BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Thu Hồng

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2008

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Thu Hồng

Chuyên ngành Mã số

: Văn học Việt Nam : 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TS. TRẦN HỮU TÁ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2008

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn, tôi

luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình quý báu của các thầy cô giáo, bạn

bè và gia đình. Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:

- PGS.TSKH. Trần Hữu Tá, người hướng dẫn khoa học đã tận

tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

- Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Tp. HCM, Phòng

Khoa học Công nghệ & Sau Đại học, Khoa Ngữ văn, quý Thầy Cô

giáo đã tận tình giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và

hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

- Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè

thân hữu đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ tôi học tập, nghiên

cứu để hoàn thành luận văn này.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2008

Tác giả luận văn

Phan Thị Thu Hồng

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1

Chương 1: NGUYỄN VĂN XUÂN VỚI VÙNG ĐẤT VÀ CON

NGƯỜI QUẢNG NAM; VỚI VĂN HỌC ĐÔ THỊ

MIỀN NAM 1954 - 1975

1.1.Vùng đất Quảng Nam và con người Quảng Nam ...............................................11

1.1.1. Vùng đất Quảng Nam ..............................................................................11

1.1.2. Con người Quảng Nam............................................................................18

1.2. Nhà văn xứ Quảng Nguyễn Văn Xuân với văn học đô thị miền Nam

1954 - 1975.........................................................................................................24

1.2.1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 ................24

1.2.2. Sáng tác của một trong những nhà văn tiêu biểu cho văn học yêu

nước đô thị miền Nam .............................................................................28

1.2.3. Nguyễn Văn Xuân - nhà văn của vùng đất và con người Quảng

Nam .........................................................................................................30

Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ YẾU CỦA NGUYỄN

VĂN XUÂN QUA TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN

NGẮN GIAI ĐOẠN 1954 – 1975

2.1.Cảm hứng khám phá vùng đất xứ Quảng............................................................37

2.1.1. Một thiên nhiên khắc nghiệt, dữ dội........................................................39

2.1.2. Vùng đất của những cuộc đụng độ quyết liệt trong lịch sử dựng

và giữ nước của dân tộc ...........................................................................46

2.1.3. Vùng đất của sự tiếp biến văn hoá...........................................................50

2.2.Cảm hứng ca ngợi tính cách, phẩm chất con người xứ Quảng ...........................58

2.2.1. Những con người cần cù, dũng cảm kiếm sống, sinh tồn trên

vùng quê nghèo khó.................................................................................59

2.2.2. Những con người yêu nước nồng nàn có ý thức trách nhiệm với

Tổ quốc ....................................................................................................66

2.2.3. Những con người cứng cỏi, ngang tàng, bộc trực thẳng thắn .................84

2.2.4. Những con người có tính tình cởi mở, nhạy bén với cái mới..................94

2.2.5. Những con người nhân hậu, đa cảm đa tình ............................................99

2.3.Cảm hứng tố cáo phê phán................................................................................110

2.3.1. Tố cáo tội ác về chính trị của thực dân Pháp và tay sai.........................110

2.3.2. Lên án ách áp bức bóc lột của bọn thực dân, giai cấp tư sản ................113

2.3.3. Lên án thủ đoạn xâm lăng văn hoá của đế quốc Mỹ .............................116

Chương 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ NGHỆ THUẬT

3.1.Tiểu thuyết đậm chất hiện thực.........................................................................119

3.1.1. Nội dung phản ánh.................................................................................119

3.1.2. Miêu tả nhân vật, xây dựng chi tiết .......................................................122

3.2.Truyện ngắn giàu chất kí...................................................................................125

3.2.1. Nhân vật và sự kiện có thật trong lịch sử ..............................................126

3.2.2. Đề tài - cốt truyện ..................................................................................133

3.3.Kết cấu độc đáo.................................................................................................134

3.3.1. Cốt truyện giàu kịch tính .......................................................................135

3.3.2. Tình huống truyện đặc biệt....................................................................135

3.3.3. Kết thúc bất ngờ đầy yếu tố lạc quan ....................................................136

3.4.Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ ...........................................................................139

3.4.1. Sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày.........................139

3.4.2. Việc vận dụng phương ngôn trong sáng tác của Nguyễn văn

Xuân…...................................................................................................143

3.4.3. Vận dụng thành ngữ...............................................................................148

KẾT LUẬN ..........................................................................................................154

TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................159

PHỤ LỤC..............................................................................................................164

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Nói đến văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 là nói đến một bộ

phận văn học ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt: đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai

cấp hết sức gay gắt. Trong đó, văn học yêu nước cách mạng nổi bật như một

khuynh hướng ngược dòng. Văn học yêu nước cách mạng đã tập hợp nhiều lực

lượng viết khác nhau. Một số văn nghệ sĩ từng tham gia kháng chiến chống Pháp ở

miền Nam: Lý Văn Sâm, Nguyễn Trọng Tuyển, Lê Vĩnh Hòa, Thiếu Sơn, Dương

Tử Giang, Vũ Hạnh, Sơn Nam…. Có sự góp mặt một số cây bút là những nhà hoạt

động tôn giáo: Trương Bá Cần, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ..…

Tinh thần dân tộc còn qui tụ một số ngòi bút trước nay tưởng như chỉ chuyên tâm

đến văn chương, học thuật như Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Võ Hồng, .… Trong sự

qui tụ lực lượng đặc sắc này, Nguyễn Văn Xuân thuộc nhóm thứ ba. Ông đã góp

những trang viết độc đáo về cuộc sống chiến đấu, lao động sinh tồn của nhân dân

đất Quảng.

Nguyễn Văn Xuân vừa là nhà văn, nhà báo vừa là nhà nghiên cứu giảng dạy

lịch sử, biên khảo và cũng là một soạn giả tuồng có tiếng trên văn đàn Sài Gòn - Đà

Nẵng từ những năm 1940. Vốn được sinh ra từ “miền xương xẩu của đất nước Việt

Nam” (chữ dùng của Nguyễn Văn Xuân), được mọi người xưng tụng một cách trìu

mến: “nhà Quảng Nam học”, “một con người từ một ngôi làng”, Nguyễn Văn Xuân

rất am hiểu về quê hương Quảng Nam, từ lịch sử hình thành, con người Quảng Nam

trong đấu tranh chống xâm lược đến quá trình lao động sinh tồn trên vùng đất “cày

lên sỏi đá”. Từ những hiểu biết ấy, những trang viết của ông đã đem lại trong lòng

người đọc ấn tượng sâu sắc về truyền thống đấu tranh, truyền thống văn hóa, tính

cách con người vùng đất “phên giậu” của Tổ quốc. Được chắt lọc từ “sỏi đá”,

“xương xẩu”, từ sóng gió của biển, bí ẩn của rừng….. những trang viết của Nguyễn

Văn Xuân giản dị, mực thước mà đậm đà chất Quảng.

Cuộc đời và những trang viết của Nguyễn Văn Xuân dường như rất ít lần

vượt khỏi phạm vi “Quảng Nam quốc”. Đối với ông, mỗi nhà văn phải thể hiện kiến

văn sâu sắc trên trang viết của mình. Bằng cách đó, nhà văn không cần đi xa, đi

nhiều, chỉ viết về quê hương chôn nhau cắt rốn của mình, cũng có thể đủ làm nên

tên tuổi. Điều kỳ lạ là Nguyễn Văn Xuân chỉ viết về một vùng, một miền nhưng tầm

vóc của những sáng tác ấy đã vượt khỏi phạm vi hạn hẹp sinh ra nó, vươn tới những

vấn đề lớn lao, cao cả, đầy chất nhân văn ở mỗi con người, trên khắp mọi miền Tổ

quốc. Đó chính là sức mạnh của văn chương mà không phải ngòi bút sáng tác nào

cũng có thể làm được.

Nhưng như một nghịch lý, một trớ trêu hay trò đùa của tạo hóa đối với những

bậc chân tài, tên tuổi của nhà văn dường như ít được nhắc đến. Tác phẩm văn

chương của ông cũng không có tiếng vang như lẽ ra nó phải có. Có thể vì tầm kiến

thức uyên bác trên các lãnh vực lịch sử, xã hội, dân tộc, trong các công trình biên

khảo.… nên ông thường được nhìn nhận ở một góc độ nhà nghiên cứu lịch sử, nhà

“Quảng Nam học” hơn là một nhà văn. Mặt khác, cuộc đời lặng lẽ làm việc cật lực

để nuôi sống một gia đình nhiều bất hạnh khiến nhà văn không có điều kiện quảng

bá sáng tác của mình.

Tuy không sinh ra và lớn lên trên quê hương Quảng Nam, nhưng lịch sử hình

thành đất Quảng và cuộc Nam tiến vĩ đại của dân tộc đã thôi thúc tôi đọc, tìm hiểu

những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân. Việc làm đó như hành trình tìm về cội

nguồn văn hóa của dân tộc và thể hiện lòng trân trọng biết ơn của những người ở

thế hệ sau đối với những bậc Tiền hiền có công khai phá, mở rộng, giữ gìn bờ cõi

đất nước ta liền một dãy từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Việc làm này còn thể

hiện sự kính trọng đối với một nhà văn lão thành, một nhà giáo tâm huyết, một nhà

nghiên cứu uyên bác.

Đó là lý do mà sau những ngày đọc những tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân,

đặc biệt là mảng tiểu thuyết và truyện ngắn, tôi muốn đi sâu nghiên cứu những giá

trị tiềm ẩn, để khẳng định sự đóng góp của ông đối với văn học nước nhà. Mặt khác,

nếu được, tôi xem đây như là những nén tâm hương mà một hậu bối như tôi trân

trọng thắp lên trước hương hồn của Người và nói rằng: “Ông đã sống một cuộc đời

đáng sống!”.

2. Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu

Văn chương của Nguyễn Văn Xuân thực sự là một mảnh đất còn đang bỏ ngỏ.

Hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu trọn vẹn về văn chương của ông. Do

thời gian có hạn, luận văn chỉ tập trung vào việc tìm hiểu, nhằm rút ra những đặc

điểm chủ yếu của tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân giai đoạn 1954

- 1975 trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật.

Tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân phần lớn được sáng tác

trong giai đoạn 1954 - 1975. Tuy nhiên, do điều kiện khách quan, chúng tôi chỉ tiếp

cận được hệ thống tác phẩm của ông tập hợp trong Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân

gồm một tiểu thuyết và 17 truyện ngắn (do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm

2001), ngoài ra còn có hai truyện ngắn trong giai đọan thử bút: Ngày giỗ cha, Ngày

cuối năm trên đảo sáng tác trước 1945, được in trong Tổng tập văn học Việt Nam,

Tập 33, xuất bản năm 2000.

3. Lịch sử vấn đề

Nguyễn Văn Xuân là một nhà văn được nhiều người biết đến trong giai đoạn

văn học 1954 - 1975. Có thể nói đây là “thời kỳ bùng nổ thành hiện tượng vang dội

trên văn đàn” của nhà văn với nhiều tác phẩm và công trình biên khảo có giá trị.

Trong Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 33, ông có hai truyện ngắn được tuyển

chọn. Người ta còn giới thiệu Nguyễn Văn Xuân với truyện ngắn Tiếng đồng được

xếp vào 43 truyện ngắn hay trong tuyển Văn học miền Trung thế kỷ XX, xuất bản

năm 1988. Cũng trong năm 1988, Địa chí Văn hóa Thành Phố Hồ Chí Minh, một

công trình lớn, có giá trị, do Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng chủ biên ( Nhà xuất

bản Thành Phố Hồ Chí Minh), được xuất bản. Sách đã dành một chương để nói về

“Văn học yêu nước công khai ở Sài Gòn trong ba mươi năm cách mạng và kháng

chiến” do các tác giả Tầm Vu, Nguyên Thanh, Viễn Phương, Hồ Sĩ Hiệp, Trần Hữu

Tá đồng biên soạn. Nguyễn Văn Xuân được nhắc đến như một nhà văn tiêu biểu

cùng với các cây bút yêu nước, những trí thức, những nghệ sĩ cao niên như Trần

Tuấn Khải, Nguyễn Hiến Lê; các nhà thơ Hà Kiều, Phương Đài, Phong Sơn; các

nhà văn Võ Hồng, Phan Du, Sơn Nam…

Đến năm 2000, quyển Nhìn lại một chặng đường văn học ra đời do giáo sư

Trần Hữu Tá nghiên cứu, sưu tầm, tuyển chọn (NXB Thành Phố Hồ Chí Minh).

Trong thế so sánh với nhà văn Sơn Nam - tác giả của những tác phẩm sinh động về

vùng đất cực nam của Tổ Quốc - Nguyễn Văn Xuân được giới thiệu là một nhà văn

“gắn bó chặt chẽ với vùng quê Quảng Nam thân thương của ông. Với sự hiểu biết

sâu sắc về sử học, dân tộc học, xã hội học, ông đã làm sống lại những sự kiện vang

dội mà đau xót cũng như đã khắc họa sự thành công hình ảnh những con người ưu

tú của đất Quảng” [49, tr.102]. Và giáo sư cũng đánh giá Nguyễn Văn Xuân là một

nhà văn có phong cách đặc biệt với “cái nhìn lịch sử của tác giả khá độc đáo”, với

“giọng kể của Nguyễn Văn Xuân cũng đa dạng” và “cảm quan lịch sử đúng đắn”,

“chi tiết nghệ thuật khác cũng rất đáng chú ý”…. [49, tr.102 - 104]. Có thể nói giáo

sư đã thâu tóm một cách khái quát, cô đọng đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong

sáng tác của Nguyễn Văn Xuân. Trong tổng số 1089 trang sách, giáo sư đã dành

hẳn 3 trang để viết về Nguyễn Văn Xuân. Có thể xem đây là tài liệu có dung lượng

lớn nhất từ trước đến nay đề cập đến nhà văn, đủ thấy sự đánh giá trân trọng của

giáo sư dành cho ông, một cây bút tiêu biểu góp phần làm nên diện mạo của khuynh

hướng văn học yêu nước cách mạng miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 .

Năm 2001, tỉnh Quảng Nam đã tổ chức hội thảo: “Văn hóa Quảng Nam”. Kết

quả của cuộc hội thảo này là sự ra đời tập Kỉ yếu về Quảng Nam với tên gọi Văn

hóa Quảng Nam – những giá trị đặc trưng (Sở văn hóa thông tin Quảng Nam xuất

bản). Trong số 56 bài tham luận, tên tuổi của Nguyễn Văn Xuân được giới thiệu qua

hai bài viết với tư cách là nhà nghiên cứu về văn hóa Quảng Nam: Những người

Quảng Nam đóng góp cho Thăng Long, Bắc Thành - Hà Nội trước 1945 và bài

Người Quảng Nam với sự phát triển các ngành nghề ở miền Nam.

Cũng trong năm 2001, nhân dịp mừng thượng thọ 80 tuổi của nhà văn, nhằm

ngày nhà giáo 20/11 mở đầu thiên niên kỷ mới, nhà xuất bản Đà Nẵng đã tập hợp

các tác phẩm văn chương của Nguyễn Văn Xuân sáng tác giai đoạn 1954 - 1975 vào

Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân. Và nhà văn Đà Linh, ủy viên thường vụ Hội liên hiệp

văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng đã giới thiệu về những đóng góp của

Nguyễn Văn Xuân. Ông nhận xét: “Trên lãnh vực nào, từ bài báo, câu chuyện nhỏ,

đến công trình lớn chúng ta đều thấy rõ dấu ấn tài năng tâm huyết thuở nào bởi vẫn

còn đó những phát hiện, nét sáng tạo độc đáo, vẫn còn đó sự thông tuệ. Trên hết là

tấm lòng và nhân cách người cầm bút” [63, tr.11].

Năm 2004 trong Từ điển văn học (bộ mới), Bùi Thị Thiên Thai đã giới thiệu

Nguyễn Văn Xuân như trả lại cho ông chỗ đứng xứng đáng với những gì mà ông đã

đóng góp (bộ Từ điển văn học cũ không giới thiệu về Nguyễn Văn Xuân). Tác giả

đã nhận xét: “Hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân đều thể hiện một vốn

kiến văn sâu rộng, một giọng văn giản dị hồn hậu, đậm đặc chất Quảng Nam, và

đặc biệt, một tấm lòng yêu thương tha thiết đối với quê hương Quảng Nam”

[18, tr.127].

Đặc biệt những bài viết về Nguyễn Văn Xuân đồng loạt ra đời như những nén

tâm hương mà những người yêu mến ông thắp lên tưởng nhớ vong linh nhà văn sau

ngày 4/7/2007. Có thể kể đến những bài viết tiêu biểu trên các nhật báo Thanh niên,

Tuổi trẻ….. của các nhà văn, nhà sử học, nhà báo: Đặng Tiến, Dương Trung Quốc,

Nguyễn Quí Đại, Thanh Thảo, Trần Trung Sáng, Trần Tuấn, Thái Bá Lợi, Trương

Điện Thắng… Nhìn chung, tất cả các bài viết đều giới thiệu về những đóng góp của

Nguyễn Văn Xuân trên nhiều lĩnh vực: văn học, lịch sử, tuồng hát, nghiên cứu biên

khảo…. Và qua đây, các tác giả cho người đọc hiểu hơn về con người của nhà văn

cũng như cuộc đời lao động cần mẫn để thỏa mãn việc: “nghiện đọc, nghiện học và

viết”, để nuôi sống cả một gia đình kém may mắn. Trong dịp này, các tác giả đã

điểm qua những sáng tác tiêu biểu trong cuộc đời cầm bút của Nguyễn Văn Xuân:

từ Bão rừng, Hương máu đến Khi những lưu dân trở lại, Phong trào Duy Tân. Tác

giả Trần Tuấn viết về Bão rừng như sau: “tiểu thuyết đầu tay viết năm 1957, khi

nhà văn tham gia kháng chiến và vừa thoát khỏi nhà lao Thừa Phủ (Huế) kể về cuộc

sống cơ cực ở một đồn điền thời Pháp thuộc mà tác giả từng sống, và cũng là ít ỏi

những tiểu thuyết đầu tiên viết về đời sống phu phen ở các đồn điền Tây Nguyên”

[73]. Còn Hương máu (1969) là “Tập truyện đặc sắc toàn bộ dành viết về những cái

chết lẫm liệt của những anh hùng ưu hạng của đất Quảng” [73]. Phong trào Duy

Tân được tác giả “coi là cuốn sách đầy đủ và thấu đáo nhất về một phong trào có

ảnh hưởng sâu sắc tới những cuộc cách mạng sau này” [73].

Có thể nói Trần Tuấn đã giới thiệu hầu hết các sáng tác làm nên tên tuổi của

Nguyễn Văn Xuân cũng như trình bày một cách ngắn gọn tâm điểm của mỗi sáng

tác. Có những bài viết giới thiệu sáng tác mới nhất và cũng là cuối cùng của nhà văn

một cách khá công phu như bài Nhà văn Nguyễn Văn Xuân: một mảnh đất, một đời

người của Trần Trung Sáng. Tác giả viết:

Vài năm gần đây, tên tuổi của nhà văn Nguyễn Văn Xuân được bàn luận,

nhắc đến với tác phẩm mới nhất của ông “Kỳ nữ họ Tống”. Đây là một đề tài được

ông ấp ủ, xây dựng khá lâu, dựa theo câu chuyện về một người đàn bà có thật trong

lịch sử xứ Đàng trong, đã có một thời làm đảo điên cả triều đại Chúa Nguyễn, suýt

xóa bỏ cả tên triều đại này trong lịch sử Việt Nam ngay những thập niên đầu của

thế kỷ17. Hiếm thấy người đàn bà nào lại có cuộc đời sóng gió, ghi dấu ấn sâu sắc,

rùng rợn, tác động mãnh liệt đến xã hội, chính trị, quân sự, đạo đức như vậy. Bà

Chúa Chè làm điên đảo cơ nghiệp Trịnh Sâm ghê gớm là thế, cũng chỉ là bóng mờ

bên cạnh Tống Thị. Đặng Thị Huệ chỉ tác động được chúa Trịnh bỏ trưởng lập thứ.

Còn Tống Thị thật sự chủ động, tích cực trong việc hại dân, tích lũy thành phú gia

địch quốc, thay ngôi chúa bằng những hành động táo bạo [69].

Và dường như đây là thời điểm các học giả có dịp nhìn lại để ngạc nhiên và

thán phục sức làm việc dẻo dai, tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc, ý chí tự

học để đạt đến độ thâm viễn, một phẩm chất làm người trong sáng, ngay thẳng của

Nguyễn Văn Xuân. Nhà nghiên cứu Trần Tuấn cho rằng: Công việc lao động nghệ

thuật nghiêm túc, sáng tạo trong cuộc đời của Nguyễn Văn Xuân như một thứ

“thuốc nghiện” “Nghiện đọc và nghiện học (phần lớn tự học) đã giúp ông trở thành

một nhà giáo đáng kính với nhiều thế hệ học trò tên tuổi, rồi thành một nhà nghiên

cứu tiếng tăm ở miền Nam trước và sau giải phóng[…] Nghiện “Viết” đã giúp ông

trở thành một nhà văn có giọng văn riêng đặc sắc qua hàng loạt truyện ngắn, tiểu

thuyết”[73].

Còn Thanh Thảo với bài Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Văn Xuân thì nhận định:

Nếu con người có hai lỗ tai để nghe, thì Nguyễn Văn Xuân có một lỗ tai của

nhà văn và một lỗ tai của nhà sử học. Cả hai đều tinh tường, tinh tế, đều rất “biết

nghe”. Biết nghe và biết lọc. Biết lọc và biết chế tác. Như người thợ đúc đồng quê

ông biết chế tác những chiếc chiêng mà tiếng ngân u trầm của chúng như còn đọng

mãi trong những vòm cây ngọn suối [71].

Bài viết của Nguyễn Quí Đại đã trích dẫn hồi ký của nhà văn Nguyễn Hiến

Lê nhận xét về Nguyễn Văn Xuân: “ông Nguyễn Văn Xuân quê ở Quảng Nam, lần

đầu tiên gặp ông, thấy ông phảng phất có vài nét của cụ Phan Sào Nam. Ông viết

nhiều truyện dài, truyện ngắn…. ông có tinh thần quốc gia, khảo về phong trào Duy

Tân ở Trung có một số tập truyện về nhà Nho, kháng Pháp”[65].

Các bài viết tưởng nhớ về Nguyễn Văn Xuân không những thống nhất trong

cách đánh giá tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc của ông mà còn có cùng

quan điểm khi nhận xét về con người của nhà văn. Khi nói về những “góc tối” trong

cuộc đời Nguyễn Văn Xuân, Thái Bá Lợi đã viết:

Người ta nói ông là người ít có hạnh phúc trên đường đời, nhưng tôi lại nghĩ

khác. Người hạnh phúc là người nói được điều mình muốn nói, làm được điều mình

muốn làm [….] Một bậc hiền triết từng nói con người từ hư không đến rồi trở về hư

không. Thì ông cũng đã trở về hư không rồi đó sao? Nhưng sẽ có lúc nào đó, trên

con đường gập ghềnh nầy, trong một tình huống trắc trở, ta sẽ gặp lại ông trong

những di sản mà ông để lại; rồi từ đó, ta sẽ tìm ra cái riêng cho mình để chống chọi

với hoàn cảnh mà ông đã từng chống chọi [67].

Đối với những góc tối của riêng mình, Nguyễn Văn Xuân chẳng những đã

dũng cảm vượt qua mà ông còn không bao giờ lấy đó làm điều bi quan, yếm thế cho

cuộc đời, cho ngòi bút. Ông luôn “có lối nói chuyện vừa minh triết, lại vừa hóm

hỉnh trẻ trung như cái tên của ông vậy. Đời ông nhiều nước mắt, nhưng lại luôn

đem đến cho người xung quanh nụ cười” [73]. Tinh thần lạc quan vui sống khiến

nhà văn rất tâm đắc với câu thơ giục giã của Xuân Diệu:

“Mau với chứ, vội vàng lên với chứ

Em ơi em, tình non sắp già rồi”

Khi ngâm nga những câu thơ này, nhà văn cho rằng: “nó không chỉ có ý

nghĩa suông về tình yêu, mà nó còn phản ánh lên một sự nôn nóng đổi mới, cách tân

đất nước từ trào lưu thơ mới, nên nó vẫn luôn có giá trị bất cứ lúc nào”[69].

Còn Đặng Ngọc Khoa trong bài Nhà văn Nguyễn Văn Xuân về với quê nhà đã

viết về bài học “Làm người ngay thẳng” của Thầy Xuân qua tiết lộ của nhà điêu

khắc Phạm Văn Hạng - người có vinh dự tạo mô hình ngôi mộ cho nhà văn – “lúc

sinh thời nhà văn mong muốn khi qua đời, được an táng bên dưới ngôi mộ của Ông

Ích Khiêm trên đồi Phong Lệ Bắc, do ông mê câu nói nổi tiếng của danh tướng này:

Trên chó, dưới cũng chó. Bọn bay chỉ chấu đầu ăn, chẳng lo chi việc nước” [66].

Nhà văn sống ngay thẳng, công tâm như vậy, nhưng thật ra trái tim của ông rất độ

lượng, bao dung với người. “Trong con người nhà văn Nguyễn Văn Xuân dường

như không bao giờ có sự tị hiềm hay giận dỗi. Ông bao giờ cũng tìm thấy ở người

khác, ở con người nói chung – cái vẻ đẹp của tạo hóa, của nhân tính. Điều đó, ông

không nói ra, nhưng hễ ai gần ông chắc chắn đều thấy mồn một! Từ đây trong văn

giới xứ Quảng đã vắng mãi một tấm lòng, một tài năng, một phẩm giá không có gì

thay thế được” [69].

Có thể lấy chính lời bộc bạch của Nguyễn Văn Xuân khi nói về một trong

những tác phẩm của mình để thay lời tổng hợp các ý kiến đánh giá về sáng tác của

ông: “Cuốn sách nhằm giúp củng cố thêm cho các bạn trẻ ở phía Nam hiểu được dĩ

vãng đất đai của mình, củng cố niềm tin mà phát triển văn hóa văn nghệ. Người

Quảng Nam vẫn đóng góp không ngừng vào sự đăng cao của văn học miền

Nam”[68].

Nhìn chung, những tài liệu đã tiếp cận dù chưa phải là những công trình

nghiên cứu kỹ lưỡng, toàn diện về Nguyễn Văn Xuân và sáng tác của ông, nhưng ít

ra cũng chạm đến những vấn đề mà luận văn đặt ra. Chúng tôi xin ghi nhận tất cả

những ý kiến trên và xem đó là những gợi ý quý báu để đi sâu vào việc tìm hiểu vấn

đề, từ đó rút ra những đặc điểm chủ yếu của tiểu thuyết và truyện ngắn Nguyễn Văn

Xuân trong giai đoạn 1954 - 1975.

4. Những đóng góp của luận văn

- Luận văn tập trung tìm hiểu tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân

giai đoạn 1954 - 1975 để có một cái nhìn bao quát trên hai phương diện nội dung

và nghệ thuật.

- Hy vọng góp thêm tiếng nói khẳng định giá trị ngòi bút Nguyễn Văn Xuân, sự

đóng góp của ông đối với văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975, đối với

nền văn học nước nhà , đặc biệt đối với văn hóa văn nghệ vùng đất Quảng Nam.

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1. Luận văn lấy quan điểm lịch sử và phương pháp luận biện chứng làm nền

tảng lý luận trong nhận thức và nghiên cứu.

5.2. Phối hợp giữa các phương pháp có tính công cụ, phát huy tối đa tác dụng

của chúng trong quá trình nghiên cứu để làm nổi bật vấn đề, cụ thể là:

5.2.1 Phương pháp lịch sử: Sử dụng phương pháp này, người viết có dụng ý

tìm hiểu những dấu ấn thời đại lưu lại trong tác phẩm, những yếu tố tạo nên nguồn

cảm hứng sáng tác của nhà văn để làm căn cứ đánh giá vấn đề.

5.2.2 Phương pháp hệ thống: người viết khảo sát tiểu thuyết và truyện ngắn

Nguyễn Văn Xuân trên tinh thần kết hợp các yếu tố tương đồng về nội dung, nghệ

thuật xây dựng nhân vật, kết cấu , ngôn ngữ… để rút ra nhận định, đánh giá

tác phẩm.

5.2.3 Phương pháp so sánh: Đặt nhà văn trong mối quan hệ đồng đại và lịch

đại để vấn đề được đánh giá khách quan hơn. Kết hợp so sánh tác phẩm của Nguyễn

Văn Xuân với các tác giả khác để đưa ra nhận định chính xác về ông.

Ngoài ra trong quá trình khảo sát chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân

tích - tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề.

6. Cấu trúc của luận văn.

Luận văn gồm các phần sau đây:

MỞ ĐẦU

Chương 1: Nguyễn Văn Xuân với vùng đất và con người Quảng Nam, với văn

học đô thị miền Nam 1954 – 1975

Chương 2: Những nguồn cảm hứng chính của Nguyễn Văn Xuân qua tiểu

thuyết và truyện ngắn 1954 – 1975

Chương 3: Những đặc điểm về nghệ thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

KẾT LUẬN

Chương 1: NGUYỄN VĂN XUÂN VỚI VÙNG ĐẤT VÀ CON

NGƯỜI QUẢNG NAM; VỚI VĂN HỌC ĐÔ THỊ

MIỀN NAM 1954 - 1975

1.1. Vùng đất Quảng Nam và con người Quảng Nam

1.1.1. Vùng đất Quảng Nam

1.1.1.1. Về tự nhiên địa lý

Đi dọc chiều dài đất nước từ Bắc vào Nam, dù không cố tình ghi nhớ, nhưng

trên dặm đường thiên lý ấy ta bất chợt nghe một lần câu ca dao:

“Dậm chưn xuống đất kêu trời!

Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra”

Và câu ca dao ấy theo chúng ta như một ám ảnh khôn nguôi. Dãy đất miền

Trung, trong đó có Quảng Nam, từng được nhiều người ví von “như chiếc đòn gánh

gánh lấy hai miền đất nước” hay cụ thể và sát thực hơn có người gọi đó là vùng đất

“chó ăn đá, gà ăn muối”. Chỉ nghe những cách nói hình tượng, ẩn dụ ấy người nghe

hình dung về Quảng Nam là một vùng, miền có điều kiện tự nhiên địa lý vô cùng

đặc biệt.

Theo giáo sư Nguyễn Văn Hạnh, vùng đất Quảng Nam “Kéo dài từ núi Hải

Vân đến núi Đá Bia gồm 4 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, có

thể gọi Quảng Nam lớn theo nghĩa rộng. Còn Quảng Nam nhỏ, theo nghĩa hẹp,

được Nguyễn Ánh lập từ năm 1801 trên cơ sở phủ Điện Bàn và phủ Thăng Hoa, bao

gồm thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam hiện nay” [16, tr.480]. Xét theo vị trí

địa lý cả Quảng Nam theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp đều nằm khoảng giữa của “chiếc

đòn gánh” Trung Bộ, một bên là núi non hiểm trở cao ngất, một bên là biển rộng

mênh mông với bờ biển dài 150 km. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng đã miêu tả

địa hình của Quảng Nam như sau:

Bờ biển chạy dài từ cực Bắc đến cực Nam. Sau lưng là dãy Trường Sơn sừng

sững án ngự cả biên giới Việt Lào, núi non trùng điệp. Phía trước biển cả, một dải

đất toàn là cát trắng mênh mông, bên trong là mấy mảnh đồng bằng bị thắt riết

vào, bao nhiêu là rừng khô và thung lũng…Trước mặt biển Đông bao la, sóng biển

dồn dập ngày đêm quanh Ngũ Hành Sơn, các cửa biển sâu thăm thẳm là nơi tàu bè

có thể cập bến bất cứ lúc nào [50, tr.24].

Với điều kiện tự nhiên như vậy, Quảng Nam có một thiên nhiên phong phú, đa

dạng. Đồng thời, nơi đây hội tụ nhiều thiên tai: bão lụt, hạn hán… Ở vùng đất này,

những hiện tượng tự nhiên gần như được đẩy lên đến cực điểm “mùa hè đến, ruộng

đồng, đất đai cũng nứt nẻ không kém phần ủ dột, tiêu điều” [50, tr.26].

Mặt khác, Quảng Nam vẫn có những đồng bằng tương đối phì nhiêu, những

vùng khoáng sản phong phú. Theo Lê Quý Đôn: “các núi ở phủ Thăng Bình đều có

sản xuất vàng….ở đảo Đại Chiêm có Yến, ở nguồn Thu Bồn có quế, huyện Diên

Phước có được thạch khối đường băng hoa, đường đen, đường mật…. ở nguồn Ô

Gia có sáp ong, tại nguồn Chiên Đàn có mật ong…. lại có danh mộc rất nhiều, hải

sản cũng lắm, đất đai phì nhiêu, dân cư trù mật” [43, tr.79]. Tuy nhiên, đồng bằng

được khai thác từ thời Chămpa với phương thức canh tác lạc hậu làm cho đất bạc

màu. Riêng các mỏ vàng xưa kia đã được người Chiêm Thành khai thác, sau đó là

người Việt, người Hoa, rồi người Pháp… chỉ trong bảy năm mà “chúa Nguyễn đã

thu được 5768 lạng vàng” [27, tr.20]. Vì vậy, nhìn chung điều kiện tự nhiên địa lý ở

vùng đất Quảng Nam xưa nay vẫn để lại trong lòng người một ấn tượng không lấy

gì làm tốt đẹp của vùng “Ô châu ác địa”. Tên núi, tên sông ở Quảng Nam gợi nhiều

khó khăn trắc trở: núi Chúa, núi Hiên, núi Giằng, đèo Le, đèo Giảm Thọ, rồi Tí, Sé,

Kẽm, Râm, Ri, Liêu….Còn sông thì như bao chặt, luồn lách trên mảnh đất chật hẹp

này: sông Thuỷ Tú, sông Cẩm Lệ, sông Yên, sông Vĩnh Điện, sông Thu Bồn, sông

Vu Gia, sông Bà Rén, sông Trường Giang, sông Ly Ly, sông Tam Kỳ, sông Vĩnh

An, sông Cây Trâm, sông Bà Bầu, sông An Tân,.… Có thể nói không ngoa, Quảng

Nam là vùng đất hội tụ của núi và sông.

1.1.1.2. Lịch sử hình thành xứ Quảng Nam

Tên đất “Quảng Nam” chứa một ý nghĩa lịch sử trọng đại trong quá trình phát

triển lâu dài của dân tộc ta: “Quảng” có nghĩa là rộng rãi, mở rộng, “Nam” là

phương Nam, đối diện phương Bắc. Vậy Quảng Nam nghĩa là mở rộng về phương

Nam. Đó là “một sự lựa chọn có tính chiến lược, quyết định vận mệnh sống còn của

quốc gia Đại Việt vốn có vị trí địa lý đặc trưng, một bên là núi non hiểm trở, cao

ngất, một bên là biển rộng mênh mông, lại luôn chịu áp lực bành trướng mạnh mẽ

của một bên là láng giềng khổng lồ từ phương Bắc” [27, tr.14]. Nói đến xứ Quảng

người ta thường nghĩ đến Quảng Nam. Tuy trong khu vực này từng có “ngũ

Quảng”: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Hoá (Thừa Thiên ), Quảng Nam, Quảng

Ngãi, nhưng công cuộc mở rộng bờ cõi về phương Nam thật sự bắt đầu từ Quảng

Nam cho cả một hành trình dài đến tận Hà Tiên.

Ngược dòng thời gian, khi nói đến lịch sử hình thành xứ Quảng Nam ta không

thể không nhắc đến một vương quốc từng hiện hữu ở vùng này, có nền văn hoá phát

triển khá rực rỡ ảnh hưởng không ít đến đời sống văn hoá Quảng Nam. Xưa kia,

khoảng cuối thế kỷ II, người Chăm ở quận Tượng Lâm, lợi dụng lúc nhà Hậu Hán

suy yếu (khoảng năm 192), đã nổi lên khởi nghĩa và giành thắng lợi, lập nên nhà

nước “Lâm Ấp” (có nghĩa là “xứ Rừng”) với vị vua Chăm đầu tiên là Xơri Mara. Và

quốc hiệu Chămpa đã xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI. Chămpa là tên của một

loài hoa (hoa sứ), nếu nói rút gọn thì thành “Chăm” biến âm là “Chàm”. Âm Hán

Việt là “Chiêm Thành”, rút gọn là “Chiêm”…Giữa hai thời kỳ Lâm Ấp và Chămpa

sử sách Trung Hoa còn ghi một tên nữa gọi là “Hoàn Vương”. Người Việt còn dùng

một số tên khác như “Hời”, “Lồi” để gọi dân tộc này. Thời đó, vương quốc Chămpa

được chia thành 4 châu (vốn xưa kia là những tiểu quốc khác nhau) đó là Amaravâti

(tương ứng khu vực từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi mà Quảng Nam là trung tâm),

Vijaya (tương ứng với khu vực Bình Định, Phú Yên), Kauthara (tương ứng với khu

vực Khánh Hoà), Panduranga (tương ứng với khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận).

Vương quốc Chămpa tồn tại cho đến thế kỷ XVII, trải qua nhiều triều đại, ban đầu

đóng đô Sinhapura (Trà Kiệu, Quảng Nam), sau dời sang Indrapura (Đồng

Dương,Quảng Nam), rồi vào Vijushia và Sudra (Đồ Bàn, An Nhơn, Bình Định).

Theo sử sách đã ghi, từ năm 973, Lê Đại Hành đã mang quân đánh vào kinh

đô Indrapura, nhưng cuộc tiến quân này chỉ là một cuộc “thăm dò” chưa rõ ý định

mở mang bờ cõi. Sau khi tịch thu một số của cải, Lê Đại Hành đã rút quân. Đến

năm 1004, do Chiêm Thành không ngừng quấy nhiễu đất nước ta nên Lý Thái Tông

đã mang quân đánh Chiêm. Vua Lý tiến quân đến quốc đô Phật Thệ (nay thuộc

huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên ) bắt được 5000 người rồi rút quân về. Công

cuộc Nam tiến của người Việt chỉ thực sự diễn ra vào năm 1069, khi Lý Thánh

Tông cử binh bắt sống vua Chiêm Thành là Chế Củ, buộc dâng ba châu: Địa Lý, Ma

Linh, Bố Chính (thuộc tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị ngày nay) để “chuộc tội”.

Như vậy, trong tầm nhìn chiến lược của các vị vua từ đời Lê đến đời Lý đã thấy sự

tồn tại của Vương quốc Chămpa là một nguy cơ cho biên cương đất nước ở phía

Nam, cũng như nhìn thấy tiền đồ của Đại Việt nếu có thể mở rộng về phía Nam.Thế

nên, vào năm 1075, trước khi mang quân đánh Tống xâm lược, Lý Thường Kiệt đã

đánh Chiêm để giữ vững biên cương phía Nam. Trong cuộc hành binh này, Lý

Thường Kiệt đã vẽ được địa đồ ba châu mà Chế Củ đã dâng và ráo riết đưa người

vào định cư ở ba châu này. Như vậy, từ khi Ngô Quyền thắng quân Nam Hán năm

938, trải qua các triều đại nhà Ngô (939 - 965), nhà Đinh (968 - 980), Tiền Lê (980

- 1009) và những thập niên đầu thời nhà Lý (1010 - 1225) lãnh thổ nước ta dừng lại

ở Châu Ái và Châu Hoan (Thanh Hoá, Nghệ An - Hà Tĩnh hiện nay). Nhưng từ năm

1069 mà rõ hơn là năm 1075, cương vực nước ta ở phía Nam kéo dài đến tỉnh

Quảng Trị.

Hơn 200 năm sau, vào năm 1306, người Việt đã thực hiện tiếp một bước quan

trọng trên con đường tràn xuống phía Nam bằng cuộc hôn nhân chính trị giữa

Huyền Trân công chúa và chúa Chiêm Thành là Chế Mân. Cuộc vân du của thượng

hoàng Trần Nhân Tông với lời hứa gả công chúa Huyền Trân đã giúp nhà Trần có

thêm hai châu của vua Chiêm Thành làm sính lễ: Châu Ô và Châu Rí. Năm 1307,

vua Trần Anh Tông đã nhận hai châu này và đổi thành Thuận Châu (Bắc Hải Vân

quan) và Hoá Châu (Nam Hải Vân quan ). Như vậy, biên giới Đại Việt không dừng

lại ở Quảng Trị mà kéo dài đến sông Thu Bồn.

Nhà Trần còn cử tướng Lê Quí Li đem quân vào cửa Thị Nại, tiến đánh Đồ

Bàn, kinh đô Chiêm Thành vào năm 1377 nhưng thất bại. Khi đó, Chế Bồng Nga đã

đánh nước ta đến kinh thành Thăng Long. Nhưng sau khi Chế Bồng Nga chết năm

1390, đất nước Chiêm Thành rối ren. Nhân cơ hội này, nhà Hồ (1400 - 1407), trước

đó đã chiếm ngôi nhà Trần, năm 1402, thương thảo với triều đình Chiêm Thành

nhượng “Chiêm Động” (Bắc Quảng Nam), “Cổ Lũy Động” (Nam Quảng Nam) cho

người Việt. Nhà Hồ đã chia Chiêm Động và Cổ Lũy Động thành bốn châu: Châu

Thăng, Châu Hoa (Quảng Nam hiện nay), Châu Tư và Châu Nghĩa (Quảng Ngãi

hiện nay). Nhà Hồ đã tổ chức ráo riết hơn trong việc đưa dân vào định cư ở vùng

đất mới, đến mức bắt người dân đến ở đâu phải chạm tên vùng đất ấy vào cánh tay

mình. Việc làm đó của triều nhà Hồ như một hoạt động cưỡng chế di dân quyết liệt.

Nhưng mặt khác, ta cũng thấy được một ý chí trụ bám dữ dội, chắc chắn, thể hiện

một nhu cầu khá bức bách về đất đai, về việc củng cố phía Nam của đất nước để đối

phó với phương Bắc. Đến đây, lịch sử đất nước ta vẫn chưa có danh xưng Quảng

Nam.

Khi nhà Hồ bị bại dưới tay nhà Minh thì 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đã bị

người Chiêm chiếm lại. Tháng 8 - 1470, vua Chiêm Thành là Bàn La Trà Toàn đem

10 vạn quân thủy bộ cùng voi và ngựa chiến đánh úp Hoá Châu (Châu Rí của

Chiêm Thành ngày trước, Thừa Thiên - Huế ngày nay). Lúc này, ở nước ta là triều

Lê Thánh Tông. Trước hành động xâm lấn của Chiêm Thành, tháng 10 năm 1470,

vua Lê Thánh Tông chọn gần 26 vạn quân thủy bộ, truyền chiếu “bình Chiêm” nói

rõ cho nhân dân cả nước lý do Nam chinh: “…Trẫm thể lòng thượng đế, nối chí vua

cha. Giết kẻ thù chín đời theo nghĩa Xuân Thu, định mưu kế vạn toàn cho yên đất

nước” [43, tr.66]. Và trong lời tấu cáo ở Thái Miếu vào ngày mồng 7 tháng 11 âm

lịch, nhà vua cũng nói rõ: “Thần là kẻ ít tuổi bất tài, vào nối nghiệp lớn, chỉ mong

yên dân giữ nước, đâu dám dùng nhảm việc binh” [43, tr.67]. Với mưu trí, sách

lược và quyết tâm khôi phục lại vùng đất đã mất, vua Lê Thánh Tông đã đại thắng

quân Chiêm, bắt được vua Chiêm là Trà Toàn, nhiều văn quan võ tướng, phi tần và

hơn ba vạn người. Không phải ngẫu nhiên nhà nghiên cứu Lê Duy Anh trong bài

viết của mình đã đặt tiêu đề: Minh quân Lê Thánh Tông với sự khai sinh địa danh

Quảng Nam, và hầu hết các bài viết về lịch sử Quảng Nam đều nhấn mạnh vai trò

của vua Lê Thánh Tông với sự hình thành xứ Quảng. Với chiến thắng quân Chiêm,

ngày mồng 1 tháng 6 âm lịch Tân Mão, niên hiệu Hồng Đức nhị niên (1471) vua

xuống chiếu lấy dải đất từ Nam Hải Vân đến ngọn núi nằm chắn ngang từ đất liền

chạy ra tới biển sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, lập thành “Thừa Tuyên Quảng

Nam”. Địa danh Quảng Nam ra đời kể từ đấy, và trở thành đạo thứ 13 của nước ta

thời bấy giờ (12 đạo kia là: Sơn Nam, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, Yên Bang,

Ninh Sóc, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá).

Để làm mốc giới giữa hai nước Chiêm - Việt, vua đã chọn tảng đá cao lớn đứng

thẳng như một tấm bia khổng lồ, khắc công trạng quân ta vào đá và khắc rõ đây là

mốc giới nước ta. Núi ấy có tên là Thạch Bi mà dân gian quen gọi là núi Đá Bia. Và

nhân dân đã xây đền thờ vua nơi đó. Núi Đá Bia nằm giữa hai tỉnh Phú Yên và

Khánh Hoà ngày nay. Trong Quảng Nam đất nước và nhân vật, nhà nghiên cứu

Nguyễn Q. Thắng đã ghi: “Khu vực “Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam” vào thế kỷ XV

bao gồm một vùng rộng lớn từ Nam Thuận Hoá vào sát núi Thạch Bi ở Phú Yên. Do

đó, cả khu vực từ rừng núi xuống đồng bằng và các hải đảo dọc theo lãnh thổ trên

đều thuộc đạo Thừa Tuyên Quảng Nam” [50, tr.34]. Như vậy, vua Lê Thánh Tông

đã mở rộng bờ cõi về phía Nam không dừng lại ở sông Thu Bồn mà kéo dài đến

Phú Yên.

Thừa Tuyên Quảng Nam lúc mới thành lập có ba phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và

Hoài Nhơn. Phần đất phía Bắc phủ Thăng Hoa sát đến đỉnh đèo Hải Vân, vua Lê lập

thành huyện Điện Bàn cho lệ thuộc vào dinh Quảng Nam. Năm 1609 và năm 1611,

người Chiêm nổi loạn, chúa Nguyễn Hoàng cho tướng đánh dẹp và chia Hoài Nhơn

làm 2 phủ: phần đất phía Bắc vẫn giữ nguyên địa danh Hoài Nhơn, phần đất phía

Nam lập thành phủ Phú Yên. Như vậy, nói về chiều dài lịch sử thì Phú Yên thuộc

phủ Hoài Nhơn của Thừa Tuyên Quảng Nam vào năm 1471. Nói về danh xưng phủ

Phú Yên thì đã có vào năm 1611, rồi đến năm 1832 đổi thành tỉnh Phú Yên. Còn

phủ Hoài Nhơn, năm 1604 đổi thành phủ Qui Nhơn vẫn thuộc dinh Quảng Nam.

Đến năm 1799, Nguyễn Phúc Ánh đổi là Bình Định. Năm 1832 là tỉnh Bình Định.

Như thế, Thừa Tuyên Quảng Nam là đất mẹ của bốn tỉnh: Quảng Nam, Quảng

Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Dù đất Quảng Nam đã cải đổi từ Thừa Tuyên Quảng

Nam đến xứ Quảng Nam, đến trấn Quảng Nam và dinh Quảng Nam thì vẫn luôn tồn

tại địa danh Quảng Nam. Dù sau 1832, đất Quảng Nam chỉ còn ¼ của Thừa Tuyên

Quảng Nam thuở khai sinh (1471), cũng vẫn là địa danh Quảng Nam. Xác định như

vậy, đến năm 2008 này Quảng Nam tròn 538 tuổi.

Tuy qua nhiều lần đổi tên và sau này (1996) tách thành hai đơn vị hành chính

trực thuộc trung ương: tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, nhưng xét về mặt

truyền thống, về con người thì công trình này vẫn xem xứ Quảng là một. Trong đó,

Quảng Nam là bàn đạp để bắt đầu hành trình mở cõi tận Hà Tiên.

Hành trình Nam tiến từ thời Lý Thánh Tông (1069) đến thời Nguyễn Hoàng

(1600) vào trấn Thuận Hoá, rồi thời các chúa Nguyễn đã thâu tóm toàn bộ đất

Chiêm Thành còn lại ở miền Trung (nước Chiêm mất hẳn 1697), và 6 tỉnh thuộc

Chân Lạp cũ (từ giữa thế kỷ XVIII) trở thành lãnh thổ của chúa Nguyễn. Từ đó hình

thành từ sông Gianh trở vào một quốc gia riêng gọi là Đàng Trong (khác Đàng

ngoài thuộc vua Lê, chúa Trịnh). Trong hành trình Nam tiến để mở rộng bờ cõi, ta

thấy có hai cuộc Nam tiến được xem là quyết định. Cuộc Nam tiến năm 1402, thời

Hồ Quý Ly, tìm đất mới để sinh sống, tạo chiều sâu thích hợp cho thế trận quốc

phòng. Và cuộc Nam tiến năm 1602 của Nguyễn Hoàng, thành lập dinh trấn Thanh

Chiêm, hình thành xứ Đàng Trong.

Như vậy, sự hình thành vùng đất Quảng Nam qua hai cuộc Nam tiến lớn đã cho

thấy yêu cầu bức thiết về kinh tế cũng như lịch sử của quốc gia Đại Việt lúc bấy

giờ. Chính vì yêu cầu bức thiết nên ý tưởng mở cõi được duy trì liên tục (từ giai

đoạn thuộc Minh) qua các triều đại. Nói một cách khác, hình thành Quảng Nam gắn

liền với sự tồn tại và phát triển của dân tộc. Sau một thời gian ổn định, vùng châu

thổ sông Hồng, sông Mã đất đã chật, người lại đông “đi tìm những vùng đất mới để

khai thác, làm ăn sinh sống, ngày càng trở thành yêu cầu khẩn thiết, không chỉ đối

với người lãnh đạo đất nước mà cả đối với những người nông dân chân lấm tay

bùn” [27, tr.62]. Hơn nữa, với tầm nhìn chiến lược của các vị vua ở một đất nước

phải luôn đối phó với những cuộc xâm lược của Trung Quốc: Tống, Nguyên,

Minh….thì việc tạo một hậu phương có chiều sâu ở phía Nam để bảo đảm vững

chắc thắng lợi của những cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Bắc là cần

thiết. Điều đó, gần như trở thành một yêu cầu sống còn đối với Đại Việt.

1.1.2. Con người Quảng Nam

1.1.2.1. Thành phần cư dân Quảng Nam

Qua lịch sử hình thành Quảng Nam đầy phức tạp và biến động thì có thể lấy cột

mốc nào để xác định sự có mặt, định cư của dân Đại Việt trên vùng đất Quảng

Nam? Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh, một học giả uy tín đồng thời cũng là một người

con của Quảng Nam đã khẳng định: “Danh xưng Quảng Nam xuất hiện trên bản đồ

nước ta vào năm 1471, nhưng cư dân Đại Việt tức cư dân Quảng Nam sau này thì

đã có mặt ở vùng đất này từ 1402, đến nay đã 600 năm” [16, tr.480]. Tiến sĩ Bùi

Thị Tân, giảng dạy khoa lịch sử Đại học Sư phạm Huế cũng nêu: “Quảng Nam

được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt đầu thế kỷ XV, năm 1402 dưới thời Hồ. Quá

trình di dân Việt vào khai khẩn, dựng làng có tổ chức cũng bắt đầu từ đấy” [43,

tr.108]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng, cũng nêu cái mốc để xác định sự có mặt

của cư dân Đại Việt trên đất Quảng Nam: “Nhà Hồ hạ lệnh cho dân có của ở Nghệ

An, Thuận Hoá đem vợ con vào khai khẩn, dân ấy phải khắc hai chữ tên châu mình

trên cánh tay” [50, tr.30].

Như vậy, nói đến cư dân Quảng Nam là nói đến sự có mặt của người Việt sinh

cơ lập nghiệp trên vùng đất này kể từ năm 1402, đến nay đã là sáu thế kỷ. Trong sáu

thế kỷ đầy biến động, thử thách dữ dội liên tục giữa những cuộc nội chiến và chiến

tranh chống ngoại xâm, cư dân Quảng Nam làm cách nào để có thể vừa tồn tại vừa

phát triển qua bao hưng vong của các triều đại? Họ là ai mà có bản lĩnh vượt qua

những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên ở vùng “Ô Châu ác địa” lại có thể

đứng mũi chịu sào ở nơi được xem là “đất yết hầu của miền Thuận - Quảng”, vùng

tương tranh giữa các thế lực phong kiến trước đây và sau này, nơi mở đầu cho

những cuộc đụng đầu lịch sử của cả dân tộc với chủ nghĩa thực dân và đế quốc. Các

nhà nghiên cứu về cư dân Quảng Nam đều cho rằng có những cuộc di dân từ nhiều

vùng đất khác đến Quảng Nam diễn ra liên tục suốt mấy thế kỷ. Từ đó hình thành

nên cộng đồng cư dân trên vùng đất này. Đại thể có những đợt di dân lớn: đợt di

dân theo cuộc viễn chinh của vua Lê Thánh Tông, đợt di dân từ Bắc vào khi

Nguyễn Hoàng trấn thủ xứ Thuận - Quảng, đợt di dân từ Quy Nhơn, từ miền Nam

ra dưới thời Nguyễn Huệ và thời kỳ đầu vương triều Nguyễn. Trong đó quy mô nhất

là cuộc di dân dưới triều nhà Lê, sau chiến thắng Trà Bàn mùa xuân 1471. Với

chính sách khẩn hoang và tổ chức giúp đỡ vật chất ban đầu, nhiều làng xã ở Quảng

Nam được hình thành vào thời gian này.

Ta có thể hình dung bức tranh cư dân Quảng Nam như sau: có cư dân bị cưỡng

chế di dân vào thời nhà Hồ, cư dân tình nguyện di dân thời Lê Thánh Tông, cư dân

di dân đến Quảng Nam như là sự lựa chọn duy nhất sống còn thời Nguyễn Hoàng.

Nếu căn cứ vào “lý do di dân” để xét thành phần cư dân của Quảng Nam thì có thể

xếp họ vào sáu loại: những tướng lĩnh tiên phong đi chinh phục vùng đất mới để cai

trị, khai phá; những tướng lĩnh không được triều đình yêu trọng, bị trù dập, được

đưa đến trấn giữ biên ải hiểm nguy; binh lính trấn giữ biên cương mới đã đưa gia

quyến sinh sống; nông dân nghèo thiếu ruộng, bị bần cùng hoá trong xã hội Bắc hà,

tìm cơ hội sinh sống ở vùng đất mới; những kẻ sống ngoài vòng pháp luật chạy vào

Nam tìm chỗ nương thân, làm lại cuộc đời. Ở thời chúa Nguyễn, có thêm tù binh bị

bắt trong chiến tranh Trịnh Nguyễn và những nông dân xứ Nghệ bị bắt vào Nam

trong lần quân Nguyễn vượt sông Gianh chiếm 7 huyện ở Nghệ An. Bên cạnh đó,

khi chiến tranh phong kiến Việt - Chăm kết thúc, quốc gia Chiêm Thành mất nhưng

người Chiêm vẫn còn. Và họ đã sống cộng cư với người Việt. Sự tồn tại của một số

người Việt mang họ Trà, họ Chế, họ Ma, họ Ông (họ Chiêm Thành) là bằng chứng

cụ thể về sự cộng cư ấy. Nhưng trên đây chưa phải là tất cả. Vào thời nhà Minh có

sự di cư của người Trung Hoa đến Hội An và Tam Kỳ, hình thành những làng Minh

Hương. Dưới thời Mạc Phủ Tokugwa, người Nhật đến buôn bán và định cư ở Hội

An. Trên mảnh đất của phía Tây Quảng Nam lại có người Man là tổ tiên của những

tộc ít người như Cơtu, Xơđăng, Gié, Triêng ở huyện Hiên, Phước Sơn, Trà My hiện

nay…

Như vậy, ngay từ khi mới thành lập, cư dân Quảng Nam là sự cộng cư trong

suốt quá trình mở nước với thành phần rất phức tạp. Ở đây, có sự kế thừa, giao lưu

tiếp nhận những di sản cộng đồng Chăm, sự tổng hợp của sắc thái các làng quê xứ

Bắc, Bắc Trung Bộ tạo nên làng mạc xứ Quảng. Có thể nói: “Đất Quảng quả là nơi

hội tụ, giao tiếp văn hoá Bắc – Nam” [43, tr.113].

1.1.2.2. Tính cách con người Quảng Nam

Tính cách con người là một trong các giá trị tinh thần do con người sáng tạo,

tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong tương tác giữa con người với môi

trường tự nhiên và xã hội. Vì vậy tính cách của con người là một yếu tố văn hoá dân

tộc. Tính cách dân tộc là một cấu trúc tinh thần được định hình trong một quá trình

lịch sử rất lâu dài hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, trên cơ sở những điều

kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hoá nhất định, thay đổi rất chậm chạp trong sự

vận động và phát triển. “Tính cách là hệ thống những phẩm chất, đặc điểm tồn tại

khách quan, tất yếu, tạo thành một “hằng số”, một nếp gấp, một “đường mòn”, một

thiên hướng trong tư duy, trong cuộc sống, trong ứng xử, hoạt động của con người,

mà ta có thể bắt gặp ở số đông thành viên hoặc ở những nhân vật kiệt xuất của dân

tộc, trong cuộc sống hằng ngày cũng như qua những lựa chọn có tính chất lịch sử,

có ý nghĩa bước ngoặt đối với vận mệnh của cả cộng đồng” [16, tr.591]. Nói đến

tính cách là nói đến những đặc điểm tâm lý ổn định trong cách xử sự của con người,

biểu hiện thái độ điển hình của con người đó trong những hoàn cảnh điển hình. Từ ý

nghĩa ấy chúng ta có thể suy ra tính cách của cư dân một vùng đất là tổng thể những

đặc điểm tâm lý mang tính bền vững trong cách cư xử của nhiều thế hệ nối tiếp

nhau, được biểu lộ thành những nét điển hình trong những hoàn cảnh điển hình.

Tính cách của con người Quảng Nam vừa là sự kế thừa phát triển tính cách chung

của cư dân Đại Việt vừa có những tính cách hình thành qua một quá trình sống, giao

lưu tiếp biến trên vùng đất Quảng. Dựa trên hoàn cảnh sống, giao lưu văn hoá với

các nước Đông Nam Á của người Việt, nhà nghiên cứu văn hóa Đào Duy Anh đã

tổng kết năm nét tiêu biểu trong tính cách người Việt: yêu chuộng hòa bình, an cư

lạc nghiệp; ăn ở để phúc đức cho con cháu về sau; lối sống trọng tình cảm; lấy gia

tộc làm cơ sở, đạo hiếu là đạo đức hàng đầu; quá khứ và hiện tại cùng hiện hữu

trong đời sống. Trong những đặc điểm chung của cư dân nông nghiệp thì tính cách

người Việt - Quảng Nam có những nét tiêu biểu gì? Trong quá trình nghiên cứu,

chúng tôi hoàn toàn nhất trí với những nhận xét của các học giả có uy tín viết về

tính cách con người Quảng Nam được tuyển đăng trong tập kỉ yếu: Văn hoá Quảng

Nam - những giá trị đặc trưng. Chúng tôi xin trình bày rõ hơn những yếu tố ảnh

hưởng đến quá trình hình thành tính cách người xứ Quảng.

Tìm hiểu tính cách của con người Quảng Nam ta phải dựa trên những ảnh

hưởng của đặc điểm địa lý, lịch sử, môi trường tự nhiên, xã hội, truyền thống văn

hoá của vùng đất ấy. Đồng thời, ta phải tìm hiểu những tính cách được hình thành

trong quá trình rèn luyện của nhiều thế hệ tạo thành “khí chất” của con người.

Trong nhiều bài nghiên cứu về khí chất con người Quảng Nam, các học giả

thường dẫn lời của tác giả trong Đại Nam nhất thống chí: “Nam lực nông tang, nữ

tu tàm chức, sơn kỳ thuỷ tú, cố nhơn đa dĩnh tuệ, dị học chi tư, sĩ hữu ngạnh, trực

cảm ngôn chi khí nhiên thổ lực bạc nhi thủy thế cấp cố kỳ nhơn tuy trầm tịnh, thiếu

nhi bình tảo… duy thâm ư học vấn giả phương bất vi phong khí sở hựu…vãng lai

thổ đôn cổ nghị, đảo tạ xướng ca…thổ tích tục kiệm như chất diệc, địa khí chi sử

nhiên”[50, tr.27].

Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng đã giải nghĩa: “Đàn ông thì lo việc cày

ruộng, đàn bà chăm lo nuôi tằm dệt lụa. Núi sông hùng vĩ, nên con người tư chất

thông minh, kẻ sĩ có lòng trung trực, lời nói ngang nhiên thẳng thắn. Tuy thế, đất

thì rất xấu, sông nước thì chảy xiết, nên tính người hay nóng nảy, ít trầm tĩnh, chỉ

có những người học vấn uyên thâm mới không bị phong khí ràng buộc…việc qua lại

thường xuyên, tình giao kết như ngày xưa và đều đặn, liên lạc, cúng tế bằng xướng

ca…, đất thì xấu, phong tục tiết kiệm, nhưng thật thà chất phác, phong thổ tất cả

đều như thế” [50, tr.27].

Nói đến một xứ Quảng với thiên nhiên khắc nghiệt, nhà nghiên cứu Nguyên

Ngọc còn dẫn lời của linh mục Jean Claude Grillet từng sống ở đây vào đầu thế kỷ

XIX, khi viết thư về gia đình đã kể: “…. hổ là thứ người ta sợ nhất trong các loài

thú ở xứ này. Trong một quận ước rộng hai đến ba dặm, ở đây tôi có khoảng mười

hai đến mười ba nghìn giáo dân, tôi đã chứng kiến hơn một trăm người bị hổ ăn thịt

chỉ trong thời gian không đầy một năm rưỡi….” [27, tr.405]. Như vậy, ngay trong

sử sách từ xưa, các học giả đã nhìn nhận vùng đất này là nơi hội tụ của sông núi với

địa hình hiểm trở khiến cho cuộc sống con người gặp không ít khó khăn. Biển ở đây

là nơi hội tụ bão tố dữ dằn nhất. Sông Thu Bồn - Vu Gia là sông lớn nhất miền

Trung, sinh ra những cơn lũ có đỉnh lũ cao nhất ở nước ta. Một ít dải đồng bằng

nhỏ, hẹp dường như chìm khuất trong những cánh rừng phủ kín, mênh mông, dày

kịt và nhung nhúc hùm beo, rắn rít…Trong những điều kiện tự nhiên, địa lý như vậy

con người muốn tồn tại phải gồng mình lên chịu đựng, phải cày xới cật lực những

mảnh đất mà đá nhiều hơn đất để tìm lấy sự sinh tồn. Hơn nữa, phần lớn những cư

dân di dân đến Quảng Nam họ không còn đường để lựa chọn, chỉ có một cách là

bám trụ ở vùng đất khắc nghiệt này. Trước một thực tế như vậy, con người ở đây

hoặc đổ sụp xuống hoặc đứng vững lên và vượt qua. Cuộc sống đối với họ là sự

giành giật, chắt chiu từ thiên nhiên khắc nghiệt. Với họ, sống là không ngừng phấn

đấu, ngừng nghỉ sẽ đồng nghĩa với diệt vong. Từ đó đã hình thành tính cách đáng

quý của con người Quảng Nam: Cần cù lao động, ham học hỏi sáng tạo, cứng cỏi,

ngang tàng, bộc trực thẳng thắn.

Từ thời Quảng Nam mới thành lập đã được các chúa Nguyễn xem là “đất yết

hầu của miền Thuận - Quảng”. Cách nhìn đó xác lập cho Quảng Nam một vị trí

chiến lược đặc biệt. Từ tương tranh giữa các thế lực phong kiến đến hai cuộc kháng

chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, lịch sử đã chọn Quảng Nam để thể hiện

tinh thần dân tộc chống thù trong giặc ngoài. Con người Quảng Nam đã nhận vinh

dự ấy và trưởng thành qua thử thách của lịch sử. Những anh hùng vô danh và hữu

danh trong số thành phần cộng cư phức tạp đã tự lực cánh sinh, anh dũng chiến đấu.

Một thực tế khắc nghiệt mà cũng đầy tự hào: “Trong suốt lịch sử của mình, từ khi

thành lập trong thời trung đại, cho đến thời hiện đại, xứ Quảng chưa bao giờ là hậu

phương. Trong tất cả các thời kỳ, đây luôn luôn là tiền tuyến, là nơi đối đầu trước

tiên mới mọi kẻ thù xâm lược, và lúc nào cũng đứng đầu sóng ngọn gió”

[27, tr.400].

Ra đi vì tìm đất để sinh tồn, nên hơn ai hết người Quảng Nam đã bám đất kiên

cường. Trước trọng trách lịch sử đã giao, họ đã tỏ rõ là những người yêu nước nồng

nàn ý thức trách nhiệm chính trị đối với Tổ quốc. Ý thức này mạnh mẽ, sâu bền

trong mọi thành phần cư dân của Quảng Nam qua các thời kỳ lịch sử. Khi Nguyễn

Trung Thành viết: “Không biết có nơi nào nữa trên trái đất, quyền làm người được

bảo vệ bằng nhiều máu đến như vậy không?” Máu thắm đượm rãnh cày ta gieo hạt,

máu thắm đượm mảnh sân con ta nô đùa ngày bé, máu thắm đượm những con

đường nơi đó mẹ ta lau nước mắt ngày tiễn ta ra đi…” (Trích: “Đường chúng ta đi”

- Nguyễn Trung Thành) cũng là lúc Quảng Nam đã ghi vào lịch sử tên biết bao

người con Quảng Nam đã đổ máu cho quê hương, đất nước: Trần Văn Dư, Nguyễn

Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Lê Tấn Toán, Trần Quý Cáp, Ông Ích Đường, Châu

Thượng Văn, Đỗ Đăng Tuyển, Phan Châu Trinh, Phan Thanh, Nguyễn Văn Trỗi,

.…Và biết bao những anh hùng vô danh của đất Quảng đã chiến đấu hy sinh không

chỉ vì đất Quảng.

Ngoài ra, với vị trí địa lý chiến lược nằm trên trục đường giao thông Bắc- Nam

và dựa vào dãy Trường Sơn hướng ra mặt biển Đông, có hệ thống sông Thu Bồn -

Vu Gia… thông ra biển qua cửa Đại, Cửa Hàn…. nên ở Quảng Nam đã hình thành

con đường chuyển tải, giao tiếp văn hoá Bắc - Nam, Tây - Đông; nối liền văn hoá

núi với văn hoá đồng bằng, biển; tạo thành nơi hội tụ, tiếp biến văn hoá trên nền

tảng của văn hoá bản địa… Từ đó, người Quảng Nam vừa có tính bảo thủ, cố chấp,

ghì giữ lại vừa cởi mở, nhạy bén cái mới. Ra đi từ xã hội Bắc hà thuần nông nghiệp,

nhưng người Quảng Nam đã thay đổi tư duy thuần nông cho phù hợp với điều kiện

sống mới. Quảng Nam xưa kia vốn là đất của vương quốc Chăm pa có một nền văn

hoá từng phát triển rực rỡ mà chứng tích của nó là khu tháp Chăm - Mỹ Sơn, Đồng

Dương, kinh đô Trà Kiệu…. Một cách nhanh chóng người Việt chẳng những cộng

cư mà còn học tập nền văn hoá rực rỡ của Chămpa để làm giàu cho văn hoá của

mình. Tất nhiên, có những “xung đột tất yếu” với cư dân Chămpa nhưng vượt lên

tất cả, người dân Đại Việt với tư tưởng khoan dung, nhân hòa, kế thừa văn hoá Đại

Việt, tiếp thu văn hoá Chămpa khai thác mọi tiềm năng của vùng đất mới, tạo dựng

một nền kinh tế nội sinh đầy sức sống cả về văn hoá và xã hội.

1.2. Nhà văn xứ Quảng Nguyễn Văn Xuân với văn học đô thị miền Nam

1954 - 1975

1.2.1. Hoàn cảnh lịch sử - xã hội ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1975

Trong luận văn này, chúng tôi không có tham vọng trình bày tình hình lịch sử xã

hội miền Nam giai đoạn 1954 - 1975. Trên cơ sở thống nhất các ý kiến của các tác

giả trong những tài liệu đã tiếp cận, chúng tôi chỉ xin đề cập đến một số điểm có

tính chất cơ bản, tác động đến tình hình văn hoá văn nghệ nói chung và văn học nói

riêng, làm cơ sở cho việc giải quyết vấn đề ở các chương sau.

1.2.1.1 Về chính trị

Sau hiệp định Giơnevơ 1954, Mỹ đã chính thức hất cẳng Pháp, độc chiếm miền

Nam Việt Nam, thực hành chính sách thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu mới.

Mỹ đã dùng Ngô Đình Diệm làm con át chủ bài đàn áp nhân dân, chống phá cách

mạng. Sau 1954, đặc biệt năm 1959 nhân dân cả miền Nam như sống trong địa ngục

trần gian bởi những sắc lệnh đẫm máu của Ngô Đình Diệm: sắc lệnh số 6, số 13, số

49,.…Với đạo luật 10/59, máy chém được lê khắp miền Nam. Bên cạnh lực lượng

tay sai bản xứ, Mỹ đã tung vào miền Nam một hệ thống điệp viên, tình báo khắp

mọi nơi. Mỹ phải tốn nhiều công sức, tiền của cho chiến trường miền Nam vì mục

tiêu của chúng không chỉ là độc chiếm miền Nam. Vòi bạch tuộc của bọn chúng còn

muốn vươn xa hơn: tiêu diệt chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, dùng Việt Nam làm bàn

đạp xâm lấn khu vực Đông Nam Á. Muốn vậy, trước hết phải diệt cộng. Tất cả

những ai có tham gia kháng chiến trước 1954 đều bị Mỹ và chính quyền Sài Gòn

truy nã gắt gao. Tàn ác hơn, bọn chúng muốn nhổ tận gốc rễ những người hoạt động

cách mạng bằng cách bức hại gia đình họ, bắt vợ con họ phải vào “tố cộng”. Chúng

còn cướp ruộng đất của nông dân, đẩy họ gia nhập vào đội quân làm thuê làm mướn

nơi đầu đường, góc phố. Bằng cách đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn cắt đứt nguồn

tiếp tế cho Cộng sản. Những ai có tư tưởng dân chủ, dân sinh, dân tộc; lên tiếng đòi

hiệp thương thống nhất đất nước đều trở thành phe phái của Cộng sản, đều bị bắn

giết tù đày không thương tiếc. Bên cạnh quốc sách chống cộng, chính quyền Sài

Gòn còn ra tay đàn áp các đảng phái đối lập: Bình Xuyên, Cao Đài - Hoà Hảo,

nhóm Đại Việt….Nói chung, ai chống đối Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì không

thể tồn tại. Để đáp ứng cuộc chiến tranh khốc liệt diễn ra trên toàn lãnh thổ Việt

Nam, Mỹ đã biến thành thị miền Nam thành một trại lính khổng lồ: từ 16 ngàn quân

Mỹ những năm 1964 - 1965, đến đầu những năm 1970 lên đến 543 ngàn.

Tuy nhiên, những biện pháp sắt máu để xóa bỏ hiệp định Giơnevơ, chia cắt đất

nước của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã vấp phải sức phản ứng ngày càng dữ dội

của nhân dân miền Nam. Trong những ngày tháng đầu của tình trạng Bắc Nam chia

cắt, các địa phương Miền Nam dấy lên phong trào đấu tranh đòi thi hành hiệp định

Giơnevơ, đòi dân sinh dân chủ, đòi bảo vệ sinh mạng tài sản của nhân dân. Đỉnh

điểm là phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre năm 1959, đã đốt cháy rụi “quốc sách ấp

chiến lược” của Mỹ.

Trong vùng đô thị, tình thế đấu tranh không kém phần hào hùng nhưng vô cùng

gian khổ. Những cuộc bãi công của công nhân, bãi thị của bà con tiểu thương,

những dịp xuống đường của đồng bào Phật tử, những cuộc tự thiêu của hoà thượng,

tu sĩ, sinh viên học sinh Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Nha Trang….Tình thế đấu tranh sôi

nổi ấy đã lay động và thức tỉnh đông đảo nhân dân thành thị miền Nam, trí thức, đặc

biệt là lớp trẻ. Sự xuất hiện của các tổ chức, phong trào tiến bộ: Ủy ban vận động

cải thiện chế độ lao tù miền Nam Việt Nam, Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động….

chứng tỏ sự hưởng ứng đấu tranh chống Mỹ của những trí thức văn nghệ sĩ. Bằng

sự góp mặt trong những bản tin, tuần san, tạp chí, cơ quan ngôn luận của những tổ

chức trên, những người cầm bút đã trực tiếp tố cáo tội ác của Mỹ và chính quyền

Sài Gòn, động viên tinh thần yêu nước, sẵn sàng đấu tranh của nhân dân. Chính sự

góp mặt của lực lượng văn nghệ sĩ trong cuộc đấu tranh khốc liệt với đế quốc Mỹ đã

tạo nên một phần quan trọng của diện mạo văn học đô thị Miền Nam 1954 - 1975.

1.2.1.2. Về kinh tế

Chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ đã dùng sức mạnh to lớn về kinh tế

để hòng đánh nhanh thắng nhanh trong cuộc viễn chinh xâm lược ở miền Nam Việt

Nam. Mục đích chúng lũng đoạn kinh tế là để xâm lăng chính trị. Thế nên chính

sách kinh tế của Mỹ - chủ nghĩa thực dân mới - không tận dụng khai thác thuộc địa

mà tăng cường viện trợ hàng hoá. Mặt khác, chúng dùng sức mạnh của đồng đô la

để phân hoá các tầng lớp nhân dân, dùng miếng mồi vật chất mua chuộc, lôi kéo trí

thức văn nghệ sĩ. Tất cả sức mạnh kinh tế Mỹ đổ vào miền Nam Việt Nam là hòng

nhào nặn một xã hội thành thị miền Nam như chúng đã ảo tưởng vẽ ra. Trong xã hội

ấy, bao bọn ăn chơi phè phỡn, bám gót thực dân xâm lược trở thành triệu phú, tỉ

phú. Những kẻ khoác áo lính cộng hoà, sĩ quan biệt động sống cuộc đời vàng son,

vương giả. Tất nhiên, họ không hề hối hận khi quay mũi súng chĩa vào đồng bào

ruột thịt của mình. Bên cạnh đó, đường phố Sài Gòn ngày càng đông đảo những

người thường xuyên bán máu, bán thân xác, sống đói khát, chui rúc trong những

khu nhà ổ chuột….Đội quân trẻ em đường phố bán báo, đánh giày tưởng như kéo

dài vô tận. Một Sài Gòn của xa hoa tráng lệ “hòn ngọc Viễn Đông” do tiền của bọn

Mỹ sơn phết, vẽ vời. Một Sài Gòn xao xác tiếng rao đêm, tối tăm khàn hơi trong

tiếng ăn xin của bao hành khất….Chưa hết, đồng đô la của Mỹ còn tác động đến

những người cầm bút - một bộ phận đông đảo tạo nên diện mạo tinh thần của xã

hội. Một số khá đông những người cầm bút không tự kiềm chế nổi, đã hoang mang

chao đảo. Có những kẻ đã góp phần đầu độc tinh thần nhân dân bằng những tác

phẩm thấp hèn độc hại. Ngược lại, không ít người có ý thức về lương tri, nhân

phẩm, tinh thần dân tộc đã trăn trở nhiều trước hiện thực phức tạp, bi tráng. Với ý

thức, trách nhiệm của một công dân, bằng cách này hay cách khác, sớm hay muộn,

thận trọng hay quyết liệt, họ lần lượt nhập cuộc, góp tiếng nói của mình để tạo nên

tiếng nói đấu tranh cho độc lập dân tộc, làm nên bộ mặt tinh thần của văn học đô thị

miền Nam 1954 - 1975.

1.2.1.3. Về văn hoá

Không chỉ thống trị miền Nam bằng bạo lực quân sự, bằng viện trợ kinh tế, đế

quốc Mỹ rất có ý thức trong việc nô dịch nhân dân bằng con đường văn hoá văn

nghệ. Chính sách xâm lăng văn hoá của chúng được tiến hành có tổ chức chặt chẽ,

có đội ngũ đông đảo, có phương thức truyền bá hiện đại, phương tiện truyền bá sâu

rộng…nhằm mục đích biến “nhân dân vùng tạm chiếm ở miền Nam bị phản động

hoá về tư tưởng, đồi trụy văn hoá về sinh hoạt, ngu muội hoá về nhận thức”

[49, tr.17]. Xâm lăng văn hoá không phải là việc làm mới mẻ của các đội quân xâm

lược nhưng đối với đế quốc Mỹ thì chính sách xâm lăng văn hoá là một chính sách

nô dịch có quá trình. Quá trình ấy có sự chuẩn bị từ khi Pháp còn chiếm Việt Nam.

Tại Mỹ, nhà Trắng đã có sẵn những chuyên gia hàng đầu về chính trị tư tưởng như

Mansfeid, Lansdale….sẵn sàng tung vào tham chiến tại miền Nam. Và từ 1954 trở

đi, những chuyên gia này đã làm cố vấn cho nhiều chi nhánh của tổ chức văn hoá

Mỹ tại miền Nam như Phù Luân Hội (Rotary club), cơ quan văn hoá Á Châu (AF),

Phái đoàn đại học Ilinois (S.I.U), Đại học Ohio (O.U)……

Xét về mặt tổ chức thì cuộc xâm lăng văn hoá của Mỹ rất quy mô. Có thể nói,

có một sự quy tụ lực lượng để tiến hành một cách bài bản. Trước hết, Mỹ sử dụng

lực lượng sẵn có do Pháp thành lập trước đây ở miền Bắc như Nguyễn Mạnh Côn,

Chu Tử ….và những cây bút chống cộng tại chỗ như Hồ Hữu Tường, Võ

Phiến….Nhưng muốn thắng nhanh thì lực lượng sẵn có này còn “mỏng” nên Mỹ đã

cho đào tạo thêm lực lượng mới “trình độ” hơn: Thảo Trường, Phan Nhật Nam,

Nguyên Vũ….Để lừa gạt nhân dân, dẫn dụ tầng lớp thanh niên sa vào nọc độc văn

hoá, bọn Mỹ và chính quyền Sài Gòn cho thành lập những hội đoàn mà tên gọi nghe

rất “kêu”, rất “dân tộc”: “Hội văn hoá Việt Nam”, “Hội Khổng học”, “Hội văn hoá

bình dân”, “Đại hội văn hoá toàn quốc”…..Chưa hết, một loại “hoả mù” khác được

tung vào chiến trường miền Nam khiến cho nhân dân không phân biệt được đâu là

giao lưu văn hoá, đâu là văn hoá nô dịch: du nhập sách báo, băng đĩa thuộc đủ các

trường phái văn học, mỹ học phản nghệ thuật. Linh mục Nguyễn Ngọc Lan đã có

lần căm phẫn tố cáo: “không phải tình cờ mà nhân dân Hoa Kỳ đã tặng không ào ạt

sách giáo khoa cho các lớp tiểu học, không phải tình cờ mà các thư viện ngày càng

tiến tới 94,36% là sách Mỹ” [49, tr.19]. Nếu chiến trường trên mặt trận vũ trang đầy

bom đạn, chết chóc thì chiến trường trên mặt trận văn hoá cũng phức tạp, khó khăn

không kém: vàng thau, thật giả lẫn lộn. Điều này tạo nên sự phân hoá, đối lập giữa

dòng văn học được hà hơi tiếp sức bởi tiền bạc của Mỹ với dòng văn học được khai

sinh bằng tình yêu đất nước của nhân dân, bằng những trăn trở của văn nghệ sĩ

trước thực trạng xã hội.

1.2.2. Sáng tác của Nguyễn Văn Xuân - một trong những nhà văn tiêu biểu

cho văn học yêu nước đô thị miền Nam

Trong tình hình phân hoá văn học sâu sắc, phức tạp, dòng văn học “chính

thống”, đồi trụy, phản động ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 đã tập

hợp lực lượng gồm nhiều thành phần: những cây bút chống cộng, những cây bút

trụy lạc…..tạo thành những khuynh hướng văn học nổi bật lúc bấy giờ. Có thể kể

đến khuynh hướng văn học phục vụ chính trị phản động với những cây bút tiêu

biểu: Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến, Chu Tử….Bên cạnh đó là khuynh hướng văn

học đồi trụy mà Tuý Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thy Nhã Ca….là những cây

bút vào loại “ăn khách” nhất. Đồng hành với hai khuynh hướng trên là khuynh

hướng văn chương chạy theo thị hiếu tầm thường của xã hội tiêu thụ: những tiểu

thuyết diễm tình, phóng sự giật gân, điều tra bốc lửa….của những cây bút thiếu

lương tâm đã làm cho tâm hồn trong sáng của thanh thiếu niên miền Nam bị vẩn

đục.

Tuy nhiên sự đông đảo về số lượng người viết, sự phức tạp về khuynh hướng

sáng tác của dòng văn học “chính thống”, đồi trụy, phản động vẫn không đủ sức

làm lu mờ ánh sáng của dòng văn học yêu nước cách mạng trong lòng đô thị miền

Nam. Sự tập hợp của nhiều cây bút thuộc nhiều thế hệ với những hoàn cảnh khác

nhau đã chứng tỏ điều đó. Nhìn một cách bao quát dòng văn học yêu nước và cách

mạng nổi bật hai thể loại: thơ ca và truyện ngắn. Bằng tiếng nói nghệ thuật, các nhà

thơ Thảo Nguyên, Viễn Phương, Tần Hoài Dạ Vũ, Trần Quang Long, Đông

Trình…..đã tố cáo, phủ định một xã hội đang tan rã; phơi bày hình ảnh miền Nam bị

dìm trong ngột ngạt, cơ cực bần cùng. Nếu như cảm hứng chủ yếu trong sáng tác

thơ ca là cảm hứng trữ tình công dân thì mảng truyện ngắn tìm cảm hứng từ hai

nguồn đề tài lớn: đề tài lịch sử và đề tài hiện đại. Hàng loạt những cây bút tiêu biểu

đã cho ra đời những tác phẩm gây được tiếng vang tích cực trong người đọc thành

thị: Lý Văn Sâm, Tô Nguyệt Đình, Trang Thế Hy, Dương Tử Giang, Lê Vĩnh Hòa,

Sơn Nam, Huỳnh Ngọc Sơn, Ngụy Ngữ, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Hiến Lê, Võ

Hồng, Vũ Hạnh, Nguyễn Văn Xuân…..

Ở thể bút ký chính luận có thể nói đến Thế Nguyên, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lý

Chánh Trung….Ngoài ra, báo chí dưới hình thức nội san, bản tin….vẫn phát triển

mạnh dù bị chính quyền Sài Gòn kiểm duyệt gắt gao.

Nhìn chung, khuynh hướng văn học yêu nước tiến bộ cách mạng đã ra đời và

phát triển trên một bối cảnh lịch sử xã hội đặc biệt. Tuy xuất thân từ nhiều thành

phần, đến với văn nghệ vì nhiều lý do, sáng tác văn chương có nhiều mức

độ….nhưng những nhà thơ, nhà văn sáng tác trong giai đoạn văn học này đã góp

phần tạo nên sức mạnh văn nghệ yêu nước tiến bộ cách mạng ngay trong lòng đô thị

miền Nam. Làm được điều đó vì trong thẳm sâu tâm hồn các văn nghệ sĩ luôn thôi

thúc yêu cầu “tìm về dân tộc” để nhận ra một thực tế vĩ đại: sức mạnh của dân tộc,

vẻ đẹp của nhân dân, như lời tuyên ngôn của 118 văn nghệ sĩ: “Chúng tôi, những

nghệ sĩ không đứng trên lập trường nào khác là lập trường dân tộc, không theo chủ

nghĩa nào khác là chủ nghĩa yêu nước, không thiên về lý tưởng nào khác là lý tưởng

tự do, dân chủ thực sự” [49, tr.70].

Trong dòng chảy mạnh mẽ của văn học yêu nước tiến bộ cách mạng 1954 -

1975, Nguyễn Văn Xuân được nhắc đến như một cây bút đã thành danh có nhiều

đóng góp trong cả hai giai đoạn 1954 - 1963 và 1963 - 1975. Không phải ngẫu

nhiên khi trong Nhìn lại một chặng đường văn học giáo sư Trần Hữu Tá đã dành hai

trang để nói về Sơn Nam với Hương rừng Cà Mau, ba trang để giới thiệu về Vũ

Hạnh với Bút Máu và Chất Ngọc, ba trang để viết về Nguyễn Văn Xuân với tập

Hương Máu (Trong tổng số 1089 trang sách). Điều đó, phần nào khẳng định sự gắn

bó, đóng góp của Nguyễn Văn Xuân với văn học yêu nước tiến bộ cách mạng miền

Nam 1954 - 1975. Điều đặc biệt qua cuộc sống lao động, đấu tranh của nhân dân

vùng đất Quảng Nam trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, người đọc phần nào

hiểu được văn hoá, lịch sử của một vùng đất, từ đó lại hiểu về cội nguồn và lịch sử

đấu tranh của dân tộc.

1.2.3. Nguyễn Văn Xuân - nhà văn của vùng đất và con người Quảng Nam

1.2.3.1. Vài nét về tác giả, tác phẩm

Nguyễn Văn Xuân là nhà văn, nhà nghiên cứu Việt Nam. Ông sinh ngày 10

tháng 5 năm Tân Dậu (1921), tại làng Thanh Chiêm, xã Điện Phương, huyện Điện

Bàn, tỉnh Quảng Nam. Quê ông là vùng đất của dinh trấn Quảng Nam, thủ phủ xứ

Đàng Trong, của chữ quốc ngữ trước đây. Đó là quê hương của những anh hùng

yêu nước, những nhân sĩ nổi tiếng: Tổng đốc Hoàng Diệu, người tử thủ bảo vệ

thành năm 1882; Trúc Đường Phạm Phú Thứ, một trí thức tiêu biểu có phẩm chất

cao quí, bản lĩnh cương trực, hoài bão canh tân đất nước. Điện Bàn, Quảng Nam

còn là quê hương của Phan Thanh, nhân sĩ yêu nước nổi tiếng trước Cách mạng

tháng Tám.

Nguyễn Văn Xuân xuất thân trong một gia đình bình dân. Thuở nhỏ học ở quê,

sau lặn lội ra tận Huế để học. Bắt đầu từ năm 16 tuổi, Nguyễn Văn Xuân đã tự học

và ý thức tự học suốt đời đem đến cho nhà văn một vốn tri thức uyên bác trên các

lãnh vực: văn học, sử học. Ông biết chữ Hán, chữ Nôm và cả Pháp ngữ. Cũng từ

năm 16 tuổi, nhà văn đã lần lượt cộng tác với các tờ báo Bạn dân (Hà nội), Thế giới

( Hà Nội ), Mới ( Sài Gòn ); đặc biệt là hai tạp chí nổi tiếng: Văn Lang (Sài Gòn) do

bác sĩ Hồ Tá Khanh làm tổng biên tập và Tiểu thuyết thứ bảy (Hà Nội ). Giai đoạn

trước Cách mạng tháng Tám 1945, ông đã có những truyện ngắn đầu tay: Ngày giỗ

cha (1943), Ngày cuối năm trên đảo (1945).

Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, cùng với những trí thức yêu nước khác,

ông đi theo tiếng gọi non sông, gia nhập kháng chiến, hoạt động trong ngành sân

khấu, viết kịch và nghiên cứu nghệ thuật hát bội. Ông từng giữ chức ủy viên kịch

nghệ Hội Văn nghệ Quảng Nam, ủy viên kịch nghệ Hội Văn nghệ Liên khu

V….Những tác phẩm Kẻ xu thời, Một chuyện không tiện nói ra…. có thể xem như

những thể nghiệm tương đối thành công của ông đối với loại hình nghệ thuật còn

khá mới mẻ này. Sau hiệp định Giơnevơ 1954, ông ở lại quê hương chôn nhau cắt

rốn - Quảng Nam - quyết đem hết bầu tâm huyết, vốn hiểu biết phục vụ quê hương.

Cùng lúc ông hoạt động trên hai lĩnh vực: dạy học và sáng tác, văn học và nghiên

cứu. Các thế hệ học sinh của các trường trung học tư thục Đà Nẵng, sinh viên Đại

học Văn khoa Huế, Đại học cộng đồng Đà Nẵng… luôn nhớ đến người thầy uyên

bác Nguyễn Văn Xuân.

Thời kỳ 1954 - 1975 là thời kỳ tài năng của Nguyễn Văn Xuân “bùng nổ” thành

hiện tượng vang dội văn đàn. Tuy có thời gian ông bị bắt giam ở lao Thừa Phủ -

Huế (1955), nhưng điều này không ngăn được tài năng của ông như một vườn hoa

đến thời kỳ khoe sắc. Chính thời gian này, tiểu thuyết Bão rừng ra đời sau gần hai

mươi năm thai nghén. Năm1956 dưới bút hiệu Xu Văn Ân, ông viết truyện ngắn

Buổi tắm tất niên, bóng gió xa xôi về Ngô Đình Nhu. Năm 1966 tập truyện ngắn

Dịch cát, tập hợp các truyện ngắn xuất sắc của ông trong khoảng 10 năm (1956 -

1966). Năm 1969 tập truyện kí Hương máu khắc rõ hơn dấu ấn của tài năng và tâm

huyết. Cùng khoảng thời gian này, hai công trình biên khảo Khi những lưu dân trở

lại (1967), Phong trào Duy Tân (1969) là những nghiên cứu về văn học Đàng

Trong, về phong trào của sĩ phu và quần chúng nhân dân Quảng Nam trong những

ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Năm 1971 ông cho ra mắt tập khảo lục

Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc dựa trên văn bản do ông tìm thấy tại một gia

đình hoàng tộc Huế. Sau năm 1975, ông không dạy học nữa, chỉ viết những bài biên

khảo ngắn đăng báo để lo cơm áo cho gánh nặng gia đình. Trong đời ít có ai không

gặp một sự cố nào, dù lớn hay nhỏ, nhưng hoàn cảnh của ông thật hi hữu. Đến năm

80 tuổi, ông vẫn là lao động chính trong gia đình, vẫn phải “bò ra để viết” như Vũ

Trọng Phụng thưở nào, để nuôi vợ và những đứa con bệnh tật quanh năm. Sau thời

kỳ đổi mới 1986, ông chuyên viết về văn hóa Quảng Nam và trở thành một nhà

“Quảng Nam học”, một chuyên gia địa phương bất đắc dĩ. Năm 2003, ở tuổi 82,

trong căn nhà nhỏ ở đường Thái Phiên (Đà Nẵng) bốn bề thiếu thốn, lo toan ông

vẫn cho ra mắt người đọc tiểu thuyết Kỳ nữ họ Tống như những gì ông tâm đắc ấp

ủ. Người ta thường gọi Nguyễn Văn Xuân là nhà văn, nhà nghiên cứu vì ngoài số

lượng bài vở ông viết cho nhiều tờ báo, ông thường được mời tham dự, phát biểu ở

những buổi hội thảo về văn hóa Quảng Nam. Trong những buổi nói chuyện như thế,

ông luôn trình bày chính kiến của mình một cách rõ ràng với tài năng, nhân cách và

tấm lòng của người cầm bút đất Quảng. Cuộc đời ông là cuộc đời một nhà văn lao

động sáng tạo theo kiểu “khổ sai”. Tháng 7 năm 2007, cơn tai biến (lần 3 trong

vòng hai năm trở lại) đã quật ngã ông, tưởng rằng khó mà qua khỏi. Nhưng như

chưa thể trút gánh nặng cuộc đời, cơ thể và trí não của ông đã phục hồi khá nhanh

chóng. Như từ trong sâu thẳm, nhà văn cảm thấy chưa thể dứt áo ra đi. Cho đến

ngày 4 tháng 7 năm 2007, 86 tuổi trời, ông đã ra đi như bao nhà văn hóa chân chính

khác cùng thế hệ. Một tài năng lớn, một học giả công tâm, uyên bác, ngay thẳng.

Đó chính là dấu ấn về Nguyễn Văn Xuân.

Có thể nói, nhà văn Nguyễn Văn Xuân là người có sức lực dẻo dai, bền bỉ, là

tấm gương cần cù lao động sáng tạo nghệ thuật, một ngòi bút nặng lòng với mảnh

đất và con người xứ Quảng. Ngay từ những tác phẩm ở giai đoạn thử bút, ông đã

ghi lại những mảnh đời cơ cực của người dân lao động phu phen tạp dịch trên chính

quê hương mình bằng một ngòi bút khá hiện đại. Cảm hứng sáng tác trên còn tiếp

tục được vỡ vạc ở loại hình tiểu thuyết. Bão rừng là một trong những tiểu thuyết

hiếm hoi đề cập đến việc khai thác thuộc địa trong các đồn điền Tây nguyên của

thực dân Pháp. Qua những sáng tác trên, nội dung tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân

không chỉ dừng lại ở biên giới Quảng Nam. Nhà văn đã góp phần phơi bày hiện

thực, góp tiếng nói vào “bản án chế độ thực dân Pháp” theo cách riêng của mình.

Đối với Nguyễn Văn Xuân, ẩn trong niềm say mê về mảnh đất và con người xứ

Quảng là niềm say mê về văn hóa truyền thống Quảng Nam với những chắt lọc, gạn

gợi trong chiều dài của những biến thiên lịch sử, trong chiều sâu của phong tục tập

quán, lối sống. Có những sáng tác mà nhà văn dựa trên những cứ liệu dân gian, lời

kể, kết hợp với những kiến văn sâu rộng về sử học, dân tộc học…. dựng lên những

cảnh tượng sinh động. Đó là trường hợp tập truyện Hương máu. Tất cả những sự

kiện liên quan đến những tấm gương trung liệt, vắt ngang một giai đoạn lịch sử từ

khi Pháp xâm lược đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp rơi vào bế tắc được xâu

chuỗi bằng sợi chỉ đỏ của truyền thống yêu nước, tinh thần dân tộc, ý thức chính trị

đối với vận mệnh đất đai của Tổ quốc. Những sáng tác mà nhà văn đóng vai trò

nhân vật trong truyện (Bão rừng, Chạy đua với tử thần) hoặc ông chính là người tận

mắt chứng kiến trải nghiệm (Dịch cát) là những sáng tác đậm đà chất hiện thực.

Trên nền hiện thực đối đầu quyết liệt với thiên nhiên khắc nghiệt, đấu tranh một mất

một còn với bọn thực dân, đế quốc… nhà văn đã ngợi ca bản lĩnh, khí chất con

người Quảng Nam: những người luôn đứng đầu sóng ngọn gió. Bản lĩnh ấy được

hun đúc từ trong lòng xã hội Bắc hà, chịu sự tiếp biến trong quá trình cộng cư, sự

giao lưu với văn hóa nước ngoài…. hình thành chiều sâu, bề dày văn hóa Quảng

Nam. Đó cũng là biểu hiện bản sắc văn hóa dân tộc. Nguyễn Văn Xuân không chỉ là

nhà văn, nhà sử học, nhà nghiên cứu…. mà còn là nhà văn hóa, nhà “Quảng Nam

học” như nhiều người vẫn gọi.

Tìm hiểu những sáng tác văn chương của Nguyễn Văn Xuân là tìm hiểu về lịch

sử đau thương mà anh dũng của dân tộc ở vùng “Ô Châu ác địa” trong kháng chiến

chống thực dân Pháp xâm lược, là tìm hiểu những biểu hiện văn hóa đa dạng tồn tại

trong đời sống vật chất và tinh thần của Quảng Nam. Đọc sáng tác của ông người

đọc có cái hứng thú tìm về hành trình mở cõi, dựng nước và giữ nước của dân tộc

mà Quảng Nam là điểm khởi đầu.

1.2.3.2. Đóng góp của Nguyễn Văn Xuân trong văn học đô thị miền Nam

giai đoạn 1954 - 1975

Nguyễn Văn Xuân là nhà văn thành danh trong giai đoạn văn học 1954 - 1975.

Người đọc biết đến ông với truyện ngắn đầu tay Bóng tối và ánh sáng, đạt giải nhất

tạp chí Thế Giới (Hà Nội) khi nhà văn mới 17 tuổi. Từ đó, ông không ngừng góp

sức mình vào các lĩnh vực đa dạng của hoạt động văn nghệ yêu nước miền Nam

1954 - 1975: viết kịch, sáng tác tuồng, viết truyện ngắn, biên khảo….Bằng cách đó,

Nguyễn Văn Xuân đã phản ánh cuộc sống và con người ở vùng đất Quảng Nam qua

các biến cố lịch sử có ý nghĩa sống còn của dân tộc.

Bao trùm trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân là hai mảng đề tài lớn: hiện

thực đời sống xã hội và lịch sử. Ở đề tài nào, nhà văn cũng có những đóng góp nhất

định. Đề tài hiện thực xã hội được nhà văn phản ánh rõ nét trong tiểu thuyết Bão

rừng và tập truyện Dịch Cát. Qua những tác phẩm này, nhà văn đã ghi lại hình ảnh

cơ cực, chịu đựng của những người lao động, phu phen tạp dịch kiếm miếng cơm,

manh áo trong những đồn điền của thực dân Pháp. Với ngòi bút khách quan, nhà

văn đã bày tỏ sự am hiểu, cảm thông đối với đời sống dân phu đồn điền. Qua tác

phẩm, Nguyễn Văn Xuân còn lên án tội ác của thực dân Pháp, giai cấp tư sản đẩy

người lao động Việt Nam vào con đường bần cùng hoá. Cùng với Võ Hồng, Vũ

Hạnh, Sơn Nam…. Nguyễn Văn Xuân đã góp tiếng nói yêu nước của những văn

nghệ sĩ sống trong vùng địch tạm chiếm.

Mảng đề tài hiện thực còn được nhà văn khắc họa đậm nét qua tập Dịch Cát,

tập hợp các truyện ngắn xuất sắc trong 10 năm (1956 - 1966). Nhà văn đã cho người

đọc sống lại thời mở cõi với hành trình Nam tiến gian lao vất vả. Qua hình ảnh

những con người xứ Quảng cần cù lao động, can trường dũng cảm sinh tồn, tác giả

đã thắp lên trong lòng người đọc tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc. Từ đó,

nhà văn khơi dậy ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc trong thời đại ngày nay.

Ngoài ra, ở mảng đề tài lịch sử nhà văn cũng có nhiều đóng góp. Với Hương

máu (1969), Nguyễn Văn Xuân đã ngược dòng thời gian tái hiện những giờ phút bi

kịch của lịch sử qua những cái chết anh hùng, hiên ngang bất khuất, đôi khi lạnh

lùng của người Quảng Nam. Cùng với những câu chuyện bóng gió xa xôi, biểu

tượng hai mặt của Sơn Nam, Vũ Hạnh, Viễn Phương….Nguyễn Văn Xuân đã “kể

chuyện quá khứ” như một kiểu dã sử trong sáng tác của mình. Qua tập Hương máu

nhà văn muốn dùng những tấm gương trung liệt để thức tỉnh tinh thần dân tộc cho

những ai còn mê muội trong cám dỗ vật chất, trong văn hoá nô dịch của Mỹ - Ngụy.

Nhà văn đã đặt câu hỏi: “chết cho biết chết sẽ chỉ dành cho những ai sống một đời

đáng sống. Mà tất cả chúng ta có thật ai ai và bao giờ cũng sống một cuộc đời đáng

sống hay không?”[43, tr.239].

Những gì mà Nguyễn Văn Xuân cống hiến cho văn chương không chỉ có tiểu

thuyết Bão rừng, tập truyện Dịch Cát, Hương máu. Nhưng với những trang viết

này, nhà văn thật sự có những đóng góp giá trị cho khuynh hướng văn học yêu nước

tiến bộ cách mạng trong lòng đô thị miền Nam. Không đao to búa lớn, không ồn ào

sôi động, lặng lẽ âm thầm học tập, sáng tác trong tình cảnh gia đình khốn khó, gieo

neo, ông đã để lại cho đời những tác phẩm đầy tâm huyết, xứng đáng được người

đương thời gọi một cách trân trọng: “thầy là nhà Quảng học hiểu theo nghĩa nào

cũng đúng cả, một tính cách và một kho tri thức” [68].

Ngoài những sáng tác văn học, suốt thời gian cầm bút, Nguyễn Văn Xuân còn

trình làng nhiều công trình biên khảo có giá trị: Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc,

Vụ án truyện Kiều, Phong trào Duy Tân, Khi những lưu dân trở lại. Đặc biệt, biên

khảo Khi những lưu dân trở lại đã dựng lại quá trình di dân kèm theo những sắc

thái văn hoá, văn nghệ diễn ra trong suốt quá trình Nam tiến của dân tộc, đã tạo nên

những tính cách người dân xứ Quảng. Nguyễn Văn Xuân từng bộc bạch:“Cuốn

sách nhằm giúp củng cố thêm cho các bạn trẻ ở phía Nam hiểu được dĩ vãng đất

đai của mình, củng cố niềm tin mà phát triển văn hoá văn nghệ. Người Quảng Nam

vẫn đóng góp không ngừng vào sự đăng cao của văn học miền Nam”[68].

Năm 2003, ở tuổi 82, ông được ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội văn học

nghệ thuật Việt Nam trao giải A cho tiểu thuyết Kỳ nữ họ Tống - tác phẩm khẳng

định cuộc đời lao động nghệ thuật không ngừng nghỉ của ông.

Tóm lại, nếu như văn học yêu nước tiến bộ cách mạng đã chứng minh tinh thần

tự cường dân tộc, lý tưởng tự do dân chủ…thì những cây bút góp trang viết của

mình trong khuynh hướng văn học ấy đã gắn bó cùng dân tộc với ý thức công dân

sâu sắc. Họ đã làm tròn thiên chức người cầm bút trong những hoàn cảnh xã hội đầy

thử thách “góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc, tạo nên sức

mạnh tổng hợp lớn lao của chiến tranh nhân dân” [49, tr.125]. Với Nguyễn Văn

Xuân, không chỉ như vậy. Sáng tác của ông còn “đạt đến sự thâm viễn” của một nhà

văn luôn học hỏi và sáng tạo, luôn nghiêm túc trong lao động nghệ thuật. “Viết sử

một ngôi làng cần một đời người” chính là như thế.

Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ YẾU CỦA NGUYỄN

VĂN XUÂN QUA TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN

NGẮN GIAI ĐOẠN 1954 - 1975

“Khoa học là cái ta, nghệ thuật là cái tôi”. Điều đó có nghĩa là sáng tác văn học

nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần, theo phương thức cá thể, mang đậm

dấu ấn cá nhân muôn màu muôn vẻ. Mỗi nhà văn, nhà thơ khi cầm bút sáng tác đều

bắt nguồn từ những trăn trở suy tư, những đau đớn dằn vặt, những rung động mãnh

liệt của mình trước cuộc sống, trước những mảnh đời, những số phận. Những trạng

thái cảm xúc đó chính là trạng thái tâm lý then chốt, bao trùm trong sáng tác của

nhà văn và được gọi chung là cảm hứng sáng tác. Cảm hứng sáng tác quyết định sự

khởi đầu cho sáng tạo văn chương. Biêlinxiki cho rằng: “Cảm hứng là trạng thái

phấn hứng cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà

họ miêu tả, là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi lên bởi một tư tưởng nào đó”

[15, tr.208].

Các tác giả nhiều bộ sách giáo khoa lý luận văn học cũng cho rằng: “Cảm

hứng là một trạng thái tâm lý căng thẳng nhưng say mê khác thường. Sự căng thẳng

của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc, khi đã đạt đến sự hài hoà, kết tinh sẽ

bùng cháy trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến mục tiêu da diết

bằng con đường gần như trực giác, bản năng” [31, tr.15].

Những người biên soạn Từ điển thuật ngữ văn học thì định nghĩa: “Cảm hứng

là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền

với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây xúc động đến cảm xúc

của người tiếp nhận tác phẩm” [46, tr.32].

Qua những định nghĩa vừa nêu, chúng ta có thể hiểu cảm hứng sáng tác là thái

độ tình cảm nồng nhiệt, say đắm của nhà văn khi thể hiện tư tưởng của mình trong

tác phẩm. Nó là kết quả của việc thai nghén lâu dài, suy tư, cấu tứ, tưởng tượng

trước đó. Vì thế tác phẩm được sáng tạo từ cảm hứng là “gan ruột, tâm huyết” chỉ

bộc lộ những gì đã thật sự tràn đầy trong lòng người trào ra đầu ngọn bút, thăng hoa

thành từ ngữ, hình ảnh, nhạc điệu, tình tiết… Khi đó cảm hứng đã trở thành một yếu

tố của nội dung tác phẩm, nó thống nhất và gắn bó với tất cả các yếu tố khác thuộc

về nội dung khác như đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm.

Đối với nhà văn Nguyễn Văn Xuân, tình yêu quê hương xứ Quảng là nguồn

cảm hứng bất tận tạo nên những tác phẩm để đời của ông. Từ điển văn học (bộ mới)

viết về nhà văn Nguyễn Văn Xuân có đoạn: “Hầu hết các tác phẩm của Nguyễn

Văn Xuân đều thể hiện một vốn kiến văn sâu rộng, một giọng văn giản dị, hồn hậu,

đậm đặc chất Quảng Nam, và đặc biệt một tấm lòng yêu thương tha thiết đối với

quê hương xứ Quảng” [18, tr.1227].

Cuộc đời Nguyễn Văn Xuân hầu như chưa bao giờ rời xa làng quê nhỏ bé của

mình. Trước tác của ông cũng vậy. Ngoài hai quyển biên khảo Vụ án Truyện Kiều

và Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc, các sáng tác còn lại của ông đều đề cập đến

cuộc sống lao động sinh tồn và đấu tranh giữ nước của các tầng lớp nhân dân Quảng

Nam. Ông đã may mắn có “một lỗ tai của nhà văn và một lỗ tai của nhà sử học. Cả

hai đều tinh tường, tinh tế, đều rất “biết nghe”. Biết nghe và biết lọc. Biết lọc và

biết chế tác” [70]. Sáng tác của Nguyễn Văn Xuân dựa trên những tư liệu địa

phương, lời kể của nhân dân, sự ghi chép, quan sát, lí luận cụ thể và duy lý của một

người nghiện “đọc, học và viết”. Do vậy, tuy đề tài không mới mẻ nhưng có độ chín

muồi của một sự thâm viễn, có sự thuyết phục của thực tiễn sinh động, độ sắc bén

trong tư duy phân tích của người nghiên cứu sử học, sự lí giải của nhà văn hoá học,

Quảng Nam học… Từ đó, những vấn đề đặt ra trong sáng tác của ông buộc người

đọc không ngừng cùng nhà văn suy nghĩ, trăn trở để khám phá, đi đến tận cùng của

chiêm nghiệm.

2.1. Cảm hứng khám phá vùng đất xứ Quảng

Nhà văn Nguyễn Văn Xuân sinh ra và lớn lên trên quê hương xứ Quảng. Sự

gắn bó định mệnh ấy đã khiến nhà văn yêu xứ sở “Ô Châu ác địa” như yêu chính

máu thịt của mình. Việc chọn viết về vùng đất và con người Quảng Nam thể hiện

một tình yêu đất nước sâu sắc của nhà văn thông qua tình yêu đối với nơi chôn nhau

cắt rốn. Đọc khảo luận Khi những lưu dân trở lại hay công trình sử học Phong trào

Duy Tân ta thấy rõ “chất Quảng” đậm đặc trong những sáng tác này như một lẽ tất

nhiên. Và khi sông núi, con người xứ Quảng đã thăng hoa dưới ngòi bút văn

chương của ông thì “chất Quảng” càng rõ hơn trong những hình ảnh, chi tiết, sự

kiện, nhân vật, cốt truyện. Nó là những kết tinh từ trái tim, khối óc của một cư dân

xứ Quảng với sự am hiểu và tình yêu quê hương sâu sắc lạ thường. Dù quanh đi

quẩn lại trong gần 20 tác phẩm của ông vẫn là thiên nhiên và con người Quảng

Nam, nhưng người đọc không có cảm giác vô vị nhàm chán. Đọng lại trong lòng

người đọc là cảm giác khám phá. Vẫn là đất ấy, người ấy, mỗi một tác phẩm nhà

văn như đưa người đọc đến một góc nhìn khác để thấy những khía cạnh phong phú

trong cuộc sống, tính cách con người xứ Quảng. Và gấp những trang sách lại, độc

giả thích thú khi nhận ra một bức tranh về cuộc sống, thiên nhiên, con người xứ

Quảng trong một thời kỳ lịch sử xã hội mà mỗi sáng tác như một mảnh ghép của

bức tranh, đang hiện rõ dần trong tâm trí, cảm xúc của mỗi người. Nhưng giá trị tác

phẩm của Nguyễn Văn Xuân không chỉ có vậy. Những hiện thực ngồn ngộn về một

thời kỳ cụ thể lại đánh thức ở người đọc một quá khứ đã lùi xa của thời mở cõi, và

gợi lên mối dây liên hệ vô hình với hiện thực hôm nay.

Nói đến thiên nhiên Quảng Nam là nói đến sự hội tụ của hình sông, thế núi.

Núi thì sừng sững, trùng điệp; sông thì nước chảy xiết, nhiều ghềnh, lắm thác….

Những lưu dân Quảng Nam vì nhiều lý do khác nhau họ phải bám vào hình sông,

thế núi đứt nối, trắc trở, thấp cao, gần xa…. để tồn tại. Hơn ai hết, Nguyễn Văn

Xuân đã sinh ra và lớn lên trên mảnh đất nhọc nhằn gian khó này nên như một tất

yếu khi nhà văn cầm bút viết về đời sống lao động, chiến đấu sinh tồn của người

Quảng Nam thì hình ảnh sông núi vốn in sâu trong tâm khảm ông đã ùa vào trong

những trang viết.

Có một điều làm khắc khoải những ai đã đọc sáng tác của Nguyễn Văn Xuân:

không gặp những bức tranh sơn thuỷ hữu tình của núi sông diễm lệ như thường thấy

trong thơ văn nói chung. Thiên nhiên sông núi là đối tượng thẩm mỹ của văn

chương, nghệ thuật. Thông qua thiên nhiên, người cầm bút bộc bạch tâm tư tình

cảm của mình. Còn với nhà văn Nguyễn Văn Xuân, thiên nhiên sông núi là một

phần đời sống của cư dân xứ Quảng. Họ phải dựa vào thiên nhiên ấy để sống. Họ

phải chiến đấu với thiên nhiên để sinh tồn.

2.1.1. Một thiên nhiên khắc nghiệt, dữ dội

Xứ Quảng có rất nhiều núi, đồi, đèo: Trà Mi, Bà Nà, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn,

núi Chúa, núi Hiên, núi Giằng… đèo Le, đèo Giảm Thọ rồi Hòn Kẽm - Đá Dừng,

Râm, Ri, Liêu…. Những tên núi, tên đèo vừa nên thơ vừa bình dị, gợi lên những

miền hoang vu, xa ngái. Núi gắn liền với rừng: “rừng phủ kín, mênh mông, dày kịt,

bao vây con người. Và rừng thì nhung nhúc hùm beo, rắn rết, thú dữ…”

[27, tr.405]. Nếu nói Quảng Nam là vùng đất được các triều đại vua chúa từ thời

nhà Hồ chọn để di dân, mở cõi thì dường như những tầm nhìn chiến lược này quan

tâm đến vị trí “yết hầu” của miền Thuận - Quảng hơn là điều kiện để người dân sinh

cơ lập nghiệp. Cũng có một vài nơi được xem là màu mỡ như vùng đồng bằng phù

sa lưu vực của các con sông lớn, cũng như các sản vật khai thác từ rừng và

biển….Dù sao, đây cũng là miền “đất hứa” đối với lưu dân nghèo, tội đồ bị lưu

đày…. Chính từ mục đích ban đầu là mở cõi, là tạo thế trận quốc phòng nên việc

khai thác kinh tế, sinh cơ lập nghiệp là nhằm củng cố cho chính trị. Vì vậy, bất chấp

thiên nhiên khắc nghiệt của núi rừng, sông biển, cư dân Quảng Nam phải bám vào

đó. Nó là con đường duy nhất để sinh tồn, sau khi họ đã thích tên châu trên cánh tay

của mình.

Hình ảnh sông nước và núi rừng Quảng Nam đi vào sáng tác của Nguyễn Văn

Xuân như nó tự nhiên vốn có. Vì vậy, đọc Bão rừng, Hương máu, Cây đa đồn cũ,

Dịch cát, Xóm mới…. người ta không thấy vẻ hoang sơ, quyến rũ của thiên nhiên

chốn núi rừng mà nó hiện ra đầy vẻ thách thức đe dọa. Trong tiểu thuyết Bão rừng,

chính chàng thanh niên Nguyễn Văn Xuân 16 tuổi đã đi lập nghiệp ở một đồn điền

mà cọp, voi ra vào bắt súc vật, đe dọa tính mạng con người .… như ra vào chốn

không người. Hình ảnh con voi điên một ngà phá phách hết vùng này đến vùng

khác, khiến cho tất cả công nhân ở đồn điền, cả dân Thượng đều phải sợ nó. Nó trở

thành một nỗi ám ảnh trong cuộc sống hàng ngày của công nhân với nỗi phập phồng

lo sợ cho tính mạng của mình. Nhà văn như đưa người đọc đến tận cùng nỗi sợ với

hình ảnh một con bò: mắt mở trừng trừng, tái ngắt, lưỡi thè dài như kẻ thắt cổ “hai

bên khóe đọng đầy máu” [63, tr.62]. “Ông ba mươi” đã từ rừng vào thẳng đồn điền

gieo rắc những cái chết kinh hoàng!

Ngòi bút của một nhà biên khảo, một sử gia về Quảng Nam, lại viết về vùng

đất mà chính mình đã sinh ra, lớn lên nên sáng tác của Nguyễn Văn Xuân bộc lộ sự

am hiểu sâu sắc, kỹ càng về tự nhiên, văn hoá của vùng đất ấy. Núi rừng trong sáng

tác của nhà văn còn ẩn giấu bên trong nó một nền văn hóa nhuốm màu huyền bí mà

ta chưa khám phá hết. Trong Bão rừng, những âm thanh của tiếng khèn não nùng

như tiếng gọi của đêm thăm thẳm đang chờ một phút bất ngờ để từ rừng sâu tiến lên

chiếm hết không gian làm cho chàng trai Nguyễn Văn Xuân như cảm nhận được

“rừng đen có vẻ sợ hãi, cúi xuống, níu sát vào nhau” [63, tr.150]. Những giảng giải

của nhà văn về chiêng Trà Bồng, về giọng “Bù rốp”, “Bù rắp lay, lay, Bù rớt bù

rởn” [63, tr.484] như đưa người đọc đến tận cùng sự khám phá những bí ẩn của núi

rừng chứa trong âm thanh những nhạc cụ mà người dân tộc đã gởi gấm đời sống

tâm hồn tình cảm vào đó. Đó cũng là cái hồn của núi rừng đại ngàn hoang sơ. Núi

rừng trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân không phải là không có những cảnh

hùng vĩ nhưng dường như nó rất hiếm hoi. Khác với nhà văn Nguyên Ngọc đã tả

một Rừng xà nu hoành tráng, kỳ vĩ, mãnh liệt, sinh tồn bất diệt như một ẩn dụ về

sức sống, ý chí kiên cường bất khuất của người dân Tây Nguyên, Nguyễn Văn

Xuân miêu tả thiên nhiên như nó vốn có. Trên nền thiên nhiên ấy ông muốn cho

người đọc thấy được con người Quảng Nam đã đã dựa vào rừng để sinh tồn như thế

nào. Rừng có thể cho con người những “cái nhung còn tươi mướt, màu nâu non”

[63, tr.56] để làm thành thuốc bổ thượng hạng. Người dân tộc còn chế ra những loại

rượu rất ngon như rượu bắp uống mà không hề sợ say (Bão rừng). Rừng núi cung

cấp “thịt rắn, thịt rùa, cả thịt ve ve, cắc ké, kỳ nhông [...]. Thỉnh thoảng, đặt bẫy bắt

được con heo rừng hoặc con cọp […]hạ được chú hoẵng, chú nai, thật là những

ngày sung sướng” [63, tr.258]. Và “những thứ rau rừng như cải bay, rau dền, rau

sưng”, “những mít non, măng non về luộc, nấu canh…” [63, tr.257] đều là những

của cải mà rừng hào phóng ban tặng.

Nhưng như câu thành ngữ “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, rừng có thể

nuôi sống, che chở cho con người nhưng cũng sẵn sàng cướp đi sinh mạng con

người bất cứ lúc nào. Những ai sống bám vào rừng như đánh đu với số phận của

mình. Họ phải làm thế bởi họ không còn cách lựa chọn nào khác. Trong Bão rừng,

mấy trăm mạng người phải làm phu cho đồn điền của lão Mẹc, ngoài ách áp bức

bóc lột của chủ, họ còn phải chịu đựng những cơn sốt rét rừng không ngừng tấn

công những con người ốm yếu, quanh năm đói rét. Hình ảnh bác Liễn “cánh tay gầy

đét, da bọc xương như sợi dây bẩn [….] mi mắt trắng nhợt, tròng ngươi đờ đẫn”

[63, tr.97] do nhiều ngày chịu đựng cơn sốt rét rừng mà không hề được chăm sóc

thuốc men. Thân thể của người công nhân ấy trong cái nhìn của chàng trai 16 tuổi

Nguyễn Văn Xuân như một ám ảnh mà 18 năm sau, khi cầm bút viết Bão rừng, nhà

văn đã miêu tả hình ảnh ấy rõ mồn một: “Bộ ngực còn thảm hại hơn. Tuy bác mặc

áo nhưng từng chiếc xương sườn in hằn lên rõ rệt. Qua cổ áo để trống, hai chiếc

xương trên nhất của lồng ngực nhô hẳn lên, cao cho đến nỗi đào thành một lỗ thịt

khá sâu trong yết hầu, dưới trái khế cũng cao nghêu” [63, tr.100]. Nếu ai chưa một

lần nếm trải cảm giác của những cơn sốt rét rừng thì chỉ cần đọc Bão rừng của

Nguyễn Văn Xuân có lẽ phần nào đã mường tượng đến 7 - 8 phần cái cảm giác ấy.

Trong 233 trang tiểu thuyết, nhà văn miêu tả bốn lần sốt rét rừng của bốn nhân vật.

Ngoài bác Liễn đã bỏ mạng vì nó thì chị Sáu, một người làm công trong gia đình

mụ chủ, bị cơn sốt rét dằn vặt dữ dội đến độ “rung hết cả giường chiếu, rung vách

gỗ, vách gỗ rung sợi dây thép làm mấy chiếc khăn giăng trên đó cứ như bị động

kinh” [63, tr.187]. Và đến lượt chàng thanh niên Nguyễn Văn Xuân trở thành một

sinh vật yếu đuối, không kháng cự được với những con vi trùng sốt rét. Cơn bệnh

như một quái vật luồn lách vào từng đường gân, thớ thịt hành hạ đau nhức làm cho

con người lúc tỉnh, lúc mê, dở sống, dở chết: “Trời đất, quay chong chóng! Thở hổn

hển và khát nước. Run bần bật và nóng như lửa, và lạnh như băng giá, lưỡi môi khô

cháy và tâm hồn trống rỗng, mênh mông… Những cơn sốt đầu tiên của núi rừng vật

nhào tôi, rấn những gót giày không xót thương lên ngực, lên hông tôi, làm tê dại

xương sống tôi, làm đảo lộn hết các tế bào mong manh nhất tạo nên cơ thể tôi. Tôi

mê rồi tôi tỉnh, tỉnh rồi mê. Lúc tôi tưởng sáng hoá chiều, tưởng ngày hoá ra đêm

thăm thẳm và cô độc. Đầu tôi như có búa bổ, nhiều lúc đau tưởng nghe kêu răng

rắc trong đó” [63, tr.204]. Căn bệnh sốt rét rừng quái ác đã khiến cho những người

khi mới cất bước ra đi là những chàng trai lực lưỡng, cường tráng nhưng khi trở về

thì trở nên “bủng beo”, mà cũng không biết rằng có còn toàn mạng mà trở về hay

không? Một người mạnh khoẻ như Bộc, 6 thanh niên không thể vật ngã được vì

những bắp thịt của anh như bằng thép đúc “Bộc sẽ trở nên kẻ thù vô địch của các vi

trùng, dẫu âm thầm dũng mãnh như sâu sốt rét” [63, tr.190]. Nhưng không ngờ cơn

sốt rét đã đập Bộc như một nhát búa giáng xuống sau gáy “Anh ngã gục xuống, rồi

từ trên giường, lăn xuống sàn và lăn khắp nhà. Bệnh anh rất lạ, mặt anh vàng, lưỡi

vàng, hai mắt cũng vàng và nhiều lúc tưởng anh tắt thở” [63, tr.229]. Qua ngòi bút

miêu tả chân thực của nhà văn, sự nguy hiểm của cuộc sống mưu sinh dựa vào núi

rừng như hiển hiện trước mắt người đọc. Để tồn tại, con người phải vật lộn, giành

giật lấy sự sống từng giây, từng phút.

Bên cạnh núi rừng đầy thú dữ và căn bệnh sốt rét quái ác chực chờ cướp đi

sinh mạng con người thì sông suối với những nỗng cát mênh mông, những cơn bão

lũ gào thét cũng là một thiên nhiên khắc nghiệt thứ hai mà con người phải chiến đấu

để giành giật sự sống. Quảng Nam có rất nhiều sông, sông nào “thế nước cũng chảy

gấp”. Những dòng sông này khi “chảy vào” tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân vẫn

đầy rẫy những hiểm nguy như nó vốn có. Có những quãng sông nước rất sâu, lại

hẳm, chỉ cần sơ sảy là mất mạng như chơi (Cái Giỏ). Hay những quãng sông mà chỉ

nghe tả người đọc đã hình dung tất cả sự nguy hiểm từ dòng sông ấy: “Tiếng nước

ầm ầm vang động, có lúc tưởng như muôn ngàn lượn sóng tới tấp đuổi nhau rồi

cùng đánh ầm xuống một cái hố sâu vô tận. Ở xa xa người ta đã thấy những lằn

sóng chạy quanh cái xoáy vĩ đại, réo mãi không ngừng. Những tiếng hang sâu, vực

thẳm không gợi được cảm giác ghê rợn của người đi qua đấy, khi nghĩ rằng, chỉ

một sự vô ý nhỏ, vì không tránh được dòng nước, người lái thuyền đành để thuyền

bị hút dần vào xoáy. Thuyền cứ từ từ vòng mãi, vòng mãi, xoáy cứ thu hẹp lại theo

từng cấp bậc quanh rốn nước, từ cao xuống thấp, thấp dần. Còn thuyền tuần tự đi,

khá nhanh, như có bàn tay của định mệnh dẫn lối, theo từng khu ốc, khép lại bằng

một dòng nước không bao giờ ngớt gào thét hãi hùng. Người ta không biết sự gì xảy

ra cho đến hôm sau, lại thấy những con chim lạ quần trên cao, phát ra những tiếng

kêu lanh lảnh. Ở các bến xa, người thuyền chài vô danh nhặt được từng tấm ván

của một chiếc thuyền nát lững thững trôi về” [63, tr.375]. Hình ảnh thiên nhiên sông

nước hiện lên trong văn của Nguyễn Văn Xuân như một hung thần với tâm địa độc

ác, sẵn sàng dìm chết những chiếc thuyền vô ý trượt vào những ranh giới vô hình

nguy hiểm. Những sông ngòi ở Quảng Nam chằng chịt với đặc điểm “Sông ngắn,

độ dốc lớn, nước chảy nhanh gây không ít khó khăn cho việc mưu sinh của cư dân

xứ Quảng. Theo con số thống kê thì đỉnh lũ của sông Thu Bồn - Vu Gia có năm “lên

đến 1,92m, gây nhiều thiệt hại về tài sản, có khi cả tính mạng” [58, tr.42]. Chỉ trong

huyện Đại Lộc của Quảng Nam mà “trừ các tháng 3,4,5, còn các tháng khác, đều

có khả năng có bão đổ bộ” [58, tr.42]. Với bão, lũ thường xuyên như vậy, lưu lượng dòng chảy lớn nhất ở các sông có nhiều năm lên đến 6390m3/s (theo tài liệu

đài khí tượng thuỷ văn Trung Trung Bộ). Riêng Sông Thu Bồn “mùa lũ, dòng nước

chảy cuồn cuộn với tốc độ 3 - 4 m/s và sức xâm thực mãnh liệt, nên lượng cát ngâm

trong mùa này rất lớn. Lượng cát ngâm trong mùa lũ gấp 2, 3 lần cát ngâm trung

bình năm và gấp 5 - 7 lần mùa cạn” [58, tr.44]. Chính lượng cát này đã tạo nên

những động cát, nỗng cát kết hợp với những dòng chảy ngầm trong lòng đất của

những sông ngòi chằng chịt đã không ngừng kiến tạo những địa hình tiềm ẩn nguy

hiểm, đầy bất ngờ cho cư dân sống nơi vùng sông biển. Có một Xóm mới hình thành

trên một động cát, mọi người chưa kịp mừng vì từ nay đã có nơi chốn gọi là nhà để

đi về, an cư lạc nghiệp, thì chỉ trong một đêm, tất cả đổ sụp trong biển cát. Cát tràn

ngập, nước sông dâng lên, chôn vùi bao kiếp người tha phương cầu thực. Cảnh

“thương hải tang điền” phi lý và rùng rợn khiến người đọc phải đau lòng. Sống trên

cát, khi chết những lưu dân lại vùi thân trong cát. Người ta gọi Nguyễn Văn Xuân là

nhà “Quảng Nam học” bởi sự am tường của ông về xứ sở và con người Quảng

Nam. Điều đó thể hiện trong từng trang viết ngồn ngộn kiến thức về địa lý, lịch sử,

phong tục tập quán nơi đây. Chỉ riêng chi tiết về những động cát, nỗng cát ta đã

thấy mỗi trang viết của ông là sự chắt lọc, gạn gợi của người từng sống và hiểu rõ

vùng đất đầy cát này. Chẳng thế mà ông viết về nạn “bù chắt” cát ở miền biển rất rõ

ràng, sinh động. Những cư dân sống nhờ vào nghề đi biển, họ phải chịu nạn “bù

chắt” trong cát, những giống vật nhỏ, “màu ửng ửng đỏ” ấy, ban ngày rúc vào quần

áo, ban đêm “cắn da, cắn thịt con người” [63, tr.406] đến độ dân đi biển nghèo

thiếu đồ mặc ban đêm họ phải ngủ trần truồng (Dịch cát ). Nhà ở trên cát, sống

chung với cát, nên khi chồng chết, chị Sinh đã đào một lỗ huyệt ngay cạnh giường

chồng và dùng sức lực tàn của mình đẩy xác xuống hố cát.Và đến lượt chị bị hành

hạ bởi trận dịch kỳ lạ trong vùng cát, chị đã “như điên dại, chị cào cấu, ghì cả mười

đầu ngón tay, móng tay đã chảy máu xuống cát, hai chân đạp thủng cát thành hai lỗ

lớn” [63, tr.411]. Nhà văn để lại cho người đọc những trang viết với nỗi ám ảnh

khôn nguôi về cuộc đời những con người bị dồn đến bước đường cùng của cuộc

mưu sinh ở những nơi mà “cát như kéo tận đến chân trời”[63, tr.427].

Những dòng sông bão lũ triền miên có thể giúp con người kiếm chén cơm

manh áo nhưng cũng sẵn sàng nhấn chìm thân xác họ vào dòng nước chảy xiết tàn

bạo của nó. Nhân vật Năm Cụt (Cây đa đồn cũ) đã sống nhờ vào những cơn nước

lũ. Khi nước lụt đục ngầu, trắng xoá, đổ xuống như thác réo suốt đêm dưới sông,

trời đất câm lặng, nhường tất cả vang động cho dòng nước với những tiếng đất lở

ầm ầm thì cũng là lúc anh Năm Cụt chuẩn bị những chiếc bè chở những thân cây

chuối về xuôi. Mỗi cây chuối ở vùng núi giá chỉ vài đồng nhưng vào ngày lụt lội

mang về thành phố ở vùng đồng bằng giá tiền có thể lên gấp hai mươi hay ba mươi

lần. Và “muốn được cái giá đó, còn phải đem chơi với sông nước, với sóng gió, với

bão lụt một mạng người” [63, tr.366]. Cuộc mưu sinh trên sông nước của cư dân

Quảng Nam không kém phần nghiệt ngã. Những lúc sóng yên, sông lặng thì kiếm

được ít cá hơn những lúc lũ to, nước dâng tràn. Thiên nhiên như không ngừng đặt

con người vào những cơn thử thách sinh tồn. Nhưng con người không hề lùi bước.

Họ không có quyền lựa chọn, chỉ có một cách là đứng lên, tiếp tục sống nếu không

muốn bị chôn vùi trong cát, trong nước. Trong Ngày cuối năm trên đảo, truyện ngắn

ở giai đoạn thử bút, nhà văn đã miêu tả cuộc sống dưới miền biển của những ngư

dân ở một làng chài. Cuộc sống mà theo nhà văn “nó to lớn quá nhưng cũng mong

manh quá chừng, cuộc sống của những người dân chài sống hôm nay và không biết

số mệnh ngày mai sẽ dắt tới đâu” [26, tr.1078]. Đó không phải là một triết lý sống

yếm thế, bi quan. Nó là một thực tế mà những người sống bằng nghề sông nước

phải dũng cảm, can trường đối mặt. Sống và chết đối với họ chỉ là gang tấc. Trong

truyện ngắn Cái giỏ, nhân vật Bốn khi chụm chân nhảy xuống ghe để mang cái đầu

Tây dâng cho “Nghĩa Hội” sơ ý làm ghe chòng chành, đã rơi ùm xuống sông.

Không ngờ người thanh niên anh dũng ấy phải chịu một cái chết phi lý bởi nơi đậu

ghe là một cái bến rất sâu, lại hẳm “lòng chảo sâu lút cây tre lồng ngà” [63, tr.311].

Khi mọi người tìm được anh thì xác đã trương phình, mặt đã tím đen. Trong Cây đa

đồn cũ, cả Cát (người trả thù) và Hương Chỉnh (kẻ bị trả thù) đều vùi thân dưới

dòng nước chảy siết, đen thẳm như chôn vùi bao oán hận của ngàn đời với tiếng kêu

thê thảm như tiếng hú vọng về của những oan hồn.

Hình ảnh thiên nhiên vùng đất Quảng Nam trong sáng tác của Nguyễn Văn

Xuân là những trang ngồn ngộn chất liệu thực của vùng đất mở cõi. Chưa đọc tác

phẩm của ông, ta đã hình dung Quảng Nam là vùng “Ô Châu ác địa”. Khi đã đọc ta

càng khẳng định điều đó. Trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân ta không thấy thiên

nhiên được cách điệu, thi vị hoá, nếu có cũng rất hiếm hoi. Mục đích của nhà văn

không chỉ dừng lại ở việc miêu tả thiên nhiên mà nó là nền hiện thực để thấy sự tồn

tại của những con người can trường, dũng cảm nơi đầu sóng ngọn gió. Với mục

đích như vậy, chiều sâu phản ánh của tác phẩm dường như không giới hạn. Thiên

nhiên trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân gợi nhắc người đọc về thời mà “voi, tê

giác, cọp, trâu rừng, nai, heo rừng…” [58, tr.46] chiếm cứ những khu rừng rậm ở

đây. Một Quảng Nam đã định hình và tồn tại, phát triển từ những đợt di dân lớn

trong lịch sử dân tộc, cuộc sống tha phương cầu thực trên những động cát, nỗng cát

mênh mông như vẫn còn in đậm dấu vết trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân.

Không gian trong sáng tác của ông có sự hoành tráng bởi sông biển, núi rừng nhưng

không gợi cho người đọc sự kỳ vĩ của vũ trụ bao la mà ẩn chứa trong lòng thiên

nhiên ấy những bí ẩn rùng rợn, chỉ chực chờ nuốt chửng mạng sống của con người.

Trang viết của nhà văn như được chắt lọc từ sự khoắc khoải về số phận con người

trên vùng đất mới. Trong đó, có số phận của chính nhà văn. Không chỉ gợi mở về

quá khứ xa xăm, những trang viết của nhà văn về vùng đất Quảng Nam như thôi

thúc người đọc tìm hiểu về một Quảng Nam hiện tại. Cũng đất ấy, người ấy, núi

sông ấy… Quảng Nam sẽ như thế nào trong hành trình lịch sử của dân tộc? Và

Nguyễn Văn Xuân, qua những trang viết của mình, đã khẳng định chính hình sông

thế núi khắc nghiệt đã góp phần hun đúc nên “khí chất” con người Quảng Nam.

Quê hương giàu đẹp đã yêu thì quê hương gian khổ lại càng phải yêu hơn.

Bằng những trang viết của mình, Nguyễn Văn Xuân đã thể hiện tình yêu đối với

“miền xương xẩu của đất nước Việt Nam”. Với tình yêu đậm đà, máu thịt, nhà văn

như muốn nhắc nhở các thế hệ người đọc, lớp con cháu hôm nay luôn nhớ rằng: có

một dải đất Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau vì đã có một Quảng Nam

nhọc nhằn, gian khó trong hành trình mở cõi.

2.1.2. Vùng đất của những cuộc đụng độ quyết liệt trong lịch sử dựng và

giữ nước của dân tộc

Đọc những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, người đọc có cái hứng thú như

đang lần giở những trang sử quan trọng của một vùng đất gắn liền với những biến

động trong tiến trình lịch sử chung của dân tộc. Ngay từ thời mở cõi, lịch sử đã giao

cho Quảng Nam sứ mệnh quan trọng nên vùng đất này đã xảy ra những cuộc tương

tranh phong kiến và những cuộc đụng đầu lớn trong lịch sử chống xâm lược. Tác

phẩm của Nguyễn Văn Xuân không bao quát các triều đại, các thời kỳ lịch sử mà

nhà văn chỉ chọn một giai đoạn trong cuộc kháng chiến chống Pháp: giai đoạn,

thoái trào, để làm nổi bật tính chất của phong trào yêu nước cũng như nguyên nhân

thất bại của cuộc kháng chiến. Với kiến văn rộng rãi, sâu sắc của nhà sử học,

Nguyễn Văn Xuân lần lượt dựng truyện từ cái chết của Tổng đốc Hoàng Diệu tử thủ

thành Hà Nội năm 1882; cái chết của hai lãnh tụ “Nghĩa Hội” Nguyễn Duy Hiệu và

Phan Bá Phiến năm 1887; đến cái chết của Thái Phiên, Trần Cao Vân trong cuộc

khởi nghĩa 3/5/1916. Trong cuộc đối đầu lịch sử giữa một bên là thực dân Pháp với

“tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ” và nhân dân ta chỉ có một tấm lòng yêu nước nồng

nàn, sâu sắc thì những cư dân Quảng Nam đã tỏ rõ ý chí quyết tử để bảo vệ đất đai

đã gầy dựng khó nhọc trong quá trình Nam tiến. Điều này không chỉ thể hiện ở tầng

lớp sĩ phu mà cả những người dân chân lấm tay bùn, những người lính vô danh.

Trong Cái giỏ, chàng thanh niên tên Bốn quyết tâm bày binh bố trận để chặt được

đầu thằng Tây dâng lên thủ lĩnh Nghĩa Hội như một điều kiện gia nhập tổ chức. Và

những người lính có tên, không tên trong Nghĩa Hội đã kiên cường chiến đấu trước

sự bố ráp của kẻ thù như một minh chứng về lòng yêu nước. Ta cũng xúc động

trước nghĩa cử của Viên đội hầu tuẫn tiết theo Hoàng Diệu khi thành đã mất. Nếu

thuở xưa cư dân Quảng Nam đã cứng cỏi đối đầu với thiên nhiên khắc nghiệt, với

bao thế lực thù địch để bám trụ ở vùng đất này thì giờ đây họ đã lấy tính mạng của

mình để bảo vệ nó. Trong cuộc đụng độ lịch sử của Quảng Nam với thực dân Pháp,

nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã kịp ghi nhận nét đẹp trong nhân cách con người

Quảng Nam: hy sinh vô điều kiện cho Tổ quốc. Câu nói khẳng khái của Nguyễn

Duy Hiệu trước nghĩa quân “tồn ngô đảng, tha nhật hữu thành ngô chí giả, ngô

sanh giả” (Bảo vệ được Đảng ta, ngày kia có kẻ hoàn thành chí của ta thì đó cũng

tức như ta sống vậy) đã thể hiện lý lẽ của sự hy sinh: vì cuộc chiến đấu ở ngày mai.

Viết về thời kì này, nhà văn muốn “vẽ lại trung thành cái nhìn lịch sử của dân

chúng, của những diễn viên hoặc khán giả của chính lịch sử ấy mà tự họ đã để thực

tế, sự kiện lùi dần nhường chỗ cho huyền thoại lan ra” [63, tr.238]. Điều đó nói lên

phần nào sự phản ánh rất trung thực của nhà văn đối với các sự kiện lịch sử, nhân

vật lịch sử. Cuộc đụng độ thứ hai với tên đế quốc sừng sỏ thế giới vào năm 1965

cũng diễn ra ở Quảng Nam. Lần này, Nguyễn Văn Xuân không phải nghe kể mà

ông tận mắt chứng kiến thủ đoạn tàn ác của đế quốc Mỹ. Nhà văn không có những

tác phẩm độc đáo như Nguyên Ngọc viết về cuộc chiến đấu chống Mỹ của đồng bào

Tây nguyên, ông như một người quan sát kín đáo, thâm trầm ghi nhận ngay sự khác

biệt của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ đang ráo riết áp dụng ở miền Nam Việt Nam so

với chủ nghĩa thực dân cũ: đẩy mạnh xâm lăng văn hóa. Ngoài những cơ quan văn

hóa phản động được thành lập để lôi kéo văn nghệ sĩ, thanh niên, học sinh thì những

phim ảnh, sách báo, băng đĩa,…. suy đồi được du nhập từ phương Tây đã phục vụ

đắc lực cho chính sách văn hóa thực dân mới của chúng. Lối sống “hiện sinh” thác

loạn theo kiểu Mỹ đã làm băng hoại đạo đức, thuần phong mỹ tục, làm vẩn đục tâm

hồn của thế hệ trẻ chỉ biết có hưởng thụ hôm nay mà không biết đến ngày mai. Với

ngòi bút tỉnh táo, Nguyễn Văn Xuân đã chỉ ra rằng cuộc đấu tranh chống đế quốc

Mỹ là cuộc chiến tranh toàn diện, bao quát nhiều lĩnh vực: quân sự, kinh tế, chính

trị, văn hóa .… Và như vậy nhân dân đang đứng trước thử thách đầy gian truân

trong hành trình giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

Ngoài ra, những tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân còn mở ra cho người đọc thấy

cả một kho tư liệu dồi dào về lịch sử hình thành những đồn điền, lịch sử làm giàu

của giai cấp tư sản chính quốc, đời sống giai cấp công nhân Việt Nam trong các đồn

điền. Qua đó, người đọc phần nào am hiểu chính sách khai thác thuộc địa của thực

dân Pháp. Thông qua câu chuyện sinh động về chuyến đi “lập nghiệp” của chàng

trai 16 tuổi, người đọc như thấy được sự chuyển biến mạnh mẽ của xã hội Việt Nam

những năm đầu thế kỷ XX với sự hình thành nhiều giai tầng mới trong xã hội. Nếu

Nguyễn Ái Quốc viết Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) bằng hình thức tác phẩm

văn chính luận thì Nguyễn Văn Xuân, với Bão rừng, đã viết “Bản án chế độ thực

dân Pháp” bằng hình thức tiểu thuyết đầy chất hiện thực.

Một mảng hiện thực khác, tác động không nhỏ đến đời sống vật chất, tinh thần

của nhân dân ta thời Pháp thuộc cũng được đề cập đến trong sáng tác của Nguyễn

Văn Xuân: “mộ lính tình nguyện”. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -

1918) và thứ hai (1939 - 1944), thực dân Pháp đã ném vào chiến trường ở miền Bắc

nước Pháp không biết bao nhiêu “lính tình nguyện” đã “mộ” được ở các thuộc địa.

Những người lính tình nguyện Việt Nam này không phải chiến đấu vì quê hương xứ

sở của mình, họ phải làm bia đỡ đạn cho thực dân Pháp ở những xứ sở xa xôi, có

khi tận Châu Phi. Nguyễn Văn Xuân đã mạnh dạn vạch trần thủ đọan “mị dân” bằng

những danh từ hoa mỹ của bọn thực dân Pháp, phơi bày sự thật về những “lò thiêu”

người, nạn kỳ thị chủng tộc đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trên những xứ sở văn

minh” (Một cuộc tấn công ). Người dân Việt Nam chẳng những phải bỏ mạng trong

những cuộc chiến tranh phi lý tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc mà họ còn bỏ mạng

trong những “nhà tù tập thể” mà phần lớn những tù nhân không bao giờ biết vì sao

mình phải đi tù. Đó là hệ quả của chính sách thuộc địa “nhà tù nhiều hơn trường

học” tàn độc phi nhân của những tên “mắt xanh mũi lỏ” (chạy đua với tử thần).

“Trò chơi” lùa hàng trăm tù nhân vô tội xuống tăng - xê để bắn đồng loạt hay bắn

tỉa từng người khi họ đang “chạy đua” giành lấy mạng sống…….. quả là những trò

chơi chết người mà chỉ có những bọn mang danh “khai hóa” mới nghĩ ra. Với giọng

văn điềm đạm, mực thước của một nhà sử học, Nguyễn Văn Xuân cũng không giấu

được vẻ ghê tởm, căm phẫn lẫn xót xa, uất ức mà những người dân ở những nước

thuộc địa nhỏ bé phải chịu đựng.

Một lần nữa vùng đất “xương xẩu” của Nguyễn Văn Xuân lại chứng kiến một

sự kiện lịch sử quan trọng: hiệp định Giơnevơ 1954, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm

lược của thực dân Pháp ở Việt Nam. Sự kiện năm 1954 tác động mạnh mẽ đến tình

hình chính trị xã hội ở hai miền Nam - Bắc mà vùng đất Quảng chịu nhiều ảnh

hưởng nặng nề ở thời kỳ thực thi hiệp định. Theo sử sách, thực thi hiệp định

Giơnevơ là hai bên ngừng bắn, tập kết, chuyển quân và chuyển giao khu vực; lấy vĩ

tuyến 17 (dọc sông Bến Hải) làm giới tuyến quân sự tạm thời cùng với một số khu

phi quân sự ở hai bên giới tuyến. Nhưng sau đó, thực dân Pháp đã có hành động

phá hoại hiệp định Giơnevơ, còn Mỹ thì thực hiện ý đồ đã vạch ra từ trước nhằm

độc chiếm miền Nam Việt Nam, tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương. Mỹ đã đưa

Ngô Đình Diệm về Sài Gòn để thay Bửu Lộc (người của Pháp) làm thủ tướng bù

nhìn ở miền Nam Việt Nam. Sự kiện lịch sử này đã đi vào sáng tác của nhà văn qua

truyện ngắn Cây đa đồn cũ đầy tính thời sự. Trong tác phẩm, Nguyễn Văn Xuân đã

ghi lại thời kỳ kinh hoàng, vô chính phủ sau hiệp định Giơnevơ, khi quân đội cộng

sản rút đi, xã hội chưa kịp ổn định, gần như người ta tha hồ chém giết thanh toán lẫn

nhau. Còn bọn tư sản, địa chủ thì mừng rơn. Chúng tha hồ hút xách, ăn chơi thả

giàn, chẳng cần lo lắng gì nữa (Buổi tắm tất niên).

Như vậy, điểm qua số lượng tác phẩm có giới hạn của Nguyễn Văn Xuân,

người đọc ngạc nhiên vì tầm phản ánh hiện thực lớn lao của nó. Hầu như nhà văn đã

đề cập đến tất cả các sự kiện trọng đại có liên quan đến vùng đất Quảng Nam trong

một giai đoạn lịch sử đặc biệt: từ khi thực dân Pháp xâm lược đến khi rút khỏi Việt

Nam, Mỹ nhảy vào độc chiếm miền Nam. Những vui buồn trong cảm xúc của một

tâm hồn văn chương nặng nợ với đời, kết hợp với sự phân tích hiện thực tỉnh táo

của một nhà sử học đã làm nên giá trị đặc biệt trong sáng tác của Nguyễn Văn

Xuân. Có sự kiện nhà văn phản ánh qua nhiều truyện ngắn (những cái chết oanh liệt

của sĩ phu và nhân dân yêu nước chống Pháp) có sự kiện nhà văn chỉ phản ánh qua

một truyện ngắn độ 8 - 9 trang (Buổi tắm tất niên). Nhưng không vì số lượng trang

viết nhiều hay ít mà giá trị tác phẩm hạn hẹp. Nếu đối với con người, sự thọ yểu

không tính bằng tuổi tác mà bằng những gì để lại mãi mãi cho đời thì cũng có thể

nói như thế về những truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân. Sự thọ yểu của nó không

phụ thuộc vào dung lượng mà tùy thuộc vào nội dung phản ánh hiện thực, ý nghĩa

xã hội nhân văn mà nó đặt ra.

2.1.3 Vùng đất của sự tiếp biến văn hóa

Văn hóa là gì ?

Tại hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì ở Mexico (từ 26/7/1982-6/8/1982) đã

định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét

riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã

hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương,

những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị,

những tập tục và những tín ngưỡng; văn hóa đem lại cho con người khả năng suy

xét về bản thân” [62, tr.24].

Định nghĩa của UNESCO cho thấy văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng

biệt mà là một tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người

sáng tạo. Và văn hóa là chìa khóa của sự phát triển.

Theo Phạm Văn Đồng: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong

phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên

quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm

nên lịch sử” [62, tr.21]. Còn Trần Ngọc Thêm trong công trình Tìm về bản sắc văn

hóa Việt Nam đã viết: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất tinh

thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự

tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [53, tr.99].

Theo các định nghĩa trên thì các giá trị văn hóa bao giờ cũng hình thành trong

một quá trình, được tích lũy qua nhiều thế hệ và có tính lịch sử. Tính lịch sử của văn

hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa, tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc. Trên

thế giới có nhiều nền văn hóa có bản sắc riêng, trong một cộng đồng dân tộc ngoài

truyền thống văn hóa chung thì có những đặc sắc văn hóa riêng của từng vùng góp

phần làm nên vẻ phong phú độc đáo của văn hóa dân tộc. Học hỏi những tinh hoa

văn hóa của người để làm giàu đời sống văn hóa của ta là nhu cầu tất yếu trong quá

trình phát triển của một cộng đồng. Hành trình mở cõi của Quảng Nam đã gắn liền

với hành trình giao thoa, tiếp biến văn hóa như thế. Quá trình này chẳng những diễn

ra trong cộng đồng dân tộc: Bắc - Nam mà còn diễn ra giữa các dân tộc: Việt -

Chiêm Thành, Ấn Độ, Trung Quốc….Và dấu ấn của nó in sâu trong văn hóa vật thể

và phi vật thể của Quảng Nam. Chúng ta có thể tìm thấy điều đó trong đời sống

hàng ngày của cư dân Quảng Nam hay khi nó đã thăng hoa trong ngòi bút của các

nhà văn, nhà thơ, nhất là khi đọc sáng tác của một nhà “Quảng Nam học” như

Nguyễn Văn Xuân.

Nếu xét ở khía cạnh văn hóa vật chất thì trong những sáng tác của Nguyễn Văn

Xuân ta thấy có sự tiếp nối trong việc định cư thành làng xóm cũng như trong đời

sống lao động sản xuất của những cư dân “Bắc địa tùng vương”. Khi những cư dân

Bắc hà di dân theo Công chúa Huyền Trân, theo Lê Thánh Tông hay là dân xứ

Nghệ bị bắt trong chiến tranh Trịnh - Nguyễn…..Dù tự nguyện hay bị cưỡng chế,

khi ra đi ít nhiều họ cũng “gánh theo tên làng, tên xã trong những chuyến di dân”.

Do tính chất di dân là để mở mang vùng đất mới và do điều kiện thiên nhiên, khí

hậu khắc nghiệt lại luôn phải đối phó với sự quấy nhiễu của người Chăm nên những

lưu dân đã sống thành làng - đơn vị hành chính đã có ngoài xứ Bắc. Đặc biệt rất

nhiều làng xã ở Quảng Nam đã được hình thành sau khi nhà Lê đại thắng Trà Bàn

vào mùa xuân 1971. Phủ biên tạp lục của Lê Qúy Đôn cho biết, theo sự chia đặt,

ghi chép của họ Nguyễn thì đến thế kỷ XVIII, xứ Quảng Nam quản 2 phủ, 11

huyện, với tất cả 779 trang, thôn, phường “Làng xã dựng lên nhiều, cư dân tập

trung đông đúc, đất đai canh tác mở rộng, các ngành kinh tế công thương đều phát

triển. Quảng Nam trở thành miền đất hứa, là hấp lực đối với nhiều dân nghèo ở

Thanh - Nghệ bỏ quê trốn vào đây cư trú làm ăn” [43, tr.111]. Như vậy, những di

dân này vẫn giữ nếp sống “làng, xã, thôn” đã có từ ngoài Bắc như một sự ổn định

trong đời sống sinh hoạt. Theo bước chân lưu dân thì những nghề: trồng lúa nước,

mộc, rèn,…..cũng tiếp tục phát huy thế mạnh ở vùng đất Quảng Nam. Những kiến

trúc nhà ở được chạm trổ hoa văn khéo léo “nhà ngói lớn cột mít, phên lựa bằng gõ,

kèo chạm láng bóng[…] những cây cột, những rui mè đẹp đẽ” [63, tr.242] mà người

dân ở Tam Kỳ đã đốt bỏ để rút lui vào núi theo Nghĩa Hội là những kiểu kiến trúc

chạm khắc của thợ Kim Bồng có “Tổ tiên nghề Kim Bồng vốn từ đồng bằng Bắc

Bộ” [43, tr.388]. Còn thợ thi công chạm khắc những kiểu nhà ở thôn Văn Hà, huyện

Tam Kỳ “cũng có nguồn gốc các làng nghề mộc từ ngoài Bắc vào” [43, tr.388].

Do tính chất của thiên nhiên, khí hậu, đời sống xã hội có nhiều thay đổi nên đời

sống vật chất đã có sẵn hàng nghìn năm trong xã hội Bắc hà giờ đây phải có những

thay đổi để phù hợp tình hình mới. Ngay từ đầu mới thành lập, những làng xã của

Quảng Nam không thuộc một tộc, họ như ngoài Bắc. Nó gồm nhiều tộc họ bởi đó là

vùng đất của sự cộng cư. Đó là những xóm nhà được mọc lên như một sự ngẫu

nhiên có tính tất yếu trên bước đường tha phương cầu thực “ngày kia, cạnh bờ khe

bên lối đi nhỏ bỗng hiện ra một cái xóm” [63, tr.421]. Và mấy mươi nóc nhà ấy đã

mưu sinh bằng đủ mọi nghề trước khi họ phiêu dạt đến đây: mò tôm, bắt cá, buôn

gánh, bán bưng, đan rổ thúng, làm ruộng, làm thuê….. Những lưu dân trên vùng đất

Quảng Nam vẫn tiếp tục sinh sống bằng nghề nông, đồng thời cũng có nhiều nghề

mới xuất hiện như một sự phủ định tư duy thuần nông nghiệp. Trong các sáng tác

của Nguyễn Văn Xuân, ta thấy rất nhiều ngành nghề mà trước đây có thể chưa có,

nếu có thì chỉ là nghề tay trái: từ nghề đúc chiêng đồng bán cho người Thượng đến

nghề chài lưới ở một vùng có bờ biển dài 150km, nghề đóng ghe bầu,….Đặc biệt là

tư duy thương nghiệp phát triển qua việc một số cư dân tách hẳn các nghề cũ để làm

nghề buôn bán, trao đổi hàng hóa từ nơi này đến nơi khác. Việc xuất hiện những

ngành nghề mới này chứng tỏ người Việt trong quá trình cộng cư với người Chiêm

đã nhanh chóng học được những tinh hoa của nền văn hóa bản địa từng có thời kỳ

phát triển rực rỡ. Một số bài nghiên cứu đã cho biết: “cách đây 5000 - 6000 năm cư

dân bản địa đã tiếp xúc, quen thuộc với sản vật biển. Họ đã sử dụng chúng làm thức

ăn […] Quảng Nam còn có những sản vật biển cũng nổi tiếng không kém. Đó là yến

sào, bào ngư, vi cước cá, da cá, đồi mồi, san hô, xà cừ,….một số đã dược chú ý khai

thác từ thời Chămpa và sau này được tiếp nối ở cư dân Việt” [43, tr.410]. Ngoài ra

“người Chiêm Thành nắm rất rõ thời vụ và đã tiến hành khai thác yến oa (yến sào)

ở các đảo ngoài khơi biển Đông. Đồi mồi, san hô của Lâm Ấp cũng được ghi trong

danh mục các mặt hàng xuất khẩu, cống nộp từ thế kỷ VIII - IX” [43, tr.410]. Việc

thích nghi với môi trường biển đã hình thành nên các nghề chuyên khai thác, đánh

bắt hải sản. Bước đầu nghề này mang tính giản đơn, thô sơ sau tiến lên qui mô kỹ

thuật. Lê Quí Đôn trong Phủ biên tạp lục cho biết: “các chúa Nguyễn đã lập nên

đội Hoàng Sa để thu lượm ốc, đồi mồi, xà cừ, hải ba ở vùng đảo Hoàng Sa, Côn

Đảo….” [43, tr.411]. Như vậy, người Việt chẳng những học nghề biển của người

Chiêm Thành mà còn phát triển thành một ngành nghề có qui mô rộng lớn. Trong

sáng tác của Nguyễn Văn Xuân cuộc sống của những lưu dân - giờ đã thành ngư

dân - có khi tổ chức thành từng đoàn thuyền đánh bắt với số lượng lớn cá ngoài biển

khơi (Ngày cuối năm trên đảo), có khi chỉ là ghe thuyền đánh cá của một số người

sống gần biển xem đó là một nghề để mưu sinh (Cây đa đồn cũ, Dịch cát, Xóm

mới). Dù mức độ nhiều, ít khác nhau nhưng khi nhắc đến những ngư dân với nghề

sông nước nhà văn đem đến cho người đọc về hình ảnh một cuộc sống tuy gian lao,

vất vả nhưng nhộn nhịp, căng tràn sức sống. Trong lúc đau đớn nhất, chị Sinh (Dịch

cát) đã nhớ đến những ngày hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ tuổi “những buổi mặt

trời chưa dậy, chồng đã lên ghe nghề để ra biển, buổi chiều chị cùng bạn bè tới tấp

đón ghe về. Nhớ ngày giỗ tết bên nhà chị, hai vợ chồng trở về với rổ cá ngon lành”

[63, tr.409]. Rồi những bạn ghe chài mặc cho nước lụt đục ngầu, đổ xuống như thác

réo suốt đêm dưới sông, họ đã mang đồ nghề chuẩn bị kéo những con cá trôi “lớn

nhất” “béo nhất” từ nguồn trôi về, có con “bằng ống chân, vảy lớn, mình bạc trắng”

[63, tr.365]. Qua những trang viết của mình, nhà văn đã truyền đến người đọc cái

cảm giác hả hê khi những đoàn thuyền đánh bắt trở về với cá nặng, lưới đầy “thú vị

nhất là cảnh ghe cá về trên sông. Những chiếc ghe bằng gỗ dài thườn thượt, chỉ

chứa toàn rổ cá tươi” [63, tr.427]. Đó là cái cảm giác chỉ có ở những người gắn bó

với cuộc sống của quê hương xứ sở bằng tình yêu máu thịt.

Nhiều ngành nghề đã có từ trước vẫn tiếp tục phát triển trong một cộng đồng xã

hội mới: nghề đúc đồng, làm đường, sản xuất thuốc lá, đan ghe......Một số nhà

nghiên cứu cho rằng công cụ, vũ khí bằng đồng ở Quảng Nam là một chứng tích

cho mối quan hệ giữa hai trung tâm văn hóa Đông Sơn - Sa Huỳnh. Ở đây, chúng

tôi không đi sâu vào tìm hiểu mối quan hệ này, mà ta chỉ biết đồ đồng, nghề đúc

đồng có thể là một trong “những tác động vật chất đến từ Đông Sơn đã đẩy cơ tầng

kinh tế - xã hội của cư dân Sa Huỳnh lên một tầm cao mới” [43, tr.325]. Và khi đến

Quảng Nam, những lưu dân đã tiếp tục nghề đúc đồng với việc chế tạo ra những

công cụ mới đáp ứng việc mưu sinh: làm ra những cái chiêng, phèng la….bán cho

người Thượng. Có hẳn một làng sinh sống bằng nghề đúc đồng. Khi nghe tiếng

chiêng, tiếng phèng la ở Ninh Hòa, chàng thanh niên Nguyễn Văn Xuân đã nhớ: “ở

quê tôi, sát bên làng là một làng chuyên nghề đúc đồng” [63, tr.26]. Làng P.K mà

ông Tú Bình sẽ về thọ tử hình cũng là “làng đúc, chuyên đúc những nhạc khí để bán

cho dân Thượng” [63, tr.309]. Sáng nào người ta cũng nghe thấy tiếng chiêng, tiếng

phèng la vang vọng từ làng này đến những làng khác. Những âm thanh ấy được nhà

văn gọi trang trọng: “Tiếng Đồng”. Đó là một cái làng có thật: Phước Kiều, nằm

giữa La Qua và Thanh Chiêm. Với trí tuệ, bàn tay tài hoa của cư dân Quảng Nam,

họ không chỉ tạo ra những cái chiêng, phèng la mà họ đã tạo ra những nhạc cụ “đối

với người Thượng, nó không chỉ thuộc về nghi lễ mà còn thuộc về âm nhạc nữa”

[63, tr.471]. Ngoài ra, cư dân Quảng Nam còn phát triển những ngành nghề khác

như trồng mía, trồng thuốc lá, trồng khoai lang….tạo ra những sản vật nổi tiếng.

Chẳng biết từ lúc nào, Quảng Nam đã có câu ca dao:

“Tiếng đồn con gái Quảng Đà

Mất mùa thuốc lá chết ba ngàn người” [43, tr.497].

Câu ca dao phần nào nói lên “đặc sản” của xứ Quảng, nổi tiếng nhất là thuốc lá

Cẩm Lệ. Với nghề trồng mía, người dân xứ Quảng đã tạo ra những thỏi đường đen

ngọt gay ngọt gắt như một dư vị riêng của Quảng Nam mà trước khi về thế giới bên

kia bác Liễn đã ao ước được ăn “một cục đường”. Và bác “cầm mẩu đường, run run

đưa vào mồm” [63, tr.113]. Cũng như vậy, nhân vật Liễn trước giờ Chạy đua với tử

thần đã nghĩ: “giá có ai đem vào đây một tán đường đen! Trước kia, Liễn không

bao giờ tưởng tượng mình có thể nhai được cái thứ đường của tỉnh nhà mình “đen

như cứt trâu” [63, tr.496]. Liễn “thèm” đường đến độ anh “ước gì cái đầu của một

người bạn tù biến thành một cục đường đen”. Chỉ nghĩ đến đó thôi mà “Liễn nghe

ở kẽ răng túa ra nước dãi thèm thuồng” [63, tr.479].

Như vậy, văn hóa vật thể Quảng Nam không chỉ đặc trưng trong văn hóa cư

trú, văn hóa ngành nghề mà còn ở văn hóa ẩm thực. Và bề dày văn hoá ấy đã hiển

hiện qua những trang viết của Nguyễn Văn Xuân. Cuộc sống và con người xứ

Quảng là một phần trong kết cấu văn hoá của vùng đất này. Nó là những chắt lọc

tinh tế nhà văn đã dày công gợi gạn từ bộn bề hiện thực của cuộc sống. Ở đây vừa

có sự nối tiếp những ngành nghề trong đời sống xã hội Bắc hà vừa có những ngành

nghề mới học được từ người Chiêm Thành. Bằng tài hoa, trí tuệ, sự cần mẫn, những

cư dân Quảng Nam đã làm cho những ngành nghề mưu sinh ngày một phát triển.

Qua đó thể hiện rõ sự giao lưu, tiếp biến văn hóa Bắc - Nam, Việt - Chăm.

Sự tiếp biến văn hóa không chỉ thể hiện trong đời sống văn hóa vật chất mà

còn thể hiện trong đời sống văn hóa tinh thần. Điều này hiện rõ qua cách ứng xử của

con người với tự nhiên, với con người; cách ứng xử đối với thế giới hiện hữu cũng

như với thế giới chỉ tồn tại trong tâm linh, trong trí tưởng tượng. Đối với sông nước

thẳm sâu, dữ dội, cư dân Quảng Nam đã thành tâm cầu khấn, lễ bái lực lượng thần

bí như luôn tồn tại trong đời sống chung quanh họ. Những tín ngưỡng này nảy sinh

trên cơ sở một nghề mới hình thành: nghề đi biển. “Với ngư dân Quảng Nam mối

quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, con người và thánh thần là mối

quan hệ ba chiều Thần - Người - Biển” [43, tr.426]. Thế giới người đã khuất là

những Tiền hiền có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của họ. Ngoài ra, họ

còn thờ cúng cá ông - thần Nam Hải - thờ rất nhiều “âm linh” khác. Vì vậy, khi về

làm dâu xứ đảo, Nguyện (Ngày cuối năm trên đảo) đã thấy trong làng quanh năm

toàn chuyện cúng tế quỷ thần và đâu đâu cũng có miếu thờ những Ngài mà người ở

bên kia bờ biển không ai rõ lắm. Để chuẩn bị công việc làm ăn cho một năm mới,

sau khi làm lễ đầu năm trong nhà xong, dân chài dẫn nhau đi cúng ra mắt ghe. Tác

giả đã miêu tả: “lễ cúng chỉ có mâm xôi, mươi con gà luộc, chuối và rất nhiều đồ

mã [….]ông Hương khấn vái rất lâu các vị thần linh của trời của đất, Hà Bá, Thủy

quan, chúa Tiên Huyền nữ, các vị Ngũ hành, bà Mộc, bà Hỏa…..” [26, tr.1084].

Văn hóa phi vật thể còn thể hiện ở tinh thần “tam giáo đồng nguyên”, một

điểm đặc biệt trong đời sống tinh thần của cư dân Quảng Nam. Vốn là những cư

dân trong xã hội Bắc hà, một nơi mà ảnh hưởng của Nho giáo rất đậm nét, những

lưu dân Quảng Nam vẫn hướng về Nho giáo trong quan hệ, ứng xử (dù việc di dân

đến vùng đất Quảng Nam có một số thành phần cư dân đã “cãi lại”tinh thần của

Nho giáo). Đạo Khổng - Mạnh vẫn còn duy trì rõ rệt trong tinh thần của những sĩ

phu Cần Vương: phò vua Duy Tân, cứu nước. Đạo Phật vốn đã có ở vùng đất

Chiêm Thành qua chứng tích khai quật Đồng Dương, một trong những di tích quan

trọng vào bậc nhất và cũng đặc biệt nhất của Chămpa (Đồng Dương chính là đô

thành Indrapura của vương triều Chămpa thứ IV do vua Indrapurarman II sáng lập

vào năm 875). Trong số “229 hiện vật phát hiện ở khu di tích Đồng Dương thì trong

đó có pho tượng Phật bằng đồng nổi tiếng cao hơn một mét” [43, tr.353]. Tượng

Phật này cũng như các tượng Phật cùng kiểu khác được tìm thấy ở Đông Nam Á

(Thái Lan, Inđônêxia, Ăngkor….) đều mang phong cách tượng phật Amaravâri của

Ấn Độ. Như vậy, đạo Phật đã du nhập vào Chiêm Thành trong thời đại đất nước này

còn phát triển rực rỡ. Khi người Việt vào cộng cư với người Chiêm thì tinh thần

“thương người như thể thương thân” trong truyền thống đạo lý, tư tưởng Phật giáo

thời Lý - Trần của dân tộc Việt gặp tinh thần Phật giáo của Chiêm Thành. Thế nên

cư dân của hai dân tộc có thể cùng chung tín ngưỡng một cách dễ dàng. Thờ Phật

tồn tại trong đời sống tâm linh của người Quảng Nam một cách tự nhiên như vốn đã

có. Khi con voi điên tấn công, mụ La vừa chạy lấy súng vừa khóc và luôn miệng

“lạy trời phật! Phật độ cho tai qua nạn khỏi, con xin làm đình làm chùa….”

[63, tr.173]. Có thể thấy tinh thần phật giáo trong vẻ ung dung mà trang trọng của

ông Tú Bình. Trước lúc ra pháp trường, ông đã đến bái lạy ở ngôi chùa trong làng

Phước Kiều để “vị tăng già gõ một hồi chuông mõ, đọc một bài kinh siêu độ” [63,

tr.321]. Đất Quảng Nam có mặt hướng ra biển nên song song với việc phát triển

giao thương buôn bán với người nước ngoài thì một tôn giáo mới cũng giao lưu với

vùng đất này: Thiên chúa giáo. Gần như toàn bộ dân cư ở làng Phước Kiều đều theo

công giáo. Đặc biệt hơn “có đình và cả chùa nữa dựng không xa giáo đường bao

nhiêu” [63, tr.47]. Đình thờ Tiền hiền, thờ các vị quan có công khai phá đất đai,

chùa thờ Phật, giáo đường thờ chúa Giêsu. Rõ ràng tinh thần tôn giáo ở vùng đất

này không chấp nê, không cứng nhắc mà tồn tại “hòa hợp” như chính đời sống cộng

cư của những lưu dân Quảng Nam vậy.

Đất Quảng Nam còn là vùng đất học với tinh thần của “Ngũ phụng tề phi”,

“Tứ hổ”. Nhưng qua việc học hành, thi cử của người Quảng Nam, nhà văn Nguyễn

Văn Xuân cũng mở cho người đọc thấy một kiểu ứng xử khác của những người có

học. Dù việc học hành của họ có chậm hơn cư dân xứ Bắc vì phải vật lộn với thiên

nhiên khắc nghiệt, với các thế lực thù địch trong buổi đầu mở cõi, nhưng do truyền

thống hiếu học lại thêm “núi sông thanh tú nên nhiều người có tư chất thông minh”

[43, tr.242]. Theo tổng kết của Tiến sĩ Ngô Văn Minh trong hội thảo về Quảng

Nam: “Quảng Nam không chỉ là vùng đất học đứng đầu Nam châu (các tỉnh phía

nam đèo Hải Vân) mà còn vượt lên trên hàng chục tỉnh có truyền thống Nho học ở

phía Bắc” [43, tr.242]. Trí thức đất Quảng là những người ưu thời mẫn thế trước

hiện tình đất nước. Lãnh đạo phong trào Nghĩa Hội là tiến sĩ Trần Văn Dư, hoàng

giáp Phạm Như Xương, phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, cử nhân Phan Bá Phiến…..

Đặc biệt, khi viết Rồi máu lên hương nhà văn đã đề cập đến cuộc khởi nghĩa 1916,

những người lãnh đạo phong trào đó vừa có trí thức Nho học như Trần Cao Vân,

vừa có trí thức Tây học như Thái Phiên, Phan Thành Tài. Những trí thức này vận

dụng hiểu biết từ việc học một cách uyển chuyển linh hoạt cho phù hợp với tình

hình thực tế, không cứng nhắc, giáo điều. Tài hoa của người Quảng Nam không chỉ

thể hiện ở thành tích học tập mà quá trình cộng cư với người Chiêm, người Thượng

họ đã bộc lộ tâm hồn của những nghệ sĩ khi sáng tạo ra nhạc cụ cồng chiêng, phèng

la bán cho người Thượng. Bàn tay khéo léo cùng nghệ thuật thẩm âm đặc biệt đã thể

hiện sự nhạy cảm và tinh tế trong tâm hồn của những người có vẻ bề ngoài thô mộc

(Tiếng Đồng).

Vẫn còn nhiều “mảng” chưa vỡ vạc về sự tiếp biến văn hóa trên vùng đất

Quảng Nam. Dù sao qua những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân ta cũng hình dung

được sự tiếp biến này diễn ra ở cả hai mặt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.

Trên cơ sở truyền thống vốn có trong lòng xã hội Bắc hà, cư dân Quảng Nam đã

tiếp thu những yếu tố mới với tinh thần cầu tiến, học hỏi, dung hòa…. Mục tiêu

cuối cùng là làm cho đời sống vật chất, tinh thần của họ ngày càng phong phú hơn,

tốt đẹp hơn. Trong quá trình đó, cư dân Quảng Nam cũng tỏ rõ một bản lĩnh và tính

cách của xứ Quảng để hình thành bản sắc văn hóa riêng không trộn lẫn vào đâu

được.

2.2. Cảm hứng ca ngợi tính cách, phẩm chất con người Xứ Quảng

Tính cách của con người là một trong những năng lượng tinh thần nằm ở tầng

sâu nhất chi phối mọi hành vi của con người, tạo thành bản sắc riêng không lẫn vào

đâu được. Mỗi người sống trong cùng một điều kiện tự nhiên, địa lý, lịch sử, văn

hóa xã hội … ngoài những nét riêng hình thành bản sắc cá nhân thì đều có những

nét chung tạo thành bản sắc của một cộng đồng, thể hiện rõ nhất qua tính cách cộng

đồng đó. Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh đã khẳng định: “Tính cách dân tộc là một cấu

trúc tinh thần được định hình trong một quá trình lịch sử rất lâu dài hàng trăm

năm, thậm chí hàng ngàn năm, trên cơ sở những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội,

văn hóa nhất định, thay đổi rất chậm chạp trong sự vận động và phát triển”

[16, tr.591]. Trên cơ sở khẳng định ấy, giáo sư đã nói rõ thêm: “Tính cách là hệ

thống những phẩm chất, đặc điểm tồn tại khách quan, tất yếu, tạo thành một “hằng

số”; một nếp gấp, một “đường mòn”, một thiên hướng trong tư duy, trong cách

sống, trong ứng xử, hành động của con người, mà ta có thể bắt gặp ở số đông thành

viên hoặc ở nhân vật kiệt xuất của dân tộc, trong cuộc sống hàng ngày, cũng như

qua những lựa chọn có tính chất lịch sử, có ý nghĩa bước ngoặt đối với vận mệnh

của cả cộng đồng” [16, tr.591].

Tính cách người Quảng Nam vừa có những nét chung trong tính cách người

Việt mà vừa có những nét riêng của người xứ Quảng. Những nét chung và riêng ấy

hòa quyện lẫn nhau, để qua những con người ở một vùng đất cụ thể người đọc vẫn

thấy chiều sâu của tâm hồn và tính cách dân tộc. Có thể nói, tính cách con người

Quảng Nam được hình thành, xác định và phát triển phụ thuộc vào 3 yếu tố: có sự

nối tiếp tính cách người Việt trong cộng đồng di cư từ Bắc vào Nam; sự ảnh hưởng

của hoàn cảnh, điều kiện khách quan (môi trường tự nhiên, địa lý lịch sử, văn hóa

xã hội của vùng đất mới); do những nỗ lực bền bỉ và mạnh mẽ để sinh tồn. Chính

hai yếu tố sau cùng đã làm nên nét riêng trong tính cách người Quảng Nam. Đó là

những con người can trường dũng cảm kiếm sống trên vùng quê nghèo khó; những

con người yêu nước nồng nàn với ý thức trách nhiệm chính trị về đất đai của Tổ

quốc. Họ còn là những con người cứng cỏi, ngang tàng, bộc trực; cởi mở, nhạy bén

với cái mới. Và điều kỳ lạ hơn, họ cũng là những người đa cảm, đa tình (không chỉ

khô khan quyết liệt như nhiều người đã nghĩ). Tất cả những nét tính cách ấy đã hình

thành trong điều kiện sống khắc nghiệt “họ đã phải nghiến chặt hai hàm răng lại,

để tạo thành một sức mạnh cần thiết. Lâu dần, cái sức mạnh tinh thần ấy trở thành

khí chất của con người xứ Quảng” [43, tr.298]. Nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã viết

về khí chất của họ với lòng yêu mến, tự hào .

2.2.1. Cảm hứng ca ngợi những con người cần cù, dũng cảm kiếm sống,

sinh tồn trên vùng quê nghèo khó

Nói đến Quảng Nam là nói đến núi non trùng điệp, sông ngòi chằng chịt, đồng

bằng thì nhỏ bé và manh mún. Chẳng vậy mà người phụ nữ trong ca dao miền

Trung khi nghe chồng mình vào Xứ Quảng mưu sinh đã phải:

“ Dậm chưn xuống đất kêu trời!

Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra” ( Ca dao)

Câu ca dao trên phần nào giúp chúng ta hình dung về sự nghèo khó, kiếm sống

vất vả trên đất Quảng Nam. Nếu nhà văn Sơn Nam khai thác vùng đất cực Nam Tổ

quốc quen thuộc thì Nguyễn Văn Xuân gắn bó chặt chẽ với vùng quê Quảng Nam

thân thương của ông. Nhưng có một điều lạ, khi đọc những sáng tác của Nguyễn

Văn Xuân ta không thấy sự hả hê chinh phục thiên nhiên nghiệt ngã để mở đất, lập

làng: giết sấu, bẫy heo, diệt cọp, giăng câu, bắt ong,… của cư dân một vùng đất mới

như khi đọc “Hương rừng Cà Mau” của Sơn Nam. Đọc tác phẩm của Nguyễn Văn

Xuân ta chỉ thấy con người Quảng Nam luôn phải đối phó với thiên nhiên, tự vệ để

sinh tồn. Nơi đây, dường như cái chết luôn chực chờ, rình rập, de dọa mạng sống

của con người. Nào là rừng rậm âm u bí hiểm, cọp và voi có thể xuất hiện bất cứ lúc

nào. Đáng sợ hơn là những trận dịch. Có trận dịch có tên, có tuổi nhưng con người

đành bất lực xuôi tay về thế giới bên kia: bệnh sốt rét rừng. Bí hiểm hơn sốt rét

rừng, làm cho dân cư gần cả một làng phải “khai tử” là những trận dịch có tên kỳ lạ:

“Dịch Cát”. Rồi còn hàng trăm lực lượng thần bí từ cõi âm u xa xôi nhưng luôn ám

ảnh đời sống tâm linh của người dân Quảng Nam. Đến độ khi đang sống bình yên

họ cũng nơm nớp lo sợ, còn khi bất hạnh thì họ van vái bốn phương, tám hướng….

Như ta đã biết, những cuộc di dân lớn khiến cho thành phần cộng cư ở vùng

đất Quảng Nam trở nên đa dạng phức tạp. Tuy vậy, phần lớn họ là dân lao động xứ

Thanh - Nghệ cần cù, chịu thương, chịu khó và trong một tình thế bắt buộc nhiều

hơn là tự nguyện. Từ đó, “bám trụ” là tâm tư, ý chí, nỗi niềm của những cư dân này.

Năm thế kỷ đã đi qua nhưng không gian, thời gian buổi đầu khai phá đất Quảng

Nam vẫn phảng phất trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân. Đọc tiểu thuyết Bão

rừng, tập truyện Hương máu, Dịch cát, ta sẽ hình dung bước chân của những lưu

dân định cư trên vùng đất mới như thế nào? Cuộc sống đối mặt với biển và rừng đầy

cam go, nguy hiểm ra sao? “Phép màu” nào mà con người vẫn sinh tồn mạnh mẽ,

cứng cáp và trưởng thành hơn? Hàng loạt câu hỏi được Nguyễn Văn Xuân giải

quyết tài tình trong một dung lượng tác phẩm khiêm tốn: một tiểu thuyết 233 trang

và 17 truyện ngắn.

Gấp lại truyện ngắn Xóm mới của Nguyễn Văn Xuân, người đọc vẫn mường

tượng rõ ràng cuộc sống của những con người giữa bốn bề là cát. Chỉ có “cát mênh

mông”. Trên bước đường tha phương cầu thực những người từ tứ xứ như: anh

Phương, anh Tú, chị Củng, bà Quì, ông Phiến…. đã dừng chân ở “một khe rộng độ

bốn thước nương theo một động cát từ từ chảy ra sông” [63, tr.421]. Sự kiến tạo địa

hình này chứa đầy nguy hiểm trong dòng chảy của cát …. Nhưng họ có lý do để ở

lại “chỉ vì nơi đó có nhiều dương liễu và tre mà lại gần con sông, bến nước. Nó có

thể thuận tiện cho việc làm ăn mà cũng dễ tránh máy bay oanh tạc” [63, tr.421].

Nếu từ xưa ông bà ta rất quan trọng nơi định cư lập nghiệp với câu nói truyền

miệng: “cưới vợ đàn bà, cất nhà hướng Nam” thì dường như cư dân “Xóm mới”

này không có sự lựa chọn nơi “an cư”. Đã vậy, ít lâu sau, bên kia khe cát cũng lại

mọc thêm một “Xóm mới” mà trong mắt của những người bên này khe cho rằng:

“Bọn đó có ngày lăn tuốt xuống khe, trôi ra sông hết” [63, tr.437]. Dám “an cư” ở

một nơi như thế, những cư dân “Xóm mới” đã tỏ ra có sự “lựa chọn” dũng cảm để

sinh tồn. Và việc dừng chân đó chỉ là đoạn mở đầu cho cả quá trình cần cù lao

động, kiếm sống trên vùng đất khắc nghiệt. Cát mênh mông, để tồn tại họ đã làm đủ

thứ nghề: làm thuê ở các nỗng cát khác; mua tre về đan phên, thúng, rổ; chèo đò;

gánh mướn..….Họ đã “nhờ sức khỏe tốt và hoàn cảnh khó khăn nên họ trì chí, kiên

nhẫn học việc rất mau, chịu khổ rất dễ. Cả những việc chưa làm quen bao giờ như

mò hôi cá, bắt hôi tôm khi có thuyền chài đánh lưới hay gỡ chà” [63, tr.426]. Sự

chăm chỉ, cần cù của những người lao động kiếm sống trên vùng đất “cày lên sỏi

đá” này như là một thái độ ứng xử với thiên nhiên. Ta ngạc nhiên và thán phục sự

vất vả của những người lao động sông nước khi chứng kiến cảnh từng người trong

một gia đình thay phiên nhau gánh từng gánh cá nặng, chừng vài cây số họ đổi gánh

cho nhau. Quan trọng đối với họ là làm sao “chạy cá” đến chợ càng nhanh càng tốt.

Công việc nặng nhọc vất vả này cần sức lực của những “lực sĩ chạy ma-ra-tông”

[63, tr.428]. Vậy mà, khi vượt mấy cây số đến được chợ thứ nhất, nếu thấy chợ đã

đông “họ vùn vụt chạy luôn lên chợ thứ hai” [63, tr.428]. Người đọc hình dung một

cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi để duy trì sự tồn tại. Nhờ đôi chân dẻo dai, nhịp

chân đều, bước chân dài mà nghề này đã làm cho “xóm ngụ cư” có cuộc sống khá

giả hơn.

Cuộc sống trên cát, trên sông nước đã vậy, cuộc sống ở chốn rừng núi càng

gian nan không kém. Những người dân tộc Đê đã phải nhặt nhạnh từng hạt lúa, quả

trứng, trái bắp, quả bí, trái dưa…. từ công sức lao động ngày đêm của họ để đổi lấy

một dúm muối, một ít gạo mà duy trì sự sống. Đôi khi rừng cũng đãi họ sừng hươu,

mật ong…. nhưng đối với những người nghèo khổ quanh năm như họ thì đó là

những thứ xa xỉ, hoang phí. Thế nên họ lại chắt chiu của rừng đem đổi lấy những

vật dụng cần thiết cho cuộc sống hàng ngày (Bão rừng).

Là một nhà văn của một vùng đất nên Nguyễn Văn Xuân rất am hiểu về đất

Quảng Nam đầy khắc nghiệt. Điều đó được nhà văn phản ánh qua những trang viết

giàu chất hiện thực. Sông, biển, núi rừng trong các sáng tác của Nguyễn Văn Xuân

như một thế lực đối đầu với con người, muốn tồn tại phải là những người can

trường dũng cảm vật lộn với thiên nhiên để sinh tồn. Những cư dân Quảng Nam dù

sống trên những bãi cát mênh mông kéo dài đến tận chân trời hay trong chốn rừng

thẳm âm u chỉ có cọp gầm, khỉ hú….họ đều bộc lộ một bản lĩnh sống vững vàng.

Họ là những lưu dân ra đi mà không thể trở về nên trong tứ bề nguy hiểm gian khó

họ phải bới cát mà sống, vạch rừng mà tồn tại. May ra, trong tận cùng của cái chết,

họ sẽ tìm thấy sự sống. Với thiên nhiên, những cư dân Quảng Nam đã bất chấp

hiểm nguy, đem sinh mạng đánh cược với tử thần. Họ có thể cất nhà trên một bờ

khe, có thể dầm trong bão lụt, mưa lũ…..để tìm thêm cơ hội sống. Điều đó cho thấy

họ không chỉ ứng xử với thiên nhiên bằng thái độ bất chấp mà còn là đối đầu.

Không chỉ vậy, cư dân Quảng Nam luôn bị bọn thực dân thống trị, chúa đất o ép

bóc lột. Họ chỉ có thể lựa chọn: một là đổ gục xuống, đầu hàng số phận; hai là đứng

thẳng lên, sống tiếp. Những người đã “cãi lại” số phận từ trong xã hội phong kiến

Bắc hà mà ra đi thì tất nhiên họ chọn con đường đứng thẳng lên, sống tiếp. Ở Quảng

Nam, đồng bằng vốn đã ít, vùng đất tốt lại càng ít hơn. Với những phương thức

canh tác lạc hậu từ thời Chămpa làm cho đất đai bạc màu, hạt lúa có được phải đẫm

bao giọt mồ hôi. Đã vậy, bọn “chúa đất” thu gom những mảnh ruộng tốt, nông dân

chỉ làm công rẻ mạt, nai lưng chịu bao sưu cao thuế nặng. Nhưng những người nông

dân cương quyết phải sống nên họ bỏ đồng bằng mà đi. Rồi những bạn ghe chài tứ

xứ, không chịu được sự áp bức của chủ ghe cũng rời môi trường mưu sinh sông

nước. Có thể nói, trong bất cứ tình thế nào, con người Quảng Nam khi bị dồn vào

ngõ cụt, bị chẹn mất đường sống, họ cũng nghĩ ra cách để sống tiếp. Đôi khi hoàn

cảnh sống mới của họ cũng không khá gì hơn.

Bão rừng là một trong số ít những tác phẩm viết về đời sống của công nhân ở

một đồn điền cao su thời Pháp thuộc. Đó là cuộc sống của những người như cụ

Niên, anh Liếng, bác Liễn… đã rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình đến mưu

sinh trong đồn điền cà phê, nơi mà cái chết luôn chực chờ, đe dọa. Họ đến đây vì

nhiều nguyên do khác nhau, như cụ Niên tâm sự: “Vùng tôi nhiều ruộng, song hầu

hết là ruộng của nhà giàu. Tôi làm ruộng rẽ chia hai. Chủ chịu giống, còn phân tro

công cán, chúng tôi phải chịu. Ruộng xấu, phân tro nhiều, công đắp bờ, dọn bờ, cày

bừa, tát nước mò cỏ, cấy gặt….Kể như tính ra cho hết, so với công canh tác thì số

thâu chẳng thấm vào đâu” [63, tr.85]. Hay anh Liếng đã kể về nguyên cớ trở thành

công nhân của mình bằng giọng đầy căm phẫn: “Tôi đi ghe. Thằng chủ ghe đối với

bọn tôi xấu như chó. Nó sai bảo đủ việc, bắt phục dịch như trâu bò, khinh người

như cỏ rác” [63, tr.91]. Ngoài những mảnh đời điển hình trên còn biết bao mảnh đời

trôi dạt đến chốn núi rừng âm u này có thể còn thảm thương hơn. Hành động bỏ nơi

chôn nhau cắt rốn để làm công nhân ở đồn điền cà phê của bác Liễn, cụ Niên, anh

Liếng, anh Bộc…xét cho cùng chưa chắc họ tìm được một cuộc sống đỡ khổ hơn,

tươi sáng hơn. Nhưng đứng ở góc độ nào đó mà nhìn nhận thì việc ra đi tìm nơi

mới, việc mới của họ là một việc làm dũng cảm, “cãi lại” số phận. Họ bỏ ruộng

đồng, sông nước lên núi cao, rừng sâu, chứng tỏ rằng một khi họ không sống được

cách này, nghề này thì tìm cách sống khác, nghề khác. Chỉ những người kiên

cường, dám đương đầu với cuộc sống mới không buông xuôi cho số phận. Mạnh mẽ

hơn những người công nhân của đồn điền cà phê trong Bão rừng; nhân vật anh Năm

Cụt trong Cây đa đồn cũ đã có một cách kiếm sống mà người “bé gan”, “lưng mật”

không bao giờ dám nghĩ tới. Dù chỉ còn một cánh tay nhưng anh Năm Cụt đã nghĩ

cách kiếm cái ăn cái mặc từ trong sự hiểm nguy của cái chết. Khi đến mùa nước lũ,

mực nước sông dâng cao, cả những người sống bằng nghề sông nước cũng phải rút

dần lên những nơi gò đống để tránh cơn thịnh nộ của đất trời vì “suốt một đêm, trời

đất câm lặng, nhường tất cả vang động cho dòng nước với những tiếng đất lở ầm

ầm. Với tiếng mỏ, tiếng trống mơ hồ vẳng lên xa xa” [63, tr.365]. Đó là lúc anh

Năm Cụt làm những bè chuối về xuôi. Những chuyến về xuôi ấy là những chuyến

anh Năm phải đánh đu với thần chết. Nhưng anh bất chấp. Lúc đứng trên những bè

chuối trôi theo nước lũ, mạng con người còn thua giá trị của mạng một cây chuối.

Hình ảnh con người bị bom đạn chiến tranh cướp mất một cánh tay vụt trở nên lồng

lộng giữa sông nước, đất trời khi mà “sức lực của người, của trăm nghìn người, của

cả dân cư hai bên duyên giang họp hết lại nào có nghĩa lý gì đối với vật nặng trôi

theo tốc độ nhanh chóng phi thường của nước miền nguồn đang đổ xuống bể đông

do một ngày núi non ngập ứ? Mà sông không phải là bể. Bình thường, lòng bể dễ

dò, lòng sông đã khó, huống chi một ngày lụt lội; lòng sông cũng bí mật như không

biết bao nhiêu khối bờ sông bị lở đang di chuyển với cây gỗ đổ xuống từ rừng già”

[63, tr.369]. Cuối cùng, tất cả những hiểm nguy của sông nước trong mùa lũ lụt đã

lùi lại phía sau cho bè của anh Năm Cụt tiến về phía trước. Người chủ bè ấy đã xác

định “người cần phải vượt thắng” [63, tr.369]. Không dữ dội như anh Năm Cụt

nhưng cụ Niên cũng quyết liệt tìm con đường sống trong cái chết (Bão rừng). Biết

đồn điền cà phê là nơi đầy rẫy hiểm nguy, đâm đầu lên đồn điền chẳng khác nào

vào chỗ chết. Nhưng cụ Niên có cái lý riêng: “Thuế má nặng quá, dẫu ở nhà cũng

không ích gì ráng đi làm kiếm đồng tiền gởi về cho con nộp thuế có phải cứu đói

được cái mạng nó không? Tôi không dành dụm gửi về, thì chúng cũng tù rục

xương” [63, tr.89]. Như vậy, cụ Niên đã “xông vào chỗ chết” để sự sống của con

cháu được tiếp tục. Một thái độ sống, chết dũng cảm của những con người nặng

thâm tình.

Những con người lao động Quảng Nam đã chọn cách kiếm sống kiên cường,

đối đầu với hiểm nguy thì ngay cả khi hiểm nguy đủ sức vùi dập cuộc đời nhỏ bé

của họ thì họ vẫn vượt lên tất cả để sống tiếp. Trước cái chết họ luôn bình thản đón

nhận, thậm chí chuẩn bị trước cái chết của mình. Thật ra, không phải họ không cần

sống, nhưng nếu chết sau khi đã làm tất cả để sống, hay chết để cuộc sống được tiếp

tục, thì việc sẵn sàng trước cái chết cũng là một biểu hiện của những người sống

kiên cường, dũng cảm. Họ sống hôm nay nhưng đã chuẩn bị “hòm rương” cho cuộc

ra đi ngày mai hay bất cứ lúc nào mà ông trời đòi lại mạng sống. Thử hỏi có nơi nào

người đang khỏe mạnh, sống sờ sờ, làm ăn buôn bán náo nhiệt mà nhà nào cũng trữ

sẵn hòm săng, cót tre để chi dụng cho người chết? (Ngày cuối năm trên đảo) Hoặc

có những người sắp chết lại muốn cho mặt mũi mình tươm tất, sáng sủa hơn, dù

suốt đời họ sống trong tăm tối (Bão rừng). Những con người như ông Hương và bạn

ghe chài sống trên hòn đảo nhỏ giữa bồn bề sông nước, hay bác Liễn và những dân

phu đồn điền cà phê chốn núi rừng âm u đã “dọn sẵn” cái chết cho mình khiến

người đọc cảm phục thái độ dũng cảm của họ: chấp nhận sống và chấp nhận chết

như chấp nhận một sự thật. Có thể thiên nhiên khắc nghiệt đã tôi rèn cho họ lòng

gan dạ, nên ở đây không có chỗ cho nước mắt và khóc than. Chỉ có chỗ cho những

thái độ ứng xử dứt khoát, quyết liệt của những người có bản lĩnh. Trong truyện ngắn

Ngày cuối năm trên đảo, nhà văn đã cho người đọc thấy cuộc mưu sinh vất vả,

hiểm nguy giữa trùng vây sóng nước. Nơi ấy, hàng đêm ngoài tiếng ầm ào của sóng

biển còn có tiếng khóc của vợ mất chồng, con mất cha của “những người dân chài

sống hôm nay và không biết số mệnh ngày mai sẽ dẫn dắt tới đâu” [26, tr.1078].

Nhưng không vì thế mà sự sống ngưng trệ, họ không khủng khiếp với cái chết,

không lo lắng về cái chết mà “nhà giàu cũng như nghèo, người ta luôn luôn mua trữ

sẵn hòm săng hay những tấm cót tre để mỗi lúc có người nhà chết thì đem ra” [26,

tr.1078]. Có thể nói họ đã nhìn sự sống và cái chết như một quy luật không thể

cưỡng cầu. Với họ rất rõ ràng: còn sống là còn đấu tranh sinh tồn. Chẳng may

không thể sống tiếp thì cũng phải chết cho đàng hoàng. Còn trong Bão rừng nhân

vật bác Liễn trước khi chết đã bảo Liếng: “mượn con dao về tao cạo sơ qua mấy cái

râu này” [63, tr.114]. Thật ra, không phải bác Liễn làm “điếm” như nhận xét của

Liếng, mà bác Liễn hiểu rất rõ thần chết chỉ chờ bác sửa soạn xong là gặt mạnh lưỡi

hái tiễn bác lên đường. Có lẽ con người quanh năm suốt tháng vất vả với miếng

cơm manh áo, đau liệt giường không tiền thang thuốc, bộ dạng không ra người,

muốn mình “đàng hoàng” hơn khi sang thế giới bên kia. Đó là giây phút bác Liễn

chấp nhận làm cuộc ra đi vĩnh viễn sau nhiều cuộc ra đi để mưu sinh. Ta thương xót

họ nhưng cũng vô cùng khâm phục họ!

Tuy sự sống và cái chết của con người Quảng Nam trong những tác phẩm: Bão

rừng, Cây đa đồn cũ, ngày cuối năm trên đảo, Dịch cát, Xóm mới… không liên

quan trực tiếp đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, hy sinh vì dân vì nước, mà chỉ

liên quan đến cuộc đời, số phận cá nhân nhưng họ đã cho thấy một cách sống và

chết: sống ngẩng cao đầu, chết bình thản; sống không buông xuôi, không chấp nhận

số phận; chết để cho sự sống tiếp tục… Đó là gì? Nếu không muốn nói là ý nghĩa

cuộc đời của mỗi con người mà không phải ai cũng có thể làm được. Thái độ ứng

xử này là khí chất của người Quảng Nam được trui rèn từ hình sông, thế núi, từ

những cộng đồng dân cư mà phần lớn là những lưu dân không có con đường lựa

chọn nào khác ngoài con đường “bám trụ” để sinh tồn.

2.2.2. Cảm hứng ca ngợi những con người yêu nước nồng nàn có ý thức

trách nhiệm với Tổ quốc

Yêu nước và nhân đạo là hai giá trị truyền thống xuyên suốt, bao trùm các sáng

tác văn học từ xưa đến nay. Sự nhất quán và hệ thống đó được thể hiện từ văn học

dân gian đến văn học viết, từ văn học cổ cho đến văn học hiện đại. Đặc biệt là trong

những giai đoạn lịch sử, xã hội có nhiều biến động. Cuộc sống của một dân tộc

“lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa” đã trở thành đề tài, cảm hứng sáng tác của

những nhà văn, nhà thơ nặng tình đất nước. Văn học yêu nước cách mạng đô thị

miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 đã ra đời trong bối cảnh lịch sử dân tộc ta đang

đứng trước nhiều cam go thử thách, đối mặt với kẻ thù mạnh hơn ta về kinh tế,

nhiều hơn ta về khí tài, lắm mưu ma chước quỷ. Dù vậy, vượt qua bao trở ngại, văn

học yêu nước cách mạng đô thị miền Nam vẫn không ngừng phát triển trong dòng

chảy chung của văn học dân tộc. Và lịch sử đấu tranh giữ nước, những gương anh

hùng trung liệt từ thực tế cuộc chiến đấu máu lửa đã vọng vào văn học như một lẽ

tất nhiên. Tiếng vọng ấy đã gặp gỡ “tiếng lòng” của những nhà văn, nhà thơ tràn

đầy nhiệt huyết, gặp gỡ lương tâm của người cầm bút trong những giờ phút cam go

của vận mệnh dân tộc. Nguyễn Văn Xuân là một trong những người cầm bút có

được vinh dự lớn lao chứng kiến nhiều biến động của lịch sử xã hội trong sự vận

động không ngừng của nó. Thực tế cuộc sống đã ùa vào trang văn của ông liên tiếp

như những cơn sóng vỗ và tâm hồn nhà văn như một bãi bồi đón lấy, chắt lọc, lưu

giữ những gì có ích cho đời. Trong những đợt sóng xô ào ạt đó, Nguyễn Văn Xuân

đã kịp trụ vững trên vùng đất đầy nắng gió, triền miên bão lụt, mênh mông nỗng

cát, trập trùng đồi núi: Quảng Nam. Sống và viết về vùng đất Quảng Nam, con

người Quảng Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc, trong kháng chiến chống Pháp,

chống Mỹ với cảm hứng ngợi ca tinh thần yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm

chính trị về đất đai của Tổ quốc, được Nguyễn Văn Xuân xem như lẽ tất yếu của

một nhà văn, vốn là người con của Quảng Nam. Vì thế, mỗi trang văn về tinh thần

yêu nước của con người Quảng Nam nhà văn đã viết với cảm hứng bay bổng, hào

sảng, với niềm ngưỡng vọng về những con người rất đỗi bình thường mà vĩ đại.

Danh xưng Quảng Nam được hình thành cách đây gần 600 năm. Từ thời nhà

Hồ, nhà Lê đến đời các chúa Nguyễn cũng như đời của triều Nguyễn, Quảng Nam

là mảnh đất hứng chịu bao biến cố lịch sử với sự thay đổi, hưng vong của bao triều

đại. Ở thời điểm nào trong diễn trình lịch sử, Quảng Nam cũng gắn với vai trò chính

trị to lớn: “phên giậu”, “yết hầu” của miền Thuận - Quảng. Với bối cảnh hình thành

và một trọng trách quan yếu như thế, những cư dân Quảng Nam đến sinh cơ lập

nghiệp nơi đây tất nhiên gánh luôn vai trò chính trị quan trọng của mảnh đất này.

Điều đặc biệt là tuy thành phần cư dân Quảng Nam nói riêng, đất Quảng nói chung

rất phức tạp nhưng họ đều là những người có ý thức chính trị về đất đai Tổ quốc. Ý

thức chính trị này ăn sâu vào máu thịt của mỗi người Quảng Nam từ lúc nhà Hồ bắt

buộc mọi người thích tên châu lên cánh tay của mình. Từ đó, những cư dân sinh ra

và lớn lên ở Quảng Nam đã mang trong mình ý thức trách nhiệm với vận mệnh Tổ

quốc, có một “giác quan chính trị” nhạy bén. Từ những anh hùng có tên tuổi, xuất

thân là những sĩ phu yêu nước cho đến những người vô danh trong vô vàn những

người lao động cần cù. Chính vì thế mà ở đầu thế kỷ XX, Quảng Nam đã trở thành

trung tâm của phong trào giải phóng dân tộc. Và trong những giờ phút thử thách đặc

biệt của lịch sử chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân Quảng Nam đã thay

mặt cả nước trả lời bọn thực dân, đế quốc xâm lược câu trả lời đích đáng: dù đầu

rơi, máu chảy vẫn chiến đấu đến cùng, không chịu mất nước, không chịu sống kiếp

đời nô lệ. Lịch sử Quảng Nam, lịch sử dân tộc đã ghi nhận vai trò hướng đạo cho

nhân dân của trí thức đất Quảng trong các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX,

đầu thế kỷ XX. Từ nhà canh tân Phạm Phú Thứ với những đề xuất mới mẻ giữa thế

kỷ XIX đến những lãnh tụ Nghĩa Hội là Tiến sĩ Trần Văn Dư, Hoàng giáp Phạm

Như Xương, phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, cử nhân Phan Bá Phiến. Rồi phong trào

của phó bảng Phan Châu Trinh với chủ thuyết tam dân: “khai dân trí, chấn dân trí,

hậu dân sanh” có sự hợp tác lãnh đạo của tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp

và sự hưởng ứng của các cử nhân Phan Thúc Duyện, Dương Đình Thạc, Trương

Trọng Hữu, Lâm Hữu Mẫn… Nhờ vậy, một phong trào Duy Tân sôi nổi được phát

động rộng khắp Quảng Nam, ra tận Hà Nội. Sau phong trào Duy Tân là phong trào

Đông Du với vai trò của Tiểu La Nguyễn Thành. Rồi phong trào chống sưu thuế do

những người học trò: Lương Châu, Hứa Tạo, Trương Hoành đứng ra phát động mà

sức ảnh hưởng của nó rúng động khắp trong nước, cả Nam lẫn Bắc. Tiếp đến là

cuộc vận động khởi nghĩa những năm 1911 - 1916 với sự lãnh đạo của trí thức Nho

học Trần Cao Vân, trí thức Tây học: Thái Phiên, Lê Đình Dương, Phan Thành Tài.

Bên cạnh đó, còn biết bao những anh hùng tên tuổi của Quảng Nam trong kháng

chiến chống Mỹ, cũng như sự hy sinh thầm lặng của bao người vô danh làm nên

dấu ấn Quảng Nam “Trong 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975), Quảng

Nam có khoảng 6 vạn liệt sĩ, gần 3 vạn thương binh, 5479 bà mẹ Việt Nam anh

hùng chiếm 1/6 so với cả nước” [43, tr.252]. Đó là những con số biết nói, biểu hiện

tính cách Quảng Nam: không ngần ngại đắn đo khi cần phải hy sinh vì độc lập tự do

của Tổ quốc.

Nhà văn Nguyễn Văn Xuân có cái may mắn được sinh ra vào những năm 20

của thế kỷ XX. Tuy ông không tận mắt chứng kiến những biến động lịch sử dữ dội

diễn ra trên đất Quảng Nam từ cuối thế kỷ XIX, nhưng đối với những người thuộc

thế hệ của ông, những sự kiện lịch sử ấy vẫn còn là những sự kiện thời sự nóng hổi.

Đi nhiều nơi, quan sát, ghi chép, cảm nhận đánh giá,…. từ trong cõi vô thức của

tâm linh có sức mạnh vô hình buộc nhà văn phải cầm bút viết về những con người

Quảng Nam đã tồn vong cùng mảnh đất này.

Nguyễn Văn Xuân đã tâm sự vì sao ông viết về những anh hùng trong lịch sử

đấu tranh của Quảng Nam. Đó là “tình cảm tự nhiên qua những ngày lang thang

trong xóm làng hay trôi theo dòng tản cư vĩ đại …. Tôi đã nghe biết bao lần và biết

bao người kể về cái chết của các anh hùng, liệt nữ [….] tất cả những cái chết ấy đã

kích thích óc tò mò, bắt tôi suy nghĩ và tôi cho đều đáng ghi lại một nét ý chí, một

sắc thái địa phương và hiển nhiên cũng là của dân tộc” [63, tr.273]. Nhà văn đã “vẽ

lại trung thành cái nhìn lịch sử bằng con mắt của dân chúng” [63, tr.273]. Như vậy,

những con người lịch sử trong sáng tác của nhà văn là những con người bằng

xương, bằng thịt đã được đánh giá của công luận trước khi trở thành nhân vật trong

loạt truyện ngắn tập hợp trong Hương máu. Và trong tình hình hoạt động văn hóa

văn nghệ miền Nam những năm 1954 - 1975, tập Hương máu đã nhập vào dòng

chảy của văn học “yêu nước cách mạng” miền Nam 1954 - 1975. Tuy rằng Nguyễn

Văn Xuân được xếp vào bộ phận “những trí thức văn nghệ sĩ tưởng như rất lạnh

lùng hoặc ngơ ngác với chính trị và từ lâu chỉ toàn tâm toàn ý với văn chương nghệ

thuật” [49, tr.39]. Thế nhưng, lúc mâu thuẫn dân tộc ở vào tình thế căng thẳng, họ

đã có một thái độ chính trị đúng đắn và có những tác phẩm đậm đà tinh thần dân

tộc. Trên cơ sở đánh giá đó, Giáo sư Trần Hữu Tá đã ghi nhận giá trị tập Hương

Máu: “Nguyễn Văn Xuân dựng lại trang sử đấu tranh chống thực dân Pháp bi tráng

của nhân dân đất Quảng cuối thế kỷ XIX” [49, tr.39]. Đó là những minh chứng cụ

thể, thiết thực về lòng yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm chính trị về vận

mệnh, về đất đai Tổ quốc của những con người xứ Quảng.

Vốn là nhà nghiên cứu lịch sử nên Nguyễn Văn Xuân có ưu thế khi viết những

tác phẩm liên quan đến lịch sử. Trong bảy truyện của tập Hương máu, nhà văn đã

viết bốn truyện ngắn về người thật việc thật (Hương máu, Viên đội hầu, Rồi máu lên

hương, Chiếc cáng điều). Còn lại là những truyện được hư cấu trên cái nền của bối

cảnh lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Việc chọn đề tài lịch

sử trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân không nằm ở diện rộng mà chọn có chủ

đích: lịch sử đấu tranh ở vùng đất Quảng Nam. Trong đó, nhà văn chọn một giai

đoạn của lịch sử để phản ánh: giai đoạn thoái trào trong kháng chiến chống thực dân

Pháp xâm lược. Việc chọn đề tài lịch sử này hầu như nhất quán trong các truyện

ngắn có liên quan đến lịch sử. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của người

dân xứ Quảng được hiển hiện qua cuộc chiến giữ thành của Tổng đốc Hoàng Diệu,

trong phong trào Cần Vương của Nghĩa Hội, trong âm vang cuộc khởi nghĩa của

Trần Cao Vân, Thái Phiên ngày 3/5/1916. Qua những tấm gương yêu nước cụ thể,

sống động này, Nguyễn Văn Xuân cho thấy sĩ phu Quảng Nam là những người có ý

thức, giác quan chính trị nhạy bén. Họ là những nhà mưu lược chính trị, trăn trở dữ

dội trong việc tìm đường cứu nước. Qua những phong trào yêu nước này, ta thấy

lịch sử chống thực dân Pháp của Quảng Nam có khi mạnh khi yếu nhưng chưa bao

giờ ngừng nghỉ. Ngay khi bề ngoài nhìn như biển khơi đang kỳ sóng yên gió lặng

lại chính là lúc những đợt sóng ngầm đang âm thầm, mạnh mẽ hội tụ dưới lòng đại

dương bao la. Đó là khi Nghĩa Hội tan rã thì những sĩ phu trong Nghĩa Hội còn

sống lại tiếp tục đấu tranh trong phong trào Duy Tân như trường hợp của Tán tương

quân vụ Đỗ Đăng Tuyển. Còn khi phong trào chống sưu thuế bị khủng bố trắng vào

năm 1908 thì đến năm 1916, Trần Cao Vân và Thái Phiên liên lạc với vua Duy Tân

hạ chiếu kêu gọi nhân dân khởi nghĩa trong sự kiện ngày 3/5/1916 ở Huế (Hương

máu, Rồi máu lên hương). Đặc biệt giác quan chính trị nhạy bén của những sĩ phu

Quảng Nam còn thể hiện ở ý thức sâu sắc trong hành động yêu nước. Yêu nước

không chỉ là đứng lên đánh đuổi giặc xâm lược, bảo vệ đất đai, bờ cõi của Tổ quốc

mà còn là tìm con đường cứu nước phù hợp với thời đại lịch sử. Thế nên, trong

phong trào kháng Pháp chung của dân tộc, sĩ phu Quảng Nam đã bộc lộ một hướng

đi riêng. Người Quảng Nam gọi tên phong trào kháng chiến là Nghĩa Hội chứ

không gọi là Cần Vương, không xem hành động của những người tham gia phong

trào là trung quân, chỉ xem là trung dân,ái quốc:

“Tuy Nghĩa Hội lần hồi tan rã, lòng trung dân còn vương vấn ở tâm hồn

Chí anh hùng gắn bó keo sơn, lòng ái quốc vẫn cưu mang trong thể phách”

[43, tr.248]

Và việc Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến rút về núi rừng Trung Lộc để lập

Tân Tỉnh như một vùng đất riêng có bộ máy chính quyền cai trị, có quân đội, nhân

dân….được xem như một biểu hiện “ly khai” với triều đình lúc bấy giờ (Hương

máu). Còn cuộc khởi nghĩa 1916 được đánh giá “hoàn toàn không có tính chất

phong kiến. Đó vẫn là sự tiếp nối của phong trào yêu nước có xu hướng dân chủ tư

sản đầu thế kỷ XX” [30, tr.136]. Như vậy, trong tầm nhìn chiến lược, trong sự trăn

trở tìm cách đối phó với bọn Tây dương, những sĩ phu yêu nước đã hoài nghi, phủ

nhận đường lối quân chủ. Những mầm mống của xu hướng dân chủ thời kì này đã

khơi gợi con đường tất yếu đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX, trí thức Quảng

Nam là những người sớm tiếp nhận đường lối cách mạng vô sản để tuyên truyền,

phát động phong trào cách mạng tại Quảng Nam.

Việc nhà văn Nguyễn Văn Xuân chọn thời điểm thoái trào của cuộc kháng

chiến chống thực dân Pháp để phản ánh là việc làm có chủ đích. Khắp trong bảy

truyện của tập Hương máu là những cái chết: cái chết của hai lãnh tụ Nghĩa Hội, cái

chết của Tổng đốc Hoàng Diệu, Thái Phiên và Trần Cao Vân, cái chết của Bốn, một

thanh niên yêu nước đã chặt đầu Tây, của ông Tú Bình vì ủng hộ Cần Vương….

Như vậy, việc lựa chọn giai đoạn thoái trào trong diễn trình lịch sử chống thực dân

Pháp là sự lựa chọn thời điểm lịch sử có vấn đề giữa sự sống và cái chết. Có thể nói

quan niệm “chết vinh hơn sống nhục” không chỉ có trong lịch sử thời kỳ này,

nhưng Nguyễn Văn Xuân đã thể hiện quan niệm này ở độ “đậm đặc” nhất, ghi khắc

những ấn tượng không phai trong lòng người đọc. Lòng yêu nước và ý thức chính

trị về đất đai Tổ quốc thể hiện trong tinh thần hy sinh vì đại nghĩa, trong những “cái

chết tiến công” của người Quảng Nam. Tầng lớp sĩ phu yêu nước chọn con đường

kháng chiến chống thực dân Pháp là chọn con đường chính nghĩa với tinh thần tự

nguyện. Suy nghĩ cũng như hành động của họ đều hướng về mục đích độc lập tự do

cho dân tộc. Dù kẻ thù có giở chiêu bài “Từ Thứ qui Tào”, Nguyễn Thân có quỷ

quyệt bắt giam mẹ của Nguyễn Duy Hiệu thì cũng không thể lung lạc được con

người ông. Ông vẫn “thản nhiên, cương nghị, lạnh lùng đi từ vùng này sang vùng

khác để lập lại khu chiến đấu” [63, tr.253]. Những sĩ phu như Nguyễn Duy Hiệu đã

hy sinh bản thân mình và cả tình cảm riêng tư mà vì nó người ta có thể dễ dàng bị

lung lạc nhất. Gia phả các tộc Nguyễn, Thái ở Điện Bàn ghi lại công lao khó nhọc

của tiền nhân trong buổi đầu khai phá đã viết: “Chúng ta đã quyết vì nước quên

thân, theo vua đến đây là vì sự nghiệp khai phá cho muôn đời con cháu mai sau”

[20, tr.289]. Dòng máu tự nguyện hi sinh vì đại nghĩa vẫn tiếp tục chảy trong huyết

quản của tầng lớp sĩ phu yêu nước ở cuối thế kỷ XIX.

Quan niệm sống như thế nào phải đạo và chết như thế nào hợp lẽ trời, lẽ đời đã

được kẻ sĩ coi trọng từ xưa. Đối với họ sống phải có ý nghĩa nếu không thì thà chết

còn hơn:

“ Nhân sinh tự cổ thùy vô tử

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”

Dịch: “ Người đời từ trước ai không chết

Cốt để lòng son rọi sử xanh”

Qua đó, ta thấy sự sống, chết của kẻ sĩ liên quan đến sự tồn vong của lịch sử

dân tộc. Chẳng thế mà Nguyễn Đình Chiểu, sĩ phu yêu nước, lá cờ đầu của văn

chương yêu nước chống Pháp miền Nam, đã viết:

“Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”

( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã sống trên vùng đất mà những kẻ sĩ ở cuối thế

kỷ XIX đã làm cho ý nghĩa cuộc đời họ thêm sâu sắc qua những cái chết. Nhà văn

đã viết trong tập Hương máu: “Tôi vẫn tin chắc chuyện chết không bao giờ hết là

nguồn cảm hứng cao cả, sâu xa,vì chết cho biết chết sẽ chỉ dành cho những ai sống

một đời đáng sống” [63, tr.239]. Những người như Tổng Đốc Hoàng Diệu, Nguyễn

Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Thái Phiên…...đều đã chết nhưng cuộc đời họ chưa phải

là hết. Có người đã gọi những cái chết của họ là “những cái chết tiến công”. Đó là

cách nói vừa tôn xưng, vừa cho thấy ý nghĩa sâu sắc trong cái chết của những anh

hùng Quảng Nam. Thật ra, cách nói trên đã thể hiện hàm súc tinh thần dũng liệt của

những sĩ phu Quảng Nam trong cơn binh lửa. Tinh thần ấy bộc lộ ở cách chọn cái

chết, thái độ khi chết, hình ảnh đẹp của họ trong những giây phút cuối cùng. Kẻ thù

sau khi thấy sự quyết liệt của họ phải khiếp sợ. Nhân dân khi tận mắt chứng kiến

những cái chết như một sự lựa chọn đáng nể phục của những sĩ phu Quảng Nam đã

không nản lòng thoái chí. Chết mà vừa bảo toàn danh tiết của bản thân, chết mà thể

hiện khí chất, bản lĩnh Quảng Nam, làm rúng động kẻ thù, chết mà truyền cho

những ai còn sống và các thế hệ sau lòng trung can nghĩa đảm. Thử hỏi, có mấy ai

dùng cái chết của mình để thực thi được nhiều điều có ý nghĩa như thế! Nhà nghiên

cứu Thạch Phương đã nhận xét: “Hầu hết những người lãnh đạo, chỉ huy các phong

trào yêu nước, mà kết cục đều thất bại, đã bị sa vào tay giặc, nhưng cho đến những

giây phút cuối cùng của cuộc đời, họ đều tỏ ra can trường, bất khuất, bình tĩnh

nhận lấy cái chết, làm cho kẻ thù phải ngạc nhiên, thán phục. Chính thái độ lẫm

liệt, hiên ngang của họ trong hoàn cảnh thất thế, đã có tác dụng cổ vũ, động viên

quần chúng; gieo vào lòng quần chúng niềm tự hào và niềm tin về tiền đồ của dân

tộc, đất nước” [43, tr.213]. Tất cả những cái chết ấy được nhà văn Nguyễn Văn

Xuân ghi chép như một sự thật lịch sử về tính cách, vai trò của con người Quảng

Nam trong chiến tranh vệ quốc.

Trong Hương máu, Nguyễn Văn Xuân đã kể về một tổ chức của phong trào

Cần Vương là Nghĩa Hội đang ở giai đoạn khó khăn của cuộc kháng chiến chống

Pháp. Sau khi lãnh tụ Nghĩa Hội là Trần Văn Dư bị xử chém thì Nguyễn Duy Hiệu

và Phan Bá Phiến lên thay. Mặc dù hai ông đã cố gắng nhưng sự phản bội của

Nguyễn Thân và một số nghĩa quân không chịu được gian khổ đã đẩy Nghĩa Hội

vào con đường bế tắc. Cuối cùng, để bảo vệ đảng nhân, nêu tấm gương chiến đấu,

Phan Bá Phiến đã uống thuốc độc trước mọi người. Còn Nguyễn Duy Hiệu tìm cách

để triều đình bắt ông giải về kinh, nhận tất cả tội lỗi về mình. Ông đã ung dung làm

những vầng thơ tuyệt bút trên đường ra pháp trường. Có thể nói cả Nguyễn Duy

Hiệu và Phan Bá Phiến là những người nêu cao dũng khí, tinh thần xả thân vì đại

nghĩa qua việc chọn cái chết. Khi Nghĩa Hội bị vây lùng, bố ráp trong vùng rừng

núi Trung Lộc là lúc Phan Bá Phiến đang bị sốt rét rừng hành hạ, dù mê man trên

lưng quân lính nhưng ông luôn miệng nhắc: “đưa mấy sổ thuế huyện Tam Kỳ cho

tôi coi” [63, tr.249]. Rồi khi qua cơn “thập tử nhất sinh” ông đã “âm thầm làm việc,

quả quyết thực hiện chủ định với một sự sáng suốt và một trí nhớ kì dị. Ông cũng

giúp ông Hường tìm cách tạo lập lại chính quyền và quân lực trong các khu mật,

dựng lại kho tàng và cho chuyển vận lương thực về” [63, tr.253]. Với những nỗ lực

đó, cho thấy quyết định “chết” là quyết định mà ông đã trăn trở, cân nhắc và lựa

chọn khi tình thế không cứu vãn được. Trong suy nghĩ của vị cử nhân này là phải

chết như thế nào có lợi cho tổ chức, cho phong trào yêu nước, âu cũng là đóng góp

cuối cùng còn có thể làm được cho đất nước. Sự suy nghĩ chín chắn, cân nhắc lợi

hại khiến cho Phan Bá Phiến rất bình tâm chuẩn bị cái chết. Ông đã nói với ông

Hường một câu giản dị: “ông hãy gắng sức, tôi xin đi trước” [63, tr.263]. Và nói với

mọi người: “Xin giã biệt hết các quan và bà con” [63, tr.263]. Đoạn văn miêu tả

những giây phút cuối cùng của ông là đoạn văn đầy xúc động. Nó làm cho hình ảnh

của Phan Bá Phiến trở nên đẹp lạ thường, khiến cho mọi người có mặt hôm ấy

không phải tỉ tê khóc than khi đón nhận cái chết mà là vang vọng những tiếng gầm

dữ dội “giết hết” làm rung chuyển núi rừng Trung Lộc. Nhà văn đã miêu tả: “ông

đưa chén thuốc độc lên môi, thong thả nuốt từng ngụm một. Uống xong ông đặt

chén, ung dung nâng cái hốt ngà lên, đầu cúi xuống cho được trang nghiêm… ông

vẫn nâng cái hốt và thấy rõ ràng là ông cố trấn tĩnh để không rùng mình, không vật

vã tuy nhiên cái rung động trên các nếp áo cho thấy sự chiến đấu nội tâm ghê gớm

của ông. Khi sức lực gần kiệt, cái đầu bị gục xuống trông như người ngủ mê mà

ông vẫn cố ngửng lên rồi ông quì ngồi xuống trong khi hai tay vẫn nghiêm chỉnh

nâng cái hốt lên” [63, tr.263]. Vẻ đẹp trong nhân cách của Phan Bá Phiến là vẻ đẹp

của tài năng kết hợp với khí phách anh hùng. Còn việc quyết định chọn cái chết và

cách chết của Nguyễn Duy Hiệu lại bao hàm một tầm nhìn chiến lược của vị lãnh tụ

Nghĩa Hội. Tầm nhìn ấy sâu xa, rộng lớn, vượt khỏi ý nghĩa cái chết của một con

người bình thường. Khi mọi người không muốn ông sa vào cảnh bị kẻ thù sỉ nhục,

hành hình đau đớn, đã tạo cơ hội cho ông tự vẫn. Nhưng Nguyễn Duy Hiệu đã từ

chối. Vì ngay từ đầu, trước hàng trăm nghĩa quân, ông đã nói rõ vì sao ông chọn cái

chết: “cần bảo toàn sinh lực, ý chí của hội để chờ thời cơ thuận lợi sẽ hoạt động trở

lại. Cuộc đấu tranh trường kỳ để thâu hồi độc lập không cốt ở một đôi nơi, một đôi

lúc mà cốt ở bất kỳ nơi nào, lúc nào “trong vĩnh cửu, bằng vĩnh kiếp thực hiện theo

một vĩnh đồ” [63, tr.261]. Và cuối cùng, ông đã kết luận: “Còn tôi, tôi sẽ đi chết ở

một nơi khác. Ở nơi khác đó, tôi sẽ nhận tất cả tội đã bắt buộc mọi người phải qui

phục và như thế không quyền lực nào còn vin vào đâu để sát hại, bắt bớ đảng nhân

ta nữa.” [63, tr.262]. Nguyễn Duy Hiệu đã dùng cái chết để bảo vệ tổ chức, để cuộc

chiến đấu tiếp tục trong một bước ngoặt mới với nhiều khả năng thắng lợi hơn, mà

sức mạnh của cuộc chiến đấu ấy đã được chuẩn bị từ trong cái chết của người lãnh

tụ Nghĩa Hội ngày hôm nay. Quả là “nhà tan không đoái, thân chết không lo, chỉ

khư khư lo bảo toàn đảng để ngày sau mưu toan việc nước. Trong mắt, trong bụng

các người kia chỉ có Tổ quốc, có đồng bào thôi” [50, tr.39]. Thấu triệt mọi lẽ như

thế nên Nguyễn Duy Hiệu đã biến buổi hành hình chốn pháp trường thành một bài

học tai nghe mắt thấy về lòng trung can nghĩa đảm đối với nước, đối với dân. Ông

đã ung dung làm thơ trên đường ra pháp trường:

“Ký ngữ phù trầm tư thế giả

Hữu tương thành bại luận anh hùng”

(Hai câu cuối của bài thơ thứ nhất của Nguyễn Duy Hiệu)

Dịch: “Chìm nổi trên đời ai đó tá

Chớ đem thành bại luận anh hùng (Huỳnh Thúc Kháng dịch)

Bài thơ thứ hai của Nguyễn Duy Hiệu sáng tác trên đường ra pháp trường:

“Hàn sơn kỷ đắc cô tùng cán

Đại hạ yên năng nhất mộc chi

Hảo bả đan tâm triêu liệt thánh

Trung thu minh nguyệt bạn ngô qui”

Dịch thơ: “Núi lạnh tùng côi xơ xác đứng;

Nhà to, cột một khó ngăn ngừa

Về chầu liệt thánh lòng son đấy

Tháng Tám trăng rằm sẵn dịp đưa” (Huỳnh Thúc Kháng dịch)

Cuộc đời của Nguyễn Duy Hiệu, cho đến khi đậy nắp quan tài lại, đã thể hiện

nhân cách một sĩ phu đáng kính, một lãnh tụ nghĩa quân can trường tận phút chót.

Chí sĩ Phan Bội Châu cho rằng cái chết ấy “trời đất phải khâm phục, quỷ thần phải

kính ghi”. Chính viên Khâm sứ Pháp J.L Baille đã ghi giây phút cuối cùng của

Nguyễn Duy Hiệu tại pháp truờng như sau: “Hiệu đợi chết như người thuộc nòi

giống của ông, thuộc hàng ngũ bậc của ông, nghĩa là đón nó không chút sợ sệt và

nhận lấy nó như một cái gì đã đến phải đến” [43, tr.216]. Trong truyện, tác giả còn

kể về hành động anh dũng, quyết liệt của chiến tướng Hồ Học như một sự phản hồi

từ cái chết của Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến. Khi Nghĩa Hội tan rã, Hồ Học

đã tiếp tục lãnh đạo một nhóm nghĩa quân phản công quân Pháp. Khi bị bắt, Hồ Học

không hổ danh một chiến tướng. Ông đã tả xung hữu đột nơi công đường của viên

án sát, đối đáp đanh thép với viên đại tá người Pháp: “Thằng mũi lõ nói sai! Mi và

quân lính của mi rặc là tụi cướp nước. Còn ta đây, đường đường là tướng của

Hoàng đế, được vua sai dẹp giặc, làm sao trộm cắp mà sánh với chủ nhà” [63,

tr.271]. Dù bị nhiều đòn roi, thịt da đang tứa máu nhưng ông đã chiến đấu tới giây

phút cuối cùng của cuộc đời một nghĩa sĩ. Người đọc có cảm tưởng giọng văn của

Nguyễn Văn Xuân không giấu vẻ hả hê khi miêu tả trận “náo loạn” công đường của

Hồ Học: “không ai chờ đợi sự nóng giận như thế của Hồ Học. Viên thông ngôn mới

nói tới đó, người ta nghe như một tiếng “vút”, cái ghế dựa bằng gỗ trong tay ông

đã lao tới như gió, đánh thẳng vào mặt viên đại tá. Viên này lấy tay đỡ thì một chân

ghế xoẹt qua đầu, hất cái mũ của y xuống đất. Lập tức hàng trăm vũ khí tung ra

giữa lúc một hạ sĩ cận vệ của đại tá rút súng lục ra định bắn. Hồ Học liệng mình

lao tới, đá song phi vào khẩu súng và vào mặt hắn. Nhưng không kịp, vệ sĩ thứ hai

bắn liền hai phát vào hông ông. Ông ngã gục xuống, vừa ôm bụng vừa trườn tới để

với khúc côn, nhưng không còn kịp nữa” [63, tr.272].

Không quyết liệt như những cái chết trên, truyện ngắn Về làng kể về cái chết

của ông Tú Bình nhẹ nhàng mà vô cùng khẳng khái. Ông Tú Bình vì chống Tân

Trào, ủng hộ Cần Vương nên bị triều đình xử chết. Nguyện vọng cuối cùng của ông

là được chết ở ngay cái làng P.K của mình. Nhân vật ông Tú Bình có thể là nhân vật

được nhà văn Nguyễn Văn Xuân hư cấu dựa trên câu chuyện về người thầy dạy học

của Nguyễn Duy Hiệu trong lịch sử. Khi Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo Nghĩa Hội thì

thầy cử Lê Tấn Toán bị mời về tỉnh đường để răn đe, sau đó phải thọ hình “tam ban

triều điển” của vua Đồng Khánh vỉ tội dạy học trò làm giặc. Cụ cử Lê đã chọn chén

thuốc độc. Cuộc đời có thật của cụ cử Lê đã truyền cảm hứng cho nhà văn Nguyễn

Văn Xuân xây dựng nhân vật ông Tú Bình. Cũng như nhiều sĩ phu yêu nước khác,

ông Tú Bình không muốn cái chết của mình trở nên vô nghĩa. Thế nên, ông chọn

nơi chết là cái làng của mình. Ông ung dung thanh thản biết bao trước khi đi vào cõi

chết: đến đình làng dâng hương, về nhà bái vọng mẹ, sang chùa vái lạy… Ở ông,

toát lên vẻ thung dung của một nhà nho đã thấu lẽ đời, có nhân cách cứng cỏi: “bần

tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Bằng cách chọn làng làm nơi ra đi cuối

cùng, ông Tú Bình chết nhưng tinh thần bất khuất của ông còn sống mãi “vốn ông

là tay có tài học lỗi lạc, ông cũng lại là người mà tất cả dân làng đều xem như bậc

cha mẹ. Ông ăn tiên chỉ và chỉ một lời ông phán ra có giá trị của một chân lý không

cần bàn cãi” [63, tr.311]. Có lẽ ông Tú Bình hiểu sâu sắc điều đó, nên trước khi

vĩnh biệt cõi đời ông đã “trăng trối” với toàn thể dân làng: “Tôi vì việc nước mà xả

thân thì chẳng có gì đáng ân hận. Tôi chỉ đau đớn là không thể làm hơn được… Xin

các cụ ở lại thay tôi mà chăn dắt con em để cho làng ta được mãi tiếng thuần

lương” [63, tr.314].

Những “cái chết tiến công” còn được đặc biệt thể hiện ở những giây phút cuối

cùng của hai chí sĩ: Thái Phiên và Trần Cao Vân trong cuộc khởi nghĩa ngày

3/5/1916. Hai nhà lãnh đạo này không phải tự nguyện chọn cái chết mà bất đắc dĩ bị

giặc bắt xử tử hình khi sự nghiệp cứu nước còn đang dở dang. Câu chuyện thật về

cái chết của Thái Phiên và Trần Cao Vân được Nguyễn Văn Xuân nhấn thêm bằng

yếu tố có màu sắc huyền thoại, đã nâng những cái chết can trường dũng cảm lên

tầm vóc phi thường. Truyện kể rằng khi thanh đao của tên đao phủ chạm vào đầu

của chí sĩ Trần Cao Vân thì đã “văng ngược lại như thể kẻ bị xử tử vận nội công…

phải đủ bảy nhát mới chém nổi đầu một ông già chẳng lấy gì làm to lớn” [63,

tr.359]. Đầu của Tôn Thất Đề phải “chém đến chín nhát mà vẫn trơ trơ”. Còn khi

chém đầu của Thái Phiên thì tên đao phủ “có vẻ can trường hùng hổ ấy bỗng giơ

hai tay ra. Những kẻ đứng gần đều thấy mặt thầy trở nên xám xanh, xám ngắt.

Thanh quất trong tay thầy rơi xuống. Rồi cả cái thân thể rắn chắc, vững vàng ấy

cũng khụy gối ngã nhào xuống giữa pháp trường” [63, tr.359]. Lẽ nào lòng can

trường dũng cảm, vẻ thung dung tựu nghĩa của những người đang phải chết chém

cảm động thấu trời xanh, làm cho những tên đao phủ cả đời không biết sợ là gì phải

tán đởm, kinh hồn? Máu của những người con anh dũng đất Quảng Nam đã đổ vì

Tổ quốc, vì quê hương. Những giọt máu ấy có vẻ đẹp kỳ lạ của sự sống tưởng

chừng như vẫn tiếp tục. Nó vẫn “lóng lánh” trên áng cỏ còn đọng sương mai. Mọi

người đến xem xử tử hình ngày hôm ấy đã dự kiến “một trang sử oanh liệt của đất

nước” [63, tr.358] được viết bằng máu của những con người đất Quảng.

Cảm quan lịch sử tiến bộ của Nguyễn Văn Xuân còn xây dựng, ngợi ca những

anh hùng vô danh trong lịch sử. Ở kiểu nhân vật này thì yếu tố dã sử nhiều hơn

chính sử. Nhìn chung họ vẫn là những nhân vật mà từ lời nói đến hành động đều

toát lên khí chất hào hùng, ý thức trách nhiệm chính trị đối với Tổ quốc. Đó là

những người như chị Mừng (Chiếc Giỏ), khi dân làng chặt được đầu thằng Tây, chị

đã vui vẻ đem hết gánh cháo độ nhật của mình để đãi những người có công. Còn

những người khác thì tùy khả năng: chuối, dưa, trứng….. đều mang đến để ủng hộ.

Trong chiến công ấy, Bốn nổi bật như người có công trạng lớn nhất. Nhưng thật ra

đó là công trạng của cả làng. Từ người già đến người trẻ đã cùng Bốn giăng bẫy

trong làng để chặt đầu Tây. Trong giây phút ngắn ngủi họ đã biến con đường vào

làng thành một cứ điểm chiến đấu “sau hàng tre, đám quân dân tự biến thành quân

du kích đã được xếp đặt tuần tự để truyền tin, giật dây, phóng câu liêm hỗ trợ.

Những tiếng động lạc xạc được hạn chế. Những cành tre vướng được lưỡi rựa trảy

qua rơi ngọn, những cái thang cao được bắc ép vào cho tiện việc đứng và đứng cho

vững thế” [63, tr.320]. Hình ảnh này gợi người đọc nhớ đến những ngôi làng được

lập thời mở cõi của Quảng Nam - một cộng cư chiến đấu. Tinh thần ấy được truyền

lại trong đời sống vật chất và tinh thần của người Quảng Nam qua các thế hệ. Bởi

thế, trong cái làng nhỏ này, từ những đứa bé còn ngọng nghịu chạy theo xem chặt

đầu Tây đến những người đàn bà đi chợ về im lặng rẽ sang lối đi khác như biểu lộ

sự đồng tình, xem việc chặt đầu Tây là việc dĩ nhiên phải làm .Từ chú Từ đến bác

Hiền tuy sợ súng đạn Tây tốt nhưng vẫn quyết liệt ủng hộ Bốn chặt đầu Tây. Và

trong số những người dân lao động bình dị ấy, nhân vật Bốn đã thể hiện rất rõ bản

lĩnh của những con người giàu lòng yêu nước, kiên cường dũng cảm, có ý chí quyết

tâm cao. Bốn đã “đốc thúc, kiểm tra” việc bố trí giăng bẫy thằng Tây một cách tích

cực, cẩn thận; cương quyết đập đầu con chó yêu quí của mình vì sợ tiếng sủa của nó

làm lộ chuyện. Đối với Bốn, việc có được đầu thằng Tây như có được một tấm giấy

thông hành đưa anh vào Nghĩa Hội, đứng trong hàng ngũ những người yêu nước

chống Pháp. Bằng mọi giá anh phải đưa được đầu thằng Tây đến gặp ông Hường.

Thế nên, dù sẩy chân rơi xuống bến nước sâu, dù phải chết nhưng “cánh tay co

quắp, bắp thịt đè lên, ép chặt cái quai xách tưởng như không bao giờ rời ra, không

rời trong lúc sống, không rời cả khi chiến đấu với tử thần” [63, tr.336]. Hình ảnh đó

đã nâng cái chết trước “một tai nạn vô lý” thành cái chết của những con người hiên

ngang bất khuất. Sự trung thành với lý tưởng, với nguyện vọng của Bốn, đã không

làm cho cái chết của anh trở nên vô ích. Bốn chỉ giết được một thằng Tây trong

cuộc đời mình, nhưng việc làm đó đủ sức truyền cho người còn sống lòng can đảm,

vì nghĩa lớn sẵn sàng đánh đổi tính mạng trong cuộc chiến đấu sinh tử này.

Như vậy, tính chất của cuộc chiến tranh nhân dân đã bộc lộ rất rõ trong cuộc

kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của cư dân Quảng Nam. Mỗi con người

nơi đây đều thấy trách nhiệm của mình đối với vận mệnh Tổ quốc. Điều đó thể hiện

qua nhận thức của một số nhân vật trong các truyện: Chiếc cáng điều, Rồi máu lên

hương, Hương máu…. Khi trò chuyện với khách, ông Học đã tỏ ra rất am hiểu diễn

biến thời cuộc, phân tích lợi hại trong việc ông Hường giết ông Tán lúc Nghĩa Hội

đang suy yếu (Chiếc Cáng Điều); còn nhà thầu khoán Nguyễn Văn Học, cha của

Nguyễn Thị Băng thì ủng hộ tiền bạc cho cuộc khởi nghĩa ngày 3/5/1916 và gả con

gái mình cho Thái Phiên (Rồi Máu Lên Hương), đến việc làm của một người ốm

yếu như Hiểu trong cơn tức giận vì sự phản bội Nghĩa Hội của Thập Cường đã

chém hắn cho đến chết (Hương Máu); qua hình ảnh nhân vật Bốn thà chết quyết

không rời cái giỏ có đựng đầu Tây (Cái giỏ) đến hình ảnh của Viên đội hầu tuẫn tiết

theo Hoàng Diệu… Tất cả những sự hi sinh đó đã làm nổi bật vẻ đẹp trong phẩm

chất tâm hồn của những người bình dị vô danh. Thế mới hay, kiên cường bất khuất,

giàu lòng yêu nước, ý thức chính trị sâu sắc đối với vận mệnh Tổ quốc không phải

chỉ có ở những con người có học, có địa vị, mà nó là những tố chất đã cấu thành

máu lưu chuyển trong huyết quản của người Quảng Nam .

Khi viết về những cái chết tiến công của những sĩ phu yêu nước và nhân dân

Quảng Nam với cảm hứng ngợi ca, nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã miêu tả cụ thể

những tấm gương chiến đấu kiên cường bất khuất, bền bỉ trong đấu tranh, tung

hoành nơi chiến trận với ý chí lẫm liệt. Tiêu biểu là cuộc chiến giữ thành của Tổng

đốc Hoàng Diệu trong truyện ngắn Viên đội hầu. Dù từ một Thượng thư bộ binh của

triều đình được cử làm Tổng đốc Hà Ninh trong tình thế nước sôi lửa bỏng, dù

nhiều lần dâng biểu về triều đình xin thêm binh lính để tăng cường phòng vệ Hà

Nội đều bị Tự Đức từ chối, quở trách, nhưng với cương vị của mình, Hoàng Diệu đã

làm hết chức trách: kiên quyết tử thủ đến giờ phút cuối cùng. Trước tối hậu thư xấc

xược của Henri Rivière, Tổng đốc Hoàng Diệu đã xông xáo có mặt khắp nơi ác liệt

của cuộc chiến tử thủ, kiên quyết bảo vệ thành. Chỉ vỏn vẹn chưa đến ba giờ của

ngày 25/4/1882 nhưng lịch sử dân tộc luôn khắc ghi hình ảnh của Tổng đốc Hoàng

Diệu trong những giờ phút cuối cùng ấy. Và nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã làm cho

cái đẹp của khí tiết và nhân cách Hoàng Diệu thăng hoa trong những trang viết.

Hình ảnh Tổng đốc Hoàng Diệu quì trước “ông súng” “lẩm bẩm khấn” và buồn rầu

nói với mọi người: “Nếu Ngài không trợ lực cho thì thành trì e nguy mất” cho người

đọc nhận rõ về cuộc chiến không cân sức và nỗi thống khổ “lực bất tòng tâm” trong

lòng người chỉ huy. Khi nghe thành đã bị vỡ thì “Hai con mắt quan Tổng đốc trắng

nhợt, ông lặng đi một lát và lẩm bẩm: “Ta giữ chặt bốn ngả nhưng ta không giữ nỗi

ngả trời. Trời hại ta!” [63, tr.290]. Tổng đốc Hoàng Diệu đã chọn nơi Võ Miếu để

kết thúc cuộc đời như một sự chứng tri của tổ tiên cho lòng trung thành của ông.

Sau khi bái lạy trước vong linh những nguời đã khuất, mắt hơi ươn ướt nhưng giọng

bình tĩnh, Tổng đốc đã dặn dò thủ từ: “Ta đến đây để chịu tội với các tiên liệt trước

khi phải chết. Khuya hôm nay, ta đã viết sẵn hai phong thư bỏ vào trong cái hộp

bằng thiếc như thế này. Phong kia ta đã sai người đưa về Quảng Nam cho gia đình

ta. Phong này, ta để trên túi, nơi ngực ta. Chừng năm ba tháng nữa, thế nào cũng

có người ở làng Xuân Đài ra, đến tại Võ Miếu đây để lo việc rước di hài ta […]

Quan Tổng đốc giao cái gói nhỏ cho ông thủ từ, cất cái hộp thiếc mỏng nơi ngực

rồi đi lại cây đại thụ ở trước Võ Miếu, leo lên. Đến một cành cao, lá um tùm, ông

cởi khăn nhiễu quấn đầu đem buộc một đầu nơi cành rồi đầu kia làm một cái thòng

lọng. Lần cuối cùng, ông nhìn lại vợ chồng thủ từ đang quỳ hướng về ông, rồi đưa

cổ vào thòng lọng, du mình ra giữa đám lá rậm. Các cành lá rung động rào rào….”

[63, tr.293]. Dường như, nhà văn cố kéo dài phút giây tuẫn tiết của vị Tổng đốc

bằng cách miêu tả hết sức tỉ mỉ hành động, thái độ bình thản ung dung của Ngài đi

vào cõi chết. Qua đó, người đọc cảm nhận hết ý nghĩa của việc tử thủ bảo vệ thành

của Tổng đốc Hoàng Diệu. Tâm huyết cả một đời của người sĩ phu có “chính khí”

ấy ngàn năm sau vẫn làm cho mọi người mãi suy nghĩ, trăn trở khi đọc những

“dòng lệ máu” mà Hoàng Diệu viết tại Võ Miếu trước khi tuẫn tiết:

“Thần là một kẻ thư sanh, không am tường võ bị, Bệ hạ ủy nhiệm cho chức

vụ nặng nề .

Không thể tin được lòng kẻ trên, nên thần lo sửa soạn đề phòng, luyện tập

binh mã ba năm nay, việc chưa xong thì quân Pháp kéo tới.

Thần trộm nghĩ, Hà Nội là cuống họng của Bắc kì, mà cũng là nơi yếu

hiểm của nước ta, nhất đán bị vỡ thì các tỉnh cũng lâm vào cảnh trúc lở ngói tan,

Thần thường lo lắng đêm ngày, nên đã dâng sớ lên xin cho thêm viện binh để đề

phòng, thì lại bị bệ hạ quở trách. Thần đau đớn vô cùng, thường cùng các bạn đồng

liêu bàn tính. Người bàn nên mở cửa thành, kẻ khuyên nên giải binh, song thà thân

nát xương tan cũng không bao giờ thế được…

Thần bất tài tự nghĩ sống cũng vô ích, dù thần đã biết thành mất mà có chết

cũng còn có tội, đâu dám nói chết là trung nghĩa! Một mình thế với Long thành,

nguyện theo tiên thần Nguyễn Tri Phương về nơi chín suối.

Mấy dòng lệ máu, muôn dặm cửa Rồng, nguyện xin mặt trăng soi thấu tấm

lòng son của thần”

Muôn tâu

Hoàng Diệu [ 50, tr.260]

Sĩ tử Hà Thành đã ngợi ca hành động vì nghĩa diệt thân của Tổng đốc Hoàng

Diệu :

“Thiên tải Nùng sơn tiêu chính khí

Anh hùng đáo xứ lệ tương can”

Dịch thơ:

“Nghìn thuở Nùng Sơn nên chính khí

Anh hùng đến thế, lệ cùng rơi”

(Hoàng Xuân Hãn - dịch) [50, tr.267]

Cùng với sự tuẫn tiết của Hoàng Diệu là sự tuẫn tiết của Viên đội hầu. Nếu

như thanh gươm được Viên đội hầu treo trả lại nơi Tổng Đốc tuẫn tiết như một ẩn

dụ: chỉ có những con người như thế mới xứng đáng giữ thanh gươm tượng trưng

cho uy quyền quốc gia, thì việc Viên đội hầu tuẫn tiết theo chủ bằng thanh gươm ấy

đã nâng cái chết của một viên quan hầu cận lên tầm vóc của một anh hùng. Cái chết

của Viên đội hầu không phải là sự sùng bái cá nhân mà là chết theo thần tượng anh

hùng. Trong hoàn cảnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lúc bấy giờ,

Hoàng Diệu bảo vệ Tổ quốc, Hoàng Diệu chính là hiện thân cho những người đấu

tranh vì độc lập tự do của Tổ quốc. Từ đó, sự tuẫn tiết của Viên đội hầu trở nên có ý

nghĩa sâu sắc.

Thông qua giai đoạn lịch sử đau thương: Pháp thắng thế, các cuộc đấu tranh

yêu nước vào thời kì thoái trào, Nguyễn Văn Xuân muốn người đọc đương thời hiểu

rõ lịch sử hào hùng, bất khuất của dân tộc. Việc làm đầy tâm huyết của nhà văn

nhằm tác động đến những người đang sống trong không khí o ép của chế độ Mỹ -

Ngụy, trong tương quan cán cân lực lượng nghiêng về chính quyền Sài Gòn vào

những năm 1956 - 1965, phải suy nghĩ đến trách nhiệm công dân đối với đất nước.

Không vòng vo, bóng gió, nhà văn đề cập đến một lịch sử trong quá khứ chưa xa để

người đọc nhận diện một lịch sử hiện hữu hôm nay. Từ đó, tác giả thắp lên trong

lòng người đọc ngọn lửa của lòng yêu nước, truyền thống anh hùng bất khuất, ý

thức chính trị đối với đất đai Tổ quốc của người Quảng Nam. Tâm huyết với đất

nước, nhân dân của một nhà văn trong vùng địch tạm chiếm thật khó mà giải bày

trong một vài truyện ngắn. Nhà văn đã gói ghém tâm tư ấy trong câu hỏi được viết ở

lời giới thiệu tập Hương máu: “tất cả chúng ta có thật ai ai, và bao giờ cũng sống

đời đáng sống hay không?” [63, tr.239]. Với kiến thức lịch sử sâu sắc, qua những

cái chết của những anh hùng Quảng Nam, nhà văn còn ngầm chỉ ra nguyên nhân

thất bại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Quảng Nam nói

riêng và cả nước nói chung. Sự thất bại trước hết thuộc về tư tưởng, tầm nhìn, sự

đánh giá của ta chưa đúng tầm, đúng mức về cuộc xâm lăng của thực dân Pháp.

Trong mắt của những sĩ phu lúc bấy giờ, Pháp là bọn “man di”. Đó là cái nhìn, sự

đánh giá thấp thực lực của đối phương. Từ đó, chúng ta chưa có sự chuẩn bị, chưa

có phương cách đối phó phù hợp. Những sĩ phu anh hùng của Quảng Nam nhận rõ

không thể thắng Pháp bằng thực lực mỏng manh, thiếu thốn nhưng họ đã quyết

chống lại “tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ”. Khí khái của nhà Nho một thời tỏ ra rất

đúng trong chống xâm lăng phương Bắc không còn phù hợp khi đối đầu với kẻ thù

mới. Chính việc đánh giá không đúng về đối phương đã nảy sinh sự phân hóa trong

hàng ngũ những người lãnh đạo. Có khi kết cục thật bi thảm. Trong Chiếc Cáng

điều, ông Tán phải đầu lìa khỏi cổ vì Nguyễn Duy Hiệu nghi ông có nhị tâm. Việc

Nguyễn Duy Hiệu xử tử Tán tương quân vụ Trần Đĩnh là nhằm cứu vãn một tình

thế khó thể cứu vãn: sự thống nhất trong lực lượng nghĩa quân.

Trong vai trò là người “ghi chép” lịch sử, vẽ lại cái nhìn lịch sử bằng con mắt

của dân chúng, trước khi những câu chuyện ấy trở thành huyền thoại hóa, Nguyễn

Văn Xuân còn ghi lại những “cái chết đáng được quên đi” như một sự đối lập với

“những cái chết đáng lưu lại”. Đó là cái chết của bọn đầu trộm, đuôi cướp, dù là

loại tướng cướp hào hiệp. Thái độ yêu ghét của người dân Quảng Nam rất rõ ràng

khi phát hiện bản chất của loại người này. Trong truyện Thằng Thu, nhà văn kể về

một người đã “ăn trộm của Tây, của nhà giàu rồi đem phân phát một phần cho

người nghèo trong làng, để mua chuộc tình cảm. Hơn nữa, y là tay võ nghệ cao

cường nên có ai thưa báo, lỡ ra nhà chức trách can thiệp không kịp thì cùng lại

chịu cảnh “chờ được vạ thì má đã sưng” [63, tr.297]. Tác giả đã để cho người phụ

nữ cải nam trang sau khi đến dự khán buổi chém đầu thằng Thu thốt lên cay đắng

“chị đã lầm em ạ. Chị tưởng chị đã hiến thân cho một trang hào kiệt, có đủ tài năng

nối chí anh hùng áo vải Tây Sơn. Sự thật chị đâu có ngờ chị chỉ gặp một thằng

Thu” [63, tr.308]. Trong mắt nhân dân, hạng người nhân cơ hội loạn lạc mà trộm

cướp là hạng người tầm thường, đáng khinh bỉ, dù họ có ẩn mình trong vỏ bọc

“nghĩa khí” thì nhân dân cũng nhận ra.

2.2.3. Cảm hứng ca ngợi những con người có tính cách cứng cỏi, ngang

tàng, bộc trực thẳng thắn

Trong Đại Nam Nhất Thống Chí Q.VII, bản Tự Đức do Quốc Sử quán triều

Nguyễn biên soạn, phần “phong tục” đã ghi nhận về con người Quảng Nam: “Học

trò chăm học hành, nông phu chăm đồng ruộng, siêng sản xuất mà ít đem cho; vui

làm việc nghĩa và sốt sắng việc công. Quân tử giữ phận mà hổ thẹn việc bôn cạnh,

tiểu nhân khí khái mà hay kiện tụng. Dân ven núi sinh nhai về nghề hái củi đốn cây

mà tính chất phác, dân ven biển sinh nhai về nghề tôm cá, mà tính nóng nảy”

[11, tr.395].

Trong bản Đại Nam Nhất Thống Chí triều Duy Tân thì nhận định: “núi sông

thanh tú, nên nhiều người có tư chất thông minh dễ học, sĩ phu có khí tiết cứng cỏi

bạo nói nhưng vì thổ lực không hậu mà thế nước chảy gấp nên tính người hay nóng

nảy, ít trầm tính, duy có người nào học vấn uyên thâm mới không bị phong khí ràng

buộc” [43, tr.236].

Trong Đại Nam Thực Lục ghi nhận 5 điểm về tính cách con người Quảng Nam:

- Nhân dân Quảng Nam siêng năng trong việc đồng áng.

- Học trò chăm lo học hành.

- Mọi người vui thích làm việc nghĩa

- Ưa thích ăn mặc sang trọng, trang hoàng nhà cửa, say mê hát xướng đến mức

không kể tốn kém.

- Người trí thức có khí tiết cứng cỏi, mạnh dạn phát biểu. Nói chung, tính tình

nóng nảy từ những người có học vấn uyên thâm hay dân miền cận sơn chất phác

[43, tr. 238].

Dựa vào những nguồn quan trọng hình thành cốt tính Quảng Nam và dựa vào

những nhận xét trong các tài liệu trên thì ta đều thấy có điểm chung khi nói về tính

cách con người Quảng Nam: cứng cỏi đến mức ngang tàng, bộc trực đến thành nóng

nảy. Cốt tính này thể hiện ở cả sĩ phu và bình dân. Trong sáng tác của Nguyễn Văn

Xuân, cứng cỏi không chỉ là tính cách của người bình thường nó đã trở thành khí

tiết của những nhà nho yêu nước. Đó là khí tiết của những cây tùng, cây bách “một

mình lạt thuở ba đông”, vươn lên kiên cường dù trơ trọi, thế cùng lực kiệt. Giữa

trùng vây quân giặc, không được sự ủng hộ của triều đình, kẻ thù mua chuộc bằng

lời hứa hẹn về cuộc sống vinh hoa phú quý nhưng những sĩ phu như Tổng đốc

Hoàng Diệu, tiến sĩ Trần Văn Dư, phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, cử nhân Phan Bá

Phiến … cuối cùng đều chọn con đường: sống trong sạch, chết oanh liệt. Tấm lòng

thủy chung như nhất của họ là một trong những phẩm chất tiêu biểu trong cốt tính

con người Quảng Nam. Nó là “sản phẩm” tinh thần quí giá được hình thành, trui rèn

trong hoàn cảnh sống ở vùng đất “phên giậu”. Họ vượt qua sự sống và cái chết của

bản thân, vượt qua những tình cảm riêng tư nhỏ bé của cá nhân, trung thành với lý

tưởng đã chọn. Hơn nữa, những sĩ phu, danh nhân lịch sử thời cận đại ấy được xem

là “những bậc quân tử hàng đầu của những quân tử”. Khí tiết, phẩm chất của họ là

biểu hiện truyền thống văn hóa của một vùng đất, một dân tộc. Ta từng biết đến lời

nói cứng cỏi, quyết đánh không chịu hòa đối với kẻ thù của hàng nghìn bô lão trong

hội nghị Diên Hồng đời Trần, cánh tay thích chữ “sát thát” của quân đội ta khi

chống quân Nguyên Mông, lời khẳng khái của Trần Bình Trọng: “Ta thà làm quỉ

nước Nam, không thèm làm vương đất Bắc”, ý chí của Nguyễn Trung Trực “Khi

nào người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người nước Nam đánh Tây”. Và trong

giờ phút đối đầu với thực dân Pháp, đế quốc Mỹ những người con Quảng Nam đã

trả lời kẻ thù bằng thái độ quyết liệt, khẳng khái, như sự nối tiếp bản lĩnh của một

dân tộc anh hùng.

Sự cứng cỏi quyết liệt với kẻ thù không chỉ thể hiện qua sĩ phu mà cả nhân dân

lao động bình thường. Họ kiên quyết phân định ranh giới với kẻ thù: “nổi lửa lên

đốt nhà cửa. Những nhà ngói lớn cột mít, phên lựa bằng gõ, kèo chạm láng bóng vì

ngày nào cũng lau chùi, thế mà chủ nhân đành lòng cứu vãn được những gì, thì

cứu, xong rồi chất rơm vào, cho ngọn lửa lên” [63, tr.242]. Họ làm như thế cốt cho

kẻ địch không sử dụng được bất cứ thứ gì khi ta phải rút chạy. Không chỉ hy sinh tài

sản họ còn hy sinh tính mạng của bản thân, người thân cho cuộc chiến đấu không

cân sức với thực dân Pháp. Có thể tìm thấy tinh thần quyết tử cho Tổ quốc trong số

đông nhân dân tham gia Nghĩa Hội, hoặc trong những người dân bình thường ở một

xóm nhỏ tổ chức chặt đầu Tây (Cái giỏ), nhân dân trong làng P.K hết lòng ủng hộ

tinh thần chống Pháp của ông Tú Bình (Về làng)….

“Cứng cỏi” là khí tiết, bản lĩnh của người Việt khi đối đầu với kẻ thù dân tộc.

Còn với cuộc mưu sinh hàng ngày thì “cứng cỏi” giúp họ vượt lên những hoàn cảnh

sống tưởng chừng không thể sống, và hình thành trong mỗi người Quảng Nam ý

thức phản kháng mạnh mẽ: chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, chống ách áp bức bóc

lột, phản kháng sự sắp đặt của số phận…. Biết bao cư dân nghèo khó, không nhẫn

nhục trong kiếp đời nô lệ đã rời bỏ quê hương chôn nhau cắt rốn, đến sinh cơ lập

nghiệp ở nơi khác (Bão Rừng). Những người Radthé vốn hiền lành nhưng khi bọn

chủ đồn điền gần như cướp không sản vật, ràng buộc cuộc sống của họ bằng những

luật bất thành văn thì họ đã bất chấp mạng sống, vận động bà con trong buôn làng

nổi dậy. Còn khi đứng trước lằn ranh mỏng manh giữa sự sống và cái chết thì những

con người cứng cỏi không dễ dàng chấp nhận số phận. Chỉ có một đêm ngắn ngủi

trong Chạy đua với tử thần, nhà văn đã diễn tả bao số phận, bao trăn trở, khát vọng

dồn nén trước giờ phút cái chết cận kề. Nếu trong những truyện ngắn khác của tập

Hương máu, chưa bao giờ con người băn khoăn trước cái chết, thậm chí họ chọn

con đường chết như một lẽ hành xử, thì trong Chạy đua với tử thần, mỗi người đều

lo lắng, sợ hãi vì ngày mai sẽ chết. Nhưng cái chết không đến đơn giản mà trên con

đường đi đến nó có một ngã rẽ của sự sống. Bọn giặc gian ác chỉ cho 1/100 cơ hội

của sự sống mà thôi: một người duy nhất, chạy về đích, bứt phá những người khác

trong cuộc chạy đua. Một phần trăm mong manh của sự sống đã hành hạ những con

người trong căn buồng giam chật chội ấy suốt đêm. Họ vừa phải lo làm sao đủ sức

để chạy về đích, vừa phải dè chừng chính những bạn tù của mình. Thậm chí trong

một giây phút nào đó, có người còn âm thầm hả hê vui mừng khi thấy người khác

có vẻ yếu sức hơn mình, điều đó đồng nghĩa với cơ hội sống của họ sẽ lớn hơn.

Trong phòng giam có một ông già chân tay run lẩy bẩy không còn cả sức để đi, nói

chi đến chạy; một anh nông dân chỉ luôn nghĩ đến hạt mít nảy mầm trong bóng tối;

một anh “râu xồm” và một người “Áo đà” không rõ nghề nghiệp; một anh “Ra - vẻ -

thợ - máy” thường im lặng hút thuốc và Liễn. Trong đêm cuối cùng còn được sống,

bao nhiêu bi hài của cuộc đời đã diễn ra trong phòng giam chật hẹp này. Chưa bao

giờ người ta có thể hiểu hết ý nghĩa của đấu tranh sinh tồn như trong những giờ

phút ấy. Anh “râu xồm” gỡ cái răng vàng, nhờ bác gác ngục mua thịt heo, bánh

tráng, kẹo để ăn cho ngày mai có sức mà chạy. Ông già thì sợ đến nỗi đêm đó đái cả

trong quần, ướt hết nền buồng giam. Anh nông dân thì nghĩ đến thằng con đang còn

theo bú mẹ, 13 tháng đã biết đi, biết chạy, nghĩ đến chuyện cày bừa, mùa màng, cây

lúa, cây bắp. “Áo đà” thì quờ quạng trong bóng tối để đánh cắp được một miếng thịt

trong dĩa thức ăn của “Râu xồm”, lấy sức cho cuộc “chạy thi”. Còn Liễn? Từ đầu

hôm, anh ước gì có được cái chi “có chút giá trị để đổi lấy miếng ăn” [63, tr.507].

Sau khi lục lọi khắp người cũng không tìm được thức gì thì Liễn ước gì “ăn một

bữa rồi sẽ chết”. Liễn tứa nước miếng với “cơn đói hừng hừng trong lòng”

[63, tr.515]. Khi thấy “Râu xồm” đang ăn. Liễn bò trong bóng tối, sờ soạng cái đĩa

mà “Râu xồm” đã bỏ ra và “trái tim rung mạnh khi Liễn chạm vào một vật gì rất

mỏng” [63, tr.520]. Anh đã bỏ ngay miếng thịt vào miệng và “cầm cả cái đĩa lên,

thè lưỡi ra liếm hết” chất nhờn của mỡ còn bám trên đĩa. Liễn còn lén nhặt vỏ bọc

của viên kẹo người khác vứt ra, để dành nhấm nháp cho “tăng thêm sức lực” chạy

đua giành sự sống… Có thể nói, qua một đêm ngắn ngủi, với chừng ấy con người

trong căn buồng giam nhỏ bé người đọc dường như thấy hết tinh thần phản kháng,

không chấp nhận sự xếp đặt của số phận ở những con người đất Quảng. Vì sao

Nguyễn Văn Xuân có thể miêu tả cái đêm trong tù ấy sinh động đến như vậy? Đặc

biệt là những diễn biến tâm lý thầm kín, phức tạp của bao loại người trước giờ chết.

Có lẽ giai đoạn nhà văn bị tù vô cớ (năm 1955) đã cho ông nhìn rõ thế nào là lòng

ham sống, khát sống của con người trong giờ phút đối diện với cái chết. Nhà văn

cho người đọc thấy được những suy nghĩ rất đời thường, rất thật qua những nhân

vật trong cuộc chạy đua bất đắc dĩ. Trong giây phút đấu tranh sinh tồn, hơn bao giờ

hết, con người trở lại là chính mình: lo lắng, tham vọng, nhỏ nhen, ích kỷ, tàn

nhẫn… Những trang viết ấy không những mang lại cho người đọc sự hiểu biết về

người khác mà còn khám phá chính bản thân mình. Trong nỗ lực của tất cả những

tù nhân để tìm cơ hội sống sót, người đọc nhìn thấy bản lĩnh cứng cỏi của người

Quảng Nam: không đầu hàng số phận.

Câu chuyện về nhân vật Liếng trong Bão rừng cũng là câu chuyện điển hình về

tinh thần phản kháng của người Quảng Nam chống chế độ áp bức bóc lột, cuộc đời

nô lệ của họ ở những đồn điền cà phê, cao su…..Khi Liếng bị chủ hiếp đáp, anh đã

bỏ trốn khỏi đồn điền. Lần bỏ trốn thứ nhất, anh bị trùng vây chó săn, mật thám của

lão Mẹc bắt lại, hành hạ anh đến nỗi “tiều tụy hẳn đi, tóc phủ dài xuống vai, trán bị

vấy máu, máu đã khô nên sẫm lại… Hai lưỡng quyền nhô lên vì thịt má bị khuyết và

tím bầm. Có lẽ người ta không chỉ dùng tay để trừng trị anh. Môi miếng anh tím

ngắt và bên khóe miệng cũng có vấy máu” [63, tr.208]. Bọn chủ đồn điền đã đánh

tên “phản loạn” đủ kiểu: húc cùi chỏ vào người, thoi vào ngực, đá thốc vào đầu, vào

hông, đánh vào mặt…. Sau trận đòn “hội đồng” thì “Liếng chỉ còn là một cây thịt

không đứng vững trên hai chân nữa! Áo quần anh đã rách như giẻ vụn, máu bê bết

trên mặt, trên cổ và hai tay” [63, tr.214]. Trước tình cảnh ấy, ai cũng nghĩ rằng

không bao giờ Liếng dám trốn nữa. Nhưng chỉ mười ngày sau, anh đã trốn biệt và

còn dẫn thêm một người nữa. Sự đấu tranh sinh tồn của Liễn, của Liếng và nhiều

nhân vật khác trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân đã thể hiện một ý thức phản

kháng mạnh mẽ của những người từng chiến đấu với bão giông, lũ lụt, gió lào,

những nỗng cát mênh mông, những trận dịch kỳ lạ…..Nếu còn có một phần nghìn

cơ may của sự sống, họ cũng không buông xuôi, không chấp nhận số phận. Nhìn ở

một góc độ khác, ta thấy họ chính là những người rất thực tế và yêu cuộc sống đến

kỳ lạ!

Cư dân Quảng Nam không chỉ “cứng cỏi” chống lại “số phận” mà kẻ khác đã

an bài, chống ách áp bức bóc lột để tìm con đường sống mà trong sinh hoạt hằng

ngày, bản tính “cứng cỏi” thấm sâu trong lời nói, việc làm tạo nên cốt tính của

người Quảng Nam. Đôi khi trở thành “ngang tàng” khó trị. Nhân vật anh bồi trong

Bão rừng là một điển hình cho lối ứng xử này. Dù anh là loại “kẻ ăn người ở” trong

nhà của mụ La, địa vị thấp kém, nhưng bất cứ lúc nào có thể chống lại mụ chủ thì

anh không bao giờ bỏ qua. Khi anh bồi bị chủ mắng chửi, anh không trả thù “trực

tiếp” được thì đã nghĩ ra cách trả thù “gián tiếp”: khạc đờm vào đĩa, rồi đổ thức ăn

lên trên, đem cho vợ chồng chủ ăn. Và cả đồn điền ai cũng biết không bao giờ anh

bồi “chịu thua” mụ chủ, tất nhiên, phần lớn là “trả đũa” sau lưng: nhổ tóc con

Rôdết (con mụ chủ), gọi chủ là chó…. Anh bếp (người nấu ăn cho mụ La) nhận xét:

“nó có thua mụ đâu, cũng bên bốn chín, bên năm mươi hết” [63, tr.42]. Anh bồi

không tự ti thân phận “con sâu cái kiến” của mình. Trong lời nói và việc làm có vẻ

ngang tàng của anh là ý thức giá trị sự tồn tại của con người. Anh như muốn cho

mọi người thấy sự bất công phi lý của cuộc đời. Thế nên trong anh luôn tiềm ẩn sự

phản kháng, không để người khác tự ý vo tròn, bóp méo. Anh bồi không chỉ cãi

nhau với mụ chủ mà còn hay chống báng tất cả mọi người (dù anh không phải

người xấu). Anh ta có thói quen “chống báng tất cả những ai anh thích chống báng.

Nhiều lúc anh ta còn sẵn sàng về phe mụ chủ để đập kẻ khác cho vui hay cho đẹp ý

mụ” [63, tr.259]. Dường như đó là cách sống của anh ta. Cứ như vậy, anh ta “dạ” và

“Đ…mẹ” không có khoảng cách để trả lời lại chủ. Tính cách của anh bồi làm người

đọc liên tưởng đến một thành ngữ phổ biến: “Quảng Nam hay cãi”. Thành ngữ này

nói lên thói quen ứng xử của số đông cư dân Quảng Nam. Nếu ta hỏi người Quảng

Nam một câu hỏi thì ta thường nhận được một câu hỏi khác (thay vì một câu trả

lời). Biểu hiện “hay cãi” chính là muốn đi tìm, giải thích nguyên nhân của vấn đề,

không chấp nhận sự việc một cách dễ dàng. Có người xem việc “hay cãi” là biểu

hiện mạnh về luận lý của người Quảng Nam, và xem việc họ di cư đến Quảng Nam

là đã “cãi lại số phận”. Các tác giả Đại Nam Nhất Thống Chí thuộc Quốc sử quán

Triều Nguyễn có nhận xét: “quân tử giữ phận mà hổ thẹn việc bôn cạnh, tiểu nhân

khí khái và hay kiện tụng”. Theo lời nhận xét trên, “tiểu nhân”- nhân dân lao động -

là những người khí khái, gặp chuyện bất công, bất bình, không đồng tình thì sẵn

sàng kiện tụng, thẳng thừng tranh cãi. Cãi để tìm ra lẽ phải, cãi là biểu hiện của thái

độ yêu ghét rõ ràng, cãi là hệ quả của tính cách bộc trực, chất phác, thẳng thắn. Thế

nên, nhà nghiên cứu Mai Văn Mô đã nhận xét: “Rõ ràng, không phải ngẫu nhiên mà

con người Quảng Nam được mệnh danh là con người “hay cãi”. Điều này vừa biểu

hiện khí tiết, bản lĩnh của con người xử Quảng, đồng thời còn chứng tỏ sự hiểu biết

của cái tư duy thiên về mặt lý luận của họ. Bởi vì, nếu không có hiểu biết, không có

cơ sở, không có lý, không có bản lĩnh thì cũng không thể nào “cãi” được”

[43, tr.208]. Còn Vu Gia - nhà báo, nhà văn người Quảng, người cũng hay cãi, hay

lý sự đúng chất Quảng Nam, đã có cách giải thích rất hay: “Bây chừ ngồi nghĩ lại,

tôi thấy muốn tranh cãi, muốn nói dóc cho người ta nghe được không dễ dàng chút

nào, nếu ta không có vốn sống, không có chút hiểu biết nào về vấn đề cần tranh cãi.

Người dân Quảng Nam hay cãi là vì họ đi nhiều, biết nhiều, ăn cơm góp mòn răng,

nên họ có cái để so sánh, để phủ nhận hoặc đồng tình những tiền đề của những

người khác đưa ra” [57, tr.122].

Ngoài ra, tính cách cứng cỏi ngang tàng của người Quảng Nam còn biểu hiện

ở một dạng đặc biệt khác: thích bông đùa, trào phúng.Th.s Đinh Thị Hựu, cán bộ

giảng dạy Khoa Văn Đại học sư phạm Đà Nẵng đã khẳng định: “Hành trang của họ

vào vùng đất mới có lẽ không có gì khác hơn là nghị lực cứng cỏi, là tính cách

ngang tàng và đặc biệt là tinh thần lạc quan yêu đời …tính bông đùa trào phúng đã

trở thành hành trang không thể thiếu trong cuộc sống đầy khó khăn gian khổ của

những người đi lập nghiệp trên một vùng đất mới” [43, tr.494]. Như vậy, vì lạc

quan sống nên người xứ Quảng thích bông đùa. Và bông đùa là một cách thể hiện

tính cách ngang tàng bướng bỉnh của họ. Nghe qua có vẻ nghịch lý, nhưng thật ra

đó là hai mặt biểu hiện trong một tính cách thống nhất. Người ta có thể đùa cợt

được khi đã đứng trên hoàn cảnh, có một cách ứng xử thích hợp, không để cho

những khổ đau, bất hạnh chi phối, xâm chiếm toàn bộ suy nghĩ, tình cảm, tâm trạng

của mình “Kinh khủng mà còn đùa là thói quen của nhiều người có tính ngang

bướng và hài hước” [63, tr.167].

Trong các truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Văn Xuân, ta thấy hầu như

các nhân vật đều có cá tính “hài hước”. Từ nhân vật anh bếp, anh bồi trong Bão

rừng đến anh Liễn trong Chạy đua với tử thần; từ nhân vật người mẹ và đứa con gái

trong Con hiện sinh đến những người lao động nghèo khổ trong Dịch cát.… mỗi

người khác nhau hoàn cảnh sống, nghề nghiệp, tính cách nhưng đều có nét chung:

hài hước. Anh bồi trong Bão rừng có thể đùa được trong bất cứ tình huống nào. Khi

con voi điên một ngà đang tung hoành vào nơi ở của mọi người trong đồn điền, ai

cũng sợ xanh mặt, tái xám, biến sắc thì anh bồi vừa truyền lệnh đóng cửa vừa “kêu

ơi ới”: “voi một ngà, người ta một mắt” [63, tr.167]. Hay lúc bà chủ có việc gọi đến

bồi thì “Anh bồi nhanh nhẩu đáp “uẩy xừ”. Anh không quên quắc mắt hùng hổ

mắng lại chủ nhỏ nhẻ, đủ cho chúng tôi nghe: “Đ…mẹ, về là ngậu sị lên”. Rồi anh

thong thả chạy đi” [63, tr.33]. Khi chị vú Ba mắng mụ chủ “một vợ mà hai chồng”

thì anh bồi nói: “ông táo thì sao? Đó là táo Tây”. Đùa cợt đã trở thành một phần

trong lời ăn tiếng nói của mọi người. Khi mụ chủ mắng công nhân để cho cọp dữ

vào ăn thịt con bò thì anh bếp đã nói: “theo ý bà thì lúc có cọp, anh phải chạy ra nói

: ăn tao đây, đừng ăn bò của bà! Như thế chắc bà không rầy la gì đâu” [63, tr.63].

Trong một tình huống “vô cùng nguy hiểm” của chị vú: bà chủ đi vắng, lão chủ dê

xồm tính cưỡng bức chị, nhưng người đọc lại thấy đó là một cảnh buồn cười: “lão

chủ chỉ bận độc một cái sơ mi ngủ, phía dưới lông lá tô hô, phía trên đầu tóc xốc

xếch, đang tấn đến bắt chị vú. Chị vú thì bé choắt, chân chạy loăn quăn, miệng kêu

ơi ới” [63, tr.154]. Qua đây, ta thấy “hài hước” cũng là một cách để thích nghi với

cuộc sống của những con người bị đẩy vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Có trường

hợp hài hước “hóm hỉnh” để tự trấn an mình, giúp tinh thần của mình mạnh mẽ lên

để vượt qua số phận. Trong Chạy đua với tử thần, bất cứ trang truyện nào ta cũng

thấy thấp thoáng bóng dáng của thần chết nhưng nhân vật Liễn vẫn có những suy

nghĩ, những lời nói, hành động pha vẻ hài hước. Trong đêm khuya, Liễn nghĩ về cái

chết oan ức sắp đến với mình và những tù nhân khác để quan lớn thử tài bắn súng:

“còn sớm lắm. Mình còn sống nhiều giờ. Không biết hắn bắn có đúng tim mình

không! Thằng Tây rút súng lục có vẻ nghề lạ! y như Clark Gable…..không y như

Gary Cooper. Lạ! Sao người ta không thuê nó đóng phim. Thà nó giết bao nhiêu

người trong phim cũng mặc nó. Chứ nó dùng cái tài ấy mà hạ sát nhân loại thì

“hao” quá” [63, tr.518]. Lúc xếp hàng để chạy về đích giành sự sống, Liễn đã tả:

“một người lính Tây mang súng đi ngang qua, giơ tay nắn bóp vào bắp thịt từng

người như nắn những con thú sắp được thả ra để cấu xé nhau. Nếu hắn phun thêm

ít nước thì hắn không khác gì những tay chơi gà” [63, tr.325]. Trong Con hiện sinh,

người mẹ đã miêu tả những tài tử điện ảnh: “đàn bà, con gái, vú to như hai trái

banh mà cứ phơi phây phây ra. Hai cái mông tròn quay, đắp “ra” bên trên rồi cứ

nhoai lên nhoai xuống cà rịch cà tang trước mặt khán giả như con điên” [63,

tr.455]. Có lẽ cái nhìn tỉnh táo hài hước đối với văn hóa đồi trụy của Mỹ đã khiến

người mẹ có đủ bản lĩnh vững vàng, bảo vệ đứa con gái bé bỏng của mình trước

những nọc độc văn hóa của kẻ thù.

Vượt qua ý nghĩa đùa vui, giảm sự căng thẳng, phiền toái trong cuộc sống, hài

hước, hóm hỉnh trở thành tính cách của những người có bản lĩnh cứng cỏi dám nhìn

thẳng, chấp nhận sự thật và có một lý trí tỉnh táo, không để cho hoàn cảnh làm cho

mình phải ngã quỵ.

Phần trên, chúng tôi đã nói đến những mặt tốt của tính cách cứng cỏi. Nhưng

không phải lúc nào nó cũng là ưu điểm của người Quảng Nam. Khi thái quá nó trở

thành cực đoan “chính sự khí khái và cái bệnh hay cãi của người Quảng Nam

thường dễ đưa họ tới chỗ cực đoan” [43, tr.306]. Người đọc hả hê khi thấy một

người có thân phận “nhỏ bé” như anh bồi luôn luôn chống đối chủ bằng mọi cách

nhưng người đọc cũng không đồng tình với cách trả thù cực đoan của anh ta nhằm

vào một đứa trẻ: hễ có dịp là anh nhổ tóc con Rôdết, con mụ La, khiến nó phải khóc

thét lên. Và anh ta đã ngộ nhận đó là hành động “trả thù” mà mình cần phải làm.

Anh bồi đã phân bua với nhân vật “tôi”: “không trả thù nó thì trả thù ai? Nó lớn

thua gì con gái mẹ nó! (anh quay sang chị vú) may đó nghe! Ngắt véo trong nách

nó theo kiểu chị là lộ tẩy ngay” [43, tr.144]. Cứng cỏi và thẳng thắn đến thành nóng

nảy đôi khi làm cho người đọc thấy những con người Quảng Nam vừa có nét để yêu

mến, kính phục vừa có vẻ gì đó tàn nhẫn, xa lạ. Nguyễn Duy Hiệu là sĩ phu yêu

nước trung can nghĩa đảm, có ý thức tạo ra một con đường cứu nước mới. Nhưng

vào thời kì thoái trào của cuộc kháng chiến chống Pháp ông quá bạo liệt, “hiếu sát”.

Ông đã nói chém là chém, giết là giết. Trong mắt của nghĩa quân và nhân dân, ông

là người nghiêm khắc đến “độc đoán”, nóng nảy đến tàn nhẫn “sẵn sàng trừng trị

bất kỳ ai mà ông nghi có nhị tâm, muốn đầu hàng. Ông không bao giờ thuyết phục”

[63, tr.255]. Và thật tai hại, sự độc đoán của ông Hường chỉ “gây bực tức, căm phẫn

ngấm ngầm. Do thế, những việc đào ngũ không bớt mà chỉ tăng thêm” [63, tr.256].

Tuy đây không phải là nguyên nhân chính, nhưng nó như giọt nước làm tràn ly, đẩy

Nghĩa Hội đến chỗ tan rã. Bản tính nóng nảy cố chấp là một phần trong tính cách

của con người Quảng Nam nên nó bộc lộ ở mọi tầng lớp. Nhân vật Bốn trong Cái

giỏ vì nôn nóng giết thằng Tây nên “đã dùng hết sức bình sinh” bổ mạnh cuốc vào

đầu con chó thân yêu mà vợ Bốn đã đi hàng chục cây số để xin về. Hình ảnh con

chó đầu “vỡ toang, một mảnh óc bay lên đập vào mặt Thiện; mảnh óc trắng phếu có

lẫn máu đỏ nhỏ thành giọt. Con chó nằm yên, cái đầu gục hẳn xuống trong khi chân

trái vẫn cào sè sẹ” [63, tr.321] làm người đọc xúc động mãnh liệt. Tuy rằng, hành

động ấy thể hiện quyết tâm cao độ của nhân vật Bốn trong việc gia nhập Nghĩa Hội,

nhưng phần nào làm cho người đọc có cảm giác bất nhẫn.

Như vậy khi viết về tính cách con người trên quê hương xứ Quảng, Nguyễn

Văn Xuân đã nhìn nhận một cách “công tâm”. Những trang viết của ông là những

dòng ca ngợi người Quảng Nam cứng cỏi, ngang tàng, thẳng thắn đối đầu, vượt lên

cuộc sống đầy khó khăn, gian khổ. Đồng thời nhà văn nêu đúng hạn chế của nét tính

cách này: nảy sinh mất đoàn kết, bảo thủ….Nhưng nhìn chung, khi viết về một

Quảng Nam gian khó nhọc nhằn trong cuộc sống, trưởng thành trong giông bão, đau

thương, thì xu hướng chung của nhà văn là biểu dương mặt mạnh của nét tính cách

này và xem đó như là khí chất tiêu biểu của người Quảng.

2.2.4. Cảm hứng ca ngợi những con người có tính tình cởi mở, nhạy bén với

cái mới

Nếu bất chợt phải chọn đọc ngay một bài ca dao nói về tính cách con người

Quảng Nam nói chung, thì hầu như ai cũng chọn đọc:

“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm

Rượu hồng đào chưa nhấm đà say” [63, tr.17]

Đây là bài ca dao có đến 20 dị bản đều có phần mở đầu giống nhau. Điều đó

chứng tỏ rằng mọi vật đều có thể đổi dời nhưng tính cách người Quảng Nam đã

được đúc kết trong bài ca dao trên thì không dời đổi. Trước đây, hiện nay và mãi về

sau đất và người Quảng Nam vẫn là: “chưa mưa đà thấm”, “chưa nhấm đà say”.

Bài ca dao này đã “cực tả sự khao khát cái mới, nhạy cảm với cái mới của người

Quảng, nhưng không phải người Quảng nói chung mà là người Quảng đã vượt qua

“cái thuở ban đầu... xa xứ ấy” [61, tr.17].

Như chúng ta đã biết, vùng đất Quảng Nam được hình thành từ những nhu cầu

thiết yếu về chính trị từ đời nhà Hồ đến đời Nguyễn Hoàng. Quá trình tụ cư của

người Việt trên đất Quảng là quá trình liên tục, lâu dài. Họ di cư đến đây vì mục

đích an cư lạc nghiệp nên họ quyết bám trụ sinh tồn. Tâm lí đó khiến họ cởi mở, sẵn

sàng tiếp nhận cái mới. Hơn nữa, những lưu dân này không bị ràng buộc quá nhiều

vào triều đình và các lễ nghi phong kiến. Cách xa thủ phủ của chính quyền phong

kiến là điều kiện để người Quảng Nam tự bộc lộ bản thân, tiếp nhận những cái mới

trong cuộc sống quanh mình mà trước đây không có điều kiện để thực hiện được.

Một trong những “cái mới” là cuộc sống cộng cư với một dân tộc vừa chiến bại

nhưng là một vương quốc từng có những thành tựu văn hoá trong thời kì phát triển

rực rỡ. Mở lòng mình, tiếp thu có chọn lọc nền văn hoá này chỉ có lợi cho cộng

đồng cư dân người Việt. Thế nên, lối sống hoà đồng cởi mở là cách ứng xử khôn

khéo mà những cư dân mở cõi của Quảng Nam đã xem như một trong những

phương cách để tồn tại.

Ngoài ra, với cấu tạo địa hình, địa thế của vùng đất Quảng Nam: có nhiều núi

cao, sông lớn nên dù không muốn, những lưu dân đến Quảng Nam cũng buộc phải

nghĩ rằng: nông nghiệp không thể là con đường, là nghề kiếm sống duy nhất. Từ

xưa trong văn hoá giao tiếp ứng xử của người Việt đã có sự linh hoạt. Khi điều kiện

sống không cho họ có sự lựa chọn thì họ dùng chiến lược thích ứng: “ở bầu thì tròn

ở ống thì dài” và họ luôn nhắc nhau “tùy cơ ứng biến” trong mọi hoàn cảnh. Do

vậy, trong điều kiện sinh sống mới, tư duy người Việt ở Quảng Nam không còn

thuần nông nghiệp thì cũng không có gì là lạ. Ngoài những nghề cũ, chủ yếu là làm

nông, thì nhiều nghề mới đã xuất hiện: nghề đi biển, nghề đi buôn....Từ những nghề

mới này người Việt ở Quảng Nam đã mở rộng mối giao tiếp vượt khỏi cộng đồng:

buôn bán, trao đổi hàng hoá với người Thượng, với người nước ngoài...

“Ai về nhắn với bạn nguồn,

Mít non gửi xuống cá chuồn gửi lên” [43, tr.411].

Có thể nói ở Quảng Nam đã hình thành một phương thức kinh tế mở, một cơ

cấu kinh tế đa dạng, không lấy nông nghiệp làm chính, mà lấy lưu thông, dịch vụ

làm chủ đạo. Kinh tế thương nghiệp đã làm cho người Quảng Nam có tư duy nhất

định về kinh tế thị trường. Với chiều dài 150 km bờ biển, ý thức hướng ra biển, khai

thác biển, thông thương với bên ngoài... hình thành rất sớm ở Quảng Nam. Trên cơ

sở bản chất cần cù của người lao động ở nông thôn miền Bắc, những lưu dân đến

Quảng Nam học hỏi rất nhanh, giàu năng lực xoay sở, có khả năng thích nghi cao.

Trong việc tìm thêm nghề mới để sinh tồn, người Quảng Nam đã nhạy bén nhìn

thấy cơ hội kiếm sống của nghề đi buôn. Nhân vật anh Bỉnh (Xóm mới) khi ngồi

nhìn những thuyền đánh cá lướt sóng trở về, đã nảy ra ý định mua lại cá từ các ghe

đánh bắt, đem bán ở những chợ xa bến ghe để kiếm lời. Nhân vật anh năm Cụt (Cây

đa đồn cũ) nhìn thấy ngay nhu cầu rau ghém của dân miền xuôi trong những ngày

bão lũ. Thế nên anh đã đóng mỗi bè 40 - 50 cây chuối, cho xuôi theo dòng nước lũ.

Những thân chuối này anh mua ở miền ngược rẻ như cho, nhưng khi đem xuống

miền xuôi bán có thể lãi gấp 30 lần. Với cách nhìn “mở”, người Quảng Nam dần

dần mở rộng làm ăn buôn bán với người Thượng. Những chủ đồn điền đã nắm bắt

ngay nhu cầu của người dân tộc là muối, gạo, dụng cụ sản xuất…. và như thế họ

hình thành kiểu làm ăn trao đổi hàng hoá hai chiều: thu mua bí, ngô, sừng hươu,

mật ong... của người dân tộc, và đổi lại cho họ gạo, muối, vải, dụng cụ sản xuất.

Đến lượt chủ đồn điền lại đem bán số bí, ngô, sừng nai, trứng gà... mà chúng đã đổi

giá rẻ bán lại cho người dân miền xuôi.... Việc lưu thông hàng hoá này đã đem đến

cho chủ đồn điền nguồn lợi lớn vô cùng (Bão rừng).

Ý thức hướng ra biển, khai thác biển được xem là một nhu cầu sống còn của

người Quảng Nam lúc bấy giờ. Nhiều tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân đã đề cập

đến nghề đánh bắt cá (Xóm mới, Dịch cát, Ngày cuối năm trên đảo). Điều quan

trọng là khi lập ra những đoàn thuyền đánh cá một cách có tổ chức, có lề lối, có bạn

có phường với nhau.... thì cũng là lúc người Quảng Nam hình thành tư duy “động”.

Họ làm việc một cách qui củ, nhanh nhẹn, khác với sự lề mề, chậm chạp, vô tổ chức

của người làm nông nghiệp. Trong Ngày cuối năm trên đảo, tác giả đã tả một cảnh

ra khơi của đoàn thuyền đánh cá vào dịp đầu năm mới: “lễ đầu năm trong nhà xong,

cả bọn đều dẫn nhau ra sau bãi cúng ra mắt ghe... cúng ghe xong, cỗ mang vào nhà

cho các trai bạn ăn. Họ ăn vội vã. Chủ nhà chia phần còn lại cho những người vợ

đến đưa chồng đi đem về cho con cái. Cả bọn lại mang đuốc đi theo con đường nhỏ

ra bãi... Bọn thuyền chài sửa soạn trên ghe xong đều lủi xuống, ghé vai vào thân

ghe. Bọn đàn bà đến đẩy giúp. Chỉ thoáng cái thuyền đã trôi mạnh ra ngoài biển và

lập tức chao mạnh theo sóng. Họ mang nước, củi và những thức cần khác lên ghe

và sửa soạn lại các dây lèo. Con thuyền chòng chành có lúc tưởng như sắp úp.

Nhưng tất cả công việc tiến hành nhanh chóng, rồi chỉ mấy phút sau, thuyền lướt

sóng ra đi” [26, tr.1077].

Những con người dễ dàng học những nghề mới để thích nghi luôn là những

người có năng lực xoay xở, tháo vát. Người mẹ trong truyện ngắn Con hiện sinh là

một điển hình. Dẫu người chồng của chị chỉ biết sống cho bản thân, thu vén tiền

nong, ăn chơi đàng điếm, trộm của cải trong nhà đem bán để có tiền bao gái...

Người phụ nữ gần như bị bỏ mặc với gánh nặng gia đình: kiếm sống, nuôi con.

Trong vai trò vừa làm mẹ vừa làm cha, chị đã vun vén mọi việc lớn bé, vượt qua nỗi

khổ của người phụ nữ “có chồng hờ hững”. Từ Sài Gòn trở về quê chị bắt đầu lao

vào cuộc mưu sinh. Chị chơi biêu, dùng tiền từ mấy cái biêu để trữ đồ, phần thì

chạy hàng họ cho người ta. Chỉ một năm sau là khá. Hàng hoá bị mất cắp, chị phải

mang đi gởi nhờ nhà người anh ở xóm trong, tiền bạc phải dành dụm chắt chiu từng

đồng để nuôi con... Qua những nhân vật trên, ta thấy đối với người dân lao động

Quảng Nam dường như khi họ bị đặt vào một tình thế mới thì “cái khó” không bó

“cái khôn”mà “cái khó” làm ló “cái khôn”. Bằng mọi cách họ phải giải bài toán

cuộc đời đã đặt ra cho họ.

Sự cởi mở nhạy bén của người Quảng Nam không chỉ thể hiện ở hoạt động

kinh tế mà còn thể hiện ở lĩnh vực chính trị, văn hóa..... Họ là những con người luôn

“sốt sắng việc công”. Sự nhạy bén của cư dân Quảng Nam biểu hiện rõ ở việc nhận

thức đánh giá đúng tình hình chính trị trong nước và tiếp thu luồng gió tư tưởng dân

chủ tư sản ở phương Tây. Qua tổ chức Nghĩa Hội và các cuộc khởi nghĩa khác,

Nguyễn Văn Xuân không chỉ ca ngợi lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm hi sinh,

khí phách hiên ngang cứng cỏi của những sĩ phu Quảng Nam mà nhà văn còn cho

người đọc hiểu được tính chất đặc biệt của những phong trào yêu nước ở Quảng

Nam: hàm chứa cái nhìn mới về con đường cứu nước cứu dân. Cần thấy rằng nền

học vấn “Thánh hiền” tồn tại gần 10 thế kỷ đã dẫn dắt đất nước ta chông chênh trên

con đường quân chủ ở thế kỷ XVIII, không thể một sớm một chiều có thể thay đổi

tư duy cứu nước. Tuy chỉ mới bắt đầu, lúng túng về đường lối, không đủ thực lực,

cuối cùng thất bại nhưng sĩ phu Quảng Nam đã dám nghĩ, dám làm theo cách riêng:

hướng những phong trào yêu nước chống Pháp từ quân chủ sang đường lối dân chủ

tư sản như một bước đệm để sau này những chiến sĩ cộng sản sẽ nối tiếp bằng

phong trào cách mạng vô sản. Sự tiếp thu đường lối dân chủ tư sản của phương Tây

tuy không phải là con đường đúng đắn của cách mạng Việt Nam nhưng nó có ý

nghĩa quan trọng: phủ định một cách quyết liệt chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại

hàng nghìn năm, thôi thúc những người yêu nước trăn trở tìm một con đường cứu

nước đúng đắn.

Tính tình cởi mở, nhạy bén với cái mới khiến cho người Quảng Nam có thể

hoà nhập với những cộng cư mới một cách dễ dàng. Trước những thử thách của

cuộc sống họ không bao giờ lùi bước. Trong tiểu thuyết Bão rừng, nhà văn kể về

một thiếu niên 16 tuổi lên lập nghiệp ở đồn điền cà phê xa lạ, nhưng giây phút bỡ

ngỡ ban đầu trôi qua nhanh chóng. Thiếu niên ấy đã quen, thân thiện hầu hết các

công nhân ở đồn điền, còn mở rộng quan hệ với những người Đê sống ngoài phạm

vi đồn điền…. Trong truyện ngắn Xóm mới, nhà văn viết về xóm ngụ cư của những

con người tha phương cầu thực. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, tất cả những người

của cái xóm mới ấy đã đối xử với nhau bằng tình nghĩa, sự nương tựa, hoà nhập

trong cộng đồng để tồn tại. Từ những người có “địa vị”, học thức như vợ chồng anh

Tú (là một y tá có biệt tài) đến những người nay “nuôi đẻ” cho nhà này, mai “dọn

dẹp, quét tước, trông nhà” cho nhà khác như bà Quì, và những người gánh cá chạy

chợ như anh Bỉnh ...đều đối xử với nhau rất thân tình.

Chính sự nhạy bén, cởi mở, ham học hỏi mà đất Quảng Nam tuy sinh sau đẻ

muộn so với những vùng Hải Dương, Nghệ An, Bắc Ninh....nhưng vẫn nổi tiếng là

“đất học”, vùng đất của sự khám phá sáng tạo. Truyền thống hiếu học, tư chất thông

minh của người Quảng Nam được lịch sử khoa cử ghi nhận qua sự kiện “Ngũ phụng

tề phi” và “Tứ hổ”. Tuy hiện nay Văn thánh Quảng Nam không còn nhưng ngành

văn hoá thông tin Điện Bàn đã tìm được hai phiến đá dựng trước tam quan với bốn

chữ đề “Khuynh cái hạ mã” (nghiêng lọng xuống ngựa) chứng tỏ sự tôn vinh đối

với hiền tài của Quảng Nam. Người Quảng Nam quý chữ, kính trọng ông thầy,

trọng tri thức, khích lệ người đi học. Ca dao Quảng Nam có câu:

“Không tham bị lúa anh đầy

Tham ba hàng chữ làm thầy thế gian” [43, tr.243].

Thế nên, những nhân vật xuất thân từ những người có học đều được nhà văn

dành cho một sự “ưu ái” đặc biệt khi viết về họ. Từ những bậc thầy dạy vua như

Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu đến những “gia sư” của những đứa trẻ trong làng

chỉ khoảng 14 - 15 tuổi. Trong truyện ngắn Tiếng đồng và tiểu thuyết Bão rừng, nhà

văn đều viết về một vị gia sư trẻ tuổi. Tuy chỉ mới 14 tuổi nhưng vị gia sư này được

tất cả “phụ huynh giở mũ nón để chào hỏi như một ông thầy thật sự” [63, tr.469].

Bao giờ ở lớp học về, thầy cũng được các học trò - đôi khi có cậu lớn bằng thầy -

ôm sách vở đi phía sau ra chiều cung kính.Với “bề thế” đó, “gia sư” 14 tuổi ấy có

thể vào các gia đình ở gần trường chơi, uống trà, nói chuyện đời như người lớn

ngay trên bộ bàn ghế đặt giữa nhà... Mỗi khi gởi học phí cho “thầy”, họ đều “xếp

món tiền cẩn thận lên cái hộp trầu bằng đồng đặt giữa khay” [63, tr.469]. Còn nơi

núi rừng hoang vu của đồn điền cà phê, “vai” thầy giáo 16 tuổi Nguyễn Văn Xuân

cũng được tất cả mọi người nể trọng. Họ “nhã nhặn” với thầy, xách valy hộ thầy.

Cô Liêu đã tin tưởng nhờ thầy viết hộ thư gởi về thăm gia đình. Anh bếp thì “biệt

đãi” thầy bằng cách “lựa sẵn một ít món để đãi khách” của mụ chủ giấu diếm cho

thầy ăn (vì sợ thầy không chịu được những bữa ăn kham khổ ở đồn điền). Mọi việc

lớn nhỏ trong đời sống dân phu ở đồn điền, họ đều cho thầy Xuân tham dự, lắng

nghe ý kiến của thầy (dù thầy là người mới đến và chỉ mới 16 tuổi).

Nhờ khát khao học hỏi cái mới nên nhân vật Cảo trong Tiếng Đồng đã lặn lội

khắp buôn làng của người Thượng, lắng nghe âm thanh ngân vọng của chiêng,

phèng la, để có thể sáng tạo những nhạc cụ tốt nhất, vừa thể hiện khả năng học hỏi

cái mới vừa khẳng định bàn tay tài hoa, trí tuệ mẫn tiệp của những người lao động

Quảng Nam.

Qua các sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, ta thấy những cư dân Quảng Nam là

những người có tính tình cởi mở, nhạy bén với cái mới. Đối với họ, khao khát học

hỏi cái mới không chỉ là nhu cầu sống còn mà còn là nhu cầu tình cảm thôi thúc tự

bên trong tâm hồn mỗi con người. Với họ, tồn tại luôn song hành với khám phá, học

hỏi, sáng tạo.

2.2.5. Cảm hứng ca ngợi những con người nhân hậu, đa cảm đa tình

“Cái gì làm cho con người trở thành con người?

Không phải cái mặt mà là cái lòng người ta ăn ở với nhau!” [42, tr.2]. Nhận

xét này có nguồn gốc sâu xa trong đời sống tự nhiên, xã hội của nước ta. Nếu xét về

“định vị văn hoá Việt Nam” thì văn hoá ở nước ta là loại hình văn hoá gốc nông

nghiệp với hai nét đặc trưng tiêu biểu: đối với môi trường tự nhiên thì định cư, tôn

trọng và ước vọng sống hòa hợp; đối với tổ chức cộng đồng của đời sống nông

nghiệp có nhiều mối quan hệ đã đưa đến lối sống trọng tình. Nhân dân ta đã ví von

“một bồ cái lí không bằng một tí cái tình”. Đó là truyền thống nhân đạo quý báu

trong đời sống tâm hồn người Việt. Tuy mỗi thời kì lịch sử xã hội, truyền thống

nhân đạo có thể được bổ sung thêm những yếu tố mới nhưng căn bản vẫn là tinh

thần đùm bọc yêu thương giữa người với người, bản tính nhân hậu của mỗi cá nhân

trong ứng xử với tự nhiên, xã hội... Đối với lưu dân Quảng Nam, ý nghĩa của yêu

thương đùm bọc càng thể hiện sâu sắc trong sự cố kết cộng đồng, yêu ghét rõ

ràng….. Từ đó, trong họ hình thành bản lĩnh, chiều sâu, bề dày văn hoá, chống lại

những thế lực xâm lăng văn hoá của kẻ thù.

Tinh thần cố kết cộng đồng của những cư dân Quảng Nam trước hết thể hiện ở

suy nghĩ và tình cảm của họ đối với “làng”, nơi họ sinh sống gắn bó gần như trọn

cuộc đời mình. Với họ, “làng” không là đơn vị hành chính “khô khan”, nó còn có ý

nghĩa chung lưng đấu cật, đùm bọc lẫn nhau trong một cộng đồng nhỏ: chung làng,

cùng làng, người làng, huề cả làng... Trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, nhà văn

thường nhắc đến đơn vị làng. Hầu hết các nhân vật của ông đều hành xử trong

không gian nhỏ hẹp “làng” của mình. Bản thân nhà văn cũng là “một con người từ

một ngôi làng”. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Nghĩa Hội dựa vào

nhiều làng dân cư từ sông Thu Bồn đến tận Hoà Vang; ông Tú Bình được đưa về

làng P.K để xử tội chết; việc bố trí chặt đầu Tây đã diễn ra ở một làng nhỏ trên

đường từ chợ Củi ra tỉnh thành Quảng Nam; Thái Phiên và Trần Cao Vân được đưa

về xử chém ở An Hoà (Huế); làng P.K sinh sống bằng nghề đúc đồng, có những

con người tài hoa như nhân vật Cảo. Nhỏ hơn phạm vi “làng” là những sinh hoạt

của người dân trong những “xóm” nhỏ. Trận dịch kì lạ ở một xóm nhỏ không tên,

những “xóm mới” hình thành trên những bờ khe toàn cát. Trong không gian “làng”,

“xóm” nhỏ bé, nhà văn đã miêu tả cuộc sống lao động và chiến đấu, tình cảm gắn

bó với “làng” của những con người bình thường. Qua đó, người đọc thấy được đời

sống tâm hồn của họ. Có thể nói “làng” trở thành nét đẹp trong giá trị tinh thần của

dân tộc. Tình cảm đối với “làng” trở thành một trong những nền tảng vững chắc

hình thành tình yêu quê hương đất nước.

Truyện ngắn Về làng là truyện ngắn tiêu biểu cho tinh thần gắn bó, cố kết cộng

đồng của người Quảng Nam. Ông Tú Bình vì không chịu nghe Tân Trào chống lại

Cần Vương nên ông bị xử tội chết. Nguyện vọng cuối cùng của ông là được về làng

để chết. Qua truyện ngắn này, người đọc có dịp nhận rõ mối quan hệ của mỗi thành

viên đối với cộng đồng “làng”. Ông Tú Bình đòi về làng để chết vì đó là nơi ông

sinh ra, nơi đã nuôi dưỡng thể chất và tâm hồn ông. Việc ông vào bái vọng ở đình

làng, vào chùa lạy Phật và nghe đọc kinh siêu độ... chứng tỏ “làng” rất quan trọng,

rất có ý nghĩa trong đời sống tâm linh của con người sắp từ giã cõi đời. Hơn nữa,

việc khăng khăng đòi về chết ở làng của mình, ông Tú Bình muốn nói với mọi

người rằng: ông sống và chết đều là người của làng. Chưa bao giờ thành ngữ “lá

rụng về cội” được hiểu một cách cụ thể và sâu xa như vậy. Còn cộng đồng làng P.K

nhỏ bé đối với ông như thế nào? Họ hồi hộp chuẩn bị mọi thứ đón ông về. Già trẻ

lớn bé trong làng đặt hương án hai bên đường quì lạy ông… Tất cả điều đó chứng tỏ

dân làng luôn sát cánh, ủng hộ việc làm yêu nước của ông. Họ đã chuẩn bị hậu sự

cho ông Tú với tinh thần “nghĩa tử là nghĩa tận”. Mối quan hệ của cư dân trong

làng với ông gần như là mối quan hệ ruột thịt, thâm tình. Chính vì vậy, dù không

trực tiếp nhìn thấy ông Tú bị xử tử ngoài bãi chém nhưng các bô lão ở lại trong làng

khi nghe một hồi chiêng trống họ đã: “cùng nép sát vào nhau, một cảm giác đau

đớn rùng rợn chuyển từ thân thể người này sang người khác” [63, tr.314]. Cũng cần

thấy rằng, tình cảm gắn bó của những người trong làng có thêm yếu tố “đặc trưng”

của người xứ Quảng. Họ vốn là những người mạnh về “luận lý” nên tuy rằng họ

sống trọng tình nhưng không phải là tình cảm mù quáng mà tình phải dựa trên lý,

kết hợp với lý. Do vậy, tình cảm của họ có cơ sở vững chắc, ý nghĩa sâu xa, vượt

khỏi phạm vi mối quan hệ giữa những người trong cùng một làng. Dân làng P.K nể

trọng, tiếc thương, lo lắng, dành tất cả tình cảm tốt đẹp cho ông Tú Bình vì họ hiểu

suy nghĩ và việc làm của ông là suy nghĩ và việc làm cao cả: vì dân vì nước. Thế

nên, họ đã biến những giây phút cuối cùng của ông Tú trở thành những giây phút

đẹp đẽ của một đời người.

Bản chất nhân hậu của người Quảng Nam còn biểu hiện ở tình cảm yêu thương

những người thân trong gia đình và “thương người như thể thương thân”. Tình yêu

thương đã hình thành sợi dây quấn quýt nối kết người với người. Cụ Niên vì thương

con nên liều tấm thân già đi làm phu đồn điền, Nguyễn Thị Băng vì thương chồng

bất chấp cả mạng sống, những dân phu vì thương người cùng cảnh ngộ nên đã che

chở cho Liếng, người mẹ vì yêu con nên sẵn sàng tha thứ lỗi lầm của “tình địch” chỉ

độ tuổi con mình (Bão rừng, Rồi máu lên hương, Con hiện sinh...). Cũng có điều lạ

trong tính cách của người Quảng Nam: vừa thẳng thắn, cứng cỏi, vừa “mang trong

mình dòng máu rất nhạy cảm, lối sống chân tình, thủy chung, sắt son” [43, tr.209].

Trong tiểu thuyết Bão rừng, cụ Niên đã thổ lộ với bạn cùng cảnh ngộ lý do cụ

bán mạng cho đồn điền: “dẫu ở nhà cũng không ích gì, ráng đi làm kiếm đồng tiền

gửi về cho con nộp thuế có phải cứu đói được cái mạng nó không? Tôi không dành

dụm gửi về thì chúng cũng tù rục xương” [63, tr.89]. Việc làm của cụ thể hiện quan

niệm nhân sinh của người Việt: sống là chịu đựng, chịu đựng để tin rằng cuộc sống

sẽ tốt đẹp hơn. Chịu đựng còn là để hi sinh cho con cháu, để sự sống tiếp tục. Tinh

thần ấy đã được nhân dân ta thể hiện trong bài ca dao quen thuộc mà ý tứ sâu sắc:

“Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi, ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”

Lời nói của cụ Niên vừa chỉ ra cảnh khổ của con người cùng đường vừa ẩn

chứa những minh triết dân gian: “còn nước còn tát. Trời sinh trái măng cụt thì vỏ

ngoài, vỏ trong bọc kín mít, ruột đặc ngon lành, ai cũng nâng như nâng trứng; còn

trái sung thì vỏ mỏng, thịt chát, ruột rỗng, rụng xuống đường chẳng ai muốn ngó”

[63, tr.89].

Xưa nay, tình cảm vợ chồng trong những trang văn thường để lại cho người đọc

những rung động sâu xa vì nó là thứ tình cảm thiêng liêng trong đời sống tâm hồn

của người Việt. Tình cảm này không chỉ xuất phát từ một phía mà là tình cảm song

phương: vợ đối với chồng, chồng đối với vợ. Trong văn chương trung đại, chịu ảnh

hưởng Nho giáo, các nhà văn thường ca ngợi người phụ nữ tiết liệt, có khi vượt lên

tình cảm thông thường của con người để trở thành mẫu người phụ nữ lý tưởng trong

xã hội phong kiến: thờ chồng, nuôi con. Nhà văn Nguyễn Văn Xuân không xây

dựng hình ảnh người phụ nữ dựa trên khuôn mẫu ấy. Nguyễn Thị Băng trong truyện

ngắn Rồi máu lên hương là một phụ nữ có tình cảm đối với chồng rất tha thiết, có

thể vì chồng hi sinh hạnh phúc, tính mạng của mình. Đồng thời, người đọc thấy

được tình thuỷ chung son sắt của người phụ nữ này được biểu hiện rất cụ thể, với

những khao khát rất đời, rất người. Chỉ sống gần chồng được một đêm động phòng

hoa chúc, cánh chim bằng tung bay ngàn dặm, mãi một năm sau mới có tin tức.

Người phụ nữ trẻ ấy sống trong khao khát chờ đợi. Nàng không cam tâm khi biết tin

chồng bị xử tử. Trong một đêm, nàng phải sống với bao đau khổ của tâm hồn người

thiếu phụ chờ chồng: nàng nấc lên từng cơn, nghiến chặt răng như nghiền bao nỗi

đau đớn, đấm tay xuống bàn, đấm tay lên trán, vì không làm sao cứu thoát được

chồng. Cuối cùng quá đau khổ nàng ngã ra bất tỉnh. Trong giây phút ở pháp trường,

nàng tận mắt chứng kiến Thái Phiên bị xử chém. Khi đầu Thái Phiên rụng xuống,

tình yêu chồng đã khiến nàng có sức mạnh bộc phát: “một thiếu phụ mặc toàn tang

chế. Nàng vẹt quân lính, líu ríu chạy trên đôi chân bé nhỏ, thẳng một mạch đến chỗ

chiếc đầu lâu vừa rơi xuống trên đống cỏ. Nàng quỳ xuống, nâng nó lên trên đôi

bàn tay trắng bệch. Nàng áp cái đầu đầy máu me vào ngực mình. Nàng rú lên, thét

lên thê thảm” [63, tr.357]. Ba tháng cuối đời của Nguyễn Thị Băng có thể khiến

người ta cảm động mà viết nên một thiên tình sử về tình cảm vợ chồng. Trong ba

tháng ấy, nàng đã ôm ấp mái tóc tanh nồng mùi máu, kiên quyết không cho người

nhà tắm gội. Đối với nàng, mỗi ngày được mân mê những sợi tóc đen dày cộm vì

bết máu tanh nồng, nàng tưởng như đang được sống gần gũi bên chồng, lưu giữ mùi

hương của chồng.

Ngoài tình cảm sâu nặng với người thân có ràng buộc huyết thống tình thâm,

bản chất nhân hậu, lòng yêu thương của người Việt nói chung và người Việt -

Quảng Nam nói riêng còn sâu sắc ở chỗ “thương người như thể thương thân”.

Người ở đây là “người dưng” nhưng có thể vì nhiều lý do đã gắn kết họ vào những

cái chung: chung hoàn cảnh, chung kẻ thù, chung nỗi khổ của những mảnh đời tha

phương cầu thực, bị bóc lột, o ép mọi bề....Vì thế họ đã mở lòng mình yêu thương

người khác như yêu thương chính bản thân mình. Trong Bão rừng, ta thấy dân phu

ở đồn điền cà phê của mụ chủ La đã che chở cho Liếng khi anh bị tra tấn dã man. Ở

vào hoàn cảnh thiếu thốn mọi thứ nhưng mọi người trong đồn điền đều chung tay lo

đám tang của bác Liễng cho trọn tình trọn nghĩa. Còn tình cảm của anh bếp đối với

nhân vật “tôi” chẳng khác nào tình cảm của người mẹ đối với đứa con thơ của mình.

Lòng yêu thương của những nhân vật trong Bão rừng không phải là tình yêu thương

mù quáng mà là tình yêu thương giữa những con người đồng cảnh ngộ. Họ yêu và

ghét rất rõ ràng. Ghét mụ La, lão Mẹc vì chúng là “chủ”, sống trên mồ hôi xương

máu của dân phu; yêu thương tất cả anh em trong đồn điền vì họ đều bị áp bức bóc

lột. Từ đó, họ đứng về lẽ phải, đôi khi liều cả mạng sống của mình. Nhân vật Trão

bị chủ ép buộc phải đánh Liếng vì tội bỏ trốn, nhưng sau đó chính Trão đã cùng

Liếng vượt khỏi chốn tù ngục của đồn điền cà phê. Qua đây, ta thấy nhà văn

Nguyễn Văn Xuân chưa là nhà văn cách mạng, nhưng trong sáng tác của mình ông

đã cho người đọc thấy được tình hữu ái giai cấp của những người cùng khổ. Nó như

sợi dây vô hình mà bền chặt liên kết họ với nhau để làm nên sức mạnh tranh đấu sau

này.

Lòng yêu thương còn làm cho con người trở nên cao thượng. Khi bao dung,

tha thứ cho người khác cũng là lúc người ta cảm thấy tâm hồn mình như “lớn hơn”

lên, thanh thản hơn....Trong cuộc sống ngày thường, đôi khi có những việc không

bằng lòng nhau, dẫn đến hiềm khích, mâu thuẫn nhưng trong hoạn nạn họ đã “chín

bỏ làm mười”. Bà Phiến và bà Lựu có mối thù không đội trời chung vì con trai bà

Phiến (Thân) ăn ở với con gái bà Lựu (Liệu) có mang (Xóm mới). Nhưng khi xóm

Mới bị mưa bão cuốn phăng tất cả thì dường như mối hằn thù này bị xua tan. Bà

Phiến có kêu lên tuyệt vọng nhưng không ngăn con trai lao vào chỗ cát đang đổ

xuống lấp dần, để tìm được người mình yêu (Liệu, con bà Lựu). Mọi người trong

xóm Mới, nhất là anh Phương, không thích lối sống “ky bo” của ông Hương Là, ông

dành dụm tiền chôn trong nền cát, chỉ ăn rau mắm không dám ăn đến bát mì, nhưng

khi nghe tiếng khóc ai oán của con gái ông Hương vì người cha bị vùi lấp trong cát

ai cũng đau lòng. Anh Phương nghĩ ông Hương Là đã quyết ở lại trong cát tìm cho

ra gói bạc của mình. Và anh đã “nhìn ra phía sông, như theo dõi một linh hồn mà

anh không bao giờ hiểu được” [63, tr.488]. Tuy những người trong xóm mới có

nhiều hiềm khích với nhau nhưng họ thật lòng lo lắng cho nhau, đau đớn khi thấy

những người cùng xóm mất tích trong cát. Họ làm tất cả những gì có thể mặc cho

“nước chảy rào rào với những hình cuồn cuộn, luân lưu, mập mờ” [63, tr.445].

Truyện ngắn Con hiện sinh là một truyện tiêu biểu cho lòng yêu thương đạt

đến vị tha, cao cả của một người phụ nữ. Tục ngữ xưa có câu:

“ớt nào mà ớt chẳng cay

Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng”

Thế nên có thể hóa giải được cơn ghen, yêu thương “tình địch” là điều hiếm

hoi, thậm chí là không tưởng trong cuộc đời thường đầy “hỉ, nộ, ái, ố”. Người phụ

nữ trong tác phẩm đã căm phẫn bao ngày vì sự tệ bạc của người chồng, thù ghét lối

sống hiện sinh làm cho chồng con sa ngã, giận dữ vì tài sản trong nhà cứ đội nón ra

đi theo thói ăn chơi của chồng, ấm ức vì phải chịu cảnh bị chồng bỏ quên…. Tất cả

tích tụ thành nỗi oán hận đứa lăng loàn đã quyến rũ chồng mình. Chị quyết phải trả

thù. Chị lập kế hoạch đánh ghen tại trận, tìm thêm người hỗ trợ cho mình… Theo

“kế hoạch” chị bỏ nhiều tiền “thuê một con mụ lanh như chồn, hỗn bằng cả một cái

chợ họp lại” [63, tr.460] để làm thám tử và cùng chị đi đánh ghen. Chị sắm sẵn một

con dao bén ngọt. Khi đã biết chỗ hẹn hò của chồng và “tình địch” chị bố trí cho mụ

Hiệp đi trước, chị đi xe sau. Chị phân công mụ Hiệp có nhiệm vụ cản chồng chị

không cho anh ta can thiệp. Còn chị sẽ trói “tình địch” vào cẳng giường, dùng con

dao bén ngọt gọt tóc. Sau đó đắp dầu hắc lên…..Nhưng sau khi “tả xông hữu đột”

trong căn phòng tối, chụp được đầu tóc kẻ tình địch thì cũng là lúc chị vứt con dao

đi, ôm chặt kẻ “tình địch” vào lòng, vuốt ngực, vuốt tóc, vỗ về nó. Vì kẻ tình địch

ấy có “cái mặt non choẹt với bộ tóc ngắn”. Tuy vẫn chưa hết ghen tức nhưng chị

vẫn đủ tỉnh táo nhận ra rằng tuổi nó chỉ bằng tuổi con chị, nó chỉ là một con cừu

non dại bị sách báo đồi trụy lường gạt, bị thằng chồng khốn nạn của mình phỉnh dỗ.

Chị hiểu rằng “tình địch” của mình chỉ là một nạn nhân tội nghiệp. Lúc ấy, trong

đầu chị chỉ nghĩ đến đứa con gái của mình. Chị đã rơi nước mắt cảm thấy như mình

đang phạm một lỗi lầm lớn trong đời. Hận thù tích tụ từ sự ghen tuông của người

đàn bà ấy trong phút chốc được xoá tan một cách dễ dàng, nhanh chóng vì chị đã

nhìn “nhân ngãi” của chồng bằng cái nhìn của một người mẹ đối với đứa con bé

bỏng, khờ dại để cảm thấy mình có lỗi chưa làm tròn trách nhiệm của người mẹ.

Chính lòng nhân ái đã làm nên bản lĩnh vững vàng ở người phụ nữ chịu nhiều bất

hạnh trong đời sống tình cảm này. Nhờ đó, chị có thể vượt qua cám dỗ của lối sống

hiện sinh, một loại nọc độc văn hoá của Mỹ - Ngụy, bảo vệ con, tha thứ cho người

khác…. Chị đã vượt qua tình yêu nam nữ, tình cảm vợ chồng riêng tư để hướng đến

một tình cảm lớn lao hơn: tình người. Cần thấy rằng tình người ở đây không phải

được ứng xử theo cảm tính thông thường. Sự tha thứ của người phụ nữ đối với “tình

địch” có sự hiểu biết cặn kẽ, minh bạch của một trí tuệ sáng suốt, tỉnh táo nhận rõ

đâu là nguyên nhân chính, đâu là kẻ thù chính làm cho chị tan nhà nát cửa, phòng

không gối chiếc.... Có lẽ vì Quảng Nam có những con người như thế nên ngày nay

người đến Quảng Nam đều thấy một phố cổ Hội An dù ở nơi giao lưu văn hoá, kinh

tế Bắc - Nam, Đông - Tây nhưng vẫn bền vững với thời gian trong việc giữ gìn

những di sản văn hoá tinh thần của dân tộc.

Lòng thương người, lối hành xử cao thượng không phải là hành động nhất thời

mà nó như chất ngọc tiềm ẩn trong tâm hồn của những con người Quảng Nam giàu

cảm xúc. Và từ trong sâu lắng của yêu thương, mọi người đã điều chỉnh hành xử

của mình sao cho đúng đắn nhất, không làm tổn thương người khác. Thế nên, nhân

vật “tôi” trong Bão rừng dù là một thiếu niên 16 tuổi tâm hồn nhạy cảm nhưng rất

mực thước, tế nhị. Khi biết chị Sáu là một người đàn bà được cứu vớt khỏi chốn

“lầu xanh”, luôn khát khao tình cảm chân thành, thì mặc dù không đồng tình với

những biểu hiện “yêu thương” quá đáng của chị dành cho mình, nhưng nhân vật

“tôi” vẫn cố tránh không làm hằn thêm những vết thương quá sâu trong cuộc đời

nhục nhằn của chị. Nhờ cách đối xử đó, cuối cùng đã hoá giải được những thù hằn

trong lòng chị Sáu. Còn với Liêu, một hình ảnh về người con gái trong sáng, thánh

thiện, thì nhân vật tôi đã đem lòng yêu thương nhưng sớm nhận ra kết cục sẽ chẳng

đi đến đâu nên cư xử đúng mực, trân trọng Liêu như trân trọng một vẻ đẹp hiếm hoi

chốn khắc nghiệt, bạo tàn.

Những con người giàu lòng yêu thương là những người nhạy cảm với niềm vui,

nỗi đau khổ của người khác. Tâm hồn họ như một sợi dây đàn sẵn sàng rung lên

những cung bậc. Sự đa cảm đa tình đã làm nên tố chất của những nghệ sĩ tài hoa.

Giữa chốn núi rừng âm u trong Bão rừng, tiếng khèn của Lư cất lên làm bao người

nghe phải say mê: “thốt nhiên, một tiếng khèn não nùng, thánh thót vang lên. Tiếng

khèn như tiếng kêu gọi của đêm thăm thẳm đang chờ một phút bất ngờ để từ rừng

sâu tiến lên chiếm hết không gian” [63, tr.149]. Tiếng khèn có thể tác động vào vũ

trụ thẳm sâu và huyền bí vì nó không là nhạc cụ chuyển tải những âm thanh bình

thường mà là điệu tâm hồn của dân tộc, những con người gắn bó ngàn đời với rừng

thẳm âm u. Những nhạc cụ của họ vô cùng giản đơn “gồm một vật tròn như cái gáo,

trên cắm tua tủa những ống trúc, miệng chỉa ra bốn phía” [63, tr.74]. Nhưng “cái

vật” ấy lại có thể phát ra những “điệu nhạc nghe rất buồn, buồn thánh thót và vang

rộng”. Trong giây phút ấy, người thổi khèn đã hoá thân trong vai trò một nghệ sĩ

toàn tâm toàn ý cho cái đẹp “đứng thổi như thế được một lát, y uốn mình như muốn

biến thân hình thành làn sóng. Tiếng nhạc uyển chuyển theo khúc múa” [63, tr.75].

Và điều làm ta ngạc nhiên là ta có thể bất chợt gặp những nghệ sĩ người Đê vô danh

trên khắp nẻo đường của buôn làng. Khi thì họ thổi khèn, khi thì họ đàn bằng loại

đàn “là một cái ống tre dài, cạo vuốt trơn tru mà người ta tách lên thành sợi, hai

đầu nêm bằng những tí gỗ cho sợi dây căng thẳng” [63, tr.77]. Âm nhạc đã trở

thành một phần trong đời sống tâm hồn của người dân tộc. Có hẳn một làng P.K

(Phước Kiều) sống bằng nghề đúc đồng, tạo ra những nhạc cụ như chiêng, phèng la

bán cho người Thượng. Làng nhỏ bé nhưng nhiều nghệ nhân tài hoa với bàn tay

khéo léo và đôi tai có khả năng thẩm âm tuyệt vời. Không phải ngẫu nhiên mà

truyện ngắn Tiếng đồng là truyện ngắn duy nhất của Nguyễn Văn Xuân được chọn

đăng trong tuyển Văn học miền Trung thế kỷ XX. Tiếng đồng đã giới thiệu với người

đọc về cái “sành” của một người “nghe tiếng đồng”. Tiếng đồng mà Nguyễn Văn

Xuân nói ở đây là tiếng phèng la, tiếng chiêng, những thứ được đúc bằng đồng.

Nghe thì giản dị như vậy, thực tế người ta không thể ngờ rằng muốn đúc một cái

chiêng, cái phèng la có âm sắc, tiếng ngân giống như ý muốn không phải chuyện dễ.

Nhân vật Cảo chỉ là một người nhà quê, không học vấn gì, nhưng anh ta có đôi tai

thẩm âm đặc biệt. Cả làng P.K chuyên nghề làm chiêng, làm phèng la, đã nhờ vào

đôi tai của Cảo mà bán được nhiều hàng hơn. Khi thợ trong làng đúc xong một cái

phèng la, gọt từng ly đồng để cho chỗ dày chỗ mỏng đúng kích thước rồi, đến khi

đánh thử tiếng kêu vẫn không đúng như dự tính. Chủ thợ còn đang ngẩn ngơ chưa

biết lí do thì nhân vật Cảo bước vào nói ngay: “cha này ẩu quá! Loại này sao lại

đánh bằng dùi quấn vải. Phải đánh bằng cây cứng chớ. Đánh vậy làm sao có tiếng

cho đúng” [63, tr.473]. Cả người của nhân vật Cảo từ nét mặt, dáng điệu, cử chỉ như

là một sự hoá thân của niềm đam mê lớn lao đối với thứ nhạc cụ đặc biệt này: “rồi

không chờ đợi, hai con mắt đen thui thủi đó, có hơi hồng hồng, xám xám như màu

rừng núi hực lên. Anh xách đại một chiếc guốc đang mang dập vào nhạc cụ. Đột

nhiên và lạ lùng, chính tôi không hề phân biệt mà cũng không bao giờ để ý phân

biệt âm thanh của tiếng đồng, thế mà tự nhiên tôi có cảm tưởng rõ ràng là tiếng mới

hay hơn, phong phú và ngân vang hơn tiếng cũ nhiều lắm” [63, tr.473]. Ngoài tài

thẩm âm đặc biệt, nhân vật Cảo còn có một trí nhớ lạ lùng, một sự mẫn cảm đặc biệt

khi tiếp xúc với chiêng, phèng la. Một tù trưởng người Thượng, có rất nhiều chiêng,

trong đó có một bộ lẻ một chiếc, lại là chiếc cổ nhất, lớn nhất mà vị tù trưởng quý

hơn hết. Ông sẵn lòng mua với giá cao nhất nếu có ai tìm được cái chiêng bị mất.

Cảo bảo ông đánh cái chiêng cổ cho nghe. Anh nghe gần, nghe xa. Tự tay gõ cùng

khắp, cả sấp lẫn ngữa, cả trong lẫn ngoài suốt buổi. Cuối cùng anh bảo: “tôi có thấy

trong nhà ông tù trưởng ở Ban Mê Thuột có cái chiêng y hệt cái này. Chắc là của

ông bị mất. Nếu ông muốn mua lại, tôi đi lấy về cho” [63, tr.483]. Dĩ nhiên là ông tù

trưởng ngã giá, bằng lòng ngay. Anh liền về làng P.K, ủy thác cho những người thợ

lành nghề đúc lại cái chiêng thứ hai mà anh đã ghi nhớ, thuộc làu cả về kích thước

lẫn âm thanh ở cái chiêng thứ nhất. Phải hiểu thế nào chiêng đôi mới biết “cái liều”

cũng là “cái tài” của nhân vật Cảo. Hai cái chiêng đôi được móc cách xa nhau hơn

một thước tây nhưng khi tiếng “thùng... ngao” phát ra từ cái phèng la ở phía sau thì

lạ lùng thay dường như cũng có tiếng “thùng...ngao” như thế phát ra ở cái phía

trước. Rõ ràng không ai đánh, thế mà cái phía trước cứ kêu, mà kêu y hệt như cái

thứ hai. Như hai đứa trẻ song sinh, đứa này bị đánh đau xót la hét thế nào thì đứa

kia cũng đau xót la hét như thế. Đối với nhân vật Cảo, tiếng đồng như có một ma

lực hút toàn bộ tâm trí anh, âm thanh tiếng đồng vang lên từ những ngóc ngách sâu

kín, rung động từng tế bào nhỏ nhất trong tâm hồn anh. Anh thật sự là một nghệ sĩ

tài hoa say mê và lao động nghiêm túc trong nghề nghiệp của mình. Khi âm thanh

tiếng chiêng dội lên, vang ngân thì “ anh Cảo đứng xoạc chân, lùi dần, tay thọc

choãi vào trong hai cái túi áo, lắng nghe như một nhà chân tu lắng nghe tiếng

chuông chùa, như một tội nhân lắng nghe tiếng sinh hoạt bên ngoài lao xá, như

một kẻ đói lắng nghe tiếng rao hàng. Hình như anh không chỉ nghe tiếng chiêng bên

ngoài mà còn nghe vọng tiếng chiêng trong tâm hồn anh. Đôi mắt của anh mang

nặng một sắc màu rừng rú rất khó tả mà đôi môi thì rung rung như đang muốn

phát` ra những âm thanh nào tương ứng” [63, tr.476]. Đọc Tiếng đồng, người đọc

thường liên tưởng đến thế giới nghệ thuật của Nguyễn Tuân mà ở đó nhà văn miêu

tả con người ở góc độ tài hoa nghệ sĩ. Nếu những nhân vật của Nguyễn Tuân trong

Vang bóng một thời là những con người “đặc tuyển”, từ một huấn đạo nổi tiếng với

nghệ thuật thư pháp đến những người sành uống trà, thưởng hoa thì nhân vật Cảo

của Nguyễn Văn Xuân sống hoàn toàn tự nhiên không có vẻ gì khoe khoang kiểu

cách. Rõ ràng với cuộc sống gần gũi người lao động nhà văn đã có một quan điểm

tiến bộ khi miêu tả hiện thực: chất tài hoa nghệ sĩ có ở tất cả mọi người, kể cả

những người lao động bình thường.

Như vậy, qua những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, ta thấy con người Quảng

Nam không chỉ dũng cảm kiên cường, cứng cỏi đến ngang tàng, cởi mở, nhạy bén

với cái mới.....mà họ còn là những người nhân hậu, đa cảm, đa tình. Phẩm chất ấy

có sự nối tiếp trong vẻ đẹp truyền thống tinh thần, đạo lý của người Việt Nam. Và

đối với người Quảng Nam họ yêu, ghét mãnh liệt, rõ ràng, dựa trên những lý lẽ rất

xác đáng, sự minh triết của những người “hay cãi”.

2.3. Cảm hứng tố cáo phê phán

Một trong những chức năng quan trọng của văn chương là phản ánh hiện thực.

Ngòi bút của nhà văn Nguyễn Văn Xuân là ngòi bút tả thực. Ông như người thư ký

ghi chép trung thành những biến động lịch sử xã hội ở vùng đất Quảng Nam. Những

số phận cụ thể được nhà văn phản ánh một cách có chọn lọc, trở thành những hình

ảnh tiêu biểu cho cuộc sống, tính cách, số phận con người Quảng Nam trong một

giai đoạn lịch sử xã hội từ 1954 - 1975. Thông qua một tiểu thuyết và 17 truyện

ngắn, đặc biệt là qua những câu chuyện liên quan đến lịch sử kháng chiến chống

thực dân Pháp, nhà văn gợi cho người đọc thấy được một lịch sử trong hiện tại. Qua

việc tố cáo tội ác của thực dân Pháp và tay sai, nhà văn hướng cảm xúc người đọc

đến việc tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, khơi dậy lòng căm thù giặc, tình yêu quê

hương đất nước.

2.3.1. Cảm hứng tố cáo tội ác về chính trị của thực dân Pháp và tay sai

Ngòi bút của Nguyễn Văn Xuân là ngòi bút của một con người nếm trãi, lặng

lẽ âm thầm quan sát, ghi chép...Nhà văn không chọn những vấn đề lớn, có tính bề

nổi trong tội ác của kẻ thù xâm lược: đốt phá, cướp bóc,…Ngòi bút của ông len lỏi,

khám phá những “hiện thực nhỏ” trong tổng thể tội ác của kẻ thù. Nhưng không vì

thế mà sức tố cáo của nó kém phần mạnh mẽ.

Bằng sự hiểu biết sâu sắc của một nhà sử học, thông qua các truyện ngắn trong

tập Hương máu, Nguyễn Văn Xuân chỉ ra âm mưu hết sức hiểm độc của thực dân

Pháp: dùng người Việt trị người Việt. Nghĩa Hội của Trần Văn Dư bị tan rã một

phần là do Nguyễn Thân (người trước đây biết ít nhiều về Nghĩa Hội). Sau khi rời

Nghĩa Hội, hắn đã “dùng ngay những kẻ vốn có ít nhiều liên quan đến Nghĩa Hội

đã rời bỏ hàng ngũ. Những người này có kinh nghiệm chiến đấu, có tính thích hoạt

động mà lại tham địa vị…” [63, tr.243]. Còn Pháp đã “đổ rất nhiều tiền ra để thuê

những tên do thám, mua chuộc bọn thân hào, bọn nhà giàu. Trước khi họ đến đâu

là đường tới, nẻo lui, nhân vật, nhân tâm ra sao, quân số, quân lương, công sự, chỉ

huy ra sao họ đều biết hết” [63, tr.244]. Chính sự lùng sục của bọn “Việt gian” này

mà địa bàn hoạt động của Nghĩa Hội bị co cụm dần. Cuối cùng, Nghĩa Hội phải

giải tán. Chính sách “dùng người Việt trị người Việt” còn được bọn chủ đồn điền

tận dụng triệt để. Để làm giàu nhanh chóng bọn chúng dùng mọi cách trấn áp dân

phu. Trong Bão rừng, Lão Mẹc đã dùng một lực lượng mật thám dày đặc, chuyên

nghiệp để lùng bắt Liếng. Sau đó, để răn đe tất cả dân phu của đồn điền, lão đã

mượn “nắm đấm”, “sức mạnh” của những anh em dân phu để đánh Liếng. Thâm

độc hơn, lão Mẹc muốn qua việc này chia rẽ tình cảm của những con người cùng

khổ. Lời “hiểu dụ” của tên mật thám với anh em dân phu là những lời lẽ “xảo

ngôn”: “pháp luật phải xử tử một kẻ phản bội như nó mới đích đáng. Nhưng các vị

chủ đây đều là người nhân đức, nay không đưa nó ra tòa mà chỉ đưa cho các người

trị tội. Vậy các người phải trị sao cho đáng tội nó để cho nó biết hối lỗi mà làm

gương kẻ khác” [63, tr.211]. Và thế là, dưới sự “kiểm soát” của tên mật thám, mỗi

dân phu đều phải “bổ những đòn chan chát” trên người Liếng. Qua ngòi bút hiện

thực tỉnh táo của Nguyễn Văn Xuân, tác giả đưa người đọc liên tưởng đến chính

sách thực dân mới của đế quốc Mỹ: thay màu da trên xác chết, dùng người Việt trị

người Việt. Từ đó, phạm vi phản ánh trong những sáng tác của nhà văn vượt khỏi

dung lượng hạn hẹp của nó.

Ngoài chính sách thâm độc: dùng người Việt trị người Việt, bọn thực dân Pháp

còn thẳng tay chém giết những dân lành vô tội. Trong mắt bọn chúng, dân Annamít

không bằng một con vật. Những công nhân ở đồn điền chẳng những bị bọn chủ bóc

lột tận xương tủy mà còn bị chúng giết hại bất cứ lúc nào. Trong Bão rừng, lão Mẹc

đã cho con báo của lão nuôi vồ chết tươi anh bồi, vì anh này “lỡ tay đánh con báo

mấy gậy” [63, tr.70]. Táng tận lương tâm hơn, khi những dân phu bị những cơn sốt

rét rừng quái ác hành hạ, bọn chủ đã làm ngơ trước những hình hài người không ra

người, ma không ra ma. Đến khi họ chết thì bọn chủ thí cho vài cái thùng đựng xà

phòng cũ để chôn tấm thân tàn. Cụ Niên đã ứa nước mắt khi nói về số phận của

những người dân phu như cụ: “Kéo cày mà trả nợ đời. Sống ăn măng, ăn trúc, chết

rúc vào thùng xà bông. Mẹ cha cái kiếp thằng phu đồn điền!!!” [63, tr.122].

Bọn “mắt xanh mũi lõ” còn lạm sát biết bao người vô tội để thỏa mãn thói

cuồng sát. Một khi chúng cho xây dựng “nhà tù nhiều hơn trường học” thì tránh sao

khỏi nhiều người vô cớ phải vào tù. Trong truyện ngắn Chạy đua với tử thần, nhà

văn đã phơi bày tội ác “trời không dung, đất không tha”của bọn thực dân Pháp. Một

trại giam mà tất cả tù nhân bị bắt vào đó, chờ chết, đều không biết mình phạm tội gì.

Họ chỉ lờ mờ đoán: quan lớn muốn dùng những tấm bia sống để thử tài bắn súng

của ngài. Mạng sống của con người đánh đồng với một trò tiêu khiển! Có khi bọn

chúng đổi ý không cho tù nhân “chạy đua” để giành lấy một cơ may sống sót dưới

lằn đạn “bắn tỉa”, mà lùa hết những tù nhân vô tội xuống tăng - sê, cho họ đứng sắp

hàng một “rồi nó quét tiểu liên, xong nó sai lấy cuốc lấp hết tăng - sê lại” [63,

tr.551]. Trong mắt của bọn người da trắng có sứ mệnh “khai hóa” thì sự sống chết

của những người dân thuộc địa phụ thuộc vào “ngẫu hứng” của các quan lớn.

Với bản chất hiếu sát, phi nhân, bọn thực dân Pháp còn đẩy hàng ngàn thanh

niên Việt Nam làm “lính tình nguyện”, làm bia đỡ đạn cho chúng trong chiến tranh

thế giới thứ nhất (1914 - 1918) và thứ hai (1939 - 1944). Trong Bản án chế độ thực

dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc từng miêu tả: “chế độ lính tình nguyện ấy được tiến

hành như thế này: vị chúa tỉnh - mỗi viên công sứ ở Đông Dương quả là một vị

“chúa tỉnh”- ra lệnh cho bọn quan lại dưới quyền, trong một thời hạn nhất định

phải nộp cho đủ một số người nhất định. Bằng cách nào, điều đó không quan trọng

[….] thoạt tiên, chúng tóm những người khỏe mạnh, nghèo khổ, những người này

chỉ chịu chết thôi không còn dám kêu cứu vào đâu được” [24, tr.85]. Còn Nguyễn

Văn Xuân thì viết về số phận của những anh lính đánh thuê sau khi bị bắt làm tù

binh. Trong truyện ngắn Một cuộc tấn công, nhà văn viết về những cuộc “viễn du”

của những người lính đánh thuê. Sau khi rời khỏi Việt Nam theo bước đoàn quân

viễn chinh Pháp, họ bị bắt làm tù binh, bị nhốt vào trại tù của thực dân Anh trong

cái nắng nóng như thiêu đốt chết người ở xứ sở châu Phi xa xôi. Trong tù, hàng

tháng trời họ không được tắm giặt nên áo quần đầy những chí, rận…Con đường trở

về của những lính “tình nguyện”này trở nên xa vời khi họ tự hỏi “mấy đời nữa

chiến tranh mới chấm dứt !” [63, tr.413].

2.3.2. Tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân lên án ách áp bức bóc lột của bọn

thực dân, giai cấp tư sản

Quảng Nam không phải là vùng “đất lành chim đậu” như miền tây Nam Bộ

trong sáng tác của Sơn Nam, mà nói theo Nguyễn Văn Xuân đó là vùng đất “xương

xẩu” của Tổ quốc. Cuộc sống người dân nơi đây vốn đã nghèo khó lại phải chịu

đựng ách áp bức bóc lột của bọn thực dân, địa chủ, tư sản…Họ như bị “bao vây”

trong các tầng lớp áp bức bóc lột mà dù có cố vẫy vùng cũng không thể nào thoát

được. Thông qua những sáng tác của mình, Nguyễn Văn Xuân cho thấy xã hội thời

thuộc địa đầy rẫy bọn chúa đất, cường hào, bọn chủ đồn điền bám gót thực dân…..

Những nông dân, bạn ghe chài bị áp bức dưới miền xuôi, không chịu được, họ đã

bỏ trốn lên rừng núi. Nhưng thực tế là họ thoát khỏi thòng lọng này lại phải tra đầu

vào thòng lọng khác. Nhiều người như cụ Niên, bác Liễn là những nông dân nghèo

bị bọn chúa đất vơ vét hết thóc lúa, tiền của. Họ phải làm ruộng rẽ chia hai, dưới

hình thức: “chủ chịu giống, còn phân tro, công cán, chúng tôi phải chịu. Ruộng

xấu, phân tro nhiều, công đắp bờ, dọn cỏ, cấy gặt…..Kể như tính ra cho hết, so với

công canh tác thì số thâu chẳng thấm vào đâu” [63, tr.85]. Có người phu đồn điền

vốn trước kia đi ghe bị chủ đối xử như chó “Nó sai bảo đủ việc, bắt phục dịch như

trâu bò, khinh người như cỏ rác. Mà có phải chỉ có một mình nó có quyền sai bảo,

khinh mình thôi à? Cả những thằng tay chân nó, cả con vợ nó, cả con mèo nó, cả

thằng con mới bằng ngón tay cái của nó cũng đều xem mình như súc vật” [63,

tr.91]. Tuy nhiên, những thủ đoạn áp bức bóc lột của những chúa đất, chủ ghe so

với mánh khóe bòn rúc tinh vi của bọn chủ đồn điền thì còn kém xa mấy bậc. Về

phương diện này, có thể xem Bão rừng của Nguyễn Văn Xuân như một thiên

phóng sự điều tra về các mánh khóe bóc lột tinh vi của bọn chủ đồn điền. Vốn là

những tên thực dân có công trong việc cướp chiếm Đông Dương được chính phủ

thuộc địa “ân cấp” đất đai để lập đồn điền, bọn này liên kết chặt chẽ với tầng lớp tư

sản chính quốc bóc lột tận xương tủy anh em dân phu. Ngay từ đầu, bọn chúng đã

ràng buộc cuộc đời của những dân phu với đồn điền bằng cách ký “công tơ ra” như

một thứ “giấy bán thân”. Lương công nhân hàng tháng, bọn chủ đều tìm cách ăn

chặn bằng nhiều lý do. Khi thì vì đi trễ giờ làm mà họ phải chịu “cúp một ngày

lương”; khi thì vì ăn nói “cà xốc”, làm gãy dụng cụ lao động nên họ phải bị trừ

“mười ngày công”. Thậm chí, có người làm cả tháng “không còn đủ một đồng bạc”

để mua gạo muối vì đau ốm liên miên…..Còn gia sư Nguyễn Văn Xuân thì vừa

phải bán hàng, vừa phải dạy học nhưng mụ chủ cho rằng tháng đầu chỉ là học việc

nên “nhận tạm ít tiền để tiêu cho vui” [43, tr.94]. Dù phát cho công nhân những

đồng lương chết đói như thế, nhưng bọn chủ đồn điền vẫn nghĩ cách làm sao cho

đồng tiền ấy lại quay về túi chúng. Cách ấy thật tinh vi, khó mà nhận ra: khuyến

khích công nhân đồn điền đánh bạc. Máu đỏ đen sẽ làm cho họ ngập đầu trong nợ

nần với chủ, sống, chết cũng không rời khỏi đồn điền. Cụ Niên, một dân phu lâu

năm trong đồn điền, đã giải thích vì sao dân phu đánh bạc: “ở đồn điền không đánh

bạc giống như ở cửa quan không ăn hối lộ. Mình không đánh, chủ nó cũng bày cho

mình đánh. Có đánh, có sát phạt nhau, chủ mới lấy đồng tiền lung lạc, tác oai, tác

quái mình được. Ở đây đánh nhỏ, chứ ở các đồn điền khác đánh to lắm. Có người

suốt đời đem thân lên ở đồn điền này mà may không nổi cái áo, toàn bận áo xin

của anh em” [63, tr.178]. Chẳng những bóc lột công sức lao động của người đang

sống mà bọn chủ đồn điền còn nhẫn tâm bòn rút từng đồng bạc của người đã chết.

Trong Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã phơi bày một sự thật tàn nhẫn dưới thời thực dân

phong kiến: thuế thân đánh cả vào người sống lẫn người chết. Còn trong Bão rừng,

Nguyễn Văn Xuân đã phanh phui thủ đoạn bòn rút của bọn chủ đối với đồng tiền

xương máu của công nhân sau khi họ đã chết. Người đọc ghê tởm bộ mặt giả nhân

nghĩa của mụ chủ La khi mụ bảo anh em dân phu cứ mua hòm chôn bác Liễn còn

“tiền bạc thì không lo”. Không đợi mọi người có thời gian cảm kích cách đối xử

đầy “tình người”, mụ đã giải thích luôn: “Vì tháng trước, “nó” có nhờ tôi gởi số

tiền về nhà nộp thuế, nay nhờ tiền đó tôi chưa gởi, cứ lấy mà mua hòm cho được sự

thể hơn” [63, tr.121].

Nếu trước đây, có ai đó nghe nói đến loại người được liệt vào “gian thương”

trở nên giàu có mà chưa hình dung được “gian thương” là như thế nào thì chỉ cần

xem cung cách làm ăn, buôn bán của mụ chủ La sẽ hiểu. Trong đồn điền, mụ đặt ra

qui định bất thành văn: anh em dân phu và những người Đê, người Thượng sống

chung quanh đồn điền chỉ được mua bán hàng hóa với mụ. Nếu thổ dân trong khu

vực đồn điền buôn bán hàng hóa cho khách đi xe ngang qua đồn điền thì “chủ nó

đánh cho bỏ mạng” [43, tr.55]. Nhờ độc quyền buôn bán nên mụ La tha hồ mua rẻ

bán đắt, đong gian cân thiếu. Bí, dưa…được trồng từ bao mồ hôi công sức của thổ

dân nhưng “rẻ như cho”. Một cái nhung nai tươi mướt màu nâu non được mụ chủ

trả “bảy cắc” rồi tăng “một đồng tư”. Cuối cùng mụ chủ để cho cái nhung nai bốc

mùi và mua với giá “hai cắc”. Đối với “cu ly” làm cho đồn điền thì họ phải mua

những vật dụng cần thiết trong cửa hàng độc nhất của mụ chủ, ghi sổ và trừ vào

lương tháng, “hễ ai lôi thôi” là chủ đồn điền “đánh cho một trận, cúp lương. Và

nếu quá lắm thì giam lại” [63, tr.69]. Được độc quyền buôn bán nên sự cân, đong,

đo, đếm của mụ La hết sức gian xảo, tinh vi, đúc kết bài bản. Bài học vỡ lòng về

mánh khóe của “gian thương” thầy Xuân đã “học” được từ sự bày biểu của bà chủ.

Người Đê mua vải thích đo bằng sải tay (pạ), cứ để cho họ đo thoải mái vì mụ chủ

đã biết cái “pạ” chung của họ. Người tay ngắn sẽ lỗ, còn người tay dài thì chủ sẽ

lấy thước đo vải lại và tính thêm tiền. Đằng nào thì người mua cũng thua thiệt. Tinh

vi hơn là bài học “đong muối”. Mụ giảng giải: “đổ muối không nên đổ mạnh. Hạt

muối có cạnh có khía. Đổ mạnh thì nó chèn ép lên nhau, làm hao muối rất nhiều.

Muốn có lợi thì phải đổ rất nhẹ. Càng nhẹ chừng nào, muối càng xuống yếu chừng

nấy, các khía cạnh của nó chồng chất lên nhau nên rất mau đầy mà ít hao” [61,

tr.50]. Chưa hết, khi gạt muối không nên dùng vật nặng mà gạt vì như vậy muối sẽ

bị ấn sâu xuống. Mụ chủ thừa biết muối đối với người Đê, người Thượng quý như

sinh mạng của họ, họ chắt chiu từng hạt để sống qua ngày nếu không muốn dùng

tro thay muối. Họ càng cần muối, mụ càng đong gian, đong thiếu. Chỉ riêng một

loại nhu yếu phẩm này, mụ La đã bóp hầu, bóp họng của biết bao người dân thật

thà, chất phác. Bài học “đong đo” còn được mụ tiếp tục dạy cho thầy Xuân trong

mua bán gạo. Khi mua gạo của người Đê đem đến bán thì thầy phải dùng “một cái

thùng mà chủ thộn đít xuống để mua”. Nhờ thế, người mua ăn gian được vài lon

gạo. Đến khi có người khác đến mua, thì chủ dùng cái thùng khác đã “thộn đít lên”

để bán. Như thế, ngoài đồng lời, người bán còn kiếm thêm được vài lon gạo của

người mua.

Qua tất cả thủ đoạn bóc lột của bọn chủ đồn điền, nhà văn đã lý giải cách làm

giàu nhanh chóng của giai cấp tư sản Việt Nam: “ăn bẩn” theo gót giày viễn chinh

của quân xâm lược Pháp. Mỗi trang viết của nhà văn ngồn ngộn tư liệu thực trong

một giọng văn rành mạch của người quan sát tỉnh táo, chắt lọc. Bằng cách cung cấp

những sự thật tai nghe mắt thấy, nhà văn đã viết nên những trang tiêu biểu trong

“Bản án chế độ thực dân Pháp” ở thuộc địa một cách sinh động, thuyết phục.

2.3.3. Tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân lên án thủ đoạn xâm lăng văn hoá

của đế quốc Mỹ

Sáng tác văn học của Nguyễn Văn Xuân tuy không nhiều nhưng nhà văn đã bao

quát những thời điểm quan trọng trong chuyển biến lịch sử xã hội giai đoạn 1954 -

1975 ở vùng đất Quảng Nam. Đọc sáng tác của ông, người đọc có cái hứng thú của

việc dự một bữa tiệc tuy ít “món” nhưng “mỗi món” đều có mùi vị phong phú, màu

sắc đặc trưng, nguyên liệu đa dạng….có thể làm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, khám

phá, bổ sung tri thức của người đọc. Trong 17 truyện ngắn, Con hiện sinh là truyện

duy nhất liên quan trực tiếp đến thủ đoạn tinh vi trong chiến tranh xâm lược Việt

Nam của đế quốc Mỹ. Việc dùng văn nghệ làm vũ khí để chống lại các cuộc đấu

tranh giải phóng dân tộc không phải là điều gì mới mẻ. Nhưng nếu đem so sánh âm

mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân cũ trong việc dùng văn học nghệ thuật làm

công cụ đầu độc và nô dịch quần chúng với âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa thực

dân mới ở miền nam Việt Nam thì có sự khác nhau rất lớn về qui mô tổ chức, về đội

ngũ, về phương thức biểu hiện, phương diện truyền bá……Cùng một lúc, bọn đế

quốc Mỹ vừa cầm súng giết chết thể xác con người vừa dùng chất độc văn nghệ giết

chết tinh thần con người. Để thực hiện chủ trương “chinh phục trái tim và khối óc”,

“hủy diệt màu xanh trong tâm hồn Việt Nam”, bọn đế quốc Mỹ đã dùng sự hấp dẫn

của văn hóa lai căng, lối sống “hiện sinh” thác loạn theo kiểu Mỹ làm lung lạc tâm

hồn thế hệ trẻ chỉ biết hưởng thụ hôm nay mà không biết đến ngày mai. Qui mô của

cuộc tấn công này được tiến hành trên nhiều lĩnh vực: phim ảnh, sách báo, mốt áo

quần,…..Nọc độc văn hóa không chỉ tác động đến những người trẻ tuổi mà nó còn

vươn vòi bạch tuộc vào những gia đình, biến những ông chồng thiếu bản lĩnh thành

những tay ăn chơi sa đọa. Tác phẩm Con hiện sinh của Nguyễn Văn Xuân đã kể về

sự tan nát của một gia đình trong cơn lốc của trào lưu “hiện sinh”. Những đứa trẻ

13, 14 tuổi chỉ thích xem những phim ảnh khiêu dâm, có những cô gái “vú to như

hai trái banh mà cứ phơi phây phây ra” [61, tr.445]. Hằng ngày, bọn trẻ chỉ thích

ăn diện lạ mắt: quần jin vàng, ngắn cũn cởn, môi bôi sơn hồng tím, chân đi giày cao

gót, không học hành, làm ăn mà chỉ “tán nhảm”, “xi - nê”, “đọc tiểu thuyết nhảm”,

“ngâm những thứ thơ què chân, què cẳng”[63, tr.460]. Và kết quả nhỡn tiền của lối

sống “hiện sinh” ấy là những đứa trẻ “chùi chưa sạch mũi” như Ngọc Điệp, đã bị

chửa hoang. Lối sống “hiện sinh” còn đưa đường dẫn lối cho những người đàn ông

đã “bốn mươi bảy, bốn mươi tám” tuổi, đã làm chồng, làm cha, có một cuộc sống ổn

định bỗng trở nên hư đốn: không thích làm việc chỉ thích tiêu tiền như nước, trộm

tài sản trong gia đình để ăn chơi, sống chung chạ với bồ nhí chỉ trạc tuổi con gái

mình….Qua tác phẩm Con hiện sinh, nhà văn muốn gióng lên tiếng chuông cảnh

tỉnh mọi người đối với tội ác nham hiểm của đế quốc Mỹ. Chỉ cần lơ là, mất cảnh

giác trước tiền của viện trợ từ Hoa Kỳ thì văn hóa độc hại sẽ nghiễm nhiên tồn tại

trong mỗi gia đình. Nó như một con vi trùng đáng sợ đục khoét bên trong lối sống

của mỗi gia đình, phá hủy từng tế bào của xã hội. Và đến lúc nào đó, nó sẽ làm sụp

đổ cuộc sống tinh thần của toàn xã hội. Sâu xa hơn, thông qua tác phẩm, nhà văn

còn lên án những văn sĩ bán linh hồn cho kẻ thù, tiếp tay cho chủ nghĩa thực dân

mới làm mưa làm gió ở miền Nam Việt Nam. Nếu Vũ Hạnh có Bút máu trực tiếp đề

cập đến tác hại sâu xa của những cây bút thiếu tỉnh táo trước thời cuộc thì Nguyễn

Văn Xuân, với giọng điệu điềm tĩnh mà không kém phần quyết liệt, đã vạch tội ác

của những cây bút cố ý hay vô tình tiếp tay cho kẻ thù. Người mẹ sống trong thời

buổi “hiện sinh” đã lo lắng, bảo vệ đứa con gái nhỏ của mình trước một đời sống

sinh hoạt tinh thần của xã hội hết sức phức tạp “báo chí thì quá nhảm nhí, chỉ trông

bám vào đàn gà mái để sống, còn tiểu thuyết thì sao?.....Toàn là cuồng nhiệt, thất

vọng, chán đời, ho ra máu, ngoại tình, nói xin lỗi cả tim la, đau lậu thứ gì cũng có.

Y như trong nhà thương thí” [63, tr.454]. Người mẹ đã căm phẫn gọi những cây bút

ấy là bọn ăn bẩn, không lương tâm, bọn lừa gạt….. “Tôi không hiểu mấy ông văn sĩ

họ ăn thứ dơ gì mà viết toàn cái giọng chán chường, sầu thảm chỉ lừa gạt bọn con

nít miệng còn hôi sữa” [63, tr.454]. Có khi người mẹ cảm thấy như bất lực trước sự

tấn công ồ ạt của sách báo đồi trụy: “Nếu sách báo lành mạnh thì lời mình còn chút

ích lợi. Đằng này ngược lại, những câu mình nói thì quê mùa, câu sách báo lại văn

hoa. Ý mình nghèo nàn, sách báo lại thao thao như nước. Cái mặt mình như trái

mảng cầu sắp rụng thì hình ảnh sách báo rực rỡ sang trọng” [61, tr.454]. Còn phim

ảnh thì “lạt lẽo, vô vị mà cũng hết sức vô luân”[63, tr.455].

Chỉ trong dung lượng hạn hẹp của một truyện ngắn, nhà văn Nguyễn Văn Xuân

như dồn mọi hiểu biết của mình để phanh phui âm mưu của chủ nghĩa thực dân mới

nhằm dập tắt ánh sáng văn hóa bên trong, để dễ dàng bắt nhân dân miền Nam phải

cúi đầu chấp nhận sự thống trị của đế quốc Mỹ. Bọn chúng muốn đạt mục tiêu:

“xuyên tạc sự thật, lộn sòng phải trái trắng đen, gieo rắc trong nhân dân những

nhận thức tư tưởng sai trái, tâm lý ghét sợ cộng sản và phá hoại những truyền

thống đạo đức văn hóa tốt đẹp của dân tộc” [49, tr.21].

Chương 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ NGHỆ THUẬT

3.1. Tiểu thuyết đậm chất hiện thực

Nói đến chức năng của văn nghệ, các nhà lí luận thường đề cập đến bốn chức

năng: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, giao tiếp. Trong đó chức năng nhận thức được

xem là chức năng đầu tiên, quan trọng. Theo các nhà lí luận văn học: “ý nghĩa nhận

thức của nghệ thuật là ở chỗ nó giúp người ta biết về cái gì, có thêm được những tri

thức gì” [25, tr.167]. Để phản ánh hiện thực, giúp người đọc khám phá về những

vấn đề xã hội và con người trong thời đại, mỗi nhà văn có một phương cách khác

nhau. Quan niệm: “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí” trong văn chương phong kiến

không còn phù hợp với những chuyển biến mạnh mẽ về nhiều mặt của xã hội Việt

Nam đầu thế kỷ XX. Để phù hợp với những thay đổi của xã hội thì văn chương phải

là: “cái hiện trạng một thời làm nên nó” [25, tr.557]. Điều này được thể hiện rất rõ

trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, đặc biệt là mảng tiểu thuyết. Tuy không tuyệt

đối hóa, nhưng một trong các tiêu chí để phân biệt tiểu thuyết với các thể loại khác

là: “một sự tái hiện cuộc sống không thi vị hóa, lãng mạng hóa, lí tưởng hóa. Miêu

tả cuộc sống như một thực tại cùng thời đang sinh thành, tiểu thuyết hấp thụ vào

bản thân nó mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộc đời, bao gồm cái cao cả lẫn

tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài, cái lớn lẫn cái nhỏ” [25, tr.391].

Đọc tiểu thuyết Bão rừng của nhà văn, người đọc thấy được những yếu tố “ngổn

ngang, bề bộn”của cuộc đời mà chàng trai 16 tuổi Nguyễn Văn Xuân đã kịp ghi

nhận vào tâm trí mình khi lên đồn điền lập nghiệp .

3.1.1. Chất hiện thực thể hiện ở nội dung phản ánh

Tiểu thuyết Bão Rừng được nhà văn sáng tác năm 1955, khi bị bắt giam ở nhà

lao Thừa Phủ - Huế… Trong phạm vi một tiểu thuyết dài 233 trang, nhà văn đã kịp

khái quát những hiện thực lớn tác động đến đời sống của cư dân đất Quảng Nam

trong những biến chuyển mạnh mẽ của lịch sử xã hội những năm 30 của thế kỉ XX.

Đọc Bão Rừng, người đọc có dịp “đến” những đồn điền được thành lập dưới thời

Pháp thuộc và thấy cả một kho tư liệu dồi dào về lịch sử hình thành những đồn điền

cà phê, cao su; lịch sử làm giàu của giai cấp tư sản chính quốc cũng như đời sống

của giai cấp công nhân Việt Nam ở những nơi này. Qua đó, chúng ta phần nào hiểu

được chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp sau chiến tranh thế giới thứ

hai. Đồn điền cà phê này được hình thành do lão La: “vốn đi lính lâu năm và cha

hay ông nội gì đó có công trong việc cướp chiếm Đông Dương, nên người ta ân cấp

cho lão một khu đất hoang ở đây. Khu ấy rộng không rõ chừng nào, bề dài chiếm

theo đường quốc lộ mấy chục cây số. Lão chưa có vốn nên lúc mới lên chuyên nghề

nấu rượu bán cho dân Thượng và phu phen các đồn điền khác. Hiện trong nhà còn

di tích mấy cái lò bám đầy cát bụi. Rồi lão thôi nấu rượu và thuê người khai phá

đồn điền […] lão cho đi tìm mộ nông dân các vùng nghèo khổ lên thay” [63, tr.34].

Nhà văn cũng cho người đọc thấy nguyên do nào những đồn điền này lại lớn mạnh,

bền vững như vậy. Một trong những phương cách phổ biến đó là sự liên kết giữa

các thế lực kinh tế và quân sự. Họng súng và lưỡi lê của chính quyền thực dân Pháp

là lực lượng hậu thuẫn bảo vệ tốt nhất sự tồn tại của đồn điền. Lão La đã nhắm mắt

làm ngơ cho vợ làm nhân tình lão Mẹc, một tên quan Pháp có thế lực lớn hơn, để

dựa vào đó mà lão áp bức đám dân phu khốn khổ và chặn đứng, tiêu diệt mọi ý đồ

phản kháng của họ cũng như những người Thượng sinh sống ở những vùng chung

quanh. Dựa vào thế lực của Tây, giai cấp tư sản tha hồ vơ vét bóc lột dân nghèo vô

tội. Thế lực của chúng không hạn hẹp trong một đồn điền mà vươn dài, liên kết hai

ba đồn điền với nhau. Cửa hàng buôn bán của những chủ đồn điền giăng khắp nơi.

Chúng trở thành những vị “chúa đất” cai quản một phạm vi rộng lớn, mà từ con

người đến sản vật đều thuộc quyền quyết định của chúng.

Tiểu thuyết Bão Rừng là một trong những tác phẩm ít ỏi viết về đời sống công

nhân ở những đồn điền của thực dân Pháp. Nguyễn Văn Xuân có “cơ duyên” lên tận

đồn điền, sống và làm việc với dân phu, nhà văn đã ghi chép rất thực về đời sống

khốn khổ của họ. Họ phải chịu đựng hai tầng áp bức bóc lột: một của chủ đồn điền,

một của bọn buôn bán độc quyền. Hoàn cảnh xa gia đình, vợ con, đau ốm, đói rét

của những công nhân thật đáng thương. Đây là một đoạn văn tả thực về hoàn cảnh

của một công nhân bị sốt rét rừng hành hạ, không tiền thang thuốc sắp đi vào cõi

chết :

Tôi khẽ nén một tiếng thở buồn, nâng cánh tay bác lên. Cánh tay lực lưỡng

xưa kia, cánh tay khai phá đồn điền, cánh tay nuôi vợ, nuôi con, cánh tay ấy giờ

đây như bất động trong tay tôi. Mãi lúc người y tá bảo: nắm tay lại, bác cũng chỉ

đủ sức co ngón tay….Mạch máu trên tay bác to lớn, nhưng đến chỗ khuỷu thì lại lẩn

vào trong thịt, tôi phải siết mạnh tay cho nó trồi lên song không có mấy hiệu quả.

Người y tá thọc cây kim vào ngoáy qua, ngoáy lại trong da để tìm mà vẫn

không làm sao kiếm ra đúng mạch; tôi nghe nhói trong tim, nghĩ đến những đường

gân bị đâm thủng một cách tàn nhẫn và đề nghị với y đổi tay. Y gật đầu, mồ hôi

trán ra loang lổ, trên tay kia, y lách cây kim vào; mặt y thoáng tươi khi nhẹ rút cái

bít tông lên một tí, song lại sa sầm xuống ngay.

Tôi hỏi:

- Nếu không tìm ra mạch ở tay thì làm thế nào?

- Có thể tìm mạch ở cổ tay.

Y lại thọc lút cây kim để tìm, và từ từ rút ra và lách nhẹ gần da. Lần này khi y

khẽ kéo bít tông, thuốc hơi sủi lên rồi một chút nước đỏ rỉ vào; gặp nước thuốc

xanh, màu đỏ biến thành một màu gan gà tái ngắt. Trái tim tôi như ngừng đập từ

nãy giờ bỗng nổi lên hoan hỉ, tôi kêu :

- Có máu rồi.

Cả khối thuốc từ từ thoát ra khỏi ống tiêm. Tôi thở một hơi khoan khoái. Cái

mặt đưa đám của người y tá cũng ửng tươi. Tôi liền kéo mảnh bao tời rách đắp lên

ngực của bác Liễn. Chợt mắt tôi để ý đến những tí gì gờn gợn trắng trên chiếc áo

màu đen của bác. Tôi mãi suy nghĩ chưa hiểu vật gì thì người y tá cũng vừa kêu lên:

- Rận!

Rận nhiều quá; bò đến trông thấy trên áo, trên chiếu trên bao tời [63, tr.100-

101].

Một đoạn văn khác nhà văn miêu tả đời sống của anh em dân phu:

Dân phu đã lần lượt trở về. Họ không vào khu chủ ở, đi thẳng ra trại phía

sau. Chỉ có mấy người đại diện vào lãnh muối, gạo. Trông họ không giống tí nào

với những người dân phu vạm vỡ, bắp thịt nổi bật, da đỏ hồng hào, tinh thần cường

tráng như tôi tưởng tượng. Người nào cũng màu da xanh xám, nét mặt khắc khổ,

già trước tuổi. Họ quấn trên đầu những chiếc khăn lông lớn, màu trắng muốn biến

thành màu khác hay màu khác biến thành màu trắng không rõ, chân họ đi không

chút hăng hái và đối đáp bằng giọng uể oải.

Tôi theo họ ra trại chơi. Đó là vài căn nhà tranh rất dài, làm trên sàn theo

lối thượng. Thang gỗ đung đưa dưới bước chân. Trong trại tối om om tuy lúc ấy

trời còn sáng sủa […] Ở cửa lớn cuối nhà, có hai người ngồi chăm chú bắt rận. Có

lẽ rận khá nhiều, vì thấy họ hăng hái, thi nhau cắn rận đôm đốp [63, tr.38-39].

3.1.2. Chất hiện thực thể hiện qua miêu tả nhân vật, xây dựng chi tiết

Đặc điểm của tiểu thuyết là “miêu tả con người trong hoàn cảnh, không tách

nó khỏi hoàn cảnh một cách nhân tạo, không cô lập nó cũng như không cường điệu

sức mạnh của nó. Nó miêu tả nhân vật như một con người đang trưởng thành, biến

đổi và do đời dạy bảo” [25, tr.390]. Mỗi nhân vật trong Bão Rừng được nhà văn đặt

trong hoàn cảnh thật, không gian thật. Đó là một đồn điền ở M, muốn đến đó phải đi

ngang Ninh Hòa, Ba Rạt…Trong phạm vi đồn điền ấy, tác giả cho mỗi nhân vật của

mình xuất hiện trong một không gian hẹp hơn, gắn liền với nghề nghiệp, tính cách

của mỗi người: anh bồi dưới quyền sai bảo trực tiếp của bà chủ, xem xét cắt đặt mọi

việc trong nhà; anh bếp vừa nấu những món ăn Việt, vừa nấu những món ăn Tây;

chị Ba thì có nhiệm vụ bế con Rôdêt…thầy Xuân vừa bán hàng vừa dạy học cho

chủ. Rồi những công nhân đồn điền như Lư, Liếng, cụ Niên….sống trong những lều

trại tạm bợ dành cho công nhân. Trong những không gian nghề nghiệp cụ thể như

vậy, mỗi nhân vật được nhà văn miêu tả thật đến từng chi tiết, hành động, lời

nói….vừa phù hợp với “nghề nghiệp” của từng người, vừa thể hiện tính cách chung

của con người xứ Quảng. Nhân vật anh bồi vừa sợ chủ nhưng luôn tìm cách trả thù.

Mỗi hành động “trả thù” của anh ta đều có cái “láu lỉnh” của kẻ biết mình yếu thế

hơn nhưng bản tính cứng cỏi lại không cho phép anh ta cam chịu. Đây là một đoạn

văn miêu tả cách trả thù của anh bồi:

Anh bồi bày cho chị vú:

- Đừng ngắt nách nó nhiều mà có dấu, có vết. Cứ nhổ tóc nó cho kinh cha nó

đi. Mụ không biết đâu!

Vừa nói, anh vừa lấy tay nhổ luôn mấy sợi tóc vàng óng ánh, loăn quăn, gợn

sóng của con bé. Tiếng kêu thét lên của nó làm tôi muốn tát ngay một cái vào mặt

thằng tàn ác. […]

- Anh bồi đã lanh lẹn thu mấy sợi tóc vào túi từ khi nãy, bây giờ cũng lấy giọng

chân thành bảo mụ:

- Trời ơi! Ai lại đi hành hạ một đứa bé con. Thì chính khi nó khóc thét lên, có

thầy Bảy đây, thầy cũng ngạc nhiên […]

- Anh bồi láu lỉnh liền nhăn mặt, méo mồm cho con bé phải thốt lên cười.

Tiếng cười trên đôi môi tươi tắn làm dịu sự bực tức của người mẹ. Mụ chủ xem xét

một lát rồi chỉ vào mặt chị vú:

- Tôi mà nghe nó khóc thét nữa, tôi giết mụ.

Mụ hầm hầm quay về phòng. Tôi lưu lại một phút bảo cả hai người:

- Giận cá, chém thớt chướng lắm. Trẻ con miệng còn hôi sữa, có tội gì mà hành

hạ nó?

Anh bồi hằn học:

- Không trả thù nó thì trả thù ai? Nó lớn thua gì con- gái -mẹ -nó !(anh quay

sang chị vú) may đó nghe! Ngắt véo trong nách nó theo kiểu chị là lộ tẩy ngay [63,

tr.143-144].

Nhà văn đã miêu tả thật đến từng chi tiết trong những không gian của cuộc

sống sinh hoạt hàng ngày. Nhân vật anh bếp là một người bản tính cẩn thận, tỉ mỉ,

ngăn nắp…không chỉ trong việc làm bếp mà cả trong sinh hoạt hằng ngày. Anh ít

nói và cẩn trọng trong lời nói; áo quần, giấy tờ luôn xếp ngay ngắn trong rương.

Đặc biệt là những giấy tờ chứng nhận tay nghề làm bếp của anh…Khi anh ghen với

người vợ đi làm ăn xa thì anh đã viết thư: “Tôi nói cho mình biết là tuần này, tôi

không thể lên mình được. Mà cũng cho mình biết là tháng này, tôi không còn tiền

gửi lên cho mình. Số tiền lương tôi đã nhờ bà chủ gửi qua Tây mua cho tôi một con

dao thật tốt, chừng mươi ngày nữa, dao sẽ gửi về. Mình có muốn coi, tôi sẽ mang

lên” [63, tr.193]. Chi tiết “con dao” trong thư gửi vợ của anh bếp đã gói ghém tất cả

sự quyết liệt của một người sống nghiêm khắc với chính mình mà lại rất phù hợp

với lời nói của người làm bếp.

Khi tả đời sống của dân phu trong lần đầu tiên ra trại chơi, nhà văn đã viết:

“Trên sàn, từng chỗ lại thấy một đống chiếu phủ không hết thân người, để lòi đầu

hoặc lòi chân ra ngoài. Một vài đống chiếu rung mạnh làm sàn tre nghiến vào nhau

kêu răng rắc” [63, tr.38]. Những chi tiết miêu tả trong tiểu thuyết của Nguyễn Văn

Xuân tự nó có sức gợi sâu xa mà người viết không cần giảng giải, bình phẩm gì

thêm. Qua đó, người đọc hiểu về cuộc đời khốn khó, đói nghèo, sống không đủ ăn,

đau không thang thuốc, chết không hòm chôn…

Có những chi tiết miêu tả nhà văn chỉ lướt qua nhẹ nhàng nhưng không vì thế

mà giảm đi sự liên tưởng sâu xa ở người đọc. Điều này thể hiện rõ ở những chi tiết

miêu tả ngoại hình. Gần 20 nhân vật trong tiểu thuyết Bão rừng nhưng không phải

nhân vật nào nhà văn cũng tả ngoại hình. Ngoại hình được miêu tả luôn có dụng ý

khắc họa một nét nào đó trong tính cách, cuộc đời của nhân vật. Lão chủ thì có cái

mặt “lính tẩy cổ truyền” với “thân hình bó sát trong bộ đồ kaki vàng”, đầu đội

“chiếc mũ lính thuộc địa” [43, tr.35]. Đó là nguồn gốc của những tên xâm lược có

nợ máu với nhân dân thuộc địa.

Khi tả hình ảnh của mụ chủ La đang chửi anh em công nhân, nhà văn viết:

“Con mẹ này lạ thật; càng chửi, trông mụ càng khỏe lên, càng hồng hào ra. Đôi má

mụ đỏ gay, mắt mụ long lanh, đôi môi mềm mại, uốn cong theo đủ thứ hình thể để

tiếng nói có một hình khối, một trọng lượng; và cánh tay, và bàn tay, và ngón tay

đều quay qua, quay lại chuyển theo các chiều dẻo ngọt, dẻo ngon”[63, tr.137]. Qua

cách tả của nhà văn, tất cả sự chua ngoa, đanh đá, hống hách, hỗn hào, điêu toa,

khôn ranh…của mụ La như đều hiện lên qua nét mặt, giọng nói, cử chỉ. Lối đánh

phủ đầu kết hợp với “lợi thế”đàn bà được mụ khai thác triệt để trong việc đàn áp

dân phu. Từ đó, nhà văn tạo cho người đọc ấn tượng về một “me Tây” dâm đãng và

lõi đời.

Đôi khi chi tiết trong miêu tả ngoại hình rất nhỏ nhưng có khả năng bộc lộ nội

tâm và dự báo hành động của nhân vật. Nhân vật Lư khi trò chuyện với “thầy”

Xuân về cuộc nổi dậy của dân ở những buôn làng gần đồn điền để chống sưu thuế

thì “ trong mắt Lư như bùng cháy lên một ngọn lửa âm ỉ ”[63, tr.82]. Đó là ngọn lửa

của lòng căm thù, ý thức phản kháng, quyết tâm hành động được nhen nhóm trong

ánh mắt của một người RaĐê.

Những chi tiết miêu tả rất thực từ ngoại hình đến lời nói, cử chỉ, hành động

của những nhân vật khiến cho tiểu thuyết của Nguyễn Văn Xuân dường như rất ít

vẻ hư cấu, rất ít sự tham gia của bàn tay kĩ xảo. Và chính sự hiện diện của tác giả

trong vai trò một nhân vật trong tiểu thuyết càng làm tăng độ thuyết phục của tác

phẩm về những điều mắt thấy tai nghe. Với những “bằng chứng” xác thực ấy, nhà

văn đã nâng giá trị của tác phẩm vượt lên phạm vi hạn hẹp của nó: tố cáo tội ác của

bọn thực dân, bọn tư sản, đồng cảm thấm thía với nỗi khổ dân phu, với những mảnh

đời bất hạnh. Lối viết kín đáo nhưng ý nghĩa tác phẩm sâu sắc đối với hiện thực

đương thời. Nếu không phải ngòi bút của những người từng trãi, nhạy bén thì không

thể làm được điều đó. Và trên hết đó là ngòi bút của một nhà văn yêu nước đầy tâm

huyết với đời.

3.2. Truyện ngắn giàu chất ký

Theo Gulaiép: “kí là một biến thể của loại tự sự” [29, tr.263], và đó là một loại

văn xuôi tự sự “trần thuật những người thật việc thật với những đặc điểm riêng biệt

trong mức độ và tính chất hư cấu, trong vai trò của người trần thuật cùng mối liên

hệ giữa nó với đặc điểm của kết cấu và cốt truyện” [25, tr.423]. Tác phẩm của

Nguyễn Văn Xuân không phải là tác phẩm thuộc thể loại kí nhưng có tính chất “kí”

rất rõ. Đó là những “truyện kí” liên quan đến lịch sử kháng chiến chống thực dân

Pháp xâm lược ở Quảng Nam. Tuy tác phẩm của ông không nhiều, nhưng mỗi sáng

tác luôn làm gợi nhớ đến con người, tập quán, thiên nhiên của vùng đất Quảng

Nam. Những truyện ngắn: Hương máu, Viên đội hầu, Rồi máu lên hương, Về làng

có cốt truyện tập trung “vào việc trần thuật một nhân vật” và đây là những “anh

hùng trên mặt trận chiến đấu” chống thực dân Pháp xâm lược. Xoay quanh một số

nhân vật như: Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Hoàng Diệu, Thái Phiên, Trần

Cao Vân…truyện kí của Nguyễn Văn Xuân đã triển khai những tình tiết thành một

cốt truyện hoàn chỉnh mà trong đó ít nhiều có hư cấu và bộc lộ những cảm xúc trữ

tình của tác giả. Thế nên, có thế xem đó là những truyện ngắn giàu chất kí.

3.2.1. Chất ký thể hiện qua nhân vật và sự việc có thật trong lịch sử

Phần lớn những truyện ngắn trong tập Hương máu của Nguyễn Văn Xuân viết

về những người thật việc thật trong lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp ở Quảng

Nam. Cảm quan lịch sử đã chi phối việc xây dựng nhân vật lịch sử. Những nhân vật

có thật này được xây dựng trong mối quan hệ với cộng đồng trong những thời khắc

trọng đại. Qua đó, nhà văn không chỉ ca ngợi những yếu nhân lịch sử mà còn ca

ngợi cả những anh hùng vô danh.

Trước hết, ta nói về hình tượng các yếu nhân lịch sử: Hoàng Diệu, Thái Phiên,

Trần Cao Vân, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến…..là những nhân vật lịch sử hoàn

toàn có thật từ tên tuổi, quê quán đến hành trạng. Theo nhà nghiên cứu Thạch

Phương, viết về cái chết của người Quảng Nam, đã dựa vào sử liệu ghi chép:

“Nguyễn Duy Hiệu đỗ phó bảng, từng được cử dạy hoàng tử ở Dưỡng thiện đường.

Sau khi Tự Đức mất, tại triều đình bọn quyền thần xâu xé lẫn nhau, ông cáo quan

về quê, rồi gia nhập Nghĩa Hội. Còn Phan Bá Phiến, đỗ cử nhân, từng làm tri

huyện Phù Cát (Bình Định) rồi từ quan. Về sau ông lãnh chiếu Cần Vương, giữ

chức Án sát sứ, cùng với Nguyễn Duy Hiệu tổ chức lãnh đạo Nghĩa Hội. Ông là

người nắm toàn bộ sổ sách, ghi chép tên tuổi của hội viên, danh sách những người

đóng tiền bạc, lúa gạo cho Nghĩa Hội cùng những bí mật khác”[43, tr.215]. Nguyễn

Duy Hiệu đã ra mệnh lệnh rất quyết đoán nhưng cũng rất chí tình trong tình thế bức

bách: “Nghĩa Hội ba tỉnh, ông với tôi thật chủ trương. Việc đã không thể làm được,

thì chỉ có chết mà thôi. Nhưng hai ta cùng chết một lúc là vô ích. Ông hãy chết

trước. Phần tôi, tôi sẽ giải tán hội, rồi đem thân mặc cho Pháp bắt. Người Pháp tra

hỏi, tôi sẽ cực lực giải thoát cho Hội. Một mình tôi chết cũng không đáng tiếc, còn

hội ta sau này có kẻ làm thành chí ta, tức là ta sống đó” [43, tr.215].

Sách Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu còn chép rõ hơn hành động

của Phan Bá Phiến trước mệnh lệnh của Nguyễn Duy Hiệu: “Phiến khẳng khái nhận

lời, quay về nơi vọng vua lạy 5 lạy, rồi hướng về phía Hiệu, kính cẩn lạy và nói:

“Ông gắng, tôi xin đi! Phiến liền dốc túi thuốc độc, uống xong, nhắm mắt” [43,

tr.215].

Còn Nguyễn Duy Hiệu chứng kiến xong cái chết bi tráng của người đồng chí

tâm phúc, ông đã về viếng mẹ già ở Thanh Hà, sau đó ông ra miếu thờ Quan Công ở

giữa trảng cát của làng, mặc áo dài đen, vấn khăn cẩn thận, ngồi xếp bằng tự tại

ngay trước bàn thờ, nhờ người đi báo nhà chức trách đến bắt. Khi bị đóng cũi đưa

về Huế, hỏi cung Nguyễn Duy Hiệu đã nói: “Nghĩa Hội Quảng Nam ở ba tỉnh,

không dưới vài trăm, đều là người có tên tuổi, nhưng can tâm làm giặc duy chỉ có

mình Hiệu mà thôi. Kỳ dư đều bị ép theo. Họ sợ bị thiêu hủy nhà cửa, không dám

không theo, ngoài ra không có bụng gì khác. Vậy chém một mình Hiệu cũng đủ, chớ

nhọc lòng hỏi tội những kẻ khác làm gì!” [43, tr.216].

Trong hồi kí của viên khâm sứ Pháp J.L.Baille khi chứng kiến cái chết của

Nguyễn Duy Hiệu tại pháp trường đã viết: “Hiệu đợi chết như người thuộc nòi

giống của ông, thuộc hàng ngũ bậc của ông, nghĩa là đón nó không chút sợ sệt và

nhận lấy nó như một cái gì đã đến phải đến. Cũng như những người đã từng thấy ở

Nam Kỳ và Trung Kỳ, họ vẫn làm thơ khi đi ra pháp trường, rồi họ viết những câu

thơ trên đầu ngọn bút lông, không chút run tay, không để lộ một chút xúc động tầm

thường” và Nguyễn Duy Hiệu đã “thung dung ra pháp trường chịu chém với nụ

cười trên môi”[43, tr.216].

Những sự thật lịch sử trên về Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến nhà văn

Nguyễn Văn Xuân đã nghe kể biết bao nhiêu lần qua biết bao người trong “những

ngày lang thang trong xóm làng hay trôi theo dòng tản cư vĩ đại” [63, tr.237] và

nhà văn “chỉ muốn vẽ lại trung thành cái nhìn lịch sử bằng con mắt của dân chúng,

của những diễn viên hoặc khán giả của chính lịch sử ấy mà tự họ đã để thực tế, sự

kiện lùi dần nhường chỗ cho huyền thoại lan ra” [63, tr.238].

Nếu ta đem đối chiếu những sự thật lịch sử trên với nhân vật, chi tiết trong

Hương Máu thì dường như ta thấy yếu tố hư cấu rất ít. Đây là đoạn văn trong

Hương Máu viết về Nguyễn Duy Hiệu khi quyết định giải tán Nghĩa Hội:

Khi lễ xong, ông Hường ra hiệu cho tất cả mọi người lại gần […]. Ông cho

biết là từ thất bại này sang thất bại khác, đại cuộc đã hỏng, không hi vọng nào kéo

dài thêm nữa […]. Ngày nay để giữ bí mật hoạt động của các đảng nhân, để khỏi

mảy may tiết lộ các chân tướng của những người cộng sự với Hội ta thì người thủ

xướng tức là Phan đại nhân và tôi sẽ chịu chết. Phan đại nhân là người giữ tất cả

giấy tờ giao thiệp của đảng nhân ba tỉnh, là cái hồn của công cuộc tổ chức Nghĩa

Hội ở ba tỉnh, sẽ đốt hết giấy tờ quan hệ tại đây và cũng chết ngay tại đây, để cho

ai nấy tin chắc là mọi sự bí mật của Nghĩa Hội, mọi hoạt động của hội chỉ có trời

đất biết. Dẫu ai có muốn tố cáo, muốn phanh phui gì cũng không có bằng chứng

nào để vin vào mà di hại đảng nhân ta nữa. Còn tôi, tôi sẽ đi chết ở một nơi khác. Ở

nơi khác đó tôi sẽ tự nhận tất cả tội đã bắt buộc mọi người phải qui phục và như thế

không quyền lực nào còn vin vào đâu để sát hại, bắt bớ đảng nhân ta nữa [63,

tr.260-263].

Và đoạn văn cuối trong Hương máu kể về những giây phút cuối cùng của

Nguyễn Duy Hiệu ở chốn pháp trường:

Dân chúng nghe tin bắt được đại thủ lĩnh “phiến loạn” và đem hành quyết

thì từ nguồn chí biển đều đổ xô về tới tấp. Họ dành sẵn từ sáng sớm trên con đường

tù nhân sẽ đi qua với tất cả vẻ nghiêm trang của giờ lịch sử trọng đại. Họ chờ một

con người như thế nào? Hình như vóc dáng, kích thước và tư thế một bậc anh hùng

phải khác. Vì ở đây, họ chỉ gặp một nhà nho tuấn tú, phương phi, trắng trẻo. Nhà

nho đó không nhìn một ai, không một chút chú ý đến mọi động tĩnh chung quanh

của dân chúng vốn quen ồn ào giờ bỗng trở nên im lặng, kính cẩn và nhiều kẻ khóe

mắt rưng rưng….[63, tr.276 - 277].

Còn về Trần Cao Vân và Thái Phiên thì các nhà nghiên cứu lịch sử ghi chép:

So với Trần Cao Vân, Thái Phiên nhỏ tuổi hơn nhiều (1882 - 1916), thuở

nhỏ có học chữ Hán, sau theo Tây học, ra làm nhân viên cho một thầu khoán người

Pháp. Năm 21 tuổi, ông tham gia phong trào Duy Tân, Đông Du (1903), phong trào

chống thuế (1908), nhờ may mắn thoát khỏi lưới khủng bố của giặc. Năm 1913 -

1914, ông gia nhập Việt Nam Quang phục hội, có công trong việc tổ chức tiếp xúc

với vua Duy Tân, tiến hành tổ chức và lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa ở Huế với tư

cách là phó quân sư. Mưu khởi nghĩa bị bại lộ, ông cùng với Trần Cao Vân và hai

đồng chí khác hi sinh tại An Hòa (Huế) ngày 17/5/1916 [43, tr.226].

Còn đây là đoạn văn Nguyễn Văn Xuân tả Thái Phiên và Trần Cao Vân chốn

pháp trường:

Có tiếng ai nói và trỏ vào tội nhân đi đầu. Tất cả chen nhìn cho được con

người nẫm thấp trạc băm sáu, băm bảy đi một cách khó nhọc dưới một chiếc gông

tạ do bốn người lính tuần sai dìu bốn góc. Thái Phiên vốn gầy, bây giờ chỉ còn lại

da bọc xương nên trong bé hẳn đi khiến những ai không quen chính sự đều tưởng

mình trông lầm. Vì lẽ nào chàng thư sinh bạch diện, tóc tơ rối rắm kia lại có gan

sắt đá đủ làm kinh hồn, táng đởm cả một kinh thành? Tiếp theo là Trần Cao Vân,

cũng không lấy gì làm cao lớn, mặt hơi rỗ hoa, râu dài với chiếc áo dài rộng tay

kiểu đạo sĩ không bao giờ rời nó làm cho người xem càng muốn đoán sâu, hiểu sâu

thêm tư tưởng con người theo “vạn pháp quy tôn” kia đang biến chuyển ra sao? Và

ông có đủ phép thuật thần thông để thoát khỏi giờ phút hiểm nghèo không? [63,

tr.257].

Về danh tướng Hoàng Diệu thì Nguyễn Q. Thắng đã ghi chép trong Quảng

Nam Đất Nước và Nhân Vật: “Hoàng Diệu, liệt sĩ, danh tướng, tự Quang Viễn, hiệu

Tĩnh Trai, quê ở làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc

huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng). Ông vốn tên là Hoàng Kim Tích, sau

mới đổi là Hoàng Diệu, sinh ngày 10/2 âm lịch năm Mậu Tí (Minh Mạng thứ 9)”

[50, tr.257]. Và Hoàng Diệu đã đỗ phó bảng, giữ nhiều trọng trách: tri huyện Tuy

Phước, tri phủ Tuy Viễn, tri phủ Lạng Giang, Án Sát Nam Định, Bố chánh Bắc

Ninh, đến năm 1880 làm “Tổng Đốc Hà Ninh, lãnh chức Thượng Thư bộ binh gồm

coi cả việc thương chánh để giao thiệp với người nước ngoài” [50, tr.258]

Sự kiện thành Hà Nội thất thủ được Nguyễn Q. Thắng ghi lại như sau:

Đầu năm 1882, đại tá Pháp Henri Rivière đem quân ra Bắc lấy cớ bảo vệ

sinh mạng và tài sản Pháp kiều….5 giờ ngày 8-3 Nhâm Ngọ, Henri Rivière sai

thông dịch tên Phong đưa tối hậu thư, yêu sách ba điều:

- Phá các tạo tác phòng thủ trong thành.

- Giải giới binh lính.

- Đúng 8 giờ các vị tổng đốc, tuần vũ, bố chính, án sát và chánh phó

lãnh binh phải thân đến trình diện tại dinh đại tá [50, tr.259].

Trước tối hậu thư vô lý của Henri Rivière, Hoàng Diệu kiên quyết đối phó

nhưng “Tôn Thất Bá chạy trốn làm nội tuyến, bố chính Nguyễn Văn Tuyển, Đề đốc

Lê Trinh và các lãnh binh bỏ chạy, còn tuần phủ Hoàng Hữu Xứng trốn trong hành

cung” [50, tr.260]. Khi thành thất thủ, Hoàng Diệu đã vào Võ miếu, viết bài biểu

xưng tội với vua và treo cổ tự vẫn.

Còn trong Viên đội hầu những hình ảnh, sự kiện về giây phút cuối cùng của

Hoàng Diệu được Nguyễn Văn Xuân kể:

Quan Tổng đốc tiến vào võ miếu. Vợ chồng ông thủ từ già nua lúc đó đang

ngơ ngác, nghe ngóng tiếng súng đạn vọng lại. Ban đầu, ông thủ từ không nhận ra

quan Tổng đốc vì thường ông đi đến võ miếu với mũ cao, áo rộng, hốt ngà, đai

ngọc, tiền hô hậu ủng. Hôm nay, áo quần ông bám đầy khói thuốc súng và cát bụi

[….] Quan Tổng đốc khấn vái rồi phủ phục, rồi lại khấn vái. Lần phủ phục sau

cùng khá lâu. Lúc ngửng lên, ông thủ từ thấy hai con mắt quan Tổng đốc hơi ướt

nhưng giọng vẫn nói bình tĩnh:

- Ta đến đây để chịu tội với các tiên liệt trước khi ta phải chết. Khuya hôm

nay, ta đã viết sẵn hai phong thư bỏ vào trong hai cái hộp bằng thiếc như cái này.

Phong kia, ta đã cho người đưa về Quảng Nam cho gia đình ta. Phong này, ta để

trên túi áo, nơi ngực ta. Chừng năm ba tháng nữa, thế nào cũng có người ở làng

Xuân Đài ra, đến tại Võ miếu đây để lo việc rước thi hài ta. Vậy, hễ ai có đưa cái

hộp như thế này tới ông sẽ chỉ chỗ chôn ta. Còn tuyệt nhiên, không được cho ai biết

cả. Chôn ta thì chờ lúc nửa khuya, không cần tẩm liệm, chỉ quấn một chiếc chiếu là

đủ. Cần nhất là không được tiết lộ mộ phần ta. Đây là món tiền ta cho vợ chồng

ông để lo hậu sự cho ta. Khi người nhà ta tới, ta cũng có biểu sẽ thưởng cho ông

một món tiền lớn nữa. Phải hết sức nhớ lời ta dạy. Thôi, chào vợ chồng ông ở lại.

Quan Tổng đốc giao cái gói nhỏ cho ông thủ từ, cất cái hộp thiếc mỏng nơi

ngực rồi đi lại cây đại thụ trước võ miếu, leo lên. Đến một cành cao, lá um tùm, ông

cởi khăn nhiễu quấn đầu đem buộc một đầu nơi cành rồi đầu kia làm một cái thòng

lọng. Lần cuối cùng ông nhìn lại vợ chồng ông thủ từ đang quỳ hướng về phía ông,

rồi đưa cổ vào thòng lọng, đu mình ra giữa đám lá rậm. Các cành lá rung động ào

ào…[63, tr.292 - 293].

Qua so sánh những lời kể dựa trên tư liệu lịch sử với những diễn biến sự việc,

chi tiết trong hai truyện ngắn: Hương máu, Viên đội hầu, ta thấy những sự kiện

chính liên quan đến hành trạng, phẩm chất của nhân vật được tác giả giữ nguyên

theo lời kể của nhân dân về những con người lịch sử có thật này. Chính vì không

phải là nhân vật hư cấu nên trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân họ tồn tại cả hai

mặt: tốt và xấu. Nguyễn Văn Xuân không “thần thánh hóa”, không “vô trùng hóa”

nhân vật. Nguyễn Duy Hiệu (Hương máu) là một người tài giỏi ở vai trò chỉ huy

Nghĩa Hội, sẵn sàng nhận cái chết để nêu tấm gương yêu nước, căm thù giặc.

Nhưng Nguyễn Duy Hiệu cũng là một con người đa nghi, nóng nảy đến mức cực

đoan: ông không bao giờ thuyết phục mà sẵn sàng trừng trị bất kì ai mà ông nghi có

nhị tâm muốn đầu hàng giặc “ông đã nói chém là chém, giết là giết; thương quân sĩ

không ai bằng nhưng có thể phút trước vừa khen thưởng, phút sau đã truyền chặt

đầu; lệnh chặt đầu của ông đã ban ra, ít khi có ai đủ can đảm xin thay đổi”[63,

tr.246]. Khi tả nhân vật Thái Phiên (Rồi máu lên hương) can trường dũng cảm trong

chiến đấu, thản nhiên nhận lấy cái chết lúc đại sự không thành thì nhà văn cũng hé

mở cho người đọc thấy Thái Phiên là người lạnh lùng, không yêu con gái người

thầu khoán nhưng sẵn sàng cưới để lấy số tiền lớn của người cha vợ giàu có mà đi

lo việc nước. Chỉ động phòng hoa chúc một đêm, rồi từ đó ông đi biền biệt, mặc

cho người vợ trẻ ngày đêm trông ngóng cho đến ngày ông bị bắt, xử tử hình. Với

cách viết truyện ngắn trung thành với những chi tiết lịch sử có thật, cách xây dựng

nhân vật có cả điểm tốt và không tốt trong tính cách….tác giả muốn chứng minh

rằng đây là những con người có thật. Chính vì vậy, lòng yêu nuớc, trung can nghĩa

đảm của họ không phải là sự thổi phồng, hư cấu trên trang giấy. Từ đó, tăng tính

khách quan và thuyết phục của câu chuyện. Nói về tính xác thực của câu chuyện,

tính cách nhân vật, nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã tâm sự: “Tôi không muốn nhiều

chuyện lắm. Vì hoặc nó quá đúng một cách thô thiển, hoặc nó quá sai vì giàu tưởng

tượng và nhất là nó không mấy vinh dự cho các danh nhân được nhiều người

ngưỡng mộ. Nhưng chính các bô lão khi kể cho tôi nghe thì họ kể một cách hăng

hái, nhiệt thành đến độ tôi tưởng nếu không phải như thế mới là không thật không

hùng mà tôi đã nghe, đã yêu, đã gìn giữ trong tâm khảm qua nhiều năm tháng” [63,

tr.238].

Ngoài những nhân vật lịch sử có thật, sáng tác của Nguyễn Văn Xuân còn viết

về những nhân vật hư cấu, những anh hùng vô danh của Quảng Nam. Nhân vật Bốn

trong truyện Cái giỏ, ông tú Bình trong Về làng….là kiểu nhân vật hư cấu. Tuy

nhiên sự thống nhất trong lời nói, việc làm của họ thể hiện rõ bản lĩnh của những

con người kiên cường, giàu lòng yêu nước, khiến người đọc như thấy dáng dấp của

con người Quảng Nam. Trong Cái giỏ, đêm nào Bốn cũng nằm mơ chặt được đầu

Tây dâng Nghĩa Hội. Bốn đã hăng hái bố trí thanh niên trong làng chặt đầu Tây.

Anh đã dùng cuốc đập chết tươi con chó cưng vì sợ tiếng sủa của nó làm lộ bí

mật….Ta thấy nhân vật Bốn ẩn giấu trong tâm hồn một cá tính mạnh mẽ, khẳng

khái đến ngang tàng.

Trở lại nhân vật ông Tú Bình trong Về làng, giữa cái sống nhục nhã và cái

chết giữ tròn tiết tháo nhà nho, ông đã chọn một. Qua ông Tú Bình, tác giả gợi

người đọc liên tưởng đến hình ảnh người thầy Trần Văn Dư, hội chủ Nghĩa Hội và

hình ảnh của bao kẻ sĩ Quảng Nam trong những biến động dữ dội của thời cuộc. Cái

khẳng khái của một kẻ sĩ hòa trong khí chất cứng cỏi của con người Quảng Nam đã

tạo nên tính cách ông Tú Bình.

Như vậy, những nhân vật hư cấu trong truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân có

tính cách, hành động, lời nói, việc làm tiêu biểu cho những con người có thật ngoài

đời. Đó chính là những con người Quảng Nam trong cuộc đấu tranh giữ nước. Điều

đó, không có gì là lạ. Sự sáng tạo của nhà văn đã bắt nguồn từ quan sát, ghi chép cụ

thể về con người và cuộc sống diễn ra trong ngôi làng của mình.

3.2.2. Chất ký trong đề tài - cốt truyện

“Xét từ gốc gác và bản chất, thì kí không nhằm thông tin thẩm mĩ, mà là thông

tin sự thật” [25, tr.424]. Nhưng kí cũng là một thể loại văn học nên tự thân nó có

tính nghệ thuật. Hơn nữa, ngay trong hiện thực được ghi chép trong kí đã có cái

thẩm mĩ. Chính vì kết hợp hai yếu tố thông tin và thẩm mĩ nên truyện ngắn có chất

kí của Nguyễn Văn Xuân luôn hấp dẫn người đọc bởi nét riêng trong ngòi bút sáng

tạo của ông. Phần lớn những truyện ngắn trong Hương máu đều liên quan đến cuộc

kháng chiến chống thực dân Pháp ở Quảng Nam. Việc chọn đề tài lịch sử làm cho

sáng tác của Nguyễn Văn Xuân trở thành loại truyện kí lịch sử. Thế nên, tác phẩm

của ông vừa có giá trị như những tư liệu lịch sử quý giá vừa thông qua những con

người lịch sử cụ thể để tác động đến tư tưởng tình cảm của người đọc. Từ một lịch

sử trong quá khứ chưa xa, nhà văn hướng người đọc đến một lịch sử hiện tại hôm

nay. Câu hỏi nhà văn đặt ra trong lời bạt của tập Hương máu đã nâng ý nghĩa của

những truyện ngắn đề tài lịch sử lên một tầm cao, vượt khỏi dung lượng hạn hẹp

của nó “Chết cho biết chết sẽ chỉ dành cho những ai sống một cuộc đời đáng sống.

Mà tất cả chúng ta có thật ai ai và bao giờ cũng sống cuộc đời đáng sống hay

không?”[63, tr.239].

Những truyện ngắn giàu chất kí của Nguyễn Văn Xuân là những truyện ngắn

được xây dựng có cốt truyện tương đối hoàn chỉnh: mở đầu, phát triển, thắt nút,

đỉnh điểm, kết thúc…Nhưng cần thấy rằng các bước của kết cấu cốt truyện không

hoàn toàn cứng nhắc mà có sự “co giãn”. Nhà văn không miêu tả đầy đủ các giai

đoạn trong cuộc đời, hành trạng của nhân vật mà “khuynh hướng của tác giả được

toát ra từ tình thế và hành động” [25, tr.435] của nhân vật. Đó là tình thế Nghĩa Hội

bị quân Nguyễn Thân dồn ép vào vùng rừng núi Trung Lộc; tình thế phải lựa chọn

giữa: hàng địch hay tử thủ của Tổng đốc Hoàng Diệu; tình thế bị bắt xử tử ở pháp

trường An Hòa của Thái Phiên và Trần Cao Vân. Qua những tình thế cụ thể ấy,

những suy nghĩ và hành động của nhân vật được đặt trong những sự biến căng

thẳng nhất và đi đến kết thúc. Đan xen vào loại kết cấu cốt truyện này là những

đoạn nghị luận trữ tình, bộc lộ cảm xúc chủ quan của người kể. Nhân vật trần thuật

trong những truyện kí của Nguyễn Văn Xuân rất linh hoạt. Có khi là lời kể của Viên

đội hầu về chủ tướng của mình (Viên đội hầu), có khi là lời kể của một người lính

vô danh trong tổ chức Nghĩa Hội…Trong Hương máu khi nói về cái chết của

Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến, người lính vô danh đã nghĩ: “Tôi không cần tả

lại dông dài cái giờ phút ông chấm dứt những bài thơ tuyệt bút để mỉm cười thọ

hình. Nó cũng diễn ra theo cái truyền thống oanh oanh liệt liệt với nụ cười lặng lẽ

của các chí sĩ Việt Nam. Cái chết không còn có tính cách bị chặt đầu một cách thảm

hại mà cốt đạt cho được bốn chữ “thung dung tựu nghĩa” để gây một xúc động bất

tuyệt trong lòng kẻ hậu sinh, cốt truyền tiếp một niềm tin tưởng không bao giờ dứt”

[63, tr.277].

Tóm lại, chất kí trong truyện ngắn đã làm nên nét đặc biệt trong sáng tác của

Nguyễn Văn Xuân. Đọc truyện ngắn viết về lịch sử của ông, người đọc như gặp

không khí thời lịch sử đau thương mà anh dũng của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Từ những sử liệu bi tráng của cuộc chiến đấu chống xâm lược ở đất Quảng Nam

Nguyễn Văn Xuân đã cho người đọc thấy được phẩm chất con người ở một vùng

đất, phẩm chất của người Việt Nam trong truyền thống lịch sử hào hùng của dân

tộc. Có thể nói, chất kí đã tô đậm giá trị phản ánh hiện thực của tác phẩm, còn yếu

tố hư cấu của truyện ngắn làm cho chất kí trong truyện thêm màu sắc trữ tình. Sự

hòa quyện ấy đã tạo nên những truyện kí hấp dẫn.

3.3. Kết cấu độc đáo

Xem xét một cách bao quát tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân

ta thấy tuy đề tài, nhân vật, sự kiện…..có khác nhau nhưng các sáng tác của ông đều

có điểm chung trong kết cấu. Điều này thể hiện ở cốt truyện, tình huống, cách kết

thúc, việc xây dựng nhân vật…..Nếu có thể phân chia tác phẩm theo loại hình, thì

có thể nói những tiểu thuyết và truyện ngắn của ông là những sáng tác mang đậm

yếu tố “kịch hóa”. Yếu tố này thể hiện ở cốt truyện của tiểu thuyết lẫn truyện ngắn.

3.3.1. Cốt truyện giàu kịch tính

Kịch tính được xem là chất liệu cơ bản tạo nên cốt truyện của những sáng tác

văn học có yếu tố “kịch hóa”, nhất là truyện ngắn. Sự kiện, hành động giàu kịch

tính được thể hiện ở va chạm, xung đột mâu thuẫn giữa các nhân vật… Nhà văn

sáng tạo cốt truyện trên cơ sở hai thế lực đối đầu nhau làm nền tảng cho việc xây

dựng sự kiện, tình tiết, nhân vật. Trong Bão rừng là sự đối đầu giữa bọn thực dân

thống trị, chủ đồn điền áp bức bóc lột với dân phu lao động bán mạng cho đồn điền.

Trong Hương máu là sự đối lập giữa bọn thực dân, tay sai bán nước với sĩ phu và

nhân dân Quảng Nam yêu nước trong cuộc kháng chiến chống xâm lược. Trong

Dịch Cát là cuộc đối đầu giữa những người lao động nghèo, tha phương cầu thực

với thiên nhiên khắc nghiệt núi rừng, sông biển của Quảng Nam. Trong Cây đa đồn

cũ là sự đối lập, thù hằn giai cấp giữa bọn địa chủ phong kiến với bọn tay sai bám

gót thực dân. Trên cơ sở các tuyến đối lập ấy, nhà văn đã ngợi ca phẩm chất của con

người Quảng Nam trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và lao động để sinh tồn, mở cõi.

Cuộc chiến của Hoàng Diệu, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến với Nguyễn Thân,

thực dân Pháp….làm nổi bật những cái chết tiến công cũng như lòng trung dân, ái

quốc của sĩ phu Quảng Nam. Cuộc sống đói nghèo, chật vật trong một vùng cát

mênh mông (Dịch Cát, Xóm mới) của những con người như chị Sinh, anh Bỉnh, ông

Hương Là…hay cuộc chiến với những dòng sông đầy thác lũ của anh Năm Cụt

(Cây đa đồn cũ) đã làm nổi bật phẩm chất cứng cỏi, can trường, cần cù kiếm sống

nơi “Ô Châu ác địa”. Từ cái nền của cốt truyện giàu kịch tính, Nguyễn Văn Xuân đã

nâng tầm vóc những con người bình dị vượt xa hơn những ngôi làng nhỏ bé họ đang

sinh sống.

3.3.2. Tình huống truyện đặc biệt

Nói đến truyện ngắn là nói đến tình huống. Với dung lượng của truyện ngắn,

qua những tình huống mà nhân vật bộc lộ tính cách, phẩm chất của mình. Tình

huống trong truyện ngắn giống như một phép thử, qua đó bản chất con người bộc lộ

rõ ràng mà nhà văn không cần giải thích, bình giá thêm. Mỗi truyện ngắn, nhà văn

đều chọn một tình huống gây ấn tượng, kích thích trí tò mò của người đọc. Trong

Dịch Cát và Xóm mới là tình huống người lao động nghèo bị đẩy vào cuộc sống khó

khăn: cất nhà trên bờ cát cạnh khe suối; phải đối diện với căn bệnh “dịch cát” đầy bí

ẩn. Trong Chạy đua với tử thần nhân vật Liễn bị đặt vào tình huống ngặt nghèo cơ

may sống sót chỉ có một, nó thuộc về ai chạy giỏi. Trong Viên đội hầu, Hoàng Diệu

phải giữ thành khi không có sự ủng hộ của triều đình, một số quan lại phản bội,

hàng địch….Có thể nói, mỗi truyện ngắn là một tình huống được nhà văn chọn lọc

nhằm mục đích làm rõ hiện thực cuộc sống cũng như ứng xử của con người Quảng

Nam trong quan hệ với cộng đồng và thiên nhiên.

3.3.3. Kết thúc bất ngờ đầy yếu tố lạc quan

Tài nghệ của nhà văn trong việc tạo ra những tác phẩm văn học có sức lôi cuốn

người đọc chẳng những ở cốt truyện, tình huống truyện mà còn chăm chút cả trong

cách kết thúc. Có thể nói dư âm của tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào cách kết thúc.

Tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân đều có cách kết thúc bất ngờ,

gieo vào lòng người đọc niềm tin vào cuộc sống. Nguyễn Văn Xuân thường viết về

cuộc sống nhọc nhằn đói khổ của dân phu, của những người tha phương cầu thực,

những người rơi vào hoàn cảnh éo le, những người bị xử tội tử hình….Nhìn chung

tác phẩm của ông nhuốm màu sắc bi kịch của những số phận con người. Nhưng với

cách kết thúc truyện độc đáo, ông đã biến những bi kịch ấy thành bi kịch lạc quan.

Trở lại với tiểu thuyết Bão rừng, khi viết về cuộc phản kháng của dân phu

chống ách bóc lột của lão Mẹc, của mụ La, người đọc tưởng như nhân vật Liếng

không thể nào thoát khỏi sự vây ráp, lùng sục của mật thám. Nhất là khi Liếng đã

hứng chịu những trận đòn hội đồng thừa chết thiếu sống. Nhưng cuối tác phẩm,

người đọc thở phào nhẹ nhõm khi thấy Liếng và Trão đã lội suối băng rừng với mo

cơm thừa dự trữ bên mình. Họ đã vượt khỏi nhà ngục của lão Mẹc, bây giờ “họ hồn

nhiên vui vẻ. Nhưng trong ánh mắt của họ vẫn sáng lên những cương nghị lạ lùng”

[63, tr.233]. Kết thúc đầy yếu tố bất ngờ còn thể hiện trong hàng loạt truyện ngắn

của nhà văn: Rồi máu lên hương, Cây đa đồn cũ, Chạy đua với tử thần, Một cuộc

tấn công. Trong Cây đa đồn cũ, người đọc ngỡ rằng nhân vật Cát sẽ trả thù được

Hương Chỉnh vì hắn đã bị trói bỏ vào bao, bị bỏ đói khát, bị chém một nhát rựa vào

vai….Cát chỉ còn kể tội xong là quẳng con người ấy xuống sông, giữa dòng nước lũ

chảy xiết. Nhưng khi “hét một tiếng mạnh, Cát vung tay ném Hương Chỉnh ra giữa

dòng nước chảy […] Hương Chỉnh đã nhảy chồm trên hai chân theo đà tay vung

của Cát, phóng hết sức mạnh của đầu vào ngực Cát làm Cát tung bắn đi” [63,

tr.392]. Trong Chạy đua với tử thần tưởng rằng chỉ có một cơ hội sống sót duy nhất

cho ai chiến thắng khi chạy dưới làn đạn bắn tỉa của quan lớn. Nhưng kết thúc

truyện đã có đến hai người sống sót: một người là vô địch Giàng, còn một người

nữa đã nhảy qua lan can cầu xuống nước sâu, chảy mạnh của sông Cẩm Lệ.

Đôi khi, người đọc thấy một số kết thúc bất ngờ trong truyện ngắn của Nguyễn

Văn Xuân lại ngầm ý vị mỉa mai, châm biếm hoặc cười ra nước mắt…..Một quang

cảnh rùng rợn được nhân vật tôi kể trong Một cuộc tấn công : “không biết cơ man

nào họng súng cắm lưỡi lê tua tủa chĩa vòng theo khu trại. Lính Anh và thuộc địa

Anh thế là đã bao vây hẳn trại chúng tôi. Nét mặt họ ngùn ngụt sát khí. Càng khủng

khiếp hơn là hai chiếc xe tăng đồ sộ, lù lù tiến qua hàng rào dây thép gai vào án

ngữ ngay trước mặt tiền. Các miệng súng liên thanh chĩa thẳng vào trại. Trên các

chòi canh cao ngất, lính gác cũng quay mũi súng về phía chúng tôi” [63, tr.419].

Cuộc bố ráp qui mô với vũ khí tối tân, các tay súng thiện chiến của quân đội Anh là

để “vây bắt” giống sâu mà“Tây thì họ gọi chúng là “bu” không kể đực cái, sống

trong áo quần hay trên tóc. Còn ta thì cộc lốc gọi nó là chí, rận” [63, tr.420]. Ta có

thể tìm thấy cách kết thúc bi hài ấy trong các truyện ngắn: Thằng Thu, Con hiện

sinh, Buổi tắm tất niên…..

Đọc sáng tác của Nguyễn Văn Xuân người đọc như luôn được tiếp thêm niềm

tin bởi những bi kịch trong tác phẩm của ông phần lớn là những bi kịch lạc quan.

Có điều lạ, ông là nhà văn thuộc bộ phận văn học yêu nước 1945 - 1975, đôi khi

còn bị xem là thờ ơ với thời cuộc, nhưng cách viết truyện của ông lại tiếp cận

phương pháp sáng tác của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, với nhãn quan duy

vật biện chứng, theo quy luật phát triển của cuộc sống. Tác phẩm của ông đã: “mô

tả cuộc sống trong quá trình phát triển cách mạng và hướng về tương lai” [25,

tr.606]. Những nhân vật lịch sử như Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Thái Phiên,

Trần Cao Vân…cuối cùng đều hi sinh cho đất nước nhưng những cái chết của họ

không làm nản lòng, thoái chí người đọc, mà khơi lên bao hi vọng về một ngày mai

tươi sáng, sẽ có người nối tiếp lòng trung dân ái quốc của họ, chiến đấu và chiến

thắng kẻ thù. Niềm tin ấy thể hiện trong giấc mơ của nhân vật “tôi” ở cuối truyện

Hương máu:

Đêm ấy, tôi ngủ và chiêm bao thấy hàng trăm kỵ sĩ ruổi rong khắp xóm

làng tỉnh Quảng Nam mang theo những lá đại kỳ viết bằng chữ lớn, báo tin thủ lĩnh

phiến loạn đã chết. Nhưng đột nhiên những kỵ sĩ áo màu kia biến mất nhường chỗ

cho những người gầy gò, xanh xao. Họ chạy qua mặt tôi, lớn tiếng gọi và vẫy tay.

Tôi sửng sốt chạy lại thì thấy toàn những bộ mặt rất quen mà tôi đã gặp suốt ba

năm trời ở núi rừng. Nhưng khi họ trưng thẳng lá cờ, tôi không thấy hung tin mà

thấy một chữ “Tiệp” rất lớn. Rồi lại thấy đoàn kỵ sĩ áo quần rực rỡ hiện ra và tất

cả cùng đua nhau chạy về phía sương mù [63, tr.278].

Giáo sư Trần Hữu Tá đã nhận xét: “Có thể nói, đó là kết thúc một bi kịch lạc

quan” [49, tr.105].

Tương tự cách kết thúc ấy, những con người lao động tha phương cầu thực

trong Xóm mới dù bị cuốn trôi nhà cửa, tài sản nhưng ngay ngày hôm sau họ đã

nương tựa vào nhau “lần lượt từ giã địa phương để tìm kế mưu sinh”[63, tr.448].

Còn người phụ nữ trong Con hiện sinh đã sắp đặt công phu trả thù “tình địch”

nhưng khi gặp nhân ngãi của chồng thì lại ôm vào lòng vỗ về, ứa nước mắt vì “nhân

ngãi” ấy chỉ bằng tuổi con gái mình. Cách kết thúc ấy khiến cho người đọc tin rằng

với lòng yêu thương, với bản lĩnh văn hóa mà người mẹ đã tiếp nhận từ bề dày

truyền thống văn hóa của dân tộc thì dù kẻ thù có dùng những thủ đoạn xâm lăng

văn hóa thâm độc như thế nào, nhân dân ta cũng sẽ vượt qua.

Qua cách kết thúc tác phẩm đầy lạc quan, nhà văn gián tiếp thể hiện cảm hứng

ca ngợi, lòng tin yêu đối với cuộc sống và con người nơi đầu sóng ngọn gió. Nhà

văn muốn truyền niềm tin ấy cho các thế hệ người đọc, khơi dậy ý thức trách nhiệm

công dân đối với Tổ quốc. Giá trị thời đại trong sáng tác của nhà văn có thể là kết

quả của: “những luồng gió mới” trong không khí toàn quốc kháng chiến thổi vào

tâm hồn ông.

3.4. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ

Ngôn ngữ có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phản ánh đời sống hiện thực

trong sáng tác văn học. Qua ngôn ngữ người đọc hiểu về cuộc sống, tính cách con

người, tài năng, sự sáng tạo của tác giả. Ngôn ngữ trong sáng tác văn chương là

ngôn từ nghệ thuật“giàu tính hình tượng nhất và giàu sức biểu hiện nhất được tổ

chức một cách đặc biệt để phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm và tác

động thẩm mĩ tới người đọc” [25, tr.185]. Ngôn ngữ trong sáng tác văn chương vừa

tuân thủ quy tắc chung có tính chất toàn dân vừa là những nét sáng tạo riêng của

mỗi nhà văn phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, quan hệ xã hội, sự tiếp thu chiều sâu

văn hóa dân tộc, nét đặc trưng riêng của từng vùng, miền…..

Giọng văn của Nguyễn Văn Xuân điềm đạm, mực thước của người từng trãi,

hiểu biết sâu sắc về lịch sử, về dân tộc học, về đất Quảng Nam. Điều đó làm cho

sáng tác của nhà văn vừa gần gũi với người đọc trên mọi miền đất nước vừa thể

hiện được những nét riêng của một nhà văn được đồng nghiệp, bạn bè mến yêu gọi

là “ông thầy Quảng”. Chất Quảng thể hiện rõ ở cách sử dụng lời ăn tiếng nói hàng

ngày: chân chất, sát thực tế, không cầu kì ước lệ mà vẫn không thô tục trong hành

văn.

3.4.1. Sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày

Nguyễn Văn Xuân là nhà văn của một ngôi làng. Từ lúc thiếu thời đến khi trở

thành nhà văn, cái nơi chôn nhau cắn rốn ấy đã hình thành trong ông một lớp văn

hóa nền, văn hóa vùng….Khi cầm bút sáng tác chiều sâu văn hóa ấy đã tràn vào

sáng tác của nhà văn qua lớp ngôn ngữ của đời sống sinh hoạt hàng ngày phong

phú, đa dạng…Đọc truyện của Nguyễn Văn Xuân, chúng ta có dịp làm quen với lời

ăn tiếng nói của người xứ Quảng qua ngôn ngữ của nhân vật và của chính người kể

chuyện.

3.4.1.1. Từ ngữ xưng hô

Trước hết là cách dùng từ ngữ xưng hô, gọi tên nhân vật mang đậm phong

cách Nam Bộ. Người Nam Bộ thường xưng hô với nhau theo quan hệ huyết thống,

dòng tộc, xóm giềng, tuổi tác: anh, bác, chú, thím, dì, dượng… Cũng giống như

những nhà văn Nam Bộ khác, Nguyễn Văn Xuân cũng đặt cho nhân vật những cái

tên quen thuộc: bác Trùm, anh Bốn, chị Mừng, chú Từ, anh Cát, anh Phương…

Những cái tên gắn liền với nghề nghiệp, đặc điểm bản thân khiến người đọc dễ nhớ:

Anh Năm Cụt (anh này bị cụt một cánh tay), anh bếp (làm nghề nấu bếp cho vợ

chồng chủ đồn điền); anh bồi (làm việc lặt vặt, hầu hạ chủ). Ngoài ra, ta còn gặp

trong tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân những cách gọi tên nhân vật đi kèm với việc

bộc lộ thái độ của tác giả đối với nhân vật: “bả”, “mụ”, “con mẹ này”, “thằng”…

Ngoài lối xưng hô quen thuộc đậm phong cách Nam Bộ như trên, trong sáng

tác của Nguyễn Văn Xuân còn có lối xưng hô rất đặc trưng của miền Trung nói

chung và Quảng Nam nói riêng. Hầu hết các nhân vật trong tiểu thuyết và truyện

ngắn của nhà văn được gọi thẳng tên đi kèm với một từ chỉ cách xưng hô: chị

Mừng, anh Phương, anh Bỉnh, chú Niên, bác Liễn, anh Cát, chị Sinh… Điều này có

điểm khác biệt so với lối xưng hô quen thuộc trong Nam: tên đi kèm với thứ tự

trong gia đình (Ông Sáu Bộ, anh Tư Đạt, chú thiếm Tư Đinh…). Đặc biệt hơn,

trong cách gọi tên thì người Quảng Nam thường gọi người con thứ bốn trong gia

đình bằng tên Bốn (chứ không gọi Tư như miền Nam). Có thể nói, cách xưng hô gọi

thẳng tên nhân vật, không kèm theo thứ tự trong gia đình là một trong những biểu

hiện của đời sống văn hóa tinh thần của người xứ Quảng. Khi giao tiếp với nhau, họ

nói thẳng vấn đề, gọi ngay tên người, sự vật, sự việc… không rào đón vòng vo,

không màu mè tình cảm giả tạo. Đó là lối ứng xử của những người bộc trực, thích

rạch ròi phân minh.

Kết hợp những đặc điểm vừa nêu với lối tả sinh hoạt hàng ngày bằng lời lẽ

giản dị, mực thước, tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân rất bình dị mà có sức hấp dẫn

người đọc.

Đây là một đoạn đối thoại trong Bão rừng:

Mụ chủ nghe xong báo cáo, không cần nghĩ ngợi, mắng ngay:

- Đồ ăn hại. Giữ có mấy con bò mà giữ cũng không xong.

Có lẽ mụ nghĩ mình mắng cũng vô lý, nhưng trong những trường hợp ấy

không mắng chửi thì mụ lại tấm tức. Mụ hằn học bỏ đi lên nhà trên.

Người phu giữ bò thấy mụ đi khuất, mới dám phân trần:

- Giữ với ai? Giữ với cọp à! May mà bò không ra, chớ lỡ tuôn ra nó đánh

chết cả lũ mới làm sao?

Anh bếp nói:

- Theo ý bà thì lúc có cọp, anh phải chạy ra nói: Ăn tao đây, đừng ăn bò của

bà! Như thế chắc bà không rầy la gì đâu [63, tr.63].

Hay một đoạn văn khác kể về cuộc trò chuyện của những người phu đồn

điền, trong đó có bác Liễn là người bệnh sốt rét rất nặng:

Bác cầm mẩu đường, run run đưa vào mồm. Bác nhai phều phào rồi đòi một

cốc nước chè đậm. Bác uống một hơi cạn cốc. Những người lo ngại cho bác chớm

thấy trong mắt, trên khóe miệng ánh vui mừng. Liếng giục:

- Thôi, “cha” có “tẩu mã” được thì làm, không thì con đỡ “cha” “hạ mã”

cho khỏe.

Bác Liễn mỉm cười, hai mắt nhấp nháy một cách tinh nghịch, bảo Liếng:

- Bây giờ mầy có giỏi thì đi mượn con dao về tao cạo sơ qua mấy cái râu này.

Liếng tru tréo lên:

- Đau liệt giường mà còn làm “điếm”. Thôi con lạy “cha”. Người bệnh kỵ

nhất là soi gương, cạo râu đó “cha” à.

Bác hoa năm ngón tay mỏng đét phản đối:

- Mày nói dốt lắm. Đó là đàn bà, con gái mới sợ đồng căn đồng kiếp. Chứ tao

đã hai thứ tóc rồi còn sợ cái quái gì [63, tr.114].

Thông qua những đoạn đối thoại trên, ta thấy từ cách xưng hô đến lời nói của

nhân vật đều rất gần gũi, quen thuộc với người dân xứ Quảng: mộc mạc, bình dị.

Qua đó, nhà văn đã truyền tải tâm tư tình cảm, tính cách của nhân vật từ nguyên

mẫu có thực ngoài đời vào văn chương. Họ là những người hiền lành, bộc trực, nghĩ

sao nói vậy. Bao niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống họ đều thể hiện ra ngoài.

Trong lời ăn tiếng nói của họ lại pha nét hỏm hỉnh đáng yêu của những con người

“hay cãi”. Bằng cách dùng từ xưng hô, dùng ngôn ngữ diễn đạt gần gũi với cuộc

sống hàng ngày, nhà văn đã cho người đọc hình dung về cuộc đời đang diễn ra hết

sức sinh động.

3.4.1.2. Khẩu ngữ góp phần thể hiện tính cách nhân vật

Sáng tác của Nguyễn Văn Xuân dựa trên sự thực của cuộc sống chiến đấu, lao

động của nhân dân Quảng Nam nên nhà văn không ngại ngần khi đưa những lời ăn

tiếng nói đậm chất khẩu ngữ đến độ “thô tục” vào trong lời nói của nhân vật (những

từ khẩu ngữ bình thường chúng tôi không đề cập đến ở đây).

Tiêu biểu là lời nói của nhân vật anh bồi trong Bão rừng:

-“Đ….mẹ, về là ngậu sị lên” [63, tr.33].

-“Đ….mẹ nó!. Nó tưởng nó chửi mình là nó hơn à? Tao là thân trâu ngựa thì tao

cũng biết chơi như thế nào như trâu ngựa chứ” [63, tr.45].

-“Đ….mẹ, bà lại có lịnh gì đấy” [63, tr.63].

Những tiếng “Đ…mẹ” và những lời thô tục như “kệ cha nó”, “chó”, “trâu”,

“đái”, “cứt”…..được nhà văn sử dụng như chất liệu của ngôn ngữ đời thường làm

nên diện mạo muôn màu muôn vẻ của cuộc sống. Nhưng cần thấy rằng việc sử dụng

loại từ “thô tục” này hoàn toàn có chủ đích, phù hợp với nội dung câu chuyện, tính

cách nhân vật chứ không phải là cách dùng từ bừa bãi của những tay giang hồ anh

chị mà ta thấy trong sáng tác của một số nhà văn. Anh bồi trong Bão rừng hay chửi

thề nhưng chỉ chửi thề khi nói tới bà chủ đồn điền. Còn trong quan hệ, lời ăn tiếng

nói hàng ngày với những người đồng cảnh ngộ thì anh chưa bao giờ sử dụng thứ

ngôn ngữ này. Điều này chứng tỏ đối với anh bồi và những người yếu thế như anh

thì “chửi thề” trong lời nói là một cách ngấm ngầm chống đối, phản kháng, không

cam chịu của những người thấp cổ bé họng.

Những từ thô tục trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân luôn xuất hiện “hợp

tình, hợp cảnh”, khiến người đọc có cảm giác “phải như vậy” thì mới là chất hiện

thực trong tác phẩm.

Đây là đoạn văn nói về đêm cuối cùng của những người tử tù ở một trại giam :

- Ê, ông già. Ông đái cùng ra đây!

Tiếng người nông dân gắt lên ở phía sau, khiến Liễn quay phắt lại.

Cái bộ buồn thảm thất thiểu của anh nông dân mới rồi được thay bằng một vẻ giận

dữ, hằn học đối với một người mà anh biết không cần dè dặt:

- Sao đái tùm lum, tèm lem ra vậy?

Ông già sửng sốt, nhìn xuống nền nhà. Vội vàng, sợ hãi, ông cỡi ngay chiếc áo

đang mặc lau lấy, lau để. Liễn nhìn thấy cả bộ xương sườn của ông giơ ra, nhưng

anh không thương hại, vì chính ông già đái trên chỗ anh nằm.

…..Anh cảm thấy ngứa lưng, như thế chính mình mới nằm trên vũng nước đái. Ông

già luống cuống lau, ông lau tràn sang cả chỗ không bị nước đái [63, tr.508].

3.4.2. Việc vận dụng phương ngôn trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân

“Phương ngữ, tiếng địa phương, thổ ngữ là biến thể địa phương của ngôn ngữ

toàn dân. Quan hệ giữa phương ngữ và ngôn ngữ toàn dân là quan hệ giữa cái

riêng và cái chung, giữa cái biến thể và cái bất biến thể, giữa cái cụ thể và cái trừu

tượng” [43, tr.517]. Theo nhận xét của Ths. Đinh Thị Hựu về Từ ngữ địa phương

Quảng Nam thì tiếng địa phương của một vùng luôn có quan hệ chặt chẽ với ngôn

ngữ toàn dân. Có lẽ vì vậy, khi đọc sáng tác của một số nhà văn có sử dụng từ địa

phương, người đọc vừa nhận ra cách nói rất riêng của địa phương đó vừa có thể đặt

vào ngữ cảnh của lời nói trong hệ thống ngôn ngữ toàn dân để hiểu nghĩa của từ mà

đôi khi không cần sự chú giải của nhà văn. Trong tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân

có nhiều trường hợp phương ngôn đã được sử dụng như vậy.

Có một số từ ngữ trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân mà ta

chỉ thấy xuất hiện trong cộng đồng người Quảng: xanh nghít, ai biểu, nạm lấy, chết

giá rồi, ăn nói cà xốc, rấn rốn cãi, lóc cóc chạy, đường kiệt, ai xúi xử, bày biểu,

lổng chổng, lúi húi, thấu triệt, dòm dỏ…

Khi xem xét các từ ngữ có nét đặc trưng của xứ Quảng thì ta nhận thấy những

từ ngữ này thường kết thúc bằng những vần thuộc thanh trắc. Có phải vì thế mà khi

nghe người Quảng nói ta thường cảm thấy cái “thô ráp” trong lời nói, ngữ điệu.

Người ta thường nói “nói ngọt thì lọt đến xương” nhưng giọng nói xứ Quảng với

những phương ngữ kết thúc bằng thanh trắc không đem lại cái dư vị “ngọt dịu”, nếu

có cũng không nhiều. Có lẽ cuộc sống lên rừng, xuống biển để mưu sinh, chống

chọi với thiên nhiên làm cho con người ở đây không có thời gian để “làm dáng”,

“pha duyên” mà họ nghĩ sao nói vậy, có sao nói vậy. Đã nói là phải diễn tả chính

xác ngay tính chất, đặc điểm của sự việc, sự vật, không vòng vo, uyển chuyển.

Đôi khi, trong một số trường hợp, Nguyễn Văn Xuân cũng có sự giảng giải rõ

ràng về một từ ngữ nào đó. Thông thường là những từ liên quan đến một sự vật mà

khi giảng giải sẽ góp phần tô đậm thêm tính cách nhân vật, đời sống của con người

ở địa phương. Chẳng hạn, trong truyện ngắn Tiềng Đồng, nhà văn đã gợi cho nhân

vật “tôi” những thắc mắc về nhạc cụ kì lạ mà làng đúc đồng chế tạo bán cho người

Thượng:

Tôi chỉ cái phèng la, loại nhạc cụ giống hệt các nón thúng của phụ nữ miền

Bắc hỏi:

- Thưa bác, tại sao lại gọi là phèng la?

Ông cầm nhạc cụ lên, lấy dùi và bảo tôi:

- Cậu nghe đây!

Ông đập và nó phát ra những tiếng đồng:

- Cậu có nghe rõ không? “Phèng” rồi “la la la la la la a a a a a”

Ông không chờ tôi hỏi thêm, giảng giải:

- Cái mặt phẳng đánh vào thì kêu phèng. Khi tiếng phèng dứt ở vòng chân quì

tức là cái vành thì đổi sang tiếng la. Loại này đối với đồng bào mình thì chỉ có hai

giọng dùng để đánh cho kêu, cho to. Khi gọi dân, họp dân thì mấy ông làng xách ra,

đánh như la làng la xóm…. Nhưng đối với người Thượng, nó không chỉ thuộc về

nghi lễ mà còn thuộc về âm nhạc nữa [63, tr.471].

Hoặc chủ nhà giảng giải cho nhân vật “tôi” nghe về chiêng đôi:

Loại này là đồ chiêng đôi “Trà Bồng”. Gọi thế chứ nó cũng là phèng la….

Giọng Trà Bồng gồm có mấy giọng: Bù rốp (cao), Bù rắp lay, lay (lớn và nhỏ). Bù

rớt Bù rởn. Đây là loại lay giọng lớn.

Tiếng thùng….ngao phát ra từ cái phèng la ở phía sau thì lạ lùng, tôi nghe

như cũng có tiếng thùng…ngao phát ra ở cái trước. Tôi tưởng mình nghe lầm.

Nhưng rõ ràng là như thế. Rõ ràng không ai đánh, thế mà cái phía trước cứ kêu mà

kêu y hệt như cái thứ hai. Như hai đứa trẻ song sinh, đứa này bị đánh đau xót la hét

thế nào thì đứa kia cũng đau xót la hét lên như thế. Tôi buột miệng kêu lên:

- Giống nhau như đúc!

- Thế thì mới gọi là “đồ đôi” mà cậu. [63, tr.484 - 485].

Việc giảng giải kỹ về một danh từ như vừa nêu trên đã cho chúng ta hiểu thêm

tài hoa của những người thợ ở một làng đúc đồng. Nhờ sự cần cù khéo léo của đôi

tay và một tâm hồn nhạy cảm mà họ có thể tạo ra một loại nhạc cụ phức tạp như

thế. Đồng thời qua đó người đọc khâm phục nhà văn Nguyễn Văn Xuân, tuy chỉ là

nhà văn của một ngôi làng nhưng có tầm kiến văn rộng rãi của một ông thầy Quảng.

Phương ngôn trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân còn thể hiện tính chân

thực khi nhà văn sử dụng những từ ngữ trong lời ăn tiếng nói của người Radhé:

“Pạ” (sải tay); “Đoa Pạ” (hai sải); “cái vợ”; “cái Ban Mê Thuộc”….Dưới đây là

một đoạn đối thoại của một người Radhé với những người ở đồn điền của mụ chủ

La (Bão rừng), người Đê này có một chiếc nhung to anh muốn bán cho mụ chủ La:

Hôm sau, anh ta mang lại lần nữa. Chủ trả lên đến một đồng hai, anh nhất

định không bán. Chủ hỏi:

- Tao trả hết giá mày không bán để làm gì?

Y đáp

- Tôi lên cái Ban Mê Thuộc.

…Mụ chủ xem xét cẩn thận, giọng có vẻ đứt giá.

- Một đồng ba bạc đó, chết giá rồi

….Y đáp:

- Mai tôi đi cái Ban Mê Thuộc

Vài hôm sau người Đê trở lại

- Sao không đi cái Ban Mê Thuộc?

Người Đê lắc đầu, buồn rầu:

- Không đi

- Tại sao không đi mà bán cho cao giá?

- Cái nhung nó hôi rồi [63, tr.58].

Qua những từ ngữ trong lời ăn tiếng nói của người dân tộc, người đọc có dịp

hiểu được sắc thái đa dạng của nền văn hóa cộng cư ở Quảng Nam.

Ngoài từ địa phương, trong một số văn cảnh nhất định, Nguyễn Văn Xuân

không ngần ngại sử dụng tiếng Pháp trong lời thoại của nhân vật làm cho nhân vật

hiện lên trong tác phẩm hết sức sinh động.

Đây là đoạn văn tả cảnh lão Mẹc định dở trò đồi bại với chị vú, khi vợ lão đi

vắng:

Lão chủ chỉ bận độc một cái áo sơ mi ngủ, phía dưới lông lá tô hô, phía trên

đầu tóc xốc xếch, đang tấn đến bắt chị vú. Chị vú thì bé choắt, chân chạy loăn

quăn, miệng kêu ơi ới. Con Gái thì ngồi nhe đủ hai hàm răng mà cười. Chị vú kêu:

- Ma đầm! Ma đầm!

Lão chủ đáp

- Pác - tia

Chị vú tru tréo:

- Tổ cha mi! ma đàm rơ tua, ma đàm cạo cái đầu.

Không hiểu chị sợ cạo đầu chị hay cạo đầu lão. Lão vẫn quay hai tay như thầy bói

bắt heo lừ lừ tiến tới. Chúng tôi bấm nhau để khỏi cười. Thốt nhiên, lão tấn chị vú

vào một góc rồi huynh hoang như kẻ thắng trận, nâng cao cái thân thể mỏng teo

của chị lên mà quay luôn một vòng; miệng chị vú cũng phát ra đúng một vòng tiếng

kêu chí chóe.

Chúng tôi mở rộng cánh cửa bước vào. Lão nhìn chúng tôi chòng chọc như

thách đố. Anh bồi nói:

- Ma đầm !

- Pác - tia.

Lão có vẻ khoái chí, cóc cần. Anh bồi nhấn mạnh:

- Ma đầm rơ tua, mỏa pac lê

Lão ném chị vú, buông thỏng:

- Măng phú!

Lão “măng phú” cho đỡ bẽ mặt. Rồi lạnh lùng đi vào phòng ngủ.

Tất cả chúng tôi có mặt quả thật đối với lão chủ là con số không. Mà chính cái

bóng vang của mụ chủ đã làm lão bỏ chạy [63, tr.154-155].

Hay đoạn văn tả cảnh chạy đua với tử thần:

Cánh tay với bàn tay to lớn, đỏ kè của lão quản đã hai lần giơ cao rồi hạ

xuống đất khoan thai nổi bật trên nền trời xanh theo giọng hô dõng dạc:

- A vos marques

- Prêt

Rồi cánh tay lại giơ lên: Lần này nó không hạ thẳng xuống mà chém mạnh vẹt về

phía trước như cốt để ai cũng có thể hiểu là lệnh chạy:

- Partez!

….Hình như hắn không cần biết ai bị hắn bắn mà chỉ chú ý người không bị bắn, khi

chạy qua mặt hắn, Liễn đột nhiên nảy ra cái ý thốt lên thật lớn “Vive la France”

nhưng anh kịp giữ miệng. Thà chết chứ không làm thế” [63, tr.529].

Trong cách sử dụng ngôn ngữ tiếng Pháp của Nguyễn Văn Xuân ta thấy có sự

linh động, uyển chuyển của một ngòi bút có sự hiểu biết tường tận mà không khoe

khoang. Đoạn văn trong Bão rừng nói về lão Mẹc giở trò đồi bại với chị vú thì nhà

văn đã dùng tiếng Pháp ở dạng “bồi” của những người Việt học nói tiếng Pháp theo

cách nghe lõm và nhạy lại:

ma đàm rơ tua (bà về), Ma đầm (bà), mỏa pạc lê (tôi sẽ mách lại)

Cách sử dụng này làm tăng thêm tính hài hước của câu chuyện về lão chủ

người Pháp dê xồm. Còn trong đoạn văn miêu tả cuộc Chạy đua với tử thần thì nhà

văn tả những hành động và lời nói của tên quản Tây nên không cần pha tiếng bồi

mà là tiếng Pháp chính gốc: A vos marques, Prêt!, Partez….Và nhà văn không hề

chú giải về nghĩa của những từ ngữ này. Có thể vì tính thông dụng của từ ngữ, vì

tôn trọng sự hiểu biết của người đọc…và vì tác giả đã đặt những từ ngữ ấy vào một

ngữ cảnh nhất định mà chắc rằng người đọc sẽ hiểu.

Khi viết những truyện ngắn liên quan đến lịch sử của thời “Cần Vương”, nhà

văn đã dùng một số lượng lớn những từ Hán Việt trong lời kể, lời thoại của các

nhân vật. Nhờ vậy không khí của thời kỳ lịch sử đã qua, lời ăn tiếng nói của những

nhân vật xuất thân “cửa Khổng sân Trình” được tái hiện một cách sinh động. Đây là

đoạn văn kể về lời “hiểu dụ” quân sĩ của phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, người lãnh

đạo Nghĩa Hội:

Vì càng kéo dài thì càng hao người tốn của, không còn lối thoát nào ngoài sự

tiêu diệt con người đến cuối cùng. Vậy cần bảo toàn sinh lực, ý chí của Hội để chờ

thời cơ thuận lợi sẽ hoạt động trở lại. Cuộc đấu tranh trường kỳ để thâu hồi độc lập

không cốt ở một đôi nơi, một đôi lúc mà cốt ở bất kỳ nơi nào, lúc nào “trong vĩnh

cữu, bằng vĩnh kiếp thực hiện theo một vĩnh đồ”. Vậy mỗi hội viên, quan lại, mỗi

viên chức, quân binh phải tự nhiệm cái trách vụ đi tìm những người đồng tư tưởng,

đồng chí khí kết giao với họ để hưng lại cái sự nghiệp cứu quốc gia đã bị dở lỡ, học

thêm cái phương pháp mới, rèn luyện khí cụ mới để công cuộc chiến đấu có hiệu

quả chắc chắn hơn trong thời buổi khoa học mới mẻ này [63, tr.261].

Như vậy, việc đa dạng hóa cách sử dụng từ ngữ trong sáng tác của Nguyễn Văn

Xuân là điều mà tất cả chúng ta đều dễ dàng nhận thấy khi tiếp cận với tác phẩm

của ông. Vấn đề là khi nào sử dụng từ ngữ địa phương, văn cảnh nào sử dụng từ

ngữ người Đê, ngữ cảnh nào dùng tiếng Pháp, từ Hán Việt…dường như đã có sự

cân nhắc kỹ càng, không tùy tiện. Cái tài của nhà văn là tuy đã có sự tính toán cân

nhắc nhưng mọi sự lại diễn ra hết sức tự nhiên như cuộc sống vốn như vậy. Nếu

ngôn ngữ là biểu hiện của văn hóa thì nhà văn không chỉ hiểu văn hóa mà còn hiểu

bề dày, chiều sâu của văn hóa. Và tự do bao giờ cũng thuộc về những người hiểu

biết.

3.4.3. Vận dụng thành ngữ

Thành ngữ, tục ngữ vốn là những đơn vị ngôn ngữ tồn tại trong lời ăn tiếng nói

hàng ngày của nhân dân. Những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân viết về cuộc sống

thực của người dân Quảng Nam nên khi tìm hiểu về sáng tác của nhà văn chúng tôi

không thể không nói đến một lượng thành ngữ tương đối lớn trong một số tác phẩm

của ông. Một số nhà nghiên cứu về văn học đô thị miền Nam thường đề cập đến tài

năng sử dụng thành ngữ trong sáng tác của Sơn Nam, nhà văn cùng thời với

Nguyễn Văn Xuân. Nếu làm một so sánh nhỏ giữa hai tác phẩm của hai nhà văn, ta

thấy:

Tác giả Tên sách Số trang Số thành ngữ

Sơn Nam 263 32 Hương rừng Cà Mau 1

Nguyễn Văn Xuân 233 30 Bão rừng

(Bảng thống kê chi tiết xin đính kèm ở phần phụ lục)

Còn trong thế đối sánh với những sáng tác của chính Nguyễn Văn Xuân thì có

sự chênh lệch trong việc vận dụng những thành ngữ giữa tiểu thuyết và các truyện

ngắn. Số lượng thành ngữ được nhà văn sử dụng nhiều nhất trong tiểu thuyết Bão

rừng, còn lại các truyện ngắn chỉ sử dụng số lượng ít. Một phần có thể do số trang

của quyển tiểu thuyết này dày dặn hơn so với số trang của tất cả các truyện ngắn

còn lại. Nhưng điều quan trọng là ở Bão rừng tác giả tập trung viết về đời sống dân

phu ở một đồn điền cà phê. Ngôn ngữ trong tác phẩm là ngôn ngữ đời thường, tiết

tấu chậm, đều đặn như nhịp sống. Thế nên, khi đối thoại, các nhân vật trong Bão

rừng đã vận dụng những thành ngữ, những cách so sánh quen thuộc trong dân gian.

Nhờ vậy, câu chuyện trở nên sinh động, dễ hiểu. Còn các truyện ngắn trong hai tập

Hương máu và Dịch cát đều có tiết tấu nhanh, giàu kịch tính, lời trần thuật của tác

phẩm chiếm một số lượng nhiều hơn lời thoại của nhân vật. Với vai trò người kể

chuyện ở ngôi thứ ba, tác giả miêu tả, kể những điều mắt thấy tai nghe hoặc giả

tương tự như vậy.

Trong quá trình vận dụng thành ngữ, có khi Nguyễn Văn Xuân giữ nguyên

mẫu thành ngữ những cũng có khi ông sử dụng theo cách riêng. Những thành ngữ

được sử dụng nguyên mẫu như:“mèo đàng chó điếm”, “tích thiểu thành đa”, “ăn

chưa no, lo chưa tới”, “còn nước còn tát”. Còn các thành ngữ được sử dụng theo

cách riêng của nhà văn thì phần lớn là thêm vào các quan hệ từ cho rõ nghĩa hơn:

Chờ thì được, ước thì thấy (chờ được, ước thấy); Tốt mã nhưng rã đám ( tốt mã rã

đám); Phép vua còn thua lệ làng (Phép vua thua lệ làng ); Ở hiền thì gặp lành

(Ở hiền gặp lành ).

Việc thêm các quan hệ từ vào trong thành ngữ là thói quen khi nói chuyện của

người dân Quảng Nam (theo lối tách và ghép từ). Họ thường nhấn mạnh vào điều

mình đề cập để tác động trực tiếp đến người nghe.

Những thành ngữ, tục ngữ, kết hợp với lối nói ví von so sánh làm cho văn

phong của Nguyễn Văn Xuân giàu tính hình tượng, mang tính khái quát khá cao.

Khi tả về tiếng kêu kinh hoàng, sợ hãi của mụ La vì con voi điên, tác giả viết:

“mụ kêu e é như chính con voi đang hò hét” [63, tr.170].

Khi nói về bản chất gian ngoa, hiểm độc, tham lam của mụ La tác giả viết:

“thối tha hơn phân chó”[63, tr.42].

Khi nhân vật chị Sáu bị cơn sốt rét rừng, run cả giường chiếu thì nhà văn so

sánh: “Chiếc khăn giăng trên đó cứ như bị động kinh” [63, tr.187].

Để nói về việc đánh bạc của công nhân đồn điền như một việc tất nhiên, tác giả

viết: “ở đồn điền không đánh bạc giống như ở cửa quan không ăn hối lộ” [63,

tr.178].

Những thành ngữ, tục ngữ, lối nói ví von so sánh được Nguyễn Văn Xuân sử

dụng có mức độ, có chủ đích trong một số sáng tác cụ thể. Nhờ vậy nhà văn phát

huy được mặt tích cực của ngôn ngữ sinh hoạt đời thường trong tác phẩm của mình.

Điều đó làm cho tác phẩm của ông gần gũi, dễ hiểu đối với người đọc.

Đọc sáng tác của Nguyễn Văn Xuân ta thấy tuy dung lượng của mỗi truyện rất

ngắn nhưng không vì thế mà ý nghĩa của nó kém phần sâu sắc. Có được như vậy

một phần là do những đoạn văn trữ tình và những đoạn văn đầy tính triết lý tạo nên.

Đây là một đoạn tiêu biểu:

…Buổi sáng, tôi dậy sớm. Tôi lấy chiếc ghế nhỏ ra ngồi dưới gốc cây xơ ri. Mặt

trời chưa lên. Ánh sáng đầu tiên bôi một lớp hồng nhạt lấp lánh phía sau các khu

rừng. Chim chóc ríu ra ríu rít đủ thứ giọng. Trên những cây cổ thụ cao vút như

muốn vói trời, vài con chim đen, rất bé, từ ngọn sà xuống và thốt nhiên trở nên to

lớn lạ thường, đập cánh sàn sạt bay qua không gian.

Bỗng một tiếng mưa rào phát ra từ những đám mây xanh ngắt tiến nhanh như

vũ bão che khuất mặt trời mới lên. Đó là muôn vạn con chim xanh mỏ đỏ, thi nhau

bay biễu diễn với ánh sáng đầu tiên. Những tiếng kêu bí mật ban đêm tan biến.

Bóng tối trong lá cây rậm không còn tỏa ra màu đen ảm đạm, và lại biến thành

những nét chấm phá linh động: bóng râm thu ngắn và đậm nét tiếng chim ca [63,

tr.60].

Và đây là một đoạn tả trăng trong Dịch cát :

… Nhưng chị chưa phải là hoàn toàn tuyệt vọng. Vì trăng đã lên. Ở chân trời

trăng vùn vụt như một khối lửa lạnh lẽo, không có ánh sáng, phi nhanh vào không

gian. Khi nó dừng lại dưới một hình thù bé nhỏ hơn thì ánh sáng rực rỡ, tỏa ra làm

lung linh những ngọn sóng bạc đầu. Trăng chiếu qua những mảnh rách trên cửa,

trên phên, làm sáng cả gian nhà bé nhỏ của chị Sinh. Ánh sáng êm đềm kia còn đủ

sức gây một niềm nghị lực tiềm tàng nơi chị [63, tr.408].

Những đoạn văn tả cảnh trên là những đoạn thể hiện những cảm xúc mạnh mẽ

của nhà văn với một tâm hồn nhạy bén, tinh tế trước những thay đổi của cuộc sống

chung quanh. Và trên hết là một tình yêu mãnh liệt đối với con người, đối với cuộc

đời.

Nhiều đoạn văn còn mang tính triết lý khá sâu sắc. Chẳng hạn đoạn văn nói về

những suy nghĩ của nhân vật Liễn trong đêm trước khi buộc phải Chạy đua với tử

thần:

…. Liễn nhìn ra bên ngoài, vẫn ánh sáng chập chờn lạnh ngắt của chiếc đèn bão

và tiếng guốc lạch cạch rời rạc của người lính. Tiếng guốc của người còn sống!

Tiếng guốc đó có những gì khác hẳn với những tiếng động trong cái phòng đầy

nghẹt những người sắp chết này? Không biết bây giờ là mấy giờ rồi? Liễn cố đứng

lên cho đỡ mỏi. Biết được mấy giờ là biết được bao nhiêu người còn sống? Mình

sống? Thì có gì là lạ. Cũng như bây giờ mình đang sống đây. Nào có gì là quí giá?

Hay có lẽ sự sống ở ngoài kia, ở trong ánh sáng, trong tiếng chim ca, trong tự do?

Tất cả những cái đó mình biết quá rồi. Có một lần Liễn ngồi trên thảm cỏ đẹp giữa

buổi chiều êm ái, với tiếng sáo diều và tiếng chuông chùa, nghĩa là tất cả những vẻ

đẹp, nên thơ như trong sách tả. Liễn nói thật to “mình là người sung sướng” rồi

lắng nghe sự sung sướng đi vào tâm hồn” [63, tr.517].

Có những đoạn văn được tác giả lý giải rất dài nhưng người đọc không thấy

nhàm chán vì nó có ý vị sâu xa, kiến giải độc đáo, tầm triết lý bao quát. Chẳng hạn

đoạn văn luận về sự khác nhau của dòng âm nhạc thính phòng với những nghệ sĩ

được đào tạo trường lớp cùng những nhạc cụ hoàn hảo so với dòng âm nhạc dân

gian với những người biểu diễn dân dã, dụng cụ đơn sơ:

…Anh Qúi cầm cái dùi thật lớn ban đầu dập vào cái nướm của chiêng. Âm thanh

dội lên, ngân vang… rồi cứ như thế. Quí đập lần lần xuống cả mặt chiêng. Trong

khi đó, anh Cảo đứng xoạc chân, lùi dần, tay thọc choãi vào trong hai cái túi áo,

lắng nghe như một nhà chân tu lắng nghe tiếng chuông chùa, như một tội nhân lắng

nghe tiếng sinh hoạt bên ngoài lao xá, như một kẻ đói lắng nghe tiếng rao hàng.

Hình như anh không chỉ nghe tiếng chiêng bên ngoài mà còn nghe vọng tiếng

chiêng trong tâm hồn anh. Đôi mắt của anh mang nặng một sắc màu rừng rú rất

khó tả mà đôi môi thì rung rung như đang muốn phát ra những âm thanh nào tương

ứng. Tự nhiên tôi muốn so sánh anh với một số nhạc sĩ mà tôi đã đọc tiểu sử của họ.

Tôi không hiểu tại sao có sự so sánh đó vì giữa hai nghề, tôi không nghĩ là đáng

được so sánh: một bên là nghệ thụât cao siêu của những nghệ sĩ tài hoa, xuất thân

ở các viện âm nhạc, gần như bay chập chờn trên những kinh đô ánh sáng; một bên

chỉ là anh thợ làm nhạc cụ bằng đồ đồng, phần lớn cho loại khách chưa có chút

kiến thức nào về nghệ thuật. Một loại thợ mà ngay dân ở sát làng tôi cũng chẳng ai

chú ý bao giờ! Trước mắt tôi bày ra cái cảnh huy hoàng của những khán giả tri

thức chen nhau đến các hí viện im lặng với vẻ sùng kính tôn giáo khi nghe một bản

nhạc cổ điển để thấy nổi bật lên cảnh những lái buôn nghèo khổ, băng núi băng

ngàn đi bán mấy nhạc cụ bằng đồng có khi không lấy được tiền mà phải đổi chác

một con trâu cổ, một mớ lâm sản, một bộ da cọp, sừng nai; rồi những người

Thượng đem vào một góc núi mịt mờ mà nhảy múa hò hét như điên cuồng! [63,

tr.476-477].

Tóm lại, chất hiện thực trong tiểu thuyết, chất ký trong truyện ngắn của

Nguyễn Văn Xuân được tô đậm nhờ kết cấu độc đáo, cách thức xây dựng nhân vật,

sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày đậm chất khẩu ngữ, thành ngữ, phương

ngôn… đã làm nên phong cách sáng tác của Nguyễn Văn Xuân. Cách kể và dẫn dắt

truyện sinh động, ngôi kể linh hoạt…Tất cả những yếu tố nghệ thuật trên trở thành

phương tiện để nhà văn bộc lộ trực tiếp cái nhìn của mình đối với cuộc sống, thể

hiện những tâm tư tình cảm của mình đối với những con người rất đỗi gần gũi thân

thương ở vùng đất “đầu sóng ngọn gió”, những người bình thường mà rất đổi phi

thường qua những trang văn của Nguyễn Văn Xuân.

KẾT LUẬN

1. Nguyễn Văn Xuân là một trong những nhà văn sáng tác không nhiều nhưng

mỗi trang viết của ông đều để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc về vùng đất và

con người xứ Quảng. Tuy số lượng tác phẩm có hạn nhưng giai đoạn văn học nào

cũng có sự góp mặt của ngòi bút Nguyễn Văn Xuân. Trước 1954, Nguyễn Văn

Xuân đã được biết đến với tác phẩm đầu tay Ánh sáng và bóng tối (đạt giải thưởng);

hai truyện ngắn Ngày giỗ cha và Ngày cuối năm trên đảo được tuyển đăng trong

Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 33. Tiểu thuyết và truyện ngắn giai đoạn 1954 -

1975: Bão rừng; Hương máu; Dịch cát…. một lần nữa khẳng định sự thành công

của ông trong lĩnh vực sáng tác văn học.

Cuộc sống và con người đất Quảng qua diễn trình lịch sử của dân tộc chính là

nguồn cảm hứng dồi dào và mãnh liệt trong cuộc đời sáng tác của Nguyễn Văn

Xuân. Tuy ông ít vượt khỏi biên giới “Quảng Nam quốc”, cũng không có sự đột phá

về đề tài sáng tác, nhưng những sáng tác văn học của ông có cái duyên ngầm của

người biết khai phá “cày xới” trên vùng đất có người canh tác. Hai đề tài bao trùm

toàn bộ sáng tác của Nguyễn Văn Xuân là cuộc sống chiến đấu bảo vệ đất nước và

lao động sinh tồn của con người xứ Quảng. Cái tài của các nhà văn là đưa người đọc

đi qua một tiểu thuyết và gần 20 truyện ngắn thuộc hai đề tài trên nhưng người đọc

không gặp sự nhàm chán, đơn điệu….Chính điều đó giúp người đọc nhận ra tài

năng và tấm lòng yêu quê hương đất nước của một nhà văn xứ Quảng. Nguyễn Văn

Xuân sống và viết trong những ngày miền Nam sống dưới gót giày xâm lược của

Mỹ Diệm và ngay trên vùng đất “đầu sóng ngọn gió” của Tổ quốc trong những trận

đối đầu lịch sử. Thế nên, thông qua những sáng tác văn học của mình, nhà văn đã

truyền đến bạn đọc đương thời, các thế hệ mai sau tình cảm thiêng liêng đối với Tổ

quốc, đồng bào. Nhà văn đã không dùng “đao to búa lớn”, không dùng sự hoành

tráng của số lượng mà chủ yếu cần cái “tinh túy” của chất lượng. Chính vì thế, sáng

tác của ông vừa đứng được trên văn đàn công khai ở Sài Gòn, Hà Nội….lúc bấy giờ

vừa tác động sâu xa đến sự thức tỉnh ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc trong tình

cảm của người đọc. Tên tuổi của Nguyễn Văn Xuân được sánh ngang hàng với Sơn

Nam, Vũ Hạnh, Võ Hồng, Trang Thế Hy, Lê Vĩnh Hòa… trong văn học Việt Nam

giai đoạn 1954 - 1975 như một sự thừa nhận những đóng góp đích thực của ông đối

với sự phát triển của văn học nước nhà.

2. Sống và viết ngay trên vùng đất Quảng trong những ngày ác liệt của chiến

tranh, giai đoạn nào của sự chuyển biến lịch sử xã hội, ngòi bút của Nguyễn Văn

Xuân đều ghi nhận, phản ánh: kháng chiến chống Pháp, hiệp định Giơnevơ, đế quốc

Mỹ xâm lược….Để những nội dung sáng tác trên xuất hiện ở văn đàn công khai,

nhà văn đã khéo léo tận dụng lợi thế của văn học vượt qua sự kiểm duyệt gắt gao

của chính quyền Sài Gòn, chuyển tải được những thông điệp cần thiết đến người

đọc. Có thể thấy, đọc những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân là đọc lịch sử đấu

tranh, trưởng thành, đi tới của một vùng đất. Ngoài ra, đọc sáng tác của Nguyễn

Văn Xuân chúng ta hiểu được quá trình lao động sinh tồn của cư dân đất Quảng.

Cuộc sống lên rừng xuống biển của những người phải chịu cảnh tha phương cầu

thực, bão lũ triền miên, bệnh dịch hoành hành. Những trang viết ngồn ngộn chất

hiện thực mang đến cho người đọc những rung động sâu xa, vốn tri thức phong phú

về thiên nhiên và cuộc sống của con người vùng “Ô Châu ác địa”.

3.Nguyễn Văn Xuân là “nhà văn của một ngôi làng” là “một con người từ một

ngôi làng”. Chính vì thế, hơn ai hết, nhà văn hiểu rõ những con người từ những

“ngôi làng” ấy và đã dựng lên bức chân dung về họ. Họ là những con người cần cù

lao động, can trường dũng cảm kiếm sống sinh tồn trên vùng quê nghèo khó. Sinh

tồn đối với những cư dân đất Quảng không chỉ là sống cho bản thân mà còn sống

cho, sống vì cộng đồng, Tổ quốc. Qua những trang viết của Nguyễn Văn Xuân,

chúng ta còn thấy hiển hiện những con người đất Quảng yêu nước nồng nàn, ý thức

trách nhiệm chính trị của những người ở vùng đất “phên giậu” đã ngấm sâu vào

máu thịt họ. Họ chẳng những tạo dựng nên những ngôi làng mà ý chí chiến đấu bảo

vệ làng mạc, cộng đồng, Tổ quốc đã truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong

dòng chảy chung của mạch ngầm tình yêu Tổ quốc. Lao động và chiến đấu đã trui

rèn tính cách, khí chất của người xứ Quảng: cứng cỏi ngang tàng; cởi mở, nhạy bén

với cái mới; nhân hậu, đa cảm, đa tình… Nguyễn Văn Xuân đã ca ngợi những phẩm

chất tốt đẹp của con người xứ Quảng song hành với cảm hứng tố cáo phê phán. Bộ

mặt thật của thực dân, đế quốc xâm lược, bản chất gian xảo, hám lợi của tư sản, địa

chủ… tất cả đều bị phanh phui dưới ngòi bút của ông. Dù ca ngợi hay phê phán, tố

cáo, ngòi bút của nhà văn đều vươn tới tầm khái quát những vấn đề có ý nghĩa xã

hội nhân sinh sâu sắc. Từ một ngôi làng vươn tới cả cộng đồng; từ sự hiểu biết về

cộng đồng soi rọi phẩm chất, lối sống của những con người ở một vùng đất. Đó

chính là điểm độc đáo trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, người được xưng tụng

là một nhà “Quảng Nam học”.

4.Về phương diện nghệ thuật chúng ta có thể thấy Nguyễn Văn Xuân đã cho

người đọc tiếp cận với lối văn giản dị mà mực thước, thâm trầm. Từ nhân vật đến sự

kiện, từ không gian đến thời gian, từ ngôn ngữ đến tình tiết…tất cả đều toát lên tính

hiện thực của tác phẩm. Hiện thực, cụ thể mà không vụn vặt, nhàm chán, đơn điệu;

tầm khái quát làm cho những chi tiết về hiện thực trở nên sinh động và mang trong

nó tính hàm súc cần thiết của văn chương.

Chất hiện thực đã khiến cho sáng tác của Nguyễn Văn Xuân khi viết về những

cái chết của người đất Quảng mang đậm tính chất của ký - lịch sử. Nhà văn như một

thư ký ghi chép trung thành những biến động lịch sử xã hội ở một vùng đất, nơi mà

ông đã may mắn sớm được thụ hưởng những mạch nguồn giá trị lịch sử - văn hóa

truyền thống của một vùng địa linh nhân kiệt.

Văn của Nguyễn Văn Xuân mang đậm bản sắc của vùng đất Quảng, từ phong

cảnh thiên nhiên đến tính cách con người. Nhà văn đã sử dụng ngôn ngữ địa

phương một cách có ý thức. Ông đã đưa vào sáng tác của mình cảnh núi rừng âm u,

tiếng sóng biển gầm thét, dòng xoáy bão lũ cuồn cuộn… của một vùng thiên nhiên

khắc nghiệt. Đặc biệt là những địa danh như gắn liền với cuộc đời của nhà văn từ

lúc ông được sinh ra đến khi cầm bút sáng tác. Chất giọng xứ Quảng trong sáng tác

của nhà văn không làm người đọc khó hiểu mà chỉ góp phần tô đậm thêm khí chất

con người Quảng Nam. Chất triết lý đã làm nên vẻ thâm trầm sâu sắc của một ngòi

bút có nhiều trãi nghiệm.

5. Nắng, gió, bão, lũ, rừng âm u ….cùng với thời gian của vùng đất mở cõi đã

kết tinh thành độ bền của sáng tác Nguyễn Văn Xuân. Không ồn ào như những sự

kiện vang dội mà thầm lặng, bền bỉ, giản dị như chính cuộc đời của nhà văn, những

sáng tác của ông đã trãi qua sàng lọc thời gian để người đọc nhận chân giá trị của

nó. Nhắc đến những tên tuổi làm nên diện mạo văn học Việt Nam 1954 - 1975

không thể không nhắc đến Nguyễn Văn Xuân.…Đôi khi người ta “lướt”qua ông và

những sáng tác của ông như lướt qua sự tồn tại hiển nhiên của một lớp trầm tích, mà

không có nó sẽ không hình thành nên những địa tầng kiến trúc phía trên. Bão rừng,

Hương máu, Dịch cát không trở thành những “kì thư” nhưng vinh dự của nó là vinh

dự của những tác phẩm chứa trong lòng văn hóa của vùng đất mở cõi. Có thể nói

không ngoa rằng sẽ không hiểu biết đất nước con người Việt Nam nếu không hiểu

vùng đất và con người xứ Quảng. Bởi nơi ấy chính là điểm giao nhau giữa những gì

thuộc về truyền thống đã hình thành trong lòng xã hội Bắc hà với những gì thuộc về

sự chắt lọc thích ứng trong môi trường mới. Cội nguồn và vươn tới là tất cả những

gì có thể nói về sáng tác của Nguyễn Văn Xuân.

Ngày nay, trong giai đoạn hội nhập, giao lưu với kinh tế, văn hóa toàn cầu,

hơn bao giờ hết chúng ta cần phải giữ gìn cội nguồn, bản sắc văn hóa của dân tộc.

Đó cũng là chủ trương lớn của Đảng và nhân dân ta. Trên tinh thần ấy, những sáng

tác của Nguyễn Văn Xuân càng có ý nghĩa hơn.

Tìm hiểu về đặc điểm tiểu thuyết và truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Văn

Xuân giai đoạn 1954 - 1975, chúng tôi đã đi vào một vùng đất “chưa được khai

phá”. Với việc làm ấy, chúng tôi chỉ mong muốn được khẳng định giá trị tiếng nói

yêu nước của Nguyễn Văn Xuân trong dòng văn học đô thị miền Nam giai đoạn

1954 - 1975. Đồng thời, nếu được, chúng tôi xem công trình này như một nén tâm

hương mà những người hậu bối thắp lên trước hương hồn ông để kính cẩn nói rằng:

“ông đã sống một cuộc đời đáng sống!”

Kiến thức nông cạn, thời gian hạn hẹp, nhưng với một tấm lòng, chúng tôi hi

vọng luận văn sẽ góp một phần nhỏ trong việc tìm hiểu sự nghiệp văn chương của

Nguyễn Văn Xuân, một trong những cây bút tiêu biểu của văn học đô thị miền

Nam, của văn hóa xứ Quảng giai đoạn 1954 - 1975.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoài Anh (2001), Chân dung văn học, NXB Hội nhà văn, Hà Nội.

2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc Gia,

Hà Nội.

3. Lại Nguyên Ân (Sưu tầm và biên soạn) (2002), Lê Thanh - nghiên cứu và

phê bình văn học, NXB Hội nhà văn, Hà Nội.

4. Trần Hòa Bình - Lê Duy - Văn Giá (1999), Bình văn, NXB Giáo dục, Hà

Nội.

5. Nguyễn Sinh Duy (1996), Phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam, NXB Đà

Nẵng.

6. Trần Trọng Đăng Đàn (1988), Văn học thực dân mới Mỹ ở miền Nam

những năm 1954 - 1975, NXB Sự thật, Hà Nội.

7. Trần Trọng Đăng Đàn (2000), Văn hoá, Văn nghệ….Nam Việt Nam

1954 - 1975, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.

8. Trần Trọng Đăng Đàn (1981), “Văn hoá”, “Văn nghệ” thực dân mới tại

miền Nam từ 1954 đến 1975 nhìn xuyên qua một số đường lối, chính

sách âm mưu, thủ đoạn của Mỹ ngụy”, Văn nghệ (166) 27/03, Hà Nội.

9. Trần Trọng Đăng Đàn (1981), “Văn hoá”, “Văn nghệ” thực dân mới tại

miền Nam từ 1954 đến 1975 nhìn xuyên qua một số đường lối, chính

sách âm mưu, thủ đoạn của Mỹ ngụy”, Văn nghệ (169) 17/04, Hà Nội.

10. Trần Trọng Đăng Đàn (1981), “Văn hoá”, “Văn nghệ” thực dân mới tại

miền Nam từ 1954 đến 1975 nhìn xuyên qua một số đường lối, chính

sách âm mưu, thủ đoạn của Mỹ ngụy”, Văn nghệ (176) 12/6, Hà Nội.

11. Phạm Trọng Điềm (2006), Đại Nam nhất thống chí, Tập 2, NXB Thuận

Hoá.

12. Hà Minh Đức (chủ biên) (2002), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

13. Bảo Định Giang (1960), “Vài nét về văn nghệ Nam Bộ dưới sự lãnh đạo

của Đảng”, Văn Nghệ (75) 01/01, Hà Nội.

14. Trần Văn Giàu - Trần Bạch Đằng (chủ biên) (1998), Địa chí văn hoá

Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 2, NXB Tp HCM.

15. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương (1995), Lý luận văn học, vấn đề

và suy nghĩ, NXB Giáo dục, Hà Nội.

16. Nguyễn Văn Hạnh (2004), Chuyện văn chuyện đời, NXB Giáo dục, Hà

Nội.

17. Vũ Hạnh (1975), “Mấy suy nghĩ về văn học yêu nước và tiến bộ trong lòng

thành thị miền Nam trước đây”, Văn nghệ 23/08, Hà Nội.

18. Đỗ Đức Hiểu (chủ biên) (2004), Từ điển văn học, NXB Thế Giới, Tp

HCM.

19. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo

dục, Hà Nội.

20. Võ Văn Hoè (2006), Tập tục xứ Quảng theo một vòng đời, NXB Đà

Nẵng.

21. Phan Khang (2001), Việt sử xứ Đàng Trong, NXB Văn học, Hà Nội.

22. M.B Khrapchenco (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển

của văn học, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội.

23. M.B Khrapchenco (1985), Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực con người,

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

24. Phong Lê - Trần Hữu Tá (2000), Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Những

tác phẩm tiêu biểu từ 1919 - 1945, NXB Giáo dục, Hà Nội.

25. Phương lựu (chủ biên) (2003), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

26. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) (2000), Tổng tập văn học Việt Nam, Tập

33, NXB KHXH, Hà Nội.

27. Nguyên Ngọc (2005), Tìm hiểu con người xứ Quảng, NXB Đà Nẵng.

28. Phùng Quý Nhâm - Lâm Vinh (1994), Tiếp cận văn học, ĐHSP Tp HCM.

29. Nhiều tác giả (1982), Lí luận văn học, NXB Đại học và Trung học

chuyên nghiệp, Hà Nội.

30. Nhiều tác giả (1985), Lịch sử Việt Nam, Tập 2, NXB KHXH, Hà Nội.

31. Nhiều tác giả (1986), Lí luận văn học, Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.

32. Nhiều tác giả (1988), Văn học miền Trung thế kỷ XX, Tập 1, NXB Đà

Nẵng.

33. Nhiều tác giả (1995), Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi

Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, NXB Hà Nội.

34. Nhiều tác giả (1998), Tuyển tập văn 1945 - 1975, Tập 1, NXB Văn hoá

thông tin, Tp HCM.

35. Nhiều tác giả (1998), Tuyển tập Văn 1945 - 1975, Tập 2, NXB Văn hoá

thông tin, Tp HCM.

36. Nhiều tác giả (2006), Trò chuyện với 100 nhà văn Việt Nam, NXB Văn

hoá Sài Gòn.

37. Lữ Phương (1974), “Văn học nghệ thuật các thành thị miền Nam và con

đường phát triển của nó”, Văn nghệ (553) 07/06, Hà Nội.

38. Lữ Phương (1974), “Văn học nghệ thuật các thành thị miền Nam và con

đường phát triển của nó”, Văn nghệ (554) 14/06.

39. Lữ Phương (1974), “Văn học nghệ thuật các thành thị miền Nam và con

đường phát triển của nó”, Văn nghệ (555) 14/06.

40. Thạch Phương (1972), “Văn học hiện thực và tiến bộ dưới sự thống trị tàn

bạo của Mỹ - Ngụy ở miền Nam”, Tạp chí Văn học số 1, Hà Nội.

41. M.Pospelov (chủ biên) (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học, NXB Giáo

dục, Hà Nội.

42. Lê Văn Siêu (1993), Nếp sống tình cảm của người Việt Nam, NXB Mũi

Cà Mau.

43. Sở văn hoá thông tin Quảng Nam (2001), Văn hoá Quảng Nam - Những

giá trị đặc trưng.

44. Phạm Côn Sơn (2004), Làng nghề truyền thống Việt Nam, NXB Văn hoá

dân tộc.

45. Trần Đình Sử (1993), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Vụ giáo viên.

46. Trần Đình Sử - Lê Bá Hán (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo

dục, Hà Nội.

47. Trần Hữu Tá (1985), Tư liệu truyện ký Việt Nam 1955 - 1975, Tập 2,

NXB Giáo dục, Hà Nội.

48. Trần Hữu Tá (1988), Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, NXB Giáo

dục, Hà Nội.

49. Trần Hữu Tá (2001), Nhìn lại một chặng đường văn học, NXB Tp HCM.

50. Nguyễn Q. Thắng (1996), Quảng Nam đất nước và nhân vật, NXB Văn

hoá, Hà Nội.

51. Bùi Việt Thắng (2000), Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn

thể loại, NXB ĐHQG, Hà Nội.

52. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà

Nội.

53. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Tp

HCM.

54. Phan Lạc Thuyên (2000), Nghiên cứu và điền dã, NXB Trẻ, Tp HCM.

55. Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên) (2004), Lịch sử Việt Nam, Tập 2, NXB

KHXH.

56. Lê Ngọc Trà (1990), Lí luận và văn học, NXB Trẻ, Tp HCM.

57. Huỳnh Ngọc Trảng (2000), Đại Lộc sáng ánh đèn, NXB Đà Nẵng.

58. Huỳnh Ngọc Trảng (2007), Địa chí Đại Nghĩa, NXB Đà Nẵng.

59. Đặng Nghiêm Vạn (2001), Dân tộc- Văn hoá - Tôn giáo, NXB KHXH, Hà

Nội.

60. Nguyễn Hoàng Viên (2001), Hoàng Diệu, NXB Đà Nẵng.

61. Hoàng Hương Việt (chủ biên) (2000), Ca dao, dân ca đất Quảng, Tập 1,

NXB Đà Nẵng.

62. Trần Quốc Vượng (chủ biên) (2000), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB

Giáo dục, Hà Nội.

63. Nguyễn Văn Xuân (2002), Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân, NXB Đà Nẵng.

64. Nguyễn Văn Xuân (2002), Kỳ nữ họ Tống, NXB Trẻ, Tp HCM.

65. www.khoahoc.net, Tưởng niệm nhà văn Nguyễn Văn Xuân.

66. www.Thanhnien.com.vn, Nhà văn Nguyễn Văn Xuân về với quê nhà.

67. www.giaodiemonline.com, Hẹn gặp lại Nguyễn Văn Xuân.

68. www.Thanhnien.com.vn, Vĩnh biệt ông thầy Quảng.

69. damau.org, Nhà văn Nguyễn Văn Xuân: một mảnh đất một đời người.

70. www.diendan.org, Tôi muốn gọi hai tiếng “thầy Xuân”.

71. www.toquoc.gov.vn, Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Văn Xuân.

72. www.diendan.org, Nhà văn hoá Nguyễn Văn Xuân (1921 - 2007).

73. www.diendan.org, Nguyễn Văn Xuân, tối sáng một đời văn.

PHỤ LỤC 1

Thành ngữ trong Bão rừng

1. Vung tay quá trán. 16. Nhập giang tuỳ khúc.

2. Chờ thì được, ước thì thấy. 17. Hổ phụ sinh hổ tử.

3. Đầu tắt mặt tối. 18. No mất ngon, giận mất khôn.

4. Mèo đàng chó điếm. 19. Có mới, nới cũ.

5. Vải thưa che mắt thánh. 20. Voi một ngà, người ta một mắt.

6. Bốn chín, năm mươi. 21. Trời đánh, thánh vật.

7. Tốt mã nhưng rã đám. 22. Ở hiền thì gặp lành.

ủa thiên trả địa. 23. C 8. Ghi lòng, tạc dạ.

9. Tích tiểu thành đa. 24. Tai qua, nạn khỏi.

10. Thông kim quán cổ. 25. Ăn cháo đá bát.

11. Gà trống nuôi con. 26. Giơ cao đánh nhẹ.

12. Phép vua còn thua lệ làng. 27. Cô thân độc mã.

28. Thập tử nhất sinh. 13. Ăn chưa no, lo chưa tới.

14. Còn nước còn tát. 29. Coi trời bằng vung.

15. Trăm công nghìn việc. 30. Mồ yên mả đẹp.

PHỤ LỤC 2

Một số hình ảnh về Nguyễn Văn Xuân

Chân dung nhà văn Nguyễn Văn Xuân

Nhà văn Nguyễn Văn Xuân và nhà văn Nguyễn Nhật Ánh (tháng 2-2003)

Nhà văn Nguyễn Văn Xuân (kí hoạ bút sắt của Phan Ngọc Minh)

Điêu khắc gia Phạm Văn Hạng với mô hình ngôi mộ của Nguyễn Văn Xuân