intTypePromotion=1

Một số giải pháp kích cầu ở nước ta hiện nay liên hệ với thực tiễn ở tỉnh Thái Nguyên

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
13
lượt xem
1
download

Một số giải pháp kích cầu ở nước ta hiện nay liên hệ với thực tiễn ở tỉnh Thái Nguyên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sự suy thoái ngày càng sâu rộng của kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực đến thị trường hàng hóa xuất khẩu, thị trường vốn và hoạt động dịch vụ nước ta. Ở trong nước, lạm phát cao cùng với suy giảm sản xuất công nghiệp và xây dựng cuối năm 2008 kéo dài sang những tháng đầu năm 2009 đã làm trầm trọng thêm những khó khăn, yếu kém vốn có của nền kinh tế.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số giải pháp kích cầu ở nước ta hiện nay liên hệ với thực tiễn ở tỉnh Thái Nguyên

Trần Đình Tuấn<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 58(10): 14 - 20<br /> <br /> MỘT SỐ GIẢI PHÁP KÍCH CẦU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY<br /> LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN<br /> Trần Đình Tuấn*<br /> Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Sự suy thoái ngày càng sâu rộng của kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực<br /> đến thị trường hàng hóa xuất khẩu, thị trường vốn và hoạt động dịch vụ<br /> nước ta. Ở trong nước, lạm phát cao cùng với suy giảm sản xuất công<br /> nghiệp và xây dựng cuối năm 2008 kéo dài sang những tháng đầu năm 2009<br /> đã làm trầm trọng thêm những khó khăn, yếu kém vốn có của nền kinh tế. Vì<br /> vậy việc tìm ra những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế,<br /> duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội cho nền kinh tế nói chung<br /> và cho từng địa phương nói riêng là vấn đề hết sức cần thiết. Qua bài viết tác<br /> giả đề xuất một số giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng ở nước ta và cho<br /> tỉnh Thái Nguyên nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế.<br /> Từ khóa: Một số giải pháp kích cầu ở việt nam trong giai đoạn khủng khoảng<br /> kinh tế toàn cầu.<br /> <br /> *<br /> <br /> Khủng hoảng cho vay thế chấp dưới<br /> chuẩn lan rộng ở Mỹ kể từ giữa năm<br /> 2007 đã dẫn tới tình trạng suy thoái<br /> kinh tế toàn cầu hiện nay. Năm 2008,<br /> nền kinh tế thế giới và trong nước có<br /> nhiều biến động vô cùng phức tạp.<br /> Giá dầu thô, nhiều loại nguyên liệu,<br /> lương thực, thực phẩm và nhiều loại<br /> hàng hóa khác trên thị trường thế giới<br /> tăng mạnh trong những tháng đầu<br /> năm khiến cho lạm phát xảy ra tại hầu<br /> hết các nước trên thế giới. Đến cuối<br /> năm, giá cả các loại hàng hóa và<br /> nhiên liệu lại sụt giảm mạnh do tác<br /> động của suy thoái kinh tế toàn cầu.<br /> Đứng trước tình hình đó, Chính phủ<br /> và các cấp, các ngành từ Trung ương<br /> đến địa phương, các tổ chức kinh tế<br /> và toàn xã hội đều phải xác định thực<br /> *<br /> <br /> Trần Đình Tuấn, Tel: 0912039920<br /> Email:<br /> <br /> ,<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> hiện nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách là<br /> phải tập trung mọi nỗ lực để tìm mọi<br /> giải pháp chủ động ngăn chặn suy<br /> giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh<br /> doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu<br /> đầu tư và tiêu dùng, bảo đảm an sinh<br /> xã hội, phấn đấu thực hiện mục tiêu<br /> tăng trưởng kinh tế năm 2009 và các<br /> năm tiếp theo.<br /> Tình hình triển khai thực hiện các<br /> giải pháp chống suy giảm và ổn<br /> định vĩ mô nền kinh tế nước ta<br /> trong thời gian qua<br /> Trong năm 2008, dưới sự lãnh đạo<br /> của Đảng, sự điều hành quyết liệt của<br /> Chính phủ, sự giám sát có hiệu quả<br /> của Quốc hội với việc thực hiện có kết<br /> quả 8 nhóm giải pháp của Chính phủ,<br /> lạm phát đã được kiềm chế, kinh tế vĩ<br /> mô cơ bản giữ được ổn định, an ninh<br /> xã hội được bảo đảm, tốc độ tăng<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Đình Tuấn<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> trưởng kinh tế đạt 6,23%. Tuy vậy,<br /> khủng hoảng tài chính và suy thoái<br /> kinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp<br /> đến kinh tế nước ta, làm cho sản<br /> xuất, kinh doanh và xuất khẩu giảm<br /> sút, ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm<br /> và đời sống nhân dân. Trước tình<br /> hình đó, Chính phủ đã ban hành Nghị<br /> quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11-122008 về những giải pháp cấp bách<br /> nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế,<br /> duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm<br /> an sinh xã hội với 5 nhóm giải pháp<br /> chủ yếu: (1) Thúc đẩy sản xuất kinh<br /> doanh và xuất khẩu; (2) Thực hiện<br /> các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu<br /> dùng; (3) Chính sách tài chính và tiền<br /> tệ; (4) Bảo đảm an sinh xã hội; (5)<br /> Tăng cường công tác điều hành, tổ<br /> chức thực hiện chính sách. Nhờ việc<br /> triển khai kịp thời, quyết liệt, có những<br /> chính sách cụ thể trong việc thực hiện<br /> các giải pháp cơ bản trên, tình hình<br /> kinh tế - xã hội hai quý đầu năm 2009<br /> đã có những dấu hiệu tích cực: Kinh<br /> tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng<br /> kinh tế được duy trì; việc điều hành lãi<br /> suất, tỷ giá linh hoạt, phù hợp, giữ<br /> được an toàn hệ thống ngân hàng;<br /> lạm phát được kiềm chế; sản xuất<br /> nông nghiệp phát triển; an sinh xã hội<br /> được tăng cường... Nhưng nhìn<br /> chung nền kinh tế nước ta vẫn đang<br /> đứng trước nhiều khó khăn thách<br /> thức trong việc thực hiện chính sách<br /> tài chính và tiền tệ, sản xuất và tiêu<br /> thụ sản phẩm, thu hút và giải ngân<br /> nước ngoài tăng chậm; giải quyết việc<br /> làm đang là vấn đề nhức nhối... Vì vậy<br /> vẫn phải tiếp tục thực hiện đồng bộ<br /> các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho<br /> sản xuất, kinh doanh, huy động tối đa<br /> các nguồn lực cho phát triển nhằm<br /> ngăn chặn suy giảm kinh tế và duy trì<br /> tăng trưởng trong bối cảnh nền kinh tế<br /> - xã hội đang gặp khó khăn... Dưới<br /> góc độ bài viết này, tác giả xin trao đổi<br /> một số nội dung liên quan đến vấn đề<br /> thực hiện một số giải pháp kích cầu<br /> hiện nay ở nước ta và liên hệ với tỉnh<br /> Thái Nguyên.<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 58(10): 14 - 20<br /> <br /> Một số giải pháp nhằm thực hiện<br /> kích cầu hiện nay ở nước ta<br /> 1. Những quan điểm để thực hiện<br /> giải pháp kích cầu<br /> - Kích cầu phải lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm thước đo: Thực hiện kích<br /> cầu phải làm tăng thêm của cải vật<br /> chất cho xã hội, tăng trưởng GDP cho<br /> nền kinh tế, tăng thu nhập cho doanh<br /> nghiệp, tạo thêm việc làm cho người<br /> lao động nhằm tăng thu nhập cho<br /> người lao động nói riêng và nhân dân<br /> nói chung. Đồng thời thúc đẩy các<br /> cân đối vĩ mô, giảm bội chi ngân<br /> sách, cải cách thể chế, thực hiện<br /> công bằng xã hội... Cơ chế hỗ trợ lãi<br /> suất của Chính phủ là giải pháp kích<br /> cầu phù hợp với yêu cầu của nền kinh<br /> tế, có tác dụng thúc đẩy sản xuất kinh<br /> doanh, tạo việc làm cho người lao<br /> động và hiện đang được các doanh<br /> nghiệp và toàn xã hội hưởng ứng,<br /> đồng tình.<br /> - Kích cầu phải có trọng tâm, trọng<br /> điểm, không rải mành mành, phân tán<br /> manh mún..., nhưng phải đặc biệt<br /> quan tâm giám sát vì rất dễ tạo ra cơ<br /> chế “xin – cho”, tình trạng “chạy dự<br /> án”, “nước chảy chỗ trũng” để được<br /> ưu tiên vốn hoặc lãi suất kích cầu... Vì<br /> vậy cần tăng cường giám sát để tránh<br /> việc chi sai mục tiêu, đối tượng sử<br /> dụng, gây lãng phí nguồn lực. Đối với<br /> nước ta là một nước nông nghiệp vì<br /> vậy cần ưu tiên các nguồn lực cho<br /> khu vực nông, lâm nghiệp và thủy<br /> sản. Khu vực kinh tế tư nhân, các<br /> doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cần<br /> phải được quan tâm phát triển do đặc<br /> điểm kinh tế của nước ta còn sản xuất<br /> nhỏ, đồng thời góp phần giải quyết<br /> vấn đề lao động dư thừa ở nông thôn.<br /> Kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng,<br /> sản lượng nông nghiệp chỉ tăng<br /> nhanh khi lao động nông nghiệp được<br /> chuyển từ khu vực nông nghiệp ra<br /> các khu vực khác. Rất cần có một môi<br /> trường hỗ trợ cho sự phát triển doanh<br /> nghiệp để khuyến khích sự tăng<br /> trưởng của các ngành công nghiệp sử<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Đình Tuấn<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> dụng nhiều lao động ở nông thôn [4].<br /> Thực hiện kích cầu cũng cần đặc biệt<br /> quan tâm đến các đối tượng bị ảnh<br /> hưởng nhiều trong cuộc khủng hoảng<br /> kinh tế là tầng lớp dân nghèo, yếu thế<br /> ở khu vực nông thôn, lao động thất<br /> nghiệp... Nói chung, hiệu quả của gói<br /> kích cầu của Chính phủ phải đến<br /> được tới từng người dân, không phân<br /> biệt giàu nghèo, đối tượng.<br /> - Kích cầu cần được triển khai đồng<br /> bộ trên cả 2 giác độ sản xuất và tiêu<br /> dùng. Sản xuất và dịch vụ làm tăng<br /> cung sản phẩm, còn tiêu dùng lại làm<br /> tăng cầu hàng hóa và dịch vụ. Ở Việt<br /> Nam, vai trò của sản xuất và tiêu<br /> dùng trong GDP rất quan trọng, nên<br /> muốn tăng trưởng kinh tế bền vững<br /> nhất thiết phải quan tâm đến cả 2 mặt<br /> sản xuất và tiêu dùng.<br /> - Kích cầu mang tính ngắn hạn nên<br /> cần phải phát huy tác dụng nhanh, do<br /> đó cần quan tâm đến tiêu chí thời<br /> gian dự án. Những dự án kích cầu<br /> cần thời gian triển khai càng dài thì ý<br /> nghĩa, tác dụng của kích cầu càng<br /> giảm.<br /> 2. Một số giải pháp đối với kích cầu<br /> đầu tư và kích cầu tiêu dùng ở Việt<br /> Nam hiện nay<br /> a) Về kích cầu đầu tư<br /> Giải quyết bài toán nâng cao hiệu quả<br /> sử dụng vốn đầu tư cần được coi là<br /> nhiệm vụ vừa cấp bách vừa là chiến<br /> lược đối với nền kinh tế Việt Nam<br /> trong thời gian tới. Cần phải tập trung<br /> mọi nguồn lực tài chính của Chính<br /> phủ để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh,<br /> duy trì nền kinh tế phát triển ổn định.<br /> Đồng thời, phải tăng cường kiểm tra,<br /> giám sát chặt chẽ để tránh tình trạng<br /> chi sai mục tiêu, đối tượng sử dụng,<br /> gây lãng phí các nguồn lực. Trong<br /> kích cầu đầu tư, nguồn tiền sẽ được<br /> trích từ ngân sách nhà nước về xây<br /> dựng cơ bản hàng năm, trái phiếu<br /> Chính phủ và vốn ODA. Chính phủ đã<br /> cho phép hoãn thu hồi 3.383,7 tỉ đồng<br /> vốn ngân sách đã ứng những năm<br /> trước và cho phép thực hiện 7.700 tỉ<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 58(10): 14 - 20<br /> <br /> đồng trái phiếu chính phủ chưa thực<br /> hiện năm 2008. Số vốn trái phiếu đã<br /> thông báo sẽ phát hành năm 2009 là<br /> 36.000 tỉ đồng, đồng thời tiếp tục trình<br /> Quốc hội xin phát hành thêm khoảng<br /> 15.000 – 20.000 tỉ đồng trong năm<br /> 2009. Số trái phiếu Chính phủ bằng<br /> ngoại tệ đợt 1 đã phát hành là 300<br /> triệu USD trên thị trường vốn trong<br /> nước. Ngoài nguồn vốn của các<br /> doanh nghiệp trong nước, cần tăng<br /> cường thu hút các nguồn vốn đầu tư<br /> nước ngoài để thực hiện giải pháp<br /> kích cầu. Các nguồn tài chính dành<br /> cho kích cầu đầu tư cần được sử<br /> dụng hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc<br /> các thành phần kinh tế phát triển sản<br /> xuất và mở rộng dịch vụ. Tập trung<br /> nguồn lực quan trọng nhất để đầu tư<br /> cho các ngành kinh tế, các doanh<br /> nghiệp, các hộ sản xuất, kinh doanh<br /> dịch vụ chất lượng cao. Đặc biệt là<br /> phải ưu tiên nguồn lực cho xuất<br /> khẩu, nhất là khi nước ta đang ở<br /> trong giai đoạn nhập siêu.<br /> + Cần phải có một chính sách điều<br /> hành tỷ giá linh hoạt. Trong cơ chế thị<br /> trường mở, điều tiết nền kinh tế có 3<br /> yếu tố quan trọng: giá cả hàng hóa,<br /> dịch vụ, tỷ giá và lãi suất, không thể<br /> xem nhẹ yếu tố nào. Nhưng một nền<br /> kinh tế mở cửa càng gắn bó với thị<br /> trường thế giới thì tỷ giá càng quan<br /> trọng. Nếu cố định tỷ giá, làm tê liệt<br /> công cụ điều tiết thị trường, thì tác hại<br /> của nó là khôn lường. Một chính sách<br /> điều hành tỷ giá linh hoạt thực chất là<br /> một chính sách để cho các yếu tố của<br /> cơ chế thị trường tự động điều tiết<br /> nền kinh tế, chính phủ chỉ can thiệp<br /> để giảm bớt mực độ thái quá của<br /> chúng [3].<br /> + Đẩy mạnh việc thực hiện lãi suất<br /> 4% đối với các doanh nghiệp thông<br /> qua Ngân hàng Thương mại. Bản<br /> chất của việc bù lãi suất là sử dụng<br /> công cụ tài khóa để thực hiện chính<br /> sách tiền tệ. Số tiền bù chênh lệch<br /> được lấy từ ngân sách, được Ngân<br /> hàng Nhà nước triển khai qua hệ<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Đình Tuấn<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> thống Ngân hàng Thương mại. Theo<br /> số liệu đăng ký kế hoạch giải ngân<br /> vốn vay được hỗ trợ lãi suất trong<br /> tháng 2 và 3/2009 của các Ngân hàng<br /> Thương mại khoảng 400.000 tỉ đồng,<br /> số vốn này sẽ ngày càng tăng thêm.<br /> Hỗ trợ vốn vay trong chương trình<br /> kích cầu cần ưu tiên cho các doanh<br /> nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư<br /> nhân để tạo thêm nhiều việc làm cho<br /> nhiều lao động đang thất nghiệp do<br /> khủng hoảng kinh tế gây ra (khoảng<br /> 600 nghìn người) và lao động dư<br /> thừa ở nông thôn. Việc thực hiện kích<br /> cầu lãi suất thông qua hệ thống Ngân<br /> hàng Thương mại cần phải có một<br /> thiết chế ngân hàng và tài chính lành<br /> mạnh, thông thoáng, đủ rõ ràng. Thực<br /> tế cho thấy rằng, thiết chế ngân hàng,<br /> tài chính của các nước đang lâm vào<br /> khủng hoảng nếu thiếu những yếu tố<br /> trên sẽ không có khả năng kiểm soát<br /> và bị bộ máy chính trị can thiệp quá<br /> mức vào hoạt động ngân hàng với<br /> những quan hệ mờ ám. Tam giác lợi<br /> ích: Các quan chức lãnh đạo - Các<br /> ngân hàng - Các công ty “liên kết” lợi<br /> ích với nhau làm cho thiết chế ngân<br /> hàng tài chính của các nước này trở<br /> nên hư hỏng. Những quan hệ móc<br /> ngoặc, hối lộ, những chỉ thị ngầm để<br /> được vay vốn và đầu tư ưu đãi là<br /> những ung nhọt trong hệ thống ngân<br /> hàng và tài chính Châu Á. Đây cũng<br /> là một trong những nguyên nhân làm<br /> cho hệ thống ngân hàng và tài chính<br /> của các nước Châu Á khó điều chỉnh<br /> linh hoạt theo những thay đổi mới của<br /> thị trường [2].<br /> + Tăng cường và ưu tiên kích cầu cho<br /> khu vực nông nghiệp, nông thôn bao<br /> gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư<br /> gián tiếp thông qua hỗ trợ lãi suất tín<br /> dụng. Đây là một khu vực rộng lớn cả<br /> về sản xuất, dân cư và thị trường.<br /> Thực tế cho thấy, vừa qua khu vực<br /> này chịu ảnh hưởng ít nhất của khủng<br /> hoảng kinh tế và vẫn đang có sự tăng<br /> trưởng. Nông nghiệp cung cấp các<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 58(10): 14 - 20<br /> <br /> nhu yếu phẩm hàng ngày cho con<br /> người, vì vậy đầu tư vào khu vực này<br /> có hiệu quả sẽ có ảnh hưởng rộng<br /> đến các ngành kinh tế khác và cả xã<br /> hội. Ưu tiên phát triển nông nghiệp và<br /> nông thôn có ý nghĩa vô cùng quan<br /> trọng trong việc giảm nghèo, đầu tư<br /> vào khu vực này vừa nhằm thực hiện<br /> tinh thần Nghị quyết Trung ương 7<br /> khóa X về nông nghiệp, nông dân và<br /> nông thôn; thực hiện Chương trình<br /> giảm nghèo nhanh và bền vững tại 61<br /> huyện nghèo đang được triển khai<br /> tích cực; vừa nhằm mục tiêu tăng<br /> nhanh nông sản hàng hóa phục vụ<br /> cho tiêu dùng trong nước và cho xuất<br /> khẩu. Trong 6 tháng đầu năm 2009,<br /> Việt Nam đã xuất khẩu được gần 3,5<br /> triệu tấn gạo đem lại nguồn thu hơn<br /> 1,5 tỷ USD. Với xu hướng này, Việt<br /> Nam có thể xuất khẩu 5 triệu tấn gạo<br /> trong năm 2009. Nhưng cũng cần có<br /> chính sách quản lý xuất khẩu gạo để<br /> chống phá giá gạo xuất khẩu. Ngoài<br /> gạo, các mặt hàng nông sản có thế<br /> mạnh của nước ta cũng cần phải<br /> được đầu tư để mở rộng thêm thị<br /> trường xuất khẩu. Đồng thời, phải<br /> khẩn trương ban hành chính sách hỗ<br /> trợ xúc tiến thương mại, hỗ trợ xuất<br /> khẩu, kiểm tra chặt chẽ nhập siêu, có<br /> chính sách phù hợp để khuyến khích<br /> sản xuất và tiêu dùng trong nước.<br /> Hiện nay, lúa là cây lương thực chiếm<br /> tới 60% diện tích đất nông nghiệp,<br /> cần phải có chiến lược cho nông dân<br /> thực hiện đa dạng hóa sản xuất để<br /> tăng thu nhập và giảm bớt khả năng<br /> dễ bị tổn thương do biến động của thị<br /> trường.<br /> Sản xuất nông nghiệp hiện nay, khi tư<br /> liệu sản xuất quan trọng là đất đai<br /> đang bị thu hẹp, nhường chỗ cho các<br /> dự án công nghiệp, dịch vụ thì việc<br /> phát triển du lịch nông thôn tại những<br /> địa phương có nhiều tiềm năng du<br /> lịch cần được quan tâm hơn để góp<br /> phần giải quyết việc làm, tạo nguồn<br /> thu nhập từ dịch vụ cho nông dân.<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Đình Tuấn<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Phát triển dịch vụ nói chung và du lịch<br /> nông thôn nói riêng ở nước ta có vai<br /> trò quan trọng để tăng trưởng kinh tế,<br /> tạo nhiều việc làm mới ở nông thôn.<br /> Dự kiến những ngành này sẽ tăng<br /> trưởng GDP 14% mỗi năm vào năm<br /> 2010 (so với 4% của nông nghiệp); tỷ<br /> lệ của những ngành này trong tổng<br /> việc làm ở nông thôn sẽ tăng từ 14%<br /> năm 2000 lên đến 28% năm 2010, tạo<br /> ra khoảng 400.000 việc làm trực tiếp<br /> mỗi năm và hàng trăm ngàn việc làm<br /> gián tiếp do hiệu ứng của du lịch nông<br /> thôn [6]. Thực hiện được mục tiêu<br /> trên sẽ góp phần xóa đói, giảm nghèo<br /> và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo<br /> hướng sản xuất hàng hóa và phát<br /> triển nông thôn mới.<br /> b) Về kích cầu tiêu dùng<br /> Cùng với kích cầu đầu tư, kích cầu<br /> tiêu dùng cũng là nhóm giải pháp rất<br /> quan trọng để hạn chế ảnh hưởng<br /> của suy thoái kinh tế. Ở các nước<br /> khác nhau, kích cầu tiêu dùng được<br /> thực hiện bằng các giải pháp khác<br /> nhau rất đa dạng. Thường được thực<br /> hiện bằng việc miễn giảm thuế cho<br /> người nghèo, bồi hoàn thuế thu nhập<br /> cá nhân; giảm giá hàng tiêu dùng<br /> hoặc trợ giá hàng hóa, dịch vụ, du<br /> lịch, vui chơi giải trí...; cho người<br /> nghèo vay mua nhà trả góp với lãi<br /> suất ưu đãi... Ở Việt Nam, Chính phủ<br /> đã sử dụng cả chính sách tài khóa và<br /> chính sách tiền tệ để kích thích tăng<br /> trưởng, phòng ngừa sụt giảm kinh tế.<br /> Trong phạm vi của chính sách tài<br /> khóa, kích cầu tiêu dùng nội địa là<br /> biện pháp quan trọng hàng đầu. Tăng<br /> cường thị trường nội địa vừa đáp ứng<br /> nhu cầu tiêu dùng của người dân<br /> trong nước, vừa góp phần làm giảm<br /> áp lực nhập khẩu hàng tiêu dùng, góp<br /> phần cân bằng cán cân thương mại.<br /> Để tăng sức mua trong nước, Chính<br /> phủ đã quyết định giảm 50% thuế<br /> VAT cho 19 nhóm mặt hàng và hoãn<br /> thuế thu nhập cá nhân trong 5 tháng<br /> đầu năm 2009, tăng mức lương tối<br /> thiểu... [6]. Tuy nhiên sức cầu tiêu<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 58(10): 14 - 20<br /> <br /> dùng của dân cư đang ở mức thấp vì<br /> tâm lý lo ngại về suy thoái kinh tế dẫn<br /> đến việc người dân lưu giữ các tài<br /> sản có giá, tiết kiệm chi tiêu làm cho<br /> sức mua trên thị trường dù có tăng<br /> nhưng mức tăng rất thấp. Vì vậy, kích<br /> cầu tiêu dùng ở nước ta hiện nay vẫn<br /> cần phải tìm ra các giải pháp thích<br /> hợp.<br /> + Kích thích tiêu dùng nội địa: Trong<br /> khi thị trường xuất khẩu giảm sút, cần<br /> tiếp tục đẩy mạnh sức mua trên thị<br /> trường nội địa bằng các biện pháp<br /> như phát triển mạng lưới phân phối,<br /> mở rộng hệ thống bán lẻ hàng hóa<br /> dịch vụ. Tăng cường các biện pháp<br /> quản lý thị trường, giá cả, chất lượng<br /> hàng hóa, chống đầu cơ, độc quyền.<br /> Tiếp tục cơ chế điều hành giá với một<br /> số mặt hàng thiết yếu như điện, than,<br /> xăng dầu, nước sạch, phân bón, sắt<br /> thép, xi măng, thuốc chữa bệnh...<br /> Ngăn chặn tình trạng tăng giá dây<br /> chuyền ảnh hưởng tới sản xuất, kinh<br /> doanh và đời sống của nhân dân.<br /> Khuyến khích các doanh nghiệp giảm<br /> giá hàng hóa và dịch vụ... để kích cầu<br /> tiêu dùng.<br /> + Cần nghiên cứu miễn hoặc lùi thời<br /> gian nộp thuế thu nhập cho các<br /> doanh nghiệp; lùi thêm thời hạn thực<br /> hiện thuế thu nhập cá nhân; tiếp tục<br /> thực hiện việc miễn giảm thuế VAT<br /> đối với một số hàng hóa, dịch vụ sản<br /> xuất trong nước. Biện pháp này có<br /> thể làm giảm nguồn thu của ngân<br /> sách, nhưng lại có tác dụng kích thích<br /> sản xuất và tăng sức mua, vì sức<br /> mua của người dân phụ thuộc vào thu<br /> nhập của họ. Giảm thuế có tác dụng<br /> tương tự như việc tăng một phần thu<br /> nhập cho người lao động.<br /> + Cần tiếp tục phát triển thêm thị<br /> trường xuất khẩu cho những mặt<br /> hàng có thế mạnh của Việt Nam như<br /> hàng nông sản, hàng dệt may, giày<br /> dép, thiết bị điện tử... Để đạt được<br /> mục tiêu trên có thể thực hiện các<br /> vấn đề như: chính sách điều hành tỷ<br /> giá linh hoạt, có lợi cho hoạt động<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2