intTypePromotion=1

Mối quan hệ giữa độ thoáng khí của bao bì bảo quản chất lượng của nhãn xuồng cơm vàng trong quá trình tồn trữ

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:0

0
9
lượt xem
1
download

Mối quan hệ giữa độ thoáng khí của bao bì bảo quản chất lượng của nhãn xuồng cơm vàng trong quá trình tồn trữ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung bài viết giới thiệu Việt Nam nhãn xuồng Cơm Vàng là cây ăn quả đặc sản được trồng phổ biến ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và một số tỉnh như Đồng.Nai, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long (Bộ NN&PTNN, 2014).. Nhu cầu bảo quản đối với giống nhãn xuồng Cơm Vàng đang rất cao do mùa vụ ngắn trong khi thị trường tiêu thụ đang có xu hướng mở rộng trong những năm gần đây... Và đề tài nhằm tìm ra mối quan hệ giữa độ thoáng khí của bao bì bảo quản chất lượng của nhãn xuồng cơm vàng trong quá trình tồn trữ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Mối quan hệ giữa độ thoáng khí của bao bì bảo quản chất lượng của nhãn xuồng cơm vàng trong quá trình tồn trữ

Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ hai <br /> <br /> MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘ THOÁNG KHÍ CỦA BAO BÌ BẢO QUẢN CHẤT<br /> LƯỢNG CỦA NHÃN XUỒNG CƠM VÀNG TRONG QUÁ TRÌNH TỒN TRỮ<br /> Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Khánh Ngọc<br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Ở Việt Nam nhãn xuồng Cơm Vàng là<br /> cây ăn quả đặc sản được trồng phổ biến ở tỉnh<br /> Bà Rịa-Vũng Tàu và một số tỉnh như Đồng<br /> Nai, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long (Bộ<br /> NN&PTNN, 2014).<br /> Nhu cầu bảo quản đối với giống nhãn.<br /> xuồng Cơm Vàng đang rất cao do mùa vụ ngắn<br /> trong khi thị trường tiêu thụ đang có xu hướng<br /> mở rộngtrong những năm gần đây. Tuy nhiên,<br /> cũng như các giống nhãn khác, nhãn xuồng<br /> Cơm Vàng có thời gian bảo quản ngắn (không<br /> quá 1 tuần ở điều kiện nhiệt độ phòng 20-30oC<br /> và khoảng 2-3 tuần ở điều kiện bảo quản lạnh 5-7oC), đây được coi là một trong những trở<br /> ngại chính của quá trình sau thu hoạch ảnh<br /> hưởng đến khả năng thương mại hóa của quả<br /> nhãn (Paull, R.E. and N.J. Chen. 1987, Nguyễn<br /> Văn Phong & Nguyễn Thanh Tùng, 2013).<br /> Nhiều năm qua, giải pháp xông SO2<br /> được xem là biện pháp hiệu quả kiểm soát sự<br /> hóa nâu vỏ trái và bệnh thối phát triển để kéo<br /> dài thời gian sau thu hoạch cho nhãn. Tuy<br /> nhiên, biện pháp này đã và đang đối mặt với<br /> nguy cơ bị cấm bởi nhiều quốc gia, chủ yếu do<br /> dư lượng của SO2 để lại cho quả sau xử lý; các<br /> tác động xấu của việc xử lý SO2 đối với môi<br /> trường (Kader, 2009). Trước tình hình này, một<br /> số biện pháp thay thế đang nghiên cứu phát<br /> triển, trong đó biện pháp áp dụng các màng bao<br /> đóng gói cải biến thành phần không khí (MAP)<br /> cũng được xem là giải pháp tiềm năng để bảo<br /> quản nhãn sau thu hoạch (Nguyễn Khánh Ngọc<br /> et al. (2014), Trần Đình Mạnh et al., (2014).<br /> MAP với nguyên lý điều tiết thành phần không<br /> khí thông qua bao bì và sự hô hấp của rau quả<br /> để tạo ra một thành phần không khí hợp lý có<br /> tác dụng làm chậm quá trình hô hấp trao đổi<br /> chất và quá trình lão hóa giúp rau quả có thời<br /> gian bảo quản lâu hơn. Hầu như tất cả các loại<br /> vật liệu bao bì MAP thương mại như lifespan,<br /> Peakfresh hay Zoa thường được thiết kế gia<br /> công đặc biệt của nhiều thành phần nên giá<br /> thành tương đối cao. Trong khi đó, các vật liệu<br /> màng bao thông dụng như từ PE (polyethylene)<br /> <br /> hay PP (polypropylene) thì không có những<br /> đặc điểm điều biến độ thấm khí phù hợp dẫn<br /> các hiện tượng oxy giảm xuống quá thấp, CO2<br /> tăng quá cao dẫn đến chất lượng của sản phẩm<br /> bảo quản bi hư hỏng nhanh (Nguyễn Khánh<br /> Ngọc et al. (2014), Trần Đình Mạnh et al.,<br /> 2014). Trong các loại màng bao thông dụng từ<br /> PE và PP, màng PP có độ bền cơ học đối với<br /> các biến dạng bởi lực kéo tốt hơn (Mangaraj et<br /> al., 2009) và đây có thể là một đặc điểm hứa<br /> hẹn cho việc tạo ra các màng bao thích hợp<br /> cho bảo quản rau quả.<br /> Từ các lý do trên với mục đích xác định<br /> bao bì với độ thông thoáng phù hợp cho bảo<br /> quản nhãn xuồng thương mại là vấn đề mang<br /> tính thực tiễn cao.<br /> II. VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN<br /> CỨU<br /> 2.1. Vật liệu<br /> - Nhãn xuồng Cơm Vàng được thu hoạch<br /> đúng độ chín thương mại ở Cai Lậy, Tiền<br /> Giang.<br /> - Bao bì: túi PP (Polypropylene) có độ<br /> dày 0,05 mm và kích cỡ: 15x20 (cm).<br /> - Hóa chất: các hóa chất phân tích NaOH<br /> 0,1N; 2,6 dichlorophenolindophenol, thuốc thử<br /> phenolphtalein 1%, mannitol.<br /> - Thiết bị sử dụng: Khúc xạ kế Atago do<br /> Nhật sản xuất, thang độ 0-32oBrix; máy đo<br /> màu Minolta CR400 do Nhật sản xuất; máy đo<br /> thành phần không khí Dansensor checkmate 3;<br /> tủ sấy và cân kỹ thuật số…<br /> 2.2. Phương pháp nghiên cứu<br /> 2.2.1. Bố trí thí nghiệm<br /> Qua khảo sát nhãn xuồng cơm vàng được<br /> đóng gói bảo quản phân phối chủ yếu trong rỗ<br /> nhựa hình chữ nhật có trọng lượng 2kg nên thí<br /> nghiệm này được thực hiện theo cách tạo độ<br /> thông thoáng cho bao bì có dung tích chứa 22,5 kg nhãn.<br /> <br /> 651<br /> <br /> VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM <br /> <br /> 2.2.2. Phương pháp nghiên cứu<br /> a) Phương pháp tạo độ thoáng khí: Các<br /> túi PP cùng kích cở (15x20) cm được tạo đáy<br /> phẳng bằng cách ghép xếp hai gốc cạnh đáy, đo<br /> khoảng chiều cao của khoảng chứa khối lượng<br /> mẫu nhãn 2 kg và được tạo các lỗ thoáng khí<br /> bằng kim chích đâm xuyên qua hai mặt trong<br /> phạm vi chiều cao khoảng chứa.<br /> b) Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố<br /> trí hoàn toàn ngẫu nghiên, một nhân tố của bao<br /> bì PP chứa 2 kg nhãn với độ thoáng khí (là các<br /> lỗ thoáng) được tạo ra bằng kim chích có<br /> đường kính mũi (0,5mm), chích xuyên hai mặt<br /> cụ thể như sau: (5D) chích 5 mũi (10 lỗ); (10D)<br /> chích 10 mũi (20 lỗ); (15D) chích 15 mũi (30<br /> lỗ); (20 D) chích 20 mũi (40 lỗ) và đối chứng<br /> không chích (0D). Mỗi nghiệm thức được lặp<br /> lại 10 lần mỗi lần là một bao chứa 2 kg nhãn.<br /> <br /> Nhãn xuồng Cơm Vàng được thu hoạch<br /> từ vườn, vận chuyển ngay về phòng thí nghiệm<br /> để cắt tỉa bỏ cuống và phân loại chọn quả có<br /> chất lượng tốt và đồng nhất về độ chín. Sau đó,<br /> nhãn được rửa với sạch với nước chlorine<br /> 200ppm và dội lại nước sạch và làm khô nước<br /> bằng quạt gió. Thí nghiệm được tiến hành đóng<br /> gói trong phòng lạnh có nhiệt độ 20±2oC. Nhãn<br /> được cho vào bao bì có độ thoáng khác nhau<br /> (như đã mô tả phần trên) với khối lượng<br /> 2kg/mẫu, tiến hành đóng kín bằng cách quấn<br /> và buộc lại bằng dây thung. Các bao nhãn được<br /> đặt trong thùng carton 2,5 kg và được đưa bào<br /> bảo quản ở 5oC. Trên cơ sở đánh giá các chỉ<br /> tiêu chất lượng, hiệu quả bảo quản của quả<br /> nhãn và sự thay đổi thành phần không khí<br /> trong các bao gói ở các khoảng thời gian 0, 1,<br /> 2, 3 và 4 tuần. Từ đó đánh giá được ảnh hưởng<br /> của độ thoáng khí của bao gói đến chất lượng<br /> của quả nhãn trong thời gian bảo quản.<br /> <br /> Hình 2.1: Phương pháp đóng gói và bao bì trong nghiên cứu<br /> 2.2.3. Phương pháp phân tích<br /> - Xác định thành phần không khí<br /> (O2/CO2) có trong các bao gói bằng máy đo<br /> thành phần không khí Dansensor checkmate 3<br /> Cường độ hô hấp (mg CO2/kg/h) được xác định<br /> theo phương pháp đo kín, sử dụng máy máy<br /> Dansensor checkmate 3 - Màu sắc vỏ trái được<br /> xác định bằng máy đo màu Minolta CR400 với<br /> L biểu thị độ sáng tối, biến thiên từ 0 đến +100;<br /> a biểu thị từ màu xanh lá cây đến màu đỏ; b biểu<br /> thị từ màu dương đến màu vàng.<br /> - Chỉ số hóa nâu (0-5điểm) được đánh<br /> giá theo diện tích hóa nâu trên vỏ trái với các<br /> mức độ khác nhau với 0 = không xuất hiện nâu<br /> vỏ; 1=1-5% diện tích vỏ bị nâu; 2 = 6-10%<br /> diện tích vỏ bị nâu; 3 = 11-25% diện tích vỏ bị<br /> nâu; 4 = 26-50% diện tích vỏ bị nâu; 5=>50%<br /> diện tích vỏ bị nâu. Công thức tính chỉ số hóa<br /> nâu = (Σ (mức độ hóa nâu * số trái bị hóa nâu ở<br /> mức độ đó)) / tổng số trái quan sát.<br /> <br /> 652<br /> <br /> + Tỷ lệ bệnh (%): được tính bằng tỷ lệ số<br /> trái bệnh so với tổng số trái quan sát.<br /> - Hàm lượng tổng chất rắn hoà tan<br /> (oBrix): được đo bằng chiết quang kế hiệu<br /> ATAGO, do Nhật sản xuất, thang độ đo 0 32oBrix.<br /> - Hàm lượng axit tổng số (%) được:xác<br /> định theo TCVN 5483-1991).<br /> 2.2.4. Phân tích số liệu<br /> Tất cả các số liệu được xử lý phân tích<br /> và vẽ đồ thị trên chương trình excel 2010.<br /> III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> 3.1. Ảnh hưởng của độ thoáng khí bao bì<br /> đến sự thay đổi thành phần không khí<br /> (O2/CO2) trong các túi PP đục lỗ<br /> Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ<br /> oxy trong tất cả các nghiệm thức đóng gói<br /> giảm tỷ lệ nghịch với nồng độ của carbonic<br /> <br /> Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ hai <br /> <br /> 3-4 tuần bảo quản. Trong khi đó, sự giảm hàm<br /> lượng Oxy và tăng CO2 không đáng kể ở các<br /> mẫu sử dụng các bao gói PP có độ thoáng khí<br /> cao hơn (số lỗ nhiều hơn), (Đồ thị 3.1). Tất cả<br /> các hiện tượng trên được giải thích là do quá<br /> trình hô hấp của quả nhãn là nguyên nhân tạo<br /> nên sự thay đổi thành phần không khí trong<br /> bao bì. Với màng bao kín PP sẽ tạo nên một<br /> môi trường cô lập gần như hoàn toàn trong khi<br /> bao PP có độ thoáng khí sẽ có sự chuyển động<br /> của oxy và CO2 giữa môi trường trong và ngoài<br /> bao gói và mức độ dịch chuyển các thành phẩn<br /> này phụ thuộc vào độ thoáng khí của bao bì.<br /> <br /> (CO2) theo thời gian bảo quản. Trong bao bì<br /> không được tạo lỗ (mẫu đối chứng) chỉ sau 1<br /> tuần bảo quản, nồng độ oxy giảm xuống rất<br /> thấp (15%) và có<br /> hàm lượng CO2 tiếp tục tăng cao (khoảng 2224%) sau 2 tuần bảo quản và được giữ ổn định<br /> ở khoảng giá trị này trong suốt thời gian bảo<br /> quản. Đối với các bao bì có tạo độ thoáng khí<br /> (tạo lỗ), mức độ giảm Oxy và tăng CO2 tỷ lệ<br /> với số lỗ tạo ra trên bao bì theo thời gian bảo<br /> quản. Cũng từ các kết quả thu được cho thấy<br /> bao gói PP 5D có thể điều chỉnh được hàm<br /> lượng oxy giảm đến 10-14% và hàm lượng<br /> CO2 tăng đến 6-8% trong khoảng thời gian từ<br /> <br />  <br /> <br /> Đồ thị 3.1. Sự biến đổi nồng độ O2 và CO2 trong các túi PP vi lỗ theo thời gian tồn trữ của nhãn<br /> xuồng cơm vàng ở 5oC<br /> (Ghi chú: đồ thị được biểu diễn theo giá trị trung bình và sai số chuẩn ±SE)<br /> 3.2. Ảnh hưởng của độ thoáng khí bao bì bảo quản đến sự thay đổi màu sắc của vỏ quả<br /> <br /> L <br /> <br /> av<br /> <br />  <br /> <br /> Đồ thị 3.2. Sự biến đổi màu sắc của (L,a,b)của nhãn xuồng cơm vàng trong các túi PP vi lỗ theo<br /> thời gian tồn trữ ở 5oC<br /> (Ghi chú: đồ thị được biểu diễn theo giá trị trung bình và sai số chuẩn ± SE)<br /> Các kết quả thu được cho thấy màu của<br /> vỏ quả nhãn xuồng Cơm Vàng trong tất cả các<br /> <br /> mẫu hầu như đã chuyển từ màu sáng vàng nhạt<br /> đỏ thành màu nâu đỏ sẫm và mức độ thay đổi<br /> <br /> 653<br /> <br /> VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM <br /> <br /> hóa nâu và tỷ lệ bệnh của nhãn xuồng Cơm<br /> Vàng được ghi nhận rất thấp (không quá 0,5<br /> đối chỉ số hóa nâu và dưới 5% đối với tỷ lệ<br /> bệnh), tuy nhiên các giá trị này lại tăng nhanh<br /> ở cuối thời gian bảo quản (tuần thứ 4). Trong<br /> những nghiêm thức khảo sát, mẫu sử dụng bao<br /> bì PP-5D có chỉ số hóa nâu và tỷ lệ bệnh thấp<br /> (ở thời điểm 2 tuần bảo quản các giá trị này<br /> được giữ ổn định so với ban đầu, ở thời điểm 4<br /> tuần bảo quản chỉ số hóa nâu

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản