này cũng đã từng được Montaigne (1533 – 1592), nhà nhân văn

chủ nghĩa người Pháp nói đến từ cuối thế kỉ XVI. Trong chương sách nổi tiếng “Những

người dã man” ông đã viết về những người da đỏ ở Brazil như sau :

Ở họ, những phẩm chất và đức tính có thật, hữu ích nhất và tự nhiên nhất, thể hiện

ra một cách sinh động và mạnh mẽ… Những luật của tự nhiên mà không bị những

luật của chúng ta làm cho hư hỏng đi, còn đang chi phối họ… Như vậy, tôi xem các

dân tộc ấy là dã man, là vì họ còn ít tiếp nhận cách thế của trí tuệ con người và còn

gần gũi với sự chất phác nguyên thủy của họ. Và họ còn đang ở trong tình trạng

trong sáng đến nỗi nhiều khi tôi lấy làm bực rằng người ta không biết đến họ sớm

hơn, từ những ngày mà có những người có thể đánh giá họ đúng hơn chúng ta. [21,

tr.8 – 9].

Điều này cho thấy, nguyên tắc xuất phát điểm của Montaigne là tính tự nhiên và sự

gần gũi với thiên nhiên. Ong còn khẳng định nguyên tắc này nhiều lần trong Những tiểu

luận của mình: “Tất cả những gì xảy ra đúng như tự nhiên đều đáng tôn trọng”. Hay

“…biết tự biểu hiện ra một cách xứng đáng trong bản chất tự nhiên của mình là một dấu

hiệu của sự hoàn thiện”. [21, tr.10].

Tất cả làm nên một trào lưu tư tưởng về nguồn, tức là quay về tìm hiểu xã hội chất

phác thời nguyên thủy, mà đỉnh cao của nó là ở thế kỉ XVIII.

Sang đến thế kỉ XIX, ngành xã hội học bước vào thời kì xây dựng, thường được gọi

là xã hội học cổ điển, các nhà nhân học và dân tộc học bắt đầu sự mô tả khách quan các xã

hội nguyên thủy. Đến đây, ta thấy có sự “gặp nhau” giữa folklore và dân tộc học. Hai phạm

trù cơ bản mà các định nghĩa về folklore thường xoay quanh chính là : phạm trù truyền

thống và phạm trù dân chúng. Do đó, kết quả nghiên cứu của folklore sẽ bổ sung cho những

công trình nghiên cứu của dân tộc học. Vai trò chủ yếu của nó là phát hiện trong các dân tộc

văn minh, những tàn dư của tâm tính nguyên thủy để từ đó có thể hiểu về bản chất của con

người cổ xưa. Những phát hiện trong quá trình tìm kiếm đã khiến các nhà folklore học nhận

ra rằng :

Ở các thời kì trước kia, sự biến đổi chậm chạp hơn và kém thường xuyên hơn, vì vậy

mà những phong tục và tín ngưỡng thuở đó phải mất thời gian để hình thành và trở

nên cố thủ sâu trong tiềm thức chủng tộc. Những mẫu mực nguyên thủy này đã chín

muồi và chín mọng giống như những mảnh gỗ đã được đánh bóng và vẫn tồn tại dai

dẳng dưới cái vỏ bề ngoài vội vã của những nền văn minh ngày hôm nay đã làm

chúng ta kinh ngạc bởi vẻ đẹp của chúng mỗi khi chúng ta có dịp bắt gặp và phát

hiện ra chúng. Chúng có vẻ đẹp đó bởi vì chúng được hình thành và phát triển một

cách chậm rãi trong mối quan hệ gần gũi với bản thân thiên nhiên và đồng thời phản

ánh sự đối xứng và giản dị của thiên nhiên. [21, tr.42].

Ở phạm trù dân chúng, từ việc phân chia các tầng lớp xã hội với những đặc điểm

riêng biệt, các nhà folklore cũng đã có những phát hiện có thể giúp lí giải vấn đề bản chất tự

nhiên của con người cổ xưa. Trong rất nhiều phát hiện, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới đối

tượng trẻ em và vấn đề địa vị xã hội vì đây chính là một trong những cơ sở quan trọng giúp

lí giải bản chất thuần phác nơi các nhân vật của Mark Twain trong chương thứ ba của luận

văn.

Theo các nhà nghiên cứu thì cùng với hai đối tượng là phụ nữ và người già, trẻ em

chính là nơi kí thác một nền văn hóa được lưu truyền bên rìa văn hóa của người lớn. Những

trò chơi, những bài hát … của chúng được xem như những hình thức đã bị biến chất đi của

những nghi lễ, tập tục của người lớn xưa kia. Có nghĩa là ở đối tượng này vẫn còn những

dấu vết thể hiện bản chất tự nhiên của con người trong những xã hội cổ xưa. Bản chất ấy

trong con nguời còn được folklore lí giải thông qua các truyền thuyết, phong tục tập quán,

tín ngưỡng của người bình dân, của dân chúng, của những tầng lớp ít bị biến đổi nhất bởi sự

giáo dục học hành, ít chịu sự ảnh hưởng nhất của sự tiến bộ văn hóa. Ở những con người

này, mọi suy nghĩ và hành động đều thể hiện sự tự nhiên, thần phác bởi họ sống bên ngoài

những qui định xã hội, những quan điểm đạo đức chuẩn mực.

Chúng tôi vừa sơ lược trình bày những tư tưởng của các nhà xã hội học về vấn đề

bản chất tự nhiên của người cổ xưa trong quá trình phát triển của ngành học này ở phương

Tây. Đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, điều này trở nên đặc biệt có ý nghĩa bởi sự phát

triển của chủ nghĩa tư bản có nguy cơ xâm lấn, tàn phá thiên nhiên ngày càng nghiêm trọng.

Khi ấy việc quay về với thiên nhiên còn mang thêm những ý nghĩa khác nữa mà chúng tôi

sẽ trình bày kĩ hơn khi nói về Mark Twain ở các chương sau.

1.1.2.2. Sự thể hiện thiên nhiên như là bản chất trong văn chương

Như trên chúng tôi đã trình bày, quan niệm thiên nhiên như là bản chất đã trở thành

một trào lưu tư tưởng của châu Âu trong một thời gian dài, đặc biệt là vào thế kỉ XVIII. Đối

với các nhà văn, tư tưởng này giúp đem lại cho họ cái nhìn mới về xã hội, về con người.

Quan điểm duy lí, những tiến bộ của khoa học, sự văn minh của xã hội ngày càng làm cho

con người trở nên khô cứng, xa rời bản chất tự nhiên của mình. Do đó, để các nhân vật quay

về với thiên nhiên cũng là cách mà các nhà văn bày tỏ sự phản đối xã hội. Trong các tác

phẩm văn chương, chúng ta bắt gặp những biểu hiện hết sức đa dạng của quan điểm ấy.

Khi viết Robinson Cruso, hẳn Daniel Defoe không chỉ muốn kể một câu chuyện hấp

dẫn với nhiều tình tiết li kì. Trong suốt gần ba mươi năm, một mình trên hòn đảo hoang

vắng, Robinson gần như quay trở về với cuộc sống nguyên thủy. Chàng gắn bó với thiên

nhiên, sống trong lều, mặc đồ làm từ da dê… Vậy mà không những không cảm thấy thiếu

thốn, khổ sơ, Robinson còn tìm được những giây phút thư thái, yêu đời giữa thiên nhiên

“thanh tú”.

Trong tác phẩm, bản chất tự nhiên còn thể hiện qua nhân vật Friday. Mọi suy nghĩ,

hành động của nhân vật này đều thể hiện sự thuần phác. Từ nỗi sợ hãi ban đầu khi được

Robinson cứu thoát, cách bày tỏ lòng biết ơn… đến sự lúng túng, ngượng nghịu khi được

mặc quần áo… và đặc biệt là lòng trung thành vô hạn đối với ông chủ. Friday đem lại niềm

vui cho Robinson và hơn thế “Bản chất trong sạch và lành mạnh của anh (Friday) đã chinh

phục được tình cảm của tôi (Robinson).” [22, tr.207].

Một biểu hiện khác của bản chất thuần phác nơi con người thường được nhắc đến

trong các tác phẩm văn chương là tính dục. Những khát khao, những hành vi liên quan đến

tính dục thường được lí giải có liên quan đến sức mạnh của thiên nhiên. Tiểu thuyết Chữ A

màu đỏ của Nathaniel Hawthorne khi nhấn mạnh vào chủ đề “tội ác” và hình phạt đã dựa

trên tình tiết chính có liên quan đến vấn đề bản chất của con người. Mối tình của chàng mục

sư trẻ tuổi Arthur Dimmesdale với cô thợ thêu xinh đẹp, quyến rũ Hester Prynne chính là

nguyên nhân của mọi dằn vặt đau khổ của các nhân vật. Tuy nhiên tác giả thể hiện nó không

phải như một tội lỗi, mà là một sức mạnh của thiên nhiên. Ở cuộc gặp gỡ trong rừng, trước

sự suy sụp của mục sư Arthur Dimmesdale, Hester Prynne đã khẳng định : “Điều chúng ta

đã làm có một tính thánh hóa của riêng nó.” [27, tr.279].

Và khi chàng mục sư chấp nhận sự giải thoát bằng việc đồng ý cùng người tình và

con gái bỏ trốn, cũng như khi Hester Prynne “tháo chữ A màu đỏ ra khỏi ngực và vứt nó ra

xa trên đám lá vàng úa” [27, 289] thì cũng chính là lúc hai kẻ tình nhân tội nghiệp ấy tìm

lại được niềm vui trong cuộc sống. Nhà văn đã thể hiện quan điểm của mình về bản chất tự

nhiên của con người bằng cách miêu tả vẻ bừng sáng của cảnh vật khu rừng lúc đó và nhận

xét :

Sự thông cảm của Thiên nhiên là vậy đó – cái Thiên nhiên hoang dã, ngoại đạo của

rừng núi, không bao giờ khuất phục trước pháp luật của con người, cũng không bao

giờ chịu sự soi sáng bởi chân lí cao siêu – sự thông cảm của Thiên nhiên với niềm

vui sướng của hai linh hồn này là như vậy đó! Tình yêu, dù là mới nở, hay là vừa

thức dậy sau một giấc ngủ như chết, đều luôn tạo ra nắng tươi, rót vào quả tim đầy

ắp những ánh huy hoàng rực rỡ, chan chứa đến mức nó tràn ra cả thế giới bên

ngoài. [27, tr.291].

Cũng thể hiện tư tưởng trên, Thomas Mann, trong tác phẩm cuối cùng của mình là

Ao ảnh đã lí giải những thay đổi của cơ thể, những rung động tình yêu, những ham muốn

thể xác của nhân vật nữ chính, bà Rosalie von Tummler, một góa phụ đang bước vào tuổi

ngũ tuần, bằng sức mạnh kì diệu của thiên nhiên. Tác phẩm ngắn, tình tiết không nhiều, chủ

đề thiên nhiên như là tính dục được thể hiện chủ yếu qua những cuộc đối thoại của bà

Rosalie và cô con gái Anna, một thiếu nữ thông minh, sống bằng lí trí, luôn tìm cách đè nén

những tình cảm tự nhiên của bản thân. Nếu người mẹ coi những rung động của mình trước

vẻ cường tráng của một một chàng trai hai mươi lăm tuổi là điều kì diệu mà thiên nhiên ban

tặng cho thể xác, thì cô gái, ngược lại cho rằng :”Tinh thần gắn với thiên nhiên không kém

gì thể xác”. [43, tr.30].

Cả hai quan điểm đều được thể hiện gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên. Từ “thiên

nhiên” trở đi trở lại rất nhiều lần trong toàn bộ tác phẩm qua suy nghĩ của cả hai nhân vật.

Lúc nào cũng thế, nhất là khi bà mặc tình buông thả theo cơn đam mê thiên nhiên

của bà, và bà luôn thử đưa cô con gái sống thiên về lí trí đến với nó. [43, tr.18].

… và tới năm mươi tuổi, chúng ta đã cùn nhụt, khả năng sinh đẻ của chúng ta tàn lụi,

và trước thiên nhiên ta chỉ còn là mớ đổ nát. [43, tr.29].

… nó (Anna) đã lầm, bởi nó không tin vào phép lạ, nó không biết rằng thiên nhiên có

thể tạo nên một sự nảy nở kì diệu của tâm hồn ngay khi đã muộn… [43, tr.43].

Những chuyện của thiên nhiên, thiên nhiên kì diệu, bí ẩn, toàn năng thỉnh thoảng vẫn

tác động lên chúng ta một cách kì lạ, mâu thuẫn, thậm chí không thể hiểu được nữa.

[43, tr.53].

Sự hòa điệu giữa linh hồn và thể xác chắc chắn là một điều tốt đẹp, cần thiết, và mẹ

tự hào và hạnh phúc được thiên nhiên, thiên nhiên của mẹ, ban phát nó cho mẹ một

cách kì diệu. Nhưng sự hòa điệu giữa cuộc sống và những niềm tin đạo đức nhận

được trong nôi lại còn thiết yếu hơn [43, tr.78] (lời cô con gái)...

Và cứ thế, một cách giản dị, nhà văn khẳng định sự đồng tình của mình về tính tốt

đẹp trong bản chất tự nhiên của con người.

Cũng vấn đề thiên nhiên như là bản chất, nhưng đến Jack London, trong kiệt tác

Tiếng gọi nơi hoang dã, ta thấy cả một quá trình đấu tranh nội tâm được miêu tả hết sức

sống động. Bản chất hoang dã luôn tiềm ẩn trong con chó Buck cho dù khi nó đang sống

cuộc sống văn minh, êm ả ở nhà ông thẩm phán Miller; hay khi bị bắt phải gia nhập đoàn

chó kéo xe cho những kẻ tìm vàng, sống theo “luật của dùi cui và răng nanh”. Rất nhiều

lần cái “huyết thống của nguyên thủy” ấy lôi kéo nó, vẫy gọi nó, nhất là khi nó sống giữa

thiên nhiên hoang sơ, lạnh giá của miền Bắc. Tuy vậy những ảnh hưởng của sự văn minh

hóa, đặc biệt là tình cảm sâu đậm với John Thornton như một sợi dây níu giữ nó lại. Vì vậy,

việc Thornton chết cũng giống như sợi dây ấy bị đứt và bản chất hoang dã đã chiến thắng

nên việc Buck quay về đời sống của loài sói hoang là tất yếu. Hình tượng con chó Buck vì

thế có thể coi như một ẩn dụ về bản chất tự nhiên của loài người. Trong trường hợp này

những lí giải bằng phân tâm học tỏ ra rất hữu hiệu. Cuộc sống văn minh kéo con người xa

bản chất tự nhiên của mình, buộc họ phải luôn hướng về ý thức. Tuy nhiên đây là điều có

thể bị phá vỡ bởi bản chất tự nhiên cũng giống như vô thức khiến con người bất cứ lúc nào

cũng có thể quay trở lại hành động đúng với bản chất người của mình.

Như vậy, trong các tác phẩm văn chương, ý nghĩa thứ hai của thiên nhiên, thiên

nhiên như là bản chất, được thể hiện thông qua những hành động, những suy nghĩ của các

nhân vật trong nhiều tình huống khác nhau. Nhưng tất cả đều nhằm khẳng định bản chất

thuần phác của con người có nguồn gốc gần gũi với thiên nhiên.

1.2. Thiên nhiên trong văn học Mĩ nửa đầu thế kỉ XIX

1.2.1. Thiên nhiên trong văn học lãng mạn Mĩ và Chủ nghĩa Siêu nghiệm

Nền văn học non trẻ của nước Mĩ, cho đến mười năm đầu của thế kỉ XIX không có

thành tựu nào nổi bật, yếu tố văn học Anh vẫn còn chi phối. Chỉ đến khi bước vào thời kì

lãng mạn, văn học Mĩ mới thật sự “cất cánh”. Đó là khoảng thời gian từ 1820 đến 1860.

Nhiều tác phẩm ra đời trong thời kì này được đánh giá cao cả ở Anh quốc và Châu Âu vì

các tác giả của chúng đã xây dựng được những tính cách Mĩ điển hình, miêu tả được những

bối cảnh Mĩ tiêu biểu. Tức là họ đã đem lại bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc mình.

Chính vì vậy mà nhiều người vẫn gọi đây là thời kì Phục hưng của văn học Mĩ, thậm chí

cho rằng văn học Mĩ chỉ bắt đầu từ đây.

Liên quan đến đề tài luận văn của mình, chúng tôi chú ý đến yếu tố thiên nhiên trong

văn học lãng mạn Mĩ. Điều này có hai lí do. Thứ nhất, theo chúng tôi, thiên nhiên chính là

một yếu tố quan trọng tạo nên giá trị cho văn học Mĩ thời kì này. Với ý nghĩa là tự nhiên,

thiên nhiên đặc trưng của nước Mĩ từ cây cối, sông hồ, núi non… đều rộng lớn, bao la đã

được các tác giả tái hiện trong tác phẩm của mình hết sức sống động. Độc giả bị cuốn hút

không chỉ bởi những tính cách mới mẻ, độc đáo rất Mĩ của các nhân vật mà còn đặc biệt

thích thú khi khám phá những không gian vừa nên thơ vừa hùng vĩ của một nước Mĩ huyền

thoại. Thứ hai, cách nhìn thiên nhiên của các tác giả lãng mạn sau này có ảnh hưởng tới

Mark Twain. Trong các tác phẩm của mình, Mark Twain không chỉ tiếp tục miêu tả thiên

nhiên như là không gian mang đậm chất Mĩ mà còn phát triển thêm những ý nghĩa mới của

thiên nhiên, như chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.

Sự quay về với đề tài Mĩ, thiên nhiên Mĩ của các tác giả thời kì này có thể coi là một

tất yếu, bởi lẽ sau hàng thế kỉ “theo đuôi” văn học Anh quốc, các tác giả hẳn đều chịu một

áp lực là phải làm sao để tạo ra một nền văn học riêng xứng đáng với một quốc gia tiên

phong. Tuy vậy phải chờ đến “hiệu lệnh” của Ralph W. Emerson thì điều đó mới trở thành

hiện thực. Năm 1837, tức sáu mươi mốt năm sau ngày tuyên bố độc lập (1776), trong bài

phát biểu nổi tiếng “Học giả Mĩ”, Emerson nêu :

Sự học hỏi kéo dài các nước khác, đã chấm dứt. Hàng triệu người quanh ta đang ào

ào bước vào cuộc sống, không thể mãi mãi cung cấp cho họ những đề tài cũ của

những mùa gặt nước ngoài. [44, tr.243 – 244].

Sau đó, trong tập “Luận văn” thứ hai (1844), ông kêu gọi các nhà thơ hãy sử dụng

“chất liệu vô cùng quí giá” ở ngay trên đất Mĩ,

chính sách của chúng ta, những nơi đánh cá của chúng ta, những người da đen, da

đỏ của chúng ta… Dưới con mắt của chúng ta, nước Mĩ là một bài thơ, địa lí bao la

của nó làm choáng trí tưởng tượng của chúng ta, không cần đợi lâu mới ra thơ. [44,

tr.244].

Emerson không chỉ là người kêu gọi tinh thần độc lập của các trí thức Mĩ mà ông còn

là người đứng đầu phong trào Siêu nghiệm rất có ảnh hưởng đối với văn học Mĩ thời kì này.

Dựa trên tư tưởng của Chủ nghĩa Siêu nghiệm, ông đã kêu gọi khai sinh chủ nghĩa cá nhân

Mĩ, lấy tự nhiên làm cảm hứng sáng tạo. Vậy thiên nhiên có ý nghĩa như thế nào trong quan

niệm của các nhà siêu nghiệm?

Phong trào Siêu nghiệm trong văn học là sự phản ứng chống lại chủ nghĩa duy lí thế

kỉ thứ mười tám và là biểu hiện của khuynh hướng nhân bản trong các trào lưu tư

tưởng thế kỉ thứ mười chín [68, tr.66].

Trào lưu này tiếp nhận ba nguồn tư tưởng : triết học Kant, Hindu giáo và Tin lành.

Khi bàn về vấn đề nhận thức, Kant trong cuốn Phê bình lí trí thuần túy đã nhắc đến hai yếu

tố không gian và thời gian. Theo ông, không gian và thời gian không phải là những thực tế

ngoại giới, mà là trực giác thuần túy và là điều kiện tiên quyết để ta có thể có kinh nghiệm

về sự vật. Nếu không gian là hình thái trực giác hướng ngoại thì thời gian là hình thức trực

giác nội tâm. Chủ nghĩa Siêu nghiệm đồng tình với những lí giải ấy nơi Kant về khả năng tri

thức của con người và coi thiên nhiên là hiện thân của tinh thần trong thế giới tri thức.

Emerson từng nói : “Thiên nhiên là biểu tượng của tinh thần. Thế giới là tinh thần ngưng

kết lại.”. Ngoài ra quan niệm : linh hồn mỗi cá nhân là một tiểu vũ trụ và nó hợp nhất với

thế giới là một đại vũ trụ của Hindu giáo, cùng với niềm tin của các tín đồ Tin lành (duy

nhất thần giáo) : Chúa là một ánh sáng phổ biến, tức là có sự hợp nhất của Thế giới và

Thượng đế, cả hai cũng ảnh hưởng tới tư tưởng tìm về thiên nhiên, khám phá thiên nhiên

của Chủ nghĩa Siêu nghiệm.

Nhiều tác phẩm xuất sắc thời kì này của văn học Mĩ chịu ảnh hưởng của tư tưởng nói

trên. Cũng chính nó đem lại những ý nghĩa đặc biệt cho các bức tranh thiên nhiên trong văn

học lãng mạn Mĩ và cả sau này. Chúng tôi sẽ điểm qua một vài tác phẩm tiêu biểu để làm rõ

hơn điều đó.

1.2.2. Thiên nhiên – hiện thân của tư tưởng và bối cảnh Mĩ

1.2.2.1. Thiên nhiên hoang dã vùng biên cương

Thực ra trước thời kì Lãng mạn, đã có một số tác giả sử dụng các chủ đề về Mĩ, các

bối cảnh lịch sử gắn với thiên nhiên đặc trưng của nước Mĩ. Tiêu biểu trong số đó chính là

trường hợp của James Fenimore Cooper (1789 – 1851). Ông nổi tiếng với một loạt tiểu

thuyết biên cương mà hấp dẫn nhất trong số đó là cuốn Người cuối cùng của bộ lạc

Mohicans. Câu chuyện xảy ra trong bối cảnh cuộc chiến tranh Anh – Pháp ở Bắc Mĩ, thời

trước khi các thuộc địa Anh đòi độc lập. Thông qua câu chuyện đầy chất phiêu lưu của

chàng thanh niên da đỏ Uncas, người cuối cùng của bộ lạc Mohicans và những người bạn da

trắng của mình, nhà văn đã thể hiện quan điểm của ông về kiểu nhân vật là những con người

ít học, yêu thích thiên nhiên và tự do với tâm hồn trong sáng, chính trực. Bối cảnh của

những cuộc trốn chạy, rượt đuổi trong tác phẩm chính là không gian hoang dã vùng biên

cương phía Bắc Hoa Kì, nơi giáp với biên giới Canada. Những cánh rừng rậm rạp, những

thác nước, vực thẳm, hang động của vùng Ngũ Hồ mở đầu tác phẩm đã được giới thiệu ngay

:

B ắc Mĩ năm 1757.

Dọc con đường ranh giới phân chia những vùng thuộc địa của Anh và Pháp,

phần đất nằm giữa thượng nguồn sông Hudson và các hồ tiếp cận là nơi xảy ra nhiều

trận đánh ác liệt nhất. Địa thế thiên nhiên ở đó thuận lợi cho những cuộc di chuyển

quân hơn bất cứ nơi nào. Mặt nước hồ Champlain trải dài từ biên giới Canada đến

phần tận cùng của tỉnh giáp với New York, tạo thành một hành lang thiên nhiên mà

Pháp cần phải chiếm nếu muốn thắng kẻ thù. Hồ Saint Luc là phần nối dài về hướng

Nam của hồ Champlain; dọc theo hai bên bờ hồ này là các khu rừng dễ đi lại, chạy

đến tận bờ sông Hudson tại một nơi mà ghe thuyền có thể lưu thông dễ dàng, trừ

những đoạn có thác ghềnh. [14, tr.9 – 10].

Bỏ qua những chi tiết liên quan đến chiến đấu, hành quân, không gian biên cương với

sự rộng lớn, bao la của rừng núi, sông hồ nơi đây đã giới thiệu được nét tiêu biểu nhất của

bối cảnh nước Mĩ. Tất nhiên thiên nhiên ấy còn được miêu tả khá chi tiết trong tác phẩm với

nhiều trạng thái khác nhau. Có khi là hình ảnh âm u, vắng vẻ của “vòm rừng bao la che phủ

cả con sông tạo thành một bóng đen mờ trên mặt nước” [14, tr.21]; có khi rộng lớn, thoáng

đãng với cảnh “mặt trời đang mọc lên ở phía bên kia của thung lũng sông Horican” [14,

tr.79]. Bối cảnh biên cương ấy, sau này được Mark Twain tiếp tục làm phong phú thêm

bằng những nét đậm chất sông nước miền Tây. Điều thú vị là cả Cooper và Clemens đều

nhìn về thiên nhiên, ca ngợi vẻ hoang dã của nó như một hiện thân của nước Mĩ và cùng thể

hiện thái độ phản kháng. Cooper phản đối việc hủy hoại thiên nhiên của những người khai

phá, còn Clemens phản đối sự tàn phá thiên nhiên của xã hội công nghiệp. Chính do cách

nhìn ấy mà trong tác phẩm của hai ông thiên nhiên còn là hiện thân của những hoài niệm về

một nước Mĩ mà nét hoang dã của nó từng được xem là một niềm tự hào.

Như vậy có thể xem Cooper là người tiên phong trong việc đưa thiên nhiên Mĩ vào

trong tác phẩm. Sau này, trong những tác phẩm lãng mạn, khi triết lí Siêu nghiệm của

Emerson có ảnh hưởng rộng rãi thì thiên nhiên xuất hiện với nhiều ý nghĩa khác nhau. Tìm

hiểu vấn đề này trong hai tác phẩm Walden của Henry David Thoreau và Moby Dick của

Herman Melvill chúng ta có thể có cái nhìn đầy đủ hơn.

2.2. Thiên nhiên như là chốn ẩn cư 1.2.

Henry David Thoreau (1817 – 1862) vẫn được coi là nhà Siêu nghiệm tiêu biểu nhất.

