intTypePromotion=3

Mô hình chung về phương pháp và các hoạt động giảng dạy ngoại ngữ tại các trung tâm ngoại ngữ lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh

Chia sẻ: Nguyễn Thị Thanh Triều | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:13

0
34
lượt xem
9
download

Mô hình chung về phương pháp và các hoạt động giảng dạy ngoại ngữ tại các trung tâm ngoại ngữ lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này trình bày các phương pháp và hoạt động giảng dạy ngoại ngữ tại 16 trung tâm ngoại ngữ (TTNN) lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Mô hình chung về phương pháp và các hoạt động giảng dạy ngoại ngữ tại các trung tâm ngoại ngữ lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH<br /> <br /> HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC<br /> <br /> JOURNAL OF SCIENCE<br /> <br /> KHOA HỌC GIÁO DỤC<br /> EDUCATION SCIENCE<br /> ISSN:<br /> 1859-3100 Tập 15, Số 4 (2018): 179-191<br /> Vol. 15, No. 4 (2018): 179-191<br /> Email: tapchikhoahoc@hcmue.edu.vn; Website: http://tckh.hcmue.edu.vn<br /> <br /> MÔ HÌNH CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP<br /> VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ<br /> TẠI CÁC TRUNG TÂM NGOẠI NGỮ LỚN Ở TP HỒ CHÍ MINH<br /> Phạm Vũ Phi Hổ*<br /> Trường Đại học Văn Hiến<br /> Ngày nhận bài: 04-01-2018; ngày nhận bài sửa: 12-02-2018; ngày duyệt đăng: 20-4-2018<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Việc tăng cường dạy và học ngoại ngữ theo Đề án 2020 đã được thực hiện gần 10 năm và có<br /> những bước tiến đáng kể. Bài viết này trình bày các phương pháp và hoạt động giảng dạy ngoại<br /> ngữ tại 16 trung tâm ngoại ngữ (TTNN) lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM). Tham gia trả lời<br /> câu hỏi khảo sát gồm 72 giáo viên (GV) ở nhiều độ tuổi và có kinh nghiệm giảng dạy khác nhau.<br /> Kết quả nghiên cứu này đưa ra mô hình chung về phương pháp và hoạt động giảng dạy tiếng Anh<br /> hiệu quả, giúp các TTNN và cơ sở đào tạo ngoại ngữ có thể áp dụng trong đào tạo, góp phần nâng<br /> cao trình độ ngoại ngữ cho người học.<br /> Từ khóa: hoạt động giảng dạy, phương pháp giảng dạy, tính chủ động, trung tâm ngoại ngữ.<br /> ABSTRACT<br /> Model of teaching methods and activities at big English centers located in Ho Chi Minh City<br /> This paper explored and described the teaching methods and activities employed by 16 big<br /> language centers in Ho Chi Minh City. 72 English teachers in wide range of ages and experiences<br /> responded to the survey questionnaire. The results of the study revealed the effective model of<br /> teaching methods and activities which helped other English centers and language schools learn<br /> how to adjust their teaching practices to enhance their language learners’ proficiency at other<br /> provinces in Viet Nam.<br /> Keywords: teaching activities, teaching methods, autonomy, English centers.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Khái lược tình hình dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam<br /> Hiện nay, với khuynh hướng phát triển và hội nhập thế giới, ở Việt Nam, đặc biệt là<br /> các nước trong khối ASEAN, việc đào tạo nguồn nhân lực biết sử dụng tiếng Anh trong<br /> công việc là rất cần thiết. Một số nước trong khu vực như Thailand, Malaysia hay<br /> Phillipines, Chính phủ đã đưa ra những chính sách về việc đào tạo ngoại ngữ cho sinh viên<br /> (SV) để chuẩn bị tiếp cận với thị trường trong khu vực. Tuy nhiên, theo Hồng Hà (2010),<br /> chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học tiếng Anh hiện nay ở Việt Nam còn rất thấp so<br /> với yêu cầu của xã hội. Nó thể hiện ở chỗ khả năng đáp ứng đòi hỏi về công việc, giao<br /> dịch, nghiên cứu và học tập bằng tiếng Anh của đa số người Việt Nam còn hạn chế.<br /> *<br /> <br /> Email: ho.pham@ou.edu.vn<br /> <br /> 179<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM<br /> <br /> Tập 15, Số 4 (2018): 179-191<br /> <br /> Đề án 2020 về dạy và học ngoại ngữ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết<br /> định 1400/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 9 năm 2008) với mục đích đổi mới toàn diện việc dạy<br /> và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học<br /> ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm xây dựng nguồn nhân lực của Việt<br /> Nam có năng lực sử dụng ngoại ngữ độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong<br /> môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của<br /> người Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.<br /> Vũ Thị Phương Anh và Nguyễn Bích Hạnh (2015) cho rằng nếu xét dưới góc độ<br /> chính sách ngôn ngữ thì có thể thấy hiện nay không có quốc gia nào trên thế giới đặt nặng<br /> vai trò của năng lực ngoại ngữ trong đào tạo và sử dụng nhân lực như Việt Nam. Trong<br /> tuyển dụng, trình độ ngoại ngữ là một trong những yêu cầu quan trọng để lựa chọn và bổ<br /> nhiệm nhân sự tại các cơ quan nhà nước. Trong đào tạo, ở đa số các nước khác việc giảng<br /> dạy ngoại ngữ chỉ được thực hiện trong trường phổ thông, thì tại Việt Nam, ngoại ngữ còn<br /> được giảng dạy ở bậc đại học như một môn học bắt buộc. Ngoài ra, còn có những quy định<br /> nghiêm ngặt về năng lực ngoại ngữ của SV ở bậc đại học, trong đó việc đạt được các mức<br /> trình độ quy định là điều kiện bắt buộc để được công nhận tốt nghiệp đại học, là yêu cầu<br /> đầu vào và đầu ra của các chương trình đào tạo sau đại học, đồng thời cũng là một trong<br /> những điều kiện bắt buộc để được tham gia chương trình đào tạo sau đại học tại nước<br /> ngoài bằng ngân sách nhà nước. Ðiều đáng nói là mặc dù ngoại ngữ có vai trò quan trọng<br /> như vậy trong chính sách giáo dục ngôn ngữ của Việt Nam, nhưng năng lực ngoại ngữ của<br /> SV tốt nghiệp nói chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước, như phản<br /> ánh của các phương tiện thông tin đại chúng (Hồng Hà, 2010). Kết quả kì thi trung học phổ<br /> thông (THPT) năm 2015, trong 8 môn thi THPT quốc gia, môn Tiếng Anh có phổ điểm<br /> thấp nhất (từ 2-3,5 điểm). Con số này khiến dư luận ngỡ ngàng, nhưng người trong cuộc là<br /> các thí sinh và GV lại cho rằng nó thể hiện chính xác thực trạng học môn này của học sinh<br /> (Văn Chung, 2015). Cập nhật con số thống kê mới nhất trong năm 2017, Tuệ Nguyễn<br /> (2017) cũng nhận định rằng điểm thi môn Tiếng Anh năm nay thấp nhất trong các môn<br /> khác; toàn quốc có tới 68% bài thi đạt điểm dưới trung bình mặc dù tỉ lệ này đã giảm 20%<br /> so với năm 2016. Cụ thể là điểm trung bình môn Tiếng Anh năm 2017 là 4,6 trong khi năm<br /> 2016 chỉ 3,48.<br /> Có nhiều nguyên nhân khách quan làm cho chất lượng dạy và học tiếng Anh ở nước<br /> ta chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Theo Khang Nguyễn (2012), nhiều cuộc khảo sát<br /> gần đây cho thấy kết quả dạy và học môn ngoại ngữ (tiếng Anh) tại các trường phổ thông<br /> không được khả quan. Hầu hết học sinh, sau khi học hết trung học cơ sở (lớp 9), chỉ có thể<br /> nghe nói được những thông tin cơ bản như chào hỏi, tên tuổi, chứ không thể kể lại được<br /> một câu chuyện khoảng 100 từ. Điều này khiến cho các bậc phụ huynh và học sinh không<br /> hài lòng. Đa số học sinh sau 7 năm học tiếng Anh ở bậc phổ thông không thể nghe, nói,<br /> đọc, viết. Hoàng Hương (2015) cũng cho rằng ở các trường THPT, việc đổi mới dạy học<br /> 180<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM<br /> <br /> Phạm Vũ Phi Hổ<br /> <br /> ngoại ngữ chủ yếu đạt được ở nhiệm vụ bồi dưỡng GV đạt chuẩn trình độ về tiếng nước<br /> ngoài, còn chương trình giảng dạy, sách giáo khoa và phương pháp đánh giá trong quá<br /> trình dạy học vẫn chưa thay đổi, do vậy chất lượng học tập chưa có sự tiến bộ nhiều. Hơn<br /> nữa, hiện có sự khác biệt rất lớn trong điều kiện học và giảng dạy tiếng Anh giữa nông<br /> thôn và thành phố lớn. Và thực tế, hầu hết số học sinh giao tiếp được tiếng Anh chỉ tập<br /> trung ở các thành phố lớn. Việc học ở trường chủ yếu phục vụ cho các kì thi như thi tốt<br /> nghiệp THPT, thi đại học… nên phần nghe, nói không được chú trọng nhiều, chủ yếu là<br /> học ngữ pháp, từ vựng, trong khi ở TTNN thì phần nói và nghe được nhấn mạnh, trau dồi<br /> nhiều hơn. Nhận biết điều này, nhiều phụ huynh đã chủ động đưa con em mình đến các<br /> trung tâm, trường ngoại ngữ để trẻ có thể tiếp xúc với các chương trình học thực tế nhằm<br /> rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Hầu hết học sinh phải học thêm ở các TTNN với<br /> chương trình hiện đại, tiên tiến (Hoàng Hương, 2015). SV đại học cũng không ngoại lệ, họ<br /> theo học ở TTNN để bổ sung những điều mà nhà trường chưa thể đáp ứng vì nhiều lí do<br /> như giáo án, thời lượng tiết học quá ít, sĩ số lớp quá đông hoặc trình độ GV còn hạn chế<br /> (Đặng Tươi, Anh Nhiên, 2015).<br /> Các trung tâm đào tạo ngoại ngữ được thành lập nhiều tại các tỉnh thành, đặc biệt là<br /> ở khu vực TPHCM. Tại các thành phố lớn như TPHCM, Vũng Tàu, Hà Nội… có rất nhiều<br /> TTNN, nhưng ở các tỉnh thì số lượng ít hơn. Hầu hết các trường đại học đều mở thêm<br /> trung tâm đào tạo ngoại ngữ và học viên (HV) của các trung tâm này chủ yếu là SV của<br /> trường đó. Theo Khang Nguyễn (2012), hiện nay, số lượng cơ sở và trung tâm dạy ngoại<br /> ngữ tăng theo từng năm và chiếm hơn 40% tổng số các cơ sở dạy văn hóa ngoài giờ của cả<br /> nước. Tổng số HV học ngoại ngữ chiếm gần 70% lượt người tham gia các loại hình văn<br /> hóa ngoài giờ. Điều này cho thấy nhu cầu học và dạy ngoại ngữ ngày càng tăng nhanh.<br /> Có thể nói, những năm 90 của thế kỉ XX là thời kì “hoàng kim” của các TTNN trên<br /> khắp cả nước, phong trào học ngoại ngữ diễn ra rầm rộ, huy động phần lớn học sinh tham<br /> gia. Phong trào này có tác dụng bổ trợ, kích thích tích cực cho việc dạy và học ở trường<br /> phổ thông. Nhưng dần dần, phong trào học tiếng Anh ở các TTNN, nhất là ở tuyến huyện<br /> cũng không duy trì được lâu, nhiều trung tâm phải tự giải thể khi nhu cầu học tập lắng<br /> xuống. Hiện nay, ngoại trừ các thành phố lớn, ở các tỉnh, số lượng TTNN còn duy trì hoạt<br /> động không nhiều (Đỗ Tấn Ngọc, 2010).<br /> Số lượng TTNN tuy nhiều nhưng chất lượng lại đang bị… thả nổi (Trung Dũng,<br /> 2013). Đa số các TTNN đều quảng cáo có GV bản ngữ, học phí hợp lí, cơ sở vật chất,<br /> trang thiết bị hiện đại, phương pháp giảng dạy tiên tiến, luyện phát âm tiếng Anh chuẩn<br /> quốc tế… Khang Nguyễn (2012) cho rằng thực trạng khá phổ biến hiện nay là phần lớn các<br /> trung tâm quảng cáo có chất lượng hàng đầu, độc quyền về các phương pháp giảng dạy<br /> tiếng Anh hiện đại nhất nhưng lại không có chương trình đào tạo xây dựng bài bản. Đội<br /> ngũ GV được nói là tuyển chọn kĩ lưỡng nhưng thực chất GV bản ngữ chỉ là những người<br /> <br /> 181<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM<br /> <br /> Tập 15, Số 4 (2018): 179-191<br /> <br /> Tây “ba lô” không có bằng cấp hay nghiệp vụ sư phạm. Còn GV Việt Nam thì đa số mới ra<br /> trường, tuy nhiệt tình nhưng trình độ còn hạn chế.<br /> Hồng Hà (2010) cho rằng, mặc dù tiếng Anh được đưa vào giảng dạy từ rất lâu trong<br /> các cấp học, bậc học và là môn học bắt buộc nhưng còn thiếu tính định hướng. Chương<br /> trình giảng dạy chưa thống nhất chuẩn các cấp độ, chưa theo kịp chuẩn quốc tế… Việc<br /> kiểm tra đánh giá chủ yếu tập trung ở kĩ năng đọc và viết, làm bài tập ngữ pháp, chưa theo<br /> kịp xu thế đổi mới của thế giới. Hơn nữa, đội ngũ GV hiện nay khoảng 62.000 người<br /> nhưng trình độ chưa đạt chuẩn vẫn còn nhiều, vẫn rơi vào tình trạng thiếu GV. Thậm chí ở<br /> vùng đặc biệt khó khăn, vùng nông thôn sau nhiều năm giảng dạy tiếng Anh tập trung chủ<br /> yếu vào ngữ pháp, đọc, dịch nên nhiều GV mất dần khả năng giao tiếp tích cực và sử dụng<br /> tiếng Anh trong học tập, công việc nghiên cứu khoa học. Chính những nguyên nhân đó đã<br /> ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học tiếng Anh của HS, SV.<br /> Từ thực trạng nêu trên, chúng tôi cho rằng cần tìm hiểu mô hình chung về phương<br /> pháp và các hoạt động giảng dạy ngoại ngữ tại các TTNN lớn ở TPHCM để tìm ra con<br /> đường hiệu quả hơn trong công tác giảng dạy tiếng Anh, nâng cao năng lực và trình độ<br /> ngoại ngữ cho nguồn nhân lực của Việt Nam. Bài nghiên cứu này tìm lời giải đáp cho các<br /> câu hỏi sau:<br /> Câu 1: Các GV tại các TTNN lớn ở TPHCM đang sử dụng những phương pháp gì<br /> trong các lớp học tiếng Anh?<br /> Câu 2: Các GV tại các TTNN lớn ở TPHCM đang sử dụng những dụng cụ gì trong<br /> các lớp học tiếng Anh?<br /> Câu 3: Các GV tại các TTNN lớn tại TPHCM sử dụng các hoạt động giảng dạy như<br /> thế nào nhằm nâng cao trình độ ngoại ngữ của HV?<br /> 2.<br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> Nghiên cứu này có sự tham gia khảo sát của 72 GV đang dạy ngoại ngữ tại 16 TTNN<br /> lớn ở TPHCM (tên của các TTNN được bảo mật). Bình quân mỗi TTNN trong 16 TTNN<br /> lớn tại TPHCM có 4,5 GV trả lời. Quy mô của đề án nghiên cứu này bao gồm cả việc<br /> phỏng vấn các nhà quản lí TTNN và dự giờ một số lớp học tại các TTNN. Tuy nhiên, trong<br /> khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi chỉ phân tích và trình bày dữ liệu mang tính định<br /> lượng thu thập được từ các bảng khảo sát.<br /> Phiếu khảo sát GV TTNN được xây dựng gồm 4 phần. Phần 1 là thông tin chung về<br /> GV. Phần 2 khảo sát phương pháp giảng dạy GV thường sử dụng; phần 3 hỏi về mức độ sử<br /> dụng các loại bài giảng đa phương tiện (multimedia) để hỗ trợ giảng dạy tại lớp của GV.<br /> Phần 4 (gồm 12 câu hỏi) tìm hiểu về mức độ thực hiện các loại hoạt động giảng dạy và<br /> quản lí đánh đá hoạt động giảng dạy của GV.<br /> Để phân tích các số liệu mang tính định lượng trong bảng khảo sát, chúng tôi sử<br /> dụng phần mềm SPSS phiên bản 19 để phân tích độ trung bình (Mean) theo Descriptive<br /> statistics và và phần trăm (%) theo Frequency statistics. Kết quả được trình bày trong phần<br /> 182<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM<br /> <br /> Phạm Vũ Phi Hổ<br /> <br /> dưới đây. Các thông tin của GV trong phần 1 của phiếu khảo sát chỉ được phân tích theo<br /> phần trăm (frequency statistics) để cung cấp một số thông tin về mẫu khảo sát. Các câu hỏi<br /> trong bảng khảo sát từ phần 2, 3, và 4 được phân tích theo phần trăm và mức độ trung bình<br /> (Mean) để trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu của bài viết này.<br /> 3.<br /> Kết quả nghiên cứu và thảo luận<br /> Bảng 1 dưới đây thống kê thông tin của 72 GV bao gồm giới tính, độ tuổi và kinh<br /> nghiệm giảng dạy.<br /> Bảng 1. Thông tin GV<br /> Thông tin GV<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> Nam<br /> <br /> 24<br /> <br /> 33<br /> <br /> Nữ<br /> <br /> 48<br /> <br /> 67<br /> <br /> < 25 tuổi<br /> <br /> 14<br /> <br /> 19,4<br /> <br /> 25 - 35<br /> <br /> 46<br /> <br /> 63,9<br /> <br /> 36 - 45<br /> <br /> 9<br /> <br /> 12,5<br /> <br /> 46 - 55<br /> <br /> 2<br /> <br /> 2,8<br /> <br /> > 55<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1,4<br /> <br /> 1-5 năm<br /> <br /> 29<br /> <br /> 42,6<br /> <br /> 6-10 năm<br /> <br /> 26<br /> <br /> 38,2<br /> <br /> 11-15 năm<br /> <br /> 7<br /> <br /> 10,3<br /> <br /> 16-20 năm<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4,4<br /> <br /> >20 năm<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4,4<br /> <br /> Giới tính<br /> <br /> Độ tuổi<br /> <br /> Kinh nghiệm giảng dạy<br /> <br /> Trong số 72 GV tham gia trả lời bảng câu hỏi khảo sát, có 48 GV (67%) là nữ và 24<br /> là nam (33%), độ tuổi của các GV này từ 25 – 55 tuổi. Số lượng nữ GV chiếm đại đa số<br /> trong các lớp học ngoại ngữ tại các trung tâm. Điều tương tự cũng có thể thấy được ở hầu<br /> hết các lớp học chuyên ngành Tiếng Anh tại các khoa ngoại ngữ ở các trường đại học, hầu<br /> hết là nữ SV và nữ GV. Theo nghiên cứu của Aslan (2009), Xiong (2010) và Pormourzeh<br /> (2013) động cơ học ngoại ngữ của phái nữ lớn hơn rất nhiều so với phái nam và họ thường<br /> xuyên sử dụng các chiến thuật học ngoại ngữ thành công. Đó là lí do tại sao phần lớn GV<br /> dạy ngoại ngữ là phái nữ. Ngoài ra, hầu hết các TTNN đang tận dụng lực lượng GV trẻ để<br /> phát triển TTNN của mình. Hay nói cách khác, các TTNN đều ý thức rằng hiện đa số HV<br /> đều trẻ và để thu hút HV, trung tâm cần GV trẻ trung, năng động để HV cảm thấy gần gũi<br /> với GV hơn, và với tính cách năng động, GV dễ dàng sáng tạo các hoạt động giảng dạy<br /> <br /> 183<br /> <br />
ANTS
ANTS

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản