
MẠCH HỌC
MẠCH CÁCH

A- ĐẠI CƯƠNG
- Chương ‘Bình Mạch Pháp’(TH.Luận) và chương ‘Huyết Tý Hư Lao
Bệnh Mạch Chứng Tịnh Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Mạch Huyền mà Đại.
Huyền tức là giảm, Đại tức là Khâu. Giảm tức là hàn, Khâu là hư. Hư hàn
tương bác gọi là mạch Cách”.
- Sách ‘Tam Nhân Phương’ ghi: “Cách là đầy, là cấp”. - “Cách là da
thuộc, ý nói tượng mạch cố kết không di động”.
B- HÌNH TƯỢNG MẠCH CÁCH
- Thiên ‘Mạch Yếu Tinh Vi Luận’ (T. Vấn 17) ghi: “Mạch Cách đến
cuồn cuộn như suối chảy”.
- Chương ‘Mạch Hình Trạng Chỉ Hạ Bí Quyết’ (Mạch Kinh) ghi:
“Mạch Cách giống như Trầm, Phục, Thực, Đại mà Trường, hơi Huyền”.
- Sách ‘Tần Hồ Mạch Học’ ghi: “Từ Xuân Phủ nói: “Cách là da thuộc,
là Phù, Huyền, Đại, Hư, như ấn tay lên da trống”.
-Chương ‘Chính Mạch Toàn Thư’ (Cổ Kim Y Thống) ghi : ”Mạch
Cách là da thuộc, là Phù, Huyền, Đại, Hư, như ấn tay lên da trống, trong hư,
ngoài cấp”.

- Sách ‘Trung Y Học Khái Luận’ ghi: “Mạch Cách... lớn mà Huyền,
Cấp, đặt nhẹ tay thấy ngay, ấn xuống thì không thấy, như ấn tay vào da
trống, ngoài căng trong rỗng”.
- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Mạch Cách đi
nổi mà dán vào tay, trong rỗng ngoài cứng, như đè lên mặt trống”.
- Sách ‘The Web That Has No Weaver’ ghi: “Mạch Cách là sự kết
hợp giữa mạch Huyền và Phù, có hình dạng như mạch rỗng, giống như da
trống”.
HÌNH VẼ BIỂU DIỄN MẠCH CÁCH.
Sách ‘Mạch Chẩn’ ghi lại hình vẽ biểu thị mạch Cách:

C - NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH MẠCH CÁCH
- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa‘ giải thích: “Mạch
Cách... do khí hư không kiên cố, tinh huyết không tàng được, làm cho khí
không có chỗ dựa mà phù việt ra ngoài”.
-Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học’ ghi : “Mạch Cách là sự tương hợp
giữa mạch Huyền và Khổng, do tinh huyết bên trong bị hư, khí không giữ
được mà phù việt ra ngoài “.
D - MẠCH CÁCH CHỦ BỆNH
- Chương ‘Huyết Tý Hư Lao’ (KQY.Lược) ghi: “Mạch cách... đàn bà
thì xảy thai, đàn ông thì mất tinh, mất huyết, đàn bà thì đẻ non, rong huyết,
băng huyết “.
- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa‘ ghi: “Mạch Cách...
mất máu, mất tinh, đẻ non, băng huyết, rong huyết “.
-Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa‘ ghi: “Mạch cách chủ biểu hàn, trung
hư, xẩy thai, lậu hạ, đàn ông thì mất tinh, huyết “.
Tả Thốn CÁCH Hữu Thốn CÁCH

Tâm hư, đau. Phế hư, khí ủng trệ.
Tả Quan CÁCH
Sán Hà.
Hữu Quan CÁCH
Tỳ hư, dạ dầy đau.
Tả Xích CÁCH
Di tinh.
Hữu Xích CÁCH
Xẩy thai, lậu hạ.
E - MẠCH CÁCH KIÊM MẠCH BỆNH
- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa‘ ghi :
· Cách mà phù cứng là biểu tà cực thịnh.
· Cách mà Hoãn, không có thần là âm khí tiêu tan, khó chữa.
F- MẠCH CÁCH VÀ CÁC LỜI BÀN
- Sách ‘Chẩn Gia Chính Nhãn’ ghi: “Mạch Cách hình tượng như da
thuộc, là biểu tà có thừa mà trong thì không đủ, giống như da trống, ngoài
thì căng chặt, trong thì rỗng hư ấn nhẹ tay thấy Huyền Đại, trong thì khí
huyết suy yếu, vì vậy tượng mạch rỗng như vậy”.