Hưởng ứng lời kêu gọi quay về với thiên nhiên của Emerson, ông không chỉ dùng ngòi bút

mà còn dọn đến vùng thiên nhiên hẻo lánh Walden Pond để sống một mình, trong một túp

lều giữa thiên nhiên, cảm nhận và viết về nó. Những trải nghiệm về cuộc sống ở nơi thiên

nhiên hoang vu ấy được kể lại trong tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Walden. Thiên nhiên

trong cuốn sách này là hiện thân của chốn ẩn cư bởi nó hiện ra với những nét thân thiết,

bình dị như một người bạn của tác giả, qua ngòi bút miêu tả chi tiết, chính xác và một văn

phong mượt mà, nên thơ. Hình ảnh trung tâm trong tác phẩm là hồ Walden được tác giả lần

lượt miêu tả ở cả bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, với những chân dung khác nhau ở và cảm

nhận cũng với nhiều ý nghĩa. Đây là cảnh hồ vào cuối mùa hạ :

This small lake was of most value as a neighbor in the intervals of a gentle rain-

storm in August, when, both air and water being perfectly still, but the sky overcast,

mid-afternoon had all the serenity of evening, and the wood thrush sang around, and

was heard from shore to shore. A lake like this is never smoother than such a time;

and the clear portion of the air above it being, shallow and darkened by clouds, the

water, full of light and reflections, becomes a lower heaven itself so much the more

important. [73, tr.47 – 48].

Cảnh vật hiện ra với nhiều chi tiết gợi tả sự thay đổi của cảnh vật bởi cơn mưa cuối

hè. Tác giả tập trung quan sát và miêu tả rất kĩ bề mặt hồ. Từ sự phẳng lặng (smooth) đến

cảm giác nông và tối (shallow and dark)… Tất cả khiến ta hình dung tác giả như đang chìm

đắm hoàn toàn vào cảnh vật. Có rất nhiều bức tranh như thế trong tác phẩm. Chúng giới

thiệu một đặc điểm nữa cũng hấp dẫn không kém cảnh vật miền biên cương ở tác phẩm của

Cooper hay Mark Twain trong toàn bộ bối cảnh Mĩ : vẻ nên thơ, êm đềm.

Cách cảm nhận thiên nhiên như thế, đã cho thấy Thoreau chịu ảnh hưởng của phương

pháp Thiền định ở châu Á. Điều này không có gì ngạc nhiên bởi Chủ nghĩa Siêu nghiệm có

tiếp nhận ảnh hưởng từ Hindu giáo. Điều quan trọng là bằng cách nhìn thiên nhiên ấy của

mình, nhà văn đã khiến cho mọi người cũng có cái nhìn yêu thích ấy trước thiên nhiên nước

Mĩ. Nói như Emerson thì :

Thoreau đã dành thiên tài của mình để viết một cách say sưa về các cánh đồng, các

quả đồi, các sông hồ của thành phố quê hương, nên ông đã làm cho tất cả các độc

giả Mĩ hiểu biết và mê thích chúng. [44, tr.244 – 245].

Cũng thông qua việc hoà nhập với thiên nhiên, Thoreau còn cảm nhận vai trò “dẫn

dắt” của nó đối với nhận thức của con người. Cảm nhận ấy thể hiện qua việc đặc tả cảnh hồ

chỉ bằng một so sánh rất độc đáo :

A lake is the landscape’s most beautiful and expressive feature. It is earth’s eye;

looking into which beholder measures the depth of his own nature. The fluviatile

trees next to the shore are the slender eyelashes which fringe it, anh the wooded hills

and cliffs around are its overhanging brows. [73, tr.105].

Khi hình dung hồ như con mắt nhìn với đầy vẻ trong sáng, mượt mà của hàng cây

ven hồ như bờ mi, của đồi, dốc bao quanh như đôi chân mày lơ lửng, Thoreau không chỉ

gây ấn tượng về vẻ đẹp thiên nhiên mà còn tạo ra một liên tưởng về chiều sâu của bản chất,

của tâm hồn, điều mà con người có thể cảm nhận dễ dàng hơn khi ở giữa thiên nhiên. Cuốn

Walden đã khiến Thoreau trở thành một tác giả siêu nghiệm được yêu quí nhất có lẽ cũng vì

quan niệm ấy của ông về thiên nhiên.

1.2.2.3. Thiên nhiên v ũ trụ

Cũng chịu ảnh hưởng của Chủ nghĩa Siêu nghiệm như Thoreau nhưng cách nhìn

thiên nhiên, cụ thể là biển cả, của Melvill (1819 – 1891) trong Moby Dick còn thể hiện cả

thái độ phản bác. Các nhân vật của ông cũng được trực giác dẫn dắt hoà nhập với thiên

nhiên. Nhưng ông không cho rằng con người có thể hiểu được tự nhiên. Hành trình săn cá

voi được thuật lại rất hấp dẫn trong suốt cuốn sách này “là một ẩn dụ lớn về khát vọng hiểu

biết” [68, 99]. Vì thế bản thân biển rộng lớn và Moby Dick là tượng trưng cho vũ trụ. Và

hành trình của Ahab cùng Ishmael là hành trình khám phá bí ẩn vũ trụ theo hai cách khác

nhau : hành động (Ahab), trầm tưởng (Ishmael). Đào ngọc Chương khi xem xét kết cấu của

tác phẩm Moby Dick đã nhận xét :

Hành trình của Ahab là để chứng minh sức mạnh của con người và thực hiện khát

vọng. Còn hành trình của Ishmael là khám phá bí ẩn của thế giới và chỗ đứng khiêm

nhường như của kẻ bên lề, người ngoài cuộc, một thực thể chẳng lấy gì làm quan

trọng trong thiên nhiên. [12, tr.83].

Sự gục ngã của Ahab ở cuối tác phẩm vì thế tượng trưng cho sự thất bại của khát

vọng ấy trước những nguy hiểm chết người luôn ẩn chứa trong thiên nhiên. Tuy nhiên hành

trình khám phá ấy không vì thế mà kết thúc bởi cuối tác phẩm, nhờ chiếc quan tài của

Queequeg mà Ishmael được cứu sống và điều đó có nghĩa là một cuộc khám phá thiên nhiên

khác lại bắt đầu. Thiên nhiên vì thế còn tượng trưng cho những thử thách mà con người luôn

tìm cách vượt qua. Nó thể hiện chất nổi loạn tư tưởng, một đặc điểm của văn học lãng mạn

Mĩ. Đặc điểm này sẽ được Mark Twain tiếp tục trong kiệt tác Những cuộc phiêu lưu của

Hucklebery Finn với hành trình đi tìm tự do của hai nhân vật Huck và Jim.

Tất nhiên bên cạnh những ý nghĩa tượng trưng nói trên, trong cuốn Moby Dick chúng

ta cũng bắt gặp những bức tranh cảnh vật rất đẹp trên biển cả. Nó là một không gian khác

nữa trong bối cảnh thiên nhiên rộng lớn của nước Mĩ bên cạnh vẻ đẹp của rừng núi, sông hồ

mà chúng tôi đã điểm qua ở trên. Vẻ đẹp của đại dương thường được nhà văn miêu tả kèm

với những hình ảnh so sánh mang tính chất khoa trương thường gặp trong sử thi. Kiểu như :

Một ngày tươi sáng, nền trời xanh thẳm không một gợn mây, êm ái như một thiếu nữ

mơ màng, trong khi biển rộng như một chàng thanh niên đang say sưa trong giấc

mộng yêu đương. Trên không trung, vài cánh chim điểm trắng nền trời tựa như linh

hồn cao cả của không gian…[42, tr.254].

Hỡi vẻ đẹp tuyệt diệu kia, dung nhan của người yêu không đẹp bằng ngươi. Nhưng

khốn thay, cá mập lại sống trong lòng ngươi. [42, tr.217].

Vẻ đẹp của cảnh vật vì thế cũng mang ý nghĩa tượng trưng chứ không chi tiết, nên

thơ như những trang viết của Thoraeu. Mặc dù vậy nó tỏ ra rất phù hợp với một tác phẩm

mà thiên nhiên được nâng lên thành biểu tượng ngang tầm với vũ trụ.

Như vậy có thể thấy, trong văn học lãng mạn Mĩ, thiên nhiên với ý nghĩa là tự nhiên

được quan tâm đặc biệt. Bên cạnh ý nghĩa là không gian sống và hành động của các nhân

vật như trong bất kì tác phẩm văn chương nào, thiên nhiên trong các tác phẩm lãng mạn của

Mĩ còn chứa đựng những ý nghĩa tượng trưng sâu sắc mà qua đó các nhà văn thể hiện được

quan điểm của mình trước những vấn đề xã hội cụ thể.

Các ý nghĩa đó của thiên nhiên sau này sẽ được tiếp tục trong văn học hiện thực Mĩ

tất nhiên là gắn với những bối cảnh xã hội nửa sau thế kỉ XIX. Khi mà nước Mĩ, sau cuộc

nội chiến kéo dài bốn năm (1861 – 1865), với sự chiến thắng của các tiểu bang công nghiệp

miền Bắc, bước vào giai đoạn phát triển với tốc độ chóng mặt. Sự bành trướng lãnh thổ diễn

ra từ đầu thế kỉ XIX đến thời nội chiến đã đem lại cho quốc gia này một diện tích khổng lồ,

cùng với nó là sự vô tận về tài nguyên. Đây được xem là một nhân tố quan trọng khiến canh

nông, kĩ nghệ, thương mại thời kì này đều phát triển. Những thành tựu to lớn của cuộc cách

mạng khoa học kĩ thuật ở Mĩ nửa cuối thế kỉ XIX là biểu hiện cao nhất của sự phát triển tư

bản chủ nghĩa. Điều này mang lại nhiều thay đổi tích cực và cả tiêu cực. Việc thiên nhiên có

nguy cơ bị tàn phá nghiêm trọng cùng với sự phát triển là một minh chứng. Cùng với hành

trình Tây tiến, những vùng đất hoang sơ nơi biên cương miền Tây ngày càng bị thu hẹp.

Chính thực tế này đã tác động vào sự ra đời của những tác phẩm hiện thực và đem lại những

ý nghĩa mới cho yếu tố thiên nhiên trong các tác phẩm thời kì này. Thiên nhiên trong tiểu

thuyết của Mark Twain đánh dấu giai đoạn phát triển mới mẻ, mang tính hiện đại này của

văn học Mĩ.

Chương 2

THIÊN NHIÊN NHƯ LÀ TỰ NHIÊN –

KHÔNG GIAN PHIÊU LƯU

2.1. Tinh thần biên cương và tiểu thuyết phiêu lưu của Mark Twain

Trong thế kỉ XIX lịch sử Hoa Kì là một cuộc Tây tiến, đẩy lùi dần “biên cương” đến

tận Thái Bình Dương. Khái niệm “miền Tây – miền biên cương” ở Mĩ không có ý nghiã cố

định mà biên cương cứ xa dần bờ biển Đại Tây Dương, băng qua miền Trung Tây rồi đến

Viễn Tây (phiá Tây sông Mississippi). Hành trình vượt biển đi tìm vùng đất mới ấy và hành

trình “Tây tiến” mở rộng lãnh thổ đã hình thành nên tinh thần phiêu lưu nơi người Mĩ. Họ

ưa thích mạo hiểm, luôn hướng đến sự đổi mới, xa lạ với những gì tù đọng. Có thể nói tinh

thần phiêu lưu đã tạo nên một nét nổi bật trong tính cách Mĩ.

Khi những người Mĩ từ bỏ cuộc sống đã ổn định theo khuôn mẫu Anh quốc ở miền

Đông để xê dịch về phiá Tây, họ không chỉ gặp những vùng đất hoang mênh mông vô cùng

hấp dẫn nhưng không kém phần nguy hiểm mà còn tiếp xúc với những điều đơn giản của xã

hội nguyên thủy thuộc về người da đỏ vốn rất xa lạ với họ. Miền biên cương này vì thế còn

được coi là “điểm gặp gỡ giữa con người hoang dã và con người văn minh” (F.J. Turner).

Sở dĩ chúng tôi nhắc đến các yếu tố lịch sử xã hội nói trên vì chúng biểu hiện khá rõ

trong các sáng tác của Mark Twain, đặc biệt là hai cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom

Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn.

Theo Phan Cự Đệ, tiểu thuyết phiêu lưu là một thuật ngữ có nội dung rất rộng, bao

gồm nhiều loại tiểu thuyết khác nhau từ tiểu thuyết du kí, tiểu thuyết hiệp sĩ thời trung cổ…

đến tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết trinh thám… Do đó :

Trong tiểu thuyết phiêu lưu, những biến cố bất ngờ, đầy kịch tính xảy ra dồn dập

trong cốt truyện. Nhân vật đi lang thang nơi chân trời góc bể hoặc dấn thân vào

những nguy hiểm, phần nhiều là những nguy hiểm chết người để hoàn thành một sứ

mệnh, chinh phục một vùng đất hoang, một xứ sở xa lạ, phát hiện ra một kho báu,

khám phá một vụ án, một bí mật, có khi là bí mật của cả một quốc gia. [25, (7),

tr.91].

Những tính chất trên khiến tiểu thuyết phiêu lưu luôn hấp dẫn người đọc và nó có

mặt trong nhiều nền văn học. Riêng ở Mĩ, truyền thống phiêu lưu của lịch sử, tinh thần ưa

thích mạo hiểm của mỗi cá nhân mà chúng tôi vừa nêu trên, là một nguyên nhân khiến kiểu

tiểu thuyết này đặc biệt phát triển. Ngay từ thời kì thuộc địa, yếu tố phiêu lưu đã được tìm

thấy trong những ghi chép của các nhà khai phá. Sau này tiểu thuyết phiêu lưu có mặt trong

cả văn học lãng mạn, văn học hiện thực và hiện đại Mĩ. Tất nhiên trong mỗi thời kì văn học,

các tác phẩm hướng tới những vấn đề tư tưởng khác nhau nhưng tính chất phiêu lưu thì

không đổi.

Đến Mark Twain, tính chất phiêu lưu ấy được thể hiện bằng ngòi bút hiện thực “tự

do một cách sâu sắc và tiềm tàng sức mạnh phản kháng xã hội”. Do đó, trong các tác phẩm

của Mark Twain, ông không chỉ tiếp tục những đặc trưng của tiểu thuyết phiêu lưu Mĩ mà

còn thể hiện được những ý nghĩa mới mẻ đằng sau những chuyện phiêu lưu của các nhân

vật.

Đào Ngọc Chương, khi bàn về tiểu thuyết phiêu lưu đã chỉ ra mối quan hệ giữa nhân

vật và kết cấu – cốt truyện của thể loại này như sau :

Tiểu thuyết phiêu lưu luôn gắn liền với kiểu nhân vật hành động. Hành động và mục

tiêu của hành động là toàn bộ sự quan tâm của nhân vật phiêu lưu, là bản thân sự

tồn tại của nhân vật… Và vì thế kết cấu – cốt truyện phiêu lưu phải là một chuỗi các

sự biến thường là do hành động của nhân vật gây ra mà sự biến nào cũng có thể đẩy

nhân vật đến những điểm mút (thời gian và không gian) bất ngờ, và hành động cứ

thế tiếp tục, tiếp diễn. [13, tr.122 – 123].

Hai cuốn Tom Sawyer và Huck Finn mà chúng tôi đang khảo sát, quả thật đáp ứng

được các yêu cầu trên của tiểu thuyết phiêu lưu. Tom, Huck, Joe và sau này là Huck và Jim

không quan tâm tới những buổi học ở trường, những buổi cầu kinh ở nhà thờ hay những qui

định đạo đức mà mọi người tuân thủ. Chúng bàn bạc, lên kế hoạch và thực hiện những cuộc

phiêu lưu của mình một cách say mê, thích thú dù với những mục đích khác nhau để đi làm

cướp biển, để tìm của chôn dấu hay để được tự do. Trong những chuyến phiêu lưu của mình

bọn trẻ đã gặp hết biến cố này đến biến cố khác, mà hầu hết đều bất ngờ, hồi hộp khiến

chúng “sợ rúm cả người”, đẩy chúng tới chỗ phải hành động tiếp. Có thể nói những hành

động của các nhân vật ở nghĩa địa, ở ngôi nhà hoang, ở trong hang… trong cuốn Tom

Sawyer; chuyến hành trình gắn với vô số chuyện bất ngờ của Huck và Jim trong cuốn Huck

Finn đã thể hiện rõ nhất kiểu kết cấu – cốt truyện nói trên.

Nhưng điều làm nên giá trị to lớn, sức hấp dẫn dài lâu cho hai tác phẩm này chính là

những ý nghĩa thời đại của các chuyện phiêu lưu kia. Trong phạm vi đề tài của mình, chúng

tôi chỉ xem xét ý nghĩa ấy thông qua các hình ảnh thiên nhiên trong các chuyến phiêu lưu.

Trước hết thiên nhiên với ý nghĩa tự nhiên được miêu tả hoàn toàn đối lập với những không

gian thuộc xã hội văn minh là cách mà Mark Twain bày tỏ sự phản đối xã hội công nghiệp.

Hơn nữa trong các sáng tác của ông, vẻ đẹp hoang sơ, nét đặc trưng của thiên nhiên miền

Tây hiện lên hết sức chân thực, tự nhiên qua mọi hình ảnh, mọi chi tiết, từ dòng sông, hòn

đảo đến ngôi làng, nhà thờ… Nó là một biểu hiện cụ thể của khuynh hướng vùng miền

trong các sáng tác của Mark Twain. Thiên nhiên được nhìn ngắm không phải bằng sự ngạc

nhiên thích thú của một người từ xa đến bị choáng ngợp bởi sự rộng lớn, hùng vĩ của cảnh

quan địa lí, mà bằng sự gắn bó máu thịt với nó. Điều này nhắc chúng ta nhớ đến cuộc đời

Mark Twain, người vẫn được coi là nhà văn lớn đầu tiên xuất thân từ một vùng nội địa của

nước Mĩ. Ông sinh bên phía bờ Tây dòng Mississippi tại Florida, Missouri; sống những năm

thơ ấu hạnh phúc, tinh nghịch tại Hannibal, Missouri, một thị trấn nhỏ còn duy trì chế độ nô

lệ, nằm phía trên St Louis khoảng một trăm dặm; tuổi trẻ phiêu bạt của ông gắn liền với

những chuyến xuôi ngược dòng Mississippi. Chính những kí ức ấy đã tạo nên nét đáng yêu,

quyến rũ rất tiêu biểu cho các tác phẩm của ông nói chung và những bức tranh cảnh vật nói

riêng. Điều này sẽ được chúng tôi sẽ trình bày kĩ hơn trong các phần sau khi đi vào tìm hiểu

nội dung Thiên nhiên như là tự nhiên trong hai tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Tom

Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn với ý nghĩa là không gian để các

nhân vật thực hiện mọi hành động phiêu lưu.

2.2. Thiên nhiên trong Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer

Tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (1876) mở đầu cho việc ra đời

hàng loạt tác phẩm mang tính chất phiêu lưu trong sự nghiệp của Mark Twain. Những kí ức

tuổi thơ trở thành chất liệu chính cho cuốn sách này và có lẽ nhờ thế mà nó sống động và

quyến rũ lạ thường. Những con người, những sinh hoạt, những khung cảnh thiên nhiên nơi

thị trấn St Petersburg, đặc biệt là nhân vật chính - cậu bé Tom Sawyer với những cuộc

phiêu lưu hấp dẫn của mình đã gợi lại chân thực những năm tháng thơ ấu của tác giả ở

Hannibal, bên dòng Mississipi. Xét riêng về những trang viết miêu tả thiên nhiên như là

không gian tự nhiên của hành động nhân vật, chúng ta có thể thấy rõ điều này.

Bối cảnh của cuốn Tom Sawyer là sự đan xen giữa hai không gian; một bên là Thị

trấn St Petersburg, nơi các nhân vật sống, với một bên là đảo Jackson, rừng, sông, hang

động… gắn với những chuyến phiêu lưu của các nhân vật. Trong những trang miêu tả

không gian thứ hai, người đọc dễ dàng nhận thấy những nét tiêu biểu của thiên nhiên miền

Tây nước Mĩ. Đó là sự rộng lớn, hoang sơ, vắng vẻ, tiềm ẩn nhiều bí mật cũng như những

hiểm nguy luôn thách thức tinh thần chinh phục, khám phá của con người. Do đó nó cũng

chính là không gian thích hợp nhất cho một cốt truyện phiêu lưu, gắn liền với những sự kiện

bất ngờ trong các chuyến phiêu lưu của Tom và các bạn. Ngoài sự tương phản giữa không

gian sống của thị trấn tù túng, gò bó và không gian tự nhiên của phiêu lưu tự do, hấp dẫn

trong toàn bộ tác phẩm, chúng tôi, khi khảo sát các hình ảnh thiên nhiên cụ thể gắn với

những chuyến phiêu lưu của các nhân vật cũng nhận thấy nét đối lập khá rõ trong kiểu

không gian thiên nhiên này. Đó là vẻ quyến rũ, êm đềm của sông, của rừng nơi đảo Jackson

và vẻ âm u, rùng rợn của nghĩa địa, nhà hoang…

2.2.1. Thị trấn St Petersburg : không gian thu nhỏ của xã hội văn minh

Đây không phải là thứ không gian mà đề tài chúng tôi quan tâm nhưng nó là thứ

không gian đối trọng với không gian tự nhiên. Và trong thế đối trọng ấy, xuất hiện cái nhìn

về thiên nhiên vừa mang ý nghĩa xã hội vừa mang ý nghĩa triết lí của Mark Twain. Không

gian đối trọng ấy chính là thị trấn St Petersburg với nhà thờ, trường học… Nơi đây chính là

thế giới của những qui ước xã hội gò bó, những thói quen khiến cuộc sống của mọi người

trở nên tù túng, nhàm chán, tất nhiên là trong con mắt của bọn trẻ. St Petersburg không chỉ

gợi lại thị trấn Hannibal, nơi mà Mark Twain đã sống tám năm thơ ấu đẹp đẽ mà nó còn là

hình ảnh tiêu biểu của một thị trấn kiểu Mĩ hồi thế kỉ XIX. Công cuộc viễn chinh về phiá

Tây thời kì đầu đã góp phần định hình tính cách cộng đồng ở Mĩ nên thời gian sau họ hầu

như đều sống trong các thị trấn hoặc làng. Điều này khiến họ có thể quây quần dựa vào

nhau mà chống chọi lại môi trường sống khắc nghiệt và còn có thể xây dựng những mối

quan hệ gắn bó với nhau vốn là bản chất của con người. Thị trấn St Petersburg quả thật

mang những nét như vậy. Giữa thiên nhiên rộng lớn còn nhiều nét hoang sơ, mỗi gia đình

sống trong một ngôi nhà có hàng rào bao quanh vườn. Mọi người trong thị trấn hàng tuần

gặp nhau ở nhà thờ. Họ chia sẻ với nhau mọi niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống hàng ngày.

Khi những đứa trẻ trốn nhà ra đi họ gặp nhau than khóc, khi ngỡ bọn trẻ đã chết thì “một sự

yên tĩnh bất thường đè nặng trên thị trấn”, rồi họ cùng nhau tập trung ở nhà thờ để cầu

nguyện; hay giữa đêm khuya họ sẵn sàng ra khỏi nhà với súng ống trên tay khi biết hàng

xóm của mình đang gặp nguy hiểm…

Nhưng đó là thế giới của người lớn, người lớn có thể thấy dễ chịu, ấm áp với tất cả

những điều trên nhưng bọn trẻ con thì không. Đối với chúng, việc ngày ngày phải răm rắp

tuân thủ những qui định do người lớn đề ra quả thật là ngạt thở. Với Tom Sawyer những lúc

ở nhà thờ, ở trường học là thử thách ghê gớm. Do đó Mark Twain đã luôn sử dụng nghệ

thuật tương phản khi miêu tả không gian trang nghiêm của hai nơi ấy cùng với những trò

tếu táo của Tom.

Hàng tuần cứ vào sáng chủ nhật là bọn trẻ phải đến nhà thờ để học :

nhà thờ chỉ là một ngôi nhà nhỏ, kiến trúc đơn sơ, cái gác chuông ở trên nóc trông

chẳng khác gì một hàng rào chung quanh các gốc cây làm bằng ván gỗ thông ghép

lại! [63, (1), tr.70 – 71].

Trong không gian ấy, bài giảng đầy thành kính của thầy hiệu trưởng thường diễn ra

cùng lúc với những chuyện gây lộn, những trò nghịch ngợm và trong tiếng “tiếng dậm

chân, tiếng xì xào lan ra khắp tứ phía”.

Không gian trường học cũng không khác hơn là mấy. “Ngôi trường nhỏ làm bằng

ván ghép đứng chơ vơ cách xa làng xóm” [63, (1), tr.122] là nơi Tom buộc phải đến mỗi

ngày sau khi đã tìm mọi phương cách để tránh né mà không xong. Không khí trong lớp học

càng trở nên tẻ nhạt hơn khi được đặt trong thế so sánh với thiên nhiên bên ngoài.

Tiếng học bài rì rầm như ru ngủ của hai mươi nhăm đứa trẻ có tác dụng màu nhiệm

làm tâm hồn tê mê như tiếng đàn ong vo ve. Xa xa đồi Cardiff hiện ra với những

sườn đồi xanh dịu sau làn không khí nóng rung rinh trông xa như phơn phớt màu tím

nhạt… [63, (1), tr.131].

Ngay cả buổi lễ tổng kết năm học cũng vậy. Dù “… trong trường đèn thắp sáng

trưng, chăng hoa kết lá, trang hoàng rực rỡ.” [64, (2), tr.60] nhưng mọi chuyện diễn ra

trong không gian trang trọng ấy đều kệnh cỡm, lộn xộn, từ việc Tom đọc bài diễn văn “với

một vẻ hung hăng tuyệt mĩ, hoa chân múa tay như điên như cuồng, rồi bỗng nhiên ngắc

ngang giữa quãng.” [64, (2), tr.62]; đến các bài luận suớt mướt được các nữ sinh đọc như

những cái máy ghi âm…

Những không gian gò bó hạn hẹp ấy đối với những chú bé “hư hỏng” như Tom

Sawyer, Huck Finn… hiển nhiên là không thể chịu nổi và rất dễ hiểu nếu chúng tìm cách

thoát khỏi những nơi ấy để tìm đến với một thế giới khác, một không gian tự do, bay bổng

hơn nơi đảo Jackson.

Hai không gian tiêu biểu là nhà thờ và trường học ở thị trấn St Petersburg, vẫn được

các nhà nghiên cứu trong nước đặc biệt chú ý như là những biểu hiện tập trung của chủ

nghĩa hiện thực trong các sáng tác của Mark Twain. Còn chúng tôi, với đề tài của mình chỉ

tìm hiểu hai không gian ấy dưới góc độ không gian tù túng đối lập với không gian tự nhiên

rộng lớn của hành trình phiêu lưu của các nhân vật. Đó là thứ không gian rừng và sông

quyến rũ, nghĩa địa và nhà hoang âm u.

2.2.2. Đảo Jackson – thiên đường của tự do

Đảo Jackson được ba tên “cướp biển”, Tom, Huck và Joe chọn làm nơi ẩn náu bởi vị

trí hết sức lí tưởng của nó :

Về phía dưới St Petersburg ba dặm, ở một chỗ con sông Mississippi rộng chừng hơn

một dặm, có một hòn đảo dài và hẹp, cây cối mọc thành rừng, ở đầu có một dải cát

nông; nơi đó dùng làm nơi tụ họp rất tốt. Trên đảo không có người ở; hòn đảo ở mãi

đằng xa về phía bờ bên kia, ngang với một khu rừng rậm rạp hầu như hoàn toàn

không có dân cư. [63, (1), tr.221].

Một đặc điểm nổi bật của hòn đảo được nhắc đến tới hai lần là nó gắn với rừng :

“cây cối mọc thành rừng”, “ngang với một khu rừng rậm rạp”. Tom và các bạn, khi quyết

định “từ bỏ” cuộc sống văn minh nơi trị trấn đã hướng đến với rừng một cách hết sức tự

nhiên. Không gian rừng với sự vắng vẻ, yên tĩnh là nơi đầu tiên bọn trẻ nghĩ tới khi muốn

thoát khỏi sự gò bó của gia đình, của trường học vì trong cảm nhận của chúng rừng là nơi có

thể che chở, vỗ về, an ủi. Cảm thức ấy về rừng sẽ trở nên rõ rệt hơn trong cuốn Huck Finn

sau này.

Thế rồi, sau khi chuẩn bị, bọn trẻ lên đường trên một cái bè gỗ nhỏ, xuôi theo dòng

sông, ngang qua làng “đang yên lành ngủ bên kia dải nước bao la in bóng trời sao lấp

lánh” [63, (1), tr.228] để đến đảo. Sau đêm đầu tiên “phè phỡn” trên đảo, Tom tỉnh giấc và

chứng kiến cảnh vật kì diệu của thiên nhiên một buổi sớm mai trong rừng:

Trời mới tảng sáng, ánh sáng mờ mờ một màu xám nhạt, không khí mát mẻ; trong

cái yên lặng tĩnh mịch bao trùm khu rừng có một cảm giác thư thái và thanh bình

tuyệt thú. Không một chiếc lá nào lay động; không một âm thanh nào đến phá rối sự

trầm tư mặc tưởng của thiên nhiên vĩ đại. Sương đọng thành những chuỗi hạt nhỏ

trên lá cây, ngọn cỏ. Một lớp tro trắng phủ trên đống lửa, một tia khói xanh nhỏ như

sợi chỉ bốc thẳng lên trời… Ở đằng xa, mãi sâu trong rừng một con chim lên tiếng

gọi; một con chim khác hót trả lời; một lát sau có tiếng chim gõ kiến mổ lộp độp.

Màu sáng nhạt mát dịu của buổi sáng trắng dần, các âm thanh nổi lên mỗi lúc một

nhiều, cuộc sống dần dần biểu hiện. Cảnh kì diệu của thiên nhiên đang giũ cái ngủ

để sắp sửa bước vào lao động, diễn ra trước con mắt mơ mộng của Tom [63, (1),

tr.238 – 239].

Vẻ đẹp như tranh của cảnh vật là điều không phải bàn cãi. Nhưng nếu chúng ta xem

xét nó từ góc độ điểm nhìn của người kể chuyện thì có thể thấy những ý nghĩa khác đằng

sau vẻ đẹp thiên nhiên. Trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Mark Twain

thuật lại câu chuyện từ điểm nhìn của một người trưởng thành nhìn lại tuổi thơ của mình.

Do đó cảnh vật trên không phải do Tom trực tiếp ngắm nhìn. Nó là sự quan sát và miêu tả

của nhà văn. Ông như một họa sĩ trước tiên phác họa cái nền cho toàn bộ cảnh vật rồi sau

đó bổ sung từng chi tiết nhỏ và cuối cùng đặt bức tranh trước mắt Tom. Vai trò người kể

chuyện - nhà văn ấy còn lộ rõ qua hai lần sử dụng phép nhân hóa quen thuộc trong văn

chương tả cảnh truyền thống. Lần thứ nhất là “Không một chiếc lá nào lay động; không một

âm thanh nào đến phá rối sự trầm tư mặc tưởng của thiên nhiên vĩ đại”. Và lần thứ hai còn

cầu kì hơn “Cảnh kì diệu của thiên nhiên đang giũ cái ngủ để sắp sửa bước vào lao động”.

Bởi thế Tom chỉ lướt qua cảnh vật rồi tập trung vào “chơi” với một con sâu. Nơi nhân vật

chưa thể hiện sự hoà nhập với không gian rừng như Huck sau này.

Cũng chính vì vậy mà trong nhiều bức tranh cảnh vật, hành động của bọn trẻ được

miêu tả nổi bật hơn việc miêu tả không gian. Tức là chúng không hòa nhập hoàn toàn vào

cảnh vật mà cảnh vật chỉ là không gian làm nền cho hành động diễn ra mà thôi. Trong

những ngày ở trên đảo, mọi hoạt động của Tom và các bạn gắn với dòng sông và khu rừng.

Nơi dòng sông, chúng “cười nói reo hò ầm ĩ” và “đuổi nhau, nhảy đè lên người nhau trong

làn nước trong suốt không sâu lắm trên bãi cát trắng” [63, (1), tr.242]. Còn khu rừng là nơi

chúng thám hiểm và phát hiện ra nhiều điều kì thú :

Chúng thoăn thoắt bước đi, khi phải nhảy qua những thân cây gỗ mục, khi thì vướng

bụi rậm, phải rẽ cây mà đi, len lỏi giữa những gốc cây to hùng vĩ ngự trị trong rừng,

dây nho bám chằng chịt chung quanh, từ trên ngọn cây rủ xuống đến tận mặt đất

chẳng khác gì những tua lòng thòng quanh mũ miện. Thỉnh thoảng chúng lại gặp một

chỗ rất thú, có cỏ mọc hoa chen, trông như một tấm thảm nạm trân châu ngọc bích.

[63, (1), tr.244].

Giữa một không gian hoang sơ như thế, bọn trẻ còn phát hiện ra sự thú vị của một

cuộc sống thiếu thốn tiện nghi. Khi dùng “lá sồi hay lá đào to làm chén” uống nước suối,

Huck nhận thấy một “hương vị ngọt ngào” đặc biệt; khi bắt cá ở dưới sông lên, rán ăn

ngay, “chúng rất ngạc nhiên khi thấy món cá ngon tuyệt”. Nét hồn nhiên, trong trẻo ấy của

bọn trẻ giữa thiên nhiên quả thật khác xa nếu đặt nó trong sự so sánh với không gian của thị

trấn St Petersburg nói trên. Về điểm này, Lê Hồng Sâm trong bài giới thiệu nhân dịp xuất

bản cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, nhà xuất bản Văn học, 1988 cũng đã nhận

xét :

Thông qua những cảm xúc trong trẻo và bộc trực chỉ có thể có ở trẻ thơ, tác giả còn

muốn phê bình một số qui ước được người lớn phục tùng, muốn đánh giá lại một số

giá trị xã hội đương thời thừa nhận, cái xã hội theo ông làm cho vẻ tươi mát, hồn

nhiên trong tâm hồn các em bị nhợt nhạt, thui chột… [62, tr.8].

Bởi thế, khi đang đắm mình trong sự hấp dẫn, lôi cuốn của thiên nhiên trên đảo

Jackson, bọn trẻ “càng mừng” khi phát hiện cái bè, vật nối chúng với mọi người ở thị trấn

St Petersburg, đã bị dòng nước cuốn trôi đi mất. Lí do để chúng mừng là “vì cái bè trôi đi

như vậy cũng chẳng khác nào như đã tiêu huỷ cái cầu giữa chúng với cuộc sống văn minh”.

[63, (1), tr.242]. Đó cũng chính là điều bọn trẻ đã quyết định trong cái đêm đầu tiên trên

đảo. Sau khi “phè phỡn với nhau một bữa một cách tự nhiên phóng khoáng giữa cánh rừng

già trên một hòn đảo chưa từng có ai đặt chân tới và không có người, ở cách xa những nơi

mọi người qua lại”, Tom và các bạn đã quyết định “sẽ không bao giờ còn quay trở về với

thế giới văn minh nữa”. [63, (1), tr.230]. Miêu tả thứ thiên nhiên đối lập với thế giới văn

minh ấy là cách tác giả thể hiện tư tưởng phản kháng của mình.

Trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, chúng ta còn bắt gặp những

khung cảnh thiên nhiên được miêu tả như những không gian nội tâm. Đó cũng là không gian

rừng và sông nhưng không mĩ lệ, không nên thơ như trong các dẫn chứng trên mà gắn với

những tâm trạng khác nhau của Tom. Khi bị dì Polly mắng oan, Tom ra sông, ngồi trên bè

gỗ mà “ngắm nhìn mặt nước mêng mang ảm đạm” [63, (1), tr.59]; hay khi giận dỗi với

Becky, Tom trốn khỏi lớp học để đi :

… thẳng tới giữa rừng và ngồi xuống đám rêu xanh dưới một gốc cây sồi lớn cành lá

rườm rà. Không có lấy một hơi gió nhẹ; cái oi bức lúc giữa trưa làm cho đến cả chim

chóc cũng phải im tiếng hót; cảnh vật im lìm như chết… [63, (1), tr.147].

Dạng không gian này không nhiều trong tác phẩm nhưng chúng cũng góp phần biểu

hiện cảm thức của Tom về thiên nhiên như một chốn quay về. Bởi sau mỗi lần đến với rừng

và sông ấy, Tom thấy vơi bớt nỗi phiền muộn và khi quay về thị trấn lại có thể hào hứng bắt

tay vào một chuyện phiêu lưu mới. Cũng chính vì xuất hiện không nhiều nên các hình ảnh

rừng và sông trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer chưa trở thành biểu tượng

mà mới chỉ dừng lại ở mức độ là không gian sống và hành động của các nhân vật mà thôi.

Cái nhìn về thiên nhiên của Mark Twain trong cuốn sách này vì thế cũng có thể hiểu là

những dự cảm ban đầu của ông về thời đại.

Mặc dù vậy, với ý nghĩa là không gian phiêu lưu của các nhân vật, những hình ảnh

thiên nhiên rừng và sông trên đảo Jackson trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom

Sawyer vẫn là thứ thiên nhiên tuyệt diệu nhất. Chúng đem lại sự trong sáng, bình yên cho

các nhân vật và có thể đặt ra cho chúng ta những suy nghĩ về cái gọi là xã hội văn minh,

hiện đại.

2.2.3. Nghĩa địa, Ngôi nhà có ma, hang Mc.Dougal – không gian bí ẩn, hấp dẫn

Những chuyến phiêu lưu của chú bé Tom và các bạn còn gắn với những không gian

khác nữa. Chúng âm u, rùng rợn và do đó như chúng tôi đã nói ở trên, chúng phần nào đối

lập với cái trong trẻo, nên thơ của đảo Jackson. Chính nét âm u, rùng rợn đó đã đẩy chúng

về phía tự nhiên, khoác lên chúng sắc màu của thiên nhiên. Đó là không gian nghĩa địa, nơi

Tom và Huck vô tình chứng kiến tội ác giết người của tên lai da đỏ Joe Injun; đó là ngôi nhà

có ma, nơi mà bọn trẻ tình cờ phát hiện ra việc bọn cướp có vàng; và đó là hang Mc.Dougal,

nơi Tom và Becky bị lạc. Có thể nói đây là những kiểu không gian tiêu biểu cho bất cứ cuốn

tiểu thuyết phiêu lưu nào và chúng cũng là không gian đặc trưng của vùng biên cương miền

Tây nươc Mĩ hồi thế kỉ XIX.

Thông qua miêu tả của Mark Twain, các không gian ấy hiện lên rất chi tiết.

Đây là một nghĩa địa theo kiểu cũ ở miền Tây; nằm ở trên đồi, cách xa làng chừng

một dặm rưỡi. Chung quanh có một hàng rào cũ bằng ván đã mục nát, xiêu vẹo, chỗ

thì nghiêng về phía bên trong, chỗ thì ngã về phía bên ngoài, không một chỗ nào còn

đứng thẳng. Cỏ dại mọc um tùm khắp trong nghĩa địa. Tất cả những mả cũ đều chìm

ngập trong đám cỏ, ở đây không có lấy một tấm bia đá nào; chỉ có những tấm bảng

gỗ đầu đã vẹt tròn cả góc, bị mọt và mối xông, cắm xiêu vẹo trên các ngôi mộ,

nghiêng mình tìm chỗ dựa nhưng không có. [63, (1), tr.163].

Còn đây là một gian phòng trong ngôi nhà có ma :

… gian phòng đã mất hết ván sàn chỉ còn trơ đất, cỏ dại mọc kín, vôi vữa trên trần lở

hết, một cái lò sưởi cũ, những cửa sổ trơ khung, một cái cầu thang đổ nát; và khắp

nơi, chỗ nào cũng đầy những mạng nhện xơ xác, nhện đã bỏ đi từ lâu.” [64, (2),

tr.126].

Nét hoang tàn, đổ nát là đặc điểm bao trùm các cảnh vật. Cùng với chúng là tâm

trạng hồi hộp, căng thẳng của các nhân vật bởi chính trong những không gian ấy Tom và

Huck đã gặp các biến cố bất ngờ khiến chúng vừa sợ hãi vừa thích thú vì phát hiện ra những

bí mật “chết người”. Những không gian như thế này đã “tô điểm ” thêm cho các cuộc phiêu

lưu những sắc màu li kì, hấp dẫn.

Cũng là những khung cảnh âm u, rùng rợn nhưng có lúc tác giả lại miêu tả xen với

nét huyền bí, nên thơ. Đó chính là không gian hang Mc.Dougal, nơi diễn ra cuộc phiêu lưu

cuối cùng của Tom trong tác phẩm khi chú bé bị lạc cùng với “người yêu” Becky :

Cửa hang ở trên sườn núi cao – miệng hang hình chữ A. Cái cửa lớn bằng gỗ sồi ở

miệng hang khi đó để ngỏ không đóng. Bên trong là một khoảng trống như một gian

phòng nhỏ, lạnh như trong nhà nước đá, với một bức vách thiên nhiên bằng đá vôi,

mồ hôi đá lạnh toát ra thành giọt như sương đọng. Đứng trong hang sâu thăm thẳm

tối om nhìn ra ngoài thung lũng xanh tươi chan hòa ánh nắng thật là một cảnh vừa

lãng mạn vừa huyền bí. [64, (2), tr.166 – 167].

Mấy ngày bị nhốt trong hang, Tom và Becky khi sợ hãi, lúc hốt hoảng và cả thích

thú, ngạc nhiên khi khám phá ra những cảnh đẹp độc đáo. Quang cảnh cái động là một thí

dụ tiêu biểu :

Chúng tìm thấy một chỗ có một cái động lớn từ trên trần rủ xuống vô vàn những nhũ

đá lấp lánh dài và to bằng bắp chân;…chẳng mấy chốc chúng tới một con suối trông

rất mê li, chỗ nó chảy qua toàn nạm pha lê lóng lánh như sương đọng… [64, (2),

tr.205].

Vẫn là sự quan sát, miêu tả chi tiết và khách quan của một người trưởng thành đứng

ở hiện tại để nhìn lại quá khứ của mình. Nên cảnh vật hiện ra với nhiều chi tiết đẹp, bóng

bẩy. Tất cả tạo thành thứ không gian rất thích hợp với tình huống truyện khi mà Tom tuy sợ

hãi nhưng cũng rất hạnh phúc vì có Becky bên cạnh. Do đó sự kết hợp hai đặc điểm âm u và

nên thơ nói trên của cảnh vật đã tạo ra không chỉ không gian phiêu lưu mà còn là không

gian tâm trạng nữa.

Các hình ảnh thiên nhiên trong trẻo, nên thơ và bí ẩn, hấp dẫn mà chúng tôi vừa tìm

hiểu ở trên, đã tạo nên một không gian phiêu lưu với nhiều màu sắc khác nhau trong tác

phẩm Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer. Không gian ấy gợi lên nhiều ý nghĩa. Trước

hết, chúng là những hình ảnh tái hiện cụ thể, chân thực một vùng đất gắn liền với những

năm tháng tuổi thơ của nhà văn. Đồng thời chúng cũng chứa đựng những nét hoang sơ của

thiên nhiên vùng biên cương miền Tây nước Mĩ nói chung vào khoảng đầu thế kỉ XIX.

Quan trọng hơn là chúng thể hiện cảm thức của Mark Twain về thời đại, việc gắn bó với

thiên nhiên chính là một biểu hiện của thái độ phê phán gay gắt thời đại công nghiệp. Điều

này sẽ trở nên rõ ràng hơn nếu chúng ta đặt khung cảnh thiên nhiên nói trên bên cạnh không

gian thị trấn St Petersburg với nhà thờ, trường học và những qui ước gò bó của xã hội văn

minh.

Và như vậy, khi chỉ ra những nét tương phản giữa cái xã hội văn minh thu nhỏ ở St

Petersburg với thiên nhiên hoang sơ của đảo Jackson, chúng tôi muốn khẳng định tự điều đó

đã nói lên quan điểm của tác giả về một vấn đề xã hội lúc bấy giờ : văn minh công nghiệp

không hẳn là tốt, nhất là đối với tâm hồn con người. Đứng trước hai không gian đối lập nói

trên của thiên nhiên, trong tiểu thuyết Tom Sawyer, chúng ta thấy, nhà văn để Tom và các

bạn đi đi về về giữa hai không gian ấy nhiều lần trong các hành trình phiêu lưu của mình.

Dòng sông trong mát, khu rừng hoang sơ của đảo Jackson không giữ chân Tom và các bạn

lâu. Khi ở đảo thì chúng thấy lo lắng, nhớ nhà; còn khi ở thị trấn thì lại cảm thấy tù túng đến

khó chịu. Với Huck và Jim sau này trong cuốn Huck Finn, sự việc trở nên khác hẳn. Cả hai

từ thị trấn đi thẳng về phía thiên nhiên và vẫn là không gian phiêu lưu nhưng thiên nhiên mở

rộng hơn nhiều, nét hoang dã cũng “đậm đặc” hơn và qua đó những vấn đề quan niệm về xã

hội, về con người, về thời đại của nhà văn cũng bộc lộ rõ ràng hơn, sâu sắc hơn. Vì vậy :

…thực ra Tom không trốn khỏi cộng đồng như một phản ứng xã hội mang tính đối

lập và triết lí theo kiểu Huck sau này trong “Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn”

mà chỉ là một cách tạo cơ hội, tạo điều kiện để xây dựng một thế giới khác, thế giới

tuổi thơ đầy tưởng tượng, bay bổng, lộng lẫy, hấp dẫn, thần bí và sách vở. [10,

tr.16].

2.3. Thiên nhiên trong Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn

Tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn (1884) được Mark Twain khởi

thảo ngay sau khi xuất bản Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (1876) nhưng vì nhiều lí

do ông phải gác lại vài lần và mãi đến tám năm sau mới hoàn thành. Nó chính là kiệt tác của

ông và của cả nền văn học Mĩ mà ý kiến đánh giá của Ernest Hemingway “Toàn bộ nền văn

học Mĩ hiện đại ra đời từ tác phẩm này” là một minh chứng.

Nhân vật chính Huck Finn, từng đồng hành với Tom Sawyer trong cuốn Những cuộc

phiêu lưu của Tom Sawyer , bây giờ, trong vai trò người kể chuyện đã thuật lại rất hấp dẫn

hành trình trốn chạy của mình và Jim, một nô lệ da đen. Huck muốn trốn chạy khỏi người

cha tàn ác của mình và những thiện chí muốn khai hóa “văn minh” của bà quả phụ Douglas

và cô Watson; còn Jim muốn trốn chạy khỏi những trói buộc của đời sống nô lệ. Cả hai thực

hiện hành trình đến với tự do theo nghĩa thoát khỏi những qui định xã hội, trên một chiếc

bè, xuôi dòng Mississippi tìm về với thiên nhiên. Tác phẩm cuốn hút độc giả từ đầu đến

cuối bởi nhiều tình tiết bất ngờ, gay cấn xảy ra với Huck và Jim trong suốt chuyến đi đúng

với tính chất của một tiểu thuyết phiêu lưu. Đó cũng là một nguyên nhân khiến nó trở thành

tác phẩm best seller ngay sau khi xuất bản.

Nhưng đó chỉ là “bề nổi” của tác phẩm. Hành trình hướng thẳng đến thiên nhiên của

Huck và Jim còn chứa đựng những ý nghĩa xã hội, ý nghĩa triết lí sâu xa mà chúng ta, để

hiểu được cần phải đặt tác phẩm vào trong bối cảnh mà nó ra đời. Cuộc cách mạng kĩ thuật

ở nước Mĩ cuối thế kỉ XIX như chúng tôi đã trình bày ở trên khiến quốc gia này trở nên

hùng mạnh; đồng thời văn minh công nghiệp cũng khiến con người thay đổi nhận thức về

các giá trị hiện đại. Do đó, lúc bấy giờ ở Mĩ sự bừng tỉnh về một nền văn hóa nông nghiệp

mà kết quả là ngành Folklore học Mĩ ra đời vào năm 1888, được xem như là một phản ứng

với xã hội công nghiệp. Cả hai đã tác động đến quan điểm của Mark Twain về những vấn đề

con người, đất nước, xã hội đương thời. Và do đó, trong các tác phẩm của mình, bằng sự

quan tâm đặc biệt đến cuộc sống ở một vùng đất biên giới gắn liền với thiên nhiên sông

nước đặc trưng, ông đã bộc lộ thái độ phê phán xã hội công nghiệp theo một cách riêng.

Hành trình đi tìm tự do bằng cách hướng thẳng đến thiên nhiên của Huck và Jim chính là

mang ý nghĩa này. Đồng thời :

Trong một bối cảnh như thế, “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn” còn là

một cách đi tìm tính cách của dân tộc Mĩ trên cơ sở bày tỏ những quan điểm về con

người khi tìm về với cái quá khứ của một quốc gia trước Nội chiến lúc dân Mĩ biên

cương giáp mặt với thiên nhiên trong thời kì khai phá. [11, tr.18].

Hai ý nghĩa trên của cuộc hành trình thực ra có quan hệ tương tác với nhau bởi chúng

gắn bó chặt chẽ với yếu tố thiên nhiên. Tìm hiểu vấn đề thiên nhiên chính là để chỉ ra các

tầng ý nghĩa ấy của hành trình.

Chúng ta đều đã biết, hành trình của Huck bắt đầu từ khu rừng cách thị trấn St

Petersburg ba dặm, xuôi theo dòng Mississippi, Huck đến đảo Jackson và phát hiện ra Jim.

Cả hai vượt sông trên một chiếc bè, lúc thì đi bên phía bờ Tây, Missouri; lúc lại dạt sang bờ

Illinois ở phía Đông. Ngày giấu bè vào một chỗ kín đáo, trốn trong rừng. Đêm đến lại lênh

đênh trên sông. Vì thế hành trình ấy gắn chặt với hai hình ảnh thiên nhiên là rừng và sông.

Trong toàn bộ tác phẩm Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn hai hình ảnh rừng và

sông trở đi trở lại rất nhiều lần. Cụ thể : rừng xuất hiện 52 lần và sông “đậm đặc” hơn với

243 lần. Và như thế chúng đã đạt đến mức độ biểu trưng, có thể chứa đựng những ý nghĩa

xa hơn, rộng hơn bản thân chúng. Khi hiểu rừng và sông như những biểu trưng thì hành

trình của Huck và Jim cũng trở thành biểu trưng và vì thế chúng ta có thể tìm thấy ở hành

trình ấy những tầng nghĩa khác nhau.

Khám phá hành trình ấy, do đó không thể không đi vào tìm hiểu các biểu tượng rừng

và sông. Chính vì vậy, sau đây chúng tôi sẽ lần lượt tìm hiểu các biểu tượng ấy với ý nghĩa :

thiên nhiên – tự nhiên.

2.3.1. Rừng – không gian của cảm thức sống

Nếu như trong cuốn Tom Sawyer, hình ảnh rừng chỉ được tập trung miêu tả trong

chương XIV, khi Tom và các bạn sống trên trên đảo Jackson vài ngày thì trong cuốn Huck

Finn rừng trải dài theo suốt hành trình. Những cánh rừng bao la, rậm rạp, hoang vu hai bên

bờ dòng Mississippi được miêu tả khá kĩ trong tác phẩm với nhiều sắc thái khác nhau, ở

những thời điểm khác nhau. Chỉ mất một đêm chèo xuồng Huck đã đến được đảo Jackson

vào lúc “trời đã bắt đầu xam xám” và bước vào rừng ngủ một giấc. Và đây là cảm nhận của

Huck khi tỉnh dậy trong rừng:

Lúc tôi tỉnh dậy mặt trời đã lên cao lắm rồi, tôi đoán lúc ấy đã hơn tám giờ. Tôi nằm

trên cỏ, trong bóng râm mát lạnh, đầu nghĩ đến nhiều thứ. Tôi cảm thấy được nghỉ

ngơi, vừa vững dạ, vừa thoả thích. Qua một vài khoảng trống, tôi có thể trông thấy

mặt trời. Chung quanh toàn là cây to nên chỗ nào cũng tối cả. Cũng có chỗ ánh nắng

xuyên qua kẽ lá chiếu xuống mặt đất, và ánh nắng chỗ đó rung rinh như có một làn

gió nhẹ thổi qua. Một đôi sóc ngồi trên cành nhìn tôi rúc rích kêu một cách thân mật.

[66, tr.73].

Rồi ba ngày sau Huck phát hiện ra Jim cũng ở trên đảo. Từ đấy rừng gắn bó với đôi

bạn :

Ban ngày chúng tôi có thể chèo xuồng đi khắp trên đảo. Trời khá lạnh. Ở trong rừng

sâu thì lại càng tối, mặc dầu bên ngoài trời vẫn nắng. Chúng tôi cho xuồng đi lách

giữa những thân cây. Có nhiều chỗ nho trĩu xuống vướng cả lối đi, phải quay lại đi

vòng lối khác. Những chỗ có cây mục đổ xuống có thể có thỏ; có rắn, và những con

vật khác. [66, tr.92].

Từ điểm nhìn của nhân vật người kể chuyện, Huck hòa vào khu rừng, quan sát cảnh

vật và miêu tả bằng chính sự cảm nhận của bản thân. Hoàn cảnh, suy nghĩ có thể khác nhau

nhưng hình ảnh rừng thì không thay đổi. Luôn luôn là không gian yên bình, tươi mát của

nhiều loại cây : từ “cây to” che khuất cả mặt trời đến cây dây leo “trĩu xuống vướng cả lối

đi” hay “cây mục đổ xuống” làm thành chỗ ở cho những con vật khác… Sự hoà quyện của

Huck với không gian rừng còn được thể hiện qua sự cảm nhận rất giống nhau trong hai đoạn

văn nói trên về không khí trong rừng. Trong cả hai đoạn văn, chúng ta đều bắt gặp cảm nhận

của nhân vật về cái mát mẻ khi ở dưới những bóng râm trong rừng (chúng tôi không dùng từ

“lạnh” như bản dịch vì trong nguyên tác, tác giả dùng “cool” và “ mighty cool”); về cảm

giác thích thú khi nhìn ngắm vài tia nắng mặt trời lấp lánh xuyên qua những tán lá dày

trong rừng.

Tôi nằm trên cỏ, trong bóng râm mát lạnh… Chung quanh toàn là cây to nên chỗ

nào cũng tối cả” và “ Trời khá lạnh. Ở trong rừng sâu thì lại càng tối.

Cũng có chỗ ánh nắng xuyên qua kẽ lá chiếu xuống mặt đất…” và “Ở trong rừng

sâu thì lại càng tối, mặc dầu bên ngoài trời vẫn nắng.

Điều đó có nghĩa là Huck cảm nhận rừng bằng mọi giác quan và dường như đã trở

thành một bộ phận của nó. Vì thế việc cậu bé cảm thấy “được nghỉ ngơi, vừa vững dạ, vừa

thoả thích” (rested and ruther comfortable and satisfied) [75, tr.164] khi ở trong rừng là

điều hết sức tự nhiên. Ở đây chúng ta thấy ảnh hưởng của Chủ nghĩa Siêu nghiệm lên cách

nhìn thiên nhiên của Mark Twain. Khi đến với rừng (và cả sông), Huck cảm nhận sự đồng

nhất với thiên nhiên và dưới sự dẫn dắt của chính thiên nhiên, Huck đã tìm ra “chân lí”. Đó

chính là sự tuyệt diệu của cuộc sống tự do.

Ý nghĩa rừng là không gian của cảm thức sống sẽ rõ ràng hơn khi chúng ta xem xét

một bức tranh khác của rừng, khu rừng trong cơn mưa :

Đó là một cơn giông thường xảy ra vào mùa hè. Trời càng tối, nhìn ra ngoài mọi vật

xanh xanh tím tím rất đẹp. Nước mưa đổ xuống nhiều đến nỗi những ngọn cây cao

cao một chút là nhìn cũng không rõ; trông chỉ như những cái mạng nhện. Rồi mỗi

cơn gió thổi đến thì kéo những cây ấy ngã xuống và biến đổi cả cái màu xám nhạt ở

dưới những cành lá. Rồi lại một trận gió khác dữ hơn cuốn đến bắt những cành cây

phải vươn ra như những cánh tay thú vật; rồi sau đó, đến lúc chỗ nào cũng biến sang

màu xanh màu tím cả rồi thì – úi chà, bỗng sáng hẳn lên, trong cơn giông bão ấy cứ

thử nhìn lên những ngọn cây xa xa mà xem, lại có thể thấy nó xa hơn lúc nãy hàng

trăm thước; rồi thì chỉ trong một giây đồng hồ lại tối như bưng; lúc đó mới nghe

thấy tiếng sét vang lên một cách khủng khiếp, rồi đến những tiếng rầm rầm, dần dần

từ trên cao vọng xuống và đi đến tận phía bên kia thế giới, y như tiếng người ta lăn

một cái thùng rỗng xuống cầu thang vậy – mà cầu thang dài cơ – cái tiếng nó cũng

rầm rầm như vậy. [66, tr.91 – 92].

Lúc này Huck đang cùng Jim ngồi trong một cái hang trên đảo Jackson mà cả hai vừa

phát hiện ra và quyết định đây sẽ là “mái ấm” của họ. Bởi thế tâm trạng Huck rất thoải mái

và cậu bé hoàn toàn chú tâm vào cảnh vật. Cơn mưa trong rừng được miêu tả hết sức chi

tiết từ màu sắc, đường nét, chuyển động đến âm thanh. Trong cơn mưa dữ dội ấy, rừng vẫn

hiện lên rất rõ qua 6 lần xuất hiện hình ảnh các ngọn cây, cành lá. Tức là rừng chi phối cảm

nhận của nhân vật, trở thành hình ảnh trung tâm trong bức tranh cảnh vật. Không những thế,

việc miêu tả rừng còn gắn liền với phép so sánh quen thuộc, nhưng các hình ảnh so sánh lại

rất mộc mạc “trông chỉ như những cái mạng nhện” hay “vươn ra như những cánh tay thú

vật”. Đó chính là ngôn ngữ của Huck chứ không phải cách diễn đạt hoa mĩ của tác giả như

trong cuốn Tom Sawyer mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên. Như vậy cảnh rừng được quan sát

bởi Huck và được diễn tả cũng bằng ngôn ngữ của Huck. Nó thể hiện việc nhân vật hoà

nhập hoàn toàn với thiên nhiên. Bên cạnh đó, trong bức tranh cảnh vật trên, chúng ta còn bắt

gặp thái độ thích thú của Huck khi ngắm cơn mưa. Không sợ hãi, không cuống quýt vì giữa

rừng bất chợt gặp mưa giông, sấm chớp, mà ngược lại Huck còn “thưởng thức” điều đó một

cách khoan khoái, dễ chịu. Và Huck chia xẻ với Jim bằng câu nói :

Thú quá Jim ạ! (Jim, this is nice,) Tôi chỉ muốn ở đây chứ không đi đâu cả. [66,

tr.92].

Cái thích thú mà Huck cảm nhận chính là sự tự do, thoải mái khi sống giữa thiên

nhiên và cảm thức sống ấy là do không gian rừng mang lại cho Huck.

Như vậy, rừng trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn không chỉ là

một trong những hình ảnh có thể gợi lên khung cảnh hoang dã của miền Tây biên cương

thời kì khai phá mà còn mang ý nghĩa biểu trưng. Nó tượng trưng cho tự do, là chốn ẩn cư

có thể che chở, đem đến sự thoải mái, bình yên và vì thế có vai trò dẫn dắt suy nghĩ, soi

sáng nhận thức cho Huck. Vai trò ấy của rừng khiến Huck luôn hướng về nó và cảm nhận

được một sức sống tràn trề mỗi khi đến với rừng.

2.3.1.1. Rừng – chốn quay về

Không chỉ đợi đến khi trốn khỏi thị trấn vào rừng sống Huck mới cảm nhận được ý

nghĩa của rừng. Mà ngay từ đầu tác phẩm, Huck đã luôn hướng về rừng như thể giữa cậu bé

và rừng có một mối liên hệ “thần bí” nào đó. Kết thúc cuốn Tom Sawyer, Huck được bà quả

phụ Douglas đem về nuôi và vì thế cuốn Huck Finn mở đầu bằng những trang kể về cuộc

sống mới của Huck tại ngôi nhà sang trọng trên đồi Cardiff. Cậu bé không thể chịu nổi việc

phải mặc những bộ quần áo mới khiến “toát cả mồ hôi và người như bị trói chặt lại”, và

những sinh hoạt đều đặn như rung chuông ngồi vào bàn ăn đúng giờ, ăn xong phải nghe

giảng về Kinh thánh… Do đó những lúc thấy cô đơn, tù túng, Huck thường ngồi bên cửa sổ

nghe “Tiếng lá xào xạc trong rừng”. Khi không sao hiểu nổi những lời dạy của cô Watson

thì Huck “ngồi tít trong rừng và nghĩ ngợi rất lâu”. Khi được giải thích rằng việc cầu

nguyện là để được hưởng lộc về tinh thần, Huck thấy “thật khó hiểu quá” và cậu bé “lại đi

ra phía ngoài rừng và cứ quanh quẩn bới óc nghĩ về chuyện đó rất lâu” và đi đến quyết

định là “thôi không băn khoăn gì về chuyện đó nữa, cứ để mặc kệ nó đấy.” [66, tr.32]. Ở

đây, chúng ta bắt gặp sự giống nhau trong cảm thức thiên nhiên giữa Huck và Tom : thiên

nhiên – chốn quay về. Cả hai nhân vật đều hướng đến với rừng mỗi khi gặp chuyện buồn

bực hay khó chịu. Có khác chăng là nơi Huck điều này diễn ra nhiều hơn, thường xuyên

hơn. Do đó sau này Huck đã hướng thẳng đến với rừng mà không chút nhớ nhung hay nuối

tiếc cuộc sống “văn minh” ở thị trấn St Petersburg như Tom.

Nghĩ đến rừng như chốn quay về chính là một biểu hiện của cảm thức sống mà chúng

tôi đã nói ở phần trên. Với cảm thức ấy, mỗi khi đến với rừng, Huck không chỉ tận hưởng

không gian tự do, hấp dẫn mà trong ý nghĩ của cậu bé luôn xuất hiện sự so sánh cảm giác

thoải mái mà rừng mang lại với cảm giác tù túng mà cuộc sống văn minh mang lại.

Ngay từ những ngày đầu ở nhà bà quả phụ, vì không thể “gò mình làm thế nào cho

đúng với mọi điều khuôn phép” nên Huck đã từng trốn đi để “lại được tự do, thỏa thích”.

Nhưng viễn cảnh được tham gia vào băng cướp “Tom Sawyer” đã khiến Huck quay về và

cố chịu đựng cuộc sống ở nhà và ở trường học. Thế nhưng “Sống trong một ngôi nhà, ngủ

trên một chiếc giường riêng, lắm khi tôi cũng thấy nó trói buộc mình thế nào ấy.” Vậy nên

“thỉnh thoảng tôi vẫn hay lẩn ra ngủ ngoài rừng. Đối với tôi như vậy là nghỉ ngơi được”

[66, tr.39]. Hai cảnh sống trái ngược và hai cách cảm nhận cũng hoàn toàn khác nhau.

Chúng soi vào nhau và cái này làm nổi bật cái kia. Sự “trói buộc” của văn minh càng khiến

Huck nhận thức rõ hơn giá trị của cuộc sống gắn với rừng. Cách thể hiện sự đối lập giữa

thiên và cuộc sống văn minh kiểu như thế này cho thấy sự thống nhất trong cái nhìn của nhà

văn về thời đại công nghiệp.

Cảm nhận rừng như là chốn quay về trong thế đối sánh với cuộc sống tiện nghi còn

được thể hiện nhiều lần trong tác phẩm. Cụ thể nhất có lẽ là suy nghĩ của Huck trong những

ngày bị bố bắt vào rừng sống. Cậu bé không hề cảm thấy hối tiếc mà ngược lại rất thích thú

:

Thật là một kiểu lười biếng mà dễ chịu. Suốt ngày thoải mái, chỉ hút thuốc, câu cá,

không sách vở mà cũng chẳng học hành gì. Khoảng hai tháng sau thì quần áo của tôi

đã bẩn thỉu, rách bươm cả. Tôi cũng không nghĩ rằng trước đây ở với mụ góa đã có

lúc nào tôi thích như vậy không. Vì ở đó phải giặt giũ quần áo. Phải ăn bằng bát,

bằng đĩa, phải chải đầu, phải đi ngủ và dậy đúng giờ. Phải luôn luôn lo nghĩ đến

quyển sách quyển vở, lại bị cô Watson nói ra nói vào suốt ngày. Tôi không thiết quay

trở về nơi ấy nữa… Những ngày sống ở rừng thật là thú vị, đâu đâu cũng thấy khoái

như thế cả. [66, tr.53 – 54].

Nếu như trước đây lúc còn sống lang thang, mỗi khi bị ông bố nát rượu đánh đập,

Huck “luôn luôn bỏ chạy vào rừng” để trốn thì giờ đây khi bị (hay được) bố kéo ra khỏi

cuộc sống văn minh, nhốt trong rừng, Huck có thời gian tận hưởng sự “thú vị”, khoan khoái

mà rừng ban tặng. Những trói buộc của cuộc sống trước đó khiến Huck nhận ra giá trị của

cuộc sống giữa thiên nhiên. Cũng chính cuộc sống thoải mái ấy trong rừng đã giúp Huck đi

đến quyết định bỏ trốn khỏi người cha độc ác và nơi cậu bé nghĩ đến chính là đảo Jackson

nơi có những cánh rừng rậm rạp, vắng vẻ mà nó từng biết rất kĩ khi đi làm cướp biển cùng

Tom Sawyer và Joe Harper trước đây. Có thể đây là chi tiết nối kết hai tác phẩm để hướng

tới cùng một cảm thức về thiên nhiên. Huck không chỉ cảm thấy bình yên, được che chở khi

ở trong rừng mà cậu bé còn luôn cảm thấy như được tiếp thêm sức mạnh mỗi khi đến với

rừng.

2.3.1.2. Rừng – nơi truyền sức sống

Tác giả đã dành hẳn ba chương để kể về những ngày Huck sống trên đảo, ban đầu là

một mình, sau đó thì cùng với Jim. Tâm trạng nhân vật được nhắc đến nhiều lần mà lần nào

cũng là sự thích thú, an tâm, thoải mái. Khi đến được đảo rồi, sau một giấc ngủ, tỉnh dậy

Huck “cảm thấy được nghỉ ngơi, vừa vững dạ, vừa thỏa thích”. Còn khi cùng Jim nấp trong

hang, ngắm nhìn khu rừng chìm trong cơn mưa và nhấm nháp thức ăn, Huck đã nói : “Thú

quá Jim ạ!”. Sau này khi buộc phải rời đảo, gắn với dòng sông nhiều hơn thì vai trò của

rừng vẫn vậy. Cứ sau một đêm dài lênh đênh trên sông, tảng sáng Huck và Jim lại ghé vào

rừng ngủ, ăn uống và nghỉ ngơi cho lại sức chờ đêm xuống đi tiếp.

Vai trò truyền sức sống của rừng còn thể hiện qua những trang miêu tả sinh hoạt của

hai kẻ đào tẩu ấy trong những ngày lưu lại trên đảo Jackson. Huck và Jim không phải bận

tâm lo nghĩ bất cứ điều gì bởi rừng có mọi thứ mà họ cần. Trời nắng có thể ngủ ngay dưới

những “bóng râm mát lạnh”, trời mưa thì đã có “cái hang rộng bằng hai ba căn phòng

ghép lại” [66, tr.90] và thức ăn thì lúc nào cũng dồi dào bởi những con vật sống trên đảo,

sau cơn mưa thường bị đói nên chỉ cần “chèo xuồng đến tận nơi, thò tay ra là bắt được

ngay” [66, tr.93]. Có khi đôi bạn còn “bắt được một con cá he lớn bằng người, dài gần hai

thước nặng gần một trăm cân.” [66, tr.99]. Cuộc sống hoang sơ gần như của người nguyên

thuỷ vậy. Nó đem lại sức mạnh cả về tinh thần lẫn vật chất cho Huck. Vì thế có thể nói rừng

“hiện ra như một thứ đất mẹ để con người lấy lại sức đã mất.” [13, tr.140].

Cuộc sống như vậy gợi nhớ đến những ngày Huck trốn ra đảo Jackson cùng Tom

Sawyer. Dù khi đó ra đảo là để làm cướp biển chứ không phải để trốn chạy cuộc sống văn

minh như bây giờ, nhưng đều tuyệt thú như nhau. Trong những ngày làm cướp biển trên

đảo, không gian rừng hiện ra nên thơ, trong trẻo như chính những trò nghịch ngợm, những

vui đùa của bọn trẻ. Còn bây giờ, vẫn không gian ấy nhưng nó hiện ra rộng lớn hơn, hoang

sơ hơn và hai kẻ ghét văn minh là Huck và Jim thật sự hòa hợp với thiên nhiên. Họ thật sự

trở thành một bộ phận của khu rừng ấy, không cảm thấy sự khác biệt nào. Điều này gợi nhớ

cái nhìn phương Đông : con người và vạn vật đồng nhất thể mà Mark Twain ảnh hưởng từ

Chủ nghĩa Siêu nghiệm. Cái nhìn ấy cũng là cách mà nhà văn bày tỏ quan niệm của mình về

thời đại công nghiệp.

Và tất nhiên không gian rừng này còn gắn với với những chi tiết phiêu lưu bất ngờ,

hồi hộp nữa. Từ việc Huck chứng kiến cảnh mọi người đi tìm xác mình đến sự lo sợ khi

phát hiện ra có dấu vết người trên đảo. Rồi cùng Jim thám hiểm rừng, hang trên đảo hay

việc Jim bị rắn cắn… Các chi tiết ấy không chỉ gợi lên tính chất phiêu lưu của tác phẩm mà

qua chúng bản chất thuần phác của Huck và Jim cũng được bộc lộ. Do đó các chi tiết ấy sẽ

được chúng tôi tìm hiểu kĩ hơn trong chương thứ ba của luận văn.

Theo chúng tôi, các đặc điểm vừa trình bày ở trên của không gian rừng trong cuốn

Huck Finn tập trung thể hiện ý nghĩa của một biểu trưng cho tự do. Từ đây, chúng tôi sẽ đi

vào tìm hiểu hình ảnh dòng sông cũng với ý nghĩa biểu tượng như thế.

2.3.2. Dòng sông – vị thần dẫn dắt

Cùng với rừng, dòng sông gắn liền với hành trình của Huck và Jim. Với 243 lần xuất

hiện trong suốt cả tác phẩm, dòng sông hoàn toàn có thể được coi là một nhân vật trong

cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Nó xuất hiện với nhiều “chân dung”

khác nhau từ êm đềm, nên thơ với trăng, sao; đến dữ dội, bất kham với sương mù, mưa

giông. Nếu trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, dòng sông êm ả, trong trẻo

như chính những kí ức của Mark Twain về thời thơ ấu thì dòng sông trong cuốn “Huck

Finn” có thể coi là những kí ức sống động của một người say mê nghề hàng hải, từng phiêu

bạt nhiều năm trên dòng Mississippi xưa. Cùng với rừng, sông vừa là không gian phiêu lưu

vừa có tác dụng dẫn dắt nhận thức cho Huck. Chính dòng sông vĩ đại này đã đưa Huck và

Jim từ chốn văn minh đến thẳng với thiên nhiên. Mọi biến cố mà hai nhân vật gặp phải

trong suốt cuộc hành trình đều gắn liền với dòng sông. Xuôi theo dòng sông, Huck suy nghĩ,

hành động và nhận thức mọi việc. Hoà mình vào dòng sông, nhân vật tự tìm ra “chân lí”. Đó

là sự thoải mái, thích thú của tự do; sự ấm áp, ngọt ngào của tình bạn, tình người. Nói như

Lionel Trilling thì dòng sông đã “dung dưỡng lòng hào hiệp của ai yêu nó và cố hoà vào

dòng chảy của nó” [74, 8].

Cùng được xem xét như những biểu trưng trong hành trình của Huck và Jim nhưng

so với rừng, dòng sông còn chứa đựng thêm những tầng nghĩa khác. Khác với những cánh

rừng, dòng sông có tên gọi cụ thể. Nó chính là dòng Mississippi vĩ đại gắn liền với lịch sử

Hoa Kì, đặc biệt là công cuộc Tây tiến của dân tộc này. Do đó việc xuôi theo dòng sông ấy

trong suốt chuyến hành trình, cũng có nghĩa là Huck và Jim đang đi lại hành trình phiêu lưu

của dân tộc. Điều này nhắc đến motif thường gặp trong nhiều tiểu thuyết phiêu lưu của Mĩ.

Đó là việc để nhân vật thực hiện “hành trình ngang qua xứ sở mà nhìn ngắm, phê phán và

suy nghĩ” [13, tr.139]. Không chỉ tiếp tục motif này, Mark Twain còn gắn nó với bối cảnh

thiên nhiên đặc trưng vùng biên cương miền Tây. Và “Thế là cuộc hành trình lại mang một

ý nghĩa mới mẻ : đi tìm bản sắc dân tộc.” [11, tr.20]. Tức là khi xem xét dòng sông (và cả

rừng) như những biểu tượng chúng ta sẽ tìm thấy một ý nghĩa biểu trưng nữa của hành trình.

Vì thế nét hoang sơ, dữ dội của dòng sông như nói được những gian lao, nguy hiểm trong

hành trình; nét êm đềm, nên thơ của dòng sông như nói được cái trong trẻo, thánh thiện

trong tâm hồn của Huck và cả Jim. Hiểu theo nghĩa này thì có thể nói dòng sông đã khiến

hành trình đi tìm tự do ấy sáng lên nhiều ý nghĩa khác nhau dưới ánh sáng của biểu tượng.

2.3.2.1. Dòng sông dữ dội

Sau những ngày tự do trên đảo Jackson, Huck và Jim buộc phải lên bè rời đảo khi

biết Jim đang bị lùng bắt. Từ đây cuộc sống của họ gắn với dòng Mississippi, cụ thể là ở

phần con sông phân chia hai bang Missouri và Illinois. Họ xuôi xuống phía Nam, dự định

đến đến Cairo, điểm tận cùng của Illinois, nơi hai con sông Mississippi và Ohio gặp nhau,

rồi “sẽ đem bán cái bè đi và lên một chiếc tàu thủy rồi cứ thế ngược sông Ohio qua những

bang tự do” [66, tr.140]. Dọc theo chuyến hành trình, nhiều lần Huck miêu tả “ngoại hình”

của nó ở những vị trí khác nhau :

“Phía bên bờ Missouri là núi, còn bên bờ Illinois thì toàn là cây to. Quãng sông này

có con lạch chảy về phía bờ Missouri…” [66, tr.114]. “Chỗ này sông rộng một cách

khủng khiếp, hai bên bờ toàn những cây cao và to, như một bức tường lớn, vươn lên

đến gần các ngôi sao.” [66, tr.144]. “Sông rất rộng, và hai bờ kín đặc những cây to;

nhìn rặng cây như chẳng thấy có chỗ nào ánh sáng mặt trời lọt qua được.” [66,

tr.149]. “Qua sông dài đến hai dặm, xa lắc, phải lâu lắm mới qua được.” [66,

tr.162]. “Con sông vừa to vừa rộng – có chỗ đến một dặm, dặm rưỡi” [66, tr.194].

“Chỗ này hai bên bờ sông đều có làng mạc.” [66, tr.253]…

Trong cảm nhận của Huck, nổi bật là sự rộng lớn của dòng sông. Mọi miêu tả hầu

như chỉ tập trung vào chiều rộng của nó : “sông rộng một cách khủng khiếp”, “ Sông rất

rộng”, “Qua sông dài đến hai dặm, xa lắc”… Điều này không hề là tưởng tượng hay

phóng đại. Nếu đối chiếu với sự mô tả dòng sông này trong những sách địa lí, chúng ta sẽ

thấy đó chính là những chi tiết gợi tả chân thực nhất.

Sông Mississippi là một con sông ở Bắc Mĩ. Theo ngôn ngữ cổ Ojibwe, tên

“Mississippi” từ misi-ziibi, có nghĩa là “sông lớn”. Sông có chiều dài 2320 miles từ

hồ Itasca đến vịnh Mexico… Tại hồ Itasca, nơi hẹp nhất, sông rộng khoảng 20 – 30

feet và hơn 4 dặm là chiều rộng đo được tại hồ Onalaska. [http://vi.wikipedia.org/].

Đi liền với dòng sông rộng lớn ấy là những dải đất ven sông cũng mênh mông không

kém. Trong không gian này, sự hoang sơ, vắng vẻ là nét nổi bật. Hầu hết là cảnh “hai bờ kín

đặc những cây to”. Lâu lâu mới gặp một chỗ mà “hai bên bờ sông đều có làng mạc” là nơi

những người đi mở cõi xưa chọn làm nơi cư trú quây quần bên nhau . Tất cả bổ sung cho

nhau gợi lên một không gian biên cương thời khai phá, đậm chất miền Tây.

Trong những ngày xuôi theo dòng sông, Huck và Jim không ít lần chứng kiến sự dữ

dội của nó. Thường gặp nhất chính là những cơn mưa trên sông.

Chúng tôi gặp một cơn giông lớn vào quãng quá nửa đêm, sấm chớp ầm ầm, mưa đổ

xuống ào ào… Khi chớp lóe lên, trông thấy cả một dải sông lớn và hai bên bờ là

những mỏm đá cao ngất. [66, tr.117].

Cứ vài giây đồng hồ lại chớp lòe lên một cái, soi sáng rõ những mỏm đất trắng xóa

một quãng dài đến nửa dặm. Qua những làn mưa, các bạn có thể thấy những hòn

đảo như bị phủ một màn bụi, và cây cối như quay cuồng trong gió. Rồi thấy soẹt!

Um-ùm-ùm-rùm-ùm-ùm, tiếng sấm gầm lên, rống lên ở nơi xa xa, rồi thôi, rồi chốc

nữa lại lóe lên… [66, tr.210].

Vẫn là cái nhìn của một người đang hoà mình vào mưa gió trên sông chứ không phải

sự quan sát từ “phía bên kia” của một người kể chuyện khách quan. Huck tiếp nhận sự dữ

dội của dòng sông một cách khá bình thản với tư thế đang cảm thụ bản thể thiên nhiên.

Trong tiếng “sấm chớp ầm ầm, mưa đổ xuống ào ào”, cậu bé vẫn chú ý đến không gian xa

rộng xung quanh con sông. Đó là “những mỏm đá cao ngất” hai bên bờ hay “những mỏm

đất trắng xóa một quãng dài đến nửa dặm”. Chính vì vậy mà thiên nhiên dường như được

kéo đến gần độc giả hơn bởi họ đang “thưởng thức” thiên nhiên thông qua sự cảm nhận của

chính Huck, một người đang hướng đến thiên nhiên với khát vọng tự do mãnh liệt trong

lòng.

Mọi hình ảnh, âm thanh trong các bức tranh cảnh vật trên vì thế gợi nhớ đến cảnh vật

khu rừng trong cơn mưa mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên khi nói về rừng. Dù giờ đây, Huck

đang ngồi trong cái lều dựng tạm bằng mấy mảnh ván trên bè để ngắm mưa chứ không phải

trong cái hang an toàn trên đảo Jackson nhưng cách cảm nhận thiên nhiên thì vẫn thế. Cậu

bé không hề có cảm giác lo sợ, hoảng hốt khi ở giữa thiên nhiên dù là thiên nhiên dữ dội.

Cảnh mưa trên sông không nhiều màu sắc, không có các hình ảnh so sánh cụ thể như cảnh

vật rừng trong cơn mưa nhưng vẫn hiện lên rõ nét qua sự quan sát và hoà nhập của chính

Huck với thiên nhiên. Khi hiểu như thế về mối quan hệ giữa Huck và dòng sông, chúng ta

sẽ dễ dàng chia sẻ ý kiến của Lionel Trilling :

Bản thân Huck là người đầy tớ của thần sông và biết rõ bản chất linh thiêng của vị

chúa mình thờ phụng. [74, tr.7 – 8].

Tuy nhiên không phải lúc nào Huck cũng bình thản như vậy trước sự nguy hiểm của

dòng sông. Trong chương XV của tác phẩm, Mark Twain đã miêu tả cảnh sương mù trên

sông :

Đến đêm thứ hai, sương mù bỗng phủ dày đặc nên chúng tôi phải tìm đến một cái

khe để buộc bè lại. Vì không nên liều lĩnh đi trong sương mù… Sương mù càng

xuống nặng, làm tôi đâm lo sợ đến nửa phút đồng hồ không cựa quậy gì được…

Không có bè ở đây thì lại càng không nhìn được xa quá hai chục thước… Chính cái

lúc tôi vừa đến gần đó (cái bè) thì lại đâm ngay vào một màn sương mù dày đặc hơn

nữa, không sao biết lối; khác nào như một người đã chết hẳn rồi. [66, tr.140 – 141].

Thêm một nét hiện thực nữa khi viết về dòng sông. Cùng với những cơn mưa giông,

cảnh sương mù này khiến chúng ta dễ dàng hơn khi hình dung ra vẻ dữ dội của nó. Nhưng ở

đây điều chúng tôi quan tâm hơn là tâm trạng của Huck. Nỗi lo sợ của cậu bé được nhắc đi

nhắc lại, không chỉ “lo sợ đến nửa phút đồng hồ không cựa quậy gì được” và “khác nào

như một người đã chết hẳn rồi”, mà còn “hai bàn tay run lên”, “trống ngực đập thình

thịch”, “cảm thấy mình như nằm chết ngất trên mặt nước”… [66, tr.141 – 142]. Giữa đêm,

trên dòng sông mênh mông, bị quây bởi sương mù dày đặc thì tâm trạng hốt hoảng ấy cũng

dễ hiểu. Thế nhưng nỗi lo sợ của Huck còn một nguyên nhân nữa : cậu bé nhận ra việc mình

lạc mất Jim. Đây mới là nguyên nhân chính. Nó khiến Huck hết “vểnh tai” nghe ngóng

tiếng hú của Jim, lại ra sức “hú gọi” bạn và khi nghĩ Jim “có lẽ thế là đi đứt” thì cậu bé

không sao “chợp mắt” được. Sau này, trong suốt chuyến đi, đôi bạn còn lạc mất nhau rồi

gặp lại nhiều lần nữa. Thế nhưng đây là lần lạc nhau đầu tiên và nó khiến Huck, cũng lần

đầu tiên nhận ra ý nghĩa của việc có Jim đồng hành với mình trong hành trình. Như thế dòng

sông đã “dạy” Huck về tình bạn. Chính trong lúc hành động trên sông, giữa sự nguy hiểm,

lừa mị của màn sương mù Huck đã nhận thức được sự nồng ấm mà tình bạn mang lại, hiểu

được giá trị của tình cảm ấy. Đây có thể coi là bài học đầu tiên mà cậu nhận từ “ông thầy”

thiên nhiên.

Như vậy hình ảnh dòng sông dữ dội không chỉ gợi lên một cách chính xác, chân thực

không gian hoang sơ, đậm chất phiêu lưu mà nó còn là không gian được cảm nhận bởi nhân

vật Huck Finn. Trong vai trò người kể chuyện trực tiếp Huck đã quan sát, nhìn ngắm nó

bằng “thái độ phân tích của một hoa tiêu” chứ không phải bằng “cái nhìn đa cảm của các

hành khách” đang ngao du trên sông, như cách Leo Marx nói khi bàn về vai trò người kể

chuyện trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn.

Sự dữ dội của dòng sông không chỉ được khắc họa thông qua những bức tranh cảnh

vật thiên nhiên đã nêu trên. Nó còn là không gian chứa đựng những tình tiết đậm chất phiêu

lưu có tác dụng tái hiện quá khứ của một miền Tây hoang dã. Rất nhiều hình ảnh đặc trưng

của vùng sông nước này được tác giả đưa vào tác phẩm. Đó là căn nhà gỗ trôi trên sông với

xác người bên trong; là chiếc tàu thủy sắp chìm nơi bọn cướp đang thanh toán lẫn nhau…

Với mục đích tìm hiểu dòng sông như là không gian đối lập với cuộc sống văn minh, chúng

tôi đặc biệt chú ý đến chi tiết chiếc tàu thủy quật vỡ chiếc bè của Huck và Jim vào một đêm

“xám mờ mờ” trên sông. Cảnh này được miêu tả khá chi tiết :

Chúng tôi có thể nghe rõ tiếng lịch xịch nhưng không trông thấy rõ tàu thủy trước

khi nó tới gần. Chiếc tàu như đang nhằm thẳng phía chúng tôi đi lên. Thường thường

họ vẫn làm như thế để thử xem họ có thể đi sát tới mức nào mà vẫn không chạm. Có

khi cái guồng tàu của họ đập gẫy mất một mái chèo của người ta rồi, lúc đó anh lái

tàu lại còn thò đầu ra cười, tưởng như vậy là hay lắm. Chiếc tàu thủy tiến đến, chúng

tôi bụng bảo dạ có lẽ nó định liếm mình đây, mà hình như nó không có vẻ gì là tránh

ra cả. Chiếc tàu to lắm, lại đi nhanh nữa, trông như một đám mây đen to tua tủa

những guồng và có những con đom đóm ở xung quanh. Nhưng rồi bất thình lình nó

quặt ra, trông lù lù khủng khiếp, với một dãy cửa sáng lên trông như một hàm răng

lớn đỏ chót, với những guồng những lái muốn ụp cả lên đầu chúng tôi. Có một tiếng

thét gọi, rồi một hồi chuông lắc vang lên để hãm máy lại, những tiếng càu nhàu chửi,

tiếng máy rít, và vừa lúc đó Jim nhảy sang một bên, tôi cũng nhảy sang một bên, thì

chiếc guồng tàu đã quật thẳng vào cái bè của chúng tôi vỡ tan. [66, tr.160 – 161].

Giữa không gian mênh mông của dòng sông, đoạn văn trên giống như một scene cận

cảnh trên màn ảnh. Người xem nhận ngay ra sự đối lập giữa chiếc tàu thủy “to lắm” và

chiếc bè giản đơn. Đó cũng chính là sự đối lập giữa thế giới văn minh hiện đại với thiên

nhiên hoang sơ. Những chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước vào thời hoàng kim của chúng đã

khuấy động dòng Mississippi, đem đến sự náo nhiệt mỗi khi cập bờ. Nhưng trong đoạn văn

trên nó trở thành mối đe dọa của chiếc bè, cản trở hành trình đến với thiên nhiên của các

nhân vật. Bằng cái nhìn nhân hóa đối tượng, Huck khiến con tàu hiện ra như một thứ quái

vật, hiện thân của ác mộng đối với mọi phương tiện di chuyển khác trên sông. Hình ảnh

chiếc bè vỡ tan vì thế có thể tượng trưng cho những hoài niệm, những tiếc nuối của nhà văn

về quá khứ gắn liền với dòng sông xưa. Xã hội công nghiệp cũng như chiếc tàu thủy kia sẽ

nhấn chìm chiếc bè nhưng “hình ảnh huyền diệu của con sông vẫn còn ở lại, cũng mênh

mông và thay đổi như chính cuộc đời.” [68, tr.123]. Nó vì thế thể hiện được cái nhìn của

nhà văn về xã hội công nghiệp thông qua hình ảnh thiên nhiên. Hơn nữa, cái nhìn phê phán

ấy còn chi phối để ông đưa ra những tình tiết tiếp theo sau việc chiếc bè bị quật vỡ. Bởi vì

sau khi bè vỡ, Huck lạc Jim, rồi vô tình chứng kiến chuyện thù hận rồ dại giữa hai dòng họ

Shepherdsons và Grangerford và cuối cùng đôi bạn gặp lại nhau và họ tiếp tục lên đường

cùng với một tình bạn khắng khít hơn qua thử thách. Có nghĩa là chiếc tàu hơi nước cũng

giống như cái xã hội công nghiệp hiện đại kia chỉ có thể nhấn chìm chiếc bè hiện thân của

thế giới giản đơn, nhưng sẽ phải bất lực trước đạo đức. Nói cách khác cùng với sự “vỡ tan”

của chiếc bè là sự lên ngôi của tình bạn.

Trong “bức chân dung” dữ dội, nguy hiểm nói trên của dòng sông, chúng ta nhận

thấy đầy ắp những chi tiết chân xác. Vì thế bên cạnh những ý nghĩa về biểu tượng, về quan

điểm, cách nhìn… nó còn là một biểu hiện cụ thể của khuynh hướng vùng miền trong ngòi

bút hiện thực của Mark Twain. Về điều này, Lionel Trilling đã từng nhận xét :

Cảm giác nguy hiểm tiềm tàng của con sông đã cứu lấy quyển sách khỏi bất kì những

liên hệ đa cảm và lạc lõng đạo đức của hầu hết các tác phẩm tưởng tượng vốn tương

phản với cuộc sống tự nhiên và cuộc sống xã hội. [74, tr.8].

Mặc dù vậy, sự dữ dội không phải là “chân dung” duy nhất của dòng sông. Nó cũng

có những lúc êm đềm, nên thơ mà vẫn rất chân thực.

2.4.2.2. Dòng sông êm đềm

Song hành và tương phản hoàn toàn với vẻ dữ dội nói trên là hình ảnh một dòng sông

êm đềm, nên thơ rất quyến rũ. Đó thường là những đêm trời quang đãng, đầy sao. Huck và

Jim chỉ việc nằm trên bè ngắm bầu trời, trong lúc chiếc bè tự trôi theo dòng nước. Những

lúc như thế không gian thường tĩnh lặng và Huck cảm nhận điều đó một cách rất đặc biệt

trong đêm đầu tiên rời đảo, lênh đênh trên sông :

Đi trên sông lớn và lặng lẽ này nghe nó nghiêm trang làm sao ấy. Chúng tôi ngửa

nhìn sao trên trời, không lúc nào dám nghĩ đến nói to, cũng không mấy lúc cười. [66,

tr.115].

Khung cảnh xung quanh không được chú ý quan sát bằng mắt. Huck chỉ cảm nhận vẻ

“ lặng lẽ” của dòng sông. Và điều này tác động đến tâm trạng của nhân vật nhiều hơn.

Huck trầm tư hơn, thành kính hơn trước dòng sông. Đây cũng có thể coi là một biểu hiện

khác của sự hoà quyện với không gian.

Cũng có khi cảnh vật dòng sông vào ban đêm được miêu tả khá chi tiết :

Nhìn qua mặt nước, xa xa bên kia là bờ sông, và đảo. Và có lẽ có một ánh lửa, một

ngọn đèn nến trong khung cửa sổ. Có khi trên mặt nước cũng có một vài ánh lửa

nữa. Đó là đèn trên bè hay trên phà và có lẽ lại được nghe cả tiếng đàn vĩ cầm hay

tiếng hát vọng ra… Trên đầu chúng tôi chỉ có trời cao, lốm đốm những vì sao, và

chúng tôi thường nằm ngửa nhìn lên trời, bàn cãi với nhau không biết rằng những

ngôi sao đó là do ai làm ra hay tự nó có như thế. [66, tr.196 – 197].

Cảnh vật này có lẽ là ở một khúc sông mà hai bên bờ có làng mạc. Do đó nó không

hoàn toàn tĩnh lặng mà khá nhộn nhịp với tiếng đàn, tiếng hát từ xa vọng lại và ánh lửa, ánh

đèn nến từ những cửa sổ, “ánh đèn trên bè hay phà”… Trong không gian ấy, Huck hoà vào

thiên nhiên không phải một cách “trang nghiêm” như trên mà bình thản hơn. Trên dòng

sông, nhiều lần đôi bạn nằm trên bè ngắm bầu trời “lốm đốm những vì sao” trên đầu.

Những lúc ấy cảm nhận về tự do của Huck cũng rõ ràng, trong trẻo như thiên nhiên vậy.

Dòng sông trong những đêm đẹp trời như thế thường khiến Huck ý thức được niềm vui thú

mà cuộc sống tự do mang lại. Nó khác xa cuộc sống “văn minh” ngắn ngủi mà Huck từng

trải qua trước kia. Cuộc sống ấy giờ đây dường như chẳng còn lưu lại chút gì trong đầu óc

cậu bé. Huck chỉ nghĩ đến dòng sông và cuộc sống trên sông. Khi thì Huck “thấy như cả

con sông này là thuộc về chúng tôi.” [66, tr.196]; khi lại nghĩ “Sống trên một chiếc bè hay

chiếc mảng, thú vị biết bao nhiêu” [66, tr.197]. Dòng sông hay nói rộng hơn là thiên nhiên

có thể đem đến cho con người sức mạnh, niềm vui mà cuộc sống hiện đại chưa chắc làm

được.

Cũng có lúc Huck nhìn ngắm vẻ êm đềm của dòng sông không phải vào ban đêm.

Trong chương XIX, người đọc bắt gặp một cảnh bình minh tuyệt đẹp trên dòng Mississippi :

Chung quanh không một tiếng động - hoàn toàn yên tĩnh - hình như khắp cả thế giới

đều ngủ cả. Có lẽ thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng ễnh ương kêu. Vật đầu tiên trông thấy

ở bên kia mặt nước chỉ là một rặng cây dài im lặng, không thể thấy gì khác. Rồi một

mảnh nhàn nhạt trên nền trời, mảnh nhạt đó tỏa dần ra, dòng sông cũng như rộng

thêm ra nữa, không còn là đen nữa mà xam xám. Xa xa, có thể thấy những chấm đen

trôi xuôi, trôi mãi – nhưng chiếc thuyền buôn hay gì đó, những vật đen dài là những

chiếc bè gỗ. Đôi khi có thể nghe tiếng mái chèo vỗ nước, hay tiếng nói lao xao. Yên

tĩnh quá nên tiếng vang càng đi xa. Chốc chốc lại thấy một vệt trên mặt nước, nhìn kĩ

cái vệt có thể nhận thấy ngay ra đó là một cái cây đã bị nhổ bật cả rễ và cuốn trôi đi

thành thử trông như vậy, rồi sương mù cuộn tròn thành từng cuộn trên mặt nước.

Phía Đông, trời bắt đầu hửng đỏ, rồi đến sông, và có thể thấy chiếc lều gỗ ở ven

rừng phía bên kia sông… Rồi gió lành lạnh thổi vào người, nghe man mác, êm dịu,

thơm thơm mùi gỗ và hoa rừng. [66, tr.194 –195].

Sự chìm đắm của Huck vào cảnh vật thể hiện rất rõ qua đoạn văn này. Sau một đêm

đi trên sông, gần sáng đôi bạn ghé vào bờ, giấu bè và Huck ngồi “chờ ánh sáng ban ngày

đến”. Qua sự trần thuật trực tiếp của cậu, phong cảnh cụ thể trong từng chi tiết. Tất cả các

giác quan của Huck đều hướng về dòng sông và Huck cảm nhận sự biến đổi của nó theo

bước chuyển từ từ của thời gian. Các hình ảnh, mọi màu sắc, âm thanh lần lượt xuất hiện. Vì

thế đây giống như một đoạn phim hơn là một đoạn văn.

Cảnh mặt trời mọc trên mặt nước (sông, hồ và biển) thì nhiều không đếm xuể trong

văn chương. Trong văn học Mĩ thế kỉ XIX cũng rất thường gặp. Hơn nữa những qui ước

truyền thống cho việc miêu tả thiên nhiên, trước Mark Twain thường mang tính ẩn dụ, gắn

liền với những ý nghĩa triết lí khó hiểu như trường hợp Melville và Thoreau mà chúng tôi đã

trình bày. Trong đoạn văn trên, chúng ta thấy sự khác biệt của Mark Twain. Đằng sau “mặt

nạ” của Huck, nhà văn chú mục vào những hình ảnh, âm thanh hết sức quen thuộc, bình

thường. Đó là “những chiếc bè gỗ” hay “một cái cây đã bị nhổ bật cả rễ và cuốn trôi”; rồi

“tiếng ễnh ương”, “tiếng mái chèo vỗ nước”... Điều này không chỉ đem đến một phong

cách mới mẻ cho văn chương mà nó còn là sự thể hiện mối quan hệ gắn bó đặc biệt giữa

nhân vật với dòng sông. Huck đang khám phá dòng sông với tư cách vừa của người lái tàu

vừa của một hoa tiêu chứ không phải với tư cách là một du khách. Do đó việc cậu tập trung

vào mọi hình ảnh trên bề mặt dòng sông cũng là điều dễ hiểu. Với Huck, thiên nhiên, mà cụ

thể ở đây là dòng sông, còn là hiện thân của tự do. Do đó việc hoà nhập hoàn toàn vào cảnh

vật cũng chính là biểu hiện việc bản thân Huck đang cảm nhận tự do rõ nhất, cụ thể nhất.

Bức tranh nên thơ, không gian thoáng đãng, yên bình là cách thể hiện tâm trạng thư thái của

Huck khi đến với thiên nhiên cũng có nghĩa là đến với tự do. Và như thế cảnh bình minh

trên sông đã mở ra một không gian hoàn toàn trái ngược với cảnh sống tù túng, gò bó nới thị

trấn, thế giới văn minh thu nhỏ mà chúng tôi đã đề cập qua.

Sự hoà nhập của Huck vào cảnh vật ban mai nơi dòng sông sẽ càng rõ hơn nếu chúng

ta so sánh với cũng bức tranh cảnh vật ấy trong cuốn Life on the Mississippi.

I had myself called with the four o'clock watch, mornings, for one cannot see too

many summer sunrises on the Mississippi. They are enchanting. First, there is the

eloquence of silence; for a deep hush broods everywhere. Next, there is the haunting

sense of loneliness, isolation, remoteness from the worry and bustle of the world. The

dawn creeps in stealthily; the solid walls of black forest soften to gray, and vast

stretches of the river open up and reveal themselves; the water is glass-smooth, gives

off spectral little wreaths of white mist, there is not the faintest breath of wind, nor

stir of leaf; the tranquillity is profound and infinitely satisfying. Then a bird pipes up,

another follows, and soon the pipings develop into a jubilant riot of music. You see

none of the birds; you simply move through an atmosphere of song which seems to

sing itself. When the light has become a little stronger, you have one of the fairest

and softest pictures imaginable. You have the intense green of the massed and

crowded foliage near by; you see it paling shade by shade in front of you; upon the

next projecting cape, a mile off or more, the tint has lightened to the tender young

green of spring; the cape beyond that one has almost lost color, and the furthest one,

miles away under the horizon, sleeps upon the water a mere dim vapor, and hardly

separable from the sky above it and about it. And all this stretch of river is a mirror,

and you have the shadowy reflections of the leafage and the curving shores and the

receding capes pictured in it. Well, that is all beautiful; soft and rich and beautiful;

and when the sun gets well up, and distributes a pink flush here and a powder of gold

yonder and a purple haze where it will yield the best effect, you grant that you have

seen something that is worth remembering. [76, tr.93 – 94].

Hai bức tranh cảnh vật đều có những chi tiết khá giống nhau, từ sự tĩnh lặng hoàn

toàn của không gian, đến sự chuyển đổi từ từ của ánh sáng, màu sắc. Thế nhưng trong đoạn

văn trên, ta vẫn nhận ra khoảng cách của người kể chuyện với cảnh vật dù rằng trong cuốn

Life on the Mississippi nhà văn cũng tường thuật từ ngôi thứ nhất số ít. “Tôi” ở đây chính là

Mark Twain, người đang đứng trước dòng sông quen thuộc nhưng với tư cách của một

phóng viên đến từ miền Đông đang ghi lại những cảm nhận của mình về dòng sông ấy và

hướng đến việc đem lại cảm xúc cho độc giả. Do đó mọi chi tiết trong bức tranh đều đẹp

một cách hoàn hảo mà theo cách nói của ông là “Well, that is all beautiful; soft and rich and

beautiful”. Vì thế nó gần với cảnh bình minh trong khu rừng trên đảo Jackson trong cuốn

Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer hơn. Cả hai đều chứa đựng một số đặc điểm tiêu

biểu của lối tả cảnh trong văn chương truyền thống. Chúng không chứa đựng những chi tiết

thực tế mà Huck chú ý khi ngắm nhìn cảnh vật trên sông. Điều quan trọng hơn là khi Huck

đắm nình trong cảnh vật, cậu không hướng đến bất kì ai khác. Huck hướng đến thiên nhiên

như thể nó là của riêng mình. Sự tự mình “thưởng thức” ấy mới chính là hướng tới không

gian như một “hình thái trực giác hướng ngoại” để có thể dần dần tiếp nhận chân lí.

Như vậy, cùng với sự dữ dội, trạng thái êm đềm của dòng sông đã hoàn thiện bức

“chân dung” của nó. Và Huck thuộc về dòng sông ấy cả khi nó mạnh mẽ, nguy hiểm lẫn khi

nó quyến rũ mê hoặc. Chính dòng sông đã “dạy” Huck nhiều điều về bản chất phức tạp của

con người; đem đến cho Huck lòng can đảm, sự tự do… Vì thế chúng ta có thể chia xẻ ý

kiến của Lionel Trilling :

Sau mỗi chuyến đi vào đất liền, Huck quay trở về dòng sông với tâm trạng khuây

khỏa và lòng biết ơn Chúa. “[74, tr.8].

Dòng sông vì thế đưa thẳng Huck đến với thiên nhiên. Không giống như Tom trong

cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, dù rừng và sông cũng hết sức hấp dẫn, cuốn

hút nhưng Tom vẫn đi về giữa hai không gian đảo và thị trấn. Còn Huck, với sự “dẫn dắt”

của dòng sông, không hề hối tiếc về lựa chọn của mình, hành động đúng với bản chất thuần

phác của mình. Thiên nhiên trong cuốn Huck Finn cũng vì thế mà đậm chất hoang dã hơn

trong cuốn Tom Sawyer.

Thực ra hai hình ảnh rừng và sông hầu như gắn bó hoà quyện trong suốt chuyến hành

trình. Việc chúng tôi tách ra chỉ là để tiện khảo sát chúng như những biểu tượng mà thôi. Và

với ý nghĩa này chúng đã trở thành biểu trưng để chuyển tải tư tưởng và tạo nên hiện tượng

đa nghĩa cho hành trình của Huck và Jim. Chúng cũng tạo nên một không gian khoáng đạt

có thể đem đến cho con người sự thư thái, bình yên mà xã hội hiện đại không thể. Không

gian sông nước ấy quyến rũ khôn nguôi bởi lẽ nó là những hình ảnh đã in sâu trong kí ức

nhà văn và sự trở đi trở lại của sông đã đem lại nhiều ý nghĩa cho hành trình của Huck và

Jim, thể hiện cái nhìn phê phán của chính tác giả về xã hội đương thời.

Chúng tôi vừa trình bày vấn đề thiên nhiên như là tự nhiên trong hai cuốn Những

cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn với ý nghĩa

là không gian gắn liền với những chuyến phiêu lưu của các nhân vật. Sự gắn bó của Tom,

của Huck với rừng, với sông còn là một biểu hiện của bản chất thuần phác nơi các nhân vật

này. Do đó từ đây chúng tôi sẽ đi vào lí giải sự thuần phác ấy thể hiện qua những suy nghĩ

và hành động của các nhân vật.

Chương 3

THIÊN NHIÊN NHƯ LÀ BẢN CHẤT –

SỰ THUẦN PHÁC CỦA CÁC NHÂN VẬT

3.1. Thiên nhiên với ý nghĩa là bản chất thuần phác

Trong chương thứ nhất chúng tôi đã nói đến ý nghĩa thứ hai này của thiên nhiên. Bản

chất vốn là một khái niệm rộng, chứa đựng rất nhiều biểu hiện cụ thể khác nhau. Ở chương

này, chúng tôi chỉ đi vào một biểu hiện của vấn đề bản chất của con người. Đó là sự thuần

phác. Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội – 1977 định

nghiã thuần phác là sự chất phác hiền hậu. Còn Từ điển tiếng Anh Oxford Advanced Learner’s Dictionary, 7th edition – 2006 định nghĩa thuần phác (ingenuous) là honest,

innocent and willing to trust people. Như vậy, sự thuần phác có thể coi là bản chất của

những con người ít bị ảnh hưởng của văn minh, chưa biết đến giả tạo, lừa mị; những con

người mà cuộc sống gắn liền với tự nhiên. Họ chính là những con người mà Rousseau đã

mô tả rất hình ảnh “từ trong thiên nhiên mà ra, khát thì uống nước suối, giường là dưới gốc

cây đã cung cấp thức ăn” [21, tr.12]. Tức là họ sống đúng với bản chất người của mình

nhất. Cái thuần phác ấy dần mất đi khi con người ngày càng chịu nhiều ảnh hưởng từ xã hội

hiện đại. Nói cách khác, càng văn minh con người càng rời xa bản chất người. Do đó các

nhà xã hội học mới hướng sự nghiên cứu của mình vào các bộ tộc cổ xưa như là một cách

phản ứng với xã hội công nghiệp.

Và Mark Twain cũng vậy. Ông thể hiện sự phản đối của mình với hiện thực xã hội

nước Mĩ cuối thế kỉ XIX thông qua nhiều tác phẩm, dưới những góc độ khác nhau. Trong

hai cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn,

thái độ phê phán ấy không chỉ thể hiện qua sự tương phản giữa hai không gian : thiên nhiên

hoang dã và xã hội văn minh mà chúng tôi đã trình bày trong chương hai; mà còn thể hiện

qua sự thuần phác nơi các nhân vật, nhất là ở hai nhân vật Tom Sawyer và Huck Finn. Điều

đặc biệt là sự thuần phác của các nhân vật này cũng được nhà văn thể hiện bằng nghệ thuật

tương phản. Một bên là sự thuần phác vốn vẫn tiềm ẩn trong bản chất của các cậu bé với

một bên là những yếu tố “văn minh” mà chúng chịu ảnh hưởng. Nếu căn cứ vào các định

nghĩa đã nêu ở trên thì Tom và Huck không phải là những cậu bé thuần phác. Chúng nghịch

ngợm, phá phách thậm chí nhiều lúc tỏ ra tinh ranh, láu cá; nhưng sự thuần phác vẫn còn

trong bản chất và điều này được bộc lộ thông qua lời nói, suy nghĩ và hành động của chúng.

