intTypePromotion=1

Mô hình xây dựng nhà nước phúc lợi xã hội ở Thụy Điển và bài học cho Việt Nam - Mai Huy Bích

Chia sẻ: Huynh Thi Thuy | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:0

0
236
lượt xem
23
download

Mô hình xây dựng nhà nước phúc lợi xã hội ở Thụy Điển và bài học cho Việt Nam - Mai Huy Bích

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo nội dung bài viết "Mô hình xây dựng nhà nước phúc lợi xã hội ở Thụy Điển và bài học cho Việt Nam" trình bày về tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, vài nét về nhà nước phúc lợi và hệ thống an sinh xã hội ở Thụy Điển, phát triển xã hội và hệ thống an sinh xã hội ở Thụy Điển, từ đó đưa ra những bài học và kiến nghị cho Việt Nam,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Mô hình xây dựng nhà nước phúc lợi xã hội ở Thụy Điển và bài học cho Việt Nam - Mai Huy Bích

Xã hội học số 1 (113), 2011 3<br /> <br /> MÔ HÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÚC LỢI XÃ HỘI<br /> Ở THỤY ĐIỂN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM<br /> <br /> MAI HUY BÍCH∗<br /> <br /> <br /> Từ thế kỷ XX, phát triển ñã trở thành không chỉ mục ñích phấn ñấu của nhiều<br /> quốc gia trên thế giới, mà cũng là tiêu chuẩn ñể ñánh giá và phân loại họ với nhau.<br /> Không phải ngẫu nhiên người ta chia thế giới thành hai loại: các nước ñã phát triển<br /> và các nước ñang phát triển. Tuy nhiên quan niệm về phát triển ñã và ñang thay ñổi<br /> sâu sắc kể từ nửa sau thế kỷ XX sang ñầu thế kỷ XXI: từ chỗ chú trọng nâng cao thu<br /> nhập và mức sống (phát triển dưới góc ñộ kinh tế), nhiều nước ngày càng nhấn mạnh<br /> chất lượng sống và quan hệ con người (sự phát triển về mặt xã hội). Thụy ðiển là một<br /> trong số những nước ñã ñạt ñược thành tựu nổi bật về sự kết hợp phát triển kinh tế<br /> với phát triển xã hội. Bài viết này xin giới thiệu vài nét về mô hình phát triển xã hội<br /> của Thụy ðiển và ñôi ñiều suy ngẫm về những bài học rút ra cho Việt Nam. Nhưng<br /> trước hết chúng ta hãy xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã<br /> hội**.<br /> I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI<br /> Người ta phân biệt phát triển xã hội với phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế<br /> (hay cũng gọi là tăng trưởng kinh tế) với những khái niệm như thị trường, cung và<br /> cầu v.v. thì ñặt mục tiêu là gia tăng sản xuất, nâng cao thu nhập và mức sống, thể<br /> hiện qua các chỉ số như GDP. Trong khi ñó, phát triển xã hội nhằm mục tiêu công<br /> bằng, chất lượng sống và hạnh phúc của con người, và ñể ñạt mục tiêu ñó, nó mang<br /> tính chất tái phân phối hàng hóa, của cải và dịch vụ. ðịnh nghĩa sau ñây gần hơn với<br /> cách hiểu ñó: “Phát triển xã hội là một quá trình dẫn ñến sự biến chuyển cơ cấu xã hội<br /> theo một cách thức cải thiện năng lực ñể xã hội thực hiện khát vọng của mình”<br /> (http://en.wikipedia.org/wiki/social_development; truy cập ngày 7/6/2010).<br /> Suốt một thời kỳ dài (cho ñến tận gần ñây) nhiều người vẫn nhấn mạnh chỉ riêng<br /> tăng trưởng kinh tế, thậm chí lẫn lộn và ñồng nhất tăng trưởng với phát triển. Tăng<br /> trưởng kinh tế là “nền tảng cơ bản ñối với những mô hình có ảnh hưởng nhất của tư<br /> duy phát triển” (Kabeer, 1994:74). Những người biện hộ cho sự tăng trưởng kinh tế<br /> lập luận rằng nếu không tăng trưởng, thì sẽ không thể nào ñạt ñược sự phát triển theo<br /> nghĩa rộng về hạnh phúc con người. Tất nhiên họ thừa nhận rằng sự tăng trưởng kinh<br /> tế là một phương tiện hơn là mục ñích tự thân, nhưng họ có xu hướng coi việc ñạt ñược<br /> sự tăng trưởng kinh tế là ưu tiên thứ nhất. Một khi ñã ñạt ñược ñiều này rồi thì mới<br /> cần những biện pháp tái phân phối bổ sung ñể ñảm bảo rằng nó phục vụ mục tiêu thật<br /> <br /> ∗<br /> PGS.TS. Viện Xã hội học<br /> ** Bài viết là một trong những chuyên đề được tác giả viết cho đề tài cấp Bộ "Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thế giới về phát<br /> triển và quản lý xã hội" thuộc Chương trình nghiên cứu năm 2009 - 2010 của Viện Xã hội học "Mô hình tổng quát về phát<br /> triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở nước ta hiện nay".<br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> 4 M« h×nh x©y dùng nhµ n−íc phóc lîi...<br /> <br /> sự của phát triển - ñó là nâng cao hạnh phúc của con người và mở rộng sự lựa chọn.<br /> Thật không may là sự tách rời phương tiện với mục ñích này - một ñặc ñiểm nổi bật<br /> của kiểu tư duy kinh tế ñược gọi là tự do chủ nghĩa - ñã cho phép tư duy ñó chú ý<br /> nhiều hơn ñến tỉ lệ (rate) tăng trưởng kinh tế hơn là mô hình (pattern) của nó. Do ñó<br /> những biện pháp tái phân phối không bao giờ ñược nghiêm túc thực thi hoặc ở cấp ñộ<br /> quốc gia hoặc quốc tế. Như vậy, người ta ñã lẫn lộn mục tiêu với phương tiện, tăng<br /> trưởng với phát triển. Tình trạng quá mải mê duy trì những ñiều kiện cho tăng trưởng<br /> kinh tế ñó khiến người ta không còn sức và nguồn lực ñể tái phân phối nhằm ñáp ứng<br /> nhu cầu của tất cả mọi người. Thay vào ñó, người ta theo ñuổi sự tăng trưởng kinh tế<br /> nhằm những mục ñích chẳng mấy liên quan ñến công bằng (equity). Người ta trì hoãn<br /> sự tái phân phối với ñủ mọi cớ khác nhau: vì bất bình ñẳng kinh tế ñược coi là cần<br /> thiết ñể tạo ra xung lực khuyến khích con người, vì ñất nước cần xây dựng nền công<br /> nghiệp nội ñịa hay sức mạnh quân sự, hay ñơn giản vì các nhóm cầm quyền coi sự<br /> phân phối hiện hành là ñã ñủ công bằng rồi.<br /> Nhiều học giả, ñặc biệt các nhà kinh tế học, cho rằng thị trường và cuộc cạnh<br /> tranh trên thị trường là hoàn hảo. Cụ thể hơn, có ñông ñảo người mua kẻ bán (“nghìn<br /> kẻ bán, vạn người mua” như một câu thành ngữ Việt Nam ñã nói), và không ai có thể<br /> gây tác ñộng cá nhân ñến quá trình ñịnh giá thị trường. Người ta cho rằng sự cạnh<br /> tranh hoàn hảo sẽ ñảm bảo rằng cung và cầu vốn có xu hướng nội tại là thích nghi với<br /> nhau. Sự cạnh tranh cũng lý giải mối quan hệ giữa các thị trường: tất cả mọi sản phẩm<br /> ñều phải cạnh tranh với nhau ñể giành thị phần trong sức mua hữu hạn của người tiêu<br /> dùng, và tất cả mọi nhà sản xuất ñều phải cạnh tranh với nhau ñể giành khả năng tiếp<br /> cận số lượng ít ỏi các nguyên vật liệu, máy móc, lao ñộng và vốn ñầu tư. Khi ấy quá<br /> trình cạnh tranh sẽ trừng phạt những ai (cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng) không<br /> tính toán hợp lý bằng cách ñào thải họ ra khỏi thị trường (Scott and Marshall,<br /> 2005:381) (nói theo tiếng Việt là “khôn sống, mống chết”).