intTypePromotion=3

Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 và những vấn đề cơ bản: Phần 1

Chia sẻ: Jie Jie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:86

0
8
lượt xem
0
download

Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 và những vấn đề cơ bản: Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009 tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa XII và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 2010. Đây là đạo luật có ý nghĩa quan trọng, lần đầu tiên quy định một cách đồng bộ, chặt chẽ về quyền yêu cầu và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra trong khi thi hành công vụ. Đế giúp bạn đọc kịp thời tìm hiểu đạo luật này, tài liệu Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 và những vấn đề cơ bản được chia sẻ dưới đây với 2 phần cơ bản. Phần 1 sau đây sẽ trình bày các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 và những vấn đề cơ bản: Phần 1

  1. TS. ĐINH TRUNG TỤNG (Chủ biên) NHỮNG VẤN OẼ Cơ BẢN CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC NÃM 2009 NHÀ XUẤT BẢN T ư PHÁP HÀ NỘI - 2009
  2. ❖ CHỦ BIÊN TS. Đinh Trung Tụng - Thứ trưỏng Bộ Tư pháp ❖ TẬP THỂ TÁC GÍẢ ■ - PG S. TS. Dương Đăng Huệ - Vụ trưỏng Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tê' - TS. Nguyễn Văn Tuân - Tổng biên tập Tạp chí dân chủ và pháp luật - ThS. Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Vụ trưỏng Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế - ThS. Lê Minh Phương - Chuyên viên Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế - ThS. Nguyễn Kim Phượng - Chuyên viên Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế
  3. LỜI GIỚI THIỆU Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009 tại kỳ họp thứ 5, Quổc hội Khóa XII và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 2010. Đây là đạo luật có ý nghĩa quan trọng, lần đầu tiên quy định một cách đồng bộ, chặt chẽ về quyền yêu cầu và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thưòng thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra trong khi thi hành công vụ. Đồng thòi, việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước củng sẽ góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ thông qua việc xác định rõ việc phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do hành vi trái pháp luật của ngưòi thi hành công vụ và xác dịnh trách nhiệm hoàn trả của họ. Chính vì vậy, Luật này có tác động rất lốn đến người dân và các cán bộ, công chức nhà nước. Đế giúp bạn đọc kịp thời tìm hiểu đạo luật này, Nhà xuất ban Tư pháp phối hỢp với Vụ pháp luật Dân sự - Kinh tê Bộ Tư pháp đã tổ chức biên soạn cuốn sách ^^Những vân đ ề cơ b ản của L u ậ t Trách n h iệm bồi thư ờng của N h à nước n ă m 2009". Cuốn sách đươc biên soan bởi nhóm
  4. chuyẻn gia đã trực tiếp tham gia vào quá trình soạn thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!. Hà Nội, tháng 9 /2009 NHÀ XUẤT BẢN T ư PHÁP 6
  5. Phần thứ nhất CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỂ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỬNG CỦA NHÀ NưAC m 7
  6. I. TÌM HIỂU VẾ LUẬT TRÁCH NHIỆM BỔI THUỞNG CỦA NHÀ Nước 1. Sự cán Uilết, mục tiêu ban hành vằ quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Trách nhiệm bốl thường của Nhà nước /. 1. Sựphátữỉểtt eáaphápluật rểừách ahiệm bổỉnưiaig cùa cơQuan nhà nước nua các gia! đoạn Chê định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan nhà nước đôi vói các thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nưốc gây ra trong khi thi hành công vụ đã được xác lập từ lâu ở nước ta. Điều này được thể hiện ngay từ Hiến pháp năm 1959 vối việc quy định tại Điêu 29; “Người bị thiệt hại về hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được hồi thường". Hiến pháp nám 1980 khẳng định pháp luật bảo hộ tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân bên cạnh việc xác định mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh và người bị thiệt hại có quyền đưỢc bồi thường (Điều 70 và Điều 73). Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1980, Điều 24 Bộ luật Tô" tụng hình sự năm 1988 quy định: “Cơ quan đả làm oan phải khôi phục danh dự, quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại. Cá nhân có hành vi trái pháp luật
  7. Miữngĩái đế ca bản cùa Luật Trăcli nhiệm bôilM iiw của Nhà iMitonẽm 2009 thì tùy từng trường hỢp mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hỉnh sự'. Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định nguyên tắc “Mọi hoạt động xâm phạm lợi ích Nhà nước uà lợi ích hợp pháp của công dân đều bị xử lý theo pháp luật" (Điều 12), nhưng đã phân biệt hai loại trách nhiệm, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tô" tụng và trách nhiệm của các cơ quan nhà nưốc khác: Điều 72 quy định trách nhiệm của cơ quan tô tụng, theo đó, ngưòi bị bắt, bị giam giữ, bị truy tô, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Ngưòi làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tô, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh. Điều 74 quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước khác, theo đó, mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hỢp pháp của tập thể và của công dân phải được xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự. Trên cơ sỏ nguyên tắc chung của Hiến pháp năm 1992 như đã nêu trên, Bộ luật Dân sự đã quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tô' tụng gây ra tại Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 1995 như sau: '"Cơ quan tiến hành tô tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của minh gáy ra trong khi thi hành công vụ; trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tô xét xử và thi hành án. 10
  8. PhẳillMÌíiaấÌ Các quy định ptiáp hiệt vế trách nhiệm M i llMÒnB CM Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người đã gây ra thiệt hại phải hoàn trả khoản tiền mà minh đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, nếu người có thảm quyền đó có lỗi trong khi thi hành công. vụ”. Cụ thế hoá quy định của Bộ luật Dân sự, ngày 03/5/1997 Chính phủ đã ban hành Nghị định sô 47/CP về giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, ngưòi có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tô tụng gây ra. Ngay sau khi Nghị định sô 47/CP ra đòi, để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định sô" 47/CP, các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nưốc trong lĩnh vực có liên quan đă ban hành nhiều văn bản hưóng dẫn, cụ thể là: Ngày 04/6/1998, Ban Tố chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bọ Nội vụ) đã ban hành Thông tư so 54/1998/TT-TCCP hướng dẫn thực hiện một sô" nội dung Nghị định sô" 47/CP; ngày 30/3/1998 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 38/1998/TT-BTC hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức, ngưòi có thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tô tụng gây ra. Trong những năm gần đây vấn đê bồi thường thiệt hại cho ngưòi bị oan đo người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra đưọlc Đảng ta đặc biệt quan tâm, cụ thể: Chỉ thị s ố 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị chỉ rõ “...cùng với việc phát hiện và chú trọng giải quyết kịp thời các vụ án có dấu hiệu oan, sai, cần khẩn trương nghiên cửu xây dựng 11
  9. Nhùng vấh đẽ ca bán của ũiệtĩrảch nhiệm bốì Illin g cúa Nhà iMiÉî năm 2009 cơ chế, chính sách đê bồi thường thiệt hại với các trường hỢp bị oan, sai do cơ quan tiến hành tố tụng gãy ra...". Nghị quyết sô 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị vê một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thòi gian tới đã yêu cầu Khẩn trương ban hành và thực hiện nghiêm túc các văn bản pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với những trường hỢp oan, sai trong hoạt động tô tụng". Quán triệt đầy đủ yêu cầu Chỉ thị số 53-CT/TW và Nghị quyết so 08-NQ/TW, ngày 17/3/2003, u ỷ ban thường vụ Quổc hội đã ban hành Nghị quyết số 388/2003/NQ- ƯBTVQHll bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tô tụng gây ra (sau đây gọi tắt là Nghị quyết sô" 388). Ngày 25/3/2004, Viện kiếm sát nhân dân tôi cao, Toà án nhân dân tốì cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 01/2004/TTLT- VKSÑDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC hưóng dẫn việc thực hiện Nghị quyết số 388 (sau đây gọi tắt là Thông tư sô' 01). Ngày 13/5/2004, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tôì cao đã ban hành Chỉ thị sô 04 vê việc triển khai thi hành Bộ luật Tô" tụng hình sự và yêu cầu Viện kiểm sát các cấp tiến hành tổng rà soát lập danh sách những người bị oan thuộc trách nhiệm bồi thường của Viện kiểm sát nhâii dân. Tiếp đó, ngày 28/Õ/2004, Viện kiểm sát nhân dân tôl cao đã có văn bản hướng dẫn Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phô" trực thuộc trung ương thực hiện việc tổng rà soát; ngày 01/6/2004, đã có hướng dẫn thống nhất mở sổ thụ 12
  10. Ptiẩhlhứ nhất Các quy định pháp luậlvẩfrảch nhiệm bối B iiiờ n g cú allià i^ lý vụ việc giải quyết đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại cho người bị oan và hưóng dẫn vê các trình tự, thủ tục giải quyết bồi thưòng; Toà án nhân dân tôi cao đã ban hành Công văn số 72/2004/KHXX ngày 21/4/2004 hướng dẫn cụ thể hơn vê thẩm quyền và các thủ tục bồi thưòng của ngành toà án theo quy định của Nghị quyết số 388; Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 18/2004/TT-BCA ngày 09/11/2004 hưóng dẫn bồi thường thiệt hại cho các trường hỢp bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tô" tụng hình sự thuộc Công an nhân dân gây ra. Ngày 26/11/2003, tại kỳ họp thứ 4, Quôc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Tô tụng hình sự năm 2003, sửa đổi, bố sung một cách cơ bản, toàn diện các quy định tô" tụng hình sự của nưóc ta cho phù hỢp với yêu cầu của thực tiễn. Bộ luật Tô" tụng hình sự năm 2003 đã tiếp tục ghi nhận quyển được bồi thưòng thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan tại Điều 29 như sau: “Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tô' tụng hình sự gây ra có quyền đưỢc hồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi. Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tô'tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự quyền lợi cho người bị oan; người đã gày thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật". Bộ luật Dân sự năm 2005 thay thê Bộ luật Dân sự năm 13
  11. NhũwvẩnđẩMíliảncúaLBạittctiiftlệmliố>lMinftgcúaNhàwinicnăm2D09 1995 đã tiếp tục ghi nhận trách nhiệm bồi thưồng thiệt hại của cán bộ, công chức và ngưòi có thẩm quyền của cơ quan tô tụng, cụ thể: - “Cơ quan tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ"(Điều 619). - “Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của minh gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trinh tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tô tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thăm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ'' (Điều 620). Ngày 18 tháng 6 năm 2009, Quốc hội nưóc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa XII. Việc Quốc hội ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nưóc là một sự kiện quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc trong việc khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bảo vệ các quyền 14
  12. PliẳHĩiứntiấtCáciiiiyđỊrtiiHiápluậtvếừảcti nhiệm Hối IhiiờngcúaMiànưác và lợi ích hỢp pháp của cá nhân, tố chức bị thiệt hại, đồng thòi góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ỏ nước ta hiện nay. ỉ.2. SựCần Uilếtban tiàah Luậ! Tráchnhiệm bùìỉhưừig của Nhànưác a) Việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhằm góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền mà Đảng ta đã đề ra Một trong những nhiệm vụ trọng tâm, có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là xây dựng Nhà nưóc pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà một trong những yêu cầu cơ bản của nhà nưóc pháp quyền là phải tôn trọng và bảo đảm các quyền của công dân, trong đó có quyền được nhà nước bồi thường thiệt hại do công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Đê thực hiện nhiệm vụ này, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nưóc ta đã ban hành nhiều nghị quyết có liên quan đến việc xây dựng pháp luật để thực hiện trách nhiệm bồi thường của mình đối với các thiệt hại gây ra trong một sô" lĩnh vực hoạt động nhạy cảm, nhất là trong hoạt động tô" tụng hình sự, cụ thể là Chỉ thị số 53/CT-TƯ ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị về một sô công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 cua Bộ Chính trị về một sô" nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thòi gian tối đã yêu cầu. Mói đây, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã tiếp tục yêu cầu: Các cơ 15
  13. Nlaing vail đấ cơ iiản cua Luật nlilệin Mil ihưBng GÚa Nhà imớc năm 2B09 quan có thẩm quyền phải đền bù thích đáng cho công dân và doanh nghiệp về những thiệt hại cả danh dự và vật chất do những quyết định trái pháp luật gây ra...”. Đặc biệt, Nghị quyết sô" 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thốhg pháp luật đến năm 2010, định hưóng đến năm 2020 đã yêu cầu khẩn trương ban hành Luật về bồi thường nhà nước. Việc ban hành đạo luật này sẽ góp phần hoàn thiện một cách cơ bản cơ chê pháp lý để người bị thiệt hại có thể bảo vệ tốt hơn các quyền, lợi ích hỢp pháp của mình, đồng thòi nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ các quyền đó như một biểu hiện của Nhà nước pháp quyền mà Đảng ta đang chủ trương xây dựng. bj Việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhằm thiết lập một cơ chế pháp lý mới, đồng bộ, hiệu quả, góp phần bảo vệ một cách tối hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị công chức nhà nước gây thiệt hại Trước khi Luật Trách nhiệm bồi thưòng của Nhà nước được ban hành, ở nước ta đã hình thành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước đốỉ vói các thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Hệ thống này gồm những văn bản chủ yếu sau đây: - Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001); - Bộ luật Dân sự năm 1995 (được thay thế bằng Bộ luật Dân sự năm 2005); 16
  14. Phài ưiứimẩt Các iMf đậm phảp luật vé frácli ntiiậm bỏìniiiờiigáìa Nhả Mite - Nghị định sô" 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tô" tụng gây ra (sau đây gọi là Nghị định s ố 47); - Thông tư số 38/1998/TT-BTC ngày 30/3/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, ngưòi có thẩm quyền của cơ quan nhà nưóc, cơ quan tiến hành tô" tụng gây ra ísau đây gọi là Thông tư sô'38); - Thông tư số 54/1998/TT-TCCP ngày 04/6/1998 của Ban Tố chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) hưống dẫn thực hiện một sô" nội dung Nghị định sô" 47/CP ngày 3/5/1997 của Chính phủ quy định thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, ngưòi có thẩm quyển của cơ quan tiến hành tô" tụng gây ra (sau đây gọi là Thông tư số 54); - Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQHll ngày 17/3/2003 của ư ỷ ban thường vụ Quốíc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tô" tụng hình sự gây ra; - Thông tư liên tịch sỐOl/2004/TTỈ.T-VKSNDTC-BCA- TANDTC-BTP-BQP-BTC ngày 25/3/2004 hướng dẫn thi hành một số’quy định của Nghị quyết sô" 388/2003/NQ-ƯBTVQH11 ngày 17/3/2003 vê' bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyển trong hoạt động tô' tụng hình sự gây ra. 17
  15. NhùngvấhđếiabảnàBLuậiThÉaiiilệmliỐllMiờngcúaMiảtiiite - Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-VKSNDTC- TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC ngày 22/11/2006 hưóng dẫn thi hành một sô quy định của Nghị quyết sô 388/2003/NQ-ƯBTVQHll ngày 17/3/2003 v^ề bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tô tụng hình sự gây ra (thay thê Thông tư liên tịch sô" 01 nói trên) (sau đây gọi là Thông tư sô 04). Trong các văn bản pháp luật nêu trên thì Hiến pháp năm 1992 giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì chính bản Hiến pháp này đã tạo cđ sở pháp lý đầu tiên trong việc ghi nhận quyền được bồi thường của tổ chức, cá nhân khi lợi ích của họ bị xâm phạm bởi hoạt động công quyền. Cụ thể là: "Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, bị xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh d ự ' (Điều 72); và “Mọi hành vi xăm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hỢp pháp của tập thê và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được hồi thường về vật chất và phục hồi về danh d ự ' (Điều 74). Bộ luật Dân sự năm 1995 đã dành hai điểu là Điều 623 và Điều 624 để quy định về trách nhiệm bồi thưòng của các cơ quan nhà nưỏc và các quy định này tiếp tục được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 619 và Điều 620). Để cụ thể hóa các quy định nêu trên, đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản hưóng dẫn thi hành như: Nghị định sô 47/CP; Nghị quyết số 388. Các bộ, ngành có liên quan cũng đã ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền của mình để hưởng dẫn thi 18
  16. Ptiấn mứntiấi Các quy dỊnh pháp toệt vẽ Irteti nhiệm bồi thưàng cúa Nhà mióc hành về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước và ngưòi tiến hành tô^ tụng (sau đây gọi chung là người thi hành công vụ) gây ra. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên chưa có khả năng bảo vệ một cách hiệu quả quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức bị nhà nưóc gây ra thiệt hại vì có một sô" hạn chế sau đây: Thứ nhất, pháp luật vê bồi thưòng thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra còn phân tán, không đồng bộ và hiệu lực pháp lý thấp. Điều này thể hiện ở chỗ ngay trong Bộ luật Dân sự cũng chi’ có hai điều quy định một cách chung chung vê trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước mà chưa có quy định cụ thể vê cơ chê thực hiện trách nhiệm này. Bộ luật Tô tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tô" tụng dân sự năm 2004 đều có quy định về trách nhiệm bồi thường của cơ quan tiến hành tổ’tụng nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức ghi nhận quyền được bồi thường của ngưòi bị thiệt hại, trách nhiệm phải bồi thường của cơ quan tiến hành tô" tụng mà chưa có cơ chê pháp lý cụ thề để thực hiện việc bồi thưòng này. Những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp về chê độ trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước như Nghị quyết sô' 388; Thông tư số 01 và nay là Thông tư số 04 hướng dẫn thi hành Nghị quyết sô" 388; Nghị định sô 47; Thông tư sô" 38 và Thông tư sô" 54 hưỏng 19
  17. riiii^vấhđẩcc bán của iiiậiTttchiiilệm liỗìlMiàiBcúa Nhà nute năm 20D8 dẫn thi hành Nghị định số 47 như đă nêu ở trên đều là văn bản dưối luật, có giá trị pháp lý thấp, chưa ngang tầm với tính chất của chê độ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Thứ hai, phạm vi trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước đõì vối thiệt hại do công chức của mình gây ra được quy định còn hạn chế. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và nay là Bộ luật Dân sự năm 2005 thì phạm vi trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước được hiểu là toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của Nhà nưóc, bao gồm cả lập pháp, hành pháp và tư pháp (Điều 619). Tuy nhiên, các văn bản dưói luật khi hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự này thì lại giởi hạn phạm vi trách nhiệm bồi thường chỉ trong lĩnh vực hành chính (Nghị định sô" 47 và các văn bản hướng dẫn thi hành); và tô tụng hình sự (Nghị quyết sô" 388 và các văn bản hướng dẫn thi hành). Như vậy, chưa có văn bản nào quy định vê chẽ độ bồi thường trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Thực tiễn cho thấy, Nghị định sô' 47/CP đã hầu như không phát huy tác dụng. Trong suốt 8 năm tồn tại (cho đến trước khi có Nghị quyết số 388), dù thuộc phạm vi điều chỉnh của mình nhưng Nghị định số 47/CP chưa một lấn đưỢc sử dụng để giải quyết việc bồi thưòng thiệt hại đốỉ với các trường hỢp bị oan trong lĩnh vực tô" tụng hình sự. Chỉ đến khi Nghị quyết số 388 được ban hành thì trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước mới bước đầu đươc thưc hiên trên thưc tiễn và viêc bồi 20
  18. PliẩhBiứ nhất Các quy đỊnlipliápliiậtvểtrảch nhiệm bốìlliưòw GM thường này cũng chỉ mới áp dụng đôi vỏi các trường hỢp bị oan mà chưa áp dụng đối với các trường hỢp sai trong tô tụng hình sự. Thứ ba, cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thưòng được xác định một cách không rõ ràng. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì vê nguyên tắc, cơ quan giải quyết bồi thường là cđ quan trực tiếp quản lý công chức đã có hành vi gây thiệt hại. Trong lĩnh vực tô" tụng hình sự thì nguyên tắc này có ngoại lệ, thế hiện ở chỗ cơ quan giải quyết bồi thường lại là cơ quan cuổl cùng làm oan. Theo Nghị quyết sô 388 thì cơ quan xử lý oan sau cùng là cơ quan có trách nhiệm phải bồi thường bất kể chuỗi hành vi làm oan trưốc đó là do cơ quan nào thực hiện. Ví dụ, cơ quan điều tra bắt tạm giam một người, sau đó ra quyết định đình chỉ điều tra thì cơ quan điêu tra có trách nhiệm bồi thường; cũng trường hỢp này, nếu việc bắt tạm giam một ngưòi đã được Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn thì Viện kiểm sát nhân dân đã phê chuẩn lệnh bắt có trách nhiệm bồi thường... Nếu người này bị Toà sơ thẩm tuyên có tội nhưng sau đó lại được Tòa án cấp phúc thẩm tuyên vô tội thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là Tòa án đã xét xử sơ thẩm. Đứng ỏ góc độ người bị thiệt hại thì nguyên tắc này là có lợi cho họ vì ngưòi bị thiệt hại có thể dễ dàng xác định được cđ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường. Tuy nhiên, đứng ở góc độ cơ quan tiến hành tô" tụng thì đây lại là điều khó chấp nhận vì các cơ 21
  19. Nhiiw wấh đẽ Cfl bản cúaUiậlTtách nhiệm bối l«iỉịWGÚaMiàmiÉĩ năm 2009 quan tô tụng luôn cho rằng việc làm sai không chỉ bởi một cơ quan mà là bởi nhiều cơ quan. Đây chính là lý do dẫn tới tình trạng các cơ quan tiến hành tô" tụng hay đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Trên thực tê còn có nhiều trường hỢp rất khó xác định cđ quan nào có trách nhiệm giải quyết bồi thường, nhất là khi có cán bộ của nhiều cơ quan cùng gây ra thiệt hại. Việc không có quy định để xác định một cách rõ ràng cơ quan nào có trách nhiệm giải quyết bồi thưồng trong các trường hỢp này đã gây ra nhiều khó khàn cho tố chức, cá nhân bị thiệt hại trong quá trình thực hiện quyền đưỢc bồi thường của mình. Thứ tư, thủ tục giải quyết bồi thường được quy định chưa rõ, chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của ngưòi bị thiệt hại. Thủ tục giải quyết bồi thưòng theo quy định hiện hành bao gồm: thủ tục thương lượng tiền tô" tụng; thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án; thủ tục khôi phục danh dự và chi trả tiền bồi thường cho ngưòi bị thiệt hại. Thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án đưỢc áp dụng như thủ tục giải quyết vụ án dân sự thông thường (Điều 12 Nghị quyết s ố 388). Đôi vối việc giải quyết bồi thường thiệt hại trong hoạt động hành chính thì thủ tục còn rườm rà, không bảo đảm quyển của bên bị thiệt hại. Ví dụ, Nghị định sô" 47 chỉ quy định về việc xét giải quyết bồi thường thông qua một Hội 22

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản