intTypePromotion=1

Một số hoạt động khơi dậy sự sáng tạo của người học trong dạy học ngoại ngữ

Chia sẻ: Kethamoi Kethamoi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
25
lượt xem
1
download

Một số hoạt động khơi dậy sự sáng tạo của người học trong dạy học ngoại ngữ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tư duy sáng tạo là một kỹ năng quan trọng vì sáng tạo luôn hiện hữu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngoài những ngành học mà sáng tạo là đặc trưng (như hội họa, thiết kế), thì hoạt động dạy và học ngoại ngữ cũng ẩn chứa tiềm năng sáng tạo to lớn. Bài viết đưa ra cái nhìn khái quát về sự sáng tạo, về ý nghĩa của nó trong dạy học nói chung và trong dạy học ngoại ngữ nói riêng; đồng thời đưa ra một số hoạt động dạy ngoại ngữ cụ thể khơi gợi và khuyến khích người học sáng tạo nhằm nâng cao kết quả học môn học này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số hoạt động khơi dậy sự sáng tạo của người học trong dạy học ngoại ngữ

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG KHƠI DẬY<br /> SỰ SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI HỌC<br /> TRONG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ<br /> NGUYỄN THỊ NGỌC TÚ*<br /> *<br /> Học viện Khoa học Quân sự,  tungoclinh03@yahoo.com<br /> Ngày nhận bài: 09/4/2019; ngày sửa chữa: 03/6/2019; ngày duyệt đăng: 10/6/2019<br /> <br /> <br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Tư duy sáng tạo là một kỹ năng quan trọng vì sáng tạo luôn hiện hữu trong mọi lĩnh vực của đời<br /> sống xã hội. Ngoài những ngành học mà sáng tạo là đặc trưng (như hội họa, thiết kế), thì hoạt<br /> động dạy và học ngoại ngữ cũng ẩn chứa tiềm năng sáng tạo to lớn. Bài viết đưa ra cái nhìn khái<br /> quát về sự sáng tạo, về ý nghĩa của nó trong dạy học nói chung và trong dạy học ngoại ngữ nói<br /> riêng; đồng thời đưa ra một số hoạt động dạy ngoại ngữ cụ thể khơi gợi và khuyến khích người<br /> học sáng tạo nhằm nâng cao kết quả học môn học này.<br /> Từ khóa: sáng tạo, dạy, học, khơi gợi, khuyến khích, ngoại ngữ<br /> <br /> <br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ “người học muốn khả năng sáng tạo phát triển rất<br /> cần có người dạy sáng tạo”.<br /> Tư duy sáng tạo là kỹ năng cần thiết cho tất<br /> cả mọi người, là mấu chốt để con người phát triển Đối với ngoại ngữ, hoạt động dạy và học mang<br /> và đạt dến văn minh tiến bộ. Sáng tạo liên quan tính sáng tạo giúp cho việc học ngoại ngữ trở nên<br /> mật thiết đến sự tương tác, trí tưởng tượng, hoạt dễ dàng và thuận lợi hơn. Ngược lại, việc khám<br /> động vui chơi, sự thay đổi cũng như sự hào hứng phá một ngôn ngữ mới đòi hỏi người học cũng<br /> trải nghiệm. Chính vì thế, hoạt động dạy và học phải rèn luyện não bộ ghi nhớ, ứng biến với các<br /> là một trong những mảnh đất “màu mỡ” để thúc tình huống và bình tĩnh trước thất bại, nhờ đó thúc<br /> đẩy sự sáng tạo. Cimermanova (2015, tr.197) cho đẩy khả năng sáng tạo. Do vậy, dạy và học ngoại<br /> hay, “Quá trình dạy học mang đến nhiều cơ hội ngữ cũng là một cách tuyệt vời để trí sáng tạo được<br /> phát triển khả năng sáng tạo ở học trò, vì có thể rèn luyện và phát triển.<br /> tạo điều kiện để người học phát triển, không chỉ về<br /> trí thông minh, mà còn về cảm xúc, về xã hội…”. 2. KHÁI NIỆM VỀ SÁNG TẠO<br /> Fisher (2006, tr.5) cho rằng: “Khi người học được 2.1. Quan niệm về sáng tạo<br /> khuyến khích suy nghĩ sáng tạo, họ thường có<br /> động cơ và lòng nhiệt huyết học tập và cống hiến Có nhiều quan điểm rất khác nhau về sự sáng<br /> cao độ”. Strakova (2012) khẳng định tầm quan tạo. Một số người cho rằng, “sáng tạo là khả năng<br /> trọng của giáo dục đối với sáng tạo và chỉ ra rằng của mỗi cá nhân nhằm phát triển ý tưởng để giải<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 20 (7/2019) 29<br /> v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY<br /> <br /> <br /> quyết vấn đề và khai thác các cơ hội và sáng tạo và thử nghiệm. Như vậy, sai lầm là một phần thiết<br /> là điều có thể học” (Batey, 2012); “sáng tạo không yếu của quá trình sáng tạo.