<br /> Tuy nhiên, nhiều nhà xã hội học ñã vạch ra, quan niệm thị trường theo nghĩa<br /> kinh tế học thuần túy như trên là sai lầm. Thực tế thị trường có nhiều khiếm khuyết<br /> và bất lợi rất rõ ràng. Ví dụ thị trường có xu hướng ñi theo những chu kỳ thương mại<br /> (trade - cycles) trong ñó có những thời khoảng mà các nguồn lực không ñược sử dụng<br /> hết. Trong trường hợp nguồn lao ñộng, ñiều ñó nghĩa là ñẻ ra tình trạng thất nghiệp,<br /> và việc này ñe dọa giảm mức sống. ðến lượt mình, ñiều ñó có nhiều tác ñộng không<br /> chỉ về mặt kinh tế mà cả về xã hội. Hơn thế nữa, một thị trường không kiểm soát sẽ<br /> tạo ra nhiều sản phẩm và kết quả không ñáng mong muốn (như ô nhiễm môi trường).<br /> Chưa hết, như một học giả ñã diễn ñạt rất hay, “thị trường không hề có ñạo ñức” (Scott<br /> and Marshall, 2005:382) mà ví dụ cụ thể là việc sản xuất ra vũ khí, tình trạng vì lợi<br /> nhuận mà bất chấp sức khỏe và tính mạng người tiêu dùng, rồi khả năng tiếp cận sự<br /> chăm sóc y tế cũng như giáo dục và sản phẩm nghệ thuật v.v. ñều hoàn toàn bị chi<br /> phối bởi mức nhu cầu về chúng. Trong khi ñó, hầu hết các xã hội ñều có những hệ<br /> thống giá trị vốn không hoàn toàn trùng khớp với thị trường và không tuân theo sự<br /> vận hành vô ñạo ñức của thị trường, do ñó nhiều khi kết cục của thị trường lại là không<br /> chấp nhận ñược về mặt xã hội. Như vậy, sự phát triển kinh tế và thị trường không phải<br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> Mai Huy Bích 5<br /> <br /> bao giờ và không phải ở ñâu cũng tạo ra sự phồn vinh, nâng cao mức sống. Trái lại,<br /> nhiều lúc nhiều nơi nó gây ra bất bình ñẳng và bất công xã hội.<br /> Thực tiễn ñó cho thấy sự tăng trưởng kinh tế không giải quyết ñược những vấn<br /> ñề của sự phát triển. Những khó khăn về chính trị và xã hội tiếp tục vây quanh cả<br /> những nước có GDP ñang gia tăng lẫn những nước trì trệ hay có tỉ lệ tăng trưởng sụt<br /> giảm. Như nhận xét xác ñáng của một học giả, những ñau khổ lớn lao của mấy thập kỷ<br /> vừa qua là một sự nhắc nhở mới mẻ và bức thiết rằng sự phát triển theo nghĩa tốt ñẹp<br /> nhất của nó phải là về sự phát triển niềm hạnh phúc (well - being) và tính sáng tạo của<br /> tất cả mọi thành viên trong xã hội. Người nghèo sở dĩ nghèo chính vì họ không có các<br /> phương tiện ñể sống cuộc sống lành mạnh, tích cực và an toàn. Họ nghèo vì họ phải<br /> dốc sức chạy cho hết thứ tài sản duy nhất mà họ có - tức cơ thể họ. Một sự phát triển<br /> “ngược lại”, xuất phát từ những ưu tiên cho người nghèo, sẽ ñặt cuộc sống con người và<br /> hạnh phúc con người ở hàng ñầu của quá trình lập kế hoạch sao cho “phương tiện” của<br /> quá trình phát triển ñược ñánh giá dưới góc ñộ ñóng góp của nó cho mục tiêu này. Tất<br /> cả mọi nỗ lực của con người, dù là quan tâm ñến sản xuất hay dịch vụ, vật thể hay phi<br /> vật thể, ñều ñược ñánh giá ở mức ñộ nó dẫn tới thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của con<br /> người hay ñảm bảo sự thỏa mãn trong tương lai. Như thế, những hoạt ñộng có giá trị<br /> nhất là hoạt ñộng liên quan ñến sự chăm sóc, nuôi dưỡng và hạnh phúc của cuộc sống<br /> con người (Kabeer, 1994:83).<br /> Nếu lấy tiêu chuẩn của nền sản xuất là sự thỏa mãn nhu cầu của con người hơn<br /> là sự thực thi tính hợp lý trên thị trường, thì rõ ràng cần có quan ñiểm tổng thể hơn<br /> về phát triển. “Sự phát triển không còn ñược ño chỉ riêng bằng khối lượng hàng hóa và<br /> dịch vụ ñưa ra thị trường, mà bằng mức ñộ ñảm bảo hạnh phúc của con người. Những<br /> hoạt ñộng nào ñóng góp vào sức khỏe và niềm hạnh phúc của nhân dân sẽ ñược thừa<br /> nhận là hoạt ñộng sản xuất, bất kể nó ñược tiến hành trong lĩnh vực quan hệ riêng tư<br /> của sản xuất gia ñình, trong quan hệ thương mại của thị trường, hay trong quan hệ<br /> quan liêu của sản xuất nhà nước. Thị trường sẽ chỉ giữ vị trí của mình như là một<br /> trong nhiều cơ chế thể chế khác nhau ñể qua ñó ñáp ứng nhu cầu của con người, hơn<br /> là "thước ño" duy nhất về "giá trị" (Kabeer, 1994:84).<br /> Thật ra không có gì mới ở ý tưởng cho rằng chỉ một mình sự phát triển kinh tế<br /> thì không ñầy ñủ, vì hơn hai nghìn năm trước Aristotle ñã vạch ra sự tương phản giữa<br /> của cải (wealth) với sự hạnh phúc (well - being): “Rõ ràng của cải không phải là cái tốt<br /> mà chúng ta mưu tìm; vì nó chỉ ñơn thuần là hữu dụng và vì một ñiều gì khác nữa”<br /> (trích theo Sen, 2007:2). Theo tinh thần ñó, nhà kinh tế học ñoạt giải Nobel Amatya<br /> Sen ñã ñịnh nghĩa lại phát triển theo một nghĩa mang tính xã hội nhiều hơn. Trong<br /> cuốn sách “India: Development and Participation” (2002) (viết cùng với Jean Dreze)<br /> ông cho rằng phát triển là quá trình tăng cường tự do của con người, tập trung vào chất<br /> lượng sống và các cơ may xã hội (social opportunities) có liên quan, và chúng ñược coi<br /> vừa là phương tiện vừa là mục ñích của sự phát triển. Bằng việc chuyển trọng tâm từ<br /> thu nhập sang năng lực con người (human capacities) (mà nghèo khổ ñược ñịnh nghĩa<br /> là sự tước ñoạt năng lực), Sen và ñồng nghiệp ñã lái hướng chú ý sang bất bình ñẳng<br /> trong nội bộ các quốc gia và khu vực. Dù không phủ nhận mối quan hệ có thể tích cực<br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> 6 M« h×nh x©y dùng nhµ n−íc phóc lîi...<br /> <br /> giữa tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập và sinh kế (livelihood), nhưng Sen chứng<br /> minh rằng nhiều nước có chỉ số tăng trưởng kinh tế (cụ thể là GNP) cao, song những chỉ<br /> số về chất lượng sống lại cực kỳ tồi tệ. Trong khi ñó, các xã hội khác, thông qua hành<br /> ñộng chính trị và chính sách công, ñã ñạt ñược những thành tựu lớn lao về mặt chất<br /> lượng sống, mặc dù họ không có thành tựu kinh tế ñáng kể.<br /> Trong cuốn “Development and Freedom” (1999), dựa trên những nghiên cứu<br /> thực nghiệm phong phú, Sen chứng minh mối quan hệ tích cực giữa việc cải thiện<br /> quyền tự do và năng lực con người - nổi bật nhất là nền giáo dục cơ bản, y tế, quyền<br /> thông tin và sự tham gia mang tính dân chủ - với việc tăng trưởng kinh tế và phát<br /> triển. Tiếp ñó Sen nhấn mạnh những câu chuyện thành công của những quốc gia mà<br /> một nhà nghiên cứu (Fernando Fajyzylber) gọi là “những nước ñang công nghiệp hóa<br /> với sự công bằng” (growth - with - equity - industrializing countries) (Reifer, 2006:135).<br /> Ông cho rằng sự phát triển kinh tế chắc chắn là phương tiện quan trọng ñể ñạt<br /> ñược sự cải thiện về xã hội, “nhưng trước hết chúng ta phải phân biệt giữa một mặt là<br /> tầm quan trọng cơ bản của cuộc sống con người, và mặt khác là giá trị công cụ và phái<br /> sinh của sự giàu có về kinh tế vốn chỉ là phương tiện ñể thúc ñẩy ñời sống xã hội chứ<br /> tự thân chúng không có giá trị. Chúng ta có thể có lý do ñể mong muốn của cải, nhưng<br /> ñó chỉ vì nó "hữu dụng" trong việc làm cuộc sống của chúng ta tốt hơn, chứ không phải<br /> vì của cải tự thân nó là quan trọng. Cái rút cục quan trọng ñối với cuộc sống con<br /> người là tự do - và khả năng - ñể chúng ta sống cuộc sống mà chúng ta có lý do ñể<br /> sống” (Sen, 2007:2). Ông cũng nói thêm: “Chúng ta có mọi lý do ñể mong muốn sự<br /> tăng trưởng kinh tế, không phải vì bản thân nó, mà như Aristotle ñã nói, "vì một ñiều<br /> gì khác nữa", tức là cải thiện cuộc sống con người. Chúng ta phải nhìn xa hơn sự tiến<br /> bộ về kinh tế. ðây là nơi sự phát triển xã hội mang lại một nhãn quan ñầy ñủ hơn và<br /> sâu xa hơn là bản thân sự phát triển kinh tế có thể cung cấp” (Sen, 2007:3).<br /> II. VÀI NÉT VỀ NHÀ NƯỚC PHÚC LỢI VÀ HỆ THỐNG AN SINH XÃ<br /> HỘI CỦA THỤY ðIỂN<br /> ðể giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội,<br /> Thụy ðiển ñã chọn con ñường xây dựng một nhà nước phúc lợi (welfare state). ðiều<br /> ñó một mặt cho phép thị trường tự do phát huy sức mạnh của nó ñể mở mang sản<br /> xuất, nhưng mặt khác, cần ban hành và thực hiện những chính sách và tiến hành<br /> những biện pháp phân phối ñể bảo vệ mỗi thành viên trong xã hội trước các thế lực<br /> của thị trường.<br /> ðiều này là do một thực tế sau: Hầu như tất cả mọi người tham gia nền kinh tế<br /> thị trường ñều có thể mất năng lực kiếm tiền do sức khoẻ kém, tuổi già hay thất<br /> nghiệp. Tuy nhiên, khả năng này cũng không rõ ràng, khiến cho khó mà ñoán trước<br /> sự mất thu nhập hay tiềm năng tiết kiệm tương lai.<br /> Thực tế ñó ñòi hỏi phải có những cơ chế bảo vệ ñể con người ta vượt qua ñược rủi<br /> ro. Trong các xã hội tiền công nghiệp, việc bảo trợ trước rủi ro như vậy ñược phát triển<br /> thông qua gia ñình. Lý tưởng nhất là con cái và họ hàng hỗ trợ những bậc cha mẹ ñã<br /> <br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> Mai Huy Bích 7<br /> <br /> không còn có thể tự nuôi mình hay muốn nghỉ ngơi và ngừng vai trò người kiếm cơm.<br /> Như vậy, an sinh xã hội mang hình thức một hợp ñồng liên thế hệ giữa cha mẹ và con<br /> cái hay họ hàng khác, dựa trên cơ sở chuẩn mực về ñạo hiếu của con cái và sự kiểm<br /> soát tài sản của cha mẹ.<br /> Tuy nhiên, với sự giảm quy mô gia ñình, tăng sự di ñộng và công nghiệp hóa lao<br /> ñộng kèm theo sự chuyển ñổi về nhân khẩu và công nghiệp, thì những thành viên<br /> khác trong gia ñình - vốn không bao giờ thật sự là nguồn bảo trợ chắc chắn - lại càng<br /> trở nên kém ñáng tin cậy hơn. Cần có hệ thống an sinh xã hội mang tính tập thể ñể<br /> thay thế gia ñình.<br /> Với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản quy mô lớn ở cuối thế kỷ XIX và ñầu thế<br /> kỷ XX, nguy cơ thất nghiệp và bắt buộc phải về hưu cũng gia tăng. Các hệ thống an<br /> sinh xã hội ñã tập thể hóa và chính thức hóa quan hệ giữa công nhân trẻ và những<br /> người không lao ñộng già, thất nghiệp hay tàn tật. Người ñang làm việc sẽ góp phần<br /> hỗ trợ những người không làm việc nào ñó, với kỳ vọng là ñể ñền ñáp lại, họ sẽ ñược<br /> hỗ trợ nếu họ không thể làm việc.<br /> Nhà nước bao giờ cũng ñóng một vai trò rất hệ trọng trong bản hợp ñồng tập thể<br /> bằng cách biến việc tham gia hệ thống trở thành bắt buộc với hầu hết công nhân.<br /> Nguyên nhân là các chương trình tiết kiệm tự nguyện ñể ñề phòng những bất ngờ rủi<br /> ro thì quá thiếu, do nhiều người không quen chi tiêu hợp lý ñể lo xa vì những sự kiện<br /> có thể hoặc không xảy ra, hay chỉ xảy ra trong tương lai xa xôi. Tương tự như vậy, các<br /> chương trình bắt buộc nhưng mang tính cá nhân trong nội bộ các ngành công nghiệp,<br /> các nghiệp ñoàn hay ngành kinh doanh thì gặp phải một vấn ñề là chúng không bao<br /> quát ñược ñủ các thành viên, không trả ñược nợ về tài chính, và người lao ñộng<br /> thuyên chuyển công việc. Trái lại, an sinh xã hội mang tính tập thể do nhà nước chủ<br /> trương thì cung cấp tài chính một cách ñáng tin cậy hơn, và dễ dự ñoán các sự kiện<br /> cho một nhóm hơn là cho cá nhân.<br /> Trước khi bàn tiếp về nhà nước phúc lợi ở Thụy ðiển, chúng ta hãy dừng lại ñôi<br /> chút ñể nhìn rộng ra tình hình chung trên thế giới. Cho tới ñầu những năm 2000,<br /> trên thế giới có 4 mô hình an sinh xã hội. Chúng khác nhau theo nguyên tắc “Ai nhận<br /> ñược gì, bao giờ và như thế nào?”. Việc chọn mô hình nào, chiến lược nào ñể theo ñuổi<br /> sẽ mang lại kết quả rất khác nhau. Mỗi mô hình có tên gọi cùng những ñặc ñiểm chính<br /> như sau:<br /> 1) Mô hình an sinh cơ bản (basic security): theo ñuổi chiến lược bình ñẳng ñơn<br /> giản bằng cách cung cấp mức ñộ phúc lợi giống nhau cho tất cả mọi người, bất kể giàu<br /> hay nghèo. Mô hình này ñược thực thi ở Mỹ, Anh, Canada, Hà Lan và Thụy Sĩ.<br /> 2) Mô hình phúc lợi có mục tiêu (targeted model) thì chọn một nguyên tắc<br /> thường ñược gọi là Robin Hood (theo tên một anh hùng trong lịch sử nước Anh) làm<br /> phương châm chỉ ñạo: lấy của người giàu chia cho người nghèo. Nó ñánh thuế người<br /> giàu ñể chia cho những ai bị coi là nghèo; ñể ñược hưởng phúc lợi, người nghèo phải<br /> <br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> 8 M« h×nh x©y dùng nhµ n−íc phóc lîi...<br /> <br /> qua kiểm tra ñiều kiện và khả năng vật chất. Ôstrâylia là nơi thực thi mô hình này.<br /> 3) Mô hình nghiệp ñoàn chủ nghĩa (corporatist) thì tái phân phối các nguồn lực<br /> chủ yếu bên trong nội bộ các nghiệp ñoàn khác nhau, do người ta thuộc các nghề<br /> nghiệp khác nhau trên thị trường lao ñộng. Mô hình này thịnh hành ở ðức và Pháp.<br /> 4) Cuối cùng, mô hình mang tính bao quát (encompassing) thì dựa vào bảo hiểm<br /> xã hội mang tính phổ quát, nghĩa là dành cho mọi người, nhưng có liên quan ñến sức<br /> kiếm tiền trước ñó. Thực chất nó hỗ trợ tất cả mọi người, nhưng cung cấp nhiều hơn<br /> cho những ai ngay từ ñầu vốn ñã có thu nhập cao, và vì thế nó theo nguyên tắc của<br /> Mathew (một nhân vật trong sách Phúc âm) chứ không phải nguyên tắc Robin Hood.<br /> Mô hình này ñược thực hiện ở các nước Bắc Âu như Thụy ðiển, Phần Lan và Na Uy.<br /> Tất nhiên, các mô hình nêu trên chỉ là sự phân loại hình lý tưởng theo nghĩa nó<br /> chỉ tồn tại dưới dạng thuần khiết, tách bạch rạch ròi trong tư duy nghiên cứu ñể dễ<br /> làm việc. Còn trong thực tế hầu hết các nước kết hợp các mô hình khác nhau.<br /> Tại Thụy ðiển, từ lâu người ta ñã nhận ra cả mặt tích cực lẫn tiêu cực của thị<br /> trường, và sự cần thiết phải kết hợp việc tuân thủ thị trường với việc xây dựng hệ<br /> thống an sinh xã hội. Mục tiêu xây dựng hệ thống an sinh là “ñảm bảo cho cư dân một<br /> mức ñộ an ninh nhất ñịnh trong ñời họ” (Swedish Social Insurance Agency, :7) khi ñối<br /> diện với thị trường. Như người Thụy ðiển ñã tổng kết, cần kết hợp chính sách kinh tế<br /> với chính sách xã hội (thông qua hệ thống an sinh xã hội) vì “chính sách xã hội làm<br /> nhẹ bớt ñộ khắc nghiệt của sự chuyển biến xã hội nông nghiệp thành xã hội công<br /> nghiệp” (Kangas & Palme, 2005:291).<br /> Theo quan niệm của Thụy ðiển, an sinh xã hội ñền bù cho sự mất mát thu nhập,<br /> cung cấp sự an toàn về kinh tế khi một công dân và người lao ñộng nào ñó không có<br /> khả năng tự nuôi mình do ốm ñau, mất khả năng lao ñộng, thất nghiệp, do phải chăm<br /> sóc con cái ở nhà cũng như do già yếu. Như vậy, an sinh xã hội tái phân phối các<br /> nguồn lực theo ba yếu tố: tái phân phối từ nhóm có ít rủi ro cho nhóm có nhiều rủi ro;<br /> từ mức thu nhập cao sang mức thu nhập thấp; và từ giai ñoạn này trong cuộc ñời một<br /> cá nhân sang giai ñoạn khác (Nhiều tác giả, 2001:11). Hệ thống an sinh xã hội của<br /> Thụy ðiển có ñặc ñiểm là: nó ñược quyết ñịnh về mặt chính trị, nó mang tính chất bắt<br /> buộc với tất cả mọi người, và nó cho phép tái phân phối theo tuổi tác, cũng như giữa<br /> các nhóm trong xã hội (Nhiều tác giả, 2001:10-11). Tóm lại, mô hình Thụy ðiển mang<br /> tính bao quát. ðây là một nhà nước phúc lợi tiên tiến với mức ñộ cao những người có<br /> công ăn việc làm trong khối công cộng, hệ thống phúc lợi mang tính phổ quát cho tất<br /> cả mọi người, các dịch vụ công rộng rãi, thuế cao, tỉ lệ nghèo khổ thấp và cơ cấu thị<br /> trường lao ñộng mang tính nghiệp ñoàn (Kangas & Palme, 2005:12).<br /> Trước khi ñi sâu tìm hiểu mô hình Thụy ðiển, ñể tiện cho việc theo dõi, cần nêu<br /> rõ mấy ñiểm sau.<br /> Thứ nhất, nếu bàn về việc cấp kinh phí cho các chương trình an sinh xã hội thì<br /> có thể phân biệt hai loại chính sách xã hội: bảo hiểm xã hội (social insurance) và phúc<br /> lợi không dựa trên ñóng góp (non-contributory benefit). Cách thức cấp kinh phí nói<br /> <br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> Mai Huy Bích 9<br /> <br /> chung như sau:<br /> Phúc lợi thuộc bảo hiểm xã hội thì ñược cung cấp trên cơ sở ñóng góp trước ñó<br /> (thường là của người ñược bảo hiểm, nhưng ñôi khi là của người chủ thuê lao ñộng).<br /> Phúc lợi không dựa trên ñóng góp thì ñược nhà nước cấp kinh phí hoàn toàn<br /> thông qua thuế, và có thể hoặc mang hình thức hỗ trợ xã hội nhưng nhằm vào những<br /> ñối tượng mục tiêu nhất ñịnh và phải qua kiểm tra ñiều kiện và khả năng thực tế, hoặc<br /> dành cho tất cả mọi người, không cần phải ñóng góp từ trước hay kiểm tra ñiều kiện<br /> vật chất (Sjoberg, 2005:244).<br /> Mức ñóng góp của chủ thuê lao ñộng vào việc cấp kinh phí các chương trình an<br /> sinh xã hội tăng từ 3,4% tổng mức lương năm 1960 lên 33% năm 2000 (Sjoberg,<br /> 2005:246). Nếu xét khoảng thời gian dài hơn, thì phần ñóng góp của chủ thuê lao ñộng<br /> tăng từ 0% năm 1930 lên 80% năm 1990. Còn mức ñóng góp của người hưởng bảo<br /> hiểm thì có xu hướng giảm từ 52% năm 1930 xuống 12% năm 1995, nhưng tăng lên từ<br /> ñầu những năm 1980 (Sjoberg, 2005:248-249).<br /> Tóm lại an sinh xã hội ñược cấp kinh phí thông qua ba nguồn chính: ñóng góp của<br /> chủ thuê lao ñộng, người lao ñộng cũng như qua thuế mà nhà nước thu và phân phối lại.<br /> Thứ hai, về mặt hành chính, Thụy ðiển ñược phân chia thành 3 cấp:<br /> • nhà nước trung ương;<br /> • các tỉnh (tạm dịch từ khái niệm “county”); từ tháng 1/2005 có 20 tỉnh;<br /> • các thành phố (tạm dịch từ khái niệm “municipality”); hiện có 290 thành phố<br /> (Local government in Sweden, 2005:5).<br /> Nhà nước trung ương hoạch ñịnh chính sách chung, và chịu trách nhiệm thu<br /> thuế thu nhập.<br /> Các tỉnh có Hội ñồng hàng tỉnh (county councils) riêng. Dựa vào chính sách<br /> chung và trong khuôn khổ chính sách chung, các hội ñồng hàng tỉnh có quyền ñịnh ra<br /> mức thuế cụ thể, phân phối lại nguồn thu từ thuế. Tuy nhiên tỉnh không tự thu thế,<br /> mà thuế do nhà nước trung ương thu, rồi trả lại cho tỉnh.<br /> Các thành phố thực thi việc cung cấp dịch vụ xã hội cho người già, người tàn tật,<br /> cho gia ñình v.v.<br /> Chính quyền ñịa phương xưa nay vẫn chịu trách nhiệm hàng ñầu trong việc tạo<br /> ra và cung ứng ña số các dịch vụ ñược cấp kinh phí công hoặc ñược trợ giá công như<br /> nhà trẻ mẫu giáo, chăm sóc y tế và người già. Hiến pháp Thụy ðiển quy ñịnh chính<br /> quyền ñịa phương có quyền thu thuế ñể tiến hành những nhiệm vụ của mình - tất<br /> nhiên nhà nước trung ương quyết ñịnh những gì chính quyền ñịa phương có thể ñánh<br /> thuế. Kể từ ñầu những năm 1990, chính quyền ñịa phương có thể ñánh thuế thu nhập<br /> do lao ñộng. Họ có mức ñộ tự chủ nhất ñịnh khi quyết ñịnh cách thức tạo ra và cung<br /> ứng những dịch vụ ấy, trong ñó có quyền ñánh thuế, mà chủ yếu là thuế thu nhập.<br /> Nguồn kinh phí quan trọng nhất ñể chính quyền ñịa phương cấp cho việc tạo ra các<br /> dịch vụ ñó là thuế, và nó chiếm khoảng 2/3 tổng thu nhập của chính quyền ñịa phương<br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> 10 M« h×nh x©y dùng nhµ n−íc phóc lîi...<br /> <br /> (Sjoberg, 2005:251). Chính quyền ñịa phương quyết ñịnh mức thuế thực tế, tức là tỉ lệ<br /> phần trăm thuế phải ñóng (Local government in Sweden, 2005:15). Thuế mà chính<br /> quyền ñịa phương ñánh có thay ñổi từ tỉnh và thành phố này sang tỉnh và thành phố<br /> khác, nhưng vào năm 2000, mức trung bình là 20% ở các thành phố và gần 10% ở các<br /> hội ñồng hàng tỉnh (Sjoberg, 2005:252).<br /> Như vậy, với nguyên tắc phân cấp (phi tập trung hóa - decentralization), trách<br /> nhiệm cấp kinh phí và tổ chức các dịch vụ xã hội ñược chuyển từ trên xuống dưới.<br /> Nhà nước, nhất là nhà nước cấp ñịa phương, ñóng vai trò hết sức lớn trong hệ thống<br /> an sinh xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà hệ thống ñược gọi là “nhà nước phúc lợi”<br /> (welfare state) này còn mang tên “nhà nước phúc lợi ñịa phương” (local welfare state)<br /> (Carroll & Palme, 2007:8). Từ rất sớm, Thụy ðiển ñã thiết lập ñược một nền dân chủ<br /> vận hành ở cấp ñộ ñịa phương, kết hợp với và chịu sự ñiều phối của chính phủ trung<br /> ương (Kangas & Palme, 2005:18).<br /> Nhân thể nói thêm, mặc dù nhà nước chủ trương tạo ra nhiều quyền quyết ñịnh<br /> cho công ñoàn, nhưng công ñoàn ñóng vai trò không lớn trong hệ thống an sinh xã hội<br /> Thụy ðiển. Công ñoàn phân chia thành nhiều khối theo ngành kinh tế, tạo nên các<br /> nghiệp ñoàn khác nhau, và vai trò của các nghiệp ñoàn trong khối công cộng và cả<br /> khối tư nhân phần nhiều chỉ là thương lượng với chủ thuê lao ñộng về mức lương cho<br /> công nhân, mức ñóng góp của chủ v.v. vào quỹ an sinh xã hội (Caroll & Palme,<br /> 2007:35).<br /> Vai trò nhà nước lớn ñến mức một số người theo tư tưởng tự do mới sợ rằng nó<br /> gây trở ngại cho sự tăng trưởng kinh tế. Họ gợi ý rằng nhà nước nên rút khỏi vai trò<br /> cung ứng xã hội, và tạo vai trò tích cực hơn nhiều cho các tổ chức phi chính phủ. Chỉ<br /> có như thế, theo họ, mới giúp cho sự tăng trưởng kinh tế cao. Tuy nhiên, Thụy ðiển<br /> ñã cho thấy mức ñộ giàu có cao và sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, mặc dù mức<br /> ñộ chi phí về mặt xã hội (social spending) cũng rất cao (Kangas & Palme, 2005:3).<br /> Thứ ba, mô hình Thụy ðiển không phải một ngày mà nên. Trái lại, nó là kết quả<br /> của những cuộc cải cách xã hội dần dần từ năm 1932 (khi chính phủ mà ðảng Xã hội<br /> dân chủ chiếm ưu thế lần ñầu tiên nắm quyền), cũng như do sự phát triển kinh tế, và<br /> ñể ñáp lại những biến ñổi trong và ngoài nước. Nói cách khác, nó cũng là kết quả ñấu<br /> tranh và thoả hiệp giữa nhiều ñảng phái chính trị khác nhau ở nước này.<br /> Thứ tư, vì nhiều lý do, trong báo cáo này chúng tôi chỉ tập trung vào trình bày<br /> hiện trạng của hệ thống an sinh xã hội Thụy ðiển vào ñầu thế kỷ XXI, chứ không ñi<br /> vào lịch sử hình thành, ñiều chỉnh và tiến triển của nó.<br /> Mô hình Thụy ðiển gồm bao nhiêu thành tố? Nó có bao nhiêu chương trình? ðể<br /> trả lời các câu hỏi này, người ta có thể xác ñịnh các chương trình khác nhau, hay<br /> thành tố chính của hệ thống theo chỗ nó nhằm chống lại những rủi ro xã hội nào.<br /> Theo một trong nhiều cách phân chia, thì hệ thống này bao gồm ba trụ cột (các<br /> chương trình công cộng, các chương trình tập thể và các chương trình tư nhân) và bốn<br /> nhánh chính (gia ñình và trẻ em; ñời sống lao ñộng; phòng ngừa; và tuổi già) (Nhiều<br /> <br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> Mai Huy Bích 11<br /> <br /> tác giả. 2001:8). ðể dễ theo dõi, có thể nêu 7 chương trình chính sau ñây: 1) hỗ trợ xã<br /> hội, 2) bảo hiểm tai nạn lao ñộng, 3) lương hưu, 4) bảo hiểm ốm ñau, 5) bảo hiểm thất<br /> nghiệp, 6) bảo hiểm y tế và tàn tật, 7) và chính sách gia ñình (Carroll & Palme,<br /> 2007:98).<br /> Chúng ta có thể lấy trật tự các giai ñoạn khác nhau trong chu trình ñời người từ<br /> trẻ ñến già làm mốc sắp xếp các chương trình phúc lợi như sau: Rủi ro về sức khoẻ (ốm<br /> ñau, mất khả năng lao ñộng, tàn tật v.v.); mất an sinh trên thị trường lao ñộng (thất<br /> nghiệp v.v.); làm cha làm mẹ; già yếu.<br /> Khuôn khổ có hạn của bài viết không cho phép chúng ta ñi quá những mô tả sơ<br /> lược trên ñây về nhà nước phúc lợi Thụy ðiển. Bây giờ chúng ta hãy từ thực tế Thụy<br /> ðiển nhìn về Việt Nam.<br /> III. PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI Ở THỤY<br /> ðIỂN: NHỮNG BÀI HỌC VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM<br /> Do Việt Nam là nước ñang phát triển với ñiều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn<br /> trong khi Thụy ðiển là một quốc gia phát triển hàng ñầu thế giới nên sự so sánh về<br /> mức ñộ phúc lợi là không cân xứng. Mặc dầu vậy, so sánh, tìm ra những nét giống và<br /> khác nhau giữa hai nước ñể học hỏi một số kinh nghiệm và cách thức vận hành chính<br /> sách phúc lợi của Thụy ðiển sao cho phù hợp với ñiều kiện của Việt Nam là việc làm<br /> hết sức thiết thực. Những khác biệt giữa hai nước có thể chia làm hai loại. Một là<br /> những ñiều Việt Nam chúng ta hiện không làm như Thụy ðiển, và nên học hỏi ñể<br /> thay ñổi. Hai là những khác biệt rất khó, hoặc không thể thay ñổi. Báo cáo này xoay<br /> quanh những khác biệt ñó, và những bài học kinh nghiệm, những kiến nghị ñưa ra sẽ<br /> xuất phát từ loại khác biệt này.<br /> So sánh Thụy ðiển và Việt Nam, chúng ta thấy có một số ñiểm giống nhau như sau:<br /> 1) Trước hết về những nét chung, thì với mô hình an sinh xã hội bao quát cho<br /> mọi người, bình ñẳng tương ñối và tỉ lệ nghèo khổ thấp, Thụy ðiển là nơi thực hiện<br /> ñược một ước mơ Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh ñã thể hiện qua câu nói “ai<br /> cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng ñược học hành”.<br /> 2) Việt Nam hiện ñã có một số chương trình an sinh xã hội, chứ không xuất phát từ<br /> con số 0, từ tờ giấy trắng. Hơn thế nữa, các chương trình an sinh xã hội của Việt Nam ñã<br /> và ñang trải qua nhiều chỉnh sửa. Sự tụt hậu về kinh tế thậm chí có một số lợi thế tương<br /> ñối là “tuy xuất phát muộn, nhưng có thể ñuổi theo” bằng cách ñi dần dần theo bài học<br /> rút ra từ mô hình Thụy ðiển. ðất nước Thụy ðiển ñã ñi từ những chương trình xóa ñói<br /> giảm nghèo vốn nhằm vào những nhóm mục tiêu nhất ñịnh, tiến tới chương trình mang<br /> tính chất tự nguyện “giúp ñỡ ñể tự giúp”, rồi tới nguyên tắc an sinh nông nghiệp cơ bản là<br /> “mỗi người một chút thôi nhưng ai cũng ñược”, và cuối cùng là ñến mô hình bao quát cho<br /> mọi người. Không nhất thiết Việt Nam phải chia giai ñoạn và ñi tuần tự như vậy, nhưng<br /> Việt Nam có thể tiếp thu bài học “ñi dần dần từng bước”.<br /> Mặt khác, Thụy ðiển rất khác với Việt Nam ở nhiều phương diện. Chúng ta<br /> trước hết hãy xét những khác biệt chung liên quan ñến toàn bộ hệ thống an sinh xã<br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> 12 M« h×nh x©y dùng nhµ n−íc phóc lîi...<br /> <br /> hội và từ ñó nêu những khuyến nghị về hệ thống an sinh xã hội nói chung. Tiếp ñó<br /> chúng ta sẽ xem xét những khác biệt về văn hóa xã hội giữa Thụy ðiển và Việt Nam.<br /> Có thể nêu một vài ñiều sau ñây:<br /> 1) ðầu tiên là khác biệt trong quan niệm về thị trường và vai trò cũng như sự<br /> cần thiết, tầm quan trọng của hệ thống an sinh xã hội ở hai nước. Như trên ñã nêu, tại<br /> Thụy ðiển, từ lâu người ta ñã nhận ra cả mặt tích cực lẫn tiêu cực của thị trường, và sự<br /> cần thiết phải kết hợp việc tuân thủ thị trường với việc xây dựng hệ thống an sinh xã<br /> hội. Mục tiêu xây dựng hệ thống an sinh là “ñảm bảo cho cư dân một mức ñộ an ninh<br /> nhất ñịnh trong ñời họ” (Swedish Social Insurance Agency, :7) khi ñối diện với thị<br /> trường. Như người Thụy ðiển ñã tổng kết, cần kết hợp chính sách kinh tế với chính<br /> sách xã hội (thông qua hệ thống an sinh xã hội) vì “chính sách xã hội làm nhẹ bớt ñộ<br /> khắc nghiệt của sự chuyển biến xã hội nông nghiệp thành xã hội công nghiệp”<br /> (Kangas & Palme, 2005:291). Chính vì thế dù ñã và ñang trải qua nhiều biến ñổi về<br /> kinh tế xã hội cũng như chính trị (thay ñổi các chính phủ cầm quyền), cho ñến nay xã<br /> hội Thụy ðiển vẫn ñạt ñược sự ñồng thuận nhất ñịnh trong việc xây dựng, duy trì hệ<br /> thống an sinh xã hội (tuy có thể phải ñiều chỉnh sửa ñổi khi cần).<br /> Còn ở Việt Nam, từ chỗ phủ ñịnh thị trường (trong nền kinh tế kế hoạch hóa<br /> trước ñây) ñến chỗ thừa nhận nó, nhiều người ñã coi thị trường là cứu cánh. Họ quan<br /> niệm thị trường là nơi khẳng ñịnh mọi giá trị và cạnh tranh trên thị trường là hoàn<br /> hảo. Theo họ, công cuộc ñổi mới kinh tế xã hội ñã tạo cơ hội làm giàu cho tất cả mọi<br /> người, và những ai không thể cải thiện cuộc sống chỉ có thể tự trách mình. Những<br /> người giữ quan ñiểm này không sẵn lòng và không dễ gì chịu ñóng góp vào việc xây<br /> dựng an sinh xã hội. ðiều này gây khó khăn cho việc ñạt ñược sự ñồng thuận xã hội<br /> cần thiết ñể xây dựng hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam.<br /> Không những nguồn lực hiện có ở Việt Nam khác với xuất phát ñiểm của Thụy<br /> ðiển, mà sự bất bình ñẳng kinh tế và xã hội lúc khởi ñầu ở Thụy ðiển (năm 1913)<br /> cũng thấp hơn mức hiện có ở nhiều nước châu Á, trong ñó có Việt Nam (Caroll &<br /> Palme, 2007:57-58).<br /> Nhiều nhà kinh tế học Việt Nam lập luận rằng chính sách chỉ ñánh thuế những<br /> người có thu nhập cao là ñể “dưỡng sức dân”, ñể khuyến khích làm việc và tăng<br /> trưởng, sao cho khi nền kinh tế hưng thịnh, những người nghèo sẽ ñược chia phần, sẽ<br /> hưởng lợi từ con sóng kinh tế ñang lên. Nếu Việt Nam vẫn theo ñuổi thi hành chính<br /> sách “dưỡng sức dân” mà các nhà kinh tế học này ñề nghị, tức là chỉ ñánh thuế người<br /> có thu nhập cao, trong khi các biện pháp thu thuế không hiệu quả, thì rất có thể sẽ<br /> phổ biến rộng rãi tình trạng gian lận, trốn thuế, và kết cục là khoảng cách giàu nghèo<br /> sẽ ngày càng lớn hơn, bất bình ñẳng ngày càng sâu rộng.<br /> Mặt khác, người Việt Nam xưa nay chỉ quen dựa trước hết vào bản thân, sau ñến<br /> gia ñình, họ hàng, chứ không phải nhà nước trong việc ñảm bảo an sinh cho mình.<br /> Chính vì thế, nếu có việc làm và thù lao, họ thường thích nhận toàn bộ thu nhập ngay<br /> bây giờ, và ngay ở ñây, chứ không muốn trích một phần thu nhập ñể dành ñóng góp vào<br /> <br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> Mai Huy Bích 13<br /> <br /> quỹ an sinh tập thể, càng không muốn ñóng góp vào quỹ an sinh xã hội hay mua bảo<br /> hiểm ñể phòng xa cho những rủi ro tương lai mà người ta không biết liệu có chắc sẽ xảy<br /> ra hay không, và nếu xảy ra, không rõ họ có ñược xã hội bảo hiểm hay không? Khắc<br /> phục thói quen và nếp nghĩ này không phải dễ và một sớm một chiều.<br /> Trong khi ñó, với sự biến ñổi kinh tế, văn hóa, xã hội, nhân khẩu (kể cả của gia<br /> ñình), con người ta ngày càng phụ thuộc vào thu nhập bằng tiền mặt chứ không phải<br /> hàng hóa và hiện vật nữa, và khả năng dễ bị thương tổn về tài chính ngày càng tăng<br /> lên do sức khoẻ kém, tai nạn lao ñộng và tuổi già v.v. Kết hợp với di cư hàng loạt, thì<br /> gia ñình và họ hàng không còn là chỗ dựa ñáng tin cậy ñể ñảm bảo an ninh kinh tế.<br /> Việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội là một tất yếu, vì hệ thống này hiệu quả hơn<br /> gia ñình và họ hàng.<br /> Thêm nữa, Việt Nam ñang ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và<br /> thế giới, và sự hội nhập này cũng ñặt ra một số thách thức cho hệ thống an sinh xã<br /> hội của Việt Nam, nếu nhìn từ góc ñộ những kinh nghiệm của Thụy ðiển.<br /> Thứ nhất, với các cam kết gia nhập WTO và ñặc biệt là tham gia Khu vực mậu<br /> dịch tự do ASEAN (AFTA), Việt Nam sẽ dần phải cắt bỏ các hàng rào thuế quan và<br /> thuế nhập khẩu ñối với nhiều mặt hàng sẽ hạ xuống còn 0%. ðiều này có nghĩa là<br /> nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu sẽ sụt giảm, dẫn tới những áp lực không nhỏ<br /> ñối với việc chi tiêu cho các chính sách phúc lợi. Hệ thống an sinh xã hội do ñó có thể<br /> sẽ phải dựa nhiều vào sự ñóng góp của xã hội, giống như thực trạng của Thụy ðiển và<br /> một số nước Bắc Âu trong những năm vừa qua.<br /> Thứ hai, mặc dù ASEAN không có các tiêu chí hội nhập kinh tế khu vực chặt chẽ<br /> như EU nhưng Việt Nam cũng phải ñối phó với sự ảnh hưởng của nền kinh tế khu vực,<br /> ñặc biệt là các biến ñộng kinh tế như ñã từng xảy ra năm 1997 và khủng hoảng tài<br /> chính năm 2008. Khủng hoảng kinh tế khu vực sẽ có tác ñộng rất lớn tới nền kinh tế<br /> của các nước thành viên do mức ñộ ñầu tư ra nước ngoài trong nội bộ khối ñang không<br /> ngừng gia tăng. Nó sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp ñến thị trường lao ñộng và gây<br /> ra các vấn ñề kinh tế - xã hội, nhất là gây tổn thương cho hệ thống an sinh xã hội vốn<br /> chưa phát triển hoàn thiện. Những khó khăn về tài chính có thể sẽ phá hỏng những<br /> nỗ lực ñã ñạt ñược trong lĩnh vực này.<br /> Thứ ba, quá trình khu vực hóa và toàn cầu hóa với xu hướng tự do hoá thương<br /> mại ñang bị xem là nguyên nhân gây ra bất bình ñẳng trong phát triển, tăng khoảng<br /> cách giàu nghèo trong xã hội. Với các nước ñang phát triển, một bộ phận lớn dân cư<br /> trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề của quá trình ñô thị hoá và mất<br /> ñất canh tác do công nghiệp hoá. Những người này thường không thuộc phạm vi bao<br /> trùm của hệ thống an sinh xã hội, vốn phát triển còn ở dạng sơ khai, do vậy những<br /> ảnh hưởng còn có thể nặng nề hơn ñối với cuộc sống của họ. Xây dựng hệ thống chính<br /> sách phúc lợi ñem lại lợi ích cho người nghèo là yêu cầu cấp thiết cho các nước ñang<br /> phát triển. Việt Nam, một nước xã hội chủ nghĩa, trong những năm qua ñã tích cực<br /> xây dựng và củng cố hệ thống an sinh xã hội nhằm giúp người dân ñược hưởng những<br /> lợi ích từ sự tăng trưởng kinh tế cao. Tuy nhiên mức ñộ bao trùm còn rất hạn chế. Xây<br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> 14 M« h×nh x©y dùng nhµ n−íc phóc lîi...<br /> <br /> dựng một hệ thống an sinh xã hội mang tính phổ quát (universalism) như của Thụy<br /> ðiển có thể sẽ là quá sức ñối với khả năng kinh tế hiện nay của Việt Nam. Tuy nhiên,<br /> Việt Nam có thể xây dựng và thực hiện một số chính sách an sinh phù hợp, từ kinh<br /> nghiệm của Thụy ðiển.<br /> Như vậy, Việt Nam cần ñẩy mạnh tuyên truyền giáo dục ñể ñông ñảo dân chúng<br /> nhận thức ñược rằng việc xây dựng hệ thống an sinh tập thể, an sinh xã hội là cần<br /> thiết, và muốn vậy, phải ñạt ñược sự ñồng thuận xã hội.<br /> 2) Dân số Việt Nam hiện nay quá ñông, và lớn hơn nhiều so với số người thuộc ñối<br /> tượng hưởng các chương trình phúc lợi ở Thụy ðiển vào thời ñiểm khởi ñầu. Hơn thế nữa,<br /> nguyên tắc xây dựng hệ thống an sinh xã hội ở Thụy ðiển là tất cả mọi người ñều phải<br /> ñóng góp vào quỹ chung của an sinh xã hội, nhưng chỉ những ai gặp khó khăn mới ñược<br /> nhận hỗ trợ. Nói như một cuốn sách thông tin về bảo hiểm xã hội ở Thụy ðiển, “trách<br /> nhiệm ñóng thuế và ñóng góp các khoản khác khiến chúng ta ñủ tiêu chuẩn và có quyền<br /> chia sẻ phúc lợi xã hội khi chúng ta cần nó” (Swedish Social Insurance Agency, :7). Thụy<br /> ðiển ñánh thuế tất cả mọi người có thu nhập (tất nhiên mức thuế rất khác biệt theo mức<br /> thu nhập: thu nhập cao thì mức thuế phải ñóng sẽ cao, và ngược lại), còn ở Việt Nam, với<br /> luật thuế thu nhập cá nhân ñược Quốc hội thông qua cuối năm 2007, chỉ những cá nhân<br /> có thu nhập cao (ñược xác ñịnh là 5.000.000 ñ/tháng trở lên) mới phải ñóng thuế. Không<br /> khó tính toán và hình dung hai mô hình dẫn ñến kết quả như thế nào: trên giấy tờ, với<br /> mô hình Thụy ðiển, nhiều người ñóng thuế và ít người phải dựa vào an sinh xã hội, nên<br /> mức thu từ thuế có thể xấp xỉ mức chi cho an sinh xã hội; còn ở Việt Nam, ít người ñóng<br /> thuế và nhiều người cần trợ giúp, nên thu - chi khó lòng cân bằng.<br /> Vậy Việt Nam nên tham khảo phương châm “tất cả mọi người ñều phải ñóng góp<br /> vào quỹ chung của an sinh xã hội, nhưng chỉ những ai gặp khó khăn mới ñược nhận<br /> hỗ trợ” của Thụy ðiển ñể có nguồn thu vững chắc và cách chi phí ñúng ñắn cho hệ<br /> thống an sinh xã hội.<br /> 3) Trong hệ thống an sinh xã hội của Thụy ðiển, bất cứ ai có thu nhập ñều phải<br /> ñóng thuế, và nhờ ñó, họ có quyền hưởng dịch vụ xã hội khi cần với chi phí vừa phải.<br /> Kết hợp với sự minh bạch và tình trạng tham nhũng không phổ biến, người ñóng thuế<br /> thấy ñược lợi ích của việc ñóng thuế.<br /> Khác với Thụy ðiển, hiện nay Việt Nam có nhiều trở ngại trong việc này. Một ví<br /> dụ: ngoài các cá nhân hưởng thu nhập cao, thì những người có thu nhập không thường<br /> xuyên cũng bị ñánh thuế 10%. Tuy nhiên, nhiều khi ngay cả biên lai ghi nhận ñã nộp<br /> thuế này cũng không có. Trong khi ñó, ñể tiếp cận các dịch vụ xã hội (y tế, giáo dục<br /> v.v.), người ñóng thuế phải trả tiền, và thường thì số tiền này là rất lớn. ðiều này kết<br /> hợp với chất lượng dịch vụ kém khiến người ñóng thuế không thấy bất cứ lợi ích gì<br /> trong việc ñóng thuế.<br /> Vậy Việt Nam cần nỗ lực ñể kết hợp nghĩa vụ ñóng thuế với quyền lợi hưởng dịch<br /> vụ ở mức chi phí vừa phải và chất lượng thoả ñáng ñể người ñóng thuế thấy ñược sự<br /> cân bằng tương ñối quyền lợi và nghĩa vụ.<br /> <br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> Mai Huy Bích 15<br /> <br /> ðể làm ñược việc ñó, một trong những nhiệm vụ ñặt ra phải giải quyết là tạo ra<br /> và duy trì tính minh bạch của hệ thống an sinh tập thể, an sinh xã hội, và chống<br /> tham nhũng.<br /> Như thế, Việt Nam cần coi trọng giải quyết nhiệm vụ nặng nề là tạo dựng “lòng<br /> tin về mặt xã hội” (social trust), song song với những nỗ lực xây dựng hệ thống an<br /> sinh xã hội. Thậm chí việc tạo dựng lòng tin là một ñiều kiện cần ñể mọi người tự giác<br /> và trung thực ñóng thuế xây dựng an sinh xã hội.<br /> Bây giờ chúng ta hãy xét ñến những khác biệt do ñặc thù về văn hóa xã hội giữa<br /> Thụy ðiển và Việt Nam<br /> 1) Cư dân Thụy ðiển khá thuần nhất về mặt tộc người ở buổi ñầu xây dựng hệ<br /> thống an sinh xã hội, nên việc áp dụng nguyên tắc bao phủ phổ quát cho hệ thống<br /> không trở thành vấn ñề nóng. Trong khi ñó, cư dân Việt Nam vừa ñông vừa rất ña<br /> dạng về tộc người, nên vấn ñề ñưa ai vào và không ñưa ai vào ñối tượng hưởng an sinh<br /> xã hội trong thời buổi ñầu v.v. quả là không ñơn giản. Những khác biệt về truyền<br /> thống dân chủ và cơ cấu nhà nước giữa Thụy ðiển và Việt Nam cũng khó bỏ qua<br /> (Caroll & Palme, 2007:60).<br /> 2) Hệ thống an sinh xã hội của Thụy ðiển dựa trên cơ sở tạo công ăn việc làm<br /> ñầy ñủ cho hầu hết mọi người (full employment) và ñòi hỏi thuế cao ñể trang trải việc<br /> cấp kinh phí cho nó. Tuy nhiên sử dụng và tăng thuế thu nhập trực tiếp không phải<br /> con ñường dễ làm ñối với Việt Nam. Tình trạng thất nghiệp rất nan giải, và trong số<br /> những người làm việc thì rất ñông người hoạt ñộng trong khối không chính thức, nhận<br /> thù lao bằng tiền mặt, nên rất khó ñánh thuế thu nhập.<br /> 3) Thuế ở Thụy ðiển ñánh vào cá nhân chứ không phải vào gia ñình. ðiều này<br /> khuyến khích phụ nữ tham gia khu vực công ăn việc làm có thù lao (Kangas & Palme,<br /> 2005:36). Nó có nghĩa là tất cả mọi người ñi làm ñều phải ñóng thuế thu nhập, bất kể<br /> gia cảnh của họ ra sao.<br /> Mặt khác, ñể hỗ trợ gia ñình, Thụy ðiển ban hành những chính sách riêng, tách<br /> khỏi thuế thu nhập của cá nhân, dưới dạng cấp và chuyển tiền cho các gia ñình có con<br /> nhỏ và thông qua các dịch vụ nhà trẻ mẫu giáo v.v. ðiều ñáng nói nữa là hệ thống an<br /> sinh xã hội (nhất là chính sách gia ñình) của Thụy ðiển dựa trên mô hình gia ñình<br /> hạt nhân, tức gia ñình chỉ bao gồm bố mẹ và con cái chưa kết hôn, chứ không bao gồm<br /> và không tính ñến các thành viên khác.<br /> Trong khi ñó, ở Việt Nam, mặc dù gia ñình hạt nhân là hình thái phổ biến nhất xét<br /> về mặt cư trú, nhưng sự hỗ trợ và cung cấp an sinh cho con người vượt xa ra khỏi gia ñình<br /> hạt nhân, và bao trùm lên cả gia ñình mở rộng (ông bà, anh chị em, vợ chồng, con cái<br /> v.v.). Nhưng ñiều ñáng nói nhất là luật thuế thu nhập cá nhân ñược thông qua ở Việt<br /> Nam năm 2007 và có hiệu lực thực thi từ năm 2009, trong ñó có ñiều khoản về giảm trừ<br /> gia cảnh (tức những thành viên gia ñình có người ăn theo sẽ ñược giảm thuế). ðối tượng<br /> ñược tính ñể giảm trừ gia cảnh có thể bao gồm bất cứ ai trong số kể trên, với ñiều kiện<br /> người ñó không còn ai nương tựa - ngoài người bị ñánh thuế.<br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> 16 M« h×nh x©y dùng nhµ n−íc phóc lîi...<br /> <br /> Như vậy, về mặt này Việt Nam khác với Thụy ðiển. Hai cách hỗ trợ gia ñình của<br /> Việt Nam và Thụy ðiển rất khác nhau về nhiều mặt.<br /> Kết quả là tác ñộng của hai chính sách vô cùng khác nhau theo quan ñiểm người<br /> dân. Nếu sử dụng các cặp phạm trù “ñược - mất”, “cho - nhận” quen thuộc của tư duy<br /> và tâm lý thông thường, thì trong con mắt thành viên một gia ñình, ở Việt Nam,<br /> người ta có cảm giác rằng thu nhập của mình bị mất, dù rằng với chính sách giảm trừ<br /> gia cảnh, số mất ñó có ít hơn; còn với chính sách hỗ trợ gia ñình của Thụy ðiển, người<br /> ta thấy mình ñược nhà nước hỗ trợ. Người ta thấy mình phải cho ñi khi ñóng thuế thu<br /> nhập (tuy có ñược giảm trừ gia cảnh), còn do chính sách hỗ trợ gia ñình thì cảm giác<br /> nổi trội của họ là ñược nhận.<br /> Nếu chúng ta muốn tiếp thu mô hình Thụy ðiển, thì cần chú ý ñiều khác biệt<br /> này, và lường trước những hậu quả kinh tế - văn hóa - xã hội của nó ñối với quan hệ<br /> gia ñình và họ hàng ở Việt Nam.<br /> KẾT LUẬN<br /> Giới học thuật và chấp chính ở nhiều nước ñều ñã nhận thức ñược rằng tăng<br /> trưởng kinh tế và phát triển xã hội gắn bó mật thiết với nhau như hai mặt của một<br /> ñồng tiền. Trong khi ñó ở Việt Nam tình hình không diễn ra như vậy, và không phải<br /> ngẫu nhiên quan niệm trên ñã ñược các nhà tài trợ quốc tế nhắc nhở: “Các chính sách<br /> kinh tế - xã hội nên ñược xem như hai mặt của ñồng tiền, ñặc biệt ñể ñảm bảo rằng bất<br /> bình ñẳng trong cơ hội (thăng tiến) không phương hại ñến sự phát triển của Việt<br /> Nam” (trích theo Danh ðức, 2010). Việt Nam hiện nay ñang lệch hẳn sang tăng<br /> trưởng kinh tế mà lơ là phát triển xã hội, mà bằng chứng gần nhất là một ñánh giá<br /> của Quốc hội. Sau khi thẩm tra kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội,<br /> ngân sách cuối năm 2009 và những tháng ñầu năm 2010, hai ủy ban của quốc hội là<br /> kinh tế và tài chính - ngân sách cho biết: “Trong khi các chỉ tiêu kinh tế ñược cho là<br /> vượt so với dự tính, thì nhiều vấn ñề xã hội lại chưa ñược giải quyết. […] 8/25 chỉ tiêu<br /> không ñạt ñều là các chỉ tiêu xã hội ảnh hưởng sát sườn ñến người dân […]” (Lê<br /> Nhung, 2010). Hơn nữa, trong thời gian sắp tới, “sẽ có nhiều thay ñổi kinh tế - xã hội<br /> sâu sắc, ñặc biệt là những thay ñổi về cơ cấu sản xuất và hệ thống tổ chức lao ñộng…<br /> bên cạnh những thách thức từ bên ngoài như cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu”<br /> (Danh ðức, 2010).<br /> Vì vậy, tăng trưởng kinh tế song không thể quên phát triển xã hội, và việc học<br /> hỏi, tiếp thu kinh nghiệm của thế giới là ñiều rất cần thiết. Hi vọng rằng mô hình phát<br /> triển xã hội của Thụy ðiển sẽ ít nhiều giúp ích cho Việt Nam.<br /> <br /> <br /> Tài liệu tham khảo<br /> <br /> 1. Carroll, E. & Palme, J. 2007. Historical development of the Swedish welfare<br /> system 1890 - 2005, its current challenges, and its potential relevance for<br /> Vietnam and 21st - century Southeast Asia. Background paper for the training<br /> course on 2 - 16 December 2007 at the Institute for Futures Studies in<br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br /> Mai Huy Bích 17<br /> <br /> Stockholm.<br /> 2. Danh ðức. 2010. “Câu hỏi của nhà tài trợ”. Tuổi trẻ cuối tuần, ngày 13/6, tr. 6-7.<br /> 3. Kabeer, Naila. 1994. Reversed realities. London: Verso.<br /> 4. Kangas, O. & Palme, J. (eds.). 2005. Social policy and economic development in<br /> the Nordic countries. Basingstoke: Palgrave Macmillan.<br /> 5. Lê Nhung. 2010. “Nợ quốc gia tăng sát mức an toàn”.<br /> http://vietnamnet.vn/chinhtri/201005/No-quoc-gia-tang-sat-muc-an-toan-908468/<br /> (truy cập ngày 7/5/2010)<br /> 6. Local government in Sweden: organisation, activities and finance. Stockholm:<br /> Regeringskansliet.<br /> 7. Nhiều tác giả. 2001. Social security in Sweden. Stockholm: Swedish monograph<br /> to the 27th General Assembly of the ISSA.<br /> 8. Reifer, Thomas. 2006. “Poverty”. Trong: Turner, B (ed). The Cambridge<br /> Dictionarry of Sociology. Cambridge: Cambridge University Press.<br /> 9. Scott, John and Gordon Marshall. 2005. A dictionary of sociology. Third edition.<br /> Oxford: Oxford University Press.<br /> 10. Sen, Amatyr. 2007. “Unity and discord in social development”. Paper presented<br /> at the 15th Symposium of the International Consortium for Social Development<br /> (ICSD), Hong Kong, July 16.<br /> 11. Sjoberg, O. 2005. “Financing ‘big tax’ welfare states: Sweden during crisis and<br /> recovery”. Trong: Kangas, O. & Palme, J. (eds.). Social policy and economic<br /> development in the Nordic countries. Basingstoke: Palgrave Macmillan.<br /> 12. Swedish Social Insurance Agency. (Không rõ niên ñại ). Social insurance.<br /> General information about social insurance. Stockholm: Forsakringskassan.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2