Mô hình chiến lược

Khái niệm mô hình kinh doanh miêu tả một tầm rộng những mô

hình bán hình thức và có hình thức do các liên doanh dùng để đại

diện các khía cạnh khác nhau của doanh nghiệp, như là các quá

trình hiện hành, các cấu trúc tổ chức, và những dự báo tài chính.

Mặc dù thuật ngữ này có thể thế truy nguyên vào những năm của

thập niên 1950, nó chỉ mới đạt được vị trí phổ biến trong những

năm của thập niên 1990. Nhiều định nghĩa thân mật của thuật

ngữ đó có thể tìm thấy trong tác phẩm kinh doanh được nhiều

người ngưỡng mộ, ví dụ như định nghĩa sau đây:

“Một mô hình kinh doanh là một công cụ quan niệm chứa một bộ

có nhiều phần tử và của các quan hệ của chúng và cho phép thể

hiện luận lý doanh nghiệp của một công ty nào đó. Nó miêu tả giá

trị khả năng chào hàng của một công ty trong một hoặc nhiều loại

khách hàng và nó cũng miêu tả thuật kiến trúc của công ty và

mạng lưới đối tác nó dùng để tạo lập, tiếp thị, và giao hàng giá trị

nói trên và vốn liếng quan hệ, nhằm phát sinh các dòng doanh

thu có khả năng lợi nhuận và chống đỡ, kéo dài được.”

— Ostenwalder, Pigneur and Tucci (2005)

Đã có nhiều người ra nhiều cách định hình những mô hình kinh

doanh, ví dụ như Chesbrough and Rosenbloom 2000; Hamel

2000; Linder and Cantrell 2000; Petrovic, Kittl và những người

liên quan; Weill and Vitale 2001; Gordijn 2002; Afuah and Tucci

2003; Osterwalder 2004; Fetscherin & Knolmayer 2005.

Cái nào cũng có các độ khác nhau của sự tương tự hoặc khác

biệt. Mô hình do Osterwalder (2004) đưa ra tổng hợp những sự

định hình khác biệt vào một mô hình tham khảo đơn độc có cơ sở

dựa vào các sự tương tự của một tầm lớn gồm có nhiều mô hình.

Sự định hình đó của tác giả miêu tả một mô hình kinh doanh rằng

nó bao gồm chín viên gạch quan hệ nhau cho việc xây dựng mô

hình kinh doanh. Một mô hình kinh doanh miêu tả những khía

cạnh doanh nghiệp sau đây của một công ty:

 Cơ sở - infrastructure

 Giao phẩm - offering

 Khách hàng - customers

 Tài chính - finances

 Bốn khía cạnh này bao gồm chín viên gạch sau đây:

Năng lực nòng cốt - core capabilities. Những năng lực tiềm

tàng và các cơ sở khả năng tất yếu để thi hành một mô hình kinh

doanh của công ty.

Mạng lưới đối tác - partner network

Những liên minh kinh doanh bổ sung các khía cạnh khác của mô

hình kinh doanh.

Cấu hình giao phẩm - value configuration. Nhân tố căn bản làm

cho một doanh nghiệp sinh hoa lợi chung cho doanh nghiệp và

khách hàng của nó.

Đề xuất giao phẩm - value proposition. Những sản phẩm và các

dịch vụ một doanh nghiệp đưa ra.

Khách hàng đối tượng - target customer. Giới tiêu thụ những

sản phẩm và các dịch vụ của một doanh nghiệp.

Mạng lưới phân phối - distribution channel. Phương tiện nhờ đó

mà một công ty đem giao những sản phẩm và các dịch vụ tới

khách hàng. Nó bao gồm cả việc tiếp thị lẫn chiến lược phân phối

của công ty đó.

Quan hệ khách hàng - customer relationship.

Những liên kết một công ty thiết lập giữa chính nó và những

thành phần khách hàng khác biệt của nó. Việc này liên quan tới

một quá trình gọi là quản lý quan hệ khách hàng.

Cấu trúc chi phí - cost structure. Một tài liệu cảm thông

(document of understanding) của công ty cho biết những hậu quả

tiền tệ của phương tiện được tận dụng trong mô hình kinh doanh.

Doanh thu toàn diện - revenue. Văn bản cho biết cách công ty

làm ra tiền qua một mớ cách dòng thu nhập khác nhau. Chín viên

gạch xây dựng mô hình kinh doanh này thành lập một khuôn mẫu

thiết kế mô hình kinh doanh cho phép các công ty diễn tả mô hình

kinh doanh của họ.

Hình trên có hai hàng bao gồm bốn khu vực, đó là bốn khía cạnh

doanh nghiệp. Hàng dưới là cho khía cạnh Tài chính. Ba khu vực

ở hàng trên theo thứ tự từ trái sang phải là ba khía cạnh doanh

nghiệp: Cơ sở, Giao phẩm , và Khách hàng