<br /> phải là được thừa hưởng từ gen mà nó thực sự là<br /> một kỹ năng, mà kỹ năng đều có thể học”(Lejrer, Trong khi đó, Strakova (2012) cho rằng, người<br /> 2012). Trong khi đó, giáo sư tâm lý học Sternberg có tinh thần sáng tạo cao độ thường tìm thấy cảm<br /> (2007) cho rằng: “những người sáng tạo phần hứng khi tin vào khả năng sáng tạo của bản thân.<br /> lớn không phải bởi bất kỳ đặc điểm bẩm sinh cụ Do vậy, trong quá trình dạy học, người dạy cần<br /> thể nào mà bởi thái độ của họ đối với cuộc sống. khám phá xem niềm tin này phát triển như thế nào,<br /> Những người sáng tạo thường phản ứng với các yếu tố nào thúc đẩy khả năng ấy. Cùng quan điểm,<br /> vấn đề theo những cách mới mẻ chứ không cho Clarke (2005) khẳng định, không có hoạt động<br /> phép bản thân đưa ra câu trả lời cho bất kỳ vấn đề sáng tạo nào được hoàn thành, hoặc dẫn đến kết<br /> nào một cách đơn điệu, không suy nghĩ.” luận có ý nghĩa mà không lần lượt trải qua những<br /> yếu tố sau:<br /> Ở một khía cạnh khác, Naiman (1998) nói<br /> rằng, sáng tạo là quá trình biến những ý tưởng giàu - Chủ đề cần giải quyết phải có ý nghĩa đối với<br /> trí tưởng tượng thành hiện thực. Nếu một người có người sáng tạo để tạo hứng thú.<br /> ý tưởng, nhưng không biến ý tưởng đó thành hành<br /> động, nghĩa là dù họ có trí tưởng tượng nhưng họ - Luôn đặt câu hỏi, đây là khâu thiết yếu trong<br /> không sáng tạo. quá trình sáng tạo.<br /> <br /> Với những quan điểm này, có thể thấy những - Sau khi tự đặt câu hỏi, dành thời gian xem xét<br /> yếu tố mang tính chủ quan như nỗ lực học tập, các cách trả lời.<br /> thực hành mới là yếu tố quan trọng trong quá trình<br /> - Không ngại thử nghiệm các phương án trả lời<br /> phát triển trí sáng tạo của mỗi người.<br /> để tìm phương án tốt nhất. Đây là giai đoạn cung<br /> 2.2. Những yếu tố phát triển khả năng sáng tạo cấp nhiều thông tin nhất và học hỏi được nhiều<br /> nhất trong suốt quá trình sáng tạo.<br /> Theo Tiến sỹ Clarke (2005), một số người có<br /> thể cho rằng tài năng là yếu tố quan trọng nhưng - Đắm mình hoàn toàn vào trải nghiệm khi áp<br /> một mình tài năng không tạo ra đủ “nhiên liệu” dụng linh hoạt phương án thử nghiệm vào các đối<br /> để thúc đẩy sáng tạo. Tuy nhiên, nếu tài năng đặc tượng khác nhau.<br /> biệt đi kèm với nỗ lực sáng tạo có thể dẫn đến<br /> một kết quả tuyệt vời. Tương tự, sự thông minh - Phân tích và tổng hợp kết quả.<br /> là yếu tố cần thiết trong quá trình sáng tạo nhưng<br /> - Đưa ra cách suy nghĩ và làm việc mới để phát<br /> bản thân nó không đảm bảo kết quả sáng tạo, vì<br /> huy hơn nữa kết quả sáng tạo.<br /> trong nhiều trường hợp, các đặc điểm khác như<br /> sự không linh hoạt có thể dễ dàng khiến trí thông 3. KHƠI GỢI SỰ SÁNG TẠO TRONG<br /> minh trở nên mờ nhạt. Hơn nữa, sự khác biệt giữa DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ<br /> một người sáng tạo và một người không có đầu óc<br /> sáng tạo có thể được phân biệt bằng khả năng chấp 3.1. Ý nghĩa<br /> nhận và giải quyết tích cực các sai lầm. Ngay cả<br /> người tài năng và thông minh nhất cũng mắc rất Dạy học ngoại ngữ không phải lúc nào cũng<br /> nhiều sai lầm, nhưng người thành công thường rút là quá trình sáng tạo, nhưng có nhiều tiềm năng<br /> kinh nghiệm từ những sai lầm ấy. Do đó, không sợ cho sự sáng tạo to lớn vì nó sản sinh ra nhiều kết<br /> phạm sai lầm là điều quan trọng khi thử điều mới hợp và nhiều lựa chọn. Ngôn ngữ rất phong phú<br /> và chính ở “vùng lãnh thổ” của sự lo sợ về sai lầm và phức tạp, trong đó người dùng sử dụng và kết<br /> này lại là nơi sáng tạo được tạo ra, được thách thức hợp các yếu tố kiến ​​thức theo những cách mới<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 30 Số 20 (7/2019)<br /> PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v<br /> <br /> <br /> <br /> một cách liên tục. Nói một cách ví von, ngôn ngữ biến các hoạt động đó trở nên đa dạng và thú vị<br /> chứa đựng nhiều ‘nguyên liệu” cho người đầu bếp hơn do khai thác tài năng, ý tưởng và suy nghĩ cá<br /> tha hồ chế biến. Sự sáng tạo cũng được thúc đẩy nhân - của cả người học và người dạy.<br /> thông qua các khía cạnh văn hóa của chính ngôn<br /> ngữ đang học vì người học thường được tiếp xúc 3.2. Vai trò của người dạy trong việc khơi<br /> với một loạt các hình thức sáng tạo (văn học, nghệ gợi sự sáng tạo của người học trong dạy học<br /> thuật, phim ảnh, âm nhạc, nền văn hóa...) liên quan ngoại ngữ<br /> đến ngôn ngữ. Clarke (2005) cho rằng, khơi dậy sự<br /> sáng tạo trong bài học sẽ mang đến những thuận Giảng dạy là một công việc đòi hỏi khắt khe<br /> lợi cho hoạt động dạy và học ngoại ngữ như sau: về chuyên môn và kiến ​​thức chuyên sâu để có<br /> thể thiết kế các hoạt động khác nhau nhằm thu<br /> - Thứ nhất, sáng tạo kích thích việc sử dụng hút người học tham gia vào bài học. Người dạy<br /> ngôn ngữ, kích thích tính chủ động và sáng tạo cần cân nhắc trong khâu thiết kế bài giảng, đặc<br /> trong thực hành kỹ năng nghe, nói. Bằng cách biệt khi kết quả học tập của người học không như<br /> cung cấp cho người học các bài tập sáng tạo, người mong đợi. Các hoạt động học tập được thiết kế<br /> dạy giúp họ có nhu cầu sử dụng ngôn ngữ và cố cần hướng đến nhu cầu của người học để họ tham<br /> gắng dùng, diễn đạt và sáng tạo ngôn ngữ để mọi gia nhiều hơn vào hoạt động học, trong đó học tập<br /> người có thể “nghe”, “nhìn” và hiểu được suy nghĩ khơi gợi sự sáng tạo thường tạo động lực lớn cho<br /> của họ, người học (Hernán A.Avila, 2015).<br /> <br /> - Thứ hai, sáng tạo đòi hỏi người học phải sử Với ngoại ngữ, theo quan điểm của nhà tâm lý<br /> dụng những biện pháp phi ngôn ngữ như dùng ngôn học Csikszentmihaly (2017, tr.1049), “giảng dạy<br /> ngữ cơ thể, nét mặt, biểu cảm, vẽ…, những yếu tố ngoại ngữ mang tính sáng tạo giúp người dạy có<br /> thực chất rất cần thiết trong hoạt động giao tiếp, thể xây dựng một chiến lược khơi dậy sự mới lạ<br /> hỗ trợ cho mục đích chính là sử dụng ngoại ngữ trong ngôn ngữ và mang đến một tinh thần sáng<br /> truyền đạt nội dung giao tiếp một cách tự nhiên. tạo trong lĩnh vực ngoại ngữ, nhờ đó mở rộng tiềm<br /> năng học ngoại ngữ đến tối đa”. Ví dụ, viết được<br /> - Thứ ba, thực tế cho thấy, một số người không cho là một kỹ năng khó khi học ngoại ngữ vì sự<br /> thể học được gì nếu họ không biết mục đích của phức tạp trong việc chọn đúng câu từ và cú pháp.<br /> việc thực hành ngôn ngữ đó̀ . Vecino (2007) cho rằng, viết là một sự sáng tạo,<br /> vì vậy, khơi dậy sự sáng tạo trong kỹ năng viết là<br /> - Thứ tư, hầu hết người học thường trở nên có một phương pháp khoa học để cải thiện cảm xúc<br /> động lực, được truyền cảm hứng hoặc cảm thấy của học viên nhằm nâng cao chất lượng học kỹ<br /> được thách thức hơn nếu có thể tạo ra thứ gì đó có năng này. Bằng việc khơi gợi sự sáng tạo, quá trình<br /> giá trị, phản ánh được họ là ai. Từ đó tạo ra nhu dạy viết sẽ dễ dàng hơn và thu hút sự chú ý của<br /> cầu mạnh mẽ sử dụng ngôn ngữ để thể hiện giá trị học viên nhiều hơn. Amado (2010, tr.153-164) cho<br /> bản thân. rằng, phương pháp viết sáng tạo cho phép người<br /> học “tuôn ra từ ngữ, mở cổng trí tưởng tượng, hiểu<br /> - Thứ năm, công việc sáng tạo trong lớp học được sự chính xác của ngôn từ và quan trọng nhất<br /> ngôn ngữ có thể dẫn đến sự giao tiếp và hợp tác là trải nghiệm niềm vui hứng thú của việc học<br /> tích cực. Người học sử dụng ngôn ngữ để thực ngoại ngữ”.<br /> hiện nhiệm vụ sáng tạo, vì vậy họ sử dụng ngôn<br /> ngữ để truyền đạt ý tưởng, nhờ đó kích thích việc Từ đó Csikszentmihalyi (2017) mô tả năm<br /> thực hành ngôn ngữ. Điều này chuẩn bị cho người bước của sự khơi gợi sáng tạo mà người dạy ngoại<br /> học tiến tới sử dụng ngôn ngữ bên ngoài lớp học. ngữ cần chú ý khi thiết kế bài giảng như sau:<br /> <br /> - Thứ sáu, những nhiệm vụ sáng tạo làm cho (1) Chuẩn bị: Tìm cách khơi gợi sự tò mò của<br /> các hoạt động trong lớp học phong phú thêm và một tình huống tạo vấn đề.<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 20 (7/2019) 31<br /> v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY<br /> <br /> <br /> (2) Ấp ủ: Đặt ra nhiều câu hỏi cùng lúc - Có thể hiểu về người học của mình không: (sở<br /> (3) Ý tưởng: tìm ra một số ý tưởng giải quyết thích, tài năng, mối quan tâm, phong cách học, ...)?<br /> vấn đề.<br /> - Có cho người học cơ hội tham gia vào việc<br /> (4) Đánh giá: Lựa chọn ý tưởng có giá trị và chuẩn bị tài liệu học tập không?<br /> đáng theo đuổi.<br /> - Lớp học/Khóa học có tạo động lực cho người<br /> (5) Xây dựng: Biến ý tưởng đã chọn thành<br /> hành động. học không?<br /> <br /> - Người học có sợ đặt câu hỏi không?<br /> Các bước này có liên quan đến quan điểm của<br /> Carr và Kemmis (1986), người cho rằng, nghiên Nếu câu trả lời cho tất cả các câu hỏi trên là có<br /> cứu hành động giúp người dạy thực hiện những thì người dạy đang đi đúng hướng và góp phần đưa<br /> thay đổi trong lớp học và lập kế hoạch, thực hiện giờ học ngoại ngữ trên lớp trở thành những bài học<br /> và đánh giá chúng. không thể nào quên đối với người học.<br /> Kemmis và McTaggart (1988) nói thêm rằng, 3.3. Một số hoạt động dạy học ngoại ngữ<br /> nghiên cứu hành động có nghĩa là lập kế hoạch, khuyến khích, khơi gợi sáng tạo<br /> hành động, quan sát và phản ánh rõ kinh nghiệm<br /> sư phạm của người dạy. Quá trình quan sát, hành Bài viết mô tả chín hoạt động ngôn ngữ từ đơn<br /> động và suy ngẫm về các hoạt động này giúp giản đến phức tạp và tác động tích cực của chúng.<br /> người dạy tạo ra một không gian thích hợp để diễn Người học tham gia được gọi tên bằng các chữ cái<br /> ra trải nghiệm sư phạm và để người học truyền đạt (ví dụ: Người học A, B, C). Các hoạt động được<br /> cảm xúc và ý tưởng của mình khi học ngôn ngữ. sắp xếp từ cơ bản đến nâng cao.<br /> Các hoạt động cần được thiết kế để giúp người học<br /> viết/nói với sự tập trung và định hướng phát triển ý Hoạt động 1: Ghi nhớ ngữ pháp và cấu trúc<br /> tưởng và khám phá giọng nói của chính mình cũng tiếng Anh<br /> như áp dụng các quy tắc ngữ pháp một cách vui vẻ. Trong hoạt động này, người học ngồi thành<br /> Do đó, để khơi gợi sự hứng thú, tăng cường khả hình bán nguyệt. Mỗi người phải nói một từ, từng<br /> năng học ngoại ngữ, khi thiết kế các hoạt động dạy người một, theo cấu trúc đã được người dạy hướng<br /> học trên lớp, người dạy hãy đặt những câu hỏi sau: dẫn. Ví dụ, Người học A nói “I” hoặc “you” hoặc<br /> “he”. Sau đó, Người học B tiếp tục với một từ<br /> - Có cung cấp (đủ) cho người học cơ hội đặt<br /> khác tiếp nối từ mà Người học A vừa nói, tiếp theo<br /> câu hỏi, tìm hiểu, thử nghiệm và khám phá không?<br /> là Người học C, D... Ví dụ, Người học B nói “I<br /> - Có cung cấp một môi trường cởi mở để sự went” vì biết quy tắc ngữ pháp rằng theo sau một<br /> sáng tạo được phát triển không? Có cho người học đại từ nhân xưng thường là một động từ. Tiếp theo,<br /> có cảm giác tự tin khi là chính mình không? Người học C sẽ thêm từ thứ ba: “I went to”, …<br /> (Xem bảng 1).<br /> - Có cung cấp một môi trường không phán xét,<br /> không thiên vị, trong đó việc mắc sai lầm là chấp Bảng 1. Trò chơi dây chuyền luyện ngữ pháp<br /> nhận được?<br /> Người học A Người học B Người học C Người học D<br /> - Có phản ứng tích cực khi người học mắc lỗi<br /> I… I went … I went to …. I went to Hanoi ….<br /> không?<br /> Người học E Người học F Người học G Người học H<br /> - Có tạo ra cơ hội để sửa chữa sai lầm không? I went to Hanoi I went to Hanoi I went to Hanoi I went to Hanoi<br /> yesterday …. yesterday and yesterday and yesterday and I was<br /> - Có nhận ra năng khiếu của người học thông … I (hmmm) was sick …<br /> …<br /> qua các câu trả lời của họ không?<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 32 Số 20 (7/2019)<br /> PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v<br /> <br /> <br /> <br /> Hoạt động này giúp người học không chỉ câu chuyện. Nhóm nào có câu chuyện với ngữ<br /> nhớ cấu trúc ngữ pháp mà còn có thể kiểm tra kỹ pháp, nội dung chuẩn và hay nhất sẽ được điểm.<br /> năng ghi nhớ. Họ cũng tương tác với nhau nhờ<br /> nghe giọng nói của nhau. Họ được khuyến khích Hoạt động này giúp người học viết tự do mà<br /> và mạnh dạn vì không sợ bị chế nhạo nếu lỡ nói không e ngại. Người học chuẩn bị các nhân vật của<br /> sai. Trò chơi dây chuyền này nên được sử dụng mình với những đặc điểm về thể chất, cảm xúc,<br /> để củng cố ngữ pháp cũng như các cấu trúc trong ươm mầm ý tưởng, đánh giá và phát triển nội dung<br /> tiếng Anh. câu chuyện bằng các mô tả. Cả hai nhóm đều cho<br /> phép sự sáng tạo và trí tưởng tượng bay bổng với<br /> Hoạt động 2: Tạo một câu chuyện hư cấu một thế giới viễn tưởng của riêng mình.<br /> <br /> Trong hoạt động này, người học cũng ngồi Chiến lược giảng dạy này cho phép cung cấp<br /> thành hình bán nguyệt. Tuy nhiên, quy trình có cấu trúc thông tin và cảm xúc, trong đó ngữ pháp<br /> chút phức tạp hơn vì thay vì một từ, mỗi người là một cách tự nhiên để thể hiện ý tưởng. Hoạt<br /> phải nói một câu hoàn chỉnh. Người học cần cố động như thế này không chỉ thúc đẩy tinh thần làm<br /> gắng sáng tạo câu chuyện mạch lạc nhất có thể, việc theo nhóm để cùng nhau chỉnh sửa, mà còn<br /> Ví dụ: giúp người học tự do thể hiện, hứng thú và có mục<br /> tiêu làm việc rõ ràng. Mỗi câu chuyện đều có cấu<br /> Người học A: Pepito went to school. trúc phù hợp vì các bài tập sẽ được xây dựng theo<br /> nguyên tắc phát triển kỹ năng viết mà người dạy<br /> Người học B: Pepito went to school and he had đưa ra.<br /> a bike accident.<br /> Hoạt động 4: Tăng cường từ vựng thông qua<br /> Người học C: It was very serious; his leg việc viết kịch bản<br /> was bleeding (từ mới).<br /> Theo Amado (2010), kịch bản là một tài liệu<br /> Người học D: He called his mother. phác thảo mọi yếu tố âm thanh, hình ảnh, hành vi<br /> và ngôn ngữ cần có để kể một câu chuyện. Cách<br /> Người học E: His mother fainted (từ mới). người học hình dung câu chuyện muốn viết sẽ dựa<br /> trên kinh nghiệm hoặc trí tưởng tượng của họ để<br /> Trong khi người học sáng tạo câu chuyện, có được sự trôi chảy trong quá trình viết.<br /> người dạy cần khuyến khích họ sử dụng từ điển và<br /> hỗ trợ họ trong suốt quá trình sáng tạo này, khiến Với hình thức viết sáng tạo này, người học bắt<br /> họ hứng thú tham gia và không ngại sáng tạo. Với đầu bằng việc tạo ra một ý tưởng; sau đó hiện thực<br /> hoạt động này, người học cần giúp đỡ lẫn nhau, vì hóa ý tưởng đó thành hành động, lời thoại, nhân<br /> thế thúc đẩy tinh thần đồng đội. Với tinh thần đồng vật và bối cảnh. Kể cả với những ý tưởng đơn giản<br /> đội, họ trở nên muốn tham gia đầy đủ hơn và thực nhất, người học cũng có thể hình dung và phát<br /> tế cho thấy người học không còn im lặng e ngại triển thành một câu chuyện, hình thành kịch bản<br /> như lúc ban đầu mà ngày càng nhiệt tình tham gia với format phù hợp.<br /> hơn theo mạch câu chuyện.<br /> Để thực hành viết kịch bản trong lớp, người<br /> Hoạt động 3: Thúc đẩy viết sáng tạo học được xem một bộ phim và sau đó đọc lời kịch<br /> bản của ba cảnh trong bộ phim đó. Người học gạch<br /> Trong hoạt động này, người học được chia chân hoặc khoanh tròn từ mới và suy ra nghĩa của<br /> thành hai nhóm. Cả hai nhóm ngồi thành hình bán từ dựa vào nội dung của ba cảnh phim đã xem.<br /> nguyệt và được phát một tờ giấy có nội dung: “It Nhờ đó, dù không biết nhiều từ nhưng người học<br /> was dark and stormy.” (Trời tối và bão.) Sau đó, dễ dàng tiếp tục đọc hiểu kịch bản, khác hẳn so với<br /> người học của mỗi nhóm có ba phút để viết một việc đọc hiểu các văn bản thông thường (bài luận<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 20 (7/2019) 33<br /> v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY<br /> <br /> <br /> thiếu hình ảnh, khô khan) dễ khiến người học nản Sau đó, người học đứng lên và đi xung quanh<br /> lòng khi gặp nhiều từ mới. Và với lượng từ vựng lớp học chia sẻ vòng tròn với các người học khác.<br /> vừa có được sau khi đọc và hiểu như vậy, người Ví dụ, như trong hình trên, Người học A chia sẻ<br /> học thường thấy hào hứng hơn và dễ dàng hơn với các bạn cùng lớp rằng 2 là con số ý nghĩa nhất<br /> trong việc bắt tay vào viết kịch bản của riêng mình. vì có hai chị. Người học A tiếp tục nói thêm về<br /> cuộc sống của mình và tự hào về những người chị<br /> Hoạt động 5: Chia sẻ bài phát biểu của mình như thế nào. Sau đó, với vòng tròn 2<br /> những người khác biết rằng, đọc sách là niềm đam<br /> Người dạy đề nghị người học viết và chia sẻ<br /> mê của học viên ấy. Người học đó cũng tự hào nói<br /> một bài phát biểu về bất kỳ chủ đề nào. Trong hoạt<br /> động này, người học có thể nói về bất cứ điều gì thêm rằng Mai là tên mẹ và hào hứng đưa ra thông<br /> họ muốn. Người học được cho 20 phút để viết và tin cá nhân về bà.<br /> được tự do sử dụng kiến ​​thức riêng để viết về một<br /> Hoạt động này, mặc dù khá đơn giản, nhưng<br /> chủ đề mà họ thấy dễ dàng, chẳng hạn về thông tin<br /> rất hiệu quả vì người học có cơ hội tương tác với<br /> cá nhân, về gia đình, về tình yêu, cuộc sống, những<br /> nhau, lắng nghe những gì người kia nói. Một tình<br /> vấn đề nổi cộm, bộ phim yêu thích, trải nghiệm tốt<br /> bạn có thể được hình thành theo cách này và nhờ<br /> nhất hoặc tồi tệ nhất, ...<br /> đó tạo cơ hội thực hành kỹ năng nói. Chính vì thế,<br /> Với hoạt động này, người dạy không chỉ có cơ thay vì chỉ viết thông tin vào vở, việc nói theo<br /> hội nhìn ra những hạn chế về ngôn ngữ của người vòng tròn là một sự sáng tạo thú vị giúp người học<br /> học mà còn hiểu biết thêm và xây dựng tốt mối tự tin hơn trong việc dùng kỹ năng nói để thể hiện<br /> quan hệ với học trò của mình. Cách người học đặt câu chuyện của mình, nâng cao tính mục đích là<br /> vấn đề và chia sẻ bài phát biểu của mình thường bị giao tiếp, trao đổi thông tin của ngôn ngữ.<br /> ảnh hưởng bởi những kinh nghiệm trong quá khứ,<br /> kỳ vọng cho tương lai và điều đó sẽ đóng góp tích Hoạt động 7: Vẽ và nói<br /> cực vào trải nghiệm thực tiễn của người giáo viên<br /> Để thực hành nói, người dạy yêu cầu một<br /> (Kelchtermans, 2009).<br /> người học vẽ một cái gì đó mà họ muốn chia sẻ lên<br /> Hoạt động 6: Vòng tròn cuộc sống bảng và giải thích tại sao vẽ nó. Sau đó, người học<br /> khác lên bảng và vẽ một hình khác bên cạnh. Sau<br /> Để người học nói và chia sẻ, giáo viên yêu cầu khi tất cả người học lần lượt lên bảng vẽ đối tượng<br /> người học vẽ ba vòng tròn lớn, mỗi vòng tròn họ của họ, họ sẽ phải tạo ra một câu chuyện dựa trên<br /> phải viết về điều quan trọng nhất trong cuộc sống những hình vẽ trên bảng.<br /> của mình. Ví dụ trong Vòng tròn 1, họ viết con số<br /> có ý nghĩa nhất đối với bản thân họ; trong Vòng Với hoạt động này, không khí lớp học vô cùng<br /> tròn 2, đối tượng họ không thể sống thiếu; trong sôi nổi và đầy hứng khởi, người học tự chủ và tự<br /> Vòng tròn 3, cái tên quan trọng nhất đối với họ. tin khi chia sẻ câu chuyện và cảm xúc của mình<br /> với người khác, tự tạo ra một câu chuyện dựa trên<br /> những hình vẽ<br /> <br /> Ví dụ, một người học vẽ một cây đàn guitar,<br /> người khác vẽ con thỏ, một người khác vẽ giáo<br /> viên, hoặc chỉ viết một cái tên, người học đã có<br /> thử thách để tạo ra một câu chuyện với những bức<br /> vẽ đó, điều đó làm giờ học sống động, hài hước và<br /> vui nhộn, tất cả đều tham gia, không khí lớp học<br /> trở nên cởi mở, chia sẻ, trao đổi, cho phép họ nói<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 34 Số 20 (7/2019)<br /> PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v<br /> <br /> <br /> <br /> thoải mái, giúp cho việc thực hành kỹ năng nói trở chơi ô chữ, tìm kiếm đồ vật trong lớp để học giới<br /> nên tự nhiên hơn bao giờ hết. từ, cũng như sử dụng các phương tiện trực quan<br /> như điện thoại, ra khỏi lớp học,... Khi học viên tạo<br /> Hoạt động 8: Đặt câu hỏi và trả lời<br /> ra các trò chơi của riêng họ và đề xuất chúng cho<br /> Bài tập này giúp người học học các cấu trúc lớp học, họ tham gia nhiều hơn và có nhiều động<br /> câu hỏi bằng ngoại ngữ. Giáo viên yêu cầu người lực hơn so với thụ động làm theo hoặc chơi theo<br /> học viết càng nhiều câu hỏi càng tốt trong vòng 15 những gì được yêu cầu. Do đó, sự tự chủ của người<br /> phút về bất cứ điều gì họ muốn hỏi, chú ý về ngữ học được đẩy lên cao nhất, đạt được những tiến bộ<br /> pháp và các cấu trúc đặt câu hỏi. Sau khi tất cả đáng kể trong việc học ngoại ngữ.<br /> người học hoàn thành, mỗi người lần lượt lên ngồi<br /> trước mặt các người học còn lại để nghe và trả lời 4. KẾT LUẬN<br /> các câu hỏi “phỏng vấn”.<br /> Tóm lại, sáng tạo hiện diện ở hầu hết các lĩnh<br /> Lớp học sôi động vì tất cả người học đều được vực đời sống, phá vỡ những lối mòn, mang đến cái<br /> (hoặc phải) tham gia, được hỏi những câu hỏi mà nhìn mới mẻ về thế giới xung quanh. Việc khơi gợi<br /> họ cảm thấy thú vị hoặc “vắt óc” trả lời những câu và phát huy trí sáng tạo không thể bỏ qua vai trò<br /> hỏi của bạn học. Với hoạt động này, người học sẽ của dạy học với khả năng thúc đẩy sự sáng tạo tiềm<br /> dần hình thành kỹ năng hỏi và trả lời trong các tàng ở mỗi người. Trong đó, dạy học ngoại ngữ với<br /> cuộc phỏng vấn tương lai.<br /> những hoạt động được đề cập trên đây mang đến<br /> Hoạt động 9: Để người học tự chủ lên kế hoạch các giờ học ngoại ngữ trở nên có mục đích trong<br /> thực hiện hoạt động mọi hoạt động, thu hút sự tham gia nhiệt tình của<br /> người học nhờ kỹ thuật dạy học khơi gợi và khuyến<br /> Việc cho học viên được tự làm, tự chuẩn bị khích sáng tạo, vì thế, kỹ thuật này có thể được lặp<br /> những hoạt động vui vẻ và hiệu quả cho các bạn lại ở bất kỳ nhóm người học nào. Hơn nữa, với sự<br /> mình như trò chơi, thuyết trình… nhằm kích thích đóng góp tích cực của người học qua những bài học<br /> việc sử dụng ngôn ngữ được cho là kỹ thuật dạy<br /> cần vận dụng sự sáng tạo, người dạy cũng có thể<br /> học tốt nhất. Với hoạt động này, người học hoàn<br /> mở rộng kiến ​​thức sư phạm của mình. Điều đó cho<br /> toàn làm chủ lớp học, tự mình lựa chọn ngôn ngữ.<br /> thấy mối quan hệ biện chứng giữa dạy học và sáng<br /> Ví dụ rất nhiều người học sử dụng hoạt động tạo nói chung và giữa dạy học ngoại ngữ với sáng<br /> vui nhộn và dễ hiểu như trò đoán chữ, đoán từ, trò tạo nói riêng càng trở nên rõ nét hơn bao giờ hết./.<br /> <br /> <br /> Tài liệu tham khảo:<br /> <br /> Amado, H. (2010). Screenwriting: A strategy for the improvement of writing instructional practices. PROFILE<br /> Issues in Teachers’ Professional Development, 12(2), 153-164.<br /> Batey, M. (2012). Working Creativity. Psychology Today, [online] [cit. 2012/5/24] Available at: .<br /> Carr, W., & Kemmis, S. (1986). Becoming critical: Education, knowledge and action research. Melbourne, AU:<br /> Deakin University Press.<br /> Cimermanova, I. (2015). Creativity in EFL teacher training and its transfer to language teaching. Procedia-Social<br /> and Behavioral Sciences, Vol.197, 1969-1975.<br /> <br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 20 (7/2019) 35<br /> v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY<br /> <br /> <br /> Clarke, M. A. (2005). Creativity in modern foreign language teaching and learning. Higher Education Academy<br /> Journal. .<br /> Csikszentmihalyi, M. (2017). Creativity: The psychology of discovery and invention. New York, NY: Harper<br /> Perennial. (Kindle Locations 1049-1050). New York : HarperCollins e-books. EPub Edition.<br /> Fisher, R., (2006). Expanding Minds: Developing Creative Thinking in Young Learners. The IATEFL Young<br /> Learners SIG journal, 5-9.<br /> Hernán A.Avila, (2015). Creativity in the English Class: Activities to Promote EFL Learning. HOW, 22(2), 91-103.<br /> Kelchtermans, G. (2009). Who I am in how I teach is the message: Self-understanding, vulnerability, and reflection.<br /> Teachers and Teaching: Theory and Practice, 15(2), 257-272.<br /> Kemmis, S., & McTaggart, R. (1988). The action research planner (3rd ed.). Geelong, AU: Deakin University<br /> Press. [online] [cit. 2014/10/15] Available at: .<br /> Lehrer, J. (2012). How To Be Creative. Wall Street Journal, [online] [cit. 2012/3/12]. Available at: .<br /> Naiman, L. (1998). Fostering innovation in an IT world. Canadian Information Processing Society Journal, May<br /> 1998. .<br /> Strakova, Z. (2012). Developing Cognitive Strategies in Foreign Language Education. Journal of Language<br /> and Cultural Education (2013), 1.1 ISSN 1339-4045 (print) Copyright © 2013 SlovakEdu .<br /> Sternberg, R.J (2007). Creativity as a habit. In Tan, A. (Ed.), Creativity: A handbook for teachers (pp.3-25). HA:<br /> World Scientific<br /> Vecino, A. M. (2007). Exploring the wonder of creative writing in two EFL writers. (Master’s thesis). Universidad<br /> Distrital Francisco José de Caldas, Bogotá.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> SOME ACTIVITIES TO AROUSE LEARNERS’ CREATIVITY<br /> IN FOREIGN LANGUAGE TEACHING<br /> NGUYEN THI NGOC TU<br /> Abstract: Creative thinking is an important skill since it always exists in all areas of social life. In<br /> addition to the disciplines that creativity is characterized by (such as painting and design), foreign<br /> language teaching activities also contain great creative potential. The article provides an overview of<br /> creativity and of its significance in teaching in general and in foreign language teaching in particular.<br /> At the same time, a number of specific foreign language teaching activities are offered to arouse and<br /> encourage learners’ creativity in order to enhance their outcomes in learning languages.<br /> Keywords: creativity, teaching, learning, arouse, encourage, foreign language<br /> Received: 09/4/2019; Revised: 03/6/2019; Accepted: 10/6/2019<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 36 Số 20 (7/2019)<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2