LUẬN VĂN:
Bày những lý luận chung về tích luỹ và
ứng dụng những lý luận đó vào thực
tiễn Việt nam.
Lời nói đầu
Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng để phát triển kinh tế,
ngoài việc lựa chọn đường lối phát triển còn phải các yếu tố vật chất để thực hiện được
đường lối đó. Đối với c nước đã phát triển mạnh mnMỹ, Anh, Pháp chúng ta đều
thấy rằng họ một tiềm lực kinh tế ặc biệt tiềm lực về vốn ) rất mạnh. n đối với
những nước đang phát triển như ớc ta với diểm khởi đầu rất thấp, nguồn vốn tự có rất ít,
mà một trong những đặc trưng của các nước đang phát triển là tỷ lch luỹ thấp, chỉ ới
10% thu nhp, mà ch luỹ thấp sdẫn đến tnh đthuật năng suất lao động thấp. Do
đó đòi hỏi các nước đang phát triển phải tìm biện pháp để phá vỡng luẩn quẩn này. Muốn
vậy, phải lựa chọn mô hình phát triển kinh tế phù hợp. Song trong các mô hình ng trưởng
kinh tế hiện đại, các nhà kinh tế đặc biệt nhấn mạnh vai trò của vốn đầu đối với tăng
trưởng kinh tế. Samuelson cho rng một trong những đặc trưng quan trọng của kinh tế hiện
đại là "kĩ thuật ng nghiệp tn tiến hiện đại dựa vào việc sử dụng vốn lớn". Do đó vốn là cơ
sở để phát huy c dụnh của các yếu tkhác. Vốn là sở để tạo ra việc làm, để ng
nghtiên tiến, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của cả nn kinh tế, góp phn
thúc đẩy phát triển sản xuất theo chiều sâu và cuối ng cơ cấu sử dụng vốn sẽ là điều quan
trọng tác động vào việc chuyển dịch cấu kinh tế của đất ớc.
Với Việt nam, các chuyên gia kinh tế đều có nhận xét chung là, chúng ta đã có bước
khởi đầu tốt đẹp trong giai đoạn phát triển mới. Nhưng để đạt được tốc độ tăng trưởng
cao liên tục trong thời gian tới còn nhiều khó khăn. một trong những khó khăn đó
là thiếu vốn.
Trên đây chúng ta đã thấy vốn quan trọng như thế nào đối với việc phát triển kinh
tế. vậy điều chúng ta cần giải quyết làm sao để tăng nguồn vốn của mình bằng cách
tích luỹ, huy động vốn từ trong ngoài nước. Song trong những cách để được nguồn
vốn, thì tích lu huy động vốn từ trong nước là quan trọng nhất. nthế chúng
ta mới không bphụ thuộc vào bên ngoài, sự phát triển từ nội lực bao giờ cũng s
phát triển bền vững nhất.
Nhận thức được vai trò của việc tích luỹ vốn mà em lựa chọn làm đề tài này. Trong
bài viết em sẽ trình y những luận chung về tích lu ứng dụng những luận đó
vào thực tiễn Việt nam.
Chương I
Lý luận tích luỹ tư bản
I. Bản chất và nguồn gốc của tích luỹ tư bản:
Sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Xã hội không thể ngừng tiêu dùng do đó không thể ngừng sản xuất. Bất cứ quá trình
sản xuất hội nào nếu t theo tiến trình đổi mới không ngừng của , chứ không phải
xét theo hình thái từng lúc của thì đồng thời cũng đều quá trình tái sản xuất. Quá
trình này là tất yếu khách quan và có hai hình thứci sản xuất giản đơntái sản xuất
mở rộng. i sản xuất giản đơn không phải i sản xuất điển hình của CNTB hình
thái điển hình của CNTB tái sản xuất mở rộng. Muốn tái sản xuất mở rộng nhà bản
không thể sử dụng hết giá trị thặng dư cho tiêu dùng cá nhân, mà phải dùng một phần giá
trị thặng dư để tăng quy mô đầu tư so với năm trước. Chính phần giá trị thặng dư đó được
gọi bản phụ thêm. Việc sdụng giá trị thặng làm bản hay chuyển hoá giá trị
thặng dư trở lại thành bản gọi là tích luỹ tư bản. Xét một cách cụ thể tích luỹ bản
nhằm i sản xuất ra bản với quy ny càng mở rộng. Sở dĩ giá trị thặng dư th
chuyển hoá thành bản được bản thặng dư đã mang sẵn những yếu tố vật chất
của một bản mới. Tích luỹ bản tất yếu khách quan do quy luật kinh tế cơ bản,
quy luật giá trị cạnh tranh... của phương thức sản xuất TBCN quy định. Nguồn gốc
duy nhất của bản tích luỹ giá trị thặng bản tích luỹ chiếm một tỷ lệ ngày
càng lớn trong toàn bộ tư bản. Như vậy thực chất của tích luỹ tư bản là biến một phần giá
trị thặng dư thành bản phụ thêm (tư bản bất biến phụ thêm bản khả biến phụ
thêm) đ mở rộng sản xuất. Trong quá trình sản xuất lãi cứ đập vào vốn, vốn càng lớn thì
lãi càng lớn, do đó lao động của công nhân trong quá khứ lại trở thành phương tiện mạnh
mẽ để bóc lột chính người công nhân.
Quá trình tích luỹ đã làm cho quyền sở hữu trong nền sản xuất hàng hoá biến thành
quyền chiếm đoạt TBCN. Khác với nền sản xuất hàng hoá giản đơn, trong nền sản xuất
TBCN sự trao đổi giữa người lao động và nhà tư bản dẫn đến kết quả là nhà tư bản chẳng
những chiếm không một phần lao động của công nhân còn người sở hữu hợp pháp
lao động không công đó. Sự thay đổi căn bản trong quan hệ sở hữu hoàn toàn không vi
phạm quy luật giá trị.
Động cơ thúc đẩy tích luỹ tái sản xuất mrộng TBCN một quy luật kinh tế cơ
bản của CNTB. Mục đích của nền sản xuất TBCN sự lớn lên không ngừng của giá trị.
Để thực hiện mục đích đó các nhà bản không ngừng tích luỹ tái sản xuất mở rộng
xem đó phương tiện căn bản để tăng cường bóc lột công nhân. Mặt khác do tính cạnh
tranh quyết liệtnên các nhà bản buộc phải không ngừng làm cho bản của mình tăng
lên. Điều đó chỉ có thể thực hiện bằng cách tăng nhanh bản tích luỹ. Nói như vậy hình
như mâu thuẫn giữa phần tiêu dùng của nhà tư bản và phần ch luỹ. Thực ra trong
buổi đầu của sản xuất TBCN, sự ham muốn làm giàu của c nhà bản thường chi phối
tuyệt đối nhưng đến một trình độ pt triển nhất định, stiêu dùng xa pcủa cácnhà
bản ngày càng tăng lên theo sự tích luỹ tư bản.
II. Những nhân t quyết định quy mô của tích lutư bn
Quy tích luỹ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư t lệ phân chia giá trị
thặng dư thành tư bản phụ thêm và thu nhập.
Với một khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô của tích luỹ phụ thuộc vào
tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó thành quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng của nhà
bản. Nếu nhà bản sử dụng khối ợng giá trị thặng dư đó vào việc tiêu dùng nhiều
cho nhân thì khối lượng giá trị thặng dư dành cho tích luỹ sít đi. Khi đó quy của
tích luỹ bản của nhà bản đó sẽ gim đi. Ngược lại việc tiêu dùng ít đi sẽ làm ng
khối lượng tích luỹ, khi đó quy tích luỹ sẽ tăng lên. Tích luỹ của chế độ TBCN nhằm
thu được ny càng nhiều giá trị thặng dư : sản xuất mở rộng thì chúng càng tăng cường
bóc lột công nhân thu được thêm nhiều giá trị thặng . Khi đó nhà bản ng vốn
mở rộng thêm sản xuất, quy bóc lột càng tăng lên. Ngoài tiêu dùng xa phí của mình,
nhà bản còn phải đối phó với tình trạng cạnh tranh gay gắt trong hội bản nên họ
đều phải tăng thêm tích luỹ đmở rộng sản xuất với quy lớn hơn giành nhằm phần
thắng cho mình trên thương trường.
Nếu tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó đã cho sẵn, thì ràng đại lượng
của tư bản tích luỹ sẽ do đại lượng tuyệt đối của giá trị thặng dư quyết định. Do đó những
nhân tố quyết định quy của tích luỹ chính những nhân tố quyết định quy của
khối lượng giá trị thặng dư. Những nhân tố đó là :
Một là, mức độ bóc lột sức lao động.
Nâng cao mức độ bóc lột sức lao động bằng cách cắt xén vào tiền công của ng
nhân. Như vậy công nhân không những bnhà bản chiếm đoạt lao động thặng ,
còn bị chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, bị cắt xén một phần tiền công. Việc cắt xén
tiền công giữ vai trò quan trọng trong quá trình tích luỹ tư bản.
Nâng cao mức bóc lột bằng cách tăng ờng độ lao động kéo dài ngày lao động.
Việc tăng cường độ lao động kéo i ngày lao động ràng làm tăng thêm giá trị
thặng dư, do đó làm tăng bộ phận giá trị thặng dư tư bản hoá, tức là làm tăng tích luỹ. ảnh
hưởng y còn thể hiện chỗ số lượng lao động tăng thêm nhà tư bản chiếm không
do tăng cường độ lao động kéo dài ngày lao động không đòi hỏi phải tăng thêm tư bản
một cách tương ứng (không đòi hi phải tăng thêm s lượng công nhân, tăng thêm máy
móc, thiết bị mà hầu như chỉ cần tăng thêm sự hao phí nguyên liệu).
Hai là, trình độ năng suất lao động hội.
Việc nâng cao năng suất lao động sẽ làm ng thêm giá trị thặng , do đó tăng
thêm b phận giá trị thặng dư được bản hoá. Song vấn đề ở đây là quy mô của tích luỹ
không chỉ được quyết định bởi khối lượng giá trị thặng dư, mà còn bởi khối lượng tư liệu
sản xuất liệu tiêu dùng, do khối lượng giá trị thặng đó thể chuyển hoá thành.
Như vậy năng suất lao động tăng sẽ làm ng thêm những yếu tố vật chất của bản, do
đó làm tăng quy mô của tích luỹ. Năng suất lao động cao thì lao động sống sử dụng được