Tất nhiên xã hội mà chúng đang sống cũng có ảnh hưởng không ít. Chính vì vậy mà khi đối

diện với những qui ước, những chuẩn mực của xã hội ấy, Tom và Huck luôn phải chịu

đựng những lo lắng, dằn vặt vì các qui định của xã hội thì vốn mâu thuẫn với sự chất phác

trong con người chúng và vì thế thường “cản trở” khi chúng muốn hành động theo đúng với

bản chất tự nhiên. Trong những cuộc “đấu tranh” kiểu này, trực giác luôn dẫn dắt hành động

để cuối cùng các nhân vật sẽ đưa ra những quyết định mang tính người nhất. Chúng tôi sẽ đi

vào tìm hiểu vấn đề bản chất thuần phác từ góc độ này.

Đồng thời chúng ta cũng sẽ thấy được sự phát triển trong quan niệm của Mark Twain

về xã hội, về con người khi đi vào so sánh sự thuần phác của Tom Sawyer và Huck Finn

được ông thể hiện trong hai tác phẩm ra đời cách nhau bảy năm này. Bản chất ấy nơi nhân

vật Tom chưa rõ nét lắm nếu so với Huck. Do đó, có thể nói trong cuốn Những cuộc phiêu

lưu của Tom Sawyer vấn đề thiên nhiên như là bản chất chỉ mới mang tính chất dự báo. Chỉ

đến cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn thì điều này mới được bộc lộ rõ nét

và quyết liệt. Nói cách khác sự thuần phác nơi nhân vật Tom và Huck được thể hiện ở

những cấp độ khác nhau. Cùng đối diện với những vấn đề xã hội giống nhau nhưng suy

nghĩ, quan niệm và cách xử lí tình huống của Tom và Huck không hoàn toàn giống nhau.

Có sự khác nhau ấy một phần là do theo thời gian cái nhìn của Mark Twain về xã hội công

nghiệp Mĩ trở nên rõ nét hơn và cả do những thăng trầm của chính bản thân ông trong công

việc kinh doanh. Nếu nói đề cao sự thuần phác, để cho điều này chiến thắng trong các tác

phẩm của mình là cách mà nhà văn thể hiện thái độ phê phán thời đại công nghiệp thì thái

độ ấy gay gắt hơn ở trong cuốn Huck Finn. Chúng tôi sẽ chỉ rõ điều này hơn khi đi vào tìm

hiểu sự biểu hiện của bản chất thuần phác ở nhân vật Tom và Huck dưới đây.

3.2. Sự thuần phác của nhân vật Tom Sawyer

Bằng cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Mark Twain đã tạo ra một nhân

vật nổi tiếng trong văn học Mĩ : chú bé Tom Sawyer thông minh, tốt bụng, yêu thích và hết

sức can đảm trong những chuyến phiêu lưu nhưng cũng phá phách, ngỗ nghịch, láu cá

không kém. Khác với Huck Finn, Tom là một chú bé “văn minh”. Nó sống cùng dì Polly và

các em họ Mary, Sid; được yêu thương, quan tâm; được đi học. Tuy nhiên với Tom, một cậu

bé giàu trí tưởng tượng, ham thích phiêu lưu thì những điều ấy thật khó chịu, gò bó vì mối

quan tâm hàng đầu của nó là được sống cuộc sống “ngoài vòng pháp luật” như các nhân vật

anh hùng hảo hán mà Tom từng đọc trong sách vở. Do đó ở nhân vật Tom Sawyer, có sự

đan xen giữa sự tinh ranh, láu lỉnh và sự thuần phác tự nhiên. Nếu tìm hiểu tính cách của

Tom trong ba mối quan hệ : với trường học, trường Giáo lí; với chuyện săn tìm kho báu; và

với “cuộc tình” của Becky Thacher thì nét láu cá trong tính cách Tom thể hiện ở mối quan

hệ thứ nhất; còn nét thuần phác thì thể hiện trong hai mối quan hệ sau.

3.2.1. Sự thuần phác và chuyện phiêu lưu

Nét hấp dẫn nhất nơi nhân vật Tom Sawyer có thể nói chính là trí tưởng tượng bay

bổng tuyệt vời của cậu bé. Tom luôn tưởng tượng ra những câu chuyện kì thú mà trong đó

nó và các bạn mình được sống tự do, được hành động nghĩa hiệp như Robin Hood trong

rừng hay phiêu bạt nơi góc bể chân trời như bọn cướp biển… Và không chỉ dừng lại ở

tưởng tượng, Tom còn rủ các bạn thực hiện nhiều chuyến phiêu lưu để thỏa mãn các mơ

ước. Trong những chuyến phiêu lưu ấy, thông qua những suy nghĩ, những lời nói, những

hành động của Tom, chúng ta có thể nhận ra nét thuần phác trong bản chất cậu bé.

Câu nói nổi tiếng nhất của Tom trong tác phẩm chính là sự khẳng định :

…thà được một năm làm nghề lục lâm trong rừng Sherwood còn hơn là làm Tổng

thống Mĩ suốt đời [63, (1), tr.159].

Đó là suy nghĩ của Tom và cũng là của Joe Harper khi cả hai trốn học vào rừng chơi

trò đánh kiếm. Câu nói đã thể hiện cụ thể nhất quan niệm của Tom về quyền lực. Khi mà

quyền lực và cùng với nó là sự giàu sang đã trở thành lí tưởng mà nhiều người Mĩ cố vươn

tới thì Tom và các bạn lại cho là chẳng có nghĩa lí gì so với cuộc sống hấp dẫn của những

tay lục lâm. Cách so sánh thật là “báng bổ”. Nó “sổ tọet” những giá trị đã được xã hội mặc

nhiên thừa nhận. Với bọn trẻ, sống tự do trong rừng, hành động nghĩa hiệp như Robin Hood

xưa kia mới là cuộc sống đáng sống. Chính vì thế mà Tom mới :

… lấy làm buồn là ngày nay không còn những tay lục lâm hảo hán sống ngoài vòng

pháp luật như xưa kia, và bất giác tự hỏi không biết nền văn minh hiện đại đã mang

lại những gì để bù lại những điều thiệt thòi đó. [63, (1), tr.158 – 159].

Thái độ ấy biểu lộ phần nào sự thuần hậu của Tom cũng như chứa đựng quan niệm

của chính Mark Twain về xã hội. Quan điểm này sẽ trở nên rõ ràng hơn trong cuốn Những

cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn sau này khi ông để nhân vật Huck hồn nhiên bộc lộ

thái độ của mình đối với tiền bạc, cũng như đối với các qui định xã hội trong suốt cuộc hành

trình trốn chạy “văn minh” đi thẳng đến thiên nhiên.

Thực ra trước khi xuất bản cuốn Huck Finn, Mark Twain, vào năm 1882 có xuất bản

một cuốn truyện cũng khá nổi tiếng khác; đó là Hoàng tử và kẻ khốn cùng. Trong câu

chuyện về đứa trẻ nghèo khổ, do nhầm lẫn mà được sống cuộc sống của vị hoàng tử nhỏ

dưới thời dòng họ Tudor đang trị vì Anh quốc, chúng ta cũng có thể tìm thấy một chi tiết

tiêu biểu thể hiện sự coi thường quyền lực ấy. Đó là việc chú bé nghèo Tom Canty, khi sống

trong cung điện đã nhiều lần dùng cái đại ấn bằng vàng để đập hạt dẻ những lúc chỉ có một

mình. Với một đứa trẻ thì quyền lực, vàng ròng cũng chẳng có nghĩa lí gì so với món ăn

“khoái khẩu”. Chính vì vậy mà khi chú bé Edward Tudor, nhà vua thật trở về sau thời gian

lưu lạc, thì Tom Canty sẵn sàng chỉ chỗ giấu cái “đại ấn của nước Anh” và “mặt đỏ ửng

lên” thú nhận : “Tâu đức vua, thần dùng để đập hạt dẻ ạ!” khi được hỏi đã từng dùng cái

đại ấn ấy vào việc gì. Nét hồn nhiên đó cũng có thể coi là một biểu hiện của bản chất thuần

phác. Thực ra khi viết cuốc sách này, Mark Twain vốn chỉ coi nó là một câu chuyện thiếu

nhi. Thế nhưng ở góc độ tìm hiểu vấn đề thiên nhiên – bản chất của các nhân vật thiết nghĩ

đó cũng là một chi tiết có thể giúp nhìn rõ hơn vấn đề, nhất là đối với sự phát triển trong

cách nhìn của chính tác giả về xã hội.

Quay trở lại với nhân vật Tom Sawyer, cùng với chuyện phiêu lưu của cậu bé, chúng

ta nhớ đến sự việc một đêm Tom cùng Huck hẹn nhau ra nghĩa địa để chữa mụn cơm. Vì thế

mà hai đứa đã vô tình phải chứng kiến cảnh tên Joe lai da đỏ giết chết bác sĩ trẻ Robinson và

đổ tội cho đồng bọn là Muff Potter khiến Potter bị tống giam chờ ngày xét xử. Chính sự việc

này đã làm cho Tom mất ăn mất ngủ vì sự giằng co giữa “hai con người” trong cậu bé. Con

người thuần phác muốn Tom đứng ra tố cáo kẻ sát nhân để cứu người vô tội. Nhưng con

người “văn minh” đã “kéo” Tom lại với đủ các thứ lí do. Sự giằng co ấy khiến Tom bối rối,

khổ sở và qua cuộc đấu tranh này, nhiều suy nghĩ và hành động đã bộc lộ bản chất thuần

hậu của Tom. Ban đầu vì “bị lương tâm cắn rứt” mà Tom “ngủ không yên mất đến một

tuần lễ” [63, (1), 201]; không tham gia vào những trò chơi cảnh sát hay vụ án mà nó vốn rất

thích. Rồi để “thanh thản” hơn Tom thường đem quà vào nhà giam cho “hung thủ”. “Điều

bí mật khủng khiếp về vụ án mạng là một nỗi đau khổ vô hạn đối với Tom” [64, (2), tr.79]

trong suốt cả kì nghỉ hè. Thậm chí, khi trời nổi mưa giông Tom cũng cho là :

Vì mình đã dám thử thách sự khoan dung của những quyền lực tối cao trên trời tới

chỗ cùng cực của sự chịu đựng cho nên mới đến nông nỗi này. [64, (2), tr.81].

Cuối cùng sự thuần phác đã chiến thắng thông qua hành động Tom quyết định ra tòa

làm chứng cứu Potter. Nhà văn đã đề cao hành động này, tức là bày tỏ thái độ ca ngợi bản

chất người cao đẹp nơi nhân vật khi miêu tả tình cảm của mọi người trong thị trấn đối với

Tom – người “anh hùng hào quang chói lọi” một cách rất hài hước “người già thì yêu

thương trìu mến, bọn trẻ thì ghen lồng ghen lộn” [64, (1), tr.100].

Như vậy, sự thuần hậu ở nhân vật Tom quả thật được thể hiện thông qua tương phản.

Khi để nhân vật là một đứa bé đã chịu nhiều ảnh hưởng từ xã hội văn minh hiện đại suy

nghĩ và hành động dưới sự chi phối của bản chất thuần phác, Mark Twain đã cho thấy cái

nhìn của ông về thời đại công nghiệp. Nét tính cách ấy của Tom không chỉ thể hiện trong

chuyện phiêu mà cả trong cách thể hiện “tình yêu” với Becky Thacher.

3.2.2. Sự thuần phác và chuyện “tình yêu”

Chúng ta đều đã biết, bản chất là đặc tính sâu xa bên trong con người sẽ quyết định

những biểu hiện bên ngoài của người đó. Trong mối quan hệ với “cuộc tình” của cô bé

Becky, sự thuần phác của Tom cũng được biểu hiện ra bên ngoài thông qua nhiều hành

động tán tỉnh khác nhau. Tiêu biểu nhất có lẽ là những hành động trong lần đầu gặp mặt.

Khoảnh khác đầu tiên khi trông thấy Becky, “một cô bé tuyệt xinh, mắt xanh biếc, bộ tóc

vàng tết thành đôi bím dài” [63, (1), tr.50], Tom “gục ngã” liền và “bắt đầu giở đủ trò trẻ

ranh lố bịch, cố “giương vây” khoe mẽ để làm cho cô bé phải khâm phục” [63, (1), tr.52].

Nó hết “biểu diễn một trò nhào lộn nguy hiểm” lại đến “múa may trổ tài” với hi vọng cô bé

chú ý đến mình. Nói các hành động của Tom trong trường hợp này bộc lộ bản năng thuần

phác bởi lẽ cậu bé đã thể hiện tình cảm của mình một cách tự nhiên nhất, theo sự mách bảo

của trái tim, không chút ngại ngần hay e dè. Đây là điều mà không phải ai cũng có thể bộc

lộ khi gặp tình huống tương tự vì những ảnh hưởng của “văn minh” đôi khi khiến con

người phải cân nhắc, toan tính trước những tình cảm của bản thân và thường dẫn đến hành

động che giấu những cảm xúc, những rung động thật của mình. Như vậy có thể nói, chính

xã hội văn minh, chính những qui định của văn hóa đã khiến con người ngày càng xa rời

bản chất tự nhiên của mình. Những điều ấy, nhiều lúc trở thành “sợi dây” kéo con người lại

khi chúng ta muốn hành động theo sự dẫn dắt của bản năng.

Khi hiểu sự thuần phác với ý nghĩa đó có nghĩa là chúng ta đã nhìn nhận nó dưới góc

độ nhân học chứ không phải xem xét dưới góc độ đạo đức. Những chuẩn mực đạo đức sẽ

ngày càng nhiều hơn cùng với sự văn minh hiện đại của xã hội. Tuân theo nó có nghĩa là

chúng ta đang xa rời bản chất tự nhiên của mình. Mà điều này thì các nhà xã hội học không

đồng tình. Họ hết sức đề cao sự tự nhiên của những con người cổ xưa.

Biết biểu hiện ra một cách xứng đáng trong bản chất tự nhiên của mình là một dấu

hiệu của sự hoàn thiện [21, tr.10].

Đó là ý kiến của Montaigne. Còn Rousseau thì từng khẳng định “Con người tự nhiên

cũng có nghĩa là con người hiện thực”. Việc Mark Twain để các nhân vật của mình bộc lộ

sự thuần phác tiềm ẩn trong bản chất cũng với ý nghĩa tương tự. Nó là cách ông phản đối

những qui định đạo đức của xã hội hiện đại đi ngược lại với sự phát triển tự nhiên của con

người. Sau này, trong kiệt tác Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, ông sẽ thể hiện

điều đó rõ ràng hơn khi để Tom đồng tình với Huck trong việc trả tự do cho Jim. Làm việc

đó là hai câu bé đã đi ngược lại những qui định của xã hội về vấn đề nô lệ, tức là hành động

ấy sai trái về mặt đạo đức. Thế nhưng đó lại là hành động rất đáng ca ngợi bởi ý nghĩa nhân

văn của nó và là biểu hiện cao nhất của sự thuần phác nơi nhân vật Tom và Huck. Chúng tôi

sẽ trở lại điều này khi tìm hiểu bản chất của nhân vật Huck Finn.

3.2.3. Sự thuần phác và chuyện mê tín

Cả hai cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của

Huckleberry Finn đều có những chi tiết thể hiện chuyện mê tín dị đoan của các nhân vật.

Trong lời nói đầu cuốn Tom Sawyer, Mark Twain có nhắc đến điều này

Những điều mê tín dị đoan kì quặc nói đến ở đây đều là những chuyện rất phổ biến

trong đám thiếu nhi và dân nô lệ ở miền Tây hồi xảy ra câu chuyện này [63].

Tuy nhiên, bối cảnh xã hội nước Mĩ nửa cuối thế kỉ XIX, khi hai cuốn sách trên ra

đời, nhất là cuốn Huck Finn, đã khiến những chi tiết mê tín dị đoan ấy được quan tâm đặc

biệt. Đây chính là thời kì mà cuộc cách mạng kĩ thuật đã tác động đến quốc gia này một

cách mãnh liệt.

Và dĩ nhiên trong bối cảnh chung như vậy, giống châu Au, một sự bừng tỉnh về một

nền văn hóa nông nghiệp như là phản ứng mà việc hình thành ngành Folklore học ở

Mĩ năm 1888 là một nỗ lực. [11, tr.18].

Trong bối cảnh như vậy, các nhà nghiên cứu quan tâm tới các chi tiết mê tín dị đoan

trong tác phẩm của Mark Twain như là những tàn dư của nền văn hóa nông nghiệp cổ xưa.

Còn chúng tôi tìm hiểu chúng như là một biểu hiện của sự thuần phác nơi các nhân vật. Nét

hồn hậu, thơ ngây của Tom và Huck và sau này là của Huck và Jim sẽ bộc lộ rõ ràng hơn

qua việc chúng tin tưởng và làm theo những điều mê tín dị đoan. Trước hết là trong cuốn

Tom Sawyer.

Những chuyện mê tín mà Tom biết và tin tưởng thì rất nhiều. Cậu bé răm rắp thực

hành tất cả mọi điều ấy dù khi đang ở một mình hay khi rủ Huck Finn cùng làm. Sau khi cãi

nhau với Becky, trong lòng buồn bực, Tom bỏ vào rừng, ngang qua một ngòi nước, nó vẫn

không quên “lội từ bờ bên này sang bờ bên kia hai ba lần” [63, (1), tr.146] vì tin rằng như

thế người lớn sẽ không tìm ra. Còn khi quyết định sẽ trốn nhà đi làm cướp biển Tom đã đào

cái lỗ mà trước kia đã chôn một hòn bi để tìm lại “của cải” của mình vì tin chắc rằng hòn bi

ấy sẽ gọi tất cả những hòn bi khác cùng về. Thế nhưng khi vẫn chỉ thấy một hòn bi thì Tom

kết luận rằng “thế nào cũng phải có một phù thủy nào đó đâm chọc vào” [63, (1), tr.153].

Tom còn biết rất nhiều “phương pháp” chữa mụn cơm : nào là dùng nước mưa đọng ở hốc

của một cái cây “cụt đến tận gốc, chết lâu ngày đã mục”; hay là dùng hột đậu theo cách :

Bửa hột đậu ra làm đôi, rồi cắt hột cơm cho chảy máu, lấy máu bôi vào một nửa hột

đậu rồi đào lỗ đem chôn ở ngã ba đường vào lúc nửa đêm ở chỗ khuất bóng trăng,

còn nửa hột kia đem đốt đi [63, (1), tr.117].

vì theo Tom, như thế hai nửa hột đậu sẽ bò đi tìm nhau và kéo theo mụn cơm đi mất. Tom

và Huck còn hẹn nhau ra nghĩa địa vào lúc nửa đêm để chữa mụn cơm bằng cách chờ lũ quỉ

đến mang xác một người “độc ác” mới chết đi thì sẽ ném một con mèo chết theo và con

mèo sẽ mang mụn cơm đi cùng. Còn khi tên Joe lai da đỏ khai man trước tòa, Tom và Huck

cùng :

chờ đợi từ trên bầu trời xanh thẳm kia Thượng đế sẽ giáng một tiếng sét xuống đầu

hắn [63, (1), tr.199].

Hai cậu bé còn đến ngôi nhà ma rình bọn cướp và chợt hốt hoảng lúc nhớ ra đang là

ngày thứ sáu, ngày ma thường xuất hiện… Cứ thế, nhà văn thuật lại những chuyện mê tín

cùng với những chuyện phiêu lưu.

Có một điều đáng lưu ý là khi “thực hành” những chuyện mê tín nói trên, các nhân

vật thường đọc kèm những câu chú. Chúng là những lời nói có nhịp điệu. Thí dụ khi chữa

mụn cơm bằng xác mèo phải đọc :

Quỉ kia theo xác chết,

Mèo này theo quỉ nốt.

Hột cơm theo mèo đi

Ta với mày đoạn tuyệt. [63, (1), tr.118].

(Devil follow corpse, cat follow devil, warts follow cat, I’m done with ye!) [75, tr.37].

Hay khi muốn đuổi một con bọ ba ba, vốn “rất tin những chuyện cháy nhà” chỉ cần

đọc :

Bọ ba ba, bọ ba ba,

Sao không về nhà

Nhà mày đang cháy

Bỏ con một mình. [63, (1), tr.240].

(Lady-bug, lady-bug, fly away home,

Your house is on fire, your children’s alone;) [75, tr.65].

Điều này gợi nhớ đến những nghi lễ của các bộ tộc cổ xưa, trong đó những người

tiến hành các nghi lễ thường vừa nhảy múa vừa ngân nga những câu chú có nội dung cầu

khấn hoặc trừ tà. Theo thời gian, với sự phát triển của xã hội công nghiệp, những nghi lễ ấy

cũng mai một. Một trong những dấu tích của chúng chính là các bài chú nêu trên, thường

được bọn trẻ dùng trong các trò chơi của chúng. Các nhà xã hội học cũng đã nhận định, trẻ

em chính là một trong những đối tượng lưu giữ các yếu tố còn sót lại của một nền văn hóa

truyền thống.

Những trò chơi, những bài hát đếm… được xem như những hình thức đã bị biến chất

đi của những nghi lễ, tập tục của người lớn xưa kia. [21, tr.45].

Điều đó có nghĩa là, khi tiến hành những điều mê tín, tức là các cậu bé đang thực

hành những truyền thống cổ xưa mà không hề biết “chúng ra đời khi nào, ở nơi nào và ai

đã tạo ra chúng”. [21, tr.38]. Những câu chú mà chúng thường ngân nga chính là một trong

những biểu hiện còn sót lại của nền văn minh nông nghiệp xưa kia, khi mà những chuyện

thần bí còn chi phối đời sống xã hội.

Như vậy, chuyện mê tín dị đoan không chỉ là yếu tố có giá trị hiện thực khi Mark

Twain miêu tả cuộc sống và sinh hoạt vùng biên cương miền Tây nước Mĩ thời kì đầu thế

kỉ XIX mà còn có tác dụng khắc họa sự thuần phác của các nhân vật.

3.3. Sự thuần phác của nhân vật Huck Finn

Khi viết cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, cái nhìn của Mark Twain

về thời đại, về con người đã trở nên rõ ràng hơn. Do đó, ý nghĩa bản chất của thiên nhiên

được ông thể hiện trong tác phẩm này không còn mang tính dự báo như trong cuốn Tom

Sawyer nữa. Sự chất phác của Huck thể hiện nhất quán qua rất nhiều suy nghĩ và hành động

trong suốt chuyến hành trình. Vì thế nếu đặt bản chất thuần phác của Huck bên cạnh sự suy

thoái đạo đức bởi xã hội công nghiệp ở nước Mĩ khoảng cuối thế kỉ XIX, chúng ta cũng có

thể hiểu được thái độ phê phán của nhà văn đối với văn minh công nghiệp.

Khác với Tom, Huck Finn không sống trong môi trường “văn minh”. Cậu bé xuất

thân “cùng đinh”, lúc nào cũng lôi thôi, luộm thuộm và đã quen với việc sống tự do :

Khi trời tạnh ráo thì nó ngủ ở chỗ bậc cửa ra vào nhà người ta, khi mưa gió ướt át

thì ngủ trong một cái vỏ thùng rượu; nó không phải đi học hay đi nhà thờ hay phải

gọi ai là thầy và vâng lời một ai cả. [63, (1), tr.111].

Do không “bị” ảnh hưởng bởi bất kì sự dạy dỗ nào của cả trường học , nhà thờ lẫn

gia đình nên Huck sống và lớn lên cùng sự thuần hậu tự nhiên vốn có trong bản chất con

người. Đây là đặc điểm đáng chú ý ở Huck, cơ sở của sự thuần phác thiên nhiên. Cậu bé

nghèo, đơn độc và vô cùng trong sáng. Ở Huck, vì thế sự thuần phác được thể hiện đậm nét

hơn so với Tom. Nhân vật này không bộc lộ vẻ láu cá như Tom trong nhiều hành động,

không giàu tưởng tượng và cũng chẳng bao giờ hành động theo sách vở. Ngược lại, hoàn

cảnh khiến Huck nhanh nhẹn, khôn ngoan và thực tế hơn Tom trong hành động. Dù là hành

động tự bảo vệ hay hành động vì người khác, Huck đều nghe theo sự mách bảo của bản

năng đạo đức hay sự điều khiển của một trái tim thánh thiện. Sự ảnh hưởng của thế giới văn

minh đối với cậu không nhiều, có chăng chỉ là những qui ước xã hội lâu đời, cụ thể là những

qui định của nền văn hoá duy trì chế độ nô lệ ở miền Nam Hoa Kì, mà Huck vẫn coi là

đương nhiên vì chẳng biết những điều khác hơn, tiến bộ hơn. Chính điều này khiến trong

Huck cũng có lúc diễn ra sự “giằng co” giữa con người thuần phác và con người “văn minh”

như Tom. Do đó chúng tôi cũng sẽ xem xét bản chất của nhân vật Huck Finn trong mối

quan hệ với chuyện phiêu lưu, tình bạn, chuyện mê tín.

3.3.1. Sự thuần phác và chuyện phiêu lưu

3.3.1.1. Thái độ đối với tiền bạc

Điểm giống nhau giữa Huck và Tom chính là sự ưa thích chuyện phiêu lưu, mạo

hiểm, dù rằng trong chuyện này Huck luôn chỉ biết làm theo những “sáng kiến” của Tom.

Vì thế chúng từng cùng nhau đi làm hải tặc ở trên đảo Jackson, rồi lại làm lục lâm trong

rừng Sherwood và cả cùng nhau đi tìm kho báu ở khắp nơi, từ căn nhà có ma, đến quán trọ

và tận trong hang sâu. Trong những chuyến phiêu lưu hấp dẫn ấy, nhiều lần Huck thể hiện

thái độ của mình đối với tiền bạc. Trong chuyến phiêu lưu cuối cùng ở cuốn Tom Sawyer,

dù hăm hở đi tìm kho báu là để trở nên giàu có nhưng trước viễn cảnh do Tom vẽ ra :

… đào được một cái nồi đồng trong đó có một trăm đồng đô la hoen gỉ… hay một cái

hòm gỗ mục đầy kim cương. [64, (2), tr.107 – 108].

thì Huck lập tức nhận phần mình là “chỗ một trăm đồng đô la kia thôi” còn kim cương thì

“nhường” cho Tom vì “tao không cần”. Trong xã hội công nghiệp, khi mà đồng tiền đã xác

lập vị trí số một của mình thì thái độ ấy của Huck khiến nó đối lập hẳn với số đông. Thế

cũng có nghĩa là sự thuần phác sẽ không có chỗ trong cái xã hội ấy. Sự chất phác của Huck

còn hiện ra rõ hơn khi cậu bé bày tỏ ước mơ

Tao sẽ ngày nào cũng ăn patê và uống một cốc sôđa và gánh xiếc nào qua đây tao

cũng đi xem. [64, (2), tr.110 – 111].

khi Tom hỏi sẽ làm gì nếu may mắn tìm được của chôn giấu. Điều ấy thật khác xa với thái

độ của người lớn khi chúng ta so sánh cái cách mà những người dân trong thị trấn đối xử

với Huck và Tom sau khi biết chúng vớ được tới “trên mười hai ngàn đôla” :

Tom và Huck đi đến đâu cũng được người ta săn đón vồ vập, trố mắt nhìn tỏ vẻ hết

sức thán phục. Chúng không còn nhớ được những câu phát biểu của mình trước kia

có một giá trị gì không; nhưng giờ đây mỗi lời nói của chúng đều được người ta vồ

lấy và quí như vàng, được người ta nhắc đi nhắc lại mãi. [64, (2), tr.265].

Trong cái xã hội ấy, đồng tiền khiến người ta nghiễm nhiên trở thành thần tượng bất

kể quá khứ có ra sao. Sự săn đón vồ vập của những người lớn đã biểu thị rõ thái độ đối với

tiền. Thế nhưng với Huck, cuộc sống mới giàu sang cùng sự ngưỡng mộ, trọng vọng của

mọi người lại làm cậu bé khổ sở. Sau ba tuần “dũng cảm chịu đựng những đau khổ ấy”,

Huck bỏ trốn. Khi Tom tìm được nó trong “mấy thùng rượu bỏ không ở phía đằng sau lò

sát sinh cũ” [64, (2), tr.269], Huck tâm sự với thằng bạn chí cốt như sau :

Mày thử nghĩ mà xem, thật thế, giàu sang không phải như người ta vẫn thường khoe,

giàu sang chỉ là mua lấy cái khổ, cái vất vả vào thân, lúc nào cũng chỉ muốn chết đi

cho rảnh… Tom ạ, nếu không có món tiền chết tiệt kia thì tao đâu có đến nỗi phải

chịu những chuyện khổ sở như thế này; thôi mày lấy nốt cái phần của tao đi, rồi

thỉnh thoảng cho tao một hào… [64, (2), tr.272].

Một đứa bé “vô giáo dục” như Huck Finn, đối diện với đồng tiền bỗng trở thành triết

gia khi đưa ra những nhận xét hết sức chí lí về tiền và những hệ lụy của nó. Những lời tâm

sự trên quả thật rất phù hợp với bản chất của Huck , đứa trẻ mà sự thuần phác còn chưa bị

lòng tham làm cho mất đi. Nhưng thái độ ấy sẽ rất buồn cười nếu ta nhìn nó bằng những con

mắt của của người lớn. Thái độ đối với tiền bạc của Huck sẽ bị xem là “ba xạo” và nó sẽ bị

gọi là một chi tiết “khiên cưỡng” trong tác phẩm nếu chúng ta không xem xét nó trong mối

liên hệ giữa việc đề cao bản chất thuần phác của nhân vật với cảm thức của chính nhà văn

về thời đại. Bởi sau này trong cuốn Huckleberry Finn, ông còn tiếp tục để Huck đối diện với

tiền bằng tâm hồn trong sáng như pha lê ấy. Khi buộc phải theo lão Vua đến nhà Peter Wilk,

Huck một lần nữa lại được tận mắt nhìn thấy rất nhiều tiền. Đó là sáu ngàn đô la tiền mặt

mà ông Peter Wilk quá cố để lại cho các con gái nhưng đang bị Vua và Quận Công chiếm

đoạt. Khi tìm ra chỗ giấu số tiền ấy, cầm nó trên tay, giữa đêm khuya không ai biết nhưng

trong đầu Huck không mảy may nghĩ đến việc chiếm nó cho riêng mình mà chỉ lo làm sao

có thể giấu những kẻ lừa đảo kia và lúc thích hợp thì sẽ báo cho các cô gái cả tin tội nghiệp

kia. Trong đầu óc thuần phác của Huck không có chỗ của lòng tham, sự ti tiện.

Thái độ ấy của Huck đối với tiền cũng giống hệt như thái độ của Tom đối với quyền

lực mà chúng tôi đã nêu ở phần trước đó. Tom thích làm Robin Hood hơn làm tổng thống

Mĩ; Huck thì chọn cuộc sống tự do và dứt khoát từ bỏ tiền bạc. Sự kết hợp hai thái độ ấy của

các cậu bé sẽ giúp chúng ta hình dung đầy đủ hơn một khía cạnh của vấn đề bản chất thuần

phác. Như vậy từ cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer đến cuốn Những cuộc phiêu

lưu của Huckleberry Finn thái độ phủ nhận của nhà văn đối với những giá trị vật chất mà xã

hội đương thời công nhận cũng hoàn chỉnh hơn, rõ ràng hơn.

3.3.1.2. Thái độ đối với mọi người

Nơi nhân vật Huck, sự thuần phác còn biểu lộ qua rất nhiều hành động cứu giúp

người khác một cách vô điều kiện, bất kể họ là người tốt hay xấu. Chính cái bản chất đáng

quí ấy đã khiến Huck luôn lo lắng hơn đến những khó khăn của người khác, thậm chí khi

chứng kiến những kẻ xấu gặp nạn, cậu bé cũng áy náy không yên.

Ở cuối cuốn Tom Sawyer, trong một đêm đi rình tên Joe và đồng bọn của hắn để

mong tìm ra nơi cất giấu thùng vàng, vô tình Huck biết bà quả phụ Douglas sắp gặp nguy.

Nỗi sợ hãi ban đầu đã khiến Huck muốn co giò bỏ chạy, nhưng bản chất thuần hậu giữ nó

lại, nhắc Huck nhớ việc “bà quả phụ Douglas đã nhiều lần tỏ ra tốt với nó” [64, (2),

tr.173]. Nên cuối cùng Huck đã chạy đi tìm người có thể giúp đỡ.

Sau này trong cuốn Huckleberry Finn, gắn với hành trình phiêu lưu của Huck và Jim

là rất nhiều chuyện như thế. Tiêu biểu nhất có thể kể đến việc Huck giúp các cô cô gái nhà

Wilks thoát khỏi sự lừa đảo bỉ ổi của lão Vua, giữ lại được gia tài. Bản chất lương thiện

không cho phép Huck đồng tình với việc lừa đảo nhưng ban đầu cậu bé cũng chỉ nghĩ đến

việc làm sao bản thân mình thoát khỏi được lão Vua và anh chàng Quận Công mà thôi. Thế

nhưng sự tốt bụng, dịu hiền của các cô gái đã đánh thức Huck khiến cậu suy nghĩ và đi đến

hành động theo sự mách bảo của trái tim thánh thiện :

Tôi cảm thấy mình cũng xấu xa, hèn hạ quá, và tự nghĩ tôi sẽ phải cố làm thế nào mà

giấu số tiền kia đi cho các cô ấy mới được. [66, tr.281].

Cũng chính trái tim ấy hướng dẫn Huck tìm ra phương cách hành động tốt nhất và

khiến các cô gái tin mình. Khi hướng về người khác, nghĩ cho người khác, Huck thường hay

tự trách mình, luôn cảm thấy mình có lỗi. Cảm giác đó của Huck cứ trở đi trở lại mỗi khi

Huck bị buộc phải chứng kiến chuyện không may của người khác, bất kể người khác đó là

ai.

Ở trên chúng tôi đã nhắc đến việc Huck tốt cả với những kẻ xấu. Đây chính là những

chi tiết có thể làm rõ mức độ thuần phác đậm nét hơn trong bản chất của Huck so với nhân

vật Tom Sawyer. Sau khi chứng kiến vụ thanh toán lẫn nhau của bọn cướp trên tàu Walter

Scott, Huck và Jim vất vả lắm mới thoát khỏi chiếc tàu đang đắm. Thế nhưng việc đầu tiên

Huck nghĩ đến sau khi thoát là làm cách nào để cứu bọn cướp đang bị kẹt trên tàu. Sau khi

vừa khóc vừa bịa ra một câu chuyện hoàn hảo để mong có người đến giúp mà không có kết

quả, Huck đã nhìn chiếc tàu đang chìm dần trên sông với tâm trạng :

…cảm thấy hơi buồn về đám cướp, nhưng cũng không buồn lắm, vì tôi nghĩ nếu như

thiên hạ người ta có thể mặc nhiên được thì tôi cũng có thể chịu được. [66, tr.131].

Như vậy không chỉ tốt bụng mà Huck còn rất thành thật. Trong suy nghĩ của cậu,

chúng ta không thấy có một chút giả vờ thương cảm nào. Thái độ thành thật ấy cũng chính

là một biểu hiện có thể làm sáng tỏ bản chất thuần hậu nơi nhân vật này.

Cũng chính bản chất đạo đức ấy đã chi phối những suy nghĩ và hành động của Huck

sau này, khi gặp phải hai kẻ lừa đảo là Vua và Quận Công. Không giống như bọn cướp

không quen biết nói trên, hai nhân vật này ập lên và xâm chiếm chiếc bè của Huck và Jim

rồi thi nhau hành hạ, bóc lột, lôi kéo đôi bạn. Huck hiểu rất rõ bản chất xấu xa, gian xảo của

chúng và đã tìm mọi cách để không dính dáng đến những kẻ vô lại ấy nữa. Thế nhưng khi

khi đang sống yên ấm ở nhà dì Sally, biết việc mọi người sẽ vạch mặt Vua và Quận Công,

Huck đã tìm cách trốn ra khỏi nhà để đi báo cho chúng biết vì sợ “họ sẽ bị nguy”. Đến khi

chứng kiến cảnh hai tên lừa đảo khắp người bôi hắc ín, bị kẹp vào một thanh sắt để giải đi,

Huck đã nghĩ :

Tôi thấy cảnh đó cũng động lòng và lấy làm tiếc cho hai cái tên khốn kiếp đáng

thương ấy; tôi cảm thấy như mình sẽ không còn có thể nào nghĩ đến hình phạt gì

khác hơn đối với họ nữa. Trông ghê tởm thật cơ. Sao con nguời đối với con người lại

có thể độc ác một cách ghê tởm như thế được. [66, tr.360].

Có nghĩa là con người Huck không hề biết đến sự ghét bỏ hay thù hận. Tâm trạng

băn khoăn không sao hiểu nổi sự độc ác của con người trong việc đối xử với đồng loại của

Huck là sự xác nhận cao nhất bản chất thuần phác nơi nhân vật. Cái tính người ấy phải

chăng đã bị những tiến bộ, những luật lệ của xã hội hiện đại làm cho mất đi?

Khi tìm hiểu bản chất của nhân vật Huck Finn bộc lộ như thế nào trong mối quan hệ

với mọi người, chúng tôi nhận thấy có một nét giống nhau trong một số tình huống. Đó là

việc nói dối cừ khôi và thành thục của cậu mỗi khi gặp tình huống nguy hiểm. Nếu không lí

giải điều này, e rằng sẽ có sự mâu thuẫn trong việc đánh giá bản chất thuần phác nơi nhân

vật. Khi đang trốn trên đảo Jackson vì muốn dò la tình hình, Huck đã giả gái, đến cuối tỉnh

gặp một người đàn bà lạ mặt và vừa kể cho bà ta nghe câu chuyện “hư cấu” về mình vừa

thăm dò động tĩnh của việc mình và Jim biến mất; hay chuyện cứu toán cướp nói trên. Đặc

biệt là sau này để cứu Jim khỏi nguy hiểm Huck còn hành động theo kiểu đó nhiều lần. Có

lần trước nguy cơ Jim bị phát hiện, Huck đã thản nhiên mời những tay săn lùng nô lệ bỏ

trốn lại chỗ cái bè, rồi lấp lửng nhắc đến căn bệnh đậu mùa và giả vờ buồn bã khi chúng bỏ

đi vì sợ lây bệnh. Hay câu chuyện về gia đình li tán “chẳng để lại một thứ gì khác ngoài số

tiền mười sáu đô la với anh da đen là Jim” [66, tr.207] cho Huck, khi Vua và Quận Công

tỏ ra nghi ngờ Jim là nô lệ bỏ trốn. Những câu chuyện như thế được Huck “sáng tác” rất

nhanh và “diễn” rất tự nhiên. Những câu chuyện có thể khác nhau về nội dung nhưng chúng

rất giống nhau ở tình huống ra đời. Đó là những lúc nguy cấp cần phải tự bảo vệ bản thân và

người khác thoát khỏi nguy hiểm. Như vậy chuyện nói dối của Huck là việc làm mang tính

tự vệ, thể hiện bản năng tồn tại của con người chứ không phải là loại hành động thể hiện bản

chất giả dối. So sánh với những hành động láu lỉnh của Tom Sawyer, chúng ta sẽ thấy sự

khác nhau. Khi Tom vờ vịt thích công việc quét vôi hàng rào thì mục đích rõ ràng của cậu

bé là kiếm người làm giúp để vừa thu lợi vừa không phải làm việc. Rồi khi gạ bọn trẻ đổi

thẻ ở trường học Giáo lí, Tom cũng đã tính trước sẽ dùng những cái thẻ kiếm được một cách

“bất chính” ấy để được “tôn vinh”. Cùng là hành động nói dối nhưng ở Tom là sự bộc lộ sự

ranh mãnh, còn ở Huck lại là sự bộc lộ bản năng tự vệ. Điều này có ở Huck cũng là điều dễ

hiểu bởi hoàn cảnh sống lang thang từ nhỏ, luôn phải đối phó với người cha nát rượu đã

khiến bản năng sinh tồn nơi Huck phát triển mạnh mẽ. Bản năng ấy gợi nhớ đến chi tiết

Huck tạo dựng cái chết giả của mình để trốn khỏi sự giam cầm của bố ở phần đầu tác phẩm.

Rõ ràng Huck đã tính toán rất kĩ lưỡng mọi việc, từ việc tạo hiện trường giả đến việc chuẩn

bị lương thực mang theo, rồi nơi đến, giờ khởi hành… Tất cả là để được tồn tại, sau nữa là

để được sống tự do chứ không phải là loại hành động mang tính chất lừa dối.

Như vậy, có thể thấy bản chất thuần phác ở nhân vật Huck Finn đậm nét, nổi trội hơn

ở nhân vật Tom Sawyer. Mọi hành động của Huck đều theo sự dẫn dắt của bản chất, nếu

không muốn nói là bản năng, ấy. Sự đấu tranh giữa con người thuần phác và con người văn

minh thể hiện nhiều hơn nơi Tom thì ở nhân vật Huck điều đó tập trung biểu hiện qua

những chi tiết liên quan đến việc thả tự do cho Jim mà chúng tôi sẽ trình bày dưới đây.

3.3.2. Sự thuần phác và tình bạn

Mối quan hệ giữa Huck, chú bé da trắng nghèo và Jim, người nô lệ da đen bỏ trốn

trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn chứa đựng rất nhiều ý nghĩa. Nó là

sự tiếp nối :

Một hiện tượng đặc biệt trong dòng tiểu thuyết phiêu lưu của Mĩ là hệ hai nhân vật

thành một cặp lưỡng tính theo kiểu Don Quixote với Pansa.” [13, tr.147].

Qua cặp nhân vật này, Mark Twain muốn nói đến những vấn đề thời đại và thể hiện ý

nghĩa của một cuộc cách mạng tư tưởng. Đây là điều chúng tôi đã đề cập đến trong chương

thứ hai của luận văn. Sở dĩ nhắc lại điều này bởi thông qua mối quan hệ nói trên giữa Huck

và Jim, còn có thể làm rõ vấn đề bản chất thuần phác của nhân vật Huck Finn.

Trong suốt hành trình đi tìm tự do của mình, bên cạnh “ông thầy” thiên nhiên, thì

Huck còn học được nhiều điều từ Jim nữa. Sự hiểu biết, cảm thông, gắn bó của đôi bạn hình

thành và ngày càng trở nên sâu đậm hơn sau những biến cố gặp phải trong suốt chuyến đi.

Vì vậy “Người nô lệ bỏ trốn – Jim, trở thành một người cha tinh thần đối với Huck.” [68,

tr.123].

Cũng như bất kì người miền Nam nào khác, trong suy nghĩ của Huck, một người da

đen thì luôn ngờ nghệch và cố chấp, không thể có những tình cảm đặc biệt. Thế nhưng

những ngày sống cùng Jim đã khiến Huck hiểu hơn về những người nô lệ. Trong cái đêm

sương mù trên sông mà chúng tôi đã nêu ở trên, Huck lạc mất Jim và khi gặp lại đã đùa Jim

rằng tất cả chỉ là một giấc mơ. Jim đã “trách móc” Huck bằng những lời sau :

Sau khi tôi đã mệt quá với chuyện loay hoay ở đó rồi mà gọi cậu mãi không thấy, tôi

mới đi ngủ, mà trong lòng tôi thì đau đớn vô cùng vì đã mất cậu. Tôi cũng chẳng cần

biết là tôi và cái bè ra sao nữa. Lúc tôi tỉnh dậy thì lại thấy cậu trở về nguyên vẹn, tôi

ứa nước mắt ra, có thể quì xuống mà hôn chân cậu, vì tôi mừng quá đỗi. [66, tr.148].

Có thể coi đây là bài học đầu tiên Huck nhận được từ Jim. Nó tác động đến Huck thật

mãnh liệt :

Tôi cảm thấy mình thật xấu xa đến nỗi suýt nữa tôi lại muốn cúi xuống hôn chân Jim

để hắn quay lại…

Đến mười lăm phút qua tôi mới đứng dậy được, đến xin lỗi trước mặt một người da

đen. Nhưng làm việc đó xong rồi, không bao giờ tôi còn phải ăn năn hối hận nữa.

[66, tr.148].

Quả thật không dễ dàng chút nào cho Huck để “đến xin lỗi trước mặt một người da

đen”. Thế nhưng hành động mang tính cách mạng ấy đã đem lại cho Huck sự ấm áp trong

tâm hồn bởi từ đây cậu được đồng hành với một người bạn chứ không phải với một nô lệ bỏ

trốn nữa. Do đó nó không chỉ là hành động thể hiện bản chất thuần phác mà còn là hành

động đầu tiên xác lập tình bạn giữa Huck và Jim. Cứ thế nhiều lần khác nữa trong chuyến

hành trình Huck còn được nghe thêm những quan niệm (cũng rất thuần phác) của Jim về

cuộc sống, con người; những tâm sự của Jim về gia đình, kế hoạch tương lai … Đồng thời

Huck còn được nhận sự quan tâm, chăm sóc của Jim trong suốt chuyến đi, điều mà lúc còn

ở trong thị trấn không bao giờ Huck nhận được. Tất cả như một chất keo dần dần gắn kết họ

lại bằng một thứ tình cảm hết sức trong sạch, thánh thiện. Và đến cuối cuộc hành trình, khi

Jim bị lão Vua lừa bán đi mất thì cũng là lúc mà Huck thực sự cảm nhận được ý nghĩa lớn

lao của tình cảm ấy. Cậu thấy hụt hẫng, đau đớn như vừa mất đi một người ruột thịt.

Tôi gọi to một tiếng, rồi một tiếng nữa – lại một tiếng nữa; chạy hết ngả này ngả

khác vào rừng, hú lên, hét lên, nhưng vô ích – Jim đã đi mất rồi. Tôi ngồi xuống

khóc, không thể nào kìm được nữa. [66, tr.332].

Nỗi đau khổ của Huck được bày tỏ cũng theo cách rất tự nhiên, không hề che dấu,

ngại ngần gì. Hình ảnh Huck hết “gọi to” rồi lại chạy, hú, hét tìm Jim và cuối cùng bật khóc

khiến người đọc liên tưởng đến cảnh tượng một con thú lạc mất con đang hoảng loạn, đau

khổ đến điên cuồng giữa rừng sâu. Thì ra cuộc sống giữa thiên nhiên không chỉ đem lại cho

Huck tự do mà còn có thể đem lại cho cậu bé những tình cảm mà trước đó nó không hề biết

là có ở trên đời. Cách biểu lộ sự đau đớn ấy của Huck khiến chúng ta liên tưởng đến cảnh

tượng Tom bày tỏ tình cảm với Becky mà chúng tôi đã nêu ở phần trên. Tâm trạng và cảnh

ngộ hoàn toàn khác nhau nhưng cách mà hai cậu bé bày tỏ tình cảm thì rất giống nhau. Cả

hai đều thành thực với tình cảm của mình và bộc lộ chúng ra bên ngoài một cách hết sức tự

nhiên.

Trở lại với nhân vật Huck Finn, chúng ta thấy rằng chính sự gắn bó và những tình

cảm đối với Jim đã khiến cuộc đấu tranh nội tâm của Huck ở chương thứ XVI diễn ra đầy

kịch tính, khi cả hai tưởng đã đến được Cairo, nơi Jim có thể đi đến những bang không còn

chế độ nô lệ để bắt đầu cuộc sống tự do. Nó giống như một cuộc kiểm tra đạo đức dành cho

Huck. Trái tim thuần phác mách bảo Huck để cho Jim đi, nhưng ý thức vốn rất xa lạ với

những qui ước đạo đức lại “đe doạ” cậu, khiến cậu thấy mình có lỗi, thậm chí run sợ. Khi

cái ý thức ấy “lấn lướt”, Huck đi đến quyết định sẽ giao nộp Jim. Điều này làm cho Huck

thấy :

… dễ chịu, sung sướng, nhẹ như một chiếc lông bay bổng. Bao nhiêu những cái bứt

rứt đều tiêu tan cả.” [66, tr.152].

Thế rồi trong khi quay xuồng vào bờ để thực hiện ý định trên, khi nghe Jim hét với

theo những lời biết ơn, ca ngợi lòng tốt của mình, Huck lại cảm thấy “hình như ruột gan tôi

bị bật cả ra ngoài” [66, 153] và khi giáp mặt những người đi bắt nô lệ thì rất tự nhiên bằng

trái tim trực cảm, Huck che dấu, bảo vệ Jim rất khéo léo bằng câu chuyện về bệnh đậu mùa

đã nói ở trên. Biết chắc là Jim thoát khỏi nguy hiểm lần này rồi nhưng Huck vẫn băn khoăn

không biết mình đã làm đúng hay sai. Chính vì vậy mà cậu cứ loay hoay mãi với những suy

nghĩ hết sức thật thà :

… nếu lúc này mình làm điều phải và đưa Jim ra, thì có phải bấy giờ thấy dễ thở hơn

không? Nhưng tôi lại nói : không. Nếu như thế thì mình sẽ thấy khổ tâm chứ, sẽ thấy

bứt rứt như chính bây giờ mình đang bứt rứt đây. Rồi tôi lại tự bảo: học làm điều

phải để làm gì trong khi làm điều phải thì khổ tâm và làm điều trái thì không thấy

phiền lòng gì cả. [66, tr.156].

Có thể coi bản chất thuần phác chính là nguyên nhân nỗi khổ sở mà Huck phải chịu

đựng. Thế nhưng ngay trong những suy nghĩ trên, Huck đã thể hiện sự lựa chọn của mình

rồi. Huck sẽ không làm “điều phải” nữa vì nó khiến cậu “khổ tâm” tức là Huck đã nghiêng

về phía lương tâm thuần khiết. Trong trường hợp này bản năng đạo đức nơi Huck đã đặt nó

vào thế đối đầu với xã hội. Sự lựa chọn, do đó không thể không khó khăn. Nếu so sánh với

việc Tom bị lương tâm cắn rứt khi không dám ra cứu Muff Potter trong cuốn Những cuộc

phiêu lưu của Tom Sawyer thì cuộc đấu tranh nội tâm của Huck gay go hơn nhiều. Nó cũng

cao hơn về mặt ý nghĩa. Huck phải đối mặt với vấn đề đạo đức lớn hơn nhiều so với chuyện

cứu hay không cứu một người vô tội khỏi cảnh tù đầy của Tom. Bản chất thuần phác đậm

nét hơn cũng khiến Huck khổ sở hơn Tom và điều quan trọng là trong cuộc đấu tranh của

Huck ta thấy rõ hơn vai trò của trực giác trong hành động biểu lộ bản chất ấy.

Sau này, ở cuối tác phẩm, một lần nữa Huck lại phải trải qua thử thách tương tự. Chỉ

có điều hành động của Huck dứt khoát hơn, quyết liệt hơn. Đó là lúc đang ở nhà dì Sally,

Huck quyết định viết thư gửi cô Watson (người chủ nô lệ của Jim) tố cáo Jim khi biết hắn bị

ông Silas Phelps bắt nhốt. Nhưng toàn bộ cuộc hành trình đầy bất trắc với Jim sống dậy.

Trong đầu Huck như diễn ra một đoạn phim quay chậm trong đó các hình ảnh quá khứ cứ từ

từ lướt qua :

Rồi lại nghĩ đến cả chuyến đi xuôi con sông này, và tôi luôn luôn thấy hình ảnh Gim

ở trước mặt: ngày cũng như đêm, có khi dưới trăng, có khi trong cơn dông tố, chúng

tôi vẫn dập dềnh trôi đi, nói chuyện, hát cười. Rồi tôi thấy hình như không có chỗ

nào mà mình đáng phải độc ác với hắn, chỉ thấy hắn tốt. Tôi thấy Gim ở trên bè đứng

gác thay cho tôi, đáng lẽ gọi tôi dậy thì hắn vẫn để tôi ngủ; thấy Gim sung sướng

mừng rỡ biết bao nhiêu khi thấy tôi thoát khỏi sương mù trở về; rồi đến lúc tôi ra

đầm gặp lại Gim ở vùng đồn điền kia; nhiều lần như thế; và bao giờ Gim cũng gọi

tôi bằng cái tên thân yêu, chiều chuộng tôi, có thể vì tôi mà làm gì cũng làm. Luôn

luôn bao giờ Jim cũng tốt như vậy. [66, tr.336].

Dòng hồi tưởng ấy nhắc nhớ lại những ngày tháng phiêu lưu của đôi bạn. Hình ảnh

dòng sông vừa êm đềm vừa dữ dội bây giờ làm nền cho những kí ức tốt đẹp về Jim. Huck

nhớ như in các sự kiện cùng trải qua với Jim trên dòng sông ấy và cảm nhận rõ rệt tấm lòng

bao dung của một người cha, người anh; tâm hồn chân thực của một người bạn nơi người nô

lệ ấy. Trở đi trở lại trong kí ức của cậu bé là ý nghĩ về sự lương thiện, hiền lành, tốt bụng

của Jim : “Rồi tôi thấy hình như không có chỗ nào mà mình đáng phải độc ác với hắn, chỉ

thấy hắn tốt.” Hay “Luôn luôn bao giờ Jim cũng tốt như vậy.”.

Chính những kí ức ấy đã đẩy Huck tới một quyết định:

Tôi nhặt mảnh giấy lên, mân mê trong tay. Tôi run người lên, vì bây giờ tôi phải

quyết định một lần chót, một trong hai điều đây. Tôi biết lắm. Tôi suy nghĩ một phút,

nín thở, rồi tự bảo: “Thôi được, mình sẽ đành đi xuống địa ngục” – và xé toang

mảnh giấy. [66, tr.336].

Trong cuộc đấu tranh lần này, ý thức dường như “lép vế” hơn so với trái tim. Trái

tim thuần phác khiến Huck không hề ngại ngần chuyện sẽ “đi xuống địa ngục” và dẫn dắt

Huck tới hành động “xé toang mảnh giấy” kia. Hành động dũng cảm ấy đánh dấu sự chiến

thắng hoàn toàn của bản chất thuần hậu trong con người Huck. Nó cũng chính là chi tiết

quan trọng biểu hiện chất nổi loạn tư tưởng mà nhà văn muốn thể hiện trong tác phẩm bởi

nó phủ nhận những qui định mà xã hội công nhận. Bằng hành động ấy, Huck đã tự đặt mình

vào thế đối đầu với xã hội. Cái cách nhà văn đặt cậu bé cao hơn những chuẩn mực xã hội đã

thể hiện sự đồng tình của ông với những hành động xuất phát từ bản chất thuần phác của

con người.

Như vậy tình bạn của Huck và Jim tượng trưng cho những gì thánh thiện nhất. Theo

như cách nói của Lionel Trilling thì “Huck và Jim thực sự dựng lên một cộng đồng các

thánh trên chiếc bè” [74, tr.11]. Cộng đồng ấy, vì vậy hoàn toàn đối nghịch với xã hội

đương thời và cũng chính nó là môi trường khiến bản chất thuần phác của con người có thể

bộc lộ và toả sáng.

3.3.3. Sự thuần phác và chuyện mê tín

Ở trên, chúng tôi đã nhắc đến việc ngành folklore học ở Mĩ ra đời năm 1888 như một

phản ứng với sự phát triển công nghiệp. Việc quay về tìm hiểu nền văn hoá nông nghiệp

trước đó là mối quan tâm hàng đầu của các nhà xã hội học lúc bấy giờ. Mark Twain cũng

với quan niệm ấy đã đưa vào cuốn Huckleberry Finn những chi tiết có thể gợi nhắc đến nền

văn hoá nông nghiệp đó. Đó chính là những chuyện mê tín. Cũng giống như Tom trong

cuốn Tom Sawyer, Huck và cả Jim rất tin vào những chuyện loại này trong suốt hành trình

của mình. Để những câu chuyện mê tín chi phối các nhân vật cũng là một cách nhà văn thể

hiện bản chất thuần phác của họ. Nếu trước kia Huck thường bàn bạc và thực hiện những

chuyện ấy cùng Tom thì bây giờ đi với Jim, cậu bé còn biết thêm nhiều chuyện “hay ho”

hơn nhờ Jim dạy cho. Do đó chúng không chỉ biểu lộ sự chất phác của Huck (và cả Jim) mà

còn mở ra một phương diện khá thú vị trong đời sống tinh thần của người da đen. “Thế giới

Huck đang sống được trang bị hoàn hảo để thích nghi với tính thần” [74, tr.8] là ý kiến của

Lionel Trilling về vấn đề này.

Trong cuốn Huckleberry Finn, những chuyện mê tín dị đoan ảnh hưởng tới Huck có

thể xếp vào hai loại. Đó là những chuyện điềm báo và những điều kiêng kị. Huck tin tưởng

tuyệt đối vào những điềm báo nên cậu bé luôn sợ hãi cuống cuồng mỗi khi gặp phải. Các

điềm báo có thể khác nhau nhưng phản ứng của Huck trước chúng thì luôn giống nhau. Mở

đầu tác phẩm, dù trong lòng đang “vô cùng buồn thảm” vì phải sống cảnh “tù đày” ở nhà bà

goá Douglas, nhưng khi “một con nhện ở đâu nhảy đến, lồm cồm bò trên vai áo”, Huck vẫn

không quên “chồm dậy, quay đi quay lại một chỗ đến ba bốn vòng, rồi lại làm dấu trước

ngực rất nhiều lần”. Sau đó là “lấy sợi dây buộc chặt mớ tóc trên đầu để làm cái bùa đuổi

yêu quái đi” vì tin rằng “đó là một điều xấu và rồi tôi sẽ gặp rủi ro” [66, tr.20]. Huck

không chỉ tin vào những điềm báo tình cờ, cậu còn rất tin vào chuyện bói toán vì cho rằng

nhờ việc này mà có thể biết trước mọi chuyện để mà tránh. Tiêu biểu cho loại niềm tin này

là việc Huck sau khi phát hiện ra dấu vết của bố đã chạy đến nhờ Jim dùng búi lông “có con

ma nó biết tất cả mọi thứ” bên trong để đoán xem “bố tôi sẽ làm gì và có ý định ở lại đây

không” [66, tr.42]. Chỉ sau khi Huck trả tiền thì búi lông mới cho cậu bé biết các tiên đoán

của mình :

Chưa biết là ông bố cậu sẽ làm gì ở đây. Có thể ông ấy sẽ đi xa, cũng có thể ông ấy

định ở lại…Nhưng còn cậu thì không hề gì. Đời cậu sẽ gặp nhiều cái rắc rối, mà

cũng có nhiều cái vui mừng đấy. Có khi cậu bị đau đớn, lại có khi ốm yếu, nhưng rồi

lần nào cậu cũng trở lại lành mạnh như thường… [66, tr.43 – 44].

Nghe những lời phán nước đôi ấy, tất nhiên Huck rất sợ. Bởi thế khi về phòng thấy

ông bố đã ngồi sẵn trong đó, cậu bé hết “khiếp sợ” lại “kinh hãi”.

Sau này khi cùng thực hiện chuyến phiêu lưu, Huck còn được Jim nhắc nhở nhiều lần

về những điều nếu làm sẽ gặp phải chuyện không may vì Jim “biết hầu hết” các thứ điềm

báo hiệu trên đời. Đây là chuyện mê tín thuộc dạng thứ hai : những điều kiêng kị. Những

chuyện loại này rất nhiều trong niềm tin của Huck. Nào là người bắn chim đang bay sẽ bị :

“chết đấy”, hoặc ai vào“lúc mặt trời lặn mà đem rũ cái khăn trải bàn” [66 – tr.86] thì chắc

chắn sau đó sẽ gặp phải điều rủi ro, hay “sờ vào da rắn lột sẽ gặp điều không may nhất trên

đời” [66, tr.96 – 97], rồi là “nhìn mặt trăng lưỡi liềm qua phía bên trái của mình là một

trong những điều không cẩn thận và dại dột nhất” [66, tr.99]. Và tất nhiên chúng cũng

khiến Huck phải lo sợ không kém so với những chuyện điềm báo đã kể trên. Điều đặc biệt

là niềm tin của Huck vào chúng ngày càng được củng cố vững chắc hơn nhất là sau một

điềm báo nào đó lại tình cờ xảy ra sự việc trùng hợp. Tiêu biểu cho niềm tin loại này có thể

kể đến câu chuyện ở chương thứ X “Sờ vào cái da rắn lột sẽ ra sao" trong tác phẩm. Đó là

khi Huck và Jim còn ở trên đảo Jackson, trong một lần vô tình Huck “tìm thấy cái da rắn lột

ở trên đỉnh gò” [66 – tr.96]. Thoạt đầu Huck không tin nhưng sau đó vì sự đùa nghịch của

cậu mà Jim bị rắn cắn. Đầu óc ngây thơ của Huck đã bị một phen thử thách. Cậu vừa tin là

do cái da rắn lột nó báo oán, vừa ân hận vì việc làm của mình khiến bạn gặp nguy hiểm.

Chính vì vậy mà khi Jim qua khỏi, Huck đã :

… nghĩ bụng nhất định từ nay sẽ không mó vào cái da rắn lột nữa, vì bây giờ đã thấy

nó tai hại như thế nào rồi. [66 – tr.98].

Các tình tiết có liên quan đến chuyện mê tín dị đoan của các nhân vật trong cả cuốn

Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn” quả thật

chứa đựng nhiều ý nghĩa. Trước hết chúng làm cho những câu chuyện phiêu lưu của Tom và

Huck thêm màu sắc bí ẩn; chúng còn là biểu hiện của những tàn dư của xã hội nông nghiệp

và đặc biệt chúng bộc lộ một nét trong bản chất thuần phác của các nhân vật. Những tàn dư

như thế sẽ còn gây cho chúng ta vô vàn những thú vị nếu chúng ta nhìn tác phẩm dưới góc

nhìn văn hoá (học).

Chúng tôi vừa trình bày ý nghĩa thứ hai của vấn đề thiên nhiên : thiên nhiên – bản

chất trong hai tiểu thuyết của Mark Twain Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và

Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Cùng với ý nghĩa thứ nhất : thiên nhiên –

không gian phiêu lưu, vấn đề bản chất của các nhân vật Tom Sawyer và Huck Finn cũng sẽ

giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về những giá trị nhân văn sâu sắc mà nhà văn muốn

gởi gắm vào những đứa con tinh thần của mình.

KẾT LUẬN

1. Như vậy là chúng tôi đã giải quyết đề tài của mình dưới ít nhất ba cấp độ: thiên

nhiên với hai ý nghĩa tự nhiên và bản chất trong văn học, thiên nhiên như là tự nhiên và

thiên nhiên như là bản chất trong hai tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và

Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn.

Khi khảo sát vấn đề thiên nhiên với với hai ý nghĩa tự nhiên và bản chất trong văn

học, chúng tôi đã kết hợp tìm hiểu song song những vấn đề về lí luận và dẫn chứng trong

một số tác phẩm văn chương (tự sự) tiêu biểu của thế giới từ cổ đại đến hiện đại. Điều này

giúp tạo ra cái nhìn khái quát về vấn đề để từ đó có thể đi vào trọng tâm của luận văn là

Thiên nhiên như là tự nhiên và Thiên nhiên như là bản chất trong hai tiểu thuyết Những

cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn.

Đối với vấn đề Thiên nhiên như là tự nhiên trong hai tiểu thuyết nói trên của Mark

Twain, mặc dù chứa đựng rất nhiều ý nghĩa khác nhau nhưng chúng tôi chỉ tập trung xem

xét thiên nhiên dưới góc độ là không gian gắn liền với những cuộc phiêu lưu của các nhân

vật và chỉ xem xét chúng ở những khía cạnh có thể làm rõ thái độ phê phán gay gắt của nhà

văn về xã hội công nghiệp đương thời.

Cuối cùng là Thiên nhiên như là bản chất cũng trong hai cuốn Những cuộc phiêu lưu

của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Chúng tôi cũng chỉ xem

xét sự thuần phác trong bản chất của hai nhân vật chính là Tom Sawyer và Huck Finn cũng

với mục đích làm rõ cái nhìn của nhà văn về thời đại và con người.

Với mục đích đó chúng tôi đã cố gắng chỉ ra những ý nghĩa xã hội, triết lí trong hai

tiểu thuyết đỉnh cao của Mark Twain chỉ thông qua vấn đề thiên nhiên. Như vậy chúng tôi,

một cách gián tiếp đã chỉ ra được những nét riêng trong ngòi bút hiện thực của Mark Twain.

2. Theo chúng tôi khuynh hướng vùng miền trong các sáng tác của Mark Twain là

một trong những điểm quan trọng làm nên giá trị, sự hấp dẫn cho các tác phẩm của ông nói

chung và hai cuốn Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer và Những cuộc phiêu lưu của

Huckleberry Finn nói riêng. Tiếp cận giá trị ấy thông qua vấn đề thiên nhiên như là tự

nhiên, chúng tôi đã khảo sát hai hình ảnh nổi bật là rừng và sông gắn với không gian phiêu

lưu của các nhân vật như những biểu tượng chứa đựng ý nghĩa đối lập với thế giới văn

minh. Đặt tự nhiên trong thế đối trọng với xã hội công nghiệp hiện đại, theo chúng tôi sẽ

làm nổi bật được nét bí ẩn mà quyến rũ rất đặc trưng của không gian miền Tây biên cương

nước Mĩ thời kì đầu thế kỉ XIX, nơi mà Mark Twain gắn bó cả tuổi thơ và một phần đời thời

trai trẻ phiêu bạt của mình.

Riêng ý nghĩa bản chất của thiên nhiên, chúng tôi đã chỉ ra sự thuần phác của hai

nhân vật là Tom Sawyer và Huck Finn thông qua các mối quan hệ của chúng với chuyện

phiêu lưu, chuyện mê tín và trong mối quan hệ với những người xung quanh. Khi tìm hiểu

vấn đề này, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến sự đấu tranh giữa bản năng đạo đức nơi các

nhân vật với những ảnh hưởng của xã hội văn minh để nhấn mạnh đến sự chiến thắng cuối

cùng của tính thuần phác. Nét thuần phác trong bản chất của các nhân vật tạo cho chúng tính

cách khác hẳn các nhân vật toan tính, mánh khoé, thực dụng thường gặp trong văn học hiện

thực. Kết hợp với không gian hoang sơ trong các chuyến phiêu lưu, các nhân vật vì thế tạo

ra một thế giới đối lập với thế giới văn minh hiện đại.

3. Luận văn của chúng tôi lần đầu tiên tiếp cận sáng tác của Mark Twain từ góc độ

thiên nhiên. Thông qua việc tìm hiểu thiên nhiên trong hai tiểu thuyết đỉnh cao của ông,

chúng tôi đã làm rõ được một số nét đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực Mĩ trong các tác

phẩm của nhà văn vĩ đại này.

Yếu tố hiện thực trong các tác phẩm của Mark Twain là điều mà các nhà nghiên cứu

trong nước đã rất quan tâm và cũng có không ít những bài viết có giá trị. Chúng tôi không

theo các cách lí giải ấy nhưng những ý kiến ấy đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc lựa

chọn hướng khảo sát của mình. Việc có nhiều nghiên cứu về Mark Twain từ những góc độ

khác nhau, thậm chí trái ngược nhau mà vẫn khám phá ra những giá trị mới mẻ chỉ chứng tỏ

rằng ông là một hiện tượng văn học lớn không chỉ của văn chương Hoa Kì mà còn của cả

thế giới.

TƯ LIỆU THAM KHẢO

TIẾNG VIỆT

1. Aristole (1997), Nghệ thuật thơ ca, Tập thể dịch giả, Tạp chí Văn học nước ngoài, (1),

trang 180 – 221.

2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

3. Bakhtin Mikhail (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, Nxb Hội

nhà văn, Hà Nội.

4. Barnet Sylvan… (1992), Nhập môn văn học, Hoàng Ngọc Hiến dịch và giới thiệu,

Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội.

5. Lê Huy Bắc (2002), Văn học Mĩ, Nxb Đại học Sư phạm.

6. Bigelow Albert Paine (1957), Thởu hoa niên của văn hào Mark Twain, Anh Phương

dịch, Nxb Thời đại.

7. Borges Luis Jorge (1999) “Nathaniel Hawthorne – Người mộng mơ”, Nguyễn Trung

Đức dịch, Tạp chí Văn học (8), trang 75 – 86.

8. Chevalier Jean và Gheerbrant Alain (2002) Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, tập

thể dịch giả, Nxb Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du.

9. Đào Ngọc Chương (1997), “Mark Twain (1835 – 1910) trong truyền thống văn học

Mĩ”, Bình luận văn học, niên giám 1997, cuốn 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà

Nội.

10. Đào Ngọc Chương (1997), “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer – điểm nhìn

của người kể chuyện và những hiệu quả nghệ thuật”, Bản photocopy.

11. Đào Ngọc Chương (1997), “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn – Nhân

vật người kể chuyện và hành trình của thời đại”, Bản photocopy.

12. Đào Ngọc Chương (2000), Moby Dick và truyền thống tiểu thuyết Mĩ, Tạp chí văn

học (3), trang 79 – 84.

13. Đào Ngọc Chương (2003), Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của Ernest Hemingway,

Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

14. James Fenimore Cooper (1986), Người cuối cùng của bộ lạc Mohicans, Phan Minh

Hồng và Mai Thái Lộc dịch, Nxb Mũi Cà Mau.

15. Lê Đình Cúc (1986) “Ngòi bút hiện thực phê phán và nghệ thuật hài hước của Mark

Twain”, Tạp chí Văn học (3), trang 65 – 75.

16. Lê Đình Cúc (2004), Tác gia văn học Mĩ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

17. Lê Đình Cúc (2001) “William Dean Howells (1831 – 1920) – Người gieo trồng và

vun xới nền văn học Mĩ”, Tạp chí Văn học (3), trang 17 – 26

18. Lê Đình Cúc (2002) “Văn học Mĩ – Thử nhận diện”, Tạp chí Văn học (4), trang 52 –

58.

19. Lê Đình Cúc (2004), Trích dẫn những bài phê bình tác gia văn học Mĩ : Thế kỉ XVIII

– XX, Nxb Khoa học xã hội.

20. Nguyễn Văn Dân (1996), Một số quan niệm về văn học - nghệ thuật của các học

thuyết mĩ học phương Tây hiện đại, Tạp chí Văn học nước ngoài (6) trang 176

– 188.

21. Chu Xuân Diên (1995), Văn hóa dân gian (folklore) và phương pháp nghiên cứu liên

ngành, Tủ sách đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.

22. Daniel Defoe (2003), Robinson Cruso, Hoàng Thái Anh dịch, Nxb Kim Đồng.

23. Nguyễn Đức Đàn (1996), Hành trình văn học Mĩ, Nxb Văn học Hà Nội.

24. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

25. Phan Cự Đệ (2003), “Tiểu thuyết phiêu lưu và tiểu thuyết tâm lí”, Tạp chí Nhà văn,

(7), trang 81 – 110.

26. Lê Minh Đức, Nguyễn Nghị (1994), Lịch sử nước Mĩ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà

Nội.

27. Nathaniel Hawthorne (1988), Chữ A màu đỏ, Lâm Hoài dịch, Nxb Văn học.

28. Phan Thu Hiền (1999), Sử thi An Độ, tập 1 : Mahabharata, Nxb Giáo dục.

29. Hoàng Ngọc Hiến (2003), Nhập môn văn học và phân tích thể loại, Nxb Đà Nẵng.

30. Trần Văn Hoàn (1967), “Làm quen với Mark Twain”, Tạp chí Diễn đàn Mĩ (6),

trang 138 – 143.

31. Homere (1997), Anh hùng ca Iliade, tập 1, Hoàng Hữu Đản dịch, Nxb Văn học Hà

Nội.

32. Homere (1982), Odyssey , Phan Thị Miến dịch, Nxb Văn học.

33. Hughes Holly (1999) “Văn học Mĩ (1600 – 1914)”, Lê Xuân Mai dịch, Tạp chí Văn

học (10), trang 75 – 84.

34. Lê Quang Huy (2002), Đôi điều cần biết về nước Mĩ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

35. Nguyễn Thái Yên Hương (2005), Liên bang Mĩ : đặc điểm xã hội văn hoá, Nxb Văn

hóa thông tin, Hà Nội.

36. Yasunari Kawabata (1988), Cố đô, Thái Văn Hiếu dịch, Nxb Hải Phòng.

37. Khraptrenko (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, Lê

Sơn, Nguyễn Minh dịch, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

38. Kundera, K. (1998), Nghệ thuật tiểu thuyết, Nguyên Ngọc dịch, Nxb Đà Nẵng.

39. Thanh Lê, chủ biên (2003), Xã hội học phương Tây, Nxb Thanh niên.

40. Jack London (2002), Truyện ngắn chọn lọc, Tập thể dịch giả, Nxb Văn học.

41. Phương Lựu (1999), Lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX, Nxb Văn học,

Hà Nội.

42. Herman Melvill (1987), Cá voi trắng, Công Ba và Sơn Mĩ dịch, Nxb Mũi Cà Mau.

43. Thomas Mann (1998), Ao ảnh, Huỳnh Phan Anh dịch, Nxb Văn học.

44. Hữu Ngọc (1995), Hồ sơ văn hoá Mỹ, Nxb Thế giới, Hà Nội.

45. Plar. K. O (2001), Mark Twain, Thu Thủy dịch, Nxb Trẻ.

46. Vũ Tiến Quỳnh, biên soạn (1995), Phê bình, bình luận văn học”, Nxb Văn nghệ

thành phố Hồ Chí Minh.

47. Lê Hồng Sâm, Đặng Thị Hạnh (1981), Văn học lãng mạn và hiện thực phương Tây

thế kỉ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

48. Schultz A. Emily và Lavenda H. Robert (2001), Nhân học – một quan điểm về tình

trạng nhân sinh, Tập thể dịch giả, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

49. Đắc Sơn (1961), Đại cương văn học sử Mĩ, Nxb Khai trí, Sài Gòn.

50. Trúc Sơn (1963), Tìm hiểu bản sắc dân tộc Mĩ qua tiểu thuyết Mĩ, Tạp chí Quê

hương (43), trang 213 – 224.

51. Tập thể tác giả (1966), Văn chương Hoa Kì và các thể văn – thi ca Hoa Kì khác, Lê

Bá Kông và Phan Khải dịch, Nxb Diên Hồng, Sài Gòn.

52. Tập thể tác giả (1990), Văn học phương Tây, Nxb Giáo dục.

53. Tập thể tác giả (1995), Những bậc thầy văn chương thế giới, tư tưởng và quan niệm.

Nxb Văn học.

54. Tập thể tác giả (1995), Tìm hiểu Lí luận văn học phương Tây hiện đại, Nxb Văn học

Hà Nội.

55. Tập thể tác giả (2001), Tiếp cận đương đại văn hóa Mỹ, Nxb Văn hóa Thông tin.

56. Tzvetan Todorov (2004), Mikhail Bakhtin – Nguyên lí đối thoại, Đào Ngọc Chương

dịch, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

57. Lev Tolstoy (2003), Anna Karênina, Nhị Ca, Dương Tường dịch, Nxb Văn học.

58. Lê Ngọc Trà (1989), “Một số vấn đề về bản chất văn học”, Giáo trình lí luận văn

học, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.

59. Lê Ngọc Trà (1990), Lí luận và văn học, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

60. Hoàng Trinh (1999), Phương Tây – Văn học và con người, Nxb Hội nhà văn.

61. Lương Duy Trung (1998), “Một số tác giả của thơ ca Mĩ thế kỉ thứ XIX”, Tạp chí

Văn học, (4), trang 48 – 54.

62. Mark Twain (1988), Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Ngụy Mộng Huyền và

Hoàng Văn Phương dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.

63. Mark Twain (1997), Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, tập 1, Ngụy Mộng

Huyền và Hoàng Văn Phương dịch, Nxb Đồng Nai.

64. Mark Twain (1997), Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, tập 2, Ngụy Mộng

Huyền và Hoàng Văn Phương dịch, Nxb Đồng Nai.

65. Mark Twain (1998), Hoàng tử nhỏ và chú bé nghèo khổ, Minh Châu dịch, Nxb Kim

Đồng.

66. Mark Twain (2002), Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn, Xuân Oanh dịch, Nxb

Văn học.

67. Valmiki (1988), Sử thi Ramayana, Phạm Thủy Ba dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.

68. Vanspanckeren Kathryn (2001), Phác thảo văn học Mĩ, Lê Đình Sinh và Hồng

Chương dịch, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.

69. Walt Whitman (1981), Lá cỏ, Vũ Cận và Đào Xuân Quí dịch, Nxb Văn học.

70. Wyck Van Brooks (1966), Những năm trưởng thành : Lịch sử văn chương Hoa Kì

trong những năm 1885 – 1915, Từ An Tùng dịch, Nxb Tin đức thư xã, Sài

Gòn.

71. Wanning Esther (1995), Sốc văn hóa Mĩ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

TIẾNG ANH

72. Henry Nash Smith, biên soạn (1963), Mark Twain a collection of critical essays,

Nxb Prentice – Hall.

73. Henry David Thoreau “Walden”(http://thoreau.eserver.org/walden 1a.htm1)

74. Mark Twain (1948), Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Nxb Holt,

Rinehart and Winston.

75. Mark Twain (2004), “The complete illustrated works of Mark Twain”, Nxb Bounty

books.

76. Mark Twain “Life on the Mississippi” (http://mark-twain.classic-

letterature.co.uk/life-on-the-mississippi/ebook)

Mark Twain nhận bằng Tiến sĩ văn chương danh dự

của đại học Oxford năm 1907

http://www.answers.com/topic/mark-twain-dlitt-jpg

Chữ kí của Mark Twain

http://www.keyagallery.com/inv_Mark_Twain.htm

Ngôi nhà Mark Twain sống từ 1871 đến 1908 tại Hartford, Connecticut.

http://www.galenfrysinger.com/missouri_mark_twain.htm

Bìa cuốn “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer”

Nhà xuất bản: Holt, Rinehart and Winston

http://csmt.cde.ca.gov/images/0030544610.jpg

Bìa cuốn “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer”

Nhà xuất bản: Blackstone Audio, Inc.

http://images.contentreserve.com/ImageType-100/0887-1/%7BA6A563AB-6D0F-4F5F-

86CD-49952F4B3963%7DImg100.jpg

Bìa cuốn “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”

Nhà xuất bản: Bantam Classic

http://fater.blogspot.com/2005_09_01_archive.html

Bìa cuốn “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”

Nhà xuất bản: Troll Illustrated Classic

http://freeenglishebooks.blogspot.com/2007/08/adventures-of-huckleberry-finn.html

Lưu vực sông Mississppi

http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%ACnh:Mississippi-map.gif

Hành trình của Huck và Jim

Ngã ba của các sông Mississippi và Ohio tại Cairo, Illinois.

http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%ACnh:CairoIL_from_space_annotated.jp