
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
HOÀNG MẠNH HÙNG
CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG
CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Toán kinh tế
Mã số: 9310101_TKT
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI – 2020
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN KHẮC MINH
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường
Đại học Kinh tế quốc dân
Vào hồi: ngày tháng năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện quốc gia
- Thư viện Đại học Kinh tế quốc dân

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động của các công ty đa quốc gia (MNEs) đã gia tăng đáng kể trên toàn
thế giới trong những năm gần đây liên quan đến các dòng chảy đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) mạnh mẽ ở nhiều quốc gia. Tham gia vào nền kinh tế và
thường hoạt động trong các khu vực tương đối hiệu quả, MNEs có thể kéo các
hoạt động kinh tế ra khỏi các ngành có năng suất thấp, và do đó đóng góp vào
việc chuyển dịch cơ cấu (CDCC) có hiệu quả. Ngoài ra, mối liên kết tiềm năng
giữa FDI và chuyển đổi cơ cấu có liên quan đến quan điểm chính sách phát triển
vì sự thay đổi về cơ cấu đã được xác định như là một nhân tố then chốt của phát
triển kinh tế.
Việt Nam là một trong những quốc gia thành công trong việc thu hút nguồn
vốn này cho quá trình phát triển. FDI đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình
CDCC kinh tế ở nước ta. Kể từ khi các dòng FDI chảy vào đã kéo theo sự xuất
hiện của nhiều lĩnh vực và ngành nghề kinh tế mới. Năng suất lao động của
nhiều ngành tăng lên đáng kể góp phần làm tăng tỷ trọng của các ngành này
trong nền kinh tế, trong đó có sự đóng góp lớn của FDI từ việc thúc đẩy trình độ
kỹ thuật - công nghệ từ các ngành này.
Việc đánh giá định lượng những tác động của FDI đến CDCC kinh tế ở nước
ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là vấn đề hết sức cần thiết,
có ý nghĩa quan trọng và có tính thực tiễn cao. Từ những đánh giá đó mới có thể
đề xuất những giải pháp khả thi nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế
các ảnh hưởng tiêu cực từ nguồn vốn này đến CDCC nền kinh tế. Luận án “Các
mô hình phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở Việt Nam” được thực hiện để phần nào giải quyết các vấn đề cấp
bách nêu trên.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của luận án là chỉ định, lựa chọn các mô hình phù hợp cho
việc phân tích tác động của FDI đến CDCC ngành kinh tế, trong đó tập trung
vào mức độ chuyển dịch và sự mất cân đối cơ cấu. Từ đó, đưa ra các khuyến
nghị về chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đóng góp của FDI vào quá trình
CDCC nền kinh tế nước ta.
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các mô hình phân tích tác động của FDI đến quá
trình CDCC ngành kinh tế.
- Phạm vi nghiên cứu: về không gian là 60 tỉnh, thành phố; về thời gian là giai
đoạn 2000-2017.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, so sánh và phân tích thống kê.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng. Luận án sử dụng các mô hình được
chỉ định phù hợp để ước lượng tác động của FDI đối với CDCC ngành kinh tế.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Luận án đã làm rõ một số lý thuyết về CDCC kinh tế cũng như lý thuyết về
tác động của FDI đối với quá trình CDCC của nước nhận đầu tư.
- Phân tích rõ nét thực trạng thu hút dòng vốn FDI và quá trình CDCC kinh
tế ở Việt Nam để làm nổi bật những ảnh hưởng của FDI đến việc định hình cơ
cấu các ngành nghề trong nền kinh tế của nước ta thông qua việc phân bổ dòng
vốn này.
- Tổng hợp, phân tích một cách tương đối đa dạng về những phương pháp đo
lường CDCC kinh tế khác nhau đang được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu
hiện nay trên thế giới.
- Phân tích làm rõ đặc điểm và lợi thế của các phương pháp ước lượng được áp
dụng trong việc ước lượng các mô hình để thấy được hiệu quả cũng như đảm bảo
tính tin cậy khi sử dụng kết quả ước lượng hỗ trợ cho việc phân tích các mối quan
hệ về mặt kinh tế.
- Định lượng cho những tác động của FDI cùng với một số yếu tố khác đến
mức độ CDCC ngành kinh tế ở Việt Nam, bao gồm tác động ngắn hạn và dài
hạn thu được từ các mô hình dữ liệu mảng động, và tác động trực tiếp và gián
tiếp từ mô hình không gian động.
- Đánh giá mức độ mất cân đối và những yếu tố ảnh hưởng đến sự mất cân
đối trong cơ cấu của từng khu vực và của toàn nền kinh tế. Đây là các bằng
chứng khoa học hữu ích cho các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách
thu hút FDI và phân bổ nguồn lực cho quá trình CDCC kinh tế ở Việt Nam.

3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG
CỦA FDI ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
1.1. Cơ cấu ngành và CDCC ngành kinh tế
1.1.1. Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế có thể được hiểu là “tương quan giữa các ngành trong
tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và
chất lượng giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này được hình thành trong
những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào
những mục tiêu cụ thể” (Ngô Thắng Lợi, 2013, tr.162).
1.1.2. CDCC ngành kinh tế
CDCC ngành đề cập đến những thay đổi trong cơ cấu ngành của một nền
kinh tế và có thể được định nghĩa là sự chuyển dịch từ các ngành kinh tế với
năng suất thấp và thâm dụng lao động sang các ngành có năng suất cao hơn và
các ngành thâm dụng kỹ năng hoặc kiến thức của một nền kinh tế. Cơ cấu ở đây
đề cập đến tỷ trọng tương đối của các khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch
vụ trong nền kinh tế về giá trị gia tăng, tạo việc làm và trong tiêu dùng cuối
cùng của hàng hóa và dịch vụ.
1.1.3. Các yếu tố dẫn dắt sự thay đổi cơ cấu ngành
- Sự thay đổi cầu hàng hóa đến từ sự thay đổi thu nhập.
- Sự khác biệt trong tăng trưởng TFP giữa các ngành.
- Sự khác biệt trong hệ số co giãn sản lượng theo đầu vào giữa các ngành.
- Sự dịch chuyển trong sản xuất hàng hóa trung gian giữa các ngành.
- Thay đổi lợi thế so sánh thông qua thương mại.
1.2. Một số mô hình lý thuyết về CDCC ngành kinh tế
1.2.1. Mô hình hai khu vực của Arthur Lewis
Mô hình Lewis hai khu vực tập trung vào sự chuyển dịch cơ cấu của nền
kinh tế chủ yếu là tự cung tự cấp (Todaro và Smith, 2009). Mô hình này trở
thành lý thuyết chung về quá trình phát triển ở các nước đang phát triển với lao
động thặng dư trong những năm 1960 và đầu những năm 1970. Arthur Lewis
mô tả sự phát triển kinh tế là kết quả của sự thay đổi cơ cấu trong hai khu vực
chính của nền kinh tế đang phát triển. Khu vực nông nghiệp truyền thống, được
4
đặc trưng bởi lực lượng lao động dồi dào, không có kỹ năng, những người mà
năng suất lao động cận biên (MPL) gần bằng 0 và khu vực hiện đại được đặc
trưng bởi mức lương cao hơn, kỹ thuật sản xuất tiên tiến và năng suất biên của
lao động dương.
1.2.2. Mô hình về các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của Walt Rostow
Tóm tắt 5 giai đoạn phát triển của Walt Rostow theo thời gian được thể hiện
trong hình 1.3.
Hình 1.3 Sơ đồ 5 giai đoạn phát triển của Rostow
1.3. Lý thuyết về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế
1.3.1. Lý thuyết về các giai đoạn phát triển đầu tư
Lý thuyết về các giai đoạn phát triển đầu tư (IDP) đưa ra giả thuyết rằng có
một mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng của một quốc gia và mức
độ phát triển kinh tế của nó. Tiền đề của lý thuyết này có hai mặt: nó coi sự phát
triển kinh tế là một quá trình thay đổi cơ cấu và sự thay đổi cơ cấu này ảnh
hưởng đến hình thái của cả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào và ra bên ngoài, và
do đó, ảnh hưởng đến vị thế đầu tư ra nước ngoài ròng. Trong dạng cách điệu
của lý thuyết IDP, các quốc gia tiến triển qua năm giai đoạn. Sự tiến triển này
diễn ra để đáp ứng với các điều kiện thay đổi của các lợi thế đặc trưng về địa
Mức độ phát triển
Giai đoạn xã hội truyền
thống (sinh kế, hàng đổi hàng,
nông nghiệp)
Giai đoạn chuyển tiếp
(chuyên môn hóa, thặng dư, cơ sở
hạ tầng)
Giai đoạn cất cánh
(CNH, tăng đầu tư, tăng trưởng
vùng, thay đổi chính trị)
Giai đoạn trưởng thành
(đa dạng hóa, đổi mới sáng tạo, ít phụ
thuộc nhập khẩu, đầu tư)
GĐ tiêu dùng cao (định hướng người
tiêu dùng, hàng hóa lâu bền hưng thịnh,
khu vực dịch vụ chiếm ưu thế)
Thời gian

5
điểm của quốc gia, và do đó, một mặt tạo sự hấp dẫn của nó đối với các nhà đầu
tư nước ngoài, một mặt, nâng cấp dần các lợi thế đặc trưng về quyền sở hữu của
các doanh nghiệp trong nước. Theo lý thuyết IDP, khi di chuyển dọc theo các
giai đoạn phát triển thì cơ cấu nền kinh tế của cả nước đầu tư và nước tiếp nhận
FDI đều chuyển dịch. Trong quá trình đầu tư ra bên ngoài cũng như tiếp nhận
đầu tư, lợi thế so sánh của các quốc gia này sẽ dịch chuyển nhằm đáp ứng và tạo
ra các lợi thế mới để thu hút FDI và theo chiều ngược lại, sự tham gia của dòng
vốn FDI vào và ra cũng điều chỉnh cơ cấu kinh tế của nước nhận và nước đi đầu
tư.
1.3.2. Mô hình “đàn ngỗng bay”
Mô hình “đàn ngỗng bay” đã chỉ ra sự khác nhau về tầm quan trọng của các
yếu tố sản xuất trong các giai đoạn phát triển sản phẩm làm nảy sinh quy luật
chuyển dịch lợi thế. Nhằm CDCC kinh tế, đổi mới cơ cấu kỹ thuật, hiện đại hóa
nền kinh tế, tập trung nghiên cứu và phát triển những ngành công nghiệp mũi
nhọn để chiếm lĩnh và chi phối nền kinh tế thế giới, các quốc gia đi đầu luôn có
nhu cầu chuyển dịch các ngành đã “xế chiều”, các kỹ thuật đã lạc hậu, các sản
phẩm đã “lão hóa” sang các quốc gia theo sau để vừa tập trung vốn phát triển
các ngành nghề, công nghệ mới, vừa kéo dài “tuổi thọ” của các công nghệ và
sản phẩm của mình, qua đó thu lợi nhuận cao. Tương tự, những nước theo sau
cũng có nhu cầu chuyển dịch đầu tư công nghệ, sản phẩm mà họ đã mất dần lợi
thế so sánh sang các quốc gia kém phát triển hơn. Quá trình chuyển giao công
nghệ này diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó có thể thông qua hình
thức FDI. Và nó đã làm thay đổi bộ mặt các nền kinh tế ở mức độ công nghệ
thấp hơn, thúc đẩy quá trình phân công và hợp tác cũng như liên kết khu vực.
Ngoài ra, nó cũng tạo ra sự chuyển dịch trong cơ cấu nền kinh tế của các quốc
gia tham gia trong “đàn ngỗng bay”, mà cụ thể là chuyển dịch theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế.
1.3.3. Mô hình nâng cấp ngành
Một phiên bản cải tiến của mô hình “đàn ngỗng bay” là mô hình nâng cấp
ngành, trong đó nó mô tả sự thay đổi cơ cấu của Nhật Bản kể từ năm 1950 và
thể hiện rõ vai trò của FDI như một nhân tố điều phối thay đổi cơ cấu. Theo mô
hình này, cơ cấu công nghiệp của một quốc gia trải qua bốn giai đoạn chuyển
đổi liên tiếp. Trong mỗi giai đoạn, có một nhóm các ngành cụ thể chiếm ưu thế
6
trong cơ cấu ngành thông qua sở hữu các lợi thế so sánh. Ozawa cũng nhận thấy
rằng có một sự tương ứng cụ thể theo các giai đoạn giữa nâng cấp cơ cấu và các
hình thái FDI dẫn đến mô hình các giai đoạn tương tự trong hoạt động FDI.
1.4. Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm về tác động của FDI đến chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
Các nghiên cứu trên thế giới về tác động của FDI đến quá trình CDCC nền
kinh tế đã được thực hiện cho nhóm các quốc gia (Kalotay, 2010; Gui-Diby và
Renard, 2015; Ssozi và Bbaale, 2019,…) cũng như các quốc gia riêng biệt
(Blomström và cộng sự, 2000 cho Nhật Bản; Zorska, 2005 cho Ba Lan; Liang và
Bing, 2010 cho Hàn Quốc; Huang Na, 2011 và Jiang, 2014 cho Trung Quốc,…).
Các nghiên cứu này đã dựa trên các phương pháp nghiên cứu khác nhau từ
nghiên cứu định tính đến nghiên cứu định lượng với việc sử dụng các mô hình
hồi quy chuỗi thời gian, mô hình dữ liệu mảng. Kết quả thu được phần lớn ủng
hộ nhận định cho rằng FDI hỗ trợ tích cực cho quá trình CDCC nền kinh tế của
nước nhận đầu tư theo hướng nâng cao tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ,
giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cả đầu ra và lao động.
Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cũng đã xem xét tác động của FDI đối với
CDCC trong nội ngành công nghiệp và cơ cấu thương mại quốc tế của nước chủ
nhà.
Nghiên cứu về tác động của FDI đến CDCC kinh tế ở Việt Nam vẫn còn khá
hạn chế. Xét về phương pháp, các nghiên cứu đã có được phân thành hai nhóm.
Nhóm thứ nhất chủ yếu tập trung vào cơ sở lý luận cũng như dựa trên các thống
kê mô tả để đưa ra nhận định về những ảnh hưởng của FDI đến CDCC kinh tế.
Nhóm thứ hai cung cấp các kết quả dựa trên những mô hình định lượng. Kết
luận của các nghiên cứu này đều có một điểm thống nhất là xác nhận ảnh hưởng
tích cực của FDI cho quá trình CDCC. Hầu hết các nghiên cứu kể trên đều sử
dụng tỷ trọng các ngành đại diện cho CDCC, tỷ trọng chỉ thể hiện cơ cấu kinh tế
ở một thời điểm tĩnh và các ngành là độc lập với nhau. Điều này có vẻ chưa hợp
lý khi cơ cấu kinh tế thường thể hiện là một yếu tố động và cần phải xem xét
CDCC trong bối cảnh chung của tất cả các ngành trong nền kinh tế. Do vậy, việc
tiếp tục làm rõ mối quan hệ này dưới những cách tiếp cận khác nhau là cần thiết
để có những kết luận chính xác hơn cho mối quan hệ động giữa FDI và CDCC
kinh tế.

7
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đo lường chuyển dịch cơ cấu
- Tỷ trọng của các khu vực.
- Chỉ số giá trị tuyệt đối (NAV)
=0,5.|
|, =2,…,;=1,…, 1
- Chỉ số Lililen chỉnh sửa
=
.
.
,
>0;
>0
- Đo lường tốc độ CDCC dựa trên phương pháp véc tơ
cosθ=∑a
a
∑a
.∑a
- Một số cách tiếp cận khác
+ Sử dụng một thành phần trong sự phân rã năng suất tổng thể xem như nó
đại diện cho sự thay đổi cơ cấu lao động.
=
=
+
+ Chỉ số “thay đổi cơ cấu hiệu quả” của Vu (2017)
=0.5 ∑|
|
∈
, ={} sao cho
>0
trong đó,
và
lần lượt là tỷ trọng lao động của ngành i ở thời điểm T và 0;
được xác định bởi
=
+
2.2. Đo lường sự mất cân đối của cơ cấu kinh tế
Gọi
và
tương ứng là giá trị gia tăng và lao động của ngành . Ando và
Nassar (2017) định nghĩa các giá trị như sau:
∑
∑
,
8
Như vậy, mỗi
phản ánh mức độ chênh lệch giữa tỷ trọng lao động với tỷ
trọng năng suất của ngành . Khoảng cách =0 tương đương với việc cân bằng
năng suất giữa các ngành.
2.3. Một số mô hình dữ liệu mảng
2.3.1. Mô hình dữ liệu mảng tĩnh
=
+
+
Luận án lần lượt xem xét mô hình với các ước lượng bao gồm POLS, FE,
RE và FGLS để lựa chọn mô hình phù hợp cho mô hình dữ liệu mảng tĩnh.
2.3.2. Mô hình dữ liệu mảng động
=
,
+
+
+
Tính động của CDCC được xem xét dưới mô hình dữ liệu mảng động. Với
sự xuất hiện của biến trễ của biến phụ thuộc trong vai trò là biến độc lập làm nảy
sinh vấn đề nội sinh. Luận án sử dụng các phương pháp ước lượng GMM để
khắc phục vấn đề này bao gồm IV-GMM, D-GMM và S-GMM.
2.4. Mô hình kinh tế lượng không gian
2.4.1. Mô hình dữ liệu mảng không gian tĩnh
=
+
+
+
()
=
+
+
,
=
+
()
=
+
+
+
+
()
2.4.2. Mô hình dữ liệu mảng không gian động
Các mô hình không gian động được xem xét bao gồm mô hình SAR và SDM
=
,
+
+
,
+
+
+
()
=
,
+
+
,
+
+
+
+
()

