intTypePromotion=3

Luận văn Thạc sỹ: Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay

Chia sẻ: Anh Ngoc | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:92

0
121
lượt xem
50
download

Luận văn Thạc sỹ: Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sỹ: Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay gồm có 3 chương trình bày về nhận thức chung về tôn giáo, quản lý nhà nước đối với tôn giáo và tình hình tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh; công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở Bắc Ninh và những vấn đề đặt ra; dự báo tình hình, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác QLNN đối với tôn giáo ở Bắc Ninh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sỹ: Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay

  1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ ­ HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TP.HCM LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG ĐỀ TÀI: Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa  bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. GVHD : PGS.TS.Ngô Hữu Thảo HVTH : Hà Thị Xuyên
  2. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BHG Ban Hành giáo CNH­HĐH Công nghiệp hoá ­ Hiện đại hoá CNLĐ Công nhân lao động CNXH Chủ nghĩa xã hội CSVN Cộng sản Việt Nam GHPG Giáo hội Phật giáo  HĐND Hội đồng nhân dân HTCT Hệ thống Chính trị MTTQ Mặt trận Tổ quốc  QLNN Quản lý nhà nước TCN Trước Công nguyên UBĐK Uỷ ban Đoàn kết UBND Uỷ ban nhân dân UBTV Uỷ ban Thường vụ UBTVQH Uỷ ban Thường vụ Quốc hội XHCN Xã hội chủ nghĩa
  3. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1 6 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TÔN GIÁO, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC  ĐỐI VỚI TÔN GIÁO VÀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO  Ở TỈNH BẮC NINH 1.1 NHẬN  THỨC   CHUNG  VỀ   TÔN   GIÁO  VÀ  QLNN   ĐỐI  VỚI  TÔN  6 GIÁO 1.1.1 Nhận thức chung về tôn giáo 6 1.1.2 Quản lý nhà nước đối với tôn giáo 11 1.2 TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở BẮC NINH 19 1.2.1 Một số đặc điểm của tỉnh Bắc Ninh liên quan đến tôn giáo 19 1.2.2 Tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 21 Chương 2 29 CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO  Ở BẮC NINH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 2.1 SỰ  CHỈ ĐẠO CỦA TỈNH UỶ, UBND TỈNH VÀ TỔ  CHỨC BỘ MÁY  29 LÀM CÔNG TÁC QLNN VỀ TÔN GIÁO Ở BẮC NINH 2.1.1 Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo công tác Tôn giáo 29 2.1.2 Tổ chức bộ máy làm công tác QLNN về tôn giáo ở Bắc Ninh 33 2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI  35 TÔN GIÁO Ở BẮC NINH 2.2.1 Quản lý về hoạt động xây dựng, trùng tu, sửa chữa cơ sở thờ tự 35 2.2.2 Quản lý đối với việc phong chức, phong phẩm và hoạt động  37 thuyên chuyển của các chức sắc 2.2.3 Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng chức sắc 38 2.2.4 Công tác quản lý đối với các hoạt động từ thiện, nhân đạo 39 2.2.5 Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 41 2.2.6 Quản lý hoạt động truyền đạo trái pháp luật 42 2.2.7 Quản lý các hoạt động khác 43 2.2.8 Công tác phối hợp 43 2.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO CÔNG TÁC QLNN ĐỐI VỚI TÔN  47 GIÁO Ở BẮC NINH 2.3.1 Vấn đề đặt ra từ phương diện khách thể quản lý 47 2.3.2 Vấn đề đặt ra từ phương diện chủ thể quản lý 50
  4. Chương 3 53 DỰ BÁO TÌNH HÌNH, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ  NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QLNN  ĐỐI VỚI TÔN GIÁO Ở BẮC NINH 3.1 DỰ  BÁO TÌNH HÌNH TÔN GIÁO VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÔNG  53 TÁC QLNN VỀ TÔN GIÁO Ở BẮC NINH THỜI GIAN TỚI 3.1.1 Dự báo tình hình các tôn giáo ở Bắc Ninh 53 3.1.2 Một   số   yêu   cầu  từ   xu   hướng   tôn  giáo   ở   Bắc   Ninh  đối  với   55 QLNN về tôn giáo ở Bắc Ninh 3.2 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC  57 QLNN VỀ TÔN GIÁO Ở BẮC NINH  3.2.1 Tập  trung  nâng cao  nhận thức,   thống  nhất quan  điểm, trách  57 nhiệm của HTCT về  công tác tôn giáo và QLNN đối với tôn  giáo 3.2.2 Công tác quản lý nhà nước cần tăng cương, tập trung hơn nữa   58 tới các hoạt động có tính trọng điểm, phức tạp của tôn giáo trên  địa bàn 3.2.3 Công tác QLNN cần quan tâm hơn đến công tác vận động quần  61 chúng, tín đồ, chức  sắc các tôn giáo và xây dựng lực lượng   chính trị ở cơ sở 3.2.4 Tăng cường công tác tổ  chức cán bộ, công chức làm công tác  65 QLNN về tôn giáo 3.2.5 Xây   dựng   và   hoàn   thiện   phương   pháp   công   tác   tôn   giáo   và  68 QLNN về tôn giáo 3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 69 3.3.1 Đối với Trung ương 69 3.3.2 Đối với tỉnh Bắc Ninh 71 KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
