intTypePromotion=1

Mô hình quản trị nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
20
lượt xem
2
download

Mô hình quản trị nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết tập trung phân tích đặc điểm của mô hình quản trị một cơ sở GD gắn với 3 vấn đề, đó là sự phân bổ quyền lực cho các cơ sở GD và trong nội bộ cơ sở GD, là cách thức đo lường đánh giá hiệu quả công việc mà cơ sở GD đảm nhiệm và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở GD đó cũng như các thành viên tham gia hoạt động của cơ sở GD đó. Mời các bạn tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Mô hình quản trị nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

  1. MÔ HÌNH QUẢN TRỊ NHÀ TRƯỜNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY PGS.TS. Đặng Xuân Hải1 Tóm tắt Bài viết tập trung phân tích đặc điểm của mô hình quản trị một cơ sở GD gắn với 3 vấn đề, đó là sự phân bổ quyền lực cho các cơ sở GD và trong nội bộ cơ sở GD, là cách thức đo lường đánh giá hiệu quả công việc mà cơ sở GD đảm nhiệm và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở GD đó cũng như các thành viên tham gia hoạt động của cơ sở GD đó. Nội dung bài viết cũng đề cập đến giải pháp có tính điều kiện cho việc triển khai quản trị nhà trường trong bối cảnh mới. Từ khóa: Quản trị nhà trường; Tự chủ; hiệu quả. Đặt vấn đề Nghị quyết 29/NQ-TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo (năm 2013) yêu cầu “Chuyển mạnh từ quản lí giáo dục, quản lí nhà trường nặng tính hành chính sang coi trọng quản lí chất lượng (QLCL)…”.Trên cơ sở đó các nhà trường phải tích cực chuyển đổi từ cách quản lí nặng về chờ đợi và dựa dẫm vào chỉ đạo từ cấp trên; quá coi trọng kiểm tra hành chính, thanh tra vụ việc và dựa vào báo cáo thành tích, kìm hãm sự sáng tạo của giáo viên và học sinh sang coi trọng quản lí theo quy trình đảm bảo chất lượng và quản lí chất lượng giáo dục, đặc biệt coi trọng sự phát triển về phẩm chất năng lực của người học và coi trọng “quản trị nhà trường hiệu quả”. Thời gian gần đây có nhiều khuyến cáo các cơ sở GD phải chuyển đổi mô hình quản lí đã vận hành một thời gian dài trong “cơ chế bao cấp” sang phát huy mô hình quản trị thích ứng với “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Bài viết này hướng vào tìm câu trả lời cho câu hỏi về mô hình quản trị một nhà trường thích ứng với “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” có những đặc điểm gì và làm thế nào để vận hành mô hình đó trong thực tiễn GD ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay. Phương pháp nghiên cứu Từ khi Nghị quyết số 29- NQ/TW về “đổi mới căn bản toàn diện giáo dục…” ra đời đã có nhiều văn bản chỉ đạo đề cập đến vấn đề “đổi mới quản trị nhà trường” phù hợp với yêu 1 Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội; Điện thoại: 0967685905; Email: haihoahieu2018@gmail.com.
  2. 390 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ NHẤT VỀ ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN cầu mới, tuy nhiên trên thực tế, nhiều CBQL nhà trường đang lúng túng về nội dung và cách thức đổi mới này. Chúng tôi điều tra nhận thức của CBQL nhà trường về một số nội dung liên quan đến vấn đề nêu trên (điều tra thông qua các lớp bồi dưỡng CBQL nhà trường của dự án Phát triển THPT 2 Bộ Giáo dục và Đào tạo). Các câu hỏi chúng tôi điều tra được trình bày dưới đây: 1. Nội dung của khuyến cáo “chuyển mạnh từ cách quản lí nặng hành chính sang coi trọng quản lí chất lượng” ở các cơ sở GD. 2. Phân biệt sự giống nhau và khác nhau khi nói về khái niệm quản lí và quản trị nhà trường. 3. Vì sao khi thực hiện nội dung “đổi mới căn bản, toàn diện GD” các cơ sở GD phải coi trọng quản trị nhà trường hiệu quả. 4. Biện pháp và quy trình tạo động lực cho GV và HS để thực hiện có kết quả yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. 5. Cách xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, dân chủ, phòng, chống bạo lực học đường ở nhà trường. 6. Quản trị hoạt động dạy học, giáo dục học sinh theo tinh thần đổi mới, đặc biệt chuyển từ GD có tính áp đặt, dạy học coi trọng mục tiêu kiến thức sang dạy học hướng vào mục tiêu hình thành và phát triển năng lực cho HS phải có cách thức đánh giá GV mới. 7. Mô hình quản trị một nhà trường thích ứng với “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” có những đặc điểm gì và làm thế nào để vận hành mô hình đó trong thực tiễn GD ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay. 8. Đối tượng và kết quả khảo sát nhận thức của CBQL nhà trường trước yêu cầu đổi mới GD hiện nay. Đối tượng điều tra là CBQL ở 27 địa phương phân bổ trên mọi vùng, miền của Việt Nam. Sau khi loại bỏ các phiếu không đạt yêu cầu do bỏ trống câu hỏi (không đánh dấu vào ô nào cả), chúng tôi đã thu được 671 phiếu, với các tỉ lệ ở các địa phương cụ thể sau: Trung bình số lượng tham gia khảo sát phân bố khá đồng đều trong khoảng từ 20-25 CBQL nhà trường ở mỗi địa phương (có 1 địa phương có số phiếu triều tra thu được gần 60). Khảo sát về nhận thức của CBQL nhà trường về một số nội dung liên quan đến đổi mới quản trị nhà trường trước yêu cầu đổi mới GD hiên nay. Kết quả khảo sát, trung bình khoảng 60% đến 80% đối tượng được khảo sát không hoặc chưa phân biệt khái niệm quản lí hay quản trị nhà trường và cho rằng đó là ngôn ngữ của những nhà nghiên cứu. Có từ khoảng 12% đến 40% khách thể đánh dấu vào ô “không có ý kiến” vì họ cho rằng những vấn đề đặt ra chưa có nhận thức thấu đáo nên không muốn trả lời “đã biết” hay “chưa biết”. Đặc biệt câu hỏi số 7: “Mô hình quản trị một nhà trường thích ứng với “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” có những đặc điểm gì và làm thế nào để vận hành mô hình đó trong thực tiễn GD ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay”, 90% khách thể khảo sát đều đánh dấu vào ô “chưa biết”; 10% là “không có ý kiến”.
  3. Phần 3: TƯƠNG LAI CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC... 391 Biểu đồ 1: Số lượng đối tượng điều tra phân bố theo địa phương Vấn đề chuyển đổi mô hình quản lí đã vận hành một thời gian dài trong “cơ chế bao cấp” sang phát huy mô hình quản trị thích ứng với “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” cần được nghiên cứu, giải đáp. 1. Nội dung vấn đề Để thực hiện yêu cầu “Chuyển mạnh từ quản lí giáo dục, quản lí nhà trường nặng tính hành chính sang coi trọng quản lí chất lượng (QLCL)…” đã đề cập trong Nghị quyết 29/NQ- TƯ về “đổi mới căn bản toàn diện giáo dục….” và tìm hiểu về mô hình quản trị nhà trường thích ứng với “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” cần thiết phải nhận diện một số vấn đề, có thể kể ra 2 vấn đề sau: Đặc điểm của quản lí các cơ sở GD trong “cơ chế bao cấp” Trong “cơ chế bao cấp” quá coi trọng sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động cụ thể của các cơ sở GD vì vai trò, trách nhiệm của nhà nước là bao trùm, nên quản lí ở các cơ sở GD cũng nặng “tính hành chính” và được bao cấp mọi nguồn lực, coi trọng việc tuân thủ chỉ đạo từ các cấp quản lí là “bùa hộ mệnh” cho sự phát triển, đồng thời với sự tự chủ không cao là tính chịu trách nhiệm cũng rất thấp. Nhiều vấn đề liên quan đến quản trị nhà trường CBQL chưa được tiếp cận như khái niệm “dịch vụ sự nghiệp công” còn xa lạ và các cơ sở GD, mới chỉ được hiểu là sự vận hành theo quan điểm “phục vụ yêu cầu của nhà nước và của nhân dân” chung chung. Đặc điểm của quản lí các cơ sở GD trong “cơ chế bao cấp” có thể tóm tắt ngắn gọn là “tuân theo” và “xin- cho”; chưa coi trọng đúng mức tính tự chủ và tính chịu trách nhiệm (hay trách nhiệm giải trình) của các cơ sở GD. Vì vậy, để thích ứng với yêu cầu đổi mới GD phải chuyển sang mô hình “quản trị nhà trường” một cách hiệu quả, phù hợp với “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
  4. 392 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ NHẤT VỀ ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN 2. Đặc điểm mô hình quản trị cơ sở GD thích ứng với “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Trong “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” GD nói chung và các cơ sở GD nói riêng trở thành “dịch vụ sự nghiệp công” và từ “phục vụ” chung chung chuyển sang chữ “dịch vụ” và quản lí, điều hành GD nói chung, các cơ sở GD nói riêng đã chuyển dịch sang nội hàm mới. Tính “dịch vụ” buộc các nhà quản lí các cơ sở GD phải “cân đong, đo dếm” các kết quả so với các chi phí hay nói cách khác lời giải của bài toán “chi phí-lợi ích” luôn được coi trọng và cách thức quản lí đổi với nhà trường và quản lí nội bộ nhà trường cần phải có những thay đổi. Mặc dù chức năng cơ bản của GD vẫn là “đáp ứng các nhu cầu cơ bản về phát triển của con người” thông qua việc cung cấp “hàng hóa phi hiện vật” do nhà nước điều tiết nhưng sẽ xuất hiện khái niệm “khách hàng” (người được cung ứng dịch vụ) và những “người có lợi ích liên đới” (Stakeholders). Tuy nhiên các cơ sở GD sẽ gặp nhiều thách thức về văn hóa quản lí cũng như năng lực để có thể thực hiện được “tự chủ và trách nhiệm giải trình” khi nhà nước thay đổi cơ chế quản lí GD. Vấn đề chuyển đổi mô hình quản lí đã vận hành một thời gian dài trong “cơ chế bao cấp” sang phát huy mô hình quản trị thích ứng với “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” cần một số nhận thức mới và hành động phù hợp với yêu cầu của “quản trị nhà trường hiệu quả”. Để có thể chuyển đổi thành công mô hình, cần nhận diện và hiểu đúng bản chất của một số khái niệm đang được sử dụng trong điều hành các cơ sở GD. Có thể kể ra đây nội dung của 3 điểm liên quan sau: Quản lí và quản trị nhà trường Từ Managerment trong tiếng Anh có người dịch là quản lí (quản lí nhà nước; quản lí giáo dục,…), có người dịch là quản trị (quản trị kinh doanh, quản trị doanh nghiệp,…). Với góc nhìn này quản lí và quản trị khi dùng vào cho thiết chế nhà trường về bản chất không có sự phân biệt rõ ràng, nếu đặt vấn đề cần phân biệt thì cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Hiện nay một số tài liệu nước ngoài khi nói đến quản trị cũng dùng từ Administration hoặc Governance để phân biệt qua hình thức dùng từ khi vận dụng khái niệm trên vào quản lí GD và quản lí nhà trường. Khi nói về từ Managerment khi dịch sang tiếng Việt, quản lí hay quản trị có nội hàm nhận diện qua một số khía cạnh giống nhau như sau: Đều là quá trình tác động có ý thức để thực hiện mục tiêu phát triển một tổ chức nào đó thông qua huy động và sử dụng các nguồn lực. Đều có đối tượng tác động là con người và công việc của đơn vị (ở các cơ sở GD thì đó là đội ngũ GV, HS và hoạt động dạy học, giáo dục), đều thông qua các chức năng quản lí để tiến hành các hoạt động xây dựng các định hướng, quy định, kế hoạch hoạt động, để phát triển một đơn vị theo sứ mạng, tầm nhìn và mục tiêu của tổ chức. Người thực hiện chức năng quản lí hay quản trị (Managerment) một cơ sở GD phải trả lời các câu hỏi sau: - Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của một cơ sở GD cần phải làm những việc gì hay triển khai những hoạt động nào; những việc đó khi nào làm và khi nào phải kết thúc; những
  5. Phần 3: TƯƠNG LAI CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC... 393 điều kiện, nguồn lực cần thiết cho các hoạt động đó như thế nào; các kết quả mong đợi của các hoạt động; các biện pháp cần áp dụng khi triển khai các hoạt động?.... - Những việc đó ai sẽ là người chịu trách nhiệm chính và ai là người phối hợp, cơ chế phối hợp phải như thế nào; Các bước để thực hiện các hoạt động đó? - Cần hướng dẫn, điều chỉnh hoặc hỗ trợ cho những người thực hiện các công việc được giao hoặc được ủy quyền như thế nào; cần tạo động lực cho những người thực hiện như thế nào để hoạt động đề ra đi đến đích đã định một cách hiệu quả nhất? - Những tiêu chí, yêu cầu cụ thể nào cần đặt ra để đánh giá kết quả đạt được của hoạt động sẽ triển khai; quy trình tiến hành kiểm tra, đánh giá các hoạt động và kết quả các hoạt động thế nào là hợp lí; ai quyết định đánh giá kết quả hoạt động dựa trên mức độ đạt được các tiêu chí đã đề ra?… Tuy nhiên nếu cần phân biệt hai khái niệm này thì khi đề cập đến khái niệm quản lí hay quản trị có một số góc nhìn sau: Quản lí coi trọng quá trình dẫn đến kết quả: coi trọng mối quan hệ giữa con người và sự phối hợp con người khi thực hiện công việc và đặt trọng số vào việc làm thỏa mãn nhu cầu của con người trong tổ chức khi thực hiện nhiệm vụ nên khi nói quản lí là nhấn mạnh cơ chế phân cấp, phân quyền, phối hợp trong tổ chức, điều hành. Quản trị coi trọng kết quả đạt được: nhấn mạnh tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm, yêu cầu phải thực hiện đúng quy trình đảm bảo chất lượng sản phẩm để hoàn thành công việc một cách có chất lượng, hiệu quả; coi trọng tính kỷ luật. Như vậy khác nhau ở đây nằm ở “trọng số ưu tiên” cho khía cạnh nào khi triển khai các hoạt động tổ chức, điều hành thực hiện nhiệm vụ khi chuyển đổi mô hình quản trị ở một cơ sở GD. Phân bổ quyền lực cho cơ sở QTNT Đo lường đánh giá Tự chủ-tự chịu hiệu quả hoạt động trách nhiệm MÔ HÌNH QUẢN TRỊ MỘT CƠ SỎ GD TRONG ĐỔI MỚI QLGD Với quan điểm nêu trên, khi chuyển sang mô hình quản trị thích ứng với “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” cần nhận thức rõ hơn nội hàm của từ quản trị khi sử dụng cho mô hình quản trị một cơ sở GD. Về bản chất của quản trị, trong quyển sách “Tinh hoa của quản trị” của Peter F. Drucker [4] có viết: “Quản trị phải tập trung vào kết quả và
  6. 394 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ NHẤT VỀ ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN thành tích hoạt động của tổ chức”. Như vậy mô hình quản trị một cơ sở GD gắn với 3 vấn đề, đó là sự phân bổ quyền lực cho các cơ sở GD và trong nội bộ cơ sở GD, cách thức đo lường đánh giá hiệu quả công việc mà cơ sở GD đảm nhiệm và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở GD đó cũng như các thành viên tham gia hoạt động của cơ sở GD đó (Mô hình kiềng 3 chân trong quản trị một cơ sở GD): Có thể mô tả như sơ đồ sau: (2) Cách thức phân chia thẩm quyền hợp lí giữa các chủ thể quản lí cơ sở GD bao gồm: Nhà nước, nhà trường, thị trường và xã hội Nhà nước phải xây dựng được thể chế rõ ràng, minh bạch có tính kiến tạo cho việc vận hành các cơ sở GD; Nhà trường được giao quyền tự chủ thực hiện các hoạt động theo sứ mệnh được nhà nước và xã hội giao phó; Thị trường sẽ tạo ra động lực cho việc “cạnh tranh lành mạnh” trong quá trình vận hành các hoạt động GD theo sứ mệnh của cơ sở GD đã được nhà nước và xã hội công nhận; Xã hội tham gia thông qua phản biện và đánh giá kết quả hoạt động GD và hiệu quả mà cơ sở GD đó mang lại. Để đổi mới cơ chế quản lí giáo dục hiện nay, Nhà nước đã và đang tăng cường cơ chế phân cấp, phân quyền, giám sát và yêu cầu giải trình. Quản lí giáo dục hiện nay cần thực hiện cơ chế “quản lí dựa vào nhà trường”, tức là nhà trường được tự chủ theo qui định của pháp luật và tự chịu trách nhiệm xã hội, đồng thời coi trọng giám sát và kiểm định, dân chủ và công khai. Đối với quản lí ở các nhà trường thì phải quản lí theo quan điểm “lấy giáo viên và người học làm trung tâm”, bảo đảm sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội với mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng và hiệu quả GD. Trong mô hình quản trị cơ sở GD mới khái niệm “cơ quan chủ quản” mang tính hành chính, áp đặt dần được thay bằng cách thức tổ chức bộ máy lãnh đạo, trách nhiệm của bộ máy, sự phân chia quyền lực giữa bộ máy với đội ngũ được thể hiện thông qua một thiết chế quyền lực của cơ sở GD đó là “Hội đồng trường”. Thẩm quyền cao nhất về việc ra quyết định thuộc về hội đồng trường, Hiệu trưởng là người được hội đồng trường tuyển chọn. Hội đồng trường phải là cơ quan quyền lực cao nhất đối với một cơ sở GD, nó quyết định những vấn đề lớn của nhà trường liên quan đến chiến lược phát triển, tổ chức bộ máy, phân bổ nguồn lực cho các hoạt động. (3) Nâng cao năng lực quản trị của các cơ sở GD và nhà trường, đổi mới cách đánh giá kết quả của và trong nhà trường. Nói đến nâng cao năng lực quản trị của các cơ sở GD và nhà trường là nói đến cách thức bồi dưỡng cho đội ngũ CBQLNT tổ chức bộ máy quản trị nội bộ nhà trường tinh gọn và hiệu lực, điều này cũng liên quan đến sự phân chia quyền lực giữa bộ máy với đội ngũ chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi sứ mệnh của cơ sở GD đó và khả năng điều hành hiệu quả nhà trường trước những yêu cầu mới của XH nói chung, của đổi mới GD nói riêng. Điều đó hàm ý là chuyển dần từ việc coi trọng mối quan hệ thứ bậc và sự phối hợp thụ động giữa con người với nhau khi thực hiện công việc sang coi trọng hơn tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở GD và của đội ngũ thực thi nhiệm vụ trong cơ sở GD đó, yêu cầu phải thực hiện đúng quy trình thủ tục của việc đảm bảo chất lượng GD và hoàn thành công việc một cách có chất lượng, hiệu quả, tạo điều kiện cho nhà trường và GV được chủ động
  7. Phần 3: TƯƠNG LAI CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC... 395 trong việc thực hiện sứ mạng của mình. Với một nhà trường, trong Thông tư số 14/2018/TT- BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [3], quy định Chuẩn hiệu trưởng các cơ sở giáo dục phổ thông, quản trị nhà trường được định nghĩa theo góc nhìn của lí thuyết hoạt động: “Quản trị nhà trường là quá trình xây dựng các định hướng, quy định, kế hoạch hoạt động trong nhà trường; tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục học sinh thông qua huy động, sử dụng các nguồn lực, giám sát, đánh giá trên cơ sở tự chủ, có trách nhiệm giải trình để phát triển nhà trường theo sứ mạng, tầm nhìn và mục tiêu giáo dục của nhà trường” [3]. Trong mô hình quản trị cơ sở GD đáp ứng yêu cầu đổi mới GD hiện nay cần chú trọng đến những nội dung hoạt động sau:. - Tổ chức xây dựng kế hoạch phát triển nhà trường trên cơ sở tự chủ, có trách nhiệm giải trình. - Quản trị hoạt động dạy học, giáo dục học sinh chú trọng chuyển từ GD có tính áp đặt, dạy học coi trọng mục tiêu kiến thức sang phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh, dạy học hướng vào mục tiêu hình thành và phát triển năng lực HS. - Quản trị nhân sự nhà trường theo hướng tăng tính chủ động, sáng tạo của GV, coi trọng việc tạo động lực cho người dạy và người học. - Quản trị tổ chức, hành chính nhà trường theo hướng coi trọng phân công, ủy quyền trên cơ sở “bản mô tả công việc”. - Quản trị tài chính nhà trường với việc đa dạng hóa nguồn lực và sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. - Quản trị cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ trong dạy học, giáo dục học sinh của nhà trường trên cơ sở coi trọng khả năng sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ cho việc nâng cao chất lượng GD và dạy học. - Quản trị chất lượng giáo dục trong nhà trường trên cơ sở coi trọng tự đánh giá mức độ đạt được chất lượng và chủ động tham gia quá trình kiểm định chất lượng nhà trường, sử dụng kết quả tự đánh giá và kiểm định để cải tiến chất lượng nhà trường. - Chú trọng xây dựng được môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, dân chủ, phòng, chống bạo lực học đường. Đánh giá kết quả nhà trường và năng lực của hiệu trưởng phải dựa trên các tiêu chuẩn, tiêu chí công khai và bám sát các yêu cầu trên. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và năng lực của giáo viên phải dưa trên các tiêu chuẩn, tiêu chí bám sát các yêu cầu của chuẩn GV vừa mới ban hành. 3. Một số giải pháp cho vận hành mô hình quản trị trong điều kiện đổi mới GD 3.1. Tạo môi trường cho việc cạnh tranh lành mạnh giữa các thiết chế thực hiện sự nghiệp GD&ĐT Khi chuyển đổi mô hình quản trị cơ sở GD sẽ đối mặt với một số vấn đề mới. Theo tinh thần của NQ 19/NQ-TƯ ngày 25 tháng 10 năm 2017 khuyến khích “xã hội hóa dịch
  8. 396 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ NHẤT VỀ ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN vụ công”, với lĩnh vực GD là “xã hội hóa sự nghiệp GD” và cùng với sự xuất hiện của “cơ chế thị trường” sẽ xuất hiện nhiều cơ sở tham gia “dịch vụ công” trong lĩnh vực GD và khi đã có sự cạnh tranh trong cung cầu thì sẽ xuất hiện một số vấn đề mà trước đó chưa xuất hiện rõ. Nếu cạnh tranh lành mạnh thì cạnh tranh bằng chất lượng và hiệu quả đạt được bởi các cơ sở GD trong việc thực hiện sứ mệnh của các cơ sở GD và lợi ích nó mạng lại cho những người liên đới. Tuy nhiên, một khi thi trường ở giai đoạn chuyển đổi có những yếu tố có thể dẫn đến “cạnh tranh không lành mạnh” thông qua “mối quan hệ” hay “không theo quy luật giá trị” dẫn đến sự méo mó trong vận hành và trong cung cấp thông tin, sẽ làm mất niềm tin của xã hội đối với các cơ sở GD. Trong “cơ chế thị trường” và bỏ bao cấp, việc “xin-cho” cũng dần bị loại bỏ, nguồn lực nói chung và tài chính cho hoạt động nói riêng các cơ sở GD phải tự khai thác và hoạch toán. Khi coi trọng tính “hiệu quả” một số cơ sở GD có thể quan tâm đến lợi ích và hơn thế nữa là lợi nhuận (đối với các cơ sở GD ngoài công lập). Tuy nhiên cho dù coi trọng “hiệu quả” thì cũng không thể thương mại hóa hoạt động GD; hiệu quả ở đây được đo thông qua mức độ thực hiện mục tiêu, sứ mệnh của nhà trường và kết quả GD của nhà trường đạt được so với nguồn lực mà nhà trường có. Trong cơ chế “tự chủ và tự chịu trách nhiệm” và phải hoạch toán thu-chi; trong điều kiện “giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách được cấp” nhiều cơ sở GD sẽ lợi dụng các quy định tự chủ để tăng các khoản thu hay huy động nguồn lực từ xã hội. Vấn đề nêu trên trong thực tế có thể nhận diện thông qua tính công khai, minh bạch trong việc giải trình các khoản thu-chi và hạch toán và chất lượng GD mà cơ sở GD đó đạt được. Như vậy dù ở mô hình quản lí hay quản trị nhà trường nào thì nhà trường vẫn phải bị chi phối bởi các chính sách phát triển GD của quốc gia và các CBQL nhà trường cần phải nắm vững chủ trương, đường lối phát triển GD và nhà trường. Để thực hiện được nội dung nêu trên, nhà nước phải tạo lập cơ chế “tự chủ và trách nhiệm giải trình”, đồng thời tạo điều kiện cho các cơ sở GD thực hiện được chủ trương đó với sự giám sát và kiểm định khách quan. Nhà nước cần quy định rõ phạm vi và mức độ tham gia “dịch vụ GD” cho các loại hình cơ sở GD khác nhau với các yêu cầu cụ thể và có chế tài rõ ràng đối với các vi phạm. Những cơ sở GD kém hiệu quả theo quan điểm “quản trị cơ sở” có thể phải sát nhập, thậm chí là giải thể. Tạo lập hành lang pháp lí minh bạch cho “cạnh tranh lành mạnh” giữa các thiết chế tham gia “dịch vụ GD” và bắt buộc mọi cơ sở GD (công lập hay ngoài công lập) phải công khai minh bạch kết quả và chất lượng sản phẩm GD do mình tạo nên; bắt buộc phải tham gia kiểm định chất lượng và công khai kết quả kiểm định cho xã hội nói chung và những người có lợi ích liên đới nói riêng biết và giám sát. Cần phát huy vai trò giám sát của người dân trong quá trình chuyển đổi mô hình quản trị ở các cơ sở GD. 3.2. Chú trọng công tác bồi dưỡng năng lực quản trị cho đội ngũ CBQLNT để họ có thể thực hiện được những nội dung theo yêu cầu quản trị nhà trường Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [3], quy định Chuẩn hiệu trưởng các cơ sở giáo dục phổ thông đã nhấn mạnh để đáp ứng yêu cầu đổi mới GD các hiệu trưởng cần biết cách và làm tốt các nội dung như: i) Tổ chức xây dựng kế hoạch phát triển nhà trường trên cơ sở tự chủ, có trách nhiệm giải trình; ii) Quản
  9. Phần 3: TƯƠNG LAI CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC... 397 trị hoạt động dạy học, giáo dục học sinh chú trọng chuyển từ GD có tính áp đặt, dạy học coi trọng mục tiêu kiến thức sang phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh, dạy học hướng vào mục tiêu hình thành và phát triển năng lực HS; iii) Quản trị nhân sự nhà trường theo hướng tăng tính chủ động, sáng tạo của GV, coi trọng việc tạo động lực cho người dạy và người học; iv) Quản trị tổ chức, hành chính nhà trường theo hướng coi trọng phân công, ủy quyền trên cơ sở “bản mô tả công việc”; v) Quản trị tài chính nhà trường với việc đa dạng hóa nguồn lực và sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường; vi) Quản trị chất lượng giáo dục trong nhà trường trên cơ sở coi trọng tự đánh giá mức độ đạt được chất lượng và chủ động tham gia quá trình kiểm định chất lượng nhà trường, sử dụng kết quả tự đánh giá và kiểm định để cải tiến chất lượng nhà trường; vii) Chú trọng xây dựng được môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, dân chủ, phòng, chống bạo lực học đường. Cần phát triển một đội ngũ CBQLNT dám nghĩ, dám làm, biết phát huy sức mạnh của CNTT và các mối liên kết xã hội và huy động các bên liên quan cho việc đa dạng hóa các hoạt động GD của nhà trường, hướng tới mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực cho sản phẩm GD theo yêu cầu của nghị quyết 29 của trung ương về “đổi mới căn bản, toàn diện GD…” và đáp ứng mong đợi của xã hội về một nền GD chất lượng, hiệu quả. Những điều nêu trên không cần bàn cãi nhưng làm sao biến các nội dung nêu trên thành chương trình bồi dưỡng để đội ngũ CBQLNT nói chung và HT nói riêng không chỉ biết làm mà làm có hiệu quả và lan toả ngay tác dụng cho đổi mới hoạt động nhà trường và vận hành nhà trường theo tinh thần của mô hình quản trị nhà trường hiệu quả vẫn là một bài toán khó. Vì giới hạn của bài viết, vấn đề này chúng tôi xin phép trình bày ở một bài viết khác cũng cho hội thảo này. Kết luận Một trong những bài học kinh nghiệm về đổi mới quản trị các cơ sở GD mà nhiều nước đã tổng kết là cần phải tạo lập môi trường thuận lợi cho: a) Đổi mới về nhận thức và sự đồng thuận xã hội về sự cần thiết phải thay đổi mô hình quản trị đối với các cơ sở GD để thực hiện “dịch vụ sự nghiệp công”. b) Hoàn thiện thể chế ở cả cấp độ nhà nước và cấp độ ngành tạo khung pháp lí cho tiến trình đổi mới phù hợp với văn hóa và mức độ phát triển GD ở từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của đất nước. c) Nâng cao năng lực quản lí cho cán bộ ở cấp độ hệ thống và cấp cơ sở để có đủ phẩm chất và năng lực thực hiện các nội dung đổi mới, phù hợp với yêu cầu của chuyển đổi mô hình quản lí theo cơ chế cũ sang mô hình quản lí theo cơ chế mới. Một vài nội dung trao đổi trong bài viết này đã đề cập đến các vấn đề chuyển đổi mô hình quản trị các cơ sở GD và nhà trường theo yêu cầu của NQ 29/NQ-TƯvề “đổi mới căn bản, toàn diện GD…” đã đề ra.
  10. 398 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ NHẤT VỀ ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN Tài liệu tham khảo 1. Nghị quyết 19/NQ-TƯ về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lí nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. 2. Bộ Nội vụ. Tài liệu bồi dưỡng chuyên viên cao cấp. 2014. 3. Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuẩn nghề nghiệp của hiệu trưởng các trường phổ thông. 4. Peter F. Drucker (2008); “Tinh hoa của quản trị”. NXB Trẻ. 5. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên cao cấp hạng 1. 2018. 6. Đặng Xuân Hải và cộng sự (2018); “Năng lực thích ứng của CBQL nhà trường trong bối cảnh đổi mới GD”. NXB Giáo dục Việt Nam.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2