Mmm và dịch tả: phân biệt yếu tố nguy cơ và
nguyên nhân
Nguyễn Văn Tuấn
Dựa vào quan sát rằng đến 80% bệnh nhân tiêu chảy cấp (hay nói
chính xác hơn bệnh tả) từng ăn thịt chó và mắm tôm trước khi mắc bệnh, các
giới chức y tế cho rằng mắm tôm là “nghi can” smột gây nên dịch tiêu chảy
đến nay đã ảnh hưởng đến hơn 1000 người. con schính xác vẫn còn
trong vòng nghi ngvà mối liên hgiữa bệnh dịch tả và mắm tôm vẫn chưa
ràng, các giới chức y tế đã vội vã biện pháp “mạnh” như ngưng sản xuất
và vận chuyển mắm tôm trong nội tỉnh cũng như ra tỉnh ngoài, thậm chí tạm cấm
sdụng món ăn “quốc hồn quốc túy” này! Tôi e rằng tập trung việc kiểm soát
can thiệp vào một yếu tố mắm tôm như thế thể dẫn đến sai lầm về chiến
lược phòng bệnh, các yếu tố quan trọng khác như nguồn nước và thói quen v
sinh (hay thiếu vệ sinh) cá nhân có thể bị sao lãng hay xem nhẹ.
Nguyên nhân và yếu t nguy cơ
Trước hết, cần nhắc lại một số định nghĩa và khái niệm dịch tễ học (không
phải lên lớp đâu, mà chỉ muốn nhắc vì có thể chúng ta quên). Nguy (risk) mắc
bệnh là xác suất một cá nhân mắc bệnh trong một thời gian phơi nhiễm nhất định
một cộng đồng dân số. Nguyên nhân (cause) yếu tố sinh học trực tiếp gây
nên bệnh. Chẳng hạn như vi khuẩn V. cholerae trực tiếp gây bệnh dịch tả. Yếu
tnguy (risk factor) một yếu tố -- qua các chế gián tiếp hay trực tiếp --
làm tăng nguy mắc bệnh của một nhân. Chẳng hạn như uống nước bị ô
nhiễm không đun sôi là một yếu tố nguy cơ mc bệnh dịch tả.
Một yếu tố nguy thể là một nguyên nhân, nhưng cũng thể không
phải là nguyên nhân, gây bệnh. Một yếu tố nguy cơ được xem là nguyên nhân
nếu hội đủ 5 điều kiện sau đây: sinh học: mối liên hgiữa yếu tố nguy và
bệnh phải sở sinh học (như gien, biến thể DNA, đột biến DNA, dinh
dưỡng, v.v…); thời gian: phơi nhim yếu tố nguy phải xảy ra trước khi bệnh
xảy ra; liên hệ theo tính liều lượng: người bị phơi nhiễm yếu tố nguy cơ càng cao
nguy mắc bệnh càng cao; nhất quán: mối liên hphải được “chứng minh”
trong nhiều quần thể và nhiều nghiên cứu độc lập, chứ không phải chmột quần
thhay một nghiên cứu; và can thiệp: nếu can thiệp làm thay đổi mức độ phơi
nhiễm yếu tố nguy làm thay đổi nguy cơ mắc bệnh.
Mối liên hgiữa nguyên nhân bệnh mang tính nhân-quxác định:
tất cả (100%) những người phơi nhiễm nguyên nhân (như bị nhiễm trùng hay
mang đột biến gien trong người) mắc bệnh. Nhưng mối liên hgiữa yếu tố nguy
bệnh thì mang tính bất định: không phải bất cứ ai bị phơi nhiễm đều mắc
bệnh, người phơi nhiễm nguy mắc bệnh cao n người không phơi
nhiễm.
Yếu tố nguy cơ một khái niệm mang tính bao quát được đề xuất từ thập
niên 1960 (W. Kannel người đầu tiên sdụng thuật ngữ “risk factor” vào m
1961) để tnhững bệnh mãn tinh phức tạp như bệnh tim ung thư. Phân
biệt được khái niệm nguyên nhân và yếu tố nguy giúp cho chúng ta nhận thức
đúng về bệnh cũng ntìm những biện pháp phòng chống bệnh. Không phân
biệt được hai khái niệm yếu tố nguy cơ và nguyên nhân thdẫn đến hiểu lầm
có những nh động không thích hợp và thgây tác hại đến một quần th
lớn.
Mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh tả!
Theo dõi các thông tin liên quan đến bệnh dịch tả (sẽ gọi tắt là “bệnh tả”)
đang tiến triển một số tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay, tôi cảm thấy một sự
hiểu lầm về yếu tố nguy và nguyên nhân. Khi hỏi Bộ trưởng y tế, phóng viên
của báo VnExpress cho biết: Theo B Y tế, 80% bệnh nhân tiêu chảy cấp hiện
nay liên quan đến việc sử dụng mắm tôm. Nhưng chẳng hiểu sao, ngay sau
đó, vẫn VnExpress và vẫn dẫn nguồn tin y tế lại nói: Theo S Y tế Hà Nội,
đến 90% số bệnh nhân kể trên đã ăn các thực phẩm sống, chủ yếu là mắm tôm,
mắm tép và đây chính nguồn truyền vi khuẩn gây bệnh.” Một bài báo trên
Thanh Niên cho biết con số là 100%: Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn cho
biết: ‘Tại các tỉnh bệnh nhân dương tính với vi khuẩn, 100% đều ăn mắm
tôm. Các con scó xu hướng nhảy đầm! Không ngạc nhiên khi thấy t
nhảy đầm với con số, giới báo chí tuyên bmắm m là nghi can smột gây
nên dịch tiêu chảy cấp tính nguy hiểm.” Các quan chức trong Bộ y tế cũng
cùng nhận xét.
Bình tĩnh!
thnào căn cứ vào thực tế rằng phần lớn (hãy ccho là 80%) những
người mắc bệnh tả từng ăn mắm m (hay thịt chó) trước đó, để kết luận rằng
mắm tôm là nguồn truyền vi khuẩn gây bệnh hay không? Tôi nghĩ câu trả lời là:
không.
Cần phải phân biệt để hiểu hai phát biểu sau đây: (a) trong số những
người mắc bệnh tả, X% từng ăn mắm m, và (b) trong snhững người ăn mm
tôm, X% mắc bệnh tả. u thnhất đề cập đến hệ quả (bệnh tả) đã xảy ra và
truy m vquá khứ phơi nhiễm n mắm tôm). Câu th hai i đến sự phơi
nhiễm hôm nay để dđoán về khả năng bệnh xảy ra trong tương lai. Hai phát
biểu bao hàm thi gian tính khác nhau: câu thứ nhất nói vquá khứ và câu hai đề
cập đến tương lai. Hai câu phát biểu cũng mang bản chất khác nhau: câu thứ
nhất là chẩn đoán (diagnosis), và câu hai là dự đoán (prognosis).
Chúng ta muốn biết về quá khứ hay tương lai đây? Nếu một người đã
mắc bệnh, vấn đề đầu tiên đặt ra là chữa trị , chứ không phải suy đoán theo kiểu
giải tháp ngà. Nhưng đối vi những người chưa mắc bệnh (hay nói theo ngôn
ngdịch tễ học là nguy mắc bệnh -- chưa nói đến nguy cao hay thấp)
câu hỏi đặt ra là: nếu họ ăn mắm tôm (hay thịt chó), nguy cơ mắc bệnh là bao
nhiêu? Nếu nguy cơ này cao, thì can thiệp để phòng ngừa là cần thiết.
Chúng ta hãy hình dung mt tình huống đơn giản như sau: một cộng
đồng gồm 1 triệu người, và trong s này 20% người ăn mắm tôm và 80%
không ăn mắm m. Trong cộng đồng này 1000 người mắc bệnh tả, và trong
số này có 80% (hay 800 người) từng ăn mắm tôm. Vậy câu hỏi quan trọng đặt ra
là: trong những người ăn mắm m (hay không ăn mắm m) nguy mắc bệnh
tlà bao nhiêu. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta thsử dụng các số liệu trên
và lập một bảng số liệu đơn giản như sau:
Bệnh tả
Thói quen
Mắc bệnh tả Không mắc bệnh tả
Tổng số
Ăn mắm tôm 800 199.100 200.000
Không ăn mm tôm 200 799.800 800.000
Tổng số 1.000 999.000 1.000.000
Bảng 1. Ví dụ minh họa cho khái niệm “yếu tố nguy cơ”.
Như vậy, trong số 200.000 người ăn mắmm, tỉ lệ mắc bệnh là 0,4% (lấy
800 chia cho 200.000), và trong s 800.000 người không ăn mắm tôm, tỉ lệ mắc
bệnh là 0,025% (lấy 200 chia cho 800.000). Do đó, nguy cơ mắc bệnh những
người ăn mm tôm cao n nguy những người không ăn mm m 16 lần
(0,40 / 0,025). Nói cách khác, ăn mắm tôm không phải là ngun nhân
nhưng là một yếu t nguy cơ liên quan đến bnh tả.
Cần nói thêm rằng trong dụ trên, tôi dùng con schẵn và cgắng
phỏng theo con số mắc bệnh (khoảng 1000), nhưng trong thực tế dân số các
tỉnh phía Bắc cao hơn 1 triệu. Nói cách khác, trong thực tế, tỉ lệ (hay nguy cơ)
mắc bệnh rất thấp, chứ không như trong bảng số liệu giả thuyết trên. Cũng phải
nói thêm rằng trong ví dụ trên, tôi chdựa vào githuyết 90% những người mắc
bệnh từng ăn mắm tôm, nhưng trong thực tế chúng ta chưa biết tần số này bao
nhiêu, nên chưa thể kết luận gì về tầm quan trọng của mắm tôm như một mầm
mống phát sinh bệnh tả.
Như đề cập trên, ảnh hưởng của yếu tố nguy cơ đến bệnh hoặc là gián tiếp,
hoặc trực tiếp. Chúng ta biết rằng nguyên nhân gây bệnh là vi khuẩn V.
cholerae, vi khuẩn này có th tồn tại trong mm tôm. Nhưng vi khuẩn này
cũng có thể tồn tại trong c thực phẩm khác, và nht là trong nguồn nước sinh
hoạt hàng ngày.
dtrên, tôi lặp lại, còn rất đơn giản, vì chúng ta chmới xem qua một
yếu tố mà thôi. Trong thc tế, người ăn mắm tôm cũng phải uống nước, và các
thực phẩm khác. Rất khó để đánh giá do nguồn phơi nhiễm nào n mắm m,
hay ăn thịt heo, hay thịt chó, hay uống nước thiếu vệ sinh, v.v…) là yếu tố
chính. Chính vì thế mà chchú trọng vào một yếu tố duy nhất như mắm tôm, tôi
e rằng chúng ta đã quá xem thường các mầm móng gây bệnh khác. Mm móng
nào? Phần dưới đây, tôi sẽ điểm qua các nghiên cứu trong quá khứ để cho thấy
rằng còn có nhiều yếu tố nguy đáng quan tâm khác.
Các yếu t nguy cơ bệnh tả
Rất tiếc cho đến nay, Việt Nam chưa nhiều nghiên cứu về nguy
và qui bệnh dịch tả được công bố trên các diễn đàn y học quốc tế, nên chúng
ta chưa biết rõ các yếu tố nguy bệnh dịch t nước ta là gì. khnăng có
nghiên cứu công b trên các tập san trong nước nên thông tin chưa phổ biến ra