Lược sử ngoại giao VN các thời trước
Chương một
BA NGHÌN NĂM TỪ ĐỐI NGOẠI HÒA BÌNH
TỚI ĐỐI NGOẠI CHỐNG XÂM LƯỢC
I. TỪ TRUYỀN THỐNG HÒA BÌNH HỮU NGHỊ VỚI CÁC DÂN TỘC ĐẾN LIÊN
MINH ĐỐI NGOẠI CHỐNG NGOẠI XÂM
Dân tc Việt Nam ở Đông Nam Á dựng nước sớm, t hàng nghìn năm trước Công
nguyên, nhưng đời sống của dân tộc và hot động của Nhà nước ta như thế nào từ thuở xa
xưay, ngày nay chúng ta không được rõ lắm. Vì nước ta đã có những thời kỳ bị giặc
ngoài xâm lược liên tục hàng ngn năm. Không mấy thế kỷ là không có ngoi xâm.
Chiến tranh liên miên, ssách, dấu tích, k vật gần như không còn. Nghiên cứu đời sống
của Tổ tiên ta trước Công nguyên và những thế k đầu Công nguyên là cực khó. Tìm
hiểu lịch sử ngoại giao của Tổ tiên ta ở những thời kỳ đó lại càng khó.
Nhưng qua truyền thuyết và những tư liệu tnh văn của nước ngoài, chúng ta cũng biết
được đôi điều về hoạt động đối ngoại của Tổ tiên ta thời Hùng Vương và thời An Dương
Vương.
Vào thời kỳ đó ngườin cũng thành lập N nước Trung Quốc đầu tiên ở vùng Sơn
y, Cam Túc miền Bắc Á. Hai nước xa nhau hàng vạn dặm, cách nhau bởi nhiều lãnh
thổ, nhiều địa bàn cư tcủa nhiều tộc người khác nhau. Vậyngười Việt Nam thời
bấy giờ đã có những tiếp xúc ngoại giao đầu tiên với người Trung Quốc nơi xa xôi đó.
Sử sách Trung Quốc ghi nhận: năm Mậu Thân (tức năm thứ 5 đời vua Đương Nghiêu ở
Trung Quc) theo dương lịch là năm 2353 trước Công nguyên, một sứ bộ ngoại giao đầu
tiên của vua Hùng nước ta đã chủ động tới thăm Trung Quốc. Theo sử Trung Quốc thì s
bộ của ta đã qua hai lần thông dch mới tới được Trung Quốc. Điều đó cho thấy sứ bộ ta
đã tiếp xúc ngoại giao với nhiều dân tộc khác trên con đường tới Trung Quốc. Trong điều
kiện đường đất xa xôi, cách trở như vậy, mà sứ bộ của ta đã k công đem tặng vua
Nghiêu (Trung Quc) một con rùa rất lớn. Theo sử Trung Quốc thì con rùa này đã sng
một nghìn năm, trên mai rùa có khắc chữ, ghi sự việc từ khi trời đất mới mở mang.
phương Đông, từ thời cổ, rùa là biểu tượng của sự sống trường tồn hàng nghìn, vn năm.
V ngoi giao, Nhà nước ta thời vua Hùng tặng Nhà nước Trung Quốc thời vua Nghiêu
con rùa quýy vi mt ý nghĩa tốt đẹp, mong muốn cho quan hệ thân thiện giữa hai
nước được bền vững, dài lâu.
Hơn mt nghìn năm sau, Việt Nam và Trung Quc vẫn xa nhau hàng vạn dặm, nhưng
mt sứ bộ ngoại giao của ta lại sang thăm Trung Quốc ln thứ hai (vào năm thứ 6 đời vua
Thành Vương nhà Chu) tức năm 1110 trước Công nguyên. Theo sTrung Quốc, qua ba
lần thông dch, sứ b của ta mi tới kinh đô nhà Chu ở vùng Cam Túc. Sbộ ngoại giao
ta đem tặng vua nhà Chu Trung Quc chim trĩ trắng là loại chim quý nhất ở phương Nam
thi ấy. Nhà Chu Trung Quc trân trọng đáp li, cho làm năm cỗ xe có kim chỉ nam để
đưa sứ bộ ngoại giao ta về nước (Những tư liệu về ngoại giao này đều có ghi chép trong
các sử sách của Trung Quốc thời trước, như: Sử ký Tư Mã Thiên, Thượng thư đại truyn,
Hậu Hán thư, Thiếu vi thống gián, Phương dư k yếu, Việt kiệu thư, Cương mục tiền
biên, Ngự phê thông giám tập lãm.
Dựa theo truyền thuyết và theo sử sách của Trung Quốc, các sử gia Việt Nam cũng ñaõ
ghi lại nhng sự kiện trên trong: Lĩnh nam tch quái, Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn
thư, Việt sử thông giám cương mục, Việt sử thông giám khảo lược)
Những sự tiếp xúc đối ngoại của dân tộc ta mà sử sách Trung Quc ghi lại được chứng
minh rằng dân tộc ta đã dựng nước sớm, tiến hành ngoi giao cũng sớm và rất chủ động
trong ngoại giao. Với những dân tộc ở xa như Trung Quốc thời ấy, dân tộc ta cũng chủ
động cho sứ tới giao thiệp, không ngoài mc đích tỏ tình thân thin giữa hai dân tộc.
Phong cách ngoại giao của ta thờing Vương còn cho thấy dân tộc ta là mt dân tộc
sớm văn hiến, hiểu biết được những biểu tượng cao đẹp của tình cảm con nời với
con người, của dân tộc này với dân tộc khác và biết sử dụng nhng biểu tượng đó làm
quà tặng trong giao tiếp đối ngoại. Từ thời bấy giờ, dân tộc ta đã có ý thức đoàn kết, hữu
ngh trong sáng, nhiệt tình và chân thành với tất cả các dân tộc, dù ở xa ta hàng vạn dặm.
Đường li, chính sách và phong cách ngoại giao vì hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc
đã trở thành truyn thống đối ngoại của dân tc ta. Trong quá trình phát trin lịch sử, mi
quan hệ của dân tộc ta với các dân tộc khác không phi lúc nào cũng hòa bình, phẳng
lặng, yên tĩnh; ti li, ta cũng ln luôn bị dân tộc này,n tc khác gây xung đột bằng
vũ lc, nhiều khi rất quyết liệt, tàn khốc. Nhưng khi xung đột chấm dứt, ta lại chủ động
giao hảo với những dân tộc thù địch để thiết lập lại quan hhòa bình hữu nghị, xóa bỏ
những hận thù dân tc, có hại cho cuc sống và sự phát trin của xã hi loài người.
Trong các thời đại xã hi giai cấp, nhất là thời phong kiến, quan hệ đối ngoại giữa các
nước phổ biến là mt thứ quan hệ bất bình đẳng "cá ln nuốt cá bé", nước lớn xâm lược
nước nhỏ, xâm lược chưa được t bắt nước nhỏ phải làm chư hầu, phiên thuộc, phải np
cống, phục dch nước lớn. Nước lớn muốn gì, nước nh phi cung phụng không dám ti:
vàng bạc, châu u, nhng thú vật quý hiếm, kể cả bắt người làm nô lệ . . . đủ thứ. Giữa
các nước nhỏ với nhau, quan hệ tuy không căng thẳng lắm, nhưng cũng không tránh khỏi
diễn ra cảnh khiêu khích, xung đột, lấn chiếm lẫn nhau. Quan hđối ngoại của nước ta
đối với các nước khác cũng không sao tránh được các thông lệ đó của thời đại.
Đối với Trung Quốc, nước ta thờing Vương đặt quan hệ thân thin trong mt thời
gian dài như thế là hiếm có. Nhưng rồi thời thế đổi thay, mi quan hệ giữa hai nước cũng
đổi khác. Từ khi dựng nước ở vùng Cam Túc xa xôi, hẻo lánh, người Hán ngàyng m
rộng biên giới, chiếm đoạt lãnh thcủa nhiều nước, xóa bỏ nhiều quốc gia lân cận, bành
trướng rất mạnh xuống pa Nam, và Trung Quốc nhanh chóng trở thành một nước rộng
lớn bậc nhất ở châu Á từ my thế kỷ trước Công nguyên.
Tới cuối thế kỷ thứ III trước Công nguyên, biên giới Trung Quốc đã mở rộng tới sát biên
giới ta. Lúc này, dù nước ta muốn giao hảo thì các triều đại phong kiến Trung Quốc cũng
không chịu dừng bước bành trướng xâm lược. Nhà Hán bt đầu xâm ợc, đánh phá nước
ta liên tiếp trong nhiều thế kỷ. Cũng từ đó quan hđối ngoi của ta với các triều đại
phong kiến Trung Quốc không còn là hòa nh hữu nghị như trước. Dân tộc ta đã phải
tiến hành mt cuộn đấu tranh vũ trang trường kỳ chống các đạo quân phong kiến Trung
Quốc xâm lược diễn ra liên tục trong hơn mười thế kỷ.
Cuối thế kỷ thứ III trước Công nguyên, ông vua bạo ngược Tần Thủy Hoàng của Trung
Quốc đã cho 50 vạn quân chia 5 đường đánh vào vùng lãnh thổ phía Bắc nước ta. Tổ tiên
chúng ta cùng các dân tộc anh em từ phía nam ng Trường Giang trở xuống đã đánh tr
rất quyết liệt. Quân Tần bị thất bại liên tiếp "Thây phơi, huyết chảy hàng my chục vạn
người" (Sử Tư Mã Thiên). Chủ tướng giặc là Đồ Thư bị giết tại trận. Sau đó nhà Tần
nhiều lần đưa thêm quân sang, tiếp tục xâm lược nước ta cho bằng được.
Sau hơn 10 năm đánh pháman, ác liệt, nhà Tn đã chiếm được mt vùng đất đai rộng
lớn ở phía Bắc nước ta, chia đặt thành ba quận: Nam Hải, Quế Lâm và Tượng (tức miền
Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay).
Sang hai thế k cuối trước Công nguyên, các đế chế Tần, Hán tiếp tục xâm lược và đặt
ách đô hộ lên toàn bnước ta. Quân đô hộ chia vùng mới thôn tính thành by quận, gồm
bốn quận ở phía bắc, là Nam Hi, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố (tức là hai tỉnh Quảng
Đông, Quảng y ngày nay) và ba quận ở phía nam là qun Giao Chi (tức khu vực Bắc
Bnước ta ngày nay), quận Cửu Chân là miền Thanh - Ngh- Tĩnh và quận Nhật Nam là
t dãy Hoành Sơn trở vào.
Ngay từ khi quân nước ngoài bắt đầu xâm lược nước ta tới khi chúng đặt ách đô hộ, nhân
dân ta đã liên tiếp ni dậy chống lại ách đô hcủa chúng khiến quân giặc phải tn thất
nặng nề. Chúng phải luôn luôn đưa quân sang đàn áp các phong to cứu nước của ta.
Sánh của Trung Quốc thời bấy giờ phải ghi nhận rằng “Quân lính miền Kinh Sở phải mệt
mi vì Âu Lạc” (Viên Khoan: Diêm thiết luận). Âu Lạc là tên nước ta thời An Dương
Vương (tthế kỷ thứ III trước Công nguyên). Kinh Slà miền Hồ Bắc, Hồ Nam của
Trung Quc ngày nay.
Từ nhng thế k đâu Công nguyên, phong trào chống ngoại xâm, cứu nước của nhân dân
ta ngàyng sôi ni. Các hoạt động vũ trang chống ngoại xâm, cứu nước diễn ra khắp
nơi. Có phong trào ở min ngược, có phong trào ở min xi, phong trào do nam cầm
đầu, có phong trào do nlãnh đạo.
Những năm đầu Công nguyên, hai vị nữ anh hùng dân tộc là Hai Bà Trưng (Trưng Trắc,
Trưng Nhị) đã liên kết được phong trào yêu nước của nhiều đa phương, to thành mt
phong trào cứu nước rộng lớn, đánh đuổi quân thù, giành được chquyền dân tộc trong
mt thời gian.
Thế kỷ thứ II sau Công nguyên, phong trào cứu nước càng sâu rng. Các thế lực đô hộ
Trung Quc đã xóa bỏ chế độ lại tướng ở nước ta, nhưng chúng phải thừa nhận rằng
Những thủ lĩnh người Việt vẫn hùng cứ nông thôn". Nhân dân bảy quận ln ln khi
nghĩa. Có nhng phong trào tương đối lớn: của Chu Đạt ở Cửu Chân, của Chu ở Giao
Ch. Có phong trào m rộng ở cả bốn quận miền Bắc, quân số hàng vn nời, liên kết
được với một số quan lại người Trung Quốc cùng chống lại chính quyền đô hộ. Đặc biệt
là phong to cứu nước của nhân dân ta ở vùng huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam.
Nước ta, từ thượng cổ đã có nhiều dân tộc. Nhân dân huyện Tượng Lâm, gồm người
Vit, người Chàm và nhiều dân tộc khác ở dọc dải Hoành Sơn, ni Chàm là đông hơn
cả. Huyện Tượng Lâm và cả quận Nhật Nam đều ở xa thủ phủ đô hộ của giặc đặt tại vùng
lưu vực sông Hồng, do vậy lc lượng chiếm đóng của giặc ở vùng Nhật Nam, Tượng
Lâm không nhiều, nhân dân Nhật Nam có điều kiện khởi nghĩa liên tục. Trong thế kỷ thứ
II, nhân dânợng Lâm năm lần tiến hành khởi nghĩa. Từ cuộc khởi nghĩa lần thứ hai tr
đi, lần nào cũng có nhân dân và binh sĩ người Việt và các dân tc anh em ở hai quận Giao
Ch, Cửu Chân hưởng ứng. Cuộc khởi nghĩa lần cuối vào năm 190 do một thnh người
Chàm lãnh đạo đã gii phóng hoàn toàn huyện Tượng Lâm, lập thành một vương quốc
nhỏ ở miền Nam nước ta, ly tên là Lâm Ấp .
Trong hai thế k thử III, thứ IV, phong trào đánh giặc cứu nước vn diễn ra liên tục khắp
nơi. Lớn hơn cả là phong to ở Thanha do Bà Triệu lãnh đạo.
Sang thế k thứ V, thứ VI, phong trào chống giặc càng lớn mạnh. Giữa thế k thứ V,
người anh hùng cứu nước là Lý Trường Nhân đã phát động mt cuộc khởi nghĩa lớn trên
khp nước. Trong vòng ba tháng, Lý Trường Nhân và nghĩa quân giết bọn quan li,
tướng đô h, giải phóng hoàn toàn Tổ quốc và thành lập chính quyền độc lập của dân
tộc, chính quyền này tn tại trong gần 20 năm.
Giữa thế kỷ thứ VI, mt phong trào khởi nghĩa lớn do hai vị anh hùng Lý Bí (tức Lý Nam
Đế) và Triệu Quang Phục (tức Triệu Việt Vương) đã giành được quyền độc lập cho nước
nhà, lập nên triều Tin Lý tồn tại trong hơn nửa thế kỉ.
Sang thế k thứ VII, thứ VIII, cuộc chiến đấu giữa nhân dân ta và các thế lực phong kiến
Trung Quc đô hộ càng quyết liệt hơn. Bọn đô hộ lúc ấy là tập đoàn thống trị nhà Đường
- một trong những tập đoàn bành trướng hiếu chiến bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Chúng phát động chiến tranh xâm lược liên miên, đánh chiếm đất đai của hầu hết các dân
tộc láng giềng ở khắp bốn pa. Pa đông, chúng đánh chiếm nước Triều Tiên, gọi Triều
Tiên là An Đông đô hộ phủ. Pa tây, chúng đánh chiếm Tây Tạng, gọi Tây Tạng là An
y đô hộ phủ. Phía bắc, chúng đánh chiếm lãnh th của các dân tộc Mông Cổ, Đột
Quyết, Uy Gua, lập thành An Bc đô hộ phủ. Phía nam, bọn vua chúa hiếu chiến nhà
Đường đánh chiếm nước ta và gi ta là An Nam đô hphủ. "An" nghĩa "dẹp yên". An
Nam, An Đông, An Tây, An Bắc, nghĩa là dẹp yên phía Nam, phía Đông, phía Tây,
phía Bắc. Tên “An Nammà người nước ngoài trước đây dùng gọi có từ khi nhà Đường
xâm lược, thôn tính nước ta.
Chống lại mt tập đoàn thống trị bành trướng, hiếu chiến cuồng bạo là rất khó khăn. Vậy
mà nhân dân ta vẫn ln luôn khởi nga. Trong thế kỷ thứ VII có các phong trào khởi
nghĩa do Tự Tiên, Đinh Kiến lãnh đạo. Sang thế kỷ thứ VIII xuất hiện mt phong trào
cứu nước lớn mạnh do Mai Thúc Loan lãnh đạo. Mai Thúc Loan là người anh hùng xuất
thân cùng khổ, nhưng anh dũng kiên cường và rất mực thông minh, tài t. Đường li,
phương châm tổ chức và lãnh đạo chiến đấu của Mai Thúc Loan nhiều đim khác với
các phong trào đã có từ trước. Nhânn vùng Hoan - Din (tức vùng Ngh- Tĩnh) là quê
hương Mai Thúc Loan đã có thơ ca ngợi người anh hùng họ Mai là:
"Anh hùng độc đáo
Thiên clạ k
Ngàn năm ít thấy
Vạn đại vẫn còn...”
Nhânn đã nhận định rất đúng. Ở người anh hùng áo vải Mai Thúc Loan có rt nhiều
điểm độc đáo. Trước khi phất cờ khởi nga, ông tập hợp mt s bạn chiến đấu, cùng h
loy dng căn cứ đa, dựng thành đắp lũy và truyền hịch cứu nước đi khắp vùng Hoan -
Diễn. Người yêu nước ơû khắp nơi theo về ngày càng đông. Theo sách sử Trung Quốc và
truyn thuyết của ta thì mùa năm Quý Sửu (năm 713) (Tân Đường thư (sách sử Trung
Quốc), q.207, Dương Tư Húc truyn) Mai Thúc Loan bắt đầu ra quân đánh địch và thu
phục ngay được Châu Hoan (tức vùng Ngh- Tĩnh ngày nay).
__________________
Trước thắng lợi rực rỡ ban đầu, các tướng lĩnh và toàn thể nghĩa quân yêu cầu vị anh
hùng trẻ tuổi Mai Thúc Loan lên ni Hoàng đế và họ tôn lên là Mai Đại Đế (tức ông vua
lớn họ Mai). Sau này, sử sách ghi ông là Mai Hắc Đế, tức ông vua đen họ Mai (vì da
ông). Khi đã lên ngôi vua, Mai Thúc Loan đề ra đường li đối nội, đối ngoi rất rõ ràng,
cụ thể và thật sáng suốt.
Về đối nội, ông cho người đi các châu huyện báo tin thắng trận và kêu gi nhân dân 32
châu trong cả nước cùng ni dậy phối hợp chiến đấu. Tinh thần đại đoàn kết của ông
được nhânn hưởng ứng mạnh mẽ. Ông đã tập hợp được quân của cả 32 châu để cùng
đánh giặc. Sử Trung Quc ghi chép rằng: "Mai Thúc Loan đã dy quân 32 châư” (Tân
Đường thư (sách sử Trung quốc), q.207, Dương Tư Húc truyện) để đánh chúng.
Về đối ngoại, ông tiến hành vận động liên minh quân svới nước ngoài để cùng đánh
giặc. Đây nét độc đáo trong kế sách đối ngoại của Mai Thúc Loan. Sử Trung Quốc ghi
rằng ông đã liên minh được với các nước Lâm p, Chân Lạp (tức Cam-pu-chia ngày nay)
Kim n (tức Ma-lai-xi-a ngày nay) (Tân Đường thư (sách sử Trung quốc), q.207,
Dương Tư Húc truyn). Truyn thuyết của ta kể li cụ thể: Mai Đại Đế khởi nghĩa năm
Quý Sửu (713) thì năm sau là năm Giáp Dần (714) , cử một tướng là Tiết Anh làm Lâm
Ấp thông vấn sứ và mt tướng là Hoắc Đam làm Chân Lạp cáo dự sứ. Hai tướng chính
thức đi sứ sang hai nước Lâm Ấp, Chân Lạp để thông báo chiến thắng và đề nghị hai
nước liên minh quân sự cùng đánh giặc. Với hai nước láng giềng phía nam này thì ngay
t khi chuẩn bị khởi nghĩa, Mai Thúc Loan đã cho một tướng Ba Đội Hầu sang liên hệ.
Theo truyn thuyết thì hai nước Chân Lạp và Lâm Ấp đều nhiệt liệt hưởng ứng liên minh.
Vua Chân Lạp là H A Khiêm cho tướng Tham Ninh Na và vua Lâm Ấp là Phạm Hồ
Dĩnh cho tướng Chư Hương An thống nh quân đội, mi nước 10 vạn người sang Việt
Nam chiến đấu dưới lá cờ đại nghĩa của Đại đế Mai Thúc Loan (Chư Cát Thị: Tân đính
hiệu bình Việt điện U linh tập).
Đoàn kết với các nước láng ging, liên minh quân sự với các nước bạn để cùng chiến đấu
chng xâm lược là một sự phát triển mới trong đường li đối ngoại và đường li chiến