intTypePromotion=1

Luật Hình sự Việt Nam và một số hình phạt tử hình

Chia sẻ: Vũ Thị Thúy | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:270

0
279
lượt xem
76
download

Luật Hình sự Việt Nam và một số hình phạt tử hình

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu trình bày những nội dung về: khái niệm, đặc điểm, bản chất, mục đích của hình phạt tử hình; cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định và áp dụng hình phạt tử hình; hình phạt tử hình trong luật Hình sự Việt Nam và luật hình sự thế giới; các quy định và định hướng hoàn thiện một số quy định trong bộ luật Hình sự 1999 về hình phạt tử hình và thực tiễn áp dụng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luật Hình sự Việt Nam và một số hình phạt tử hình

  1. HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (Sách chuyên khảo) 3
  2. 4
  3. TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM ThS. VŨ THỊ THÚY HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (Sách chuyên khảo) NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2010 5
  4. Cuốn sách này được tài trợ bởi Dự án Danida, Đan Mạch. This publication has been produced with the financial assistance of the Danida Project, Denmark. 6
  5. MỤC LỤC 7
  6. LỜI NÓI ĐẦU Tử hình là một trong những hình phạt có lịch sử lâu đời và nghiêm khắc nhất trong luật hình sự. Trải qua hàng nghìn năm tồn tại, hình phạt tử hình đã thể hiện và phát huy vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển, quyền sống của con người đặc biệt được coi trọng, ý thức pháp luật của người dân nâng cao, xã hội thiết lập được cơ chế kiểm soát hành vi của con người hiệu quả…, thì việc duy trì hay bãi bỏ hình phạt tử hình đang là vấn đề được quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nhận thức được xu thế giảm dần, tiến tới xoá bỏ hình phạt tử hình trên thế giới, chúng ta đã từng bước giảm số tội phạm quy định hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự (từ 44 điều luật quy định hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự 1985 xuống còn 29 điều trong Bộ luật hình sự 1999 và 22 điều theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình 8
  7. sự 2009). Tuy nhiên, vẫ có quan điểm cho rằng việc quy định hình phạt tử hình trong một số tội phạm của Bộ luật hình sự là không cần thiết. Vì vậy, chúng ta cần tiếp tục sửa đổi Bộ luật hình sự theo hướng xoá bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phạm này. Trên cơ sở điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, tình hình tội phạm ở Việt Nam trong những năm qua và dự báo trong thời gian tới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 49/NQ-TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong đó nêu rõ định hướng, chính sách hình sự: duy trì hình phạt tử hình nhưng “chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Đây là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với điều kiện của nước ta và xu hướng giảm dần tiền tới xoá bỏ hình phạt tử hình của thế giới. Thời gian qua, không chỉ Đảng và Nhà nước mà giới nghiên cứu luật học cũng rất quan tâm đến vấn đề áp dụng và thi hành hình phạt tử hình trong luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam. Từ năm 2000 đến nay, có nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về đề tài này. Trong cuốn sách này, chúng tôi chỉ nghiên cứu về hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc 9
  8. duy trì hay bãi bỏ hình phạt tử hình, thực tiễn áp dụng, kinh nghiệm một số nước trên thế giới… từ đó đề xuất việc sửa đổi các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về hình phạt tử hình một cách khách quan và khoa học, phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở Việt Nam hiện nay. Với kết cấu gồm bốn chương, cuốn sách “Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam” đề cập đến các nội dung sau: - Khái niệm, đặc điểm, bản chất, mục đích của hình phạt tử hình; Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định và áp dụng hình phạt tử hình; - Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam và luật hình sự thế giới qua các thời kỳ lịch sử; - Các quy định của Phần chung và Phần các tội phạm Bộ luật hình sự 1999 về hình phạt tử hình và thực tiễn áp dụng; - Định hướng hoàn thiện một số quy định của Phần chung và Phần các tội phạm Bộ luật hình sự về hình phạt tử hình. Chúng tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của TS. Trần Thị Quang Vinh, Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật về Quyền Con người và Quyền Công dân 10
  9. – Trường Đại học Luật TP.HCM, Dự án Danida – Đan Mạch trong quá trình hoàn thành cuốn sách này. Hy vọng cuốn sách “Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam” mang đến cho bạn đọc một số thông tin hữu ích về hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam. Chúng tôi rất mong nhận được góp ý, phê bình của quý vị độc giả. TÁC GIẢ 11
  10. CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH I. KHÁI NIỆM HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 1. Định nghĩa, đặc điểm của hình phạt tử hình Xét theo ngữ nghĩa, “tử” nghĩa là “chết”, “hình” là hình thức trừng trị người phạm tội1. Tử hình là hình thức trừng trị người phạm tội bằng cái chết. Tương tự như vậy, Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Tử hình là hình phạt phải chịu tội chết”2. Định nghĩa đầy đủ hơn về hình phạt tử hình, Từ điển Giải thích Thuật ngữ Luật học chỉ rõ: Tử hình là “hình phạt tước bỏ quyền sống của người bị kết án. 1 Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản TP. HCM, 2001, tr.1964. 2 Viện Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện ngôn ngữ học (1992), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ, Hà Nội, tr.1053. 12
  11. Tử hình được coi là hình phạt đặc biệt trong hệ thống hình phạt của luật hình sự Việt Nam. Là hình phạt nghiêm khắc nhất, tử hình chỉ được áp dụng đối với các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và được thi hành theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ”1. Điều 35 Bộ luật hình sự quy định: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”. Với tư cách là một loại hình phạt trong hệ thống hình phạt của luật hình sự Việt Nam, hình phạt tử hình có đầy đủ các đặc điểm chung của hình phạt: là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, chỉ được áp dụng đối với người có hành vi phạm tội, được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án nhân danh Nhà nước áp dụng. Ngoài ra, với tư cách là một loại hình phạt “đặc biệt”, hình phạt tử hình còn có các đặc điểm riêng mà các loại hình phạt khác không có. Các đặc điểm đó là: - Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt 1 PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Luật hình sự và luật tố tụng hình sự), Nhà xuất bản Công an Nhân dân, tr.129. 13
  12. Nếu hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong số các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước thì tử hình là loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống các hình phạt của luật hình sự. Tính nghiêm khắc của hình phạt tử hình được thể hiện ở chỗ nó loại trừ vĩnh viễn người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội, tước đi quyền sống của người bị kết án - đây là quyền tự nhiên, thiêng liêng, cơ bản và quan trọng nhất của con người. Nếu một người chấp hành án phạt tù thì các quyền lợi khác của họ vẫn được đảm bảo (quyền sống, quyền sở hữu…); nhưng nếu một người chấp hành án tử hình thì các quyền lợi khác (quyền tự do, dân chủ, các quyền chính trị…) đối với họ không có ý nghĩa và cũng không còn tồn tại. Tính nghiêm khắc của hình phạt tử hình còn được thể hiện ở việc: các loại hình phạt khác, khi đã được áp dụng, nếu người phạm tội có sự cải tạo tốt chúng ta có thể giảm hình phạt cho họ hoặc nếu có sai sót xảy ra, chúng ta có thể sửa chữa được sai lầm; đối với hình phạt tử hình, khi đã thi hành người phạm tội không có cơ hội sửa chữa sai lầm để được giảm hình phạt, nếu có sai sót chúng ta không có cách nào khắc phục được hậu quả. 14
  13. - Hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng Trong Bộ luật hình sự, tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhà làm luật có sự phân hoá các loại hình phạt áp dụng đối với từng loại tội như: hình phạt cảnh cáo và hình phạt tiền (với tư cách là hình phạt chính) chỉ áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng; hình phạt tù có thời hạn có thể áp dụng cho mọi loại tội phạm… thì hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với người phạm tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự: tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Như vậy, không phải tất cả các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong Bộ luật hình sự đều quy định hình phạt tử hình. Hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng – trường hợp hành vi phạm tội có tính nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội, người phạm tội không còn khả năng cải tạo, giáo dục, nếu 15
  14. họ tồn tại sẽ tiếp tục là nguồn nguy hiểm cho xã hội; và việc áp dụng các loại hình phạt khác đối với họ không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và không đảm bảo được mục đích của hình phạt1. - Hình phạt tử hình được áp dụng và thi hành theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003, chỉ có Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu mới có quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự quy định hình phạt tử hình (Điều 170). Khi bản án tử hình đã có hiệu lực pháp luật, hình phạt tử hình chưa được phép thi hành mà phải gửi hồ sơ vụ án lên Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao, gửi bản án lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao để xem xét việc ra quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Nếu Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; hoặc tuy có kháng nghị nhưng Hội 1 Khái niệm “trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” sẽ được trình bày cụ thể hơn trong Mục II.1. 16
  15. đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm Tòa án nhân dân Tối cao quyết định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình thì người bị kết án có quyền gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước. Trong trường hợp này, bản án tử hình chỉ được thi hành sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm (Điều 258 Bộ luật tố tụng hình sự). Từ việc phân tích các đặc điểm của hình phạt tử hình, chúng ta có định nghĩa về hình phạt tử hình như sau: Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt của luật hình sự Việt Nam, tước đi quyền sống của người bị kết án, được quy định trong Bộ luật hình sự, do Toà án áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ. 2. Bản chất của hình phạt tử hình Khi bàn về bản chất của hình phạt, Mác viết: “Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó”1. Bản chất của 1 Các Mác – Ăng-ghen toàn tập (1993), Tập 8, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr.673. 17
  16. hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng do các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, hệ tư tưởng, đạo đức, lối sống của hình thái kinh tế - xã hội đó quyết định1. Như vậy, hình phạt thực chất là sự phản ứng của nhà nước đối với hành vi phạm tội nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, của xã hội. Đối với hành vi có tính nguy hiểm cho lợi ích của giai cấp thống trị và của xã hội càng cao thì thái độ phản ứng của nhà nước càng quyết liệt. Thái độ phản ứng của nhà nước đối với người phạm tội được thể hiện thông qua hình phạt. Sự phản ứng này tuỳ thuộc vào thời kỳ lịch sử, sự tiến bộ và khả năng tự vệ của xã hội. Thông thường, nếu khả năng tự vệ xã hội yếu thì tính nghiêm khắc của hình phạt cao để trấn áp, răn đe người phạm tội; nếu khả năng tự vệ xã hội cao, thì tính nghiêm khắc của hình phạt giảm, bởi nhà nước có thể sử dụng các biện pháp khác hạn chế tình hình tội phạm có hiệu quả. Xã hội càng tiến bộ, các phương tiện tác động đến hành vi của con người 1 TS. Phạm Văn Lợi (2006), Một số vấn đề về hình phạt tử hình và thi hành hình phạt tử hình, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.26. 18
  17. càng đa dạng, phong phú; hình phạt không còn chiếm vị trí độc tôn để điều chỉnh hành vi của người phạm tội nên nó mang tính nhân bản hơn, hướng tới mục tiêu cải hoá người phạm tội. Những nguyên lý trên lý giải việc duy trì hay bãi bỏ, mở rộng hay thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình ở các quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử. Trong thời kỳ đầu của xã hội loài người, hình phạt tử hình được coi là sự báo thù của nhà nước đối với hành vi phạm tội nên nó có tính chất tàn khốc, dã man và được áp dụng phổ biến trong luật hình sự. Khi xã hội phát triển hơn, nhà nước xây dựng được cơ chế kiểm soát hành vi của con người có hiệu quả nên phạm vi áp dụng hình phạt tử hình dần được thu hẹp. Đến một thời điểm nhất định, ý thức tuân thủ pháp luật của người dân nâng cao, nhà nước thiết lập được một trật tự xã hội ổn định, có cơ chế kiểm soát hành vi của con người hiệu quả, khả năng tự vệ của xã hội cao… thì có thể tiến tới xoá bỏ hình phạt tử hình. Như vậy, trong bất kỳ xã hội nào, hình phạt tử hình cũng chỉ là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để chống lại những hành vi nguy hiểm cho sự tồn tại và phát triển của chế độ xã hội đó. Nếu coi 19
  18. “hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó” thì hình phạt tử hình chính là phương tiện mạnh mẽ nhất, nghiêm khắc nhất được nhà nước sử dụng để chống lại những hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội cao nhất. 3. Mục đích của hình phạt tử hình Mục đích là “cái vạch ra làm đích nhằm đạt cho được”1. Mục đích của một biện pháp là kết quả chủ thể đặt ra và mong muốn đạt được khi thực hiện biện pháp đó. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế của nhà nước nên khi quy định và áp dụng hình phạt, nhà nước cũng đặt ra những mục đích nhất định. Mục đích của hình phạt là kết quả thực tế cuối cùng mà nhà nước đặt ra và mong muốn đạt được khi quy định hình phạt đối với tội phạm và áp dụng hình phạt đối với cá nhân người phạm tội đó. * Các quan điểm khác nhau về mục đích của hình phạt 1 Viện Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Ngôn ngữ học (1992), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ, Hà Nội, tr.644. 20
  19. Quan điểm về mục đích của hình phạt sẽ ảnh hưởng đến việc quy định và áp dụng hình phạt trong luật hình sự. Hiện nay, trong khoa học pháp lý hình sự, có nhiều quan điểm khác nhau về mục đích của hình phạt. Các quan điểm này thường xoay quanh vấn đề: mục đích của hình phạt là trừng trị, hay cải tạo giáo dục người phạm tội, hay thiết lập lại công bằng xã hội? - Quan điểm thứ nhất cho rằng: hình phạt có mục đích trừng trị nhưng đồng thời với trừng trị là cải tạo, giáo dục người phạm tội. Trừng trị vừa là mục đích vừa là phương tiện, là tiền đề để cải tạo, giáo dục người phạm tội. Người phạm tội là người đã thực hiện hành vi có tính nguy hiểm cao cho xã hội nên cần áp dụng những biện pháp có tính cưỡng chế mạnh trừng trị họ, để họ thấm thía được những tổn thất về thể chất và tinh thần mà họ đã gây ra cho người khác, từ đó giúp họ sửa chữa lỗi lầm, ăn năn hối cải. Với quan điểm này, nhà nước cần phải quy định và áp dụng một mức hình phạt có tính nghiêm khắc tương xứng với tính nguy hiểm của hành vi mà người phạm tội đã gây ra, trong cả trường hợp việc áp dụng hình phạt không còn cần thiết. 21
  20. - Quan điểm thứ hai cho rằng: hình phạt không có mục đích trừng trị mà chỉ có mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm. “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước” - tính cưỡng chế nghiêm khắc này thể hiện nội dung trừng trị của hình phạt, là phương tiện để đạt được mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội. Tán đồng quan điểm này, Cesar Beccaria trong tác phẩm “Về tội phạm và hình phạt” (Of Crimes and Punishments) đã chỉ rõ: mục đích của hình phạt không phải là hành hạ và tra tấn con người mà là ngăn cản người phạm tội thực hiện tội phạm và kiềm giữ những người khác tránh thực hiện tội phạm. Với quan điểm này, nhà nước chỉ cần quy định và áp dụng một mức hình phạt vừa và đủ để cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội. - Quan điểm thứ ba cho rằng: Cả trừng trị và cải tạo, giáo dục đều không phải là mục đích của hình phạt, mà là nội dung của hình phạt. Mục đích của hình phạt thực chất là lập lại công bằng xã hội, tạo ra một xã hội bình đẳng, bác ái, ổn định và tốt đẹp hơn, trong đó quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi người dân được tôn trọng và bảo vệ, người có tội bị phạt và người có công được thưởng… Với quan 22
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2