intTypePromotion=3

Luận văn tốt nghiệp Đại học: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: Trần Văn Chương | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:107

0
266
lượt xem
69
download

Luận văn tốt nghiệp Đại học: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt thực trạng và giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn tốt nghiệp Đại học: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt thực trạng và giải pháp với mục đích nghiên cứu về sự hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt từ xưa cho đến nay, từ đó làm nổi bật những thành tựu và hạn chế. Bên cạnh đó, đưa ra những phương hướng và giải pháp nhằm khắc phục kịp thời những tồn tại, yếu kém của tín ngưỡng thờ cúng trong giai đoạn hiện nay.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp Đại học: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt thực trạng và giải pháp

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ ­­­­­­­­­­ LUẬN VĂN TỐT  NGHIỆP ĐẠI HỌC    Đ   ề tài :     TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN  CỦA NGƯỜI VIỆT THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Chuyên ngành: Sư phạm Giáo dục công dân Mã ngành: 52140204   GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN   ThS – GVC Nguyễn Thanh Sơn          SINH VIÊN THỰC HIỆN          Trần Văn Chương           MSSV: 6106603 Cần Thơ: 12/2013 Cần Thơ, Tháng 05 
  2. LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, em xin gởi lời cảm  ơn chân thành đến Quý thầy cô khoa   Khoa học Chính trị    ­ Trường Đại học Cần Thơ  đã truyền đạt cho em những   kiến thức vô cùng quý báu, bổ ích giúp em có đủ điều kiện, tự tin khi nghiên cứu  và hoàn thành đề  tài của mình, đặc biệt em xin gởi lời cảm  ơn chân thành đến  ThS ­ GVC Nguyễn Thanh Sơn là người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp  đỡ  em trong suốt quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề  tài. Kết quả  mà em có  được là đã hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình. Song, do điều kiện, trình   độ và thời gian có hạn nên đề tài nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những sai sót.  Vì vậy, em rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp chân thành của Quý  thầy cô và bạn đọc để đề tài nghiên cứu của em hoàn thiện hơn. Ngoài ra, em cũng gởi lời cảm  ơn đến tất cả  các bạn sinh viên đã có lời   động viên trong khi em nghiên cứu đề tài này. Chân thành cảm ơn! Trần Văn Chương
  3. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU............................................................................................................1 1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................2 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu........................................................3 3. Đối tượng nghiên cứu............................................................................3 4. Phạm vi nghiên cứu................................................................................3 5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................3 6. Kết cấu luận văn....................................................................................3 NỘI DUNG.....................................................................................................4 Chương 1 NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG  TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT.....................................................................4 1.1. Khái quát chung về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên...............4 1.1.1. Nguồn gốc..........................................................................4 1.1.2. Khái niệm tín ngưỡng........................................................9 1.1.2.1. Các quan điểm về tín ngưỡng......................................9 1.1.2.2. Khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 15 1.1.3. Ý nghĩa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên...........................19 1.1.4. Phân loại tín ngưỡng..........................................................21 1.2. Bàn thờ  gia tiên – nét đặc trung của tín ngưỡng thờ  cúng tổ  tiên ở người Việt..........................................................................................27 1.2.1. Nguyên tắc thiết kế bàn thờ gia tiên...............................27 1.2.2. Ý nghĩa của bàn thờ gia tiên............................................33 1.3. Thờ cúng tổ tiên trong những ngày Tết, ngày lễ....................34
  4. 1.3.1. Thờ cúng tổ tiên trong ngày Tết...........................................34 1.3.1.1. Nguồn gốc của ngày Tết..............................................34 1.3.1.2. Lễ cúng ông Công, ông Táo..........................................35 1.3.1.3. Lễ cúng giao thừa.........................................................36 1.3.1.4. Lễ cúng Tết ngày đầu năm...........................................39 1.3.2. Thờ cúng tổ tiên trong ngày lễ tiết, ngày sóc, ngày vọng... .39 1.3.2.1. Tiết thanh minh.............................................................39 1.3.2.2. Tết Trung Nguyên.........................................................42 1.3.2.3. Tết Trung thu................................................................43 1.3.2.4. Tết Hạ nguyên..............................................................44 1.4. Thờ cúng tổ tiên trong gia đình, dòng tộc và trong cả nước. 44      1.4.1. Thờ cúng tổ tiên trong gia đình, dòng tộc........................45      1.4.2. Thờ cúng tổ tiên trong cả nước.......................................48 Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN  CỦA NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY.................................................................51 2.1. Thực trạng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay..........51 2.1.1. Mặt tích cực của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở người Việt 51 2.1.2. Mặt hạn chế của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở người Việt 57 2.2. Phương hướng và giải pháp việc thờ cúng tổ tiên  của người Việt hiện nay...................................................................62 2.2.1. Phương hướng việc thờ cúng tổ tiên  của người Việt hiện nay.................................................................62 2.2.1. Những giải pháp cơ bản nhằm định hướng hoạt động  thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay......................................65 KẾT LUẬN.................................................................................................... 71 PHỤ LỤC....................................................................................................... 74 Phụ lục 1 ­ Giới thiệu một số bài văn khấn.............................................74 Phụ lục 2 – Một số hình ảnh......................................................................84
  5. TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................91
  6. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Văn hóa phương Tây khác văn hóa phương Đông  ở  nhiều điểm, trong đó  phương Tây không thờ  cúng ông bà, tổ tiên, không để  bàn thờ  tổ tiên trong nhà.   Còn các dân tộc phương Đông đều có các hình thức thờ cúng ông bà, tổ tiên để  tưởng nhớ đến những người đã khuất. Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên  đã trở thành một hệ thống và có ý nghĩa sâu sắc của nó. Việc thờ cúng tổ tiên có   một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Tín   ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã trở thành một thứ giáo lý, tôn giáo độc đáo mà không  phải bất cứ dân tộc nào trên thế giới cũng có thể có được. Tín ngưỡng thờ cúng  tổ  tiên của người Việt tạo nên mối gắn kết tinh thần nối liền con người với   những lực lượng siêu nhiên trong thế giới tâm linh. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên  của người Việt là một bộ phận của ý thức xã hội, là một yếu tố thuộc lĩnh vực   đời sống tinh thần được hình thành trong tiến trình lịch sử văn hóa. Trên thế giới  có hàng nghìn loại hình tín ngưỡng khác nhau, nhưng hiếm thấy loại hình tín   ngưỡng nào lại chứa đựng đạo lý sâu sắc như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.  Tín ngưỡng thờ cúng tổ  tiên là một loại hình tín ngưỡng cổ  truyền mang  tính phổ  quát của người Việt Nam. Thờ  cúng tổ  tiên đã trở  thành một tập tục  truyền thống, có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của dân tộc,  là một trong các thành tố  tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Tín ngưỡng thờ  cúng rất giản dị bởi họ tin rằng tổ tiên mình là thiêng liêng, họ  đi vào cõi vĩnh   hằng nhưng vẫn luôn bên cạnh con cháu, họ  phù hộ  cho con cháu khi gặp khó  khăn, vui mừng khi con cháu gặp may mắn, khuyến khích cho con cháu gặp điều   lành và cũng trách phạt con cháu khi làm những điều tội lỗi. Ở nước ta, thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng phổ biến của người Việt. Trải   qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, hình thức này đã và đang chiếm được vị  trí thiêng liêng trong đời sống tinh thần người Việt. Ý thức con người có tổ  có   tông được bảo tồn trong cõi tâm linh và lưu truyền từ  thế  hệ  này sang thế  hệ  khác dù họ  sống trên tổ  quốc mình hay sống nơi xứ người. Cùng với tiến trình  Trang 1
  7. lịch sử của dân tộc, nó là sự bồi lắng, kết tụ những giá trị đạo đức quý báu của  con người Việt Nam. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt trong quá trình hình thành và  tồn tại đã góp phần tạo ra những giá trị, triết lý đạo đức mang ý nghĩa giáo dục   sâu sắc như  lòng hiếu thảo, lòng nhân ái, tính cộng đồng, lòng yêu nước, tinh   thần sáng tạo, còn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tồn tại cùng với sự hình   thành và phát triển của dân tộc. Hiếu với tổ tiên, ông bà, cha mẹ được nâng cao  lên là hiếu với dân, với nước. Tín ngưỡng thờ  cúng tổ  tiên còn là là một trong  những nhân tố  góp phần để  bảo tồn và duy trì văn hóa truyền thống, tập tục   mang đậm nét văn hóa của người Việt. Ngày nay, trong xu thế  chung của quá  trình hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến sự may rủi trong cơ chế thị trường, phân   hóa giàu nghèo trong xã hội, xuất hiện những yếu tố tiêu cực do công cuộc toàn   cầu hóa, cùng với trình độ dân trí thấp là một trong những nguyên nhân dẫn đến  sự gia tăng các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngường thờ cúng tổ tiên của   người Việt là lối sống cộng đồng của nhân dân ta. Xây dựng một nền văn hóa   tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, không thể  không coi trọng tín ngưỡng thờ  cúng tổ  tiên với những truyền thống lâu đời và đã trở  thành một hệ  thống. Đó  cũng chính là nét riêng của mỗi dân tộc. Tuy nhiên, tự  do tín ngưỡng không có  nghĩa là để cho tín ngưỡng phát triển một cách không có sự quản lý của các cấp,   ban ngành. Chúng ta cần đầy lùi những biểu hiện của mê tín, dị  đoan thì tín  ngưỡng thờ cúng mới giữ được đúng bản chất của nó. Với những lý do như trên về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt,   tác giả đã chọn đề  tài “Tín ngưỡng thờ cúng tổ  tiên của người Việt – Thực   trạng và giải pháp” để làm đề tài nghiên cứu của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu:  Mục đích của đề  tài là nghiên cứu về sự  hình thành tín ngưỡng thờ  cúng  tổ tiên của người Việt từ xưa cho đến nay, từ đó làm nổi bật những thành tựu và  hạn chế. Bên cạnh đó, đưa ra những phương hướng và giải pháp nhằm khắc  Trang 2
  8. phục kịp thời những tồn tại, yếu kém của tín ngưỡng thờ  cúng trong giai đoạn  hiện nay. Nhiệm vụ nghiên cứu:  Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ: Tìm hiểu cơ  sở  hình thành tín ngưỡng thờ  cúng tổ  tiên của người Việt   trong giai đoạn hiện nay. Xác định nội dung chủ  đạo trong tín ngưỡng thờ  cúng tổ  tiên của người   Việt, trên cơ sở đó thấy được giá trị và ý nghĩa của việc phát huy những mặt tích   cực của tín ngưỡng thờ  cúng trong giai đoạn hiện nay, đồng thời cũng đưa ra  những ý kiến riêng về những thực trạng của việc thờ cúng hiện nay. 3. Đối tượng nghiên cứu. Đề tài tập trung nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người dân   Việt Nam từ  nghìn xưa đến ngày nay. Từ  đó tìm ra nguồn gốc xuất xứ  của  phong tục này, bên cạnh đó đề  tài cũng nêu ra những thực trạng và đề  xuất  những giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém của tín ngưỡng thờ cúng tổ  tiên trong giai đoạn hiện nay. 4. Phạm vi nghiên cứu. Trong thời gian có hạn, đề  tài được xác định nghiên cứu trong phạm vi là  những lý luận chung về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và giá trị của tín ngưỡng ấy   trong đời sống tâm linh của người Việt. 5. Phương pháp nghiên cứu. Dựa trên cơ  sở  phương pháp của chủ  nghĩa Mác – Lênin, luận văn chủ  yếu sử dụng phương pháp duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp logic. Đồng   thời, luận văn còn sử dụng nhiều phương pháp khác như so sánh, phân tích, tổng  hợp, thống kê… để nghiên cứu đề tài. 6. Kết cấu luận văn.  Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và hệ  thống các tài liệu   tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 6 tiết. Trang 3
  9. NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT 1.1.. Khái quát chung về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. 1.1.1. Nguồn gốc: Ở  nước ta, từ  bao đời nay suốt từ  Bắc vào Nam, không một gia đình   người Việt nào không đặt bàn thờ tổ tiên ở  nơi trang trọng nhất trong nhà hoặc  ở  nhà từ  đường thờ  họ. Tuy vậy, một số  dân tộc ít người cũng đã có tục thờ  cúng tổ  tiên nhưng còn lỏng lẻo và mờ  nhạt chưa trở  thành một thiết chế  văn  hóa như của người Việt. * Nguồn gốc nhận thức: Trước hết, từ  quan niệm người chết linh hồn vẫn tiếp tục sống  ở  nơi   chín suối,  thế  giới bên kia, linh hồn người chết vẫn có   “nhu cầu”  như  người  sống vì thế  mà người ta chôn theo người chết những đồ  tùy táng, dần về  sau   người ta đốt vàng mã (ngày nay đốt tiền âm phủ và các thứ hình hài, đồ vật, nhà  cửa…). Từ  ý niệm trên đây cho ta thấy mối liên hệ  giữa người sống và người   chết được tiếp tục duy trì nhất là đối với ông bà, cha mẹ  qua đời thì việc thờ  cúng trở thành một tục lệ. Từ đó, mối quan hệ giữa những người sống và những  người chết cùng chung huyết thống lại càng gắn bó hơn. Trong vòng hai, ba đời   Trang 4
  10. thì đó còn là những kỷ  niệm rất cụ thể và sâu sắc. Ông bà, cha mẹ  dù qua đời   nhưng vẫn luôn hiện diện trong tâm tưởng của con cháu, và con cháu luôn cảm   thấy trách nhiệm cả về vật chất lẫn tinh thần đối với họ. Niềm tin vào cái chết  thực chất là một cuộc trở về gặp tổ tiên, ông bà và tổ tiên sẽ dõi theo, phù hộ độ  trì cho con cháu. Chính vì vậy nó đã là cơ  sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ  tiên. * Nguồn gốc về kinh tế ­ xã hội: Có thể nói rằng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cùng huyết thống thực sự ra   đời và phát triển trong thời kỳ thị tộc phụ hệ. Sự ra đời của thị tộc phụ hệ là kết  quả  của sự  phân công lao động lần thứ  hai giữa trồng trọt, chăn nuôi và thủ  công. Trong chế độ phụ quyền, địa vị của người đàn ông được đặt lên hàng đầu,  quyền thừa kế tài sản theo dòng họ  cha và tiếp nối đến thế  hệ  sau đã củng cố  vững chắc vị  trí của người đàn ông trong xã hội. Điều này đúng như  đánh giá   của Trịnh Đình Bảy: “Những người này, bằng uy tín của mình đã củng cố  và   thiêng liêng hoá sự  thờ  cúng tổ  tiên đã có manh nha trong thời kỳ  thị  tộc mẫu   quyền” [2; tr 42]. Khi trình độ  sản xuất phát triển, của cải xã hội làm ra ngày  càng nhiều làm xuất hiện một tầng lớp tích luỹ  được nhiều của cải và dẫn tới   có quyền uy chi phối người khác và là mầm mống cho sự phân chia xã hội thành   giai cấp. Trong xã hội có gia cấp, vị trí của người đàn ông trong gia đình và ngoài   xã hội ngày càng được củng cố  ­ cơ sở đích thực trong quá trình chuyển đổi từ  việc thờ cúng tổ tiên tô ­ tem sang việc thờ cúng tổ tiên là con người thực cùng   chung dòng máu. Nền kinh tế tiểu nông theo kiểu tự cung tự cấp đã tồn tại lâu  dài trong xã hội Việt Nam cũng là một cơ  sở  cho sự  hình thành và duy trì tín  ngưỡng thờ  cúng tổ  tiên. Mỗi một gia đình là một cơ  sở  kinh tế  độc lập, sản   xuất và tiêu thụ. Các thành viên trong gia đình gắn bó chặt chẽ với nhau trong lao  động sản xuất và trong đời sống lấy gia đình là trung tâm. Nước ta là một nước  có nền kinh tế  nông nghiệp lúa nước phát triển và diễn ra theo gia đình phụ  quyền mà ta thấy phản ánh trong câu ca dao: “Trên đồng cạn dưới đồng sâu Trang 5
  11. Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” Người nông dân an cư  lạc nghiệp nhất là có nhà để  gia đình cư  trú, có   ruộng để  gia đình cày cấy. Dân ta vẫn lưu truyền câu nói:   “Cha mẹ  nuôi con   bằng trời bằng biển”  đó không chỉ   ở  ý nghĩa thiêng liêng cha mẹ  sinh thành  dưỡng dục nên con cái, mà còn  ở  chỗ  trong nền kinh tế nông nghiệp diễn trình  theo gia đình phụ quyền, cha mẹ chưa lo xong cho người con trai ba việc l ớn là   nhà, ruộng đất và lấy vợ  để  chúng tự  lập sinh sống gia đình phụ  quyền tiếp   theo, thì cha mẹ  nhắm mắt chưa yên. Chính vì vậy mà dân gian lưu truyền câu  ca:  “Công Cha như núi Thái sơn Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ Mẹ kính Cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” Chính vì lý do về  kinh tế và việc nối dõi tông đường mà người Việt đối  với cha mẹ tôn kính khi sống và thờ  cúng khi chết. Và cứ  như thế, đời này qua  đời khác cha mẹ đối với ông bà, con cái đối với cha mẹ kế tiếp nhau thành tục  thờ cúng cha mẹ, ông bà cụ kị gọi chung là thờ cúng tổ tiên, hay cũng gọi là tiên  tổ (tổ tông đời trước). * Ngồn gốc về tôn giáo  Nguồn gốc Tô ­ tem giáo:  Tô­tem giáo là một tín ngưỡng của người nguyên thủy, hình thành trong  bối cảnh xã hội còn hoang sơ. Vào thời kỳ này, loài người còn sơ khai, sự hiểu   biết về  thế  giới khách quan chưa nhiều; con người chưa đủ  tri thức để  nhận  biết sự  khác biệt giữa mình với các loài động, thực vật khác trong thiên nhiên.  Họ  mưu sinh bằng những phương thức thô sơ  như  săn bắt thú rừng, nhặt hoặc  hái quả  trên cây để  ăn. Sự  non nớt trong nhận thức này đã đưa con người đến   một khái niệm rất sai lầm về  nguồn gốc của mình. Người nguyên thủy nghĩ  rằng mình có quan hệ huyết thống với một loài động, thực vật nào đó và họ xem   Trang 6
  12. chúng như tổ tiên của mình và thờ cúng động, thực vật ấy. Đây là hình thức thờ  Vật tổ.  Bắt nguồn từ nhận thức sai lầm trên, tôn giáo của xã hội thị tộc bộ lạc ra  đời, đó là Tô ­ tem giáo. Mỗi thị tộc bộ lạc, tùy theo quan điểm riêng, thờ  cúng  một loại động, thực vật khác nhau. Tuy rằng các đối tượng thờ cúng của mỗi thị  tộc, bộ lạc đều khác biệt nhau, nhưng đều trong cùng một ý niệm thờ Vật tổ. Tô   ­ tem giáo là hình thức điển hình cho tôn giáo nguyên thủy. Trong Tô ­ tem giáo,   người ta tin rằng linh hồn người chết tồn tại trong một thế  giới khác, vì thế  người chết cũng cần dùng những vật dụng sinh hoạt như người sống. Do đó khi   trong gia đình có người chết, những người sống phải thực hiện nghĩa vụ  phân   chia tài sản cho người chết. Những đồ  dùng cho sinh hoạt cá nhân của người  chết và tài sản mang theo không chôn dưới đất mà được để cạnh mộ phần.  Nguồn gốc Nho giáo:  Dân tộc Việt hình thành trong một khu vực địa lý đặc biệt, nằm giữa miền   Bắc Việt Nam và miền Nam Trung quốc. Do đó, người Việt từ  xa xưa đã học   chữ  Trung Quốc, đọc sách Trung quốc và chịu  ảnh hưởng của tư  tưởng Nho   giáo.  Khổng Tử, một nhà hiền triết của Trung quốc, hệ thống hóa và phát huy  học thuyết của Nho gia, lập ra những qui tắc để răn dạy người đời học biết cách  sống phù hợp với luân thường đạo lý trong xã hội. Triết lý về xử  thế, giáo dục   đạo đức con người được Khổng Tử xem như phần quan trọng nhất. Chữ “ hiếu”  trong đạo “nhân” của Khổng Tử được đặt làm nền móng cho Khổng giáo. Từ đó  hình thành nên một tôn giáo gọi là Khổng giáo hay Nho giáo.  Khổng Tử quan niệm: Đối với cha, mẹ và anh chị em, ta phải kính yêu, vì  họ  là những người gần gũi và thân thiết nhất của chúng ta. Đối với tha nhân,  chúng ta lấy lòng từ ái, khoan nhượng mà đối xử với nhau. Đạo làm người trong   Khổng Giáo lấy việc hiếu thuận làm đầu và khởi sự với hai từ: “ Yêu” và “kính”.  Khởi đầu là kính yêu cha mẹ, kính nể huynh trưởng của mình. Một người được   gọi là hiếu khi người  ấy biết dưỡng nuôi song thân khi người cần đến. Lúc cha  Trang 7
  13. mẹ còn sống, phải yêu và kính cha mẹ, không làm những việc gây tổn hại đến   thanh danh của cha mẹ.  Từ  quan niệm hiếu trong Khổng giáo, người Việt tiếp nhận và thể  hiện   qua cái bàn thờ tổ tiên. Người Việt cô đơn, nhỏ bé trong vũ trụ  bao la, khiếp sợ  trước sức mạnh của thiên nhiên, nên tìm cầu một Đấng Thần linh để mong nhờ  sự  che chở  bảo vệ. Nhưng vì tầm nhìn bị  giới hạn trong thể  xác vật lý, loài  người lại còn đang trong giai đoạn sơ khai, trí óc chưa phát triển, mắt vật lý của  loài người không thể  nhìn thấy được những gì khác hơn ngoài khoảng không  gian bao la vây phủ  chung quanh mình. Nhìn lên trên, chỉ  thấy bầu trời cao vời   vợi nhìn xuống chân, cũng chỉ  thấy được mặt đất mênh mông. Lại chịu  ảnh  hưởng sâu đậm của Nho giáo, nên người Việt chọn cách gửi gắm tâm tư  tình   cảm và sự trông cậy của mình vào ông bà cha mẹ đã khuất và mong chờ ở họ sự  phù hộ  độ  trì qua việc thờ  cúng tổ  tiên. Do  ảnh hưởng của Khổng giáo, người  Việt xem chữ “hiếu” như là một chuẩn mực đạo đức và là một nguyên tắc trong   đạo lý làm người. Trải qua nhiều thế hệ tiếp nối nhau, ng ười Vi ệt đã thể hiện   việc hiếu đạo thành một tập tục gọi là thờ cúng tổ tiên.  Xã hội Việt Nam là một xã hội theo chế độ thị tộc phụ quyền, vai trò của   người đàn ông chiếm giữ một vị trí rất quan trọng trong gia đình, điều này thể  hiện rõ nét trong đại đa số  các gia đình của người Việt. Mặc dù xã hội đã tiến  bộ  hơn trước rất nhiều, khẩu hiệu “ nam nữ  bình quyền” thường xuyên được  nhắc đến. Nhưng trong thực tế tại Việt nam, trong gia đình, cũng như  ngoài xã  hội, người đàn ông vẫn chiếm giữ  được nhiều  ưu thế  hơn người phụ  nữ. Tư  tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn hiện hữu trong xã hội Việt Nam: đa số người  Việt đều vẫn chuộng có con trai để  nối dõi tông đường hơn là có con gái (vì  quan điểm “nữ sinh ngoại tộc”). Người con trai trưởng mang họ cha sẽ là người  kế  tục sự  nghiệp của cha  ông để  lại, được thừa hưởng phần tài sản gọi là   hương hỏa, kèm theo trách nhiệm duy trì và tiếp nối tập tục thờ cúng tổ tiên của   dòng họ.  Đối  với  những gia  đình có   truyền  thống  Nho học, quyền  hạn  của   người trưởng tộc, người chủ  gia đình hay con trưởng nam rất được tôn trọng.  Trang 8
  14. Tất cả  những thành viên trong gia đình có bổn phận phục tùng và chấp hành  những quyết định của người trưởng tộc, người chủ gia đình hoặc của người con  trai trưởng. Cảm giác tùng phục gần như khiếp sợ này khắc sâu trong tâm trí của   người Việt, vì thế  tập tục thờ cúng tổ  tiên của người Việt cứ  như  thế  mà lưu   truyền từ đời này sang đời khác. Chính vì vậy, trong dân gian lưu truyền câu căn  rặn đối với con cháu:  “Tổ tiên con ráng phụng thờ Mấy lời mẹ bảo ngày giờ chớ quên” Thờ  cúng tổ  tiên là tấm lòng thành kính thể  hiện đạo lý uống nước nhớ  nguồn, biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành và gây dựng nên cuộc sống   cho con cháu. Trải qua nhiều thế hệ, người Việt hệ thống hóa dần dần tập tục   thờ cúng tổ tiên và xem tập tục này gần như là một tôn giáo. Bất cứ người Việt   nào, nếu không có tôn giáo nào khác, khi được hỏi đến đều cho rằng mình theo  đạo thờ cúng ông bà. * Các yếu tố tâm lý khác  Sự sợ hãi:  Trong cuộc sống con người còn gặp nhiều khó khăn, rủi ro, bất hạnh, sa   cơ, lỡ  vận, bệnh tật hiểm nghèo…luôn đe doạ  sự  bình an của con người. Con   người còn thiếu tự  tin vào chính bản thân khi phải đối mặt giải quyết với các  vấn đề trên trong cuộc sống của chính bản thân họ. Họ  luôn mong muốn có sự  giúp đỡ của các thế lực khác nhau, trong đó họ cần đến sức mạnh của ông bà tổ  tiên  ở  “thế giới bên kia” che chở, nâng đỡ. Từ  quan niệm dân gian về linh hồn,  người ta cho rằng, nếu không cúng tế  linh hồn ông bà tổ  tiên đầy đủ  thì những  linh hồn này trở thành ma đói và sẽ mang lại rủi ro, quấy nhiễu cuộc sống của   những người đang sống. Đồng thời, ở chế độ phụ hệ quyền lực của người đàn   ông, nhất là gia trưởng, tộc trưởng đã làm nảy sinh  ở  phụ nữ, con cháu sự  quy  thuận lẫn cảm giác sợ  hãi. Tâm trạng này không phải chỉ  tồn tại  ở  vợ  và con   cháu khi họ  đang sống mà cả  khi họ  đã chết. Trong cuộc sống của mỗi con   người, càng về  già, cái chết luôn là nỗi ám  ảnh kinh hoàng đối với mỗi người,  Trang 9
  15. con người không muốn nó diễn ra, ngay cả khi họ có cuộc sống nơi dương thế  luôn gặp khó khăn và trắc trở, nhưng họ lại luôn phải đối mặt với nó. Thực hiện  các lễ  nghi thờ  cúng tổ  tiên trong không gian thiêng đó, mỗi người được trải  nghiệm và cũng như  một lần được chuẩn bị  tâm thế  chấp nhận cái chết một  cách thanh thản, bình tĩnh và nhẹ nhàng hơn.  Sự kính trọng, biết ơn: Nỗi lo sợ  bị trừng phạt của con người không phải là yếu tố  duy nhất và  chủ  yếu dẫn đến sự  hình thành và phát triển tín ngưỡng thờ  cúng tổ  tiên của   người Việt. Nếu chỉ  vì sợ  hãi mà con người phải thờ  cúng thì tín ngưỡng thờ  cúng tổ tiên đã không thể tồn tại lâu bền và đầy giá trị nhân văn như vậy. Yếu tố  tâm lý có vai trò quyết định trong việc duy trì tín ngưỡng thờ  cúng tổ  tiên của   người Việt là sự  tôn kính, biết  ơn đối với các thế  hệ  trước, là tình yêu và lòng   hiếu thảo của con cháu đối với ông bà cha mẹ. 1.1.2. Khái niệm tín ngưỡng: 1.1.2.1. Các quan điểm về tín ngưỡng. * Quan điểm ngoài triết học Mác ­ xít về tín ngưỡng Tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử  thuộc lĩnh vực tinh thần của đời   sống xã hội. Trên thế  giới có hàng nghìn loại hình tín ngưỡng khác nhau, rất   phong phú, đa dạng. Do cách tiếp cận hay mục đích tiếp cận khác nhau, nên các  cách hiểu tín ngưỡng vì vậy cũng rất khác nhau. Để  đưa ra một cách hiểu khoa  học có thể khái quát được những nét đặc trưng nhất của tín ngưỡng, cần điểm   qua một số quan điểm khác nhau trong giới nghiên cứu trên thế giới. Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về thế giới Chủ nghĩa duy tâm khách quan với các đại biểu như Platon, Hêghen…đều  xuất phát từ thực thể tinh thần như “ ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” để lý giải các  hiện tượng lịch sử  trước đó trong đó có tín ngưỡng. Nhìn chung họ  đều cho  rằng, lịch sử  xã hội là lịch sử  biến đổi của tinh thần, ý thức. Tín ngưỡng, tôn  giáo là một sức mạnh kỳ bí thuộc “tinh thần” tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu  đem lại sinh khí cho con người. Như  vậy, lấy “tinh thần” hay “ý thức” để  thay  Trang 10
  16. thế con người hiện thực, con người xã hội, chủ ngĩa duy tâm tự biện đã thần bí   hóa hiện tượng tín ngưỡng, không thấy được mối quan hệ  giữa con người với   tín ngưỡng, không thấy được mối quan hệ  giữa con người với thế  giới hiện  thực, không thấy được mặt xã hội của tín ngưỡng. Ốttô và một số  nhà triết học duy tâm chủ  quan cho tín ngưỡng là thuộc  tính vốn có trong cái ý thức của con người, là sản phẩm mang tính nội sinh của ý  thức, tồn tại không lệ thuộc vào thế giới khách quan. Quan điểm thần học về tín ngưỡng Các   nhà   thần   học   như   Tô   mát   Đa   canh,   Phôntilích,   J.   Oát…   xem   tín  ngưỡng, tôn giáo là niềm tin vào cái thiêng, cái huyền bí, ở đó chứa ẩn nhiều sức  mạnh siêu nhiên có thể  giúp ích cho con người khỏi khổ đau và có được hạnh  phúc. Niềm tin vào cái thiêng, cái siêu nhiên  ở đây chính là niềm tin vào thượng  đế. Như vậy niềm tin vào cái “tối thượng” là tiêu chí quyết định của tín ngưỡng,  tôn giáo. Tín ngưỡng được xem như là niềm tin tôn giáo.  Quan điểm thuần túy xã hội học về tín ngưỡng Các nhà xã hội học tư sản như, M. Weber từ giác ngộ xã hội học đã có cái   nhìn mới về  tín ngưỡng, tôn giáo. Spenser, Durkheim coi xã hội như  một hiện  tượng siêu hình được nuôi dưỡng bằng một ý thức tập thể. Mà ý thức tập thể  được tạo bằng niềm tin, những tình cảm của mỗi thành viên. Niềm tin và ý thức   tôn giáo chính là phản ảnh của đời sống xã hội. Trong xã hội, các thành viên của   một tập thể có một tín ngưỡng chung. Tín ngưỡng là một yếu tố tạo nên sự cố  kết và thống nhất của các tập thể, của nhóm xã hội. Đó là niềm tin vào cái thế  tục và cái thiêng liêng. Cái thế tục và cái thiêng liêng là tính chất chung của mọi   tín  ngưỡng,  tôn giáo.  Durkheim cho rằng, tín ngưỡng là những  trạng thái  tư  tưởng, nằm ở các biểu tượng và được thể hiện thông qua các nghi lễ  thờ  cúng.  Theo ông, tín ngưỡng “tô ­ tem” của người nguyên thủy vừa là biểu tượng của  thần linh (cái thiêng) vừa là biểu tượng của cộng đồng xã hội (cái thế tục) là tín   ngưỡng phổ biến trong xã hội nguyên thủy. Trang 11
  17. M. Weber xem tín ngưỡng, tôn giáo như  là một cách nhìn của con người   về thế giới, là thái độ ứng xử của các cá nhân và nhóm xã hội, đặc biệt là thái độ  đối với kinh tế. Tín ngưỡng, tôn giáo trong một kiểu, dạng cụ thể như một dạng   đặc biệt của hoạt động trong cộng đồng, gắn với các thế  lực siêu nhiên, thông  qua các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo cụ  thể ông đã thấy sự  tác động đáng kể  của tín ngưỡng, tôn giáo đối với tinh thần của chủ nghĩa tư bản. Như vậy, các cách tiếp cận trên về tín ngưỡng do hạn chế của lịch sử và   lợi ích giai cấp đã đi đến những kết luận chưa có cơ  sở  khoa học. Theo quan   điểm duy tâm, tín ngưỡng là hiện tượng thần bí, siêu thực chỉ  có thể  tin chứ  không cảm nhận được hoặc chỉ  là những hiện tượng tự  nhiên mang tính bẩm  sinh.  Ở  đây, các nhà duy tâm, thần học đã sai lầm vì họ  xuất phát từ  một thực   thể  tinh thần, ý thức để  lý giải một hiện tượng khác cũng thuộc lĩnh vực đời   sống tinh thần. Quan điểm xã hội học chủ yếu đi sâu phân tích chức năng xã hội,  vai trò và ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo tách rời đời sống tinh thần phong   phú của con người, không thấy được ranh giới các hiện tượng tôn giáo và các  hiện tượng phi tôn giáo. * Quan điểm triết học Mác ­ xít về tín ngưỡng Karl Marx cho rằng: “Đời sống xã hội, về thực chất là có tính chất thực   tiễn. Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được   giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con người và trong sự  hiểu biết   thực tiễn ấy”. [4; tr 12]. Như  vậy, tín ngưỡng về  bản chất, không phải là sản phẩm của thần   thánh, là cái siêu nhiên thần bí mà là sản phẩm của xã hội. Là một hiện tượng xã  hội, không tách rời xã hội, mang bản chất xã hội, tín ngưỡng cũng là hiện tượng  của đời sống tin thần của xã hội, chịu sự quy định của đời sống vật chất. Tinh thần, ý thức mà chúng ta đề  cập  ở  đây không quyết định đời sống  hiện thực mà là ngược lại. Ý thức, trong đó có ý thức tôn giáo chỉ là ý thức của  những cá nhân, cộng đồng người trong xã hội. Tín ngưỡng, tôn giáo có nguồn  gốc từ  hoạt động thực tiễn, có đặc điểm riêng và ngày càng phân hóa từ  thực   Trang 12
  18. tiễn vật chất trong quá trình phát triển của lịch sử. Theo tiến trình phát triển của  lịch sử, của tiến bộ và văn minh nhân loại, hoạt động thực tiễn, tính thần bí của  tín ngưỡng dần dần được làm rõ. Đó là mối quan hệ  giữa tín ngưỡng và hoạt   động thực tiễn. Chủ  nghĩa duy tâm xuất phát từ  những phạm trù mang tính tự  “tự ý thức”, “tinh thần tuyệt đối”, “ý chí thánh linh” để giải thích cho lịch sử và  coi đó là tiền đề để hư cấu nên lịch sử. Ngược lại, chủ nghĩa Mác – LêNin cho  rằng, hoạt động sản xuất vật chất là điểm xuất phát của lịch sử nhân loại. Lịch  sử, xét cho cùng là lịch sử  hoạt động sản xuất vật chất. Lịch sử nhân loại bắt   đầu từ đâu thì tư duy logic cũng bắt đầu từ đó, lịch sử nhân loại phát triển như  thế nào thì tư duy logic cũng diễn biến thế ấy. Như  vậy, khác hẳn với các nhà triết học duy tâm lấy ý thức, tín ngưỡng,  tôn giáo để giải thích lịch sử, coi tín ngưỡng tôn giáo là phạm trù vượt qua lịch  sử, là cái thần bí vĩnh hằng. Họ  lấy sự  biến thiên của tín ngưỡng, tôn giáo để  phân định lịch sử. Các nhà triết học Mác ­ xít lấy lịch sử để giải thích tín ngưỡng   và đi đến nhận định chung mang tính khách quan, khoa học là: tín ngưỡng cũng là   một hiện tượng lịch sử, là sự  phản ánh điều kiện kinh tế  ­ xã hội của các thời   đại, có quá trình hình thành biến đổi và có  ảnh hưởng nhất định đối với tiến   trình lịch sử. Xuất phát từ  quan điểm hệ  thống – cấu trúc, triết học mác xít xem tín  ngưỡng như là một hiện tượng lịch sử và đồng thời cũng là một bộ phận của ý  thức xã hội có quy luật hình thành và tồn tại riêng. Tín ngưỡng vừa là một   “chỉnh thể” hoàn chỉnh, song lại là một “yếu tố” trong chỉnh thể lớn hơn, đó là  toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội. Nghiên cứu tín ngưỡng, vì thế không thể  tách tín ngưỡng khỏi các lĩnh vực của đời sống tinh thần, trong các mối quan hệ  qua lại với các loại hình thức xã hội khác như tôn giáo, đạo đức, chính trị, pháp   quyền… Là một hiện tượng lịch sử, tín ngưỡng có quá trình hình thành rất sớm,   hình thức biểu hiện lại rất phong phú, đa dạng. Do đó, nghiên cứu tín ngưỡng  không nên chỉ  dừng lại  ở  những yếu tố đặc trưng nhất như  niềm tin vào thực   Trang 13
  19. thể thiêng liêng và nghi lễ thờ cúng mà còn cần phải nghiên cứu tính đa dạng qua   các loại hình tiín ngưỡng. Mỗi loại hình tín ngưỡng là sự phản ánh các mối quan   hệ vốn có của một kiểu quan hệ xã hội, điều kiện tồn tại của các tộc người, các  đẳng cấp, giai cấp, các nền văn hóa khác nhau. Một loại hình tín ngưỡng, do đó  mang tính địa phương, cục bộ. Yếu tố bên trong của tín ngưỡng thường quy định  nội dung của tín ngưỡng. Đó là ý thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của chủ thể.   Yếu tố bên ngoài của tín ngưỡng thường được quy định bởi hình thức biểu hiện,   đó là hệ  thống lễ  nghi  được biểu hiện thông qua tập tục, thói quen, truyền  thống…Tín ngưỡng nói chung là một bộ phận của thức xã hội. Tín ngưỡng theo  cách hiểu thông thường thì đó chính là tôn giáo. Thực ra về mặt nội dung và hình  thức phản ánh thì tín ngưỡng và tôn giáo, tuy có sự  tương đồng nhưng cũng có   sự khác biệt. Sự tương đồng biểu hiện ở chỗ: Tín ngưỡng và tôn giáo đều là sự  phản ánh hư   ảo của ý thức xã hội về  tồn tại xã hội và chịu sự quy định của chính xã hội đã sinh ra chúng. Đó còn là sự  phản ánh của nhận thức, là một cách lý giải của con người về  các hiện tượng   xung quanh cuộc sống của chính con người. Tín ngưỡng và tôn giáo đều có  nguồn gốc từ xã hội, nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý trong quá trình  hình thành và tồn tại, đều có chức năng đền bù và xoa dịu nỗi đau hiện thực và  hướng tới sự giải thoát về tinh thần. Ph. Ăngghen cho rằng: “ tất cả mọi tôn giáo   chẳng qua chỉ  là sự  phản ánh hư   ảo  ­ vào đầu óc con người – của những lực   lượng  ở  bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ. Chỉ  là sự  phản ánh   trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những hình thức siêu trần thế  ” [5;  tr.447] và “bên cạnh những lực lượng siêu nhiên lại còn có cả  những lực lượng   xã hội tác động – những lực lượng này đối lập với con người, một cách cũng xa   lạ lúc đầu cũng không thể hiểu được đối với họ, và cũng thống trị họ với cái vẻ   tất yếu bề ngoài giống như bản thân những lực lượng tự nhiên vậy” [6; tr 437 –  438]. Bàn về vấn đề này, V.I.Lênin cũng khẳng định: “Sự bất lực của giai cấp   bị  bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ  ra lòng tin vào   Trang 14
  20. cuộc đời tốt đẹp ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của người dã   man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ  ra lòng tin vào thần thánh, ma   quỷ và những phép màu” [21; tr 169 ­ 170]. Như  vậy, tín  ngưỡng và tôn  giáo  đều  là  một  tiểu  hệ  thống  kiến  trúc   thượng tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng đã sinh ra chúng, thể hiện ở sự bất lực của   con người trước những lực lượng tự nhiên và xã hội. Nhìn tổng quát, bên cạnh   một số yếu tố mang tính tích cực thì mặt tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo là chủ  yếu.  Tín ngưỡng và tôn giáo đều là sự  thể  hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ của   con người vào một thực thể  siêu việt nào đó như  Thượng đế, Thần, Phật, Tổ  tiên… Niềm tin trong tín ngưỡng và tôn giáo là trạng thái tâm lý đặc biệt của   chủ nghĩa nhận thức. Chủ thể của niềm tin là các cá nhân, nhóm xã hội, giai cấp   trong xã hội. Niềm tin được hình thành trên cơ sở những thông tin nhất định về  khách thể  để  bù đắp sự  thiếu hụt thông tin của chủ  thể, được thể  hiện thông  qua các ý niệm, biểu tượng tôn giáo. Nội dung của nó là trạng thái tâm lý của   chủ thể với những hướng giá trị nhất định. Trạng thái tâm lý này là cơ sở cho sự  tri giác về sự chuyển dịch tính khả năng thành sự tin tưởng trong nhận thức của  chủ  thể. Sự xuất hiện và tồn tại của niềm tin được quy định bởi trình độ, khả  năng nhận thức của chủ thể. Niềm tin tôn giáo được hình thành trong hoàn cảnh  tù túng, bất lực của con người trước hiện thực cuộc sống. Họ  không làm chủ  được mình hoặc “đánh mất mình” và có nhu cầu được đền bù, xoa dịu niềm tin  vào một lực lượng siêu nhiên. Nó được hình thành và tồn tại trên cơ sở tình cảm,   tâm lý tôn giáo. Bản chất của niềm tin tôn giáo là khẳng định sự tồn tại và khả  năng cứu giúp con người của thần thánh.  Như vậy, niềm tin vào cái siêu thực, đấng thiêng liêng là hạt nhân của tín  ngưỡng và tôn giáo. Tín ngưỡng và tôn giáo đều có chức năng đền bù hư ảo nỗi   khổ đau hiện thực của con người. Tín ngưỡng và tôn giáo đều có hệ  thống nghi   lễ, bao gồm những biểu tượng mang tính thần thánh, những điều răn dạy, kiêng  kỵ, những điều được làm và không được làm. Hệ  thống nghi lễ  là hình thức,  Trang 15

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản