BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. Hồ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA
ĐỊA LÝ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Niên Khóa 1995 - 1999
UĐề Tài:
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
TỰ NHIÊN CÔN ĐẢO
CÁC BIỆN PHÁP TỔNG HỢP
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
GVHD : Phạm Văn Hiệp
SVTH: Hoàng Thị Hải Yến
Tp. Hồ Chí Minh
Năm 1999
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp và giúp đỡ tận tình
của thầy Phạm Văn Hiệp, cùng sự dìu dắt, giúp đỡ của quý thầy cô trong khoa Địa
Trường ĐẠI HỌC Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Em xin gởi nơi đây Lông
biết ơn sâu sắc đối với thầy Phạm Văn Hiệp, quý thầy cô đã tận tình dìu dắt và
hướng dẫn em trong suốt thời gian viết luận văn này.
Bên cạnh đó em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các cô chú
công tác tại Sở Khoa học- Công nghệ-Môi trường tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, trung tâm
Bảo vệ Môi trường-VTTT&P đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em thu thập và nghiên
cứu tư liệu những kiến thức để thực hiện luận văn này.
Do hạn chế về tài liệu và lần đầu tiên vận dụng kiến thức qua những năm học
vào thực tế, bài luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót và sai lầm
nhất định. Rất mong được sự đóng góp của thầy cô và các bạn.
TP.HCM. 5/1999
MỤC LỤC
0TLỜI CẢM ƠN0T ...................................................................................................... 3
0TMỤC LỤC0T ............................................................................................................ 4
0TChương 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI0T ............................................................. 11
0T1.1. Lý do chọn đề tài:0T ......................................................................................................... 11
0T1.2.Mục tiêu của đề tài:0T ....................................................................................................... 12
0T1.3.Nội dung của đề tài:0T ...................................................................................................... 12
0T1.4.Giới hạn đề tài.0T .............................................................................................................. 12
0T1.5.Phương pháp nghiên cứu.0T .............................................................................................. 12
0T1.5.1. Phương pháp điều tra thực địa, thu thập tài liệu và đánh giá tổng hợp.0T ............... 12
0T1.5.2. Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh và thống kê.0T ....................................... 13
0T1.5.3. Phương pháp bản đồ.0T ............................................................................................ 13
0T1.6.Câu trúc của luận văn :0T .................................................................................................. 13
0TChương 2: GIỚI THIỆU VỀ CÔN ĐẢO VÀ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU0T
............................................................................................................................. 14
0T2.1. CÔN ĐẢO0T .................................................................................................................... 14
0T2.1.1. Vị trí địa lý:0T .......................................................................................................... 14
0T2.1.2. Hiện trạng Kinh tế -Xã hội0T ................................................................................... 16
0T2.2. TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU0T ...................................................................................... 17
0T2.2.1.Vị trí địa lý :0T .......................................................................................................... 17
0T2.2.2.Địa hình:0T ................................................................................................................ 18
0T2.2.3.Khí hậu:0T ................................................................................................................. 18
0T2.2.4.Thủy Văn :0T ............................................................................................................. 19
0T2.2.5.Sinh vật:0T ................................................................................................................. 20
0T2.2.6.Điều kiện xã hội:0T ................................................................................................... 20
0TChương 3: CÁC QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU0T ............................................. 24
0T3.1. MÔI TRƯỜNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN MÔI TRƯỜNG0T ........... 24
0T3.1.1.Khái niệm môi trường và hệ môi trường0T ............................................................... 24
0T3.1.2.Các vấn đề về môi trường.0T ..................................................................................... 24
0T3.1.2.1.Vấn đề tăng trưởng kinh tế và môi trường.0T .................................................... 24
0T3.1.2.2. Vấn đề dân số và lương thực - thực phẩm0T .................................................... 26
0T3.1.2.3. Vấn đề suy giảm về số lượng và chất lượng của các thành phần về môi
trường.0T ........................................................................................................................ 26
0T3.1.2.4.0T
0TVấn đề ô nhiễm môi trường0T ....................................................................... 26
0T3.1.2.5.Vấn đề phòng chống các thảm họa sinh thái0T ................................................. 27
0T3.2. NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG TRÊN QUAN ĐIỂM HỆ THỐNG VÀ QUAN
ĐIỂM SINH THÁI.0T ............................................................................................................. 28
0T3.2.1.Hệ sinh thái (HST)0T................................................................................................. 28
0T3.2.2.Nghiên cứu môi trường trên quan điểm hệ thống và sinh thái.0T ............................. 28
0T3.2.3. Nghiên cứu môi trường trên quan điểm phát triền bền vững0T ............................... 29
0TChương 4: CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ TỤ NHIÊN CỦA CÔN ĐẢO0T .................. 30
0T4.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHOẢNG SẢN0T ................................................................... 30
0T4.1.1. Địa tầng0T ................................................................................................................ 30
0T4.1.1.1.Trầm tích bở rời hệ Đệ Tứ0T ............................................................................. 30
0T4.1.1.2.Các thành tạo phun trào Mezozoi muộn0T ........................................................ 31
0T4.1.1.3. Các thành tạo macma xâm nhập0T ................................................................... 31
0T4.1.2. Kiến tạo0T ................................................................................................................ 32
0T4.1.2.1. Đặc điểm nứt nẻ0T ............................................................................................ 32
0T4.1.2.2. Đặc điểm đứt gãy0T .......................................................................................... 32
0T4.1.3. Khoáng sản0T ........................................................................................................... 33
0T4.2. ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU0T ................................................................................................ 34
0T4.2.1. Các nhân tố chủ đạo quy định đặc điểm khí hậu Côn Đảo.0T .................................. 34
0T4.2.2. Các đặc trưng khí hậu chủ yếu0T ............................................................................. 36
0T4.2.2.1. Bức xạ0T ........................................................................................................... 36
0T4.2.2.2.Số giờ nắng trung bình tháng, năm0T ................................................................ 37
0T4.2.2.3.Lượng mây0T ..................................................................................................... 38
0T4.2.2.4.Khí áp0T ............................................................................................................. 39
0T4.2.2.5.Chế độ gió0T ...................................................................................................... 39
0T4.2.2.6. Chế độ nhiệt0T .................................................................................................. 40
0T4.2.2.7.Chế độ mưa0T .................................................................................................... 40
0T4.2.2.8.Độ ẩm0T ............................................................................................................. 41
0T4.2.2.9. Khả năng bốc hơi0T .......................................................................................... 42
0T4.2.2.10. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt0T ................................................................. 42
0T4.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN0T ......................................................................... 43
0T4.3.1. Đặc điểm nguồn nước mặt0T .................................................................................... 43
0T4.3.1.1. Nước suối0T ...................................................................................................... 43
0T4.3.1.2. Nước hồ0T ........................................................................................................ 43
0T4.3.2. Đặc điểm nguồn nước ngầm0T ................................................................................. 45
0T4.3.2.1. Phức hệ chứa nước lỗ họng các thành tạo trầm tích Đệ Tứ0T .......................... 45
0T4.3.2.2.Đới chứa nước khe nứt - lỗ hông các thành tạo macma và vỏ phong hóa của
chúng.0T ......................................................................................................................... 45
0T4.3.2.3.Đới chứa nước khe nứt lỗ hổng ở các đứt gãy kiến tạo0T ................................. 46
0T4.3.3. Nước biển0T ............................................................................................................. 46
0T4.4 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH0T ...................................................................... 48
0T4.4.1. Các hiện tượng địa chất công trình động lực0T ........................................................ 48
0T4.4.1.1.0T
0TQuá trình bóc mòn rửa trôi0T ......................................................................... 48
0T4.4.1.2.Hiện tượng để lở đá0T ....................................................................................... 48
0T4.4.1.3.Quá trình tích tụ0T ............................................................................................. 48
0T4.4.1.4.Quá trình đầm lầy hóa0T .................................................................................... 48
0T4.4.1.5.Qúa trình xâm thực - mài mòn0T ....................................................................... 48
0T4.4.2. Điều kiện địa chất công trình trong xây dựng0T ...................................................... 49
0T4.5. ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT0T ............................................................................................... 49
0T4.5.1.THỰC VẬT0T ........................................................................................................... 49
0T4.5.1.1.Thực vật trên đảo0T ........................................................................................... 49
0T4.5.1.2.Thực vật biển0T ................................................................................................. 53
0T4 5.2. ĐỘNG VẬT0T ......................................................................................................... 54
0T4.2.2.1. Thú và bò sát0T ................................................................................................. 54
0T4.5.2.2. Chim0T ............................................................................................................. 55
0T4.5.2.3. Quần xã san hô0T .............................................................................................. 55
0T4.5.2.4.Cá rạn san hô0T ................................................................................................. 56
0T4.5.2.5.Trứng cá - cá bột0T ............................................................................................ 57
0TChương 5: HOẠT ĐỘNG KINH TẾ XÃ HỘI VÀ SƯ TÁC ĐỘNG CỦA
CHÚNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN Ở CÔN ĐẢO0T ........................... 59
0T5.1.Dân cư, phân bố dân cư và tác động của nó đến môi trường tự nhiên.0T ......................... 59
0T5.2.Các hoạt động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và tác động của nó đến môi trường
tự nhiên.0T ............................................................................................................................... 59
0T5.3.Các hoạt động nông nghiệp và tác động của nó đến môi trường tự nhiên0T .................... 60
0T5.4.Dịch vụ và tác động của nó đến môi trường tự nhiên0T ................................................... 60
0TChương 6: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CÔN ĐẢO0T .......... 63
0T6.1. MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ0T ..................................................................................... 63
0T6.1.1. Các nguồn gây ô nhiễm không khí chủ yếu tại khu vực Côn Đảo0T ....................... 63
0T6.1.1.1. Nguồn tự nhiên0T ............................................................................................. 64
0T6.1.1.2. Nguồn nhân tạo0T ............................................................................................. 65
0T6.1.2. PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG KHÔNG KHÍ0T
........................................................................................................................................ 69
0T6.1.2.1. Phương pháp khảo sát chất lượng không khí0T ................................................ 69
0T6.1.2.2. Phương pháp đánh giá chất lượng không khí0T ............................................... 74
0T6.1.3. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG KHÔNG KHÍ CÔN ĐẢO0T ........... 75
0T6.1.3.1.Ô nhiễm khí SOR2R0T ........................................................................................... 76
0T6.1.3.2.Ô nhiễm bụi0T ................................................................................................... 76
0T6.1.3.3.Ô nhiễm khí NOR2R0T ........................................................................................... 76
0T6.1.3.4.Ô nhiễm khí CO0T ............................................................................................. 77
0T6.1.3.5.Ô nhiễm THC0T ................................................................................................ 77
0T6.1.3.6.Ô nhiễm do bụi chì trong không khí.0T ............................................................. 78
0T6.1.3.7.Ô nhiễm tiếng ồn0T ........................................................................................... 78
0T6.1.3.8.Đánh giá chung0T .............................................................................................. 78
0T6.2. MÔI TRƯỜNG NƯỚC0T ................................................................................................ 79
0T6.2.1.KHẢ NĂNG CẤP NƯỚC VÀ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG0T .................................. 79
0T6.2.1.1. Khả năng cung cấp nước0T .............................................................................. 79
0T6.2.1.2.Hiện trạng khai thác sử dụng nguồn nước0T ..................................................... 80
0T6.2.2.NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TRỮ LƯỢNG NGUỒN NƯỚC:0T .......... 82
0T6.2.2.1.Những yếu tố tự nhiên:0T .................................................................................. 82
0T6.2.2.2. Những yếu tố nhân tạo0T .................................................................................. 83
0T6.2.3. NGUỒN GỐC GÂY Ô NHIỄM NƯỚC0T .............................................................. 83
0T6.2.3.1.Các tác nhân gây ô nhiễm nước0T ..................................................................... 83
0T6.2.3.2. Nguồn gốc gây suy thoái chất lượng nước tại Côn Đảo0T ............................... 84
0T6.2.4. PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC0T .......... 88
0T6.2.4.1. Phương pháp khảo sát chất lượng nước0T ........................................................ 88
0T6.2.4.2. Phương pháp đánh giá chất lượng nước ở Côn Đảo0T ..................................... 91
0T6.2.5. ĐÁNH GIÁ CHẮT LƯỢNG NƯỚC Ở CÔN ĐẢO0T ............................................ 91
0T6.2.5.1. Chất lượng nước ngầm0T ................................................................................. 92
0T6.2.5.2. Chất lượng nước mặt0T .................................................................................... 94
0T6.2.5.3. Nhận xét chung0T ............................................................................................. 96
0T6.3. MÔI TRƯỜNG SINH VẬT0T ......................................................................................... 97
0T6.3.1. Giá trị sử dụng0T ...................................................................................................... 97
0T6.3.2.Giá trị nghiên cứu khoa học0T .................................................................................. 97
0T6.3.3.Các tác động tiềm tàng tối tài nguyên sinh học0T ..................................................... 98
0T6.3.3.1.Tác động do khai thác tài nguyên biển.0T ......................................................... 98
0T6.3.3.2 Tác động do xây dựng đập tràn tại công An Hải0T ......................................... 100
0T6.3.3.3 Tác động do xây đựng cảng0T ......................................................................... 102
0T6.3.3.4 Tác động do mở rộng sân bay Cỏ Ống0T ........................................................ 103
0TChương 7: CÁC BIỆN PHÁP TỔNG HỢP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CÔN
ĐẢO TRỌNG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA0T .......... 104
0T7.1 DỰ BÁO QUY MÔ PHÁT TRIỂN TẠI CÔN ĐẢO0T ................................................. 104
0T7.1.1.Định hướng, quy mô phát triển0T ........................................................................... 104
0T7.1.2.Cơ cấu quy hoạch0T ................................................................................................ 104
0T7.2 CÁC BIỆN PHÁP TỔNG HỢP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG0T ....................................... 105
0T7.2.1.Cơ sở đề xuất các biện pháp0T ................................................................................ 105
0T7.2.2.Xác định đôi tượng ưu tiên bảo vệ0T ...................................................................... 106
0T7.2.3.Tổ chức quản lý môi trường0T ................................................................................ 106
0T7.2.4.Thực hiện quy hoạch môi trường0T ........................................................................ 107
0T7.2.4.1.Vùng bảo tồn0T ................................................................................................ 108
0T7.2.4.2.Vùng đô thị0T .................................................................................................. 108
0T7.2.4.3.Vùng vịnh Bến Đầm0T .................................................................................... 108
0T7.2.4.4.Vùng Cỏ Ống0T ............................................................................................... 110
0T7.2.5. Bao tồn, phục hồi và phát triển tài nguyên rừng và tài nguyên sinh vật0T ............ 110
0TKẾT LUẬN0T ...................................................................................................... 112
0TTÀI LIỆU THAM KHẢO0T .............................................................................. 113
Chương 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI
1.1. Lý do chọn đề tài:
Thế giới ngày nay đang đứng trước những vấn đề sinh thái, môi trường ngày
càng xấu đi dưới tác dụng của cách mạng khoa học kỹ thuật. Các vấn đề môi trường
sinh thái gắn liền một cách hữu cơ với các khía cạnh tư tưởng, chính trị, xã hội, kinh
tế, triết học của đời sống hiện đại.
Con người được tạo hóa sinh ra trong một thế giới mà sự tồn tại được gắn liền
với những mối quan hệ phức tạp. Vì sự sống còn của mình, con người phải đấu tranh
không ngừng với thiên nhiên, khó khăn trong lao động và trong cộng đồng. Trong
cuộc đấu tranh đó con người luôn có xu hướng tự hoàn thiện bằng cách tìm hiểu thế
giới tự nhiên, xã hội, tìm ra những quy luật vận động và phát triển của chúng để
hướng dẫn cho các hoạt động tiếp theo đạt kết quả cao hơn. Lịch sử con người là lịch
sử của chuỗi dài thành công và thất bại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trải qua thực
tiễn sản xuất và đấu tranh xã hội con người ngày càng nâng cao trí thức về thế giới
xung quanh.
Trong lịch sử tiến hóa văn minh của mình loài người luôn phải đối đầu với sự
khủng hoảng sinh thái. Vì vậy phấn đấu để đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh,
chống nghèo đói, bảo vệ môi trường đã trở thành loài người, mục tiêu đó đã được ghi
vào hiến pháp của nhiều nước.
Trong hiện trạng môi trường tự nhiên ở Côn Đảo và các biện pháp tông hợp bảo
vệ môi trường khu vực Côn Đảo nêu rõ quan điểm : "Phát triển kinh tế phải gắn với
việc bảo vệ và tái tạo môi trường tự nhiên".
Địa danh Côn Đảo (thuộc Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) được biết đèn nhờ vị trí chiến
lược về kinh tế quốc phòng và gắn liền với một chứng tích lịch sử hết sức đặc biệt.
Với những nét đặc thù hiếm có cùng với hiện trạng gần như nguyên thủy của tự nhiên,
Côn Đảo đang được tôn tạo để trở thành một khu bảo tồn thiên nhiên quý giá giữa
vùng đại đtrong mênh mông.
Côn Đảo hiện nay nằm trong vùng có nhiều hoạt động kinh tế như khai thác thủy
sản, dầu khí, hàng hải và đây còn là một địa điểm có tiềm năng du lịch rất lớn. Các
hoạt động này có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế nhưng đồng thời cũng sẽ tác
động mạnh mẽ đến chất lượng môi trường trong toàn khu vực.
Vì vậy công tác khảo sát, xác định chất lượng môi trường Côn Đảo phục vụ mục
đích quy hoạch là một việc làm có ý nghĩa thực tiễn quan trọng.
1.2.Mục tiêu của đề tài:
- Nhằm xây dựng cơ sở số liệu về hiện trạng môi trường, định hướng bảo vệ môi
trường và phát triển bền vững, tránh những nguy cơ ô nhiễm môi trường tối đa cho
nhân dân trong vùng.
- Phục vụ công tác quy hoạch môi trường của tỉnh và các vùng kinh tế trọng
điểm. Xây dựng các biện pháp quản lý, bảo vệ môií trường, tài nguyên thiên nhiên của
tỉnh.
1.3.Nội dung của đề tài:
- Thu thập số liệu về các điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội.
- Khảo sát, đánh giá môi trường tự nhiên của huyện Côn Đảo.
- Đề xuất các biện pháp quản lý bảo vệ môi trường khu vực Côn Đảo.
1.4.Giới hạn đề tài.
Đề tài tập trung nghiên cứu tại vùng trọng điểm là khu vực đảo chính Côn Sơn,
và một số điểm thuộc Hòn Cau, hòn Bảy Cạnh, vịnh Đầm Tre.
1.5.Phương pháp nghiên cứu.
1.5.1. Phương pháp điều tra thực địa, thu thập tài liệu và đánh giá
tổng hợp.
Tiến hành khảo sát, tìm nguồn tài liệu từ các ban ngành có liên quan, những vấn
đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Những kết quả điều tra làm cơ sở cho đánh giá ban đầu và thẩm định lại trong
quá trình nghiên cứu.
1.5.2. Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh và thống kê.
Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng để xử lý số liệu trong và sau khi đã
thu thập tài liệu, số liệu từ thực tế trong phạm vi đề tài nghiền cứu.
1.5.3. Phương pháp bản đồ.
Đề tài đã sử dụng bản đồ hành chính, bản đồ quy hoạch.
1.6.Câu trúc của luận văn :
Được hoàn thành trong 4 phần và 7 chương.
- Phần 1 : Phần mở đầu Chương 1 : Giới thiệu về đề tài
Chương 2 : Giới thiệu về Côn Đảo và Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
-Phần 2: Cơ sở lý luận
Chương 3 : Các quan điểm nghiên cứu
- Phần 3 : Kết quả nghiên cứu
Chương 4 : Các đặc. điểm về tự nhiên của Côn Đảo
Chương 5 : Các hoạt động kinh tế - xã hội và sự tác động của chúng đến mỏi
trường tự nhiên ở Côn Đảo
Chương 6 : Hiện trạng môi trường tự nhiên Côn Đảo
Chương 7 : Một số biện pháp bảo vệ môi trường tự nhiên Côn Đảo trong thời kỳ
công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Chương 2: GIỚI THIỆU VỀ CÔN ĐẢO VÀ TỈNH BÀ RỊA -
VŨNG TÀU
2.1. CÔN ĐẢO
2.1.1. Vị trí địa lý:
2 tông diện tích 76,74 kmP
P và chiều dài bờ biển là 66 km. Côn Đảo giới hạn bôi vị trí địa
Côn Đảo là một quần đảo ở Đông Nam nước ta, gồm 16 hòn đảo lớn nhỏ với
lý từ 8°34' đến 8°49' vĩ độ Bắc và 106°3F đến 106°45' kinh độ đông. Côn Đảo cách
thành phố Hồ Chí Minh khoảng 230 km, cách Vũng Tàu 185 km và cách cửa sông
Hậu 83 km.
Côn Sơn (còn gọi là đảo Côn Lôn hay Phú Hải) là đảo lớn nhất, từ Đông sang
2 kmP
P, chiếm gần 2/3 diện tích quần đảo.Thị trấn Côn Đảo nằm trên thung lũng hình bán
Tây dài 15 km, chỗ rộng nhất 9 km, chỗ hẹp nhất khoảng 1 km với diện tích 51,52
nguyệt có độ cao trung bình 3m so với mặt nước biển, là trung tâm kinh tế, chính trị,
văn hóa xã hội của huyện Côn Đảo.
Bao quanh Côn Lôn là 15 hòn đảo khác :
2 hòn Côn Sơn có diện tích 5,46 kmP
P. Hòn Cồn Lôn nhỏ cách hòn Côn Sơn bởi một khe
1.Hòn Côn Lôn nhỏ hay hòn Bà (còn gọi là Phú Sơn) nằm về phía Tây Nam của
nước rộng 20m gọi là Họng Đầm (Cửa tử). Nơi đây còn có đỉnh núi cao 321m được
gọi là Đỉnh Tình Yêu.
2 diện tích 5,9 kmP
P. Ở đây có ngọn hải đăng được xây dựng từ năm 1884. Hiện nay
2.Hòn Bảy Cạnh (hay Phú Cường) cách Côn Lôn 7 km về phía Đông Nam, có
ngọn hải đăng này vẫn đang hoạt động với tầm bán kính 72 km, để hướng dẫn tàu
2 3.Hòn Cau (hay Phú Lệ) có điện tích 4,8 kmP
P nằm cách Côn Lôn 12 km về phía
thuyền đi lại trong vùng biển Côn Đảo.
2 4.Hòn Bông Lan (hay Phú Phong) có diện tích 0,1 kmP
P.
2 5.Hòn Vung (hay Phú Vinh) có diện tích 0,4 kmP
P có hình dạng như chiếc vung
Đông. Đảo này có nhà ngục giam tù chính trị.
nồi úp chụp trên mặt biển xanh.
2 6.Hòn Trọc (hay Phú Nghĩa) có điện tích 0,4 kmP
P. Nơi này là nguồn khai thác
2 7.Hòn Tài Lớn (hay Phú Bình) có diện tích 0,75 kmP
P.
2 8.Hòn Tài Nhỏ (hay Phú An) có diện tích 0,1 kmP
P.
ngọc trai quý giá.,
2 9.Hòn Trác Lớn (hay Phú Hưng) có diện tích 0,25 kmP
P.
2 10.Hòn Trác Nhỏ (hay Phú Thịnh) có điện tích 0,1 kmP
P.
Bốn hòn đảo này là một chuỗi đảo liên tiếp nôi với hồn Bảy Cạnh trải từ Đông
2 11.Hòn Tre Lớn ( hay Phú Hòa) có diện tích 0,75 kmP
P.
2 12.Hòn Tre Nhỏ (hay Phú Hội) có điện tích 0,25 kmP
P.
Bắc xuống Tây Nam, che chắn bên ngoài hòn Côn Lôn.
Hai đảo này có rất nhiều tre. Năm 1930 - 1931 thực dân Pháp đã dùng hòn Tre
2 13.Hòn Anh (hòn Trứng Lớn) có diện tích 0,35 kmP
P.
2 14.Hòn Em (hòn Trứng Nhỏ) có diện tích 0,1 kmP
P.
Lớn làm nơi lưu đày tù chính tri như ở Hòn Cau.
2 15.Hòn Trắng có diện tích 0,1 kmP
P.
Hai đảo này nằm về phía Tây Nam của Côn Lôn và cách đảo chỉnh gần 25 hải lý.
2.1.2. Hiện trạng Kinh tế -Xã hội
Hiện nay Côn Đảo là chính quyền một cấp (không phường, xã), huyện chỉ đạo
thẳng tới cơ sở sản xuất
2 là 439 người), mật độ dân số đạt 26,4 người/kmP
P. Tỷ lệ tăng tự nhiên là 1,77%. Dân số
- Dân số Côn Đảo : Tính đến tháng 3 năm 1996 là 2.031 người (Trong đó tạm trú
chủ yếu tập trung ở đảo Côn Sơn (đảo chính) gồm khu trung tâm và Cỏ Ống, chỉ có
vài hộ dân ở đảo Hòn Cau. Tỷ lệ nữ thấp so với cả nước, chỉ chiếm 48,7%. Dân số
trong độ tuôi lao động đạt 62,9% (cao so với cả nước).
Lao động trong ngành kinh tế quốc dân là : 970 người, trong đó khối sản xuất vật
chất có 562 người, đạt 57,9%. Khu vực phi sản xuất có 408 người đạt 42,1% nhưng
lao động chưa đạt hiệu quả cao. Bộ đội có khoảng 600 người.
- Hiện trạng kinh tế: Cơ sở phát triển kinh tế Côn Đảo chưa có gì đáng kể, quy ở
mô nhỏ, số lượng công nhân ít, Hiện có một xí nghiệp nước mắm, hàng năm sản xuất
10.000 lít. Xí nghiệp nước đá từ 250 - 300 tấn, một trạm cấp điện, một trạm cấp nước,
một xưởng cưa (nhưng đã ngưng vì không được lây gỗ từ rừng cấm).
Ngành kinh tế được coi là mũi nhọn là hải sản. Năng lực sản xuất quốc doanh
hiện có : 25 tàu đánh cá (5 tàu câu mực, 20 tàu lưới), tông công suất 5885 CV, sản
lượng đánh bắt hàng năm đạt 3000 tấn.
Nông nghiệp hiện có 78ha gieo trồng. Sản lượng trồng trọt quy thóc 250
tấn/năm. Sản lượng sản phẩm chăn nuôi đạt 30 tấn thịt hơi/năm.
Trái với sản xuất, mức sống dân cư có nhiều tiêu chuẩn cao, huyện có các lớp
mẫu giáo cho đến cấp trung học, có một bệnh viện đa khóa 50 giường, có mệt rạp
chiếu bóng, một câu lạc bộ, một thư viện, một trạm truyền thanh, một trung tâm thu
2 quân 6mP
P/người.
phát truyền hình. Đời sống ôn định, mức hưởng thụ và điều kiện sống cao, nhà ỏ bình
2.2. TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
2.2.1.Vị trí địa lý :
Bà Rịa-Vũng Tàu là một tỉnh miền Đông Nam Bộ có tọa độ địa lý phần đất liền
từ 107°00' - 107°35' kinh độ đông, từ 10°20' - 10°50' vĩ độ bắc. Phía bắc Bà Rịa-Vũng
Tàu giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp huyện
Cần Giờ - TP.Hồ Chí Minh, phía Nam và Đông Nam giáp biển Đông.
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gồm thị xã Bà Rịa, Thành Phố Vũng Tàu (Bao gồm đảo
2 Tông điện tích tự nhiên của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là 2047kmP
P, dân số khoảng
Long Sơn ) và năm huyện : Long Đất,Tân Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc và Côn Đảo.
2 độ trung bình dân số toàn tỉnh là 341 người/kmP
P, riêng Thành Phố Vũng Tàu còn có
2 vùng thềm lục địa rộng khoảng 100.000 kmP
P, nơi chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn để
700.000 người (1994) chiếm 0,6% diện tích tự nhiên và 1,0% dân số của cả nước. Mật
phát triển kinh tế của tỉnh.
Bà Rịa Vũng Tàu là nơi tiếp giáp giữa Đông Nam Bộ, Trung Nam Bộ và Nam
Tây Nguyên và là tỉnh tiền duyên có vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế Nam Trung Bộ và Nam Bộ nói chung, của địa bàn kinh tế trọng điểm
phía Nam là TP.HỒ Chí Minh - Biên Hoà - Vũng Tàu nói riêng. Với vị trí thuận lợi và
tiềm năng tài nguyên phong phú đặc biệt là tài nguyên tự nhiên, Bà Rịa Vũng Tàu có
điều kiện hết sức thuận lợi phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp dầu khí và
du lịch - dịch vụ.
2.2.2.Địa hình:
Địa hình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gồm có: loại đồng bằng hẹp, loại gò đồi phân
bố xen kẽ bị chia cách bởi sông rạch nhỏ, loại địa hình núi và thềm lục địa. Vùng cao
nguyên gò đồi phần lớn tập trung ở phía Bắc và phía Đông Bắc của tỉnh thuộc hai
huyện Xuyên Mộc và Long Đất đa số dưới dạng cao nguyên bào mòn có độ cao từ 50
- lOOm, bị chia cách bởi mạn? sông suối, lãnh, phát triển từ trung tâm ra rìa.
Phần lớn các núi có độ cao từ 100 - 500m tập trung vào khu vực bên trái quốc lộ
51 từ TP.HỒ Chí Minh đi Vũng Tàu thuộc huyện Tân Thành.
Ở phía Bắc và Tây Bắc có độ cao từ 150 - lOOm và thấp dần xuống phía Nam có
độ cao 30 - 20m. Khu vực có địa hình thoai thoải, cách bờ khoảng lOOkm với độ sâu
dao động trong khoảng từ 40 - 50m.
* Địa hình ven biển:
o những bãi cát có khả năng sư dụng làm bãi tắm tốt với độ dài dốc thoải từ 3 – 8P P, nơi
Trong tông chiều dài bờ biển khoảng 156km của Bà Rịa Vũng Tàu có 72 km là
có độ sóng ven bờ trung bình tò 0,3 - 0,5m, quanh năm ấm áp, độ mặn gần 3,5%.
Thủy triều ở đây theo chế độ bán nhật triều tương đối ôn định, lại là một vùng biển
hầu như quanh năm không xảy ra bão lớn và gió xoáy, luôn bảo đảm cho sự bình yên.
Từ chỗ có nhiều vũng, vịnh dựa lưng vào các triền núi đá đã tạo dáng cho các cảnh
quan thiên nhiên đẹp đẽ.
2.2.3.Khí hậu:
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh
hưởng của đại dương. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa
mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10. Tông lượng mưa trung bình trên đất liền chiếm
90%, tông lượng mưa toàn năm là 1.384mm/1.528mm tháng có lượng mưa nhiều nhất
là tháng 6 và tháng 7.
Nhiệt độ không khí trung bình nằm trên khu vực đất liền là 27,0°C.Độ ẩm không
khí tương đối trên đất liền là 82,2%, thấp nhất là 48%.
Nhìn chung tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc khu vực ít chịu ảnh hưởng của bão.
Trong khu vực ven bờ : Độ cao sóng trung bình 0,3 - 0,5m, độ cao sóng cực đại
1,1 - 350m.
Độ mặn nước biển tại Vũng Tàu biến đôi trong khoảng từ 31,9 - 42,2%. Trong
các tháng mùa khô, độ mặn cực đại dao động từ 33,3 - 34,2%. Trong các tháng mùa
mưa, độ mặn dao động từ 31,9 - 33,0%, tháng có độ mặn thấp nhất là tháng 8.
2.2.4.Thủy Văn :
Địa chất - Thủy văn trong khu vực tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có thể chia 5 phức
hệ:
- Phức hệ chứa nước Holoxen (QRivR) : Phân bố chủ yếu dọc ven biển tỉnh Bà Rịa-
Vũng Tàu.
- Phức hệ chứa nước Pieistoxen (QRI-IIR) : Phân bố ở Châu Thành, Long Đất,
Xuyên Mộc.
- Phức hệ chứa nước Bázaii (BQRIIR); Phân bố ở Bắc Châu Thành, Long Đất,
Xuyên Mộc.
- Phức hệ chứa nước Neogen (NR2R) : Phân bố ở Châu Thành, Bắc Long Đất. Đây
là phức hệ chứa nước có triển vọng nhất để khai thác nước quy mô vừa.
- Phức hệ chứa nước Mezozoi (MRfR) : rất nghèo nước, phân bố ở Côn Đảo, Xuyên
Mộc.
Đặc biệt xuất hiện nước khoáng nóng Bình Châu. Nhiệt độ cao nhất đo được ở
trên mặt là 82°c. Tông lưu lượng mặt lộ khoảng 30lít/S. Độ tông khoáng hóa 3,76g/L
3 Nước ngầm tầng sâu từ 60 - 90m, có dung lượng trung bình từ 10 - 20mP
P/s, tập
3 trung chủ yếu ở huyện Châu Thành, Châu Đức, Bà Rịa với mức 5000mP
P/ngày đêm, có
Nguồn cung cấp nước cho các phức hệ phần lớn là nước mưa và nước trên mặt.
thể khai thác làm nguồn nước sinh hoạt cho các điểm dân cư.
2.2.5.Sinh vật:
Toàn tỉnh có 65.000 ha rừng, trong đó : Rừng tự nhiên 27.612 ha, rừng trồng
15.138 ha, rừng cấm 13.763 ha.
Các tài nguyên rừng chủ yếu tập trung vào các khu vực huyện Xuyên Mộc, Bình
Châu và Côn Đảo.
2.2.6.Điều kiện xã hội:
* Dân cư-Dân tộc :
Những phát hiện khảo cô học trước đây, đặc biệt sau khi khai quật di chỉ khảo cô
học Bưng Bạc lần thứ hai do bảo tàng Bà Rịa-Vũng tàu thực hiện cho thấy sự có mặt
của con người cô tại Bà Rịa-Vũng tàu cách ngày nay từ 2.500 năm đến 2.700 năm. Từ
đầu công nguyên đến thế kỷ VII, dân cư sống trên địa bàn tỉnh là những chủ nhân của
nền văn hóa Óc Eo phía đông đồng bằng Nam bộ. Vào thế kỷ XVI - XVII người Việt
sinh sống rất đông ở vùng Cảnh xứ Mô xoài (Bà Rịa-Vũng tàu ). Dòng người hòa
nhập với xứ Mô xoài có nhiều nguồn gốc, thành phần khác nhau. Có tai nêu cho biết
cuối thế kỷ thứ XVIII, Xứ Mô xoài Bà rịa có gần 60 làng tập trung trong 7 tông. Dân
số theo thời gian ngày càng tăng nhanh vì khí hậu đất đai nơi đây khá thuận lợi.
Những năm đầu của thế kỷ XX, theo niên giám thống kê Đông Dương, tại 22 khu vực
trung tâm Nam Bộ thì người Trung và Bắc di cư tới khoảng 23.000 người. Riêng khu
vực Vũng Tàu có đến 4.750 người từ Bắc - Trung di cư tới, chiếm 20% của cả Nam
Bộ.
2 của tỉnh là 670.243 người, mật độ bình quân là 332,9 người/kmP
P, có gần 20 dân tộc,-
Theo thống kê của cục thống kê tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, năm 1994 tông số dân
dân tộc kinh chiếm 97,25% có một số dân tộc khác như Hoa, KhơMe, Mường,
ChâuRo... Mỗi dân tộc có lễ hội mang màu sắc riêng về tín ngưỡng, phong tục tập
quán...
Năm 1993 toàn tỉnh có 344.864, người ở tuôi lao động, chiếm 51,45% dân số cả
tỉnh. Toàn tỉnh có 290.237 người đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân, chiếm
84,16% tông số lao động. Như vậy tỷ lệ chưa có việc làm ở Bà Rịa-Vũng Tàu còn khá
cao 15,84%.
Số lao động có trình độ học vấn và kĩ thuật chiếm tương đối thấp 22.214 người,
khoảng 7,6% tông số lao động, trong đó trình độ trên đại học có 51 người, đại học và
cao đẳng có 4.445 người, trung cấp kĩ thuật có 6.618 người, công nhân kĩ thuật có
11.700 người.
Chương 3: CÁC QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.1. MÔI TRƯỜNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN MÔI
TRƯỜNG
3.1.1.Khái niệm môi trường và hệ môi trường
Môi trường (ở một nơi nào đó) là tất cả những gì đang có mặt ở nơi đó thuộc về
các vật thể thành tạo và các hiện tượng quá trình (tự nhiên, nhân tạo, bán nhân tạo,
cộng đồng người, quá trình sản xuất...) mà giữa chúng có sự liên kết bằng những mối
quan hệ bên trong tạo thành một thể tương đối đồng nhất và thông nhất, mà người ta
gọi là hệ môi trường.
3.1.2.Các vấn đề về môi trường.
Môi trường bao gồm nhiều thành phần liên kết với nhau bằng nhiều mối quan
hệ, do đó khi giải quyết vân đề môi trường là giải quyết nhiều vấn đề khác nhau, bởi
vì vấn đề này ràng buộc kéo theo vấn đề khác.
3.1.2.1.Vấn đề tăng trưởng kinh tế và môi trường.
Từ nhiều thập kỷ, con người đã nhận thức rằng môi trường đóng vai trò hết sức
quan trọng bảo đảm sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế và sự sống của con người
bởi môi trường không chỉ cung cấp các nguồn tài nguyên đầu vào cho sản xuất, tiện
nghi sinh hoạt cho con người, mà còn là nơi chứa và hấp thụ nguồn chất thải do chính
sản xuất và con người tạo ra. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học đã chỉ ra rằng những
chức năng. này của môi trường liên quan tới hoạt động kinh tế có mối tương tác chặt
chẽ với nhau và trong những trường hợp nhất định, chúng có thể triệt tiêu lẫn nhau (ví
dụ: chất thải do sản xuất sinh ra trong nhiều trường hợp sẽ có tác động hủy hoại làm
giảm nguồn tài nguyền và thiên nhiên của môi trường).
- Môi trường cung cấp hệ sinh thái như là yếu tố vật chất cơ bản giúp cho sự tồn
tại của con người bao gồm: không khí, nguồn nước, đất, cây cối, rừng và sinh vật. Nếu
những hệ thống này bị tôn hại đến mức độ nhất định, chẳng hạn tầng ozon bị phá vỡ
thì hậu quả cửa nó sẽ đe dọa tới sự sống của con người.
- Môi trường còn là nới cung cấp nguồn nguyên liệu và năng lượng phục vụ hoạt
động sản xuất kinh tế và đời sống con người. Những nguồn tài nguyên này được phân
thành hai loại: Nguồn tài nguyên có thể tái tạo như : rừng, cá, động vật quý hiếm... và
nguồn tài nguyên không thể tái tạo được như : khoáng sản, nước, không khí. Những
nguồn tài nguyên tái tạo được có thể được sử dụng một cách lâu dài nếu người sử
dụng có ý thức duy trì và bô sung chúng. Song, nếu sử dụng chúng quá mức hay
không có sự quản lý chặt chẽ có thể dẫn tới làm cho nguồn này bị giảm đi, thậm chí bị
tiêu hủy hoàn toàn (ví dụ : việc duy trì khai thác hải sản, săn bắt thú rừng, chặt phá gỗ
quý mà không có ý thức duy trì, bảo vệ). Người sử dụng nguồn này, như xí nghiệp
nếu biết sử dụng có hiệu quả có thể không những góp phần duy trì lâu dài nguồn tài
nguyên đó mà còn làm cho chúng được bô sung và phong phú hơn. Còn đối với nguồn
tài nguyên không thể tái tạo, việc sử dụng chúng một cách lãng phí và không hiệu quả
sẽ dẫn tới làm giảm nhanh chóng nguồn này cho tới lúc cạn kiệt vĩnh viễn.
- Môi trường, ngoài chức năng cung cấp các nguồn trên còn là nơi hấp thụ những
chất phế thải từ hoạt động kinh tế và đời sống của con người. Thông thường môi
trường có khả năng hấp thụ hàm lượng nhất định các chất thải đó mà không làm tôn
hại tới chất lượng và khả năng cung cấp các nguồn tài nguyên hay làm giảm chức
năng khác mà nó đảm nhiệm đối với hoạt động kinh tế. Song nhiều loại chất thải độc
hại (như chất phóng xạ...) có tác động hủy hoại môi trường và từ đó tác động xấu trở
lại tới hoạt động kinh tế và sức khỏe cửa con người. Do vậy, đối vđi những loại chất
thải này, cần có những biện pháp xử lý đặc biệt cần lưu ý rằng khả năng hấp thụ chất
thải của môi trường không phải là vô hạn. Ví dụ: việc để chất thải ra biển và sông ngòi
sẽ không gây ra hậu quả ô nhiễm nghiêm trọng nếu mức độ của nó dưới mức tự phân
hủy của môi trường, song nếu vượt ngưỡng đó thì sự ô nhiễm sẽ tăng và với tốc độ rất
nhanh.
- Môi trường còn cung cấp những dịch vụ tiện nghi cho con người, như cảnh đẹp
thiên nhiên, không gian để con người cảm nhận sự thoải mái. Đây không phải là
những yêu tố cơ bản để duy trì sự sống của con người, song nó làm cho cuộc sống của
con người thêm phần phong phú và tươi đẹp hơn.
Trong ba thập kỷ qua, người ta ngày càng quan tâm nhiều hơn tới những tác
động của hoạt động kinh tế và con người tới môi trường tự nhiên.
3.1.2.2. Vấn đề dân số và lương thực - thực phẩm
Sự gia tăng dân số, nhu cầu lương thực - thực phẩm và môi trường có mối quan
hệ chặt chẽ lẫn nhau. Sự gia tăng dân số quá mức sẽ đẫn tới sự quạ tải của môi trường,
ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của con người. Chính vì vậy cần phải kiểm soát
mức sinh, làm chủ quá trình tăng dân số. Trọng tâm của vấn đề dân số là kế hoạch hóa
sự phát triển dận số và sự phân bố hợp lý dân cư trong từng phạm vi quốc gia. Nhiệm
vụ chủ chốt của vân đề ltrong thực - thực phẩm-là tìm mọi cách tăng cường sản lượng
trên phạm vi toàn cầu nhằm đảm bảo an ninh ltrong thực, giải quyết nạn đói đang
hoành hành ở nhiều quốc gia trên thế giới.
3.1.2.3. Vấn đề suy giảm về số lượng và chất lượng của các thành
phần về môi trường.
Con người trong quá trình sinh sống đã tác động vào môi trường làm cho môi
trường ngày càng biến đôi. Các vấn đề về môi trường được đặt ra như sự suy giảm và
cạn kiệt một số loại tài nguyên: vấn đề ngày một khan hiếm và thiếu nguồn nước sạch
; vấn đề ngày càng giảm diện tích đất canh tác do sự hoang mạc hóa, rử trôi, xói
mòn...; nguy cơ ngày càng súy giảm số loài động -' ứiựe vật ; vấn đề ô nhiễm ngày
càng nghiêm trọng đến các thành phần của môi trường... Tất cả đó là những vân đề đặt
ra cần được giải quyết
3.1.2.4.
Vấn đề ô nhiễm môi trường
Khái niệm về ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đôi các hợp phần của môi trường theo chiều
hướng có thể tác động nguy hại đến đời sông của con người, sinh vật, các điều kiện
sinh sống, các quá ưình khác nhau của sản xuất, các công trình văn hóa... và iàm hủy
hoại hoặc tôn thết đến nguồn tài nguyên.
Trong những năm gần đây, môi trường toàn cầu đang biến đôi nhanh chóng theo
chiều hướng xấu. Loài người đã, đang và sẽ gánh chịu nhiều hậu qủa do sự biến đôi
đó.
Trong thời đại cách mạng khoa học - kỹ thuật, khi hoạt động sản xuất của con
người phát triển với quy mô lớn chưa từng thấy, thì vấn đề ô nhiễm môi trường lại cấp
thiết. Trong vòng 100 năm gần đây, tốc độ di chuyển trong không gian của con người
đã tăng lên 100 lần, mức độ tiêu thụ năng lượng tăng 1000 lần, sức mạnh quân sự tăng
1 triệu lần. Điều đó tất yếu kéo theo sự tăng lên gấp bội của mức độ ô nhiễm. Người ta
xác định được vào những năm 1970 đã có khoảng 2 triệu chất hóa học khác nhau được
thải vào môi trường, trong đó 40.000 chất thuộc loại độc hại. Nếu sản xuất hiện đại
không những chỉ tạo ra những vật liệu mới, sản phẩm mới mà còn tạo ra những chất
thải mới chưa hề có trong thiên nhiên.
Các nguồn ộ nhiễm chính là các nhà máy của ngành công nghiệp hóa học, luyện
kim, chế biến dầu mỏ, chế tạo máy, vật liệu xây dựng... Hàng năm chúng thải vào khí
quyển hàng trăm triệu tấn chất thải có tính độc hại như CO, COR2R, SOR2R, CLR2RHCL, các
hợp chất thủy ngân, chì, asen... Đặc biệt nguy hiểm nhất đối với môi trường là các
chất thải của các nhà máy xử lý chất thải hạt nhân, bụi phóng xạ của các vụ thử hạt
nhân...
Các nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng khác là các nhà máy nhiệt điện, các
phương tiện giao thông vận tải, các vụ tai nạn tàu chở dầu, các chất thải từ hoạt động
sinh hoạt của con người, thuốc trừ sâu và trừ cỏ dùng trong nông nghiệp ...
Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường đã trở thành nỗi lo của toàn nhân loại. Nó
đòi hỏi giải quyết tình trạng tự nhiên đang bị thoái hóa nghiên trọng do sự tích lũy một
khối lượng lớn các hóa chất và gây ra nhiều thứ bệnh mới chưa từng biết đến.
3.1.2.5.Vấn đề phòng chống các thảm họa sinh thái
Vấn đề phòng chống các thảm họa sinh thái hiện nay cũng đang được đặt ra cấp
thiết. Vấn đề này bao gồm việc bảo vệ sự đa dạng sinh học; chống sự diễn thế ngược
(nạn phá rừng, tình trạng hoang mạc hóa...); bảo vệ và cải thiện các hệ sinh thái nhân
tạo ; ngăn ngừa nạn đất bị rửa trôi, đá trượt, lũ lụt, hạn hán... Do các nguyên nhân sinh
thái liên quan đến hoạt động của con người và các biến đôi khí hậu, thời tiết trên toàn
cầu.
Phòng chống các thảm họa sinh thái là một vấn đề về môi trường có tính cấp
bách và lâu dài. Giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết ở tất cả các thành
phần, các khu vực khác nhau với sự quan tâm của toàn nhân loại trong cả một thời
gian dài nhằm đảm bảo một sự phát triển bền vững.
3.2. NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG TRÊN QUAN ĐIỂM HỆ THỐNG VÀ
QUAN ĐIỂM SINH THÁI.
3.2.1.Hệ sinh thái (HST)
Khái niệm: HST là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển trong
một môi trường nhất định có mối quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó.
Trong hệ môi trường, HST chính là nền và con người là chủ thể. Hay nói cách
khác, cơ sở vật chất của các hệ môi trường chính là các HST. Mỗi HST hoàn thành
một khu vực nhất định, mà trong đó có sự đồng nhất về các yếu tố vật lý như ánh
sáng, nhiệt độ, độ ẩm... Đồng thời trên khu vực đó có một số quần xã sinh vật sinh
sống. Mỗi HST bao giờ cũng là một bộ phận của HST cấp trên của nó và bao gồm
những HST cấp dưới. Trong một HST, các thành phần vô sinh cũng như hữu sinh liên
quan mật thiết lẫn nhau.
3.2.2.Nghiên cứu môi trường trên quan điểm hệ thống và sinh thái.
Nghiên cứu môi trường đứng trên quan điểm hệ thống và sinh thái để thấy được
vấn đề môi trường mang tính chất toàn diện và đồng bộ.
Ta biết rằng đối tượng của môi trường học là các hệ môi trường, vì vậy quan
điểm hệ thống phải được xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu. Đối với các hệ môi
trường, về bản chất chính là các HST xã hội. Do đó quan điểm sinh thái phải được
quán triệt ở tất cả các khâu nghiên cứu.
Khi xét môi trường ở một nơi nào đó tức là phải xét hệ môi trường ở nơi đó.
Điều đó có nghĩa là phải xem xét vấn đề môi trường trên quan điểm hệ thống và quan
điểm sinh thái. Như vậy phải tìm ra được mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên,
nhân tạo, bán nhân tạo, các hiện tượng, quá trình... của hệ môi trường khu vực đó với
các hệ môi trường khu vực lân cận.
Trên quan điểm đó, công tác quản lý và bảo vệ môi trường chính là sự duy trì,
điều khiển sao cho hệ môi trường luôn phát triển cân đối, hài hòa. Cân bằng của hệ
được duy trì không bị thoái hóa, biến chất chính là đảm bảo cho hệ được bền vững.
3.2.3. Nghiên cứu môi trường trên quan điểm phát triền bền vững
Quan điểm về phát triển bền vững bao gồm ba yếu tố, ba cách tiếp cận : kinh tế,
xã hội và môi trường.
Cách tiếp cận kinh tế của sự phát triển bền vững dựa vào việc tối đa hóa thu
nhập với chi phí nhỏ nhất. Bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế, còn có quan điểm
mang tính xã hội. Cách tiếp cận xã hội lấy con người làm trọng tâm trong các quyết
định và chính sách về phát ưiển nhằm đảm bảo duy trì. sự ôn định hệ thống, văn hóa -
xã hội, giảm bớt những tiêu cực về xã hội của phát triển kinh tế, bảo đảm tính công
bằng xã hội với mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đói.
Đối với cách tiếp cận về môi trường lưu ý tới sự ôn định của HST và của hệ môi
trường mà những hệ này đang chịu những tác động mạnh của các hoạt động kinh tế.
Chính vì vậy, đối với việc hoạch định chính sách phát triển của một quốc gia đòi hỏi
phải nhận thức được những cách tiếp cận nói trên để đảm bảo cho một sự phát triển
bền vững.
"Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của hiện tại, song
không xâm phạm tới khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai". Chính điều
đó đòi hỏi khi nghiên cứu về môi trường cần phải đứng trên quan điểm phát triển bền
vững.
Chương 4: CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ TỤ NHIÊN CỦA CÔN ĐẢO
4.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHOẢNG SẢN
4.1.1. Địa tầng
4.1.1.1.Trầm tích bở rời hệ Đệ Tứ
Bao gồm các thành tạo sau :
- Trầm tích nguồn gốc eluvi - diluvi, proluvl, coluvi phân bố ở chân các sườn
núi, có bề rộng vài chục mét đến 500 m. Thành phần gồm cuội, tảng lăn và dăm, sạn
cát lẫn bột sét. Bề dày thay đôi 0,3 - 0,5m đến 5 -7m, trung bình 3 5m.
- Trầm tích nguồn gốc biển. Thành phần chủ yếu là cát thạch anh hạt nhỏ lẫn cát
bột, chứa vật chất hữu cơ là mảnh vò sò hến, san hô... trầm tích này thành tạo chiếm
phần lớn diện tích các thung lũng Côn Sơn , Cỏ Ống . Tông chiều dày trầm tích này 3-
30m, trung bình 15m (thung lũng Côn Sơn ) và bề dày trầm tích 5-20m, trung bình
10m (thung lũng Cỏ Ống ).
Trầm tích nguồn gốc đầm lầy ven biển phân bố ở thung lũng Côn Sơn và Cỏ
Ống. Thành phần gồm cát bột, sét bột, sét bùn màu đen do chứa nhiều mún bã thực
vật. Bề dày 0,7 - 2,5m ở các đầm lầy hiện đại hoặc lớn hơn xen kẹp ở một vài nơi
trong trầm tích nguồn gốc bãi bồi ven biển cô.
- Trầm tích bãi biển hiện đại là các bãi cát hạt mịn lẫn ít vỏ sò, hến, san hồ dày
một vài mét hoặc các bãi cuội đá gốc mài ưòn tốt đến trung bình, bề dày biến đôi phụ
thuộc vào nguồn cúng cấp vật liệu trầm tích. Bề dày phô biến là 0,3 - 0,5m có nơi đến
vài mét.
- Bãi san hô. Phân bố hạn chế ở xung quanh mũi Lò Vối. Nói chung, các bãi san
hô có qui mô nhỏ.
- Trầm tích gió. Gió biển tác động đến các bãi bồi, bãi biển tạo thành các dải cồn
cát kéo dài gần song song với bờ biển. Thành phần là cát thạch anh hạt mịn, chọn lọc
tốt, bở rời. Bề dày đạt một vài mét.
4.1.1.2.Các thành tạo phun trào Mezozoi muộn
Bao gồm các thành tạo phun trào sau :
- Hệ tầng đèo Bảo Lộc (jR3Rdbl). Gồm andesit màu xám đen, đôi nơi xen các lớp
tuf. Đá cấu tạo dạng khối đặc sít, độ nguyên khối trung bình , kiến trúc porphyr. Đá ít
bị tác động phong hóa, có độ bền vững cao. Aiidensit hệ tầng đèo Bảo Lộc thuộc loại
pó đặe điểm thạch hóa là vôi kiềm. Có diện lộ nhỏ ở đốc Trâu Té và dốc Ông Triệu
Hệ tầng Nha Trang (Knt). Thành tạo hệ tầng này lộ ra phô biến ở các đảo phía
Nam quần đảo Côn Đảo như Hòn Bà, bến Đầu đến mũi Cá Mập, hòn Bảy Cạnh, hòn
Tre, hòn Cau... Thành phần thạch học là andensit màu xám xen tui andensit, phần trên
là daxit, ryodaxit, rgolit, xen các lớp tuf của chúng. Ở hòn Bà, hệ tầng này dày khoảng
trên 350m. Các đá của hệ tầng Nha Trang nói chung có câu tạo dạng khối, dạng dòng
chảy, đôi nơi có cấu tạo hạnh nhân với clorit, epiđot, cacbonat lấp đầy. Đá nứt nẻ
nhiều, về đặc điểm thạch hóa, các thành tạo phun trào hệ tầng Nha Trang ở Côn Đảo
có độ silic và độ kiềm cao (Si02 = 65,58 - 76%, Na20 + K20 = 7,8 -10,5%).
4.1.1.3. Các thành tạo macma xâm nhập
- Phức hệ Định Quán - pha 1 (δjR3R-KR1RđqR1R).
Các thành tạo này lộ ra ở núi Chúa, núi Nhà Bàu, dốc Trâu Té, núi Ông Cường,
núi Con Ngựa... Bao gồm các đá: diorit, gabrodiorit, diorit thạch anh có pyroxen và
amfibol hạt nhỏ - trung xẫm màu. Đá cấu tạo khối, kiến trúc toàn tự hình đến nửa tự
hình.
Phức hệ Đèo Cả(8KđcR3R)
Lộ ra ở núi Thánh Giá, mũi Tàu Bể, hòn Bảy Cạnh, hòn Cau, rìa Tây Bắc núi
Chúa. Thành phần thạch học gồm: granit, granophyr, granosyenit có hoeblend, biotit
hạt nhỏ. Đá có nền, hạt mịn màu xám hồng, xám tối đến xám sáng. Đá kiến trúc, hạt
mịn, cấu tạo dạng khối, nứt nẻ ít đến trung bình.
4.1.2. Kiến tạo
4.1.2.1. Đặc điểm nứt nẻ
- Trong các thành tạo andesit hệ tầng đèo Bảo Lộc do diện phân bố hẹp, phần lớn
bề mặt bị phủ bởi lớp vỏ phong hóa. Nhìn chung, các thành tạo này bị nứt nẻ mạnh
mẽ.
- Thành tạo đá gốc phức hệ Định Quán. Do diện lộ rộng, các hệ thống khe nứt lộ
2 đứng. Mật độ trung bình của các khe nứt khoảng 11 khe nứt các loại trên 1mP
P, các khe
rõ trrên bề mặt địa hình, các khe nứt chạy dài, phương khá thẳng so với mặt trượt dốc
nứt ở dạng tách dãn với độ mở trung bình 0,3 - 0,5cm và thường bị lấp đầy bởi các vật
liệu cát thạch anh, bột và cao lanh...
- Thành tạo đá gốc hệ tầng Nha Trang, các thành tạo này bị nứt nẻ khả mạnh,
mật độ trung bình của các khe nứt khoảng l i -12 khe nứt trên I m2. Các khe nứt
thường có qui mô nhỏ, ngắn, độ mở hẹp. Vật chất lấp đầy khe nứt khó quan sát, đôi
nơi lấp đầy khe nứt là các mạch thạnh anh màu trắng đục hoặc clorit màu lục, bề mặt
các khe nứt tương đối phẳng.
-Thành tạo đá gốc phức hệ Đèo Cả. Khe nứt phát triển khá phức tạp tùy thuộc
2 khe nứt trên 1mP
P, mặt khe nứt có góc nứt thay đôi 50 - 75°. Đôi nơi ở đới tiếp xức với
vào vị trí phân bố ở Tây núi Thánh Giá các khe nứt phát triển trung bình khoảng 7 - 8
các đá địa tầng khác, đá của phức hệ này tạo thành đới cà nát mạnh. Các khe nứt
thường có độ mở từ 0,1 cm đến vài cm. Vật chất lấp đầy các khe nứt cũng rất đa dạng
: thạch anh, pecmatit, cát, bột, sét... bề mặt khe nứt khá phẳng đến lồi lõm.
Tóm lại, đá gốc, trong vùng nghiên cứu cố các hệ thống khe nứt phát triển mạnh
mẽ. Nhìn chung trong các thành tạo cô hơn, các hệ thống khe nứt phát triển mạnh hơn,
phức tạp hơn. Đặc biệt, ở gần các đới tiếp xúc và đứt gãy, các khe nứt phát triển càng
phức tạp và đa dạng.
4.1.2.2. Đặc điểm đứt gãy
Các đứt gãy ở Côn Đảo được xác định trên cơ sở phân tích tông hợp các tài liệu
địa vật lý, ảnh viễn thám và các kết qủa nghiên cứu địa chất, địa mạo, khe nứt... Theo
đường phương có thể phân các đứt gãy trong vùng thành 4 nhóm sau :
- Nhóm đứt gãy phương Đông Bắc - Tây Nam 45 - 50°, có 4 đứt gãy
- Nhóm đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam 140 - 150° có 6 đứt gãy
- Nhóm đứt gãy phương kinh tuyến, có 5 đứt gãy
- Nhóm đứt gãy phương vĩ tuyến, gồm một sốrđứt gãy quy mô nhỏ phân bố ở
hòn Bảy Cạnh, hòn Bà, Cỏ Ống .
Nhìn chung, các đứt gãy trong vùng có mặt trượt thẳng đứng hoặc rất dốc (70 -
85°), đới hủy hoại của các đứt gãy chưa đước xác định cụ thể.
4.1.3. Khoáng sản
3 được phát hiện ở mỏ đá oplat cỏ ống với trữ ltrong 7.130.000mP
P và 7 điểm quặng đá
Côn Đảo có tiềm năng phong phú về đá xây dựng. Nguồn tài nguyên này đã
oplat khác quy mô vừa và lớn ở Tây Nam núi Ông Cường, Đông Nam núi Chúa, dốc
Ông Triệu, dốc Trâu Té, núi Tàu Bể, Tây Nam núi Thánh Giá, Hải Đăng. Các điểm
khoáng sản vật liệu xây dựng khác là :
- Đất sét Sở Tiêu, ở gần chân núi phía Tây Bắc thung lũng Côn Sơn. Phạm vi
phân bố rộng 250-300m, dài khoảng l,6km, lớp sét dày 0,8-1,5 m, lớp phủ trên mặt
dày 0-0,6m. Sét sử đụng làm gạch ngói thủ công, quy mô nhỏ.
- Đá ong An Hải ở gần chân núi phía Tây Nam thung lũng Côn Sơn . Đá phân bố
thành dải đài theo hướng Đông Bắc - Tầy Nam với chiều dài trên lkm, rộng 100-
150m, dày 0,5-2,5m. Đá ong (đất laterit) sử dụng làm gạch không nung và vật liệu san
lấp nền móng các công trình.
- Đá vôi san hô Bãi Dương phân bố dọc theo bãi biển phía Tây Nam hòn Bảy
Cạnh, tạo thành bãi bồi cao l,0-l,5m, dài 500m, rộng 10-20m. Đá vôi san hô sử dụng
làm nguyên liệu nung vôi.
- Đất san lấp ở Họng Đầm, phía Tây Nam đảo Côn Sơn, dọc chân núi, theo
đường ô tô , từ mũi Cá Mập đi Bến Đầm, ở độ cao 50-60m so với mặt biển. Đất phân
bố thành những dải không liên tục với tông chiều dài gần 1km, rộng trung bình 100m,
dày 5-6m, hiện đang được khai thác phục vụ xây dựng cảng Bến Đầm.
Ngoài ra, Côn Đảo còn có một số loại khoáng sản trữ lượng nhỏ thuộc loại
quặng nghèo như quặng inmenit sa khoáng ở bãi Đầm Trầu, phía Đông Bắc thung
lũng Cỏ Ống ; khoáng hóa saphia ở Nam Bông Hường, Tây Bắc thung lũng Côn Sơn ;
vàng (Au) phân bố ở các đới milonit, caolinit hóa phát triển trong đá granit phức hệ
Đèo Cả ; đá cuội mỹ nghệ ở Đầm Tho, phía Bắc hòn Bà.
4.2. ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU
4.2.1. Các nhân tố chủ đạo quy định đặc điểm khí hậu Côn Đảo.
Các nhân tố chủ đạo quy định đặc điểm khí hậu Côn Đảo là vĩ độ, hoàn lưu và
địa hình.
- Nhân tố vĩ độ
Nằm trong vùng biển cận xích đạo nên khí hậu Côn Đảo mang sắc thái của đới
khí hậu cận xích đạo đặc trưng bởi nền nhiệt độ cao và ôn định, quanh năm nóng ẩm,
không có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt trung bình năm nhỏ (khoảng 4-5°C), lượng
mưa không quá lớn, lượng mây nhiều. Do nằm gần xích đạo, nơi đây gần như quanh
năm không có bão, chịu ảnh hưởng sâu sắc của đới gió Tây xích đạo và tín phong
Đông Bắc của Bắc bán cầu.
- Nhân tố hoàn lưu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nên khí hậu Côn Đảo có hai mùa
rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, đồng thời
các hoàn lưu gió mùa chi phối khí hậu nơi đây mạnh mẽ hơn so với những đặc trưng
của khí hậu xích đạo - nghĩa là đặc trưng khí hậu lặng gió, khô (do tín phong gây ra)
và mưa rải rác trong suốt năm sẽ bị lu mờ trước tính chất khí hậu biến đôi mạnh mẽ
theo mùa, nhất là lượng mưa, lượng mây và hướng gió
a/ Các khối khí và các hoàn lưu gió mùa trong mùa đông
Vào mùa đông, Côn Đảo chịu sự chi phối chủ yếu của các khối khí và các hoàn
lưu gió mùa sau đây:
+ Khối khí nhiệt đới biển Tây Thái Bình Dương (TBD)
Nằm ở bờ Tây TBD. Trong mùa đông, đới vĩ độ thấp của vùng biển Tây TBĐ
nằm trong vùng khống chế của đới áp cao cận nhiệt, nơi phát sinh ra tín phong Đông
Bắc của Bắc bần cầu. Đặc trưng thời tiết trong tín phong là gió thôi liên tục, mạnh
vừa, hướng gió ôn định, không mưa, khô nóng, trời quang mây, trong sáng. Tín phong
Đông Bắc là hoàn lưu chủ đạo hình thành mùa đông khô ráo ở Côn Đảo.
+ Khối khí cực đới :
Do sự biến tính nhanh của nhiệt độ khi không khí lạnh từ áp cao lạnh Xibia di
chuyển về phương Nam và do nằm ở miền vĩ độ thấp nên ở Côn Đảo không có mùa
đông lạnh. Tuy nhiên, không khí lạnh cực đới (vào đầu mùa đông) và khối khí lạnh
cực đới biển Nam Trung Hoa (vào cuối mùa đông) đã liên tục đẩy luồng gió mùa
Đông Bắc lạnh lân sâu về phương Nam, dù không đủ sức gây lạnh cho vùng Nam Việt
Nam nhưng cũng đã tạo ra gió đông bắc mạnh cấp 5 - 6, đôi khi cấp 7 - 8 cho vùng
biển ngoài khơi bờ biển Bà Rịa-Vũng Tàu
+ Khối khí xích đạo :
Vùng ven xích đạo đa phần là biển nên khối khí xích đạo chính là khối khí biển,
nóng và ẩm. Vào đầu hoặc cuối mùa đông (tháng 11-12 và tháng 3-4) mới thấy xuất
hiện hoạt động của khối không khí này. Dòng hoàn lưu của khối khí xích đạo mỗi khi
xuất hiện và di chuyển tới Bà Rịa-Vũng Tàu và Côn Đảo thường có hướng Đông hoặc
Đông Nam (vùng ven bờ), ngoài khơi còn cô thể có hướng Nam hoặc Tây Nam, thời
tiết trở nên nóng, ẩm hơn, gió yếu, đôi khi có mưa nhỏ rải rác. Lượng mưa tuy nhỏ
nhưng vô cùng quý giá trong mùa khô hạn gay gắt của khu vực.
b/ Gác khối khí và các hoàn lưu gió mùa hoạt động trong mùa hè
+ Khối khí nhiệt đói vịnh Ben Gan
Vào thời kỳ mùa hè, khối khí nhiệt đội vịnh Ben Gan hoạt động mạnh mẽ, lấn
mạnh sang phía Đông, hình thành gió mùa Tây Nam trên toàn bán đảo Đông Dương.
Với Côn Đảo, gió mùa Tây Nam thôi mạnh vào các tháng 5,6,7 và do không bị chi
phối bởi địa hình nên thường cho mưa giông, góp phần đáng kể vào việc hình thành
mùa mưa ở trong vùng.
+ Khối khí xích đạo
Nằm trong vùng cận xích đạo nên Côn Đảo thường xuyên chịu sự chi phối của
khối khí xích đạo. Trong mùa hè, khối khí xích đạo thường cho mưa dưới dạng mưa
dông nhiệt lực, gió mạnh khi có dông, sau dông trời quang mây tạnh và gió nhẹ.
+ Khối: khí nhiệt đới biển Tây Thái Bình Dương
Trong mùa hạ, khối khí nhiệt đới biển Tây Thái Bình Dương hướng Đông hoặc
Đông Nam thường xuyên hoạt động xen kẽ với các khối khí khác, có thể gây ra mưa
nhưng không kéo dài.
+ Khối khí lạnh cực đới
Vào đầu và cuối múạ hè (tháng 5, 10), gió Đông Bắc phát xuất từ miền cực đới
vẫn thỉnh thoảng lấn sâu về phương Nam, thường chỉ làm dịu mát và gây gió mạnh
cấp 5-7 ở ngoài khơi Côn Đảo.
-Nhân tố địa hình
Địa hình Côn Đảo chủ yếu là đồi và núi thấp, có độ cao trung bình từ 200 -
500m, có một vài đỉnh núi có độ cao tới gần 600m ở phía Tây, đảo có độ dốc lớn. Ở
phía Đông của đảo có hai thung lũng Côn Sơn và Cỏ Ống là vùng trũng, địa hình
tương đối thấp và nằm kẹp giữa các nhánh núi ăn lan ra biển. Do đặc điểm của địa
hình nên nguồn nước ngọt trên đao rất hạn chế, trữ lượng nước ngọt trên bề mặt lẫn
trong lòng đất nơi đây không lớn, gây nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân
dân trên đảo.
4.2.2. Các đặc trưng khí hậu chủ yếu
4.2.2.1. Bức xạ
Nằm ở gần xích đạo nên hàng năm lãnh thô Côn Đảo hai lần mặt trời đi qua
thiên đỉnh: lần thứ nhất vào khoảng ngày 22, 24 tháng 4 và lần thứ hai vào khoảng
ngày 18, 19 tháng 8. Khoảng thời gian hai lần mặt trời đi qua thiên đỉnh khá xa nhau
đã dẫn đến đặc điểm là mọi yêu tố khí hậu ở đây diễn biến trong năm theo biên trình
kép. Do xuất hiện mây và tác động của các dòng hoàn lưu nên các cực trị của nhiệt độ
và bức xạ mặt trời không hoàn toàn trùng đúng với thời điểm mặt trời đi qua thiên
đỉnh, chúng có thể đến sớm hơn hoặc muộn hơn.
Bức xạ tông công và cân bằm bức xa trung bình thảm, năm
Số liệu bức xạ của các trạm cho thấy trung bình hàng năm vùng Đông Nam Bộ
2 động trong khoảng 155 - 165 kCal/cmP
P năm, giá trị cân bằng bức xạ dao động trong
nói chung, Bà Rịa-Vũng Tàu và Côn Đảo nói riêng có lượng bức xạ tông cộng dao
khoảng 80 - 90 kCal/cm2 năm. Biến trình năm có hai cực đại và hai cực tiểu:
2 Q= 17,6 kCal/cmP
P tháng
2 R = 9,8 kCal/cmP
P tháng cực đại phụ vào tháng 7 với:
2 Q= 13,8 kCaL/cmP
P tháng
2 R = 7,8 kCaL/cmP
P tháng cực tiểu chính vào tháng 11 với:
2 Q= 11,2 kCaL/cmP
P tháng
2 R= 6,2 kCal/cmP
P tháng cực tiểu phụ rơi vào tháng 6 với:
2 Q= 12,6 kCal/cmP
P tháng
2 R = 7,0 kCal/cmP
P tháng
Cực đại chính vào khoảng tháng 3 với:
Ở đây :
Q là bức xạ tông cộng trung bình tháng
R là cán cân bức xạ trung bình tháng
So với các vùng khác, giá trị Q và R ở Côn Đảo vào loại khá cao trong toàn
quốc.
4.2.2.2.Số giờ nắng trung bình tháng, năm
Bà Rịa-Vũng Tàu và Côn Đảo có số giờ nắng vào loại cao trong cả nước. Hàng
năm, nơi đây trung bình có khoảng 2.318 giờ nắng. Tháng cao nhất là tháng 4, có
khoảng gần 268 giờ nắng, trung bình 9 giờ nắng/ngày. Tháng ít nhất là tháng 9, cũng
đạt khoảng 155 giờ nắng (trung bình 5 giờ nắng/ngày).
Do ảnh hưởng của lượng mây và mưa, nên số giờ nắng trung bình tháng, năm
ưên biển thấp hơn trên đất liền. Mức chênh lệch này lớn nhất vào tháng 11(60 giờ
nắng/tháng) và thấp nhất vào tháng 4 (chỉ vào khoảng 4 giờ/ tháng).
4.2.2.3.Lượng mây
a/Lượng mây tông quan
Lượng mây tông quan ỏ Côn Đảo xếp vào loại cao so với miền Đông Nam Bộ.
giá trị trung bình năm của lượng mây tông quan trên đất liền dao động trong khoảng
6,3 - 6,4, còn ở Côn Đảo khoảng 7,0 - 7,1 phần mười bầu trời. Trong biên trình năm
của lượng mây tông quan, cực tiểu chính khoảng 5,8/10 rơi vào tháng 4 ; cực tiểu phụ
vào tháng 7 (giá trị khoảng 7,6/10 bầu ười). Cực đại thứ nhất rơi vào tháng 6 (7,8-8/10
bầu trời); cực đại thứ hai vào tháng 9 (7,8-7,9/10 bầu ười)
Nói chung, Côn Đảo quanh năm nhiều mây vì đây là vùng biển nóng, âm và bốc
hơi từ mặt biển mạnh.
b/Lượng mây dưới
Lượng mây dưới là yếu tố có quan hệ mật thiết với lượng mưa và diễn biến mưa
trong mỗi mùa. Do Côn Đảo nằm giữa biển khơi nên mây dưới cô quan hệ chặt chẽ
vơi những đám mây đối lưa hình thành do quá trình bốc hơi từ mặt biển. Buôi sáng
nền nhiệt độ thấp nên trời thường ít mây, trong sáng. Sau buôi trưa, do mặt trời hun
nóng mạnh mẽ, mầy đối lưu trên biển phát triển mạnh theo gió di chuyển từ ngoài
khơi vào lục địa và đảo, hình thành nên những trận mưa dông vào buôi chiều. Mưa
dông (cường độ mưa lớn kèm theo sấm chớp, gió mạnh nhưng chóng tạnh) vào buôi
chiều là đặc trưng quan trọng của Côn Đảo .
Lượng mây tầng dưới còn xuất hiện nhiều vào những tháng đầu mùa đông (tháng
11 ,12) do các đợt gió mùa Đông Bắc lạnh tràn về gậy nên mưa nhỏ rải rác kéo dài, có
khi tới nửa ngày trong cuối mùa mưa.
Ở Côn Đảo lượng mây dưới trung bình những tháng cực đại (tháng 6, 7) khoảng
5,2/10 bầu ười. Lượng mây tầng dưới thấp nhất vào tháng 4 (khoảng 3,6/10 bầu trời).
Biến trình năm của lượng mây tầng dưới cũng có dạng biến trình kép, cực đại vào
tháng 6 và tháng 8 (khoảng 5,2/10 bầu trời). Cực tiểu chính trong năm rơi vào tháng 3
(khoảng 3,6/10 bầu trời), Cực tiểu phụ rơi vào tháng 7 (khoảng 4,7/10 bầu trời).
Lượng mây tầng dưới trung bình năm ở Côn Đảo là 4,6/10, còn ở Vũng Tàu là 4,3/10
bầu trời.
Do nằm giữa vùng biển nóng ấm nên lượng mây tầng dưới ở Côn Đảo tháng nào
cũng nhiều, dao động ưong khoảng 3,6 - 5,2/10 bầu trời
4.2.2.4.Khí áp
Do nằm trong dải áp thấp cận xích đạo nên khí áp mực trạm ở Côn Đảo tương
đối thấp. Trung bình các tháng khí áp dao động trong khoảng 1.007,3 -1.011,5mb,
trung bình năm là 1.009,0mb (khí áp trung bình mực biển của toàn trái đất là 1 át, tức
la xấp xỉ 1.013mb).
Tại Côn Đảo, khí áp trong năm cao nhất vào tháng 1 (1,011,5mb), thấp nhất vào
các tháng 5 và 7 (1.007,3mb). Áp suất thấp nhất tuyệt đối (chỉ khi có bão hoặc áp thấp
nhiệt đới di chuyển qua đảo) tháng, năm (theo số liệu quan trắc gần 100 năm) cũng chỉ
xuống tới 1.000,7mb, nghĩa là ở đây ít khi có áp thấp sâu và bão mạnh di chuyển qua (
bão hoặc áp thấp càng mạnh thì khí áp càng giảm).
4.2.2.5.Chế độ gió
a/ Hướng gió
Nằm trong khu vực gió mùa, Côn Đảo có hướng gió thôi theo mùa rất rõ rệt, các
tháng 11 đến tháng 4 là thời kỳ gió Đông Bắc và Đông - Đông Bắc chiếm ưu thế với
tần số lớn nhất (trên 70%). Các tháng 6 - 9 là thời kỳ gió mùa Tây Nam chiếm ưu thế.
Các tháng 5 và 10 là thời kỳ giao mùa giữa hai luồng gió Tây Bắc và Đông Nam.
b/ Tốc độ gió
+ Tốc độ gió trung bình tháng, năm.
Tốc độ gió trung bình tháng, năm tại Côn Đảo khá mạnh, đặc biệt tăng mạnh vào
các tháng 11-3 tạo thành mùa gió chướng vào mùa đông. Đây là giai đoạn khó khăn
cho ngành khai thác, đánh bắt hải sản và vận tải trên vùng biển ven bờ cũng như ngoài
khơi.
Tốc độ gió mạnh nhất trong năm vào các tháng 12-1, trung bình tháng ở Côn
Đảo khoảng 3,7-4,1m/s ở trên vùng mỏ Bạch Hô. Tháng có tốc độ gió trung bình yếu
nhất ở Côn Đảo là tháng 5 cũng đạt 1,4m/s và 5,4m/s ở ngoài khơi trên vùng mỏ Bạch
Hô. Tốc độ gió trung bình năm trên đảo dao động trong khoảng 3-5m/s, ngoài khơi
dao động trong khoảng 8-9m/s.
+ Tốc độ gió mạnh nhất trong tháng và năm
Tốc độ gió mạnh nhất theo số liệu quan trắc trong vòng 50 năm gần đây tại trạm
Vũng Tàu là 26m/s, tại Côn Đảo là 31m/s và ở vùng mỏ Bạch Hô là 42,5m/s.
Trên vùng biển ngoài khơi Côn Đảo, tốc độ gió từ 5-15m/s chiếm tần suất tới
trên 70% trong các tháng mùa đông, nhất là các tháng 12-2 là thời kỳ gió mạnh nhất,
cấp gió ll-15m/s chiếm tần suất 40-50%, hình thành mùa gió chướng, gió rất mạnh ở
vùng ngoài khơi. Ớ Côn Đảo, có thể do trạm quan trắc đặt trong vùng thung lũng kín
gió nên số liệu không phản ánh hết tốc độ gió mạnh của khu vực .
4.2.2.6. Chế độ nhiệt
Do nằm gần xích đạp nên nhiệt độ cao, ôn định, nóng ẩm quanh năm. Nhiệt độ
không khí trong năm có dạng biến trình đơn. Tháng lạnh nhất trong năm giống như
miền Bắc (tháng 1) nhưng tháng nóng nhất lại là tháng 5 (trong khi đó miền Bắc và
miền Trung rơi vào tháng 7). Biên độ nhiệt độ ngày ở Côn Đảo và ngoài khơi tương
đối nhỏ, khoảng 4,0-6,5°C.
Nhiệt độ tối cao trung bình tháng ở Côn Đảo dao động trong khoảng 27,6-
31,7°c, cao nhất vào tháng 4-5 và thấp nhất vào tháng 1. Nhiệt độ tôi thấp trung bình
tháng khoảng 23,5-25,4°C, thấp nhất vào tháng 12 và cao nhất vào tháng 8.
4.2.2.7.Chế độ mưa
a/Mùa mưa
Côn Đảo có hai mùa, mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 11, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 4. Tháng 12 và tháng 4 có thể xem như là thời
kỳ chuyển tiếp giữa hai mùa.
b/Lượng mưa
Côn Đảo thuộc loại mưa nhiều so với các nơi khác trong tỉnh. Lượng mưa trung
bình năm ở Côn Đảo khoảng 2095,8mm. Các tháng trong mùa mưa nhìn chung đều có
lượng mưa trang bình trên 180mm/tháng, lớn nhất là tháng lo (338,lmm/tháng), thấp
nhất là tháng 11 (183,5mm/tháng). Lượng mưa trung bình tháng vào mùa khô cỊao
động trong khoảng 6,l-58,5mm/tháng, khô hạn nhất là tháng 2-3 (lượng mửa dưới
10mm/tháng).
Mùa mưa và mùa khô ở đây có sự phân hóa khá sâu sắc, lượng mưa trong 7
tháng mùa mựa (tháng 5-11) chiếm tới trên 90% tông lượng mưa trong cả năm.
c/ Số ngày mưa
Số ngày mưa trên đảo và ngoài biển khá cao, trung bình khoảng 150ngày/năm.
Trong mùa mửa (tháng 5-11), trung bình mỗi tháng có khoảng 15-20 ngày (CÓ mưa,
các tháng 12-4 trung bình mỗi tháng chỉ có khoảng 1-6 ngày mựa. Tháng có nhiều
ngày mưa nhất là tháng 10 (trung bình có 20,8 ngày mưa/tháng), tháng 2 là tháng có ít
ngày mưa nhất, trung bình chỉ có 0,9 ngày mưa/ tháng.
4.2.2.8.Độ ẩm
Hai mùa mưa và khô có sự phân hóa sâu sắc, nên chế độ ẩm không khí ở Côn
Đảo cũng có sự khác biệt giữa hai mùa mưa và khô. Trong mùa mưa (tháng 5-11), độ
ẩm không khí tương đối trung bình tháng khoảng 79-83%. Trong mùa khô (tháng 12-
4) độ ẩm tương đối của không khí dao động trong khoảng 76-80%. Độ ẩm tương đối
của không khí thấp nhất trong năm rơi vào tháng 12 (76%), cao nhất là tháng 9 (83%).
Độ ẩm tương đôi thấp nhất rơi vào khoảng 12-14 giờ trưa (khoảng thời gian
nhiệt độ cao nhất trong ngày) và độ ẩm cạo nhất rơi vào thời gian 5-6 giờ sáng (thời
điểm lạnh nhất trong ngày) nghĩa là biến trình của độ ẩm tương đối tỷ lệ nghịch với
biến trình ngày của nhiệt độ.
Độ ẩm tương đối thấp nhất tuyệt đối ở trên đảo có thể xuống tới 21% (ngày
21/5/1932 ở Côn Đảo). Trên vùng biển xung quanh, do mặt đệm là đại dương, độ bốc
hơi lớn nên độ ẩm tương đối thấp nhất tuyệt đối của khống khí ít khi xuống dưới 50%.
:
4.2.2.9. Khả năng bốc hơi
Khả năng bốc hơi ở Côn Đảo trung bình năm vào khoảng 1.209,2mm/năm, trong
khi số liệu bốc hơi ngoài khơi do trạm Bạch Hô công bố đạt tới 2.000 -2.200mm/năm.
Lượng bốc hơi ở Côn Đảo khá thấp có thể do vị trí trạm đo tương đối kín gió.
Trong biến trình năm, khả năng bốc hơi lớn nhất đạt tới 132,0mm/tháng tương
ứng với thời điểm tháng 12 hàng năm, khả năng bốc hơi thấp nhất rơi vào tháng 10,
khoảng 70,6mm/tháng trùng với thời kỳ mưa nhiều nhất, không khí ẩm, gió không
mạnh và nền nhiệt bắt đầu hạ. Trong biến trình ngày, khả năng bốc hơi lớn nhất vào
khoảng 12-14 giờ, thấp nhất vào khoảng 5 giờ sáng.
Khả năng bốc hơi ở Côn Đảo được xếp vào loại lớn so với cả hước. Điều đó
chứng tỏ đây là vùng đất giàu năng lượng bức xạ, nhiệt và gió.
4.2.2.10. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt
Ua/ Bão và áp thấp nhiệt đới
.. . Ở vùng biển Nam Bộ nói chung và vùng biển Bà Rịa-Vũng Tàu nói riêng rất
ít khi có bão và áp thấp nhiệt đới, nếu có bão thì cũng chỉ có gió đạt cấp 9 -10. Thời
kỳ có bão và áp thấp nhiệt đới tập trung vào tháng 9 - 12. Trong đó, tháng 11 hay có
bão hoặc áp thấp. Hướng di chuyển của bão ở đây đa phần theo hướng Tây hoặc Tây
Ub/ Dông, tố
Tây Nam.
Hàng nam ở Côn Đảo có khoảng 35 -40 ngày* có dông, tố. Những tháng mùa
mưa (tháng 5 - li) là thời kỳ có nhiều dông, tố nhất. Các cơn dông thường gây gió giật
mạnh, mưa lớn và kèm theo hiện tượng phóng điện ứong khí quyển (sâm, chớp) có thể
gây ra nhiều tác hại cho người và tài sản.
c/ Mùa gió chướng
Do sự cộng hưởng đồng thời của hai đòng hoàn lưu gió Đông Bắc lạnh xuất phát
từ áp cao Xibia và tín phong Đông Bắc xuất phát từ rìa phía Nam của dải áp cao cận
nhiệt đới Bắc bán cầu, nên đã hình thành ở ngoài khơi Bà Rịa-Vũng Tàu và Côn Đảo
một "mùa gió chướng". Mùa gió chướng kéo dài từ tháng 12 đèn tháng 4, mạnh nhất
vào các tháng 12 - 2. Tốc độ gió trong giai đoạn cao điểm của mùa gió chướng ở
ngoài khơi thường vượt quá lOm/s (tần suất 50-80%), còn trên đảo thường vượt quá 7-
8m/s (tần suất trên 50%).
4.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN
4.3.1. Đặc điểm nguồn nước mặt
4.3.1.1. Nước suối
Do địa hình của Côn Đảo chủ yếu là đồi và núi, diện tích nhỏ, độ dốc lớn nên
dòng chảy bề mặt nơi đây là những dòng chảy khe suối tạm thời. Toàn vùng Côn Đảo
có khoảng 60 con suối ngắn và nhỏ. Hầu hết các suối chỉ có nước vào mùa mưa, có
những dòng chảy trở nên khô hạn ngay sau khi hết mưa khoảng 1-2 giờ, Mùa khô hầu
hết các suối không có nước chảy thành dòng, chỉ có một vài suối có nước đọng dạng
vũng hay dòng chảy rất nhỏ (như suối Ấn ở khu Cỏ Ống). Có thể coi Côn Đảo không
có hệ thống sông ngòi.
4.3.1.2. Nước hồ
Nguồn nước mặt ở Côn Đảo tập trung chủ yếu ở các hồ nằm trong thung lũng
Côn Sơn và một số hồ, đầm nhỏ ở thung lũng Cỏ Ống. Các đảo khác không có ao, hồ
2 dao động từ một vài trăm mP
P đến vài chục hecta và có sự thay đôi theo mùa: mùa mưa
chỉ có một vài dòng chảy yếu đô ra từ các khe nứt của núi. Diện tích các hồ ao này
diện tích ao hồ mở rộng, mùa khô diện tích mặt nước ao, hồ thu hẹp lại. Mực nước
trong hồ cũng biến đôi mạnh theo mùa: mùa mưa, nơi sâu nhất trong một số hồ có thể
tới 5-6m, còn trong mùa khô, mực nước trong các hồ thường không tới 1m nước.
Một số đầm, hồ thông với biển qua những con lạch nhỏ. Khi triều xuống, nước
trong hồ chảy ra biển, lúc triều cường, nước từ biển chảy vào hồ. Đây là những hồ
nước lợ, ít có giá trị cung cấp nước ngọt, phục vụ chủ yếu cho nuôi trồng và đánh bắt
thủy sản. Hiện nay, để tăng cường nguồn nước ngọt, người ta đã và đang tiến hành
cho xây những con đập chắn ngang các con lạch để ngọt hóa những đầm, hồ này.
Nguồn cấp nước cho các ao, hồ này là những dòng chảy tạm thời trong mùa mưa
và dòng chảy ngầm theo các khe nứt từ trên núi đô xuống. Một số đầm hồ ven bờ biển
còn bị nhiễm mặn.
Các hồ ở thung lũng Côn Sơn
- Hồ Quang Trung I: ở trung tâm thung lũng, cách biển khoảng lkm. Hồ có diện
tích khoảng 20ha. Mực nước hồ sâu l,2-l,5m. Đáy hồ có lớp bùn sình lầy chứa nhiều
xác thực vật. Đây là hồ chứa nước chính trong vùng.
- Hồ Quang Trung II: nằm song song với hồ Quang Trung I, chỉ cách một doi
cát. Hô có diện tích khoảng 15ha. Hồ chỉ có nước trọng mùa mưa.
- Hồ Mương Ký: ở cạnh hồ Quang Trung II. Hồ có diện tích khoảng 8ha. Mực
nước sâu l,0-l,5m. Đáy hồ có lớp bùn sình lầy chứa nhiều xác thực vật. Mùa khô lòng
hồ thu hẹp, mực nước sâu 0,3-0,5m.
- Hồ An Hải: ở phía Tây Nam thị trấn Côn Sơn, cách biển khoảng 200m. Hồ có
diện tích khoảng 40ha. Hồ có cửa thông ra biển. Hiện nay đã đắp đập ngăn cách hồ
với nước biển và tiến hành cải tạo thành hồ chứa nước nhạt. Mực nước sâu trung bình
l,5m. Đáy hồ có lớp bùn sình lầy chứa nhiều xác thực vật. Đây là hồ chứa nước chính
trong vùng.
- Hồ Cây Đa: ỏ phía Đông Bắc thị trấn Côn Sơn. Hồ có điện tích khoảng 20ha.
Mực nước hồ sâu trung bình 1,0-1,5m. Hồ chỉ có nước vào mùa mưa.
Các hồ ỏ thung lũng Cỏ Ống
- Hồ Đầm Trầu: là một vũng nước mặn bị doi cát chắn ngăn cách với nước biển.
Đồi cát thấp và nhỏ, khi biển động sóng lớn, nước biển tràn vào hồ làm cho nước hồ
luôn mặn. Hồ rộng 0,2ha và độ sâu trung bình là 2,0m.
- Hồ Suối Ớt: là hồ nước mặn ven biển. Hồ rộng khoảng 0,6ha và sâu khoảng
l,5m, ngăn cách với biển bằng đai cát thấp. Nước biển thường tràn vào hồ mỗi khi
biển động.
- Hồ Cỏ Ống: là hồ có nước nhạt quanh năm. Hồ rộng khoảng 2,5ha. Mùa mưa,
mực nước hồ sâu 1.0-l,5m. Về mùa khô, nước hồ cạn chỉ sâu dưới 1,0m.
- Hồ Sân Bay: nằm cạnh sân bay Cỏ Ống. Đây là hồ nhỏ chỉ có nước vào mùa
mưa.
4.3.2. Đặc điểm nguồn nước ngầm
Đối với Côn Đảo đặc điểm địa chất thủy văn của các tầng chứa nước nhạt có tầm
quan trọng đặc biệt đối với việc khai thác và cấp nước. Nước ngầm ở đây tồn tại trong
3 phân vị địa tầng địa chất thủy văn là:
- Phức hệ chứa nước lỗ hông các thành tạo trầm tích Đệ tứ
- Đôi chứa nước khe nứt - lỗ hông các thành tạo macma và vỏ phong hóa của
chúng.
- Đới chứa nước khe nứt - lỗ hông các đứt gãy, kiến tạo.
4.3.2.1. Phức hệ chứa nước lỗ họng các thành tạo trầm tích Đệ Tứ
Tầng chứa nước này phân bố ở thung lũng Côn Sơn và thung lũng Cỏ Ống, tạo
thành trầm tích cát, cát pha bột, bột sét có chiều dày 5-30m ở Côn Sơn và 5-15m ở cỏ
Ống. Địa tầng này có khả năng chứa nước tốt và độ lưu thông nước ở mức trung bình
đến nhanh (hệ số thấm K=10,5-17m/ng.đ, hệ số nhả nước µ = 0,16-0,18, hệ số dẫn
2 Thung lũng Côn Sơn có diện tích khoảng 6kmP
P. Bề dày trầm tích tăng dần từ
trung bình 646).
chân núi ra bờ biển, từ 5m đến 30m, trung bình là l5m.
Thung lũng Cỏ Ống có diện tích khoảng 3,6km2. Bề đày trầm tích Đệ Tứ nhỏ ở
trang tâm (khoảng 5m) và tăng dần về phía Đầm Trầu và vịnh Đông Bắc (dày trung
bình 10m). Tầng này có khả năng tàng trữ nước khá.
4.3.2.2.Đới chứa nước khe nứt - lỗ hông các thành tạo macma và vỏ
phong hóa của chúng.
Các đá xâm nhập phức hệ Định Quán và phức hệ Đèo Cả có mức độ nứt nẻ kém
và vỏ phong hóa mỏng (l-3m) do đó mức độ chứa nước kém.
Các đá phun trào hệ tầng Đèo Bảo Lộc và hệ tầng Nha Trang có mức độ nứt nẻ
mạnh và vỏ phong hóa tương đối dày (2-1 Om).
Đá macma phân bố phần lớn điện tích lộ trong vùng thành địa hình núi cao (50-
577m), các sườn dốc 20-30°. Lớp vỏ phong hóa có chiều dày đáng kể, 15-20m, phân
bố trên bề mặt đỉnh núi bằng phẳng hoặc thoải, tại các chân sườn dốc. Bề dày chứa
nước ở lớp này đạt 5-10m. Nước trong đới này chỉ lưu thông và tàng trữ trong các khe
nứt đá macma và lỗ hông của vỏ phong hóa. Vào mùa mưa, nước tàng trữ và lưu
thông khá phong phú. Mùa khô, không có nước bô cập thường xuyên nên nước ngầm
trong đới này theo các khe nứt, lỗ hông thoát ra biển hay tiếp tục bể cập cho tầng chứa
nước ngầm là trâm tích bở rời ở các thung lũng Côn Sơn và Cỏ Ống.
4.3.2.3.Đới chứa nước khe nứt lỗ hổng ở các đứt gãy kiến tạo
Việc nghiên cứu các đứt gãy kiến tạo (đới hủy hoại, quy mô phát triển đứt gãy...)
trong vùng Côn Đảo còn hạn chế nên chưa có các số liệu cụ thể về quy mô và kích
thước các đứt gãy. Về điều kiện địa chất thủy văn thì đới phá hủy của các đứt gãy có
khả năng chứa nước rất tốt. Trong tương lai, nếu có điều kiện có thể đầu tư nghiên cứu
khả năng chứa nước của các đới phá hủy kiến tạo chạy qua khu vực thung lũng Côn
Sơn và Cỏ Ống.
4.3.3. Nước biển
Dao động mực nước biển tại Cồn Đảo mang tính chất bán nhật triều không đều
và có tương quan với mực nước thủy triều tại Vũng Tàu. Một số giá trị mực nước biển
chủ yếu xác định trên hệ cao độ 0 hải đồ như sau:
- Mực nước quan trắc cao nhất: 425cm
- Mực nước cao nhất trung bình: 386cm
- Mực nước cạo trung bình: 348cm
- Mực nước biển trung bình nhiều năm: 248cm
- Mực nước thấp nhất trung bình: 39cm
UDòng chảy
- Mực nước thấp trung bình: 107cm
Vào mùa khô, dòng chảy trong vùng biển Côn Đảo có hướng Tây Nam và Tây,
tốc độ dòng chảy trung bình 31,2cm/s. Mùa mưa dòng chảy có hướng Đông Bắc và
Đông, tốc độ trung bình 20cm/s.
Vùng Đông Bắc Côn Đảo đã quan trắc được tốc độ dòng chảy tầng mặt cực đại
từ l00-254cm/s.
-3
Ở Đông Nam Côn Đảo vào mùa mưa xuất hiện vùng nước trời với tốc độ thẳng
Pcm/s. Đây là ngư trường đánh bắt hải sản có sản lượng cao.
USóng
đứng là 4.10P
Theo kết qủa đo đạc ở trạm Côn Đảo, biển Côn Đảo có các hướng sóng chính là:
- Sóng hướng Đông Bắc : 20,27% với độ cao trung bình 1,34m
- Sóng hướng Đông : 18,64% với độ cao trang bình 0,96m
- Sóng hướng Tây Nam: 8,15% với độ cao trung bình 0,72m
- Sóng hướng Đông Bắc : 14,68% với đô cao trung bình 0,73m
UTính chất hóa lý của nước biển
Sóng có độ cao cực đại quan trắc được ở hướng Đông Bắc là 3,5m
Nhiệt độ cực đại tại tầng mặt, thường cao vào các tháng 5-9 (là 30,1-31,3°C). Từ
tháng 10 nhiệt độ cực đại giảm dần đến tháng 1 và sau đó tăng lên đến tháng 5. Nhiệt
độ cực đại tròng năm là 34,3°c, cực tiêu là 22,1 °c và nhiệt độ trung bình trong năm là
28,5°c
Tầng giữa và đáy, quy luật phân bố nhiệt độ tương tự như của tầng mặt. Tại tầng
giữa, nhiệt độ cực đại năm là 29,8°c và cực tiểu là 21,6°c. Tại tầng đáy, nhiệt độ cực
đại năm là 28,9°c và cực tiểu là 20,9°c.
Độ mặn trong năm có sự thay đôi, từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau, độ mặn
trung bình trong khoảng 32-32,6%o, từ tháng 7-11 độ mặn có giá trị trong khoảng
29,8-31,9%o. Độ mặn trung binh thấp nhất là 29,8%o (tháng 10). Độ mặn cực đại ca
năm là 35%o, cực tiểu là 15,4%o. Độ mặn trung bình cả năm là 31,8%o. .
4.4 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH
4.4.1. Các hiện tượng địa chất công trình động lực
4.4.1.1. Quá trình bóc mòn rửa trôi
Ở Côn Đảo có khoảng 6/7 diện tích là núi đá cao, sườn thoải đến dốc. Thảm thực
vật chỉ phát triển và phủ trên khoảng 3/4 điện tích có địa hình núi cao. Qua trình bóc
mòn rửa trôi xảy ra do sự phong hóa bề mặt và nước mưa chảy tràn cuốn theo đất đá
từ sườn núi đọ vào lồng suôi Đất đá từ đây bị lũ cuốn tạo thành các nón phỏng vật ở
chân núi.
4.4.1.2.Hiện tượng để lở đá
Do quá trình phong hóa xảy ra mạnh, sự bóc mòn rửa trôi phát triển, ở các sườn
núi thường lộ ra các tảng đá nhô cao hoặc xếp chồng chênh vênh. Vì vậy, vào mùa
mưa thường xảy ra hiện tượng đô lở đá ở các sườn núi.
4.4.1.3.Quá trình tích tụ
Quá trình tích tụ xảy ra ở nơi địa hình thấp như các thung lũng, chân núi.
Nguyên nhân của tích tụ là do nước mưa đưa vật liệu vụn - sản phẩm của quá trình
bào mòn, rửa trôi - từ sườn núi xuống chân núi và thung lũng, vũng vịnh ven biển hay
do sống gió làm bồi tụ các đê cát, đụn cát.
4.4.1.4.Quá trình đầm lầy hóa
Đầm lầy hóa xảy ra ở khu vực các thung lũng Côn Sơn, Cỏ Ống. Do quy luật bồi
lắng tạo nên các đầm lầy ven biển (nước mặn) và đầm lầy lục địa (nước ngọt). Quá
trình tích tụ thường xuyên làm thay đôi quá trình đầm lầy hóa.
4.4.1.5.Qúa trình xâm thực - mài mòn
Quá trình này xảy ra mạnh ở chân và sườn núi tiếp xúc trực tiếp với sóng biển
hay ở các thung lũng mới, có sườn dốc, chịu ảnh hưởng tác động của dòng nước lũ
tạm thời trong mùa mưa. Do tác dụng của sóng nước, chân núi và sườn núi bị mài
mòn, xâm thực đồng thơi kèm theo hiện tượng đô lở đá.
4.4.2. Điều kiện địa chất công trình trong xây dựng
Tại các thung lũng của đảo lớn như Côn Sơn, Cỏ Ống, Bến Đầm... khi xây dựng
các công trình tạm thời và không kiên cố, nền móng có thể đặt trực tiếp lên các thành
tạo cát bãi bồi và gia cố móng. Riêng đối với các đụn cát, đồi cát thành tạo đo gió có
thành phần cát bột bở rời thì không bố trí công trình xây dựng vì điều kiện địa chất
công trình kém ôn định. Khi xây dựng các công trình kiên cố, cao tầng trên các thành
tạo nguồn gốc bãi bồi cô, nền móng đặt vào bề mặt lớp vỏ phong hóa đá gốc hay đá
gốc là tốt nhất. Các công trình cần bố trí xa khu vực dự kiến có đứt gãy khoảng 150-
200m.
Tại các đảo nhỏ thuộc Côn Đảo, do bề mặt lớp đất đá rời phủ trên đá gốc mỏng
(0,2-0,5m) nến công việc xây dựng có nhiều thuận lợi. Nền móng công trình có thể đặt
trực tiếp lên đá gốc, khi gia cô chú ý đến mức độ nứt nẻ và góc dốc của khe nứt.
4.5. ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT
4.5.1.THỰC VẬT
4.5.1.1.Thực vật trên đảo
Hệ thực vật trên các đảo thuộc Côn Đảo rất đa dạng thảm thực vật có thể phân
chia theo 3 dạng khu hệ đặc trưng là :
1. Hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm.
2. Hệ sinh thái rừng đồi cát khô hạn, đặc biệt là rừng cây họ dầu trên đồi cát dọc
theo dải bờ biển với cấu trúc còn mang tính chất cô.
3. Hệ sinh thái rừng ngập nước, trong đó có hai kiểu chính là hệ sinh thái rừng
ngập mặn trên nền đáy san hô và hệ sinh thái phát sinh các cây rừng ngập úng nước
phèn theo mùa.
4.5.1.1.1. Diện tích rừng
Ngày 01-03-1984, Hội đồng Bộ Trưởng đã ra quyết định 85/CP thành lập rừng
cấm Côn Đảo thuộc đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo. Thủ tướng Chính phủ ra quyết
định số 135/TTg chuyển rừng cấm Côn Đảo thành Vườn Quốc Gia(VQG) Côn Đảo
Vườn Quốc Gia nằm trên toàn quần đảo có điện tích 6.043ha, chiếm 78,77% diện tích
tự nhiên, và khu đệm là hành lang biển rộng 4 km bao quanh các hòn đảo có rừng
cấm. Diện tích rừng hiện có là 3.437ha trong đó rừng cây gỗ xen lẫn các cây dạng bụi
mọc rải rác chiếm diện tích 2.055ha, còn lại là rừng ngập mặn ven biển tiêu biểu của
khu vực Côn Đảo với nhiều kiểu sinh thái rất hiếm gặp và rừng cây tràm trên vùng
nước tù đọng bị ảnh hưởng phèn, Phần diện tích còn lại trong khu rừng cấm là vùng
đất trống hoặc gần như trống với các trảng cỏ mọc theo kiểu da beo trên các sườn núi
đá, đất bị sói mòn. Những nơi này không có thảm thực vật che phủ, chỉ có núi đá, đồi
trọc hoặc bãi cỏ chiếm điện tích 170ha.
4.5.1.1.2. Cấu trúc của thảm thực vật
Các đợt khảo sát của Trung Tâm Bảo Vệ Môi Trường kết hợp với Phân Viện
Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Học. Tp. HCM đã ghi nhận thảm thực vật rừng Côn
Đảo có độ che phủ lớn, với mức độ phân bố tập trung cao của nhiều loài trên cùng một
vùng.
Khu hệ thực vật ở Côn Đảo rất phức tạp, phong phú, có nhiều nét khác biệt và
mới lạ so với thực vật phân bô trong đất liền, sinh thái cảnh quan của khu vực Côn
Đảo khá đặc biệt với những nét đặc sắc nôi bật vì nó tập hợp được những loài cây và
những kiểu rừng từ nhiều vùng sinh thái trong cả nước.
Danh sách thực vật ghi nhận được cho đến nay vào khoảng 650 loài. Thực tế, hệ
thực vật vẫn chưa được tìm hiểu và khám phá hết giá trị phong phú cũng như tính đa
dạng sinh học của các loài. Nguyên nhân do vị trí của Côn Đảo khá cách trở, nhiều nơi
hầu như bị cô lập, nhưng cũng chính điều này khiến một số loài sinh vật tại Côn Đảo
trở nên đặc hữu, chỉ riêng Côn Đảo mới có. Các chuyên gia thực vật dự đoán rằng hệ
thực vật Côn Đảo ít ra cũng có gần 900 loài.
Theo tính chất phân bố địa lý thực vật thì với thành phần loài như trên có thể kết
luận thảm thực vật tại Côn Đảo rất phong phú và đa dạng về thành phần loài. Về
nguồn gốc địa lý, chúng có thể mang tính chất của nhiều vùng trên thế giới và có ảnh
hưởng sâu sắc tới khu hệ thực vật của Việt Nam. Có người đã coi đây là nơi phát sinh
của nhiều loài thực vật trong vùng lân cận như Indonesia, Mã Lai... trong đó có những
loài là đại diện của nguồn gốc thực vật hệ Mã Lai - Indonesia (ví dụ như họ
Dipterocarpaceae), hệ Ấn Độ - Miến Điện (ví dụ như họ Bàng Combretaceae), hệ thực
vật Việt Nam và vùng Nam Trung Hoa (ví dụ như họ Tường Vi Lythraceaé).
So sánh với các hệ thực vật hiện có tại Việt Nam cho thấy hệ thực vật Côn Đảo
có rất nhiều loài trong nhiều họ đặc trưng cho hệ thực vật từ nhiều vùng khác nhau
theo suốt chiều dài của đất nước, trong đó từ những loài đặc trưng cho hệ thực vật các
tỉnh miền Bắc. Việt Nam cho đến những loài mang tính chất đặc trưng cho hệ thực vật
vùng đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt (ví dụ các cây Mắm trắng, cây Bần đắng,
các loài cây Vẹt trụ, cây Đước lá nhọn... thường tập trung thành rừng ngập mặn trong
các vịnh, ít bị ảnh hưởng của gió bão, của sóng biển và có tầng bùn sình lầy tích tụ
trên nền đá san hô từ đời này qua đời khác).
Trên đảo còn tồn tại sự pha trộn kiểu rừng tràm mọc trên đất cát chua mặn, một
hình ảnh rất quen thuộc của rừng Tràm U Minh - Minh Hải các kiểu rừng cây lá rộng
ẩm nhiệt đới trên vùng núi thấp với họ đặc trưng là họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae) :
cây Chò, Sao, Dầu và nhiều loài cây điển hình khác từ vùng Nam Trung Bộ cho đến
rừng miền Đông Nam Bộ. Trong họ Sao Dầu này có một loài đang được giới khoa học
chú ý và đang có nhiều ý kiến về nguồn gốc của loài, đó là cây Dầu Dipterocarpus
cataceus. Loài này có phân bố tại vùng nước khoáng nóng Bình Châu, Bà Rịa-Vũng
Tàu, trên các vùng rừng nữa khô hạn ven biển. Đáng chú ý nhất ở đây là còn thấy loài
cây Lát hoa. Có những nơi chúng mọc thành từng đám lớn thuần loại. Lát hoa là loại
cây gỗ qúy mà trong đất liền người ta mới chỉ tìm thấy chúng có phân bố hẹp từ Bắc
Tây Nguyên trở ra Bắc Bộ. Tất cả những hệ sinh thái này được thể hiện kế tục nhau
trên một không gian nhỏ hẹp tại Côn Đảo. Đây chính là nét độc đáo hiếm có và mang
ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Sự phân bố thảm thực vật trên sườn núi tại các đảo rất khác nhau tùy theo địa
hình, theo hướng và các độ dốc của các sườn núi vì chính độ ẩm cũng là một yếu tố
quyết định tới sự phát triển các kiểu thảm thực vật. Ở các sườn núi khuất gió và nơi có
tầng đất mún dày, cây rừng mọc khá tốt, tạo thành nhiều tầng, có độ che phủ tới 90%.
Ở các sườn núi hứng chịu gió biển, cây rừng gồm những cây nhỏ, thấp, phân cành
nhiều và ken sát vào nhau để chông đỡ với giỏ bão. Các thân cây có nhiều hình dáng
cong queo, gồ ghề, trong đó cây gỗ lớn và cây bụi lâu năm rất khó phân biệt, nhìn từ
phía trên xuống, mái rừng như một thảm cây bằng phẳng.
4.5.1.2.Thực vật biển
Cho đến nay đã xác định được rằng ở khu vực Côn Đảo có 95 loài thực vật biển
bao gồm 84 loài rong biển và 11 loài thực vật có hoa, trong đó cỏ biển có 4 loài và
thực vật ngập mặn - 7 loài. Trong thành phần rong biển, ngành Rong Đỏ chiếm 52%
số loài, sau đó là Rong Lục - 26%, Rong Nâu - 12% và Rong Xanh Lam- 4%. Thành
phần rong biển thay đôi theo mùa với đặc trưng là giảm số lượng loài chung và sự
phát triển mạnh của Rong Xanh Lam và một số loài Rong Lục. Thành phần loài rong
giữa các trạm điều tra không khác nhau nhiều với chỉ số giống nhau Sorrenson đạt
trên 0,5 cho khoảng 60% các cặp so sánh.
2 diện tích phân bố khoảng 9000mP
P. Các loài cỏ biển ghi nhận được ở đây bao gồm
Bốn loài cỏ biển đã hình thành nên một quần cư đặc trưng ở vịnh Đông Nam với
Thalassia hemprichii, Haiophiia ovaiis, Haiodule tridentata, Syringodium isotifolium
phân bố thành các đai loài riêng biệt. Ngoài ra loài T. hemprichỉi cồn gặp bên ngoài
dải thực vật ngập mặn ở Bà Đập và ở vùng triều của một số rạn san hô.
Các loài thực vật ngập mặn đã tạo nên một hệ sinh thái hoàn chỉnh ở một số
vùng có diện tích không lớn như Đầm Tre, bãi Bà Đập (hòn Bảy Cạnh), Bến Đầm.
Trong đó các loài Đước Đôi, Đước Đen là thành phần ưu thế và mỗi loài hình thành
một đai riêng biệt.
Thực vật biển tại khu vực Côn Đảo có giá trị rất lớn. Trong số các loài rong biển
ghi nhận được ở Côn Đảo có 7 loài mới ghi nhận ở Việt Nam lần thứ nhất và 3 loài
mới cho khoa học. Số loài rong biển như vậy là phong phú, trong đó rong Lá Mơ có
sinh khối đáng kể, còn rau câu và rong Chaetomorpha cressa là những loài có giá trị
sử dụng cao.
4 5.2. ĐỘNG VẬT
Theo số liệu điều tra sơ bộ, cho đến nay đã xác định được tại khu vực Côn Đảo
có 18 loài động vật có vú thuộc 10 họ và 5 bộ, 62 loài chim thuộc 27 họ và 13 bộ, 25
loài bò sát, lưỡng cư... Nói chung, nguồn tài nguyên động vật ở Côn Đảo tuy không
giàu về thành phần loài cũng như số lượng cá thể nhưng lại có những nét riêng biệt so
với các vùng khác, mang tính chất độc đáo về các mặt kinh tế, khoa học và du lịch.
4.2.2.1. Thú và bò sát
Phong phú nhất và đáng nói nhất là thành phần các loài rong chi Sóc. Trên các
hòn đảo, có một dạng sóc rất phô biến tạm gọi là Sóc mun, do chúng có màu đen
tuyền rất đẹp. Đây là loài thú đặc biệt chỉ mới thấy ở Côn Đảo, chưa thấy trong đất
liền của nước ta. Một điều cũng rất là lạ, ngay trong loài sóc lớn (bụng vàng) ở Côn
Đảo cũng có những điểm khác nhau về màu lông so với loài cùng tên ở đất liền. Ở đảo
còn có một loài sóc bay nhỏ, tương đôi ít gặp cũng thuộc diện "bảo vệ tuyệt đối".
Ngoài ra sự có mặt của những loài thú Móng guốc (lợn rừng và trước đây là trâu rừng)
ở trạng thái hoang dã cũng cho thấy cảnh quan phong phú của động vật trên các đảo.
Trong vùng biển Côn Đảo thường xuyên xuất hiện cá Heo, cá Nước (cá ông sư)
tập trung thành đàn lớn và trở thành người bạn của Kiểm Lâm, Kiểm Ngư và ngư dân
trong vùng. Đây là một trong những nét đặc sắc nhất của khu vực vì các loài cá này
đang được thế giới quan tâm nghiên cứu và bảo vệ. Đặc biệt, Bò Biển đã xuất hiện
nhiều lần ở vùng ven đảo, những lần ghi nhận gần đây nhất là tháng 4 - 1995 và tháng
3 - 1997. Bò biển là đối tượng đặc biệt quý hiếm đang được chú trọng bảo tồn trên
toàn thế giới. Đời sống của chúng liên quan chặt chẽ với các thảm cỏ biển.
Kỳ đà có mặt trên khắp các đảo với mật độ lớn, Tắc kè cũng phô biến gần như
vậy. Đặc biệt bò sát biển với các loài như Vích Caretta Oliivacea, Đồi Mồi, Rùa
Xanh... vẫn còn hiện diện rất nhiều. Điều kiện sinh thái trên một số hòn đảo thích hợp
với một số loài bò sát nên đang hình thành một hướng phát triển kinh tế nhờ vào
nguồn lợi do thiên nhiên mang lại. Hướng gây nuôi Kỳ đà, Tắc kè, Rùa biển có khả
năng mang lại lợi ích nhiều mặt ví dụ như các bãi đẻ của rùa biển có thể phục vụ được
cả ba mục đích tham quan, du lịch và nghiên cứu khoa học.
4.5.2.2. Chim
Về khu hệ chim, ở khu vực Côn Đảo thường hay gặp các loài thuộc họ Bồ Câu
như bồ câu Vicoba, đặc biệt có chim Gầm Ghì trắng là loài hiếm ưên thế giới (hiện
nay chỉ phân bố ở đảo Audaman Nicoba - Mã Lai - New Guinea). Nước ta chỉ thấy có
ở Côn Đảo và điều đáng nói là chúng tập trung ở nơi đây một chủng quần khá lớn về
số lượng các loài. Do điều kiện thiên nhiên có nhiều hang động và vách đá cao hiểm
trở, rất thích hợp cho các loài chim ó biển làm tô và sinh con, đồng thời do có nguồn
thức ăn phong phú (các loài chuột, cá biển và các loài bồ sát) mà chim Ó biển - một
loài chim quý hiếm trên thế giới còn tập trung nhiều ở Côn Đảo. Riêng tại Hòn Trứng,
các loài chim tập trung làm tô nhiều như là một sân chim thực sự với mật độ lớn của
của chim Diên mặt xanh (loài này phân bố ở Châu úc, Mã Lai và Việt Nam chỉ có ở
Côn Đảo) và các loài chim nhiệt đới khác. Có thể nói, Côn Đảo có một chủng quần
chim biển phong phú, đa dạng và đông đúc các cá thể trong loài. Chỉ tính riêng điều
này thì khu vực Côn Đảo cũng đã là một địa điểm hấp dẫn về tài nguyên động vật.
Ngoài ra còn phải kể đến 3 loài chim Yến làm tô ở các hang đá gần mặt nước đang
mang lại một nguồn lợi Yến sào đáng kể cho khu vực.
4.5.2.3. Quần xã san hô
Trong hai chuyến điều tra tại 18 điểm nghiên cứu khu vực Côn Đảo thuộc
chương trình Biển - Hải đảo, Viện Hải Dương học Nha Trang đã xác định được 147
loài thuộc 50 giống sạn hô cứng. Các giống chiếm tỉ lệ cao là Acropora (26 loài),
Montipora ( 10 loài), Favia (8 loài). Thành phần giữa các rạn tương đối khác nhau, chỉ
có 11% cặp so sánh có chỉ số giống nhau Sorrenson lớn hơn 0,5. Độ phủ trung bình
của san hô là 42,6%.
Việc tính toán chỉ số đa dạng trên cơ sở tần số xuất hiện của các giống trên mặt
cắt nghiên cứu cho thấy số lượng giống dao động từ 8 - 22 đối với riêng san hô cứng
và 8 - 25 cho san hô nói chung. Các giống có tần số xuất hiện cao là Acropora,
Porites, Pachyseris, Sinuiaria. Chỉ số đa dạng (H) đao động từ 0,471 đến 1,199 cho
san hô cứng và từ 0,485 đến 1,124 cho toàn bộ san hô. Giá trị này đạt cao nhất tại các
vị trí 13, 11,7 ,5 , 10. Một số điểm có thành phần khá đa dạng nhưng chỉ số đa dạng
thấp do tần số xuất hiện rất cao của một số giống.
San hô cứng được coi là thành phần chủ yếu trên các rạn san hô ở Côn Đảo.
Trong đó, tính ưu thế lớn nhất thuộc về giống Acropora, sau đó là PoriteSy
PkachyserisyMontipora yk Payna. Độ phủ san hô mềm chủ yếu do Sinularia quyết
định.
4.5.2.4.Cá rạn san hô
Thành phần cá rạn san hô đã ghi nhận bao gồm 202 loài thuộc 80 giống, 31 họ.
Họ cá Thia giàu có thành phần nhất (45 loài chiếm 22,27% tông số loài). Sau đó là hộ
cá Bàng Chài - 29 loài, họ cá Bướm - 22 loài, họ cá Mó - 17 loài, họ cá Hồng - 15
loài, họ cá Phèn - 9 loài, họ cá Mú - 8 loài... Cũng như các vùng biển khác ở ven bờ
Nam Việt Nam, thành phần cá rạn san hô được đại diện chủ yếu bởi 4 họ : cá Thia, cá
Bàng Chài, cá Bướm, cá Mó. Côn Đảo có thành phần loài cá Thia đa dạng nhưng họ
cá Bướm lại nghèo do đó thành phần loài cá cảnh ở Côn Đảo kém đa dạng hơn các
2 thấp (29 con/500mP
P). Trong khi đó, các họ cá Mú, cá Hồng, cá Đông, cá Sạo, cá Hè có
vùng rạn ở miền Trung. Mật độ trung bình trên các rạn nghiên cứu cũng tương đối
giá trị thực phẩm lại rất đa dạng thành phần loài.
Khu vực hòn Cau, Nam Bảy Cạnh, hòn Bông Lan và phía Tây Bắc Côn Sơn có
thành phần loài cá giàu có nhất. Trong đó, khu vực hòn Cau thành phần loài chủ yếu
thuộc các họ cá Mú, cá Hồng, cá Khế, cá Phèn, cá Đông còng vùng Tây Bắc Côn Sơn
giàu các loài thuộc họ cá Bướm, cá Bàng Chài, cá Đuôi Gai, cá Nóc, cá Bò Da. Đới
sâu trên các rạn thựờng có số lượng loài nhiều hơn đới nông. Cá Mú, cá Hồng, cá Sơn
Đá thường đa dạng từ độ sâu 5 - 7m, ra ngoài rạn còn cá Bướm chủ yếu tập trung trên
mật bằng rạn. Riêng các họ cá Thia, cá Bàng Chài, cá Mó phân bố rộng.
So sánh tính chất thành phần loài bằng chỉ số giống nhau Sorrenson cho thấy giá
trị này biến thiên từ 0,23 đến 0,72 ; trung bình 0,44. Điều đó cho thấy cấu trúc thành
phần loài tương đối khác nhau giữa các vùng rạn. Trong hơn 200 loài ghi nhận được,
chỉ có 10 loài phô biến trên hầu hết các vùng bao gồm Cephalopholis boehak (Họ cá
Mú), Scoỉopsịs bilineatus (cá Đông), Chaetodon octoỷasciaịus, Chaetodontopỉus
mẹsoleucus (cá Bướm), Amblyglyphidodon curacao, Hemiglyphỉdodon
pỉagiometopon, Pomacentrus bụrroughi, p.moluccensis (cá Thia), Labroides
2 Mật độ cá ở các điểm nghiên cứu dao động từ 71 - 5143 con/ 500mP P, trung bình
2 2.017 con/500mP
P. Đây là số lượng rất cao so với các vùng biển ven bờ khác ở Nam
aimidiatus, Thalassoma iunare (cá Bàng Chài).
Việt Nam, giá trị tương ứng ở Cù Lao Chàm là 540, Văn Phong - Bến Gỏi -676, Nha
Trang - 226, Cù Lao Cau - 346, An Thới - 748. Hầu hết cá ưong vùng đều có kích
2 mật độ trung bình 11 - 386 con/500mP
P/loài. Loài có số lượng nhiều nhất là Chromis
thước nhỏ, 85,32% có chiều dài thuộc nhóm 1 - lOcm và chủ yếu thuộc họ cá Thia với
ternatensis. Chính sự ưu thế về số lượng của một số loài đã làm cho chỉ số đa dạng
được tính toán không cao mặc dù số lượng loài tương đối nhiều. Giá trị này dao động
từ 0,36 đến 1,23, trung bình. 0,81. Tuy nhiên, vùng phía Đông Đông Bắc quần đảo
thường có chỉ số đa dạng cao hơn.
4.5.2.5.Trứng cá - cá bột
Phân tích mẫu trứng cá - cá bột thu vào tháng 10/1995 cho thấy thành phần cá
tương đối đơn giản với 10 họ, trong đó trứng thuộc 6 họ và cá bột thuộc 4 họ. Về số
lượng trứng cá cơm phong phú nhất chiếm 10% trên tông số còn cá bột chủ yếu thuộc
3 Số lượng trứng trong vùng điều tra (trung bình 91,6 trứng /100mP
P) cao hơn nhiều
họ Bông ứắng, cá Trích, cá Lo và cá Phèn.
3 (12,1 trứng/10mP
P) ở vùng nước sâu ngoài rạn san hô phía Đông Bắc Đảo Lớn. Có thể
so với các vùng biển khác ở Việt Nam. Đặc biệt, giống cá cơm có số lượng nhiều
coi đây là bãi đẻ của giống cá này. Một điều khác được ghi nhận là trứng cá rất phong
phú ở vùng ngoài rạn san hô còn cá bột lại có số lượng khá cao trong các rạn.
4.5.2.6. Động vật đáy
Tập hợp các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay ở Côn Đảo cho phép thống kê
số lượng loài đã ghi nhận bao gồm 130 loài Giun nhiều tơ, 110 loài giáp xác, 153 loài
thân mềm, 46 loài Da Gai.
Thành phần giun nhiều tơ thuộc vào 35 họ, trong đó 21 họ giun sống tự do chiếm
96 loài, 12 họ sống cố định chiếm 32 loài. Vùng triều có số loài giun nhiều tơ nghèo
nhưng mật độ cá thể của một số loài rất lớn và chủ yếu thuộc vào 2 họ Eunicidae và
Nereidae. Các loài có tần số xuất hiện cao là Lysidice coilaris, pạloia siciiiensis,
Neanthes arenacenodentata. So với bãi triều vùng có thực vật ngập mặn, bãi triều san
hô chết có thành phần đa dạng hơn. Vùng dưới triều rạn san hô đa dạng nhất về thành
phần loài nhưng số lượng từng loài thường ít và kích thước cá thể nhỏ. Loài thường
gặp trên rạn san hô là Spiropranchus giganteus cư trú trong ống canxi trên san hô sống
chủ yếu thuộc dạng khối. Các loài giun sống tự do thuộc họ Eunicidae cũng thường
xuất hiện với số lượng nhiều.
Các động vật đáy có kích thước lớn thuộc các nhóm thân mềm, giáp xác, da gai
2 thay đôi giữa các vị trí nghiên cứu và biến thiên từ 4 - 90 con/100mP
P. Mật độ trung
2 bình của động vật thân mềm cao nhất (44 con/100mP
P). Điều cần chú ý là Gầu Gai đen
đóng vai trò quan trọng tạo nên tính đa dạng của các rạn san hô. Mật độ của chúng
có số lượng ít và chỉ phân bố ở vài nơi.
Sự đa dạng thành phần thân mềm có thể coi là một đặc trưng của sinh vật đáy
biển Côn Đảo. Trong tông số 153 loài ghi nhận có 109 loài thuộc 26 họ của lớp Chân
Bụng và 44 loài thuộc 14 hộ của lớp Hai vỏ. Như vậy, vùng này giàu có cả về số
lượng loài và cả số họ hơn so với các vùng đảo khác (Cù Láp Chàm - 85 loài, 30 họ,
Phú Quốc -106 loài, 43 họ...). Đặc biệt, thành phận thân mền thuộc các họ Ốc Sứ (29
loài) Ốc Gai (14 loài) và ốc cối (li loài) rất giàu có. Nhiều loài thân mềm quý hiếm
được đưa vào sách đỏ Việt Nam (Đặng Ngọc Thanh, Ị992) cũng phân bô" ở vùng này
như Bào Ngư, ốc Đụn, ốc Sứ, Ngọc Trai.
Chương 5: HOẠT ĐỘNG KINH TẾ XÃ HỘI VÀ SƯ TÁC
ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN Ở CÔN
ĐẢO
5.1.Dân cư, phân bố dân cư và tác động của nó đến môi trường tự nhiên.
Côn Đảo với số dân khoảng 2000 người tập trung chủ yếu ở đảo Côn Sơn (đảo
chính) gồm khu trung tâm và Cỏ Ống, chỉ có vài hộ dân ở đảo Hòn Cau.
Do dân cư không đông lắm nên ảnh hưởng của con người đến môi trường tự
nhiên không nhiều, mức độ ô nhiễm thấp.
- Chất thải rắn Nguồn chất thải rắn ở Côn Đảo gồm rác thải sinh hoạt, rác thải từ
bệnh viện, từ chợ... tuy không nhiều nhưng do chưa có hệ thông xử lý nên rác thải ở
đây chủ yếu là đô thành đống ở các bãi trông, một số nơi vất bỏ tùy tiện, nhất là ở
xung quanh chợ Côn Đảo gây ô nhiễm cho nguồn nước, cho chất lượng không khí.
Ngoài ra còn tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng.
- Nước thải sinh hoạt: Hệ thống cống thải, thoát nước ở các gia đình, bệnh viện
Côn Đảo rất kém nên nước thải cứ thấm xuống đất một cách tự nhiên gây ô nhiễm đến
nguồn nước ngầm, đến chất lượng nước ở Côn Đảo.
5.2.Các hoạt động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và tác động của nó
đến môi trường tự nhiên.
Ngày nay, ở các nước phát triển vấn đề ô nhiễm do công nghiệp đang từng bước
giảm xuống nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Ngược lại, ở các nước đang phát
triển, vấn đề ô nhiễm không khí từ các quá trình sản xuất trở nên đáng lo ngại.
Tuy công nghiệp chưa phát triển, nhưng nền công nghiệp hình thành theo nhu
cầu tự phát, thiếu quy hoạch, thường nằm xen kẽ trong khu dân cư, trang bị máy móc
và công nghệ quá cũ và không có hệ thống sử lý chất thải là nguyên nhân gây nên ô
nhiễm.
Kinh tế khu vực Côn Đảo ở tình trạng chưa phát triển, sản xuất công nghiệp chỉ
có quy mô nhỏ, số lượng công nhân ít. Sản lượng của một số ngành sản xuất chính của
Côn Đảo hiện nay như sau:
- Sản xuất nước mắm: 14.640 lít/năm
- Đánh bắt hải sản: 3.163 tấn/năm
- Sản phẩm chăn nuôi:300.000 tấn/năm
- Sản xuất điện đạt: 1.026.010 kWh
Tuy Côn Đảo có tiềm năng phong phú về đá xây đựng, nhưng do yêu cầu bảo vệ
cảnh quan, các cấp lãnh đạo đã hạn chế việc khai thác ở mức độ nhỏ, chủ yếu phục vụ
nhu cầu tại chỗ.
Hiện có Binh Đoàn 12 đang khai thác đá xây dựng ở Sở Muối, một số cơ sở khai
thác đất sét ở Sở Tiêu làm gạch thủ công với quy mô nhỏ và khai thác đất san lấp ở
Họng Đầm.
Quá trình khai thác, vận chuyển vật liệu xây dựng có thể đưa vào môi trường
một lượng bụi đáng kể.
Các cơ sở sản xuất nước đá, nhà máy phát điện, xí nghiệp chế biến hải sản và
thực phẩm... có gây ô nhiễm cho môi trường tự nhiên Côn Đảo nhưng chỉ ở mức độ
nhỏ, không nghiêm trọng.
5.3.Các hoạt động nông nghiệp và tác động của nó đến môi trường tự nhiên
Nông nghiệp ở Côn Đảo hầu như không phát triển, một số nơi có trồng lúa, rau...
nhưng với diện tích nhỏ. Có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhưng với hàm lượng rất
ít, khả năng gây ô nhiễm đến môi trường không đáng kể.
Về chăn nuôi: Sản phẩm chăn nuôi ở Côn Đảo không nhiều, chỉ đạt khoảng 30
tấn thịt hơi/năm chủ yếu là heo, bò, gà,vịt do các gia đình tự nuôi để đáp ứng nhu cầu
về thịt. Chất thải của chăn nuôi là một nguồn ô nhiễm đáng kể cho môi trường tự
nhiên ở Côn Đảo bởi vì hầu như tất cả các nguồn này đều phân bố trong khu vực dân
cư với diện tích tập trung nhỏ.
5.4.Dịch vụ và tác động của nó đến môi trường tự nhiên
Do nền kinh tế ở Côn Đảo chưa phát triển mạnh nên nghành dịch vụ ở đây còn
đang ở dạng tiềm năng.
Hàng năm số lượng khách du lịch ra thăm Côn Đảo khoảng trên dưới 7000
người (1998). Mức độ ô nhiễm môi trường do khách du lịch gây ra không đáng kề.
Các bãi biển vẫn sạch không bị gây ô nhiễm.
Thành phần không khí một phần bị ô nhiễm do giao thông. Nguồn ô nhiễm là do
khói thải của ô tô, xe máy, tàu thuyền, máy bay... Mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào
đường xá, chất lượng xe, số lượng và loại nhiên liệu tiêu thụ... Ngày nay, ở các nước
phát triển vấn đề ô nhiễm không khí do giao thống chiếm một tỉ trọng lớn so với các
ngành khác.
Do nhân dân Côn Đảo sống tập trung trên một diện tích hẹp tại khu trung tâm
nên nhu cầu đi lại bằng xe cộ ít. Tông số xe ô tô các loại chưa tới 10 chiếc, xe máy
dưới 20 chiếc. Hệ thống giao thông đường bộ tại Côn Đảo chưa phát triển, các con
đường hình thành từ xa xưa, lòng đường nhỏ, hiện nay đã xuống cấp trầm trọng và
chưa được tu sửa. Trước mắt, huyện đang có kế hoạch thực hiện cải tạo và nâng cấp
các con đường trên đảo, đặc biệt là đường nối liền Bến Đầm và Cỏ Ống
Về hàng không, thực hiện ba chuyến bay mỗi tuần. Về giao thông đường biển
trung bình có 100 chuyến tàu khách và tàu chở hàng đi về mỗi năm, tàu đánh cá
khoảng 4000 chuyến đi về một năm. Tông lượng xăng dầu đo trạm xăng dầu Côn Đảo
tiêu thụ trong năm 1995 là 559 tấn. Những hoạt động giao thông nói trên sinh ra một
lượng khí thải có chứa các chất ô nhiễm không khí như bụi than, NORxR, SORxR, THC
Do nằm giữa đại dtrong, gió mạnh quá trình phát tán khí tốt, nên khí thải nhanh
chóng phát tán đi xa và hầu như không ảnh hưởng đến chất lượng không khí trên hòn
đảo có diện tích nhỏ bé này.
Hoạt động của các cảng cũng một phần gây ô nhiễm môi trường tự nhiên của
Côn Đảo nhất là ở khu vực gần bờ biển vì Côn Đảo hiện có một cảng cá nhỏ và một
bến tàu hàng 300 tấn. Hàng ngày có khoảng 25 - 30 tàu cập bến và hàng tuần có 2 - 3
chuyến tàu chở khách từ đất liền ra đảo và ngược lại. Ở cảng, nguồn ô nhiễm chính
cho nước biển là rác thải, nước thải sinh hoạt và dầu mỡ rơi vãi từ các tàu thuyền. Đã
có lúc váng dầu trên mặt nước khu vực cảng quan sát rất rõ (trên lmg/1). Với chế độ
bán nhật triều ở Côn Đảo thì hàm lượng dầu thấm vào đất không nhỏ (hiện nay chưa
có nghiên cứu về mức độ khuếch tán dầu từ cảng vào bờ). Trong tương lai, khi Côn
Đầo mở rộng cảng và xây dựng các cảng mới ỏ Bến Đầm, khu vực Cỏ Ống thì vấn đề
ô nhiễm dầu đối với nước biển ven bờ cần phải dự báo trước và có biện pháp phòng
ngừa.
Chương 6: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CÔN
ĐẢO
6.1. MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
6.1.1. Các nguồn gây ô nhiễm không khí chủ yếu tại khu vực Côn Đảo
1 Dựa vào nguồn gốc phát sinh có thể chia các nguồn ô nhiễm tại khu vực Côn
Đảo thành hai nhóm: nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo.
Thành phần khí nguyên thủy chưa bị ô nhiễm được đưa ra trong bảng 6.1.
Bảng 6.2. Trình bày tóm tắt một số chất ô nhiễm không khí chính và các nguồn
gốc phát sinh.
Bảng 6.2. Một số chất ô nhiễm khí chính và nguồn gốc phát sinh
6.1.1.1. Nguồn tự nhiên
Nguồn ô nhiễm này là khí thoát ra từ núi lửa, do cháy rừng, bụi bốc lên do bão
cát, sự phát tán phấn hoa, mùi sinh ra do phân hủy các chất hữu cơ. Thực tế, việc đánh
giá tải lượng của các chất ô nhiễm do loại nguồn này đưa vào môi trường rất phức tạp
và khó lường trước được.
Trong nhiều trường hợp, hậu qủa của ô nhiễm do nguồn tự nhiên gây ra vô cùng
to lớn. Ví dụ, hoạt động của núi lửa Pinatubo của Philipin vào tháng 6 năm 1991 đã
đưa vào trong tầng bình lưu một lượng lớn chất ô nhiễm là tro bụi và khí SOR2R có thể
gây ra sự thay đôi nhất thời của khí hậu ưái đất. Chỉ trong một đợt hoạt động, núi lửa
thải ra khoảng 20 triệu tấn SOR2R gần bằng toàn bộ khí SOR2R do Hoa Kỳ thải ra trong một
năm.
Tại khu vực Côn Đảo, các nguồn ô nhiễm tự nhiên trong các năm vừa qua cũng
như hiện tại không có gì đặc biệt. Qua khảo sát thực tế cho thấy các nguồn có khả
năng phân hủy ra các khí ô nhiễm như khí metan, khí hydrosuliur, amoniac, khí
cacbonic từ các khu đầm lầy, bãi rác, nói chung không đáng kể. Bão cát, núi lửa, cháy
rừng không xảy ra, lượng bụi do đất đá bào mòn cuốn theo gió vào không khí rất nhỏ.
6.1.1.2. Nguồn nhân tạo
Là nguồn ô nhiễm do hoạt động của con người tạo nên bao gồm:
a/Nguồn ô nhiễm do sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Ngày nay, ở các nước phát triển vấn đề ô nhiễm do công nghiệp đang từng bước
giảm xuống nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Ngược lại, ở các nước đang phát
triển, vấn đề ô nhiễm không khí từ các quá trình sản xuất trở nên đáng lo ngại.
Tuy công nghiệp chưa phát triển, nhưng nền công nghiệp hình thành theo nhu
cầu tự phát, thiếu quy hoạch, thường nằm xen kẽ trong khu dân cư, trang bị máy móc
và công nghệ quá cũ và không có hệ thông xử lý chất thải là nguyên nhân gây nên ô
nhiễm.
Kinh tế khu vực Côn Đảo ở tình trạng chưa phát triển, sản xuất công nghiệp chỉ
có quy mô nhỏ, số lượng công nhân ít. Sản lượng của một số ngành sản xuất chính của
Côn Đảo hiện nay như sau:
- Sản xuất nước mắm: 14.640 lít/năm
- Đánh bắt hải sản: 3.163 tấn/năm
- Sản phẩm chăn nuôi:300.000 tấn/năm
- Sản xuất điện đạt: 1.026.010 kWh
Tuy Côn Đảo có tiềm năng phong phú về đá xây dựng, nhưng do yêu cầu bảo vệ
cảnh quan, các cấp lãnh đạo đã hạn chế việc khai thác ở mức độ nhỏ, chủ yếu phục vụ
nhu cầu tại chỗ.
Hiện có Binh Đoàn 12 đang khai thác đá xây dựng ở Sở Muối, một số cơ sở khai
thác đất sét ở Sở Tiêu làm gạch thủ công với quy mô nhỏ và khai thác đất san lấp ở
Họng Đầm.
Quá trình khai thác, vận chuyển vật liệu xây dựng có thể đưa vào môi trường
một lượng bụi đáng kể.
Mức độ ô nhiễm không khí do một số ngành sản xuất gây ra tại Côn Đảo có thể
đánh giá tổng quát như sau:
- Các cơ sở sản xuất nước đá: Chất ô nhiễm chủ yếu là khí amoniac (NHR3R), tải
lượng khí thải vào môi dường trung bình hàng ngày vào khoảng 0,4kg. Nếu không có
3 thường từ 0,05-0,2 mg/mP
P đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam TCVN 5938 -1995.
sự cố thì nồng độ khí NHR3R qua kết qủa kiểm tra của nhiều cơ sở cho thấy thông
Ngoài khí amoniac, khi chạy máy phát điện còn sinh ra một số khí thải như: bụi
than, NORX,R, SORxR, THC ; nhưng không nghiêm trọng vì tải lượng thấp (quy mô sản suất
nhỏ).
Vấn đề ô nhiễm cơ bản và thường xuyên từ các cơ sở sản xuất nước đá là tiếng
ồn. Tại khu vực sản xuất tiếng ồn đạt tới trên 95 dB. Ảnh hưởng tới công nhân làm
việc tại chỗ và khu vực dân cư cận bên.
- Ô nhiễm do máy phát điện: Hiện nay Côn Đảo phải sử dụng máy phát điện để
sản xuất điện phục vụ cho các hoạt động tại đảo. Một năm sử dụng trung bình 100 tấn
dầu (lượng dầu này tương đương với lượng dầu phục vụ cho nhiệt điện Thủ Đức trong
một ngày). Tải lượng ô nhiễm do chạy máy phát điện đưa vào môi trường trung bình
là:
- Bụi: 94 kg/năm -SOR2R:5400kg/năm -NOR2R:1180kg/năm
- THC: 24kg/năm
- Công nghiệp chế biển hải sản và thực phẩm: các chất ô nhiễm chính là mùi hôi,
khí metan (CHU), khí suniua hydro (HR2RS), hơi amoniac (NHR3R). Trong đó, khí có tính
độc hại cao hơn cả là suntiia hyđro (HR2RS). Tải lượng cửa khí HR2RS đưa vào môi trường
trung bình hàng ngày vào khoảng 5 -7 kg. Khí metan có tải lượng khá lớn nhưng nhẹ
nên dễ phát tán. Do vậy, vấn đề ô nhiễm do khí này không nghiêm trọng.
b/Nguồn ô nhiễm do giao thông
Nguồn ô nhiễm này là do khói thải của ô tô, xe máy, tàu thuyền, máy bay... Mức
độ ô nhiễm phụ thuộc vào đường xá, chất lượng xe, số lượng và loại nhiên liệu tiêu
thụ... Ngày nay, ở các nước phát triển vấn đề ô nhiễm không khí do giao thông chiếm
một tỉ trọng lớn so với các ngành khác.
Do nhân dân Côn Đảo sống tập trung trên một diện tích hẹp tại khu trung tâm
nên nhu cầu đi lại bằng xe cộ ít. Tổng số xe ô tô các loại chưa tới 10 chiếc, xe máy
dưới 20 chiếc. Hệ thông giao thông đường bộ tại Côn Đảo chưa phát triển, các con
đường hình thành từ xa xưa, lòng đường nhỏ, hiện nay đã xuống cấp trầm trọng và
chưa được tu sửa. Trước mắt, huyện đang có kế hoạch thực hiện cải tạo và nâng cấp
các con đường trên đảo, đặc biệt là đường nối liền Bến Đầm và Cỏ Ống.
Về hàng không, thực hiện ba chuyến bay mỗi tuần. Về giao thông đường biển
trung bình có 100 chuyến tàu khách và tàu chở hàng đi về mỗi năm, tàu đánh cá
khoảng 4000 chuyến đi về một năm. Tổng lượng xăng dầu do trạm xăng dầu Côn Đảo
tiêu thụ trong năm 1995 là 559 tấn. Những hoạt động giao thông nói trên sinh ra một
lượng khí thải có chứa các chất ô nhiễm không khí như bụi than, NORxR, SORxR, THC.
Tải lượng ô nhiễm do giao thông ước tính là:
- Bụi: 526 kg/năm
- SOR2R: 10067 kg/năm -NO2:6600kg/năm
- THC: 134 kg/năm
Do nằm giữa đại đtrong, gió mạnh quá trình phát tán khí tốt, nên khí thải nhanh
chóng phát tán đi xa và hầu như không ảnh hưởng đến chất lượng không khí trên hòn
đảo cô điện tích nhỏ bé này.
c/Nguồn ô nhiễm do đốt nhiên liêu phúc vụ sinh hoạt và vui chơi giải trí
Hoạt động sinh hoạt của con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây ô nhiễm môi
trường không khí. Các hoạt động trực tiếp gây ô nhiễm không khí như : đốt dầu, than
củi, đốt rác, thắp sáng... Các hoạt động gián tiếp là xả các chất thải, phân, rác... ra môi
trường và các chất này bị phân hủy thành các hợp chất mercaptan, NHR3R,HR2RS...
Với lượng người trung bình là 2000, chất đốt phục vụ cho sinh hoạt tại Côn Đảo
chủ yếu là củi. Có thể thấy tại Côn Đảo nguồn khí thải do đốt nhiên liệu phục vụ sinh
hoạt hàng ngày chiếm tỉ trọng lớn nhất. Chất ô nhiễm do đốt sinh hoạt chủ yếu là bụi
than, khí CORxR, NORxR. Với các loại nhiên liệu khác nhau, thành phần, tải lượng khí thải
có thay đổi. Bảng 6.3 đưa ra tải lượng ô nhiễm do đốt sinh hoạt tại khu vực Côn Đảo
khi sử dụng các loại nhiên liệu khác nhau.
Bảng 6.3. Ước tính tải lượng ô nhiễm do sinh hoạt
Các khí sinh ra từ các bãi rác bao gồm amoniac (NHR3RX cacbonic (COR2R), oxyt
cacbon (CO), hydro (HR2R), suliua hydro (HR2RS), metan (CHR4R), nito (NR2R). COR2R và CHR4R là
khí sinh ra trong quá trình phân hủy kị khí. Sau khoảng 18 tháng lượng khí sinh ra ổn
định và thành phần khí (nếu không được khai thác) chủ yếu là khí metan, vì khí COR2R
thấm xuống các tầng phía dưới.
Bảng 6.4. Thành phần khí sinh ra từ các bãi rác trong 48 tháng đầu tiên
Tại khu vực Côn Đảo, vấn đề ô nhiễm không khí chủ yếu là do các yếu tố tự
nhiên và sinh hoạt của con người tạo ra. Ô nhiễm do hoạt động sản xuất mang tính cục
bộ theo một số điểm sản xuất kinh doanh nhỏ. Hiện nay, vấn đề ô nhiễm không khí do
các nguồn khác nhau ở khu vực Côn Đảo còn ở mức độ nhỏ chưa có vấn đề ô nhiễm
đặc biệt nghiêm trọng. Chất ô nhiễm chủ yếu là bụi (do đường giao thông kém chất
lượng) và mùi hôi do sự phân hủy các chất hữu cơ do chất thải sinh hoạt, dịch vụ thủy
sản gây ra. Thành phần của khí ô nhiễm gồm nhiều chất như khí metan, hydro suniiia,
amoniac, khí cacbonic, NORxR, SORxR, THC.
6.1.2. PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG
KHÔNG KHÍ
6.1.2.1. Phương pháp khảo sát chất lượng không khí
Đánh giá chung về chất lượng không khí khu vực Côn Đảo nhằm phục vụ sinh
hoạt, dịch vụ, giải trí của nhân dân địa phương và khách tham quan du lịch cũng như
nhằm phát triển kinh tế hợp lý và đảm bảo môi trường trong sạch.
6.1.2.1.1.Chọn vùng khảo sát
Chọn vùng khảo sát đặc trưng cho từng khu vực trên đảo nhu khu dân cư, khu
bến cảng, khu sản xuất, sân bay, bãi biển...
Các vùng được chọn :
-Đảo Côn Sơn: Gồm khu thị trấn, cầu Cảng, Vùng I, Vùng II, chợ Côn Đảo, bưu
điện...
- Khu Cỏ Ống : Sân bay Cỏ Ống, Bãi Vông.
- Khu cảng Bến Đầm.
6.1.2.1.2.Chọn địa điểm lấy mẫu
Chọn các điểm đại diện cho các khu vực sản xuất công nghiệp, khu dân cư, khu
mật độ xe cộ qua lại thường xuyên, khu bến cảng, khu bãi biển. Các khu vực đại diện
đã được nêu bên trên.
6.1.2.1.3.Tần số lấy mẫu
Nồng độ các chất ô nhiễm phụ thuộc vào các yêu tố như nguồn phát sinh, điềụ
kiện khí tượng thủy văn, địa hình. Để đánh giá đúng và đầy đủ, các chất ô nhiễm cần
phải được giám sát liên tục hàng ngày bằng các thiết bị giám sát tự động. Công việc
này đòi hỏi phải có sự đầu tư rất cao và tốn kém. Do điều kiện kinh phí, thiết bị có hạn
nên đề tài đã tiến hành lấy mẫu với tần suất hai lần vào các thời điểm đặc trưng của
mùa (mùa nắng, mùa mưa). Thời gian khảo sát, lấy mẫu là tháng 11-1995 và tháng 5-
1996. Kết quả sơ bộ này có thể nói lên thực trạng ô nhiễm không khí tại những vùng
chủ yếu ở huyện Côn Đảo.
6.1.2.1.4.Phương pháp lấy mẫu và phân tích khí
Phương pháp lây mẫu và phân tích dựa trên các tài liệu chính của Tổ chức Y tế
Thế Giới (WHO) và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (US EPA).
a/Bụi tổng cộng
* Nguồn gốc phát sinh : Bụi sinh ra do các hoạt động sản xuất nói chung, giao
thông và hoạt động sinh hoạt của con người. Bụi là một tổng hợp các chất phức tạp ở
thể rắn, lỏng trong không khí.
Bụi lơ lững có tác hại mạnh nhất tới hô hấp là phân đoạn có kích thước từ 0,1
đến 10 micromet.
*Tác hại của bụi: Bụi vào phổi gây kích thích cơ học và phát sinh phản ứng xơ
hóa phổi gây nên những bệnh về đường hô hấp. Bụi than tạo thành trong quá trình đốt
nhiên liệu có thành phần chủ yếu là các chất hydrocacbon đa vòng là chất ô nhiễm có
độc tính cao vì có khả năng gây ung thư.
* Xác định bụi tổng cộng : Có nhiều cách xác định bụi như các phương pháp
trọng lượng, phương pháp phổ kế... Dưới đây mô tả cách xác định bụi theo phương
pháp trọng lượng.
Một thể tích lớn khí được hút qua giấy lọc (bụi có cốt PVC). Giấy lọc đã được
làm khô trong bình hút ẩm có silicagel tới trọng lượng không đổi. Nồng độ bụi được
tính bằng tổng lượng bụi bị giữ trên giấy lọc chia cho thể tích mẫu khí được quy về
điều kiện chuẩn, 25°c và áp suất 760 mm Hg.
b/Dioxit lưu huỳnh (SOR2 R)
* Nguồn gốc phát sinh: Khí dioxit lưu huỳnh sinh ra từ hầu hết quá trình đốt
nhiên liệu, quá trình luyện kim, luyện quặng và đặc biệt là quá trình sản xuất axit
sunfuric.
* Cách xác định:
Trong đề tài đã sử dụng phương pháp so màu Pararosanilin. Khí dioxit lựu
huỳnh (SOR2R) được hấp thụ bằng dung Kali tetraclorua thủy ngân. Phức này có khả
năng chống được các chất oxy hóa như ozon, dioxitnito. Mẫu thu được đem xử lý với
dung dịch màu Pararosanilin trong clorua hydro (HO) và iormandehyt (HCHO). Phức
có màu hồng tím. Mẫu được đo trên máy quang phô so màu ở bước sóng 560nm. Kết
3 Khi nồng độ của khí SO2 từ 0,015-0,6 mg/mP P thì thể tích mẫu khí có thể thu từ
qủa được tính toán so sánh từ dung dịch chuẩn.
25-40 lít. Vận tốc lấy mẫu cần đạt 0,5 lít/phút. Mẫu thu được nếu bảo quản d nhiệt độ
dưới 5°c thì có thể giữ được trên lo ngày .Trong trường hợp không bảo quản lạnh thì
phải phân tích mẫu ngay trong ngày.
c/Khí dioxit nitrơ (N0R2R)
* Nguồn gốc phát sinh : Dioxit iiitơ sinh ra từ các hoạt động của con người như
sản xuất cồng nghiệp, đốt nhiên liệu.
* Cách xác định : Chất hấp thụ là dung dịch NaOH 0,1N hay 0,5N. Khi được hút
qua một bình thu mẫu (Impinggẹr) có chứa dung địch hấp thụ với vận tốc 0,5 liưphút.
NƠ2 phản ứng với N-l-naphtyl etylen diamin dihydro chlorid tạo thành phẩm màu
diạzo. Sân phẩm màu tạo thành được đo trên máy so màu ồ bước sóng 540nm. Mẫu
được so sánh với dung dịch chuẩn.
* Tác hại của các khí axit (SORXR,NORXR) :
- Đối với sức khỏe:
SORXR, NORxR là các chất khí kích thích, khi tiếp xúc với niêm mạc ẩm ướt tạo thành
các axit. SORxR, NORxR vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hòa tan vào nước bọt rồi vào
đường tiêu hóa, sau đó phân tán vào máu tuần hoàn SOơ, NORxR khi kết hợp với bụi tạo
thành các hạt bụi axit lơ lửng, nếu kích thước nhỏ hơn 2-3 micronmet sẽ vào tới phế
nang, bị đại thực bào phá hủy hoặc đưa đến hệ thống bạch huyết. SORxR có thể nhiễm
độc qua da gây sự chuyển hóa và làm giảm dự trữ kiềm trong máu, đào thải amoniac
ra nước tiểu và kiềm đưa ra nước bọt. Độc tính chung của SORxR có khả năng gây bệnh
cho hệ tạo huyết và tạo ra methemoglobin tăng cường quá trình oxy hoá Fe (II) thành
Fe (III).
- Đối với thực vật:
Các khí SORxR, NORxR khi bị oxy hóa trong không khí và kết hợp với nước mưa tạo
nên mưa axit gây ảnh hưởng tới sự phát triển của cây trồng và thảm thực vật. Khi
nồng độ SOR2R trong không khí khoảng 1-2 ppm có thể gây chấn thương đối với lá cây
sau vài giờ tiếp xúc. Đối với các loại thực vật nhạy cảm giới hạn gây độc kinh niên
khoảng 0,15-0,30 pmm. Nhạy cảm nhất đối với SOR2R là thực vật bậc thấp rêu, địa y.
- Đối với vật liệu:
Sự có mặt của SORxR, NORxR trong không khí nóng ẩm sẽ làm tăng cường quá trình
ăn mòn kim loại, phá hủy vật liệu bê tông và các công trình xây dựng nhà cửa.
d/ trong các chất hữu cơ bay hơi (THC)
* Nguồn gốc phát sinh: Trong quá trình sản xuất có thải ra môi trường các hợp
chất hydrocacbon bay hơi như : axeton, toluen. xăng thơm (dung môi keo dán)... Sinh
ra ở khu vực bồn chứa nhiên liệu, máy phát điện. Trong khí xả các phương tiện vận tải
có lẫn hydrpcacbon chưa cháy.
* Tác hại: Hydrocacbon thường ít gây nhiễm độc mãn tính mà chỉ gây nhiễm độc
3 ngạt, viêm phổi, áp xe phổi...Khi hít thở hơi hydrocacbon ở nồng độ 40.000 mg/mP
P có
cấp tính. Các triệu chứng nhiễm độc cấp tính là: suy nhược, chóng mặt, say, co, giật,
thể bị nhiễm độc cấp tính với các triệu chứng tức ngực, chóng mặt rối loạn các giác
quan, tâm thần, nhức đầu, buồn nôn, nôn. Đa số các VOC có mùi và đây là biểu hiện
rõ ràng của sự ô nhiễm.
3 Khi hít thở hơi hydrocaebon với nồng độ 60.000 mg/mP
P sẽ xuất hiện các cơn co
giật, rối loạn tim và hô hấp, thậm chí có thể tử vong.
* Cách xác định:
Nguyên tác chung : khí được hấp thụ qua than hoạt tính, sau đó được chiết bằng
dung môi tetracloruacarbon. Mẫu được phân tích trên''máy sắc ký với detecter ion hóa
ngọn lửa. Nồng độ hydrocacbon (có nhiệt độ sôi từ 70-280°C) được tính quy về theo
một chất chuẩn và quy ra theo đơn vị cacbon (C).
e/Chì(Pb)
* Nguồn gốc phát sinh: Chì tetraetyl có mặt trong xăng được dùng làm chất phụ
gia để nâng cao chỉ số ôctan, thực tế là để giảm tiếng ồn động cơ và chống hiện tượng
nổ sớm. Như vậy, khói thoát từ xe máy là một nguồn phát tán chì vào không khí.
* Tác hại của chì (Pb): Chì đưa đến những rối loạn thần kinh, làm giảm trí nhớ
nhất là trẻ nhỏ và chì cũng gây ra chứng thiếu máu vì làm rối loạn sự tổng hợp huyết
cầu tố trong máu. Nghiên cứu gần đây cho thấy chì cũng có thể là yếu tố gây huyết áp
cao và bệnh tim mạch ở người trung niên da trắng.
* Cách xác định : Bụi trên giấy lọc được xử lý và tách chiết bằng axit nitric. Sau
đó phân tích mẫu trên máy quang phổ hấp thụ nguyên tử hoặc cực phổ sóng vuông
hoặc sử dụng phương pháp so màu với thuốc thử Dithizone.
f/Các oxit cacbon (CO)
* Nguồn gốc phát sinh: Các khí oxit cacbon là sản phẩm của các quá trình đốt
cháy nhiên liệu công nghiệp và sinh hoạt sản phẩm tạo thành là oxit cacbon, nếu quá
trình cháy không hoàn toàn và khi quá trình cháy được thực hiện triệt để sẽ tạo thành
dioxit cacbon (COR2R)
* Tác hại: Oxit cacbon dễ gây độc do kết hợp khá bền vững hemoglobin thành
cacboxyhemoglobin làm giảm khả năng vận chuyển oxy trong máu đèn các tổ chức tế
bào.
Khí cacbonic có thể gây rối loạn hô hấp phổi và tế bào. Với nồng độ 50.000
pmm trong không khí sẽ gây triệu chứng nhức đầu, khó thở. Nồng độ 100.000 pmm
có thể gây tình trạng ngất xỉu, nghẹt thở.
* Cách xác định: Khí có tác dụng với paladi clorua tạo thành paladi kim loại,
Dung dịch mẫu có paladi sẽ chuyển màu của photpho molypdic từ màu vàng thành
màu xanh. Dung dịch được đem đo màu ở bước sóng 650nm.
e/ Tác hại của yếu tố vật lý
Tiếng ồn, độ rang cao hơn tiêu chuẩn sẽ làm mất ngủ, mệt mỏi, gây tâm lý khó
chịu, ảnh hưởng tới sức khỏe của công nhân. Tiếng ồn còn làm giảm năng suất lao
động của công nhân trong khu vực sản xuất, làm kém tập trung tư tưởng và có thể đẫn
đến tai nạn lao động.
Ngoài ra, còn một số thông số vật lý khác có ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân
như: nhiệt độ, bức xạ, độ ẩm, tóc độ gió... Nhiệt độ làm tăng khả năng nhiễm độc của
cơ thể. Đo ồn theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5938 - 1995.
Bảng 6.5. Các giá trị ồn liên quan tới nguồn gốc phát sinh
6.1.2.2. Phương pháp đánh giá chất lượng không khí
Đánh giá chất lượng không khí dựa theo hệ số kRiR được định nghĩa là tỉ số của
nồng độ chất ô nhiễm đo tại vị trí I (CRiR) và nồng độ tối đa cho phép của tiêu chuẩn
(QRtcmtR).
Tiêu chuẩn môi trường cho phép nồng độ tối đa các chất ô nhiễm trong khu dân
cư được nêu trong bảng 6.6.
6.1.3. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG KHÔNG KHÍ
CÔN ĐẢO
Từ các kết quả giám sát chất lượng không khí tại các khu vực chính huyện Côn
Đảo. Hiện trạng chất lượng không khí của Côn Đảo được đánh giá dựa trên một số chỉ
tiêu chính như sau :
6.1.3.1.Ô nhiễm khí SO2
Nhận xét, đánh giá :
P. Hàm
3 : Nồng độ khí SOR2R đo được tại các điểm dao động từ 0,01-0,05 mg/mP
3 lượng trung bình tại tất cả các điểm đo : 0,03 mg/mP
P.
- Đợt I (tháng 11-1995) :
2 Nồng độ khí SOP
3 P đo được tại các điểm dao động từ 0,02-0,06 mg/mP
P. Hàm lượng
3 trung bình tại tất cả các điểm đo: 0,03 mg/mP
P.
3 - Nồng độ trung bình các điểm của 2 đợt đo là 0,03mg/mP
P.
- Đợt II (tháng 4,5 năm 1996) :
- Hệ số k = 0,06 rất nhỏ so với 1,0.
Chất lượng khí tại Côn Đảo thuộc loại rất sạch khí SOR2R (loại I), chưa bị ô nhiễm.
6.1.3.2.Ô nhiễm bụi
Nhận xét đánh piá :
- Đạt I (tháng 11-1995):
Nồng độ bụi đo được tại các điểm dao động từ 0,12-0,47 mg/m3. Có 4/15 điểm
3 - 1995). Hàm lượng bụi trung bình tại tát cả các điểm đo : 0,26 mg/mP
đo (các điểm số 6, 7, 11, 12), có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn môi trường (TCVN 5937
3 Nồng độ bụi đo được tại các điểm dao động từ 0,18-0,42 mg/mP
P. Hàm lượng bụi
3 trung bình tại tất cả các điểm đo : 0,26 mg/mP P. Có 4 điểm đo có nồng độ bụi vượt tiêu
-Đạt II (tháng 4, 5 năm 1996):
3 - Nồng độ trung bình các điểm của 2 đợt đo là 0,26 mg/mP
P .
chuẩn môi trường (các điểm đo số 3, 6, 7,12).
-Hệ số k=0,90 Chất lượng khí tại Côn Đảo thuộc loại sạch (loại II), chưa bị ô nhiễm do bụi UNhận xét đánh giá : P. Hàm 3
Nồng độ khí NOR2R đo được tại các điểm dao động từ 0,001 - 0,011 mg/mP 3
lượng trung bình tại tất cả các điểm đo : 0,006 mg/mP P. - Đợt I (tháng 11 -1995) : P. Hàm lượng 3
Nồng độ khí NOR2R tại các điểm đo đao động từ 0,003 - 0,019 mg/mP 3
trung bình tại tất cả các điểm: 0,009 mg/mP P. 3
- Nồng độ trung bình các điểm của hai đợt đo là 0.007 mg/mP P. - Đạt II (tháng 4, 5 năm 1996) : - Hệ Số k = 0,018 rất nhỏ so với 0,5. Chất lượng khí tại Côn Đảo thuộc loại rất sạch khí NOR2R (loại I), chưa bị ô nhiễm. UNhận xét, đánh giá 3
Nồng độ khí CO đo được tại các điểm dao động từ 0,3 - 1,4 mg/mP P. Hàm lượng 3
trung bình tại tất cả các điểm đo : 0,7 mg/mP P. - Đợt I (tháng 11-1995): 3
Nồng độ khí CO tại các điểm đo dao động từ 0,2 - 1,5 mg/mP P. Hàm lượng trung 3
bình tại tất cả các điểm đo : 0,8 mg/mP P. 3
- Nồng độ trung bình các điểm của 2 đợt đo là 0,73 mg/mP P. -Đợt II (tháng 4, 5-1996): - Hệ số k = 0,018 rất nhỏ so với 0,5. Chất lượng khí tại Côn Đảo thuộc loại rất sạch khí CO (loại I), chưa bị ô nhiễm. UNhận xét, đánh giá : 3
Nồng độ khí THC đo được tại các điểm dao động từ 0,1 - 0,1 mg/mP P. Hàm ltrong 3
trung bình tại tất cả các điểm đo : 0,041 mg/mP P. -Đợt I (tháng 11 -1995): 3
Nồng độ khí THC tại các điểm đo dao động từ 0,2 - 1,5 mg/mP P. Hàm lượng trụng 3
bình tại tất cả cáp điểm: 0,51 mg/mP P. 3
- Nồng độ trung bình các điểm của 2 đợt đo là 0,46 mg/mP P. -Đợt II (tháng 4, 5-1996) : - Hệ Số k = 0,08 rất nhỏ so với 0,5. Chất lượng khí tại Côn Đảo thuộc loại rất sạch khí THC (loại I), chưa bị ô nhiễm. -4 Tổng số các giá trị bụi Pb đo được của cả 2 đợt: 30. 3
Pmg/mP P. Tất cả các điểm đo đều có 3
nồng độ Pb nhỏ hơn tiêu chuẩn TCVN 5948 - 1995 (0,005 mg/mP P). - Nồng độ Pb trong khoảng từ 0,0 đến 4*10P - Không khí tại Côn Đảo đạt mức rất sạch (loại I) về chỉ tiêu Pb. -Đợt I (tháng 11-1995): Mức ồn trung bình một giờ tại các điểm đo đạt từ 42,5 (điểm số 1) đến 60,2 dB (A) (điểm số 12) nói chung đạt mức cho phép TCVN 5938 - 1995. -Đợt II (tháng 4, 5-1996): - Mức ồn trung bình một giờ tại các điểm đo biến thiên từ 44,2 (điểm số 8) đến 60,5 dB (A) (điểm số 12), đạt mức cho phép theo TCVN 5948 -1995. Nói chung cả hai đợt thực địa, mức ồn trung bình một giờ tại các điểm đo dao động trong một khoảng nhỏ từ 42,5 đến 60,5 dBA. Có điểm số 12, ở chợ Côn Đảo, mức ồn đo được ở cả hai đợi đều đạt đến giới hạn mức ồn tối đa cho phép của tiêu chuẩn Việt Nam đối với khu dân cư (55 - 60 dBA). Từ các đánh giá trên có một số đánh giá chung về chất lượng không khí tại khu vực Côn Đảo. Tất cả các điểm giám sát cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm SOR2R, NOR2R, GO, THC, Pb đều thấp hơn nồng độ giới hạn (TCVN 5937 - 1995) rất nhiều lần riêng chỉ có nồng độ bụi gần ngưỡng giới hạn. Cụ thể có 3 điểm đo có hàm lượng bụi trong cả hai lần đo đều vượt tiêu chuẩn Việt Nam. Đó là khu vực chợ Côn Đảo (12), ngã ba Tôn Đức Thắng- Nguyễn Huệ (6) và bưu điện huyện (7). Đây là khu vực có mật độ xe cao hơn hẳn so với các nơi khác. Cơ sở hạ tầng như đường xá kém chất lượng là một nguyên nhân làm cho hàm lượng bụi cao tại các điểm đo dọc theo đường giao thông. - Về tiếng ồn: nói chung độ ồn tại các điểm đo ở Côn Đảo có biên độ dao động nhỏ. Lượng xe lưu thông ít, nên giao thông ở đây không gây ô nhiễm về tiếng ồn cho khu vực. Chỉ có điểm đo ở chợ Côn Đảo (12) có mức ồn đạt giá trị cao đến mức giới hạn TCVN đối với khu dân cư. - Mùa khô (đợt II), hàm lượng bụi và các chất ô nhiễm không khí cao hơn so với mùa mưa (đợt I). - Nói chung Côn Đảo chưa xảy ra các vấn đề ô nhiễm không khí. Bởi vì hiện nay Côn Đảo không có các nguồn ô nhiễm nào đáng kể, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển hầu như chưa có, mật độ xe cộ lưu thông thấp, tốc độ xây dựng và đô thị hóa chậm. - So sánh với các vùng nội địa của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho thấy khu vực Côn Đảo có chất lượng không khí thuộc loại tốt nhất, rất phù hợp cho chất lượng môi trường, cho phát triển dịch vụ du lịch, nghỉ mát. 6.2.1.1.1. Nước ngầm Nguồn nước ngầm có triển vọng nhất là phức hệ chứa nước lỗ hổng các trầm tích 2
lớn. Thung lũng Côn Sơn có diện tích 6 kmP
P, bề dày tầng chứa nước trong trầm tích Đệ Tứ ở thung lũng Côn Sơn và Cỏ Ống. Hai thung lũng này có quy mô chứa nước bở rời trung bình 15m. Theo đánh giá sơ bộ, tại thung lũng Côn Sơn, trữ lượng nước 3
có thể đưa vào khai thác khoảng 8.000.000 mP P/năm. Trong đó, trữ lượng nước tỉnh là 3
5.000.000 mP 3
P/năm, trữ lượng động là 3.000.000 mP P/năm. Thung lũng Cỏ Ống có diện 2
tích 3,6 kmP P, bề đày tầng chứa nước trung bình 10 m, tổng lượng nước có khả năng 3
đưa vào khai thác khoảng 3.000.000 mP P. Trong đó, trữ lượng nước tĩnh 2.000.000
3
lít/năm, trữ lượng nước động 1.000.000 mP P/năm. Ngoài hai thung lũng có quy mô nói trên, trên các đảo có diện tích đáng kể như hòn Bảy Cạnh, hòn Bà, hòn Cau và tại Bến Đầm (thuộc đảo Côn Sơn), nơi có sườn núi thoải, có lớp phủ thực vật bao phủ mà chân núi có lớp trầm tích sườn tích hoặc nón khoáng vật cổ dày 3 - 5m thì có khả năng khai thác nước ngầm với quy mô nhỏ. Đới chứa nước khe nứt - lỗ hổng các thành tạo macma và vỏ phong hóa của chúng có triển vọng kém. Chúng chỉ là các nguồn bổ cập cho nguồn nước ngầm của phức hệ chứa nước lỗ hông các trầm tích Đệ Tứ ở các thung lũng. 6.2.1.1.2. Nước mặt Côn Đảo có một số hồ, nếu được cải tạo và bảo vệ tốt cũng sẽ trở thành nguồn nước ngọt cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt nguồn nước cấp cho các ao hồ nằm ở khu vực đồng bằng trung tâm đảo Côn Sơn là những dòng chảy tạm thời trong mùa mưa và dòng chảy ngầm theo các khe nứt từ trên núi đổ xuống. Nước dự trữ trong các 3
hồ lớn đang tồn tại như sau : Hồ Quang Trung 1W = 200.000 mP P, hồ Mương Sấu W= 3
80.000 mP 3
P, hồ An Hải W = 400.000 mP 3
P, hồ Quang Trang 2W = 400.000 mP hồ sẽ được khai thác sử dụng trong 6 tháng mùa khô. Dung tích chứa nước của một số Nguồn nưđc mặt (nước ngọt) ở Côn Đảo hết sức khan hiếm, nhất là trong mùa khô. Trong tương lai, để giải quyết vấn đề nước ngọt cho sinh hoạt và các hoạt động kinh tế ở trên đảo cũng như cấp nước ngọt cho các tàu thuyền ngoài khơi, các nhà 3
thành sẽ có khả năng cung cấp mỗi ngày hàng chục nghìn mP P nước ngột cho Côn Đảo. quản lý dự định xây các hồ treo dự trữ nước ngọt ở trên núi. Dự trữ này sau khi hoàn Nguồn nước mặt, nước ngầm ở Côn Đảo đang khai thác chủ yếu nhằm mục đích phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Dân số thường xuyên tính đến tháng 3 - 1996 là 2031 người (trong đó có tạm trú là 439 người). Tỷ lệ tăng tự nhiên là 1,77%. Dân số hiện nay tập trung chủ yếu trên đảo Côn Sơn ở khu vực trung tâm và khu vực Cỏ Ống, chỉ có vài hộ dân ở trên đảo 3
công suất 500mP P/ngày. Hệ thống cải tạo mới bao gồm việc khái thác 5 giếng nước Hòn Cau. Côn Đảo vừa hoàn thành việc cải tạo và nâng cấp hệ thống cấp nước cũ lên ngầm, trạm bơm, hệ thống bình lọc khử trùng, tăng áp và hệ thống đường ống phân phối. Hiện đã đáp ứng nhu cầu sử dụng của các cơ quan và khoảng 30% nhu cầu sinh hoạt của nhân dân tại khu vực trung tâm huyện. Lượng nước thiếu hụt được bổ sung bằng các nguồn nước giếng và nước mưa, trong đó đối tượng sử dụng chủ yếu là các cơ sở và hộ dân ở xa trung tâm. Theo tài liệu khảo sát của công ty cấp thoát nước số 2, nơi giàu nước nhất phân 3
đạt 30mP P/h. Nơi các mức độ giàu nước trung bình chiếm phần lớn diện tích phân bố 3
của tầng chứa nước trong thung lũng, lưu lượng từ 8 - 15 mP P/h. Diện tích nghèo nước bố thành dải hẹp ven thung lũng đọc theo bờ biển, các lỗ khoan điều tra có lưu lượng là giải hẹp ven thung lũng dưới chân núi. Tại khu vưc Cỏ Ống, các giếng đào gặp nước ở độ sâu 1-6m, lưu lượng thường đạt 2lit/s. Tại các đảo như hồ Bảy Cạnh, hòn Bà, hòn Cau hay khu vực Bến Đàn nước được khai thác sử dụng với quy mô nhỏ thông qua các giếng đào sâu 3-5m, giếng thường xuyên có độ sâu mực nước 0,5 - l,5m. -Nhu cầu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp không nhiều do nông nghiệp chỉ mang tính tự cấp, tự túc sàn lượng trồng trọt năm 1995 quy ra thóc chỉ trên 200 tấn trên tổng diện tích đất nông nghiệp 206ha. Ước tính lượng nước đang khai thác sử dụng cho nhu cầu sau đây: 6.2.12.1.1.Địa chất thuỷ văn Do diện tích đảo nhỏ, chiều rộng hẹp, độ dốc lớn nên trên đảo không tồn tại sông có nước thường xuyên mà chỉ có suối và phần lớn các suối chỉ là dòng chảy tạm thời hình thành theo mùa. Vì vậy, nguồn nước ngầm, nước mặt ở đảo chính Côn Sơn không có nguồn bổ cập thường xuyên. Suối trên các đảo nhỏ khác thuộc quần đảo Côn Đảo cũng đều không có nước thường xuyên, các suối hầu như chỉ có nước mùa mưa. Trữ lượng nước ngầm tại các thung lũng Côn Sơn, Cỏ Ống cũng như mực nước trong các ao hồ nằm ở khu vực đồng bằng trung tâm đảo Côn Sơn phụ thuộc vào lượng mưa ha2ng năm và khả năng nước mưa được thấm và lưu giữ trong hệ thống nứt nẻ của đá gốc ở các sườn núi cao quanh thung lũng. Đối với Côn Đảo, đặc điểm địa chất thuỷ văn các tầng chứa nước nhạt có tầm quan trọng đặc biệt đối với khai thác và cấp nước. 6.2.2.1.2. Thảm thực vật Do những đặc điểm địa hình, thảm thực vật có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều tiết nước mưa - nguồn bổ cập chính cho nước ngầm. Nhờ việc bảo vệ rừng tốt, nên phần lớn lãnh thổ Côn Đảo còn rừng (chiếm 86,4% tổng diện tích). Có khá nhiều loài gỗ có kích thước lớn, tán lá dày che phủ, giữ ẩm cho đất, ngăn cản dòng chảy mặt, giảm tốc độ chảy tràn của nước mưa, tăng khả năng lưu giữ nước trong đất. Như vậy thảm thực vật của Côn Đảo có ý nghĩa sống còn và có vai ưò quyết định trong việc bổ sung nguồn nước cho tài nguyên nước dưới đất. 6.2.2.1.3. Địa hình Trên đảo Côn Sơn, địa hình có ý nghĩa lớn với vai trò chắn gió, hứng nước mưa và giữ ẩm. Vào mùa mưa, các sườn phía Nam của các dãy núi trên đảo lớn Côn Sơn nhận lượng mưa lớn hơn sườn phía Bắc khuất gió. Vào mùa khô (tháng 12 - 4) sườn phía Bắc nhận được nước mưa nhiều hơn so với sườn phía Nam. Chính vì có rừng tại các khu vực này mà lượng nước mưa được giữ lại và bổ cập nên nguồn nước ngầm trên đảo không bị cạn kiệt. Những hoạt động kinh tế xã hội tại Côn Đảo sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới chất lượng và trữ lượng nước ngầm. Tương lai nơi đây sẽ trở thành khu du lịch, khu công nghiệp đánh bắt và chế biến hải sản quy mô lớn của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Đồng thời đây cũng là nơi cung cấp nước ngọt, thực phẩm, là nơi lưu trú và sửa chữa nhỏ các tàu thuyền trên tuyến đường biển quốc tế qua khu vực biển Đông. Việc khai thác nước ngầm thường xuyên với một khối lượng khá lớn nếu không có quy hoạch và các biện pháp an toàn sẽ ảnh hưởng tới trữ lượng, đến một mức độ nào đó sẽ xảy ra quá trình xâm nhập mặn vào nước ngầm. Do đó, nước ngọt là vấn đề quan trọng cần tính đến trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Côn Đảo 6.2.3.1.1. Tác nhân sinh học Những tác nhân sinh học chính làm ô nhiễm môi trường nước gồm có : - Vi khuẩn gây bệnh: các vi khuẩn tả, E. Coli, streptococoic... - Siêu vi khuẩn : các siêu vi khuẩn đường ruột, siêu vi khuẩn gây bệnh viêm gan, bại liệt... - Ký sinh trùng : các loại ký sinh trùng vào cơ thể bằng đường nước như giun móc, giun lươn... - Các sinh vật khác gây khó khăn, trở ngại cho dòng chảy, cản trở chợ các công trình xử lý cấp nước như rong, rêu, tảo... 6.2.3.1.2. Tác nhân hóa học Sự có mặt của các hóa chất trong nước vượt quá một giới hạn sẽ gây ra những nguy cơ trực tiếp đến khả năng lao động và sức khỏe con người. Các chất đó là: - Các chất hữu cơ : bao gồm các chất dễ bị phân hủy bởi vi sinh vật hay bởi chất oxy hóa như là cacbonhydrat, protein, chất béo... và các chất khô phân hủy vi sinh như các hợp chất thơm, đa vòng ngừng tụ, hợp chất clo hữu cơ. Hợp chất hữu cơ khó phân hủy nên có tính tích lũy và gây tác hại lâu dài đến đời sống sinh vật. Một số hợp chất hữu cơ có độc tính cao trong môi trường nước là phenol và các dẫn suất của phenol, các thuốc bảo vệ thực vật. Các thuốc bảo vệ thực vật gồm các nhóm chính là phốt pho hữu cơ (gồm hai hợp chất chính là pharathion và malithin), do hữu cơ (aldrin, đieldrin...), cacbamat (sevin, íuradan...). - Các hợp chật vô cơ : các ion vô cơ có nống độ rất cao trong nước tự nhiên nhất -
bảo không gây tác hại cho môi trường tự nhiên và sinh vật như ClP P... Các 2-
P, SOR4RP 3-
P, POR4RP là trong nước biển. Một số chất vô cơ trong nước có giới hạn nồng độ tối đa để đảm kim loại nặng và hợp chất của nó như chì (Pb), thủy ngân (Hg), Ạsen (As), Cadimi (Cd) có tính độc hại cao. Là huyện hải đảo, công nghiệp hầu như chưa phát triển, nông nghiệp mang tính tự cấp tự túc, nên chất lượng nước ở huyện Côn Đảo chủ yếu chịu tác động của các nguồn tại chỗ như sinh hoạt, giao thông đường thủy. Ngoài ra, nguồn nước còn chịu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu diệt cỏ từ hai cánh đồng trung tâm và làng Cỏ Ống nhưng với mức độ không đáng kể. 6.2.3.2.1. Nước thải sinh hoạt Theo phương pháp đánh giá nhanh của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, tải lượng chất ô nhiễm của một người đưa vào môi trường mỗi ngày là : BOD = 40g, COD = 1,8* BOD, các chất dinh dưỡng N và P tương ứng là 8g và 2g, chất rắn (SS) 200g, Tổng tải lượng ô nhiễm do người dân huyện Côn Đảo (với số dân năm 1995 khoảng 2300 người, năm 2000 khoảng 6500 người và đến năm 2010 có khoảng 15000 dân) sẽ đưa vào môi trường được tính như sau : Bệnh viện Côn Đảo có quy mớ nhỏ (50 giường) với số lượng y, bác sĩ theo biên chế chỉ có 30 người. Tuy nhiên, hệ thống cống thải, thoát nước tại bệnh viện rất kém, nước thấm xuống đất một cách tự nhiên. Đây cũng là một trong những nguy cơ có thể gây ô nhiễm nguồn nước cho khu vực trung tâm. Tại chợ Côn Đảo, nếu so với các chợ huyện bình thường ở đất liền thì khối lượng rác thải, nước thải sinh ra ở đây không nhiều bằng. Nhưng vì không có một hệ thống thoát nước nào xung quanh chợ nên nước thải từ tất cả các nguồn trong chợ đổ trực tiếp ra đất và cũng để ngấm tự nhiên 6.2.3.2.2. Ô nhiễm do chăn nuôi Theo thông kê trung bình được sử dụng trong phương pháp đáng giá nhanh của WHO thì khối lượng nước thải và các tác nhân ô nhiễm trong chăn nuôi được nêu ra ở bảng 6.8. Có thể nói chất thải chăn nuối là một nguồn ô nhiễm đáng kể cho nguồn nước sinh hoạt tại Côn Đảo bởi vì hầu như tất cả nguồn này đều phân bố trong khu vực dân cứ với diện tích tập trung nhỏ. 6.2.3.2.3. Nước thải sản xuất Côn Đảo có một số rất ít cơ sở sản xuất và tất cả đều ở quy mô nhỏ, chủ yêu là chế biên hải sản, chế biến nước mắm, làm chả cá Surumi, chế biến mực khô. Các chất ô nhiễm trong các loại nước thải trên là các chất ô nhiễm hữu cơ, ss, dinh dưỡng. Mặc dù tải lượng nước thải sản xuất chế biến hải sản tại Côn Đảo không lớn nhưng nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải chế biến thủy sản thường khá cao. Kết quả kiểm tra tại nhiều cơ sở cho thấy giá trị các chất ồ nhiễm trong nước thải sần xuất như sau : BOD 500 - 2500 mgỉl. COD 800-4000 mg/1. SS 200-500 mg/1. T-N 25 - 60mg/L T - P 8 - 20 mg/1. Nguồn nước thải sản xuất đáng kể sau nước thải thủy sản tại Côn Đảo là nước thải từ công nghiệp sản xuất nước đá, có chứa nhiều muối NaCl (nồng độ từ 150 - 1000 mg/l) ; ngoài ra, còn cố một số chất như dầu mỡ (do chạy may sinh ra), chất lơ 3
l00mP P/Vngày. Tải lượng muối hàng ngày thải vào môi trường là 60 kg. Nếu không có lửng, các chất đạm, photpho, sunfat. Lượng nước thải từ sản xuất đá trung bình biện pháp quản lý, thoát nước thải đúng quy định về lâu dài có thể gây ô nhiễm đất và nguồn nước. 6.2.3.2.4.Hoạt động các cảng Côn Đảo hiện có một cảng cá nhỏ và một bến tàu hàng 300 tấn. Hàng ngày có khoảng 25 - 30 tàu cập bến và hàng tuần có 2 - 3 chuyến tàu chở khách từ đất liền ra đảo và ngược lại. Ở cảng, nguồn ô nhiễm chính cho nước biển là rác thải, nước thải sinh hoạt và dầu mỡ rơi vãi từ các tàu thuyền. Đã có lúc váng dầu trên mặt nước khu vực cảng quan sát rất rõ (trên lmg/l). Với chế độ bán nhật triều ở Côn Đảo thì hàm lượng dầu thấm vào đất không nhỏ (hiện nay chưa có nghiên cứu về mức độ khuếch tán dầu từ cảng vào bờ). Trong tương lai, khi Côn Đảo mở rộng cảng và xây dựng các cảng mới ở Bến Đầm, khu vực Cỏ Ống thì vấn đề ô nhiễm dầu đối với nước biển ven bờ cần phải dự báo trước và có biện pháp phòng ngừa. 6.2.3.2.5.Nước mưa chảy tràn, rửa trôi Khu trung tâm nằm giữa ba mặt giáp núi nên nước mưa từ các núi xung quanh sẽ chảy tràn xuống thị trấn Côn Đảo với lượng mưa trung bình năm 2095,8mm. Côn Đảo chưa có hệ thống thoát nước, cả khu trung tâm chỉ có 2 tuyến mương hình thang, xây bằng đá, kích thước 0,5*0,5m với 6 cống qua đường, 4 cống thoát nước ra biển. Do quản lý không tốt, các cống bị rác, đất cát bồi lấp, nước không thoát được. Hiện nay, nhiều nơi nước mưa ứ đọng, chảy tràn lan, gây sụt lở, gây suy thoái nguồn nước mặt và nước ngầm. Nước mưa chảy tràn này không chỉ mang theo đất đá gây nên bồi lắng, cản trở các dòng chảy. Một phần lớn nước mưa còn chảy tràn qua các khu nghĩa trang liệt sĩ như nghĩa trang Hàng Dương mang rất nhiều các chất hữu cơ và vi sinh vật, có thể làm ô nhiễm các hồ như hồ Quang Trung và gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa. 6.2.3.2.6. Rác thải Hiện nay, quá trình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải tại Côn Đảo kém hiệu quả và chưa giải quyết triệt để. Do lượng rác thải sinh hoạt còn ít, việc thu gom, vận chuyển rác hoàn toàn thủ công và biện pháp xử lý duy nhất là đổ vào bãi trống tại khu vực ngoài thị trấn. Rác tại chợ Côn Đảo bị vứt bỏ tùy tiện xung quanh chợ, chỉ một phần nhỏ được tập trung và đốt ở một hố kích thước 3*l ,5m gần đó. Những bãi rác thường trở thành nơi cự trú của chuột, ruồi nhặng, các loại vi trùng gây bệnh cho người và gây ô nhiễm cho môi trường xung quanh. Nước rò rỉ từ các bãi rác có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước đáng kể. Nước rò rỉ là lượng nước thấm qua chất thải rắn và đem theo các chất hòa tan hoặc lơ lửng, Tại hầu hết các bãi rác, lượng nước rò rỉ là lượng nước sinh ra trong quá trình phân hủy các chất thải rắn và lượng nước ngấm qua rác từ nhiều nguồn như mưa, nước ngầm do ngấm qua rác, nước rò rỉ chứa rất nhiều các chất hữu cơ hòa tan. (bảng 6.9). Bảng 6.9. Thành phần của nước rò rỉ từ các bãi rác 6.2.4.1.1.Chọn vùng khảo sát và điểm lấy mẫu Trong hai mùa mưa, mùa khô năm 1995 và 1996, Trung tâm Bảo vệ Môi trường kết hợp với Sở KHCNMT tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã tiến hành khảo sát lấy mẫu nước tại huyện Côn Đảo. Các mẫu lấy đặc trưng theo khu vực phân bố dân cư, phân vùng kinh tế và theo nguồn nước. Trong đó : - Khu trung tâm (thị trấn Côn Đảo) đặc trưng cho khu dân cư - Khu nông nghiệp : vùng I, vùng II, vùng III trên đảo Côn Sơn. - Khu bến cảng : Cảng mới Bến Đầm. - Sân bay Cỏ Ống. - Các bãi biển trên đảo : Cỏ Ống, hòn Cau, hòn Bảy Cạnh. - Nước mặt: Hồ Quang Trung, hồ An Hải, hồ ở sân bay Cỏ Ống, nước trong vịnh Bến Đầm... thường lấy cách mặt nước 25cm. - Nước ngầm: Chủ yếu là các giếng khoan sâu 17 - 18m, giếng đào có đường kính 1,5 - 3m, nước máy lấy từ nhà máy nước... 6.2.4.1.2.Phương pháp lấy mẫu và phân tích Kỹ thuật lấy mẫu, bảo quản mẫu thực hiện theo quy trình tiêu chuẩn của chương trình giám sát môi trường toàn cầu (GEMS). Các thông số hóa, lý được phân tích của APHA - AWWA có đối chiếu với chương trình GEMS bao gồm : - Nhiệt độ của nước : đo tại chỗ bằng nhiệt kế. - Độ dẫn điện (E): đơn vị tính µS/cm và đo tại chỗ bằng máy đo độ dẫn. - Độ mặn : Tính từ giá trị EC, độ mặn (%o) = EC (µS/cm) * 0.8 - Màu : Được xác định bằng phương pháp so màu với các dung dịch chuẩn Chloropilatinat/Cobalt. - PH là đại lượng đặc trưng cho tính axít hay bazo của nước. PH xác định bằng +
HP
P(điện cực thủy tinh). điện thế kế. Đo pH dựa vào độ chênh lệch giữa điện cực chuẩn calomel và điện cực - Sắt (Fe): Hàm lượng sắt thể hiện mức độ ô nhiễm phèn trong nước mặt và nước ngầm. Mẫu nước được đun sôi với axít và hydroxylamin, sắt bị khử đến sắt II. Sau đó, xử lý tiếp với 1,10 - phenanthrolin tạo thành phức chất màu đỏ, rồi đo P) : Các nguồn nước tự nhiên, đặc biệt nước biển và nước phèn có 2-
- Sulphat (SOR4RP độ hấp thụ ở bước sóng 510 nm. nồng độ sulphat cao. Nước ở vùng có mỏ thạch cao, quặng chứa lưu huỳnh, nước mưa axit và nước thải công nghiệp có hàm lượng sulphat cao. Dựa theo tính chất của sulphat tạo kết tủa với ban clòrua (BaClR2R) trong môi trường axit, sulphat trong nước được xác định bằng định lượng phần kết tủa trắng P/l): Cũng như nitrat, photphat là chất dinh dưỡng cho sự 3-
- Photphat (mg POR4RP hoặc bằng phương pháp đo độ đục bởi quang kế (photometer) ở bước sóng 420 nm. phát triển của rong, tảo. Photphat là chất có nhiều trong phân người, súc vật và trong P; dựa vào phản ứng với molypdat - ammoni trong môi trường axit 3-
Xác định POR4RP nước thải một số ngành công nghiệp sản xuất phân lân, chất tẩy rửa, thực phẩm. P được xác định theo phương pháp trắc quang trên quang phổ kế 3-
Hàm lượng POR4RP tạo thành phức chất màu vàng. Phức này bị axit asobic khử thành phức màu xanh. spectrophotometer. - Ammoni (NHR4R - N) xác định bằng phương pháp indophenol. Xử lý mẫu với hypoclorit trong môi trường kiềm nhẹ. So màu trên máy spectrophotometer ở bước 3- sóng 635 nm. P) : Là sản phẩm cuối cùng của sự phân hủy các chất chứa nitơ có - Nitrat (NOP trong chất thải của người và động vật. Nồng độ nitrat cao trên 10mg/l là môi trường dinh dưỡng tốt cho sự phát triển của tảo, rong. Dùng Cd hoặc Rrucine để khử nitrat thành nitrit, tạo màu với sulphamilamid và N-naphthyl ethylene - diamine và xác định bằng phương pháp trắc quang ở bước sóng 3- 44- 540 nm. P - P (mg/l) : đánh giá ô nhiễm nguồn nước do các chất P - N, NHR4R - N, POP NOP -
- Clorua (ClP -
P) : là anion chính trong nước thiên nhiên và nước thải. ClP P xác định dinh dưỡng. nhờ định phân bằng AgN0R3R, với chất chỉ thị là Chromate. - Oxy hòa tan (DO): được tính bằng đơn vị mg/l (% bão hòa). Đo tại chỗ bằng DO - meter, hoặc bảo quản bằng hòa chất để đem về phòng thí nghiệm. - Nhu cầu oxy hóa học (COD): là lượng chất oxy hóa cần để oxy hóa chất hữu cơ +
tác với sự có mặt của HP
P. Sau đó được chuẩn độ bằng Fe(NHR4R)R2R(SOR4R)R2R với chất chỉ thị (mg02/l). Mẫu được oxy hóa bằng Kalidichromate (KR2RCrR2ROR7R) Với AgR2RSOR4R làm xúc là Feroin. Oxy hòa tan DO (mg/l) và nhu cầu oxy hòa học COD (mg/l) thể hiện mức độ ô 3+ P) : Dùng phương pháp trắc quan spectrophotomemter ở bước sóng nhiễm do các chất hữu cơ. - Nhôm (AlR3RP 540 nm với thuốc thử Eriochrome - Cyanin - N. - Chất rắn lơ lửng (SS) : So màu với thang màu chuẩn trên spectrophotơmeter. - Tổng Coliiorms, Feaeal Coliiorms : là hai chỉ tiêu đánh giá mức độ ô nhiễm do vi trùng với các vi khuẩn. Các thông số này xác định bằng phương pháp nhân giống (MPN). - Đánh giá chất lượng ô nhiễm nước về mặt sinh học qua các thủy sinh chỉ thị : phiêu sinh động thực vật và động vật đáy. Việc xác định các chỉ tiêu thủy sinh được thực hiện tại Phân viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật. Việc đáng giá chất lượng và ô nhiễm nguồn nước dựa vào : + Mức độ ô nhiễm nước theo TCVN 5945 - 1995 + Các nguồn gây sinh thái chất lượng nước. Trong năm 1995 - 1996, Trung tầm Bảo vệ Môi trường đã thực hiện hai đợi khảo sất tại khu vực thị trấn, Vùng I, vùng II, vùng III, Bến Đầm, Hòn Cau, Cỏ Ống. Đợt I vào mùa mưa (tháng 11 - 1995) và đợi II vào mùa khô (tháng 5 - 1996). Khoảng trên 20 điểm đã được khảo sát bao gồm nước mặt nước ngầm (nước giếng). * Nước mặt tại các khu vực + Khu vực Cỏ Ống .- Đầm Trầu, Bãi Vong, suối Nước Nóng. + Hòn Cau + Đầm Tre 1, vịnh Đầm Tre 2 + Bến Đầm + Khu trung tâm đảo Côn Sơn : cảng chính, đập nước An Hải, hồ khu vực vườn Quốc Gia Côn Đảo. * Nước giếng đào và giếng khoan (nước ngầm) + Đảo Côn Sơn : Giếng nghĩa, trang Hàng Dương, giếng khu vực vùng II, khu vực II, nước máy, giếng đại đội 8 - bộ đội huyện Côn Đảo.. + Giếng ở đảo hòn Cau. * Các chỉ tiêu hóa lý Kết quả phân tích các chỉ tiêu nước giếng khoan, giếng đào (12 giếng) ở huyện Côn Đảo đối chiếu với tiêu chuẩn (TCVN 5944 - 1995) cho thấy hầu hết các giếng có độ pH : 6,6 - 8,2. Các giếng khu vực I, khu vực II, khu vực chợ Côn Đảo là các giếng đào có hàm lượng Fe cao, về mùa khô mực nước bị rút đi khoảng 1m, hàm lượng Fe lên tới 4,0 - 5,0 mg/l, nước có màu, đục không thể dùng trong sinh hoạt. Trong mùa khô, nhân dân vùng này thường dùng nước mưa dự trữ hoặc nước giếng khoan của UNICER số giếng UNICEF trong vùng hiện nay có ít. Hàm lượng Glo tại các giếng đều thấp, riêng giếng ở đảo Hòn Cau có hàm lượng Clo lớn nhất (120 mg/1). Hàm lượng mangan, sunfat,... đều thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép và thấp hơn so với nước giếng tại các tỉnh thành trong đất liền như TP. HCM và các tỉnh trong đồng bằng sông Cửu Long. * Ô nhiễm chất dinh dưỡng Hầu hết các giếng có các thành phần dinh dưỡng nhỏ, các kết qua đo đều nằm trong giới hạn cho phép đối với nước sử dụng cho mục đích ăn uống và sinh hoạt. Chỉ có một giếng có dấu hiệu ô nhiễm nhẹ, thể hiện bằng hàm lượng NOR2R đạt tới 0,9mg/l 3- (giếng đào tại ngã ba đường Võ Thị Sáu cắt hương lộ 1). Tuy nhiên, NOR2R rất dễ bị P (ít độc hại hơn) và hàm lượng NOR3R của nước giếng này vẫn chuyển thành dạng NOP nằm trong giới hạn cho phép. *Ô nhiễm vi khuẩn Hầu hết các giếng không bị ô nhiễm chất hữu cơ, nhưng bị ô nhiễm vi trùng do chất thải sinh hoạt (chất thải rắn và nước thải) được đánh giá qua vi khuẩn chỉ thị E.coli. Hầu hết các giếng đều bị nhiễm khuẩn từ vài ngàn đến vài trăm ngàn MPN/lOOml kể cả trong mùa mưa và trong mùa khô. Nguyên nhân chủ yếu ở đây là hiện tượng tiêu thoát nước mưa và nước thải sinh hoạt bằng phương pháp tự ngấm. Một đặc điểm chung là hầu hết các giếng đều nằm ở vụng thấp trũng. Riêng giếng ở nghĩa trang Hàng Dương là ô nhiễm nặng nhất. Nguyên nhân do sự phân hỏa các xác chết, mà số lượng các xác chết ở đây rất nhiều (khoảng 20.000 xác tù nhân trên diện tích 19ha), về mùa khô, giếng ở đây cạn chỉ còn khoảng 10 - 20cm nước, nhiều rác, rêu hầu hết các giếng đào đều được đào từ cách đây rất lâu (dưới thời Pháp hoặc Mỹ). Có thể nhận thấy chất lượng nước ngầm của huyện Côn Đảo nói chung đạt tiêu chuẩn hóa lý đối với nước dùng trong sinh hoạt, trừ một số ít khu vực bị nhiễm phèn. Nhưng hầu hết các giếng đều bị nhiễm khuẩn từ trung bình đến rất bẩn. Nếu sử dụng nước giếng mà không đun sôi trước khi uống thì việc mắc các bệnh đường ruột là không tránh khỏi. Tuy vậy, cũng ghi nhận rằng từ trước đến nay ở Côn Đảo chưa có hiện tượng dịch bệnh lây lan, hạn hữu mới thấy trường hợp có triệu chứng sốt rét (năm 1995 có 14 người bị sốt rét, còn các bệnh dịch khác không có). Về lâu dài, khi số dân ở đảo tăng thì vấn đề ô nhiễm hữu cơ, vi trùng sẽ tăng lên, do đó yêu cầu các hộ dân ở sử dụng làm nguồn nước cấp cần phải có biện pháp khử trùng. Đồng thời, gần các giếng không bố trí nhà vệ sinh, bãi rác hoặc rãnh thoát nước thải sinh hoạt, tránh gây ô nhiễm nguồn nước. Chất lượng nước mặt bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố tự nhiên và con người tác động. Hiện nay, nguồn nước mặt ở Côn Đảo còn tương đối sạch và nguyên nhân có thể gây ô nhiễm nước mặt là nước thải sinh hoạt và hoạt động giao thông đường biển. về mùa khô, nước trong các hồ còn lại rất ít nên dễ bị ô nhiễm do sự phân hủy xác động thực vật rơi xuống hồ. Đối tượng khảo sát chất lượng nước mặt là các hồ, các suối tại khu vực trung tâm và khu vực Cỏ Ống trên đảo Côn Sơn và nước biển ven bờ. 6.2.5.2.1.Mức độ ô nhiễm phèn Các thống số pH, hàm lượng Fe thể hiện mức độ ô nhiễm phèn. Các hồ, các suối ở khu vực trung tâm và khu vực Cỏ Ống trên đảo Côn Sơn có độ pH từ 7,2 -7,7, ở Đầm Trầu (Cỏ Ống) có pH là 8,1, hàm lượng sắt không đáng kể từ 0,1 -0,4 mg/1. Nước ở đập An Hải bị nhiễm phèn nhẹ (tổng sắt l,34mg/l). Sở dĩ hồ An Hải bị nhiễm phèn nhẹ vì là hồ nước lợ này được đắp lại để ngọt hóa không có sự luân chuyển nước tự nhiên. 6.2.5.2.2.Ô nhiễm do chất hữu cơ, dầu mỡ trong nước Hiện tại, nước biển trong các vùng khảo sát chưa có hiện tượng ô nhiễm các chất hữu cơ và ô nhiễm dầu mỡ. Hàm lượng dầu trong nước biển ven bờ cả hai lần đo tại Bến Đầm là 0,03 và 0,02 mg/1, tại cảng là 0,04 và 0,16 mg/1. Tuy nhiên có một ghi nhận như sau: Kết qủa phân tích các mẫu nước cho thấy hàm lượng dầu trong nước biển ven bờ vào mùa khô (5 - 996) cao hơn so với mùa mưa (11 - 1995). Đối với các hồ trên đảo, nước chỉ bị ô nhiễm nhẹ do các chất hữu cơ vào mùa khô. 6.2.5.2.3.Ô nhiễm dầu tại các khu vực bờ biển Côn Đảo Các đợt khảo sát cho thấy một số bãi biển của đảo Côn Sơn như khu vực vịnh Đầm Tre, bãi Đầm Trầu, bãi Đá Trắng bị nhiễm dầu rất rõ. Trên các bãi ven bờ dầu bám vào các nền đá dày có chỗ tới 5 cm kết thành từng mảng. Qua quan sát đánh giá và phân tích các tính hóa lý cơ bản cho thấy các loại dầu trên có nguồn gốc từ dầu thô gần với đặc tính dầu thô của Việt Nam. Tỉ trọng từ 0,82 - 0,86, giàu parafin, lưu huỳnh thấp. Từ các điểm trên có thể nhận định các nguồn gốc gây ô nhiễm dầu tại các bãi biển khu vực Côn Đảo chủ yếu là do hoạt động khai thác dầu và chuyên chở dầu gây ra. 6.2.5.2.4. Ô nhiễm do chất dinh dưỡng Một trong những tác nhân gây ô nhiễm nước mặt do nước thải sinh hoạt là các chất dinh dưỡng thể hiện bằng hàm lượng của nitơ và photphat. Các chất dinh dưỡng nhiều gây nên hiện tượng phú dưỡng hóa (eutrophication), điều kiện tốt cho rong, rêu, tảo; bèo phát triển nhanh che phủ mặt nước, làm giảm hàm lượng oxy hóa tan trong nước, do đó ảnh hưởng tới nuôi trồng, khai thác thủy sản và đặc biệt khó khăn cho việc xử lý nước làm nguồn nước cấp, có thể phân loại mức độ dinh dưỡng theo tiêu chuẩn sau : Kết qủa phân tích cho thấy hồ thuộc khu vực Vườn Quốc Gia Côn Đảo và hồ An Hải là hai nguồn nước mặt đang và sẽ được sử đụng làm nước cấp đều có hàm lượng dinh dưỡng nhỏ. Nhưng các hồ này rất có khả năng bị phủ dưỡng hóa nhất là trong mùa nắng và trong khoảng thời gian có nguy cơ bị ô nhiễm chất dinh dưỡng do tiếp nhận nguồn nước mưa chảy tràn từ nghĩa trang Hàng Dương về. Nồng độ N và P không chỉ phụ thuộc vào chất thải sinh hoạt mà còn phụ thuộc vào các sản phẩm xói lở đất do nước mưa cuốn vào các hồ. Nước thải sinh hoạt và nước mưa chảy tràn thải trực tiếp ra biển nên nước biển ven bờ sẽ bị ô nhiễm nếu không có biện pháp quản lý hệ thống thoát nước và xử lý nước thải sinh hoạt. * Ô nhiễm do kim loại nặng, phenol và thuốc bảo vệ thực vật Kim loại nặng, phenol là tác nhân rất độc hại với con người và thủy sinh. Trong các mẫu đã phân tích, hàm lượng kim loại nặng Cu, Pb, Zn, Côn Đảo trong nước rất thấp, phenol hầu như không có. Thuốc bảo vệ thực vật không được sử dụng phô biến ở đảo nên hàm lượng rất nhỏ. Nước thải của công ty sản xuất nước mắm có khối lượng nhỏ nhưng hàm lượng chất đạm và photphat trong mẫu nước này rất cao - Nước suối An Hải bị nhiễm phèn nhẹ, Hồ Quang Trung (hồ khu vực vườn Quốc Gia Côn Đảo) bị ô nhiễm chất hữu cơ nhưng ở mức độ nhẹ. Còn các hồ khác ở xa khu dân cư có chất lượng nước tốt. Các hồ có diện tích nhỏ rất dễ bị ô nhiễm chất hữu cơ trong mùa khô. - Chất lượng nước biển ven bờ tại các điểm khảo sát và lấy mẫu phân tích đều tốt, hàm lượng các chất ô nhiễm đều thấp hơn giới hạn cho phép. Tại một vài bãi biển ở khu vực Đầm Tre và dọc khu vực bến cảng vào mùa khô có khá nhiều dầu thô bám lên các bãi bồi, bãi đá chứng tỏ Côn Đảo có bị ảnh hưởng của hoạt động khai thác dầu khí. Hiện nay vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu nào đánh giá ảnh hưởng của hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí đến môi trường biển Côn Đảo - Nguồn nước ngầm (giếng khoan) của Côn Đảo có chất lượng tốt nhưng lượng vi trùng cao do các nguồn ô nhiễm chất thải sinh hoạt là chính. Các giếng đào bị nhiễm phèn không sử đụng được vào mùa khô và biện pháp tốt nhất là dùng giếng khoan thay dần cho các giếng đào. Các giếng đào không còn sử đụng, bị ô nhiễm nặng hoặc giếng khoan thăm dò hầu như chưa tuân thủ quy trình kỹ thuật trám cách ly, thau rữa và lấp kín để đảm bảo an toàn cho nước ngầm. - Nước thải sinh hoạt, nước thải các cơ sở sản xuất, chế biến hải sản hầu như không được xử lý cho chạy thẳng ra môi trường. - Rác thải sinh hoạt tại Côn Đảo tuy có số lượng nhỏ nhưng chưa có biện pháp quản lý. Rác thải sinh hoạt, xác động, thực vật trong quá trình phân hủy là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước trong các hồ. - Cây lấy gỗ Các nghiên cứu đã tổng kết được 286 loài cây gỗ (thuộc 23 bộ, 71 họ, 191 giống) trong đó có 201 loài cây cho gỗ lớn, 18 loài cây gỗ thuộc nhóm 1 đến nhóm 3, 24 loài từ nhóm 4 đến nhóm 8. Có 4 loài đặc sắc của rừng Côn Đảo cho gỗ quý, có kích thước lớn và tập trung với mật độ nhiều. Ví dụ như cây Cẩm Thị, Lát, Quăng, Găng Néo... Trong đó, đặc biệt cây Găng Néo cho loại gỗ rất cứng và có giá tri xuất khẩu trong mỹ nghệ. Tại nhiều vùng trên đảo, cây Găng Néo phân bố rất tập trung, chiếm từ 15 đến 20% trên tổng số cây. - Cây làm thuốc Sơ bộ đã xác định được 76 loài cây làm thuốc với nhiều loài có trữ lượng lớn như cây Ngũ Gia Bì, Sâm Nam, Thiên Niên Kiện... Đặc biệt có loài Chay Lạn (Ochrosia borbonioa) là một loài cây gỗ chứa Alcaloit trị ung thư đang được một số nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu. - Cây làm vật liệu xây dựng : tre, lồ ô, mật cật, song mây... - Cây lương thực phụ : củ từ, nừng, khoai lang, khoai ngọt, mía... - Cây gia vị: nghệ nam, đậu khấu... - Cây hương liệu - hậu phát, cỏ sá, é thơm, lõa trai, nhục đậu khấu... - Cây lấy nhựa : sến, cây cho màu nhuộm : cánh kiến, gai... - Cây cảnh : thiết mộc lan, phong lan, thiên tuế, ngoắt nghẻo, ráng... Về vị trí địa lý Côn Đảo có thể coi là đại diện tiêu biểu cho vùng biển xa bờ Nam Trung Bộ. Tuy nhiên, các đặc trưng về khu hệ, quần xã sinh vật của các hệ sinh thái có nhiều điểm khác biệt so với các vùng biển ở miền Trung hoặc Tây Nam Bộ. Đó là một vấn đề mà các nhà nghiên cứu rất quan tâm. Đồng thời, hệ thực vật Côn Đảo tự nó đã có những giá trị nghiên cứu khoa học rất lớn vì chứa đựng những loài mang tính đặc hữu hoặc phân bố rất hẹp, hoặc như một nguồn gen quý hiếm, dự trữ cho nhân giống và cải tạo cây trồng sau này... ví dụ những loài thực vật cho gỗ thuộc diện "sắp bị lâm nguy" như Dầu Cát, Vện Vén, Giáng Hương..., những loài đặc sắc mang tên Côn Đảo như Gội Côn Sơn , Dầu Côn Sơn... hoặc một loài mới cho khoa học như Gõ Sưa mà Phạm Hoàng Hộ (1985) đã phát hiện và công bố. Trong rừng Côn Đảo có loài nho dại mọc rất tốt cho quả xum xuê, nhiều chùm quả rất lớn và nặng hơn 2 kg, đây có thể là một nguồn gen quý; cô triển vọng lại tạo thành những giống nho đặc sắc. Các nhà nghiên cứu khoa học cho rằng có khả năng ở Côn Đảo còn có nhiều loài mới chưa được biết đến. Vùng biển Côn Đảo nằm trong khu vực có năng suất sơ cấp vào loại cao nhất 2
của vùng nước xung quanh đảo đạt giá trị 500mgC/mP P/ngày (Nguyễn Tác An, 1995). trên các đại dương thế giới (FAO, 1981). Trong thực tế, năng suất sơ cấp trung bình Các khảo sát gần đây cho thấy động vật thân mềm là nguồn lợi đang được khai thác xung quanh đảo. Các loài ốc Đụn có số lượng đáng kể trong quá khứ, được khai thác làm hàng mỹ nghệ và hiện rất hiếm. Trong khi đó , Trai Tai Tượng mới được chú ý khai thác gần đây với sản lượng 10 tấn trong 3 tháng (4-7/1994). Năm 1995 chúng chỉ còn đáng kể ở xung quanh hòn Bảy Cạnh. Các động vặt thân mềm khác như Bào Ngư, Ngọc Trai hiện không còn phổ biến và chỉ còn bắt gặp ở phía Đông Bắc đảo lớn và các đảo nhỏ lân cận. Tôm Hùm ở Côn Đảo rất nghèo, chỉ một loài là Panulinus ornatus được ghi nhận với số lượng thấp. Bên cạnh đó, nguồn lợi hải sâm cũng kém phong phú chủ yếu thuộc một số loài như Actynopyga maritiana, Microthele nobiiis. Sự nghèo nàn của nguồn lợi động vật không xương sống chắc chắn có một nguyên nhân là tình trạng khai thác quá mức vì đây là những sinh vật dễ đánh bắt. Vùng ven đảo còn có một nguồn lợi khác hiện đang được khai thác là cá rạn san hô kích thước lớn thuộc họ cá Mú, cá Hồng, cá Đông, cá Phèn, cá Hè, cá Khế. Chúng thường tập trung ở đới sâu của rạn nơi có các khối san hô lớn, trong các 2
thể/loài. Mật độ trung bình 131 con/500mP P. Các loài cá thực phẩm đang là đối tượng hang hốc ở phần sườn dốc rạn và có số lượng ở từng địa điểm khảo sát từ 2-71 cá có giá trị tươi sống. Việc khai thác đá vôi san hô để nung vôi, đánh cá bằng chất nổ đã được ngăn chặn có hiệu quả. Tuy nhiên, ngư dân trong vùng còn dùng chất độc gây mê do các thương gia Hồng Kông cung cấp để khai thác cá. Thực tế nghiên cứu trên thế giới cho thấy các chất độc sẽ được các thực vật nổi hấp thụ và đi vào chuỗi thức ăn của sinh vật rạn, cuối cùng có thể gây độc cho con người, sự nở hoa của tảo độc trong một số trường hợp liên quan đến chất độc có thể gây chết hàng loạt san hô. Đối tượng khai thác thường tập trung vào một số loài có giá trị và sự giảm sút số lượng của chúng trong quần xã có thể gây nên mất cân bằng sinh thái. Đối với Côn Đảo, các loài cá dữ như cá Mú, cá Hồng...có số lượng lớn trong quần xã, việc khai thác quá mức có thể làm tăng số lượng các cá ăn rong gây hại cho thực vật biển. Ngược lại, hàm lượng cao của muối Nitrate ở một số nơi có thể tạo điều kiện thuận tiện cho sự phát ừiển của thực ăn Nitrate, ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái trong thủy vực khi các rạn san hô bị biến đổi do tác động của con người. Việc khai thác cá cảnh bị hạn chế do một vài nguyên nhân, ví dụ do thành phần 2
bình trên các rạn nghiên cứu cũng tương đối thấp (29 con/500mP P) trong đó loài cá loài cá cảnh ở Côn Đảo kém đa dạng hơn các vùng rạn ở miền Trung. Mật độ trung Bướm có số lượng nhiều nhất. Cá cảnh có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên tính đa dạng và sự hấp dặn của rạn san hô. Nguồn lợi này hiện hay chưa được sử dụng do du lịch lặn chưa phát triển. Trong khi nguồn lợi sinh vật vùng ven đảo chỉ có ý nghĩa nhất định thì nguồn lợi vùng biển khơi xung quanh có vai trò quan trọng. Theo số liệu của tàu khảo sát Kyoshin (1969), mực nang Sepia đạt sản lượng lớn ở phía Đông Nam quần đảo, đặc biệt trong thời kỳ từ tháng 2-5 với năng suất khảo sát trên 25kg/giờ. Ngư trường cách đảo 40-50 km về phía Đông Nam cho sản lượng cao với năng suất khảo sát cá đáy có thể lên đến 200kg/giờ, các loài quan trọng là cá Hồng Latjanus spp, Saudina spp,, Pomadasys hasta., Plectorhynchus pictus trong mùa giò Đông Bắc và Stoĩephọrus spp., Sardineila., Decapterus spp., Ruthynus spp., trong mùa gió Tây Nam. Trong số trên, các loài cá Nục Decapterus spp, đóng vai trò rất quan trọng, chiếm 24,4% sản lượng cá đáy và phân bố gần Côn Đảo(Nguyễn Phi Đính, 1985). Theo tài liệu của sở Thủy sản tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, ngư trường Côn Đảo có diện tích khoảng 50.000 tấn/năm và thu hút 1000-2000 tàu đánh cá của nhiều địa phương (Bình Định, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh, Kiên Giang...) và thậm chỉ cả thuyền nước ngoài (chủ yếu là Thái Lan). Tính đến tháng 8/1996, đội tàu của huyện Côn Đảo chỉ có 21 chiếc của công ty Thủy sản và Xuất nhập khẩu Côn Đảo với tổng công suất 4.996 CV và 11 tàu cá nhỏ của dân, công suất 12-27CV/chiếc. Sản lượng khai thác hàng năm của toàn huyện đảo là 3600 tấn. Nghề cá của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát triển với tổng số tàu thuyền đánh cá, lên đến 2832 chiếc vào năm 1994 trong đó loại có công suất nhô hơn 20CV chiếm 38,5%, 20-30CV: 13,4%, 31-45GV: 12,3%, 46-75CV: 26,1% và trên 75CV chỉ 9,8%. Ngoại trừ tàu giã cào thường hoạt động ở vùng khơi Kiên Giang, Minh Hải, tàu đánh mực ở xung quanh Phú Quí, hầu hết tàu thuyền còn lại khai thác ở ngư trường xung quanh Côn Đào. Các số liệu cho thấy tổng công suất tàu thuyền tăng lên đáng kể nhưng tổng sản lượng lại tăng không tương xứng cho thấy hiệu quả đánh bắt ngày càng giảm, từ l,35tấn/CV năm 1985 xuống 0,75 tấn/CV năm 1994. Trước đây, Ban quản lý VQG Côn Đảo đã khoanh nuôi một khu vực rừng riêng làm mục đích nghiên cứu khoa học gọi là rừng nghiên cứu khoa học (rừng NGKH). Trung tâm Bảo vệ Môi trường và Phân viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh học đã khảo sát và đánh giá sơ bộ nguồn tài nguyên sinh học của khu rừng NCKH này. Hiện nay, khu rừng NCKH này bị tác động rất nặng nề do việc xây đập tràn cống tại An Hải. Đập tràn cống An Hải được tiến hành xây dựng với mục đích trữ nước ngọt trong mùa gió chướng của Côn Đảo. Tuy nhiên, việc tiến hành xây dựng đã không tính đến những tác động tiềm tàng mà khu rừng ngập mặn phía trong còn đập phải gánh chịu. Căn cứ vào kết quả khảo sát hệ sinh thái rừng NCKH và cấu trúc thảm thực vật rừng ngập mặn cho thậy đập tràn An Hải như một bức tường ngăn tách rời một vùng rừng ngập mặn thuộc rừng NCKH với môi trường biển. Thực tế, đập An Hải đã ngăn chặn dòng nước triều hàng ngày từ biển tràn vào rừng ngập mặn, nước trong khu vực rừng ngập mặn không được trao đổi thường xuyên và như một lá phổi đã bị thủng, các cây rừng ngập mặn chết dần dần, bắt đầu là các cây Mắm trắng, sau đó là Đước và Chà là... Mực nước ngọt tích lại trong vùng cũng do việc ngăn đập mà thay đổi, diện tích vùng ngập tăng, mực nước ngập này dâng cao hơn trước rất nhiều, kết quả là xuất hiện hàng loạt khu vực cây rừng bị ngập mặn quanh năm kèm theo sự ngập lụt là sự thay đổi của các yếu tố vi khí hậu và các chỉ tiêu sinh thái khác. Bên cạnh một số loài cây rừng bị chết do không thích ứng và một số loài động vật rừng mất đi thì đồng thời kéo theo sự xuất hiện một hệ sinh thái mới; Đó là hệ sinh thái trên vùng đất ngập nước quanh năm với sự xuất hiện của một số loài động vật nước. Từ đó dẫn đến một số loài chim nước về sinh sống và kiếm ăn ngày càng nhiều hơn. Xu hướng phát triển hệ sinh vật mới này đòi hỏi các nhà quản lý cần phải quy hoạch phát triển theo hướng bảo vệ vùng cư trú cho các loài chim nước. Đánh giá mức độ thiệt hại 2
Toàn bộ khu rừng ngập mặn với tổng điện tích là 68.900mP P.(một phần của lô III, Thiệt hại về vật chất IV và toàn bộ khu vực lô V trên bản đồ phân khu Lâm nghiệp rừng) đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng và tương lai không thể phục hồi lại được. Khi tiến hành khảo sát và đo 2
-Khu vực lô III có 2.400mP 2
P là rừng mắm đen đang tái sinh chồi. l.150mP P là rừng đạt cụ thể cho thấy: mắm đen còn nhỏ với đường kính trung bình là 5-10cm. -Khu vực lô IV là khu vực tác động nghiêm trọng nhất, đây chính là khu rừng 2
-Khu vực lô V có tổng diện tích rừng bị ảnh hưởng là 30.700mP P, trong đó rừng 2
Đước non tái sinh bị chết khô nhiều nhất và rõ rệt nhất chiếm 16.000mP P. Đước non bị chết nhiều nhất. 2
khoảng 50.000mP P. Hiện nay, các loài cây rừng ngập mặn với diện tích còn lại khoảng 2
19.000mP P đang tiếp tục chết dần. Tính đến cuối năm 1995 khu rừng ngập mặn này đã bị mất một diện tích vào Thiệt hại về nghiên cứu khoa học Rừng ngập mặn là một loại hình rừng rất nhạy cảm với mọi sự tác động của con người. Các khu rừng ngập mặn như một lớp áo bao ngoài các vùng đất liền và các đảo, Chính rừng ngập mặn đã bảo vệ cho đất liền khỏi sự tốn thượng từ môi trường bên ngoài vào. Rừng ngập mặn của Côn Đảo không nhiều lắm và tập trung nhiều trong các vịnh khuất gió, đặc biệt là chúng phát triển ưên nền đáy san hô dầy đặc qua nhiều năm tích bùn, vì vậy rừng ngập mặn ở đây là một kiểu đặc trưng riêng rất hiếm gặp ở những nơi khác. Khu vực trước đây được chọn làm khu rừng thí nghiệm là vùng mang tính chất tổng hợp các loại hình sinh thái rừng của VQG Côn Đảo. Nhưng đến nay phần rừng ngập mặn ven biển của khu thí nghiệm đang mất dần, hệ sinh thái rừng ngập mặn được thay thế bằng một hệ sinh thái ngập nước ngọt quanh năm. Hàng loạt các yếu tố sinh thái cũ đã mất đi và các yếu tố sinh thái mới đáng được hình thành như thế nào cũng chỉ nằm trong dự đoán. Có thể một hệ sinh thái vùng đất ngập với các loài chim nước tập trung về làm tổ là một hướng phát triển mới của khu VQG. Đây là một vấn đề cần được tiếp tục theo dõi và là nhiệm vụ nặng nề nhất đặt ra cho ban quản lý VQG Côn Đảo. Trong kế hoạch phát triển kinh tế, sẽ có cảng thương mại lớn và cảng cá được xây dựng tại khu vực Bến Đầm (Tây Nam đảo lớn). Các công trình xây dựng này đòi hỏi phải san ủi mặt bằng, nạo vét đáy biển. Một phần dải rừng ngập mặn hiện cỏ sẽ mất đi, phần còn lại sẽ bị tác động nghiêm trọng. Trong quá trình xây dựng và hoạt động sau này, sự lắng đọng trầm tích tăng cào trên các rạn là một nguyên nhân có thể tiêu diệt hàng loạt san hô tròng vùng. Sự hoạt động tấp nập của.các loại tàu thuyền và các hoạt động dịch vụ này sẽ làm tăng mức độ ô nhiễm đối với vùng biển phía Tây quần đảo. Rất tiếc, các vị trí xây dựng cảng cá, nhà máy chế biến hải sản, các kho bãi...dự kiến sẽ được xây dựng đứng ngay trên một vùng cây rừng ngập mặn với nhiều loài sinh vật cư trú đang cần được bảo vệ và cần sự che chở của con người. Tính chất và vai trò của rừng ngập mặn là một điều không thể phủ nhận. Hiện nay, chúng bao quanh các đảo như một vành đai bảo vệ cho các vùng sinh thái bên trong không bị cát biển xâm lấn. Hơn nữa, rừng ngập mặn tại khu vực Bến Đầm gồm các loài ngập mặn trên nền cát: Loài Pemphis, là một loại rừng vô cùng đặc biêt. Khu rừng ngập mặn Pemphis nôi tiếng ở Bến Đầm là khu rừng ngập mặn duy nhất dược bảo tồn và phát biển trong tự nhiên. Khu rừng này mang tính chất đa dạng sinh học và lại có cảnh quan đẹp cần được bảo vệ. Tại vịnh Bến Đầm đang có quy hoạch xây dựng cảng thương mại và cảng cá nhằm phát triển kinh tế của Côn Đảo. Ở đây có thể sẽ hình thành một trung tâm công nghiệp mới. Các hoạt động kinh tế ở khu vực này làm mất đi vùng cảnh quan thiên nhiên đẹp và quý hiếm. Và điều đó là một thiệt hại lớn. Trả giá cho việc phát triển kinh tế là môi trường tự nhiên sẽ bị ô nhiễm, các hệ sinh thái và các loài sinh vật quý hiếm, tính đa dạng sinh học với những nét đặc sắc rất riêng của Côn Đảo sẽ bị suy thoái. Khu rừng ngập mặn Pemphis nổi tiếng có thể sẽ biến mất. Sân bay cỏ ống sẽ được mở rộng để đón các chuyến bay trong và ngoài nước. Tuy nhiên các đợt khảo sát điều tra các thảm thực vật rừng lại cho thấy vùng sân bay Cỏ Ống là nơi tập trúng nhiều loài thực vật trong rừng xanh lá rộng ở mức độ khá tốt và đáng ra cần được bảo vệ. Vì địa hình của Côn Đảo có độ dốc cao nên những nơi có địa hình tương đối bằng phẳng như khu vực Cỏ Ống rất thích hợp cho cây rừng phát triển. Thực tế vùng sân bay Cỏ Ống là một nơi rừng tập trung đều và đẹp ít thấy. Rừng cây lá rộng thường xanh ở xung quanh khu vực sân bay sẽ bị mất đi và cảnh quan sinh thái khu vực cũng thay đổi khi thực hiện quy hoạch mở rộng sân bay. Theo tinh thần thống báo 253/TB/VPB của Phủ Thủ Tướng, nhiệm vụ xây dựng Côn Đảo gồm 3 nội dung sau: - Xây dựng khu di tích lịch sử cách mạng Việt Nam kết hợp với yêu cầu tổ chức thăm quan du lịch và học tập. - Khai thác các tiềm năng kinh tế của Côn Đảo. - Kết hợp với xây dựng và củng cố quốc phòng. Căn cứ vào khả năng và phát triển của các ngành kinh tế, quỹ đất để xây dựng nhà ở, hạ tầng kỹ thuật, khả năng tổ chức cuộc sống xã hội với việc khai thác an toàn tài nguyên tự nhiên, dự kiến quy mô dân số Côn Đảo đến năm 2000 đạt 6.500 người và 2010 là 15.000 người( kể cả khách vãng lai ở trên 6 tháng) trong đó dân số trong độ tuổi lao động chiếm 75,6% và số bộ đội thường trực tại đảo khoảng 600 người. Cơ cấu quy hoạch tập trung chủ yếu trên Đảo Côn Sơn như sau: + Khu trung tâm: Được xây dựng và phát triển thể hiện khung cảnh một đô thị mới nhưng không làm ảnh hưởng đến cảnh quan các khu di tích lịch sử. Khu vực trung tâm có địa hình thuận lợi để xây dựng và phát triển đô thị với khu dân cư, nghỉ mát, du lịch... về việc khoanh vùng bảo vệ khu di tích lịch sử cách mạng, Bộ Văn hóa đã có quyết định 66/VH/CP ngày 11-6-1984 yêu cầu không được xâm phạm và bảo vệ cảnh quan 8 trại giam, khu chuồng bò, nghĩa trang Hàng Dương, nhà Chúa Đảo, cầu tàu 914. + Khu Bến Đầm: Xây dựng cảng biển nước sâu (gồm cảng dịch vụ hàng hải, cảng địch vụ dầu khí, cảng xuất nhập hàng nội địa, cảng cá) và khu công nghiệp phù hợp với chức năng cảng. + Khu Cỏ Ống: mở rộng sân bay Cỏ Ống thành sân bay đón được các chuyến bay quốc tế và được chọn để lập dự án khu du lịch tự do. Ngoài ra, tại hòn Bảy cạnh và hòn Cau có một phần diện tích khoảng 20-25ha cũng thuận lợi để phát triển xây dựng. Cùng một lúc Côn Đảo phải thực hiện hai nhiệm vụ mâu thuẫn với nhau là phát triển kinh tế đồng thời bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Như vậy, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và hạn chế các nguyên nhân gây suy thoái môi trường trong tiến trình phát triển kinh tế nhằm mục đích phát triển bền vững trở thành nhiệm vụ chiến lược quan trọng nhất của Côn Đảo. Việc xây đựng một kế hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội đồng thời với bảo vệ môi trường là cần thiết, trong đó sự phát triển sản xuất và tăng trưởng dân cư không gây tác động xấu đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên của Côn Đảo. Các biện pháp bảo vệ môi trường nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản sau: - Triển khai các dự án và biện pháp quản lý môi trường. - Bảo vệ, phục hồi và phát triển tài nguyên rừng và tài nguyên sinh vật. - Phồng chống ô nhiễm môi trường do các hoạt động kinh tế gây ra. - Tính chất, quy mô phát triển kinh tế-xã hội và cơ cấu quy hoạch. - Tài nguyên thiên nhiên ( động-thực vật, đất, nước, không khí), hiện trạng khai thác sử dụng và dự báo các tác động tiềm tàng gây nên hậu quả xấu. - Khu vực khai thác dầu khí tại vùng biển Nam Côn Sơn và triển vọng hình thành đường hàng hải quốc tế (cách Côn Đảo 60km) khi có kênh đào Kra. - Chất lượng môi trường (đất, nước, không khí) để bảo vệ sức khỏe và điều kiện phát triển bền vững cho con người và sinh vật trong khu vực. - Vùng biển với các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển, thực vật ngập mặn... nhằm duy trì sản lượng thủy sản ở mức độ cao và cung cấp lâu bền nguồn động, thực vật thân mềm và cá thực phẩm. - Thảm thực vật rừng với các hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm, rừng đôi cát, rừng ngập nước để bảo tồn các động, thực vật quý hiếm, giữ nước mưa, bổ sung nguồn nước ngầm, chống xói mòn. - Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên nguyên hiện trạng như vốn có trong tự nhiên, bảo vệ nguồn gen và tính đa dạng loài, giữ gìn cận bằng sinh thái đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học, giáo đục và du lịch giải trí. - Sở KHCN và MT tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là cơ quan chức năng quản lý môi trường tỉnh, tô chức phối hợp với các cơ quan chuyên ngành đề xuất chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học khu vực bảo tồn biển, bảo tồn lừng làm căn cứ cho các hoạt động khai thác. - Tổ chức xây dựng phượng án phòng chống các sự cố môi trường, đặc biệt là sự cố tràn dầu trên biển. - Giám sát và kiểm tra việc thực hiện Luật Môi trường và các quy định về BVMT của các cơ sở sản xuất, các tổ chức hoặc cá nhân trong phạm vi khu vực Côn Đảo (kể cả các cơ sở đang tồn tại và các dự án sẽ thực hiện). - Tổ chức thanh tra môi trường và có các biện pháp xử lý theo quy định của Nhà nước đối với các cơ sở, các tổ chức hoặc cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm tổn hại hoặc có hành vi làm suy thoái nguồn tài nguyên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các đối tượng được ưu tiên bảo vệ. - Tổ chức giáo dục cộng đồng để tất cả mọi người nhận thức được tầm quan trọng của BVMT và tham gia BVMT một cách tự giác. - Xét duyệt, thẩm định các dự án phát triển tại Côn Đảo. Quan điểm về quy hoạch môi trường khu vực Côn Đảo -Các ngành sản xuất Khu vực Côn Đảo cần được quy hoạch cho các loại hình công nghiệp dịch vụ du lịch ít có khả năng gây ô nhiễm. Do nằm trong vùng sinh thái có tính nhảy cảm cao với ô nhiễm môi trường, lại là khu vực bảo tồn thiên nhiên và là vùng nuôi trồng, khai thác thủy sản, du lịch cho nên việc lựa chọn loại hình công nghiệp ở Côn Đảo cần được xem xét nghiêm túc. Dù có hệ thông xử lý chất thải nhưng khả năng gây sự cố môi trường cao, tác động môi trường nghiêm trọng và khu Côn Đảo là nơi có rong cấm và các di tích lịch sử cần được bảo vệ nên các loại hình công nghiệp có khả năng gây ô nhiễm đất, nước, không khí, tiếng ồn không được triển khai tại khu vực này. - Vấn đề phát triển dân số Phát triển dân số phải hết sức thận trọng, đặc biệt là tăng dân số cơ học. Con người vừa là nhân tố phát triển xã hội, vừa là các tác nhân gây mất cân bằng sinh thái, hủy hoại môi trường đồng thời cũng là nạn nhân khi môi trường bị hủy hoại. Việc phát triển dân số trên 10.000 người như một số phương án tại Côn Đảo sẽ gặp một số vấn đề có liên quan như: Trữ lượng nước ngọt cung cấp cho sinh hoạt. Khi dân cư tăng quá tải sẽ dẫn tới chặt phá rừng, khai thác tài nguyên một cách bừa bãi dẫn tới tình trạng làm mất cân bằng sinh thái, phá hỏng khu vực bảo tồn thiên nhiên quý hiếm. Hiện nay, quy hoạch tông thể xây dựng Côn Đảo đến năm 2010 chưa được nhà nước thông qua chính thức. Dựa vào những văn bản của nhà nước và bản dự thảo quy hoạch tổng thể Côn Đảo giai đoạn 1993 - 2010 có thể định hướng quy hoạch môi trường Côn Đảo như sau : Trong vùng này có bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn di tích lịch sử. Ranh giới các vùng bảo tồn được xác lập theo các quyết định 85/CP của Hội đồng Bộ Trưởng, quyết định 135/Ttg của Thủ tướng Chính phủ và quyết định 66/VH/CP của Bộ Văn hóa. Tại các vùng này, tiêu chuẩn chất lượng môi trường đạt tiểu chuẩn môi trường du lịch. Mọi khai thác nguồi lợi kể cả các hoạt động du lịch nhằn phục vụ đời sống xã hội của cộng đồng đều nằm dưới sự giám sát và kiểm soát của các nhà quản lý môi trường. Mục tiêu quản lý nhằm duy trì cảnh quan tợ nhiên trên bờ và dưới nước, các yếu tố sinh thái, địa hình, địa mạo có giá trí và hạn chế tối đa các tác động tiêu cực tới môi trường. Diện tích vùng này chiếm toàn bộ lòng chảo trang tâm đảo Côn Sơn (500ha) được bao bọc ba phía là núi cao, một phía nhìn ra vịnh Côn Sơn. Thị trấn Côn Đảo đã hình thành trên cơ sở các khu cư xá của cai ngục, nhà ở cho quan chức chế độ nhà tù cũ, sẽ được quy hoạch xây dựng để trỏ thành một trung tâm hành chính, văn hóa của Côn Đảo. Điểm đặc biệt của vùng này là cùng tồn tại khu thị trấn và dân cư cũ (phía Bắc, kể từ nhà chúa đảo), khu dân cư mới (phía Nam), khu đu lịch (khu vực hồ An Hải, chân núi Chúa), bãi tắm (từ nhà thờ đến chân núi Một), khù dân cư nông nghiệp (dọc theo đường chân núi), khu vực di tích lịch sử khoanh vùng bạo vệ..., một số cơ sỡ sản xuất, chế biến nhỏ nằm rải rác và một cảng chính. Tại vùng đô thị này, các cơ sở sản xuất, chế biến ở bất kỳ quy mô nào cũng đều phải cồ biện pháp xử lý chất thải (rác thải, nước thải, khí thải) theo đúng quy định và chịu sự giám sát định kỳ của các nhà quản lý môi trường . Khu dân cư nông nghiệp chuyển đần sàng chỉ trồng rau, hòa và chăn nuôi quy mô gia đình, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ. Qua các đợt khảo sát thực tế cho thấy: rừng ngập mặn khu vực Bến Đầm gồm các loài cây rừng ngập mặn trên nền cát: Loài Pemphis. Theo đánh giá của một số chuyên gia sinh thái môi trường nhận định đây là khu lừng ngập mặn duy nhất được bảo tồn và phát triển trong tự nhiên. Đây là một loại hình rừng tuyệt đẹp về mặt cảnh quan đồng thời mang tính chất đa dạng sinh học đang rất cần được bảo vệ. Các khu rừng này đã hình thành từ hàng trăm năm nay, có khả năng chịu sóng và gió biển rất tốt đồng thời đóng vai trò như một bộ máy lọc nước tuyệt vời nhất của thiên nhiên. Do có điều kiện tự nhiên hết sức lý tưởng, hiện nay vùng vịnh này đã được chọn để xây đựng hệ thông cảng và các loại hình công nghiệp phù hợp chức hãng cảng. Tại đây, các tiêu chuẩn về chất ltrong môi trường đối với khu công nghiệp và cảng cần đảm bảo. Đây là một thiệt hại đáng kể đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên tại Côn Đảo vì mục tiêu phát triển kinh tế. Những tác động tiềm tàng trong quá trình xây dựng và hoạt động cảng Bến Đầm tới tài nguyên môi trường chưa đánh giá hết do dự án chưa lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định. Việc quy hoạch xây dựng cảng thtrong mại và cảng cá tại vịnh Bến Đầm rồi sau đó có thể hình thành một trung tâm công nghiệp mới tại đây sẽ làm mất đi một vùng cảnh quan tự nhiên rất đẹp, rất quý. Qua nghiên cứu môi trường của nhiều cảng lớn trên thế giới và ở Việt Nam, các tác động đến môi trường nghiêm trọng của việc xây dựng và do hoạt động cảng nước sâu tại Côn Đảo được dự báo dưới đây. - Các tác động trong xây dựng cảng : + Cảng được xây dựng làm mất một phấn diện tích rừng và hệ sinh thái cạn. + Xâm phạm lớn đến hệ sinh thái nước do hoạt động nạo vét, gây ô nhiễm nước, mất các loài cỏ biển, quấy động nơi cư ngụ của các loài thủy sinh, kể cả các loài động vật quý hiếm (bò biển, cá heo, rùa biển...) - Các tác động khi cảng đi vào hoạt động : + Gia tăng nguồn ô nhiễm nước biển, đặc biệt là nguy cơ tràn dầu có thể dẫn tới phá hoại hệ sinh thái tự nhiên nhạy cảm ở Côn Đảo và vùng chung quanh. Gia tăng dân số và các công trình địch vụ dẫn tới việc gia tăng khai thác nguồn nước ngầm hiện rất hạn chế; đồng thời gián tiếp tác động đến hệ sinh thái tự nhiên của Vườn Quốc Gia Côn Đảo. Suy giảm ngành kinh tế du lịch sinh thái và hải sản của Côn Đảo. Lợi tức của cảng chưa chắc đã bằng lợi tức do các ngành đu lịch, thủy sản và bảo tồn tài nguyên ở Côn Đảo. Ưu tiên hàng đầu đối với Côn Đảo là bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên và vườn Quốc Gia - tài sản quốc gia vô cùng quý giá. Do vậy, chúng tôi kiến nghị Chính phủ không cho phép thực hiện dự án cảng Bến Đầm cũng như các cảng lớn và các dự án công nghiệp, đô thị hóa triển khai tại Côn Đảo. Trong tương lai, lựa chọn và phát triển một vài loại hình công nghiệp nhỏ cần thẩm định kỹ và ưu tiên công nghiệp dịch vụ ít gây ô nhiễm nhất. Các loại chất thải (rác thải, khí thải, nước thải) được kiểm soát chặt chẽ và có hệ thống xử lý. Các phương án phòng chống sự cố gây ô nhiễm môi trường như tràn dầu, cháy nổ... và trang bị các phương tiện ứng cứu là điều kiện bắt buộc. Xa hẳn khu trung tâm, khu vực Cỏ Ống tương đối biệt lập và hội đủ các yếu tố để lập khu du lịch tự do như sân bay, nhiều bãi tắm đẹp, địa hình lý tưởng để có thể xây dựng sân golf, khu vui chơi hiện đại, cách không xa có vịnh Đầm Tre để xây dựng để xây dựng một khu nghiên cứu về động vật biển... Tiêu chuẩn chất lượng môi trường khu vực này cần đạt các yêu cầu của khu du lịch Quốc tế. Ở đây không cho phép xây dựng các cơ sở sản xuất chế biên gây ô nhiễm. Do quy hoạch mở rộng sân bay trong tương lai, một vùng rộng lớn của rừng cây lá rộng thường xanh xung quanh khu vực sân. bay hiện nay sẽ mất đi. Việc mở rộng sân bay không chỉ thu hẹp diện tích rừng hiện có mà nó còn thay đổi cảnh quan sinh thái trong khu vực. Quyết định 85/CT có quy định một khu đệm là hành lang biển rộng 4 km bao quanh các hòn đảo có rừng cấm nhằm bảo vệ các loài chim, thú. Do vậy, vùng biển xung quanh Côn Đảo do hai lực lượng quản lý và kiểm lâm Vườn Quốc Gia Côn Đảo và kiểm ngư của chị cục bảo vệ nguồn lợi tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Hiện nay, lực lượng kiểm lâm kiểm tra các hoạt động ở vùng cách bờ đảo 4 km theo thẩm quyền của Vườn Quốc Gia. Quy định này có phần nào bất hợp lý do đó gây nên sự mâu thuẫn giữa hai lực lượng quản lý và hạn chế hiệu qủa bảo vệ nguồn lợi. Để tổ chức tốt công tác quản lý khu bảo tồn nên : - Thống nhất lại cơ chế quản lý và giao cho một cơ quan duy nhất điều hành để nâng cao hiệu quả và trách nhiệm trong công tác quản lý. - Đào tạo kiến thức bảo tồn thiên nhiên cho cán bộ thuộc cơ quan quản lý và có sự phối hợp chật chẽ với các chuyên gia về các lĩnh vực bảo tồn tài nguyên rừng, tài nguyên biển trong nước. - Đề ra các biện pháp quản lý việc khai thác sử dụng tài nguyên trong khu vực bảo tồn. Khai thác có quy hoạch và tuân theo các quy định chặt chẽ là một hoạt động hợp pháp căn cứ vào kết quả các nghiên cứu khoa học và mục đích sử dụng lâu bền các nguồn lợi. Thực hiện giám sát và kiểm soát thường xuyên nhằm dự báo và phát hiện các sự cố Và xu thế biến đôi môi trường do các hoạt động của con người trong khu vực bảo tồn. - Cần đưa nội dung bảo vệ rừng vào chương trình tuyên truyền giáo dục trên hệ thông thông tin đại chúng. Qua đề tài: "Hiện trạng môi trường tự nhiên Côn Đảo - các biện pháp tổng hợp bảo vệ môi trường khu vực Côn Đảo trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa." đa rút ra được các kết luận sau : 1/Hiện trạng chất lượng không khí ở Côn Đảo rất tốt, phần lớn diện tích Côn Đảo chưa có vấn đề ô nhiễm không khí. 2/Hiện trạng chất lượng nước hầu hét các suối, hồ còn tốt, đáp ứng tỉêu chuẩn nguồn bại A (phục vụ cấp nước). Nước ngầm có chất lượng về mặt hóa lý tốt nhưng nhiều giếng đã bị ô nhiễm vi trùng. Nước biển một số khu vực ven bờ có dấu hiệu ô nhiễm đầu. Tài nguyên nước ngọt sẽ bị suy giảm nếu điện tích rừng Côn Đảo bị suy thoái.. 3/Hiện trạng tài nguyên sinh vật ở Côn Đảo, đặc biệt là trong Vườn Quốc Gia được bảo vệ tốt Thảm thực vật Côn Đảo phong phú về chủng loại và giá trị sinh thái Tài nguyên thủy sinh ven biển Côn Đảo giàu có về tiềm năng thủy sản, đặc biệt còn nhiều loại động vật quý hiếm. Đây là Vườn Quốc Gia lớn nhất ở Việt Nam còn bảo tồn các loài sinh vật trên cạn và ven biển. Do đó, bảo vệ tài nguyên sinh vật là ưu điểm hàng đầu trong việc phát triển kinh tế - xã hội Côn Đảo chứ không phải là đô thị hóa, công nghiệp hóa, giao thông thủy. 4/Với tầm quan trọng về mặt môi trường, thủy sản và du lịch, đề tài kiến nghị chính phủ, tỉnh và các bệ, nghành xem xét lại việc xây dựng các công trình lớn có khả năng gây biến đôi xấu các hệ sinh thái tự nhiên ở Côn Đảo, đặc biệt là các cảng nước sâu, khu đô thị, khu công nghiệp lớn và hạn chế di dân ra Côn Đảo. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, di dân sẽ dẫn đến phá vỡ hệ sinh thái tự nhiên, mất rừng dẫn tới giảm khả năng cấp nước, ô nhiễm môi trường và tác hại đến phát triển kinh tế - xã hội của Côn Đảo. 1.Trung tâm Khoa Học Tự Nhiên và Công Nghệ Quốc Gia, Viện Hải Dtrong Học Nha Trang, Luận chứng khoa học khu bảo tồn biển Côn Đảo, 1995. 2.Ủy Ban Nhân Dân tỉng Bà Rịa-Vũng Tàu, Dự thảo báo cáo quy hoạch tông thể kỉnh tế-xã hội tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2010, Bà Rịa-Vũng Tàu, 1995. 3.Tạp chí khoa học xã hội - Trung tâm Khoa Học - Xã Hội và Nhân Văn quốc gia. Viện khoa học - xã hội TP. HCM. 4.Cục thống kê tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Niên giấm thống kê tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu năm 1995) 1997. 5.Các tiêu chuẩn nhà nước Việt Nam về môi trường, tập 1 : Chất lượng nước, Hà Nội, 1995. 6.Các tiêu chuẩn Nhà nước Việt Nam về môi trường, tập II: Chất lượng không khí, Hà Nội, 1995. 7.Tóm tắt báo cáo quy hoạch tổng thể Côn Đảo giai đoạn 1993 - 2010, Hà Nội 1993. 8.Côn Đảo : Ký sự và tư liệu - TP. HOM : Trẻ 1996. - (Ban liên lạc tù chính trị - sở văn hóa thông tin). 9.Cẩm nang du lịch - di tích danh thắng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.6.1.3.3.Ô nhiễm khí NO2
6.1.3.4.Ô nhiễm khí CO
6.1.3.5.Ô nhiễm THC
6.1.3.6.Ô nhiễm do bụi chì trong không khí.
6.1.3.7.Ô nhiễm tiếng ồn
6.1.3.8.Đánh giá chung
6.2. MÔI TRƯỜNG NƯỚC
6.2.1.KHẢ NĂNG CẤP NƯỚC VÀ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG
6.2.1.1. Khả năng cung cấp nước
6.2.1.2.Hiện trạng khai thác sử dụng nguồn nước
6.2.2.NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TRỮ LƯỢNG NGUỒN
NƯỚC:
6.2.2.1.Những yếu tố tự nhiên:
6.2.2.2. Những yếu tố nhân tạo
6.2.3. NGUỒN GỐC GÂY Ô NHIỄM NƯỚC
6.2.3.1.Các tác nhân gây ô nhiễm nước
6.2.3.2. Nguồn gốc gây suy thoái chất lượng nước tại Côn Đảo
6.2.4. PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG
NƯỚC
6.2.4.1. Phương pháp khảo sát chất lượng nước
6.2.4.2. Phương pháp đánh giá chất lượng nước ở Côn Đảo
6.2.5. ĐÁNH GIÁ CHẮT LƯỢNG NƯỚC Ở CÔN ĐẢO
6.2.5.1. Chất lượng nước ngầm
6.2.5.2. Chất lượng nước mặt
6.2.5.3. Nhận xét chung
6.3. MÔI TRƯỜNG SINH VẬT
6.3.1. Giá trị sử dụng
6.3.2.Giá trị nghiên cứu khoa học
6.3.3.Các tác động tiềm tàng tối tài nguyên sinh học
6.3.3.1.Tác động do khai thác tài nguyên biển.
6.3.3.2 Tác động do xây dựng đập tràn tại công An Hải
6.3.3.3 Tác động do xây đựng cảng
6.3.3.4 Tác động do mở rộng sân bay Cỏ Ống
Chương 7: CÁC BIỆN PHÁP TỔNG HỢP BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG CÔN ĐẢO TRỌNG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA
HIỆN ĐẠI HÓA
7.1 DỰ BÁO QUY MÔ PHÁT TRIỂN TẠI CÔN ĐẢO
7.1.1.Định hướng, quy mô phát triển
7.1.2.Cơ cấu quy hoạch
7.2 CÁC BIỆN PHÁP TỔNG HỢP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
7.2.1.Cơ sở đề xuất các biện pháp
7.2.2.Xác định đôi tượng ưu tiên bảo vệ
7.2.3.Tổ chức quản lý môi trường
7.2.4.Thực hiện quy hoạch môi trường
7.2.4.1.Vùng bảo tồn
7.2.4.2.Vùng đô thị
7.2.4.3.Vùng vịnh Bến Đầm
7.2.4.4.Vùng Cỏ Ống
7.2.5. Bao tồn, phục hồi và phát triển tài nguyên rừng và tài nguyên
sinh vật
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