  5. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xã   hội, ra đời và phát triển từ  cả  ngàn năm nay.  Từ  khi ra đời, tôn giáo đã trải qua  những thăng trầm và không ngừng biến đổi theo sự  biến đổi của tồn tại xã hội,  nhưng chung nhất, nó luôn là một nhu cầu tinh thần của đa số nhân loại. Trong quá  trình tồn tại và phát triển, tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời  sống xã hội và đến tập quán của nhiều quốc gia, của các tộc người trong một   quốc gia, theo cả các chiều: tích cực và tiêu cực. Những năm gần đây, tôn giáo trên   thế giới không chỉ phục hồi và phát triển, đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người,  mà còn làm nảy sinh không ít cuộc xung đột giữa các dân tộc trong một quốc gia,   hay giữa các quốc gia với nhau.  Ở  Việt Nam cũng vậy, là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn  giáo đang có xu hướng phát triển mạnh, đến nay ­ năm 2011, Nhà nước ta đã công  nhận tư cách pháp nhân cho 13 tôn giáo, với 33 tổ chức Giáo hội. Trong đó, các tôn   giáo bản địa (nội sinh) và các tôn giáo được du nhập từ  nước ngoài vào (ngoại  sinh) đều được tạo điều kiện bình đẳng hoạt động theo pháp luật. Tình hình đó   như  là sự  phản ánh về  quá trình đất nước đổi mới, Việt Nam đã có sự  phát triển  khá mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống vật chất cũng  như tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, vì thế tôn giáo càng được khẳng  định rõ hơn, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.  Nhưng, bên cạnh những sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, lễ  hội lành mạnh,  tuân thủ pháp luật, thì vẫn còn có hiện t ượng một số người lợi dụng tín ngưỡng,  tôn giáo để  hành nghề  mê tín dị  đoan, mê hoặc nhân dân, cao hơn, phá hoại khối  đại đoàn kết toàn dân tộc... Trước tình hình đó, công tác quản lý nhà nước đối với  hoạt động tôn giáo càng cần phải được tăng cường, không chỉ trên bình diện vĩ mô   mà còn ở các khu vực, các địa phương trong cả nước.
  6. 2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng và  có ý nghĩa quyết định sự  thành bại của công tác tôn giáo trong tình hình mới. Các   Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về công tác tôn giáo đều nhấn mạnh đến vai trò của   công tác này và việc: “Tăng cường quản lý nhà nước về  tôn giáo” là một trong   những giải pháp chủ yếu của công tác tôn giáo hiện nay.  Bắc Ninh là một tỉnh thuộc miền Bắc nước ta, là cửa ngõ phía Bắc của Thủ  đô Hà Nội. Tỉnh Bắc Ninh mặc dù có diện tích không lớn, nhưng dân số  lại đông  và có vị trí địa lý chính trị quan trọng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của đồng  bằng Châu thổ  Sông Hồng, có nguồn nhân lực dồi dào và là tỉnh vốn có truyền   thống ngàn năm văn hiến và cách mạng. Số  lượng và quy mô tôn giáo  ở  Bắc Ninh cũng không lớn, song lại là vị  trí   “địa tôn giáo” rất quan trọng. Đó là, về  đạo Công giáo, Bắc Ninh có Toà Giám   mục, là trung tâm, đầu não của Giáo phận Bắc Ninh, gồm 12 tỉnh khác nhau. Còn  Phật giáo, Bắc Ninh từng có trung tâm Luy Lâu mà gần hai nghìn năm trước đã  được xem là một trung tâm Phật giáo lớn, bằng hoặc hơn cả trung tâm Phật giáo   Lạc Dương và Bành Thành của Trung Quốc, còn đến nay, tên chùa Dâu, Keo, Phật  Tích vẫn nức tiếng toàn cõi Việt Nam. Hiện nay bên cạnh 2 tôn giáo chính là Phật  giáo và Công giáo, trên địa bàn Bắc Ninh đã xuất hiện cả  đạo Tin Lành, một tôn   giáo được xem là tôn giáo của thời CNH, HĐH.  Trong những năm qua tình hình tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bắc   Ninh  ổn định, sinh hoạt tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra bình   thường đúng với chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Đại bộ  phận chức sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo trong tỉnh an tâm, phấn khởi, tin   tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, về những thành tựu phát triển kinh tế ­ xã  hội của đất nước; tích cực tham gia phát triển kinh tế  ­ xã hội, các hoạt động từ  thiện, nhân đạo, xây dựng gia đình văn hoá ở khu dân “sống tốt đời, đẹp đạo”, tích  cực thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ  chính trị  của địa phương. Tuy nhiên, tình  hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cũng nổi lên một số  vấn đề  có tính phức 
  7. 3 tạp. Đó là, hoạt động mê tín, dị  đoan diễn ra khá phổ  biến; một số  cơ  sở  thờ  tự  của tôn giáo chưa tuân thủ  các quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Luật  Di sản và của các quy định của tỉnh. Khi xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự, tổ chức   tôn giáo vẫn thiếu hồ sơ xin phép; triển khai khi chưa được sự đồng ý của các cơ  quan có thẩm quyền. Tình hình khiếu kiện đòi lại đất đai, cơ  sở  cũ của giáo hội  còn tiềm  ẩn dấu hiệu phức tạp; hoạt động truyền đạo Tin lành trái phép và các   đạo lạ trên địa bàn tỉnh vẫn xảy ra. Công tác quản lý nhà nước về  hoạt động tôn giáo  ở  tỉnh Bắc Ninh những   năm qua đã có nhiều tiến bộ, đạt được một số kết quả nhất định. Nhưng bên cạnh   đó, công tác này cũng còn một số  hạn chế, như: Một bộ  phận cán bộ  đảng viên   nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với tôn giáo còn hời  hợt; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn thiếu tập trung và đồng bộ; việc giải  quyết các vấn đề  liên quan đến tôn giáo còn kéo dài, gây tâm trạng phản cảm cho  quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo. Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước   đối với tôn giáo của chính quyền nhiều lúc, nhiều nơi còn cứng nhắc. Từ thực tế tình hình trên, tôi chọn để tài: “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối   với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay”,  để làm luận văn thạc  sỹ quản lý hành chính công. 2. Tình hình nghiên cứu Vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tôn giáo trong thời gian  qua đã có nhiều công trình nghiên cứu. Đó là:   “ Quản lý nhà nước đối với hoạt   động tôn giáo trong điều kiện xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam   hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Hữu Khiển; " Một số vấn đề cấp bách trong quản   lý tôn giáo ở một số tỉnh phía Bắc" của GS.TS Đỗ Quang Hưng; “Mác­Angghen về  tôn giáo” của PGS. Nguyễn Đức Sự  chủ  biên); “Một số  vấn đề  lý luận và thực   trạng tôn giáo Việt Nam” của GS. Đặng Nghiêm Vạn; Mối quan hệ giữa chính trị   và tôn giáo trong thời kỳ mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thị trường   theo định hướng xã hội chủ  nghĩa  ở  nước ta hiện nay,  PGS, TS Ngô Hữu Thảo, 
  8. 4 chủ nhiệm (1998); Cuốn sách “Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý luận   và thực tiễn" của GS.TS Đỗ Quang Hưng; “Một số tôn giáo ở Việt Nam hiện nay”   của TS. Nguyễn Thanh Xuân; “Đặc điểm tôn giáo  ở  Việt Nam”  của TS.Nguyễn  Đức Lữ; Đề tài cấp Bộ “55 năm đường lối chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà   nước Việt Nam (1945­2000)” của Ban Tôn giáo Chính phủ; Đề  tài cấp Bộ “Công  tác an ninh trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo  ở  Việt Nam” của  Bộ Công an... Những công trình trên đề  cập đến nhiều khía cạnh, cả  lý luận và thực tiễn   của vấn đề quản lý tôn giáo, song cụ thể ở địa bàn Bắc Ninh thì chưa có. Ở  tỉnh Bắc Ninh, vì nhiều lý do khác nhau nên hiện nay vấn đề  nâng cao  hiệu quả  công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo hãy còn rất ít đề  tài đi sâu nghiên cứu, nếu có thì thời điểm nghiên cứu đã khá lâu, trước khi có Pháp   lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, như  luận văn cao cấp lý luận chính trị  của Nguyễn  Quang Khải, năm 2004. Vì vậy, hướng đề tài mà tôi lựa chọn hy vọng sẽ làm sáng  tỏ  hơn về  vấn đề  quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh  Bắc Ninh hiện nay. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục tiêu nghiên cứu: Luận văn từ việc khái quát những nhận thức chung về tôn giáo, về  quản lý  nhà nước đối với tôn giáo và phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước đối   với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua, đề xuất một   số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà   nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh. 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: ­ Làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với tôn giáo. ­ Đánh giá được thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn   giáo ở Bắc Ninh trong thời gian qua.
  9. 5 ­ Đề  xuất một số  giải pháp, kiến nghị  nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả  quản lý nhà nước về tôn giáo ở Bắc Ninh trong tình hình mới.  4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn  giáo  ở  tỉnh Bắc Ninh. Phạm vi nghiên cứu,  về  không gian, là địa bàn tỉnh Bắc  Ninh; về thời gian là từ khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004), đến nay. 5. Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn: Luận văn được triển khai dựa trên quan điểm của chủ  nghĩa Mác­Lênin, tư  tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về  tôn giáo và quản lý   nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Luận văn cũng xuất phát từ  thực tiễn công  tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua.  5.2. Phương pháp nghiên cứu:    Triển khai luận văn này, tác giả  sử  dụng những nguyên tắc phương pháp  luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời sử  dụng các phương pháp của các khoa học cụ  thể, như tổng hợp và phân tích, khái   quát hoá, thống kê, so sánh, lịch sử và lôgic, xã hội học, tôn giáo học.  6. Đóng góp mới của luận văn 6.1. Về mặt lý luận: Bước đầu luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước  đối với tôn giáo; khái quát mang tính lý luận từ  thực tiễn công tác quản lý nhà  nước đối với hoạt động tôn giáo ở Bắc Ninh. 6.2. Về mặt thực tiễn: ­ Luận văn có thể  được sử  dụng làm tài liệu tham khảo để  xây đựng chủ  trương, biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo   ở  Bắc Ninh và các tỉnh vùng đồng bằng miền Bắc có tình hình tôn giáo tương tự  với Bắc Ninh.
  10. 6 ­ Luận văn có thể  làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập tại   trường Chính trị tỉnh. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở  đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn   gồm 3 chương, 7 tiết.
  11. 7 Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TÔN GIÁO, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI  TÔN GIÁO VÀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở TỈNH BẮC NINH 1.1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN  GIÁO  1.1.1. Nhận thức chung về tôn giáo Tôn giáo, theo tiếng Latinh (Religare) có nghĩa là sự nối liền với cái tột cùng,   như  sự  gắn bó với Chúa, với Thượng đế; hoặc được hiểu là sự  phản ánh mối   quan hệ  giữa con người với thần thánh; giữa thế  giới vô hình với thế  giới hữu   hình; giữa cái thiêng liêng với cái trần tục.  Theo quan điểm mác­xít, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà  còn là một thực thể  xã hội. Với tư  cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo  phản ánh hư ảo tồn tại xã hội, có kết cấu gồm: Tâm lý, tình cảm, niềm tin và hệ  tư  tưởng tôn giáo. Còn với tính cách là một thực thể, hay một hiện tượng xã hội,  tôn giáo thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, được quy định bởi hạ  tầng cơ  sở  xã   hội. Cụ  thể  hơn, tôn giáo ra đời từ  3 nguồn gốc: Kinh tế  ­ xã hội, nhận thức và  tâm lý. Là một hiện tượng xã hội, kết cấu của tôn giáo bao gồm cả  yếu tố  vật   chất và tinh thần, mà thông thường là các yếu tố: ý thức (giáo lý), nghi lễ, luật lệ  và tổ chức. Cũng cần phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng và mê tín dị  đoan. Tôn giáo và  tín ngưỡng có sự khác nhau, song có quan hệ chặt chẽ, mà ranh giới để  phân biệt   chỉ là rất tương đối. Tín ngưỡng có các nghĩa rộng, hẹp khác nhau, nghĩa rộng, đó  là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng,  một điều gì đó, thông thường để  chỉ  một niềm tin tôn giáo; nghĩa hẹp là các hình  thức khác với tôn giáo, như  người Việt Nam thường gọi “tín ngưỡng dân gian”.  Còn mê tín dị đoan, đó là tình trạng người ta quá tin vào cái siêu nhiên, đến mất lý 
  12. 8 trí, mê muội, tốn tiền của và huỷ hoại sức khoẻ, thậm chí cả  sinh mạng, vậy nên  “Hoạt động mê tín phải bị phê phán và loại bỏ”. [13] Quan điểm mác ­ xít về tôn giáo không dừng lại ở vấn đề  bản chất, nguồn   gốc, chức năng và tính chất của nó, mà còn rất quan tâm đến việc chỉ  ra thái độ,   nguyên tắc của người cộng sản khi tiếp cận, giải quyết những vấn đề tôn giáo. Về thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo, mặc dù cho rằng, thế giới   thống nhất ở tính vật chất, ngoài ra không có thế giới nào khác ngoài vật chất đang  tồn tại và đương nhiên không có thần thánh, ma quỷ nào tồn tại ngoài những đam  mê và dục vọng của chính con người, thế nhưng Chủ nghĩa Mác ­ Lênin không bao   giờ chủ trương tuyên chiến với tôn giáo, mà ngược lại luôn tôn trọng niềm tin tôn  giáo của nhân dân. C.Mác từng nói, kẻ nghịch đạo không phải là kẻ phỉ báng thần   thánh của quần chúng mà chỉ là người đồng tình với quan điểm quần chúng, người  sáng tạo ra thần thánh. Có một số người cho rằng, chủ nghĩa Mác ­ Lênin mâu thuẫn tuyệt đối với   đức tin tôn giáo, do đó không có thể dung hợp giữa chủ nghĩa xã hội và tôn giáo và   lập  luận  này  là  không   đúng,  vì   đã  chủ  quan   đẩy  mâu  thuẫn,  từ   mâu  thuẫn   ở  phương diện nhận thức ­ không đối kháng, trở thành mâu thuẫn đối kháng. Lý tưởng của những người cộng sản là xây dựng “Thiên đường” nơi trần  thế bằng bàn tay và khối óc của chính con người. Tuy vậy, người cộng sản không   hề  có chủ  trương phủ  nhận tôn giáo mà thừa nhận nó như  một nhu cầu tất yếu  của một bộ phận nhân dân trong tiến trình phát triển của lịch sử. Hơn nữa, tôn giáo  và chủ  nghĩa xã hội có điểm tương đồng là đều mong muốn có một xã hội hạnh  phúc, công bằng, bác ái, lấy điều thiện thắng điều ác. “Đối với chúng ta, sự  thống nhất của cuộc đấu tranh thật sự  cách mạng đó  của giai cấp bị áp bức để sáng tạo nên một cảnh cực lạc trên trái đất, là quan trọng  hơn sự  thống nhất ý kiến của những người vô sản về  cảnh cực lạc trên thiên  đường” [80, tr.174  ]. Rồi nữa, “Trong cương lĩnh của chúng ta, chúng ta không  tuyên bố  và chúng ta không nên tuyên bố  chủ  nghĩa vô thần của chúng ta... Khắp 
  13. 9 nơi bọn tư sản phản động đã chú trọng...  khêu lên những sự  thù hằn tôn giáo, để  làm cho quần chúng chú ý về  phía đó, khiến họ  không để  ý đến những vấn đề  chính trị  và kinh tế  thật sự  quan trọng và chủ  yếu, những vấn đề  mà giai cấp vô   sản toàn nước Nga, thực tế đoàn kết lại với nhau trong cuộc đấu tranh cách mạng  của mình, hiện đang giải quyết” [80, tr.174­175 ].  C.Mác và Ph.Ăng ghen từng căn dặn người cộng sản: “Không thể  đả  kích  tôn giáo dưới hình thức thù địch cũng như  dưới hình thức khinh bạc, chung cũng  như riêng. Nghĩa là, nói chung không được đả kích vào nó”. [20, tr. 23] Sau này, Lênin cũng viết: “Còn như tuyên chiến với tôn giáo, coi đó là nhiệm  vụ  chính trị  của đảng công nhân, thì đó chỉ  là một luận điệu vô chính phủ  chủ  nghĩa”. [81, tr.511.] Vậy, theo chỉ dẫn của các nhà kinh điển mác ­ xít, Nhà nước của giai cấp vô  sản nên xem tôn giáo là việc tư nhân, nghĩa là không nên phê phán những vấn đề  thuộc thế  giới bên kia. Chuyện có thiên đường địa ngục, thần này thánh khác là  vấn đề của thần học, của tôn giáo. Nhưng với tư  cách là chủ  thể  quản lý xã hội,  trong đó có tôn giáo, thì Nhà nước có trách nhiệm và quyền hạn trên 2 vấn đề liên   quan đến tôn giáo, đó là Pháp luật và chính trị.  Theo chỉ dẫn đó, trong tiến trình cách mạng Việt Nam, nhà nước ta chưa bao   giờ  có chủ  trương tiêu diệt tôn giáo, phủ  nhận thượng đế  của người có đạo, mà  luôn tôn trọng quyền tự  do tín ngưỡng, nghiêm cấm phân biệt sự  đối xử  vì lý do   tín ngưỡng, tôn giáo. Vậy khi   giải  quyết   vấn  đề   tôn giáo,  chúng ta  cần phải  đứng  vững trên   những nguyên tắc nào? Về điều này, theo quan điểm mác ­ xít, được khái quát trên  4 nguyên tắc sau: Một: Khắc phục dần những  ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền   với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử khi nhận thức và tác   động vào tôn giáo. Theo đó, trước hết phải “Xoá bỏ  tình trạng nô lệ  về  mặt kinh  
  14. 10 tế, nguồn gốc thật sự của sự mê hoặc nhân loại bằng tôn giáo” [80, tr. 175]. Hay  nói cách khác, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân   tồn tại xã hội; muốn xoá bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xoá   bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy; phải xác lập được một xã hội hiện thực không  có áp bức, bất công, nghèo đói và thất học... cùng các tệ nạn nảy sinh trong nó. Tất   nhiên việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới là một quá trình lâu dài, đòi hỏi  phải khai thác và phát huy tiềm năng của mọi cộng đồng xã hội, trong đó có đồng   bào các tôn giáo.  Hai: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự  do tín ngưỡng và không tín ngưỡng   của nhân dân.  Các nhà kinh điển Mác ­ xít quan tâm không chỉ  tôn trọng quyền tự  do tín   ngưỡng, mà còn cả  quyền tự  do không tín ngưỡng.   Tôn trọng quyền tự  do tín  ngưỡng và không tín ngưỡng sẽ  bảo đảm quan hệ  tốt đẹp giữa những người vô  thần và hữu thần, giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau.  Nội dung  căn bản của quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng là: ­ Mọi công dân có quyền theo đạo, truyền đạo hoặc bỏ đạo; được hoàn toàn   tự do theo tôn giáo mình thích hoặc không theo một tôn giáo nào.  ­ Tất cả mọi công dân có tín ngưỡng và không tín ngưỡng đều bình đẳng về  nghĩa vụ và quyền lợi. ­ Tất cả mọi tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân đều bình đẳng như  nhau. Nhà nước không coi tôn giáo nào là quốc đạo.    Tuy nhiên cần chú ý rằng: Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đồng thời phải   chống lại những kẻ  lợi dụng tôn giáo vì mục đích phi tôn giáo, mặt khác, không  dung túng cho những kẻ hành nghề mê tín dị đoan. Ba: Có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo.            Nguyên tắc này có một ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Nó đòi hỏi chủ  thể  lãnh   đạo, quản lý xã hội khi giải quyết vấn đề  tôn giáo phải phù hợp với không gian,  
  15. 11 thời gian cụ  thể, như  Lênin đã nhắc nhở: “Người mác ­ xít phải biết chú ý đến  toàn bộ tình hình cụ thể” [81, tr. 518]    Bốn: Cần phân biệt hai mặt: nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo và việc chính trị   lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo. Việc phân biệt vấn đề  chính trị  và tư  tưởng trong các hoạt động tôn giáo   trên thực tế là vấn đề  không đơn giản, nhưng lại đòi hỏi phải phân biệt rõ, từ  đó   mới có giải pháp chính xác. Trong đó, mặt nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo phải được   giải quyết bằng chính sách tự  do tín ngưỡng, tôn giáo; còn mặt chính trị  lợi dụng  tín ngưỡng, tôn giáo phải được giải quyết bằng giải pháp chính trị. Việc áp dụng  lẫn lộn các loại giải pháp, cũng như  tuyệt đối hoá một loại giải pháp nào đó đều  là tai hại cho cả tôn giáo và cho chính trị cầm quyền. Kế  thừa và vận dụng quan điểm của Chủ  nghĩa Mác ­ Lênin về  tôn giáo,  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng đặc sắc về vấn đề này.  Trước hết cần thấy, tư tưởng của Người về tín ngưỡng, tôn giáo là sự vận  dụng sáng tạo và phát triển Chủ  nghĩa Mác ­ Lênin vào hoàn cảnh lịch sử  cụ  thể  của Việt Nam. Với Người, “Bây giờ  học thuyết nhiều, chủ  nghĩa nhiều, nhưng   chủ  nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ  nghĩa Lênin”  [46, tr.268]. Nhưng, xuất phát từ đặc điểm lịch sử, văn hoá của dân tộc Á ­ Đông,  Hồ Chí Minh cho rằng: “C.Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý   nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó   chưa phải là toàn thể nhân loại... Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của   nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô  viết đảm nhiệm (ban thuộc địa của chúng tôi vừa nhận được thư   mời chúng tôi  tham gia công tác này)” [45, tr.465]. Cũng trên quan điểm duy vật về  lịch sử  của chủ nghĩa Mác­Lênin, Hồ  Chí   Minh luôn nhấn mạnh đến việc phải xây dựng một xã hội tiến bộ thì mới có thể  giải quyết được vấn đề  tôn giáo một cách tốt đẹp. Từ chỗ  nhấn mạnh: Tôn giáo 
  16. 12 không hề đối lập với CNXH, Người đã chăm lo chu đáo đến đồng bào có tôn giáo   theo tinh thần “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”.  Trong  ứng xử  với tín đồ, chức sắc tôn giáo, Người thể  hiện nổi bật tư  tưởng hoà hợp, khoan dung, đó là sự cảm thông, chấp nhận và tôn trọng cái dị biệt,  miễn là không trái với lợi ích chung của dân tộc, từ  đó mà đạt được mục tiêu   tương đồng. Chính vì thế, đồng bào Phật tử  thấy Hồ  Chí Minh như  "Hiện thân"   của vị  “Bồ  tát Quán Thế  Âm”  vì   "nhân duyên" dân tộc Việt Nam đau thương   "trầm luân" trong nỗi nhục mất nước  ở cõi "Sha­ bà" mà xuống cứu khổ cứu nạn.   Ngày nay, trong Phật giáo và trong xã hội Việt Nam, tên Hồ  Chí Minh được gán  với quả vị Phật giáo, là Bồ tát Hồ Chí Minh. Còn đồng bào đạo Công giáo và đạo   Tin lành luôn khâm phục và cảm động về việc, Người đã nguyện hy sinh cho Việt   Nam độc lập, cho thế  giới hoà bình, nên thấy Người như  bóng dáng của  "Đức   Chúa Ki­Tô” hy sinh thân mình để cứu chuộc nhân loại.  Tư   tưởng   Hồ   Chí   Minh   về   tôn   giáo   với   tính   cách   là   những   quan   điểm,  nguyên tắc, tác giả khái quát như sau:  Thứ  nhất, xử  lý đúng đắn mối quan hệ  giữa tôn giáo với dân tộc, tôn giáo  với cách mạng và tôn giáo với giai cấp, đó phải là nội dung cốt lõi trong chủ  trương, chính sách tôn giáo của cách mạng Việt Nam.  Thứ  hai, luôn phải có tinh thần vận dụng, phát triển nguyên lý chủ  nghĩa  Mác ­ Lênin và tham khảo kinh nghiệm của các nước khác về  vấn đề  tôn giáo,  xem đó là cơ  sở  quyết định cho việc xây dựng đường lối, chủ  trương, chính sách  tôn giáo phù hợp với từng giai đoạn cách mạng Việt Nam. Thứ ba, tôn trọng tự do tín ngưỡng phải đi đôi với đấu tranh chống mọi âm  mưu lợi dụng tôn giáo; phải khắc phục những mặc cảm tôn giáo, những hành vi  làm tổn thương đến tình cảm quần chúng tín đồ. Tư  tưởng Hồ  Chí Minh về  tôn giáo đã bổ  sung cho Chủ  nghĩa Mác ­ Lênin  và nó có sức sống từ thực tiễn của đất nước, dân tộc ta, để  người cộng sản Việt   Nam có thái độ mềm mại hơn, khách quan hơn đối với tôn giáo. 
  17. 13 1.1.2. Quản lý nhà nước đối với tôn giáo 1.1.2.1. Khái niệm "Quản lý nhà nước" và “Quản lý nhà nước đối với   tôn giáo” Khái niệm “quản lý nhà nước” được hiểu ở cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, sử  dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động   của con người do tất cả  các cơ  quan Nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư  pháp)  tiến hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội. Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội mang quyền lực   Nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của   các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, UBND các cấp). Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính quốc gia   đã nêu: QLNN là hoạt động của Nhà nước trên lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư  pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước; là dạng quản lý  xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều   chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người [38]. Vậy, chủ  thể  QLNN là các cá nhân hay tổ  chức mang quyền lực Nhà nước  tác động tới đối tượng quản lý. Còn đối tượng QLNN là toàn bộ  công dân Việt  Nam và những người không phải là công dân Việt Nam đang sống, làm việc trên  lãnh thổ Việt Nam cùng toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ  các khái niệm quản lý nhà nước như  trên, khái niệm quản lý nhà nước   đối với tôn giáo cũng được hiểu theo hai nghĩa, rộng và hẹp. Nghĩa rộng: Đó là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành  pháp, tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo qui định của pháp luật để tác động,   điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức,   cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể quản lý. Nghĩa hẹp: Đó là quá trình chấp hành pháp luật và tổ  chức thực hiện pháp   luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ  và UBND các cấp) để 
  18. 14 điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá   nhân tôn giáo diễn ra theo đúng qui định của pháp luật. Theo đó, QLNN đối với tôn giáo  ở  cả  2 nghĩa rộng, hẹp, đều tập trung,  trước hết và chủ  yếu là quản lý các “hoạt động tôn giáo”. Cụ  thể  hơn, đó là các  hoạt động tôn giáo liên quan,  ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực của đời sống   xã   hội.   Hoạt   động   đó   là   gì?   Về   việc   này,   tại   khoản   5,   điều   3   Pháp   lệnh   tín  ngưỡng, tôn giáo đã nêu: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý,   giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo”[77, tr.2]. Truyền bá giáo lý, giáo luật  (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền  những lý lẽ  về  sự  ra đời, về  luật lệ  tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo,   niềm tin tôn giáo của tín đồ  được củng cố, luật lệ  của tôn giáo được các tín đồ  thực hiện. Còn người chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp họ  hiểu, tin  và theo tôn giáo. Vậy, hoạt động truyền đạo chính là để củng cố  và phát triển tín   đồ. Tất nhiên, việc truyền đạo phải tuân thủ  các quy định của pháp luật và nội   dung, phương pháp truyền đạo phải đúng với giáo lý của tôn giáo đó. Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín đồ,  chức sắc, nhà tu hành tôn giáo thể  hiện sự  tuân thủ  nghiêm ngặt những quy định,  phép tắc, thoả mãn đức tin tôn giáo của cá nhân hay cộng đồng tín đồ. Hoạt động quản lý tôn giáo là các tổ  chức, giáo hội tôn giáo thực hiện các  quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm  bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo. Trong các hoạt động đó, việc phân định ranh giới giữa hoạt động truyền đạo  với hoạt động hành đạo cũng chỉ  là tương đối, có không ít trường hợp trong hoạt   động hành đạo có hoạt động truyền đạo. Từ  đó chúng ta thấy, chủ  thể  QLNN về  tôn giáo  nếu theo nghĩa rộng của  khái niệm, thì đó là các cơ  quan nhà nước thuộc hệ thống lập pháp, hành pháp và   tư  pháp; còn theo  nghĩa hẹp, nó chỉ  gồm các cơ  quan nhà nước thuộc hệ  thống  hành pháp các cấp.
  19. 15 Còn khách thể  QLNN đối với tôn giáo, đó là hoạt động tôn giáo của các tổ  chức tôn giáo, của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành.  Là công dân Việt Nam, tín đồ,  chức sắc tôn giáo, nhà tu hành vừa mang những đặc điểm chung của người Việt  Nam, nhưng đồng thời cũng có những nét đặc trưng riêng của người có đạo.  Chúng tôi, trong luận văn này thường dùng khái niệm “QLNN đối với tôn  giáo”, hoặc “QLNN về  tôn giáo”, khi đó được hiểu là “QLNN đối với các hoạt   động tôn giáo”. Theo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, tín đồ, đó là những người tin theo một   tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận. Chức sắc tôn giáo là tín đồ  có chức  vụ, phẩm sắc trong tôn giáo. Còn nhà tu hành, đó là tín đồ  tự  nguyện thực hiện  thường xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo.  [77, tr.2]. Người làm công tác QLNN đối với tôn giáo, với họ,  có một đòi hỏi bắt   buộc là phải nắm vững về đặc điểm của tín đồ, chức sắc các tôn giáo, với tư cách  là khách thể QLNN. Ở nước ta, tín đồ tôn giáo có đặc điểm là: Đa số họ là nông dân, vốn có bản  chất cần cù lao động, có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù kẻ  xâm lược và tầng   lớp bóc lột. Song bên cạnh đó, do cả  vô thức và ý thức, một số  tín đồ  hoạt động  tôn giáo chưa tuân thủ pháp luật, tai hại hơn, bị các thế lực thù địch lợi dụng, nghe   theo kẻ xấu tham gia vào các vụ việc phức tạp, điểm nóng tôn giáo. Một đặc điểm   khác là, trong mỗi tín đồ đều có sự thống nhất (nhưng không đồng nhất) giữa mặt   công dân và mặt tín đồ. Là công dân, họ  có mọi quyền và nghĩa vụ  đối với nhà  nước như  mọi công dân khác. Là người có tín ngưỡng tôn giáo, họ  có niềm tin  ở  Chúa, Phật..., có quyền lợi và trách nhiệm đối với giáo hội. Đây chính là đặc điểm  quan trọng cần phải nắm vững. Còn chức sắc, nhà tu hành tôn giáo cũng có những đặc điểm chung của một   tín đồ, song họ còn có các đặc điểm riêng. Đó là: Họ là những người được tổ chức  tôn giáo lựa chọn, đào tạo cơ bản, nên có năng lực quản đạo và trình độ thần học   cao; được tổ  chức tôn giáo phong chức, phong phẩm. Họ  đại diện  ở  những mức  
  20. 16 độ  khác nhau cho các tổ  chức tôn giáo. Họ  vừa chăn dắt tín đồ, vừa quản lý nền   hành chính đạo theo thẩm quyền. Trong quan hệ với tín đồ, họ là những người rất  gần gũi, nắm bắt kịp thời tâm tự, nguyện vọng của tín đồ. Như  thế, họ  có vị  trí,  vai trò và  ảnh hưởng rất lớn, rất sâu sắc trong tín đồ, được tín đồ  yêu quí, trân  trọng và bảo vệ. Tiếp nữa, người làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo cũng phải nắm  vững đặc điểm của tổ chức tôn giáo. Đó là: Tổ chức tôn giáo điều hành các hoạt  động tôn giáo; đại diện cho tín đồ trong quan hệ với Nhà nước và với các tổ chức   khác có liên quan. Mỗi tôn giáo có bộ  máy tổ  chức riêng, hoạt động theo hiến   chương, điều lệ của mình. Các tôn giáo có tư cách pháp nhân đều thể hiện đường  hướng hành đạo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Đa số  các tổ  chức tôn giáo có   liên hệ đồng đạo với tổ chức tôn giáo nước ngoài.  Ngoài ra, khách thể QLNN về tôn giáo còn có cả cơ sở vật chất phục vụ các  sinh hoạt tôn giáo. Trong đó, cơ sở thờ tự không đơn giản chỉ là một thực thể vật   chất, mà còn bao hàm ý nghĩa thiêng liêng, hội họp, văn hóa... Còn đồ  dùng việc   đạo như kinh sách, tượng thờ, tranh ảnh, hoành phi, câu đối, lư hương, chuông mõ,   nhạc cụ,…mỗi thứ có chức năng, công dụng riêng trong sinh hoạt tôn giáo, nhưng  đều có đặc điểm là có giá trị  vật chất và có ý nghĩa biểu đạt. Ngoài ra, phục vụ  cho sinh hoạt tôn giáo cộng đồng còn có vườn hoa, trường học, nhà dòng, cơ sở từ  thiện, nhà trẻ, bệnh xá,… Nó là tài sản của giáo hội và là nơi diễn ra các hoạt   động tôn giáo, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao cho  tổ chức tôn giáo quản lý. Như vậy, việc nắm chắc những đặc điểm của khách thể quản lý là một yêu   cầu tiên quyết đối với chủ  thể  quản lý, giúp cho công tác QLNN về  tôn giáo có  hiệu lực mạnh và hiệu quả cao. Một vấn đề khác cũng cần nhận thức rõ, đó là vấn đề pháp nhân và thể nhân  tôn giáo.  Pháp nhân tôn giáo,  đó  là bộ  máy tổ  chức tôn giáo đã được Nhà nước  

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản