intTypePromotion=3

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại” tại Học viện Khoa học Quân sự

Chia sẻ: Kethamoi Kethamoi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
3
lượt xem
0
download

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại” tại Học viện Khoa học Quân sự

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Là môn kiến thức chuyên ngành, “Tiếng Trung Quốc cổ đại” nhằm bồi dưỡng, nâng cao năng lực đọc và phân tích văn bản cổ, nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Trung Quốc cổ đại, bổ sung vốn kiến thức văn hóa thời cổ đại của Trung Quốc cho học viên, sinh viên. Do đó, việc cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản để hiểu đúng môn tiếng Trung Quốc cổ đại, đặt nền móng vững chắc cho để phát triển các kỹ năng khác trong giai đoạn đại học là vô cùng quan trọng. Bằng phương pháp thực chứng và phương pháp lịch sử, dựa trên cơ sở thực tiễn, chúng tôi đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn "Tiếng Trung Quốc cổ đại" tại Học viện Khoa học Quân sự dưới góc độ người dạy.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại” tại Học viện Khoa học Quân sự

  1. v TRAO ĐỔI MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN “TIẾNG TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI” TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ ĐỖ TIẾN QUÂN*; NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO** * Học viện Khoa học Quân sự,  quandovn@yahoo.com ** Học viện Khoa học Quân sự,  fangcao1075@gmail.com Ngày nhận bài: 10/5/2019; ngày sửa chữa: 04/6/2019; ngày duyệt đăng: 10/8/2019 TÓM TẮT Là môn kiến thức chuyên ngành, “Tiếng Trung Quốc cổ đại” nhằm bồi dưỡng, nâng cao năng lực đọc và phân tích văn bản cổ, nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Trung Quốc cổ đại, bổ sung vốn kiến thức văn hóa thời cổ đại của Trung Quốc cho học viên, sinh viên. Do đó, việc cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản để hiểu đúng môn tiếng Trung Quốc cổ đại, đặt nền móng vững chắc cho để phát triển các kỹ năng khác trong giai đoạn đại học là vô cùng quan trọng. Bằng phương pháp thực chứng và phương pháp lịch sử, dựa trên cơ sở thực tiễn, chúng tôi đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn "Tiếng Trung Quốc cổ đại" tại Học viện Khoa học Quân sự dưới góc độ người dạy. Từ khóa: chất lượng, phương pháp dạy, tiếng Trung Quốc cổ đại 1. ĐẶT VẤN ĐỀ dưỡng, nâng cao năng lực đọc và phân tích văn bản cổ, nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Trung Nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề trung Quốc cổ đại, bổ sung vốn kiến thức văn hóa thời tâm của hoạt động giảng dạy. Có rất nhiều nhân tố cổ đại của Trung Quốc cho học viên, sinh viên. ảnh hưởng đến mục tiêu giảng dạy, ví dụ như quan niệm dạy, nội dung dạy, phương pháp dạy, giảng Nói một cách chính xác, nội dung để học tập viên và học viên, sinh viên,… trong đó, phương và nghiên cứu trong môn “Tiếng Trung Quốc cổ pháp dạy là nhân tố ảnh hưởng nổi bật nhất trong đại” là “Ngôn ngữ viết thời thượng cổ được hình quá trình hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy, đồng thành từ cơ sở khẩu ngữ thời kỳ trước triều đại thời cũng có tác động vô cùng quan trọng đối với Tần và trong các tác phẩm mô phỏng phong cách việc bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học cổ đại của các tác gia sau này, mà hiện nay hay viên, sinh viên. được chúng ta gọi là Văn ngôn (文言)” (李玲 璞, 1990, tr. 1). Trên cơ sở đó, các trường đại học Là môn kiến thức chuyên ngành ngôn ngữ Trung Quốc cũng đã xuất bản nhiều giáo trình. Trung Quốc, “Tiếng Trung Quốc cổ đại” nhằm bồi Trong đó, giáo trình “Tiếng Trung Quốc cổ đại” KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 60 Số 21 (9/2019)
  2. TRAO ĐỔI v (古代汉语)do Từ Tông Tài, Lí Văn (徐宗 2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT 才、李文) chủ biên, là tài liệu tham khảo hàng LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN “TIẾNG TRUNG đầu cho hầu hết các giảng viên trong và ngoài QUỐC CỔ ĐẠI” TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC Trung Quốc khi giảng dạy các kiến thức có liên QUÂN SỰ quan đối với người nước ngoài học tiếng Trung 2.1. Lựa chọn nội dung trọng điểm Quốc hiện nay. Đối với Học viện Khoa học Quân sự (HVKHQS) nói riêng và các trường Đại học Theo chương trình chi tiết môn học, “Tiếng có chuyên ngành ngôn ngữ Trung Quốc của Việt Trung Quốc cổ đại” là môn học nhằm bồi dưỡng, Nam nói chung, giáo trình này nhìn chung cũng nâng cao năng lực đọc và phân tích văn bản cổ, luôn là lựa chọn số một cho giảng viên đảm trách nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Trung Quốc môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại” tham khảo. Ngoài cổ đại, bổ sung vốn kiến thức văn hóa thời cổ đại ra, căn cứ vào chương trình, mục tiêu, yêu cầu đào của Trung Quốc cho học viên, sinh viên. tạo đặc thù, HVKHQS cũng biên soạn, xuất bản cuốn giáo trình “Tiếng Trung Quốc cổ đại”. Đây Nội dung gồm: giới thiệu các kiến thức chung là cuốn giáo trình do giảng viên có kinh nghiệm về tiếng Trung Quốc cổ đại, tuyển giảng một số tác phẩm tiếng Trung Quốc cổ đại, trên cơ sở đó phân lâu năm của Khoa tiếng Trung Quốc, HVKHQS tích cách dùng từ loại(词类), các hiện tượng biên soạn. Do đó, việc lựa chọn hai bộ giáo trình ngữ pháp đặc trưng, so sánh sự tương đồng và dị này vào dạy môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại” biệt với tiếng Trung Quốc hiện đại trên các mặt cho học viên, sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Trung Quốc tại HVKHQS là hoàn toàn có cơ sở. Với lượng lớn các bài và kiến thức trong giáo Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, hai bộ trình, tài liệu (20 bài, 20 tác phẩm cùng với những giáo trình trên còn có những hạn chế nhất định, kiến thức liên quan trong giáo trình chính), cùng như: Tỉ lệ các dạng bài còn có sự chênh lệch; quy với số lượng giờ lên lớp có hạn, việc lựa chọn các phạm chưa thống nhất, một số dạng bài có độ khó nội dung trọng điểm để giảng dạy là hết sức cấp tương đối cao, lượng bài quá nhiều và chưa phù thiết. Ví dụ, đối với 20 tác phẩm tiếng Trung Quốc hợp với thời lượng chương trình đào tạo…Ngoài cổ đại cách xa hiện nay hàng nghìn năm trong ra, “Tiếng Trung Quốc cổ đại” là môn học ngôn giáo trình chính, đây là những tác phẩm tiếng ngữ, nội dung học tập và nghiên cứu là ngôn ngữ, Trung Quốc cổ đại có sự khác biệt lớn đối với hơn nữa lại là thứ ngôn ngữ có thời gian cách xa tiếng Trung Quốc hiện đại, vì thế trong quá trình hiện tại. Thêm vào đó là những vấn đề như thời giảng dạy, nên chọn và giới thiệu một số tác phẩm gian lên lớp của môn học tương đối ít (01 học tiêu biểu của thời kỳ này, như chỉ lựa chọn các phần, 02 đơn vị học trình, 45 tiết), nội dung cần trích giảng trong “Tả truyện” (左传), “Chiến quốc sách” (战国策), “Quốc ngữ” (国语), “Lão Tử” (老 dạy nhiều, môi trường giảng dạy còn bị hạn chế, 子), “Luận ngữ” (论语), “Sử ký” (史记) làm trọng người học không thích học, hoặc thấy khó học… điểm giảng dạy, do các trích đoạn này đã mang đầy Vậy làm thế nào để giải quyết thỏa đáng các vấn đủ các các kiến thức cơ bản về các mặt như ngữ đề trên, đồng thời nâng cao được tính tích cực và pháp, từ vựng, chữ viết, âm vận, tu từ,…Đối với chủ động của học viên, sinh viên, đó đều là những các tác phẩm khác như Trang Tử (庄子), Mạnh Tử câu hỏi hiện hữu mà mỗi một giảng viên đảm trách (孟子), Hán Thư (汉书),… thì chỉ cần tìm những môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại’ phải đối mặt. Điều trích dẫn, ví dụ trong giáo trình chính và tài liệu này đòi hỏi người dạy phải tìm ra phương pháp tham khảo phù hợp với trọng điểm giảng dạy để phù hợp nhất để mang tới chất lượng đào tạo cao minh họa thêm cho vấn đề, mà giảng viên thấy hơn, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đào tạo. phù hợp và cần thiết. Như vậy, với 6 trích giảng và KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 21 (9/2019) 61
  3. v TRAO ĐỔI các vấn đề trọng điểm tương ứng, sẽ đáp ứng được (5)礼起于何也?(《荀子·礼论》) yêu cầu về thời lượng cũng như nội dung cần giải (Lễ khởi vu hà dã?/ Lễ được sinh ra trong tình quyết của học phần. huống như thế nào?) 2.2. Lựa chọn các điểm ngữ pháp nổi bật Ba là, khi “何” độc lập làm tân ngữ của các động từ “如”, “若”, tạo thành một kết cấu cố định Tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ đơn lập, từ thì tân ngữ này có thể đứng trước, cũng có thể không có sự thay đổi về hình thái, do đó các hư từ đứng sau động từ, ví dụ: và trật tự từ cực kỳ quan trọng để thể hiện quan hệ ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp. Một trong những (6)士何如斯可谓之达矣?(《论语·颜 điểm nổi bật về sự khác biệt của tiếng Trung Quốc 渊》)(Sĩ hà như tư khả vị chi đạt hĩ/ Kẻ sĩ làm cổ đại và hiện đại là sự thay đổi trật tự từ giữa dạng thế nào mới được gọi là đạt?) thức nghi vấn, dạng thức phủ định và ngữ điệu. (7)古而无死,其乐若何?(《左传·昭 Đơn cử như trong tiếng Trung Quốc thời Tiên Tần, 公二十年》)(Cổ nhi vô tử, kỳ lạc nhược hà?/ đại từ làm tân ngữ trong câu phủ định luôn đặt ở Giả dụ cổ nhân không chết, thì có phải vui vẻ biết phía trước động từ, và sau từ phủ định, ví dụ: bao nhiêu không?) (1)三岁贯汝,莫我肯顾。(《诗经·魏 Sau thời Hán, xu thế đặt đại từ nghi vấn làm 风·硕鼠》)(Tam tuế quán nhữ, mạc ngã khẳng tân ngữ không đứng trước động từ trở nên nhiều cố/ Bao nhiêu năm nay ta đã nuôi dưỡng ngươi, hơn, ngoài các tình huống như đã nói ở trên, các nhưng ngươi lại không thèm để ý đến sự sống chết trường hợp khác cũng có thể không cần đặt tân của ta) ngữ trước động từ, ví dụ: Đại từ nghi vấn làm tân ngữ trong đa số các (8)汤、武不得已而立,非受命为何? trường hợp luôn đứng trước động từ trong câu nghi (《史记·儒林列传》)(Thang, Vũ bất đắc dĩ vấn, ví dụ: nhi lập, phi thọ mệnh vi hà?/ Thành Thang, Chu Vũ Vương bất đắc dĩ mới tự lên làm thiên tử, đó (2)王者孰谓?谓文王也。(《公羊传· không phải là theo ý trời thì là gì?) 隐公元年》(Vương giả thục vị? vị Văn Vương dã/ Nói đến quốc vương là nói đến ai? Chính là nói Giảng viên phải nhấn mạnh vấn đề này thành đến Văn Vương) một trọng điểm trong quá trình lên lớp. Đồng thời việc giảng dạy không nên chỉ dừng lại ở việc chỉ Đại từ nghi vấn làm tân ngữ không đứng phía ra hiện tượng tân ngữ nằm ở phía trước, mà còn trước chỉ trong một số trường hợp sau: phải giải thích nguyên nhân tạo ra hiện tượng đó, Một là, khi làm tân ngữ của động từ “云”, tức là không thể chỉ nói “đó là cái gì”, mà còn phải giải thích “tại sao lại như vậy”. Các nhà nghiên hoặc trong câu có sử dụng động từ“谓”, ví dụ: cứu hiện nay cũng đã đưa ra nhiều cách suy luận, (3)子夏云何?(《论语·子张》)(Tử giải thích cho nguyên nhân của sự thay đổi trật tự Hạ vân hà?/ Tử Hạ nói gì?) từ này, tựu chung lại có bốn giả thuyết chính: Thứ nhất là giả thuyết về trật tự từ dạng S-O-V trong (4)秦伯曰:“国谓君何?”(《左传· tiếng Trung Quốc cổ đại được bảo tồn cho đến 僖公十五年》)(Tần Bá viết: Quốc vị quân hà?/ ngày nay, đại diện cho giả thuyết này là Chương Tần Vương nói: “Người trong nước cho rằng quốc Thái Viêm, Hình Công Vãn, Vương Lực, Du Mẫn; vương của các người sẽ bị đối xử như thế nào?”) Thứ hai là giả thuyết về nguyên nhân phức tạp hóa của vị ngữ, đại diện cho giả thuyết này là Ngụy Hai là, khi làm tân ngữ của giới từ “于”, ví dụ: Bồi Nguyên; Thứ ba là giả thuyết về trọng âm, đại KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 62 Số 21 (9/2019)
  4. TRAO ĐỔI v diện cho giả thuyết này là Phùng Thắng Lợi; Thứ thường dùng cũng rõ rệt nhất. Như liên từ “所以” tư là giả thuyết về sự lựa chọn phương thức biểu biểu thị mối quan hệ nhân quả trong tiếng Trung đạt trọng điểm, đại diện cho giả thuyết này là Từ Quốc hiện đại, thế nhưng trong tiếng Trung Quốc Kiệt, Lí Anh Triết,…(刘志刚, 2008). cổ đại, “所以” không phải là một từ, mà là một kết cấu gồm đại từ “所” và giới từ “以”, biểu thị nơi Chúng tôi cho rằng, cách giải thích của giả chốn, địa điểm xảy ra hành động; phương thức, thuyết thứ tư tương đối phù hợp với thực tiễn tiếng phương pháp mà hành động áp dụng; nguyên nhân Trung Quốc. Sau khi khảo sát một lượng lớn các xảy ra một hành động, hành vi nào đó. Ví dụ: ngôn ngữ, Từ Kiệt phát hiện thấy, các ngôn ngữ thường áp dụng hai phương thức là “đưa thành (10)夏曰校,殷曰序,周曰庠;学则 phần trọng điểm lên phía trước” và “thêm vào từ 三 代 共 之 , 皆 所 以 明 人 伦 也 。 《 孟 子 .滕 文 đánh dấu trọng điểm” để thể hiện trọng điểm biểu 公下》 (Hạ viết Hiệu, Thương viết Tự, Chu viết đạt, và cho rằng, trung tâm của phủ định là trọng Tường; học tắc tam đại cộng chi, giai sở dĩ minh điểm của câu(路广,2004; 刘志刚,2008). Do nhân luân dã/ Thời Hạ gọi là “Hiệu”, thời Thương tiếng Trung Quốc thời kỳ Tiên Tần không có từ gọi là “Tự”, thời Chu gọi là “Tường”, còn đối với phán đoán rõ rệt, cho nên lựa chọn phương thức nội dung học, thì ba thời này đều giống nhau, đều thứ nhất, tức là thành phần tân ngữ đưa lên phía là nơi làm cho con người hiểu được luân thường trước, tạo thành kết cấu SOV, nhằm nhấn mạnh ý đạo lý) (Biểu thị địa điểm dạy con người hiểu được nghĩa trọng điểm trong câu. Cùng với sự phát triển quan hệ luân thường đạo lý). của ngôn ngữ Hán từ văn ngôn sang bạch thoại, hiện tượng đảo tân ngữ ngày càng ít gặp và cấu (11)大官、大邑所以庇身也,我远而慢 trúc SOV chuyển thành SVO, tuy nhiên khi cần 之。《左传.襄公三十一年》。(Đại quan, đại nhấn mạnh vẫn có thể đưa tân ngữ lên trước. Ví dụ: ấp sở dĩ tý thân dã, ngã viễn nhi mạn chi/ Quan lớn, đất lớn để dùng bảo vệ cho bản thân mình, tôi (9) 酒喝了,饭也吃了,现在让我回去吧。 lại không màng đến và coi thường điều đó) (Biểu thị phương thức bảo vệ bản thân); Như vậy, nếu giảng viên giảng dạy và phân tích quy luật ngữ pháp về trật tự từ đặc biệt trên (12)计者,所以定事也,不可不察也。 trong tiếng Trung Quốc thời Tiên Tần như thế, học 《韩非子.存韩第二》(Kế giả, sở dĩ định sự dã, viên, sinh viên sẽ hiểu được sâu hơn về nội dung bất khả bất sát dã/ Mưu kế là phương pháp quyết vấn đề cần học. định sự thành bại của công việc, không thể không tính toán kỹ)(Biểu thị phương pháp quyết định 2.3. Chú trọng giảng dạy từ vựng sự việc); Khi tìm hiểu nghĩa của các văn bản, điều quan (13)儒以文乱法,侠以武犯禁,而人主 trọng nhất là tìm hiểu nghĩa của từ vựng, do đó, 兼礼之,此所以乱也。《韩非子.五蠹》(Nho phải đưa từ vựng trở thành một trong những trọng dĩ văn loạn pháp, hiệp dĩ vũ phạm cấm, nhi nhân điểm của việc giảng dạy. Việc giảng dạy chữ Hán chủ kiêm lễ chi, thử sở dĩ loạn dã/ Nho giáo dùng cổ cũng nên chỉ là phần phụ trợ cho phần giảng văn để loạn pháp, kẻ võ hiệp thì dùng vũ lực để vi dạy từ vựng. Trọng điểm của giảng dạy từ vựng là phạm lệnh cấm, mà chúa công lại dùng lễ để đối làm cho học viên, sinh viên nắm được cách dùng đãi, đó là nguồn gốc của bạo loạn quốc gia) (Biểu những từ thông dụng. Bởi vì trong sự biến đổi và thị nguyên nhân sản sinh sự hỗn loạn). phát triển của các yếu tố ngôn ngữ, yếu tố từ vựng có sự biến đổi và phát triển nhanh nhất, sự khác Nghiên cứu của Uông Duy Huy chỉ ra, bắt đầu biệt giữa tiếng Trung Quốc cổ đại và tiếng Trung từ cuối thời Hán, đầu triều đại Ngụy Tấn, “所以” Quốc hiện đại về ngữ nghĩa của từ, đặc biệt là các từ được dùng như một liên từ biểu thị quan hệ nhân KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 21 (9/2019) 63
  5. v TRAO ĐỔI quả. Giai đoạn diễn biến của nó kéo dài trong suốt dùng “眼睛”, cũng có lúc chỉ dùng “眼”.(汪维 thời kỳ Nam Bắc triều, cho đến nửa đầu thế kỷ thứ 辉,2000,tr. 31) 8 thì hoàn tất, lúc này “所以” hoàn toàn trở thành một liên từ biểu thị quan hệ nhân quả trong khẩu Hoặc xét trường hợp từ “谁” trong tác phẩm ngữ tiếng Trung Quốc, cách dùng của nó không “Sử ký” của Tư Mã Thiên.“谁” là từ hay xuất hiện khác gì so với “所以” trong tiếng Trung Quốc hiện trong tiếng Trung Quốc cổ đại, trong “Sử ký” cũng đại (汪维辉,2002,tr. 31). vậy. Theo thống kê, từ “谁” được Tư Mã Thiên dùng tổng cộng 79 lần, trong đó có 66 lần dùng Xét tiếp ví dụ sau, tương đương với từ “eye” đơn, có 5 lần dùng trong từ phức, 8 lần dùng trong trong tiếng Anh, tiếng Trung Quốc cổ đại dùng từ các kết cấu cố định khác. “目”: Trong 66 trường hợp dùng đơn lẻ, nếu xét theo (14)螓首蛾眉,巧笑倩兮,美目盼兮。 ngữ nghĩa, có 7 trường hợp biểu thị sự lựa chọn, 《诗经.国风.卫风》(Tần thủ nga mi, xảo tiếu sai ví dụ: hề, mỹ mục phán hề/ Trán rộng mày nhỏ cong tinh tế, nụ cười má lúm đồng tiền, đôi mắt đẹp đầy tình ý) (18)天下谁最爱我者乎?(Thiên hạn thùy tối ái ngã giả hồ?/ Trong thiên hạ ai là người yêu quý (15)使者目动而言肆,惧我也,将遁 ta nhất?) 矣。《左传.文公十二年》(Sứ giả mục động nhi ngôn tứ, cụ ngã dã, tướng độn hĩ/ Sứ giả tròng mắt (19)三子之才能,谁最贤哉?(tam tử chi tài chuyển động liên hồi, ngôn ngữ bất thường, chứng năng, thùy tối hiền tai?/ Tài năng của ba người tỏ đang sợ chúng ta, và sắp tháo chạy đến nơi) này, ai là người hiền minh nhất?) Thời Chiến Quốc xuất hiện từ “眼”, thế nhưng Xét về ý nghĩa, có 78 trường hợp “谁” dùng trước thời Tây Hán, từ “眼” và từ “目” có sự khác để chỉ người, và chỉ có 1 câu dùng để chỉ vật (tên biệt về ngữ nghĩa, từ “眼” đa số dùng để chỉ nhãn người), đó là: cầu, ví dụ: (20)诏召问所为治病死生验者几何人 (16)比干剖心,子胥抉眼,忠之祸也。 也,主名为谁。(Chiếu triệu vấn sở vi trị bệnh 《庄子.盗跖》(Tỉ Can phẫu tâm, Tử Tư quyết tử sinh nghiệm giả kỷ nhân dã, chủ danh vi thùy/ nhãn, trung chi họa dã/ Tỉ Can bị moi tim, Tử Tư Hoàng đế hạ chiếu thư hỏi ông đã chữa trị bệnh, bị móc mắt, đó đều là tai họa do chữ Trung). cứu sống hoặc làm chết bao nhiêu người, tên của họ là gì). (17)抉吾眼,置之吴东门,以观越之灭 吴也。《史记.吴世家》(Quyết ngô nhãn, chí chi Qua so sánh với từ “孰”, có thể thấy, trong thời Ngôn đông môn, dĩ quan Việt chi diệt Ngô dã/ Hãy Tiên Tần, “谁” được dùng chỉ người hơn khoảng móc mắt ta treo trên cửa Đông thành nước Ngô, 1,4 lần so với “孰”(胡继明,2005). Còn trong để ta chứng kiến ngày nước Việt diệt nước Ngô). “Sử ký”, qua trình bày ở phần trên, chúng tôi đã thấy có 78 lần “谁” được dùng chỉ người, 56 lần Theo nghiên cứu của Uông Duy Huy, sau thời “孰” được dùng chỉ người, vậy tỉ lệ này trong hai Đông Hán, không còn sự khác biệt về ngữ nghĩa thời kỳ là tương đương nhau. Về phương diện chỉ của “眼” và “目”, cuối thời Hán, “眼” đã thay thế vật, thời Tiên Tần, “孰” được dùng nhiều hơn “目” trong khẩu ngữ, sau thời Lục Triều, sự thay “谁” (胡继明,2005). Trong “Sử ký”, chỉ có 01 thế này đã hoàn tất trong ngôn ngữ viết. Thế nhưng lần “谁” được dùng chỉ vật, 25 lần “孰” được dùng sau đó “目” không hoàn toàn biến mất khỏi hệ chỉ vật, tỉ lệ này có sự chênh lệch áp đảo, đây cũng thống từ vựng văn viết văn ngôn. Thời Đường bắt là cách dùng phổ biến cho đến tận ngày nay. Khi đầu nói “眼睛”, tiếng Trung Quốc hiện đại thường biểu thị sự lựa chọn, trong “Sử ký” có 7 lượt dùng KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 64 Số 21 (9/2019)
  6. TRAO ĐỔI v “谁”, đều dùng để chỉ người, có 16 lượt dùng “孰”, đáo. Ví dụ như khi giảng về văn tự (文字), có nội số lượng này nhiều hơn 2 lần so với “谁” (Đỗ dung nguồn gốc của văn tự, kết cấu, hình dạng, Tiến Quân, 2017, tr. 95). diễn biến của hình, âm và nghĩa chữ Hán, trong đó, phần quan hệ giữa hình, âm và nghĩa rất quan Với cách giảng dạy những từ thường dùng xuất trọng, nhưng môn “Ngữ âm-văn tự Trung Quốc” phát từ góc độ lịch sử và so sánh như vậy, giảng cũng có những nội dung như thế, hoặc nội dung viên có thể giúp học viên, sinh viên có kiến thức về chữ giản thể, phồn thể, ngữ pháp,…thì môn tương đối rõ ràng về diễn biễn ngữ nghĩa của các học “Từ vựng học tiếng Trung Quốc”, “Cú pháp từ thông dụng, từ đó có thể đọc, hiểu một cách học tiếng Trung Quốc” cũng có một số phần liên chính xác hơn các văn bản cổ, tiếp thu vốn văn hóa quan. Vì thế, nếu giảng viên không nắm bắt được cổ Trung Quốc một các tốt hơn. chỉnh thể chương trình đào tạo của chuyên ngành và những kiến thức có liên quan đã được trình bày Ngoài ra, đối với các bài văn dài, như bài số trong các môn học khác của chuyên ngành, từ đó 2 “Tô Tần dĩ liên hoàng thuyết Tần” (苏秦以连 không lựa chọn được các trọng điểm để giảng dạy. 横说秦), phải lựa chọn một số đoạn tiêu biểu để Đồng thời không chú ý đến sự phối hợp với các giảng dạy, các đoạn còn lại được giải quyết qua các môn học khác, thì nội dung giảng dạy tất yếu sẽ buổi thảo luận, buổi tự học ngoài giờ chính khóa. trở thành quá sức, chồng chéo, nặng nề, nhưng lại Đối với các bài có liên quan đến thơ ca, như bài không thể đi sâu vào vấn đề chính, làm cho người 17 “Quy viên điền cư”(归园田居), có thể lược học mệt mỏi, khó hiểu, hoặc quá sức để hiểu và giảng phần văn trích, chú trọng giảng giải phần nắm bắt, vận dụng. Trên thực tế, khi biên soạn các luật thơ, luật từ, luật khúc. Phần thường thức về giáo trình, tài liệu, để đảm bảo tính hệ thống, thống văn hóa cổ đại có thể làm tài liệu tham khảo, yêu nhất, thì các vấn đề có liên quan đến tiếng Trung cầu học viên, sinh viên tự nghiên cứu. Quốc cổ đại chắc chắc sẽ được các tác giả đưa vào. Nhưng khi thiết kế và thực hiện chương trình chi Nói tóm lại, trong quá trình giảng dạy, giảng tiết môn học, giảng viên phải đứng trên góc độ viên đảm trách môn phải chú trọng lựa chọn nội tổng thể bao quát vấn đề chuyên ngành giảng dạy, dung trọng điểm để giảng dạy, áp dụng phương từ đó lựa chọn hoặc lược bỏ các vấn đề giảng dạy pháp giảng dạy linh hoạt, phù hợp với từng nội cho phù hợp. Ví dụ như khi đề cập đến nội dung dung cụ thể, chú trọng đến nguyên tắc kết hợp giữa các tác phẩm tiếng Trung Quốc cổ đại trong giảng nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, dẫn dắt và dạy, chúng tôi đề nghị người học trước khi đọc các giúp học viên, sinh viên tổng hợp những tri thức bài nguyên tác trong giáo trình “Tiếng Trung Quốc tản mát, phi hệ thống về tiếng Trung Quốc cổ đại cổ đại”, thì phải xem lại, đọc lại các bài nguyên trước đây trở thành một vốn tri thức mang tính hệ tác trong “Giáo trình văn học cổ đại Trung Quốc”. thống, đồng thời cũng cần phải chú ý gợi mở cho Do hai cuốn giáo trình này có nhiều bài trùng lặp, học viên, sinh viên từ góc độ lịch sử, bồi dưỡng nên người học có thể dùng cảm quan và góc độ quan niệm lịch sử về ngôn ngữ cho người học. tìm hiểu tác phẩm văn học để tìm hiểu, nắm bắt về 2.4. Phối kết hợp với các môn học khác nguyên tác dưới góc độ từ vựng, tu từ, cú pháp,… của tiếng Trung Quốc cổ đại. Việc đọc lại các tác Trong chương trình đào tạo cử nhân ngoại phẩm đã học trong “Giáo trình văn học cổ đại ngữ ngành ngôn ngữ Trung Quốc, các môn học Trung Quốc” giúp người học ôn lại những tri thức về cơ bản đã có tính liên kết và bổ trợ chặt chẽ đã học, từ đó khắc phục được tâm lý sợ khó, mở cho nhau. Vì thế, việc phối kết hợp với các môn rộng nội dung đọc, tăng lượng đọc hiểu, đồng thời học khác trong quá trình giảng dạy môn “Tiếng bổ sung những lượng kiến thức cần thiết khác về Trung Quốc cổ đại” là điều phải được các giảng văn bản tiếng Trung Quốc cổ đại. Như thế, việc viên suy nghĩ và tính toán đến một cách thấu giảng dạy văn bản trong giáo trình “Tiếng Trung KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 21 (9/2019) 65
  7. v TRAO ĐỔI Quốc cổ đại” sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian chiếu để rút ra kết luận, thời gian ghi chép thường hơn, chú trọng hơn về những phần trọng điểm như nhật sẽ được dùng để suy nghĩ thực hiện các thao từ vựng, sự khác biệt về ngữ pháp… tác thực tế. 2.5. Sử dụng các phương pháp giảng dạy Kỹ thuật đa phương tiện là công nghệ hiện đại hiện đại kết hợp chữ viết, âm thanh, hình ảnh thành một khối thống nhất, nếu biết tận dụng đầy đủ điều này, Sự bùng nổ của công nghệ thông tin nói riêng có thể đạt được hiệu quả cao đến không ngờ. Các và khoa học công nghệ nói chung đang tác động tác phẩm thời trước Tần thường xuất hiện các đồ mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành vật như đỉnh (鼎), cái đỉnh lớn (鼐), chén (爵), bát trong đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, để công (豆), bát làm bằng trúc (笾),... nếu chỉ dựa vào sự tác giảng dạy môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại” đáp miêu tả qua ngôn ngữ, thì rất dễ nghe nhầm, hiểu ứng được đòi hỏi cấp thiết của công tác giáo dục nhầm, thế nhưng khi đưa hình ảnh những đồ vật trong thời đại mới, chúng ta cần cải cách phương đó lên màn hình, cùng với ngữ nghĩa từ vựng được pháp giảng dạy môn học này theo hướng vận dụng giải thích một cách ngắn gọn ngay ở phía dưới, công nghệ thông tin, phương tiện truyền thông đa người học sẽ có nhận thức sâu sắc hơn về hình phương tiện và các trang thiết bị dạy học hiện đại dáng, kích thước, công dụng của chúng, hiểu rõ phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hơn về nghĩa của từ. Ví dụ như cung (宫), thương hành để nâng cao chất lượng dạy học. (商), giác (角), chủy (徵), vũ (羽) là cách gọi của người Trung Quốc cổ đại đối với ngũ âm, nếu chỉ Theo chương trình đào tạo, chỉ có 45 tiết dành dựa vào sự miêu tả bằng ngôn ngữ thì học viên, cho môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại, nhưng giáo sinh viên sẽ thấy quá khó hiểu, mông lung, mơ hồ, trình “Tiếng Trung Quốc cổ đại” của HVKHQS nhưng nếu giảng viên có thể dùng âm thanh kết lại gồm 20 bài, giáo trình “Tiếng Trung Quốc cổ hợp với hình ảnh diễn tả chữ và nghĩa bằng phầm đại” dùng để bổ trợ của Từ Tông Tài, Lí Văn gồm mềm để miêu tả ý nghĩa của 5 từ này, học viên, 25 bài. Như thế, thời gian giảng viên giảng các sinh viên sẽ dễ dàng lĩnh hội được ngữ nghĩa của nội dung chính và thời gian mà học viên, sinh chúng, đồng thời cũng làm tăng hứng thú học tập. viên suy nghĩ để tiếp thu kiến thức đã học sẽ là quá ít. Cứ như thế, giảng viên luôn thấy rằng thời Khi giảng đến các văn bản thư tịch cổ, vì gian dạy quá gấp gáp, học viên, sinh viên thì cho không thể có điều kiện cho học viên, sinh viên tiếp rằng nội dung học quá nhiều. Nếu được trang bị xúc trực tiếp với bản gốc, nếu có điều kiện, giảng các phương tiện giảng dạy hiện đại, như đưa vào viên nên tìm kiếm, tổng hợp và trình chiếu các sử dụng máy chiếu, màn hình cảm ứng, các phần hình ảnh, băng đĩa tư liệu về các văn bản thư tịch mềm hỗ trợ,… ở khắp các tiết học, đưa các nội cổ này trên lớp, điều này giúp học viên, sinh viên dung trọng điểm, khung bài giảng và lượng lớn quan sát được hình ảnh gốc của văn bản, thư tịch các ví dụ bổ sung thành PPT cho học viên, sinh cổ, từ đó nảy sinh hứng thú tìm hiểu những kiến viên quan sát trên màn hình lớn, sẽ không chỉ tiết thức trong văn bản, thư tịch cổ đó, điều quan trọng kiệm được thời gian viết bảng, làm nổi bật được là trong các thư tịch cổ này, các câu chưa được nội dung giảng dạy, mà còn có thể cung cấp một đánh dấu câu và phân chia một cách rõ rệt, học môi trường đọc văn bản cổ cho học viên, sinh viên. viên, sinh viên có thể tận dụng điều đó để luyện Ví dụ như trong phần trên, khi giảng dạy đến trật tập đọc và phân tích câu, góp phần nâng cao kỹ tự từ trong tiếng Trung Quốc cổ đại, giảng các từ năng đọc và khả năng tìm hiểu văn bản, thư tịch cổ ngữ “所以”, “眼”, “目” và các ví dụ có liên quan, của bản thân. giảng viên có thể đưa đầy đủ lịch sử diễn biến của từ, ngữ nghĩa, cách dùng và các ví dụ vào PPT để Tất nhiên, việc áp dụng các thao tác đa phương chiếu cho học viên, sinh viên quan sát, dẫn dắt gợi tiện như trên cũng phải căn cứ vào nội dung cụ mở cho họ dùng phương pháp quy nạp, so sánh đối thể của từng bài học. Đồng thời, chúng tôi kiến KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 66 Số 21 (9/2019)
  8. TRAO ĐỔI v nghị, khi giảng dạy môn tiếng Trung Quốc cổ đại, độ người dạy như: sửa chữa hoàn thiện, thiết kế nên vận dụng các phương pháp giảng dạy như Dạy tổng thể cho môn học trong chương trình đào tạo, với sự trợ giúp của máy tính (CBT: computer- thiết kế giáo án cho bài mẫu,… Cũng chính vì thế, based training); Dạy học dựa trên công nghệ web nghiên cứu này sẽ còn nhiều không gian hơn để (WBT: web-based training), phương pháp này sử triển khai trong tương lai, giúp hình thành một cái dụng gắn với phương pháp đào tạo trực tuyến (on- nhìn tổng quan hơn về giảng dạy tiếng Trung Quốc line learning), cũng từ nguyên do này mà cụm từ cổ đại. Hi vọng góp một tài liệu tham khảo nhất “on-line” được dùng với nghĩa tương đương với định đối với công tác giảng dạy, nghiên cứu tiếng internet; Dạy học dựa trên công nghệ internet Trung Quốc tại Việt Nam nói chung, tại HVKHQS (IBT: internet-based training). Việc áp dụng nói riêng./. phương pháp nào cũng căn cứ vào tình hình riêng của Khoa và Học viện . Tài liệu tham khảo: Ngoài ra, chúng tôi cho rằng, trong điều kiện Đỗ Tiến Quân (2017), “Bàn về từ “谁”, “孰” trong tác hiện nay của HVKHQS, giảng viên phải tận dụng phẩm “Sử ký” của Tư Mã Thiên”, Tạp chí Khoa học triệt để các tài nguyên văn bản và thư tịch cổ (bản Ngoại ngữ Quân sự, số 9, 91-96. điện tử) có trên mạng, ví dụ như các bản điện tử của văn bản, thư tịch cổ trên mạng “Tứ khố toàn Đinh Quang Trung (2007), Tiếng Trung Quốc cổ đại, thư”(四库全书), đây là một trang web gồm Học viện Khoa học Quân sự, Hà Nội. hầu hết các tác phẩm, thư tịch cổ trọng yếu của 胡继明(2005),《史记》《汉书》疑问代词“ Trung Quốc, nội dung trang web phong phú và đa 孰”与“谁”比较,西南民族大学学报,第11 dạng, là nguồn tư liệu quý để giảng dạy, luyện tập 期,323-328。 và bồi dưỡng năng lực tiếng Trung Quốc cổ đại 李玲璞(1990),古代汉语精解,上海文艺出版 cho học viên, sinh viên. Ví dụ như khi giảng dạy 社,上海。 về từ “所以”, giảng viên yêu cầu học viên, sinh viên vào công cụ tìm kiếm trong trang web trên, 李瑞(2018),古代汉语教学策略研究,文化创新 lập tức có thể tìm thấy các tác phẩm có tính tiêu 比较研究,第28期,101-104。 biểu của từng thời kỳ có chứa từ này, sau khi đọc 李宗澈(2004),《史记》量词研究,复旦大学博 và nghiên cứu từ “所以” trong các tác phẩm đã tìm 士论文。 thấy, học viên, sinh viên dễ dàng nhận ra quá trình diễn biến của nó. Quá trình luyện tập như thế sẽ 刘志刚(2008),“是、之”标志宾语前置的焦点 giúp học viên, sinh viên tự nâng cao năng lực tổng 理论考察,学术研究,第8期,143-146。 hợp, năng lực tìm hiểu ngôn ngữ văn bản, thư tịch 路广(2004),古汉语宾语前置和焦点理论, cổ cho bản thân. 南阳师范学院学报(社科版),第 10 期 , 3. KẾT LUẬN 83-89。 汪维辉(2000),东汉隋唐常用词演变研究,南京 Do khuôn khổ có hạn của bài viết, chúng 大学出版社,南京。 tôi đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn tiếng Trung Quốc cổ đại tại 汪维辉( 2002 ), “ 所以 ” 完全变成连词的时 HVKHQS được đúc kết qua thực tiễn giảng dạy. 代,古汉语研究,第2期, 30-33。 Điều cần chỉ ra là, những giải pháp trên cũng chỉ từ 王力(2008),古代汉语,中华书局,北京。 góc độ người dạy. Trong những nghiên cứu sau, có 徐宗才、李文(2010),古代汉语,北京语言大学 thể triển khai dưới góc độ người học, hoặc bàn sâu 出版社,北京。 hơn về các nguyên nhân ở mặt kiến thức, nguyên nhân người dạy và người học ở một nội dung cụ 徐杰(2001),普通语法原则与汉语语法现象,北 thể, hoặc bổ sung những giải pháp khác dưới góc 京大学出版社,北京。 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 21 (9/2019) 67
  9. v TRAO ĐỔI SOME SOLUTIONS TO IMPROVE THE QUALITY OF “ANCIENT CHINESE” TEACHING AT MILITARY SCIENCE ACADEMY DO TIEN QUAN, NGUYEN THI PHUONG THAO Abstract: As a core subject of Chinese language major, the teaching of “Ancient Chinese” aims to foster and improve the capacity of reading and analyzing ancient texts, mastering basic knowledge about Ancient Chinese, supplementing ancient cultural knowledge of Chinese for students. Therefore, it is very important to provide learners with the basic knowledge to understand the ancient Chinese language, laying a solid foundation to develop other skills in the university period. By practical and historical methods, basing on practicality, we have offered a number of solutions to improve the quality of teaching ancient Chinese at Military Science Academy the perspective of teachers. Keywords: quality, teaching methods, ancient Chinese Received: 10/5/2019; Revised: 04/6/2019; Accepted: 10/8/2019 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 68 Số 21 (9/2019)

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản