BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

---------------------------------------

Nguyễn Thị Tuyết – C00114

MỞ RỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT CỦA CHI NHÁNH NGÂN

HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

HUYỆN PHÚC THỌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ

CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ : 60340201

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. Nguyễn Thị Quy

Hà Nội – Năm 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các

số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố

trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tuyết

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1

CHƯƠNG 1 ...................................................................................................... 4

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ...................................................................... 4

1.1. HỘ SẢN XUẤT VÀ TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT CỦA NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI .............................................................................. 4

1.1.1. Hộ sản xuất ...................................................................................... 4

1.1.2. Tín dụng Hộ sản xuất ...................................................................... 6

1.2. MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT ....................... 18

1.2.1. Khái niệm mở rộng tín dụng Hộ sản xuất ..................................... 18

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá mở rộng TDNH đối với Hộ sản xuất.......... 19

1.2.3. Tầm quan trọng của việc mở rộng tín dụng Hộ sản xuất của

NHTM ..................................................................................................... 23

1.2.4. Rủi ro mở rộng tín dụng Hộ sản xuất ............................................ 27

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC MỞ RỘNG TÍN

DỤNG HỘ SẢN XUẤT ............................................................................ 28

1.3.1. Nhân tố chủ quan .......................................................................... 28

1.3.2. Nhân tố khách quan ....................................................................... 30

CHƯƠNG 2 .................................................................................................... 35

THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT TẠI CHI

NHÁNH NHNo & PTNT PHÚC THỌ ........................................................ 35

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN PHÚC

THỌ ............................................................................................................ 35

2.1.1. Điều kiện tự nhiên ......................................................................... 35

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội .............................................................. 37

2.2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG NN & PTNT HUYỆN

PHÚC THỌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI....................................................... 38

2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................ 38

2.2.2. Cơ cấu tổ chức ............................................................................... 40

2.2.3. Kết quả hoạt động của Chi nhánh trong những năm gần đây ....... 41

2.3. THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT TẠI CHI

NHÁNH NHNo & PTNT HUYỆN PHÚC THỌ .................................... 50

2.3.1. Cơ sở pháp lý cho hoạt động tín dụng Hộ sản xuất ...................... 50

2.3.2. Thực trạng mở rộng tín dụng Hộ sản xuất .................................... 53

2.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN

XUẤT TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT HUYỆN PHÚC THỌ ......... 65

2.4.1. Những kết quả đạt được ................................................................ 65

2.4.2. Những mặt còn hạn chế................................................................. 69

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế .................................................. 70

CHƯƠNG 3 .................................................................................................... 74

GIẢI PHÁP TIẾP TỤC MỞ RỘNG TÍN DỤNG HSX TẠI NHNo &

PTNT HUYỆN PHÚC THỌ ........................................................................ 74

3.1. QUAN ĐIỂM VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN

XUẤT .......................................................................................................... 74

3.2. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA HUYỆN PHÚC

THỌ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 ......................................................... 75

3.3. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG

NN&PTNT HUYỆN PHÚC THỌ ĐẾN NĂM 2020 .............................. 76

3.3.1. Định hướng phát triển của NHNo & PTNT chi nhánh Phúc Thọ 76

3.3.2 Định hướng mở rộng tín dụng Hộ sản xuất của NHNo & PTNT chi

nhánh Phúc Thọ ....................................................................................... 77

3.4. GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG TÍN DỤNG TẠI NHNo & PTNT

HUYỆN PHÚC THỌ ................................................................................ 79

3.4.1. Tăng cường truyền thông chính sách tín dụng đối với Hộ sản xuất

................................................................................................................. 79

3.4.2. Mở rộng mạng lưới hoạt động, củng cố lại mạng lưới sẵn có ...... 80

3.4.3. Đa dạng phương thức tín dụng đối với Hộ sản xuất ..................... 81

3.4.4. Xác định mức lãi suất tín dụng linh hoạt và hợp lý ...................... 85

3.4.5. Tăng tỷ trọng dư nợ Hộ sản xuất, tăng suất đầu tư ....................... 88

3.4.6. Mở rộng tín dụng phải đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng .. 89

3.4.7. Kết hợp cho vay và tư vấn đầu tư đối với Hộ sản xuất ................. 92

3.4.8. Nâng cao hiệu quả việc thu hồi nợ nhằm làm giảm nợ quá hạn ... 93

3.5. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ....................................................................... 96

3.5.1. Đối với Nhà nước và chính quyền địa phương ............................. 96

3.5.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước ....................................................... 98

3.5.3. Đối với NHNo & PTNT Việt Nam ............................................... 98

KẾT LUẬN .................................................................................................. 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nguyên nghĩa

Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

CNH-HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa

CP Cổ phần

HSX Hộ sản xuất

NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội

NHTM Ngân hàng thương mại

NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

NSNN Ngân sách Nhà nước

SXKD Sản xuất kinh doanh

TCTD Tổ chức tín dụng

TD Tín dụng

TSĐB Tài sản đảm bảo

TP Thành phố

UBND Ủy ban nhân dân

VAC Vườn – Ao – Chuồng

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Tên sơ đồ SƠ ĐỒ Trang

40 Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ

44 Sơ đồ 2.2 Tổng nguồn vốn huy động theo thời gian

45 Sơ đồ 2.3 Tình hình huy động vốn theo thành phần kinh tế

Tổng dư nợ qua các năm 2012-2014 46 Sơ đồ 2.4

Sơ đồ 2.5 Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm 2012 47 -2014

49 Sơ đồ 2.6 Tổng quĩ thu nhập qua các năm 2012-2014

Sơ đồ 2.7 So sánh mức tăng trưởng vốn huy động và dư nợ 68 chi nhánh

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng biểu Tên bảng biểu Trang

Bảng 2.1 Nguồn vốn huy động qua các năm 2013 – 2015 43

Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu về dư nợ tín dụng giai đoạn năm 2012-

2014 46

Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu hoạt động khác qua các năm 2012 –

2014 48

Bảng 2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm 2012 –

2014 49

Bảng 2.5 Số Hộ sản xuất được vay vốn và dư nợ bình quân trên

hộ 53

Bảng 2.6 Doanh số tín dụng các thành phần kinh tế 59

Bảng 2.7 Doanh số tín dụng Hộ sản xuất 60

Bảng 2.8 Tình hình dư nợ Hộ sản xuất 61

Bảng 2.9 Tình hình nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn Hộ sản xuất 63

Bảng 2.10 Vòng quay vốn tín dụng Hộ sản xuất 65

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Năm 2014 là năm thứ năm trong quá trình khôi phục kinh tế sau cuộc

khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Trong bối cảnh kinh tế thế giới

còn nhiều khó khăn, kinh tế trong nước tiếp tục gánh chịu lạm phát tăng cao,

thời tiết diễn biến phức tạp, dịch bệnh vẫn xảy ra trên cây trồng, vật nuôi…

Những yếu tố bất lợi đã tác động mạnh đến hoạt động sản xuất kinh doanh và

gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống dân cư.

Ngay từ những tháng đầu năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã quán

triệt nhiệm vụ và thực hiện nhiều giải pháp với mục tiêu kiềm chế lạm phát,

ổn định kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Với mục tiêu này, ngày 12 tháng 04

năm 2010 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ban hành

quy định về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và

nâng cao đời sống của nông dân và cư dân sống ở nông thôn. Kèm theo Nghị

định này, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

(NHNo&PTNT VN) đã có Quyết định số 881/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 16

tháng 07 năm 2010 về ban hành quy định thực hiện.

Để thực hiện chính sách này có hiệu quả thì nhu cầu vốn đòi hỏi là rất

lớn – từ nội lực các gia đình, hộ kinh doanh, từ ngân sách và nguồn vốn tín

dụng ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực tế việc mở rộng cho vay đối với Hộ sản

xuất ngày càng khó khăn do món vay nhỏ, chi phí nghiệp vụ cao, đối tượng

vay gắn liền với điều kiện thời tiết, nắng mưa bão lụt, hạn hán nên ảnh hưởng

rất lớn đến đồng vốn vay, khả năng rủi ro luôn tiềm ẩn trong hoạt động tín

dụng.

Bởi vậy, mở rộng tín dụng phải đi kèm với nâng cao chất lượng, đảm

bảo an toàn trong hoạt động tín dụng là mục tiêu hàng đầu của Ngân hàng

1

thương mại. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc

Thọ không phải một ngoại lệ. Ngân hàng phục vụ chủ yếu cho Hộ nông dân,

các tổ chức cá nhân kinh doanh, các yếu tố sản xuất nông nghiệp. Ngân hàng

là nhân tố để giúp cho các hộ có nguồn vốn làm ăn, có được các mức lãi suất

ưu đãi để phát triển. Nhiều hộ đã thu nhập khá hơn sau khi sử dụng nguồn

vốn của ngân hàng. Bên cạnh thành công đã đạt được, ngân hàng vẫn chưa

phát huy tối đa tiềm năng để phục vụ đời sống của nhân dân được tốt hơn,

góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo nguồn thu cho xã hội.

Nhận thức được những vấn đề trên và xuất phát từ thực tiễn cho vay Hộ

sản xuất của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc

Thọ, tác giả quyết định chọn đề tài “Mở rộng tín dụng Hộ sản xuất của chi

nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc Thọ

thành phố Hà Nội”.

2. Mục đích nghiên cứu

Vận dụng những lý luận cơ bản và những đặc trưng của tín dụng Hộ

sản xuất để phân tích đánh giá thực trạng việc đầu tư cho vay Hộ sản xuất tại

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc Thọ.

Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp và kiến nghị với Ngân hàng Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc Thọ và các ban ngành có liên

quan nhằm mở rộng đầu tư vốn cho các Hộ sản xuất để làm ra nhiều sản phẩm

cho xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, đảm bảo trả nợ được nguồn vốn vay

ngân hàng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng Hộ sản xuất tại Ngân hàng

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc Thọ.

- Phạm vi nghiên cứu: Các Hộ sản xuất vay vốn phục vụ phát triển

nông nghiệp, nông thôn cư trú và có cơ sở hoặc dự án sản xuất kinh doanh

2

trên địa bàn huyện Phúc Thọ trong giai đoạn 2012-2014, từ đó đưa ra giải

pháp mở rộng tín dụng Hộ sản xuất trong những năm tiếp theo.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng tổng hợp các

phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp,

phương pháp phân tích, phương pháp so sánh theo không gian và thời gian

trên cơ sở số liệu thống kê.

5. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, các sơ đồ, bảng biểu và kết luận, kết cấu của luận

văn được chia thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở luận về mở rộng tín dụng Hộ sản xuất của ngân hàng

thương mại

Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng Hộ sản xuất tại Ngân hàng

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc Thọ

Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng Hộ sản xuất tại Ngân hàng

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc Thọ

3

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. HỘ SẢN XUẤT VÀ TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT CỦA NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Hộ sản xuất

1.1.1.1. Khái niệm Hộ sản xuất

Hộ sản xuất ra đời và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát

triển của nền văn minh lúa nước. Kinh tế hộ cũng ra đời và phát triển song

song với sự phát triển của cả nền kinh tế, nó đóng vai trò quan trọng trong

phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Có nhiều

khái niệm về Hộ sản xuất. Chúng ta có thể xem xét một số quan niệm khác

nhau về Hộ sản xuất:

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học, Hộ sản xuất là tất cả những

người cùng sống chung trong mái nhà, nhóm người đó bao gồm những người

cùng huyết tộc và cùng lao động sản xuất.

- Theo các nhà kinh tế học Việt Nam, Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự

chủ trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh là chủ thể trong mọi quan hệ sản

xuất kinh doanh.

- Trên góc độ ngân hàng: “Hộ sản xuất là một thuật ngữ được dùng

trong hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung

của cả hộ”[16]. Hiện nay, trong các văn bản pháp luật Việt Nam, Hộ sản xuất

được xem như một chủ thể trong các quan hệ dân cư do pháp luật quy định và

được định nghĩa là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản

chung và hoạt động kinh tế chung. Một số thuật ngữ khác được dùng để thay

thế thuật ngữ “Hộ sản xuất” là “hộ”, “hộ gia đình”.

4

Ngày nay HSX đang trở thành một nhân tố quan trọng trong quá trình

CNH-HĐH đất nước và là sự tồn tại tất yếu trong quá trình xây dựng một nền

kinh tế đa thành phần theo định hướng XHCN. Để phù hợp với xu thế phát

triển chung, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà Nước, NHNo & PTNT

ban hành phụ lục số 1 kèm theo quyết định 499A ngày 02/09/1993, theo đó

khái niệm Hộ sản xuất được hiểu như sau: “Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự

chủ, trực tiếp hoạt động kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất

kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình”.

Thành phần chủ yếu của HSX bao gồm: Hộ nông dân, hộ tư nhân, hộ kinh

doanh cá thể, hộ gia đình xã viên, hộ nông-lâm trường viên.

1.1.1.2. Đặc điểm Hộ sản xuất

Tại Việt Nam hiện nay, trên 70% dân số là sinh sống ở nông thôn và

đại bộ phận còn sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc. Trong điều kiện đó, hộ

là đơn vị kinh tế cơ sở mà chính ở đó diễn ra quá trình phân công tổ chức lao

động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu dùng. Hộ sản

xuất có những đặc điểm sau:

- Thứ nhất, hộ được hình thành theo những đặc điểm tự nhiên, rất đa

dạng. Tuỳ thuộc vào hình thức sinh hoạt ở mỗi vùng và địa phương mà hộ

hình thành một kiểu cách sản xuất, cách tổ chức riêng trong phạm vi gia đình.

Các thành viên trong hộ quan hệ với nhau hoàn toàn theo cấp vị, có cùng sở

hữu kinh tế. Trong mô hình sản xuất chủ hộ cũng là người lao động trực tiếp,

làm việc có trách nhiệm và hoàn toàn tự giác. Sản xuất của hộ khá ổn định,

vốn luân chuyển chậm so với các ngành khác.

- Thứ hai, đối tượng sản xuất phát triển hết sức phức tạp và đa dạng, chi

phí sản xuất thường là thấp, vốn đầu tư có thể rải đều trong quá trình sản xuất

của hộ mang tính thời vụ, cùng một lúc có thể kinh doanh sản xuất nhiều loại

cây trồng, vật nuôi hoặc tiến hành các ngành nghề khác lúc nông nhàn, vì vậy

5

thu nhập cũng rải đều, đó là yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho kinh tế hộ

phát triển toàn diện.

- Thứ ba, trình độ sản xuất của hộ ở mức thấp, chủ yếu là sản xuất thủ

công, máy móc có chăng cũng còn ít, giản đơn, tổ chức sản xuất mang tính tự

phát, quy mô nhỏ không được đào tạo bài bản. Hộ sản xuất hiện nay nói

chung vẫn hoạt động sản xuất kinh doanh theo tính chất truyền thống, thái độ

lao động thường bị chi phối bởi tình cảm đạo đức gia đình và nếp sinh hoạt

theo phong tục tập quán của làng quê.

Từ những đặc điểm trên ta thấy kinh tế hộ rất dễ chuyển đổi hoặc mở

rộng cơ cấu vì chi phí bỏ ra ít, trình độ khoa học kỹ thuật thấp.

Quy mô sản xuất của hộ thường nhỏ, hộ có sức lao động, có các điều

kiện về đất đai, mặt nước nhưng thiếu vốn, thiếu hiểu biết về khoa học, kỹ

thuật, thiếu kiến thức về thị trường nên sản xuất kinh doanh còn mang nặng

tính tự cấp, tự túc. Nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước về cơ chế chính

sách, về vốn thì kinh tế hộ không thể chuyển sang sản xuất hàng hoá, không

thể tiếp cận với cơ chế thị trường.

1.1.2. Tín dụng Hộ sản xuất

1.1.2.1. Khái niệm tín dụng của ngân hàng thương mại

Tín dụng tồn tại trong nền sản xuất hàng hoá được biểu hiện trước hết

là sự vay mượn tạm thời một số vốn tiền tệ hay tài sản mà nhờ đó người đi

vay có thể sử dụng được một lượng giá trị trong một thời gian nhất định. Sau

thời gian nhất định, theo thoả thuận, người đi vay hoàn trả lại một giá trị lớn

hơn cho người cho vay. Phần tăng thêm đó là lợi tức tín dụng. Như vậy, quan

hệ tín dụng là một loại quan hệ xã hội biểu hiện mối liên hệ kinh tế, mà trước

hết dựa vào lòng tin. Khi một ngân hàng phát ra một khoản tín dụng cho một

khách hàng vay, trước hết là họ tin tưởng khách hàng có khả năng trả được

6

món nợ đó. Tín dụng từ xa xưa vẫn dựa cơ sở lòng tin và ngày nay nó còn

được pháp luật bảo hộ.

Hoạt động của tín dụng gồm hai quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín

dụng hay còn gọi là huy động vốn và cho vay.

Quỹ tín dụng (quỹ cho vay) có đặc trưng cơ bản là:

- Mục đích sử dụng quỹ tín dụng là cho vay nhằm thoả mãn nhu cầu

vốn tạm thời cho sản xuất và đời sống.

- Biểu hiện vật chất của quỹ tín dụng vừa dưới hình thức hàng hoá, vừa

dưới hình thức tiền tệ, trong đó hình thức tiền tệ là chủ yếu.

- Vận động của quỹ tín dụng theo nguyên tắc hoàn trả và có lợi tức.

Theo giáo trình Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng của TS.

Nguyễn Minh Kiều (2009): “tín dụng là các quan hệ kinh tế gắn liền với quá

trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu vốn

tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống theo nguyên tắc hoàn trả”.[7]

1.1.2.2. Khái niệm tín dụng Hộ sản xuất của NHTM

Trong nền kinh tế hàng hoá có nhiều loại hình tín dụng như: tín dụng

thương mại, tín dụng NH, tín dụng Nhà nước.

Tín dụng NH là sự tin tưởng lẫn nhau trong quan hệ đi vay và cho vay

giữa các NH với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, được thực hiện dưới

hình thức chủ yếu bằng tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.

Với đặc điểm tín dụng bằng tiền, vốn tín dụng NH có khả năng đầu tư

vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất lưu thông hàng hoá. Vì vậy, tín dụng

Ngân hàng ngày càng trở thành một hình thức tín dụng quan trọng trong các

hình thức tín dụng hiện có.

Tín dụng Hộ sản xuất cũng là một loại hình tín dụng của các ngân hàng

thương mại. “Tín dụng Hộ sản xuất có thể hiểu là quan hệ tín dụng ngân

hàng giữa một bên là ngân hàng với một bên là Hộ sản xuất, kinh doanh hàng

7

hóa”[16] . Từ khi được thừa nhận là chủ thể trong mọi quan hệ xã hội, có

thừa kế, có quyền sở hữu tài sản, có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả,

có tài sản thế chấp thì HSX mới có đủ khả năng và đủ tư cách để tham gia

quan hệ tín dụng với ngân hàng, đây cũng chính là điều kiện cần để đáp ứng

điều kiện vay vốn ngân hàng.

1.1.2.3. Đặc điểm tín dụng Hộ sản xuất

 Tính chất thời vụ gắn liền với chu kỳ sinh trưởng của động vật

Tính chất thời vụ trong cho vay nông nghiệp có liên quan đến chu kỳ

sinh trưởng của động, thực vật trong ngành nông nghiệp nói chung và các

ngành nghề cụ thể mà NH tham gia cho vay. Thông thường tính thời vụ được

biểu hiện ở những mặt sau:

- Vụ, mùa trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và

thu nợ. Nếu NH tập trung cho vay vào các chuyên ngành hẹp như cho vay

một số cây, con nhất định thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời gian

nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu hoạch, tiêu thụ tiến

hành thu nợ.

- Chu kỳ sống tự nhiên của cây, con là yếu tố quyết định để tính toán

thời hạn cho vay. Chu kỳ ngắn hay dài phụ thuộc vào loại giống cây hoặc con

giống và quy trình sản xuất. Ngày nay, công nghệ về sinh học cho phép lai tạo

nhiều giống mới có năng suất, sản lượng cao hơn và thời gian sinh trưởng

ngắn hơn.

 Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ

của khách hàng

Đối với khách hàng sản xuất - kinh doanh nông nghiệp nguồn trả nợ

vay NH chủ yếu là tiền thu bán nông sản và các sản phẩm chế biến có liên

quan đến nông sản. Như vậy sản lượng nông sản thu về sẽ là yếu tố quyết

định trong việc xác định khả năng trả nợ của khách hàng. Tuy nhiên sản

8

lượng nông sản chịu ảnh hưởng của các yếu tố thiên nhiên rất lớn, đặc biệt là

những yếu tố như đất, nước, nhiệt độ, thời tiết, khí hậu.

Bên cạnh đó yếu tố tự nhiên cũng tác động tới giá cả của nông sản (thời

tiết thuận lợi cho mùa vụ bội thu nhưng giá nông sản hạ…) làm ảnh hưởng

lớn tới khả năng trả nợ của khách hàng đi vay.

 Chi phí tổ chức cho vay cao

Chi phí tổ chức cho vay có liên quan đến nhiều yếu tố như chi phí tổ

chức mạng lưới, chi phí cho việc thẩm định, theo dõi khách hàng, món vay và

chi phí phòng ngừa rủi ro. Cụ thể:

- Cho vay nông nghiệp đặc biệt là cho vay đối với hộ nông dân thường chi

phí nghiệp vụ cho một đồng vốn vay thường cao do quy mô từng món vay nhỏ.

- Số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp nơi nên mở rộng cho vay

thường liên quan tới việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ (mở chi

nhánh, điểm giao dịch, tổ cho vay tại xã…) cũng là yếu tố làm tăng chi phí.

- Do ngành nông nghiệp có độ rủi ro tương đối cao nên chi phí cho dự

phòng rủi ro là rất lớn so với các ngành khác.

- Lãi suất thu hút nguồn vốn cho vay nông nghiệp cao do bị giới hạn bởi

các nguồn tại chỗ, phải chuyển dịch vốn từ nơi khác làm chi phí vốn tăng lên.

Khách hàng vay chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp là hộ nông dân.

Điều này xuất phát từ thực tế nước ta có khoảng 26.000.000 hộ gia đình ( năm

2011) với 15.340.000 hộ ở khu vực nông thôn, số hộ trong lĩnh vực nông lâm

thuỷ sản có 9.530.000 hộ. Trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ có

5.130.000 hộ. Số lao động trong lĩnh vực kinh doanh cá thể là 20.112.442

người. Hộ kinh doanh cá thể ít người ít vốn sử dụng lao động trong gia đình là

chính. tính đến 2011 cả nước có 622.977 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.

Kinh tế tư nhân có vị trí rất quan trọng với 27.922.000 lao động đang hoạt

động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm hơn 70% lực lượng lao động trong cả

9

nước. Phần lớn các hộ gia đình sản xuất quy mô nhỏ. Chính đặc điểm này ảnh

hưởng rất lớn đến tổ chức cho vay và áp dụng các phương thức, kỹ thuật cho

vay.

1.1.2.4. Phân loại tín dụng Hộ sản xuất

Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tuỳ theo yêu cầu của khách

hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Cụ thể là một số cách phân loại sau:

 Thứ nhất, phân loại theo thời hạn tín dụng

Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì

thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng

như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng đựơc phân

thành:

 Tín dụng ngắn hạn

Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng

dùng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động và các nhu cầu chi tiêu cá nhân.

Để hỗ trợ cho việc phát triển nông nghiệp và nông thôn Nhà nước đã có

những chính sách ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn cho vay.

Đối với các hộ ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các hộ nghèo

được Nhà nước hỗ trợ để các NH cho vay với lãi suất thấp.

Cũng như các loại khách hàng khác, cho vay Hộ sản xuất cũng bao gồm

cho vay có bảo đảm và không bảo đảm bằng tài sản. Tuy nhiên đối với lĩnh

vực nông nghiệp và nông thôn, Nhà nước có các chính sách về bảo đảm riêng,

bao gồm :

Cho vay đến 50 triệu đồng không phải thế chấp tài sản, cho vay theo

nghị định số 41/2010/NĐ-CP ban hành quy định về chính sách tín dụng phục

vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống của nông dân và

cư dân sống ở nông thôn. Quyết định số 881/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 16 tháng

07 năm 2010 về việc ban hành quy định thực hiện Nghị định số 41/2010/NĐ-

10

CP của Chính Phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp,

nông thôn nhằm mở rô ̣ng tín dụng, đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong

nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm ngh̀ èo và từng

bước nâng cao đời sống của nhân dân.

Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, Nghị quyết 11/NQ-CP, chương trình xây

dựng nông thôn mới) áp dụng đối với chủ trang trại hoặc các Hộ sản xuất

mang tính chất hàng hoá, các hộ nuôi trồng thuỷ hải sản. Các đối tượng khác

áp dụng bảo đảm tiền vay theo quy định hiện hành

Về định mức tín dụng: Theo quy định hiện nay của NHNo & PTNT

Việt Nam, NH cho vay tối đa bằng 80% tổng nhu cầu vốn và 75% đối với tài

sản thế chấp là nhà đất ở, 50% đối với tài sản thế chấp cầm cố là giá trị quyền

sử dụng phương tiện vận tải…

 Tín dụng trung hạn

Theo quy định hiện nay của NH Nhà nước Việt Nam, tín dụng trung

hạn có thời hạn cho vay trên 12 tháng đến 60 tháng.

Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định,

cải tiến đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng kinh doanh, xây dựng các dự án

mới có quy mô vừa và nhỏ phục vụ đời sống, sản xuất.

Tín dụng trung hạn Hộ sản xuất chủ yếu dùng đầu tư các đối tượng như

mua sắm máy móc, cải tạo đất trống đồi núi trọc để trồng cây ăn quả, xây

dựng chuồng trại chăn nuôi, đào ao nuôi thả cá…

Định mức cho vay: áp dụng như cho vay ngắn hạn đối với giá trị tài sản

thế chấp, cầm cố và cho vay tối đa bằng 85% tổng nhu cầu vốn.

 Tín dụng dài hạn

Tín dụng dài hạn có thời hạn trên 5 năm và có thời hạn tối đa có thể đến

20- 30 năm.

11

Tín dụng dài hạn để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở,

các thiết bị, các phương tiện vận tải quy mô lớn, các dự án đầu tư phát triển

cơ ở hạ tầng.

 Thứ hai, phân loại theo mức độ tín nhiệm của khách hàng

Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được

nguồn thu nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất

(từ quá trình sản xuất kinh doanh) không có hoặc không có đủ.

Theo căn cứ này, tín dụng có thể được phân chia thành tín dụng có đảm

bảo bằng uy tín của chính khách hàng, có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài

sản.

Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài

sản mà mình đang đang sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba cho

ngân hàng.

Tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách

hàng có uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài

chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương

đối nhỏ so với vốn của người vay. Các khoản cho vay theo chỉ thị của chính

phủ mà chính phủ yêu cầu không cần tài sản đảm bảo. Các khoản tín dụng đối

với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn, hoặc những khoản tín dụng

trong thời gian ngắn mà ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng...

cũng có thể không cần tài sản đảm bảo.

Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng

phải kí hợp đồng đảm bảo. Ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được thực trạng

của tài sản đảm bảo (quyền sở hữu, giá trị, tính thị trương, khả năng bán, khả

năng tài chính của người thứ ba…) có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc

khả năng bảo quản tài sản đảm bảo.

12

 Thứ ba, phân loại tín dụng theo rủi ro

Ngân hàng tiến hành nghiên cứu các mức độ, các căn cứ để chia loại rủi

ro. Một số ngân hàng lớn chia tới 10 thang bậc rủi ro theo các dấu hiệu của rủi

ro từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản, bao gồm cả nội và ngoại bảng

cho vay, bảo lãnh, đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập

dự phòng tổn thất kịp thời.

Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năn thu hồi cao.

Tín dụng có vấn đề cần xem xét: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không

lành mạnh như khách hàng gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài

chính.

Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn

ngắn và khách hàng đã có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị

lớn…

Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản

thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…

 Thứ tư, phân loại khác

- Theo nghành kinh tế

- Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưư động, tài sản cố định)

- Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng…)

Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá

trong cấp tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ

mở rộng phạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng

có lợi thế. Ví dụ ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,

bên cạnh việc đa dạng hoá các nghành tài trợ vẫn tập trung tài trợ cho phép

ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi gắn liền với hững lĩnh vực tài trợ để có

chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức và chính sách mở rộng phù hợp.

13

1.1.2.5. Vai trò của tín dụng đối với sự phát triển kinh tế Hộ sản xuất

Đối với một quốc gia có hơn 80% dân số ở nông thôn như Việt Nam,

hơn 70% lao động trong nông nghiệp, việc phát triển sản xuất nông nghiệp

chiếm giữ một vai trò cực kì quan trọng để thực hiện mục tiêu CNH - HĐH

nông nghiệp nông thôn. Nhưng đa số các Hộ sản xuất có lao động, có đất đai

lại thiếu vốn để sản xuất, vì vậy để đưa nông nghiệp nông thôn phát triển

mạnh mẽ thì phải có chính sách hỗ trợ cụ thể về vốn, tín dụng, phải có sự đầu

tư thích đáng của Nhà nước, của các nghành, trong đó không thể xem nhẹ vai

trò của NHNo & PTNT Việt Nam. Với tên gọi đó tự thân nó đã nói lên chức

năng, nhiệm vụ vừa cơ bản vừa lâu dài là phục vụ nông nghiệp, nông thôn và

nông dân. Khách hàng vay và tổng dư nợ của Hộ sản xuất nông- lâm- ngư

nghiệp vẫn luôn chiếm tỉ trọng quá nửa của NH.Điều đó đòi hỏi mọi cơ chế,

qui định, thể lệ, chế độ tín dụng Hộ sản xuất cần phải được cụ thể hoá và phù

hợp thực tiễn đảm bảo đơn giản, gọn nhẹ song phải an toàn vốn, dễ hiểu, dễ

thực hiện song phải đảm bảo tính pháp lí. Do đó, tín dụng NH có vai trò quan

trọng đối với quá trình phát triển kinh tế Hộ sản xuất.

 Tín dụng NH đáp ứng nhu cầu vốn cho Hộ sản xuất đảm bảo quá trình

sản xuất liên tục, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm nhất định, hiện tượng

tạm thời thừa thiếu vốn thường xảy ra đối với các tổ chức kinh tế nói chung

và đối với Hộ sản xuất nói riêng. Hoạt động đầu tư tín dụng ngân hàng cho

Hộ sản xuất đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân,

đáp ứng nhu cầu vốn cho Hộ sản xuất, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất

liên tục tránh tình trạng lao động không có việc làm do thiếu đối tượng và

công cụ lao động.

Khi nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao

cấp sang nền kinh tế thị trường thì nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa Hộ sản xuất

14

trong cùng một vùng hay giữa các vùng với nhau đã ra tăng đáng kể. Các Hộ

sản xuất từ lúc chỉ sản xuất các loại nông sản phẩm theo kiểu tự cấp, tự túc thì

giờ đây chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm thị trường cần. Các Hộ sản

xuất cho xã hội những sản phẩm, hàng hoá mà họ sản xuất ra, đồng thời mua

từ thị trường những thứ mà họ cần. Để đạt được điều đó thì các Hộ sản xuất

cần nhiều vốn để mua vật tư, đầu tư đổi mới kỹ thuật, mua hạn sắm máy móc

thiết bị. Trong khi đó vốn tự có của các hộ rất hạn chế, cho nên các Hộ sản

xuất cần đến sự trợ giúp của ngân hàng để mở rộng sản xuất.

Xét trên một khía cạnh khác thì sự chuyên môn hoá sản xuất dẫn tới

tình trạng các Hộ sản xuất khi chưa thu hoạch sản phẩm chưa có hàng hoá bán

thì chưa có thu nhập nhưng họ cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản

xuất, mua sắm, đổi mới công cụ sản xuất. Trong trường hợp này các Hộ sản

xuất cần có sự trợ giúp của ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất được liên

tục.

Hơn nữa trong điều kiện nước ta hiện nay cơ cấu kinh tế nói chung và

cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng còn ở trong tình trạng

mất cân đối. Do đó tín dụng ngân hàng sẽ thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức lại

sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, góp phần sử dụng có hiệu quả

nguồn lao động, nguyên vật liệu.

Như vậy, có thể khẳng định rằng tín dụng ngân hàng có vai trò cực kỳ

quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho Hộ sản xuất để phát triển kinh

tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay.

 Tín dụng NH góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn

trong sản xuất nông nghiệp

Quá trình sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường đòi hỏi người sản

xuất phải nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành và nâng cao chất lượng

sản phẩm. Muốn vậy phải không ngừng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh,

15

cải tiến máy móc, thiết bị, ứng dụng công nghệ mới, cải tiến cơ chế quản lý

những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, thường vượt quá khả

năng của các Hộ sản xuất. Nhờ có vốn tín dụng Ngân hàng, các Hộ sản xuất

có đủ vốn để tái sản xuất mở rộng, tập trung ruộng đất, tập trung vốn hạ giá

thành sản phẩm, tăng mức lợi nhuận, từ đó thúc đẩy quá trình tích tụ vốn, tăng

qui mô của vốn tự có, tăng sức mạnh trong cạnh tranh.

 Tín dụng NH là kênh chuyển tải vốn tài trợ của Nhà nước đối với nông

nghiệp, nông thôn

Thực hiện chủ trương CNH- HĐH nông nghiệp và nông thôn, Đảng và

Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ vốn đầu tư thông qua nhiều kênh.

TDNH được lựa chọn và đánh giá là kênh chuyển tải vốn đầu tư cho nông

nghiệp, nông thôn đạt hiệu quả cao. Thông qua hoạt động TDNH, Nhà nước

quản lý và kiểm soát được quá trình sản xuất kinh doanh, đánh giá được hiệu

quả kinh tế, hiệu quả xã hội của vốn đầu tư, nâng cao ý thức trách nhiệm của

các chủ thể kinh tế trong quá trình sử dụng vốn.

 Tín dụng NH góp phần hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn

Một trong những đặc điểm quan trọng của sản xuất nông nghiệp là tính

thời vụ khi chưa tới vụ thu hoạch, chưa có sản phẩm hàng hoá để bán nên

chưa có thu nhập song Hộ sản xuất vẫn cần có vốn để tái sản xuất và chi tiêu

những khoản cần thiết tối thiểu. Chính điều này đã tạo điều kiện cho tệ nạn

cho vay nặng lãi, tình trạng “bán lúa non” tồn tại, đồng thời phát sinh việc hỏi

nợ theo kiểu xã hội đen gây mất an ninh trật tự xã hội. Khi nền kinh tế còn

trong thời kỳ bao cấp, việc cho vay nặng lãi đã làm cho không ít những hộ đã

khó khăn lại càng khó khăn thêm, làm cho họ khó thoát khỏi cảnh đói nghèo.

Nạn cho vay nặng lãi đã kìm hãm quá trình sản xuất.

Từ khi Nhà nước có chủ trương cho phép các NH thương mại cho vay

trực tiếp đến từng hộ nông dân đã tạo điều kiện cho nông dân có đủ vốn để

16

sản xuất, kinh doanh khai thác tốt tiềm năng đất đai, lao động, hạn chế tình

trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn, thúc đẩy sản xuất phát triển.

Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ban hành quy định về chính sách tín

dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống của

nông dân và cư dân sống ở nông thôn, ”tam nông” là một chính sách lớn đối

với nông nghiệp, nông thôn, đáp ứng yêu cầu và phù hợp với nguyện vọng

của nông dân.

Tín dụng NH ngày càng mở rộng với chính sách đầu tư trực tiếp tới Hộ

sản xuất đã đáp ứng khá đầy đủ nhu cầu vốn cho sản xuất, hạn chế và đẩy lùi

việc cho vay nặng lãi, góp phần làm giàu cho các Hộ sản xuất, tăng thêm của

cải vật chất cho xã hội, củng cố lòng tin của dân đối với Đảng và Nhà nước.

 Tín dụng NH góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp

Hộ sản xuất ở nông thôn phần lớn là thiếu vốn để tổ chức sản xuất, nên

quá trình sản xuất chỉ đơn điệu với những cây trồng vật nuôi truyền thống,

không có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, ứng dụng những tiến bộ

khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp.

Từ khi Hộ sản xuất được công nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, được sự hỗ

trợ của vốn tín dụng NH các Hộ sản xuất có điều kiện để đưa giống mới vào

sản xuất nông nghiệp, thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mở mang thêm các

ngành nghề mới, phát triển tiểu thủ công nghiệp, phát triển kinh doanh dịch

vụ. Nhiều hộ đã tổ chức sản xuất dưới hình thức nông trại, trang trại và ứng

dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp. Nhiều vùng chuyên canh

mới ra đời thay thế những cây trồng vật nuôi kém hiệu quả.TDNH đã góp

phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong công nghiệp, đẩy lùi sản xuất tự cung,

tự cấp, phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp.

17

 Tín dụng NH đã góp phần khôi phục, phát huy các ngành nghề truyền

thống

Việt Nam là nước có nhiều nghề truyền thống. Trong một thời gian dài

nhiều nghề truyền thống đã bị mai một do không được quan tâm và đầu tư

đúng mức. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển

kinh tế, phát huy nội lực, khôi phục và phát triển các nghề truyền thống, phát

triển thêm các ngành nghề mới thu hút số lao động nhàn rỗi, tạo công ăn việc

làm cho người lao động, tín dụng NH là công cụ tài trợ vốn cho các ngành

nghề, góp phần phát triển toàn diện nông, lâm, ngư, diêm nghiệp gắn liền với

công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất

khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ, tạo tiền đề để các ngành nghề

này phát triển nhịp nhàng, đồng bộ.

Tóm lại: Tín dụng ngân hàng giữ một vai trò quan trọng và không thể

thiếu được trong việc cung ứng vốn, đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu về vốn của

Hộ sản xuất trong sản xuất kinh doanh giúp họ chủ động về vốn, đảm bảo kế

hoạch sản xuất, không ngừng tăng năng suất.

Tín dụng Hộ sản xuất là một định hướng đúng đắn của NHNo&PTNT

Việt Nam, là một trong những công cụ quản lý vĩ mô hiệu quả của Nhà nước

thúc đẩy nền kinh tế phát triển, thực hiện tốt mục tiêu “xóa đói giảm nghèo,

dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Hơn nữa kinh tế hộ phát

triển sẽ kéo theo thị trường vốn được mở rộng, tín dụng ngân hàng sẽ được

duy trì và phát triển.

1.2. MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT

1.2.1. Khái niệm mở rộng tín dụng Hộ sản xuất

Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, bất cứ doanh

nghiệp nào muốn đứng vững và phát triển trong hoạt động sản xuất kinh

18

doanh đòi hỏi doanh nghiệp đó phải không ngừng mở rộng và cải thiện chất

lượng sản phẩm của mình nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của nền kinh tế.

Khi nói đến “mở rộng”, người ta sẽ nghĩ ngay đến việc làm thế nào để

tăng quy mô khối lượng, số lượng tức là nói đến sự tăng trưởng theo chiều

ngang. Hay nói một cách khác, mở rộng tín dụng là sự đáp ứng các yêu cầu

ngày càng tăng của khách hàng về quy mô tín dụng, là việc làm tăng tỷ trọng

tín dụng trong tài sản có của các NHTM.

“Mở rộng tín dụng Hộ sản xuất là sự gia tăng về qui mô cho vay Hộ

sản xuất của ngân hàng, mở rộng bao gồm mở rộng về số lượng Hộ sản xuất

vay vốn ngân hàng, sự gia tăng về doanh số cho vay đối với mỗi Hộ sản xuất

hay sự gia tăng về dư nợ đối với Hộ sản xuất, gia tăng về ngành nghề cho vay

đối với Hộ sản xuất”[13].

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá mở rộng TDNH đối với Hộ sản xuất

1.2.2.1. Chỉ tiêu phản ánh số lượng và số lượt khách hàng giao dịch với

ngân hàng

Hộ sản xuất là khách hàng vay vốn trong tín dụng đối với Hộ sản xuất

lớn hay nhở được thể hiện một phần bởi số lượng Hộ sản xuất tham gia vay

vốn ngân hàng. Hộ sản xuất là đối tượng có nhu cầu vay vốn nhiều, thường

xuyên để tiến hành đầu tư sản xuất theo phương án của Hộ nhằm phát triển

kinh tế Hộ sản xuất. Do đó số lượng sản xuất có nhu cầu vốn và được ngân

hàng đáp ứng ngày càng có xu hướng gia tăng. Đây là một trong những yếu tó

đánh giá việc mở rộng tín dụng Hộ sản xuất.

Mức tăng giảm số Số lượng khách Số lượng khách hàng = - lượng khách hàng hàng năm (t) (t-1)

Chỉ tiêu này cho biết số lượng khách hàng tăng hay giảm qua các năm.

Thông qua đó ngân hàng đánh giá được việc mở rộng quy mô và đối tượng

khách hàng.

19

1.2.2.2. Chỉ tiêu phản ánh mức độ đa dạng hóa của danh mục sản phẩm tín

dụng hộ sán xuất

Dưạ vào danh mục sản phẩm tín dụng HSX ngân hàng đang cung cấp

để đánh giá mức độ đa dạng về cách thức mà ngân hàng áp dụng nhằm đáp

ứng nhu cầu, mong muốn của khách hàng, qua đó thể hiện khả năng mở rộng

quy mô, phạm vi hoạt động của ngân hàng.

1.2.2.3. Chỉ tiêu phản ánh hệ thống chi nhánh và kênh phân phối

Kênh phân phối là công cụ giúp cung ứng sản phẩm, dịch vụ và giao tiếp

với thị trường rất có hiệu quả. Trên thị trường ngân hàng, các chi nhánh đã thực

hiện cả 2 chức năng này rất thành công. Do đặc điểm HSX, số lượng các chi

nhánh của ngân hàng không ngừng tăng lên tạo cơ chế thu và phát triển hiệu quả,

đồng thời cũng dễ dàng cung cấp các loại dịch vụ gắn liền với tín dụng và các

loại dịch vụ đi kèm như: bảo hiểm bảo an tín dụng, dịch vị thẻ, SMS

BANKINH….

Tuy nhiên, trong số các kênh phân phối thì dịch vụ mạng lưới chi

nhánh vẫn có những nhược điểm nhất định, đặc biệt là rất tốn chi phí xây

dựng, duy trì và quản lý, phụ thuộc vào sức mạnh tài chính của ngân hàng.

Các ngân hàng phải sử dụng các kênh phân phối khác, đặc biệt là các kênh có

sử dụng công nghệ tiên tiến, để khắc phục các nhược điểm trên. Việc phối

hợp các kênh phân phối sao cho có hiệu quả là một vấn đề mang tình chiến

lược mà các ngân hàng đang phải quan tâm trong việc mở rộng hoạt động tín

dụng đối với khách hàng của ngân hàng nói chung và khách hàng là Hộ sản

xuất nói riêng. Để có được mạng lưới khách hàng rộng khắp, các ngân hàng

phải phát triển mạng lưới phân phối của mình. Mạng lưới của các ngân hàng

không chỉ gồm các chi nhánh, phòng giao dịch mà còn bao gồm những ngân

hàng ảo như internet banking, phone banking… hay hệ thống các ATM, POS.

20

Việc mở rộng và hoàn thiện các kênh phân phối sẽ tạo điều kiện cho khách

hàng tiếp xúc với các sản phẩm của ngân hàng dễ dàng, thuận tiện.

1.2.2.4. Chỉ tiêu phản ánh doanh số tín dụng

Doanh số tín dụng Hộ sản xuất là tổng số tiền ngân hàng thực hiện

trong một kì, phản ánh khái quát tình hình hoạt động tín dụng HSX của ngân

hàng trong một thời kì nhất định. Doanh số tín dụng tăng hay giảm trực tiếp

quyết định đến quy mô tín dụng Hộ sản xuất đã được mở rộng hay chưa. Đây

là một con số tuyệt đối phản ánh một cách chính xác về quy mô tín dụng Hộ

sản xuất của ngân hàng. Bên cạnh đó, dư nợ đối với Hộ sản xuất cũng là một

con số thể hiện quy mô tín dụng Hộ sản xuất có được mở rộng hay không.

a) Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về doanh số tín dụng HSX tuyệt đối

Giá trị tăng trưởng Tổng doanh số tín Tổng doanh số tín = - doanh số tuyệt đối dụng HSX năm (t) dụng HSX năm (t-1)

Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh quy mô tín dụng HSX đối với nền

kinh tế. Chỉ tiêu này phản ánh chính xác hoạt động tín dụng HSX qua các

năm. Khi so sánh chỉ tiêu này qua các thời kì ta sẽ thấy được phần nào xu thế

của hoạt động tín dụng đối với HSX.

b) Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số tương đối.

Chỉ tiêu này được xác định như sau:

Giá trị tăng trưởng doanh số tuyệt đối X 100 Tổng doanh số tín dụng HSX năm (t-1)

Chỉ tiêu này cho biết trong năm (t) doanh số tín dụng HSX tăng bao

nhiêu % so với năm (t-1). Khi chỉ tiêu này càng cao thì nó thể hiện tốc độ tăng

doanh số tín dụng HSX càng nhanh.

21

c) Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về tỷ trọng

Tổng dư nợ tín dụng HSX Tỷ trọng = X 100 Tổng dư nợ hoạt động tín dụng

Chỉ tiêu này cho biết doanh số hoạt động tín dụng HSX chiếm bao

nhiêu % trong tổng doanh số hoạt động tín dụng của ngân hàng. Khi tỉ lệ này

tăng qua các năm chứng tỏ hoạt động tín dụng HSX được mở rộng.

1.2.2.5. Chỉ tiêu phản ánh dư nợ và tăng trưởng dư nợ tín dụng HSX

a) Tỷ trọng dư nợ tín dụng HSX trên tổng dư nợ

Dư nợ tín dụng HSX có thể đánh giá được quy mô tín dụng, dư nợ càng

cao thì quy mô tín dụng càng lớn. Thông qua chỉ tiêu dư nợ có thể biết được

dư nợ tín dụng HSX chiếm tỉ trọng bao nhiêu trong tổng dư nợ của ngân

hàng:

Dư nợ tín dụng HSX của ngân hàng = X 100 Tỷ trọng dư nợ tín dụng HSX Tổng dư nợ của hê thống ngân hàng

b) Tốc độ tăng trưởng dư nợ

Tổng dư nợ tín dụng năm (t) = X 100 Tốc độ tăng trưởng dư nợ Tổng dư nợ tín dụng năm (t-1)

Chỉ tiêu này phản ánh được quy mô và xu hướng của đầu tư tín dụng là

tăng trưởng hay thu hẹp.

1.2.2.6. Chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động tín dụng HSX

a) Thu lãi từ hoạt động tín dụng HSX

Chỉ tiêu này được xác đinh:

Thu lãi từ tín dụng HSX = X 100 Tỷ trọng thu lãi tín dụng HSX Tổng thu lãi tín dụng

Tỷ trọng này càng cao phản ánh quy mô và xu hướng mở rộng tín dụng

HSX là có hiệu quả và tín hiệu tốt để tiếp tục phát huy.

22

b) Tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ tín dụng HSX:

Chỉ tiêu này được xác định:

Tỷ lệ nợ quá hạn X 100 Tổng dư nợ

Chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng là: Tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng

dư nợ tín dụng HSX. Một ngân hàng thường không tránh khỏi việc gặp rủi ro

nợ quá hạn, có thể do tình hình tài chính không lành mạnh của khách hành

dẫn đến việc trả nợ không đầy đủ hoặc không đúng hạn, hay do khách hành cố

tình không thanh toán khi đến hạn. Do đó, hoạt động tín dụng của ngân hàng

được coi là mở rộng và hiệu quả khi có tỷ lệ nợ quá hạn nằm trong giới hạn

cho phép và phải thấp hơn kì trước.

c) Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích.

Chi tiêu này được xác định:

Số tiền sử dụng sai mục đích X 100 Tổng dư nợ

Chỉ tiêu này sử dụng nhằm đánh giá chất lượng tín dụng về nợ quá hạn

lẫn nơ trong hạn nhưng đã chứa tiềm ẩn rủi ro. Đây là chỉ tiêu hết sức nhạy

cảm bởi nó đánh giá tương đối thực chất về chất lượng khoản nợ đã tín dụng.

Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích càng cao thì chất lượng tín dụng càng

thấp và ngược lại.

1.2.3. Tầm quan trọng của việc mở rộng tín dụng Hộ sản xuất của NHTM

Hộ sản xuất đã và đang là một lực lượng sản xuất to lớn ở nông thôn, từ

khi nghị quyết 10 – Bộ chính trị ban hành, hộ nông dân được thừa nhận là

một đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ, năng động

trong kinh tế nông thôn, nhờ đó người nông dân gắn bó với ruộng đất hơn,

chủ động đầu tư vốn để thâm canh tăng vụ, bố trí phân vùng đặc điểm sinh

23

thái và nhu cầu thị trường, khai phá thêm hàng trăm ngàn héc ta đất mới,

ruộng đất được sử dụng tốt hơn, vừa đi vào thâm canh vừa đổi mới cơ cấu sản

xuất, cơ cấu thời vụ. Việc trao quyền tự chủ cho người dân đã khơi dậy nhiều

làng nghề truyền thống, mạnh dạn vận dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, từ

đó gia tăng lợi nhuận. Sự tồn tại của Hộ sản xuất ngày càng được khẳng định

trong vai trò cầu nối giữa kinh tế nông thôn và thành thị, là đơn vị tích vốn,

nâng cao hiệu quả lao động, giải quyết việc làm nông thôn.

1.2.3.1. Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực ở

nông thôn

Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 80% dân số sống ở nông

thôn, trình độ lao động còn hạn chế. Từ khi chuyển nền kinh tế từ quản lý tập

trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, khu vực kinh tế quốc

doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo song cũng bị co hẹp cả về qui mô và số lượng

do đó lực lượng lao động trong khu vực đã giảm đáng kể. Nền kinh tế mở các

Công ty liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tăng lên nhanh

chóng nhưng yêu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp này đòi hỏi

người lao động phải có năng lực và kiến thức kỹ thuật, công nghệ. Như vậy

để sử dụng hợp lý nguồn lao động dồi dào, giải quyết tốt việc làm cho người

lao động ở nông thôn hiện nay là vấn đề hết sức cấp bách được giải quyết

bằng con đường phát triển kinh tế Hộ sản xuất. Đó là hướng đi đúng mà Đảng

và Nhà nước đã lựa chọn. Kinh tế Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử

dụng nguồn lao động, giải quyết tốt công ăn việc làm ở nông thôn.

Từ khi chuyển đổi cơ chế quản lý trong nông nghiệp theo cơ chế thị

trường Hộ sản xuất được công nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, được Nhà nước

giao quyền sử dụng quản lý đất lâu dài, đã tạo động lực thúc đẩy các Hộ sản

xuất khai thác có hiệu quả nguồn lực đất đai và tài nguyên thiên nhiên tại chỗ,

tăng vòng quay sử dụng đất, đầu tư thâm canh tăng độ phì nhiêu của đất, tăng

24

năng suất cây trồng, mở rộng khai hoang phục hoá tăng diện tích canh tác,

tăng sản lượng cây trồng.

1.2.3.2. Kinh tế hộ góp phần khai thác và sử dụng có hiệu quả đất đai, tài

nguyên và công cụ lao động

Sản xuất nông nghiệp nước ta trong những năm qua đã đạt được nhiều

khởi sắc. Cùng với sự tăng cường các khâu kỹ thuật việc khai hoang, cải tạo

đất được các Hộ sản xuất chú trọng, đặc biệt là khu vực đồng bằng Nam Bộ

do đó diện tích đất canh tác không ngừng được mở rộng qua các năm.

Nhờ chính sách trao quyền sử dụng đất cho người sản xuất lâu năm,dồn

nhiều ô thửa nhỏ manh mún thành ô thửa to (một trong các tiêu chí xây dựng

nông thôn mới của đảng và nhà nước) đem lại lợi ích rất thiết thực đối với

người nông dân nên việc sử dụng quỹ đất một cách có khoa học và tiết kiệm.

Công tác cải tạo đất canh tác rất được bà con chú ý như tăng cường bón phân

hữu cơ, phân vi sinh, chương trình IPM… tăng cường mùn cho đất.

Đối với các công cụ sản xuất như máy cày, máy bơm, máy gặt đập liên

hợp… khi được giao quyền sử dụng lâu dài hoặc thuộc quyền sở hữu thì hiệu

quả sử dụng chúng tăng rõ rệt, các định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật, bảo

dưỡng được Hộ sản xuất đặc biệt quan tâm và đem lại kết quả cao hơn khi các

tư liệu sản xuất đó dùng trong các hợp tác, tập thể.

1.2.3.3. Kinh tế hộ có khả năng thích ứng với kinh tế thị trường, thúc đẩy

kinh tế sản xuất hàng hoá

Trong cơ chế thị trường có sự tự do cạnh tranh trong sản xuất và tiêu

thụ hàng hoá. Là một đơn vị kinh tế tự chủ Hộ sản xuất hoàn toàn tự chủ

trong việc hạch toán kinh tế và đề ra các mục tiêu sản xuất kinh doanh, dịch

vụ của mình, sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào và cho ai? nhằm mục tiêu

cuối cùng là có lãi. Điều đó đòi hỏi sự không ngừng nâng cao năng suất, chất

lượng sản phẩm bằng việc tăng cường đầu tư, mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ

25

thuật.

Với qui mô nhỏ đã tạo ra ưu thế về quản lý, năng động trong việc thích

ứng với những biến động của thị trường. Được Đảng và Nhà nước có các

chính sách khuyến khích, hỗ trợ, kinh tế hộ ngày càng lớn mạnh vươn lên

khẳng định vai trò và vị trí trên thị trường, kinh tế hộ cũng là một yếu tố thúc

đẩy thị trường phát triển đầy đủ và đa dạng hơn. Bằng ưu thế của mình kinh tế

Hộ sản xuất đã góp phần đáp ứng đầy đủ yêu cầu ngày càng cao của thị

trường, tạo động lực kích thích sản xuất hàng hoá phát triển hơn.

1.2.3.4. Kinh tế hộ thúc đẩy sự phân công lao động dẫn tới chuyên môn hoá

và tạo khả năng hợp tác trên cơ sở cùng có lợi

Từ chỗ các Hộ sản xuất chỉ sản xuất thuần nông, lạc hậu một mặt vừa

không phát huy được các quan hệ sản xuất, mặt khác không thúc đẩy sản xuất

hàng hoá phát triển. Một vài năm trở lại đây, kinh tế hộ đã từng bước tạo ra sự

chuyển dịch cơ cấu nông thôn, thông qua việc phát triển và có sự chuyên môn

hoá trong các lĩnh vực nhỏ. Có hộ chuyên thực hiện các dịch vụ về giống,

phân bón… Có sự chuyên môn hoá và hợp tác chặt chẽ này là yêu cầu tất yếu

và làm cho hiệu quả của sản xuất đạt cao hơn. Giữa các Hộ sản xuất trên đã

có hợp đồng dịch vụ với nhau ở từng công việc, trả công sau khi kết thúc

nghiệm thu. Như vậy nếu chuyên môn hoá làm cho năng suất lao động tăng,

chất lượng sản phẩm tốt hơn thì hợp tác hoá được hoàn thiện hơn. Đó chính từ

nhu cầu của các Hộ sản xuất và từ đó đáp ứng tốt nhất đòi hỏi của thị trường.

Tóm lại, với vai trò quan trọng như vậy kinh tế Hộ sản xuất đã và đang

là nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nước ta. Sự

năng động và hoạt động có hiệu quả của kinh tế hộ là nhân tố tích cực trong

thời kỳ đầu CNH- HĐH đất nước. Song kinh tế hộ cần được sự quan tâm hơn

nữa của Đảng và Nhà nước, sự đáp ứng đầy đủ hơn về các nguồn lực, về vốn

cùng với sự khai thông về thị trường sẽ kích thích kinh tế Hộ sản xuất phát

26

triển hơn nữa.

Do đó, việc mở rộng tín dụng Hộ sản xuất có vai trò to lớn trong việc

phát triển kinh tế Hộ sản xuất và gia tăng lợi nhuận ngân hàng, đây không thể

là gì khác ngoài một sự phát triển khách quan của quan hệ tín dụng giữa ngân

hàng và Hộ sản xuất. Đối tượng hưởng lợi ích từ việc mở rộng tín dụng Hộ

sản xuất không gói gọn trong ngân hàng và Hộ sản xuất, mà sẽ là cả nền kinh

tế.

1.2.4. Rủi ro mở rộng tín dụng Hộ sản xuất

Trong nền kinh tế thị trường hệ thống ngân hàng được ví như hệ thống

thần kinh của nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng quốc gia hoạt động thông suốt,

lành mạnh và hiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chính luân chuyển, phân

bổ và sử dụng hiệu quả… kích thích tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.

Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường thì rủi ro trong kinh doanh là không

thể tránh khỏi, mà đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng rất

nhạy cảm nó có phản ứng dây truyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức

tạp. Sự sụp đổ của ngân hàng có ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống

kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và có thể lan rộng sang quy mô quốc tế.

Đối với ngân hàng, mở rộng tín dụng nói chung và mở rộng tín dụng

Hộ sản xuất nói riêng là chức năng kinh tế cơ bản và thường mang lại thu

nhập chính cho ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật trên và nó luôn

chứa đựng những rủi ro.

Rủi ro mở rộng tín dụng Hộ sản xuất là khoản lỗ tiềm tàng vốn tạo ra

khi mở rộng tín dụng Hộ sản xuất. Cụ thể hơn, rủi ro mở rộng tín dụng Hộ sản

xuất là khả năng Hộ sản xuất không trả nợ đúng hạn với ngân hàng xét trên cả

hai khía cạnh: số lượng và thời gian. Do đó, có thể phân thành:

- Rủi ro mất vốn: Khi khách hàng không hoàn trả một phần hoặc toàn

bộ khoản tín dụng (xét trên khía cạnh số lượng). Từ đó làm giảm vốn tự có

27

của NHTM dẫn đến giảm sức mạnh tài chính của ngân hàng.

- Rủi ro vốn bị ứ đọng: Khi khách hàng không có khả năng hoàn trả

đúng hạn làm cho các khoản cho vay của ngân hàng bị bất động hóa (xét trên

khía cạnh thời gian). Từ đó gây ra những phần nguồn vốn đã huy động để cho

khách hàng vay cần phải trả lãi (trả lãi tiền gửi, trả lãi cho các giấy tờ có giá,

trả lãi các khoản vay…) nhưng lại không tạo được nguồn thu tương ứng.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC MỞ RỘNG TÍN DỤNG

HỘ SẢN XUẤT

1.3.1. Nhân tố chủ quan

1.3.1.1. Định hướng phát triển, chính sách tín dụng của ngân hàng

Đây là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến quy mô của hoạt động tín dụng

nói chung và tín dụng Hộ sản xuất nói riêng. Do:

- Chính sách tín dụng là đường lối, chủ trương đảm bảo hoạt động tín

dụng đi vào đúng quỹ đạo liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng.

- Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng,

đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng. Chính sách tín dụng đúng

đắn phải linh hoạt, phù hợp với sự thay đổi của môi trường và đối với NHTM,

phải đảm bảo khả năng sinh lời trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật,

đường lối chính sách của Nhà nước, đồng thời đảm bảo được tính công bằng.

- Chính sách tín dụng của ngân hàng ảnh hưởng đến quy mô của tín dụng

ngắn hạn ở rất nhiều khía cạnh khác nhau song trực tiếp là ở 3 yếu tố: lãi suất

cạnh tranh, phương thức cho vay, tài sản đảm bảo tiền vay.

1.3.1.2. Công tác tổ chức, nhân sự của ngân hàng

Tổ chức của NH được sắp xếp một cách khoa học, đảm bảo sự phối hợp

chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban chức năng sẽ tạo điều kiện đáp ứng

kịp thời nhu cầu của khách hàng, giúp NH quản lý sát sao các khoản cho vay

các khoản huy động vốn. Đồng thời việc bố trí nhân sự một cách hợp lý sẽ

28

khai thác một cách có hiệu quả năng lực sở trường của mọi người, tạo ra

những nhân tố chất lượng lao động mới tốt hơn, phát huy khả năng sáng tạo

và bản lĩnh nghề nghiệp của người lao động, từ đó mở rộng và nâng cao chất

lượng hoạt động của ngân hàng trong đó có hoạt động tín dụng.

1.3.1.3. Cơ sở vật chất, công nghệ ngân hàng

Cơ sở vật chất: Trang thiêt bị đầy đủ và hiện đại giúp cho ngân hàng có

thể phục vụ tốt các nhu cầu của khách hàng về các nghiệp vụ thực hiện cũng

như các dịch vụ bổ trợ, tạo lòng tin, sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân

hàng và do đó thu hút khách hàng đến giao dịch với ngân hàng.

Mặc dù là ngân hàng phục vụ lĩnh vực nông nghiệp nông thôn nhưng

không thể phủ nhận vai trò của ngân hàng đối với triển vọng mở rộng hoạt

động tín dụng. Vối hệ thống và công nghệ hiện đại, các thao tác và qui trình

sẽ được rút ngắn tạo điều kiện thoải mái cho khách hàng. giảm thiểu chi phí

hoạt động cho ngân hàng. Công nghệ còn giúp cho việc báo cáo tình hình điều

chuyển vốn dư thừa hoặc thiếu hụt giữa các chi nhánh trong hệ thống trở nên

thuận lợi hơn, góp phần quyết định vào việc mở rộng hoạt động tín dụng.

Công nghệ ngân hàng còn được hiểu rộng hơn ở khía cạnh linh hoạt và đa

dạng các sản phẩm tín dụng. Các thông số của sản phẩm về kỳ hạn, phương

thức nhận gửi, phương thức thanh toán… nếu được thiết kế phù hợp với nhu

cầu của khách hàng sẽ góp phần quyết định tác động đến nhu cầu tín dụng

dịch vụ của khách hàng. Từ đó tạo điều kiện mở rộng hoạt động tín dụng của

ngân hàng. Ngược lại, nếu chủ quan áp đặt những sản phẩm, ngân hàng sẽ bị

nguy cơ đánh mất khách hàng.

1.3.1.4. Phẩm chất đạo đức của cán bộ tín dụng

Với tinh thần hợp tác và thái độ phục vụ vì khách hàng, các nhân viên

góp phần tạo dựng một hình ảnh tốt đẹp về ngân hàng trong lòng khách hàng,

xua tan trong họ những suy nghĩ thiếu thiện cảm với ngân hàng. Ngược với

29

một đội ngũ nhân viên trình độ nghiệp vụ yếu, tinh thần làm việc bê trễ, đánh

mất đạo đức nghề nghiệp, hoạt động tín dụng sẽ có thể bị đổ bể chứ không nói

đến khả năng mở rộng.

1.3.1.5. Mạng lưới của các ngân hàng

Mạng lưới của ngân hàng càng rộng thì càng thu hút đươc khách hàng

đến giao dịch. Tại những địa điểm gần khách hàng, ngân hàng có thể dễ dàng

thẩm định, cho vay, giải ngân… có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng hơn

nữa hoạt động cho vay nhóm khách hàng này.

1.3.1.6. Chính sách Marketing của ngân hàng

Đây là công cụ cạnh tranh hiệu quả nhất trong giai đoạn các ngân hàng

và các tổ chức tài chính đang bùng nổ và phát triển mạnh mẽ. Marketing tốt

sẽ làm tăng quy mô của hoạt động tín dụng trong đó có tín dụng Hộ sản xuất.

1.3.2. Nhân tố khách quan

1.3.2.1. Các nhân tố từ khách hàng cho vay

- Thứ nhất, thu nhập của người vay

Mức thu nhập của người vay có vị trí quan trọng đối với nhu cầu vay

của Hộ sản xuất. khi đi vay thì triển vọng về thu nhập sẽ là một trong những

cơ sở phát sinh nhu cầu vay. Còn đối với ngân hàng, vấn đề thu nhập của

khách hàng xin vay sẽ có ảnh hưởng quyết định đến khả năng trả nợ của

khách hàng. Tuy nhiên thu nhập là nhân tố biến động rất cao. Những rủi ro

như sức khỏe, sinh mạng, rủi ro dịch bệnh ở vật nuôi , thiên tai lũ lụt , mất

mùa , giá cả thị trường không ổn định … có thể khiến cho thu nhập của người

đi vay thay đổi nhanh chóng.

- Thứ hai, tài sản đảm bảo

TSĐB được xem là nguồn thu nhập thứ hai khi nguồn thu nhập thứ nhất

không có khả năng. Do đó, nó mang tính chất ngăn ngừa rủi ro và làm tăng tính

an toàn của khoản vay. Vì vậy, việc xem xét đánh giá TSĐB là vấn đề quan

30

trọng.

- Thứ ba, yếu tố đạo đức

Đây là nhân tố quan trọng bởi khả năng hoàn trả nợ của khách hàng còn

phụ thuộc vào thái độ và sự sẵn lòng trả nợ của khách hàng. Đôi khi có những

khách hàng có thu nhập, nhưng khả năng thu hồi nợ thấp vì họ không sẵn lòng

trả nợ. Ngược lại, có những khách hàng sẵn lòng trả nợ nhưng không có tiền để

trả nợ.

1.3.2.2. Đối thủ cạnh tranh

Hoạt động của ngân hàng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt

và khốc liệt. Các đối thủ cạnh tranh bao gồm cả hiện tại và tương lai, cả trong

nước và nước ngoài. Nếu ngân hàng không có khả năng cạnh tranh thì thị

phần, khách hàng cũng như mục tiêu lợi nhuận… đều bị ảnh hưởng gây khó

khăn trong hoạt động cũng như kết quả kinh doanh của ngân hàng.

Nếu một ngân hàng phải đối đầu vối đối thủ cạnh tranh mạnh, có tiềm

lực tài chính vững mạnh, công nghệ hiện đại, danh mục sản phẩm đa dạng và

có chất lượng thì việc mở rộng hoạt động cho vay Hộ sản xuất sẽ gặp phải

những thách thức lớn.

1.3.2.3. Môi trường pháp lý

Các đối tượng khách hàng trong diện mở rộng cần được thừa nhận về

mặt pháp lý trong pháp luật do NHNN ban hành và cả ngân hàng cho vay.

Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, việc thực thi pháp luật không

nghiêm sẽ tạo ra kẽ hở trong quản lý tín dụng, gây lên những rủi ro trong hoạt

động cho vay của ngân hàng như: khách hàng có hàng vi lừa đảo để vay vốn,

cán bộ ngân hàng có hành vi sai trái… ảnh hưởng đến chất lượng cho vay.

1.3.2.4. Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế có ảnh hưởng gián tiếp đến khả năng mở rộng mở

rộng cho vay Hộ sản xuất của NHTM. Khi nền kinh tế không ổn định giá cả

31

đầu vào tăng , chi phí sản xuất tăng nhưng giá thành sản phẩm thấp kết quả là

hiệu quả mở rộng cho vay Hộ sản xuất của ngân hàng cũng giảm theo.

1.3.2.5. Môi trường văn hóa, xã hội

Môi trường văn hóa xã hội thể hiện ở tập quán, bản sắc dân tộc, tâm ý

người dân giữa các vùng và văn hóa cộng đồng. Các yếu tố này ảnh hưởng

đến nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất.

Trình độ hiểu biết của các cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế,

chính trị, xã hội có ý nghĩa tích cực đối với việc mở rộng hoạt động tín dụng

ngân hàng. Bởi vì trình độ dân trí sẽ tác động đến sự phát triển kinh tế của đất

nước và ảnh hưởng đến cơ chế chính sách của ngân hàng đối với tín dụng, ảnh

hưởng đến khả năng tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tín dụng ngân hàng…

Hiện nay tình trạng dân trí ở nước ta chưa cao, đặc biệt là ở lĩnh vực nông

nhgiệp và nông thôn thì trình độ dân trí còn thấp kém. Điều này gây ảnh

hưởng không nhỏ tới hoạt động mở rộng tín dụng của ngân hàng, nhất là

NHNo.

1.3.2.6. Môi trường công nghệ

Công nghệ là một trong các điều kiện để bảo đảm cho hoạt động của

các ngân hàng hiện đại. Chính vì vậy, một trong các khâu đột phá được xác

định trong những năm tới đối với hoạt động của các ngân hàng là tập trung

xây dựng hệ thống kết cấu cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin, công nghệ

ngân hàng hiện đại: Hoạt động của hệ thống ngân hàng cần được thực hiện

dựa trên cơ sở hạ tầng công nghệ truyền thông và thông tin hiện đại ở hầu hết

các mặt nghiệp vụ ngân hàng. Hệ thống hạch toán kế toán, thông tin thống kê

dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ để đảm bảo ngân hàng thực hiện có

hiệu quả việc hoạch định và thực thi chính sách thanh toán, các hoạt động

quản lý, điều hành, hoạt động thanh tra, giám sát toàn bộ hoạt động ngân hàng

của nền kinh tế và các hoạt động chức năng khác của ngân hàng. Hệ thống hạ

32

tầng kỹ thuật công nghệ liên kết giữa các các ngân hàng với nhau và trong nội

bộ nhằm tạo điều kiện cho từng ngân hàng phát triển các dịch vụ gia tăng

cạnh tranh, đáp ứng kịp thời các dịch vụ ngân hàng tiện ích cho xã hội, tăng

vòng quay dòng vốn, hỗ trợ tích cực cho công tác quản trị các ngân hàng.

Chính vì vậy, công nghệ được xem là một trong những yếu tố quyết định năng

lực cạnh tranh của một ngân hàng. Việc nắm bắt triển khai và ứng dụng công

nghệ hiện đại vào hoạt động kinh doanh của mình là điều không thể thiếu.

33

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Trong chương 1, luận văn đã trình bày những vấn đề cơ bản về Hộ sản

xuất, về mở rộng cho vay đối với Hộ sản xuất trong các NHTM, những chỉ

tiêu đánh giá sự mở rộng và sự cần thiết của việc mở rộng, sau đó đưa ra rủi

ro mở rộng tín dụng đối với Hộ sản xuất, từ đó chỉ ra những nhân tố ảnh

hưởng đến mở rộng tín dụng đối với Hộ sản xuất. Đây là những lý luận cơ

bản về mở rộng tín dụng Hộ sản xuất trong các NHTM hiện nay và là cơ sở

để luận văn nghiên cứu, phân tích thực trạng mở rộng tín dụng HSX tại chi

nhánh NHNo & PTNT huyện Phúc Thọ trong chương 2.

34

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT TẠI

CHI NHÁNH NHNo & PTNT PHÚC THỌ

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN PHÚC

THỌ

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

Huyện Phúc Thọ cách trung tâm Thủ đô Hà Nội hơn 30 km về phía

Tây. Phía Bắc giáp huyện Yên Lạc và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc;

phía Nam giáp huyện Thạch Thất và Quốc Oai; phía Tây giáp thị xã Sơn Tây;

phía Đông giáp huyện Đan Phượng.

Là địa danh xuất hiện sớm trong lịch sử dân tộc, Phúc Thọ luôn có sự

thay đổi tên gọi, chia tách, sáp nhập các đơn vị hành chính và di dời trụ sở

Huyện lỵ.

Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” và “Sơn Tây tỉnh địa chí”, địa

danh Phúc Thọ có từ năm 1822 (Năm Minh Mạng thứ 3). Tính đến năm 2012,

huyện Phúc Thọ tròn 190 năm.

Thời dựng nước, thuộc địa phận bộ Phúc Lộc và Chu Diên của nhà

nước Văn Lang do Vua Hùng dựng nghiệp. Đời Đông Hán, thuộc huyện Mê

Linh, quận Giao Chỉ, bộ Giao Châu.

Đời Trần thộc Quốc Oai lộ. Đời Hậu Lê, huyện lấy tên là Phúc Lộc

thuộc Phủ Quốc Oai, Sơn Tây thừa tuyên. Đến triều đại Tây Sơn, đổi tên là

Phú Lộc, thuộc xứ Sơn Tây. Đầu đời Gia Long, đổi lại tên là Phúc Lộc. Năm

Minh Mạng thứ 3 (1822), huyện lấy tên là Phúc Thọ thuộc phủ Quảng Oai,

trấn Sơn Tây.

Từ năm 1831 - 1965, Phúc Thọ thuộc tỉnh Sơn Tây. Từ năm 1965-

1978, thuộc tỉnh Hà Tây, Hà Sơn Bình. Từ năm 1978-1991, thuộc thành phố

35

Hà Nội. Từ năm 1991-2008, tái nhập tình Hà Tây. Từ ngày 01/8/2008, huyện

Phúc Thọ trực thuộc thành phố Hà Nội.

Trước năm 1930 trụ sở huyện lỵ Phúc Thọ đặt tại xã Triệu Xuyên, tổng

Phù Long. Từ năm Minh Mạng thứ 11 (1830), chuyển về Phú Nhi, tổng Cam

Thịnh. Năm 1844, chuyển về Sen Chiểu, tổng Phù Sa. Từ năm 1956, đặt tại

Võng Xuyên. Từ năm 1999 đến nay, trụ sở cơ quan đảng, chính quyền, các

đoàn thể huyện chuyển về thị trấn Phúc Thọ. Đây là bước chuyển quan trọng,

thể hiện tầm nhìn sáng suốt, phù hợp với sự phát triẻn của thời kỳ mới.

Đời vua Gia Long, huyện Phúc Thọ lãnh 11 tổng, 55 xã, phường, giáp.

Đời vua Tự Đức lãnh 11 tổng, 57 xã, phường, giáp. Năm Thành Thái thứ 11

(1899), gồm 9 tổng, 51 xã, thôn. Năm Bảo Đại thứ 2 (1927), lãnh 9 tổng và 53

xã. Đến tháng 3 năm 1950, huyện Phúc Thọ gồm 13 xã.

Tháng 2/1955, tách xã Vân Cốc thành 3 xã; tách xã Lạc Trị thành 2 xã,.

Tháng 4/1955, lập thêm một xã mới là Tân Phúc. Sau đổi thành xã Thượng

Cốc. Lúc này, huyện gồm 17 xã.

Năm 1979, tiếp nhận 3 xã của huyện Quốc Oai, nâng tổng số lên 20 xã.

Năm 1982, tiếp nhận thêm 2 xã của huyện Ba Vì, nâng tổng số lên 22 xã.

Năm 1994, theo Nghị định số 107/1994/NĐ-CP, ngày 29/8/1994 của Chính

phủ, thị trấn Phúc Thọ được thành lập trên cơ sở tách xã Phúc Hoà và sáp

nhập thôn Đồng Lục, xã Thọ Lộc, nâng tổng số đơn vị hành chính của huyện

lên 23 xã, thị trấn.

Phúc Thọ có nhiều lợi thế về giao thông. Quốc lộ 32 đi qua, nối Phúc

Thọ với Hà Nội - Sơn Tây và các tỉnh phía Bắc; đường Tỉnh lộ 417, 418, 421

nối Phúc Thọ với các huyện Quốc Oai, Thạch Thất ra Đại lộ Thăng Long để

đến các tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Huyện có 3 con sông chảy qua (sông Hồng,

sông Đáy và sông Tích). Riêng sông Hồng có chiều dài hơn 10km, rất thuận

tiện cho phát triển kinh tế.

36

Năm 1965, Phúc Thọ có diện tích tự nhiên 85,576 km2, dân số 69.258

người. Hiện nay, diện tích tự nhiên của huyện là 117,3km2, dân số hơn 17 vạn

người với hơn 42 nghìn hộ gia đình, cư trú tại 83 làng, xã.

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

Là địa danh gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước, qua từng

chặng đường phát triển, mảnh đất và con người Phúc Thọ luôn để lại những

dấu ấn sâu đậm, khẳng định tinh thần vươn lên mạnh mẽ và sức sống trường

tồn của mảnh đất anh hùng - Phúc Thọ. Từ buổi bình minh của lịch sử, Phúc

Thọ là nơi sinh tụ của người Việt cổ, tạo dựng nên nền văn minh sông Hồng

rực rỡ. Sự hiện diện của các di tích, di vật lịch sử - văn hoá đã chứng minh

Phúc Thọ là cái nôi của truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, bền bỉ

trong cải tạo thiên nhiên, dũng cảm trong đấu tranh phòng chống thiên tai;

kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống ngoại xâm.

Do điều kiện tự nhiên, Phúc Thọ đã hình thành nên hai vùng. Vùng

đồng chuyên trồng lúa. Vùng bãi chuyên trồng các loại hoa màu. Quê hương

Phúc Thọ có ngành nghề truyền thống như: Mộc, xẻ, đan lát; chế biến bánh và

đậu phụ. Gần đây có một số ngành nghề mới như: trồng cây cảnh, cây ăn quả;

trồng dưa chuột, cà chua, đậu Hà Lan; nuôi con đặc sản; chế biến tinh bột sắn;

làm rượu nếp; nghề may thêu, thú nhồi bông; đồ gỗ mỹ nghệ…

Phúc Thọ là vùng đất trọng học xưa, nay. Nơi đây, người dân hiền hoà,

hiếu học, nhiều người đỗ đạt, thành danh, như: Nguyễn Đỗ Mục, một dịch giả

nổi tiếng; Nguyễn Đỗ Cung, danh hoạ tài năng; Minh Tranh, nhà sử học có

tên tuổi. Trước năm 1945, Phúc Thọ có trên 15 người đỗ tiến sĩ, 37 cử nhân.

Hiện nay, thống kê chưa đầy đủ, Phúc Thọ có trên 40 tiến sĩ. Nhiều người là

giáo sư, Phó giáo sư được giao những trọng trách quan trọng.

Phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất; dũng

cảm, kiên cường trong đấu tranh phòng thiên tai và giặc ngoại xâm, những

37

năm qua tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân

huyện Phúc Thọ đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng về

mọi mặt. Kinh tế phát triển với tốc độ khá và toàn diện; diện mạo nông thôn

không ngừng đổi mới; đời sống của nông dân từng bước được cải thiện, nâng

cao; chính trị được ổn định, an ninh trật tự được giữ vững.

Hoạt động đồng bộ của hệ thống chính trị đã tạo nên những bước đột

phá trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và

các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tốc độ tăng trưởng

kinh tế giai đoạn 2006-2011 đạt 11,2%, năm 2013 đạt 10,05%, dự kiến kế

hoạch năm 2014 đạt 10,5%; thu nhập năm 2011 đạt 16,5 triệu đồng/người,

năm 2013 đạt 23,2 triệu đồng /người, kế hoạch năm 2014 phấn đấu đạt 25

triệu đồng/ người. Cơ cấu các ngành có những chuyển biến tích cực. Trong đó

tỷ trọng nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng cơ bản và

thương mại dịch vụ tăng nhanh. Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt

được những kết quả bước đầu quan trọng đã góp phần mang lại cho Phúc Thọ

nhiều khởi sắc mới, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại

hoá nông nghiệp, nông thôn.

2.2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG NN & PTNT HUYỆN

PHÚC THỌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển

Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây là một đơn vị

trực thuộc của NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây, thành lập ngày 30 tháng 08 năm

1991 có hội sở chính tại thị trấn Phúc Thọ huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây.

Hiện nay Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Phúc Thọ có bộ máy tổ

chức hoạt động kinh doanh trực thuộc NHNo&PTNT Chi nhánh Hà Tây

Thành Phố Hà Nội.

38

Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Phúc Thọ là đơn vị thành viên hạch

toán phụ thuộc của NHNo&PTNT Hà Tây, có con dấu riêng, thực hiện một

phần các hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán theo phân cấp, uỷ

quyền của NHNo&PTNT Việt Nam và NHNo&PTNT Hà Tây với 4 phòng

giao dịch trực thuộc trải rộng khắp trong toàn huyện với một đội ngũ 42 cán

bộ nhân viên. Đa số cán bộ trong Chi nhánh đều có trình độ Đại học và Sau

đại học. Tuy nhiên, thời gian thành lập chưa lâu, lại nằm trên địa bàn huyện

nông nghiệp, trình độ phát triển còn hạn chế nên NHNo & PTNT huyện Phúc

Thọ gặp không ít khó khăn trong quá trình triển khai nghiệp vụ kinh doanh

tiền tệ, tín dụng. Năng lực SXKD trên đại bàn huyện còn ở mức thấp, dẫn đến

nhu cầu tín dụng trên thị trường chưa cao, đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt

động kinh doanh của chinh nhánh Phúc Thọ

Trong điều kiện như vậy, với phương châm hoạt động “luôn đem lại sự

vững mạnh về phát triển kinh tế cho địa phương” NHNo&PTNT Phúc Thọ

không ngừng đẩy mạnh hoạt động huy động vốn, mở rộng tín dụng, nâng cao

trình độ nghiệp vụ của cán bộ, nhân viên, tạo lòng tin cho khách hàng, từ đó

tăng thu nhập cho ngân hàng. NHNo & PTNT Phúc Thọ đã nhiều năm được

Nhà nước trao tặng huân chương lao động hạng 3, liên tục đạt thành tích đơn

vị xuất sắc trên toàn thành phố.

39

2.2.2. Cơ cấu tổ chức

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ

BAN GIÁM ĐỐC

Giám đốc điều

hành chung, tổ

Phó Giám đốc phụ trách kế toán – ngân quỹ

Phó Giám đốc phụ trách tín dụng chức – nhân sự

Phòng Hành Phòng Kế Toán Phòng Tín dụng chính – Tổ chức – Ngân quỹ

– Nhân sự

Phòng giao

Phòng giao

Phòng giao

Phòng giao

dịch Vân

dịch Thị

dịch Võng

dịch Ngọc

Phúc

Trấn

Xuyên

Tảo

(Nguồn Phòng Hành chính – Tổ chức)

- Ban giám đốc : Giám đốc và 2 phó giám đốc

- Các phòng nghiệp vụ tại trung tâm huyện có 02 phòng nghiệp vụ gồm:

Phòng Kế hoạch Kinh doanh (phòng Tín dụng) và Phòng kế toán ngân quỹ.

Trong đó, tại phòng Kế hoạch Kinh doanh có bộ phận cho vay trực tiếp (đối

tượng khách hàng là các Doanh Nghiệp). Như vậy, mô hình điều hành của

40

Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Phúc Thọ vừa làm nhiệm vụ quản lý các

Phòng giao dịch trực thuộc vừa tổ chức kinh doanh trực tiếp.

- 04 Phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh ngân hàng NHNo&PTNT

Huyện Phúc Thọ (Chi nhánh loại III) thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh như

huy động vốn, cho vay và các dịch vụ ngân hàng (trừ nghiệp vụ bảo lãnh) tại

địa bàn các xã trong huyện.

- Về nhân sự: Tổng số cán bộ công nhân viên tại ngân hàng No&PTNT

huyện Phúc Thọ là 42 người, độ tuổi trung bình là 40 tuổi. Có 38 cán bộ là

trình độ đại học chiếm tỷ lệ 90,48%, 02 cán bộ là trình độ cao đẳng chiểm tỷ

lệ 4,76%, 02 cán bộ là trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ 4,76%. Số lao động nam

là 17 cán bộ chiếm tỷ lệ 40,5% và số lao động nữ là 25 cán bộ chiếm tỷ lệ

59,5%.

2.2.3. Kết quả hoạt động của Chi nhánh trong những năm gần đây

a. Công tác huy động vốn

Với nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của nguồn vốn trong hoạt

động kinh doanh, với phương châm "đi vay để cho vay" Chi nhánh

NHNo&PTNT Huyện Phúc Thọ đã hoạch định chiến lược huy động vốn rất

cụ thể và luôn coi trọng nguồn vốn tại chỗ của các tầng lớp dân cư, các tổ

chức kinh tế, nhằm đáp ứng cho nhu cầu tăng trưởng tín dụng tại Chi nhánh

hàng năm. Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Phúc Thọ đã thường xuyên quan

tâm đẩy mạnh công tác huy động vốn, đa dạng các hình thức huy động như:

Các hình thức huy động vốn truyền thống: Huy động tiền gửi tiết kiệm bậc

thang, tiết kiệm có quà tặng khuyến mại, tiết kiệm dự thưởng với lãi suất linh

hoạt và hấp dẫn; tiết kiệm tăng theo lãi suất cơ bản của NHNN; bên cạnh đó

luôn chăm lo công tác thanh toán, đổi mới công nghệ, đổi mới phong cách

giao dịch, đảm bảo nhanh chóng, kịp thời, tích cực mở rộng mạng lưới hoạt

41

động, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng như: phát hành thẻ ghi nợ nội

địa; phát hành thẻ ghi nợ quốc tế;...

Do vậy, Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Phúc Thọ đã tạo lập được cơ

sở vững chắc trong việc huy động vốn tại địa bàn dân cư. Bên cạnh đó, Chi

nhánh cũng thường xuyên chủ động tìm kiếm khách hàng, vận động các tổ

chức, doanh nghiệp mở tài khoản thanh toán lương cho cán bộ qua ngân hàng.

Từ năm 2010 trở lại đây, công tác huy động nguồn vốn đã thực sự được

lãnh đạo Chi nhánh tập trung chỉ đạo, nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của

cán bộ viên chức trong hiệu quả công tác nguồn vốn, cũng như việc tổ chức

khen thưởng và động viên kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích tốt

trong việc huy động vốn. Do vậy, nguồn vốn huy động qua các năm tại Chi

nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ có sự tăng trưởng khá, thị phần huy

động của Chi nhánh được giữ vững.

Chi tiết về nguồn vốn huy động tại Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện

Phúc Thọ được biểu thị qua bảng sau:

42

Bảng 2.1: Nguồn vốn huy động qua các năm 2013 – 2015

Đơn vị tính : Tỷ đồng

Tăng trưởng

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm

Năm

Chỉ tiêu

Tỷ

Tỷ

Tỷ

Số tiền

Số tiền

Số tiền

2013 -

2014 -

trọng

trọng

trọng

2012

2013

Tổng nguồn vốn

376,7

100

386,9

100

511,6

100

2,7%

32,2%

huy động

1. Theo thời gian

376,7

100

386,9

100

511,6

100

2,7%

32,2%

- Tiền gửi không

94,3

25

86

22,2

76

14,9

-8,8%

-11,6%

kỳ hạn

- Tiền gửi có kỳ

282,4

75

300,9

77,8

435,6

85,1

6,6%

44,8%

hạn

2. Theo loại tiền

376,7

100

386,9

100

511,6

100

2,7%

32,2%

- Nội tệ

336,5

89,3

357,6

92,4

484,2

94,6

6,3%

35,4%

- Ngoại tệ

40,2

10,7

29,3

7,6

27,4

5,4

-27,1%

-6,5%

(quy đổi VNĐ)

3. Theo Thành

376,7

100

386,9

100

511,6

100

2,7%

32,2%

phần kinh tế

-Tiền

gửi

các

41,1

10,9

104,7

27,1

103

20,1 154,7%

-1,6%

TCKT

-Tiền gửi dân cư

335,6

89,1

282,2

72,9

408,6

79,9

-15,9%

44,8%

“Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2012- 2014 Chi nhánh

NHNo&PTNT Huyện Phúc Thọ”

Bảng 2.1 cho thấy: Tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ có sự tăng dần qua các năm, tăng nhanh và

mạnh ở trong năm 2014, nguyên nhân là do Chi nhánh đã chủ động cơ cấu lại

nguồn vốn theo hướng ổn định (tập trung nâng cao nguồn vốn huy động từ

43

dân cư) bên cạnh đó, trong năm có sự cạnh tranh gay gắt về thị phần huy động

của các TCTD trên địa bàn, thị trường tài chính tín dụng có biểu hiện mất cân

đối do tăng trưởng tín dụng quá nóng đã tạo áp lực lên việc huy động nguồn

vốn của các TCTD trong đó có Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Phúc Thọ.

- Xét về loại tiền huy động: Tiền gửi bằng nội tệ luôn trên 89%, tiền gửi

bằng ngoại tệ chiếm tỷ lệ thấp. Đây là thực trạng chung của hầu hết các chi

nhánh NHTM các huyện trong đó có huyện Phúc Thọ.

- Xét theo thời gian: Tỷ trọng nguồn vốn huy động theo các kỳ hạn

nhìn chung là ổn định trong giai đoạn từ năm 2012 -2014.

Sơ đồ 2.2: Tổng nguồn vốn huy động theo thời gian

- Xét theo thành phần kinh tế: Tỷ trọng nguồn vốn huy động từ dân cư

và các TCKT trong tổng nguồn vốn tại Chi nhánh NHNo & PTNT huyện

Phúc Thọ có sự chênh lệch đang kể. Tuy nhiên, nguồn tiền gửi dân cư có sự

tăng trưởng đều đặn và ổn định hơn nó minh chứng cuộc sống của người dân

đã có sự cải thiện, khả năng tích luỹ tăng lên cùng với sự phát triển kinh tế

của huyện Phúc Thọ. Bên cạnh đó, việc tăng thị phần huy động từ dân cư là

kết quả của việc triển khai tốt các chương trình tiết kiệm dự thưởng do

NHNo&PTNT Chi nhánh Hà Tây – TP Hà Nội tổ chức và các chương trình

44

huy động tiết kiệm có giải thưởng nhân dịp các ngày lễ lớn của đất nước và

của nghành.

Sơ đồ 2.3: Tình hình huy động vốn theo thành phần kinh tế

b. Phân tích tín dụng

Nghiệp vụ sử dụng vốn có một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh

doanh của ngân hàng, hầu hết các NHTM Việt Nam hiện nay thu nhập đem

lại từ hoạt động tín dụng chiếm hơn 80% tổng thu nhập. Từ đó nếu huy động

tốt nhưng không cho vay được sẽ gây ứ đọng, lãng phí vốn và như vậy nguồn

vốn không được sử dụng và phân bổ một cách hiệu quả. Vì vậy, hoạt động tín

dụng luôn được các NHTM coi là mục tiêu số một.

Nhận thức đúng đắn vấn đề này, Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc

Thọ luôn coi trọng nghiệp vụ sử dụng vốn, đặt công tác tín dụng lên hàng đầu,

hoạt động tín dụng luôn bám sát các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế

tại địa phương như: cho vay dự án đầu tư phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch

vụ, du lịch sinh thái, đặc biệt là cho vay phát triển kinh tế nông nghiệp, nông

thôn và coi đây là thị trường mục tiêu không thể đánh mất, với phương châm

“An toàn - Hiệu quả - Bền vững", công tác sử dụng vốn ngày càng được nâng

cao cả về chất và lượng.

Chi tiết về sử dụng vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ

được biểu thị qua bảng sau:

45

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu về dư nợ tín dụng giai đoạn năm 2012-2014

Đơn vị tính: tỷ đồng

Tăng Trưởng

2012

2013

2014

(%)

Năm

Năm

Chỉ tiêu

Tỷ

Tỷ

Tỷ

Số tiền

Số tiền

Số tiền

2013 -

2014 -

trọng

trọng

trọng

2012

2013

theo

349,4

100

421,2

100

505,7

100

20,6

20

1. Phân thời gian

Dư nợ cho vay

241

69

339,8

80,7

416,1

82,3

41

22,5

ngắn hạn

Dư nợ cho vay

108,4

31

81,4

19,3

89,6

17,7

-24,9

10

trung và dài hạn

2. Phân

theo

loại hình khách

349,4

100

421,2

100

505,7

100

20,6

20

hàng

Dư nợ cho vay

66,2

18,9

107,8

25,6

137,4

27,2

62,8

27,4

Doanh nghiệp

Dư nợ cho vay

hộ gia đình, cá

283,2

81,1

313,4

74,4

368,3

72,8 10,66

17,5

nhân

3. Phân

theo

349,4

100

421,2

100

505,7

100

20,6

20

hình thức vay

347,3

99,4

421 99,95

500,8

99

21,2

19

Dư nợ cho vay trực tiếp

2,1

0,6

0,2

0,05

4,9

1

-90,5

2350

Dư nợ cho vay tổ nhóm

Tổng dư nợ

505,7

421,2

349,4

20%

20,6 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của Chi nhánh

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ)

46

Dư nợ cho vay và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay vốn được biểu thị

sơ đồ 2.4 và 2.5 dưới đây:

Sơ đồ 2.4: Tổng dư nợ qua các năm 2012-2014

Bảng 2.2 cho thấy: Dư nợ tín dụng tại Chi nhánh NHNo&PTNT huyện

Phúc Thọ hàng năm tăng trưởng cao và khá ổn định cả về số tuyệt đối và tỷ

trọng. Tăng trưởng dư nợ tín dụng đạt cao và tăng ổn định qua các năm một

mặt phản ánh nhu cầu vốn tín dụng trên địa bàn là tương đối lớn, khả năng

hấp thụ vốn tín dụng còn tiềm năng, mặt khác điều này cũng phản ánh những

nỗ lực của bản thân Chi nhánh trong việc thực hiện chiến lược khách hàng.

Sơ đồ 2.5: Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm 2012 -2014

Đi sâu xem xét cơ cấu tín dụng cho thấy:

- Xét theo thời gian cho vay: Cho vay ngắn hạn vẫn là chủ yếu, tỷ trọng

luôn ở mức từ 65% đến 80% tổng dư nợ tín dụng, điều này là hợp lý do

cân đối nguồn vốn tại Chi nhánh và do việc thực hiện kế hoạch

NHNo&PTNT Chi nhánh Hà Tây giao.

- Xét theo loại hình khách hàng: Dư nợ của doanh nghiệp tăng mạnh

qua các năm từ 2012 đến 2014, chủ yếu là DN vừa và nhỏ. Chi nhánh

47

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ cũng xác định đây là loại hình khách hàng

tiềm năng, tiếp tục mở rộng và đầu tư vào các DN nhỏ và vừa làm ăn có hiệu

quả, nhằm từng bước thay đổi cơ cấu tín dụng và tìm kiếm thu nhập cũng như

góp phần chuyển dịch và phát triển kinh tế địa phương. Với nhóm khách hàng

là hộ gia đình và cá nhân, đây vốn là phân đoạn thị trường truyền thống của

Chi nhánh. Qua bảng 2.2 ta thấy thị phần của nhóm khách hàng này có xu

hướng tăng chậm, dư nợ cho vay nhóm khách hàng này chủ yếu là các hộ gia

đình sản xuất nông nghiệp.

c. Các hoạt động kinh doanh khác

Ngoài nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng là huy động vốn và đầu

tư tín dụng, trong những năm trở lại đây, Chi nhánh NHNo&PTNT huyện

Phúc Thọ đã chú trọng quan tâm phát triển các loại hình dịch vụ ngân hàng

khác như nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, chi trả kiều hối, bảo lãnh ngân hàng,

phát hành thẻ ATM, thực hiện việc chi trả lương qua tài khoản, và thực hiện

nghiệp vụ bảo hiểm… phấn đấu nâng tỷ trọng thu từ hoạt đông dịch vụ lên

20- 25% trong tổng thu nhập toàn Chi nhánh.

Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu hoạt động khác qua các năm 2012 – 2014

Đơn vị tính : tỷ VNĐ

Tăng trưởng

(%)

Chỉ tiêu 2012 2013 2014

Năm 2014 -

Năm 2013 - 2012 2013

1. Doanh số mua bán ngoại tệ 9 35 70 288,9 100

2. Doanh số chi trả kiều hối 60,6 36 44 -40,6 22,2

3. Doanh số chuyển tiền điện tử 3.478 4.063 4.280 16,8 5,3

4. Doanh số thực hiện bảo lãnh 9.081 11.580 12.028 27,5 3,9

5. Tổng thu từ hoạt động dịch vụ 1,60 45,5 1,75 9,4

1,10 (Nguồn : Báo cáo tổng kết hoạt động Chi nhánh NHNo&PTNT Phúc Thọ)

48

Qua bảng trên cho thấy kết quả các mặt hoạt động khác của Chi nhánh

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ có xu hướng phát triển tốt, tổng thu nhập từ

hoạt động dịch vụ tăng đều qua các năm. Chi nhánh thực hiện chuyển đổi và

giao dịch thành công trên hệ thống thanh toán IPCAS (Dự án hiện đại hoá hệ

thống thanh toán do Ngân hàng thế giới tài trợ cho NHNo&PTNT Việt Nam)

một số hoạt động dịch vụ ngân hàng mới có tiềm năng được ứng dụng và khai

thác tốt, cụ thể: số thẻ ATM phát hành đạt 11.213 thẻ, số dư tài khoản thẻ

33,1 tỷ VNĐ; Dịch vụ mobile Banking, VN top up , Atranfer,... Có thể nói

các mặt hoạt động trên tuy còn mới mẻ nhưng đã chứng minh được xu thế tất

yếu của hoạt động ngân hàng hiện đại, từng bước đóng góp vào việc hội nhập

của Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ.

d. Kết quả hoạt động kinh doanh những năm gần đây

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ là đơn vị hoạt động kinh doanh có hiệu

quả, kết quả tài chính (theo cơ chế khoán tài chính của NHNo&PTNT Việt

Nam, NHNo&PTNT Chi nhánh Hà Tây) năm sau luôn cao hơn năm trước,

thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước và với ngân hàng cấp

trên, đảm bảo ổn định việc làm và thu nhập cho cán bộ công nhân viên theo

quy định của NHNo&PTNT Việt Nam. Kết quả kinh doanh theo cơ chế

khoán tài chính qua các năm như sau:

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm 2012 – 2014

Đơn vị tính: tỷ VNĐ

Tăng trưởng (%)

Chỉ tiêu 2012 2013 2014

Năm 2013 - 2012

54,8 37,9 16,9 5,6 83,8 49,8 33,9 10,2 76,9 54,8 22,1 8,4 52,9 31,4 100,6 82.1 Năm 2014 - 2013 -8,2 10,1 -34,8 -17,7 1. Tổng thu nhập 2. Tổng chi phí 3. Tổng quĩ thu nhập đạt được 4. Quĩ lương đạt được

(Nguồn: báo cáo tài chính hàng năm, NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ)

49

Sơ đồ 2.6: Tổng quĩ thu nhập qua các năm 2012-2014

Kết luận: Bảng trên cho ta nhận xét, quĩ thu nhập đạt được hàng năm

của Chi nhánh biến động theo từng năm, từ năm 2012 là 16,9 tỷ VNĐ; năm

2013 là 33,9 tỷ VNĐ và đến năm 2014 là 22,1 tỷ VNĐ, trong đó chỉ tiêu thu

lãi qua các năm 2012 - 2014 đều chiếm tỷ trọng lớn (trên 93%) trong tổng thu

nhập, điều này chứng tỏ hoạt động tín dụng vẫn là mảng hoạt động chính của

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ. Các chỉ tiêu về thu nhập và quĩ tiền lương

đạt được ổn định và tăng trưởng qua các năm, thể hiện hoạt động kinh doanh

của NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ có hiệu quả, hoàn thành các chỉ tiêu tài

chính được NHNo&PTNT Chi nhánh Hà Tây – TP Hà Nội giao, có nền tài

chính ổn định, vững mạnh, tạo tiền đề cho các năm tiếp theo trong quá trình

hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

2.3. THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT TẠI CHI

NHÁNH NHNo & PTNT HUYỆN PHÚC THỌ

2.3.1. Cơ sở pháp lý cho hoạt động tín dụng Hộ sản xuất

Cơ sở pháp lý điều chỉnh tín dụng Hộ sản xuất tại Chi nhánh NHNo &

PTNT huyện Phúc Thọ:

- Nghị quyết liên tịch số 2308/NĐLT giữa Trung ương hội nông dân Việt

Nam và NHNo & PTNT Việt Nam về việc tổ chức thực hiện chính sách tín

dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn do Trung ương

Hội nông dânViệt Nam – Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

ban hành.

50

Nội dung:

Thành lập các tổ vay vốn để mở rộng cho hộ viên vay.

Khuyến khích các tổ chức nghề nghiệp, câu lạc bộ Nông dân giỏi ký

hợp đồng làm dịch vụ vay vốn theo quy định.

Tuyên truyền các chính sách về nông nghiệp, nông thôn, các chính sách

và biện pháp, thủ tục cho vay, các biện pháp làm ăn giỏi, sử dụng vốn có hiệu

quả.

- Quyết định 2382/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 10 năm 2009 về việc công

bố Danh mục văn bản, quy định do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành

đã hết hiệu lực pháp luật giai đoạn 01/01/2009 – 30/6/2009.

- Luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam số 01/1997/QH10 nhằm xây

dựng và thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia; tăng cường quản lý

nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; góp phần phát triển nền kinh tế

hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà

nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân;

- Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12:

Luật các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội khoá XII thông qua tại kỳ

họp thứ 7 ngày 16/6/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 và thay

thế Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 và Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11.

Luật các TCTD quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm

soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức,

hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ

chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.

Đối tượng áp dụng của Luật là các tổ chức tín dụng; chi nhánh ngân

hàng nước ngoài; văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ

51

chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng; tổ chức, cá nhân có liên quan

đến việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể

tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng

nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức

nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.

- Quyết định số 666/QĐ-HĐQT-TDTHo ngày 15 tháng 6 năm 2010 về

việc ban hành Quy định cho vay đối với khách hàng trong hệ thống Ngân

hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

- Quyết định số 1300/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 03 tháng 12 năm 2007 về

việc ban hành Quy định thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay trong hệ

thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

- Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 về

việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.

- Quyết định số 571/2002/QĐ-NHNN ngày 5 tháng 6 năm 2002 về việc

chuẩn y Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn Việt Nam.

- Quyết định số 28/2002/QĐ-NHNN ngày 11 tháng 1 năm 2002 về sửa

đổi điều 2 của Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2000 của

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín

dụng đối với khách hàng.

- Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số

điều Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo

Nghị quyết 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân

hàng Nhà nước.

- Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 về việc chính

sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn

52

- Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về chương trình xây dựng nông thôn mới

đầu tư cho vay cánh đồng mẫu lớn, chuyển đổi đất làm Vườn – Ao – Chuồng

của NHNo Việt Nam.

2.3.2. Thực trạng mở rộng tín dụng Hộ sản xuất

2.3.2.1. Số lượng Hộ sản xuất được vay

Việc mở rộng tín dụng Hộ sản xuất được thể hiện trên nhiều mặt như:

tăng doanh số cho vay, dư nợ, thu nợ, mở rộng mạng lưới và các phương thức

hình thức cho vay đồng thời còn thể hiện ở việc, tăng số hộ được vay và dư

nợ bình quân trên một hộ. Số Hộ sản xuất vay vốn và dư nợ bình quân trên hộ

của Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ được thể hiện qua bảng số liệu

sau:

Bảng 2.5: Số Hộ sản xuất được vay vốn và dư nợ bình quân trên hộ

Đơn vị: Tỷ đồng, hộ

Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014

283,2 313,8 Tổng dư nợ Hộ sản xuất 338,3

Số Hộ sản xuất được vay vốn 13.485 13.075 9.665

Dư nợ bình quân /1 hộ 0,021 0,024 0,035

(Nguồn: Thống kê của Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ 2012 -

2014)

Tổng dư nợ Hộ sản xuất liên tục tăng qua các năm, nhờ đó dư nợ bình

quân trên 1 hộ cũng có xu hướng ngày càng tăng. Năm 2013 dư nợ bình quân

trên 1 hộ là 24 triệu đồng/1 hộ, tăng 3 triệu đồng, năm 2014 là 35 triệu đồng/1

hộ, tăng 11 triệu đồng. Đây là biểu hiện tốt trong công tác đầu tư vốn của

ngân hàng.

Tuy vậy, nhìn vào số Hộ sản xuất vay vốn ngân hàng lại giảm. Nguyên

nhân là do một số Hộ sản xuất sử dụng đồng vốn không hiệu quả, không trả

53

được nợ cho ngân hàng nên ngân hàng chỉ tập trung vào những Hộ sản xuất

có phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả. Mặt khác trên địa bàn một

số NHTM đã bước đầu chú trọng đến đối tượng hộ, hơn nữa đối với những hộ

thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo thì thuộc đối tượng NHCSXH phục vụ, nên

đã chuyển sang quan hệ vay vốn với ngân hàng này, đã làm cho số lượng

khách hàng của chi nhánh giảm đáng kể.

Tình hình trên cho thấy mặc dù có sự thu hẹp về số lượng khách hàng

vay vốn, nhưng không có nghĩa là Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ

đã thu hẹp tín dụng Hộ sản xuất, mà đó là sự chuyển hướng từ mở rộng tín

dụng theo chiều rộng sang mở rộng tín dụng theo chiều sâu. Ngân hàng đã

giảm bớt các món vay nhỏ lẻ, không hiệu quả, những món không thuộc đối

tượng vừa giảm bớt khối lượng công việc, quá nhiều cho cán bộ tín dụng vừa

có điều kiện tập trung vốn vào những hộ có phương án, dự án sản xuất kinh

doanh hiệu quả, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh

của hộ ngày càng được mở rộng.

2.3.2.2. Các hình thức và phương thức tín dụng Hộ sản xuất

Trong những năm qua để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh

trong nông nghiệp, nông thôn mà chủ yếu là Hộ sản xuất, với đối tượng ngày

càng đa dạng và phong phú. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Việt Nam đã có Quyết định 72/QĐ-HĐQT-TD, ngày 31 tháng 3 năm 2002 về

cho vay đối với khách hàng trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam và đến

ngày 15 tháng 6 năm 2010 đã có Quyết định 666/QĐ-HĐQT- TDHo thay thế.

Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ đã vận dụng nhiều hình thức

chuyển tải vốn đến Hộ sản xuất. Các hình thức chủ yếu Chi nhánh

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ hiện đang áp dụng tín dụng Hộ sản xuất là:

Cho vay có thế chấp bằng tài sản và cho vay không có thế chấp bằng tài sản.

54

Theo loại hình cho vay thứ nhất là hình thức cho vay có thế chấp bằng

tài sản, ngân hàng sẽ làm thủ tục về tài sản thế chấp để cho vay theo luật định.

Khi hoàn thiện giấy tờ về tài sản đảm bảo, chi nhanh đã gặp một số khó khăn vì

một số hộ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều này đã gây

nên sự e ngại cho ngân hàng khi cấp tín dụng cho Hộ sản xuất, vì khi khách hàng

không trả được nợ vay ngân hàng thì không có tài sản xử lý để thu hồi nợ, khả

năng xảy ra rủi ro cao.

Trong trường hợp cho vay không có thế chấp, thì ngân hàng sẽ phải

tiến hành tạo mối quan hệ với chính quyền địa phương để xác nhận về hộ vay

vốn. Từ khi chưa có Nghị định 41/NĐ-CP của Chính phủ ra đời,

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ vẫn thực hiện theo quyết định 67/1999/QĐ-

TTg về trường hợp cho vay không có đảm bảo đối với hộ nông dân là không

quá 10 triệu đồng. Nhiều trường hợp hộ có phương án, dự án sản xuất kinh

doanh lớn và hiệu quả, nhưng không có tài sản đảm bảo vẫn không thể vay theo

hình thức này. Cho đến ngày 12 tháng 4 năm 2010 có Nghị định 41/NĐ-CP của

Chính phủ ra đời, đã nâng mức cho vay đối với hộ nông dân không phải bảo

đảm bằng tài sản đến 50 triệu đồng, đã tháo gỡ, khắc phục được những hạn chế

của Quyết định 67/1999/QĐ-TTg, nên đã tạo điều kiện cho hộ dân tiếp cận được

vốn ngân hàng dễ dàng hơn, có điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh.

Về quy trình, thủ tục cho vay tương đối chặt chẽ, ngân hàng đã thực hiện

đúng quy trình cho vay Hộ sản xuất của NHNo&PTNT Việt Nam. Với đội ngũ

cán bộ nhiệt tình, có kinh nghiệm đã hướng dẫn Hộ sản xuất đến vay vốn nhanh

chóng hoàn thành hồ sơ, tạo điều kiện cho hộ được vay vốn một cách thuận tiện

và nhanh chóng.

Trong tín dụng Hộ sản xuất, Chi nhánh thường áp dụng 3 hình thức chủ

yếu sau:

55

+ Hình thức cho vay trực tiếp tại ngân hàng

Khách hàng chủ động trực tiếp đến ngân hàng vay vốn, trả nợ, trả lãi,

sự chuyển tải này đã có tác dụng, giảm bớt các tầng nấc trung gian, đưa vốn

tới người sản xuất nhanh hơn, giảm phiền hà tạo thế chủ động cho người sản

xuất, sử dụng vốn hiệu quả hơn. Đồng thời ngân hàng cũng mở rộng tín dụng

có hiệu quả hơn, nâng cao uy tín của ngân hàng.

Để áp dụng hình thức này, đảm bảo thuận lợi cho khách hàng, chi

nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ tích cực mở rộng mạng lưới đến nay

có 4 phòng giao dịch liên xã được thành lập ở các cụm dân cư và thị tứ, thị xã,

mạng lưới này đã và đang phát huy hiệu quả tốt.

Do sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, nhu cầu vay vốn của từng

hộ nhỏ, cán bộ tín dụng phụ trách địa bàn rộng, phải quản lý một lượng khách

hàng lớn, công tác thẩm định mất nhiều thời gian, nên nhiều lúc thiếu kịp

thời. Nếu qui mô tín dụng ngày càng tăng thì sẽ gây quá tải về khách hàng.

+ Hình thức cho vay tổ lưu động, ngân hàng lưu động nông thôn

Do ngân hàng tổ chức một nhóm 3-5 người gồm (Tín dụng, Kế toán và

thủ quỹ) về tận xã thực hiện giải ngân, thu nợ, lãi theo lịch báo trước hoặc

nhóm cho vay tay ba phối hợp với các công ty cung ứng vật tư, thu mua lương

thực nông sản. Hình thức này được áp dụng chủ yếu ở các địa bàn hoạt động

rộng, dân cư thưa thớt, kinh tế hàng hoá chưa phát triển, chưa đủ điều kiện để

thành lập phòng giao dịch. Hình thức này rất thuận lợi cho khách hàng, giảm

bớt được chi phí phải đi lại xa đến ngân hàng huyện để giao dịch.

Hình thức này, phải bố trí nhiều lao động làm kế toán và quỹ, hoạt

động theo lịch, nên việc kiểm tra đôn đốc đến từng hộ vay vốn hạn chế.

+ Cho vay trực tiếp thông qua tổ nhóm (tổ tín chấp)

Các tổ tín chấp gồm: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh…

Cán bộ tín dụng và tổ tự nguyện thực hiện 8 khâu, phân chia trách nhiệm:

56

Tổ tín chấp thực hiện các khâu: Nhận đơn, thẩm định, hướng dẫn thủ

tục, uỷ thác giải ngân, kiểm tra sử dụng vốn.

Cán bộ tín dụng: Ra quyết định, thẩm định lại (nếu cần thiết) phối hợp

kiểm tra, tổ chức thu nợ, xử lý kỷ luật tín dụng (nếu có).

Khắc phục được tình trạng quá tải khách hàng của ngân hàng, những hộ

vay vốn không đủ tài sản thế chấp, được tổ tín chấp vay vốn giảm bớt được

thủ tục giấy tờ chi phí đi lại của Hộ sản xuất, chỉ tổ trưởng trực tiếp giao dịch

với ngân hàng.

Tăng thêm tình cảm, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các hội viên trong

sử dụng vốn sản xuất, kinh doanh và trả nợ ngân hàng, góp phần củng cố hoạt

động của các đoàn thể và quan hệ sản xuất nông thôn.

Trình độ của tổ về quản lý kinh tế tài chính, hiểu biết về ngân hàng còn

hạn chế nên giải ngân chưa kịp thời, thu nợ, thu lãi không nộp ngân hàng

đúng qui định, dẫn đến dễ tham ô lợi dụng tiền vay.

Mỗi hình thức, mỗi loại có những ưu, nhược điểm khác nhau vì vậy

chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện, cải tiến các thủ tục, đơn giản thuận tiện. Đồng

thời phải vận dụng đa dạng các hình thức chuyển tải vốn, để bổ trợ cho nhau,

khắc phục những nhược điểm, để công tác tín dụng Hộ sản xuất được mở rộng

và đạt hiệu quả cao hơn.

2.3.2.3. Mạng lưới tín dụng Hộ sản xuất

Thực hiện Quyết định 67/1999/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 03 năm 1999

và Nghị định 41/2010/NĐ-CP, ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Thủ Tướng

Chính phủ về “Một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển Nông

nghiệp, nông thôn”, Nghị quyết liên tịch số 02 và 03 giữa Agribank Việt Nam

với Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ

Việt Nam, Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ, đặc biệt quan tâm tới

hoạt động tín dụng Hộ sản xuất, đã mở rộng mạng lưới tín dụng Hộ sản xuất tới

57

100% xã, thị trấn trên địa bàn toàn huyện nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu vay

vốn của Hộ sản xuất. Với mạng lưới hoạt động 4 phòng giao dịch, chi nhánh rất

thuận lợi trong việc tiếp cận Hộ sản xuất để mở rộng tín dụng.

Ngân hàng đã tổ chức triển khai tuyên truyền rộng rãi đến từng khu vực

dân cư trong toàn huyện để phổ biến các quy định, thủ tục vay vốn ngân hàng

để mọi người dân đều hiểu và thực hiện đúng. Do đó tình hình tín dụng Hộ

sản xuất đã có nhiều bước phát triển và đem lại hiệu quả cao cho ngân hàng.

Để tạo điều kiện cho các hộ phát triển sản xuất, Chi nhánh

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ đã tích cực tiếp cận khách hàng, tìm hiểu nhu

cầu vay vốn, tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, nhanh chóng

thẩm định các dự án, phương án kinh doanh để quyết định đầu tư vốn cho các

hộ, tạo việc làm và tăng thu nhập cho các hộ, nâng cao hiệu quả hoạt động

kinh doanh của khách hàng cũng như ngân hàng.

Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ đã mở rộng tín dụng đối với

tất cả các đối tượng khách hàng có nhu cầu vay ngắn hạn hoặc trung, dài hạn.

Cho vay ngắn hạn (dưới 12 tháng) gồm cho vay chi phí mùa vụ như: chi phí

giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn chăn nuôi… Cho vay trung, dài hạn

(trên 12 tháng) gồm đầu tư vào các dự án nuôi và chế biến thủy hải sản, cải

tạo vườn, ao, chuồng, trồng cây lâu năm, mua các phương tiện vận chuyển,

máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, xây dựng hệ thống mương máng, thủy lợi

phục vụ tưới tiêu…

Vốn tín dụng của Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ trong

những năm qua, đã tạo điều kiện cho một số hộ nghèo vươn lên trở thành

những hộ khá và giàu, phát triển sản xuất kinh doanh theo mô hình tổ chức

sản xuất lớn, trang trại.

58

2.3.2.4. Doanh số tín dụng Hộ sản xuất

Những năm qua Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ, đã phát

huy hệ thống mạng lưới và vận dụng tổng hợp các hình thức chuyển tải vốn,

các hình thức này đã có tác dụng thiết thực mở rộng doanh số tín dụng Hộ sản

xuất liên tục qua các năm, thể hiện như sau:

Bảng 2.6: Doanh số tín dụng các thành phần kinh tế

Đơn vị: Tỷ đồng,%

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Tỷ trọng

Tỷ trọng

Tỷ trọng

Chỉ tiêu

Số tiền

Số tiền

Số tiền

%

%

%

Ngắn hạn (HSX) 420 509 600,3 75,74 80,64 80,05

Ngắn hạn khác 40 50,3 69,1 7,21 8 9,2

Trung dài hạn (HSX) 73.3 63 70,2 13,21 9,9 9,4

Trung dài hạn khác 20,1 9 10,3 3,84 1,46 1,35

554,5 631,2 749,9 Tổng doanh số TD 100 100 100

(Nguồn số liệu của Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ 2012 - 2014)

Tỷ trọng doanh số tín dụng Hộ sản xuất trong tổng doanh số tín dụng

chiếm tỷ trọng cao, trên 85% trong tổng doanh số tín dụng các thành phần

kinh tế và có xu hướng ngày càng tăng, chứng tỏ Chi nhánh NHNo&PTNT

huyện Phúc Thọ đã thực sự quan tâm đến công tác tín dụng phát triển Hộ sản

xuất, đồng thời thể hiện vai trò tín dụng Hộ sản xuất trong hoạt động kinh

doanh. Ngân hàng đã áp dụng các giải pháp mở rộng tín dụng, bám sát mục

tiêu phát triển kinh tế của địa phương, tạo điều kiện cho các Hộ sản xuất vay

vốn được thuận tiện.

Thực tế doanh số tín dụng Hộ sản xuất tại Chi nhánh NHNo&PTNT

huyện Phúc Thọ giai đoạn 2012– 2014 được thể hiện như sau:

59

Bảng 2.7: Doanh số tín dụng Hộ sản xuất

Đơn vị: Tỷ đồng, %

2012 2013 2014

Năm Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số tiền % tiền % tiền % Chỉ tiêu

420 85,14 509 88,99 600,3 89,53 Cho vay ngắn hạn

73,3 14,86 63 11,01 70,2 10,47 Cho vay trung dài hạn

Tổng doanh số tín 493,3 572 100 100 670,5 100 dụng HSX

(Nguồn số liệu: Báo cáo hoạt động tín dụng Chi nhánh NHNo&PTNT huyện

Phúc Thọ 2012 - 2014)

Nhìn vào bảng số liệu trên cho ta thấy doanh số tín dụng Hộ sản xuất

liên tục tăng qua các năm. Doanh số tín dụng Hộ sản xuất năm 2013 tăng so

với năm 2012 là 78,7 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng là 15,95%. Doanh số tín dụng

năm 2013 tăng là do ngân hàng mở rộng tín dụng Hộ sản xuất, chủ yếu cho

vay ngắn hạn chiếm 88,99%, trong khi đó cho vay trung, dài hạn chỉ chiếm

11,01%. Năm 2014 doanh số tín dụng tiếp tục tăng 98,5 tỷ đồng, tốc độ tăng

17,22%, trong đó: doanh số cho vay ngắn hạn 91,3 tỷ đồng, tốc độ tăng

17,94%, chiếm 89,53% trong tổng doanh số, trong khi đó doanh số cho vay

trung, dài hạn tăng 7,2 tỷ đồng, chiếm 10,47%.

Về cơ cấu tín dụng Hộ sản xuất cơ bản ổn định không thay đổi nhiều:

Tỷ trọng doanh số cho vay trung, dài hạn bình quân hàng năm biến động từ

10% -15%, tỷ trọng cho vay ngắn hạn bình quân hàng năm giao động từ 85%

- 89%. Cho vay trung, dài hạn từ năm 2012 đến năm 2014 chiếm tỷ lệ thấp

nguyên nhân: do nguồn vốn trung, dài hạn của chi nhánh không đáp ứng đủ nhu

cầu vay trung, dài hạn của Hộ sản xuất kinh doanh, mặt khác tỷ lệ cho vay trung,

60

dài hạn trên tổng dư nợ từng thời điểm do NHNo&PTNT Việt Nam khống chế.

Để nâng tỷ trọng cho vay trung, dài hạn lên thì chi nhánh cần có chiến lược trong

công tác huy động nguồn vốn trung, dài hạn, để thu hút tăng nguồn vốn trung,

dài hạn. Tập trung huy động tối đa mọi nguồn lực, song phải luôn tranh thủ

nguồn vốn trung, dài hạn từ ngân hàng cấp trên để đáp ứng nhu cầu vay vốn

trung dài hạn của Hộ sản xuất và kinh doanh ở trên địa bàn.

2.3.2.5. Dư nợ và tăng trưởng dư nợ tín dụng Hộ sản xuất

Ngoài doanh số tín dụng, kết quả mở rộng tín dụng Hộ sản xuất còn

được thể hiện ở dư nợ Hộ sản xuất qua các năm.

Tình hình dư nợ Hộ sản xuất của Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc

Thọ, từ năm 2012 đến năm 2014 được thể hiện như sau:

Bảng 2.8: Tình hình dư nợ Hộ sản xuất

Đơn vị: Tỷ đồng

2013 – 2012 2014 - 2013

Năm Năm Năm Tăng Tăng Chỉ tiêu Số 2012 2013 2014 Số tiền giảm giảm tiền (%) (%)

Ngắn hạn 200 245,5 269,6 45,5 22,8 24,1 9,8

Trung dài hạn 83,2 68,3 68,7 -14,9 -17,9 0,4 0,6

Dư nợ 283,2 313,8 338,3 30,60 10,81 24,5 7,81

(Nguồn số liệu: Báo cáo hoạt động tín dụng Chi nhánh NHNo&PTNT huyện

Phúc Thọ 2012 - 2014)

Qua bảng 2.8 ta thấy dư nợ Hộ sản xuất không ngừng tăng lên. Năm 2012

dư nợ Hộ sản xuất đạt 283,2 tỷ đồng, năm 2013 dư nợ hộ tăng so với năm

2012 là 30,6 tỷ đồng, tốc độ tăng 10,81%. Năm 2014 tăng so với năm 2013 là

24,5 tỷ đồng, tốc độ tăng 7,81%.

61

Dư nợ Hộ sản xuất tăng liên tục qua các năm, một mặt là do cơ chế

chính sách tín dụng thay đổi, các Hộ sản xuất có khả năng tổ chức sản xuất

tạo ra sản phẩm, hàng hóa không phân biệt thành thị hay nông thôn được vay

đến 50 tỷ đồng không phải thế chấp tài sản. Đây cũng là một chính sách ưu

đãi về tín dụng của Nhà nước, tạo đà cho các Hộ sản xuất làm kinh tế trên cơ

sở nguồn vốn vay ngân hàng. Mặt khác đối với Hộ sản xuất trình độ kỹ thuật

cũng được nâng lên theo chiều hướng phát triển của xã hộ, trình độ kỹ thuật

được trau dồi, có kinh nghiệm trong việc tổ chức lao động sản xuất, sử dụng

nhân lực, sử dụng đồng vốn, đầu tư đúng đối tượng, đúng mục đích, có hiệu

quả. Vì vậy, đã tạo điều kiện cho quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và Hộ sản

xuất ngày càng được mở rộng.

Về cơ cấu tỷ trọng dư nợ trung, dài hạn Hộ sản xuất trên tổng dư nợ,

chiếm tỷ trọng giảm dần. Nguyên nhân do ngân hàng không có đủ nguồn vốn

trung, dài hạn để đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng, mặt khác tỷ lệ trung,

dài hạn trên tổng dư nợ do NHNo&PTNT Việt Nam khống chế.

Nhìn chung vốn vay đều được ngân hàng đánh giá sử dụng đúng mục

đích, bước đầu đạt hiệu quả kinh tế. Quan hệ tín dụng giữa Chi nhánh

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ với Hộ sản xuất ngày càng được mở rộng trên

cơ sở tin cậy lẫn nhau.

2.3.2.6. Chất lượng hoạt động tín dụng Hộ sản xuất

Việc mở rộng tín dụng Hộ sản xuất là một vấn đề then chốt trong công

tác tín dụng của chi nhánh, nhưng ngân hàng không chỉ quan tâm tới việc mở

rộng, mà phải gắn việc mở rộng với việc nâng cao chất lượng tín dụng, để

đảm bảo hoạt động kinh doanh của ngân hàng an toàn và hiệu quả.

Chất lượng tín dụng Hộ sản xuất được đánh giá qua rất nhiều chỉ tiêu

như: việc thực hiện đúng quy trình thủ tục, đánh giá khách hàng, làm tốt công

tác thẩm định, công tác kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay…

62

đặc biệt được biểu hiện cụ thể qua tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu và vòng quay vốn

tín dụng Hộ sản xuất.

 Tình hình nợ quá hạn Hộ sản xuất

Trong kinh doanh ngân hàng tất yếu không thể tránh khỏi những rủi ro

bất trắc xảy ra và nợ quá hạn luôn tồn tại đối với bất cứ lĩnh vực nào, đặc biệt

trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, một trong những ngành kinh tế phụ

thuộc rất nhiều vào thời tiết, khí hậu và bị thiệt hại lớn bởi thiên tai, dịch

bệnh. Do đó làm cho nhiều Hộ sản xuất thua lỗ trong sản xuất kinh doanh,

không có khả năng thu hồi vốn, từ đó thiếu khả năng trả nợ gốc và lãi cho

ngân hàng.

Trong những năm qua bên cạnh việc tích cực mở rộng tín dụng,

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng

tín dụng, đã có nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu nợ quá hạn, đặc biệt là nợ

quá hạn Hộ sản xuất. Nên chất lượng tín dụng trong 5 năm qua không ngừng

được nâng cao, tỷ lệ nợ quá hạn luôn ở mức thấp, dưới mức qui định của

ngành.

Bảng 2.9: Tình hình nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn Hộ sản xuất

Đơn vị: Tỷ đồng,%

Năm 2012 2013 2014 Chỉ tiêu

1.Tổng dư nợ 349,4 421,2 505,7

- Dư nợ HSX 283,2 313,8 338,3

2.Tổng nợ quá hạn 300,484 379,08 718,094

-Nợ quá hạn HSX 171,206 235,872 217,451

3. Tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ 0.86 0.90 1.42

0.56 0.49

4. Tỷ lệ NQH HSX/tổng dư nợ 0.43 (Nguồn số liệu: Báo cáo hoạt động tín dụng Chi nhánh NHNo&PTNT huyện

Phúc Thọ 2012 - 2014)

63

Qua bảng trên ta thấy tình hình nợ quá hạn Hộ sản xuất biến động liên

tục qua các năm.

Nguyên nhân làm phát sinh nợ quá hạn:

- Nguyên nhân khách quan, nguyên nhân bất khả kháng: Do sản xuất

nông nghiệp, chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu,

thiên tai bão lụt, chi phí sản xuất cao, luân chuyển hàng hoá chậm, giá bán

hàng hoá thấp hơn giá thành sản phẩm, kinh doanh thua lỗ, trả nợ khó khăn;

Một số khách hàng lừa đảo, chụp giật chây ỳ không trả nợ bỏ trốn; Một số

khách hàng sử dụng vốn sai mục đích mất khả năng thanh toán.

- Ngoài ra còn do nguyên nhân chủ quan: Do cán bộ tín dụng chưa chấp

hành đúng qui trình nghiệp vụ, không tính toán chặt chẽ hiệu quả kinh tế của

dự án xin vay vốn của khách hàng, cho vay vượt quá khả năng trả nợ của

khách hàng, không xem xét kỹ tư cách, đạo đức người vay, thiếu kiểm tra sử

dụng vốn. Một số cán bộ tín dụng sa sút phẩm chất, móc ngoặc, thông đồng

với khách hàng để rút tiền ngân hàng, vay ké, tham ô tiền thu nợ lãi…

Song ngân hàng đã có những biện pháp phù hợp để giải quyết nợ quá

hạn, tích cực trong việc thu hồi nợ quá hạn, không để nợ quá hạn phát sinh

tăng. Nhiều cán bộ đã thực hiện tốt chức năng của mình trong việc cho vay và

thu nợ, đảm bảo đúng quy trình, tích cực chủ động trong công tác nghiệp vụ.

Nhìn chung nợ quá hạn vẫn còn tồn tại trong hoạt động tín dụng Hộ sản

xuất của Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ, tuy nhiên nó chiếm tỷ lệ

rất thấp trong tổng dư nợ (< 1%), chủ yếu là những nguyên nhân bất khả

kháng. Điều đó cho thấy chất lượng tín dụng Hộ sản xuất của ngân hàng đảm

bảo tính an toàn trong đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn. Đây là

cơ sở để ngân hàng có thể tiếp tục mở rộng tín dụng đối với Hộ sản xuất.

64

2.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN

XUẤT TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT HUYỆN PHÚC THỌ

2.4.1. Những kết quả đạt được

Nhờ có những kế hoạch mang tính định hướng và quá trình quản lý tín

dụng hợp lý trong thời gian qua, chi nhánh đã đạt được những thành tựu đáng

kể.

Một là, đối tượng được tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngày càng tăng đã

thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn và chuyển dịch cơ cấu

Nhờ có mạng lưới kinh doanh trải rộng với việc áp dụng hình thức cho

vay theo nhóm, phối hợp với những tổ chức quần chúng để cung cấp dịch vụ

tài chính, đối tượng khách hàng được phục vụ cũng như các kênh dẫn vốn tới

các Hộ sản xuất được mở rộng, đã giúp hàng vạn hộ dân đẩy mạnh sản xuất,

chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo mùa vụ, tiếp tục mở rộng ngành

nghề, tăng thu nhập. Đi đôi với việc đầu tư cho trồng trọt, chi nhánh đã mở

rộng cho vay phát triển nghành nghề tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế

nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng

nông nghiệp. Không những thế, nhằm khuyến khích kinh tế hàng hóa phát

triển, chi nhánh còn đầu tư vốn khuyến khích các Hộ sản xuất mở rộng quy

mô sản xuất, thu hút lao động có việc làm, ngày càng xuất hiện nhiều hộ nông

dân sản xuất hàng hóa quy mô lớn, tập trung. Chi nhánh đã giúp các khách

hàng vay để trang trải chi phí giống, cải tạo vườn ao chuồng, thậm chí cả chi

phí trả công lao động thời vụ.

Hai là, nguồn vốn tín dụng nông nghiệp nông thôn ngày càng gia tăng

Trên địa bàn nông thôn của huyện hiện nay, ngoài các nguồn vốn tín

dụng từ các TCTD khác, thì nguồn vốn chủ lực hục vụ nông nghiệp nông thôn

là nguồn vốn tín dụng từ hệ thống ngân hàng, mà chủ lực là NHNo & PTNT,

Quỹ tín dụng nhân dân, NH CSXH… Nguồn vốn này thường hiện diện theo

65

hai hình thức đó là tín dụng thông thường và vay ưu đãi (theo chính sách nhà

nước, hoặc theo dự án quốc tế WB, IMF…). Ngoài ra, chi nhánh còn chủ

động tìm các phương án có hiệu quả, giúp các Hộ sản xuất hoàn thành các thủ

tục cần thiết để chủ động giải ngân tín dụng sớm. Thị trường tín dụng nông

nghiệp nông thôn được mở rộng, tăng được tỷ trọng số hộ vay và mức dư nợ

bình quân hộ, giảm bớt các thủ tục phiền hà, tăng hạn mức tín dụng không

cần làm các thủ tục thế chấp cho Hộ sản xuất lên đến 50 triệu đồng, tạo cơ hội

rõ rệt để thoát nghèo và làm giàu. Có được những bước phát triển trên, có thể

nói là do sự hỗ trợ không nhỏ về mặt chính sách và vốn của Chính Phủ,

NHNN, như các chính sách ưu đãi về lãi suất, điều kiện vay vốn, nguồn vốn

hỗ trợ cho những rủi ro thiên tai, thị trường gặp khó khăn. Gần đây nhất, khi

kinh tế khủng hoảng… NHNN thực thi nhiều chính sách nhằm hướng tới mục

tiêu kiềm chế lạm phát, chống suy giảm kinh tế đều cân nhắc tới việc hỗ trợ

cho tín dụng nông nghiệp nói chung, tín dụng Hộ sản xuất nói riêng, đi kèm

với đó là sự quan tâm của chính quyền địa phương, của các TCTD, các tổ

chức nước ngoài…

Ba là, dư nợ tín dụng Hộ sản xuất được duy trì ở mức khá cao

Dư nợ Hộ sản xuất bình quân cao giúp cho các Hộ sản xuất có vốn để

phát triển kinh tế, có đủ vốn để giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời

sống, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói giảm nghèo” xây dựng nông

thôn mới. Hơn thế nữa vốn của Ngân hàng tín dụng đã góp phần quan trọng

vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của huyện, chuyển dịch cơ cấu

trong nông nghiệp nông thôn.

Vốn của Ngân hàng đã cơ bản đáp ứng nhu cầu đầu tư của Hộ sản xuất

để đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ nông nghiệp, mở rộng các

ngành nghề truyền thống, chăn nuôi đại gia súc, đầu tư chiều sâu, cải tạo vườn

tạp đất trống đồi núi trọc để trồng cây ăn quả, hướng đầu tư theo sản xuất

66

hàng hoá. Nhờ có vốn của Ngân hàng cho vay mà nhiều hộ đã vươn lên làm

giầu.

Khi xem xét về tốc độ tăng trưởng dư nợ so với tốc độ tăng trưởng

nguồn vốn của Chi nhánh thấy mức tăng trưởng dư nợ vẫn thấp hơn mức tăng

trưởng nguồn vốn. Có thể nhận xét rằng mức độ tăng trưởng tín dụng của Chi

nhánh là phù hợp, có sự cân đối với tốc độ tăng trưởng nguồn không xảy ra

hiện tượng tăng trưởng tín dụng quá nóng. Trong khi doanh số tín dụng tăng

trưởng mạnh thì, tốc độ tăng trưởng dư nợ lại thấp hơn so với tốc độ tăng

trưởng của doanh số tín dụng. Chứng tỏ rằng, công tác quản lý nợ của Chi

nhánh được thực hiện tương đối tốt và tốc độ quay vòng của đồng vốn là khá

nhanh.

Nhận thấy, hoạt động của Chi nhánh thường xuyên xảy ra tình trạng thừa

nguồn. Điều này, được chứng minh qua sơ đồ dưới đây:

Sơ đồ 2.7: So sánh mức tăng trưởng vốn huy động và dư nợ chi nhánh

Khi nhìn vào kết quả được thể hiện ở sơ đồ có thể nhận xét được rằng

hoạt động tín dụng của Chi nhánh là hiệu quả. Đồng vốn huy động về hầu như

là sử dụng hết có khi còn phải đi vay nguồn của ngân hàng cấp trên để cho

67

vay. Trong thực tế chi nhánh cũng có thể nâng cao mức dư nợ tín dụng hơn

nữa. Nhưng chi nhánh chịu quy định NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây và

NHNo&PTNT Việt Nam đối với mức tăng trưởng dư nợ tín dụng.

Bốn là, từng bước hoàn thiện cơ chế tín dụng, thực hiện đa dạng hoá

đối tượng vay vốn

Từ thực tiễn hoạt động NHNo&PTNT chi nhánh Phúc Thọ, đã xây

dựng và từng bước hoàn thiện cơ chế chính sách nói chung, cơ chế tín dụng

nói riêng phù hợp với Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn; thực hiện đa dạng

hoá đối tượng vay vốn, thường xuyên cải tiến và hoàn thiện hồ sơ, thủ tục

theo hướng đơn giản đến mức tối đa có thể cho phép. Cơ chế bảo đảm tiền

vay luôn được quan tâm tháo gỡ, tạo mọi điều kiện để hộ gia đình ở nông

thôn (thường không có hoặc không đầy đủ tài sản thế chấp) thoả mãn các nhu

cầu về vốn phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, phục vụ tiêu dùng, đời sống.

Năm là, mở rộng tín dụng gắn với củng cố và nâng cao chất lượng tín

dụng

Tham gia đầu tư mạnh vào thị trường nông nghiệp, nông dân, nông

thôn góp phần đẩy nhanh và mở rộng khối lượng tín dụng của toàn hệ thống,

năng suất lao động từng bước được tăng lên. Tỷ lệ thu hết nợ gốc, lãi tiền vay

luôn đạt trên 91% số khoản vay. NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ luôn gắn

việc cho vay với nâng cao chất lượng tín dụng thông qua tăng cường công tác

kiểm tra, kiểm soát, việc sử dụng vốn vay của khách hàng, tập trung giải

quyết những tồn tại phát sinh, đồng thời phân tích dư nợ hàng tháng, quý để

tìm ra nợ có tiềm ẩn rủi ro từ đó có biện pháp kịp thời xử lý nợ quá hạn. Vì

vậy, tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng luôn ở mức thấp, bình quân hàng năm

dưới 1% trên tổng dư nợ, chất lượng tín dụng được đảm bảo, nâng cao hiệu

quả sử dụng đồng vốn của ngân hàng.

68

2.4.2. Những mặt còn hạn chế

Thực hiện định hướng của Ngân hàng cấp trên trong những năm qua

NHNo & PTNT Phúc Thọ đã tập trung vốn để cho vay phát triển kinh tế Hộ

sản xuất. Vốn của Ngân hàng đã khẳng định vai trò to lớn của ngân hàng nông

nghiệp và phát triển nông thôn đối với sự phát triển kinh tế của huyện trong

lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên hoạt động tín dụng Hộ sản xuất

của NHNo & PTNT huyện Phúc Thọ vẫn còn một số mặt còn tồn tại đó là:

Hai là, khối lượng tín dụng đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông

thôn chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn

Khối lượng tín dụng đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn của

Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ tuy đã chiếm tỷ trọng khá cao so

với các khu vực kinh tế và các tổ chức tín dụng khác, nhưng chưa đáp ứng đủ

nhu cầu vốn của kinh tế nông nghiệp, nông thôn: Đặc biệt là nguồn vốn trung,

dài hạn còn hạn chế; suất đầu tư cho một đơn vị diện tích, cây, con hoặc cho

một hộ gia đình còn thấp; Đầu tư giữa các vùng chưa cân đối, chưa tương

xứng với nhu cầu và sự phát triển của sản xuất hàng hoá. Chi nhánh còn tập

trung khối lượng vốn quá lớn vào một số đối tượng vay vốn, chưa mạnh dạn

mở rộng đối tượng đầu tư, chưa coi trọng việc đầu tư cho nông nghiệp, nông

dân, nông thôn; chưa gắn kết giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ trong đầu tư tín

dụng.

Ba là, hình thức cho vay chưa đa dạng, chủ yếu tập trung vào một số

hình thức cho vay truyền thống, cơ bản

Các hình thức vay thiếu đa dạng đã gây khó khăn không nhỏ cho khách

hàng trong quá trình tiếp cận vốn. Điều này có thể khiến cho khách hàng

không vay được vốn mất đi cơ hội kinh doanh và làm giảm lợi nhuận của

ngân hàng.

Bốn là, việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ còn gặp khó khăn, lúng

69

túng

Thủ tục xử lý còn phức tạp, rườm rà, chi phí phát mãi tài sản thu hồi nợ

quá cao, tài sản phát mãi khó tiêu thụ… điều này gây ảnh hưởng đến việc mở

rộng cho vay của ngân hàng.

Năm là, nguồn vốn tăng trưởng tốt nhưng chủ yếu là ngắn hạn, nguồn

vốn trung, dài hạn chiếm tỷ trọng thấp

Khả năng tự cân đối giữa nguồn vốn và nhu cầu vay của vùng thành thị

và nông thôn... có sự chênh lệch lớn, do đó chưa có sự chủ động và điều kiện

để thoả mãn đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn của nông nghiệp, nông dân, nông

thôn.

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế

2.4.3.1. Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, bất lợi từ nền kinh tế

Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, mọi hoạt động sản xuất kinh

doanh bị thu hẹp khiến nhu cầu vốn đầu tư giảm mạnh. Bên cạnh đó, nền kinh

tế trong những năm vừa qua thiếu ổn định dẫn đến giá cả hàng hoá có nhiều

biến động theo xu hướng tiêu cực làm cho nhiều Hộ sản xuất kinh doanh thua

lỗ dẫn tới không trả được nợ Ngân hàng.

Thứ hai, cạnh tranh ngày một gay gắt

Cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng ngày càng tăng. Các ngân hàng

thương mại đẩy mạnh mở rộng màng lưới với nhiều hình thức tiếp thị ngày

càng quyết liệt, nâng cao lãi suất huy động.

Thứ ba, hiệu quả đầu tư vốn trong nông nghiệp, nông thôn chưa cao

Lĩnh vực này thường gặp rủi ro về thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, đồng thời

đối tượng khách hàng thường là hộ nông dân năng lực sản xuất yếu kém, trình

độ tay nghề thấp, trình độ canh tác kém, trình độ quản lý kinh tế hạn chế.

2.4.3.2. Nguyên nhân chủ quan

a. Nguyên nhân từ phía ngân hàng

Thứ nhất, công tác kiểm tra và giám sát thiếu chặt chẽ

70

Một số cán bộ tín dụng còn chưa làm tốt công tác giám sát, kiểm tra

trước, trong và sau khi cho vay, chưa giám sát kiểm tra vốn vay thông qua tổ

nhóm nên còn để xảy ra các hiện tượng vay hộ, tổ trưởng xâm tiêu, thu nợ thu

lãi nộp không kịp thời vào Ngân hàng. Việc chỉ đạo sửa sai sau kiểm tra còn

chậm, chưa kiên quyết. Sự phối hợp với các cấp chính quyền địa phương còn

chưa chặt chẽ hiệu quả thu nợ còn thấp.

Thứ hai, áp lực công việc cao

Cán bộ tín dụng do công việc quá tải thiếu thời gian nên cùng khách

hàng lập dự án sản xuất kinh doanh mang tính hình thức, chưa nêu cao ý thức

trách nhiệm dẫn đến hiệu quả vốn tín dụng chưa được tốt.

Thứ ba, chưa phát huy hết vai trò của công nghệ thông tin

Tuy đã được quan tâm chú trọng về vấn đề công nghệ thông tin nhưng

việc điều tra về thông tin tài chính, về mức độ rủi ro của khách hàng vay vốn,

về năng lực quản lý vốn vay và sử dụng vốn vẫn làm theo thủ công (qua thăm

dò bạn hàng, người quen…) dẫn đến không kiểm soát chặt chẽ được vốn vay.

Từ đó dẫn đến Hộ sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, không trả nợ đúng hạn.

Hơn nữa công tác thông tin nhằm mở rộng danh tiếng, qui mô tín dụng của

Ngân hàng tới mọi đối tượng khách hàng đặc biệt là những khách hàng ở

những xã xa xôi được triển khai thực sự chưa đem lại hiệu quả.

Thứ tư, suất đầu tư trên một đơn vị diện tích, trên Hộ sản xuất còn thấp

Cán bộ tín dụng thiếu kiến thức về sản xuất nông nghiệp nên khi tính

toán dự án của khách hàng thường theo cảm tính mà không căn cứ vào các

định mức kinh tế kỹ thuật trong nông nghiệp, hơn nữa do e ngại rủi ro nên đã

cắt giảm suất đầu tư làm khách hàng gặp khó khăn trong thực hiện dự án sản

xuất kinh doanh của mình, không mở rộng được qui mô sản xuất.

b. Nguyên nhân từ phía khách hàng

Thứ nhất, khả năng trả nợ còn thấp

71

Theo qui định các món vay giải ngân được thì vốn tự có của khách

hàng tham gia từ 15% - 20%, thực trạng và khả năng vốn tự có của khách

hàng là rất thấp, theo qui định đó nhiều phương án sản xuất không thực hiện

được, nhiều khách hàng đã dùng nguồn vốn khác thay thế cho nguồn vốn chủ

sở hữu của mình, vì vậy sau khi giải ngân xong sử dụng vốn không đúng mục

đích, do đó xẩy ra tình trạng trả nợ không đúng hạn dẫn đến ngân hàng thắt

chặt tín dụng.

Thứ hai, năng lực sản xuất kinh doanh còn hạn chế

Nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, sản phẩm của hộ

nông dân sản xuất ra không theo kịp sự thay đổi của cơ chế thị trường nhất là

về mặt chất lượng, chủng loại, giá cả… Đa số hộ gia đình bị hạn chế về năng

lực sản xuất, trình độ kinh doanh và kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật sản xuất

thủ công, lạc hậu, vốn tích lũy nhỏ nên trong điều kiện cạnh tranh trên thị

trường việc sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn. Một số

Hộ sản xuất sử dụng vốn sai mục đích, vay hộ, vay ké… Khi xin vay vốn đưa

ra một dự án, phương án khả thi cao và đầy hấp dẫn. Nhưng khi đã vay được

vốn họ lại sử dụng số tiền đó vào mục đích khác có rủi ro. Điều đó gây nên

khoản rủi ro cho Ngân hàng và buộc ngân hàng phải chịu.

Trình độ dân trí còn hạn chế và không đồng đều, nhất là kiến thức về

khoa học kỹ thuật, kiến thức về quản lý sản xuất, kinh doanh cũng như công

tác tiếp thị trong việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nông thôn.

72

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trọng tâm chương 2, tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng mở rộng tín

Hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ. Trên cơ sở đó, tác giả đã

đánh giá những kết quả đạt được trong đầu tư tín dụng đối với Hộ sản xuất,

đồng thời chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân tồn tại trong công tác tín dụng

nói chung và tín dụng Hộ sản xuất nói riêng. Đây cơ sở để đưa ra các giải

pháp phù hợp nhằm mở rộng cho vay Hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện

Phúc Thọ hiệu quả hơn, sẽ được tác giả đề cập trong chương 3 sau đây.

73

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP TIẾP TỤC MỞ RỘNG TÍN DỤNG HSX TẠI

NHNo & PTNT HUYỆN PHÚC THỌ

3.1. QUAN ĐIỂM VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT

Khi nói đến “mở rộng”, người ta sẽ nghĩ ngay đến việc làm thế nào để

tăng quy mô khối lượng, số lượng tức là nói đến sự tăng trưởng theo chiều

ngang. Hay nói một cách khác, mở rộng tín dụng là sự đáp ứng các yêu cầu

ngày càng tăng của khách hàng về quy mô tín dụng, là việc làm tăng tỷ trọng

tín dụng trong tài sản có của các NHTM.

- Việc mở rộng tín dụng hộ sản xuất phải trên cơ sở vừa tăng về qui mô

tín dụng vừa tăng số lượng khách hàng:

+ Tăng về phạm vi, đối tượng khách hàng, bằng các hình thức tuyên

truyền tiếp thị, mở rộng hệ thống mạng lưới, cải tiến qui trình nghiệp vụ, đơn

giản thủ tục hồ sơ vay vốn kết hợp với sử dụng nhiều kênh chuyển tải vốn

như: cho vay trực tiếp, cho vay qua tổ, giao tay ba qua các đơn vị cung ứng

vật tư…nhằm đáp ứng nhu cầu vay chi phí sản xuất, thu mua nông sản, cơ

giới hoá nông nghiệp, nông thôn, kinh tế trang trại, chương trình nông thôn

mới và các chương trình kinh tế trọng điểm của tỉnh để hộ sản xuất có nhu

cầu vay vốn dễ dàng tiếp cận được vốn vay ngân hàng.

+ Tăng suất đầu tư: Bên cạnh việc tăng diện hộ thì ngân hàng cần mạnh

dạn nâng suất đầu tư đối với những hộ làm ăn hiệu quả, có dự án sản xuất

kinh doanh hiệu quả, để giúp hộ có điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, trên

thực tế nhiều khi khách hàng có nhu cầu vay một lượng vốn để thực hiện đủ

một dự án sản xuất, kinh doanh nhưng ngân hàng thường cắt bớt do sợ rủi ro.

Để làm được điều này ngân hàng cần nâng cao trình độ thẩm định của cán bộ

tín dụng để thẩm định dự án một cách đầy đủ, từ đó đưa ra quyết định suất

đầu tư cho từng khách hàng một cách khoa học và hợp lý.

74

- Mở rộng qui mô tín dụng phải đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng.

Để quản lý nguồn vốn đầu tư hiệu quả thì đi đôi với việc mở rộng tín dụng,

ngân hàng cần phải chú trọng công tác nâng cao chất lượng tín dụng, tránh

tình trạng chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng mà lơ là việc nâng cao chất

lượng, tránh tình trạng tăng trưởng tín dụng nóng, việc đầu tư tín dụng có hiệu

quả thì có tác động tích cực đến việc mở rộng tín dụng: Đặc biệt trong điều

kiện hiện nay, việc huy động vốn để đáp ứng đủ nguồn vốn đầu tư vào phát

triển kinh tế là cực kỳ khó khăn. Hơn lúc nào hết, công tác nâng cao chất

lượng tín dụng phải luôn được chú trọng, chất lượng tín dụng cao thì vòng

quay vốn tín dụng nhanh, điều đó đồng nghĩa với việc cơ hội để nhiều khách

hàng có thể tiếp cận được vốn ngân hàng là rất lớn.

3.2. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA HUYỆN PHÚC THỌ

TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020

Phúc Thọ là huyện ngoại thành nằm phía Tây thành phố Hà Nội, về cơ

bản Phúc Thọ vẫn là một huyện thuần nông, kinh tế và cơ sở hạ tầng của

huyện còn nhiều khó khăn, khoảng cách về phát triển kinh tế của huyện so với

các quận nội thành và các huyện bạn còn khá lớn.

Với đặc trưng là huyện ngoại thành, cơ cấu nông nghiệp vẫn chiếm tỷ

trọng lớn, trên 58% lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp. Thực hiện

Nghị quyết của Chính phủ quy hoạch Thủ đô Hà Nội trong đó Phúc Thọ

với quy hoạch là vành đai xanh của thành phố. Do vậy quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng phát triển bền vững thì nông nghiệp vẫn

là ngành đặc trưng theo hướng phát triển nông nghiệp chất lượng cao, bền

vững.

Bên cạnh đó huyện cần tiếp tục đẩy nhanh đầu tư phát triển các cụm

điểm công nghiêp theo quy hoạch đã được thành phố phê duyệt, tạo điều kiện

để các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, các ngành công nghiệp sử

75

dụng công nghệ cao từ đó thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế của huyện phát triển theo hướng bền vững.Trong quá trình phát triển để trở

thành một huyện tiên tiến của thành phố, có một cơ cấu kinh tế tiến bộ, môi

trường xanh, sạch đẹp, các vấn đề về xã hội được đảm bảo thì các vấn đề về

vốn, đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, chất lượng nguồn lao động… thì

rất cần sự cố gắng, nỗ lực và sự lãnh đạo chỉ đạo quyết liệt của Đảng bộ,

chính quyền và ủng hộ của nhân dân trong huyện. Với truyền thống là đơn vị

anh hùng đã được Nhà nước phong tặng, với sự quan tâm của thành phố,

trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước chắc chắn trong thời gian tới

quá trình chuyển dịch cấu kinh tế của huyện Phúc Thọ sẽ diễn ra mạnh mẽ

theo hướng phát triển bền vững, bắt kịp với sự phát triển của các quận, huyện

và là lá phổi xanh của Thủ đô Hà Nội.

3.3. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG

NN&PTNT HUYỆN PHÚC THỌ ĐẾN NĂM 2020

3.3.1. Định hướng phát triển của NHNo & PTNT chi nhánh Phúc Thọ

Năm 2015 và những năm tiếp theo, chi nhánh xác định mục tiêu chung

là tiếp tục duy trì tăng trưởng tín dụng ở mức hợp lý. Ưu tiên đầu tư cho “tam

nông”, trước tiên là các hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, các

doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu đầu

tư cho sản xuất nông nghiệp, nông thôn, tăng tỷ lệ dư nợ cho lĩnh vực này đạt

70%/tổng dư nợ. Năm 2015, Agribank phấn đấu đạt được các mục tiêu tăng

trưởng cụ thể, đó là: so với năm 2014, nguồn vốn tăng từ 11%-13%; dư nơ ̣

tăng 9%- 11%; tỷ lệ cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt 70%/tổng dư nợ; nợ

xấu dưới 5%; tỷ lệ thu ngoài tín dụng tăng 10%; hệ số an toàn vốn (CAR)

theo chuẩn quốc tế.

* Định hướng đến năm 2020.

- Nguồn vốn: + Nội tệ và ngoại tệ quy đổi đạt 760 tỷ

76

- Dư nợ: + Nội tệ đạt 680 tỷ

- Tài chính: Chênh lệch quỹ thu nhập 24 tỷ phấn đấu hệ số lương làm ra

đạt 1.2 hệ số và có thưởng.

- Nợ xấu: Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ < 2%

- Nguồn vốn tăng trưởng từ 16-18%/năm

- Dư nợ tăng trưởng từ 14-16%/năm

- Nợ xấu dưới 5%/tổng dư nợ.

- Dư nợ trung, dài hạn chiếm khoảng 40%/tổng dư nợ.

- Dư nợ khu vực nông nghiệp, nông thôn tăng trưởng bình quân 18-

20%/năm, giữ vững tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn chiếm 70%/tổng

dư nợ. Trong đó dư nợ tín dụng Hộ sản xuất và cá nhân chiếm tỷ trọng

khoảng 55%/tổng dư nợ, tăng suất đầu tư để nâng mức dư nợ bình quân/hộ

đạt 50 triệu đồng trên hộ.

3.3.2 Định hướng mở rộng tín dụng Hộ sản xuất của NHNo & PTNT chi

nhánh Phúc Thọ

Căn cứ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện Phúc Thọ năm

2014. Căn cứ định hướng và mục tiêu đề ra của NHNo & PTNT Phúc Thọ

xây dựng định hướng tín dụng Hộ sản xuất đến năm 2020 như sau:

Lấy hiệu quả kinh tế của dự án làm căn cứ đầu tư: Ưu tiên đầu tư cho

các dự án có hiệu quả của Hộ sản xuất, kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nhỏ

và vừa. Đẩy mạnh hơn việc đầu tư vốn cho nông nghiêp, nông thôn theo Nghị

định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 tập trung đầu tư tín dụng hộ nông

nghiệp nông thôn, giải quyết cho vay đến 50 triệu đồng không phải thế chấp

tài sản, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP (chương trình xây dựng nông thôn mới)

đầu tư cho vay cánh đồng mẫu lớn, chuyển đổi đất làm VAC của NHNo Việt

Nam. Tập trung đầu tư tín dụng thấu chi qua tài khoản của khách hàng là cán

bộ công nhân viên chức có tài khoản trả lương ổn định mở tại ngân hàng. Làm

77

việc với các cấp hội, tổ chức chính trị trên địa bàn như Hội phụ nữ, Hội cựu

chiến binh, Hội nông dân, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh bằng các

văn bản thoả thuận hợp tác và thành lập các tổ nhóm đến từng chi hội, đoàn

thể của cụm dân cư. Mở rộng cho vay đối tượng tiêu dùng các hộ có nguồn

thu nhập ổn định.

Mở rộng tín dụng phải đi đôi với đảm bảo chất lượng tín dụng, đầu tư

có chọn lọc; Nâng cao chất lượng, khả năng phân tích tài chính, thẩm định dự

án; Tăng cường công tác kiểm tra chuyên đề tín dụng, đổi địa bàn cán bộ tín

dụng bảo đảm an toàn vốn. Kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng trong phạm

vi kế hoạch và phù hợp với mức tăng trưởng nguồn vốn theo đúng các quy

định về điều hành kế hoạch; Gắn việc cho vay khép kín từ sản xuất đến tiêu

thụ sản phẩm và xuất khẩu, trên cơ sở đó mở rộng các quan hệ về thanh toán

quốc tế và mua bán ngoại tệ góp phần tăng tỷ lệ thu dịch vụ.

Các khoản nợ tiềm ẩn rủi ro xấu cần được phân tích, đánh giá nếu

khách hàng vẫn còn hoạt động nhưng quy mô bị thu hẹp, hoạt động mang tính

cầm chừng dẫn đến khả năng trả nợ bị khó khăn có thể ra giãn và cơ cấu nợ

theo quyết định 780 của ngân hàng nhà nước Việt Nam. Đối với các khoản nợ

xấu từ nhóm 3 đến nhóm 5 cần phân tích đánh giá làm rõ nguyên nhân khách

quan từ sự suy thoái kinh tế chung của đất nước ảnh hưởng đến tình hình hoạt

động sản xuất kinh doanh của khách hàng và nguyên nhân chủ quan để làm

rõ trách nhiệm của từng cán bộ thực hiện. Tiếp tục giao nhiệm vụ đôn đốc thu

hồi lãi đọng, nợ đã cơ cấu, nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro đến từng cán bộ tín

dụng, từng phòng giao dịch, coi đây là một chỉ tiêu để xét lương, thưởng với

phương châm “Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không

hưởng” và áp dụng các chỉ tiêu phát động thi đua .

78

3.4. GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG TÍN DỤNG TẠI NHNo & PTNT

HUYỆN PHÚC THỌ

3.4.1. Tăng cường truyền thông chính sách tín dụng đối với Hộ sản xuất

Thực trạng ở nông thôn hiện nay cho thấy, đối với các Hộ sản xuất thì

lãi suất là vấn đề quan trọng , song vấn đề quan trọng hơn nhiều là khả năng

tiếp cận vốn tín dụng của Hộ sản xuất. Do điều kiện xa xôi, đường sá, cơ sở

hạ tầng nông thôn kém phát triển, trình độ dân trí và điều kiện dân sinh thấp là

những nguyên nhân làm giảm khả năng tiếp cận của Hộ sản xuất đối với các

nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Đối với NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ việc

tuyên truyền chính sách tín dụng của ngân hàng có hiệu quả nhất, đó là thông

qua chính quyền địa phương từ huyện đến xã, thôn, xóm làng. Thông qua các

phương tiện thông tin đại chúng như qua kênh truyền hình, đài truyền thanh

phường, xã... Mỗi cán bộ tín dụng là một tuyên truyền viên trực tiếp tiếp cận

với Hộ sản xuất thông qua các buổi họp, hội nghị... của chính quyền và các

đoàn thể để kết hợp tuyên truyền, phổ biến chính sách tín dụng, các văn bản

chỉ đạo của ngân hàng. Thực hiện tuyên truyền, quảng cáo tại chỗ như niêm

yết công khai các đối tượng, thủ tục, qui trình cho vay tại trụ sở làm việc, phát

tờ rơi, áp phíc quảng cáo. Đối với các Hộ sản xuất ở nông thôn, nâng cao

nhận thức của người dân về vốn tín dụng ngân hàng là “nguồn vốn đi vay để

cho vay phát triển kinh tế ”, phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người vay đối

với ngân hàng, nhất là trong việc thanh toán nợ, đảm bảo cho ngân hàng có

vốn luân chuyển cho vay phát triển kinh tế. Việc nâng cao nhận thức của mỗi

người dân sẽ tạo điều kiện cho vốn tín dụng ngân hàng có thể đến với Hộ sản

xuất nhanh chóng và tránh được rủi ro về đạo đức và người vay, giảm bớt khó

khăn cho ngân hàng trong việc thu nợ gốc, lãi khi đến hạn thanh toán.

Tập trung cán bộ tín dụng có năng lực vào vùng đầu tư có trọng điểm

để tăng dư nợ và an toàn vốn.

79

Khi các chủ trương, chính sách, thể chế đó đi vào lòng dân và được

quảng đại quần chúng nhân dân ủng hộ thì việc đầu tư vốn sẽ được mở rộng

và có hiệu quả. Đặc biệt đối với những huyện miền núi mặt bằng dân trí thấp,

điều kiện nắm bắt các thông tin rất hạn chế, thì công tác thông tin, tuyên

truyền và lựa chọn hình thức tuyên truyền cho phù hợp, có vị trí hết sức quan

trọng, cần được quan tâm.

3.4.2. Mở rộng mạng lưới hoạt động, củng cố lại mạng lưới sẵn có

Để có thể giữ vững được thị phần, thị trường trên địa bàn có cạnh tranh

của nhiều tổ chức tín dụng đòi hỏi Ngân hàng nông nghiệp huyện phải không

ngừng đổi mới hoạt động cho phù hợp để giữ vững và phát triển thị phần.

Trong những năm qua, NHNo & PTNT Huyện Phúc Thọ phủ kín tại

các khu vực trọng điểm, để vừa đáp ứng nhu cầu huy động vốn, vừa tạo thuận

lợi cho khách hàng đến giao dịch với Ngân hàng.

Hiện nay mạng lưới của chi nhánh gồm 01 trung tâm ngân hàng huyện

và 04 phòng giao dịch phục vụ nhân dân của 22 xã và 01 thị trấn (bình quân

mỗi điểm giao dịch quản lý 05 xã).

Thực tiễn hoạt động cho thấy cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và hệ thống

chi nhánh rộng lớn là sự thể hiện tốt nhất về sức mạnh và uy tín, thương hiệu

của ngân hàng, đồng thời nó là một biện pháp marketing rẻ tiền nhất và hiệu

quả nhất. Chính vì vậy mở rộng mạng lưới là một trong những biện pháp quan

trọng để tiếp cận và thu hút khách hàng.

Trong tương lai ngân hàng cần mở rộng thêm mạng lưới phòng giao

dịch của mình, song phải nghiên cứu kĩ đặc điểm kinh tế của các vùng do sự

phát triển kinh tế, trên địa bàn huyện diễn ra không đồng đều giữa các khu

vực, các vùng. Đặc biệt các phòng giao dịch, khai thác tối đa tính ưu việt của

ngân hàng lưu động, bởi vì mô hình này phù hợp với địa bàn hoạt động của

ngân hàng là lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của

80

các Hộ sản xuất với chi phí rẻ nhất.

Ngoài ra ngân hàng cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kĩ thuật, nâng

cấp một số phòng giao dịch hiện có, cải thiện điều kiện làm việc cho cán bộ

công nhân viên nhằm phục vụ tốt hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Phát

huy lợi thế của hệ thống mạng lưới rộng khắp, hoạt động nhiều năm ở khu

vực nông thôn, khai thác tối đa các tiện ích công nghệ thông tin hiện có, đẩy

nhanh tiến độ phát triển sản phẩm dịch vụ, làm tốt công tác thanh toán, huy

động tiền gửi tiết kiệm trong dân cư, tạo lập uy tín và thương hiệu Agribank,

từ đó mở rộng tín dụng có hiệu quả.

3.4.3. Đa dạng phương thức tín dụng đối với Hộ sản xuất

Cho đến nay, chi nhánh vẫn chưa triển khai phương thức cho vay theo

hạn mức tín dụng đối với Hộ sản xuất. Song do, nhu cầu đầu tư ngày càng

tăng lên nên ngân hàng phải đa dạng hóa phương thức cho vay để vươn tới

chiếm lĩnh thị trường. Vì vậy, đối với những hộ có qui mô sản xuất lớn, trang

trại, ngân hàng nên áp dụng cho vay theo hạn mức tín dụng, đồng thời nên qui

định hạn mức tín dụng từ 300 triệu đồng đến 1 tỷ đồng, để giảm bớt thủ tục

hồ sơ cho hộ khi vay vốn ngân hàng. Đây là một trong những giải pháp để mở

rộng tín dụng đối với Hộ sản xuất, để đẩy mạnh cho vay theo hạn mức tín

dụng ngân hàng cần bám sát các chương trình dự án phát triển kinh tế của

huyện, tích cực thu hút các đối tượng khách hàng có nhu cầu vay vốn thường

xuyên, tạo ra mối quan hệ tin cậy giữa ngân hàng và khách hàng.

3.4.3.1. Mở rộng tín dụng thông qua tổ vay vốn

Đa số món vay của Hộ sản xuất hiện nay có số tiền nhỏ và trải khắp

trên địa bàn rộng, dẫn đến chi phí quản lý món vay tăng cao, gây bất lợi cho

cả hai phía. Vì vậy, mỗi một cán bộ tín dụng phải phụ trách nhiều món vay,

dẫn đến tình trạng quản lý các khoản vay không được sát sao, là nguyên nhân

chủ yếu dẫn đến tình trạng nợ quá hạn của Hộ sản xuất. Để khắc phục tình

81

trạng trên ngân hàng nên tìm một hình thức tín dụng hiệu quả mà ít tốn kém

hơn.

Thứ nhất, cho vay thông qua tổ nhóm hợp tác

Cho vay thông qua tổ nhóm là một hình thức cho vay gián tiếp, song nó

đã tỏ rõ ưu thế đặc biệt khi cho vay các Hộ sản xuất. Tổ nhóm tín dụng hợp

tác là một tổ chức bao gồm các thành viên cùng sinh sống trong một thôn,

xóm, làng, xã... tự nguyện tập hợp với nhau thành một tổ, có tổ trưởng, tổ phó

và kế toán (hoặc thư kí) được các thành viên trong tổ tự bầu, hoạt động theo

qui chế nội bộ, được các tổ chức đoàn thể, hội cấp trên quản lý trực tiếp hoặc

được UBND xã, phường thừa nhận và liên đới chịu trách nhiệm trong việc

vay vốn ngân hàng.

Các hộ này cùng kí chung một hợp đồng tín dụng đối với ngân hàng,

khi vay vốn nếu một hộ thành viên nào đó không đáp ứng được các điều kiện

của ngân hàng thì tổ nhóm sẽ đứng ra bảo lãnh tín chấp cho thành viên đó và

tổ nhóm có trách nhiệm cùng với ngân hàng quản lý khoản vay đó. Trước khi

nộp hồ sơ vay vốn, tổ nhóm hợp tác cần cùng nhau xem xét xin vay bao nhiêu

là phù hợp với nhu cầu khả năng của từng hộ và của cả tổ. Khi nhận tiền vay

mỗi hộ có thể để lại một số vốn để gửi vào tài khoản ở ngân hàng để dự

phòng trong trường hợp có hộ không trả được nợ thì sẽ trích số tiền đó để trả

nợ thay. Như vậy mô hình cho vay thông qua tổ nhóm đã san sẻ một phần

khâu giám sát khoản vốn vay của ngân hàng tới các thành viên trong tổ, đồng

thời các thành viên trong tổ còn phải giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình sử dụng

tiền vay để mở rộng sản xuất phát triển kinh tế, hạn chế rủi ro.

Ngoài ra các thành viên trong các tổ nhóm là các thành viên ưu tú và có

uy tín đối với xóm, làng cho nên đây cũng đã là một cách sàng lọc, lựa chọn

khách hàng một cách hiệu quả và chính xác, chọn ra được những khách hàng

có tư cách tín dụng tốt cho ngân hàng.

82

Thứ hai, cho vay thông qua các tổ chức chính trị - xã hội

Đó là các tổ chức như Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ

nữ,... ngân hàng cần có mối liên kết hết sức chặt chẽ đối với các tổ chức này.

Các tổ chức này có thể xây dựng những chương trình, dự án kinh tế để thực

hiện triển khai trong phạm vi hoạt động của hội mình. Ngân hàng xem xét,

thẩm định dự án xem có hiệu quả hay không để tiến hành giải ngân. Các tổ

chức này phải có trách nhiệm sàng lọc, lựa chọn các thành viên có đủ tiêu

chuẩn thực hiện dự án và phải sát sao quản lý nguồn vốn vay cùng với ngân

hàng. Các tổ chức chính trị này sẽ là cầu nối trung chuyển, là trung gian quan

hệ giữa ngân hàng và các hộ. Việc thu nợ gốc, thu lãi vay ngân hàng có thể

bàn giao một phần nào đó cho các tổ chức này.

- Nhu cầu vốn mua vật tư của Hộ sản xuất thường chiếm tỷ trọng lớn

trong cơ cấu nhu cầu vốn sản xuất. Do đó, nếu đáp ứng đủ vốn cho đơn vị

cung ứng vật tư và kiểm soát tốt quá trình phân phối vật tư đó cho Hộ sản

xuất, cũng có nghĩa là ngân hàng đã đáp ứng phần lớn nhu cầu vốn cho Hộ

sản xuất kinh doanh.

- Quá trình cấp tín dụng cho các công ty vật tư nhập vật tư, công ty

giống cây trồng cung ứng cho nông dân theo chiến dịch mùa vụ những năm

qua tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc Thọ đã

có nhiều kinh nghiệm.

Tuy vậy, để mở rộng và phát triển vững chắc phương thức cho vay gián

tiếp nói trên, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần thực hiện

qui trình tín dụng một cách khoa học và thống nhất.

Việc cho vay đối với Hộ sản xuất mua vật tư thông qua công ty cung

ứng vật tư nên thực hiện theo hướng: công ty cung ứng vật tư vừa là người

bao tiêu sản phẩm cho Hộ sản xuất, Ngân hàng chỉ cho vay vào một đầu mỗi

83

là công ty cung ứng vật tư. Thực chất ở đây, ngân hàng thực hiện cấp tín dụng

ứng trước cho Hộ sản xuất thông qua đơn vị bao tiêu sản phẩm. Bởi vậy, ngân

hàng cũng phải cử cán bộ tín dụng giám sát công ty cung ứng vật tư trong quá

trình phân phối vật tư đến Hộ sản xuất và thu nợ bằng cách khấu trừ vào tiền

bán sản phẩm.

3.4.3.2. Phát triển phương thức tín dụng đối với mô hình sản xuất có qui

trình khép kín

Thực tế đã kiểm chứng, tín dụng đối với mô hình sản xuất có chu trình

khép kín là phương thức tín dụng Hộ sản xuất có hiệu quả, song để phát triển

phải xuất hiện mô hình sản xuất đó. Đối với Phúc Thọ, cùng với quá trình

chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, một số mô hình sản xuất

có chu trình khép kín, như: mô hình khai thác đánh bắt và chế biến hải sản,

mô hình trang trại chăn nuôi và chế biến xuất khẩu… đã phát triển và có hiệu

quả. Điều đó đã cho phép Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Phúc Thọ thực hiện cấp tín dụng cho Hộ sản xuất thông qua mô hình sản xuất

này. Tuy nhiên, để từng bước mở rộng tín dụng Hộ sản xuất thông qua mô

hình sản xuất có chu trình khép kín, đòi hỏi qui trình tín dụng phải đồng bộ.

Theo đó, ngân hàng phải đáp ứng vốn cho Hộ sản xuất ở tất cả các giai đoạn

của chu trình sản xuất, từ xây dựng dự án, dự trữ vật tư, chi phí sản xuất, chi

phí tiêu thụ sản phẩm,… mới đảm bảo tổ chức sản xuất kinh doanh liên tục

không bị gián đoạn.

3.4.3.3. Phối hợp tín dụng ngắn hạn với mở rộng tín dụng trung, dài hạn để

đáp ứng vốn cho Hộ sản xuất đầu tư chiều sâu

Tình trạng phổ biến hiện nay, do ngân hàng chưa đáp ứng đủ vốn tín

dụng trung, dài hạn, nên Hộ sản xuất thường sử dụng nguồn vay ngắn hạn để

mua sắm phương tiện, công cụ sản xuất. Do đó, nhiều trường hợp dẫn đến nợ

quá hạn, thậm chí gây ra rủi ro do Hộ sản xuất không có khả năng trả nợ.

84

Việc mở rộng tín dụng trung và dài hạn để đáp ứng vốn cho Hộ sản

xuất là vấn đề hết sức cần thiết của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn nói chung. Đặc biệt tại địa bàn Phúc Thọ, việc kinh doanh của Hộ

sản xuất đang có xu hướng chuyển dịch dần sang hộ khai thác và sản xuất

hàng hoá cần có vốn để mua sắm công cụ và phương tiện sản xuất. Lâu nay,

ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tín dụng trung và dài hạn,

trong sự vận dụng này chỉ cho phép ở một giới hạn nhất định (15-20% nguồn

vốn ngắn hạn), nếu vượt qua tỷ lệ cho phép sẽ xẩy ra “lợi bất cập hại” cho

ngân hàng. Do vậy, vấn đề có tính chiến lược để mở rộng tín dụng trung và

dài hạn đối với Hộ sản xuất, ngân hàng phải có chiến lược huy động nguồn

vốn trung và dài hạn để tín dụng. Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn huyện Phúc Thọ, vấn đề đó có thể xử lý theo các hướng sau

đây:

- Đối với khu vực Hộ sản xuất có chu trình sản xuất khép kín, phải kết

hợp cả tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung, dài hạn, vận dụng phương thức

tín dụng theo công đoạn sản xuất, tín dụng công đoạn sau để thu hồi nợ tín

dụng công đoạn trước.

- Đối với khu vực sản xuất hàng hoá theo mô hình dự án, phải huy động

vốn trung và dài hạn bằng phát hành kỳ phiếu ngân hàng có mục đích để bổ

sung nguồn tín dụng.

- Đối với dự án phát triển vùng và tiểu vùng thường có sự tham gia của

nhiều loại nguồn vốn: Vốn ngân sách, vốn tài trợ, vốn ngân hàng. Trường hợp

này, ngân hàng phải tranh thủ đàm phán với các đối tác tham gia đồng tài trợ

để nắm vị thế làm nhiệm vụ uỷ thác giải ngân toàn bộ nguồn vốn đó.

3.4.4. Xác định mức lãi suất tín dụng linh hoạt và hợp lý

Trong thực tế mỗi một món vay hàm chứa một mức độ rủi ro tín dụng

khác nhau, do đó ngân hàng không nên áp dụng một mức lãi suất cứng nhắc

85

cho mọi đối tượng mà nên áp dụng nhiều mức lãi suất khác nhau dựa trên

đánh giá về mức độ rủi ro các món vay. Ngân hàng chỉ nên qui định một

khung lãi suất dao động trong một khoảng nào đó đối với một nhóm khách

hàng, giao cho cán bộ tín dụng căn cứ vào mức độ rủi ro của từng khách hàng,

để đưa ra quyết định mức lãi suất nhưng phải phù hợp với khung lãi suất qui

định. Thực tế cho thấy đối với khách hàng Hộ sản xuất trên địa bàn huyện

Phúc Thọ, thì nhu cầu về sử dụng các dịch vụ kèm theo như thanh toán,

chuyển tiền, ngân quỹ…là rất ít. Chính vì vậy, đối với khách hàng là Hộ sản

xuất, lãi suất là nhân tố có sức cạnh tranh rất lớn và là nhân tố mang tính

quyết định trong chiến lược mở rộng thị phần của ngân hàng đối với khách

hàng là Hộ sản xuất, các Hộ sản xuất quan tâm đến mức lãi suất nhiều hơn

các dịch vụ tiện ích. Do đó ngân hàng cần xây dựng và vận hành một cơ chế

lãi suất linh hoạt, chính sách lãi suất phù hợp và có tính cạnh tranh. Để thực

thi điều này ngoài việc tiết kiệm các chi phí hoạt động ngân hàng còn phải có

các chính sách thu hút những nguồn vốn có chi phí thấp để tài trợ cho việc hạ

lãi suất. Những nguồn vốn này gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán

của các tổ chức, nguồn vốn ủy thác, vốn từ các chương trình dự án của Chính

phủ…

Có nhiều cách khác nhau mà ngân hàng có thể áp dụng trong việc thiết

lập một cơ chế lãi suất linh hoạt:

* Dựa trên phân loại khách hàng vay vốn:

+ Với khách hàng có lịch sử tín dụng tốt, có phương án sản xuất kinh

doanh hiệu quả, ngân hàng áp dụng mức lãi suất tín dụng thấp hơn lãi suất tín

dụng trung bình, do hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, rủi ro tín dụng thấp.

+ Với khách hàng khác đủ điều kiện vay vốn thì cho vay với lãi suất cao

hơn do khả năng rủi ro cao hơn.

Như vậy mấu chốt của căn cứ này là dựa trên phân loại khách hàng,

86

lựa chọn khách hàng vay vốn của ngân hàng. Ngân hàng cần xây dựng

được các tiêu chí phân loại khách hàng khoa học, hợp lý, phù hợp với tình

hình thực tiễn.

* Dựa vào nguồn huy động để cho vay:

+ Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước theo các chương trình tín dụng chỉ định:

Do không mất phí huy động, ngân hàng có thể cho vay với lãi suất ưu

đãi cho các đối tượng theo yêu cầu của bên cung cấp vốn.

+ Nguồn vốn uỷ thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước:

Đối với nguồn vốn này ngân hàng phải cho vay đúng đối tượng theo lãi

suất được uỷ thác để giữ uy tín với đối tác cho vay. Mức lãi suất uỷ thác thường

thấp hơn so với lãi suất huy động của ngân hàng. Tuy khó có thể hạ quá thấp

mức lãi suất cho vay từ nguồn vốn này vì thực chất ngân hàng cũng phải trả phí

cho nguồn vốn này nhưng nhìn chung đây là một nguồn vốn tốt, chi phí thấp và

qui mô khá lớn.

+ Nguồn vốn huy động của ngân hàng:

Nguồn vốn này ngân hàng phải trả lãi suất huy động bằng với lãi suất

huy động trên thị trường, nhìn chung khó có thể dùng nguồn vốn này để cho

vay với lãi suất ưu đãi. Ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn huy động này để

cho vay các Hộ sản xuất với lãi suất thương mại nhưng nên thấp hơn lãi suất

cho vay của các ngân hàng khác cùng cho vay Hộ sản xuất nếu có thể. Do đó

ngân hàng cần tiết kiệm chi phí hoạt động để có thể thực hiện được mục tiêu

hạ lãi suất.

* Sử dụng lãi suất tín dụng thả nổi:

Lãi suất tín dụng đối với các khoản tín dụng trung và dài hạn ngân hàng

nên áp dụng mức lãi suất thả nổi theo thị trường. Do giá cả thị trường có

những biến đổi khó có thể lường trước được và lãi suất cũng giao động và

thay đổi theo. Bên cạnh đó hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với nguy cơ

87

của lạm phát và thực tế cho thấy lạm phát có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát

triển nếu lạm phát dừng ở mức độ vừa phải. Do đó lạm phát là điều tất yếu sẽ

xảy ra đối với bất kì nền kinh tế nào trong cơ chế thị trường, song chúng ta lại

không biết nó xảy ra ở mức độ như thế nào, với tỉ lệ bao nhiêu phần trăm. Vì

vậy ngân hàng nên thỏa thuận với khách hàng mức lãi suất thả nổi theo thị

trường, có thể đó là mức lãi suất thị trường vào thời điểm đó. Qui định như

vậy sẽ là khách quan và hợp lý cho cả khách hàng và ngân hàng, bởi vì do

thời gian vay trung hạn và dài hạn dài cho nên nếu qui định một mức lãi suất

cố định, thì sẽ có một lúc nào đó khách hàng phải chịu mức lãi sất cao hơn lãi

suất thực tế trên thị trường và ngược lại có một lúc nào đó lãi suất tín dụng

của ngân hàng không đáp ứng đủ chi phí huy động và chi phí hoạt động của

ngân hàng. Như vậy qui định một mức lãi suất thả nổi theo lãi suất thị trường,

sẽ giúp ngân hàng giảm bớt rủi ro lãi suất và khách hàng giảm thiểu được chi

phí vốn.

3.4.5. Tăng tỷ trọng dư nợ Hộ sản xuất, tăng suất đầu tư

Thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách “Tam

nông”, chú trọng đầu tư vào khu vực Nông nghiệp, Nông thôn. Cơ cấu tín

dụng một cách hợp lý, nâng tỷ trọng dư nợ tín dụng khu vực này chiếm từ

85% - 90%/ tổng dư nợ, tỷ trọng dư nợ tín dụng Hộ sản xuất và cá nhân

chiếm từ 75% - 80% /tổng dư nợ. Chủ động tiếp cận khách hàng dưới nhiều

hình thức: Cán bộ trực tiếp điều tra, khảo sát khách hàng; thông qua hội nghị

khách hàng; Qua các tổ chức chính trị như: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội

Cựu chiến binh…để lựa chọn xem xét tín dụng khi khách hàng có nhu cầu và

dự án hiệu quả.

+ Đối với Hộ sản xuất và cá nhân: Thực hiện tăng diện hộ và suất đầu tư;

kết hợp nhiều hình thức chuyển tải vốn như: Tín dụng trực tiếp, tín dụng qua

tổ, giao tay ba qua các đơn vị cung ứng vật tư…nhằm đáp ứng nhu cầu vốn

88

của khách hàng một cách kịp thời và thuận tiện nhất. Thực hiện giao khoán

đến từng cán bộ tín dụng về chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với Hộ sản xuất,

tăng cả về doanh số, và chỉ tiêu tăng trưởng khách hàng, tháng, quí và năm.

Đồng thời có cơ chế khuyến khích, khen thưởng, động viên đối với những cán

bộ tín dụng có thành tích trong công tác tăng trưởng dư nợ, tăng trưởng khách

hàng Hộ sản xuất.

3.4.6. Mở rộng tín dụng phải đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng

Mở rộng qui mô tín dụng là một vấn đề rất quan trọng đối với bất cứ

NHTM ở Việt Nam nói chung, và đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn huyện Phúc Thọ nói riêng, vì thu nhập từ hoạt động tín dụng

của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Phúc Thọ chiếm trên

90% tổng thu nhập. Đây là vấn đề tồn tại và phát triển của chính bản thân

ngân hàng trong quá trình đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế ngày càng

cao. Tuy vậy, việc mở rộng tín dụng luôn đặt ra vấn đề phải nâng cao chất

lượng và hiệu quả tín dụng, đặc biệt trong bối cảnh hoạt động của ngân hàng

thương mại hiện nay, việc nóng bỏng của ngành. Trên phương diện chất

lượng và hiệu quả tín dụng để xem xét, việc mở rộng tín dụng bằng cách mở

rộng đối tượng đầu tư, đầu tư theo dự án khép kín từ sản xuất – chế biến- tiêu

thụ sản phẩm, thì nói chung phải lấy hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư

làm thước đo; đầu tư nhiều lĩnh vực: nông nghiệp, chế biến, dịch vụ, lưu

thông… đồng thời phải chú ý năng lực quản lý, tư chất của người vay. Nếu

hiểu theo nghĩa rộng, thì hiệu quả kinh tế xã hội của một khoản vay là mức

tăng trưởng lợi nhuận, là mức tăng việc làm do sử dụng vốn mà có. Hiểu theo

khía cạnh chủ thể tham gia trong quá trình tín dụng, thì hiệu quả kinh tế xã

hội của khoản vay phải được đánh giá bao gồm cho bản thân khách hàng, cho

xã hội và cho chính bản thân ngân hàng.

Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc

89

Thọ, việc mở rộng tín dụng đối với Hộ sản xuất, phải phối hợp với quá trình

đầu tư để xây dựng các vành đai nguyên liệu, cho công nghiệp chế biến nông

sản sau thu hoạch; đồng thời phải phối hợp với quá trình đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng cho nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là hạ tầng điện, đường,

trường, trạm và tạo khả năng tiếp cận thị trường cho khu vực nông nghiệp và

nông dân. Việc cho vay mua sắm, phát triển kinh tế trang trại, đổi mới giống

cây trồng, vật nuôi phải kết hợp tín dụng ngắn hạn với tín dụng trung và dài

hạn để tạo nên cơ cấu tín dụng phù hợp; lấy mở rộng tín dụng ngắn hạn để tạo

điều kiện phát huy hiệu quả tín dụng trung và dài hạn; và ngược lại, mở rộng

tín dụng trung và dài hạn để hỗ trợ tín dụng ngắn hạn đem lại hiệu quả.

Để nâng cao hiệu quả chất lượng tín dụng Hộ sản xuất, vấn đề nâng cao

khả năng thẩm định dự án vay vốn phải được xem là yếu tố “cốt tử”. Lâu nay,

đa số cán bộ tín dụng luôn xem yếu tố có tài sản thế chấp hoặc có bảo lãnh là

điều kiện đảm bảo hiệu quả và chất lượng tín dụng. Đó là nhận thức mơ hồ,

sai lầm. Họ đã quên rằng, khả năng duy nhất để Hộ sản xuất vay vốn trả được

nợ là hiệu quả sản xuất do sử dụng vốn vay mà có. Việc thu nợ bằng phát mại

tài sản thế chấp chỉ là “hạ sách” của một ngân hàng cho vay. Chỉ xét riêng

phương diện lợi ích cục bộ của ngân hàng (là thu được nợ), thì việc phát mại

tài sản thế chấp để thu nợ, nhiều khi lại không thực hiện được, thậm chí gây

tai hoạ thêm cho ngân hàng phải bỏ chi phí bảo quản tài sản thế chấp. Hơn

nữa, việc tín dụng đối với Hộ sản xuất đang có xu hướng xoá dần qui định

phải có tài sản thế chấp (hiện nay hộ dân vay đến 50 triệu đồng không phải

thế chấp tài sản) thì việc nâng cao khả năng thẩm định dự án kinh doanh,

kiểm tra trong quá trình sử dụng vốn vay không những là yếu tố “cốt tử” mà

là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả và chất lượng tín dụng đối với

khu vực này. Chỉ có thông qua thẩm định dự án vay vốn, ngân hàng mới đánh

giá đúng thực trạng tài chính và khả năng trả nợ của người vay để quyết định

90

cho vay hay không cho vay.

Bên cạnh việc áp dụng biện pháp thẩm định dự án trước khi cho vay,

ngân hàng còn phải áp dụng nhiều biện pháp cần thiết khác như đánh giá tư

cách người vay, kiểm soát sử dụng vốn vay của Hộ sản xuất để đạt mục tiêu

duy nhất là nâng cao chất lượng và hiệu quả tín dụng.

Tuy nhiên, để mở rộng tín dụng và nâng cao được chất lượng tín dụng

thì ngoài yếu tố các cơ chế chính sách, vấn đề đầu tiên phải quan tâm là yếu tố

con người được giao thực hiện các nhiệm vụ đó. Đây là đội ngũ cán bộ trực

tiếp liên quan đến quá trình xử lý nghiệp vụ tín dụng. Trong điều kiện nào đi

chăng nữa, thì nâng cao năng lực nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức nghề

nghiệp là một yêu cầu cấp bách trong quá trình hoạt động của ngân hàng, vì

đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đến chất lượng tín dụng. Thực tế hiện

nay ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc Thọ, đội

ngũ cán bộ nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng, trình độ không đồng đều.

Vì vậy, việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ tín dụng là một nhiệm vụ

trước mắt cũng như lâu dài trong chiến lược phát triển nhân lực của ngân

hàng. Bằng các hình thức và biện pháp đào tạo đa dạng để Ngân hàng Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc Thọ, sớm đảm bảo tiêu chuẩn hoá

từng loại cán bộ cho mục tiêu kinh doanh. Song cùng với giải pháp đào tạo,

thường xuyên chăm lo công tác giáo dục chính trị tư tưởng để nâng cao phẩm

chất, đạo đức nghề nghiệp, để đoạn tuyệt hiện tượng rủi ro do xuất phát từ đạo

đức của cán bộ ngân hàng. Thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng, kỷ

luật nghiêm minh. Đồng thời phải có những chính sách, chế độ khuyến khích

vật chất cho cán bộ tín dụng nông thôn, đặc biệt cán bộ tín dụng phụ trách địa

bàn vùng sâu, vùng xa. Tăng cường công tác kiểm soát đảm bảo tiền vay sử

dụng đúng mục đích có hiệu quả. Làm tốt công tác thông tin phòng ngừa rủi

ro, nắm chắc thông tin về khách hàng, tránh đầu tư trùng lắp, hạn chế được rủi

91

ro.

Hoạt động kinh doanh tín dụng trong cơ chế thị trường “chứa đựng

nhiều rủi ro”. Đặc biệt đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông

thôn, với địa bàn hoạt động là nông nghiệp, nông thôn, sản xuất nông nghiệp

phụ thuộc vào thiên nhiên, thiên tai bão lụt, hạn hán, dịch bệnh thường xảy ra,

nên rủi ro tín dụng khó tránh khỏi. Vì vậy, trong hoạt động của Ngân hàng

Nông nghiệp và phát triển Nông thôn phải vận dụng tổng hợp nhiều biện

pháp, để chủ động phòng ngừa, hạn chế mức thấp nhất những rủi ro có thể

xảy ra. Đồng thời thực hiện nghiêm túc việc trích lập qũi dự phòng rủi ro tín

dụng đúng và đủ theo qui định trình Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn Việt Nam giải quyết, xử lý những món rủi ro kịp thời từ nguồn

quỹ dự phòng. Làm cho chất lượng tín dụng phản ánh đúng thực chất hoạt

động của ngân hàng.

3.4.7. Kết hợp cho vay và tư vấn đầu tư đối với Hộ sản xuất

Muốn mở rộng tín dụng phải dựa trên hai phương diện: vừa mở rộng

qui mô và mở rộng lĩnh vực đầu tư. Hiện nay, khả năng mở rộng sản xuất -

kinh doanh của nhiều Hộ sản xuất trên địa bàn ngày càng tăng, các đối tượng

chi phí cho sản xuất - kinh doanh ngày càng phong phú. Bởi vậy, việc mở

rộng lĩnh vực đầu tư đối tượng tín dụng là phù hợp với yêu cầu thực tế của

sản xuất - kinh doanh. Quá trình CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn ở

Phúc Thọ đòi hỏi cần phải đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp, cũng như

các ngành nghề dịch vụ phục vụ cho nông nghiệp và đời sống ở nông thôn.

Do đó NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ cần mở rộng hơn nữa đối tượng tín

dụng như: Trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây nguyên liệu…

Ngoài ra cần mở rộng đầu tư cho các khâu dịch vụ, chế biến các sản phẩm, cơ

khí chế tạo, sửa chữa công cụ... đặc biệt là có sự quan tâm và mở rộng tín

dụng đối với Thương nghiệp nông thôn để mở rộng việc tiêu thụ nông sản.

92

Một đặc điểm và cũng là khó khăn lớn trong công tác đầu tư vốn tín

dụng, của Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc Thọ

cho Hộ sản xuất, đó là nền kinh tế của huyện sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún,

tự cung, tự cấp, trình độ dân trí thấp, kiến thức và kinh nghiệm của Hộ sản

xuất về thâm canh, về kinh tế thị trường còn hạn chế. Do vậy khi chuyển sang

sản xuất hàng hoá, nông sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của thị trường, thì đa

số các Hộ sản xuất gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn mô hình, đối

tượng sản xuất kinh doanh, kỹ thuật sản xuất. Chính vì vậy muốn mở rộng

được cho vay Hộ sản xuất trên địa bàn huyện thì hơn ai hết mỗi cán bộ tín

dụng ngân hàng, bằng khả năng và kinh nghiệm sản xuất đúc kết được trong

quá trình “đồng hành cùng nông dân”, cần phải tiếp cận Hộ sản xuất, phối kết

hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các tổ chức chuyên ngành kỹ thuật

như khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư... cùng tư vấn cho hộ lựa chọn đối

tượng sản xuất kinh doanh (cây trồng, vật nuôi) sao cho phù hợp với điều kiện

tự nhiên, khả năng sản xuất của hộ, nâng cao chất lượng tín dụng và cũng là

điều kiện để mở rộng tín dụng Hộ sản xuất của ngân hàng.

3.4.8. Nâng cao hiệu quả việc thu hồi nợ nhằm làm giảm nợ quá hạn

Hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung và hoạt động tín dụng đối

với cho vay Hộ sản xuất nói riêng chứa đựng nhiều rủi ro hơn các hoạt động

kinh doanh khác trong nền kinh tế thị trường. Nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh

rõ nhất là chất lượng hoạt động tín dụng và dấu hiệu báo trước khả năng thiệt

hại đối với Ngân hàng. Cho vay Hộ sản xuất nông nghiệp là một vấn đề

không đơn giản bởi vì sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào diễn biến của thời

tiết, tình trạng dịch bệnh, giá cả thị trường nông sản phẩm không ổn định nên

gặp nhiều rủi ro dẫn đến khả năng thu hồi vốn thấp. Xử lý tốt nợ quá hạn là

yêu cầu bức thiết trong tình hình hiện nay của các Ngân hàng thương mại nói

chung và của NHNo & PTNT Huyện Phúc Thọ nói riêng. Bởi vì làm tốt công

93

tác này sẽ nâng cao được uy tín để Ngân hàng tồn tại và đạt được mục tiêu

cạnh tranh trên thị trường. Để giải quyết vấn đề nợ quá hạn, NHNo & PTNT

Huyện Phúc Thọ có thể áp dụng một số biện pháp sau:

 Biện pháp ngăn ngừa:

Ngăn ngừa nợ quá hạn là một trong những giải pháp phải được thực

hiện thường xuyên, liên tục, có ý từ thức người điều hành, lãnh đạo đến

CBCNV trong toàn chi nhánh, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tín dụng. Một trong

những thành công trong việc nâng cao chất lượng tín dụng đó chính là thực

hiện biện pháp ngăn ngừa nợ quá hạn ngay từ lúc phát sinh món vay mới cho

đến khi thu hồi hết nợ gốc và lãi. Thông qua việc thực hiện nghiêm túc quy

trình tín dụng theo quy chế cho vay thực hiện đầy đủ các quy định về bảo đảm

tiền vay đi đôi với việc tăng cường và nâng cao đội ngũ cán bộ tín dụng với

việc bố trí, sắp xếp sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả. Thường xuyên đào

tạo, bồi dưỡng cán bộ tín dụng nâng cao chất lượng thẩm định đầu tư, thẩm

định khách hàng vay vốn trên các phương diện năng lực pháp lý, năng lực tài

chính, môi trường, hiệu quả kinh doanh và khả năng trả nợ. Thẩm định tính

khả thi của dự án sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng công tác thông tin

tín dụng, áp dụng các hình thức bảo hiểm cho tài sản và đối tượng liên quan

trong kinh doanh tín dụng.

 Biện pháp xử lý và thu hồi nợ quá hạn:

Thông thường nợ quá hạn phát sinh xảy ra khi người vay sử dụng vốn

sai mục đích, trả gốc, trả lãi không đầy đủ theo cam kết, tài sản thế chấp thay

đổi, thiên tai dịch bệnh, mất mùa, giá cả nông sản xuống quá thấp không đủ

bù đắp chi phí... Khi thấy dấu hiệu của nợ quá hạn phát sinh cán bộ tín dụng

phải trực tiếp cố vấn cho khách hàng về bán sản phẩm, thu hồi công nợ, điều

chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý, yêu cầu người vay giảm bớt kế

hoạch đầu tư trung, dài hạn, mua sắm tài sản chưa thật cần thiết, thậm trí phải

kiểm soát thu nhập và chi phí của người vay để tập trung nguồn trả nợ ngăn

94

chặn nợ quá hạn phát sinh.

Đối với những Hộ sản xuất kinh doanh thua lỗ có thể do nguyên nhân

bất khả kháng chưa có khả năng trả nợ Ngân hàng. Trước hết Ngân hàng cần

phải động viên thuyết phục khách hàng tìm nguồn để thanh toán số nợ quá

hạn cho Ngân hàng, đồng thời Ngân hàng phải tạo điều kiện cho người vay

bằng cách gia hạn nợ, giãn nợ hoặc cho vay tiếp nếu khách hàng có nợ quá

hạn dưới 6 tháng, có dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhằm tạo nguồn

trả nợ Ngân hàng. Trường hợp đầu tư tiếp, Ngân hàng phải tăng cường giám

sát chặt chẽ hoạt động sản xuất kinh doanh của người vay, quản lý các nguồn

thu nhập của người vay để thu nợ cho đến khi trả hết nợ vay mới và nợ quá

hạn cũ.

Đối với các Hộ sản xuất có hàng hoá ứ đọng chưa bán được thì Ngân

hàng có thể giới thiệu đơn vị mua bán hàng hoá giúp Hộ sản xuất giải quyết

tồn đọng với điều kiện hàng hoá phải có chất lượng.

Đối với khách hàng có sự vi phạm hợp đồng tín dụng một cách nghiêm

trọng hoặc có nguy cơ thua lỗ, phá sản trong kinh doanh dẫn đến khả năng thu

hồi nợ vay rất khó khăn buộc Ngân hàng phải chuyển nợ quá hạn và tìm biện

pháp thu hồi.

Đối với những khách hàng có khả năng trả nợ mà vẫn cố tình không trả

thì Ngân hàng cần phải phối kết hợp với các cơ quan pháp luật, chính quyền

địa phương xử lý thật nghiêm khắc để làm gương cho người khác. Tuy nhiên,

áp dụng biện pháp này phải có sự lựa chọn khi đã đưa ra xử lý bằng pháp luật

thì phải nắm chắc sẽ thu hồi được nợ, có như vậy mới có tác dụng răn đe

những khách hàng khác.

 Biện pháp đối với nội bộ Ngân hàng:

Ngân hàng huyện phải thường xuyên chỉ đạo cán bộ thực hiện phân tích

thực trạng dư nợ một cách thường xuyên và có hệ thống, theo dõi và xử lý nợ

quá hạn còn tiềm ẩn, nợ quá hạn mới phát sinh. Nên phân tích chi tiết tới từng

95

món nợ quá hạn xem lý do gì khách hàng để phát sinh nợ quá hạn, yêu cầu

của bước này là phải xác định được những món nợ nào có tài sản đảm bảo,

khả năng thanh lý được các tài sản đó để thu nợ trên cơ sở đó mà lựa chọn

biện pháp cho phù hợp.

Thành lập Ban chỉ đạo thu nợ quá hạn của Ngân hàng huyện, các tổ thu

nợ tại các phòng giao dịch trực thuộc có sự phân công chặt chẽ cụ thể tới các

thành viên. giao chỉ tiêu thu nợ quá hạn cho từng tổ, từng cán bộ tín dụng. Kết

quả thu nợ quá hạn được báo cáo theo từng tuần, từng tháng, từng quý, từng

đợt thi đua sẽ được tổng kết đánh giá để động viên khen thưởng kịp thời đối

với những cán bộ tín dụng làm tốt, đồng thời có những biện pháp hành chính

và kinh tế đối với những cán bộ tín dụng không hoàn thành chỉ tiêu được

giao.

Chỉ đạo cán bộ tín dụng thường xuyên xuyên láy số số liệu hàng ngày

kịp thời số khách hàng có nợ đến hạn để đôn đốc và xác định khả năng thu

hồi, từ đó có biện pháp xử lý thích hợp.

Giao cho cán bộ phụ trách địa bàn xã nắm và chịu trách nhiệm về số dư

nợ tai xã đó. Cán bộ tín dụng phải họp giao ban với uỷ ban nhân dân xã báo

cáo tình hình cho vay thu nợ , giải pháp mở rộng tín dụng trên địa bàn và các

hộ vay khó khăn trong trả nợ , đề nghị địa phương hỗ trợ đôn đốc thu hồi , kết

hợp cùng ngân hàng thành lập đoàn sử lý nợ.

Hàng tháng Nơi nào khó khăn trong khâu thu hồi nợ và giải ngân thành lập

các tổ công tác xuống địa bàn kể cả cán bộ lãnh đạo cùng với chính quyến xã

đề ra biện pháp hữu hiệu để xử lý kịp thời.

3.5. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.5.1. Đối với Nhà nước và chính quyền địa phương

3.5.1.1. Đối với Nhà nước

Như ta đã biết nguyên nhân dẫn đến khả năng không trả được nợ Ngân

hàng của Hộ sản xuất thì có nhiều nhưng một trong những nguyên nhân đó là

96

sản phẩm của Hộ sản xuất ra không tiêu thụ được, nhất là các loại sản phẩm

ngành nông, lâm nghiệp khu vực nông thôn. Có nhiều nguyên nhân không

tiêu thụ được như do tính chất mùa vụ, sản xuất tập trung, thu hoạch tập

trung, do chất lượng sản phẩm hàng hoá không đạt yêu cầu, giá cả còn cao do

yếu tố vật tư đầu vào, giá bán trên thị trường thấp, không ổn định.

Thứ nhất, Nhà nước nên có chính sách trợ giá vật tư đầu vào đối với

ngành nông nghiệp hoặc bao tiêu sản phẩm bằng cách xây dựng các nhà máy

chế biến các loại sản phẩm nông- lâm nghiệp ở các vùng, khu vực sản xuất

chuyên canh.

Thứ hai, cấp bù kịp thời phần giảm lãi suất để đảm bảo khả năng tài

chính của Ngân hàng nông nghiệp.

Thứ ba, Nhà nước cần đầu tư mạnh vào các trung tâm nghiên cứu

giống, nghiên cứu công nghệ sinh học trong nông nghiệp để có thể tạo ra các

công nghệ mới, các loại cây trồng vật nuôi đạt năng suất, giá trị cao, phù hợp

với điều kiện từng vùng.

Thứ bốn, Nhà nước nên yêu cầu các cấp chính quyền địa phương không

nên thu lệ phí đối với các Hộ sản xuất trong việc xin xác nhận về tài sản thế

chấp cũng như các giấy tờ có liên quan đến vấn đề vay vốn. Số tiền đó tuy

nhỏ nhưng cũng là một điều kiện nảy sinh tâm lý ngại đi vay Ngân hàng, gây

khó khăn cho hoạt động Ngân hàng.

Thứ năm, Nhà nước nên chỉ đạo triệt để đối với các cấp chính quyền

địa phương trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử

dụng đất của các Hộ sản xuất để các hộ có điều kiện vay vốn với số tiền lớn

mở rộng đầu tư.

3.5.1.2. Đối với chính quyền địa phương các cấp

Thứ nhất, các cấp chính quyền địa phương cần phối hợp tích cực hơn

nữa với Ngân hàng trong công tác cho vay, kiểm tra đôn đốc thu hồi và xử lý

97

nợ.

Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi trong việc xác nhận các giấy tờ, hồ sơ

vay vốn cho hộ dân.

Thứ ba, đề nghị các ngành có liên quan và các cấp chính quyền địa

phương cần phối hợp và tạo điều kiện dứt điểm việc xử lý và phát mại tài sản

thế chấp đối với những món vay chây ỳ cố tình không chịu trả nợ. Có như vậy

mới có tác dụng răn đe những người khác.

3.5.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước cần có nguồn vốn ưu đãi cho phát triển

Nông nghiệp, Nông thôn, nguồn vốn dự án với lãi suất ưu đãi, để tạo điều

kiện cho hộ dân có điều kiện phát triển kinh tế.

Thứ hai, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện nên có biện pháp nắm

bắt thông tin từ các Ngân hàng thương mại trên địa bàn nhằm ngăn chặn các

Ngân hàng thương mại dùng các biện pháp cạnh tranh thiếu lành mạnh để lôi

kéo khách hàng làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

3.5.3. Đối với NHNo & PTNT Việt Nam

Thứ nhất, đề nghị NHNo & PTNT Việt Nam tăng quyền tự chủ và trách

nhiệm cho ban lãnh đạo NHNo chi nhánh để họ chủ động thực hiện tốt hơn

nhiệm vụ của mình.

Thứ hai, ban hành các quy định về mẫu hợp đồng thế chấp, hợp đồng

tín dụng và các thủ tục liên quan đơn giản nhưng đầy đủ tính pháp lý nhằm

giải toả tâm lý khách hàng vay vốn phải làm nhiều thủ tục, giấy tờ.

Thứ ba, trang bị máy vi tính hiện đại đồng bộ, nhanh chóng hoàn thiện

dự án IPCAS giai đoạn 2, đường truyền, đường mạng được thong suốt để tạo

điều kiện cho yêu cầu kinh doanh của Ngân hàng kịp thời đại mới.

Thứ tư, thường xuyên mở các lớp tập huấn chương trình tín dụng Ngân

hàng cho các cán bộ Ngân hàng, đặc biệt là cán bộ tín dụng.

98

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Trên cơ sở lý luận của chương 1, qua phân tích thực trạng, nguyên

nhân tồn tại trong công tác tín dụng Hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và

Phát triển Nông thôn huyện Phúc Thọ được trình bày ở chương 2. Ở chương 3

tác giả đã đưa một số giải pháp và các kiến nghị về chính sách để thực hiện đồng

bộ các giải pháp, nhằm khắc phục những tồn tại, giúp chi nhánh mở rộng tín

dụng đối với Hộ sản xuất hiệu quả.

99

KẾT LUẬN

Mở rộng tín dụng luôn là vấn đề đặc biệt quan tâm của các Ngân hàng

thương mại. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi Ngân hàng song

phải làm thế nào để quy mô tín dụng Ngân hàng được mở rộng nhưng phải

đảm bảo được chất lượng hoạt động đó quả là công việc không dễ dàng đối

với NHNo & PTNT Huyện Phúc Thọ khi mà khách hàng chủ yếu của họ là

Hộ sản xuất nông nghiệp, nông thôn, nông dân - đối tượng vay vốn chứa đựng

nhiều nguy cơ tiềm ẩn rủi ro.

Qua quá trình nghiên cứu, bằng phương pháp khoa học, luận văn đã

hoàn thành các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Tổng hợp những vấn đề lý luận cơ bản về mở rộng tín dụng Hộ sản

xuất của ngân hàng thương mại.

- Phân tích thực trạng mở rộng tín dụng Hộ sản xuấtNgân hàng Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phúc Thọ, nêu bật những kết quả đã đạt

được, chỉ rõ những nguyên nhân, tồn tại, yếu kém cần phải khắc phục trong

thời gian tới.

- Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, luận văn đã đưa ra những

giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng cho vay Hộ sản xuất, góp phần thúc đẩy

phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn huyện Phúc Thọ. Đồng thời đưa ra

một số kiến nghị để thực hiện các giải pháp mở rộng cho vay hộ sản xuất tại

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ.

100

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh NHNo & PTNT Huyện Phúc Thọ

năm 2012, năm 2013 và năm 2014

[2]. Báo cáo tổng kết chuyên đề tín dụng NHNo & PTNT Huyện Phúc Thọ

các năm 2012, năm 2013 và năm 2014.

[3]. Báo cáo tổng kết tình hình hơn hai năm thực hiện nghị quyết Đại hội

Đảng bộ huyện lần thứ XX .

[4]. TS. Hồ Diệu, Tiến sĩ. Lê Thẩm Dương(2001), Giáo trình Tín dụng Ngân

hàng-Học viện Ngân hàng, nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.

[5]. TS. Hồ Diệu,(2000) Tín dụng Ngân hàng – Học viện ngân hàng, nhà xuất

bản thống kê.

[6]. Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền (2004), Quản trị kinh doanh,

nhà xuất bản Lao động xã hội.

[7]. TS.Nguyễn Minh Kiều (2003), Tín dụng và thẩm định tín dụng, Nhà xuất

bản Thống kê.

[8]. Nguyễn Thị Thu Hà (2004), Ngân hàng Thương mại, Nhà xuất bản

Thống kê.

[9]. TS. Tô Ngọc Hưng (2009) Giáo trình Ngân hàng Thương mại - Học viện

Ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê

[10]. Quyết định 67/1999/QĐ- TTg ngày 30/3/1999 về một số chính sách tín

dụng Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

[11]. Nghị định 85/2002/NĐ- CP ngày 25/10/2002 về sửa đổi, bổ sung nghị

định 178/1999/NĐ- CP.

[12]. Quyết định 1627/ 2001/ QĐ - NHNN ngày 31/ 12/ 2001 của thống đốc

NHNN về ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.

[13]. Quyết định 72/QĐ- HĐQT- TD ngày 31/03/2002 về ban hành quy định

cho vay đối với khách hàng trong hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam.

[14]. Văn bản 1163/NHNo- TD ngày 28/4/2003 của Tổng giám đốc NHNo &

PTNT Việt Nam về hướng dẫn thực hiện cho vay không phải đảm bảo bằng

tài sản.

[15]. Quyết định 300/QĐ- HĐQT- TD ngày 24/09/2003 về thực hiện đảm bảo

tiền vay trong hệ thống nông nghiệp, nông thôn Việt Nam .

[16]. Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 Chính sách tín dụng phục

vụ nông nghiệp nông thôn .

[17]. Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP (chương trình xây dựng nông thôn mới)

đầu tư cho vay cánh đồng mẫu lớn , chuyển đổi đất làm VAC của NHNo Việt

Nam.

[18]. Quyết định 124/QĐ- HĐQT- tín dụng ngày 13 tháng 4 năm 2004 của

chủ tịch HĐQT Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam về việc sửa đổi,

bổ xung một số điều tại quyết định 72/QĐ- HĐQT- TD, Quyết định 300/QĐ-

HĐQT- TD.

[19]. Quyết định số 411 /QĐ- HĐQT –TD ngày 24/9/2005 về việc sửa đổi

quyết định 300 .

[20]. Quyết định 666/QĐ- HĐTV- TDHo ngày 15/06/2010 về việc ban hành

quy định cho vay đối với khách hàng trong hệ thống ngân hàng No&PTNT

Việt nam .

[21]. Quyết định 1688/QĐ-HĐTV ngày 29/08/2012 Về một số giải pháp đầu

tư tín dụng.

[22]. Thông tư số 05 /2005 TTLT thông tư liên tịch bộ tư pháp, bộ tài nguyên

và môi trường về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất.